Chứng Tích Người Từ Hỏa Ngục Hiện Về

Chứng Tích Người Từ Hỏa Ngục Hiện Về

Hiện nay nhà xứ Cái Mơn còn lưu giữ một miếng ván có kích thước: 2,05 x 0,82 mét, dầy hơn 4,5 cm. Trên miếng ván có một chỗ bị cháy đen và khuyết xuống giống như “phần mông” của một người ngồi để lại. Miếng ván này được lưu giữ như là một chứng tích của việc có hỏa ngục và sự thưởng phạt đời đời.

tamvantaicaimon2

Bà Tám (vợ của ông Biện Nguyễn Văn Nhung) và tấm ván hiện giờ.
Ảnh chụp ngày 8 / 10 / 2011, tại khuôn viên nhà thờ Cái Mơn.

Bài viết này được người trực nhà xứ, thời Cha Sở Gs Thích còn sống, ghi lại theo lời tường thuật của ông biện Nguyễn Văn Nhung, cháu cố của ông biện Đài và của ông Nguyễn Văn  Thật. Nay xin mạn phép tóm lại như sau:

tamvantaicaimon1

Tấm ván khi mới được đưa về nhà xứ Cái Mơn
(không rõ năm nào)

Khoảng đầu thế kỷ 18, tại Cái Mơn, có một bà lão nọ là người tu xuất đã ngoài bảy mươi. Đời sống của bà không tốt lắm. Bà bệnh nặng và liệt giường khoảng ba tháng, không ăn uống. Gia đình giữ linh hồn cho bà suốt thời gian ấy đã mệt mỏi. Hôm ấy, ông Biện Nguyễn Văn Đài (sau là Trùm Họ) đến đọc kinh giữ linh hồn cho bà. Ông bảo gia đình đi ngủ để ông giữ thay cho một hôm.

Khi ông biện Đài đang sốt sắng nhìn sách đọc kinh, thình lình bệnh nhân ngồi phắt dậy, thổi tắt đèn, rồi ôm lấy cổ ông và đeo cứng người ông. Ông bình tĩnh không la lên sợ làm rối gia đình, và ông cứ mang bà lão trên mình để đi đốt đèn. Đốt đèn xong, ông trở lại giường, gỡ hai tay bà ra khỏi cổ ông và để bà nằm xuống. Bà nằm trong tư thế như thường lệ: hai chân duỗi thẳng, hai tay để lên ngực và vẫn im lặng như người đang hấp hối.

tamvantaicaimon3

Dấu bị cháy khuyết xuống do mông của người chết hiện về để lại trên tấm ván.

Cũng nên biết, vào thời điểm này chưa có dầu lửa và đá lửa. Người ta dùng dao đánh vào hòn đá đen cho lửa xẹt vào bông gòn trong ống tre. Khi bông gòn bén lửa, người ta thổi lên cho có lửa ngọn rồi mới dùng cây rọi lấy lửa mồi vào đèn. Cây rọi là mảnh vải bằng hai ngón tay, nhúng dầu mù u, xe xoắn lại phơi khô. Đèn dầu mù u thì không bắt lửa nhanh như đèn dầu ngày nay. Nhắc chuyện này để hiểu rằng thời gian ông biện mang bệnh nhân trên cổ là khá lâu.

Ngày hôm sau bà này chết. Việc an táng theo nghi thức đạo như thường lệ. Sau khi an táng, gia đình và hàng xóm tập trung để cầu lễ cho bà. Theo như tập tục thường kéo dài một tuần, lâu hơn hay ít hơn là tùy hoàn cảnh gia đình.

Một tối no, khi mọi người đang sốt sắng cầu lễ, bỗng dưng đèn tắt hết. Người chết xuất hiện, mình đầy lửa, mang dây xích, đến ngồi trên bộ ván, nói lớn tiếng: “Các người đừng cầu nguyện cho tôi nữa, bởi vì đã lỗi đức công bằng,  tôi xuống Hỏa ngục rồi“. Nói bây nhiêu lời rồi biến mất. Mọi người có mặt chết điếng người, lặng thinh và ngưng đọc kinh nhưng không dám đi một mình về nhà.

Ông chủ nhà nói: “Tôi không dám để bộ ván này trong nhà nữa, đem ra sông cái  liệng cho nó trôi khuất cho rồi“. Nói vậy nhưng có lẽ do quá sợ, ông không dám chở đi nên đã liệng xuống rạch bên hông nhà. Nhà ông ở trên ngọn, nhà ông biện Đài ở cuối nguồn, nên nước ròng ông biện đã vớt được tấm ván ghi dấu cái mông của linh hồn sa hỏa ngục, tấm kia trôi mất (bộ ván gồm hai miếng).

Ông biện Đài cố ý giữ tấm ván lại trong nhà để nhắc nhở con cháu và người đời sau nhớ rằng có Hỏa Ngục. Ông dặn con cháu sau này không được nói  tên người bất hạnh cho ai biết, để giữ thanh danh cho họ.

Bộ ván này dài gần 3 mét, dầy khoảng 8 cm, bằng gỗ sao gồm hai tấm. Linh hồn hiện về ngồi bên tấm ván này, chống hai chân và hai tay qua tấm ván bên kia. Tấm ván bên này để lại dấu mông, và tấm ván kia là dấu hai bàn chân và hai bàn tay úp xuống. Dấu lửa cháy ăn sâu xuống cả hai tấm ván. Không biết ngày xưa gìn giữ thế nào nhưng mấy mươi năm sau này, gia đình ông Nguyễn Văn Nhung bỏ phế ngoài vườn cây. Thời chiến tranh Ông Nhung đã dùng để làm hầm núp bom đạn. Chiến tranh chấm dứt, ông lại quăng tấm ván ra bờ mương. Một hôm có người đến ngỏ ý xin miếng ván, gia đình mới cạo rửa và định tống khứ nó đi. Khi hay được sự việc, cha sở Gs Thích đã ngỏ ý xin và đã đem về lưu giữ tại nhà xứ. Theo lời ông Thật thì có ai đó đã cưa  tấm ván mất mấy tấc. Có lẽ vì nó dài và nặng nề, khó di chuyển, nên đã vô tình cưa bớt đi.

