Từ việc dọa giết Barron Trump: Iran thực hiện các vụ ám sát như thế nào?-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi -Viet

August 26, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Ngày 24 Tháng Tám, đài truyền hình nhà nước Iran phát một video với nội dung cho thấy mọi nhất cử nhất động của Barron Trump, cậu ấm nhà Trump, đều được giám sát. Với tiêu đề “Chúng ta nên giết Barron Trump ở đâu và bằng cách nào?” video treo giải thưởng $10 triệu cho việc ám sát Barron.

Barron Trump, hình chụp Tháng Giêng , 2025 tại Washington, DC. (Hình: Tasos Katopodis/Getty Images)

Cùng ngày, Thủ Tướng Israel, Benjamin Netanyahu, nói với Channel 14 rằng tính mạng con trai ông cũng bị Iran dọa giết. Tháng Bảy, cơ quan an ninh Israel phải tăng cường biện pháp bảo vệ bà Sara – vợ ông Netanyahu, cùng hai con trai là Yair và Avner…

Tất cả đều có “dấu tay” IRGC

Cho đến giờ, lực lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo Iran (IRGC) chưa dám thực hiện bất kỳ cuộc ám sát nhân vật cấp cao nào của Israel lẫn Mỹ nhưng xét về khả năng thì họ hoàn toàn có thể làm được. Điều khiến họ chùn tay, ở thời điểm này, là yếu tố hậu quả chính trị. Trong thực tế, IRGC liên tục thực hiện các vụ ám sát hoặc cảnh cáo ám sát nhằm vào những nhân vật Iran lưu vong. Pouria Zeraati là một điển hình.

Từ khi sống lưu vong ở Anh, nhà báo Pouria Zeraati thường xuyên bị quấy nhiễu, từ những tin nhắn nặc danh đến việc xuất hiện những kẻ lạ mặt đeo khẩu trang lảng vảng bên ngoài nhà.

38 tuổi, Zeraati đến Anh năm 2007 để học kỹ thuật cơ khí. Sau khi tốt nghiệp, anh làm phóng viên cho Manoto, một kênh truyền hình tiếng Ba Tư có trụ sở tại London. Năm 2022, Zeraati bắt đầu dẫn chương trình “The Last Word” trên Iran International – kênh truyền hình vệ tinh nổi tiếng với các bản tin chỉ trích gay gắt chính quyền Teheran.

Bộ trưởng tình báo Iran, Esmail Khatib, cáo buộc Iran International là “tổ chức khủng bố,” trong khi hãng tin Fars tung ra áp phích với chữ “TRUY NÃ: SỐNG HOẶC CHẾT” bên dưới ảnh chân dung Zeraati cùng bốn phát thanh viên khác. Có lần cảnh sát Anh phải đưa xe bọc thép đến văn phòng Iran International khi phát hiện loạt đe dọa nghiêm trọng. Hình ảnh nơi ở của Zeraati bị phát tán trên mạng xã hội. Một lần, vợ anh bị hai gã đi xe mô tô  bám theo đến phòng gym. Chúng nói với cô bằng tiếng Ba Tư rằng cả cô và chồng sẽ bị giết thảm.

Đầu năm 2023, hai kẻ lạ đeo khẩu trang xuất hiện bên ngoài nhà Zeraati ở Wimbledon. Chúng là người Romania. Một kẻ tên George Stana, 22 tuổi, đến Anh vài tuần trước đó. Các tin nhắn từ điện thoại của hắn cho thấy một kẻ chỉ đạo giấu mặt, có biệt danh “Em,” hướng dẫn hắn đến địa chỉ này. Âm mưu sát hại Zeraati cuối cùng bị lộ. Khi được cảnh sát Anh thả, Stana trở về Bucharest.

Một năm sau, hắn quay lại London, thuê một phòng khách sạn với hai tên Romania khác. Florina – em gái Stana – chuyển tiền cho nhóm sát thủ để mua thẻ SIM, quần áo, chi trả chỗ ở và mua một chiếc Mazda.

Một ngày Thứ Sáu Tháng Ba, 2024, khoảng 3 giờ chiều, Zeraati rời nhà để đến trường quay Iran International. Khi Zeraati đi bộ ra xe, một thanh niên Romania tiến lại gần và xin “ba bảng Anh.” Cùng lúc, một người Romania nhào đến ôm chặt Zeraati từ phía sau. Thế rồi tên kia rút dao đâm túi bụi vào chân nạn nhân. Đó chỉ là màn cảnh cáo. Khi Zeraati nằm gục trong vũng máu, hai hung thủ chạy về phía chiếc Mazda. Kẻ cầm lái là Stana. Đến một đoạn, chúng vất xe, cởi quần áo ném vào thùng rác rồi bắt taxi phóng ra phi trường Heathrow. Đáp chuyến bay tới Geneva, sau đó chúng về Bucharest (“Journalist targeted by Iran reacts to U.K.’s crackdown on IRGC”/CBS).

Theo bài báo điều tra của Cora Engelbrecht đăng trên The New Yorker ngày 24 Tháng Tám, câu chuyện “dằn mặt” nhà báo Pouria Zeraati kể ở trên là một phần trong chiến dịch ngày càng được mở rộng mà IRGC thực hiện.

Trong nhiều vụ, IRGC thuê mướn giang hồ được tuyển từ nhiều nơi, từ Nga, Romania, đến Thụy Điển. Trong quá khứ, IRGC từng thực hiện nhiều vụ sát hại thành phần đối lập sống ở nước ngoài. Một trong những vụ tấn công chấn động diễn ra tại Berlin vào năm 1992, khi đặc vụ Iran nổ súng sát hại một nhóm lãnh đạo phe đối lập người Kurd trong lúc họ dùng bữa tại một nhà hàng Hy Lạp. Công tố viên Đức cho biết vụ này được chính lãnh tụ tối cao ra lệnh.

Nhiều năm nay, IRGC chưa bao giờ ngừng các chiến dịch ám sát. Tại Viện Chính Sách Cận Đông ở Washington DC, chuyên gia Matthew Levitt thường xuyên theo dõi các âm mưu ám sát và phá hoại ở nước ngoài của IRGC kể từ cuộc Cách Mạng Hồi Giáo 1979. Levitt ghi nhận có hơn 200 vụ trong 5 năm qua, gần gấp đôi con số được thống kê từ năm 1979 đến 2021.

Một chiến dịch như vậy đã bị ngăn chặn vào năm 2021, khi một nhóm sát thủ, trong đó có một thành viên thuộc băng giang hồ Hells Angels ở Mỹ, sử dụng dịch vụ tin nhắn mã hóa Sky E.C.C. để lên kế hoạch ám sát hai người Iran sống tại Maryland. Vụ này được chỉ đạo trực tiếp từ chính phủ Iran và được điều phối bởi một tội phạm có nhiều tiền án tên Naji Sharifi Zindashti hiện sống tại Tehran.

Theo Suzanne Turner, phó giám đốc Ban Phản Gián FBI, thời gian gần đây, Iran tăng cường thuê các nhóm sát thủ để “sát hại cư dân Mỹ trên đất Mỹ.” Năm 2022, một người Azerbaijan mang theo AK-47 xộc đến nhà Masih Alinejad (nhà hoạt động người Mỹ gốc Iran) tại Brooklyn với lệnh bằng mọi giá phải giết chết nạn nhân. Sứ mạng bất thành. Hung thủ bị bắt. Hắn khai có hai thành viên thuộc mạng lưới tội phạm Nga thuê thực hiện vụ ám sát.

Không đến mức rợn tóc gáy như thời các tổ chức khủng bố cực đoan Hồi Giáo thực hiện các vụ khủng bố đánh bom liều chết, các chiến dịch quậy phá “âm thầm” mà IRGC thực hiện vẫn khiến chính phủ nhiều nước phương Tây luôn đặt họ trong tình trạng báo động để phản ứng kịp thời. Khó khăn lớn nhất cho việc đề phòng là IRGC gần như luôn thuê mướn các nhóm tội phạm địa phương, qua nhiều tầng lớp trung gian. Năm 2024, tình báo phương Tây có bằng chứng cho thấy các băng giang hồ tại Scandinavia đứng ra thuê thanh niên địa phương để thực hiện các chỉ thị từ Iran.

Năm 2024, chỉ vài tháng sau khi xảy ra sự kiện một thiếu niên 14 tuổi bị bắt do liên quan vụ nổ súng tại Đại Sứ Quán Israel ở Stockholm, người ta cũng phát hiện hai thiếu niên Thụy Điển bay qua Đan Mạch và ném lựu đạn vào Đại Sứ Quán Israel ở Copenhagen. Theo tình báo Thụy Điển, âm mưu này do băng Foxtrot Network chỉ đạo, nằm trong mạng lưới do Rawa Majid (biệt danh “Kurdish Fox”) cầm đầu. Tên này hiện sống tại Iran.

IRGC có dám đụng đến gia đình Trump?

Teheran thường xuyên dọa ám sát Trump. Viện dẫn “qisas” (luật trả đũa hay công lý báo thù), họ nhấn mạnh việc giết Trump không chỉ là đòn “máu trả bằng máu” mà còn là một “nghĩa vụ” trong việc phải tiêu diệt kẻ chịu trách nhiệm cho hành động giết chết Lãnh tụ Tối cao của họ.

Trên đài truyền hình nhà nước Iran, bình luận viên Mohammad-Javad Larijani nói rằng “qisas” là “quyền bất khả xâm phạm” của Cộng Hòa Hồi Giáo. Đề cập những kẻ chịu trách nhiệm về cái chết của Giáo chủ Ali Khamenei, Larijani nói: “Chúng tôi sẽ làm bất cứ điều gì trong khả năng, và không có rào cản pháp lý quốc tế nào có thể ngăn cản chúng tôi…” Đích thân Lãnh Tụ Tối Cao Mojtaba Khamenei cũng thề trả thù cho cái chết của cha.

Năm 2022, công tố viên liên bang tại Washington, DC kết tội một thành viên IRGC liên quan âm mưu sát hại cựu cố vấn an ninh quốc gia John Bolton nhằm trả đũa cho cái chết của Tướng Qasem Soleimani. Tên IRGC này móc nối và đưa ra cái giá $300,000 cho một người Mỹ gốc Iran để thực hiện kế hoạch giết Bolton.

Trong thời gian Trump vận động tranh cử vào Tháng Mười, 2024, IRGC cũng chỉ đạo một đặc vụ Iran “tập trung theo dõi và ám sát” Trump cùng nhà bất đồng chính kiến Masih Alinejad tại Brooklyn, New York (kể ở trên). Tên đặc vụ Iran móc nối với hai người – Carlisle Rivera (49 tuổi, ở Brooklyn) và Jonathan Loadholt (36 tuổi, ở Staten Island) – và đưa ra cái giá $100,000 để thực hiện phi vụ.

