Cảnh khổ nơi nơi…Nào than vản…?!

Ai trong chúng ta cũng đã từng ít nhất một lần than vãn rằng tại sao cuộc đời lại khó khăn với mình như vậy. Tuy nhiên nếu bạn vẫn có thể ngồi đó và xem những bức hình này, hãy hiểu rằng bạn vẫn đang may mắn hơn hàng triệu người khác ở ngoài kia. Hãy trân trọng những gì mình đang có và bạn sẽ thấy cuộc đời tươi sáng hơn rất nhiều.

 1. Khi bạn vẫn đang mải mê chăm chút và buồn bã vì tại sao mình không có nhiều tiền mua sắm quần áo mới thì vẫn có những người đang phải đi trên những đôi giày rách bươm.

 

 2. Nếu bạn vẫn chưa hài lòng về ngôi nhà của mình thì vẫn có những người vẫn đang mơ ước căn nhà lá của họ thôi bị dột.

 

 3. Cuộc sống mưu sinh chưa bao giờ là dễ dàng, thậm chí là khi người ta phải làm việc ở những bãi rác như thế này!

 

 4. Nhưng ngay cả khi cuộc đời có trái ngược với những ước mơ của con người, người ta vẫn cứ mỉm cười vượt lên trên cả số phận.

 5. Và nếu có một lúc nào đó bạn nghĩ rằng sao công việc của mình nặng nhọc quá, có những việc còn nặng hơn thế gấp trăm lần.

 

 6. Nếu với bạn học hành là một gánh nặng, thì đứa trẻ này đang phải “ngồi nhờ” ánh đèn ở 1 cửa hàng thức ánh nhanh để học cho nốt.

 

7. Bạn không hài lòng với công việc của mình, hàng triệu người đang thất nghiệp ngoài kia, họ thậm chí còn không có cơ hội để than vãn về điều đó.

 

 8. Người ta vẫn thường hay nói về vấn đề lãng phí thức ăn, đúng vậy, vì còn đó rất nhiều người dân Châu Phi đang thiếu thức ăn trầm trọng.

 

 9. Và với những người vô gia cư, một chỗ ngủ đàng hoàng cũng là một điều ước quá xa xỉ.

 

10. Bạn luôn than vãn về đất nước của mình, vẫn còn đang rất nhiều trẻ em ngoài kia phải sống cùng chiến tranh, bom đạn và bạo lực.

 

11. Vẫn còn đó rất nhiều những ánh mắt mang tên “chờ đợi”, chờ đợi về một cuộc sống khác hơn.

12. Cũng có những ánh mắt mang trong đó “khát vọng”, khát vọng được đổi đời.

Lời trăn trối của vị bác sĩ trong thời kỳ cuối ung thư

Lời trăn trối của vị bác sĩ trong thời kỳ cuối ung thư
Nguoi-viet.com 

SINGAPORE (NV Tổng Hợp) –Bác sĩ Richard Teo, 40 tuổi và là một triệu phú ngành giải phẫu thẩm mỹ, phát hiện mình bị ung thư phổi giai đoạn cuối khi đang ở trên đỉnh cao nhất của tiền tài và danh vọng.

 
Thanh niên khắp nơi theo dõi câu chuyện của Bác Sĩ Richard Teo, một triệu phú qua đời ở tuổi 40 vì ung thư phổi. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

  Những lời ông nhắn gửi sinh viên tại khóa Nha Khoa D1 ở Singapore có nhiều điều mà người Việt trẻ tuổi, nhất là những ai có ý định theo y học, nên học hỏi.

(Ðể nghe toàn bộ buổi nói chuyện Bác Sĩ Richard Teo dành cho lớp nha D1, xin vào đường link: http://www.youtube.com/watch?v=umLkfADe17s)

Sau đây là đoạn trích từ những lời nhắn gửi của ông:

“Chào tất cả các em. Giọng tôi hơi bị khàn một chút, mong các em chịu khó nghe. Tôi xin tự giới thiệu, tôi tên là Richard và là một bác sĩ. Tôi sẽ chia sẻ vài suy nghĩ về cuộc sống của mình và rất hài lòng khi được các giáo sư mời đến đây. Hy vọng sẽ giúp các em cách suy nghĩ khi bắt đầu theo ngành để trở thành nha sĩ giải phẫu cũng như suy nghĩ về những việc chung quanh.

“Từ lúc trẻ, tôi là một sản phẩm đặc trưng của xã hội ngày nay, một sản phẩm khá thành công mà xã hội đòi hỏi. Hồi nhỏ tôi lớn lên trong một gia đình có mức sống dưới mức trung bình. Tôi được bảo ban bởi người chung quanh và môi trường rằng thành công thì hạnh phúc. Thành công có nghĩa là giàu có. Với suy nghĩ này, tôi trở nên cực kỳ tham vọng ngay từ nhỏ.

“Không những chỉ cần đi học ở trường giỏi, tôi cần phải thành công trong mọi lãnh vực – từ các hoạt động tập thể đến chạy đua, mọi điều. Tôi cần phải đoạt được cúp, phải thành công, phải được giải, giải quốc gia, mọi thứ. Tôi vào trường y và trở thành bác sĩ. Chắc một số em biết rằng trong ngành y, giải phẫu mắt là một trong những chuyên khoa khó vào nhất. Tôi cũng vào được và được học bổng nghiên cứu của NUS phát triển tia laser để chữa bịnh mắt.

“Trong khi nghiên cứu tôi có hai bằng phát minh – một về dụng cụ y khoa và một về tia lasers. Nhưng các em có biết không, tất cả các thành tựu này không mang lại cho tôi sự giàu có. Tôi quyết định rằng theo đuổi ngành phẫu thuật mắt mất quá nhiều thời gian trong khi ra ngoài làm tư kiếm được nhiều tiền hơn. Vì vậy tôi quyết định bỏ ngành giải phẫu mắt giữa chừng và nhảy qua mở trung tâm giải phẫu thẩm mỹ trong thành phố.

“Các em có biết, rất mâu thuẫn, một người có thể không vui vẻ khi trả $20 cho một bác sĩ tổng quát, nhưng cũng chính người đó không ngần ngại trả $10,000 để hút mỡ bụng, hay $15,000 cho sửa ngực. Không cần phải suy nghĩ nhiều, phải không? Thay vì chữa bịnh, tôi quyết định trở thành người sửa sắc đẹp. Công việc làm ăn rất khấm khá. Bịnh nhân mới đầu chờ đợi một tuần, rồi 3 tuần, sau lên một tháng, 2 tháng, đến 3 tháng. Quá nhiều bịnh nhân. Tôi mướn một bác sĩ, hai bác sĩ, ba bác sĩ, rồi bốn bác sĩ. Chỉ trong vòng năm thứ nhất, chúng tôi đã lên hàng triệu phú. Nhưng chẳng thế nào là đủ, vì tôi đã trở nên mê muội.

“Tôi làm gì với mớ tiền dư thừa? Cuối tuần tôi tiêu khiển ra sao? Thông thường tôi đến tụ tập tại câu lạc bộ đua xe hơi.Tôi sắm riêng cho tôi một chiếc xe đua. Chúng tôi đến Sepang ở Mã Lai và đua xe. Tôi sắm chiếc Ferrari. Lúc đó chiếc 458 chưa ra, chỉ có chiếc 430. Tôi sắm chiếc màu bạc.

“Tôi làm gì sau khi có chiếc xe? Tôi bắt đầu tìm kiếm đất để xây nhà nghỉ mát. Tôi đã sống cuộc đời như thế nào? Tôi bắt đầu giao tiếp với mỹ nhân, người giàu sang và danh tiếng, như hoa hậu thế giới hay người sáng lập mạng Internet, ăn uống ở mọi nhà hàng kể cả nhà hàng nổi tiếng của đầu bếp Michelin.

“Tôi đã có được mọi thứ trong cuộc sống, đến tột đỉnh của sự nghiệp và tất cả. Ðó là tôi của một năm trước đây. Lúc ở trong câu lạc bộ thể thao, tôi nghĩ tôi đã chế ngự được mọi chuyện và đạt đến đỉnh vinh quang.

“Nhưng tôi lầm. Tôi không chế ngự được mọi chuyện. Khoảng tháng 3 năm ngoái, đột nhiên tôi bắt đầu bị đau lưng. Tôi nghĩ chắc tại tôi thường vận động mạnh. Tôi đến SGH và nhờ bạn học làm MRI để xem chắc là không bị trật đốt sống hay thứ nào khác. Tối hôm đó, anh ta gọi tôi và cho biết tủy sống thay đổi trong cột sống của tôi. Tôi hỏi như thế nghĩa là sao? Tôi biết nó có nghĩa như thế nào nhưng không thể chấp nhận sự thật. Tôi gần như muốn nói ‘anh nói thiệt sao?’ Ngày hôm sau chúng tôi có nhiều khám nghiệm hơn – PET scans – và họ tìm thấy tôi đang ở thời kỳ thứ tư của ung thư phổi. Tôi nghĩ “từ đâu mà ra thế này?” Ung thư đã lan tới não, cột sống và nội tuyến. Các em biết đó, có lúc tôi hoàn toàn nghĩ mình đã chế ngự được tất cả, đã đạt đến tột đỉnh của cuộc sống, nhưng lúc đó, tôi mất tất cả.

“Ðây là bản CT scan của phổi. Nhìn vào, mỗi chấm đều là nang ung thư. Và thật sự, tôi có cả chục ngàn nang trong phổi. Tôi được cho biết, ngay cả với hóa trị, tôi cũng chỉ còn được 3, 4 tháng là tối đa. Cuộc sống tôi bị nghiền nát, dĩ nhiên rồi, làm sao tránh khỏi? Tôi chán nản, tuyệt vọng.

“Ðiều mâu thuẫn là mọi thứ tôi có được – sự thành công, giải thưởng, xe cộ, nhà cửa, tất cả những thứ mà tôi nghĩ đã mang hạnh phúc đến cho tôi; khi tôi xuống tinh thần, tuyệt vọng, chúng không mang đến cho tôi niềm vui. Tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari mà ngủ. Chuyện đó không thể xảy ra. Chúng không mang lại một sự an ủi nào trong mười tháng cuối cùng của cuộc đời tôi. Vậy mà tôi đã tưởng những thứ này là hạnh phúc; không phải vậy. Ðiều thật sự mang lại cho tôi niềm vui trong mười tháng cuối cùng là tiếp xúc với người thân, bạn bè, những người chân thành chăm sóc tôi, cười và khóc cùng tôi. Họ có thể nhìn thấy sự đau đớn, chịu đựng mà tôi phải trải qua. Ðây thật sự mang lại hạnh phúc cho tôi. Những thứ tôi sở hữu, đáng lý ra mang lại hạnh phúc, nhưng không. Nếu có, tôi đã cảm thấy vui khi nghĩ đến.

“Trước đây, tôi thường làm gì? Tôi thường lái chiếc xe hào nhoáng của mình một vòng, thăm viếng họ hàng, phô trương với bạn bè. Tôi tưởng đó là niềm vui, thật sự vui. Nhưng các em có nghĩ họ hàng, bạn bè tôi đang chật vật kiếm sống có thể chia sẻ niềm vui cùng tôi, khi thấy tôi khoe khoang chiếc xe bóng loáng? Tôi khoe khoang để lấp đầy sự kiêu hãnh và cái tôi của mình. Chúng chẳng mang lại niềm vui cho bạn bè, người thân như tôi tưởng.

“Tôi được huấn luyện thành bác sĩ để có từ tâm, đồng cảm. Nhưng tôi không có. Sau khi tốt nghiệp y khoa, tôi làm việc ở khoa ung thư. Hàng ngày, tôi chứng kiến cái chết trong khoa ung thư. Tôi nhìn thấy tất cả đau đớn mà bịnh nhân phải chịu đựng. Tôi thấy tất cả các thuốc giảm đau họ cứ vài phút phải bấm vào người. Tôi thấy họ vật lộn với hơi thở cuối, thấy tất cả. Nhưng đây chỉ là một công việc. Tôi đến bịnh xá mỗi ngày lấy máu, cho thuốc nhưng tôi chỉ làm công việc và nóng lòng về nhà để làm việc riêng của mình.

“Mãi đến bây giờ, tôi mới thật sự hiểu được cảm giác của họ. Nếu các em hỏi tôi, nếu được làm lại cuộc đời, tôi có muốn thành một người bác sĩ khác không. Tôi sẽ trả lời các em là ‘Có.’ Vì bây giờ tôi thật sự hiểu được.

“Ngay khi các em vào năm thứ nhất, bắt đầu hành trình để trở thành nha sĩ giải phẫu, cho phép tôi thử thách các em hai điều.

“Hiển nhiên, tất cả các em ở đây sẽ bắt đầu đi làm tư. Các em sẽ thành giàu có. Tôi bảo đảm với các em rằng, chỉ trồng răng, các em kiếm được bạc ngàn, mớ tiền không tưởng được. Và thật ra, không có gì sai trái với thành công, giàu có, tuyệt đối không gì sai trái. Ðiều phiền toái duy nhất là nhiều người chúng ta, như bản thân tôi, không thể kiềm chế được.

“Tại sao tôi nói như vậy? Bởi vì càng tích tụ, càng có nhiều, tôi lại muốn nhiều hơn. Càng ham muốn, tôi càng trở nên mê muội. Như tôi đã đề cập trước đây, tôi muốn sở hữu nhiều hơn, đạt tới đỉnh vinh quang như xã hội muốn đào tạo chúng ta. Tôi trở nên mê muội đến nỗi mà chẳng còn việc gì thành vấn đề đối với tôi nữa. Bịnh nhân chỉ là một nguồn lợi tức và tôi vắt cạn từng xu từ họ.

