Đại nạn Trung Hoa thời trung sử (bài 2)

Đại nạn Trung Hoa thời trung sử (bài 2)

Trần Gia Phụng

Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán (Trung Hoa) tại Bạch Đằng Giang năm 938 (mậu tuất) và xưng vương năm 939 (kỷ hợi), đóng đô ở Cổ Loa (thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay). Từ đây, nước Việt vĩnh viễn thoát ra khỏi cảnh đô hộ của Trung Hoa, nhưng các triều đình Trung Hoa vẫn tiếp tục nhiều lần đem quân sang xâm lấn nước Việt.

Lần thứ nhất (981)

Sau cuộc đảo chánh không đổ máu lật đổ nhà Đinh (968-980), Lê Hoàn lên làm vua năm 980 (canh thìn), tiếp tục đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Về sau, ông thường được sử sách gọi là Lê Đại Hành.

Biết tình hình Đại Cồ Việt (quốc hiệu từ thời vua Đinh Tiên Hoàng) đang xáo trộn vì chuyện đổi ngôi, vua Trung Hoa là Tống Thái Tông (trị vì 976-997) sai sứ đem thư qua khuyến dụ và đe dọa. Lê Hoàn (trị vì 980-1005) lấy danh nghĩa con của vua Đinh Tiên Hoàng là Vệ Vương Đinh Toàn, xin nhà Tống (Sung, 960-1279) cho nối ngôi vua cha. Tuy nhiên triều đình nhà Tống nắm rõ tình thế nước Nam, biết Lê Hoàn đã giành ngôi của Đinh Toàn, con của Đinh Tiên Hoàng, nên sai người đem một thư khác qua nói rằng “…Họ Đinh truyền nối được ba đời [ý chỉ Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn, Đinh Toàn], trẫm muốn cho Đinh Toàn làm thống súy, khanh [chỉ Lê Hoàn] thì làm phó. Nếu Đinh Toàn không đáng tướng tài, hãy còn tính khí trẻ con thì nên cho ngay mẹ con và thân thuộc y sang đây…”

Lê Hoàn biết không thể tiếp tục thương lượng, nên chỉ còn con đường duy nhất là chuẩn bị lực lượng để kháng Tống. Trong khi đó, quân Tống chia làm hai đường thủy bộ tiến vào nước ta năm 981 (tân tỵ). Đường bộ do Hầu Nhân Bảo cùng Tôn Toàn Hưng tiến theo ngả Lạng Sơn, còn đường thủy do Trần Khâm Tộ và Lưu Trừng từ mặt biển tiến vào bằng đường sông Bạch Đằng.

Trên đường bộ, Hầu Nhân Bảo tiến đến Chi Lăng (Lạng Sơn), trúng phải kế trá hàng, lọt vào vùng phục kích của quân Việt, và bị bắt giết. Quân Việt phản công mạnh mẽ, quân Tống thiệt hại nặng, hai bộ tướng của Hầu Nhân Bảo là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt. Sau trận Chi Lăng, các lực lượng thủy bộ của nhà Tống đều rút lui.

Tuy chiến thắng, Lê Hoàn vẫn phải sai sứ, dưới danh nghĩa của vua Đinh Toàn, sang nhà Tống năm 982 (nhâm ngọ) xin trả lại hai tướng đã bắt được, và xin triều cống. Nhà Tống chỉ phong cho Lê Hoàn làm tiết độ sứ. Mãi đấn hơn 10 năm sau vào năm 993 (quý tỵ), Lê Hoàn mới sai sứ giả trình bày với vua Tống rằng Đinh Toàn quyết định nhường ngôi cho mình. Tống Thái Tông (trị vì 976-997) biết việc Lê Hoàn nắm quyền đã lâu, nhưng không có cách gì khác hơn, nên sai sứ sang phong Lê Hoàn làm Tĩnh Hải Quân tiết độ sứ Giao Chỉ Quận Vương.

Lần thứ hai (1076-1077)

Trong thời gian nầy nhà Tống tiếp tục cai trị Trung Hoa. Vua Tống Thần Công (trị vì 1068-1085) phong cho Vương An Thạch (Wang An Shi) làm tể tướng năm 1069. Vương An Thạch (1021-1086) muốn mưu tìm một chiến công ở ngoài biên cương để hỗ trợ chính sách cải cách ở trong nước của ông ta, chuẩn bị tấn công Đại Việt.

Tại Đại Việt, nhà Lý (1010-1225) đã khá vững vàng. Triều đình vua Lý Nhân Tông (trị vì 1072-1127) biết được tin nầy, liền quyết định ra tay trước. Tháng 11 năm ất mão (1075), triều đình cử Lý Thường Kiệt đánh Khâm Châu và Liêm Châu (thuộc Quảng Đông ngày nay); và cử Tôn Đản đánh Ung Châu (tức Nam Ninh thuộc Quảng Tây ngày nay) tháng giêng năm bính thìn (1076). Sau khi hạ thành, cả hai ông cho bắt người, lấy của rồi rút lui về Đại Việt.

Tháng chạp năm bính thìn (đầu năm 1077), Tống Thần Tông sai Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ và Triệu Tiết làm Phó chiêu thảo sứ, đem quân sang trả thù. Lý Thường Kiệt chận quân Tống ở sông Như Nguyệt (sông Cầu chảy qua xã Như Nguyệt, Bắc Ninh).

Quách Quỳ chuyển quân đến sông Phú Lương (khúc sông Hồng ở Thăng Long). Lý Thường Kiệt tiếp đánh, nhưng thế giặc rất mạnh. Máy bắn đá của địch phá chiến thuyền Việt, và làm cho nhiều binh sĩ nước ta tử trận. Sợ binh sĩ nãn lòng, Lý Thường Kiệt phao tin có thần nhân báo mộng và cho bốn câu thơ (bằng chữ Nho):

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư ”
Có người dịch là:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Quân lính nghe được những câu thơ nầy, đều hăng hái đánh giặc. Lực lượng nhà Tống bị chận đứng. Hai bên cầm cự với nhau bất phân thắng bại. Triều đình nhà Lý đề nghị bãi binh. Nhà Tống thấy khó thắng, đồng thời binh sĩ ở lại lâu, không hạp thủy thổ, đành chấp thuận. Như thế, cuộc xâm lăng của nhà Tống đầu năm 1077 bắt nguồn từ việc Lý Thường Kiệt cầm quân gây hấn nhà Tống một năm trước đó.

Lần thứ ba (1258)

Phía tây bắc Trung Hoa, tại Mông Cổ, đại hãn Mông Kha (Mangu, trị vì 1251-1259) cử em là Hốt Tất Liệt (Qubilai) cầm quân tấn công Trung Hoa năm 1251. Hốt Tất Liệt sai đại tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqadai), cầm một cánh quân đánh chiếm nước Đại Lý ở Vân Nam năm 1257. Ngột Lương Hợp Thai sai sứ sang yêu cầu Đại Việt thần phục Mông Cổ, nhưng vua Đại Việt lúc đó là Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258) không chịu.

Ngột Lương Hợp Thai liền theo đường sông Thao, tiến quân đánh nước Việt tháng 12 năm đinh tỵ (qua năm 1258). [Sông Thao là tên gọi đoạn sông Hồng từ biên giới Hoa Việt đến ngã ba sông Hồng và sông Đà.] Không chịu nổi sức tấn công vũ bão của quân Mông Cổ, Trần Thái Tông bỏ kinh đô Thăng Long rút về Hưng Yên, cách Thăng Long khoảng 60 km về phía nam. Quân Mông Cổ chiếm Thăng Long, cướp phá giết hại người Việt không kể già trẻ lớn nhỏ.

Trước thế nguy, Trần Thái Tông hỏi ý kiến của Trần Thủ Độ nên hòa hay chiến. Ông cương quyết trả lời: “Đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo.” Chẳng bao lâu, quân Mông Cổ không quen thời tiết nước ta, bị bệnh tật mỏi mệt. Trần Thái Tông ra lệnh phản công, đánh đuổi quân Mông Cổ về lại Trung Hoa.

Lần thứ tư (1285)

Năm 1259, Mông Kha từ trần. Hốt Tất Liệt được hội đồng quý tộc Mông Cổ bầu lên làm đại hãn năm 1260. Hốt Tất Liệt tức Nguyên Thế Tổ (trị vì 1260-1294), đổi quốc hiệu là Nguyên (Yuan), đem quân xâm chiếm hoàn toàn nước Trung Hoa vào năm 1279.(1)

Trong khi đó, tại nước ta, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng, lên làm thái thượng hoàng năm 1258 (mậu ngọ). Trần Hoảng lên ngôi tức Trần Thánh Tông (trị vì 1258-1278). Thượng hoàng Thái Tông từ trần năm 1277 (đinh sửu). Thánh Tông lên làm thái thượng hoàng, và nhường ngôi cho thái tử Trần Khâm năm 1278 (mậu dần) tức Trần Nhân Tông (trị vì 1278-1293).

Nguyên Thế Tổ sai sứ là Sài Thung (Chai Chong) sang Đại Việt cuối năm 1278, hỏi vua Trần Nhân Tông tại sao không xin phép nhà Nguyên mà tự tiện lên ngôi? Sài Thung còn buộc nhà vua phải sang chầu hoàng đế nhà Nguyên mới được yên việc. Trần Nhân Tông tiếp sứ tử tế, nhưng cương quyết không chịu sang chầu nhà Nguyên.

Năm 1282 (nhâm ngọ), nhà Nguyên cử sứ sang nói rằng nếu vua nhà Trần không sang Trung Hoa, thì cho người đại diện sang chầu. Trần Nhân Tông cử chú họ là Trần Di Ái cầm đầu phái đoàn sang triều đình nhà Nguyên. Nguyên Thế Tổ lập tòa tuyên phủ ty, đặt quan để sang giám trị các châu huyện nước ta. Nhân Tông không nhận, trả họ về Trung Hoa. Nguyên Thế Tổ liền phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, và sai Sài Thung đem 1,000 quân, hộ tống Trần Di Ái về nước. Sài Thung đi vào bằng đường Lạng Sơn. Quân nhà Trần chận đánh; Sài Thung bị bắn mù một mắt, phải quay về nước, còn Trần Di Ái bị bắt.

Lúc đó, Nguyên Thế Tổ muốn bành trướng xuống Đông Nam Á, nhân cơ hội nầy, phong cho con là Thoát Hoan (Toyan) làm Trấn Nam Vương, lấy cớ mượn đường xuống Chiêm Thành, đem quân tấn công nước Việt tháng 12 năm giáp thân (qua năm 1285). Lần nầy quân Nguyên tấn công bằng hai đường: Thoát Hoan từ phía bắc đánh xuống, Toa Đô (Sogatu) đã qua đánh Chiêm Thành bằng đường biển từ năm 1282, nay quay ngược trở lên đánh Đại Việt.

Thoát Hoan dẫn quân qua ải Chi Lăng (Lạng Sơn), nhắm Thăng Long trực chỉ. Tướng Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Vương) lui về Vạn Kiếp (Hải Dương, nơi sông Lục Nam và sông Thương gặp nhau). Trần Nhân Tông cho người mời Trần Quốc Tuấn đến bảo: “Thế giặc mạnh như vậy, ta hãy chịu hàng để cứu muôn dân.” Trần Quốc Tuấn trả lời: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước hãy hàng.”

Quân Mông Cổ đánh hạ Vạn Kiếp, tiến chiếm Thăng Long. Trần Quốc Tuấn rước vua về phía nam, xuống Thanh Hoa (sau nầy là Thanh Hóa). Toa Đô từ Chiêm Thành đem quân tiến lên, bị Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (em vua Thánh Tông) chận đánh ở cửa Hàm Tử (Đông An, Hưng Yên). Trần Quốc Tuấn liền đề nghị nhân đà thắng lợi nầy, tung quân khôi phục kinh thành. Trần Nhân Tông sai thượng tướng Trần Quang Khải (em vua Thánh Tông, anh của Nhật Duật) cùng với Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, đem quân từ Thanh Hoa đi vòng theo đường biển, ngược sông Hồng tiến đánh quân Mông Cổ tại bến Chương Dương (khu vực Thăng Long), rồi lên bộ bao vây thành Thăng Long. Thoát Hoan thua chạy lên Kinh Bắc. Trong khi đó, Trần Quốc Tuấn đánh Toa Đô tại Tây Kết (vùng Hưng Yên ngày nay). Toa Đô bị giết, Ô Mã Nhi (Omar) bỏ trốn. Trần Quốc Tuấn tiếp tục phản công, sai hai tướng Nguyễn Khoái và Phạm Ngũ Lão phục binh đánh tan quân Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, trước khi Thoát Hoan trốn về nước.

Lần thứ năm (1288)

Tức giận về sự thất bại vừa qua, Nguyên Thế Tổ cử Thoát Hoan một lần nữa cầm quân qua đánh phục thù vào tháng 11 năm đinh hợi (1287). Quân nhà Nguyên tiến vào nước ta bằng ba hướng: ở giữa, Thoát Hoan tiến xuống Lạng Sơn; phía tây, một cánh quân từ Vân Nam theo đường sông Hồng tràn vào, do Ái Lỗ (Aruc) chỉ huy; và phía đông do Ô Mã Nhi đi trước, vượt biển Đông tiến vào sông Bạch Đằng. Theo sau có Trương Văn Hổ tải 17 vạn thạch lương cung cấp cho quân sĩ.

Lực lượng nhà Trần vẫn do Trần Quốc Tuấn tổng chỉ huy. Thoát Hoan chiếm Vạn Kiếp, sai Ô Mã Nhi theo sông Lục Đầu đánh xuống Thăng Long. Thượng hoàng cùng vua Trần Nhân Tông phải vào Thanh Hoa lánh nạn. Quân Mông Cổ đốt phá Thăng Long rồi rút lui về Vạn Kiếp.

Ô Mã Nhi đem chiến thuyền trở ra biển đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Ngang qua Vân Đồn (Quảng Yên, nay là Vân Hải, Quảng Ninh), Trần Khánh Dư chận đánh, nhưng quân Việt bị thua. Gặp được thuyền lương, Ô Mã Nhi cùng Trương Văn Hổ quay trở vào đất liền. Rút kinh nghiệm vừa qua, Trần Khánh Dư để cho Ô Mã Nhi mở đường đi trước, đợi đến khi Trương Văn Hổ tải lương theo sau, Trần Khánh Dư mới đổ phục binh, cướp hết lương thực và khí giới. Trương Văn Hổ bỏ trốn về Trung Hoa.

Quân Nguyên càng ngày càng cạn lương thực. Thoát Hoan kiếm cách cầu viện triều đình nhà Nguyên, nhưng Trần Quốc Tuấn đã cho chận các đường giao thông ở Lạng Sơn. Thoát Hoan liền quyết định rút quân. Tháng 3 năm mậu tý (1288) Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi xuôi sông Bạch Đằng, ra biển về trước. Trần Quốc Tuấn theo kế Ngô Quyền trước kia, sai Nguyễn Khoái dùng cọc gỗ đẽo nhọn rồi bịt sắt và cắm giữa dòng sông. Nguyễn Khoái lừa Ô Mã Nhi đến chỗ phục binh có đóng cọc, đổ quân tấn công khi thủy triều xuống. Trần Quốc Tuấn lại tăng viện, đánh tan chiến thuyền Mông Cổ, và bắt sống Ô Mã Nhi.

Được tin nầy, Thoát Hoan liền theo đường bộ rút quân về Trung Hoa. Dọc đường quân Mông Cổ bị chận đánh một vài nơi, nhưng cuối cùng Thoát Hoan cũng thoát được. Trần Quốc Tuấn hội các tướng, dẫn quân rước vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông trở về Thăng Long.

Lần thứ sáu (1407)

Năm 1400 (canh thìn), đại thần Lê Quý Ly tức Hồ Quý Ly lật đổ vua Trần Thiếu Đế (trị vì 1398-1400), chấm dứt nhà Trần. Nhà Trần bắt đầu từ vua Thái Tông (trị vì 1225-1258) đến vua Thiếu Đế, truyền được mười hai đời, trong 175 năm.

Lê Quý Ly lên làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Đại Ngu, lấy lại họ Hồ là họ của tổ tiên ông, tức Hồ Quý Ly. Làm vua được một năm, Hồ Quý Ly lên làm thái thượng hoàng, nhường ngôi lại cho con là Hồ Hán Thương (trị vì 1401-1407).

Trong khi đó, bên Trung Hoa, Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398) qua đời năm 1398, cháu nội lên kế vị là Minh Huệ Đế (trị vì 1399-1403). Huệ Đế làm vua chẳng được bao lâu thì bị người chú, con của Minh Thái Tổ, lật đổ và thay thế, tức Minh Thành Tổ (trị vì 1403-1424). Minh Thành Tổ là một người đầy tham vọng, còn tham vọng hơn cả Minh Thái Tổ.

Bang giao Việt Hoa càng ngày càng căng thẳng vì nhà Minh đòi hỏi nhiều điều quá đáng. Năm 1404 (giáp thân), một hoàng thân nhà Trần là Trần Khang, dùng đường bộ trốn sang kinh đô Trung Hoa, đổi tên là Trần Thiêm Bình, tự xưng là con của Trần Nghệ Tông, tố cáo Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần và tố cáo những lời trần tình của Hồ Hán Thương là dối trá.

Minh Thành Tổ sai Lý Kỳ sang nước Việt thăm dò. Lý Kỳ sang nắm tình hình, rồi về nước phúc trình cuộc đảo chánh của nhà Hồ. Hồ Hán Thương gởi biểu qua nhà Minh tạ tội, và xin đón Thiêm Bình về làm vua. Năm 1406 (bính tuất) Minh Thành Tổ sai tướng Hàn Quan, đem năm ngàn quân hộ tống Trần Thiêm Bình về nước. Trần Thiêm Bình vừa về đến biên giới, liền bị Hồ Hán Thương ra lệnh bắt giết. Hồ Hán Thương cử Trần Cung Túc cầm đầu phái bộ sang Trung Hoa biện bạch về sự giả trá của Trần Thiêm Bình. Phái bộ bị nhà Minh giữ lại không cho về.

Tháng 9 năm đó (bính tuất), Minh Thành Tổ cử Chu Năng làm đại tướng, cùng hai phó tướng là Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân sang xâm lăng nước ta. Trước khi qua biên giới, Chu Năng bị bệnh từ trần, Trương Phụ được cử lên thay. Quân Minh tiến xuống thành Đa Bang (Sơn Tây), một đồn lũy được Hồ Hán Thương cho xây năm 1405 (ất dậu), làm tiền đồn bảo vệ Thăng Long. Trương Phụ và Mộc Thạnh chia nhau hai mặt tấn công Đa Bang. Khi quân Việt dùng voi phản công, quân Minh dùng hỏa pháo bắn lại. Voi sợ lửa bỏ chạy. Thành Đa Bang thất thủ, đưa đến việc thất thủ Thăng Long.

Hồ Nguyên Trừng, con trai đầu của Hồ Quý Ly, anh của Hồ Hán Thương, đem quân chận người Minh ở sông Mộc Phàm (Mộc Hoàn, Hà Nam ngày nay), nhưng bị thua phải lui về cửa biển Muộn Hải, Nam Định. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cùng các quan bỏ chạy vào Thanh Hóa. Quân Minh đuổi theo. Hai bên gặp nhau ở Lỗi Giang, một phân lưu của sông Mã (Thanh Hóa). Quân nhà Hồ thua nữa. Hồ Quý Ly cùng hai con chạy vào Nghệ An. Tháng 5 năm đinh hợi (1407), quân Minh bắt được Hồ Quý Ly ở cửa biển Kỳ La (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), và bắt Hồ Hán Thương ở núi Cao Vọng (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), cùng toàn bộ gia đình họ Hồ. Quân Minh không giết cha con Hồ Quý Ly mà chỉ giải về Trung Hoa.

Cần chú ý là khi xâm lăng nước Việt lần nầy, Minh Thành Tổ đã đưa ra cho các tướng viễn chinh ba chỉ dụ đề ngày 21-8-1406, 16-6-1407 và 24-6-1407 căn dặn và nhắc nhở các tướng Minh thi hành chính sách đồng hóa của nhà Minh và tiêu diệt toàn bộ văn hóa nước Việt. Chẳng những quân Minh vơ vét của cải, vàng ngọc, mà còn tịch thu gần như toàn bộ sách vở văn chương, học thuật, tư tưởng và cả giới trí thức cũng như nghệ nhân người Việt đem về Trung Hoa. Đây là chính sách đồng hóa của nhà Minh trên toàn cõi đế quốc của họ.(Sẽ viết trong bài tiếp.)

Lần thứ bẩy (1788)

Nguyên vào năm 1786 (bính ngọ), Nguyễn Huệ dẫn quân Tây Sơn ra bắc lần thứ nhất, đánh tan quân Trịnh, tỏ ý phù Lê. Trong khi quân Tây Sơn còn ở Bắc hà, vua Lê Hiển Tông (trị vì 1740-1786) từ trần, cháu đích tôn lên thay là Lê Chiêu Thống (trị vì 1787-1788). Khi quân Tây Sơn rút về, họ Trịnh nổi lên trở lại. Lê Chiêu Thống viết thư nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh, một cựu tướng nhà Lê, nay đã đầu quân theo Tây Sơn, đang đóng ở Nghệ An, ra Thăng Long, giúp diệt trừ họ Trịnh.

Chụp lấy thời cơ, Nguyễn Hữu Chỉnh đánh đuổi nhanh chóng quân chúa Trịnh, và trở nên chuyên quyền không khác gì họ Trịnh. Được tin nầy, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ sai tướng Võ Văn Nhậm cùng với Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh vào cuối năm 1787 (đinh mùi). Hữu Chỉnh bị bắt giết, vua Lê Chiêu Thống bỏ trốn. Võ Văn Nhậm đặt Sùng Nhượng Công Lê Duy Cận, chú của Chiêu Thống và là anh của bà Ngọc Hân (vợ Nguyễn Huệ), lên làm giám quốc, đứng đầu triều đình nhà Lê.

Vua Chiêu Thống trốn lẩn quẩn ở vùng Lạng Giang. Mẹ của vua Chiêu Thống (hoàng thái hậu) bồng con của nhà vua chạy sang Long Châu (Trung Hoa) cầu cứu nhà Thanh (1644-1911). Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị trình lên vua Thanh Cao Tông tức Càn Long (Ch’ien-lung / Qianlong, trị vì 1736-1795) rằng đây là cơ hội thuận tiện, mượn cớ giúp Lê Chiêu Thống để xâm chiếm “An Nam”. Vua Càn Long, liền ra lệnh cho Sĩ Nghị động binh bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam tiến đánh Đại Việt tháng 10 năm mậu thân (1788). Tôn Sĩ Nghị chia quân làm ba đạo, vào nước ta bằng các đường Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn.

Trước sức tiến quân ồ ạt của Tôn Sĩ Nghị, Ngô Văn Sở theo kế hoạch của Ngô Thời Nhậm, một mặt cho người đưa thư đến Tôn Sĩ Nghị xin hoãn binh, vừa để kéo dài thời gian, vừa để nhử địch, một mặt khác bỏ ngỏ Thăng Long, rút quân về Tam Điệp ở Ninh Bình, bảo toàn lực lượng, chờ viện binh của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.

