Bạo loạn bùng nổ ở Pháp sau trận chung kết Champions League, hơn 200 người bị thương

Ba’o Nguoi-Viet

May 31, 2026

PARIS, Pháp (NV) – Hơn 200 người bị thương trong những vụ đụng độ giữa cổ động viên với cảnh sát khắp nước Pháp sau khi Paris Saint Germain thắng Arsenal trong trận chung kết Champions League hôm Thứ Bảy, 30 Tháng Năm, giới chức loan báo, theo BBC.

Tổng cộng 219 người bị thương, trong đó có tám người bị thương nặng, ông Laurent Nunez, bộ trưởng Nội Vụ Pháp, xác nhận. Hàng ngàn cảnh sát viên được huy động để đối phó với cổ động viên gây bạo loạn trên xe buýt và xe lửa ở thủ đô Paris. Có 57 cảnh sát viên bị thương.

Người đi bộ ngang qua cửa hàng của Paris Saint-Germain đã được che chắn trên đại lộ Champs-Elysees ở Paris, trước trận chung kết Champions League Final hôm Thứ Bảy, 30 Tháng Năm. (Hình minh họa: Kenzo Tribouillard/AFP via Getty Images)

Đại lộ Champs-Élysées rộng lớn tràn ngập cổ động viên không lâu sau khi PSG của Pháp thắng Arsenal của Anh trong trận chung kết giải bóng đá hàng đầu Châu Âu ở Budapest, Hungary.

Ông Nunez cho hay 780 người bị bắt trong vụ bạo loạn. Một người thiệt mạng trên con đường vành đai ở Paris mà cổ động viên cố chặn trong đêm.

Hôm Chủ Nhật, khoảng 6,000 cảnh sát viên được khai triển để bảo vệ cuộc diễn hành tại Tháp Eiffel mừng PSG vô địch Champions League. Ông Nunez tuyên bố lực lượng an ninh sẽ “mạnh tay” với kẻ bạo loạn.

Bạo loạn cũng xảy ra khi PSG vô địch giải này năm ngoái, trong đó có người thiệt mạng. (Th.Long)


 

GIẾT THỪA KẾ – ĐỂ LÀM CHỦ – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”.

Khi còn là hoàng tử, Absalom đã âm thầm thu phục cảm tình dân chúng và cuối cùng nổi loạn chống lại Đavít, vua cha. Bi kịch là: người sẽ được thừa kế lại muốn sở hữu ngay điều mình chưa được trao. Và trên đường chiếm đoạt vương quyền, ông đánh mất tất cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Muốn chiếm lấy điều chỉ có thể đón nhận như hồng ân là một cám dỗ cổ xưa. Những tá điền trong Tin Mừng hôm nay cũng vậy, “Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta!”. Đó là một thứ logic của tội lỗi: ‘giết thừa kế – để làm chủ’.

Dụ ngôn xoay quanh người klēronomos – người thừa kế. Trong Kinh Thánh, đó không chỉ là người nhận gia sản, nhưng còn là dấu chỉ của quyền sở hữu chính đáng. Vì thế, các tá điền vừa thấy người con đã biết ngay anh là ai: một chướng ngại. Chừng nào người thừa kế còn đó, họ mãi chỉ là tá điền. Muốn làm chủ, họ phải loại bỏ người thừa kế. Họ muốn chiếm đoạt điều lẽ ra phải đón nhận như quà tặng. Từ Ađam đến hôm nay, con người vẫn nghĩ mình sẽ giàu hơn khi gạt Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời; nhưng càng xa Thiên Chúa, con người càng vong thân. “Ai để Đức Kitô bước vào đời mình thì không mất gì cả; trái lại, người ấy tìm thấy sự sống đích thực!” – Bênêđictô XVI.

Nếu các tá điền gây ngạc nhiên vì lòng tham, thì chủ vườn còn gây ngạc nhiên hơn vì lòng quảng đại. Sau cảnh những đầy tớ bị đánh đập, sỉ nhục và giết hại, ông vẫn sai người con. Theo cái nhìn nhân loại, đó là một quyết định liều lĩnh. Nhưng chính ở đây dụ ngôn hé mở dung mạo Thiên Chúa. Con người luôn muốn giữ lại điều quý nhất; Thiên Chúa lại trao chính điều quý nhất. Nếu các tá điền nói: “Nào ta giết quách nó đi!”, thì Thiên Chúa lại nói: “Ta vẫn sai con ta đến!”.

Nhưng dụ ngôn không kết thúc ở cái chết của người con. “Tảng đá thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường”. Con người loại bỏ điều họ cho là chướng ngại; Thiên Chúa lại biến chính điều ấy thành nền móng. Người con bị giết trở thành con đường để kế hoạch được hoàn tất. Thập giá không phải là thất bại của công lý, nhưng là vương quyền của tình yêu. Chính tình yêu ấy mở ra cho con người khả năng được “thông phần bản tính Thiên Chúa” – bài đọc một. Vì thế, người tín hữu không sống bằng sự chiếm hữu, nhưng bằng sự tín thác: “Lạy Thiên Chúa, con tin tưởng vào Ngài” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Người Thừa Kế mà các tá điền muốn loại bỏ. Con người ‘giết Người Thừa Kế – để làm chủ’; Thiên Chúa lại trao Người Thừa Kế để chúng ta được làm nghĩa tử. Bởi đó, thay vì nắm giữ như các tá điền, người môn đệ học sống bằng sự tín trung. Chỉ người biết đón nhận mới thực sự giàu có. Kẻ sống bằng sự chiếm hữu là kẻ đang nuôi dưỡng một linh hồn nghèo đói. Người biết đón nhận mọi sự như hồng ân sẽ khám phá rằng: điều quý giá nhất trong đời không phải là điều mình sở hữu, nhưng là Đấng mình thuộc về.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi cám dỗ chiếm hữu điều chỉ có thể được đón nhận như quà tặng!” Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Họ đã bắt người con yêu dấu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,1-12

1 Khi ấy, Đức Giê-su bắt đầu dùng dụ ngôn mà nói với các thượng tế, kinh sư và kỳ mục. Người nói : “Có người kia trồng được một vườn nho ; ông rào giậu chung quanh, đào bồn đạp nho và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 2 Đến mùa, ông sai một đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi vườn nho mà họ phải nộp. 3 Nhưng họ bắt người đầy tớ, đánh đập và đuổi về tay không. 4 Ông lại sai một đầy tớ khác đến với họ. Họ đánh vào đầu anh ta và hạ nhục. 5 Ông sai một người khác nữa, họ cũng giết luôn. Rồi ông lại sai nhiều người khác : kẻ thì họ đánh, người thì họ giết. 6 Ông chỉ còn một người nữa là người con yêu dấu : người này là người cuối cùng ông sai đến gặp họ ; ông nói : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 7 Nhưng bọn tá điền ấy bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và gia tài sẽ về tay ta.’ 8 Thế là họ bắt cậu, giết chết rồi quăng ra bên ngoài vườn nho. 9 Vậy ông chủ vườn nho sẽ làm gì ? Ông sẽ đến tiêu diệt các tá điền, rồi giao vườn nho cho người khác. 10 Các ông chưa đọc câu Kinh Thánh này sao ? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. 11 Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta !”

