CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT… Nguyễn Thị Oanh

CHUYỆN THIÊN HẠ

 CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT…

Nguyễn Thị Oanh

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường  nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 48 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác. Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp. Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách. Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau bốn năm.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ. Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng! Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn nhau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi? Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu. Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”. Có  thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài? Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo. Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy? Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 33 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ: “Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”. Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 75 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta? Sau ( 1945 ) 78 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và máy bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về? Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại? Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở: “Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui,  khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam.

Nguyễn Thị Oanh

Việt Luận copy


 

‘Medicare for All’ có thành hiện thực?- Hiếu Chân/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

August 11, 2026

Hiếu Chân/Người Việt

Các chính trị gia cấp tiến nổi lên trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ năm nay – tiêu biểu là ông Abdul El-Sayed ứng cử vào Thượng Viện liên bang đại diện Michigan –  đều đề nghị cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế, thực hiện Medicare for All (chăm sóc y tế cho mọi người), tức là hệ thống chăm sóc y tế toàn dân do nhà nước trả tiền. Từ những đề nghị này, họ bị phe Cộng Hòa gọi là “cộng sản,” nhưng thực tế như thế nào?

Chi phí y tế và sức khỏe chiếm một phần lớn thu nhập của người làm công ăn lương tại Mỹ. (Hình minh họa: David McNew/Getty Images)

Medicare for All – tại sao?

Medicare for All, còn gọi là universal healthcare (chăm sóc y tế phổ quát), single-payer health insurance (bảo hiểm y tế một người trả tiền)… là một hệ thống trong đó chính phủ dùng nguồn tài chính công để trang trải chi phí khám chữa bệnh cho mọi người, người dân không phải tự trả tiền.

Nước Mỹ hiện có một hệ thống bảo hiểm y tế hết sức phức tạp và đắt đỏ, trong đó người dân, hoặc mua hợp đồng bảo hiểm y tế từ một công ty tư nhân hoặc tham gia các chương trình y tế công cộng (Medicare, Medicaid) do chính phủ tài trợ nếu đủ điều kiện.

Theo tài liệu của Centers for Medicare and Medicaid Services (CMS), bảo hiểm y tế tư nhân hiện cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho 65% người Mỹ; khoảng 183 triệu người, chỉ 117 triệu người có bảo hiểm Medicare và Medicaid. Tổng chi phí mà chính phủ, công ty và người dân phải trả cho dịch vụ chăm sóc y tế năm 2024 lên tới $3.6 ngàn tỷ, bình quân mỗi người tốn $12,000/năm, nhiều nhất thế giới!

Thế nhưng khi đổ bệnh, dù đã đóng phí bảo hiểm (premium), người bệnh vẫn phải trả một phần chi phí (co-pay, deductible); người không có bảo hiểm y tế phải trả toàn bộ chi phí điều trị hết sức đắt đỏ. Nhiều bệnh nhân và gia đình lâm vào cảnh nợ nần, thậm chí phá sản vì không đủ tiền trả cho dịch vụ y tế – điều được coi là hết sức bất hợp lý trong một quốc gia giàu mạnh nhất thế giới.

Phí bảo hiểm cao, nhiều quy định rối rắm, khi cần chạy chữa lại bị từ chối chi trả các dịch vụ chăm sóc thiết yếu làm cho hệ thống bảo hiểm y tế Mỹ bị người dân chán ghét và đòi phải thay đổi mà ý tưởng Medicare for All nổi lên như một sự thay thế hợp lý hơn, hữu hiệu hơn.

Với Medicare for All, người bệnh chỉ tập trung lo chữa bệnh, mọi chi phí được chính phủ tài trợ, không phải cân nhắc nên dùng số tiền ít ỏi của mình để mua thức ăn cho gia đình hay mua thuốc uống, không phải mang nợ chỉ vì mang bệnh hiểm nghèo!

Ưu điểm của Medicare for All là chi phí y tế sẽ thấp hơn do loại bỏ được động cơ lợi nhuận của bảo hiểm tư nhân, bảo đảm mọi người đều được chăm sóc y tế bất kể tình trạng việc làm hay thu nhập. Nhưng những người phản đối cho rằng, để thực hiện Medicare for All, chính phủ phải tăng thuế đáng kể, người bệnh phải chờ đợi lâu mới tiếp cận được dịch vụ…

Về chính trị, phần lớn những người ủng hộ Medicare for All là người Dân Chủ, còn những người phản đối phần lớn theo Cộng Hòa!

Medicare for All và cấp tiến

Ứng cử viên Abdul El-Sayed của đảng Dân Chủ ở Michigan là một bác sĩ dịch tễ học, một chuyên gia y tế công cộng, từng viết sách cổ xúy Medicare for All và tranh cử với cam kết bảo đảm dịch vụ chăm sóc y tế cho mọi người dân Mỹ.

Ông cho rằng, “không ai bị buộc phải lựa chọn giữa việc nhận sự chăm sóc y tế cần thiết và gánh chịu nợ nần.” Ông cho biết hiện người Mỹ đang gánh khoản nợ y tế hơn $225 tỷ và khoe rằng trong thời gian làm giám đốc sở y tế quận hạt, ông đã xóa nợ y tế cho hơn 300,000 cư dân quận hạt Wayne, tiểu bang Michigan. Đáp lại những lời cáo buộc “cộng sản” từ Tổng Thống Donald Trump và các chính trị gia Cộng Hòa, ông El-Sayed nói mình không phải là người theo chủ nghĩa xã hội, ông thẳng thắn bác bỏ nhãn dán này và nói: “Tôi là người ủng hộ chủ nghĩa tư bản, nhưng là người thực sự hiểu rõ về chủ nghĩa tư bản.”

Ý tưởng Medicare for All không mới, và cũng không phải là “sáng tạo” riêng của những người Dân Chủ cấp tiến như ông El-Sayed.

Trên toàn cầu, mấy chục năm trước, Medicare for All đã được Tổ Chức Y Tế Thế Giới đánh giá là“ý tưởng mạnh mẽ nhất mà ngành y tế công cộng đề ra nhằm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe một cách toàn diện và đầy đủ.” Một trong những “mục tiêu phát triển bền vững” của Liên Hiệp Quốc là xây dựng hệ thống y tế toàn dân ở tất cả các nước thành viên vào năm 2030.

Trong bảy quốc gia công nghiệp phát triển tạo thành nhóm G7 chỉ Hoa Kỳ là nước duy nhất chưa thực hiện Medicare for All, sáu nước còn lại (Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản và Anh) đều cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế miễn phí cho toàn dân được nhà nước chi trả.

Quốc Hội Hoa Kỳ khóa 119 hiện đang xem xét ít nhất hai dự luật liên quan tới bảo hiểm y tế: Dự luật Medicare for All Act do Thượng Nghị Sĩ Bernie Sanders (Độc Lập-Vermont) giới thiệu trước Ủy Ban Tài Chính Thượng Viện ngày 29 Tháng Tư, 2025, mã hiệu S.1506, và dự luật cùng tên do Dân Biểu Liên Bang Jayapal Pramila (Dân Chủ-Washington) giới thiệu trước một số ủy ban Hạ Viện, mã hiệu H.R.3069.

