Văn chương về nỗi đau con người giành Nobel 2015

Văn chương về nỗi đau con người giành Nobel 2015

RFA

Trong bối cảnh Nga đang căng thẳng với Mỹ, cùng nhiều nước Châu Âu, không ít người tin rằng việc trao giải Nobel Văn Chương 2015 cho bà Svetlana Alexievich là có động cơ chính trị. Nhưng bên cạnh đó, rất nhiều người được biết về bà Svetlana Alexievich, đã hiểu rằng cuối cùng là Nobel cũng đã chọn đúng được một con người đã âm thầm cống hiến cho các số phận và biên niên sử về đổ nát và cai trị trên thế giới này.

Và có lẽ để tránh gây ra những tranh cãi không cần thiết, tên của bà Svetlana Alexievich chỉ bất ngờ được xướng lên vào giờ chót, vượt qua các tên tuổi được đề cử năm nay là Haruki Murakami (Nhật), Ngugi Wa Thiong’o (Kenya), Jon Fosse (Na Uy), Joyce Carol Oates (Mỹ). Trong số những cái tên đề cử của Nobel Văn chương 2015, tỉ lệ cá cược phần thắng giành cho bà Svetlana Alexievich là rất ít ỏi. Thậm chí, bà Alexievich chỉ nhận được tin mình đoạt giải Nobel trước bản tin chính thức loan ra, cách đó 15 phút.

Đoạt giải Nobel Văn chương, nhưng nhiều tờ báo vẫn quen gọi bà Svetlana Alexievich là nhà báo, bởi việc bà đã bỏ ra nhiều năm để đi, tìm hiểu và ghi chép về những số phận con người trãi qua chiến tranh và sự cai trị chế độ Sô Viết cũ. Khi có người hỏi rằng bà có phải chỉ đang làm công việc chép lại lịch sử như một nhà báo hay không, bà Svetlana Alexievich dã lập tức trả lời rằng “tôi ghi lại lịch sử, nhưng bằng cảm xúc với những con người đã sống sót qua lịch sử”.

Số phận của bà Alexievich chứng kiến nhiều nghịch cảnh. Bà người Belarus, nhưng sinh ra tại Ukraine vào năm 1948. (mẹ bà là người Ukraine.) Khi cha của bà đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình, gia đình chuyển lại cho Belarus, nơi Alexievich học báo chí tại Đại học Minks. Nhưng nhờ vậy mà bà lại có cơ hội nhìn và cảm nhận được toàn bộ về chiến tranh, xung đột, thảm kịch ở Liên Xô cũ, cũng như các nước chịu ách thống trị của cộng sản Nga. Giới nghiên cứu và sinh viên vẫn luôn coi các tác phẩm của bà Alexievich là nguồn cảm hứng quanh các đề tài Chiến tranh thế giới II, Chiến tranh Xô-Afghanistan và các thảm họa Chernobyl.

Công việc của bà Alexievich được giới thiệu ở giải Nobel như một điều mới mẻ. Chưa bao giờ Nobel Văn chương lại nhìn thấy công việc của một nhà văn nào như bà. Bà không sáng tác, bà vẽ lại thế giới, làm đầy những phần bị mất hoặc sẽ lãng quên cùng nỗi đau và tội ác. Trong thông cáo của mình, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã nói về nhà văn 67 tuổi này “Giải thưởng xin dành cho cho các tác phẩm đầy âm điệu của bà, một tượng đài ẩn nhẫn và quả cảm trong thời đại chúng ta”.

Thư ký thường trực mới của Viện Hàn lâm Thụy Điển, Sara Danius nói rằng 40 năm nghiên cứu con người của Liên Xô, mà nhà báo Belarus Svetlana Alexievich làm nên là “một cái gì đó vĩnh cửu, một cái nhìn thoáng qua để thấu đạt cõi đời đời.”

Nhà bình luận văn học Sarah Begley viết trên tờ Time rằng bà Alexievich là một bậc thầy về lịch sử truyền miệng. Khi phỏng vấn những người lính, phụ nữ và người dân về những cuộc đời của họ, bà Alexievich đã viết lại một cách tài tình, khiến cho câu chuyện của họ sống động trong một hình thức văn chương quyến rũ nhất.

“Tôi đã tìm kiếm một thể loại mà sẽ là thích hợp nhất để chuyển tải được cái nhìn của tôi về thế giới, để truyền đạt được cách tai tôi nghe, mắt tôi thấy về cuộc sống này”, bà Alexievich viết trên website của mình như vậy, “Tôi đã cố gắng tìm kiếm và cuối cùng chọn một thể loại là để con người cất lên tiếng nói của chính họ.”

Alexievich trở thành người phụ nữ thứ 14 giành được giải Nobel về văn học, nhà báo đầu tiên và những nhà văn đầu tiên của dòng văn chương phi hư cấu, trong nửa thế kỷ qua. Lúc này bà Alexievich đang viết diễn từ của mình, để đọc tại lễ trao giải Nobel vào 10 tháng 12 tới đây trong sự lo ngại của chính quyền Belarus và Nga, bởi bà là người luôn viết và nói về những thứ mà cả hai chính quyền này đều muốn dân chúng phải lãng quên.

Bà Alexievich cũng là một trong những trí thức đấu tranh ôn hoà, chán ghét độc tài và cộng sản. Khi báo chí Nga bình luận, tỏ vẻ muốn “giành” giải Nobel của bà cho dòng văn học Nga, bà Alexievich đã tuyên bố với báo giới rằng “Tôi mang trong mình một phần đời của Belarus, một phần của văn hoá Nga và còn lại thuộc về thế giới. Tôi yêu điều tốt đẹp, sự nhân ái của đời sống Nga, gồm cả văn chương, ballet, âm nhạc… Nhưng tôi không thể yêu nổi phần của Satlin, Beria, Putin và Shoigu” (chú thích: Sergei Shoigu là Bộ trưởng Quốc phòng Nga hiện nay). Vì không chấp nhận được xu hướng độc tài ở Belarus, bà Alexievich rời đi và định cư ở Tây Âu từ nhiều năm nay, viết sách bằng tiếng Nga. Alexievich đã dành nhiều năm sống bên ngoài Belarus, sau khi chỉ trích rằng Tổng thống Alexander Lukashenko cũng đang học đòi phong cách độc tài không khác gì Putin.

Cuộc đời của bà Svetlana Alexievich cũng cô đơn như những nhân vật trong tác phẩm của bà. Trong khi cả thế giới lên tin tức về một người mang văn hoá Nga, văn hoá Belarus vừa đoạt giải Nobel Văn chương, nhưng tất cả giới quan chức của Belarus và Nga đều im lặng như tờ, không khác gì Trung Quốc nghe tin Đức Đạt Lai Lạt Ma được trao giải Nobel Hoà Bình. Khi được hỏi về điều này, bà Svetlana Alexievich nói “chính quyền Belarus lâu nay đã coi như tôi không tồn tại, họ đã không cho phát hành sách của tôi, và tôi cũng không được quyền nói trước công chúng ở bất cứ đâu”.

Trước bà Svetlana Alexievich, nữ văn sĩ người Đức Herta Muller, cũng là người ẩn nhẫn và kiên định với văn chương và thái độ tố cáo tội ác của cộng sản, cũng đã nhận giải Nobel vào năm 2009.

Kể từ tháng 1, nàm 2006, khi Hội đồng nghi viện của Uỷ Hội Châu Âu (gồm 46 quốc gia) thông qua nghị quyết 1481 tại Strasbourg (Pháp), khẳng định chủ nghĩa cộng sản chính là tội ác chống lại con người, dường như, văn chương phản ánh nỗi đau con người dưới các loại chế độ cộng sản luôn được trân trọng vinh danh. Đây là chi tiết mà nhiều báo tiếng Việt trong nước vẫn không muốn nhắc đến.

Vai trò phụ nữ Việt Nam trong tiến trình dân chủ hóa đất nước

Vai trò phụ nữ Việt Nam trong tiến trình dân chủ hóa đất nước

Luật Sư Đào Tăng Dực

RFA

timthumb1-305

Các vận động viên và thành viên của nhóm “Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam”.

Courtesy vnwhr.net
 

Sự hiện diện đông đảo các nữ anh hùng

Khi so sánh cùng giới đấu tranh Trung Quốc với những nhân vật đối kháng đại đa số thuộc nam giới, thì điểm nổi bật của phong trào tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền của dân tộc Việt Nam là sự hiện diện đông đảo của những anh thư hào kiệt như Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Phương Uyên, Tạ Phong Tần, Đỗ Thị Minh Hạnh, cụ Bà Lê Hiền Đức…

Trong khi đó, từ thuở khai sinh nhân loại, người phụ nữ luôn lại là một giai cấp bị đối xử thiếu công bằng. Nếu chúng ta nhìn xuyên lịch sử từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á đến Phi Châu, người phụ nữ thông thường chỉ là công dân hạng nhì, trong xã hội do đàn ông ngự trị, thuộc xã hội truyền thống.

Theo quan điểm của cá nhân tôi, một chính quyền Việt Nam hậu cộng sản, sau khi đã xây dựng một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên cho đất nước, nếu không giải quyết được vấn nạn bạo hành trong gia đình (family and domestic violence), trong đó đa số các nạn nhân là phụ nữ, thì chính quyền đó vẫn chưa xứng đáng là một chính quyền của dân, do dân và vì dân (government of the people, by the people and for the people).

Nếu chúng ta phân tích thêm về nguyên nhân của bất công này, sẽ có hai nguyên nhân chính nổi bật xuyên suốt lịch sử: đó là chiến tranh và tôn giáo. Dĩ nhiên còn nhiều nguyên nhân khác không thể nói hết.

Chiến tranh, nhất là chiến tranh cổ điển, luôn luôn đem lợi thế về cho nam giới. Khi xã hội loài người còn đơn sơ chưa phát triển, chiến tranh căn cứ trên sức mạnh của bắp thịt. Chính vì thế giới nữ thường chịu lép vế, nương tựa vào sự bảo vệ của giới nam và chấp nhận những việc làm phụ thuộc tại hậu cần. Khi kỹ thuật chiến tranh tiến bộ hơn, với những phát triển khoa học về vũ khí có hỏa lực và tầm sát thương cao, vai trò của nam giới vẫn nổi bật, mặc dầu có sự tham gia nhiều hơn của các nữ quân nhân (Do thái là một ví dụ điển hình nhất cho vao trò của các nữ quân nhân). Tuy nhiên vẫn thua xa nam giới. Lý do là vì nhiều người tin rằng, trong DNA của nam giới, bản năng sát thương và sát địch mạnh hơn nữ giới. Chính vì thế, chúng ta có thể kết luận rằng, chiến tranh là một trong nhiều nguyên nhân củng cố cho vai trò vượt trội của nam giới, trong tương tranh quyền lực giữa hai phái tính.

Thuở xưa, phụ nữ thường trở thành những vật hy sinh, vật tế thần hoặc trở thành chiến lợi phẩm của kẻ chiến thắng.

Thời bình cũng bất công

Trong thời chiến, bất công cho nữ giới là như thế. Câu hỏi là, trong thời thái bình thịnh trị, thì nữ giới có được đối xử công bằng hơn hay không?

Theo tôi nghĩ câu trả lời không những là không, mà còn tệ hại hơn nữa.

Đáng ngạc nhiên hơn hết là lý do người nữ bị đối xử bất công nằm nơi các định chế tôn giáo. Nơi đây, tôi xin nhấn mạnh sự khác biệt giữa tôn giáo (religions) và các định chế tôn giáo (religious institutions).

timthumb-250
Các vận động viên và thành viên của nhóm “Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam”. Courtesy vnwhr.net

Tôn giáo là nội dung lời dạy của các đấng giáo chủ khai giáo như (theo thứ tự thời gian): Bà La Môn (Ấn Độ Giáo), Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Phật Giáo), Đức Lão Tử (Đạo Giáo), Đức Khổng Phu Tử (Nho Giáo), Đức Chúa Giê Su (Thiên Chúa Giáo), Đức Mahomet (Hồi Giáo), Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ (Phật Giáo Hòa Hảo) , Đức Ngô Văn Chiêu (Cao Đài Giáo) …thông thường là những lời dạy cao cả và công bằng.

Các định chế tôn giáo trái lại, là các cấu trúc quyền lực, do những người bình thường tạo ra hầu đoàn ngũ hóa và hệ thống hóa các tôn giáo. Các định chế này đôi khi có rất nhiều khuyết điểm. Tùy theo bản chất từng tôn giáo, và hoàn cảnh xã hội sở tại, các định chế tôn giáo có sức mạnh và ảnh hưởng khác nhau. Khi duyệt xét lịch sử, chúng ta nhận thấy các định chế tôn giáo sau đây nhiều quyền lực nhất: Giai Cấp Giáo Sỹ Bà La Môn, Tòa Thánh Công Giáo La Mã tại Âu Châu, Giáo hội Chính Thống Giáo tại Nga, Giai cấp Tống Nho tại Trung Hoa và các nước Đông Á, Giai cấp Giáo Sỹ Hồi Giáo tại Iran và một số quốc gia Hồi Giáo.

Một trong những bất công mà nữ giới phải chịu là: không những các vị giáo chủ đều là nam giới, mà quan trọng hơn hết là các định chế quyền lực, còn tồn tại lâu đời sau khi các giáo chủ đã ra đi, đều do nam giới thống lĩnh.

Hậu quả là các định chế ấy không những trực tiếp có những chính sách tôn giáo trói buộc người phụ nữ, mà còn ảnh hưởng đến xã hội dân sự và chính quyền. Hậu quả là toàn bộ các chính sách quốc gia và toàn bộ nền văn hóa của quốc gia sở tại, thiên vị cho nam giới.

Những câu châm ngôn sau đây của Nho Giáo, lưu truyền hàng ngàn năm trong nền văn hóa Đông Á, tiêu biểu cho sự bất công đó:

“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.

Đại ý nói rằng, người phụ nữ trước khi lấy chồng thì phải nghe lời cha (không phải mẹ). Khi lấy chồng phải nghe lời chồng (không được cãi) và tệ hơn hết là khi chồng chết phải nghe lời con trai (không phải ngược lại hoặc nghe lời con gái).

