TƯ TIẾU NGUYỄN HỮU QUANG: THÊM MỘT MẢNH VỠ CỦA THẦN TƯỢNG

Tạp chí Thế Kỷ Mới

TƯ TIẾU NGUYỄN HỮU QUANG: THÊM MỘT MẢNH VỠ CỦA THẦN TƯỢNG

Trong thế kỷ XXI, tượng đài không còn sụp đổ bằng thuốc nổ. Chúng sụp đổ từng mảnh vỡ dưới sức nặng của thông tin và sự thật trần trụi. Mỗi tài liệu được công bố. Mỗi hồi ký được xuất bản. Mỗi nhân chứng ra đi. Mỗi câu hỏi chưa được trả lời. Tất cả hợp lại thành những vết nứt lớn trên khối đá cẩm thạch tưởng như bất khả xâm phạm.

Những ngày gần đây, trên mạng xã hội lại lan truyền thông tin về sự ra đi của ông Nguyễn Tất Trung – người mà nhiều nguồn tư liệu ngoài luồng từ lâu vẫn cho là con trai ruột của Hồ Chí Minh với bà Nông Thị Xuân (1 & 2). Tin tức ấy, dù chưa được báo chí chính thống xác nhận, vẫn tạo nên một làn sóng bình luận đáng chú ý. Không phải bởi một nhân vật quyền lực vừa qua đời, mà bởi nó gợi lại một câu hỏi chưa bao giờ thực sự khép lại trong lịch sử hiện đại Việt Nam: Liệu phía sau bức tượng đài chính trị được xây dựng suốt nhiều thập niên có còn những góc khuất nào chưa được nói hết?

Ngay cả trong những ngày này, dư luận vẫn xôn xao quanh cuốn “Chuyện của Thanh”. Cuốn sách ấy không làm sụp đổ một huyền thoại nào ngay lập tức. Nhưng nó góp thêm một vết rạn trên bề mặt vốn được đánh bóng quá kỹ (3). Một thần tượng chính trị chỉ có thể tồn tại khi đời tư và con người thật của nhân vật ấy được đặt ngoài mọi câu hỏi. Một khi những câu hỏi bắt đầu xuất hiện, dù đúng hay sai, dù được chứng minh hay chưa, thì hào quang của sự bất khả nghi cũng bắt đầu mất đi.

Nếu câu chuyện Nguyễn Tất Trung là đúng, thì đây không chỉ là bi kịch của một cá nhân. Đó còn là bi kịch của một chế độ chính trị đã buộc một con người phải sống cả đời trong vùng tối của lịch sử (4). Một đứa trẻ sinh ra nhưng không được công khai nguồn gốc. Một người đàn ông lớn lên trong sự im lặng. Một cuộc đời bị đặt bên lề chính huyền thoại mà mình được cho là một phần của nó. Không có gì làm tổn thương một thần tượng mạnh hơn sự hiện diện của những nhân chứng sống.

Nếu câu chuyện ấy không đúng, thì bản thân việc nó tồn tại dai dẳng suốt hơn nửa thế kỷ cũng đã là một hiện tượng đáng suy nghĩ. Bởi trong các xã hội dân chủ, những nghi vấn như vậy thường được giải quyết bằng hồ sơ lưu trữ, bằng nghiên cứu độc lập, bằng tranh luận công khai. Còn trong các xã hội nơi lịch sử bị quản lý như một loại tài sản chính trị, những khoảng trống thông tin lại trở thành môi trường màu mỡ cho huyền thoại và phản huyền thoại cùng sinh trưởng.

Hồ Chí Minh. Nguồn: internet.

Vấn đề vì thế không còn là ông Nguyễn Tất Trung là ai. Vấn đề nằm ở chỗ vì sao sau hàng chục năm, xã hội Việt Nam vẫn không có được một câu trả lời được chấp nhận rộng rãi. Một nền chính trị tự tin vào sự thật sẽ không sợ sự thật. Chỉ những nền chính trị phụ thuộc vào huyền thoại mới phải sợ hồ sơ, sợ ký ức và sợ nhân chứng (5).

Trong thế kỷ XXI, tượng đài không còn sụp đổ bằng thuốc nổ. Chúng sụp đổ từng mảnh dưới sức nặng của thông tin và sự thật trần trụi. Mỗi tài liệu được công bố. Mỗi hồi ký được xuất bản. Mỗi nhân chứng “ra đi”. Mỗi câu hỏi chưa được trả lời. Tất cả hợp lại thành những vết nứt lớn trên khối đá cẩm thạch và hoa cương tưởng như bất khả xâm phạm.

Có thể đối với nhiều người, câu chuyện Nguyễn Tất Trung chỉ là một giai thoại bên lề lịch sử. Nhưng đối với người khác, nó lại là thêm một mảnh ghép cho thấy khoảng cách giữa con người bằng xương bằng thịt và hình ảnh chính trị được kiến tạo. Và một khi khoảng cách ấy ngày càng lớn, thì việc thần tượng bị hạ xuống khỏi bệ thờ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Lịch sử cuối cùng luôn có cách đòi lại sự thật của mình (6). Chậm chạp, quanh co, nhiều khi kéo dài qua nhiều thế hệ. Nhưng nó không quên. Và mỗi lần một nhân vật, một tài liệu hay một ký ức bị lãng quên trở lại với công chúng, bức tượng của quá khứ lại mất thêm một mảnh đá.

Có lẽ, điều đáng suy ngẫm nhất không phải là một con người đã ra đi. Điều đáng suy ngẫm là tại sao sau hơn nửa thế kỷ, những câu chuyện như thế vẫn tiếp tục ám ảnh xã hội Việt Nam (7). Bởi đó là dấu hiệu cho thấy cuộc đối thoại giữa lịch sử và sự thật vẫn chưa kết thúc. Và ngày mà mọi huyền thoại phải đối diện với toàn bộ hồ sơ của mình, có lẽ không còn xa nữa.

Tư Tiếu Nguyễn Hữu Quang

—————————

Chú thích:

(1) https://baotiengdan.com/…/dai-ta-nguyen-tat-trung-qua-doi/

(2) https://baotiengdan.com/…/them-thong-tin-ve-dua-con-vo…/

(3) https://thongluan-rdp.online/…/lam-ban-ve-cuoc-dau-to…/

(4) https://www.facebook.com/groups/2475681322821562/posts/2902539023469121/ (MẬT THƯ LIÊN QUAN ĐẾN HỒ CHÍ MINH (Lưu giữ tại VP Chủ tịch Quốc Hội CSVN)

(5) https://vi.wikipedia.org/…/N%C3%B4ng_Th%E1%BB%8B_Xu%C3%A2n (Nông Thị Xuân, vợ bé của Hồ Chí Minh)

(6) https://baotiengdan.com/…/bi-mat-cuoc-doi-cua-nguyen…/

(7) https://vietbao.com/…/hay-giai-oan-nghiet-cho-dong-ho…

https://thekymoi.media/tu-tieu-nguyen-huu-quang-them-mot…/ 


 

Nếu Muốn Thấu Hiểu Cuộc Đời, Hãy Một Lần Ghé Thăm 3 Nơi Này

Maria Tran Thi Ha is at Hospital Conde S. Januário. 

Macao, Macau

Nếu Muốn Thấu Hiểu Cuộc Đời, Hãy Một Lần Ghé Thăm 3 Nơi Này

  1. Bệnh viện – Nơi ranh giới mong manh gọi tên “Sức khỏe”

Bước vào bệnh viện, bạn sẽ nhận ra sự sống này vốn dĩ mỏng manh đến nhường nào. Ở nơi mà tiếng máy thở và nhịp tim là âm thanh chủ đạo, mọi khoảng cách giàu nghèo, địa vị đều bị xóa nhòa. Người giàu nhất hay nghèo nhất cũng đều phải nằm trên những chiếc giường giống nhau, kết nối với những hàng máy móc vô hồn, và cùng đau đớn cầu xin định mệnh cho mình thêm chút ít thời gian.

Note: Khi đối diện với sinh tử, bạn mới thấu hiểu sâu sắc rằng: Sức khỏe chính là khối tài sản vô giá nhất, còn mọi danh vọng, tiền tài ngoài kia suy cho cùng cũng chỉ là phù phiếm.                                                                         

 2. Nhà tù – Nơi một bước chân đánh đổi bằng “Tự do”

Đằng sau những chấn song sắt lạnh lẽo và những bức tường kiên cố của nhà tù là cái giá quá đắt của những bài học cuộc đời. Ở nơi đây, bạn sẽ bàng hoàng nhận ra một tương lai tươi đẹp có thể bị đập tan hoàn toàn chỉ vì một sai lầm nhất thời, một phút đặt niềm tin sai chỗ vào người bạn tồi, hay chỉ một khoảnh khắc nóng giận không kiềm chế được bản thân.

