Du Lịch Tâm Linh – Tưởng Năng Tiến

Du Lịch Tâm Linh – Tưởng Năng Tiến

Nhà thơ Inra Sara cho biết người Cham không cắm hoa trong bình và cũng chẳng thích ngắt bông hay chưng hoa hòe, hoa sói gì ráo trọi. Họ cứ để “cho nó giữa bao la hay xó kẹt thiên nhiên” thôi.

Dân Việt thì khác. Mặc dù đã sống trong xã hội mới (Xã Hội Chủ Nghĩa) từ nhiều thập niên qua nhưng “tinh thần làm chủ tập thể” của họ, xem chừng, vẫn còn rất thấp. Cái gì người Việt cũng nhất định phải vơ về làm của riêng mới chịu (kể cả bông hoa) khiến báo chí nhà nước than phiền quá xá:

Nhà văn Nguyễn Đình Bổn càm ràm: “Những bồn hoa tết tại Hà Nội chỉ sau một đêm là mất sạch!” Trời đất! Tưởng gì?  Chớ bị trộm có mấy chậu hoa giấy hay mấy bồn hoa tết (chuyện nhỏ như con thỏ) thôi mà cũng nói này nói nọ làm chi, cho má nó khi.

Nước ta còn nhiều vụ trộm hoành tráng và ngoạn mục hơn nhiều, theo tường thuật  của FB Đỗ Duy Ngọc:

Thời nay ở xứ Việt, người ta không chỉ vào rừng lấy gỗ về làm những ngôi nhà đồ sộ tốn hàng trăm mét khối, không chỉ đốn cây rừng về làm bàn ghế, tủ giường chạm khắc lởm chởm để chứng tỏ mình giàu, mình là giới quý tộc. Những trọc phú thời nay còn đốn nguyên cả cây rừng cổ thụ về trồng ở sân nhà mình. Đem cây rừng về nhà người ta gọi là “di thực”. Rừng tan hoang vì thuỷ điện, rừng không còn vì những thú sở hữu của những kẻ lắm tiền.

Di thực, nói nào ngay, không phải là một hiện tượng phổ biến. Núi rừng tan hoang/điêu tàn cũng không phải chỉ do đám làm thủy điện, đám lâm tặc, hay đám trọc phú mà còn có sự tiếp tay không ngừng của đám sư tăng (thuộc GHPGVN) trong việc khai thác du lịch tâm linh nữa.

Bỉnh bút Văn Tâm (Tạp Chí Luật Khoa) cho biết: Bốn mươi năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Hơn 20 năm xẻ núi xây chùa …

Năm 2003, chùa Bái Đính, tỉnh Ninh Bình được xây dựng trên một sườn núi với tổng diện tích 539 ha. Chùa rộng đến mức nhà chùa phải chi 10 tỷ đồng mỗi năm để thắp sáng. Năm 2021, khu du lịch tâm linh Tây Yên Tử tỉnh Bắc Giang vừa đón khách vừa tiếp tục được xây dựng. Khu du lịch sẽ giúp du khách khám phá cuộc đời của vua Trần Nhân Tông. Để có trải nghiệm khám phá này, phải đánh đổi 136 ha đất sườn núi.

Ở Ninh Bình, chùa Bái Đính không dừng lại ở 539,2 ha được cấp ban đầu. Năm 2010, sau hơn hai năm khánh thành, ngôi chùa này được mở rộng thêm 424,8 ha đất. Ở Nghệ An, chính quyền huyện Diễn Châu bắt đầu xây dựng quần thể văn hóa tâm linh đền Cuông rộng 130 ha vào năm 2018. Năm 2020, một ngôi chùa trong quần thể bị phát hiện là được xây dựng trên 4,8 ha đất rừng phòng hộ…

Cuộc đua bất tận đó không chỉ tốn những quả đồi. Chùa Bái Đính đã dùng 900 mét khối gỗ tứ thiết để dựng cột cho Điện thờ Phật Bà Quan Âm. Tam quan và hành lang ngôi chùa dài đến ba cây số (dài nhất Việt Nam) được dựng toàn bộ bằng cột gỗ. Chùa tốn đến 3 tỷ đồng/ năm chỉ để chống mối mọt cho hàng nghìn chiếc cột, cửa bằng gỗ.