Hai dự luật này đề nghị thiết lập một chương trình bảo hiểm y tế quốc gia do Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Sinh (HHS) quản lý. Chương trình đó phải: (1) bao phủ toàn bộ cư dân Hoa Kỳ; (2) tự động cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế cho các cá nhân ngay khi họ chào đời hoặc trở thành cư dân Hoa Kỳ; và (3) chi trả cho các dịch vụ cần thiết hoặc phù hợp về mặt y tế nhằm duy trì sức khỏe hoặc chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng cho các tình trạng sức khỏe, bao gồm dịch vụ bệnh viện, thuốc kê đơn, điều trị sức khỏe tâm thần và lạm dụng chất gây nghiện, dịch vụ nha khoa và nhãn khoa, chăm sóc dài hạn, chăm sóc khẳng định giới tính, và chăm sóc sức khỏe sinh sản (bao gồm các biện pháp tránh thai và phá thai).

Dự luật cũng cấm áp dụng cơ chế chia sẻ chi phí (ví dụ: mức khấu trừ và đồng chi trả) cũng như các khoản phí khác. Ngoài ra, các công ty bảo hiểm y tế tư nhân và người sử dụng lao động chỉ được phép cung cấp các gói bảo hiểm bổ sung, không được trùng lặp với các quyền lợi do chương trình này cung cấp.

Hai dự luật H.R.3069 và S.1506 chỉ mới qua bước giới thiệu ở tiểu ban, chưa được hai viện Quốc Hội đem ra thảo luận, bỏ phiếu, do đó còn lâu mới trở thành luật.

Nhưng những dữ kiện như vậy cho thấy, việc cáo buộc Medicare for All là một “chủ trương” của cộng sản thực chất chỉ là thủ đoạn chụp mũ chính trị, không có căn cứ và cũng khó thuyết phục được cử tri trong cuộc bầu cử sắp tới.

California và tham vọng CalCare

Ở cấp tiểu bang, California cùng với New York đã nhiều lần cố gắng và thất bại trong việc thay thế thị trường bảo hiểm y tế tư nhân bằng chương trình Medicare for All vào các năm 1994 và 2017 mà lý do chính là cử tri không đồng ý tăng thuế để chính quyền có tiền thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Năm 2022, Ủy ban Y Tế Hạ Viện California thông qua dự luật AB-1400 do Dân Biểu Ash Kalra (Dân Chủ-San Jose) đệ trình, nhắm xây dựng một chương trình bảo hiểm y tế riêng gọi là CalCare, dùng ngân quỹ tiểu bang chi trả các dịch vụ y tế cho toàn thể cư dân California theo phương thức “một người trả tiền,” thay cho các chương trình bảo hiểm y tế tư nhân hiện hành. Nhưng để có ngân quỹ, California phải tăng thuế lên các cá nhân giàu có và công ty; và đây là “điểm nghẽn” chính làm cho ý tưởng CalCare gặp phải sự phản đối mạnh.

Theo phân tích của Hiệp Hội Người Đóng Thuế (California Taxpayers Association), để thực hiện CalCare tiểu bang cần thu thuế hằng năm thêm $163 tỷ; còn theo tính toán của Trung Tâm Lao Động thuộc Đại học California, hệ thống y tế “một người trả tiền” sẽ tiêu tốn khoảng $222 tỷ mỗi năm.

Theo Tax Foundation, nếu tiểu bang được tăng thuế để chi trả cho chương trình y tế toàn dân thì bình quân mỗi gia đình California phải đóng thêm $12,250 tiền thuế mỗi năm; gia đình nghèo, thu nhập dưới mức $149,000 thì không phải chịu khoản thuế tăng thêm.

Muốn tăng thuế, California phải sửa đổi Hiến Pháp, thế là Hạ Viện tiểu bang đưa ra một dự luật có tên Assembly Constitutional Amendment 11, tức Tu Chính Hiến Pháp thứ 11, gọi tắt là ACA-11. Tu Chính Hiến Pháp phải được hai phần ba số nghị sĩ, dân biểu tiểu bang bỏ phiếu thuận, sau đó phải được trưng cầu dân ý để cử tri California có quyết định cuối cùng.

Không đồng thuận được dự luật ACA-11, không được tăng thuế nên chương trình CalCare đầy tham vọng phải bị gác lại trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2022. Năm nay, dự luật lại được Dân Biểu Ash Kalra tái đệ trình, dưới cái tên mới là dự luật AB-1900, hay “CalCare – The California Guaranteed Health Care for All Act,” số phận của nó sẽ như thế nào thì hạ hồi phân giải!

Tuy vẫn là một ước vọng, một đề nghị nhưng Medicare for All, chăm sóc y tế cho mọi người, đang dần dần được người Mỹ quan tâm. Nếu các ứng cử viên Dân Chủ cấp tiến giành được chiến thắng trong cuộc bầu cử giữa kỳ Tháng Mười Một, Quốc Hội điều chỉnh lại các mục tiêu ưu tiên của quốc gia, đầu tư vào cuộc sống của người dân thay vì theo đuổi những cuộc chiến tranh vô nghĩa ở nước ngoài thì Medicare for All có triển vọng trở thành hiện thực trong tương lai không xa. [kn]


 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi.

Không phải vì họ luôn đúng.

Mà vì họ đã đi qua quá nhiều điều để hiểu rằng không phải chuyện gì cũng đáng để thắng thua.

Họ là thế hệ lớn lên trong một thế giới không có Internet, không có điện thoại thông minh, không có Google để tìm câu trả lời chỉ trong vài giây. Họ học cách sống bằng trải nghiệm, bằng những lần vấp ngã và bằng chính đôi tay của mình.

Khi một món đồ hỏng hóc, họ không vội thay mới. Họ tìm cách sửa chữa. Khi gặp khó khăn, họ không đăng trạng thái lên mạng xã hội. Họ lặng lẽ tìm cách vượt qua.

Họ thuộc về một thế hệ mà trẻ con có thể chạy chân trần ngoài đồng, leo cây, tắm mưa, ngã trầy đầu gối rồi đứng dậy như chưa có chuyện gì xảy ra.

Họ uống nước từ vòi, ăn những bữa cơm đạm bạc, mặc lại quần áo của anh chị và coi đó là điều bình thường. Họ lớn lên trong những năm tháng mà vật chất còn thiếu thốn nhưng tình người lại rất đầy.

Đó là thế hệ biết quý từng hạt gạo trên mâm cơm vì đã từng trải qua những ngày khó khăn. Biết trân trọng đồng tiền vì đã từng lao động từ rất sớm. Biết giữ gìn một món đồ trong nhiều năm vì hiểu giá trị của sự tích góp.

Họ là những người đã chứng kiến thế giới thay đổi với tốc độ chóng mặt.

