CHỊ NGUYỆT- Truyện ngắn-Qua’ HAY

SAIGON KỶ-NIỆM Khắc Tường Trần 

 

Chị tên Nguyệt, lúc đó chị khoảng 13 tuổi, còn tôi khoảng 11. Theo lời người ta kể thì chị mồ côi cha mẹ được vợ chồng người hàng xóm đem về nuôi. Ông Bà Chín không có con nên họ xem chị như con cái trong nhà, cho chị đi học. Đổi lại, chị phải dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc Ông Bà Chín. Chị học trên tôi hai lớp, tôi đệ thất, còn chị lớp đệ ngủ. Theo như chị kể lại, quê chị ở vùng xôi đậu bị cộng quân về chiếm làng, ba má chị mất tích chỉ hai ngày sau đó. Người cậu của chị phải dẫn cả gia đình chạy di tản ra Quận lỵ nơi tôi ở. Họ dẫn chị theo nhưng không đủ điều kiên nuôi cả gia đình gần 10 người nên cho Ông Bà Chín làm con nuôi.

Nhà chị đối diện nhà tôi trên đường dẫn ra bờ sông Tiền Giang. Buổi sáng đầu tiên tôi gặp chị trong bộ bà ba đen củ đã ngả màu phèn vàng úa và đôi dép đứt quay phải nối lại bằng dây kẽm. Chị đang quét nhà từ trong ra ngoài thì bị bà Chín rầy, bảo phải quét từ ngoài vào trong. Bà giải thích quét ra là đẩy hết cái phước ra ngoài, phải quét vô để nhận được phước. Tôi thấy hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc nên vội chạy tới hỏi:

     – Bộ mầy mới tới đây làm cho bà Chín hả?

Chị trả lời:

      – Hông phải, tao là con nuôi của ba má Chín.

Tôi nói với chị:

      – Tui tên Bình, nhà tui bên đó.

      – Tao tên Nguyệt, mầy mấy tuổi?

      – 11

      – Tao 13, mầy phải gọi tao bằng chị.

      – Ừ, chị Nguyệt hé.

Vậy là tôi làm quen được với chị từ đó. Năm chị học hết đệ tứ thì phải thôi học do Ông Chín bịnh nặng rồi qua đời, Bà Chín một mình không đủ điều kiên cho chị tiếp tục đi học. Mỗi ngày chị ra sạp vải ngoài chợ tiếp Bà Chín buôn bán. Năm tôi 15 tuổi phải xa nhà lên Tỉnh tiếp tục học thi Tú Tài một, rồi Tú Tài hai nên ít khi được gặp lại chị. Sau khi đậu Tú Tài hai chuẩn bị vào đại học thì nghe tin Bà Chín cũng vừa qua đời, bỏ lại ngôi nhà củ nát vì không có người đàn ông chăm sóc. Lúc này tôi đang rảnh rang nên tình nguyện giúp chị sửa sang lại căn nhà của chị được thừa hưỡng. Mỗi ngày, trước khi chị ra sạp vải, chị hay hỏi tôi cần mua vật dụng gì để chị gọi người đem tới, tôi khỏi phải mua. Sau ba tháng hè, tôi cũng tạm sửa lại căn nhà của chị, tuy không khéo nhưng cũng không dột trước hỏng sau.

Khi cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, tôi bị động viên, vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Ngày ra trường về thăm ba má thì gặp lại chị Nguyệt. Lúc nầy chị đã là gái đôi mươi, có rất nhiều chàng trai đang theo đuổi nhưng chị vẫn phòng không gối chiếc. Nhiều lần chị tâm sự với má tôi:

     – Con trai cái Quận nầy sao mà như công tử bột, tối ngày chỉ biết lo tán gái, nhậu nhẹt, nhìn như cọng bún thiu cô nào vô phước mới rước họ về làm chồng.

Hai tuần phép qua rất nhanh. Ngày tôi chuẩn bị trình diện Sư Đoàn, chị đem tượng Phật nhỏ qua đưa cho tôi, bảo giữ trong người làm vật hộ thân. Hai mắt chị long lanh nước mắt như muốn khóc. Tôi vội nói:

     – Vài bửa có phép thường niên tôi về thăm chị. Chị ráng giữ gìn sức khoẻ.

     – Bình đi mạnh giỏi, Nguyệt mỗi đêm sẽ đọc kinh cầu xin Trời Phật che chở cho Bình.

Tôi hơi giật mình khi chị xưng Nguyệt chứ không còn mầy tao như ngày xưa. Thật sự mà nói, lúc nào tôi cũng vẫn xem chị như người thân trong gia đình, không có một chút tình cảm trai gái giửa tôi và chị.

      – Cảm ơn chị lo lắng cho tôi.

Tôi ra đi biền biệt. Hơn mười tháng sau tôi trở về thăm nhà sau khi xuất viện do bị thương chân phải. Đêm đầu tiên vừa về tới nhà là chị qua thăm, hỏi như muốn khóc:

     – Sao Bình bị thương mà không cho Nguyệt hay để đi thăm?

     – Vết thương không có gì trầm trọng lắm đâu chị, vả lại tôi không muốn chị lo lắng, lặn lội đường xá xa xôi nguy hiểm cho chị.

     – Bình nói vậy coi Nguyệt như người dưng sao?

     – Đâu phải vậy chị, tôi thương chị như người thân trong nhà mà.

     – Ừ nhớ đó nhe, thương như người thân trong nhà.

Trong những ngày phép dưỡng thương đó nhiều khi chị làm bộ gọi tôi qua sửa dùm cây đèn dầu hay đóng lại chân bàn bị lung lay. Chị nấu đủ món cho tôi ăn, bảo là tẩm bổ để khi trở lại đơn vị có đũ sức đi hành quân. Có ngày chị đóng cửa sạp vải, lấy cớ mệt về nhà nghỉ. Chị bảo muốn về để gần gủi, tâm sự với tôi trước khi về đơn vị. Không biết ba má tôi nghỉ gì mà cứ thỉnh thoảng hỏi khi nào tôi lập gia đình. Tôi viện cớ đang thời chiến tranh chưa muốn lập gia đình.

Lần lượt hai đứa em gái tôi lấy chồng phương xa, bỏ lại ba má tôi già yếu. Tôi thì ra đi biền biệt, cả năm mới về thăm nhà. Mỗi lần về chỉ năm ba hôm rồi lại ra đi. Chị Nguyệt thường xuyên qua chăm sóc ba má tôi va chị vẫn phòng không đơn chiếc!. Có lần tôi hỏi:

     – Sao chị chưa chịu lấy chồng để có người lo lắng trước sau cho chị?

     – Bình nhìn chung quanh đây xem ai là người xứng đáng cho Nguyệt nâng khăn sửa túi? Nguyệt thà ở giá suốt đời chứ không muốn chung chăn với những người hèn nhát, chạy chọt giấy tờ trốn quân dịch.

     – Vậy thì người đàn ông như thế nào chị mới chịu?

     – Người ấy phải giống như Bình, sống đời trai hiên ngang lo giúp nước, diệt giặc, bảo vệ quê hương.

     – Vậy để tôi tìm ông nào trong đơn vị giới thiệu cho chị nhe.

    – Đồ quỉ, đùng có chọc Nguyệt như vậy nữa, Nguyệt nói thiệt mà.

Cuộc đời cứ thế trôi đi. Ngày 30 tháng 4/1975. Tôi bị bắt rồi đi tù trại cải tạo Vườn Đào. Năm sau chị đến thăm tôi. Chị cho biết  hai đứa em gái theo chồng vượt biên không tin tức gì cho đến nay. Ba má tôi quá đau buồn bịnh nặng không đi thăm tôi được nên nhờ chị đi dùm. Chị còn kể là sạp vải của chị đã bị xung vào hợp tác xã. Bây giờ chỉ sống nhờ chăm sóc khu vườn nhỏ của ba má tôi, kiếm huê lợi nuôi sống ba má tôi và chị. Nhìn chị già đi khá nhiều so với ngày xưa. Mắt chị quầng đen, hốc hác, tiều tụy. Tôi cũng không hơn gì chị sau một năm tù đày, lao động, thiếu ăn.

Ba má tôi lần lượt qua đời không có một đứa con về để tang. Chị phải bán ngôi nhà của chị để có tiền chôn cất ba má tôi. Đều dặn mỗi ba tháng là chị đến thăm một lần, tiếp tế cho tôi thêm chút thức ăn phụ vào phần ăn ít ỏi của người lính tù thất trận. Bốn năm sau thì họ thả tôi. Ngày ra trại với vài chục đồng chi phí xe cộ và mảnh giấy ra trại. Tôi với năm người bạn tù đi bộ ra đến chợ Mỹ Phước Tây đón xe ra Cai Lậy. Mấy bà bán hàng trong chợ nhìn chúng tôi trong bộ quần áo rách bươm liền gọi:

    – Mấy cậu vô đây ăn sáng rồi hãy đi, 2 tiếng nữa xe mới chạy.

Họ đem cho chúng tôi 6 dỉa cơm sườn bì và sáu ly cà phê đen đá. Đó là bửa cơm ngon nhất trong bốn năm đời tù cãi tạo của tôi. Mọi người chung quanh bu nhau kẻ cho trái bắp, người cho gói xôi bảo là để dành đi đường ăn đở đói. Chúng tôi nhìn họ mà nước mắt cứ tuôn tràn không nói nên lời, dù chỉ một tiếng cám ơn. Khi đến giờ xe chạy, người tài xế xe nhất định không lấy tiền cho dù chúng tôi cố dúi tiền vào tay anh. Tôi nhớ lại tên quản giáo Ba Phần lên lớp chúng tôi:

    – Các anh có tội rất lớn với nhân dân. Chúng tôi giữ các anh trong vòng rào kẻm gai là để bảo vệ các anh vì nhân dân sẽ trả thù cho những tội ác các anh đã gây ra.

Nhân dân chợ Mỹ Phước Tây đã trả thù chúng tôi với những lời thăm hỏi ân cần, dĩa cơm sườn, ly cà phê đá, những gói xôi, những trái bắp mà họ có thể để dành cho người thân của họ trong lúc cả nước phải thắt lưng buột bụng trong thời kỳ bao cấp, củi quế gạo châu này.

Khi xe đến Cai Lậy thì khoảng 2 giờ chiều. Năm người bạn tù chờ xe về Sài Gòn, còn tôi về miền Tây. Anh lơ xe chạy ra ngã ba Cai Lậy ngoắc xe lại gởi tôi lên chuyến xe cuối cùng. Trước khi lên xe, anh đưa cho tôi một ổ bánh mì thịt rồi chào tay kiểu quân đội. Như cái máy, tôi chào lại vì theo phản ứng tự nhiên của một người lính Việt Nam Cộng Hoà dù đã thất trận. Anh nói vội rồi chạy vào trong chợ Cai Lậy:

      – Ông thầy đi đường bình an.

Tôi nhìn theo anh lơ xe, cố nhớ gương mặt anh để khi nào có dịp tôi sẽ trả lại ơn nghĩa anh đã dành cho chúng tôi. Một lần nữa, anh tài xế nhất định không chịu lấy tiền xe. Mấy người đàn bà trên xe nhìn tôi với ánh mắt thông cảm. Họ nhường cho tôi một chổ ngồi hàng ghế cuối xe.Tôi về đến nhà khoảng 8 giờ tối. Ngôi nhà cũ kỷ cửa đóng im lìm. Tôi gõ cửa.

    – Ai mà gõ cửa đêm hôm tối tăm vậy?

Tiếng chị Nguyệt đang ngáy ngủ từ bên trong.

    – Bình đây chị.

Tôi nghe tiếng chân trần chạy hấp tấp ra cửa. Chị Nguyệt mở cửa rồi ôm lấy tôi khóc:

    – Nguyệt không biết Bình về hôm nay. Có đói không để Nguyệt hâm cơm lại cho Bình ăn?

