Những bạn tôi từ miền đất Quảng Ngãi

Những bạn tôi từ miền đất Quảng Ngãi

 Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tôi sinh trưởng tại tỉnh Nam Định trong vùng đồng bằng sông Hồng thuộc miền Bắc. Nhưng từ năm 1954 lúc đến tuổi 20, thì di cư vào miền Nam và lập nghiệp ở Sài gòn cho đến ngày qua định cư bên nước Mỹ kể từ năm 1996.

Từ trên 60 năm nay, tôi có duyên quen biết gắn bó với nhiều bạn hữu xuất thân từ tỉnh Quảng Ngãi là một khu vực mà theo vị trí địa lý, thì nằm ở giữa khỏang cách từ Nam Định tới Sài gòn.

Nay nhân dịp đầu xuân Bính Thân 2016, tôi xin ghi lại những kỷ niệm thật dễ thương với một số trong những người bạn thân thiết đó, lần lượt như sau đây.

I – Luật sư Bùi Chánh Thời.

Anh Thời là một sinh viên học chung lớp với tôi tại Đại học Luật khoa Sài gòn bắt đầu từ năm 1955 và đến năm 1958, thì chúng tôi cùng tốt nghiệp văn bằng Cử nhân Luật khoa. Sau đó, chúng tôi cùng hành nghề luật sư nên vẫn thường gặp nhau nơi pháp đình Sài gòn. Vào giữa thập niên 1960, anh Thời mở chung văn phòng luật sư với anh bạn đồng nghiệp Đòan Ý cũng là một đồng môn với chúng tôi.

Anh Thời lập gia đình sớm, ngay từ cái thời còn là sinh viên, anh nói đặc giọng Quảng ngãi nghe hơi nặng, mà người bạn đời của anh là chị Thân Thị Tố Tâm thì lại nói giọng Huế nghe thật là du dương. Trong khi phần đông sinh viên chúng tôi còn phải đi xe đạp, thì anh Thời đã có xe hơi để thường chở chị ấy đi dậy học tại trường Gia Long rồi.

Trước năm 1975, luật sư Thời là một nhân vật khá nổi tiếng không những với nghiệp vụ biện hộ cho các thân chủ trước các tòa án, mà anh còn tham gia việc giảng dậy về luật pháp tại Đại học Huế. Về chính trị, anh cũng tham gia sinh họat thật sôi nổi cùng với các bạn có chung một lập trường đối lập được gọi là thành phần thứ ba. Giới báo chí liệt kê anh vào nhóm thân với khối Phật giáo Ấn Quang – mà có người còn nói là anh Thời đã có thời gian sinh sống trong một ngôi chùa ở miền Trung. Hồi còn là một học sinh ở Huế, anh Thời đã nổi tiếng với những bài thơ được nhiều bạn trẻ ưa thích. Anh lấy bút hiệu là Như Trị – cùng thời với nhà thơ Tạ Ký nữa. Anh quen nhiều với anh Cao Huy Thuần là bạn cùng học luật với chúng tôi. Đó là một trí thức khá nổi tiếng mà đã qua dậy học và định cư ở Pháp từ lâu.

Thế nhưng sau 1975, mọi họat động chuyên môn của giới luật sư chúng tôi cũng như lọai sinh họat chính trị nói trên thì đều bị ngưng trệ tất cả. Và cũng giống như đại đa số những bạn đồng nghiệp khác, luật sư Thời đã không còn có cơ hội thi thố tài năng đang độ chín mùi của mình nữa. Anh sống âm thầm kín đáo lặng lẽ, thu hẹp sinh họat trong phạm vị nhỏ bé của riêng gia đình mình mà thôi.

Chẳng bao lâu sau, anh chị Thời lại còn gặp phải một tai họa thật là não nề đau đớn. Đó là vào năm 1978 – 79, anh chị gửi hai cháu nhỏ đi vượt biên cùng với gia đình anh chị Luật sư Nguyễn Hữu Lành trong chuyến tàu có nhiều nhân vật tên tuổi khác ở miền Nam. Ấy thế, mà con tàu bị biệt tăm giữa biển khơi, anh chị không bao giờ được biết tung tích của hai đứa con của mình ra sao nữa. Để rồi sau đó, cả hai anh chị cũng phải liều mình đem một cháu út ra đi và lần này anh chị đã gặp may mắn mà đến định cư ở Australia.

Vào cuối năm 2011, tôi đã có dịp đến thăm gia đình anh chị Thời tại thành phố Canberra là thủ phủ của Liên bang Australia. Sau mấy chục năm gặp lại nhau, cả hai chúng tôi đều mừng mừng tủi tủi, thật là cảm động chuyện trò trao đổi tin tức về một số bạn hữu thân thiết đã từng sát cánh với nhau bao nhiêu năm xưa ở quê nhà Việt nam. Tôi nhận thấy anh chị đã đạt tới tình trạng trầm lắng bình thản sau bao nhiêu nghịch cảnh sóng gió cuộc đời – đặc biệt là thái độ an nhiên tự tại để tiếp tục sống bên nhau trong những ngày tháng của tuổi xế chiều.

Hai anh bạn trẻ cùng đi với tôi bữa đó, thì xưa kia cũng đã từng là học trò của luật sư Thời, nên họ đều nhắc lại những kỷ niệm thật sâu đậm với vị thày khả kính thuở ấy. Và rõ ràng cuộc trùng phùng này đã làm sống lại cái tình cảm thân thương và niềm an ủi chân thật giữa hai phía anh chị Thời với ba người chúng tôi vào một ngày mùa hè ở Úc châu cuối năm 2011 vậy.

II – Thày Thích Tâm Quang.

Bắt đầu từ năm 1966, lúc tôi giữ nhiệm vụ Quản lý chương trình phát triển quận 6 Sài gòn, thì hay có dịp gặp gỡ trao đổi với Thày Tâm Quang là một tu sĩ từ miệt Quảng Ngãi vào làm việc Phật sự ở khu vực Phú Lâm gần với ngã ba Cây Da Xà. Ông thày còn rất trẻ cỡ trên dưới tuổi 25, nhưng có sức làm việc bền bỉ nhẫn nại ít ai sánh kịp. Ông không lo xây cất chùa, mà lại dồn hết nỗ lực vào việc mở trường học cho các em nhỏ tại địa phương có nhiều gia đình lao động nghèo khó. Và ngòai ra thì đi giúp những nơi có nhiều nạn nhân chiến cuộc đến tạm cư.

Với thái độ cởi mở hồn nhiên, ông đi tiếp xúc với nhiều giới chức tại Bộ Xã Hội cũng như tại những cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế và tạo được mối thiện cảm sâu xa của nhiều nhân vật đặc trách về công tác xã hội ở Sài gòn thời kỳ trước năm 1975. Nhờ có sự tín nhiệm đó, mà mỗi khi ông thày cần đến dụng cụ huấn nghệ hay vật phẩm gì để giúp đồng bào, thì các cơ quan xã hội này luôn sẵn sàng cung cấp cho thày lãnh nhận để đem phân phối lại cho bà con nạn nhân thiên tai bão lụt hay nạn nhân chiến cuộc tại các địa phương xa xôi hẻo lánh.

Qua sự giới thiệu của thày Tâm Quang mà tôi có dịp gặp gỡ quen biết với Thượng Tọa Thích Hồng Ân là vị sư phụ của ông và cũng là bậc tu sĩ cao cấp nhất tại Quảng Ngãi. Và vào năm 1972, nhân chuyến đi thăm các cơ sở cứu trợ nạn nhân chiến cuộc tại miền Trung, tôi đã có dịp đến thăm viếng ngôi chùa trên núi Thiên Ấn là cơ sở tôn giáo lâu đời mà hồi ấy do Thày Hồng Ân phụ trách trông coi. Tôi vẫn còn nhớ ở phía chân núi còn có mộ phần của nhà ái quốc Hùynh Thúc Kháng được bà con ở địa phương chung nhau xây dựng và bảo trì khá tươm tất tại đây. Quả thật địa danh “Núi Ấn, Sông Trà” là một thắng cảnh đặc trưng nổi bật của tỉnh Quảng Ngãi – tức là núi Thiên Ấn và sông Trà Khúc.

Và cũng qua thày Tâm Quang mà tôi còn quen biết được cả ba người anh em đều là những nhân vật có tên tuổi ở Quảng Ngãi nữa. Đó là các anh Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Văn Diễn và Nguyễn Văn Hàm. Cả ba anh đều đi dậy học, viết văn viết báo, làm thơ. Chỉ có anh Diễn ở lại Quảng Ngãi mà nay đã qua đời. Còn anh Xuân và Hàm đều sinh sống lâu năm ở Sài gòn.

Tôi còn rất nhiều kỷ niệm với thày Tâm Quang qua những chuyến đi công tác cứu trợ nạn nhân chiến cuộc ở Bình Tuy, Bà Rịa, Long Khánh v.v… Thông thường, thày luôn được Thượng Tọa Thích Quảng Long hồi đó đảm trách Tổng Vụ Xã Hội của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cho mượn xe và cả tài xế để chuyên chở đi khắp nơi thăm viếng úy lạo đồng bào đang phải lánh nạn trong các khu tạm cư hoặc di chuyển từ vùng đất Quảng Trị vào miền Nam.

Sau 1975, mặc dầu gặp nhiều khó khăn, chúng tôi vẫn có dịp gặp lại nhau, thường là thày Tâm Quang đến thăm tôi tại nhà và cho biết tin tức của nhiều bà con bạn hữu khác. Quả thật, tình cảm thân thiết giữa chúng tôi mỗi ngày càng thêm bền chặt, gắn bó lâu bền. Là người tận tâm chăm sóc cho giới bình dân lao động theo đúng tinh thần từ bi hỉ xả của Đức Phật, thày Tâm Quang cũng còn có thái độ cởi mở phóng khóang và thuận thảo đối với giới tu sĩ và tín đồ Công giáo và Tin lành nữa.

Tôi thật nhớ câu nói của thày đã nói với tôi từ gần 50 năm trước, đó là: Người tu luyện theo giáo l‎ý nhà Phật thì luôn tìm cách thực hành phương châm này “Tự độ để độ tha. Tự giác để giác tha”.

Mới đây vào năm 2011 – 2012, thày Tâm Quang lại có dịp qua Mỹ và chúng tôi lại gặp nhau nhiều lần để hàn huyên tâm sự ngay tại Quận Cam ở California. Thày cũng đến thăm Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu tại thành phố Amarillo tiểu bang Texas và đã có mặt cùng với người thân trong những giờ phút cuối cùng của Bác sĩ Phiêu vốn là người bạn tâm huyết lâu năm của thày.

III – Một số người bạn khác nữa xuất thân từ Quảng Ngãi.

Dĩ nhiên là tôi còn quen biết nhiều người quê ở Quảng Ngãi. Nhưng vì bài báo có giới hạn, nên tôi xin ghi vắn tắt về hai người bạn lớn tuổi đã qua đời và một người bạn trẻ hiện sinh sống ở Canada.

31 – Nhà báo lão thành Hồ Văn Đồng.

Anh Đồng là một nhà báo lâu năm ở miền Nam. Anh cùng lứa tuổi với các anh Dõan Quốc Sĩ, Hùynh Văn Lang, tức là lớn hơn tôi cả một con giáp. Hồi trước 1975, tôi có gặp anh Đồng tại nhà Luật sư Trần Văn Tuyên một vài lần, nhưng chưa có dịp nói chuyện trao đổi nhiều với anh. Vào năm 2001 – 2002, tôi mới hay có dịp gặp gỡ chuyện trò tâm sự với anh khi thì ở Virginia, khi thì ở California. Nhà báo Phạm Bá Vinh chủ bút tờ Sóng Thần có cho tôi biết là chính ông Hồ Văn Đồng là một vị huynh trưởng đã tận tình hướng dẫn và truyền nghề viết báo cho anh.

Đóng góp cuối cùng của anh Đồng là đã hòan thành việc dịch thuật sang tiếng Việt cuốn sách “Le dossier noir du Communisme” (Hồ sơ đen của chủ nghĩa Cộng sản) do giới nghiên cứu sử học bên Pháp sọan thảo. Anh đã ra đi vào năm 2006 ở Virginia vào tuổi 84.

32 – Giáo sư Phạm Văn Diêu.

Là một giáo sư về Văn học Việt nam cả ở Trung học và Đại học, anh Diêu được nhiều người ái mộ với công trình nghiên cứu nghiêm túc về văn chương quốc ngữ. Điểm đáng chú ‎ ý nhất của anh Diêu là : Tuy là người cháu gọi ông Phạm Văn Đồng là chú ruột, nhưng anh Diêu lại có lập trường quốc gia khác hẳn với ông Đồng là một đảng viên cộng sản cấp cao. Sau năm 1975, anh Diêu không hề tỏ ra là kẻ a dua, đứng về phía bên cộng sản là kẻ thắng cuộc như dân gian thường nói đó là cái “thái độ phù thịnh”.

Lần cuối cùng tôi gặp anh Diêu là vào giữa năm 1982, anh tỏ ra không có gì là mặn mà với chế độ cộng sản cả. Rất tiếc là anh Diêu đã mất sớm vào cuối năm 1982 lúc chưa đến 55 tuổi. Con cháu anh Diêu hiện nay phần đông cư ngụ tại nước ngòai như Canada, Mỹ.

33 – Kỹ sư Lê Quang Phiêu cỡ tuổi ngòai 40 hiện ở Canada.

Năm 2012, nhân dịp đến thăm Canada, tôi đã có dịp gặp em Phiêu tại thành phố Toronto. Tôi liền hỏi em có bà con gì với cụ Lê Quang Sách là một vị chức sắc có tên tuổi của Đạo Cao Đài ở Quảng Ngãi, Phiêu gật đầu xác nhận em là cháu gọi cụ Sách là bác mà năm đó đã trên 85 tuổi. Nghe vậy, tôi bèn nhờ Phiêu hỏi ông bác giùm tôi về vụ rất đông tín đồ Cao Đài bị Việt minh cộng sản sát hại tại Quảng Ngãi hồi tháng 8 & 9 năm 1945. Em nhận lời và vào tháng 4 năm 2015, tôi lại đến Toronto và gặp Phiêu để hỏi về chuyện này. Phiêu cho biết đã đi California thăm bác Sách và được bác nói cho biết nhiều chi tiết về vụ thảm sát này – mà riêng về phía tín đồ Cao Đài, thì con số nạn nhân bị sát hại đã lên tới gần 3,000 người.

Cụ thể là chính cụ Sách lúc đó cũng bị bắt cùng với thân phụ và bao nhiêu bà con khác nữa. Trong vụ thảm sát này, ông cụ thân sinh là ông nội của em Phiêu thì bị giết, còn người con là ông Sách vì theo lời khuyên của cha mà khai nhỏ tuổi đi nên mới thóat chết.

Thành ra cụ Sách là một nhân chứng rất khả tín mà hiện còn sống để cung cấp cho chúng ta những tư liệu thật chính xác về vụ tàn sát bạo ngược này do người cộng sản cuồng tín gây ra ngay từ năm 1945 mà họ gọi là “Cách Mạng Tháng Tám” đó vậy.

IV – Những người bạn đã từng làm việc ở Quảng Ngãi.

Ngòai ra, tôi cũng còn có rất nhiều người bạn thân thiết quê ở miền Bắc mà lại có thời đến làm việc tại Quảng Ngãi. Điển hình như trường hợp các bạn sau đây.

41 – Giáo sư Uông Đại Bằng.

Sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm năm 1962, thì anh Bằng được cử về dậy học tại trung học Trần Quốc Tuấn ở thị xã Quảng Ngãi. Trong mấy năm phục vụ ở đây, ngòai chuyện giảng dậy ở nhà trường anh Bằng còn nhiệt tình tham gia sinh họat với các em thanh thiếu niên ở địa phương, nên hiện vẫn còn giữ được nhiều kỷ niệm với bà con ở đây. Ca sĩ Hồng Vân hồi đó cỡ tuổi 15 – 16 cũng là một học sinh nổi tiếng là rất hăng hái tham gia với sinh họat văn nghệ của trường trung học công lập lớn nhất tại Quảng Ngãi.

