Việt Nam: Trong một tuần có tới 7 người bị kết án

Việt Nam: Trong một tuần có tới 7 người bị kết án

HRW

4-4-2016

Các Nhà hoạt động và các blogger bị xử mức án tù giam nặng nề

(Bangkok, ngày 4 tháng Tư năm 2016) – Hôm nay Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng chính quyền Việt Nam nên phóng thích ngay lập tức các nhà hoạt động và blogger nổi tiếng đang bị tù giam chỉ vì đã thực thi các quyền của mình. Trong tuần cuối cùng của tháng Ba, Việt Nam đã xử và kết án tù giam bảy nhà hoạt động và blogger.

“Trong tuần qua, Việt Nam như đang lên cơn khi kết án một lúc bảy nhà hoạt động vì các phát ngôn đáng lẽ là một phần bình thường trong đời sống chính trị ở hầu hết các quốc gia,” ông Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban Á Châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói. “Chính quyền Việt Nam đang đưa ra thông điệp rõ ràng rằng ‘tuần trăng mật nhân quyền’ trong quá trình đàm phán Hiệp ước Thương mại TPP đã chấm dứt, tạo nên một thách thức to lớn với Tổng thống Obama và Hoa Kỳ.”

Vào ngày 23 tháng Ba năm 2016, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội kết án ông Nguyễn Hữu Vinh, một blogger, mức án năm năm tù và người cộng sự của ông, Nguyễn Thị Minh Thúy, phải chịu mức án 3 năm vì đã điều hành một trang web có cung cấp đường liên kết tới các bài viết về những vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, môi trường và văn hóa ở Việt Nam. Hai người bị truy tố về “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước” theo điều 258 bộ luật hình sự. Phạm Đoan Trang, đồng tác giả của một trong những bài viết được nêu trong bản cáo trạng, cố tìm cách dự phiên tòa với tư cách một nhân chứng hữu quan. Nhưng công an đã câu lưu cô vào buổi sáng khi diễn ra phiên xử, và chỉ thả cô sau khi bản án đã được tuyên.

“Vận hành một trang mạng đem tới những cách nhìn khác nhau cho độc giả Việt Nam không nên bị coi là một tội hình sự,” ông Robertson nói. “Đối với rất nhiều người Việt, với bàn tay kiểm soát gắt gao và hệ thống kiểm duyệt báo chí và truyền thông của Việt Nam, các trang mạng như thế là nơi duy nhất có thể xem các tin tức và quan điểm độc lập.”

Vào ngày 24 tháng Ba, Tòa án Nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã kết luận ông Đinh Tất Thắng, một nhà vận động chống tham nhũng năm nay đã 73 tuổi, có tội, cũng theo nội dung điều 258, và xử ông mức án bảy tháng 11 ngày tù giam. Theo cáo trạng do báo chí nhà nước dẫn lại, ông đã “liên liên tiếp gửi đơn, thư tố cáo vu khống, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân một số lãnh đạo Trung ương, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa và tập thể Huyện ủy, UBND huyện và Công an huyện Thọ Xuân.”

Ngày mồng 5 tháng Tám năm 2015, Đinh Tất Thắng viết một lá thư gửi Mặt trận Tổ quốc, một cơ quan do đảng kiểm soát, bao trùm các tổ chức và phong trào quần chúng trung thành với chính quyền Việt Nam, để tố cáo cơ chế làm giả giấy tờ nhằm nhận khống các khoản trợ cấp dành cho thương binh. Trong thư có nêu đích danh người anh trai của giám đốc công an Thanh Hóa mà ông cho là không đủ điều kiện để nhận trợ cấp. Mười một ngày sau đó ông Đinh Tất Thắng bị bắt. Tuy nhiên, đây không phải là lần đầu ông bị chính quyền giam giữ vì có các hành vi chống tham nhũng. Năm 2008, ông đã bị kết án chín tháng tù giam, cũng vì tội tố cáo các quan chức tham nhũng ở địa phương và cấp quốc gia.

“Việt Nam làm sao chống tham những có hiệu quả được, khi cho phép các quan chức địa phương bỏ tù những người cố gắng tố cáo tham nhũng, như trường hợp ông Đinh Tất Thắng.” ông Robertson nói. “Những người vạch mặt tham nhũng trong chính quyền phải được bảo vệ chứ không phải bị tống giam.”

Buổi sáng ngày 30 tháng Ba, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kết án một blogger nổi tiếng, Nguyễn Đình Ngọc, mức án bốn năm tù giam cộng thêm ba năm quản chế không được đi ra ngoài phạm vi phường đang cư trú.

Buổi chiều, cũng chính tòa án nói trên đã kết án ba nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai: Ngô Thị Minh Ước, 57 tuổi, Nguyễn Thị Bé Hai, 58 tuổi và Nguyễn Thị Trí, 58 tuổi với các mức án lần lượt là bốn năm, ba năm và ba năm. Họ cũng phải chịu thêm từ hai đến ba năm quản chế không được tự do đi lại sau khi mãn hạn tù.

Nguyên là nhân viên của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Đình Ngọc, 50 tuổi, bút danh Nguyễn Ngọc Già, đã viết về các vấn đề chính trị xã hội liên quan tới dân chủ và nhân quyền cho trang tiếng Việt của Đài Á châu Tự do, và các trang web độc lập về chính trị khác như Dân Luận, Dân Làm Báo và Đàn Chim Việt. Ông cũng bày tỏ sự ủng hộ với các nhà hoạt động và blogger khác đang bị giam giữ vì đã thực thi các quyền cơ bản của mình, ví dụ như Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Quốc Quân, Đinh Nguyên KhaBùi Thị Minh Hằng.

Theo cáo trạng được dẫn lại trên báo chí nhà nước, ngày 25 tháng Mười hai năm 2014, công an nhận được công văn từ Công ty Cổ phần Bưu chính Viễn thông Sài Gòn báo rằng thuê bao Nguyễn Đình Ngọc đã sử dụng mạng Internet để “phát tán các bài viết nói xấu Đảng và Nhà nước Việt Nam.” Hai ngày sau thì ông bị bắt và bị truy tố về tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88 bộ luật hình sự.

Ngô Thị Minh Ước, Nguyễn Thị Bé Hai và Nguyễn Thị Trí cũng bị kết án về tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88. Họ bị cáo buộc đã phất cờ và biểu ngữ mà chính quyền cho rằng “có nội dung chống phá nhà nước, tuyên truyền thay đổi chính quyền” trong một cuộc biểu tình bên ngoài lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày mồng 7 tháng Bảy năm 2014. Báo chí nhà nước đưa tin rằng hội đồng xét xử cho rằng hành vi của ba nhà hoạt động này “rất nghiêm trọng, xâm phạm đến an ninh quốc gia, xuyên tạc, kích động, gây nghi ngờ, mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.” Cả ba người đều là nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai ở vùng đồng bằng sông Cửu Long trong nhiều năm đã đi khiếu kiện về việc bị mất đất đai với các cấp chính quyền địa phương mà không có kết quả.

“Qua việc xiết chặt thêm vành đai kiểm soát đối với các nhà hoạt động nói trên cũng như các blogger và các nhà bình luận xã hội độc lập, Việt Nam đang thách thức phản ứng của Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế,” ông Robertson nói. “Những hành động đó phải được đáp trả bằng sự lên án mạnh mẽ để chính quyền Hà Nội thấy rõ rằng nếu muốn nhận được sự tôn trọng của các đối tác thương mại thì bản thân mình phải tôn trọng nhân quyền.”

Chuyện tử tế

Chuyện tử tế

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-04-04

Tân Chủ tịch nước Trần Đại Quang (phải) nhận hoa từ cựu Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sau khi ông được bầu làm Chủ tịch mới tại Quốc hội, Hà Nội ngày 02 tháng 4 năm 2016

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Tạp chí điểm blog tập hợp những bình luận của các blogger trên trang cá nhân, trên các trang mạng xã hội… xung quanh những sự kiện lớn của đất nước.

Tử tế

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chúc cho các chính khách đồng nghiệp của ông và cho chính ông là về hưu sẽ ráng làm người tử tế.

Đã có rất nhiều quan chức Việt Nam khi về hưu hay sắp về hưu có những phát ngôn được cho là thành thật, là mạnh dạn, nay lời nói của Thủ tướng còn hơn thế nữa vì nó chứa đựng cả một lời khuyên đạo đức.

Và câu nói của Thủ tướng được báo chí chính thống của Việt Nam đưa lên hàng đầu trong tuần qua.

Dù sao, từ những suy tư và nỗi lòng, các vị khuyên nhau chân tình vậy cũng đáng khích lệ, đã không tử tế, nay phải sống tử tế (nhé!).
– Nhà văn Bùi Văn Bồng

Blogger Nguyễn Hoa Lư nhận xét:

Gặp điều gì khó khăn lắm người ta mới nhắc nhở nhau mà “ráng lên”. Chuyện “làm người tử tế” là chuyện đương nhiên của một con-người-ra-người, đám thảo dân mắt toét sau lũy tre làng còn biết vậy mà tay VietNamnet nâng lên thành chuyện lớn lao, tâm huyết của ngài (cựu) thủ tướng!

Chỉ với một cái tựa đề ngắn, cá nhân tôi cúi đầu ngả nón trước VietNamnet. Làng báo An Nam, khi mà “nhân tài như lá mùa Thu”, đang trong cảnh “trông người người càng vắng bóng mịt mù” thì cái hùng tâm của VietNamnet thật xứng đáng được kính trọng vậy!

Cái chữ “ráng” mà thủ tướng dùng làm cho nhiều người ngạc nhiên một cách thú vị. Nhà văn Bùi Văn Bồng viết rằng:

Dù sao, từ những suy tư và nỗi lòng, các vị khuyên nhau chân tình vậy cũng đáng khích lệ, đã không tử tế, nay phải sống tử tế (nhé!). “Các đồng chí phải ráng làm người tử tế”, phải ‘ráng’ kia đấy, nhưng khó, già cả rồi, tre già khó uốn, cái tật thường lớn hơn cái tuổi!

Một nhà văn khác là Lưu Trọng Văn nhân chuyện này kể lại một kỷ niệm cá nhân với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi ông còn là người đứng đầu tỉnh Kiên Giang. Khi đó Thủ tướng nói thẳng rằng địa phương của ông phải sống bằng nghề buôn lậu trong một tình hình kinh tế bi đát cách đây mấy mươi năm.

Lưu Trọng Văn cho rằng đó là sự thành thật, ông không biết là sau mấy mươi năm Thủ tướng có còn tính thành thật đó hay không nhưng ông có một niềm tin rằng lời chia tay trước quyền lực “ráng làm người tử tế” của ngài là một lời đầy tâm trạng sâu nặng có cay đắng và quan trọng nhất là rất thật.

Chuyện Tử tế thứ nhất

Muốn có được những chuyện tử tế trong xã hội hiện nay là một điều không đơn giản. Đối với blogger Khải Đơn là chuyện vượt qua nỗi sợ, và trong tuần qua nhiều người dân Sài gòn đã vượt qua nỗi sợ để đòi chính quyền không được chặt đi những cây cổ thụ hàng trăm năm của thành phố này.

Khải Đơn nhớ lại một lần bày tỏ chính kiến chống Trung Quốc xâm lược:

Chúng tôi đã nhìn nhau rất nhiều lần im lặng. Thế hệ của tôi, có lẽ là biểu trưng hùng hồn nhất của sự bất lực trong tâm can. Nỗi sợ và sự khôn ngoan nhiều hơn tất cả. Sự chấp nhận và số lần im lặng cũng nhiều hơn tất cả. Tôi đã học cách tin vào nỗi sợ – những kẻ sợ khôn ngoan và toan tính trong con ốc an toàn.

Và hôm nay Khải Đơn viết cho những người hôm nay xuống đường gìn giữ cây xanh:

Sẽ đến một lúc nào đó, những thế hệ lãnh cảm như chúng tôi chắc phải chết hết đi, để những người ôm cây không biết đến mùi sợ hãi, sạch nước cản, và lớn lên tự do vô cùng trong dòng suy nghĩ của họ.

000_983CS-400

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch Quốc hội tại Hà Nội ngày 31 tháng 3 năm 2016. AFP photo

Họ sẽ chất vấn khi những giảng viên doạ đuổi học họ.

Họ sẽ tranh biện với ông thầy – khi ông nhân danh cái gì – để giáo dục họ về sự tự do của suy nghĩ.

Họ sẽ hỏi những kẻ gán ghép người khác bằng các danh từ sặc mùi âm mưu – rằng liệu có gì ẩn giấu sau mật ngữ “tôi yêu cây xanh”?

Chẳng có gì cả, khi những tâm hồn tự do lớn lên.

Trong khi ấy, ở Văn khoa Sài Gòn (aka trường Nhân Văn) – nơi đã sản sinh ra một thế hệ hát vì tự do hàng chục năm trước, nơi đã sinh ra những thế hệ giảng viên đấu tranh vì tự do và hoà bình – chúng tôi được dạy hãy câm mồm và lờ đi tất cả.

Cũng nói về nỗi sợ, nhà báo Sương Quỳnh viết trên trang Bauxite Việt Nam rằng:

Dù rằng từ nhận thức đến lên tiếng và rồi hành động là cả một khoảng cách. Nhất là xưa nay những việc này luôn bị các nhà chức trách bưng bít thông tin và ngăn cản, đe dọa và cả bắt bớ làm người Dân trở thành hèn nhát và thụ động dẫn đến vô cảm. Nhưng nếu biết trách nhiệm công dân, vượt qua nỗi sợ và hiểu được QUYỀN CON NGƯỜI thì chỉ cần như một cái vỗ cánh của một con bướm cũng có thể gây ra cơn bão để quét đi những điều làm tai hại cho môi trường, cộng đồng và cả xã hội.

Chuyện tử tế thứ hai

Chuyện tử tế thứ hai hiện nay có lẽ là việc phải tìm ra người chịu trách nhiệm các vấn nạn của xã hội như blogger Tuấn Khanh đề cập đến trong bài mới nhất của ông:

Trách nhiệm cá nhân là một phần quan trọng của đất nước, trong giai đoạn mà mọi thứ đang có vẻ dần vào rối ren bởi quá nhiều hư hỏng, quá nhiều tai ương… hiện ra, cho thấy đó là những quyết định sai lầm, vội vã hay tư lợi của những cá nhân, những nhóm người nhưng hôm nay thì thật khó tìm ra người chịu trách nhiệm. Chỉ còn lại nhân dân là người phải gánh vác những hậu quả, từ nợ công cho đến sự sụp đổ một cây cầu, một con đường hay một hàng cây xanh.

Từ chuyện một đứa trẻ bị bắt cóc, cho đến chuyện của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục… rồi đến việc đánh đập nhà báo để bịt miệng công luận… mọi thứ cứ đi dần vào cõi u u mê mê của đời sống, vào tiếng thở dài của những người ngồi trên vỉa hè nhìn về tương lai đất nước với cảm giác rằng mọi thứ đang bị bỏ trôi, không có ai thật sự chịu trách nhiệm trên đất nước này. Trách nhiệm luôn đi cùng danh dự và sự tồn vong của tổ quốc. Chúng ta sẽ mất cả, nếu không ai có đủ danh dự để chịu trách nhiệm trên đất nước mình, khởi đầu từ những điều nhỏ nhất.

Tuấn Khanh cho rằng tất cả những xáo trộn, bất an đó của xã hội đến từ sự mất lòng tin của dân chúng, một sự mất niềm tin mà tác giả cũng thấy ở một quốc gia láng giềng có cùng thể chế chính trị là Trung quốc.

Trong sự mất niềm tin nơi một xã hội vô trách nhiệm, blogger Minh Văn tìm thấy một mẩu số chung nơi các quốc gia cộng sản:

Theo truyền thông của nhà nước Cộng Sản, các đối tượng sau luôn là kẻ có lỗi: Thiên tai (ông trời), người dân, các thế lực phản động và thù địch.

Còn nhà nước thì chẳng liên quan gì cả, hoặc là có lỗi rất ít, không đáng kể.

Chuyện tử tế lớn nhất

Khi thủ tướng lên tiếng về chuyện tử tế khi về hưu cũng là lúc nhà nước Việt Nam tiến hành một việc chưa có tiền lệ, đó là Quốc hội sắp mãn nhiệm lại bầu các chức danh quan trọng cho chính phủ sắp tới. Nhiều người cho rằng việc đó chứng tỏ chính phủ hay đảng cộng sản đang lấn lướt quyền hành của Quốc hội.