    – Trên đường về tôi được người ta cho ăn nhiều lắm, đến giờ còn no.

Tôi đến trước bàn thờ ba má, quì lạy xin lỗi tội bất hiếu không về chịu tang ngày hai người mất. Tôi nhìn khói nhang quyện vòng theo cây đèn dầu le lói như ba má về thăm thằng con xấu số mới ra tù. Tôi quì trước bàn thờ mà nước mắt cứ tuôn tràn.

    – Ba má tha tội cho con, vì hoàn cảnh tù đày mà con không về để tang cho ba má.

Chị đặt tay lên vai tôi:

    – Hai bác rất hiểu cho Bình, đừng quá đau buồn, hãy ráng lên để đối đầu với những ngày sắp tới.

Và những ngày sắp tới đến với tôi trong khổ cực của “thằng sĩ quan Ngụy”. Họ bắt tôi trình diện hàng tuần, không được đi xa khỏi Xã. Tất cả những hành vi của tôi đều bị theo dõi. Đôi khi bọn công an xã đến gõ cửa ban đêm để kiểm tra, xét nhà và muốn biết chắc chắn là có tôi trong nhà. Tôi sống như người bị giam lỏng trong nhà tù lớn.

Tôi nhìn chị chăm sóc cho tôi từng miếng ăn, giấc ngủ như một người vợ lo cho chồng mà nghĩ đến cái vô tình của tôi.

   – Chị Nguyệt.

   – Gì đó Bình?

   – Tôi muốn hỏi chị chuyện nầy.

   – Ừ, Bình nói đi.

Ngập ngừng một hồi tôi nói:

   – Chị nhớ lúc mới quen, chị bảo tôi phải gọi chị hay không?

 – Nhớ chớ sao không. Những ngày vui đó qua mau quá.

 – Chị còn muốn tôi gọi chị nữa hay không?

 – Vậy Bình muốn gọi tôi gì đây?

 – Tôi gọi chị là vợ tôi được không?

Chị Nguyệt nhìn tôi với ánh mắt rất ngạc nhiên rồi đổi sang mừng rỡ:

  – Em chờ câu nói đó của anh lâu lắm rồi.

Hai tháng sau chúng tôi làm đám cưới. Tiệc cưới rất đơn giản, chỉ mời bà con lối xóm. Hai năm sau Nguyệt cho tôi đứa con trai đầu lòng. Tôi đặt tên Nhẩn để nói lên cái nhẩn nại của chị dành cho tôi. Năm sau nữa thì chị cho tôi thêm đứa con gái, chị đặt tên nó là Cam để nói đến cái cam khổ của vợ chồng chúng tôi.

Một hôm đầu năm 1990, chị chạy hớt hãi về nhà:

    – Anh ơi! Họ muốn cho mình đi định cư bên Mỹ.

    – Em lại mơ tưởng viễn vong. Ai lại cho thằng sĩ quan Ngụy như anh đi khỏi Việt Nam.

    – Đây nè, coi đi.

Chị đưa cho tôi xem tờ báo cho biết Bộ Ngoại Giao và Quốc Hội Mỹ chấp thuận cho tù nhân chính trị được đi định cư tại Mỹ ký ngày 30/7/1989. Lòng vòng lo nạp đơn, lót tiền cho phía VN ký giấy cũng hơn hai năm. Tôi bốc  mộ đem xương cốt ba má thiêu rồi đem gởi vô chùa vì tôi biết là sẽ lâu lắm mới trở lại quê hương nầy. Tuy đã nuôi tôi lớn lên, tuy nhiều người vẫn còn tình người sẳn sàng đùm bọc che chở người thất trận. Nhưng tôi phải ra đi để con tôi có tương lai hơn, có nhiều cơ hội để vươn lên với đời hơn, để khỏi sống kiếp sống tật nguyền! nơi quê cha đất tổ.

Bao nhiêu tiền chúng tôi dành dụm đều cạn sạch. Ngày gia đình tôi lên máy bay đi Mỹ, trong túi còn đủ 200 đô la sau khi bán nhà, bán đất của cha mẹ để lại. Đáp xuống phi trường JFK thành phố New York. Cả gia đình hai đứa em gái tôi có mặt đầy đủ đón gia đình tôi. Ba anh em chúng tôi ôm nhau khóc sau hơn 17 năm xa cách. Mấy đêm đầu tiên tôi không ngủ được, vừa lạ chổ, vừa lo lắng cho tương lai sắp đến. Mình phải làm gì lo cho gia đình, cho con cái đi học, và đủ mọi chuyện cứ liên tục hiện lên trong đầu. Từ quê hương bỏ lại sau lưng, từ quê hương thứ hai sẳn sàng bao dung cho người lính thất trận.

26 năm sau, nhìn lại từ ngày đến đất nước Mỹ giàu lòng nhân đạo nầy, hai đứa con tôi đã ra trường đi làm xa. Vợ chồng tôi nghĩ hưu dời về vùng đất ấm Florida. Chị Nguyệt nay đã gần 70 nhưng vẫn còn nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam luôn lo cho chồng, cho con. Sáng nào tôi cũng có ly cả phê sữa nóng ít sữa, còn chị thì vẫn một ly trà cúc đường phèn. Nhiều lần tôi nói lời cảm ơn chị đã cưu mang ba má tôi khi tôi còn trong tù cải tạo. Chị chỉ cười đưa hàm răng khểnh rồi nói:

    – Em kết anh từ lúc mình mới gặp nhau lần đầu.

    – Vậy tại sao bắt người ta kêu bằng chị?

    – Làm chị cho nó oai chút chơi mà…

    – Lúc nào em cũng là CHỊ NgUYỆT của anh.

Ghi lại

Trần Khắc Tường.


 

Chiếc va li cũ tiết lộ bí mật và gia sản được giấu kín thời Đức Quốc xã (BBC)

BBC Vietnamese

Ông Antony cầm bức ảnh chụp cha mình, ông Peter Easton

Tác giả, Charlie Northcott – Tác giả, Ben Milne

18 tháng 10 2025

Mọi chuyện bắt đầu với một chiếc va li được giấu dưới gầm giường.

Lúc ấy là năm 2009, khi cha của Antony Easton – ông Peter – vừa qua đời. Khi Antony bắt đầu giải quyết những thủ tục rắc rối liên quan đến di sản, ông tình cờ phát hiện một chiếc va li da nhỏ màu nâu trong căn hộ cũ của cha mình ở thị trấn Lymington, hạt Hampshire.

Bên trong là những tờ tiền Đức được giữ gìn nguyên vẹn, các album ảnh, phong bì chứa đầy những ghi chép về từng chặng đời – và một tờ giấy khai sinh.

Hóa ra ông Peter Roderick Easton – người luôn tự hào về “chất Anh” của mình và theo đạo Anh – sinh ra và lớn lên ở Đức trước Thế chiến II, với tên thật là Peter Hans Rudolf Eisner, thuộc một trong những gia đình Do Thái giàu có nhất Berlin.

Charlie Northcott/BBC

Chiếc va li chứa đựng những bí mật của cha ông Antony

Dù trong thời thơ ấu ông Antony từng nghe vài ám chỉ về gốc gác của cha, nhưng những thứ trong chiếc va li đã soi rọi vào một quá khứ mà ông hầu như chẳng biết gì. Những phát hiện đó dẫn ông vào một hành trình kéo dài hàng chục năm, phơi bày bi kịch của một gia đình bị nạn diệt chủng Holocaust tàn phá, sự biến mất của khối tài sản trị giá hàng tỷ bảng Anh, cùng những di sản gồm các tác phẩm nghệ thuật và bất động sản bị Đức Quốc xã tịch thu.

Những bức ảnh đen trắng hé lộ quãng đời ấu thơ của ông Peter – hoàn toàn trái ngược với tuổi thơ giản dị của con trai ông ở London – là ảnh chụp những chiếc Mercedes có tài xế riêng, những dinh thự có người hầu, những cầu thang với các hình thiên thần được chạm khắc tinh xảo.

Đáng sợ hơn cả là tấm hình chụp cậu bé Peter Eisner 12 tuổi đang mỉm cười bên bạn bè, phía xa tung bay lá cờ Đức Quốc xã.

Antony Easton

Ông Peter (ở giữa) khi 12 tuổi

“Tôi cảm giác như có một bàn tay từ quá khứ đang vươn tới,” ông Antony nói.

Ông nói cha mình là người trầm lặng, nghiêm nghị, đôi khi dễ nổi nóng. Ông ấy luôn né tránh khi được hỏi về tuổi thơ, và thường lập tức gạt đi bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến chất giọng Đức thoáng qua của mình.

“Có những dấu hiệu cho thấy ông ấy không thực sự giống người khác… Có một tấm màn đen bao phủ thế giới của ông,” ông Antony chia sẻ.

Gia tài khổng lồ

Manh mối lớn tiếp theo về quá khứ gia đình ông Antony xuất phát từ một tác phẩm nghệ thuật.

Ông đã nhờ một người bạn nói tiếng Đức lưu loát tra cứu về một công ty có tên Hahn’sche Werke – cái tên được nhắc đến rải rác trong các tài liệu trong chiếc va li. Sau khi tìm kiếm trên mạng, người bạn này gửi cho ông Antony một bức ảnh chụp một bức tranh khắc họa khung cảnh bên trong một nhà máy luyện thép lớn – dường như thuộc quyền sở hữu của công ty này.

Dòng kim loại nóng chảy rực sáng trên băng chuyền, hắt ánh lửa lên khuôn mặt của những công nhân chăm chú và bận rộn. Đó là hình ảnh tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực công nghiệp của một nước Đức đang tiến vào những thập niên chiến tranh tàn khốc.

Bức tranh này, do họa sĩ Hans Baluschek vẽ vào năm 1910, có tên Eisenwalzwerk (Xưởng cán thép). Tác phẩm từng thuộc sở hữu của Heinrich Eisner và có lẽ chính do ông đặt.

Heinrich Eisner là người đã góp phần xây dựng Hahn’sche Werke thành một trong những tập đoàn luyện kim hiện đại và quy mô nhất Trung Âu.

Các tài liệu trong chiếc va li cho thấy ông Heinrich chính là cụ cố của ông Antony.

[Antony Easton

Eisenwalzwerk – bức tranh của họa sĩ người Đức Hans Baluschek

Nghiên cứu thêm cho thấy, vào đầu thế kỷ 20, ông Heinrich là một trong những doanh nhân giàu có nhất nước Đức với mức tài sản tương đương hàng tỷ bảng Anh hiện nay.

Công ty của ông chuyên sản xuất thép ống, và có nhà máy trải khắp Đức, Ba Lan và Nga.

Ông Heinrich cùng vợ là bà Olga sở hữu nhiều bất động sản ở Berlin và vùng phụ cận, trong đó có một tòa nhà sáu tầng nguy nga nằm ngay trung tâm thành phố, với sàn lát đá cẩm thạch và mặt tiền sơn trắng ngà.

Một bức ảnh từ đầu những năm 1900 cho thấy một người đàn ông có dáng đẫy đà, ria mép trắng được tỉa gọn gàng. Ông Heinrich mặc bộ com lê đen, còn bà Olga ngồi bên cạnh, đội vương miện pha lê lấp lánh.

Antony Easton

Ông bà cố của Antony, bà Olga và ông Heinrich Eisner, trong bức ảnh chụp đầu thế kỷ 20

Khi qua đời vào năm 1918, ông Heinrich để lại cổ phần trong công ty và toàn bộ tài sản cá nhân cho con trai là ông Rudolf, người vừa trở về sau khi chiến đấu trong Thế chiến I.

Chiến tranh là một thảm họa nhân đạo, nhưng Hahn’sche Werke lại phát đạt trong thời kỳ đó nhờ đáp ứng nhu cầu thép khổng lồ của quân đội Đức. Ông Rudolf và gia đình cũng vượt qua được cơn hỗn loạn kinh tế và chính trị bao trùm nước Đức sau chiến tranh.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, mọi thứ sụp đổ.

