Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

My Lan Pham

Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

Khi Vicente Cañas lần đầu tiên tìm thấy họ, chỉ còn 97 người.

Một dân tộc hoàn chỉnh. Một quốc gia với ngôn ngữ riêng, những bài hát riêng và các vị thần riêng của mình. Chỉ còn lại 97 con người.

Họ gần như đã biến mất mãi mãi.

Rừng mưa Amazon, Brazil, năm 1974.

Vicente nhìn những con người ấy và quyết định dành phần đời còn lại để bảo đảm họ được sống sót.

Đây là câu chuyện về ông.

Vicente Cañas sinh năm 1939 tại Tây Ban Nha. Ông gia nhập Dòng Tên (Jesuit), không phải với tư cách linh mục mà là một tu huynh ,một người hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa qua sự phục vụ.

Năm 1966, ông được cử đến Brazil làm nhà truyền giáo.

Tại đó, ông chứng kiến một điều khiến trái tim mình tan vỡ.

Các dân tộc bản địa Amazon đang chết dần. Họ bị quét sạch bởi những căn bệnh do người ngoài mang đến. Họ bị đẩy khỏi đất đai bởi các chủ trang trại và những người khai thác gỗ. Cả những bộ tộc biến mất khỏi mặt đất.

Vicente nhìn thấy điều đó và từ chối đứng ngoài cuộc.

Sâu trong rừng có một dân tộc mang tên Enawenê-Nawê. Trong phần lớn lịch sử của họ, chưa từng có người ngoài nào tiếp xúc được với họ. Họ thuộc nhóm mà thế giới gọi là “bộ tộc chưa tiếp xúc”.

Đến khi thế giới bên ngoài tiến đủ gần để thống kê dân số của họ, chỉ còn 97 người sống sót.

Năm 1974, Vicente đã tiếp xúc hòa bình với họ.

Và rồi ông làm một điều mà rất ít người làm được.

Ông không nghiên cứu họ rồi rời đi.

Ông không ghé thăm rồi trở về nhà.

Ông chuyển đến sống cùng họ.

Vicente sống với người Enawenê-Nawê hơn mười năm.

Ông học ngôn ngữ của họ. Học phong tục của họ. Chấp nhận lối sống của họ. Từ bỏ đất nước, nền văn hóa, sự tiện nghi và thậm chí cả tên gọi của chính mình.

Đối với người Enawenê-Nawê, ông trở thành Kiwxi.

Một người trong số họ.

Một người anh em.

Dần dần, ông kéo họ trở lại từ bờ vực diệt vong.

Ông mang đến sự chăm sóc y tế cho một cộng đồng hoàn toàn không có khả năng chống lại những căn bệnh từ thế giới bên ngoài. Ông chiến đấu với những dịch bệnh đang giết chết họ.

Và cái chết bắt đầu dừng lại.

Dân số của họ từ 97 người bắt đầu tăng lên.

100 người.

200 người.

Rồi hơn 400 người.

Một dân tộc từng đứng bên bờ biến mất khỏi thế giới đang hồi sinh.

Tất cả bắt đầu từ một người đàn ông quyết định sống cùng họ.

Có một chi tiết về Vicente cho thấy ông là người như thế nào.

Ông hiểu rằng chính mình cũng có thể là mối nguy hiểm đối với họ.

Ông thường xuyên đi lại giữa thế giới bên ngoài và bộ tộc, trong khi thế giới bên ngoài đầy rẫy những căn bệnh mà cơ thể họ chưa từng học cách chống lại.

Vì vậy, ông dựng một túp lều nhỏ bên bờ sông, cách xa ngôi làng nhiều cây số.

Mỗi khi trở về từ bên ngoài, ông sẽ sống một mình trong túp lều đó.

Tự cách ly.

Cho đến khi chắc chắn mình không mang theo bất kỳ mầm bệnh nào có thể gây hại cho họ.

Ông chấp nhận cô độc vì tình yêu thương.

Ông thà sống một mình giữa rừng còn hơn vô tình mang cái chết đến cho những con người mà ông đã dốc lòng bảo vệ.

Nhưng Vicente còn hiểu một điều sâu sắc hơn.

Thuốc men có thể cứu họ khỏi bệnh tật.

Nhưng chỉ có đất đai mới cứu họ về lâu dài.

Người Enawenê-Nawê cần lãnh thổ của mình. Nếu mất đất, họ sẽ bị phân tán và hủy diệt, dù có khỏe mạnh đến đâu.

Đất đai chính là sự sống của họ.

Vì thế, Vicente đứng lên đấu tranh cho quyền sở hữu lãnh thổ của họ. Ông làm việc không mệt mỏi suốt nhiều năm để bảo vệ vùng đất ấy.

Và chính điều đó đã khiến ông bị sát hại.

Bởi vì có những người khác cũng muốn vùng đất đó.

Những chủ trang trại chăn nuôi.

Những người khai thác gỗ.

Những kẻ đốt phá Amazon để trồng đậu nành và mở rộng đồng cỏ.

Đối với họ, khu rừng là tiền bạc.

Còn bộ tộc cùng người truyền giáo đang bảo vệ họ là vật cản.

Chừng nào Kiwxi còn sống, họ sẽ không thể chiếm được vùng đất ấy.

Vì vậy, họ quyết định loại bỏ ông.

Vicente liên tục nhận được những lời đe dọa giết chết.

Ông vẫn tiếp tục công việc của mình.

Tháng 4 năm 1987, ông gửi một thông điệp vô tuyến cho các đồng nghiệp, báo rằng mình đang rời túp lều để đến làng Enawenê-Nawê.

Ông không bao giờ tới nơi.

Những kẻ sát nhân đã tìm đến túp lều bên sông và đâm ông đến chết.

Rồi bỏ mặc thi thể ông giữa khu rừng mà ông đã hiến dâng cả cuộc đời mình để bảo vệ.

Suốt 40 ngày, không ai biết chuyện gì đã xảy ra.

Khi các đồng nghiệp tìm kiếm, họ phát hiện chiếc thuyền của ông bên bờ sông, chất đầy đồ đạc như thể chuẩn bị cho một chuyến đi nhưng đã chìm một nửa xuống nước.

Trong khoảng sân trước túp lều, họ tìm thấy thi thể của Vicente.

Không bị thú rừng xâm hại.

Được bảo quản bởi không khí khô.

Gần như đã trở thành xác ướp.

Ông qua đời ở tuổi 47.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó.

Trong số những kẻ đứng sau vụ sát hại có cả cảnh sát trưởng địa phương.

Cuộc điều tra bị bóp méo bởi tham nhũng.

Trong nhiều năm, không ai phải chịu trách nhiệm.

Phải mất 38 năm, công lý mới được thực thi.

Kẻ chủ mưu cuối cùng cũng bị kết án khi hắn đã già yếu và bệnh tật.

Và còn một chi tiết cuối cùng khiến người ta nghẹn lòng.

Khi vụ án được đưa ra xét xử, chính người Enawenê-Nawê không thể ra tòa kể về Vicente.

Văn hóa của họ cấm nhắc đến tên người đã khuất.

Vì vậy, một dân tộc láng giềng đã đứng ra thay họ làm chứng.

Họ kể lại câu chuyện của người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất.

Vicente Cañas đã từ bỏ quê hương.

Từ bỏ ngôn ngữ.

Từ bỏ tên gọi.

Từ bỏ sự an toàn.

Và cuối cùng là từ bỏ cả mạng sống của mình.

Ông làm điều đó vì 97 con người xa lạ trong một khu rừng sâu, những người đang đứng bên bờ tuyệt chủng.

Những kẻ giết ông muốn dân tộc ấy biến mất.

Nhưng dân tộc ấy vẫn còn tồn tại.

#VicenteCanas #Kiwxi #Amazon #EnaweneNawe #LichSu #NhanVatLichSu #BaoVeRung #MyLanPham #VanHoaBanDia #CauChuyenCoThat 


 

Chủ nghĩa xã hội có gì ưu việt mà ông Tô Lâm quyết xây dựng? (BBC)

 (BBC)

2 tháng 6 2026

Khi Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Hà Nội xây dựng thí điểm một xã hay phường “xã hội chủ nghĩa”, đó không phải là một câu nói bâng quơ mà là một chỉ thị, và là chính sách.

Thủ đô Hà Nội quyết định chọn hai phường và Lào Cai, một tỉnh miền núi, cũng chọn hai đơn vị cấp cơ sở để thí điểm.

Hải Phòng không chọn một địa phương cụ thể, mà thực hiện với quy mô rộng hơn, với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa.

“Phải từ phạm vi cấp xã làm điểm, để rồi mới nhân rộng, làm tiếp và thậm chí khi phát triển ở mức cao hơn thì có những tỉnh hoặc thành phố xã hội chủ nghĩa,” Ủy viên Bộ Chính trị Đoàn Minh Huấn, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nói trong phát biểu kết luận hội thảo “Xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” diễn ra vào ngày 21/5.

Kể từ Đổi mới 1986, tư duy kinh tế thị trường, vốn là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản, đã phát triển khá sâu và rộng ở Việt Nam, đưa đất nước từng gắn với chiến tranh trở thành một nền kinh tế năng động của khu vực.

Thế nhưng, xuyên suốt gần bốn thập niên đó là một “sợi chỉ đỏ”: định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn Đổi mới 2.0, Tổng Bí thư Tô Lâm dường như quyết tâm biến chủ nghĩa xã hội từ một hệ tư tưởng thành một chương trình hành động.

Vậy điều gì khiến một mô hình mà phần lớn thế giới xa lánh vẫn tiếp tục được theo đuổi?

Từ ‘tiến nhanh, tiến mạnh’ đến ‘quá độ’

Đường phố Hà Nội vào tháng 4/1986

Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang trong cuộc đua để thực hiện điều mà các nhà lý luận của Đảng cho rằng “theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Quy luật này đã được ghi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 – một văn kiện xác lập con đường đi của Việt Nam vào thời điểm hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ.

Các nhà lãnh đạo của Việt Nam vẫn cho rằng việc đi lên chủ nghĩa xã hội “phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”, nhưng phải cần một thời kỳ quá độ.

Trong thời kỳ đó, Đảng cho phép kinh tế thị trường – vốn là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản – nhưng để không chệch hướng nên cần có “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Trong một chế độ do Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo, mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa dường như là lựa chọn tất yếu.

Sau khi Việt Nam thống nhất, Quốc hội Việt Nam đã đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào tháng 7/1976.

Đảng Cộng sản tổ chức Đại hội lần thứ 4 vào tháng 12/1976, với khẩu hiệu: “Cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”.