12 Họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng lại sợ dân chúng ; quả vậy, họ thừa hiểu Người đã nhắm vào họ mà kể dụ ngôn ấy. Thế là họ để Người lại đó mà đi.


 

Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa-Truyen ngan HAY

Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa

09/05/2026

Phương Hoa

TG Phương Hoa nhận giải Chung Kết TG-TP VVNM từ nhà thơ Du Tử Lê và  Chủ khảo Trương Ngọc Bảo Xuân 

Định cư tại Mỹ từ 1994, Phương Hoa vừa làm nail vừa học. Năm 2012, bà tốt nghiệp ngành dạy trẻ tại Chapman University khi đã 62 tuổi và trở thành bà giáo tại Marrysville, thành phố cổ vùng Bắc Calif. Với loạt bài về Vietnam Museum, “Bảo Tàng Cho Những Người Lính Bị Bỏ Quên,” tác giả đã nhận giải Chung Kết 2014, giải Trùng Quang 2018 và vẫn tiếp tục gắn bó với Viết Về Nước Mỹ. Góp vào loạt bài đón mừng ngày Lễ Mẹ, tác giả kể lại một câu chuyện về tình mẹ con với kết thúc có hậu. 

***

 (Viết theo lời kể của một người – Tên nhân vật và địa danh đã được thay đổi)

Cái tên Lũ như một lời nguyền định mệnh vận vào đời cô ngay từ lúc chào đời.  Vào một đêm tối trời năm ấy, Cao Bằng chìm trong thác lũ, mưa to, gió lớn, bão bùng, nước từ thác núi đổ xuống cuốn trôi tất cả sản nghiệp của cái bản làng vốn đã nghèo xơ xác. Vì hoảng sợ, người mẹ trẻ bỗng trở dạ sinh non. Xóm làng ngập trong biển nước, nhà nhà kêu cứu, người người khóc than.  Bà mẹ miền núi một mình sinh con, tự dùng miếng lạt tre cắt rốn cho bé gái. Và cái tên “bé Lũ” được đặt cho cô như để ghi dấu ngày cả xã bị thiên tai.

Lũ lớn lên giữa đại ngàn, mang vẻ đẹp thoát tục của đóa hoa lê rừng, nhưng tâm hồn lại chứa đựng cả một đại dương u uẩn và mầm mống nổi loạn. Hàng ngày sau giờ học chữ, Lũ mang gùi lên rẫy cuốc đất trồng khoai cùng cha mẹ, nhưng trong thâm tâm cô gái vùng cao luôn ước mơ về một chân trời xa lạ. Do đó về sau, cuộc đời cô là một chuỗi những chuyến thiên di đẫm máu và nước mắt. Cô nào biết, sẽ có ngày mình phải hát khúc biệt ly trong khoảng cách giữa đại ngàn trùng điệp núi non và vực thẳm từ xứ sở văn minh.

Năm ấy, theo tiếng gọi của tình yêu và giấc mơ về một vùng trời tự do, Lũ cùng người yêu, Mịch, chàng thanh niên đẹp trai học thức, ngoan cường trong bản con của Già Làng khả kính, dấn thân vào cuộc vượt biên đầy bão táp để đi tìm tự do nơi đất nước Thái Lan. Họ theo một nhóm người đi bộ xuyên qua những cánh rừng già thâm u, nơi mà lân tinh của cái chết luôn rập rình trong từng lùm cây, ngọn cỏ. Đêm ở rừng biên giới lạnh thấu xương, tiếng thú dữ gầm vang hòa cùng tiếng bước chân đạp trên lá khô xào xạc, khiến kẻ lữ hành phải lạnh cả sống lưng. Đôi bàn chân Lũ rướm máu, đôi vai gầy run rẩy dưới những cơn mưa rừng xối xả, cô nắm chặt tay Mịch và bước theo anh, để mặc cho đám vắt đói bám vào người hút máu. 

Qua bao gian truân, trải nhiều khiếp hãi, cuối cùng nhóm người từ Bắc Việt Nam cũng đến được đất tự do. Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã giáng một đòn chí mạng khi họ vừa chạm chân đến Thái Lan. Một tai nạn kinh hoàng trên cung đường tị nạn đã cướp đi sinh mạng của Mịch. Giữa lòng đất lạ, Lũ khuỵu xuống bên nấm mồ đất đỏ vừa đắp, tiếng gào khóc của cô tan loãng vào hư không. Người thanh niên duy nhất cô tin cậy đã vĩnh viễn nằm lại dưới tán rừng già, để lại một mình cô bơ vơ, tâm hồn vụn vỡ như mảnh gương tan.

Qua bao mùa xuân hạ vất vả khó khăn, bấy nhiêu lần nhìn trăng tròn rồi khuyết hồi họp đợi chờ, cuối cùng Lũ cũng đặt chân được đến Mỹ, định cư ở miền Bắc California. Với vốn tiếng Anh bằng không, Lũ như người mù đi trong ánh sáng. Cô chấp nhận làm công việc dọn dẹp lau chùi, do người nhà thờ giới thiệu, cho một gia đình giàu có gần bờ biển Berkeley.

Henry, người đàn ông Mỹ vừa ly dị vợ, mang vẻ ngoài lịch lãm nhưng ẩn chứa sự độc đoán. Sắc đẹp của bông hoa rừng núi đã lọt vào mắt xanh của người đàn ông này. Ông ta ép cô vào một mối quan hệ không hôn thú. Trong căn biệt thự lộng lẫy nhưng lạnh lẽo ấy, Lũ sống như một cái bóng, nhẫn nhục và câm lặng vì sự ngăn cách ngôn ngữ.

Hằng đêm, Lũ phải cắn răng chịu tủi nhục, bị hành hạ dục tình. Vì tuổi lớn ông ta luôn cần thuốc trợ lực nên việc ấy rất dẻo dai. Và Lũ bị bắt buộc đáp ứng, tuân theo những trò làm tình đầy quái đản không phải của con người, nếu không sẽ bị đánh đập. Cô luôn đuối sức gần như ngất đi sau mỗi cuộc truy hoan, nên thân thể cô ngày càng héo úa. Cộng với sự nhớ thương về Mịch, nhiều lần Lũ nghĩ quẩn, muốn bỏ cuộc đời.

