Vũ trụ lớn đến mức không tưởng

Chúng ta đang sống trên hành tinh này. Thoạt nhìn, Trái Đất có vẻ bao la và vô tận. Ngay cả khi bạn dành cả đời để khám phá, cũng không thể đi hết mọi ngóc ngách của nó. Nhưng so với toàn bộ vũ trụ, hành tinh của chúng ta thực sự nhỏ bé đến mức nào?

 Trước hết, hãy nhìn vào Mặt Trăng. Bạn có thể quen thuộc với nó, nhưng khoảng cách thực tế không như nhiều người tưởng tượng. Mặt Trăng cách chúng ta khoảng 384.400 km. Để dễ hình dung, khoảng không gian giữa Trái Đất và Mặt Trăng đủ chỗ để xếp khoảng 30 quả Trái Đất liên tiếp. Đó cũng là lý do một tên lửa mất khoảng ba ngày mới tới được đó, xa hơn nhiều so với cảm nhận thông thường của chúng ta.

Nếu bạn lái chiếc xe Công thức 1 nhanh nhất với tốc độ tối đa 378 km/h, bạn sẽ mất hơn 42 ngày để đến Mặt Trăng. Và đó mới chỉ là vệ tinh gần nhất của chúng ta. Sao Hỏa – hành tinh đỏ – trung bình cách xa tới 225 triệu km, gấp khoảng 585 lần khoảng cách tới Mặt Trăng. Việc đưa con người lên sao Hỏa vì thế không hề đơn giản.

Ngày nào đó, khi có người đặt chân lên hành tinh này lần đầu tiên, họ sẽ nhìn lên bầu trời và thấy Trái Đất chỉ là một chấm nhỏ, giống như bức ảnh năm 2014 được tàu thám hiểm Curiosity chụp từ sao Hỏa. Mỗi tin nhắn gửi về Trái Đất sẽ mất từ 3 đến 21 phút mới tới nơi, tùy theo vị trí quỹ đạo của hai hành tinh lúc đó, chậm hơn rất nhiều so với độ trễ chỉ 1,3 giây giữa Trái Đất và Mặt Trăng.

Xa hơn nữa là tàu vũ trụ Voyager 1. Vào thời điểm được nhắc đến, nó đã cách Trái Đất khoảng 164,7 đơn vị thiên văn. Một đơn vị thiên văn là khoảng cách trung bình giữa Mặt Trời và Trái Đất, nghĩa là Voyager 1 lúc đó đã xa hơn Mặt Trời khoảng 165 lần, tương đương khoảng 24,6 tỷ km – trở thành vật thể nhân tạo xa nhất từng được con người chế tạo.

Tàu được phóng năm 1977 với nhiệm vụ ban đầu là khám phá các hành tinh bên ngoài hệ Mặt Trời. Hiện nay, nó đã bước vào không gian giữa các vì sao, vùng nằm ngoài tầm ảnh hưởng trực tiếp của Mặt Trời và vẫn tiếp tục gửi về những dữ liệu quý giá với tư cách là tàu thăm dò đầu tiên tiếp cận khu vực này.

Voyager 1 còn mang theo Đĩa Vàng – một bản ghi chứa âm thanh, nhạc và hình ảnh về Trái Đất, dành cho bất kỳ dạng sống ngoài hành tinh hoặc nền văn minh tương lai nào có thể tìm thấy nó. Đĩa gồm 48 hình ảnh (Trái Đất, con người, các khái niệm khoa học và thiên văn), âm thanh của động vật, con người, công nghệ, lời chào bằng 55 ngôn ngữ khác nhau, cùng 27 bản nhạc từ nhiều quốc gia nhằm thể hiện sự đa dạng của hành tinh chúng ta.

Tàu vẫn đang bay với tốc độ khoảng 61.200 km/h. Dù đã di chuyển không ngừng trong nhiều thập kỷ, nó vẫn còn nằm trong hệ Mặt Trời vì chưa vượt qua đám mây Oort. Voyager 1 sẽ mất khoảng 300 năm nữa mới đến được vùng này, và cần thêm khoảng 30.000 năm để hoàn toàn vượt qua – khoảng thời gian tương đương với thời điểm loài người Neanderthal tuyệt chủng.

Khi rời khỏi hệ Mặt Trời, chúng ta chuyển sang dùng đơn vị năm ánh sáng – khoảng cách ánh sáng đi được trong một năm, tương đương khoảng 9,5 nghìn tỷ km. Hệ Mặt Trời của chúng ta, tính đến hết đám mây Oort, có kích thước khoảng 1,6 năm ánh sáng. Ngôi sao gần Mặt Trời nhất là Proxima Centauri, cách khoảng 4,25 năm ánh sáng. Voyager 1 sẽ mất khoảng 75.000 năm mới tới được đó. Còn nếu đi bằng xe Công thức 1 với tốc độ 378 km/h, bạn sẽ cần khoảng 12 triệu năm.

Ở khoảng cách 125 năm ánh sáng, một nền văn minh ngoài hành tinh đủ tiên tiến có thể bắt được các chương trình phát thanh và truyền hình cũ của chúng ta nếu họ có máy thu đủ nhạy. Xa hơn khoảng cách đó, tín hiệu của chúng ta gần như không còn cơ hội được nghe thấy.

Khi phóng tầm nhìn ra xa hơn, chúng ta thấy Dải Ngân Hà – thiên hà của mình. Vùng 125 năm ánh sáng mà sóng điện từ của chúng ta bao phủ chỉ là một vòng tròn nhỏ bé trong thiên hà rộng khoảng 100.000 năm ánh sáng. Dải Ngân Hà chứa khoảng 250 tỷ ngôi sao, và số lượng hành tinh còn lớn hơn, vì hầu hết các ngôi sao đều có ít nhất một hành tinh quay quanh.

Cho đến những năm 1920, người ta vẫn nghĩ rằng tất cả các ngôi sao trong vũ trụ đều nằm trong Ngân Hà. Sau “Cuộc tranh luận lớn”, khoa học xác định rằng Ngân Hà chỉ là một trong vô số thiên hà. Chúng ta thuộc Nhóm Địa phương, tập hợp khoảng 100 thiên hà với đường kính khoảng 10 triệu năm ánh sáng.

Nhóm Địa phương lại nằm trong Siêu cụm Xử Nữ, chứa khoảng 100 nhóm và cụm thiên hà, với đường kính khoảng 110 triệu năm ánh sáng. Thiên hà thống trị của siêu cụm này là Cụm Xử Nữ, khiến chúng ta càng trở nên nhỏ bé hơn.

Siêu cụm Xử Nữ chỉ là một phần của Siêu cụm Laniakea – cấu trúc chứa khoảng 100.000 thiên hà và có đường kính khoảng 520 triệu năm ánh sáng. Xa hơn nữa là Phức hợp Siêu cụm Pisces-Cetus, một sợi thiên hà khổng lồ trải dài khoảng một tỷ năm ánh sáng, gồm khoảng 60 siêu cụm và là một trong những cấu trúc lớn nhất từng được quan sát.

