MẶC CHO ĐỜI BIẾN ĐỔI

MẶC CHO ĐỜI BIẾN ĐỔI

Tác giả: M. Hoàng T Thùy Trang

nguồn:thanhlinh.net

Sự kiện Đức Giêsu biến hình là một trong những dấu lạ Ngài tỏ hiện quyền năng cho các tông đồ thấy mà tin, nhằm củng cố niềm xác tín của các ông. Chứng kiến vinh quang của Ngài trên núi Tabor, các tông đồ hết sức ngạc nhiên và vui mừng vì vinh quang sáng lạn của Ngài: “…Y phục Người trở nên trắng xóa chói lòa. Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Môsê và ông Êlia.” (Lc 9,29-30) Như không muốn giây phút vinh quang ấy mất đi, ông Phê rô đã thốt lên: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cái cho Thầy, một cái cho ông Môsê và một cái cho ông Êlia.” (Lc 9,33). Tin mừng ghi rõ, ông Phêrô nói nhưng không biết mình đang nói gì. Có lẽ trong phút ngây ngất trước vinh quang tột bậc của Đức Giêsu, ông Phêrô không muốn khoảnh khắc hạnh phúc ấy bị mất đi, cho nên mới thốt lên lời đề nghị như vậy. Đang khi chưa bừng tỉnh, các tông đồ còn bị cuốn vào trong đám mây, khiến các ông hoảng sợ. Và từ trong đám mây, có tiếng phán rằng: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!” (Lc 9, 35)

Đức Giêsu đang cầu nguyện với Thiên Chúa Cha, thì dung mạo Người biến đổi. Điều kiền cần để được biến đổi, đó chính là cầu nguyện, đó chính là sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể thay đổi khi được Thiên Chúa biến đổi. Muốn được biến đổi, cần phải có ơn Chúa, cần nhờ đến quyền năng của Ngài và cần có sự kết hiệp với Ngài.

Khi được biến đổi, con người thường hay có xu hướng muốn ở lại trong vinh quang, trốn tránh sự thật, không muốn đối diện với thực tế cuộc sống. Khi cầu nguyện được ơn sốt sắng, con người thường hay có hoài bão được ở mãi trong hạnh phúc, lầm tưởng mình đã thánh thiện đủ, đã hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và sống cho một mình Ngài, nhưng khi trở về với cuộc sống thường nhật, đối diện với những thách đố của cuộc sống, con người lại trở về với bộ mặt thật của mình, đầy dẫy những yếu đuối, tội lỗi và tham vọng.

Thế nên, chúng ta cần phải thường xuyên gặp gỡ kết hiệp với Thiên Chúa, để kín múc tình yêu và sự thánh hóa của Ngài, khi đã được quyền năng và ân sủng Thiên Chúa biến đổi, con người có thêm sức mạnh và động lực mà đối diện với cuộc sống đầy khó khăn, thử thách. Một khi đã được ơn Chúa nâng đỡ, con người can đảm đối diện với thách đố của cuộc sống với lòng tin yêu vững vàng vào vinh quang Thiên Chúa.

Nhân loại thường hay mơ ước, được trở nên xinh đẹp, thông minh, tài giỏi. Nhìn vào những mẫu người là chuẩn mực cho cái đẹp, họ khao khát được giống với thần tượng của mình. Chính vì mục đích ấy, mà nhân loại không loại trừ bất cứ hình thức nào để có thể làm cho mình đẹp hơn, hấp dẫn hơn. Người ta có thể bỏ ra hàng triệu đô để đổi lấy sắc đẹp. Người ta cũng không hề ngần ngại cướp đi hạnh phúc, ngay cả mạng sống của người khác để đổi lấy tấm áo danh dự, địa vị, quyền lực… Nhưng chả mấy ai dám từ bỏ tất cả để được mặc tấm áo linh hồn tinh tuyền, thánh thiện.

Lời nhắn nhủ của Thiên Chúa Cha là một khẳng định nhắc nhở chúng ta phải tin nhận vào Đức Giêsu và vâng nghe lời Ngài dạy bảo. Tin vào Tin mừng là một trong những điều kiện để được ơn cứu độ. Vì Lời Chúa chính là chân lý, là ánh sáng, là linh dược chữa lành mọi vết thương tội lỗi. Thiên Chúa Cha đã tuyên bố ngôi vị của Đức Giêsu để cho nhân loại nghe biết và tin thờ. Sự kiện hiển dung hôm nay cũng chính là mặc khải của Thiên Chúa về mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi. Ngôi Cha, Ngôi Con và Chúa Thánh Thần, cùng kết hiệp mật thiết trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc.

Lạy Chúa, chứng kiến vinh quang của Ngài trên núi Tabor, ông Phêrô đã không kìm nổi sự khao khát được sống mãi trong hạnh phúc vinh quang của Ngài, để rồi xin được cắm lều ở lại. Hạnh phúc mà Thiên Chúa tỏ lộ cho các tông đồ cũng chính là hạnh phúc thiên đàng mai sau chúng con được diện kiến. Thế nhưng, đường lên núi xa và cao lắm, đường lên trời lại càng xa hơn. Chỉ khi nào con ở lại trong Chúa, chỉ khi nào có Ngài luôn hiện diện trong con, biến đổi con, thánh hóa con, lúc ấy con mới được diễm phúc hưởng nhờ ân phúc mai hậu. Xin giúp con luôn biết lắng nghe và vâng phục, xin giúp con biết thi hành ý Chúa, can đảm đánh đổi giá trị cuộc sống bằng giá trị thiêng liêng. Mặc cho thời gian, mặc cho sóng gió cuộc đời hay con người có làm con phai tàn, nhưng dung mạo tâm hồn con vẫn được nguyên vẹn, tinh tuyền như thuở ban đầu vì có tình yêu và bàn tay quyền năng Thiên Chúa biến đổi.

M. Hoàng Thị Thùy Trang.

Trải nghiệm kỳ lạ của một bác sỹ sau khi chết

Trải nghiệm kỳ lạ của một bác sỹ sau khi chết

03/01/2011

nguồn: tin 180.com

Trải nghiệm ở bên ngoài thân xác (OBE) và trải nghiệm cận tử (NDE) đã được biết đến từ lâu và vẫn bị tranh cãi, đơn giản bởi giới khoa học chủ lưu không tin là có linh hồn. Tuy nhiên, thật thú vị khi nghe một bác sỹ hàng đầu thế giới nói về trải nghiệm OBE và NDE của chính mình.

Giáo sư Bác sỹ George G. Ritchie (25/9/1923 – 29/10/2007) từng là chủ tịch của Học viện Trị liệu đa khoa Richmond, từng là trưởng khoa Tâm thần học của Bệnh viện Towers, người sáng lập và và chủ tịch Liên Đoàn Thanh niên Thế giới (Universal Youth Corps, inc) trong gần 20 năm. Năm 1967, ông làm bác sỹ tư ở Richmond, và vào năm 1983 ông chuyển đến Anniston, Alabama làm trưởng khoa Tâm thần học tại Trung tâm y tế khu vực Đông Bắc Alabama, Hoa Kỳ. Ông trở về Richmond vào năm 1986 để tiếp tục làm bác sỹ tư cho đến khi nghỉ ngơi vào năm 1992.

Vào tháng 12/1943, George Ritchie đã chết trong một bệnh viện quân đội ở tuổi 20 vì bệnh viêm phổi và đã được đưa vào nhà xác. Nhưng kỳ diệu thay, 9 phút sau ông sống trở lại, và kể về những điều đáng kinh ngạc mà ông đã chứng kiến khi trong trạng thái ở bên ngoài thân xác. Ritchie đã viết về Trải nghiệm cận tử (NDE) của ông trong cuốn sách Trở lại từ ngày mai, đồng tác giả với Elizabeth Sherrill, xuất bản lần đầu năm 1978. Cuốn sách đã được dịch sang 9 thứ tiếng khác nhau.


Trải nghiệm kỳ lạ của một bác sỹ sau khi chết - Tin180.com (Ảnh 2)

Bác sỹ George G. Ritchievà cuốn sách “Được lệnh trở về: Cuộc đời tôi sau khi chết”

Bác sĩ George Ritchie đã kể lại rất chi tiết những gì mà mình đã trải qua trong suốt khoảng thời gian ông chết.

Đó là đầu tháng 12/1943, khi Ritchie được chuyển tới một bệnh viện tại trại Barkeley, Texas, Hoa Kỳ để điều trị bệnh viêm phổi. Ông không biết là mình bệnh nặng tới mức nào. Ông luôn chỉ nghĩ tới việc bình phục cho mau mà lên xe lửa tới Richmond, Virginia để nhập học trường y trong chương trình đào tạo bác sỹ quân y của quân đội. Theo hẹn, vào lúc 4 giờ sáng ngày 20/12, xe quân đội sẽ đến đưa ông ra nhà ga để tới trường.

Trái với mong muốn của ông, bệnh tình của ông không thuyên giảm.

Vào đêm 19/12/1943, bệnh của Ritchie trở nặng. Ông bắt đầu sốt và ho liên tục. Ông lấy gối bịt miệng lại để đỡ làm ồn. 3 giờ sáng ngày 20, Ritchie cố gắng đứng dậy và thay quần áo đợi xe đến. Nhưng ông đã không thể làm được, và bất tỉnh sau đó.