Hoặc:

“Lấy chồng theo chồng; lấy gà theo gà, lấy chó theo chó”, không có quyền phê phán hành vi của chồng hoặc ly dị ly thân nếu người chồng không xứng đáng.

Tất cả những giáo điều trên, đều là những giáo điều có tính ý thức hệ, cùng một bản chất hạn hẹp và phi lý, như ý thức hệ giáo đều Mác-Lê mà CSVN đang tôn sùng.

Chính vì thế, giới nữ, vốn chịu nhiều bất công, có nhu cầu làm cách mạng cao hơn nam giới.

Khi nữ giới tham gia cuộc đấu tranh giải trừ cộng sản, vai trò của họ không dừng tại nơi đây. Vai trò của nữ giới không những là lật đổ bạo quyền, mà còn xây dựng một trật tự xã hội mới hoàn toàn khai phóng trên phương diện tư tưởng. Châm ngôn của những phụ nữ tranh đấu ngày hôm nay phải là câu tuyên ngôn bất hủ của tư tưởng gia người Pháp Raymond Aron:

“Ý thức hệ giáo điều cần phải triệt tiêu, hầu cho tư tưởng được tái sinh”

Thật vậy, ý thức hệ giáo điều Tống Nho đã tiêu diệt tư tưởng tự do của con người Đông Á, giam hãm sự sáng tạo (creativity) và nữ giới (womenfolk) trong sự cùm kẹp của giáo điều ngu muội, làm chậm bước tiến của nhiều dân tộc Đông Á, cho đến khi rơi vào vòng nô lệ và sự chinh phục của các đế quốc tây phương.

Chiều cao của một dân tộc lệ thuộc vào phẩm chất của những tư tưởng luân lưu trong nền văn hóa dân tộc đó. Một nền văn hóa lệ thuộc vào những ý thức hệ giáo điều kém cỏi như Tống Nho, và sau đó, lệ thuộc vào những ý thức hệ giáo điều càng kém cỏi hơn nữa như Mác-Lê, là một nền văn hóa với những tư tưởng tồi tệ nhất của nhân loại. Dân tộc Việt kém cỏi và chịu nhiều nỗi nhục nhằn ngày hôm nay, là vì Ý thức hệ giáo điều Mác- Lê đã thổi vào nền văn hóa chúng ta những tư tưởng thấp hèn nhất của nhân loại.

Trách nhiệm của người phụ nữ Việt Nam là đứng lên, đạp đổ bạo quyền CSVN. Và cùng một lược với tác động cách mạng này, dùng chút oai thừa, xóa tan những tàn tích của giáo điều Tống Nho oan khiên, đã giam hãm tâm thức và sự sáng tạo của nữ giới trong nhiều thế kỷ.

Ý thức được như thế, người phụ nữ Việt Nam mới nhận ra vị trí chiến lược của mình, trong tiến trình dân chủ hóa đất nước. Lý tưởng của người phụ nữ Việt Nam không những chỉ là xây dựng một chế độ chính trị dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên, mà phải đi xa hơn nữa, đó là gạn lọc những cặn bã của nền văn hóa truyền thống, khai sáng một kỷ nguyên văn hóa hoàn toàn khai phóng, phi ý thức hệ giáo điều trong đó, tư tưởng được tuyệt đối thăng hoa.

Cuộc cách mạng kỹ nghệ đã giúp người phụ nữ Tây Phương đạt nhiều thành quả trong công cuộc tranh đấu cho phụ nữ quyền. Tiến trình dân chủ hóa đất nước chắc chắn sẽ đưa đến một cuộc cách mạng kỹ nghệ, kinh tế và xã hội tại Việt Nam, hầu bắt kịp các quốc khác trong cộng đồng nhân loại.

Có nhiều dấu hiệu cho thấy, phụ nữ Việt Nam đã nhập cuộc đông đảo. Đỗ Thị Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Phương Uyên, Cụ Bà Lê Hiền Đức, Huỳnh Thục Vy, các chị em trong Hội Phụ Nữ Âu Cơ ..là những nữ lưu hào kiệt, đội trời đạp đất. Chắc chắn các chị đang và sẽ là những lãnh đạo xứng đáng, trong thời điểm lịch sử này của dân tộc và trong số họ sẽ có những lãnh đạo tương lai của một nước Việt Nam dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên hậu cộng sản.

Bài Nguyên thủy viết cho Đặc San Hội Phụ Nữ Âu Cơ.

Đảng có muốn nhìn vào Sự Thật?

Đảng có muốn nhìn vào Sự Thật?

clip_image001

Trần Phan

18-10-2015

Ngày 28/9/2015, báo Tuổi Trẻ online đăng bài “Cần người nói thật, dám nghĩ, dám làm” nói về quan điểm của ông Vũ Ngọc Hoàng về đề tài này qua trả lời các câu hỏi của báo Tuổi Trẻ, do Đà Trang và Võ Văn Thành thực hiện. Ông Vũ Ngọc Hoàng hiện là ủy viên Trung ương Đảng, phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo trung ương.

Bài này xin thảo luận cũng về đề tài nói trên, dựa trên phát biểu của ông Hoàng.

Phát biểu của ông Hoàng: “Đây không phải lần đầu tiên Đảng chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật”

Ý kiến tiếp theo của người viết: Tôi xin được hiểu “nhìn thẳng vào sự thật” nghĩa là tìm hiểu, tiếp cận Sự Thật, thảo luận Sự Thật một cách công khai, công bố Sự Thật một cách trung thực, minh bạch…

Nếu hiểu như thế thì dựa trên quan sát những gì đảng CSVN đã làm ngoài thực tế, dựa trên học hỏi những gì được ghi chép trong tài liệu, người viết chưa thấy “Đảng chủ trương nhìn thẳng vào Sự Thật”.

Thế nào là Sự Thật

Bài viết chỉ xin đề cập tới các Sự Thật trong xã hội con người. Sự Thật trong xã hội con người tồn tại cùng với sự hiện diện của con người, và trong sự đồng ý của đa số con người trong xã hội đó.

Thí dụ: Dân chúng tỉnh bang Quebec (Canada) không chấp nhận tách khỏi Canada. Đây là Sự Thật xã hội vì: a) nếu không có sự hiện diện của dân chúng Quebec thì không có sự kiện này, và b) đa số dân chúng tỉnh bang Quebec đồng ý với phát biểu trên (sự đồng ý của đa số dân chúng được chứng thực bởi kết quả của một cuộc trưng cầu dân ý được đa số dân chúng tin là trung thực).

Làm sao để tìm hiểu Sự Thật

Một đặc tính của lòng lương thiện trung thực là sự thực tâm đi tìm Sự Thật. Trong một xã hội thiếu vắng lòng lương thiện trung thực đó, Sự Thật bị giấu giếm, bóp méo hay đảo lộn bởi các thế lực cầm quyền  muốn lừa dối dân chúng. Xã hội như vậy sẽ rối loạn rồi đổ vỡ. Luôn luôn trong lòng xã hội, quần chúng nhân dân, chứ không phải chính quyền, là lực lượng chính đòi hỏi quyền được đi tìm Sự Thật. Hơn thế, đó còn là nhân tố của Sự Thật, bởi vì, như trình bày bên trên, Sự Thật của xã hội là Sự Thật được chấp nhận, được đồng ý bởi số đông.

Người đi tìm Sự Thật không thể tiếp cận được nó nếu không có tinh thần tự do suy luận, không có bản lãnh vượt ra khỏi định kiến.

Do đó, người thực tâm đi tìm Sự Thật, thực tâm muốn nhìn thẳng vào Sự Thật, từ trong bản chất là người khát khao tự do và tin tưởng vào tự do nơi người khác. Từ trong bản chất, đó là người luôn muốn hợp tác với mọi người, muốn chia sẻ thông tin, tri thức với mọi người để cùng nhau bước lên những tầng nấc cao hơn của tri thức trên con đường tìm kiếm Sự Thật.

Nếu thực sự “Đảng chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật” thì các tính chất nói trên phải được Đảng CSVN biểu lộ rõ ràng cho dân chúng thấy.

Thái độ của Đảng CSVN đối với Sự Thật

1) Đảng luôn biểu hiện là người không có tự do. Sự thiếu tinh thần tự do của Đảng biểu hiện ở việc 70 năm trôi qua, bao biến cố lịch sử nối tiếp nhau mà Đảng không có gì đổi mới. Tôi muốn nói tới các đổi mới to lớn ở thượng tầng kiến trúc. Vẫn bám vào cương lĩnh Đảng từ thời Trần Phú. Vẫn là xây dựng chủ nghĩa xã hội dù Liên Xô và các nước Đông Âu đã vất bỏ chủ nghĩa đó 25 năm rồi. Vẫn tụng Mác-Lê, vẫn tôn thờ ông Hồ Chí Minh. Vẫn lặp đi lặp lại công ơn trời biển của Đảng, từ Cách mạng tháng Tám, tới hai cuộc chiến dài 30 năm. Vẫn tuyên truyền thành công của cuộc Cải cách ruộng đất trời long đất lở… Bao nhiêu Sự Thật được phơi bày, một cách khoa học, khách quan với đầy đủ chứng cứ, và được loan truyền trong dân chúng với tốc độ internet. Sự ngoảnh mặt của Đảng với Sự Thật và bám víu vào những luận điệu sai lầm cũ kĩ càng chứng tỏ mức độ mất tự do suy nghĩ và suy luận của Đảng là khủng khiếp dường nào!

2) Đảng không có tự do, và bởi vì Đảng nắm vũ khí trong tay, nên Đảng cũng tước đoạt tự do của dân chúng. Dân chúng dưới chính thể độc đảng toàn trị của Đảng CSVN không có một tí gì các quyền tự do căn bản. Các biểu hiện cho thấy Đảng thù ghét tự do nơi dân chúng. Đảng sợ hãi tự do nơi dân chúng.

Do đó, Đảng đã đóng sập mọi cánh cửa dẫn tới Sự Thật. Không tự do ngôn luận. Không báo chí tư nhân. Không hội đoàn độc lập. Người dân không có lối đi tìm Sự Thật.

3) Chưa thấy Đảng hợp tác với dân chúng tìm Sự Thật. Chỉ thấy Đảng “định hướng” thông tin cho dân. Những bức tượng Lê-nin bị giật đổ tại thủ đô một số nước Đông Âu không bao giờ xuất hiện trên báo chính thống của đảng. Các tin tức về những cuộc tàn sát khủng khiếp do Stalin hay Mao Trạch Đông gây ra, công hàm Phạm Văn Đồng công nhận Hoàng Sa -Trường Sa thuộc Trung Quốc, các thông tin về Đảng, về ông Hồ Chí Minh khác với tuyên truyền của Đảng đều bị giấu kín…

Các Sự Thật lịch sử bị giấu kín, các Sự Thật thời sự cũng bị giấu kín. Những tòa nhà quá hoành tráng của quan chức nhà nước chưa bao giờ xuất hiện trên báo chính thống. Chỉ có các trang mạng đăng lên, và những nhân vật bị nêu tên im lặng. Im lặng một cách thách thức! Thi thoảng có vài trang báo chính thống đăng tin: sự trấn áp đến liền. Khi báo Tuổi Trẻ đăng tin ông Hồ Chí Minh có người phụ nữ riêng, tổng biên tập Vũ Kim Hạnh mất chức. Khi các bài báo về vụ tham nhũng PMU xuất hiện, các nhà báo bị bỏ tù!  Khi báo Người Cao Tuổi đăng chứng cớ về sự tham nhũng của các quan thanh tra cao nhất nước, tổng biên tập Kim Quốc Hoa bị truy tố.

Có ai điều tra về việc ống nước Sông Đà? Về dự án đường sắt trên cao Hà Nội mà mức độ đội vốn lên hàng tỉ đô la? Về những con đường nghìn tỉ, giá thành cao gấp mấy lần so với Mỹ, mà vừa làm xong đã hư? Về trên 200 mạng người chết trong đồn công an? Về bauxite Tây nguyên? Về vụ án Đoàn Văn Vươn? Chỉ có chính quyền, làm sai rồi tự điều tra.

Những sự việc lớn hơn càng bị giấu kín hơn. Vụ công án xôn xao dư luận là Hội nghị Thành Đô bị bưng bít triệt để. Vài nhân chứng đề cập sự việc, báo nước ngoài tung tin, Đảng càng bưng bít. Dân chúng, trong khi cảm nhận sự việc là quá có hại cho quyền lợi tổ quốc, càng xôn xao phẫn hận trước trò bưng bít Sự Thật một cách công khai đó, và vẫn chưa tiếp cận được Sự Thật.

Do đó, đa số dân chúng Việt Nam bị mù, phải sờ soạng trong bóng đêm lần mò tìm chính sách ngoại giao dưới cây gậy thao túng chỉ đường của Đảng.

Kết Luận

Tôi hiểu không dễ để ông Vũ Ngọc Hoàng có những phát biểu khác hơn, rõ rệt hơn về Sự Thật. Cho nên tôi không có lời phê phán nào về ý đồ của ông, chỉ xin nói thẳng thắn rằng:

Trong khi ông Hoàng tuyên bố: “Đảng chủ trương nhìn thẳng vào Sự Thật” thì tôi có nhận định ngược lại 180 độ: “Đảng sợ Sự Thật, giấu giếm Sự Thật và cấm đoán dân chúng tìm Sự Thật”.

Thưa ông Hoàng, thời đất nước chia đôi, nếu Sự Thật về đời sống của dân chúng miền Nam tự do giàu mạnh, ấm no đến được với dân chúng miền Bắc, thì có cuộc nội chiến hủy diệt sinh lực đất nước 20 năm không?