Tôn Sĩ Nghị tiến quân đến Kinh Bắc (Bắc Ninh). Vua Chiêu Thống ra đón tiếp và cùng Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long ngày 20-11-mậu thân (17-12-1788). Hai ngày sau, 22-11 (19-12), Tôn Sĩ Nghị làm lễ tấn phong cho Lê Chiêu Thống làm An Nam quốc vương.

Được tin nầy, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân ngày 25-11-mậu thân (22-12-1788), lấy hiệu là Quang Trung (trị vì 1788-1792), rồi tự mình đem quân tiến ra Bắc, nhanh chóng đánh đuổi tan tác quân viễn chinh nhà Thanh, tạo nên chiến thắng Đống Đa lịch sử (mồng 5 tháng giêng năm kỷ dậu, 1789), giải phóng Thăng Long và giữ vững bờ cõi nước ta.

Kết luận

Như thế, từ năm 939 (Ngô Quyền xưng vương) cho đến năm 1788 (Quang Trung xưng vương), trong vòng 850 năm, các triều đình Trung Hoa đã gởi quân xâm lăng nước Việt chúng ta tất cả bảy lần. Chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:

1) Khi nào nước Việt có sự thay đổi triều đại, hay tranh chấp quyền lực nội bộ, hay nước Việt suy yếu, các vua Trung Hoa liền lợi dụng thời cơ để xâm lăng, nhất là khi con cháu của các triều đại bị truất phế chạy qua Trung Hoa cầu cứu.

2) Dù lúc tấn công nước Việt, lực lượng Trung Hoa rất mạnh, như dưới thời nhà Nguyên (Mông Cổ), nhà Minh, hay nhà Thanh, dù người Việt lúc đầu thất bại và phải rút lui, nhưng tổ tiên chúng ta luôn luôn cương quyết đánh đuổi xâm lăng Trung Hoa, dù phải kháng chiến gian khổ để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc.

3) Trong sáu lần Trung Hoa tấn công nước ta, lần đầu tiên do triều đình Trung Hoa muốn trả đũa việc Lý Thường Kiệt đem quân tấn công Trung Hoa trước. Từ kinh nghiệm nầy, sau đời nhà Lý, các triều đại từ nhà Trần trở đi, tuy cương quyết duy trì chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc, nhưng không khiêu khích, để tránh bị bắc phương trả đũa. Chỉ khi nào bắc phương xâm lăng, thì Đại Việt chống trả. Đặc biệt là sau khi đánh đuổi quân Trung Hoa về nước, Đại Việt vẫn gởi sứ thần sang Trung Hoa ngoại giao, mà ngày xưa gọi là triều cống, để tránh tái diễn chiến tranh.

4) Những kinh nghiệm chống quân xâm lược Trung Quốc đã được Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, trước khi từ trần năm 1300, tóm lược với vua Trần Anh Tông: “Đại khái quân giặc cậy vào trường trận, quân ta cậy vào đoản binh, đem đoản binh đánh lại trường trận, là việc thường trong binh pháp. Nhưng cần phải xét: nếu thấy quân giặc tràn sang như gió, như lửa, thì thế giặc có thể dễ chống cự được; nếu giặc dùng cách chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay, thì mình phải dùng tướng giỏi, phải xem xét tình thế biến chuyển như người đánh cờ, tùy theo thời cơ mà chế biến cho đúng, làm thế nào thu hút được binh lính như cha với con một nhà, mới có thể dùng để chiến thắng được. Vả lại bớt dùng sức dân để làm cái kế thâm căn cố đế, đó là thượng sách giữ nước không còn gì hơn.” (2)

Theo Trần Hưng Đạo, Trung Hoa xâm lăng nước ta bằng hai cách: Thứ nhất, quân Trung Hoa “tràn sang như gió, như lửa”. Thứ hai, quân Trung Hoa “chiếm cứ dần, như tằm ăn dâu, không vơ vét của dân, không mong đánh được ngay”.

Trong hai cách nầy, cũng theo Trần Hưng Đạo, cách thứ nhất, tức quân Trung Hoa sang đánh nước ta như vũ bão, thì “có thể dễ chống cự được”. Ngược lại, nếu Trung Hoa tiến quân từ từ vào nước ta, theo kiểu tằm ăn dâu, chúng ta sẽ khó chống đỡ hơn. Trong trường hợp đó, theo Trần Hưng Đạo, muốn chiến thắng địch thủ thì chúng ta phải tạo nội lực quốc gia bằng cách xây dựng tình đoàn kết dân tộc (như cha với con một nhà), và nuôi dưỡng sức dân (bớt dùng sức dân) để làm kế lâu dài mà giữ nước. Tuy nhiên, muốn tạo sự đoàn kết toàn dân và muốn nuôi dưỡng sức dân, thì người dân phải được hưởng tự do, được công bình trước pháp luật, mới cảm thấy có trách nhiệm bảo vệ đất nước, hăng hái bảo vệ độc lập dân tộc.

Tập đoàn lãnh đạo cộng sản Trung Hoa (CSTH) chủ trương bành trướng, còn hơn cả các triều đình quân chủ Trung Hoa ngày xưa: thôn tính Tây Tạng, xâm lăng Tân Cương, đánh chiếm hải đảo… Năm 1979, CSTH mở cuộc tấn công đại quy mô, dạy cho CSVN một bài học, nhưng gặp phản ứng không thuận lợi. Rút kinh nghiệm từ đó, hiện nay CSTH quay qua thực hiện kế hoạch “tằm ăn dâu”. Dần dần CSTH chiếm đất phía bắc Việt Nam (ải Nam Quan), chiếm biển phía đông Việt Nam (Vịnh Bắc Việt), lấn núi phía tây Việt Nam (Trường Sơn), nghĩa là bao vây Việt Nam ba mặt bắc và đông, tây.

Tình trạng nầy thật nguy hiểm cho tương lai Việt Nam. Hy vọng những kinh nghiệm lịch sử của người xưa, nhất là những lời Đức Trần Hưng Đạo đã dặn dò vua Trần Anh Tông năm 1300, có thể còn hữu ích cho người Việt, nhằm tìm cách phòng bị và chống lại mối đe dọa thường trực từ Bắc phương.

Chú thích

  1. 1. Khi Hốt Tất Liệt xâm lăng Trung Hoa, đặt Trung Hoa dưới ách thống trị của Mông Cổ năm 1279 nghĩa là mặc nhiên sáp nhập Mông Cổ vào Trung Hoa. Năm 1368, Chu Nguyên Chương lật đổ nhà Nguyên (Mông Cổ), lên làm vua, tức Minh Thái Tổ (trị vì 1368-1398), lập ra nhà Minh. Nhà Minh cai trị luôn Mông Cổ. Trường hợp nầy cũng xảy ra với nhà Thanh ở Mãn Châu. Cuối đời Minh, Lý Tự Thành nổi lên ở Thiểm Tây, tự xưng vương năm 1643. Năm sau (1644), Lý Tự Thành kéo quân chiếm Bắc Kinh, vua Minh Hoài Tông (trị vì 1628-1644) tự tử. Tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế thông đồng với người Mãn Thanh (nhà Thanh) ở phía bắc, để dẹp Lý Tự Thành. Lý Tự Thành thua chạy, vua Thanh vào Bắc Kinh làm lễ đăng quang tức Thanh Thế Tổ, niên hiệu Thuận Trị (trị vì 1644-1661). Từ đó, nhà Thanh làm chủ Trung Hoa, Mãn Châu tự động sáp nhập vào Trung Hoa. Khi nhà Thanh sụp đổ sau cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, đất Mãn Châu cũng bị xem là thuộc Trung Hoa.
  2. 2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (Chữ Nho), Hà Nội: bản dịch của Nxb. Giáo Dục, 1998, tập 1, tt. 558-559.
  3. 3. Nxb. Sự Thật, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua [tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam, không đề tên tác giả], Hà Nội: 1979, tr. 16.
    Trần Gia Phụng

Đại nạn Trung Hoa thời cận đại ( bài 3)

Đại nạn Trung Hoa thời cận đại ( bài 3)

Trần Gia Phụng

1.- TRUNG HOA GẶP ĐẠI NẠN

Vào thế kỷ 19, trong nền giao thương giữa Trung Hoa và các nước Âu Châu, một cuộc tranh chấp gay gắt đã đưa đến việc người Âu Châu xâu xé Trung Hoa. Nguyên trong những sản phẩm người Anh đem đến Trung Hoa, có một món hàng vừa dễ chuyên chở, lại bán được nhiều và được giá cao, đó là thuốc phiện (nha phiến).

Thuốc phiện mà người Trung Hoa gọi là cù túc, đã được người Ả Rập nhập vào Trung Hoa từ thế kỷ thứ 8, nhưng chỉ được sử dụng trong y học. Đến thế kỷ 16, những nhà giàu có Trung Hoa bắt đầu dùng ống dọc tẩu để hút. Công ty Đông Ấn Anh Quốc (The English East India Company) nhập cảng ồ ạt thuộc phiện vào Trung Hoa để kiếm lợi, làm tăng nhanh giới nghiện thuốc phiện tại nước nầy. Con số người nghiện lên đến khoảng mười triệu người vào năm 1830. Năm 1838, Anh nhập vào Trung Hoa 40,000 thùng thuốc phiện; một thùng khoảng 70 ký-lô, giá có khi lên đến hai ngàn tiền vàng Mễ Tây Cơ. Việc nầy gây ra hai thiệt hại quan trọng cho Trung Hoa: Thứ nhất người nghiện càng ngày càng đông, bệnh tật, đói nghèo và trở nên vô dụng. Thứ hai, người Hoa tốn rất nhiều tiền nhập thuốc phiện qua tay thương giới Anh.

Vua Đạo Quang (Tao-kuang / Dao Guang), tức Thanh Tuyên Tông (Qing Xuan Zong, trị vì 1821-1850), quyết định bài trừ và cấm nhập cảng thuốc phiện năm 1838. Việc nầy đưa đến chiến tranh giữa Anh Quốc và Trung Hoa năm 1840, thường được gọi là “Nha phiến chiến tranh”.

Trung Hoa thất bại, phải ký hiệp ước Nam Kinh (Nanking) năm 1842, gồm 12 khoản, theo đó các khoản quan trọng là: Trung Hoa phải nhượng Hồng Kông (Hương Cảng) cho Anh; mở năm hải cảng Quảng Châu (Kwangchow), Hạ Môn (Xiamen hay Hsiamen), Phúc Châu (Fuzhou hay Fuchow), Ninh Ba (Ningpo hay Ningbo), Thượng Hải (Shanghai) cho người Anh buôn bán và gia đình cư trú, có lãnh sự trông coi việc buôn bán; bồi thường cho Anh 21,000,000 tiền vàng Mễ; hàng hóa Anh nhập cảng chịu thuế một lần, và thương nhân Trung Hoa không đóng thêm thuế khi chuyển hàng tiếp vào nội địa; công văn trao đổi hai bên có tính cách bình đẳng. Vì việc mở năm hải cảng nên hiệp ước nầy được các sách Trung Hoa gọi là Ngũ khẩu thông thương điều ước.

Cả hai bên Anh Quốc và Trung Hoa đều vi phạm hiệp ước Nam Kinh. Cuộc xung đột lớn xảy ra vào năm 1856. Quân Anh tấn công Quảng Châu rồi rút lui. Người Hoa tức giận đốt hết các thương quán, dinh thự của Anh, Pháp, Hoa Kỳ. Cuối năm 1857, liên quân Anh Pháp đánh chiếm Quảng Châu, rồi tiến lên đánh Thiên Tân (Tianjin hay Tientsin), đe dọa Bắc Kinh.

Nhà Thanh vội vã ký hai hiệp ước Thiên Tân riêng lẽ, một với Anh và một với Pháp năm 1858. Hai hiệp ước nầy có những điểm chung sau đây: 1) Đại diện Anh, Pháp tự do cư trú ở Bắc Kinh. 2) Giáo sĩ Anh, Pháp tự do truyền đạo ở nội địa Trung Hoa, công dân Anh, Pháp có hộ chiếu được tự do du lịch Trung Hoa. 3) Mở thêm nhiều thương cảng. 4) Công dân Anh, Pháp được quyền lãnh sự tài phán, nghĩa là nếu họ phạm tội trên đất Trung Hoa, thì sẽ do lãnh sự của họ xử; nếu họ có tranh tụng với người Hoa thì sẽ do quan lại Trung Hoa cùng lãnh sự xử. 5) Giá biểu quan thuế mới sẽ có sự bàn bạc với đại diện Anh, Pháp.

Năm 1859, khi quân Anh, Pháp đến Bắc Kinh để trao đổi hiệp ước đã được phê chuẩn, quân Thanh bất ngờ tấn công. Liên quân Anh Pháp liền trả đũa, bắn phá dữ dội. Vua Hàm Phong (Xian Feng) tức Thanh Văn Tông (Qing Wen Zong, trị vì 1851-1861) bỏ chạy, giao trách nhiệm cho hoàng thân Cung Thân Vương. Ông nầy thương thuyết và ký hiệp ước Bắc Kinh năm 1860, lập lại những điều trong hiệp ước Thiên Tân, cộng thêm ba điều quan trọng là mở cửa Thiên Tân, bồi thường cho Anh và Pháp mỗi nước 8 triệu lạng bạc (trong khi theo hiệp ước Thiên Tân, Trung Hoa chỉ trả cho Anh 4 triệu và cho Pháp 2 triệu mà thôi), và cắt đất gần Hồng Kông là Cửu Long (Kowloon) và các đảo phụ cận là Stonecutters Inlands cho Anh.

Chẳng những phải bồi thường cho Anh và Pháp, Trung Hoa còn phải đền công cho Nga, là nước đã làm trung gian giúp đưa đến hiệp ước Bắc Kinh năm 1860. Nga được hưởng lợi nhiều hơn cả Anh và Pháp, vì được Trung Hoa nhượng nhiều đất ở phía tây bắc Trung Hoa. Từ đó, các cường quốc Âu Mỹ cùng nhau xâu xé Trung Hoa. Năm 1895, Trung Hoa lại thua Nhật, phải nhượng bộ trong hòa ước Shimonoseki (Hạ Quan) ngày 17-4-1895.

Vào gần cuối thế kỷ 19, bị các nước Tây phương đe dọa, Trung Hoa khốn đốn không kém Việt Nam ở phương nam, nhưng triều đình nhà Thanh vẫn cứ tự nhận Trung Hoa là thượng quốc, có ưu quyền ở Việt Nam.

2.- TRUNG HOA TỰ NHẬN ƯU QUYỀN THƯỢNG QUỐC

Trên đường tìm kiếm thuộc địa sau cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Âu Châu, Pháp viện dẫn lý do triều Nguyễn đàn áp Ky-Tô giáo, Pháp đem quân tấn công Đà Nẵng ngày 1-9-1858, mở đầu cuộc xâm lăng Việt Nam. Pháp chiếm các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long, buộc triều đình Huế phải ký hòa ước Nhâm Tuất ngày 5-6-1862, nhượng ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ) cho Pháp.

Không dừng lại ở đó, Pháp tiếp tục chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Gia, Hà Tiên năm 1867, và tiến quân ra đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873, chiếm Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định. Pháp ép triều đình Huế ký hòa ước ngày Giáp Tuất 15-3-1874, nhường đứt luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cho Pháp, để Pháp trả lại các tỉnh Bắc Kỳ. Hòa ước Giáp Tuất ngày 15-3-1874 gồm 22 điều khoản, trong đó điều khoản số 2 nói rằng “Tổng thống Pháp nhận Đại Nam là một quốc gia độc lập, không phải thần phục nước nào, hứa giúp Hoàng đế Đại Nam nếu cần, bảo vệ an ninh trong và ngoài nước…”, và điều khoản số 3 tiếp theo “Để đáp lại sự bảo hộ ấy, Hoàng đế Đại Nam từ nay chịu theo chính sách ngoại giao hiện thời của nước Pháp…” Nói cách khác, từ nay Việt Nam phải theo chính sách ngoại giao của Pháp, và không được thần phục hay giao thiệp với nước khác mà không có sự đồng ý của Pháp.

Khi hòa ước năm 1874 đã được hai bên Việt Pháp phê chuẩn và trao đổi, đại diện Pháp tại Bắc Kinh là De Rochehouart chuyển bản hòa ước nầy cho chính phủ Trung Hoa ngày 24-5-1875. Triều đình nhà Thanh trả lời rằng: “Chí Giao Chỉ tức Việt Nam bổn hệ Trung Hoa thuộc quốc.” (nghĩa là: “Từ Giao Chỉ đến Việt Nam vốn là thuộc quốc của Trung Hoa.”). Câu nầy được tòa lãnh sự Pháp dịch qua Pháp văn theo nghĩa là: “An Nam cũng là xứ được gọi là Việt nam. Xứ nầy từng là nước thần phục Trung Hoa.”(1) Do cách hành văn khác nhau, Trung Hoa nghĩ rằng họ đã phản đối Pháp, nhưng Pháp lại cho rằng Trung Hoa chẳng phản đối gì.

Trong cuộc tiếp xúc với thủ tướng Pháp là Charles de Freycinet ngày 25-1-1880, đại sứ Trung Hoa tại Pháp là Tăng Kỷ Trạch (Zeng Ji Ze) khẳng định với Pháp rằng Việt Nam là chư hầu của Trung Hoa.(1) Vua Trung Hoa lúc nầy là Quang Tự (Kuang-hsu) hay Thanh Đức Tông (Qing Te-tsung, trị 1875-1908) mới 10 tuổi và bà thái hậu Từ Hy (Tzu-Hsi / Ci Xi, 1835-1908) giữ quyền nhiếp chính.

Tăng Kỷ Trạch còn viết thư ngày 10-11-1880 khi ông đến St Pétersbourg (Nga), yêu cầu ngoại trưởng Pháp cho Trung Hoa biết lập trường của Paris về những biến chuyển ở Bắc Kỳ. Trong thư trả lời ngày 27-12-1880, ngoại trưởng Barthélemy St. Hilaire đáp lại rằng theo điều 2 hòa ước năm 1874, Pháp có bổn phận và trách nhiệm với Việt Nam. Thư nầy được gởi đến cho Tăng Kỷ Trạch và chính phủ Trung Hoa. Tăng Kỷ Trạch cho đại diện Pháp ở St. Pétersbourg biết rằng Pháp có thể chiếm Trung Kỳ, nhưng nếu chiếm Bắc Kỳ thì sẽ gây quan ngại cho Trung Hoa, vì vùng nầy tiếp giáp với biên giới Trung Hoa. Ngoại trưởng Pháp liền ra lệnh cho viên đại diện Pháp báo cho Tăng Kỷ Trạch biết rằng từ năm 1874, ngoài nước Pháp Việt Nam đã hoàn toàn cắt đứt liên hệ với các nước khác.(2)

Về phía Việt Nam, dầu đã ký Hòa ước Giáp Tuất (15-3-1874), chịu nhận nền ngoại giao Pháp, vua Tự Đức vẫn gởi phái bộ ngoại giao sang Trung Hoa năm 1876, để chúc mừng vua Thanh Đức Tông lên thay vua Thanh Mục Tông (Mu-tsung) (trị vì 1862-1874), tức vua Đồng Trị (T’ung-chih) từ trần năm 1874. Tháng 7-1880, vua Tự Đức còn cử sứ thần sang Trung Hoa thêm lần nữa. Chuyến đi nầy, chẳng những có tính cách ngoại giao thông lệ bốn năm một lần cống sứ, mà còn để nhờ Trung Hoa giúp đỡ.

Năm sau (1881), Trung Hoa gởi Đường Đình Canh sang kinh đô Huế bàn chuyện buôn bán, lập chiêu thương cuộc. Những sự kiện nầy không thể qua mặt người Pháp. Khâm sứ Pháp tại Huế là Rheinart đã báo cáo đầy đủ các chuyến đi sứ của Việt Nam sang Trung Hoa cho thượng cấp ngày 2-8-1882.(Yoshiharu Tsuboii, sđd. tt. 298-299.)

Về phía nhà Thanh, tại Bắc Kinh, đại diện Trung Hoa phản đối với đại sứ Pháp, cho rằng Việt Nam là thuộc quốc của Trung Hoa và yêu cầu Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ để duy trì tình hữu nghị Hoa Pháp. Tại Paris, ngày 6-5-1882, đại sứ Tăng Kỷ Trạch cũng lên tiếng phản đối Pháp và yêu cầu Pháp rút quân.

Thủ tướng Freycinet (Pháp) cho rằng lời lẽ của họ Tăng bất nhã, nên yêu cầu đại sứ Pháp tại Bắc Kinh cho chính phủ Trung Hoa biết rằng sẽ không nói chuyện với Trung Hoa và yêu cầu Trung Hoa đừng xen vào chính sách Pháp ở Bắc Kỳ.(3)

Về quân sự, ngày 30-6-1882, tổng đốc Vân Nam (Trung Hoa) loan báo rằng quân đội Trung Hoa sẽ tiến vào lãnh thổ Bắc Kỳ để truy đuổi các thổ phỉ Cờ đen. Trong tháng sau, tướng Tạ Kính Bưu đem ba doanh quân Vân Nam đến đóng tại Quản Ty (Hưng Hóa). [Một doanh khoảng 1,000 quân.] Vào tháng 9, nhà Thanh cử tướng Hoàng Quế Lan đem mười hai doanh quân đóng ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Ninh, và tướng Triệu Ốc đem năm doanh quân đóng ở Tuyên Quang. Tài liệu Pháp cho rằng số quân Trung Hoa tại Bắc Kỳ lúc đó lên đến 20,000 người. Dầu vậy, lực lượng Trung Hoa dần dần bị Pháp đẩy lui.

Trong thực tế, Trung Hoa điều quân qua Việt Nam nhắm mưu lợi, chứ chẳng phải thực tâm giúp đỡ Việt Nam chống Pháp, nên khi thấy không thể chiến thắng được Pháp, Trung Hoa quay qua thương thuyết với Pháp để chia phần ở Việt Nam.

3.- TRUNG HOA ÂM MƯU CHIA HAI BẮC KỲ

Ngày 27-10-1882, Paris thông báo cho đại sứ Pháp ở Trung Hoa là Bourée biết, trong phiên họp ngày 21-10, chính phủ Pháp quyết định bảo hộ Việt Nam, để Bourée nói chuyện với Bắc Kinh. Trước sự cương quyết của Pháp, vào đầu tháng 11-1882, Lý Hồng Chương (Li Hongzhang hay Li-Hung-Tchang), một viên chức cao cấp trong Tổng lý nha môn, cơ quan phụ trách ngoại giao của triều đình Trung Hoa, đề nghị với Bourée rằng Trung Hoa và Pháp chia nhau bảo hộ Bắc Kỳ. Bourée báo cáo sáng kiến của Lý Hồng Chương về Pháp.