“Khi tôi mở mắt ra, tôi thấy mình đang nằm trong một căn phòng mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Một ngọn lửa nhỏ cháy trong một ngọn đèn ở bên cạnh. Tôi nằm đó một lúc, cố gắng nhớ lại là mình đang ở đâu. Thình lình tôi ngồi bật dậy. Xe lửa! Mình trễ chuyến tàu mất!

Trải nghiệm kỳ lạ của một bác sỹ sau khi chết - Tin180.com (Ảnh 3)
(Ảnh minh họa)

Giờ đây tôi biết rằng những gì mình sắp mô tả sẽ nghe rất lạ thường… tất cả những gì tôi có thể làm là kể lại những sự kiện đêm đó đúng như chúng đã xảy ra. Tôi nhảy ra khỏi giường và tìm bộ đồng phục của tôi khắp phòng. Không có trên thành giường: tôi dừng lại, nhìn chằm chằm. Một người nào đó đang nằm trên cái giường mà tôi vừa mới rời khỏi.

Tôi bước lại gần gường trong ánh sáng lờ mờ, rồi lùi lại. Anh ta đã chết. Hàm răng khép hờ, làn da màu xám thật kinh khủng. Rồi tôi nhìn thấy chiếc nhẫn. Trên bàn tay trái của anh ta là chiếc nhẫn của hội sinh viên Phi Gamma Delta mà tôi đã đeo trong suốt hai năm qua.

Tôi chạy vào đại sảnh, mong muốn thoát khỏi căn phòng bí ẩn đó. Richmond, đó là điều quan trọng nhất – tới Richmond. Tôi bắt đầu xuống đại sảnh để ra cửa bên ngoài.

“Coi chừng!” Tôi hét lên với một người phục vụ trong bệnh viện mà đang rẽ quay sang chỗ tôi. Anh ta dường như không nghe thấy, và một giây sau anh ta đã đi ngang qua chỗ tôi đứng như thể tôi không có ở đó.

Thật lạ lùng. Tôi tới chỗ cánh cửa, đi xuyên qua và phát hiện ra là mình đang tiến về Richmond rất nhanh trong bóng tối bên ngoài. Đang chạy ư? Đang bay ư? Tôi chỉ biết rằng mặt đất tối tăm đang trượt qua trong khi những ý nghĩ khác chiếm lấy tâm trí tôi, những suy nghĩ đáng sợ và khó hiểu. Người phục vụ đã không nhìn thấy mình. Nếu mọi người tại trường y cũng không thể nhìn thấy mình thì sao?

Tôi thấy một con sông rộng, rồi thấy cây cầu dài bắc qua sông để vào một thành phố. Tôi thấy một tiệm giải khát, quán bia và một quán cà phê. Tại đây tôi đã gặp một vài người và hỏi họ tên đường và tên thành phố nhưng chẳng có ai thấy và đáp lời tôi cả. Tôi nhiều lần đập tay lên vai một người khi hỏi nhưng tay tôi như chạm vào khoảng không. Đó là một người có gương mặt tròn và cằm có sợi râu dài. Sau đó tôi đi đến bên một người thợ điện đang loay hoay quấn dây điện thoại vào một bánh xe lớn.

Vô cùng bối rối, tôi dừng lại bên một buồng điện thoại và đặt tay tôi lên sợi dây điện thoại. Ít ra thì sợi dây nằm đó, nhưng bàn tay tôi không thể chạm vào nó. Tôi nhận thấy một điều rõ ràng: tôi đã mất đi xác thân của mình, cái bàn tay mà có thể cầm được sợi dây kia, cái thân thể mà người ta nhìn thấy.

Tôi cũng bắt đầu hiểu ra rằng cái xác trên chiếc giường đó chính là của tôi, không thể hiểu sao lại tách ra khỏi tôi, và việc mà tôi phải làm là phải trở về nhập lại vào nó càng nhanh càng tốt.

Việc tìm đường quay lại khu căn cứ và bệnh viện không có gì khó khăn. Thực sự tôi hầu như trở lại đó ngay tức khắc khi tôi nghĩ đến nó. Nhưng căn phòng nhỏ mà tôi đã rời đi thì ở đâu? Thế là tôi bắt đầu một trong những cuộc tìm kiếm kỳ lạ nhất đời: cuộc tìm kiếm chính mình. Khi tôi chạy từ khu này sang khu khác, đi qua hết phòng này sang phòng khác lúc các bệnh binh đang ngủ – những người lính đều trạc tuổi tôi, tôi nhận ra rằng chúng ta lạ lẫm với chính khuôn mặt của mình như thế nào. Mấy lần tôi dừng lại bên một người mà tôi cứ ngỡ là mình. Nhưng chiếc nhẫn Hội sinh viên không có, và tôi lại vội tìm.

Cuối cùng tôi đi vào một gian phòng nhỏ với ánh sáng lờ mờ. Một tấm khăn trải đã được kéo phủ lên xác người trên giường, nhưng đôi cánh tay của người đó nằm dọc ở bên ngoài. Chiếc nhẫn tôi tìm nằm trên bàn tay trái của thân xác ấy.

Tôi đã cố kéo tấm vải ra nhưng không thể nắm được nó. Và lúc đó là lần đầu tiên tôi nghĩ điều mà đã xảy ra với mình, chính là cái mà nhân loại vẫn gọi là “cái chết”.

Trải nghiệm kỳ lạ của một bác sỹ sau khi chết - Tin180.com (Ảnh 4)

Trong thời khắc tuyệt vọng nhất ấy, căn phòng bỗng sáng rực rỡ, một thứ ánh sáng lạ lùng tôi chưa từng thấy bao giờ, và tôi như bị lôi cuốn theo nguồn ánh sáng ấy. Tôi đã trông thấy những quang cảnh mà từ khi sinh ra cho đến bây giờ tôi chưa bao giờ được thấy, những cảnh trí mà tôi nghĩ rằng chỉ có ở thế giới bên kia, và tôi không nhìn được rõ các sinh linh ở đó. Có vùng tối tăm u ám, có vùng lại chan hòa ánh sáng vô cùng tươi đẹp với các sinh linh trông như những thiên thần.

Sau đó đột ngột vầng sáng giảm dần, tôi muốn quay về. Trong phút chốc tôi lại thấy những căn phòng, những thân xác bất động trên giường. Tôi tiến tới chiếc giường của thân xác mình. Tôi như bị cuốn hút vào cái thân xác đó. Rồi, từ từ cử động các ngón tay, cuối cùng tôi mở mắt ra. Một lúc sau, một bác sĩ và cô y tá đã ở trước mắt tôi, nét mặt rạng rỡ. Vậy là tôi đã sống lại, đã thật sự hồi sinh…”

Thời đó, thuốc penicilline chưa được phát minh nên việc chữa trị bệnh sưng phổi vô cùng khó khăn, 90 phần trăm người bệnh khó thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Vào buổi sáng ngày 20/12/1943 các bác sĩ ở bệnh viện đã xác nhận rằng George Ritchie đã chết nên người ta chuyển xác ông đến nhà quàn. Tại đây một số thủ tục giấy tờ, giấy khai tử và thủ tục chuẩn bị đưa người chết vào quan tài đã được tiến hành, và người ta chuẩn bị thông báo đi các nơi rằng George Ritchie đã chết. Không ai có thể tưởng tượng được, Ritchie sống lại và mang theo câu chuyện diệu kỳ mà ông trải nghiệm trong giây phút trái tim đã ngừng đập, khi mà mọi dấu hiệu của sự sống không còn.

Những điều George Ritchie kể lại sau khi sống dậy đã làm các bác sĩ trong bệnh viện kinh ngạc. Điều kỳ lạ đáng lưu ý là những gì Ritchie đã kể và ghi chép lại trong tập nhật ký trong 9 phút chết đó về sau đều được chứng minh là có thực.

Một năm sau, Ritchie trở về trại Barkeley và được gởi sang Âu Châu để phục vụ tại một bệnh viện quân y. Trên đường xe đã chở Ritchie đi ngang qua thành phố mà một năm trước trong khi bị coi là đã chết, Ritchie đã tới. Tiệm bán bia, tiệm cà phê, cây cầu dài bắc qua sông, những con đường, những bảng hiệu, cả cái buồng điện thoại năm xưa… tất cả đều có thật trong thực tế. Đó là thành phố Vicksburg thuộc tiểu bang Mississipi, nơi mà chưa bao giờ George Ritchie đặt chân đến.

Trải nghiệm kỳ lạ của một bác sỹ sau khi chết - Tin180.com (Ảnh 7)

George Ritchie sau này trở thành Viện trưởng Viện tâm thần học ở Charlotsville, bang Virginia Hoa Kỳ, và suốt đời ông không thể nào quên rằng mình đã có lần chết đi sống lại, cũng như không thể nào quên các cảnh giới lạ lùng ở bên kia cửa tử.

Giáo sư Bác sỹ George G. Ritchie mất vào ngày 29/10/2007 tại nhà riêng ở Irvington, Virginia, Hoa Kỳ, hưởng thọ 84 tuổi.