Theo tính toán của một nhóm nhà khoa học tại Đại học Oxford, vũ trụ có thể lớn hơn ít nhất 250 lần so với vũ trụ quan sát được, tương đương khoảng 7 nghìn tỷ năm ánh sáng. Theo thuyết lạm phát của Alan Guth, con số này còn có thể lên tới 100.000 nghìn tỷ lần. Để dễ hình dung: nếu vũ trụ quan sát được chỉ bằng một đồng xu euro, thì toàn bộ vũ trụ sẽ lớn đến mức bao phủ một không gian dài khoảng 250.000 năm ánh sáng – gấp hơn hai lần đường kính Dải Ngân Hà.

Cuối cùng, chúng ta đến với vũ trụ quan sát được, phần vũ trụ mà ánh sáng đã có đủ thời gian để tới được Trái Đất. Phức hợp Siêu cụm Pisces-Cetus chỉ là một phần rất nhỏ trong đó. Vũ trụ quan sát được có đường kính khoảng 93 tỷ năm ánh sáng, chứa khoảng 2 nghìn tỷ thiên hà và khoảng 10²⁴ ngôi sao – nhiều hơn số hạt cát trên toàn Trái Đất, và rất có thể chứa nhiều hành tinh giống Trái Đất hơn nữa.

Đây chỉ là phần chúng ta có thể nhìn thấy. Ánh sáng từ những vùng xa hơn vẫn chưa kịp đến. Vũ trụ thực sự được cho là lớn hơn rất nhiều, nhưng chúng ta chưa biết chính xác bao nhiêu.

Do sự giãn nở ngày càng nhanh của vũ trụ, có những vùng không gian đang rời xa chúng ta nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Đó là chân trời sự kiện vũ trụ – giới hạn tự nhiên của những gì chúng ta có thể quan sát. Ngay cả khi nhân loại tồn tại mãi mãi, vẫn sẽ có vô số nơi chúng ta không bao giờ nhìn thấy hay biết đến.

Nhìn vào con số ấy, người ta không khỏi nhớ đến lời Đức Thích Ca Mâu Ni từng nói trong kinh điển Đại thừa: trong một hạt cát đã hàm chứa cả tam thiên đại thiên thế giới – nghĩa là hàng tỷ thế giới với sắc thân, chúng sinh và cảnh giới tương tự như nhân loại chúng ta. Với con mắt của Như Lai, mọi sự đều thấu tỏ; còn chúng ta, với đôi mắt trần thịt hữu hạn không thể nào tưởng tượng nổi hình ảnh một vị Phật đang nhìn thấy toàn bộ vũ trụ ấy cùng một lúc.

Ngay cả Albert Einstein, người đã dành cả đời để nghiên cứu cấu trúc và quy luật của vũ trụ cuối cùng cũng phải thừa nhận sự huyền bí bất khả tri ấy. Ông từng viết:

“Trải nghiệm đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể có là cái huyền bí. Đó là nguồn gốc của mọi nghệ thuật và khoa học chân chính… Cảm nhận được rằng đằng sau mọi thứ có thể trải nghiệm còn có điều gì đó mà trí tuệ chúng ta không thể thấu triệt, vẻ đẹp và sự cao cả chỉ chạm đến chúng ta một cách gián tiếp – đó chính là tính chất tôn giáo. Theo nghĩa này, và chỉ theo nghĩa này, tôi là một người sùng đạo sâu sắc.”

Einstein không tin vào một vị thần nhân cách can thiệp vào số phận con người. Ông tin vào “Thượng đế của Spinoza”, sự hài hòa trật tự của chính vũ trụ. Ông gọi cảm xúc ấy là tôn giáo vũ trụ: lòng kính sợ và ngưỡng mộ trước sự rộng lớn, tinh xảo và bí ẩn của cái toàn thể mà khoa học chỉ mới hé mở được một phần rất nhỏ.

Khi khoa học càng đẩy xa biên giới của tri thức, con người càng nhận ra rằng mình đang đứng trước một thực tại vượt xa mọi khả năng tưởng tượng. Và chính lúc ấy, lời dạy của Đức Phật về hạt cát chứa cả tam thiên đại thiên thế giới không còn là ẩn dụ xa vời, mà trở thành một sự thật đang dần được khoa học hiện đại xác nhận theo cách của riêng nó.

Chúng ta không biết chính xác những gì nằm ngoài tầm với của mình lớn đến mức nào. Điều duy nhất chúng ta chắc chắn là nó lớn hơn chúng ta rất, rất nhiều – lớn đến mức chỉ có con mắt của bậc giác ngộ mới có thể nhìn thấy trọn vẹn.

Mỹ Mỹ biên tập

From: MY LOAN & NguyenNThu


 

SỢ TIỆC  – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)  

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách”.

“Áo cưới là lòng mến!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có khi vừa đến tiệc, chúng ta đã muốn về vì phải ngồi với người mình không thích. Tin Mừng hôm nay kể về một bữa tiệc như thế; nhưng vào tiệc vẫn cần áo cưới – lòng mến. Vào tiệc mà lòng không vui, chúng ta ‘sợ tiệc’.

Khi các khách mời nhất loạt từ chối, chủ bảo các gia nhân ra các ngả đường, gặp ai “bất luận xấu tốt” cũng đưa về. Người xấu được nhắc trước người tốt! Người tốt không đứng ra mời; người xấu cũng không chờ người tốt cho phép mới có chỗ. Cả hai có mặt vì lòng quảng đại của nhà vua; ông không đợi họ nên tốt mới mời. Vì thế, ngồi vào chỗ của mình, chúng ta cần vui vì người khác cũng được chủ dành chỗ. Cầu nguyện là tạ ơn vì mình có mặt và người khác cũng có mặt. “Sự hiện diện của những Kitô hữu khác là nguồn vui và sức mạnh không gì sánh được cho người tin!” – Dietrich Bonhoeffer.

Nhưng lời mời có thể gặp một sự từ chối khác ngay trong phòng tiệc. Người không mặc áo cưới cũng đã đến, ngồi giữa các khách. Chúng ta có thể khước từ lời mời; nhưng cũng có thể đã vào tiệc mà vẫn khước từ người cùng bàn. Không bỏ về, không đổi mâm; nhưng lòng mình nhất quyết không cho người bên cạnh một cơ hội khác. Chính nhà vua, chứ không phải người cùng bàn, xét xem ai xứng đáng có chỗ. Áo cưới lòng mến đòi chúng ta cởi bỏ cái nhìn cũ ấy. Đã vào tiệc, còn cần để người khác vào lòng.

Isaia thấy trước một bữa tiệc Thiên Chúa đãi muôn dân, nơi Ngài lau khô nước mắt trên mọi khuôn mặt – bài đọc một. Có những giọt nước mắt chúng ta chưa biết, vì chỉ nhớ điều người ấy đã làm mà chưa hiểu những gì họ đã trải qua. Chúng ta thấy một lỗi lầm; Chúa thấy cả con người. Ngồi chung chưa xoá chuyện cũ, nhưng có thể giúp chúng ta thôi kể toàn bộ đời họ bằng chuyện cũ ấy. Để lòng mở ra như thế, chúng ta cần sức mạnh, “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” – bài đọc hai. Nhờ Ngài, chúng ta có thể ở lại, lắng nghe, và nhìn người anh em một cách khác.