Mọi thứ thay đổi

Theo những ghi chép mà ông Antony tìm thấy trong chiếc va li, ông Peter kể lại rằng khi còn nhỏ, ông từng nghe lỏm được những cuộc trò chuyện của cha mẹ – những lời thì thầm về những mối đe dọa từ Đức Quốc xã. Khi đó, Adolf Hitler và những người ủng hộ đang đổ lỗi cho người Do Thái về thất bại của Đức trong Thế chiến I, cũng như về khủng hoảng kinh tế sau đó.

Rudolf Eisner tin rằng ông có thể được an toàn nếu để công ty của mình đóng vai trò thiết yếu đối với chế độ Quốc xã. Ban đầu, dường như kế hoạch này có hiệu quả. Nhưng khi các đạo luật bài Do Thái ngày càng khắc nghiệt, và những hành vi ngược đãi quanh họ trở nên trắng trợn hơn, ông bắt đầu nhận ra sự thật.

Đến tháng 3/1938, chính quyền Đức ra tay với Hahn’sche Werke. Dưới sức ép khủng khiếp của nhà chức trách, công ty thuộc sở hữu người Do Thái này bị buộc phải bán lại với giá rẻ như cho cho tập đoàn công nghiệp Mannesmann, do Wilhelm Zangen – một người ủng hộ Đức Quốc xã – điều hành.

Berlin năm 1934: Các doanh nghiệp do người Do Thái sở hữu, như cửa hàng bách hóa này, đã trở thành mục tiêu của Đức Quốc xã ngay sau khi họ nắm quyền

“Gần như không thể tính toán được khối tài sản bị cướp đi và giá trị của chúng nếu tính theo thời nay,” nhà báo David de Jong cho biết.

Ông là tác giả cuốn Nazi Billionaires (Những tỷ phú Đức Quốc xã) và là người đã lần theo dấu tích của những vụ cướp bóc doanh nghiệp Do Thái dưới thời Đệ Tam Đế chế.

Vào năm 2000, Vodafone mua lại Mannesmann với giá hơn 100 tỷ bảng Anh – thương vụ thương mại lớn nhất lịch sử vào thời đó.

Ít nhất một phần tài sản công nghiệp trong thương vụ này từng thuộc về đế chế kinh doanh của gia đình Eisner.

Việc Hahn’sche Werke bị giải thể, cùng với việc các thành viên trong công ty bị bắt giữ, khiến gia đình Eisner nhận ra rằng họ phải bỏ trốn. Nhưng đến năm 1937, bất kỳ gia đình Do Thái nào tìm cách rời khỏi nước Đức đều bị buộc phải nộp lại 92% tài sản cho nhà nước – thông qua một loạt các sắc thuế gọi là Reichsfluchtsteuer, tức “Thuế di cư của Đế chế”.

Gia đình Eisner đứng trước nguy cơ mất nốt phần tài sản cuối cùng mà họ còn giữ được.

Thỏa thuận

Vào cao điểm của cuộc khủng hoảng ấy, một người đàn ông tên là Martin Hartig – theo hồ sơ trong lưu trữ Berlin là một nhà kinh tế học kiêm tư vấn thuế – bắt đầu xuất hiện thường xuyên trong đời sống của gia đình Eisner.

Trong suốt những năm 1930, tên ông ta liên tục xuất hiện trong sổ lưu bút tại biệt thự nghỉ dưỡng của nhà Eisner, với những lời cảm ơn vì lòng hiếu khách hào phóng mà gia đình dành cho ông.

Ông Hartig, không phải người Do Thái, dường như đưa ra cho gia đình Eisner một “lối thoát” khỏi nguy cơ bị Đức Quốc xã tịch thu tài sản. Gia đình đã chuyển nhượng phần lớn tài sản cá nhân cho ông ta – chủ yếu là các bất động sản và toàn bộ tài sản bên trong – với hy vọng bảo vệ chúng khỏi các đạo luật tịch thu của chính quyền Quốc xã.

Ông bà của Antony, bà Hildegarde và ông Rudolf Eisner

Ông Antony tin rằng ông bà mình đã ngây thơ tin tưởng rằng một ngày nào đó ông Hartig sẽ trả lại tài sản cho họ.

Họ đã lầm. Thay vì giữ hộ, ông Hartig chuyển hẳn quyền sở hữu toàn bộ tài sản của gia đình Eisner sang tên mình.

BBC đã tìm thấy bản sao các giấy tờ mua bán gốc trong lưu trữ quốc gia Đức và chia sẻ với ba chuyên gia độc lập. Cả ba đều kết luận rằng đây là một vụ “bán cưỡng bức” – thuật ngữ phổ biến được dùng để chỉ các vụ chiếm đoạt tài sản của người Do Thái dưới thời Đức Quốc xã.

Dù mất trắng khối tài sản tích lũy qua nhiều thế hệ, ông bà và cha của Antony vẫn trốn khỏi nước Đức năm 1938.

Dựa vào vé tàu, thẻ hành lý và tờ rơi khách sạn được giữ lại trong chiếc va li của Peter, Antony đã lần lại được hành trình chạy trốn của họ.

Gia đình chạy sang Tiệp Khắc rồi Ba Lan, luôn chỉ cách Đức Quốc xã một khoảng ngắn, trước khi lên được một trong những con tàu cuối cùng rời châu Âu để tới Anh vào tháng 7/1938.

Charlie Northcott/BBC

Chiếc va li của ông Peter chứa tài liệu ghi lại hành trình chạy trốn khỏi nước Đức của gia đình Eisner

Họ đánh mất một gia sản tương đương hàng tỷ bảng Anh, nhưng vẫn còn may mắn hơn nhiều thân nhân khác trong gia đình Eisner – phần lớn bị bắt và sát hại trong các trại tập trung.

Giống như nhiều người tị nạn Đức khác thời đó, ông Rudolf – ông nội của Antony – qua đời năm 1945, sau khi trải qua phần lớn thời chiến trong cảnh bị Anh quốc giam giữ trên đảo Isle of Man.

Gặp gia đình Hartig

Điều ông Antony làm tsau đó là tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra với gia sản của nhà Eisner – và với ông Martin Hartig.

Ông đã thuê bà Yana Slavova, một điều tra viên dày dạn kinh nghiệm, để tìm cho ra chính xác những gì đã bị đánh cắp, cách các tài sản đổi chủ, và hiện đang ở đâu.

Chỉ trong vài tuần, bà Yana đã phát hiện ra cả kho tư liệu về thân nhân của ông Antony, bao gồm chi tiết các bất động sản và tài sản mà họ từng sở hữu.

Bà cũng lần ra bức tranh mà Antony phát hiện ở đầu hành trình – Eisenwalzwerk (Xưởng cán thép) – hiện nằm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Brohan ở Berlin.

Tuy nhiên, những nỗ lực đầu tiên nhằm đòi lại tác phẩm nghệ thuật này vấp phải khó khăn về chứng cứ. Liệu ông Antony có thể chứng minh rằng việc bán bức tranh có liên quan đến cuộc đàn áp của Đức Quốc xã không? Làm sao ông biết được rằng bức tranh đã từng nhiều lần đổi chủ hợp pháp hay chưa trước khi đến tay bảo tàng?

Bước ngoặt xuất hiện khi bà Yana phát hiện ra thư từ giữa bảo tàng và một nhà buôn tranh vào thời điểm bức tranh được bán.

Nhà buôn này đã bán bức tranh từ chính một trong những ngôi nhà cũ của gia đình Eisner – tài sản mà ông Martin Hartig chiếm hữu vào năm 1938. Ông Hartig sống suốt phần đời còn lại trong ngôi nhà đó, tỉ mỉ trùng tu sau khi nó bị hư hại khi Berlin thất thủ, và qua đời năm 1965 vì tuổi già.

Sau khi ông Hartig chết, con gái ông thừa kế ngôi nhà. Người phụ nữ này nay đã ngoài 80 tuổi. Bà tặng lại căn nhà cho các con vào năm 2014, rồi chuyển đến sống ở một ngôi nhà nhỏ vùng quê, nơi bà đồng ý gặp ông Antony và bà Yana.

Người phụ nữ cao tuổi mời họ uống trà, ăn bánh, trong phòng khách treo bức chân dung cha bà – một người đàn ông mặt gầy, tóc chải bóng, đeo kính gọng dày và mặc com lê đen. Bức tranh được vẽ năm 1945, ngay sau khi Thế chiến II kết thúc.

Nhưng câu chuyện mà con gái của ông Martin Hartig kể lại lại hoàn toàn khác với những gì ông Antony và bà Yana mong đợi.

Bà nói cha mình luôn phản đối Đức Quốc xã và đã giúp gia đình Eisner – những người bà mô tả là bạn thân thiết – thoát khỏi thảm họa Holocaust. Bà kể rằng ông từng khuyên họ: “Mọi người không thể ở lại đây được. Tới Anh quốc đi, hãy tới London.”

Bà nói rằng cha bà đã kể ông còn giúp họ lén mang các bức tranh ra khỏi Đức, bằng cách tháo khỏi khung và giấu giữa quần áo.

Khi được hỏi về những bất động sản mà gia đình bà nhận được từ nhà Eisner năm 1938, bà khẳng định đó đều là những vụ mua bán hợp pháp.

“Cha tôi mua hai căn nhà – hoàn toàn hợp pháp,” bà nói. “Mọi việc luôn phải thật chính xác.”

Antony Easton

Một khu tưởng niệm bên ngoài trại tập trung cũ Theresienstadt đánh dấu nơi nhiều thành viên của gia đình Eisner đã qua đời

Những thành viên khác trong gia đình Hartig thẳng thắn hơn khi thừa nhận khả năng cha ông họ có thể đã lợi dụng nhà Eisner.

Vincent, chắt của Martin Hartig, hiện hơn 20 tuổi và đang học nghề mộc, nói rằng anh từng cảm thấy băn khoăn về ngôi nhà mà gia đình anh sinh sống – căn nhà từng thuộc về ông bà của Antony.

“Tất nhiên tôi từng tò mò – vì sao gia đình mình lại được sống trong một nơi đẹp như vậy,” anh nói. “Tôi cũng tự hỏi – chuyện gì đã xảy ra?”

Sau khi biết chuyện đã xảy ra với gia đình Do Thái của ông Antony, Vincent nói rằng anh tin nhà Eisner khi ấy gần như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chuyển giao tài sản cho cụ cố của mình.

‘Không phải là vì tiền’

Ông Antony hiện không còn cách nào để khởi kiện đòi lại tài sản của ông bà mình.

Bà của ông, bà Hildegard – góa phụ của Rudolf – từng tìm cách đòi lại tài sản vào thập niên 1950, nhưng phải rút lui sau khi bị ông Hartig khởi kiện phản tố.

Thời hiệu cho phép các nạn nhân Do Thái của chế độ Đức Quốc xã đòi lại tài sản tại khu vực Tây Đức cũ cũng đã hết hạn.

Tuy vậy, đối với những tác phẩm nghệ thuật bị tịch thu từ gia đình Eisner, vẫn còn hy vọng có thể thu hồi một phần những gì đã mất.

Đầu năm nay, Bảo tàng Brohan ở Berlin đã thông báo cho ông Antony rằng họ có ý định trao trả bức tranh Eisenwalzwerk cho hậu duệ của ông Heinrich Eisner. Bảo tàng từ chối trả lời phỏng vấn BBC trong lúc quy trình đang diễn ra.

Một bức tranh khác đã được Bảo tàng Israel ở Jerusalem hoàn trả cho ông Antony, và còn một yêu cầu nhận lại tác phẩm nghệ thuật tại Áo vẫn đang được xem xét.

