Tâm Như Thanh Nghị is with Philip Le.
Bóng ma Pol Pot vĩnh viễn bị xóa sổ, kết thúc một thời kỳ tăm tối và rùng rợn bậc nhất trong lịch sử nhân loại thế kỷ 20.
Nhưng tiếng khóc của những vong linh oan khuất, và bài học về sự cảnh giác trước những học thuyết cực đoan, lừa mị sẽ còn lưu lại trong dòng chảy lịch sử.
POL POT – CON ĐƯỜNG TỘI ÁC
Tháng 4 năm 1975, dòng người từ Thủ đô Nam Vang rồng rắn nhích từng bước một trên các ngả đường mòn lởm chởm.
Nếu ai đó kiệt sức mà quỵ xuống, những họng súng AK-47 của bọn lính thiếu niên áo đen sẽ lập tức hành động…
Những xác người bị gạt vội sang vệ đường, lấy chỗ cho dòng người tiếp tục tiến bước.
Bi kịch chỉ thực sự bắt đầu, khi những người sống sót lết được đến các “công xã” ở vùng nông thôn. Tại đây, Pol Pot bắt đầu áp dụng chính sách phân loại giai cấp cực đoan và tàn bạo nhất chưa từng có trong lịch sử nhân loại.
Những người nông dân nghèo ở nông thôn, những kẻ mù chữ và đi theo Khmer Đỏ từ đầu được gọi là “Cựu dân” (Người cũ/Người cơ bản). Họ được trao quyền lực, trở thành những kẻ cai quản mạng sống của người khác.
Ngược lại, 2,5 triệu người dân thành thị vừa bị lùa về, bất kể là giáo sư, bác sĩ hay thợ thủ công, đều bị gắn mác “Tân dân” (Người mới/Người 17 tháng 4).
Trong mắt “Angkar” (Tổ chức), Tân dân không phải là con người. Họ là “ký sinh trùng”, những kẻ mang mầm mống của tư bản thối nát cần phải được tẩy rửa, hoặc… tiêu diệt.
Khmer Đỏ có một khẩu hiệu dành cho Tân dân, được phát đi phát lại trên loa phóng thanh:
“Giữ mày lại cũng chẳng ích gì, tiêu diệt mày cũng chẳng tổn thất chi”.
Và thế là, một cuộc săn lùng trí thức phi lý bậc nhất bắt đầu.
Ở các công xã, những toán lính áo đen đa phần là những thanh thiếu niên thất học được giao nhiệm vụ “thanh lọc” đội ngũ Tân dân.
Chúng đi dọc các hàng người đang rũ rượi, săm soi từng khuôn mặt. Bất cứ ai đeo kính cận đều lập tức bị lôi ra khỏi hàng.
Bởi theo tư duy nguyên thủy của Khmer Đỏ: Đeo kính nghĩa là có đọc sách. Đọc sách nghĩa là trí thức. Mà trí thức thì chắc chắn là phản động, là kẻ thù của Angkar.
Không cần xét hỏi, không cần tòa án, những người đeo kính bị đưa thẳng ra bìa rừng, và thứ chờ đợi họ là những nhát cuốc đập thẳng vào sọ để… tiết kiệm đạn.
Nhiều giáo sư, bác sĩ, kỹ sư đã nhanh trí vứt bỏ kính cận, vứt bỏ bằng cấp, xé nát những cuốn sách yêu quý để đóng giả làm người lái xích lô hay nông dân mù chữ.
Nhưng bọn lính áo đen bắt đầu đi tuần và ra lệnh: “Đưa tay đây tao xem!”.
Chúng lật ngửa bàn tay của từng người lên. Bàn tay nào thô ráp, chai sần, nhuốm màu bùn đất, kẻ đó được sống. Bàn tay nào trắng trẻo, mềm mại, không có vết chai mười ngón, kẻ đó lập tức bị kết án tử hình.