Ông biện Nguyễn Văn Nhung thuật lại theo truyền khẩu của gia đình. Phần ông Nguyễn Văn Thật thì nói theo lời kể của ông Isiđôrô Võ Văn Vạn, thường gọi là Sáu Vạn, thầy tuồng của Cái Mơn ngày xưa. Ông là con đỡ đầu của Đức Cha Isiđôrô Đượm, tên Pháp là Dumortier, cha sở Cái Mơn, sau là Giám Mục Địa Phận Sài Gòn. Ông Vạn mất hơn 30 năm nay, thọ 90 tuổi.

Theo một số thông đáng tin cậy, thì người đã chết hiện về này có thể cùng thời với Thánh Philipphê Phan Văn Minh. Thánh nhân sinh năm 1815, như vậy, câu chuyện xảy ra cũng khoảng gần 200 năm có rồi.

Đối chiếu với gia phả của ông biện Nguyễn Văn Đài thì thời gian như vậy là đúng.

Ông biện Đài, sau thăng chức là Trùm Đài, không biết tuổi.

Con của ông Trùm Đài là ông Trùm Thiệu, sống 92 tuổi.

Con ông Biện Thiệu là ông biện Gioang, sống 72 tuổi.

Con ông Biện Gioang là ông Biện Nguyễn Văn Nhung đã mất, còn bà Nhung hiện nay trên 80 tuổi và đã có cháu cố.

Lm Phêrô Phạm Bá Trung

From: KittyThiênKim & Nguyễn Kim Bằng gởi

httpv://www.youtube.com/watch?v=J3X_DtEheYY&list=UU8Z8xvp0-Qwkhlsfcll6Zqg

Con người chỉ vĩ đại khi cầu nguyện

Con người chỉ vĩ đại khi cầu nguyện

Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.

Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris Đứng cuối Nhà Thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quỳ cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère.

Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.

Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi: “Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?”

Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến Đức Tin!”

Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn: “Anh lầm rồi, Đức Tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?”

Chàng sinh viên liền hỏi: “Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?” Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:

“Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!”

Nữ y tá Nina Phạm: “Tôi tin vào sức mạnh của lời cầu nguyện”

Nữ y tá Nina Phạm: “Tôi tin vào sức mạnh của lời cầu nguyện”

dongten.net

Nina_Pham_after_release_Screen_Shot_CNA

Nữ y tá Nina Phạm*, người đầu tiên nhiễm virus Ebola trên đất Mỹ, vừa khỏi bệnh sau nhiều tuần bị cách ly và điều trị tại Viện Y tế Quốc gia Mỹ. Theo ABC News, vừa bước ra khỏi bệnh viện của Viện Y tế Quốc gia Mỹ ở thành phố Bethesda, bang Maryland cô đã chia sẻ niềm vui vì được khỏi bệnh với giới báo chí. Trong bài phát biểu của mình, cô đã mạnh mẽ bày tỏ đức tin của mình khi nói rằng cô “tạ ơn Chúa”, “đặt niềm tin nơi Chúa” và “tin vào sức mạnh của lời cầu nguyện.” Mời quý vị xem video (phụ đề Việt ngữ) phát biểu của cô:

httpv://www.youtube.com/watch?v=lKMIWZv5sH8

Chuyển ngữ: Chỉnh Trần, S.J.

* Cô Nina Phạm là một tín hữu Công Giáo thuộc giáo xứ Fatima, giáo phận Fort Worth, Hoa Kỳ (theo Vietcatholic)

THƯƠNG TIẾC CHỊ TRẦN THỊ LÀI (1929 – 2014)

THƯƠNG TIẾC CHỊ TRẦN THỊ LÀI (1929 – 2014)

Đoàn Thanh Liêm

Qua điện thư, bà con người Việt ở Ba Lan vừa thông báo cho tôi biết là “Bác Lài đã qua đời vào ngày 15 tháng 8 vừa qua”. Tin buồn này không làm tôi ngạc nhiên lắm, bởi lẽ chị bạn chúng tôi đã bị bệnh alzheimer suy giảm trí nhớ từ mấy năm nay – đến nỗi không còn nhận ra con gái là cháu Lan Marzena khi cháu từ bên Pháp về thăm cha mẹ ở thành phố Cracovie là cố đô của Ba Lan vào hồi cuối năm 2012.

Chị Lài là trưởng nữ của cụ Trần Văn Lý, là người đã giữ chức vụ Thủ Hiến Trung Việt hồi năm 1950 dười thời chính phủ Bảo Đại. Chị theo học tại Đại học Văn khoa Sài gòn hồi giữa thập niên 1950. Sau đó chị dậy môn Pháp văn tại Trung học Gia long. Vào đầu thập niên 1960, chị qua học thêm tại Pháp và vào năm 1964 chúng tôi được tin chị Lài lập gia đình với anh Stefan Wilkanowicz và theo chồng qua sinh sống ở Ba Lan luôn từ ngày đó.

Vào mùa hè năm 2012, tôi đã có dịp qua Ba Lan thăm gia đình anh chị Lài và Stefan trong ít ngày và sau đó đã viết bài “Tôi đã gặp lại chị Trần Thị Lài ở Ba Lan” – bài viết này đã được đăng trên nhiều báo giấy và báo điện tử ở hải ngọai.

Có thể nói chị Lài là người đầu tiên từ miền Nam Việt nam mà đi làm dâu tại Ba Lan là một quốc gia thuộc khối cộng sản ở Đông Âu vào thời kỳ sau thế chiến thứ hai. Điều đáng ghi nhận hơn cả trong suốt 50 năm chị sinh sống ở Ba Lan, đó là chị đã bỏ khá nhiều công sức và thời gian để dịch thuật các tác phẩm và bài viết của Đức Tổng Giám Mục Karol Wojtyla ở Cracovie từ nguyên tác tiếng Ba Lan sang tiếng Pháp. Karol Wojtyla sau này chính là vị Giáo Hòang John Paul 2 mà vừa mới được phong thánh hồi tháng 6 năm 2014 này. Chị Làicũng giúp việc dịch tài liệu về sự Tôn Vinh Lòng Thương Xót Chúa (Divine Mercy) của nữ tu Faustina từ tiếng Ba Lan qua tiếng Việt.