000_8Y5WG-620-400

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đến tham dự phiên họp cuối cùng của Quốc hội tại Hà Nội hôm 21 tháng 3 năm 2016.                 AFP photo

Blogger Kami cho rằng không phải như thế, vì trên thực tế bấy lâu nay Quốc hội Việt Nam chẳng có quyền lực gì.

Blogger Dân Nguyễn viết trên trang Ba Sàm một lời khuyên dành cho thủ tướng nếu ông muốn làm một chuyện tử tế có ý nghĩa:

Việc “tử tế” có ý nghĩa nhất, và cũng không quá khó với ngài thủ tướng, (dù biết khi đó ngài đã là thảo dân), không phải là việc quan hệ tốt với ông hàng xóm hay vâng lời vợ đuổi gà trong vườn thay vì đi nhậu nhẹt… mà là phải lên tiếng bênh vực cái đúng, lên án cái sai, cái xấu, cho dù cái xấu đó ở đâu, núp dưới danh gì. Sự “tử tế” đầu tiên khiến ông ghi điểm ngay, đó có thể là việc lên tiếng ủng hộ cho những ứng cử viên độc lập trong kỳ bầu cử Quốc Hội khóa 14 sắp tới đây. Trong thâm tâm ông cũng thừa biết họ là những con người tử tế mà còn có thể thêm chữ “rất” ở đầu…

Một trí thức lão thành là ông Nguyễn Khắc Mai cũng đưa ra lời khuyên là những người cầm quyền Việt Nam nên chấp nhận một xã hội dân sự qua việc cho phép những ứng viên độc lập tranh cử vào Quốc hội, ông viết:

Hãy để cho người dân tự do bầu cử, ứng cử, nhiều nhóm công dân sẽ tham chính, tự họ sẽ kiểm soát được lẫn nhau. Chuyện chạy chức chạy quyền chắc chắn sẽ được kiểm soát. Ai chạy, chỉ toàn đảng viên cộng sản. Chạy ai, cũng chỉ là cán bộ cộng sản. Những dân đen cũng có chạy, nhưng chỉ chạy để làm đầu sai. Chỉ có đám quan chức “không bao giờ mắc sai lầm” thì mới chạy để săn tìm quyền lực, và lợi ích bẩn thỉu.

Blogger Song Chi thì cảnh báo là nếu tình trạng hiện nay không có gì thay đổi thì những người chủ thực sự của đất nước này sẽ đứng lên, lúc đó đảng cộng sản sẽ thất bại.

Để đến một ngày những người chủ ấy sẽ đứng lên buộc đảng và nhà nước cộng sản phải rút lui trong một cuộc bầu cử công khai chính thức để một chính đảng khác xứng đáng hơn, có trách nhiệm hơn lên lãnh đạo, chấm dứt kiểu hành xử nắm quyền mà như đang ở trọ đối với đất nước, dân tộc.

Và theo blogger Viết từ Sài gòn thì sự thất bại đó sẽ chính là niềm mong mỏi lớn nhất của nhân dân:

Theo truyền thông của nhà nước Cộng Sản, các đối tượng sau luôn là kẻ có lỗi: Thiên tai (ông trời), người dân, các thế lực phản động và thù địch.
– Blogger Minh Văn

Cái chết hay sự cáo chung hay nói sang hơn một chút là sự về hưu của đảng Cộng sản mới là niềm mong mỏi của nhân dân. Lời nói chia tay của một thực thể đảng Cộng sản mới gây cảm động. Chứ ông Dũng hay ông Hùng, ông Sang có nói một ngàn lời chia tay chăng nữa thì đó cũng là câu chuyện (có gian lận, có đấu đá, có hạ sát nhau) giữa các ông với nhau. Điều này chẳng gây cảm động gì đối với nhân dân. Bởi, khi nhân dân đã ngán ngẩm, đã mệt mỏi thì ông nào nói lời chia tay cũng vậy mà thôi!

Những lời chia tay ấy, theo lời blogger Hiệu Minh, thì không cần có một lời tâm sự nhắc nhở đầy tính đạo đức như của ngài Thủ tướng, nếu như các quan chức đều tử tế, khi về hưu sẽ được dân chúng nhớ đến.

Một trong những người hy vọng rằng các qaun chức của đảng cộng sản sẽ trở thành người tử tế, rằng đảng cộng sản sẽ cải cách sau đại hội 12 vừa rồi để tìm cách phá sự bế tắc của xã hội Việt Nam, là Tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy, nhưng một thời gian sau đại hội đảng lần thứ 12, bà quan sát thấy sự đàn áp những người bất đồng chính kiến chỉ có tăng lên chứ không giảm, bà đang nghĩ rằng mình đã đưa ra một dự báo sai lầm về đảng cộng sản.

Câu chuyện cô bé Hailey Ford 6 tuổi tự trồng rau, 9 tuổi xây mái ấm cho người vô gia cư

Câu chuyện cô bé Hailey Ford 6 tuổi tự trồng rau,
9 tuổi xây mái ấm cho người vô gia cư
                                                                                                       Sinhghe sưu tầm – 03/4/2016
Cô bé Hailey Ford đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người. (Ảnh: Internet)
Cô bé Hailey Ford đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người. (Ảnh: Internet)
Nếu như trên thế giới có thiên sứ thực sự, có lẽ sẽ trông giống như cô bé xinh đẹp này. Cô bé có tên gọi là Li Ford (Hailey Ford) sống tại Bremerton, thủ đô Washington, Mỹ. 4 năm trước, lúc đi về từ cửa hàng tạp hóa, cô bé có nhìn thấy một người lang thang tên là Edward, ông ngồi bên vệ đường, đã nhiều ngày ông không được ăn no.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Đây là hình ảnh ông Edward mà cô bé đã giúp đỡ. (Ảnh: Facebook)
Cô bé Hailey đã kéo áo mẹ và hỏi: “Con có thể mua cho ông ấy cái bánh sandwich không?”. Khi đó cô bé mới 5 tuổi. Edward nhìn cô bé mà rơi lệ. Ông sống trong hoàn cảnh này đã nhiều năm, nhưng một đứa trẻ lại khiến ông nhìn thấu bản tính thiện lương của con người, điều mà cô bé đã cho ông có cảm giác ấm áp.
Trên đường về cô bé lại gặp một người lang thang khác. Người này có tên là Billy Ray, một quân nhân đã xuất ngũ, vì tham gia trong cuộc chiến tranh, ông đã bị cụt chân. Không nhà cửa, hoàn cảnh của ông đã khơi dậy lòng thương cảm của của Hailey.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Ông Billy Ray đang nhận trợ giúp của cô bé. (Ảnh: Facebook)
Sau khi giúp đỡ xong hết những người lang thang mà Hailey gặp trên đường, mẹ của cô bé đã nói với con gái bé bỏng: “Gia đình chúng ta không phải là nhà giàu có, không có năng lực giúp hết tất cả những người lang thang. Đây là tất cả những gì mẹ có thể làm khi đối diện với tấm lòng lương thiện của con. Mẹ cũng không định nói ra những lời này… nhưng mà vì chúng ta không có cách nào để trợ giúp hết tất cả những người đó được”.
Sau khi nghe mẹ nói xong, đôi mắt của Hailey rưng rưng lệ và nhìn mẹ rất cương nghị. Cô bé không tuyệt vọng nói: “Không! Con phải thử một chút xem!”.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Không mua nổi đồ ăn thì cô bé quyết định trồng rau quả. (Ảnh: Facebook)
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Thế là cô bé đã bắt đầu làm việc nhà, trồng một vườn rau nhỏ trong sân. Vì để cho những người lang thang không bị đói, cô bé đã học tập trồng rau. Khởi đầu từ việc cuốc đất, gieo hạt, làm cỏ, làm hàng rào. Những kinh nghiệm nào còn non nớt, cô bé lại mở sách ra xem. Mấy tháng sau đó cô bé đã thu hái được thành quả là nửa túi cà rốt, đậu nành cùng khoai tây.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Cô bé vui mừng với thành quả làm được. (Ảnh: Facebook)
Hailey mang đồ ăn đến đưa cho người lang thang tên Billy. Lúc đó cô bé mới 6 tuổi. Nghĩ đến nhiều người lang thang khác, cô bé thấy lượng đồ ăn như vậy là không đủ. Bác hàng xóm cũng bắt đầu giúp Hailey. Cô bé không ngừng học hỏi tri thức trồng rau từ sách vở  và lập chí muốn để cho nhiều người lang thang hơn nữa được no bụng.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Cô bé đã mở rộng vườn rau của mình. (Ảnh: Facebook)
Sau khi thu hoạch, Hailey đem sản phẩm thu hoạch được rửa sạch sẽ, rồi dùng túi để mang đến cho những người vô gia cư.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Cô bé vui mừng mang đồ ăn đi phân phát. (Ảnh: Facebook)
Thấm thoắt đã bốn năm trôi qua, Hailey đã kết giao bạn bè cùng với nhiều người lang thang trong vùng, thậm chí những con chó của người vô gia cư khi gặp cô bé cũng vui mừng quấn quýt. Cô bé đem đồ ăn đi phân phối cho cả những người nghèo trong khu vực, giúp một lượng lớn người đã không bỏ nhà đi, mà ở lại địa phương. Mỗi người trong số họ đều chào đón cô bé và nói chuyện rất vui vẻ. Họ còn biểu lộ sự cảm ơn.

Cô bé bắt đầu xây nhà cho người vô gia cư.

Hailey mơ ước xây được 11 căn phòng nhỏ cho người vô gia cư trong 1 năm.
Sau khi người lang thang không còn bị bỏ đói, cô bé lại nhìn thấy họ thường phải ngủ ngoài đường.
Hailey nói với mẹ: “Những người lang thang này không muốn phải ngủ ngoài đường. Họ mong muốn có một mái nhà”.
Mẹ của cô bé trả lời rằng: “Dù cho chúng ta có cố gắng để giúp người lang thang không đói bụng, nhưng không có khả năng cho họ một mái nhà để ở”.
Tuy nhiên cô bé vẫn đầy hy vọng nói: “Nhưng con muốn thử xem!”.
Thế là cô bé bắt đầu đi xây nhà. Cô bé cầm dao, rồi máy khoan điện, làm một phòng nhỏ để cho người vô gia cư có chỗ che nắng che mưa.  
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Cô thợ mộc tí hon Hailey (Ảnh: Internet)
Người nhà của cô bé lại giúp thu gom vải bò vụn, các mẩu gỗ để làm khung, mỗi căn phòng nhỏ cũng vô cùng tuyệt vời, những đứa trẻ khác cũng bắt đầu học theo xây nhà. Cô bé lại tự thân đo kích thước to nhỏ, cũng đeo đồ bảo hộ lao động rất nghiêm túc, tô trát cho bức tường. Mỗi chi tiết nhỏ của căn phòng cũng đều rất tinh xảo, được làm nên từ sự tỉ mỉ và nỗ lực của Hailey.
Sau khi căn phòng được làm xong, vài người đã đến và đưa căn nhà lên xe tải, nhưng họ lại không biết rằng họ đang giúp cô bé chuyển những căn phòng nhỏ đến cho những người vô gia cư địa phương.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Nhân viên đến vận chuyển nhà cho cô bé (Ảnh: Facebook)
Hailey quyết định làm thêm nhiều căn phòng nhỏ khác cho hầu hết người vô gia cư có chỗ để ngủ. Công ty Lowe đã nói cho cô bé biết rằng, họ sẽ vì Hailey mà cung cấp vật liệu xây nhà. Cô bé đã vui vẻ nói với mẹ rằng, tuy không thể giúp được cho tất cả người vô gia cư, nhưng cô bé thương tất cả họ.

“Con không giúp được cho tất cả người vô gia cư nhưng con thương tất cả những người này”.

co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
Hailey cùng mẹ bên căn nhà nhỏ mới làm xong (Ảnh: Facebook)
Câu chuyện không dừng lại ở đó, bởi: “Những người lang thang vẫn còn cần thêm nữa sự trợ giúp”. Việc thiện mà cô bé 9 tuổi làm được đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người.
Một quý bà có tên Katy đã vì người lang thang mà quyên tặng nữ trang của mình cho Hailey và còn nhắc nhở cô bé, nếu vẫn không đủ thì cứ đến hỏi bà.
Một nhà chuyên làm từ thiện biết rõ câu chuyện làm từ thiện của cô bé đã quyên 3.000 đôla. Cô bé đã dùng những khoản tiền này để mua một ít đồ dùng sinh hoạt cho những đứa trẻ lang thang trong buổi lễ mừng Giáng Sinh.
Cô bé chia sẻ: “Những đứa trẻ nhận được quà tặng đã rất cao hứng mà nói rằng Hailey chính là ông già Noel của chúng”. Rita và các bạn bè khác của Hailey đã gửi cho cô bé một thẻ quà tặng để mua một ít sách cho những đứa trẻ này. Những nhà cung cấp vật liệu xây nhà cũng bán cho cô bé với giá ưu đãi 50%.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
(Ảnh: Facebook)
Mọi người nói với Hailey rằng, cô bé là một tiểu thư dễ thương nhất. Bạn bè cùng những người ủng hộ thông qua mạng lưới internet rất mong muốn một ngày nào có thể gặp mặt cô bé. Họ đặt ra câu hỏi không biết lớn lên cô bé sẽ làm gì. Tuy nhiên họ cũng tin tưởng dù để cô bé làm việc gì thì cũng là một việc đầy ý nghĩa. Nếu cô bé cần sự giúp đỡ thì cứ nói cho họ biết.
Liên tục có người quyên tặng đồ vật gửi cho Hailey. Mọi người luôn tự hỏi, làm sao mà cô bé 9 tuổi có thể làm được việc này! Hàng ngày, cô dùng tiền tiết kiệm và khoản tiền mà mọi người quyên tặng cùng thời gian tan học để đi giúp đỡ những người lang thang.
51 đứa trẻ lang thang có quần áo ấm. Truyền thông các nước cũng đã bắt đầu viết những câu chuyện về cô bé.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
(Ảnh: Facebook)
Có những người quyên tiền, có người quyên hạt giống và ngày càng nhiều người hơn nữa chú ý đến những người vô gia cư. Họ không có nhà để ở, vì thế cần nên giúp đỡ họ.
co be 9 tuoi chuyen lam tu thien
(Ảnh: Facebook)
Khi hỏi cô bé lớn lên muốn làm gì, cô bé trả lời rằng bé muốn trở thành người quản lý các căn phòng nhỏ cho người vô gia cư (Homeless Shelter).
Hailey Ford – tuổi tuy nhỏ nhưng tấm lòng không nhỏ!
Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Ai sẽ chịu trách nhiệm trên đất nước này?