Xem thế mới biết là ngoài cái “tập quán” trộm hoa ngoài lộ mang về nhà chơi, bứng cây trong rừng đem về nhà trồng, dân Việt còn thích bỏ Phật/Chúa/ Thánh/ Thần vào những điện thờ hay chùa chiền hoành tráng để thờ cúng nữa. Thị hiếu này quả là có hơi bất bình thường, và (ngó bộ) không được “minh triết” gì cho lắm:

  • Đức Đạt Lai Lạt Ma: “The purpose of all the major religious traditions is not to construct big temples on the outside, but to create temples of goodness and compassion inside, in our hearts. Mục đích chính yếu của tất cả các truyền thống tôn giáo không phải là để xây dựng những điện thờ nguy nga bên ngoài mà để tạo ra các thánh điện của lòng nhân hậu và từ bi bên trong, trong lòng của chúng ta.” (Translated by T.T Thích Nguyên Tạng).
  • Triết gia Baruch Spinoza: “Stop going into those dark, cold temples that you built yourself and saying they are my house. My house is in the mountains, in the woods, rivers, lakes, beaches. That’s where I live and there I express my love for you. Đừng bước chân vào những ngôi đền tối tăm lạnh lẽo mà chính các con xây nên rồi bảo đấy là nhà của ta. Nhà của ta là ở trên núi, trong rừng, trên sông, hồ, bãi biển. Đấy mới là nơi ta sống và đấy là nơi mà ta bầy tỏ lòng thương yêu của ta với các con. (Translated by Nguyễn Bá Trạc).

Tự ngàn xưa, dân bản địa ở VN cũng đã quan niệm thế rồi:

Yàng tập trung trên các đỉnh núi. Vì vậy mà người Tây Nguyên gọi những Yàng ấy là Yàng Núi, thần Núi, nên phải luôn cúng núi. Cho dù bây giờ là thời hiện đại, con người có thể biết chuyện toàn thế giới trong một cái nhấp chuột trên Internet thì sự linh thiêng của một ngọn núi ở một quê xứ cứ sừng sững trong lòng bất kỳ ai. Đỉnh Ngok Linh, người Sê Đăng, Giẻ Triêng tuyệt đối không để trời cao giận dữ, không tự tiện mở đường, xẻ núi…

Không chỉ người bản địa Tây Nguyên, người Chăm ở miền duyên hải cũng kiêng nể thần núi… Chỉ có những người bất chấp tâm linh mới hành động mà không cần điểm tựa của trời đất, chân lý, quá khứ. Càng “phi tâm linh” càng hung dữ, càng không kiêng nể cái gì, cho dù là trời xanh hay núi cao, sẵn sàng tàn phá và tàn ác với thiên nhiên. Và khi con người ta có đủ độ tàn bạo để cạo sạch thảm thực vật trên một ngọn núi thì quả người ấy chẳng coi thần thánh ra cái thể thống gì. (Nguyễn Hàng Tình.“Mây Gió Tâm Linh.” Thanh Niên Online 28 Jan. 1993).

Chính vì bản chất vô thần, và “tàn ác với thiên nhiên” nên đám sư tăng quốc doanh, và bọn cán bộ nhà nước – hiện nay – đang chung tay “khai thác thánh thần” để trục lợi (qua những dịch vụ du lịch tâm linh) ở khắp mọi nơi:

Nhà báo Nhật Lệ đặt câu hỏi:

Thử tưởng tượng ở một đất nước với 9.000 lễ hội lớn nhỏ trong một năm, điều gì đang xảy ra? Có điều gì bất bình thường khi con người hiện đại ngày càng xa rời giá trị tinh thần để đến với thế giới vật chất, lại bấu víu nơi lằn ranh chánh tín và mê tín để tìm cho mình một lối thoát? Vì sao đi lễ chùa phải cầu xin lợi lộc, tiền tài, địa vị và cả sự bình an sau khi tranh đoạt quyền lợi với người khác? Vì sao phải xì xụp khấn vái với mâm cúng thật to để mong cầu giá trị vật chất, mà quay lưng với đạo đức và chữ hiếu? Nhét tiền lẻ vào tay tượng Phật, ném tiền xuống hồ, hay mang tiền rải khắp nơi để làm gì? Giá trị lễ hội có giúp con người hiện đại thay đổi, hay lại càng rơi vào mê lầm, tiếp tay cho một lớp người dám buôn thần bán thánh, kinh doanh tín ngưỡng?

Sâu xa hơn, nhiều người cho rằng đây là cuộc khủng hoảng niềm tin, mà lễ hội ra đời càng nhiều chính là sự bù đắp thiếu hụt kinh khủng đó.

Ngày nào mà cái nhà nước hiện hành ở VN còn tồn tại, và cái Ủy Ban Tôn Giáo Chính Phủ còn “quản lý tín ngưỡng tôn giáo ” thì “khủng hoảng niềm tin” là điều không thể tránh khỏi ở đất nước này.

Tưởng Năng Tiến
6/2022

Tuẫn Tiết – Tưởng Năng Tiến

Tuẫn Tiết – Tưởng Năng Tiến

Bên Thắng Cuộc phát hành cuối năm 2012, và được bỉnh bút Nguyễn Hùng (BBC) liệt kê là một trong “mười chuyện nổi bật” nhất trong năm. Cùng lúc, biên tập viên Mặc Lâm (RFA) cũng nhận xét rằng “cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nước” và đã khiến cho “người đọc ngỡ ngàng” vì “cái nhìn” của tác giả – một người sinh trưởng “từ bên kia” chiến tuyến :

“Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ.

