ĐỪNG LÀM BUỒN LÒNG NGƯỜI TRANH ĐẤU VÌ CHÚNG TA

 Manh Dang is with Gia-quoc Nguyen

ĐỪNG LÀM BUỒN LÒNG NGƯỜI TRANH ĐẤU VÌ CHÚNG TA

——-///——-

Đặng Đình Mạnh

Việt Báo, ngày 24/07/2026

Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.

Mỗi nơi tôi đến làm việc đều có cộng đồng người Việt, các tổ chức hoạt động theo mục tiêu, tôn chỉ hướng về quốc nội. Nhờ vậy mà tôi biết rất nhiều người, nhiều tổ chức đang công khai, hoặc âm thầm dấn thân cho mục tiêu dân chủ hóa Việt Nam. Điều khiến tôi chú ý là tuyệt đại đa số những người ấy đều đã có cuộc sống ổn định. Họ có nghề nghiệp, có gia đình, có cơ ngơi và một tương lai khá vững vàng trên đất nước Hoa Kỳ.

Tò mò, tôi hỏi họ “Nếu một ngày Việt Nam thay đổi, các anh chị có trở về quê hương sinh sống không?”. Hỏi nhiều lần và ở nhiều nơi, nhưng hầu như câu trả lời đều chỉ có một: “Không anh!”.

Điều đó không làm tôi ngạc nhiên.

Sau nhiều chục năm định cư, nước Mỹ đã trở thành quê hương thứ hai của họ. Con cái họ sinh ra, lớn lên, học hành và lập nghiệp tại đây. Cuộc sống của họ đã gắn chặt với xã hội Hoa Kỳ. Nếu đặt lên bàn cân giữa điều kiện sống, hệ thống pháp luật, cơ hội phát triển và mức độ bảo đảm phẩm giá con người thì rất ít người có lý do để từ bỏ tất cả để quay về sinh sống tại Việt Nam, cho dù xã hội Việt Nam có thay đổi như thế nào.

Đó chính điều khiến tôi suy nghĩ và trân trọng họ.

Nếu họ không có ý định trở về quê hương, nếu họ không mong đợi lợi ích tại Việt Nam sau khi đất nước chuyển đổi dân chủ hóa thành công, vậy thì điều gì khiến họ vẫn kiên trì dành hàng chục năm trời để tranh đấu?

Họ bỏ tiền túi tổ chức hội họp. Họ dành thời gian vận động chính giới. Họ viết bài, làm truyền thông. Họ xuống đường. Họ tổ chức gây quỹ. Họ hỗ trợ gia đình tù nhân lương tâm. Họ tiếp xúc các tổ chức nhân quyền quốc tế. Họ tham dự các phiên điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ. Họ chịu đựng những cuộc tấn công mạt sát trên mạng, những lời vu khống, thậm chí nhiều người còn bị đe dọa đến thân nhân còn ở trong nước, kể cả mất cơ hội về thăm quê hương, người thân.

Đổi lại, họ nhận được điều gì? Nếu không muốn nói hầu như không có gì cho bản thân.

Nếu nhìn hoàn toàn bằng lăng kính lợi ích vật chất thì thật khó giải thích. Tôi chỉ có thể lý giải bằng một điều rằng họ không có món nợ pháp lý, cũng không có món nợ kinh tế. Họ chỉ có món nợ quê hương, một món nợ tinh thần về nơi họ sinh ra. Có thể là nơi cha mẹ họ nằm xuống, là nơi có nấm mồ tổ tiên, là nơi để lại di sản tiếng Việt…

Và trên tất cả, là nơi hàng trăm triệu đồng bào của họ vẫn đang sống mà chưa được hưởng những quyền tự do căn bản, phẩm giá như chính họ đang được hưởng tại Hoa Kỳ.

Có lẽ vì thế mà họ không đấu tranh để đòi lợi ích cho bản thân sau này. Họ đấu tranh để đồng bào mình còn ở lại trong nước có thể được sống đúng với phẩm giá con người.

Vậy thôi.

Đó mới là điều cần nói về các cá nhân, tổ chức của đồng bào tại hải ngoại.

Những ngày gần đây, tôi rất buồn và ngạc nhiên khi nghe những lời nhận xét rất nặng nề, rằng “phần lớn” các tổ chức chống Cộng tại hải ngoại chỉ là giả danh để trục lợi. Rằng nhiều người là đặc tình của chế độ Cộng sản.

Không ai phủ nhận rằng trong bất kỳ cộng đồng nào cũng tồn tại hiện tượng “vàng thau lẫn lộn”. Trong giới doanh nhân có người làm ăn chân chính và cũng có người lừa đảo. Trong giới luật sư có người bảo vệ công lý và cũng có người vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Trong tổ chức từ thiện có nơi minh bạch và cũng có nơi lợi dụng lòng tốt của người khác.

Thế nên, công cuộc đấu tranh cho dân chủ hóa Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.

Có những tổ chức hoạt động thiếu hiệu quả. Hoặc, thay vì bảo vệ cộng đồng, hướng về quốc nội lại quay ra chống nhau. Có những cá nhân lợi dụng danh nghĩa đấu tranh để đánh bóng tên tuổi hoặc gây quỹ không minh bạch. Thậm chí, cũng có thể có những trường hợp làm đặc tình cho chế độ Cộng Sản.

Đó là sự thật.

Nhưng số đó là bao nhiêu? Đã có những cuộc điều tra, hoặc thống kê chính thức nào để có thể kết luận rằng “phần lớn”, nếu không phải chỉ là sự võ đoán phiến diện! Là người hiểu biết, có tiếng nói thì lại càng phải cẩn trọng ngôn từ như vậy khi phủ nhận nhau.

Hơn thế nữa, cách kết luận ấy còn vô tình phủ nhận công sức của biết bao thế hệ người Việt hải ngoại.

Nếu không có họ, liệu vấn đề nhân quyền Việt Nam có được duy trì liên tục trong chương trình nghị sự của nhiều quốc gia dân chủ suốt nhiều thập niên?

Nếu không có họ, liệu các tổ chức quốc tế có nhận được lượng thông tin đồ sộ về tình trạng đàn áp trong nước?

Nếu không có họ, liệu nhiều tù nhân lương tâm có nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế?

Nếu không có họ, liệu nhiều chiến dịch vận động tại Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội châu Âu hay các diễn đàn quốc tế có thể diễn ra?

Bản thân tôi và nhiều người khác đang được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ cũng không thể nói rằng là nhờ chính phủ Hoa Kỳ là đủ, vì nếu không có sự tranh đấu bền bỉ, hiệu quả của bao thế hệ người Việt đến đây trước chúng tôi, thì cũng chưa hẳn sẽ có chính sách mà ngày nay chúng tôi đang được hưởng.

Tôi nghĩ, chúng ta có thể tranh luận về hiệu quả. Có thể góp ý về phương pháp. Có thể phê bình một tổ chức cụ thể. Nhưng không thể phủ nhận toàn bộ theo cách chụp mũ “phần lớn”.

Vì khi đó, nó không còn là phản biện mà là phủ định sạch trơn.

Thực tế, phần lớn những người tôi từng gặp không hề giàu lên nhờ hoạt động đấu tranh. Ngược lại. Họ mất nhiều hơn được. Mất thời gian, tiền bạc, công sức, những ngày cuối tuần bên gia đình. Có người còn mất cả sự an toàn của thân nhân còn sinh sống tại Việt Nam.

Điều đáng tiếc là lời quy kết vô căn cứ không chỉ làm tổn thương những người đang dấn thân, nó còn tạo ra sự hoài nghi trong cộng đồng. Làm người thiện chí nản lòng, nhất là làm cho người trẻ, thế hệ kế thừa cuộc đấu tranh suy giảm niềm tin.

Và cuối cùng, người được hưởng lợi nhiều nhất lại chính là những thế lực luôn mong phong trào dân chủ bị chia rẽ và tự phủ nhận lẫn nhau.

Nhìn lại, hơn 2 năm qua, tôi được đi nhiều, gặp gỡ nhiều cá nhân và tổ chức, nhưng vẫn chưa tự tin rằng mình hiểu biết hết về cộng đồng người Việt hải ngoại, điều tôi thấy có thể chỉ mới là lớp váng nổi trên bề mặt mà thôi. Nhưng khi tận mắt thấy những đội ngũ hoạt động bất vụ lợi bằng tiền bạc, thời gian, công sức của chính họ cho mục tiêu dân chủ hóa đất nước, tôi lạc quan tin rằng tiền đồ dân tộc mình còn sáng sủa lắm.

Thế nên. Tôi biết ơn các cá nhân, tổ chức cộng đồng người Việt hải ngoại, nhờ họ, mà tôi tìm lại được các giá trị mà chế độ Cộng Sản trong nước đã phá hủy, hoặc làm cho phôi pha dần. Nhờ họ, mà tôi tin rằng công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước sẽ thành công.