Nếu Sự Thật về hậu quả của Cải cách ruộng đất miền Bắc và Cải tạo công thương nghiệp miền Bắc đến được với dân Việt, thì sau 1975, nước ta có các chiến dịch tiêu diệt lực lượng công thương giàu kinh nghiệm của miền Nam không? Nếu Sự Thật về đời sống và các biến chuyển chính trị thế giới đến được với dân Việt thì đất nước ta có sớm nghiêng về nếp sống tự do dân chủ hơn không? Có tránh được thảm họa thuyền nhân không? Tiềm năng dân tộc có sớm được khai phóng và GDP nước ta có thể cao gấp 3-4 lần hiện nay không? Ta có lệ thuộc Trung Cộng như bây giờ không?

Sự Thật quan trọng như vậy, cho nên nếu có thành tâm, xin ông Hoàng cùng với các đảng viên thực lòng muốn “Nhìn Thẳng Vào Sự Thật” hoạt động theo hướng này. Bên trong Đảng, các ông cùng phối hợp góp ý, đấu tranh với Đảng, vận động người cùng ý hướng. Bên ngoài Đảng, các ông phối hợp với các nhà báo tự do, lực lượng trí thức rộng rãi trong xã hội cùng nhau tìm, công bố và bảo vệ Sự Thật. Bảo vệ những con người hoạt động vì Sự Thật. Đấu tranh cho các quyền tự do ngôn luận, báo chí tư nhân, tự do lập hội…

Chỉ cần tiếp cận được Sự Thật, dựa trên Sự Thật, nhờ Sự Thật soi sáng, dân tộc Việt Nam sẽ phát triển mạnh và vươn cao.

T.P

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/dang-co-muon-nhin-vao-su-that/3011953.html

TỰ DO Ở XỨ NGƯỜI

TỰ DO Ở XỨ NGƯỜI

 Tác giả:  Fr. Huynhquảng

Cuộc sống của những người mới nhập cư tại đất Mỹ quả thật không dễ dàng chút nào. Khi chưa qua Mỹ thì nôn nóng phấn khởi, nhưng đặt chân vào vùng đất “tự do” nhiều người mới thấu chạm cái giá của sự tự do tại đất nước này thật quá đắt. Không phải vì đất nước này khắc nghiệt, nhưng chỉ đơn giản chỉ vì sự thay đổi địa lý, môi trường, văn hoá làm cho con người không dễ thích ứng trong thời gian ngắn.

* * *

Sau một thời gian khá lâu, cuối cùng chị Năm và hai con được ông bà ngoại bảo lãnh qua Mỹ với mục đích là để con cháu xum vầy, tạo điều kiện cho hai cháu gái, 16 và 18, được học hành để có tương lai cho cháu. Sau khi đặt chân xuống sân bay, thời gian mừng mừng, tủi tủi dần dần cũng trở về với cuộc sống thật của xứ “tự do” này. Đăng ký việc học, tìm trường, bảo hiểm, công việc… Thấm thoát thời gian trôi nhanh, các cháu dần quen với lối sống muốn độc lập, đi học về trể, đóng cửa phòng, nói chuyện điện thoại, text, facebook liên tục…ông bà ngao ngán thở dài. Mong ước để được cho gia đình xum vầy giờ đã được, nhưng xum vầy theo tiêu chuẩn nào thì ông bà ngoại không nghĩ tới; hoá ra, tụi nó không nghe mình nữa!

Than ngầm bắt đầu bén, lửa bắt đầu nhum chỉ chờ cơ hội là bùng phát. Ông bà ngoại không vui ra mặt khi thấy chiếc Mercedes dừng trước cổng nhà nhiều lần; một cậu học trò bước xuống và mở cửa cho cháu gái mình. Chúng nhìn nhau, hug (ôm nhẹ) nhau một cái và chia tay.

Nhìn cháu giận giữ, bà ngoại la lớn, “Con gái mới qua đây mấy bữa mà bày đặt thằng này thằng khác; tau cấm mày. Mày không lo cái thân cùa mày thì có ngày…”

Một lần khác ông bà ngoại lớn tiếng với mẹ hai cháu, “Mày coi con người ta kìa; chừng đó tuổi đã học thành tài. Còn con mày, hư đốn, đã qua đây thua kém người ta, đã không lo học, bây giờ lại thêm đàng đúm ăn chơi… Tau nói hết nỗi rồi. Ra khỏi nhà tau, tau không không muốn tụi mày làm ô uế dòng họ; tau không muốn bị người ta chê cười.”

* * *

Bạn thân mến, mục Sống Sao Cho Đẹp chia sẻ hoàn cảnh trên không phải để nhằm mục đích xem câu chuyện nó kết thúc thế nào, nhưng quan trong hơn, qua bối cảnh này chúng ta cùng nhau xem xét lại khái niệm tự do và tình thương chúng ta dành cho nhau ở mức độ nào, đặc biệt những gia đình sống xa quê hương với bao hụt hửng, thiếu thốn về mặt tinh thần.

Những người mới tị nạn tại Hoa-Kỳ phần nào chưa thích ứng với đời sống quá tự do và dễ dãi tại vùng đất này. Không đủ tự do thì bị chết do cằn cỗi, thiếu thốn, nhưng tự do nhiều quá thì cũng bị chết vì quá nhiều điều để chọn lựa. Sự thay đổi môi trường bên ngoài xã hội quá nhanh chóng, trong khi tinh thần và lối suy nghĩ vẫn chưa bắt kịp được. Chính vì lẽ đó, sự không hoà điệu giữa thể lý và tinh thần đã tạo nên những bồn chồn, mất bình an, lo lắng  diễn ra ngay trong mỗi con người. Về mặt thể lý, con người cố để hoà nhập với cuộc sống mới; còn về mặt tinh thần, sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hoá xứ người đã không thể đáp ứng cho nhu cầu tinh thần như mình mong đợi. Nên theo lẽ tự nhiên, con người co rút lại, bảo vệ mình bằng được những giá trị đạo đức, truyền thống mà mình đã tiếp nhận từ cha ông. Một trong những cách bảo vệ những giá trị ấy chính là giáo dục con cháu. Tuy nhiên, sự xung khắc bắt đầu khi phương pháp mà mình áp dụng cho con cháu nó không còn phù hợp với không gian, thời gian, và văn hoá. Chân lý thì không thay đổi, nhưng cách truyền đạt cần thay đổi cho phù hợp với thời đại, lứa tuổi khác nhau. Làm sao để con cháu hiểu được những gì mình truyền dạy là giá trị? Làm sao ông bà cha mẹ có thể giúp con cháu mình khôn lớn thành người mà chúng không phải bị dồn nén, ức chế?

Thưa bạn, hoàn cảnh điển hình như câu chuyện trên giúp ta đặt lại những câu hỏi cho chính mình về khái niệm tình thương và tự do. Biết rằng ông bà thương cháu, nhưng ông bà dùng phương pháp “cấm” có phải là phương pháp hữu hiệu nhất không? Ông bà có đồng hành với những thay đổi tâm lý về môi trường, sự hụt hẩng tình cảm khi xa quê của cháu? Phương cách “hù” đuổi ra khỏi nhà có phải là cách biểu lộ tình thương che chở? Sợ cháu bị hư hỏng vì là sự hư hỏng hay là vì sự sĩ diện của mình? Khi chúng ta bị ràng buộc bởi dư luận về “sĩ diện” là chúng ta mất tự do trong việc giải quyết vấn đề. Vấn đề là mình thương và lo cho cháu chứ không phải do sĩ diện của mình. Hiểu đúng như thế, ta mới hành động hợp tình hợp lý qua đối thoại cởi mở, lắng nghe, và tôn trọng sự tự do của nhau.

Nếu không may gia đình bạn đang gặp vấn nạn tương tự, xin mời bạn suy nghĩ và tìm giải pháp đối thoại trong sự tôn trọng, chia sẻ chân tình với con cháu mình. Ai ai cũng cần tình thương, vấn đề là tình thương ấy cần được biểu lộ cho người mình thương qua lời nói và hành động.

Fr. Huynhquảng

TIN VÀO TÌNH YÊU

TIN VÀO TÌNH YÊU

Chuyện xảy ra vào thế kỷ 16 tại Ấn Độ. Trong triều đình có hai vị sĩ quan nổi tiếng vì những đam mê của mình. Một người thì ganh tỵ, một người thì tham lam.

Ngày kia, nhà vua có sáng kiến rất độc đáo để sửa đổi những tính xấu ấy. Ông cho triệu tập hai viên sĩ quan vào giữa triều đình, loan báo sẽ tưởng thưởng họ vì đã phục vụ trong nhiều năm qua. Họ có thể xin gì tùy thích, xong người đầu tiên mở miệng xin chỉ được những gì mình muốn, còn người thứ hai sẽ được gấp đôi.

Nhiều phút trôi qua, không ai mở miệng nói trước. Người tham lam nghĩ trong lòng: nếu tôi nói trước, tôi sẽ được ít hơn người kia. Còn người ganh tỵ lý luận: thà tôi không được gì còn hơn mở miệng nói trước để tên kia được gấp đôi. Vì thế, không ai muốn lên tiếng trước.

Cuối cùng, vua yêu cầu người ganh tỵ nói trước. Người này lại nghĩ: thà không được gì còn hơn để tên tham lam được gấp đôi. Hắn liền tuyên bố: “Tôi xin được chặt đứt một cánh tay…”. Hắn cảm thấy sung sướng với ý nghĩ là người tham lam sẽ bị chặt hai cánh tay.

***

Người ghen tỵ thà chịu mất một cánh tay còn hơn nhìn thấy người kia được của cải gấp đôi mình. Người ghen tỵ trước khi tiêu diệt kẻ khác, họ đã tự hủy diệt chính mình.

Dụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay kể lại, người đi làm vườn nho từ sáng sớm ghen tỵ với người chỉ làm một tiếng, mà cũng được trả một quan như mình. Giá như ông chủ trả cho người làm một tiếng ít tiền hơn, thì người làm từ sáng đâu có bực tức khó chịu. Chúng ta thấy ông chủ đâu có xử bất công, vì ông đã thỏa thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền. Ông trả hậu hĩ cho người mới làm một tiếng, là vì ông tốt bụng, ông có quyền làm điều đó chứ!

Qua dụ ngôn “ông chủ vườn nho”, Đức Giêsu muốn mời gọi chúng ta nhìn sâu vào cõi lòng của Thiên Chúa. Người không chỉ là Thiên Chúa công bình, mà còn là một người Cha đầy yêu thương. Người đã không hành xử theo luật lệ, nhưng lại dựa trên tiêu chuẩn của tình yêu. Chỉ khi nào chúng ta đổi mới cái nhìn về Thiên Chúa. Chỉ khi nào chúng ta nhận ra Người là Thiên Chúa tình yêu. Chỉ khi nào chúng ta cảm nhận được lòng tốt của Thiên Chúa nơi bản thân mình, chúng ta mới không còn ghen tỵ với anh em.

Chúng ta nhớ lại lời ông chủ vườn nho nói với người ghen tỵ: Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20,15). Anh ta ghen tỵ vì anh ta chỉ thấy lòng tốt của ông chủ nơi người khác. Sao anh ta không nghĩ rằng ông chủ tốt bụng này đã thuê anh làm và trả lương cho anh sòng phẳng không thiếu một xu. Sao anh ta không nghĩ rằng anh đã rất an tâm vì chắc chắn đến cuối ngày là anh có một quan tiền; còn người kia vì không có ai thuê làm nên phải chờ đợi cả một ngày trong lo âu chán chường, vì tối nay vợ con anh sẽ phải lên giường mà không có gì cho vào bụng.

Cứ nghĩ đến muốn ngàn phúc lộc Chúa đã ban cho chúng ta, cứ nhìn xem bao niềm đau nỗi khổ của anh em, chúng ta sẽ không còn lý do nào để mà ghen ty. Chính vì không cảm nghiệm được Thiên Chúa yêu thương, không nhận ra hồng ân của Người trong cuộc đời mình, mà Cain dã ghen tỵ và giết chết Aben, người anh cả ghen tỵ với đứa em đi hoang nên không nhìn nhận người em lầm lỡ, người Pharisêu ghen tức với người tội lỗi được Chúa tha thứ, người làm sáng sớm ghen tỵ với kẻ làm chỉ một giờ.

Ai cứ nghĩ mình xứng đáng được Chúa ban ơn, mà đi ghen tỵ với những ơn lành Chúa ban cho người tội lỗi, chính là kẻ bất hạnh nhất. Họ hãy nghe lại lời Kinh Thánh: “Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng hàng đầu sẽ phải xuống hàng chót (Mt 20,16a). Thông điệp của dụ ngôn hôm nay muốn loan báo rằng: Nước Trời là phần thưởng nhưng không của Thiên Chúa, hoàn toàn là do lòng quảng đại yêu thương của Người, chứ không do công nghiệp của chúng ta. Thiên Chúa ban ơn cho con người chỉ vì lòng yêu thương của Người mà thôi.

Đừng bao giờ ghen tỵ, đố kỵ nhỏ nhen khi thấy kẻ khác được nhiều ơn, mà muốn giới hạn hành động yêu thương của Thiên Chúa.

Đừng bao giờ tính toán sòng phẳng theo lẽ công bình giao hoán: có công thì được hưởng, có tội thì bị phạt. Vì nếu Thiên Chúa tính toán lại, chắc chắn số tội của chúng ta sẽ nhiều hơn công phúc, và người thiệt thòi nhất không ai khác là chính chúng ta.

***

Lạy Chúa, Chúa là một người Cha đầy yêu thương, luôn ban ơn cho mọi con cái, cả những đứa con không đáng thương, vì Chúa không muốn một ai phải hư mất. Xin cho chúng con một tâm hồn quảng đại như Chúa, không hẹp hòi ghen tỵ với những ai được Chúa ban nhiều ơn, nhưng luôn biết “vui với kẻ vui”, để chúng con được nên giống Chúa nhiều hơn. Amen!

