TÁC ĐỘNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Lễ Chúa Thánh Thần)

Phao-lô tàn phá Hội thánh

Thánh Phao-lô là vị tông đồ rất đặc biệt. Ngài không được Chúa Giê-su tuyển chọn từ đầu, không trực tiếp nghe lời Chúa Giê-su giảng như các tông đồ khác, không biết Chúa Giê-su là Đấng được Thiên Chúa sai đến… nên đã kịch liệt chống lại Ngài, quyết triệt hạ đạo thánh Chúa và đã ra tay bắt bớ những người tin Chúa cách tàn bạo.

Chính thánh Phao-lô xác nhận hành vi tàn phá Hội thánh của mình như sau:

“Tôi đã bắt bớ Đạo nầy, không ngần ngại giết kẻ theo Đạo, đã đóng xiềng và tống ngục cả đàn ông lẫn đàn bà…. giải về Giê-ru-sa-lem trừng trị” (Cv 22, 4-5).

“Tôi đã dùng mọi cách để chống lại Đức Giê-su người Na-da-rét… Được các thượng tế uỷ quyền, chính tôi đã bỏ tù nhiều người trong dân thánh; và khi họ bị xử tử, tôi đã bỏ phiếu tán thành. Nhiều lần tôi đã rảo khắp các hội đường, dùng cực hình cưỡng bức họ phải nói lộng ngôn. Tôi đã giận dữ quá mức đến nỗi sang cả các thành nước ngoài mà bắt bớ họ” (Cv 26, 10-11).

Thế mà Chúa Thánh Thần đã hoán cải Phao-lô từ một người chưa hề nghe Chúa Giê-su giảng dạy trở thành một bậc thầy thông thạo giáo lý của Ngài, từ một hung thần diệt Đạo trở thành một tông đồ hăng say, nhiệt thành, sẵn sàng chịu đựng vô vàn đau thương khốn đốn để rao giảng về Chúa Giê-su phục sinh và xây dựng Đạo thánh. Như thế, Chúa Thánh Thần có vai trò rất quan trọng trong cuộc đời thánh Phao-lô.

Tác động của Chúa Thánh Thần

Khi Chúa Thánh Thần chưa hiện xuống trên các tông đồ, các ngài đều e dè sợ hãi, co cụm với nhau như những xác không hồn trong phòng đóng kín vì sợ người Do-thái, chẳng ai dám đi ra làm chứng cho Chúa phục sinh.

Thế rồi sau khi đón nhận Chúa Thánh Thần trong lễ Ngũ tuần, nhờ Chúa Thánh Thần tác động, các tông đồ trở nên những chiến sĩ can trường dũng cảm, hăng hái lên đường, sẵn sàng chấp nhận lao tù, đòn vọt và hy sinh chịu chết để loan Tin mừng cứu độ cho muôn dân.

Nhờ sự soi sáng của Chúa Thánh Thần mà Phê-rô, từ một người nhát đảm từng chối Chúa ba lần, đã dũng cảm đứng lên giữa đám đông quần chúng, rao giảng cho mọi người biết Chúa Giê-su là Đấng cứu độ và có đến ba ngàn người tin và lãnh nhận phép Rửa ngày hôm ấy.

Tại Việt Nam trước đây, khi các linh mục thừa sai châu Âu mới đặt chân lên đất nước chúng ta loan báo Tin mừng, ông bà tổ tiên chúng ta chỉ được nghe các ngài dạy đạo cách vắn gọn đơn sơ, nên chẳng hiểu nhiều về Thiên Chúa, lại phải bị nhà cầm quyền cấm đoán, bắt bớ, giết hại… trong suốt hơn 300 năm. Vậy mà nhờ Chúa Thánh Thần tác động, các ngài đã sống đạo sốt sắng nhiệt thành, có sức truyền đạo mạnh mẽ và sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Đạo thánh. Ngoài 117 vị tử đạo Việt Nam được Giáo hội chính thức tuyên thánh, còn có đến trên 130.000 tín hữu khác đã vui lòng chịu chết vì đức tin.

Và hôm nay, có nhiều tín hữu đơn sơ chất phác, không có cơ hội học đạo nhiều, thế mà nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, họ vẫn có lòng tin mạnh mẽ, có lòng mến Chúa thiết tha, lòng đạo đức sâu xa… rất đáng khâm phục. 

Lạy Chúa Thánh Thần,

Xin ngự xuống tâm hồn chúng con như trên các tông đồ hôm xưa và đốt lên trong lòng chúng con lửa mến nhiệt thành, để chúng con sẵn sàng và mạnh dạn mang Tin mừng Chúa đến với bao người chung quanh. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Gioan 20,19-23

19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em! “20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.21 Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.”22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

KHÔNG AI NGHÈO 3 HỌ, KHÔNG AI KHÓ 3 ĐỜI!!!

Xuyên Sơn

 KHÔNG AI NGHÈO 3 HỌ, KHÔNG AI KHÓ 3 ĐỜI!!!

Nếu bạn nợ ngân hàng 1 tỉ thì bạn sợ ngân hàng.

Nhưng nếu bạn nợ ngân hàng 10 tỉ thì ngân hàng sẽ phải sợ bạn.

Bán thân 1 đêm vài trăm nghìn, người ta gọi bạn là gái gọi là cave, nhưng bán thân 1 đêm vài nghìn đô, người ta gọi bạn là kiều nữ.

Bạn bán đất được 1-2 nền người ta gọi bạn là cò đất, còn nếu bạn bán hơn trăm lô, người ta gọi bạn là doanh nhân, đại gia bất động sản.

Nếu bạn quảng cáo bán hàng online thì bị người ta ghét, xem thường và đôi lúc xem bạn là kẻ lừa đảo nhưng khi bạn bán được 100 đơn hàng/ngày thì người ta lại ngưỡng mộ và gọi bạn là nhà phân phối.

Bạn làm mướn 200k/ngày, chơi bài thua vài trăm ngàn thì bị người ta nói là nghèo mà bày đặt cờ bạc, nhưng bạn làm 20 triệu/ngày, chơi thua vài triệu đồng, người ta nói bạn là chơi giải trí cho vui.

Lúc chưa thành công hay không có tiền trong tay, bạn nói cả ngày thì bị xem là chém gió, nghèo mà bày đặt lý lẽ.

Đến lúc thành công, có tiền bạc trong tay rồi thì 1 câu nói của bạn cũng là triết lý, dù bạn có nói sai thì người nghe cũng khăng khăng cho là đúng.

Khi bạn giàu có cho dù họ hàng đại bác bắn không tới cũng qua nhận người thân, đi tới đâu cũng được hoan nghênh chào đón.

Nhưng khi bạn nghèo khó dù có ruột thịt thế nào họ cũng xem bạn như người xa lạ.

Trong đời phải có nghèo một lần và giàu một lần mới biết ai là bạn ai là bè.

Ở đời nhiều cái lắm cái ngược.

-(st)- 


 

Điều gì đáng quan tâm? – Người viết: Phùng Văn Phụng

Người viết: Phùng Văn Phụng

Trong bài này tôi chỉ xin gởi đến các bạn về một số người tôi rất nể phục và quý mến. Những người này đã đóng góp rất nhiều cho xã hội và làm gương sáng cho chúng ta học hỏi và bắt chước.

1) Ông Nguyễn Hiến Lê (sinh ngày 08-01-1912 mất ngày 22 -12-1984). Ông mất năm 72 tuổi. Năm 1934, ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, trình độ tương đương với bốn năm trung học. Nhưng công trình biên khảo rất lớn viết hàng trăm cuốn sách trong đó có bộ sách học làm người, sách biên khảo về rất nhiều đề tài… vô cùng giá trị. Tổng cộng số sách ông Nguyễn Hiến Lê đã viết như sau:

Văn học-tiểu thuyết (19 quyển)

Triết học (15 quyển)

Lịch sử (10 quyển)

Giáo dục (17 quyển)

Gương Danh Nhân (15 quyển)

Khảo Luận – Tùy Bút – du ký (18 quyển)

Sách học làm người (21 quyển) và 242 bài trên tạp chí Bách Khoa v.v…

Một tấm gương làm việc siêng năng đều đặn, rất kỷ luật theo thời khoá biểu tự đặt ra, và suốt đời làm việc không mệt mõi theo chương trình đã định sẵn.

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/

 

 

2) Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (sinh 02-11-1924 mất 28-07-1990) lúc 66 tuổi, tốt nghiệp Tiến sĩ Chính Trị Học, Viện Đại Học Paris, Pháp, Luận án: “Đề tài người ưu tú trong tư tưởng chính trị Trung Quốc cổ thời.”. Giáo sư dạy các trường Đại học tại miền Nam trước năm 1975. Ông viết cuốn sách: “Quốc Triều Hình Luật – Bộ Luật nhà Hậu Lê (1428-1788)” … Ông sáng lập đảng Tân Đại Việt, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến ở trong nước trước năm 1975 và Liên Minh Dân Chủ Việt Nam ở hải ngoại. Ông còn có bút hiệu Đằng Phương với tập thơ “Hồn Việt”.

Ông có viết:

“Lúc chết đi mới biết được mệnh trời

Khi nhắm mắt mới đành thôi hoạt động”

Ông là mẫu gương “Tri-Hành hợp nhất”. Ông có cuộc sống bình dị, đơn sơ, cả đời hy sinh cho đất nước, dân tộc Việt Nam.

3) Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu (02.01.1873- 30.09.1897) Thánh nữ chết năm 24 tuổi, trình độ văn hoá không cao nhưng được Giáo hội công giáo phong làm tiến sĩ Hội thánh.

https://tgpsaigon.net/…/ngay-01-10-thanh-teresa-hai…

Têrêsa chỉ là một nữ tu hèn mọn quanh năm suốt tháng đóng khung trong bốn bức tường nhà tu kín cho đến khi lìa trần. Vậy mà 28 năm sau, năm 1925, Ngài đã được Ðức Giáo Hoàng Piô XI tôn phong lên bậc Hiển Thánh.