Sau này, từ năm 1966 cho đến 1975, anh Bằng về làm Hiệu trưởng trung học Lương Văn Can ở quận 8 Sài gòn. Anh được các học sinh và phụ huynh rất yêu mến vì sự tận tụy hy sinh của anh trong sự nghiệp giáo dục nơi địa phương được coi là kém phát triển nhất của thành phố Sài gòn.

Cụ thể là hiện nay các em cựu học sinh Lương Văn Can ở trong nước vẫn luôn mời thày Hiệu trưởng Uông Đại Bằng đến tham dự những buổi hội ngộ hàng năm với các em. Và các em ở hải ngọai vẫn tổ chức các buổi gặp gỡ với ông thày mỗi khi thày có dịp đi thăm bà con tại Úc châu hay tại Mỹ.

42 – Giáo sư Phạm Tất Hanh.

Cũng vào đầu thập niên 1960, thì anh Hanh đến dậy Anh văn tại Quảng Ngãi. Và đặc biệt, anh Hanh rất chăm lo việc sinh họat về mặt tâm linh đạo đức cho giới thanh thiếu niên công giáo ở địa phương. Sau này anh về Sài gòn và vẫn tiếp tục dậy môn Anh văn cho các học sinh trung học. Và trong số các học sinh này, rất nhiều em đã đi tu và trở thành linh mục, nữ tu công giáo.

Vì sự tận tụy chăm sóc bồi dưỡng cho học sinh như thế, nên thày Hanh được sự quý mến chân tình của nhiều thế hệ học sinh, trong đó có nhiều em ở Quảng Ngãi mà đã từng được thày giáo Hanh hướng dẫn từ nhiều năm trước.

Hơn nữa, từ ngày qua định cư ở Mỹ anh Hanh còn có sáng kiến thành lâp Quỹ Học Bổng Nguyễn Trường Tộ để trợ giúp những học sinh ở miệt quê Gia Kiệm Long Khánh siêng năng học tập mà gia đình gặp khó khăn về kinh tế. Sau khi anh Hanh qua đời vào năm 2011 vì bệnh ung thư, thì Quỹ Học Bổng này được bà con ở địa phương đặt tên mới là Quỹ Học Bổng Phạm Tất Hanh.

43 – Anh chị người Mỹ Earl và Pat Martin.

Earl Martin và Pat Hostetter là hai thiện nguyện viên thuộc tổ chức xã hội Mennonite Central Committee (MCC) của Giáo Hội Tin Lành Mennonite làm việc tại Quảng Ngãi từ năm 1967 để giúp các nạn nhân chiến cuộc. Vào năm sau hai người làm đám cưới và tiếp tục công tác nhân đạo tại Quảng Ngãi. Sau khi cả hai về học thêm ít lâu tại Đại học Stanford, thì trở lại phục vụ ở Việt nam cho đến năm 1975.

Earl Martin có tên Việt nam là Chú Kiến. Anh kể cho tôi nghe câu chuyện thật ngô nghĩnh thế này: “Hồi mới đến, tôi phải đi tìm nhà để mướn ở thành phố Quảng Ngãi. Trẻ con thấy lạ bu theo tôi đông lắm. Rồi vào lúc đứng trước cửa một nhà nọ, tôi giẫm phải một đàn kiến nên bị nó đốt ngứa quá, đành phải dậm chân hòai cho kiến chạy đi. Lũ trẻ bèn kêu to lên: Kiến cắn, Kiến cắn v.v… Và từ đó, trẻ con đặt cho tôi cái tên mới là chú Kiến”.

Còn chị Pat, thì có tên là Cô Mai. Anh chị nói và đọc được tiếng Việt và quen biết gắn bó thân tình với khá nhiều bà con ở Quảng Ngãi.

Pat Martin có lần tâm sự với tôi: “ Là người Mỹ, tôi rất đau buồn về vụ thảm sát ở Mỹ Lai do quân đội Mỹ gây ra…” Và tôi cũng đã góp lời với chị rằng : “Dĩ nhiên là người Việt nam, thì tôi cũng hết sức đau đớn với vụ thảm sát ở Huế hồi Tết Mậu Thân 1968 do chính người cộng sản Việt nam gây ra vậy…”

Từ năm 2000 đến nay, tôi thường đến cư ngụ tại nhà anh chị ở thành phố Harrisonburg tiểu bang Virginia, để tham dự những khóa hội thảo về Xây dựng Hòa bình do Đại học Eastern Mennonite University (EMU) tổ chức vào mùa hè mỗi năm (mà thường được gọi là Summer Peacebuilding Program = SPI). Qua anh chị Earl & Pat Martin, tôi học hỏi được bao nhiêu điều quý‎ báu mà những người yêu chuộng Hòa bình đang cố gắng theo đuổi thực hiện tại khắp nơi trên thế giới – với tư cách là thành viên của các tổ chức thuộc khu vực Xã hội Dân sự.

V – Để tóm lược lại.

Bài viết đến đây đã khá dài rồi, tôi chỉ xin tóm lược lại trong vài điểm như sau:

51 – Thứ nhất: Cũng như Quảng Nam ở phía Bắc và Bình Định ở phía Nam, Quảng Ngãi quả là một nơi xứng đáng với cái danh hiệu “Địa Linh – Nhân Kiệt”. Nhưng từ khi người cộng sản nắm giữ được quyền bính trong tay, thì họ đã gây ra không biết bao nhiêu đau thương khổ ải cho bà con nơi “miền đất cày lên sỏi đá” này. Cụ thể là vụ sát hại tập thể hàng mấy ngàn người ngay trong tháng 8 và 9 năm 1945.

Cũng như vụ thảm sát Tết Mậu Thân 1968 ở Huế, sự việc độc ác tàn bạo tày trời này – dù cách nay đã 70 năm – thì chúng ta cũng không thể nào dễ dàng mà bỏ qua cho người cộng sản được.

52 – Thứ hai: Hiện nay số bà con gốc từ Quảng Ngãi đang định cư ở nước ngòai khá đông và đang quy tụ lại với nhau qua các Hội Ái Hữu – để vừa an ủi tương trợ lẫn nhau, vừa tìm cách giúp đỡ thế hệ trẻ ở bên quê nhà. Đó là điều thật đáng phấn khởi và tôi xin thành thực cầu chúc cho Quý Hội Ái Hữu Quảng Ngãi tiếp tục đạt thêm nhiều thành quả tốt đẹp hơn nữa vậy./

Costa Mesa California, cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

Nhiều Cơ Quan Thi Hành Luật Pháp phớt lờ các nhà phê bình – công khai trưng bày hay dán hàng chữ “ Chúng tôi tin tưởng vào Thiên Chúa”

Nhiều Cơ Quan Thi Hành Luật Pháp phớt lờ các nhà phê bình – công khai trưng bày hay dán hàng chữ “ Chúng tôi tin tưởng vào Thiên Chúa”.(In God We Trust)

Giuse Thẩm Nguyễn

 

Trong những tháng gần đây, rất nhiều cơ quan thi hành luật phát đã dán hoặc treo câu phương châm “Chúng tôi tin tưởng vào Thiên Chúa” trên các xe cảnh sát tuần tra, gây lên sự quan ngại trong giới phê bình.

Theo một tường trình mới đây trên tờ New York Times, rất nhiều cảnh sát đã tự bỏ tiền mua và dán câu phương châm này trên các xe tuần tra của họ.

“Nếu tôi dùng tiền của mình để mua câu phương châm và câu này cũng có trên là cờ của tiểu bang, thì tôi có thể trưng bày câu phương châm ấy trên xe tuần tra của tôi,” Cảnh sát tuần tra, Johnny Moats, thuộc quận hạt Polk, người đã viết thư cho cảnh sát Georgia để ủng hộ việc đặt câu phương châm này trên các xe của cơ quan công lực đã nói như thế. “Hầu như mỗi ngày, tôi đều nhận được điện thoại của các cảnh sát tuần tra khác và nói rằng ‘Tôi đã làm xong rồi, hay bạn có thể gởi cho tôi bức hình xe tuần tra của bạn có gắn câu phương châm không ?’

Nhưng việc phô bày câu phương châm này đã bị chỉ chích dữ dội, theo đài truyền hình Fox 7 ở Austin, Texas thì Trụ Sở Cảnh Sát Chidress là một trong 57 sở cảnh sát đã nhận được thư khiếu nại của cái gọi là Nhóm Quyền Tự DoTôn Giáo có trụ sở ở Winconsin , yêu cầu tháo bỏ bảng phô bày mang tính tôn giáo này.

“Chúng tôi lấy làm quan ngại từ phía những người không tín ngưỡng trong những cộng đồng nhỏ bé hơn, nơi đó họ cảm thấy bị xúc phạm,” Cô Annie Laurie Gaylor, người cầm đầu nhóm Quyền Tự Do Tôn Giáo nói với đài truyền hình Fox 7 như vậy. “Những tuần tra viên và cảnh sát này nghĩ rằng họ nghe theo lời hướng dẫn của Chúa hơn là luật công dân của chúng ta và điều này làm chúng tôi sợ hãi.”

Cảnh Sát Trưởng của Sở Cảnh Sát Childress là Andrian Garcia đã gởi văn thư trả lời tới các nhóm chống đối và đăng trên phương tiện truyền thông xã hội. Vị cảnh sát bảo các nhóm chống đối rằng “ hãy đi chỗ khác chơi.”

Theo báo New York Times thì hiện tượng này đang tăng dần. Cảnh sát viên và trụ sở cảnh sát bắt đầu phô bày những bảng châm ngôn, trong khi nhóm Quyền Tự Do Tôn Giáo cho rằng việc trưng bày châm ngôn là vi hiến và cần chấm dứt. Cuộc tranh chấp gây chú ý và càng lúc càng nhiều cơ quan thi hành luật pháp tham gia.

Nhóm Quyền Tự Do Tôn Giáo đã vô tình làm cho việc trưng bày phương châm lan rộng ra. Cô Gaylor thú nhận “Tôi không nghĩ chúng ta có thể làm được gì,”

Nguồn gốc của phương châm “In God We Trust”

“Chúng tôi tin tưởng nơi Thiên Chúa” là câu châm ngôn của quốc gia Hoa Kỳ, được sinh ra và gắn bó mật thiết với bản quốc ca của Hoa Kỳ “The Star-Spangled Banner” được sáng tác vào năm 1814 bởi Francis Scott Key và chính thức được quốc hội thông qua và trở thành quốc ca Hoa Kỳ vào ngày 3 tháng 3 năm 1931 dưới thời Tổng Thống Herbert Hoover. Chính trong lời ca của bài quốc ca cũng nhắc tới câu châm ngôn này. Câu này đã được khắc trên đá, trên tường của những tòa nhà thuộc cơ quan công quyền, nó còn được in trên tiền giấy và đúc trên tiền cắc lưu hành qua khắp nơi. Câu châm ngôn này cũng được khắc vào trong tim và được thốt lên từ miệng của hàng triệu người Mỹ yêu chuộng tự do. Khi một vị Tổng Thống hay một vị quan chức chính quyền nhậm chức, theo truyền thống họ đặt tay trên Thánh Kinh để tuyên thệ và trung thành với châm ngôn quốc gia “Chúng tôi tin tưởng vào Thiên Chúa.”

Những người Việt Nam khi mới đặt chân tới ngưỡng cửa Đại Học Cộng Đồng đều được học bài học đầu tiên này. Người Mỹ đến vùng đất này không phải vì lý do kinh tế, nhưng vì lý do tín ngưỡng. Niềm tin của họ bi bách hại và họ đến đây để được tự do sống với niềm tin của mình. Hằng năm, họ tạ ơn Thiên Chúa qua lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), họ tổ chức mừng đại lễ Chúa Giáng Sinh (Christmass), họ kỷ niệm ngày Chúa chịu chết và sống lại bằng Lễ Phục Sinh (Easter)…

Qua thời gian, giữa một cái xã hội càng ngày càng xuống dốc về luân lý, có những kẻ vô thần đã muốn xóa bỏ câu châm ngôn đó nơi công cộng và cùng với chính sách mị dân của các viên chức dân cử, chúng đã thực hiện được vài yêu sách như chúng muốn.

Hôm nay phong trào dán, trưng bày câu phương châm trên các xe cảnh sát chỉ là sự về nguồn. Khi mà những nhân viên cảnh sát không chắc là mình có thể trở về nhà an bình sau một ngày công tác, thì họ còn biết trông cậy vào ai bây giờ… dĩ nhiên chỉ có Thiên Chúa mới chính là câu trả lời cho tất cả những vấn nạn trong đời họ.

Hệ thống Bệnh Viện Chúa Ba Ngôi tại Hoa Kỳ đang bị kiện vì từ chối cung cấp dịch vụ phá thai.

Hệ thống Bệnh Viện Chúa Ba Ngôi tại Hoa Kỳ đang bị kiện vì từ chối cung cấp dịch vụ phá thai.

Giuse Thẩm Nguyễn

Hệ Thống Bệnh Viện Chúa Ba Ngôi ( Trinity Health Corporation) là một trong những bệnh viện chăm sóc sức khỏe của Công Giáo lớn nhất nước Mỹ , đang nỗ lực nhằm bãi bỏ vụ kiện của một nhóm với cái tên là Quyền Tự Do Mỹ (American Civil Liberties Union = ACLU) ) về việc bệnh viện này từ chối cung cấp cho phụ nữ các dịch vụ phá thai tại các bệnh viện của họ .
“Vụ kiện này là một vụ kiện thiếu cơ sở pháp lý. Tóa Án Liên Bang đã có lần bãi bỏ vụ kiện tương tự như vụ này của nhóm ACLU và chúng ta đang nỗ lực để bãi bỏ vụ kiện này với những lý do tương tự. Giám Đốc ngoại vụ của bệnh viện là Eve Pidgeon đã tuyên bố như vậy.

Hệ Thống Bệnh Viện Trinity là một công ty có nhiều chi nhánh, trụ sở chính tại Livonia, vùng ngoại ô của Detroit, với trên 80 chi nhánh hoạt động khắp trên nước Mỹ.

Bệnh viện tuân thủ những chỉ dạy của Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ về luân lý và việc thực hành y tế, trong đó bao gồm việc từ chối thực hiện phá thai và thắt ống dẫn trứng trong phạm vi bệnh viện.

Ngoài ra, bệnh viện Trinity luôn áp dụng chặt chẽ các chỉ thị của Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ (USCCB) về những vấn đề chăm sóc y tế, từ việc chăm sóc cho những bệnh nhân với những chứng bệnh hiểm nghèo, chứng bệnh không hy vọng chữa khỏi cho đến việc ngừa thai.

Nhóm ACLU của Michigan đang kiện bệnh viện Trinity với những cáo buộc rằng những bà mẹ mang thai đã bị từ chối “ chăm sóc y tế khẩn cấp”, đặc biệt là phá thai khi họ cần đến sự chăm sóc của bệnh viện. Nhóm này cũng cáo buộc bệnh viện là đã nghe theo chỉ thị của đấng bản quyền Công Giáo mà không thực hiện việc thắt ống dẫn trứng cho phụ nữ mang thai.

Nhóm ACLU cho rằng bệnh viện đã vi phạm luật Điều Trị Y Tế Khẩn Cấp và Luật Lao Động (EMTALA). Theo nhóm này thì khi không thực hiện phá thai vì lý do tôn giáo là vi phạm Luật Liên Bang.

Tuy nhiên, một vụ kiện tương tự đã xảy ra trước đây đối với Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ vào năm 2013, khi ấy Đức Tổng Giám Mục Joseph Kurtz của Louisville, là Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục, đã gọi vụ kiện là vụ kiện “vớ vẩn”, vụ kiện “vô căn cớ.” Ngài nói chỉ thị y tế của Hội Đồng Giám Mục là“sự chăm sóc với lòng tôn trọng và cảm thương cho cả những bà mẹ và những đức con, trong và sau khi mang thai.”

Vụ kiện này đã bị bác bỏ vào tháng Sáu bởi một Tòa Án Liêng Bang. Sau đó một tháng, nhóm ACLU đã làm đơn kháng cáo nhưng đã chẳng đi tới đâu.