Lúc đó, các chính phủ Paris kế tiếp nhau, đều muốn chiếm Bắc Kỳ, nhưng vừa ngại tốn kém vì Quốc hội Pháp không chuẩn chi, vừa ngại đụng chạm với Trung Hoa, nên đường lối của chính phủ Pháp không rõ ràng và hay thay đổi. Ngày 5-12-1882, Bourée cho Paris biết là Bắc Kinh đã ra lệnh quân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ về Vân Nam và Quảng Tây. Cũng trong ngày nầy, bộ Hải quân và Thuộc địa ra Pháp lệnh cho soái phủ Sài Gòn tránh đụng chạm với quân Trung Hoa. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tr. 291)

Ngày 20-12-1882, tại Thiên Tân (Tianjin hay Tientsin), Bourée và Lý Hồng Chương ký tạm ước Thiên Tân về Bắc Kỳ, theo đó Trung Hoa chiếm phía bắc sông Hồng (vùng núi non và hầm mỏ), và Pháp chiếm phía nam sông Hồng (vùng châu thổ, sản xuất nông phẩm). Lào Cai được xem là một thương cảng Trung Hoa, nhưng người Pháp được quyền tự do buôn bán với Vân Nam.(4) tạm ước Thiên Tân thật ra rất mơ hồ, chỉ lấy sông Hồng chia hai địa phận, nhưng chưa vạch ra cụ thể ranh giới giữa hai bên Pháp và Trung Hoa ở Bắc Kỳ.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu, Tạm ước Thiên Tân bị Pháp bãi bỏ. Nguyên tại Paris, chính phủ Charles Duclerc sụp đổ ngày 22-1-1883. Armand Fallières tạm thay một thời gian, thì Jules Ferry trở lại làm thủ tướng lần thứ hai ngày 21-2-1883. Lúc đó, Pháp dứt khoát về vấn đề Ai Cập (Egypt) vì nước nầy đã do nước Anh đô hộ từ 1882. Jules Ferry dồn nỗ lực về phía Việt Nam.

Việc làm đầu tiên về Việt Nam của chính phủ Jules Ferry là bãi bỏ tạm ước Thiên Tân mà Bourée đã ký với Lý Hồng Chương, vì theo chính phủ nầy, tạm ước đã giành cho Trung Hoa quá nhiều quyền lợi ở Bắc Kỳ. Quyết định bãi bỏ được Pháp báo cho Trung Hoa biết ngày 5-3-1883. Hai tháng sau, đại sứ Bourée bị triệu hồi. Chính phủ Pháp đưa Tricou, nguyên đại sứ Pháp tại Nhật, sang Bắc Kinh làm đại sứ từ ngày 1-6-1883.

Ngày 18-8-1883, đại sứ Trung Hoa là Tăng Kỷ Trạch giao cho chính phủ Pháp lập trường sáu điểm của Trung Hoa về Bắc Kỳ, theo đó: (1) Ngoại trừ Nam Kỳ, Pháp không được chiếm bất cứ phần lãnh thổ nào của An Nam; (2) An Nam là chư hầu của Trung Hoa; (3) Pháp phải triệt binh khỏi những nơi đã chiếm của An Nam, mở một số hải cảng để giao thương, và các cường quốc có quyền đặt tòa lãnh sự tại các cảng nầy; (4) Sông Hồng phải được mở rộng để giao thương; (5) Trung Hoa sẽ bảo đảm việc tự do giao thương trên sông Hồng; (6) Những hòa ước giữa Pháp và Việt Nam phải được Trung Hoa chấp thuận.(Vũ Ngự Chiêu, sđd.tt. 328-329.)

Trong khi đó, Pháp đưa quân từ Bắc Kỳ, tiến đánh cửa Thuận An (Huế) ngày 20-8-1883. Thất bại, triều đình Huế đành xin điều đình và ký hòa ước Quý Mùi ngày 25-8-1883, gồm 27 điều khoản, trong đó điều 1 viết rằng “Nước Nam nhận và chịu sự bảo hộ của nước Pháp với những hậu quả của mối tương giao nầy theo luật pháp ngoại giao Âu Châu, nghĩa là nước Pháp chủ trương mọi sự giao thiệp của nước Nam với các nước ngoài, kể cả nước Tàu, và nước Nam có giao thiệp ngoại giao với nước nào thì chỉ do một mình nước Pháp môi giới mà thôi.”

Bảo hộ xong Việt Nam, hai ngày sau, ngoại trưởng Pháp từ chối yêu cầu sáu điểm của Trung Hoa trong thư trả lời ngày 27-8, và cho Trung Hoa biết rằng Pháp sẵn sàng giải quyết vấn đề an ninh biên giới và quyền lợi người Hoa buôn bán trên sông Hồng.

Ngoại trưởng Pháp còn gởi công văn ngày 15-9-1883 cho chính phủ Trung Hoa, một lần nữa xác nhận rằng Pháp không chấp nhận tạm ước Thiên Tân ngày 20-12-1882, giữa đại sứ Bourée và Lý Hồng Chương về Bắc Kỳ. Công văn ngày 15-9 còn đưa ra đề nghị mới của Pháp gồm hai điểm: (1) Lập một khu phi quân sự giữa hai vĩ tuyến 21 và 22, nếu một bên muốn động binh để đánh dẹp thổ phỉ thì phải có sự đồng ý của bên kia. (2) Thị trấn Man Hao trên sông Hồng trong lãnh thổ Trung Hoa sẽ được mở ra cho việc giao thương. Chính sách của chính phủ Jules Ferry được Quốc hội Pháp hậu thuẫn mạnh mẽ trong cuộc đầu phiếu tại Quốc hội ngày 31-10-1883. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tt. 330-332.)

Hai chính phủ Pháp Hoa tranh cãi không dứt về vấn đề Bắc Kỳ. Pháp muốn độc quyền tại miền Bắc Việt Nam, trong khiTrung Hoa muốn chia một phần Bắc Kỳ cho Trung Hoa, và bảo đảm an toàn biên giới Việt Hoa. Trung Hoa tin tưởng rằng Pháp khó có thể chiến thắng lực lượng Trung Hoa ở Bắc Kỳ. Ngoài ra, Trung Hoa còn hy vọng hai nước Anh và Đức sẽ can thiệp, nhưng lúc đó, Anh đang bận rộn ở Ai Cập và Đức muốn Pháp bành trướng ở Bắc Kỳ hơn là tập trung lực lượng để chống Đức ở biên giới giữa hai bên.

Cuối cùng, tại Bắc Kỳ, Pháp đã đánh đuổi quân Trung Hoa và quân Cờ đen chạy lên miền biên giới, làm chủ tình hình Bắc Kỳ. Lúc đó, Trung Hoa thấy không thể kiếm lợi được ở Việt Nam mà còn lo ngại Pháp sẽ tiến chiếm Đài Loan hay Hải Nam để đòi chiến phí, nên Trung Hoa bắt đầu thay đổi chính sách.

4.- HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN LẦN THỨ NHẤT (11-5-1884)

Đầu tiên, Lý Hồng Chương, nhờ một thân hữu tên là Gustav Detring, người Đức, công chức cao cấp trong ngành thương chánh Trung Hoa và đã phục vụ 20 năm ở Quảng Châu, vận động với chính phủ Pháp. Vào tháng 4-1884, Gustav Detring đem việc nầy thảo luận với một người bạn là trung tá Ernest François Fournier, hạm trưởng tuần dương hạmVolta, đang đóng ở Quảng Đông. Fournier trình bày lại ý định của Lý Hồng Chương với cấp chỉ huy là phó đô đốc Sébastien Lespès, tư lệnh hạm đội Pháp tại Trung Hoa và Nhật Bản. Một mặt, Lespès thuận cho Fournier nói chuyện với Lý Hồng Chương, một mặt Lespès trình về Paris.

Ernest Fournier nhờ Gustav Detring chuyển cho Lý Hồng Chương một văn thư cho biết các điều kiện về phía Pháp để đi đến một cuộc dàn xếp với Trung Hoa: giải nhiệm đại sứ Tăng Kỷ Trạch, từ bỏ ưu quyền đối với Việt Nam, rút lui quân đội Trung Hoa khỏi Bắc Kỳ, và bồi hoàn chiến phí.(5)

Để tỏ thiện chí, triều đình Trung Hoa quyết định chấm dứt nhiệm vụ đại sứ ở Pháp của Tăng Kỷ Trạch, mà vẫn giữ ông ta làm đại sứ ở Anh; và Trung Hoa cử Hứa Cảnh Trừng làm đại sứ tại Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan và Áo.

Cuộc nói chuyện tiếp tục, Fournier đến Thiên Tân, gặp Lý Hồng Chương và nhanh chóng ký hiệp ước ngày 11-5-1884, gồm năm khoản, thường được gọi là hiệp ước Fournier hay hiệp ước Thiên Tân, đại để như sau: 1) Pháp hứa tôn trọng biên giới Việt Hoa. 2) Trung Hoa cam kết rút quân khỏi Bắc Kỳ và tôn trọng những hòa ước ký kết giữa Pháp và Việt Nam. 3) Pháp không đòi bồi thường chiến phí. 4) Hủy bỏ những hiệp ước trước đây giữa Trung Hoa và Việt Nam, và nuớc Pháp cam kết không làm tổn hại thể diện Trung Hoa. 5) Hai bên thỏa thuận sẽ gặp nhau lại trong vòng 90 ngày để ký kết hiệp ước chính thức.

Ernest Fournier tiếp tục thương lượng với Lý Hồng Chương về thời biểu Trung Hoa rút quân. Ngày 17-5, Fournier trao cho Lý Hồng Chương một giác thư (mémorandum) theo đó Pháp sẽ tiếp thu Lạng Sơn, Cao Bằng ngày 5-6-1884, và Lào Cai ngày 1-7-1884.(Alfred Schreiner, sđd. tr. 362.)

Nhận được tin nầy, trung tướng Millot, tư lệnh lực lượng Pháp ở Bắc Kỳ nghĩ rằng Pháp có thể chiếm đóng vùng Lạng Sơn, Cao Bằng khoảng từ 15 đến 20-6, nên ông cử quân đi tiếp thu Lạng Sơn. Trên đường đi Lạng Sơn, ngang qua thị trấn Bắc Lệ ngày 22-6, đoàn quân Pháp bị quân Trung Hoa tấn công dữ dội và gây thiệt hại nặng nề.

Chính phủ Paris được tin Bắc Lệ, liền ra lệnh cho đại diện Pháp ở Bắc Kinh gởi cho triều đình Mãn Thanh một tối hậu thư ngày 12-7, yêu cầu Trung Hoa phải ra lệnh quân đội mình lập tức rời Bắc Kỳ, hạn chót là 31-7, và triều đình Trung Hoa phải bồi thường 250 triệu quan chiến phí, nếu không Pháp sẽ đánh Trung Hoa.

Phó đề đốc Prosper Courbet, đang chỉ huy hạm đội Pháp ở Bắc Kỳ, được cử kiêm luôn chỉ huy hạm đội Pháp ở Trung Hoa, đem quân đến cửa sông Mân ở Phúc Châu (Fou-Tchéou), thủ phủ tỉnh Phúc Kiến (Fukien) ngày 16-7, trong khi một hạm đội Pháp khác đến đảo Cơ Long (Kélung) ở eo biển Đài Loan. Ngày 5-8-1884, Pháp bắt đầu tấn công, gây thiệt hại nặng cho Trung Hoa.

Trên biển, hạm đội Pháp truy lùng và tấn công các tàu của Trung Hoa, phong tỏa cửa sông Dương Tử (Yang-tse), vùng Thượng Hải, và cho đến cuối tháng 3-1885, Pháp làm chủ hoàn toàn quần đảo Bành Hồ ở eo biển Đài Loan. (Quân sử III, Sài Gòn: 1971, tt. 227-228.)

  1. HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN LẦN THỨ HAI (9-6-1885)

Trong khi Pháp khó thắng Trung Hoa, thì rõ ràng Trung Hoa thất thế cả ở Trung Hoa lẫn ở Bắc Kỳ. Cả hai bên Pháp Hoa đều muốn tìm kiếm một giải pháp hòa bình vì hoàn cảnh riêng của mỗi bên. Sau những cuộc thảo luận kéo dài, hai bên dự tính đi đến việc ký kết hòa ước vào cuối tháng 3-1885, thì chính phủ Jules Ferry sụp đổ. Chính phủ Brisson lên thay thế. Bộ trưởng ngoại giao vẫn là Charles Freycinet.

Cuộc đàm phán về một hòa ước mới bắt đầu tại thành phố Thiên Tân từ ngày 13-5-1885 giữa hai bên Pháp-Hoa; kết thúc bằng Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và thương mại ký ngày 9-6-1885 giữa Jules Patenôtre (đại diện Pháp) và Si Tchen, Lý Hồng Chương (Li Hongzhang / Li-Hung-Tchang) và Teng Tcheng Sieou (đại diện Trung Hoa).

Hòa ước Thiên Tân lần thứ hai nầy gồm 10 điều khoản, có thể được tóm lược như sau: Trung Hoa đồng ý rút quân về nước (điều 1). Trung Hoa nhìn nhận việc Pháp bảo hộ Việt Nam (điều 2). Hai bên sẽ tiếp tục hòa đàm về vấn đề biên giới Việt Hoa (điều 3). Hai bên sẽ thảo luận về một hiệp ước thương mại (điều 5, 6, 8). Pháp đồng ý rút quân khỏi Đài Loan và Bành Hồ (Pescadores) (điều 9).

Như thế là chiến tranh Pháp Hoa về vấn đề Bắc Kỳ kết thúc. Bắc Kinh gởi một phái đoàn đến Hà Nội để giúp chấm dứt tranh chấp Pháp Hoa, và đưa quân đội nhà Thanh trở về Trung Hoa.

KẾT LUẬN

Dầu Việt Nam, quốc hiệu của nước ta từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802, là một nước độc lập, Trung Hoa vẫn mặc nhiên tự xem Trung Hoa là thượng quốc và có ưu quyền đối với Việt Nam. Khi người Pháp xuất hiện, Trung Hoa tự xem có quyền thương lượng với Pháp về Việt Nam, muốn chia phần với Pháp và quyết định số phận Việt Nam. Cho đến khi bị Pháp đánh bại, Trung Hoa đành nhượng bộ, nhưng những nhà cầm quyền Trung Hoa không bao giờ từ bỏ mục tiêu truyền kiếp là đánh chiếm và đô hộ Việt Nam.

Chú thích:

  1. Yoshiharu Tsuboii, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, TpHCM: Ban Khoa học Xã hội, 1990, tr. 142.
    2. Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn 1883-1945, tập 1, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1999, tt. 273-274.
    3. Alfred Schreiner, Abrégé de l’histoire d’Annam, Sài Gòn: 1906, tr. 353.
    4. Khối Quân sử, Quân dân Việt Nam chống Tây xâm (1847-1945), Quân sử III, Sài Gòn: Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, 1971, tr. 164.
    5. Alfred Schreiner, sđd.. tt. 371-372.

TRẦN GIA PHỤNG

MẸ ƠI! NÀO CON BIẾT TÌM MẸ Ở ĐÂU BÂY GIỜ

Thưa quý thân hữu:​

​ Sau khi đọc đề tài viết tiếng Việt của tôi được gửi qua email đến quý thân hữu, có người gọi điện thoại, có người gửi email yêu cầu tôi nên dịch đề tài này sang Anh Ngữ, để cho họ đưa cho con cháu của họ đọc, vì các cháu không đọc được tiếng Việt, như thế sẽ giúp cho các cháu hiểu được ý nghĩa thiêng liêng của tình Mẫu Tử như thế nào? Để đáp lại lời yêu cầu này của quý thân hữu, tôi xin gửi bài dịch sang Anh Ngữ kèm theo dưới đây. Thực ra, mục đích của tôi viết đề tài này là tôi muốn gửi một thông điệp nhắn nhủ giới trẻ phải biết hiếu thảo với cha mẹ, là những bậc sinh thành dưỡng dục mình nên người hữu dụng mai sau. Hơn nữa, lý do sâu xa tôi chọn viết đề tài này, là vì cách đây hơn 2 năm, tôi cùng một người bạn đang ngồi ăn trong một quán ăn nhỏ, trong khu trung tâm thương mại Phước Lộc Thọ, tại thành phố Little Saigon thuộc Quân Cam, California, bất tình lình bạn tôi dơ tay lên cao, chỉ vào một bà cụ cao niên, trông còn rất tráng kiện, đang đi gần tới chỗ chúng tôi ngồi, nói cho tôi biết là cách đây vài năm, bà cụ này cùng chồng sống chung với nhau trong một căn nhà khá khang trang rộng rãi, căn nhà này vào lúc đó trị giá khoảng trên 5 trăm ngàn đồng và đã trả hết nợ tiền nhà ngân hàng. Ít lâu sau, cụ ông qua đời vì mắc bệnh nan y, 2 người con cụ đề nghị mẹ hãy bán căn nhà này đi, sẽ mua căn nhà nhỏ cho mẹ ở, sau khi mua căn nhà nhỏ rồi, số tiền còn dư lại sẽ chia đồng đều cho 2 con. Cụ thấy đề nghi này hữu lý nên bằng lòng ngay. Nhưng cụ đâu có ngờ mưu mô gian dối của hai đứa con mình, nên sau khi bán nhà được gần 6 trăm ngàn đồng, chúng chia chác số tiền này cho nhau xong, chúng đưa cụ vào ở viện dưỡng lão và mỗi tháng chúng thay phiên nhau đến thăm cụ được một lần, trong khi chúng cư ngụ cùng một thành phố với cụ, cụ buồn rầu đau khổ vì bị con cái lừa đảo, tước đoạt nhà cửa của cụ, là nơi cụ cự ngụ nhiều năm, có nhiều kỷ niệm êm đềm với cụ ông và để tìm cách giải thoát nỗi niềm buồn rầu đau khổ trong lòng cụ, mỗi ngày cụ đi xe buýt lên trung tâm thương mại Phước Lộc Thọ, để đi bộ lang thang trong trung tâm, hễ có ai tò mò hỏi chuyện cụ là tại sao ngày nào cũng thấy cụ đi như vậy, thì cụ dốc hết bầu tâm sự của cụ cho họ nghe câu chuyện đau thương của cụ, nào là vừa mất chồng lại vừa mất nhà, rồi bị con cái tống vào trong viện dưỡng lão, trong khi trí óc cụ vẫn cón sáng suốt, khỏe mạnh bình thường và bất cứ ai nghe xong câu chuyện cụ kể, cũng cảm thấy bất bình, tội nghiệp cho cụ, là sao trên đời này lại có những đứa con bất hiếu và bất nhân với mẹ của mình như thế nhỉ? 

 NMSan.

MẸ ƠI! NÀO CON BIẾT TÌM MẸ Ở ĐÂU BÂY GIỜ

     (Where Is My Mom Now?)

  1. Nguyễn Mạnh San

Chỉ còn ít ngày nữa là toàn dân Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ sẽ ăn mừng Ngày Tạ Ơn Thượng Đế hay Tạ Ơn Thiên Chúa (Thanksgiving Day), đã ban cho mọi người có một đời sống ấm no hạnh phúc, trên vùng đất Dân Chủ, Tự Do, Công Bằng, Bác Ái và đặc biệt về Quyền Sống, Quyền Bình Đẳng của mỗi con người đang sinh sống trong xã hội này, bất kể những ai trước kia thuộc sắc tộc nào đi chăng nữa, đã đến đây tìm tự do sinh sống, đều được pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ một cách triệt để, bất khả xâm phạm cá nhân, đoàn thể hay tín ngưỡng, mà hầu như hiếm thấy có một quốc gia nào khác trên thế giới được pháp luật bảo vệ như luật pháp Hoa Kỳ.

Trong dịp toàn dân cả nước ăn mừng Lễ Tạ Ơn sắp đến này, cũng là một dịp cho tất cả mọi người trong gia đình tụ họp lại với nhau để tỏ lòng thành kính tạ ơn Ông Bà, Cha Mẹ chúng ta, là những bậc sinh thành, hy sinh nhiều gian khổ để nuôi dưỡng, dạy dỗ chúng ta trở nên những người hữu ích cho xã hội, mà chúng ta đang có cuộc sống ấm no hạnh phúc nơi đây. Người ta vẫn thường nói: Chết chồng chết vợ vẫn có thể có chồng khác vợ khác hoặc con cái chết vẫn có thể có con cái khác, nhưng Bố hay Mẹ chết không thể nào có Bố hay Mẹ khác, nếu có là chỉ có Bố Dượng hay Mẹ Ghẻ mà thôi. Do đó, những người trung tuổi trở lên còn sống cho đến nay hay những học sinh từ bậc tiểu học trở lên trong thời Quốc Gia VNCH, đều thuộc lòng câu ca dao: Công Cha Như Núi Thái Sơn, Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra, Một Lòng Thờ Mẹ Kính Cha, Cho Tròn Chữ Hiếu Mới Là Đạo Con.

Hôm nay, chúng tôi xin trình bầy cùng quý đọc giả dưới đây một số dữ kiện mới lạ xẩy ra rất hiếm thấy, được trích ra từ trong bài viết của tác giả Daikynguyenvn/NTDTV do cô Tuý Phượng chuyển đến cho chúng tôi đọc, về một câu chuyện hết sức thương tâm, đã làm cho không biết bao nhiêu người trên thế giới phải rơi lệ đầm đìa, về một cậu bé người Đức sống trong cô nhi viện, tên cậu là Derby, quyết tâm đi tìm Mẹ cậu dù không biết Mẹ mình ở đâu và tiếp theo câu chuyện này, là niềm tâm sự của tác giả, về lòng báo hiếu đối với người Mẹ yêu quí nhất đời của mình, đang phải nằm trên giường gần cả chục năm nay, bị bệnh mất trí, trong một viện dưỡng lão thuộc vùng ngoại ô thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

Tháng 2 năm 1994, có một em bé bị bỏ rơi trong một lùm cây, nằm ngoài cổng trại trẻ mồ côi Yite Luo, ở phía bắc nước Đức và em bé này may mắn đã được một nữ tu sĩ tên là Terri, 50 tuổi, đang phục vụ tại đây, đi ra ngoài cổng trại, tình cờ nhìn thấy đứa bé đang khóc, bà liền đem đứa bé này vào nuôi dưỡng Lớn lên trong trại cô nhi được hơn 9 tuổi, cậu bé Derby luôn luôn mơ ước được tìm thấy Mẹ và trong lòng cậu lúc nào cũng ấp ủ câu nói: Mẹ ơi! con đã tìm Mẹ từ lâu lắm rồi, con xin Mẹ đừng bỏ con nữa, được không Mẹ? Rồi vào một ngày nắng ấm, các nữ tu sĩ đã dẫn bọn trẻ mồ côi đi đến một đồng cỏ xanh ở ven bờ sông dạo chơi, thì có một vài người cư dân tại đây, dang tay chỉ vào những đứa trẻ này và nói với con mình: Những đứa trẻ này đã bị cha mẹ bỏ rơi, nếu con mà không nghe lời, mẹ cũng bỏ con vào cô nhi viện đấy. Nghe thấy những lời nói này, Derby cảm thấy vô cùng đau lòng và cậu liền hỏi vị nữ tu sĩ: Tại sao cha mẹ con lại không cần con? Có phải là cha mẹ ghét con không? Giọng nói của Derby tràn đầy bi thương, không hề giống với lời nói của những đứa trẻ khác cùng độ tuổi. Nữ tu sĩ nghe xong giật mình, hỏi Derby: Tại sao con lại nghĩ như vậy? Derby trả lời: Tại vì con nghe mọi người đều nói như vậy, chúng con đều là những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi. Nữ tu sĩ an ủi cậu bé: Mặc dầu dì phước chưa hề gặp mẹ của con, nhưng dì phước tin rằng nhất định mẹ của con rất yêu thương con. Trên đời này không có người mẹ nào là không yếu thương con của mình cả. Năm đó mẹ của con để con lại, chắc chắn là vì một lý do bất đắc dĩ nào đó thôi. Derby nghe xong lặng im, không hỏi thêm lời nào, nhưng từ đó trở đi thái độ cậu thay đổi rất nhiều, cậu thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện, nhìn ra dòng sông Rhine, cậu hy vọng những giòng nước đang chảy trên sông Rhine với ánh mắt khát khao tìm thấy mẹ, mà dòng nước này sẽ có thể đem tình cảm yêu thương của cậu đến với mẹ.

