Phan Thế Nghĩa

 

Vào năm 1979, ông đã nhận nuôi chín bé gái da đen mà không ai muốn nhận: 46 năm sau, cuộc đời của họ sẽ khiến bạn không khỏi xúc động…

 Năm 1979, thế giới của Richard Miller như lặng đi khi người vợ Anne qua đời. Ngôi nhà vốn tràn đầy những ước mơ về một gia đình có con cái, giờ đây trở nên trống vắng. Bạn bè khuyên ông nên tái hôn, nhưng ông vẫn ghi nhớ những lời cuối cùng của Anne:

“Đừng để tình yêu chết cùng em. Hãy trao tình yêu ấy cho một nơi

nào đó để nó tiếp tục sống.”

Vào một đêm mưa bão, số phận đưa ông đến một cô nhi viện mang tên St. Mary’s. Tại đó, ông nhìn thấy chín bé gái nhỏ, tất cả đều bị bỏ rơi cùng một lúc. Tiếng khóc yếu ớt của các em vang vọng dọc những hành lang.

Không ai muốn nhận cả chín đứa trẻ. Việc các em bị chia lìa dường như là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng Richard cúi xuống trước các em, giọng nghẹn ngào, rồi nói:

“Tôi sẽ nhận nuôi tất cả các cháu.”

Lúc đó nhưng người xung quanh cho rằng ông đã điên. Nhân viên xã hội nghi ngờ khả năng của ông. Người thân chế giễu. Hàng xóm xì xào:

“Một người đàn ông da trắng thì làm gì với việc nuôi chín bé gái da đen?”

Nhưng Richard bán đi những tài sản mình có, làm thêm hai ca, và tự tay đóng chín chiếc nôi cho các con.

Những đêm dài của ông giờ đây là những bình sữa, những lời ru và việc chải tóc, tết tóc cho các con dưới ánh đèn trong căn bếp.

  Cuộc sống vô cùng vất vả, nhưng tiếng cười của các cô bé, những câu chuyện mà Anne từng kể và cá tính ngày càng lớn của từng đứa trẻ đã gắn kết cả gia đình lại với nhau.

Sarah với tiếng cười lan tỏa đến mọi người.

Naomi tinh nghịch và đầy sức sống.

Leah với một trái tim nhân hậu.

Từng đứa một, họ lớn lên thành những thiếu nữ – có người trở thành giáo viên, có người làm y tá, có người trở thành những người mẹ.

Nhưng họ chưa bao giờ quên người đàn ông đã lựa chọn họ vào thời điểm mà không ai muốn nhận họ.

  Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.

Trong khoảnh khắc ấy, ông nhìn thấy điều kỳ diệu mà Anne từng mong ước:

Tình yêu không chết đi cùng Anne. Nó đã được trao cho chín cô bé, và từ đó lớn lên thành cả một đại gia đình.

46 năm sau…

Căn nhà nhỏ ngày nào đã thay đổi hoàn toàn.

Richard giờ đã già. Mái tóc bạc trắng, đôi tay từng tự mình đóng chín chiếc nôi năm xưa nay đã run hơn trước. Nhưng mỗi khi nghe tiếng cười của các con, khuôn mặt ông vẫn sáng lên như ngày đầu tiên.

Chín cô bé năm nào giờ đã trở thành những người phụ nữ trưởng thành.

Họ không chỉ xây dựng cuộc sống riêng mà còn luôn giữ một điều đặc biệt trong lòng: họ chưa bao giờ quên rằng Richard đã chọn họ khi cả thế giới dường như muốn chia lìa họ.

Có lần một người hỏi Sarah:

“Điều gì khiến cô nhớ nhất về cha mình?”

Sarah mỉm cười và trả lời:

“Tôi không nhớ ông đã mua cho chúng tôi những gì. Tôi nhớ ông chưa bao giờ để chúng tôi cảm thấy mình là những đứa trẻ bị bỏ rơi.”

Naomi cũng kể rằng ngày nhỏ, mỗi khi một trong các chị em hỏi:

“Ba có phải ba ruột của chúng con không?”

Richard luôn trả lời:

“Ba không sinh ra các con. Nhưng ba đã chọn các con. Và ba sẽ chọn các con mỗi ngày.”

Câu nói ấy đã theo họ suốt cuộc đời.

Nhiều năm trôi qua, chín người con lần lượt lập gia đình, có công việc và có những đứa con của riêng mình. Ngôi nhà của Richard ngày càng vui vẻ hơn.

Ngày trước, ông phải thức dậy giữa đêm để pha chín bình sữa.

Giờ đây, ông lại thức dậy vì tiếng chân của những đứa cháu chạy khắp nhà.

Vào một buổi tối năm 2025, tất cả các con và các cháu cùng trở về nhà.

Richard ngồi ở đầu bàn, nhìn quanh.

Một bên là những cô con gái mà ông từng bế trên tay.

Bên kia là những đứa cháu mà ông chưa bao giờ tưởng tượng mình sẽ có.

Ông im lặng rất lâu.

Rồi ông nhìn lên bức ảnh của Anne treo trên tường.

Ông khẽ nói:

“Em thấy không, Anne? Anh đã làm theo lời em.”

Ông từng nghĩ sau khi Anne qua đời, tình yêu của mình cũng sẽ chấm dứt.

Nhưng ông không ngờ rằng tình yêu ấy sẽ được trao cho chín đứa trẻ, rồi từ chín đứa trẻ ấy lại tiếp tục lan sang những người chồng, người vợ, những đứa cháu và cả những thế hệ sau…

Và có lẽ đó chính là điều đẹp nhất của câu chuyện:

  Gia đình không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng việc cùng chung dòng máu. Đôi khi, gia đình bắt đầu bằng một người quyết định nói: “Tôi sẽ không bỏ các con.”

Và 46 năm sau, chín cô bé từng bị bỏ rơi đã trở thành minh chứng sống cho quyết định ấy.

  • (Phan Thế Nghĩa lược dịch từ 

  David Attenborough Fans). 


 

MỘT NỬA SỰ THẬT

Xuyên Sơn

MỘT NỬA SỰ THẬT

Ở trường học chúng ta được dạy rằng:

“Tháng 8 năm 1945 Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Hirosima và Nagasaki – Nhật Bản, buộc Nhật Hoàng phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước quân Mỹ”, chấm hết.

Sách giáo khoa đã nói đúng sự thật, nhưng không đề cập đến một sự thật trước và sau khi Mỹ ném bom xuống Nhật.

Một nửa sự thật chưa phải là sự thật. Đây là phần sự thật mà chúng ta không được dạy.

Một thời gian ngắn trước khi ném hai quả bom nguyên tử kia, Mỹ đã rãi hơn 5 triệu truyền đơn xuống 33 thành phố của Nhật, trong đó có Nagasaki và Hiroshima.

Nội dung như sau:

“Hãy đọc thật kỹ vì nó có thể cứu lấy mạng sống của chính bạn, người thân hay bạn bè của bạn.