Để bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chính quyền đã thực hiện một loạt các cuộc cải tạo công thương nghiệp, bắt đầu từ giới tư bản người Hoa rồi mở rộng ra các doanh nghiệp khác.

Hệ quả là nền kinh tế thị trường ở miền Nam đã hoàn toàn bị xóa bỏ và kinh tế kế hoạch, đặc trưng của xã hội chủ nghĩa, chiếm lĩnh.

Cho đến Đại hội 5 diễn ra vào năm 1982, khẩu hiệu vẫn thể hiện quyết tâm: “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân.”

Nhưng điều đó đã gây ra khủng hoảng.

Nhưng hàng loạt sai lầm trong quản lý kinh tế đã tạo nên các cuộc khủng hoảng. Sản xuất đình đốn vì thiếu nguyên liệu cũng như thiếu thị trường trong khi đó lạm lạm phát tăng phi mã.

Năm 1985 và 1986 là hai năm Việt Nam chứng kiến rơi vào vòng xoáy siêu lạm phát.

IMF tính toán lạm phát Việt Nam năm 1986 là 453%, trong khi Ngân hàng Thế giới đưa ra con số 398%.

Ở trong nước, các chuyên gia tính được lạm phát năm 1986 là 774%.

Điều đó đã đặt Đảng Cộng sản vào tình thế phải đánh giá lại chính sách.

Sau cái chết của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Đảng đã đề ra chính sách Đổi mới. Kinh tế thị trường đã được đề cập đến, dù vẫn phải có “định hướng xã hội chủ nghĩa” – cụm từ hài hòa để tránh làm mếch lòng các nhà bảo thủ.

Con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội dường như đã gặp phải thách thức lớn nhất: hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990.

Sự kiện này đã đặt các nhà lãnh đạo Việt Nam trước những do dự về con đường phía trước.

Nhưng rồi, làn sóng đổi mới cấp tiến nhanh chóng bị chặn lại, và những người đưa ra chủ trương này đã bị truất phế, như Ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách.

Kinh tế thị trường và nỗi lo ‘chệch hướng’

Đảng Cộng sản tổ chức Đại hội 7 vào tháng 6/1991 và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thay vì “tiến nhanh, tiến mạnh”.

Bản cương lĩnh đưa ra 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, gồm: do nhân dân làm chủ; nền kinh tế phát triển cao; văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; không có áp bức, bất công; làm theo năng lực, hưởng theo lao động; và có quan hệ hữu nghị và hợp tác với quốc tế…

Thời điểm này, các chủ trương về Đổi mới mới được bắt đầu thực thi và khái niệm kinh tế thị trường được áp dụng trong thực tế trong khi lệnh cấm vận từ Mỹ vẫn chưa được gỡ bỏ.

Cho dù thừa nhận kinh tế tư nhân, Đảng vẫn xác lập kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo.

Từ Đổi mới 1986 đến Cương lĩnh 1991 là một thời kỳ mà giới lý luận ở Việt Nam “tranh cãi liên miên”, giữa kinh tế thị trường và nỗi sợ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, theo Huy Đức, tác giả của bộ sách Bên thắng cuộc.

Đại hội 7 cũng đã bầu ông Đỗ Mười làm tổng bí thư.

Ông Đỗ Mười, từng là vị chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã thành công trong việc đẩy lùi nạn siêu lạm phát trong thập niên 1980, là người được miêu tả luôn lo ngại về nguy cơ “chệch hướng”.

Văn kiện của Đại hội 7 ban đầu có tên “Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000” đã được thêm “đuôi” để trở thành: “Xây dựng đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Huy Đức dẫn lời Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết thời đó kể rằng, trước việc mở cửa làm ăn với các nước tư bản, tại một số hội nghị, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã lên tiếng cảnh báo: “Coi chừng mất định hướng, mất chủ nghĩa xã hội.”

Nhưng dân chúng đã chứng kiến những sự thay đổi trong đời sống khi nền kinh tế được cởi trói và mở cửa làm ăn với nước ngoài, đặc biệt sau khi Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1995.

Đầu tư nước ngoài gia tăng, số doanh nghiệp tư nhân thành lập trong nước cũng tăng theo.

Chủ nghĩa tư bản đã không còn bị hắt hủi, còn giới lý luận của Đảng bàn nhau chuyện “kế thừa cái gì và bỏ qua cái gì”.

Đã có rất nhiều thay đổi trong các thể chế kinh tế, tạo ra nhiều thay đổi trong xã hội.

Đến đại hội 11, Đảng Cộng sản đã bổ sung Cương lĩnh 1991 thêm hai đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, gồm “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và “có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”.

Lãnh đạo Đảng thời điểm này là ông Nguyễn Phú Trọng, một nhà lý luận chính trị, và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục được khẳng định là “phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

‘Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm’

Năm 2013, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh được mời đến Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói chuyện trước đông đảo người nghe là lãnh đạo của các địa phương.

Một câu hỏi được cử tọa đưa ra: Thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa?

Ông Vinh đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm.”

Nhưng sự thừa nhận của ông Vinh không khiến cho giới lãnh đạo Việt Nam bớt đi nhiệt huyết và khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội.

VGP/BBC

Nhà lý luận Nguyễn Phú Trọng bày tỏ khát khao hoàn thiện mô hình xã hội chủ nghĩa riêng của Việt Nam.

Cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã được ông Trọng nhắc lại vào năm 2021 là “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Ðảng ta”.

Theo ông, kinh tế thị trường là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

“Đột phá sáng tạo” này dường như là cách Đảng muốn tạo ra sự khác biệt so với mô hình kiểu Trung Quốc.

Trung Quốc, kể từ sau khi lãnh tụ Mao Trạch Đông qua đời, từ cuối thập niên 1970, đầu 1980 đã chuyển đổi mô hình từ kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường – được gọi là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.

Trung Quốc đã chứng kiến sự phát triển thần kỳ và đang nổi lên thành một cường quốc đối trọng với Mỹ.

Trong ba quốc gia cộng sản còn lại, Cuba gặp khó khăn từ sức ép của chính quyền Mỹ, trong khi Triều Tiên mang dáng dấp của một quốc gia phong kiến cha truyền con nối, còn Lào thì bị coi là chịu ảnh hưởng nặng nề từ Trung Quốc và Việt Nam.

Ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản?

Việt Nam hiện vẫn là quốc gia có mức thu nhập trung bình cao và đang có hoài vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Đó là năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Đó cũng là năm được xác định là “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và kết thúc thời kỳ quá độ.

Phần lớn những khát vọng xây dựng Việt Nam dân giàu, nước mạnh, hay nhà nước pháp quyền, cũng là những giá trị phổ quát mà các quốc gia tư bản chủ nghĩa từ châu Âu, châu Mỹ đến châu Á đã thực sự xây dựng được và làm tốt hơn Việt Nam.

Vậy điều gì khiến cho mô hình xã hội chủ nghĩa trở nên “ưu việt” hơn, mà Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn theo đuổi?

Xung đột ý thức hệ tư bản – cộng sản dường như không được đề cập đến nhiều, nhưng các nhà lý luận Việt Nam vẫn đề cập đến các “vấn đề của chủ nghĩa tư bản hiện đại”: phát triển nhưng không bền vững, “tự do, bình đẳng” nhưng không thực chất, chỉ là hình thức, và mâu thuẫn giữa lao động và tư bản ngày càng sâu sắc.

Ở chiều ngược lại, theo các nhà lý luận của Đảng, chủ nghĩa xã hội có những giá trị tốt đẹp cho con người, phát triển bền vững cả kinh tế, xã hội và môi trường, không chỉ hiện tại mà còn cả tương lai.

Ở trong chế độ đó, xã hội nhân ái, đoàn kết, hướng đến các giá trị tiến bộ, nhân văn, còn về chính trị thì quyền lực thật sự thuộc về nhân dân, theo bài viết Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của ông Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 5/2021.

“Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi,” ông Trọng đặt vấn đề.

Các nhà lý luận của Đảng Cộng sản dường như đang muốn giải quyết những mâu thuẫn của chủ nghĩa xã hội và thị trường, một mặt nhấn mạnh đến tăng trưởng kinh tế (dân giàu, nước mạnh), mặt khác chú trọng đến “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Ông Nguyễn Phú Trọng là nhà lý luận trong khi ông Tô Lâm thiên về hành động

Nhưng ông Trọng vẫn chỉ dừng lại ở phần lý luận. Chưa có một kế hoạch hành động hay một mô hình nào được đưa ra thí điểm, cho đến thời điểm ông mất vào tháng 7/2024.

Kể từ khi ông Tô Lâm trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng vào tháng 8/2024, khái niệm “kỷ nguyên vươn mình” đã ra đời và được nhắc đến thường xuyên, trở thành một chủ đề trong Đại hội 14.

Mục tiêu phú cường dường như đã trở thành một ưu tiên quan trọng nhất trong chương trình nghị sự của ông Tô Lâm, thể hiện qua việc yêu cầu phát triển kinh tế với tốc độ hàng năm từ 10% trở lên.

Và, được đánh giá là con người thiên về hành động, ông cũng đã gợi ý Hà Nội lên kế hoạch xây dựng thí điểm xã, phường xã hội chủ nghĩa.

Phát kiến của Việt Nam

Ông Tô Lâm, trong buổi nói chuyện về việc triển khai nghị quyết phát triển kinh tế nhà nước vào tháng 2/2026, đã một vài lần nhắc đến cuộc tranh luận trước đây của ông với “các giáo sư ở Đại học Harvard” về “làm gì có thị trường tự do” để nhấn mạnh ý phải có sự can thiệp của nhà nước.

Ông kể mình đã “nói với các giáo sư” rằng mô hình kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước là “phát kiến” của Việt Nam.

“Nhưng mà chúng tôi còn bận quá nhiều việc và thực tiễn, thành ra chưa nghiên cứu trở thành một luận thuyết về kinh tế của thế giới,” ông Tô Lâm nói, cho biết thêm rằng “các giáo sư của Harvard cũng rất đồng tình, sẵn sàng để thảo luận về những vấn đề này”.

Sự can thiệp của nhà nước vào thị trường chính là đặc trưng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Điều đó có nghĩa là Việt Nam từ bỏ mô hình cổ điển kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, nhưng cũng không để thị trường tự do điều tiết hoàn toàn mà nhấn mạnh đến sự can thiệp của nhà nước.