Nay đến lượt chị Lài ra đi từ giã cõi tạm này, chắc chắn chị sẽ gặp lại các bạn thân thiết xưa trong Nhóm Sinh viên Công giáo ở Sài gòn như cha Tuyên úy Nguyễn Huy Lịch các chị Nguyễn Thị Oanh, Vũ Thị Kim Liên, các anh Trần Quý Thái, Nguyễn Đức Quý v.v…

Xin vĩnh biệt chị Maria Teresa Trần Thị Lài

Với niềm quý mến và thương tiếc khôn nguôi.

Và xin gửi lời chia sẻ nỗi mất mát này tới anh Stefan và các cháu.

Costa Mesa California, ngày 21 tháng Tám 2014

Tác giả: Luật sư Đoàn Thanh Liêm

Phép mầu Mân Côi

Phép mầu Mân Côi

TRẦM THIÊN THU

Chuacuuthe.com

VRNs (27.8.2014) – Sài Gòn – Immaculee Ilibagizalà người sống sót trong vụ thảm sát tàn nhẫn đã xảy ra năm 1994 tại đất nước Rwanda, thuộc Đông Âu. Cô viết: “Tận dụng những khoảnh khắc quý giá, tôi cố gắng lần chuỗi Mân Côi hằng ngày, không gì hạnh phúc hơn là bàn luận về vẻ đẹp và sức mạnh mà tôi có thể đưa vào cuộc sống khi chúng ta lần những hạt thánh này và hướng lòng về trời cao”.

Tổ chức Nhân quyền ước tính: Qua gần 100 ngày, hơn 500.000 người bị giết chết – chiếm khoảng 20% dân số nước này. Đó là cực điểm của sự căng thẳng dân tộc từ lâu giữa dân tộc thiểu số Tutsi và dân tộc Hutu. Dân tộc Tutsi đã bị dân tộc Hutu thống trị vài thế kỷ rồi.

Cô Immaculee Ilibagiza  Ảnh. stlouisreview.com/

Cô Immaculee Ilibagiza
Ảnh. stlouisreview.com/

Trong cuốn “The Rosary: The Prayer That Saved My Life” (Chuỗi Mân Côi: Lời Kinh Cứu Sống Đời Tôi), Ilibagiza cho biết nhiều điều kỳ lạ. Đây là vài điều điển hình:

Sức mạnh của Kinh Mân Côi đem lại vô số ơn phúc cho cuộc đời của chúng ta. Kinh Mân Côi làm cho tư tưởng mạch lạc, loại bỏ những khó khăn, giải quyết các vấn đề làm khổ chúng ta, làm cho chúng ta lành mạnh, làm cho chúng ta tràn đầy niềm hạnh phúc và hy vọng.

Đối với những người không biết tôi sống sót trong vụ diệt chủng năm 1994, vụ này đã làm tan nát quê hương Rwanda của tôi ở Phi châu. Hầu như không lúc nào tôi quên cảnh gia đình tôi bị giết chết trong vụ thảm sát đó, kể cả những người tôi yêu thương và những người bạn của tôi.

Tôi sống sót nhờ lòng tốt của một linh mục thương xót tôi và bảy phụ nữ Tutsi khác. Linh mục này giấu chúng tôi trong nhà tắm suốt ba tháng. Lòng tốt của linh mục này đã cứu sống tôi, nhưng chính Kinh Mân Côi đã thực sự cứu thoát tôi và linh hồn tôi.

Tôi biết sức mạnh của Kinh Mân Côi trong một đêm kinh khủng mà tôi không muốn xảy ra với bất kỳ ai, tôi biết chúng tôi không phải đối mặt với sự nguy hiểm hoặc sự chết vì Đức Mẹ đã lắng nghe lời cầu xin của chúng tôi, vì Chúa Giêsu đã đến cứu chúng tôi, vì Thiên Chúa đã nhậm lời cầu của chúng tôi.

Chúa và Mẹ luôn sẵn sàng cứu giúp chúng ta, nhưng nhờ đến với Chúa và Mẹ qua việc cầu nguyện tập trung và sâu sắc, chúng ta có thể gặp được các Ngài từ sâu thẳm tâm hồn. Đó là nơi mà phần thưởng của lời cầu nguyện trở nên vô hạn trong cuộc đời chúng ta.

Một trong những vẻ đẹp bền vững của Kinh Mân Côi là sức mạnh làm chúng ta chú ý các lĩnh vực của cuộc sống cần được giúp đỡ, an ủi, hoặc hướng dẫn. Mỗi khi chúng ta suy niệm một mầu nhiệm, hoặc đọc một đoạn Kinh Thánh, các từ ngữ hoặc ý tưởng sẽ đến với chúng ta – có thể vì chúng lóe sáng lên trong ký ức về gia đình hạnh phúc hoặc soi sáng cho chúng ta biết cách xử lý các thử thách gay go nhất.

Vấn đề là khi chúng ta lần Chuỗi Mân Côi, sự ngọt ngào thấm vào huyết quản của chúng ta và dần dần tác động tới cả cơ thể. Nhiều lần tôi lần Chuỗi Mân Côi mà tôi không nhận ra, mãi lâu sau tôi mới nhận ra, và chỉ khi đó tôi mới cảm thấy tinh thần tôi thanh thản, nụ cười như nở trên môi, rồi có vẻ như sự khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua kia lại chợt tan biến.