Bệnh viện Trinity cũng bác bỏ cáo buộc hiện nay của nhóm ACLU, trong khi vẫn phát huy việc thực hành đạo đức y tế nhằm mang lại sức khỏe tốt nhất cho phụ nữ.

“Các chỉ thị về đạo đức và tôn giáo hoàn toàn phù hợp với việc chăm sóc sức khỏe với chất lượng cao, và các bác sĩ của chúng tôi tiếp tục cung cấp dịch vụ chăm sóc tuyệt vời cho mọi người chúng tôi phục vụ,” Giám đốc bệnh viện Pidgeon đã khẳng định như vậy khi đề cập đến những quy định của Hội Đồng Giám Mục.

“Chúng tôi tự hào rằng với trên 25,000 bác sĩ có giấy phép hành nghề làm việc trong hệ thống bệnh viện của chúng tôi và cùng chúng tôi cam kết phục vụ con người là chính,” và “chúng tôi luôn duy trì tiêu chuẩn phục vụ của chúng tôi.” Giám đốc Pidgeon nói tiếp.

Vụ kiện bệnh viện Trinity đã được thông báo vào ngày 1 tháng 10 tại một tòa án ở Detroit và bệnh viện đang phản bác để bãi bỏ vụ kiện.

Nhóm ACLU đã từ lâu chống đối lại các bệnh viện Công Giáo đang hoạt động theo giáo huấn của Giáo Hội. Nhóm này và những phe nhóm chống đối khác của một kế hoạch mang tên là MergerWatch 2013, đã cay cú than rằng sự phát triển của các bệnh viện Công Giáo là một “ sự xảy thai của y tế.”(miscarriage of medicine)

Nhóm ACLU trong kế hoạch chống đối các bệnh viện Công Giáo được sự tiếp tay đắc lực của hai nhà tài trợ giấu tên và các tổ chức thù địch như Arcus, Herb Bloc, Robert Sterling Clark, George Gund, William và Flora Hewlett, Jesie Smith Neyes,David ,Lucile Pakard & Scherman và bè lũ satan.

(EWTN News/CAN/By Maggie Maslak)

Giuse Thẩm Nguyễn

XÂY NÚI CÚI ĐỂ LÀM GÌ ?

XÂY NÚI CÚI ĐỂ LÀM GÌ ?

 Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Được biết  ở một địa phận kia bên nhà, người ta đang có chương trình vĩ đại là xây NÚI CÚI tốn phí đến cả ngàn tỷ đồng VN để lôi cuốn du khách đến viếng thăm và cũng để chào mừng Đức Thánh Cha sẽ sang thăm Viê t Nam trong năm 2016 theo sự tưởng tượng vô căn cứ của họ.

Chúng ta nghĩ gì về công trình lớn lao mang tính chất phô trương  bề ngoài  trên đây  ?

Trước hết, phải hỏi xem Chúa và Đức Mẹ  có hài  lòng  được tôn thờ và tôn vinh với công trình hoành tráng và tốn phí trên hay không ?

Chắc chắn là không, vì Chúa chỉ muốn ngự trị trong tâm hồn của những ai thành tâm yêu mến Người,  chứ không vui thích  được tôn thờ ở những nơi sang trọng lộng lẫy bề ngoài. Vì thế  xưa kia,  để trả lời cho một phụ nữ Samaritana kia nói với Chúa rằng  “cha ông chúng tôi đã thờ phương Thiên Chúa  trên núi này”,   Chúa   Giêsu đã nói như sau:

  Nhưng giờ đã đến- và chính là lúc này đây-

Giờ những người thờ phượng đích thực

Sẽ thờ phượng  Chúa Cha trong thần khí và sự thật

Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. ( Ga 4: 23)

Về phần Đức Mẹ -vốn khiêm cung  và khó nghèo-, cũng sẽ không vui thích  được tôn vinh với công trình quá tốn phí bề ngoài như thế.

Do đó,  đáng lẽ phải xây đền thờ, xây  NÚI CÚI trong tâm hồn của mọi tín hữu cho Chúa và cho Đức Mẹ ngự trị, chứ không nên xây phô trương  bên ngoài cho thiên hạ chiêm ngưỡng để hãnh diện với họ về khả năng tài chính phong phú của mình, trong khi  thực tế, giáo dân  nhiều người còn túng thiếu, khó khăn với việc sinh sống, nên không có tiền để đóng góp vào công trình quá tốn kém này.

Nhu vậy, nếu dùng tiền xây cất quá tốn phí này để trợ giúp cho người nghèo khó thì chắc chắn hữu ích và có lợi hơn cho việc phúc âm hóa, tức mở mang Vương Quốc tình yêu, công bằng , bác ái và thánh thiện của Chúa trong tâm hồn mọi người để đánh tan bóng đen của  tội lỗi và sự dữ  gây ra  bởi  “văn hóa sự chết” đang bao phủ thế giới và tâm hồn của quá nhiều người ở khắp nơi trên thế giới tục hóa, phi luân, và vô nhân đạo ngày nay. Văn hóa sự chết thể hiện rõ nét ở lối sống tôn thờ tiền bạc của cải vật chất, tôn thờ khoái lạc ( hedonism) sa hoa ngạo nghễ và dửng dưng trước sự nghèo đói, đau khổ của biết bao người xấu số, nạn nhân của mọi bất công xã hội ở khắp nơi,

Như thế, thử hỏi :  việc xây công trình lớn lao trên  có cần thiết, có làm vinh danh Chúa, Đức Mẹ và có  lợi gì  cho mục tiêu tái  Phúc Âm Hóa -hay ngược lại-  là  phản  Phúc Âm hóa ( anti-re evangelization) của giáo hội địa phương ?

Phải nói ngay là không có lợi gì cho mục đích mở mang Nước Chúa vì thực chất sa hoa hào nhoáng bề ngoài không phù hợp với tinh thần nghèo khó mà Giáo Hội  phải sống  từ trong tâm hồn ra đến hành động bên ngoài để làm chứng tá  cho Chúa Kitô, Đấng đã nghèo khó đến nỗi   không có  chỗ tựa đầu, trong khi chim trời có tổ, cáo chồn có hang.” ( Mt  8: 20)

Chúa Kitô  đã thực sự  khó nghèo, sống lang thang như người vô gia cư ( homeless) trong suốt cuộc đời tại thế, từ lúc sinh ra trong hang bò lừa cho đến ngày chết trần trụi trên thập giá  chỉ vì muốn cho con người được cứu độ và vui hưởng sự sang giầu đích thực  của Nước Trời.

Trong bài giảng trên núi, Chúa đã nói rõ : “phúc cho ai có tình thần nghèo khó, vì  Nước Trời là của họ.”( Mt 5: 1)

Phải có tinh thần nghèo khó để không làm nô lệ cho tiền của khiến tôn thờ tiền bạc  ( cult of money)  như Đức Thánh Cha Phanxicô đã  phê bình thế giới tục hóa ngày nay. Phải có tinh thần nghèo khó để khinh chê những của cải phù du, nhứng tiện nghi sa hoa và hào nhoáng  ở đời này để dễ  nâng tâm hồn lên cùng Chúa là cội nguồn của mọi phú quí giầu sang và hạnh phúc đích thực..

Phải khó nghèo thực sự để không lãng phí tiền bạc vào những việc mà thực chất chỉ là phô trương , hào nhoáng bề ngoài , tuyệt đối không có lợi gì cho việc rao giảng Tin mừng của Chúa Kitô trong hoàn cảnh xã hội đầy bất công với  đa số người dân-trong đó có  những giáo dân-còn nghèo nàn , chật vật với cuộc sống  bên cạnh môt thiểu số sang giầu tư bản đỏ và  đai gia  không hề có chút cảm thông bác ái đối với đa số quần chúng nghèo khó,  thấp cổ bé miệng, nạn nhân của bất công bóc lột

Trong một hoàn cảnh xã hội như vậy, người Tông Đồ của Chúa Kitô phải  đứng về phía những người nghèo khó theo gương Chúa Kitô mà Đức Thánh Cha Phanxicô đang là chứng nhân hùng hồn, hay  đứng về phía những đại gia  và tư bản đỏ để thi đua với họ về  giầu sang hào  nhoáng bề  ngoài với những thánh đường lộng lẫy, nhà xứ và tòa giám mục sang trọng -và đặc biệt là xây NÚI CÚI tốn phí hàng  ngàn tỷ  đồng , một việc làm hoàn toàn không cần thiết để phúc âm hóa môi trường.

Rao giảng Chúa Kitô khó nghèo mà không sống khó nghèo thì sẽ không thuyết phục được ai tin lời mình giảng dạy, nếu không muốn nói là làm trò cười cho họ.

Nói khác đi, thi hành mục đích   tái phúc âm hóa thế giới mà Giáo Hội đã  kêu gọi từ mấy năm nay  có cần đến công trình xây cất quá tốn phí  kia  hay không , hay đây chỉ là sự phô trương  không cần thiết vẻ hào nhoáng bề ngoài, một việc hoàn toàn trái nghịch với tinh thần và đời sống  khó nghèo của Chúa Kitô, “  Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự  ý trở nên khó nghèo vì anh  em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh  em trở nên giầu có,” ( 2 Cr 8: 9)

Nếu Giáo Hội mà không sống tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô thì sẽ là nhân chứng cho ai ?  cho khát vọng được giầu sang phú quí đich thực trên Nước Trời hay cho sự sang giầu phù phiếm  chóng qua ở đời này ?

Lại nữa, việc làm trên cũng đi ngược lại đường lối sống và mục vụ  của Đức Thánh Cha Phanxicô, người đã chọn Thánh Phanxicô khó khăn thành Assisi làm khẩu hiệu cho triều đại Giáo Hoàng của mình. Chắc chấn ngài sẽ không hài lòng về công trình phô trương quá  tốn kém trên  mà người ta đang phóng đại trí tưởng tượng về việc ngài sẽ sang  thăm ViêtNam trong năm 2016 để  moi tiền đóng góp của giáo dân trong và ngoài nước.

Và nếu quả thực Đức Thánh Cha sẽ sang thăm Viêt Nam như người ta đang  tưởng tượng vô căn cứ, thì chắc chắn ngài sẽ không đến chiêm ngưỡng NÚI CÚI mà sẽ đến thăm nhừng tù nhân, những người già yêu không có ai săn sóc và những trẻ mồ côi, khuyết tật, là những thành phần xấu số trong mọi xã hội mà ngài ưu tiên quan tâm đến họ, vì Chúa Kitô nghèo khó đang hiện diện trong những người xấu số này.

Vì thế, là nhân chứng cho Chúa Kitô khó nghèo, và là cộng sự viên đắc lực của Đức Thánh Cha yêu thương người nghèo, sống giản dị khó nghèo,  mọi người có trách nhiệm phục vụ cho Dân Chúa trong Giáo Hội phải sống tinh thần khó nghèo của Chúa và  gương mẫu phục vụ của Đức đương kim Giáo Hoàng để đời sống và việc làm của minh không mâu thuẫn với lời mình rao giảng cho người khác. Có như vậy thì việc phúc âm hóa, hay tái phúc âm mới có kết quả tốt đẹp mong muốn.

Ngươc lại, cứ lo xây nhà thờ cho sang cho đẹp, xây tượng đài tốn phí để phô trương và là lý do  để tiếp tục thi nhau ra nước ngoài xin tiền cho những nhu cầu bất tận,  thì mục tiêu phúc âm hóa sẽ không  bao giờ mang lại kết quả nào, nếu không muốn nói là trống đánh xuôi kèn thổi ngược.

Trống đanh xuôi kèn thổi ngược vì trong khi giáo dân nhiều người còn nghèo túng, giữa một xã hội  đầy bất công và tụt hậu thê thảm về luân lý đạo đức, mà Giáo Hội lại kiêu hãnh với   những công trình hoành tráng , quá tốn phí như xây NÚI CÚI thì   quả thật là một mỉa mai trơ trẽn, một thất bại trông thấy  cho mục tiêu phúc âm hóa của giáo hội địa phương.

Ở những quốc gia giầu có như Hoa Kỳ, Canada, ÚC Châu, Pháp, Đức, ..người ta cũng không phô trương hào nhoáng với những công trình xây cất đồ sộ. Vậy tại sao ở một nước còn nghèo và lạc hậu như Viêt Nam mà giáo hội địa phương lại ngạo nghễ với công trình xây cất quá tốn phí  như  vậy, mà thực chất chỉ để phô trương  sự  phồn thịnh của giáo hội địa phương và phản tác dụng cho mục tiêu phúc âm hóa môi trường để mời gọi thêm nhiều người nữa nhận biết và tin Chúa Kitô dể được cứu rỗi. Đây phải là sứ vụ quan trọng nhất của Giáo Hội ở khắp nơi.

Tại hại hơn nữa, việc xây cất kia còn vô tình đánh bóng cho chế độ cai trị, vô tình biện  minh  là có tự do tôn giáo, nên mới có công trình lớn lao tốn phí như vậy,  trong khi thực tế Giáo Hội  vẫn còn tiếp tục bị hạn chế  về  tự  do hành đạo , chưa đáng  được tiếp tay tô điểm qua việc làm phô trương hào nhoáng trên đây.

Đáng lẽ, cần thiết hơn cả là xây dựng niềm tin vững chắc trong lòng  người tín hữu  được trao phó cho mình coi sóc, để giữa một xã hội tụt hậu thê thảm về  luân lý đạo đức, họ sẽ là chứng nhân hùng hồn cho Chúa Kitô bằng đời sống công bình, yêu mến sự thiện hảo  và khinh chê sự giầu sang  hợm hĩnh  của những người không có niềm tin Chúa nên chỉ biết vơ vét của cải để làm giầu,  bất chấp công bình bác ái và nhân đạo.

Thêm vào đó, một nhu cầu quan trọng không kém là  đào  tạo hàng giáo sĩ cho có chiều sâu thực sự để họ biết  phục vụ hữu hiệu  và công bình trong thực tế. Cụ thể, phải  sửa đối cách phục vụ  để không bất công với người nghèo, không cho họ mang xác người quá cố vào trong nhà thờ, không cho cả thân nhân người quá cố là linh mục được đồng tế trong lễ tang;  trong khi cho xác người giầu được đem vào trong nhà thờ và cho nhiều linh mục được đồng tế trong lễ tang,  như có nhân chứng đã kể lại.

Một điều bất công đáng nói nhất là ở các giáo phận bên nhà cho đến nay, các  linh mục chánh hay phó  xứ không được trả lương tối thiểu đồng đều, nên người coi xứ giầu thì được giầu có theo, coi xứ nghèo thì thiệt thòi hơn. Vì thế, mạnh ai nấy tìm cách ra nước ngoài để xin tiền cho những nhu cầu bất tận.

Thử hói giám mục có kiểm soát được các linh mục của mình ra nước ngoài xin tiền hay không , và có biết các linh mục kiếm được bao nhiêu tiền và đem về chi tiêu cho mục đích gì ?

Nếu không biết thì vô tình vẫn làm ngơ cho giáo sĩ, tu sĩ của mình thi nhau ra nước ngoài kiếm tiền bỏ túi hay chi phí cho những mục đích không ai biết.Chúa nói :   anh  em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được.” ( Lc 16: 13)

Lời Chúa trên đây phải là đèn soi bước đi cho hàng giáo sĩ và tu sĩ cách riêng  ở khắp nơi trong Giáo Hội .Không ai có thể dạy cho người khác điều mà chính mình lại không sống để làm gương, và như vậy sẽ trở thành phản chứng thay vì là nhân chứng trung thực cho Chúa Kitô, Người  đã  nói:   ai có tai nghe thì nghe.” ( Mt 13: 43; Mc 7: 16; Lc 8: 8).

Tóm lại, Giáo Hội không thể rao giảng hữu hiệu Chúa Kitô khó nghèo cho ai nếu đời sống và việc làm của mình lại mâu thuẫn với điều mình giảng dậy cho người khác.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

“Tình là một chuyện muôn màu”,

“Tình là một chuyện muôn màu”,
Tình là mình hạnh phúc thật mau
Tình là một bài thơ sầu
Tình là một niềm nhớ thương nhau.”