Chính quyền Việt Nam trong thời gian qua đã đề cập đến khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển (developmental state), vốn là mô hình đã tạo ra những thành công cho các nền minh tế Đông Á như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan…

Suốt thời gian điều hành chính phủ từ năm 2016-2021, “chính phủ kiến tạo” là cụm từ được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ưa dùng, cứ nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần.

Đến khi ông Phạm Minh Chính làm thủ tướng, cụm từ này đã hầu như bị quên lãng, thay vào đó là các chỉ thị, mệnh lệnh có vần có điệu, từ “vượt nắng, thắng mưa” đến “ba ca, bốn kíp”…

Nhưng “nhà nước kiến tạo” đã xuất hiện trở lại, đặc biệt là khi ông Tô Lâm đưa ra nghị bộ tứ nghị quyết, là các chủ trương về phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế.

Trong nhiệm kỳ 2026-2031, Đảng Cộng sản sẽ tổng kết 40 năm Đổi mới và 40 năm thực hiện Cương lĩnh 1991.

“Kỷ nguyên vươn mình” của ông Tô Lâm, với hàng loạt cải cách bộ máy nhà nước và chính quyền địa phương, được các định chế quốc tế như Ngân hàng Thế giới gọi là cuộc Đổi mới 2.0.

Việc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội từ cấp phường, xã dường như là bước khởi đầu để đến năm 2045 – như tuyên bố của ông Tô Lâm – kết thúc giai đoạn quá độ, để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Theo lý luận của Karl Marx, chủ nghĩa xã hội chỉ là hình thái giai đoạn thấp và sẽ tiến lên hình thái cao hơn là chủ nghĩa cộng sản.


 

Con Người Cần Bao Nhiêu Đất

Phu Da News 

Con Người Cần Bao Nhiêu Đất

Con người từ ngàn đời vẫn luôn bị cám dỗ bởi khát vọng sở hữu nhiều hơn: nhiều đất đai hơn, nhiều tiền bạc hơn, nhiều của cải hơn, nhiều quyền lực hơn. Nhưng trong cuộc mải miết chạy theo những giá trị chóng qua của thế gian, người ta thường quên mất điều quan trọng nhất: linh hồn mình và cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa.

Một câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng, được gợi hứng từ tác phẩm của Lev Tolstoy, kể về một người nông dân tên là Pakhôm. Ông nghe tin rằng tại một vùng đất xa xôi có một địa chủ đưa ra một đề nghị hết sức đặc biệt: chỉ với một nghìn rúp, bất cứ ai cũng có thể sở hữu tất cả phần đất mà mình đi vòng quanh được trong một ngày, với điều kiện phải trở về đúng điểm xuất phát trước khi mặt trời lặn.

Pakhôm vô cùng phấn khởi. Ông nghĩ rằng đây chính là cơ hội lớn nhất trong đời mình. Sau khi nộp đủ số tiền, từ lúc bình minh vừa ló rạng, ông bắt đầu lên đường.

Ban đầu, ông bước đi thong thả. Nhưng khi nhìn thấy những cánh đồng rộng lớn trải dài trước mắt, lòng tham dần len lỏi vào tâm hồn ông:

“Đi thêm một chút nữa thôi! Mảnh đất này cũng có thể là của mình. Vẫn còn nhiều thời gian mà.”

Thế là ông tiếp tục đi.

Rồi lại đi thêm một đoạn nữa.

Và thêm một đoạn nữa.

Mỗi lần như thế, ông đều tự nhủ rằng mình vẫn còn đủ thời gian để quay về.

Cho đến khi ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, ông chợt nhận ra mặt trời đã ngả dần về phía chân trời. Nỗi sợ hãi lập tức tràn ngập tâm trí. Ông quay đầu và dốc hết sức lực để chạy trở lại.

Ông chạy không ngừng.

Tim đập dồn dập.

Hơi thở ngày càng nặng nhọc.

Cả thân xác rã rời vì kiệt sức.

Cuối cùng, chỉ vài khoảnh khắc trước khi mặt trời lặn, ông đã về đến điểm xuất phát và đưa tay chạm vào nơi đã được quy định.

Ông đã thành công.

Nhưng cũng chính trong giây phút ấy, trái tim ông ngừng đập. Ông ngã xuống và chết ngay tại chỗ.

Nhìn thi thể bất động của ông, người địa chủ nói với những người hầu:

“Hãy đào cho ông ấy một cái huyệt dài hai mét, rộng một mét. Thật ra, đó là tất cả phần đất mà một con người cần.”

Câu chuyện ấy là tấm gương phản chiếu cho mỗi chúng ta.

Đất đai không xấu. Của cải vật chất cũng không phải là điều tội lỗi. Vấn đề chỉ xuất hiện khi chúng trở nên quan trọng hơn Thiên Chúa, hơn gia đình, hơn tình yêu thương và phần rỗi linh hồn.

Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta trong Tin Mừng:

“Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì?” (Mc 8,36)

Biết bao người đã dành cả cuộc đời để theo đuổi của cải vật chất mà quên mất cách sống thật sự. Họ quên trân trọng những người thân yêu. Quên tạ ơn Thiên Chúa. Quên rằng thời gian của mình trên trần gian này là hữu hạn.

Đến cuối cuộc đời, không ai có thể mang theo nhà cửa, ruộng đất, tiền bạc hay những tài sản đã tích góp. Điều còn lại trước mặt Thiên Chúa chính là đức tin, những việc lành phúc đức và tình yêu thương mà ta đã trao ban cho tha nhân.

Sự giàu có đích thực không được đo bằng số đất đai ta sở hữu, nhưng bằng sự bình an trong tâm hồn. Không nằm ở những gì ta tích trữ cho riêng mình, nhưng ở những gì ta biết quảng đại trao tặng cho người khác.

Vì thế, đừng dành cả cuộc đời để chạy theo những điều sẽ ở lại thế gian này. Hãy chăm lo cho linh hồn mình, bởi đó là kho tàng duy nhất sẽ đồng hành với chúng ta bước vào cõi vĩnh hằng.

Sau cùng, con người chỉ cần một khoảng đất rất nhỏ cho thân xác khi nhắm mắt xuôi tay, nhưng lại cần vô cùng nhiều Thiên Chúa để linh hồn được sống đời đời.

Lạy Chúa, xin gìn giữ tâm hồn chúng con khỏi lòng tham và sự quyến luyến quá mức đối với của cải đời này. Xin dạy chúng con biết tìm kiếm Nước Chúa trước hết, biết sử dụng những gì Chúa ban để yêu thương và phục vụ tha nhân, hầu khi kết thúc hành trình trần thế, chúng con được trở về trong vòng tay yêu thương của Chúa muôn đời. Amen.


 

Tesla không chết trong lãng quên-Tg văn chương 

 Trầm Mặc Huơng Lai

 Ngày 7 tháng 1 năm 1943, Nikola Tesla qua đời một mình trong căn phòng số 3327 của khách sạn New Yorker. Ông 86 tuổi. Hai ngày sau, một nhân viên mới phát hiện thi thể ông, sau cánh cửa vẫn treo tấm bảng nhỏ: “Xin đừng làm phiền.”

Nguyên nhân chính thức là một cơn huyết khối động mạch vành. Nhưng nếu phải nói thật, cái giết chết ông không là do bệnh tim. Đó là nhiều năm sống trong cô độc. Là những tháng ngày nghèo khổ. Là cảm giác bị thế giới bỏ lại phía sau — chính thế giới mà ông đã giúp thắp sáng.

Chính Nikola Tesla là người biến dòng điện xoay chiều thành hệ thống cung cấp năng lượng cho toàn bộ nhân loại. Dòng điện đó vẫn đang chạy trong từng bức tường, từng bóng đèn, từng căn bếp của chúng ta hôm nay. Ông là người tiên phong trong công nghệ vô tuyến, động cơ điện, truyền năng lượng không dây. Ông nắm giữ hàng trăm bằng sáng chế. Và ông đã hình dung ra Internet, năng lượng tái tạo, và truyền thông toàn cầu… từ rất lâu trước khi thế giới sẵn sàng hiểu được những điều đó.

Nhưng thiên tài không phải lúc nào cũng đi cùng với sự giàu có.

Ở những năm cuối đời, cuộc sống của Tesla vô cùng giản dị. Ông ăn chủ yếu bánh mì, mật ong, sữa và nước ép rau. Mỗi ngày, ông đi bộ ra công viên để cho chim bồ câu ăn. Trong số đó, có một con bồ câu trắng mà ông yêu quý đặc biệt. Ông từng nói rằng ông yêu nó như một người đàn ông yêu một người phụ nữ.

Và khi con chim ấy chết, một phần nào đó trong ông cũng chết theo.

Ít ai biết rằng đã có một thời, Tesla là ngôi sao của New York. Ông khiến bóng đèn sáng lên chỉ bằng cách chạm tay. Ông tạo ra những tia sét nhân tạo trong phòng thí nghiệm. Ông biến khoa học thành thứ gì đó vừa đáng kính, vừa giống phép thuật.

Giới đầu tư từng tin ông. Đám đông từng ngưỡng mộ ông.

Nhưng rồi, khi ông bắt đầu nói về việc cung cấp điện miễn phí cho toàn thế giới — không dây, không giới hạn — những người tài trợ bắt đầu rút lui. Không phải vì ông sai. Mà vì giấc mơ của ông quá lớn. Và thế giới, như thường lệ, luôn nghi ngờ những người đi trước thời đại của mình.

Ông dần bị xem là một kẻ lập dị.

Ông chết trong một căn phòng khách sạn, không tiền, không gia đình bên cạnh. Trong khi bên ngoài, hàng triệu bóng đèn vẫn sáng — nhờ chính ông.

Nhưng cái chết không thể làm ông biến mất.

Đám tang của ông có hàng ngàn người tham dự. Các nhà khoa học, kỹ sư, và những người hiểu được giá trị thật của ông đã đến để nói lời tạm biệt. Nhiều năm sau, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ chính thức công nhận Tesla là người đặt nền móng cho công nghệ radio.

Lịch sử, cuối cùng, đã sửa lại sai lầm của mình.

Ngày nay, tên ông không chỉ tồn tại trong sách khoa học. Nó còn tồn tại trong công nghệ, trong tương lai, và thậm chí trong tên của những công ty đang thay đổi thế giới hiện đại.

Tesla không chết trong lãng quên.

Ông chết sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của mình.

Có những người sống lâu nhưng không để lại dấu vết.

Và có những người ra đi trong cô độc… nhưng ánh sáng của họ thì ở lại mãi mãi.

Nikola Tesla là một trong những người như thế.