“Cái chết chẳng qua là một ô cửa, là một cái gì đó mà bạn bước qua” – George Ritchie

Minh Trí
(tổng hợp)

Hành trình tha thứ cho người cha của một linh mục

Hành trình tha thứ cho người cha của một linh mục

Tác giả: Thu Linh

19/02/2013

nguồn:thanhlinh.net

Câu chuyện có thật về sự tha thứ tuyệt vời  (Amazing true story of forgiveness)

Vị linh mục do kết quả của cuộc hãm hiếp thuật lại hành trình tha thứ cho người cha

Vị linh mục quá khứ là thai nhi trong một cuộc hãm hiếp, khi mẹ ngài mới chỉ 13 tuổi đã chia sẻ câu chuyện về cuộc gặp gỡ, tha thứ và giải tội cho người cha của mình, người đang sống cuộc đời có đức tin.

Vào ngày 6/2/2013 trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại với thông tấn xã Công Giáo CNA, cha Leon, cha sở của họ đạo Thánh Giuse ở Loja nói rằng, mẹ ngài, bà Maria Eugenia Armijos Romero lúc ấy đang làm việc là người dọn dẹp phụ giúp cha mẹ của bà nuôi 8 người con. Người chủ căn nhà lợi dụng lúc bà làm việc một mình không có ai đã hãm hiếp bà và làm cho bà mang thai”.

Mẹ của ngài luôn bảo vệ mạng sống của ngài, mặc dù bà là thiếu nữ còn rất trẻ và đơn độc, không có sự giúp đỡ của gia đình. Gia đình cố gắng làm cho bị sẩy thai bằng cách cho bà uống thuốc tẩy thai và đấm thình thịch vào bụng bà. Cha Leon nói: “Bà cầu nguyện và cảm nhận rằng Chúa đang nói với bà trong trái tim rằng: hãy bảo vệ đứa bé ở trong con”.

Bà mẹ trẻ mang bầu đã bỏ nhà đi tới thành phố Cuenca, nơi đây bà tự kiếm sống. Ngày 10/10/1961, bà sinh ra cậu bé Luis Alfredo. Một thời gian ngắn sau, với sự giúp đỡ của cha đứa bé, bà trở về lại Loja với cuộc sống là một người mẹ độc thân. Rốt cuộc bà lại được chăm sóc bởi kẻ đã hãm hiếp bà – tức là người bố của linh mục Luis – người đã nhận ra tôi là con của ông và nói rằng ông sẽ chăm sóc cho tôi. Thế nhưng, không có nghĩa là mọi sự giữa họ đều lành mạnh, êm thắm cả.

Cha tiếp tục kể lại rằng, cha của ngài luôn tới thăm viếng nhà của mẹ con chúng tôi và chu toàn bổn phận đối với chúng tôi. Họ có thêm ba người con nữa và mối liên hệ của tôi với người cha tuy là xa cách nhưng vui vẻ. Tôi kính trọng ông nhiều. Ông dần dần tạo nên một cảm giác có uy quyền trong tôi. Ông cứng rắn với tôi và đưa tôi đi làm”.

Lúc 18 tuổi, ngài cảm thấy có ơn gọi làm linh mục và vào dòng tu, cho dù có sự chống đối của cha ngài. Ngài thụ phong linh mục vào năm 23 tuổi với sự cho phép đặc biệt của Đức Giám Mục. Hai năm sau, ngài tham gia tổ chức hình thành người Kitô giáo trưởng thành, và mẹ ngài tiết lộ cho ngài biết về sự ra đời của ngài. Bà đã chấm dứt liên hệ với cha của ngài và điều này đánh dấu sự khởi đầu cuộc hành trình hoà giải cho cả hai người. Cha Leon giúp mẹ của cha hiểu rằng bà không thể ghét người cha của ngài, và cần đáp ứng với nhu cầu của chính ông là được tha thứ.

Cha nói: “Chúa cho tôi là một linh mục không phải để xét đoán mà là tha thứ, là khí cụ của lòng thương xót Chúa, trong khi tôi đã xét đoán cha tôi rất nhiều”.
Nhiều năm sau, cha nhận được cú điện thoại của cha ngài, ông đang sắp sửa phải đi mổ và rất lo sợ. Ông xin con của mình giải tội cho ông và đã trở lại với đức tin của mình sau 30 năm bỏ lễ.

Tôi nói với ông: “Cha ơi, cha đáng được vào thiên đàng, hưởng sự sống đời đời”. Và ngay lúc ấy ông đã trào nước mắt ra.

Khi cha Leon giảng co các người phụ nữ mang thai đang gặp những khó khăn trong cuộc sống, ngài nhắc nhở họ rằng cũng như tiên tri Giêmêria, Chúa cũng tác tạo những trẻ thơ trong bụng người mẹ như vậy.

Cha khuyến khích các trẻ em học nhìn mọi sự theo cái nhìn của tình yêu Thiên Chúa một khi họ biết về câu chuyện đời sống của họ.
Cha nói: “Nếu bạn là một đứa bé hay một người mẹ độc thân, bạn hãy nhận ra cách mà Thiên Chúa, cha của chúng ta đã chăm sóc cho bạn trong đời sống của bạn”.

Thu Linh (dịch từ CNA)

Nên ăn đậu.

Nên ăn đậu.

BS Nguyễn Ý Đức


Hỏi

Tôi bị bệnh tiểu đường từ hơn 10 năm và mới đi khám bác sĩ gia đình về, và bà ấy có khuyên tôi là nên ăn nhiều các loại hạt đậu. Theo bà ấy thì đậu có nhiều chất đạm tốt và cũng giảm đường trong máu. Có đúng không bác sĩ. Xin bác sĩ giải thích dùm nhé. Ông Nghi- GA

Đáp

Đúng như bác sĩ của ông nói, đậu là một loại thực phẩm có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể, đặc biệt là bệnh nhân bị bệnh tiểu đường. Sau đây chúng tôi xin trình bầy cặn kẽ để bà và quý độc giả Trẻ hiểu rõ.

Đậu được trồng ở khắp nơi trên thế giới và có tới trên mười ngàn loại khác nhau. Tuy nhiên các bà nội trợ thường chỉ quen thuộc với một số ít các loại đậu như là đậu hà lan, đậu tây (cô ve), đậu đen, đậu đỏ, đậu pinto, đậu ngự, đậu nành…

Hạt đậu nằm trong vỏ dài mà khi chín khô sẽ nứt ra làm đôi. Theo các nhà khảo cổ thì đậu được trồng trước tiên ở các quốc gia Đông Nam Á châu từ cả chục ngàn năm về trước. Nhiều nơi, đậu được gieo giữa hai luống ngô, vì đậu có thể hấp thụ nitrogen từ không khí, tồn trữ dưới đất và làm đất giầu thêm chất này để giúp ngô tăng trưởng.

Giá trị dinh dưỡng
Hạt đậu là nguồn dinh dưỡng rất phong phú, ngon mà tương đối lại rẻ tiền.

Đậu nành cung cấp đủ các loại amino acid thiết yếu mà cơ thể cần. Đậu có nhiều calci, cho nên các vị tu hành, người ăn chay có thể sống lành mạnh chỉ với đậu hũ và các loại sản phẩm khác của đậu nành. Nói chung, đậu có lượng đạm chất cao hơn các các loại ngũ cốc khác từ hai đến năm lần.

Hạt đậu có nhiều sinh tố nhóm B, nhiều sắt, kali, rất nhiều chất xơ. Đa số hạt đậu đều có rất ít chất béo và năng lượng, ngoại trừ đậu nành và đậu phộng lại có nhiều chất béo tốt ở dạng chưa bão hòa.

Đậu có ít năng lượng nhưng chứa nhiều nước.

Một trăm gram đậu nấu chín cung cấp khoảng 100-130 Calori và 7 gram chất đạm, tương đương với số đạm trong 30 gram thịt động vật. Đậu nẩy mầm có nhiều đạm hơn đậu nguyên hạt. Khi ăn chung đậu với các loại hạt, đạm của đậu có phẩm chất tương đương với đạm động vật.

Người Bắc Mỹ và người châu Âu ít chú ý đến các loại đậu vì phải mất nhiều thời gian để nấu hoặc phải ngâm đậu trước khi nấu.

Để tiết kiệm thì giờ, dùng đậu chế biến nấu sẵn đựng trong hộp rất tiện lợi: chỉ cần đổ bớt nước mặn trong đậu hoặc rửa đậu cho bớt mặn rồi nấu.

Nhưng người Nam Mỹ và Á Châu xem các loại hạt đậu là một thành phần quan trọng của lương thực.

Ở Châu Mỹ La Tinh, từ Mễ Tây Cơ xuống đến Trung Mỹ, Nam Mỹ, đâu đâu cũng thấy có đậu đen và đậu đỏ (black and red beans) trong các bữa ăn.

Ở Ấn Độ, đậu lăng (lentil) được ăn trộn với gạo và rất phổ biến. Nhật Bản có loại đậu màu nâu gọi là azuki được ăn với cơm.

Ưu điểm của đậu
1. Đậu chứa một loại chất xơ gọi là pectin. Chất xơ này có khả năng hút nước và nở ra trong dạ dày khiến người ta có cảm giác no không thèm ăn. Nó cũng làm chậm tiến trình hấp thụ thực phẩm trong ruột, giúp bệnh nhân tiểu đường tránh được sự tăng gia quá mau đường huyết, và cơ thể khỏi phải tiết ra nhiều insulin.

Các loại đậu chứa nhiều pectin có thể giữ vai trò quan trọng trong sự làm giảm lượng cholesterol trong máu, còn tốt hơn cả loại cám yến mạch (oat bran).