Từ chiếc radio chạy pin đến điện thoại thông minh. Từ những lá thư viết tay đến các cuộc gọi video xuyên lục địa. Từ những con đường đất đỏ đến các tuyến cao tốc hiện đại. Họ đã sống trong hai thế giới khác nhau: một thế giới hoàn toàn không có công nghệ và một thế giới công nghệ hiện diện trong từng hơi thở của cuộc sống.

Điều đáng khâm phục là họ không chỉ tồn tại giữa những thay đổi ấy.

Họ thích nghi.

Họ học hỏi.

Họ tiếp tục bước đi.

Có thể họ không sử dụng điện thoại nhanh bằng con cháu.

Có thể họ nhắn tin chậm hơn.

Có thể đôi lúc họ bấm nhầm nút hay gửi nhầm tin nhắn.

Nhưng đằng sau những điều ấy là cả một cuộc đời đầy trải nghiệm mà không một công cụ tìm kiếm nào có thể thay thế.

Họ biết thế nào là mất mát.

Biết thế nào là hy sinh.

Biết thế nào là gánh vác gia đình trong những năm tháng khó khăn nhất.

Họ đã nuôi con bằng những đồng lương ít ỏi.

Đã thức trắng đêm vì bệnh tật của con cái.

Đã từ bỏ nhiều ước mơ riêng để đổi lấy tương lai cho những người mình yêu thương.

Có một điều rất thú vị.

Người trẻ thường tự hào vì biết nhiều thứ.

Nhưng người lớn tuổi thường im lặng vì đã hiểu nhiều điều.

Họ hiểu rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng công bằng. Rằng có những chuyện phải học cách chấp nhận. Rằng tha thứ đôi khi mang lại bình yên hơn chiến thắng.

Và rằng thời gian là người thầy nghiêm khắc nhất nhưng cũng công bằng nhất.

Tuổi sáu mươi không chỉ là một con số.

Đó là hàng chục nghìn ngày đã sống.

Là vô số lần đứng lên sau thất bại.

Là những nỗi đau không kể hết bằng lời.

Là những bài học được đánh đổi bằng cả tuổi trẻ.

Vì thế, nếu có thể, hãy dành cho những người lớn tuổi thêm một chút kiên nhẫn.

Một chút lắng nghe.

Một chút tôn trọng.

Bởi họ không chỉ là những người đã già đi.

Họ là những cuốn sách sống.

Là những chứng nhân của thời gian.

Là những con người đã đi qua những mùa giông bão nhất của cuộc đời để hôm nay có thể ngồi đó, mỉm cười kể cho chúng ta nghe một câu chuyện tưởng như rất bình thường nhưng chứa đựng cả một đời người phía sau.

Rồi một ngày nào đó, khi tóc chúng ta cũng bạc đi, khi bước chân cũng chậm lại, có lẽ chúng ta sẽ hiểu rằng điều đáng quý nhất không phải là sống bao nhiêu năm.

Mà là đã sống như thế nào trong những năm tháng ấy.

Và những người trên sáu mươi hôm nay chính là minh chứng đẹp nhất cho sức mạnh của sự bền bỉ, lòng kiên cường và phẩm giá của con người.

Nguồn : NguoiCaoTuoi – Dulichvanhoa

Sưu tầm.


 

ĐÂU MỚI LÀ GIA TÀI THẬT SỰ …?

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 ĐÂU MỚI LÀ GIA TÀI THẬT SỰ …?

Nhìn xuống huyệt đất sâu kia: chum vẫn còn nguyên, vàng bạc vẫn nằm đó, đồng tiền vẫn sáng lấp lánh dưới lớp bụi thời gian. Chỉ có con người là nằm im, hóa thành xương trắng.

Tiền vẫn là tiền. Vàng vẫn là vàng. Chum vẫn là chum.

Còn người thì thành cát bụi.

Mang theo được không? Không.

Tiêu được không? Cũng không.

Cả đời lo gom góp, chắt chiu, cất vào chum, chôn xuống đất. Đến lúc nhắm mắt xuôi tay, thứ nằm cạnh mình chỉ là những vật vô tri. Chúng không khóc, không thương, không nhớ.

Vậy nên, khi còn thở được, đừng chỉ sống để tích lũy. Sống để cảm nhận. Sống để yêu thương. Sống để làm điều tử tế.

Vì cuối cùng, thứ ở lại không phải là vàng trong chum…

Mà là hơi ấm trong tim người khác khi họ nhắc về mình.

Tiền bạc có thể nằm lại trong đất.

Nhưng nhân nghĩa, nếu gieo đủ sâu, sẽ nở hoa trong lòng người sống.

Thế mới là “gia tài” thật sự.

Sưu tầm


 

TÔI LÀ AI??

Vạch Lá Tìm Chim

TÔI LÀ AI??

Tôi sinh ra giữa lòng cộng sản. Tôi lớn lên giữa khô cằn sỏi đá Miền Trung. Quê tôi nằm bên trong Vĩ Tuyến (17), nhưng là cái nôi của cách mạng ngày xưa. Tôi không biết Mỹ, Nguỵ là gì? Cũng không biết Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là gì? Cũng chưa bao giờ biết sự phồn hoa của Đô Thành Sài Gòn một thời mà ông Lý Quang Diệu hằng mơ ước.

Tôi không học nhiều nhưng thời học sinh của tôi là cháu ngoan Bác Hồ là đoàn viên ưu tú dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Ngày xưa tập thơ gối đầu của tôi là “Theo Chân Bác”. Tôi vẫn cứ yêu đảng yêu bác cho đến chết nếu Facebook không du nhập vào Việt Nam. Tôi đã được mở rộng tầm mắt, rồi từ đó tôi biết những gì tôi học, những gì tôi bị nhét vào đầu là dối trá, dối trá một cách trơ trẽn.

Chỉ cần đặt một vài câu hỏi nhỏ thôi ví dụ như là: Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Tại sao con cháu của những vị tướng lừng danh như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Quốc Thước lại chọn Pháp, Mỹ để sống mà không phải là Việt Nam?

Tại sao Nguyễn Công Khế, Hồ Thị Thu Hồng một thời chửi Mỹ hay hơn hát rồi cuối cùng lại chọn Mỹ định cư?

Nhiều lắm, nhưng tại sao lắm không thể nào kể hết trong một Stt được. Câu cuối cùng tôi muốn hỏi hơn 90 triệu dân Việt Nam ai đã từng được cầm lá phiếu bầu lãnh đạo thể hiện quyền của một con người chưa?

Tôi lưu lạc khắp nơi để chỉ nói lên những điều mình thấy, viết những điều mình biết. Tôi đủ lớn và cũng đủ già để chịu trách nhiệm với những gì mình viết và nói ra không liên quan gì tới những người thân của tôi cả. Vì thế đừng chơi trò đe doạ và méc phụ huynh. Đời người một lần sống và một lần chết bình tĩnh “Đối Mặt” thôi!