Tháng Bảy, 2024, một người Pakistan tên Asif Merchant bị bắt với kế hoạch mưu sát các chính trị gia Mỹ. Kế hoạch bại lộ khi Merchant, theo chỉ đạo IRGC, đang tìm sát thủ thực hiện trực tiếp. Tháng Mười Một, 2024, ngay sau khi Trump đắc cử nhiệm kỳ thứ hai, Bộ Tư Pháp công bố cáo trạng nhằm vào Farhad Shakeri (công dân Afghanistan), cũng với âm mưu ám sát Trump.

Thời gian gần đây, IRGC thường xuyên đe dọa nhằm vào gia đình Trump. Tháng Bảy, hãng tin Tasnim (có liên kết với IRGC) phát một video có tiêu đề “Có thể tiếp cận Melania Trump ở đâu và bằng cách nào?” Cuối Tháng Năm, tờ New York Post đưa tin về một âm mưu nhắm vào Ivanka Trump.

Liệu IRGC có dám “chơi lớn” khi ám sát thành viên gia đình Trump, như cách mà Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ thường xuyên cảnh báo? Khó có thể biết đó là báo động thật hay giả. Về năng lực và ý chí, không thể loại trừ khả năng IRGC tấn công một thành viên gia đình Trump. Như kể ở trên, Teheran có thể sử dụng tội phạm, sát thủ thuê hoặc mạng lưới trung gian. Điều đó phần nào giúp Iran tạo ra “chứng cứ ngoại phạm.”

Tuy nhiên, xét về hậu quả chính trị, ám sát Barron Trump hay Melania Trump là bước leo thang cực kỳ nguy hiểm. Khác với việc giết một cựu quan chức hay nhà bất đồng chính kiến, tấn công cá nhân tổng thống Mỹ hoặc thành viên gia đình tổng thống Mỹ, bất luận là Trump hay ai khác, chẳng khác nào một hành động rồ dại ngu xuẩn khi tuyên chiến trực tiếp với toàn bộ nước Mỹ. Hậu quả chắc chắn cực kỳ tàn khốc. IRGC hẳn biết điều đó. Và họ cũng biết rõ hiệu quả của trò tâm lý chiến về mặt truyền thông. [kn]


 

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỜI SỐNG – Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Vào khoảng 3 giờ sáng ngày 17 tháng Tám, 1999, một trong những trận động đất kinh hoàng nhất đã xảy ra trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ.  Nó đã san bằng hàng trăm công trình kiến trúc và làm thiệt mạng hàng ngàn người.

 Khi động đất xảy ra, một kế toán viên 40 tuổi người Thổ Nhĩ Kỳ là Yuksel Er vừa mới đi ra từ phòng vệ sinh ở lầu ba trong khu chung cư sáu tầng lầu.

 Bỗng dưng, mọi thứ bắt đầu quay cuồng.  Chính ông cũng lảo đảo và bị rơi vào dòng thác cuốn các đồ vật.  Trong 45 giây tiếp đó tai ông như điếc vì tiếng động mạnh.

 Và rồi, bỗng dưng mọi sự im lặng một cách ghê sợ.

 Khi Yuksel tỉnh dậy, ông thấy mình bị kẹt dưới đống gạch vụn trong một vùng thật tối. 

Trong khoảng cách nhỏ bé đó, ông không thể nào cựa quậy được, chỉ có thể nằm yên ở đó.

 Trên mình ông và chung quanh ông là những vụn vỡ của tòa chung cư sáu tầng lầu.

 Lúc đầu ông tưởng là tận thế.  Nhưng khi nghe thấy tiếng rên rỉ ở xa xa, ông biết là một điều gì khác đã xảy ra.

 Trong bốn ngày liền, ông không ăn uống gì.  Ông dùng thời giờ để cầu nguyện, suy nghĩ về đời sống và tự hỏi đời sống sau khi chết sẽ như thế nào.

 Lúc đầu, ông còn la lớn kêu cứu.  Nhưng thấy vô ích ông im lặng để dưỡng sức.

 Ông bắt đầu nhớ đến gia đình, và nhất là đứa con trai 13 tuổi mà ông vừa mới la rầy nó chỉ vài giờ trước trận động đất – vì nó cứ dành máy vi tính của gia đình để chơi “game.”

 Sau đó vào ngày thứ tư, khoảng một giờ sáng, ông nghe có tiếng gọi quen thuộc.  Chỉ trong vài phút, ông nhận ra tiếng của đứa cháu và thằng con 13 tuổi.  Chúng đào xới đống vụn để lôi ông lên.

 Khi đứa con trai lôi được ông ra khỏi đống gạch vụn, điều đầu tiên nó nói là, “Bố ơi, con sẽ không bao giờ làm bố giận nữa.”  Ông Yuksel trả lời, “Bây giờ thì không còn quan trọng nữa, vì bây giờ mọi sự sẽ khác biệt.” 

Sau này, khi ở trong bệnh viện, Yuksel nói với gia đình và bạn hữu: “Đây là cuộc đời thứ hai của tôi.  Tôi sẽ cố gắng tận dụng cuộc đời ấy.”  Và rồi ông khóc.  Giống như tiếng khóc của đứa bé mới lọt lòng mẹ. 

Trước trận động đất, Yuksel sống với những ưu tiên và mục đích, không khác gì những ưu tiên và mục đích của chúng ta.  Sau cảm nghiệm ấy, các ưu tiên và mục đích của ông thay đổi cách đáng kể.

 Điều này đưa chúng ta đến bài Phúc Âm hôm nay.  Trong bài Chúa Giêsu nói rằng, “Nếu ai trong các con muốn đến với Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá của con và theo Thầy.”

 Ở đó chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu cảnh cáo các môn đệ về sự ngu dại khi giành được thế gian nhưng đánh mất điều quan trọng nhất trong tất cả: là sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

 Sau cùng, chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu nói: Con Người sẽ thưởng cho họ tùy theo hành động của họ.” 

Hãy trở về với câu chuyện của Yuksel.  Khởi đầu tưởng rằng là một thập giá nặng nề, nhưng sau cùng lại là một phước lành lớn lao.

 Nó đã dạy cho ông và thúc giục ông sống thời gian còn lại theo một phương cách xứng hợp với Chúa, và với suy nghĩ của Thiên Chúa chứ không phải của Satan.

 Cũng giống như trận động đất đã thay đổi cuộc đời ông Yuksel, bài Phúc Âm hôm nay cũng nhắm đến một kết quả tương tự cho chúng ta – tối thiểu cho một số người trong chúng ta.  Có lẽ, như Phêrô, lối suy nghĩ về đời sống của chúng ta trở nên nguy hiểm hơn và càng giống với kiểu cách suy nghĩ của Satan hơn là của Thiên Chúa.

 Có lẽ, giống như Phêrô, chúng ta đang mất dần ý nghĩa của đời sống.  Một đời sống không hoàn toàn vì vui thú và không muốn tránh càng nhiều thập giá càng tốt.

 Đúng ra, đó là một đời sống để được phần thưởng là sự sống đời đời.  Đó là lối sống trong những năm còn lại của chúng ta ở đời này để giúp chúng ta gặt được phần thưởng là sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

 Rõ rệt hơn nữa là vác thập giá hằng ngày của chúng ta và chấp nhận các thập giá ấy trong tinh thần mà Chúa Giêu đã chấp nhận thập giá của Người.

 Và đây là phần đáng kể.  Một khi chúng ta bắt đầu sống như Chúa Giêsu đã dậy, chúng ta sẽ khám phá ra điều mà Yuksel đã tìm thấy.

 Nó sẽ thay đổi mọi sự, và bỗng dưng, điều tưởng như một thập giá to lớn lại trở nên một ơn sủng lớn lao trong đời này và đời sau.

 Hãy kết thúc với câu chuyện để nói lên điều chúng ta muốn nói:

 Một vài năm trước đây, Gene Stallings đã huấn luyện đội banh trường đại học Alabama để thắng được 22 trận và được coi là trường đứng hạng hai về dã cầu (football).  Nhưng không phải biến cố này, mà là một biến cố khác, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời của ông.  Đó là việc sinh hạ đứa con trai, Johnny.

 Khi bác sĩ nói với ông Stallings rằng Johnny sẽ bị hội chứng Down (chậm phát triển) và có lẽ không sống lâu hơn bốn năm, ông đã ngất xỉu.

 Ba mươi năm sau, Johnny vẫn còn sống.  Nói về ảnh hưởng của Johnny trong cuộc đời, ông Stallings cho biết:

 “Cháu rất đặc biệt!  Tất cả sự yêu thương của cháu thì vô điều kiện.  Cháu không đạt được thành tích gì.  Cháu hoàn toàn vị tha.”

 Trong rất nhiều dịp, ông Stallings tuyên bố rằng cho dù có thể đảo ngược mọi sự và bắt đầu lại với một đứa con không bị bệnh Down thì ông cũng không muốn như vậy.  Ông nói, “Tôi cảm nhận được rất nhiều ơn lành.”

 Điều mà ông Stallings nghĩ rằng sẽ là một thập giá lớn lao trong đời thì lại trở nên một ơn sủng lớn lao – cả ở đời này và ngay cả ở đời sau.

 Đây là Tin Mừng của Phúc Âm hôm nay.  Đây là Tin Mừng mà chúng ta cử hành trong phụng vụ này.

Đó là Tin Mừng khi chúng ta vác thập giá của mình và theo Chúa Giêsu, điều đó có thể thay đổi cuộc đời chúng ta nhưng sẽ đem lại một bình an và phước lành mà chưa bao giờ chúng ta tưởng tượng nổi hay dám hy vọng – và ngay cả dám mơ tưởng đến.

 Lm. Mark Link, S.J.

 From: Langthangchieutim


 

“CHÁY NHÀ SẼ RA MẶT CHUỘT” !

Xuyên Sơn

 “CHÁY NHÀ SẼ RA MẶT CHUỘT” !

Có một con chuột bị mèo đuổi, vô tình chui vào trong tượng Phật trên chùa và làm tổ ở đó…

Từ ngày chui vào trong tượng Phật, cuộc sống của chuột ta vô cùng no đủ.

Nó luôn được ăn thỏa thích những đồ lễ vật mà người dân mang đến cúng bái.

Thêm nữa, người nào đến trước tượng Phật của toàn phủ phục, nên con chuột tự thấy mình cũng oai lắm.

Nó thoải mái ăn ở, thậm chí còn tự do phóng uế lung tung…

Mỗi khi người dân đến thắp hương khấu đầu, con chuột kia nhìn khói hương nghi ngút từ từ bay lên, cười thầm:

“Đúng là những kẻ ngu ngốc, chẳng ai bắt mà cũng quỳ cũng lạy! Bây giờ ta mới biết mình cũng oai thế, đến loài người còn bái lại ta, mà bấy lâu nay sao cứ phải sợ mèo nhỉ!”.