Trong vài ngày tới, một số hoặc tất cả những thành phố được liệt kê trong danh sách ở mặt sau truyền đơn này sẽ bị phá hủy bởi những quả bom của người Mỹ. Những thành phố này đang sở hữu các hãng xưởng, nhà máy lắp ráp chế tạo thiết bị quân sự.

Chúng tôi quyết tâm tiêu diệt tất cả những trang thiết bị mà các phe phái quân sự đang sử dụng để kết thúc cuộc chiến vô nghĩa này.

Nhưng, không may, những quả bom không có mắt.

Vì vậy, theo các chính sách nhân đạo của Mỹ, Không quân Mỹ, chúng tôi không muốn làm tổn thương người vô tội, do đó chúng tôi cảnh báo và yêu cầu bạn hãy di tản khỏi những thành phố được liệt kê để cứu lấy mạng sống của chính bạn.

Người Mỹ không chiến đấu chống lại nhân dân Nhật Bản, mà chiến đấu chống lại các thế lực quân sự đang sử dụng nhân dân Nhật Bản.

Nền hòa bình mà Mỹ mang lại sẽ giải thoát cho người dân như các bạn đang phải sống trong sự áp bức của quân đội Nhật và đồng thời cũng có ý nghĩa mang đến một Nhật Bản mới tốt đẹp hơn.

Các bạn có thể mang hòa bình trở lại bằng cách chọn ra những người lãnh đạo mới và giỏi, những người thật sự muốn kết thúc chiến tranh.

Chúng tôi không thể hứa rằng những thành phố này sẽ được an toàn, một số hoặc tất cả sẽ bị phá hủy.

Do vậy, hãy chú ý đến cảnh báo này và sơ tán khỏi các thành phố này ngay lập tức!”

*

Sau quả bom đầu tiên, Mỹ tiếp tục gửi truyền đơn và đồng thời phát radio từ Saipan (Mỹ đang nắm giữ) cứ mỗi 15 phút với nội dung tương tự như sau:

“Nước Mỹ yêu cầu các bạn ngay lập tức tuân thủ những gì chúng tôi nói trong truyền đơn này.

Chúng tôi đang sở hữu những quả bom kinh khủng nhất lịch sử loài người.

Một trong số những quả bom mà chúng tôi đang nghiên cứu có sức công phá đến hơn 2.000 lần những gì mà một cái máy bay khổng lồ B-29 có thể mang lại.

Thực tế khủng khiếp này là một lý do để bạn suy nghĩ và chúng tôi bảo đảm rằng điều đó là tuyệt đối chính xác.

Chúng tôi chỉ mới bắt đầu sử dụng loại vũ khí này để chống lại quê hương các bạn. Nếu các bạn vẫn nghi ngờ, hãy xem lại những gì đã xảy ra ở Hiroshima khi chỉ có một quả bom nguyên tử rơi xuống thành phố đó.

Trước khi sử dụng bom này để tiêu diệt mọi nguồn lực của quân đội mà họ có được để kéo dài cuộc chiến tranh vô ích này, chúng tôi kêu gọi các bạn hãy yêu cầu Nhật Hoàng kết thúc chiến tranh.

Tổng thống của chúng tôi đã soạn ra cho các bạn 13 quyền lợi bảo đảm cho một lần đầu hàng danh dự.

Chúng tôi khuyến khích bạn chấp nhận những quyền lợi này và bắt đầu công việc xây dựng một nước Nhật mới, một Nhật Bản tốt hơn và yêu hòa bình.

Các bạn nên bắt đầu thực hiện những bước cần thiết để đình chiến.

Nếu không, chúng tôi sẽ kiên quyết sử dụng bom này và tất cả các loại vũ khí vượt trội khác để phản ứng kịp thời và kết thúc chiến tranh.”

*

Sau khi Nhật Hoàng đầu hàng, thống tướng MacArthur và Quân đội Mỹ đặt chân đến Nhật Bản, chuẩn bị cho công cuộc chiếm đóng nước Nhật của mình.

Với tư cách là bên thắng cuộc, chính phủ  và nhân dân Nhật phải nằm dưới sự quản lý và những chính sách do Mỹ đưa ra.

Một trong những việc đầu tiên mà tướng MacArthur làm là, khẩn cấp xin chính phủ Mỹ viện trợ lương thực và tiền để kiến thiết nước Nhật trước thực trạng đổ nát của chiến tranh.

Với nỗ lực của MacArthur, chính phủ Mỹ tức tốc gửi đến nước Nhật 3,5 triệu tấn lương thực cùng hơn 2 tỷ USD.

Tại trường học, trẻ em Nhật được ăn một bữa trưa miễn phí; lần đầu tiên trong lịch sử nước mình, phụ nữ được trao thêm nhiều quyền lợi hơn, trong đó có quyền bầu cử và ứng cử; tại các địa phương người dân được tạo điều kiện để tham gia sinh hoạt chính trị.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh soạn thảo

Hiến pháp Nhật Bản theo hướng dân chủ, chủ quyền đất nước thuộc về quốc dân chứ không phải Thiên hoàng.

Thiên hoàng là biểu tượng cho sự đoàn kết và văn hóa Nhật, giống như Nữ hoàng Anh, nhưng không mang quyền lực chính trị thực tế.

Thiên hoàng chỉ được tiến hành các hành vi liên quan đến việc nước theo quy định của bản Hiến pháp này và Thiên hoàng không có quyền lực liên quan tới chính phủ.

Quốc hội Nhật là cơ quan chính trị có quyền lực cao nhất, thành viên quốc hội là những người được dân chúng chọn ra trong một cuộc  bầu cử tự do,…

Trước thực trạng nông dân không có đất canh tác, tháng 10/1946 Quốc hội thông qua “Luật cải cách ruộng đất”, tiến hành thu mua đất của của giới địa chủ và bán nợ lại cho nông dân không có đất.

Ngày 31/3/1947 Quốc hội ban hành “Luật Giáo dục”.

Theo đó, mục tiêu hàng đầu của giáo dục là

“Tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”.

Đây cũng là lần đầu tiên Chính phủ bị mất quyền quản lý giáo dục và kiểm duyệt sách giáo khoa.

Thay vào đó một “Ủy Ban Giáo Dục” do dân bầu ra đảm trách những việc ấy. Giáo viên dạy học sinh về tinh thần dân chủ chứ không phải tôn thờ Nhật Hoàng.

Năm 1951 Quân đội Mỹ tự khắc rút khỏi nước Nhật, trao trả lại nền độc lập cho Nhật Bản sau khi “sứ mệnh” kiến thiết nước Nhật của mình hoàn thành.

Người Nhật gọi tướng MacArthur là vị Shogun Mỹ.

Shogun nghĩa là Sứ Quân, là người đứng đầu một lãnh địa, vào thời Nhật còn bị nạn sứ quân chia cắt.”

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1809248755995220&id=100007303381806

Từ fb Jeny Nguyen.