“Nhiều khi chúng ta quên đi mình cần phục vụ ai. Ðiều đó đã xảy ra với tôi. Dù là ở y hay nha khoa, tôi có thể nói với các em ngay bây giờ rằng, trong khi khám bịnh, đôi khi chúng ta khuyên bịnh nhân chữa trị bịnh không hẳn có, vùng xám không rõ rệt. Và ngay cả khi không cần thiết, chúng ta cũng nói thêm. Ngay tại thời điểm này, tôi biết ai là bạn tôi, chân thành lo lắng cho tôi và ai chỉ muốn làm tiền tôi bằng cách bán ‘hy vọng’ cho tôi. Chúng ta đánh mất lương tâm vì chúng ta chỉ muốn kiếm tiền. Và tôi hy vọng các em sẽ không bao giờ phải như vậy.

“Chúng ta được huấn luyện để trở thành lương y, nhưng chúng ta không thông cảm được cho bịnh nhân. Tôi không đòi hỏi các em phải xúc động, vì như vậy cũng không chuyên nghiệp, mà chỉ hỏi chúng ta có thật sự cố gắng tìm hiểu nỗi đau đớn của họ không? Tôi thử thách các em luôn đặt mình vào cương vị của bịnh nhân.

“Bởi vì sự đau đớn, nỗi lo lắng, sợ hãi rất thực với họ mặc dù không thực đối với các em. Ngay hiện giờ, tôi đang chữa hóa trị lần thứ năm. Tôi có thể cho các em biết nó rất kinh khủng. Hóa trị là thứ mà các em không muốn ngay cả kẻ thù của mình phải trải qua vì bị hành, đau đớn, ói mửa. Cảm giác khủng khiếp!

“Các em có cả tương lai xán lạn phía trước với tất cả tài năng và nhiệt huyết. Tôi thử thách các em, ngoài bịnh nhân của mình, hiểu thêm rằng có nhiều người ngoài kia đang thật sự đau đớn, thật sự khó khăn, đừng nghĩ rằng chỉ có người nghèo mới phải khổ. Ðiều này không đúng. Những người nghèo khó vốn sẵn không có gì, họ dễ dàng chấp nhận. Do đó, họ hạnh phúc hơn các em và tôi. Nhưng có nhiều người đang đau khổ về tâm thần, thể xác, tình cảm, hay vật chất.

“Do đó đừng quên, khi các em được thành danh, với tay đến những người cần sự giúp đỡ. Bất cứ việc gì các em làm đều có thể mang đến sự khác biệt lớn cho họ.

“Ðừng để xã hội bảo ban các em cách sống. Ðừng để môi trường bắt các em phải làm gì. Ðiều này đã xảy ra cho tôi. Tôi tưởng như vậy là hạnh phúc. Tôi hy vọng các em suy nghĩ lại và sẽ tự quyết định cuộc sống của chính các em. Không phải do người khác bảo ban mà là các em quyết định, sống cho mình hay mang đến sự khác biệt cho đời sống của người khác.

“Khi giàu sang và có cơ hội đến, các em nên nhớ, tất cả những thứ này không thuộc về chúng ta. Ðó là quà tặng của Thượng Ðế.” (T.A.)

CẦU NGUYỆN BẰNG CHUỖI MÂN CÔI

CẦU NGUYỆN BẰNG CHUỖI MÂN CÔI

 ĐGM Gioan B Bùi Tuần

 Trong lịch phụng vụ, tháng 10 có tên là tháng Mân côi. Suốt tháng này, Hội Thánh khắp nơi hướng về Đức Mẹ một cách đặc biệt. Lòng sùng kính của dân Chúa đối với Đức Mẹ trong thời gian này mang một đặc điểm riêng. Đó là cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi.

Mân côi chính là hoa hồng. Như thể, bằng chuỗi Mân côi, Hội Thánh trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ hiền.

Lịch sử chuỗi Mân côi là một hành trình dài. Hành trình đó mang nhiều gợi ý. Những gợi ý này có thể giúp chúng ta cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi một cách sốt sắng, vừa hợp với truyền thống, vừa sát với thời sự.

Chuỗi Mân côi đốt lên lửa mến

Lịch sử cho thấy kinh Mân côi được thành hình do động lực sùng kính Đức Mẹ. Người được nhắc tới nhiều trong lịch sử kinh Mân côi là thánh Đaminh, đấng sáng lập Dòng Giảng thuyết. Ngài qua đời năm 1221. Một số tài liệu quả quyết rằng chính Đức Mẹ đã trao cho thánh Đaminh chuỗi Mân côi. Xung quanh thánh Đaminh còn một số tu sĩ nhiệt thành, như tu sĩ Dominique dòng Chartreux thành Trèves, tu sĩ Alain de la Roche dòng Đaminh thành Lille.

Các vị này đã có những đóng góp quan trọng. Tất cả các ngài đều là những tông đồ của Đức Mẹ. Với lòng xác tín, hăng hái, nhiệt thành, các ngài rao giảng, truyền bá kinh Mân côi. Trước hết là trong các cơ sở Dòng, sau là tại các giáo xứ của nhiều giáo phận Âu Châu.

Phong trào đọc kinh Mân côi sau đó được tổ chức thành các hiệp hội. Các người trong hiệp hội liên đới với nhau bằng chia sẻ đời sống thiêng liêng. Nhận thấy phong trào kinh Mân côi đem lại nhiều kết quả lớn lao và mau lẹ cho đời sống đức tin, Toà Thánh đã công nhận, khuyến khích và ban nhiều ân xá.

Năm 1475, tại Cologne, chính hoàng đế nước Đức là Fredéric III, hoàng hậu và hoàng tử đã xin ghi tên vào hội kinh Mân côi. Nhờ vậy, chuỗi Mân côi có thêm uy tín. Uy tín đó không phải là lý do để phong trào kinh Mân côi lan rộng. Lý do lan rộng chính là tính cách Kinh Thánh và bình dân của chuỗi Mân côi.

Các lời kinh của chuỗi Mân côi đều được đúc kết từ Kinh Thánh. Các mầu nhiệm suy gẫm trong chuỗi Mân côi cũng được rút ra từ Kinh Thánh. Số 150 kinh Kính Mừng cũng là để nhớ lại số 150 thánh vịnh của Cựu Ước.

Tuy nền tảng là Kinh Thánh, nhưng chuỗi Mân côi được sắp xếp một cách bình dị, dễ đọc, dễ hiểu, hợp với bình dân. Miệng đọc kinh, lòng suy gẫm, tay lần chuỗi hạt, đó là một hình thức đạo đức bình dân thấy có ở nhiều tôn giáo truyền thống như Phật giáo, Hồi giáo. Với hình thức đạo đức này, kinh Mân côi đã đốt lên lửa mến trong các tâm hồn. Nhiều tâm hồn trước kia nguội lạnh đã được ơn trở về.

Chuỗi Mân côi thắp sáng niềm hy vọng cứu độ

Lịch sử cho thấy: Khi khấn cầu ơn nọ ơn kia, nhiều người đã dựa vào chuỗi Mân côi như một nguồn để tìm sức mạnh cậy trông.

Năm 1571, trước cơn đe dọa đạo Chúa bị tàn phá, Đức Thánh Cha Piô V, đã truyền cho Hội Thánh cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi, với hy vọng Chúa sẽ cứu. Khấn cầu đó đã được Chúa chấp nhận. Chiến thắng ở vịnh Lepante ngày 7 tháng 10 năm 1571 đã là cơ sở để Đức Thánh Cha thiết lập lễ Đức Mẹ Mân côi. Hằng năm cứ đến ngày 7 tháng 10, Hội Thánh đề cao chuỗi Mân côi như một nguồn hy vọng.

Năm 1629, trước cơn dịch tả nguy hiểm lan rộng trên nước Ý, tu sĩ Timoteo Ricci đã lập ra chuỗi Mân côi liên tiếp. Thầy tính rằng: Mỗi năm có 8.760 giờ. Căn cứ vào đó, thầy làm ra 8.760 tấm vé. Mỗi vé ghi tháng, ngày, giờ, rồi cho rút thăm. Ai được vé nào thì cam kết đọc chuỗi Mân côi tháng ngày giờ đó. Mục đích có ý xin ơn chết lành cho những người hấp hối, xin ơn trở lại cho những người tội lỗi, xin ơn bình an cho các dân tộc.

Từ sáng kiến đó, phong trào kinh Mân côi liên tiếp được thành lập và lan rộng. Năm 1657, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII chấp nhận phong trào đạo đức này, và ban cho nhiều ân xá.

Năm 1826, trước nhu cầu truyền giáo cho các vùng xa xôi, bà Pauline Jaricot, thành Lyon, đã có sáng kiến lập ra phong trào “Kinh Mân côi sống.” Cứ 10 nguời thì thành một nhóm nhỏ. Mỗi người trong nhóm cam kết đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Hơn nữa, mỗi người trong nhóm sẽ tìm thêm 5 người. Năm người này cũng hứa đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Và cứ thế nhân lên số người đọc kinh Kính Mừng.

Mỗi tháng, bà Pauline phổ biến cho các nhóm một bản suy gẫm Lời Chúa, hướng về truyền giáo.

Đầu thế kỷ XX, trước tình hình suy giảm đức tin tại Pháp, cha Joseph Eyquem lập ra những hội Mân côi. Sinh hoạt của những người theo hội này cũng là đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Ngoài ra, họ họp nhau mỗi tháng một lần. Cuộc họp không tổ chức ở nhà thờ, nhưng ở nhà tư, lúc ở nhà này, khi ở nhà khác. Cuộc họp gồm đủ mọi thành phần. Những tín hữu bình thường, những người ly dị, những người rối vợ rối chồng, những người xa tránh các bí tích. Họ cầu nguyện, trao đổi, chia sẻ và giúp đỡ nhau vượt qua các thử thách.

Nói chung, khi gặp những khó khăn nguy hiểm, cả trong đạo lẫn ngoài đời, người ta đã chạy lại với Đức Mẹ. Họ khẩn cầu Mẹ bằng chuỗi Mân côi. Và thực sự chuỗi Mân côi đã đem lại cho các tâm hồn những hy vọng lành thánh.

Chuỗi Mân côi mở kho tàng trái Tim Đức Mẹ

Trước đây, chuỗi Mân côi được truyền bá bởi các thánh, và Hội Thánh. Nay, chính Đức Mẹ lên tiếng.

Tại Fatima, khi hiện ra với ba trẻ, Phanxicô, Giacinta và Lucia, Đức Mẹ đã mang chuỗi Mân côi. Đức Mẹ cũng đã khuyên người ta hãy năng cầu nguyện kinh Mân côi.

Tại Fatima, Lộ Đức và những nơi hành hương, chuỗi Mân côi ví như những chuỗi hoa hồng của các trái tim không ngừng dâng lên Đức Mẹ. Còn Đức Mẹ, thì luôn mưa những hoa hồng thiêng xuống cho các người chân thành cầu khấn. Hoa hồng nói đây là những ơn phúc phần hồn phần xác. Ơn phúc đủ loại, nhất là ơn sám hối, ơn trở về với Chúa, ơn đổi mới cuộc đời, ơn đi sâu vào Phúc Âm, ơn biết đón nhận thánh ý Chúa để trở thành cộng tác viên đắc lực của Đức Mẹ đồng công cứu chuộc.

Các ơn Đức Mẹ ban qua chuỗi Mân côi phát xuất từ trái tim Đức Mẹ. Trái tim ấy đầy tình thương và cũng đã chịu nhiều đau đớn, để cùng với Chúa Giêsu cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh trên thánh giá. Vì thế có thể nói, các ơn đó đến từ trên, và chảy vào trong nội tâm mỗi người. Với nhận thức đó, chúng ta hiểu ý nghĩa lời Đức Mẹ nói với Bernadette ở Lộ Đức: “Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng hạnh phúc đời sau.” Tuy nhiên, ngay ở đời này, những ai lần chuỗi Mân côi, cũng sẽ được Đức Mẹ thương ban ơn, cách này hay cách khác.

Hiện nay, cuộc sống đang đặt ra nhiều vấn đề nan giải. Kinh Mân côi sẽ giúp chúng ta tìm được lối thoát. Lối thoát sẽ từ trên trái tim Đức Mẹ mà xuống và từ trong nội tâm ta mà ra. Nội tâm ta cầu nguyện sám hối. Trái tim Đức Mẹ sẽ làm chứng một cách sống động lời thiên thần đã nói với Đức Mẹ xưa: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 37).

ĐGM Gioan B Bùi Tuần

Tại sao con người sợ chết

Tại sao con người sợ chết

HÃY TRÂN QUÝ CUỘC SỐNG NGÀY HÔM NAY
                
Nguyễn Thượng Chánh, DVM
 
Chết vẫn còn là một việc cấm kỵ tabou, một điều quá bí ẩn đối với tất cả mọi người. Chết có lẽ là một chuyến du lich tuyệt vời cho nên từ trước tới giờ vẫn chưa thấy có người quá vãng nào muốn trở lại dương thế để kể lại cho bà con ta nghe với.
 