 


 

Nỗi sợ – vũ khí của độc tài, cũng là kẻ thù của độc tài

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

07/08/2026

Người ta thường nói rằng NỖI SỢ LÀ NỀN TẢNG CỦA MỌI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI. Chính nỗi sợ khiến người dân im lặng, khiến đối lập tê liệt và giúp nhà độc tài duy trì quyền lực trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Điều đó đúng. Nhưng lịch sử còn kể một câu chuyện khác, ít người để ý hơn: cũng chính nỗi sợ ấy, lại trở thành nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chính nhà độc tài.

Cách mạng Pháp năm 1789 là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại. Từ đống tro tàn của chế độ quân chủ chuyên chế, nước Pháp đã khai sinh những tư tưởng làm thay đổi thế giới: quyền con người, chủ quyền của nhân dân, bình đẳng trước pháp luật và khát vọng tự do. Khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã vượt ra khỏi biên giới nước Pháp để trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều cuộc cải cách và cách mạng trong hơn hai thế kỷ sau đó.

Nhưng cũng như nhiều cuộc cách mạng khác, Cách mạng Pháp không chỉ có ánh sáng mà còn có những bóng tối. Một trong những chương đen tối nhất của nó là thời kỳ Khủng bố (La Terreur), nó cũng cho chúng ta thấy rằng một cuộc cách mạng, dù bắt đầu bằng những lý tưởng cao đẹp, vẫn có thể đi đến cực đoan nếu quyền lực không còn được kiểm soát.

Không ai tượng trưng rõ hơn cho nghịch lý ấy bằng Maximilien Robespierre.

Ban đầu, Robespierre được xem là một trong những nhà cách mạng trong sạch và có nguyên tắc nhất. Ông phản đối đặc quyền quý tộc, bảo vệ nền cộng hòa và luôn nói đến “đức hạnh” như nền tảng của chính trị. Trong mắt nhiều người đương thời, ông là “Người không thể mua chuộc” (L’Incorruptible).

Nhưng khi nước Pháp phải đối mặt với chiến tranh bên ngoài và nổi dậy trong nước, Robespierre ngày càng tin rằng muốn cứu cách mạng thì phải tiêu diệt tất cả những ai có thể đe dọa cách mạng. Theo ông, khủng bố chỉ là công lý được thực hiện nhanh chóng và nghiêm khắc để bảo vệ nền cộng hòa.

Từ tư tưởng ấy, nước Pháp bước vào thời kỳ mà lịch sử gọi là Thời kỳ Khủng bố .

Tháng 9 năm 1793, Quốc ước(Convention Nationale : Cơ quan quyền lực tối cao của CM) thông qua Luật Nghi ngờ (Loi des suspects). Đạo luật này cho phép bắt giữ bất kỳ ai bị coi là “đáng nghi”. Khái niệm “đáng nghi” rất mơ hồ. Chỉ cần bị cho là không đủ nhiệt thành với cách mạng, có quan hệ với quý tộc hoặc bị hàng xóm tố cáo cũng có thể bị bắt.

Hàng chục nghìn người bị giam giữ. Hàng nghìn người bị đưa lên máy chém.

Ban đầu, mục tiêu của các cuộc thanh trừng là những người trung thành với chế độ quân chủ. Nhưng rất nhanh sau đó, lưỡi dao của chiếc máy chém bắt đầu quay sang chính những người cách mạng.

Nhóm Hébert bị xử tử. Rồi đến Georges Danton, một trong những người có công lớn nhất với Cách mạng Pháp. Danton từng là đồng chí thân cận của Robespierre, nhưng vì kêu gọi chấm dứt các cuộc hành quyết nên bị kết tội phản bội. Ông bị xử chém ngày 5 tháng 4 năm 1794.

Cùng ngày hôm đó, Camille Desmoulins cũng bước lên đoạn đầu đài. Desmoulins không chỉ là đồng chí mà còn là người bạn từ thuở thiếu thời của Robespierre. Tình bạn nhiều năm không đủ để cứu ông khỏi bản án tử hình.

Máy chém không còn phân biệt bạn hay thù. Mỗi bản án đều được tuyên nhân danh nhân dân.

Mỗi cuộc hành quyết đều được giải thích là để cứu cách mạng.

Đó là nghịch lý bi thảm của mọi cuộc thanh trừng chính trị: người ta nhân danh một lý tưởng để loại bỏ những người từng cùng mình xây dựng chính lý tưởng ấy.

Trong Quốc ước, bầu không khí ngày càng nặng nề. Nhiều đại biểu hiểu rằng không còn ai thực sự an toàn, nhưng hầu như không ai dám phản đối. Mỗi lần một đồng nghiệp bị bắt, những người còn lại lại im lặng. Không phải vì họ đồng tình, mà vì họ sợ mình sẽ là người tiếp theo. Nỗi sợ trở thành nền tảng của quyền lực.

Tháng 6 năm 1794, Quốc ước thông qua Luật 22 Prairial, đạo luật còn khắc nghiệt hơn tất cả những gì đã có trước đó. Quyền bào chữa gần như bị xóa bỏ. Tòa án Cách mạng chỉ còn hai khả năng: tha bổng hoặc tử hình. Số vụ xử chém tăng lên với tốc độ chưa từng có. Các nhà sử học gọi những tuần cuối cùng ấy là Đại Khủng bố (Grande Terreur).

Rồi Robespierre phạm phải sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của mình.

Ngày 26 tháng 7 năm 1794, ông đọc một bài diễn văn dài trước Quốc ước. ÔNG TUYÊN BỐ RẰNG NGAY TRONG QUỐC ƯỚC Và CÁC ỦY BAN VẪN CÒN NHỮNG KẺ PHẢN BỘI. NHƯNG ÔNG KHÔNG NÊU TÊN. Có lẽ Robespierre nghĩ rằng sự mập mờ ấy sẽ khiến mọi người sợ hãi hơn. Ông đã đúng. Nhưng không theo cách ông mong muốn.

Nếu trước đó mỗi đại biểu chỉ lo cho số phận của người khác, thì sau bài diễn văn ấy, tất cả đều tự hỏi: “Liệu ngày mai đến lượt mình không?”

Đó chính là khoảnh khắc quyền lực của Robespierre bắt đầu tan vỡ.

Cho đến lúc ấy, nỗi sợ khiến mọi người chia rẽ. Ai cũng cúi đầu để tự cứu mình.

Nhưng khi tất cả đều tin rằng mình có thể trở thành nạn nhân tiếp theo, nỗi sợ ấy lại tạo ra điều ngược lại: nó buộc họ đoàn kết với nhau.

Ngay ngày hôm sau, 27 tháng 7 năm 1794, Robespierre bước vào Quốc ước như mọi ngày.

Ông không ngờ rằng cán cân đã đổi chiều. Những đại biểu vốn im lặng lại ngắt lời ông liên tục. Tiếng hô “Đả đảo tên bạo chúa!” vang lên trong nghị trường. Quốc ước biểu quyết bắt giữ Robespierre, em trai ông(Augustin), Saint-Just, Couthon và các cộng sự thân cận.