Thiên Phúc

Ngọc Nga sưu tầm

Được mùa con ông cháu cha

Được mùa con ông cháu cha

Nguyễn Thông

Ông Nguyễn Xuân Anh, tân Bí thư Thành ủy Đà Nẵng (Ảnh: Báo Tuổi Trẻ)
Ông Nguyễn Xuân Anh, tân Bí thư Thành ủy Đà Nẵng (Ảnh: Báo Tuổi Trẻ)

Những ngày qua, và nhất là hôm nay 16.10, khi Đại hội Đảng bộ một số tỉnh thành bế mạc và công bố Ban Chấp hành nhiệm kỳ mới, dư luận đặc biệt quan tâm đến những người trẻ tuổi được bầu vào những ghế “nóng”, nhất là Bí thư và Phó bí thư.

Có thể nói, nhân vật được sự chú ý nhất hôm nay là một người rất trẻ so với cương vị Bí thư Đảng bộ của một thành phố lớn hàng đầu cả nước, là ông Nguyễn Xuân Anh.

Theo báo điện tử Một Thế Giới, Đại hội Đảng bộ TP.Đà Nẵng ngày 16.10 đã bầu ông Nguyễn Xuân Anh, Phó bí thư thường trực Thành ủy Đà Nẵng giữ chức Bí thư, thay ông Trần Thọ. Báo cũng khẳng định rằng đến thời điểm này, có thể nói ông Nguyễn Xuân Anh là vị Bí thư Thành ủy trẻ nhất nước.

Ông Nguyễn Xuân Anh sinh năm 1976, trình độ tiến sĩ quản trị kinh doanh. Ông là con trai của nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Nguyễn Văn Chi. Ông Nguyễn Xuân Anh từng công tác tại báo Thanh Niên (hồi cùng chung cơ quan, tôi rất quý ông ấy và ông ấy cũng quý tôi bởi chung tính thẳng thắn), là Trưởng ban Quốc tế, sau đó chuyển về Đà Nẵng làm Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư TP.Đà Nẵng, Phó chủ tịch thường trực UBND quận Liên Chiểu, Phó bí thư rồi Bí thư Quận ủy Liên Chiểu. Ông được điều động giữ chức Phó chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng trước khi làm Phó bí thư Thành ủy.

Cũng trong Đại hội Đảng bộ TP.Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020, một nhân vật trẻ khác được dư luận rất quan tâm là ông Nguyễn Bá Cảnh. Sinh năm 1983, ông Nguyễn Bá Cảnh, con trai của cố Bí thư Thành ủy Nguyễn Bá Thanh, đã được Đại hội bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ TP.Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020.

Ông Nguyễn Bá Cảnh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Đà Nẵng

Ông Cảnh tốt nghiệp Đại học Kinh tế Đà Nẵng, du học ở Anh, lấy bằng thạc sĩ quản trị công. Trở về công tác tại Đà Nẵng, ông từng giữ chức vụ Phó bí thư thường trực Thành đoàn từ cuối năm 2011. Hiện ông làm Bí thư Thành đoàn Đà Nẵng.

Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, những thông tin từ các Đại hội Đảng bộ tỉnh thành được người dân hết sức chú ý. Sự quan tâm ấy không phải chỉ bởi họ muốn biết ai sẽ là người đứng đầu bộ máy lãnh đạo ở địa phương mà còn tò mò muốn biết những con ông cháu cha nào sẽ nối gót cha anh mình. Chính vì vậy, khi Đại hội Đảng bộ tỉnh Hậu Giang công bố danh sách Ban Chấp hành mới, các cơ quan báo chí và nhân dân đã nhắc nhiều đến một nhân vật trẻ, ông Huỳnh Thanh Phong, Giám đốc Sở Công Thương Hậu Giang, đạt 226/320 phiếu, xếp thứ 49/52 ứng viên được bầu.

H1

Ông Huỳnh Thanh Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Hậu Giang

Ông Huỳnh Thanh Phong sinh ngày 23.12.1982, vào Đảng ngày 22.2.2012, cử nhân ngành tài chính, tín dụng. Trước khi làm Giám đốc Sở Công Thương, ông Phong từng giữ chức Trưởng phòng Tín dụng, Quỹ đầu tư và phát triển tỉnh Hậu Giang, được bầu làm Phó giám đốc quỹ này hồi tháng 5.2014.

Nhiều người còn biết ông là con trai ông Huỳnh Minh Chắc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy. Ông Chắc đã làm đơn xin thôi chức Bí thư, nghỉ trước tuổi hồi tháng 7 vừa rồi. Đến tháng 10, đơn của ông Chắc được Bộ Chính trị chấp thuận. Ông đã nhận quyết định thôi giữ chức Bí thư Tỉnh ủy nhưng hiện ông vẫn là Trưởng đoàn Đại biểu quốc hội tỉnh Hậu Giang.

Một nhân vật khác từng thu hút sự chú ý của dư luận là ông Nguyễn Minh Triết. Ông sinh năm 1990, là con trai út của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, từng tốt nghiệp thạc sĩ tại Anh quốc.

Cuối tháng 6.2014, khi mới 24 tuổi, đang giữ chức vụ Phó ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ – phát triển sinh viên Việt Nam, ông Triết được Ban Bí thư Trung ương Đoàn cử về làm Phó bí thư Tỉnh đoàn Bình Định nhiệm kỳ 2013-2017 theo chương trình đưa cán bộ đi đào tạo thực tế tại cơ sở.

H1

Ông Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bình Định, được coi là tỉnh ủy viên trẻ nhất nước khi mới 25 tuổi

Sau đó, ông Triết đảm nhiệm chức Bí thư Tỉnh đoàn Bình Định. Tháng 12.2014, ông Triết được Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ định tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định nhiệm kỳ 2010-2015.

Sáng 16.10, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định đã công bố danh sách 55 người trúng cử vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020, ông Triết đã trúng cử vào Ban Chấp hành mới. Theo báo Vietnamnet, ông Triết là người trẻ tuổi nhất trúng cử.

Ông Triết có anh trai là ông Nguyễn Thanh Nghị, 39 tuổi, tiến sĩ khoa học xây dựng, từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Xây dựng, hiện là Phó bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang. Ông Nghị vừa được bầu vào cương vị mới quan trọng hơn, là Bí thư Tỉnh ủy tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang trong phiên họp Ban Chấp hành tối 16.10. Như vậy hai anh em ông Nghị-ông Triết, tức hai con trai của thủ tướng kỳ này đều đắc cử.

Vài ngày trước đó, một trong những nhân vật tạo ra sự chú ý đặc biệt cho báo giới và dư luận là ông Lê Phước Hoài Bảo, 30 tuổi (sinh năm 1985), Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư Quảng Nam trúng vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2015-2020. Ông Bảo là con trai của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Lê Phước Thanh. Ông Bảo tốt nghiệp Trường đại học Kinh tế Đà Nẵng, chuyên ngành Tài chính tín dụng. Từ tháng 8.2010 đến tháng 8.2012 ông Bảo được cử đi học thạc sĩ chuyên ngành Quản trị tài chính và chiến lược tại trường Claremont Graduate University, Mỹ. Ông từng giữ chức Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư của Ban quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai, sau đó tháng 3.2014 được bầu làm Phó chủ tịch UBND huyện Thăng Bình.

H1

Ông Lê Phước Hoài Bảo (giữa), Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Quảng Nam

Hồi tháng 7, ông Lê Phước Thanh từng gây xôn xao dư luận khi làm đơn gửi Bộ Chính trị xin thôi chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam mặc dù chưa hết nhiệm kỳ, đề nghị cho nghỉ hưu sớm bởi lý do sức khỏe. Đến đầu tháng 9, Bộ Chính trị đã chuẩn y đơn của ông Thanh.

Tại TP.HCM, một đô thị đặc biệt sôi động, đứng hàng đầu cả nước về nhiều mặt, trong đó có cả việc mạnh dạn cất nhắc sử dụng những người trẻ, thì người trẻ luôn có chỗ đứng và cơ hội phát triển. Chắc không mấy ai quên, hồi tháng 8 vừa qua, Thành ủy TP.HCM đã điều động nhân sự về làm lãnh đạo một số quận huyện, trong số đó có nhân vật đặc biệt: ông Lê Trương Hải Hiếu.

H1

Ông Lê Trương Hải Hiếu, Chủ tịch UBND quận 12, TP.HCM

Nói đặc biệt là bởi ông Hiếu là con trai đương kim Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải. Nhưng đặc biệt hơn bởi ông mới 34 tuổi, từng giữ các chức vụ quan trọng: Bí thư Đảng ủy phường Bến Thành (phường trọng điểm của thành phố), Phó chủ tịch UBND quận 1 (quận trọng điểm), lần này thì được điều động giữ chức Phó bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND quận 12. Tại Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ 10, nhiệm kỳ 2015-2020 đang diễn ra, dư luận nhận xét rằng ông Hiếu thuộc lớp cán bộ lãnh đạo trẻ mà thành phố đang đặt nhiều hy vọng. Tuy nhiên, lần này, có lẽ vì lý do tế nhị nên ông Hiếu không có tên trong Ban Chấp hành Đảng bộ cái thành phố mà chính cha ông đang làm Bí thư.

Các “thái tử đảng” (theo cách gọi của nhà báo Trương Duy Nhất) đã tạo nên hội chứng tuổi 30, đủ cả khen chê, lời ra tiếng vào. Tuy nhiên, chưa bao giờ người ta lại lẩm nhẩm câu “Con vua thì lại làm vua/Con sãi ở chùa lại quét lá đa” nhiều như lúc này.

Trông con quan ngẫm lại con mình

Trông con quan ngẫm lại con mình

Trương Duy Nhất

17-10-2015

Mấy hôm nay. Mà không hẳn mấy hôm, mấy năm nay rồi. Thấy lớp con quan- quan con công kê dắt díu nhau ken chặt chính trường. Cảm giác như gì đó… thắt lại trong ngực!

Những đứa trẻ ranh mới hôm rồi chỉ biết vọc tiền, chơi gái thoắt cái khoác áo vét cà vạt chễm trệ trên đỉnh cao quyền lực cai trị, hoạch định chính sách kinh tài quốc gia.

Đất nước này, tổ quốc này, non sông này đâu phải cái chiếu giỗ để phân chia mâm bát cho vài gia đình dòng tộc.

Chưa giai thời nào đội ngũ con quan- quan con được mệnh danh là lớp “Thái tử đảng” lại xuất hiện nhiều đến thế, chướng tai gai mắt đến thế.

Trông những đứa con quan- quan con ấy, ngẫm lại con mình thấy như quặn ruột.

Có mỗi đứa con gái rượu. Vừa tốt nghiệp đại học xong, hai bằng đàng hoàng. Xin cho con một chỗ nào đó không khó. Thậm chí có ông Bộ trưởng, trung ương uỷ viên đương nhiệm vì thân tình quí trọng tôi, hứa với cháu rằng thích làm gì ở đâu, Hà Nội, Sài Gòn hay Đà Nẵng, bất kể đâu nếu muốn, trong lĩnh vực bác đảm trách thì cứ nói!

Vậy nhưng nó cảm ơn và lắc đầu “làm nhà nước kiểu ấy cháu không chơi!”.

Điều gì khiến nó quay lưng, quyết không chui vào ngồi chung trong cái chiếu mâm nhà nước?

Xưa nay, tôi luôn dạy và hướng con theo lối trao cho nó tự quyền, không nhồi nhét, không áp đặt.

Nhiều đêm, nhìn nó chong đèn thức đến 2, 3 giờ sáng vẽ chùi- chùi vẽ từng miếng logo, bao bì sản phẩm, thu đếm từng 5, 10 nghìn đồng mà không cầm lòng được.

Mấy lần bảo “Ba viết một bài nhỏ giới thiệu PR công việc con trên facebook và website. Trang của ba nhiều người đọc, con ắt thêm nhiều bạn hàng, kiếm nhiều mối hơn”. Vậy mà nó giơ tay cản ngay “không, không được, con muốn tự mình gây dựng, tự mình tìm kiếm”.

Hôm rồi anh Hạng (điêu khắc gia Phạm Văn Hạng) có mối lớn từ một tay nước ngoài cần nhân viên đồ hoạ, điện thoại bảo “phô tô ngay mấy cái bằng và nộp đơn cho bác”. Vậy nhưng nghe xong, nó lắc đầu bảo “không được bác ơi, cũng là thiết kế đồ hoạ, nhưng yêu cầu ấy không phải chuyên môn của cháu”.

“Thì cũng thiết kế đồ hoạ mà, cứ nhận đi!”. Tôi bảo vậy, nhưng nó cười “phải biết từ chối, cái gì mình không chắc thì không nhận. Không phải chuyên môn mình, nhận bừa họ cười cho!”.

Giật mình thương. Và cũng cảm thấy tin quí hơn trước sự biết khước từ của nó.

Nhìn những đứa con quan- quan con cùng lứa với con gái mình đang ưỡn ngực phưỡn bụng kia, không hiểu bố mẹ chúng, những người hiện vẫn đang ngự trên chót đỉnh quyền lực kia nghĩ gì trước bao lời chửi chê đàm tiếu đang hừng hực sục sôi trên mạng?

Và chúng, những lớp con quan- quan con kia có bao đứa nhận thức được rằng nay mai, mỗi lúc ra đường chúng phải cúi gằm mặt xấu hổ tủi nhục khi nghe thiên hạ dè bỉu khinh khi chửi chê bố mẹ chúng bằng những cái tên X mai mỉa?

Mấy hôm trước, tôi đã viết những dòng này: “Đường quan dựa lưng bố không chỉ hình thành nên một thế hệ quan chức X tai hại, mà còn vô tình tiếp sức cho các thế hệ X con cháu sau này tiếp tục coi sân quan như sân nhà, coi việc nước như việc của… bố chúng nó! Ấy là cái hỏng của việc nước, hỏng về dài lâu”.