***
Photo
Thần chết? (hình internet)
 
 
Tại sao con người sợ chết
 Con người sợ những cái gì mập mờ, không rõ ràng.Khi gặp những cái không biết rõ, họ thường hay tưởng tượng, mà xu hướng thường là nghĩ đến những cái đáng sợ nhất.
Cũng có thể do bản năng tự vệ của con người, họ nghĩ ra như vậy để cảnh báo bản thân trước mối nguy hiểm nào đó.
Chuyện cận tử, thân trung ấm, lúc vừa mới chết thì hồn bay lơ lửng đâu đó, rồi vào đường hầm thấy toàn ánh sáng chóa lòa, gặp lại bà con đã chết từ lâu, kêu réo nhau la ới ới, chuyện đầu thai lại, chuyện tái sinh, chuyện ma quỷ, và còn nhiều thứ lắm lắm…có thật hay không có thật chẳng có ai biết được hết. Tin hay không là chuyện riêng của mỗi người.
Có người còn so sánh sự chết cũng không khác gì giấc ngủ mỗi đêm. Tối ngủ, mình chẳng còn biết gì hết, hổng khác gì như mình đã chết rồi. Sáng ra thức dậy như được tái sanh trở lại, sống thêm một ngày nữa. Mừng hết lớn.
Vậy sợ chết là sợ những gì mình không rõ, những gì bí mật mình chưa biết được.
 Người ta sợ chết vì sợ thân xác bê bết máu me, nát bấy, xấu xí đi, sình thúi ghê tởm quá.
Trường hợp những giây phút trước khi phi cơ lâm nạn lao xuống đất chắc hành khách phải hãi hùng kinh hoàng tột độ. Đây là một thí dụ rõ rệt nhất về sự kiện sợ chết.
Có cả trăm câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu giải đáp nào hết về sự chết. Mọi người cứ tưởng tượng thế nầy thế nọ cho nên thiên hạ vẫn còn lo và vẫn còn sợ chết.
Người đời thường nghĩ rằng hễ chết là hết, là trống không, là rơi vào vực thẩm âm u, là hư vô, tĩnh lặng.
Chết rồi thì mình sẽ đi về đâu sau đó, rồi mình sẽ ra sao? Bởi vậy nên ai ai cũng đều sợ chết lắm. 
Ai cũng phải có ngày chết hết. Đây là một sự thật. Chạy đâu cho khỏi. Đây là điều chắc chắn 100%, thật rõ ràng và là lẽ công bằng của trời đất..
Nhà chánh trị Benjamin Franklin (1706-1790) có nói một câu để đời : « Trên cỏi đời nầy  có hai việc không thể tránh khỏi được, đó là cái chết và thuế má »
 
Photo
 

Nơi chốn bình an nhất
 Trên cõi đời nầy, chỗ duy nhất, nơi mà con người thật sự được hoàn toàn bình an, không còn sân hận,không bao giờ biết hơn thua, phân biệt đố kỵ với nhau nữa, đó là chỗ nghĩa địa an giấc ngàn thu.
 
Photo
Nơi không còn thù hận với nhau nữa(photo Internet)
 
 
Vô thường.
 Cuộc đời thật vô thường, vậy phải biết trân quý sự sống.
Thù hận, tranh đua, phân biệt, cố chấp, ganh tị, suy bì, hơn thua nhau từng tiếng, từng lời, từng chút một rồi cuối cùng cũng phải chết mà thôi.
Đến lúc đó thì ăn năn hối cải, than khóc, kể lể, luyến tiếc… làm chi cho mất công, muộn màng rồi bạn ơi.
Tại sao hồi còn sống không biết sống cho hòa thuận, thương yêu nhau, giao hảo nhau trong tình người,biết thông cảm và tha thứ cho nhau?
Mọi người đều đến cõi đời nầy với hai bàn tay trắng, thì lúc ra đi cũng chỉ với hai bàn tay trắng mà thôi.
 
Tuy biết vậy nhưng vẫn lo, vẫn sợ.
 Ai ai cũng đều biết như vậy, nhưng hễ sao mỗi khi nghĩ đến chết thì thấy rờn rợn và hơi lo một chút.
Bằng mọi giá họ phải níu kéo sự sống lại. Bỡi lý do nầy mà ngày nay khoa học đã sáng chế ra vô số kỹ thuật để kéo dài thêm sự sống… Nào là kỹ nghệ thuốc trường sanh, nào là kỹ nghệ ngâm xác trong khí lỏng liquid nitrogen để chờ ngày tìm ra thuốc trị liệu để tiếp tục…sống v.v…
 
 
Photo
Đi rồi : hết còn sân hận khổ đau, khỏe quá.
 
Người ta sợ chết vì sợ mất người mình thương, sợ xa lìa người thân, bạn bè, xa lìa vợ con, chồng con, sợ không ai nuôi con mình, sợ rồi đây tụi nó sẽ…sống ra sao?, sợ mất đi cái tôi cùa mình, sợ mất hết tài sản của cải mà mình đã thật sự khổ công tạo dựng được trong suốt cả cuộc đời, cũng như sợ chưa thực hiện được những hoài bão mà mình hằng mong ước, và sợ bị lãng quên, v.v… 
Nhưng theo quan niệm triết lý Phật giáo, thì những thứ vừa kể trên là đều không có thật!
 Giàu có, tỷ phú như Bill Gate thì sợ chết đã đành, nhưng nghèo rớt mồng tơi, không có của cải gì ráo trọi cũng sợ chết luôn tuốt luốt.Chỉ có một hạng người không biết sợ chết vì họ bị tẩy não … Họ mong ngày được chết để về với…(?).trên thiên đàng.  Đó là bọn khủng bố Hồi giáo Daesh, chuyên đánh bôm, cắt cổ, thiêu đốt người khác…
 Thường những người sợ chết là những người còn hoạt động, đi đứng và còn sinh hoạt được bình thường.
Nếu đã già khú cú đế rồi, bệnh hoạn trầm kha đủ thứ, sinh hoạt khó khăn, ăn uống ngủ nghê không được, mà còn bị con cháu bạc đãi, hắt hủi nầy nọ thì nhũng người nầy chấp nhận cái chết dễ dàng hơn nhiều.
Sợ chết cũng là một phản ứng tự nhiên của bản năng sinh tồn của tất cà mọi sinh vật.
 
Thú vật cũng sợ chết
 Trong phạm vi nghề nghiệp, người gõ có thể cả quyết rằng thú vật như bò, heo lúc bị lùa vào lò sát sanh để làm thịt chúng đều rất kinh hoàng, la rống, phản ứng lại rất dữ dội vì bản năng sinh tồn. Hình như chúng biết cảm nhận được cái chết gần kề. Phải chăng thú vật cũng có tình cảm như chúng ta?
 
Hứa hẹn cõi thiên đàng
 Các tôn giáo lớn đều có đề cập đến vấn đề chết. Mỗi tôn giáo đều có giải thích một cách khác nhau.Nhưng nói chung, tất cả các tôn giáo đều hứa hẹn…cỏi thiên đàng cho người thành tâm.
Cách nào nghe ra cũng đều thấy có lý hết với điều kiện là mình phải có đức tin tuyệt đối vào tôn giáo đó.
 
Chết qua cái nhìn của Phật giáo
  “Đời sống mong manh, cái chết là điều cầm chắc chắn – Life is uncertain, death is certain”
Đây là tựa đề quyễn sách giá trị nói về cái chết. Sách do Venerable Dr Sri Dammananda viết và được thầy Thích Tâm Quang dịch. Sau đây là tóm lược các ý chánh:
 
Chúng ta không nên sợ chết vì đó là lẽ thường tình, là quy luật tất yếu của tiến trình của vòng sanh tử mà thôi. Có sanh thìphải có tử để có thể tái sanh theo nghiệp lực nhân quả luân hồi.
 
“…Chúng ta thích bám víu vào đời sống, vào xác thân và phát triển quá nhiều tham dục và luyến ái. 
Sự đau đớn về cái chết thật khủng khiếp, đó là một thái độ phát xuất bởi vô minh
Con người bị lo âu không phải vì ngoại cảnh mà vì niềm tin và tưởng tượng về đời sống và mọi thứ của mình. Cái chết, chẳng hạn, tự nó không khủng khiếp: Khiếp sợ và kinh hãi chỉ do tâm trí chúng ta tưởng tượng mà ra.
…Tuy nhiên có một phương pháp để vượt qua sự sợ hãi này.Hãy quên đi quan niệm về cái ‘tôi’; hãy đem tình thương phục vụ nhân loại và tỏ tình thương với người khác. Say mê phục vụ tha nhân, chẳng bao lâu bạn sẽ tự mình thoát khỏi cái tự kỷ luyến ái nặng nề, mơ ước, kiêu căng, và tự tôn. 
Bệnh và chết cả hai đều là việc xẩy ra tự nhiên trong đời sống của chúng ta, và chúng ta phải chấp nhận điều đó với sự hiểu biết
…Chúng ta phải cố gắng hiểu rằng mọi việc trong vũ trụ này đều mong manh. Cuộc sống chỉ là ảo giác hay ảo tưởng. Khi ta phân tách mọi thứ bằng khoa học hay triết lý, không ham muốn vị kỷ, cuối cùng chúng ta không thấy gì cả mà chỉ là hư không…”(Ngưng trích -Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo -Thích Tâm Quang dịch )
 
  Chết là khởi điểm cuộc rong chơi cuối đời?
 Chết là khởi điểm cuộc rong chơi cuối đời? Nhà văn Tràm Cà Mau rất thực tế trước cái chết. Không nên quá lo. Đàng nào cũng phải chết một lần mà thôi. Hãy vui sống đi.
Sống sao cho ra sống, chết là chuyện đương nhiên rồi. Tội lệ gì mà phải lo vì trước sau gì ai ai cũng đều phải ra đi hết.
Chạy đâu mà cho khỏi. Kẻ trước người sau mà thôi.
Sau đây là bài thơ “Sau Khi Tôi Chết” nói lên ước nguyện củanhà văn Tràm Cà Mau.

Khi tôi chết, viếng tang, đừng buồn bã
Cười cho to, kể chuyện tếu vui đùa
Trong sáu tấm, ắt rằng tôi hả dạ
Lên tinh thần, ấm áp buổi tiễn đưa…” 
 (Tràm Cà Mau)

Đừng lo sợ mình già: chết chỉ là một chuyến đi…
 
                                    
Photo
Thành kính phân ưu
 
Ai cũng phải già và chết một lần. Vậy đừng nên lo sợ mình già…
Nhà văn Ghyslaine Delisle xem cái chết như một chuyến tạm biệt…
 
 
 
VIEILLIR EN BEAUTÉ C’EST…            Già an lạc là
*Vieillir avec son cœur, 
Sans remord, sans regret, sans regarder l’heure. 
Aller de l’avant, arrêter d’avoir peur, 
Car à chaque âge, se rattache un bonheur.
 
 Già an lạc, là già trong tâm tưởng
 Chẳng cần hận tiếc, chẳng màng thời gian;
 Cứ tiến bước, đừng bao giờ sợ hãi,
  Hoa hạnh phúc tuổi nào mà chẳng có.
  
*Vieillir avec son corps, 
Le garder sain en dedans, beau en dehors. 
Ne jamais abdiquer devant l’effort, 
L’âge n’a rien à voir avec la mort.
 
 Già an lạc, là già trong thể chất;
 Trong lành, ngoài đẹp, chẳng nà hề chi.
 Hãy luôn cố gắng chớ đừng tránh đi.
 Tuổi đời chưa hẳn là liền tử ly.
 
*Vieillir en beauté, c’est donner un coup de pouce
A ceux qui se sentent perdus dans la brousse
Qui ne croient plus que la vie peut être douce,
Et qu’il y a toujours quelqu’un à la rescousse .
 Già an lạc, là giúp người buồn khổ,
 Đang lạc bước giữa rừng sân bể hận,
 Mất niềm tin trong cuộc sống đẹp thay,
 Không nghĩ mình được cứu rỗi hôm nay.
 
*Vieillir en beauté , vieillir positivement,
Ne pas pleurer sur ses souvenirs d’antan.
Être fier d’avoir les cheveux blancs,
Car, pour être heureux, on a encore le temps.
 
  Già an lạc, là lạc quan tích cực,
   Không nhỏ lệ cho kỷ niệm xa xưa.
   Đầu điểm sương nhưng là niềm hãnh diện,
   Xuân miên viễn vẫn trong ta tự tại.
                         
*Vieillir en beauté , c’est vieillir avec amour,
Savoir donner sans rien attendre en retour;
Car, où que l’on soi , à l’aube du jour,
Il y a quelqu’un  à qui dire bonjour.
 
 Già an lạc, là già trong yêu mến,
 Chỉ biết cho nhưng chẳng đợi đền ơn;
 Dù  nơi đâu, dù bình minh ló dạng,
 Luôn ai đó để được mình chào mến.
 
*Vieillir en beauté,  c’est vieillir avec espoir,
Être content de soi en se couchant le soir.
Et lorsque viendra le point de non recevoir,
Se dire qu’au fond, ce n’est qu’un au revoir.
 
Già an lạc, là già trong hy vọng,
Lòng sung mãn trong giấc điệp bình an.
Khi số tận kêu ta dừng bước tiến 
Chỉ là tạm biệt, vô thường sắc không ./.
(Nguyễn Thượng Chánh dịch) 
 
 
 
 
                                                       
 
 
 
Kết luận
 
Nghĩ cho cùng cái chết chỉ là một giai đoạn của cái sống. Có chết đi thì mới có được một cái sống mới khác tiếp nối theo được. 
Vậy hãy trân quý cuộc sống ngày hôm nay. Không nên để tâm trạng sợ chết trở thành một nỗi ám ảnh thường xuyên làm ô nhiễm cuộc sống của chúng ta.
Hãy quên sự chết đi để mà sống. Chừng nào chết thì chết. 
Chết thì dễ, là việc đương nhiên rồi. 
 
Sống sao cho đáng sống mới thật sự là việc khó ./.

 

Nhà Thơ & Nhà Thổ

Nhà Thơ & Nhà Thổ

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ.

Nguyễn Khoa Điềm

Thỉnh thoảng, tôi cũng có (lén) làm một bài thơ ngăn ngắn. Những câu thơ được ghi chép nắn nót trên những trang giấy trắng tinh, rồi trân trọng gửi đến những toà soạn báo (ở khắp mọi nơi) với địa chỉ tác giả, ghi rõ ràng ở mép trái của phong bì.

Tất cả sáng tác của tôi, than ôi, đều “một đi không trở lại.” Chưa bao giờ tôi nhận được hồi âm, dù muộn.

Cứ thế, từ thập niên này sang thập niên khác, tôi sống thường trực trong tâm trạng của một kẻ đợi chờ trong buồn rầu, và … thất vọng. Tôi thất vọng vì tài năng thi phú của mình không được người đời nhìn nhận!

Cho đến chiều 25 tháng 4 vừa qua – tình cờ, và bất ngờ – tôi đọc được vài dòng nhắn tin (ngắn ngủi nhưng rộn ràng) qua F.B:

Thái Kế Toại toTưởng Năng Tiến

April 25

Xin chào anh. Tôi đã tuyển thơ anh in trong tập Vầng trăng lưu lạc. tuyển tập thơ hải ngoại cho NXB Hội Nhà văn, Hà Nội xuất bản năm 1994. Lê Hoài Nguyên

Úy Trời/ Đất, Qủi/ Thần, Thiên/ Địa, mèn đéc, ơi! Sao thơ của con người ta được in từ hồi năm 1994 lận mà sao tới bữa nay mới chịu cho hay (“kỳ cục vậy”) cha nội? Thì tui cũng làm bộ trách “nhẹ” cho nó có vậy thôi, chớ trong bụng (nói thiệt tình) vui râm ran nguyên tháng và sướng âm ỉ gần năm! Cái ước vọng được chường mặt ra trong thơ của tôi, cuối cùng, đã trở thành hiện thực.