  Ai sẽ chịu trách nhiệm trên đất nước này?

tuankhanh

RFA

Cuộc tranh cãi gay gắt giữa hai phe phụ huynh vẫn không ngớt về nạn bắt cóc trẻ em, hiện râm ran trong từng gia đình.Người ta kể về những chuyện giành giật lại con cháu mình từ bọn bắt cóc ở ngã tư, có người may mắn, có người thì chỉ còn khóc hận.
Cuộc tranh cãi dữ dội hơn, ngay sau khi có lời tuyên bố của trung tá Nguyễn Quang Thắng, phó phòng tham mưu Công an TPHCM rằng không thể có nạn bắt cóc tràn lan trên đường phố.
Theo ông Quang Thắng thì cơ quan công an điều tra chỉ tiếp nhận duy nhất một vụ như vậy mà thôi.
Thật đáng phân vân, một bên là lời đoan chắc của hệ thống công quyền, còn một bên là an nguy của chính mình.
Báo Phụ nữ Việt Nam thì khẳng định rằng nhiều trường đã ra thông báo cho phụ huynh về tình trạng này, mà nhiều nơi đang xảy ra như ở trường Đặng Thuỳ Trâm (quận 7, TPHCM), trường mầm non Anh Tú (quận Tân Bình), trường Phan Như Thạch (phường 9, Lâm Đồng)…
Thật bất ngờ khi trong những lời cảnh báo về nạn bắt cóc trẻ em, có cả thông báo chính thức của Bộ Giáo dục vào ngày 13/1. Vụ trưởng vụ Công tác học sinh sinh viên Ngũ Duy Anh đã kêu gọi các trường học phải đề cao cảnh giác, tăng cường đảm bảo an ninh cho các em.
Trên truyền hình, các bài học võ thuật cơ bản nhằm chống cướp con trên tay cũng xuất hiện.
Vậy thì ai đúng, ai sai? Trong một xã hội mà mỗi ngày càng có nhiều biến động, người ta không thể răn đe việc tán phát tin đồn trong sự bất an của dân chúng, mà phải có những phương pháp giải quyết khủng hoảng hợp lý và tích cực của chính quyền.
Việc trống đánh xuôi, kèn thổi ngược chỉ làm mọi thứ thêm rối rắm, và cuối cùng chỉ có người dân là nạn nhân.
Xã hội Việt Nam nhận được rất nhiều các phát ngôn của các quan chức và chính quyền địa phương. Nhưng có vẻ như ít khi nào tìm thấy được ai thật sự là người chịu trách nhiệm trước mắt người dân, hoặc chịu trách nhiệm của bản thân mình.
Ngược lại, đôi khi người có trách nhiệm thường thoái thác rằng “bận họp” hoặc cúp máy đột ngột khi trả lời phỏng vấn. Dường như có ai đó phải chịu trách nhiệm, phải hành động trên đất nước này là điều mơ hồ, xa xôi.
Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng tại Hà Nội, bị một nhóm người lạ mặt tấn công dã man bằng gậy vào ngày 23/3 ngang nhiên như trong phim xã hội đen.
Vụ tấn công diễn ra giữa ban ngày, như một nỗi nhục của nền báo chí quốc gia mà cho đến khi kết thúc không hề có bóng dáng công an viên nào xuất hiện. Sau khi đi cấp cứu, nhà báo Đỗ Doãn Hoàng phải tự mình ra công an của khu vực đó để trình báo.
Lúc này, có rất nhiều nhà báo, rất nhiều sinh viên truyền thông dõi theo sự kiện này với nỗi phập phồng về tương lai và nghề nghiệp của mình, nhưng có vẻ vụ án như “bế tắc”. Và không ai phải chịu trách nhiệm về việc mất an ninh kỳ quặc như vậy ngay giữa thủ đô Hà Nội.
Trong sự kiện nữ học sinh Lê Thị Hà Vi, 15 tuổi ở Cư Kuin, Dăk Lăk bị bệnh viện địa phương chẩn đoán sai khiến phải cưa chân, ai cũng bất ngờ khi bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đến động viên và nói “bác hứa sẽ giúp cho con thi đậu vào ngành y”.
Sự kiện tắc trách của ngành y tế khiến ai cũng đau lòng, khiến một nữ sinh phải tàn tật suốt đời, nhưng để “đền” cho chuyện đó, mà một nữ sinh có nguyện vọng học ngành công an, đột nhiên được động viên chỉ cần học một năm là sẽ được giúp đậu ngành y, khiến ai cũng ngạc nhiên.
Nguyên gốc câu nói đó có thể trở thành vấn đề của pháp luật. Thi cử và học vấn là vấn đề thiết yếu của quốc gia, không thể tuỳ tiện như vậy. Ở vị trí là một người có học và có trách nhiệm, bà Tiến không thể tuỳ tiện. Việc “hứa giúp” của bà Tiến có thể đặt vào thế bị Bộ Giáo dục Việt Nam khởi kiện.
Nhưng tiếc thay, có vẻ như Bộ Giáo dục Việt Nam cũng không có ai thấy mình có trách nhiệm để cần phải lên tiếng.
Trách nhiệm cá nhân là một phần quan trọng của đất nước, trong giai đoạn mà mọi thứ đang có vẻ dần vào rối ren bởi quá nhiều hư hỏng, quá nhiều tai ương… hiện ra, cho thấy đó là những quyết định sai lầm, vội vã hay tư lợi của những cá nhân, những nhóm người nhưng hôm nay thì thật khó tìm ra người chịu trách nhiệm.
Chỉ còn lại nhân dân là người phải gánh vác những hậu quả, từ nợ công cho đến sự sụp đổ một cây cầu, một con đường hay một hàng cây xanh.
Từ chuyện một đứa trẻ bị bắt cóc, cho đến chuyện của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục… rồi đến việc đánh đập nhà báo để bịt miệng công luận… mọi thứ cứ đi dần vào cõi u u mê mê của đời sống, vào tiếng thở dài của những người ngồi trên vỉa hè nhìn về tương lai đất nước với cảm giác rằng mọi thứ đang bị bỏ trôi, không có ai thật sự chịu trách nhiệm trên đất nước này.
Trách nhiệm luôn đi cùng danh dự và sự tồn vong của tổ quốc. Chúng ta sẽ mất cả, nếu không ai có đủ danh dự để chịu trách nhiệm trên đất nước mình, khởi đầu từ những điều nhỏ nhất.

Tố cáo hành vi đấu tố người tự ứng cử tại khu vực cử tri Lâm Đồng

Tố cáo hành vi đấu tố người tự ứng cử tại khu vực cử tri Lâm Đồng

FB Sương Quỳnh

Bùi Minh Quốc

3-4-2016

Tác giả Bùi Minh Quốc. Nguồn: internet

21 giờ ngày 01/04/2016, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (UBMTTQ) phường 5, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành hội nghị cử tri nhận xét và tín mhiệm các ứng cử viên Quốc hội khoá 14 và HĐND các cấp tại tổ dân phố Yết Kiêu. Số cử tri trong tổ được mời khoảng trên 700. Số người tham dự khoảng trên 100.

Sau phần thủ tục, một thư ký hội nghị lên đọc tiểu sử tóm tắt của tôi, Bùi Minh Quốc, người tự ứng cử vào Quốc hội khoá 14, rồi người chủ trì hội nghị yêu cầu các cử tri có mặt phát biểu ý kiến. Ý kiến đầu tiên của ông Đinh Hoàng Dũng nói: Ông Bùi Minh Quốc đòi bỏ điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng, đòi xoá bỏ sự lãnh đạo của đảng CSVN thì không xứng đáng để ứng cử vào Quốc hội.

Các ý kiến tiếp theo (khoảng 7 – 8 người) đều có nội dung tương tự và thêm một số ý khác như: ông Bùi Minh Quốc ít dự họp tổ dân phố, ít quan hệ với bà con. Ông Vũ Xuân Quảng tổ trưởng tổ dân phố Yết Kiêu dự cuộc họp này với tư cách ứng cử viên HĐND phường 5 phê phán: ông Bùi Minh Quốc thiếu đạo đức vì từ chối nhận giấy mời của công an, thiếu tình hàng xóm láng giềng vì đã kiện ông Hồ Phúc ở sát bên ông Quốc khiến UBND phường ra quyết định buộc ông Phúc phải tháo dỡ phần ông Phúc cơi nới trái phép trên đất mà nhà nước qui hoạch làm lối đi chung. Ông Chiến gợi ý: ông Bùi Minh Quốc nên rút quyết định ứng cử cũng chưa muộn…

Sau mỗi ý kiến trên, phần lớn hội trường rầm rộ vỗ tay hưởng ứng. Tiếp đó, đến phần tôi phát biểu. Trước hết, tôi trả lời về việc đòi bỏ điều 4 của Hiến pháp. Nội dung trả lời như sau:

– Tôi đòi bỏ điều 4 của Hiến pháp là thực hiện quyền côngdân có quyền góp ý, sửa đổi Hiến pháp. Tôi đòi bỏ điều 4 của Hiến pháp vì mấy lẽ:

– Suốt bao năm chiến tranh cực kỳ gian khổ ác liệt chưa có điều 4 trong Hiến pháp thì nhân dân rất tin đảng, đa số đảng viên đều gương mẫu. Nhưng từ khi có điều 4 thì đảng ngày càng hư hỏng, ngày càng mất uy tín với nhân dân; điều 4 đã làm hại đảng, làm uổng phí bao xươngmáu của đảng viên và nhân dân đã đưa đảng lên cầm quyền, đó là một sự thật hiển nhiên không thể chối cãi.

– Tôi yêu cầu trong khi chưa bỏ điều 4 thì phải có ngay Luật về đảng cầm quyền, nếu cầm quyền đưa đất nước phát triển tốt và nhân dân có tự do hạnh phúc thì được ghi công, nếu cầm quyền gây hại cho đất nước và khiến nhân dân không có tự do hạnh phúc thì đảng phải ra toà.

Quan điểm này tôi đã công khai nêu lên từ năm 1993, nay đang rộ lên trên công luận và ngay cả tại Quốc hội.

Tôi phát biểu chưa hết nội dung trên thì chủ toạ ngắt lời với lập luận rằng, ứng cử viên chỉ được nói lời tiếp thu ý kiến của cử tri chứ không được nói khác. Một số cử tri nhao nhao hưởng ứng không cho tôi nói, với lập luận rằng họ đến đây không phải để nghe tôi tuyên truyền chống đảng.

Tôi nói: tôi đã nghiêm túc ngồi lắng nghe ý kiến các quý vị đả kích tôi, nhưng tôi vừa trả lời một ý kiến, đang nói dở dang mà không cho tôi nói nữa thì thật không công bằng, tôi yêu cầu phải để tôi nói hết ý kiến mình. Chủ toạ hỏi cử tri: có đồng ý để ông Bùi Minh Quốc nói tiếp không? Nhiều tiếng nhao nhao: không!

Tôi nói to: Tôi tuyên bố tất cả những gì vừa diễn ra là một cuộc đấu tố, vì thế tôi quyết định rời khỏi nơi này. Nói xong, tôi lập tức ra về. Nếu UBMTTQ tỉnh Lâm Đồng trong hội nghị hiệp thương lần 3 dựa vào ý kiến của trên 100 cử tri trong tổng số trên 5.700 cử tri tổ dân phố Yết Kiêu để loại tôi ra khỏi danh sách ứng cử viên thì chỉ càng chứng tỏ những gì diễn ra như tôi vừa tường thuật là có sự chỉ đạo từ “trên” nhằm thủ tiêu quyền ứng cử của công dân.

Tôi yêu cầu chính quyền Lâm Đồng phải phải đảm bảo thực hiện quyền dân chủ tự ứng cử, không được dùng thủ đoạn và tiểu xảo để loại những người tự ứng cử có tinh thần yêu nước.

Tôi yêu cầu UBMTTQ và chính quyền Lâm Đồng cần lắng nghe ý kiến nhiều đại biểu quốc hội ủng hộ quyền tự ứng cử, tự ứng cử thể hiện dân chủ ở Việt Nam và cho rằng cơ quan chức năng không có quyền xâm phạm đối với những người tự ứng cử; đặc biệt cần biết đến một sự kiện quan trọng sau đây: Đúng vào ngày 15/3 khi xuất hiện tin về “tổ chức phản động đứng phía sau một số người tựứng cử”, một quan chức cao cấp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là ông Vũ Trọng Kim đã trả lời phỏng vấn báo Pháp luật TP.HCM với quan điểm “Tôi hoan nghênh tất cả người tự ứng cử. Nếu những tên tuổi được người dân lựa chọn, bằng lòng dựa vào những công việc cụ thể họ đã làm có hiệu quả cụ thể thì rất tốt…”

Tôi nghĩ, cần phải có số lượng người tự ứng cử nhiều hơn và tỉ lệ người tự ứng cử đi đến “chung cuộc” phải nhiều hơn. Không có rào cản gì đối với những người tự ứng cử. Chỉ có những định kiến hẹp hòi mới ngăn cản người tự ứng cử. Điều này phụ thuộc vào lãnh đạo của từng đơn vị, địa phương nào đó.

Cho tôi hát cùng em bài hát cũ,

 Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Ba Phục Sinh năm C 10/4/2016

 Tin Mừng (Ga 21: 1-19)

Bấy giờ, Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria. Người tỏ mình ra như thế này. Ông Simôn Phêrô, ông Tôma gọi là Điđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Simôn Phêrô nói với các ông: “Tôi đi đánh cá đây.” Các ông đáp: “Chúng tôi cùng đi với anh.” Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.

Khi trời đã sáng, Đức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giêsu. Người nói với các ông: “Này các chú, không có gì ăn ư?” Các ông trả lời: “Thưa không.” Người bảo các ông:”Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá.

Người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: “Chúa đó!” Vừa nghe nói “Chúa đó!”, ông Simôn Phêrô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.

Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giêsu bảo các ông: “Đem ít cá mới bắt được tới đây!“Ông Simôn Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giê-su nói: “Anh em đến mà ăn!” Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai?” vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.

Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Si-môn Phêrô: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?” Ông đáp:”Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giêsu nói với ông:”Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” Người lại hỏi:“Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” Ông đáp:“Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.” Người nói:“Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” Người hỏi lần thứ ba:”Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?” Ông Phêrô buồn vì Người hỏi tới ba lần:”Anh có yêu mến Thầy không?” Ông đáp:”Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Đức Giêsu bảo:”Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông:“Hãy theo Thầy.”

 

“Cho tôi hát cùng em bài hát cũ”,

Bài ngợi ca Thiên Chúa ở trên trời.

Để tôi về cầu nguyện với Ngôi Hai

Cho ta sống một ngày như mấy kiếp.”

                                                       (Dân từ thơ Du Tử Lê)

Mai Tá lược dịch. 

Sống một ngày như mấy kiếp, là lời cầu của bà con người người, với Ngôi Hai. Và, ngày dài như mấy kiếp, lại cũng là hạnh-phúc mà thánh hội thời tiên-khởi, đã có được.

Phụng vụ hôm nay kể về hạnh phúc mà cộng đoàn Hội thánh đã và đang cảm nghiệm vào những ngày giờ, sau Phục Sinh. Hạnh phúc mà Hội thánh cảm nghiệm, là hạnh phúc có Thầy trở về.

Thầy trở về, Hội thánh tiên khởi nay sống thành cộng đoàn nhỏ, rất thân thương. Về với môn đệ, Thầy sống với công việc bình thường của đồ đệ, như khi trước. Sống có chài, có lưới, có nỗi gian lao phấn đấu, tự bao giờ.

Cuộc sống của Hội thánh sau Phục Sinh, nay thấy đồ đệ Thầy mỗi ngày một đông hơn. Đồ đệ Thầy, nay không còn hãi sợ bất cứ ai. Nhưng vững tin hơn, vì có Cha ở cùng. Cha là Bình an. Là, tình Thương yêu luôn đỡ đần.

Kể từ nay, Hội thánh chứng tỏ lòng chung thủy với Cha, và với Thầy như đã dặn. Lời Thầy dặn, nay thành hiện thực. Qua hy sinh, đùm bọc và ủi an. Đùm bọc và ủi an, trên bước đường rao truyền Tình yêu của Chúa với dân gian người đời. Đùm bọc và ủi an, dù phải trải qua những tháng ngày “dài như mấy kiếp”.

Ngày dài Hội thánh luôn có sự hiện diện, đỡ nâng của Thầy. Về với thuyền và với lưới, Hội thánh đại diện cho Chúa, không về để hiện diện, mà thôi. Nhưng, còn hoạt động trong Thầy với dân con của Thầy. Về với Hội thánh, là về với người thân vì Thầy không bỏ đàn con.

Như Phêrô thánh nhân, Hội thánh đã điều chỉnh cách thế ăn mặc, lối sống để tỏ lòng yêu thương chính Đấng mà mình tôn kính. Tỏ lòng yêu thương tôn kính Chúa, Hội thánh cũng san sẻ bẻ bánh với Thầy, với dân Chúa sau Phục Sinh. Hội thánh nay sẻ san yêu thương/tôn kính, qua tiệc thánh ngày cuối tuần, tiệc agapè tương kính.

Cùng bẻ bánh với Chúa Phục Sinh, Hội thánh nay chẳng còn hỏi: Ngài là ai? Vì, nay đã rõ: đó là Thầy. Là, Chúa Phục Sinh vinh hiển. Và, đồ đệ Chúa nay vững tin. Và, cũng biết rằng: từ nay Thầy sẽ xuất hiện nơi diện mạo, của người khác. Có lúc, là hình hài của bạn bè thân thương. Có khi, là người nghèo hèn, đói khổ. Có thể, là kẻ thù mà mình vẫn giữ trong tâm tưởng, trong cuộc sống.

Về với Hội thánh, Thầy không chỉ có mặt vào khoảnh khắc sôi nổi, nhiệt náo vào ngày hội lễ. Mà, Thầy còn hiện diện chốn biển khơi, nơi bờ hồ hoặc bãi biển. Thầy hiện diện, là ở với đồ đệ thân thương trên đường Emmaus và cuộc đời.