Tam giác Mỹ-Trung-Việt đang chuyển đổi

Tam giác Mỹ-Trung-Việt đang chuyển đổi

Nguyễn Quang Dy

Nếu chuyến thăm Mỹ gần đây của ông Tập Cận Bình làm nổi bật quan hệ Trung-Mỹ đang xấu đi, và chuyến thăm Việt Nam sắp tới của ông làm rõ hơn quan hệ Trung-Việt đang căng thẳng, thì chuyến thăm Việt Nam vào cuối năm nay của ông Barack Obama sẽ làm nổi bật quan hệ đối tác Mỹ-Việt đang xích lại gần nhau. Dù tốt lên hay xấu đi, thì chuyển động trong quan hệ tay ba này đang định hình lại bức tranh địa chính trị tại Biển Đông, và tác động đến quá trình cởi mở chính trị tại Việt Nam. Bởi vì sự trỗi dậy đầy thách thức của Trung Quốc đang đe dọa an ninh khu vực Đông Á, nên Nhật Bản và các nước khác buộc phải chạy đua vũ trang và liên kết chặt chẽ hơn với Mỹ, trong một trò chơi quyền lực đầy nguy hiểm”.

Ý kiến của ông Nguyễn Quang Dy trong bài viết nóng hổi vừa được Viets-tudies trân trọng công bố ngày 16-10-2015 mà BVN đăng lại dưới đây có thể nói là phát ngôn khách quan, nhìn xa trông rộng và cũng tiêu biểu cho khát vọng của đại bộ phận dân tộc Việt Nam hiện thời. Nhưng ý kiến đó có đúng là chân lý thời đại đối với Việt Nam hay không thì còn cần được kiểm chứng qua cuộc Đại hội Đảng CSVN XII trong đầu năm 2016. Trước mắt chưa thể nói được một điều gì cả. Vì như chúng ta đều đã có nhiều kinh nghiệm thực tế cay đắng để tự mình rút ra kết luận, ở vào giai đoạn thoái trào, hay nói sát sườn hơn là chặng đường kết thúc tất yếu đúng với quy luật, những phần tử đứng đầu của bất kỳ một tổ chức nào trong lịch sử, dù đấy là bộ phận cứ gọi là tinh hoa nhất, cũng không mấy người có thể ngước mắt quá được sống mũi của mình.

Bauxite Việt Nam

Biển Đông không của riêng ai

Trước chuyến thăm Mỹ của ông Tập Cận Bình, có một số diễn biến đáng lưu ý. Trong khi thái độ của Washington muốn hòa hoãn (để tránh đối đầu) thì thái độ của Bắc Kinh lại càng cứng rắn. Trung Quốc không hề giảm nhịp độ xây dựng sân bay và hạ tầng quân sự trên các đảo nhân tạo tại Biển Đông, bất chấp phản đối của Mỹ và các nước khác. Những hình ảnh vệ tinh mà CSIS cung cấp kịp thời (trong khi ông Tập thăm Mỹ) đã chứng minh rõ.

Trước đó, Bắc Kinh còn cho 5 tàu chiến đến ngoài khơi Alaska (nơi Tổng thống Obama đang đến thăm) để thách thức và thử gân ông Obama. Máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã bay ngang chặn đường máy bay trinh sát của Mỹ trên không phận biển Hoa Đông. Cả hai lần, Nhà Trắng đã lờ đi không muốn làm to chuyện. Cho đến gần đây, Nhà Trắng vẫn chưa cho Bộ Quốc phòng điều tàu chiến đến tuần tiễu (để khẳng định quyền tự do hàng hải) trong phạm vi 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây hạ tầng quân sự, vì ông Obama không muốn gây ra sự cố nào trước chuyến thăm của ông Tập Cận Bình.

Nhưng thái độ hòa hoãn của Washington có thể phản tác dụng. Thứ nhất, nó có thể làm cho đồng minh và bạn bè hoang mang, mất lòng tin vào Mỹ. Lãnh đạo Hà Nội đã bị ám ảnh bởi mối lo Trung Quốc và Mỹ có thể “đi đêm” thỏa thuận ngầm với nhau sau lưng Việt Nam (Điều này đã từng xảy ra trong quá khứ). Thứ hai, nó có thể làm cho Bắc Kinh ngộ nhận rằng ông Obama mềm yếu không dám hành động (vì sắp hết nhiệm kỳ), nên Bắc Kinh càng tranh thủ cơ hội để lấn sân và biến những gì còn đang tranh chấp thành chuyện đã rồi.

Vì vậy, tại buổi họp báo chung ở Nhà Trắng (25/9/2015) trước mặt Tổng thống Obama và giới truyền thông quốc tế, ông Tập không ngần ngại lớn tiếng khẳng địnhCác quần đảo ở Nam Hải từ thời cổ đại là lãnh thổ của Trung Hoa”. Thái độ ngang ngược bất chấp luật pháp này tự mâu thuẫn với bài diễn văn ông Tập đọc tại LHQ ngay sau đó, với những lời lẽ hoa mỹ, “Những nước lớn, mạnh, giàu không nên hiếp đáp các nước nhỏ, nghèo và yếu”.

Bà Clinton nói không oan rằng ông Tập “đạo đức giả” và “không biết xấu hổ” (shameless) khi đề cập đến vấn đề nữ quyền. Về vấn đề Biển Đông cũng như vậy. Thái độ hai mặt (nói một đằng làm một nẻo) là một “đặc sản Trung Hoa”.

Trong quan hệ với Việt Nam, Trung Quốc luôn ngạo mạn và bắt nạt (như thiên triều đối với chư hầu). Ví dụ, gần đây Bắc Kinh ngầm dọa Hà Nội là nếu không thôi chỉ trích Trung Quốc xây đảo nhân tạo tại Biển Đông, thì ông Tập Cận Bình có thể bỏ chuyến đi thăm Việt Nam vào tháng này (mặc dù họ biết nếu bỏ sẽ bất lợi cho Trung Quốc). Họ còn nói nhỏ với lãnh đạo Việt Nam là họ không muốn Ngoại trưởng Phạm Bình Minh được vào Bộ Chính Trị.

Chính thái độ và cách hành xử đó của Trung Quốc đang xô đẩy Việt Nam càng gần hơn với  Mỹ. Dường như Trung Quốc vẫn chưa học được bài học Miến Điện. Có thể nói quá trình “Miến Điện hóa” (Myanmarization) đang diễn ra trong quan hệ Trung-Việt. Trên thực tế, quá trình “Thoát Trung” đã được đẩy mạnh kể từ khi Trung Quốc đem giàn khoan HD-981 vào Biển Đông, gây sốc và làm vỡ mộng cả những người thân Trung Quốc trong lãnh đạo Hà Nội. Đó là một bước ngoặt lớn, như một “hệ quả không định trước” (unintended consequence).

Thoát Trung như thế nào

Muốn “Thoát Trung” thì trước hết phải thoát ra khỏi “cái bẫy ý thức hệ” (ideological trap) đã trói buộc số phận Việt Nam với Trung Quốc mấy thập kỷ nay (đặc biệt là sau Thỏa thuận Thành Đô, 1990); phải thoát ra khỏi “cái bẫy lệ thuộc kinh tế” (economic dependency trap). Muốn “Thoát Trung” về kinh tế thì tự mình phải mạnh lên bằng cách thay đổi thể chế, và liên kết kinh tế với Mỹ-Nhật (thông qua sân chơi mới TPP và Tầm nhìn Đông Á).

Nếu Việt Nam tiếp tục đi với Trung Quốc thì phải lệ thuộc và nghe theo Trung Quốc, không được chơi với Mỹ và Phương Tây (họ dùng chiêu bài “diễn biến hòa bình” để dọa); không được dân chủ hóa mà phải duy trì chế độ độc tài, độc đảng (giống như Trung Quốc); và không được dùng ASEAN làm đối trọng với Trung Quốc tại Biển Đông…

Nếu đi với Mỹ thì Việt Nam vẫn có thể chơi với Trung Quốc (nhưng bình đẳng và độc lập hơn); Việt Nam không cần phải thay đổi chế độ (nhưng phải dân chủ hóa); Việt Nam sẽ có vai trò và lợi ích lớn hơn trong ASEAN và Đông Á (với sân chơi mới TPP). Đi với Mỹ không có nghĩa là để chống Trung Quốc, mà chỉ để “tái cân bằng” một quan hệ “mất cân bằng”.

Muốn hay không, quá trình này đang diễn ra rồi. Hà Nội không có nhiều sự lựa chọn. Cánh cửa cơ hội có thể mở ra, có thể khép lại. Thời cơ và thời điểm là rất hệ trọng. Hà Nội đã từng đánh mất những thời cơ vàng vào những thời điểm hệ trọng đối với vận mạng quốc gia. Từ nay đến cuối năm 2015 là một thời cơ và thời điểm như vậy. Liệu lịch sử có lặp lại hay không, và Việt Nam có đánh mất cơ hội một lần nữa hay không?

Tại lề Đại Hội đồng LHQ ở New York (28/9/2015) Chủ tịch Trương Tấn Sang đã lên tiếng đáp lại tuyên bố ngang ngược của ông Tập Cận Bình, khẳng định hành động xây đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông là vi phạm luật pháp quốc tế và ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh và an toàn hàng hải. Đây là một dấu hiệu chuyển biến tích cực mới của lãnh đạo Hà Nội, ngay sau khi ông Obama gặp ông Tập Cận Bình (25/9/2015). Có lẽ lãnh đạo Hà Nội đã thở phào vì thấy Mỹ đã không “đi đêm” với Trung Quốc (như Hà Nội vẫn lo sợ).

Tiếp theo chuyến thăm Mỹ chính thức của Chủ tịch Trương Tấn Sang (24-26/7/2013) và của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (6-10/7/2015), có lẽ chuyến thăm Mỹ lần này của ông Tập Cận Bình đã góp phần thúc đẩy Mỹ và Việt Nam xích lại gần nhau hơn. Điều đáng nói là không phải chỉ có phái cải cách, mà cả phái bảo thủ cũng đang chuyển thái độ. Trong bối cảnh hiện nay, hãy ủng hộ xu hướng nào đỡ xấu hơn cho đất nước. Đây là lúc các bên nên dẹp bớt ân oán để hợp tác, từng bước thay đổi thực trạng, đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân và phe nhóm, trước nguy cơ mất hết chủ quyền biển đảo và Bắc thuộc.

Hình như lãnh đạo Hà Nội tự tin hơn, đã quyết định họp Hội nghị Trung ương 12 sớm hơn dự kiến, để bàn về nhân sự cho Đại hội (mà không chờ ông Tập Cận Bình sang thăm). Tuy quyết định cuối cùng về 4 vị trí cao nhất (còn gọi là “Tứ Trụ”) vẫn chưa ngã ngũ, phải chờ đến Hội nghị Trung ương chót (phút 89), nhưng dù dàn xếp thế nào thì xu hướng đã khá rõ. So sánh thực lực sẽ thấy dù có phải thỏa hiệp, Thủ tướng sẽ thâu tóm thực quyền. Tuy còn nhiều đồn đại, hỏa mù, hay bất ngờ vào phút chót, nhưng xu hướng này khó lòng đảo ngược.

Một dấu hiệu mới là chỉ vài ngày sau khi kết thúc cuộc gặp Tập Cận Bình và Obama, báo chí nhà nước đã đưa tin Tòa án nhân dân Hà Nội công khai xét xử vụ một nhà báo bị truy tố về tội danh “làm gián điệp” (có liên quan đến cơ quan tình báo Trung Quốc). Tuy còn những dấu hiệu khác, nhưng đó là một dấu hiệu rõ ràng nhất (mà trước đây không thể có).

Đồng sàng dị mộng

Trên thực tế, chuyến thăm Mỹ của ông Tập Cận Bình có ba mục tiêu chính, mục tiêu nào cũng quan trọng, nhưng kết quả có thể khác nhau. Thứ nhất là đến Seattle nơi ông Tập gặp 15 CEO của các công ty công nghệ hàng đầu của Mỹ (Business Summit). Thứ hai là đến Washington DC nơi ông Tập gặp Tổng thống Obama (Political Summit). Thứ ba là đến New York nơi ông Tập phát biểu tại Đại Hội đồng LHQ (UN Summit).

Đáng lưu ý là chương trình tại Seattle do Paulson Institute bố trí. Ông Hank Paulson là cựu Chủ tịch Goldman Sachs trước khi làm Bộ trưởng Tài chính (thời chính quyền Bush). Ông Paulson và các đồng nghiệp phố Wall đã từng giúp Trung Quốc cải tổ hệ thống ngân hàng (như mua 10% Bank of China và giúp niêm yết trên sàn chứng khoán HK). Có thể nói Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới là nhờ một phần vào sự hợp tác và tiếp tay của giới kinh doanh Mỹ. Nay muốn tháo gỡ khó khăn kinh tế, hai bên tiếp tục phụ thuộc lẫn nhau (dù muốn hay không) như một “cái bẫy” kinh tế (co-dependancy trap).

Hợp tác Trung-Mỹ là một “đám cưới tiện lợi” (marriage of convenience) chứ không phải do tình yêu (vì hai chế độ rất khác biệt), vì vậy nó không thể lâu bền. Người Mỹ hy vọng cứ làm ăn với nhau (theo lộ trình “constructive engagement”) rồi người Trung Quốc sẽ dần dần thay đổi (như kinh nghiệm với người  Nhật). Nhưng đến nay người Mỹ bắt đầu thất vọng, vì không hiểu được người Trung Quốc (lại càng không hiểu được ông Tập Cận Bình là ai).

Chính người Mỹ đã hợp tác đắc lực giúp ông Tập Cận Bình đối phó với các đối thủ chính trị như Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang (được Giang Trạch Dân hậu thuẫn), qua vụ Vương Lập Quân chạy vào Lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô (7/2/2012), đem theo nhiều bí mật quốc gia. Người Mỹ đã cộng tác với người Trung Quốc không phải chỉ về kinh tế, mà cả an ninh chính trị. Ông Tập không thể thoát hiểm, để mạnh tay “đả hổ diệt ruồi” như vậy, nếu không có người Mỹ hỗ trợ. Thế mà hai bên vẫn không hiểu nhau thì đúng là “đồng sàng dị mộng”.

Người ta ví ông Obama và Tập Cận Bình đối thoại với nhau như hai người máy được vận hành bởi hai hệ điều hành khác hẳn nhau. Đến bây giờ người Mỹ mới nhận ra điều này có lẽ là quá muộn và hơi ngây thơ. Ngay từ năm 1995, ông Nixon trước khi qua đời đã thừa nhận một sự thật trần trụi, “Có lẽ chúng ta đã tạo ra một con quái vật Frankenstein”.