Trong các loại đậu, đậu nành được xem là hữu hiệu nhất để giảm cholesterol và triglyceride trong máu.

Nghiên cứu ở Ý và Thụy Sĩ cho thấy là, bệnh nhân có cholesterol cao, mà ăn nhiều chất đạm từ đậu nành thay thế cho thịt cá, thì mức cholesterol của họ giảm xuống đến 31%. Kết quả này xem ra còn tốt hơn tác dụng của các loại thuốc giảm cholesterol đắt tiền bán trên thị trường.

Bác sĩ James Anderson thuộc Đại học Kentucky, khuyên bệnh nhân mỗi ngày ăn một cốc đậu pinto nấu chín để hạ cholesterol.

2. Cũng theo bác sĩ Anderson, ăn đậu thường xuyên giảm nhu cầu Insulin để chữa bệnh tiểu đường, vì đậu làm đường trong máu tăng lên rất chậm.

3. Gần đây các nhà khoa học lại mới tìm ra một tác dụng vô cùng bổ ích của các hạt đậu, đó là khả năng chống ung thư. Đậu có chứa chất acid phytic, một chất chống oxy hóa rất mạnh, có thể chận đứng tiến trình ung thư hóa của tế bào.

Ngoài ra, khảo cứu trên một số động vật trong phòng thí nghiệm cho thấy đậu, nhất là đậu “pea” và đậu lăng “lentil” có chứa chất ức chế protease là chất có khả năng phòng chống ung thư da, vú và gan ở động vật. Thử nghiệm ở người cũng thấy tác dụng tương tự về phòng chống ung thư vú và nhiếp hộ tuyến.

Chuyên gia về ung thư Anne Kennedy cho chuột ăn một hóa chất gây ung thư, nhưng khi chất ức chế protease được bôi vào miệng chuột thì ung thư không xẩy ra.

4. Đậu giúp đại tiện đều đặn, dễ dàng vì phẩn to hơn, mềm hơn, từ đó giảm thiểu được các nguy cơ ung thư ruột già và trực tràng. Đó là kết quả các nghiên cứu của Tiến sĩ Sharon Fleming, Đại học Berkeley, California.

5. Một khoa học gia Ấn Độ là SN. Sanyaldan nhận thấy dân số của người Tây Tạng không thay đổi trong suốt 200 năm. Thực phẩm chính của hột loại đậu. Sau nhiều năm tìm hiểu, ông ta thấy rằng đậu này có khả năng ngăn ngừa sinh đẻ nhờ hóa chất m-xylohydroquinone. Ông ta thử cho phụ nữ dùng chất này thì tỷ lệ sinh đẻ giảm hẳn, còn với nam giới thì chất này cũng làm cho số lượng tinh trùng giảm. Nhận xét này đang được nghiên cứu kiểm chứng thêm. Ngoài ra có lẽ tác dụng của nó không mạnh bằng các dược phẩm ngừa thụ tinh hiện có, nên ít ai để ý đến…

Coi vậy thì các loại đậu đều rất tốt cho cơ thể. Chúng tôi nghĩ là ông có thể làm theo như lời khuyên của vị bác sĩ gia đình. Nhưng cũng xin đừng quên dùng thuốc hạ đường huyết đều đặn và dành thời gian để vận động cơ thể mỗi ngày.

Chúc ông mọi sự bình an.

Bs NÝĐ

 

Cậu bé chờ thư

Cậu bé chờ thư

Những câu chuyện cảm động về cuộc sống

Hồi đó tôi làm giáo sư một trường trung học con trai. Một học sinh tên là Bob, trái hẳn với các bạn, không bao giờ nhận được một bức thư nào cả. Vậy mà buổi chiều nào em cũng mau chân nhất, chạy lại chỗ đặt các hộc riêng chăm chú ngó vào hộc của em cho tới khi thư phát hết rồi mới quay ra.
Không phải là gia đình em quên em đâu. Tiền ăn ở trong trường, tiền tiêu vặt của em vẫn gởi tới đều đều đúng hạn. Tháng sáu, ông Hiệu trưởng nhận được thư xin cho em đi nghỉ ở một trại hè. Thì ra viên thư ký của thân phụ em lãnh nhiệm vụ lo cho em tất cả những chi tiết dó.

Nhưng song thân em không ai viết cho em một bức thư nào cả. Khi em kể lể với tôi rằng ba má em đã ly thân nhau, tôi mới hiểu tất cả nguyên do. Và tội nghiệp em, em vẫn tiếp tục trông thư một cách tuyệt vọng. Tôi thường đem tình cảm sầu thảm của em ra nói với một ông bạn đồng nghiệp, ông Joe Hargrove. ông ấy bảo:
– Nếu em đó ít lâu nữa mà không nhận được bức thư nào cả thì đáng ngại cho em lắm, có thể tai hại.
Thế rồi một bạn học thân nhất của em, tên là Laurent nảy ra một sáng kiến. Laurent ở trong một gia đình hòa thuận, có hạnh phúc, tuần nào cũng nhận được nhiều bức thư của cha mẹ, cả của anh chị em nữa. Một hôm Bob rầu rĩ ngó xấp thư Laurent cấm trong tay. Laurent thấy vậy, bảo ngay:
– Bob, vô trong phòng tôi di, tôi đọc thư của má cho Bob nghe.
Một lát sau tôi thấy hai em ngồi sát nhau cùng bàn tán về bức thư đó. Chiều hôm sau tôi nhận thấy khi phát thư, Bob chẳng những ngó hộc của em mà còn ngó hộc của Laurent nữa. Bob hỏi bạn:
– Lại có thư của má anh nữa hả?
– Không, hôm nay là thư của chị tôi.
Rồi Bob hỏi một bạn khác:
– Anh có thư của má anh không?
– Có !
– Anh cho tôi đọc chung với nhé
? – Ừ! Để tôi đọc lớn tiếng lên nhé!
Từ hôm đó, Bob tha hồ đọc thư của bạn. Khắp tứ phía nhao nhao lên:
– Ê, Bob, hôm nay muốn đọc thư của má không?
Tụi con trai đôi khi có vẻ tàn nhẫn, không giữ ý gì cả, nhưng tuyệt nhiên tôi không thấy một em nào thốt một lời mỉa mai bóng gió hay chế giễu gì em Bob cả. Một hôm tôi kinh ngạc nghe em Bob tự do hỏi ngay Laurent:
– Hôm nay chúng mình có thư không? Như vậy có dễ thương không chứ! Nên thưởng cho các em nhiều kẹo, nhiều bi mới phải ! Laurent mỉm cười đáp liền, không hề do dự: – Có, hôm nay chúng mình có một bức. Chuyện đó làm cho ông Joe Hargrove quyết tâm hành động. Tôi thì tôi cho má em Bob là hạng người ra sao rồi. Nhưng ông Joe đã gặp bà ta nhiều lần, định làm liều xem sao.

Một hôm ông ta lại kiếm tôi, tay cầm sáu bức thư đánh máy và sáu bao thư đề địa chỉ của Bob, dán cò sẵn sàng. ông ta bảo:
– Coi này, tôi gởi cho bà Lennoux đây. Bà ta chỉ cần ký tên: “Má của con” rồi mỗi tuần bỏ một bức vào thùng thư. Tôi đọc những bức thư đó. Viết được lắm, ít bữa sau, Bob cũng lại ngong ngóng đợi ở chỗ đặt các hộc riêng, nhưng chú hết ý vào cái hộc của Laurent. Bỗng học sinh lãnh việc phát thư, la lên:
– Ê, Bob, mày có thư này ! Có thư này! Bob nhẹ nhàng đưa hai tay lên, cử chỉ y hệt một thiên thần đương cầu nguyện, để đỡ lấy bức thư. Em nói ,như thể vẫn chưa tin: – Ờ có tên tôi ngoài bao thư nè! Rồi em la lên:
– A ! Tôi cũng có thư! Tôi cũng có thư! Anh em ơi, có ai muốn đọc thư của tôi không? Những đứa khác cũng vui mừng, đồng thanh la lớn:
– Có ! Có ! Bob, đọc thư của bồ lên, đọc lên? Cuộc phát thư tức thì tạm ngưng lại. Chúng đunBob lên cho đứng trên một cái bàn rồi cả bọn vây chung quanh. Bob ngập ngừng đọc:
– Con cưng của má ! Rồi ngẩng lên nói:
– Tôi không đọc nhanh được ! Laurent bảo:
– Không sao, Bob! Cứ đọc chầm chậm, càng tốt. Đọc chậm mới hiểu rõ từng chữ chớ. Và Bob chậm chạp đọc bức thư đó, lời lẽ âu yếm như bức thư của bất kỳ bà mẹ nào gởi cho con. Tháng sáu, buổi phát phần thưởng, tôi thấy má em Bob lại dự.
Tôi không ngạc nhiên về điều đó vì, sau khi gởi hết mấy bức thư ông Joe viết sẵn cho rồi, bà ta đích thân viết cho con , quả là một phép màu ! Bob đã cho tôi coi bức thư bà báo trước sẽ tới dự buổi lễ. Phát phần thưởng xong, bà ta kéo tôi ra một chỗ, hỏi tôi: – Bà thấy thư tôi viết cho cháu được không?
– Được lắm! Bà ta nói tiếp giọng hơi ngập ngừng:
– Tôi nhờ bà nói về tôi cho cháu Bob nghe…
– Vợ chồng tôi đã hòa thuận với nhau hơn trước, và chúng tôi tính với nhau nghỉ hè này cho cháu về nhà, và… chúng tôi sẽ tìm cách hiểu cháu hơn.
– Xin bà yên tâm, tôi sẽ hết sức giúp bà.
Tôi có cần gì nói thêm rằng không có công việc nào làm cho tôi vui bằng công việc đó không?