Ngày Của Mẹ (Mother’s Day) vào năm 2003, không khí ấm áp của ngày Lễ Hội tụ họp các bà mẹ, làm dấy lên lòng khao khát mãnh liệt, hy vọng được gặp mẹ của Derby, vì các đài vô tuyến truyền hình hôm ấy chiếu lên những hình ảnh sinh hoạt ăn mừng về tình mẫu tử, mà trong đó có chiếu lên một cậu bé 6 tuổi, mồ hôi chẩy đầm đìa trên người đang phụ giúp mẹ cắt cỏ, trong khi mẹ cậu bé nhìn con vất vả cắt cỏ, không cầm được nước mắt. Derby nhìn thấy hình ảnh này, cậu nói với nữ tu sĩ: Con cũng muốn được làm việc giúp mẹ con. Dì phước ơi! Dì có biết cha mẹ con hiện đang ở đâu không ạ? Nữ tu sĩ trầm tư, không trả lời được lời nào vì từ ngày mang cậu bé Derby về nuôi trong cô nhi viện cho đến nay, không hề có tin tức gì về cha mẹ cậu bé cả. Ít lâu sau, khi Derby lên 9 tuổi, cậu bé rời khỏi cô nhi viện để đến học tập ở một ngôi trường gần đó và mỗi lần cậu giúp đỡ một người nào, nếu người đó tỏ lời cảm ơn cậu, cậu liền yêu cầu người đó hãy giúp đỡ 10 người khác vì đó là cách cảm ơn lớn nhất dành cho cậu. Những người này khi nghe xong lời yêu cầu của cậu, đều vô cùng cảm kích tấm lòng nhân ái vị tha của cậu và họ hứa sẽ thực hiện lời yêu cầu này của cậu. Rồi một hôm, có một người điều khiển chương trình nổi tiếng trên đài truyền hình của Đức là ông Rick, ông đang đi dạo chơi trên bờ sông Rhine gần nơi Derby cư ngụ, thì bệnh tim của ông đột nhiên tái phát, ông chưa kịp lấy thuốc từ trong túi ra uống, thì đã ngã ngất xỉu trên mặt đất, cậu bé Derby lúc ấy đang câu cá trên bờ sông phát hiện ra ông bị ngất xỉu, nên đã gọi điện thoại cho xe cứu thương đến chở ông vào nhà thương cấp cứu, nhờ được cấp cứu kịp thời, ông Rick đã hồi phục, ông nắm lấy đôi tay của Derby và nói: Cháu bé ơi, ông phải làm gì để cám ơn cháu đây? Nếu cháu cần tiền, ông có thể cho cháu rất nhiều tiền. Derby nghe xong lắc đầu nói: Nếu như ông có thể giúp đỡ 10 ngưới khác khi họ cần sự giúp đỡ, như vậy chính là ông đã cám ơn cháu rồi ạ. Từ đó về sau, ông Rick cảm thấy sống vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn và nhận thấy đời sống của ông có ý nghĩa hơn, cứ mỗi lần ông giúp được một người. Sau một thời gian nghỉ việc dưỡng sức, ông quay trở lại đài truyền hình làm việc, ông kể lại câu chuyện cậu bé Derby cứu ông sống cho khán thính giả trên toàn thể nước Đức nghe. Cuối cùng ông nói: Có lẽ không ai tin đây là câu chuyện thật 100%, nhưng chuyện này đã bồi bổ cho tôi thêm rất nhiều mãnh lưc sống, xin quý bạn hãy giúp đỡ 10 người khác khi họ cần giúp và tôi tin rằng quý bạn cũng sẽ cảm nhận được loại cảm giác kỳ diệu này.

Thông qua chương trình của ông Rick được truyền hình đi khắp nước Đức vừa kể trên, mọi người đều xúc động về câu chuyện này và đã có nhiều người gọi cho ông Rick nói rằng họ sẵn lòng làm việc bác ái giúp đỡ cho 10 người nếu được yêu cầu, đồng thời có rất nhiều khán giả yêu cầu muốn được nghe Derby nói chuyện trên đài truyền hình, bởi vì họ muốn được thấy mặt cậu bé có đầy lòng bác ái này.

Tháng Giêng năm 2004, cậu Derby đã xuất hiện trên đài truyền hình đế chia sẻ về câu chuyện của cậu và khi mọi người nghe xong, có người đã đặt câu hỏi cậu: Lý do nào mà cậu lại có sự suy nghĩ như vậy? Cậu cố nén niềm xúc động để kể rõ chi tiết cuộc đời mình và có rất nhiều người xúc động phải bật khóc trước tình yêu vô bờ bến của cậu dành cho mẹ mình. Liền sau đó ông Rick ôm chặt tấm thân gầy yếu của Derby và nói: Mẹ của cháu nhất định yêu cháu vô cùng và nhất định cháu sẽ tìm được mẹ. Sau câu chuyện tình yêu mẹ của Derby, dân chúng nước Đức đều nhớ câu chuyện thương tâm này, họ đề ra chiến dịch làm 10 việc bác ái. Trước dây nhiều người dân đều thờ ơ với nhau, thì giờ đây họ đối xử với nhau đầy tình người và mọi người đều mong rằng người mà mình đang giúp đỡ, sẽ chính là mẹ của cậu bé Derby. Cậu Derby trở nên nổi tiếng và đài truyền hình cũng cố gắng bằng mọi cách giúp cậu tìm mẹ, nhưng mẹ của Derby mãi mãi vẫn biệt tăm tích.

Tháng 2 năm 2004, một sự việc bất hạnh và đau lòng đã xẩy ra với Derby, nơi Derby sinh sống là một khu phố nghèo. Sau khi Derby nổi tiếng, các tay xã hội đen nghĩ rằng cậu bé có nhiều tiền, đêm ngày 16/02/204, trên đường trở về trường học, Derby đã bị một nhóm lưu manh vây quanh, nhưng bọn chúng không tìm thấy tiền trong người cậu bé, nên đã tức giận đâm trọng thương cậu bé, cậu bị đâm thủng bụng và gan, cậu nằm trên vũng máu, mãi đến 2 tiếng đồng hồ sau mới được cảnh sát tuần tra phát hiện, họ đưa cậu vào bệnh viện cấp cứu, tại bệnh viện trong lúc hôn mê, Derby một mực gọi: Mẹ! Mẹ! Me!… mãi không thôi. Đài truyền hình trực tiếp phát sóng tình trạng của Derby, tất cả dân chúng đều cầu nguyện cho cậu. Mấy chục sinh viên đến sân trường đại học Alexanderplatz, nắm tay nhau thành một vòng tròn và kêu gọi: Mẹ! Mẹ!…….Những tiếng gọi này làm cảm động những người qua đường và họ nhập vào nhóm, đứng xếp hàng thành hình trái tim, số người tham gia càng lúc càng đông lên, hình trái tim cũng càng lúc càng lớn hơn. Điều cảm động hơn nữa la có hàng trăm người mẹ gọi điện thoại vào đài truyền hình xin được giả làm mẹ của Derby. Cô Rita , một giáo sư tại trường đại học Munich đã khóc nức nở và nói: Derby là một đứa bé tốt lành thánh thiện như vậy, nếu được giả làm mẹ của cậu bé, tôi cảm thấy vô cùng vinh dự. Vì Derby chỉ có một mẹ, trong khi có hàng trăm người mẹ gọi đện thoại để xin được giả làm mẹ của cậu, nên đài truyền hình đã thảo luận và chọn cô Judy giả làm mẹ của Derby, bởi vì cố ấy sống cùng thành phố với cậu bé, hơn nữa giọng nói của cố ấy cũng giống giọng nói của cậu bé, như vậy sẽ tạo ra cảm giác mật thiết hơn.

Sáng ngày 17/02/2004, sau một thời gian dài bị hôn mê, cậu bé Derby đã mở mắt, cô Judy đã ôm một bó hoa loa kèn tuyệt đẹp, xuất hiện ở đầu giường của Derby, cô nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Derby và nói: Con trai yêu quý, Mẹ chính là mẹ của con đây. Đôi mắt cậu đột nhiên sáng rực lên, tỏ vẻ ngạc nhiên và hỏi: Mẹ thực sự là mẹ của con sao? Cô Judy cố ngăn nước mắt và gật đầu và hai dòng nước mắt nóng chảy ra từ đôi mắt của Derby: Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ lâu lắm rồi, con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ? Cô Judy gật đầu và nghẹn ngào nói: Con trai yêu quý của mẹ, con hãy yên tâm, mẹ sẽ không bao giờ rời xa con nữa. Trên khuân mặt tái nhợt của Derby nở một nụ cười và đây là giờ phút cuối cùng của Derby ở trên cõi đời này, cậu bé từ từ nhắm mắt lại, vĩnh viễn rời xa thế gian, nhưng đôi bàn tay của cậu bé vẫn còn nắm chặt bàn tay của mẹ.

Trong khi ghi lại câu chuyện trên đây cho đến hết phần cuối câu chuyện, tôi đã không kìm hãm được những giọt nước mắt cứ tuân tràn trên đôi má, làm tôi đã phải ngừng viết nhiều lần để lau khô những giọt lệ. Vì có những tình tiết trong câu chuyện này phản ảnh lại tình yêu thương của Mẹ tôi đối với các con, nhất là Mẹ tôi dành nhiều tình cảm cho riêng tôi trong thời niên thiếu của tôi, được sống bên cạnh Mẹ cùng với 3 cô em gái, trong cô nhi viện Dục Anh Nguyễn Tri Phương, Sàigòn trong nhiều năm, khác hẳn với em Derby phải sống mồ côi cha mẹ, một mình sống cô đơn trong cô nhi viện, vả lại có những tình tiết mô tả nỗi lòng của em Derby thương yêu mẹ đến như thế nào, làm cho tôi băn khoăn trong tâm tư, đôi lúc tôi tự hỏi lòng mình, là không biết mình đã có hành động cụ thể nào, có thể tiêu biểu cho lòng hiếu thảo của người con đối với người mẹ, đã hy sinh cả cuộc đời góa phụ son trẻ cho mình chưa? Đây là một điều thắc mắc thầm kín trong lòng tôi từ nhiều năm nay, trong tư thế là một người con trai trưởng duy nhất trong gia đình, cộng với 3 cô em gái, mà mỗi khi tôi vào thăm mẹ tôi, nhìn cụ nằm trên giường bệnh trong viện dưỡng lão và cũng là một dịp để tôi được bón cơm cho mẹ ăn, lòng tôi lại cảm thấy bồi hồi, thương xót cho số phận tuổi già sức yếu của mẹ tôi và cho đến nay tôi vẫn chưa tìm thấy câu trả lời minh bạch cho điều thắc mắc này của tôi, nhưng chỉ có một điều tôi tự cảm thấy niềm an ủi cho riêng tôi, là tôi biết rõ mẹ tôi rất hãnh diện có đứa con trai duy nhất là tôi, có tấm lòng bác ái, biết thương người nghèo khổ, đau yếu, hoạn nạn, luôn luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người khi được yêu cầu và hiểu ngầm theo khoa học, thì đó là dòng máu di truyền của Bố tôi và của Mẹ tôi truền lại cho tôi. Tôi vẫn còn nhớ lại khi Bố tôi qua đời, thì Mẹ tôi mới khoảng 26 tuổi, trẻ đẹp, biết bao nhiêu người có địa vị trong xã hội thời ấy, muốn cưới mẹ tôi về làm vợ, nhưng mẹ tôi một mực khước từ, quyết tâm ở vậy, làm việc lao động vất vả để nuôi 4 đứa con còn thơ dại, cho đến ngày các con trưởng thành lập gia thất. Tôi không bao giờ có thể quyên được những ngày còn ở Hànội trước năm 1954, sau khi Bố tôi qua đời và lúc đó tôi mới 10 tuổi, Mẹ tôi hàng ngày làm bánh chiên Caravat, đem bỏ mối cho một số cửa tiệm bán lẻ bánh kẹo và vào những ngày cuối tuần, từ 7 giờ 30 chiều cho đến 1 giờ khuya, hai tay tôi ôm thùng bánh chiên Caravat để đi theo người Cậu ruột của tôi là nhạc sĩ Hoàng An, em ruột của nhạc sĩ Hoàng Trọng, chơi đàn Accordion và thổi kèn Saxo cho một vũ trường, chỉ dành riêng cho những người Pháp, để bán cho các ông tây bà đầm ở đây ăn, kiếm thêm tiền hàng tuần cho mẹ tôi nuôi 4 anh em chúng tôi và có những đêm tôi run sợ muốn chết, vì có một vài ông tây say rượu, tranh giành gái nhẩy, đánh nhau ngay trong vũ trường. Rồi năm 1954 di cư vào Miền Nam, Mẹ tôi làm Quản Lý Cô Nhi Viện Dục Anh, Nguyễn Tri Phương, Sàigòn, trông năm săn sóc gần 200 trẻ mồ côi con trai, gồm các trẻ sơ sinh bị bỏ rơi cho đến những em trai lớn không nhà cửa, những em đã đủ tuổi đi học, ban ngày cho các em đến trường, những em lớn tuổi được gửi đi học nghề, Mẹ tôi kiếm việc làm cho các em và gả vợ cho các em. 4 anh em tôi cùng sống chung hòa mình với các em mồ côi trong nhiều năm, chẳng khác nào như anh em ruột trong một đại gia đình trong cô nhi viện này. Cũng trong suốt thời gian này, để góp phần gây quỹ cho Cô Nhi Viện Dục Anh có thêm tiền nuôi trẻ mồ côi, tôi đã thành lập ban nhạc, củng với 3 cô em gái tôi là Ban Vũ Tuyết Lê, Tuyết Lan, Tuyết Loan, trình diễn văn nghệ nhiều lần ở rạp Thống Nhất Sàigòn và ở một số tỉnh thuộc miền tây, như Cần Thơ, Vĩnh Long, Châu Đốc, Mỹ Tho. Chính vì nhờ sống chung với các trẻ mồ côi trong cô nhi viện, nên giúp tôi thấu hiểu được những nỗi bất hạnh của những đứa con mất cha mất mẹ, mà sau này, khi tôi khởi sự bước chân ra ngoài xã hội để tự lập sự nghiệp, tôi rất ưa thích làm việc từ thiện, say mê giúp đỡ tha nhân trong khả năng Chúa ban cho tôi, mỗi khi tôi được người ta yêu cầu giúp đỡ họ, thì tôi không bao giờ biết từ chối, mà lại mừng rỡ trong lòng, quên hết thời gian hay mọi sự khó nhọc để đáp lại lời yêu cầu của họ, vì hình như đó là món ăn di truyền quí giá nhất do cha mẹ truyền lại cho tôi, đã hòa lẫn vào trong máu tôi. Còn một việc làm thiện nguyện khác nữa của tôi, là trrong những năm tôi dạy lớp đàm thoại Anh Ngữ tại trường Taberd Sàigòn, vào những ngày cuối tuần, tôi tình nguyện lái xe Van của nhà trường cùng với Frère Algibert Nguyễn Văn Cách, chở các bác sĩ và những chị em tình nguyện viên thuộc Ủy Ban Y Tế (COMITA) của nhà trường, đến những khu xóm lao động, nằm xa xôi vùng ngoại ô Sàigòn, để khám bệnh miễn phí, phát thuốc miễn phí, hớt tóc cho những người nghèo tại đây. Như tôi vừa mới đề cập ở trên, tôi có một điều thắc mắc là sự đối xử của tôi hiện nay với Me tôi đang trên giường bệnh, không biết có hành động nào của tôi, có thể được tạm coi là sự báo hiếu một phần nhỏ nào đối với lòng hy sinh cao cả của Mẹ tôi dành cho tôi không? Chứ đối với những công việc làm bác ái của tôi, cho một số những người khác trong quá khứ cho đến hiện tại, qua ân sủng của Chúa ban cho tôi, thì tôi cảm thấy hài lòng, là mình đã đem hết khả năng sức lực của riêng tôi, để phục vụ tha nhân, trong suốt hơn 60 năm qua, từ khi tôi mới 15 tuổi còn đang cắp sách đến trường.

Đôi lúc ngồi thầm lặng một mình, để suy nghĩ lại trường hợp của cậu bé Derby, mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống trong cô nhi viện, qua câu chuyện thương tâm vừa kể trên, tôi thấy cuộc đời của cậu Derby sao quá bất hạnh, đầy những tang thương, đau khổ kéo dài cho đến ngày cậu nhắm mắt vĩnh viễn ra đi, thoát khỏi cuộc đời ô trọc trên trần gian này.Trái lại, tôi chỉ mồ côi Cha khi còn trẻ thơ, nhưng vẫn còn Mẹ cho đến hôm nay và tôi cũng sống nhiều năm trong cô nhi viện như cậu Derby, nhưng sao tôi lại nhận được quá nhiều điều may mắn, ngoài sự mong đợi của tôi. Quả thật, đây là một sự huyền bí, chỉ có Thượng Đế hay Thiên Chúa mới biết được mà thôi. Con xin quỳ gối cúi đầu cảm tạ Thiên Chúa muôn đời, về những hồng ân mà Ngài đã ban cho con và cho gia đình con. Amen.

THỨC MÀ KHÔNG TỈNH – TỈNH MÀ KHÔNG THỨC

THỨC MÀ KHÔNG TỈNH – TỈNH MÀ KHÔNG THỨC

LM Minh Anh (Gp. Huế)

“Lạy Chúa, con nâng hồn lên tới Chúa.
Lạy Chúa, con nâng hồn lên tới Ngài”.

HAY SAN SANG

Các bạn trẻ thân mến,

Thánh Vịnh đáp ca của Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay là một lời cầu nguyện khẩn thiết, cũng là tâm tình đúng đắn để chúng ta đi vào Mùa Vọng, khởi đầu một năm phụng vụ mới.  Bởi lẽ, là những người đang sống trên đất, dường như chúng ta đang quá lo lắng những chuyện ngang đất.  Đi giữa ban ngày, nhưng lắm lúc chúng ta đang lần khần trong đêm tối; trừng trừng mắt mở, nhưng không ít lần chúng ta lại hoá đang ngủ mê.  Ấy thế, khởi đầu Mùa Vọng, Lời Chúa hôm nay nói với chúng ta: “Hãy tỉnh thức, hãy cầu nguyện.”

Và thật ý nghĩa, theo Tin Mừng Luca, khi “Hãy tỉnh thức, hãy cầu nguyện” chính là câu nói cuối cùng trong Diễn Từ Chung Luận của Chúa Giêsu trước khi Ngài ra đi chịu chết.  Vậy thì tại sao “lời cuối cho nhau” lại là tỉnh thức và cầu nguyện mà không là một lời nào khác?

Phải chăng, bởi Chúa Giêsu biết có nhiều người thức mà không tỉnh; hay ngược lại, nhiều người tỉnh mà không thức?

Thức mà không tỉnh nghĩa là mê.  Ở đây không nói đến mê ngủ nhưng nói đến mê lầm, mê muội, mê đắm: tức là mê danh, mê tiền, mê việc, mê đất, mê người… mê đến nỗi quên tất cả, quên cả Chúa, quên cả người, quên cả bà con ruột rà anh em và nhất là quên cả nhân cách, quên luôn cả linh hồn mình.  Thức mà không tỉnh là vậy!

Còn tỉnh mà không thức là thấy điều lành nhưng lại không ao ước, mà có ao ước cũng không dám thực hiện.  Vì lẽ, thực hiện thì phải cố gắng, cố gắng lại phải hy sinh, hy sinh hẳn phải bỏ mình.  Bởi thế, sẽ không ngạc nhiên khi có người định nghĩa: “Hoả ngục là nơi được lát bằng những thiện chí.”  Tỉnh mà không thức là thế!

Kho tàng ngụ ngôn Ấn Độ kể rằng:  Cụ già kia có cô cháu ngoại 12 tuổi với khuôn mặt thật xinh xắn, đôn hậu; nhưng rủi thay, cô bé bị mù từ thuở mới sinh.  Bởi thế, ngày ngày cô thầm khóc vì tủi thân và nét mặt bao giờ cũng trầm buồn.  Cho đến một hôm, cụ già gọi cô lại và bảo: “Cháu ơi, trên đời này người ta khổ vì mê, người ta bất hạnh vì lầm.  Vì mê, nên người ta so; vì lầm, nên người ta sánh.  Phần cháu, cháu không mê, cũng không lầm; cháu không so, cũng không sánh nên thật hạnh phúc.”

Cô bé xem ra không hiểu nên ngoại em nói tiếp: “Người ta so sánh cái này với cái kia, người này với người nọ.  Chính cái hơn thua làm cho người ta đau khổ, chính cái đua đòi làm cho người ta u mê, để rồi họ miên man chạy theo danh, hụt hơi tìm theo lợi, rong ruổi theo cái phù hoa, bất chấp phải xâu xé, không ngại phải dẫm đạp…  Thế mà đang khi đó, mấy ai nhớ rằng, tất cả mọi sự đang qua đi, tất cả mọi sự đang tan chảy; có cái tan nhanh như bọt nước, có cái tan chậm như địa cầu.  Mỗi người quên rằng, chính thân xác họ đang tan, cuộc đời họ cũng đang chảy.  Sống thêm một ngày là một ngày bước tới gần bên huyệt mộ của mình”.

Nghe xong lời giải thích, cô cháu lặng người, những giọt lệ từ đôi mắt mù loà lăn dài trên đôi má; nhưng cũng từ đó, khuôn mặt cô bắt đầu rạng rỡ.  Cô cảm nhận mình đang thật hạnh phúc.

Các bạn thân mến,

Khởi đầu Mùa Vọng, là những lữ khách trên chốn trần ai, chúng ta không được đề nghị hãy quên những chuyện dưới thấp để sống lỏng bỏng hỏng chân cho những chuyện trên trời, nhưng mỗi người đang được mời gọi hướng lên cao đang khi chu toàn những công việc dưới thấp, mỗi người được mời gọi làm những việc bình thường một cách phi thường, nghĩa là được mời gọi nâng tâm hồn lên tới Chúa.

Mỗi người hãy ao ước thưa lên: “Lạy Chúa, con nâng hồn con lên tới Chúa, con nâng hồn con lên tới Ngài.”  Muốn được vậy, chớ gì chúng ta cũng biết tỉnh thức và cầu nguyện luôn để không phải là người lừng khừng đi giữa ban ngày mà thực tế, đang lầm lũi trong đêm; để không là những người quá quen với bóng tối đến nỗi không biết ở bên kia vẫn còn sự hiện diện của ánh sáng.

Vậy mà, tự sức chúng ta, tỉnh thức và cầu nguyện lại không dễ chút nào.  Hãy đến với Chúa Giêsu mỗi ngày trong phép Thánh Thể, vì Thánh Thể không chỉ là của ăn linh hồn nhưng còn là mặt trời cho mỗi ngày sống của chúng ta.