Lâu ngày, sống cùng tượng Phật ở trên cao, thấy người nào đến thắp hương cũng chắp tay thành kính và quỳ lạy như thế, chuột cũng ngộ nhận và tự cho mình cao quý và tôn kính như… Phật.

Bỗng một hôm, có người cắm bó hương to, sơ ý để bùng cháy… Nóng và khói quá, con chuột bò vội ra ngoài, thì bị con mèo đói vồ được.

Chuột ta bèn vênh váo kêu lên:

– “Này mèo! Nhà người không thể ăn thịt ta được, hãy quỳ xuống thành kính bái lạy đi, rồi mang thức ăn lại đây… Ta là Phật đấy!”

Mèo cười to:

– “Những người quỳ lạy mày là vì vị trí mà mày đang chiếm đoạt, chứ không phải vì bản thân mày cao quý, quyền cao chức trọng gì đâu. Giờ thì mày tới số rồi, con chuột ngu ngốc!

Trong cuộc sống, không ít những kẻ nhờ thủ đoạn, hoặc do may mắn, bỗng ngồi vào một ví trí nào đó, thấy những người xung quanh đều xum xoe nịnh nọt, bổng lộc tự đến đầy nhà… thì tưởng mình là tài năng, cao quý và oai vệ lắm.

Họ giống như con chuột bỗng chui vào tượng Phật, nhưng vì tự đắc, nên không hề biết người khác cung kính mình là vì nhân cách của Phật.

Họ cũng ngộ nhận về học thức, ân đức của chính mình; không biết chỉ là nhờ vị trí cái ghế ngồi mà họ đang may mắn tạm thời nắm giữ.

Họ càng không lường được rằng, rất có thể tới một ngày…

“Cháy nhà sẽ ra mặt chuột”!

(st)

Nguồn: fb An Nguyen 


 

SỐNG THANH THẢN GIỮA ĐỜI

 Một người không tốt với bạn, bạn không nên quá bận tâm.

Trong cuộc sống của bạn, không ai có nghĩa vụ phải cư xử tốt với bạn trừ Cha Mẹ.

Còn với những người tốt với bạn, bạn nên trân trọng và biết ơn điều đó.
Nhưng bạn cũng cần phải có chút đề phòng bởi mỗi người khi làm bất cứ việc gì đều có mục đích riêng của họ.

Hãy nhớ, họ tốt với bạn không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến bạn.

 Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của bạn.

Vì thế, nếu sau này người bạn yêu thương không còn ở bên,hay họ không còn là nơi bạn có thể đặt niềm tin, bạn cũng đừng bi lụy.

Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, bạn đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích.

Người ta tham vọng sống lâu nhưng bạn chcần SỐNG HẠNH PHÚC mỗi ngày.

Hãy trân trọng và yêu lấy cuộc sống hiện tại của bạn.

 Trên đời này không có gì là nhất cả, tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời bạn,nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi.

Nếu như người đó rời xa bạn, bạn hãy học cách chờ đợi.

Hãy để thời gian rửa sạch vết thương, để tâm hồn bạn lắng lại rồi nỗi đau của bạn cũng sẽ dần biến mất.

Bạn đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo, cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn.

 Bạn có thể bắt mình phải giữ chữ tín, nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình.

Bạn có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người, nhưng bạn không thể kì vọng người ta sẽ làm ngược lại.

Khi bạn tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với bạn.

Hãy nhớ điều này nếu không bạn sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống.

 Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau, cho dù trong cuộc sống bận rộn bạn ít khi gặp mọi người, nhưng bạn hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ, hãy dành cho họ thời gian để yêu thương bạn hơn.

 S.T.

From: TU PHUNG


 

CÓ PHẢI LÀ BI QUAN KHI NÓI ĐẾN CÁI CHẾT LÚC TUỔI GIÀ?-  Norris Le LPN

Norris Le LPN

Một vài bạn FB có ý kiến cho rằng ai rồi cũng chết. Khi nào chết sẽ hay. Đâu cần chi phải bận lòng?

Thật tình, tôi không nghĩ thế. Vẫn biết ai rồi cũng chết, nhưng chết như thế nào ? Một chuyến đi chơi vài ngày cũng cần chuẩn bị chu đáo, hà huống gì một việc quan trọng của đời người như “cái chết” lại không cần chuẩn bị ? Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Lúc còn khỏe mạnh, mình tưởng như mọi việc sẽ xãy ra êm thắm, ngay cả cái chết, tắt thở là hết! Đơn giản vậy sao ? Tôi đã biết nhiều người lăn lộn, khổ sở trong thời gian cuối cùng của cuộc đời. Lúc cơ thể suy tàn, ngoài sự đau nhức, còn biết bao sự hành hạ về thể xác lẫn tinh thần…

Ỉa, đái trong quần lúc nào không biết. Ho, hen, khạc nhổ suốt ngày. Tất cả đều phải nhờ vào sự giúp đỡ, chăm sóc của người khác. Tính khí mỗi ngày càng khó khăn, bực dọc, cáu kỉnh, than phiền, trách móc. Ai dám chắc rằng mình sẽ không như thế? Ai mà chịu nổi? Ngay cả những người được thuê để chăm sóc người già nhiều khi cũng phải bỏ việc vì không chịu nổi cái khó tính của người già sắp chết, dù họ rất cần một việc làm để nuôi thân và gia đình. – Đó là một thực tế.

– – – Vậy thì mình phải tính cách nào để đối phó với thực tế đó?

Nếu là người có niềm tin tôn giáo, thì ngay từ lâu trước khi già yếu, đã phải thành tâm học đạo, chấp nhận sự quan phòng hay thử thách của Ơn Trên, chấp nhận Nghiệp báo, Nhân Quả, chẳng riêng của đời này hay của nhiều đời trước. Niềm tin vững chắc này sẽ giúp người tin đạo quyết tâm chịu đựng những khó khăn khi nó xãy đến. Tất nhiên Quả Lành cũng đến với những người được ra đi một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng. Từ niềm tin tôn giáo này, mình sẽ phải cố gắng thay đổi cách sống, làm điều thiện, tránh điều ác.

Bên cạnh đó, tài chánh cũng là một phương tiện cần thiết, giúp ích cho mình rất nhiều trong những lúc phải cần đến dịch vụ chăm sóc. Tiền nào, của đó. Thực tế bạn ơi! Ở đâu cũng thế. Trong lúc đang làm việc, mỗi tháng, hay mỗi kỳ lương, chịu khó để riêng một chút tiết kiệm cho quỹ tuổi già. Đừng mong đợi gì vào con cháu, vì chúng nó cũng phải lo cho bản thân và gia đình chúng nó, luôn cả tuổi già của chúng nó sau này!

Tất cả những chuẩn bị này thường nên chia sẻ với con cháu, mình muốn gì khi sắp nhắm mắt lìa đời, để tất cả người thân trong gia đình cùng hiểu, và sẽ không ai tranh cãi điều gì khi chuyện đó xãy ra. Một ông bạn già của tôi quyết định rút ống thở cho bà Mẹ già trên 100 tuổi để bà khỏi phải cứ nằm đó mà không còn biết gì, vì bộ não đã chết. Người em út nhào tới cào, xé , la hét, bảo anh “giết Mẹ”.

Việc tang lễ cũng thế. Việc này không phải chỉ làm hoàn toàn theo ý kiến của mình, mà đôi lúc cũng phải nghĩ tới tâm trạng của thân nhân, con cháu nữa. Nếu mình bảo: “tao chết thì cứ đem thiêu, rồi rãi tro xuống sông, xuống biển là xong, đừng lễ lạc gì hết! “ . Con cháu mình có đứa nào đành lòng như thế ? Chúng cũng muốn đội khăn tang cho Bố Mẹ, cũng muốn đọc kinh cầu siêu, cầu hồn, quỳ lạy tiễn đưa trong niềm thương nhớ, để nước mắt giúp xoa dịu niềm đau chia lìa, âm dương từ nay cách trở. Chỉ mong chúng hãy làm trong giản dị, trong phạm vi gia đình, hay bạn bè thân thuộc, không nên đình đám, phô trương, tiêu phí một cách vô ích, có thể trở thành gánh nặng cho con cháu sau này. Và nếu có thể, mình chuẩn bị trước một “quỹ tang chế” cho chính mình, thì sẽ nhẹ cho con cháu lắm.

Có thể bạn có cách chọn lựa khác. Mình chỉ nói lên ý nghĩ của mình, để, không những con chau biết, mà cũng để thân nhân, bè bạn xa gần cũng biết,- đây là ý nguyện của mình. Có gì thiếu sót trong tang lễ của mình thì xin thứ lỗi, vì đó là lỗi của mình, tại mình muốn thế, không phải của người ở lại.

Tuổi 80+ rồi. Trải qua bao gian khổ của tuổi thơ, trong thời chiến tranh ly loạn, tản cư, chạy giặc, đi lính, đi tù, vượt biên, tị nạn, làm lại cuộc đời …

Rồi, về hưu tại xứ sở tự do này đã non 20 năm, trong an bình, no ấm.

Mỗi ngày thức dậy, cảm tạ Ơn Trên, còn có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc uống khi đau yếu, còn lo lắng được cho chính mình, còn có bạn bè thương mến, hàng xóm tử tế, còn có vườn rau nho nhỏ để mỗi ngày ra vào chăm sóc , và đám con, cháu tốt lành, hiếu để … Lòng Tri Ân vô hạn !

Nhưng biết còn được bao lâu, và khi nào bác sĩ sẽ lắc đầu bảo rằng : “ NO MORE QUALITY OF LIFE” ?

Mình không bi quan đâu bạn. Người ta bỏ cả đời người để lo lắng, chuẩn bị cho những cái KHÔNG HỀ CHẮC CHẮN: của cải, tài sản, danh vọng, tiền bạc, sức khỏe, kể cả thân xác này.

Nhưng cái CHẾT là chắc chắn. Mình chỉ cố gắng một chút để chuẩn bị cho cái chắc chắn đó thôi, vì chắc chắn nó sẽ xãy đến với mình trong một ngày không xa.

Xin chúc bình an đến mọi nhà.

Norris Le LPN

Houston, TX 2 tháng Tư, 2022.

=== Đình kèm bài của một bác sĩ về giai đoạn cuối đời = = = =

TẠI SAO MỘT SỐ BÁC SĨ TỪ CHỐI ĐIỀU TRỊ CỨU SỐNG BẢN THÂN

(Nguồn: luomtrennet. )

Câu hỏi:

Tại sao một số bác sĩ từ chối phương pháp điều trị cứu sống cho bản thân, chẳng hạn như hóa trị, lọc máu, thông khí, phẫu thuật hoặc đặt ống ăn?