Thầy hiện diện nơi phòng chật hẹp, cửa kín then cài vì âu lo. Biết có Thầy ở cùng và ở với, đàn con Hội thánh sẽ ngợi ca Thiên Chúa, như thánh Gioan bày tỏ trong sách Khải Huyền: “Tất cả đều tung hô: xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Chiên Con lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời.” (Kh 5: 13-14)

            Cùng ngợi ca với đàn con thân thương, Hội thánh không chỉ vui mừng vì đã thấy rõ Thầy đã trở về. Nhưng, nay còn chứng tỏ cho người người đều rõ cho cả người trong cuộc, cùng kẻ ở ngoài rằng: từ nay, mình sẽ là Kytô khác. Và, Kytô khác, tức đồ đệ Chúa là: những người nói được như thánh Phêrô, sau lần chối Chúa:“Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy.” (Ga 21: 16)

Khi nói lời yêu mến, mọi xa cách/chối bỏ, được hóa giải, hàn gắn và thứ tha. Và, đây là lúc Hội thánh gánh vác sứ vụ chăm sóc đàn chiên trong cùng ràn: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy!” (Ga 21: 17).

Chăm sóc chiên, là trách vụ lớn lao không chỉ là nguyện cầu trong hân hoan, hạnh phúc như Thầy để lại. Mà cả trong thực thi trách vụ. Tức, chăn dắt chiên con cho đúng hướng. Chiên con, là những người vẫn ở lại với nhà Đạo hay còn ở ngoài. Chiên con, là những người biết phấn đấu ngợi ca. Thầy trở về, ở với chiên, là thông điệp hân hoan, hạnh phúc.

Tham dự Tiệc hôm nay, ta hiệp lòng cảm tạ ân huệ Cha ban cho mỗi người, mùa Phục sinh. Tràn đầy sức sống. Cảm tạ, vì nay ta được giải thoát khỏi mọi xích xiềng trói buộc của thân xác, rất yếu mềm.

Cảm tạ, vì nhờ có Phục Sinh, ta được giải thoát khỏi mọi hãi sợ như đồ đệ thời trước. Cảm tạ, vì được dẫn dắt theo đường lối, rất Phục sinh. Cảm tạ, để sống cuộc đời có tình thương yêu, đỡ đần, hy sinh và có cứu độ. Một ân huệ, mà lẽ đáng ra, ta không đáng được nhận. Nếu Thầy không yêu thương và cứu rỗi. Cảm tạ, vì Thầy đã ủy thác sứ mệnh rao truyền tình thương yêu Phục sinh với mọi người.

Trong bầu khí hăng say đầy cảm-tạ, ta sẽ cùng với mọi người, nghệ-sĩ cũng như dân con nhà Đạo hân-hoan hát mừng bài ca yêu-thương thuở trước, rằng:

“Đừng sợ bạn ơi, hãy đứng thẳng lên!

Cuộc đời đang giang tay đón ta,

Bằng yêu thươngta đi xoá tan mọi căm hờn.”

(Lê Hựu Hà – Bài hát cho người tuổi trẻ)

 Đúng thế. Đức Chúa Phục Sinh nay đã xoá tan đi mọi hãi sợ, và hờn căm. Và, cuộc đời nay đang giang tay chờ đón những bước chân nhân hiền, để mọi người làm ngay một việc, là: yêu thương ra đi xoá tan màn đêm của hờn căm, với hãi sợ. Và, cũng để em “hát bài hát cũ” ngợi ca Thiên-Chúa ở trên trời, và nguyện cầu Ngôi Hai cho tất cả mọi người cứ thế mà hát. Cứ thế mà yêu thương loan truyền tình thương-yêu cứu-độ, của Đức Chúa, cho mỗi người và mọi người.

Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch.

LỄ TRUYỀN TIN

LỄ TRUYỀN TIN

GM JB. Bùi Tuần

LETRUYEN TIN

Trong ngày lễ Truyền Tin, Hội Thánh kính nhớ một biến cố quan trọng.  Thiên thần báo tin cho Ðức Mẹ rằng: Thiên Chúa muốn chọn Ðức Mẹ làm Mẹ Ðấng Cứu Thế.  Tin đó quá bất ngờ, vượt mọi suy nghĩ, mọi tưởng tượng, mọi đợi chờ.  Phản ứng của Ðức Mẹ bắt đầu là bỡ ngỡ bàng hoàng lo sợ, nhưng tiếp đó là xin vâng (Lc 1:38).

Xin vâng là xin tuân phục ý Chúa.  Xin vâng là xin cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, với sự từ bỏ mình, với sự tuyệt đối phó thác đời mình trong tay Chúa.

Lập tức sau lời “xin vâng” của Ðức Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế nhập thể trong lòng Ðức Mẹ.  Tất cả đều diễn tiến một cách âm thầm, khiêm tốn.  Từ đó “xin vâng” đã được coi như một giao ước mới, một bài ca mới, một con đường mới, của con người mới.

Khi nói xin vâng được coi như một giao ước mới, tôi nhớ lại việc Ðức Mẹ vội vã lên đường đi thăm viếng bà Ê-li-da-bét (Lc 1:39-45).  Ði thăm để chia sẻ, để phục vụ, để nâng đỡ khích lệ bà Ê-li-da-bét.  Theo Ðức Mẹ, thì mình được Chúa thương, là để mình biết thương người khác.  Mình được Chúa chọn cộng tác với Chúa trong việc cứu độ, thì mình phải quyết tâm dấn thân góp phần cứu độ người khác.  Mình nhận ơn Chúa ban, thì mình sẽ cố gắng chia sẻ ơn đó cho người khác.

Thiết tưởng đó là một giao ước mới về bác ái liên đới phát sinh từ lời xin vâng.

Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Ðức Mẹ trong kinh Tạ Ơn “Linh hồn tôi tung hô Chúa” (Lc 1:46-55).  Tâm tình Ðức Mẹ là lời nói chân thành của người con bé nhỏ, đầy khiêm tốn, ngỡ ngàng biết ơn và phó thác đối với Chúa.  Tâm tình Ðức Mẹ là khát vọng cứu độ tỏa ra sức nóng của tình yêu thương xót, nhưng lại khiêm nhường tế nhị đối với đồng bào, nhân loại.  Tâm tình Ðức Mẹ là cái nhìn tiên tri sâu sắc của trái tim khiêm nhường về tương lai dành cho những kẻ khiêm tốn.

Thiết tưởng đó là một bài ca mới về khiêm tốn khởi đi từ lời xin vâng.

Khi nói xin vâng được coi là một con đường mới, tôi nhớ lại biến cố Ðức Mẹ sinh Chúa Giêsu tại hang đá Bê-lem (Lc 2:1-7).  Ðang khi hầu hết mọi người đều coi giàu sang chức quyền danh vọng là những bậc thang giới thiệu giá trị con người, thì Ðức Mẹ đã không nghĩ như vậy, đã không vận động chút nào để được như vậy.  Trái lại, Ðức Mẹ đã lặng lẽ đi vào con đường khó nghèo.  Con đường đó đã khởi đi từ hang đá Bêlem và kéo dài từng ngày, từng tháng, từng năm, suốt cả cuộc đời Ðức Mẹ.  Trên con đường đó, Ðức Mẹ đã cầu nguyện, đã suy gẫm trong lòng, đã lắng nghe Chúa, đã thông hiệp với sự sống Chúa.

Thiết tưởng đó là một con đường mới về sự nghèo khó được vạch ra từ lời xin vâng.

Con đường mới đó, bài ca mới đó, giao ước mới đó đều nói lên Ðức Mẹ là con người mới.  Mới về nhiều phương diện, nhưng nhất là về phương diện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ðức Mẹ, để đổi mới con người của Mẹ (Lc 1:35).

Qua việc Ngôi Hai xuống thai trong lòng Ðức Mẹ, Chúa Thánh Thần đã đưa tình yêu thương xót của Thiên Chúa vào nhân loại, đã mạc khải Thiên Chúa là tình yêu, đã khai mở một nguồn mạch ơn thánh cứu độ vô cùng phong phú cho mọi người thiện chí.

Do đó, Ðức Mẹ là con người mới, là tác phẩm tuyệt vời của Chúa Thánh Linh.  Với đặc điểm là Ðức Mẹ có một trái tim giống trái tim Chúa Giêsu, trong sạch, hiền lành, khiêm nhường, cháy rực lửa tình yêu thương xót.

Những chia sẻ vắn tắt trên đây có thể giúp chúng ta phần nào, để chuẩn bị mừng Lễ Truyền Tin một cách sống động sát với thời sự.

Thời sự hiện nay, nếu nhìn về góc độ xin vâng ý Chúa, thì đó là cả một vấn đề đáng phải lo ngại.  Bởi vì có những người coi trọng ý Chúa và xin vâng ý Chúa.  Cũng có những người coi thường ý Chúa và chống lại ý Chúa.  Có những người hiểu sai ý Chúa, vô tình hoặc cố tình.  Có những người gán cho ý Chúa những ý riêng của mình.  Có những người muốn ý Chúa hợp theo ý riêng mình, cho dù ý riêng mình là quái gở.

Thời sự hôm nay là Ít-ra-en, quê hương của Ðức Mẹ, đang là mảnh đất diễn ra vòng xoáy hận thù và đổ máu.  Vòng xoáy kinh hoàng này càng ngày càng mở rộng trên đất, đồng thời càng xoáy sâu vào lòng dân.  Từ mảnh đất này hằng ngày truyền đi khắp năm châu những tin đau đớn, gây nên băn khoăn nặng nề cho hòa bình thế giới.  Thời sự này làm cho rất nhiều người phải khóc, phương chi Ðức Mẹ.

Nhưng theo tôi, thời sự hiện nay quan trọng nhất chính là chuyện của bản thân ta.  Ta có lắng nghe ý Chúa không?  Và ta có xin vâng ý Chúa thực không?  Ðoạn Phúc Âm sau đây sẽ gợi ý cho ta thấy rõ ý Chúa về ta trong thời sự hôm nay:

“Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Ðức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hòa lẫn với máu tế vật họ đang dâng.  Ðức Giê-su đáp lại rằng: “Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao?  Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu.  Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy.”  “Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-e đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao?  Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu.  Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy” (Lc 13:1-5).

Suy gẫm đoạn Phúc Âm trên, tôi có cảm tưởng là Chúa muốn báo tin cho từng người chúng ta biết rõ ý Chúa.  Ðó là đừng quá bận tâm xét đoán người khác, nhưng hãy ưu tiên lo phần rỗi của mình.  Lo bằng cách sám hối ăn năn, đổi mới chính mình.  Cách đó là cách tốt nhất để góp phần vào việc cứu độ người khác.

Chúa báo tin cho chúng ta ý Chúa là như thế đó.  Rất rõ ràng.  Ở Fatima Ðức Mẹ cũng báo cho chúng ta tin đó.  Cũng rất rõ ràng.  Chúng ta hãy đáp lại bằng lời xin vâng.

Xin vâng của chúng ta là một hành trình dài đi về với Chúa.  Hãy bước đi với những bước nhỏ.  Như hằng ngày cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng và chuỗi Mai Khôi.  Như hằng ngày đến bên trái tim Ðức Mẹ, để xin trái tim Ðức Mẹ chia sẻ cho ta bầu khí thinh lặng, chiêm niệm, lửa bác ái nồng nàn và sức mạnh lạ lùng của khiêm nhường nghèo khó.  Như hằng ngày thực hiện đôi ba việc bác ái, thương cảm liên đới với những người nghèo, bệnh tật, xa Tin Mừng, bị xã hội loại trừ.  Như hằng ngày tập nói và làm những gì mang tính cách phục vụ hoà bình hiệp nhất trong yêu thương và tế nhị.  Như hằng ngày dùng lòng tin mến biến những mệt mỏi khổ đau của mình thành của lễ đền tội tạ ơn, và xin ơn an bình cho gia đình quê hương và thế giới.

Nếu lời xin vâng của chúng ta được hiệp thông sâu sắc với lời xin vâng của Ðức Mẹ, thì đây sẽ là một hy vọng mới cho tương lai bản thân ta, cho Hội Thánh ta, cho quê hương Việt Nam chúng ta, và cho tất cả nhân loại.

GM JB. Bùi Tuần

 

Chuyện gì đang xảy ra ở Việt Nam?

Chuyện gì đang xảy ra ở Việt Nam?

Người Việt

Lê Phan

2-4-2016

Hồi tôi còn đi học đại học, trong ngành chính trị học có một số các nhà chuyên môn được gọi là “Kremlinologists,” tức là những người chuyên nghiên cứu không phải về điện Kremlin mà về chính trị nội bộ của Liên Xô.

Đây thực sự là một ngành nghiên cứu rất quan trọng vào thời đó, và những nhà Kremlinologist tài giỏi là những người có thể tìm thấy những mấu chốt của nội tình Liên Xô qua những chỉ dấu bên ngoài. Họ chăm chú xem chỗ đứng của các lãnh đạo vào những ngày lễ lạc, xem ai còn ai mất, để tìm hiểu ai đang là kẻ thắng người bại trong nền chính trị tối đen của Liên Bang Xô Viết thời đó.

Nhưng chế độ Liên Xô đã chết. Những chế độ tự nhận mình là Cộng Sản hay “xã hội chủ nghĩa” ngày nay chỉ là những chế độ độc tài nếu không phải của một cá nhân thì là của một nhóm nhỏ. Hơn thế, ngoại trừ Trung Cộng, mà ngày càng trở thành một chế độ độc tài chuyên chế của ông Tập Cận Bình, những chế độ Cộng Sản khác không còn quan trọng nữa và không ai để ý nghiên cứu về các chế độ này nữa.

Tôi cũng không phải là một người được huấn luyện để nghiên cứu về một chế độ độc tài như các chuyên gia Kremlinologists hồi nào, nhưng có điều như Shakespeare đã nói “Something is rotten in the state of Denmark,” có một cái gì rất xấu đang xảy ra ở Việt Nam.

Trước hết là màn bi hài kịch về cuộc tranh quyền giữa ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Tấn Dũng.

Cho đến đầu năm 2015, khi Hội Nghị Trung Ương 10 của Đại Hội 11 kết thúc thì người thắng thế là ông Dũng. Trung Ương 10 là lúc mà ông Trọng đã tìm cách “lật đổ” ông Dũng lần đầu, và lần đó ông Trọng đã thảm bại. Khi đưa ra màn để cho các thành viên Trung Ương Đảng “bỏ phiếu tín nhiệm” các thành viên Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư, ông Trọng nghĩ có thể chứng minh là ông Dũng không được sự tín nhiệm của các “đồng chí” và do đó phải bị ép từ chức. Nhưng kết quả là ông Dũng đạt số phiếu tín nhiệm cao nhất (một điều mà trong lời chia tay, ông Dũng còn mỉa mai nhắc lại).

Lúc đó những thầy bàn cho rằng sở dĩ ông Dũng thắng vì ông đã “dọn đường,” mua chuộc, thả đàn em và dụ dỗ tất cả các tổng giám đốc của các công ty quốc doanh, một số các tỉnh ủy, nhất là các tỉnh ủy miền Nam, khiến cho khi bỏ phiếu những nhân vật này bỏ phiếu cho ông Dũng.

Và từ đó đã có nhiều đồn đãi là ông Dũng đang chuẩn bị để lên thay thế ông Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư. Có nhiều người còn nói đến việc nếu cần ông Dũng sẽ loại bỏ đảng luôn để thành một ông Vladimir Putin thứ nhì.

Trong khi đó, trong những ngày cuối của năm 2015, lần đầu tiên trong lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam, cuộc tranh giành quyền lực trong đảng lộ diện. Với sự có mặt của Internet, hai phe tha hồ bôi nhọ cho nhau. Cũng trong thời gian này nhiều “đơn tố cáo” được đưa ra tấn công vào gia đình ông Dũng, nhất là sui gia của ông Dũng, bố chồng của cô Nguyễn Thanh Phượng là ông Nguyễn Bá Bang. Có những lời dèm pha nói là ông Bang không phải chỉ là một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa mà còn là một nhân viên của CIA. Cô Phượng thì bị tố cáo là đã có quốc tịch Hoa Kỳ. Điều một nhà quan sát chỉ ra trên đài VOA là phe ông Trọng tấn công và phe ông Dũng chỉ chống đỡ.

