“TÔI CHẲNG HÃNH DIỆN VỀ ĐIỀU GÌ…”

“TÔI CHẲNG HÃNH DIỆN VỀ ĐIỀU GÌ…”

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Trích EPHATA 659

Tôi có quen với một ông là đảng viên đảng Công Sản Việt Nam, ông làm việc trong lãnh vực Y Tế, là một nhà khoa học, trí thức, ông du học và lấy bằng tiến sĩ ở Liên xô. Trong những năm gần đây ông có dịp tiếp xúc nhiều với các thành phần khác, trong đó có các Linh Mục thuộc Giáo Hội Công Giáo.

Trong một lần trò chuyện và khi những cuộc gặp gỡ đã củng cố tình thân quen giữa hai chúng tôi, ông mạnh dạn hỏi tôi một câu hỏi: “Giáo Hội Công Giáo của các vị có nhiều môn phái lắm phải không ?” Tôi không ngạc nhiên với câu hỏi này, vì nhìn qua chúng ta cũng thấy ngay trong nội bộ những người tin vào Chúa chúng ta cũng có nhiều khuynh hướng khác nhau khiến người ngoài ngỡ tưởng chúng ta có nhiều “giáo phái”, nhưng thật sự tôi ngạc nhiên và buồn vì lý do ông hỏi không phải là vậy.

Ông cho biết: “Tôi có nhà ở gần một Nhà Thờ nọ, để giao lưu, tôi có mời các cha đến nhà dùng cơm khi nhà tôi có việc, các cha cũng đến, rất cởi mở, nhưng trong câu chuyện tôi thấy các cha có nhiều kiểu khác nhau, một số các cha hay nói chuyện về những chuyến đi nước ngoài, có khi chỉ là du lịch, các cha ấy nói chuyện về rượu Tây, rồi trao đổi như là xem ai sành rượu nhất. Tôi không hề thấy các cha ấy nói về con người, về xã hội, về các vấn đề đạo đức giáo dục… Ngược lại, tôi cũng có gặp một số các cha khác, họ luôn thao thức về công lý, về những bất công trong xã hội, về người nghèo, người bệnh tật… Khi có dịp gặp lại các cha kia, tôi có gợi ý về các vấn đề này thì họ bảo rằng: đó không phải là việc của chúng tôi !?!”

Tôi cố giải thích cho ông ta hiểu là các cha có nhiều nhiệm vụ khác nhau, và vấn đề xã hội là một vấn đề nhạy cảm, khó có thể đề cập đến trong các buổi gặp gỡ nói chuyện giao lưu, vì rất nhiều quan điểm, rất nhiều suy nghĩ trái chiều nhau, hơn nữa, biết ông là đảng viên nên các cha không muốn bàn về vấn đề xã hội gắn liền với chế độ và ý thức hệ như hiện nay. Nhưng tôi biết, ông là một nhà trí thức thì không dễ gì mình tránh né quanh co được trước mặt ông. Ông buông một câu như thể muốn knock out tôi, ông bảo: “Tôi nhận ra mối bận tâm của các cha ấy trong các câu chuyện, chứ không phải nội dung câu chuyện !” Sau đó ông nhẹ nhàng tránh sang chuyện khác.

Có một thực trạng mà có lần tôi đã chia sẻ. Một ngày tôi có việc đi xa, ngang qua một nơi thấy rất nhiều xe cộ lũ lượt đổ về, tôi mới biết Giáo Phận đó chọn một Giáo Xứ gần đây để làm lễ Truyền Dầu, khi xe đến Nhà Thờ nơi sẽ làm lễ Truyền Dầu, một cảnh tượng gây cho tôi cảm giác nặng nề, đó là, một bãi giữ xe riêng cho các cha, toàn là xe 4 bánh loại nhỏ, dĩ nhiên không thiếu xe đời mới, đắt tiền cỡ Lexus, còn lại là một bãi giữ xe của các bà Sơ và của Giáo Dân toàn là xe bus… Đáng tiếc rằng ngay trong các cuộc gặp gỡ họp mặt thì các cha cũng hay khoe nhau về xe hơi của người này người kia và những chuyến du lịch nước ngoài. Có Linh Mục trẻ vừa chịu chức về làm cha phó mà dám xin cha xứ cho tiền mua xe hơi, cho có bạn có bè !

Tuần qua, ngày 14 tháng 9, Giáo Hội kính việc suy tôn Thánh Giá, trong bài gẫm số 1 Kinh Sách trích trong thư gửi các tín hữu ở Galát có câu: “Tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta ! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” ( Gl 6, 14 ). Điều làm chúng ta hãnh diện hiện nay là điều gì, bậc thang nào định giá mà chúng ta đã chọn ? Có chỗ nào cho thập giá cắm vào không ?

Chia sẻ đôi điều trong ý thức chính mình là kẻ hèn mọn và tội lỗi, Chúa đã tin và trao cho mình sứ mạng làm chứng, chúng ta cần nhủ bảo nhau sao cho người ngoài không có cái nhìn méo mó về Thiên Chúa của chúng ta. Chúng ta cầu nguyện cho nhau trong tình thương mến để hoàn thiện nhau mỗi ngày trên bước đường đi theo Chúa.

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

 16.9.2015

“NẾU CHỈ CÒN MỘT NGÀY ĐỂ SỐNG…”

“NẾU CHỈ CÒN MỘT NGÀY ĐỂ SỐNG…”

Trích EPHATA 659

Cái tin cô Anh chỉ còn sống được chừng hơn 3 tháng nữa thôi đã làm chấn động cả lớp thể dục. Ai nấy đều bàng hoàng, sững sờ và rồi… buồn bã. Thiên hạ ban đầu thì ngạc nhiên rồi sau đó đua nhau bàn tán, vì mới ngày nào cô vẫn còn khoẻ và lên đây tập với mọi người kia mà. Mà mọi người buồn cũng phải, vì cô luôn là niềm vui của lớp. Vắng bóng cô từ gần cả tháng nay, sáng sáng không còn ai lên sớm đùa giỡn, kể vài mẫu chuyện vui, cũng không còn ai đem cho tôi khi thì mấy trái tắc, lúc là bó rau tươi ở nhà do chính tay cô trồng. Thế mà… chỉ nghĩ đến lúc sẽ vĩnh viễn mất cô mãi mãi trong đời, tôi bất chợt rùng mình và bỗng cảm thấy thật buồn…

Tôi biết cô Kim Anh từ gần 3 năm nay, ở lớp thể dục Hồng Gia. Tôi rất quý cô ở cái tính giản dị, chân chất, bộc trực, có gì nói đó. Cô thương tôi như con cháu trong nhà, nấu món gì ngon cô cũng mang cho tôi, nhà cô hễ cây nào ra trái là cô hái đem cho tôi ngay, hết nhãn, tắc, cam, hồng rồi đến chuối, thanh long, bưởi, rau tần ô, cải làn… Sáng nào ông xã cô cũng chở cô đến lớp tập, đến 8 giờ chú lại đến đón cô về. Tôi hay chọc “Sao mà cô chú tình quá vậy ?” thì lần nào cô cũng cười thật tươi ” Ngày xưa còn tình hơn nhiều con ơi…

Cô thường bảo tôi bây giờ già rồi, nên với cô chỉ có sức khỏe là trên hết. Cô hiện đang sống hạnh phúc với ông xã và vợ chồng cô con gái út cùng hai đứa cháu ngoại. Năm nay cô 68 tuổi, và cô luôn ước ao sẽ được sống đến 80 tuổi hay hơn nữa, để còn phụ giúp baby sit cho các con đi làm, vì đó cũng là niềm vui của cô. Có lẽ người già thường mang nhiều tâm sự, nên cô Anh hay kể tôi nghe về cuộc đời cô ngày xưa, khi cô còn con gái, nào là ngày xưa cô đào hoa lắm, rồi vì sao cô chú quen nhau, cùng những kỷ niệm đẹp và vui trong cuộc đời cô…

XƯA…

Cô gái Phạm Kim Anh ngày xưa, duyên dáng, mượt mà, với nụ cười rất tươi, nên luôn được rất nhiều anh săn đón, nhưng cô đã chọn chú Vũ Duyên Hy, chỉ vì “chú hiền, ít nói… nhưng hễ cô thích gì chú đều biết và mua hay làm sẵn cho cô trước rồi…” Năm 20 tuổi, cô lên xe hoa về nhà chồng, và sau đó có 6 mụn con, 4 gái và 2 trai. Chú đi làm ở sở quan thuế, cô nghỉ học ở nhà lo chăm sóc các con.

Thời ấy gia đình cô rất khá giả, tính cô lại rộng rãi, thương người, nên bà con chòm xóm ai mà thiếu hụt gì cũng chạy sang mượn cô, thậm chí có người nghèo xin tiền cô cũng cho luôn. Cô kể: “Có lần có bà hàng xóm nghèo quá đến mượn tiền cô, bà ta năn nỉ và nói: “Chị cho tui mượn đi, kiếp này không trả nổi thì tui nguyện kiếp sau sẽ làm thân trâu ngựa mà trả chị…” Cô hỏi lại ngay: “Chị nghĩ kỹ chưa mà nói câu đó ? Làm trâu ngựa cho nhà tôi cực khổ lắm đó nhe…”, nhưng rồi cô cũng cho người phụ nữ đó mượn tiền, dù biết rằng người ta sẽ không thể nào trả nổi…

Năm 1982, chú đi vượt biên cùng 3 đứa con lớn, đến đảo ở 3 năm chờ được xét để định cư. Thời gian đó cô Anh rất cực khổ, thân gái một mình nuôi 3 con, tiền bao nhiêu xài dần rồi cũng hết, nên cô bắt đầu bươn trải ra ngoài kiếm sống, lại còn phải chắt chiu gửi qua đảo cho chồng và các con. Cô sống rất cần kiệm, nhưng được hàng xóm thương nên cũng đắp đổi qua ngày.

Đến năm 1985 thì chú qua Mỹ định cư, sau đó bảo lãnh cho cô và đến năm 1992 thì cô và 3 con sang Mỹ đoàn tụ cả gia đình. Mấy năm đầu sang Mỹ, cô chú làm đủ mọi nghề để sống và nuôi các con ăn học: làm nhà hàng, hãng may, ở công xưởng… hễ ai kêu đâu cũng làm, lương bao nhiêu cũng chịu, đi xa cũng phải ráng để có tiền nuôi con, cho đến mãi năm 65 tuổi thì cô chú mới về hưu…

NAY…

Cô Kim Anh đến với lớp thể dục từ năm 2007 vì cô bị cao huyết áp và yếu thận. Cô lại bị cao mỡ, và tiểu đường nhẹ. Cô có uống thuốc nhưng bác sĩ khuyên cô cần phải tập thêm thể dục mỗi ngày, cho nên ngày nào xong lớp học là cô chú cùng nhau lái xe ra biển, rồi đi bộ dọc theo bãi biển, tay trong tay, vừa hít thở khí trời trong lành, vừa “hâm nóng tình yêu lãng mạn ngày nào” – như lời cô hay nói đùa với cả lớp. Cô kể cách đây vài năm, lúc đó cô bị tiểu đường nặng lắm, mà cả mỡ trong máu cũng cao luôn. Cholesterol làm nghẹt một động mạch cổ nên cô không thở được, cô bất tỉnh và ông xã chở cô vào cấp cứu. Lúc đang hôn mê thì cô cảm thấy có bàn tay Đức Mẹ vỗ nhẹ vào ngực cô 3 cái, thì cô bừng tỉnh dậy, và từ đó cô luôn đặt hết niềm tin vào Đức Mẹ và phó thác sinh mạng mình vào tay Ngài…

CUỐI ĐỜI…

Cách đây hơn một tháng, tôi có việc cần đi Arizona vài ngày. Khi về, vào lớp tập lại thì mới hay cô đã được đưa vào cấp cứu với triệu chứng khó thở và ngất xỉu. Nằm bệnh viện một tuần thì cô được cho về nhà, nhưng bác sĩ cho biết là vì hai quả thận của cô đã quá suy nên không thể bài tiết các chất độc và thải nước tiểu một cách bình thường nữa, do vậy mà cô sẽ phải đi lọc máu 3 lần mỗi tuần, cho đến… hết đời. Cô trông hốc hác và ốm hẳn đi. Cô cho biết là đã sụt hơn 15 pounds. Đến thăm cô, tôi không khỏi chạnh lòng vì thấy cô hầu như không còn ăn được gì cả, thứ gì cô cũng đều phải kiêng cữ, vì hễ ăn vô là mình mẩy nhức ê ẩm.