Cụm từ này tôi học được từ một bài viết ngắn (“Nhà Thơ Nguyễn Khoa Điềm”) trên báo Lao Động, số ra ngày 5 tháng 6 năm 2011: “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ.

Đúng là ngôn ngữ và phong cách của một nhà qúi tộc, nhà thơ và “nhà  chính trị” theo như nguyên văn của  Wikipedia – tiếng Việt:

Nguyễn Khoa Điềm (tên khác là Nguyễn Hải Dương; sinh 15 tháng 4 năm 1943) là một nhà thơ, nhà chính trị Việt Nam. Ông là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, cựu Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Nguyễn Khoa Điềm sinh tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thân sinh của ông là nhà báo Hải Triều, thuộc dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, gốc An Dương (tỉnh Hải Dương cũ nay là Hải Phòng). Quê quán: làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Lúc nhỏ Nguyễn Khoa Điềm học ở quê. Năm 1955 ông ra miền Bắc học tại trường học sinh miền Nam. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng một lứa với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân.

Sau đó, ông vào miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế; tham gia quân đội, xây dựng cơ sở của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, viết báo, làm thơ… cho đến năm 1975. Nguyễn Khoa Điềm từng bị giam tại nhà lao Thừa Phủ. Đến chiến dịch Mậu Thân 1968, ông được giải thoát, tiếp tục trở lại hoạt động. Vào thời điểm này, Nguyễn Khoa Điềm mới bắt đầu làm thơ.

Tôi sinh sau đẻ muộn nên không có cái may mắn được sống cùng thời/cùng nơi với Bộ Trưởng Văn Hóa Nguyễn Khoa Điềm, chỉ được nghe (tiếng) ông chính là nhân vật đã (“lỡ”) ném vào máy nghiền cuốn Chuyện KNăm 2000 của Bùi Ngọc Tấn.

 Tiếng dữ đồn xa, và đồn nhanh nên mãi sau này tôi mới biết thêm rằng ngoài việc làm văn hoá, ông còn làm thơ nữa, và là một tác giả quan trọng, với tác phẩm đã được đưa vào giáo trình văn học cách mạng. Chương trình lớp 9, môn văn, có bài “Phân Tích Thơ Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm. Xin được trích dẫn, đôi đoạn, để mọi người cùng thưởng lãm:

Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ
Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng
Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối
Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông
Mẹ địu em đi để giành trận cuối

Sự lặp lại hai câu thơ Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi, Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ đã tạo nên âm điệu ngân nga, thấm dần vào người đọc một cảm xúc thân thương. Con cùng mẹ băng suối, vượt ngàn, đạp rừng xông tới. Cả nhà, cả làng, cả nước cùng đánh giặc.

Nhịp thơ sôi nổi, thôi thúc như một hành khúc lên đường. Câu kết vẽ lên hình ảnh thật xúc động:

Từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường
Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn.

Lời thơ khẳng định ý chí chiến đấu mãnh liệt của bà mẹ Tà-ôi nói riêng và đồng bào miền tây Thừa Thiên Huế nói chung. Lúc này, mẹ và em cùng lên đường vào Trường Sơn đánh giặc, nơi có biêt bao khó khăn vất vả, nơi cái chết và sự sống chỉ cách nhau gang tấc.

Kết thúc bài thơ vẫn là lời hát ru và ước nguyện của mẹ:

Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước
Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ
Mai sau con lớn làm người Tự do…

Khi giã gạo, mẹ mong con mơ cho mẹ hại gạo trắng ngần. Khi tỉa bắp trên nương, mẹ mong con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều. Khi chiến đấu, mẹ mong con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ trong ngày đất nước sạch bóng quận thù, Bắc-Nam thông nhất. Chính tình thương, đức hi sinh, lòng vị tha và nhân hậu cao cả của những người mẹ nghèo yêu nước ấy đã góp phần làm nên chiến thắng hôm nay.

Sau khi đất nước “sạch bóng quận thù, Bắc-Nam thống nhất” thì ông Nguyễn Khoa Điềm chuyển đổi công tác từ nhà làm thơ sang nhà làm chính trị. Em cu Tai cũng chuyển đổi chỗ ngủ, từ lưng mẹ sang lưng anh hay lưng chị:

Ru em vào giấc ngủ.

Anh đứng đó ê a …

Ba mẹ đi làm xa.

Em ơi ngon giấc nhé.

Cô gọi anh lên bảng.

Anh đọc cả lớp nghe.

Cô vội đi tìm chiếu.

Nhưng chiếu ở đâu ra?

nh: soha

Ba mẹ nơi chốn xa.

Thương con nhiều biết mấy.

Chiều nay trời đừng lạnh….

Mẹ mang gạo về rồi !!!

Ô! thằng em tỉnh giấc.

Bỗng nó nhoẻn miệng cười.

Anh ơi em hết ngủ.

Lưng anh ấm áp ghê!!!

Chân anh không cần dép

Áo anh xẻ cánh tay

Dây địu em mẹ xé…

…Áo rách mẹ hôm xưa.

Ngày mai em lớn lên

Lưng anh gù thêm chút.

Và rồi em có biết

Em lớn dậy có anh?

Ảnh: tin.vn

Ngày xưa: “từ trên lưng mẹ, em đến chiến trường.” Nay trên từ lưng chị em ra thị trường để “làm kinh tế,” ngay tại lề đường, theo bản tin của trang Một Thế Giới:

“Những em bé H’mông dù lên 9, lên 10 hay chỉ mới lên 5, lên 6 cũng có thể kiếm ra tiền với vô vàn hình thức khác nhau, từ việc bán cành đào mỗi dịp Tết, bán những móc chìa khóa lưu niệm, bán dây trang trí đeo tay hay thậm chí chụp ảnh chung với khách du lịch rồi xin tiền…”

Ảnh: motthegioi.vn

“Điều đáng sợ nhất đối với người H.Mong là hiện tại, đã có nhiều cô gái H.Mong chấp nhận làm gái điếm để bán mình làm giàu. Người Kinh khi nói về các cô gái điếm H.Mong thường dùng hai chữ ‘gà mọi’ hoặc ‘chơi mọi’ để giễu cợt, khinh khi” – như lời của Nhóm Phóng Viên Tường Trình Từ Việt Nam, nghe được qua RFA, vào hôm 8 tháng 5 năm 2015:

Cái ước mơ “mai sau con lớn làm người tự do” mà nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm dành (riêng) cho những người dân vùng xa, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng năm nào – tiếc thay –  đã không trở thành hiện thực. Sự thực, rõ ràng, đã không thiếu ê chề mà còn thừa cay đắng.

Nỗi ê chề và đắng cay này, từ nay, được thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm gói gọn trong thơ  những câu thơ buồn thiu và yếu xìu hà:

Đất nước những năm thật buồn
Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt
Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành
Như kẻ khát nước qua sa mạc
Chung quanh yên ắng cả

Cái khí thế (Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông / Mẹ địu em đi để giành trận cuối) nay không còn nữa nên nhà thơ của chúng ta đã bị chê trách là “đổi giọng.”

Lời “chê trách” này khiến tôi nhớ đến nhận xét của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn về một tác phẩm khác, viết lúc cuối đời, của một tác giả quen thuộc khác:

“Gọi là ‘Đi tìm cái Tôi đã mất’ cho sang. Ở đây tác giả không định đi tìm cái gì cả… Thế tại sao Nguyễn Khải lại viết ‘Đi tìm cái Tôi đã mất’? Theo tôi, trường hợp này cũng giống như Chế Lan Viên viết ‘Di cảo thơ’, và Tố Hữu tâm sự với Nhật Hoa Khanh. Thực chất cái việc các ông ‘cố ý làm nhòe khuôn mặt của mình’ như thế này là cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào mình đã sử dụng.”

Tình hình, rõ ràng, đã khác và khác lắm nên nếu đúng là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có đang chuẩn bị “sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới” (theo tôi) cũng là chuyện tốt thôi. Lo xa vốn là một đức tính, không có gì đáng phải phàn nàn.

Tôi chỉ hơi “tâm tư” chút xíu về sự lựa chọn thời điểm xuất hiện trong thơ của ông Nguyễn Khoa Điềm: “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ.” Nhà thổ thì ai cũng có thể chường mặt vào bất cứ lúc nào, còn ở nơi được mệnh danh là cường quốc thơ mà chuyện ra/vào cũng (y) như vậy hay sao?

Gia nhập TPP: Cơ hội, khó khăn và khả năng thoát Trung cho Việt Nam

Gia nhập TPP: Cơ hội, khó khăn và khả năng thoát Trung cho Việt Nam

Cát Linh, phóng viên RFA
RFA

000_Was8970858-622.jpg

12 nước thành viên Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015.

AFP PHOTO/PAUL HANDLEY

Your browser does not support the audio element.

Sau 8 năm với nhiều vòng đàm phán, thứ Hai ngày 5 tháng 10 vừa qua, Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt TPP đã đạt được thảo thuận giữa 12 nước thành viên.

Nếu như với giới truyền thông và các chuyên gia thì đây là một nỗ lực đầy tham vọng của Tổng thống Barack Obama, thì với Việt Nam, đây lại là 1 thời điểm lịch sử đúng 20 năm kể từ năm 1995, quan hệ bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được thiết lập. Hiệp định này không những là một cơ hội lớn cho nền kinh tế Việt Nam mà với một số doanh nhân và chuyên gia, đây là khả năng thoát Trung cho Việt Nam.

Cơ hội cho ngành hàng sản xuất 100% nội địa

Những ngày qua, có nhiều ý kiến cho rằng sẽ là hơi sớm nếu chúng ta nói về kết quả gia nhập TPP của Việt Nam. Thế nhưng, với những doanh nghiệp có sản phẩm nội địa xuất khẩu sang thị trường châu Âu, châu Mỹ, hoặc 12 nước thành viên TPP, và nhất là khi những doanh nghiệp đó có chuẩn bị tốt thì thảo thuận lịch sử này là một cơ hội lớn cho phát triển kinh tế. Ngược lại, những doanh nghiệp, cơ sở nhỏ nếu không có sự chuẩn bị kỹ thì sẽ có nguy cơ đóng cửa. Đây là nhận xét của ông Nguyễn Hữu Hoàng, một doanh nhân rất thành công về các sản phẩm đất sạch làm từ xơ dừa và hiện có nhiều sản phẩm cung cấp cho Walmart ở Hoa Kỳ. Chia sẻ chi tiết hơn, ông đưa ra giải thích như sau:

Khi vào TPP thì 1 số doanh nghiệp tư nhân nghĩ rằng sân chơi sẽ bình đẳng hơn bởi vì nó có công đoàn tự do. Mà công đoàn tự do thì nó sẽ được cất tiếng nói, vì dân họ có quyền lôi ông chính quyền ra tòa nếu anh có sự thiên vị.
-Ông Nguyễn Hữu Hoàng

“Bởi vì khi anh vào sân chơi với người ta, anh không chuẩn bị tốt, mà lâu nay anh mua hàng, lắp ráp của Trung Quốc, những nguyên liệu nhập từ của Trung Quốc thì anh sẽ không thể vào thị trường lớn được. Một số doanh nghiệp quốc doanh sẽ có khả năng phải đóng cửa hoặc phải tự thân sắp đặt lại. Vì lâu nay họ ỷ lại vào nhà nước, vào vốn nhà nước, vào sự bảo trợ.”

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh trong lần trả lời phỏng vấn của Mặc Lâm, Đài Á châu tự do cũng nêu rõ quan điểm của ông:

“TPP muốn Việt Nam xuất khẩu hàng do Việt Nam sản xuất chứ không phải xuất khẩu hộ hàng của Trung Quốc. Vì vậy Việt Nam đang cố gắng nâng cao hàm lượng nội địa, thu hút thêm nhà đầu tư nước ngoài và đấy là những thách thức, nhưng thách thức dó nếu được xử lý tốt thì có thể trở thành thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng của Việt Nam.”

TPP là một sân chơi bình đẳng cho các quốc gia thành viên. Những sản phẩm làm ra, nếu xuất khẩu vào thị trường của 12 nước thành viên thì phải đảm bảo tỷ trọng nguyên liệu cấu thành nên sản phẩm đó là bao nhiêu phần trăm nằm trong khối TPP.

Theo lời ông Hoàng, nếu không đạt được đúng tỷ trọng đó, thì doanh nghiệp sẽ không được hưởng thuế suất là 0%.

Trong một tài liệu về những điều căn bản của hiệp định TPP có nhắc đến rằng với hiệp định TPP, các công ty, tập đoàn nước ngoài và quốc tế sẽ có khả năng mang chính phủ của các quốc gia thành viên ra tòa án đặc biệt của TPP khi các quốc gia này đặt ra các luật lệ, chính sách đi ngược lại với chỉ tiêu của TPP. Tòa án này có toàn quyền bắt chính phủ đền bù không những cho các thiệt hại đã xảy ra, mà còn cho những mất mát về cơ hội trong tương lai của các tập đoàn, công nghiệp quốc tế. Giải thích chi tiết về điều này, ông Hoàng đưa ra những nhận định của mình:

“Khi vào TPP thì 1 số doanh nghiệp tư nhân nghĩ rằng sân chơi sẽ bình đẳng hơn bởi vì nó có công đoàn tự do. Mà công đoàn tự do thì nó sẽ được cất tiếng nói, vì dân họ có quyền lôi ông chính quyền ra tòa nếu anh có sự thiên vị.”

Theo sự giải thích này, thì chúng ta có thể hiểu rằng các doanh nhân cũng như các ngành hàng sản xuất của Việt Nam sẽ được luật chơi quốc tế sẽ bảo vệ mạnh mẽ.