Nhưng mọi sự vẫn chưa ngã ngũ cho đến Hội Nghị Trung Ương 13 mà mục đích chính là quyết định nhân sự cho những năm sắp tới. Hội Nghị Trung Ương này nghe đâu rất gay cấn và theo tường thuật của Ban Việt Ngữ Đài BBC thì hội nghị bế mạc hôm 21 tháng 12 vẫn còn có tranh luận gay go là ai trong số bốn ông Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Sinh Hùng có thể được tái cử tại Đại hội Đảng. Nói cách khác, một hội nghị được tổ chức để bàn về nhân sự không đồng ý nổi. Thông cáo của hội nghị nói là Trung Ương Đảng đã “giao bộ chính trị tiếp tục chuẩn bị nhân sự trường hợp đặc biệt là ủy viên Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư Trung Ương Đảng Khóa 11 quá tuổi, tái cử, để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt của đảng và nhà nước, trình Hội Nghị Trung Ương 14 xem xét quyết định.”

Hội Nghị Trung Ương 14 diễn ra trong một bầu không khí còn căng thẳng hơn nữa. Blog Bà Đầm Xòe, một trong những blog thuộc phe có vẻ thân ông Dũng đã có một bài tường thuật gọi là sự thật về Hội Nghị Trung Ương 14 theo đó bảo “Nguyễn Phú Trọng thua phiếu Nguyễn Tấn Dũng trong việc đề cử tổng bí thư.” Theo blog này, mà không ai biết đúng hay không, thì cuối cùng trung ương bỏ phiếu cho ông Dũng 160 trên 173 trong khi ông Trọng chỉ có 46 trên 173. Đó là lúc theo blogger “Tổng bí thư Nguyên Phú Trọng đã yêu cầu phải thực hiện Quyết Định 244 mà theo đó, ứng viên không được Bộ Chính Trị đề cử thì buộc phải xin rút.” Và một lần nữa, “trung ương lại bỏ phiếu về việc ứng cử viên Nguyễn Tấn Dũng có được rút hay không và kết quả là 158/173 không đồng ý việc ứng cử viên Nguyễn Tấn Dũng được rút khỏi danh sách đề cử ứng viên vị trí tổng bí thư khóa 12.”

Chuyện “thâm cung bí sử” của đảng Cộng Sản thì không ai có thể kiểm chứng được, nhưng thông cáo chính thức của hội nghị viết “Với tinh thần dân chủ, trách nhiệm, thể hiện sự đoàn kết nhất trí cao, Ban Chấp Hành Trung Ương đã thảo luận kỹ, thông qua dự thảo báo cáo công tác nhân sự Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa XII trình đại hội; thống nhất cao bằng hình thức bỏ phiếu kín đề cử nhân sự chức danh tổng bí thư Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa XII; đề cử chức danh chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chủ tịch Quốc Hội nhiệm kỳ 2016 – 2021 để Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa XII xem xét, giới thiệu Quốc Hội khóa XIV quyết định theo quy định của pháp luật. Hoàn tất công tác chuẩn bị nhân sự trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của đảng xem xét, quyết định. “Nói cách khác trao việc quyết định cho đại hội đảng.”

Và đến Đại Hội Đảng 12 thì ông Trọng toàn thắng. Ông Dũng “nghỉ hưu chính sách” và ông Trọng sẽ làm tổng bí thư tạm một năm rồi sẽ bầu lại. Chuyện gì xảy ra giữa Hội Nghị Trung Ương 14 và Đại Hội Đảng thì không ai biết nhưng khi ra đại hội thì có vẻ ông Dũng đã thua.

Nhưng chưa hết, sau đại hội nhưng ông Dũng vẫn còn là thủ tướng. Và vì thế khi vào hai ngày 15 và 16 tháng 2 năm 2016, khi Tổng Thống Barack Obama mời các lãnh tụ của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (Asean) đến dự hội nghị thượng đỉnh ở Sunnylands, đại diện cho Việt Nam là ông Nguyễn Tấn Dũng. Ngoài gặp gỡ chính thức, ông Obama và ông Dũng có một cuộc gặp riêng.

Trước cuộc họp, có tin đồn trong nước là ông Dũng không chịu đi bởi theo một số nhà bình luận, đi thì ông phải theo lập trường của bộ chính trị và không được quyền ăn nói gì khác cả. Nhưng sau cùng ông Dũng đã đi, và đã gặp Tổng Thống Obama.

Chưa hết, đến kỳ họp cuối cùng của Quốc Hội khóa 13, ông Trọng tung ra một màn ngoạn mục nữa, cho Quốc Hội cũ miễn nhiệm luôn các chức vụ chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội và chọn luôn các chức vụ mà chính thông cáo của đảng Cộng Sản Việt Nam về Hội Nghị Trung Ương 13 viết “đề cử chức danh chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, chủ tịch Quốc Hội nhiệm kỳ 2016 – 2021 để Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa XII xem xét, giới thiệu Quốc Hội khóa XIV quyết định theo quy định của pháp luật.”

Những lời bàn tán nói là ông Trọng không muốn ông Dũng sẽ lại là người đón tiếp Tổng Thống Barack Obama khi ông dự trù đến Việt Nam vào tháng 5 tới đây, bởi lúc đó Quốc Hội Khóa 14 chưa có để bầu lên người thay thế ông Dũng.

Cuộc ẩu đả giữa ông Dũng và ông Trọng như vậy là kết thúc. Ông Dũng không hiểu vì sao “khinh địch” đến thế hay là vì lý do nào nữa mà để bị ông Trọng hạ đo ván.

Chuyện lạ ở Việt Nam tuy vậy chưa hết. Trong khi đang tiếp tục “thủ tục” để hạ ông Dũng, hôm Chủ Nhật, 27 tháng 3, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã long trọng tiếp đón Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Cộng Thường Vạn Toàn. Cuộc gặp gỡ này thân thiện quá đến nỗi bản tin tiếng Việt của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ viết: “Bộ trưởng Quốc Phòng Việt-Trung ‘tay bắt, mặt mừng.’ Đặc biệt hai ông còn ‘nhất trí’ rằng ‘quân đội hai nước phải kiềm chế, kiểm soát tốt tình hình, không đe dọa sử dụng vũ lực, không để xảy ra xung đột, cùng giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác và lợi ích của hai nước, khu vực và thế giới.’”

Rồi ngày hôm sau, trên báo chí nhà nước, Thứ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh nói đến “Việt-Trung xây dựng một quan hệ Quốc Phòng thực chất” và để chứng minh ông nói “Ví dụ chúng ta chủ động mời tàu Hải Quân Trung Quốc thăm các cảng Việt Nam, trong đó có cảng quốc tế Cam Ranh vừa khánh thành tháng 3 năm 2016, hưởng các dịch vụ ở đó giống như các nước khác.”

Một chuyên gia quân sự chuyên nghiên cứu về Việt Nam đã nhận xét đó là một sự chuyển hướng đặc biệt nhanh vì từ lâu nay, Hà Nội vẫn có ý muốn mở Cam Ranh để mời quốc tế nhưng trong “quốc tế” đó thường không thấy nhắc đến Trung Cộng.

Một nhà bình luận về chính trị Việt Nam thì giải thích là tốt nhất có thể nói hành động này của phe ông Trọng là lại một hình thức “đi giây” nữa của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhưng nếu đó là cái thế “đi giây” của ông Trọng thì cái thế đó bây giờ không hiệu nghiệm nữa.

Trong suốt thời gian của cuộc Chiến Tranh Lạnh, chính sách đó rất thành công, vì cái thế tay đôi giữa hai quốc gia muốn dành quyền độc tôn trong các chế độ Cộng Sản và cái thế tay ba với Hoa Kỳ khiến Hà Nội dễ lợi dụng. Nhưng ngày nay, cái thế đó không còn nữa.

Suy nghĩ về tầm nhìn của chúng ta

 Suy nghĩ về tầm nhìn của chúng ta

(A Reflection on Our Vision)

Ghi nhận của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Từ xa xưa, cha ông ta vẫn thường nói : “Người sĩ phu quân tử thì phải biết

nhìn xa trông rộng”, tức là phải cố gắng mà tìm hiểu cho rành mạch sâu sắc

hơn về tình hình chung của xã hội, của đất nước đang biến chuyển ra sao – để

rồi từ đó đề ra được một chương trình hành động sao cho thích hợp với nhu

cầu đòi hỏi của tình thế. Mà nói theo lối văn hoa, thì đó là cái “viễn kiến”.

Ngược lại, thì dân gian cũng bày tỏ sự coi thường đối những kẻ gàn dở,

ngang bướng, tự cao tự mãn – ví họ như lọai “ếch ngồi đáy giếng coi trời

bằng vung”, tức là lọai người có cái nhìn chật hẹp không làm sao mà trông

thấy hết được cái bàu trời bao la rộng mở của không gian thể lý vật chất,

cũng như của vũ trụ tâm linh tinh thần.

Là một người có duyên may được tiếp cận học hỏi với nhiều bậc thức giả

chuyên viên ở trong nước cũng như ngòai nước, tôi xin được chia sẻ với quý

bạn đọc một vài ý kiến sơ khởi mộc mạc về cái tầm nhìn của chúng ta trong

thế kỷ XXI hiện nay qua bài viết có nhan đề “ Suy nghĩ về Tầm nhìn của

chúng ta” (A Reflection on Our Vision) như được trình bày trong mấy điểm

sau đây.

 

I – Quá trình nhận thức vấn đề.

 Để bạn đọc tiện bề theo dõi câu chuyện, tôi xin tường thuật vắn tắt theo thứ

tự thời gian một số điều mình đã tai nghe mắt thấy, đại khái như sau.

 

* Trước tiên, vào năm 1960, trong thời gian tập sự tại Thư Viện Quốc Hội

Mỹ ở Washington, tôi có dịp thấy tại nơi đây có một nhóm nghiên cứu riêng

về “Space Law” (Luật Không gian). Là một chuyên viên nghiên cứu về luật

pháp (legal analyst) cho Quốc Hội Việt Nam thời Đệ nhất Cộng Hòa, tôi thật

sửng sốt trước nhóm nghiên cứu này, bởi lý do là trong giới luật gia ở Việt

Nam hồi đó không hề có một ai mà lại có thể đề cập đến vấn đề mới lạ và

rộng lớn như thế. Nhưng đối với một siêu cường như nước Mỹ, thì quả thật là

họ có khả năng và tầm nhìn rộng lớn để khởi sự công trình nghiên cứu về

lãnh vực “Luật Không Gian” như vậy. Sự kiện này đã khơi gợi cho tôi một

tầm nhìn sâu sắc rộng lớn hơn trong lãnh vực nghiên cứu luật pháp ở Việt

Nam

Vào năm 1964 – 65, Tổng thống De Gaulle cũng đã lên tiếng kêu gọi giới

thanh niên sinh viên nước Pháp là : “Chúng ta cần phải có một tầm nhìn vũ

trụ“ (vision cosmique). Vào giữa thế kỷ XX, thì nước Pháp cũng như nước

Anh không còn là một lọai cường quốc hàng đầu trên thế giới nữa. Tuy vậy,

do trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật cũng như về văn hóa học

thuật, thì nước Pháp vẫn còn có một tầm ảnh hưởng đáng kể trên trường quốc

tê, vì thế mà nhà lãnh đạo De Gaulle mới phát biểu kêu gọi khuyến khích giới

thanh niên nước Pháp phải có một tầm nhìn rộng lớn bao quát như vậy.

* Cũng trong thời gian đó, thì tại nước ta, các nhà giáo dục ở miền Nam lại

đưa ra chủ trương này : “ Nền giáo dục của chúng ta phải được xây dựng theo

cả ba tiêu hướng – đó là Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng”. Chủ trương này

rõ rệt là theo đúng với trào lưu của thế kỷ XX trên thế giới, nhất là sau cuộc

tàn sát từ 2 cuộc thế chiến 1914 – 18 và 1939 – 45, thì nhiều quốc gia đã cố

gắng tìm cách xây dựng một xã hội theo tinh thần tôn trọng phẩm giá và

quyền con người một cách triệt để hơn. Mà điển hình là sự công bố Bản

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc đưa ra tại Paris vào

năm 1948.

* Nhưng sau năm 1975, khi đổi tên nước ta thành “Cộng hòa Xã Hội Chủ

Nghĩa Việt Nam”, thì giới lãnh đạo cộng sản lại nêu khẩu hiệu kêu gọi tòan

thể dân tộc phải : “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Xã

hội ”. Vào thời gian đó, thì tôi được một anh bạn tên là anh Năm – vốn quen

biết trong giới Phật tử chuyên làm công tác xã hội từ hồi thập niên 1960 – 70

– anh Năm tâm sự với tôi đại khái như sau : “Vấn đề cần thiết cho chúng ta

lúc này, đó chính là cái tầm nhìn phải vừa đủ xa, đủ rộng để có thể từ đó mà

đề ra được một đường hướng tiến bộ thích hợp với những đòi hỏi thực tế mà

cấp bách của thời đại…”

* Vào cuối thập niên 1980, trước khi bị công an cộng sản tại Việt nam bắt

giữ, thì tôi được đọc trên báo chí nước ngòai cái khẩu hiệu được giới trẻ trên

thế giới rất tâm đắc, khẩu hiệu đó viết bằng Anh ngữ chỉ gồm vẻn vẹn có 4

chữ ngắn gọn như thế này : “Think globally – Act locally” ( Suy nghĩ tòan

cuộc – Hành động trong tầm tay).

* Và gần đây, người trong nước còn hay sử dụng từ ngữ “Đó là người vừa

có Tâm, mà lại vừa có Tầm” để đề cao một số nhân vật vừa có cả tâm hồn

nhân hậu và cả trí tuệ sắc bén. Hai tính chất Tâm và Tầm đó cũng tương tự

như nội dung ba phẩm cách “Nhân, Trí, Dũng” mà bất kỳ người Sĩ phu Quân

tử nào cũng phải có được – theo bức thang giá trị truyền thống xưa nay của

dân tộc chúng ta (Our Traditional Values System).

 

II – Những cản trở trong Tầm nhìn của người Việt ở hải ngọai.

Hiện có đến trên 4,5 triệu người Việt sinh sống tại trên 60 quốc gia và lãnh

thổ khắp thế giới. Trong số này, thì riêng tại Bắc Mỹ gồm Canada và Hoa kỳ

đã có đến 2 triệu rồi. Ở Âu châu gồm cả các nước thuộc Tây Âu và Đông Âu,

thì cũng đến con số cả 1 triệu người. Tại Úc châu và các nước thuộc Á châu,

thì cũng đến con số trên 1 triệu người.

Về mặt khách quan, thì phần lớn các nước mà người Việt chúng ta đã chọn

đến định cư sinh sống đều có nền kinh tế phát triển thịnh vượng, có trình độ

khoa học kỹ thuật cao và nhất là có chế độ chính trị dân chủ, tự do thông

thóang. Nhờ vậy, mà các thế hệ thứ hai, thứ ba là lớp con, lớp cháu của các

gia đình người Việt đã có thể dễ dàng hội nhập sâu sắc vào môi trường văn

hóa xã hội địa phương sở tại. Do đó mà trình độ hiểu biết và tầm nhìn của thế

hệ trẻ Việt nam ở hải ngọai cũng không khác biệt là bao nhiêu so với các bạn

cùng trang lứa thuộc dòng chính của quốc gia nơi cha mẹ mình đã chọn để

cho cả gia đình đến định cư lập nghiệp lâu dài.

Con số trên 500,000 sinh viên tốt nghiệp tại các đại học ngọai quốc trong

mấy chục năm gần đây là một dấu chỉ tích cực rất đáng phấn khởi cho tòan

thể dân tộc chúng ta vậy. Đó quả thật là một nguồn tài nguyên trí tuệ đồi dào

phong phú, một thứ “valuable asset” (tích sản quý giá) trong kho tàng sản

nghiệp cuả cha ông chúng ta trên quê hương đất nước Việt Nam này (Our

National Patrimony).

Có thể ví như khối trên 4 triệu người Việt nam hiện đang định cư lập nghiệp

tại khắp nơi trên thế giới thì như là một đàn cá từ nơi sông hồ chật hẹp trong

nội địa mà nay thóat ra ngòai biển cả mênh mông – thì mặc sức mà “vãy vùng

cho thỏa chí tang bồng”, thi đua nhau đem phát triển tối đa cái khả năng vốn

tiềm ẩn sâu kín trong bản thân mình từ bấy lâu – hầu gặt hái được những

thành tích to lớn như lòng mong ước ấp ủ suốt bao năm trường.