Chỉ trong vài giờ, người đàn ông quyền lực nhất nước Pháp trở thành tù nhân.

Nhưng đêm hôm đó, chính quyền thành phố Paris đứng về phía Robespierre. Họ đưa ông đến Tòa thị chính và kêu gọi lực lượng vũ trang của Paris chống lại lệnh bắt giữ do Quốc ước ban hành. Tuy nhiên, Robespierre lại chần chừ, không phát động cuộc nổi dậy. Chỉ vài giờ sau, các lực lượng trung thành với Quốc ước tràn vào Tòa thị chính và bắt giữ ông.

Ngày 28 tháng 7 năm 1794, Robespierre cùng 21 cộng sự bị đưa lên máy chém. Chiếc máy chém mà ông từng coi là công cụ bảo vệ cách mạng, bảo vệ ông cuối cùng đã lấy chính mạng sống của ông. Thời kỳ Khủng bố kết thúc.

Cái hay nhất mà tôi thấy trong câu chuyện này không phải là cái chết của Robespierre, mà là cơ chế dẫn đến sự sụp đổ của ông.

Ông không bị đánh bại bởi quân đội nước ngoài, không bị lật đổ bởi một cuộc nổi dậy của quần chúng, ông bị lật đổ bởi chính những người đã từng ủng hộ mình.

Ban đầu, họ chấp nhận im lặng vì nghĩ rằng sự phục tùng sẽ giúp mình sống sót. Nhưng khi cuộc thanh trừng mở rộng đến mức không còn ai chắc chắn về số phận của mình, họ hiểu rằng im lặng không còn là sự lựa chọn an toàn nữa.

Đó là nghịch lý của quyền lực dựa trên nỗi sợ.

Khi chỉ một nhóm người sợ hãi, chế độ vẫn có thể đứng vững. Nhưng khi tất cả đều sợ, kể cả những người trung thành nhất, thì chính nỗi sợ ấy sẽ phá hủy nền tảng của quyền lực.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên vẹn. Mỗi thời đại có hoàn cảnh riêng, mỗi quốc gia có con đường riêng. Nhưng những quy luật về tâm lý quyền lực và bản năng sinh tồn của con người thường có sức sống rất dài.

Mỗi khi khái niệm “kẻ thù” ngày càng được mở rộng, mỗi khi các cuộc thanh trừng không còn dừng ở đối lập mà bắt đầu lan sang chính những người trong hàng ngũ của mình, thì một câu hỏi sẽ âm thầm xuất hiện trong đầu tất cả những người còn lại: “LIỆU NGÀY MAI CÓ ĐẾN LƯỢT MÌNH KHÔNG?”

Và khi câu hỏi ấy trở thành nỗi ám ảnh chung, sự trung thành sẽ dần nhường chỗ cho bản năng tự vệ.

Trong nhiều chế độ độc tài, người ta thường thấy một vòng xoáy đầy nghịch lý, có thể dẫn chính người cầm quyền đến chỗ sụp đổ.

Để duy trì quyền lực, nhà độc tài luôn tìm cách loại bỏ mọi đối thủ và mọi mầm mống có thể đe dọa mình. Không làm như vậy, họ lo sợ sẽ bị lật đổ. Nhưng càng thanh trừng, họ lại càng khó xác định đâu là kẻ thù thực sự. Bởi trong một bầu không khí ngờ vực, bất kỳ ai cũng có thể bị coi là đối thủ tiềm tàng: đối lập, đồng minh, cộng sự, thậm chí cả những người từng trung thành nhất.

Vì thế, các cuộc thanh trừng có xu hướng ngày càng mở rộng. Khi mọi người đều tin rằng lòng trung thành không còn bảo đảm cho sự an toàn của mình, bản năng tự vệ sẽ thay thế lòng trung thành.

Đó chính là điều đã xảy ra với Robespierre. Chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi bốn giờ, người đang ở trên đỉnh cao quyền lực đã trở thành nạn nhân của chính cơ chế mà ông tạo ra.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên xi, nhưng những quy luật của quyền lực thì thường có những nét tương đồng. Người tiếp theo sẽ là ai? Putin, Kim Jong-un, Tập Cận Bình, hay một nhà lãnh đạo nào khác mà hôm nay vẫn đang nắm quyền tuyệt đối? Không ai có thể biết trước. Chỉ có thời gian mới đưa ra câu trả lời.

BẤT KỲ QUYỀN LỰC NÀO ĐƯỢC XÂY DỰNG CHỦ YẾU TRÊN NỖI SỢ ĐỀU MANG TRONG MÌNH NHỮNG MẦM MỐNG TỰ HỦY CỦA NÓ.

Những gì đã xảy ra trong Cách mạng Pháp – nhân danh cách mạng để đàn áp, để thanh trừng, để loại bỏ những người bị coi là “kẻ thù của cách mạng”… – đáng tiếc không chỉ là câu chuyện của nước Pháp. Điều làm tôi suy nghĩ không phải là bản thân những cuộc thanh trừng ấy, mà là khoảng cách về thời gian. Người Pháp đã trải qua giai đoạn đó từ cuối thế kỷ XVIII. Thế nhưng, hơn hai thế kỷ sau, ở một số quốc gia đi sau, người ta vẫn bắt gặp gần như cùng một cơ chế vận hành của quyền lực, chỉ khác ở tên gọi và hình thức.

Đó không chỉ là một sự tương đồng của lịch sử. Đó còn là thước đo cho thấy khoảng cách về trình độ phát triển chính trị giữa các quốc gia đôi khi không chỉ tính bằng vài chục năm, mà bằng cả vài thế kỷ.

Vậy mà vẫn dám nói « kỷ nguyên vươn mình”.


 

TIN VÀ KHÔNG TIN

Chuyện tuổi Xế Chiều  – Công Tú Nguyễn

Một người đàn ông đi vào tiệm hớt tóc quen thuộc để cắt tóc và cạo râu như thường lệ. Ông ta bắt đầu buôn chuyện với người thợ phục vụ cho mình. Họ nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi vô tình họ đụng đến đề tài Chúa trời.

Người thợ cắt tóc nói: “Tôi chẳng tin trên đời này có Thượng Đế như ông đã nói”.

Người khách: “Sao ông lại nói thế?”.

“Chuyện đó cũng dễ thôi, chỉ cần ông bước ra đường là thấy ngay trên đời này chẳng có Chúa trời gì ráo. Nếu thực sự Ngài có tồn tại thì tại sao trên đời này lại có nhiều người bệnh tật như vậy? Sao còn rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi. Nếu có Chúa, trên đời này sẽ chẳng có đau khổ. Tôi không thể nghĩ nỗi là Chúa nào lại chấp nhận nhìn những cảnh đó xảy ra”.