Note: Nơi đây dạy chúng ta về sức nặng của mỗi lựa chọn. Chỉ khi nhìn thấy những con người đang khát khao quyền làm chủ cuộc đời mình sau lớp cửa giam, bạn mới thấu hiểu rằng: Tự do – thứ chúng ta đang vô tình coi là hiển nhiên và phung phí mỗi ngày – lại chính là món quà xa xỉ, tuyệt vời nhất mà một con người có thể sở hữu.

  1. Nghĩa trang Nơi cát bụi tĩnh lặng nhắc nhở về “Tình yêu”

Điểm đến cuối cùng của hành trình kiếp người chính là nghĩa trang. Đứng trước những ngôi mộ nằm lặng yên san sát, nhìn những cái tên được khắc sâu vào đá lạnh, bạn sẽ chẳng thể tìm thấy bất kỳ dòng chữ nào ca ngợi sự giàu sang, tôn vinh sắc đẹp hay ghi danh địa vị lúc sinh thời. Tất cả những gì còn lại chỉ vỏn vẹn là một mốc ngày sinh và một mốc ngày tử. Mọi hào nhoáng, tranh đấu, hơn thua ở khoảng giữa hai mốc thời gian ấy, cuối cùng đều chìm vào khoảng lặng mênh mông của đất mẹ.

Note: Đời người ngắn ngủi tựa như một cái chớp mắt. Khi tất cả chỉ còn là cát bụi, thứ duy nhất ở lại và tồn tại mãi mãi với thời gian không phải là những gì bạn đã cố công tích lũy cho bản thân, mà chính là tình yêu thương, lòng trắc ẩn và những di sản tốt đẹp mà bạn đã kịp để lại cho cuộc đời này. 


 

CHA TÔI – Nguồn fb Loan Ngẫn – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 CHA TÔI – Nguồn fb Loan Ngẫn

Năm ấy tôi lên mười thì mẹ tôi bỏ nhà theo người đàn ông khác.

Bà chê cha tôi nghèo và hèn làm mãi không khấm khá lên được.

Mẹ tôi te tái gói ghém rồi quảy quả xách túi quần áo ra đi.

Bước qua bậu cửa, đi qua cha tôi đang gục đầu xuống hai lòng bàn tay, 

mắt mẹ tôi cũng chẳng nỡ nhìn.

Bà đi những bước đi róng riết tức tối và cứ như là mỗi bước đi trút bớt một gánh nặng.

Mẹ tôi chỉ dừng lại cuối sân khi nghe tiếng tôi thét lên: “mẹ! Mẹ ơi!”

Bà dừng lại mươi giây, hình như lỡ một nhịp chân.

Bà không ngoảnh lại rồi săn sẻ bước tiếp.

Cha tôi thinh lặng, ông ôm chặt lấy tôi khi tôi nhào xuống sân định đuổi theo mẹ ra ngõ.

Cả người cha tôi rung lên bần bật theo từng tiếng nức nở của tôi.

Tết năm ấy mẹ tôi không về.

Chiều hăm chín Tết tôi chạy ngược triền đê, vừa chạy tôi vừa nức nở trong lòng hai tiếng:

“Mẹ, Mẹ ơi..”

gió bấc cắt vào má, vào tay tôi những làn sắc lạnh giá buốt.

Tôi cứ thế lớn lên trong sự thiếu vắng hơi mẹ.

Cha tôi là tất cả đối với tôi, tôi cũng là tất cả với ông ấy.

Người ta buồn thì hay uống rượu, chỉ cha tôi là không.

Ông nuốt những nỗi buồn đau tình phụ vào lòng bằng sự im lặng đến buốt giá.

Các bà hàng xóm hay thì thèo hỏi vào tai tôi:

“Mẹ có về không?

Cha buồn có uống rượu không?”

Lắm đêm tôi học bài chán chê, chui vào mùng ngủ đã đời tỉnh dậy vẫn thấy cửa hé mở, sân vắng đầy ánh trăng suông, cha tôi ngồi chết lặng như thế mặc cho sương rơi ướt bực thềm, trăng rơi đầy vai đầy tóc ông.

Tôi bật dậy nhào đến ôm chặt lấy thân hình gầy gò  lạnh cóng của cha tôi.

– Sao cha không uống rượu cho bớt buồn?

Sao cha buồn mà không chịu khóc?

Tôi vừa thổn thức, vừa đập tay như điên dại vào khuôn ngực của cha tôi.

Ông cứ vậy, chết lặng, im lìm tiếp tục để nuôi tôi sống.

* Cha tôi bảo con đừng trách mẹ.

Đàn bà khi khổ cực quá, khi đa đoan quá hoặc xinh đẹp quá trong lòng thường hay dậy sóng.

Có những con sóng mà chỉ trong những khoảnh khắc rất ngắn thôi nếu không đủ bản lĩnh và lý trí để trụ vững thì sẽ bị sóng vô hình đó cuốn đi xa bờ bến.

Nó đẩy cuộc đời sang những ngã rẽ bất ngờ đầy đau khổ.

Sau này tĩnh tâm hoặc đằm người đàn bà có hối tiếc nhưng muộn mất rồi.

Người làng bảo mẹ tôi lấy chồng ở Bến Bính, mẹ tôi rất đẹp nên lấy chồng giàu có lắm,  bà thường ngược xuôi trên những con đò nan khi thì bám mích tàu Tây buôn đồ ngoại, khi thì bán dầu bán nhu yếu phẩm cho các thuỷ thủ tàu Việt nam.

Cha làm mọi việc, làm quần quật để thoát nghèo và như để trút nỗi hận vào kiếp nghèo nàn do đó mà mẹ tôi phải bỏ cha con tôi.

Ông làm phu cát ở bến đò Vạn hoá, bốc gạch, đi đáy, phụ hồ làm tất tật những gì có thể để nuôi tôi.

Ngày ấy Thuỷ nguyên nối với nội thành Hải phòng bằng những chuyến phà chạy qua sông Cấm.

Tôi không nhớ mẹ, tôi ghét mẹ.

Ba bốn cái Tết bà bỏ đi mà chưa một lần từng trở lại thăm tôi.

Làng Lâm với bến Bính đâu xa.

Bác hàng xóm bảo chỉ cần tôi đi qua Hoa động, qua cầu Đen cứ đi thẳng tay phải là tới bến Bính.

Nơi ấy tôi có thể gặp mẹ!

Một buổi cha tôi đi làm cát rất sớm, tôi trở dậy cho lợn gà chó má ăn xong, bỗng tự nhiên tôi bần thần nhớ mẹ.

Trời mới vừa tang tảng sáng, lối đi còn ướt đẫm sương rơi, tôi chạy một mạch qua cổng làng chạy miết chạy miết theo lời bác hàng xóm…

Tôi ngơ ngác sợ hãi giữa dòng người và xe thồ hàng.

Chiếc phà cập bến, người xuống kẻ lên ngược ngược xuôi xuôi, bơ vơ và không định hướng, tôi đứng chết trân nép vào một mái quán bên đường.

Bến Bính với những mái nhà tạm lợp bằng giấy dầu và những khúc cây đè lên mái vì sợ gió bão thổi bay.

Những khuôn mặt người lạnh lùng vội vã.

Tôi thấy sợ hãi, tôi nhớ cha và nước mắt chảy dài, lòng cứ thì thầm gọi hai tiếng mẹ, mẹ ơi..

tôi đứng mãi đứng mãi chẳng thể nào biết đi về hướng nào để tìm thấy mẹ của mình.

Bóng nắng đã xế dưới chân tôi.

Một mình tôi lại lầm lũi trở về làng.

Sau lần ấy tôi không bao giờ đi tìm mẹ nữa.

Năm tôi học hết cấp ba, cây cầu Bính được khánh thành.

Một buổi trưa tháng năm tôi đạp xe về nhà sau buổi liên hoan.

Trên giỏ xe vẫn còn chùm phượng vĩ, vừa bước vào nhà thì tôi nhìn thấy cha tôi ngồi trên cánh phản giữa nhà, dưới sàn là bà mẹ của tôi, hơn mười năm tôi mới lại gặp lại,nhưng thoạt nhìn tôi nhận ra ngay. 

Bà ấy khuỵ xuống giữa nhà nức nở khóc gọi tên cha, xin lỗi cha để bà gặp tôi lần cuối. ..

Rất nhiều năm sau cái chết của người đàn bà mà tôi gọi bằng mẹ, tôi vẫn nhớ như in lời bà ấy nói với cha tôi.