 

* Nhưng riêng đối với một số người tương đối lớn tuổi, thì cái việc hội

nhập, thích nghi với môi trường văn hóa xã hội mới lạ như thế không phải là

một việc đơn giản dễ dàng chút nào – so sánh với trường hợp của lớp con

cháu còn trẻ tuổi. Trong ý nghĩ của lớp người lớn tuổi này, hiện vẫn còn tồn

đọng những lấn cấn với những luyến tiếc về cái hào quang khi xưa của thế hệ

mình, vào cái thời mà họ còn đóng vai trò chủ động trên quê hương đất nước

Việt nam vào những thập niên 1960 – 70. Ta có thể ghi ra một số trở ngại

trong việc hội nhập này như sau :

 

1 – Lối suy nghĩ theo cái ước vọng của riêng mình (Wishful Thinking).

Vẫn có một số người không chịu tìm cách suy nghĩ tìm hiểu vấn đề theo lối

khách quan khoa học, mà lại suy nghĩ dựa theo những thành kiến có sẵn hay

theo cái ước vọng chủ quan của mình. Do vậy mà sự hiểu biết về sự việc, về

con người lại thiếu tính chất chính xác. Điển hình như chuyện một số người

vẫn tin là có chuyện vị Đại sứ Pháp ở Saigon hồi năm 1975 – tên là Jean-

Marie Mérillon – viết cuốn Hồi ký có nhan đề là “Saigon et Moi” tường thuật

về những chuyện xảy ra chung quanh ngày 30 tháng 4 năm đó. Thực ra đây là

một bài báo ngụy tạo, hòan tòan bịa đặt ra mấy chuyện vớ vẩn do một người

viết vô trách nhiệm tung ra vào năm 1987. Thế nhưng, một số bà con mình

lại coi chuyện đó là phù hợp với ước vọng của riêng mình, nên đâm ra tin đó

là điều có thật. Mặc dầu chính ông Mérillon – lúc đó là Đại sứ Pháp ở Liên

Xô vào cuối năm 1990 – đã đích thân viết thư trả lời cho Giáo sư nổi tiếng

chuyên về Sư học là Hòang Ngọc Thành rằng : “Bản thân tôi thì không hề

viết một cuốn Hồi ký nào có nhan đề là “Saigon et Moi “ như thế.”

 

2 – Lối nhận định sự việc theo cảm tính (Emotional Reasonning).

Cuộc chiến tranh Quốc Cộng ở Việt nam kéo dài từ cuối thập niên 1940 trong

bối cảnh của Chiến tranh Lạnh giữa hai khối Mỹ và Nga – gây ra bao nhiêu

thảm cảnh cho người dân chúng ta – mà đặc biệt đối với những nạn nhân của

chính sách tàn bạo của đảng cộng sản, thì mối hận thù ân óan vẫn còn rất sâu

đậm, khó mà có thể hàn gắn dẹp bỏ đi được. Vì thế mà mặc dầu qua thế kỷ

XXI, với cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới đã chấm dứt từ trên 20 năm nay,

kể từ khi khối Xô Viết bị giải thể, thì vẫn còn nhiều người Việt ở hải ngọai

giữ nguyên cái não trạng của những năm 1950 – 60.

Do vậy, mà họ không chú trọng nhiều đến những đổi thay lớn lao trong cục

diện thế giới – để rồi từ đó mà có sự điều chỉnh lại cái phương thức hành

động khả dĩ thích hợp với tình hình thực tế hiện nay trong bối cảnh của một

thế giới đã tiến bước mạnh mẽ dứt khóat vào giai đọan tòan cầu hóa. Cái lối

nhận định sự việc theo cảm tính như thế quả thật đã trở thành một hạn chế tai

hại cho hiệu năng trong lề lối sinh họat, cũng như trong họat động của chúng

ta trong hiện tại và cả tương lai nữa vậy.

 

3 – Sự thiếu tiếp cận trao đổi với dòng chính trong xã hội sở tại.

Một phần vì do cách biệt ngôn ngữ, một phần vì lối sống quần tụ riêng giữa

các gia đình người Việt với nhau, nên hầu như nhiều người vẫn còn tự cô lập

mình, không chịu hòa nhập với cộng đồng địa phương. Điều này rõ rệt là

đang đi ngược lại với lời nhắc nhủ của cha ông chúng ta từ xa xưa qua câu

ngạn ngữ quen thuộc : “ Nhập gia tùy tục”. Tình trạng này, người Mỹ gọi là

lối sống khép kín, tự cô lập nơi các “Ghetto” – nó ngăn trở kìm hãm cái quá

trình hội nhập êm thắm giữa thế hệ người mới nhập cư vào với dòng chính

của xã hội Mỹ. Mà tình trạng đó cũng làm xa cách thêm cái khỏang cách

ngay trong nội bộ nơi các thế hệ cha mẹ với con cháu trong cùng một gia

đình (Widening Generation Gap) người Việt chúng ta đang cư ngụ làm ăn

sinh sống ở khắp nơi tại hải ngọai nữa.

 

4 – Không chịu nhìn tòan cảnh bức tranh xã hội hiện đại.

Bạn Đỗ Trọng Linh ở San Jose là một người thành công trong ngành Bảo

hiểm và Địa ốc. Nhiều lúc thảo luận trao đổi với tôi, bạn Linh hay nói thế này

: “ Cái khuyết điểm của nhiều người ở hải ngọai là không chịu nhìn cho thật

rõ ràng được cái “big picture” của xã hội quanh mình. Có thể coi đó là một

cái nhìn hời hợt, thiển cận. Vì thế mà không thể đánh giá cho xác thực được

cái môi trường văn hóa xã hội rất đa dạng phức tạp trong thế giới hiện đại –

để mà từ đó đề xuất ra được những hành động hợp lý, hợp thời với hiệu quả

cao trong công việc của cá nhân hay của tập thể mình theo đuổi được. Hậu

quả của lối nhìn thiển cận này là nhiều bà con cứ loay hoay bận rộn và bực

bội với những “ chuyện ruồi bu, vô bổ “ mà không làm sao giải quyết dứt

khóat được tình trạng bế tắc của mình – cũng như tìm ra được cái hướng đi

có tính chất khai phóng tiến bộ cho cả tập thể cộng đồng của mình… “ Tôi

hòan tòan chia sẻ cái lối phân tích vấn đề một cách thông suốt rốt ráo như thế

của anh bạn trẻ này.

 

III – Để tóm lược lại.

 Bài viết lan man đã dài rồi, tôi xin tóm tắt lại với hai điểm như sau :

* 1 – Từ gần 40 năm qua, người Việt chúng ta đã phải rời bỏ quê hương đất

nước để ra đi lập nghiệp sinh sống ở khắp các châu lục trên thế giới. Sau

những vất vả cực nhọc những năm đầu nhập cư trên xứ sở xa lạ, đa số chúng

ta đã bắt đầu xây dựng được một cuộc sống ổn định – và đặc biệt là thế hệ

thứ 2, thứ 3 là lớp con, lớp cháu trong các gia đình đều đã gặt hái được những

thành công đáng kể về nhiều mặt khoa học kỹ thuật chuyên môn, cũng như

về mặt kinh tế, xã hội văn hóa. Nói chung, thì đó là một điểm thuân lợi lớn

lao – trong cái rủi ro chật vật lúc phải trả giá nặng nề để tìm đường chạy

thóat khỏi ách độc tài cộng sản ở trong nước, chúng ta đã được nhiều quốc

gia mở rộng vòng tay đón tiếp và cưu mang các gia đình người tỵ nạn. Nhờ

sự tiếp cứu đày tình nhân đạo cao quý này, mà đa số bà con chúng ta đang

được thụ hưởng những tiện nghi thuận lợi của nếp sống văn minh trong thế

giới hiện đại. Cái ân nghĩa này, chúng ta không bao giờ mà có thể coi nhẹ hay

bỏ quên đi được.

Mặt khác, chúng ta cũng không quên được những bà con ruột thịt đang còn

phải sống dưới chế độ tham nhũng thối nát và độc tài ác nhân ác đức do

người cộng sản gây ra ở bên quê nhà. Thành ra, bất kỳ người Việt nào ở hải

ngọai cũng đều có cả hai cái nghĩa vụ phải góp phần vun đắp cho quê hương

nguyên quán của mình – cũng như cho quê hương mới hiện đang cưu mang

cho mình – như cha ông chúng ta vẫn thường nhắc nhở trong câu : “Ăn cây

nào, rào cây ấy”. Cả hai nghĩa vụ này đều nặng nề, không thể nào sao lãng bỏ

qua bất kỳ một trách nhiệm bổn phận nào được.

Lại nữa, trong thời đại của thế kỷ XXI hiện nay, thì giữa các quốc gia càng

ngày càng gắn bó liên đới với nhau khăng khít chặt chẽ hơn. Do đó, mà

người Việt hiện đang sinh sống ở hải ngọai, thì cần phải cố gắng hòa nhập

thuận thảo hơn vào với xã hội sở tại – để nhờ đó mà mở rộng được một tầm

nhìn khóang đạt rộng rãi hơn vê bối cảnh chính trị xã hội cũng như văn hóa

trên thế giới hầu đề ra được phương thức hành động thích nghi với tình thế

mới – cũng như giúp chúng ta hòan thành tốt đẹp được cả hai nhiệm vụ đối

với quê hương bản quán, cũng như đối với quê hương mới hiện đang hết sức

chăm sóc cưu mang cho mình vậy.

 

* 2 – Trong phần I ở trên, tôi đã ghi ra cái khẩu hiệu “ Think Globally – Act

Locally “ mà giới trẻ trên thế giới rất tâm đắc. Nay để kết thúc bài viết này,

tôi xin được thêm vào khẩu hiệu đó cái vế thứ 3 cũng chỉ gồm có 2 từ ngữ

nữa – như thế này : “ Love Totally “ (Hãy Yêu Thương Trọn Vẹn). Nói khác

đi, mỗi người trong chúng ta cần phải có được một trái tim thật nhân hậu – để

mà sẵn sàng hy sinh nhẫn nại trong công cuộc xây dựng trường kỳ gian khổ –

hầu đưa đất nước và dân tộc ta tới được một cuộc sống tươi đẹp, văn minh

nhân ái xứng đáng với phẩm giá cao quý của mỗi người và của tất cả mọi

người nữa.

Lọai công việc xây dựng tích cực như thế đòi hỏi phải có một đội ngũ những

người có quyết tâm cùng nhau sát cánh thật chặt chẽ ăn ý nhịp nhàng thuận

thảo với nhau – như là một thứ “perfect team” – thì mới mong đạt tới kết quả

lý tưởng tốt đẹp mong muốn được./

 

Westminster California, đầu tháng Bảy năm 2013

Đoàn Thanh Liêm

A! Này bé, con dế nó đậu cành tre,

Chuyện Phiếm đọc trong tuần sau Chúa Nhật 3 Phục Sinh năm C 10/4/2016

 “A! Này bé, con dế nó đậu cành tre,”

Em bắt đem về, hát xẩm mà nghe.

Đừng bắt đem về, đánh lộn làm chi.

Loài giun dế nó mang tội tình gì???”

(Phạm Duy – Bé Bắt Dế)

(Mt 28:18-19)           

            Trần Ngọc Mười Hai

Úi chu choa! Cái gì mà, “loài giun dế nó mang tội tình gì?” Thế còn loài người? Có tội có tình gì không thế?

Để trả lời câu hỏi, như em bé. Hãy cứ nghe câu hát tiếp, hạ hồi sẽ rõ:

A! Này bé, con dế nó nằm lỗ sâu,

            Đào lỗ đem vào cho ở hộp cao.

            Đừng bắt dế nghèo đánh bể đầu nhau,

Để nó phải buồn rầu.

 A! Này bé, con dế nó tội tình chi?

A! Này bé, con dế nó tội tình gì???

 A! Này bé, con dế nó ở đồng quê

Chinh chiến lan về, nó phải tản-cư.

Nó sống trên vỉa hè quanh-quẩn ngoại ô,

Làm thân sống nương ở nhờ!!!

 

A! Này bé, con dế nó cùng chị ve,

Trong mấy tháng hè nó chỉ hoà ca.

Mưa nắng thuận-hoà cho đẹp ruộng ta.

Con dế hát đẹp ngày mùa…

 A! Này bé, con dế nó ở miền quê!

A! Này bé, con dế nó ra kinh-đô…”

(Phạm Duy – bđd)

Chưa đâu, thân phận con dế bé nhỏ, còn bọt bèo hơn nữa, khi ta biết được rằng:

“A! Này bé, con dế nó ở nhà em,

Nên nó cũng thèm coi truyền-hình đêm.

Nó thấy phi-thuyền lên tận mặt trăng

Mà không thấy đâu chị Hằng!!!

 A! Này bé, con dế cúi đầu phục lăn.

Nó hát khen rằng: Con Người Giỏi Dang!

Nhưng vẫn chê rằng: thiếu hẳn tình thương

Lòng vẫn chứa đầy bạo cường…

 A! Này bé, Này bé! Mau thuộc bài đi,

A! Này bé! Cho dế nó coi Tivi!!!

(Phạm Duy – bđd)

Ấy! Ví thử ta thay thế cụm từ “em bé” và “con dế” bằng những chữ rất khác như: “linh mục”, Hội thánh”, hay sao đó, hẳn sẽ có người sẽ thêm vào đó cả triệu câu truyện kể rất dễ nể như sau này:

“Truyện rằng:

Hồi ấy, vào thời nước Nga còn thuộc khối Liên-Xô có đảng Cộng-sản do ông Stalin nắm trọn quyền-hành. Một hôm, ông Stalin quyết định ra đi thăm dân để biết sự tình về cuộc sống của tầng-lớp lao-động rày ra sao. Nên, ông ăn vận thật bình-thường như người dân ở huyện rồi ra khỏi điển Cẩm-Linh. Sau một ngày dài, ông trờ tới rạp chiếu bóng để xem dân chúng vui sống ra sao.

 Sau khi bộ phim kết-thúc, trên màn ảnh hiện ra hình-ảnh lãnh-tụ Stalin giơ tay vẫy chào từ biệt bà con lao-động và quốc ca Liên-xô trổi lên. Tất cả mọi người đều đứng dậy và hát theo, riêng chỉ có mỗi ông Stalin là không đứng.

 Khi ấy, có người đàn ông đứng ở phía sau hàng ghế của ông ghé vào tai ông Stalin rồi nói: “Đồng chí à, tôi cũng biết rằng: chúng ta đều nghĩ giống như nhau, nhưng để cho an-toàn hơn, tôi đề-nghị đồng chí cứ đứng lên là xong ngay! Và nghe thế, ông Stalin lưỡng-lự trong giây lát, rồi cũng đứng, chắc để… mình tiễn-biệt mình!” (Truyện kể về “Tiếu-Lâm Liên-xô” nhưng chắc gì đã đúng thật)

             Ấy chết, đừng vội nhận-định, bàn-luận hoặc nói năng sớm như thế mà làm gì. Hãy cứ nghe câu hát tiếp cũng rất hay như sau này:

“A! Này bé, theo dế ra tận bờ đê

Đất sét đem về ta nặn đồ chơi.

Nặn những tay người hay nặn bàn chân

Tặng cho những ai tàn tật.

 A! Này bé, theo dế ra trại định-cư

Coi những ông già phá rừng trồng hoa

Chia sớt ngọt bùi với trẻ mồ côi

Đời mới chúc người phục hồi…

 A! Này bé, Con dế xin vài hòn bi!

A! Này bé, Đem biếu những em xa quê!…

            (Phạm Duy – bđd)

Và những câu cuối của bài hát, còn đáng để bạn và tôi suy-nghĩ, bàn luận hoặc ít là cứ phiếm, rất như sau:

A! Này bé, thôi nhé dế còn phải đi

            Đi hát câu vè, trên nẻo đường xa…

            Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha!

            Và, ca hát câu giải hoà.

 A! Này bé, có lẽ dế về miền sông,

Có lẽ lên rừng hát cùng loài công.

Hay xuống cát vàng hát cùng hàng thông,

Ở giữa cõi đời mịt mùng…

 A! Này bé, con dế đến mùa phải đi…

A! Này bé, rồi sẽ có ngày trở về…

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Đúng thế. Dế hay bé, rồi cũng có ngày phải đi. Vì khôn lớn, hơn loài thường. Vâng. Chính thế. Bạn đạo hay người đời, có ngày cũng vẫn ra đi. Đi mà tìm về nguồn để học hỏi những lời vàng rằng:

“Đức Giê-su đến gần, nói với các tông-đồ rằng:

“Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.