Vậy mà cô vẫn lạc quan. Cô kể: “Con biết hôn, hôm đó lúc đầu cô cảm thấy chóng mặt và choáng váng, rồi thì sau đó cô không biết gì nữa. Nhưng chỉ chốc lát sau thì cô thấy Đức Mẹ hiện ra, đưa bàn tay cho cô nắm. Cô mừng rỡ vừa nắm vừa hôn tay Mẹ, đâu chỉ chừng một, hai phút thì cô giựt mình tỉnh dậy, thấy mình nằm trong bệnh viện với đầy các bác sĩ, y tá và con cháu xung quanh. Sau này con gái cô kể lại rằng lúc đó cô đã tắt thở 2 phút rồi, bác sĩ tưởng là cô đã “đi luôn” rồi chứ, làm các con cô khóc òa lên… Vậy là cô hiểu, chính Đức Mẹ đã cứu sống cô lần nữa…”

Rồi cô dẫn tôi ra sau vườn, chỉ cho tôi xem từng cây ăn trái mà cô chú đã trồng. Vườn cây ăn trái của cô chú thật rộng, rộn tiếng chim hót, trồng đủ loại cây, và rau cải, có thể nói là cô chỉ cần đi chợ mua thịt cá, chứ rau cải thì có đủ hết. Cô bảo con gái cô, chị Hương, hái cho tôi một bịch tắc thiệt bự “Đem về ăn đi con, mai này không còn cô thì phải tự đi mua tắc mà ăn đó nhe…” Bỗng nhiên cô hỏi tôi “Đố con cây cỏ có linh hồn không ?” Tôi còn đang ấp úng thì cô tiếp: “Ông xã cô kể là cả tuần khi cô nằm bệnh viện, cả nhà lo vô thăm nuôi cô, nên không còn ai nhớ mà tưới cây nhãn này hết đó – cô đưa tay chỉ tôi xem cây nhãn cô vừa mới chiết cành xin từ một người bạn, bởi vậy nó héo rồi chết luôn. Vậy mà từ hôm cô về, vài ngày sau tự dưng nó đâm nhánh ra thêm, rồi lá xanh tươi trở lại, làm thằng cháu ngoại cứ bảo rằng: “Cây nhãn nó thương Ngoại nên nó sống lại đó, thì Ngoại cũng phải sống với con nhe Ngoại…” Cô nói, miệng cười mà mắt cô long lanh giọt nước…

Khi nghe ông xã cô cho biết là cô phải đi lọc máu cho đến khi nào có người tặng cô hai quả thận để ghép vô thay cho hai quả thận của cô không còn hoạt động nữa, tôi ngao ngán thở dài. Chờ đợi… chờ đến bao giờ ? Cô đã ghi tên ở bệnh viện UCLA rồi, mà waiting list thì… dài thòng, nghe đâu phải chờ cầu 5, 6 năm mới hy vọng có người cho thận. Mà nếu như có may mắn đến lượt mình thì chắc gì quả thận đó sẽ dễ dàng được cơ thể dung nạp, hay sẽ lại bị reject? Thế mà cô vẫn vui vẻ, cô bảo: “Còn sống ngày nào là cô vẫn còn hy vọng…”

Có nghe cô kể về những buổi lọc máu thì mới thấy thương cho những người bệnh. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Mỗi tuần chú Hy chở cô đi lọc máu 4 lần, rời nhà từ 5 giờ rưỡi sáng, và quá trình lọc như vậy mất hơn 3 tiếng rưỡi đồng hồ, về đến nhà gần 11 giờ. Cô bảo ngồi bên cạnh cái máy lọc máu, đầu óc cô rỗng không. Được chừng hơn 2 tiếng là cô bắt đầu mệt, mồ hôi tuôn ra như tắm, lỗ tai lùng bùng, thì lúc đó y tá đến gắn ống oxy cho cô thở, vì cô quá yếu sức… Từ ngày xuất viện về nhà, cô yếu hẳn đi và không còn đi tập thể dục nổi nữa.

Mấy hôm gần đây phone thăm cô không có ai bắt phone, tôi linh tính có điều gì không hay. Tôi có ghé đến nhà cô, bấm chuông mãi nhưng cũng không ai ra mở cửa. Thế là tôi bắt đầu lo. Gần cả tuần trôi qua thì cô gọi. Tôi mừng quá, hỏi thăm cô tới tấp. Cô kể là cô lại mới phải vô cấp cứu, vì nước tràn đầy vào phổi, và lần này bác sĩ cho biết là tình trạng của cô: từ thận nay đã chuyển sang tim. Các tĩnh mạch dẫn máu về tim của cô bị nghẽn rất nhiều, còn van tim thì lại bị hở. Nên bây giờ mỗi thứ bảy thì cô phải vừa đi lọc máu, vừa để bác sĩ rút bớt nước ra khỏi phổi của cô, vì nếu không thì phổi cô sẽ bị ứ nước nữa và tính mạng cô sẽ bị nguy hiểm.

Con gái cô cho tôi biết là bác sĩ đã bó tay, ông cho gia đình biết là cô Anh có thể đi bất cứ lúc nào. Ông xã cô thì nói với giọng nghẹn ngào: “Bác sĩ bảo bả chỉ còn sống được ba đến năm tháng là maximum, nên gia đình cứ chìu ý bả đi, bả thích gì thì cho ăn nấy…” Tôi quay sang cô hỏi: “Thế cô thích ăn gì, làm gì hở cô?” Cô cười buồn: “Không thích, cũng không thèm ăn gì hết, giờ phút này thì cô chỉ thèm… được sống”. Đôi mắt nhìn xa xôi, cô nhỏ giọng: “Ai rồi cũng đến lúc phải ra đi. Vui hay buồn là ở cái tâm của mình. Nếu thật sự là Chúa đang đợi cô, thì cô sẽ vui mà về với Ngài… Nhưng Đức Mẹ vừa cứu cô kia mà…”, rồi bỗng dưng cô ngập ngừng: “…Con ơi, sao mà cô vẫn còn yêu lắm cuộc đời này…” giọng cô tắc nghẹn.

Nuốt nước miếng một cách khó khăn, cô tiếp với một giọng đều đều: “Con cháu cô bây giờ lớn cả rồi, có công ăn việc làm, có gia đình đông đủ, nên cô không còn gì phải lo nữa. Cuộc sống cô nói chung cũng đã quá đầy đủ, nên cô cũng không có gì phải hối tiếc. Hơn 68 năm qua, cô luôn làm hết khả năng mình lo cho chồng, cho con, cho mọi người, nên bây giờ có thể nói là cô khá mãn nguyện…”

Cô cho biết cô vừa mới may xong chiếc áo liệm trắng, là chiếc áo mà người con của Chúa sẽ được mặc, theo nghi lễ, lúc chôn cất. Cô An, người bạn già ở lớp thể dục, đã may tặng cho cô như một món quà cuối đời…

“Thế cô còn có dự định hay ước muốn gì không cô ?” – “Nếu như nhờ ơn Chúa mà cô còn sống được đến sinh nhật cô vào năm sau, thì cô sẽ tổ chức một lễ sinh nhật thật lớn. Cô sẽ mời tất cả bạn bè, người thân, người quen, hàng xóm, tất cả những ai mà cô biết trong đời… đến dự, để cô nói một lời xin lỗi, nếu như vì vô tình cô đã làm hay nói điều gì buồn lòng họ, và để cám ơn họ đã cho cô có được những kỷ niệm đẹp và đáng nhớ trong đời…”

Tôi hỏi: “Cô có còn điều gì nuối tiếc không, một khi ra đi về bên kia thế giới ?” Im lặng – thật lâu, rồi cô chậm rãi đáp: “Đời cô vui buồn có đủ, thăng trầm cũng nhiều. Nếu bảo có hối tiếc điều chi thì có lẽ chỉ một điều duy nhất: đó là cô thường rất ít sống vui với giây phút hiện tại”. Thở một hơi dài, cô nói tiếp: “Thời son trẻ thì cô lúc nào cũng lo lắng cho tương lai, cho chồng con, cứ mãi đi làm kiếm tiền cho tương lai con cháu. Có tiền rồi thì lại lo dành dụm. Lúc về già thì lại hồi tưởng và tiếc nuối quá khứ cùng kỷ niệm, cứ sống và nhớ mãi cái thời xa xưa huy hoàng ở Việt Nam. Chỉ cho đến phút giây này, khi cái chết đã cận kề, thì cô mới hiểu cuộc đời mình đẹp nhất là phút giây hiện tại. Bởi vậy mà bây giờ, cô chấp nhận và vui với ngày hôm nay…”

Ngừng lại giây lát, cô tiếp: “Cô cũng có chút tiếc nuối là cô chưa hề có dịp về thăm lại Việt Nam. Lúc mới qua Mỹ thì cứ cắm đầu đi làm, đến chừng có chút tiền, có thời gian thì lại đổ bệnh, nên đâu dám về nữa. Cô ước gì mình có duyên về lại thăm quê cô, miền Trảng Bàng, là nơi mà ngày xưa mỗi ngày cô đi học qua ngang nhà chú, nhờ đó mà cô chú quen nhau…”

Nghe cô nhắc đến chữ duyên, tôi hơi ngạc nhiên nên hỏi lại: “Cô chú đạo Chúa phải không ? Mà cô vẫn tin vào chữ Duyên à ?” Cô cười nhẹ: “Tin chứ con. Cô đạo Chúa, nhưng cô đọc nhiều sách về Phật pháp lắm, nên cô tin vào Nhân Quả, tin vào Nghiệp và cô tin có luân hồi…” Rồi cô hóm hỉnh nheo mắt nhìn về phía ông xã đang ngồi theo dõi câu chuyện nãy giờ: “Nghiệp đó con thấy hôn, kiếp trước ổng “nợ” cô nên kiếp này ổng cả đời cứ phải trả “nợ” cho cô. Cô ăn gì vô cũng bị hành đau đớn, cũng là do cái Nghiệp cô đã gieo, và cô còn sống được đến giờ này cũng nhờ cái Nhân phước đức mà cô đã giúp đỡ những người hàng xóm trong lúc khốn cùng…”

Quay sang chú Hy, tôi hỏi: “Cô Anh đi, chắc chú buồn dữ lắm, chú hở ?” Chú cười buồn: “Sớm muộn gì thì cũng phải đến lúc đó, cháu à. Chỉ là người đi trước hay đi sau mà thôi…” Tôi hỏi: “Nhưng người đi sau sẽ là người buồn hơn, phải không chú ?” – “Đúng, bởi vậy nếu chú làm người đi sau, chú cũng ráng vui, vì ít ra chú còn lo cho bả được chu toàn…” Tôi ngồi mà nghe lòng mình xao động, đẹp làm sao một mối tình già… Quay sang cô Anh, tôi hỏi: “Thế khi chết thì cô nghĩ rằng cô sẽ về đâu ?” – “Cô mong là cô có đủ phước duyên mà được lên Thiên Đàng với Chúa. Chúa Nhật nào cô chú cũng đi Nhà Thờ, tối nào cũng đọc kinh cầu nguyện. Cả đời cô đã luôn cố gắng sống và làm theo lời Ngài dạy, thì cô mong Ngài sẽ đến đón cô đi…”

“Cô nè, con hỏi cô câu này nhe, nếu như chỉ còn một ngày để sống thì cô sẽ làm gì ?” – “Sẽ yêu thương” – cô trả lời ngay, không một chút do dự. Cô sẽ mỉm cười với mọi người, cả với những người không quen biết. Cô sẽ tha thứ hết mọi lỗi lầm nhỏ nhặt của mọi người mà bao lâu nay cô cứ cho là lớn lao ghê gớm lắm. Cô sẽ bố thí nhiều hơn, cho đi nhiều hơn, làm từ thiện nhiều hơn, vì bây giờ cô mới thật sự hiểu rằng chúng ta sẽ không mang theo được gì bên mình lúc ra đi. Cô sẽ nói với ông xã, với các con, các cháu… là cô thương tất cả mọi người – điều mà gần bảy chục năm qua vì mắc cỡ mà cô chưa bao giờ dám nói. Cô sẽ yêu hơn cuộc đời này. Cô sẽ…”

Giọng cô bỗng ngắt quãng vì cơn ho kéo tới. Tôi nhìn cô, đang ôm ngực ho sù sụ, mà ái ngại. Phải chăng đó cũng sẽ là hình ảnh của Mẹ tôi một ngày gần đây, và của ngay chính bản thân tôi một ngày nào đó ? Ông xã và con gái dìu cô vào giường nghỉ. Tôi xin phép ra về, thì cô ôm tôi và níu bàn tay tôi kéo lại: “Con nhớ lời cô nhe, hãy biết buông xả và yêu thương, trước khi quá muộn…”

Rời nhà cô Anh mà bên tai tôi vẫn còn văng vẳng những lời cô nói: “Nếu chỉ còn một ngày để sống, thì cô sẽ trân quý từng phút giây hiện tại và sẽ yêu thương hơn cuộc đời này…”

Chia tay cô, tôi thầm cầu chúc cô Anh có được những ngày cuối đời thật an lạc và giây phút ra đi cũng thật là bình an, để mà về với Chúa…

Lên xe, tôi với tay mở chiếc CD thì tiếng nhạc vọng ra sao mà tha thiết:

“…Nếu chỉ còn một ngày để sống, người cho tôi về với quê nhà
Để tôi thăm làng xưa nguồn cội, cho tôi mơ, mơ tiếng Mẹ Cha…

Nếu chỉ còn một ngày để sống, làm sao tôi trả ơn cuộc đời
Làm sao tôi đền đáp bao người, Nâng tôi lên qua bước đời chênh vênh…

Nếu chỉ còn một ngày để sống, làm sao tôi chuộc hết lỗi lầm
Làm sao tôi thanh thản tâm hồn, xuôi đôi tay đi giữa hừng đông…

Cho tôi như khúc ca bay đi xa rất xa, cho tôi được cám ơn cuộc đời,
Cho tôi được sống trong tim người bằng những lời ca…

Nếu chỉ còn một ngày để sống, muộn màng không lời hối lỗi chân thành
Buồn vì ai ? Ta làm ai buồn ? Xin bao dung, tha thứ vì nhau…

Nếu chỉ còn một ngày để sống, chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp
Phải chăng ta có lúc vội vàng, nên ra đi chưa được bình an…”

Đúng vậy, cuộc sống này quả thật quá mong manh. Thế còn bạn, bạn sẽ làm gì… nếu như bạn chỉ còn một ngày để sống ?

HOÀNG THANH

Trên con đường một mình anh về

“Trên con đường một mình anh về”
nơi chốn tha hương.
Cơn đau xa người còn thấm môi hôn nhớ về ai.
Phút chia tay em nói lời tiễn đưa
Mắt anh buồn nhìn em, thôi đã mất.”
(Hoàng Trọng Thụy – Đoản Khúc Cuối Cho Em)

( Cv 3: 17-20)

Trần Ngọc Mười Hai

“Đoản khúc cuối cho em”, ư? Phải chăng, đây là lời nhắn gửi đến mọi người, hoặc muôn người? Chí ít, là những người lâu nay được đề-cao, nâng nhấc, kích bốc lên tận chín tầng mây trên đó, chốn đạo hạnh?
Sở dĩ bần đạo đây, hôm nay, nói lên những điều khó nói này là vì, vừa qua, bần-đạo đọc được “Bản Tin Giáo Xứ” của một họ đạo ở nước Úc, rất Sydney. Bản tin hôm ấy, tóm gọn chỉ mỗi lời nhắn không theo dạng “Đoản Khúc Cuối Cho Em”, mà là lời nhủ khuyên gửi đến các vị lâu rày lãng quên chuyện hỗ-trợ các bậc vị-vọng nay chìm vào chốn lãng quên, rất như sau:

“Hôm nay, ta thực-hiện quyên góp giúp các Linh mục về hưu có nơi ăn chốn ở, được chăm sóc sức-khoẻ bằng những hỗ-trợ cần-thiết để các ngài có cuộc sống xứng-đáng, khi về hưu.