Nhưng sau đó bé Kathy chào đời. Đứa trẻ là ánh sáng duy nhất, là sợi dây mỏng manh níu giữ cô với cuộc đời đầy ảm đạm. Một lần, nhân dịp đưa con đi dạo ngoài shopping mall, Lũ ghé vào một tiệm vàng người Việt. Với số tiền chắt chiu từ những giờ làm lụng vất vả, cô đặt làm hai sợi dây chuyền vàng 14 cara, mặt hình trái tim giống hệt nhau. Trên mặt mỗi trái tim ấy là dòng chữ khắc rất đẹp: “Kathy – Lũ”.

“Mẹ đeo một sợi, con đeo một sợi. Sau này dù có lạc mất nhau, nhìn thấy trái tim này, con sẽ biết mẹ vẫn luôn ở bên con”. Lũ thì thầm vào tai bé, dù nó chẳng hiểu một chữ tiếng Việt.

Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, vì bi kịch xảy ra. Khi Kathy lên sáu, Henry chán chường vì sự im lặng chịu đựng và ngày càng tàn tạ của Lũ.  Ông ta đưa một người đàn bà Mỹ về nhà và nhẫn tâm đuổi cô ra khỏi cửa.  Cay đắng hơn, ông dùng quyền lực và tiền bạc để tước đoạt quyền nuôi con, dứt bé Kathy ra khỏi vòng tay mẹ.

Vì không biết tiếng Anh, Lũ không thể kêu cứu, không thể ra tòa. Cô chỉ biết hằng ngày sau khi đi làm về lại đến rình rập bên hàng rào sắt, với đôi mắt đỏ hoe nhìn qua khe lá để được thấy bóng dáng con thơ đang chạy nhảy hoặc ngồi xích đu trong sân.

Một chiều hoàng hôn tím ngắt, khi Lũ đang cố với tay gọi tên con qua kẽ hở, Henry bất ngờ lao ra. Trên tay ông ta là khẩu súng đen ngòm, họng súng lạnh lùng dí thẳng vào trán cô.

“Cút đi, hoặc tôi sẽ bắn nát đầu cô!”  Tiếng thét của ông ta vang lên như sấm sét. “Từ bây giờ, nếu gặp cô ở đây lần nữa là tôi sẽ bắn!”

Lũ hoảng loạn bỏ chạy rớt cả dép, đôi chân trần đạp trên sỏi đá bên đường chảy máu, trái tim cô như bị xé toạc khi tiếng khóc xé lòng của Kathy vọng lại phía sau:

“Mommy! Mommy! Don’t go! I want mommy!” Mẹ ơi! Mẹ ơi! Đừng đi! Con muốn mẹ!

Dù trong sự sợ hãi tột cùng và nỗi nhớ thương con đến cháy cả tâm can, Lũ cũng quyết định rời bỏ California, trốn chạy sang Arizona theo lời khuyên của một người bạn mới quen vừa từ Cali dọn qua đó, để bảo toàn mạng sống, ôm theo lời thề sẽ có ngày trở lại tìm con.

Tại Arizona, Lũ tìm việc làm rồi lao vào học như một kẻ điên. Đêm về, cô thức trắng với những cuốn từ điển dày cộm, nước mắt rơi nhòe cả những trang sách y khoa.  Cô hiểu rằng, chỉ có tri thức và việc làm ổn định trong xã hội mới giúp cô cơ hội tìm lại con gái.

Mười bảy năm ròng rã, Lũ từ người đàn bà không biết một chữ tiếng Anh bẻ đôi đã trở thành một LVN (Y Tá Điều Dưỡng) làm việc tận tụy trong bệnh viện. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, hình bóng bé Kathy với sợi dây chuyền hình trái tim vẫn là một vết thương chưa bao giờ khép miệng. Mỗi khi thấy những người mẹ bế con trong bệnh viện, lòng cô lại quặn thắt.  

Cuối cùng, Lũ xin được việc làm tại bệnh viện Summit Medical Center Bắc Cali, và dọn về thành phố cũ, chấp nhận đối mặt với quá khứ đau thương để tìm lại máu mủ của mình. Lần mò đến nhà xưa, Lũ theo dõi nhiều ngày không thấy bóng dáng người chồng cũ độc ác ra vào, mà chủ nhân là những người lạ mặt. Thì ra ông ta đã đổi chỗ dời nhà, lòng cô đau như cắt, không biết tìm con nơi nào. Từ đó Lũ làm việc và sống vất vưởng như kẻ không hồn. 

Ba năm sau, trong một đêm trực khuya tại bệnh viện, sau nhiều ngày làm việc quá sức và nỗi nhớ con bào mòn sức lực, khi ra về Lũ ngất xỉu ngay tại hành lang. Khi tỉnh lại, ánh đèn trắng của phòng cấp cứu làm Lũ chói mắt nên vội nhắm lại ngay. Một bàn tay ấm áp đang nắm chặt lấy tay cô, và một giọng Mỹ run run cất lên:

“Bà ơi… bà tỉnh rồi sao?”

Lũ lờ mờ hé mắt và thấy một cô gái Mỹ trẻ tuổi, tóc vàng xinh đẹp trong chiếc áo blouse trắng tinh khôi đang ngồi nhìn cô với ánh mắt kinh ngạc đến khó tả, đôi môi thì run rẩy. Một người nam y tá trẻ bước vào hỏi: “Bác sĩ, nhịp tim bệnh nhân đã…”

Chưa nói hết câu, anh ta bỗng khựng lại, nhìn vào mặt người bác sĩ và kêu lên: “Chuyện gì đang xảy ra vậy, bác sĩ?

Lũ lật đật ngồi hẳn dậy, đôi mắt mờ đục bỗng sáng lên, nhìn chăm chăm vào người bác sĩ ngồi bên cạnh giường, tay còn đang nắm chặt tay cô. Trên khuôn mặt vô cùng xinh đẹp ấy có những giọt nước mắt đang lăn xuống, lấp lánh dưới ánh đèn. Lũ vội nhìn lên bảng tên trên áo vị bác sĩ: “Kathy Williams M.D. – Attending Physician”

 Lũ há hốc miệng, mắt trợn tròn, người run lẩy bẩy vội chỉ tay vào cái bảng tên, lắp bắp: “Ka…thy! Cô… là…Kathy?”

“Yes! Mẹ… ơi! Con là Kathy đây!” Kathy nói trong nghẹn ngào, xong thò tay vào trong cổ áo, lôi ra sợi dây chuyền mặt trái tim có khắc chữ, “Kathy – Lũ” và nói tiếp.  “Con nhận ra nó trên cổ mẹ khi kích tim làm cấp cứu cho mẹ. Con rất nhớ mẹ nên giữ kỹ sợi dây chuyền này đến tận bây giờ, vì con tin mẹ sẽ quay về tìm con… Con vẫn còn nhớ như in ngày bố chỉa súng đuổi mẹ đi.”