Ngài là bổn mạng của các nhà truyền giáo. Học được ở Thánh nữ là Đức Khiêm Nhường và tuân theo Thánh Ý Chúa.

Trên giường bệnh, người ta nói rằng Têrêsa đã trối: “Con đã đạt đến mức mà không thể nào chịu đau khổ được nữa, bởi vì đau khổ đã trở nên quá ngọt ngào đối với con.”

 

4) Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận (17-04-1928 mất 16-09-2002) – Ngài mất lúc 74 tuổi. Ngài là Chủ tịch Ủy Ban Công Lý và Hoà Bình toà thánh Vatican. Ngài viết rất nhiều sách như “Chứng Nhân Hy Vọng”, “Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng”, “Cầu Nguyện Hy Vọng”, “Đường Hy Vọng và Dẫn Giải”, “Đường Hy Vọng Dưới Ánh Sáng Lời Chúa và Công Đồng Vaticanô II” v.v…

Hôm thứ Năm 4.5.2017, trong buổi tiếp kiến Đức Hồng y Angelo Amato, Bộ trưởng Bộ Tuyên thánh, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công nhận nhân đức của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, được tuyên bố là Đấng đáng kính, thêm một bước tiến quan trọng trong án phong thánh cho ngài.

Ngài dạy yêu thương và xóa bỏ hận thù.

http://www.cgvdt.vn/…/duc-hong-y-nguyen-van-thuan-duoc…

nguồn:

https://vi.wikipedia.org/…/Phanxic%C3%B4_Xavi%C3%AA…

 

+++ Vậy điều gì đáng chú ý?

-Hồi năm 1973 một giáo sư (không nhớ tên) dạy ở trường chính trị kinh doanh ở Thương Xá Tax Sàigòn có nói: Sau này khoa học, kỹ thuật tiến bộ các nhà lãnh đạo muốn thảo luận với nhau về vấn đề gì, không cần gặp mặt nhau nữa. Lúc đó chúng tôi nghe để vậy chứ đâu có tin.!

Ngày nay, năm 2023, quả đúng như vậy. Con người họp mặt nhau trên toàn thế giới qua ZOOM. Các cuộc họp mặt chỉ cần mở mạng (internet) là có thể nói chuyện với nhau, có thể nhìn thấy nhau được qua ZOOM. Chuyện khó tin nhưng có thật.

 ***

-Đến cuối đời của con người, sau khi chịu đựng bao gian lao, thử thách, sau bao năm lăn lộn trường đời, bương chải, tính toán làm ăn, lo lắng về tiền bạc, ham muốn về địa vị, lúc về già, mới có thì giờ suy nghĩ việc làm trong thời gian đã qua, cảm nghiệm được việc làm tốt xấu, đúng sai của cuộc đời mình?

-Con robot hình cua này bé tí xíu, chỉ nửa mm. Nhưng nó có thể chui vô cơ thể người để tìm và diệt các khối u ác tính, thông các mạch máu bị tắc hay cầm máu bên trong. Nó vừa được nhóm nghiên cứu tại đại học Northwestern tại Mỹ phát minh ra và công bố. John A. Rogers, một giáo sư về khoa học vật liệu và kỹ thuật là người đứng đầu nhóm nghiên cứu này.

nguồn: Thành tựu khoa học Hoa Kỳ.

https://keditim.net/173855

Và rồi hai mươi hay ba mươi năm nữa tiến bộ khoa học, kỹ thuật sẽ ra sao, có những lợi ích gì? Chúng ta chưa đoán được?

Kết: Mục đích cuối cùng của cuộc đời chúng ta là gì? Đó chính là đem hết khả năng ra mà làm việc, để lo cho gia đình và đóng góp cho xã hội.

Vì sao vậy? Vì sự đóng góp cho lợi ích xã hội, cho tha nhân quan trọng hơn nhiều chứ không phải có bằng cấp cao hay có thật nhiều bằng cấp hay thật giàu có, mà chẳng đóng góp được gì cho xã hội cả.?

Đức Đạt Lai Lạt Ma nói: “Mục đích chính của chúng ta trong đời là giúp đỡ người khác. Và nếu bạn không giúp được họ thì đừng hại họ.”

https://thaihabooks.com/35-cau-noi-noi-tieng-cua-duc-dat…/

Phùng Văn Phụng

12/2023

CÁI CHẾT KHÔNG ĐÁNG SỢ… ĐÁNG SỢ NHẤT LÀ CHƯA TỪNG THẬT SỰ SỐNG

Pham Kỳlam

 CÁI CHẾT KHÔNG ĐÁNG SỢ… ĐÁNG SỢ NHẤT LÀ CHƯA TỪNG THẬT SỰ SỐNG

Con người có một ảo tưởng rất kỳ lạ.

Chúng ta sống như thể mình sẽ không bao giờ chết.

Mỗi sáng thức dậy, ta tất bật với công việc, tiền bạc, những cuộc hơn thua, những nỗi lo chưa bao giờ dứt. Ta tính chuyện mười năm sau, hai mươi năm sau, gom góp từng đồng, tranh giành từng cơ hội, giữ chặt từng thứ mà mình cho là quan trọng.

Ta cư xử như thể thời gian là vô tận.

Nhưng rồi một ngày, cái chết gõ cửa.

Không báo trước.

Không hẹn giờ.

Không cho thêm cơ hội.

Và lúc ấy, rất nhiều người mới giật mình nhận ra rằng họ đã chuẩn bị cho mọi thứ trong cuộc đời… trừ việc thật sự sống.

Hãy thử bước qua một nghĩa trang vào buổi chiều muộn.

Ở đó có người từng giàu có đến mức chỉ cần một cú điện thoại là tiền bạc đổ về như nước.

Ở đó có người từng quyền lực, đi tới đâu cũng có người cúi đầu kính nể.

Ở đó có người từng nổi tiếng, được tung hô, ca tụng, ngưỡng mộ.

Ở đó cũng có những người cả đời lam lũ, đổ mồ hôi để nuôi gia đình, chịu đựng bao nhọc nhằn mà chẳng mấy ai biết tới.

Nhưng cuối cùng, tất cả đều nằm xuống trong im lặng.

Hai bàn tay trắng.

Không ai mang theo được két sắt đầy tiền.

Không ai ôm được chức vụ.

Không ai giữ được những lời tâng bốc.

Không ai kéo theo được căn nhà, chiếc xe, những tấm bằng khen hay ánh mắt ngưỡng mộ của người đời.

Cái chết có một vẻ đẹp rất lạ.

Nó lấy đi mọi thứ giả tạo.

Nó xóa sạch mọi vai diễn.

Nó bóc hết những lớp son phấn mà con người đã mất cả đời để tô vẽ.

Và sau tất cả, chỉ còn lại sự thật.

Sự thật là bạn chưa bao giờ thật sự là thân thể này.

Thân thể chỉ là căn nhà tạm mà bạn thuê ở vài chục năm.

Nó sẽ già đi, mệt mỏi, bệnh tật, rồi một ngày trả lại cho đất.

Nhưng vì quá mải mê chăm chút cho căn nhà ấy, bạn quên mất người đang sống bên trong.

Bạn đầu tư cho ngoại hình.

Bạn tích lũy tài sản.

Bạn lo lắng người khác nghĩ gì về mình.

Bạn cố chứng minh giá trị bằng địa vị, bằng tiền bạc, bằng sự công nhận.

Nhưng đã bao lâu rồi bạn chưa ngồi yên và tự hỏi:

“Rốt cuộc, mình là ai?

Nếu chưa từng biết mình là ai, bạn sẽ rất sợ cái chết.

Bởi bạn nghĩ rằng khi thân xác này biến mất thì tất cả cũng kết thúc.

Nhưng người đã thật sự đi sâu vào bên trong sẽ hiểu rằng cái chết không phải là sự chấm dứt.

Nó chỉ là một sự chuyển tiếp.

Giống như mặt trời lặn ở phía này để mọc lên ở phía khác.

Giống như chiếc lá rơi xuống đất để trở thành dưỡng chất cho mầm cây mới.

Giống như dòng sông mất tên khi hòa vào đại dương, nhưng nước chưa từng biến mất.

Giống như ngọn lửa tắt ở cây nến này để bừng sáng ở một cây nến khác.

Thân xác có thể tan đi.

Hình dạng có thể đổi khác.

Nhưng sự sống chưa từng mất.

Điều đáng buồn nhất không phải là con người sẽ chết.

Điều đáng buồn nhất là rất nhiều người chưa bao giờ thật sự sống.

Họ chỉ tồn tại.

Họ chạy từ sáng đến tối.

Họ lo cơm áo gạo tiền.

Họ so sánh mình với người khác.

Họ ghen tị với thành công của người khác.

Họ sợ bị bỏ lại phía sau.

Họ tích cóp, phòng thủ, tranh đấu.

Nhưng họ chưa từng thật sự dừng lại để cảm nhận cuộc sống.

Chưa từng ngồi yên dưới một tán cây và lắng nghe tiếng gió.

Chưa từng nhìn hoàng hôn bằng cả trái tim.

Chưa từng nắm tay người mình yêu với sự hiện diện trọn vẹn.

Chưa từng biết ơn vì mình vẫn còn được hít thở.

Chưa từng cảm nhận sâu sắc rằng được sống đã là một phép màu.

Họ luôn nói:

“Để mai rồi sống.”

“Khi đủ tiền sẽ hạnh phúc.”

“Khi bớt bận sẽ dành thời gian cho gia đình.”

“Khi thành công rồi mới tận hưởng.”