Tín thác vào Chúa là sức mạnh kiên cường nhất để chúng ta có niềm hy vọng bảo vệ, không có khí cụ nào tốt hơn để tự vệ bằng Kinh Mân Côi. Những món quà quý giá nhất mà Kinh Mân Côi đem lại cho chúng ta là những món quà mà chúng ta chưa từng biết…

Các phép lạ có thật của Kinh Mân Côi là các phép lạ của lời cầu nguyện và suy niệm tác động trong tâm hồn và linh hồn của chúng ta. Khi chúng ta để Thiên Chúa ở trong lòng chúng ta khi cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi, chúng ta có được kinh nghiệm tuyệt vời về các phép lạ, và mọi thứ khác sẽ xảy ra.

Lạy Đức Mẹ Mân Côi, Nữ vương ban sự bình an, là Đức Nữ cực mầu cực nhiệm, luôn trung tín thật thà, là gương nhân đức, và là tòa Đấng khôn ngoan, xin thương cầu thay nguyện giúp chúng con, bây giờ và trong giờ lâm tử. Amen.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ beliefnet.com)

Thân phụ của một học sinh bi mất tích trong tai nạn chìm phà ở Hàn Quốc xin ĐTC rửa tội

Thân phụ của một học sinh bị mất tích trong tai nạn chìm phà ở Hàn Quốc đã thực hiện một cuộc hành hương dài 900 cây số, vai vác thánh giá. Ông đã xin ĐTC rửa tội cho. Ngài đã đồng ý và ông sẽ được ngài làm phép rửa tội thứ bẩy hôm 16-8-2014, tại tòa Sứ thần Tòa Thánh ở thủ đô Hán Thành.

Hình ảnh: Thân phụ của một học sinh bị mất tích trong tai nạn chìm phà ở Hàn Quốc đã thực hiện một cuộc hành hương dài 900 cây số, vai vác thánh giá. Ông đã xin ĐTC rửa tội cho. Ngài đã đồng ý và ông sẽ được ngài làm phép rửa tội thứ bẩy hôm 16-8-2014, tại tòa Sứ thần Tòa Thánh ở thủ đô Hán Thành.

nguồn: từ Dòng Tên Việt Nam

Từ vô thần sang Công giáo: Một câu chuyện của nghi ngờ, hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui

Từ vô thần sang Công giáo: Một câu chuyện của nghi ngờ, hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui

Đặng Tự Do

02 tháng 8-2014

Người ta ước tính rằng khoảng 2 phần trăm của dân số thế giới là người vô thần. Trong nhiều năm, Jennifer Fulwiler, là một người trong số đó. Cô lớn lên trong một gia đình hạnh phúc nhưng vô tín ngưỡng. Thậm chí, cô tin rằng tôn giáo được dựa trên một câu chuyện cổ tích và Kitô giáo là một tôn giáo nguy hiểm.

Jennifer Fulwiler, tác giả cuốn “Something Other Than God”, nghĩa là “Còn gì khác ngoài Thiên Chúa”, nói:

“Vâng, tôi đã từng xem Kitô giáo như một cái gì đó nguy hiểm và tôi thực sự muốn khuyến khích mọi người quên đi hệ thống niềm tin nguy hiểm này.”

Trong cuốn sách của mình, ” Còn gì khác ngoài Thiên Chúa “, cô chia sẻ hành trình của mình. Tất cả mọi thứ từ sự thờ ơ, tới sự hiếu kỳ và cuối cùng là niềm vui. Cô nói rằng tất cả mọi thứ đã thay đổi khi cô và chồng có đứa con đầu tiên. Cô bắt đầu đặt ra nhiều câu hỏi hơn, mà chủ nghĩa vô thần không có thể trả lời.

Jennifer giải thích:

“Chủ nghĩa vô thần nói rằng cuộc sống của con người chẳng qua chỉ là tình cờ ngẫu nhiên của một chuỗi những phản ứng hóa học và điều đó thực sự trái ngược với kinh nghiệm của tôi về cuộc sống và sự gặp gỡ với những người khác.”

Sau khi đọc tất cả các loại sách tôn giáo, với nhiều bất ngờ, cô tìm thấy sự thật trong Kitô Giáo. Cuối cùng cô và chồng cô đã trở thành người Công Giáo. Nhìn lại, cô cho biết cuộc sống của cô bây giờ là hoàn toàn khác trước đây.

Jennifer nói thêm:

“Khi tôi còn là một người vô thần, tôi nghĩ rằng ý nghĩa của cuộc sống là phải có càng nhiều tiền càng tốt. Nhưng tôi nhận thấy không bao giờ là đủ. Ao ước được thăng chức nhưng khi được rồi, tôi lại muốn trèo lên cao hơn nữa. Có xe đẹp, tôi lại muốn có xe đẹp hơn. Tôi đã luôn luôn tìm kiếm một điều khác nữa.”

Kể từ đó, đức tin của tôi đã phát triển và cả gia đình cô cũng đón nhận đức tin. Cô vẫn giữ liên lạc với một số bạn bè vô thần. Họ có thể không đồng ý về những gì là chân lý, nhưng họ nhìn nhận một sự thật rằng cô đã tìm thấy niềm tin thông qua lý trí.

Jennifer nói tiếp:

“Tôi nghĩ rằng người Công Giáo đôi khi có chút do dự trước các cuộc đối thoại thân thiện với những vô thần, bởi vì họ có thể nghĩ rằng ‘Tôi không muốn nhìn vào những lập luận vô thần quá nhiều vì nó có thể làm lung lay đức tin của tôi và tôi có thể không thích những gì tôi tìm thấy. Tôi luôn luôn khuyến khích mọi người theo lời khuyên của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị: đừng sợ. Trước những thách đố của người vô thần, hãy khám phá mọi khả năng và bạn sẽ tự tin hơn nơi đức tin Công Giáo của mình. “

SỐNG ĐỜI KITÔ HỮU KHÔNG DỄ !

SỐNG ĐỜI KITÔ HỮU KHÔNG DỄ !