Tuy chủ trương “tham dự có tinh thần xây dựng” (constructive engagement) vẫn còn đất sống, nhưng nó bị chỉ trích ngày càng nhiều và đang được thay thế bằng chủ trương “xoay trục sang Châu Á” hay “tái cân bằng chiến lược” (strategic rebalancing), với nội hàm là “ngăn chặn Trung Quốc” (containing China). Nhưng vì Mỹ và Trung Quốc bị mắc kẹt trong “cái bẫy” phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, nên quan hệ Trung-Mỹ đầy mâu thuẫn và nan giải. Cuộc hôn nhân vụ lợi có thể dẫn đến kết cục đổ vỡ một cách đau đớn. Điều đáng chú ý là khi hai con voi làm tình hay đánh nhau, những kẻ yếu hơn bên cạnh phải rất thận trọng.

Xu hướng đang diễn ra ở cả Mỹ và Trung Quốc là người ta chỉ chú ý đến những yếu tố tiêu cực chứ không còn quan tâm đến những yếu tố tích cực trong quan hệ hai nước. Đà suy thoái trong quan hệ đối tác giữa hai nước lớn này rất đáng lo ngại, nhưng những bế tắc không được tháo gỡ trong dịp gặp cấp cao vừa qua. Trong chính quyền cũng như trong Quốc hội, người ta đang tìm lý do để trả đũa Trung Quốc, trong vấn đề thâm hụt cán cân thương mại (mỗi ngày một tỷ USD) cũng như vấn đề tấn công mạng (cyberhacking).

Không biết ông Kissinger có tính trước được hệ quả này hay không, nhưng cái bóng dài của ông ta vẫn còn phủ lên chính sách Trung Quốc của Mỹ. Mỗi khi đề cập đến Trung Quốc, không thể thiếu được ông Kissinger (như là “bố già”). Điều này được minh họa bằng tấm hình chụp Ngoại trưởng John Kerry phát biểu trong bữa tiệc chiêu đãi ông Tập Cận Bình, trong đó “bố già” Kissinger ngồi hàng ghế đầu như một cây đại thụ.

Kết quả của “business summit” tại Seattle phản ánh hai sự thật khác nhau về quan hệ Trung-Mỹ. Một là, hai bên vẫn cần nhau (vì cái bẫy kinh tế). Hai là, hai bên không thể nói chuyện được với nhau (vì hai hệ điều hành khác hẳn nhau). Hai bên đã có một cơ hội tuyệt vời để đối thoại một cách cởi mở và xây dựng (do sự dàn xếp khéo léo của ông Hank Paulson). Nhưng ông Tập đã không tận dụng được cơ hội này. Trong khi 15 CEO Mỹ (đại diện cho $2.5 trillion tài sản) đến dự và tưởng sẽ được đối thoại cởi mở, thì ông Tập chỉ bắt tay, chụp ảnh kỷ niệm, đọc một bài diễn văn 10 phút, rồi… phắn! Chắc ông Hank Paulson rất buồn.

Cuộc gặp “thượng đỉnh” giữa Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình (đại diện hai cường quốc mạnh nhất hành tinh) mà hai bên trông đợi và chuẩn bị rất công phu, cũng không giải quyết được bế tắc nào. Nó giống như một màn kịch được dàn dựng công phu nhưng kết thúc bằng “anti-climax” (mà không bên nào “lên đỉnh”).

Tại LHQ, ông Tập Cận Bình đã diễn xuất một cách khá ấn tượng bằng những lời hoa mỹ trong một bài diễn văn rất mỵ dân, và bằng một kiểu ngoại giao “ký séc” (checkbook diplomacy) mà trước đây người Nhật đã nổi tiếng. Ông Tập đã cam kết đóng góp 1 tỷ USD cho Quỹ phát triển TQ-LHQ (China-UN Development Fund), 100 triệu USD cho African Union để ứng phó với các trường hợp khẩn cấp, và 8000 quân cho lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ…

Chính sách ngoại giao dùng tiền để mua chuộc lòng người và xây dựng uy tín quốc tế vẫn còn tác dụng trong một thế giới đang khủng hoảng kinh tế. Nhưng về lâu dài, dùng tiền và sức mạnh để mua chuộc lòng người (charm offensive) không hiệu quả. Hiện nay, Trung Quốc có rất nhiều tiền và sức mạnh cứng, nhưng đáng tiếc lại thiếu sức mạnh mềm. Tại sao 64% người Trung Quốc có tài sản trên 1,6 triệu USD đã hoặc định di cư khỏi Trung Quốc? (Elizabeth Economy). Xu hướng này là gót chân Asin của Trung Quốc.

Khi mặt trời mọc lại

Có hai sự kiện sẽ đi vào lịch sử như bước ngoặt làm thay đổi cục diện địa chính trị tại khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Thứ nhất là Trung Quốc biến tranh chấp quần đảo Điếu Ngư (Senkaku islands) thành khủng hoảng quan hệ Trung-Nhật, áp đặt “khu vực nhận diện phòng không” (ADIZ) tại biển Hoa Đông (23/11/2013). Thứ hai là Trung Quốc đặt giàn khoan HD-981 tại vùng lãnh hải của Việt Nam tại Biển Đông (1/5/2014), xây đảo nhân tạo và hạ tầng quân sự, gây ra khủng hoảng quan hệ Trung-Việt và xung đột lợi ích Trung-Mỹ.

Hệ quả của các hành động vũ đoán này của Trung Quốc dường như không thể tính trước được (“unintended consequences”). Có lẽ Trung Quốc không hề muốn thúc đẩy Nhật Bản thay đổi Hiến pháp để tái vũ trang, và cũng không định xô đẩy Việt Nam trở thành đồng minh của Mỹ. Trước đây, nhắc đến Nhật Bản tái vũ trang và quân sự hóa là một điều cấm kỵ, không những đối với các nước láng giềng, mà còn đối với cử tri Nhật. Không một chính khách Nhật nào dám cả gan và dại dột như vậy, vì điều đó đồng nghĩa với tự sát chính trị.

Nhưng hiện nay chính điều đó đang diễn ra, biến điều không thể thành có thể, biến điều cấm kỵ thành chính đáng và được hoan nghênh. Thủ tướng Abe sẽ đi vào lịch sử như là Thủ tướng đầu tiên của Nhật từ sau Đại chiến II đã làm được một điều phi thường là thay đổi Hiến pháp để tái vũ trang, mở đường cho Nhật trở thành một cường quốc quân sự ở Đông Á. Tuy đây là ác mộng đối với Trung Quốc, nhưng chính sự đe dọa của Trung Quốc mới làm được điều này. Có lẽ người Nhật phải cám ơn người Trung Quốc đã tháo xích cho nước Nhật.

Nhưng có một lý do nữa đã thúc đẩy người Nhật ủng hộ ông Abe trong quá trình cải cách Hiến pháp để tái vũ trang, đó chính là “tiếng kèn ngập ngừng” của người Mỹ. Mặc dù chính quyền Obama nhận thức được sự trỗi dậy đầy thách thức của Trung Quốc đang đe dọa lợi ích của Mỹ và đồng minh ở Đông Á, và đang triển khai chính sách “xoay trục sang Châu Á” để cân bằng chiến lược và ngăn chặn Trung Quốc, nhưng hành động của Mỹ lại ngập ngừng, thiếu nhất quán  làm đồng minh lo ngại. Đã đến lúc Nhật Bản phải tự lo cho mình.

Trong khi một số nước trong khu vực sợ cái gậy (hay cần củ cà rốt) của Trung Quốc, nên phải có thái độ hai mặt, thì một số nước khác đẩy mạnh tái vũ trang và thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ để làm đối trọng với Trung Quốc. Vì ASEAN yếu và chia rẽ trước sự thao túng của Trung Quốc, nên cần một cơ chế an ninh tập thể mới ở Đông Á, trong đó Nhật Bản là nước có vai trò đầu tàu. Nói cách khác, vì Trung Quốc giơ gậy đe dọa và Mỹ lại chơi kèn ngập ngừng, làm Nhật lo ngại bức xúc, nên Mặt trời đang mọc lại ở Đông Á.

Trong bối cảnh đó, tam giác Mỹ-Trung-Việt càng trở nên nhạy cảm, không những ở Biển Đông mà còn ở cả khu vực Đông Á. Muốn tam giác Mỹ-Trung-Việt chuyển đổi theo hướng tích cực (Mỹ-Việt gần nhau hơn) để duy trì an ninh khu vực, thì cần sự hỗ trợ của một cơ chế an ninh tập thể mới ở Đông Á hiệu quả hơn ASEAN. Cơ chế này có thể bao gồm 5 nước thành viên nòng cốt (Japan, Korea, Vietnam, the Philippines, Indonesia) và 3 đối tác chiến lược (America, Australia, India) để hình thành một cơ chế mở: “5+3 security partnerships”.

Hãy cùng xoay trục

Muốn “xoay trục” để thoát Trung và tái cân bằng quan hệ với các nước lớn, Việt Nam phải dựa vào một liên minh mới do Mỹ-Nhật đứng đầu tại Đông Á, để làm đối trọng với Trung Quốc. Vai trò của Nhật tại Đông Á sẽ ngày càng quan trọng hơn, không những về hợp tác kinh tế, mà còn về hợp tác an ninh khu vực. Quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ và Nhật sẽ dựa trên khuôn khổ TPP cũng như cơ chế an ninh tập thể Đông Á.

Đã đến lúc Việt Nam phải xem xét lại chính sách ngoại giao “3 không”, vì không thể làm vừa lòng tất cả các bên (nhất là Trung Quốc). Một trong những vấn đề nổi cộm là vai trò của quân cảng Cam Ranh. Đối với Philippines, thì quân cảng Subic trở thành một điểm tựa quan trọng trong chiến lược xoay trục sang châu Á và tái cân bằng lợi ích an ninh của Mỹ. Đối với Việt Nam, thì quân cảng Cam Ranh cũng có ý nghĩa tương tự như vậy.

Một điều kiện tiên quyết để trở thành đối tác chiến lược với Mỹ và tham gia sân chơi TPP là cải thiện hồ sơ nhân quyền. Đây vừa là thỏa hiệp trước mắt theo “luật chơi” (rule of engagement) vừa là mục tiêu phát triển lâu dài của một quốc gia tiến bộ. Quốc hội Việt Nam trì hoãn việc thông qua dự luật về lập hội tuy là một hành động cụ thể nhưng có thể cản trở quá trình hợp tác chiến lược và dẫn đến hậu quả đáng tiếc nếu xung đột Trung-Việt xảy ra ngoài ý muốn. Các chuyên gia quân sự cảnh báo “giai đoạn cuối 2016 và đầu 2017 là thời cơ tốt nhất để Trung Quốc chiếm toàn bộ phần còn lại của Trường Sa” (Joshua Kurlantzick).

Trong cuộc họp báo chung với ông Tập Cận bình tại Nhà Trắng (25/9/2015) Tổng thống Obama đã bày tỏ “lo ngại đáng kể về việc lấn biển, xây dựng và quân sự hóa khu vực tranh chấp” và nhấn mạnh là Hoa Kỳ sẽ “tiếp tục dùng tàu thủy và máy bay đi qua và hoạt động ở bất cứ nơi nào mà công pháp quốc tế cho phép”. Nhưng nếu ông Obama không biến tuyên bố thành hành động, thì sẽ mất uy tín với đồng minh, và bị lãnh đạo Trung Quốc coi thường.

Theo Foreign Policy (2/10/2015) Bộ Quốc phòng Mỹ đã thúc giục Nhà Trắng bật đèn xanh cho chiến dịch “tuần tra vì quyền tự do lưu thông trên biển”, nhưng chưa được chấp thuận. Một trong những lý do khiến chính quyền Obama dè dặt, là không muốn gây sự cố trước chuyến thăm của Tập Cận Bình, trong bối cảnh hai nước đang có bất đồng nghiêm trọng.

Nhưng sau chuyến thăm của ông Tập, chính quyền Obama đã tỏ ra thất vọng và đang chuẩn bị những biện pháp cứng rắn hơn để đối phó với Trung Quốc. Theo Financial Times (8/10/2015) Hoa Kỳ sắp cho các chiến hạm đi đến gần các hòn đảo nhân tạo của Trung quốc ở Biển Đông. Một quan chức cao cấp của Hoa Kỳ nói rằng các chiến hạm này sẽ đi vào bên trong khu vực 12 hải lý mà Trung Quốc nói là lãnh hải của họ quanh những hòn đảo nhân tạo mà họ đã xây dựng ở Quần đảo Trường Sa, và việc này sẽ bắt đầu trong vòng hai tuần nữa…

Đô đốc Scott Swift (Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương) đã khẳng định tại Hội chợ Thái Bình Dương năm 2015 tại Sydney (8/10/2015), “hơn bao giờ hết, Hoa Kỳ kiên quyết duy trì cam kết sẽ bảo vệ quyền tự do hàng hải” và “Tự do hàng hải phải được duy trì bất chấp những tranh chấp chủ quyền biển đảo, bất chấp những vụ tranh chấp này kéo dài bao lâu và bất chấp các đảo này là do thiên nhiên tạo ra hay bàn tay con người tạo ra”.

Căn cứ vào Công ước LHQ về Luật Biển, thì 4 bãi ngầm Ga Ven (Gaven), Tư Nghĩa (Hughes), Vành Khăn (Mischief), Xu Bi (Subi) trước lúc tôn tạo, thuộc diện “bãi cạn lúc chìm lúc nổi” (Low-tide elevations), nên chỉ được quyền có hải phận 50 mét bao quanh. Ba bãi còn lại là Đá Châu Viên (Cuarteron), Chữ Thập (Fiery Cross) và Gạc Ma (Johnson) thì được coi là “đảo đá” (rocks), có lãnh hải 12 hải lý, nhưng không có vùng đặc quyền kinh tế.