Lũ sững sờ không thốt nên lời. Cô ôm chầm lấy con gái, tiếng nấc nghẹn ngào vỡ òa giữa phòng cấp cứu yên tĩnh. Hai mảnh ghép của trái tim sau gần hai thập niên xa cách đã khớp lại hoàn hảo. Bác sĩ Kathy cũng bật khóc lớn trước sự ngỡ ngàng của người y tá, những giọt nước mắt nóng hổi rơi lên bàn tay gầy guộc của Lũ. Cô hít một hơi dài. Mùi hương tóc con, hơi ấm của con, những thứ Lũ đã hằng đêm mơ thấy suốt hai chục năm qua, giờ đây đà hiện hữu. Nỗi đau của rừng thiêng bão tố, họng súng lạnh lùng của Henry, sự thương nhớ Kathy, và những đêm trắng học hành vất vả… tất cả đều tan biến trong khoảnh khắc này.

Dưới ánh đèn neon sáng rực, hai trái tim yêu thương – mẹ hiền và con gái – đã chạm vào nhau, lấp lánh một tình yêu bất diệt. Lũ hiểu rằng, sau bao “trận lũ” của cuộc đời, cuối cùng cô cũng đã tìm thấy bến đỗ bình yên nhất: Đó chính là vòng tay của con gái Kathy…

 Phương Hoa


 

Ưu tiên số một của tôi là đến Nashville để xây nhà.

 My Lan Pham  

Ông ngã trong nhà vào một buổi sáng Chủ nhật, chỉ năm ngày sau sinh nhật lần thứ chín mươi lăm, khi đang chuẩn bị đi nhà thờ. Ông đập trán vào một cạnh sắc. Ông được đưa đến bệnh viện. Khi ra viện, ông có mười bốn mũi khâu phía trên mắt trái, một vết bầm tím đen lan khắp khuôn mặt, và một miếng băng trắng dán trên trán.

Đội ngũ của ông lặng lẽ hỏi liệu sự kiện ở Nashville có nên hoãn lại hay không.

Đây là điều Jimmy Carter đã nói:”Ưu tiên số một của tôi là đến Nashville để xây nhà.”

Tối hôm đó, đội chiếc mũ bóng chày Atlanta Braves và mang gương mặt bầm tím, băng bó của một người tuyệt đối không chịu ở nhà, ông đứng trên sân khấu tại nhà hát Ryman Auditorium trong tiếng reo hò của hàng trăm tình nguyện viên. Sáng hôm sau, ông đã có mặt tại công trường.

Ở tuổi chín mươi lăm. Tay cầm búa.

Đó không phải là màn trình diễn. Đó đơn giản chỉ là con người ông.

James Earl Carter Jr. sinh ngày 1 tháng 10 năm 1924 tại Plains, bang Georgia — một thị trấn có chưa đến bảy trăm dân. Gia đình ông không có điện hay nước máy cho đến khi ông bước vào tuổi thiếu niên. Cha ông là nông dân. Mẹ ông, bà Lillian, là một y tá, người đã gia nhập Peace Corps ở tuổi sáu mươi tám vì bà tin rằng mình vẫn còn có thể cống hiến thêm cho đời.

Ông sớm học được rằng sự phụng sự không phải là điều để nói.

Mà là điều để làm.

Ông phục vụ trong Hải quân. Ông phục vụ tại Thượng viện bang Georgia. Ông phục vụ với tư cách Thống đốc bang Georgia. Từ năm 1977 đến 1981, ông là Tổng thống thứ ba mươi chín của Hoa Kỳ.

Rồi ông rời Nhà Trắng.

Và ông vẫn tiếp tục cống hiến.

Tháng 9 năm 1984, chỉ ba năm sau khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống Jimmy Carter cầm lấy một chiếc búa và tham gia tình nguyện cùng Habitat for Humanity. Khi đó ông năm mươi chín tuổi và nghĩ rằng có lẽ đó chỉ là một lần duy nhất.

Nhưng không phải vậy.

Cũng trong năm ấy, ông và Rosalynn đang đi bộ ở thành phố New York thì nhìn thấy một công trình của Habitat với rất ít tình nguyện viên. Họ bước tới. Họ tham gia làm việc. Họ đưa thêm nhiều người khác đến cùng. Họ giúp cải tạo một tòa nhà bỏ hoang thành mái ấm cho mười chín gia đình.

Và họ không bao giờ dừng lại.

Trong suốt ba mươi lăm năm tiếp theo, Jimmy và Rosalynn Carter luôn xuất hiện. Năm nào cũng vậy. Dù mưa hay nắng. Dù khỏe mạnh hay đau đớn. Hết quốc gia này đến quốc gia khác. Hết mái nhà này đến mái nhà khác.

Rồi tháng 8 năm 2015 đến.

Khi ấy Carter đã chín mươi tuổi, các bác sĩ phát hiện một khối u trong gan ông. Sau phẫu thuật, họ xác định đó là ung thư hắc tố di căn dạng ung thư da nguy hiểm nhất. Các xét nghiệm cho thấy nó đã lan tới bốn vị trí khác nhau trong não. Nếu không điều trị, các bác sĩ nói rằng ông có lẽ chỉ còn sống chưa đầy sáu tháng.

Ông bước lên trong một cuộc họp báo, mỉm cười và nói với cả thế giới:

“Tôi đã có một cuộc đời tuyệt vời. Tôi sẵn sàng cho bất cứ điều gì xảy đến.”

Các bác sĩ điều trị cho ông bằng một loại thuốc miễn dịch tiên tiến vừa được FDA phê duyệt một năm trước đó. Kết hợp với xạ trị nhắm trúng đích vào các khối u trong não, điều đó đã tạo nên một kết quả đáng kinh ngạc.

Nó có hiệu quả.

Đến cuối năm 2015, chỉ vài tháng sau chẩn đoán, Jimmy Carter được xác nhận đã sạch ung thư.

Ông quay lại xây nhà.

Năm 2019, ông bị ngã và chấn thương hông. Ông hồi phục. Rồi lại quay về xây nhà. Sau đó là buổi sáng Chủ nhật ấy, năm ngày sau sinh nhật lần thứ chín mươi lăm — mười bốn mũi khâu, gương mặt bầm tím, chiếc mũ bóng chày, sân khấu Ryman Auditorium, và công trường xây dựng ngay sáng hôm sau.

Trong hơn bốn mươi năm, Jimmy và Rosalynn Carter đã giúp xây dựng, cải tạo và sửa chữa hơn bốn nghìn bốn trăm ngôi nhà trên khắp thế giới — làm việc cùng hơn một trăm nghìn tình nguyện viên. Những gia đình từng không có gì giờ đã có một nền móng vững chắc dưới chân mình. Một nơi thực sự thuộc về họ.

Bởi vì một người từng có tất cả vẫn luôn chọn xuất hiện vì người khác.

Jimmy Carter qua đời ngày 29 tháng 12 năm 2024 tại nhà riêng ở Plains, Georgia, trong vòng tay gia đình.