(Văn Phụng – Tình)

Trần Ngọc Mười Hai

(Phil 1: 7-10)

“Là bài thơ sầu”, “là mình thành nhớ thương nhau”, sao? Phải chăng, đó là thứ “Tình” của người mình, còn đó rất nhớ thương? Trả lời câu ở trên, bần đạo xin thưa như thế này:

Hồi còn nhỏ, bần đạo thích được các anh chị dắt đi phố Lê Lợi Sàigòn và cứ dừng lại xem chàng trai nọ đứng ở góc phố cứ chìa 3 cây bài “Tây-Đầm-Xì” tráo qua/tráo lại rất nhanh rồi đố người đi đường xem cây “Xì Cơ” trốn đâu rồi? Bần đạo đây, nghĩ mình tinh mắt bèn chỉ vào chỗ nó vừa hiện rõ mồn một, nhưng khi chàng trai lật cây bài ra xem, mới thấy trật-lấc, thế mới chết.

Kịp khi lớn lên, bần đạo lại cũng gặp một tay ảo-thuật sừng sỏ khác, là Lm Tiến Lộc CSsR chuyên làm trò tiểu xảo, cũng chìa ra cho mọi người xem nguyên bộ bài “cào”, xào qua/xào lại rồi bảo bé em gần đó rút bất cứ cây nào đưa cho ông để bỏ vào giữa. Bần đạo khi ấy lại thấy có em bé rút được cây “Xì cơ” rồi lật úp đưa cho nhà ảo-thuật tìm. Chẳng biết ảo-thuật-gia Tiến Lộc xào xáo thế nào rồi chìa cho người rút đúng cây bài giấu kín, là cây “Xì cơ” có trái tim cũng rất tình.

Kể chuyện trên, bần đạo muốn nói lên rằng: “Tình người” đầy trữ-tình gồm tóm nơi cây “Xì cơ” dù có là “chuyện muôn mầu”, “thơ sầu”, hoặc bài cào sao đó, vẫn là chuyện của người đời, rất mọi thời.

Kể thế rồi, nay bần đạo đây lại mời bạn/mời tôi, ta nghe tiếp câu hát khác, lại vẫn bảo:

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng,

Tình mình nhiều mộng ước miên man.

Tình là một chuyện huy hoàng,

Tình mình là thành nhớ hoang mang.

Yêu nhau khi xuân tươi thắm,

Yêu nhau trong tiếng ca tiếng đàn.

Yêu nhau trong muôn tia nắng,

Yêu nhau trong ánh trăng mơ màng.

Yêu nhau khi sương thu rơi,

Yêu nhau khi hoa lá xanh tươi.

Yêu nhau khi mưa đông rơi,

Yêu nhau Yêu nhau mãi suốt đời.”

(Văn Phụng – bđd)

Có là chuyện gì đi nữa, thì “Tình Người” vẫn là thứ tình đời lúc này lúc khác, rất khác biệt. Có lúc, nó là tình-tự giữa hai người, mà thôi. Có khi, nó lại là thứ tình-tiết của hết mọi người, gửi đến muôn người. Có lần, nó lại là thứ tình phải có như người nhà Đạo vẫn bảo con dân dưới trướng, ở muôn nơi.

Là tình Đạo hay tình đời, cũng vẫn là giòng chảy tình người ở dưới thế, khác với tình của động/thực-vật xinh tươi, bền muôn kiếp.

Tình nhà Đạo hôm nay, gặp lúc có nhiều người thắc mắc hỏi han, để bề trên truyền-tải một định-nghĩa khá chắc nịch.

Nói về “tình muôn mầu” ở nhà Đạo, vừa qua bần đạo lại hân-hạnh được “dự giờ” buổi học tập/bàn luận về chi-tiết nghe hơi lạ. Nay, ghi lại đôi giòng để bạn và tôi, ta san sẻ cho nhau. Sẻ san, bằng những câu/những lời lẽ nghe mãi vẫn không quên/không chán. Chán và quên sao được, khi câu chuyện này lại liên-quan đến mọi người và chính mình.

Thế nên, trước khi đi vào chi-tiết về những tình-tự, mời bạn/mời tôi, ta thử bước vào vườn hoa truyện kể để minh-hoạ, cho nhẹ nhõm.

Truyện rằng:

Đệ tử đi một lúc lại quay lại hỏi Sư Phụ

“Một người đang có bà vợ xinh đẹp, nay bảo người ấy nhường vợ lại cho con có được không?”

Sư phụ trả lời “Không được!”

Đệ tử: “Tại sao?”

Sư phụ: “Vi` nếu được thì ta đã xin nhường trước rồi”.

Đệ tử chới với: “Vậy thì` phải làm sao?”

Sư Phụ điềm tĩnh nói “Con hãy kiếm một cô trinh nữ xinh đẹp hơn để xin hoán chuyển với vợ ông ta.”

Đệ tử suy nghĩ một lúc rồi nói “NO, NO, NO…Bộ tui ngu sao sư phụ?”

Sư phụ: “Thê’ thi` mày là Sư Phụ tao rồi. Dẹp đi con!”

Truyện kể rồi, nay ta đi vào vấn-đề chính là “Tình” của con người trong đó có phần diễn ý như sau:

“Về lịch-sử, và trên thực-tế vẫn thế, giòng đời nhân-loại thấy biến-hoá thứ tình người diễn-biến giữa hai nhân-vật mà Tạo-hoá đã tác-thành, là tình mẹ cha, tức tình mẫu tử và phụ-tử.

Dựa trên nền-tảng này, nhiều nền văn-minh/văn-hoá khác nhau lại đã dựng-xây đời người ở trong đó. Đây, không là chuyện ngẫu-nhiên, huyễn-hoặc mà là cung-cách thực-thụ mà thiên-nhân/vạn-vật đã tìm thấy cho chính nó. Chính phát-xuất tự thứ tình khác-biệt của mẹ cha, mà sự sống của trẻ nhỏ đã xuất-phát và san-sẻ.

Rồi từ đó, tình người phát-triển liên-hồi biến thành thứ tình khác phái này nọ nơi cung lòng của con người ở mỗi phía. Chính từ đây, nảy sinh sự khác-biệt và/hoặc tương-tự ở con người. Là người, mỗi phái-tính hoặc mỗi phía/mỗi bên đều giống nhau vì cùng là con người và cũng khác-biệt nhau qua tư-cách của con người.

Trước nhất, con người tăng-trưởng là do tình người thân-thương nơi tính-chất giống nhau, rất tương-tự về phái-tính, tức thứ tình cùng phái vẫn là chuyện tự-nhiên khi con người thương yêu/mến mộ nhau vì thấy người khác lại cũng giống như mình. Và rồi, theo bản-năng, lại cũng ghét bỏ các khiá-cạnh nào đó khác-biệt mình.

Thành thử, ngay từ buổi đầu đã thấy xuất-hiện sự thể các người anh/người chị một phần nào được xã-hội-hoá cả về tình thương. Con người thời đầu sống theo đoàn-lũ/đám đông, và rồi đoàn ấy lại giết đi vị lãnh-tụ (tức bậc cha/chú) để thay thế. Rồi từ đó, phóng ngoại thuyết tự kỷ của Narcisse chuyên chiêm ngắm nét đẹp của bản thân. Chỉ vào thời sau này, trong lịch-sử nhân-loại, mới có mối tình giữa người khác phái, đã trồi lên. Ở tình này, hàm-ẩn thứ tình-tự mà tiếng Đức gọi là “Aufhebung” (tức tình đậm sâu) xuất khỏi tình tự-kỷ rất Narcisse.

Tình khác phái, lại mới mẻ và chế-ngự thứ tình cùng phái tính, Nhưng, vẫn không hoàn-toàn loại bỏ nhau, dù nhiều người có cảm-giác là mình từng có hoặc phải làm như thế. Đây là thứ tình nào đó cần diễn-tả cho đủ sắc-thái, rất mỹ-miều.

Từ đó đã thấy rằng: Tình gia-đình như ta biết, chỉ phát-triển vào giai-đoạn muộn-màng từ “tình người khác phái” vốn phát-triển cũng khá chậm. Thành thử, tình mẹ/cha cũng như tình mẫu tử và phụ-tử đều ra như thế. Muốn hiểu biết về tình này, cần hiểu rõ tình phu-phụ là tình có cam-đoam/cam-kết sống cả đời. Đây, là cung-cách để ta tiếp-cận những gì khác-biệt với ta, vượt quá cuộc sống ngắn-ngủi của con người. Điều này còn có nghĩa: đây là phương-cách giúp ta giáp mặt được sự chết cũng như sự sống, rất khác-biệt.” (Xem Lm Kevin O’Shea CSsR, Between two wars, Australian Catholic University Workshop 22/8/2015, tr. 6)

Cuối cùng thì, có đồng ý hay không với thứ “Tình” muôn mầu/muôn sắc rất con người như thế không có nghĩa là: con người của ta sẽ cứ trẻ mãi/không già. Thế nên, lại có thắc-mắc những hỏi rằng “Tình người”còn giữ mãi muôn mầu/muôn sắc hay không, khi về già? Đó là đại-ý của nhận-định ở bên dưới, vốn dĩ cho thấy các sắc mầu thực-thụ của tình người khi về già như sau:

“Khi ta già, không phải già về hình dáng, tuổi tác mà già về nhận thức. Ta dần dần vô cảm với những vui buồn của cuộc sống, với những cuộc gặp gỡ, chia tay vì ta nhận ra đó là những vô thường của cuộc đời, thoáng đến rồi thoáng đi!

Khi ta già, ta không còn những ham muốn của trẻ con, thay vì muốn nổi trội, muốn người khác công nhận thì ta lại muốn tự mình thừa nhận chính mình!

Khi ta già,ta không còn thích so sánh mình với những người khác vì ta hiểu mỗi người luôn có những ưu, khuyết điểm khác nhau, ta sống thật với những suy nhĩ, cảm xúc của mình vì ta hiểu chỉ có ta mới biết ta muốn gì và ta cần gì trong cuộc sống này.

Khi ta già, ta không còn thích chạy theo những mối tình chóng đến, chóng đi, ta luôn muốn tìm một ai đó hiểu mình, một bàn tay luôn nắm lấy tay ta trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Khi ta già, ta không còn dùng từ ‘nếu mà, giá mà…’ vì ta hiểu có những thứ trong cuộc sống đã xảy ra thì không thể quay ngược thời gian lại, và ta phải chấp nhận, đối mặt với nó.

Khi ta già, ta không còn thích tranh luận vì những quan điểm sống khác nhau, vì ta hiểu mỗi người luôn có một đời để sống, ai cũng có quyền chọn lựa và đi những con đường khác nhau, chỉ cần mỗi chúng ta phải có trách nhiệm  với những gì chúng ta đã chọn và con đường đó không gây ảnh hưởng xấu tới ai.

Khi ta già, ta không nên vội đánh giá một người là xấu hay tốt, đúng hay sai, mà ta hiểu trước tiên là phải nhìn lại mình đã tốt hay chưa, đặt mình vào hoàn cảnh người khác, và ta nên nghĩ ta có quyền phê bình người khác hay không khi mà bản thân ta chưa thật sự tốt?

Khi ta già, nhìn thấy những lỗi lầm của người khác, ta không còn chê trách, chế diễu mà cảm thấy thương họ nhiều hơn và luôn muốn tìm cách giúp họ chuộc lại lỗi lầm. Và chính họ là những là những tấm gương giúp chúng ta phản chiếu, cảnh tỉnh lại chính mình!

Khi ta già, ta chợt nhận ra ý nghĩa của những cuộc gặp gỡ, chia tay, những mất mát, thất bại, thành công trong cuộc sống đều có ý nghĩa riêng của nó!

Khi ta già, ta càng nhớ về quá khứ, trân trọng những kỷ niệm đẹp mà ta đã có, những tình thương yêu mà người khác dành tặng cho ta, ta chợt nhận ra  đã có một thời  vụn vặt, trẻ con; nhìn lại những nỗi buồn với tâm trạng bình thản hơn.

Khi ta già, ta không còn dùng những từ ‘để mai nhé, để sau này’ vì ta hiểu cuộc sống nay không ai biết trước những gì mà ngày mai sẽ xảy ra, và ta sẽ trân trọng hơn những giây phút của hiện tại.

Khi ta già, ta không còn hứa nhiều như trước và không nên hứa khi ta chưa chắc đã giữ được lời hứa đó hay không vì ta hiểu mỗi lời hứa có thể mang lại hy vọng, niềm vui cho ai đó cũng như những nỗi buồn, thất vọng cho họ nếu những lời hứa không được thực hiện.

Khi ta già, ta chợt thấy bình yên khi nhìn nụ cười trẻ thơ,vẻ đẹp trong sáng mà một thời ta cũng vậy. Ta thích ngắm nhìn ngày mới lớn lên, những giọt sương đọng lại trên lá, những bông hoa mới nở, những tia nắng nhạt dần khi hoàng hôn buông xuống.

Khi ta già, ta thầm cám ơn những gì cuộc sống ban tặng cho ta, tình cảm thiêng liêng của gia đình, bạn bè, những người luôn nâng đỡ ta vượt qua những chông chênh của cuộc đời; những thất bại, khó khăn làm ta ngày một trưởng thành. Những người cần sự giúp đỡ của ta giúp ta thấy cuộc sống mình ngày càng ý nghĩa hơn!

Và khi ta thật sự già, ta biết rằng hạnh phúc là cho đi chứ không phải là nhận; yêu thương một ai đó là làm cho họ hạnh phúc, không phải là chiếm hữu. Ta nhận ra mỗi con người đều có những lỗi lầm riêng của mình. Và ta hiểu, tha thứ, khoan dung cho người khác cũng chính là tha thứ, khoan dung cho chính mình. Ta yêu hơn cuộc sống này, yêu thương mọi người cũng như yêu thương chính bản thân ta.”

Như thế là, già đâu không biết, chỉ biết có một điều, rằng: tình người, tình ta và tình của mọi người đối với nhau, sẽ không bao giờ già cả. Đó, là ý-tứ trổi-bật được người viết nhạc, ghi lại những giòng chảy đầy thương yêu rất hết tình, như ở dưới:

“Tình là một chuyện âu sầu
Tình là mình nhiều nỗi thương đau
Tình là một chuyện chia lìa
Tình là mình thổn thức -dêm khuya
Tình đẹp tưạ mùa thu vàng
Tình là mình lệ ướt rơi tuôn
Tình là một chuyện đau lòng
Tình là mình mỏi mắt chờ trông

Yêu nhau chi cho thương nhớ
Yêu nhau chi khiến đôi mắt mờ
Yêu nhau sao không đi tới
Yêu nhau sao đã quên nhau rồi
Yêu nhau chi cho tan mơ
Yêu nhau chi cho mắt hoen mờ
Yêu nhau chi cho thương đau
Yêu nhau chi cho mãi âu sầu.”

(Văn Phụng – Tình)

Tình người, thật ra cũng chẳng “âu sầu mãi” đâu. Bởi, khi đã “yêu nhau (rồi) sao (ta lại) không đi tới?”. Và, khi đã “yêu nhau (rồi) sao (cứ) quên mau?” Phải chăng, là vì quên-lãng nên người nghệ sĩ hôm nay mới nhắc nhở bằng câu hát:

“Đành rằng tình là âu sầu,
Đành rằng tình là nhớ là đau.
Đành rằng tình là chia lìa,
Đành rằng tình là khóc đêm khuya.
Đành rằng tình là ..đau buồn,
Đành rằng lệ mình ướt rơi tuôn.
Đành rằng tình là ..đau lòng,
Đành rằng tình là mãi chờ mong.
Nhưng sao ta mơ yêu mãi,
Nhưng sao ta vẫn thương nhớ hoài.
Mơ yêu đương trong tia nắng,
Say sưa trong ánh trăng mơ màng.
Bâng khuâng khi sương thu rơi,
Cô đơn khi hoa lá tơi bời.
Lang thang khi mưa rơi rơi,
Mơ yêu đương mơ mãi suốt đời……

(Văn Phụng – Tình)

Phải chăng, đó lại là và vẫn là thứ “Tình” cũng rất người, ở ngoài đời? Thế thì, tình người ở nhà Đạo, sẽ ra sao? Trả lời câu này, thiết tưởng bạn và tôi, ta cũng nên tìm vào vườn hoa đầy thứ tình ở Kinh Sách rất trong Đạo có những lời nhủ khuyên, như sau:

“Tôi có những tâm tình như thế đối với tất cả anh em,

đó là điều hợp lý, bởi vì tôi mang anh em trong lòng tôi.