Các tướng lãnh như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Đại tá Đặng Sĩ Vinh lần lượt kết liễu đời mình trước sự chứng kiến của thuộc hạ hay vợ con dưới cái nhìn của Huy Đức là một sự tuẫn tiết…

Một điểm quan trọng nữa, Huy Đức viết: ‘Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó.”

Mãi đến bốn mươi sáu năm sau, độc giả của nhật báo Người Việt – số phát hành vào hôm 6/12/2021 – mới có dịp biết đến tên tuổi của một số “quân nhân vô danh” này qua bài viết (“Những Anh Hùng Tuẫn Tiết Trong Ngày Tàn Cuộc Chiến Tại Việt Nam”) của ký giả Vann Phan :

“Ngoài ‘Ngũ Hổ Tướng’ ra, còn có các sĩ quan khác cùng các hạ sĩ quan trong Quân Lực VNCH và Cảnh Sát Quốc Gia đã chọn cái chết để đền nợ nước trước, trong và sau ngày 30 Tháng Tư, thay vì đầu hàng quân Cộng Sản…

Còn một số quân nhân thuộc nhiều binh chủng khác nhau trong Quân Lực VNCH thì đã tự sát tập thể để khỏi rơi vào tay quân địch, bằng cách cùng nhau mở lựu đạn hoặc đồng loạt nổ súng vào đầu nhau trong biến cố 30 Tháng Tư, 1975, thật vô cùng bi tráng.”

Nỗi “bi tráng vô cùng” này đã được nhà văn Cao Xuân Huy ghi nhận bằng đôi mắt ráo hoảnh, cùng những câu chữ trần trụi và khô khốc : 

“Lại có rất nhiều người tự tử. Bây giờ họ không tự tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.”

Cựu quân nhân Nguyễn Hữu Luyện bình luận: “Khi một binh nhì kê súng vào đầu mình để bóp cò, người ấy chỉ có một nguyên nhân uất hận được bộc lộ qua khí phách của quân nhân QLVNCH. Do đó, hành động tự sát của anh binh nhì nói lên cái khí phách tột đỉnh và tấm lòng son sắt vô song …”

Khí phách cùng tấm lòng sắt son của những người lính trận – buồn thay – vẫn thường bị lãng quên, nhất là khi họ thuộc bên thua cuộc :

“… những người lính chết trận và mất tích ở phía VNCH, chính thể đã sụp đổ vào tháng 4/1975, ít được biết tới và nhiều lúc đã trở thành đề tài cấm kỵ tại Việt Nam thời hậu chiến. Bị chính quyền mới ghẻ lạnh, đồng minh Mỹ lãng quên, các quân nhân VNCH tử trận chỉ được người thân, đồng đội cũ tưởng nhớ và kiếm tìm.” (Bùi Thư. “Hành Trình Tìm Hài Cốt Lính VNCH: 39 Năm, Anh Em Nằm Dưới Nền Đất Lạnh.” BBC – 28.04.2020)

Ở vào hoàn cảnh của những kẻ thuộc phe bại trận thì việc thu nhặt hài cốt hay tìm kiếm những nấm mồ vô thừa nhận của bạn đồng đội – tất nhiên – chả dễ dàng chi,  và cũng không mấy khi có được kết quả như mong đợi. Tuy thế, thỉnh thoảng, vẫn có những sự kiện ấm lòng :

  • Ngày 19 tháng 4 năm 2022, FB Dominic Pham cho biết thêm một tin vui: “Người dân Vũng Liêm, Tam Bình, Vĩnh Long đã đào được hài cốt người lính VNCH, với tấm thẻ bài:  Nguyễn Văn Hài SQ 50/680.585LM A RH+. Hài cốt của anh đã được đưa vào Chùa. Xin vui lòng gọi 038 663 3049, 093 284 8449 để biết thêm chi tiết.”
  • Hôm 15 tháng 03 năm 2022 , trên trang FB Tìm Hài Cốt Chiến Sĩ VNCH cũng cho biết một tin mừng khác, đã được thực hiện từ 10 năm trước. Xin lược thuật : 

Ngày 19-08-2011, ba cựu quân nhân VNCH đã đến Thị Xã Bà Rịa-Vũng Tàu vì nghe nơi đây có bốn ngôi mộ không bia của đồng đội, nằm trong vườn nhà ông Hai Lì – một cán bộ địa phương… Ông Hai Lì kể:

“Tôi là dân Gia Đình Cách Mạng, mấy Ông Rằn Ri này gan lì lắm, mấy Ổng chống đến cùng dù có lệnh đầu hành của Tổng Thống Dương Văn Minh 30-04-1975, mấy Ổng chiến đấu cho đến trưa 01-05-1975 rồi cùng nhau tự sát và chính tôi là người chôn cất mấy Ổng, giấy tờ từng Ông tôi bỏ vào một cái hộp chôn theo các Ông.”