Trích EPHATA 621

Sr. Jean Berchmans MINH NGUYỆT

Vào lúc 2 giờ sáng, một thiếu nữ duyên dáng gọn gàng trong chiếc áo len và quần jeans, trượt ống thải đồ từ lầu 4 xuống đất. Nhưng khi vừa đặt chân xuống, cô gái chạm trán với nhân viên cảnh sát đi tuần. Ông nhìn thẳng cô gái và nói: “Khám phá bất ngờ ! Thay vì đi ăn trộm có lẽ cô nên ghi tên vào một gánh xiệc !” Lúng túng vì sợ vị cảnh sát to tiếng đánh thức thân phụ đang ngủ, cô gái vội vàng giải thích hành động “đi đêm” của mình… Thiếu nữ ấy là Sally Trench sống với cha mẹ ở Luân Đôn, thủ đô Anh Quốc.

Vào một buổi tối, khi trở về nhà sau nửa đêm, lúc bước xuống ga Waterloo nằm ở ngoại ô, Sally đụng phải vật gì mềm mềm, động đậy… Giật mình, Sally cúi xuống nhìn kỹ thì thấy đó là một phụ nữ cao tuổi, chung quanh người quấn một tấm chăn rách nát. Bà nằm trên mấy tờ báo. Nhưng không chỉ có mình bà. Dọc theo bờ tường nhà ga, còn có nhiều người khác. Đàn ông nằm lẫn lộn với đàn bà. Tất cả đều ăn mặc rách rưới bẩn thỉu. Người nào may mắn hơn thì có chiếc áo khoác bằng len, quấn chung quanh mình cho đỡ lạnh…

Sally thật đau lòng khi trông thấy cảnh tượng đó. Cô có thể lạnh lùng làm ngơ bỏ đi, như thầy tư tế trong Phúc Âm khi trông thấy người bị thương nằm bên vệ đường. Nhưng Sally bắt chước người Samaritano nhân lành. Cô đến bên những người này, cho tay vào túi, lấy tất cả tiền và phân phát cho họ. Một người trong nhóm cất tiếng nói: “Đây không phải là chỗ của cô ở giữa những người quá dơ bẩn. Cô quá ngây thơ duyên dáng ! Tốt hơn cả là cô nên trở về nhà.”

Sally trở về nhà và khi cầm trên tay ly sôcôla nóng hổi uống trước khi lên giường ngủ, cô gái tự nhủ: “Thiên Chúa cho mình quá nhiều, không thiếu thốn sự gì. Lẽ nào mình chỉ giữ riêng cho một mình mình thôi ?”

Ngay đêm hôm sau đó, lần đầu tiên, Sally thức dậy vào lúc 2 giờ sáng. Cô bỏ vào xách mấy gói thuốc lá và một bình cà phê nóng. Xong, cô đi rón rén để không đánh thức cha mẹ dậy. Thay vì mở cửa chính, cô dùng ống chuyển đồ và trượt từ lầu bốn xuống đất. Cô đi thẳng ra nhà ga Waterloo. Cô đến bên những người nghèo ngủ trên nền nhà ga và phân phát thuốc lá cùng cà phê nóng cho họ. Cô mang đến cho họ hơi ấm của cà phê và của tình người, trong những đêm mùa đông giá buốt.

Từ đó, cuộc viếng thăm những người không nhà cửa ở nhà ga Waterloo trở thành thông lệ. Cứ vào 2 giờ sáng, Sally thức giấc, mặc quần jeans, khoác áo len, xách cà phê nóng và thuốc lá đến thăm những người nghèo nơi nhà ga Waterloo. Vào lúc 4 giờ sáng, cô lại có mặt ở nhà, lên giường ngủ tiếp.

Thỉnh thoảng, trong những chuyến “đi đêm” như thế, Sally gặp lại vị cảnh sát của đêm đầu tiên. Ông vừa bắt tay Sally vừa nói: “Tất cả những gì cô làm đều thật đẹp và có tinh thần Kitô nữa !”

Sau một thời gian giúp đỡ những người sống lang thang không nhà không cửa, Sally lại khám phá ra một nhóm trẻ bụi đời, sống bất cần gia đình và xã hội. Họ sống vô kỷ luật và ưa chuộng tự do, nhưng là một thứ tự do bệnh hoạn, làm những điều không được phép làm như xìke, ma túy. Sally đến sống với nhóm bạn trẻ này, để tìm hiểu và chia sẻ nếp sống với họ. Nhiều người trẻ bụi đời sau đó khám phá ra ý hướng ngay thẳng và bác ái của Sally liền tặng nàng danh hiệu ”Sally, Người Công Giáo”.

Một hôm, một bạn trẻ bụi đời nói với Sally: “Tôi thật khâm phục lòng tốt của cô. Nhiều người cũng mang danh Công Giáo nhưng không làm một công tác bác ái nào giúp người khác.” Sally khiêm tốn trả lời: “Tôi không chỉ trích ai hết. Với kinh nghiệm riêng tư thì tôi biết rằng: sống đúng danh nghĩa tín hữu Công Giáo không phải là chuyện dễ. Phải thực thi tinh thần Kitô suốt cuộc đời mình…”

Sr. Jean Berchmans MINH NGUYỆT

 

CỨ TIN TƯỞNG VÀO CHÚA VÀ LÀM ĐIỀU THIỆN THÌ SẼ ĐƯỢC SỐNG YÊN HÀN!

CỨ TIN TƯỞNG VÀO CHÚA VÀ LÀM ĐIỀU THIỆN THÌ SẼ ĐƯỢC SỐNG YÊN HÀN!

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Câu chuyện xảy ra vào thời kỳ ông Plutarco Elias Calles (1877-1945), nhà độc tài khát máu làm tổng thống nước Messico. Ông bách hại dữ dội Kitô Giáo đặc biệt là Giáo Hội Công Giáo. Chính trong thời điểm khốn khổ này mà các tín hữu Công Giáo Messico đã can đảm lấy chính mạng sống làm chứng cho lòng trung tín với Đức Chúa GIÊSU KITÔ, giống như các tín hữu Kitô tiên khởi của thời Giáo Hội sơ khai.