Bởi bàn tay mềm là minh chứng rõ nhất cho việc kẻ đó chưa từng cầm cuốc, chỉ biết ngồi văn phòng bóc lột sức lao động của người khác.
Đã có những người trí thức tuyệt vọng đến mức lén lấy đá mài vào tay cho rướm máu, nhét đất cát vào móng tay để giả làm bần nông, thoi thóp giành giật từng hơi thở qua những đợt kiểm tra tử thần ấy.
Những kẻ may mắn qua lọt cửa ải phân loại thì bị tống vào một lò đày đọa thể xác.
Trong “Năm Số Không”, Pol Pot xóa sổ tiền tệ, đóng cửa trường học, đập phá đền chùa.
Mọi người phải lao động khổ sai từ 12 đến 14 tiếng mỗi ngày trên những cánh đồng chiêm trũng.
Hệ thống gia đình bị phá vỡ hoàn toàn. Đàn ông, đàn bà, trẻ em bị tách ra ở các trại riêng biệt.
Họ không được phép nấu ăn ở nhà mà phải ăn chung tại nhà ăn công xã.
Mỗi ngày, phần ăn của một người lao động kiệt lực chỉ là hai bát nước cháo lỏng loẹt, đếm được vài hạt gạo trôi nổi lẫn với vài cọng rau muống hoang.
Cái đói cào xé tâm can, biến con người thành những bộ xương khô biết đi.
Hàng trăm ngàn người đã gục chết ngay trên bờ ruộng vì đói khát, kiệt sức và bệnh tật mà không có một viên thuốc cứu chữa.
Khắp đất nước Chùa Tháp biến thành một trại tập trung khổng lồ, một “Cánh đồng chết” không có lối thoát.
Thế nhưng, máu của hàng triệu Tân dân dường như vẫn chưa đủ để làm thỏa mãn cơn khát của ác quỷ.
Cỗ máy giết người càng vận hành, Pol Pot càng trở nên hoang tưởng và đa nghi bệnh hoạn.
Hắn bắt đầu nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi, ngay cả trong những cái bóng của chính mình.
Sự hoang tưởng ấy đã châm ngòi cho một cuộc tàn sát còn man rợ hơn: Thanh trừng nội bộ.
Hàng triệu người dân Campuchia đang chết mòn vì đói khát trên những cánh đồng lao động khổ sai, vẫn chưa đủ để xoa dịu cơn hoang tưởng đa nghi của Saloth Sâr (Pol Pot). Ác quỷ bắt đầu nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi, ngay trong chính những chiếc bóng của đồng chí mình….
Đến năm 1976, Saloth Sâr lúc này đã chính thức sử dụng bí danh Pol Pot. Hắn mắc chứng hoang tưởng quyền lực nặng nề.
Dù đã tước đoạt mạng sống của vô số dân thường, gã vẫn mất ngủ mỗi đêm. Gã luôn ám ảnh bởi học thuyết thanh trừng mà Khang Sinh đã nhồi sọ ở Bắc Kinh:
“Kẻ thù nguy hiểm nhất không mang súng từ bên ngoài tới, mà chúng là những con vi trùng đang giấu mặt ngay trong hàng ngũ Trung ương Đảng”
Để truy lùng những con “vi trùng” tưởng tượng này, Pol Pot cần một bộ máy an ninh mật, một lò mổ kín đáo và một tên đao phủ có cái đầu lạnh đến mức tuyệt đối.
Và hắn đã chọn Kaing Guek Eav – bí danh là Duch (Đúc).
Kaing Guek Eav vốn là một thầy giáo dạy toán cấp hai. Là người tỉ mỉ, ngăn nắp, chính xác đến từng con số và có khả năng tuân thủ mệnh lệnh một cách vô cảm.
Đối với Pol Pot, một thầy giáo toán là người hoàn hảo nhất để “tính toán” mạng sống con người.