Ông thọ một trăm tuổi vị tổng thống sống lâu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Ông không hoàn hảo. Không ai hoàn hảo cả. Nhưng suốt bốn thập kỷ sau khi rời khỏi cương vị quyền lực nhất thế giới, ông chưa bao giờ ngừng cầm lấy chiếc búa để giúp những người cần một mái nhà.

Khi ngã xuống, ông đứng dậy. Khi bệnh tật ập đến, ông chữa trị, hồi phục và quay lại làm việc. Khi cơ thể nói hãy dừng lại, ông nói với nó rằng mình còn có nơi cần đến.

Một số người nói về niềm tin của mình.

Còn Jimmy Carter thì xây dựng nó bằng chính đôi tay mình. 


 

HOA QUẢ THỨ 11: Khiêm Nhu – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay bạn ráng trở thành một người khiêm nhu đi, mình biết chắc những người chung quanh sẽ zui lắm đó.

Cha Vương

Thứ 6: 29/05/2026.   (n3-6-22)

TIN MỪNG: Lòng kính sợ ĐỨC CHÚA là trường dạy khôn ngoan, khiêm nhu là đường dẫn đến vinh dự. (CN 15:33)

HOA QUẢ THỨ 11: Khiêm Nhu— Trong tự điển tiếng Việt định nghĩa là: 

  1. tính khiêm tốn, tính nhún nhường, tính nhũn nhặn, 
  2. tính thùy mị, tính nhu mì, tính e lệ, 
  3. tính vừa phải, tính phải chăng, tính bình thường, tính giản dị. 

Nhưng theo ý nghĩa truyền thống và thần học, khiêm nhu mang tính yếu đuối, nhưng người khiêm nhu chiến thắng cơn tức giận của mình, biết kiềm chế, biết điều chỉnh và điều khiển năng lực để làm điều tốt hơn điều xấu.

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong xã hội có những phần tử đề cao sự thành công của con người dựa trên bao nhiêu huy chương, bao nhiêu phần thưởng, bao nhiêu bằng cấp, bằng khen, bao nhiêu tài sản họ có. Họ rất hãnh diện và tự hào về sự thành công của họ. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì đó là mồ hôi nước mắt của họ, họ phải lao động hết sức vất vả mới có được như ngày hôm nay. Họ có đi ăn cướp ăn trộm của ai đâu. Vấn đề ở đây là một khi họ thần thánh hoá niềm tự hào, sự hãnh diện và những thành công của thì họ đã tự biến những gì rất bình thường trở thành bất bình thường. Họ trở thành người kiêu ngạo, tự cao, tự đắc qua cách ứng xử không tế nhị, không tôn trọng kẻ khác. Hay nói cách khác đi, họ coi trời bằng vung. Họ luôn tìm kiếm những sự chú ý cho riêng mình. Ngược lại trong xã hội ngày nay cũng không thiếu những người rất khiêm nhu và khiêm nhường. Họ biết kiềm chế, điều chỉnh, và điều khiển cảm xúc của họ. Họ phục vụ một cách tích cực, biết động viên và khuyến khích những người cùng làm việc chung với cả sự khiêm nhu và hết sức tế nhị. Họ không muốn người khác nói lời cảm ơn hoặc tìm kiếm lời khen ngợi của người khác. Họ làm việc tận tuỵ trong âm thầm vì yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân. Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói: “Nếu bạn khiêm nhu, không có gì ảnh hưởng tới bạn, dù lời khen ngợi hoặc sự ghen ghét, vì bạn biết mình là ai”.  Ước mong bạn cảm nhận được tầm quan trọng của nhân đức khiêm nhu trong cuộc sống, biết dấn thân, quên mình, không đòi hỏi gì nơi người khác nhưng luôn biết cộng tác kết nối với tha nhân làm việc chỉ để cho danh Chúa được cả sáng mà thôi.

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải  biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin biến đổi qua tim con để con biết những việc con phải làm, từ lúc khởi sự cho đến khi hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa chứ không bởi con.

THỰC HÀNH: Tập nhận biết tôi chẳng là gì trước mặt Chúa. Tôi chỉ là người quản lý của Chúa thôi.

From: Do Dzung

******************************

Tất Cả Là Hồng Ân || St Lm. Huy Hoàng || Tb Sr Hoàng Phương 

Diễn Giải Về Chủ Đề “Cùng Chúa Vượt Biển Đời” – Lm Gioan Baotixita Phương Đình Toại, MI – Phần 1/2 & Phần 2/2

https://www.youtube.com/live/5CFlI9kNbgw

Diễn Giải Về Chủ Đề “Cùng Chúa Vượt Biển Đời” – Lm Gioan Baotixita Phương Đình Toại, MI – Phần 1/2

https://www.youtube.com/live/dNdw6DCAk_U

Diễn Giải Về Chủ Đề “Cùng Chúa Vượt Biển Đời” – Lm Gioan Baotixita Phương Đình Toại, MI – Phần 2/2

Chuyện tuổi Xế Chiều – Truyen ngan HAY

AnhPhu VanLy is with Nhuan Le.

 nhìn hình ảnh của bà cụ này tự nhiên tôi nghĩ rồi mình cũng sẽ như thế trong 1 ngày rất gần đây

Chuyện tuổi Xế Chiều

Bình Yên LN

Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến gõ cửa, bà hỏi tôi có muốn mua căn nhà của bà không ? Căn nhà rộng 132m vuông . Tôi có chút bất ngờ nên nói với bà : Bà ơi con đã có nhà rồi không cần mua thêm đâu. Bà cụ tiếp tục nói: Con à, nếu con đồng ý mua nhà của bà, bà sẽ không lấy của con đồng xu nào, nhưng con phải đồng ý với bà một điều kiện .

Nghe đến đây tôi sửng người. Sao trên đời lại có chuyện như thế này chứ? Nhưng thái độ của bà thật nghiêm túc, trong ánh mắt còn ẩn chứa một nỗi niềm nặng trĩu khó hiểu. Tôi cố nén sự nghi ngờ trong lòng và nói: Bà cứ nói đi, nếu có thể giúp con nhất định sẽ giúp. Bà ngước nhìn tôi chậm rãi nói : Sau này mỗi lần xuống, đi ngang cửa nhà bà cứ gõ cửa một cái, nếu bà trả lời con cứ yên tâm mà đi, nếu không nghe thấy tiếng bà con hãy làm ơn gọi điện cho các con của bà, nếu chúng nó cũng không về thì hãy làm ơn đưa bà đi tiếp chặng đường cuối cùng. Căn nhà này bà sẽ để lại cho con.

Những lời của bà khiến lòng tôi chùng xuống: Đây nào phải là một yêu cầu đơn giản mà là một sự phó thác sinh mệnh.