Vậy anh em hãy đi

và làm cho muôn dân trở thành môn đệ,

làm phép rửa cho họ

nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”

            (Mt 28: 18-19)

Vâng. Lời vàng đầy ý-nghĩa như thế. Nhưng, xem ra thực-tế vẫn như thể: nhiều người còn thắc mắc chuyện này nọ, hoặc chưa am-tường ý-nghĩa của lệnh-truyền ấy có dành cho mình hay không, hoặc chỉ cho mỗi các tông-đồ thời đó, nhấc chân đi theo Đức Giêsu mà thôi.

Ngày nay, ở ngoài đời hay trong Đạo, cũng có những sự-kiện/hiện đáng để bạn và tôi, ta quan-tâm bàn luận, cũng rất nhiều.

Một trong các chuyện đáng bàn và đáng phiếm vẫn là chuyện Đạo ở đời, trong đó có ý-kiến về chuyện: ta có nên cùng với bạn-đạo Chính thống hoặc Cốp-tích Ai Cập định-vị lại ngày tháng cho lễ Phục Sinh hay không, như sau:

“Tổng Giám Mục Justin Welby của Canterbury, Anh Giáo hôm 16/1/2016 có loan-báo: Giáo-hội Anh sẽ tham-gia cuộc bàn luận diễn-tiến giữa Đức Phanxicô và lãnh-đạo Giáo hội Cốp-tích để định ngày tháng thống-nhất tổ-chức Lễ Phục Sinh cho hai Đạo…

 Ông nói: ông muốn được thấy thời-điểm tổ-chức Ngày Lễ này sao cho đơn-giản, đồng-thuận có lợi cho mọi người kể cả trường-học, bậc cha-mẹ đưa đón con em, các doanh-thương cũng như kỹ-nghệ du-lịch thay vì mỗi năm cứ phải xê-dịch ngày thánh, có năm có khi cách nhau đến 35 ngày. Riêng Giáo-hội Chính-thống Đông-phương lại tính toán ngày tháng cho lễ Phục Sinh cũng khác hẳn khi chức-sắc trong Đạo lại dùng lịch cũ của Julian.       

 TGm Welby còn xác-nhận là: các nhà lãnh-đạo Anh-giáo trên thế-giới cũng đã họp bàn và đồng-thuận tham-gia bàn-luận với các Giáo-hội khác, để định ngày thống-nhất. Nhưng ông cũng nói tiếp: thay-đổi thời-gian cho Lễ này cũng phải mất 5 đến 10 năm mới đưa vào hiện-thực được.

 Riêng Đức Phanxicô năm ngoái có thông-báo: ngài cũng muốn bàn-thảo với các nhà lãnh-đạo Giáo-hội Cốp-tích mà số đông tín-hữu của giáo-hội này sống ở Châu Phi và Trung Đông, để tìm ra ngày tháng thống-nhất cho sự-kiện này.” (x. tin trên Courier Mail của Queensland , Chúa Nhật 17/1/2016 tr. 11)   

 Ít hôm sau đó, Tuần báo Công-giáo ở Sydney là tờ The Catholic Weekly cũng loan tin giống như trên, nhưng lại kết thúc bài viết bằng giòng nhận-định bảo rằng:

“Phát-ngôn-viên Giáo-hội Chính-thống thuộc Nga có nói rằng: Thượng-Phụ Mạc-Tư-Khoa hân hoan nghênh-đón ý-kiến về việc cùng nhau cử-hành chung một ngày Lễ, bao lâu quyết-định này phù-hợp với lịch của Chính-thống-giáo.

 Theo linh-mục quản-hạt Nikolai Balashov phó giám-đốc thường-vụ Đại-kết thuộc Toà Thượng-phụ Mạc-Tư-Khoa nói ông đang chờ được nghe chi-tiết đề-nghị từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi nói rằng:

“Giả như Giáo Hội La Mã có ý-định hủy bỏ ngày lễ Phục Sinh tính theo lịch Grêgôriên được đưa ra vào phụng-vụ giờ lễ kể từ thế kỷ thứ 16 về với lịch cũ, sử dụng lúc Giáo-hội Đông và Tây Phương hợp-nhất dùng ngày tháng cố-định do Giáo-hội Chính-thống thiết-lập, thì chúng tôi hoan-nghênh ý của ngài. Thế nhưng, nếu thiết-lập một ngày nhất-định cho Phục Sinh là việc không thể chấp-nhận hoàn-toàn được.” (xem Catholic Weekly News ngày 24/1/2016 tr. 10)

             Xem thế mới biết: muốn định việc gì cho thống-nhất mà không chịu nhượng-bộ từ phía mình, dù là Giáo-phái hoặc Giáo-Hội đã thánh-hoá cách nào đi nữa, cũng là việc khá khó. Khó, thực-hiện. Khó, tạo niềm tin-tưởng vào nhau, rất thân-thương, nhịn nhường là chuyện rất đời thường.

Từ ý-tưởng ấy, đã nảy sinh nhiều ý-kiến có liên-quan đến chuyện đời/việc Đạo ở đâu đó, dù là xó-xỉnh, góc chợ hay bục cao chót vót của thánh hội.

Nói thế rồi, nay ta đi vào sự-kiện khác cũng đáng phiếm, như chuyện khác-biệt chánh-kiến cả về thần-học, lẫn thánh kinh giữa các giáo-phái/giáo-hội cùng thờ một Đức Chúa, ở nhiều nơi. Như, vấn-đề hoặc câu chuyện do đấng bậc nọ đề ra ở trong sách. Thế nhưng, trước khi đi vào thực-tế của chuyện đạo, mời bạn và tôi, ta trở lại câu hát cũng rất “dế” ở trên, mà hát rằng:

“A! Này bé, thôi nhé dế còn phải đi

            Đi hát câu vè, trên nẻo đường xa…

            Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha!

            Và, ca hát câu giải hoà.

 A! Này bé, có lẽ dế về miền sông,

Có lẽ lên rừng hát cùng loài công.

Hay xuống cát vang hát cùng hàng thông,

Ở giữa cõi đời mịt mùng..

 A! Này bé, con dế đến mùa phải đi…

A! Này bé, rồi sẽ có ngày trở về…

(Phạm Duy – bđd)

Đi tới quê mẹ, nối lại tình cha! Và, ca hát câu giải hoà”, làm sao được như thế, khi mà nhiều đấng bậc và nhiều người không chịu lắng tai nghe đấng bậc khác, người khác có nhận-định khá sâu-sắc như sau:

“Tính-cách bộ-tộc của Thượng-đế ở đạo-đức Do-thái-giáo đang lớn mạnh. Thuyết duy-vũ-trụ đang ló rạng. Thượng-đế đây khi xưa vẫn là còn như thế cho đến khi Đức Giêsu biến-đổi thành Đức Chúa trước tiên đi vào hiện-hữu và rồi thành Đấng Thánh-hoá cho đi sự sống có thẩm-thấu bộc-lộ cho mọi người thấy được thực-chất của mọi hữu-thể.

 Đức Giêsu sai-phái tông-đồ Ngài ra đi mà đến với thế-gian (Mt 28: 16-20). Các tông-đồ được lệnh vượt lằn ranh biên-giới của nước mình, bộ-tộc mình và đặc-biệt hơn, vượt khỏi đạo-giáo của mình nữa.

 Khi các ngài, cuối cùng, không thể nào thoát khỏi mọi lằn ranh nằm bên trong nhân-loại nay trải rộng và cởi mở, các ngài được lệnh rao-giảng Tin Mừng, tức là: tình thương-yêu vô bờ bến của Thiên-Chúa với mọi người mà Chúa đã thực-hiện, một tình-thương vốn không chấp-nhận một lằn ranh cách biệt nào hết.

 Tình-thương không ranh giới sẽ yêu thương cả những người khi xưa tìm cách đóng đinh Tình-Yêu của Chúa vào thập-giá. Nó bao gồm mọi loài, mọi cây cỏ, mọi hành-tinh, mọi bộ-tộc mọi người.

 Tất cả đều được Chúa chọn. Không một ai là người ngoại-cuộc, ngoài hành-tinh. Không ai bị chia-cách khỏi Chúa. Ta sống trong Chúa. Chúa sống trong ta. Ta là nhân-chứng ở Giêrusalem, Giuđêa, Samaria và “cho đến mút cùng của trái đất” (Cv 1: 8). Tên của Đức Giêsu nay đã là Emmanuel, có nghĩa: Thiên-Chúa ở cùng chúng ta (Mt 1: 23).

 Và, khi Ngài phán: “Này, ta sẽ ở với các anh mãi.” (Mt 28: 20) tức là Ngài đã nói lên danh-xưng Emmanuel là tính-cách rất thực. Và, khi Thiên-Chúa tự-do như Thần-khí, mọi lằn ranh cách-biệt giữa quốc-gia và thể-chế, biểu-trưng bằng các ngôn-ngữ khác-biệt, thì lằn ranh ấy bị tẩy/bỏ và mọi người được ơn Thánh-thần và bắt đầu nói thứ ngôn-ngữ của tình thương-yêu (Cv 2: 1-4). Và, thần-khí ấy thông-chuyển ngang qua lịch-sử, thì lằn ranh biên-giới lại ngã đổ.

Rồi, khi Phêrô nghe tiếng Chúa trong giấc mộng bảo rằng: “Những gì Thiên-Chúa đã tẩy sạch thì ngươi không được gọi là ô-uế” (Cv 10: 9-16) Phêrô mới trổi dậy từ thị-kiến ấy và đã tẩy/rửa cho Cornêlius, người ngoài Đạo. Sử-thi của Do-thái-giáo đã phá đổ mọi rào-cản rồi đi vào với vũ-trụ trở thành anh-hùng-ca của nhân-loại.” (x. Tgm John Shelby Spong, Jesus beyond religion, the sign of Kingdom of God, The Sins of Scripture nxb HarperCollinsPublishes 2005 tr. 295-298)

Thi-sử hay anh-hùng-ca của nhân-loại nay dàn-trải khắp mọi nơi. Trong mọi người. Thiên-sử ấy gọi là tình thương-yêu. Là Đạo-lý của đạo-giáo rất Kitô. Là, gì nữa thì bạn và tôi, ta cũng nên suy-tư mà nhận–định như thế.

Suy-tư/nhận-định không theo kiểu nghe qua rồi bỏ. Nhưng là nhận-chân ra sự thật ở đời dù nhiều khác-biệt, vẫn cứ là ảnh-hình của một sự thật tình-yêu được người diễn-tả qua văn-chương/nghệ-thuật cùng âm-nhạc, cùng mọi thứ.

Trong cảm-nhận sự khác-biệt trong yêu-thương đoàn-kết cũng rất Đạo, mời bạn mời tôi, ta vào với lối diễn-tả nhè nhẹ ở truyện kể như sau:

“Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn. Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.

Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.

Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé đáng thương.

Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi với tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không?

Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? Và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

– Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…

Tôi hỏi tiếp:

– Còn con có đi học không ?

Thằng bé nói:

– Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…

Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân nhau lắm.

Có lần thằng bé hỏi tôi:

– Chú làm nghề gì vậy hả chú?

Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là “Chú đang làm thinh”.

Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bữa cơm độn qua ngày.

Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cữ sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chỗ ngồi mà không bữa nào vắng tôi.

Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang giấu giếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài.

Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ. Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chỗ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều.

Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi.

Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm, một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ – cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tần tảo nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn.

Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa.

Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm.

Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa.

Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết!

Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha.

Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó.

Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nổi.

Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia đình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lỗi”.

Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé”…

Đời này cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney.

Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đỡ gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến.

Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ. (Truyện kể do Sưu Tầm siêu tầm)

             Đó chỉ là một trong muôn ngàn câu truyện đời nói điều gì đó, mà thiên hạ đời thường vẫn cứ nói và cứ kể. Kể đây, có thể để nói lên lòng bác ái/yêu thương của cá-nhân hoặc tổ-chức giúp người kém may mắn.

Về các trích-dẫn ở trên về các Đạo để tìm ra một ngày lễ chung cho Phục Sinh, là vấn đề kết-hợp/đại-kết, còn là và vẫn là kết và hợp với tất cả mọi người, không phân-biệt tôn-giáo, già/trẻ, gái/trai, tức: hết mọi người. Tất tần tật.

Kết và hợp trong đại-kết hoặc nối-kết với người khác, đạo khác, tổ-chức khác vv.. còn là và sẽ là kết và hợp hoặc kết rồi hợp trong tinh-thần nhín nhường, dành ưu-tiên cho người khác, ở trên và ở trước mình. Ưu-tiên cả trong quyền-hành, tiền bạc và/hoặc chổ đứng lẫn vị-thế ở đâu đó.

Kết và hợp còn là và sẽ là sống cuộc đời rất Đạo ở nhà đạo hay ngoài đời. Sống như thế, còn có nghĩa đem Đạo vào đời người trong khiêm-tốn, cởi mở rất hết mình.

Trong tình-thần đó, mời bạn và tôi, ta lại sẽ hát mãi bài hát có con dế mèn và em bé đơn sơ, hiền hoà, chân-chất, rất như sau:

“A! Này bé, theo dế ra tận bờ đê

Đất sét đem về ta nặn đồ chơi.

Nặn những tay người hay nặn bàn chân

Tặng cho những ai tàn tật

A! Này bé, theo dế ra trại định-cư.

Coi những ông già phá rừng trồng hoa

Chia sớt ngọt bùi với trẻ mồ côi

Đời mới chúc người phục hồi…

A! Này bé, Con dế xin vài hòn bi!

A! Này bé, Đem biếu những em xa quê!…

            (Phạm Duy – bđd)

             Hát thế rồi, nay ta cứ thế mà sống tinh-thần thân-thương, chân-chất của các bé em hiền-lành ở đời.

                        Trần Ngọc Mười Hai

            Vẫn muốn sống

Như bé em

Chỉ chơi dế.

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh năm C

Suy Tư Tin Mừng Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh năm C 17/4/2016

 Tin Mừng (Ga 10: 27-30)

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các người Do thái rằng:

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không AI cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không AI cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một.

Mai Tá lược dịch. 

 Thông điệp Chúa Chiên Lành hôm nay, có gốc gác rất xưa cổ, thời Cựu Ước. Đặc biệt là sách Êzêkiel, trong đó sáng ngời hình ảnh vị Chúa Chên có “tình cho đi mà chẳng có về”. “Tình cho đi” của Chúa Chiên hôm nay, là sự đỡ nâng đùm bọc, đầy lòng thương xót. Lòng xót thương hai chiều giữa chiên đàn mà Ngài chăn dắt và Vị Chủ Chăn, rất Nhân Hiền. Ở chiên, luôn có sự tự nguyện dấn bước theo chân vị chủ chăn với lòng trọn vẹn tin tưởng. Ở chủ chăn, đó là “lòng kêu gọi mãi”, dù chẳng AI nghe.

Về chăn chiên, các chủ chăn ở Palestine – Trung Đông có thói quen chăn dắt chiên đàn nơi đồng cỏ xanh tươi, bằng đôi chân bước. Chủ chăn chẳng cần đến đàn chó hoặc ngựa cỡi, để lùa chiên như ở Tô Cách Lan, hay nước Úc. Chủ chăn Do Thái, luôn ở phía trước dẫn đường cho chiên con. Và cứ thế, chiên con nghe tiếng chủ kêu gọi mà bước theo sau, rất tin tưởng. Chiên là thú đàn rất hay lo. Dễ hốt hoảng, cách vô lý. Chiên âu lo, nhớn nhác chạy hỗn độn chẳng nguyên cớ. Bất kỳ chuyện tình cờ nào xảy đến, chiên đàn cũng hốt hoảng, chạy tứ tán. Tìm chủ chăn. Và, khi tìm được chủ chăn, thì chiên con cứ răm rắp bước theo đàn, về cùng hướng. Với chiên, chỉ cần nhận Ra lời kêu gọi của chủ chăn, là đã đủ.

Là thú bầy nhút nhát, hay lăng xăng tò mò. Dễ tổn thương. Âu lo. Nên, chiên đàn luôn hãi sợ. Không khôn ngoan cũng chẳng sáng ý như thú loài, nào khác. Chiên quen nghe tiếng chủ, nên khi nghe chủ gọi, chiên không chần chừ, biết tụ tập ngay thành nhóm, thành đàn, tuân lệnh chủ. Không chậm trễ. Chủ biết tính chiên. Chiên biết tính chủ.