Địa điểm được Duch chọn làm “phòng thí nghiệm tử thần” là trường Trung học Tuol Svay Prey, nằm ngay giữa thủ đô Nam Vang hoang vắng. Nơi đây được đổi tên thành Nhà tù S-21 (Tuol Sleng).
Nơi đây từng vang lên tiếng cười đùa của học sinh, nơi ươm mầm tri thức, nay bị bao bọc bởi lớp lớp hàng rào dây thép gai giăng điện.
Những lớp học sáng sủa bị xây gạch bịt kín cửa sổ, chia thành những xà lim chật chội, tối tăm.
Những tấm bảng đen từng dùng để viết công thức toán học, nay trở thành phông nền để chụp ảnh chân dung những tử tù trước khi bước vào cõi chết.
Khi những cán bộ cấp cao, những vị tư lệnh quân khu từng vào sinh ra tử cùng Pol Pot bị nghi ngờ, họ lập tức bị bịt mắt, trói giật cánh khuỷu và tống lên xe tải chở thẳng đến S-21.
Tại đây, Duch áp dụng một quy trình thủ tục hành chính của cõi âm.
Mọi tù nhân khi bước qua cổng S-21 đều bị lột sạch quần áo, đánh đập phủ đầu và bị đẩy ngồi lên một chiếc ghế gỗ để chụp ảnh.
Hàng chục ngàn bức ảnh đen trắng lưu giữ tại Tuol Sleng ngày nay vẫn còn ám ảnh cả nhân loại.
Trong những bức ảnh đó, ánh mắt của các nạn nhân mở to, hoang mang, kinh hoàng khi nhận ra mình sắp bị chính những người “đồng chí” xẻ thịt.
Dưới sự điều hành của thầy giáo toán Duch, các đòn tra tấn ở S-21 không dùng để trừng phạt, mà dùng để “sản xuất” ra những bản khẩu cung.
Pol Pot cần những bản khẩu cung viết tay để chứng minh rằng sự hoang tưởng của gã là đúng.
Duch đáp ứng điều đó bằng những nhục hình thời Trung cổ: rút móng tay, dìm nước, giật điện, hay treo ngược nạn nhân lên xà nhà cho đến khi họ bất tỉnh.
Không một ai có thể chịu đựng được đòn roi ở S-21.
Để được chết nhanh chóng, những vị chỉ huy dạn dày sương gió buộc phải tự nhận mình là gián điệp của CIA, của KGB, là tay sai phản động.
Và buộc phải viết ra những cái tên đồng chí khác để thế mạng, tạo thành một vòng xoáy thanh trừng nội bộ cắn xé lẫn nhau không có hồi kết.
Những bản khẩu cung đẫm máu ấy được Duch đóng tập cẩn thận, đánh số trang rành mạch và gửi thẳng lên bàn làm việc của Pol Pot.
Ngồi trong văn phòng tĩnh lặng, lật giở những lời thú tội được ép nặn bằng nhục hình, Pol Pot mỉm cười đắc ý, tin rằng mình đang “chữa bệnh” cho Đảng.
Nhưng, Khmer Đỏ có một câu khẩu hiệu lạnh sống lưng: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.
Theo logic bệnh hoạn của Pol Pot, nếu xử tử một kẻ phản quốc, thì vợ, con cái, cha mẹ, thậm chí là trẻ sơ sinh của kẻ đó cũng mang “dòng máu phản trắc” và sẽ tìm cách trả thù trong tương lai. Do đó, phải quét sạch toàn bộ gia đình.
Những chuyến xe tải chở đầy phụ nữ và trẻ em vô tội chạy trong đêm về phía Cánh đồng buôn Choeung Ek (cách Nam Vang 15km).
Tại đó, những tên lính thiếu niên tay cầm những chiếc búa tạ, rìu, và nhíp xe tải cũ đập vỡ sọ từng người một, rồi đạp xác họ xuống những cái hố tập thể khổng lồ.
Những đứa trẻ sơ sinh bị cầm chân, quật thẳng đầu vào một thân cây cổ thụ (sau này được gọi là Cây Tàn Sát) cho đến chết để tiết kiệm đạn.