Hoa Thịnh Đốn, ngày 24 Tháng Bảy 2026

——-///——-

@highlight

*Tranh minh họa bài viết của họa sĩ Đinh Trường Chinh và ảnh chụp kỷ niệm với nhạc sĩ Nam Lộc, người được vinh danh nhân kỷ niệm 75 năm ra đời Công ước Người Tỵ nạn tại Thượng viện Hoa Kỳ


 

Đảng Tân Đại Việt tổ chức Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 36 Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy

 Viet Ba’o

30/07/2026

Thanh Huy

Nghi thức chào cờ từ phải: Ông Hoàng Đình Khuê, Nhà Giáo, Nhà văn Trần Phong Vũ, Nhà văn Nguyễn Quang, TS. Mai Thanh truyết, Ông Phan Thanh Châu và Bà Nguyễn Thế Thủy

 Westminster, Nam California  (Thanh Huy) – Tại Hội trường VietlifeTV thành phố Westminster vào lúc 1 giờ chiều Chủ Nhật ngày 26 tháng 7 năm 2026, Đảng Tân Đại Việt đã long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm lần Thứ 36 Cố  Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy,  Đảng Trưởng Đảng Tân Đại Việt.

 Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời vào ngày 28 tháng 7, 1990 trên bước đường hoạt động tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự. Từ đó đến nay đã trải qua 36 năm, cứ đến độ hè về vào cuối tháng bảy hàng năm Đảng Tân Đại Việt đều long trọng tổ chức lễ tưởng niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. Chính sự kiện này cho thấy hậu thế không bao giờ quên một nhân vật đặc biệt trong lịch sử VN.

 Tham dự lễ tưởng niệm, ngoài một số các Đảng viên Tân Đại Việt, Liên Minh Dân Chủ, còn có quý vị quan khách như: Nhà Văn Nguyễn Quang, Nhà Giáo, Nhà Văn Trần Phong Vũ, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, Ông Phan Thanh Châu Đại Diện Việt Nam Quốc Dân Đảng, Kỹ Sư Phạm Ngọc Lân, Bà Nguyễn Thế Thủy, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Westminster, Nhà Văn Việt Hải và phái đoàn Nhân Văn Nghệ Thuật-Tiếng Thời Gian, Bình Luận Gia Nguyễn Kim Bình, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Nam California, Kỹ Sư Cao Thái Hải, Cô Annie Wright (con gái Giáo Sư Nguyễn Văn Bông) một số quý vị nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông và đồng hương tham dự.

 Điều hợp chương trình buổi lễ do MC: Thụy Lan, mở đầu MC Thụy Lan cho biết lý do và thông qua chương trình. Sau đó nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm.

Quang cảnh lễ tưởng niệm

Tiếp theo ông Hoàng Đình Khuê  Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt lên tuyên bố lý do buổi lễ, Ông nói: “Thay mặt cho Ban tổ chức TĐV, chúng tôi xin Chào mừng và Cảm tạ sự hiện diện của Quý vị trong Buổi Lễ Tưởng Niệm Lần thứ 36 Cố GS Nguyễn Ngọc Huy. Điều này nói lên lòng ưu ái và mối thiện cảm của Quý vị với GS Nguyễn Ngọc Huy và Đảng Tân Đại Việt.

MC. Thụy Lan điều hợp chương trình

Hôm nay chúng tôi không nói gì về Tiểu sử, Văn bằng và Di sản cũng như Sự nghiệp của GS Huy. Chúng tôi sẽ tiết lộ những điều ít biết về cuộc đời của GS:

1- Cơ duyên học chữ Hán:

GS Huy quê ở Tân Uyên/ Biên Hòa trong một gia đình 10 ACE, GS Huy thứ 9 và cô Út Uyên thứ 10. Không may trong gia đình có cái “huông” hễ sanh con trai là chết yểu gọi là giờ “SÁT” chẳng hạn như anh Hai, anh Tư, anh Bảy, anh Tám đều chết; còn chị Ba, chị Tư, chị Sáu còn sống. Cho nên khi sinh ra GS Huy là con Trai thứ 9 thì gia đình rất lo sợ mới đi chùa, cầu khẩn Thầy chùa, Thầy pháp thì được mách là phải đổi ra người Nữ để tránh tai mắt Thần Thánh.

Theo tục lệ và mê tín dị đoan của người xưa thì trường hợp này gọi là “Xấu Hài”. Những người sinh ra giờ Sát rất khó nuôi. Theo truyền miệng đứa trẻ từ lúc sinh ra đến 12 tuổi phải có Cô Mụ đỡ đầu cho đến khi 13 tuổi thì coi như qua được cõi Chết. Cho nên để dối gạt Thần Linh, người Nam phải sống theo lối người Nữ, nghĩa là phải mang tên Nữ, mặc quần áo như Nữ, xỏ lỗ tai, mang kiểng ở cổ chân và nhất là đem bán cho gia đình khác nuôi.

Do đó gia đình mới gởi cho Dì Sáu nuôi.

Gia đình bên Ngoại sống ở làng Tân Hòa, Tân Khánh/ Biên Hòa. Hai làng này nổi tiếng giỏi Võ. Có một dạo người Pháp cấm hai làng này không được dạy Võ. GS Huy sống với gia đình Dì Sáu và học hành rất chăm chỉ.

Ông Ngoại của GS Huy là cụ Trần Văn Thỉnh, biệt danh là Trần Minh Đức, một nhà Nho nổi tiếng và cũng là nhà Nho cuối cùng của miền Nam. Lúc bấy giờ GS Huy mới 9 tuổi, lúc rảnh rỗi GS Huy thường đứng bên ngoài nghe ông Ngoại dạy chữ Nho. Nhận thấy cháu ngoại hiếu học và thông minh, nên ông Ngoại truyền hết kho chữ Nho cho cháu ngoại.

Sau này GS Huy có biệt hiệu “ông Đồ mặc âu phục.”

Lý do tôi biết được bí mật này là nhân dịp đi công tác ở Sydney-New South Wales/Úc Châu gặp được GS Liêng Khắc Văn là anh em bạn Dì với GS Huy cho biết; một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng Sydney và cũng là cựu hoc sinh Petrus Ký, bạn với GS Dương Ngọc Sum. 

2- Học giả với viễn kiến sâu sắc:

Mặc dù GS Huy là một chính trị gia với bằng cấp Tiến sĩ Chính Trị Học với một di sản Văn hóa gồm nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và Hán văn, nhưng người đời khâm phục và ngưỡng mộ sự hiểu biết thời sự quốc tế, nhất là viễn kiến uyên bác và đa diện của GS Huy:

  1. a) Trong cuộc chiến Việt Nam, ai đã gây ra sự kiện 30/04/1975?

Phần lớn các Sử gia, các nhà bình luận chính trị đều đổ trách nhiệm cho nhau đã làm mất miền Nam. Nhưng GS Huy đã thấy rõ nguyên nhân chính đã xảy ra biến cố 30/04/1975.

Theo GS Huy nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ miền Nam kể sau vụ Tết Mậu Thân.

Ông Hoàng Đình Khuê, Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt chào mừng và cảm ơn quan khách và đồng hương tham dự

Thế lực đứng sau kế hoạch bỏ miền Nam là do hai sắc tộc mạnh nhất, đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan và sắc tộc Do Thái. Trong giai đoạn này thì sắc tộc Do Thái là thủ phạm. Họ chủ trương nắm giữ các cơ quan trong chính phủ từ Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp, nhất là Truyền thông đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.

Những tiết lộ tế nhị của GS Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao Văn Luận nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử, ông cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam.

  1. b) Ai đã làm sụp đổ bức tường Bá Linh (9/11/1989) và tan rã Liên Xô (21/12/1991)?

Câu hỏi lịch sử này đã gây tranh cãi mấy chục năm qua và có nhiều câu trả lời chủ quan khác nhau tùy theo hoàn cảnh, trình độ và đề cao tinh thần Dân tộc.

– Phía Ba Lan cho là nhờ hai công dân Ba Lan là Lãnh tụ Nghiệp đoàn Walesa và Đức Giáo Hoàng John Paul II.

– Phía Hung Gia Lợi cho rằng nhờ cựu Thủ tướng Nemeth đã mở đường biên giới Áo-Hung.

 – Phía Đông Đức cho rằng nhờ lực lượng cải cách của Đảng cộng sản Đông Đức đã thành công lật đổ nhà độc tài Honecker …

– Phía Tây Đức cho rằng nhờ chánh sách hòa dịu của cựu Thủ tướng Brandt đã thay đổi chế độ công sản …

– Phía Liên Xô thì cho rằng chính TBT Gorbachev với chánh sách cởi mở nên xảy ra tình trạng mất kiểm soát. 