Nguồn fb Chinh Le 


 

‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

BBC News Tiếng Việt

 ‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

Gần ba năm trước, tại New York, Hoa Kỳ, bà Lê Thị Thu Thủy tham gia màn IPO của VinFast trong vai trò tổng giám đốc của hãng xe điện Việt Nam – sự kiện được truyền thông khi đó mô tả là “mang chuông đi đánh xứ người”.

Thế nhưng, chưa đầy ba năm sau, khi “giấc mơ Mỹ” chưa thành hiện thực, người phụ nữ này đã rời khỏi các chức vụ từng đảm nhiệm, gồm tổng Giám đốc VinFast toàn cầu (2021–2024) và Chủ tịch HĐQT VinFast (2024–2026).

Truyền thông Việt Nam từng dùng hàng loạt mỹ từ để mô tả bà như “nữ hổ tướng”, người “thách thức” Elon Musk, “bông hồng gai”, người giúp VinFast “vươn tầm thế giới”,…


 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi.

Không phải vì họ luôn đúng.

Mà vì họ đã đi qua quá nhiều điều để hiểu rằng không phải chuyện gì cũng đáng để thắng thua.

Họ là thế hệ lớn lên trong một thế giới không có Internet, không có điện thoại thông minh, không có Google để tìm câu trả lời chỉ trong vài giây. Họ học cách sống bằng trải nghiệm, bằng những lần vấp ngã và bằng chính đôi tay của mình.

Khi một món đồ hỏng hóc, họ không vội thay mới. Họ tìm cách sửa chữa. Khi gặp khó khăn, họ không đăng trạng thái lên mạng xã hội. Họ lặng lẽ tìm cách vượt qua.

Họ thuộc về một thế hệ mà trẻ con có thể chạy chân trần ngoài đồng, leo cây, tắm mưa, ngã trầy đầu gối rồi đứng dậy như chưa có chuyện gì xảy ra.

Họ uống nước từ vòi, ăn những bữa cơm đạm bạc, mặc lại quần áo của anh chị và coi đó là điều bình thường. Họ lớn lên trong những năm tháng mà vật chất còn thiếu thốn nhưng tình người lại rất đầy.

Đó là thế hệ biết quý từng hạt gạo trên mâm cơm vì đã từng trải qua những ngày khó khăn. Biết trân trọng đồng tiền vì đã từng lao động từ rất sớm. Biết giữ gìn một món đồ trong nhiều năm vì hiểu giá trị của sự tích góp.

Họ là những người đã chứng kiến thế giới thay đổi với tốc độ chóng mặt.

Từ chiếc radio chạy pin đến điện thoại thông minh. Từ những lá thư viết tay đến các cuộc gọi video xuyên lục địa. Từ những con đường đất đỏ đến các tuyến cao tốc hiện đại. Họ đã sống trong hai thế giới khác nhau: một thế giới hoàn toàn không có công nghệ và một thế giới công nghệ hiện diện trong từng hơi thở của cuộc sống.

Điều đáng khâm phục là họ không chỉ tồn tại giữa những thay đổi ấy.

Họ thích nghi.

Họ học hỏi.

Họ tiếp tục bước đi.

Có thể họ không sử dụng điện thoại nhanh bằng con cháu.

Có thể họ nhắn tin chậm hơn.

Có thể đôi lúc họ bấm nhầm nút hay gửi nhầm tin nhắn.

Nhưng đằng sau những điều ấy là cả một cuộc đời đầy trải nghiệm mà không một công cụ tìm kiếm nào có thể thay thế.

Họ biết thế nào là mất mát.

Biết thế nào là hy sinh.

Biết thế nào là gánh vác gia đình trong những năm tháng khó khăn nhất.

Họ đã nuôi con bằng những đồng lương ít ỏi.

Đã thức trắng đêm vì bệnh tật của con cái.

Đã từ bỏ nhiều ước mơ riêng để đổi lấy tương lai cho những người mình yêu thương.

Có một điều rất thú vị.

Người trẻ thường tự hào vì biết nhiều thứ.

Nhưng người lớn tuổi thường im lặng vì đã hiểu nhiều điều.

Họ hiểu rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng công bằng. Rằng có những chuyện phải học cách chấp nhận. Rằng tha thứ đôi khi mang lại bình yên hơn chiến thắng.

Và rằng thời gian là người thầy nghiêm khắc nhất nhưng cũng công bằng nhất.

Tuổi sáu mươi không chỉ là một con số.

Đó là hàng chục nghìn ngày đã sống.

Là vô số lần đứng lên sau thất bại.

Là những nỗi đau không kể hết bằng lời.

Là những bài học được đánh đổi bằng cả tuổi trẻ.

Vì thế, nếu có thể, hãy dành cho những người lớn tuổi thêm một chút kiên nhẫn.

Một chút lắng nghe.

Một chút tôn trọng.

Bởi họ không chỉ là những người đã già đi.

Họ là những cuốn sách sống.

Là những chứng nhân của thời gian.

Là những con người đã đi qua những mùa giông bão nhất của cuộc đời để hôm nay có thể ngồi đó, mỉm cười kể cho chúng ta nghe một câu chuyện tưởng như rất bình thường nhưng chứa đựng cả một đời người phía sau.

Rồi một ngày nào đó, khi tóc chúng ta cũng bạc đi, khi bước chân cũng chậm lại, có lẽ chúng ta sẽ hiểu rằng điều đáng quý nhất không phải là sống bao nhiêu năm.

Mà là đã sống như thế nào trong những năm tháng ấy.

Và những người trên sáu mươi hôm nay chính là minh chứng đẹp nhất cho sức mạnh của sự bền bỉ, lòng kiên cường và phẩm giá của con người.

Nguồn : NguoiCaoTuoi – Dulichvanhoa

Sưu tầm.


 

ĐÂU MỚI LÀ GIA TÀI THẬT SỰ …?

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 ĐÂU MỚI LÀ GIA TÀI THẬT SỰ …?

Nhìn xuống huyệt đất sâu kia: chum vẫn còn nguyên, vàng bạc vẫn nằm đó, đồng tiền vẫn sáng lấp lánh dưới lớp bụi thời gian. Chỉ có con người là nằm im, hóa thành xương trắng.

Tiền vẫn là tiền. Vàng vẫn là vàng. Chum vẫn là chum.

Còn người thì thành cát bụi.

Mang theo được không? Không.

Tiêu được không? Cũng không.

Cả đời lo gom góp, chắt chiu, cất vào chum, chôn xuống đất. Đến lúc nhắm mắt xuôi tay, thứ nằm cạnh mình chỉ là những vật vô tri. Chúng không khóc, không thương, không nhớ.

Vậy nên, khi còn thở được, đừng chỉ sống để tích lũy. Sống để cảm nhận. Sống để yêu thương. Sống để làm điều tử tế.

Vì cuối cùng, thứ ở lại không phải là vàng trong chum…

Mà là hơi ấm trong tim người khác khi họ nhắc về mình.

Tiền bạc có thể nằm lại trong đất.

Nhưng nhân nghĩa, nếu gieo đủ sâu, sẽ nở hoa trong lòng người sống.