Trong nhà thờ, chúng ta cùng đứng lên, quỳ xuống, mà vẫn tránh nhìn nhau. Có khi điều khó nhất sau Thánh lễ chỉ là nán lại, chào người mình không ưa. Một lời chào chưa giải quyết chuyện cũ, nhưng cho người ấy biết chúng ta không muốn chuyện cũ có tiếng nói cuối cùng. Đó có thể là một khởi đầu nhỏ cho nhau. “Hoà bình bắt đầu bằng một nụ cười!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã từng ngồi vào bàn với những người khiến kẻ khác muốn đứng dậy. Ngài biết tội họ, nhưng vẫn đến gần để họ dám ngồi lại. Trong Thánh Thể, Ngài trao Thân Mình cho chúng ta và cho người chúng ta khó thương. Người ấy cũng sống nhờ Đấng chúng ta vừa đón nhận. Chúng ta không thể vừa xin Ngài ở lại trong lòng mình vừa muốn gạt người ấy khỏi đời mình. Ngài còn phải chữa lành lòng chúng ta, để không còn ‘sợ tiệc’, thôi ngồi chung cho có, và dần biết cùng bàn, cùng lòng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thôi đòi đổi chỗ; dạy con đổi cách nhìn; đừng để chuyện cũ che khuất một người anh em!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

LỜI CHÚA CHÚA  NHẬT TUẦN XXVIII THƯỜNG NIÊN, NĂM A: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/11.html

Gặp ai, anh em cũng mời hết vào tiệc cưới.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : 2 “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình. 3 Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến. 4 Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ : ‘Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng : Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới !’ 5 Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi : kẻ thì đi thăm nông trại, người thì đi buôn, 6 còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà hành hạ và giết chết. 7 Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng. 8 Rồi nhà vua bảo đầy tớ : ‘Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng. 9 Vậy các ngươi đi ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.’ 10 Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

11 “Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, 12 mới hỏi người ấy : ‘Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới ?’ Người ấy câm miệng không nói được gì. 13 Nhà vua liền bảo những người phục dịch : ‘Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng ! 14 Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít’.”


 

Giải Nobel hòa bình thảm hại năm 1973

Dưới đây là bài luận chi tiết  về thảm họa lịch sử của Giải Nobel Hòa bình năm 1973 và cú sốc địa chính trị hai năm sau đó khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ vào năm 1975- Bài do AI Gemini viết:

Khi Biểu Tượng Hòa Bình Che Lấp Thực Tại Lịch Sử: Thảm Họa Nobel Hòa Bình 1973 và Sự Cố Năm 1975

Chân dung những cá nhân từng đạt giải Nobel Hòa bình, trong đó có ông Kissinger (hàng trên cùng, thứ hai từ trái sang), được trưng bày tại Viện Nobel Na Uy ở Oslo. Ảnh: Reuters.

Chân dung những cá nhân từng đạt giải Nobel Hòa bình, trong đó có ông Kissinger (hàng trên, thứ hai từ trái sang), được trưng bày tại Viện Nobel Na Uy ở Oslo. Ảnh: Reuters.

Trong lịch sử hơn 120 năm của Giải Nobel Hòa bình, Ủy ban Nobel Na Uy ở Oslo từng đưa ra nhiều quyết định gây tranh cãi. Tuy nhiên, không có sự kiện nào bộc lộ sự sai lầm thảm hại giữa kịch bản ngoại giao trên giấy tờ và thực tại tàn khốc trên chiến trường rõ ràng như quyết định trao giải năm 1973 cho cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger và nhà ngoại giao Bắc Việt Lê Đức Thọ.

Diễn biến lịch sử hai năm sau đó — khi quân đội Bắc Việt tràn vào Sài Gòn, xóa bỏ hoàn toàn Việt Nam Cộng hòa vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 — không chỉ làm sụp đổ Hiệp định Paris mà còn giáng một đòn chí mạng vào uy tín của tổ chức trao giải tại Oslo.

 Hiệp Định Paris 1973: Tấm Màn Ngoại Giao Cho Một Lối Thoát

Tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Ngay lập tức, Ủy ban Nobel tại Oslo đã vội vã vinh danh Henry Kissinger và Lê Đức Thọ vì đã “thương lượng thành công một thỏa thuận hòa bình”.

Tuy nhiên, giới quan sát và các nhà phân tích địa chính trị sắc bén thời đó đã sớm nhận ra bản chất thực sự của thỏa thuận này:

  • Chiến lược “Khoảng cách Thích hợp” (Decent Interval): Đối với Washington, Hiệp định Paris thực chất là một chiến thuật rút quân trong danh dự cho nước Mỹ. Mục tiêu chính là đưa tù binh Mỹ về nước và rút toàn bộ bộ binh Mỹ ra khỏi chiến trường, tạo ra một “khoảng thời gian chấp nhận được” trước khi tình hình Miền Nam tự biến động.

  • Sự gạt bỏ bên liên quan trực tiếp: Hiệp định được đàm phán chủ yếu giữa hai thế lực lớn, đặt chính quyền và quân dân Việt Nam Cộng hòa vào thế đã rồi. Việc cho phép hàng trăm ngàn quân chủ lực Bắc Việt tiếp tục ở lại lãnh thổ Miền Nam sau khi Mỹ rút đi đã tạo ra một sự mất cân bằng quân sự chí mạng.

Saigon in Vietnam on April 30, 1975 - North Vietnamese tanks entered ...

2. Lời Thú Nhận Sự Thật Từ Chính Những Người Trong Cuộc

Sự phi lý của giải thưởng lớn đến mức chính các nhân vật chính cũng không thể che đậy:

  • Lê Đức Thọ từ chối nhận giải: Ông trở thành người đầu tiên trong lịch sử tuyên bố thẳng thắn từ chối Giải Nobel Hòa bình. Ông thẳng thắn chỉ ra rằng hòa bình thực sự chưa hề lặp lại ở Việt Nam và các bên vẫn đang vi phạm thỏa thuận. Thực tế, phía Bắc Việt xem khoảng thời gian này là cơ hội vàng để củng cố tuyến đường tiếp vận Trường Sơn và chuẩn bị cho trận chiến quyết định.

  • Henry Kissinger muốn trả lại huy chương: Sau khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, Kissinger đã gửi điện văn đề nghị trả lại tấm huy chương và tiền thưởng Nobel, thừa nhận rằng Hiệp định Paris đã thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên, Ủy ban Nobel đã từ chối nhận lại vì quy chế tổ chức không cho phép tước hay hủy giải thưởng.

  • Làn sóng phản đối nội bộ: Lần đầu tiên trong lịch sử Nobel, hai thành viên trong chính Ủy ban Nobel Na Uy đã từ chức để phản đối quyết định này. Báo chí quốc tế lúc bấy giờ cay đắng gọi đây là “Giải thưởng Chiến tranh” (The War Prize).