Tiếng thét của nạn nhân bị át đi bởi tiếng loa phát thanh mở max âm lượng những bài hát ngợi ca Angkar.
Chỉ trong hơn 3 năm, lò mổ S-21 đã nuốt chửng ít nhất 14.000 đến 20.000 sinh mạng. Trong số đó, chỉ có vỏn vẹn 7 người sống sót bước ra khỏi cánh cổng địa ngục.
Máu của chính đồng bào mình dường như đã làm gã bạo chúa Pol Pot say sưa đến mức mất trí.
Nhưng khi bóng ma S-21 không còn làm gã thỏa mãn, khi những “vi trùng” trong nước đã hết, con dã thú bắt đầu phóng ánh mắt đỏ ngầu ra ngoài biên giới.
Nó cần một kẻ thù mới, một cuộc chiến tranh mới để kích động tinh thần dân tộc cực đoan.
Và mục tiêu tiếp theo của Pol Pot nhắm thẳng vào dải đất hình chữ S ở phía Đông, nơi những ân nhân ngày xưa từng cưu mang hắn…
THẢM SÁT Ở BA CHÚC
Năm 1977, chính sách vắt kiệt sức lao động để trồng lúa của Pol Pot thất bại thảm hại. Người dân chết đói la liệt, hạn hán kéo dài, chỉ tiêu không đạt.
Tiếng oán thán, dù không dám thốt thành lời, đã âm ỉ râm ran khắp các công xã nông nghiệp.
Một bộ óc bệnh hoạn như Pol Pot không bao giờ nhận sai.
Gã cần một “con dê tế thần” để giải thích cho sự nghèo đói của đất nước và để kích động tinh thần dân tộc cực đoan, buộc người dân phải tiếp tục cắn răng phục tùng.
Và hắn đã chọn Việt Nam.
Pol Pot bắt đầu nhồi sọ thứ “thuốc độc” thù hằn dân tộc vào đầu những tên lính áo đen. Gã rêu rao trên đài phát thanh rằng:
Chính Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp đang muốn nuốt chửng Campuchia, chính gián điệp Việt Nam đang phá hoại mùa màng.
Pol Pot vứt bỏ hoàn toàn ân tình năm xưa, khi quân du kích Việt Nam từng cưu mang, bảo vệ và nhường cơm sẻ áo cho hắn những ngày đầu luồn lách ở rừng sâu.
Lệnh bài tàn sát được ban ra: “Chỉ cần 2 triệu quân, mỗi người giết 30 người Việt Nam, thì chúng ta sẽ thắng!”.
Tháng 4 năm 1977, những tiếng súng khiêu khích đầu tiên vang lên dọc tuyến biên giới Tây Nam (Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp…).
Lúc bấy giờ, bộ đội và nhân dân Việt Nam ở vùng biên giới đã hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng ta vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh ách liệt chưa đầy hai năm, khát vọng hòa bình đang cháy bỏng.
Hơn thế nữa, trong suy nghĩ của nhiều người, Khmer Đỏ vẫn là “người anh em, đồng chí” láng giềng.
Bọn lính áo đen không tấn công theo kiểu quân đội thông thường. Chúng chọn cách hành quyết của những bóng ma.
Chúng thường lén lút vượt biên vào nửa đêm về sáng, khi người dân các xóm ấp vùng biên đang say giấc nồng.
Đỉnh điểm của sự man rợ, câu chuyện khiến cả thế giới bàng hoàng rúng động, chính là Thảm sát Ba Chúc (Tri Tôn, An Giang) vào giữa tháng 4 năm 1978.
Khi quân Khmer Đỏ tràn vào xã Ba Chúc, những người dân hiền lành, từ cụ già đến trẻ nhỏ, đã chạy vào ẩn nấp trong chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu.