Bà ấy đã từng rất yêu cha, yêu tôi, nhưng Phía sau tình yêu còn có những cám dỗ, những thấp hèn, toan tính và cả rất nhiều thứ vụn vặt rất người.

Bà ấy đã không vượt qua được nên để đánh mất tình yêu và gia đình.

Mẹ tôi chết rất trẻ, năm ấy bà mới có bốn mấy tuổi vì căn bệnh ung thư.

Những tháng ngày cuối cùng của cuộc đời bà bỗng thấy nhớ tôi,

nhớ những ngày tháng cũ, bà ân hận nhưng tất cả đều là quá muộn.

Tôi lớn lên với một bên lòng mang nỗi hận mẹ mình.

Cha tôi cả cuộc đời cô độc bởi tình yêu duy nhất ông chỉ dành cho một người đàn bà. 

Sau này cha tôi trở nên khá giả và giàu có nhờ mở bãi buôn gạch cát.

Cũng rất nhiều người đàn bà đến gần, người ve vãn gia tài, người thật dạ thương yêu nhưng cha vẫn chẳng lấy một ai.

Cuộc đời công bằng đối với tôi, đời lấy đi của tôi tình yêu của người mẹ từ khi tôi còn quá bé, nhưng bù lại tôi được cả tình thương của cha thời ấu thơ.

Khi lớn lên tôi gặp được một người đàn ông nữa cũng yêu tôi không kém gì cha.

Nhưng anh ấy yêu tôi bằng tình yêu lứa đôi và chồng vợ.

Cả cuộc đời này tôi hàm ơn họ.

Và với tôi, tình yêu là tất cả, phía sau tình yêu cám dỗ và mọi thứ chẳng là gì bởi với tôi.

Cha và chồng, hai người đàn ông trong cuộc đời tôi, họ vừa là bầu trời vừa là mặt đất này…

Nguồn fb Loan Ngẫn


 

BỐ NUÔI

BỐ NUÔI

 Ngày cưới của tôi và em đã được ấn định, tôi đón chờ ngày 08/05/2016 sắp tới như một món quà của cuộc đời cho em, cho tôi và cho cả người cha già của tôi nữa.  Vậy mà chỉ trong phút chốc, giấc mơ ấy tan tành, nó phá vỡ niềm tin của tôi, hạnh phúc của tôi nhưng đau khổ hơn thế, nó có thể biến tôi thành một người con bất hiếu mà có nằm mơ, cả cuộc đời này tôi cũng không dám nghĩ mình sẽ có ngày bất hiếu với cha… 

Em là người biết rõ hoàn cảnh của tôi.  Tôi mồ côi cha từ bé, mẹ tôi góa chồng năm mẹ 26 tuổi, mẹ có hai đứa con trai, đứa lớn 5 tuổi, đứa bé vừa mới 1 tuổi.  Trong làng ngoài xóm nói mẹ tôi số sát chồng, ông bà nội không nhìn nhận cháu.  Mẹ tôi một mình nuôi hai anh em tôi trong đớn đau và tủi nhục.  Trong làng có một người đàn ông tuổi đã ngoài 30 nhưng do di chứng của bệnh quai bị nên chẳng lấy vợ.  Người đàn ông ấy bất chấp tất cả, xin được cưu mang ba mẹ con tôi dù gia đình từ bỏ, làng xóm chê cười và bạn bè dè bỉu.  Người đàn ông đó chính là bố tôi.  Bố không sợ số phận, không sợ gì số sát phu của mẹ tôi mà đón nhận chúng tôi như chính các con do bố đứt ruột sinh thành …… 

Ba năm sau ngày bố tôi lấy mẹ, mẹ tôi mắc bệnh hiểm nghèo và qua đời.  Chôn vùi nỗi tiếc thương vợ, bố vẫn nói với mọi người rằng hai anh em tôi chính là món quà quí giá mà mẹ để lại. 

Từ ngày đó, nhà chỉ có ba bố con nhưng chúng tôi chưa bao giờ phải nhịn đói, cũng chưa từng nghỉ học dù chỉ một buổi.  Bố nhận tất cả công việc có thể (đóng gạch ba banh thuê, làm củ sứ điện, làm phụ hồ…) để nuôi chúng tôi khôn lớn.  Nhiều đêm thức giấc, hình ảnh bố tôi ngồi bên ngọn đèn khâu cặp sách cho anh em tôi mãi không bao giờ quên.  

Có lần, đoàn thợ nhận được công trình lớn nhưng phải xa nhà một tháng, bố tôi muốn đi lắm để kiếm được nhiều tiền, nhưng vì lo cho anh em chúng tôi ở nhà nên bố lại từ chối chỉ để ở cạnh các con.  Sau lần đấy, họ không nhận bố tôi làm thợ phụ nữa, bố lại chuyển sang nghề bốc vác thuê, cứ ai gọi là đi, bất kể ngày hay đêm, chỉ mong đủ tiền cho các con ăn học.  

Từ lúc tôi nhận thức được, tôi chưa thấy bố tôi khóc bao giờ.  Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi khóc là ngày tôi nhận giấy báo trúng tuyển Đại học Kinh tế Quốc dân (khóa 46).  Ngày hôm đó, bố tôi cầm tờ giấy báo trúng tuyển đại học của tôi mà hai tay run rẩy, bố để lên bàn thờ mẹ thắp hương rồi cứ thế mà khóc.  

Tôi và em trai chỉ biết nhìn bố mà không nói nên lời.  

Suốt những năm đại học, bố chưa bao giờ chậm gửi tiền đóng học phí cho tôi dù chỉ một ngày, mặc tôi nói tôi đi làm thêm, mặc tôi có học bổng bố vẫn gửi tiền đều đặn cho tôi và căn dặn tôi ăn uống đầy đủ, đừng làm thêm nữa, một mình bố làm là đủ rồi.  Năm hai đại học tôi bị tai nạn nặng và phải nhập viện gần một tháng.  Cả tháng đó, bố mang em trai lên Hà Nội chăm tôi, tôi bảo sao bố không để em ở nhà cho nó đi học thì bố bảo đi đâu bố cũng mang các con theo vì bố không yên tâm giao các con cho bất cứ ai.  Gần một tháng đó, ngày bố ra cầu Long Biên chờ người gọi việc bốc vác là làm, tối lại chăm sóc tôi trong viện.  Những ngày tháng đó, cả đời tôi không bao giờ quên…  

Tôi ra trường đi làm cũng chưa mua được gì cho bố, chỉ vài bộ quần áo mà mỗi lần mua, bố lại dỗi lên dỗi xuống kêu tốn tiền.  Tôi cũng mới sửa được cái nhà, cũng nuôi được em trai đại học.  Bố vẫn luôn thế, vẫn bắt tôi dành tiền để cưới vợ, để mua nhà ở Hà Nội, Bố bảo bố vẫn làm được, con đừng lo.  

Hôm nhà tôi sang nói chuyện người lớn với nhà em, tôi dẫn bố đi mua một bộ vest.  Bố bảo mua đắt lắm mà bố chỉ mặc có ba ngày (ngày dạm ngõ, ăn hỏi và ngày cưới).  Con thuê hay mượn cho bố cũng được, tiền đó còn để lo cỗ bàn.  Tôi ứa nước mắt, ép mãi bố mới chịu thử áo.  

Hôm nay tôi và em đi thử áo cưới.  Em vẫn đang thử đồ.  Điện thoại của em có tin nhắn Zalo của người bạn thân của em.  Tôi nghĩ cô ấy gửi lời chúc mừng nên mở ra xem.  Tôi không tin vào mắt mình khi nhìn đoạn chat giữa em và bạn ấy.  Em nói sao?  Em nói dù lấy tôi, em vẫn không muốn ở với bố tôi.  Em bảo rằng em không muốn chăm bố chồng hờ.  Em bảo với bạn rằng : “Ổng có đẻ ra chồng tao đâu mà tao phải chăm?  Cưới rồi cứ để ông ấy ở quê với thằng em…”  Còn nhiều, nhiều nữa mà tôi không thể đọc vì mắt cứ nhòe đi…  

Em từng nói sẽ chăm bố tôi, yêu thương bố tôi khi chúng tôi là vợ chồng, vậy bây giờ tôi nên tin lời em nói với tôi hay tin vào đoạn chat giữa em với bạn?  Em có thể yêu tôi ít đi nhưng thương bố tôi được không?  Người bố đã mang anh em tôi đến cuộc đời này.  Cho em một người chồng mà em vẫn ngày ngày nói yêu thương.  