Khi tôi bị xiềng xích,

cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng,

anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được.

Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi:

tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả,

với tình thương-yêu của Đức Kitô Giêsu.

Điều tôi khẩn khoản nài xin,

là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào,

khiến anh em được ơn hiểu biết

và tài trực giác siêu nhiên,

để nhận ra cái gì là tốt hơn.”

(Phil 1: 7-10)

Nghe lời nhủ khuyên như thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta cứ hăng say hát lại và hát mãi lời người nghệ-sĩ vẫn hát những ý/lời sau đây:

“Tình đẹp tựa mùa thu vàng,

Tình mình nhiều mộng ước miên man.

Tình là một chuyện huy hoàng,

Tình mình là thành nhớ hoang mang.

Yêu nhau khi xuân tươi thắm,

Yêu nhau trong tiếng ca tiếng đàn.

Yêu nhau trong muôn tia nắng,

Yêu nhau trong ánh trăng mơ màng.

Yêu nhau khi sương thu rơi,

Yêu nhau khi hoa lá xanh tươi.

Yêu nhau khi mưa đông rơi,

Yêu nhau Yêu nhau mãi suốt đời.”

(Văn Phụng – bđd)

Vâng. Cứ thế, mà yêu nhau. Yêu mãi yêu hoài thật đậm sâu, rất dài lâu. Yêu thế rồi, tự khắc sẽ thấy niềm vui lây lan đến với mọi người ở đời. Hết mọi thời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn muốn nói lên

những lời yêu đương ấy

với chính mình.

Và mọi người.

“Xin hãy yêu tôi, những lòng hoa thắm”,

“Xin hãy yêu tôi, những lòng hoa thắm”,

Xuân đã hồng, thu biếc, tôi làm thơ.”

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mai Tá lược dịch

Câu chuyện kể bên dưới, lại cũng giống như bài thơ yêu, lòng hoa thắm ở Châu Phi.

Tôi có quen vị linh mục nọ. Ông được cha chánh-xứ mời đến giảng vào buổi Tiệc Thánh, được cử hành tại giáo-xứ thánh Martin de Porres ở Soweto, Nam Phi. Ông là một trong hai người da trắng duy-nhất sống chung với sáu trăm giáo-dân bản xứ trong cộng-đoàn, ở đây. Ông thuật rằng: khi ông giảng, mọi người ở dưới vừa nghe vừa nhảy múa, còn hát vang, cười thích thú mỗi khi ông kể đôi ba chuyện khôi hài để minh hoạ cho đề tài thần học khô cứng, trong bài giảng.             Chia sẻ có đến mười phút, mà cử-toạ vẫn cố nài ông cho họ nghe thêm dăm ba phút nữa. Ông nói đó là lần đầu trong cuộc đời linh-mục, ông bị chê là giảng-giải ngắn quá sức. Ở Soweto, chia-sẻ Lời Chúa tối thiểu phải kéo ít nhất là 20 phút.Thật ra, thì sức sống và năng-lực của giáo-xứ đây, là chuyện thần-kỳ. Bài giảng dù có ngắn, nhưng thánh-lễ vẫn kéo dài đến hơn hai tiếng. Không ai đi trễ. Chẳng ai vội về sớm, để làm gì.

Hôm nay, Giáo hội mừng Chúa Nhật Truyền-Giáo. Theo truyền-thống, đây là ngày để ta suy ngắm về sứ-vụ rao-giảng Tin Mừng của Chúa, đến với mọi người. Nhiều năm về trước, mỗi khi nguyện-cầu cho ơn gọi Thừa-sai, giáo-hội ở đây thường lạc-quyên hỗ-trợ cho công-cuộc truyền-giáo ở các vùng sâu, vùng xa trên thế-giới.

Hy-vọng là, bằng vào nỗ-lực ấy, người dân ngoài Đạo sẽ hồi-hướng quay về cùng Hội thánh. Hẳn ta còn nhớ ở xứ xa xôi thời ấy, chỉ mất 10 xu thôi, ta cũng có thể cho máy bay được ở thêm 1 phút trên bầu trời ngời sáng. Và, chỉ mất một đô thôi, ta cũng có thêm được ít thuốc thang cho người bệnh, đến cả tuần.

Thiên-Chúa có cách riêng biệt của Ngài để đáp trả ý/lời nguyện-cầu, của mọi người. Ngài đổi ngược cảnh-tình thế-giới để cho thấy: ngày nay, nơi nào là xứ-sở truyền-giáo, mới đúng. Ai là người có nhu-cầu tâm-linh, hơn ai hết.

Không có gì để ngờ-vực nữa, các nước phát-triển nay có trách-nhiệm lớn về tiền bạc/tài chánh đối với người anh người chị, ở nước nghèo. Tính bình-quân, ta sở-hữu quá nhiều. Trong khi mỗi ngày, có đến 31,000 người đang chết dần chết mòn vì thiếu ăn, đói khổ. Ở các nước còn đang mở-mang, thì nơi đây, lại thấy sức sống của Giáo-hội triển-nở dồi-dào, mạnh mẽ hơn. Nơi đây, đang thấy sản sinh ra nhiều ơn gọi. Và ơn tử đạo.

Đến nay, người ta còn thấy quá nhiều quốc-gia đã trồi lên như ngọn nến sáng-soi niềm tin, cho thế-giới. Như Nam Phi chẳng hạn, có đến 80 % dân chúng ở đây, theo Đạo Chúa. Và 60 % dân-cư nơi này vẫn hiên-ngang cất bước đến nhà thờ, ngày của Chúa.

Với cộng-đồng người bản xứ thiếu nghèo đủ mọi thứ, ơn gọi lại cứ phát-triển. Và, con số ngôn-sứ tại xã-hội an-bình, công-minh, ít bạo-động, đang cứ thế dần tăng. Và số lượng các vị quyết sống chết vì đạo, không ngại-ngần hy-sinh cuộc sống của chính mình, để người người thấy được một xã-hội lành-mạnh như thế, đang thành hình.

Thế hệ trước, mỗi khi nói đến thừa-sai rao-giảng, ta thường nói theo giọng-điệu kẻ cả, cha chú. Nói, nhưng vẫn theo giọng/điệu tập-trung mọi sự vào Châu Âu. Để rồi, làm cách nào đó khiến nền văn-hoá bản xứ tàn-lụi dần, trong quên-lãng. Ngày tháng ấy, nay trôi dần vào dĩ-vãng. Hội thánh, nay không còn áp-đặt hình-ảnh một Đức Kitô da trắng nắng hồng khom mình trên các trẻ bé da màu, mà ban phát.

Nhưng, người người đều đã nhận ra rằng: Thiên-Chúa nay vẫn hiện-diện với mọi dân-tộc có bản sắc văn-hoá sáng-chói của một bình-minh đầy văn-minh. Những gì Hội-thánh toàn-cầu mang đến cho các Giáo-hội sở-tại, ngang qua tiền bạc và nhân-sự là để phục-vụ. Là, cơ-hội tốt để ta thực-thi những gì mình từng tuyên-xưng ở đây, nơi này. Ngày của Chúa.

Nếu ta chẳng quan-tâm gì tình-trạng đói-nghèo trên thế-giới, như thế là ta chưa nghe biết gì đến tín-thư của Tin Mừng, hết. Tín-thư ấy, nay là: ta phải “cho đi” mọi của cải riêng tư của mình, dù cần-thiết để sống còn. Cho đi, để tất cả con cái Chúa ở đâu đó, đất miền nghèo đói, có cơ may được học hành, được giúp-đỡ về phúc lợi. Và, được săn-sóc về y-tế.

Điều Chúa muốn, là dân con mọi người được sống có phẩm-cách. Hiểu như thế, thì Tin Mừng Chúa Nhật Truyền-Giáo mới có ý-nghĩa sâu-sắc, để đời. Bởi, đã lâu rồi, ta cứ tưởng rằng mình thuộc về Giáo-hội Công-giáo La-Mã tập-trung mọi sự dồn về cho Âu Châu. Hoặc, trời Tây phây phây, đầy đủ. Bởi thế nên, ta vẫn cứ xử sự theo cung cách của kẻ cả, đối với các Giáo hội sở-tại, còn thấp kém. Và từ đó, coi nền văn-minh khác với văn-minh của mình, như tôi đòi, ở dưới.

Rõ ràng là, văn-hoá rất “Tây” của ta, dù có đủ tính-cách tinh-vi phức-tạp, công-bằng và uyển-chuyển, xem ra đang mất đi thần hồn và thần tính, của chính mình. Các nước phát-triển, nay đã nhanh chóng trở-thành đất miền truyền-giáo rất mới, của thế-giới. Trong mai ngày, các nuớc chậm phát-triển, có lẽ sẽ giúp ta tìm lại được diện-mạo Đức Kitô, trong nền văn-hoá của chính mình. Và, một lần nữa như thế, sẽ giúp ta tìm được con đường. Sự thật. Và sự sống. Của Tin Mừng.

Các nước kém cỏi, cho ta thấy rằng, cả vào khi người người có nhu cầu thiết yếu để mưu cầu cho cuộc sống hằng ngày. Sống cho đúng với nhân cách của con người, dù đang ở vào tình cảnh khó khăn, nhưng yêu thương, để đứng vững trong niềm tin yêu, chung thuỷ. Dĩ nhiên là, việc này không đem đến cho ta cú sốc nào cả.

Bởi, như Đức Giêsu nói với ta hôm nay, -và đây mới là điều cần thiết- là: không ai, không có gì, và không nền văn-hoá nào được phép thống-trị người khác. Không được phép trở-thành cơ-chế độc-đoán, với bất cứ một ai. Chí ít là văn-hoá khác mình. Điều, làm cho cộng-đồng dân con Đạo Chúa trở thành những con người cao cả, là lòng khiêm hạ độ lượng. Độ-lượng, trong phục-vụ, khiêm hạ, cả trong lúc được người khác phục -vụ mình, nữa.

Trong cảm-nghiệm những điều như thế, nay ngâm nốt bài hơ còn ngâm dở, vẫn hát rằng:

“Xin hãy yêu tôi, những lòng hoa thắm,

Xuân đã nồng, thu biếc, tôi làm thờ.

Cửa phòng tôi giăng lưới nhện mong chờ,

Buồn phơ-phất mới trông chiều, ngóng gió.”

(Đinh Hùng – Xin Hãy Yêu Tôi)

Có lẽ, đó sẽ là và còn là sự khác biệt giữa người ở châu Âu, châu Phi và châu nào khác, trong yêu-thương, phụng thờ Đức Chúa, với tấm lòng trong trắng, cũng rất thơ. Đó, cũng sẽ là sự khác-biệt trong cảm-nhận tình yêu-thương nồng-thắm nơi dân con của Chúa, vẫn vui tươi trong thờ phụng và hăng say giùm giúp, đỡ nâng. Đó chính là tình yêu. Là, niềm tin đích-thực của mọi người. Trong đời.

Lm Richard Leonard sj biên soạn  –

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mc 10: 35-45)

Khi ấy, hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan đến gần Đức Giêsu và nói:“Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” Người hỏi:”Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” Các ông thưa:“Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” Đức Giêsu bảo:”Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” Các ông đáp:”Thưa được.” Đức Giêsu bảo:”Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân.Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”

KHÔN NGOAN ĐÍCH THỰC

KHÔN NGOAN ĐÍCH THỰC

Tác giả:  Huệ Minh

Kn.7, 7-11; Dt.4, 12-13; Mc.10, 17-30

Ta vừa được nghe lại câu chuyện khá thú vị về cuộc gặp gỡ hay nói đúng hơn là cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu và chàng thanh niên.

Thánh Máccô ghi lại rằng đây là chàng thanh niên nhưng có lẽ chàng thanh niên này lại là chàng rất đặc biệt. Đặc biệt bởi lẽ ở tuổi xuân thôi nhưng anh lại nghĩ đến đời sau. Chính vì thế, anh ta không ngần ngại hỏi Chúa Giêsu : “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”

Nghe câu hỏi thật lý thú, Chúa Giêsu không trả lời ngay câu hỏi của anh nhưng Chúa Giêsu trả lời khác đi một tí : “Sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Chẳng có ai là nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa. Ngươi đã biết các giới răn: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt; hãy thảo kính cha mẹ”.

Nghe như vậy, chàng trai cũng hết sức thẳng thắn, chàng bộc bạch : “Lạy Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ”.

Phải nói rằng, có lẽ Chúa Giêsu cũng khá sốc bới lẽ dường như chưa bao giờ trong đời mà Chúa lại gặp một chàng trai trẻ mà lại ngoan ngoãn đạo đức đến như vậy. Nhìn thấy anh và nhất là câu trả lời của anh để rồi ta nhìn thấy ánh mắt của Chúa Giêsu thật dễ thương. Thánh Máccô kể tiếp : Bấy giờ Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương mà bảo rằng: “Ngươi chỉ thiếu một điều, là ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”.

Câu chuyện đang hay bỗng dưng kết thúc và theo như ngôn ngữ bình thường là kết thúc không có hậu bởi lẽ chàng thanh niên đã bỏ đi vì buồn. Không buồn sao được khi anh ta có quá nhiều của cải.

Thoạt đầu ta thấy anh ta khôn để hỏi về sự sống đời đời nhưng rồi sau đó xem chừng ra anh ta dại.

Ở đời, cần lắm sự khôn ngoan để minh định về cuộc đời, để định hướng cho mình một lối sống.

Trang sách Khôn ngoan mà chúng ta nghe ở bài đọc thứ nhất đó chính là lời của Salomon. Ông nổi tiếng thông minh nhất đời, ít là theo ý kiến người Dothái. Không phải tự ông có sự khôn ngoan vượt bực ấy. Ông đã xin cùng Thiên Chúa và Người đã thương ban cho ông vì ông biết quý nó hơn hết mọi sự ở đời.

Nói về điểm này, ta thấy ông đã nói đúng. Sách Các Vua quyển I còn kể (3,4-14): khi mới lên ngôi, Salomon đã đến Gabaon, một thánh điện nổi tiếng thời bấy giờ. Ông dâng có cả hàng nghìn tế vật lên Thiên Chúa. Người đã hiện ra với ông và hỏi ông xin gì? Ông khiêm tốn thú nhận mình còn trẻ trung mà phải cai trị một dân tộc “đông đúc”; nên ông không xin điều gì khác ngoài một lòng trí biết nghe lời Chúa để trị dân và phân biệt phải trái mà thôi.

Có thể nói rằng may mắn cho ông vì điều ông xin đã đẹp ý Chúa và Salomon đã nhận được ơn khôn ngoan.

Câu đầu của đoạn sách hôm nay nhắc lại câu chuyện ấy. Và những câu sau làm chứng Salomon đã nhớ kỹ những lời Chúa phán hôm ở Gabaon. Người bảo: vì ngươi đã xin sự khôn ngoan chứ không xin được sống lâu giàu bền hay là chiến thắng trên quân thù nên Ta se cho ngươi một lòng trí khôn ngoan đến nỗi trước và sau ngươi không có ai trong thiên hạ khôn ngoan bằng ngươi. Salomon đã nhớ lời này. Ông hằng suy niệm. Và hôm nay trong đoạn sách Khôn ngoan chúng ta vừa nghe, ông lặp đi nói lại rằng ông quý sự khôn ngoan hơn hết. Sức khỏe và sắc đẹp, vàng bạc và ánh sáng, tất cả đều như cát mạt sánh với sự khôn ngoan. Ðược nó là có mọi sự vì nó nắm giữ mọi sự trong tay.

Ðối với Salomon, khôn ngoan là một sự gì rõ rệt. Ðó là tài cai trị dân theo đúng ý Chúa. Nói đúng hơn đó là ơn trung thành biết lắng nghe lời Chúa và hiểu ý Người để lãnh đạo dân. Sự khôn ngoan đó chắc chắn không dành cho mọi người. Và không phải ai ai cũng cần cầu xin ơn ấy. Khôn ngoan khuyên bảo hết thảy chúng ta ao ước sự khôn ngoan, thì nó muốn nói đến sự khôn ngoan nào?