Trả lời bởi Maureen Boehm, cựu bác sĩ nội khoa:

” Tôi không thể nói thay cho tất cả các bác sĩ, nhưng tôi nghĩ rằng họ (các bác sĩ ) thường từ chối khi mục đích duy nhất của những phương pháp điều trị đó là kéo dài cuộc sống, chứ không phải chữa khỏi. Rõ ràng là khi một người gần chết, cuộc sống của họ là khủng khiếp , họ kiệt sức, ốm yếu , cơ thể của họ, đã từ lâu, không còn mang lại cho họ niềm vui nữa tuy nhiên, gia đình bệnh nhân thường yêu cầu chúng tôi làm mọi thứ.

Không muốn làm gia đình thất vọng, bệnh viện cho phép điều trị. Bác sĩ biết rằng sẽ không cứu được bệnh nhân mà còn khiến họ đau đớn và dẫn đến một loạt những phản ứng phụ khó chịu và mệt mỏi khác. Điều này, về cơ bản là điều trị để chết.

Là bác sĩ, chúng tôi thấy việc này xảy ra hàng ngày , nó cực kỳ vô nhân đạo. Bản thân tôi sẽ không cho phép bệnh nhân hóa trị hoặc lọc máu hoặc đặt máy thở, nếu không có hy vọng phục hồi.

Gia đình tôi biết điều này, tôi để lại di chúc thể hiện mong muốn của tôi nếu việc điều trị là vô ích.

Hãy để tôi kể chuyện này:

Tôi đã có một đồng nghiệp, anh ta là một chàng trai khá trẻ, ở độ tuổi 40, có con đang đi học. Anh được chẩn đoán mắc GBM, dạng u não nguy hiểm nhất và còn khoảng 4 tháng nếu không điều trị hoặc có thể lâu hơn một chút.

Khi được hỏi anh đang cân nhắc điều trị gì, anh suy nghĩ một lúc, rồi thì thầm : ” Đi biển ” .

Anh đưa gia đình đi du lịch châu Âu, anh chơi với con, trên bãi biển. Họ đi du lịch qua những nơi vui vẻ và thú vị. Anh ấy đã có những bữa ăn tuyệt vời, ấm áp cùng vợ con trong những quán cà phê nhỏ. Họ đã thử nhiều loại rượu vang hảo hạng và rất nhiều món ăn ngon. Họ giữ lại rất nhiều niềm vui và những kỷ niệm đẹp trong trái tim suốt chuyến đi đó. Khi bệnh tình trở nên nặng hơn, anh trở về Mỹ và vào bệnh viện , và anh ta chết ở nhà, được bao quanh bởi gia đình, vài tuần sau đó.

Tôi nghĩ anh ấy là người đàn ông rất khôn ngoan.

Anh ta đã thấy, giống như tôi, tất cả những người được trị liệu sẽ kéo dài cuộc sống của họ, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng sẽ tàn phá gia đình của họ cả về mặt cảm xúc và tài chính. Những tháng cuối cùng của họ trên trái đất này được dành để phục hồi sau khi điều trị hoặc vượt qua cuộc phẫu thuật. Họ đã bỏ lỡ cơ hội của mình cho một sự ra đi yên bình, đáng yêu với những người thân yêu của họ, thay vào đó họ chờ vòng hóa trị tiếp theo, hoặc phẫu thuật hoặc lọc máu, v.v.

Tôi sẽ không bao giờ, cho phép điều đó xãy ra cho bản thân mình.

Khi thời gian của tôi kết thúc, tôi sẽ đi.

Với tất cả sự bình yên. /.


 

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

Xuyên Sơn

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

NGUY CƠ MẤT NƯỚC ĐANG ĐẾN TỪ BỘ GIÁO DỤC XUỐNG CẤP, VONG THÂN, KHÔNG CHÍNH DANH, KHÔNG TRUNG THỰC, THIẾU TRI THỨC VÀ KHÔNG CÓ TẦNG LỚP TRÍ THỨC

“Trí thức là cục phân” ( Trích thư Lê Nin gửi Goocky, Mao Trạch Đông nhắc lại câu này ).

Mao Trạch Đông nói : “Súng bầu (đẻ) ra chính quyền”.

Mao phản lại Marx : ” Chính trị là thống soái”

Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Mạnh Hảo từ rừng vào Sài Gòn và ở hẳn thành phố này cho đến nay. Cuối năm 1975, qua anh Trịnh Công Sơn, anh Nguyễn Mộng Giác, bạn Bửu Chỉ và một số bạn bè khác như

họa sĩ, nhà văn Khánh Trường, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, nhà văn Ngụy Ngữ, nhạc sĩ Trương Quốc Khánh… chúng tôi bắt đầu giao du với tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ ( mặc dù phần lớn tầng lớp ưu tú nhất này của Việt Nam cộng hòa đã di tản, đã vượt biên hoặc còn trong trại tù cải tạo).

Các bạn kể trên nhiều người đã qua đại học, có người mới đậu tú tài ngang tôi hết cấp 3 ngoài Bắc, mà sao các bạn giỏi thế, uyên bác thế, lại biết Pháp ngữ, Anh ngữ.

Tôi có dẫn vài ba bạn ngoài Bắc vào đã học ở Liên Xô, có học vị phó tiến sĩ hẳn hoi, đến giao du với các bạn đồng lứa Sài Gòn được nền giáo dục VNCH đào tạo, thì than ôi chúng tôi quả là mới i tờ rít…

Trong khi chế độ mới ( CS) luôn vỗ ngực khoe khoang chế độ ta ưu việt nhất từ chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục…

Trong lòng mình, tôi mặc cảm tự ti với các bạn Sài Gòn mà không dám nói ra vì xấu hổ.

Rằng thế hệ chúng tôi ngoài Bắc dốt hơn, được giáo dục sai lệch và sơ sài hơn các bạn được “chế độ Mỹ-ngụy” đào tạo….

Ai thắng ai không phải so về chém giết, súng đạn, mà phải so găng bằng tri thức, bằng học vấn…

May mà kho sách dịch Sài Gòn cũ đã dạy tôi thoát nạn mù tri thức,

cho tôi có đủ kiến thức có thể ngồi phản biện ngon ơ tất cả luận án tiến sĩ văn học, triết học, luật học, văn hóa học, sử học, mỹ học, ngôn ngữ học…

Nhắc lại điều này, lòng tôi cũng chẳng vui vẻ gì cho cam, nhưng trước sự thật, tôi không thể tảng lờ, câm miệng.

Nền giáo dục của Việt Nam cộng hòa trước 1975 nhân bản theo cách giáo dục của người Pháp, nên nó chính là nền giáo dục đúng nghĩa.

Còn nền giáo dục của “phe thắng trận” chúng ta là một nền giáo dục bị vong thân, nền giáo dục phục vụ chính trị, bị chính trị hóa.

Mà chính trị là gì, là thủ đoạn.

Còn GIÁO DỤC, VĂN HÓA VĂN NGHỆ… không lấy cái lợi, cái thủ đoạn làm mục đích, mà nó lấy CHÂN THIỆN MỸ LÀM MỤC ĐÍCH vậy.

Khẩu hiệu của Đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1930 và Đảng Lao Động Việt Nam từ năm 1951 vẫn cứ là “TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ”

Chao ôi, từ cổ đại đến nay, có nhà nước nào, chế độ nào diệt trí thức hay không, hay chỉ có ĐẢNG TA mới dám làm như thế ?

Cho đến nay, chúng tôi chưa hề thấy ĐẢNG TA công khai thừa nhận

KHẨU HIỆU DIỆT TRÍ THỨC kia là ấu trĩ, là sai lầm tả khuynh, cứ “làm thinh Việt Minh đồng ý”.

Đã chủ trương diệt trí thức thì làm sao tạo ra xã hội có học vấn, có văn minh ?

Chẳng lẽ nền giáo dục của chúng ta chủ trương diệt trí thức chỉ tạo ra các thế hệ thiếu tri thức làm công cụ cho chính trị mà thôi hay sao?

Thời chúng tôi học cấp 3, có một thầy giáo dạy văn rất hay, lại đẹp trai, nho nhã có nhiều bạn nữ khá nhan sắc muốn chọn thầy làm chồng tương lai, mới điều tra lý lịch thầy, biết cha thầy là ông quan huyện, lại là trí thức học trường hậu bổ do Tây đào tạo, bèn giật thót người không dám tiến tới nữa; vì thầy là thành phần xấu, con ông quan huyện là xấu, bố lại là trí thức còn xấu nữa, than ôi !

Thời chúng tôi đi học, hầu hết bọn con địa chủ, con tư sản …đều học giỏi và đều không được đi đại học.

Con bần cố nông dù dốt đặc cán mai cũng được cử đi đại học bên Liên Xô, Đông Đức…

HỌC TÀI THI LÝ LỊCH là vậy đó..

Một chế độ diệt người giỏi từ trong trứng nước, ưu tiên người dốt,

DỐT NÁT MUÔN NĂM, HỒNG HƠN CHUYÊN MUÔN NĂM…

thì giáo dục ơi, ta chào mi, vì mi lấy cái dốt, cái ngu làm mục đích…

Sau năm 1954, trong khoa học xã hội nhân văn, các giáo sư giỏi nhất như Cao Xuân Huy, Trương Tửu – Nguyễn Bách Khoa, Trần Đức Thảo,

Đào Duy Anh…sau này là Cao Xuân Hạo…đều bị cấm lên bục giảng đại học, cho đi chăn bò hay ngồi dịch sách.

Từ đó, người giỏi bị loại ra ngoài cơ chế xã hội, tôn trọng người dốt nát ngu đần thì giáo dục ơi mi còn sinh ra làm gì nữa.

Do vậy, mấy chục năm qua hầu hết học vị tiến sĩ là học vị phong bì, hầu hết học hàm PGS, GS là học hàm phong bì…

Một xã hội mua bằng cấp, mua học vị học hàm, mua quan bán chức công khai như ngày nay, thì giáo dục ơi, coi như em đã chết, sự thật đã chết, chân lý đã chết…

Do nền giáo dục lấy bần cố nông làm gốc lâu dài quá nên dân tộc Việt Nam hôm nay hầu như không còn đời sống tinh thần mang tính chân thiện mỹ nữa, tất cả phải nói dối lẫn nhau để tồn tại…

Than ôi, họa mất nước ở đây chứ đâu.,.

Sài Gòn ngày 19-8-2021

T.M.H.