Ngày cưới đã định, bố tôi vui mừng đi mời khắp xóm làng.  Bố tự hào về em, người con dâu có học thức.  Còn tôi, tôi ngồi đây trăn trở, khổ đau.  Liệu tôi có làm em thay đổi được không?  Liệu em có sẵn lòng thay đổi để thương yêu Bố tôi không?  Tôi sợ lắm một tình yêu ích kỷ, chỉ nghĩ cho bản thân.  Tôi vốn chỉ quen với tình yêu cho đi mà không bao giờ biết nhận lại của bố mà thôi.  

Gửi anh trai! 

Hôm qua tình cờ đứa bạn cho em đọc những lời tâm sự của anh trên group, em đã nhận ra ngay đó là anh của em.  Nước mắt em đã rơi.  Em không rơi nước mắt vì anh mà vì bố của chúng ta anh à.  

Khi anh viết lên những dòng tâm sự ấy, em hiểu anh đã phân vân nhiều lắm.  Để em kể anh nghe, nghe về bố của chúng ta những ngày anh vắng nhà, còn quyết định như thế nào thì tùy anh định liệu, em không dám cản ngăn.  

Ngày anh lên trường nhập học, em và bố lên Hà Nội cùng anh, anh còn nhớ chứ.  Lúc trở về, nhà Nội (Nội ruột gồm hai ông bà và hai chú) sang bảo Bố: “Thằng H có phải là con ông đâu mà ông đi khoe khắp đầu làng cuối xóm, nó đậu đại học là do gen nhà tao thông minh, chứ gen nhà mày thì chỉ có đi làm cửu vạn mà thôi.”  Hôm đó em đã lao vào ẩu đả với hai chú vì dám xúc phạm đến bố.  Em cứ lao vào vừa khóc vừa quơ tay đấm đá liên hồi.  Em không ý thức được việc em làm, em chỉ thấy đau vì họ sỉ nhục bố em.  Bố đã lôi em ra, giữ chặt tay em và xin lỗi nhà nội.  Bố hứa sẽ giữ lời ăn tiếng nói.  Đêm đó bố ngồi trầm ngâm cả đêm không ngủ.  Sáng hôm sau, bố bắt em quỳ gối và vụt em ba roi (dù lúc đó em đã lớp 9).  Bố nói dù có như thế nào cũng không được hỗn hào với nhà nội ruột…  

Sau lần đó, có ai hỏi về anh mắt bố cũng long lanh, khoe anh thông minh giống bố ruột chứ người như bố chỉ biết lao động thôi.  Suốt những năm anh học đại học, chưa bao giờ bố chậm gửi tiền cho anh, nhưng cũng chưa bao giờ bố biết tới ăn sáng, anh biết không?  Nồi cháo đậu đen hôm trước ăn không hết, hôm sau bố ăn qua quít rồi đi làm.  Bố hay bảo người Trung Quốc sáng họ thường ăn cháo buổi sáng mới thọ.  Bố muốn sống lâu để chăm sóc tụi bay.  Em chưa bao giờ nhịn ăn hoặc ăn cháo sáng dù chỉ nắm xôi hay bát mì.  Có lần anh gọi về bảo nộp tiền học tiếng Anh gì đó (em quên rồi,) bố đã đi vay khắp xóm cho đủ.  Bố đi mãi đến khi bố về thì đã hơn một giờ sáng.  Em nói: “Bố có gửi cho Nó chậm một ngày cũng đâu sao mà bố phải đêm hôm khuya khoắt thế này.”  Em xót bố thôi.  Bố tát em, lần đầu tiên bố tát em và khóc.  (Em nói Nó là cái trung tâm tiếng Anh chứ có phải nói anh đâu) thế mà bố đấm ngực và bảo em chưa ngoan là do lỗi bố không biết dạy dỗ.  Sau lần đó, em không  bao giờ dám nói bậy dù chỉ nửa lời.  

Ngày anh tốt nghiệp, bố mua cho anh bộ vest mà bốn tháng sau bố mới trả hết tiền, anh biết không?   

Em không  có ý định thi đại học vì hơn ai hết, em hiểu bố nhọc nhằn đến như thế nào.  Vậy mà bố dỗi, bố ốm cả tháng là em sợ đến phát ốm theo.  Em lao vào học và đỗ.  Ngày em đỗ vào Đại học Giao thông vận tải, bố không khoe ai nữa, chỉ lặng lẽ dắt em ra thắp hương mộ mẹ mà thôi.  

Em không biết anh yêu chị Q nhiều bao nhiêu.  Chị ấy có quyền làm khổ anh nhưng không có quyền làm khổ bố em, càng không có quyền xúc phạm bố chúng ta.  Anh quyết định sao cũng được, em cũng năm cuối đại học rồi, anh không phải lo nuôi em, cả bố nữa vì em sẽ cố gắng lo cho bố.  Chính vì thế mà em chưa dám yêu một ai vì em chưa tin rằng sẽ có ai đó có thể hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của chúng ta, chia sẻ với chúng ta và trân quí bố mình.  Nhưng anh khác và em khác.  Em sẽ mang bố theo em suốt cuộc đời này, anh đừng phải lo nếu anh còn phân vân. 

 Em: HVĐ

 Sưu tầm

From: Langthangchieutim


 

Cuối cùng, ai cũng phải học cách sống trong cô đơn

Kimtrong Lam 

Bài Học Cay Đắng Nhưng Cần Chấp Nhận

Người trên 70 tuổi: Bài học cay đắng nhưng cần chấp nhận

– “Cuối cùng, ai cũng phải học cách sống trong cô đơn”

Ở tuổi đôi mươi, người ta sợ nghèo.

Tuổi trung niên, người ta sợ bệnh.

Nhưng đến tuổi 70… nỗi sợ lớn nhất lại là cô đơn.

Thế nhưng, nghịch lý thay:

Cô đơn không phải bi kịch của tuổi già – mà là sự thật mà mỗi người cần học cách đón nhận.

Một cụ ông hơn 70 từng nói:

“Ở tuổi này, con cái không còn thuộc về mình nữa.”

Ngày trẻ nghe câu ấy, ta thấy chua xót.

Nhưng khi chính mình già đi, mới hiểu đó là chân lý của đời người.

  1. Con cái không vô tâm – chúng chỉ quá bận để ngoảnh lại

Người già sống bằng ký ức.

Còn người trẻ sống bằng trách nhiệm, áp lực và cơm áo.

Ta nhớ con, nhưng con mải họp.’

Ta mong con về, nhưng con còn đang vật lộn giữa thành phố xa.

Đó không phải bất hiếu. Đó là cuộc đời.

Ngày xưa, cha mẹ nhiều con, sống gần nhau, đong đầy sự quây quần.

Còn bây giờ, mỗi đứa một phương trời.

Cần gặp nhau, nhưng tất cả đều phải… đợi khi nào rảnh.

Thời gian đã thay đổi mọi thứ – không chỉ lòng người.

  1. Người 70 tuổi khổ nhất khi đặt hết hy vọng vào người khác

Bi kịch lớn nhất của tuổi già không phải không ai chăm sóc,

mà là kỳ vọng quá nhiều vào con cái.

Đến tuổi 70, điều quan trọng nhất không phải là “con sẽ chăm mình thế nào”, mà là mình có tự chăm được cho mình không:

còn sức khỏe để đi lại

còn minh mẫn để tự lo

còn tiền để không phải xin

còn bạn để trò chuyện

còn sở thích để sống vui

Chỉ khi tự đứng được, tuổi già mới có phẩm giá.

  1. Cô đơn – không phải kẻ thù, mà là người thầy cuối cùng

Khi ta tập quen với việc:

ăn một mình

đi chợ một mình

đi khám bệnh một mình

ngắm hoàng hôn một mình

… ta sẽ nhận ra: cuộc đời này, mỗi người đều là hành khách độc hành.

Con cái có cuộc sống riêng, bạn đời có khi đã đi trước một bước.

Còn ta, chỉ có chính mình làm bạn đồng hành đến phút cuối.

Khi không còn mong đợi ai hiểu mình, yêu mình, ở bên mình, lúc ấy ta mới thật sự bắt đầu già đi một cách thanh thản.

  1. Tuổi già hạnh phúc không phải là “đông con nhiều cháu”, mà là:

Có một chút tiền

Có một chút sức khỏe

Có vài người bạn

Có một cuộc đời do chính mình làm chủ.

Đó mới là sự tự do thật sự.

Đừng kỳ vọng con về thăm thường xuyên.

Đừng oán trách người ta sống lạnh nhạt.

Đừng kể khổ với bất kỳ ai.

Đừng chờ đợi sự tận tụy mà con cái không thể cho bạn.

Thay vì trông chờ người khác làm điểm tựa, hãy trở thành điểm tựa của chính mình.

  1. Bài học cuối cùng của đời người: Học cách sống cùng nỗi cô đơn

Khi cha mẹ còn sống, cuộc đời ta còn gốc rễ.