Trong quá trình điều tra, ông Antony đã phát hiện một danh sách do Gestapo lập, ghi chi tiết các hiện vật và tranh bị tịch thu từ thân nhân của ông. Điều đó mở ra khả năng gia đình ông có thể tiếp tục truy tìm và thu hồi thêm tài sản trong tương lai.

“Tôi luôn nói rằng việc hoàn trả không chỉ là chuyện hiện vật, tiền bạc hay tài sản – mà là về con người,” ông Antony chia sẻ.

Khi lần lại quá khứ của gia đình, ông đã phục hồi hình ảnh chân thực về cha và ông bà mình – những con người bằng xương bằng thịt, từng có một cuộc đời trọn vẹn.

“Mọi chuyện khiến họ trở nên sống động trở lại, với những cuộc đời thực sự,” ông nói.

Antony Easton

Antony nói rằng việc hoàn trả không phải về hiện vật… mà là về con người

Giờ đây, kiến thức này đã được truyền lại cho thế hệ mới.

Cái tên dòng họ Eisner có thể đã biến mất khi ông Peter vượt biển sang Anh vào năm 1939, nhưng nay lại được hồi sinh. Cháu trai của ông Antony, bé Caspian – chào đời tháng 8/2024 – được đặt tên đệm là Eisner.

Ông Antony nói rằng ông vô cùng xúc động trước quyết định của cháu gái – mẹ của Caspian – nhằm tưởng nhớ đến dòng họ đã mất.

“Anh biết đấy, chừng nào Caspian còn ở đây, thì cái tên ấy vẫn còn tồn tại cùng với nó,” ông nói. “Rồi mọi người sẽ hỏi: ‘Tên đệm đó nghe lạ nhỉ – câu chuyện đằng sau là gì vậy?’


 

6 DẤU HIỆU CHO THẤY BẠN ĐANG TRẦM CẢM, CHỨ KHÔNG PHẢI LƯỜI BIẾNG

Ngan Minh Ngo

Chắc chắn rồi! Vì ai cũng có những ngày như thế. Ai cũng từng có lúc uể oải, thiếu động lực, chẳng thiết tha điều gì. Nhưng trong một xã hội đầy cạnh tranh khốc liệt, nơi con người bị ám ảnh bởi tiền bạc và thành công, chúng ta lại cảm thấy tội lỗi khi không làm ra tiền hoặc không bận rộn với một việc gì đó. Và cũng bởi vì chúng ta chỉ là con người, sống trong căng thẳng triền miên, lao đầu vào công việc không ngừng nghỉ thì sớm muộn gì cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần và cảm xúc của chính mình.

Nhưng nếu đó không chỉ là sự mệt mỏi nhất thời thì sao? Nếu sự “lười biếng” ấy thực chất là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn thì sao? Hãy cùng điểm qua 6 dấu hiệu sau đây để biết liệu bạn có đang mắc kẹt trong vòng xoáy của trầm cảm hay không:

  1. Bạn không thể tự kéo mình ra khỏi tình trạng này

Sự lười biếng thường chỉ xuất hiện khi ta có một việc quan trọng cần làm nhưng lại không muốn bắt tay vào hoặc khi cơ thể đã quá tải vì làm việc quá sức. Trong những lúc như vậy, chỉ cần một danh sách việc cần làm, một bài diễn thuyết truyền cảm hứng hay một mục tiêu nho nhỏ cũng có thể giúp ta vực dậy tinh thần.

Nhưng trầm cảm thì không. Nó không phải là thứ mà bạn có thể đơn giản “vứt bỏ” hay “vượt qua” chỉ bằng ý chí. Dù ai đó có bảo bạn “vui lên đi” hay “chỉ cần suy nghĩ tích cực hơn”, điều đó cũng chẳng ích gì. Trầm cảm là một căn bệnh tâm lý nghiêm trọng, cần được điều trị bằng liệu pháp chuyên sâu, thậm chí có khi phải dùng thuốc. Và điều đáng sợ là nó thường xuyên quay lại, khiến người bệnh phải mất nhiều tháng trị liệu để có thể lấy lại cân bằng trong cuộc sống (Lépine & Briley, 2011).

  1. Bạn không thể tìm lại niềm vui

Một dấu hiệu rõ ràng khác cho thấy đây không chỉ là sự lười biếng thông thường, đó là khi bạn thường xuyên cảm thấy cô đơn, buồn bã và vô vọng mà không rõ lý do. Không chỉ mệt mỏi và cạn kiệt năng lượng, bạn còn thấy lòng mình trống rỗng, chán nản mà chẳng hiểu vì sao. Điều tệ nhất là, dù có cố gắng thế nào, bạn cũng không thể tự làm mình vui lên.

Ngủ nhiều hơn cũng không giúp bạn thấy khá hơn. Món ăn yêu thích chẳng còn hấp dẫn. Những buổi gặp gỡ bạn bè cũng chẳng mang lại chút niềm vui nào. Kể cả những điều bạn từng đam mê nhất hay những người bạn yêu thương nhất cũng không thể kéo bạn ra khỏi vực thẳm ấy (Hammen, 2005).

  1. Bạn mất hết hứng thú với mọi thứ

Theo Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (2013), một trong những dấu hiệu điển hình của trầm cảm là “mất hứng thú hoặc không còn cảm giác vui vẻ với những hoạt động từng yêu thích”. Nếu bạn nhận ra mình không còn động lực hay quan tâm đến bất cứ điều gì, không chỉ công việc hay học tập mà cả những điều nhỏ bé trong cuộc sống, thì đó chính là hồi chuông cảnh báo đầu tiên.

Người trầm cảm thường thu mình lại, không còn hứng thú với sở thích cá nhân, cũng chẳng muốn giao tiếp với ai. Họ chọn cách ở lì trong phòng, nằm trên giường, để thời gian trôi qua một cách vô định… Và đó cũng chính là dấu hiệu tiếp theo mà bạn cần lưu tâm…

  1. Bạn không còn có thể vận hành cuộc sống như trước nữa

Bạn có cảm thấy sự “lười biếng” của mình ngày càng mất kiểm soát? Nó đã trở thành một gánh nặng mà bạn không thể xoay xở nổi? Nó đang cản trở công việc, học tập và cả cuộc sống cá nhân của bạn? Nó đã gây ra không ít rắc rối cho bạn?

Nếu câu trả lời là có, thì có lẽ bạn không chỉ đơn giản là lười biếng. Trong tâm lý học, để chẩn đoán trầm cảm, các chuyên gia thường dựa vào bốn tiêu chí bất thường, gọi là “4D”: Lệch chuẩn (Deviance), Khổ đau (Distress), Nguy hiểm (Danger), và Rối loạn chức năng (Dysfunction). Nếu sự “lười biếng” của bạn khiến bạn không thể vận hành cuộc sống như bình thường, không thể hoàn thành những việc thiết yếu hằng ngày, thì có lẽ đã đến lúc bạn nên tìm đến một chuyên gia sức khỏe tâm lý để được giúp đỡ.

  1. Sự “lười biếng” của bạn không bắt nguồn từ điều gì cụ thể

Lười biếng thường đi kèm với trì hoãn và có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Có người cho rằng đó là dấu hiệu của sự thiếu tự tin. Có người lại nghĩ nó đến từ việc không được công nhận hay động viên. Nó cũng có thể là hậu quả của kỷ luật bản thân kém, thiếu kiểm soát hoặc không có hứng thú.

Nhưng còn trầm cảm thì sao? Điều gì gây ra trầm cảm?

Sự thật là, ngay cả các nhà tâm lý học cũng chưa thể tìm ra một nguyên nhân cụ thể. Nhưng có một điều chắc chắn: trầm cảm thường không bị kích hoạt bởi một sự kiện đơn lẻ. Đôi khi, nó không có bất kỳ lý do rõ ràng nào (Carter & Garber, 2011). Nó có thể len lỏi vào bạn một cách âm thầm, khiến bạn bỗng chốc trở nên buồn bã, mất năng lượng và chán chường mà chẳng hiểu vì sao.

  1. Sự “lười biếng” này không phải là lựa chọn của bạn

Cuối cùng, nhưng có lẽ cũng là điểm quan trọng nhất: lười biếng có thể thay đổi, nhưng trầm cảm thì không thể tự biến mất.

Khi bạn cảm thấy uể oải hay thiếu động lực, bạn vẫn có thể làm gì đó để thay đổi, nghỉ ngơi, tìm cảm hứng, thử những cách tăng năng suất, lên kế hoạch, đặt mục tiêu nhỏ để vực dậy tinh thần. Nhưng với trầm cảm, mọi chuyện không đơn giản như vậy.

Bất kỳ ai hiểu về trầm cảm, đặc biệt là những người từng trải qua nó, đều sẽ nói với bạn rằng không ai lại muốn mình bị trầm cảm. Nếu có thể lựa chọn, họ chắc chắn sẽ thoát ra ngay lập tức. Nhưng thực tế là, họ không thể.

Nhiều người mắc trầm cảm còn mang theo cảm giác tội lỗi, xấu hổ và bất lực (Gotlib & Hammen, 2008). Vì vậy, đừng bao giờ nói với ai đó rằng họ chỉ đang “tìm kiếm sự chú ý.” Bệnh tâm lý không phải là trò đùa, cũng không phải là thứ ai đó có thể điều khiển theo ý muốn.

Vậy, bạn có thấy mình trong những dấu hiệu trên không? Bạn có đang cảm thấy mình lười biếng trong một khoảng thời gian dài và bắt đầu tự hỏi liệu có điều gì nghiêm trọng hơn đang diễn ra?

Nếu bạn hoặc ai đó mà bạn quen biết đang phải đối mặt với trầm cảm, đừng ngần ngại tìm đến chuyên gia tâm lý để được hỗ trợ. Bởi vì, trầm

cảm càng được phát hiện sớm, việc điều trị sẽ càng dễ dàng hơn.

Nguồn Internet


 

Điều Bất Ngờ Thứ 6: Bạn ý thức hơn trước cơn cám dỗ – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Luca, mừng quan bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 18/10/2025.   (t4-23)

Thánh Gioan Henry Newman, một vị Thánh thời đại, được ĐGH Phanxicô phong thánh năm 2019. Ngài nói, “Mẹ Maria là đấng bảo vệ Giáo Hội, không ai, con người lẫn ma quỷ, làm hại chúng ta được.” Hôm nay mời Bạn suy niệm Điều Bất Ngờ Thứ 6 khi bạn cầu nguyện thường xuyên với chuỗi Mân Côi. Xin Mẹ hãy bảo vệ Bạn và gia đình.

Điều Bất Ngờ Thứ 6: Bạn ý thức hơn trước cơn cám dỗ.

Một trong số mười năm lời hứa về chuỗi Mân côi là: “việc lần chuỗi sẽ giúp phá bỏ những thiếu sót, giảm tội lỗi và đánh bại dị giáo.” Theo kinh nghiệm của tôi, khi tôi cầu nguyện thường xuyên với chuỗi Mân côi, tôi thấy rằng khoảnh khắc trước khi tôi phạm tội chậm xuống. Theo đó, chẳng hạn nếu tôi muốn trì hoãn hay nói chuyện phàm tục, tôi không làm nó một cách tự động nữa. Tôi nhận thức rằng những hành vi ấy bắt đầu với một cuộc đối thoại trong đầu tôi. Tôi ý thức hơn về cám dỗ trước khi hành động và có thêm thời gian để suy xét tôi có thực sự muốn làm nó hay không. Và khi cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi, tôi bắt đầu nhìn đời sống của mình qua một lối nhìn liên kết với Thiên Chúa và bắt đầu thấy những gì Người muốn cho tôi là tốt lành và tôi cũng muốn cùng một điều Người muốn.

Hôm nay xin Bạn đọc 10 Kinh Kính Mừng với ý chỉ cầu nguyện cho khỏi bị sa chước cám dỗ.