Thế mới là “gia tài” thật sự.

Sưu tầm


 

TÔI LÀ AI??

Vạch Lá Tìm Chim

TÔI LÀ AI??

Tôi sinh ra giữa lòng cộng sản. Tôi lớn lên giữa khô cằn sỏi đá Miền Trung. Quê tôi nằm bên trong Vĩ Tuyến (17), nhưng là cái nôi của cách mạng ngày xưa. Tôi không biết Mỹ, Nguỵ là gì? Cũng không biết Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là gì? Cũng chưa bao giờ biết sự phồn hoa của Đô Thành Sài Gòn một thời mà ông Lý Quang Diệu hằng mơ ước.

Tôi không học nhiều nhưng thời học sinh của tôi là cháu ngoan Bác Hồ là đoàn viên ưu tú dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Ngày xưa tập thơ gối đầu của tôi là “Theo Chân Bác”. Tôi vẫn cứ yêu đảng yêu bác cho đến chết nếu Facebook không du nhập vào Việt Nam. Tôi đã được mở rộng tầm mắt, rồi từ đó tôi biết những gì tôi học, những gì tôi bị nhét vào đầu là dối trá, dối trá một cách trơ trẽn.

Chỉ cần đặt một vài câu hỏi nhỏ thôi ví dụ như là: Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Tại sao con cháu của những vị tướng lừng danh như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Quốc Thước lại chọn Pháp, Mỹ để sống mà không phải là Việt Nam?

Tại sao Nguyễn Công Khế, Hồ Thị Thu Hồng một thời chửi Mỹ hay hơn hát rồi cuối cùng lại chọn Mỹ định cư?

Nhiều lắm, nhưng tại sao lắm không thể nào kể hết trong một Stt được. Câu cuối cùng tôi muốn hỏi hơn 90 triệu dân Việt Nam ai đã từng được cầm lá phiếu bầu lãnh đạo thể hiện quyền của một con người chưa?

Tôi lưu lạc khắp nơi để chỉ nói lên những điều mình thấy, viết những điều mình biết. Tôi đủ lớn và cũng đủ già để chịu trách nhiệm với những gì mình viết và nói ra không liên quan gì tới những người thân của tôi cả. Vì thế đừng chơi trò đe doạ và méc phụ huynh. Đời người một lần sống và một lần chết bình tĩnh “Đối Mặt” thôi!

 


 

Nỗi sợ – vũ khí của độc tài, cũng là kẻ thù của độc tài

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

07/08/2026

Người ta thường nói rằng NỖI SỢ LÀ NỀN TẢNG CỦA MỌI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI. Chính nỗi sợ khiến người dân im lặng, khiến đối lập tê liệt và giúp nhà độc tài duy trì quyền lực trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Điều đó đúng. Nhưng lịch sử còn kể một câu chuyện khác, ít người để ý hơn: cũng chính nỗi sợ ấy, lại trở thành nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chính nhà độc tài.

Cách mạng Pháp năm 1789 là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại. Từ đống tro tàn của chế độ quân chủ chuyên chế, nước Pháp đã khai sinh những tư tưởng làm thay đổi thế giới: quyền con người, chủ quyền của nhân dân, bình đẳng trước pháp luật và khát vọng tự do. Khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã vượt ra khỏi biên giới nước Pháp để trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều cuộc cải cách và cách mạng trong hơn hai thế kỷ sau đó.

Nhưng cũng như nhiều cuộc cách mạng khác, Cách mạng Pháp không chỉ có ánh sáng mà còn có những bóng tối. Một trong những chương đen tối nhất của nó là thời kỳ Khủng bố (La Terreur), nó cũng cho chúng ta thấy rằng một cuộc cách mạng, dù bắt đầu bằng những lý tưởng cao đẹp, vẫn có thể đi đến cực đoan nếu quyền lực không còn được kiểm soát.

Không ai tượng trưng rõ hơn cho nghịch lý ấy bằng Maximilien Robespierre.

Ban đầu, Robespierre được xem là một trong những nhà cách mạng trong sạch và có nguyên tắc nhất. Ông phản đối đặc quyền quý tộc, bảo vệ nền cộng hòa và luôn nói đến “đức hạnh” như nền tảng của chính trị. Trong mắt nhiều người đương thời, ông là “Người không thể mua chuộc” (L’Incorruptible).

Nhưng khi nước Pháp phải đối mặt với chiến tranh bên ngoài và nổi dậy trong nước, Robespierre ngày càng tin rằng muốn cứu cách mạng thì phải tiêu diệt tất cả những ai có thể đe dọa cách mạng. Theo ông, khủng bố chỉ là công lý được thực hiện nhanh chóng và nghiêm khắc để bảo vệ nền cộng hòa.

Từ tư tưởng ấy, nước Pháp bước vào thời kỳ mà lịch sử gọi là Thời kỳ Khủng bố .

Tháng 9 năm 1793, Quốc ước(Convention Nationale : Cơ quan quyền lực tối cao của CM) thông qua Luật Nghi ngờ (Loi des suspects). Đạo luật này cho phép bắt giữ bất kỳ ai bị coi là “đáng nghi”. Khái niệm “đáng nghi” rất mơ hồ. Chỉ cần bị cho là không đủ nhiệt thành với cách mạng, có quan hệ với quý tộc hoặc bị hàng xóm tố cáo cũng có thể bị bắt.

Hàng chục nghìn người bị giam giữ. Hàng nghìn người bị đưa lên máy chém.

Ban đầu, mục tiêu của các cuộc thanh trừng là những người trung thành với chế độ quân chủ. Nhưng rất nhanh sau đó, lưỡi dao của chiếc máy chém bắt đầu quay sang chính những người cách mạng.

Nhóm Hébert bị xử tử. Rồi đến Georges Danton, một trong những người có công lớn nhất với Cách mạng Pháp. Danton từng là đồng chí thân cận của Robespierre, nhưng vì kêu gọi chấm dứt các cuộc hành quyết nên bị kết tội phản bội. Ông bị xử chém ngày 5 tháng 4 năm 1794.

Cùng ngày hôm đó, Camille Desmoulins cũng bước lên đoạn đầu đài. Desmoulins không chỉ là đồng chí mà còn là người bạn từ thuở thiếu thời của Robespierre. Tình bạn nhiều năm không đủ để cứu ông khỏi bản án tử hình.

Máy chém không còn phân biệt bạn hay thù. Mỗi bản án đều được tuyên nhân danh nhân dân.

Mỗi cuộc hành quyết đều được giải thích là để cứu cách mạng.

Đó là nghịch lý bi thảm của mọi cuộc thanh trừng chính trị: người ta nhân danh một lý tưởng để loại bỏ những người từng cùng mình xây dựng chính lý tưởng ấy.

Trong Quốc ước, bầu không khí ngày càng nặng nề. Nhiều đại biểu hiểu rằng không còn ai thực sự an toàn, nhưng hầu như không ai dám phản đối. Mỗi lần một đồng nghiệp bị bắt, những người còn lại lại im lặng. Không phải vì họ đồng tình, mà vì họ sợ mình sẽ là người tiếp theo. Nỗi sợ trở thành nền tảng của quyền lực.