Người khách lặng im suy nghĩ nhưng rồi ông không nói gì vì không muốn câu chuyện trở thành cuộc khẩu chiến. Người thợ cắt tóc làm xong công việc của mình và vị khách hàng bước ra khỏi tiệm. Vừa ra ngoài ông liền nhìn thấy một người đàn ông trên đường tóc tai râu ria bù xù (như thể đã lâu lắm rồi ông ta không cắt tóc cạo râu vậy, trông rất bê bối).

Người khách liền quay lại cửa tiệm và nói với người thợ cắt tóc:

“Ông biết gì không? Trên đời này làm gì có thợ cắt tóc”.

“Sao lại không? Tôi đang ở đây và tôi là thợ cắt tóc”.

“Không hề”, vị khách trả lời: “Nếu có thợ cắt tóc thì sao vẫn còn những người tóc tai, râu ria bù xù như người đàn ông đang đi trên đường kia?”.

“À, thợ cắt tóc thì có chứ, chỉ tại những người kia không chịu đến tiệm cắt tóc mà thôi”.

“Chính xác!”. Vị khách như chỉ đợi câu nói đó.

“Đó là điều mà tôi muốn nói. Thượng Đế có tồn tại, chỉ là người ta không tin và không tìm đến Ngài mà thôi. Đó là lý do vì sao trên đời này lại có nhiều khổ đau đến như vậy”.

St


 

Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Van NguyenSự Thật Lề Đường (STLĐ) 

Bình luận xã hội: Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Bất bình đẳng giàu–nghèo không còn là một hiện tượng kinh tế đơn thuần. Nó đã trở thành vết nứt xã hội lớn nhất của thế kỷ 21, một đường ranh chia con người thành hai thế giới sống song song nhưng hoàn toàn khác biệt.

Trong những thập niên trước, người ta tin rằng tăng trưởng kinh tế sẽ tự động mang lại thịnh vượng cho tất cả. Nhưng thực tế phũ phàng hơn nhiều: tài sản không chảy xuống đáy, mà chảy ngược lên đỉnh. Và càng ngày, tốc độ chảy càng nhanh.

  1. Thế giới của 1% và thế giới của 99%

Ngày nay, theo dữ liệu từ World Inequality Database, top 1% dân số thế giới nắm gần 40% tài sản toàn cầu, trong khi 50% dân nghèo nhất chỉ sở hữu khoảng 2%.

Không cần những con số giật gân để thấy sự thật: tài sản đang tập trung vào một nhóm cực nhỏ, còn phần lớn nhân loại sống trong tình trạng bấp bênh.

Điều đáng nói là:

  • Nhóm giàu nhất không chỉ giàu hơn – họ giàu nhanh hơn.
  • Nhóm nghèo không chỉ nghèo – họ nghèo lâu hơn.

Khoảng cách không còn là một đường cong, mà là một vực sâu.

  1. Xã hội phân tầng: giàu sống trong tương lai, nghèo sống trong quá khứ

Nhóm giàu nhất sống trong một thế giới nơi công nghệ, y tế, giáo dục, và cơ hội mở ra như cánh cửa tự động.

Nhóm nghèo sống trong một thế giới nơi mọi thứ đều là rào cản:

  • Giá nhà vượt xa thu nhập
  • Y tế trở thành xa xỉ
  • Giáo dục chất lượng cao chỉ dành cho người có điều kiện
  • Việc làm bấp bênh, lương không theo kịp chi phí sống

Hai thế giới này không còn gặp nhau.

Họ chỉ nhìn thấy nhau qua những con số thống kê lạnh lùng.

  1. Nguyên nhân: hệ thống được thiết kế để tài sản chảy lên

Các nhà xã hội học Ý từ thập niên 1980 đã cảnh báo:

Khi chính sách ưu ái vốn hơn lao động, bất bình đẳng sẽ tăng không thể đảo ngược.

Ngày nay, điều đó đã thành hiện thực:

  • Toàn cầu hóa giúp tập đoàn đa quốc gia hưởng lợi, không phải người lao động.
  • Công nghệ tạo ra siêu lợi nhuận cho một nhóm nhỏ sở hữu trí tuệ và cổ phần.
  • Thuế giảm cho người giàu, tăng cho tầng lớp trung lưu.
  • Công đoàn suy yếu, lương không theo kịp năng suất.

Kết quả: tài sản chảy lên đỉnh kim tự tháp và không quay lại đáy.

  1. Hệ quả xã hội: bất mãn, cực đoan, và mất niềm tin

Khi người nghèo cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau, xã hội bắt đầu rung chuyển:

  • Niềm tin vào chính phủ giảm
  • Chủ nghĩa dân túy tăng
  • Xung đột giai cấp trở nên rõ rệt
  • Giới trẻ mất niềm tin vào tương lai
  • Bạo lực và tội phạm tăng theo tỷ lệ nghèo

Một xã hội mà đa số cảm thấy không có lối thoát là một xã hội dễ tổn thương.

  1. Kết luận: Bất bình đẳng không phải số phận – nó là lựa chọn chính sách

Khoảng cách giàu–nghèo không phải là điều tự nhiên.

Nó là kết quả của những quyết định chính trị, kinh tế, và xã hội trong suốt 40 năm qua.

Và nếu những quyết định đó không thay đổi, bất bình đẳng sẽ không chỉ là vấn đề kinh tế – nó sẽ trở thành ngòi nổ của bất ổn xã hội toàn cầu. 


 

HÃY NHÌN LẠI BẦU TRỜI – Lm. Mark Link, S.J.

 Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Nếu chúng ta cảm thấy khó sống phúc âm, có lẽ do chúng ta không còn nhìn đến Chúa Giêsu.”

 Có một ông nọ nói: “Tôi cứ nghĩ là càng về già tôi sẽ càng ít bị cám dỗ, nhưng thực tế tôi lại bị cám dỗ nhiều hơn.”  Có một phụ nữ kia nói: “Tôi cứ ngỡ là khi các cháu bé lớn lên tôi sẽ kiên nhẫn hơn, thế mà ngược lại tôi thấy mình nóng tính hơn trước.”  Một thiếu niên nói: “Trước đây tôi cứ nghĩ vâng phục luật Chúa là dễ dàng.  Bây giờ thì tôi lại thấy càng ngày càng khó.”

 Bạn có lời nói nào tương tự như vậy không?  Bạn có thấy bị cám dỗ thường xuyên không?  Bạn có thấy mất kiên nhẫn với những người thân yêu không?  Bạn có cảm thấy ngày càng khó vâng theo luật Chúa không?  Nếu có, thì bài Phúc Âm hôm nay chắc chắn là một sứ điệp quan trọng đối với bạn.

Câu chuyện trên đây minh họa điều đó.  Nó giống hệt câu chuyện trong Phúc Âm hôm nay. 

Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ.  Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm.  Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời.  Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm.  Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.

 Thấy thế, một thuỷ thủ già liền la to lên với cậu: “Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi!  Nhìn lên lại bầu trời đi!”  Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.  Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phêrô trong Phúc âm hôm nay.  Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phêrô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.