Nguồn fb Trần Mạnh Hảo


 

THƯƠNG YÊU LÀ TRUNG THÀNH- Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

 Tình yêu vô hình, không nhìn thấy.  Nhưng tình yêu lại hiện hữu trong những gì hữu hình.  Gạt bỏ những gì hữu hình thì tình yêu cũng không còn chỗ đứng.  Tôi không thể yêu bông hoa nếu không có bông hoa.  Nhớ người nào là đã gặp người đó.  Thương là thương ai.  Vì thế, tình yêu là tổng hợp của cả tinh thần và thể xác.

 Yêu bằng ý nghĩ mà thôi là tình yêu không có thật.  Không ai có thể chỉ yêu bằng tư tưởng và cũng không ai cần tình yêu chỉ bằng câu ca dao.  Chúa Kitô cũng chối từ thứ tình yêu ấy: “Ðừng yêu Ta bằng lời” (Mt 7,21).  Ðã yêu là có rung động của con tim, có bâng khuâng của toàn vẹn con người, có tình cảm cao thượng của hy sinh.  Ðấy là tình yêu một lần Chúa đã nói: “Ta sẵn lòng chết vì chiên của Ta” (Gn 10,12).  Có thổn thức của xác thân dạt dào, Chúa cũng cảm thấy tâm hồn chất ngất buồn thương (Mt 26,38).  Và, trong cái rung động của toàn vẹn con người ấy cũng có thao thức đòi đáp trả: “Con có yêu Ta không?”  Chúa đã không hỏi Phêrô một nhưng đến ba lần (Gn 21,15-17).  Tất cả xúc cảm đó làm nên cung điệu yêu đương của đời người.

 Bông hoa đang khoe sắc ngoài kia nên tôi mới yêu được.  Như thế, làm sao tôi có thể chỉ yêu tinh thần của bông hoa mà lại không có xác thân?  Có con tim nên tôi mới biết thương mến.  Bởi đó, làm sao tôi có thể chỉ yêu bằng tinh thần thôi mà lại không có rung cảm của môi, mắt?  Yêu là có cả hai; linh hồn và thân xác.  Chỉ yêu bằng thân xác là tình yêu tật nguyền.  Chỉ yêu bằng tinh thần là tình yêu đánh lừa.  Cái dạt dào của thân xác là một yếu tố sáng tạo.  Sáng tạo ấy đưa đến nhiều chân trời tươi đẹp.  Khả năng rạo rực của con tim là ngôn ngữ của yêu thương.  Ánh nhìn.  Một khuôn mặt xinh.  Ngôn ngữ của thân xác là ngôn ngữ tuyệt vời của tình yêu, nó là dòng suối tươi mát cho cánh đồng.  Gạt bỏ dòng suối đó cỏ cây sẽ héo úa.

 Thân xác là ngôn ngữ của tình yêu nhưng không là tất cả tình yêu.

 Nó chỉ là một nốt nhạc mà thôi.  Nếu chỉ dùng một ngôn ngữ đó cho một hòa âm thì cung đàn không còn là cung điệu hòa hợp nữa, nó chỉ là tiếng re ré của một đơn điệu nhạt thếch.  Dòng suối phải được chảy theo nhánh nhỏ tưới cho cánh đồng.  Nếu suối tụ lại thì tình yêu sẽ chết vì dòng suối thay vì tưới mát sẽ làm lụt lội dâng đầy bùn phù sa.

 Không có gì buồn tẻ bằng bức họa chỉ có một mầu.  Ðấy không phải là tác phẩm nghệ thuật và tác giả không là nghệ sĩ.

 Thân xác là ngôn ngữ diễn tả và tiếp nhận tình yêu.  Nhưng một đốm lửa thì là ánh đèn cần thiết cho đêm đen, nếu cả đêm đen là lửa thì đấy không còn là đèn nữa mà là hỏa ngục bừng bừng.  Những ánh mắt, mùi thơm của hương tóc cũng vậy.

 Qua đối tượng hữu hình, tình yêu như cánh vườn mở ngõ, mời vào.  Tuy nhiên, lý trí thẩm định, hướng dẫn và ban tặng cho tình yêu giá trị.  Trí tuệ con người có lúc bừng sáng, trong như hạt nước mưa, nhưng cũng không vắng những ngày đục mù sương.  Rung cảm của thân xác có những lúc rì rào như lúa chiều gợn sóng, ên đềm.  Có ngày nức nở níu kéo, ì ầm sóng vỗ.  Vì tội lỗi nên bản đàn đã lệch cung, sai giọng.  Ði tìm một trật tự để nối chắp lại, gạn lọc, để so cho bằng, để giữ đúng nhịp là một vất vả gian truân.  Dù cố gắng đến đâu người nghệ sĩ cũng có lúc vẩy sai nét mực, tô đậm một mầu.

 Trung thành là mọi người phải đi con đường của mình.  Khi nói mọi người phải đi con đường của mình, không có nghĩa là họ không nhìn thấy những lối rẽ ngang.  Kẻ cho thập giá như lời mời gọi, chẳng có nghĩa là họ không nghe thấy tiếng gọi của một giọng nói dịu dàng bên nương dâu, bờ trúc.  Kẻ nhìn thập giá như trời cao để bước tới không có nghĩa là họ không thấy bờ tóc bay như một ngôn ngữ rất nôn nao.  Trong hôn nhân có ai tuyệt đối thương yêu bạn đời của mình đến nỗi không bao giờ có một ngăn nhỏ nghĩ đến những bóng hình lãng mạn khác?

 Lối rẽ bên đường đi có làm tôi âu lo.  Ðôi lúc tình cảm dịu dàng có làm tôi bâng khuâng.  Nhưng không vì thế mà lý tưởng của tôi hao mòn.  Lối rẽ bên đường, tình cảm dịu dàng ấy làm tăng khả năng tự do lựa chọn của người trong cuộc.  Nếu không có những ngã rẽ, những ánh nhìn khác thì tình yêu trong hôn nhân cũng như lý tưởng của người tu sĩ không còn cố gắng nữa, vì còn gì lựa chọn nữa để mà tiếp tục chọn lựa.  Có những ngã rẽ nên tôi phải dừng lại hỏi lòng mình, tôi phải cố gắng giữ gìn con đường của tôi, tôi phải phấn đấu trung thành.  Lúc hỏi lại lòng, lúc phấn đấu là lúc tình yêu dành cho người yêu, dành cho lý tưởng sâu đậm hơn.

 Người bạn đời trong hôn nhân là những con đường của nhau đi.  Nếu người bạn đời hoàn hảo thì con đường hoàn hảo.  Chẳng ai muốn rẽ sang một lối mòn nếu con đường đang đi đẹp ngát hương về lối mộng.  Nhưng vì tội lỗi nên người yêu không hoàn hảo, rồi, do vậy, đường đi của họ có gai.  Ðây là lý do không trung thành.  Nếu người tu sĩ bước trên đường lý tưởng toàn những ngọt ngào thì làm gì có lỗi lời thề.  Nhưng thập giá là lý tưởng chỉ đủ hé ánh sáng cho họ bước và giữ lại bóng tối để họ phải tin.  Trầm luân và vinh quang của họ nằm ở đó.

 Người yêu tôi không hoàn hảo nên đường tôi đi gập ghềnh.  Có thể vì đường đi gập ghềnh, không toại nguyện, tôi cắt bỏ lời cam kết để đi tìm một con đường hạnh phúc khác hoàn hảo hơn?  Nếu tôi hủy bỏ lời thủy chung để tìm một người có khả năng làm tôi thỏa mãn thì tôi trả lời làm sao cho vấn nạn: Tôi không hoàn hảo.  Chính tôi cũng không là con đường thẳng cho tôi đi.  Tôi không thỏa mãn được tôi.  Tôi muốn giàu mà thực tại tôi cứ nghèo.  Tôi muốn có nhan sắc mà thực tại tôi cứ tầm thường.  Tôi muốn người khác phải để ý đến tôi mà thực tại tôi cứ khổ sở vì thương nhớ người ta.  Khi chính tôi không thỏa mãn tôi được thì tôi có thể từ giã mình để đi tìm cái tôi khác được không?  Tôi có thể xây dựng cho đời tôi thêm phong phú chứ không chối từ được chính mình.

 Không chối từ được chính mình thì làm sao có thể biện minh vì bất toàn của người bạn đời mà đi tìm người yêu mới?  Mỗi người có một khả năng khác biệt, khi nào thì tôi có thể đi tìm được có tất cả khả năng để thỏa mãn tôi hoàn toàn?

 Kiếm tìm là tự thú rõ ràng tôi là người thiếu thốn, vì nếu hoàn hảo thì làm gì phải cậy nhờ đến ai.  Mà tôi có khuyết điểm thì tôi cũng chẳng thể đem hạnh phúc vô bờ cho người tôi đang sống.  Tôi cũng là nguyên nhân khổ đau, là gai nhọn trên đường đi của người yêu tôi.

 Hạnh phúc hệ tại luôn luôn được thỏa mãn hay là cố gắng làm thỏa mãn người?

 Cuộc sống chỉ là tương đối.  Tôi không thể làm người bạn đời trọn vẹn hạnh phúc.  Người bạn đời cũng chẳng thể cho tôi mọi ước mơ.  Vì cả hai đều yếu đuối và mắc nhiều lỗi lầm, cả hai không là thiên thần mà là người.  Là người nên tôi không thể làm thỏa mãn người được.  Không làm thỏa mãn người được cũng có nghĩa là người cũng chẳng thể làm thỏa mãn được tôi.  Như thế, hạnh phúc là cùng nhau lắng nghe tiếng hót của con họa mi.  Cùng chịu gió lạnh của mưa.  Chịu khổ của bão.  Hạnh phúc trong hôn nhân là cùng nhau góp một ước mơ.  Cùng nhau gánh nỗi đau của đời.

 Cái chua của chanh, cái ngọt của đường làm nên ly nước mát chứ không riêng có đường, không hẳn chỉ là chanh.

** *

Chúa biết rằng cứ để con trong thế gian thì tốt cho con hơn là đem con khỏi thế gian.  Chúa chỉ xin Chúa Cha đừng để con thuộc về thế gian mà thôi.

 Lạy Chúa, nếu vậy, con không xin Chúa cắt mọi ngã rẽ trên đường con đi.  Vì như thế, con đường của con sẽ nhạt nhẽo.  Con cũng không xin cho con trở thành vô cảm trước những vẻ đẹp mà Chúa đã tạo dựng.  Con chỉ xin ơn can đảm để ngắm bông hoa trên đồi nhưng thương bông hoa trong vườn.  Con không sợ hãi những giọt chanh chua vì con biết Chúa cũng cho con những muỗng đường.  Con chỉ xin được khôn ngoan để biết hòa hợp sao cho đúng hương vị ly nước mát mà Chúa đã ban tặng con trong trưa hè oi nóng.