Trong lòng tôi rối bời không biết có nên đồng ý hay không, nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi và tha thiết của bà tôi đã gật đầu chấp nhận. Tôi đỡ bà vào nhà để bà ngồi xuống và rót cho bà một ly nước nóng. Đôi tay bà run rẩy, nhìn dáng vẻ của bà lòng tôi thấy xót xa.

Qua câu chuyện bà kể, tôi biết bà nay đã 86 tuổi, cả bà và ông đều từng là giáo viên về hưu. Con trai lớn lập gia đình sống ở Canada, con gái lấy chồng ở Anh . Từ khi các con ra nước ngoài bà sống nương tựa vào ông, nhưng năm ngoái ông đã qua đời, giờ trong nhà chỉ còn lại mình bà, các con đã nhiều năm không về thăm nhà,nhà cũ ở quê cũng bán từ lâu… Giờ chỉ mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng này, giá như mà hồi đó chúng nó đừng giỏi giang như thế thì tốt biết mấy, nếu không ra nước ngoài ít ra chúng cũng còn nhớ đến căn nhà này, mỗi năm có thể gặp vài lần…  Nghe bà nói vậy, tôi nghe lòng trĩu nặng: Bà không phải đang trách các con, mà bà đang cảm thấy bất lực với tuổi già của mình , nhà có rộng đẹp cách mấy cũng không ấm áp bằng tình thâm.

Kể từ đó… mỗi lần đi làm tôi đều ghé xuống gõ cửa nhà bà, chỉ khi nghe tiếng bà trả lời tôi mới yên tâm đi làm. Vào cuối tuần tôi tranh thủ ghé qua thăm bà, cùng bà trò chuyện, nấu ăn, giúp bà làm vài việc vặt… Mỗi lần như thế bà rất vui vẻ , có lẽ đó chính là cái cảm giác hạnh phúc và an toàn.

… Thấm thoát một năm đã trôi qua, tháng trước vào tuần cuối của tháng, tôi đi cộng tác đột xuất nên không kịp gõ cửa nhà bà … Một tuần sau khi  trở về, tôi vội vàng sang gõ cửa nhà bà , nhưng không nghe tiếng trả lời của bà . Linh tính chẳng lành, tôi báo cho ban quản lý và gọi điện cho cảnh sát.

Khi cảnh sát mở cửa , chúng tôi phát hiện bà đã nằm yên trên giường, mắt nhắm lại, bên cạnh là quyển album hình của hai ông bà thời trẻ và hình của các con khi còn bé , pháp y nói: Bà đã qua đời hai ngày trước vì bịnh tim.

Lòng tôi đau nhói… Chỉ mới trước ngày tôi đi công tác bà còn nói: Bên ngoài trời lạnh lắm, nhớ mang theo áo ấm con à ! Bà còn bảo cuối tuần qua bà có làm bánh nhân thịt, vì các con ngày còn bé rất thích … Nói xong bà quay lưng bước vào thang  máy, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng… Bà ra đi lặng lẽ như thể thế giới này chưa bao giờ để ý đến sự tồn tại của bà.

Sau đó tôi gọi điện cho các con của bà, nhưng không ai về kịp. Trong đám tang chỉ có vài người đến tiễn đưa, dường như cả cuộc đời bà cứ cuốn trôi theo dòng thời gian không để lại dấu vết nào… nghĩ đến đây lòng tôi trĩu nặng, một người hiền từ như vậy tại sao cuối cùng lại ra đi trong cô đơn như vậy.

Sau khi lo liệu xong tang lễ, tôi đứng rất lâu trong ngôi nhà trống vắng của bà… nhớ lại những khoảng khắc trước kia… những lúc bà cô đơn và bất lực … Chợt tôi hiểu ra ý nghĩa lời nói của bà: Giá mà con cái của bà không giỏi giang đến thế thì tốt biết bao. Có lẽ bà chưa bao giờ mong con cái có những thành tựu lớn lao, chỉ hy vọng những ngày tháng tuổi già có người đến gõ cửa nhà bà, có người lắng nghe giọng nói của bà. 

Bà đã ra đi mang theo nỗi cô đơn và bất lực của mình. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy an ủi là ít nhất trong một năm cuối đời, có người đồng hành cùng bà, khiến bà cảm thấy một chút hơi ấm, một ít quan tâm.

Gửi đến những người thân yêu: Hãy nhớ, hãy dành thời gian có thể để quan tâm đến cha mẹ già của mình, đến một ngày bạn nhận ra  cha mẹ là những người bạn dành ít thời gian nhất nhưng lại là những người yêu thương bạn vô điều kiện.

Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về

Cha mẹ mất, đời ta chỉ còn đường để ra đi

 *Ghi lại từ bài đọc trên FB Phạm Tiến


 

NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…- Tuấn Khanh

Việt Luận – Viet’s Herald

 NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…

Tuấn Khanh

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi.

Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi in tại Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao Động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Cuộc đời của nhà văn Trần Đĩnh, người cầm bút hơn 70 năm, bắt đầu với công việc ký giả cho tờ Sự Thật – một tờ báo chủ đích tuyên truyền do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Nhà văn Trần Đĩnh sinh năm 1930. Năm 16 tuổi ông tham gia Việt Minh theo lời kêu gọi yêu nước, chống Pháp. Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này – theo như ông tâm tình trên BBC – đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật của giới lãnh đạo cộng sản.

Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người được tin cậy để được trao nhiệm vụ chấp bút viết tiểu sử của ông Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận… nên những gì ông kể trong bản văn Đèn Cù, là có thể tin cậy được.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà bình do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev đưa ra, theo Trần Đĩnh, ông đã ủng hộ lập trường của Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị ghép vào tội “chống đảng”. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là Trần Châu, hay như những người khác như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu vong như Nguyễn Minh Cần…, nhưng ông bị đày đi cải tạo lao động. Sau đó, tuy ông được xét làm báo trở lại nhưng với điều kiện: Không được ký tên Trần Đĩnh, chỉ viết về nông nghiệp, và không được viết anh hùng, chiến sĩ thi đua và cấp ủy cao. Cuối cùng là không được ở gần thanh niên, bởi sẽ gây tiêm nhiễm tư tưởng phản động cho thế hệ trẻ. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ sách 600 trang của ông Trần Đĩnh đã tiết lộ nhiều chuyện “động trời”, trong đó, một trong những chuyện được nhiều người Việt trong và ngoài nước đọc qua, đã bàn tán không ngớt như chuyện ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh cải trang đến tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.” (trang 84).

Đã có lần trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là những điều ông kể có chứng cứ không, ông Trần Đĩnh đã bật cười nói “Nó là cuộc đời tôi, diễn ra chung quanh tôi. Rất nhiều người cùng thời với tôi chứng kiến nay đã chết, họ đã mang những chứng cứ đó xuồng mồ, nên tôi phải viết lại”.

Câu trả lời thú vị nhất của ông, là khi được hỏi ông viết cuốn hồi ký với nhiều chi tiết gây sốc này, với mục đích gì. “Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi”, nhà văn Trần Đĩnh nói. Ông mô tả rằng người ta làm và sống với những điều tự nhiên, như đau thì phải kêu, và thấy sự thật, phải kể lại. “Đến lúc tôi phải viết xuống vì không thể để ai bịa đặt hay muốn nói như thế nào cũng được”, nhà văn Trần Đĩnh nói.

Lúc sinh thời, trong thời gian sống và làm việc tự do ở Sài Gòn, nhà văn Trần Đĩnh còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, như Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Ngầm của Murakami Haruki.

Sau khi sách Đèn Cù trở thành một cú chấn động trong đời sống của người đọc sách, người quan tâm chính trị, báo chí nước ngoài gọi điện thăm hỏi rằng ông có bị khó dễ gì vì bộ sách này hay không, ông trả lời “Tôi đã đến tuổi không còn thấy điều gì làm khó được mình”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh 


 

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi.

Năm 1936, giữa thời kỳ Đại Khủng Hoảng và cơn ác mộng Dust Bowl phủ lên miền Trung nước Mỹ, hàng ngàn trẻ em nông thôn tại tiểu bang Oklahoma vẫn ngày ngày lội gió bụi đến những trường học nhỏ giữa đồng hoang. Đó là thời kỳ mà đất đai nứt nẻ như da trâu mùa hạn, mùa màng chết khô, gia súc lăn ra chết bên hàng rào, còn nhiều gia đình thì sống lay lắt nhờ vài bao bột mì cứu trợ của chính phủ liên bang. Nhưng giữa cảnh khốn cùng ấy, người dân quê Oklahoma vẫn giữ một niềm tin gần như thiêng liêng: con chữ có thể cứu đời con cái họ khỏi cái nghèo truyền kiếp.

Gia đình Harper sống tại một nông trại nhỏ bên ngoài thành phố Enid. Mảnh đất vốn từng màu mỡ ấy giờ đây bị những cơn bão bụi biến thành một biển đất chết. Mỗi khi gió nổi lên, bụi đỏ cuồn cuộn như khói chiến tranh, phủ kín mái nhà, chuồng bò, hàng rào và cả bên trong căn bếp nghèo. Người ta kể rằng có những sáng ngủ dậy, lớp bụi dày đến nỗi bà Harper phải lấy xẻng nhỏ xúc đất ra khỏi nền nhà.

Ông Harper, cha của bọn trẻ, trước kia là nông dân trồng lúa mì. Nhưng sau nhiều mùa thất bát, ông phải đi tìm việc tạm bợ bằng nghề chở lúa thuê hoặc phụ hồ tại các thị trấn lân cận. Đồng lương ít ỏi chẳng đủ nuôi đàn con đông đúc. Bà Harper đành vá quần áo bằng bao bột mì cũ, tận dụng từng mảnh vải vụn để may áo cho con. Bữa ăn gia đình quanh quẩn chỉ có đậu, khoai tây và bánh bắp. Thịt là món xa xỉ hiếm hoi xuất hiện vài lần trong tháng.

Tuy vậy, mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, những đứa trẻ Harper vẫn chuẩn bị đến trường. Chúng đi bộ nhiều cây số qua các con đường đất phủ bụi mù. Đứa lớn dắt đứa nhỏ, tay ôm tập vở cũ đã sờn góc. Có đứa mang giày rách đế, có đứa chân trần vì cha mẹ không đủ tiền mua giày mới. Mùa đông Oklahoma lạnh buốt, gió thổi xuyên qua áo khoác mỏng. Nhưng chưa bao giờ cha mẹ chúng cho phép nghỉ học chỉ vì nghèo.

Những ngôi trường quê thời ấy phần lớn chỉ là trường một phòng học. Trong căn phòng gỗ nhỏ, học sinh từ lớp Một đến lớp Tám ngồi chung. Một chiếc lò sưởi bằng than đặt giữa lớp để chống rét mùa đông. Sách giáo khoa được truyền tay từ khóa này sang khóa khác đến mức gáy sách bung ra từng mảnh. Nhiều học sinh phải dùng chung bút chì vì gia đình không đủ tiền mua đồ dùng học tập.

Các giáo viên miền quê Oklahoma trong thời Dust Bowl không chỉ làm nghề dạy học. Họ còn là y tá, người phát chẩn và đôi khi là chỗ dựa tinh thần cho cả cộng đồng. Có cô giáo phải bỏ tiền túi mua bánh mì cho học sinh đói bụng. Có thầy giáo sau giờ học còn lái xe đi thăm những gia đình bị bệnh dịch hoặc mất mùa. Nhiều người vận động quyên góp quần áo cũ từ thị trấn để đem phát cho trẻ em nông thôn.

Thời kỳ Dust Bowl không phải chỉ là thiên tai đơn thuần. Đó là hậu quả của nhiều năm canh tác quá mức trên các đồng bằng miền Trung Hoa Kỳ. Khi hạn hán kéo dài kết hợp với gió mạnh, lớp đất mặt màu mỡ bị cuốn lên trời thành những cơn “bão đen” khổng lồ. Từ năm 1930 đến 1936, hàng triệu mẫu đất tại Oklahoma, Texas và Kansas bị phá hủy nghiêm trọng. Hàng trăm ngàn gia đình nông dân phải bỏ quê hương di cư sang California tìm kế sinh nhai.

Nhà văn John Steinbeck sau này đã mô tả thảm cảnh ấy trong cuốn The Grapes of Wrath, một tác phẩm nổi tiếng phản ánh đời sống khốn khổ của dân nghèo miền Dust Bowl. Nhưng đối với những đứa trẻ như nhà Harper, bi kịch ấy không nằm trong sách vở. Chúng sống giữa nó từng ngày, từng giờ.

Năm 1935, một trận bão bụi khổng lồ mang tên “Black Sunday” đã biến ban ngày thành đêm tối. Người dân kể rằng khi cơn bão kéo đến, họ không nhìn thấy bàn tay mình trước mặt. Trẻ em phải lấy khăn ướt che mũi để khỏi nghẹt thở. Bụi lọt vào phổi gây ra căn bệnh gọi là “dust pneumonia” khiến nhiều người tử vong. Những đứa trẻ nông thôn lớn lên giữa bụi đất và nỗi sợ mùa màng thất bại.

Dẫu vậy, trường học vẫn là nơi đem lại chút hy vọng hiếm hoi. Trong lớp học nhỏ ấy, bọn trẻ được học đọc, học viết, học địa lý và nghe kể về một thế giới rộng lớn bên ngoài cánh đồng khô cằn. Với nhiều phụ huynh, con đường học vấn là cơ hội duy nhất để con cái họ thoát khỏi kiếp bám đất mà vẫn nghèo.

Một học sinh cũ sau này nhớ lại: “Chúng tôi không biết mùa màng có sống nổi hay không, nhưng cha mẹ vẫn bắt chúng tôi đi học mỗi sáng. Họ tin rằng dù đất đai có chết, con chữ vẫn còn sống.”

Niềm tin ấy phản ánh tinh thần đặc biệt của tầng lớp nông dân Mỹ thời Đại Khủng Hoảng. Dù mất tiền bạc, mất mùa màng, họ vẫn không chịu đầu hàng số phận. Chính phủ của Tổng thống Franklin D. Roosevelt sau đó đã đưa ra chương trình New Deal nhằm cứu trợ nông dân, tạo việc làm và cải tổ kinh tế. Nhưng trước khi các chính sách ấy phát huy hiệu quả, nhiều gia đình đã phải tự chống chọi bằng nghị lực phi thường.

Điều đáng nói là những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 không hề xem mình là anh hùng. Chúng chỉ đơn giản làm điều phải làm: thức dậy, đi học và tiếp tục sống. Nhưng chính sự bình dị ấy mới là vẻ đẹp lớn nhất của thế hệ Dust Bowl. Không súng đạn, không chiến công, không huy chương, chỉ có đôi chân trẻ thơ lầm lũi bước qua đồng bụi để giữ lấy tương lai.

Ngày nay, nhiều trường học một phòng tại Oklahoma đã biến mất, nhường chỗ cho xa lộ và các thị trấn hiện đại. Nhưng những bức ảnh cũ còn lưu lại vẫn khiến hậu thế xúc động. Trong ảnh, lũ trẻ gầy gò đứng trước mái trường gỗ đơn sơ, áo quần vá chằng vá đụp nhưng ánh mắt vẫn sáng. Đó là ánh mắt của một thế hệ sinh ra giữa tai họa nhưng không chịu khuất phục.

Câu chuyện của những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 nhắc hậu thế một bài học đơn giản mà sâu xa: nghèo đói có thể lấy mất tài sản, thiên tai có thể phá hủy ruộng đồng, nhưng tri thức và nghị lực vẫn là thứ giúp con người đứng dậy sau mọi biến động. Chính những bước chân bé nhỏ trên con đường bụi đỏ năm xưa đã góp phần dựng lại nước Mỹ sau thời Đại Khủng Hoảng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Ngo Duc Chien

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – người nhìn thấy “tư bản hoang dã” từ năm 1993

Có những trí thức càng đi trước thời đại thì lời nói của họ càng khiến hậu thế giật mình vì… quá đúng. Nguyễn Khắc Viện là một người như thế.

Trong phần bổ sung “Con đường đi tới tương lai” của cuốn Việt Nam, một thiên lịch sử viết năm 1993, ông từng cảnh báo Việt Nam sau Đổi Mới có nguy cơ xuất hiện một thứ “chủ nghĩa tư bản hoang dã”: đồng tiền lấn át đạo lý, bất bình đẳng xã hội gia tăng, tội phạm, ma túy, phá rừng, ô nhiễm môi trường và nguy hiểm nhất là sự cấu kết giữa quyền lực với lợi ích kinh tế kiểu “mafia”.

Ba mươi năm trước, khi xã hội còn ngập trong không khí lạc quan của mở cửa và tăng trưởng, rất ít người nói được điều ấy. Nhưng Nguyễn Khắc Viện đã nhìn thấy mặt trái của phát triển nếu kinh tế đi quá nhanh còn văn hóa, pháp luật và lương tri đi quá chậm.

Hôm nay nhìn lại, từ các đại án tham nhũng, thực phẩm giả, thuốc giả, hàng giả đến lợi ích nhóm và môi trường bị tàn phá, người ta mới thấy những cảnh báo năm ấy giống một dự cảm đáng sợ về hiện tại.

Ông đặc biệt chua chát trước kiểu quan chức biến chất: lúc đương quyền thì huênh hoang quyền lực, nhưng khi ra tòa lại khóc lóc, kêu bệnh tật, kể công trạng để xin giảm tội. Theo ông, ngoài việc lợi dụng chức quyền để kiếm chác, họ hầu như không để lại giá trị nào cho đất nước. Cái nghèo đáng sợ nhất không phải nghèo tiền bạc, mà là nghèo nhân cách và lòng tự trọng.

Nguyễn Khắc Viện không phản đối làm giàu. Ông chỉ phản đối kiểu giàu lên bằng sự tha hóa của quyền lực và sự xuống cấp của đạo lý xã hội. Ông cho rằng một xã hội lấy giàu-nghèo làm thước đo phẩm giá con người sẽ rất nguy hiểm. Giàu cá nhân, giàu dòng họ mà không giàu lòng yêu nước chín chắn thì không đáng để tôn vinh.

Sinh năm 1915 tại Hà Tĩnh trong gia đình Nho học, ông từng đỗ đầu ba bằng Tú tài tại Trường Bưởi, nay là Trường THPT Chu Văn An, rồi học y trước khi sang Pháp.

Năm 1942, ông mắc lao phổi nặng, trải qua nhiều cuộc đại phẫu, bị cắt bỏ một phần phổi và nhiều xương sườn. Từ cửa tử, ông tự nghiên cứu yoga, khí công và dưỡng sinh để cứu chính mình. Sau này, phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện được phổ biến rộng rãi và giúp nhiều người phục hồi sức khỏe.

Về nước năm 1963, ông hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghiên cứu xã hội; dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp, viết nhiều công trình về lịch sử, tâm lý trẻ em và văn hóa Việt Nam. Sau nghỉ hưu, ông càng viết mạnh mẽ hơn về giáo dục, dân chủ và phản biện xã hội.

Trong những năm 1980, nhiều ý kiến của ông từng bị xem là “lệch chuẩn”, “xét lại”. Ông phê phán bệnh giáo dục nhồi nhét, tâm lý sợ phản biện và thói phục tùng máy móc. Có thời gian bài viết của ông bị hạn chế phổ biến vì ông nói quá thẳng những điều xã hội không muốn nghe.

Nhưng ông không phải người chống đối cực đoan. Ông là mẫu trí thức yêu nước, muốn đất nước mạnh lên bằng sự tự soi lại chính mình. Điều khiến ông khó được chấp nhận là ông luôn đòi hỏi xã hội phải trung thực với sự thật.

Nhiều năm sau, những điều Nguyễn Khắc Viện cảnh báo về giáo dục, văn hóa và sự tha hóa quyền lực dần trở thành vấn đề ai cũng nhìn thấy. Có lẽ bi kịch lớn nhất của ông là nói quá sớm những điều mà nhiều năm sau xã hội mới chịu thừa nhận.

Ông mất năm 1997 tại Hà Nội, nhưng những điều ông để lại vẫn còn nguyên tính thời sự: một quốc gia muốn phát triển bền vững phải có đạo lý, phải biết kiểm soát quyền lực và phải biết lắng nghe những trí thức dám nói thật.

ST