Khi cha mẹ mất đi, ta chỉ còn “đích đến”.

Người trên 70 đều đang đi nốt chặng cuối.

Đi chậm thôi, nhưng phải đi bằng chính đôi chân của mình:

Giữ sức khỏe

Giữ tiền

Giữ bạn

Giữ niềm vui nho nhỏ

Giữ lòng bình an

Và quan trọng nhất:

Giữ lại một phần sự yêu thương cho chính mình.

Tuổi già không phải để chờ đợi, mà là để sống tiếp – theo cách nhẹ nhàng và tự chủ nhất.

Những câu chuyện Nhân Văn | Người trên 70 tuổi: Bài học cay đắng nhưng cần chấp nhận – “Cuối cùng, ai cũng phải học cách sống trong cô đơn” 


 

Nguyễn Hưng Quốc – NGHĨ VỀ CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

Nguyễn Hưng Quốc

NGHĨ VỀ CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

1.

Ở Việt Nam gần đây có một số dấu hiệu mới khiến nhiều người lo ngại. Thứ nhất, Việt kiều về nước phải đăng ký tạm trú (như mấy chục năm trước!); thứ hai, chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có quyền tước chứng chỉ hành nghề của luật sư. Nhiều người nói đến sự củng cố của một nền công an trị.

2.

Chế độ độc tài nào cũng bắt đầu bằng một cuộc cách mạng và kết thúc bằng một cuộc cách mạng khác. Ở cuộc cách mạng đầu, họ có thể là anh hùng; ở cuộc cách mạng sau, họ là tội phạm, chỉ trừ một ngoại lệ: chính họ đứng ra khởi xướng cuộc cách mạng thứ hai để xóa bỏ các di sản của cuộc cách mạng thứ nhất.

3.

Các chế độ độc tài không cần gì ở người dân hơn là sự dửng dưng. Dửng dưng trước tội ác. Dửng dưng trước sự áp bức. Dửng dưng trước vận mệnh đất nước. Và dửng dưng trước cả sự khổ nhục của chính mình. Chính sự dửng dưng ấy là dưỡng khí và dưỡng chất cần thiết để duy trì và nuôi dưỡng độc tài.

4.

Tâm lý của phần lớn dân chúng là muốn được an toàn, và vì muốn được an toàn nên họ sợ đương đầu với chế độ độc tài, nhưng chính vì tránh né đương đầu như thế nên chế độ độc tài càng kéo dài và họ càng không được an toàn.

5.

Ma quỷ hiện hữu nhờ óc mê tín. Các tên độc tài tồn tại nhờ sự cuồng tín của con người. Mê hay cuồng đều loại trừ lý trí.

6.

Ở Việt Nam không có nhà độc tài. Chỉ có một bộ máy độc tài. 


 

TRƯỚC KHI CON MỞ MIỆNG – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin”.

Một đứa trẻ tỉnh giấc giữa đêm vì cơn ác mộng. Chưa kịp gọi, nó đã thấy cha mình ngồi bên, tay đặt trên trán nó. Đứa bé ngạc nhiên: “Ba biết con sợ?”. Người cha mỉm cười: “Ba đã nghe tiếng con trở mình từ lâu!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ một nghịch lý: chúng ta không cầu nguyện để được Thiên Chúa lắng nghe; chúng ta cầu nguyện vì Cha đã nghe cả tiếng trở mình của chúng ta từ trước. Bởi lẽ, Cha đã biết, đã yêu và đã chờ đợi – ‘trước khi con mở miệng’.

Chúng ta thường nghĩ cầu nguyện là chuyển thông tin từ đất lên trời. Nhưng Chúa Giêsu cho biết, không có điều gì nơi chúng ta là “tin mới” đối với Thiên Chúa. Động từ Hy Lạp oiden – “đã biết và vẫn đang biết” – diễn tả một sự hiểu biết đi trước mọi lời thưa gửi. Vì thế, cầu nguyện không nhằm mở mắt Thiên Chúa, nhưng mở lòng người.

Vậy nếu Cha đã biết, tại sao còn phải cầu nguyện? Bởi lẽ, lời cầu nguyện không nhằm thay đổi Thiên Chúa, nhưng biến đổi con người. Mỗi lần thưa “Lạy Cha”, chúng ta học bước ra khỏi cái tôi tự trị; mỗi lần nói “Xin cho ý Cha thể hiện”, chúng ta học trao lại quyền định đoạt cho Cha. Cầu nguyện không phải là kéo Thiên Chúa vào chương trình của chúng ta, nhưng là để chúng ta được đưa vào chương trình của Ngài. Thế nhưng, chúng ta vẫn khó tin điều đó. Chúng ta sợ bị bỏ quên, nên cứ muốn nói nhiều, xin nhiều và tự xoay xở. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta bình an xác tín một sự thật: trước khi chúng ta biết mình cần gì, Cha trên trời đã biết.

Câu chuyện Cựu Ước hôm nay là một minh hoạ. Êlia là người đã để Thiên Chúa viết nên câu chuyện đời mình. Ông không sống theo dự tính riêng, nhưng theo ý định của Thiên Chúa; không nắm giữ, nhưng phó thác; không tìm vinh quang cho mình, nhưng làm rạng danh Ngài. Vì thế, ông bừng lên như ngọn lửa – bài đọc một. “Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca. Niềm vui chỉ nảy sinh nơi những ai không giằng co với Thiên Chúa, nhưng bình an ở trong tay Ngài. “Đừng để điều gì làm con xao xuyến, đừng để điều gì làm con sợ hãi. Mọi sự đều qua đi; chỉ mình Thiên Chúa là không đổi thay!” – Têrêxa Avila.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu là Người Con đã sống trọn vẹn trong niềm tín thác vào Chúa Cha. Từ sa mạc đến núi Sọ, Ngài không ngừng trao mình cho Cha, để rồi cuối cùng phó dâng linh hồn trong tay Cha. Đó cũng là con đường của người môn đệ: càng cầu nguyện, chúng ta càng học bớt đòi Thiên Chúa theo ý mình. Cầu nguyện không phải để Thiên Chúa làm điều chúng ta muốn, nhưng để chúng ta trở thành điều Thiên Chúa muốn – biết trao đời mình cho Đấng luôn đi bước trước. Bởi lẽ, ‘trước khi con mở miệng’, Cha đã ở đó.

“Lý do chúng ta cầu nguyện là để được nên một với Thiên Chúa, Đấng chúng ta cầu khẩn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trước khi con tìm Chúa, Chúa đã đi tìm con; trước khi con gọi Cha, Cha đã biết con; trước khi con cất tiếng, Cha đã ở đó. Cho con biết sống và cầu nguyện như một người con!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế này.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 6,7-15

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

9 “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

‘Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
10triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
11Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày ;
12xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con ;
13xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.’

14 “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”


 

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Phong Thanh Nguyen is with Phong Nguyen.

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Trước năm 1975, ở miền Nam có một câu nói dân gian nghe rất chua chát:

“Ai xấu quá thì bị nói: xấu như Việt cộng.”

Mới nghe tưởng là câu đùa ác miệng. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chữ “xấu” ở đây không chỉ nằm ở khuôn mặt, dáng vẻ hay áo quần. Cái xấu đáng sợ hơn là **cái xấu của một lối sống**, một thứ văn hóa chính trị nghèo nàn, thô bạo, luôn dị ứng với sự thanh lịch, tử tế, văn minh và tự do.

Người miền Nam trước 1975 không hoàn hảo. Không xã hội nào hoàn hảo. Nhưng miền Nam có một nếp sống đô thị, một tinh thần cởi mở, một không gian văn hóa tương đối tự do. Người ta đọc sách, nghe nhạc, xem phim, mặc đẹp, nói chuyện lịch sự, tranh luận, yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp. Một cô gái có thể uốn tóc, sơn móng tay, mặc áo dài, dùng son phấn. Một người đàn ông có thể mặc vest, đeo kính, nói năng từ tốn, đọc sách Tây phương, nghe nhạc tiền chiến, bàn chuyện văn chương, triết học, chính trị.

Những điều đó vốn rất bình thường trong một xã hội văn minh. Nhưng dưới con mắt của người cộng sản, cái đẹp ấy lại trở thành “tiểu tư sản”, “ủy mị”, “đồi trụy”, “phản động”, “mất lập trường”. Họ không chỉ muốn chiếm chính quyền. Họ còn muốn chiếm luôn cách ăn mặc, cách nói năng, cách suy nghĩ, cách yêu cái đẹp của con người.

Sau tháng Tư năm 1975, cái xấu ấy không còn là lời đồn. Nó bước thẳng vào đời sống miền Nam bằng dép râu, nón cối, lý lịch, hộ khẩu, công an khu vực, tổ dân phố, kiểm điểm, học tập cải tạo và những buổi đấu tố tinh thần kéo dài từ nhà ra phố.