Đây là câu hỏi không dễ trả lời chút nào cả. Theo dõi sách Khôn ngoan từ đầu tới cuối, chúng ta thấy tác giả không bao giờ định nghĩa sự khôn ngoan bằng những công thức cụ thể. Dường như khôn ngoan là một huyền nhiệm. Người ta phải cố gắng mon men tới gần. Và tùy như mức cải tạo thực hiện được khi tiến lên với đức khôn ngoan, người ta mới hiểu thêm được và lãnh nhận dần được ơn cao cả này.

Và cuối, ta có thể nói, khôn ngoan chính là Thiên Chúa, là thần trí của Người, là sự sống của Người, không phải như một thực tại ở xa chúng ta, nhưng đang muốn đến với chúng ta để làm cho chúng ta nên khôn ngoan hơn, tức là thánh thiện hơn và do đó hạnh phúc hơn.

Qua đây, ta lại có cơ hội để nhìn lại mình để xem ta khôn ngoan ở mức độ nào và khôn ngoan như thế nào ? Ta khôn ngoan theo kiểu thế gian hay khôn ngoan theo kiểu người đời.

Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.

Cơn giận Ngài, ai lường được sức mạnh,

trận lôi đình, ai hiểu thấu căn nguyên ?

Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,

ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan. (Tv 89, 10-12)

Cuộc đời con người là như vậy. Dù giàu dù nghèo và gia tài kếch xù như chàng thanh niên đi chăng nữa cũng sẽ phải ra đi, sẽ phải khuất chứ không thể nào lột da sống đời để hưởng thụ. Chính vì thế, ta lại cần đi tìm sự khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa. Khôn ngoan theo kiểu của Thiên Chúa đó là ta được mời gọi bán mọi sự để theo Chúa.

Vẫn là con người, vẫn mang trong mình những bám víu của trần gian. Ta lại xin Chúa thêm ơn cho ta để ta từ bỏ những gì làm cho ta không thanh thoát, những gì làm ta không đến gần Chúa được.

Tác giả:  Huệ Minh

Ý kiến của luật sư liên quan đến vụ em Đỗ Đăng Dư

Ý kiến của luật sư liên quan đến vụ em Đỗ Đăng Dư

LS Ngô Ngọc Trai

Vụ em Đỗ Đăng Dư

Nhiều khả năng Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an huyện Chương Mỹ đã phạm tội hình sự.

Thứ nhất: Em Dư lấy trộm 1,5 triệu là chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản. Vì căn cứ theo Điều 138 Bộ luật hình sự về tội trộm cắp tài sản, tài sản trộm cắp phải có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mới bị xử lý hình sự. Do vậy với số tiền chỉ là 1,5 triệu thì việc tạm giữ hình sự để khởi đầu cho việc xử lý hình sự em Dư là trái pháp luật.

Tại sao lại có vi phạm đơn giản như vậy?

Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định rõ tại Điều 86 về tạm giữ hình sự, theo đó tạm giữ phải có quyết định của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra công an huyện và phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp xin phê chuẩn.

Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Do vậy khi thấy số tiền trộm cắp chỉ là 1,5 triệu chưa đến mức xử lý hình sự thì ngay Trưởng công an xã là người có kiến thức phải biết hành vi của em không phải là tội phạm nên chỉ cần lập biên bản lại để xử lý hành chính và tha cho em. Chẳng lẽ Thủ trưởng, Phó thủ trưởng công an huyện mà lại không biết, lại ra quyết định tạm giữ để khơi mào xử lý hình sự. Như thế là trái pháp luật.

Do vậy tôi cho rằng việc đầu tiên là việc tạm giữ hình sự em Dư là trái pháp luật.

Thứ hai: Ngoài việc ra quyết định tạm giữ hình sự trái pháp luật, tại sao lại xử lý hình sự với hành vi trộm cắp chỉ 1,5 triệu chưa đến mức 2 triệu?

Có khả năng trong khi bị tạm giữ hình sự trong quá trình khai báo em Dư đã khai ra 4 vụ trộm cắp khác và giá trị tài sản lớn hơn 2 triệu nên đủ mức xử lý hình sự. Nhưng liệu việc áp dụng biện pháp bắt tạm giam em có đúng luật hay trái luật?

Căn cứ theo điều 303 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về thủ tục tố tụng hình sự xử lý người chưa thành niên, thì trẻ vị thành niên chỉ bị bắt giam nếu có phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Theo Điều 138 về tội trộm cắp tài sản thì em Dư phải trộm cắp tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên mới là phạm tội nghiêm trọng và bị áp dụng biện pháp tạm giam. Còn nếu em chỉ trộm cắp vặt giá trị tài sản chỉ vài trăm nghìn hoặc một vài triệu, giá trị không đến 50 triệu thì không được bắt tạm giam em.

Như vậy nếu làm rõ được giá trị tài sản trộm cắp chưa đến 50 triệu đồng mà vẫn áp dụng biện pháp bắt giam em Dư sẽ là trái pháp luật.

Tóm lại: Tôi cho rằng rất có khả năng Cán bộ điều tra của công an Huyện Chương Mỹ và Viện kiểm sát huyện Chương Mỹ đã có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hình sự, có khả năng đã vi phạm pháp luật hình sự và phạm vào tội ra quyết định trái pháp luật theo Điều 296 Bộ luật hình sự

Điều 296. Tội ra quyết định trái pháp luật
1. Người nào có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Việc Thủ trưởng hay Phó thủ trưởng cơ quan điều tra ra Quyết định tạm giữ hình sự, Quyết định tạm giam em Dư nhiều khả năng đã phạm vào tội ra quyết định trái pháp luật nêu trên.

Đi sâu vào vụ án có thể còn có những vi phạm khác nữa, việc điều tra các sai phạm này thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cụ thể trích từ một bài báo như sau:

Ngày 6-8-2015, tin từ lãnh đạo VKSND Tối cao cho biết, sáng cùng ngày VKSND Tối cao đã tổ chức lễ ra mắt Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp (Vụ 6). Ông Nguyễn Việt Hùng được lãnh đạo VKSND Tối cao bổ nhiệm giữ chức Vụ trưởng Vụ 6.

Như vậy Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã được lập thêm cơ quan chuyên sâu chuyên xử lý các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp, tức là những tội phạm do các cán bộ tư pháp gây ra. Do vậy gia đình em Dư và các luật sư cần làm đơn trình báo tới vụ 6 Viện kiểm sát nhân dân tối cao nêu trên.

Cuối cùng: Việc bắt giam em thiếu cơ sở xác đáng và đặt tính mạng sức khỏe của em vào môi trường giam giữ không an toàn cho thấy nền tư pháp hình sự hiện tại vô cùng nghiệt ngã và nặng nề bạo quyền.

Việc em Dư phải khai ra 4 vụ trộm cắp tôi tin chắc cũng do bị đánh đập, điều này đặt ra đòi hỏi phải có quy định về quyền im lặng, việc lấy lời khai phải có luật sư tham gia, trong phòng giam giữ và phòng hỏi cung phải lắp camera ghi âm ghi hình.

Nếu không thực hiện những việc này thì tội ác do cán bộ công quyền gây ra (vô tình hay cố ý) cho con người sẽ vẫn còn tiếp diễn.

Xem the^m:

Vụ Đỗ Đăng Dư: là luật sư, chúng ta có thể làm gì?

Vài điều suy nghĩ ở cái chết Đỗ Đăng Dư đọc từ báo đảng Cộng Sản

Vài điều suy nghĩ ở cái chết Đỗ Đăng Dư đọc từ báo đảng Cộng Sản

Người Buôn Gió

Câu chuyện về cái chết của Đỗ Đăng Dư trong trại giam số 3 công an TPHN gây xôn xao dư luận. Về khía cạnh pháp luật thì đã có những người am hiểu bình luận, nhất là về thi hành giam giữ, khởi tố với người dưới 18 tuổi.

Tuy nhiên bài viết này nhìn từ góc độ kinh nghiệm của một người từng kinh qua tất cả các thể loại tạm giam trong chế độ này.

Sau nhiều ngày im ắm từ khi cháu Dư đưa vào bệnh viện. Đến khi tin cháu Dư chết được xác nhận chính thức. Đồng loạt báo chí đưa ra một bản tin gần như giống nhau hoàn toàn. Điều đó cho thấy báo chí được lệnh im lặng chờ đợi và chuẩn bị khi nào đưa bài. Một sự chỉ đạo được từng ấy báo chí có lẽ phải từ cỡ Bộ Chính Trị.

Thứ nhất

Báo Tiền Phong mô tả, Đánh chết bạn tù vì rửa bát bẩn:Các bị can bị tạm giam cùng buồng đã đỡ và hô hoán báo cáo cán bộ quản lý để đưa Dư đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Đến tối cùng ngày, Dư được chuyển lên Bệnh viện Bạch Mai để tiếp tục theo dõi, điều trị”.

Báo An ninh thủ đô mô tả, Làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm việc hành hung bị can Đỗ Đăng Dư:Khoảng 5 phút sau, Dư đi ra khỏi khu vệ sinh thì bị ngã xuống sàn nhà. Bình, Trường và Đức Anh đã chạy lại đỡ Dư dậy. Cùng lúc đó, đồng chí Nguyễn Mạnh Cường – cán bộ quản giáo phát hiện sự việc như trên đã báo cáo chỉ huy đơn vị. Ban Giám thị Trại tạm giam số 3 đã chỉ đạo khẩn trương đưa Đỗ Đăng Dư đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Hà Đông”.

Theo các bạn thì sự thật nằm ở đâu, phạm nhân hô hoán để cán bộ quản giáo biết hay là cán bộ quản giáo cùng lúc đó phát hiện sự việc. Tóm lại là pham nhân hô hoán hay cán bộ phát hiện. Đây là điểm mâu thuẫn rất lớn giữa hai tờ báo lớn. Sự mâu thuẫn này cho thấy có sự giả tạo ở thời điểm nhạy cảm, quan trọng nhất trong tình tiết vụ án đó là phát hiện vụ án. Và nếu như vụ án được bắt đầu bằng một sự giả tạo thì ắt quá trình của nó phải mang đậm sự giả tạo, đó là điều tất nhiên.

Đoạn tin dưới đây tất cả các tờ báo đều đưa tin giống nhau.

Khoảng 8h30 ngày 4-10-2015, Dư, Bình, Trường và Đức Anh ăn sáng tại buồng giam. Theo lịch phân công, sau khi ăn xong Dư phải rửa bát cho các bị can cùng buồng. Do thấy Dư rửa bát bẩn, Bình gọi Dư đến ngồi ở khu vực giữa 2 bệ xi măng nơi bị can ngủ. Bình đứng đối diện Dư và dùng tay phải tát 2 cái vào má trái, dùng chân trái đá 3, 4 lần vào đầu Dư theo hướng từ trên xuống dưới.

Với những người bình thường khi đọc sẽ không phát hiện được điều gì trong mẩu tin đưa trên. Nhưng với số lượng gần 5000 người bị tạm giam (không tính tạm giữ) một năm ở Hà Nội (khi chưa nhập Hà Tây). Ít nhất sẽ có vài chục nghìn người ở Hà Nội từng bị tam giam thấy điểm khác lạ trong bản tin này.

Thứ hai

Không có lịch phân công rửa bát trong buồng tạm giam công an TP. Chỉ có ”nhân dân ” hay “lái xe”… những thành phần bị bắt nạt, hèn yếu nhất trong buồng giam phải thực hiện công việc này.

Thứ ba

Mọi việc đánh đập không bao giờ diễn ra vào buổi sáng tầm 8 giờ 30, nhất là một cách nghe rất truyền thống là bắt đồng phạm quỳ dưới ”mà” (tiếng lóng chỉ lối đi giữa sàn). Đây là giờ mà cán bộ gọi lấy cung, đi lấy quà, lăn tay…vì thế mọi việc tra tấn giữa các tù nhân với nhau như vậy chỉ diễn ra vào buổi chiều tối. Sau giờ điểm danh.

Thứ tư là tù nhân ăn gì vào buổi sáng mà dùng đến bát, đũa, thìa. Ăn mỳ tôm hay ăn xôi, miến, phở. Hay trại giam số 3 Hà Tây có cho tù nhân ăn bữa sáng đựng trong bát? Người viết bài này đã trải qua gần như tất cả các thể loại tạm giam, từ công an phường, công an quận, công an thành phố đến công an bộ. Chưa bao giờ trại giam cấp ăn sáng cho tù nhân. Ở trại tạm giam số 1 của CATPHN tất cả bát nhựa đều để ở khu ngoài có khoá ngăn, đến giờ ăn trưa phạm nhân được mở ra lấy bát ăn cơm, sau đó cất lại khu ngoài.  Chỉ có những đại ca có tên tuổi trong giang hồ hoặc là đại bàng trong buồng giam mới có suất ăn sáng bằng bát nhựa, có thể dùng nhựa và vải vụn làm chất đốt để đun nước sôi nấu mỳ tôm.

Thứ tư

Thế mà mấy thằng oắt con chưa đến 18 tuổi ăn sáng trong buồng tạm giam bằng bát. Muốn ăn thế thì gia đình phải hối lộ vài triệu một thằng cho quản giáo trong một tháng để quản giáo làm ngơ cho đun nấu, mang bát vào ăn, ăn sáng một cách thảnh thơi như vậy.

Thứ năm

Chúng ta nên nhớ Lê Văn Luyện, sát thủ 17 tuổi bị giam chung với các phạm nhân khác đều thành niên. Không có cái gọi là phòng giam C15 nào để giam riêng vị thành niên cả. Tôi đã từng ở chung phòng với một cậu bé giết 16 tuổi phạm tội giết người và ông già 65 tuổi tội lừa đảo. Nếu ở trại tạm giam có phòng giam cho trẻ em dưới 18 tuổi thì bắt buộc các trại giam, trại cải tạo cũng phải có phòng cho trẻ em dưới 18 tuổi. Thực tế là trẻ em dưới 18 tuổi phạm tội đến mức phải bị lệnh tạm giam rất ít, trừ những tội đặc biệt nghiêm trọng … vì thế trại tù không có phòng cho trẻ em dưới 18 tuổi. Thường thì chúng sẽ được ưu ái giam vào buồng tiền án, tiền sự lần đầu hay tiếng lóng gọi là ”tù con so”.

Vậy là 5 điều khó tin nhất trong nhà tù lại xảy ra cùng một lúc. Sự thực thì những yếu tố này có thể diễn ra trong nhà tù, nhưng ở tỷ lệ cực thấp cho mỗi yếu tố. Nhưng ở vụ án này xác suất thật tình cờ đến kinh ngạc là cả 5 yếu tố khó tin lại có thể có cùng một lúc.

Thứ sáu

17 tuổi Đỗ Đăng Dư bị bạn tù là Vũ Văn Bình đánh chết. Cái cách đánh mà chỉ có những đại bàng từng trải, có uy lực mới làm được. Đó là đủ uy vũ để bắt người khác quỳ xuống và dùng chân đá theo hướng từ trên xuống.

”dùng chân trái đá 3, 4 lần vào đầu Dư theo hướng từ trên xuống dưới.”

Bạn hãy thử hình dung bạn đánh một người đang ngồi, bạn đá từ trên xuống sẽ thế nào? Người bình thường chỉ đá từ dưới lên vào mặt hay ngực người ngồi. Vũ Văn Bình mới 17 tuổi đi chân đất (trong tù không có giầy , nếu có chỉ là giày vải mềm loại buộc giây nhưng đã bị quản giáo thu dây) đá vào đầu Dư theo hướng từ trên xuống. Không ai dại gì đá từ trên xuống vào đỉnh sọ người, vì đó là chỗ cứng nhất, thế đá lại khó nhất. Vậy mà Vũ Văn Bình thực hiện được những cú đá như trong báo chí miêu tả.