Theo báo Diplomat (4/10/2015), có thể Mỹ sẽ chọn phương án cho tàu chiến tiến sâu vào bên trong vùng 12 hải lý quanh các thực thể như Xu Bi và Vành Khăn, vì là bãi cạn nửa chìm nửa nổi trước lúc được bồi đắp, nên chỉ được phép tối đa có 50 mét bao quanh. Hãy chờ xem Mỹ triển khai “xoay trục” như thế nào để đối phó với Trung Quốc (trước khi quá muộn).

16/10/2015

N.Q.D

Nguồn: http://viet-studies.info/kinhte/NQuangDy_TamGiacMyTrungViet.htm

Mỹ điều tàu áp sát đảo nhân tạo: Vai trò Việt Nam

Mỹ điều tàu áp sát đảo nhân tạo: Vai trò Việt Nam

Vũ Lan

Một thái độ chính trị nhập nhằng đến độ ngu xuẩn chưa từng thấy

Nếu ở trong một khung cảnh tự do như ở Mỹ, chắc chắn ông này sẽ bị công luận chỉ ngay vào mặt mà nói rằng: “Shut up! What the hell are you talking about?!” (Câm mồm lại! Ông đang nói cái gì mà ngu ngốc thế hả?!)

Thật đúng là “hết biết”!

Quân Tàu cướp nước đang “lộng giả thành chân”, biến đồ chơi thành đồ thật để áp đặt thô bạo quyền tự do hàng hải mà nạn nhân trực tiếp là tổ quốc Việt Nam mình. Nhưng bởi hèn nhát hay yếu thế sợ hãi không dám nói.

Nay có một tay hảo hớn phương xa, dám vung gươm phản kháng quân cường bạo Trung Hoa như Mỹ. Thế nhưng mình vẫn bị tâm lý sợ hãi và cầu an, vọt mồm bày tỏ thái độ nhập nhằng đến độ ngu xuẩn với lũ Tàu Ô cướp nước như thế. Bởi xuất phát từ ngu dốt, hèn nhát hay âm mưu bán nước đây?

Trần Kiêm Đoàn

(FB Trần Kiêm Đoàn)

Việt Nam không hoan nghênh bất cứ nước nào đi vào khu vực này nhằm mục đích làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp tại Biển Đông.

Trước thông tin, cho rằng Mỹ sẽ điều tàu tuần tra vào khu vực giới hạn 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo Trung Quốc xây trái phép ở Biển Đông, trao đổi với báo Đất Việt ngày 13/10, ông Lê Việt Trường – Phó chủ nhiệm Ủy ban an ninh quốc phòng cho biết, theo quy định của Luật biển Việt Nam mọi hoạt động của tàu quân sự của nước ngoài trong lãnh hải của Việt Nam đều phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

clip_image001

Mỹ thông báo điều tàu tuần tra vào khu vực giới hạn 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo phi pháp của Trung Quốc

Luật Biển Việt Nam đã quy định rất cụ thể về chế độ pháp lý về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.

Theo đó, tàu thuyền, máy bay nước ngoài trước khi có hoạt động trong vùng biển của Việt Nam cần tìm hiểu kỹ để thực hiện đúng quy định của Công ước 1982 của LHQ về Luật biển và Luật biển CHXHCN Việt Nam.

Việt Nam đã tham gia Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 ngày 25/7/1994 và tôn trọng quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải theo đúng quy định của Công ước.

Luật Biển Việt Nam quy định, “việc đi qua không gây hại trong lãnh hải không được làm phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn trên biển”.

Theo đánh giá của ông Trường, ý đồ của Mỹ tuy chưa rõ ràng nhưng nhiều khả năng Mỹ muốn chứng tỏ tầm ảnh hưởng cũng như khả năng kiểm soát khu vực này. Đây cũng là tín hiệu mà Mỹ muốn nhắn gửi cho đồng minh ngoài NATO của Mỹ trong khu vực để củng cố lòng tin ở Mỹ. Thực chất, động thái này không nằm ngoài chiến lược xoay trục sang khu vực Châu Á Thái Bình Dương của Chính phủ Brack Obama.

Tuy nhiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban ANQP khẳng định dù với tính toán, mục đích gì, Mỹ cũng cần phải góp phần bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định của khu vực, không làm phức tạp thêm tình hình.

“Việc Trung Quốc thực hiện các hoạt động tôn tạo, bối đắp các đảo, bãi đá ngầm, rạn san hô tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam) không được phép của Nhà nước Việt Nam là hành động phi lý và hoàn toàn không có giá trị, không thể hy vọng có được chế độ pháp lý theo Công ước của LHQ 1982 về luật biển, vì lịch sử của vấn đề là Trung Quốc đã thực hiện hành động chiếm đóng trái phép bằng vũ lực, hoàn toàn vi phạm luật pháp quốc tế.

Việt Nam mới là nước có quyền chủ quyền và quyền tài phán tại hai quần đảo này. Do đó, khi ra vào khu vực 12 hải lý ở các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, phía Mỹ phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam”, ông Trường nói.

Về phía Việt Nam, ông Trường khẳng định, Việt Nam luôn hoan nghênh tất cả các nước có sự quan tâm, chia sẻ, có tiếng nói và việc làm ủng hộ, góp phần việc bảo vệ hòa bình, ổn định ở khu vực Biển Đông nhưng phải dựa trên nguyên tắc tuân thủ luật pháp quốc tế. Việt Nam không hoan nghênh bất cứ nước nào đi vào khu vực này nhằm mục đích làm căng thẳng thêm, phức tạp thêm tình hình tranh chấp tại Biển Đông.

Ông cũng cho biết, đây mới là tuyên bố đơn phương từ phía Mỹ, tới nay Chính phủ Việt Nam chưa nhận được bất cứ một thông báo nào của nước này về hành động đưa tàu áp sát các khu vực đảo nhân tạo nói trên.

Ngày 13/10, báo chí nước ngoài dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter khẳng định, quân đội Mỹ có quyền đi lại trên biển và bay qua không phận những khu vực mà luật pháp quốc tế cho phép, bao gồm cả Biển Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tuyên bố ủng hộ giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình và phản đối các hành vi cưỡng chế, vi phạm các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế, có thể làm gia tăng căng thẳng ở các vùng biển, bao gồm cả Biển Đông.

Theo Reuters, thông điệp ông Carter đưa ra là sự phủ nhận rõ ràng đối với các hoạt động xây đảo nhân tạo phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông.

V. L.

Nguồn: http://m.baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/my-dieu-tau-ap-sat-dao-nhan-tao-vai-tro-viet-nam-3289037/

Nga sa lầy : Cơ hội cho một giải pháp chính trị với Syria

Nga sa lầy : Cơ hội cho một giải pháp chính trị với Syria

mediaMột SU-34 của không quân Nga trong chiến dịch oanh tạc ở Syria. Ảnh bộ Quốc phòng Nga công bố ngày 9,/10/ 2015,REUTERS/ FOR EDITORIAL USE ONLY. NO SALES

Nga không kích tại Syria, ngày 30/09/2015, mở màn cho một cuộc chiến không hứa hẹn nhiều triển vọng. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Nga sẽ bị sa lầy trong xung đột. Phương Tây, bị động với chiến dịch can thiệp Nga, chỉ có thể tham gia vào một giải pháp chính trị, một khi Nga chấp nhận đối diện với thực tế và hành xử có trách nhiệm. Trên đây là ghi nhận của nhiều nhà quan sát.

Không chỉ dùng phi cơ không kích « quân khủng bố », Matxcơva đã cho bắn hàng chục hỏa tiễn từ biển Caspie, cách Syria khoảng 1.500 km. Đây là một « thông điệp chính trị và chiến lược hết sức nghiêm trọng », theo nhận định của ông Thomas Gomart, giám đốc Viện quan hệ quốc tế Pháp (Ifri), được AFP trích dẫn. Trong thế bị động, phản ứng của Hoa Kỳ và các đồng minh dừng ở chỗ cáo buộc Matxcơva cố làm mọi cách để bảo vệ chế độ Bachar al-Assad, và cảnh báo sẽ có thêm nhiều tổn thất thiệt mạng.

Cũng như tại Gruzia năm 2008, hay Ukraina năm 2014, trong khủng hoảng Syria, lập trường của Phương Tây là tránh đụng độ với Nga. Trên chiến trường Syria hiện nay, có một sự phân định bất thành văn. Hai bên Nga và liên quân do Hoa Kỳ dẫn dắt, mỗi bên tự khẳng định « vùng ảnh hưởng riêng » : khu vực của Nga là tại miền tây Syria, căn cứ địa của chế độ Bachar al-Assad, còn miền đông Syria, liên quân tiếp tục hỗ trợ quân nổi dậy không kích tổ chức Nhà nước Hồi giáo.

Nguy cơ phe nổi dậy ôn hòa chạy theo IS

Chiến dịch quân sự của Nga không mang lại nhiều triển vọng lạc quan. Theo nhà phân tích Julien Barnes-Dacey, thuộc viện tư vấn chính sách đối ngoại Châu Âu (European Council on Foreign Relations), có trụ sở tại Luân Đôn, Matxcơva có một « trách nhiệm nặng nề » trong cuộc khủng hoảng tại Syria, bởi chiến dịch không kích mà Nga đang tiến hành có thể khiến một bộ phận « phe nổi dậy ôn hòa » đầu quân cho lực lượng Nhà nước Hồi giáo (IS), làm bùng lên không khí bạo lực thánh chiến Hồi giáo nói chung.

Theo chuyên gia viện tư vấn chính sách đối ngoại Châu Âu, Matxcơva có thể đóng vai trò tích cực cho việc giải quyết khủng hoảng bằng cách gây áp lực, buộc chính quyền Assad chấm dứt việc thả thuốc nổ, gây thiệt hại ghê gớm cho dân thường, và tạo điều kiện cho « các trợ giúp nhân đạo » đến được với người dân.

Chiến dịch can thiệp tại Syria, một chiến dịch quân sự ngoài biên giới đầu tiên của Matxcơva sau 1979, cho phép Nga trở lại vị trí trung tâm trong cục diện chính trị quốc tế. Kịch bản lạc quan nhất đối với Nga có thể xảy ra là chế độ Bachar al-Assad sẽ được củng cố, qua đó Nga giữ vững được lợi ích chiến lược tại khu vực, và đứng trên thế mạnh trong các thương lượng. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, không có gì bảo đảm là Matxcơva sẽ giành thắng lợi trong cuộc chiến này.

Cuộc chiến Nga -Tchetchenia lần thứ ba

Ngay sau khi Nga mở màn chiến dịch không kích tại Syria, truyền thông nói nhiều đến một « cuộc chiến tranh Thế giới thứ Ba » có thể đã bắt đầu. Nhưng có một « cuộc chiến thứ ba khác » ít được để ý hơn, đó là xung đột tái diễn giữa Nga và người Tchetchenia, sau hai cuộc chiến tranh 1994-1996 và 1999. Cuộc chiến thứ hai sau đó đã lan sang nhiều nước cộng hòa tự trị thuộc vùng Kavkaz, với nhiều dân cư theo đạo Hồi.

Theo AFP, tấn công vào vị trí của lực lượng Al-Norsa tại Lattaquié, Alep, Idleb, không quân Nga đã nhắm vào hàng nghìn chiến binh gốc Tchetchenia, và Kavkaz nói chung. Khu vực phía bắc Syria, cũng là nơi tập hợp nhiều cộng đồng thiểu số gốc Kavkaz, định cư tại đây từ 1870-1880, do chiến tranh Nga -Thổ. Tổng thống Nga Vladimir Putin từng tuyên bố : cần phải « đánh nhanh, tiêu diệt các chiến binh, quân khủng bố trên các vùng lãnh thổ do chúng kiểm soát, và không đợi chúng xâm nhập vào đất nước chúng ta ». Can thiệp quân sự khẩn cấp của Nga vừa diễn ra phải chăng là để ngăn ngừa nguy cơ khủng bố ngay trên đất Nga ?

Phương Tây chờ đợi thái độ thực tế của Tổng thống Nga, một khi việc sử dụng vũ lực ồ ạt không đạt được hiệu quả. Theo nhà nghiên cứu Pháp Camille Grand, giám đốc Quỹ nghiên cứu chiến lược (FRS), Paris, sa lầy trên chiến trường, lúc đó chắc chắn ông Putin sẽ tìm cách thương lượng, giống như với cuộc xung đột tại miền đông Ukraina trước đây. Một số chuyên gia khác cho rằng, trong trường hợp này, kinh nghiệm đàm phán về hạt nhân Iran vừa qua, với phương thức 5+1, sẽ tỏ ra rất hữu ích.

Làm giả hài cốt liệt sĩ, ‘cậu Thủy’ lĩnh án chung thân

Làm giả hài cốt liệt sĩ, ‘cậu Thủy’ lĩnh án chung thân

VOA

17.10.2015

Một tòa án ở miền Trung Việt Nam hôm 16/10 kết án tù chung thân ông Nguyễn Văn Thúy, hay còn gọi là ‘cậu Thủy’, với tội danh làm giả hài cốt liệt sĩ.

Chánh án Võ Ngọc Mậu cho biết, ông Nguyễn Văn Thúy bị kết án tù chung thân với tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội xâm phạm mồ mả, hài cốt.

Vợ ông Thúy và 4 người thân khác nhận mức án từ 5-23 năm tù với cùng tội danh. Bị cáo còn lại nhận mức 1 năm tù treo với tội danh xâm phạm mồ mả.

“Hành vi phạm tội của họ rất nghiêm trọng. Nó làm tổn thương gia đình của các binh sĩ tử trận và làm tổn thương quốc gia nói chung”, Chánh án Mậu cho hãng tin AP biết qua điện thoại từ Quảng Trị.

Hơn 1 triệu lính Việt Nam đã thiệt mạng trong chiến tranh. Ít nhất 200 nghìn hài cốt các binh lính chưa được tìm thấy, trong khi có khoảng 300 nghìn tử sĩ được chôn trong các nấm mồ vô danh.