Anh chị Thụ & Mai gởi

 

ĐẦU NĂM MỪNG TUỔI… “NHÓM TOBIA”

ĐẦU NĂM MỪNG TUỔI… “NHÓM TOBIA”

Tác giả: Lm. Lê Quang Uy, DCCT

nguồn:conggiaovitenam.net

Có lẽ công việc BVSS trước hết mọi mặt chính là đi nhặt xác thai nhi đem về lo tẩm liệm, chôn cất hoặc hỏa táng. Và nếu chọn mốc khởi sự là năm 1992, thì anh Tống Phước Hiếu cùng với người thân trong gia đình và các bạn sinh viên Huế sẽ được công nhận là thành viên “Nhóm Tobia” đầu tiên, đã tận tụy ân cần từng ngày vun đắp những nấm mộ thai nhi trên các quả đồi bỏ hoang của Giáo Xứ Ngọc Hồ, cố đô Huế. Từ đó đến nay đã 21 năm, 3 quả đồi trắng xóa những cây thập giá, có lẽ phải đến hàng mấy vạn anh hài.

Chúng tôi đóng ngoặc kép tên gọi “Nhóm Tobia” là vì không có hẳn một Nhóm nào mang tên Tobia, nhưng cứ hễ ở đâu khởi sự có chương trình BVSS, thì người ta có thể làm ngay khâu lo “hậu sự”, và như thế họ trở thành các hậu duệ của Thánh Tobia trong Cựu Ước.

Ngày xưa còn bé, trước 75, cuối tuần tôi thường được bố giao việc đi bộ từ Nhà Thờ Phanxicô Đakao ra Nhà Thờ Tân Định để nhận báo đem về phát cho từng nhà bổn đạo, khi băng ngang đường Hai Bà Trưng, nhìn sang phía bên phải thấy Trại Hòm Tobia, tôi cứ sờ sợ, ghê ghê thế nào ấy. Của đáng tội, những gì có hơi hướm sự chết, ai mà không hãi !?! Vậy mà không ngờ hơn bốn mươi năm sau, bản thân mình cũng liên quan đến “Nhóm Tobia”.

Có điều, ngày xưa Trại Hòm Tobia có câu slogan lừng danh “Sống một cái nhà, thác một cái hòm”, các thai nhi của chúng tôi bây giờ làm gì mà dám mơ có được hẳn một cái hòm ?!? Khi được các cộng tác viên “Nhóm Tobia” kín đáo mang ra khỏi bệnh viện hoặc phòng khám có dịch vụ phá thai, các bé nằm chung với nhau trong những túi nylon màu đen lõng bõng nước, từ đó đem về các Nhà Dòng hay Nhà Xứ, có khi là về một ngôi Chùa nữa.

Đến khi đem chôn thì các bé được đặt chung trong một cái bát hương, hay hũ sành, trám ximăng lại rồi táng vào hầm mộ, hoặc đào sâu xuống đất, nơi sẽ xây lên một nấm mộ bé xíu, quét vôi trắng, hoặc ốp đá đen, thường là mộ chung của 20 đến 30 em bé. Ở DCCT và một vài nơi khác giữa lòng các thành phố lớn, khi chọn giải pháp là thiêu, tro cốt các bé như nắm bột màu ngà ngà trắng, được gói lại, hàn kín trong những bao nylon trong, đặt gọn giữa lòng một viên gạch kích thước 15x15x25cm, mỗi viên gạch như thế là khoảng 100 cháu. Ở Sàigòn trước đây mỗi ngày chỉ 1 viên, bây giờ có khi phải là 2, 3 viên. Cứ thế, sau 10 năm, riêng Nhà Dòng chúng tôi đã nhặt về tính ra đã hơn 35 vạn cháu bé, vượt qua số lượng thai nhi được chôn cất sau hơn 20 năm ở Huế !

Để có được những Nghĩa Trang như thế, các Linh Mục nam nữ Tu Sĩ chúng tôi làm sao cho xuể từ A đến Z ? Rõ ràng phải có rất đông anh chị em Giáo Dân cộng tác gắn bó tin cậy suốt nhiều năm mà chúng tôi xin được gọi chung là “Nhóm Tobia”.

Trước hết phải kể đến các y bác sĩ, điều dưỡng, y công còn có lương tâm, tại các nơi có phá thai, họ dứt khoát không nhúng tay phạm tội ác phá thai nhưng cũng không đành lòng làm ngơ để xác các bé bị đem đi như rác thải y tế hoặc tệ hơn, bỏ tọt vào nhà cầu, giật nước ùm một cái là xong như người ta vẫn thản nhiên làm.

Tiếp theo, chỉ tính riêng với DCCT, là một đội ngũ khoảng 40 anh chị em, do tính cách công việc quá nhạy cảm, họ gần như hoạt động đơn lẻ độc lập, không quen không biết nhau, nhiều lắm là đi chung 2 người với nhau hoặc chia nhau luân phiên hai tư sáu – ba năm bảy. Họ hoàn toàn tự nguyện, lắm khi chúng tôi hỏi thăm, họ cũng khéo léo từ chối không cho biết tên, biết địa chỉ và nghề nghiệp. Có lẽ họ vừa muốn khiêm tốn âm thầm làm việc, lại vừa muốn tránh mọi sự dòm ngó đồn thổi. Suốt buổi sáng cho đến tối khuya, dù mưa gió, áp thấp nhiệt đới, rớt bão tràn về thành phố, bất cứ lúc nào có em bé bị giết, họ lại có mặt để nhận xác và đem về nơi Góc Thương Xót, cuối hành lang dãy Nhà Hiệp Nhất ở DCCT chúng tôi. Họ hiểu, chỉ một sơ sảy trễ hẹn hay bỏ phiên, các em bé có thể bị vứt đi không thương tiếc, làm mồi cho chuột, chó, mèo, ruồi nhặng…

Kế đó, vào lúc 21g30 hằng đêm, khi cái vại lớn ở chỗ chúng tôi đã đầy ngập những túi nylon đen, ít gì cũng cả trăm xác, mà lắm hôm gặp đợt cao điểm phá thai, tổng cộng phải đến 10Kg xác em bé, đến phiên các bạn Nhóm Fiat ( gần đây có thêm Nhóm Amen là c1svien gốc Tân Hà, Bảo Lộc ), từng hai bạn trẻ làm thành một ca, gói ghém kỹ lưỡng tất cả trong 2, 3 lớp bao nylon to và dầy, túm lại, buộc chặt, thắp một nén nhang, đứng im cầu nguyện trong mấy phút trước tượng Đức Mẹ và ảnh Lòng Chúa Thương Xót, rồi rời Góc Thương Xót mang tất cả đi một đoạn đường khoảng 10 cây số đến một ngôi Nhà Nguyện nhỏ bé xa xôi ở ngoại thành.

Cuối cùng, tại điểm lo hậu sự, một thầy trợ sĩ DCCT sẽ cùng các bạn trẻ trong “Nhóm Tobia” riêng của thầy, đón lấy, đưa các bé ra khỏi các túi nylon, trộn với vôi bột, lại cầu nguyện, rồi bắt đầu đặt vào lò thiêu bằng gaz thật an toàn, gọn nhẹ, không gây ô nhiễm. Mấy tiếng đồng hồ sau, nhiệt độ giảm dần, tro cốt các cháu từ nay sẽ yên nghỉ trong từng viên gạch lớn ghi rõ trên nắp bên ngoài: RIP ( Requiescat in Pacem ) xây thành 3 bức tường lớn hình chữ U của Nghĩa Trang Anh Hài.

Như vậy đó, với 4 khâu lần lượt nối tiếp nhau của “Nhóm Tobia”, những linh hồn bé bỏng bị con người từ khước được về bên Chúa, còn thân xác tý hon thì được chăm sóc chu đáo. Công việc lầm lũi âm thầm, không lương bổng, không bồi dưỡng nhưng lại đòi hỏi một tinh thần trách nhiệm rất cao, giàu tình thương và lòng trung tín, không được để thất hẹn, cho dẫu phải phóng xe gắn máy đêm hôm về tận Bình Dương, Biên Hòa, Tây Ninh, Mỹ Tho rồi trở lại Sàigòn…

Hôm 28 Tết vừa qua, lúc 8g30 sáng, một cú phone bất ngờ từ Hóc Môn, cách Nhà Dòng chúng tôi khoảng 12 cây số: “Cha ơi, đến 10g30, cha gửi một bạn về nhận một thai nhi nhé, mẹ bé bây giờ đang nằm chờ trong phòng chuẩn bị rồi…” Các bạn gốc Sàigòn thì đang còn phải đi làm những ngày cuối năm, các bạn khác trong “Nhóm Tobia” thì đã về quê ăn Tết, tôi đang lo có khi chính mình phải lên đường, thì một bạn trẻ đang ngồi cộng sổ sách Quỹ Người Nghèo nghe tin đã nhận lời ngay: “Bố để con đi cho… Nhưng… khu vực ấy con không rành đường…” Cuối cùng bạn trẻ ấy cũng đã lên đường và mang về một bào thai đã 4 tháng tuổi còn ấm nóng đúng giữa trưa.