Nhưng cuộc đời chưa bao giờ hứa với bất kỳ ai một chữ “mai”.

Có những người tối nay vẫn còn lên kế hoạch cho năm tới.

Nhưng sáng mai đã không còn thức dậy.

Và trong khoảnh khắc cuối cùng ấy, nhiều người mới cay đắng nhận ra rằng mình đã có gần như mọi thứ… trừ chính bản thân mình.

Họ sở hữu tài sản nhưng không sở hữu sự bình an.

Họ có nhiều mối quan hệ nhưng không có sự kết nối thật sự.

Họ được ngưỡng mộ nhưng chưa từng hiểu chính mình.

Họ sống giữa đám đông nhưng cô đơn trong tâm hồn.

Người tỉnh thức không sợ chết.

Không phải vì họ mạnh mẽ hơn.

Mà vì họ đã “chết” từ trước.

Họ đã chết khỏi lòng tham.

Chết khỏi sự kiêu ngạo.

Chết khỏi nhu cầu phải hơn người.

Chết khỏi nỗi ám ảnh được công nhận.

Chết khỏi cái tôi luôn muốn kiểm soát mọi thứ.

Khi cái giả tạo tan biến, con người thật bắt đầu xuất hiện.

Và khi đã chạm tới con người thật ấy, họ hiểu rằng chẳng có gì thật sự bị mất đi.

Vì thứ quan trọng nhất chưa từng phụ thuộc vào tiền bạc, địa vị hay thân xác.

Cho nên câu hỏi lớn nhất của đời người không phải là:

“Sau khi chết, ta sẽ đi đâu?”

Mà là:

“Ngay trong giây phút này, ta đã thật sự sống hay chưa?”

Bạn có đang sống hay chỉ đang tồn tại?

Bạn có đang tận hưởng hay chỉ đang chịu đựng?

Bạn có đang hiện diện hay vẫn mãi chạy theo những thứ bên ngoài?

Bạn có đang yêu thương thật lòng hay chỉ giữ các mối quan hệ vì lợi ích?

Bạn có đang biết ơn từng hơi thở hay xem sự sống là điều hiển nhiên?

Nếu hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời, bạn sẽ cảm thấy thanh thản hay tiếc nuối?

Bạn sẽ mỉm cười vì đã sống trọn vẹn?

Hay sẽ đau lòng vì đã đánh đổi cả cuộc đời cho những thứ rồi cũng phải bỏ lại?

Cái chết không đáng sợ.

Điều đáng sợ nhất là đến lúc nhắm mắt, bạn mới nhận ra rằng mình chưa từng mở lòng để sống.

Chưa từng thật sự yêu.

Chưa từng thật sự hiện diện.

Chưa từng thật sự hiểu mình.

Chưa từng thật sự cảm nhận phép màu của sự tồn tại.

Người biết sống sâu sắc sẽ biết buông bỏ nhẹ nhàng.

Người biết trân trọng từng khoảnh khắc sẽ không hoảng loạn khi thời gian kết thúc.

Người đã chạm tới sự bình an bên trong sẽ bước qua cánh cửa cuối cùng với một nụ cười.

Và khi đó, cái chết không còn là dấu chấm hết.

Nó chỉ là sự trở về.

Trở về với sự tĩnh lặng.

Trở về với bình an.

Trở về với điều thiêng liêng mà từ lâu ta đã quên mất.

Vì thế, kể từ hôm nay, đừng sống như thể mình bất tử.

Hãy sống như thể đây là ngày quý giá nhất mà bạn từng có.

Yêu sâu hơn.

Biết ơn nhiều hơn.

Tha thứ sớm hơn.

Hiện diện trọn vẹn hơn.

Và sống thật với chính mình hơn.

Để đến một ngày khi cái chết gõ cửa, bạn có thể mỉm cười và nói:

“Tôi không tiếc nữa. Tôi đã thật sự sống.”

      FB Nguyễn thành Công

#ngam #baihoccuocsong #thuctinh #binhan #ntc  


 

TÂM SỰ CUỐI ĐỜI – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

– Có những chia ly… chưa kịp chuẩn bị đã không còn gặp lại.

– Có những cuộc tình… chưa chạm hạnh phúc đã cảm nhận niềm đau.

– Có những lời hứa… chưa kịp thực hiện đã không còn cơ hội.

– Có những quyết định… chưa kịp đưa ra đã không còn giá trị.

Có những lỗi lầm… chưa kịp sửa chữa đã quá muộn màng.

– Có những sự việc… chưa kịp buông bỏ đã không còn tồn tại.

– Có những chân lý diệu huyền, chưa một lần tỏ ngộ đã tắt nắng hoàng hôn.

Thời gian, vốn dĩ là không dừng lại và cơ hội chỉ đến vào một thời điểm nhất định. Ai người tỉnh thức thì sẽ nắm lấy, không để cuộc đời của mình là những chuỗi ngày chìm trong nuối tiếc mênh mang.

    – “Khi còn khỏe mạnh, ai cũng nghĩ rằng ngày tháng còn dài, cơ hội tương phùng không thiếu. Nhưng ai biết chăng đời người như ánh chớp giữa hư không, nhân sinh vốn là cơn ảo mộng.  

– Ngày đi, tháng chạy, năm bay

Thời gian nước chảy, chẳng quay được về.

Sưu Tầm trên NET từ bài “Những suy ngẫm cuối đời”

Nguồn:  dominhtam9238 & NguyenNThu

*****

 Trong tháng 12 năm rồi và tháng 01 năm nay 2024, đã có ba người bạn của tôi ra đi là bà Lê t Bích Th. vợ của anh Hoà, cùng quê Chợ Núi (Cần Giuộc), Lê Đình Th. và Nguyễn Thi B. là khách hàng mua bảo hiểm của tôi, đã ra đi.

Cũng tháng trước có chị Nhân gọi lại cho biết anh Chu, chồng chị đã nằm nhà thương ba tháng qua vì bị bịnh mất trí nhớ (Alzheimer) còn riêng chị bị “stroke”. Anh nhỏ hơn tôi một tuổi, còn chị nhỏ hơn tôi vài tuổi. Hiện tại hai vợ chồng lo cho nhau, còn các con đã có nhà riêng hết.

*****

Có lẽ già rồi, lớn tuổi rồi thích nói về sự chết, để thường xuyên nhắc nhở, chuẩn bị cho cái chết của chính mình.

Thời gian qua mau, phút chốc đã già. Đời người như bóng câu qua cửa sổ.  

Thời gian, sức khỏe, tài năng là do Thiên Chúa ban cho. Ngày lại ngày, làm sao xử dụng được hết tất cả những ân huệ, ân sủng của Chúa ban?

*****

Những năm đói khổ ở Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh đã qua. Làm sao quên được thời gian chịu đựng đói khổ triền miên năm này sang năm khác. Một bữa ăn bánh mì trộn than đá ở Lào Cai khoảng năm 1977, vừa ăn vào đã vội nhả ra vì nhai không được. Hôm ấy nhà bếp thu hồi lại, nấu thành cháo cho tù nhân ăn. Đã đói thường xuyên, bữa đó uống nước cháo cầm hơi, càng đói nhiều hơn nữa.’ 

Năm 1979 trời mùa hè nắng gay gắt như đổ lửa, tôi gánh hai thùng nước để tưới rau. Tôi gánh mỗi bên một phần ba thùng nước. Cán bộ quản giáo kêu tôi đến hỏi:

-Sao anh gánh nước chỉ một phần ba thùng như vậy?

-Tôi nói: “Sức tôi chỉ gánh được một phần ba thùng. Cán bộ đến rờ ngực tôi, xem tim tôi đang nhảy, tôi mệt quá rồi, tôi không gánh nhiều nổi. Không biết tôi còn sống được bao lâu nữa.”

Anh bạn là sinh viên năm thứ hai y khoa, coi phòng y tế của trại tù, khám tim tôi và cho rằng tôi bị bịnh tim. Sức khoẻ của tôi lúc đó đang suy sụp trầm trọng. Lúc nào cũng quá mệt, làm như bị kiệt sức. Mấy tháng trời bị cảm liên miên không dứt.

Tôi cứ đinh ninh rằng tôi sẽ bỏ xác ở trong lao tù cộng sản chứ không có hy vọng ngày về. Anh Quế là giáo sư trung học, người Quảng Nam, thanh tra trung học, anh đi cải tạo vì là thành viên đảng dân chủ. Một đêm kia người bạn nằm kế bên anh giữa đêm khuya la lên rằng “anh Quế đã chết rồi”. Anh Quế chết vì kiệt sức do bị đói và do lao động quá sức. Cứ vài ngày, anh em đóng hòm, đem ra bìa rừng, chôn các bạn tù ở trong trại.

Cha mẹ, vợ con không bao giờ biết được người thân của mình đã mất.

*****

  Cuối năm 1982, tại trại K4 Tân Lập, Vĩnh Phú, tất cả các tù nhân được sắp hàng theo đội, ngồi trong sân của trại.

Cán bộ gọi tên một số được thả về trong dịp tết cuối năm 1982 còn một số chuyển qua trại Hà Nam Ninh. Lúc đó anh em tù nhân chú ý đến hồ sơ cán bộ cầm trên tay. Hồ sơ mỏng và hồ sơ dày. Hồ sơ mỏng được thả về hay chuyển qua trại Hà Nam Ninh và được thả về sau Tết. Còn những người có hồ sơ dày được chuyển về Hàm Tân trong nam. Tôi còn nhớ có anh?- tôi quên tên-, dầu có hồ sơ mỏng, nghĩa là sẽ được thả về nhưng anh ấy đã thất vọng, không tin mình được về nên đã vô rừng, treo cổ tự tử chết.

Tôi được thả về vào tháng 02 năm 1983 sau Tết âm lịch.