From Do Dzung

**********************

Thánh Ca: Maria Mẹ Của Con – Trình bày: Ca Sĩ Như Ý

HAI ĐỨA TRẺ – VÀ MỘT XÃ HỘI ĐÃ VÔ CẢM ĐẾN TẬN CÙNG

Nguyễn Quốc Chính 

HAI ĐỨA TRẺ – VÀ MỘT XÃ HỘI ĐÃ VÔ CẢM ĐẾN TẬN CÙNG

Cầu Bến Thủy – dòng sông Lam năm nay chảy chậm hơn, như thể chính con nước cũng không nỡ cuốn trôi hai sinh linh bé nhỏ vừa rời khỏi trần gian.

Người cha ôm hai đứa con nhảy xuống sông.

Người đời thương hai đứa trẻ, giận người cha.

Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, thì ta chưa hiểu hết bi kịch của chính mình – của một xã hội đã để con người bế tắc đến mức giết con rồi chết theo.

Tôi không viết để xúc phạm người đã chết. Tôi viết để hỏi: chúng ta đã làm gì để con người không còn muốn sống?

Một người cha không tự nhiên biến thành kẻ sát nhân. Trước khi gieo mình xuống nước, hẳn đã có hàng trăm đêm mất ngủ, hàng nghìn lần bị khinh miệt, bị dồn ép, bị lạc lõng giữa cuộc đời. Xung quanh anh ta là gì? Là những cái nhìn lạnh lùng của họ hàng, những lời gièm pha của xóm làng, những tòa án đạo đức rẻ tiền trên mạng xã hội, và cả một thể chế quản trị gia đình – hôn nhân – xã hội quá thờ ơ với nỗi đau tinh thần của con người.

Hai đứa trẻ chết vì người cha. Nhưng người cha ấy cũng chết vì chúng ta, vì một xã hội coi “ly hôn” là thất bại, coi “trầm cảm” là yếu đuối, coi “đàn ông” là phải gánh hết mà không được gục ngã.

Chúng ta sống giữa thời đại của những “giá trị gia đình” được hô hào, nhưng không có lấy một nơi trú ẩn cho linh hồn đang tuyệt vọng.

Làm cha làm mẹ, làm chồng làm vợ — xin hãy nghĩ đến con trẻ trước khi giận hờn nhau, trước khi nhẫn tâm đẩy nhau ra xa.

Và những người cầm quyền, những người làm luật, xin hãy nhìn lại xem, vì sao đất nước này chưa có nổi một hệ thống tư vấn tâm lý cộng đồng, một đường dây nóng có thật sự lắng nghe, một nền giáo dục dạy con người cách sống với tổn thương thay vì chôn vùi nó trong im lặng.

Hai đứa bé kia  – các con không đáng phải chịu cái chết này.

Thế gian này có thể quá khổ, quá lạnh, nhưng Chúa là Đấng thương xót.

Cầu xin Thiên Chúa đón nhận linh hồn hai con về bên Người – nơi không còn nước mắt, không còn nỗi sợ, nơi cha mẹ các con sẽ thôi oán giận mà chỉ còn tình yêu thuần khiết.

Còn chúng ta – những người sống – xin đừng để có thêm một cái chết nào nữa chỉ vì xã hội này không chịu học cách yêu thương.


 

CHÚA VÀ TÔI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?”.

Một cụ già có thói quen ngồi bất động hàng giờ cuối nhà thờ. Ngày kia, cha xứ đến hỏi Chúa nói gì với ông. Ông trả lời, “Không nói gì cả, Ngài chỉ nghe!”. “Vậy ông nói gì với Chúa?”. “Con chẳng nói gì cả, con cũng chỉ nghe!”. Cầu nguyện là nơi gặp gỡ của hai linh hồn trong thinh lặng và yêu mến.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta kiên trì cầu nguyện – không mệt mỏi, không ngã lòng – như bà goá kia lì ra trước nhà ông thẩm phán; hay tuyệt vời hơn – như cụ già nọ ngồi lặng ngắm Chúa. Cầu nguyện là sống mối tương quan thân tình giữa Cha với con, giữa bạn với bạn -giữa ‘Chúa và tôi!’.

Bài đọc Xuất Hành cho thấy Môsê, Aharon, Khua và Giosuê đang sống mối tương quan ấy. Môsê đưa tay lên, Giosuê chiến thắng; ông hạ tay xuống, Israel bại trận. Giản dị nhưng sống động; mộc mạc nhưng trìu mến. Thánh Kinh nói, Thiên Chúa coi Môsê như bạn – diện đối diện! Thế nhưng, trong thực tế, nhiều khi chúng ta cầu nguyện mà thấy Chúa xa cách, khấn xin mà Ngài như nín thinh. Tại sao? Vì tương quan giữa chúng ta với Chúa lỏng lẻo; chúng ta chưa thật sự sống mối tương giao Cha con, bạn hữu. Cầu nguyện là đi vào chiều sâu tương quan, để Chúa ở lại trong lòng mình. “Trong cầu nguyện, có một con tim không lời vẫn tốt hơn ngàn lời không có con tim!” – John Bunyan.

Từ câu chuyện cụ già, chúng ta có thể rút ra bốn cấp độ của cầu nguyện: “Tôi nói, Chúa nghe; Chúa nói, tôi nghe; không ai nói, cả hai đều nghe; và chẳng ai nói, không ai nghe” – Cầu nguyện chính là thinh lặng và yêu mến, đỉnh cao của tương quan giữa ‘Chúa và tôi’- nơi thinh lặng trở thành ngôn ngữ yêu thương. Thinh lặng ấy không phải là khoảng trống, nhưng là viên mãn của tình yêu, nơi không cần lời để hiểu, không cần âm thanh để hấp dẫn nhau. Ở đó, Thiên Chúa và con người gặp nhau trong hơi thở, trong nhịp tim, trong một tương giao vượt khỏi ngôn từ. “Cầu nguyện là cuộc gặp gỡ của hai thinh lặng!” – Thomas Merton.

Anh Chị em,

“Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?”. Không! Thiên Chúa không bắt ai chờ đợi mãi, nhưng cầu nguyện là sự chờ đợi của linh hồn; không chỉ tôi tìm đến Chúa, nhưng là Ngài đánh thức tôi. Ở đó, mọi lời thưa hoá nên thừa, chỉ còn lại ánh nhìn, hơi thở, và sự hiện diện. Dần dần, tôi hiểu: cầu nguyện không nhằm để Chúa nghe tôi, nhưng để tôi nghe Ngài, để linh hồn tôi và linh hồn Ngài được tự do yêu mến. Và lúc ấy, mọi khoảng cách tan biến – chỉ còn ‘Chúa và tôi’, hai trái tim chung một nhịp đập, hai linh hồn chung một sự sống. Cầu nguyện không thay đổi Thiên Chúa, mà thay đổi cõi lòng chúng ta – Mẹ Têrêxa nói, “Hoa trái của cầu nguyện là đức tin. Hoa trái của đức tin là tình yêu. Hoa trái của tình yêu là phục vụ. Hoa trái của phục vụ là bình an!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi tay con buông, xin tay Ngài đỡ; khi lòng con nguội, xin lửa Ngài cháy; khi con không còn lời nào, xin nói trong con bằng sự im ắng của Thánh Thần!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 ************************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN, NĂM C

Thiên Chúa minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 18,1-8

1 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. 2 Người nói : “Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. 3 Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông : ‘Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho.’ 4 Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng : ‘Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, 5 nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc’.”

6 Rồi Chúa nói : “Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó ! 7 Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao ? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi ? 8 Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng ?”


 

Những tiêu cực trong tang chế của người Công giáo- Lm. Giuse Nguyễn Đức Thịnh

Hà Trung Kiên

 Lm. Giuse Nguyễn Đức Thịnh

Nhiều tang gia người Công giáo dường như quên mất điều cốt lõi mà người quá cố thật sự cần là lời cầu nguyện và thánh lễ. Ngày nay, nhiều đám tang Công giáo đang dần bị thế tục hóa: tiếng hát karaoke át lời kinh, chiếu bạc thay chỗ cho giờ chầu, và những nghi thức tín ngưỡng bị pha trộn, méo mó, làm lu mờ đức tin và đánh mất ý nghĩa đích thực của tang chế Kitô giáo – nơi con người hướng về sự sống đời sau trong niềm hy vọng phục sinh.​

Mời cộng đoàn cùng đọc bài viết dưới đây của Lm. Giuse Nguyễn Đức Thịnh – Gp. Long Xuyên về những tiêu cực trong tang chế của người Công Giáo.​

1. Thức khuya canh thức để nhậu, ca hát và đánh bài.​

Khi mẹ Monica sắp tạ thế, hai người con của mẹ là thánh Augustino và em của ngài ngỏ ý sẽ lo hậu sự chôn cất mẹ thế này thế kia. Mẹ Monica chỉ trăn trối một điều: “Con hãy nhớ đến mẹ mỗi khi dâng thánh lễ”.

Điều người qua đời cần là gì? Thưa là lời kinh, thánh lễ… chứ không phải qui tụ cho đông, thức cho khuya để “giao lưu”. Càng ngày càng ít con cháu và thân nhân lo kinh sách, dự lễ khi xác còn quàn tại nhà. Có những đám tang quàn xác ba bốn ngày mà không thấy ai trong gia đình đi lễ cầu cho người thân của mình. Đáng buồn thay cho người đã khuất.

2. Chọn giờ lễ tang không theo giờ cộng đoàn. ​

– Thứ nhất, đó là sự hiệp thông lần cuối cùng với cộng đoàn đức tin mà người chết đã gắn bó cả đời mình.

– Thứ hai, sẽ có nhiều người tham dự cho người thân được hưởng thánh lễ cuối cùng trong dạt dào tâm tình và lời cầu nguyện.

Trường hợp bất khả kháng là người qua đời có nhiều con cháu ở xa nên phải tổ chức giờ khác cho phù hợp. Đừng vì thức khuya đánh bài, ăn nhậu, ca hát… mà tự ý sắp xếp giờ thuận lợi cho bản thân chứ không phải ưu tiên trên hết cho người chết.

  1. Tang gia ồn ào, nhốn nháo.​

Tang chế là mất mát, đau buồn… Là lúc để tưởng niệm, tri ân người đã khuất. Biến tang chế thành “sân khấu ca nhạc”, thành “sòng bạc giải trí”, thành “bàn tiệc giao lưu”… thì hết sức tệ hại, mất hết nhân văn và đạo hiếu của con người.

  1. Cử hành nghi lễ tâm linh theo kiểu “đông tây y kết hợp”.​

Có trường hợp người chết theo đạo Công giáo, nhưng con cháu trong nhà người theo đạo này người đạo kia. Thế là mạnh ai nấy tổ chức, vừa kinh vừa tụng, vừa lễ vừa cúng…

Xin tôn trọng đức tin của người chết, đừng lấy đức tin của người sống áp đặt. Người chết đạo Phật thì bên chùa lo, còn theo Chúa thì để nhà thờ lo. Không đặt niềm tin của người qua đời lên trên hết trong tổ chức tang lễ đó là bất hiếu.

  1. Xem ngày giờ chôn cất.​

Đó là hành vi trái ngược niềm tin Công giáo, vừa không tin Chúa, lại còn lợi dụng người chết với ý muốn “độ” lại cho mình. Khi sống đã ăn bám, đến chết vẫn không tha… thử hỏi còn ân với phúc, đạo với hiếu gì nữa?