Nhưng theo GS Huy cho rằng nhờ cố Tổng thống Reagan hành xử cứng rắn với Liên Xô. Ông khích tướng kêu gọi Gorbachev mở cửa và làm sụp đổ bức tường này. GS Huy đã tiên đoán rất sớm và trình bày cặn kẻ trong tác phẩm “Perestroika” (viết bằng Anh ngữ), dày 420 trang với 200 lần dẫn chứng tài liệu) và “Glasnost”.Ông cho rằng bắt buộc ông Gorbachev phải cởi mở chánh sách để đối đầu với Hoa Kỳ của Tổng thống Reagan đang trên đà leo thang với phòng thủ chống hỏa tiễn SDI (Strategic Defense Initiative)

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết phát biểu  

  1. c) Biến cố Anh quốc trao trả Hồng Kông cho Trung quốc năm 1997.Từ đó GS Huy đã tiên đoán Dân Hồng Kông sẽ biểu tình chống đối giống như Truyện Tây Du Ký khi Bà La Sát nuốt Tôn Hành Giả vào bụng (Tôn Ngộ Không) khi Tôn Hành Giả hóa ra con bồ hóng trong chén trà, Tôn Hành Giả dùng thiết bản quậy lục phủ ngũ tạng, bà La Sát đau quá phải chịu thua.

GS Huy mất năm 1990, Hồng Kong được trả cho Trung Quốc ngày 1/7/1997, 7 năm sau khi GS qua đời nhưng viễn kiến về chính trị của ông rất nhậy bén trước nhiều thập niên:dân chúng Hồng Kông sẽ biểu tình đòi Dân chủ.

Sau đó Phong trào Dân chủ Hong Kong biểu tình qua cuộc Cách Mạng Dù năm 2014. Thành phần học sinh đã tham gia tranh đấu. Một học sinh tên Joshua Wong (Hoàng Chí Phong) và cô sinh viên Alex Chao (Chu Đình) trong vai trò thủ lãnh đã thành công huy động thành phần sinh viên, học sinh lên tới hàng trăm ngàn người.

Đến ngày 9 tháng 6 năm 2019, hơn 1 triệu người Hong Kong lại xuống đường với những cánh Dù vàng. Joshua Wong vẫn còn trong tù. 

  1. d)  Những lá thơ của các vị Tổng Thống Hoa Kỳ vinh danh GS Huy:

1) Sau khi GS Huy qua đời, biết bao nhiêu các nhà lãnh đạo trong chính quyền Mỹ, các nhân vật nổi tiếng như các chính trị gia, học giả, nhân sĩ …, trong đó có Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush Cha đã gởi một lá thơ chia buồn cho Ái nữ của GS Huy và lên tiếng ca ngợi:

“GS Nguyễn Ngọc Huy là một nhân vật tận tụy cho dân tộc Việt Nam và dân tộc Mỹ với tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau”. 

Những chuyện kể của Ông Hoàng Đình Khuê còn nhiều vấn đề chưa được tiết lộ (Rất tiếc trong phạm vi bản tin chúng tôi không thể tường thuật hết được). 

Tiếp theo là phần phát biểu của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết về những kỷ niệm với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy khi ông còn là một sinh viên tại Pháp. TS.Mai Thanh Truyết cho biết, GS. Nguyễn Ngọc Huy có cuộc sống thật giản dị, lúc nào cũng hòa mình vào những điều kiện đơn giản nhất trên bước đường hoạt động của ông, bình dị với mọi người, nhất là những anh chị em sinh viên đang du học tại Pháp thời bấy giờ. TS. Mai Thanh Truyết có rất nhiều tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua các loạt bài khá dài, nhất là những kỷ niệm về Hòa Đàm Paris, hy vọng trong những ngày sắp tới sẽ được TS. Mai Thanh Truyết phổ biến trên các hệ thống truyền thông để đồng hương có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn. 

Sau đó Giáo Sư Trần Phong Vũ lên phát biểu về cuộc đời và sự nghiệp chính trị của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. 

Tiếp theo, Minh Phượng lên có lời phát biểu về Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, trong những lời phát biểu mọi người đều ca ngợi tinh thần quốc gia, dân tộc và sự hy sinh cao cả của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho một Việt Nam có tự do, dân chủ và phú cường.

 Sau những lời phát biểu, Ban Hợp Ca lên hát bản “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” (Đảng Ca của Đảng Tân Đại Việt.)

 Tiếp theo ban tổ chức mời quý vị lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt, Liên Minh dân Chủ Việt Nam, quý vị quan khách, quý vị thân hào nhân sĩ lên trước bàn thờ có chân dung Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy làm lễ niệm hương.

 Sau lễ niệm hương, Kiều My và Ngọc Quỳnh lên song ca bản “Dân Tộc Sinh Tồn”.

 Kết thúc chương trình với phần hội luận về đề tài: “Chủ Nghĩa Dân Tộc trong chiều hướng toàn cầu hóa” dưới sự chủ tọa của Ông Hoàng Đình Khuê, Nguyễn Kim Bình và Minh Phượng.

 Buổi lễ bế mạc vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày.


 

Mười Điều Tâm Niệm

1) Nghĩ đến thân thể đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì tham dục dễ sanh .

2) Ở đời đừng cầu không khó khăn hoạn nạn, vì không khó khăn hoạn nạn thì kiêu sa nổi dậy.

3) Tự xét tâm tính đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

4)  Xây dựng đạo hạnh đừng mong không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.

5) Việc làm đừng mong dễ thành, vì dễ thành thì lòng khinh thường ngạo mạn.

6) Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

7) Với người đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.

8) Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cẩu đền đáp là có ý mưu đồ.

9) Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.

10) Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.

     S.T.


 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ — Lm Anmai CSsR 

Anmai CSsR 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ.

Có một ảo tưởng rất phổ biến trong đời sống này: càng nhiều thì càng tốt. Nhiều tiền hơn, nhiều mối quan hệ hơn, nhiều thành tựu hơn, nhiều lời khen hơn. Người ta chạy, và chạy mãi, như thể nếu dừng lại một chút thôi thì sẽ bị bỏ lại phía sau, như thể cuộc đời là một cuộc đua không có vạch đích.

Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, khi lòng đã mỏi, khi đôi vai đã nặng, người ta mới chợt nhận ra một điều giản dị đến đau lòng:

cuộc sống không cần quá đầy, chỉ cần đủ. “Đủ” là một từ rất nhỏ, nhưng lại là một đỉnh cao mà nhiều người không chạm tới.

Đủ không phải là ít. Đủ là khi bạn không còn bị đói khát bởi những thứ bên ngoài. Đủ là khi bạn có thể ngồi xuống, nhìn lại, và nói với chính mình: “Thế này… là được rồi.”

Có người có cả một căn nhà lớn, nhưng không có một góc nào để thật sự nghỉ ngơi.

Có người có hàng trăm mối quan hệ, nhưng không có nổi một người để gọi lúc nửa đêm.

Có người có rất nhiều tiền, nhưng không có một bữa ăn nào thật sự ngon miệng.

Vì họ không sống trong “đủ”, họ sống trong “chưa đủ”. Mà “chưa đủ” thì không có điểm dừng. Một bữa cơm đơn sơ, nếu ăn trong bình an, sẽ no lâu hơn một bàn tiệc thịnh soạn trong lo âu.

Một căn phòng nhỏ, nếu có tiếng cười, sẽ ấm hơn một biệt thự lạnh lẽo.

Một ngày sống chậm, sống sâu, sẽ đáng giá hơn cả trăm ngày vội vã mà rỗng không.

Đời sống không cần phải đầy tràn, chỉ cần vừa vặn với tâm hồn mình.

Rồi đến lòng người.

Người ta thường tự hào về một trái tim “rộng lớn”. Nhưng nhiều khi, cái gọi là rộng ấy lại chỉ là một sự dễ dãi, một sự mở cửa không chọn lọc, để rồi cuối cùng chính mình là người bị tổn thương. Lòng người không cần quá rộng, chỉ cần thật.

“Thật” không phải là nói hết, cũng không phải là cho hết.

“Thật” là khi bạn không giả vờ yêu thương.

“Thật” là khi bạn không mỉm cười chỉ vì lịch sự mà trong lòng lại lạnh tanh.

“Thật” là khi bạn dám im lặng trước những điều không thuộc về mình, và dám nói khi điều đó là cần thiết.

Một trái tim thật có thể không ôm được nhiều người, nhưng những ai ở lại sẽ là những người thật sự được yêu. Một sự quan tâm thật có thể không phô trương, nhưng lại bền bỉ và sâu sắc.

Một lời nói thật có thể không dễ nghe, nhưng lại cứu được một đời người khỏi ảo tưởng. Có những người sống cả đời để làm vừa lòng thiên hạ, để rồi cuối cùng đánh mất chính mình.

Có những người nói chuyện rất hay, rất khéo, nhưng khi cần thì không thấy đâu.