Sự thực chỉ có thể trong tình huống ấy là Vũ Văn Bình giơ gót chân và nện xuống lưng của Đỗ Đăng Dư. Bất kể ai từng đi tù đều hiểu đó là cách đánh phổ thông nhất. Nhưng thường người thực hiện đánh như vậy là người có nhiều năm tù giam ở những trại tạm giam, trại tù mới có kinh nghiệm để thực hiên như vậy. Nếu Vũ Văn Bình trước đó từng bị giam giữ nhiều lần hay qua trường giáo dưỡng thì có thể Bình biết được cách đánh chuyên nghiệp như vây. Nhưng nếu Bình đã rành cách đánh như thế thì Bình sẽ hiểu quy tắc không thể manh động đánh trong giờ hành chính. Một người có cách đánh điềm tĩnh, lỳ lợm, uy hiếp đầy toan tính như bắt người khác ngồi dưới lòng ” mà” (nơi tiện cho việc tra tấn nhất trong buồng giam) không thể nào manh động làm sai điều cốt lõi là đánh ngay trong giờ cao điểm là 8 giờ 30.

Thứ bảy

Thủ phạm Vũ Văn Bình ở tuổi vị thành niên, sau khi đánh chết Đỗ Đăng Dư bị khởi tố vì tội ” cố ý gây thương tích ”. Các nhân chứng trong buồng đều dưới 18 tuổi. Nguyên nhân xuất phát từ Dư thiếu trách nhiệm trong việc rửa bát cho sạch theo lịch phân công. Thủ phạm không dùng hung khí chỉ dùng tay chân không đánh vài phát.

Những tình tiết ngẫu nhiên có được sẽ là điều khoản giảm tội Vũ Văn Bình đến tối đa.

Những yếu tố cực kỳ hiếm hoi có thể xảy ra bỗng nhiên xuất hiện đồng loạt trong cái chết của Đỗ Đăng Dư. Mới kể sơ sơ đã là 7 yếu tố mà bất kỳ ai từng ngồi trong trại giam đều thấy được. Đây là một kịch bản được dưng lên, những yếu tố được lồng ghép để vụ việc thành đơn giản. Việc luật sư chứng kiến việc mổ tử thi không ký vào biên bản không phải là điều hay như người ta vẫn nghĩ. Lẽ ra anh ta phải xin sao ra làm hai bản. Anh ta ký nhận vào một bản và ghi rõ lý do tôi đồng ý với những vết thương bên ngoài như đã thể hiện trong biên bản và tôi phản đối biên bản khám nghiệm  vì có những vết thương nội tạng bên trong không được thể hiện.

Công nhận những vết thương bên ngoài như đã nhìn thấy. Như thế ít ra anh ta sẽ có chứng cứ về những vết thương bên ngoài. Mà vết thương bên ngoài do dùng chân không đá thì để lại dấu vết thế nào hay không thì quá dễ hiểu, nhất là dẫn đến tử vong, điều ấy chỉ có trong truyện của Kim Dung.

Nhưng anh ta đã không ký nhận mặc dù có mặt, anh ta trở ra tay không với lời khuyên gia đình nên mang xác đi chôn luôn, để đó chả giải quyết gì. Đó là điều tôi không thể nào hiểu nổi.

Có lẽ tôi không hiểu là phải, vì tôi chưa học xong cấp ba. Còn anh ta đã học xong đại học, thêm khoá học nữa để bồi dưỡng thành luật sư. Suy nghĩ của một thằng kinh nghiệm tù nhiều và suy nghĩ của một luật sư học hành đầy đủ, đến nơi, đến chốn không thể hiểu nhau là điều tất nhiên. Như câu ví chim sẻ không thể hiểu được chí của đại bàng vậy.

HÃY THA LỖI CHO TÔI, NHƯNG TÔI SẼ KHÔNG CẦU CHÚC CHO EM R.I.P

HÃY THA LỖI CHO TÔI, NHƯNG TÔI SẼ KHÔNG CẦU CHÚC CHO EM R.I.P

Song Chi

Cậu bé 17 tuổi Đỗ Đăng Dư ấy đã chết sau hai tháng bị tạm giam, bị bạo hành tàn nhẫn bởi công an chỉ vì bị nghi trộm một món tiền nhỏ, 2.000.000 VNĐ, tức chưa đến 100USD.
Chỉ một vụ tự thiêu của người thanh niên bán rau Mohamed Bouazizi vào tháng 10 năm 2010 đã châm ngòi cho cuộc Cách mạng Tunisia và sau đó lan rộng ra nhiều quốc gia Ả Rập khác, còn ở đất nước này?
Đã có nhiều người tự thiêu như vụ tự thiêu của kỹ sư Phạm Thành Sơn, 31 tuổi, ngày 17.2.2011 trước cửa UBND TP. Đà Nẵng để bày tỏ sự phẫn uất khi mọi khiếu nại về tình trạng cưỡng chiếm đất đai, nạn tham nhũng không được giới hữu trách giải quyết; hay vụ tự thiêu ngày 30.7. 2012 trước cửa UBND tỉnh Bạc Liêu của mẹ nhà báo, cựu tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần vì tranh chấp đất đai nhà cửa với người hàng xóm, đi làm đơn thưa kiện mà không được giải quyết thỏa đáng lại thêm suy nghĩ, uất ức vì con gái bị cầm tù…
Đã có nhiều người bị công an bạo hành đến chết trong thời gian bị tạm giam, lắm khi chỉ vì những lý do rất nhỏ, như vụ anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, bị bắt vào công an huyện Tân Yên, Bắc Giang, chỉ mấy giờ sau, chết trong đồn công an! Ngày 28.2.2011, ông Trịnh Xuân Tùng đi xe máy không đội mũ bảo hiểm đến ga Giáp Bát, Hà Nội, bị công an bắt dẫn về trụ sở công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai. Đến tối ông Tùng bị bầm dập khắp người, tê liệt toàn thân, tám ngày sau ông chết tại Bệnh Viện. Ngày 25.4.2011, anh Nguyễn Công Nhựt được phát hiện chết trong tư thế treo cổ ở trụ sở CA huyện Bến Cát, Bình Dương sau mấy ngày bị mời về trụ sở CA huyện để làm sáng tỏ vụ mất trộm hàng ngàn lốp xe ôtô xảy ra tại Công ty nơi anh làm việc v.v…Cho tới những vụ có dính dáng tới cưỡng chế đất đai như cái chết của ông Nguyễn Thành Năm ở Giáo xứ Cồn Dầu, thành phố Đà Nẵng, chết tại nhà một ngày sau khi bị dân phòng tạm giữ và đánh đâp, ngày 2.7.2010…
Cũng vì bị thu hồi đất, đã có những người phải vào tù vì đường cùng phẫn uất chống lại cường quyền như anh em ông Đoàn Văn Vươn… Có người liều mạng đổi mạng như anh Đặng Ngọc Viết, đã nổ súng vào 5 cán bộ giải phóng mặt bằng tại trụ sở UBND Tỉnh Thái Bình sau đó tự sát, ngày 11.9.2013…
Và còn rất nhiều nữa, những cái chết oan khuất khác trong những năm qua. Nhưng vẫn sẽ chẳng có gì xảy ra.
Và bây giờ là cái chết của cậu bé Đỗ Đăng Dư…Rồi cũng sẽ chẳng có gi xảy ra.
Phải cần thêm bao nhiêu cái chết nữa, bao nhiêu oan khuất nữa thì đủ cho dân tộc này thức tỉnh và đứng dậy?
Hãy tha lỗi cho tôi, nhưng tôi sẽ không cầu chúc cho em RIP, Đỗ Đăng Dư. Tôi cũng không cầu chúc cho tất cả những ai chết oan ức vì bạo quyền, vì sự tàn ác của những kẻ đang nắm trong tay quyền sinh quyền sát trên đất nước này, ba chữ R.I.P. Tôi cũng không mong những linh hồn oan khuất đó trở về để báo oán những kẻ đã gián tiếp hay trực tiếp đẩy họ vào con đường chết, bởi những kẻ đó có chết đi thì cũng sẽ có những kẻ khác ngoi lên khi hệ thống này còn tồn tại.
Tôi mong những linh hồn oan khuất đó, cách này cách khác trở về để nhắc nhở trong những ai còn đang sống rằng vì sao chúng tôi chết? Rằng hôm qua, hôm nay là chúng tôi, ngày mai có thể sẽ là con, là cha, là chồng, anh chị em, con cháu hoặc ngay chính bản thân anh/chị/bạn sẽ rơi vào trường hợp oan khuất ấy, nếu như tất cả vẫn tiếp tục lặng thinh, lo cho cái tổ của chính mình, mặc kệ mọi chuyện, mặc kệ cho cái ác cái xấu hoàng hành trên đất nước này suốt 7 thập niên qua.
Ngàn lần xin hãy tha lỗi cho tôi, khi tôi không cầu chúc cho em và cho tất cả những oan hồn khác được thanh thản trong lãng quên. Bởi tội ác không được phép lãng quên. Và dân tộc này thì đã sống chung với tội ác lâu quá rồi đến mức không nghe không thấy gì nữa. Dân tộc này đang chìm trong giấc ngủ mê giữa ban ngày, và rất cần được những oan hồn đánh thức!

THƯ NGỎ GỬI CÁC BẠN CÔNG AN, AN NINH TRONG NGÀNH CÒN LƯƠNG TÂM!

THƯ NGỎ GỬI CÁC BẠN CÔNG AN, AN NINH TRONG NGÀNH CÒN LƯƠNG TÂM!

Nhịp cầu Thế giới

Phương Lan, từ Sydney

(NCTG) “Từ khi nào các bạn đánh đổi lương tâm lấy mấy đồng tiền lẻ bẩn thỉu mà quên đi mình cũng là một người dân bình thường, người mẹ kia và đứa con trai 17 tuổi kia cũng như người thân trong gia đình bạn. Đó là mẹ bạn đang điên rồ vì cái chết của đứa con dứt ruột đẻ ra! Đó là đứa em, đứa cháu bị đánh chết trong đau đớn”.

H1Từ một thanh niên khỏe mạnh, sau hai tháng tạm giam, Đỗ Đăng Dư chết thảm… – Ảnh: Internet

Chúng ta đều là con người. Mỗi chúng ta đều có quyền sống trong một xã hội an toàn có trật tự, được pháp luật bảo vệ.

Các bạn, vì một lý do nào đó lựa chọn công việc an ninh hay công an. Công việc, mà theo đúng nghĩa của nó, là bảo vệ sự trật tự xã hội, đảm bảo an toàn cho dân, một công việc rất đáng trân trọng.

Hồi bé, bọn trẻ con đứa nào chả có một thời mơ ước lớn lên làm chú công an hay cô bộ đội. Trong đôi mắt trẻ thơ của chúng ta thuở ấy, các cô các chú mặc đồng phục là hiện thân của công lý, lẽ phải, những người giang tay nghĩa hiệp cứu giúp dân chúng trong trong hoạn nạn, bảo vệ kẻ yếu gặp khi hiểm nguy.

Rồi chúng ta cùng lớn lên, theo thời gian chúng ta hết ngây thơ. Chúng ta lờ mờ nhận ra có một cái gì đó rất không đúng trong xã hội mà chúng ta đang sống. Cái cảm giác lờ mờ ấy ngày một rõ ràng, khi chúng ta phải đối mặt với cuộc sống hàng ngày khi mà tiền, cái ác và cái giả dối lên ngôi.

Để rồi đến một ngày, các bạn công an và an ninh thừa biết, công việc các bạn đang làm ở Việt Nam còn xa lắm, hay nói đúng hơn, nhiều đi ngược lại giá trị nghề nghiệp của hai nghề công an và an ninh của một xã hội văn minh vì dân. Và các bạn không còn chút tự hào nghề nghiệp, thậm chí khi trong sâu thẳm suy tư cá nhân, nhiều bạn thấy ngượng và xấu hổ vì hình ảnh nghề nghiệp của mình trong xã hội hiện tại.

Đành rằng trong xã hội này, các bạn phải hành xử kiểu “Việt Nam” để tồn tại, nhiều khi cũng chỉ vì miếng cơm manh áo của mình và gia đình. Có lẽ, rất nhiều trong số các bạn cảm thấy kinh thường bản thân, vì những gì mình đang làm. Các bạn thừa trí tuệ và sự hiểu biết để thấy rằng xã hội ta đầy rẫy bất công. Các bạn chắc hẳn cũng chẳng ưa những gì đang diễn ra xung quanh. Là con người các bạn có đau lòng. Nhưng để vờ không thấy gì mà sống tiếp, các bạn đang làm ngơ, tự bịt tai, bịt mắt mình!

Nhưng các bạn định im lặng đến bao lâu?

Các bạn im lặng, đồng hành với các ác trong cưỡng chế đất, dẫn đến các vụ tự thiêu của kỹ sư Phạm Thành Sơn và của mẹ nhà báo Tạ Phong Tần, buộc anh em Đoàn Văn Vương hay Đặng Ngọc Viết phải nổ súng chống trả, giết chết Nguyễn Thành Năm!

Các bạn im lặng, đồng hành với cái ác, bạo hành tra tấn đến chết Nguyễn Văn Khương, Trịnh Xuân Tùng, Nguyễn Công Nhựt chỉ vì những lỗi nhỏ trong giao thông!

Và hôm nay đây, các bạn lại tiếp tục im lặng, đồng hành với các ác trong cái chết thương tâm của cậu bé 17 tuổi Đỗ Đăng Dư!

Mỗi chúng ta được sinh ai cũng có một gia đình, ai cũng có người thân. Các bạn nghĩ gì khi nhìn thấy hình ảnh bà mẹ phát điên vì con mình chết trong đau đớn chỉ vì nó trót dại ăn cắp hai triệu đồng?

Người mẹ trong đau đớn tột cùng – Ảnh: FB Chau Doan

Hãy nhớ lại hồi bé chúng ta cũng có khi táy máy lấy trộm tiền của bố mẹ đi mua kem, xem trộm sách vào giờ mà chúng đáng ra phải ngồi làm bài tập toán!

Tất nhiên hành vi ăn cắp là đáng bị lên án và cần được xử lý theo đúng luật pháp, nhưng nhiệm vụ của công an là bắt giữ đối tượng, điều tra xét hỏi, để cuối cùng tòa án xét xử. Các bạn nhân danh ai, nhân danh cái gì để bắt giữ tạm giam đến tận gần hai tháng, trong khi đó theo qui định Bộ luật Tố tụng Hình sự, công an chỉ có thể tạm giữ hình sự người từ 16 đến 18 tuổi tối đa 9 ngày trong trường hợp nghi phạm trọng tội và phải thông báo cho gia đình họ? Sau 9 ngày, tại sao không có có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can? Và tại sao không trả lại tự do khi không có quyết định khởi tố vụ án?

Các bạn trong ngành, các bạn có nhiều thông tin hơn dân chúng chúng tôi, chắc chắn các bạn cũng đủ tri thức để biết đúng sai. Các bạn chọn thái độ im lặng là chọn cái ác.

Từ đâu cái ác bắt rễ và tồn tại trong các bạn? Từ khi nào các bạn đánh đổi lương tâm lấy mấy đồng tiền lẻ bẩn thỉu mà quên đi mình cũng là một người dân bình thường, người mẹ kia và đứa con trai 17 tuổi kia cũng như người thân trong gia đình bạn. Đó là mẹ bạn đang điên rồ vì cái chết của đứa con dứt ruột đẻ ra! Đó là đứa em, đứa cháu bị đánh chết trong đau đớn.

Nếu các bạn còn lương tâm, hãy nói không với cái ác! Đừng im lặng chấp nhận, mà hãy lên tiếng trong khuôn khổ có thể của mình, kêu gọi hướng thiện, kêu gọi hành xử theo luật pháp quốc tế về quyền con người!

Nếu còn lương tâm, xin các bạn hãy làm việc VÌ DÂN VÀ DO DÂN, đừng để các ác hay bất cứ một thế lực cường quyền nào làm tha hoá các bạn, làm tha hoá ý nghĩa nghề nghiệp của các bạn!

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ giải tán đảng CSVN để độc tài cá nhân

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ giải tán đảng CSVN để độc tài cá nhân

  • VOA

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

 TS Luật Cù Huy Hà Vũ

11.10.2015

Từ hai năm trở lại đây, đặc biệt trước thềm Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 12 sẽ diễn ra vào đầu năm sau, 2016, từ trong nước đã lan tin này: “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một khi nắm chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ giải tán Đảng. Vì vậy, những người Việt Nam đấu tranh cho dân chủ cũng như Mỹ và các nước dân chủ phương Tây khác hãy ủng hộ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Phải nói rằng tin này là có cơ sở.