Dựa vào đức tính này, thánh Gioan so sánh tâm lý của vị chủ chăn với chiên bầy dễ bảo. Và, thánh sử ví Đức Kitô như Chúa Chiên Nhân Hiền luôn chăm sóc chiên con, nơi đàn bầy. Đây là biểu tượng mà Hội thánh sử dụng để nói về Ơn Gọi trong nhà Đạo: hãy có quyết tâm tham gia trở thành chủ chăn dẫn dắt đàn chiên ngoan đạo.

Lời mời gọi của Hội thánh hôm nay cũng trở nên cấp thiết, khi dữ liệu cho thấy có sự thiếu cân bằng về số lượng và vai trò của các chủ chăn, trong cộng đồng Giáo hội. Chí ít, là Giáo hội ở phương Tây. Ở nhiều nơi, Giáo hội đang bắt đầu dung nạp các ứng viên cho vai trò của chủ chăn từ các nuớc mà trước đây là cánh đồng truyền giáo, đầy những chiên. Bởi thế, cần suy tư nghiên cứu phương pháp và cấu trúc trong đào tạo chủ chăn. Nói cách khác: với Phụng vụ Chúa nhật Chúa Chiên Lành, Hội thánh trở về với Ơn Kêu Gọi làm chủ chiên, lo chăn dắt linh hồn chiên đàn, tin vào Đạo.

Bàn về Ơn Gọi làm chủ chăn trong Hội thánh, là bàn về sự quan yếu của tình thân thương mật thiết trong cộng đồng dân Chúa. Trước nhất, là sự mật thiết giữa chiên con và chủ chăn, tức Đức Kitô rao giảng, vẫn được coi như sự thân mật linh thánh giữa các thành viên cùng nhà, tức Hội thánh Chúa. Gia đình Hội thánh Chúa ở đây được hiểu theo nghĩa gia đình hợp nhất. Hợp nhất không chỉ hiểu theo hệ cấp thần quyền bên trên. Mà là, sự thân mật giữa mỗi người và mọi người. Vì, tất cả thành viên trong gia đình Hội thnh đều là chi thể có cùng một thân mình, cùng não bộ chỉ huy; và, cùng nhịp đập con tim, tạo sức sống.

Sự mật thiết thân thương giữa thành viên trong Hội thánh không là sự thân thiết mang tính chai lì, thụ động. Thụ động, như thái độ vẫn thấy nơi dân thường trong hệ cấp chính quyền, ở ngoài đời. Với thế quyền ngoài đời, người dân chỉ biết có đóng thuế. Và, thi hành luật pháp, thế là đủ. Trong đạo, thực thi luật pháp và thi hành lệnh cũng tựa như giữ các điều răn, giới luật của Hội thánh. Như thế chưa đủ. Còn phải biết dấn thân hơn nữa. Tức là đáp lại lời kêu gọi mất thiết của Hội thánh.

Hội thánh thân thương mật thiết kêu gọi con dân nhà Đạo hãy luôn nguyện và cầu. Nguyện cầu cho Ơn Gọi, trong Hội thánh. Kêu gọi mỗi thành viên tham gia trở thành thừa tác viên cho công tác mục vụ của Hội thánh. Công tác này có thể là vai trò của vị chủ chăn, như linh mục, tu sĩ hoặc nữ tu. Cũng có thể là thừa tác giáo dân trong vai trò cộng tác với các linh mục tu sĩ ấy.

Hội thánh hôm nay vẫn tiếp tục kêu gọi mọi thành viên trở nên linh mục tu sĩ lo việc tu đức trong cộng đồng dân Chúa. Nhưng gọi như thế, không có nghĩa Hội thánh lọai bỏ sự trân trọng về nhu cầu cần thiết, nơi vai trò của giáo dân trong công trình hợp tác xây dựng Nuớc Chúa. Ngày nay, có lẽ nên hiểu Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên theo nghĩa phổ cập. Nghĩa là, mỗi người một hoàn cảnh và vị thế, tất cả thành viên đều có thể hoàn thành hợp tác với Hội thánh trong công trình chăn dắt đàn chiên con Giáo hội. Mặc dù, nhu cầu trở thành linh mục/tu sĩ, hoặc nữ tu vẫn được nhấn mạnh và coi là ưu tiên hàng đầu.

Tham gia đáp ứng Ơn Gọi chăn dắt đàn chiên còn là nhận biết lời mời gọi ấy nay gửi đến chính mình, mỗi thành viên. Không phân biệt giới tính, tuổi tác hay sắc tộc. Nhận biết lời Mời Gọi của Hội thánh, đại diện Chúa Chiên Hiền Lành, cũng phải được cân nhắc theo hoàn cảnh của mỗi thành viên và Giáo hội địa phương.

Lời mời gọi của Chúa Chiên Lành, còn là quà tặng riêng lẻ mỗi người đều có thể sử dụng để làm lợi cho người khác. Thành viên khác. Trong cộng đồng Giáo hội, tức các Kitô hữu. Điều này có nghĩa: trên thực tế, ta hãy cùng nhau thực hiện công tác chung của cộng đoàn tình thương là Giáo hội. Công tác xây dựng cộng đoàn tình thương của Đức Chúa, là Chúa Chiên Lành, vẫn đang chờ sự đáp trả của mỗi thành viên. Thành thử, cầu nguyện cho Ơn Gọi, còn có nghĩa là cầu nguyện cho ta, cho người khác, cho bạn bè người thân cùng có Ơn Gọi, chứ không chỉ mình ta. Cầu cho Ơn Gọi, là cầu cho mọi người nghe được tiếng kêu. Tiếng gọi. Của vị chủ chăn đang khẩn thiết kêu mời tất cả dân con trở thành thừa tác viên – tông đồ cho cánh đồng truyền giáo chung.

Cầu, là cầu cho mỗi người. Ở một vị thế. Ta chung lưng đấu cật, cùng nhau thực hiện sứ vụ dựng xây Cộng đoàn tình thương là chính Hội thánh thân thương, ta đang sống. Cầu, là cầu cho toàn thể cộng đoàn biết nghe tiếng gọi của Chủ chăn. Biết tính của chiên đàn, đang lắng nghe tiếng gọi của người chăn dắt.

Tham dự tiệc thánh hôm nay, ta hãy để ra nhiều khoảnh khắc mà suy tư nguyện cầu về lời gọi mời của Chúa Chiên Hiền Lành, biết ý chiên con. Nguyện cầu cho lời gọi mời của Chúa Chiên gửi đến mỗi chiên con, đem lại kết quả. Với đáp ứng của chiên con. Trong Hội thánh. Nguyện và cầu cho chiên con biết đáp lại bằng hai tiếng “Xin Vâng”. Xin vâng, theo thánh ý Chúa mà lãnh nhận bất cứ vai trị nào để phục vụ Hội thánh. Xin vâng, để nếu không làm linh mục, tu sĩ, nữ tu, ta cũng làm thừa tác viên; hoặc phó tế mở mang Nước Trời. Ở trần gian.

Lm Richard Leonard, sj biên soạn

Mai Tá lược dịch. 

‘Việt Nam – Hồ Chí Minh!’

‘Việt Nam – Hồ Chí Minh!’
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Xin bạn đọc chớ vội dị ứng khi thấy hai tiếng Việt Nam được viết đi liền với tên Hồ Chí Minh. Đây chính là một sự gán ghép tệ hại, xấu xa nhất của lịch sử trong hơn nửa thế kỷ này.

Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Bà Nguyễn Thị Nhuận, một điều dưỡng viên hiện đang làm việc tại Nam Úc, đã kể lại một câu chuyện trên VnExpress, nghe đến nát lòng!

Bà được bệnh viện gửi đến nhà một người khuyết tật, bị bại liệt hai chân, để giúp chăm sóc thường ngày, giúp ông tắm rửa, ăn sáng, dùng máy nâng ông vào ghế tắm và đặt lại giường nằm. Vừa làm, bà vừa giải thích cho ông biết, nhân viên ngày thường đến chăm sóc ông hôm nay bị bệnh nên bà được cơ quan y tế cử đến thay thế.

Bỗng nhiên bà nghe ông hỏi, bà đến Úc lâu chưa?

Bà trả lời:

-Thưa ông, mới hai năm nay và tôi đến từ Việt Nam!

Nghe chưa dứt hai tiếng Việt Nam, ông già bỗng giận dữ quát to, một cách thô lỗ:

-Mày ra khỏi nhà tao ngay! Ra ngay!

Người điều dưỡng viên trong câu chuyện này ấp úng:

-Nhưng, ông đang trong nhà tắm…

-Không! Ra ngay, ra ngay!

Bà Nhuận nhẫn nhục để ông trên ghế tắm, khoác cái áo choàng cho ông và đi ra gọi điện báo về văn phòng. Họ bảo bà cứ yên tâm ra về, họ sẽ cử người đến làm tiếp và an ủi bà:

-Đừng coi đó là chuyện của riêng bà!

Bà Nguyễn Thị Nhuận kể lại: “Tôi cảm thấy tủi thân, trào nước mắt. Tôi mới từ Việt Nam qua với tâm trạng tuy mình còn kém tiếng Anh, nhưng người Việt Nam cũng ‘nổi tiếng anh hùng, dũng cảm, thông minh, sáng tạo…’ Bà cũng chẳng có tội tình gì với ông già, được đến để chăm sóc ông, và cũng tự đánh giá mình là người tử tế. Nhưng tại sao lại bị đối xử như vậy? Chẳng lẽ chỉ vì bà là người Việt Nam?”

Lẽ cố nhiên người điều dưỡng viên trong câu chuyện này không được bệnh nhân cao niên kia giải thích vì sao ông lại khinh miệt một người Việt đến như thế! Có thể trước đây, một người Việt Nam nào đó đã làm những điều xấu xa, hay đối với ông tồi tệ thế nào, khiến giờ đây ông ghét tất cả người Việt.

Cơ quan y tế cử bà Nguyễn Thị Nhuận đến giúp đỡ cho người đàn ông Úc cao niên kia đã an ủi bà: “Đừng coi đó là chuyện của riêng bà!”

Phải, câu chuyện này không phải là của riêng bà, một người Việt đang làm việc tại Úc mà của tất cả thanh danh của người Việt đang ở nước ngoài. Người ta cũng mường tượng ra, một người Việt Nam nào đó đã đối xử xấu xa hay làm một điều gì đó khiến cho một người Úc căm giận đến thế?

Du học ở Úc, bà Nguyễn Thị Nhuận cũng đã được bạn bè, ngay cả những người Châu Á, than phiền về lối sống vô trách nhiệm của sinh viên Việt tại đây, biết đến những thanh niên Việt Nam đang can dự vào các tội buôn bán ma túy tại nơi đã cưu mang họ, và bà cũng mới nghe tin hai người Việt bị bắt vì tội trộm cắp ở Thụy Sĩ.

Cũng như chúng ta, bà Nguyễn Thị Nhuận lâm vào hoàn cảnh này hẳn phải tức giận và xấu hổ, trăn trở tự hỏi: “Ai đã làm cho đất nước chúng ta lâm vào cảnh trái ngang này?”

Câu kết luận của bà Nguyễn Thị Nhuận là: “Có lẽ mỗi ngày tôi và các bạn nên nhìn thẳng vào tấm gương thực (chứ không phải những tấm gương nịnh mặt) để thấy những vết nhọ của mình.”

Khi mà mặt mình mang nhọ, đừng nghĩ là không ai thấy, có ra đường thì chớ vênh váo thêm nhục!

Bạn thử đứng vào vị trí một nhân viên quan thuế tại phi trường Changi, Singapore, khi cầm sổ thông hành của một cô gái Việt mới đến đây, mà không thể không liên tưởng đến chuyện tối nay, anh có thể gặp cô này trên con đường Joo Chiat Road tấp nập của Singapore. Hay một nhân viên phi trường Nhật nào đó cầm một cái sổ thông hành Việt Nam trong tay, mà không nghĩ đến bao nhiêu người Việt, kể cả các quan chức là lũ ăn cắp, buôn lậu.

Không phải không có lý do hay phát biểu hồ đồ mà Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt đã phát biểu: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ!” Thay vì nhìn nhận sự thật, “soi gương” thì chính quyền Hà Nội, thông qua truyền thông Việt Nam, đã bắt bẻ, đặt vấn đề về lòng yêu nước của ông, cuối cùng áp lực cho ông được về hưu sớm hơn so với kế hoạch.

Sau Tháng Tư, 1975, dân Bắc, ai đi Nam về cùng có chung một nhận xét “trẻ con trong Nam hầu như rất ít nói bậy và viết những điều tục tĩu lên tường nơi công cộng, đi đâu về nhà thì lễ phép cung kính vòng hai tay thưa gửi người bề trên. Đặc biệt, ngoài đường, xe cộ nếu có đụng chạm thì cũng không dẫn đến xô xát, chửi bới nhau như ngày nay.”

Sau năm 1975, “đất lành chim đậu,” nhiều đợt di dân mới ồ ạt từ Bắc vào Nam, tạo điều kiện cho Nam Bắc gần gũi nhau, nhưng cũng chính từ đó, thói hư tật xấu dễ lan tràn, đồng hóa hơn là học hỏi được điều tốt, và ngày nay cái tên “thành phố Hồ Chí Minh” cũng lấm lem không thua gì Hà Nội.

Sau Cách Mạng Tháng Mười, 1917 của Nga, nhà văn Maxim Gorki đã có nhận xét rằng “cuộc cách mạng đã có tác dụng tích cực lật đổ được chế độ phong kiến, nhưng với sự nắm quyền và quản lý xã hội của giai cấp vô sản ít học, nước Nga sẽ phải đối đầu với một tình trạng còn nguy hiểm hơn, đó là ‘lâm nguy văn hóa.’”

Đó là Việt Nam ngày nay. Muốn cải cách văn hóa, giáo dục, lối sống, cũng như của mọi công cuộc cải cách khác, trước hết phải cải cách chính trị, nói chung là thay đổi chính quyền. Từ đâu mà từ nửa thế kỷ nay vấn đề đạo đức – văn hóa – giáo dục của đất nước chúng ta trở nên tồi tệ như hôm nay, và hai tiếng Việt Nam trở thành một mối bận tậm, hổ thẹn của người Việt Nam, khi đi ra nước ngoài!

Tôi xin kể một câu chuyện nhỏ mới xẩy ra đây thôi.

Ba năm nay, ở Kuala Lumpur, thủ đô Malaysia, vào dịp lễ Quốc Khánh 2 Tháng Chín, tòa đại sứ CSVN đều tổ chức một buổi tiệc “buffet” và mời đại diện đại sứ quán các nước khác và người lao động Việt Nam ở Malaysia tham dự. Buổi tiệc chưa bắt đầu, trước con mắt của quan khách ngoại quốc, dân Việt Nam đã nhào vào bàn tiệc lấy thức ăn, đến mức khách tham dự không còn gì ăn, tạo ra một khung cảnh hỗn loạn vô cùng xấu hổ. Năm sau, rút kinh nghiệm, tòa đại sứ tổ chức hai nơi, một ngoài trời và một trong hội trường cho quan khách. Người Việt Nam sau khi đã ăn ở ngoài trời, lại nhào vào hội trường vơ vét thức ăn. Vừa xấu hổ và vì danh dự, đại diện tòa đại sứ Việt Nam tại đây phải chắp tay xin lỗi quan khách!

Câu chuyện đạo đức hôm nay không phải là chuyện đạo đức mà chúng ta trước kia đã có và đã nói tới, mà chính là thứ đạo đức được nhồi nặn trong chủ nghĩa Cộng Sản, thứ “đạo đức cách mạng” sản xuất từ ngay vận nước suy vi, mùa Thu 1955, khi mà dân tộc Việt Nam “vô phúc” nhập cảng nhầm cái chủ nghĩa độc hại, không khác gì thực phẩm độc hại giết người của Trung Cộng hiện nay, là chủ nghĩa Cộng Sản.

Đó cũng là từ ngày hai tiếng Việt Nam được kẹp đôi và gắn bó với cái tên Hồ Chí Minh, như bài hát của “đứa con bất hiếu” Phạm Tuyên, mà những tên ăn bả của Việt Cộng đã nhảy cỡn lên mà reo hò trong các đại hội “Việt Kiều:” “Việt Nam – Hồ Chí Minh!” “Việt Nam – Hồ Chí Minh!”

Chúng ta đã rõ! Cái tên Việt Nam chưa bao giờ nhận được sự bẽ bàng, khốn khổ, khinh miệt từ ngày nó được ghép theo cái tên Hồ Chí Minh!