Ông ra đi trong thinh lặng.

Nhưng thế giới ông thắp sáng… vẫn chưa bao giờ tắt.

#NikolaTesla #ThiênTài #LịchSử #KhoaHọc #DiSản #ÁnhSáng #TruyềnCảmHứng #fbLifestyle

Tg văn chương 


 

QUYỀN KHÔNG CÒN ĐÚNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đừng chống cự người ác!”.

Sau 27 năm tù, khi trở thành Tổng thống Nam Phi, Nelson Mandela có đủ quyền lực để trả thù những người từng giam cầm mình. Nhưng ông đã chọn một con đường khác: mời chính viên cai ngục của ông đến dự lễ nhậm chức. Cả thế giới sững sờ.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta thường đồng hoá quyền lực với chân lý; nói cách khác, với điều đúng. Lời Chúa hôm nay đặt ra một nghịch lý: có những lúc quyền vẫn còn đó, nhưng điều đúng lại nằm ở việc không sử dụng nó. Đó là lúc ‘quyền không còn đúng’.

Khi nói “Đừng chống cự người ác!”, Chúa Giêsu không cổ võ sự hèn nhát, cũng không chấp nhận sự bất công. Động từ Hy Lạp ở đây, mē antistēnai, hàm ý: đừng đáp trả sự dữ bằng chính logic của sự dữ. Người môn đệ vẫn đứng về phía điều đúng, nhưng không để điều ác quyết định cách mình hành động. Bởi lẽ, đáp trả điều ác bằng cùng một thứ vũ khí chỉ làm điều ác nhân đôi. Nói cách khác, người môn đệ không để mình xuống cùng một cấp độ với kẻ tấn công mình.

Điều khó nhất không phải là chiến thắng một cuộc xung đột, nhưng là giữ cho tâm hồn mình không bị biến dạng bởi nó. Đó là một chiến thắng khó hơn nhiều so với việc đánh bại đối phương. “Lấy hận thù đáp trả hận thù chỉ làm hận thù gia tăng, thêm bóng tối vào một đêm vốn đã không còn sao!” – Martin Luther King Jr..

Vậy điều gì xảy ra khi con người đồng hoá quyền lực với điều đúng? Akháp muốn vườn nho của Navốt; hoàng hậu dùng quyền lực để đạt điều ấy – bài đọc một. Một người vô tội bị giết, và điều sai được khoác lên dáng vẻ của công lý. Điều đáng sợ không phải là có quyền, nhưng là tin rằng mình đúng chỉ vì mình có quyền. Thế nhưng, không phải mọi điều tôi có quyền làm đều là điều tôi nên làm. Đó là lúc ‘quyền không còn đúng’.

Vậy mà câu chuyện vườn nho không hề là một câu chuyện xa xưa. Nó vẫn xuất hiện trong những phản ứng rất thường ngày của chúng ta. Khi bị tổn thương, chúng ta nghĩ mình có quyền trả miếng; khi bị hiểu lầm, chúng ta nghĩ mình có quyền làm tổn thương lại; khi nắm phần đúng, chúng ta nghĩ mình có quyền chiến thắng bằng mọi giá. Không! Chính ở đó, Tin Mừng đặt ra một câu hỏi khó hơn nhiều: điều tôi sắp làm có chữa lành vết thương này, hay chỉ làm nó sâu thêm? “Điều đúng không trở nên đúng hơn vì nhiều người tin; điều sai không trở nên đúng hơn vì nhiều người làm!” – G. K. Chesterton.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu đã sống điều Ngài dạy. Khi bị vả mặt trong dinh thượng tế, Ngài hỏi: “Nếu tôi nói sai, hãy chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, tại sao anh lại đánh tôi?”. Ngài không trả đũa, cũng không thoả hiệp với điều sai. Ngài vẫn đứng về phía chân lý mà không dùng phương thế của sự dữ. Trên thập giá, điều thế gian gọi là thua lại trở thành chiến thắng của tình yêu. Có những lúc, chiến thắng thật sự bắt đầu khi chúng ta từ bỏ quyền trả đũa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết chọn điều đúng theo cách của Chúa; giữ tâm hồn con khỏi bị biến dạng bởi điều ác; và xin hiểu thấu điều con thầm thĩ nguyện xin!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,18-27

18 Khi ấy, có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người : 19 “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng : “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ goá mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.” 20 Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không có con nối dòng. 21 Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không có con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. 22 Cả bảy người đều không có con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23 Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ ? Vì cả bảy người đều đã lấy bà làm vợ.”

24 Đức Giê-su nói : “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao ? 25 Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. 26 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao ? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào ? Người phán : ‘Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp’. 27 Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to !”


 

QUÍ ‘ BÔ LÃO’ TỪ 80 NÊN BIẾT

QUÍ ‘ BÔ LÃO’ TỪ 80 NÊN BIẾT

Vì sao nhiều người qua đời không lâu sau khi bước qua tuổi 80?

Bạn có bao giờ tự hỏi vì sao rất nhiều người dường như qua đời không lâu sau khi tròn 80 tuổi?

Đây là một câu hỏi khiến nhiều người băn khoăn — và có lý do chính đáng.

Sự thật là, vượt qua ngưỡng tuổi 80 không chỉ đơn giản là “già đi”.

Nó còn liên quan đến cách ta chăm sóc bản thân, cách cơ thể phản ứng với tuổi tác, và những thói quen hàng ngày — thứ có thể bảo vệ ta hoặc ngược lại, khiến cơ thể yếu đi.

Trong khi có người vẫn sống khỏe mạnh tới tận 90 tuổi, thì những người khác lại cảm thấy sức khỏe sa sút nhanh hơn họ tưởng.

Trong bài này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu 6 nguyên nhân quan trọng khiến nhiều người cao tuổi có tuổi thọ ngắn hơn sau 80.

Những điều này không phải là suy đoán ngẫu nhiên, mà là những mẫu hình và thực tế lặp đi lặp lại trong đời sống của người già trên khắp thế giới.

Mỗi nguyên nhân sẽ giúp bạn hiểu điều gì đang rút ngắn tuổi thọ — và quan trọng hơn, làm sao để ngăn chặn nó.

Hãy ở lại đến cuối, vì nguyên nhân cuối cùng có thể là điều bạn chưa từng nghĩ đến, nhưng lại tạo nên khác biệt rất lớn trong cách bạn đối mặt với tuổi già.

  1. Suy giảm cơ bắp và khả năng vận động

Một trong những yếu tố quan trọng nhất rút ngắn tuổi thọ sau 80 là sự suy giảm sức mạnh cơ bắp và khả năng di chuyển.

Khi thời gian trôi qua, quá trình mất cơ tự nhiên — gọi là sarcopenia — trở nên rõ rệt hơn.

Ngay cả khi bạn từng năng động khi còn trẻ, khả năng duy trì khối cơ sẽ giảm đi trừ khi bạn chủ động tập luyện để giữ lại.

Khi cơ yếu đi, thăng bằng và phối hợp vận động cũng giảm, khiến nguy cơ té ngã tăng cao.

Với người trên 80 tuổi, một cú ngã nghiêm trọng có thể làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống — dẫn đến nằm viện lâu ngày, mất khả năng tự lập, và sự suy giảm sức khỏe khó đảo ngược.

Khi khả năng vận động giảm, mức độ hoạt động chung cũng giảm theo.

Điều này tạo thành vòng luẩn quẩn: ít vận động → cơ yếu hơn → càng khó di chuyển → lại càng ít hoạt động.

Những việc đơn giản như leo cầu thang, đứng lên khỏi ghế hay mang đồ cũng trở nên nặng nề.

Và khi các hoạt động thường ngày trở nên mệt mỏi, nhiều người bắt đầu né tránh — từ đó đẩy nhanh quá trình mất cơ.

Theo thời gian, ít vận động còn ảnh hưởng đến tim và phổi, làm giảm sức bền và khả năng chống chịu bệnh tật.

Sự mất sức này không chỉ là vấn đề thể chất mà còn ảnh hưởng đến tâm lý — khiến người già dễ nản, tự ti, hoặc thu mình khỏi các hoạt động xã hội.

Cô đơn và căng thẳng kéo dài lại làm yếu thêm hệ miễn dịch, khiến cơ thể dễ mắc bệnh hơn.

Một ví dụ thực tế: ông Harold, 84 tuổi, từng rất thích làm vườn.

Nhưng một mùa đông lạnh, ông ngừng đi dạo hằng ngày.

Chỉ sau vài tháng, ông nhận ra mình nhanh mệt hơn, đôi chân yếu đi, và khi mùa xuân tới, việc cúi xuống trồng hoa cũng trở nên khó khăn.

Sự thay đổi diễn ra nhanh hơn ông tưởng.

Tin tốt là: ngay cả ở tuổi 80 trở lên, vẫn có thể làm chậm quá trình này.

Tập thể dục nhẹ như đi bộ, tập kháng nhẹ, hoặc các bài tập trên ghế đều giúp duy trì sức mạnh và sự dẻo dai — điều quan trọng là sự đều đặn.

Giữ cơ thể vận động hằng ngày chính là cách bảo vệ khả năng tự lập và chất lượng cuộc sống.

  1. Dinh dưỡng kém và ăn uống không đủ năng lượng

Một nguyên nhân lớn khác khiến nhiều người không sống lâu sau 80 là chế độ dinh dưỡng nghèo nàn hoặc ăn quá ít.

Ở tuổi này, cảm giác thèm ăn tự nhiên thường giảm — do ít vận động, thay đổi vị giác, hoặc tác dụng phụ của thuốc.

Kết quả là cơ thể không nhận đủ năng lượng và dưỡng chất để duy trì sức khỏe.

Theo thời gian, việc ăn uống kém khiến hệ miễn dịch yếu, cơ teo, và phục hồi sau bệnh chậm.

Nhiều người lớn tuổi gặp khó khi nhai hoặc nuốt, nhất là khi răng yếu, nên tránh ăn rau, thịt nạc hay các loại hạt — những thực phẩm vốn rất giàu dinh dưỡng.

Thay vào đó, họ chọn đồ chế biến sẵn, dễ nhai nhưng lại thiếu protein, vitamin và khoáng chất.

Đặc biệt, thiếu protein khiến cơ thể nhanh yếu, mất sức và dễ ngã.

Một số người thậm chí bỏ bữa vì cảm thấy nấu nướng quá mệt, nhất là khi sống một mình.

Ăn uống lành mạnh sau 80 không phải là ăn nhiều, mà là ăn đúng — chọn rau quả tươi nhiều màu, thịt nạc, ngũ cốc nguyên hạt và chất béo lành mạnh.