Càng đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta càng được mạnh sức; càng đến với Ngài, chúng ta càng được khôn ngoan, tỉnh táo.  Tâm có tỉnh, trí mới khôn; lòng có cầu, ý mới nguyện.  Tỉnh thức và cầu nguyện là vậy, là ước ao nên tốt hơn mỗi ngày, là biết sống như những người con sẵn sàng đứng thẳng và ngẩng đầu lên một khi ra trước mặt Chúa.

Mỗi người chúng ta có thể cầu nguyện: “Lạy Chúa, dù làm việc, dù học hành…, mỗi chúng con cũng đang bôn tẩu ngược xuôi giữa chợ đời.  Xin hãy dừng bước chân con, xin hãy dừng bước chân con… để con cũng có thể nâng hồn lên tới Chúa; cho tim con đang trĩu nặng được thư thái, cho trí xôn xao của con được lặng yên, cho thần kinh căng thẳng của con được dịu lại, cho gân cốt mệt nhoài được ngơi nghỉ.  Cho con thật tỉnh thức và chuyên chăm nguyện cầu.

Giữa bao công việc thường ngày, xin dạy con biết dừng lại năm mười phút, trầm sâu xuống lòng mình để nghe cho được tiếng Chúa, tiếng tha nhân và cả tiếng lòng con.

Xin cho con mỗi tuần, ít nữa ngày Chúa Nhật, biết dành thời giờ cho Chúa, cho linh hồn con nhiều hơn.  Từ đó, con có thể rút ra nguồn sáng mới, sức mạnh mới và lòng dũng cảm mới.  Và lạy Chúa, cho dẫu trời có sập xuống, đất có vỡ đôi khi mà mọi người phải hồn xiêu phách lạc, thì phần con, lạy Chúa, Chúa có thể gọi con bất cứ lúc nào vì con đang tỉnh thức và cầu nguyện để luôn sẵn sàng; sẵn sàng khi thức, sẵn sàng cả lúc ngủ, nhất là giấc ngủ không bao giờ chỗi dậy, giấc ngủ sau cùng, Amen”.

LM Minh Anh (Gp. Huế)

Môn sử ở trường phổ thông: đa dạng quan điểm và sự thật lịch sử

Môn sử ở trường phổ thông: đa dạng quan điểm và sự thật lịch sử

Blog RFA

Nguyễn Thị Từ Huy

Nhân cuộc thảo luận đang diễn ra gần như trên phạm vi toàn xã hội về vị trí thê thảm của môn lịch sử trong Dự thảo chương trình giáo dục tổng thể do Bộ Giáo dục ban hành trong khuôn khổ dự án cải cách giáo dục mà BGD đang thực hiện, tôi xin giới thiệu lại ở đây bài phỏng vấn một giáo viên Pháp dạy môn lịch sử ở cấp trung học cơ sở, từng công bố trên tạp chí Tia sáng. Tựa đề do tôi đặt lại.

Khi có thời gian tôi sẽ trở lại với dự thảo về cải cách chương trình môn sử, một cách cụ thể.

Tạm thời xin nêu ra đây mấy câu hỏi :

1/ Nếu coi việc rút bỏ thời lượng của môn sử và đem nó tích hợp với hai môn khác là một sự cải cách, thì cải cách này sẽ mang lại kết quả hay hậu quả nào ? Cải cách này liệu có góp phần giải quyết các vấn đề hiện tại mà môn lịch sử đang gặp phải hay không ? Những người thiết kế chương trình có hình dung tới kết quả hay hậu quả của các đề xuất do mình đưa ra ?

2/ Tên gọi của môn lịch sử, trên thực tế, không tồn tại trong Dự thảo, nó đã được thay thế bằng một tên mới « Công dân và Tổ quốc ». Tên gọi này cho thấy, môn lịch sử thậm chí không có được sự bình đẳng với hai môn mà nó tích hợp : giáo dục công dân và giáo dục quốc phòng. Điều này, cộng với sự giảm thiểu thời lượng đến mức thảm hại của môn sử, đã gây nên nỗi lo âu cho nhiều bộ phận xã hội trước nguy cơ về sự biến mất của môn lịch sử. Nguy cơ này có thật hay không ? Khi hình dung về nguy cơ này, nhiều người nghĩ đến ý kiến của Havel, nguyên tổng thống Tiệp Khắc, về việc trong chế độ toàn trị không có lịch sử, và đồng thời nghĩ đến việc lịch sử đã bị viết lại như thế nào và bị xuyên tạc một cách có hệ thống như thế nào trong các chế độ cộng sản.

3/ Nếu nguy cơ môn lịch sử biến mất là có thật, và nếu BGD và những người soạn dự thảo chương trình cương quyết không thay đổi quan điểm của mình, nếu việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về dự thảo chương trình giáo dục cũng có cùng bản chất với việc lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo hiến pháp sửa đổi vừa qua : dân đóng góp ý kiến thì cứ đóng góp, phần quyết định thuộc về những người nắm quyền lực, và khi quyết định người nắm quyền không thèm đếm xỉa đến ý kiến của dân, thì trong trường hợp này, xã hội cần phải làm gì để ký ức lịch sử của toàn dân tộc không bị xóa bỏ ?

4/ Những người bảo vệ xu hướng rút bỏ tối đa thời lượng môn sử và tích hợp để biến nó thành một bộ phận của môn « Công dân và Tổ quốc » cho rằng : « không nên quan niệm giáo dục lịch sử trong nhà trường là phải dạy các kiến thức của khoa học Lịch sử một cách hệ thống ».

Trong khi đó quan điểm của giáo viên sử ở Pháp (tôi trích nguyên văn từ bài phỏng vấn dưới đây) : « Các chương trình cũng phản ánh sự tiến triển của khoa học lịch sử. Cuối thời kỳ thống trị bởi cái gọi là Biên niên sử (Annales), từ những năm 1980, khoa học Lịch sử là nơi các thành tố chính trị và văn hóa được đánh giá trong tương quan với kinh tế và xã hội, và các chủ đề nghiên cứu cũng chia cắt với nhau thành những chủ đề nhỏ hơn. »

Vì sao có sự khác nhau trong quan niệm về môn sử ở trường phổ thông, khác nhau đến mức trái ngược như vậy ?

5/ Cuối cùng : trong nhìn nhận của nhiều người, việc « tích hợp » môn sử có lẽ cho thấy giáo dục Việt Nam bị chính trị hóa một cách sâu sắc như thế nào, và những người soạn chương trình bị chính trị chi phối một cách đau đớn đến như thế nào.

Tuy nhiên, nếu quả thật không phải như vậy, nếu quả thật những người thiết kế chương trình lần này có tự do đề xuất ý tưởng của mình và không bị cái vòng kim cô của Ban Tuyên giáo siết chặt, thì mong rằng chúng ta có thể chứng kiến việc những người soạn chương trình có tự do thay đổi ý tưởng, dựa trên việc phân tích thực tế xã hội chính trị của Việt Nam hiện thời, dựa trên việc tiếp thu lòng dân và nỗi niềm của tầng lớp trí thức.

Tự do thay đổi Dự thảo còn là biểu hiện của lương tâm và trách nhiệm của những người làm chương trình đối với thế hệ trẻ và đối với vận mệnh dân tộc.

Paris, 26/11/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

Môn sử ở trường phổ thông: đa dạng quan điểm và sự thật lịch sử

Nguyễn Thị Từ Huy (NTTH):

Trước hết, xin cám ơn ông đã cho tôi dự tiết ông dạy về chủ nghiã Quốc-Xã ở lớp 9.  Tôi theo dõi ông làm việc với một nửa lớp, gồm những học sinh chậm tiến. Nhưng tôi không cảm thấy là học trò của ông gặp khó khăn, vì ông đã thúc đẩy các em nói ra các ý kiến của mình, giúp các em hiểu bài, nắm được các khái niệm và những hiện tượng phức tạp khó nắm bắt, như hệ ý thức Quốc-Xã, như chủ nghĩa bài Do Thái, như khái niệm chuyên chế …  Tôi nhận thấy ông không nói nhiều, mà đặt nhiều câu hỏi. Khi học trò không trả lời được ngay, ông đưa ra các gợi ý hoặc ông nêu câu hổi theo cách khác. Tôi thấy ông tỏ ra rất kiên nhẫn để hướng các học trò tới các mục tiêu bài học phải đạt được. Tôi có thể hình dung thấy việc ông chuẩn bị bài giảng chẳng đơn giản chút nào, ông đã đưa ra bốn lược đồ và học sinh phải tự phân tích dưới sự hướng dẫn của ông. Xin ông làm ơn giải thích chi tiết hơn về phương pháp làm việc của ông cũng như về mục đích chính xác của bài dạy này?

Dominique Delmas:

Một trong những mục tiêu có tính thách thức trong chương trình Sử học lớp 9 trung học cơ sở là làm cho học sinh hiểu rõ hai nhà nước toàn trị thế kỷ thứ 20, là nhà nước Đức Quốc-Xã và nhà nước kiểu Stalin, làm sao chỉ ra cho các em thấy hai nhà nước đó có gì giống nhau và có gì khác nhau.

Tôi hoàn toàn tôn trọng phương pháp suy diễn, xuất phát từ các tư liệu lịch sử để đi tới phát hiện hệ ý thức, các mục tiêu và cách thức hoạt động trong thực tiễn của các chế độ toàn trị, nên tôi đã nghĩ đến việc sử dụng các hình ảnh thị phạm trong đó có cả lược đồ và biểu tượng, tôi làm như vậy vì 4 lý do chính sau đây:

–       Bằng cách thêm dần, trong quá trình thày trò cùng làm việc, từng yếu tố một vào lược đồ mang hình ảnh thị phạm, ta xây dựng được khái niệm trong tâm trí học sinh theo cung cách tiệm tiến.

–       Bằng cách diễn đạt thị phạm các khái niệm vừa tổng quát vừa trừu tượng đó, ta sẽ giúp học sinh tiếp nhận các khái niệm một cách dễ dàng thoải mái hơn.

–       Việc dùng các hình ảnh được xây dựng theo cùng một cung cách triển diễn và dùng cả các ký hiệu chung khiến cho việc so sánh hai hệ thống được dễ dàng hơn.

–       Ta có thể giúp học sinh làm việc bằng cách yêu cầu các em chuyển từ ngôn ngữ này [thị phạm – ND thêm] qua ngôn ngữ khác [nói và viết – ND thêm] bằng cách yêu cầu các em tái tạo lại các lược đồ dưới dạng văn bản viết.

Điểm cuối cùng vừa nói lắm khi cũng rắc rối. Có khi các em quên diễn đạt lại một số yếu tố trong lược đồ, khi thì các em không tìm được yếu tố ngôn ngữ cần cho cách biểu đạt khác, và cũng có khi các em không tái tạo lại lược đồ trước theo một lô gich chặt chẽ nhất quán (trật tự từ hệ ý thức sang các mục tiêu sang hành động thực tiễn và các dẫn chứng).

Trong ba hình thức văn bản viết cơ bản mà khoa Sử học yêu cầu: loại chuyện tự sự, bảng biểu diễn một tình huống, và việc mô tả có suy lý một hiện tượng lịch sử hoặc một khái niệm rút ra từ hiện tượng đó, thì dạng văn bản cuối cùng này hay gặp rắc rối hơn cả. Điều đó có nhiều lý do: việc tạo dựng [lại trong tâm lý học sinh – ND thêm] không tuân thủ một lô gích tuyến tính hoặc một lô gích theo chủ đề, nên người học cần làm chủ được những thuật ngữ phức tạp đồng thời cũng cần biết cách đi từ cái chung đến cái riêng, từ cái trừu tượng đến cái cụ thể, nghĩa là đi con đường quy nạp, ngược với con đường diễn dịch, (từ những tư liệu cụ thể đến tổng quát hóa) được ứng dụng khi học.

Về cách thức làm việc, chị đã hoàn toàn thấy rõ những gì tôi tìm cách thực hiện. Cách tôi sắp đặt các bảng nhằm tạo thuận lợi cho cả những trao đổi và việc lắng nghe lẫn nhau. Việc phát biểu ý kiến và việc đưa ra các giả thuyết đều được khuyến khích tối đa nhằm củng cố sự tự tin và độ tin cậy lẫn nhau giữa các học trò phần lớn đều thuộc diện gặp khó khăn[1]. Các buổi làm việc chung theo cách thức đối thoại đan xen nhau với các buổi khác để trẻ em được làm việc độc lập hoặc theo từng cặp đôi. Khi đó việc trao đổi với giáo viên mang tính cá thể hơn và thích hợp với từng học trò riêng rẽ. Cũng có cả hình thức hoạt động học khác là cách viết bài mà không ít học sinh cho đến lúc này vẫn gặp khá nhiều khó khăn.

NTTH

Giá mà được ông cho biết về sách giáo khoa Sử học trường phổ thông thì hay vô cùng. Ông là tác giả sách Sử học dùng trong trường này, ông có thể chia sẻ với chúng tôi những gì liên quan đến cấu tạo sách giáo khoa của ông, về nguyên tắc biên soạn, và cả về chương trình Sử học bậc trung học cơ sở của nước Pháp?

Dominique Delmas

Sách giáo khoa được biên soạn bởi những nhóm giáo viên thường là do tổ chức IPR thanh sát (IPR viết tắt của Inspecteurs Pédagogiques Régionnaux là Thanh tra Sư phạm Khu vực phụ trách đánh giá các giáo viên trung học). Tại từng trường, các giáo viên bỏ phiếu chọn một trong số những sách giáo khoa được in ở các nhà xuất bản khác nhau (có chừng tám nhà xuất bản như thế). Ở trường phổ thông cơ sở (collège), sách giáo khoa được phát không, nhưng trường trung học phổ thông (lycée) thì không như vậy.

Các tác giả sách giáo khoa biên soạn dựa trên những chương trình học chính thức quy định các nội dung hoặc các chủ đề, đôi khi các nhóm biên soạn có chọn lựa khác, nhưng đều phải có những thực hành đặc biệt thí dụ như huấn luyện cách học tự sự hoặc nghiên cứu tác phẩm nghệ thuật như là chứng nhân của Lịch sử. Ở Pháp, do thực hiện chế độ giáo dục bắt buộc cho tới 16 tuổi, học sinh từ lớp 6 tới lớp 9 phải học cho xong những giai đoạn lớn của Lịch sử kể từ thời Cổ đại tới thế giới đương đại. Chương trình học tập trung vào Pháp và châu Âu. Các không gian lịch sử được mở rộng dần, từ vùng Địa Trung Hải tới Đại Tây Dương, rồi tuần tự tới các vùng khác trên thế giới. Cũng có vài chuyên đề riêng nhưng ngắn gọn học ở lớp 6 về triều đại Gupta của Ấn Độ và thời nhà Hán của Trung Hoa, ở lớp 5 có bài về các vương quốc và đế quốc Tây Phi châu thế kỷ thứ X và XV. Các chương trình cũng phản ánh sự tiến triển của khoa học lịch sử. Cuối thời kỳ thống trị bởi cái gọi là Biên niên sử (Annales), từ những năm 1980, khoa học Lịch sử là nơi các thành tố chính trị và văn hóa được đánh giá trong tương quan với kinh tế và xã hội, và các chủ đề nghiên cứu cũng chia cắt với nhau thành những chủ đề nhỏ hơn.

Như chị đã thấy, các chương sách đều có những trò chơi đan xen với các tư liệu khác nhau để các giáo viên lấy từ đó ra để tổ chức cho học sinh hoạt động học. Trong các trò chơi và tư liệu đó nhất thiết phải có một «bài học» dưới một hình thức trình bày sáng sủa và dễ hiểu, mà người học phải tìm ra được phần căn bản của chủ đề được đề cập tới. Sách giáo khoa cũng phải chịu những ràng buộc từ phía nhà xuất bản: maket và cách dàn trang đôi khi rất áp đặt rất hà khắc, yêu cầu về tính hấp đãn (để ve vãn người mua và người dùng …) đôi khi lại dẫn tới sự đơn giản hóa quá mức.

NTTH :

Ông dạy những nội dung nào về Lịch sử Pháp cho học sinh lớp 9? Liệu những sự kiện coi là nhạy cảm (như chiến tranh Algérie) có được đem dạy không?

Dominique Delmas :

Ở lớp 9, học trò học lịch sử Pháp thế kỷ XX.  Chương trình học ưu tiên cho ba thời điểm nổi trội: nước Pháp thời kỳ giữa hai cuộc Đại chiên thế giới, nước Pháp thời Đức Quốc-Xã chiếm đóng, phe Kháng chiến và phe Hợp tác với Đức, sau cùng là Đệ Ngũ Cộng hòa từ năm 1958 cho tới thời điểm hiện nay. Cuộc chiến Algérie được học trong chương về giải trừ chế độ thực dân. Dần dà, với vấn đề này và nhiều vấn đề khác nữa, như vấn đề về Thời bị Đức chiếm đóng, cùng với những thay đổi thế hệ và những tiến bộ trong nghiên cứu, thực tại được bóc trần ở mọi kích tấc, kể cả những thứ khó xử nhất hạng đốí với ký ức quốc gia dân tộc. Trong Thế chiến 2 chẳng hạn, đó là những vấn đề về vài trò của chính phủ Vichy và vai trò của một số người Pháp trong các vụ bắt bớ người Do Thái và đàn áp người kháng chiến, hoặc trong cuộc chiến tranh Algérie thì có những vấn đề về tội ác chiến tranh và tra tấn.

Liên quan đến Lịch sử nước Pháp đương đại được dạy ở bậc Trung học cơ sở, có bốn yếu tố chính yếu trong những năm 1970 đã giúp vào việc nghiên cứu những phương diện đối lập nhau trong những giai đoạn lịch sử nhất định: sự thay đổi các thế hệ, những công trình của các nhà nghiên cứu đôi khi là các nhà nghiên cứu người nước ngoài như nhà viết sử người Mỹ, Paxton, tác phẩm của ông về chính quyền Vichy đã gây sốc tại Pháp[2], sức mạnh phản kháng trước và sau Biến cố tháng Năm 1968, sau nữa là những đòi hỏi của các thế hệ con cháu muốn được nghe tiếng nói và ký ức của những người thiểu số (Người Pháp gốc Algérie vẫn gọi là Pieds-Noirs, người «lính địa phương»  Algérie  vẫn gọi là người Harkis, những chiến binh Mặt trận Giái phóng Dân tộc Algérie -FLN- trên đất Pháp).

Các sách giáo khoa được viết tự do về những tội ác gắn liền với chế độ thực dân hoặc vấn đề về những cuộc nổi loạn năm 1917 trong Thế chiến thứ nhất. Với những giai đoạn lịch sử xa hơn nữa, các quan điểm có khác nhau. Thế nên, ở lớp 8 Trung học cơ sở, triều đại của Louis XIV không chỉ được nghiên cứu dưới lăng kính hành động của nhà vua và giới tinh hoa mà cũng còn được xem xét theo các điều kiện của người dân thời đó. Về nước Pháp thế kỷ 20, có hai vấn đề gai góc nhất, như tôi đã nói, là giai đoạn Chiếm đóng và giai đoạn giải trừ chế độ thực dân, nhất là về cuộc chiến tranh Algérie. Về giai đoạn Chiếm đóng, những vấn đề liên quan đến chính sách Do Thái của chính quyền Vichy và sự tham gia vào chính sách này của người dân Pháp và một bộ phận chính quyền và tổ chức chính trị cũng được xem xét thẳng thắn hơn, đây là một dẫn chứng: trong sách giáo khoa có những tư liệu cho thấy một người Pháp mặc quân phục Đức trên vai có phù hiệu Pháp và cả những tư liệu khác cho thấy cảnh sát Pháp tham gia càn quét người Do Thái rồi chở họ đi trên những xe buýt tịch thu của lực lượng du kích kháng chiến RATP. Cũng có những tài liệu tương tự về thái độ và dư luận công chúng rất đa dạng, có vẻ như hồi ban đầu tỏ ra đi theo phe đa số của thống chế Pétain và cứ thay đổi tiến bộ dần trải qua thời kỳ kéo dài bốn năm chiếm đóng. Sau hết, chuyện chiến tranh Algérie, Sử học dạy ở nhà trường cố gắng cho thấy sự đa dạng trong quan điểm và cố không che dấu sự tàn bạo của các cuộc đụng độ: phe khủng bố và việc đàn áp phe khủng bố. Nhưng các cuộc tranh cãi vẫn còn nóng hổi, một khi vị trí quan trọng vẫn dành cho việc dạy Sử học trong nhà trường Pháp. Mới cách đây vài năm thôi đã có dự luật trình Quốc Hội cho phép nhà trường thừa nhận phương diện tích cực của chế độ thực dân.

                     Phạm Toàn dịch từ tiếng Pháp

1 Thiếu tự tin dường như là một đặc tính của học sinh Pháp. Khi tham dự các test quốc tế của tổ chức Hợp tác và Phát triển châu Âu OCDE, đa số học sinh Pháp chọn cách không-trả lời thay vì chọn cách có thể sai, các em học sinh Pháp chiếm số đông trong đám ngồi im thin thít hơn là rơi vào nguy cơ sai lầm.

2 Tác giả chứng minh rằng đường lối chính trị của chính quyền Vichy không chỉ là hệ quả của những áp lực và mệnh lệnh của quân chiếm đóng.

Bỏ môn lịch sử làm gì?

Bỏ môn lịch sử làm gì?

Người Buôn Gió

Bộ Giáo Dục Việt Nam đã đưa ra một dự kiến bỏ môn Lịch Sử trong giảng dạy, chuyển môn này vào phần Giáo Dục Công Dân. Một cuộc hội thảo chính thức đã diễn ra , theo như lời của sử gia Dương Trung Quốc thì hội thảo này chủ đề là.

“Tích hợp giáo dục lịch sử, giáo dục quốc phòng an ninh và giáo dục công dân hợp thành môn công dân với Tổ quốc trong chương trình giáo dục phổ thông mới” do Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 3-11”.

Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã lên tiếng phản đối dữ dội trước dự thảo này của bộ giái dục Việt Nam. Từ giáo sư Phan Huy Lê, sử gia Dương Trung Quốc đến nhiều nhân sĩ, trí thức khác.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Cơ nguyên phó chủ nhiệm khoa lịch sử trường đại học sư phạm Hà Nội cho rằng việc làm này là có tội với tổ tiên, đất nước. Còn giáo sư Phan Huy Lê gọi đó là thủ tiêu môn lịch sử, ông sử gia Dương Trung Quốc bày tỏ nhẹ nhàng hơn rằng ông thất vọng việc bỏ môn lịch sử.

Thực tế cho thấy nhiều năm trở lại đây học sinh không thiết tha gì với môn lịch sử. Đỉnh điểm kỳ thi hồi tháng 7 năm 2015 mới đây tại một điểm thi chỉ có môn thí sinh thi môn lịch sử, và cần đến 66 người coi cuộc thi này.

Không ai học như vậy, bỏ cũng là đúng. Nhưng trước tiên phải đi ngược lại vấn đền là tại sao học sinh không muốn học. Nguyên nhân do đâu?