** *

Phêrô ra sức rủa mình mà thề: “Tôi không hề biết người các ông nói đó là ai” (Mc 14,71).  Như thế, tình yêu của Phêrô là tình phản bội.

 Chúa quay lại nhìn Phêrô, và Phêrô nhớ lại lời Chúa khi Ngài bảo ông: “Hôm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối Ta ba lần.  Và ra ngoài, ông khóc lóc thảm thiết” (Lc 22,61-62).  Như thế, lỗi lời thề lại trở nên yêu thương sâu đậm.  Lỗi lời thề lại trở nên trung thành, gắn bó thiết tha.

** *

Trung thành là cố gắng gìn giữ mối giây liên hệ, là không cắt đứt.  Nhưng nếu làm đứt mà tha thiết nối chắp lại thì đấy mới càng chứng tỏ ý nghĩa sâu xa của trung thành.  Nếu không gặp thử thách thì sao quả quyết được là không bao giờ vấp ngã?  Nếu tôi không dám chắc tôi không bao giờ vấp ngã thì tôi làm gì có quyền bắt kẻ khác hoàn hảo?

 Trung thành không hẳn chỉ có nghĩa là không bao giờ lỗi phạm, mà là từ lỗi phạm, tôi trở về với người tôi yêu, với kẻ yêu tôi.

** *

Có hai thứ trung thành.  Trung thành bằng tình yêu và trung thành bằng sợ hãi.  Trung thành trong hôn nhân, trung thành của đời tu cũng vậy.

 Sợ hãi cũng có trung thành, nhưng trong trung thành có mầm phản loạn, vì trung thành của sợ hãi là nô lệ.  Kẻ đòi buộc trung thành bằng sự sợ hãi thì trả thù kẻ bội phản.  Người lấy tình yêu làm sợi giây trung thành thì tha thứ cho kẻ phản bội.  Chúa Kitô đã chọn con đường thứ hai.

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

(Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc)

 From: Langthangchieutim


 

ĐỘC TÀI! (Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

Nguyen Thi Chau

ĐỘC TÀI!

(Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

KD: Để hiểu độc tài như thế nào, xin đọc bài viết rất sinh động này. Và xin đăng cái còm của mình (có bổ sung):

“Độc tài quá hoa tâm bệnh. Độc ác quá hoá cô độc. Sống giữa nhung lụa, phù hoa nhưng tâm hồn nghèo xác xơ cùng kiệt. Quyền lực đỉnh cao nhưng hạnh phúc tận vực sâu. Sống trong sự run sợ  của con người nhưng chết đi trong mừng rỡ của cộng đồng.

Và những kẻ độc tài có một điểm bản chất- ko bao giờ tin ai. Cực kỳ cô độc

Một sự Gieo- gặt sòng phẳng đích đáng!.

Title bài chủ Phây xin tạm đặt 

—————— 

Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình.

Khi ông đã thống trị Liên Xô một cách tuyệt đối – nắm trong tay quốc gia rộng lớn nhất thế giới, chỉ huy hàng triệu binh sĩ, định đoạt số phận của cả những dân tộc – ông vẫn đặt bên gối một khẩu súng lục đã lên đạn. Mỗi đêm, ông thay đổi phòng ngủ, không bao giờ nằm lại cùng một chiếc giường hai đêm liền. Ông từ chối đi lại trên cùng một con đường cũ. Ông không ngừng cải tạo các dinh thự, thêm những hành lang bí mật, những cánh cửa khóa layered, những lối thoát hiểm ngoằn ngoèo nhằm đánh lừa kẻ ám sát tiềm tàng.

Đó không phải là thói lập dị. Đó là bản năng sinh tồn của một người hiểu rõ hơn ai hết cách mà các nhà độc tài rời bỏ thế gian.

Vì Stalin đã trèo lên đỉnh quyền lực bằng cách khiến người khác chết trước mình.

Ông thấu suốt cơ chế của những vụ ám sát chính trị. Chính ông đã đạo diễn chúng. Ông đã chứng kiến đối thủ tan biến trong ngục tù, thấy đồng chí cũ bị bắn trong tầng hầm tối, ra lệnh những cuộc thanh trừng nuốt chửng hàng ngàn sinh mạng. Ông biết rằng những lưỡi dao ông đã phóng ra có thể bất cứ lúc nào quay ngược lại. Người trung thành hôm nay có thể đang mài dao ngày mai. Đồng minh đáng tin nhất cũng có thể hóa thành kẻ sát nhân.

Thế nên Stalin không tin ai. Và ông dựng nên cả cuộc đời mình trên nền tảng duy nhất ấy: sự nghi kỵ tuyệt đối.

Nỗi sợ ấy định hình lại mọi ngóc ngách trong cuộc sống ông. Một buổi sáng, nhân viên đến làm việc và bỗng thấy mình bị đuổi mà không một lời giải thích. Lính gác bị thay phiên liên tục để không ai kịp thuộc lòng nhịp sống của ông. Đội cận vệ thay đổi khuôn mặt thường xuyên đến mức sự quen thuộc trở thành điều xa xỉ.

Ngay cả các bác sĩ cũng run rẩy khi chữa trị cho ông – một chẩn đoán sai, một liều thuốc không hiệu nghiệm, và họ có thể bị kết tội là kẻ phá hoại hay gián điệp ngoại bang. Họ tiếp cận sức khỏe của Stalin như những người tháo ngòi nổ, tim đập trong lồng ngực.

Các cố vấn học được rằng sống sót nghĩa là cúi đầu và im lặng. Không đưa ra nhận định trung thực. Không báo tin xấu. Đặc biệt không được phản biện Tổng Bí thư. Họ chỉ nói những gì ông muốn nghe, gật đầu trước mọi lời ông phán, và thầm cầu mong được về nhà nguyên vẹn đêm ấy.

Vì vòng tròn thân cận của Stalin đều thấu một chân lý lạnh lẽo: gần quyền lực tức là gần tử thần.

Nhưng nỗi kinh hoàng không dừng lại bên trong tường thành Kremlin. Nó lan tỏa như ung thư, nhiễm độc toàn bộ cơ thể nhà nước Xô Viết.

Qua cuộc Đại Thanh trừng những năm 1930, chế độ Stalin hành quyết hàng trăm nghìn người, giam cầm và lưu đày hàng triệu linh hồn khác. Các tướng lĩnh từng dẫn quân chiến thắng bị bắn như phản tặc. Các bộ trưởng trung thành suốt mấy thập kỷ tan biến trong đêm. Nhà khoa học, nghệ sĩ, giáo viên, công nhân – bất kỳ ai cũng có thể bị bóng đêm nuốt chửng. Cảnh sát mật gõ cửa lúc nửa đêm, và con người bỗng hóa thành hư vô.

Trung thành không mua được sự an toàn. Năng lực đôi khi lại là lời mời gọi tử thần. Quá giỏi việc, bạn có thể bị coi là mối uy hiếp. Quá được lòng cấp dưới, bạn có thể bị nghi xây dựng phe cánh. Vị trí an toàn nhất là tầm thường và vô hình.

Cả nhà nước Xô Viết dần mang tâm lý của lãnh tụ: đa nghi, bí ẩn, tàn nhẫn. Sự thật trở thành lưỡi dao, nên người ta nói dối. Trung thực mời gọi roi vọt, nên mọi người giấu nhẹm vấn đề. Hệ thống lẽ ra kiến tạo thiên đường cộng sản lại dựng nên một cỗ máy khổng lồ chuyên ăn thịt chính con dân mình.

Stalin không tin ai vì ông tin rằng chẳng ai đáng tin. Và có lẽ ông đúng – bởi chính ông cũng chẳng đáng tin. Sao người khác lại khác được?

Sự mỉa mai thật nghiệt ngã: chính nỗi đa nghi ông tưởng sẽ che chở cho mình lại gây ra những thảm họa khôn lường.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, văn hóa sợ hãi của Stalin làm tê liệt mọi quyết sách của Liên Xô. Sĩ quan biết rõ điểm yếu quân sự nhưng không dám báo – báo tin xấu đồng nghĩa với viên đạn. Tình báo về cuộc xâm lược của Đức bị bỏ ngoài tai vì dám trái ý Stalin là tự sát. Báo cáo giả thay thế báo cáo thật, bởi sống sót nghĩa là nói những lời lãnh đạo muốn nghe.

Thế nên khi Đức Quốc xã tràn qua biên giới tháng 6 năm 1941, Hồng quân thảm khốc không chuẩn bị dù đã có vô số lời cảnh báo. Cuộc tấn công chớp nhoáng của Đức xé nát lực lượng Xô Viết. Hàng triệu binh sĩ ngã xuống, bị bắt hoặc bị bao vây chỉ trong vài tháng đầu. Thành phố sụp đổ. Cả quân đoàn tan rã như cát bụi.

Những cuộc thanh trừng đa nghi trước đó đã làm suy kiệt Hồng quân – Stalin hành quyết hoặc giam cầm nhiều tướng tài nhất vì sợ họ thành đối thủ. Giờ đây, văn hóa dối trá và sợ hãi khiến đất nước trần trụi trước lưỡi hái chiến tranh mà ai cũng thấy trước nhưng không ai dám chuẩn bị.

Cái giá phải trả thật kinh hoàng. Hơn 26 triệu công dân Xô Viết bỏ mạng trong cuộc chiến – cả quân nhân lẫn thường dân. Nhiều sinh mạng ấy có thể quy trực tiếp hoặc gián tiếp về những rối loạn do nỗi đa nghi của Stalin gây ra.

Song chiến thắng trước phát xít Đức chỉ khiến ông nghi ngờ thêm.

Những năm cuối đời, nỗi đa nghi quay ngược vào trong với cơn cuồng nộ mới. Ông tin rằng chính các bác sĩ – những người giữ mạng sống cho ông – đang âm mưu hại ông. “Âm mưu Bác sĩ” 1952-1953 chứng kiến hàng loạt y sĩ danh tiếng, nhiều người gốc Do Thái, bị bắt và buộc tội mưu sát lãnh đạo.

Đó là cơn điên rồ. Nhưng là cơn điên có gốc rễ – Stalin đã xây một hệ thống nơi lý thuyết âm mưu thành chính sách quốc gia, nơi đa nghi được thưởng, nơi nhìn kẻ thù khắp nơi được ca tụng là trí tuệ thay vì bệnh hoạn.

Stalin tự cách ly mình khỏi thực tại ngày một xa. Càng ít người được tiếp cận ông. Càng ít tiếng nói đến được tai ông. Vòng tròn tin tưởng – vốn đã nhỏ bé – co lại thành hư vô. Ông là người quyền lực nhất Liên Xô, cai trị một siêu cường trải dài từ Đông Âu đến Thái Bình Dương.

Và ông cô độc đến tận cùng đáy lòng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1953, Joseph Stalin bị đột quỵ nặng. Ông ngã quỵ trong dinh thự Kuntsevo, không thể cất tiếng kêu cứu.