Có những mối quan hệ tưởng như rất rộng, nhưng lại rỗng.

Thà ít mà thật, còn hơn nhiều mà giả.

Thà sâu mà hẹp, còn hơn rộng mà nông.

Một trái tim thật, dù nhỏ, vẫn đủ để giữ ấm một cuộc đời.

Và rồi, chuyện của một đời người. Người ta sợ già, sợ chết, sợ thời gian trôi qua. Ai cũng muốn sống lâu, sống dài, sống thêm. Nhưng ít ai tự hỏi: “Mình đang sống như thế nào trong những ngày đã có?”

Một đời người không cần quá dài, chỉ cần sống trọn vẹn từng ngày.

“Trọn vẹn” không phải là làm được nhiều việc, mà là có mặt trong từng việc mình làm.

Ăn thì biết mình đang ăn.

Nói thì biết mình đang nói.

Yêu thì biết mình đang yêu.

Sống thì biết mình đang sống.

Có những người sống đến tám mươi năm, nhưng phần lớn thời gian là lo lắng, tiếc nuối và chờ đợi. Có những người chỉ sống vài chục năm, nhưng từng ngày của họ đều có ý nghĩa, có tình yêu, có sự dâng hiến. Chiều dài của đời người không nằm ở số năm, mà nằm ở độ sâu của từng khoảnh khắc.

Một cái nắm tay đúng lúc có thể quý hơn cả ngàn lời nói muộn màng. Một lần tha thứ có thể nhẹ hơn cả một đời ôm hận. Một ngày sống tử tế có thể đáng giá hơn cả một tháng sống hời hợt.

Sống trọn vẹn là khi tối đến, bạn không phải tự hỏi:

“Hôm nay mình đã sống chưa?”

Cuối cùng, tất cả lại quay về những điều rất đơn giản:

Không cần quá nhiều, chỉ cần đủ để bình an. Không cần quá rộng, chỉ cần thật để không cô đơn.

Không cần quá dài, chỉ cần sâu để không uổng phí. Cuộc đời, xét cho cùng, không phải là một bài toán để tối đa hóa, mà là một hành trình để hiểu thế nào là vừa vặn.

Và có lẽ, hạnh phúc không nằm ở chỗ bạn có bao nhiêu,

mà nằm ở chỗ bạn biết dừng lại ở đâu —

để mỉm cười và nói:

“Vậy là đủ.”

Lm. Anmai, CSsR 


 

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook.

  1. Facebook là không gian riêng của mỗi người.

Khi bạn truy cập vào Facebook của một người khác, bạn không phải đang ở trong nhà của mình mà là “vào nhà” của người khác.

Vì vậy, việc tôn trọng các quy tắc trong không gian ấy là rất quan trọng.

Nhận định về hành vi và ứng xử trên Facebook.

  1. Các vấn đề cần chú ý khi tương tác trên Facebook.

Trên Facebook, mỗi người đều có quyền bày tỏ ý kiến, chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ cá nhân.

Tuy nhiên, việc thể hiện quan điểm cần phải phù hợp và tôn trọng người khác, vì nó sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ cũng như bầu không khí chung.

Tại sao ta phải làm vậy?

  1. Tôn trọng ý kiến của người khác giúp xây dựng một cộng đồng lành mạnh.

Không gian mạng là nơi mà mỗi cá nhân có thể tự do thể hiện bản thân. Việc tuân thủ các nguyên tắc ứng xử giúp bảo vệ không gian ấy khỏi những tranh cãi vô nghĩa, đồng thời duy trì sự văn minh, tôn trọng trong mọi tương tác.

7 Nguyên tắc sử dụng Facebook.

  1. KHÔNG tranh cãi nếu không cùng quan điểm.

Lý do: Facebook không phải là nơi để tranh cãi, mà là nơi chia sẻ và kết nối.

Nếu không đồng tình với quan điểm của người khác, bạn có thể giữ im lặng hoặc chỉ bình luận khi được yêu cầu.

  1. KHÔNG tự động tư vấn khi chưa được yêu cầu

Lý do: Mỗi người có quyền lựa chọn chia sẻ hoặc không chia sẻ vấn đề cá nhân. Việc tự ý can thiệp, tư vấn mà không được yêu cầu có thể gây khó chịu và xâm phạm quyền riêng tư của người khác.

  1. Khen ngợi để vui, tránh chê bai.

Lý do Mỗi người đều có những cảm xúc và giá trị riêng. Khi bạn khen ngợi ai đó, bạn giúp tạo ra bầu không khí tích cực, trong khi lời chỉ trích có thể làm người khác buồn và khiến bạn trở nên vô duyên.

  1. Đừng phát biểu khi không biết rõ vấn đề.

Lý do: Việc phát biểu mà không hiểu biết có thể làm bạn trở nên thiếu hiểu biết và làm mất đi giá trị của cuộc trò chuyện.

  1. Đọc kỹ Status trước khi comment.

Lý do: Đọc kỹ thông tin trước khi bình luận giúp tránh những hiểu lầm và thể hiện sự tôn trọng đối với người chia sẻ nội dung đó.

  1. KHÔNG gây lộn trong nhà người khác

Lý do: Một cuộc tranh cãi không cần thiết sẽ làm không khí trở nên căng thẳng, không chỉ ảnh hưởng đến người khác mà còn có thể làm bạn mất đi sự tôn trọng từ cộng đồng.

  1. Tôn trọng quan điểm của chủ nhà.

Lý do: Khi ai đó chia sẻ quan điểm, nếu không được yêu cầu, bạn nên tôn trọng và không cần phải phô trương ý kiến của mình. Điều này thể hiện sự chín chắn và tôn trọng người khác.

Tóm tắt: “Biết điều” quan trọng hơn “biết nhiều”**

  1. Tầm quan trọng của sự tinh tế trong giao tiếp.

Không cần phải luôn tỏ ra là người hiểu biết, quan trọng là biết khi nào nên nói và khi nào nên im lặng, để thể hiện sự tôn trọng và xây dựng một cộng đồng Facebook lành mạnh.

Người có học và cư xử văn minh đều phải biết những quy tắc nầy.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Hạnh phúc và Niềm vui có giống nhau hông?

Anfu Tran  is  feeling blessed.

Em hỏi: “Anh nè! Hạnh phúc và Niềm vui có giống nhau hông? Em thấy nó lẫn lộn sao ấy”

Em mến!

Trong đời sống hằng ngày, nhiều người thường dùng hai từ hạnh phúc và niềm vui như thể chúng đồng nghĩa với nhau. Nhưng thực ra, chúng diễn tả hai chiều kích rất khác nhau của đời sống con người. Hạnh phúc thường được sinh ra từ những hoàn cảnh thuận lợi; còn niềm vui phát xuất từ một tâm hồn đã gặp gỡ chân lý, tình yêu và chính Thiên Chúa.

Hạnh phúc thường gắn liền với những gì xảy ra bên ngoài. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc khi sức khỏe tốt, gia đình bình an, công việc thuận lợi, ước mơ thành hiện thực hay những điều mong đợi được đáp ứng. Tất cả đều là những hồng ân đáng trân quý và cần được đón nhận với lòng biết ơn. Tuy nhiên, vì lệ thuộc nhiều vào hoàn cảnh, hạnh phúc cũng dễ đến rồi dễ đi khi cuộc sống thay đổi.

Niềm vui thì khác. Niềm vui đi sâu vào tận cõi lòng con người. Đó không phải là sự vắng bóng của đau khổ, nhưng là sự hiện diện của ý nghĩa. Niềm vui vẫn có thể tồn tại giữa những giọt nước mắt, vì nó không được xây dựng trên điều ta sở hữu, nhưng trên Đấng ta tín thác. Một người mẹ tận tụy chăm sóc đứa con đau yếu, một linh mục trung thành phục vụ giữa muôn thử thách, hay một người môn đệ kiên vững vác thập giá theo Đức Kitô có thể không luôn cảm thấy hạnh phúc, nhưng vẫn sống trong một niềm vui sâu thẳm mà thế gian không thể lấy đi.

Đức tin Kitô giáo mặc khải rằng niềm vui đích thực là một trong những hoa trái của Chúa Thánh Thần (Gl 5:22). Niềm vui ấy phát sinh từ sự kết hiệp với Đức Kitô, Đấng được ngôn sứ Isaia gọi là “người tôi tớ đau khổ” (Is 53:3), nhưng cũng chính là Đấng luôn sống trong niềm vui trọn vẹn vì hoàn toàn ở trong tình yêu của Chúa Cha. Bởi thế, Người đã nói: “Thầy nói những điều ấy để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15:11). Đức Giêsu không hứa ban một cuộc đời không có thử thách, nhưng Người hứa ban một niềm vui mà không ai có thể cướp mất (Ga 16:22).

Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy rằng khát vọng được hạnh phúc đã được Thiên Chúa đặt vào trong trái tim mỗi con người. Tuy nhiên, khát vọng ấy chỉ được viên mãn nơi chính Thiên Chúa (GLHTCG 1718–1729). Vì thế, hạnh phúc trần thế chỉ là dấu chỉ, chứ không phải đích điểm. Nó hướng lòng con người về niềm vui vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta để được hưởng.

Em thân mến,

Trong một thế giới không ngừng tìm kiếm sự tiện nghi, thành công và khoái lạc, người Kitô hữu được mời gọi hướng đến điều cao cả hơn. Hạnh phúc là người bạn đồng hành đáng quý trên hành trình cuộc sống; nhưng niềm vui mới là người bạn trung tín, luôn ở lại trong cả những ngày nắng đẹp lẫn những đêm tối của thập giá. Hạnh phúc có thể làm bừng sáng một khoảnh khắc; còn niềm vui có thể biến đổi cả một đời người. Hạnh phúc tùy thuộc vào những gì xảy đến với chúng ta; còn niềm vui tùy thuộc vào Đấng đang sống trong chúng ta.

Ước gì chúng ta đừng chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm một hạnh phúc mong manh theo hoàn cảnh, nhưng luôn khao khát niềm vui bền vững được sinh ra từ việc ở lại trong Đức Kitô, sống theo chân lý của Người và yêu thương như Người đã yêu. Bởi khi Đức Kitô trở thành trung tâm của cuộc đời, ngay cả thập giá cũng không còn là dấu chấm hết, nhưng trở thành con đường dẫn đưa chúng ta đến niềm vui mà không ai có thể lấy mất. Bình an em hỉ!

#nguoitheodoi #tamlinh #giftideas #conggiao

Người ráp chữ.


 

KHÔNG CÓ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN NÀO XEM HÀNH LANG THOÁT LŨ LÀ ĐẤT TRỐNG.

Kim Phan

 NHỮNG BÀI POST HAYKim Phan  

Nguyễn Nam Hải

KHÔNG CÓ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN NÀO XEM HÀNH LANG THOÁT LŨ LÀ ĐẤT TRỐNG.

BỞI HỌ HIỂU MỘT ĐIỀU: KHOẢNG TRỐNG CŨNG LÀ HẠ TẦNG

Fb Phan Phụng Long

“Nhớ ai đó đã nói; Dốt nát và phá hoại luôn song hành và là tội đồ của Dân Tộc. Lịch sử mai sau sẽ ghi lại; khi thể chế không còn tồn tại.”.

Khi nhìn một bãi sông rộng hàng trăm mét, rất nhiều người sẽ nghĩ:

“Đất bỏ không.”

“Lãng phí.”

“Sao không xây công viên?”

“Sao không làm đô thị?”

Đó là cách nhìn của bất động sản.

Nhưng kỹ sư thủy lợi lại nhìn thấy một thứ hoàn toàn khác.

Họ nhìn thấy… một công trình đang hoạt động.

Đây là sai lầm lớn nhất của con người

Chúng ta chỉ coi những gì nhìn thấy là hạ tầng.

Cây cầu.

Con đường.

Đê.

Cống.

Hồ chứa.

Nhưng lại quên rằng…

Có những hạ tầng được tạo nên bằng… khoảng trống.

Một khoảng trống có thể đáng giá hơn một cây cầu.

Tại sao?

Vì cây cầu chỉ phục vụ giao thông.

Nhưng hành lang thoát lũ…

…phục vụ sự sống của cả một thành phố.

Hà Lan hiểu điều này.

Người Hà Lan từng xây đê ngày càng cao.

Sau đó họ nhận ra…

Đó không phải cuộc chiến có thể thắng mãi.

Họ đổi tư duy.

Không còn:

║ Chặn nước.

Mà là:

Trả lại không gian cho nước.

Đó là triết lý nổi tiếng:

Room for the River.

Không phải vì họ thiếu tiền xây đê.

Mà vì họ hiểu:

Không gian cũng là hạ tầng.

Nhật Bản cũng vậy.

Họ đào các hồ điều hòa khổng lồ.

Những công viên có thể ngập.

Những bãi sông có thể bị nước chiếm.

Ngày nắng…

Đó là công viên.

Ngày lũ…

Đó là hồ chứa.

Một công trình.

Hai chức năng.

Đức cũng vậy.

Rất nhiều bãi bồi được giữ nguyên.

Không phải vì họ chưa phát triển.

Mà vì họ biết:

Một mét vuông đất hôm nay có thể bán.

Nhưng một mét vuông không gian thoát lũ có thể cứu cả thành phố sau này.

Hàn Quốc cũng vậy.

Các dòng sông lớn luôn được quy hoạch với hành lang an toàn.

Không phải vì họ thích để đất trống.

Mà vì họ hiểu…

Nếu dòng sông mất không gian…

Thì dòng nước sẽ tự tìm không gian khác.

Và nơi đó thường là…

Nhà của con người.

Quy luật của mọi nền văn minh ven sông

Có một nghịch lý.

Những quốc gia càng giàu…

…lại càng để nhiều đất “không xây”.

Thoạt nhìn…

Có vẻ lãng phí.

Nhưng thực ra…

Đó là khoản đầu tư rẻ nhất.

Bởi chi phí giữ lại khoảng trống…

Luôn nhỏ hơn rất nhiều…

So với chi phí sửa chữa sau một trận đại hồng thủy.

Điều đáng sợ nhất

Không phải là xây trên bãi sông.

Mà là…

quên mất vì sao bãi sông tồn tại.

Thiên nhiên không tạo ra bãi sông để lãng phí.

Thiên nhiên tạo ra nó…

Để dòng sông còn có chỗ thở khi mùa lũ đến.

Kết

Có một nghịch lý của mọi nền văn minh. Con người rất giỏi đo giá trị của những gì có thể nhìn thấy:

Một cây cầu.

Một tòa nhà.

Một đại lộ.

Một khu đô thị.

Nhưng những nền văn minh trưởng thành lại hiểu rằng, có những tài sản quan trọng nhất không nằm ở những gì được xây lên, mà nằm ở những gì họ chủ động không xây.

Không gian thoát lũ là một trong số đó.

Một bãi sông rộng có thể không tạo ra doanh thu hằng năm.

Không đóng thuế.

Không bán được căn hộ.

Không làm tăng GDP ngay lập tức.

Nhưng nó âm thầm hấp thụ những trận lũ cực đoan, bảo vệ hệ thống đê điều và gìn giữ sự an toàn cho hàng triệu con người trong suốt nhiều thế hệ.

Đó không phải là đất bỏ trống.

Đó là một công trình hạ tầng được xây dựng bằng sự kiềm chế.

Và cũng từ đó, chúng ta có thể rút ra một quy luật lớn hơn.

Một quốc gia không trở nên vĩ đại vì khai thác tối đa mọi mét vuông đất. Một quốc gia trở nên vĩ đại khi biết rằng có những mét vuông phải được giữ lại để bảo vệ tương lai.

Đó không chỉ là bài học của sông Hồng.

Đó là triết lý của quản trị rủi ro.

Là nền tảng của quy hoạch hiện đại.

Và cũng là thước đo của một nền văn minh phát triển bền vững.

║ Con người hiện đại rất giỏi xây dựng những gì nhìn thấy. Nhưng những nền văn minh vĩ đại lại biết bảo vệ cả những thứ tưởng như vô hình.

║Không gian thoát lũ là một trong số đó. Khoảng trống ấy không tạo ra lợi nhuận mỗi năm, nhưng nó âm thầm bảo vệ một thành phố trong suốt hàng trăm năm. Đó không phải đất bỏ trống. Đó là một tài sản chiến lược của quốc gia.

Nếu bài viết mang đến cho bạn một góc nhìn mới, hãy chia sẻ để nhiều người cùng hiểu rằng:

Không phải mọi khoảng đất chưa xây dựng đều là đất lãng phí. Có những khoảng trống chính là hạ tầng bảo vệ cả một thành phố.

Theo dõi Phan Phụng Long (PhungLongVOL) để đồng hành cùng chuỗi phân tích về:

  • Quy hoạch sông Hồng dưới góc nhìn tư duy hệ thống.
  • Địa lý, thủy văn và quản trị rủi ro trong phát triển đô thị.
  • Những nguyên lý mà mọi siêu dự án đều phải trả lời trước khi khởi công.

Một quyết định quy hoạch có thể ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Vì vậy, điều chúng ta cần nhất không chỉ là tầm nhìn phát triển, mà còn là sự tôn trọng những quy luật của thiên nhiên.


 

NGẪM NGHĨ 

NGẪM NGHĨ 

Vì sao loạt phi hành gia trở về từ vũ trụ đều hóa “điên dại,” người nát rượu, kẻ trầm cảm vứt bỏ cả sự nghiệp? 