Người Công giáo ngày càng bị ảnh hưởng thói đời và các kiểu tâm linh khác niềm tin Ki-tô giáo trong tang chế. Điều này dễ dẫn đến mê tín dị đoan, suy giảm niềm tin vào sự sống đời sau nơi Thiên Chúa, và nhất là trái ngược với ý muốn và lòng khát khao của người đã chết – khi họ đang trực tiếp đối diện với sự chết, đời sau, thiên đàng và hỏa ngục…

Lm. Giuse Nguyễn Đức Thịnh


 

*BÍ ẨN VỀ NGÔI MỘ CỦA ÔNG TỔNG BÍ THƯ TRẦN PHÚ TRONG NGHĨA TRANG ĐÔ THÀNH – SÀI GÒN

Xen Pham

 *BÍ ẨN VỀ NGÔI MỘ CỦA ÔNG TỔNG BÍ THƯ TRẦN PHÚ TRONG NGHĨA TRANG ĐÔ THÀNH – SÀI GÒN

Trước năm 1975, ngoại ô Sài Gòn có một nghĩa trang rộng lớn, được đặt tên là “Nghĩa trang Đô Thành”, nằm trên đường Lê Văn Duyệt (nối dài Sài Gòn) – đối diện là trại lính Nhảy dù Nguyễn Trung Hiếu, và sau lưng là Cư xá Sĩ Quan Chí Hòa (Bắc Hải).

Nghĩa trang này bị giải tỏa vào năm 1998, một phần đất phía sau bị chia chác biến thành nhà ở, còn một phần mặt tiền trở thành Công viên Lê Thị Riêng.

Khi làm việc đào phá tại nghĩa trang này vào ngày 4.1.1999, lao công bất ngờ tìm thấy mộ của ông Trần Phú (Tổng bí thư đầu tiên của đảng CSVN).

Qua đó, sau 68 năm ngày ông Trần Phú chết, nhà cầm quyền ở thành Hồ mới “phát giác” ra một “chứng tích lịch sử” vô cùng quan trọng – để rồi ngày 12.1.1999 vội vã đưa số xương cốt này về tái an táng tại quê nhà của ông ở tỉnh Hà Tĩnh.

Câu chuyện “bí ẩn’ là ở chỗ, tại sao mộ của một Tổng bí thư đảng CSVN lại nằm trong khu Nghĩa trang Công Giáo, ở phía sau Nghĩa trang Đô Thành (sát với con rạch của Cư xá Sĩ quan Chí Hòa).

Nơi  dành riêng cho những người có đạo (có tên Thánh) mới được chôn cất.

Và tại sao tư liệu và lịch sử Đảng CSVN chỉ viết ông bị bắt và mất vào cuối năm 1931, ngoài ra “không ai biết ông mất trong hoàn cảnh nào và chôn cất ở đâu”.

Theo lịch sử hình thành Đảng Cộng Sản ở VN, thì ông Trần Phú là “học trò xuất sắc của Chủ tịch HCM”, được ông Hồ đưa về từ Quảng Châu vào tháng 4 năm 1930.

Cuộc đời làm “Kách Mệnh” của Trần Phú thật ngắn ngủi.

Vào ngày 18.4.1931 ông Phú bị Pháp bắt giam, nhưng đến ngày 6.9.1931 (tức chỉ sau 5 tháng) đã qua đời tại bệnh viện Chợ Quán vì bệnh lao, lúc mới 27 tuổi

(như vậy khó mà có thể tạo hào quang cho ông Phú là đã bị Thực dân hành hạ dã man đến chết trong tù).

Mới đây trên facebook của ông Trần Đăng Phiệt có nói đến việc mộ của ông Trần Phú được tìm thấy ở Đất Thánh họ đạo Chợ Quán nằm sau Nghĩa trang Đô Thành, với mộ bia và tên tuổi đầy đủ.

Nhà cầm quyền CSVN cũng bán tín bán nghi, nhưng sau khi thử DNA thì xác nhận đây chính là hài cốt của ông Trần Phú nên mới cho đem về Bắc, để lập khu tưởng niệm.

Câu chuyện ly kỳ ở chỗ:

“Một cụ già lão thành Cách mạng (bị giam chung với ông Trần Phú)

ở Trà Vinh khi tình cờ biết tin “tìm được mộ TBT Trần Phú” trên báo SGGP đã viết một lá thư dài tường thuật đầy đủ quá trình bị giam giữ, theo đạo, rửa tội, chết  và an táng của ông Trần Phú tại nhà thương Chợ Quán rồi gởi cho Cha sở xứ đạo Chợ Quán vào ngày 03.7.2018″.

Cha sở họ đạo Chợ Quán lúc đó là Linh mục FX Lê Văn Nhạc; Ngài đã kiểm tra lại tài liệu lưu trữ của Giáo xứ giai đoạn 1930-1940 thì phát giác sổ rửa tội năm 1931 có ghi tân tòng Phê-rô Trần Phú.

Sau đó ngài cho sao chụp hồ sơ lưu sổ rửa tội, và bức thư của cụ lão thành Cách mạng Trà Vinh ra làm ba bản. Một gởi cho Chính quyền TP, một gửi lên tòa Tổng Giám mục SG, một lưu tại giáo xứ.

Hiện nay tại bệnh viện Nhiệt Đới (nhà thương Chợ Quán cũ) số 764 Võ Văn Kiệt, P.1, Q.5; bước vào cổng phía tay trái có một công viên nhỏ và tượng đài Đức Mẹ nay vẫn còn lưu giữ, là nơi các dì phước thời xưa mỗi buổi chiều đến thăm nom, chăm sóc bệnh nhân và đưa Mình Thánh cho các bệnh nhân có đạo được rước Chúa.

Vào các chiều thứ bảy, các dì tổ chức dạy Giáo lý và có các Cha đến giải tội.

Ông Trần Phú là một trong những bệnh nhân được cảm hóa, tin Chúa và cảm mến Chúa để được rửa tội tại đây.

Đi vào hành lang bên tay phải, nhà cầm quyền cho dựng lại “một chuồng cọp”

nói là nơi giam giữ ông Trần Phú lúc được đem đến đây chữa bệnh.

Người ta cũng dựng lên một bức tượng của ông tại đó.

Một nữ y tá làm việc lâu năm tại nơi này cho biết:

“Cái nhà đá nói là nơi giam giữ ông Trần Phú là chuyện tưởng tượng.

Bởi thời đó Bệnh viện là bệnh viện, và nếu là phạm nhân thì họ chỉ cần còng tay vào giường và có người canh gác là đủ”.

Riêng Cha sở Lê Văn Nhạc nay đã 80 tuổi. Ngài đang nghỉ hưu tại GX Hạnh Thông Tây, Gò Vấp”.

(Hết trích).

Cần biết, một người trưởng thành xin rửa tội vào đạo Công Giáo thủ tục còn khó hơn đứa trẻ sơ sinh.

Giáo hội đòi hỏi người tân tòng phải học đạo, có người “đỡ đầu”,

và trí óc còn minh mẫn (nếu là bệnh nhân).

Câu chuyện trên, chắc chắn không được nhà cầm quyền CSVN công nhận, bởi Lm Lê Văn Nhạc cho biết, ngài từng được Cán bộ CS đến hỏi thăm khi nhận được “hồ sơ” về việc rửa tội xin vào đạo Công Giáo của ông Trần Phú, và yêu cầu ngài không phổ biến tin tức này.

Và nếu phải nói về việc “ngoài dự kiến” không hay ấy, các văn nô viết lịch sử Đảng cũng sẽ nói “bọn thực dân và tay sai” đã ép buộc Đ/c Trần Phú vào đạo,

để phá bỏ hình ảnh “vô thần” của Tổng Bí Thư.

Cho đến nay CSVN đã có 12 người làm TBT, nhưng rất nhiều ông khi chết đã bị hé lộ chuyện vẫn tin tưởng có thế giới bên kia, chứ không “vô thần” như lúc tuyên thệ vào Đảng.

Ông HCM cũng nói khi chết sẽ đi gặp Các Mác và Lê Nin.

Ông Lê Khả Phiêu trong nhà có bàn thờ Phật to tướng, và khi hạ huyệt có nhiều sư tụng kinh gõ mõ..v.v.

Hiện nay, khi đi vào Công viên Lê Thị Riêng, người ta sẽ thấy phía bên trái có một tượng đài được xây dựng vào tháng 9.2005 dành cho ông Trần Phú với phù điêu mang hình cờ Đảng, cùng câu nói “nổi tiếng” của ông: 

“Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”.

Cần biết, trước 1975 đây là nơi đầy “oan khiên, chướng khí”.

Vào năm 1963, gần trăm xác của các binh lính trung thành với TT Ngô Đình Diệm bị quân đảo chính bắn chết, và được đưa về đây.

Đến năm 1968 hơn 2 ngàn xác của Cộng quân bị hạ sát trong trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân cũng được “tập kết” thành một lỗ.

Thê thảm hơn, vào ngày 30.4.1975 trên 3 ngàn xác chết của binh lính hai bên, và thường dân cũng được kéo về bỏ chất đống ở nghĩa địa, khiến dân chúng quanh vùng Ngã Ba Ông Tạ phải “ngộp thở” vì mùi tử khí trong nhiều ngày.

Và tất cả những người xấu số chết vào giờ thứ 25 này, đều đã được vùi chung trong một hố chôn tập thể.

Chưa hết, sau Tháng Tư Đen 1975, nhiều chuyến vượt biên không thành với vài chục xác chết của dân vượt biển (ở ấp Hàng Dầu) cũng được chở về đây, chờ người thân đến nhận.

Bên trong Công viên Lê Thị Riêng hiện nay còn có một hồ nước,  nhưng không ai dám cho con em đến gần, bởi “các hồn ma nghĩa địa” đã kéo nhiều em chết chìm khi chơi dưới hồ, dù nước không sâu!

*Nguyễn Vy Túy

(posted by Người Viễn Tây )


 

Người Việt đi nước ngoài – Người Buôn Gió

Người Việt (dưới chế độ Cộng Sản) đi nước ngoài .

Chuyện người Việt Nam ra nước ngoài định cư ngày càng nhiều… đủ mọi hình thức lách luật để được chính thức ở lại như những trường hợp mà tác giả “Người Buôn Gió” đã viết lên.

Cũng có trường hợp xảy ra ở Bruxelles, nơi này hiện tại nhiều người Việt sang đây với nhiều hình thức khác nhau. Chuyện lấy vợ, gả chồng là chuyện bình thường và cũng nhiều người đã làm… lại còn chuyện hắn biết giống như trường hợp được hợp pháp hoá giấy tờ như tác giả viết “Một phụ nữ Việt Nam vào Đức lậu, có bầu và được một người có giấy tờ Đức nhận là bố đưa trẻ, cô và đứa bé được ở lại Đức và nhà nước chu cấp đầy đủ cho hai mẹ con. Kiểu hợp thức hóa giấy tờ như thế này đã có xảy ra ở Bruxelles, được hợp lệ ở lại như là được cấp thẻ xanh còn đến khi nào được quốc tịch thì tính sau vì điều kiện vào quốc tịch ở Bỉ khó khăn hơn lúc hắn xin vào có nghĩa là phải đi làm full time có khai báo đầy đủ trong vòng 5 năm liên tục mới được nộp đơn xin.

Ngày càng nhiều những người ra đi như “dạng hái khế” (không phải người nghèo đi trốn lậu), đi theo dạng hái khế là một cách nói ám chỉ việc chết một cách bất ngờ, đột ngột hoặc không lường trước, giống như một quả khế chín rụng xuống đất mà không báo trước. Thành ngữ này xuất phát từ đặc điểm của quả khế là một loại trái cây chín và rụng bất cứ lúc nào hoàn toàn thể hiện sự ra đi đột ngột, bất ngờ, không báo trước, tương tự như cách quả khế tự rụng xuống .

Đọc bài viết để có một cái nhìn về đất nước và con người Việt Nam ngày hôm nay.

Ara

*****

Người Việt đi nước ngoài

Đất nào sinh ra tôi

Mẹ hiền nào nuôi thân tôi

Miền nào nuôi thân tôi

Mà giờ này tôi xa rồi 

Quê Hương Bỏ Lại là nhạc phẩm mà các ca sĩ hải ngoại di tản theo dạng thuyền nhân sau năm 1975 thường trình bày gây xúc động kiều bào vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước.