3. Sự Sụp Đổ Năm 1975 và Bài Học Về Niềm Tin

Chỉ hai năm sau khi Ủy ban Oslo ăn mừng “hòa bình”, các đoàn xe tăng Bắc Việt húc văng cổng Dinh Độc Lập vào mùa xuân năm 1975, chính thức chấm dứt sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa. Sự kiện này mang lại những bài học đắt giá:

  1. Rủi ro của việc vội vã vinh danh “Ý định”: Việc trao giải thưởng dựa trên những lời hứa ngoại giao thay vì kết quả thực chứng bền vững trên thực địa là sai lầm chết người.

  2. Sự mù kìm của các tổ chức quốc tế: Khi các tổ chức quốc tế ưu tiên các kịch bản ngoại giao đẹp mắt mà phớt lờ ý đồ chiến lược thực sự và cán cân lực lượng thực tế, họ tự biến mình thành công cụ hợp thức hóa cho một cuộc can thiệp hoặc chiếm đóng tiếp theo.

  3. Xói mòn niềm tin công chúng: Khi một tổ chức nhân danh hòa bình lại trao thưởng cho một thỏa thuận dẫn đến sự sụp đổ của cả một quốc gia và thảm cảnh hàng triệu người phải bỏ nước ra đi (làn sóng người vượt biển – Boat People), niềm tin của công chúng vào tính trung lập và sắc bén của tổ chức đó sẽ bị tổn thương vĩnh viễn.

Kết Luận

Sự kiện năm 1975 là minh chứng lịch sử đắt giá nhất cho thấy: Mọi tờ giấy cam kết ngoại giao hay giải thưởng danh giá đều trở nên vô nghĩa nếu nó thoát thoát khỏi logic thực tế và bản chất của quyền lực.

Thảm họa Nobel Hòa bình năm 1973 không chỉ là một vết đen trong hồ sơ của Ủy ban Oslo, mà còn là lời nhắc nhở vĩnh viễn cho nhân loại rằng: Hòa bình thực sự không thể được xây dựng bằng sự ngụy biện ngoại giao hay những ảo tưởng trên giấy tờ.

TẠI SAO CÓ NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN, CÓ NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH?

 

Tôi 71 tuổi, gặp nhiều bạn già lắm rồi.

Có bác 75 tuổi, ai gặp cũng quý. Bác nói nhỏ nhẹ, hay cười, con cháu quây quần, hàng xóm nhờ gì cũng giúp. Ở gần bác thấy ấm.

Cũng có bác 75 tuổi, ai gặp cũng sợ. Bác hay xét nét, hay kể công, hay giận, con cháu đến thăm một chút rồi về vội. Ở gần bác thấy mệt.

Cùng một tuổi 75, cùng một thời chiến tranh đi qua, tại sao lại khác nhau đến vậy?

Tôi nghiệm ra, không phải do tuổi. Mà do 4 thứ người ta ôm trong lòng suốt 20 năm qua.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI ĐÃ HỌC ĐƯỢC CHỮ BUÔNG. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI CÒN ÔM CHỮ GIỮ.

Nhà tâm lý học Carl Jung nói: “Tôi không phải là những gì đã xảy ra với tôi. Tôi là những gì tôi chọn trở thành.”

Người khó tính là người 60 tuổi vẫn còn giữ trong lòng chuyện 30 năm trước: Anh kia nợ tôi 2 chỉ vàng chưa trả. Chị dâu nói xấu tôi năm 1985. Con dâu cãi tôi một câu năm 2010. Họ giữ hết. Mỗi ngày họ nhai lại một lần. Lâu ngày, mặt họ hằn lên sự giận dữ.

Người hiền là người đã buông được. Không phải vì họ quên, mà vì họ hiểu: Giữ giận là uống thuốc độc làm mình mau chết.Buông không phải là thua, buông là để tay mình rảnh mà ôm cháu.

Hiền hay khó tính, là do mình chọn ôm hay chọn buông.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI CÒN BIẾT TÒ MÒ. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI ĐÃ ĐÓNG CỬA LẠI.

Tôi để ý, bác nào 70 tuổi mà vẫn ham học cái mới: học bấm điện thoại, học trồng một loại rau mới, học nghe một bài nhạc của cháu, hỏi cháu “cái này là gì vậy?” – thì bác đó rất hiền và trẻ.

Vì não của bác đó còn mở. Bác đó biết mình còn nhiều thứ chưa biết, nên bác khiêm tốn.

Bác nào 70 tuổi mà nói “Tao sống 70 năm rồi, cái gì tao chẳng biết. Chúng mày biết gì mà nói” – thì bác đó sẽ rất khó tính. Vì bác đã đóng sập cửa lại rồi. Không ai nói được bác nữa. Bác cô đơn trong chính cái biết của mình.

Tâm lý học gọi là “Tư duy phát triển” và “Tư duy đóng kín”. Người hiền luôn nghĩ mình còn phải học. Người khó tính luôn nghĩ mình phải dạy người khác.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI CÒN CÓ VIỆC ĐỂ LÀM. NGƯỜI KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI THẤY MÌNH HẾT GIÁ TRỊ.

Đây là điều đau nhất.

Một bác trai 62 tuổi về hưu. Trước đây bác là trưởng phòng, ai cũng chào. Nay về nhà, không ai chào nữa. Bác thấy mình vô dụng. Bác bèn đi quản con, quản cháu, xét nét từng bữa cơm, từng cái chổi quét nhà. Bác khó tính không phải vì bác xấu, mà vì bác sợ mình không còn giá trị.

Ngược lại, bác nào về hưu mà tìm được một việc mới: nuôi 5 con gà, trồng giàn mướp, sáng đi bộ với mấy ông bạn, chiều viết vài dòng, tối gọi điện cho con… Bác đó bận rộn với niềm vui của mình, nên bác không có thời gian để khó tính với ai cả.

Muốn hiền, phải có một việc nhỏ để làm mỗi ngày, và thấy việc đó có ích.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI ĐÃ CHỊU THIỆT NHIỀU RỒI, NÊN HIỂU RA RẰNG HƠN THUA LÀ VÔ NGHĨA.

Lúc 40 tuổi, ta hơn thua nhau từng lời nói.

Lúc 50 tuổi, ta hơn thua nhau tiền nhiều tiền ít.

Lúc 60 tuổi, ta hơn thua nhau con mình giỏi hơn con người ta không.

Đến 70 tuổi, đi qua một đám tang người bạn, đi qua một lần nằm viện, ta mới hiểu: Hơn thua là vô nghĩa hết.

Người hiền là người đã hiểu ra điều đó sớm hơn. Nên họ nhường. Họ nói lời dịu dàng. Họ không chấp.

Người khó tính là người đến 70 vẫn còn muốn thắng. Muốn con phải nghe mình, muốn cháu phải theo ý mình, muốn hàng xóm phải nể mình. Càng muốn thắng, càng cô đơn.

Cho nên, tôi nghiệm ra một câu để tự răn mình mỗi sáng:

Càng già, không phải là để khó tính hơn. Càng già, là để hiền hơn.