*****

Steve Jobs từng từ chối phẫu thuật trị ung thư

Steve Jobs qua đời vì căn bệnh ung thư tuyến tụy. Cuộc sống của ông có thể đã được kéo dài nếu nhà đồng sáng lập Apple chọn cách điều trị khác.

Ngày 5/10/2011, Steve Jobs qua đời ở tuổi 56 sau thời gian chiến đấu với căn bệnh ung thư tuyến tụy.

Phone 4 là thiết bị cuối cùng mà Steve Jobs giới thiệu. Ảnh: Wikimedia Commons.

Thời gian qua mau sức lực, sức khoẻ dành cho việc kiếm tiền chiếm hết thì giờ, thiếu thời gian đọc sách tâm linh, suy tư về sự sống và sự chết.

Thoát một chớp mắt đã quá già để có thể làm một cái gì đó cho gia đình, cho đất nước.

*****

Ôn lại cuộc đời đã qua, nhiều món nợ ân tình không bao giờ trả được.   

 Trong một bài báo: “Người công giáo với bệnh ung thư” tác giả là Vũ Duy Ty viết phần kết luận như sau: “Giờ đây bệnh ung thư không làm chúng ta phải lo sợ, buồn chán nữa. Những người bị bịnh ung thư không phải là những người “chết tươi ăn năn tội chẳng kịp”. Hãy vui lên, hãy nở nụ cười trên môi và miệng lưỡi hãy ca tụng Chúa nếu mình mắc bịnh ung thư, vì với con mắt đức tin của người Công Giáo bệnh ung thư chính là một ân huệ Chúa ban.

Thân xác hiện tại của mỗi người chúng ta có thể tồn tại 100 năm (rất hiếm), chắc chắn là chúng ta phải chết, đó là quy luật tất yếu của sinh mệnh con người, chết là thể phách còn là tinh anh (truyện Kiều) vậy phần còn lại sau khi chết là gì? Chính là linh hồn của chúng ta.

Linh hồn của chúng ta sẽ được hưởng hạnh phúc đời đời nếu chúng ta làm nhiều việc lành, phúc đức, yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta sống lại trong ngày sau hết.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

tháng 01/2024


 

HỘI CHỨNG TỈNH THỨC TRONG LÒNG NƯỚC MỸ TRƯỚC HIỆN TƯỢNG DONALD TRUMP

Hoai Linh Ngoc Duong

 HỘI CHỨNG TỈNH THỨC TRONG LÒNG NƯỚC MỸ TRƯỚC HIỆN TƯỢNG DONALD TRUMP

Nước Mỹ năm 2026 không chỉ bị chia rẽ bởi đảng phái hay những cuộc bầu cử thông thường.

Điều đang diễn ra sâu bên dưới đời sống chính trị Mỹ là một cuộc nội chiến văn hóa âm thầm nhưng dữ dội, nơi người Mỹ tranh cãi không chỉ về ai sẽ lãnh đạo quốc gia mà còn về việc nước Mỹ là ai, lịch sử của nước Mỹ phải được kể như thế nào, và đâu là chuẩn mực đạo đức mới của xã hội hiện đại.

Trong trung tâm của cơn bão ấy là hai hiện tượng đối nghịch: “Woke Culture” – văn hóa tỉnh thức cấp tiến – và Donald Trump, biểu tượng của cuộc phản kháng bảo thủ mang tên MAGA.

Điều đáng chú ý là cả hai hiện tượng này đều không xuất hiện từ khoảng trống lịch sử.

Chúng là sản phẩm của những khủng hoảng kéo dài nhiều thập niên trong xã hội Mỹ: bất bình đẳng chủng tộc, toàn cầu hóa làm tan rã tầng lớp lao động da trắng, khủng hoảng nhập cư, sự mất niềm tin vào truyền thông truyền thống, sự suy giảm vai trò của tôn giáo, và cảm giác rằng nước Mỹ đang đánh mất bản sắc lịch sử của mình.

Chính trong môi trường ấy, “woke” và Trump trở thành hai phản ứng đối nghịch của cùng một xã hội đang rạn nứt.

Ban đầu, từ “woke” trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi chỉ đơn giản mang nghĩa “hãy thức tỉnh”, hãy cảnh giác trước sự bất công, kỳ thị và bạo lực chủng tộc. Nó từng là lời kêu gọi đạo đức mang tính nhân văn.

Nhưng theo thời gian, đặc biệt sau các phong trào như Black Lives Matter, MeToo hay các cuộc đấu tranh về quyền LGBTQ+, khái niệm này dần mở rộng thành một hệ tư tưởng xã hội toàn diện. “Wokeness” không chỉ chống phân biệt chủng tộc mà còn đặt lại vấn đề về giới tính, lịch sử thực dân, đặc quyền của người da trắng, ngôn ngữ, văn hóa đại chúng và cấu trúc quyền lực trong xã hội Mỹ.

Trong mắt những người ủng hộ, đây là một tiến trình văn minh tất yếu của nhân loại. Họ cho rằng nước Mỹ không thể tự nhận là ngọn hải đăng dân chủ nếu vẫn tồn tại kỳ thị chủng tộc, bất công giới tính hay sự loại trừ các cộng đồng thiểu số.

Các chương trình DEI – Diversity, Equity and Inclusion – được xây dựng với mục tiêu tạo ra cơ hội công bằng hơn cho những nhóm từng bị thiệt thòi trong lịch sử. Các trường đại học, công ty lớn và cơ quan chính phủ bắt đầu tái cấu trúc theo hướng “bao trùm” hơn.

Nhưng chính tại điểm này, một phản ứng dữ dội từ phe bảo thủ xuất hiện. Với hàng chục triệu người Mỹ, đặc biệt tại các bang miền Nam và Trung Tây, “woke culture” không còn là phong trào đòi công lý mà đã biến thành một dạng đạo đức cưỡng ép mới.

Họ cảm thấy mình bị buộc phải nói đúng ngôn ngữ chính trị, phải chấp nhận những định nghĩa mới về giới tính, chủng tộc và lịch sử, nếu không sẽ bị “cancel” – bị tẩy chay, mất việc, bị bêu riếu trên mạng xã hội hay bị loại khỏi đời sống công cộng.

Từ đây, Donald Trump nổi lên không chỉ như một chính trị gia mà như biểu tượng của một cuộc nổi dậy văn hóa chống lại tầng lớp tinh hoa cấp tiến. Trump hiểu rất rõ rằng phần lớn cử tri MAGA không đọc các học thuyết chính trị phức tạp.

Điều họ cảm nhận là nỗi bất an: nước Mỹ quen thuộc của họ đang biến mất. Những bức tượng lịch sử bị kéo đổ. Các khái niệm giới tính truyền thống bị thách thức.

Những giá trị tôn giáo bảo thủ bị xem là lạc hậu. Người da trắng thuộc tầng lớp lao động cảm thấy mình bị coi như “kẻ có tội lịch sử” chỉ vì màu da và nguồn gốc của mình.

Trump đã khai thác tâm lý đó bằng một thứ ngôn ngữ trực diện và đầy cảm xúc. Trump không tranh luận theo kiểu học thuật mà biến “woke” thành một kẻ thù văn hóa. Trong các bài diễn văn, Trump gọi “wokeness” là “độc dược”, là “căn bệnh phá hủy nước Mỹ từ bên trong”.

Trump hứa sẽ “giải cứu nước Mỹ khỏi chủ nghĩa thức tỉnh cực đoan”, khôi phục “giá trị truyền thống”, “lòng yêu nước” và một xã hội dựa trên năng lực thay vì bản sắc.

Chính quyền Trump trong nhiệm kỳ mới đã biến cuộc chiến chống woke thành chính sách quốc gia. Các chương trình DEI trong cơ quan liên bang bị cắt giảm hoặc bãi bỏ. Việc giảng dạy lý thuyết chủng tộc phê phán (Critical Race Theory – CRT) trong trường công bị hạn chế.

Những tranh luận về người chuyển giới trong thể thao, giáo dục và quân đội trở thành chiến tuyến chính trị nóng bỏng. Đối với phe MAGA, đây là cuộc chiến nhằm “giành lại nước Mỹ”.

Nhưng đối với phe cấp tiến, đó là dấu hiệu của một cuộc phản công nhằm xóa bỏ thành quả đấu tranh dân quyền nhiều thập niên.

Điều đáng sợ nhất không nằm ở bất đồng chính sách mà nằm ở sự tan vỡ của khả năng đối thoại. Người Mỹ ngày càng không chỉ bất đồng mà còn xem nhau như mối đe dọa đạo đức.

Phe cấp tiến coi Trump là biểu tượng của chủ nghĩa dân túy cực hữu, chủ nghĩa dân tộc da trắng và xu hướng độc tài. Trong khi đó, phe MAGA lại xem giới “woke” như lực lượng phá hoại truyền thống, chống tôn giáo, chống gia đình và đang “tẩy não” trẻ em thông qua giáo dục và truyền thông.

Hai bên không còn chia sẻ cùng một hệ quy chiếu về sự thật. Một bên tin rằng Trump là hiểm họa đối với nền dân chủ Mỹ. Bên kia tin rằng chính giới tinh hoa cấp tiến mới là những kẻ đang thao túng thể chế để áp đặt tư tưởng.

Từ đó xuất hiện các hiện tượng cực đoan về tâm lý chính trị. Người chống Trump bị phe MAGA chế giễu bằng khái niệm “Trump Derangement Syndrome” – như thể họ bị ám ảnh bệnh lý bởi Trump.

Ngược lại, nhiều nhà nghiên cứu xã hội học lại mô tả phong trào MAGA như một dạng trung thành mang màu sắc giáo phái chính trị, nơi Trump không còn là một chính trị gia bình thường mà trở thành biểu tượng cứu rỗi văn hóa.