Những cô gái, những quý bà từng thanh lịch phải tự làm thẳng mái tóc uốn cong. Móng tay từng được chăm chút phải cắt ngắn. Sơn móng tay phải bôi đi. Son phấn phải giấu. Đồ trang sức, quần áo đẹp, sách vở, băng nhạc, tranh ảnh, tiểu thuyết — tất cả trở thành thứ có thể gây nguy hiểm cho chủ nhân.

Không ai ra lệnh bằng văn bản rằng người miền Nam phải xấu đi. Nhưng ai cũng hiểu: muốn sống yên, phải tự làm mình bớt nổi bật. Muốn khỏi bị soi, phải ăn mặc nghèo đi. Muốn khỏi bị nghi ngờ, phải nói ít đi. Muốn khỏi bị chụp mũ, phải giấu sách, giấu nhạc, giấu cả quá khứ.

Thế là những chiếc áo đẹp bị cất vào đáy tủ. Những cuốn sách bị đốt trước khi bị quy là “văn hóa đồi trụy”. Những bản nhạc bị im tiếng. Những câu nói lịch sự bị thay bằng khẩu hiệu. Những con người có giáo dục phải học cách cúi đầu trước những kẻ nhân danh “giai cấp” nhưng cư xử rất thiếu văn hóa.

Cái xấu của cộng sản không chỉ là nghèo. Nghèo chưa chắc xấu. Người nghèo vẫn có thể rất đẹp nếu biết trọng nhân phẩm, trọng lẽ phải, trọng tình nghĩa. Cái xấu của cộng sản nằm ở chỗ họ **biến cái nghèo thành tiêu chuẩn đạo đức**, biến sự thô kệch thành “lập trường”, biến sự ganh ghét cái đẹp thành “đấu tranh giai cấp”.

Họ không nâng người nghèo lên cho đẹp hơn, văn minh hơn, tự do hơn. Họ kéo người khác xuống cho giống cái khuôn nghèo nàn của họ. Ai thanh lịch quá thì bị nghi. Ai học nhiều quá thì bị soi. Ai nói năng mạch lạc quá thì bị ghét. Ai có phong thái đàng hoàng quá thì bị xem là “không giống quần chúng”.

Trong trại cải tạo, nhiều người kể lại rằng những sĩ quan VNCH nào trắng trẻo, trí thức, đeo kính, ăn nói nhã nhặn, có vẻ học thức, thường bị “chiếu cố” nhiều hơn. Vì trong mắt kẻ cai trị bằng hận thù, sự lịch lãm của người tù cũng là một lời tố cáo. Nó làm lộ ra khoảng cách giữa một bên là văn hóa và một bên là bạo lực nhân danh cách mạng.

Cái đẹp làm họ khó chịu.

Cái lịch sự làm họ bất an.

Cái trí thức làm họ nghi ngờ.

Cái tự do làm họ sợ hãi.

Cái sang trọng làm họ căm ghét.

Bởi vì một chế độ được xây trên kiểm soát luôn sợ những con người có nội lực. Người có văn hóa thì khó bị nhồi sọ. Người có nhân phẩm thì khó bị khuất phục. Người biết yêu cái đẹp thì khó chấp nhận sự thô bỉ. Người biết sự thật thì khó cúi đầu trước tuyên truyền.

Vì vậy, trong xã hội cộng sản, “xấu” dần dần trở thành một thứ tiêu chuẩn ngầm.

Không ai viết thành nghị quyết: phải xấu mới là phe ta.

Không ai ban hành nghị định: phải thô kệch mới dễ thăng tiến.

Không ai công khai tuyên bố: ai đẹp, ai sang, ai lịch sự thì khó được tin dùng.

Nhưng trong thực tế, người ta hiểu rất nhanh.

Muốn tiến thân trong guồng máy ấy, nhiều khi không cần tài năng lớn, không cần nhân cách lớn, không cần tư tưởng lớn. Chỉ cần biết cúi đúng chỗ, nói đúng khẩu hiệu, ghét đúng đối tượng, im đúng lúc và tỏ ra đủ “lập trường”. Còn nếu đẹp quá, văn minh quá, độc lập quá, lịch sự quá, có tri thức quá, thì tự nhiên trở thành cái gai.

Nhìn vào chính trường cộng sản cũng thấy một điều lạ: người có phong thái sáng sủa, có khả năng nói chuyện mạch lạc, có vẻ văn minh, thường rất khó sống lâu trong guồng máy. Họ hoặc phải tự làm mình xấu đi, hoặc bị đẩy ra ngoài. Còn những khuôn mặt càng khô cứng, càng giáo điều, càng vô cảm, càng nói như đọc văn bản, càng dễ được xem là “an toàn”.

Đó không phải chuyện ngoại hình đơn giản. Đó là chuyện **khí chất của một hệ thống**.

Một hệ thống đẹp sẽ sinh ra con người biết tôn trọng cái đẹp.

Một hệ thống tự do sẽ không sợ người dân ăn mặc đẹp, đọc sách hay, nói chuyện lịch sự.

Một hệ thống văn minh sẽ không xem son phấn, sách vở, âm nhạc, nghệ thuật là kẻ thù.

Một hệ thống tự tin sẽ không cần bắt người dân phải giống nhau từ quần áo đến suy nghĩ.

Chỉ có một hệ thống mặc cảm mới ghét cái đẹp.

Chỉ có một hệ thống dối trá mới sợ sự thật.

Chỉ có một hệ thống thấp kém mới muốn kéo mọi người xuống thấp.

Chỉ có một hệ thống cai trị bằng hận thù mới xem văn minh là nguy hiểm.

Cho nên chữ “xấu” ở đây phải hiểu cho đúng.

Không phải ai nghèo cũng xấu.

Không phải ai mặc áo bà ba cũng xấu.

Không phải ai xuất thân từ nông thôn cũng xấu.

Không phải ngoại hình quyết định nhân phẩm con người.

Cái xấu cần nói đến là cái xấu của một thứ quyền lực đã làm cho con người phải che giấu vẻ đẹp của mình để được sống yên. Cái xấu của một chế độ khiến người dân phải đốt sách, giấu nhạc, cất áo đẹp, bôi son đi, cắt tóc ngắn lại, đổi giọng nói, đổi cách sống, đổi cả con người thật của mình.

Đó là cái xấu của sự sợ hãi.

Cái xấu của ganh ghét.

Cái xấu của kiểm soát.

Cái xấu của tuyên truyền.

Cái xấu của một nền chính trị không dung nổi sự thanh lịch.

Và bi kịch lớn nhất là: sau nhiều chục năm, cái xấu ấy vẫn chưa biến mất. Nó chỉ thay áo. Ngày xưa là dép râu, nón cối, biên bản, loa phường. Hôm nay là dư luận viên, an ninh mạng, truyền thông định hướng, hội đồng đấu tố trên mạng xã hội. Hình thức có thể khác, nhưng bản chất vẫn là một: ghét người tự do, sợ người có tri thức, dị ứng với tiếng nói độc lập và luôn tìm cách bôi xấu những gì mình không kiểm soát được.

Nếu bạn là một người đàn ông có phong thái đàng hoàng, ăn nói từ tốn, biết suy nghĩ độc lập, có tri thức lịch sử khách quan, không quen cúi đầu trước điều sai; hoặc nếu bạn là một người phụ nữ có vẻ đẹp, có khí chất, có giáo dục, có lòng tự trọng và không chấp nhận sống bằng khẩu hiệu — thì có lẽ bạn thật sự “không đủ điều kiện” để tiến thân trong guồng máy ấy.

Bạn có thể chạy xe ôm.

Bạn có thể bán cà phê.

Bạn có thể làm móng tay.

Bạn có thể cắt tóc, buôn bán nhỏ, lao động bình thường.

Thu nhập có thể không cao. Đời sống có thể vất vả. Nhưng ít nhất bạn còn giữ được một thứ mà nhiều kẻ trong guồng máy đã đánh mất: **nhân phẩm**.

Vì sau cùng, cái đẹp thật sự không nằm ở khuôn mặt. Nó nằm ở cách một con người sống, nói, nghĩ và đối xử với sự thật.

Còn cái xấu thật sự cũng không nằm ở làn da, mái tóc hay áo quần. Nó nằm ở một tâm hồn căm ghét tự do, một bộ máy sợ văn minh, và một ý thức hệ muốn biến cả xã hội thành một hàng người cúi đầu giống nhau.

Cái xấu ấy mới là cái xấu đáng sợ nhất.