Nội dung nhạc phẩm trải nỗi lòng của những người tị nạn rời xa quê hương, họ bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và không hẹn ngày trở lại.

Hơn 30 năm sau, nhiều người trong số họ đã trở về từ Khánh Ly, Chế Linh đến các ca sĩ trẻ hơn như Mạnh Quỳnh, Phi Nhung.

Nhưng làn sóng người Việt rời xứ sở ra đi ngày một nhiều hơn, sự ra đi của họ không bi tráng như những thuyền nhân trước kia, họ ra đi trên những chiếc máy bay với một lịch trình cho cuộc sống trước mắt ở xứ người đã được sắp xếp chu đáo bởi các công ty tư vấn, dịch vụ định cư.

Ngày nay trên đường phố quanh khu Bolsa của Nam Cali, thủ phủ của cộng đồng người Việt tị nạn nhan nhản những tấm biển quảng cáo cho dịch vụ định cư, du học, việc làm. Có rất nhiều gia đình quan chức cộng sản đã tìm đến Hoa Kỳ định cư theo diện đầu tư như gia đình Nguyễn Công Khế. Một nữ tổng biên tập một tờ báo ở Việt Nam là Hồ Thu Hồng với cái tên gọi là Beo Hồng cũng đã có mặt trên đất Mỹ từ lâu, tổng biên tập tờ báo Vietnamnet đình đám một thời là Nguyễn Anh Tuấn cũng như Beo Hồng, gia đình Tuấn hiện đã sinh sống tại Mỹ.

Trước mắt các bạn đã thấy ba tổng biên tập của ba tờ báo lớn Việt Nam, những tờ báo hàng ngày vẫn ca ngợi đảng và chính phủ Việt Nam đem lại tăng trưởng, đem lại hạnh phúc, tự do cho nhân dân, họ đã đưa gia đình đến nơi mà tờ báo của họ từng miệt thị, chửi bới thậm tệ để sinh sống. Những người kế cận họ lại điệp khúc khen chế độ Việt Nam (việt cộng), chửi Mỹ và đánh đấm kiếm tiền đưa gia đình sang Mỹ.

Vô vàn các nghệ sĩ, ca sĩ Việt Nam bằng cách nào đó như kết hôn, hợp đồng lao động đã kiếm cho mình được tấm thẻ xanh trên đất Mỹ.

Bây giờ tôi thường xuyên nhận được tin nhắn hỏi về việc định cư tại châu Âu. Một chủ nhà hàng lớn trong chuyến du lịch đến châu Âu, vốn là người quen cũ, ông ta hẹn tôi uống cà phê và bày tỏ ý định tìm cách định cư tại châu Âu. Dự định của ông là mua nhà bên Hy Lạp với giá khoảng 250 ngàn Euro, chính phủ Hy Lạp đang khủng hoảng về tài chính, họ có chính sách bán nhà và cấp giấy định cư cho những người nước ngoài đến mua nhà. Người mua nhà ở Hy Lạp có giấy tờ đi lại trong khối Schengen tức đi lại trong 27 nước Tây Âu, với giấy tờ này người ta có thể sống và làm việc tại bất kỳ nước nào, miễn có việc làm và nuôi được bản thân không xin trợ cấp.

Rẻ hơn nữa là Latvia, với khoảng 150 nghìn Euro mua nhà bạn có thể sở hữu được tấm giấy phép như vậy.

Còn ở Đức thì giá đắt hơn, một gia đình có thể phải mất đến vài trăm ngàn để làm một dự án kinh doanh, nhà hàng, công ty tạo việc làm để đưa cả một gia đình đi.

Đỗ Liên, đại sứ danh dự Việt Nam ở Châu Phi, chủ hãng bảo hiểm AAA khi xưa nay đang cùng chồng sau sở hữu một nhà hàng lớn ở ngay trung tâm Berlin. Liên cùng chồng sau là Toàn và các con cái đã sống ở đây vài năm, họ vẫn đi đi về về Việt Nam điều hành việc làm ăn ở nhà. Quán của vợ chồng Toàn Liên sau vài năm mở để đưa cả gia đình sang, hiện đã sang bớt cổ phần cho Quán Ngon. Số tiền vợ chồng Toàn Liên chuyển sang đầu tư đến hàng triệu Euro, riêng phần bếp đã vài trăm nghìn. Có đến hàng trăm, đó là con số tôi có thể biết về những người Việt Nam đầu tư sang Châu Âu để kiếm giấy tờ hợp pháp sinh sống ở châu Âu như vậy.

Ở Hung ngày càng nhiều người Việt hơn, với 60 nghìn euro cho gia đình 4 người và thêm khoảng 100 ngàn euro mua nhà, cả gia đình 4 người đã có giấy tờ. Trước đây Hung còn có chính sách nếu ai mua trái phiếu chính phủ khoảng 3-400 trăm ngàn euro gì đó sẽ được cấp thẻ xanh vĩnh viễn, chương trình này chấm dứt rất nhanh bởi người Trung Quốc nhanh chóng ùa đến. Sau ba năm trở lại Hung, trên con phố đi bộ đắt nhất của thủ đô Hung, bên dòng Đa Nuyp thơ mộng. Những con người từ xứ Tô Châu đã tìm đến đây để sống với một môi trường trong sạch, an toàn không ô nhiễm và đầy bạo lực như quê hương họ.

Đại sứ quán Hung ở Việt Nam không đủ người để giải quyết hàng đống hồ sơ xin mua nhà, xin tạm cư của người Việt.

Ở Hung mua nhà không bị hỏi tiền ở đâu ra, miễn là bạn mua nhà hay bất động sản ở Hung thì bạn có cầm vali tiền mặt đều được chấp nhận. Hình như sau bao nhiên năm gì đó bạn mới được bán đi.

Đấy là những người có tiền, những người ít tiền hơn họ chọn cách ra đi bằng đường du lịch sang Nga và trốn đường rừng vào Ba Lan, Lát Vi A rồi sang đến Đức, nơi có cộng đồng đông đảo người Việt đang sinh sống, những đồng bào cùng miền quê với họ sẽ giúp họ tìm việc làm và đợi thời gian tích luỹ số tiền sẽ hợp pháp hoá giấy tờ trên cơ sở điều luật nhân đạo của Đức như kết hôn, nhận bố, nhận con. Rất nhiều cô gái trẻ người Việt mặt non choẹt đẩy xe nôi trên đường phố Berlin. Một phụ nữ Việt Nam vào Đức lậu, có bầu và được một người có giấy tờ Đức nhận là bố đưa trẻ, cô và đứa bé được ở lại Đức và nhà nước chu cấp đầy đủ cho hai mẹ con. Năm sau cô sinh đứa thứ hai, một người đàn ông Việt chưa có giấy tờ nhận là bố đứa trẻ, anh ta sẽ được giấy tờ và trợ cấp. Với cách thức như thế, càng ngày càng nhiều nam nữ thanh niên Việt Nam tìm đến nước Đức qua con đường trốn từ Nga sang. 

Từ năm ngoái ở Ba Lan có kiểu những người Việt đi du lịch sang Châu Âu, khi đến Ba Lan sẽ tìm một công ty dịch vụ làm giấy tờ chứng nhận họ có hợp đồng lao động ở Ba Lan, giá chỉ 2 ngàn euro là có một giấy tạm cư 2 năm tại Ba Lan. Đây là những người nghèo khổ, ở quê hương họ không có việc làm, không có tương lai. Họ phải vay mượn, cầm cố đất đai cho những đường dây đưa người lậu để mong đến được nước Đức đổi đời.

Canada và Úc là những nước dễ nhập cư nếu như bạn có hợp đồng lao động. Một phụ nữ có hai đứa con nhỏ, chị kiếm được hợp đồng làm chăm sóc người già ở Canada, thế là chị và hai đứa con giờ ở Canada đã 5 năm. Một thằng em tôi quen trên Facebook, mới ngày nào còn la oai oái việc thanh toán tiền thi công của đối tác chậm ở Việt Nam, nay thấy ung dung đưa ảnh đang ăn hải sản bên Úc với con cua to đùng và gật gù khen ngon và rẻ hơn quê hương có mấy ngàn cây số ven biển của mình.

Những người ra đi sau này họ vẫn đi đi về Việt Nam để kiếm tiền bởi những quan hệ quan chức và các mối quan hệ làm ăn của họ vẫn đang hái ra tiền ở Việt Nam.

Một dự án hàng trăm triệu, hàng tỷ USD ở Việt Nam được thực hiện, tiền vốn chính phủ vay của nước ngoài, nhà thầu nước ngoài được phép thi công, các quan chức Việt Nam được nhà thầu lại quả trung bình 15%. Hãy hình dung chỉ cần dự án 100 triệu là có 15 triệu đủ để cả chục gia đình quan chức Việt Nam có tiền mua đất đai và giấy tờ định cư ở nước ngoài.

Những dự án đó phá hoại môi trường, gây ô nhiễm không khí, đẩy người dân vào cảnh mất đất và giao thông chật chội, hỗn loạn, khiến người dân Việt Nam luôn chất chứa sự uất ức mà chính họ không hiểu nguyên nhân. Sự uất ức đấy tích tụ và thành những hành động tiêu cực khi gặp việc, có thể họ trộn chất độc hại vào thức ăn để bán kiếm lời để lại mối hoạ ung thư tràn lan, hoặc họ rút dao ra đâm nhau khi có chuyện xích mích, hay đường xá và phương tiện với tỉ thứ trong đầu người dân khiến mạng sống con người có thể chấm dứt trong tích tắc trên đường.

Nhưng những người hái khế ưu tú đã có phương án của họ, ra đi để tránh cho gia đình mình phải chịu chung những mối lo như thế ở Việt Nam, quê hương chỉ là nơi họ hái khế phục vụ gia đình mình.

Và càng nhiều những người ra đi như dạng hái khế (không phải người nghèo đi trốn lậu) theo dạng đầu tư như trên, họ để lại đàng sau càng nhiều ô nhiễm môi trường, xã hội loan lạc, bệnh tật ở quê hương Việt Nam.

Người Buôn Gió

From: My Tran

THÁNH LUCA THÁNH SỬ – Lm. Phaolô Phạm Quốc Túy

 Lm. Phaolô Phạm Quốc Túy

 Thánh Luca, tác giả Phúc âm thứ ba và sách Công vụ sứ đồ, là người đóng góp đơn độc và rộng rãi nhất cho Tân ước.  Như các tác phẩm cho thấy, ngài là một trong những Kitô hữu có học nhất thời Giáo Hội ly khai

Dầu vậy, ngài rất mực khiêm tốn và ẩn mình đi đến nỗi dù một chút gì chúng ta biết về ngài cũng phải đọc trong những dòng chữ của ngài bằng kính phóng đại.  Chúng ta chú mục vào những chỗ “nhóm chúng tôi” thay vì “họ,” nghĩa là ngài nhận sự có mặt của mình trong khung cảnh chuyển nó vào những dẫn chứng rời rạc trong thánh Phaolô, tìm những khuôn mặt xem ra rõ rệt nhất, phân tích việc chọn lựa và xử dụng từ ngữ của ngài.  Dần dần hình ảnh của thánh Luca nổi lên.

 Ngài tự bẩm sinh là người Hy Lạp, chứ không phải Do thái, nhưng theo ngôn ngữ và văn minh xem ra ngài đã không sinh ra tại những thành phố Hy Lạp lớn miền cận đông.  Một tác giả thứ hai nói ngài sinh ra tại Antiôkia, Syria và khi những biến cố xảy ra dường như ngài đang sống ở đó trong thập niên bốn mươi của thế kỷ đầu và đã là một trong những lương dân trở lại đầu tiên. 