Hậu quả là toàn bộ đời sống Mỹ bị chính trị hóa đến cực độ. Trường học trở thành chiến trường tư tưởng. Thư viện bị tranh cãi vì những cuốn sách liên quan đến giới tính và chủng tộc.

Các tập đoàn lớn rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan: duy trì DEI để giữ hình ảnh tiến bộ với giới trẻ hay loại bỏ nó để tránh sự tẩy chay từ phe bảo thủ. Ngay cả Disney, Harvard hay các hãng công nghệ lớn cũng bị kéo vào cuộc chiến văn hóa chưa từng có trong lịch sử hiện đại Mỹ.

Điều nghịch lý là cả hai phía đều tự xem mình là lực lượng “giải cứu nước Mỹ”. Phe woke tin rằng họ đang mở rộng tự do và công bằng cho mọi cộng đồng bị áp bức.

Phe MAGA lại tin rằng họ đang bảo vệ linh hồn truyền thống của quốc gia trước sự suy đồi văn hóa. Nhưng khi cả hai cùng tuyệt đối hóa chân lý của mình, xã hội sẽ mất đi vùng xám của đối thoại và thỏa hiệp – vốn là nền tảng của nền dân chủ Mỹ suốt hơn hai thế kỷ.

Hiện tượng Donald Trump vì thế không thể chỉ được giải thích như sự nổi lên của một cá nhân. Trump là phản ứng tập thể của hàng chục triệu người Mỹ trước nỗi sợ bị đánh mất bản sắc trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng văn hóa cấp tiến.

Còn “wokeness” cũng không đơn thuần là một “căn bệnh”, mà phản ánh khát vọng sửa chữa những bất công lịch sử tồn tại rất lâu trong xã hội Mỹ. Bi kịch của nước Mỹ nằm ở chỗ hai phản ứng ấy ngày càng cực đoan hóa lẫn nhau.

Nước Mỹ từng vượt qua Nội chiến, khủng hoảng kinh tế và cả chiến tranh lạnh vì người Mỹ cuối cùng vẫn còn khả năng chia sẻ một bản sắc quốc gia chung.

Nhưng cuộc chiến văn hóa hiện nay nguy hiểm hơn ở chỗ nó đánh thẳng vào chính khái niệm “người Mỹ là ai”. Khi một quốc gia không còn đồng thuận về lịch sử, đạo đức và căn tính của chính mình, sự chia rẽ sẽ không còn chỉ nằm trong chính trường mà sẽ ăn sâu vào từng gia đình, trường học và đời sống thường nhật.

Có lẽ vì thế mà hiện tượng Donald Trump không phải nguyên nhân duy nhất của cuộc khủng hoảng này.

Ông ta chỉ là tấm gương phản chiếu một nước Mỹ đang thức tỉnh theo hai hướng ngược nhau: một bên muốn thay đổi để trở nên cấp tiến hơn, một bên muốn quay trở lại với những giá trị truyền thống mà họ tin rằng đã làm nên sức mạnh của nước Mỹ.

Và chính cuộc “tỉnh thức ngược” ấy đang tái định hình toàn bộ nền văn hóa và chính trị Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI. 


 

Tuổi Già Được Và Mất Gì?

Bang Uong

 Tuổi Già Được Và Mất Gì?

Nói về tuổi già người ta vẫn cho rằng : Tuổi già là tuổi “xế chiều”, chỉ toàn mất mát. Nhưng đi hết một vòng đời ta mới thấy: cái gì cũng có hai mặt. Già, là lúc ta mất nhiều, nhưng cũng được không ít.

Cái “mất” của tuổi già

Mất đầu tiên và rõ nhất là sức khỏe. Mắt mờ, chân chậm, đêm nằm nghe xương khớp lục cục nhói đau khi trở mình. Những bậc thang ngày xưa bước hai bậc một, giờ vịn tay mới qua. Mất sức, kéo theo mất tự do. Muốn đi xa phải tính, muốn ăn ngon phải kiêng.

Mất thứ hai là vai trò trong gia đình. Ngày trước là trụ cột, lời nói có người nghe, đe có người sợ. Về già, con cháu lớn, chúng có thế giới riêng. Họp gia đình, ý mình thành ý tham khảo. Từ “người quyết định” thành “người kể chuyện “cũ” ” chuyện xưa “.

Mất thứ babạn bè. Mỗi năm thưa dần một chỗ ngồi cà phê sáng. Đám tang nhiều hơn đám cưới. Điện thoại ít reo, danh bạ nhiều số không còn người nghe máy…

Mất sau cùng là thời gian. Biết chắc quỹ thời gian không còn dài. Mỗi ngày qua đi mang theo một nỗi buồn chênh chao. Mỗi tờ lịch xé đi là một lần giật mình.

Cái “được” của tuổi già

Nhưng cũng chính ở tuổi già, ta được thứ mà tuổi trẻ không có…

Ta thảnh thơi với chính mình không còn phải gồng mình với ai. Ta chẳng cần phải “diễn” Ta được sống thật, nói thật, làm thật mệt thì nghỉ, không vui thì không làm, không gượng ép. Cái quyền “không diễn” ấy tuổi trẻ làm sao có được ?

Sáng ra ta muốn dậy sớm ngắm bình minh vận động thể dục,tắm nắng chiều muốn ngủ vùi… chẳng ai phán xét.

Được hiểu mình. Trẻ thì chạy theo thiên hạ, già rồi mới biết mình thích chén trà đặc, thích bản nhạc xưa, thích ngồi yên không làm gì. Hiểu mình rồi, mới sống cho mình.

Được quyền nhớ và quyền quên. Nhớ chuyện năm 20 tuổi rõ như hôm qua, quên chuyện bực mình hôm kia. Nhớ dai kỷ niệm đẹp, quên nhanh hờn giận. Đó là món quà của trí nhớ già: nó tự lọc.

Được nhìn đời bằng con mắt nhẹ. Tranh hơn thua làm gì, khi cuối cùng ai cũng về với đất. Thấy con cãi nhau, chỉ cười: “Ngày xưa ba mẹ cũng vậy”. Thấy cháu vấp ngã, không hốt hoảng: “Đứng dậy, đi tiếp là được”. Bình thản đó, phải trả bằng cả đời mới mua nổi.

Được thương theo cách khác. Trẻ thương bằng chiếm hữu, già thương bằng buông tay. Thương con là để nó bay, thương cháu là kể chuyện ngày xưa rồi lẳng lặng nhìn nó lớn. Không giữ, nên không mất.

Được – mất, suy cho cùng là một

Ngẫm kỹ, cái mất hôm nay là cái được hôm qua. Mất sức trẻ, được thời gian chiêm nghiệm. Mất vai trò trụ cột, được làm người quan sát. Mất bạn, được hiểu vô thường. Mất thời gian dài, được biết quý từng ngày ngắn.

Tuổi già như mùa đông. Cây rụng lá, trơ cành, trông như mất hết. Nhưng trong thân gỗ đang ủ nhựa cho mùa sau. Người già rụng đi ham muốn, rụng đi sân si, chỉ còn lõi người: hiền, và thật.

Vậy nên, nếu phải chọn, đừng hỏi già “được gì, mất gì”. Hãy hỏi: “Thứ mình mất, có đáng để đổi lấy thứ mình được không?”

Với nhiều người, câu trả lời là: đáng. Đáng lắm. Vì cuối cùng, được bình yên trong lòng, là cái được lớn nhất. Mà bình yên, trẻ mấy ai có.

Tuổi già không phải đoạn kết buồn. Nó là chương cuối, viết chậm, chữ thưa, nhưng mỗi chữ đều rất nặng.

Phạm Quốc Hùng 


 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Xuyên Sơn

 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Nghe tiếng “Dạ” sao mà thương đến lạ. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”.

Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”.

Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói:

”Mày ăn cơm chưa con ?

– Dạ, chưa!”

“Mới dìa/dzề hả nhóc?

– Dạ, con mới!”…

Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm.

Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác.

Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay…

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói:

“Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói:

“Hổm rày”, “dạo này”…

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê.

(Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.

Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều” là “lắm”.

Nói ”Nhỏ đó xinh ghê!”, nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.

Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy.

Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng,

vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền Nam chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó dễ thương ghê!”,

“Nhỏ đó ngoan!”…

Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội.

Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như

“cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu

“Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!”

Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi:

“Ê, nhóc lại nói nghe!”

Hay gọi người bán hàng rong:

“Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”…

“Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu,

có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người SàiGòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường quên mất từ “bán”,

chỉ nói là:

“Cho chén chè, cho tô phở”…

“Cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này:

“Lấy cái tay ra coi!”

“Ngon làm thử coi!”

“Cho miếng coi!”

“Nói nghe coi!”…

“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ?

Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi”, cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm,

không ít người sẽ hỏi:

“Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?”

– Mà “dzậy ta” cũng là một thứ

“tiếng địa phương” của người Sài Gòn à.

Người Sài Gòn có thói quen hay nói:

“Sao kỳ dzậy ta?”

“Sao rồi ta?”

“Được hông ta?”…

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen,

kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là…

“bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”.

Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền.

Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn.

Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu,cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi.

Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó… tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc.

Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy.

Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác.

Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt.

Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn;

cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà.

Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì:

“Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” –

Còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi.

Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím.

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác.

Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại.

Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng.

Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ

Còn nữa:

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ “đó”, người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi.

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng…

ngộ nghĩnh dzậy nữa.

Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông?

Gọi vậy mới đúng là chất

miền Nam – Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số.

Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…

Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi:

Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành:

“Hai ơi Hai, em nói nghe nè…”

và “Gì dzạ Út ?”…

Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn.

Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì

“Hai ơi Hai… em nói nghe nè!”.

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi… rối.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy.

Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.

Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc,

cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Kinh Thành, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa,

và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng

“hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Tác giả : Quý Nguyễn 


 

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Sau khi đọc kinh Lạy Nữ Vương (Regina Caeli) trưa Chúa Nhật, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã bất ngờ chuyển sang nói tiếng Tây Ban Nha để cám ơn người dân quần đảo Canary và bày tỏ niềm mong đợi được gặp họ trong chuyến viếng thăm vào tháng tới.

Đức Thánh Cha đặc biệt cám ơn người dân Tây Ban Nha vì đã đón nhận tàu du lịch “Hondius”, trên đó có hơn 100 hành khách từng tiếp xúc với virus hantavirus.

Hiện con tàu đang neo ngoài khơi đảo Tenerife thuộc quần đảo Canary – nơi Đức Thánh Cha sẽ đến thăm trong hơn một tháng nữa.

Ngài nói:

“Tôi muốn cám ơn người dân quần đảo Canary vì lòng hiếu khách đặc trưng của anh chị em trong việc đón nhận tàu du lịch ‘Hondius’ và các hành khách bị nhiễm hantavirus. Tôi mong được gặp tất cả anh chị em vào tháng tới trong chuyến viếng thăm quần đảo.”

Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, hiện cũng có mặt tại Tenerife để hỗ trợ chiến dịch đưa toàn bộ hành khách rời khỏi tàu và trở về quê hương để cách ly.

Ông ca ngợi chính quyền Tây Ban Nha vì “phản ứng vững chắc và hiệu quả” trước đợt bùng phát dịch bệnh này.

Con tàu rời Argentina vào ngày 1 tháng 4. Mười ngày sau, một hành khách đã tử vong vì virus; vợ ông cũng mắc bệnh và được đưa tới Nam Phi điều trị nhưng sau đó cũng qua đời. Đến ngày 2 tháng 5, thêm một người khác tử vong trên tàu.

Tại Tenerife, các chuyên gia y tế đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống khẩn cấp này, với một khu cách ly nghiêm ngặt đã được thiết lập.

Bác sĩ trưởng khoa hồi sức tích cực Mar Martin nói với BBC:

“Chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng.”

Nguồn: Aleteia


 

Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí, bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí…

Xuyên Sơn

 Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí,

bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí (và còn nhiều thứ miễn phí khác).

Theo tài liệu mình nghiên cứu thì:

– Sau chi phí cho quân lực và vũ khí (chiếm khoảng 90% tổng chi phí), Hoa Kỳ chú trọng vào việc viện trợ giáo dục, y tế, đường sá và nhà cửa thời VNCH vì lý do họ muốn thắng “hearts and minds” (tâm và trí) của người Việt và cả những người chống đối. Ngoài ra, nguồn viện trợ dân sự cho giáo dục và y tế đến từ rất nhiều cơ quan thiện nguyện không riêng gì ở Hoa Kỳ mà nhiều quốc gia khác.

– VNCH cũng cố gắng đẩy mạnh giáo dục và y tế cho người dân VNCH, ngoài những chi phí phải đối phó với những hậu quả của chiến tranh.

Đặc biệt là chi phí cho dân tản cư, dân bị pháo kích, bị mất nhà cửa,

dân bỏ ruộng vườn, đất đai chạy về thành phố hay những nơi an toàn hơn.

———————

Theo bố mình (người đã từng là viên chức hành chánh cao cấp) thời VNCH:

– Thời gian đầu, Hoa Kỳ và VNCH đẩy mạnh cả giáo dục, y tế, nhà cửa và cầu cống vì họ tin rằng nếu giáo dục tốt, sức khoẻ tốt và môi trường tốt thì đó là kết quả chứng minh cho “phía bên kia” thấy được thiện chí và sự tốt đẹp của phía VNCH.

– Thời gian sau, chi phí cho cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống) giảm sút vì Việt Cộng phá hoại nhiều quá (đấp mô, đặt mìn, phá cầu, phá đường rày tàu lửa…v.v..).

Tuy nhiên, vẫn duy trì ngân sách cho giáo dục, học đường và y tế.

Càng về sau, gánh nặng càng nặng vì chiến tranh leo thang, đồng tiền mất giá, dân di cư càng lúc càng đông và càng tạo gánh nặng rất lớn cho các thành phố trong khi nông thôn bị phía Việt Cộng o ép hoặc bị bỏ trống.

———————-

Đó là lý do tại sao 20 năm VNCH đã tạo ra những con người, tác phẩm, công trình và giáo dục mà cho đến ngày giờ này vẫn còn tiếp tục tồn tại và được nhớ tới.

Phía cộng sản thắng không phải họ thắng trên mặt trận vũ trang (đánh lén, du kích, chính quy) mà họ thắng trên mặt trận phá hoại. Chính họ đưa ra chính sách “lấy nông thôn bao vây thành thị”.

Nói thêm, Sau 1975, ông Trần Bạch Đằng (Trương Gia Triều), đã viết rằng VNCH “có hàng triệu đĩ điếm, ma cô và xì ke”.

Không may, những điều ông viết một cách phóng đại và vô trách nhiệm đã được nhiều cuốn sách hoặc tài liệu nói về Việt Nam của các tác giả tây phương đã dùng lại.

Ông Trần Bạch Đằng chưa bao giờ công nhận rằng VNCH đã cố gắng kiến tạo một xã hội nhân bản, khai phóng, đã đẩy mạnh giáo dục, sáng tạo và phát triển trí tuệ.

Cái gọi là “tệ nạn xã hội” mà ông phóng đại, tận cùng là hậu quả của cuộc chiến đẫm máu mà cộng sản cố tạo ra, cố duy trì.

Cuộc chiến đó đã khiến cho vô vàn những gia đình tan nát, con không cha, vợ không chồng, để rồi họ phải lâm vào cảnh “đĩ điếm và chích choát”.

Thật ra, giáo dục miễn phí và y tế miễn phí là “đơn vị đong đo” mang tính kinh tế.

Nói thẳng ra, một thứ “đong đo” hạn hẹp và thô bỉ.

Giá trị kiến tạo của một xã hội không nằm ở chỗ “miễn phí” mà ở chỗ họ muốn tạo ra cái đẹp, ngay cả trong thời chiến tranh đẫm máu.

Còn phía bên kia, “giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ”.

Đó nên là “đơn vị” để đánh giá.

—nguồn Hoang Ngoc  Dieu

====================

Cô giáo Việt Nam Cộng hòa và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

Múa Voi

Trông kìa con voi, nó đứng rung rinh.

Nghiêng mình trông đám nhện đang vò tơ.

Anh chàng voi ta thích chí mê tơi (mê ly).

Bằng (Liền) mời anh khác từ xa vào chơi . . .

Kìa nhìn xem trên kia.

Có cái con chi to ghê.

Trông to lớn như.

Marines (Vietnam) Sep 8, 1965 – by Paul Schutzer.

Cựu Phó TT Nixon viếng thăm một lớp học ở miền Trung ngày 3-9-1965.

Ông làm Phó TT Mỹ 1953-1961 và Tổng Thống Mỹ 1969-1974.

Richard Nixon (1913-1994) là Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ và là vị TT duy nhất của nước Mỹ phải từ chức.

Richard Nixon visiting children in Vietnam, 1965. Photo by Paul Schutzer.

Nguồn fb Quan Nguyen Thanh

(Dân Saigon Xưa) 


 

HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG-Song Chi

Song Chi

 HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG

Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông, chợt nhớ lại khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức, Giáo sư, Tiến sĩ…mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có một GHPGVNTN tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài cái GHPGVN mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo “quốc doanh”.

Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.

Còn đối với tất cả những ai từng biết và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một thi sĩ…thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng mỗi một người như vậy ra đi, là mất luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.

Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật…Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương…Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên… Sẽ không có những tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định… Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói… Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v…Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.

Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách báo truyện nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím…chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch–ta, lý thuyết cách mạng nọ kia… Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông-Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua. 

Xã hội VN bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng; rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: thiếu sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính khai phóng…Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm. Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn, và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền, chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy tư, và lắng đọng? 


 

ĐẰNG SAU ĐÔI BÀN TAY TRẮNG CỦA MẸ TÔI LÀ CẢ MỘT KHO TÀNG – Lm. Anmai, CSsR 

Anmai CSsR 

Dự liệu là sẽ không viết gì trong ngày của Mẹ, nhưng …

Có những người ra đi khỏi cuộc đời này mà không để lại nhà cao cửa rộng, không để lại ruộng vườn mênh mông, không để lại sổ tiết kiệm, vàng bạc, của cải hay một gia sản vật chất nào đáng kể. Ngày họ nằm xuống, nhìn lại, dường như đôi bàn tay vẫn trắng. Trắng như lúc sinh ra. Trắng như một đời không tích góp được gì cho riêng mình. Trắng như thể cuộc đời chỉ là một cuộc đi qua âm thầm, lặng lẽ, không ồn ào, không danh phận, không có gì để người đời gọi là thành công.

Mẹ tôi cũng vậy.

Mẹ tôi không phải là người giàu có. Mẹ không có một cuộc đời dư dả để muốn gì được nấy, không có những năm tháng sung túc để con cái lớn lên trong nhung lụa, không có điều kiện để ban cho con cái mọi thứ theo kiểu người đời vẫn mơ ước. Mẹ chỉ đủ nuôi gia đình. Chữ “đủ” ấy nghe thì nhẹ, nhưng trong đời sống thật lại là cả một gánh nặng. Đủ cơm ăn mỗi ngày. Đủ áo mặc qua mùa. Đủ cho con đến trường. Đủ để gia đình không tan tác. Đủ để những đứa con có một mái nhà trở về. Đủ để giữa những tháng ngày chật vật, trong nhà vẫn còn một chút bình an, một chút tiếng cười, một chút hơi ấm, một chút niềm tin.