 Chỉ một lần ngoái nhìn về Trái Đất từ không gian bao la cũng đủ để đảo lộn hoàn toàn nhận thức của một con người.  Hiện tượng tâm lý này kinh điển đến mức các nhà khoa học đã đặt tên cho nó: Hiệu ứng cái nhìn tổng quan.

 Kể từ sau các sứ mệnh Apollo lịch sử, NASA đã ghi nhận rất nhiều phi hành gia trở về với những thay đổi sâu sắc, thậm chí là cực đoan trong thế giới quan:

 Buzz Aldrin (Apollo 11): Người đàn ông thứ hai đặt chân lên Mặt Trăng đã rơi vào trầm cảm và nghiện rượu kéo dài sau khi trở về.  Khi đứng ở đỉnh cao của vinh quang nhân loại, ông bỗng nhận ra cái gọi là “vĩ đại” của con người thực chất chỉ là một ảo tưởng nực cười.  Vinh quang không cứu rỗi được ông, nó chỉ làm nổi bật thêm sự trống rỗng của thực tại.

 Những người khác: Người thì từ bỏ chức quản lý cấp cao, người lập tức vứt bỏ cả công ty tỷ đô để đi tìm một lối sống hoàn toàn khác.

 Giới siêu giàu cũng không ngoại lệ: Từng chi ra số tiền tương đương 700 tỷ VNĐ (hơn 26 triệu đô Mỹ) để mua một tấm vé bay vào vũ trụ, tỷ phú Tôn Vũ Thần sau khi trở về đã im lặng suốt 3 ngày mới thốt lên một câu: “Tôi không biết chúng ta đang sống vì điều gì.”

 Tài sản, thể diện, tranh giành bỗng chẳng là gì giữa khoảng không vô tận.

 Người đời chê cười anh bỏ tiền mua về nỗi sợ, nhưng thực chất, khoảnh khắc nhìn thấy Trái Đất nhỏ bé, anh hiểu ra tài sản, thể diện hay những cuộc tranh giành danh lợi ngoài kia bỗng chốc chẳng bằng một hạt cát giữa hư không.

 Hãy tưởng tượng bạn đã đạt được điều mà 99,9999% nhân loại cả đời này không thể chạm tới: đứng ở rìa thế giới, nhìn ngắm ngọn nguồn của sự sống trong một khoảng không tĩnh lặng tuyệt đối.

 Và rồi, bạn buộc phải quay lại mặt đất để xếp hàng mua đồ ăn sáng, loay hoay trả hóa đơn tiền điện, và chứng kiến những cuộc cãi vã vặt vãnh của người đời.  Sự chênh lệch quá lớn ấy chính là thứ đã bẻ gãy tâm lý của họ.

 Nhìn vào bức ảnh Trái Đất chỉ là một chấm sáng mỏng manh kích thước 0.12 pixel giữa không gian vô tận, nhà thiên văn học Carl Sagan đã viết nên những dòng triết học lay động lòng người: “Mọi vị vua và kẻ ăn xin, mọi kẻ độc tài và nạn nhân, mọi cuộc chiến tranh đẫm máu hay nỗi dằn vặt xé lòng của con người… tất cả đều chỉ diễn ra trên một hạt bụi nhỏ ngoai ngoắt bám trên một tia nắng.”  (Trích từ cuốn “Đốm xanh mờ” – Carl Sagan)

 Vì vạn vật mong manh, nên từng giây phút mới là vô giá 

Những thứ như danh vọng, thể diện, sự hơn thua… thực chất chỉ là những quy ước do con người tự tạo ra.

 Hàng ngày, chúng ta tự làm khổ mình bằng những áp lực tự tạo: hơn thua nhau một câu nói, dằn vặt vì một lỗi lầm trong quá khứ, hay lo lắng thái quá về tương lai. 

Nếu một tỷ phú sở hữu trăm tỷ còn thấy tiền bạc vô nghĩa trước vũ trụ, thì việc bạn chưa mua được cái túi hiệu hay chưa thăng chức tháng này thực ra cũng chẳng phải là thảm họa của thế giới.

 Nhìn thấy sự bao la của vũ trụ dạy chúng ta rằng: Mọi đau khổ, sĩ diện và tranh giành của con người thực ra rất nực cười.

 Nếu những tủi hờn, thất bại hay áp lực của bạn nhỏ bé đến mức vô hình trước vũ trụ, thì tại sao bạn lại để chúng gặm nhấm tâm hồn mình ngày này qua ngày khác?

 Nhận ra sự vô nghĩa giúp chúng ta dũng cảm buông bỏ cái tôi vặt vãnh, tha thứ cho bản thân, tha thứ cho người khác, và bước đi một cách nhẹ nhõm hơn.

 (Theo Sách Hay Chọn Đọc)

Nguồn: Tâm Lý Học & Khoa Học Hành Vi  

From: Langthangchieutim


 

HỎI: Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận?

HỎI: Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận?

Đặt bạn vào vị trí của một Triết gia, Khoa học gia, nhà Thần học, bạn nghĩ gì về: sự Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận? Chúng liên kết nhau thế nào trong cuộc sống con người?

Đây là một câu hỏi mang tính gợi mở rất lớn, chạm đến những băn khoăn cốt lõi nhất về nhân sinh. Khi đặt ba góc nhìn — Triết gia, Khoa học giaNhà Thần học — bên cạnh nhau, ta không thấy sự bài xích lẫn nhau mà là một bức tranh toàn cảnh, đa chiều về cuộc sống.

GEMINI Tra Loi:

1. Dưới góc nhìn của Triết gia

Triết học coi ba khái niệm này là các trụ cột để định hình thái độ sống và tư duy nhân sinh:

  • Vô thường (Impermanence): Là bản chất của thực tại. Mọi vật, mọi trạng thái hay cảm xúc đều nằm trong dòng chảy biến đổi liên tục. Triết gia cổ đại Hy Lạp Heraclitus từng đúc kết: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” — bởi cả dòng nước lẫn con người bước xuống đó đều đã khác đi từng giây.
  • Nhân quả (Causality): Là quy luật của trách nhiệm. Mọi suy nghĩ, lựa chọn và hành động hôm nay đều là nguyên nhân gieo vào thực tại, từ đó gặt hái kết quả trong tương lai. Nhân quả gạt bỏ sự ngẫu nhiên vô nghĩa, khẳng định con người là chủ thể tạo nên số phận của chính mình.
  • Định mệnh / Số phận (Fate / Determinism): Là cuộc đối thoại giữa Tính tất địnhÝ chí tự do (Free Will). Định mệnh không hẳn là một kịch bản bất biến được gán sẵn, mà là tập hợp những điều kiện ban đầu nằm ngoài tầm kiểm soát của ta (nơi sinh ra, thời đại, gia cảnh).

Góc nhìn triết học: Vô thường nhắc ta buông bỏ sự bám chấp; Nhân quả nhắc ta sống có trách nhiệm; còn Định mệnh nhắc ta biết chấp nhận những gì không thể thay đổi để tập trung vào những gì có thể chuyển biến.

2. Dưới góc nhìn của Khoa học gia

Khoa học không dùng các khái niệm tâm linh, nhưng giải thích các hiện tượng này bằng những ngôn ngữ chính xác của tự nhiên:

  • Vô thường $\rightarrow$ Entropy và Sự tiến hóa: Vũ trụ luôn vận hành theo định luật Nhiệt động lực học — mọi hệ thống từ ngôi sao, tế bào đến xã hội đều đi từ trật tự đến biến đổi và tan rã. Sự sống diễn ra nhờ quá trình không ngừng trao đổi chất và đột biến gen.
  • Nhân quả $\rightarrow$ Nguyên nhân & Hậu quả (Cause and Effect): Đây là nền tảng của phương pháp khoa học và Vật lý cổ điển. Định luật Newton, các phản ứng hóa học hay y học hiện đại đều dựa trên nguyên lý: không có kết quả nào xuất hiện mà không có nguyên nhân báo trước.
  • Định mệnh $\rightarrow$ Điều kiện biên & Xác suất (Probability): Khoa học xem “định mệnh” là sự kết hợp giữa mã gen, môi trường sống ban đầutính ngẫu nhiên/xác suất (như trong Cơ học lượng tử hay Lý thuyết hỗn loạn – Chaos Theory). Việc một người mắc bệnh hay gặp may mắn thường là sự tương tác giữa yếu tố di truyền, hành vi và xác suất thống kê.

Góc nhìn khoa học: “Số phận” là bộ bài ngẫu nhiên mà tự nhiên chia cho bạn, nhưng cách bạn chơi bộ bài đó tuân theo các quy luật nhân quả của vật lý, sinh học và hành vi.