 Và điều này thường xảy ra cho bạn cũng như cho tôi.  Lúc đầu chúng ta khởi sự cuộc sống thật tốt đẹp, đôi mắt đăm đăm nhìn vào Chúa Giêsu, nhưng rồi một điều gì đó xảy đến khiến chúng ta rời xa mắt Người.  Chúng ta không còn nhìn vào Chúa Giêsu nữa; thế là chúng ta bị mất thăng bằng, chúng ta bắt đầu chìm xuống.  Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể.

 Trong cuốn sách tựa đề “The Taste of New Wine” (Hương rượu mới), Keith Miller có mô tả một biến cố thay đổi cuộc đời ông.  Biến cố này xảy ra vào mùa hè ngay sau năm thứ nhất đại học của ông.  Ðêm hôm ấy, Keith bị thương nặng vì một tai nạn xe hơi.  Anh nằm sõng soài bên vệ đường suốt một tiếng rưỡi chờ xe cứu thương.  Khi tâm trí hoàn toàn tỉnh táo, anh bắt đầu cầu nguyện.  Ðang khi nằm đó cầu nguyện trong bóng đêm, một cảm giác an bình xâm chiếm con người anh.  Keith viết: “Tôi nghĩ thật xấu hổ biết bao khi khám phá ra quá trễ trong cuộc đời có loại an bình thực sự như thế.  Lần đầu tiên, tôi không biết sợ chết.”  Keith cho biết, lúc đó anh nhận thức được rằng dầu có chết anh cũng sẽ chết trong khi biết mình đã được tiếp xúc với một điều gì đó thân mật và có thực.  Dù điều ấy là gì đi nữa, điều quan trọng là mãi cho đến bây giờ anh mới khám phá ra điều ấy trong cuộc sống của mình.

 Thế rồi Keith đã thoát được tai nạn đó và bình phục trở lại.  Anh trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch hội huynh đệ của lớp đại học năm thứ hai.  Chẳng bao lâu anh lại bị khích động bởi đời sống hào nhoáng ở đại học.  Nghĩa là, Keith đã quay mặt khỏi Chúa Giêsu, Ðấng mà anh đã từng gặp bên vệ đường.

 Sau khi tốt nghiệp, Keith lập gia đình và làm việc cho một hãng xăng dầu ở Texas.  Nhưng anh đã không được hạnh phúc như anh từng mơ ước.  Một hôm, Keith buồn quá, anh chui vào chiếc xe hơi của công ty rồi vọt đi.  Chạy được một lúc anh cho xe chạy lên vệ đường, tắt máy rồi ngồi thừ ra đó.  Trước đây, Keith luôn luôn tin tưởng rằng luôn luôn có lối thoát cho buồn sầu, chẳng hạn uống vài ly Martini và ngủ một giấc thật say là có thể khởi sự lại vào sáng sớm hôm sau.  Thế nhưng hiện giờ không còn có sáng hôm sau nữa.  Anh ta đã đến bên bờ vực thẳm rồi.  Anh nhìn lên trời cao và la to lên với Chúa: “Nếu Chúa muốn điều gì nơi con thì Ngài hãy lấy đi, con thực tình muốn như thế!”

 Câu chuyện trên xảy ra cách đây đã nhiều năm.  Tuy nhiên điều xảy ra trong đời Keith vào ngày đó đã không bao giờ rời anh ta nữa.  Hôm đó, không có những tiếng nói mầu nhiệm.  Hôm đó Keith chỉ nhận ra những điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.  Chúa không cần tiền bạc, thời giờ của chúng ta.  Người chỉ cần ý muốn của chúng ta và nếu chúng ta dâng cho Người ý muốn này, Người sẽ chỉ cho chúng ta cuộc sống mà từ trước đến giờ chưa bao giờ chúng ta thấy, và có thể nói đây là một cuộc tái sinh thực sự.

 Một lần nữa, Keith lại hướng đôi mắt nhìn vào Chúa Giêsu, và ngay lúc đó, anh lại tìm được sự bình an thâm sâu mà nhiều năm trước đây anh đã khám phá ra trong lúc nằm sõng soài bên vệ đường.

 Tất cả chúng ta đều đã từng có những cảm nghiệm giống như Keith.  Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện quyền năng của Chúa Giêsu.  Tuy nhiên, giống như Keith, chúng ta đã rời mắt mình khỏi Chúa Giêsu, đã bỏ Người để đi tìm những sự vật khác.  Và cũng như Keith chúng ta đã bị mất thăng bằng.

 Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy thẳng thắn nhìn vào cuộc sống của mình.  Nếu chúng ta không cảm nhận được sự bình an là niềm vui thiêng liêng mà ta đã từng cảm nhận, thì chắc hẳn là vì chúng ta đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu.  Nếu chúng ta đang sắp bị bão tố cuộc đời nuốt trửng, thì có lẽ là vì chúng ta đã rời mắt đi xa Chúa Giêsu.  Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta quay mắt trở lại nhìn vào Chúa Giêsu.  Bài Phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta cùng nói với Thánh Phêrô: “Lạy Chúa, xin cứu vớt con!”  Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi của Phúc âm thì tôi có thể dám chắc với các bạn rằng chúng ta sẽ cảm nghiệm được giống như Thánh Phêrô, chúng ta sẽ cảm nhận được bàn tay Chúa Giêsu giơ ra biểu lộ tình yêu đối với chúng ta.

 Chúng ta không thể cảm nhận điều ấy ngay lập tức và một cách nhiệm mầu, tuy nhiên chúng ta cứ tiếp tục kêu cầu chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm điều ấy, để rồi chúng ta sẽ nói như Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, Ngài thực sự là Con Thiên Chúa.”

 Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

 Lạy Chúa, Keith Miller đã gặp được Chúa lúc nằm sõng soài bên vệ đường trong một tai nạn xe hơi.
Ngôn sứ Êlia đã gặp được Ngài trong tiếng thì thầm nơi cửa hang.
Thánh Phaolô đã gặp được Ngài trong chớp sáng trên đường đi Ðamas.
Và Thánh Phêrô đã gặp được Ngài giữa cơn bão biển.
Xin hãy giúp chúng con gặp lại Ngài,
Xin hãy giúp chúng con biết chạy đến với Ngài.
Xin hãy giúp chúng con lại cảm nghiệm được sự hiện diện cứu độ của Ngài trong cuộc sống chúng con.  Amen!

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Tôi sẽ sử dụng thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa?- Cha Vương

Chúc một ngày với đầy sự quyết tâm theo Chúa, 10 núi cũng trèo, 100 sông cũng lội, ngàn đèo cũng bay, thập giá nào cũng vác.