  1. Bệnh mạn tính không được kiểm soát

Khi bước sang tuổi 80, phần lớn mọi người đều sống chung với ít nhất một bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường, viêm khớp hoặc bệnh phổi.

Vấn đề là những bệnh này cần theo dõi sát sao để không trở nặng.

Đáng tiếc, nhiều người hoặc xem nhẹ việc chăm sóc hằng ngày, hoặc gặp khó khăn trong việc duy trì thói quen điều trị.

Việc bỏ khám định kỳ, quên thuốc, hoặc xem nhẹ triệu chứng sớm khiến bệnh tiến triển mà không được phát hiện.

Những dấu hiệu như mệt mỏi, khó thở hay phù chân có thể bị cho là “già yếu thôi”, trong khi thật ra là dấu hiệu của biến chứng tim hoặc thận.

Dù bệnh mạn tính không thể chữa dứt điểm, nhưng hoàn toàn có thể kiểm soát bằng việc tuân thủ điều trị, tái khám đều, và trao đổi cởi mở với bác sĩ.

  1. Cô đơn và thiếu gắn kết xã hội

Sau 80 tuổi, thiếu kết nối xã hội là yếu tố cực kỳ quan trọng nhưng hay bị bỏ qua.

Bạn bè, người thân có thể qua đời hoặc sống xa, còn cơ hội giao tiếp thường ngày cũng ít dần.

Khi cô đơn kéo dài, cả tinh thần lẫn thể chất đều suy yếu.

Cô đơn không chỉ là cảm giác — nó có tác động sinh học rõ ràng: làm tăng huyết áp, gây viêm mạn tính và suy giảm miễn dịch.

Về tâm lý, nó dễ dẫn đến trầm cảm, khiến người già mất động lực ăn uống, vận động, hay tuân thủ thuốc men.

Giữ mối quan hệ xã hội sau 80 cần chủ động — tham gia câu lạc bộ, tình nguyện, đi lễ, hoặc đơn giản là thường xuyên gặp gỡ con cháu, bạn bè.

Kết nối xã hội không phải là xa xỉ — nó là nhu cầu sinh tồn.

  1. Sức đề kháng yếu và dễ nhiễm bệnh

Sau 80 tuổi, hệ miễn dịch suy yếu tự nhiên (gọi là immunosenescence).

Những bệnh tưởng như nhẹ — cảm cúm, viêm phổi, nhiễm trùng tiểu — có thể trở nên nghiêm trọng hơn nhiều.

Cơ thể sản xuất ít tế bào miễn dịch hơn, vết thương lâu lành, và khi mắc bệnh, khả năng hồi phục cũng chậm hơn.

Những người mắc bệnh mạn tính (như tiểu đường, tim mạch) càng dễ bị nhiễm trùng nặng.

Phòng bệnh là then chốt — tiêm chủng đầy đủ (cúm, viêm phổi, COVID, zona), giữ vệ sinh, chăm sóc răng miệng, ăn uống lành mạnh và đi khám sớm khi có dấu hiệu bất thường.

  1. Lối sống ít vận động

Một thói quen gây hại nhất sau 80 là ngồi quá nhiều và ít di chuyển.

Hoạt động thể chất giúp tim khỏe, giữ cơ bắp, bảo vệ xương và cải thiện thăng bằng.

Nhiều người lớn tuổi giảm vận động vì đau khớp, mệt mỏi hay sợ té ngã.

Nhưng càng ít hoạt động, cơ càng yếu, trí nhớ càng kém, và cơ thể càng nhanh suy kiệt.

Ngay cả những hoạt động nhẹ như duỗi người, đi bộ ngắn, làm vườn hoặc tập trên ghế cũng mang lại lợi ích lớn.

Điều quan trọng không phải là cường độ — mà là duy trì sự vận động đều đặn.

Kết luận

Chúng ta vừa cùng điểm qua 6 nguyên nhân phổ biến khiến tuổi thọ sau 80 bị rút ngắn:

Suy giảm cơ và vận động

Dinh dưỡng kém

Bệnh mạn tính không kiểm soát

Cô đơn

Hệ miễn dịch yếu

Lối sống tĩnh tại

Mỗi yếu tố trên đều có thể được cải thiện.

Những thay đổi nhỏ — như đi bộ mỗi ngày, ăn uống cân bằng, duy trì giao tiếp xã hội và tuân thủ điều trị — có thể tạo ra khác biệt lớn.

Cuộc sống sau 80 vẫn có thể tràn đầy ý nghĩa, niềm vui và sức sống — nếu ta chủ động bảo vệ sức khỏe và giữ kết nối với thế giới quanh mình.

Người dịch : HCD: Bên trên là transcript (dịch từ Anh ngữ) lời của xướng ngôn viên, tôi check lại thì thấy đúng gần hết (dưới) nên gởi các bạn tham khảo may ra có ich phần nào

From: NguuyenNThu


 

Khi một cái ôm làm dấy lên tranh cãi: Bức ảnh Đức Giáo hoàng Lêô XIV và bài học về phán xét 

Phạm Quang Long

Khi một cái ôm làm dấy lên tranh cãi: Bức ảnh Đức Giáo hoàng Lêô XIV và bài học về phán xét 

BARCELONA — Ngày 8/6/2026, dưới bầu trời đêm của Sân vận động Olympic Lluís Companys, gần 40.000 bạn trẻ tụ họp cho buổi canh thức cầu nguyện cùng Đức Giáo hoàng Lêô XIV. Giữa dòng người, một khoảnh khắc ngắn ngủi đã vượt khỏi khuôn viên sân vận động và trở thành tâm điểm tranh luận trên mạng xã hội Công giáo: một cô gái trẻ lao đến, vòng tay ôm Đức Giáo hoàng. Ngài đáp lại bằng ánh nhìn chăm chú và nụ cười hiền.

Hai ngày sau, khi bức ảnh được Vatican Media phát hành chính thức, cuộc tranh luận vẫn chưa lắng xuống. Với người này, đó là hình ảnh của lòng trắc ẩn. Với người khác, đó là sự suồng sã, thiếu tôn trọng ngai tòa Phêrô. Câu hỏi đặt ra không chỉ là về nghi thức, mà là về cách chúng ta nhìn nhau.

1- Bối cảnh đằng sau bức ảnh

Cô gái trong ảnh tên Carmina. Vài phút trước cái ôm, cô đứng trước đám đông để kể câu chuyện của mình: trầm cảm, một lần tự tử bất thành, và câu hỏi dồn nén “Thiên Chúa ở đâu khi bóng tối quá lớn?”. Đức Lêô XIV trả lời, giọng chậm và ấm: “Thiên Chúa không muốn đau khổ. Người mang nó cùng chúng ta.” Ngài cũng chỉ trích văn hóa ám ảnh thành tích khiến nhiều người trẻ chịu đựng trong im lặng.

Vatican không giấu bức ảnh. Họ chọn nó. Bộ Truyền thông Tòa Thánh, với đội ngũ biên tập và nhiếp ảnh chuyên nghiệp, hiểu rõ mỗi hình ảnh được phát ra đều mang một thông điệp. Thông điệp ở đây không phải về một cử chỉ thân mật, mà về một cuộc gặp gỡ: giữa vết thương và hy vọng.

2- Lịch sử lặp lại

Hơn 2.000 năm trước, Tin Mừng Luca kể một cảnh tương tự. Tại nhà ông Simon biệt phái, một người phụ nữ bị gọi là “tội lỗi” lao vào, khóc, lấy tóc lau chân Chúa Giêsu. Đám đông xầm xì: “Nếu ông này là ngôn sứ…”. Họ nhìn cử chỉ. Chúa nhìn trái tim.

Hôm nay, câu hỏi gần như lặp lại: “Sao Đức Giáo hoàng để cô ấy ôm?”. Một bên tập trung vào quy tắc. Bên kia, vị mục tử tập trung vào con người. Bức ảnh cho thấy không có sự lúng túng, không có nỗ lực đẩy ra. Chỉ có sự hiện diện. Trong khoảnh khắc đó, cái ôm giống một phép lành thinh lặng hơn là một hành vi phạm.

3- Nghi thức và ngoại lệ

Giáo hội là cộng đoàn, nhưng cũng là định chế có trật tự. Trong nhiều thế kỷ, tiếp kiến Đức Giáo hoàng tuân theo nghi thức: cúi đầu, bắt tay, trao đổi ngắn. Những cử chỉ tự phát luôn là ngoại lệ, không phải quy chuẩn. Sai lầm là lên án cô gái, hoặc biến ngoại lệ thành chuẩn mực mới.

Sự khôn ngoan Kitô giáo nằm ở chỗ phân biệt: đâu là quy tắc để bảo vệ phẩm giá, đâu là khoảnh khắc mục vụ để chữa lành. Carmina không đại diện cho tất cả. Cô đại diện cho những người đã đi đến bờ vực và cần một ánh nhìn không phán xét.

4- Khi nghi kỵ thay thế phân định

Bức ảnh làm lộ một thực tế của thời đại: chúng ta sống trong văn hóa nghi kỵ. Những scandal trong quá khứ khiến nhiều tín hữu mất niềm tin, và vết thương chưa lành có thể bóp méo nhận thức. Kết quả là ta nghi ngờ trước khi hiểu, buộc tội trước khi lắng nghe.

Nhưng phân định khác với nghi kỵ. Phân định tìm sự thật. Các nhà tâm lý gọi đây là “chữa lành trong mối quan hệ”: một ánh nhìn đón nhận, một lời nói không lên án, có thể trở thành mốc quan trọng cho người từng muốn kết thúc đời mình. Đó chính là điều Đức Lêô XIV nhấn mạnh tại Barcelona: “Chúng ta được tạo dựng cho cõi vĩnh hằng. Không đêm đen nào kéo dài mãi.”

5- Kết

Cuối cùng, bức ảnh không nói về một cái ôm. Nó nói về cách chúng ta chọn nhìn thế giới. Khi đứng trước điều mình chưa hiểu, ta chọn nghi kỵ như người biệt phái, hay chọn lòng thương xót như Chúa Giêsu?

“Phúc cho ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).

Trong thời đại hình ảnh lan truyền trong tích tắc, câu trả lời cho câu hỏi ấy có lẽ quan trọng hơn cả bức ảnh.

— Phạm Quang Long dịch bản tin của Duchess Audrey


 

Những nhân tài như Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… không bao gio sinh ra ở những nước độc tài.

Nguyễn Văn Đài

Những nhân tài như Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… không bao gio sinh ra ở những nước độc tài.