Họ tin rằng, chốn cửa Phật linh thiêng sẽ che chở cho họ khỏi mũi súng của ác quỷ. Dù sao, Pol Pot cũng từng có thời gian tu tập ở chùa cơ mà?
Nhưng đạo quân vô hồn của Pol Pot không biết đến thần thánh. Chúng xông thẳng vào chánh điện.
Chỉ trong vỏn vẹn 12 ngày đêm, 3.157 người dân vô tội ở Ba Chúc đã bị tàn sát.
Máu chảy lênh láng nhuộm đỏ những bức tường rêu phong của chùa Phi Lai, đọng thành từng vũng đặc quánh trên sàn gạch.
Hàng ngàn thi thể nằm phơi mình dưới nắng gắt, mùi tử khí bốc lên nồng nặc bao trùm cả một vùng biên ải.
Cái chết của hơn 3.000 đồng bào Ba Chúc, cùng hàng ngàn sinh mạng khác dọc tuyến biên giới Tây Nam, giống như một giọt nước tràn ly.
Kẻ bên kia biên giới không còn là con người. Chúng là bầy ác thú say máu không thể cứu chữa bằng lời nói hay hiệp ước.
Hiểu rõ dã tâm của tập đoàn phản động Pol Pot – Ieng Sary, và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, Việt Nam quyết định không nhân nhượng thêm một phút giây nào nữa.
Giáng sinh năm 1978, trên đài phát thanh Nam Vang, Pol Pot vẫn đang thao thao bất tuyệt bằng một giọng điệu ngạo mạn điên rồ.
“Quân đội Kampuchea Dân chủ có thể đánh bại Việt Nam dễ như trở bàn tay. Một người Khmer có thể giết 30 người Việt!”.
Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, ngày 25 tháng 12 năm 1978 Quân tình nguyện Việt Nam mở cuộc tổng phản công trên toàn tuyến biên giới.
Những sư đoàn chủ lực đồng loạt tiến công với sức mạnh chẻ tre. Pháo binh gầm rít xé toạc bầu trời, xe tăng dẫn đầu đội hình bộ binh thọc sâu vào các phòng tuyến của Khmer Đỏ.
Khi phải đối đầu trực diện với một đội quân chính quy, thiện chiến, những tên lính vị thành niên của Pol Pot nhanh chóng vỡ trận.
Chúng hoảng loạn, vứt bỏ súng ống, cởi phăng bộ quần áo đen để tháo chạy thục mạng vào rừng. Hệ thống phòng ngự do cố vấn nước ngoài xây dựng bị đập vụn từng mảng.
Mới ngày hôm trước, Pol Pot còn hô hào “quyết tử”, thì nay, khi nghe tiếng đại bác của quân tình nguyện Việt Nam, bộ sậu Pol Pot, Ieng Sary, Nuon Chea đã cuống cuồng thu gói hành lý.
Sáng ngày 7 tháng 1 năm 1979, vài giờ trước khi xe tăng Việt Nam tiến vào trung tâm thủ đô Phnom penh.
Pol Pot – vị “Anh Cả” tối cao, kẻ từng tuyên bố không sợ trời không sợ đất đã lén lút trèo lên một chuyến tàu hỏa đặc biệt, mang theo vàng bạc và vây cánh, cắm đầu tháo chạy về phía biên giới Thái Lan, bỏ lại sau lưng hàng vạn binh lính đang chết thay cho mình.
Sự tháo chạy của giới chóp bu diễn ra gấp gáp và thảm hại đến mức, tại “lò mổ” S-21 (Tuol Sleng), tên đao phủ Duch (Đúc) cũng rơi vào thế mất trí.
Nhận lệnh từ cấp trên phải “xóa sổ mọi dấu vết”, Duch cuống cuồng ra lệnh hành quyết những tù nhân cuối cùng.
Nhưng quân tình nguyện Việt Nam tiến vào quá nhanh. Duch bỏ chạy vắt chân lên cổ, vứt lại toàn bộ hiện trường đẫm máu.