Công việc bốc mộ được tiến hành, tất cả mọi người cùng hồi hộp chờ đợi từ nhát cuốc đầu tiên chạm vào ngôi mộ, sau đó hé lộ dần những hình hài của Các Anh đã chôn vùi nơi đây hơn 36 năm dài đằng đẵng…không Quan Tài, mà cũng chẳng có PONCHO bọc xác, chẳng còn gì với cát bụi thời gian, ngoài những mảnh xương tàn,quần áo đã mục nát …

Chúng tôi cố tìm những mảnh giấy tờ đã được chôn theo Các Anh sau khi đã lượm lặt từng khúc xương còn sót lại, rồi cho vào từng hũ sành, ghi tên Các Anh, gởi vào Chùa và cầu xin cho Các Anh được siêu thoát khỏi chốn dương trần đầy khổ đau, tủi nhục này và điều mong muốn mãnh liệt nhất là thân nhân Các Anh sớm tìm gặp lại Các Anh sau bao năm dài vắng bặt tin tức…

Tất cả mọi người cùng ứa lệ mừng vui khi tìm được những tấm thẻ bài, giấy tờ, tên tuổi Các Anh …và đây là những vị Anh Hùng của chúng ta:

– Ngôi mộ thứ nhất: Có Thẻ Bài tên TRƯƠNG VI CỬ SQ: 75/115.815.
– Ngôi Mộ thứ hai: có Thẻ Bài tên VÕ QUANG HẰNG SQ: 68/123.320.
– Ngôi Mộ thứ ba: (gồm có 02 người) trong đó Một Vô Danh không Thẻ Bài. Người có Thẻ Bài tên: TRẦN VĂN HÀ SQ: 67/824.827.

Sau khi Bốc mộ xong, chúng tôi đã đem 04 hũ cốt gởi Chùa Báo Ân. Địa chỉ: Khu Công Nhân, Thị Trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, Bà Rịa-Vũng Tàu. Còn các Di Vật và giấy tờ liên quan kể trên, chúng tôi nhờ MĐ Đẹp giữ. Nếu tình cờ Quý Vị nào hoặc ai đọc được tin tức này hoặc cần biết thêm chi tiết cụ thể, xin vui lòng liên lạc theo số Phone, dưới đây: Nguyễn Văn Thành ĐT: 01645462458 hay
Lê Văn Đẹp ĐT: 01684118839.

Dù không phải là kẻ vô thần, tôi là một người vô đạo (hay khô đạo) bất kể đạo gì! Tuy thế, những dòng thông tin muộn màng (ghi trên) về bạn đồng đội vẫn khiến cho tôi cảm thấy có đôi chút an tâm và vô cùng an ủi.

Xin cảm ơn Trời, Đất, Chúa, Phật, Thánh Thần… Xin cảm ơn tất cả mọi người đã không ngại công khó, đã lập đài tưởng niệm, đã cải táng, đã lập mộ (cùng khói nhang ấm áp) cho những kẻ thuộc bên thất trận – dù chúng tôi đã không chu toàn được trách nhiệm bảo quốc an dân.

Tưởng Năng Tiến

05/2022

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Vũ Biện Điền

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Vũ Biện Điền

23/02/2022

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.

Tháng trước, tôi được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương gửi cho một bộ sách to đùng, dầy hơn ngàn trang (thấy mà ớn chè đậu) tựa là Phiên Bản Tình Yêu. Bìa trước và bìa sau đều có hình của hai phụ nữ khỏa thân, và trông (hơi) gợi dục!

Tên tác giả (Vũ Biện Điền) lại hoàn toàn xa lạ. Trong tình yêu, cũng như tình dục, tôi rất ngại chuyện “phiêu lưu” nên lẳng lặng đẩy luôn cái “của nợ” trông rất “ướt át” này vào một góc! Tuần rồi, chả may, giáp mặt người tặng sách – nhà báo Uyên Thao:

 Cậu nghĩ sao về cuốn Phiên Bản Tình Yêu của Vũ Biện Điền?

Tôi đỏ mặt, ấp úng:

 Dạ, em chưa đọc chữ nào.

Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài (cố nén) của người đối diện. Với đôi chút áy náy, ngay tối hôm ấy, tôi đọc hơn bốn trăm trang sách. Sáng hôm sau, cáo bệnh, nằm nhà “chơi” luôn hơn bẩy trăm trang nữa với rất nhiều ngạc nhiên và thích thú.