Một hôm các binh lính bất ngờ đột nhập vào một căn nhà nơi một gia đình Công Giáo đang tụ họp để cùng nhau đọc kinh cầu nguyện. Các binh sĩ tàn bạo thẳng tay giết chết mọi người không trừ ai: từ cha mẹ đến con cái. Thế nhưng không ai nhận ra là trong cơn hỗn loạn đã có một cậu bé nhanh chân lẻn ra ngoài trốn thoát.

Cậu bé mới khoảng 7 tuổi và vô cùng hoảng sợ. Cậu đâm đầu chạy thẳng đến nơi mà mẹ cậu vẫn mang cậu đến đó vào mỗi Chúa Nhật để lén lút tham dự Thánh Lễ. Đó là một căn phòng nhỏ bên trên phủ rơm và đi vào bằng cánh cửa sập. Cậu bé nhớ lại lời mẹ thường nói đi nói lại với mình rằng:
– Bé cưng của mẹ, con hãy nhớ rằng Đức Mẹ dịu hiền của Đức Chúa GIÊSU cũng là Mẹ thật của chúng ta và yêu thương chúng ta vô ngần. Con sẽ luôn luôn gặp Đức Mẹ ở gần cánh cửa Nhà Tạm nơi Đức Chúa GIÊSU Thánh Thể ẩn mình. Khi có bất cứ điều gì con hãy thân thưa cùng Đức Mẹ!

Thế là cậu bé bắt đầu nhìn quanh quất từ phải sang trái để xem Đức Mẹ của Đức Chúa GIÊSU có đó không. Nhưng cậu bé không trông thấy ai hết. Cậu bé thầm nghĩ:
– Không có Đức Mẹ! Vậy mà Má nói là Đức Mẹ luôn có mặt ở đó. Hay là Đức Mẹ cũng vào trong Nhà Tạm với Đức Chúa GIÊSU rồi. Mình sẽ gõ thử xem sao.

Cậu bé đưa tay gõ cửa Nhà Tạm. Nhưng không có tiếng trả lời. Cậu bé liền khóc vì cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi. Bỗng chốc từ trong luồng ánh sáng thiên quốc cậu bé trông thấy một Bà tuyệt đẹp. Bà cất tiếng êm ái nói với cậu bé:
– Con có muốn đến với Bà không? Bà mang con đến với Má con với Ba con và các anh chị của con!

Gương mặt cậu bé bừng sáng và cậu chạy thẳng gieo vào vòng tay của Bà Đẹp.

Cũng chính vào lúc đó bọn lính hung dữ ập vào căn phòng nhỏ và trông thấy cậu bé nằm dài dưới đất với đôi tay chắp trước ngực. Họ la hét ra lệnh cho cậu bé phải đứng lên. Nhưng cậu bé không trả lời vẫn nằm im bất động. Họ tưởng cậu bé đang ngủ nên tàn bạo hất vào người cậu bé. Vẫn không có phản ứng.

Thì ra cậu bé đang ngủ giấc ngủ thần tiên vĩnh cửu. Bởi vì, Đức Mẹ MARIA đã đưa cậu bé về Trời!

… Câu chuyện thứ hai mang một nét đẹp khác liên quan đến Đức thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII (1958-1963).

Đức Ông bí thư Loris Francesco Capovilla nay là Hồng Y cao niên nhất (1915) của Giáo Hội Công Giáo kể lại rằng. Đức Thánh Cha Gioan XXIII có thói quen xưng tội mỗi chiều thứ sáu. Trong dịp này ngài luôn luôn xưng một trong những tội lớn nhất:
– Ngày xưa còn bé đã hái trộm trái từ cây của nhà hàng xóm ..

Rồi chính Đức Thánh Cha Gioan XXIII cũng viết trong Nhật Ký: Việc xưng tội nên được chuẩn bị kỹ lưỡng, được xưng hàng tuần vào ngày thứ sáu hoặc ngày thứ bảy, là một nền tảng vững chắc cho hành trình tiến về đường trọn lành. Nó cũng giúp có một cái nhìn thanh thản và khuyến khích có thói quen tốt lành chuẩn bị sẵn sàng chết vào bất cứ giờ nào và lúc nào trong ngày. Đây chính là niềm thanh thản của tôi và cũng chính điều này khiến tôi sẵn sàng ra đi trình diện trước tòa Chúa vào bất cứ khi nào Ngài ra hiệu cho tôi. Theo tôi thì hình như đây là dấu hiệu tin cẩn và yêu thương mà Đức Chúa GIÊSU dành cho tôi, để tôi được tuyển chọn làm đại diện của Người dưới đất. Đó là điểm tột cùng lòng thương xót của Người. Vì thế tôi giữ mình trong tư thế tiến bước về với Người, y như thể Người đang chờ đợi ôm chặt tôi trong vòng tay Người.

… ”Cứ tin tưởng vào Chúa và làm điều thiện, thì sẽ được ở trong đất nước và sống yên hàn. Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn, Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng. Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay. Chính nghĩa bạn, Chúa sẽ làm rực rỡ tựa bình minh, công lý bạn, Người sẽ cho huy hoàng như chính ngọ. Hãy lặng thinh trước mặt Chúa và đợi trông Người. Bạn chẳng nên nổi giận với kẻ được thành công hay với người xảo trá .. Chúa giúp con người bước đi vững chãi, ưa chuộng đường lối họ dõi theo. Dù họ có vấp cũng không ngã gục, bởi vì đã có Chúa cầm tay. Từ nhỏ dại tới nay tôi già cả, chưa thấy người công chính bị bỏ rơi, hoặc dòng giống phải ăn mày thiên hạ. Ngày ngày họ thông cảm và cho mượn cho vay, dòng giống mai sau hưởng phúc lành. Hãy làm lành lánh dữ, bạn sẽ được một nơi ở muôn đời. Bởi vì Chúa yêu thích điều chính trực, chẳng bỏ rơi những bậc hiếu trung .. Miệng người công chính niệm lẽ khôn ngoan, và lưỡi họ nói lên điều chính trực. Luật THIÊN CHÚA, họ ghi tạc trong lòng, bước chân đi không hề lảo đảo” (Thánh Vịnh 37(36),3-7/23-28/30-31).