Chúng ta mắc nợ các linh mục rất nhiều. Các ngài đã cống-hiến cả đời mình để phục-vụ Thiên-Chúa và nuôi dưỡng lòng tin của ta, cũng như đóng góp bằng nhiều cách cho cuộc sống cộng-đoàn. Hỗ-trợ Quỹ Tài trợ Linh mục về hưu, là cung-cách thực-tiễn qua đó ta chứng-tỏ lòng cảm-kích biết ơn các linh-mục thừa-tác từng cho đi chính đời mình hầu phục-vụ tha-nhân và cộng-đoàn niềm tin.” (X.Bulletin of Fairfield Parish 23rd Ordinary Sunday year B, 06/9/2015)

Lý-do khiến bần-đạo trích dẫn “Bản tin Giáo xứ” này, ở đây, không để nhắn bạn đạo nào ở đâu đó rằng: bà con ta đừng quên các linh mục già đầy tuổi tác đang sống ở viện dưỡng-lão đây đó, trên toàn quốc. Nhưng, vì lời lẽ “kích-bốc” theo kiểu “lời vàng” khá cũ của thời trước, nay lỗi thời.
Lỗi thời hơn, là quan-niệm của vị nào đó cứ coi các đấng-bậc thày cả như quan-viên sống trên đầu/trên cổ đám giáo-dân lúc này cũng đã biết nhiều và hiểu nhiều về những chuyện xảy ra trong/ngoài nhà Đạo, nay bê bết.
Lỗi thời mãi, lại là quan-niệm của một số vị cứ tâng-bốc các đấng bậc “thày cả” vẫn tự coi mình là “kẻ cả” có tư-thế và vai-vế hơn hẳn người dưới trướng trong Hội-thánh La Mã, rất Vaticăng.
Nay, quan-niệm “ở trên đầu/trên cổ giáo dân” đã mai-một không còn hợp thời và lẽ đạo nữa, đến độ Đức Phanxicô đã phải nhắn-nhủ con dân trong Đạo, những người vẫn đi đạo và giữ đạo nhưng không biết tình-hình trong Đạo. Lời nhắn-nhủ ấy như thế này:

“Các linh mục phải đồng-hành ngang hàng mọi người, chứ không thể ở trên hoặc ở trước họ.

Hôm 3/9/2015, Đức Phanxicô có chuyển đến các linh-mục thuộc Phong-trào Schoenstatt một lời nhắn cũng rất mạnh rằng: “Linh-mục ở Đạo ta không bao giờ nên ở trên hoặc ở trước mọi người. Thay vào đó, họ phải đồng-hành bên cạnh các vị ấy, mới được…

Thông-điệp, gửi các vị tham-gia buổi hội-thảo hàng năm của Phong-trào Schoenstatt này đây, hôm ấy, Đức Phanxicô có được sự đồng-thuận của những người trong cuộc, nên ngài đã mạnh-dạn trích-dẫn nhận-định của Lm Kentenich của Phong-trào, khi ông bảo: “Mọi người chúng ta, ai cũng nên mở tai mình ra mà đặt vào tâm-can của Chúa và đặt đôi tay lên nhịp đập của thời-đại… Đó là hai cột-trụ của đời sống linh-thao hôm nay, rất đích-thực.”

Đức Phanxicô, sau đó, đã rời buổi hội-thảo của Phong-trào nói trên nhưng không quên để lại đề-nghị khẩn-cấp để bảo rằng: “Chúng ta nên dâng-tiến chính mình để giúp đỡ các gia-đình, đặc biệt là gia-đình nào đang trong cảnh bức-bách, khó khăn, khổ sở. Đồng thời, cũng nên bỏ giờ ra mà ngồi toà cáo-giải nghe hối-nhân xưng-thú lỗi/tội của họ, đặc biệt trong năm thánh mừng vui này. Còn một điều nữa, cũng nên quan-tâm đến, là: ta hãy cầu-nguyện thêm cho Đức Giáo-Hoàng nữa.” (Xem News: Priests must walk alongside others, not in front: Pope”, trên tờ The Catholic Weekly ngày 13/9/2015 tr.10).

Đức Giáo-Hoàng nói thế, tức bảo rằng: nay là lúc con dân dưới trướng nên giúp giùm/đùm bọc lẫn nhau, chứ không nên kẻ trước/người sau, cứ thế mà giành nhau vị-thế trên dưới/trước sau, với người thường? Phải chăng, vì thế không nên cứ coi giáo dân như kẻ ở dưới trướng, cần đe nẹt?
Nói như Đức Giáo-Hoàng nhà mình, là nói theo kiểu nhà Đạo, lúc nào cũng hỗ-trợ nhau về mọi cách, chứ không thể đi đằng trước /bước lên trên rồi lại yêu-cầu người đi sau hoặc đi dưới cứ thế yểm trợ bằng công sức, tiền bạc và lời cầu nguyện kéo dài mãi không ngừng.
Nói như Đức Giáo-Hoàng, là cứ nói và nhớ lời bậc thánh hiền khi xưa từng nhủ khuyên/khuyên-nhủ các vị được đề-bạt hoặc thăng quan tiến chức, rất ở trên, bằng những lời rằng:

“Thưa anh em,
giờ đây tôi biết anh em đã hành động vì không hiểu biết,
cũng như các thủ lãnh của anh em.
Nhưng, như vậy là Thiên Chúa đã thực hiện
những điều Người dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước,
đó là: Đấng Kitô của Người phải chịu khổ hình.
Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa,
để Người xoá bỏ tội lỗi cho anh em.
Như vậy thời kỳ an lạc mà Đức Chúa ban cho anh em sẽ đến,
khi Người sai Đấng Kitô Người đã dành cho anh em,
là Đức Giêsu.”
(Cv 3: 17-20)

Nói theo kiểu các đấng bậc ở chốn chóp bu nhà Đạo thì như thế. Còn, nói và hát theo kiểu con dân ngoài đời, rất nghệ-sĩ, thì như sau:

“Đêm hôm nào mùa trăng thu chờ em đến bên tôi
Vùi thân rã rời hình bóng em theo chăn gối này
Thoáng hương xưa thôi cũng đành
Nói cho nhau lời cuối cùng
Dấu chân em rời căn gác buồn tênh.

Và ngày em đi, anh đưa môi tìm lên môi son cũ
Dấu vết ái ân tan theo như lời nói khi lìa nhau
Bàn tay như cố kéo những ước mơ đã mãi xa rồi
Nhìn tháng năm tàn phai, hình bóng thôi còn ai.
(Hoàng Trọng Thụy – bđd)

Thật ra thì, làm đấng bậc thủ-lãnh trong Đạo, là phải sống như một Kitô-khác, tức: rất giống Đức Kitô là Đấng nhân-hiền thánh hoá. Chí ít, là đấng bậc “thày cả” của “cả-và-thiên-hạ”.
Thật ra thì, làm thủ-lãnh đấng bậc ở Đạo Chúa, tức: không những phải chối-từ chuyện ngồi chiếu trên hay luôn đi trước đám giáo-dân trong đó nhiều người còn rành rẽ, thánh-thiện và khiêm-tốn hơn cả “thày cả”, nữa.
Thật ra thì, làm thủ-lãnh đấng bậc trong Đạo, là bắt chước Đức Kitô và/hoặc tuân-thủ Lời Ngài khuyên-dạy để sống xứng-đáng chức-năng/vai-trò bé nhỏ mà Đấng bậc nọ ở Sydney mới đây lên tiếng bằng một nhận-định ngắn gọn, như sau:

“Khi xưa Đức Giêsu Kitô làm tất cả mọi việc và nói tất cả mọi lời, Ngài đều nói và làm qua câu hát.

Nhiều lần, Ngài ra tay chữa trị hoặc “chữa lành” người tật/bệnh, Ngài lại còn cất tiếng hát khe khẽ, nhẹ êm trong đó có lời ca toàn là những yêu thương, trìu mến rất đầy đặn.

Nhiều khi, Ngài kể cho những người đi theo Ngài đôi ba câu chuyện hay ho/nho nhỏ, Ngài cũng lại cất lên giai-điệu tuyệt vời, tức: thứ âm-giai nhẹ mà khi nghe rồi, người nghe sẽ không còn quên lãng. Đó, là giai-điệu mà ta thường ngâm-nga suốt ngày không cần biết mình đang làm gì, sẽ ra sao.

Rất nhiều lần, khi Ngài bênh-vực quyền-lợi của người thấp bé/nghèo-hèn, thì tiếng giọng của Ngài lớn mạnh đầy quyền-uy, cho đến đoạn cuối kết thúc bằng cái chết thập-giá, trên đó Ngài lại hát mạnh hơn đến độ tiếng giọng của Ngài ngân-vang cùng khắp xuyên suốt vũ-trụ.

Môn-đồ nghe Ngài hát, lại cứ nghĩ: đây là bài ca họ chưa từng nghe bao giờ hết. Và, khi Ngài về với Cha Ngài, họ cũng bắt đầu hát như thế cho hết mọi người trong/ngoài nhóm/hội của mình. Dù bắt chước Ngài nhiều lần và nhiều cách, môn-đồ Ngài lại cũng không hát được những lời Đức Giêsu khi xưa từng hát. Đôi lúc, môn-đồ Ngài quên cả lời ca cùng sức-lực đến bể giọng. Tuy thế, về sau này, đồ-đệ Ngài vẫn cố hát hết mình. Và dù tiếng giọng của họ có yếu đi nhiều, thì chúng-dân tuy không nghe rõ tiếng các vị hát, vẫn nghĩ rằng đó là bài ca hay nhất họ từng biết.

Bài ca do môn-đệ hát, vẫn lan-tràn từ Giêrusalem sang đất miền khác đến độ: các bậc mẹ cha ở đây đó lại cũng hát vang cho con mình; và cứ thế lan-truyền xuống thế-hệ kế tiếp suốt nhiều thời.

Nhiều lúc, trong cuộc sống của các bậc thánh-hiền lớn/nhỏ, rất nhiều bài ca được hát bằng tiếng giọng tuyệt-vời. Cũng có khi, các vị lại hát sai/hát quấy do bởi lời ca/tiếng nhạc ở trong đó mạnh đến độ nhiều vị sử-dụng sức mạnh của nó để ra đi gây chiến, đè bẹp và khuynh-loát nhiều người khác.

Thành thử, người ta lại cứ bàn-cãi, đấu-tranh, giành quyền sở-hữu bài hát ấy, rồi còn bóp méo và phủ lên nó bằng những tầng dầy do con người thêm-thắt vào. Và, con người dù có làm tất cả mọi sự để được thế, họ vẫn không bắt chụp được chúng-dân khi tính giản-đơn, mỏng dòn và nhẹ êm nơi bài ca cho phép họ hát mãi như thế, suốt mọi ngày.

Một trong những chốn miền mà bài ca đạt tới, là đất miền cùng tận ở phía Nam mang tên Úc-Đại-Lợi. Ban đầu, bài ca này được hát vẫn không đạt, bởi nét đẹp của bản ca bị nhận chìm bên dưới âm thanh mạnh bạo của lằn roi vọt đập lên lưng tội-phạm đến từ Anh-quốc và rồi, do tiếng than khóc của Thổ-dân thấp cổ/bé họng sống ở đây. Duy có bài ca còn cao cả hơn người hát, vẫn được ca và hát trong nhà ở hoặc nguyện-đường làm bằng gỗ, cùng thánh-đường nguy-nga, khi ấy lan rộng sang tận đất miền khô khan và rộng lan.

Cuối cùng, bài hát ấy đã đến với tôi theo cách nhẹ êm, yêu thương xuất từ miệng mẹ cha cùng người thân-thuộc. Giống nhiều triệu người sinh sống trước thời của tôi, cả tôi nữa cũng bị lôi-cuốn/mê hoặc bởi bài ca mà tôi vẫn muốn hát, muốn vui say/nhảy mừng với cả thân mình của tôi.

Bài ca nay không thể dừng lại ở thế-hệ của chúng tôi được nữa rồi. Đổi lại, chúng tôi cũng phải trao ban nét đẹp tuyệt-vời của nó cho những người đến sau tôi. Và khi làm như thế, chúng tôi sẽ luôn nhớ, rằng: bài ca này có hai đặc-trưng/đặc-thù, rất khác-biệt.

Thứ nhất, là: trong khi chúng tôi hát bài ca ấy một cách bết-bát/tệ-hại, thì dù gì đi nữa, ta vẫn hát cho hết khả-năng của mình. Và, người khác cũng sẽ nghe được dù không chỉ mỗi tiếng-giọng yếu-ớt của ta mà thôi, nhưng phía sau ta và ngang qua ta, họ sẽ còn nghe được tiếng giọng mạnh mẽ và chắc-chắn hơn, vì đó là chính tiếng giọng của Ngài, Đức Giêsu Kitô của ta.