Mấy thế hệ người Việt liên tiếp vừa qua, ít nhiều, đều là nạn nhân của thời cuộc hay của chế độ hiện hành nhưng chắc chưa có ai ngồi cặm cụi (nhiều năm trời) để ghi lại những nhận xét tỉ mỉ và chính xác của mình về “những loại nhà nước” hiện nay – như Vũ Biện Điền:

Trong số đó đáng kể hơn cả là nhà nước Đảng, còn gọi là nhà nước Quỷ hoặc Siêu Chính Phủ vì nó biến hóa như một cái bóng ma khổng lồ tác nghiệp lên tất cả các nhà nước khác. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có tổng bí thư, nội các cơ mật là bộ chính trị. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có bí thư tỉnh ủy, nội các cơ mật là ban thường vụ… Nó là đầu mối của mọi nhũng nhiễu, tai họa và tội ác nhưng rất có tài bẻm mép phủi tay

Tiếp theo là nhà nước Hành Chánh, còn gọi là nhà nước Hành Dân vì bộ nào của nhà nước này cũng có chức năng làm dân khổ cực do đặc tính cửa quyền, nó vâng lệnh đảng như một thứ đầu sai quản lý đất đai và điều hành nô lệ cho chủ nhân, thu gom vô tội vạ tài sản trong nhân dân, sau khi trích nạp cho chủ, nó được quyền chi tiêu xả láng. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có một chủ tịch không thực quyền, nội các cơ mật là thủ tướng và các bộ trưởng. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có chủ tịch, nội các cơ mật là ban thường trực và các giám đốc sở…

Thứ ba là nhà nước Quốc Hội, còn gọi là nhà nước Phường Chèo hoặc nhà nước Kỳ Nhông vì đặc tính hát ca véo von theo cách dàn dựng của đảng, nhanh nhạy thay vai đổi màu tùy từng vị trí – ở trung ương nó là lập pháp, ở tỉnh nó là hành pháp, ở tòa án nó là tư pháp. Hình thái nhà nước Quốc Hội về đến địa phương gọi là Hội Đồng Nhân Dân, đặc tính véo von và đổi màu vẫn lưu cửu.….

Thứ bốn là nhà nước Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi là nhà nước Chịu Trận, vì nó là một thứ bung xung vỹ đại hứng đòn – phản đòn – đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có một chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép hiệp thương ba lên bốn xuống trong mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng kiểu mẫu đặt hàng của đảng… Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước trước 1954, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975 – hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi!

Thứ năm là nhà nước Quân Đội, còn gọi là nhà nước Vũ Trang… nhà nước này làm bằng sức người và của nả của nhân dân nhưng chỉ trung với đảng. Nên chi nó khu trú ở đâu là lãnh thổ riêng ở đó, từa tựa như một quốc gia trong một quốc gia. Khi cần, nó mạo danh quốc phòng, đưa quân chiếm hữu đất đai, rồi đặt ra định chế tự cấp tự quản… Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có quân ủy, hội đồng cơ mật bao gồm các tổng cục chuyên ngành… Nhà nước này hội đủ tính chất phong kiến trung cổ La Mã, sỹ quan là giai cấp đảng viên gọi là cán bộ, bổng lộc hậu hĩ – hạ sỹ quan và lính (con em nhân dân thi hành nghĩa vụ), gọi là chiến sỹ, chỉ được hưởng sinh hoạt phí vừa đủ cầm hơi tới ngày phục viên…

Thứ sáu là nhà nước Công An, còn gọi là nhà nước Tam Đại vì mỗi thành viên phải có lý lịch ba đời bần cố… vừa nghèo vừa ngu từ đời ông đến đời cháu. Đây là nhà nước bán vũ trang, thừa quan thiếu lính, quyền hành vô giới hạn, bổng lộc vô bờ bến. Không những nhân dân kinh sợ mà một số viên chức các nhà nước khác cũng chùn bước trước những đặc quyền đặc lợi của các ấm tử viên tôn. Lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, chỉ dưới thời phát xít Đức-Ý-Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa mới có thứ nhà nước kỳ lạ này. Nó đồng hóa mình với đảng chuyên chính, tự quyết tất cả và không chịu một quyền lực nào ràng buộc, một tổ chức nào kiểm soát.

 

                                                 Nguồn phóng ảnh: http://www.bacaytruc.com

 

Vũ Biện Điền cũng “tính sổ” rành mạch từng vụ một, cùng với tên tuổi rõ ràng của những tên chính phạm. Xin đơn cử vài vụ tiêu biểu:

Công Hàm 1958:

“Tôi mới lần ra danh sách bộ chính trị đảng CSVN từ 1951-1960. Đó là Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, và Lê Văn Lương. Phạm Văn Đồng chỉ là nhân vật hàng thứ sáu, chỉ bậc trung thôi… Án chung không thể tội riêng, một mình Phạm Văn Đồng mà dám qua mặt chủ tịch Hồ Chí Minh a? Dám qua mặt đảng Cộng Sản a?”