Trong lịch sử phát triển nhân loại, những thiên tài công nghệ đã thay đổi cả thế giới thường xuất hiện ở những môi trường tự do, cởi mở. Steve Jobs với Apple, Mark Zuckerberg với Facebook, Elon Musk với SpaceX và Tesla là những minh chứng điển hình cho sức mạnh sáng tạo của nước Mỹ – một nền dân chủ tự do. Ngược lại, ở những quốc gia độc tài, nơi quyền lực tập trung, tự do bị kìm hãm, rất hiếm có những nhân tài kiểu ấy. Đây không phải ngẫu nhiên mà là quy luật logic của sự phát triển.

Trước hết, nhân tài công nghệ lớn cần tự do tư tưởng và sáng tạo. Steve Jobs và Steve Wozniak đã có thể thí nghiệm, thất bại và thử nghiệm lại trong garage mà không sợ bị kiểm soát hay đàn áp. Mark Zuckerberg xây dựng Facebook từ ký túc xá đại học với ý tưởng kết nối mọi người một cách cởi mở. Elon Musk dám mơ về du hành vũ trụ và xe điện vì ông tin rằng ý tưởng cá nhân có thể thách thức cả ngành công nghiệp truyền thống. Ở các nước độc tài, nhà nước kiểm soát thông tin, giáo dục và tư tưởng. Bất kỳ ý tưởng nào đi ngược lại đường lối chính thống đều có nguy cơ bị coi là “phản động”. Lịch sử cho thấy, dưới các chế độ toàn trị, sáng tạo bị bóp nghẹt bởi kiểm duyệt, tuyên truyền và sợ hãi. Các nhà khoa học, kỹ sư tài năng thường phải im lặng hoặc chạy trốn (brain drain) thay vì dám nghĩ lớn và làm khác biệt.

Thứ hai, môi trường kinh tế tự do và hệ thống pháp lý bảo vệ quyền sở hữu là yếu tố then chốt. Ở Mỹ, hệ thống tư bản chủ nghĩa khuyến khích đầu tư mạo hiểm (venture capital), bảo vệ bản quyền trí tuệ nghiêm ngặt và cho phép doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh gay gắt. Thất bại không phải là tội lỗi mà là bài học. Nhờ đó, các startup có thể phát triển từ con số zero thành đế chế toàn cầu. Ngược lại, ở nước độc tài, kinh tế thường bị nhà nước chi phối, tham nhũng lan tràn, tài sản cá nhân không được bảo vệ. Doanh nhân tài giỏi dễ bị “vô tình” quốc hữu hóa hoặc bị ép phải phục vụ lợi ích chính trị. Sáng tạo bị thay thế bằng chỉ thị hành chính. Kết quả là, dù có một số công ty lớn (như một số tập đoàn công nghệ ở Trung Quốc), họ thường mạnh về sao chép, sản xuất quy mô lớn hơn là sáng tạo đột phá thay đổi cuộc chơi toàn cầu.

Hơn nữa, hệ thống giáo dục và văn hóa khuyến khích cá nhân cũng đóng vai trò quyết định. Các đại học hàng đầu Mỹ như Stanford, MIT không chỉ dạy kiến thức mà còn nuôi dưỡng tinh thần phản biện, làm việc nhóm và theo đuổi đam mê. Văn hóa Mỹ tôn vinh “American Dream” – ai cũng có cơ hội thành công nếu dám nghĩ, dám làm. Trong khi đó, giáo dục ở nhiều nước độc tài nhấn mạnh sự tuân phục, học thuộc lòng và trung thành với hệ tư tưởng. Cá tính, sự khác biệt bị coi là nguy hiểm. Những Elon Musk tương lai bị dập tắt từ ghế nhà trường.

Tất nhiên, không phải nước độc tài nào cũng hoàn toàn không có nhân tài. Một số quốc gia như Trung Quốc hay Nga cũng có những kỹ sư xuất sắc và thành tựu công nghệ nhất định. Tuy nhiên, những thành tựu ấy thường nằm trong lĩnh vực nhà nước ưu tiên (quân sự, giám sát) hoặc dựa trên chuyển giao công nghệ từ phương Tây, chứ ít khi là những cuộc cách mạng dân sự, sáng tạo tự do như iPhone, mạng xã hội toàn cầu hay tên lửa tái sử dụng. Hơn nữa, nhiều nhân tài thực sự của các nước này lại chọn di cư đến Mỹ để thực hiện ước mơ.

Từ bài học ấy, để có những “Steve Jobs Việt Nam”, chúng ta cần nhận thức rõ: tài năng không sinh ra trong chân không. Việt Nam có dân số trẻ, ham học hỏi và khát vọng vươn lên. Nhưng để nhân tài thực sự nở rộ, cần không gian tự do hơn: cải cách giáo dục theo hướng sáng tạo và phản biện, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, giảm kiểm soát hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền minh bạch. Chỉ khi con người được tự do suy nghĩ, tự do thất bại và tự do thành công, những ý tưởng vĩ đại mới có đất sống.

Tóm lại, Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk không phải sản phẩm ngẫu nhiên của nước Mỹ mà là kết tinh của một hệ thống tôn vinh tự do cá nhân và sáng tạo. Những nước độc tài, với bản chất kiểm soát và sợ hãi sự khác biệt, khó lòng đẻ ra những nhân tài thay đổi thế giới. Muốn Việt Nam có những thiên tài công nghệ tầm cỡ, con đường duy nhất là dũng cảm mở cửa cho tự do – tự do tư tưởng, tự do kinh doanh và tự do theo đuổi giấc mơ. Đó chính là chìa khóa để dân tộc ta không chỉ bắt kịp mà còn dẫn dắt tương lai.

#NguyenVanDai 


 

BẤT HẠNH – Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

BẤT HẠNH

1.

Tôi chưa nghe ai nói Úc là một quốc gia anh hùng. Họ chỉ tự nhận là một quốc gia may mắn (Lucky Country). Nếu được lựa chọn, tôi thích sinh ra và sống trong một quốc gia thanh bình hơn là một quốc gia anh hùng. Trong lịch sử, dân tộc anh hùng nào cũng là một dân tộc bất hạnh: Sự anh hùng nở hoa từ máu.

2.

Bất hạnh lớn nhất của Việt Nam hiện nay không phải là đất nước bị cai trị bởi một đảng độc quyền. Bất hạnh lớn nhất là cái đảng độc quyền ấy lại bị cai trị bởi một nhóm người hoàn toàn bất tài và bất lực. Hơn nữa, vô tâm: Họ chỉ lo cho quyền lợi của họ.

3.

Người có tài nhưng không được trọng dụng là một bất hạnh đối với cá nhân người ấy; người không có tài mà lại được trọng dụng, hơn nữa, nắm những vị trí lãnh đạo tối cao, là một bất hạnh cho cả một dân tộc. Trong hiện tại và trong cả tương lai.


 

Dành cho các Bạn trên 60 tuổi

Dành cho các Bạn trên 60 tuổi

Già đi có 5 đặc điểm, chứng tỏ bạn mệnh tốt đến mức không thể tốt hơn! Chỉ cần chiếm được một cái cũng đủ vui thầm!

 Bạn có phải cũng nghĩ rằng, khi già đi, trong tay có tiền, danh nghĩa có nhà, đó chính là phúc khí lớn nhất?

 Nhưng dữ liệu mới nhất lại cho chúng ta một câu trả lời hoàn toàn khác. Báo cáo cuối năm 2025 của Hiệp hội Người cao tuổi Trung Quốc cho thấy, trong cuộc khảo sát hơn 20.000 người trên 60 tuổi trên toàn quốc, chỉ có 12,7% người coi “tài chính dồi dào” là cốt lõi của hạnh phúc. 

Hơn tám thành người cao tuổi, câu trả lời về hạnh phúc của họ lại hướng đến những thứ giản dị và ấm áp hơn.

 Hóa ra, “mệnh tốt” chân chính chưa bao giờ là con số trên thẻ ngân hàng, mà nằm ẩn trong những ngày thường bình dị. Nếu bạn hoặc người già trong nhà có những đặc điểm dưới đây, thì đúng là có phúc rồi, cứ vui thầm đi! 

Có người luôn nhớ đến 

 Người già sợ nhất không phải nghèo, mà là lòng trống rỗng. Cảm giác “có người nhớ đến” vững chãi ấy, bao nhiêu tiền cũng không mua được.

 Khảo sát cho biết, 59,6% người cao tuổi cho rằng “gia đình hòa thuận, con cháu hiếu thảo” là chìa khóa của hạnh phúc. Sự nhớ nhung này không nhất thiết phải ở bên cạnh mỗi ngày. Có thể là một cuộc gọi video của con cái sau giờ tan sở, là ly nước ấm người bạn đời đưa tới, là ván cờ thỉnh thoảng hẹn nhau với bạn cũ.

 Nghiên cứu cũng xác nhận rằng sự hỗ trợ giữa các thế hệ, đặc biệt là kết nối tình cảm, ảnh hưởng rất lớn đến mức độ hài lòng trong cuộc sống của người cao tuổi. Ngay cả những cụ ở viện dưỡng lão, tần suất con cái chủ động gọi điện hoặc video trò chuyện càng cao, mức độ hài lòng trong cuộc sống của họ càng cao.

 Ngược lại, người cao tuổi sống cô đơn hoặc gia đình hay mâu thuẫn, cảm giác hạnh phúc thấp hơn 41,5% so với những gia đình đoàn tụ. Nỗi cô đơn và bất lực ấy chính là cái lạnh sâu thẳm nhất của tuổi già. Vì vậy, trong nhà có ngọn đèn sáng vì bạn, có người nhớ đến sở thích của bạn, sự gắn kết ấm áp này chính là nền tảng đầu tiên của một cuộc đời mệnh tốt. 

 Thân thể khỏe mạnh  

Khi còn trẻ, chúng ta cho sức khỏe là điều đương nhiên. Đến khi già mới biết, không bệnh tật chính là món xa xỉ phẩm cao cấp nhất. 

Dữ liệu nói rất rõ: 68,3% người cao tuổi xếp “tự chăm sóc được bản thân, cơ thể không đau ốm” ở vị trí hàng đầu về hạnh phúc, cao hơn hẳn các lựa chọn khác. Những cụ hưu trí lương không cao, nhưng vẫn tự đi chợ nấu cơm, dạo bước đi dạo, chỉ số hạnh phúc lên tới 89,2 điểm.