 

Mất một người thân không chỉ là nói lời tạm biệt…- TG Văn Chương

Bình Yên LNChuyện tuổi Xế Chiều 

Mất một người thân không chỉ là nói lời tạm biệt…

Mà là học cách sống tiếp khi không còn họ bên cạnh.

Là nhìn vào chỗ trống mà họ từng ngồi, từng cười, và cảm thấy tim mình hụt đi một mảnh.

Nỗi đau mất mát không có thời hạn.

Không có ngày nào đó mà bạn bỗng dưng “hết buồn”.

Có hôm bạn thấy mình ổn, đi làm, cười nói như thường.

Nhưng rồi có hôm, chỉ cần một câu hát, một mùi hương quen, hay ánh sáng ban chiều giống như hôm ấy… là bạn lại vỡ òa.

Và chuyện đó hoàn toàn bình thường.

Bạn không yếu đuối – bạn chỉ đang thương thật lòng.

Tình yêu bạn đã trao cho họ – và những gì họ từng dành cho bạn – không biến mất khi họ ra đi.

Nó vẫn còn ở đó, chỉ là đổi hình dạng thôi.

Thành một ký ức khiến bạn cười vu vơ.

Thành một giấc mơ khiến bạn thức dậy rồi nghẹn ngào.

Thành một giọt nước mắt không cần lý do.

Có thể bạn sẽ thấy áy náy khi mình vui, khi mình vẫn sống tiếp, khi mình bắt đầu lại điều gì đó mới.

Nhưng sống không có nghĩa là quên.

Sống – chính là một cách để biết ơn.

Là tiếp tục bước đi, mang theo tình thương họ để lại trong tim bạn.

Hãy cứ nhớ họ.

Cứ nói về họ nếu bạn muốn.

Cứ khóc khi thấy lòng mình đau.

Nhưng cũng hãy cho phép mình được bình yên lại – từng chút một.

Vì dù câu chuyện giữa bạn và họ không còn như xưa, nhưng nó chưa bao giờ thực sự kết thúc.

Bạn vẫn đang viết tiếp, mỗi ngày.

Hãy sống sao cho, nếu họ đang dõi theo ở đâu đó – họ sẽ mỉm cười và tự hào vì bạn đã mạnh mẽ đến thế.

Và nếu một ngày nào đó bạn thấy không thể gượng dậy nổi,

hãy ngẩng đầu lên.

Vì ngay giữa những ngày buồn nhất… vẫn có ánh sáng.

TG Văn Chương


 

MỘT TIẾNG “CON” BỊ CHÔN VÙI DƯỚI BÓNG TƯỢNG ĐÀI

 Phong Thanh Nguyen 

**MỘT TIẾNG “CON” BỊ CHÔN VÙI DƯỚI BÓNG TƯỢNG ĐÀI**

Con ruột của người được gọi là “cha già dân tộc” vừa qua đời ở tuổi 70. Nhưng điều trớ trêu và cay đắng nhất là: cả một đời người ấy, điều ông mong mỏi không phải vinh hoa, chức quyền, tiền bạc hay quân hàm. Điều ông mong chỉ là một sự thật rất nhỏ, rất người, rất căn bản: được gọi đúng một tiếng — **con**.

Theo câu chuyện đã được nhiều nguồn ngoài luồng nhắc lại trong nhiều năm, ông Nguyễn Tất Trung được cho là con của Hồ Chí Minh và bà Nông Thị Xuân, một phụ nữ trẻ người miền núi, từng được đưa về phục vụ trong hệ thống quanh Phủ Chủ tịch. Nếu câu chuyện ấy là sự thật, thì đây không chỉ là một chuyện tình bị giấu kín. Đây là bi kịch của một con người bị xóa tên khỏi lịch sử để bảo vệ một huyền thoại chính trị.

Một người mẹ trẻ, mới ngoài hai mươi tuổi, bước vào vòng xoáy quyền lực mà mình không có khả năng tự vệ. Một đứa trẻ sinh ra không được sống như một đứa trẻ bình thường. Một thân phận bị đổi tên, gửi đi, che giấu, né tránh, như thể sự tồn tại của nó là một lỗi kỹ thuật trong bản tuyên truyền về “lãnh tụ đạo đức sáng ngời”.

Cay đắng nằm ở chỗ đó.

Người ta có thể dựng tượng, viết sách, treo khẩu hiệu, bắt học sinh học thuộc từng lời dạy. Người ta có thể gọi một lãnh tụ là “cha già dân tộc” suốt mấy thế hệ. Nhưng nếu ngay cả một đứa con ruột — máu mủ của chính mình — cũng không được công khai thừa nhận, thì chữ “cha” ấy còn lại bao nhiêu phần sự thật?

Làm cha không phải là đứng trên lễ đài để nhận hoa.

Làm cha không phải là để hàng triệu người gọi mình bằng danh xưng thiêng liêng.

Làm cha trước hết là dám nhận trách nhiệm với sinh mạng do chính mình tạo ra.

Một người đàn ông bình thường, dù nghèo, dù thất học, dù không có quyền lực, vẫn biết rằng đứa con cần một danh phận. Nó cần biết mình từ đâu đến. Nó cần một người cha không quay mặt đi khi sự thật trở nên bất tiện.

Nhưng trong một chế độ toàn trị, sự thật không được đối xử như sự thật. Sự thật bị đo bằng lợi ích chính trị. Con người bị đo bằng giá trị tuyên truyền. Một người mẹ có thể bị xóa khỏi ký ức công cộng. Một đứa con có thể bị biến thành cái bóng. Một đời người có thể bị đặt sau nhu cầu giữ cho tượng đài luôn trắng sạch, luôn “vĩ đại”, luôn không tì vết.

Đó là bi kịch lớn hơn cả bi kịch gia đình. Đó là bi kịch của một xã hội bị buộc phải yêu một hình tượng hơn yêu con người thật. Người ta không được phép nhìn lãnh tụ như một con người có dục vọng, sai lầm, trách nhiệm và hệ quả. Người ta phải nhìn ông như một thánh nhân thế tục. Và để bảo vệ thứ “thánh nhân” ấy, người thật phải biến mất.

Bà Nông Thị Xuân, nếu đúng như các lời kể, không chỉ là một phụ nữ bị phụ bạc. Bà là biểu tượng cho những thân phận nhỏ bé bị nghiền nát dưới bánh xe quyền lực. Bà không có diễn đàn để tự biện hộ. Không có báo chí độc lập để đặt câu hỏi. Không có tòa án công minh để bảo vệ. Không có lịch sử chính thức để ghi nhận. Bà chỉ còn lại trong những lời kể rời rạc, trong những ký ức bị truy đuổi, trong những câu chuyện bị xem là “nhạy cảm”.

Còn Nguyễn Tất Trung, nếu đúng là người con bị che giấu ấy, thì số phận của ông là một bản cáo trạng lặng lẽ. Ông không cần ngai vàng. Không cần đặc quyền. Không cần được đưa vào sách giáo khoa. Ông chỉ cần điều mà bất cứ đứa trẻ nào sinh ra trên đời cũng có quyền được biết: **tôi là con của ai?**

Một đời người đi qua, cuối cùng vẫn chỉ còn một câu hỏi: tại sao sự thật đơn giản ấy lại đáng sợ đến vậy?

Nếu Hồ Chí Minh thật sự là “cha già dân tộc”, thì tại sao một người con lại phải sống trong bóng tối? Nếu ông là biểu tượng đạo đức tuyệt đối, thì tại sao lịch sử lại phải bị khóa miệng trước những câu hỏi về đời tư, trách nhiệm và nhân phẩm? Nếu chế độ tin vào sự trong sạch của lãnh tụ, tại sao không mở hồ sơ, công khai tài liệu, cho hậu thế đối diện với sự thật?

Vì sự thật, một khi được nói ra, có thể làm nứt tượng đài.

Mà tượng đài trong chế độ toàn trị không được xây bằng đá. Nó được xây bằng kiểm duyệt, sợ hãi, im lặng và những câu chuyện bị cấm kể. Nó đứng được không phải vì nó vững chắc, mà vì người ta bị bắt phải quỳ xuống nhìn lên.

Cái chết của một người đàn ông 71 tuổi, vì vậy, không chỉ là sự khép lại của một đời người. Nó mở lại một câu hỏi lớn hơn: một dân tộc có thể trưởng thành không, nếu lịch sử của nó vẫn bị viết bằng những khoảng trắng bắt buộc?

Không ai đòi lịch sử phải hoàn hảo. Không lãnh tụ nào là thiên thần. Nhưng một xã hội văn minh phải có can đảm gọi sự thật bằng đúng tên của nó. Sai thì nói sai. Có thì nói có. Con thì phải được gọi là con. Người mẹ thì phải được trả lại nhân phẩm. Người chết thì phải được trả lại tiếng nói. Và dân tộc thì phải được trả lại quyền biết sự thật.