Hiền không phải là nhu nhược. Hiền là trí tuệ. Vì chỉ người trí tuệ mới hiểu: Cuộc đời này ngắn lắm, giận nhau làm gì, khó nhau làm gì, để thời gian mà thương nhau.

Bạn 60 tuổi, 70 tuổi ơi, hôm nay bạn chọn hiền hay chọn khó tính?

#TuoiGia #HienLanh #BaiHocCuocSong— ở Shakopee.


 

MỘT VÒNG ĐỜI – MỘT LẦN TỈNH THỨC

My Lan Pham 

MỘT VÒNG ĐỜI – MỘT LẦN TỈNH THỨC

Lương y Ngô Đức Vượng

Tôi đã nhìn bức ảnh này rất lâu…

Một hạt giống rơi xuống đất.

Nảy mầm. Lớn lên. Trưởng thành.

Con người cũng vậy.

Ta sinh ra, tập đi, lớn lên…

Rồi bắt đầu chạy.

Chạy theo việc học.

Chạy theo công việc.

Chạy theo tiền bạc.

Chạy theo danh vọng.

Chạy theo những điều mà ta nghĩ rằng: có được rồi mình sẽ hạnh phúc.

Nhưng càng chạy, thời gian càng trôi.

Một ngày ngoảnh lại, cha mẹ đã già.

Con cái đã lớn.

Mái tóc mình cũng bắt đầu bạc.

Và rồi ta chợt hiểu:

Cuộc đời không dài như ta từng nghĩ.

Ngày còn nhỏ, một năm tưởng như vô tận.

Đến tuổi trưởng thành, mười năm đôi khi chỉ như một cái chớp mắt.

Sinh ra.

Lớn lên.

Mưu sinh.

Lập gia đình.

Nuôi con.

Già đi…

Rồi một ngày, thân này cũng trở về với đất.

Cả một đời tranh hơn thua, cuối cùng mang theo được gì?

Tiền bạc – để lại.

Nhà cửa – để lại.

Danh vọng – để lại.

Những điều từng khiến ta giận dữ, hơn thua, mất ăn mất ngủ… rồi cũng để lại.

Chỉ có những gì ta đã sống, đã yêu thương, đã cho đi và đã gieo là để lại dấu ấn trong cuộc đời này.

Vậy nên…

Khi cha mẹ còn bên cạnh, hãy dành thời gian cho cha mẹ.

Khi vợ chồng còn ngồi chung một mâm cơm, hãy biết trân trọng nhau.

Khi con còn muốn nắm tay mình, hãy đặt điện thoại xuống và nắm lấy bàn tay ấy.

Khi cơ thể còn khỏe mạnh, hãy biết chăm sóc nó.

Khi còn có thể nói lời yêu thương, xin đừng chờ đến ngày chỉ còn đứng trước một di ảnh mới nói hai chữ: “Giá như…”

Đời người ngắn lắm.

Đừng dành cả cuộc đời để chạy đi tìm hạnh phúc, rồi đến cuối con đường mới nhận ra:

Hạnh phúc từng ở ngay bên cạnh mình.

Một bữa cơm đủ người.

Một mái nhà bình an.

Cha mẹ còn khỏe.

Con cái còn cười.

Thân còn khỏe mạnh.

Tâm còn biết yêu thương.

Ấy đã là phước.

Cuộc đời là một vòng tròn.

Ta đến với hai bàn tay trắng, rồi cũng trở về với hai bàn tay trắng.

Vì vậy, khi còn được sống…

Hãy sống cho tử tế.

Hãy thương khi còn có thể thương.

Hãy biết ơn khi còn có thể biết ơn.

Và hãy tỉnh thức, trước khi thời gian đánh thức chúng ta bằng hai chữ: QUÁ MUỘN.


 

SAU TUỔI 60 CÓ MỘT KIỂU “GIÀU CÓ”  MÀ TIỀN NHIỀU CHƯA CHẮC MUA ĐƯỢC

Ds Lê Tiện

Sau tuổi 60:

Có người tài khoản rất nhiều tiền…

nhưng bước đi phải có người dìu.

Có người nhà rất rộng…

nhưng đêm nằm mãi không ngủ được.

Có người con cháu thành đạt…

nhưng trong lòng lúc nào cũng nặng trĩu.

Và cũng có những cô bác cuộc sống rất giản dị…

Nhưng sáng tự mình thức dậy.

Tự đi bộ.

Tự ăn uống.

Tự chăm sóc bản thân.

Tối ngủ một giấc tương đối yên.

Gặp con cháu còn cười vui.

Theo DS. Lê Tiện, đó mới là một kiểu “giàu có” rất đáng quý của tuổi già.

  1. GIÀU SỨC KHỎE: MUỐN ĐI ĐÂU VẪN TỰ ĐI ĐƯỢC

Sau tuổi 60, đôi chân khỏe đôi khi quý hơn một chiếc xe đẹp.

Vì xe có thể mua.

Nhưng khả năng tự đứng lên khỏi ghế, tự bước lên cầu thang, tự đi chợ, tự tắm rửa…

Nếu đã mất đi, muốn lấy lại không hề dễ.

Cô bác đừng chỉ hỏi:

“Cholesterol của tôi bao nhiêu?”

Hãy hỏi thêm:

“Cơ chân của tôi còn khỏe không?”

“Tôi có đứng lên ngồi xuống dễ dàng không?”

“Tôi có đi bộ 20–30 phút mà không quá mệt không?”

Tuổi già giữ được khả năng tự lập là một tài sản rất lớn.

  1. GIÀU MỘT GIẤC NGỦ YÊN

Có những người cả đời kiếm tiền.

Đến khi có tiền rồi lại chỉ mong một điều rất đơn giản:

Đặt lưng xuống là ngủ được.

Không trằn trọc tới nửa đêm.

Không 2–3 giờ sáng thức giấc rồi nhìn trần nhà.

Không sáng dậy với cái đầu nặng trĩu.

Một giấc ngủ ngon không chỉ giúp cô bác dễ chịu hơn.

Nó còn liên quan đến trí nhớ, tâm trạng, huyết áp, chuyển hóa và sức khỏe tim mạch.

Sau tuổi 60, ngủ được tương đối yên đã là một loại phúc.

  1. GIÀU KHẢ NĂNG TỰ CHĂM SÓC MÌNH

Có thể tự ăn.

Tự tắm.

Tự mặc quần áo.

Tự đi vệ sinh.

Tự nhớ lịch thuốc.

Tự quyết định những việc quan trọng của đời mình.

Những việc khi trẻ ta thấy quá bình thường…

Đến một ngày mới hiểu:

Đó chính là tự do.

Vì vậy, đừng đợi đến lúc yếu mới nghĩ đến chuyện giữ cơ, giữ xương, giữ thăng bằng và giữ trí nhớ.

Hãy bắt đầu khi mình vẫn còn khỏe.

  1. GIÀU NHỮNG MỐI QUAN HỆ ẤM ÁP

Sau tuổi 60, cô bác không cần quá nhiều người bên cạnh.

Chỉ cần vài người thật lòng.

Một người có thể ngồi ăn cùng mình.

Một người để gọi điện khi buồn.