(”La Mia Messa”, volume II, 1 Aprile – 30 Giugno, Anno VIII/A – 2014, Casa Mariana Editrice, trang 383-384/419-420)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

XIN MẸ CỨU GIÚP CON MỌI NƠI MỌI LÚC – NHẤT LÀ TRONG GIỜ CHẾT!

XIN MẸ CỨU GIÚP CON MỌI NƠI MỌI LÚC –
NHẤT LÀ TRONG GIỜ CHẾT!

…. Câu chuyện xảy ra tại thành phố Hal nằm dọc theo kênh đào Charleroi.  Hal chỉ  cách Bruxelles – thủ đô vương quốc Bỉ – khoảng vài cây số.  Tại đây có nhà thờ Công Giáo kiểu gô-tích tôn kính bức tượng “Đức Mẹ Đen”.  Bức tượng tạc từ thế kỷ XIII và nổi tiếng vì làm nhiều phép lạ.

Tại thành phố Hal cạnh con kênh Charleroi đã xảy ra tai nạn thảm thương.  Một bà mẹ góa sống với đứa con trai duy nhất.  Một ngày, cậu bé chơi với bạn cạnh con kênh.  Không hiểu hai cậu bé rượt đuổi nhau thế nào mà cậu trai con bà góa trượt chân rớt xuống kênh . Cậu bạn hoảng hốt chỉ biết gào lên kêu cấp cứu.  Bà mẹ càng hoảng hốt hơn và cũng chỉ biết hét lên những lời kêu cứu thảm thiết.

May mắn vào ngay lúc đó có một thanh niên đi về hướng này.  Nghe tiếng kêu chàng đoán ngay sự việc.  Chàng tức tốc nhảy xuống kênh và lặn sâu dưới dòng nước.  Mấy phút sau chàng vớt được cậu bé và mang lên bờ, trước đôi mắt đẫm lệ của bà mẹ.  Người ta xúm lại cấp cứu cậu bé.  Cậu từ từ hồi tỉnh.  Cậu thoát chết nhờ hành động mau mắn và dũng cảm của người thanh niên lạ mặt.

Trước công ơn to tát như thế làm sao cám ơn cho đủ người đã cứu mạng sống con mình???   Bà mẹ góa lại quá nghèo!  Nghĩ lui nghĩ tới bà thấy không gì quý hơn là tặng chàng trai ảnh đeo có hình Đức Mẹ Đen của nhà thờ gô-tích thành phố Hal.  Bà đưa tặng chàng và nói:

– Chắc chắn Đức Mẹ MARIA nghe lời tôi cầu cứu nên đưa đẩy cậu đến và cứu vớt kịp thời con trai tôi bị nạn.

Chàng thanh niên lúng túng trả lời:

– Tôi không biết là có đúng như thế không, bởi vì, thú thật với bà, tôi là người không tin!

Tuy nói thế nhưng trước cái nhìn khẩn thiết của bà mẹ chàng chấp nhận ảnh thánh Đức Mẹ MARIA. Chàng cũng hứa sẽ mang ảnh như lời bà xin để ghi nhớ cuộc gặp gỡ với cậu bé con bà…

Gần mấy chục năm trôi qua… chàng thanh niên dũng cảm năm xưa, nay là người đàn ông lớn tuổi.  Ông bị bệnh nặng và được điều trị tại một nhà thương bên Thụy Sĩ.  Nhà thương do các nữ tu điều khiển.  Cùng vào thời kỳ đó, tại vùng này, có vị Linh Mục người Bỉ về đây nghỉ ngơi.  Thỉnh thoảng Cha đến thăm viếng các bệnh nhân theo lời xin của các nữ tu.  Một ngày, cha đang trên đường gần nhà thương thì thấy một nữ tu chạy đến xin cha tới giúp một bệnh nhân đang hấp hối.  Chị nói:

– Xin cha đến mau! Ông ta đang mê sảng!

Khi vị Linh Mục đến bên giường Cha hiểu rằng người bệnh nói tiếng Flamand.  Ông muốn bịt tai và xua đuổi tất cả những gì có liên hệ đến tôn giáo.  Bằng tiếng Flamand vị Linh Mục nói vào tai người bệnh:

– Xin ông an tâm, không ai dám làm trái ý ông!  Chúng tôi chỉ cầu nguyện cho ông thôi!

Nói xong vị Linh Mục thoáng thấy nơi cổ bệnh nhân có lấp lánh ảnh đeo Đức Mẹ MARIA.  Không giữ được bình tĩnh Cha ngạc nhiên nói:

– Ông mang một ảnh đẹp như vậy mà ông lại không muốn tôi nói với ông về Đức Chúa GIÊSU KITÔ và về Đức MARIA, Mẹ của Ngài và cũng là Mẹ của chúng ta sao???

Người hấp hối bỗng chốc như hồi tỉnh.  Bằng từng câu rời rạc, ông kể lại câu chuyện vớt một cậu bé và lời hứa với bà mẹ cậu bé là sẽ mang ảnh Đức Mẹ MARIA suốt đời để ghi dấu cuộc gặp gỡ.  Và ông đã giữ lời hứa.  Vị Linh Mục thật cảm động.  Ngài cúi xuống cầm tay người bệnh và nói:

– Chú bé mà ông cứu sống chính là tôi!  Mẹ tôi vẫn kể lại câu chuyện ấy và nhắc tôi nhớ đến ông luôn. Chúng tôi suốt đời ghi ơn ông… Và ông không thấy là chính Đức Mẹ MARIA đưa tôi đến đây gặp lại ông để giúp ông trong giây phút trọng đại cuối đời sao?