Nguyên nhân môn lịch sử VN không thu hút được học sinh, bởi nó được soạn  theo ý đồ chính trị của Đảng CSVN, của Ban tuyên giáo ĐCSVN…những nơi chỉ có lừa đối, tuyên truyền một chiều ngự trị, miễn sao là có lợi cho vai trò cầm quyền của Đảng. Ở môn học này những phần về lịch sử Việt Nam thời xưa được dạy sơ sài , chẳng hạn đến Hai Bà Trưng đánh giặc nào cũng không được nói rõ.

Như tấm bia lớn để  giữa nghĩa trang liệt sĩ hy sinh trong cuộc chống Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía Bắc chỉ được ghi là hy sinh, hay những tâm bia tội ác chống quân Trung Quốc bị đục bỏ. Hai Bà Trưng cũng chỉ được ghi chung chung là đánh quân xâm lược. Ngược lại thì khắp nơi trên đất Việt Nam đầy rẫy tấm bia ghi tội ác đế quốc Mỹ, sách giáo khoa cũng chi tiết vậy. Lịch sử Việt Nam cả ngàn năm chống chọi trước âm mưu thôn tính của Trung Quốc. Bỏ môn lịch sử đi tức là xoá ký ức của dân tộc, làm lãng quên sự cảnh giác trước âm mưu xâm lược của Trung Quốc. Những cuộc kháng chiến chống phương Bắc đầy rẫy những hình ảnh oai hùng, có tác động khơi dậy tính dân tộc quật cường sẽ bị xoá bỏ.  Nếu nhìn thấy việc các đài truyền hình Việt Nam, các nhà xuất bản ở Việt Nam cho ra liên tiếp và trình chiếu những tác phẩm của Trung Quốc, chúng ta có thể thấy đây hẳn là một ý đồ có tính toàn diện thôn tính tư tưởng người Việt, tẩy não cả một dân tộc nhằm mục đích thay thế hình ảnh Trung Quốc đầy dã tâm bằng một Trung Quốc thân thiện với Việt Nam.

Từ thời Hai Bà Trưng đánh giặc nào không biết, đến chiến tranh biên giới chống quân Trung Quốc  hay sự kiện Hoàng Sa, Trường Sa bị Trung Quốc cướp không có trong sách giáo khoa. Thay thế vào đó là quan hệ Việt Trung mười sáu chữ vàng, hữu nghị mà Đảng nhồi vào sách giáo dục công dân.  Chắc hẳn thế hệ sau này sẽ chỉ biết đến một Trung Quốc tốt bụng và người anh em thân thiết với đảng cộng sản Việt Nam.

Cùng với bán tài nguyên, đất đai, biển đảo cho Trung Quốc. ĐCSVN đang rắp tâm bán nốt tư tưởng dân tộc cho Trung Quốc qua việc bỏ môn lịch sử bằng một thủ đoạn thâm hiểm là đầu tiên dạy sơ sài, dối trá cho học sinh chán. Tiếp theo vin vào lý do học sinh không muốn học để bỏ môn này, gom vào môn giáo dục công dân. Một cái tên nghe đã thấy nặng mùi tuyên truyền, nhồi nhét tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam. Học sinh  Việt Nam sẽ không được giáo dục theo truyền thống tổ tiên nữa mà giáo dục thành con người của CNXH, con người của Đảng, của Mác, Lê Ninh, Hồ Chí Minh.

Chính phủ Việt Nam nói rằng hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đời này không đòi được, thì để đời con cháu sau này đòi. Nhưng với sự giáo dục như thế này thì liệu rằng con cháu đời sau lấy tinh thần nào để làm động lực đòi lại hai quần đảo ấy? Cứ cái đà giáo dục, tuyên truyền đang diễn ra thì vài mươi năm nữa có khi thế hệ sau ở Việt Nam xin sát nhập vào Trung Quốc cũng chẳng có gì là ngạc nhiên. Bởi diễn biến tâm lý về mặt tư tưởng ấy đã được sắp thành lộ trình từ hàng chục năm trước giữa Cộng Sản Việt Nam và Cộng Sản Trung Quốc.

Bỏ môn lịch sử, mục đích duy nhất của chế độ CSVN ngày nay là nằm trong kế hoach thôn tính tư tưởng, nô lệ hoá dân tộc vào Trung Quốc sau này.

Đòi hỏi giữ nguyên môn lịch sử chưa đủ, cần phải đòi hỏi cải cách giáo trình môn học này, đưa những bài học chân thực và khách quan trong lịch sử vào giảng dạy. Nhà văn nổi tiếng Gamzatov nói rằng ” nêú anh bắn vào quá khứ bằng súng lục, tương lai sẽ bắn vào anh bằng đạn đại bác ”. CSVN còn vượt quá hơn câu thành ngữ ấy, bằng cách xoá sổ quá khứ của dân tộc. Bằng một cuộc tẩy não mà chỉ có chế độ độc tài, phát xít hay dùng đến.

Hãy nghe lời tâm tình của Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Quốc Sử trả lời báo Một Thế Giới.

”Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống. Hầu hết những gì diễn ra hôm nay đều có nguồn cội, căn nguyên từ quá khứ, hay nói cách khác đó là sự tiếp nối của quá khứ. Bởi thế, muốn hiểu hiện tại, muốn hành xử cho đúng, không lệch lạc trong tương lai thì phải soi chiếu vào lịch sử.

Còn môn lịch sử, nó sẽ giúp chúng ta tìm hiểu quá khứ một cách có hệ thống. Tuy nhiên, có nhận thức đúng về quá khứ hay không còn phụ thuộc vào quan điểm và phương pháp nhận thức, quan điểm và phương pháp nghiên cứu lịch sử, dạy và học sử của mỗi người.

Đất nước, cộng đồng hay cá nhân nào cũng cần đến vai trò của lịch sử. Với dân tộc Việt Nam, việc tìm hiểu lịch sử còn quan trọng hơn nhiều, bởi lẽ đất nước ta luôn bị đe dọa, xâm lăng, ngay cả lúc này. Vì vậy, việc tìm hiểu, dạy và học lịch sử là một trong những vấn đề sống còn của mỗi người trong cộng đồng dân tộc. Hơn nữa, Việt Nam đang ở trong thời kỳ hội nhập, học sử là để hiểu mình, hiểu người, giúp chúng ta biết mình đang ở tầm vóc nào, hiểu rõ bạn bè và kẻ thù của mình, từ đó sẽ hội nhập tốt hơn.”

Ở cương vị người trong nước, có lẽ phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Quốc Sử chỉ khái quát chung được đến thế, vì ngại vạch rõ  mưu đồ của ĐCSVN. Nhưng dù chỉ khái quát thì cũng dễ thấy quan điểm khoa học đúng đắn của ông trình bày đại diện cho rất nhiều tâm tư của người dân Việt Nam.

CSVN đã bán hết phần xác thịt của đất nước như tài nguyên, chủ quyền cho Trung Quốc. Giờ đang đến lúc CSVN bán phần linh hồn dân tộc cho bọn quỷ dữ ngoại bang phương Bắc. Mọi người dân cần nhìn rõ thủ đoạn nham hiểm này để cất tiếng nói giữ gìn được sinh khí của dân tộc, hồn thiêng của sông núi. Không thể làm ngơ cho Cộng Sản, một thứ quái thai của loài người lộng hành, tác quái , bất chấp cả lương tri, đạo lý  mà tự tung, tự tác như vậy được.

Lịch sử Ngày Lễ Tạ ơn

Lịch sử Ngày Lễ Tạ ơn

Vietsciences-Võ Thị Diệu Hằng    
  • 1/ Lễ Tạ Ơn thời xa xưa
  • 2/ Nguyên nhân cuộc du hành sang châu Mỹ – Tàu Mayflower
  • 3/ Nơi đến không định trước
  • 4/ Khó khăn lúc đầu
  • 5/ Định ngày lễ Tạ Ơn
  • a) Lễ Tạ Ơn tại Mỹ
  • b/ Lễ tạ ơn tại Canada
  • 6/ Các món ăn
  • 7/ Tem cho lễ Thanksgiving
  • 7/Hình ảnh của Mayflower

1/ Lễ Tạ Ơn thời xa xưa

Trong nhiều thế kỷ, lễ tạ ơn bên Âu châu  do  những  nguyên do khác  nhau như ăn mừng thắng trận, mừng mùa gặt hái thành công lớn hay mừng vua vừa được làm bịnh… Nghi lễ Thanksgiving  được tổ chức lần đầu tại miền Bắc nước  Mỹ, năm 1578, khi  nhà  thám hiểm Martin Frobisher đến tân Thế giới. Ông đã tổ chức  lễ này để tạ ơn Trời đã bảo vệ ông và các thủy thủ trong cuộc hành trình nguy hiểm trên biển cả.

Có tám quốc gia trên thế giới chính thức tổ chức lễ Tạ ơn: Argentina, Brazil, Canada, Nhật, Đại Hàn, Liberia, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ

Truyền thống lấy một ngày hay một mùa để cảm tạ ơn trên đã có từ thời xa xưa mà tổ tiên chúng ta muốn chứng tỏ lòng biết ơn  của họ , để làm các vị thần bớt nóng giận.  Từ đó nghi lễ cứ tiếp tục..

Tại Hy lạp thời cổ đại, hàng  năm có tổ chức  lễ hội để cúng dường Demeter,  nữ thần chăm nom mùa bắp, làm tiệc tùng và nhiều hội để cùng vui với nhau.

Mỗi năm, người La Mã tổ chức một kỳ lễ hội cho mùa gặt lớn, tên là Cerelia để thờ lạy Ceres với những trò chơi, diễn hành và  lễ lạc

Lễ gặt hái Sukkoth vào mùa Thu của người  Do Thái vẫn còn tồn  tại từ ba ngàn năm đến nay

Nhà thám hiÃm Martin Frobisher

Một trong những biểu tượng của sự tạ ơn, là cái sừng dê biểu hiệu sự phồn thịnh. Cái sừng tượng trưng  múa màng tốt, là do chuyện thần thoại Hy Lạp: Zeus tặng cho Amalthea cái tù và bằng sừng dê như một cử chi biết ơn bà đã nuôi ông  bằng sữa dê lúc ông còn nhỏ, rằng sừng này sẽ mang  lại sự phồn thịnh cho những ai bà  muốn ban phước.

Trong nhiều thế kỷ, lễ tạ ơn bên Âu châu  có  những  lý do khác  nhau như thắng trận, mùa gặt hái thành công lớn, vua vừa được làm bịnh…

Nghi lễ Thanksgiving  được tổ chức lần đầu tại miền Bắc nước  Mỹ, năm 1578, khi  nhà  thám hiểm Martin Frobisher đến tân Thế giới. Ông đã tổ chức  lễ này để tạ ơn Trời đã bảo vệ ông và các thủy thủ trong cuộc hành trình nguy hiểm trên biển cả.

2/ Nguyên nhân cuộc du hành sang châu Mỹ – Tàu Mayflower

Cho đến nửa thế kỷ sau, ngày 26/11/1620, khi một nhóm người di dân Pilgrims từ Âu châu sang Hoa kỳ bằng tàu Mayflower. Họ gồm  102 thực dân người Anh trong số đó có một người đàn bà có mang, một số thủy thủ khoảng 25-30 người và 35 người  rất sùng  đạo Tin lành đã bị  vua Jacques đệ nhất  đuổi ra khỏi xứ . Họ đặt tên là nhóm Các Cha hành hương Pilgrim (Pilgrim Fathers hay Pères Pèlerins) .  Đầu tiên , họ thử đến Leyde, Hòa Lan nhưng nhà nước Âu châu làm họ thất vọng.  Tại Anh, có những  cuộc nổi loạn tôn giáo làm lộ ra sự xuống dốc của nền quân chủ và chế độ độc tài Cromwell. Anh quốc bị nạn chiến tranh 30 năm. Bên Pháp, cũng  không hơn gì với sự nhiếp chính của Marie de Médicis sau khi vua Henri IV bị ám sát… Do đó nhóm người này quyết định sáng tạo một “Jérusalem mới” ở Mỹ. Lúc đó nữ hoàng  Elizabeth đệ nhất khuyến khích cho dân đến  vùng Virginia (tên của nữ hoàng), do người Anh đô hộ.

3/ Nơi đến không định trước


Các Pilgrims  lên tàu vào tháng  9 năm 1620 , trên chiếc Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn. Cuộc hành trình náo động, lạnh và nguy hiểm. Nước đá lạnh tràn vô tàu khiến mọi người sợ hãi, rồi nơi sàn tàu bằng gỗ xảy ra  tai nạn về lửa nên  người ta phải ăn thức  ăn  lạnh. Nhiều hành khác  đau bịnh.  Trong khi còn trên biển, bà Elizabeth Hopkins sinh một con trai mà bà đặt tên là Oceanus. Và sau khi tàu cập bến tại hải cảng Provincetown, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Peregrine (nghĩa là “người đã làm một chuyến du hành”). Chỉ một thủy thủ và một hành khách chết. Sau  65 ngày trên biển lạnh, , vào ngày 21 tháng 11 năm 1620 (theo lịch Julien là ngày 11/11, lúc đó Anh quốc  đang dùng) tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1 mile = 1,852 km). Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts. Tuy  biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước  sống  hòa hợp với dân bản xứ. Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư. Họ lập một nền dân chủ địa phương hữu hiệu để sau này sẽ mở ra một đại hội, lấy tên là General Court, để bầu những tổng đốc, những  viên chức  hành chánh, lập ra luật lệ, điều hành thuế má và thành lập các tòa án. Từ năm 1639, thuộc địa càng  ngày càng rộng  lớn  ra, không thể mời tất cả các  trại chủ hội họp, nên họ phải bầu người đại diện đi họp thay họ.

4/ Khó khăn lúc đầu

Le premier repas de Thanksgiving (novembre 1621)

Họ tới Plymouth Rock ngày 11 tháng 12 năm 1620.  Vừa xuống tàu là họ ký bản hiệp ước  hòa bình với người dân da đỏ khi vực  láng giềng  (Narranganset và  Wampanoag) . Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ, nhưng  không  quan trọng  lắm. Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông quá lạnh và đầy giông bão .

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắc khe và thiếu thốn, cùng với bệnh dịch  đã làm cho 46 người trong số 102 người tới nơi chết trước mùa Xuân, trong đó có 14 người vợ (trong số  18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người) . Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do người dân da đỏ cung cấp.   May mắn thay mùa gặt năm 1621  thành công giúp những  người di dân sống sót nên họ quyết định làm lễ  Tạ Ơn Trời. William Bradford đã tổ chức  lễ Thansgiving đấu tiên, tháng 11 năm 1621. Họ mời 91 người Mỹ bản xứ (thổ dân da đỏ) đã giúp họ sống còn cho năm đầu tiên của họ trên đất Mỹ vì đã cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng.

Vài tuần sau, người Da đỏ bắt đầu lo lắng vì biết là người da trắng sẽ ở lại đó, nên  họ cho một nhóm 50 binh sĩ mang  một nắm mũi tên gắn với nhau bằng da rắn để tỏ lòng hiếu khách. Bradford đáp lại thịnh tình đó bằng cách gởi đến người Da đỏ một da rắn dồn thuốc súng  và đạn. Và hoà bình thành lập giữa hai cộng đồng.

5/ Định ngày lễ Tạ Ơn

a) L ễTạ Ơn tại Mỹ

Truyền thống kể rằng nhà cầm quyền Massachussets William Bradford đã định ngày lễ này lần đầu tiên vào năm 1621, khi làm bữa tiệc chung chia giữa những di dân Mỹ và những người thổ dân da đỏ khi họ giúp những thực dân sống sót vào những ngày đầu Ðông
Lễ Tạ Ơn đã được cử hành trên khắp nước Mỹ, nhưng mỗi nơi mỗi khác, tùy phong tục của những người di dân nên  ngày lễ không đồng nhất. Nhưng khi các di dân Mỹ bắt đầu đứng lên chống lại đế quốc Anh để giành độc  lập và khi George Washington  thoát khỏi cuộc bao vây ở  Valley Forge, ông đã  tuyên bố ngày lễ quốc gia Thanksgiving đầu tiên vào ngày 26 tháng 11 năm 1789.

 

Đến năm 1830 dân tộc bắt đầu chia rẽ, các tiểu bang miền Bắc  thành lập ngày lễ Tạ Ơn  và sau đó bà Sarah Josepha  Hale đi cổ động trên khắp nước Mỹ để có được một ngày lễ Tạ Ơn đồng nhất cho tất cả các tiểu bang.

Đến khi  Nam Bắc nước Mỹ phân tranh, các tiểu bang miền Nam đòi ly khai, tổng thống Abraham Lincoln lấy ngày lễ Thanksgiving để nhắc đến công ơn của các di dân Pilgrims đầu tiên đã dựng nên nước Mỹ. Ông làm tăng thêm ý nghĩa của lễ năm 1863 và định ngày cho lễ này hàng năm vào thứ Năm cuối cùng của tháng 11

Trong nhiệm kỳ của tổng thống Franklin Delano Roosevelt, vào những năm 1940, là thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến,  Quốc Hội Mỹ đang trong thời kỳ chiến tranh, đã biểu quyết ngày lễ Tạ Ơn là ngày quốc lễ của toàn thể liên bang để tưởng nhớ tới những công  lao những người đã hy sinh và ông Franklin Delano Roosevelt quy định lấy ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 4 của tháng 11.

b/ Lễ tạ ơn tại Canada:

Thứ Hai của tuần lễ thứ 2 của tháng  10

Lễ thanksgiving của Canada đầu tiên khoảng 43 năm trước khi những người Pilgrim tới Plymouth Rock năm 1620. Khoảng 1576, một nhà hàng hải người Anh Martin Frobisher cập bến tại Baffin Island và tính định cư tại đó. Ông làm lễ tạ ơn tại một nơi mà ngày nay có tên là Newfoundland vì đã  sống sót sau chuyến hành trình dài trên đại dương. Sau đó những người định cư khác đến và những  buổi lễ cho những người tới nơi bình yên tại đây cũng được tổ chức  tại Âu Châu trong mùa gặt hái. Về chuyện  mùa gặt làm lễ tạ ơn thì bên Âu châu đã có từ hai ngàn năm trước

6/ Các món ăn:

Ngày xưa, lễ Tạ ơn kéo dài ba ngày. Tuy nhiên họ không  thực sự chỉ ăn gà tây (turkey, dindon) bởi vì chữ “turkey” lúc  bấy giờ dùng để chỉ gà tây, gà, chim cút, chim trĩ … Chắc chắn là họ không làm bánh nướng  nhân bí ngô bởi vì họ không có bột và đường; và phần đông  không  ăn  khoai tây vì họ cho khoai tây độc (khoai tây khi nẩy mầm rất độc , đó là khả năng tự vệ của khoai tây chống  lại các côn trùng, nên  đừng ăn phần khoai ở chỗ mầm đang nhú).

Ngày nay, trong dịp lễ này gia đình đoàn tụ. Khách có thể mang theo món ăn cho lễ nhưng nhất là không có quà cáp

Gà tây: Cho dù những người hành hương có ăn gà tây hay không cho lễ Thanksgiving đầu tiên, thịt gà tây  luôn luôn được gắn liền với lễ này

Bí đỏ: Là loại rau đã cứu sống  những người hành hương trong mùa lạnh kinh khủng đầu tiên ấy, đã trở thành món ăn quan trọng gần như thịt gà tây.

7/ Tem cho lễ Thanksgiving

Năm 2000  được tuyên bố là năm quốc tế cho lễ Thanksgiving, và ngày đầu năm này, 01/01/2000, ba văn phòng của Liên Hiệp Quốc ngụ tại Gabrielle Loire (Pháp) và Rorie Katz (Hoa Kỳ)

 8/ Hình ảnh của Mayflower

Sau khi rời Plymouth, những  ngày đầu tiên, gió tốt yên lành. Nhưng sau đó mây đen ùn ùn kéo tới từ phía Bắc..  Cơn giông bão bắt đầu. Một trong những hành khách tên William Bradford bị ngọn khổng  lồ sóng quét ra khỏi khoang tàu và được cứu như một phép lạ. Ông  là người thứ 13 ký tờ  Mayflower Compact Act và cũng có mặt trong buổi lễ Tạ Ơn  lần đầu. Ông sinh 10 con  và  82 cháu. Tưởng tượng  nếu như ông  buông tay và không được cứu sống thì sẽ không có hai ông tổng thống Bush và Roosevelt và Humphrey Bogart bởi vì các vị này là cháu chắt của John Howland và Elizabeth Tilley

http://www.mikehaywoodart.co.uk

Dr Mike Haywood họa sĩ chuyên vẽ tranh và chân dung về biển

Bài đọc thêm:

George Washington

Abraham Lincoln

Franklin Delano Roosevelt

Điểm đến Việt Nam: ‘Đòi tiền chuộc’, ‘chém trước cướp sau’ và 6%

Điểm đến Việt Nam: ‘Đòi tiền chuộc’, ‘chém trước cướp sau’ và 6%

 Nữ sinh Hà Nội mặc áo dài tạo dáng chụp ảnh trên phố mùa lá rụng.

Nữ sinh Hà Nội mặc áo dài tạo dáng chụp ảnh trên phố mùa lá rụng.

Phạm Chí Dũng

Ngày 10/11/2015, lại thêm một chấn động về chủ nghĩa thực dụng đang tung hoành trong nền du lịch “đậm đà bản sắc dân tộc” ở Việt Nam: câu chuyện một phụ nữ Anh bị đòi tiền chuộc chiếc máy ảnh mà chị làm rơi ở Quảng Bình được tường thuật lại trên báo Anh Daily Mail. Ngay lập tức, bài báo này nhận được rất nhiều bình luận từ độc giả trên khắp thế giới. Rất nhiều ý kiến chê trách lòng tham của người Việt.

Nhiều độc giả tỏ ra hoàn toàn không hài lòng về Việt Nam bởi “một đất nước đầy rẫy trộm cắp” và nạn vòi tiền du khách diễn ra phổ biến, và nói sẽ không quay trở lại.

Thật đáng buồn, du khách ở Việt Nam bị coi như những cây ATM di động”, độc giả có nickname “EvilPoppet” của Australia bình luận.

‘Những tên cướp biển Viking’

Transtroemer là một người đàn ông Thụy Điển gần năm chục tuổi, khuôn mặt với bộ râu quai nón nhộn nhạo luôn phảng phất vẻ hóm hỉnh. Vào lần thứ hai cùng gia đình du lịch đến Việt Nam, ông đã không còn được hưởng cái thú đi dạo yên bình như lần trước. Vợ ông, vốn quen phong cách phụ nữ Bắc Âu với cái túi xách trễ nải mà “không khép thật chặt khuỷu tay”, đã bị hai kẻ đi xe gắn máy lao lên lề đường giật mất cái túi. Vào lúc ấy, gia đình họ đang hớn hở tắm mình trong cái nắng nhiệt đới.

Cảnh tượng quá đỗi kỳ quái đó lại diễn ra ngay tại một trong những đường phố đẹp nhất ở trung tâm Sài Gòn.

Cả gia đình Transtroemer đứng như trời trồng, không hiểu chuyện gì xảy ra. Phải sau vài ngày và khi đã trấn tĩnh lại, ông mới buột ra: “Trước khi xin visa du lịch vào Việt Nam năm nay, tôi đã nghe sứ quán cảnh báo về nạn cướp giật. Bạn bè của tôi, những người đã ít nhất một lần đến Việt Nam, cũng cho những lời khuyên. Nhưng không ngờ ở đây lại bị cướp táo bạo đến thế. Không khác gì những tên cướp biển Viking…”.