Hai nữa, là: ta sẽ luôn hát hoài, hát mãi bài ca ấy cho hay-ho nhiều hơn nữa, mỗi khi ta học hát với nhau –không chỉ một tiếng giọng ở đây đó, mà sẽ cùng hát những lời khác hẳn giai-điệu ta từng hát trước đây, nhưng cùng chung một tiếng, một giọng, thế mới tuyệt. Bởi, rồi ra, toàn-thể thế-giới sẽ thực-sự biết rằng: vẫn còn bài ca đẹp đẽ, tuyệt-vời nhất mà họ chưa từng nghe biết.” (X. Gm Geoffrey Robinson, 2015 Synod, the Crucial Questions: Divorce and Homo-sexuality, ATF Press Australia 2015, tr. 6-8)

Vâng. Ở ngoài đời, cũng có bạn trẻ nọ từng nhận-định về chuyện hát hò ở trong đời, có những lời như sau:

“Cuộc đời, là những tiếng hát mà mỗi người chúng ta sẽ tự hát lên theo cách riêng của mình: có tiếng trong veo, vút cao, có tiếng khàn đục, trầm lắng. Cụ thể hơn, cuộc đời còn là sự song-hành của một chuỗi những buồn/vui, được/mất mà mỗi người sẽ tự hát lên, kể từ lúc bản thân mình bắt đầu nhận thức được về thế giới chung quanh, cho đến khi thấy mình nhẹ tênh như một chiếc lá lìa cành, tìm về đất mẹ. Và bên cạnh ngàn vạn tiếng ca với những âm-sắc bộn-bề buồn/vui, được/mất khác nhau ấy, ai cũng có một khoảng bình-yên ru hồn nương náu, nơi mà “địa đàng còn in dấu chân, bước quên”. (X. Anthony Trần, Du Ký Đi Tây Duc in Altum số 86 Quý 2/2014, www.giadinhanphong.com)

Chính thế. Cả đời ta và đời người, cùng đời của đấng bậc vị vọng là “thày cả” ở thế-giới này cũng như đám dân đen bên dưới rồi ra cũng sẽ hát lên bài ca yêu-thương đồng-hành cạnh bên nhau. Sẽ không còn cảnh trên dưới/trước sau nữa. Bởi, ta và người trước/sau như một, sẽ cùng ca và cùng hát chỉ mỗi bài ca yêu-thương, là tất cả.
Và tất cả, đều sẽ sướng vui với giai-điệu đằm-thắm ấy như bậc thánh-hiền xưa nay từng khẳng-định và nhủ-khuyên.
Để minh-hoạ điều này, nay mời bạn và mời tôi, ta đi vào vùng trời truyện kể có ý/lời sau đây:
“Truyện rằng:
Trước cổng một nghĩa trang nọ, người ta thấy có một chiếc xe Roll Royce sang trọng dừng lại. Người tài xế tiến lại người giữ cổng và nói: xin anh giúp một tay cho người đàn bà này xuống xe vì bà ta yếu quá không đi được nữa. Vừa ra khỏi xe, người đàn bà tự giới thiệu và nói với người giữ cổng nghĩa trang:
– Từ hai năm qua, mỗi tuần, tôi là người đã gửi cho anh 5 đô-la để mua hoa và đặt trên mộ con trai tôi, nhưng nay các bác sĩ bảo rằng, tôi không còn sống được bao lâu nữa, nên tôi đến đây để chào từ biệt và cảm ơn anh đã mua hoa giùm tôi.
Thế nhưng, người đàn bà không ngờ rằng người giữ cổng nghĩa trang trả lời như sau:
– Thưa bà, tôi lấy làm tiếc rằng bà đã làm công việc ấy!
Người đàn bà cảm thấy như bị ai đó vả vào mặt. Nhưng bà vẫn còn đủ bình tĩnh hỏi lại người thanh niên:
– Tại sao lại lấy làm tiếc về cử chỉ đẹp như thế?
Người thanh niên giải thích:
– Thưa bà, tôi lấy làm tiếc vì những người chết như con trai bà, chẳng bao giờ còn thấy được một cánh hoa nào nữa!
Bị chạm tự ái, người đàn bà liền cao giọng:
– Anh có biết anh đã làm tổn thương tôi không?
Người thanh niên bình tĩnh trả lời:
– Thưa bà, tôi xin lỗi, tôi chỉ muốn nói với bà rằng có rất nhiều người đang cần đến những cánh hoa của bà hơn. Tôi là hội viên của một tổ chức chuyên đi thăm những người già lão, các bệnh nhân trong viện dưỡng lão, các bệnh viện. Chính họ mới là những người đang cần đến những cánh hoa của chúng ta, họ có thể nhìn thấy và ngửi được cánh hoa ấy.
Nghe thế, người đàn bà ngồi bất động trên chiếc xe sang trọng một lúc, rồi ra hiệu cho tài xế mở máy. Vài tháng sau người đàn bà trở lại nghĩa trang. Nhưng lần này không cần ai giúp đỡ, bà tự động bước xuống xe với một dáng vẻ vui tươi nhanh nhẹn hơn, và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, một nụ cười rạng rỡ, bà nói với người thanh niên giữ cổng:
– Chú đã có lý, tôi mang hoa đến cho những người già lão, bệnh tật. Quả thật, điều đó đã làm cho họ được hạnh phúc. Nhung người thực sự hạnh phúc chính là tôi. Cac bác sỹ không biết được bí quyết làm tôi khỏe mạnh lại. Nhưng tôi đã khám phá ra cái bí quyết ấy, tôi đã tìm ra lẽ sống.

Và người kể, nay thêm đôi lời bàn Mao Tôn Cương, đã nói rằng:

“Giúp đỡ người khác là giúp đỡ chính mình”. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc của Thượng đế “cho thì có phúc hơn là nhận lãnh”. Bởi vì, trao ban cho người tức là trao ban cho mình. Một ngạn ngữ Anh cũng nói một cách tương tự: “điều tôi tiêu đi là tôi có, điều tôi giữ lại là tôi mất, điều tôi cho đi là tôi được”. Đó là lý luận của tình yêu. Tình yêu lớn lên theo mức độ của sự trao ban. Có biết yêu thương thì con người mới thực sự triển nở, và tìm gặp lại chính mình. Có biết yêu thương thì con người mới biết vui sống, và tìm được hạnh phúc đích thực trong cuộc sống.

Kể thế rồi, nay mời bạn mời tôi, ta lại sẽ hiên ngang hướng về phía trước, cứ thế ngâm nga đôi lời ca được người nghệ-sĩ viết lên vào thời trước, những hát rằng:

“Trên con đường một mình anh về nơi chốn tha hương.
Cơn đau xa người còn thấm môi hôn nhớ về ai.
Phút chia tay em nói lời tiễn đưa,
Mắt anh buồn nhìn em, thôi đã mất.”
Đêm hôm nào mùa trăng thu chờ em đến bên tôi,
Vùi thân rã rời hình bóng em theo chăn gối này.
Thoang hương xưa thôi cũng đành.
Nói cho nhau lời cuối cùng,
Dấu chân em rời căn gác buồn tênh.
Và ngày em đi, anh đưa môi tìm lên môi son cũ.
Dấu vết ái ân tan theo như lời nói khi lìa nhau,
Bàn tay như cố kéo những ước mơ đã mãi xa rồi.
Nhìn tháng năm tàn phai, hình bóng thôi còn ai.
(Hoàng Trọng Thụy – bđd)

Hát thế rồi, nay mới thấy: cứ “nhìn tháng năm tàn phai, hình bóng thôi còn ai”, nay anh có đồng-hành ở bên trên hay phía trước hết mọi người, rồi ra cũng chẳng là gì hết. Bởi, nếu không cùng cất tiếng hát “Tình thương yêu mến mộ”, hoặc nếu không yêu thương, nhường nhịn và tương kính nhau, thì có giành giựt cho lắm từ danh vọng đến chức quyền đi nữa, tất cả cũng chỉ là phù-vân, chóng hết, rất tầm thường.

Trần Ngọc Mười Hai
Nhiều lúc cũng có tâm-tư trầm lắng
Rất như thế.

Thấy gì ở bên ngoài nhân việc Tạ Phong Tần đi Mỹ

Thấy gì ở bên ngoài nhân việc Tạ Phong Tần đi Mỹ

Mai Tú Ân

Tù Nhân Lương Tâm Tạ Phong Tần, một chiến sĩ đấu tranh dân chủ bị kết án tù 10 năm đã bất ngờ được chính quyền Việt Nam trả tự do trước thời hạn 5 năm, và được đưa thẳng lên máy bay bay qua Mỹ. Chị hoàn toàn không được hưởng một giây phút tự do nào trên quê hương Việt Nam mà chị đã dấn thân và phải trả giá bằng nhiều năm tù đằng đẵng. Chị cũng không có được phút giây viếng mộ mẹ già, không được đốt cây nhang kính viếng đến người mẹ đã tự thiêu một năm sau ngày chị bị bắt giữ bất công.

Hoàn toàn giống với TS Cù Huy Hà Vũ và Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải trước đó, cũng bị lực lượng AN áp tải thẳng từ nhà tù tới phi trường để bay sang Mỹ. Thậm chí anh Điếu Cày vẫn không kịp thay đôi dép nhựa…

Đó là sự đổi chác, hay là sự biến tấu của những cuộc “đầy ải” biệt xứ thì chúng ta không biết, mà chỉ biết chắc rằng, đã có một thoả thuận ngầm nào đó giữa chính quyền Việt Nam và chính quyền Mỹ. Và những màn “xuất ngoại” vừa vội vàng vừa lỗi thời và không giống ai của những tù nhân lương tâm nổi tiếng đó chỉ là thực hiện thoả thuận bí mật trên mà thôi.
Có lẽ chính quyền Mỹ, qua sự đấu tranh của đồng bào hải ngoại, của các tổ chức quốc tế và qua truyền thống nhân đạo của mình (như vụ HO chẳng hạn) đã lại đưa bàn tay nhân ái ra để giúp cho những người tù nhân lương tâm đang bị đày ải bất công trong các nhà tù CS. Tất nhiên là người Mỹ cũng đấu tranh để đòi “tự do vô điều kiện” cho các TNLT nhưng có lẽ họ đã làm hết sức có thể và kết quả chỉ là thế. Và nếu có điều gì để nói thì chúng ta chỉ nên nói lời cám ơn chân thành.

Và giờ đây người phụ nữ can đảm Tạ Phong Tần của chúng ta đã đến với nước Mỹ của tự do, của đồng bào ruột thịt chung đường với cô giống như cá về với nước, như con cháu về với gia đình…

Nhưng, chúng ta hãy trở về với thực tế. Thế giới tự do hoá ra lại không hẳn là nơi hoạt động đắc địa cho các chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Những con người tốt nhất của phong trào đấu tranh trong nước (họ xứng đáng được gọi như thế bởi sự dấn thân, sự trả giá cho những lý tưởng của mình) thì khi qua nước ngoài thì dường như đều bị “ngợp” bởi sự công kích bất công, sự bới lông tìm vết, sự thù nghịch vô lý của một số thành phần, mà buồn thay lại là những người cùng chung chiến tuyến. Những người nổi tiếng như nhà báo Bùi Tín, nhà văn Vũ Thư Hiên trước đây, và Ts Cù Huy Hà Vũ, Blogger Điếu Cày vừa qua, người nhiều người ít nhưng đều là những người mà ở trong nước chúng tôi rất trân trọng, yêu mến nhưng họ đều vất vả, khổ sở khi phải đối phó, chống đỡ, thanh minh trước bao nhiêu búa rìu khi xuất ngoại…

Vẫn biết rằng quyền cá nhân phản biện là quyền dân chủ đương nhiên ở đất nước dân chủ, vẫn biết rằng số người công kích họ không phải là nhiều trong cộng đồng hải ngoại vốn công bằng, nhân hậu nhưng đó là những thành phần mạnh miệng, nhân danh đủ thứ và mạt sát đủ thứ khiến cho những chiến sĩ ấy của chúng tôi tổn thương, hoặc lạc lõng và ít nhiều đều giảm sức đấu tranh.

Tất cả hầu như đều bị chụp cho cái mũ ngớ ngẩn là CS, hay CS sang nằm vùng. Và không biết có phải ngẫu nhiên không khi hầu như tất cả họ đều là người xuất thân từ miền Bắc, hay ít nhiều dính líu đến chế độ CS. Chế độ mà họ đã và đang đấu tranh đến cùng. Đó là những người trí thức có tài, có tâm và có cả dũng nữa để dấn thân, và việc phải ra nước ngoài là việc chẳng đặng đừng. Nói một cách thật lòng thì đa phần những người dấn thân ở trong nước đều chấp nhận trả giá cho việc dấn thân, chứ không mấy ai hoan hỉ với việc “đi Mỹ” này.
Vậy mà giờ này vẫn có những cái tên, những con người “đồng chí hướng” với họ vẫn ra rả công kích bất công và vô lý , vẫn không ngừng bới lông tìm vết, không ngừng đòi hỏi để cuối cùng thì những người đó giống như những kẻ ngồi nhà bắc nồi để chờ ninh xương cọp làm cao hổ cốt, và lại lên tiếng mạt sát những người đã và đang ở trong hang cọp để bắt cọp.
Tất cả những điều đó không hạ gục được ai nhưng nó không chỉ buồn lòng những người ra đi, mà cả những người ở lại.

Mong rằng những điều không đáng có đó không đến với nữ nhi can đảm Tạ Phong Tần của chúng ta…

M.T.A

‘Diễu binh,’ chuyện như ‘diễu!’

‘Diễu binh,’ chuyện như ‘diễu!’

Nguoi-viet.com
Tạp ghi Huy Phương

Trước kia ở miền Nam, chúng ta chỉ nghe nói duyệt binh, diễn binh mà không nghe nói đến tiếng “diễu binh,” “diễu hành.”

Trong thời đại này, chúng ta phải hiểu “diễu binh” như thế nào? Mới đây nhân cuộc diễu binh ngày 2 Tháng Chín tại Hà Nội, có ký giả cắc cớ hỏi Trung Tướng Võ Văn Tuấn, phó tổng tham mưu trưởng quân đội, cũng là tổng chỉ huy cuộc diễu binh này, vì sao chúng ta “diễu binh” mà không diễn binh. Sau đây là câu trả lời:

“Duyệt binh là có vũ khí trang bị đi theo, như tên lửa, máy bay, xe tăng, đạn pháo… còn diễu binh chỉ có người diễu hành. Tạm thời, nhà nước đang sử dụng ‘diễu binh’ – tức là chỉ có con người mà không có vũ khí tham gia. Có nhiều nguyên nhân chúng ta tổ chức diễu binh chứ không phải duyệt binh, trong đó có việc tiết kiệm.”

Về mặt mày, thì ông Tuấn này “sáng sủa” hơn cả ông Lê Đức Anh và ông Phùng Quang Thanh nhiều, nhưng lối giải thích của ông này lại quá “tối tăm.”

Cô Phạm Trúc Sơn Quỳnh. (Hình: Facebook Phạm Trúc Sơn Quỳnh)

Như vậy, theo ông này “diễu binh” là chỉ có người, không có vũ khí kèm theo như xe tăng, đại pháo, hỏa tiễn! Nhưng trong lúc đó, báo chí, truyền hình Việt Nam đều loan tin hai cuộc “diễu binh” lớn của Nga ngày 5 Tháng Chín tại Moscow và của Trung Cộng ngày 3 Tháng Chín ở Bắc Kinh. Trong hai cuộc diễu binh này Nga va Trung Cộng đều phô trương các vũ khí hiện đại như phi cơ, hỏa tiễn tối tân nhất do chính các nước này sản xuất. Như vậy nói vì tiết kiệm mà Việt Nam chỉ có “diễu binh” mà không diễn binh là coi thường người đặt câu hỏi và khinh thường sự hiểu biết của quần chúng.