Thảm sát Mậu Thân 1968:

“Tôi đào được danh sách của bộ chính trị nhiệm kỳ ba của đảng Cộng Sản Việt Nam 1960 -1976. Nhìn chung, chẳng ai xa lạ, Hồ Chí Minh chủ tịch, Lê Duẩn bí thư thứ nhất, Trường Chinh chủ tịch quốc hội, Phạm Văn Đồng thủ tướng, Phạm Hùng phó thủ tướng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng, Nguyễn Chí Thanh mất năm 1967, Nguyễn Duy Trinh phó thủ tướng, Lê Thanh Nghị phó thủ tướng, Hoàng Văn Hoan phó chủ tịch quốc hội, Trần Quốc Hoàn và Văn Tiến dũng, hai thành viên này được bổ sung từ năm 1972.”

Cách nhìn của Vũ Biện Điền về những người đồng thời với mình – qua lời những nhân vật của ông – cũng khá khắt khe, và rất có thể gây ra tranh cãi gắt gao:

“Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm. Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. Họ biết bè lũ kế thừa đang đi tiếp con đường của ác quỉ mà vẫn tranh nhau làm tôi mọi, cúc cung tận tụy.

 

Họ biết lịch sử đang rao giảng là thứ cực kỳ giả dối nhưng học thuộc vanh vách, nếu có ai mạnh dạn đính chính thì phồng mang trợn mắt, cãi cối cãi chầy như sợ mất đi độc quyền làm thân sáo vẹt. Họ nhận quá nhiều đau khổ do độc tài đảng trị nhưng không dám đối mặt với kẻ thù cứ ươn hèn đổ vạ cho phong kiến, cho tư sản, cho địa chủ, cho Mỹ Ngụy, xua con em vào chết ở miền Nam mà không biết đang hiến máu cho hung thần và đang hy sinh cho một thiên đường mù…

 

Ngoại trừ một số rất ít sớm thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc… tôi chưa thấy một tổ chức nào bi phẫn, chưa thấy một đoàn thể nào muốn nắm tay nhau liên kết xuống đường biểu tình, họp mít-tinh vạch mặt chỉ tên bè lũ tay sai Nga – Hoa, tập đoàn phi nhân bản, phản nhân quyền, bọn bán nước cầu vinh…”

Một tác phẩm mang đậm mầu sắc chính trị như thế sao lại có cái tựa trữ tình và ướt át là Phiên Bản Tình Yêu? Trong phần lời tựa nhà văn Trần Phong Vũ đã giải thích (phần nào) như sau:

“Như nhan sách, Phiên Bản Tình Yêu là một chuyện tình – mà là một chuyện tình xuyên thế hệ, mang nhiều kịch tính với những tình tiết éo le, ngang trái, chuyển biến bất ngờ. Nhưng Tình Yêu ở đây chỉ là lớp vỏ, là mặt nổi của một tảng băng sơn giữa đại dương mờ mịt…

 

Cuộc tình xuyên thế hệ ở đây có thể được hiểu như một thứ ‘thang’ để dẫn ‘thuốc’, một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu vào những âm mưu, những màn đấu đá, những trò lường gạt, thay bậc đổi ngôi trong một xã hội người ta nhân danh đủ thứ với những mặt nạ khóc cười, hỉ nộ đã được mã hóa khi thực chất chứa đầy tâm thái tham lam, ích kỷ, độc ác, chỉ vụ thỏa mãn những lợi ích cá nhân, bè nhóm, bất chấp sự an nguy của tiền đồ quốc gia dân tộc. Và trong chừng mực nào đó, với tư cách người chứng, tác giả đã đạt được mục đích của ông.”

Tôi cũng tin là Vũ Biện Điền hoàn toàn đạt được mục đích của mình nhưng e rằng ông không thành công (lắm) khi dùng hình thức tiểu thuyết như “một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu” vào “chuyện tình xuyên thế hệ” này. Những nhân vật trong Phiên Bản Tình Yêu (e) hơi quá nhiều kịch tính, nhất là qua những mẫu đối thoại rất dài và (rất) trí tuệ nhưng cũng rất xa lạ với đời thường hay đời thật.

Tất nhiên, đây chỉ là suy nghĩ hoàn toàn chủ quan (và có thể là hoàn toàn sai lạc) của một thường dân mà trình độ thưởng ngoạn nghệ thuật còn nhiều giới hạn. Mong được đón nhận những nhận định khác, từ những người đọc khác, về công trình tâm huyết và đồ sộ này của Vũ Biện Điền.

Tưởng Năng Tiến

Mũ Cối – S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Mũ Cối

Thứ Năm, 05/19/2022 – 07:06 

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Vài năm trước, hôm 15/12/2018, báo VnExpress hớn hở đi tin: “CĐV Việt đội mũ cối xem chung kết AFF Cup lên báo nước ngoài… Một chàng trai Việt Nam mặc áo in hình rồng, đội mũ cối lọt vào ống kính của phóng viên.”