Thẩm phán cho biết, 7 bị cáo đã lấy trộm hơn 70 bộ hài cốt trong những nấm mộ vô danh từ một số nghĩa trang liệt sĩ và lập mộ giả cùng những vật dụng cá nhân như bình đựng nước, mũ cối và làm giả tên của các liệt sĩ mà gia đình họ đang tìm kiếm.

‘Cậu Thủy’, người tuyên bố có sức mạnh huyền bí, đã cùng đồng bọn lừa đảo hơn 7 tỉ đồng (khoảng 360 nghìn đôla) từ quỹ từ thiện được lập bởi Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam và hơn 1 tỉ đồng (khoảng 51 nghìn đôla) từ 12 gia đình liệt sĩ bằng cách thu phí để tìm những người lính đã chết và mất tích, vị thẩm phán này cho biết.

Báo Người Lao Động nhà nước trích dẫn một trong những người bị lừa đảo, bà Nguyễn Thị Tính, nói với tòa án rằng gia đình rất hạnh phúc khi tìm thấy hài cốt của cha bà, nhưng đã bị sốc khi phát hiện sự lừa đảo.

Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Thị Tính (ngụ tỉnh Bắc Ninh, con của liệt sĩ Nguyễn Văn An) cho biết khi nhỏ, bà thường thấy mẹ mất ngủ vì nhớ thương người chồng đã hy sinh nhưng chưa tìm được hài cốt. Lớn lên, bà quyết thực hiện tâm nguyện là tìm cho được mộ cha mình. Bà Tính tìm đến ‘cậu Thủy’ nhờ giúp đỡ và được ông phán rằng phần mộ cha bà đang ở Tây Nguyên.

“Vào Gia Lai tìm mộ cùng ông Thúy, khi đào lên, ai cũng thừa nhận đó là phần mộ của cha tôi vì có kỷ vật ghi tên liệt sĩ, đơn vị. Do không biết mình bị lừa, tôi đã trả công cho họ trên 100 triệu đồng” – bà Tính nói.

Chánh án Võ Ngọc Mậu đã yêu cầu 7 bị cáo phải bồi thường cho ngân hàng và các gia đình bị hại.

Theo AP, ABC, VOV, Người lao động.

 

Những Viên Gạch Bị Lãng Quên

Những Viên Gạch Bị Lãng Quên

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Người ta nghĩ rằng công an Việt Nam đã bắt cóc ông Lê Trí Tuệ, một trong những sáng lập viên của Công Đoàn Độc Lập Việt Nam.

HRW

Từ Vọng Các, hôm 7 tháng 10 năm 2015, biên tập viên Gia Minh đã gửi đến thính giả/độc giả của RFA một bài tường thuật (“Công Nhân Việt Nam và TPP”) với nội dung hơi bất ngờ:

Trong khi truyền thông nhà nước loan tin khá nhiều về kết quả đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương và những cơ hội cho Việt Nam khi tham gia một khối mậu dịch tự do lớn như thế; thì đa số những công nhân tại các tỉnh thành khi được hỏi về TPP đề tỏ ra ngơ ngác không biết gì.

Một nữ công nhân tại Quảng Nam cho biết cô đang làm việc cho một công ty tư nhân. Giờ làm việc từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều; và mỗi tuần tăng ca 5 ngày cho đến 8 giờ tối. Lương tháng được 3 triệu tám trăm ngàn đồng. Sau khi làm việc cô về nhà trọ nghỉ ngơi, chẳng có giờ để đọc báo; còn TV thì không có. Cô chỉ biết mỗi tháng đóng 10 ngàn tiền công đoàn phí; còn chuyện công đoàn có bảo vệ quyền lợi cho công nhân hay không thì cô không biết; và nếu thấy công việc đang làm quá nặng nhọc thì bỏ đi tìm nơi khác có mức lương cao hơn; chứ tại nơi cô làm lâu nay ở Quảng Nam chưa có chuyện công nhân đình công để đòi quyền lợi. Khái niệm TPP đối với cô hoàn toàn xa lạ vì chưa bao giờ được nghe đến:

“Em cũng không biết nữa, khi mô tới hãy hay chứ giờ có biết gì đâu!”

Một nữ công nhân ở Nghệ An cũng cho biết hiện cô phải đóng một tháng 15 ngàn đồng tiền công đoàn phí; và tin tức về một công đoàn độc lập đối với cô cũng chưa bao giờ được nghe đến:

“Lâu nay em không nghe nói gì hết! Em cũng không có gì để hiểu được vấn đề đó.”

Tâm trạng “ngơ ngác” này hoàn toàn tương phản với nội dung của bức tâm thư ( “Nỗi Niềm Khóc Hận Thương Tâm Của Tầng Lớp Công Nhân Lao Động Nhập Cư Nghèo Từ Các Tỉnh Về Thành Phố”) đã gửi đến Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam – hơn mười năm trước – với 8 điểm đề nghị rất rạch ròi, và  thẳng thắn như sau:

1. Trả lương cho chúng tôi theo đúng hợp đồng của nhà nước Việt Nam với các nhà đầu tư, thương gia nước ngoài có công ty xí nghiệp tại Việt Nam theo mức giá đồng USD thị trường.

2. Mức lương phải ngang bằng các công nhân các nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia…

3. Dẹp bỏ Công đoàn do đảng (CS) xây dựng đưa vào các công ty xí nghiệp.

4. Không được phát triển đoàn, đảng trong hệ thống công nhân chúng tôi, để rồi quay lại đàn áp chúng tôi. Vì chúng tôi chỉ là những người đi làm mướn làm thuê bình thường, không muốn tham gia chính trị, chúng tôi không muốn hệ thống độc tài độc quyền đeo đẳng chúng tôi, vì chúng tôi đã quá khổ rồi.

5. Chúng tôi có quyền tự hợp đồng lao động cá nhân và tập thể khi đã dẹp bỏ hệ thống công đoàn, vì tổ chức công đoàn không đem lại quyền lợi thiết thực cho chính người công nhân chúng tôi, mà chính họ lại ăn theo phần trăm sản xuất của chúng tôi, và mỗi khi chúng tôi muốn đòi hỏi quyền lợi chính đáng phải được sự đồng ý của công đoàn là phi lý.

6. Chúng tôi không phải đóng góp những khoản tiền như xoá đói giảm nghèo và các loại tiền do Công đoàn phát động và trừ thẳng vào lương của chúng tôi như trước đây đã có.

7. Chúng tôi phải được quyền lợi như: bảo hiểm y tế, tiền lương hưu sau khi hết độ tuổi lao động, bảo hiểm tai nạn lao động rủi ro.

8. Chúng tôi có quyền hội họp riêng tư, có quyền lập hội, gây quỹ, có quyền đấu tranh, có quyền đình công đòi hỏi các quyền lợi chính đáng, phù hợp mức lương, tương xứng với công sức lao động. Những đòi hỏi ước vọng này, chúng tôi được thực hiện cũng không gây ảnh hưởng kinh tế thị trường và nền an ninh, như nhà nước và bộ phận công an thường cho là thế lực thù địch gây ảnh hưởng kinh tế quốc gia…

Trân trọng kính chào…

Kết quả, hay nói cho chính xác hơn là hậu quả, của những nỗi niềm thương tâm (thượng dẫn) có thể đọc được trên báo Công An Nhân Dân:

“Sáng 26/10/2010, TAND tỉnh Trà Vinh đã mở phiên xét xử Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đỗ Thị Minh Hạnh với tội danh ‘phá rối an ninh trật tự nhằm chống lại chính quyền nhân dân’ theo Điều 89 Bộ Luật Hình sự…

Cuối giờ chiều cùng ngày, tòa đã tuyên phạt Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm tù giam, Đỗ Thị Minh Hạnh và Đoàn Huy Chương, mỗi người 7 năm tù giam.”

Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương. Ảnh: huynhngocchenh.blogspot

Thê thảm hơn nữa là những tai họa đã xẩy ra cho ông Lê Trí Tuệ, người có chức danh là Phó Chủ Tịch Công Đoàn Độc Lập Việt Nam. Vào ngày 20 tháng 11 năm 2006, nhân vật này đã gửi đến tất cả những cơ quan, cũng như mọi giới chức có thẩm quyền ở Việt Nam một lá đơn (tường trình và tố cáo) dài 1438 chữ. Phần đầu – và cũng là phần chính, gồm 444 chữ – xin được trích dẫn nguyên văn:

Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa ViệtNam
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Đơn Tường Trình & Tố Cáo

V/v Công an TP. Hồ Chí Minh, liên tục đàn áp, thẩm vấn, tạm giữ người tại cơ quan công an Quận 4, TP. Hồ Chí Minh chỉ vì tôi thực thi những nhân quyền cơ bản của mình.

Tôi tên là: Lê Trí Tuệ.
Sinh ngày 26/07/1979 Tại Hải Phòng.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: 942 Tôn Đức Thắng – Sở Dầu –Hồng Bàng – TP. Hải Phòng.
Điện thoại: 0982.152.619, 0912.530.615

Chức vụ:
Hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Trí Tuệ
Phó Chủ tịch Công đoàn Độc lập Việt Nam.

Kính thưa các quý vị lãnh đạo Nhà nước CHXHCN Việt Nam và các cơ quan truyền thông, báo chí trong và ngoài nước,

Căn cứ vào Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc năm 1948;

Căn cứ vào Tuyên ngôn Nguyên tắc Tổng Liên đoàn Lao công Thế giới [Tuyên ngôn này đã được chấp thuận chung, trong Đại hội kỳ thứ 16 của Tổng Liên đoàn Lao động Thế giới ILO (International Labor Organizations), họp tại Luxembourg, từ ngày 1 đến 04 tháng 10 năm 1968];

Căn cứ vào Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992. Điều 53 và điều 69 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) nêu rõ:

“Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước trưng cầu dân ý.”

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

Căn cứ vào những viện dẫn trên đây, làm cơ sở pháp lý dẫn tới sự ra đời và cơ sở thành lập Công đoàn Độc lập Việt Nam, tuyên bố thành lập vào ngày 20/10/2006 tại Hà Nội.

Hiện nay chúng tôi đang làm thủ tục đăng ký, để từng bước hợp hiến và hợp pháp theo quy định. Nhưng đáng tiếc thay tôi thường xuyên phải bị triệu tập lên cơ quan công an Quận 4, TP. Hồ Chí Minh để làm việc,bị cản trở quyền tự do đi lại của công dân, cản trở hoạt động khiếu nại tố cáo, ngăn cấm hoạt động xã hội, bảo vệ quyền con người cho nhân dân Việt Nam…

Lê Trí Tuệ mất tích tại Campuchia vào ngày 16 tháng 5 năm 2007. Ảnh: RFA

Ông bị tạm giữ vào hôm 29 tháng 03 năm 2007, bị ép buộc phải lên tiếng công khai giải tán công đoàn này. Lê Trí Tuệ từ chối và bỏ trốn sang Cambodia, sau khi bị đánh đập tàn tệ nhiều lần ngoài đường phố. Rồi ông đột ngột “biến mất” kể từ ngày 16 tháng 5 năm 2007 cho mãi đến hôm nay! Theo bản tin của HRW, gửi đi vào ngày 4 tháng 5 năm 2009: “Người ta nghĩ rằng công an Việt Nam đã bắt cóc ông Lê Trí Tuệ, một trong những sáng lập viên của Công Đoàn Độc Lập Việt Nam.”

Thời gian, may thay, đã không về phe với những kẻ đang nắm quyền bính ở quyền Việt Nam. Trang BS Hồ Hải vừa hân hoan gửi đi một tin mừng:

Văn bản tóm tắt Hiệp định thương mại xuyên Thái bình dương mà 12 quốc gia thành viên vừa hoàn tất phần xác trong ngày 05/10/2015 giờ miền Đông Bắc Hoa Kỳ gồm 30 chương. Mỗi chương là một lĩnh vực khác nhau. Đây là một văn bản luật cơ bản. Nó như hiến chương thương mại, kinh tế chính trị cho riêng 12 quốc gia tham gia...

Hôm nay tôi xin dịch chương 19, là chương rất quan trọng đối với các quốc gia như Việt Nam. Mặc dù, nó đã được nhiều tổ chức chính thống của đảng cầm quyền ở Việt Nam dịch ra, nhưng một số mệnh đề bị dịch sai hoặc bỏ đi một cách cố ý của bản quan trọng về quyền của người lao động…

CHƯƠNG 19: LAO ĐỘNG

Tất cả các quốc gia thành viên TPP đều là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO: International Labour Organization) và các thành viên đã công nhận tầm quan trọng của việc thúc đẩy các quyền của người lao động đã được quốc tế công nhận. Các quốc gia thành viên của TPP nhất trí thông qua và duy trì trong luật của họ và thực hiện các quyền lao động cơ bản được ghi nhận trong Tuyên bố ILO năm 1998, cụ thể là quyền tự do lập hội và quyền đàm phán tập thể; xóa bỏ lao động cưỡng bức; bãi bỏ lao động trẻ em và việc cấm các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; và loại bỏ phân biệt đối xử trong việc làm. Các quốc gia thành viên TPP cũng đồng ý có luật điều chỉnh tiền lương tối thiểu, giờ làm việc, và sự an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. 

Sự kiện này đã gây ra nhiều lời đám tiếu:

  • Blogger Nguyễn Vạn Phú : “… điều mỉa mai là Việt Nam phải trông chờ vào một hiệp định ký với các nước tư bản để các nước tư bản này gây sức ép buộc Việt Nam phải bảo vệ công nhân của mình, không để giới chủ bóc lột quá đáng!”
  • Blogger Ôsin: “Thật nực cười khi, chỉ khi chịu sức ép của ‘các nước tư bản’, ‘đảng của giai cấp công nhân’ mới (có thể) thừa nhận các quyền căn bản của công nhân.”

Điều “mỉa mai” và “nực cười” hơn nữa là dường như không còn ai còn nhớ gì đến số phận bi thảm của Lê Trí Tuệ, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, và Nguyễn Tấn Hoành – những thanh niên Việt Nam quả cảm và viễn kiến, những viên gạch lót đường cho tổ chức CĐĐLVN đang bị giam cầm hay dấu kín ở một nơi nào đó.