Trong tình thế này chính phủ CSVN không diễn binh mà chỉ “diễu binh” (không có vũ khí như lời ông Võ Văn Tuấn) chẳng qua là vì, không lẽ trong khi Tàu và Nga đang diễu võ dương oai, biểu dương vũ khí hiện đại do họ sản xuất, thì “bộ đội cụ Hồ” không lẽ đem AK47, B40, B41, pháo 130 ly, hỏa tiễn Sam, Stinger, giàn hỏa tiễn Kachiusa, Mig 15, xe tăng T54 thời “ta đánh là đánh (thuê) cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” ra để hù thiên hạ!

Ông Võ Văn Tuấn cũng chưa phân biệt được “duyệt binh” và diễn hay “diễu binh.”

Sau nghi lễ khai mạc, trước khi cuộc diễn binh hay “diễu binh” bắt đầu, vị nguyên thủ quốc gia lên xe mui trần cùng với chỉ huy của lễ diễn binh, đi “duyệt” hàng quân trong tư thế nghiêm và bắt súng chào. Sau khi vị nguyên thủ quốc gia trở về khán đài, cuộc diễn binh (hay diễu binh) mới bắt đầu và lần lượt các đơn vị tiến qua khán đài, được quan khách trên khán dài danh dự và dân chúng hai bên đường vỗ tay hoan hô.

Điều này chúng ta đã thấy qua các hình ảnh “duyệt binh” của VNCH với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, và tại Bắc Kinh Tháng Năm, 2012 với Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào.

Khi ký giả hỏi về việc tại sao lại bắn 21 phát đại bác trong ngày Quốc Khánh mùng 2 Tháng Chín mà không phải con số khác, ông Võ Văn Tuấn cho rằng, “Đến bây giờ chưa có ở đâu lý giải được vì sao lại bắn 21 loạt đại bác nhưng có thể liên quan đến ý nghĩa một tuần nhân với 3. Giống như tượng Oscar khi người ta làm ra thì tình cờ giống ông chú tên Oscar của những người làm (!)”

Thật là khó hiểu khi ông tướng này so sánh “khập khễnh” 21 phát đại bác với với chuyện tượng Oscar. Nếu ông chịu khó vào Wikipedia mà tìm thì đâu đến nỗi!

Về chuyện cô gái xinh đẹp dẫn đầu cho khối Quân Y là Phạm Trúc Sơn Quỳnh, “nữ sĩ quan xinh đẹp khối trưởng khối diễu binh quân y, làm sốt cộng đồng mạng bởi khuôn mặt xinh xắn, tác phong mạnh mẽ, dứt khoát, các động tác điều lệnh chuẩn mực,” thì dư luận cho rằng được mượn từ bên Đại Học Thương Mại, và được mang cấp bậc trung tá (hai vạch, hai sao). Bộ Quốc Phòng khẳng định cô là quân nhân chuyên nghiệp mang cấp bậc thiếu úy, chứ không phải đi mượn về. Về cấp bậc trung tá đeo mang trên ngực cô, theo Trung Tướng Tuấn, cô là người đi đầu khối nên phải mang cấp bậc theo quy định thống nhất về cấp chỉ huy khi “diễu binh.”

Vào YouTube xem “diễu binh,” chúng ta thấy thêm một điều nữa là tất cả lính tráng trong hàng quân đều mang một loại huy chương và số lượng huy chương giống nhau, mỗi người ba cái. Quân đội thì có người già, người trẻ, có người có chiến công, nhưng cũng có người vô tích sự, vì sao phải dối trá đồng loạt như vậy, ông Tuấn có cho đây là “nguyên tắc diễu binh” không? Bốn mươi năm ngồi không, mà bây giờ có anh lính mặt non choẹt mang cấp tá và huy chương đầy ngực.

Theo kiểu nói bình dân Nam Bộ ngày trước, đây là “lon Lèo!” và “huy chương Lèo!” hay là đồ hàng mã, giả dối, lừa người!

Cùng mang huy chương giống nhau. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Như vậy, cô Sơn Quỳnh được dẫn đầu khối quân y, mang cấp bậc trung tá chỉ vì cô trẻ, đẹp, và có lẽ sĩ quan cấp bậc lớn nhất trong khối này già và xấu, quá gầy hay quá mập nên đã bị “cách ly” không cho tham dự “diễu binh” như bọn cai tù vẫn thường giấu những anh tù “cải tạo” ốm đói bệnh tật mỗi khi có phái đoàn cấp trên hay báo chí đến thăm viếng trại tù. Theo tôi, Sơn Quỳnh có khuôn mặt khá bụ bẫm, nhưng nhan sắc cũng thuộc loại tầm tầm, nếu vị chỉ huy lễ “diễu binh” cần đến những cô trẻ, đẹp để dẫn đầu khối cho đẹp mặt chính phủ và đảng, tôi xin giới thiệu với ông, ngay đất Hà Nội, thiếu gì diễn viên, người mẫu, sinh viên chân dài, hiện nay đang làm nghề nằm, nên dựng mấy cô dậy mà cho đi “diễu hành” là đẹp nhất!

Câu chuyện dối trá này làm chúng ta liên tưởng đến câu chuyện của Thế Vận Hội Olympic Bắc Kinh năm 2008. Trung Cộng đưa một cô bé xinh đẹp tên là Lâm Diệu Khả, 9 tuổi, trình diễn ca khúc “Ngợi ca tổ quốc” tại lễ khai mạc, thực ra chỉ hát nhép môi và diễn thay cho giọng của ca sĩ thực là Dương Bái Nghi, 7 tuổi. Ca sĩ trẻ tuổi này không được xuất hiện vì nhan sắc và dáng dấp không bằng Lâm Diệu Khả.

Sự dối trá “vĩ đại” này được Trung Cộng ngụy biện rằng họ quyết định dùng em Lâm vì ”chúng ta phải đặt lợi ích của đất nước lên trước!”

Màn trình diễn pháo bông tại đêm khai mạc cũng là giả tạo, vì được ghép nối thêm trước khi chiếu trên TV cho cả thế giới xem. Ban tổ chức cũng giải thích “làm điều đó để tạo thuận lợi và ấn tượng ngoạn mục cho các đài truyền hình!”

Vậy thì sự thật và sự lương thiện không hề được “cha con nhà nó” tôn trọng.

Việt Nam khoe, một nhà báo Úc đã viết: “Gộp hết tất cả lễ hội lớn của Úc, các cuộc diễu hành, từ lễ hội Mardi Gras ở đường Oxford cho tới lễ hội Moomba ở Melbourne, cộng lại tất cả những đám đông đã đến dự Thế Vận Hội Sydney, hay những trận đấu bóng đá, cũng không bằng sự kiện 2 Tháng Chín ở Việt Nam.”

Úc thua Việt Nam là phải, nên chi dân Việt giờ này mà còn đóng tàu vượt biển sang Úc. Có gì đâu mà hãnh diện! Kiểu nhà nghèo, con nợ thiên hạ mà đòi chơi bảnh!

Mới đây, World Bank công bố Việt Nam nợ nần lên đến $110 tỷ và chỉ riêng khoản chi trả tiền lời đã lên đến 7.2% tổng chi ngân sách nhà nước.

Mãi vui tìm cành hoa trên cánh bướm

“Mãi vui tìm cành hoa trên cánh bướm”

Ai đưa ta lạc đến nước non này.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc tử)

Mai Tá lược dịch

Câu nhận-định trên cũng từa-tựa một nhận-định ở đây, lúc này, trong trình-thuật.

Trình thuật thánh Máccô hôm nay hẳn sẽ làm người đọc hài lòng, không ít. Hài lòng, theo cách thế mà con dân đi Đạo, vẫn kiếm tìm. Hài lòng, chẳng phải vì ta đã có được Lời vàng rất thánh, Ngài bảo ban. Mà, từ nay ta sẽ không đọc và hiểu Lời Ngài theo nghĩa đen tuyền, thể-chất nữa.

Bởi, nếu tất cả những người anh, người chị trong Giáo Hội chỉ biết đọc và hiểu Lời Chúa một cách đen tuyền thể chất như thế, ắt hẳn rồi ra ai cũng tự biết mình sẽ phải làm gì, khi đọc xong văn bản. Đọc Tin Mừng –như bài trình thuật hôm nay vừa kể- mà lại hiểu theo nghĩa đen, e rằng ai cũng sẽ phải móc mắt, chặt tay liệng bỏ mọi cơ duyên lòng-thòng tội lỗi, khiến cuộc đời trở nên ô-trọc.

Sự thật, không phải thế. Có điều chắc, là: người đời vẫn ngang-nhiên cứ muốn sống. Cứ yêu và thở, dù đã làm những điều quái gở, rất nhiều lần. Vẫn sống, mà chẳng thấy mối mọt đục khoét đôi bàn tay, hoặc cả chuyện lửa cháy đêm đen vùng luyện tội, cũng thế.

Làm con dân Đức Chúa, ta tin rằng Ngài mặc-khải cho ta nhiều sự việc, rất đích-thực. Ngài mạc-khải ơn cứu-độ. Mặc khải Tình thương-yêu dạt-dào, chứ không phải lời sấm quả-đoán, rất tương-lai. Quả thật, Đức Chúa quyền-năng là Đấng truyền-đạt hiệp-thông, rất khéo léo. Như bậc Thầy trên bục giảng, Ngài sử-dụng ngôn-từ, ảnh-hình để diễn-tả cảnh-tình, Ngài muốn dạy.

Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu sử-dụng hình-ảnh sự dữ/ác thần một cách nghiêm-chỉnh. Và, thánh Mác-cô còn viết về sự dữ/ác thần cứ quẩn-quanh bên Chúa như thể-chất, xuất từ bên trong con người. Và, cả những thành-phần hữu-thể, thoát xác ra bên ngoài, nữa.

Trình thuật hôm nay khuyên ta nên dừng lại. Biết chấm-dứt hành-vi xấu xa tồi-tệ, vẫn cản-ngăn ta về với tình thương-yêu Đức Chúa. Hành-vi lỗi-phạm thường rơi vào hai đặc-thù chính-yếu ở nhân-trần, đó là: lề-thói thân-quen và thói-tục o-ép, thúc-giục.

Lề-thói thân-quen là chuyện thường tình, dễ gặp. Cũng có thể, đây là thói thường tình mà ta năng gọi là: thói quen tốt. Có lề thói như thế, cũng chẳng có gì khiến ta bận-tâm. Tựa hồ như: biết nói lời “xin vui lòng” và  “cảm ơn”. Cũng có thể, là những tập-quán tốt, khi khởi-sự thì rất đẹp, rất có lý. Phải đạo. Nhưng đến hồi kết-thúc, vẫn thôi-thúc ám ảnh, khôn nguôi. Tựa hồ như: lề-lối trau-chuốt cho thân thể, rất hợp tình. Thói-tật thân-quen thường xảy đến, có thể là: hành-động dối-trá, bất lương hoặc trộm cắp, khó bỏ. Hành-vi này, thường dẫn đến kết-cuộc tồi-tệ, suy sụp.

Cùng một lúc, hành-vi o ép/thúc-giục, lại thuộc một trật-tự khác. Đây là những hành-vi lập đi lập lại, cứ thế không dứt. Như: cố tật cờ bạc rượu chè, chè chén say sưa, rong chơi mua sắm, hút sách bạo động. Mê làm việc, nhậu nhẹt phá phách. Chích choác kích-dâm, đỏ đen/cá độ hoặc chuyện trò trên mạng liên-hồi không dứt. Nhất nhất, đều là biểu-hiện thời thượng của hành vi o ép, thúc giục.

Các lề-thói nghiện-ngập nói trên, vẫn dày vò tâm-can con người thời-đại, không ít. Điều này chứng-tỏ, đã có ảnh-hưởng lên sự tự tin, lòng quả-cảm. Hoặc, bản chất di truyền, của bản thể. Một trong những câu nói diễn-tả trạng-huống khó tả của lề-thói o-ép, thúc-giục, là: tâm-tình hát lên thành tiếng “không biết vì sao tôi buồn”…Buồn tình, buồn đời nên vội tìm đến chốn không ngủ yên. Cứ thế bế-tắc rồi lại rơi vào bế-tắc, trầm-luân lại tìm chốn trầm-luân.

Chính vì thế, chẳng lạ gì khi có nhiều người tự thấy vẫn cô đơn, bơ vơ, đơn lẻ. Dù, trên thực tế, họ đang ở giữa chốn phồn-hoa, vui nhộn. Thậm chí, có người còn tìm cách phá hủy vài cơ phận trong người mình, để lẩn tránh cô-đơn. Không tìm ra đoạn kết, của mọi việc.

Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh, rằng: ta phải chấm dứt hành-vi tự-hủy và tìm đến giải-pháp chữa chạy, bằng ba phương-án tích-cực.

Trước hết, làm những gì có ích, có lợi để giữ mình. Có người lại tìm đến những giải-pháp khác thường. Quyết hàn-gắn cuộc đời bằng những gì thuộc phần sầu-lắng, nội-tâm. Khả dĩ sắp xếp lại mảnh vụn đời mình, về với nhau. Không cần biết việc ấy có được người khác chuẩn thuận hay không. Có thích hợp với niềm tin đi Đạo, hay không. Miễn là giải pháp ấy không đưa họ về với lề thói hủy hoại, là được rồi. Phương án này tựa như lập trường Chúa nói: “ai không chống ta là ủng hộ ta”. Ai không phản ta, là bạn ta.

Thứ đến, là phương-án chấp-nhận để người khác giúp mình. Chẳng ai lại có thể đơn-thương/độc mã, chiến-đấu mãi cả một đời người. Đây, là giải-pháp áp-dụng hiên-ngang 6 bước trong tiến-trình điều nghiên cai rượu, cai thuốc. Phương-án này được hiểu là thái-độ chia sớt gánh nặng. Để, chấm-dứt lề-thói không hay, của nhau. Bạn bè, người thân chẳng thể nào hiểu được hết những khúc-mắc nơi thái-độ của mình, nếu người ấy không có kinh-nghiệm chuyên-môn, để giải-quyết.