Nhờ sự tháo chạy nhục nhã ấy mà thế giới mới có bằng chứng để kết tội chúng sau này.
Hàng vạn tập hồ sơ khẩu cung dính máu, hàng ngàn bức ảnh chụp các nạn nhân trước giờ hành quyết bị bỏ lại vương vãi trên sàn nhà.
Và đặc biệt nhất, 7 tù nhân còn sống sót nhờ có “tay nghề” (người biết vẽ chân dung Pol Pot, người biết sửa máy đánh chữ…) đã may mắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần trong gang tấc.
Trưa ngày 7 tháng 1 năm 1979, những chiếc xe tăng của Quân Tình nguyện VN, oai hùng lăn bánh vào trung tâm Nam Vang.
Chế độ diệt chủng Khmer Đỏ chính thức sụp đổ sau 3 năm, 8 tháng và 20 ngày tồn tại, để lại sau lưng gần 3 triệu xác người.
Nhưng ác quỷ chưa chết.
Pol Pot cùng tàn quân đã lủi sâu vào những vùng rừng núi hiểm trở dọc biên giới Thái Lan, vẫn giật dây những cuộc chiến tranh du kích ròng rã suốt những năm sau đó.
……
Sau khi tháo chạy khỏi Nam Vang, Pol Pot cùng tàn quân Khmer Đỏ co cụm về vùng rừng núi hiểm trở Anlong Veng, sát biên giới Thái Lan.
Lợi dụng sự đối đầu của các siêu cường trong Chiến tranh Lạnh, tàn quân Khmer Đỏ vẫn được cung cấp vũ khí, lương thực để tiếp tục tiến hành chiến tranh du kích, phá hoại công cuộc hồi sinh của đất nước Campuchia.
Trong suốt thập niên 1980 và đầu 1990, Pol Pot vẫn lấy thêm vợ bé, sinh con gái, và tiếp tục gieo rắc ảo mộng về việc lấy lại quyền lực.
Khi chiến tranh Lạnh kết thúc. Nguồn viện trợ bị cắt đứt hoàn toàn, tàn quân Khmer Đỏ lâm vào cảnh cùng quẫn, bệnh tật và đào ngũ hàng loạt.
Đối diện với sự suy tàn không thể vãn hồi, căn bệnh hoang tưởng, đa nghi của Pol Pot lại một lần nữa bùng phát dữ dội. Giống như một con thú bị dồn vào chân tường, gã bắt đầu cắn xé chính đồng loại của mình.
Tháng 6 năm 1997, sự kiện chấn động cuối cùng của Khmer Đỏ nổ ra.
Nghi ngờ người đồng chí vào sinh ra tử, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Son Sen đang bí mật đàm phán để đầu hàng chính phủ, Pol Pot đã ra một lệnh hành quyết.
Nửa đêm, tay sai của Pol Pot ập vào nhà Son Sen. Chúng bắn chết Son Sen cùng vợ và toàn bộ 13 người trong gia đình, bao gồm cả những đứa trẻ sơ sinh.
Man rợ hơn, Pol Pot còn ra lệnh cho xe tải cán qua cán lại thi thể của gia đình người đồng chí cũ.
Hành động giết hại dã man gia đình Son Sen đã làm giọt nước tràn ly, phá vỡ hoàn toàn chút trung thành cuối cùng của giới chóp bu Khmer Đỏ.
Tướng Ta Mok (kẻ mang biệt danh “Gã đồ tể”) đã quyết định làm binh biến.
Chỉ vài ngày sau, lực lượng của Ta Mok bao vây doanh trại, tước vũ khí và bắt sống chính “Anh Cả” Pol Pot.
Tháng 7 năm 1997, một phiên tòa “kỳ lân” diễn ra ngay giữa rừng sâu Anlong Veng. Kẻ bị đem ra xét xử là Pol Pot. Và những kẻ ngồi trên ghế quan tòa, chỉ tay kết án gã, lại chính là những tên đao phủ thủ hạ do gã nhào nặn ra!