Theo nghề nghiệp, ngài là y sĩ và rất có thể đã theo học Đại học tại Tarsê.  Bởi đó có thể ngài đã có vài tiếp xúc trước với thánh Phaolô khoảng năm 49 hay 50, ngài đã liên kết với thánh Phaolô trong sứ vụ qua Tiểu Á tới Âu Châu.  Dầu vậy khi tới Philipphê, thánh Luca đã dừng lại đó, không phải là Giám mục của Giáo hội tân lập vì dường như thánh nhân đã không hề lãnh nhận chức thánh, nhưng đúng hơn ta có thể gọi là “thủ lãnh giáo dân.”

 Hơn nữa, ngài dường như dấn thân vào thành phần sử gia, một vai trò mà sự giáo dục và cố gắng rất phù hợp với ngài.  Sự quan sát kỹ lưỡng và diễn tả chính xác là những từ ngữ của các trường thuốc Hy Lạp và các văn phẩm của thánh Luca chứng tỏ để ngài đã biết áp dụng chúng vào lãnh vực lịch sử.  

Dầu vậy, vào khoảng năm 57, thánh Phaolô đã từ Corintô trở lại qua Macedonia trên đường đi Giêrusalem, để thu thập các đại diện từ nhiều Giáo Hội khác nhau và thánh Luca đã nhập bọn, từ đó trở đi ngài đã không hề rời xa thầy mình.  Ngài đã chứng kiến việc người Do Thái tìm cách hại Phaolô và việc người Rôma giải cứu thánh nhân.  Khi Phaolô đáp tàu đi Rôma sau hai năm bị tù ở Cêsarêa, thánh Luca ở với ngài.  Họ bị đắm tàu ở Malta và cùng tới Rôma.  Nhưng ở Rôma, thánh Luca đã thấy một trách vụ khác đang chờ đón ngài.  Rôma là con mắt của Phêrô và người phát ngôn của thánh Phêrô là Marcô đã xuất bản Phúc âm viết tay của ngài. 

 Nhưng còn những ký ức khác đã được viết ra hay truyền tụng rời rạc hoặc toàn bộ về cuộc đời của Chúa chúng ta trên trần gian.  Thánh Luca đã quyết định rằng : sứ vụ cho lương dân cần một Phúc âm mới, được viết ra bằng Hy ngữ văn chương hơn là Phúc âm của Marcô cho hợp với lương dân có học và không dành riêng cho người Do Thái như là Phúc âm của thánh Matthêo: việc trước tác sách này là phần tiếp theo sách Công vụ sứ đồ xem như hoàn thành tại Rôma giữa năm 61 tới 70, nhưng thánh Luca đã trốn cuộc bách hại của Nêrô và đã trải qua quãng đời còn lại tại Hy Lạp. 

 Tài liệu thế kỷ thứ hai viết : 

– “Trung thành phục vụ Chúa, không lập gia đình và không có con; ngài được qua đời hưởng thọ 84 tuổi ở Boctica, đầy tràn Thánh Thần.”
 

Thánh Luca là một vị thánh luôn luôn bình dân.  Một phần có lẽ vì chúng ta hiểu rõ ngài là một giáo dân, thừa hưởng văn hóa Hy lạp cổ.  Hơn nữa, ngài bình dân vì đặc tính lương dân và dấn thân của mình.  Tất cả văn phẩm của ngài đầy quan tâm đến con người, thương cảm con người, liên hệ tới người nghèo, hào hiệp với phụ nữ.  Ngài cũng rất hấp dẫn bởi đã thu thập và kể lại vô số những công cuộc đầy nhân hậu của Chúa Kitô. 

Thật ra người ta sẽ lầm lẫn khi dìm mất tính chất và giáo huấn nghiêm khắc của Chúa.  Nhưng các y sĩ có thể hãnh diện về ngài vì chắc hắn không có y sĩ nào sẽ qua mặt được ngài về “tình yêu dành cho nhân loại.”  Và những người còn lại trong chúng ta có thể biết ơn ngài vì nhờ ngài chúng ta có được dụ ngôn cây vả khô chồi (13:6), đứa con hoang đàng (15:11), và người Samaria nhân hậu (10:29).  Chúng ta cũng biết ơn ngài vì câu chuyện người kẻ trộm thống hối và cả năm mầu nhiệm Mân Côi mùa Vui. 

Nhưng trên tất cả, chúng ta mắc ơn ngài Kinh Ave “Ngợi khen” (Magnificat), Chúc tụng (Benedictus), Phó dâng (Nuncdimittis) với quá phân nửa câu truyện ngày lễ Giáng sinh.  Rồi đây là chỗ mà sự khiêm tốn ẩn mình của thánh nhân xa rời chúng ta. 

Thánh Luca đã nghe truyện từ miệng Chúa không?  Thánh nhân không nói điều này cho chúng ta nhưng rất có thể lắm.  Chúng ta biết sau cuộc đóng đinh, Mẹ đã được thánh Gioan săn sóc và chắc chắn đã có sự giao tiếp giữa hai thánh sử này . Nhưng trùng hợp của hai Phúc âm (như về việc biến hình) hay những trùng hợp về ngôn ngữ trong phần đầu sách Công vụ mạnh mẽ minh chứng điều này.
 

Hơn nữa, nếu thánh Luca được rửa tội ở Antiôkia khoảng năm 40 thì tự nhiên là có thể tìm gặp được thánh Gioan ở Giêrusalem…  Lúc ấy Đức Mẹ trên dưới 70 tuổi.  Như vậy không có lý gì thánh Luca lại không thể nghe chính môi miệng Mẹ kể chuyện.  Mà dầu chuyện nầy có đến với ngài cách gián tiếp đi nữa, chúng ta vẫn biết ơn ngài đã lưu lại cho chúng ta những giai thoại đặc biệt ấy.
 

Trích: Theo Vết Chân Người, Lm. Phaolô Phạm Quốc Túy

From: Langthangchieutim

CHỦ NGHĨA ” MA-KÊ-NÔ” TRONG ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Chúa Nhật truyền giáo)

Sứ điệp : Diệt trừ bệnh vô cảm thiêng liêng để hăng hái lên đường dẫn đưa anh chị em lưu lạc về đoàn tụ trong Gia đình Thiên Chúa.

***

Ma-kê-nô, một cách nói khôi hài và mỉa mai, rút ra từ cụm từ “mặc kệ nó”, ám chỉ thái độ sống vô cảm, vô tâm, không hề quan tâm đến phúc lợi của những người chung quanh.

Bệnh vô cảm hay chủ nghĩa ma-kê-nô tràn lan trong xã hội

Vô cảm là một đề tài được đề cập khá nhiều trên các trang báo Việt Nam hiện nay và được xem như một thứ bệnh dịch đáng sợ gây ra những tác hại to lớn cho đồng bào, cho quê hương, đất nước. Một số người chỉ quan tâm đến lợi ích và an toàn của mình mà thờ ơ với phúc lợi của  những người chung quanh. Họ chủ trương: “đèn nhà ai nấy rạng”, “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”, “sống chết mặc bây” vv…

Báo chí gọi đó là bệnh vô cảm, là chủ nghĩa “ma-kê-nô” đang tràn lan trong xã hội chúng ta.

Điều đau lòng là vô cảm không chỉ là một căn bệnh xã hội mà còn là một thứ bệnh tinh thần của nhiều người con cái Chúa. Người đời thì vô cảm với nỗi đau buồn của đồng bào trong nước, còn một số Ki-tô hữu thì vô cảm trước những bất hạnh tinh thần của đông đảo anh chị em chung quanh mình.

Vô cảm với nỗi đau của Thiên Chúa Cha

Thiên Chúa là Người Cha rất mực tốt lành, ngày đêm ưu phiền khắc khoải vì đông đảo con cái yêu dấu của Ngài không nhận biết Ngài là Cha rất tốt lành và giàu lòng yêu thương; vì thế, họ ngoảnh mặt quay lưng lại với Cha, không nhìn nhận sự hiện hữu của Ngài. Trước tình trạng nầy, Thiên Chúa đau khổ xiết bao!

Dầu vậy, nhiều người con trong nhà Cha vẫn thờ ơ vô cảm trước nỗi lòng thổn thức đau khổ của Cha, miễn là hiện nay mình được an vui hạnh phúc trong Nhà Cha là được rồi.

Vô cảm với cảnh bơ vơ lạc lối của anh chị em mình

Là những người con trong nhà Cha, chúng ta được diễm phúc sống kề cận bên Cha, được Cha ấp ủ bằng tình phụ tử ngọt ngào, được Cha dưỡng nuôi bằng những lời khôn ngoan do Chúa Giê-su mang từ trời xuống, được Chúa Thánh Thần là Thầy khôn ngoan soi đường dẫn lối, được Đức Maria là Mẹ hiền bao bọc chở che bằng tình mẫu tử thiêng liêng trìu mến, được đón nhận vô vàn ân sủng qua các Bí Tích… Chúng ta cũng giống như những phú hộ sung túc trong đời sống thiêng liêng. Thế nhưng chúng ta lại tỏ ra dửng dưng vô cảm với những anh chị em ruột thịt con cùng một Cha trên Trời, không được diễm phúc như mình.

Vì vô cảm, chúng ta không nói cho anh chị em ngoại đạo biết họ có một Người Cha giàu lòng yêu thương. Vì vô cảm, chúng ta không ra tay dẫn đưa những anh chị em lưu lạc về với Cha để cùng chung hưởng hạnh phúc với mình. Vì vô cảm, chúng ta cứ vui hưởng hạnh phúc của người con trong nhà, còn những anh chị em bất hạnh vì chưa được đoàn tụ trong Nhà Cha thì… “ma-kê-nô”, “sống chết mặc bây”, ta khỏi cần bận tâm!

Vô cảm trước lời thôi thúc mời gọi của Cha

Rất nhiều lần, Lời Cha qua miệng Chúa Giê-su vang dội trong tâm hồn chúng ta: “Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá (Lc 5,4)”; “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần… Mt 28,19)”; “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi.” (Lc 10,2)… Nhưng những lời thôi thúc mời gọi đó không gây được âm vang để lay động con tim vô cảm của chúng ta, không đủ mạnh để nhen lửa truyền giáo trong tâm hồn, mà chỉ như làn gió nhẹ thoảng qua mặt hồ rồi im bặt.

Chủ nghĩa “ma-kê-nô”

Hôm xưa, sau khi Ca-in thanh toán đứa em vô tội của mình, có tiếng Chúa từ trời vọng xuống hạch tội Ca-in. Ngài hỏi: “Ca-in, em ngươi đâu?”

Ca-in vô cảm trả lời: “Tôi đâu phải là người canh giữ em tôi!” (St 4,9), Ma-kê-nô!

Và hôm nay, nếu Chúa hỏi mỗi người chúng ta:

– “Con có biết lòng Cha ray rứt đau khổ ngày đêm vì có hơn 2 phần 3 nhân loại chưa hề biết Ta là Cha thật sự của họ không?” Trong trường hợp nầy, câu đáp đổi lại thành: “Ma-kê-you!” (Mặc-kệ-Cha)

– “Con có biết hiện nay có hơn 90 triệu đồng bào Việt Nam, là anh chị em ruột thịt của con, đang cần con nói cho họ biết mình có Cha trên trời hết lòng yêu thương họ và họ đang cần được con dẫn về đoàn tụ trong nhà Cha không?” Câu đáp cũng sẽ là: “Ma-kê-nô!”

Lạy Chúa Giê-su,

Trong hàng trăm thứ bệnh con người mắc phải thì bệnh vô cảm tinh thần là bệnh đáng sợ và làm cho Chúa đau buồn nhất. Xin giúp chúng con thoát khỏi căn bệnh tai hại nầy để hăng hái lên đường dìu dắt những anh chị em lạc xa nhà được sớm trở về đoàn tụ trong Đại Gia đình của Cha. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

From: ngocnga_1& NguyenNThu