Người bệnh cũng cảm động không kém vị Linh Mục.  Ông bỗng trở nên an bình hơn.  Ông chấp nhận xưng tội và xin rước Mình Thánh Đức Chúa GIÊSU làm của ăn đàng.  Sau đó, ông nhắm mắt an nghỉ trong vòng tay trìu mến ghi ơn của vị Linh Mục.

… Kinh Cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Lạy Rất Thánh Đồng Trinh MARIA, Mẹ đã vui lòng nhận lấy tước hiệu là Mẹ Hằng Cứu Giúp, cho được giục lòng chúng con trông cậy vững vàng, thì con nài xin Mẹ dủ lòng thương, cứu giúp con trong mọi nơi mọi lúc, khi phải các cơn cám dỗ, khi sa phạm tội, và khi gặp các sự khốn khó trong đời con, và nhất là trong giờ chết.  Lạy Mẹ hay thương, xin cho con siêng năng chạy đến cùng Mẹ luôn luôn. Con tin rằng, con siêng năng chạy đến cùng Mẹ, thì làm cho Mẹ càng sẵn lòng nghe lời con.  Xin Mẹ ban cho con ơn trọng này, là siêng năng cầu xin Mẹ, và được lòng trông cậy Mẹ như con thảo, ngỏ cho Mẹ nghe lời con hằng cầu xin, mà hằng cứu giúp con, và ban cho con được ơn bền đỗ đến cùng.  Lạy Mẹ yêu dấu hay thương giúp, xin Mẹ ban phúc lành cho con, và cầu bàu cho con khi này và trong giờ lâm tử.  AMEN.

Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin che chở mọi kẻ thuộc về con, ban ơn phù hộ cho Đức Thánh Cha, cho Hội Thánh, cho nước Việt Nam con, cho gia đình con, cho kẻ thân nghĩa, kẻ thù nghịch và hết mọi kẻ khốn khó.  Sau hết cho các Linh Hồn đáng thương trong Lửa Luyện Ngục.

Thánh MARIA, lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin cầu bàu cho con.  Lạy Thánh Anphongxô là quan thầy bào chữa con, xin giúp đỡ con trong những khi khó ngặt thiếu thốn biết chạy đến cùng Đức Bà MARIA.

Lạy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cầu cho chúng con.
Lạy Thánh Anphongxô, cầu cho chúng con.

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Cô Meriam Ibrahim người Sudan tiếp kiến Đức Thánh Cha

Cô Meriam Ibrahim người Sudan tiếp kiến Đức Thánh Cha

Chuacuuthe.com

VRNs (25.07.2014) – Sài Gòn- Cô Meriam Ibrahim, từng bị tuyên án tử hình vì cải đạo sang Công giáo, đã có buổi gặp gỡ Đức Thánh Cha vào thứ 5, 24.07.2014, tại nhà khách Santa Marta, Vatican. Cô đến đây cùng với chồng, anh Daniel Wani và hai con (Martin một tuổi rưỡi và Maya sinh trong tù cách đây hai tháng).

1

Thứ trưởng Bộ ngoại giao Ý, ông Lapo Pistelli đã hộ tống gia đình cô Marian. Trước đó, ông đã thương thuyết và sắp xếp chuyến bay và đi cùng cô tới Ý. Pistelli đã có buổi nói chuyện với phóng viên Susy Hodges sau buổi tiếp kiến Đức Thánh Cha về kết quả đạt được trong công vụ của mình.

Sau đây là nội dung bài phỏng vấn của  Susy Hodges với Thứ trưởng Bộ ngoại giao Ý, ông Lapo Pistelli:

Thứ trưởng phát biểu một cách vui vẻ và hài lòng về những mối bận tâm liên quan tới cô Meriam và chuyến đi của gia đình cô từ Sudan tới Ý để tiếp kiến Đức Thánh Cha. Pistelli cho biết trong buổi nói chuyện với Bộ Trưởng ngoại giao Sudan, ông được biết tin rằng chính quyền Khartoum đang xem xét “suy nghĩ lại” bộ luật hình sự và luật hiện hành về sự cải đạo có thể được “thay đổi hoặc xóa bỏ”.

Giám đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh, cha Federico Lombardi, cho biết cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và cô Merian cùng gia đình diễn ra trong bầu không khí “gần gũi và thân mật”. Đức Thánh Cha Phanxicô cám ơn cô Meriam vì “là chứng nhân can đảm trong việc giữ đức tin”.

Cha Lombardi cho biết cô Meriam cám ơn Đức Thánh Cha vì đã cầu nguyện cho cô và cô bật mí rằng những lời cầu nguyện đó đã nâng đỡ và khuyến khích cô rất nhiều.

Thủ tướng Ý, ông Matteo Renzi trước đó đã chào đón gia đình cô Merian tại sân bay Ciampino và gọi đó là “ngày để tán dương”.

Cô Meriam Ibrahim bị kết án tử hình với tội danh bỏ đạo, vì cha cô là người Hồi Giáo. Cô kết hôn với một người Công giáo. Lễ cưới được tổ chức tại một nhà thờ vào năm 2011. Cô được hứa hẹn nếu chấp nhận theo Hồi giáo sẽ được tự do. Tuy nhiên, cô tuyên bố trước tòa rằng cô sẽ không bao giờ chối bỏ đức tin Công giáo của mình. Án tử của cô được xóa bỏ vào tháng 6, nhưng sau đó cô bị chặn tại sân bay. Các viên chức Sudan nghi ngờ giấy tờ đi lại của cô và  không cho cô rời khỏi đất nước này.

Cha Lombardi nói rằng việc Đức Thánh Cha gặp gia đình Merian cho thấy “sự gần gũi, quan tâm và cầu nguyện” của Ngài đối với tất cả những ai đang phải chịu đau khổ vì đức tin và đặc biệt là những tín hữu bị bách bớ hoặc bị giới hạn quyền tự do tôn giáo.

Merian cùng gia đình sẽ định cư tại Mỹ.

Minh Trang

Xem thêm: Vietcatholic.net

Phụ nữ bị án chết treo ở Sudan đã đến Ý, gặp riêng với Đức Giáo Hoàng