Phiên tòa không hề kết án tội ác diệt chủng, gần 3 triệu người dân vô tội mà chỉ kết án gã vì tội “Phản bội tổ chức” (giết Son Sen).
Pol Pot bị kết án tù chung thân dưới hình thức quản thúc tại gia. Gã bị nhốt trong một căn lều gỗ lụp xụp, xung quanh là hàng rào kẽm gai và lính canh gác ngày đêm.
Từ một vị Chúa tể nắm quyền sinh sát cả quốc gia, Pol Pot giờ đây chỉ là một lão già 73 tuổi ốm yếu, rụng hết tóc, thở dốc từng cơn hôi hám và phải sống bằng những liều thuốc trợ tim.
Tối ngày 15 tháng 4 năm 1998, khi đang nằm thoi thóp trên giường bệnh, Pol Pot nghe được một bản tin trên đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) mà vợ gã mở bên cạnh.
Bản tin thông báo rằng tàn quân Khmer Đỏ đã đạt được thỏa thuận: Chúng sẽ giao nộp gã cho Tòa án Công lý Quốc tế để đổi lấy sự ân xá.
Nghe xong tin sét đánh ấy, lão già bạo chúa nhắm mắt lại. Vài giờ sau, gã tắt thở.
Khmer Đỏ thông báo gã chết vì “đau tim”.
Nhưng rất nhiều nhà sử học và nhà báo độc lập tin rằng, một kẻ kiêu ngạo như Pol Pot đã tự kết liễu đời mình bằng một liều thuốc độc quá liều, hoặc bị chính thủ hạ đầu độc để bịt đầu mối trước khi gã bị đem ra quốc tế đối chất.
Dù nguyên nhân là gì, thì đám tang của tên ác quỷ kiến tạo nên “Cánh đồng chết” cũng là một bản án mỉa mai đến tận cùng.
Thi thể Pol Pot được bọc trong một tấm nilon, đặt trên một chiếc đệm rách. Vài tên lính khiêng xác gã ra một bãi đất trống bốc mùi.
Chúng xếp vài chiếc lốp xe ô tô cũ, vứt lên đó một đống củi mục và rác rưởi rồi châm lửa đốt. Khói đen cuồn cuộn bốc lên khét lẹt.
Một kẻ đã thiêu rụi cả nền văn minh của một quốc gia, cuối cùng lại hóa tro bụi trên một đống rác lốp xe. Tro cốt của gã bị gió rừng thổi bay tứ tán, không để lại dù chỉ là một nấm mồ.
“LẬT MỞ HỒ SƠ MẬT”
(Từ FB Lão Ngoan Đồng)
TN2:
Bài viết hay nhưng chưa đủ: Khmer Đỏ nổ súng xung đột với Vietnam ngay sau 4/1975 ở đảo Thổ Châu, rồi lẻ tẻ ở biên giới dưới sự xúi giục của Trung Quốc. Nhưng lãnh đạo VN khi đó không tin “anh em mình phản bội lại mình “, vẫn tiến hành học tập chính trị để thanh lọc thanh trừng hàng ngũ cán bộ quân đội sau chiến thắng; buộc các đơn vị làm nông trường, súng đạn rét sỉ, …
Dân chúng Việt Miên dọc biên giới biết Khmer Đỏ chuẩn bị đánh sang nên báo tin cho chính quyền và xin vũ trang tự vệ thì cán bộ chẳng những không tin , mà còn tỏ thù nghịch với dân …
Vì vậy mới có vụ thảm sát Ba Chúc vì bộ đội bỏ chạy, dân chúng lượm súng tự võ trang thì đã quá trễ (tháng 10/1978 tôi đến đơn vị E20 F4 ở Tri Tôn, Lương Phi, Ba Chúc (Tịnh Biên) được lính cũ cùng dân chúng kể lại. Sau đó chúng tôi tiến qua Kampuchea cho đến gần 10 năm sau)