Đúng là một ví von hóm hỉnh. Nhưng trong lúc ông khách du lịch Thụy Điển cố tỏ ra hài hước để trấn an những người bạn Việt, chính người bản xứ lại càng có lý do để chua xót.

Đã không chỉ một lần họ được nghe những người bạn nước ngoài than thở về câu chuyện tương tự. Cũng không chỉ một lần, bản thân họ hoặc bất cứ ai trong số họ đã chứng kiến người thân của mình bị trộm hoặc bị cướp trắng trợn ngay tại Thủ đô Hà Nội hay ở Sài Gòn.

Natalia Krupskaia, một nữ du khách Nga thường đến Hà Nội kết hợp với công việc kinh doanh cá hồi, còn ngạc nhiên một cách thành thật bởi một thành phố có bề dày “ngàn năm văn hiến”, nhưng lại “hở ra một cái là bị mất đồ ngay”. Với người đàn bà chịu học tiếng Việt này, thật khó hiểu là với tình hình an ninh như thế, hàng năm Việt Nam lại có thể đón tiếp đến trên 8 triệu khách du lịch nước ngoài – như một con số của ngành du lịch nước này công bố mà cô không mấy tin tưởng vào độ xác thực của nó.

Cũng đã từng vài lần đến Sài Gòn, tuy chưa lâm vào hoàn cảnh như gia đình Transtroemer, nhưng Natalia không thể không chú ý đến không khí căng thẳng luôn thường trực tại nhiều khách sạn tại khu trung tâm. Thậm chí qua  báo chí Việt, Natalia còn biết là hàng năm có đến hai trăm rưỡi vụ cướp giật xảy ra tại các khách sạn trung tâm Sài Gòn, nhưng số vụ được cảnh sát phát hiện manh mối và truy bắt được thủ phạm lại hầu như không đáng kể.

Chỉ mới vào tháng 10/2015 ở Sài Gòn, một công dân Đức là Sepastian Gretz khi cùng bạn gái ra khu vực bờ kè kênh Tàu Hủ ngồi hóng mát, đã bất ngờ có một nhóm thanh niên xông đến dùng dao chém anh bị thương, sau đó lục túi cướp tiền và điện thoại di động, rồi tẩu thoát.

Nạn cướp giật du khách nước ngoài đã đẩy lên mức độ “chém trước cướp sau”.

Thế thì làm sao mỗi năm thành phố này có thể thu hút đến ba triệu rưởi khách du lịch nước ngoài – điều được các quan chức và doanh nghiệp du lịch Sài Gòn cho là “cứu cánh” mà có thể mang lại doanh thu đến 49.000 tỷ đồng?

Điều đáng nói là ngày càng có nhiều khách du lịch nước ngoài am hiểu về mặt trái xã hội đương đại ở Việt Nam. Cái được gọi là “văn hóa bún mắng cháo chửi” ở Hà Nội cũng đã được người ta biết đến không chỉ như một câu chuyện bông đùa.

‘Ghét Việt Nam’

Một nữ Việt kiều là chị Phương Thảo, sau nhiều lần trở về quê hương, đã buồn bã và chua chát: Việt Nam có gì để tự hào?

Chỉ cần gõ lên trạng mạng tra cứu dòng chữ “tôi không bao giờ quay trở lại Việt Nam” sẽ thấy rất nhiều bài báo hay các blog được liệt kê. Những bài này do các blogger chuyên về du lịch viết và được đăng trên các trang chuyên mục về du lịch nổi tiếng có nhiều người theo dõi. Một trong những người đó có thể kể đến Nomadic Matt, Derek4real hay thậm chí trên diễn đàn của Tripadvisor- một trang mạng chuyên cho lời khuyên đến du khách – cũng có riêng một mục nói đến những trải nghiệm xấu ở Việt Nam.

Cũng có đây đó các ý kiến phản biện, cho rằng họ có phần hơi phiến diện, nhưng điều đáng buồn là số người đồng ý không hề nhỏ, và họ còn nói rằng họ ghét Việt Nam. Không phải họ ghét người Việt mà chỉ vì ghét những gì đã phải trải qua và chứng kiến. Điều đáng buồn là những nhận xét này không thay đổi theo thời gian (tính từ năm 2003 cho đến 2014).

Điều mà ai cũng nói đến – đó là sự thiếu trung thực, hay nói thẳng ra là nói dối và lừa đảo. Ở đâu cũng có người này người kia, ở đâu cũng có vấn nạn lừa đảo du khách, song mức độ lừa đảo và nói dối ở Việt Nam đã lên hàng đầu. Du khách bị lừa ngay khi từ sân bay hay bến xe bước chân lên taxi. Sự thiếu trung thực còn thể hiện ở việc du khách nước ngoài luôn phải trả giá cao hơn người Việt Nam gấp nhiều lần. Nhiều người cho rằng trả số tiền như vậy vẫn rẻ hơn so với nơi họ đang sống, nhưng cảm giác bị đối xử như vậy làm cho họ cảm thấy không được tôn trọng.

Nhiều người Việt cho rằng Tây phải bị chặt chém là chuyện thường và thậm chí còn cho rằng Tây là những con “lợn béo”. Có thể Tây không hiểu được tiếng Việt, nhưng họ có óc quan sát và họ thừa biết họ phải móc nhiều tiền hầu bao để trả cho cùng một món hàng. Những ví dụ cụ thể được đưa ra với cả số tiền họ phải trả cho dịch vụ không đáng có từ việc vá vỏ xe, hay kéo xe bị thủng lốp đi đến chỗ vá, cho đến việc mua trái cây hay một lon nước ngọt, hay cả việc không có tiền thối lại hoặc thối lại tiền thừa không đúng, hay đến việc bị ép phải cho tiền phí phụ vụ. Câu kết luận được buông ra ở đây là người Việt tham lam và thiếu trung thực.

Trong số 7,874 triệu du khách đến Việt Nam, chỉ có 6% ít ỏi trong số du khách này hàng hài lòng với dịch vụ họ đã sử dụng.

6%!

Cũng chỉ 6% du khách nước ngoài cho biết sẽ quay trở lại Việt Nam lần hai. Tỷ lệ cực thấp này được chứng minh bởi báo cáo của Dự án Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường xã hội do Liên minh Châu Âu tài trợ, khi thực hiện trưng cầu ý kiến của 3.000 du khách nước ngoài ở 5 điểm du lịch chính là Sa Pa, Hạ Long, Huế, Đà Nẵng và Hội An.

Làm giá – chặt chém, giao thông hỗn loạn, ăn xin, ăn cắp vặt và vệ sinh an toàn thực phẩm là những điều đáng sợ với du khách khi đến Việt Nam.

Chỉ đến gần đây, một quan chức cao cấp của Việt Nam là Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam chợt than thở: “Nhìn sang Thái Lan, Malaysia, họ có 27 – 30 triệu khách/năm; Singapore cũng có 15 – 16 triệu khách. Thu nhập từ khách du lịch của Thái Lan một năm cũng 50 – 60 tỉ USD. Mình chỉ được khoảng 10 tỉ USD, khách được khoảng 8 triệu. Bây giờ đặt ra những vấn đề gì?”.

Lịch sử: Thà chịu chết còn hơn viết sai Sự Thật!

Lịch sử: Thà chịu chết còn hơn viết sai Sự Thật!

Trần Thị Hải Ý (Danlambao) – (Kính tặng nhà sử học Dương Trung Quốc và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xhcn)

“Người ta có thể giết chết người viết sử, nhưng không thể giết chết được sự thật. Chép đúng sự thật là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận mà sống thì chẳng thà chết còn hơn!”

“Lịch sử là hồn thiêng của giống nòi và là trí nhớ của dân tộc. Lịch sử là sự thật, không đúng sự thật không thể gọi là lịch sử” (1); vả lại “sự thật rất cứng đầu cứng cổ, người ta không thể tha hồ sắp xếp nó theo trình tự lớp lang tùy ý muốn của mình” (2).

* * * *

Sách Đông Châu Liệt Quốc, hồi 65 kể chuyện bốn anh em sử gia họ Thôi. Tích lược rằng: Nhà Tề có hôn quân là Tề Trang Công – tên thật là Khương Quang (3) bị quan đại phu nước Tề là Thôi Trữ bày mưu giết chết cùng với bọn tùy tùng Châu Xước. Thôi Trữ sai thuộc hạ là Đường Vô Cữu đem thi thể vua Tề và các nạn nhân kia chôn ở Bắc Quách, giảm bớt nghi lễ, không cho giáp binh đi hộ tang, nói rằng sợ lại loạn ở dưới âm phủ!

Thôi Trữ truyền cho quan chép sử là thái sử Thôi Bá viết vào sách sử “Tề Trang Công chết do bị bệnh sốt rét” hầu lấp liếm sự thật với hậu thế. Thôi Bá không chịu, kiên quyết viết rằng “Ngày ất hợi, tháng 5, mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang”. Thôi Trữ nổi giận, giết chết Thôi Bá.

Thái sử Thôi Bá có ba người em trai là Thôi Trọng, Thôi Thúc và Thôi Quý. Thôi Trữ đinh ninh giết chết thái sử Thôi Bá, ắt đe được các sử gia khác, ngờ đâu Thôi Trọng lại cũng ghi vào sách sử hàng chữ đúng y anh mình đã viết: “Ngày ất hợi, tháng 5, mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang”, do đó, bị Thôi Trữ giết chết. Đến lượt Thôi Thúc vẫn viết đúng sự thật y hai anh trai, và cũng bị Thôi Trữ giết chết. Còn lại Thôi Quý cũng viết lại y nguyên câu của ba người anh vào thẻ sách. Thôi Trữ cầm thẻ sách lên đọc, hỏi Thôi Quý:

– Ba người anh của nhà ngươi đều vì câu này mà bị ta giết chết, lẽ nào ngươi không tiếc mạng sống của mình hay sao? Nếu như ngươi sửa câu này theo đúng ý ta, ta tha chết cho.

Thôi Quý thản nhiên đáp lại rằng:

– Người ta có thể giết chết người viết sử, nhưng không thể giết chết được sự thật. Chép đúng sự thật là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận mà sống thì chẳng thà chết còn hơn! Ngày xưa – Thôi Quý nói tiếp, Triệu Xuyên (em của Triệu Thuẫn) giết chết vua Tấn Linh Công (tên thật là Di Cao), quan sử thời đó là Đổng Hồ cho rằng Triệu Thuẫn là quan Chính khanh mà lại không trừng trị Triệu Xuyên, do đó ông đã viết vào sách sử rằng: “Triệu Thuẫn giết vua là Di Cao”. Ấy vậy mà Triệu Thuẫn không bức hại hay trách mắng quan sử họ Đổng, bởi ông thấu hiểu đó là chức trách của quan sử. Thế mới hay, chức phận của người làm sử không thể tùy tiện du di nêm bớt sự thật được! Nếu Quý tôi không chép, trong thiên hạ tất có người khác chép! Tôi không chép cũng không thể che giấu được sự xấu xa của quan tướng quốc, mà lại để cho thức giả chê cười, nên anh em tôi liều chết mà chép, xin tướng quốc cứ tùy ý định đoạt!

Thôi Trữ thở dài, nói rằng:

– Ta sợ nước nhà nghiêng đổ, bất đắc dĩ mà phải làm việc này! Nhà ngươi dẫu chép thẳng, thiên hạ cũng xét tấm lòng cho ta!

Than xong, Thôi Trữ ném trả lại thẻ sách cho Thôi Quý, không giết ông nữa.

Thôi Quý cầm thẻ sách ra ngoài, khi sắp đến sử quán thì gặp ngay Nam Sử Thị (cũng là sử quan nước Tề). Thôi Quý hỏi sao ông phải đến đây. Nam Sử Thị nói:

– Tôi nghe nói anh em nhà ông vì khẳng khái, kiên quyết viết đúng sự thật mà đều bị giết chết cả, do lo không còn người dám hy sinh mạng sống của mình để ghi lại đúng vụ việc “Ngày ất hợi, tháng 5, mùa hạ” vừa qua, nên tôi vội vàng cầm thẻ sách đến đây để chép.

Thôi Quý đưa thẻ sách đang cầm trong tay cho Nam Sử Thị xem, xem xong Nam Sử Thị mới yên tâm cáo từ ra về.

Ngoài chữ Dũng về tích viết đúng Sự Thật Lịch Sử nêu trên, qua sách truyện Tàu đã được Việt dịch và phim ảnh Tàu đã được lồng Việt ngữ, HY em còn biết nước Tàu cổ đại còn nhiều tích tương tự khác, như Tư Mã Thiên chịu bị thiến, Ban Cố chịu tù tội và chết trong ngục, Phạm Việp chịu bị tử hình… Theo tầm truy cứu hạn hẹp của HY em, Việt Nam ta chưa có trường hợp nào khả dĩ tương đương, quý vị nào biết rõ xin vui lòng chỉ giáo cho.

Bản thân HY em còn băn khoăn đối với Chủ tịch hội Sử học Việt Nam Phan Huy Lê khi ông công bố sự thật về hình tượng hư cấu bịp đời Lê Văn Tám, nên xin hỏi bạn đọc: Nên hay không nên đem trường hợp Phan Huy Lê so sánh với trường hợp anh em Thôi gia trên kia?

*  *  *

Từ ngày Internet phổ cập trên toàn thế giới, chẳng cư dân mạng người Việt nào không từng đọc qua, và khi hữu sự, trích dẫn những nhận định (còn được gọi là danh ngôn) nói lên sư thật về chủ nghĩa cộng sản/chủ nghĩa xã hội của các nhân vật ngoại quốc có tiếng tăm, đặc biệt của những người một thời là đảng viên cs kỳ cựu (4). Trong bài này, HY em xin lập dị trích dẫn vài nhận định của chính các cựu hay đương là đảng viên đcs Việt Nam:

1-. Phạm Thành – nhà báo từng tham gia hệ thống truyền thông nhà nước xhcn Việt Nam:

“Nên nhớ trong giáo trình của đcs Việt Nam dạy cho tất cả những người làm công tác tuyên truyền, dạy cho tất cả các đảng viên già hay trẻ câu nằm lòng như thế này: Nói sai mà có lợi cho đảng thì được nói, nói nhiều; còn nói đúng mà có hại cho đảng thì không được nói”. RFA 22/7/2015

2-. Nguyễn Khải (Tên thật là Nguyễn Mạnh Khải) – Nhà văn, Đại tá, ĐB đảng hội, Phó TTK Hội nhà văn VN xhcn:

“Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ. Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo”. (Đi tìm cái tôi đã mất).

3-. Trần Độ (Tạ Ngọc Phách) – Trung tướng, cựu Phó Chủ tịch đảng hội nước VN xã nghĩa:

– “Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xoá bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã. Nhưng lại xây dựng nên một xã hội nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…”.

– “Nếu nhà tù Pháp thời xưa mà giống nhà tù cộng sản bây giờ thì chúng tôi chết lâu rồi, làm gì còn có người vượt ngục” (Nhật Ký Rồng Rắn).

4-. Nguyễn Hộ – Chủ tịch Đoàn chủ tịch MTTQ TƯ, lãnh đạo Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ:

– “Ngày 21/3/1990 tôi rời khỏi Sài Gòn cũng là ngày tôi rời khỏi đcs VN. Tôi làm cách mạng đã 56 năm, gia đình tôi có 2 liệt sĩ, Nguyễn Văn Đào, anh ruột, Đại tá QĐNDVN, hy sinh ngày 09/1/1966 tại Củ Chi, và vợ tôi Trần Thị Thiệt bị bắt và chết tại Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn vào tết Mậu Thân 1968, nhưng phải thú nhận rằng tôi đã chọn sai lý tưởng: Cộng sản chủ nghĩa. Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng ấy nhân dân Việt Nam đã chịu hy sinh quá lớn lao nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sĩ nhục”.

– “Ngày xưa, nếu Chủ nghĩa cộng sản đã cứu đất nước khỏi ách thực dân, thì bây giờ chính Chủ nghĩa tư bản sẽ cứu đất nước ra khỏi nghèo nàn lạc hậu.” (5) (Quan điểm & Cuộc sống).

5-. Nguyễn Văn Trấn – Chính ủy Bộ tư lệnh khu 9, giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc:

“Tội ác của chế độ [cs] này, từ 40 năm nay, thật nói không hết” (6) (Viết cho Mẹ và Quốc hội trang 345, Nxb Văn Nghệ, 1995).

6-. Hoàng Minh Chính – Phó Viện trưởng trường Nguyễn Ái Quốc kiêm Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin:

“Người dân dưới chế độ cộng sản đã bị áp bức tệ hại hơn cả thời còn mồ ma thực dân đế quốc.”. https://www.facebook.com/diendandansu/posts/511744845598990

7-. Võ Văn Kiệt (tên thật là Phan Văn Hòa) – cựu Thủ tướng CH xhcn VN:

“Tổ quốc là của mình, dân tộc là của mình, quốc gia là của mình, Việt Nam là của mình, chứ không phải là của riêng của người cộng sản hay của bất cứ tôn giáo hay phe phái nào cả”.

8-. Nguyễn Văn An – cựu UV BCT, cựu Trưởng BTC TƯ, cựu Chủ tịch đảng hội CH xhcn Việt Nam:

– “Đảng [csVN] đã mắc phải lỗi hệ thống và đã sai lầm ngay từ nền tảng”. “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình…” (Báo mạng Tuần Việt Nam / VNE, 10/12/2010, trước thềm Đại hội đảng XI).

“Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ là cơ chế gồm ba chủ thể có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng, không ai làm thay ai, không ai quyết thay ai. Nếu đảng làm thay, quyết thay thì nhà nước và dân sẽ trở thành hình thức, hữu danh vô thực, người ta có cảm giác đảng là vua. Không phải là một ông vua như thời phong kiến mà là vua tập thể thời CH xhcn. Nếu vậy thì còn gì là dân chủ nữa mà là đảng chủ, là đảng bao biện, làm thay. Và như vậy là mất dân chủ. Dân chủ thì quyền lực nhà nước phải thống nhất ở nơi dân.” (TuanVietnam)

– “Chính những người cộng sản chân chính, chính liên minh giai cấp công nhân với nông dân và nhân dân lao động, chính đội ngũ trí thức cũng không muốn bảo vệ một đảng đã thoái hóa biến chất như vậy. Đó mới là nguyên nhân chính, chứ không phải do kẻ thù của chủ nghĩa xã hội phá hoại là chính. Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán đảng đã biến chất để xây dựng đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu.”. (nói về sự sụp đổ Liên Xô và Đông Âu)

9-. Nguyễn Phú Trọng – Tiến $ĩ chuyên ngành xây dựng đảng, đương kim đảng trưởng đcs VN:

“Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng cnxh còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ [21] này không biết đã có cnxh hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (Tuổi Trẻ, 23-10-2013).

10-. Bùi Quang Vinh – đương kim UV TƯ, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư tại kỳ họp thứ 6 đảng hội khóa XIII, 18/11/2013: (báo Tuổi trẻ)

“Chúng ta tuyên bố xây dựng kinh tế thị trường định hướng xhcn. Không sai. Nhưng bây giờ phải rạch ròi ra, thị trường là thế nào và định hướng xhcn là thế nào? Đâu phải nó là một mô hình kinh tế thị trường riêng biệt so với thế giới. Bởi “kinh tế thị trường” là cái tinh hoa của nhân loại rồi, còn “định hướng xhcn” là nói về vai trò của Nhà nước.”

“Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”.

“Cái chủ nghĩa xã hội và cái định hướng xã hội chủ nghĩa làm gì có trong thực tế mà đi tìm cho mất công”. (Thesaigontimes)

11-. (Nhưng) Nguyễn Phú Trọng – Tiến $ĩ chuyên ngành xây dựng đảng, đương kim đảng trưởng đcs VN, lại tự phản bác và ngược hẳn với ông BT Bùi Quang Vinh, 18/5/2015:

* “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam (sic), là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (5). Thậm chí ông còn khơi khơi thông thái theo cố tật ‘biện chứng xây dựng đảng’ đặc thù:

* “Mỗi cán bộ, đảng viên hãy cố gắng xứng đáng là công bộc của dân, là học trò, con cháu của bác Hồ; mỗi người dân Việt Nam xứng đáng là công dân của đất nước Hồ Chí Minh” (thay vì nói đơn giản mà chính xác, đạt tình hợp lý: mọi con Hồng, cháu Lạc đều là công dân của đất nước Việt Nam 4.000 văn hiến). (VOV)

Vậy, đâu là Sự Thật? Tại sao BCT đcs VN không xử lý những phát ngôn cực kỳ phản động nêu trên của các đại đồng chí “suy thoái đạo đức cách mạng” trầm trọng hiện còn sống như Nguyễn Văn An, Bùi Quang Vinh và ngay chính Nguyễn Phú Trọng?

*  *  *

Ai cũng biết tuyên truyền là cột xương sống của chế độ cộng sản. Không ai có thể phủ nhận rằng trong một thời gian dài đảng Wiệt Cộng lớn nhanh, lớn mạnh là nhờ tài Dối Trá Bịp Đời, vì bấy giờ chưa có Fax. Thành trì xhcn Liên Xô sụp đổ, Đông Âu tan rã trong tiếng reo hò oà vỡ của nhân dân bản địa nói riêng, một phần không nhỏ là do sự xuất hiện của Fax, và đến nay (cuối 2015), đã có mấy người tỏ bày niềm luyến tiếc cái Thành trì, cái Thiên đàng viển vông đó?

Từ ngày Internet bùng nổ, sự khuất tất về đảng Wiệt Cộng nói riêng lần hồi bị lật tẩy phơi bày và, chắc chắn không chóng thì chầy, đảng Wiệt Cộng sẽ tự tiêu vong bởi chính sự Dối Trá Bịp Đời trước kia của họ. Hơn thế nữa, trước ông thần Internet ngày nay, đảng Wiệt Cộng vô phương Dối Trá Bịp Đời: “Một nữa sự nghi ngờ không còn là tin tưởng nữa”. “Một nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì, nhưng một nửa sự thật không còn là sự thật, mà là dối trá!” (Thành ngữ Nga). Mà một khi không thể Bịp Đời bằng sở trường Tuyên Truyền Dối Trá thì đảng Wiệt Cộng sẽ là con số Không! Hoạ chăng chỉ sót lại phường trí thức “tâm thần và khốn nạn” ký sinh chùm gửi mới tiếp tục lải nhải những lý thuyết tạp pí lù họ đã ứ hự, ra tuồng kiên định xác tín vào cái gọi là Đấu tranh giai cấp, Chuyên chính vô sản, Thế giới đại đồng!

Những sự kiện lịch sử mà đích thân các nhà viết sử xhcn VN phải chính thức công bố Sự Thật với con dân nước Việt mai này, đơn cử gọi là:

1-. Ai là tác giả đích thực của 2 tác phẩm nguyên bằng Pháp văn “Revendications du peuple Annamite / Bản yêu sách của nhân dân An Nam” và “Le Procès de la colonisation française / Bản án chế độ thực dân Pháp”?

2-. Hai nhà văn Trần Dân Tiên và T. Lan là ai, tiểu sử ra sao, còn sống hay đã qua đời?