 Trong khi đó, không ít người nhà giàu có, nhưng bị bệnh mãn tính hành hạ, phải依赖 người chăm sóc và thuốc men, chỉ số hạnh phúc chỉ còn 22,8 điểm. Sự đối lập này quá rõ ràng. Người già, thể diện lớn nhất chính là không làm gánh nặng cho con cháu; phúc khí lớn nhất chính là trên người không có bệnh tật.

 Một nghiên cứu về người cao tuổi ở các cơ sở dưỡng lão cũng phát hiện, khả năng tự chăm sóc sinh hoạt hàng ngày có mối tương quan tích cực rõ rệt với hạnh phúc chủ quan. Khả năng tự chăm sóc càng mạnh, hạnh phúc càng cao. Có thể tự phơi chăn, ngửi mùi nắng ấm, tự đi chợ chọn bó hành tươi, cảm giác làm chủ cuộc sống này chính là một loại hạnh phúc.

  Có sở thích riêng 

 Có người tuổi chưa già nhưng giữa lông mày đã đầy gió sương; có người tóc bạc trắng nhưng trong mắt vẫn còn ánh sáng. Sự khác biệt nằm ở tâm thái.

 Nghiên cứu phát hiện, người cao tuổi có sở thích cố định, tỷ lệ có xu hướng trầm cảm chỉ 7,7%, thấp xa so với 32,4% ở người không có sở thích. Trồng hoa, luyện chữ, nhảy múa quảng trường, hoặc chỉ đơn giản là yên tĩnh đọc một cuốn sách – những sở thích này không phải để giết thời gian, mà là chỗ dựa tinh thần. 

Giáo sư Trịnh Hiểu Biên của Đại học Sư phạm Hoa Trung đề xuất, để thực hiện “lão hóa tích cực” cần có “năm tâm”, trong đó “tâm tin” là phẩm chất tâm lý quan trọng nhất. Niềm tin này là chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân, từ bỏ những theo đuổi không thực tế, tập trung vào từng việc nhỏ có thể hưởng thụ ngay lúc này.

 Thí nghiệm nổi tiếng “Nhà dưỡng lão Arden” trên tâm lý học cũng chứng minh rằng, khi người cao tuổi được trao quyền lựa chọn và trách nhiệm với cuộc sống của chính mình, họ sẽ trở nên vui vẻ và tràn đầy sức sống hơn. Không bận tâm tiếc nuối quá khứ, không sợ hãi vô thường tương lai, sống trọn vẹn từng ngày hiện tại – sự thấu suốt này chính là mật ngọt mà năm tháng ủ thành.

 Luôn mang lòng biết ơn 

 Luôn nhìn vào những thứ mình không có, ngày nào cũng đắng cay; có thể thấy những gì mình đang sở hữu, lòng sẽ ngọt ngào. Biết ơn là một khả năng có thể rèn luyện. 

Một nghiên cứu chuyên sâu về ảnh hưởng của lòng biết ơn đến hạnh phúc chủ quan của người cao tuổi cho thấy: những người có mức độ biết ơn đặc trưng cao thì hạnh phúc chủ quan cũng cao hơn rõ rệt. Quan trọng hơn, lòng biết ơn còn đóng vai trò điều tiết giữa sự hỗ trợ xã hội và cảm giác hạnh phúc.

 Nói đơn giản, người cao tuổi biết ơn sẽ dễ dàng cảm nhận và phóng đại hạnh phúc từ sự quan tâm của gia đình và bạn bè. Một nghiên cứu khác về bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh mãn tính thậm chí chỉ ra rằng, lòng biết ơn và xu hướng tha thứ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao “hạnh phúc trưởng thành” của họ. 

Mỗi ngày ghi lại ba việc nhỏ khiến mình vui vẻ hoặc biết ơn, thay câu “Ta già rồi không làm được gì nữa” bằng “Ta có kinh nghiệm phong phú, có thể hưởng thụ hiện tại” — những chuyển đổi tư duy tích cực này chính là bài tập về lòng biết ơn. Có thể hài lòng với một bát mì thanh đạm, vui mừng vì một ngày nắng đẹp, những người cao tuổi như vậy, mệnh chắc chắn không tệ. 

 Khả năng sống cuộc sống giản dị  

Khảo sát về dưỡng lão cư dân thành thị chỉ ra rằng, hệ thống dưỡng lão của nước ta đang chuyển đổi từ “lão hữu sở dưỡng” sang “lão hữu hạnh phúc”. Hạnh phúc này, phần lớn là cảm nhận chủ quan và sự sáng tạo.

 Nó không phải là những chuyện ầm ĩ, mà là mùi thức ăn còn đọng lại trong bếp, là vài chậu hoa nở trước cửa, là tiếng sột soạt lật trang sách cũ vào đêm hè. Nghiên cứu cho thấy, so với lao động nhà cửa kiểu nhiệm vụ, thì sự tham gia xã hội và tham gia giải trí càng giúp nâng cao mức độ hài lòng trong cuộc sống của người cao tuổi.

 Gọi điện than vãn vài câu chuyện vặt với bạn cũ, đá vài quả cầu lông cùng cháu, làm tình nguyện viên một lần trong hoạt động cộng đồng… Những hoạt động tưởng chừng bình thường này giúp người cao tuổi giữ kết nối với xã hội, tìm lại vai trò và giá trị của bản thân. 

Nói cho cùng, tuổi già mệnh tốt là một trải nghiệm về “giàu có nội tâm” chứ không phải “giàu có vật chất”. Sức khỏe là nền móng, sự là cột trụ, tâm thái tốt là mái ngói che mưa chắn gió, lòng biết ơn là ánh sáng chiếu vào nhà, còn khả năng sống cuộc đời thành thơ chính là làn khói bếp ấm áp dâng lên trong nhà, khiến lòng người an yên.

 Vandieuhay

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

 HÃY GIÀ ĐI MỘT CÁCH THANH THẢN – Lm. Anmai, CSsR 

 KHẢ TÂMChuyện tuổi Xế Chiều

 HÃY GIÀ ĐI MỘT CÁCH THANH THẢN.

Lm. Anmai, CSsR 

Thời gian trôi đi âm thầm nhưng tàn nhẫn, nó không bao giờ báo trước cho ta biết khi nào thì tuổi già thực sự ập đến, nó không nằm ở con số ghi trên giấy tờ hay số nến cắm trên chiếc bánh sinh nhật, mà nó đến trong một khoảnh khắc bất chợt khi ta nhận ra sự thay đổi trong chính tâm hồn mình.

Nếu như thuở đôi mươi, người ta sợ cái nghèo, sợ sự thiếu thốn vật chất, và khi bước sang tuổi trung niên, người ta bắt đầu lo âu về những biến cố bệnh tật, thì khi đã bước sang dốc bên kia của cuộc đời, nỗi sợ lớn nhất, ám ảnh nhất lại mang một cái tên rất nhẹ nhưng nặng trĩu lòng người: Sự cô độc.

Thế nhưng, nếu nhìn sâu vào bản chất của kiếp nhân sinh, ta sẽ thấy một nghịch lý đầy tính triết học rằng cô đơn không phải là bi kịch của tuổi già, mà đó là một sự thật hiển nhiên, là bài học cuối cùng mà bất cứ ai, dù sang hay hèn, đều phải học cách đón nhận để tìm thấy sự thanh thản thực sự.

Có một chân lý mà khi còn trẻ ta thường nghe với vẻ hồ nghi hoặc chạnh lòng, nhưng khi tóc đã pha sương mới thấy nó đúng đến đau lòng, đó là việc con cái thực ra không bao giờ hoàn toàn thuộc về cha mẹ. Ngày xưa, ta ngây thơ nghĩ rằng nuôi con là để dưỡng già, là để có người hủ hỉ sớm hôm, nhưng quy luật của dòng đời lại chảy xuôi chứ không bao giờ chảy ngược. Những đứa trẻ ta từng ẵm bồng, từng dành cả thanh xuân để lo toan, giờ đây chúng đã có bầu trời riêng của chúng, chúng có những áp lực của thời đại mới, có gánh nặng cơm áo gạo tiền và những trách nhiệm riêng với gia đình nhỏ của chúng. Người già thường sống bằng ký ức, bằng những hoài niệm về những bữa cơm đông đủ tiếng cười, trong khi người trẻ lại phải sống bằng thực tại khốc liệt, bằng những cuộc họp triền miên và những chuyến đi xa nhà. Sự lệch pha ấy khiến khoảng cách giữa hai thế hệ ngày càng lớn, không phải vì con cái vô tâm hay bất hiếu, mà đơn giản vì chúng quá bận rộn để có thể thường xuyên ngoảnh đầu nhìn lại. Nếu ta cứ mãi đau đáu chờ đợi một cuộc điện thoại, khắc khoải mong ngóng tiếng xe dừng trước ngõ, thì chính ta đang tự giam cầm mình trong nỗi buồn tủi không lối thoát. Thời đại này, mỗi đứa con là một cánh chim bay đi tìm phương trời lạ, sự sum vầy là điều quý giá nhưng hiếm hoi, và việc chấp nhận sự xa cách ấy chính là bước đầu tiên để cởi trói cho tâm hồn mình.

Bi kịch lớn nhất của những năm tháng xế chiều không nằm ở việc ta sống một mình, mà nằm ở chỗ ta đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào người khác, kể cả đó là ruột thịt. Khi ta đặt hạnh phúc của mình vào tay con cái, ta vô tình trở thành gánh nặng tâm lý cho chúng và trở thành nạn nhân của chính sự chờ đợi. Phẩm giá của tuổi già, suy cho cùng, nằm trọn vẹn ở hai chữ “Tự Lực”. Một tuổi già hạnh phúc không được đo đếm bằng số lượng con cháu vây quanh, mà được đo bằng khả năng tự chủ của chính bản thân người đó. Đó là khi ta còn đủ sức khỏe để tự đi lại mà không cần ai dìu đỡ, còn đủ sự minh mẫn để tự quyết định cuộc sống của mình, còn đủ tiền bạc tích lũy để không phải ngửa tay xin xỏ hay nhìn sắc mặt người khác mà sống, và quan trọng hơn cả là còn đủ những niềm vui, sở thích riêng để lấp đầy những khoảng trống thời gian. Khi ta tự đứng vững trên đôi chân mình, tự lo liệu được cho bản thân, ta mới có được sự tôn trọng và một phong thái ung dung tự tại.

Đừng biến mình thành cây tầm gửi sống bám vào cây sồi già, hãy biến mình thành một cây cổ thụ, dẫu đơn độc nhưng thâm trầm và vững chãi giữa trời đất.