Tôi gọi phone hỏi cộng tác viên các nơi: “Tết nhất có phá thai không nhỉ ?” Họ trả lời: “Có chứ cha, cứ trả tiền cao là người ta làm tất ! Cha chuẩn bị tinh thần nhé…” Vâng, chúng tôi đã luôn chuẩn bị tinh thần, nhưng vẫn có một nỗi xót xa, buồn đến rũ người…

Còn nhớ, trước khi có các bạn Fiat tình nguyện, suốt trong 6, 7 năm liền, khâu thu gom xác thai nhi đưa đi thiêu này do gia đình bác MH. đảm nhận. Vợ chồng, các con trai con gái chia phiên nhau trong tuần, đến cả cô con dâu trong những ngày đang mang thai sắp sinh cũng luôn sẵn sàng. Vậy mà có lần cô con gái Út đang cặm cụi chở xe Honda một bọc to xác các thai nhi, dọc đường gặp một ông thầy tu trẻ, ông cười cợt mỉa mai: “Sao em ngu thế ? Người ta ăn ốc, em lại phải đi đổ vỏ à ?”

Vâng, tại sao lại có những con người, hầu hết là các bạn trẻ, lại tình nguyện làm cái chuyện ngược đời và có vẻ tào lao vớ vẩn như thế ? Nhiều Linh Mục cũng thường chất vấn chúng tôi theo cái kiểu châm biếm giễu cợt: “Sao các ông không chịu lo ngăn ngừa ngay từ cái gốc, mà cứ toàn lo giải quyết chuyện cái ngọn như thế, chẳng ra đâu vào đâu, vô ích !” Chúng tôi bực bội lắm nhưng rồi cũng đành nhịn, có cãi, có phân bua cũng bằng thừa, người ta không hề chú ý xem chương trình BVSS còn nhiều mặt hoạt động khác chứ đâu chỉ có khâu hậu sự chôn cất ! Những dư luận như thế thường chỉ có vậy, rồi thôi, chẳng thấy ai cùng lên tiếng, chẳng thấy ai bắt tay vào việc để cùng chúng tôi lo cái gốc rễ của vấn nạn nạo phá thai…

Ngẫm nghĩ thấy cái thân phận làm Tobia là như thế…

Đọc lại chuyện ông Tôbia trong Cựu Ước thì thấy được an ủi khích lệ rất nhiều. Cha con Tôbít – Tôbia quả thật là người hiền lành dễ thương chứ không đành hanh bần tiện, giàu lòng nhân ái chứ không vô cảm, luôn sẵn sàng giúp người nghèo đói khốn quẫn. Lại thấy xác những người bị vua giết hại quăng ra ngoài thành, không nỡ để cho thú dữ xé thịt, cha con ông lại đi đào huyệt chôn cất đàng hoàng tử tế. Vua biết được thì tức giận cho lùng bắt trị tội, ông Tôbit đã phải bỏ trốn biệt tích, gia sản bị sung công tất cả, trừ bà vợ là Anna và con trai là Tôbia.

Rồi mãi đến khi vua ấy bị giết chết, vua khác lên ngôi, ông Tôbít mới được tha về, vậy mà hai cha con vẫn cứ liều mình đi chôn cất những xác chết oan khiên đầu đường xó chợ. Láng giềng chế nhạo và mắng rằng: “Hắn vẫn còn chưa sợ ! Người ta truy nã để giết hắn về tội ấy và hắn đã phải trốn đi, thế mà hắn lại vẫn cứ đi chôn cất người chết !” ( Tb 2, 7 ).

Sau này, khi Tôbia cưới được vợ phương xa là Sara và mang thuốc quý trở về chữa bệnh mù cho cha, thiên thần Raphaen mới bảo với cha con Tôbia: “Chính tôi đã tiến dâng những lời cầu nguyện lên trước nhan vinh hiển của Đức Chúa, để xin Chúa nhớ đến hai người; tôi cũng làm như vậy khi ông chôn cất người chết. Và khi ông không ngại trỗi dậy, bỏ dỡ bữa ăn để đi chôn cất người chết, bấy giờ tôi được sai đến bên ông để thử thách ông và chữa lành cho ông…” ( Tb 12, 12 ).

Cựu Ước ghi lại câu chuyện thật có hậu. Trải qua bao thăng trầm, vui buồn, hạnh phúc và khốn khổ, ông Tôbít sống thọ đến 112 tuổi trong bình an. Còn Tôbia còn thọ hơn cha, đến 117 tuổi mới ra đi trong hạnh phúc. Có cái gì đó là lẽ nhân – quả trong cuộc đời cha con ông Tôbia hay đó là phần gia nghiệp Thiên Chúa ban tặng cho những ai sống công chính và có tấm lòng xót thương người ?

Trước mắt, chúng tôi viết bài này không nhắm đến chuyện phô trương, kể lể công khó thay cho các anh chị em “Nhóm Tobia” gần xa khắp nơi trên quê Việt, nhưng thật sự chỉ muốn “mừng tuổi” họ đúng vào ngày đầu năm mới.

Vâng, hôm nay họ đang cặm cụi đi “đổ vỏ” trong khi người đời tiếp tục ngang nhiên “ăn ốc”, họ vẫn nhẫn nại chôn cất các thai nhi đáng thương hằng ngày. Trong thinh lặng âm thầm của Sự Chết vẫn có vạn điều lên tiếng nói cho Sự Sống, cho Lương Tri, “Nhóm Tôbia” vẫn đang ở đầu sóng ngọn gió của phong trào BVSS. Họ vẫn đang chỉ ra cho mọi người thấy một đất nước ngỡ là đã hòa bình nhưng hằng năm vẫn có đến 3 triệu em bé phải chết, một quê hương có quá nhiều nghĩa địa và những rừng cây thập giá…

Mừng tuổi “Nhóm Tôbia” thế nào đây ? Chúng tôi tin, chẳng phải đợi đến cuối đời, ngay từ bây giờ anh chị em cũng đã được hưởng ân phúc trong Bình An thật sự của Thiên Chúa không thua gì cha con ông Tôbia ngày xưa…

“Phúc thay ai biết xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” ( Mt 5, 7 ).

Lm. QUANG UY, DCCT,

Mùng Một Tết, Chúa Nhật 10.2.2013 (Ephata 548)

Thuyết sáng tạo và thuyết tiến hóa

Thuyết sáng tạo và thuyết tiến hóa

Chu Tất Tiến. M.S.P.

Đăng bởi lúc 2:07 Sáng 20/02/13

nguồn:chuacuuthe.com

VRNs (20.02.2013) – California, USA – Một yếu tố rất quan trọng trong vấn đề tranh luận giữa Thuyết Tiến Hóa (Theory of Evolution) và Thuyết Sáng Tạo (Theory of Creation) mà đa số những tranh luận viên đều cố tình quên hoặc không để ý, đó là chữ “Thuyết” (Theory). Cả hai đều là “Thuyết”, không phải là những định luật (law) khoa học.

Tuy nhiên, vì Thuyết Tiến Hóa là một hệ thống suy đoán, lý luận được xây dựng dựa theo những quan sát công phu một số sự kiện và sự thu thập những mẫu vật có số tuổi lên đến hàng triệu năm nên những người có trình độ nhận thức khoa học của thế kỷ 19 và giữa thế kỷ 20 thấy khâm phục rồi tin rằng đó chính là những sự kiện khoa học (scientific facts). Trong khi ấy, những người theo Thuyết Sáng Tạo lại không thể chứng minh được sự hiện hữu của Thiên Chúa bằng những dữ kiện khoa học, mà chỉ chứng minh bằng những di cảo, những cổ văn, cổ ngữ có từ khi loài người mới văn minh, biết ghi chép trên các loại giấy cổ mà họ gọi là Cựu Ước hay Tân Ước, cùng với những sự kiện, tuy có thực, nhưng mang tính huyền bí, “phép lạ”, khó dẫn chứng được mắt xích khoa học liên hệ từ chuyện nọ đến chuyện kia. Hơn nữa, các cổ văn, cổ thư đã được viết từ ngàn năm trước, khi mà trình độ suy luận, diễn giải của người thời đó hoàn toàn khác với phương cách suy luận, diễn giải của người thời nay, nên khi đọc các cổ văn, cổ thư đó, nếu không tìm hiểu trước về cách diễn giải của người thời xưa, thì nhất định sẽ hiểu lầm tai hại.

Thí dụ như khi nói về sự Sáng Thế, nhiều người đời nay còn tin rằng Thiên Chủa đã tạo ra vũ trụ chỉ trong Bẩy (7) ngày theo Dương Lịch! Những kẻ chế nhạo đạo Công Giáo thường mang vấn đề “sáng thế trong 7 ngày” ra mà cười cợt. Họ đều quên một yếu tố quan trọng là cuốn lịch hiện tại với ngày tháng năm mà chúng ta đang xử dụng hôm nay chỉ mới được thống nhất từ ngày 24 tháng 2 năm 1582, thế kỷ thứ 16, do Giáo Hoàng Công Giáo là Pope Gregory 13 ban hành!