Sau khi Liên Xô và chế độ cộng sản ở các nước Đông Âu sụp đổ một cách ngoạn mục cách đây một phần tư thế kỷ thì ai cũng biết rằng sự cáo chung của các nước cộng sản còn lại gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, Lào ở bán cầu Đông và Cuba ở bán cầu Tây chỉ còn là vấn đề thời gian. Do đó, để tránh né trừng phạt nghiêm khắc của nhân dân thì những kẻ có tài sản kếch xù gom trên xương máu của người dân và quốc gia trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là đại diện hẳn đã phải tính “đoái công chuộc tội” bằng cách đứng ra giải tán đảng cộng sản độc tài. Vả lại, một trong trong những đặc tính nổi trội của dân tộc Việt Nam là “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại” đồng nhất với tha thứ cho những kẻ thủ ác biết sám hối kịp thời. Mặt khác, những kẻ này cũng hy vọng rằng với sức mạnh của khối tài sản kếch xù của mình sẽ còn tiếp tục cầm quyền ở Việt Nam hậu cộng sản.

“ Để tránh né trừng phạt nghiêm khắc của nhân dân thì những kẻ có tài sản kếch xù gom trên xương máu của người dân và quốc gia trong ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là đại diện hẳn đã phải tính “đoái công chuộc tội” bằng cách đứng ra giải tán đảng cộng sản độc tài

 

TS luật Cù Huy Hà Vũ.”

Bên cạnh đó, việc một đảng cộng sản độc tài bị kết liễu bởi chính người đứng đầu đảng đó đã có tiền lệ với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachov.

Có thể nói có một bộ phận những người Việt Nam đấu tranh cho dân chủ hoan hỉ trước tin này vì nếu nó thành hiện thực thì chẳng những Việt Nam có cơ hội có được chế độ dân chủ – đa đảng mà còn có cơ hội “thoát Trung” để bảo vệ hiệu quả lãnh thổ và chủ quyền lãnh thổ cũng như chủ quyền kinh tế trước cuộc xâm lăng ồ ạt đa phương diện được phát động từ Trung quốc. Thực vậy, quan hệ ý thức hệ với Trung Quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang là nguyên nhân biến Việt Nam dần thành thuộc địa của láng giềng bành trướng phương Bắc này.

Về phần mình, Mỹ và các nước dân chủ phương Tây khác hẳn cũng bị kịch bản “Nguyễn Tấn Dũng giải tán Đảng Cộng sản Việt Nam để dân chủ hóa chế độ” quyến rũ bởi lẽ với các nước này loại bỏ càng sớm càng tốt chế độ cộng sản tự phong sứ mệnh “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” dù ở nơi đâu luôn là mục tiêu đầu bảng.

Việc con gái Nguyễn Tấn Dũng là Nguyễn Thanh Phượng lấy công dân Mỹ Henri Nguyen, tức Nguyễn Bảo Hoàng, con của một cựu quan chức Việt Nam Cộng Hòa, càng làm cho Mỹ tin rằng Nguyễn Tấn Dũng thực sự muốn trở cờ, đập tan Đảng Cộng sản Việt Nam vốn là “bên thắng cuộc” trong chiến tranh Việt Nam. Vì thế, việc chính quyền của Tổng thống Obama mới rồi đã quyết định cho Việt Nam gia nhập TPP trong khi đàn áp nhân quyền ở đây không hề giảm chỉ có thể là đòn bẩy cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giành vị trí đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tai Đại hội 12 sắp diễn ra của đảng này.

Chả thế mà Hoàn Cầu Thời Báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, số ra ngày 25/1 năm nay, đưa ra nhận định: “Washington đã nhận ra tiềm năng của ông Dũng như một đại diện hiệu quả. Đại hội đảng lần thứ 12 có thể là cơ hội duy nhất cho ông Dũng lên nắm quyền lực tối cao. Mỹ có ý định ca ngợi thành công tại bàn đàm phán TPP là một trong những thành tựu lớn của ông Dũng”.

Mọi dấu hiệu cho thấy lộ trình “chính biến” của Nguyễn Tấn Dũng là như sau.
Trước hết, giành chức Tổng Bí thư Đảng.

Tiếp đó, giành luôn chức Chủ tịch Nước đồng nhất với Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang để chính danh vị trí nguyên thủ quốc gia và nhất là chính danh điều động quân đội. Thực vậy, trong các chế độ cộng sản Tổng Bí thư đảng cộng sản là người có quyền lực chính trị lớn nhất, tức nguyên thủ quốc gia nhưng không chính danh nên khi muốn điều động quân đội lại phải thông qua Chủ tịch Nước. Ngược lại, Chủ tịch Nước không thể điều động quân đội nếu không được phép của Tổng Bí thư đảng với tư cách Bí thư Quân ủy trung ương.

Cuối cùng, giải tán Đảng và tự cử làm Tổng thống thông qua một Quốc hội đã hoàn toàn bị tê liệt.

Nghĩa là tương tự những gì mà Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachov đã làm.

“ Quan hệ ý thức hệ với Trung Quốc của Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang là nguyên nhân biến Việt Nam dần thành thuộc địa của láng giềng bành trướng phương Bắc này

 

TS luật Cù Huy Hà Vũ.”

Lẽ dĩ nhiên để thực hiện trót lọt lộ trình này, Nguyễn Tấn Dũng phải nắm được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12, hay nói một cách cụ thể hơn, phải được đa số ủy viên Trung ương Đảng khóa này ủng hộ. Việc Nguyễn Tấn Dũng lật ngược thế cờ, thoát án kỷ luật của Bộ Chính trị do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề xướng bằng lá phiếu của Hội nghị Trung ương 6 họp tháng 10/2012 để rồi giành được số phiếu tín nhiệm cao nhất trong số các ủy viên Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương 10 họp tháng 1/2015, đó chưa kể “kình địch” của Nguyễn Tấn Dũng là Trưởng Ban nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh đã không được Hội nghị Trung ương 7 họp tháng 5/2015 bầu vào Bộ Chính trị cho dù được đích thân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề cử, cho thấy khả năng Nguyễn Tấn Dũng lũng đoạn Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 là hoàn toàn hiện thực.

Còn vì sao đa số ủy viên Trung ương Đảng hiện nay cũng như đa số ứng viên cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 đã và sẽ ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng thì là vì phần lớn trong số họ là thành viên chính phủ, quan chức đầu tỉnh, tướng lĩnh công an, quân đội được Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp bổ nhiệm, thăng cấp cũng như chia chác ngân sách Nhà nước để đút túi cá nhân. Bài “Bàn về “thị trường Sao và Vạch” đăng trên báo Người Cao Tuổi số ra ngày 1/4/2014 đã cho thấy mua quan bán chức trong lực lượng vũ trang Việt Nam đã trở thành quốc nạn như thế nào. Trên thực tế, từ khi nắm chức Thủ tướng vào năm 2006, Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định phong tướng cho hàng trăm người, lập kỷ lục về số lượng tướng được phong trong chưa đầy một thập kỷ, một kỷ lục cho đến tan cả đất trời không chắc bị phá! Mà lực lượng được coi là “rường cột quốc gia” còn bị thị trường hóa đến như thế thì nói gì đến các cơ quan Nhà nước khác! Cũng cần nói thêm rằng ngay cả các ủy viên Trung ương là bí thư thành ủy, tỉnh ủy tưởng chừng ít chịu chi phối của Nguyễn Tấn Dũng thì phần lớn trong số họ ngay trước đó đã là cấp trưởng, cấp phó chính quyền địa phương.

Ngoài ra, với tư cách tham quan – “con sâu” theo diễn đạt của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang – gắn liền với hàng loạt tệ nạn phái sinh khác, các ủy viên Trung ương Đảng này chắc chắn đã hoặc sẽ bị Nguyễn Tấn Dũng khống chế không mấy khó khăn bằng Bộ Công an và Tổng cục tình báo quốc phòng (Tổng cục 2 – Bộ Quốc Phòng) là “công cụ ruột” của Dũng.

Tóm lại, trong thể chế cộng sản nơi mà pháp luật đồng nhất với kiểm soát quyền lực được bày ra chỉ để lừa bịp thiên hạ thì kẻ nào nắm giữ các nguồn lực quốc gia, kẻ đó nắm sinh mạng của quan chức thối nát theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Để nói Nguyễn Tấn Dũng có thể nói là chắc xuất Tổng Bí thư tại Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mặc dầu vậy, người viết bài này khẳng định rằng tất cả những ai, từ những người Việt Nam đấu tranh cho dân chủ cho đến Mỹ và các nước dân chủ phương Tây, nếu tin vào kịch bản “Nguyễn Tấn Dũng giải tán Đảng Cộng sản Việt Nam để dân chủ hóa chế độ” thì đúng là đang tự biến mình thành thực khách của “quả lừa thế kỷ”!

Thực vậy, mục tiêu giải tán Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Tấn Dũng không nhằm thiết lập thể chế dân chủ – đa đảng với một Nhà nước “tam quyền phân lập” thực sự “của Dân, do Dân, vì Dân” mà là nhằm thiết lập chế độ độc tài cá nhân trộn lẫn gia đình trị để tối đa hóa cướp đoạt tài sản của nhân dân và của quốc gia.

Chỉ cần so sánh những gì Nguyễn Tấn Dũng nói và những gì Nguyễn Tấn Dũng làm cũng đã đủ cho thấy không cách gì Việt Nam có dân chủ với con người này.

Trong Thông điệp đầu năm mới 2014 của Thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng đã không tiếc lời tụng ca dân chủ, pháp quyền. Nào là “Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân”, nào là “Dân chủ cũng là xu thế khách quan trong tiến trình phát triển của xã hội loài người”, nào là “Dân chủ và Nhà nước pháp quyền là cặp ‘song sinh’ trong một thể chế chính trị hiện đại”, nào là “Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Mọi quyết định quản lý của Nhà nước đều phải minh bạch” vv…vv

Rồi ngày 15.10.2014 tại Viện Körber ở Berlin, Đức, Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục lớn tiếng: “Chúng tôi tin rằng nhân quyền, tự do, dân chủ là xu hướng không thể đảo ngược và là đòi hỏi khách quan của xã hội loài người. VN không phải ngoại lệ, không đứng ngoài xu thế này.” Thế nhưng chỉ sau đó có 2 tháng, ngày 21/12/2014, Nguyễn Tấn Dũng chỉ thị cho ngành Công an “nắm chắc tình hình, không để xảy ra hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nước”!

Trên thực tế, chỉ tính từ Thông điệp “dân chủ” 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến nay đã có hàng loạt blogger và bất đồng chính kiến bị bắt giam và khởi tố theo các điều 79 (Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền), 88 (Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và 258 (Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước…) Bộ Luật Hình sự, những điều luật đã bị cả thế giới dân chủ lên án là những điều luật mơ hồ dùng để đàn áp bất đồng chính kiến. Đó là Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh và trợ thủ Nguyễn Thị Minh Thúy (Điều 88), Người Lót gach – Hồng Lê Thọ, Bọ Lập – Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Ngọc Già – Nguyễn Đình Ngọc (Điều 258), nguyên tổng biên tập Người cao tuổi Kim Quốc Hoa (Điều 258), Trần Anh Kim (Điều 79). Bên cạnh đó, các vụ chính quyền dùng công an mặc thường phục và côn đồ để đánh đập dã man những người đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ cũng như những “dân oan”, nạn nhân của các vụ chính quyền cướp đất, gia tăng chóng mặt!

Đó là nói về “dân chủ” của Nguyễn Tấn Dũng trong lĩnh vực chính trị. Còn “dân chủ” của Nguyễn Tấn Dũng trong lĩnh vực kinh tế thì sao?

“ Mục tiêu giải tán Đảng cộng sản Việt Nam của Nguyễn Tấn Dũng không nhằm thiết lập thể chế dân chủ – đa đảng với một Nhà nước “tam quyền phân lập” thực sự “của Dân, do Dân, vì Dân” mà là nhằm thiết lập chế độ độc tài cá nhân trộn lẫn gia đình trị để tối đa hóa cướp đoạt tài sản của nhân dân và của quốc gia

 

TS luật Cù Huy Hà Vũ.”

Nguyễn Tấn Dũng về cơ bản đã thâu tóm doanh nghiệp Nhà nước khi đặt dưới sự điều hành trực tiếp của Thủ tướng khoảng hai chục Tập đoàn,Tổng Công ty lớn nhất vốn trực thuộc các Bộ. Tất nhiên việc thâu tóm này là để Nguyễn Tấn Dũng tối đa hóa và đơn giản hóa tham nhũng ngân sách Nhà nước. Thực vậy, Nguyễn Tấn Dũng vừa là đại diện Nhà nước cấp vốn cho các “đại doanh nghiệp Nhà nước” này vừa là người trực tiếp quản lý chúng thì việc biến của công thành của tư là chuyện không phải bàn bởi làm sao có chuyện tay này kiểm soát được tay kia! Thế nên mới có chuyện Vinashin, Vinalines – chỉ hai trong số các “quả đấm thép” của Thủ tướng cũng đã làm thất thoát số tiền hơn 6,5 tỷ USD …

Bản thân người viết bài này trong bài “30-4-1975: Giai nhân và quái vật” gửi từ trong nhà tù ra và được Bauxite Việt Nam đăng ngày 30/4/2013 dưới tên Sơn Văn (đối chữ từ Hà Vũ, do Bauxite Việt Nam đặt) đã vạch rõ bản chất làm nghèo đất nước này: “Nhà nước vừa là người quản lý đồng nhất với giám sát, kiểm soát tài sản quốc gia vừa là người sử dụng tài sản ấy, tức là làm cái chuyện “vừa đá bóng vừa thổi còi” theo cách nói dân gian. Nói cách khác, nhà nước không phải chịu bất cứ sự giám sát, kiểm soát nào trong việc sử dụng tài sản quốc gia và chính lỗ hổng thể chế này đã tạo ra tham nhũng – tham nhũng thể chế!”

Vấn đề cuối cùng là nếu như giải tán Đảng cộng sản Việt Nam là cốt lõi của cương lĩnh không công khai cho tranh cử Tổng Bí thư Đảng của Nguyễn Tấn Dũng thì liệu một sự đoạn tuyệt ý thức hệ cộng sản như vậy có giúp Việt Nam “thoát Trung”?

Giáo Sư Carl Thayer, trong bài “Yếu tố Trung Quốc của Việt Nam” (Vietnam’s China factor), đăng trên APPS Policy Forum tháng trước, cho rằng một trong những yếu tố giúp Nguyễn Tấn Dũng trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội 12 là “ông Dũng đã thẳng thắn bảo vệ chủ quyền Việt Nam trong cuộc khủng hoảng giàn khoan năm ngoái và nêu lên khả năng sẽ thực hiện các hành động pháp lý quốc tế chống lại Trung Quốc”.

Thế như chúng ta đã thấy, hơn một năm trôi qua nhưng tuyệt nhiên không có đơn của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng kiện Trung Quốc ra trước Tòa án của Liên Hiệp Quốc như Philippines đã làm trong khi ngày càng rầm rộ các hoạt động bồi đắp và xây cất công trình quân sự của Trung Quốc trên các đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà nước này đã đánh chiếm. Nhưvậy, chủ quyền và lãnh thổ quốc gia rõ là đã bị Nguyễn Tấn Dũng hy sinh cho quan hệ vụ lợi của bản thân với Trung Quốc như đã từng thể hiện qua vụ Bauxite Tây Nguyên…

Kết luận lại, Nguyễn Tấn Dũng có giải tán Đảng Cộng sản Việt Nam thì cũng chỉ thay thế chế độ độc tài tập thể của đảng này bằng chế độ độc tài cá nhân trộn lẫn gia đình trị của bản thân Nguyễn Tấn Dũng. Do đó, dân chủ hóa Việt Nam gắn với “thoát Trung” chỉ có thể đạt được bằng một cuộc cách mạng bất bạo động của toàn thể người Việt Nam trong và ngoài nước với sự ủng hộ mạnh mẽ của lương tri dân chủ toàn thế giới.