Tháng 6 năm 1794, Quốc ước thông qua Luật 22 Prairial, đạo luật còn khắc nghiệt hơn tất cả những gì đã có trước đó. Quyền bào chữa gần như bị xóa bỏ. Tòa án Cách mạng chỉ còn hai khả năng: tha bổng hoặc tử hình. Số vụ xử chém tăng lên với tốc độ chưa từng có. Các nhà sử học gọi những tuần cuối cùng ấy là Đại Khủng bố (Grande Terreur).

Rồi Robespierre phạm phải sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của mình.

Ngày 26 tháng 7 năm 1794, ông đọc một bài diễn văn dài trước Quốc ước. ÔNG TUYÊN BỐ RẰNG NGAY TRONG QUỐC ƯỚC Và CÁC ỦY BAN VẪN CÒN NHỮNG KẺ PHẢN BỘI. NHƯNG ÔNG KHÔNG NÊU TÊN. Có lẽ Robespierre nghĩ rằng sự mập mờ ấy sẽ khiến mọi người sợ hãi hơn. Ông đã đúng. Nhưng không theo cách ông mong muốn.

Nếu trước đó mỗi đại biểu chỉ lo cho số phận của người khác, thì sau bài diễn văn ấy, tất cả đều tự hỏi: “Liệu ngày mai đến lượt mình không?”

Đó chính là khoảnh khắc quyền lực của Robespierre bắt đầu tan vỡ.

Cho đến lúc ấy, nỗi sợ khiến mọi người chia rẽ. Ai cũng cúi đầu để tự cứu mình.

Nhưng khi tất cả đều tin rằng mình có thể trở thành nạn nhân tiếp theo, nỗi sợ ấy lại tạo ra điều ngược lại: nó buộc họ đoàn kết với nhau.

Ngay ngày hôm sau, 27 tháng 7 năm 1794, Robespierre bước vào Quốc ước như mọi ngày.

Ông không ngờ rằng cán cân đã đổi chiều. Những đại biểu vốn im lặng lại ngắt lời ông liên tục. Tiếng hô “Đả đảo tên bạo chúa!” vang lên trong nghị trường. Quốc ước biểu quyết bắt giữ Robespierre, em trai ông(Augustin), Saint-Just, Couthon và các cộng sự thân cận.

Chỉ trong vài giờ, người đàn ông quyền lực nhất nước Pháp trở thành tù nhân.

Nhưng đêm hôm đó, chính quyền thành phố Paris đứng về phía Robespierre. Họ đưa ông đến Tòa thị chính và kêu gọi lực lượng vũ trang của Paris chống lại lệnh bắt giữ do Quốc ước ban hành. Tuy nhiên, Robespierre lại chần chừ, không phát động cuộc nổi dậy. Chỉ vài giờ sau, các lực lượng trung thành với Quốc ước tràn vào Tòa thị chính và bắt giữ ông.

Ngày 28 tháng 7 năm 1794, Robespierre cùng 21 cộng sự bị đưa lên máy chém. Chiếc máy chém mà ông từng coi là công cụ bảo vệ cách mạng, bảo vệ ông cuối cùng đã lấy chính mạng sống của ông. Thời kỳ Khủng bố kết thúc.

Cái hay nhất mà tôi thấy trong câu chuyện này không phải là cái chết của Robespierre, mà là cơ chế dẫn đến sự sụp đổ của ông.

Ông không bị đánh bại bởi quân đội nước ngoài, không bị lật đổ bởi một cuộc nổi dậy của quần chúng, ông bị lật đổ bởi chính những người đã từng ủng hộ mình.

Ban đầu, họ chấp nhận im lặng vì nghĩ rằng sự phục tùng sẽ giúp mình sống sót. Nhưng khi cuộc thanh trừng mở rộng đến mức không còn ai chắc chắn về số phận của mình, họ hiểu rằng im lặng không còn là sự lựa chọn an toàn nữa.

Đó là nghịch lý của quyền lực dựa trên nỗi sợ.

Khi chỉ một nhóm người sợ hãi, chế độ vẫn có thể đứng vững. Nhưng khi tất cả đều sợ, kể cả những người trung thành nhất, thì chính nỗi sợ ấy sẽ phá hủy nền tảng của quyền lực.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên vẹn. Mỗi thời đại có hoàn cảnh riêng, mỗi quốc gia có con đường riêng. Nhưng những quy luật về tâm lý quyền lực và bản năng sinh tồn của con người thường có sức sống rất dài.

Mỗi khi khái niệm “kẻ thù” ngày càng được mở rộng, mỗi khi các cuộc thanh trừng không còn dừng ở đối lập mà bắt đầu lan sang chính những người trong hàng ngũ của mình, thì một câu hỏi sẽ âm thầm xuất hiện trong đầu tất cả những người còn lại: “LIỆU NGÀY MAI CÓ ĐẾN LƯỢT MÌNH KHÔNG?”

Và khi câu hỏi ấy trở thành nỗi ám ảnh chung, sự trung thành sẽ dần nhường chỗ cho bản năng tự vệ.

Trong nhiều chế độ độc tài, người ta thường thấy một vòng xoáy đầy nghịch lý, có thể dẫn chính người cầm quyền đến chỗ sụp đổ.

Để duy trì quyền lực, nhà độc tài luôn tìm cách loại bỏ mọi đối thủ và mọi mầm mống có thể đe dọa mình. Không làm như vậy, họ lo sợ sẽ bị lật đổ. Nhưng càng thanh trừng, họ lại càng khó xác định đâu là kẻ thù thực sự. Bởi trong một bầu không khí ngờ vực, bất kỳ ai cũng có thể bị coi là đối thủ tiềm tàng: đối lập, đồng minh, cộng sự, thậm chí cả những người từng trung thành nhất.

Vì thế, các cuộc thanh trừng có xu hướng ngày càng mở rộng. Khi mọi người đều tin rằng lòng trung thành không còn bảo đảm cho sự an toàn của mình, bản năng tự vệ sẽ thay thế lòng trung thành.

Đó chính là điều đã xảy ra với Robespierre. Chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi bốn giờ, người đang ở trên đỉnh cao quyền lực đã trở thành nạn nhân của chính cơ chế mà ông tạo ra.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên xi, nhưng những quy luật của quyền lực thì thường có những nét tương đồng. Người tiếp theo sẽ là ai? Putin, Kim Jong-un, Tập Cận Bình, hay một nhà lãnh đạo nào khác mà hôm nay vẫn đang nắm quyền tuyệt đối? Không ai có thể biết trước. Chỉ có thời gian mới đưa ra câu trả lời.

BẤT KỲ QUYỀN LỰC NÀO ĐƯỢC XÂY DỰNG CHỦ YẾU TRÊN NỖI SỢ ĐỀU MANG TRONG MÌNH NHỮNG MẦM MỐNG TỰ HỦY CỦA NÓ.