Và đây là vòng tròn định mệnh của nỗi đa nghi: lính gác do dự hàng giờ không dám bước vào phòng.

Tại sao? Vì ông đã ra lệnh nghiêm cấm làm phiền. Vì bước vào mà không được phép – dù để cứu mạng – có thể lãnh án tử. Vì văn hóa kinh hoàng ông gieo rắc khiến người ta sợ cơn thịnh nộ của ông hơn là lo cho sinh mạng ông.

Nhà độc tài nằm trên sàn lạnh, nửa người tê liệt, không nói không động, trong khi cận vệ và nhân viên đứng ngoài cửa, run rẩy không dám hành động.

Khi bác sĩ cuối cùng được gọi đến và dám bước vào, Stalin đã nằm đó hàng giờ. Sự chậm trễ làm tình trạng ông tồi tệ hơn nhiều. Họ cố cứu chữa, nhưng tất cả đã quá muộn.

Joseph Stalin qua đời ngày 5 tháng 3 năm 1953, thọ 74 tuổi.

Khẩu súng dưới gối không cứu được ông. Những căn phòng luân phiên không cứu được ông. Biện pháp an ninh, thanh trừng, hành quyết, cả một đế chế kinh hoàng – chẳng gì cứu nổi ông.

Cuối cùng, chính nỗi đa nghi đã định nghĩa cả cuộc đời ông lại góp phần đưa ông đến cái chết. Nỗi sợ ông gieo vào lòng người khác khiến không ai dám kịp thời ra tay khi ông cần nhất.

Cuộc đời Stalin chứng minh một chân lý sâu thẳm và đáng sợ: quyền lực tuyệt đối không xua tan nỗi sợ, nó chỉ nhân nó lên gấp bội.

Khi cai trị bằng kinh hoàng, bạn tạo ra một thế giới mà mọi người – kể cả chính mình – sống trong nỗi sợ triền miên. Khi trung thành bị ép buộc bằng bạo lực, bạn mãi mãi không thể tin nó chân thật. Khi đã loại trừ mọi mối đe dọa, bạn chỉ còn lại những kẻ che giấu sự thật vì trung thực đồng nghĩa với tử thần.

Stalin tưởng mình đang dựng nên pháo đài an toàn. Thực ra ông đã xây một nhà tù. Và ông là tù nhân chính – cô đơn nhất.

Ông thống trị một siêu cường vĩ đại. Ông chỉ huy đạo quân hùng mạnh. Ông nắm trong tay sinh mạng hàng trăm triệu người. Các quốc gia run sợ trước sức mạnh Xô Viết. Các nguyên thủ coi ông ngang hàng trên trường quốc tế.

Vậy mà mỗi đêm, ông ngủ như một kẻ bị truy nã. Thay giường liên tục. Vũ khí kề bên. Không tin ai. Sợ hãi mọi người.

Người gieo rắc kinh hoàng cho triệu triệu con người lại sống trong chính kinh hoàng ấy. Kiến trúc sư của nhà nước giám sát lại là kẻ bị giám sát chặt chẽ nhất. Nhà độc tài có quyền giết bất kỳ ai lại biết rằng bất kỳ ai cũng có thể muốn giết mình.

Đó là cái giá cuối cùng của bạo quyền. Không chỉ những gì nó gây ra cho nạn nhân – dù đã đủ kinh hoàng. Mà còn những gì nó làm tan nát tâm hồn chính kẻ bạo chúa.

Stalin dành những năm cuối đời trong cô lập, đa nghi và sợ hãi. Ông chết một mình trên sàn lạnh, bên ngoài là những con người quá kinh hoàng để cứu ông. Hệ thống kinh hoàng ông tạo dựng đã hoàn tất vòng tròn: nuốt chửng cả chính người sinh ra nó.

Quyền lực không có lòng tin chẳng phải sức mạnh. Đó chỉ là một xiềng xích vô hình mà không khẩu súng nào có thể bắn đứt.

Như Like Thần Chưởng

Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Thoibao.deTam Truong Nguyen

 Mọi thấy cậu con trai của bà bộ trưởng bộ giáo dục có cái nét giống ông Tổng Bí thư Tô Lâm không ?

Lan Hue

 Tối qua xem bản tin VTV, tôi đã ngồi lặng đi rất lâu. Không phải vì bất ngờ, mà vì cái cảm giác bất lực quen thuộc ấy lại quay về.

Một cô gái 18 tuổi, vừa đứt lìa chân trên phố Nguyễn Huy Tự vào ngày 30/5/2025, đã chết sau một tuần trong bệnh viện. Cô chết ngay trước kỳ thi tốt nghiệp, cái tuổi mà đáng lẽ ra cô phải được bước vào phòng thi, chứ không phải nhà tang lễ.

Người cầm lái chiếc BMW X3 30H-369.09 đi ngược chiều, tông thẳng vào cô, tối qua được VTV và Công an Hà Nội xác nhận là ông Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

Và rồi câu chốt của bản tin: Ông Cương được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự vì “thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả và gia đình nạn nhân có đơn xin miễn”.

Tôi nghe xong, chỉ thấy tim mình thắt lại. Chúng ta đã từng tìm hiểu luật và luật pháp ghi rằng, trong một vụ tai nạn chết người do đi sai làn, khởi tố không phụ thuộc vào đơn bãi nại. Đơn bãi nại chỉ là tình tiết giảm nhẹ. Luật sư nào cũng nói vậy. Nhưng hóa ra, luật đó chỉ đúng khi người gây tai nạn là dân thường chăng?.

Còn khi người gây tai nạn là một nguyên Đại biểu Quốc hội, chồng của một người hiện đang giữ chức Bộ trưởng, thì luật lại có một lối rẽ khác: lối rẽ mang tên “miễn truy cứu”.

Tôi bất lực vì tôi nhớ lại hơn một năm qua, báo chí chỉ dám viết tắt “N.S.C.”, không dám đăng ảnh, không dám gọi tên. Tôi bất lực vì tôi thấy những bó hoa trắng người dân đặt ở gốc cây số 55 Nguyễn Huy Tự bị dọn sạch dưới sự giám sát của công an, phải có người đứng canh. Đến một nén nhang, một bông hoa tưởng niệm cho người đã khuất cũng không được yên.

Và tôi mất niềm tin, không phải vì một cá nhân được miễn tội, mà vì cách người ta hợp thức hóa sự miễn tội đó một cách trơn tru, đúng quy trình đến đáng sợ. Họ dùng chính những từ ngữ đẹp đẽ nhất của pháp luật – “thành khẩn”, “khắc phục”, “nhân đạo” – để bao bọc cho một sự thật trần trụi: một mạng người đã mất, nhưng người gây ra cái chết đó không phải chịu một ngày tù nào.

Tối qua, sau bản tin, tôi lướt Threads, thấy cả triệu bài viết. Không ai chửi bới vô cớ. Người ta chỉ hỏi một câu duy nhất: Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Câu trả lời ai cũng biết. Và chính vì ai cũng biết câu trả lời, nên niềm tin mới vỡ vụn.

Chúng ta không đòi hỏi gì ghê gớm. Chúng ta chỉ đòi hỏi công lý phải mù mắt như bức tượng của nó: không nhìn xem kẻ đứng trước vành móng ngựa là đại biểu hay dân thường. Nhưng tối qua, VTV đã cho chúng ta thấy, công lý ở đây có mắt, và nó nhìn rất rõ ai là ai.

Cô gái 18 tuổi ấy đã không có cơ hội đi thi. Còn chúng ta, những người ở lại, đang trượt dài trong một kỳ thi khác – kỳ thi về niềm tin. Và thật đau đớn, chúng ta đang rớt. 


 

SỰ NGÂY THƠ CỦA CON TIM-Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.

Thần học gia Karl Rahner đưa ra một nhận xét rất sâu sắc về đoạn văn trong Phúc Âm, nơi Chúa Giê-su bị đóng đinh và nói về những kẻ hành hình Ngài: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Rahner cho rằng họ biết chính xác mình đang làm gì.  Họ biết mình đang giết một người vô tội, rằng họ đang đổ máu người vô tội.  Vậy tại sao Chúa Giê-su lại nói như vậy?

 Sự ngây thơ của họ là gì?  Sự cả tin của họ là gì? 

Câu trả lời của Rahner: Họ không biết mình đang làm gì vì họ không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Và điều đó có thể dẫn đến sự ngây thơ trong tâm hồn.  Tại sao vậy?

 Có một nơi sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta, một nơi mà chúng ta hiếm khi ý thức được, nơi mỗi người được Chúa yêu thương vô điều kiện.  Những người đóng đinh Chúa Giê-su không biết mình đang làm gì vì họ không nhận thức được điều đó.  Đó là sự mù quáng, sự thiếu hiểu biết của họ.  Mặc dù bề ngoài có vẻ như vậy, nhưng họ không biết mình đang làm gì.

 Điều này cũng đúng với chúng ta.  Quá thường xuyên chúng ta đóng đinh người khác và chính mình vì sự thiếu hiểu biết này: chúng ta không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Hậu quả là, đôi khi chúng ta tàn nhẫn trong phán xét và dễ làm những điều làm tổn hại đến phẩm giá của mình.  Chúng ta đấu tranh để không trở thành một trong những kẻ hành quyết trên thập tự giá bởi vì, cuối cùng, chúng ta hành động vì thiếu hiểu biết.  Chúng ta không biết gì hơn, giống như sự ngây thơ của đứa trẻ tự làm tổn thương mình vì thiếu hiểu biết.

 Nhưng đây không phải là một nhận định mới.

 Thần học cổ điển đã phân biệt giữa sự ngu dốt có lỗi và sự ngu dốt không có lỗi.  Loại thứ hai, còn được gọi là sự ngu dốt không thể khắc phục, được xem là biện minh cho việc người ta không phạm tội và không chịu trách nhiệm.  Do đó, có quan điểm cho rằng bạn có thể làm những việc sai trái nhưng không phạm tội vì bạn hành động trong sự ngu dốt.  Điều này dựa trên niềm tin rằng bạn chỉ có thể hành động một cách đạo đức và có trách nhiệm nếu bạn thực sự biết mình đang làm gì.  Để phạm tội, bạn phải hành động một cách “có chủ ý.”  Tuy nhiên, đó là một điều kiện khá phức tạp.