3-. Nhà báo có bút danh CB là ai trong chiến dịch Cải cách ruộng đất “long trời lở đất” tại nước VNDCCH? 172.008 nạn nhân có phải là con số thật? (G$ Đặng Phong ghi trong sách Lịch sử kinh tế Việt Nam tập 2, 1955-1975 chương 3 * Nxb ĐHQG Hà Nội 2004).

4-. Mật nghị Thành Đô 1990 bên Tàu bao gồm những ràng buộc gì ghê gớm đến mức có thể biến Rồng thành Giun, biến Tiên thành Quỷ, từ đó đến nay (11/2015); hoá đcs và qđnd VN «anh hùng bách chiến bách thắng» thành phường co cụm, thậm chí không dám gọi đúng tên kẻ thù xâm lược Bắc phương là Tàu Cộng mà rúm ró gọi trại ra là Kẻ Lạ, tàu Tàu thành tàu lạ?

5-. Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh vì sao mà chết, thật sự ông chết ngày nào, ở đâu?

6-. Thượng tướng công an Phạm Quý Ngọ thật sự do đâu mà ‘đột tử’? (7).

Danh sách câu hỏi còn dài lắm, song xin kính nhờ bạn đọc (bao gồm các Dư luận viên) rộng lòng bổ túc.

*   *   *

Đối với HY em, “tích hợp” hay giữ nguyên bộ môn Lịch sử độc lập trong chương trình Giáo khoa hiện hành là điều không mảy may quan trọng, bởi vì nếu đcs VN vẫn giữ nguyên cách soạn và dạy Lịch sử theo định hướng xhcn, đậm đặc tính đảng như bấy lâu nay thì môn Lịch sử mãi mãi rứa rứa, mãi mãi thất bại, duy ngân sách từ tiền thuế của nhân dân tiếp tục ‘được’ vung tay vô tội vạ trong cải tiến cải lùi, sự dối trá bịp đời tiếp tục tồn lại.

Xin lặp lại: “Lịch sử là hồn thiêng của giống nòi và là trí nhớ của dân tộc. Lịch sử là sự thật, không đúng sự thật không thể gọi là lịch sử” (1); vả lại “sự thật rất cứng đầu cứng cổ, người ta không thể tha hồ sắp xếp nó theo trình tự lớp lang tùy ý muốn của mình” (2). “Người ta có thể giết chết người viết sử, nhưng không thể giết chết được sự thật”. Chính sử của nước Việt Nam đã đang sẽ trường tồn trên Internet.

Kính mong nhà sử học Dương Trung Quốc và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xhcn bắt gặp bài viết nhỏ bé này.

(Sưu tầm và lược soạn – 24/11/2015).

Trần Thị Hải Ý

danlambaovn.blogspot.com

______________________________________

Chú thích:

(1) http://laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/chu-dung-cua-nguoi-viet-su-175438.bld

(2) Xã luận trên báo giấy Nhân Dân, ngày 29/05/1978, được in lại trong tài liệu “Nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam độc lập, tự do, hoà bình, hữu nghị” * Nxb Sự Thật, 10/1978, trang 11.

Thời điểm này, ba nước vừa là đồng chí vừa là anh em xhcn Tàu-Việt-Miên không thuận thảo, dẫn tới 2 cuộc chiến đẫm máu, Tàu-Việt miệt biên giới phiá Bắc và Việt-Miên miệt Tây Nam chữ S năm 1979; tiếp theo là trận chiến năm 1988, Tàu cộng cưỡng chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa thuộc nước VNCH đã bị Tàu cộng xâm chiếm từ năm 1974, trước sự hững hờ đồng loã của nước đồng bào là VNDCCH.

(3) https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%81_Trang_c%C3%B4ng_(Quang)

(4) Những câu nói đóng đinh Chủ nghĩa sộng sản

http://tamthucconnguoi.blogspot.fr/2015/11/nhung-cau-noi-ong-inh-chu-nghia-cong-san.html

(5) “Đảng cộng sản Việt Nam đã hy sinh hơn 2 triệu người dân Việt Nam để thành lập chế độ cộng sản. Nhưng cuối cùng họ lại dùng chủ nghĩa tư bản để làm giàu. Vậy 2 triệu người Việt Nam đã chết để làm gì?” (Dennis Prager).

* “Chủ nghĩa xã hội nói chung đã thất bại rõ rệt đến độ chỉ nhà trí thức mới có thể không thấy không biết hoặc lẫn trốn sự thất bại đó” (Thomas Sowell).

(6) “Con số nạn nhân của những chế độ cộng sản đã lên tới cả trăm triệu người, được chia ra như sau: Liên Sô, 20 triệu; Trung cộng, 65 triệu; Việt Nam, 1 triệu; Bắc Hàn, 2 triệu; Căm Pu chia, 2 triệu; Đông Âu, 1 triệu; Châu Mỹ La tinh, 150.000; Phi châu, 1.7 triệu; A Phú hãn, 1.5 triệu; các Phong trào cộng sản quốc tế và những đảng cộng sản không nắm quyền, mười mấy ngàn người». (Le livre noir du communisme: Crimes, terreur, répression, trang 8, nhiều tác giả * Nxb Robert Laffont, Paris 1997)

http://chuchinam.pagesperso-orange.fr/C/bai%20viet%20CACH%20MANG/Cong%20san%20la%20trang%20su%20dam%20mau%20nhat%20%28ds%291%5B1%5D.htm ;

* Nghị quyết 1481 của Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu (2006) / Parliamentary Assembly of the Council of Europe (Resolution 1481, 2006): Tội ác chống loài người của chế độ cộng sản .

https://en.wikipedia.org/wiki/Council_of_Europe_resolution_1481

(7) Xem thêm Đỗ Thông Minh: Những cái chết bí ẩn của hàng ngũ lãnh đạo đcs VN.

https://www.facebook.com/SuThatVietNam/posts/588002291282171

TỬ ĐẠO – ĐỨC TIN

TỬ ĐẠO – ĐỨC TIN

Chúa Nhật XXXIII Thường Niên –

Kính Trọng thể Các thánh tử đạo Việt Nam

Mt 10, 17-22

Tác giả:  Lm. Vinh Sơn, scj

“Tử Đạo” theo nguyên ngữ là “Martyr” có nghĩa là “làm chứng”, chết vì Chúa Kitô đạt được niềm hạnh phúc như Chúa Giêsu đã khẳng định: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5,10-12; Lc 6,22).

Suốt ba thế kỷ trong nhiều thời kỳ bách đạo khác nhau, Giáo Hội Việt Nam đã sinh ra trên 100.000 ngàn vị anh hùng tử đạo, trong số đó có 117 vị được phong thánh, một Vị Chân phước tử đạo đầu tiên cho Giáo hội Việt Nam là thầy giảng Anrê Phú Yên. Hiện nay cũng có mười vị được tôn kính như là bậc “Đáng kính” và 1.000 vị được đứng vào bậc “tôi tớ Chúa”. Các tín hữu còn sót lại trong các cuộc bách hại cũng bị nhà tan cửa nát, trốn tránh vào những nơi rừng thiêng nước độc để giữ niềm tin, như các giáo dân chạy vào vùng La Vang, Quảng Trị, giống như xưa các Kitô hữu tiên khởi đã phải trốn vào sinh sống các hang toại đạo được đào sâu trong lòng đất ở ngoại ô Rôma.

Các ngài thuộc đủ mọi thành phần Dân Chúa: Giám mục, linh mục, thầy giảng, chủng sinh, giáo lý viên, trùm họ, chánh trương và anh chị em tín hữu. Về xã hội các ngài cũng thuộc mọi thành phần: Quan trong triều đình, chánh tổng, quan án, lý trưởng… quân nhân các cấp bậc, thương gia, nông dân, ngư dân hay nội trợ… Địa vị và chức nghiệp của các ngài không hề là trở ngại hay là lý do phân cách các ngài trong sứ mệnh làm chứng cho Đức Tin vào Đức Kitô, tất cả vì lòng tin và yêu mến Thiên Chúa và Đức Kitô.

Chiêm ngưỡng cha ông tử đạo để thể hiện tình yêu với Chúa Kitô, chúng ta – con cháu Rồng – Tiên biểu lộ tử đạo qua cuộc sống hằng ngày dù rằng chúng ta còn bất toàn và yếu đuối. Các ngài cũng như chúng ta cũng từng có những yếu đuối sa ngã của con người, như Thánh Luca Phạm Trọng Thìn, khi làm Chánh Tổng đã có một thời gian dan díu tình cảm với cô Trung, người làng Trà Lũ; hay như thánh Mátthêu Lê Văn Gẫm, một thương gia giàu có, đã từng yếu lòng đèo bồng thêm một cô vợ bé… Nhưng sau khi vị Linh hướng hay gia đình khuyên bảo nhắc nhở, các ngài ý thức được sự yếu đuối sai sót của mình và hết lòng ăn năn hối cải, quyết tâm đổi mới lại cuộc đời, sống tình bác ái Tin mừng theo gương Chúa Giêsu, trở nên gương sáng cho người khác, hết sức phục vụ Giáo Hội. Là con người bất toàn, dù yếu đuối, nhưng khiêm tốn, phó thác Thiên Chúa đã ban ân sủng, các ngài trở nên mạnh mẽ, trung kiên, can đảm nhận cái chết để làm chứng cho Đức Kitô.

Dịp mừng kính các vị anh hùng tử đạo cha ông, là thời gian và cơ hội quý báu giúp chúng ta – thế hệ con cháu, dù thuộc bất cứ thành phần nào cũng có thể nhìn vào các ngài soi chiếu để duyệt lại lại đức tin của chúng ta như Giáo Hội mời gọi: Đức tin can đảm, Tin vào Chúa là tất cả, Đức tin sống động được thể hiện qua lời nói việc làm như thánh Giacôbê xác tín “Đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,17). Khi duyệt lại đời sống đức tin chúng ta, gần gũi và sống động nhất theo gương của các vị tiền bối mà tiến bước. Nhìn đức tin dưới ba khía cạnh cần duyệt lại, các anh hùng tử đạo nói chung và các anh hùng tử đạo Việt Nam đã làm chứng đức tin khi đổ máu đào tuyên xưng Đức Kitô:

  • Các chứng nhân Tử đạo mạnh mẽ đồng nhất từ tâm can đến cách hành xử can đảm chấp nhận gian nan và đi vào cái chết vì Chúa Kitô như chính Chúa Kitô đã chết cho các ngài. Tử đạo là chết vì Chúa Kitô, trong đơn thuần và tinh khiết, trong sáng và huyền diệu, can trường và khiêm nhu…
  • Với anh hùng tử đạo, các ngài nhìn nhận Chúa Kitô là tất cả sự chọn lựa. Không có sức mạnh nào ngay cả cái chết có thể tách rời sự kết hợp lòng yêu mến Chúa, các ngài mặc tâm tình như Thánh Phaolô đã khẳng định: “Ai có thế tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?”. Trong gian nguy nhưng sẽ chiến thắng như thánh Tông đồ đã xác tín: “Trong mọi thử thách, chúng ta sẽ toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta” Và Ngài kết luận: “Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô Chúa chúng ta” (Rm 8, 35-39).
  • Các anh hùng tử đạo đã tuyên xưng đức mạnh mẽ bằng cái chết , dù trước sức mạnh của bạo quyền trong các nhục hình: Xử trảm (chặt đầu), bị xử giảo (thắt cổ), bị tra tấn và chết rũ tù, bị thiêu sống, bị lăng trì (phân thây bằng sức mạnh của dã thú), bá đao (hay còn gọi là tùng xẻo, mỗi tiếng trống cắt một miếng thịt làm đủ một trăm nhát), không thể làm các Ngài tách ra khỏi niềm tin, xa cách tình yêu Thiên Chúa mà trái lại các ngài luôn thể hiện niềm xác tín và tình yêu vào Đấng mà các ngài tin thờ.

Khi duyệt lại đời sống đức tin và “tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say mới của việc gặp gỡ Đức Kitô” đồng thời, “khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trong sự toàn vẹn và với niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9),

Thật thế, chúng ta con cháu noi gương đức tin của cha ông – các anh hùng Tử Đạo sống theo lời dạy của Thánh Phaolô:

“Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7).

Lm. Vinh Sơn, Sài Gòn 14/11/2015

Cú giáng vào nỗ lực TPP của Việt Nam?

Cú giáng vào nỗ lực TPP của Việt Nam?

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh bị nhiều người đàn ông đánh vào đầu và mặt khi bà đi bảo vệ quyền lợi cho các công nhân ở Đồng Nai.

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh bị nhiều người đàn ông đánh vào đầu và mặt khi bà đi bảo vệ quyền lợi cho các công nhân ở Đồng Nai.

VOA Tiếng Việt

24.11.2015

Một nhà hoạt động trong nước cho biết bà đã bị “bóp cổ” và “đánh vào đầu” khi tới bảo vệ quyền lợi cho các công nhân “thấp cổ bé họng” ở Đồng Nai, giữa bối cảnh nhiều nhà lập pháp Mỹ bày tỏ hoài nghi về TPP, nhất là vấn đề công đoàn độc lập ở Việt Nam.

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh cùng ký giả tự do Trương Minh Đức đầu tuần này tới trao đổi với hàng chục công nhân của một công ty nước ngoài hoạt động ở Việt Nam về việc họ bị “chấm dứt hợp đồng và bị sa thải trái pháp luật”, nhưng cuộc gặp đã nhanh chóng bị giải tán.

Bà Hạnh và ông Đức sau đó đã bị áp giải tới một đồn công an và bị câu lưu trong nhiều tiếng đồng hồ, trước khi được các nhà hoạt động khác tới “giải cứu”.

Người phụ nữ từng nhiều lần lên tiếng đòi quyền lợi cho công nhân kể lại sự việc với VOA Việt Ngữ:

“Tôi đã bị giam hơn 13 tiếng đồng hồ ở trong đồn công an ở Đồng Nai, và họ không đưa ra một lý do bắt tôi vào đó. Tuy nhiên, vào một giờ sáng thì họ đưa ra một văn bản vi phạm hành chính và bắt tôi ký vào, nhưng mà tôi dứt khoát không ký vào cái đó. Tôi chỉ là một nạn nhân đang chịu sự bắt bớ trái pháp luật, chịu sự đánh đập trái pháp luật. Khi ở chỗ công nhân, họ đã lôi kéo và cởi áo của tôi ra, nhưng mà may hai cái tay áo còn dính, nên áo của tôi vẫn còn trên cơ thể. Đó là cái thứ nhất. Cái thứ hai, khi họ áp tải trên xe, một tay họ bẻ quặt ra sau và một tay họ bóp cổ để giữ tôi trên xe. Và song song chiếc xe của tôi có một người khác, liên tục đánh vào đầu, vào mặt tôi. Trên đoạn đường vắng, họ dừng lại, họ bảo đánh tôi mềm ra rồi mới đưa về đồn, và nơi đây tôi đã bị đánh rất dã man của năm người đàn ông”.

VOA Việt Ngữ không thể liên lạc để phỏng vấn với lãnh đạo công an phường Long Bình, Đồng Nai, nơi bà Hạnh và ông Đức bị tạm giữ.

Tin cho hay, tài sản cá nhân cũng như các tờ rơi của tổ chức độc lập có tên gọi Lao Động Việt, mà hai người này là các thành viên sáng lập, đã bị tịch thu.

Sự việc xảy ra hơn một tháng sau khi 12 nước, trong đó có Việt Nam, hoàn tất việc đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP), và được chuyển cho quốc hội các nước xem xét, thông qua.

“ Trường hợp của Minh Hạnh bị đánh vào ngày hôm trước là một minh chứng cho việc ngăn cản, tổ chức thành lập các nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam. Sự ký kết của Việt Nam trong hiệp định TPP mực còn chưa khô vậy mà họ đã ra tay, thẳng tay đàn áp công nhân như vậy.

Bà Đỗ Thị Minh Hạnh.”

Toàn văn của hiệp định này đã được công bố hồi đầu tháng này, trong đó có kế hoạch của Mỹ và Việt Nam về việc tăng cường quan hệ thương mại và lao động.

Nhiều nhà lập pháp Hoa Kỳ phản đối TPP vì lo ngại công ăn việc làm của người Mỹ sẽ rơi vào tay người dân các nước khác, cũng như quan ngại về vấn đề quyền lợi của người lao động ở nhiều nước tham gia TPP, trong đó có Việt Nam.

Về vấn đề công đoàn độc lập khi Việt Nam gia nhập TPP, nhà hoạt động xã hội Đỗ Thị Minh Hạnh nói:

“Những điều khoản TPP đã mở ra một thế giới mới cho các liên đoàn độc lập tại Việt Nam, những công đoàn độc lập tại Việt Nam, cho các công nhân, những người thấp cổ bé họng, người ta không thể nào đủ lời ăn, tiếng nói để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người ta, trong khi các cơ quan chức năng như Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hay những công đoàn của công ty thì thường đứng về phía giới chủ. Trường hợp của Minh Hạnh bị đánh vào ngày hôm trước là một minh chứng cho việc ngăn cản, tổ chức thành lập các nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam. Sự ký kết của Việt Nam trong hiệp định TPP mực còn chưa khô vậy mà họ đã ra tay, thẳng tay đàn áp công nhân như vậy. Không phải riêng gì Minh Hạnh bị lôi, bị đánh mà những người công nhân bị giật hết tất cả giấy tờ của họ. Thậm chí có những bản hợp đồng của công nhân cũng bị những người này cướp trên tay của công nhân. Đây là một hành động đáng bị lên án”.

Hôm 18/11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời chất vất của các đại biểu quốc hội về vấn đề thành lập “công đoàn độc lập” theo cam kết của TPP.

Người đứng đầu chính phủ Việt Nam được báo chí trong nước trích lời nói: “Việt Nam và tất cả các nước tham gia TPP phải tôn trọng và bảo đảm quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của họ tại cơ sở doanh nghiệp. Các tổ chức này sau khi thành lập có thể lựa chọn gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được chính thức hoạt động, và chỉ được hoạt động sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận đăng ký theo một quy trình minh bạch được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật”.

Tuy nhiên, theo bà Hạnh, công cuộc đấu tranh cho quyền lợi của công nhân của các tổ chức công đoàn độc lập ở Việt Nam vẫn còn dài.

“Những điểm tốt đẹp về nghiệp đoàn trong TPP vẫn chưa nói lên được điều gì, và thực tế chưa chứng minh được điều đó”, bà Hạnh nói.

VỤ XỬ EM NGUYỄN MAI TRUNG TUẤN: CHUÔNG NGUYỆN HỒN AI

VỤ XỬ EM NGUYỄN MAI TRUNG TUẤN: CHUÔNG NGUYỆN HỒN AI

FB Tèo Ngu Khìn

Em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Nguồn: internet

Từ hôm qua đến giờ người cứ bần thần, mãi không viết được. Cảm thấy đau lòng, bức bối xen lẫn phẫn nộ cho cái án 4 năm 6 tháng tù dành cho em trai 15 tuổi Nguyễn Mai Trung Tuấn.

Những điều luật cụ thể trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam 1999 (viết tắt BLHS 1999, sửa đổi bổ sung 2009) cùng những thủ tục tố tụng với những qui định gia giảm dành cho người vị thành niên, đặc biệt từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, đề cập trong Bộ luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam 2003 (BLTTHS 2003) cùng với thông tin về giám định tỷ lệ thương tật của những bị hại là công an không đủ thuyết phục tôi rằng cái án kia là công bằng, công tâm, khách quan, mang tính giáo dục, và vì con người.

Tôi chán không muốn nói đến luật lệ, nhất là mảng luật hình sự và tố tụng, của xứ này nữa. Biết bao người đã nói đến tính “phi lý” và “phi nhân” của một số điều trong BLHS 1999, những trình tự thủ tục “làm khó” và “cản trở” cả bị can/bị cáo lẫn luật sư bào chữa trong BLTTHS 2003 và những văn bản dưới luật liên quan.

Tôi chỉ muốn nghĩ đến căn nguyên nguồn cội dẫn đến những hành xử tuyệt vọng của gia đình em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Vì sao gia đình em phải đi đến những hành động này? Vì sao cả gia đình, chỉ trừ một em gái của Tuấn mới gần 14 tuổi giờ bơ vơ một mình ngoài đời, còn lại cả gia đình lâm cảnh tù tội? Vì sao thảm cảnh như gia đình em không phải là riêng biệt ở đất nước này? Vì sao rất đông dân oan hàng ngày bám trụ hết cơ quan này đến cơ quan khác để khiếu kiện, kêu oan? Việc gì họ phải vật vạ ngày này qua tháng nọ ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng chịu cái nóng đổ lửa của mùa hè, cái lạnh cắt da xé thịt của mùa đông, mà không nằm nhà cho êm ấm? Hầu hết đều liên quan đến đất đai và những hệ lụy từ đất đai liên quan đến thu hồi, giải phóng mặt bằng, bồi thường khuất tất.

Ai kết tội tôi là thành phần “phản động” tôi sẵn sàng vui vẻ chấp nhận, nhưng tôi vẫn cứ thẳng thừng mà nói: căn nguyên cho mọi điều trên là từ cái vòng kim cô “sở hữu toàn dân” về đất đai nhưng lại do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. Dù có sửa bao nhiêu cái hiến pháp như mới vừa làm với Hiến Pháp 2013 mà không công nhận sở hữu tư nhân về đất đai bên cạnh các loại hình sử hữu khác (phải có sở hữu nhà nước), cùng với luật trưng thu trưng mua minh bạch, thì khiếu kiện đông người liên quan đến đất đai sẽ không bao giờ hết được, dân oan Mai Xuân Thưởng sẽ vẫn là hình ảnh quen thuộc đến buồn nản ở Hà Nội. Cái gốc vấn đề nằm ở hình thức Sở Hữu!

Tôi chỉ muốn nghĩ về khía cạnh giáo dục trong vụ án của em Nguyễn Mai Trung Tuấn. Tự đặt mình vào hoàn cảnh của em khi cha mẹ mình bị thế, chứng kiến những gì đang xảy ra với gia đình mình như thế, tôi cũng sẽ hành động như em dù biết là liều lĩnh, tuyệt vọng, nhưng “chỉ có súc vật mới ngoảnh mặt lại với nỗi đau của đồng loại mà chăm lo cho bộ da của mình”. Chả có đứa con ngoan nào mà chấp nhận ngồi im nhìn người ta đối xử với cha mẹ và người thân ruột thị của mình đau lòng như vậy. Phải đứng về phía cha mẹ, vì như thế mới đúng là con người.

“Mở thêm một trường học là đóng cửa bớt một nhà tù”. Văn hào Victor Hugo đã đúc kết như thế. Nhưng một khi người ta muốn nhà tù mọc lên nhiều hơn trường học, một khi thay vì tận tâm và nhẫn nại với những biện pháp giáo dục nhân văn nhưng cực nhọc, người ta chỉ đơn giản tống bạn vào tù thì người ta sẽ không những không đạt được mục đích cải tạo, giáo dục đi trước trừng trị. Thậm chí người ta cũng sẽ không đạt được mục đích trừng trị và khuất phục, vì dù có hành hạ được bạn về thể xác nhưng người ta đã thất bại khi làm thế tức là cũng giúp hun đúc một tinh thần bất khuất, trui rèn thêm bản lĩnh đối đầu & đấu tranh trong bạn. Người ta sẽ chỉ “gặt” thêm được những dân oan, thành phần chống đối, chuốc thêm hận thù từ bạn.