Một người sẵn sàng hỏi:

“Hôm nay mình có khỏe không?”

Tiền có thể thuê người chăm sóc.

Nhưng tiền không dễ mua được sự quan tâm thật lòng.

Vì thế, khi còn có thể…

Hãy đối xử tử tế với bạn đời.

Gần gũi với con cháu.

Giữ vài người bạn cũ.

Và đừng vì một chuyện nhỏ mà đánh mất một mối quan hệ đã đi cùng mình hàng chục năm.

  1. GIÀU MỘT CÁI TÂM NHẸ

Đây có lẽ là kiểu giàu khó nhất.

Có nhà đẹp mà lòng bất an thì vẫn mệt.

Có tiền nhiều mà ngày nào cũng so đo, giận dữ, tiếc nuối thì vẫn khổ.

Càng lớn tuổi, DS. Lê Tiện càng thấy:

Có những chuyện thắng cũng chẳng để làm gì.

Một lời nói cũ.

Một người từng làm mình phật ý.

Một chuyện xảy ra từ mười năm trước.

Nếu giữ mãi trong lòng…

Người mệt nhất vẫn là mình.

Tuổi già đẹp nhất không phải là không có chuyện buồn.

Mà là mình đã học được cách:

Chuyện đáng nhớ thì giữ.

Chuyện không đáng thì buông.

SAU TUỔI 60, “GIÀU” KHÔNG CHỈ NẰM TRONG TÀI KHOẢN

Mà còn là:

Chân còn khỏe để đi.

Tay còn khỏe để làm.

Đầu óc còn minh mẫn để tự quyết.

Đêm còn ngủ được.

Nhà còn tiếng người thân.

Và lòng mình còn đủ nhẹ để mỉm cười.

Nếu cô bác đang có phần lớn những điều này…

Xin đừng coi đó là chuyện bình thường.

Đó là một gia tài.

Và quan trọng hơn:

Gia tài này phải được chăm sóc mỗi ngày.

Ăn uống điều độ một chút.

Tập cơ mỗi ngày một chút.

Đi bộ vừa sức một chút.

Ngủ sớm hơn một chút.

Bớt giận một chút.

Thương mình nhiều hơn một chút.

Có thể cô bác không trở thành người giàu nhất.

Nhưng hoàn toàn có thể trở thành một người giàu sức khỏe, giàu bình an và giàu những năm tháng đáng sống.

Nếu thấy bài viết này đáng để nhắc mình, cô bác hãy lưu lại.

Và thử tự hỏi một câu:

“Ở tuổi của mình hôm nay, tôi đang giàu nhất ở điều gì?”


 

TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ!

Phan Thế Nghĩa

Sau 1975, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng.

Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng?

Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

 Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,… Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược.

 Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế… Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời…”.

Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 1975, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

 Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn – Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết.

  Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.

 Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt.

Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.

  Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc.

 Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5- 7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ… bãi gửi xe.

 Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em…

 Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả? Những năm sau 1975, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la,…

Năm 1978, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, qúy phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C. V. Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

  Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu – Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

 Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 1975 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

  Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…

  Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?

  Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.

  Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

 Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì.

 Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

  Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo.

 Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.

  Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong… Thánh.

  Tháng tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

 Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm.

 Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 1975 là như thế đó, lòng dạ nào yên?

  Năm 1975 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi?

  Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…”.

Vũ Thế Thành


 

ÔNG TRUMP NỒNG HẬU ĐÓN ÔNG TẬP: ĐÌNH CHIẾN THƯƠNG MẠI, AI, QUỐC YẾN XA HOA VÀ GÌ NỮA?

BBC News Tiếng Việt

 ÔNG TRUMP NỒNG HẬU ĐÓN ÔNG TẬP: ĐÌNH CHIẾN THƯƠNG MẠI, AI, QUỐC YẾN XA HOA VÀ GÌ NỮA?

Khi chuyên cơ chở Chủ tịch Tập Cận Bình và phu nhân đáp xuống sân bay tại Căn cứ liên hợp Andrews ở bang Maryland vào hôm 23/9, đích thân Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ra tận chân cầu thang đón, một nghi thức ngoại giao hiếm hoi, cho thấy nhà lãnh đạo Trung Quốc được đặc biệt trọng thị.

Chuyến thăm mang ý nghĩa trọng đại này là chuyến đi đầu tiên của ông Tập tới Washington kể từ năm 2015.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, ông Trump đã khoản đãi quốc yến mời ông Tập, hai bên dự kiến sẽ có các cuộc họp kín, và nhiều nội dung thảo luận, từ trí tuệ nhân tạo (AI), vấn đề Iran, Đài Loan cho đến việc gia hạn thỏa thuận đình chiến thương mại.

#BBCNewsTiengViet #DonaldTrump #TapCanBinh #quanheMy_Trung  


 

PHÉP LẠ THỜI HIỆN ĐẠI: RƠI TỰ DO TỪ MÁY BAY F15 MÀ KHÔNG CHẾT

 
 
Video “Đó là một phép màu” – Phi công F-15 tiết lộ 50 giờ sinh tồn và chiến dịch giải cứu nghẹt thở (do SGP Thuyết Minh đăng tải, chuyển thể từ phóng sự của 60 Minutes của đài CBS) kể lại câu chuyện sinh tồn và được giải cứu của một phi công tiêm kích Không quân Hoa Kỳ sau khi bị bắn rơi trong lãnh thổ đối phương, Iran.
Hình minh họa

Tóm tắt về “Phép màu” rơi tự do mà không tử vong!

  • Cánh Dù  không bung: Sau khi phóng ghế khỏi máy bay bị trúng đạn, Đại tá Bravo phát hiện dù cứu hộ của mình đã bị hư hỏng nặng và không thể bung ra do sức ép vụ nổ  từ tên lửa vác vai của Iran, khiến ông rơi tự do xuống đất.

  • Va chạm cực mạnh: Dựa trên các chấn thương và mô tả hiện trường, các chuyên gia y học hàng không quân sự ước tính ông đã va chạm với mặt đất ở tốc độ 70 đến 100 dặm/giờ (113–161 km/h)—vận tốc va chạm thông thường luôn gây tử vong.

  • Sống sót thần kỳ: Dù mô tả cú va chạm “như bị một đoàn tàu băng băng lao vào và tông cho tan tác”, ông vẫn sống sót mà không bị tổn thương nội tạng gây tử vong hay bị liệt. Ông bị gãy cột sống, gãy tay, gãy xương vai, bong gân cổ chân và rách nhiều vị trí trên mặt.

  • Lẩn tránh & Được giải cứu: Vẫn giữ được ý thức, ông cầu nguyện và phát tin nhắn “God is good” (Chúa thật tốt lành) qua thiết bị định vị. Dù bị gãy nhiều xương, ông đã bò và leo lên dãy núi Zagros ở độ cao hơn 2.100m (7.000 feet) để lẩn tránh khoảng 1.500 quân địch đang truy quét, trước khi được Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ giải cứu sau 50 giờ.