Ôi chao! Sao mà hân hạnh và quí hoá đến thế ?

Độc giả – tuy thế – dường như không hào hứng gì lắm với nỗi hân hoan và niềm hãnh diện của ban biên tập VnExpress, nếu chưa muốn nói là ngược lại:

  • Việt Hoàng: “Không hiểu sao, tôi rất ghét mũ cối.”
  • Dạ Ngân: “Miền Bắc nên chấm dứt mũ cối đi. Tôi không thấy nó đẹp. Rõ hình dáng nhược tiểu, yếm thế.”
  • Đình Ấm Nguyễn: “Tui sinh ra lớn lên ở miền Bắc và trưởng thành lập nghiệp ở miền Nam Nhưng mỗi khi ra đường nhìn thấy người nào sử dụng mũ cối trên đầu là tui dị ứng.”
  • Lê Văn Cương: “Người Bắc mà còn dị ứng thì người Nam họ thấy căm ghét và khinh bỉ.”
  • Quan Huynh: “Làm ơn đừng đội nón cối! Nó biểu tượng cho sự dốt nát, nghèo hèn, ngu si, tham lam, ích kỷ, ti tiện, độc ác, tham quyền cố vị. Nói chung là tầng lớp hạ đẳng!”

Nói thế (e) có quá lời chăng?

Tưởng cũng nên nghe thêm đôi câu từ tốn, nhã nhặn, và khách quan (hơn) từ một vị thức giả – đang tu tại gia – cư sỹ Phạm Nguyên Trường :“Xét ra, nón cối rất tiện vì, thứ nhất nó khá rẻ. Thứ 2 đội lúc nào, ở đâu, làm gì cũng tiện, nắng mưa đều che được củ sọ mà lại không vướng víu, rơi cũng chưa hỏng ngay. Tóm lại, rẻ và tiện. Tuy nhiên, ở miền Nam mà đội nón cối thì người ta biết ngay là Ba Ke.

Nhưng xét ra cũng chưa có loại nón mũ nào thay được nó, nếu không nói đến mũ bảo hiểm xe máy. Nếu không bắt buộc đội mũ bảo hiểm, không chừng dân số tộc nón cối bây giờ đã gia tăng đáng kể. Cho nên tôi nghĩ người nào đó thấy nón cối tiện thì cũng kệ họ, chả nên kì thị vùng miền làm gì…”

Quan niệm dung hoà thượng dẫn, tất nhiên, dễ được tán đồng:

  • Đỗ Trí Tâm: “Đồng ý với bác. Thích hay không thích là quyền. Nhưng kỳ thị vùng miền thì không nên.”
  • Ba Võ: “Trước đây không có chọn lựa chọn nào khác ngoài nón cối!”
  • La Phong Mua Thu: “Kệ họ nói gì thì nói đi bạn. Mũ cối chẳng có gì xấu, còn tiện lợi cho người dân lam lũ. Nếu kiên cường, chịu khó thì chẳng có gì đáng xấu hổ vì cái mũ rẻ tiền ấy cả. Tôi không thuộc tộc mũ cối nhưng không khinh những người lao động.”

Khinh thị thì không chắc nhưng bị ám ảnh hay lo ngại thì e khó tránh, và cũng hơi phổ biến:

 Mình mới xuống sân bay, bước chân ra ngoài chưa kịp gọi xe thì có một anh tài xế xáp lại hỏi:

– Chị có đi taxi không?

Nhìn thấy đội cái mũ cối, lại giọng của đồng hương nữa nên mình không thích lắm, vì vậy vẫn hí hoáy đặt xe. Màn hình báo “Hiện tại tất cả các tài xế đều đang bận, bạn vui lòng quay lại sau”, ngán đợi nên hỏi cái “đồng chí” này, thấy giá cả cũng ok, nên gật đầu đồng ý đi.

Mặc dù cũng chẳng yên tâm tí nào khi sử dụng dịch vụ của người nói cùng giọng với mình, chỉ sợ bị chém. Lên xe mình hỏi luôn:

– Tôi hơi thắc mắc tí, anh cho tôi hỏi một câu nếu anh thấy không phiền, OK?

– Chị hỏi đi.

– Tại sao anh lại thích đội cái mũ đó?

– Không phải em thích mà nắng thì em đội thôi.

– Anh vào đây lâu chưa?

– Em vào được 7 tháng chị ạ.

– Vậy hả, vậy thì mới quá nên chưa hiểu là phải. Đúng ra tôi không nói nhưng vì tình đồng hương nên tôi nói điều này anh đừng giận nhé.