Khó khăn

000_Hkg987465-305B.jpg

Đoàn xe chở hàng hóa qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc tại cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh Lạng Sơn, ảnh minh họa chụp trước đây.

Bên cạnh những cơ hội và thuận lợi cho kinh tế, thị trường Việt Nam cũng không tránh được những khó khăn sẽ xảy ra, mà theo ông Hoàng dẫn dụ về ngành nông sản:

“Hiện nay có một số ngành hàng, chẳng hạn như nông sản, chăn nuôi. Chẳng hạn như trứng gà Mỹ, và thịt gà Mỹ rất rẻ, và Mexico và 1 số nước đang phát triển thì thực phẩm rất rẻ. Hiện nay Mỹ đang bán gà đông lạnh chỉ khoảng 20 đến 25.000 đồng/kg. Ở Việt Nam, giá gà đông lạnh là 50.000 đồng/kg, gà ta thì hơn cả trăm ngàn đồng/kg.”

Theo nguồn tin trích dẫn từ báo mạng vnexpress trong nước vào ngày 29 tháng Bảy vừa qua, Hiệp hội chăn nuôi Đông Nam Bộ lên tiếng rằng gà Mỹ nhập vào Việt Nam với giá 19.000 đồng/kg và bán ra thị trường TP HCM với giá là 23.000 đồng/kg, rẻ bằng 1 nửa giá gà trong nước.

“Không vào TPP, không thể nào thoát Trung Quốc”

Mặc dù họ biết họ đạt được thì họ phải đánh đổi cái này, đánh đổi sự đe dọa quyền lực. Mà 1 điều nữa, đó là hiện nay nếu không vào TPP thì không có cách nào thoát Trung Quốc được. Chính phủ Việt Nam đang rất muốn thoát Trung Quốc nhưng thoát bằng cách nào?
-Ông Nguyễn Hữu Hoàng

Một trong những điều mà chính phủ Việt Nam phải đáp ứng trong hiệp định TPP, đó là không độc quyền để lãnh đạo công đoàn nữa. Chúng ta biết rằng, Tổ chức công đoàn lâu nay là do Đảng Cộng sản quản lý. Như thế, vấn đề đặt ra, có phải  nhà nước Việt Nam đã sẵn sàng cho một sự cải tổ? Hay nói cách khác, chính phủ Việt Nam đang đứng trước một thách thức lớn về bộ máy lãnh đạo? Đặt vấn đề này với ông Hoàng, ông có ý kiến rằng:

“Trong điều lệ của Đảng cộng sản Việt Nam, giai cấp công nông là giai cấp tiên phong. Trong khi đó, bây giờ giai cấp này đang bị 1 tập đoàn, nhiều nước tư bản đang kiểm soát. Đó là 1 trong những cái mà nếu không có lợi thì chính quyền Việt Nam sẽ không theo đuổi để đạt được. Mặc dù họ biết họ đạt được thì họ phải đánh đổi cái này, đánh đổi sự đe dọa quyền lực. Mà 1 điều nữa, đó là hiện nay nếu không vào TPP thì không có cách nào thoát Trung Quốc được. Chính phủ Việt Nam đang rất muốn thoát Trung Quốc nhưng thoát bằng cách nào?”

Đề cập đến vấn đề này, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, trong cuộc trò chuyện với Nguyên Lam của Đài Á Châu Tự Do có nói rằng:

“Một thí dụ thiết thực là trong hệ thống TPP, Việt Nam sẽ có hậu phương lớn của 11 nước để từ bông vải qua dệt sợi mà tiến vào thị trường áo quần may mặc hoặc từ các phụ kiện điện tử mà lên tới trình độ chế biến cao hơn, có giá trị hơn. Với một hậu phương mới, kinh tế Việt Nam sẽ bớt lệ thuộc vào nguồn cung cấp nguyên vật liệu của Trung Quốc nên khó bị Bắc Kinh khuynh đảo. Các thị trường quốc tế đều đánh giá là từ hệ thống TPP, Việt Nam có lợi nhất và Trung Quốc bị thiệt hại nhất. Việt Nam phải mau chóng cải sửa để biến dự phóng ấy thành hiện thực. Lãnh đạo mà không dám hay không muốn thì người dân phải làm vì đấy mới là tương lai xứng đáng của mình.”

Như đã nói, kết quả đạt được của Việt Nam sau khi gia nhập TPP hãy còn là chuyện phía trước. Thế nhưng, qua chia sẻ của các thính giả gửi đến Đài Á Châu Tự do thì có vẻ như có rất nhiều hy vọng vào một nền kinh tế phát triển, và nhất là cơ hội thoát Trung Quốc về cả kinh tế lẫn chính trị trong tương lai không xa.

LẤY CỦA CẢI TẠM THỜI ĐỔI LẤY KHO TÀNG BỀN VỮNG

LẤY CỦA CẢI TẠM THỜI ĐỔI LẤY KHO TÀNG BỀN VỮNG

 (Suy niệm Tin Mừng Mác-cô (10, 17-30) trích đọc vào Chúa Nhật 28 thường niên B)

 Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Chàng thanh niên trong bài Tin Mừng hôm nay là người nhìn xa thấy rộng. Tuy có đầy đủ tiền bạc của cải nhưng tâm hồn anh luôn khắc khoải vì có một khao khát chưa được lấp đầy: khao khát được sống đời đời. Vì thế anh tìm đến với Chúa Giê-su mà anh xem như một bậc Tôn Sư lỗi lạc, “quỳ xuống trước mặt Ngài và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”

Chúa Giê-su dạy anh phải giữ các giới răn. Anh đáp: “Thưa Thầy, tất cả những điều đó, tôi đã giữ từ thuở nhỏ.”

“Bấy giờ Đức Giê-su nhìn anh và đem lòng yêu mến, Ngài bảo: “Anh chỉ còn thiếu có một điều: là hãy về bán những gì anh có mà bố thí cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Sau  đó, hãy đến theo tôi.”

Qua lời dạy nầy, Chúa Giê-su đề nghị anh đánh đổi của cải phù du đời nầy để chiếm hữu kho tàng vô giá đời sau, nhưng khi “nghe lời đó, anh sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải” (Mc 10, 17-30).

Lời đề nghị với người thanh niên giàu có năm xưa lại được Chúa Giê-su gửi đến mỗi người chúng ta hôm nay. Chúa Giê-su mời gọi chúng ta phải khôn ngoan đem những của cải tạm bợ đời nầy đổi lấy kho tàng vững bền trên thiên quốc; hay nói một cách bình dân là hãy “bỏ con tép bắt con cá”,  mà cá đây lại là cá voi, vì phần bỏ ra rất nhỏ nhưng phần thu lại thật lớn lao.

Phần thu lớn lao nầy đã được Chúa Giê-su xác nhận với thánh Phê-rô và các tông đồ: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng ai từ bỏ nhà cửa, anh chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất vì Thầy và vì Tin Mừng mà không được gấp trăm và được sống đời đời” (Mc10, 29-30).

Đổi tiền giấy lấy vàng

Vào khoảng năm 1975-80, kinh tế Việt Nam gặp khủng hoảng trầm trọng, vật giá leo thang từng ngày, giá vàng nhích lên liên tục, đồng tiền mỗi ngày một mất giá. Vì thế, không ai dại dột giữ tiền trong tủ. Khi có chút ít tiền dư, người ta đua nhau sắm vàng. Kẻ có nhiều tiền thì sắm cả lượng vàng, người ít tiền thì sắm nửa chỉ hoặc một hai phân. Thế mới an lòng chắc dạ.

Đổi vàng và của cải để lấy công phúc

Những người khôn lúc đó đều có một chọn lựa sáng suốt là đổi tiền giấy lấy vàng. Thế nhưng vàng cũng không còn giá trị đối với người đã nhắm mắt xuôi tay, chẳng còn ích chi cho người đã lìa cõi thế. Do đó, một chọn lựa cũng rất sáng suốt cho chúng ta hôm nay là phải đổi tiền, đổi vàng, đổi tất cả của cải ta có đời nầy để lấy thứ “quý kim” muôn đời có giá, đó là công phúc. Ai có nhiều công phúc là có cả một kho báu trên trời không bao giờ mai một, hư hao.

Mai đây, cái chết sẽ thình lình chụp xuống. Nếu hôm nay không kịp chuyển đổi những gì ta có thành công phúc, thì lúc đó ta sẽ trở thành người tay trắng, chẳng còn gì tồn tại với mình khi bước qua thế giới bên kia. Đến lúc ấy, có hối tiếc thì cũng đã quá muộn màng!

Xét về một vài khía cạnh nào đó, mỗi người chúng ta đều là những người giàu có, không giàu của cải thì cũng giàu thời giờ, giàu sức lực, hay giàu khả năng, trí tuệ…

Thời giờ ta đang có sẽ trôi qua nhanh chóng như nước chảy qua cầu, hết phút nầy đến phút khác; Sức khỏe ta đang hưởng hôm nay cũng sẽ hao mòn theo năm tháng;

Của cải tiền bạc rồi cũng sẽ không cánh mà bay;

Khả năng làm việc cũng suy giảm dần dần…

Thế thì, tại sao ta không nhanh chóng đem những thứ “của cải tạm bợ” nầy đổi lấy thứ tài sản không bao giờ hao vơi trước khi chúng kịp bốc hơi?

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con biết dùng thời giờ Chúa ban để tôn vinh Chúa và phục vụ con người. Đó là cách chuyển của cải phù du thành công đức bền vững cho mai sau.

Xin cho chúng con biết cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ… để gánh vác việc đời, để góp phần xây dựng xã hội và phục vụ mọi người. Đó là những cách biến gia sản chóng qua đời nầy thành công phúc, thành của cải không bao giờ hư nát dành cho mai sau.

 Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

SỰ CHỌN LỰA KHÔN NGOAN

SỰ CHỌN LỰA KHÔN NGOAN

Một đám cưới sang trọng tiêu tốn hết ba triệu rưỡi đô la để chỉ tồn tại không quá 15 năm là đám cưới của công nương Diana và hoàng tử Charles.  Một chiếc nhẫn trị giá đến 205 ngàn đô la để chỉ ngự trị trên bàn tay quí phái của Diana không quá năm tiếng đồng hồ là chiếc nhẫn mà nhà triệu phú Dodi Fayer đã tặng cho công nương trong đêm định mệnh.  Tai nạn bất ngờ sảy ra.  Diana đi về thế giới bên kia.  Không mang theo được đồng đô la nào.  Chiếc nhẫn kim cương đắt giá cũng được tháo ra trao lại cho gia đình Spencer.

Nằm trong quan tài, Diana với đôi tay không nhẫn cưới và cũng chẳng có nhẫn kim cương.  Điều kỳ lạ là trên đôi tay ấy người ta có thấy một cỗ tràng hạt do Mẹ Têrêsa trao tặng trong một lần tiếp xúc. Phải chăng:

Kiếp ngắn dài, một mộ bia

Xoay vần cát bụi ngày lìa dương gian

Dừng chân đếm túi hành trang

Những gì còn lại, chuỗi vàng lời kinh?

(Lm. Trần Cao Tường)

Phải chăng những người có trách nhiệm sau cùng trên thi hài của công nương đã muốn nói với mọi người: tiền bạc, kim cương, danh dự, vật chất, sang giàu, thế gian… không phải là hành trang cho một cuộc sống hạnh phúc đời đời, nhưng là những mầm sống yêu thương và những giá trị thiêng liêng mà Mẹ Têrêsa, qua bộ tràng hạt, đã trao lại cho Diana và thế giới như một lời nhắn nhủ?

Hạnh phúc sung mãn và trường tồn không thể tìm thấy trong sự sang giàu của thế gian.  Thánh kinh đã khẳng định điều đó.  Cả ba Phúc âm Nhất lãm đều ghi nhận: một ngày kia khi Chúa Giêsu đang trên đường đi về Giêrusalem để bước vào cuộc khổ nạn hầu mang lại ơn cứu độ và hạnh phúc cho muôn người, thì một chàng thanh niên giàu có “chạy” đến.  Anh ta quì xuống trước mặt Đức Giêsu và thưa: “Lạy thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời làm cơ nghiệp.”  Chắc hẳn câu hỏi của anh thanh niên đã làm bối rối và sửng sốt cho không ít người: cứ tưởng “có tiền mua tiên cũng được,” đàng này trong con người còn có một thứ mắc hơn tiên đến nỗi có tiền chưa chắc đã mua được.  Đấy chính là một khát vọng vô biên.

Vì là khát vọng vô biên nên chắc chắn không một thực tại hữu biên nào trên thế gian này có thể lấp đầy.  Dù đó là xác thịt, kiến thức, giàu sang hay bất cứ thứ gì… ngoại trừ Thiên Chúa.  Chỉ có Thiên Chúa, Đấng Vô Biên, mới có thể thoả mãn cái khát vọng vô biên nơi lòng con người.  Chính Thánh Augustinô, sau khi trải qua biết bao kinh nghiệm tìm kiếm đối tượng cho khát vọng vô biên nơi lòng mình, đã thốt lên:

Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi

Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.

Trước những trăn trở không câu trả lời, người thanh niên giàu có thấy được Đức Giêsu như một cứu cánh.  Anh đã “chạy” đến với Ngài.  Chạy là thái độ của khao khát, nôn nóng kiếm tìm chân lý, trái nghịch với thái độ thẫn thờ, bàng quang, chẳng thiết tha.

Trước tâm tình và ước nguyện của chàng thanh niên, Đức Giêsu đã làm một cuộc phỏng vấn liên quan đến các giới răn: ngươi không được giết người, không được ngoại tình, không được trộm cắp, không làm chứng gian, không…. Và người đó đáp lại: “Thưa Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở còn thơ.”  Nghe thế Đức Giêsu bảo anh ta: “Ngươi còn thiếu một điều.  Có gì thì hãy đem bán mà cho kẻ nghèo.  Đoạn hãy đến theo Ta” (Mc 10:21).