Xin một lời cầu nguyện “thượng lộ bình an” đến những ai đi hành hương Đại Hội Thánh Mẫu Missouri năm nay. Không quên cho nhau và cả thế giới bình an trong tay Ba Đứng Amen 

Cha Vương

Thứ 4: 05/08/2026.     (t4-21)

GIÁO LÝ:  “Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỉ!” (Tv 105,3)…Thiên Chúa vẫn không ngừng kêu gọi mọi người tìm kiếm Ngài để họ được sống và đạt được hạnh phúc. Nhưng việc tìm kiếm này đòi hỏi con người phải có nỗ lực của trí tuệ, sự ngay thẳng của ý chí, “một tấm lòng thành”,… (SGLHTCG, số 30) Tôi sẽ sử dụng thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa?

SUY NIỆM: Trí tuệ, trái tim và ý chí của bạn phải là bản đồ, là năng lực và là phương tiện mà bạn cần phải sử dụng trên hành trình hướng về Chúa. “Đến với Chúa” phải là mục đích của tất cả suy nghĩ, cảm xúc và ước muốn hằng ngày của bạn. Bạn sẽ sử dụng trí khôn và thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa và để đưa bạn đến Chúa hôm nay?

LẮNG NGHE: Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. (Mt 22:37-38)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa, Chúa vĩ đại và rất đáng ca tụng: quyền năng của Chúa cao cả và sự khôn ngoan của Chúa thật khôn lường. Và con người, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, con người trong thân phận phải chết, mang nơi mình chứng tích của tội lỗi mình và chứng tích việc Chúa chống lại kẻ kiêu căng: vậy mà con người như vậy, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, muốn ca tụng Chúa. Chính Chúa thúc giục để con người vui thích ca tụng Chúa, bởi vì Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con không yên nghỉ cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa.” (Thánh Augustinô)

THỰC HÀNH: Quyết tâm từ bỏ những điều xấu xa, tội lỗi, vô giá trị đang làm bạn xa lìa Chúa.

From: Do Dzung

*****

CON ĐI TÌM CHÚA – Thiên Khuê – Đăng Khoa – Ca Đoàn Mông Triệu

Người Việt hung dữ

Thuy Mavronicles

Người Việt hung dữ

Mình kể cho nghe, số là hôm nay mình đi bác sĩ. Khi bước vào van pho`ng bác sĩ, mình thấy có một chú lớn tuổi đã ngồi đợi, khi ghi tên thì mình thấy cái hẹn của chú @1 pm, hẹn của mình 12:45 pm. Mình vừa ghi xong thì thấy 1 cô bé chạy vô ( không ghi tên) & có anh chàng ở bên trong mở cửa kêu vô ( không phải nhân viên phòng mạch). Mình vừa ngồi xuống chưa được 2’, chú ấy đứng phắt dậy lớn tiếng, rồi cầm cái danh sách chỉ vào tên mình mà hét tại sao tui vô trước mà lại kêu người này. Chú ấy quên rằng, hẹn của chú là 1 pm, chú vô trước là quyền của chú, trong khi quá giờ hẹn của mình mà mình vẫn còn ngồi đó.

Nhân viên vp phải ra chỉ cho chú biết, thế là chú ấy bẽn lẽn quay về ghế ngồi, tuy mặt vẫn còn hầm hầm.

Khi mình được gọi vào trong thì thấy cặp bạn trẻ đó đang ngồi chờ để thử máu ở phòng ngoài, chẳng liên can gì tới chuyện gặp bác sĩ.

Sao lại có người hồ đồ như vậy ta, mà chú lại là người lớn tuổi mới là cái đáng nói! …

Go’p Y’:

Xứ Mù Sương

Thường thì lớn tuổi hay đổi tính đổi nết , nóng nảy , nói nhiều, hay cằn nhằn… Phần ảnh hưởng xã hội hỗn tạp nơi ở trước khi đến Mỹ . Anh đọc và anh cầu xin sao cho mình bớt nóng nảy bớt khó ưa … hihi

V Phung Phung 

Tạ ơn Chúa vì đã gặp người hồ đồ, nóng nảy, nhờ đó, ta học được sự nhẫn nại, khoan dung, và học không giận hờn ai cả, để ta vui vẻ, ngủ ngon. Thương người nóng nãy vì họ đang bị bịnh, bịnh thể xác và bịnh tâm hồn (tinh thần). Đúng không?

Nhu Suong Suzanne Duong 

Nghe chị kể làm em nhớ lại chuyện xưa khi làm ở văn phòng bs. Có chú kia cũng vì tính nóng vội và quá ư là xấc xược (cũng là người VN), đứng lên và tới counter chửi thẳng vào các cô front desk là sao không kêu tên tôi và tôi đã đến và đã đợi lâu rồi….rốt cuộc biết ra he không ghi tên sign-in làm sao ai biết mà kêu?!

Trời ơi, khổ quá hé chị; nếu ai cũng biết sống “ tử tế” với mọi người chung quanh 1 chút thì sẽ không có 2 chữ “ giá như”.

Buồn…vẫn buồn cho “ đời”.

Chúc chị luôn thật nhiều sức khỏe và mãi luôn hạnh phúc bên các cháu xinh đẹp


 

YÊU THƯƠNG THUỐC TIÊN CHỮA BỆNH – MD Đức Tâm 

MD Đức Tâm 

Có thể bạn chưa tin nhưng nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy điều mà tế bào ung thư sợ nhất không phải là hóa trị hay bất kỳ loại thuốc trị ung thư nào.

Sau khoảng thời gian tiếp xúc với nhiều bệnh nhân từ nhiều quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ David Hawkins – một bác sĩ rất nổi tiếng tại Mỹ cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không xuất hiện chữ “yêu”, thay vào đó là “khổ, hận, phiền muộn”.

Điều này có thể khiến nhiều người trong chúng ta không tin nhưng đây là kết luận hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học. Sau 20 năm nghiên cứu về cơ và vận động học, tiến sĩ Hawkins đã phát hiện ra “ý nghĩa của thang bậc chỉ số rung động trong cơ thể con người từ 1 đến 1000”. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói. Theo đó, những người có suy nghĩ tiêu cực thường rất hay bị bệnh. Đó là những người có chỉ số rung động dưới 200.

Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn.

Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người. TS Hawkins đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau.

Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có:

– quan tâm đến người khác,

– giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện,

– bao dung, độ lượng, v.v.

Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400 – 500.

– Mặt khác, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp.

Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.

Lý giải cho điều này, tiến sĩ Hawkin cho biết những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.

Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Tiến sĩ Hawkin cho biết trong cuộc đời của mình, ông chưa gặp ai có tần số rung động đạt ở mức cao nhất, 1000. Những người mà ông ấn tượng nhất cũng chỉ đạt mức 700. Năng lượng trong cơ thể họ rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh.

Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Teresa lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.

Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn.

Còn với người có suy nghĩ tiêu cực,không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.

Một trường hợp cụ thể nhất về tác động của tình yêu với các tế bào ung thư chính là nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản. Khi bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn.

Cuối cùng, ông quyết định thay đổi tâm trạng và chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.

Kết quả hết sức bất ngờ và nằm ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản.

Đây chính là bản chất của cuộc sống Thương Yêu

Các nhà khoa học cho biết, căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ “yêu thương và được thương yêu”.

MD Đức Tâm