– Chị cứ nói đi…

– … tôi là người Bắc nhưng tôi cũng không thích cái mũ đó, cái biểu tượng của sự khổ đau và kìm kẹp, mặc dù chú tôi và những người hàng xóm của tôi cũng vẫn đội để che nắng nhưng thực sự tôi không thích nó, vì cái mũ đó mà đất nước tan hoang như ngày hôm nay, tham nhũng tràn lan, kinh tế tuột dốc, đời sống văn hóa tệ hại, trò đánh thầy, thầy tra tấn trò, BS thờ ơ với bệnh nhân con người tìm cách lừa lọc lẫn nhau, tình người không còn…  BS Lê Nhàn

Tôi sống tha hương gần mãn kiếp nên không có dịp tiếp xúc với một người tài xế taxi ở quê mình. Trong Khu Đèn Đỏ Nana Plaza ở Bangkok, thảng hoặc, tôi cũng thấy một hai người đội mũ cối đang lầm lũi đẩy chiếc xe kem bé tí teo giữa lòng con phố chật ních người đi.

Cả cái xe lẫn cái mũ đều là dấu hiệu cho biết chủ nhân mới từ VN sang. Kẻ sang trước, sau khi dành dụm được chút vốn liếng, thường sắm xe bán trái cây (vì có lời hơn) và cũng sắm luôn cái nón mới – made in Thailand – không phải là nón cối, tất nhiên!

Bên Vientiane hay Phnom Penh thì khác. Dân Lào và dân Miên tuy cũng nghèo thảm thiết nhưng họ thường từ chối làm những công việc quá nặng nhọc (và rất ít lương) nên phụ hồ gần như là “nghề” chỉ dành riêng cho đám di dân lậu. Bởi vậy, ở bất cứ nơi đâu có xây dựng là thế nào cũng có loáng thoáng vài ba cái mũ cối đang lui hui dưới ánh nắng chói chang.

Vì thói quen nghề nghiệp, tôi hay mời những người đồng hương trẻ tuổi của mình dùng một bữa cơm thanh đạm (nơi một quán hàng nào đó, bất kỳ) để có dịp trao đổi đôi câu tâm sự. Phần lớn các em đang ở lứa tuổi đôi mươi, chào đời khi mọi cuộc chiến (Bắc/Nam – Miên/Việt – Tầu/Việt) đều đã lụi tàn. Ai cũng rời làng quê chỉ vì một lý do duy nhất (“ở nhà thì biết làm chi ra tiền”) và gần như không ai hay biết gì về chuyện chinh chiến cũ, nói chi đến “gốc gác” cái mũ cối mà họ đang đội trên đầu.

Phải nhìn thấy những vệt mồ hôi muối dầy cui trên lưng áo, những ánh mắt buồn bã mệt mỏi, và những gương mặt lấm lem đen đủi (trong điều kiện khí hậu vô vùng khắc nghiệt ở Á Châu) mới thông hiểu sự cần thiết của cái nón – bất kể loại nào – miễn có thì thôi. Ở tuổi này (lẽ ra) tất cả các em đều phải có cơ hội để đi đến giảng đường, thay vì đi tha phương cầu thực.

Gần đây, lại có một hiện tượng mới nữa về mũ cối. Nó chợt xuất hiện ở những vận động trường hay giữa những phố phường nơi xứ lạ và được chủ nhân dùng như một vật  trang sức (để gây chú ý của tha nhân) chứ không phải để che thân. Sự kiện này cũng gây ra đôi chút phiền lòng:

  • Trần Thị Thảo: “Nhìn qua là biết bọn vô học đi làm cu li ở Nhật.”
  • Sinh Nguyễn Xuân: “Tối qua trên sân vận động Singapore thấy mũ đó cũng xuất hiện á kkk.”
  • Mạc Văn Trang: “Sao các bạn trẻ người Việt ở Nhật lại lập ra ‘nhóm mũ cối’ rồi quậy trong sân bóng đá, khi đội Việt Nam đá với đội Nhật, gây mất cảm tình với dân sở tại?”

Nỗi e ngại (“gây mất cảm tình với dân sở tại”) của T.S Mạc Văn Trang ở Nhật chỉ là chuyện nhỏ – rất nhỏ – so với những vụ án ở Hoa Kỳ mà nhiều người Việt phải hầu toà vì tội chụp mũ (cối) lên đầu tha nhân, và hậu quả là đã có lắm kẻ đã tán gia bại sản!

Hễ cái nón cối xuất hiện nơi đâu là y như rằng nơi đó vấn đề, dù tự thân nó hoàn toàn vô tội. Số phận của cái mũ cối cũng hẩm hiu, xui xẻo y như cái liềm hay cái búa thôi. Cả ba, chả may, bị “vướng” vào đám Cộng Sản mà trở nên những biểu tượng của sự xấu xa khiến thiên hạ kinh sợ (hay kinh tởm) cứ y như gặp phải kẻ … lỡ dẵm nhằm phân vậy.