3. Dưới góc nhìn của Nhà Thần học

Trong thần học và các truyền thống tôn giáo lớn, ba yếu tố này gắn kết chặt chẽ với tâm linh và đạo đức:

  • Phật giáo:
    • Vô thường ($Anicca$) là cốt lõi của thế gian.
    • Nhân quả / Nghiệp ($Karma$) là quy luật công bằng của vũ trụ. Nghiệp không phải là sự trừng phạt hay ban thưởng từ bên ngoài, mà là phản chiếu tự nhiên của hành vi ($Cetanā$).
    • Số phận: Phật giáo phủ nhận một định mệnh cố định. Nghiệp cũ tạo ra hoàn cảnh hiện tại, nhưng “nghiệp mới” tạo ra ngay trong giây phút này có thể chuyển hóa và thay đổi hoàn toàn tương lai.
  • Kitô giáo & Các tôn giáo Abraham:
    • Sự Quan phòng (Divine Providence) & Tự do ý chí: Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ có trật tự và có ý định tối thượng. Tuy nhiên, Ngài ban cho con người tự do ý chí để tự lựa chọn con đường của mình.
    • Nhân quả: Được thể hiện rõ qua nguyên lý gieo-gặt: “Ai gieo giống nào sẽ gặt thứ ấy”.

Góc nhìn thần học: Vô thường giúp con người nhận ra tính ngắn ngủi của đời sống trần thế để hướng về giá trị vĩnh cửu; Nhân quả và Định mệnh là bài học tâm linh để con người rèn luyện sự khiêm nhường, lòng tin và tình yêu thương.

4. Sự liên kết giữa ba yếu tố trong cuộc sống con người

Nếu dung hợp cả ba góc nhìn thành một hình ảnh ẩn dụ, cuộc đời con người giống như một hành trình chèo thuyền trên dòng sông:

[Định mệnh / Số phận]       [Vô thường]            [Nhân quả]

(Điều kiện ban đầu &        (Dòng chảy &        (Cú chèo lái &

 Những yếu tố khách quan)    Thời tiết thay đổi)  Lựa chọn hướng đi)

          │                       │                     │

          └───────────────────────┼─────────────────────┘

                                  ▼

                     [Cuộc đời & Tương lai con người]

  1. Định mệnh là chiếc thuyền bạn được trao và điểm xuất phát trên sông (bạn không chọn được nơi mình sinh ra, gen di truyền hay gia cảnh).
  2. Vô thường là bản chất của dòng sông (nước luôn chảy, thời tiết có lúc giông bão, có lúc êm đềm; sức khỏe và cảnh trí hai bên bờ luôn đổi thay).
  3. Nhân quả là cách bạn cầm mái chèo (mỗi quyết định rẽ trái, rẽ phải, chèo tiếp hay dừng lại đều quyết định vị trí của con thuyền ở khúc sông tiếp theo).

Lời kết

  • Nhận thức Vô thường mang lại sự tĩnh lặng và khả năng thích ứng trước sóng gió.
  • Hiểu rõ Nhân quả trao cho bạn sức mạnh và sự chủ động để gieo những điều tốt đẹp ngay từ hôm nay.
  • Chấp nhận Định mệnh mang lại sự bình an, giúp bạn ngưng oán trách những điều không thể chọn lựa.

Sự tương tác liên tục giữa ba yếu tố này chính là nét đẹp và ý nghĩa sâu xa nhất của hành trình làm người: Dù không thể chọn bộ bài được chia, bạn luôn có toàn quyền quyết định cách mình sẽ chơi bài.


 

CHUYỆN DÀI NGÔN NGỮ MIỀN NAM ĐÃ DẦN BỊ BẮC CỘNG HÓA!

Tâm Trần

 Sau ngày 30/04/1975 thì ngôn ngữ quái dị của miền Bắc đã lan truyền khắp miền Nam và bây giờ người dân miền Nam đã quên hay cố tình quên 2 chữ “Đá Banh” và thay vào đó là 2 chữ dị hợm – “Bóng Đá”! Bóng làm sao biết Đá ….

– “Thắng Xe” mà lại gọi là “Phanh Xe” ….

– “Vỏ Xe” mà lại gọi là “Lốp Xe” …

– “Chiếc Xe Hơi” mà lại gọi là “Con Xe hoặc Ô Tô” ….

– “Bảng Số” mà lại gọi quái gở là “Biển Số” … ở ngoài Biển làm gì có số? ….

– “Trái” mà đổi lại gọi là “Qủa”.

– “Quẹo Phải hoặc Quẹo Trái” mà lại nói là “Rẽ Phải – Rẽ Trái”.

– “Đậu Xe” mà lại nói là “Đỗ Xe”.

– “Xe Đò” quen thuộc cũng biến mất, thay vào đó là “Xe Khách”.

– “Khoảng 4 giờ”, thay vào đó là nói “Tầm” (Tầm 4 giờ chẳng hạn).

– “Một Đôi hay Một Cặp” mà lại cố tình nói SAI là “Cặp Đôi” tức là 4 … (Cặp là 2, Đôi cũng là 2).

– “Thập Niên” tức là 10 Năm mà bây giờ lại nói SAI là “Thập Kỷ” tức 1000 năm … (Century là 100 năm tức 1 Thế Kỷ … 9 Thế kỷ là 900 năm và 10 Thế kỷ là 1000 năm).

– “Đài Truyền Hình” mà lại nói là “Kênh Truyền Hình – Kênh Youtube”.

– “Phát Thanh hoặc Phát Hình” mà lại nói là “Phát Sóng”. Sóng làm gì có âm thanh và có hình mà phát!

– “Hợp Ca” mà lại nói là “Tốp Ca” và hai chữ “Hòa Âm” cũng bị thay vào đó là “Phối Âm”.

– “Bảo Đảm” mà đổi ngược lại nói là “Đảm Bảo”.

– “Hộp Thư” mà lại nói là “Hòm Thư”.

– Cái “Rương” đựng quần áo đổi lại gọi là cái “Hòm”.

– “Ly Bia” mà lại nói là “Cốc Bia”.

– “nước Dùng” chứ không nói là “nước Lèo” (nấu Hủ Tíếu, nấu Phở).

– “Căn Nhà” mà bây giờ lại nói là “Căn Hộ”.

– “Passport” không còn gọi là “Sổ Thông Hành” mà lại gọi là “Hộ Chiếu”.

– “Biên Giới” tức là giới ranh thì lại nói quái dị là “Cửa Khẩu”.

– “Quan Thuế Phi Cảng, Quan Thuế Hải Cảng”; thay vào đó thì ở Phi Trường hay ở Bến Cảng đều gọi là “Hải Quan”.

– “Phi Đạo” thì cũng gọi theo miền ngoài là “Đường Băng”.

– “Hàng Không Mẫu Hạm” mà chỉ biết “Tàu Sân Bay”

– “Chiến đấu cơ F35B thì lại gọi là “Tiêm Kích”.

– “Diễn Hành” nói là đi “Diễu Hành” tức là đi diễu cợt làm trò hề cho thiên hạ xem.

– “Đánh Nhau hay Đánh Lộn” mà bây giờ lại nói là “Tác Động Vật Lý”!

– “Người Điều Khiển Chương Trình”, thay vào đó là “Người Dẫn Chương Trình”.

– “Bực Mình hay “Bực Bội Khó Chịu” thì lại nói là “Bức Xúc”.

– “Bùng Binh” đổi lại gọi là “Vòng Xuyến”.

– “Chợ Đêm Saigon” gọi là “Phố Đêm Saigon”.

– “Ga Xe Điện” (Platform) gọi là “Ke Ga”, từ ngữ quái đản thô kệch.

– “Bàn Ủi”, thay vào đó gọi là “Bàn Là”.

– “Chích Ngừa” mà đi “Tiêm Chủng”.

– “Điều Tra” gọi là“Vào Cuộc”; vào cuộc là như thế nào? vào tham gia cuộc chơi hay sao?

– “Hồi Âm” như thế nào? thay thế vào đó 2 chữ “Phản Hồi” quái dị!

– “Đáp Số” cũng thay vào đó 2 chữ “Đáp Án”.

– “Số Điểm” đổi ngược là “Điểm Số”.

– “Hành Hung” mà chỉ biết nói “Tương Tác” xuất xứ từ ngoài vĩ tuyến.

Còn rất nhiều những ngôn ngữ quái đản của lũ khỉ rừng dốt nát chế ra … như “trộm vía”, “dư địa”v.v … không thể nói hết ở đây được!

Riêng những người Việt ở hải ngoại cũng đã bị Bắc hóa về ngôn ngữ không thua kém gì dân miền Nam, nhất là những người làm truyền thông và những trường học dạy tiếng Việt toàn dùng từ ngữ SAI bét…

Coi như tiếng Việt, chữ Việt phong phú trong sáng thanh tao càng ngày càng bị biến đổi và biến mất.

Buồn thay cho một nền ngôn ngữ của một vùng miền đang bị lãng quên dần!