Trong khi đó, cổ thư Do Thái lại được viết trước đó cả chục thế kỷ! Thời gian của một “Ngày” trong cổ thư có thể dài hay ngắn hơn thời gian của “Ngày” của người hiện tại nhiều phút giây. Hơn nữa, cho dù có chấp nhận sự đo đạc thời gian “ngày” của hôm nay chính xác bằng với thời gian “ngày” trong cổ thư, cũng lại hoàn toàn sai lạc với ý định của người viết Sáng Thế Ký nếu diễn giải sách Sáng Thế hoàn toàn theo nghĩa đen.

Thứ nhất, không có Con Người nào có mặt lúc sáng tạo vũ trụ cả, làm sao mà biết được ngày nào và bao nhiêu thời gian mà Thiên Chúa đã tạo ra Trời và Đất? Thứ hai, theo lịch sử văn học của người Do Thái, những người viết cổ sử thời đó không viết theo thứ tự thời gian (Chronological order) mà thường tập hợp những điều giống nhau rồi cho vào một mục. Do đó, mới có một ngày cho “Ánh Sáng và Bóng Tối”, một ngày cho “Nước và Trời”, rồi “Đất và Biển”, “Ngày và Đêm, Mặt Trời và các ngôi sao”, rồi một ngày cho chim muông, và một ngày cho Con Người…

Ngay trong ẩn dụ “ngày và đêm” đó, thì mãi đến “ngày” thứ Ba (?) mới có “ngày và đêm”, vậy hai “ngày” trước không thể biết được là bao lâu!  Vì thế, nếu không tìm hiểu phương pháp ghi chép có tính “ghép loại” như thế, những người chỉ trích Thuyết Sáng Tạo là “tưởng tượng, hão huyền, không hợp lý, không khoa học” và rồi dựa theo đó mà tấn công Thiên Chúa Giáo một cách ấu trĩ thì lại chính là những người không có một chút ý niệm gì về khoa học cả! Trong khi đó, những người tin theo Thuyết Sáng Tạo lại không chú tâm vào việc giải thích những điều trên mà chỉ nói rằng đó là do sự “Mặc Khải của Thiên Chúa”, một ngôn ngữ còn khó hiểu hơn chuyện “Bẩy ngày đêm” nữa, nên càng làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn và tạo cớ cho những kẻ vô thần nhạo báng tôn giáo.

1. Thuyết Sáng Tạo và Khoa học

Thực tế, Thuyết Tiến Hóa dễ thuyết phục được nhiều loại người của thế kỷ 19 và giữa thế ký 20: những người tin theo  khoa học thực nghiệm một cách tuyệt đối và từ chối chấp nhận tất cả những gì mà khoa học không chứng minh được và những người, tuy hiểu rằng Thuyết Sáng tạo cũng có những điểm hữu lý,  nhưng vì mục tiêu cá nhân nào đó mà cứ cố gắng chống đối thuyết này cho đến cùng; trên hết là một số khoa học gia làm khoa học trong một phương diện chuyên môn nào đó nhưng chưa tới trình độ có thể cảm ứng được toàn bộ các ngành khoa học khác.   Vonn Braun, khoa học gia về hỏa tiễn, cha đẻ của hỏa tiển V2, kỹ sư không gian, kiến trúc sư không gian lừng danh thế giới, người mà trí não lúc nào cũng đầy những phương trình và các con số, đã nói:

“Khoa học và tôn giáo không phải đối nghịch nhau. Ngược lại, chúng là chị em với nhau. Trong khi khoa học cố học hỏi nhiều hơn về Sự Sáng Tạo (Creation), tôn giáo cố gắng hiểu nhiều hơn về Đấng Sáng Thế. Trong khi khoa học gia cố gắng thắng bớt những lực của thiên nhiên chung quanh ông ta, thì qua tôn giáo, ông ta lại cố gắng để thắng bớt lực thiên nhiên trong chính ông ta.” Ông còn khẳng định một cách rõ ràng: “Những kinh nghiệm với khoa học của tôi đã dẫn tôi tới Chúa. Chúng thách đố khoa học chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nhưng liệu chúng ta có phải thực sự đốt lên một ngọn nến đế ngắm nhìn mặt trời không?” (http://en.wikipedia.org/wiki/Wernher_von_Braun#Personal_life).

Ý tưởng này của Vonn Braun cũng tương tự như ý tưởng của Pascal, nhà thiên tài toán học, triết gia, nhà vật lý, người phát minh ra chiếc máy tính đầu tiên của nhân loại vào thế kỷ 17, đã nói: “Khoa học nông cạn làm cho người ta xa Thiên Chúa, khoa học cao siêu làm cho người ta gần Thiên Chúa.”

Gần đây, các nhóm chuyên tấn công Công Giáo đã thường trích dẫn những lý luận của Stephan Hawking, người bênh vực Thuyết Tiến Hóa và chống lại Thuyết Sáng Tạo, như những lý luận xác thực và mạnh mẽ nhất của Khoa học đã “đánh đổ” được Thuyết Sáng Tạo. Thực tế, “Stephan Hawking của đại học Cambridge, cũng phải công nhận ý nghĩa tôn giáo của các định luật vật lý. Trong tác phẩm nổi tiếng “Stephen Hawking’s Universe”, ông đã tuyên bố “Tỷ lệ nghịch với khả năng thế giới vật chất hiện nay ra từ một vụ nổ lớn chỉ bởi tình cờ thật là khổng lồ. Tôi nghĩ chắc phải có nguyên nhân sâu xa có tính cách tôn giáo.” (Trích bài “Sáng Tạo vs Tiến Hóa” của Tiến Sĩ Nguyễn Lê Ân Điển, 2003)

2. Thuyết Tiến Hóa và Sự Ngẫu Nhiên

Thực tế nữa, là trong thế kỷ 21, cùng lúc với các khám phá, phát minh có thể nói là “phép lạ” của các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau như Sinh Vật Học, Vật Lý, Toán Học, Khoa Học Hữu Cơ, Khoa Học Thực Nghiệm, Y Khoa…người ta càng thấy rõ có một sự “thiết kế cực kỳ thông minh” trong tất cả mọi vấn đề. Các nhà khoa học đã không thể chấp nhận Thuyết Tiến Hóa là thuyết chủ trương “mọi sinh vật, mọi loài trong vũ trụ đều xuất phát từ 1 tế bào đơn độc một cách ngẫu nhiên.” Người ta hòa toàn bác bỏ lý thuyết cho rằng 1 đơn bào có thể “tự biên, tự diễn” biến thành một khoa học gia, triết gia, các kỹ sư, bác sĩ, giáo sư, kiến trúc sư.. với những công trình khổng lồ, phức tạp hàng tỷ tỷ lần sự chuyển động của một chiếc đồng hồ tối tân. Tiến sĩ Jonathan Sarfati chế nhạo, “Làm sao mà một tế bào đơn giản mà ngẫu nhiên lại trở thành một Tiến Sĩ được?” (Jonathan Sarfati, Refuing Evoluion, 1999).

Sở dĩ vẩn còn một số các nhà khoa học vẫn duy trì quan niệm bảo vệ Thuyết Tiến Hóa, không phải vì Thuyết Tiến Hóa đúng mà vì các khoa học gia đó “chống” lại thuyết đối lập của Thuyết Tiến Hóa là Thuyết Sáng Tạo mà họ cho là không có cơ sở. Nhà Sinh Vật Học theo thuyết Tiến Hóa Richard Dickerson dẫn giải: “Khoa học, căn bản, chỉ là một trò chơi. Đó là một trò chơi với một luật bao trùm và được định nghĩa như sau: Luật số 1: Hãy để chúng ta tìm kiếm xem xa bao nhiêu và với sự nối dài nào mà chúng ta có thể giải thích được tính chất của vật lý và cái vũ trụ vật chất này thuần túy bằng những danh từ và nguyên nhân vật lý, mà không có sự can thiệp của một lực siêu nhiên nào” (R.E. Dickerson, J.Molecular Evolution, 1992).