Và rồi, cuộc đời sẽ dạy ta bài học khắc nghiệt nhưng cũng đầy vị tha nhất: Học cách làm bạn với nỗi cô đơn. Hãy tập quen với việc ăn cơm một mình mà không thấy tủi thân, đi chợ một mình mà vẫn thấy vui vẻ lựa chọn từng mớ rau con cá, đi khám bệnh một mình mà vẫn bình tĩnh kiên cường, hay lặng lẽ ngắm hoàng hôn mà không cần ai phải trầm trồ cùng. Khi ta có thể làm tất cả những điều đó một mình, ta sẽ nhận ra cô đơn không phải là kẻ thù, mà là một người thầy, một người bạn đồng hành trung thành nhất.

Cuộc đời này thực chất là một hành trình độc đạo, cha mẹ đã rời bỏ ta đi trước, bạn đời rồi cũng có thể lỡ bước sang ngang hoặc đi về cõi vĩnh hằng, con cái thì bận rộn với guồng quay riêng, chỉ có chính bản thân ta là người duy nhất đi cùng ta từ khi sinh ra cho đến hơi thở cuối cùng. Khi không còn mong cầu ai phải hiểu thấu nỗi lòng mình, không còn khát khao ai phải ở bên cạnh để xua tan sự trống trải, lúc ấy tâm ta mới thực sự an nhiên. Sự cô đơn lúc này chuyển hóa thành sự tĩnh tại, một trạng thái thiền định giữa đời thường mà chỉ những người đã đi qua đủ bão giông mới thấu cảm được.

Hạnh phúc ở tuổi xế chiều, do đó, cần được định nghĩa lại một cách giản đơn nhưng sâu sắc hơn. Đó không phải là nhà cao cửa rộng, không phải là con đàn cháu đống ồn ào, mà là sự bình yên trong tâm hồn và sự tự do trong nếp sống. Hãy giữ cho mình một chút tiền phòng thân để an tâm, giữ gìn sức khỏe như báu vật vì đó là vốn liếng cuối cùng, giữ lại vài người bạn tri kỷ để đôi khi cùng nhau uống chén trà đàm đạo chuyện nhân tình thế thái. Đừng oán trách sự lạnh nhạt của thế gian, đừng kể lể nỗi khổ đau bệnh tật với bất kỳ ai, bởi ai cũng có nỗi khổ riêng của họ.

Thay vì ngồi ủ rũ chờ đợi sự quan tâm ban phát, hãy tự tạo niềm vui cho mình bằng việc trồng một cái cây, đọc một cuốn sách, hay đơn giản là tận hưởng bầu không khí trong lành của buổi sớm mai. Khi cha mẹ còn sống, ta còn nơi để trở về, còn gốc rễ để bấu víu; nhưng khi cha mẹ khuất núi, ta chỉ còn lại đích đến phía trước để bước tới. Chặng đường cuối cùng này, hãy đi thật chậm rãi, nhẹ nhàng, không vướng bận, không oán hờn. Hãy yêu thương lấy chính bản thân mình, trân trọng từng ngày được sống, và biến tuổi già trở thành những tháng ngày thanh cao, rực rỡ và kiêu hãnh nhất của một kiếp người, để khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể mỉm cười rằng mình đã sống trọn vẹn và già đi một cách thật thanh thản.

Lm. Anmai, CSsR 


 

 MỤC ĐÍCH SỐNG CỦA CON NGƯỜI LÀ GÌ? TIỀN BẠC HAY HẠNH PHÚC?

Hoai Linh Ngoc Duong

 MỤC ĐÍCH SỐNG CỦA CON NGƯỜI LÀ GÌ? TIỀN BẠC HAY HẠNH PHÚC?

Khi một đứa trẻ vừa chào đời, người lớn thường bắt đầu vẽ ra cho nó những hình mẫu để noi theo.

Có người chỉ vào những tỷ phú giàu nhất thế giới và nói: “Hãy cố gắng như vậy.”

Có người chỉ vào những chính trị gia quyền lực nhất hành tinh và nói: “Đó mới là thành công.”

Trong thế giới hôm nay, ít ai có thể phủ nhận sức hấp dẫn của những con người như Elon Musk hay Donald Trump. Một người sở hữu khối tài sản lớn đến mức vượt quá GDP của hàng chục quốc gia. Một người từng nắm giữ chiếc ghế quyền lực nhất thế giới.

Nhìn từ bên ngoài, họ dường như đã đạt đến đỉnh cao mà nhân loại hằng mơ ước.

Tiền bạc.

Danh vọng.

Quyền lực.

Ảnh hưởng.

Nhưng có một câu hỏi kỳ lạ mà con người ít khi dám hỏi:

Liệu họ có hạnh phúc không?

Nhiều năm trước, khi được hỏi về hạnh phúc, Elon Musk từng trả lời một cách đầy chua chát rằng ông không nghĩ mình là một người hạnh phúc.

Cuộc sống của ông là chuỗi ngày làm việc gần như không ngừng nghỉ, những áp lực khổng lồ, những cuộc chiến pháp lý, những cuộc tranh cãi bất tận và những tham vọng chưa bao giờ kết thúc.

Có lẽ điều tương tự cũng có thể nói về rất nhiều người ở đỉnh cao quyền lực.

Bởi quyền lực giống như nước biển.

Càng uống càng khát.

Không ai leo lên đỉnh Everest chỉ để ngắm cảnh rồi dừng lại.

Khi đã chinh phục được một ngọn núi, con người lại bắt đầu tìm kiếm ngọn núi khác cao hơn.

Tham vọng của con người dường như là vô hạn.

Trong khi đời người lại hữu hạn.

Đó chính là bi kịch lớn nhất của kiếp nhân sinh.

Những người ngưỡng mộ Elon Musk hay Donald Trump thường nói rằng hai người đàn ông này không sống vì tiền bạc hay quyền lực.

Họ muốn thay đổi thế giới.

Có thể điều đó đúng.

Nhưng ngay cả khi đúng thì câu hỏi vẫn còn nguyên giá trị:

Nhân loại có hạnh phúc hơn vì những cuộc chinh phục không ngừng nghỉ đó hay không?

Không ai phủ nhận những đóng góp của khoa học, công nghệ hay những biến đổi chính trị đối với đời sống con người.

Nhưng đồng thời, nhân loại cũng chứng kiến một nghịch lý kỳ lạ.

Trong khi hàng triệu người theo dõi từng bước đi của các tỷ phú và chính trị gia quyền lực nhất thế giới, thì hàng triệu người khác lại xúc động trước hình ảnh một nhà sư chân đất, mang theo một chiếc bình bát và gần như không sở hữu gì ngoài tấm y trên người.

Điều đó cho thấy trong sâu thẳm tâm hồn con người tồn tại hai khát vọng đối lập.

Một khát vọng muốn sở hữu tất cả.

Một khát vọng muốn buông bỏ tất cả.

Nhà sư Minh Tuệ không có tài sản.

Không có quyền lực.

Không có tập đoàn.

Không có đội quân truyền thông.

Nhưng ông lại khiến hàng triệu người dõi theo.

Tại sao?

Bởi trong hình ảnh ấy, nhiều người nhìn thấy điều mà họ đã đánh mất từ lâu:

Sự bình an.

Con người dành cả đời để tích lũy.

Nhưng càng tích lũy, họ càng lo sợ mất đi.

Có nhà thì sợ mất nhà.

Có tiền thì sợ mất tiền.

Có quyền lực thì sợ mất quyền lực.

Có danh tiếng thì sợ mất danh tiếng.

Cuối cùng, thứ họ sở hữu lại trở thành thứ sở hữu ngược lại họ.

Trong khi đó, một người không có gì để mất lại có thể bước đi với hành lý nhẹ tênh.

Đó là lý do tại sao khi đối diện với bệnh tật, thiên tai hay cái chết, con người thường thay đổi cách nhìn về cuộc sống.

Một người vừa thoát khỏi tai nạn không còn nghĩ nhiều đến chiếc xe mới.

Một người vừa nhận chẩn đoán ung thư không còn quá bận tâm đến những cuộc tranh cãi nhỏ nhặt.

Một người đứng trước cái chết hiếm khi tiếc nuối vì mình chưa kiếm đủ tiền.

Điều họ tiếc nuối thường là:

Chưa yêu thương đủ.

Chưa sống đủ.

Chưa tha thứ đủ.

Chưa tận hưởng đủ những điều giản dị của cuộc đời.

Bởi chỉ khi đứng trước sự vô thường, con người mới nhận ra điều gì thật sự có giá trị.

Vậy mục đích sống của con người là gì?

Tiền bạc hay hạnh phúc?

Có lẽ câu trả lời không nằm ở một trong hai.

Tiền bạc không phải là điều xấu.

Nghèo đói chưa bao giờ là lý tưởng.

Tiền giúp con người chữa bệnh, nuôi con, học hành và sống một cuộc đời có phẩm giá.

Nhưng tiền chỉ là phương tiện.

Nó không phải đích đến cuối cùng.

Quyền lực cũng vậy.

Quyền lực có thể giúp thay đổi xã hội.

Nhưng quyền lực không tự động mang lại bình an cho tâm hồn.

Có lẽ mục đích sâu xa nhất của đời người không phải là sở hữu nhiều nhất, mà là sống trọn vẹn nhất.

Không phải là có nhiều hơn người khác.

Mà là hiểu mình là ai.

Mình cần gì.

Và điều gì thực sự khiến mình hạnh phúc.

Đến cuối cuộc đời, rất ít người được nhớ đến vì họ có bao nhiêu tiền trong tài khoản.

Nhưng rất nhiều người được nhớ đến vì họ đã sống như thế nào.

Bởi sau tất cả, thứ còn lại không phải là tài sản, quyền lực hay danh vọng.

Mà là dấu vết mà chúng ta để lại trong trái tim của những người khác.

Và có lẽ đó mới là ý nghĩa thật sự của kiếp nhân sinh hữu hạn này.

Đây là một trong những nghịch lý đẹp nhưng cũng đau đớn nhất của con người: chúng ta biết mình sẽ chết, nhưng vẫn sống như thể mình sẽ tồn tại mãi mãi; chúng ta biết mọi thứ đều vô thường, nhưng vẫn dành cả đời để nắm giữ những thứ không thể giữ được.

Có lẽ vì thế mà giữa những tỷ phú, những nguyên thủ quốc gia và những nhà chinh phục thế giới, hình ảnh một người bước đi với đôi chân trần và không sở hữu gì vẫn có sức lay động hàng triệu con người.