Trong cuộc phỏng vấn với chương trình 60 Minutes của đài CBS, Đại tá Bravo chia sẻ rằng việc sống sót sau cú va chạm tốc độ cao và 50 giờ sinh tồn giữa vùng địch là một “phép màu thời hiện đại” nhờ  sự che chở đặc biệt của Thượng Đế.

“Lạy Chúa, xin cho ý Ngài được nên trọn, nhưng nếu con phải vượt qua tình cảnh này, xin cứu giúp con”  (Đại tá Bravo)

KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

 KINH KÍNH MỪNG – LỜI KINH CẦU CHO HÒA BÌNH

1.Kinh Kính Mừng

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc“

Đó là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường xuyên đọc nhất là trong tháng Mười. Nhưng nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel khi chào kính Đức Maria lúc truyền tin (Lc1,28). Đức Maria là Đấng đầy ơn phúc như lời sứ thần nói, vì có Thiên Chúa ở cùng. Phúc của Mẹ thật cao với khôn sánh, lời bà Ê-li-sa-bet xác nhận : ” Em thật có phúc hơn mọi người nữ, vì Đấng em cưu mang thật diễm phúc“. Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấy được đầy ơn phúc. Đức Maria là người diễm phúc không chỉ Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, mà Mẹ còn cưu mang Thiên Chúa ngay trong lòng mình nữa.

Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Ê-li-sa-bet trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Đồng thời Giáo hội thêm vào đó lời cầu khẩn Mẹ thương nâng đỡ phù trì “Thánh Maria ĐứcMẹ Chúa Trời… và trong giờ lâm tử”.

Phụng vụ mừng lễ Mẹ Mân Côi hôm nay, dựa trên trang Tin Mừng (Lc 1,26-38) lại dìu ta về với “Đức Maria đầy ơn phúc“. Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng, và Con lòng Mẹ gồm phúc lạ. Thế nên Giáo hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng hạnh phúc này : “Kính mừng Maria đầy ơn phúc” để tôn vinh Mẹ Maria. Đức Maria là người hạnh phúc vì Mẹ đã đón nhận hồng phúc, được tuyển chọn để cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Đấng Cứu Thế, là Mẹ Thiên Chúa. Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria cũng rất hạnh phúc khi được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốn cho con cái mình hạnh phúc, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con. Nên khi con cái lầm đường lạc lối, sa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay, dẫn lối chỉ đường cho con người đạt tới hạnh phúc với lời nhắn nhủ : “Hãy ăn năn đền tội, hãy năng lần hạt Mân Côi“. Làm theo lời dặn dò của Mẹ, Hội Thánh đã thoát nhiều cơn giông tố hiểm nguy xác hồn, phá tan được bao bè rối, mang lại bình an trong tâm hồn.

  1. Ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng

Chính Mẹ đã dạy chân-phước Alanô : “Bất-cứ ai trung thành đọc Kinh Mân Côi và suy ngắm những Mầu Nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết“.

Thánh Bênađô nói : “Kinh Kính Mừng làm cho Quỉ Dữ trốn chạy, Hỏa Ngục run sợ“.

Còn thánh Bônaventura nói : “Mẹ Maria chúc phúc cho những ai đọc Kinh Kính Mừng“.

Theo thánh Montfort “Những người rối đạo, những người vô tín ngưỡng, những người kiêu căng chê ghét hay khinh thị Kinh Kính Mừng, là những người có dấu bị trầm luân Hỏa-Ngục. Không có gì có hiệu-lực được lên Nước Thiên Chúa bằng đọc Kinh Mân Côi“.

Thánh Anphongsô “Nhờ Kinh Mân Côi, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trên đường trọn lành. Biết bao người được ơn chết lành và hưởng phúc Thiên đàng“.

Kinh Mân côi là kinh chính Ðức Trinh Nữ đã khuyến khích khi hiện ra với Cô Bernardette ở Lộ đức (1858) cũng như trong các lần hiện ra với ba em mục đồng Lucia, Phanxicô và Giaxinta 6 lần từ 13 tháng 5 tới 13 tháng 10 năm 1917. Cả 6 lần Đức-Mẹ đều thúc-dục : “Các con hãy tiếp tục đọc Kinh Mân Côi hằng ngày“. Và nhất là : “Các con hãy đọc kinh Mân côi để cầu nguyện cho hòa bình“.

  1. Lời kinh cầu cho hòa bình

Chúng ta đang sống trong một tình hình quốc tế đầy những căng thẳng, càng ngày càng gia tăng, khiến ngày mùng 07 tháng 9 năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô phải mời gọi cả Hội Thánh ăn chay cầu nguyện cho hòa bình tại Syria và những nơi bạo lực đang hoành hành. Lời cầu của Hội Thánh đã được nhận lời, chiến tranh đe dọa Damacus đang qua đi, nhưng tại Trung Đông, Ai Cập, Triều Tiên và cả Thánh Địa xem ra Hòa Binh vẫn vắng bóng. Năm nay, năm 2014, Đức Thánh Cha đã kêu gọi thế giới nhiều lần cầu nguyện cho Irắc, không những kêu gọi cầu nguyện cho hòa bình tại Israel và Palestin mà còn tổ chức cầu nguyện với nguyên thủ quốc gia cả hai nước. Trong tình hình hiện nay, chỉ biết chạy đến với Thiên Chúa, để khẩn xin hòa bình cho thế giới và. Việc làm trong tháng này là hãy lần hát Mân Côi, như Giáo hội vẫn thường làm trong các cơn túng cực. Vì chỉ có lời cầu nguyện mới vượt  qua được các biên giới các quốc gia và các ngăn cách của thù ghét cũng như không hiểu nhau, mới đem lại bình an cho nhân loại. Chúng ta hướng về Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, và khẳng định rằng, nơi nào thiếu hòa bình, nơi nào con người tỏ ra bất lực hay không muốn dẹp đi mầm mống thù ghét và chết chóc, thì việc trợ giúp phải đến từ Trời. Chính Ðức Maria, Nữ vương hòa bình, Ðấng đem chúng ta trở lại với Chúa Cha.

Trước những thế lực mạnh hơn, chúng ta thường cảm thấy bất lực. Khi nghĩ đến sức mạnh của những thế lực trên trái đất này định đoạt số phận của nhân loại, chúng ta cảm thấy bị giới hạn và bất lực, chúng ta chỉ biết tin tưởng vào lời cầu nguyện mà thôi, chúng ta tin cậy vào một sức mạnh lớn hơn, là Thiên Chúa. Ðức Maria, như gương mẫu của sự phó thác hoàn toàn cho thánh ý Chúa. Và với tình mẫu tử, Mẹ sẽ dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Kitô, theo dõi chúng ta trên đường đến với Chúa Cha, Ðấng có thể cải hóa và làm cho các tâm hồn con người tùng phục thánh ý của Người.

Vậy kinh Mân Côi càng có lý do hơn nữa để xúc tiến hòa bình, một hoà bình cho tới nay vẫn chưa trở lại. Với lời Mẹ Maria dạy và kinh nghiệm của các thánh về ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng, chúng ta hãy sốt sáng đọc kinh Mân Côi, để cầu nguyện cho bản thân, cho gia đình, cho Giáo hội, cho quê hương và cho toàn thế giới.

Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi, cầu cho chúng con.

Nữ Vương bình an, cầu cho chúng con. Amen. 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


 

 

CÁI CHẾT BÌNH AN VÀ HY VỌNG CỦA NGƯỜI CÓ ĐỨC TIN

Linh Mục Mi Trầm

CÁI CHẾT BÌNH AN VÀ HY VỌNG CỦA NGƯỜI CÓ ĐỨC TIN

Thương tiếc và tiễn biệt Cha Nhạc sĩ Ân Đức

Cái chết là điều không ai có thể tránh khỏi. Đối với nhiều người, cái chết gợi lên nỗi sợ hãi, buồn phiền và chia ly. Nhưng đối với người có đức tin, cái chết không phải là dấu chấm hết, mà là cánh cửa dẫn vào sự sống đời đời với Thiên Chúa.

Hôm nay, chúng ta tiễn biệt Cha Nhạc sĩ Ân Đức, một người đã dâng hiến cuộc đời để phục vụ Thiên Chúa và Giáo hội. Trong giây phút chia ly này, chúng ta cùng suy niệm về cái chết trong ánh sáng đức tin Kitô giáo, với niềm thương tiếc nhưng cũng tràn đầy hy vọng.

  1. Cái chết không phải là hết

Người Kitô hữu tin rằng con người được Thiên Chúa dựng nên để sống mãi với Ngài. Đức Giêsu đã phán:

“Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25)

Niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh giúp chúng ta nhìn cái chết bằng một ánh mắt khác. Thân xác trở về với bụi đất, nhưng sự sống của con người không chấm dứt. Chúng ta hy vọng được sống lại và hưởng hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa.

Vì thế, cái chết tuy là sự chia ly đau đớn, nhưng không thể dập tắt niềm hy vọng của người có đức tin.

  1. Bình an vì biết mình thuộc về Chúa

Người có đức tin không nhất thiết không sợ chết. Đau đớn, chia ly và những điều chưa hoàn tất vẫn có thể khiến chúng ta lo lắng. Tuy nhiên, giữa những thử thách ấy, người tín hữu có thể tìm được sự bình an khi phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa.

Thánh Phaolô nói:

“Dù sống hay chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.” (Rm 14,8)

Đó là nền tảng của sự bình an Kitô giáo. Chúng ta không thuộc về chính mình, nhưng thuộc về Chúa, Đấng yêu thương và cứu độ chúng ta.

Điều quan trọng nhất không phải là chúng ta đã sống được bao nhiêu năm, có bao nhiêu của cải hay đã đạt được những thành công nào, mà là chúng ta đã sống trong tình yêu Chúa và yêu thương tha nhân ra sao.

  1. Hy vọng vào lòng thương xót của Chúa

Không ai có thể tự mình trở nên xứng đáng trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta đặt hy vọng nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại để cứu độ nhân loại.

Khi đứng trước sự chết, chúng ta phó thác người quá cố vào lòng thương xót của Chúa. Chúng ta cầu nguyện, xin Ngài tha thứ những thiếu sót, thanh luyện và đưa người đã qua đời vào hưởng hạnh phúc đời đời.

Đối với mỗi người chúng ta, cuộc sống hôm nay cũng là thời gian chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ Thiên Chúa:

  • Thành tâm sám hối và sống theo Tin Mừng.
  • Tha thứ cho người khác và xin được tha thứ.
  • Yêu thương, phục vụ và làm điều thiện.
  • Phó thác bản thân cùng những người thân yêu trong tay Chúa.

Chúng ta không biết giờ chết của mình, nhưng có thể chuẩn bị tâm hồn bằng một đời sống trung thành với Ngài mỗi ngày.

  1. Cái chết là cuộc trở về Nhà Cha

Đức Giêsu đã nói với các môn đệ:

“Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở.” (Ga 14,2)

Đối với người có đức tin, quê hương đích thực không chỉ là nơi mình sinh ra, mà còn là quê hương trên trời, nơi Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Ngài.

Khi một người thân qua đời, chúng ta vẫn đau buồn vì tình yêu và sự chia ly. Nhưng đức tin giúp chúng ta không tuyệt vọng. Chúng ta cầu nguyện cho người đã qua đời và tin tưởng vào ngày được gặp lại nhau trong Chúa, nếu được Ngài thương ban ơn cứu độ.

Giờ đây, chúng ta thương tiếc Cha Nhạc sĩ Ân Đức. Cha đã hoàn tất hành trình dương thế và trao phó cuộc đời mình trong tay Thiên Chúa.

Những lời ca, tiếng hát và công việc phục vụ Chúa của Cha đã trở thành những hạt giống đức tin gieo vào lòng bao thế hệ. Những gì Cha đã dâng hiến cho Giáo hội và cộng đoàn sẽ còn được ghi nhớ trong tâm tình biết ơn.

  1. Lời tiễn biệt và cầu chúc Cha Nhạc sĩ Ân Đức

Kính thưa Cha Nhạc sĩ Ân Đức,

Giờ đây, Cha đã hoàn tất hành trình dương thế và trở về trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

Chúng con xin dâng lên Chúa lòng biết ơn về cuộc đời và sứ vụ của Cha. Cảm tạ Chúa vì đã ban cho Giáo hội một người con biết dùng tài năng âm nhạc để ca tụng Chúa, phục vụ Tin Mừng và nâng đỡ đời sống đức tin của cộng đoàn.

Trong giây phút chia ly, chúng con không chỉ khóc thương, mà còn đặt trọn niềm tin tưởng nơi Đức Kitô Phục Sinh. Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng Cha đã yêu mến và phục vụ suốt đời, đón nhận Cha vào hưởng niềm vui và bình an vĩnh cửu trong Nước Trời.

Xin chúc Cha an vui trong Chúa, mãi mãi sống trong tình yêu của Ngài, nơi không còn đau khổ, nước mắt và chia ly.

Xin cho những lời ca Cha đã dâng lên Thiên Chúa trên trần gian nay được tiếp nối bằng lời ca ngợi vĩnh cửu trên Thiên quốc.

Chúng con xin tiễn biệt Cha trong niềm tin, niềm hy vọng và lời cầu nguyện.

Hẹn gặp lại Cha trong Nhà Cha trên trời!

KẾT LUẬN

Người có đức tin không mong chết, nhưng không tuyệt vọng trước cái chết. Vì tin vào Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta sống bình an, chết trong phó thác và hy vọng được về với Chúa.

Điều quan trọng là mỗi ngày biết yêu thương, tha thứ và trung thành với Ngài, để khi giờ ra đi đến, chúng ta có thể thưa:

“Lạy Chúa, con xin phó thác linh hồn con trong tay Chúa.”

Lạy Chúa Giêsu, xin thương đón nhận linh hồn Cha Nhạc sĩ Ân Đức vào hưởng hạnh phúc muôn đời. Xin an ủi những người thân yêu và tất cả những ai đang thương tiếc Cha.

Lạy Chúa, xin cho linh hồn Cha Nhạc sĩ Ân Đức được nghỉ yên muôn đời.

Amen.

Một người bạn.