DIỆP HẢI DUNG 


 

 Alexander Đại đế (356–323 TCN) là vị vua chinh phạt vĩ đại nhất lịch sử cổ đại

Học viện Wecap

 Alexander Đại đế (356–323 TCN) là vị vua chinh phạt vĩ đại nhất lịch sử cổ đại. Trước năm 30 tuổi, ông đã tạo ra một trong những đế chế rộng lớn nhất thế giới cổ đại, trải dài từ Hy Lạp đến tận Ấn Độ. Ông là biểu tượng của quyền lực tối thượng, sự giàu sang vô biên và vinh quang bất bại.

Thế nhưng, ở tuổi 32, khi đang ở đỉnh cao quyền lực tại Babylon, ông bất ngờ lâm trọng bệnh. Đứng trước cái chết cận kề, nhìn lại vương quốc bao la dưới chân mình, vị hoàng đế trẻ tuổi nhận ra tất cả những cuộc chinh phạt, máu và nước mắt đổ ra bấy lâu nay bỗng trở nên vô nghĩa.

Ông triệu tập các tướng lĩnh trung thành lại và đưa ra 3 nguyện ước cuối cùng để ghi vào di chúc:

“Ta muốn các ngự y giỏi nhất phải đích thân khiêng linh cữu của ta ra nghĩa trang.”

“Ta muốn tất cả vàng bạc, châu báu, kim cương mà ta đã tích lũy suốt cuộc đời phải được rải đầy trên con đường dẫn ra mộ của ta.”

“Ta muốn hai bàn tay của ta phải được để thò ra ngoài linh cữu, mở rộng và ngửa lên trời cho tất cả mọi người nhìn thấy.”

Các tướng lĩnh vô cùng kinh ngạc, không hiểu lý do của những yêu cầu kỳ lạ này. Alexander Đại đế thoi thóp giải thích:

“Ta muốn ngự y khiêng quan tài để mọi người hiểu rằng: Dù là những bác sĩ giỏi nhất thế giới, họ cũng hoàn toàn bất lực trước cái chết.

Ta muốn rải vàng bạc trên đường để nhắc nhở thế gian: Của cải mà ta dành cả đời cướp bóc, tích lũy, cuối cùng cũng chỉ nằm lại trên mặt đất.

Và ta muốn để hai bàn tay trống rỗng ra ngoài để ai nấy đều thấy: Ta đến với thế giới này bằng hai bàn tay trắng, và ta cũng ra đi với hai bàn tay trắng.”

Giai thoại về cái chết của Alexandros là một tiếng chuông cảnh tỉnh sâu sắc cho cái tôi luôn đói khát bận rộn của con người. Chúng ta hằng ngày lao đi như thiêu thân để tích lũy tiền tài, địa vị, danh vọng, tự tạo ra áp lực và làm tổn thương tâm hồn mình vì sợ mất mát. Sống tỉnh thức là nhận diện rõ bản chất tạm thời của vật chất. Hãy sử dụng của cải như phương tiện phụng sự cuộc sống, nhưng đừng để mình bị dính mắc và trở thành nô lệ của chúng. Khi biết buông xả sự bám chấp, bạn sẽ tìm thấy sự tự do đích thực ngay trong từng phút giây hiện tại. 


 

Nhật Bản và Việt Nam…- Thái Hạo

Thái Hạo

Cách đây mấy ngày, thấy có tờ báo đăng tin hai thanh niên Nhật Bản bị bắt vì tội… dùng đũa cá nhân để gắp gừng trong chiếc lọ đựng gia vị trên bàn ăn của một nhà hàng, rồi quay clip và post lên mạng xã hội. Chủ quán báo cảnh sát, vì hành động “mất vệ sinh” này làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ! Thôi, chắc không cần bình luận nữa về sự nghiêm ngặt của luật pháp xứ ấy.

Tình cờ là cũng hôm trước, tôi có mấy người bạn ghé chơi, trong đó có 2 người mới từ Nhật về nước. Một ông nói, đi 7 năm, về Việt Nam hai tháng rồi nhưng vẫn bị “sốc nhiệt”. Tôi hỏi vì sao bên đó đang làm ăn ngon lành thế mà lại về làm gì.

– Bị đuổi về. Vi phạm pháp luật.

Anh ta kể rằng, buôn xe hơi , mua phải một chiếc xe ăn cắp, bị bắt và giam 15 ngày, sau khi điều tra, kết luận đúng là mua nhầm chứ không phải tự mình ăn cắp, thì được thả nhưng trục xuất luôn.

Lạ là, dù bị bắt tạm giam, nhưng việc đầu tiên là cảnh sát hỏi về thực đơn và thói quen ăn uống của mình, thích ăn những món gì, khẩu vị ra sao…, có nhu cầu gì thay đổi về đồ ăn thì cứ “yêu cầu”, họ phải đáp ứng hết. Bị giam nhưng nhiều lúc quên mất là mình đang phạm tội, vì nào là kêu bật điều hòa, tăng nhiệt độ, giảm nhiệt độ, rồi nói đi mua thứ này, đi lấy thứ kia…, cảnh sát chỉ việc “ngoan ngoãn” làm theo yêu cầu. Không bao giờ có chuyện to tiếng hay tỏ thái độ bất lịch sự với mình, chỉ một lòng cúc cung “phục vụ”.

“Hết 15 ngày sau khi đã có kết luận thì được thả, về toà Đại sứ đang chuẩn bị lên đường hồi hương theo lệnh của chính quyền Nhật thì có người của sở cảnh sát tới, mang theo một chiếc áo. Chiếc áo này tôi bỏ quên ở chỗ giam giữ. Mà thực ra cũng chẳng phải bỏ quên, áo rẻ tiền, lại cũ rồi, vứt đi chứ lấy làm gì. Nhưng họ phái 3 cảnh sát mang tới tận nơi, hỏi có phải áo của anh không, giao lại đường hoàng rồi mới đi”.

Ở Nhật, nếu vì lý do nào đó mà anh “ngủ bờ ngủ bụi” thì sẽ có cảnh sát đứng canh cho ngủ, không để ai làm phiền, khi nào anh tỉnh dậy họ có làm gì mới làm, tuyệt đối không quấy rầy giấc ngủ của anh, chỉ tận tụy đứng đó, giữ đồ và “canh giấc ngủ” cho anh!

Ông bạn này còn kể, có một ông già độc thân, cứ thi thoảng lại ăn trộm ít trái cây trong vườn nhà hàng xóm, để được đi tù! Thế là cứ ra tù là lại liền ăn trộm, vì ở trong tù sướng hơn ở ngoài nhiều. Trong đó, được chăm sóc tận tình và đối xử tử tế. Ở Nhật, cảnh sát và người nhà nước đúng nghĩa là “đầy tớ” luôn. Thử vi phạm giao thông mà xem, cứ ngồi trong xe bật điều hòa mát, họ tới ăn nói lễ phép, chỉ thiếu khúm núm xin được kiểm tra nữa thôi. Không bao giờ có chuyện hách dịch kiểu như ở Việt Nam, chứ đừng nói chuyện vòi tiền…

Anh ta nói, ở Nhật đúng là có hơi “phát xít” thật, vì quy tắc rất nghiêm, cái gì cũng phải nhất nhất tuân thủ, nhưng quyền con người cao lắm, không ai được nhân danh nhà nước để xúc phạm hay đối xử thô bạo với anh, dù anh có phạm tội gì đi chăng nữa.

Còn một chuyện lạ đời này nữa: Ví dụ, người dân trồng vài cây trái trong vườn nhưng chính yếu để cho đẹp chứ rất ít khi ăn, thường để rụng đầy gốc, rồi ra siêu thị mua về dùng. Lý do là cây trái tự mình trồng thật đấy, nhưng vẫn không “chắc ăn”, cứ ra cửa hàng hay siêu thị mua về, ăn nếu lỡ có vấn đề gì thì có chỗ mà bắt đền. Thực phẩm trên thị trường Nhật gần như tuyệt đối an toàn, và nếu có nơi nào bán đồ mà ăn vào “có vấn đề gì” thì chỗ đó chỉ có điêu đứng. Oái oăm thay, ở ta mà muốn bán được hàng thì phải kèm theo câu “nhà làm”…

Những chuyện lan man không đầu không đuôi như thế nhưng cứ làm hiện dần lên hình ảnh của hai đất nước, như thuộc về hai cõi khác nhau. Đến bao giờ chúng ta mới có được một xã hội vừa nghiêm khắc nhưng lại cũng rất tự do và nhân văn, không còn coi “Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay”* mà vụ án cô giáo Dung vừa minh họa một cách hùng hồn?

Ông bạn bảo, 200 năm nữa, may ra…

Thái Hạo

*****

Lời thơ cô giáo Trần Thị Lam:

“Đất nước mình lạ quá phải không anh

Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ

Những dự án và tượng đài nghìn tỉ

Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…”