Bởi một dân tộc không thể sống mãi bằng huyền thoại.

Một thế hệ không thể trưởng thành bằng sự che giấu.

Và một tượng đài, dù được sơn son thếp vàng đến đâu, cũng không thể thay thế cho lương tâm.

Câu hỏi cuối cùng vẫn còn đó, lạnh và đau:

**Một người được gọi là “cha già dân tộc” mà ngay cả con ruột còn không dám nhận, thì dân tộc ấy đã được thương bằng tình thương nào — hay chỉ được dùng như phông nền cho một huyền thoại chính trị?**


 

Cậu đã cứu 18 người khỏi đống đổ nát… rồi dành những hơi sức cuối cùng để cứu thêm một người nữa.

Animal Stories 

Cậu đã cứu 18 người khỏi đống đổ nát… rồi dành những hơi sức cuối cùng để cứu thêm một người nữa.

Đó là Atlas.

Một chú Golden Retriever làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn.

Nhưng đến những giờ phút cuối cùng…

Atlas không còn đơn thuần là đang tìm kiếm.

Cậu đang chiến đấu.

Chiến đấu với những khối bê tông khổng lồ.

Với sự kiệt sức.

Với chính cơ thể đã vượt quá giới hạn.

Bởi vì đâu đó dưới hàng nghìn tấn đổ nát…

Atlas tin rằng vẫn còn một người đang sống.

Và cậu nhất quyết không bỏ cuộc.

Sau trận động đất kinh hoàng xảy ra ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, đội cứu hộ từ nhiều quốc gia đã nhanh chóng có mặt.

Trong số đó có lính cứu hỏa Lukas Hartmann cùng người đồng đội bốn chân mang tên Atlas.

Atlas không phải chú chó nhanh nhất.

Cũng không phải khỏe nhất.

Nhưng ai từng làm việc với cậu đều biết một điều:

Một khi Atlas tin rằng còn người sống… sẽ không gì khiến cậu từ bỏ.

Chỉ trong vòng 20 phút đầu tiên tại hiện trường, Atlas phát hiện một cậu bé tuổi teen còn mắc kẹt.

Cậu bé được cứu sống.

Sau đó là một người mẹ và con gái nhỏ.

Rồi một cụ ông.

Hai công nhân xây dựng.

Hết người này đến người khác…

Atlas liên tục dẫn đội cứu hộ đến những khoảng không nhỏ bé giữa biển bê tông.

Đến cuối ngày đầu tiên, cậu đã giúp tìm thấy 12 người còn sống.

Sáng hôm sau, thêm 4 người nữa.

Rồi 17.

Rồi 18.

Tin tức về chú chó cứu hộ phi thường nhanh chóng lan rộng.

Nhưng Atlas vẫn chưa dừng lại.

Ở một góc nguy hiểm của tòa nhà sụp đổ, cậu liên tục sủa, cào bới rồi nhất quyết không chịu rời đi.

Máy quét nhiệt không phát hiện gì.

Thiết bị thu âm cũng chỉ là im lặng.

Nhiều người đề nghị chuyển sang khu vực khác.

Chỉ riêng Lukas lắc đầu.

“Nếu Atlas nói còn người ở đó…

thì chắc chắn còn người.”

Đội cứu hộ tiếp tục đào.

Hàng giờ trôi qua.

Cho đến khi…

Ba tiếng gõ yếu ớt vang lên từ sâu bên dưới.

Một người phụ nữ vẫn còn sống.

Mọi người lập tức tăng tốc đào bới.

Còn Atlas?

Cậu không chịu nghỉ.

Không ăn.

Không uống.

Dù được kéo đi nhiều lần, cậu vẫn quay lại đúng vị trí ấy.

Như thể muốn chắc chắn rằng người bên dưới sẽ được đưa ra an toàn.

Đến khoảng 4 giờ sáng…

Atlas bất ngờ gục xuống.

Các bác sĩ thú y xác định cậu bị kiệt sức nghiêm trọng, mất nước và gặp biến chứng nội tạng do làm việc quá sức.

Trong khi đội cứu hộ vẫn tiếp tục giải cứu người phụ nữ, Lukas quỳ xuống bên Atlas và khẽ nói:

“Con đã tìm thấy họ rồi.

Mười tám người…

và cả người thứ mười chín nữa.”

Vài giờ sau, người phụ nữ cuối cùng cũng được đưa ra ngoài.

Còn sống.

Việc đầu tiên Lukas làm là mang tin vui đến cho Atlas.

“Con làm được rồi.

Cô ấy an toàn rồi.”

Những người có mặt kể lại rằng…

chiếc đuôi của Atlas khẽ đập xuống mặt đất hai lần.

Như thể cậu đã hiểu.

Chiều hôm ấy, Atlas lặng lẽ ra đi trong vòng tay của cả đội cứu hộ.

Nhưng câu chuyện về cậu thì vẫn còn ở lại.

Những người sống sót vẫn trở về nơi dựng tượng Atlas mỗi năm.

Có người mang theo hoa.

Có người mang theo ảnh gia đình.

Có người dắt theo những đứa trẻ mà họ từng nghĩ sẽ không bao giờ còn được gặp lại.

Bởi một chú chó Golden Retriever…

đã từ chối bỏ đi khi vẫn còn một người cần được cứu.

#AnimalStories – #RescueDog – #HeroDog – #SearchAndRescue – #GoldenRetriever – #DogHero – #InspiringStory – #Heartwarming#NeverGiveUp – #HopeLives – #DogLover – #FeelGoodStory-RescueMission – #LoyalCompanion – #TrueHero 


 

MẸ TERESA: Nữ tu sĩ vĩ đại nuôi dưỡng hàng triệu trẻ em mồ côi và những người bần cùng nhất xã hội

Khám Phá Tri Thức

 MẸ TERESA: Nữ tu sĩ vĩ đại nuôi dưỡng hàng triệu trẻ em mồ côi và những người bần cùng nhất xã hội

Có những cuộc đời sinh ra để định nghĩa lại hai từ “Tình yêu”. Mẹ Teresa chính là một biểu tượng vĩ đại như thế. Cả cuộc đời bà là một hành trình không mệt mỏi vì những con người bần cùng nhất thế giới.

Ước mơ tuổi thơ

Mẹ Teresa sinh ngày 26/08/1910 tại Skopje (nay là thủ đô của Bắc Macedonia), trong một gia đình gốc Albania sùng đạo. Năm 12 tuổi, cô bé Agnes (tên khai sinh của bà) đã nuôi dưỡng ước mơ trở thành một nữ tu truyền giáo. Đến năm 18 tuổi, bà chính thức rời bỏ quê hương, chọn cuộc sống thanh bần để dấn thân vào hành trình bác ái.

Người mẹ của những mảnh đời bị bỏ rơi

Suốt hơn nửa thế kỷ phục vụ tại Ấn Độ và toàn cầu, bà và Dòng Thừa sai Bác ái đã dang tay nuôi sống hàng triệu trẻ em mồ côi, khuyết tật và chữa trị cho những bệnh nhân phong cùi, HIV/AIDS bị xã hội ruồng bỏ. Với bà, mỗi đứa trẻ đều xứng đáng được yêu thương và có một mái nhà.

Giải Nobel Hòa bình và chiếc áo Sari 1 Đô-la

Năm 1979, Mẹ Teresa được trao giải Nobel Hòa bình ở tuổi 69. Xuất hiện trước các nguyên thủ quốc gia, bà vẫn mặc chiếc áo sari vải thô giá 1 USD và đi đôi dép sờn cũ. Bà từ chối bữa tiệc chiêu đãi hoàng gia trang trọng, yêu cầu quyên góp toàn bộ chi phí và tiền thưởng (192.000 USD) để xây nhà tình thương cho người nghèo.

Bất tử với danh hiệu Cao quý

Mẹ Teresa trút hơi thở cuối cùng vào năm 1997, hưởng thọ 87 tuổi. Để vinh danh những phép lạ và cuộc đời thánh thiện của bà, năm 2016, Tòa thánh Vatican đã chính thức tổ chức đại lễ phong Thánh, tôn vinh bà là Thánh Teresa thành Calcutta.

 “Nếu bạn không thể nuôi sống một trăm người, thì hãy chỉ nuôi sống một người thôi.” — Câu nói kinh điển của Mẹ vẫn luôn là kim chỉ nam nhắc nhở chúng ta về lòng trắc ẩn trong cuộc sống hiện đại.

Hãy cùng chia sẻ câu chuyện này để lan tỏa những giá trị tốt đẹp của tình yêu thương không biên giới!