Những gì đã xảy ra trong Cách mạng Pháp – nhân danh cách mạng để đàn áp, để thanh trừng, để loại bỏ những người bị coi là “kẻ thù của cách mạng”… – đáng tiếc không chỉ là câu chuyện của nước Pháp. Điều làm tôi suy nghĩ không phải là bản thân những cuộc thanh trừng ấy, mà là khoảng cách về thời gian. Người Pháp đã trải qua giai đoạn đó từ cuối thế kỷ XVIII. Thế nhưng, hơn hai thế kỷ sau, ở một số quốc gia đi sau, người ta vẫn bắt gặp gần như cùng một cơ chế vận hành của quyền lực, chỉ khác ở tên gọi và hình thức.

Đó không chỉ là một sự tương đồng của lịch sử. Đó còn là thước đo cho thấy khoảng cách về trình độ phát triển chính trị giữa các quốc gia đôi khi không chỉ tính bằng vài chục năm, mà bằng cả vài thế kỷ.

Vậy mà vẫn dám nói « kỷ nguyên vươn mình”.


 

TIN VÀ KHÔNG TIN

Chuyện tuổi Xế Chiều  – Công Tú Nguyễn

Một người đàn ông đi vào tiệm hớt tóc quen thuộc để cắt tóc và cạo râu như thường lệ. Ông ta bắt đầu buôn chuyện với người thợ phục vụ cho mình. Họ nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi vô tình họ đụng đến đề tài Chúa trời.

Người thợ cắt tóc nói: “Tôi chẳng tin trên đời này có Thượng Đế như ông đã nói”.

Người khách: “Sao ông lại nói thế?”.

“Chuyện đó cũng dễ thôi, chỉ cần ông bước ra đường là thấy ngay trên đời này chẳng có Chúa trời gì ráo. Nếu thực sự Ngài có tồn tại thì tại sao trên đời này lại có nhiều người bệnh tật như vậy? Sao còn rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi. Nếu có Chúa, trên đời này sẽ chẳng có đau khổ. Tôi không thể nghĩ nỗi là Chúa nào lại chấp nhận nhìn những cảnh đó xảy ra”.

Người khách lặng im suy nghĩ nhưng rồi ông không nói gì vì không muốn câu chuyện trở thành cuộc khẩu chiến. Người thợ cắt tóc làm xong công việc của mình và vị khách hàng bước ra khỏi tiệm. Vừa ra ngoài ông liền nhìn thấy một người đàn ông trên đường tóc tai râu ria bù xù (như thể đã lâu lắm rồi ông ta không cắt tóc cạo râu vậy, trông rất bê bối).

Người khách liền quay lại cửa tiệm và nói với người thợ cắt tóc:

“Ông biết gì không? Trên đời này làm gì có thợ cắt tóc”.

“Sao lại không? Tôi đang ở đây và tôi là thợ cắt tóc”.

“Không hề”, vị khách trả lời: “Nếu có thợ cắt tóc thì sao vẫn còn những người tóc tai, râu ria bù xù như người đàn ông đang đi trên đường kia?”.

“À, thợ cắt tóc thì có chứ, chỉ tại những người kia không chịu đến tiệm cắt tóc mà thôi”.

“Chính xác!”. Vị khách như chỉ đợi câu nói đó.

“Đó là điều mà tôi muốn nói. Thượng Đế có tồn tại, chỉ là người ta không tin và không tìm đến Ngài mà thôi. Đó là lý do vì sao trên đời này lại có nhiều khổ đau đến như vậy”.

St


 

Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Van NguyenSự Thật Lề Đường (STLĐ) 

Bình luận xã hội: Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Bất bình đẳng giàu–nghèo không còn là một hiện tượng kinh tế đơn thuần. Nó đã trở thành vết nứt xã hội lớn nhất của thế kỷ 21, một đường ranh chia con người thành hai thế giới sống song song nhưng hoàn toàn khác biệt.

Trong những thập niên trước, người ta tin rằng tăng trưởng kinh tế sẽ tự động mang lại thịnh vượng cho tất cả. Nhưng thực tế phũ phàng hơn nhiều: tài sản không chảy xuống đáy, mà chảy ngược lên đỉnh. Và càng ngày, tốc độ chảy càng nhanh.

  1. Thế giới của 1% và thế giới của 99%

Ngày nay, theo dữ liệu từ World Inequality Database, top 1% dân số thế giới nắm gần 40% tài sản toàn cầu, trong khi 50% dân nghèo nhất chỉ sở hữu khoảng 2%.

Không cần những con số giật gân để thấy sự thật: tài sản đang tập trung vào một nhóm cực nhỏ, còn phần lớn nhân loại sống trong tình trạng bấp bênh.

Điều đáng nói là:

  • Nhóm giàu nhất không chỉ giàu hơn – họ giàu nhanh hơn.
  • Nhóm nghèo không chỉ nghèo – họ nghèo lâu hơn.

Khoảng cách không còn là một đường cong, mà là một vực sâu.

  1. Xã hội phân tầng: giàu sống trong tương lai, nghèo sống trong quá khứ

Nhóm giàu nhất sống trong một thế giới nơi công nghệ, y tế, giáo dục, và cơ hội mở ra như cánh cửa tự động.

Nhóm nghèo sống trong một thế giới nơi mọi thứ đều là rào cản:

  • Giá nhà vượt xa thu nhập
  • Y tế trở thành xa xỉ
  • Giáo dục chất lượng cao chỉ dành cho người có điều kiện
  • Việc làm bấp bênh, lương không theo kịp chi phí sống

Hai thế giới này không còn gặp nhau.

Họ chỉ nhìn thấy nhau qua những con số thống kê lạnh lùng.

  1. Nguyên nhân: hệ thống được thiết kế để tài sản chảy lên

Các nhà xã hội học Ý từ thập niên 1980 đã cảnh báo:

Khi chính sách ưu ái vốn hơn lao động, bất bình đẳng sẽ tăng không thể đảo ngược.

Ngày nay, điều đó đã thành hiện thực:

  • Toàn cầu hóa giúp tập đoàn đa quốc gia hưởng lợi, không phải người lao động.
  • Công nghệ tạo ra siêu lợi nhuận cho một nhóm nhỏ sở hữu trí tuệ và cổ phần.
  • Thuế giảm cho người giàu, tăng cho tầng lớp trung lưu.
  • Công đoàn suy yếu, lương không theo kịp năng suất.

Kết quả: tài sản chảy lên đỉnh kim tự tháp và không quay lại đáy.

  1. Hệ quả xã hội: bất mãn, cực đoan, và mất niềm tin

Khi người nghèo cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau, xã hội bắt đầu rung chuyển:

  • Niềm tin vào chính phủ giảm
  • Chủ nghĩa dân túy tăng
  • Xung đột giai cấp trở nên rõ rệt
  • Giới trẻ mất niềm tin vào tương lai
  • Bạo lực và tội phạm tăng theo tỷ lệ nghèo

Một xã hội mà đa số cảm thấy không có lối thoát là một xã hội dễ tổn thương.