Bởi vậy, người mắc thói-tật nghiện-ngập vẫn cần lời khuyên thích-đáng của chuyên-viên, nhà nghề. Cũng cần nghe theo lời khuyên của những người có kinh-nghiệm chữa-trị. Và, sự giúp đỡ cũng như nương-tựa, đỡ-nâng nhận được từ người đạo-đức/chức-năng, rất chuyên-môn, như chén nước tươi mát được Chúa nói đến ở trình-thuật.

Thế kỷ 16, thánh I-Nhã thành LoyÔLa từng khuyên-dặn: nếu ta biết tự kiểm-điểm để xem tại sao, ở đâu, khi nào, làm cách nào và mình có thói-quen nào, hay theo ai, khiến mình dễ rời xa tình thương yêu của Đức Chúa, thì khi đó ta mới tìm được lý-do: sao ta làm thế? Và nhờ vậy, mới chuyển đổi thói quen đúc sẵn.

Thành thử, nếu cứ ngồi đó mà than “tình đời thay trắng đổi đen”, thì e rằng sẽ còn quá nhiều nước, để mãi mãi sẽ không kịp tát.

Và, nếu như ta cứ mải nói “không” với mọi chuyện, ta sẽ chẳng còn biết ra được chính mình, như là mình. Biết mình như là mình, hoặc biết mình là ai, chứ không phải: mình muốn mình là ai, mình muốn mình ra sao, cũng mặc!

Và, nếu cứ nóĩ  “không” với hết mọi chuyện, kể cả chuyện có được phương-án tích-cực, để giải-quyết yêu-đương hoặc thói-tật o-ép, ta sẽ không còn cơ-hội chọn-lựa cho cuộc sống được tốt hơn. Một chọn-lựa khả dĩ biết đặt sự sống lên trên mọi hủy-họai, chết-chóc. Và, cuộc sống sẽ đưa đời mình đi vào ngõ cụt khác.

Thành thử, vào với Tiệc thánh hôm nay, ta quyết-tâm tìm cho được phương-án tích-cực. Tích-cực hơn, để không còn nói  tiếng “không”, như thế nữa. Nhưng, sẽ tích-cực mà chọn-lựa cuộc sống, đặt lên trên hết mọi sự dữ/ác thần.

Trong cảm-nghiệm như thế, nay tạ hát lại lời thơ ngâm mãi vẫn ở trên, rằng:

“Mải vui tìm cành hoa trên cánh bướm,

Ai đưa ta lạc đến nước non này.

Mùi cỏ lạ thơm như mùi nhụy chớm,

Cùng tiếng tiêu đồng hợp-chất nồng say.”

(Hàn Mặc Từ – Duyên Kỳ-ngộ)

Duyên kỳ ngộ, hay “cành hoa trên cánh bướm, (đưa nhà thơ) lạc bước nước non này”, đều là tâm-tưởng của con người có được hạnh-phúc chốn nồng say, đầy những duyên. Vẫn mong rằng người nhà Đạo chúng ta cũng sẽ tìm được mối phúc hạnh ra như thế, ở trên đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mc 9:38-43, 45:47-48)

Khi ấy, ông Gioan nói với Đức Giêsu:

Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.

Đức Giêsu bảo:

Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.”

Luật Báo chí sửa đổi chưa công nhận báo chí tư nhân

Luật Báo chí sửa đổi chưa công nhận báo chí tư nhân

Việt Nam nói cần sửa đổi Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng, nhưng vẫn không cho phép có báo chí tư nhân.

Việt Nam nói cần sửa đổi Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng, nhưng vẫn không cho phép có báo chí tư nhân.

Trà Mi-VOA

18.09.2015

Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam nhất trí với hầu hết nội dung của Luật Báo chí sửa đổi vừa được Bộ Thông tin Truyền thông trình lên ngày 17/9, theo thông tấn xã Bernama dẫn nguồn từ truyền thông trong nước.

Luật sửa đổi bao gồm 6 chương, 60 điều khoản. Trong số này có 31 điều mới và 29 điều sửa đổi – bổ sung nhằm phù hợp với thực tiễn mới, thi hành Hiến pháp năm 2013, bản hiến pháp mà Việt Nam nói là nêu bật cam kết của nhà nước trong việc bảo vệ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do thông tin của người dân.

Báo Thể thao Văn hóa dẫn lời Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son phát biểu tại cuộc họp hôm thứ Năm rằng: “Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người, được thể hiện trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị của Liên Hiệp Quốc. Quyền tự do báo chí được hiểu là việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của con người thông qua báo chí. Báo chí có vai trò là phương tiện để mọi công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình”.

Giới chức Việt Nam cho hay trong số các chủ điểm mới của Dự thảo luật so với Luật hiện hành có việc bổ sung thêm 1 chương quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí theo tinh thần Hiến pháp 2013.

Báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt. Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này.

Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son.

Một cựu đảng viên từng công tác trong Ban an ninh Nội chính thành ủy, chuyên nghiên cứu an ninh trong đó có vấn đề an ninh tư tưởng – văn hóa nay là một nhà báo tự do được nhiều người biết đến, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, nhận xét về nét mới của luật sửa đổi:

“Chỉ có 2 nét . Có bổ sung 1 chương mới hoàn toàn liên quan đến quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trong báo chí. Một quan chức trong Ủy ban Thường vụ Quốc hội có ý kiến là cần phải ghép thêm cả quyền tự do ngôn luận vào Luật báo chí vì không thể tách rời tự do ngôn luận của nhà báo với công dân vì nhà báo cũng là công dân. Có vẻ như việc này nằm trong lộ trình cải cách khung luật pháp do Mỹ và một số Tây phương yêu cầu, và là một đề xuất của các quốc gia trong chương trình Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát UPR tại Thụy Sĩ vào tháng 2/2014 trong đó có gần 20 ý kiến của các quốc gia đề nghị Việt Nam phải cải cách luật báo chí theo hướng tự do, cởi mở. Đó là nét mới của Dự luật báo chí, nhưng có điều là vẫn không có một từ ‘tư nhân’ nào trong Dự luật báo chí này, nghĩa là Việt Nam vẫn chưa chấp nhận cho tư nhân được phép ra báo chí”.

Việt Nam trong nhiều năm nay liên tiếp bị cộng đồng quốc tế và các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới liệt kê vào danh sách các nước vi phạm tự do ngôn luận, không có tự do báo chí, với nền báo chí hoàn toàn đặt dưới sự kiểm soát của nhà nước.

Việt Nam nói Luật báo chí hiện hành sau 16 năm áp dụng cần sửa đổi vì những thay đổi thực tiễn của truyền thông mới và các hoạt động báo chí ngày nay.

Tuy nhiên, theo luật sửa đổi, báo chí vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của đảng Cộng sản cầm quyền, không có báo chí tư nhân.

Truyền thông nhà nước dẫn lời Bộ trưởng Thông tin Truyền thông khẳng định ‘Báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt. Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này’.

Ông Son nói thêm rằng ‘Phải quán triệt báo chí của chúng ta là báo chí cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, quản lý của nhà nước’.

Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, một trong những tổ chức xã hội dân sự mới thành lập cổ súy cho quyền tự do báo chí trong nước, cho rằng dù chưa công nhận báo chí tư nhân, nhưng luật báo chí sửa đổi phần nào cũng mang lại tia hy vọng về một bước chuyển đổi tích cực hơn cho nền tự do báo chí tại Việt Nam.

Bây giờ có thể bắt đầu cải cách sửa khung luật về tự do báo chí, đôi nét mở cửa một chút cho tự do báo chí nhà nước nhưng chưa đề cập tới báo chí tư nhân, càng chưa đề cập đến mạng xã hội vốn bị coi là nhạy cảm, nguy hiểm chính trị. Nhưng có thể sau đại hội 12, với tỷ lệ những gương mặt ‘kỹ trị’, có thể cởi mở hơn một chút về mặt chính trị trong Bộ Chính trị, thì xã hội có thể hy vọng những gương mặt đó có thể chấp nhận nhiều hơn nữa dân chủ hóa, nhiều hơn nữa tính tự do trong báo chí.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng dự đoán:

“Có một chút hy vọng cho tự do dân chủ tại Việt Nam, đặc biệt là tự do ngôn luận trong báo chí. Trước 2011 ở Miến Điện không thể nói tới báo chí tư nhân, nhưng tới 2013 không thể tưởng tượng là Tổng thống Then Sein đã cho ra luật tự do báo chí và cho phép báo chí tư nhân hoạt động. Ở Việt Nam, tôi cho là cũng đang diễn tiến theo một lộ trình chậm. Bây giờ có thể bắt đầu cải cách sửa khung luật về tự do báo chí, đôi nét mở cửa một chút cho tự do báo chí nhà nước nhưng chưa đề cập tới báo chí tư nhân, càng chưa đề cập đến mạng xã hội vốn bị coi là nhạy cảm, nguy hiểm chính trị. Nhưng có thể sau đại hội 12, với tỷ lệ những gương mặt ‘kỹ trị’, có thể cởi mở hơn một chút về mặt chính trị trong Bộ Chính trị, thì xã hội có thể hy vọng những gương mặt đó có thể chấp nhận nhiều hơn nữa dân chủ hóa, nhiều hơn nữa tính tự do trong báo chí. Biết đâu theo lộ trình, cùng với đà nhà nước cần chấp nhận mô hình công đoàn độc lập, có thể cuối năm 2016 vừa triển khai từng bước cho công đoàn được độc lập tại Việt Nam và đồng thời cũng có thể bắt đầu chấp nhận từng phần tư nhân hóa báo chí ở Việt Nam”.

Cựu cán bộ của Ban an ninh Nội chính thành ủy nói báo chí tư nhân đã xuất hiện tại Việt Nam từ cuối những năm 90 tới nay vẫn chưa được nhà nước công nhận, nhưng ông tin rằng không bao lâu nữa loại hình này sẽ được ‘chính thức’:

Nhà báo Phạm Chí Dũng:

“Báo chí tư nhân tại Việt Nam là một quy luật, không thể chống lại được. Tôi tin rằng chưa tới 3, 4 năm nữa báo chí tư nhân sẽ xuất hiện một cách chính thức ở Việt Nam”.

Việt Nam hiện đứng thứ 175/180 quốc gia trong bảng xếp hạng về tự do báo chí do tổ chức Phóng viên Không biên giới RSF thực hiện, sụt một hạng so với bảng đánh giá năm ngoái. Các lãnh đạo hàng đầu Việt Nam cũng có tên trong danh sách của RSF về ‘Kẻ thù của Internet’ và ‘Đe dọa ký giả’.

GHEN TỴ !

GHEN TỴ !

Kn 2, 12. 17-20;  Gc 3, 16 – 4, 3;  Mc 9, 29-36

Tác giả: Huệ Minh

Cái ác, sự ghen tương nó đã len lỏi vào cuộc sống của con người, vào đòi sống của con người từ những ngày tạo thiên lập địa.Cũng chính vì ganh tỵ với Thiên Chúa nên hai ông bà nguyên tổ đã đánh mất đi tình yêu của Thiên Chúa. Cái ác và ghen tương của ông bà đã để lại cho con cháu những bài học quý giá nhưng rồi dường như chẳng ai muốn học cả. Đơn giản bởi lẽ con người vẫn mãi mãi ghen tương.

Sách Huấn ca vừa nói vói ta : Những kẻ gian ác nói rằng: “Chúng ta hãy vây bắt kẻ công chính, vì nó không làm ích gì cho chúng ta, mà còn chống đối việc chúng ta làm, khiển trách chúng ta lỗi luật và tố cáo chúng ta vô kỷ luật. Vậy chúng ta hãy xem điều nó nói có thật hay không, hãy nghiệm xét coi những gì sẽ xảy đến cho nó, và hãy chờ xem chung cuộc đời nó sẽ ra sao. Vì nếu nó thật là con Thiên Chúa, Chúa sẽ bênh vực nó, sẽ giải thoát nó khỏi tay những kẻ chống đối nó. Chúng ta hãy nhục mạ và làm khổ nó, để thử xem nó có hiền lành và nhẫn nại không. Chúng ta hãy kết án cho nó chết cách nhục nhã, vì theo lời nó nói, thì người ta sẽ cứu nó!”

Người công chính bị người ác mưu hại và còn hơn nữa là thách thức Thiên Chúa.

Sự ác, sự ghen tuông tưởng chừng chỉ có ở thời Cựu Ước hay như ông bà nguyên tổ Ađam nhưng rồi cứ kéo dài mãi cho đến thời các môn đệ.

Đã là những người gần gũi, đã là những người thân tín, lẽ ra nhường nhịn nhau, thông cảm cho nhau nhưng rồi lại cứ phải hơn thua, tranh giành.

Hôm nay, sự tranh giành, tính toán hơn thua nhau ta thấy có tự trong hàng ngũ những môn đệ thân tín của Chúa Giêsu. Trên đường đi loan báo Tin Mừng nhưng rồi các ông đã sống sai Tin Mừng và xa rời Tin Mừng mà Thầy Giêsu đang muốn gửi đến cho nhân loại, muốn gửi đến cho các ông và nhất là qua các ông là những người gần gũi.

Ắt hẳn là con người, khi các môn đệ đã nhắm đến chỗ cao, chỗ hơn thì chính trong nội bộ đã gây chia rẽ với nhau rồi. Và khi nội bộ của những người loan báo Tin Mừng gây chia rẽ thì tiếng nói của Lời Chúa, những lời rao giảng về Chúa coi như ra rỗng tuếch.

Ngày nay, điều mà người ta vẫn dễ nhận thấy đường hướng của những người gây chia rẽ là ai trong cuộc sống. Nếu như không tỉnh táo con người sẽ dễ bị cuốn hút đi theo con đường gây chia rẽ đó.

Thật ra mà nói, nếu như con người chấp nhận cái tôi của mình, sự yếu đuối của mình và nhất là không chay theo tiền bạc cũng như quyền lực thì sự hơn thua, ganh tỵ, chia rẽ khó mà có chỗ ngự trị. Ngược lại, nếu như con người ta để cho cái tôi của mình ngày một lớn thì sự chia rẽ đó càng mạnh.

Ngày nay, phải nói rằng sự chia rẽ ngay trong nội bộ gia đình, cộng đoàn đã đến mức báo động đỏ cũng chỉ vì người ta hơn thua tranh giành nhau. Có khi chỉ vài tấc đất thôi nhưng người ta có thể thù oán nhau và hại nhau có khi là mất mạng.

Ngày nay, người ta dễ nổi nóng với nhau cũng như dễ hành xử với nhau trong tư cách là con hơn là người. Cũng dễ hiểu bởi đó là tác động của xã hội nhưng rồi không thể nào đổ lỗi cho xã hội để ta cuốn theo xú u hướng của xã hội như thế.

Đau lòng hơn cả là trong những cộng đoàn tu trì cũng như giữa các đấng các bậc với nhau. Có thể không nói ra nhưng những lời xầm xì của những người trong nhà, của cộng đoàn đã để lọt ra ngoài để cho người ngoài nhìn thấy chính nội bộ cộng đoàn tu trì gây chia rẽ hơn thua nhau.

Chuyện giản đơn là chức vụ, xét cho bằng cùng chức vụ cũng chỉ là cộng đoàn đưa lên để phục vụ cộng đoàn.

Phải nói rằng ngày hôm nay hơn bao giờ hết người ta ghen tuông với nhau đến tột cùng. Chính vì sự ghen tuông mà người ta hành xử với nhau có khi không còn là tình người, là tính người nữa.

Ghen tuông nó len lỏi vào con người rất khéo léo và ẩn nấp dưới cái vẻ đẹp là phục vụ. Cần nhìn lại, lắng đọng tâm hồn để xét về chính bản thân mình xem vai trò của mình trong cộng đoàn, trong gia đình, trong họ đạo … để rồi ta nhìn lại xem ta có tính hơn thua, giành giật hay không.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để ngày mỗi ngày chúng ta bớt đi cái tính hơn thua, tranh giành trong tâm hồn ta để ta mặc lấy tâm tình hiền từ, nhân hậu và nhẫn nại để đối xử với nhau. Có khi đó, tâm hồn ta mới bình an thật sự và những người sống quanh ta mới bình an.

Tác giả: Huệ Minh

ĐỜI TÔI TIẾN BƯỚC NHƯ MỘT CON LỪA

ĐỜI TÔI TIẾN BƯỚC NHƯ MỘT CON LỪA

Văn Hào, SDB

Nhà văn Bossuet đã viết: “Ai trong chúng ta không có thói tự kiêu, người đó là thượng đế.”  Câu nói của nhà văn ngụ ý rằng, tự bản chất con người chúng ta ai cũng có cái tôi ích kỷ, thích được người khác nể trọng và thán phục.  Trong xã hội ngày nay, chúng ta thấy nhan nhản những khẩu hiệu, như “Cán bộ là đầy tớ của nhân dân” hoặc sống “Yêu thương để phục vụ”… nhưng trong thực tế, nhiều khi đó chỉ là những khẩu hiệu lý thuyết, và lắm lúc những khẩu hiệu xem ra đao to búa lớn ấy chỉ là những sáo ngữ rỗng tuếch.  Tuy nhiên, nếu can đảm và thẳng thắn nhìn lại cách sống của chính chúng ta là các Kitô hữu, đặc biệt nơi các anh em linh mục, chúng ta sẽ thấy rất rõ cái tôi của mình, qua cung cách trịch thượng hoặc qua lối hành xử hách dịch mà chúng ta rất hay biểu tỏ ra bên ngoài.

Lời Chúa hôm nay nhắc lại cho chúng ta tiêu chí căn bản để trở nên môn đệ Đức Giêsu: “Ai muốn làm đầu phải làm người rốt hết, và làm kẻ phục vụ mọi người” (Mc 9, 35).  Khiêm tốn để phục vụ là bài học căn bản mà chúng ta phải học, học mãi, học cho tới suốt đời, để sao chép lại cách sống của chính Đức Giêsu như Ngài đã từng nói: “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29).

Khiêm nhường, khởi đầu của mọi nhân đức.

Thánh Tôma Aquinô diễn tả có vẻ hơi cường điệu.  Ngài nói: “Khi chúng ta chết đi, cái tôi của chúng ta sau 15 phút mới chết hẳn.”  Cái tôi ích kỷ và kiêu căng vẫn luôn đeo bám dai dẳng nơi tất cả mọi người.  Tội đứng đầu trong bảy mối tội chính là tính kiêu ngạo.  Đây chính là tội đầu tiên đã du nhập vào trần gian, và đó cũng là tội mà Thiên Chúa ghét bỏ nhất.  Adam đã sa ngã vì kiêu ngạo muốn trở nên ngang bằng với Thiên Chúa.  Tháp Babel cũng là biểu tượng của sự kiêu căng khi con người muốn nổi loạn chống lại Thiên Chúa.  Luxiphe là một thiên thần biến chất cũng chỉ vì quá tự phụ.  Quả thật, khuynh hướng kiêu ngạo đã ăn sâu nơi bản tính con người, và trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta luôn phải đấu tranh liên lỉ để vượt thắng.  Trong thư gửi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô đã viết: “Vì một người duy nhất đã không vâng phục Thiên Chúa mà muôn người trở nên tội nhân” (Rm 5, 19). Con người đó chính là Adam.  Tội Adam hay gọi là tội nguyên tổ, khởi đầu của các giống tội, chính là kiêu ngạo và bất tuân.  Tính kiêu ngạo đã ăn sâu vào bản tính nhân loại nơi chúng ta.

Có một câu ngạn ngữ tây phương đã viết: “Cái tôi thì đáng ghét” (le moi est haissable).  Ai trong chúng ta cũng biết điều này, nhưng không phải giản đơn nếu chúng ta muốn khuất phục cái tôi đáng ghét đó.  Thánh Phêrô cũng khuyên dạy các tín hữu: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho ai khiêm nhường.  Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa (1P 5, 5-6).  Qủa thật, khiêm nhường chính là cửa ngõ dẫn đưa chúng ta đi vào sự thánh thiện, bởi vì khiêm nhường chính là mẹ sản sinh các nhân đức khác (tư tưởng của Tennyson).

Khiêm nhường: linh đạo Thập giá.

Sự khiêm nhường mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay không chỉ đơn thuần là một đức tính nhân bản, nhưng đây chính là linh đạo Thập giá.  Đó là con đường trọn lành mà Đức Giêsu đã gợi mở để mời gọi chúng ta dấn bước vào: “Ai muốn theo tôi, hãy bỏ mình vác thập giá mình mà theo” (Mc 8, 34).

Hai ngàn năm trước, Đức Giêsu đã đến trần gian để thực hiện sứ mạng cứu thế.  Ngài đã khởi đầu cuộc hành trình tại máng cỏ Bêlem và kết thúc sứ mạng nơi đỉnh cao Thập giá.  Bêlem và Golgôtha là hai thông số của một thực tại duy nhất: Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người.  Để diễn bày tình yêu, Thiên Chúa cao cả đã tự nguyện mang lấy kiếp người hèn hạ.  Một Thiên Chúa đầy uy quyền và dũng lực lại ẩn dấu trong dáng dấp của một bé thơ mỏng manh và yếu ớt.  Một đứa trẻ mới sinh ra chưa có thể làm được điều gì.  Nó cần đến vòng tay che chở của cha, cần những giọt sữa yêu thương của mẹ để được lớn lên.  Trẻ Giêsu còn cần đến cả những hơi thở của những con bò con lừa giữa đêm khuya lạnh giá.  Vì thế, trong bài Tin mừng hôm nay, để nói về sự khiêm tốn, Chúa mượn lại hình ảnh của một đứa bé như một chuẩn mẫu: “Ai tiếp đón một em bé như em này vì danh thầy, là tiếp đón chính thầy” (c.37).  Một đứa trẻ trong xã hội Do thái khi xưa hoàn toàn không có một giá trị gì về mặt xã hội.  Nhưng Đức Giêsu luôn yêu quý trẻ thơ.  Ngài còn đề cao các em nhỏ và mời gọi các môn đệ phải nên giống trẻ thơ.  “Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không trở nên như trẻ thơ, thì sẽ chẳng được vào nước trời.  Vậy ai tự hạ và nên như trẻ nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong nước trời” (Mt 18, 2-4).  Đứa bé còn là hình mẫu về sự nghèo khó mà Chúa nói đến.  Một đứa con nít không có vị thế gì trong xã hội.  Chúng chẳng bao giờ dám mơ tưởng sẽ làm ông này hay bà nọ.  Chúng cũng nghèo xác nghèo xơ, không có tài sản hay tiền bạc trong túi.  Tinh thần nghèo khó chính là mối phúc đầu tiên trong tám mối phúc mà Chúa Giêsu đã công bố trong bài giảng trên núi, và đây cũng chính là linh đạo thập giá, đi đôi với sự khiêm tốn nội tâm mà Chúa nói tới trong Tin mừng hôm nay.

Viễn ảnh thập giá xem ra rất mù tối đối với các học trò của Chúa Giêsu.  “Con người sẽ bị nộp vào tay người đời.  Họ sẽ giết chết Người, và sau ba ngày Người sẽ sống lại.”  Thánh Marcô xác nhận: “Các ông không hiểu lời nói đó (Mc 9, 32), bởi vì con đường theo Đức Giêsu còn rất nhiều trầy truột và gian nan.  Đối diện trước cái chết, Đức Giêsu đã bị người đời chửi rủa, mạt sát, và coi khinh.  Ngài vẫn không cự cãi một tiếng, không chống trả một câu.  Sự thinh lặng của Ngài không phải là một sự câm nín thụ động, nhưng đó là ngôn ngữ phong phú nhất để dạy chúng ta bài học khiêm tốn.  Trong bài đọc thứ nhất, tác giả sách Khôn ngoan cũng phác vẽ trước viễn ảnh Thập giá này: “Ta sẽ hạ nhục nó và tra tấn nó để biết nó hiền hòa làm sao, và để xem nó nhẫn nhục tới mức nào.  Nào ta sẽ kết án cho nó chết một cách nhục nhã” (Kn 2, 19-20).  Mầu nhiệm Thập giá hàm ngậm sự tự hủy luôn luôn là một thách đố đối với các học trò của Chúa Giêsu năm xưa cũng như đối với mọi người chúng ta hôm nay.  Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Philip cũng vạch dẫn con đường này, và Ngài mời gọi chúng ta nhìn vào linh đạo Thập giá như là khung căn bản định hình sự khiêm tốn nội tâm: “Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên Thập tự (Phil 2, 6-8).

Vì vậy, sự khiêm tốn không chỉ đơn thuần là một đức tính nhân bản, nhưng chính là linh đạo Thập giá.  Chúng ta học sống khiêm nhường không phải theo gương của vị vĩ nhân này hay lối sống của nhà hiền triết nọ, nhưng chúng ta được mời gọi nhìn vào chính Đức Giêsu chịu đóng đinh để sao chép lại lối sống và tiếp bước dấu chân của Ngài.  “Anh em hãy học nơi tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.

Đời tôi tiến bước như một con lừa.

Đây là tựa đề một quyển sách Đức Hồng y Etchegarey đã viết khi suy tư về hành trình ơn gọi của mình.  Ngài vay mượn hình tượng một con lừa để mô tả.  Người đời vẫn thường nói: “Ngu như bò và dốt như lừa.”  Nhưng bò và lừa lại là hai vị thượng khách được ưu tuyển để đến cung chiêm Vua Trời đất khi Ngài mới hạ sinh.  Đức Hồng y cũng mượn lại hình ảnh con lừa chở Chúa tiến vào Giêrusalem để nói về hành trình ơn gọi của Ngài.  Người dân hai bên đường vỗ tay reo hò, trải áo và cầm cành lá trên tay để nghinh đón.  Con lừa vẫn không vênh mặt lên để tự mãn, vì những lời tung hô đó dành cho Chúa chứ không phải cho nó.  Nó mãi mãi cũng chỉ là một con lừa mà thôi.  Đường vào Giêrusalem đầy sỏi đá làm chân nó đau nhức, nó vẫn không một lời kêu than.  Con lừa vẫn cứ âm thầm lặng lẽ mang Chúa trên vai, và tiến bước một cách ngoan thuần.  Nó khiêm tốn bước đi để Chúa hướng dẫn, và suốt đời nó mãi mãi vẫn chỉ là một con lừa mà thôi.  Cuộc hành trình ơn gọi của mỗi người chúng ta cũng phải giống như vậy.  “Đời tôi tiến bước như một con lừa” chính là như thế.  Thái độ căn bản chúng ta cần phải có là khiêm tốn để Đức Giêsu hướng dẫn đời mình.  Chính Đức Giêsu đã nêu gương cho chúng ta, như Ngài đã thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, này con xin đến để thi hành thánh ý Cha.” Khi đi vào trần gian, Ngài đã đến “không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến ban mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người” (Mt 20,28).

Chủ nghĩa ‘cha chú’ (paternalism)

Thánh Phanxicô Assisi là gương mẫu cho chúng ta về tinh thần khiêm tốn và nếp sống khó nghèo.  Ông Stalin, một lãnh tụ vô thần, cho dù không tin vào Thiên Chúa, nhưng  khi đọc tiểu sử của thánh nhân đã thốt lên: “Nếu tôi có trong tay 10 người như Phanxicô, tôi sẽ làm thay đổi cả bộ mặt thế giới.”  Con người chúng ta ít nhiều ai cũng có bệnh sỹ diện, thích phô trương cái tôi của mình.  Căn bệnh trầm kha này không phải chỉ có nơi giáo dân, nơi các ông trương ông trùm, nhưng có ngay cả nơi các anh em linh mục.  Một Cha già đã chia sẻ rằng, khi các linh mục được mọi người kính trọng và gọi bằng cha, rất dễ quên đi ơn gọi làm con nơi mình.  Ngài nói tiếp “Nhiều cha lại cứ thích ‘chơi cha’ thiên hạ, qua lối hành xử trịch thượng và hống hách, thậm chí còn dùng tòa giảng để chửi bới giáo dân.  Đó là lối sống theo chủ nghĩa cha chú (paternalism) mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết án rất mạnh mẽ khi Ngài nói với giáo triều Rôma dịp Noel năm ngoái (ngày 22/12/2014).  Điều nhận xét trên không phải mang tính cách vơ đũa cả nắm, nhưng rất cần thiết cho mọi người, nhất là các anh em linh mục, để chúng ta biết can đảm và thẳng thắn nhìn lại chính mình khi thi hành tính năng mục tử.

Kết luận : Tôi tớ của các tôi tớ

Sau hết, chúng ta hãy nhìn lên Đức Maria như là khuôn mẫu nội tâm để chúng ta học nơi Ngài bài học khiêm nhu.  Mẹ vẫn luôn coi mình chỉ là “tôi tớ” của Thiên Chúa.  Bí quyết duy nhất của Đức Maria khi thực hành sự khiêm tốn và vâng phục là luôn thưa lời “xin vâng”, tuyệt đối để Thiên Chúa hướng dẫn đời mình.  Mẹ đã cảm nghiệm rất sâu lắngsự khiêm tốn ấy khi cất lên bài ca Magnificat: “Chúa hạ bệ những kẻ kiêu căng, Người nâng dậy những ai khiêm nhu.”  Bắt chước Đức Maria, người nữ tỳ (serva) của Thiên Chúa, Đức Thánh Cha Gioan 23 và Đức Phaolô đệ lục khi chuẩn nhận các văn kiện công đồng Vatican II luôn luôn đặt bút ký tên của mình với hàng chữ “servus servorum” (tôi tớ của các tôi tớ).  Còn các Kitô hữu, cách riêng các anh em linh mục, chúng ta đã hành xử và thực thi quyền bính được trao phó cho chúng ta, “những tôi tớ của các tôi tớ” như thế nào?

Văn Hào, SDB

Sự Diệu Kỳ.

Sự Diệu Kỳ.

Một đêm khuya, lâu lắm rồi, tôi lang thang trên mạng và bất ngờ “tầm” được tấm ảnh anh chiến sỹ VNCH quỳ cầu nguyện giữa ngôi thánh đường đổ nát, hoang tàn, và tôi đã chia sẻ trên FB.
Bất chợt cách đây vài ngày, tôi nhận được một lời mời của một người hẹn gặp tại Bmt, và tôi đã đến.
Trong buổi gặp gỡ, tôi thật ngỡ ngàng đến sững sờ: người hẹn gặp tôi chính là anh chiến sỹ trong ảnh, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, lúc đó anh mới ra trường, mang quân hàm Thiếu úy thuộc đội đặc nhiệm của Lữ đoàn Dù. Theo lời anh kể: Năm ấy, ngôi thánh đường La Vang, Quảng Trị sau một trận cuồng pháo của phía Bắc Việt nhưng cây thánh giá và tượng Đức Mẹ không hề bị một mảnh đạn pháo nào và một niềm tin vào Chúa, anh đã quỳ xuống… Tấm hình này hiện được trưng bày ở bảo tàng San Jose California USA.
Lời cuối cùng khi chia tay, anh nói: “Anh đạo Phật nhưng anh tin Chúa”


Sự đền đáp đầy cảm động

Sự đền đáp đầy cảm động

Liz Woodward (24 tuổi) – một cô phục vụ bàn, trẻ, ở bang New Jersey – Mỹ, đã trả tiền bữa ăn sáng cho 2 lính cứu hỏa và bất ngờ nhận được sự đền đáp đầy cảm động.

Buổi sáng 23/7, anh Tim Young và Paul Hullings ghé vào nhà hàng Rt. 130 Diner ở quận Delran để ăn sáng sau khi trải qua 12 giờ vất vả chiến đấu với ngọn lửa tại một nhà kho thuộc khu vực Bắc Brunswick.

Theo trang báo Acbnews đưa tin, chứng kiến vẻ mệt mỏi của hai người lính cứu hỏa xả thân vì nhiệm vụ, Liz đã rất xúc động và quyết định dùng tiền túi để trả bữa sáng cho họ. “Đây là bữa ăn đầu tiên của họ trong 24 giờ qua. Điều tôi có thể làm là mua cho họ ít đồ ăn để đền đáp những gì họ đã làm được” – Liz nói.

Thay vì hóa đơn, Liz gửi đến hai lính cứu hỏa lời nhắn thể hiện sự cảm động của mình vì sự cống hiến của họ.

Rất cảm động, Tim đã chia sẻ lời cảm ơn của mình lên trang cá nhân kèm theo bức ảnh lời nhắn của Liz. Thông điệp này nhanh chóng gây được chú ý và nhận được gần 4.000 nghìn lượt share.

Tim Young chia sẻ câu chuyện xúc động trên trang cá nhân của mình và nhận được gần 4000 lượt chia sẻ.

Sau đó, Tim Young và Paul Hullings vô tình phát hiện cha của cô Liz Woodward, ông Steve, mắc chứng liệt tứ chi suốt 5 năm qua. Cô đang gây quỹ trên một trang web để quyền tiền mua tặng bố mình một chiếc ô tô dành riêng cho người đi xe lăn. Tim Young biết điều đó và muốn được giúp đỡ.

Khi yêu cầu giúp đỡ của Tim Young được phương tiện truyền thông Mỹ đăng tải, hàng chục nhà từ thiện đã quyên tiền vào tài khoản của Liz. Chỉ trong vòng vài ngày, tổng số tiền sau cùng lên tới 69.000 USD, vượt xa con số 17.000 USD dự kiến ban đầu.

Bố của Liz Woodward, ông Steve, mắc chứng bệnh liệt tứ chi suốt 5 năm.

Trong cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình WPVI, ông Paul Hullings đến chia sẻ: “Chúng tôi không chỉ là nhân viên cứu hỏa. Chúng tôi cũng quan tâm người khác và muốn trở thành một phần cuộc sống của họ”.


 

 

 

 

 

 

T

 

Tim Young và Paul Hullings đến nhà thăm bố của Liz.

Còn Liz không ngờ hành động nhỏ của mình lại được đền đáp một cách bất ngờ và xúc động đến thế. Liz nói: “Tất cả những gì tôi đã làm là mời họ một bữa ăn sáng. Tôi không chờ đợi hơn một nụ cười. Điều này cho thấy, sự chân thành và thậm chí một hành động nhỏ cũng có thể làm thay đổi một cuộc đời”.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Lời ru mộ gió

Lời ru mộ gió

Tuấn Khanh

image

Trong những câu chuyện về biển, mộ gió là một trong những điều khi nói đến, bất kỳ ai cũng cảm nhận được sự bi ai của kiếp người. Mộ gió là nơi gọi hồn trở về đại dương mênh mông sau khi người đi biển đã đặt cược đời mình với biển cả.

Từ đời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1563 -1635 ), cùng với lời khuyên của học giả Đào Duy Từ (1572-1634), biển được lưu tâm là nơi đánh dấu bờ cõi Việt Nam, nhưng cũng là nơi mà những người lính – ngư dân đầu tiên đi mà không hẹn ngày về. Mộ gió có từ đó. Những ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa cũng là những ngày mà người ta vẽ lại hình người bằng đất sét, thương nhớ thịt xương đã nằm sâu dưới đáy biển hay trong bụng cá. Lúc đó, kẻ thù của ngư dân chỉ là bọn cướp vặt hoặc là thời tiết chứ chưa đầy hiểm nguy như hôm nay, bởi những chiếc tàu Trung Quốc dữ tợn vượt hơn tất cả.

Mộ gió hôm nay, lại nhiều hơn bao giờ hết. Nhìn những nắm đất xếp cạnh nhau trãi dài trên bờ cát mới thấy thiên nhiên không thể khốc liệt bằng con người. Con người không có bão táp không tay như sẳn sàng nhấn chìm đồng loại của mình, sẳn sàng tàn phá mọi thứ không phải vì quá nghèo khó, không phải vì thù hận, mà chỉ điên cuồng vì thách thức và cưỡng đoạt. Những ngôi mộ gió giờ không còn lính, chỉ những người đàn ông hiền lành đi biển, mong kiếm thêm bữa cơm cho gia đình mình. Những ngôi mộ gió đó uất nghẹn và bàng hoàng không hiểu vì sao mình lại ở đây.

“Giờ thì ít ai dám đi biển xa. Cách bờ biển mình chừng 12 hải lý tàu cá Trung Quốc nó đậu dày đặc. Mà không biết nó có phải là tàu cá chi không vì cần thì tụi nó rút súng bắn đùng đùng như cơm bữa”, một người dân miền Trung kể với chúng tôi, những người ở thành phố vẫn ăn cá mà thật là thờ ơ, ít khi nào hình dung sự sống và cái chết chung quanh thuyền cá Việt hôm nay ra sao.

Trên bãi biển mà chúng tôi thấy, những chiếc tàu đánh cá vội vã trở về lúc bình minh ở bãi. Họ đi và canh cánh nỗi sợ hãi ngay trên mép biển của mình, sẳn sàng quay đầu chạy khi xa xa có bóng cờ của Trung Quốc láng giềng. Giờ thì lệnh cấm đánh bắt của Trung Quốc ban hành, ngư dân Việt Nam cũng thì thầm nhắc nhau vì không khéo, đó là những chuyến đi đầy mạo phạm không có ngày về. Tổ quốc trong lời thì thầm. Tổ quốc mộ gió.

Chuyện mộ gió hôm nay với ngư dân không chỉ là sự thương tiếc cho người ở lại biển, mà còn là sự cảnh báo: Biển không còn bình yên bởi con người và trò chơi chính trị. Biển bị bao vây trong những cái bắt tay và nụ cười hữu nghị cộng sản, trao về mộ gió.

Tôi gọi điện thoại cho một ngư dân ở Quảng Ngãi, khi nghe tin Việt Nam có nghị định mới (71/2015 ) về chuyện tàu hải quân Việt Nam được phép dùng vũ khí để truy đuổi những tàu nước ngoài xâm phạm lãnh hải. Người đi biển này im lặng một hồi rồi nói “liệu mọi thứ rồi sẽ tốt hơn không?”. Chuyến đi dọc miền Trung mới đây, tôi chợt nhận ra rằng người miền Trung trực tính, hay nói và dễ gần… như đã thay đổi. Họ hay nói lãng sang chuyện khác và né tránh về những câu chuyện biển mà họ đang sống chết với nó. Ở trên biển, họ lo sợ tàu Trung Quốc, nhưng ở trên bờ, họ ngại ngùng điều gì đó thật khó hiểu. Thậm chí, có người lỡ bộc bạch, đã canh cánh gọi vào 2, 3 lần chỉ để dặn rằng thôi đừng nhắc gì về những điều ông đã nói. Ngay cả trong đời sống, nỗi niềm của những ngư dân Việt cũng đã chôn vào mộ gió sao?

Thật võ đoán, nếu liên hệ chuyện tàu hải quân Việt Nam được dùng vũ khí với chuyện có đến 4 tàu cá của ngư dân Việt bất ngờ bị “tàu lạ” liên tục tấn công ở vùng biển Kiên Giang, kề với người bạn láng giềng tính tình khó đoán Campuchia. Nhưng chắc chắn phải có điều gì đó khiến các vụ tấn công dã man này hoàn toàn khác, so với những vụ cướp và tấn công vặt trước khi Việt Nam có tuyên bố mạnh hơn trên biển. Các “tàu lạ” này xông thẳng và nhắm bắn trực diện vào ngư dân. Anh Ngô Văn Sinh, 38 tuổi, người cha của một gia đình, người đứng lái tàu, đã bị những “kẻ lạ” biết nói tiếng Việt bắn thẳng vào mặt và chết ngay trên buồng lái. Kể từ khi Campuchia có vẻ gần hơn với Trung Quốc, biển Việt Nam ở phương nào cũng đầy nguy nan.

Mọi thứ dường như hiện rõ hơn, chứ không khó khăn để phỏng đoán. Cách thức của “kẻ lạ” tấn công ngư dân Việt chẳng khác gì tàu cá Trung Quốc áp sát bờ biển miền Trung. Ông Lê Thế Hưng, đại tá Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng nói rằng từ đầu năm đến nay, lượng tàu Trung Quốc tiến vào biển Việt Nam ngày càng có thái độ nguy hiểm. Ngoài chuyện đánh bắt, tàu Trung Quốc còn đưa máy móc vào thăm dò biển Việt Nam, uy hiếp, cướp tài sản của tàu cá Việt… Thậm chí tàu đánh bắt gần bờ hướng Hoàng Sa cũng bị tàu Trung Quốc rượt đuổi và cướp.

Kiên Giang không có mộ gió, vì lâu nay, nơi này chỉ là vùng làm ăn thanh bình của cực Nam nước Việt. Nhưng có lẽ đến lúc người dân đi biển ở đây nghĩ về mộ gió, thứ mà biển đã muốn giữ lại con người hiền lành chăm chỉ, chỉ trả lại gió – như cái kết buồn của những số phận vô danh và luôn yêu đất nước này.

Một người quen từng kể về câu chuyện bà mẹ hóa điên khi đứa con trai út đi biển, và không trở về. Bà hay ngồi trên mộ gió của con mình và hát như một bài hát ru vào vô tận. Giọng hát miền Trung à ơi mà tôi đã được nghe khi đi qua vùng đất này – liệu có đổi giọng thành những giọng hát miền Nam hay miền Bắc vào những ngày sắp tới? Những tiếng hát Việt Nam đau thắt trong vòng vây của tình hữu nghị.

Để ghi lại những gì mình thấy, tôi hỏi ông chủ nhà trọ rằng nơi đây có internet không. Ông ngớ người ra giây lát rồi nói “Dạ chụ, nơi đây không cọ internet, chỉ có wifi thôi”. Thật buồn cười và dễ thương. Người miền Trung vậy đó, hiền lành và chất phác với đời sống. Con cá không có tổ quốc, nhưng người đi biển biết mình thuộc về nơi nào. Họ không quá dũng cảm để chọn hy sinh nhưng ra khơi là bổn phận sinh tồn mà họ không thể làm khác.

Vì vậy, dù bên tai có văng vẳng tiếng hát ru Việt Nam của bà mẹ hoá điên trên mộ gió, ngư dân Việt lại vẫn im lặng giong buồm ra biển  – như một cách để tự nhận thấy mình thật cô đơn, ngay trên chính tổ quốc của mình.