Cái “đủ” của Mẹ không phải tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng mồ hôi, bằng thức khuya dậy sớm, bằng những bữa ăn Mẹ nhường phần ngon cho con, bằng những lần Mẹ nói “Mẹ không đói” khi trong lòng chắc cũng cồn cào, bằng những khi Mẹ giấu nỗi lo sau một nụ cười hiền, bằng những lúc Mẹ xoay xở giữa thiếu trước hụt sau mà vẫn không để con cái thấy mình quá khổ. Có những hy sinh của Mẹ không bao giờ được kể thành lời. Có những giọt nước mắt của Mẹ không ai nhìn thấy. Có những đêm Mẹ trằn trọc, chỉ có Chúa biết. Có những vất vả của Mẹ lặng lẽ đến độ chính con cái nhiều khi cũng vô tâm không nhận ra.

Khi Mẹ nằm xuống, Mẹ còn đôi bàn tay trắng.

Nhưng càng nghĩ, tôi càng thấy: đôi bàn tay trắng ấy không hề nghèo. Đằng sau đôi bàn tay trắng ấy là cả một kho tàng cho gia đình chúng tôi. Một kho tàng không đếm được bằng tiền. Một kho tàng không đo được bằng đất đai. Một kho tàng không cất trong tủ, không gửi ở ngân hàng, không ghi trong giấy tờ sở hữu. Đó là kho tàng của tấm lòng. Kho tàng của đức tin. Kho tàng của nhân hậu. Kho tàng của sự hy sinh. Kho tàng của một đời biết sống cho người khác.

Đôi bàn tay trắng của Mẹ là đôi bàn tay đã bồng bế con từ những ngày thơ dại. Đôi bàn tay ấy đã nấu từng bữa cơm, vá từng manh áo, gom từng đồng bạc lẻ, xếp từng quyển vở cho con đến trường. Đôi bàn tay ấy đã chạm vào trán con khi con sốt, đã vỗ về khi con khóc, đã nâng đỡ khi con vấp ngã, đã chắp lại trong lời kinh mỗi tối để gửi gia đình cho Chúa. Đôi bàn tay ấy có thể không cầm vàng bạc, nhưng đã cầm cả tuổi thơ của con. Đôi bàn tay ấy có thể không ký những bản hợp đồng lớn, nhưng đã ký vào đời con một dấu ấn không bao giờ phai: dấu ấn của tình mẫu tử.

Đàng sau bàn tay trắng là tấm lòng.

Mẹ nghèo, nhưng lòng Mẹ không nghèo. Có những người giàu của cải nhưng trái tim chật hẹp. Có những người dư dả tiền bạc nhưng không dư được một chút cảm thông. Có những người có rất nhiều mà vẫn sợ mất, vẫn bo bo giữ lấy, vẫn không dám mở tay. Còn Mẹ, Mẹ không có nhiều, nhưng lòng Mẹ rộng. Mẹ không dư giả, nhưng Mẹ biết thương. Mẹ không quyền thế, nhưng Mẹ biết giúp. Mẹ không nói những lời lớn lao về bác ái, nhưng đời Mẹ là một bài học bác ái âm thầm.

Thời bao cấp, đời sống còn nhiều khó khăn. Bao gia đình từ nơi này nơi khác trở về Sài Gòn lập nghiệp, chật vật với cơm áo, với chỗ ở, với giấy tờ, với hộ khẩu, với đủ thứ thủ tục làm con người ta mệt mỏi và nhiều khi thấy bế tắc. Người lớn thì lo kiếm sống, còn trẻ con lại mắc kẹt vì không nhập học được. Một đứa trẻ không được đến trường đâu chỉ là chuyện thiếu một lớp học. Đó là cả một cánh cửa tương lai bị khép lại. Đó là nỗi lo của cha mẹ. Đó là sự thiệt thòi của một đời người nếu không có ai đưa tay giúp.

Vậy mà Mẹ đã không làm ngơ.

Mẹ không phải cán bộ lớn. Mẹ không có chức quyền. Mẹ không có tiền để giải quyết mọi chuyện. Mẹ chỉ có một tấm lòng. Và từ tấm lòng ấy, Mẹ đi tìm người có thể giúp. Mẹ nhờ chỗ này, hỏi chỗ kia, gõ cửa người này, năn nỉ người khác, kiên trì đến mức có lẽ nhiều người phải cảm động. Mẹ không làm việc ấy cho danh. Mẹ không ghi sổ công ơn. Mẹ không mong ai trả lại. Mẹ chỉ nghĩ đơn sơ: người ta khó, mình giúp được gì thì giúp; trẻ con cần đến trường, thì phải tìm cách cho chúng được đi học.

Nhờ những bước chân âm thầm ấy của Mẹ, có gia đình dần hội nhập được với cuộc sống mới. Nhờ những lời nhờ vả chân thành ấy của Mẹ, có đứa trẻ được vào lớp, được cầm sách, được mặc áo học trò, được có một tương lai sáng hơn. Có thể sau này những đứa trẻ ấy lớn lên, đi làm, lập gia đình, tản mác khắp nơi, không còn nhớ rõ ai đã giúp mình ngày xưa. Nhưng Chúa nhớ. Trời nhớ. Và gia đình chúng tôi nhớ. Nhớ rằng Mẹ đã từng nghèo mà không khép lòng. Nhớ rằng Mẹ đã từng khó mà không vô cảm. Nhớ rằng Mẹ đã từng thiếu mà vẫn biết cho đi.

Nghèo, nhưng tấm lòng thì bao la.

Cái bao la của lòng Mẹ không nằm ở những chuyện phi thường. Nó nằm trong những việc rất thường. Một lời hỏi han. Một bữa cơm chia thêm. Một lần đi nhờ giúp giấy tờ. Một lần đứng ra nói đỡ. Một lần âm thầm cầu nguyện cho người khác. Một lần không nỡ quay lưng trước nỗi khổ của ai đó. Tấm lòng của Mẹ giống như ngọn đèn nhỏ trong căn nhà nghèo. Ánh sáng không chói lòa, nhưng đủ làm ấm. Không rực rỡ như sân khấu, nhưng đủ để ai bước vào cũng thấy có tình người.

Đàng sau bàn tay trắng là đời sống đức tin.

Có lẽ đây mới là gia sản lớn nhất Mẹ để lại. Đức tin của Mẹ không phải là một lý thuyết. Đức tin của Mẹ không nằm trên môi miệng bằng những câu nói đạo đức cho hay. Đức tin của Mẹ được thắp lên trong đời sống thường ngày. Trong gian khó, Mẹ tin. Trong thiếu thốn, Mẹ cậy trông. Trong vất vả, Mẹ cầu nguyện. Trong lo âu, Mẹ phó thác. Trong những lúc không còn biết bám vào đâu, Mẹ bám vào Chúa. Mẹ sống đạo không ồn ào, nhưng bền bỉ. Không khoe khoang, nhưng sâu. Không lý luận nhiều, nhưng thật.

Đời sống đức tin ấy nuôi chúng tôi lớn lên. Có khi con cái chưa hiểu hết kinh nguyện, nhưng đã nhìn thấy Mẹ chắp tay. Có khi con cái chưa hiểu thần học là gì, nhưng đã cảm được lòng Mẹ tin vào Chúa. Có khi con cái chưa hiểu hết ý nghĩa của hy sinh, nhưng đã thấy Mẹ sống hy sinh mỗi ngày. Có khi con cái chưa biết thế nào là phó thác, nhưng đã nghe Mẹ nói: “Thôi, để Chúa lo.” Một câu đơn sơ thôi, nhưng chứa cả một linh đạo. Một câu nói bình dân thôi, nhưng có thể nâng đỡ cả một gia đình qua những ngày giông gió.

Đức tin của Mẹ không làm cho Mẹ tránh khỏi nghèo khó, nhưng giúp Mẹ không bị nghèo khó nuốt chửng. Đức tin của Mẹ không làm cho Mẹ hết lo âu, nhưng giúp Mẹ không tuyệt vọng. Đức tin của Mẹ không biến cuộc đời thành con đường bằng phẳng, nhưng giúp Mẹ bước qua sỏi đá với trái tim hiền lành. Đức tin ấy không chỉ giữ Mẹ, mà còn giữ cả gia đình. Nhờ đức tin của Mẹ, trong nhà có một trụ cột vô hình. Nhờ lời cầu nguyện của Mẹ, những đứa con được che chở nhiều hơn chúng tưởng. Nhờ nước mắt của Mẹ trước mặt Chúa, có lẽ nhiều tai ương đã đi qua mà chúng tôi không hay biết.

Người ta vẫn nói: “Con trai nhờ đức Mẹ.”

Tôi không biết phải giải thích thế nào cho hết. Nhưng hình như đúng là như vậy. Có những điều trong đời người con không tự mình làm nên. Có những ơn lành không phải do tài năng của con. Có những cánh cửa mở ra không phải vì con xứng đáng. Có những lần thoát nguy không phải vì con khôn ngoan. Có những phúc lành đi theo cuộc đời con như bóng mát âm thầm, mà càng lớn tuổi con càng hiểu: đó là nhờ đức của Mẹ, nhờ lời cầu nguyện của Mẹ, nhờ những việc lành Mẹ đã gieo, nhờ lòng nhân hậu Mẹ đã sống.

Mẹ có tấm lòng, và con trai của Mẹ được nhờ tấm lòng đó.

Câu ấy càng nghĩ càng thấm. Một người mẹ sống hiền lành, nhân hậu, quảng đại, đạo đức, thì không chỉ đời mẹ được Chúa thương, mà con cái cũng được hưởng phúc. Phúc ấy không phải lúc nào cũng là tiền bạc. Phúc ấy có khi là gặp người tốt đúng lúc. Phúc ấy có khi là được nâng đỡ khi yếu đuối. Phúc ấy có khi là được tha thứ khi lầm lỗi. Phúc ấy có khi là giữa cơn khốn khó vẫn tìm được lối ra. Phúc ấy có khi là trái tim con cái dù đi xa vẫn còn biết đường quay về với Chúa.