 Nhìn vào thế giới ngày nay, tôi dám khẳng định rằng trong một số vấn đề đạo đức quan trọng, chúng ta đang hành động trong sự ngu dốt không thể cứu vãn.  Nói một cách đơn giản, chúng ta không biết điều gì tốt hơn.  Chỉ có kiểu ngu dốt đã cho phép những người chân thành đóng đinh Chúa Giê-su mới có thể giải thích tại sao chúng ta, những người tốt và chân thành, lại có thể mù quáng đến vậy, cả về mặt cộng đồng và cá nhân, đối với người nghèo, đối với những đòi hỏi về kinh tế và xã hội mà đức tin của chúng ta đặt ra.  Lý do thực sự khiến chúng ta có thể sống thoải mái trong khi khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng nới rộng không phải vì chúng ta xấu xa và vô lương tâm, mà đúng hơn, như Rahner nói, chúng ta không biết mình được yêu thương đến mức nào.

 Điều tương tự cũng đúng với thái độ của chúng ta đối với tình dục.  Chúng ta đã có thể coi thường tình dục, tách rời nó khỏi sự thiêng liêng của hôn nhân, và biến nó thành một phần mở rộng của việc hẹn hò (hoặc đơn giản là tình dục giải trí) chỉ vì một sự thiếu hiểu biết cố hữu nào đó.  Chúng ta không biết điều gì tốt hơn, không phải vì chúng ta thiếu lương tâm, mà vì chúng ta thiếu bất kỳ cảm nhận thực sự nào về tình yêu sâu sắc của Chúa và phẩm giá mà nó ban cho chúng ta. 

Giống như những kẻ hành quyết Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc trong việc hợp lý hóa, coi nhẹ và bù đắp chính vì chúng ta không biết mình đang làm gì.  Chúng ta không có nhận thức rõ ràng về tình yêu thương của Chúa dành cho mình.  Do đó, rất dễ đánh mất cái nhìn khách quan, cảm thấy bị loại trừ và làm những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ làm nếu nhận thức đầy đủ hơn về phẩm giá của mình.

 Chẳng có gì lạ khi chúng ta chấp nhận những điều kém cỏi hoặc bất cứ thứ gì hứa hẹn sự thoải mái và an toàn.  Chắc chắn Chúa Giê-su đang nhìn chúng ta và nói: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Nhưng liệu điều đó có đúng không?  Chúng ta có thể thực sự viện cớ thiếu hiểu biết và vô tội để nói rằng mình không biết gì hơn được không?

 Tôi nói có, không phải vì chúng ta ngu ngốc hay thiếu thông minh.  Đây là sự ngây thơ trong tâm hồn.  

Chúng ta vô tình không nhận thức được tình yêu thương vô bờ bến của Chúa dành cho chúng ta.

 Rất ít người trong chúng ta, ở bất kỳ cấp độ hiện sinh nào, từng nghe Chúa nói với mình: “Ta yêu con!”  Rất ít người trong chúng ta từng nghe và cảm nhận được những gì Chúa Giê-su hẳn đã cảm nhận khi chịu phép báp-têm, khi Ngài nghe Cha mình phán: “Con là con yêu dấu của Ta; Ta vui mừng vì con!”  Thật vậy, rất ít người trong chúng ta từng nghe một người khác, từ tâm hồn đến tâm hồn, nói với mình: “ Ta yêu con vô điều kiện! Ta vui mừng vì con!”  Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên khi, giống như những kẻ hành hình Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc, với lương tâm trong sáng, đôi khi lại mù quáng và không trung thực với chính mình?

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.  Sự phản bội chỉ có thể xảy ra nếu trước đó người ta đã nghe những lời: “Tôi yêu bạn.”  Những kẻ hành hình Chúa Giê-su đã hành động trong bóng tối xuất phát từ việc chưa bao giờ nghe thấy điều đó.  Tôi cho rằng điều tương tự cũng đúng với nhiều người trong chúng ta.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Ta sống ở đời này để làm gì? – Cha Vương

Mến chào ngày mới! Chúc Bạn và gia đình một ngày tốt lành trong tình yêu và sự quan phòng của Chúa. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới biến đổi chiến tranh thành yêu thương nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 17/08/2026.     (t3-21)

GIÁO LÝ: Ta sống ở đời này để làm gì? Ta sống ở đời này để nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, để làm việc lành theo ý Thiên Chúa, và để một ngày nào đó sẽ đạt tới quê Trời.

SUY NIỆM:  Được làm người có nghĩa là đến từ Thiên Chúa và đi về với Thiên Chúa. Nguồn gốc của con người đến từ cao xa hơn là từ cha mẹ họ, nghĩa là đến từ Thiên Chúa, nơi có chứa hạnh phúc của cả trời đất, nơi ta được chờ đón để hưởng hạnh phúc đời đời vô hạn định. Ta đang sống ở trần gian này. Đôi khi, ta thấy gần gũi với Đấng Tạo hóa, nhưng thường là chẳng thấy gì. Để dẫn ta vào đúng hướng tốt, Thiên Chúa đã sai con của Người là Chúa Giêsu để giải thoát ta khỏi tội, cứu ta khỏi mọi sự dữ và dẫn ta vào sự sống thật không sai lầm. Người “là Con Đường, là Sự Thật, là Sự Sống”. (Ga 14,6) (Youcat, số 1)

  Điều gì đang làm bạn không nhận biết và yêu mến Thiên Chúa? 

Có phải là bạn đang bị cuốn hút trong cơn lốc của văn minh, của tiền bạc, danh vọng và hưởng thụ. Bạn hãy nghĩ xem, nếu con người quá chú trọng đến nhu cầu thể xác mà quên đi đời sống tâm linh, thì họ đã tự tách ra khỏi quỹ đạo của Sự Sống, tự đánh mất chính mình. Họ chỉ là những thây ma không hồn, gieo tai hoạ và khổ đau cho nhau. Con người sẽ đối xử tàn bạo với nhau nếu con người chỉ coi mình thuần túy là loài vật mà chối bỏ niềm tin vào Trời, vào Thiên Chúa, vào Ðấng tạo thành. Thiết tưởng rằng bạn cũng cảm nhận được điều này trong cơn đại dịch COVID này…

LẮNG NGHE: Thiên Chúa muốn cho mọi người được ơn cứu rỗi và nhận biết sự thật (the truth) (1 Tm 2:4)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… Vì chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

THỰC HÀNH: Hãy dành một chút thời giờ để nhìn lại mục đích đời người là gì?

From: Do Dzung

*****

Hạt Bụi Đời Con….!


 

“TIẾNG ĐÀN VIOLIN TRONG MƯA”

Cang Huynh

“TIẾNG ĐÀN VIOLIN TRONG MƯA”

Jonas Kovač là một nghệ sĩ violin đường phố ở Praha. Anh chưa từng học ở nhạc viện hay chơi trên những sân khấu lớn; sân khấu của anh là Quảng trường Phố Cổ, mái nhà của anh là bầu trời, và khán giả của anh… bất cứ ai dừng lại để lắng nghe.

Cây violin cũ kỹ với lớp sơn đã sờn, anh thừa hưởng từ cha mình, một nhạc sĩ chưa bao giờ kiếm sống được bằng nghề này, nhưng người đã dạy anh một điều quý giá hơn bất kỳ tấm bằng nào: “Âm nhạc không cần phải hoàn hảo, nó cần phải chạm đến tâm hồn.”

Mỗi buổi chiều, Jonas chơi nhạc từ năm giờ cho đến khi đèn đường bật sáng. Mọi người đi ngang qua, đôi khi để lại vài đồng xu, đôi khi thậm chí không nhìn anh. Anh không phàn nàn; anh nói rằng âm nhạc, giống như mưa, không phải để đón nhận, mà để rơi xuống bất cứ nơi nào cần đến.

Một ngày thứ Năm mùa thu, khi anh đang chơi một bản adagio của Albinoni, bầu trời bắt đầu tối sầm. Sấm sét vang lên, và mưa bắt đầu trút xuống dữ dội. Du khách chạy tìm chỗ trú. Các tiểu thương đóng cửa hàng. Quảng trường gần như vắng tanh.

Nhưng Jonas… vẫn tiếp tục chơi.

Mưa làm ướt áo khoác của anh, dây đàn trở nên trơn trượt, nhưng tay anh không hề run. Anh nhắm mắt lại và để mỗi nốt nhạc trôi nổi trong không khí ẩm ướt.

Rồi một cô bé, không quá 10 tuổi, xuất hiện dưới chiếc dù màu đỏ. Cô bé dừng lại trước mặt anh và nhìn anh với vẻ say mê.

“Sao chú vẫn chơi khi trời mưa?” cô bé hỏi một cách ngây thơ.

Jonas mỉm cười.

“Vì có những bài hát không thể dừng lại… ngay cả khi không ai khác có thể nghe thấy chúng.”

Cô bé mở ba lô, lấy ra một đồng xu nhỏ và bỏ vào hộp đựng đàn, vốn đã đầy nước. Trước khi rời đi, cô bé nói:

“Mẹ cháu đang nằm viện. Mẹ thích chơi đàn violin. Cháu sẽ thu âm bài hát này cho mẹ nghe.”

Jonas gật đầu và đổi giai điệu. Anh đàn bản “Meditation” của Thaïs với sự cẩn trọng và dịu dàng mà anh đã không cảm nhận được trong nhiều năm. Trong lúc chơi nhạc, anh tưởng tượng ra người phụ nữ nằm trên giường bệnh, nghe nhạc con gái mang đến qua điện thoại.

Khi cô bé rời đi, Jonas đứng lặng một lúc. Cơn mưa làm anh ướt sũng, nhưng anh cảm thấy một hơi ấm khác lạ trong lồng ngực.

Tuần sau, anh quay lại quảng trường. Trong số những người dừng lại, anh nhận ra chiếc dù màu đỏ. Đó là cô bé, đi cùng một người phụ nữ ngồi xe lăn.

“Là ông ấy,” cô bé nói, chỉ vào Jonas. “Mẹ ơi, ông ấy là người đàn ông mà con kể cho mẹ.”

Đôi mắt người phụ nữ sáng lên.

“Cảm ơn cậu vì đã không dừng lại hôm đó,” bà nói, giọng nghẹn ngào. “Tôi đang phải trải qua hóa trị… và âm nhạc của cậu đã giúp tôi quên đi nỗi đau trong giây lát.”

Jonas cúi đầu, không biết nói gì. Và anh bắt đầu chơi nhạc cho họ nghe, chỉ dành riêng cho họ.

Từ ngày đó trở đi, cứ mỗi thứ Năm lúc năm giờ chiều, mẹ con họ lại xuất hiện ở quảng trường. Họ sẽ ngồi bên nhau, bất kể trời mưa hay nắng, và lắng nghe.

Theo thời gian, sức khỏe của người phụ nữ được cải thiện, và nhiều năm sau, khi cô gái, lúc này đã là một thiếu nữ, bắt đầu học violin, cô lại tìm Jonas để nhờ anh một điều duy nhất: dạy cô chơi như thể trời luôn mưa, ngay cả vào những ngày nắng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire.