DỐT NÁT MỚI TIN VÀO ĐẠO!

Xuyên Sơn

 DỐT NÁT MỚI TIN VÀO ĐẠO!!

“Chỉ những người ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào đạo”.

Nghe xong câu kết luận đó, cả lớp học im phăng phắc, còn lòng tôi thì bực tức mà không nói nên lời.

Sự bực tức này có lẽ một phần vì nội dung mà vị giáo sư giảng dạy không chỉ đang đụng đến đức tin của người Công giáo như tôi mà còn xúc phạm đến người có đạo.

Phần nữa, tôi đau vì không đủ khả năng để đứng lên bảo vệ Đạo của mình.

Sau khi nghe xong phần trình bày của vị giáo sư đại học mà tôi nghĩ là ông không có thiện cảm gì với người Công giáo, tôi về nhà cố đi tìm câu trả lời cho riêng mình.

Và khi đã tìm hiểu xong, tôi quyết định tìm gặp và đối thoại với vị giáo sư này.

Câu hỏi đầu tiên mà tôi đặt ra cho ông đó là “Thưa Thầy, thầy có thể cho biết, đất nước nào hiện nay văn minh, tiến bộ nhất thế giới”.

Vị giáo sư trả lời ngay “ Nước Mỹ”.

Tôi nói liền “ Vậy, thầy có thể cho em biết hiện nay nước Mỹ có bao nhiều người tin vào Thiên Chúa?”

Vị Giáo sư nhìn tôi và hỏi 

“Em hỏi vậy là có mục đích gì?”.

Tôi đáp

“Vì Thầy nói

“Chỉ những ai ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào Thiên Chúa” nên em mới hỏi thầy câu này.

Ông chần chừ một lúc rồi nói

“ Nước Mỹ là nước có số người tin vào Thiên Chúa khá đông”. 

“Đúng vậy. Em được biết tại nước Mỹ có tới 86% tin vào Thiên Chúa,

còn 14% nhận mình là vô thần mà. Chẳng lẽ 86% này cũng là những người mê muội, ít học phải không thầy?”

Hơn nữa, em còn thấy những bác học lừng danh như Bacon, Isaac Newton, Albert Einstein, Louis Pasteur, 31-Georges Lemaître (1894-1966)

Linh mục Công Giáo, người khai phá ra thuyết Big Bang.

Max Planck (1858-1947)

Đoạt giải Nobel về vật lý

và là cha đẻ của thuyết Quantum mechanics.

Blaise Pascal (1623–1662)

Thần đồng toán học, vật lý, và Lý Thuyết.

René Descartes (1596–1650)

Nhà bác học về Hình học và Những con số bất biến.

Người hướng dẫn cuộc Cách Mạng

Khoa học của phương Tây.

Roger Bacon (c.1214–1294), người áp dụng phương pháp

thực nghiệm và các phương pháp khoa học tân tiến.

Viết về Luật Thiên Nhiên, cơ khí, địa lý và quang học.

Johannes Kepler (1571–1630)

Nhà vũ trụ học, tính toán sự di chuyển của các thiên hà.

-Isaac Newton (1643–1727)

Nhà khoa học và toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại và biết bao nhiêu nhà bác học khác đều là những ki tô hữu tốt lành.

Chẳng nhẽ, những nhà bác học này cũng là những người dốt nát và mê tín sao thầy?

Em thấy tiền đề thầy đưa ra xem ra không ổn tí nào.

Vị giáo sư như chùng xuống một lúc rồi nói

“ Tôi cũng chỉ nói những gì mà sách vở và bổn phận tôi phải nói. Vì đó là nghề của tôi”.

Tôi đáp lại

“ Vâng nếu thầy nói vậy thì em hiểu rồi. Có điều em cảm thấy thầy không có tự do khi truyền giảng cho sinh viên những kiến thức thực sự của thầy. Nhưng còn một điều nữa khiến em cũng đang thắc mắc”.

Ông nhìn tôi và hỏi

“ Em còn muốn hỏi điều gì”. 

“Vâng, cũng chỉ liên quan đến điều thầy nói ở lớp thôi. Em muốn hỏi thầy có cái gì giả dối, mê muội nó tồn tại được lâu không thầy”. Tôi đáp lại.

Người thầy của tôi lúc này thong thả nói “ Người ta vẫn nói sự thật trước sau gì cũng là sự thật, sự giả dối có lừa được một số người, một số lần rồi sẽ có ngày lộ diện em ạ”. 

“Cám ơn thầy. Thầy nói chí phải.

Sự thật ma vật không đổ thầy nhỉ.

Nếu Đạo Công Giáo mà giả dối sao nó lại tồn tại lâu quá vậy. Nó không chỉ tồn tại mà còn phát triển khắp cả thế giới và đứng vững một cách chắc chắn phải không thầy!”.

Người thầy gật đầu và nói với tôi

“ Thầy cảm phục tinh thần của em.

Em là người có chứng kiến và dám sống cho chứng kiến của mình.

Thầy tin rằng em sẽ làm được những điều tốt lành cho đất nước cho xã hội. Chỉ tiếc những người có chứng kiến và bản lãnh như em nơi sinh viên không có nhiều lắm. Chúc em thành công”.

Tạm biệt người thầy mà tôi đã làm phiền quấy rầy.

Tuy thời gian gặp gỡ không dài những tôi hiểu được phần nào nỗi đau của nhiều người, nhất là những giáo sư, thầy giáo, dẫu biết được sự thật mà không dám nói sự thật .

Ước mong sao nơi giảng trường đại học sẽ có những cánh cửa của tự do để tri thức thật được lên tiếng.

“IN GOD WE TRUST”

– ”Chúng tôi tin vào Chúa”

– Dòng chữ này hiện diện trên bất kỳ !tờ tiền nào của Mỹ!

Nguồn Facebook Giáo xứ Mỹ Khánh.


 

ĐẾN MỨC TRÀN ĐẦY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”.

“Kitô hữu xét cho cùng là một con người kỳ cục nhưng không kém độc đáo: yêu Đấng chưa gặp, trò chuyện với Đấng chưa thấy; mất mình để được sống; mạnh khi yếu; giàu khi nghèo; và chết đi để được sống đến mức tràn đầy hôm nay và mãi mãi!” – A.W. Tozer.

Kính thưa Anh Chị em,

Những ai theo Chúa có thể xem ra kỳ cục nhưng không kém độc đáo. Lời Chúa hôm nay chỉ ra điều khiến họ trở nên độc đáo: sống với Ngài bằng một tình yêu ‘đến mức tràn đầy’.

Vì Thiên Chúa là Đấng chưa gặp, chưa thấy, nên Israel cứ sống nửa vời: lúc gần Ngài, lúc xa Ngài; lúc hăng hái, lúc nguội lạnh. Và đời sống họ khô cằn như một cánh đồng bị bỏ quên. Qua Hôsê, Thiên Chúa không trách nhiều, chỉ gọi một câu rất đơn giản, “Hãy trở về!” – bài đọc một. Bởi lẽ, Israel không tự làm mình sinh hoa trái; chỉ khi quay lại với Ngài, gắn đời mình vào Ngài, thì điều kỳ diệu mới xảy ra: “Chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái” – đời người bắt đầu sống ‘đến mức tràn đầy’. “Không có Thiên Chúa, chúng ta không thể; nhưng không có chúng ta, Thiên Chúa cũng không thể!” – Augustinô.

Với bài Tin Mừng, khi được hỏi giới răn nào lớn nhất, Chúa Giêsu không đưa ra một danh sách dài, nhưng chỉ nói một điều: “Hãy yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực!”. Nghĩa là đừng yêu Chúa bằng một phần con người, nhưng bằng cả con người. Vì chỉ khi Thiên Chúa chiếm trọn trái tim, tình yêu của chúng ta mới không còn nhỏ hẹp, không còn tính toán; nó bắt đầu lan ra, chạm đến người khác và làm cho mọi tương quan của đời sống lớn lên ‘đến mức tràn đầy’.

Trái lại, khi chia cắt tình yêu, yêu nửa vời, đứt đoạn và thiếu cam kết để chỉ dâng Chúa một phần trái tim, một phần linh hồn, một phần trí khôn, một phần sức lực, thì tình yêu của con người luôn què quặt, nghèo nàn. Đóng cửa và lấy đi chìa khoá tình yêu đối với Chúa, con người không bao giờ đạt đến sự cứu rỗi; và như thế, tình yêu với Chúa và với người sẽ luôn nông cạn, hời hợt. “Ai không yêu Thiên Chúa thì cũng không thực sự yêu điều gì!” – Henry Newman.

Anh Chị em,

“Nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”. Thập giá Chúa Kitô cũng là một cái gì “kỳ cục nhưng không kém độc đáo!”. Thập giá là biểu tượng của tình yêu, hoa trái của nó là tình yêu, yêu cho đến cùng. Chúa Giêsu đã yêu Chúa Cha đến nỗi chỉ sống để làm vui lòng Cha; Ngài cũng yêu con người đến mức chấp nhận hiến dâng mạng sống vì nó. Chính nhờ tình yêu của Ngài mà “chúng ta nhận được hết ơn này đến ơn khác”. Đúng thế, chỉ trong Chúa Kitô, bạn và tôi mới trở nên những Kitô hữu độc đáo, trổ sinh hoa trái trong các mối tương quan – với Chúa, với tha nhân – ‘đến mức tràn đầy!’. “Người Kitô hữu của tương lai sẽ là một người có kinh nghiệm sống với Thiên Chúa, nếu không, người ấy sẽ không còn tồn tại!” – Karl Rahner.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con yêu Chúa ‘cầm chừng’, nhưng yêu ‘tuyệt đối’. Nhờ đó, tình yêu của con đối với tha nhân không nửa vời, chẳng đứt đoạn và luôn cam kết!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần III Mùa Chay

Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất ; ngươi phải yêu mến Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,28b-34

28b Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng : “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Điều răn đứng hàng đầu là : Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. 31 Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” 32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. 33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” 34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu !” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.


 

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Xuyên Sơn

Bài hay, mời đọc và SUY NGẪM

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Một ước vọng của nhiều người là được sống lâu, sống thọ.

Tôi cũng từng như vậy.

Cho đến một ngày, tôi tận mắt chứng kiến những năm tháng cuối đời của người bạn thân của cha tôi, một nghệ sĩ nhiếp ảnh khá nổi tiếng.

Ông từng đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế, có người vợ xinh đẹp, hết lòng yêu thương chồng, năm con đều thành đạt, giỏi giang. Nhiều người xem ông như hiện thân của sự sung sướng, hạnh phúc đủ đầy.

Tôi được ông coi như con.

Một lần hai bác cháu ngồi thưởng trà, tôi bảo:

“Trong mắt con, bác là người hạnh phúc nhất trần gian”.

Bác nhìn tôi hiền từ, bảo:

“Khi nào nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ con ạ”.

75 tuổi, bác bị tai biến mạch máu não. Gia đình đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời nên qua khỏi nhưng bị di chứng liệt nửa người, nói ngọng.

Con cái thành đạt, bận rộn nên việc chăm sóc trông cậy cả vào bác gái.

Tuổi cao, mắt kém, tối nọ, vợ bác bị vấp ngã cầu thang, gẫy xương hông.

Thế là hai bác cùng nằm liệt một chỗ.

Con bác phải thuê người giúp việc. Nhưng chăm sóc hai người già bị liệt quá cực nhọc nên chẳng ai làm được lâu.

Cứ tuyển người được vài hôm họ lại nghỉ.

Bí quá, các con gửi hai bác vào một trung tâm dưỡng lão tư nhân.

Thương bác, gần như tuần nào tôi cũng vào thăm.

Bác cháu chuyện trò rất vui.

Tuần nào tôi bận quá không vào là bác điện thoại kêu nhớ.

Thời gian đầu, các anh chị con bác còn luân phiên hàng tuần vào thăm bố mẹ. Nhưng rồi những cuộc thăm viếng thưa dần, sau này tính bằng mỗi tháng – ngày nộp tiền cho trung tâm.

Tôi vẫn dành thời gian vào thăm bác. Vẫn gắng kể những câu chuyện vui cho bác nghe.

Nhưng bác thì ít nói, ít cười dần.

Đôi mắt ngày càng u uẩn.

Nhiều lần bác nhìn tôi, ánh mắt vô hồn. Tôi biết bác bị trầm cảm nặng.

Mà ở trung tâm dưỡng lão này, chẳng riêng gì bác bị.

Nhiều người vào đây thời gian đầu hoạt bát, vui vẻ, nói cười rổn rảng.

Về sau, tiếng nói, tiếng cười tắt dần rồi im bặt.

Có những lần, nhìn mắt ai cũng đờ dại khiến tôi có cảm giác họ là bệnh nhân tâm thần.

Người già rất cần tình thương, nhất là sự quan tâm của con cháu. Nhưng con cháu còn mải mê trong vòng quay cơm áo, gạo tiền,

đâu có nhiều thời gian cho cha mẹ già.

Hơn bốn năm trong trung tâm dưỡng lão, bác mất vào một đêm giông gió. Chẳng ai biết bác mất giờ nào.

Bảy giờ sáng hôm sau, cô nhân viên vào phòng thấy người bác đã cứng.

Mắt vẫn mở.

Con cháu đưa thi hài bác về quê mai táng.

Khách từ khắp các tỉnh thành về viếng nườm nượp, đủ các thành phần, đủ các tầng lớp. 

Con đường vào làng tắc nghẽn ô tô. Vòng hoa rợp ngõ.

Cả làng, cả xã trầm trồ trước đám tang hoành tráng nhất trong lịch sử làng rồi báo chí đăng tin ngưởng mộ.

Ai cũng khen bác sướng nhất làng, nhất huyện.

Họ bảo:

“Sống sướng, chết cũng sướng.

Bõ một kiếp người”, nào có mấy ai biết được bốn năm qua bác “sống hay là bác tồn tại” ra sao…!!!

Riêng tôi, lúc đứng trước linh cữu, nhìn di ảnh bác cười hiền hậu, tai tôi vẳng tiếng của bác “lúc nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ”.

Trong tôi chợt vọng lên câu hỏi:

Sống thọ hay sống sướng có thực sự là giá trị lớn nhất của đời người?

Cho đến một ngày kia, chứng kiến cái chết của người em thân thiết, tôi mới tìm được câu trả lời.

Em tên Vinh, kỹ sư tin học cho một tập đoàn viễn thông quốc tế tại Việt Nam. Lớp bảy, em bị bệnh thấp khớp chạy vào tim.

Tìm hiểu về bệnh, em biết, sự sống của mình có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào.

Mặc dầu vậy, Vinh không hề sợ hãi, lúc nào cũng tràn đầy năng lượng tích cực, yêu đời.

Hàng tuần, từ thứ hai đến thứ sáu, em làm việc cho tập đoàn.

Thứ bảy, chúa nhật, em dành toàn bộ thời gian cho hoạt động thiện nguyện. Khi thì phóng xe máy về quê hướng dẫn nông dân cách trồng trọt, chăm sóc rau củ sạch, lúc phóng lên miền núi dạy cho trẻ em dân tộc con chữ, vận động mọi người quyên góp xây trường cho các em.

Tôi có cảm giác, bao nhiêu năng lượng em dành tặng hết cho mọi người.

Một lần, tôi hỏi:

“Vinh có sợ chết không?”.

Em cười bảo:

“Không”. Em thấy cái chết không hề đáng sợ. Nếu “nghiệp” mình phải chết thì xin thêm một phút cũng không được. Vì thế, buồn lo làm gì cho sầu khổ.

Đời cho em bao nhiêu ngày thì em vui tươi và yêu thương hết thảy.

Khi chết, thân thể sẽ về với cát bụi, chỉ những gì ta đã làm sẽ còn với bạn bè, mọi người, gia đình, thiên nhiên và vũ trụ.

Vinh mất trong chuyến đi thiện nguyện xây trường cho trẻ em Sơn La ở tuổi 32, vì bệnh tim.

Hơn 2.000 người đã đến viếng em.

Tôi vẫn “thấy” Vinh ở khắp nơi, trong những thanh niên đến với những bản làng xa xôi để thực hiện những chương trình từ thiện với mong muốn giảm bớt sự thiếu thốn, nghèo khổ của bà con.

Tôi “thấy” Vinh trong hình dáng các y bác sĩ ngày đêm căng mình trên tuyến đầu chống dịch để đem lại sự sống cho bao người.

Những người tận hiến cho đời như Vinh giúp tôi thấm thía lời nói của cố Hòa thượng Thích Phổ Tuệ:

“Sống được bao nhiêu năm không phải thước đo giá trị của đời người.

Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho đời, cho đạo”.

Thước đo của đời người không phải thời gian sống mà là sự cống hiến.

Dâng tặng cho mọi người trí tuệ và tình yêu thương, đưa ra sáng kiến, phát minh, phát triển khoa học, giáo dục, tạo ra năng suất và sản phẩm, nếu bạn có năng lực.

Và nếu không có gì để cho đi thì bạn vẫn còn có sự chân thành, trung thực, ân cần, thiện chí, nụ cười hay lời nói tử tế để làm ai đó cảm thấy tốt hơn.

Bởi, thế giới này luôn không đủ.

(sưu tầm)


 

Jim Caviezel vào vai Chúa Giê-su trong phim “Sự Khổ Nạn của Chúa Kitô,”

Tony Nguyễn

Khi Mel Gibson lần đầu tiên đề nghị Jim Caviezel vào vai Chúa Giê-su trong phim “Sự Khổ Nạn của Chúa Kitô,” ông đã hoàn toàn thẳng thắn với anh.

“Anh cần hiểu điều này,” Gibson nói với anh. “Bộ phim này sẽ vô cùng khó khăn. Nó thậm chí có thể khiến anh mất đi sự nghiệp ở Hollywood.”

Vai diễn này rất quyền lực, nhưng cũng gây tranh cãi và đầy rủi ro. Caviezel xin một ngày để suy nghĩ.

Khi trở lại, câu trả lời của anh rất đơn giản.

“Tôi tin rằng chúng ta phải làm điều đó – ngay cả khi nó sẽ khó khăn.”

Rồi anh ấy nói thêm điều mà anh vừa nhận ra.

“Tên viết tắt của tôi là J.C… và tôi 33 tuổi.”

Mel Gibson nhìn anh và đáp lại, nửa đùa nửa thật nhưng rõ ràng là bị ấn tượng bởi sự trùng hợp:

“Anh bắt đầu làm tôi sợ đấy.”

Việc quay phim hóa ra lại căng thẳng đúng như Gibson đã cảnh báo.

Để vào vai Chúa Giê-su, Jim Caviezel đã giảm khoảng 20 kg. Trong một cảnh quay, anh vô tình bị roi quất hai lần, để lại một vết sẹo dài hơn 9 cm trên lưng. Trong lúc vác thập tự giá khi quay phim, anh ấy bị trật khớp vai. Việc phải đứng gần như khỏa thân trên thập tự giá trong nhiều giờ liền giữa thời tiết giá rét đã dẫn đến viêm phổi và hạ thân nhiệt.

Có lúc trong quá trình sản xuất, anh ấy thậm chí còn bị sét đánh.

Chỉ riêng cảnh đóng đinh trên thập tự giá đã cần đến năm tuần để quay trong tổng thời gian sản xuất hai tháng của bộ phim.

Mặc dù phải chịu đựng nhiều về thể chất, Caviezel sau đó đã giải thích điều gì đã thúc đẩy anh ấy nhất.

“Tôi không muốn mọi người nhìn thấy tôi. Tôi muốn họ nhìn thấy Chúa Giê-su. Và thông qua đó, nhiều người sẽ tìm thấy đức tin.”

Đối với nhiều thành viên trong đoàn làm phim, trải nghiệm này đã để lại ấn tượng sâu sắc.

Pedro Sarubbi, diễn viên đóng vai Barabbas, nhớ lại một khoảnh khắc khi Caviezel nhìn thẳng vào mắt anh trong một cảnh quay. Anh nói rằng cảm giác không giống như đang nhìn một diễn viên khác, mà là nhìn thấy một điều gì đó vĩ đại hơn nhiều. Trong ánh mắt của Caviezel, anh nói, không có sự giận dữ hay oán hận — chỉ có lòng thương xót và tình yêu thương.

Luca Lionello, người đóng vai Judas, bắt đầu quay phim với tư cách là một người vô thần. Sau trải nghiệm này, cuộc đời anh đã thay đổi đáng kể. Theo thời gian, ông đã đón nhận Kitô giáo, công khai nói về sự cải đạo của mình và cho con cái được rửa tội.

Một số thành viên đoàn làm phim sau đó chia sẻ rằng việc làm phim đã ảnh hưởng sâu sắc đến họ, thậm chí cả về mặt tâm linh.

Bản thân bộ phim đã trở thành một hiện tượng độc đáo trong điện ảnh.

Mel Gibson quyết định tự mình tài trợ cho bộ phim, đầu tư khoảng 30 triệu đô la sau khi một số hãng phim từ chối hỗ trợ dự án. Đó là một rủi ro lớn.

Nhưng bộ phim đã vượt quá mọi kỳ vọng.

Nó thu về khoảng 370 triệu đô la ở Hoa Kỳ và hơn 600 triệu đô la trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, nhiều người tin rằng tác động thực sự của bộ phim không phải là về mặt tài chính.

Mà là về mặt tâm linh.

Đối với hàng triệu khán giả trên khắp thế giới, “Sự khổ nạn của Chúa Kitô” đã thu hút sự chú ý trở lại đối với câu chuyện về sự hy sinh của Chúa Kitô.

Trong những năm qua, Jim Caviezel vẫn tiếp tục nói chuyện cởi mở về đức tin của mình và về ý nghĩa của vai diễn đó trong cuộc đời anh – ngay cả trong một môi trường như Hollywood, nơi điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Đối với anh, bộ phim chưa bao giờ chỉ là một công việc khác.

Nó là một lời chứng.


 

đến một lúc nào đó, vai trò đổi chỗ- Tg văn chương

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

 Bức ảnh này nhắc ta về một vòng quay rất sâu trong đời người: đến một lúc nào đó, vai trò đổi chỗ.

Những người từng bế ta trên tay, giờ cần ta đỡ từng bước.

Nếu phải cho bạn một lời khuyên, thì là thế này: đừng xem giai đoạn ấy như một gánh nặng.

Hãy xem đó là cơ hội lớn nhất để nói lời cảm ơn — bằng hành động.

Kiên nhẫn như một cách trả ơn… Sẽ có ngày cha mẹ hỏi lại những điều rất đơn giản.

Kể lại một câu chuyện bạn đã nghe hàng chục lần.

Có khi quên trước, quên sau.

Những lúc ấy, hãy nhớ:đã từng có thời bạn không tự ăn được, không tự đi được, không tự hiểu được thế giới này.

Và họ đã kiên nhẫn với bạn — từng chút một.

Giờ đây, họ cần sự kiên nhẫn ấy từ bạn.

Lắng nghe bằng sự dịu dàng không chỉ là cho họ —

mà còn là cách bạn gìn giữ chính câu chuyện đời mình.

Giữ phẩm giá trong việc chăm sóc…

Chăm sóc cha mẹ không phải để người khác khen bạn là “đứa con tốt”.

Người ta bận rộn với cuộc sống của họ, hiếm ai nhìn kỹ những hy sinh thầm lặng của bạn.

Điều quan trọng là bạn hành xử đúng với giá trị của mình.

Ngay cả khi mệt.

Ngay cả khi lặp lại.

Ngay cả khi không ai chứng kiến.

Phẩm giá không phải thứ ta đòi hỏi ở người khác.

Đó là thứ ta giữ được khi vẫn làm điều đúng, dù hoàn cảnh có khiến ta nản lòng.

Một sự tôn trọng vượt lên mọi điều…

Hãy thành thật với cảm xúc của mình.

Hãy thể hiện tình thương khi còn có thể.

Đừng để cái tôi hay nhịp sống vội vàng của thế giới làm bạn đánh mất cơ hội trở thành nơi nương tựa — như họ đã từng là nơi nương tựa cho bạn.

Bởi đến cuối cùng, điều quý giá nhất không phải là bạn đã thành công bao nhiêu, mà là khi nhìn lại, bạn có thể nói với lòng mình:

“Mình đã ở đó khi họ cần.”

Tg văn chương


 

CSVN chi tiền cho cán bộ ‘nghỉ hưu trước tuổi’ để sáp nhập tỉnh, giờ ‘đánh tiếng’ thu hồi

Ba’o Nguoi-Viet

March 9, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Cựu cán bộ, công chức, viên chức sẽ bị thu hồi tiền bồi thường “nghỉ hưu trước tuổi” nếu bị cáo buộc “tinh giản biên chế,” nhất là thời điểm sáp nhập tỉnh thành ở Việt Nam “không đúng quy định.”

Theo báo Người Lao Động tối 8 Tháng Ba, trong trường hợp việc “tinh giản biên chế” được xác định là “không đúng quy định,” cơ quan hữu trách sẽ tiến hành “thu hồi các khoản kinh phí đã chi trả sai để nộp lại ngân sách nhà nước.”

Các cựu cán bộ, công chức đã nhận tiền “nghỉ hưu trước tuổi” sắp bị thu hồi lại số tiền đã nhận nếu bị cáo buộc “sai quy định pháp luật.” (Hình: Mai Chi/Người Lao Động)

 Cụ thể, người đứng đầu cơ quan phải “lập tức thông báo” cho cơ quan bảo hiểm xã hội để dừng chi trả lương hưu và các chế độ liên quan, đồng thời trực tiếp thu hồi các khoản tiền chính sách “đã cấp sai” và hoàn trả các chi phí phát sinh như tiền lương hưu hay thẻ bảo hiểm y tế cho quỹ bảo hiểm. Song song đó, tiến hành xem xét kỷ luật các cá nhân liên quan và chịu trách nhiệm pháp lý đối với sai phạm của đơn vị mình.

Ngoài ra, về mặt nhân sự, những cán bộ đã “nghỉ hưu trước tuổi,” nêu trên sẽ được bố trí cho trở lại làm việc.

Trước đó, vào năm 2025, trong công cuộc “tinh gọn bộ máy” khi sáp nhập tỉnh thành ở Việt Nam do ông Tô Lâm, tổng bí thư CSVN, khởi xướng, theo thống kê chưa đầy đủ, chính quyền CSVN đã dự tính chi 170,000 tỷ đồng (gần $6.47 tỷ) nhằm giải quyết chế độ cho hơn 100,000 người bị ảnh hưởng.

Giới lãnh đạo chính quyền CSVN giải thích, phải “sắp xếp lại giang sơn” (thu nhỏ bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, sáp nhập các đơn vị hành chính) vì “cần tiết kiệm chi tiêu cho hệ thống công quyền, dồn nội lực phát triển kinh tế-xã hội.”

Theo các số liệu đã được công bố, có hơn 43,000 cán bộ, công chức trong hệ thống công quyền đã  được lãnh tiền chế độ theo “Nghị Định 178” và “Nghị Định 154” khi bị xếp vào loại “dôi dư” hoặc tự nguyện rút lui.

Mỗi người trong số hơn 43,000 người nêu trên được nhận hai khoản tiền. Một là trợ cấp cơ bản (ba tháng lương hiện hưởng), hai là trợ cấp thâm niên (tích của một tháng rưỡi lương hiện hưởng nhân với tổng số năm làm việc). Nếu tự nguyện rút lui trong vòng mười năm trước khi chạm ngưỡng nghỉ hưu, đương sự vừa được nhận lương hưu ngay lập tức, vừa được nhận ba khoản trợ cấp cùng một lúc là trợ cấp nghỉ sớm (tích của lương hiện hưởng/tháng nhân với tổng số tháng nghỉ sớm), bù lỗ số năm nghỉ sớm (tích của lương hiện hưởng/tháng nhân 2, 3, 4, hoặc năm lần, phụ thuộc vào việc nghỉ sớm bao nhiêu năm) và trợ cấp thâm niên (tích của năm tháng lương hiện hưởng/tháng cho 20 năm đầu, từ năm thứ 21 trở đi, mỗi năm được cho thêm nửa tháng thu nhập thực tế).

Ông Tô Lâm, tổng bí thư CSVN, kiểm tra hoạt động chính quyền địa phương hai cấp tại xã Phúc Thịnh, Hà Nội, hồi Tháng Bảy, 2025, sau khi ra lệnh sáp nhập lại tỉnh thành ở Việt Nam. (Hình: Hà Nội Mới)

Với chính sách như trên, hơn 25,000/43,000 thành viên trong hệ thống công quyền “dôi dư” hoặc tự nguyện nghỉ hưu, mỗi người nhận được hàng tỷ đồng trợ cấp được rút ra từ công quỹ.

Điều đáng nói là trước đó, nhiều người dân đã bày tỏ sự phản đối với chính sách nêu trên và không ít người đã bị khởi tố hay phạt tiền do bị cáo buộc “chống đối.”

Phản ảnh trên mạng xã hội về sự việc trên, danh khoản “Phạm Tuân” nhắc lại: “Dân góp ý thành chống phá, nhờ sai thiệt hại ai gánh chịu?”

Trong khi đó, danh khoản “Tri Huynh Minh” ngao ngán: “Sáng đúng chiều sai, trưa mai lại đúng.” (Tr.N)


 

SUY NIỆM VỀ CÁI CHẾT-Elisabeth Nguyễn

Elisabeth Nguyễn

Hãy nhớ rằng, cái chết không trì hoãn đâu và ngày hẹn của âm phủ, con nào có biết Hc 14,12)

 Không ai trong chúng ta biết được ngày chết và cái chết của mình như thế nào. Mỗi ngày sống của chúng ta là mỗi ngày đi dần đến cái chết, nhưng phần đông không ai nghĩ đến chúng cả.

 Con đừng sợ án chết. Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con, và sẽ có những người theo sau (Hc 41 3).

Sự chết dạy chúng ta sống như thế nào?

Trong đời sống, chúng ta nên thỉnh thoảng suy niệm về cái chết.

Một nhà tu đức khi suy niệm về cái chết đã thốt lên “cái chết của người già ở trước mặt, cái chết của người trẻ ở sau lưng

Niềm tin Kitô giáo giúp chúng ta tránh đam mê những hạnh phúc giả tạo ở đời này và thúc đẩy chúng ta hãy can đảm chịu đựng những đau khổ để kết hợp đau khổ với Đấng Kitô, và biết đến ích lợi của cuộc đời, phải đi qua đau khổ để vào vinh quang với Ngài.

Nếu có lúc con đau khổ xao xuyến, xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu, Chúa đã buồn muốn chết được. Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây con, xin nhắc con nhớ rằng: Trên Thập Giá, Chúa đã thốt lên: sao Cha bỏ con (Lời nguyện. Rabouni)

Suy nghĩ về cái chết không có nghĩa chúng ta phải buồn rầu, sợ hãi, hoặc ngã lòng.

Trái lại, khi suy niệm về cái chết, chúng ta sẽ sống một cách hiểu biết hơn về cuộc đời và từ bi nhân ái hơn, vì đó chính là luật của Tạo Hóa.

Như cành lá trên cây rậm rạp; lá rụng xuống lá lại mọc ra, thì các thế hệ người phàm cũng vậy: lớp kết thúc, lớp lại sinh ra (Huấn ca 14,18)

Mỗi khi gặp chuyện bực mình khó chịu mà gây gỗ, cãi nhau hay nóng giận với người khác thì được ích lợi gì?

Đau khổ, bệnh nạn thì nghĩ rằng đời sống rất ngắn, ai cũng sẽ chết. Đó là điều Đức Chúa quyết định cho hết mọi người phàm. Tại sao cưỡng lại điều Đấng Tối Cao đã muốn?

Dù người ta sống được mười năm, trăm năm, hay cả ngàn đi nữa, thì trong âm phủ, chẳng ai trách móc đâu (Hc 41, 4).

Vậy lo lắng, buồn rầu hoàn toàn không được gì mà sinh ra bất an trong tâm hồn.

Là Kitô hữu, hằng ngày cầu nguyện với Lời Chúa, giúp ta biết suy nghĩ sâu xa về sự sống, sự chết theo lời dạy của Chúa và Giáo Hội.

Hãy phó thác và tin tưởng trong tay Ngài. Tất cả đều là hồng ân Ngài ban.

Hãy thinh lặng lắng nghe tiếng nội tâm, để Chúa Thánh Thần hướng dẫn ta ý thức và tự kiểm soát lấy mình, không để những suy nghĩ lệch lạc lôi cuốn, ta sẽ cư xử với mọi người hòa ái hơn.

Điều này luôn luôn không phải dễ làm, nhưng khi ta cầu nguyện, suy niệm về cái chết, Chúa sẽ nhắc nhở mình về sự mong manh và ngắn ngủi của cuộc đời, ta sẽ tự chế và ăn nói với sự dịu dàng hơn, sẽ biết sống đẹp lòng Chúa hơn.

Chúng ta biết khi chết là lúc chúng ta về với Chúa và sẽ được sống lại với Ngài trong vinh quang thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhân cái chết hơn.

Cái chết luôn bình đẳng cho tất cả mọi người, cho nên ta hãy chọn cách tốt nhất là sống theo Lời Chúa dạy, sống tỉnh thức, sống ý thức, sống yêu thương từng giây phút với hết sức lực, hết trí khôn của mình.

Hơn nữa, dù có lo hay không lo, tất cả chúng ta đều sẽ già và chết. Ta sẽ nhẫn nại hơn, sẽ bao dung hơn, tử tế hơn , dịu dàng hơn, dẽ dàng tha thứ hơn đối với bản thân ta và đối với người khác.

Cuộc đời thật sự hạnh phúc và có ý nghĩa hơn. Lòng thương yêu từ con tim nhân ái sẽ đâm chồi nở hoa, và khi cái chết đến chúng ta sẽ không có gì ân hận.

Lạy Chúa, xin Chúa cho con được chết một cách an bình, đừng đau đớn lâu ngày, nhưng Chúa cho con chết như thế nào tùy ý Chúa. Amen.

Elisabeth Nguyễn

From:   Ngoc Bich  & KimBang Nguyen


 

NGÀI KHÁT – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Cho tôi xin chút nước!”.

“Ngài bắt đầu bằng cơn khát để khơi dậy khát khao; Ngài xin điều chính Ngài sẽ ban!” – Gioan Kim Khẩu.

Kính thưa Anh Chị em,

Bối cảnh Tin Mừng hôm nay là giữa trưa của một ngày chói chang – giờ thứ sáu. Bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu Kitô ngỏ lời xin chút nước với một phụ nữ ngoại giáo. Một lời xin rất người; nhưng từ cơn khát ấy, Ngài khơi dậy cơn khát nơi lòng người, xin chính điều Ngài sẽ ban. Một mầu nhiệm sâu xa dần lộ ra – ‘Ngài khát!’.

Người phụ nữ ấy đến giếng giữa trưa, có lẽ để tránh ánh mắt và lời xì xào của làng xóm. Nhưng chính lúc cô muốn ẩn mình, Đấng ngồi bên giếng lại mở lời và bắt đầu mở ra một cuộc gặp gỡ. Điều lạ không phải là người phụ nữ cần nước, khát nước, mà là Thiên Chúa khát con người. Đấng ban nước hằng sống lại bắt đầu bằng một cơn khát. Ngài xin một ngụm nước, nhưng thật ra đang mở một nguồn nước; Ngài chạm đến nỗi khát sâu hơn trong lòng con người: khát được nhìn nhận, khát được tha thứ, khát được sống lại từ những đổ vỡ của đời mình. “Cơn khát thể lý của Ngài bày tỏ cơn khát thần linh: Thiên Chúa khát linh hồn con người!” – Augustinô.

Rồi từng lớp đời của người phụ nữ được mở ra, không phải để kết án nhưng để được chữa lành. Khi sự thật được đặt dưới ánh sáng, điều kỳ lạ xảy ra: cô không còn chạy trốn; cô để lại vò nước, chạy vào thành và nói với mọi người “Đến mà xem!”. Một chuyển động rất lạ – từ người đi lấy nước, cô trở thành người mang nước cho người khác. Cô đến trong cô đơn, nhưng trở về với một sứ mạng. Một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô đã đổi hướng cả cuộc đời. Cô bỏ lại chiếc vò, trở thành “người môn đệ thừa sai” – vì đã gặp chính Nguồn.

Hôm nay, không chỉ nghe câu chuyện của một phụ nữ, chúng ta còn nghe câu chuyện của đời mình. Mỗi người đều mang trong lòng một cơn khát: khát ý nghĩa, khát được yêu, khát vĩnh cửu, khát một nguồn nước không cạn. Và từ nơi sâu thẳm ấy, một lời vẫn đang vang lên: ‘Ngài khát!’ – khát gặp chúng ta, khát ở lại trong chúng ta, khát dẫn chúng ta đến nguồn nước hằng sống – chính Ngài. “Bên trong mỗi người luôn tồn tại một lỗ hổng hình Chúa!” – Blaise Pascal.

Anh Chị em,

“Cho tôi xin chút nước!” – đó không chỉ là cơn khát của một thân xác dưới nắng trưa. Cơn khát ấy đã vang lên mãi, và sẽ vang lên lần nữa vào giờ thứ sáu của Tuần Thánh, khi Con Thiên Chúa bị treo trên thập giá; Ngài sẽ thốt lên: “Ta khát!”. Khi ấy, giếng đã trở thành cây thập giá, và từ cạnh sườn bị đâm thâu, nước hằng sống tuôn trào cho thế gian. Từ cơn khát của Ngài, sự sống mới cho nhân loại được mở ra. Vì thế, Tin Mừng hôm nay mời chúng ta dừng lại, thôi chạy theo những cơn khát chóng qua của đời mình, để bắt đầu khát chính Đấng đang khát chúng ta! Và câu hỏi cuối cùng còn lại cho mỗi người là: Ngài khát chúng ta; còn chúng ta, chúng ta khát ai? “Ta khát phần rỗi các linh hồn!” – Faustina.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con hiểu được cơn khát của Ngài; để con thôi chạy theo những cơn khát của đời; và bắt đầu khát Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

******************************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT III MÙA CHAY, NĂM A

Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 4, 5-42

5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 16 Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo : “Chị nói : ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” 19 Người phụ nữ nói với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ … 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”

27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?” 28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.

31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.” 32 Người nói với các ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” 33 Các môn đệ mới hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?” 34 Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ “kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”

39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”


 

 Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn…

Tina Nguyen

 Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn. Nhịp sống dễ thở hơn. Không phải cày hai ba việc như ở Mỹ. Không phải cuối tuần lo nấu ăn cho cả tuần. Không phải tự mình gánh hết mọi chi phí, từ bảo hiểm đến thuế má.

Nếu tin rằng ở Việt Nam “sướng hơn” như vậy, thì tại sao mỗi lần nhắc đến “Việt kiều Mỹ” lại mặc định đó là người phải giàu, phải rộng rãi, phải chi trả?

Việt kiều, về bản chất, chỉ là người Việt sống và làm việc ở nước ngoài. Việt kiều Mỹ, Việt kiều Lào, Việt kiều Campuchia, Việt kiều Trung Quốc… đều là Việt kiều. Nhưng rất lạ, dường như chỉ có “Việt kiều Mỹ” mới bị đặt vào một khung kỳ vọng tài chính cao hơn.

Cũng là rời quê hương.

Cũng là sống xa gia đình.

Cũng là tự bươn chải nơi đất khách.

Vậy tại sao danh xưng giống nhau nhưng mức độ “phải cho” lại khác nhau?

Có phải vì hai chữ “Mỹ” gợi lên hình ảnh giàu có, nên tự động nâng chuẩn đòi hỏi? Và nếu vậy, đó là suy nghĩ dựa trên thực tế, hay dựa trên tưởng tượng?

Sự thật là, sống ở Mỹ không đồng nghĩa với giàu có. Ở đó, thu nhập đi kèm với chi phí rất cao. Tiền nhà, tiền xe, bảo hiểm, thuế, sinh hoạt, tất cả đều tính bằng đô và đều phải trả đúng hạn. Không ai được miễn trừ vì mình là người nhập cư.

Việt kiều Mỹ cũng đi làm thuê, cũng lao động như bao người. Có người làm hãng, có người làm nail, có người làm nhà hàng, có người làm kỹ thuật. Họ có thể kiếm được nhiều hơn mức trung bình ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng phải chi trả nhiều hơn rất nhiều.

Quan trọng hơn, họ đánh đổi bằng khoảng cách.

Khoảng cách với gia đình.

Khoảng cách với ngôn ngữ quen thuộc.

Khoảng cách với những mối quan hệ tự nhiên và ấm áp ở quê nhà.

Trong khi đó, người ở trong nước, dù thu nhập thế nào, vẫn có lợi thế về sự gần gũi, về mạng lưới tình thân, về chỗ dựa tinh thần.

Vậy thì việc mặc định rằng “Việt kiều Mỹ phải sộp hơn” thực chất dựa trên cơ sở nào? Chỉ vì đồng tiền họ kiếm được mang mệnh giá khác?

Nếu thật sự tin rằng sống ở Việt Nam thoải mái và nhẹ nhàng hơn, thì logic sẽ là: mỗi người chọn môi trường phù hợp với mình và tự chịu trách nhiệm cho lựa chọn đó. Không có lý do gì để xem người ở xa là nguồn lực tài chính đương nhiên.

Việt kiều gửi tiền về là tình cảm, không phải nghĩa vụ.

Không gửi cũng không phải sai.

Một xã hội văn minh không đo giá trị con người bằng quốc gia họ đang sống, càng không đo bằng số tiền họ có thể cho.

Danh xưng “Việt kiều” không nên trở thành một mức thuế cảm xúc.

Ai cũng phải lao động để có thu nhập. Ai cũng đánh đổi một phần cuộc sống của mình cho sự lựa chọn đó. Sự khác biệt chỉ là họ đang sống ở đâu, không phải họ có trách nhiệm gánh thêm kỳ vọng cho người khác.

Tôn trọng lựa chọn của nhau, và tôn trọng giá trị lao động của nhau, có lẽ là cách ứng xử hợp lý nhất


 

ÂM THẦM CHIẾM VƯỜN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa!”.

“Chủ nghĩa giáo sĩ trị dẫn đến việc hiểu thừa tác vụ như một chức năng quyền lực!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Cảnh báo của Đức Phanxicô soi sáng dụ ngôn Tin Mừng hôm nay và đặt ra một câu hỏi: trong vườn nho của Chúa, chúng ta đang phục vụ Ngài hay đang ‘âm thầm chiếm vườn?’.

Sống lâu trong vườn nho được trao, các tá điền quên rằng vườn nho có Chủ; từ người làm thuê, họ dần dần cư xử như ông chủ. Khi người của Chủ đến thu hoa lợi, họ coi đó là sự xâm phạm. Câu chuyện kết thúc trong bạo lực: các đầy tớ bị đánh đập, người con bị giết. Nhưng bi kịch không bắt đầu bằng bạo lực; nó bắt đầu bằng một ý nghĩ rất âm thầm: vườn nho này có thể là của chúng ta. Thế mà “Giáo Hội không phải của chúng ta, nhưng của Chúa Kitô!” – Bênêđictô XVI.

Cũng thế, chúng ta có thể rơi vào cám dỗ ấy. Khi phục vụ lâu năm, quen với vai trò và sự tín nhiệm, chúng ta dễ coi điều được trao phó như của mình. Khi đó, dẫu vẫn làm mọi sự, chúng ta tìm vinh quang cho mình mà không còn tìm vinh quang Chúa. Thế là, rất âm thầm, chúng ta bắt đầu ‘chiếm vườn’. “Thẩm quyền thực sự là để quên mình phục vụ, không phải để bóc lột người khác!” – Phanxicô.

Việc “chiếm vườn” hiếm khi bắt đầu bằng những quyết định lớn; nó khởi đi từ những điều rất nhỏ: khi chúng ta thích được khen hơn là trung thành; giữ ảnh hưởng hơn là phục vụ; bảo vệ vị trí hơn là bảo vệ sự thật. Khi đó, vườn nho của Chúa dần dần trở thành khu vườn của chúng ta. Vì thế Chúa Giêsu đã rất nghiêm khắc: “Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi!”. Không phải vì Thiên Chúa bất công, nhưng vì vườn nho không thể sinh hoa trái khi tá điền quên mất Chủ; nơi nào con người tìm mình, nơi đó Nước Trời bắt đầu cằn cỗi.

Thế nhưng, lịch sử cứu độ cho thấy: khi con người toan tính chiếm đoạt, Thiên Chúa vẫn âm thầm thực hiện kế hoạch của Ngài. Các anh của Giuse đã bán em sang Ai Cập, tưởng rằng họ đã dập tắt một giấc mơ – bài đọc một. Nhưng chính con đường ấy lại trở thành lối Thiên Chúa dùng để cứu cả dòng họ Giacóp khỏi nạn đói. Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Hãy nhớ lại những kỳ công Chúa thực hiện!”.

Anh Chị em,

Chúa Kitô là Người Con bị giết ngoài vườn nho. Ngài không đến để chiếm đoạt, nhưng để trao ban; không giữ vườn nho cho mình, nhưng trao mạng sống để vườn sinh hoa trái. Trên thập giá, Ngài bày tỏ một logic khác: ai giữ mình sẽ mất; ai dám quên mình sẽ làm cho vườn nho sinh hoa trái. Vì thế, điều quan trọng không phải là làm bao nhiêu, nhưng là làm cho ai. Nếu phục vụ để Thiên Chúa được biết và được yêu hơn, vườn nho vẫn là của Ngài; còn nếu phục vụ để mình được thấy và được nhắc đến, rất có thể chúng ta đang ‘âm thầm chiếm vườn’. “Cám dỗ quyền lực mạnh nhất khi sự thân mật với Thiên Chúa yếu nhất!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ con khỏi trở thành kẻ cắp; dạy con nhớ rằng con chỉ là tá điền được Chúa yêu thương. Vườn nho là của Chúa, không phải của con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Mùa Chay

Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 21,33-43.45-46

33 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các thượng tế và kỳ mục trong dân rằng : “Các ông hãy nghe dụ ngôn sau đây : Có chủ nhà kia trồng được một vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông : chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước ; nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng : ‘Chúng sẽ nể con ta.’ 38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau : ‘Đứa thừa tự đây rồi ! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó !’ 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, tống ra khỏi vườn nho và giết đi. 40 Vậy khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?” 41 Họ đáp : “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” 42 Đức Giê-su bảo họ : “Kinh Thánh có câu : ‘Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.’ Các ông chưa bao giờ đọc câu này sao ?

43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.”

45 Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. 46 Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ. 


 

ĐỪNG TUNG TIN VU KHỐNG NGƯỜI KHÁC- Anmai CSsR

Anmai CSsR

 Trong dòng chảy cuồn cuộn của xã hội hiện đại, nơi thông tin có thể đi vòng quanh thế giới chỉ sau một cú nhấp chuột, chúng ta thường quên mất sức nặng khủng khiếp của những lời mình thốt ra. Lời nói, vốn là món quà quý giá mà tạo hóa ban tặng để con người thấu hiểu và yêu thương nhau, trớ trêu thay, lại thường bị biến thành thứ vũ khí tàn độc nhất để hủy hoại đồng loại. Việc tung tin đồn và vu khống người khác không chỉ là một hành vi thiếu văn hóa, mà đó còn là một tội ác âm thầm, gieo rắc những nỗi đau không thể chữa lành và phá hủy những cấu trúc nền tảng nhất của xã hội. Những người tham gia vào việc lan truyền tin đồn thường gây ra những tai hại kinh khủng hơn rất nhiều so với những gì họ có thể tưởng tượng được trong trí óc hạn hẹp của mình. Ngay cả khi động cơ của họ không xuất phát từ sự ác ý lộ liễu hay lòng kiêu ngạo ngút trời, thì sự vô trách nhiệm trong lời nói vẫn đủ sức tạo ra những cơn địa chấn làm sụp đổ danh dự của một con người.

Nguồn cơn của sự nói xấu thường bắt rễ sâu xa từ lòng kiêu ngạo – một căn bệnh của linh hồn khiến con người luôn khao khát được đứng cao hơn kẻ khác. Có một nghịch lý đau đớn là rất nhiều người tin rằng, bằng cách hạ thấp giá trị của người bên cạnh, họ sẽ tự nhiên nâng cao giá trị của chính mình. Họ biến cuộc đời thành một bàn cân lệch lạc, nơi mà họ cố gắng chất đầy những lời chỉ trích, chê bai lên đĩa cân của người khác để làm cho đĩa cân của bản thân mình trông có vẻ nhẹ nhàng và thanh thoát hơn. Những kẻ kiêu ngạo này luôn muốn tận dụng tối đa những phẩm chất tốt đẹp mà họ tự cho là mình sở hữu, tự phong mình thành những quan tòa đạo đức, đứng trên bục cao để phán xét thế gian. Trong thế giới quan hạn hẹp của họ, mọi điều họ nói hay làm đều được mặc định là tốt lành, thánh thiện, còn mọi hành động của người khác đều bị soi xét dưới lăng kính sai trái và tội lỗi. Họ không nhận ra rằng, vẻ đẹp thực sự của một tâm hồn không bao giờ được xây dựng trên đống tro tàn của danh dự người khác.

Tuy nhiên, không phải lúc nào những lời vu khống cũng đến từ sự thù hằn chủ đích. Thực tế cho thấy, phần lớn những cuộc trò chuyện ác ý lại được thực hiện bởi những người vô trách nhiệm – những kẻ chỉ đơn giản là muốn nói cho thỏa miệng mà không bao giờ cảm thấy cần phải kiểm chứng xem điều mình đang nói là đúng hay sai. Đối với họ, sự thật là một thứ gì đó quá xa xỉ và phiền phức, trong khi sự tò mò và thói ngồi lê đôi mách lại mang đến một cảm giác hưng phấn nhất thời. Họ coi việc bàn tán về đời tư của người khác như một hình thức giải trí rẻ tiền, một cách để lấp đầy khoảng trống của sự rỗi hơi. Mặc dù chúng ta có thể nói rằng những người này phạm tội nhẹ hơn những kẻ vu khống vì lòng ghen ghét hay trả thù, nhưng về mặt hệ quả, họ vẫn không thể thoát khỏi tội lỗi và trách nhiệm đạo đức. Dù động cơ là gì, dù là vô tình hay hữu ý, việc làm ô danh người lân cận vẫn là một hành động đi ngược lại với lương tâm và đạo lý làm người.

Sâu thẳm trong bản chất, tội lan truyền tin đồn bao hàm tất cả những gì xấu xa và ác độc nhất mà một con người có thể thực hiện đối với đồng loại. Nó không đơn thuần là một vài lời nói gió bay, mà là một sự tổng hòa của những chất độc tinh thần mạnh nhất. Đó là sự hèn hạ của tính phù phiếm, khi con người sẵn sàng bán rẻ sự thật để đổi lấy một vài giây phút được là trung tâm của sự chú ý. Đó là nọc độc của sự ghen tị, thứ axit ăn mòn mọi thiện chí và biến những thành công của người khác thành nỗi đau của chính mình. Đó là sự cay đắng của giận dữ và thù hận ác ý, vốn luôn tìm cách phun ra những lời lẽ sắc lẹm để đâm thấu tâm can đối phương. Hơn hết, nó thể hiện một tính võ đoán và vô trách nhiệm đến mức kinh ngạc, một trạng thái tâm linh nghèo nàn không xứng đáng với phẩm giá của một con người, nhất là với những ai tự nhận mình sống theo niềm tin tôn giáo hay các giá trị đạo đức cao đẹp.

Hãy nhìn vào những gì mà tin đồn đã gây ra cho các mối quan hệ nhân sinh quanh ta. Chẳng phải việc lan truyền tin đồn chính là hạt giống xấu xí đã gieo rắc hầu hết mọi mâu thuẫn và bất hòa trong xã hội này sao? Nó có sức mạnh kinh hồn để phá vỡ những tình bạn gắn bó hàng thập kỷ chỉ trong một buổi chiều. Nó dựng lên những bức tường ngăn cách, cản trở những kẻ đang thù nghịch tìm thấy con đường hòa giải và tha thứ. Khi một lời nói xấu được tung ra, nó giống như một lọ mực đen đổ vào chậu nước trong, làm vẩn đục mọi nỗ lực kết nối giữa người với người. Những cuộc cãi vã trở nên gay gắt hơn, những vết thương lòng trở nên sâu hoắm hơn, và cơ hội để thấu hiểu nhau dần tan biến vào hư không.

Nghiêm trọng hơn, độc tố của tin đồn còn len lỏi vào tận cùng của những tế bào nhỏ nhất của xã hội: đó chính là gia đình. Biết bao gia đình vốn dĩ đang sống trong cảnh ấm êm, hòa thuận, bỗng chốc bị một cái lưỡi độc ác làm cho đảo lộn hoàn toàn. Tin đồn làm xáo trộn sự yên bình vốn có, khiến anh em ruột thịt quay lưng lại với nhau, khiến tình chồng vợ rạn nứt vì những nghi ngờ không đáng có. Nó đẩy con dâu vào thế đối đầu với mẹ chồng, khiến con rể và bố vợ không thể tìm thấy tiếng nói chung. Chỉ vì một lời nói thiếu căn cứ, một sự thêu dệt ác ý từ một người hàng xóm – dù là đàn ông hay đàn bà – mà cả một tổ ấm có thể rơi vào bi kịch. Những người thân yêu nhất bỗng chốc nhìn nhau bằng ánh mắt dè chừng, thậm chí không đành lòng nhìn mặt và nói chuyện với nhau. Nỗi đau ấy âm ỉ và dai dẳng, để lại những vết sẹo không bao giờ lành trong tâm khảm mỗi thành viên.

Chúng ta cần phải tỉnh ngộ trước sức tàn phá của “giặc lưỡi”. Một lời vu khống khi đã phát ra thì không bao giờ có thể thu hồi trọn vẹn được. Nó giống như việc tung những chiếc lông chim trước gió, dù bạn có hối hận và cố gắng đi nhặt lại bao nhiêu đi chăng nữa, thì những chiếc lông ấy đã bay đi khắp nơi và không bao giờ trở về đầy đủ. Danh dự của một con người là thứ tài sản quý giá nhất, một khi đã bị vấy bẩn bởi tin đồn ác ý, việc gột rửa nó cần rất nhiều thời gian và đôi khi là cả một đời cũng không đủ. Do đó, trước khi định nói về một ai đó, hãy tự hỏi bản thân: “Điều này có đúng không? Điều này có tử tế không? Và điều này có thực sự cần thiết không?”. Nếu lời nói không mang lại sự xây dựng hay tình yêu thương, thì tốt nhất là hãy giữ lấy sự im lặng thanh cao.

Hãy nhớ rằng, sự vô trách nhiệm trong ngôn từ chính là một hình thức bạo lực tinh thần. Chúng ta không thể nhân danh sự “thẳng thắn” hay “vui đùa” để dẫm đạp lên cuộc sống của người khác. Mỗi cá nhân có trách nhiệm bảo vệ sự thật và bảo vệ danh dự của đồng loại như bảo vệ chính bản thân mình. Một cộng đồng lành mạnh không phải là nơi không có khuyết điểm, mà là nơi người ta biết bao dung cho nhau và biết im lặng trước những điều có thể gây tổn thương. Đừng để cái lưỡi trở thành công cụ của sự hủy diệt, hãy để nó trở thành nhịp cầu của sự cảm thông. Việc kiềm chế được ham muốn nói xấu người khác không chỉ là biểu hiện của một người có giáo dục, mà còn là minh chứng cho một tâm hồn giàu lòng nhân ái và có trách nhiệm với cuộc đời.

Cuối cùng, chúng ta hãy tự nhắc nhở mình rằng mỗi lời chúng ta thốt ra đều phản chiếu chính tâm hồn chúng ta. Một tâm hồn đầy rẫy những tin đồn và sự vu khống là một tâm hồn đang chịu sự dày vò của những thói hư tật xấu. Ngược lại, một tâm hồn biết trân trọng sự thật và danh dự của người khác là một tâm hồn đang hướng tới sự tự do và bình an đích thực. Đừng để mình trở thành một phần của chuỗi xích gieo rắc khổ đau. Hãy can đảm dừng lại những tin đồn ngay khi chúng vừa chạm đến tai mình, và hãy dùng tiếng nói của mình để bênh vực cho sự thật, cho những người đang bị áp bức bởi sự vu khống. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể cùng nhau xây dựng một thế giới nơi mà lòng tin và sự tôn trọng được đặt lên hàng đầu, nơi mà mỗi gia đình, mỗi tình bạn đều được bảo vệ khỏi nọc độc của những cái lưỡi ác độc.

Lm. Anmai, CSsR