Có lẽ trong kho tàng Mẹ để lại, quý nhất là Mẹ đã dạy con cái biết cho đi.

Mẹ không giảng nhiều về lòng quảng đại, nhưng Mẹ sống quảng đại. Mẹ không viết sách về bác ái, nhưng đời Mẹ là một trang sách mở. Mẹ không nói những bài diễn văn về phục vụ, nhưng Mẹ đã phục vụ bằng đôi chân đi tìm người giúp, bằng đôi tay làm việc, bằng miệng nói lời bênh vực, bằng trái tim chạnh thương trước khổ đau của người khác. Con cái nhìn Mẹ mà học. Có thể học chậm, học vụng, học chưa trọn, nhưng hạt giống đã rơi vào lòng.

Và rồi lạ lắm: khi có, các con của Mẹ lại cứ cho đi. Cho đi rồi lại được nhận lãnh. Cho đi tưởng là mất, mà hóa ra lại được thêm. Cho đi một chút tình, nhận lại nhiều bình an. Cho đi một chút thời giờ, nhận lại nhiều ý nghĩa. Cho đi một chút công sức, nhận lại nhiều niềm vui. Cho đi một chút của cải, nhận lại cảm giác lòng mình không bị tiền bạc làm chủ. Cho đi không phải để được trả lại, nhưng càng cho đi càng thấy đời mình được Chúa lấp đầy.

Đó cũng là bài học của Tin Mừng. Hạt lúa mì phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai biết trao ban thì lại tìm thấy sự sống thật. Mẹ tôi có thể không diễn tả được bằng những ngôn từ thần học, nhưng Mẹ đã sống điều ấy rất tự nhiên. Mẹ như hạt lúa âm thầm. Mẹ mục nát trong hy sinh. Mẹ tiêu hao trong phục vụ. Mẹ nhỏ bé trong mắt đời. Nhưng từ đời Mẹ, những bông hạt mọc lên: con cái được lớn khôn, gia đình được gìn giữ, người nghèo được giúp đỡ, trẻ em được đến trường, niềm tin được trao truyền, lòng nhân hậu được nối tiếp.

Nói về Mẹ, viết về Mẹ, làm sao nói hết, viết hết?

Với một kẻ phàm phu tục tử như tôi, ngôn từ nhiều khi trở nên bất lực. Có những điều càng sâu càng khó nói. Có những yêu thương càng lớn càng không thể diễn tả trọn. Có những hy sinh khi còn sống ta không thấy hết, đến khi người khuất rồi mới giật mình nhận ra. Ngày xưa, có thể ta quen với sự hiện diện của Mẹ đến mức tưởng đó là điều tự nhiên. Tự nhiên là có cơm. Tự nhiên là có nhà. Tự nhiên là có người lo. Tự nhiên là có người đợi. Tự nhiên là có người cầu nguyện. Tự nhiên là có người nhớ từng đứa con. Nhưng đến khi Mẹ không còn nữa, ta mới hiểu: không có gì là tự nhiên cả. Tất cả đều là tình thương. Tất cả đều là hy sinh. Tất cả đều là ân huệ.

Có những ngày muốn gọi một tiếng “Mẹ ơi” mà không còn nghe tiếng Mẹ trả lời. Có những lúc gặp chuyện vui, muốn kể cho Mẹ nghe, nhưng chỉ còn biết thầm thĩ trong lòng. Có những khi mệt mỏi, muốn trở về bên Mẹ như ngày xưa, nhưng căn nhà đã thiếu bóng dáng ấy. Có những bữa cơm, nhìn một món ăn quen, tự nhiên nhớ bàn tay Mẹ. Có những buổi chiều, nghe tiếng chuông nhà thờ, tự nhiên nhớ dáng Mẹ cầu kinh. Có những đêm, lòng trống vắng, tự nhiên thấy đời mình nghèo đi vì mất một người không ai thay thế được.

Nhưng đức tin dạy tôi rằng Mẹ không mất. Mẹ chỉ đi trước. Mẹ đã trở về với Chúa, Đấng mà Mẹ tin tưởng suốt đời. Đôi bàn tay trắng của Mẹ ngày xưa, giờ đây tôi tin đã được Chúa đón nhận. Bàn tay ấy trắng vì không giữ gì cho riêng mình. Bàn tay ấy trắng vì đã cho đi quá nhiều. Bàn tay ấy trắng vì đã dâng hết một đời. Và trước mặt Chúa, đôi bàn tay trắng ấy không trống rỗng. Nó đầy những việc lành. Đầy những lời cầu nguyện. Đầy những hy sinh. Đầy những giọt nước mắt. Đầy những dấu vết của tình yêu.

Người đời có thể hỏi: Mẹ để lại gì?

Tôi xin thưa: Mẹ để lại cả một bầu trời.

Mẹ để lại cho chúng tôi ký ức về một mái nhà nghèo mà ấm. Mẹ để lại một nếp sống biết tin Chúa. Mẹ để lại bài học rằng con người sống không chỉ để có, mà còn để thương. Mẹ để lại cho chúng tôi niềm xác tín rằng nghèo không đáng sợ bằng hẹp lòng, thiếu tiền không đáng sợ bằng thiếu nhân hậu, bàn tay trắng không đáng sợ bằng trái tim trống rỗng. Mẹ để lại một thứ gia tài mà càng chia ra càng lớn, càng sống theo càng sinh hoa trái, càng nhớ lại càng thấy biết ơn.

Mẹ không giàu, nhưng Mẹ làm cho đời con cái giàu lên.

Giàu vì biết thương người. Giàu vì còn biết cầu nguyện. Giàu vì biết cúi xuống. Giàu vì biết cảm ơn. Giàu vì biết rằng mọi sự mình có đều là ơn Chúa. Giàu vì hiểu rằng đời người cuối cùng không được đo bằng những gì ta nắm giữ, mà bằng những gì ta trao đi. Giàu vì trong tim vẫn còn hình bóng Mẹ như một ngọn đèn không tắt.

Con cảm ơn Mẹ.

Cảm ơn Mẹ vì đã sinh con ra trong cuộc đời này. Cảm ơn Mẹ vì đã cho con một mái nhà. Cảm ơn Mẹ vì đã nuôi con bằng cơm gạo và bằng nước mắt. Cảm ơn Mẹ vì đã dạy con biết Chúa, dù có khi con chưa sống xứng đáng. Cảm ơn Mẹ vì đã gieo vào đời con hạt giống nhân hậu. Cảm ơn Mẹ vì những lần Mẹ âm thầm chịu đựng mà con không biết. Cảm ơn Mẹ vì những lời kinh Mẹ đọc cho con. Cảm ơn Mẹ vì những hy sinh không tên, những lo toan không kể, những đau khổ không than, những yêu thương không điều kiện.

Và trên hết, con tạ ơn Chúa.

Tạ ơn Chúa vì trong đời con có Mẹ. Tạ ơn Chúa vì Người đã ban cho con một người Mẹ không giàu của cải nhưng giàu đức tin. Không nhiều tiền bạc nhưng nhiều lòng thương. Không quyền lực nhưng đầy nhân hậu. Không để lại gia sản trần gian nhưng để lại gia tài thiêng liêng. Tạ ơn Chúa vì qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là tình yêu. Qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là hy sinh. Qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là sống đạo giữa đời thường. Qua Mẹ, con hiểu rằng có những đôi bàn tay trắng lại là đôi bàn tay giàu nhất trước mặt Thiên Chúa.

Mẹ ơi, đời con có thể đi nhiều nơi, gặp nhiều người, trải qua nhiều biến cố, nhưng có một nơi con không bao giờ rời xa được: đó là lòng Mẹ. Có một món nợ con không bao giờ trả hết: đó là công ơn Mẹ. Có một lời con không bao giờ nói cho đủ: đó là lời cảm ơn Mẹ. Có một tình thương con không bao giờ hiểu hết: đó là tình Mẹ dành cho con.

Cha mẹ là trời cao biển lớn bao la.

Con chỉ là một phận người nhỏ bé đứng trước trời cao biển lớn ấy. Càng đứng lâu càng thấy mình nhỏ. Càng nghĩ nhiều càng thấy mình nợ. Càng nhớ Mẹ càng thấy lòng mềm lại. Và trong sự mềm lại ấy, con chỉ biết cúi đầu, chắp tay, thưa với Chúa:

Lạy Chúa, xin thương đón nhận Mẹ con vào lòng thương xót của Chúa. Nếu đời Mẹ còn điều gì thiếu sót, xin Chúa lấy tình yêu mà bù đắp. Nếu đời Mẹ còn vết thương nào, xin Chúa chữa lành. Nếu đời Mẹ còn giọt nước mắt nào chưa khô, xin Chúa lau sạch. Xin cho những hy sinh âm thầm của Mẹ được nở hoa trong Nước Trời. Xin cho những việc lành Mẹ đã gieo tiếp tục sinh trái trong đời con cháu. Xin cho chúng con biết sống sao cho xứng với gia tài Mẹ để lại: gia tài của đức tin, của lòng nhân hậu, của sự quảng đại, của đôi bàn tay biết mở ra.

Và xin cho con, mỗi khi nhớ đến đôi bàn tay trắng của Mẹ, đừng chỉ buồn vì Mẹ không còn, nhưng biết sống tốt hơn, thương nhiều hơn, cho đi nhiều hơn, cầu nguyện nhiều hơn, để một ngày kia, khi con cũng phải nằm xuống với đôi bàn tay trắng, con được hy vọng mang theo một chút gì đó giống Mẹ: một tấm lòng đã biết yêu thương.

Lm. Anmai, CSsR