  1. Kết luận: Bất bình đẳng không phải số phận – nó là lựa chọn chính sách

Khoảng cách giàu–nghèo không phải là điều tự nhiên.

Nó là kết quả của những quyết định chính trị, kinh tế, và xã hội trong suốt 40 năm qua.

Và nếu những quyết định đó không thay đổi, bất bình đẳng sẽ không chỉ là vấn đề kinh tế – nó sẽ trở thành ngòi nổ của bất ổn xã hội toàn cầu. 


 

HÃY NHÌN LẠI BẦU TRỜI – Lm. Mark Link, S.J.

 Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Nếu chúng ta cảm thấy khó sống phúc âm, có lẽ do chúng ta không còn nhìn đến Chúa Giêsu.”

 Có một ông nọ nói: “Tôi cứ nghĩ là càng về già tôi sẽ càng ít bị cám dỗ, nhưng thực tế tôi lại bị cám dỗ nhiều hơn.”  Có một phụ nữ kia nói: “Tôi cứ ngỡ là khi các cháu bé lớn lên tôi sẽ kiên nhẫn hơn, thế mà ngược lại tôi thấy mình nóng tính hơn trước.”  Một thiếu niên nói: “Trước đây tôi cứ nghĩ vâng phục luật Chúa là dễ dàng.  Bây giờ thì tôi lại thấy càng ngày càng khó.”

 Bạn có lời nói nào tương tự như vậy không?  Bạn có thấy bị cám dỗ thường xuyên không?  Bạn có thấy mất kiên nhẫn với những người thân yêu không?  Bạn có cảm thấy ngày càng khó vâng theo luật Chúa không?  Nếu có, thì bài Phúc Âm hôm nay chắc chắn là một sứ điệp quan trọng đối với bạn.

Câu chuyện trên đây minh họa điều đó.  Nó giống hệt câu chuyện trong Phúc Âm hôm nay. 

Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ.  Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm.  Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời.  Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm.  Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.

 Thấy thế, một thuỷ thủ già liền la to lên với cậu: “Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi!  Nhìn lên lại bầu trời đi!”  Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.  Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phêrô trong Phúc âm hôm nay.  Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phêrô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.

 Và điều này thường xảy ra cho bạn cũng như cho tôi.  Lúc đầu chúng ta khởi sự cuộc sống thật tốt đẹp, đôi mắt đăm đăm nhìn vào Chúa Giêsu, nhưng rồi một điều gì đó xảy đến khiến chúng ta rời xa mắt Người.  Chúng ta không còn nhìn vào Chúa Giêsu nữa; thế là chúng ta bị mất thăng bằng, chúng ta bắt đầu chìm xuống.  Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể.

 Trong cuốn sách tựa đề “The Taste of New Wine” (Hương rượu mới), Keith Miller có mô tả một biến cố thay đổi cuộc đời ông.  Biến cố này xảy ra vào mùa hè ngay sau năm thứ nhất đại học của ông.  Ðêm hôm ấy, Keith bị thương nặng vì một tai nạn xe hơi.  Anh nằm sõng soài bên vệ đường suốt một tiếng rưỡi chờ xe cứu thương.  Khi tâm trí hoàn toàn tỉnh táo, anh bắt đầu cầu nguyện.  Ðang khi nằm đó cầu nguyện trong bóng đêm, một cảm giác an bình xâm chiếm con người anh.  Keith viết: “Tôi nghĩ thật xấu hổ biết bao khi khám phá ra quá trễ trong cuộc đời có loại an bình thực sự như thế.  Lần đầu tiên, tôi không biết sợ chết.”  Keith cho biết, lúc đó anh nhận thức được rằng dầu có chết anh cũng sẽ chết trong khi biết mình đã được tiếp xúc với một điều gì đó thân mật và có thực.  Dù điều ấy là gì đi nữa, điều quan trọng là mãi cho đến bây giờ anh mới khám phá ra điều ấy trong cuộc sống của mình.

 Thế rồi Keith đã thoát được tai nạn đó và bình phục trở lại.  Anh trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch hội huynh đệ của lớp đại học năm thứ hai.  Chẳng bao lâu anh lại bị khích động bởi đời sống hào nhoáng ở đại học.  Nghĩa là, Keith đã quay mặt khỏi Chúa Giêsu, Ðấng mà anh đã từng gặp bên vệ đường.

 Sau khi tốt nghiệp, Keith lập gia đình và làm việc cho một hãng xăng dầu ở Texas.  Nhưng anh đã không được hạnh phúc như anh từng mơ ước.  Một hôm, Keith buồn quá, anh chui vào chiếc xe hơi của công ty rồi vọt đi.  Chạy được một lúc anh cho xe chạy lên vệ đường, tắt máy rồi ngồi thừ ra đó.  Trước đây, Keith luôn luôn tin tưởng rằng luôn luôn có lối thoát cho buồn sầu, chẳng hạn uống vài ly Martini và ngủ một giấc thật say là có thể khởi sự lại vào sáng sớm hôm sau.  Thế nhưng hiện giờ không còn có sáng hôm sau nữa.  Anh ta đã đến bên bờ vực thẳm rồi.  Anh nhìn lên trời cao và la to lên với Chúa: “Nếu Chúa muốn điều gì nơi con thì Ngài hãy lấy đi, con thực tình muốn như thế!”

 Câu chuyện trên xảy ra cách đây đã nhiều năm.  Tuy nhiên điều xảy ra trong đời Keith vào ngày đó đã không bao giờ rời anh ta nữa.  Hôm đó, không có những tiếng nói mầu nhiệm.  Hôm đó Keith chỉ nhận ra những điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.  Chúa không cần tiền bạc, thời giờ của chúng ta.  Người chỉ cần ý muốn của chúng ta và nếu chúng ta dâng cho Người ý muốn này, Người sẽ chỉ cho chúng ta cuộc sống mà từ trước đến giờ chưa bao giờ chúng ta thấy, và có thể nói đây là một cuộc tái sinh thực sự.

 Một lần nữa, Keith lại hướng đôi mắt nhìn vào Chúa Giêsu, và ngay lúc đó, anh lại tìm được sự bình an thâm sâu mà nhiều năm trước đây anh đã khám phá ra trong lúc nằm sõng soài bên vệ đường.

 Tất cả chúng ta đều đã từng có những cảm nghiệm giống như Keith.  Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện quyền năng của Chúa Giêsu.  Tuy nhiên, giống như Keith, chúng ta đã rời mắt mình khỏi Chúa Giêsu, đã bỏ Người để đi tìm những sự vật khác.  Và cũng như Keith chúng ta đã bị mất thăng bằng.

 Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy thẳng thắn nhìn vào cuộc sống của mình.  Nếu chúng ta không cảm nhận được sự bình an là niềm vui thiêng liêng mà ta đã từng cảm nhận, thì chắc hẳn là vì chúng ta đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu.  Nếu chúng ta đang sắp bị bão tố cuộc đời nuốt trửng, thì có lẽ là vì chúng ta đã rời mắt đi xa Chúa Giêsu.  Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta quay mắt trở lại nhìn vào Chúa Giêsu.  Bài Phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta cùng nói với Thánh Phêrô: “Lạy Chúa, xin cứu vớt con!”  Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi của Phúc âm thì tôi có thể dám chắc với các bạn rằng chúng ta sẽ cảm nghiệm được giống như Thánh Phêrô, chúng ta sẽ cảm nhận được bàn tay Chúa Giêsu giơ ra biểu lộ tình yêu đối với chúng ta.

 Chúng ta không thể cảm nhận điều ấy ngay lập tức và một cách nhiệm mầu, tuy nhiên chúng ta cứ tiếp tục kêu cầu chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm điều ấy, để rồi chúng ta sẽ nói như Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, Ngài thực sự là Con Thiên Chúa.”

 Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

 Lạy Chúa, Keith Miller đã gặp được Chúa lúc nằm sõng soài bên vệ đường trong một tai nạn xe hơi.
Ngôn sứ Êlia đã gặp được Ngài trong tiếng thì thầm nơi cửa hang.
Thánh Phaolô đã gặp được Ngài trong chớp sáng trên đường đi Ðamas.
Và Thánh Phêrô đã gặp được Ngài giữa cơn bão biển.
Xin hãy giúp chúng con gặp lại Ngài,
Xin hãy giúp chúng con biết chạy đến với Ngài.
Xin hãy giúp chúng con lại cảm nghiệm được sự hiện diện cứu độ của Ngài trong cuộc sống chúng con.  Amen!

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Tôi sẽ sử dụng thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa?- Cha Vương

Chúc một ngày với đầy sự quyết tâm theo Chúa, 10 núi cũng trèo, 100 sông cũng lội, ngàn đèo cũng bay, thập giá nào cũng vác.

Xin một lời cầu nguyện “thượng lộ bình an” đến những ai đi hành hương Đại Hội Thánh Mẫu Missouri năm nay. Không quên cho nhau và cả thế giới bình an trong tay Ba Đứng Amen 

Cha Vương

Thứ 4: 05/08/2026.     (t4-21)

GIÁO LÝ:  “Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỉ!” (Tv 105,3)…Thiên Chúa vẫn không ngừng kêu gọi mọi người tìm kiếm Ngài để họ được sống và đạt được hạnh phúc. Nhưng việc tìm kiếm này đòi hỏi con người phải có nỗ lực của trí tuệ, sự ngay thẳng của ý chí, “một tấm lòng thành”,… (SGLHTCG, số 30) Tôi sẽ sử dụng thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa?

SUY NIỆM: Trí tuệ, trái tim và ý chí của bạn phải là bản đồ, là năng lực và là phương tiện mà bạn cần phải sử dụng trên hành trình hướng về Chúa. “Đến với Chúa” phải là mục đích của tất cả suy nghĩ, cảm xúc và ước muốn hằng ngày của bạn. Bạn sẽ sử dụng trí khôn và thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa và để đưa bạn đến Chúa hôm nay?

LẮNG NGHE: Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. (Mt 22:37-38)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa, Chúa vĩ đại và rất đáng ca tụng: quyền năng của Chúa cao cả và sự khôn ngoan của Chúa thật khôn lường. Và con người, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, con người trong thân phận phải chết, mang nơi mình chứng tích của tội lỗi mình và chứng tích việc Chúa chống lại kẻ kiêu căng: vậy mà con người như vậy, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, muốn ca tụng Chúa. Chính Chúa thúc giục để con người vui thích ca tụng Chúa, bởi vì Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con không yên nghỉ cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa.” (Thánh Augustinô)

THỰC HÀNH: Quyết tâm từ bỏ những điều xấu xa, tội lỗi, vô giá trị đang làm bạn xa lìa Chúa.

From: Do Dzung

*****

CON ĐI TÌM CHÚA – Thiên Khuê – Đăng Khoa – Ca Đoàn Mông Triệu

Người Việt hung dữ

Thuy Mavronicles

Người Việt hung dữ

Mình kể cho nghe, số là hôm nay mình đi bác sĩ. Khi bước vào van pho`ng bác sĩ, mình thấy có một chú lớn tuổi đã ngồi đợi, khi ghi tên thì mình thấy cái hẹn của chú @1 pm, hẹn của mình 12:45 pm. Mình vừa ghi xong thì thấy 1 cô bé chạy vô ( không ghi tên) & có anh chàng ở bên trong mở cửa kêu vô ( không phải nhân viên phòng mạch). Mình vừa ngồi xuống chưa được 2’, chú ấy đứng phắt dậy lớn tiếng, rồi cầm cái danh sách chỉ vào tên mình mà hét tại sao tui vô trước mà lại kêu người này. Chú ấy quên rằng, hẹn của chú là 1 pm, chú vô trước là quyền của chú, trong khi quá giờ hẹn của mình mà mình vẫn còn ngồi đó.

Nhân viên vp phải ra chỉ cho chú biết, thế là chú ấy bẽn lẽn quay về ghế ngồi, tuy mặt vẫn còn hầm hầm.

Khi mình được gọi vào trong thì thấy cặp bạn trẻ đó đang ngồi chờ để thử máu ở phòng ngoài, chẳng liên can gì tới chuyện gặp bác sĩ.

Sao lại có người hồ đồ như vậy ta, mà chú lại là người lớn tuổi mới là cái đáng nói! …

Go’p Y’:

Xứ Mù Sương

Thường thì lớn tuổi hay đổi tính đổi nết , nóng nảy , nói nhiều, hay cằn nhằn… Phần ảnh hưởng xã hội hỗn tạp nơi ở trước khi đến Mỹ . Anh đọc và anh cầu xin sao cho mình bớt nóng nảy bớt khó ưa … hihi

V Phung Phung 

Tạ ơn Chúa vì đã gặp người hồ đồ, nóng nảy, nhờ đó, ta học được sự nhẫn nại, khoan dung, và học không giận hờn ai cả, để ta vui vẻ, ngủ ngon. Thương người nóng nãy vì họ đang bị bịnh, bịnh thể xác và bịnh tâm hồn (tinh thần). Đúng không?

Nhu Suong Suzanne Duong 

Nghe chị kể làm em nhớ lại chuyện xưa khi làm ở văn phòng bs. Có chú kia cũng vì tính nóng vội và quá ư là xấc xược (cũng là người VN), đứng lên và tới counter chửi thẳng vào các cô front desk là sao không kêu tên tôi và tôi đã đến và đã đợi lâu rồi….rốt cuộc biết ra he không ghi tên sign-in làm sao ai biết mà kêu?!

Trời ơi, khổ quá hé chị; nếu ai cũng biết sống “ tử tế” với mọi người chung quanh 1 chút thì sẽ không có 2 chữ “ giá như”.

Buồn…vẫn buồn cho “ đời”.

Chúc chị luôn thật nhiều sức khỏe và mãi luôn hạnh phúc bên các cháu xinh đẹp