Thật kỳ lạ! Sống không giết người, không trộm cắp, không ngoại tình, không bất công, không gian dối, ấy thế mà Chúa Giêsu còn bảo là chưa đủ.  Chàng thanh niên giữ các giới răn khá là trọn vẹn mà còn bị cho là thiếu.  Không biết đời tôi từng phạm điều này, lỗi nghịch điều kia, chắc là còn thiếu nhiều lắm!

Thế nên không thể cho rằng tôi sống đàng hoàng, không phạm 10 điều răn Đức Chúa Trời, chẳng để sót sáu điều răn Hội Thánh, tôi không làm hại ai, không gây tổn thương cho người nào là bảo đảm vào thiên đàng 100% rồi đâu.  Nếu chỉ không điều này, không điều kia mà đủ tiêu chuẩn để sống hạnh phúc đời đời thì cần gì theo Chúa.  Theo vô vi cũng được vậy.  Song người ta cần phải có.  Đó là có yêu thương, có quảng đại, có trao ban, có thứ tha, có cho đi chính mình như Đức Giêsu.

“Hãy đến mà theo Ta” cũng có nghĩa là bước theo Ngài trên nẻo đường dâng hiến đời mình cho sự sống tha nhân.  Và chỉ khi trao ban dâng hiến như thế con người mới tìm thấy ý nghĩa và hạnh phúc thật sự cho cuộc đời.

http://tonggiaophansaigon.com/sites/default/files/imagecache/main_img/sites/default/files/Images/201210/lal301131.jpgNong nả đi tìm câu trả lời cho đâu là ý nghĩa của cuộc sống, ấy thế mà khi nhận được lời giải đáp, chàng thanh niên lại sa sầm nét mặt, bỏ đi buồn rầu.  Thánh kinh cho biết “vì anh ta có nhiều của” (Mc 10:22).

Bước theo Đức Giêsu đòi hỏi một thái độ vươn mình trên những gì là của cải vật chất.  Bởi vì “không ai có thể làm tôi hai chủ: hoặc nó sẽ ghét người này mà mến người kia, hoặc tha thiết với chủ này mà khinh màng chủ nọ.  Các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa và Tiền của được.”  Ấy thế mà, nếu thành tâm xét lại, thì hình như trong đời tôi vẫn còn đó những khoảnh khắc vừa mang danh Kitô hữu lại vừa xem tiền bạc như lẽ sống.  Phải chăng vừa theo Chúa, tôi vừa tự biến mình làm “con vật kinh tế,” thậm chí có khi còn giành giật, lừa gạt, chà đạp, sát phạt kẻ khác… vì đồng tiền.

Bao lâu chỉ biết thu về mà không hề trao ban, người ta sẽ cứ mãi “sầm mặt xuống, buồn rầu.”  Khi nào biết san sẻ cho kẻ nghèo khó, người ta sẽ lớn lên trong tình yêu và tiếng cười.  Đã có một thời nhà tỉ phú George Soros than thở:  “Tôi không biết mình đang giàu hay đang nghèo; đang làm chủ số phận hay nô lệ cho thành công.  Bởi vì để thành công tôi phải làm việc như một con chó.  Để giàu có tôi phải chịu cảnh bất an liên tục.”  Nhưng rồi sau những công việc từ thiện bác ái, George đã tươi cười chia sẻ: “Chỉ từ khi biết yêu thương, đời tôi mới bắt đầu nếm được mùi hạnh phúc và sung túc thật sự.”

Cha Albert Marie thuộc dòng khổ tu Soligay ở Bỉ cũng có một kinh nghiệm tương tự.  Trước khi vào dòng, ngài từng là một chính khách triệu phú với danh xưng Van Cruyssen.  Trong đại chiến thế giới, ngài là một sĩ quan mang cấp bậc đại úy, với sáu huy chương và đệ nhất Bắc đẩu Bội tinh chói ngời trên ngực áo.  Nhưng giờ đây những huy chương và bội tinh ấy lại được đặt trước bàn thờ kính Trái Tim Chúa Giêsu trong tu viện.

Trong dịp ngài tuyên khấn, có rất nhiều vị dân biểu, chủ tịch và phó chủ tịch thượng viện, cũng như chủ tịch hiệp hội giới trẻ Công giáo Bỉ quốc đến tham dự.  Sau lễ nghi, vị tân khấn đã chia sẽ tâm tình với những người hiện diện: “Cha Albert Marie sung sướng và hạnh phúc hơn nhà triệu phú Van Cruyssen nhiều.”

Yêu thương và san sẻ cuộc đời cho kẻ khó nghèo chính là điều kiện tất yếu mà những ai muốn trở thành môn đệ chân chính của Đức Kitô đều phải thực thi.  Yêu thương san sẻ không hệ tại nơi tiền bạc của cải, song là ở tất cả những gì mình có.  Đức Giêsu đã bảo: “Hãy đi bán tất cả những gì ngươi có mà cho kẻ nghèo.” Người nghèo là người túng thiếu-không chỉ thiếu về của cải, nhưng còn có thể thiếu về giáo lý, kiến thức, sức lực, cảm thông, tha thứ, tiếng ca, nụ cười….

Vậy nếu trong gia đình, nơi giáo xứ, cộng đoàn, hay tại sở làm của tôi vẫn còn những người thiếu thốn như thế, liệu tôi có can đảm đáp trả lời mời gọi của Đức Kitô- “Hãy cho, và ngươi sẽ có một kho tàng trên trời” – hay tôi sẽ cúi mặt, bỏ đi, buồn rầu.

Chọn lựa bước theo Đức Kitô là một chọn lựa quyết liệt và rướm máu.  Nhưng đó lại chính là một lựa chọn khôn ngoan và đáng giá vô cùng.

LM Phêrô Bùi Quang Tuấn

CẢM THỨC VỀ NGƯỜI KHÁC !

CẢM THỨC VỀ NGƯỜI KHÁC !

Tác giả:  Huệ Minh

Hai lúa về Sài Gòn khám bệnh, mù mờ nên nhờ người quen dẫn đường.

Đến giờ hẹn nhưng người quen chưa đến vì … phải chở cháu đi học giáo lý. Trong lúc chờ đợi, có anh chàng bảo vệ của bệnh viện đứng gần đó. Chẳng hiểu sao anh lại đến bắt chuyện và rồi cùng chia sẻ công việc bảo vệ của anh.

Anh không ngần ngại kể lại những câu chuyện mà anh vẫn thường thấy trước cánh cổng của bệnh viện.

Có những cụ khá cao tuổi, đi chiếc xe cà tàng 50, sau khi được nhân viên nhận giữ xe cho cụ thì cụ cảm thấy rất vui vì còn được … nghĩ đến. Đơn giản là xã hội ngày hôm nay người ta vẫn thường có thói quen nhìn bề ngoài và nghĩ đến những chiếc xe tay ga đắt tiền để có cơ hội lấy tiền giữ cao hơn. Với chiếc xe cũ kỹ 50 mà lấy cao cũng khó. Nhưng, vì nghĩ đến cụ già tìm chỗ giữ xe khá vất vả nên dù chật chỗ nhưng anh em bảo vệ nhận giúp.

Trong chuyện kể, anh cũng kể có những lần có những người chồng chở vợ mình vào khám bệnh ở cái bệnh viện này khi bầu bì đã lớn khá vất vả. Cảm thức được cảnh vợ ngày xưa sinh nở khá vất vả khi đi khám bệnh nên anh đã trợ giúp. Người chồng thấy cách hành xử của anh chàng bảo vệ anh ta ngạc nhiên và đã bày tỏ lòng cảm phục của anh trong tư cách anh là bảo vệ biết nhìn đến người khác.

Anh kể, lần kia đến ngân hàng để làm thủ tục lấy lãi xuất. Đi cùng với anh là đứa con anh mang chứng bệnh tự kỷ. Anh biết bệnh tình của cháu nên đến trình với nhân viên ngân hàng chứng bệnh của cháu để may ra nhân viên giải quyết sớm một chút. Đáng tiếc thay là dù có ngỏ lời nhưng những người đó vẫn thản nhiên làm ngơ.

Anh nói lần đó rút tiền xong và anh cũng chia tay với ngân hàng đó để chuyển đến ngân hàng khác gửi dù lãi xuất có thấp hơn một chút so với ngân hàng này. Anh kể chuyện mà lòng cảm thấy xót cho những người không có cảm thức trong hoàn cảnh của người khác.

Mới đây, cần chuyển ít đồ cần dùng về nhà quê hẻo lánh. Rất cẩn thận để dặn gia đình mang đến địa chỉ đó kèm theo số điện thoại vì chiều hôm đó đã có 2 thùng đồ cũng cần chuyển về địa chỉ như trên.

Tưởng chừng mọi chuyện như mình nghĩ là chiều đến hộp đồ cần dùng sẽ về chung với 2 thùng đồ sẽ gửi. Đáng tiếc thay chỉ nhận được 2 thùng đồ còn hộp đồ cần thiết hơn cả vẫn chưa thấy !    Hỏi ra thì gia đình gửi cho chị trên lầu, chị trên lầu nhận và … quên luôn.

Chuyện không có gì phải suy nghĩ nến như trên lầu và dưới nhà là 2 gia đình khác nhau. Em ở dưới đất, chị trên lầu, chị nhận đồ phải chuyển thì nên chăng chị hỏi em để gửi vì cả 2 chị em đều quen người nhận đồ mà.

Nghĩ tới nghĩ lui nó cũng trở về chuyện cảm thức. Khi mình đặt hoàn cảnh mình trong hoàn cảnh của người khác thì khi ấy mình hành xử sẽ dễ dàng hơn.

Khi mình đặt mình vào trường hợp phải chở vợ, chở người thân đi khám bệnh trong tình cảnh vợ hay người thân bầu bí nặng nề mình sẽ cảm thông hơn.

Khi mình đặt mình có người con tự kỷ với căn bệnh không ai muốn mình sẽ hiểu những gia đình có con tự kỹ hơn.

Khi mình cần gấp đồ gì đó để sử dụng thì khi đó mình sẽ không quên chuyển đồ cho người mang về cho người cần dùng hơn.

Cảm thức, xem ra đơn giản nhưng thật cần trong cuộc sống.

Vẫn mong mình luôn đặt mình vào trường hợp người khác, cảm thức của người khác thì khi đó mình sẽ hành xử với nhau có tình người hơn, chân thành với nhau hơn.

Tác giả:  Huệ Minh

Việt Nam sẽ phải làm gì khi gia nhập TPP

 Việt Nam sẽ phải làm gì khi gia nhập TPP

Mặc Lâm, biên tập viên RFA,

Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015

Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP tại Atlanta, Mỹ ngày 5/10/2015

AFP

 Việt Nam được biết là nước hưởng lợi nhiều nhất trong số 12 thành viên gia nhập TPP, tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi đó còn rất nhiều rào cản mà doanh nghiệp cũng như nhà nước phải vượt qua nếu không cuộc chơi sẽ gặp trở ngại và không khéo có thể mất những cơ hội thành công trong thị phần khổng lồ này. Mặc Lâm phỏng vấn TS Lê Đăng Doanh, nguyên giám đốc Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương để tìm hiểu thêm vấn đề.

Mặc Lâm: TPP vừa ký kết xong và VN được xem là nước hưởng nhiều nguồn lợi nhất trong các đối tác. Theo TS thì điều thuận lợi nào mà ông cho là có khả năng xảy ra nhất thưa ông?

TS Lê Đăng Doanh: Việt Nam gia nhập TPP thì sẽ có 11 nước đối tác trong đó phần lớn các nước có trình độ phát triển cao hơn chúng ta nhiều cho nên Việt Nam sẽ có một cơ cấu kinh tế bổ xung cho các nước đó và hàng hóa của Việt Nam và các nước bổ xung cho nhau và ít cạnh tranh hơn. Nếu như so sánh giữa Việt Nam và ASEAN thì chúng ta có thể thấy là ASEAN và Việt Nam cạnh tranh với hàng hóa của Thái Lan, dệt may của Campuchia và cạnh tranh hàng điện tử của Malaysia. Nhưng trong trường hợp của TPP thì Việt Nam có điều kiện dễ dàng hơn rất nhiều.

Sản phẩm mà Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ tập trung vào các lãnh vực như dệt may da giày túi xách hay các mặt hàng đồ gỗ, hay các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam như café hồ tiêu và các mặt hàng khác sẽ rất thuận lợi. Vì vậy cho nên cái thuận lợi của Việt Nam nó nằm trong cơ cấu kinh tế.

TPP muốn Việt Nam xuất khẩu hàng do Việt Nam sản xuất chứ không phải xuất khẩu hộ hàng của Trung Quốc. Vì vậy Việt Nam đang cố gắng nâng cao hàm lượng nội địa, thu hút thêm nhà đầu tư nước ngoài và đấy là những thách thức, nhưng thách thức dó nếu được xử lý tốt thì có thể trở thành thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng của VN

TS Lê Đăng Doanh

Hơn thế nữa Nhật Bản rất quan tâm hợp tác với Việt Nam về nông nghiệp, sản xuất rau quả tươi để xuất khẩu sang Nhật và hai bên có thể hợp tác vì lợi ích của cả hai. Đấy là những điều tôi nghĩ rất thuận lợi đối với Việt Nam

Mặc Lâm: Như TS vừa nói thì dệt may và da giày là hai mối lợi xuất khẩu thiết thực nhất, tuy nhiên rào cản kỹ thuật của TPP ghi rõ là nguyên liệu dành cho sản xuất phải mua từ các nước có tên trong hiệp định. Công nghệ may gia công của VN đang nhập nguyên liệu của Trung Quốc là chính do đó VN phải giải quyết nút thắt này như thế nào thưa ông?

TS Lê Đăng Doanh: Việc TPP yêu cầu có hàm lượng sợi trong TPP khoảng 70%, tôi không rõ là Việt Nam có thỏa thuận được điều kiện nào thuận lợi hơn hay không nhưng với tình hình như vậy thì tôi nghĩ nó cũng có cái lý của nó đó là TPP muốn Việt Nam xuất khẩu hàng do Việt Nam sản xuất chứ không phải xuất khẩu hộ hàng của Trung Quốc. Vì vậy Việt Nam đang cố gắng nâng cao hàm lượng nội địa, thu hút thêm nhà đầu tư nước ngoài và đấy là những thách thức, nhưng thách thức dó nếu được xử lý tốt thì có thể trở thành thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng của Việt Nam

Mặc Lâm: Các chuyên gia quốc tế cho rằng Việt Nam sẽ gặp rào cản lớn trong vấn đề thành lập công đoàn cho công nhân độc lập với công đoàn của nhà nước, mặc dù hiện nay VN có thời gian là 5 năm để chuẩn bị cho yêu cầu nghiêm ngặt này. TS có nghĩ rằng vì lợi ích kinh tế của quốc gia Việt Nam sẽ vượt qua được nút thắt này hay không?

TS Lê Đăng Doanh: Tôi đánh giá cao quyết tâm của Việt Nam đã chấp nhận các điều kiện như vậy và tôi nghĩ rằng nếu có quyết tâm thực hiện và tổ chức tốt thì Việt Nam hoàn toàn có thể làm được điều này.

Mặc Lâm: Riêng về khung pháp luật phù hợp với TPP thì hiện nay chúng ta vẫn còn trong tình trạng soạn thảo, liệu có đủ thời gian để làm công việc phức tạp này hay không?

TS Lê Đăng Doanh: Vâng, Việt Nam đã thấy điều đó, thí dụ như Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã trực tiếp làm việc với các Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế để giảm bớt  để giàm bớt các thủ tục và gần đây nhất vào ngày 12 tháng 3 năm 2015 thì chính phủ đã có ban hành cái nghị quyết 19 và hiện nay đang tích cực thực hiện nghị quyết này để giảm bớt chi phí và thời gian đối với doanh nghiệp. Tôi nghĩ việc gia nhập TPP và Việt Nam nghiêm chỉnh thực hiện những điều kiện của TPP sẽ là đòn bẫy từ bên ngoài để thúc đẩy Việt Nam cải cách.

Mặc Lâm: Tin VN gia nhập TPP giống như một làn sóng lớn ập xuống doanh nghiệp và cả chính phủ với hàng ngàn việc cần phải làm. Theo ông khả năng hòa nhập cũng như thích hợp với thị trường mới của doanh nghiệp Việt Nam có sẵn sàng chưa trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay.

TS Lê Đăng Doanh: Tôi nghĩ Việt Nam đang có thời gian để đẩy mạnh việc thực hiện. Bởi vì phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Họ không có điều kiện để có thể hiểu biết và quan tâm nhiều đến các yêu cầu về TPP.

Vì vậy tôi nghĩ trong thời gian mà Quốc hội các nước còn phải thông qua thì Việt Nam nên tranh thủ việc tổ chức thực hiện, cũng như giúp đỡ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh cải cách thể chế. Tôi nghĩ rằng đó là những điều Việt Nam đã nhận thức và có thể làm được trong thời gian tới.

Mặc Lâm: Xin cám ơn TS Lê Đăng Doanh.

Chợ Trời

Chợ Trời

“Xã hội bấy giờ người ta mua “ghế”, mua “dự án”, rồi “chạy chức”, “chạy quyền”, thật chẳng khác nào một cái chợ. Phong trào “mua” và “chạy” này nhố nhăng, thảm hại như một cơn lốc điên cuồng. Cơn lốc đó cuốn phăng đi nhà cửa, đất đai, mồ hôi công sức, máu và nước mắt của nhân dân. Không ai trao cho họ cái quyền được bán, nhưng họ vẫn bán, biết mua phải hàng lậu, họ vẫn cứ mua”.

______

Minh Văn

7-10-2015

Ảnh minh họa: Chợ trời ở California. Nguồn ảnh: internet

Ở thủ đô Hà Nội có một cái chợ gọi là “Chợ Trời”. Tại đây người ta mua bán đủ thứ, cứ gọi là thượng vàng hạ cám vậy. Hàng cũ, hàng mới, hàng lậu, thậm chí là đồ ăn cắp cũng có nữa. Nếu xe máy bạn vừa bị mất trộm đôi gương, cứ ra chợ Trời thì sẽ thấy nó được bày bán, có điều bạn phải mua lại tài sản của mình với cái giá cắt cổ. Cái sự vô lý như vậy nhưng vẫn mặc nhiên được thừa nhận, cho nên chợ Trời là một hiện tượng rất độc đáo.

Hẳn chúng ta còn nhớ sự kiện đồng bào miền Bắc di tản vào Nam năm 1954. Lúc đó Cộng Sản vừa mới chiếm được miền Bắc, nhiều người dân đã phải bỏ nhà cửa và quê hương để chạy nạn. Ở Hà Nội tình hình cũng như vậy, những người này phải bán tất cả tài sản của mình mà ra đi. Để khách hàng dễ nhận biết, họ tập trung bán hàng thành một khu vực riêng, và chợ Trời được hình thành từ đó.

Thời bao cấp, chợ Trời lại là nơi tiêu thụ hàng “phe phẩy”, vốn có xuất xứ từ các cửa hàng tem phiếu quốc doanh. Hàng ăn cắp và “phe phẩy” đã trở thành đặc trưng của thời kỳ này. Lâu dần người Hà Nội quen hiểu chợ Trời theo nghĩa xấu đó, vì vậy mà dân gian gọi ví von là “Chợ Giời”, với hàm ý diễu cợt. Chợ Giời bao gồm đoạn cuối phố Huế và một phần của các phố Đồng Nhân, Trần Cao Vân, Chùa Vua, Thịnh Yên…ngày nay.

Chuyện cái chợ là vậy, nhưng chuyện nhà nước mà cũng giống như thế mới gọi là kỳ.

Xã hội bấy giờ người ta mua “ghế”, mua “dự án”, rồi “chạy chức”, “chạy quyền”, thật chẳng khác nào một cái chợ. Phong trào “mua” và “chạy” này nhố nhăng, thảm hại như một cơn lốc điên cuồng. Cơn lốc đó cuốn phăng đi nhà cửa, đất đai, mồ hôi công sức, máu và nước mắt của nhân dân. Không ai trao cho họ cái quyền được bán, nhưng họ vẫn bán, biết mua phải hàng lậu, họ vẫn cứ mua.

Trong cái chợ Trời rộng mênh mông bằng cả một đất nước này, người dân sợ nhất là các dự án công. Vì sau khi nhà nước quy hoạch những dự án đó, họ phải mua lại đất đai, nhà cửa cửa mình với cái giá đắt hơn gấp nhiều lần. Mọi chuyện chỉ xẩy ra trong thời gian ngắn, bằng một quyết định thành lập dự án, và sau đó là quyết định cưỡng chế có đóng con dấu đỏ chót. Trong cuộc mua bán ngược đời này, phần lỗ bao giờ cũng thuộc về nhân dân.

Chuyện quy hoạch và cưỡng chế thì nhiều lắm, vì nó diễn ra trên khắp đất nước hình chữ S này. Đặc trưng dễ nhìn thấy là sự hiện diện của đông đảo bộ đội, công an, dân phòng và những vụ đàn áp đẫm máu. Chuyện những người dân khiếu kiện và phản đối các dự án bị bắt bỏ tù cũng nhiều rồi, chúng ta sẽ không kể ra ở đây nữa.

Liên quan đến điều vừa nói trên, báo chí nhà nước cũng có đăng một câu chuyện như thế này. Ở tỉnh miền núi nọ, chính quyền địa phương lập dự án quy hoạch xây dựng một khu dân cư. Tất cả những hộ dân trong khu vực này đều được người ta đền bù đất đai, nhà cửa với giá rẻ mạt rồi đuổi ra khỏi nhà. Thế là họ trở thành những kẻ vô gia cư, phải đi ở nhờ nhà người thân thích. Chỉ vài tuần sau đó, họ thấy những mảnh đất của mình được nhà nước rao bán với cái giá đắt gấp năm lần. Muốn mua lại mảnh đất yêu quý của mình, nhưng những người dân đó làm gì có tiền, họ đành gạt nước mắt rồi ra đi. Chẳng ai biết họ đi đâu, vì nhà nước đâu có lo chuyện này. Thật là một vụ mua bán có hời, nhiều nước mắt và lắm đắng cay.

Những kẻ ham đường danh lợi bỏ ra cả đống tiền để chạy chức chạy quyền. Người ta rỉ tai nhau cái ghế này bao nhiêu, ghế kia thì bao nhiêu, cứ như là mua hàng ngoài chợ vậy. Những chức vụ lẽ ra do dân cử, bây giờ bị ngang nhiên đem bán. Một khi đã là mua bán thì phải có lãi. Dĩ nhiên là sau khi mua chức quyền, họ không thể kiếm lãi bằng cách phục vụ nhân dân, mà phải ra sức tham nhũng, lừa bịp và cướp bóc.

Ở thời buổi này, học sinh đi học phải chạy trường, sinh viên sau khi tốt nghiệp phải chạy việc. Người dân lấy tiền ở đâu để “chạy”? Dĩ nhiên là tiền mồ hôi công sức của mình, vì dân đâu có tham nhũng được.

Nhục nhằn và bất lực, người dân ngửa cổ lên trời mà than rằng: “Đây là nhà nước hay cái chợ Giời vậy?”.

Quả thực, bấy giờ Nhà Nước hay chợ Giời, chẳng ai còn phân biệt được nữa. Cho nên, nếu ví nó như cái chợ Giời cũng chẳng có gì là không đúng cả.

Một ít kỷ niệm với Bác sĩ Văn Văn Của.

Một ít kỷ niệm với Bác sĩ Văn Văn Của.

 Hồi ức của : Đoàn Thanh Liêm

Tôi vừa mới viết một bài về Chương trình Phát triển Cộng đồng tại các quận 6, 7 & 8 Saigon, nhân dịp kỷ niệm năm thứ 45 kể từ ngày thành lập (1965 – 2010). Bài này có nhan đề là “ Làm Men trong Bột”, đã được phổ biến rộng rãi trên các báo giấy, cũng như báo điện tử. Nay tôi muốn viết thêm về một ít kỷ niệm thật là sâu đậm giữa cá nhân tôi với bác sĩ Văn Văn Của, là vị Đô trưởng mà đã tận tình giúp đỡ cho anh chị em chúng tôi, trong những năm chương trình mới khởi sự hoạt động tại quận 8. Ông đã qua đời ở bên Pháp từ mấy năm trước rồi, nhưng đối với riêng tôi, thì không bao giờ tôi lại có thể quên được cái tình cảm thân thương quý báu, mà ông dành cho bản thân mình, ngay từ hồi tôi có duyên được gần gũi, sát cánh với ông tại Tòa Đô chánh Saigon vào giữa năm 1965 trở đi.

Đang là một Y sĩ trưởng của Sư Đoàn Dù, thì vào đầu năm 1965, bác sĩ Văn Văn Của được bổ nhiệm giữ chức vụ Đô trưởng thành phố Saigon. Hồi đó, tôi là một sĩ quan làm việc trong phòng pháp chế & tố tụng thuộc Bộ Quốc phòng, nên có điều kiện giúp các em sinh viên trong công tác từ thiện xã hội, đặc biệt là trong khuôn khổ của Chương trình Công tác Hè 1965. Do vậy, mà có vài ba lần tôi phải đến gặp vị Đô trưởng, để xin ông giúp đỡ sinh viên trong một số công tác từ thiện nhân đạo, cụ thể như khám bệnh phát thuốc cho bà con bệnh nhân tại các khóm hẻm ở vùng ngoại ô thành phố. Vì là một bác sĩ, nên ông Đô trưởng rất thông cảm và yểm trợ hết mình cho loại công tác y tế xã hội này của giới thanh thiếu niên ở Saigon hồi đó. Lại có một sự trùng hợp may mắn khác nữa, đó là vị ân nhân vẫn hay cấp phát thuốc cho đoàn y tế chúng tôi chính là dược sĩ La Thành Nghệ, thì lúc đó lại được bàu làm Chủ tịch Hội Đồng Đô Thành. Cho nên, tại Tòa Đô chánh, chúng tôi được cả hai vị lãnh đạo về hành chánh và đại diện dân cử đều có thiện cảm với anh chị em chúng tôi.

Kịp đến khi Chương trình Phát triển Quận 8 được Phủ Thủ tướng chấp thuận, và trao cho Tòa Đô chánh và Bộ Thanh niên đứng ra bảo trợ, thì tôi được anh em trao phó cho nhiệm vụ đứng ra liên lạc với Tòa Đô chánh, để chuẩn bị sắp xếp cho việc khởi sự công tác tại địa phương này. Mà nhờ có sẵn sự tiếp súc quen biết trước với bác sĩ Của, nên công chuyện liên lạc này đã được tiến hành một cách êm thắm tốt đẹp. Hơn nữa, các anh em làm phụ tá chuyên môn cho bác sĩ Đô trưởng lại phần đông là chỗ quen biết của tôi, cụ thể như bác sĩ Bùi Thế Cầu, bác sĩ Nguyễn đình Mão, giáo sư Lê Công Truyền, đốc sự Bùi Thế Cảnh…, nên bất cứ lúc nào mà tôi có việc phải tới Tòa Đô chánh, thì cũng đều được anh em đối xử thân tình, cởi mở như là với một nhân sự cơ hữu của cơ quan vậy.

Dĩ nhiên, Chương trình Quận 8 chúng tôi lúc đó là một thứ ngoại lệ, như là một ”dự án thí điểm” (pilot project) của giới thanh niên tự nguyện đứng ra mà hợp tác với cơ quan chánh quyền, chứ đó không phải là một cơ sở hành chánh thuần túy, thuộc quyền điều động trực tiếp của nhà nước. Do đó mối liên hệ của Chương trình Phát triển với Bộ Thanh niên, cũng như với Tòa Đô chánh, là hai cơ quan bảo trợ, thì lúc đầu phải có tính cách mềm dẻo, tế nhị, chứ không thể cứng nhắc, cố định theo một khuôn mẫu nào đã có sẵn được.

Và chúng tôi thật có may mắn, vì được cả hai vị Bộ trưởng Thanh niên lúc đó là bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng, cũng như bác sĩ Đô trưởng Văn Văn Của đều có sự thông cảm và yểm trợ tối đa cho việc làm thiện nguyện của giới trẻ trong Chương trình chúng tôi. Các vị coi chúng tôi là lọai “con nhà lành” chỉ biết làm việc xã hội từ thiện, chứ không phải là thuộc nhóm “quá khích, chuyên môn xuống đường hoan hô, đả đảo thế này thế nọ” như vẫn thường thấy vào cái thời xáo trộn, bất ổn các năm 1964,65,66 lúc đó.

Qua nhiều năm tháng gần gũi sát cánh với bác sĩ Của ở Tòa Đô chánh, tôi nhận thấy rõ ràng ông là con người có tính tình thật là xuề xòa, đơn sơ, chân chất bình dị, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Nơi ông, tôi thấy có sự thông cảm nồng ấm và gắn bó thân tình với tất cả anh em binh sĩ, các cộng sự viên cũng như gia đình của họ. Khác với bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng và dược sĩ La Thành Nghệ là những người có dáng dấp thư sinh nho nhã, trắng trẻo, bác sĩ Của có nước da ngăm đen, luôn mặc quần áo nhà binh, nên coi vẻ lam lũ dày dạn sương nắng, và gần gũi với binh lính luôn bận rộn với các cuộc hành quân chiến đấu ngòai mặt trận nhiều hơn. Có thể nói ông có sự gắn bó sâu đậm với anh em đồng đội, vì tại binh chủng nhảy dù, ông luôn phải chứng kiến rõ ràng những sự tổn thất nặng nề về mạng sống, cũng như về thương tật của anh em binh sĩ, mà ông có trách nhiệm phải chăm sóc phần y tế cho họ. Bù lại, tôi cũng thấy các sĩ quan, binh sĩ, hạ sĩ quan thuộc quyền rất là quý mến và trung thành với ông, mà điển hình là Trung sĩ Trâm, người sau này bị sát hại vào năm 1968 tại trường Phước Đức ở Chợ lớn, trong lúc làm cận vệ cho ông. Tình cảm cao quý này vẫn được giới quân nhân đề cao là “tình huynh đệ chi binh”.

Ông làm việc miệt mài ngày đêm, thường xuyên ở văn phòng, coi như “cấm trại 100 %” vậy. Nhất là vào lúc xảy ra những cuộc xuống đường biểu tình chống chánh phủ, do nhóm “Phật giáo Miền Trung chủ xướng vào năm 1966”, thì Đô trưởng rất là vất vả, mệt nhọc đến độ thần kinh rất căng thẳng. Ít nhất là 2 lần, khi ngồi tại văn phòng Đô trưởng vào buổi chiều sau giờ làm việc, tôi đã phải đích thân chứng kiến, có lần thì ông bực bội quá sức chuyện gì đó, mà tháo cả chiếc giày đi trận “botte de saut”, đem ném thật mạnh vào cánh cửa ra vào, đến nỗi lảm bể hết cả tấm kính khiến mảnh vỡ bắn tung tóe ra hết sàn nhà. Lần khác, thì trong lúc tôi đang ngồi nói chuyện với ông, với sự có mặt của ông Tổng thư ký Đòan Văn Bích, bác sĩ lại bất mãn sao đó, mà rút khẩu súng lục ra bắn lóp bóp lên trần nhà liên hồi đến 4-5 phát, làm vỡ cả một bóng đèn néon. Cả ông Bích với tôi đều thất kinh luôn, vì sợ nhỡ bị đạn lạc mà trúng vào mình, thì thật là oan uổng. Chứng kiến mấy chuyện như vậy, và lại còn được nghe kể về chuyện ông bị rắc rối sao đó với toán Quân cảnh Mỹ vào một đêm khuya, tôi lại càng thông cảm và đâm lòng thương mến ông hơn.

Bác sĩ Nguyễn Đình Mão, Chánh sở Y tế Saigon có cho tôi biết là : “Nguy quá anh ơi, anh Của xài nhiều thuốc an thần lọai barbiturique, thì sẽ có hại lắm, vì một là nó làm giảm sút trí nhớ, hai là nếu mà xài lâu ngày sẽ thành ra nghiền, khó mà dứt bỏ đi được…”

Ông rất xông xáo, đi khắp hang cùng ngõ hẻm để thăm viếng dân chúng, nhất là các khu nhà “ổ chuột”, lầy lội chật hẹp ở miệt ngọai ô. Có lần, tôi dẫn ông đến thăm mấy khu phố bị ngập lụt ở Xóm Giá, ở Cầu Tre – Phú Lâm, thì ông xăm xăm lội ào ào vào chỗ ngập sâu đến sát đầu gối, khiến cho cả đòan tùy tùng cũng phải lội theo sau, mà tức cười là nhiều người lại mang giày dép, quần áo đi làm việc văn phòng, nên bất ngờ bị ướt như chuột lột cả lũ. Thấy việc của bọn chúng tôi ra sức phục vụ bà con nghèo túng ở địa phương như vậy, nên ông luôn tìm cách khôn khéo bênh đỡ cho chương trình phát triển, trước sự chỉ trích gắt gao, nặng nề của một số nghị viên đô thành, vốn không có sự thiện cảm nào với anh chị em chúng tôi. Nhờ có sự bênh đỡ đó, mà chúng tôi mới có thể tiếp tục theo đuổi công trình xây dựng trong cả ba quận 6,7 và 8, cho đến khi được lệnh phải chấm dứt vào năm 1971. Mà vào lúc đó, thì bác sĩ Của đã rời khỏi chức vụ Đô trưởng từ 3 năm trước rồi.

Năm 1967, cơ quan USAID có tổ chức cho Tòa Đô chánh gửi một phái đòan trên 10 nhân viên đi Mỹ trong 3 tháng để quan sát, tìm hiểu vấn đề phát triển đô thị tại một số thành phố lớn tại đây, thì ông Đô trưởng cũng cho đến 3 người trong số anh em chúng tôi cùng đi chung với phái đòan, mặc dầu chúng tôi không phải là nhân viên cơ hữu của Tòa Đô chánh. Cũng trong năm đó, khi chánh phủ cho sát nhập mấy xã bên phía Thủ Thiêm để lập thành Quận 9 thuộc thành phố Saigon, thì bác sĩ Của bảo tôi rằng : “Tôi muốn cử anh giữ chức vụ Quận trưởng tại quận mới này, để anh lo giúp việc phát triển ở đây, như các anh đang làm ở bên quận 8. Ý kiến của anh Liêm ra sao?” Tôi một mực từ chối, viện lẽ ở Thủ Thiêm, vấn đề an ninh là quan trọng hơn, do đó thiết nghĩ nên bổ nhiệm một vị sĩ quan có kinh nghiệm nhiều về quân sự, thì thích hợp hơn. Nghe tôi nói vậy, ông gật gù tỏ vẻ đồng ý, và không hề ép buộc tôi phải đảm nhiệm công việc này.

Cũng trong năm 1967, vào lúc có cuộc vận động tranh cử vào Thượng Nghị Viện, thì có một số người rủ rê, lôi cuốn bác sĩ Của ra đứng đầu một liên danh để nạp đơn ứng cử. Vốn tính cả nể, ông đã nhận lời. Chuyện này mấy người bạn chúng tôi thấy phiêu lưu quá, nhưng chẳng một ai dám lên tiếng can ngăn với ông. Biết vậy, tôi phải tìm cách nói riêng với chị bác sĩ Hồng là bà xã của ông và cũng là người chị của Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Tôi nói với chị Hồng : “Mấy anh em chúng tôi nghĩ chỉ có chị mới có đủ uy thế để can ngăn anh Của mà thôi. Vậy xin chị tìm cách thuyết phục anh ấy không nên vì tính hay vị nể, mà ngả theo sự lôi cuốn phiêu lưu chính trị như thế này…” Chị Hồng nói cũng đồng ý với tôi như vậy, cho nên rút cục là bác sĩ Của đã từ bỏ ý định ra ứng cử Thượng Nghị Viện năm 1967 đó. Và chúng tôi đã thở phào nhẹ nhõm.

Dịp Tết Mậu Thân đầu năm 1968, ông thật vất vả, mệt nhọc với việc phải đối phó triền miên trước các cuộc tấn công của bộ đội cộng sản, xâm nhập từ phía Long An, Rạch Kiến vào các quận 6,7,8 nơi chương trình chúng tôi họat động. Thấy ông bơ phờ, hốc hác cả người, trông thật tội nghiệp. Mà rồi chính ông lại bị trọng thương trong vụ máy bay trực thăng Mỹ bắn lầm vào nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy an ninh thành phố, làm thiệt mạng bao nhiêu sĩ quan cao cấp khác nữa, trong số này có cả Trung tá Nguyễn Bảo Thùy là em của Tướng Nguyễn Bảo Trị. Và sau thời gian chữa bệnh, ông được cho giải ngũ và được cử đi Mỹ để học chuyên về ngành Y tế công cộng (Public Health).

Năm 1974, sau khi tốt nghiệp với văn bằng Ph D, ông trở về nước. Và rồi ông được cử giữ chức vụ Viện trưởng Viện Y tế Công cộng có trụ sở trong Khu Lò Heo Chánh Hưng cũ, phía bên kia Cầy chữ Y thuộc quận 8. Có lần ông rủ tôi với mấy bạn trẻ sinh viên đến nhà riêng, để ăn bữa cơm với gia đình ông.

Đây là lần đầu tiên tôi được mời ăn cơm tại nhà riêng của ông bà. Chứ hồi ông còn bận rộn với công việc ở Tòa Đô chánh, thì dù là một người rất gần gũi thân quen với ông, tôi chưa hề được ông dẫn về nhà chơi bao giờ. Mà hồi đó, ông cũng chẳng dọn gia đình đến cư ngụ trong tư thất khang trang dành riêng cho chức vụ Đô trưởng. (Tôi nhớ chỉ có một lần làm đám tang cho bà cụ thân sinh, thì bác sĩ Của mới cho sử dụng ngôi nhà đó trên đường Hai Bà Trưng, để bà con, các đòan thể cơ quan và công chúng đến viếng thăm linh cữu bà cụ và bày tỏ sự phân ưu với gia đình mà thôi).

Và sau đó không lâu, cũng trong năm 1974, tôi có dịp mời ông cùng với chị Jackie Bông đi thăm lại mấy quận do chương trình phát triển chúng tôi phụ trách xây dựng và tái thiết, đặc biệt sau Tết Mậu Thân. Bác sĩ Của đã tỏ vẻ thật vui mừng, khi thấy bà con ở vùng ven đô này đã xây dựng lại được những căn nhà khang trang, tươm tất từ khu vực bị tàn phá nặng nề năm xưa, giữa thời ông còn giữ chức vụ Đô trưởng Saigon.

Sau năm 1975, gia đình ông đi thóat được, mà riêng ông bị kẹt lại ở Saigon và phải đi tù cải tạo mãi tận ngòai Bắc mất mấy năm. Khi ông được thả về, chúng tôi đã có nhiều lần gặp lại nhau tại nhà ông Văn Văn Đây là bào đệ ở Gò Vấp Gia Định. Ông phải đi làm tại bệnh viện chuyên chữa về bệnh truyền nhiễm và được mở phòng mạch châm cứu tại nhà với rất đông bệnh nhân đến xin chữa trị. Bác sĩ Của tâm sự với tôi : ” Bây giờ, tôi phải dùng lối châm cứu để chữa trị cho bệnh nhân, vì hầu hết họ không có tiền để mua thuốc uống cho hết bệnh. Thành ra cái khoa châm cứu theo lối đông y lại đắc dụng hơn là khoa tây y đấy…”

Kể từ năm 1990 lúc tôi bị công an cộng sản bắt giữ, thì tôi không còn có thể liên lạc trực tiếp với ông, cũng như với gia đình. Tôi chỉ nghe có bạn nói là : Bác sĩ Của có một người con trai học rất giỏi ở Pháp, và đã có những công trình nghiên cứu khoa học được đánh giá là xuất sắc. Điều này thật đáng mừng, vì với người cha, người mẹ tài ba như thế, thì cháu phải được truyền thừa với cái “gene” quý báu rất mực như thế chứ.

Bác sĩ Văn Văn Của chẳng phải là một vĩ nhân kiệt xuất, cũng chẳng phải là một nhân vật chính trị ngọai giao lẫy lừng gì, mà cũng không phải là một nhà hành chánh tài ba lỗi lạc nữa. “Nhân vô thập toàn”, ông cũng mắc phải những sai lầm, khuyết điểm thường tình, như bất kỳ ai trong chúng ta vậy. Nhưng mà trong mấy năm giữ chức vụ Đô trưởng Saigon, giữa thời kỳ bất ổn rối lọan, tôi thấy ông đã hết sức tận tâm với công việc phục vụ người dân thành phố, điển hình là ông đã khích lệ và hỗ trợ rất nhiều cho chương trình phát triển cộng đồng của nhóm anh chị em thanh niên tự nguyện chúng tôi tại các quận 6,7&8 Saigon. Và riêng đối với cá nhân mình, thì tôi luôn luôn có thiện cảm và có lòng quý mến sâu xa đối với bác sĩ Của.

Kể ra, thì tôi còn rất nhiều kỷ niệm vui có, buồn có chung với vị bác sĩ đã có thời làm Đô trưởng Saigon trong mấy năm, giữa thời chiến tranh xáo trộn với khói lửa tàn phá kinh hòang. Nhưng bài viết đến đây kể ra cũng đã dài rồi, nên tôi phải tạm ngừng lại ở đây. Và xin hẹn đến dịp khác thuận tiện hơn, tôi có thể viết thêm chi tiết cho đày đủ hơn vậy.

Bạn đọc cần biết thêm nữa, thì có thể tìm đọc trong cuốn Hồi ký của bác sĩ Văn Văn Của viết với nhan đề là “Mộng Không Thành” xuất bản vào năm 2001-2002, ít lâu trước khi ông từ giã cõi đời này ở bên nước Pháp vậy nhé./

California Tháng Tám 2010

Đòan Thanh Liêm