Những vị này thật sự là ngoan cố. Họ không chấp nhận thuyết Thiết Kế Thông Minh hay Thuyết Sáng Tạo chỉ vì họ không muốn chấp nhận là họ thua trong những vấn đề mà họ không thể có khả năng giải thích được. Để “đánh đổ” các lý luận của Thuyết Tiến Hóa, triết gia C.S.Lewis viết: “Nếu cả hệ mặt trời được tạo ra bởi một va chạm ngẫu nhiên trong một tai nạn, thì sự hiện hữu của một đơn bào trên trái đất này cũng là tai nạn ngẫu nhiên, rồi cả sự tiến hóa của Loài Người cũng là một tai nạn ngẫu nhiên. Nếu thế, thì các tư tưởng của chúng ta cũng là thuần túy do ngẫu nhiên, những sản phẩm có tính cách ngẫu nhiên của sự di chuyển của các nguyên tử vật lý. Lý thuyết tai nạn ngẫu nhiên này cũng áp dụng cho các nhà vật chất học và các nhà thiên văn học cùng mọi người khác. Nhưng nếu tư tưởng của các nhà Vật Chất học và các nhà Thiên văn Học đều là các sản phẩm tạo ra từ các tai nạn ngẫu nhiên, làm sao chúng ta có thể tin tưởng họ là đúng được? Tôi không tìm thấy lý do nào để tin rằng một tai nạn ngẫu nhiên có thể cho ra những nguyên nhân đứng đắn cho mọi tai nạn ngẫu nhiên khác.” (C.S.Lewis, God in the Dock, 1970)

Chúng ta, ai có học qua khoa học, đều biết rằng các chuyển động của các nguyên tử, phân tử của vật chất đều theo một định luật, quy tắc nhất định, bất di bất dịch. Cấu tạo cũng như chuyển động của các nguyên tử của sắt, của đồng, của kẽm, của nước.. hoàn toàn khác nhau. Vì bắt được quy luật của các nguyên tử như thế, mà Einstein mới tìm ra được định luật E=mc2. Dựa vào phương trình bất di bất dịch này mà những khoa học gia kế tiếp mới làm ra bom nguyên tử! Nếu tất cả vật chất đều được tạo thành do sự ngẫu nhiên, thì .. còn khuya mới có bom nguyên tử! Cũng thế, các quy luật toán học, khoa học khác đều bất di bất dịch. Như theo định luật bảo toàn năng lượng, không một vật chất nào biến mất, chúng chỉ thay đổi đặc tính. Nước (H20) khi bị đun sôi thì thành hơi nước. Nước ở biển, sông bị sức nóng làm cho bốc hơi lên trời, gặp lạnh, đọng lại thành mưa, mưa làm cho sông, biển dâng lên, gặp hơi nóng mặt trời, lại bốc hơi.. Quy trình này diễn tiến từ hàng tỷ năm trước đến tỷ năm sau vẫn không thay đổi. Nếu tất cả quy trình chuyển hóa của vật chất mà theo sự ngẫu nhiên, tùy hứng, thì có lẽ địa cầu này bị triệt tiêu thành lỗ đen từ khuya, vì có lúc mà hơi nước biến thành mây, mưa, có lúc lại biến thành đất, đá, rơi xuống lỗ đầu thiên hạ! Có lúc cấu tạo của nguyên tử sắt thay đổi theo hứng, đột nhiên cục sắt biến thành kim cương cho thiên hạ lóa mắt chơi, lúc khác lại trở thành nhão nhẹt… Có lúc cơm, thịt, cá sau khi tiêu hóa thành phân thải ra ngoài, lúc khác nổi hứng ngẫu nhiên trở ngược lên miệng, thì Ô hô, ai tai!….

Cũng thế, với con người, sự phối hợp và phát triển các “genes” của cha và mẹ đều phải tuân theo một định luật nhất định, mới ra được một đứa con lành lặn, giống cha hoặc giống mẹ, hoặc giống ông, bà, chú, dì, cô, cậu…Theo Mendel, người vẽ ra một quy trình lai giống, và cũng là người tin theo thuyết Sáng Tạo, cho biết rằng sự nhân giống của con người cũng như của hạt đậu, đều tuân theo một quy luật rõ ràng, cho dù khuôn mặt, thân thể, tính tình của đứa con có khác cha và mẹ. Và, quy luật ấy là của Thiên Chúa ấn định! Nếu có “genes” nào của một cá nhân hay của một hột đậu nào mà bất tuân thượng lệnh, để phát triển một cách ngẫu nhiên, thì cá nhân ấy, hột đậu ấy phải giã từ thế giới này mà đi sang thế giới khác với căn bệnh mà người ta gọi là … Ung Thư (với con người), Ung Thối (với đậu)!

Nên nhớ rằng, mỗi đứa con ra đời chỉ mang theo một nửa “information” của “genes” cha hoặc mẹ. Thì dụ, như người cha có máu O, người mẹ có máu AB (nghĩa là có cả các đôi nhiễm sắc thể (chromosomes) A và B, thì đứa nhỏ sẽ có những đôi nhiễm sắc thể hoặc là AO hoặc BO, chứ không thể có AB. Đó là quy luật! Chẳng may mà đứa nhỏ có những đôi nhiễm sắc thể mà khang khác một tí, thì đời đứa bé coi như đi đong! Làm sao mà thuyết Ngẫu Nhiên có thể thực hiện được trên vật chất và con người được?

Như vậy, Thuyết Tiến Hóa, thật ra, chỉ là một sự giả thiết mang tính võ đoán khá cao.

Thuyết Tiến Hóa tin rằng ngẫu nhiên mà đơn bào thành đa bào, ngẫu nhiên mà cá bò lên cạn, ngẩu nhiên mà bốn cái vây cá biến thành bốn cái chân, rồi ngẫu nhiên giống ở dưới nước biến thành giống ở trên bờ, ngẫu nhiên cá biến thành khỉ, ngẫu nhiên khỉ biến thành người… Nghe huyễn hoặc còn hơn truyện Tề Thiên Đại Thánh vậy!

“Chỉ có một phương pháp làm cho chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào những điều xẩy ra trong quá khứ xa lắc xa lơ là nếu chúng ta có được các nhân chứng. Nhưng với Thuyêt Tiến Hóa thì hoàn toàn không có các nhân chứng nào cả. Những ý tưởng của họ thì hoàn toàn được lấy ra từ những suy đoán!” (Jonathan Sarfati, trang 29, sách đã dẫn).

3. Thuyết Tiến Hóa và Sự Phản Kháng để sinh tồn

Duy nhất chỉ có một điều mà Thuyết Tiến Hóa có vẻ đúng khi nói về sự phản kháng để sinh tồn. Chúng ta đều biết là từ khi phát minh ra Penicilline, thì đa số các vi trùng đều bị môn thuốc này giết chết, đa số các bệnh do vi trùng đều được điều trị bằng Penicilline. Nhưng với thời gian, vì con người lạm dụng Penicilline, nên vi trùng bắt đầu phản kháng lại và một số trở thành trơ trước loại thuốc trụ sinh này. Từ những “dose” nhỏ, người bệnh sau này phải dùng “dose” lớn và mạnh hơn. Vi Trùng đã tiến hóa để sinh tồn theo suy đoán của Darwin trong “sư lựa chọn của thiên nhiên” (Natural Selection)! Vì sự tiến hóa đó, mà con người phải chạy theo để tìm ra thuốc mới mạnh hơn và hiệu quả hơn. Thế kỷ này mà nghe nói đến dùng Penicilline hay Sulfamide (kháng sinh) để trị bệnh nhiềm trùng thì thật là cổ lỗ sĩ!

Nhưng có thật có thuyết tiến hóa để sinh tồn với vi trùng không? Thực tế, không hẳn như thế. Vi trùng có khuynh hướng tiết ra chất “penicilinase” để tiêu diệt “peniciline”. Vì con người dùng “Peniciline” tràn ngập, cho nên vi trùng cũng biến thái (mutation) tiết ra chất “penicilinase” tràn ngập để chống lại. Điều này làm cho vi trùng có khả năng biến thành “trơ” trước “peniciline” mà thôi.

Thuyết tiến hóa ngẫu nhiên để sinh tồn, do vậy, bị loại bỏ ở trường hợp này. Ngoài ra, thuyết tiến hóa cũng không giải thích được hiện tượng có nhiều chủng loại vi khuẩn mới với những “genetic information” mới, hoàn toàn không có liên hệ gì với các chủng loại cũ mà người ta đã khám phá thấy được.

Điều nực cười và đơn giản nhất mà người ta ít chú ý đến là đa số những mẫu vật mà Darwin thu thập được đều ở vùng Phi Châu và một số nước Á Châu, không thấy nhiều ở Châu Âu (Bắc Âu, Đông Âu), Bắc Mỹ và nhiều miền khác. Như vậy, thì sự tiến hóa của các sinh vật và động vật gồm loài người và các loại thú ở các miền khác ra sao?

Có theo đúng quy luật của sự “tự nhiên chọn lựa” của Darwin không?

4. Thuyết Tiến Hóa và sự Thoái Hóa

Khi nói đến sự Tiến Hóa của các sinh vật, Darwin không chứng minh được sự tiến hóa của Thực Vật!  Darwin không thể nói được cây ổi, cây xoài…tiến hóa từ tế bào nào? Tại sao có trái chôm chôm? Thuở trời đất hồng hoang ấy, đã có những tế bào nguyên thủy của các cây cối hiện tại chưa? Điều thấy rõ là, cũng như các sinh vật, động vật, cây cối càng ngày càng nhỏ đi, yếu hơn xưa nhiều, có nghĩa là đang “thoái hóa” dần, mà không “tiến hóa”. Các cây ngày xưa có thể có cả ngàn tuổi và to đùng; ngày nay, kiếm một cây vài trăm tuổi rất hiếm.

Thực vật ngày xửa ngày xưa chịu đựng sương nắng, gió, cát, bão bùng dai dẳng hơn bây giờ còn cây bây giờ trốc gốc rất nhanh trước các cơn gió bão. Các giống lúa và cây thực phẩm ngày nay, nếu không có bàn tay con người biến đổi “gene” thì dần dần èo uột và triệt tiêu. Sinh vật và động vật cũng thế, ngày xửa ngày xưa, con nào con nấy to lớn khủng khiếp, sao bây giờ lại nhỏ con đi? Giả sử mà lý thuyết tiến hóa để sinh tồn của Darwin mà đúng, có lẽ bây giờ con voi phải to hơn cái bin-đinh 10 tầng chứ, vì càng ngày trái đất càng chật hẹp, thức ăn, thực phẩm càng ngày càng hiếm, sự cạnh tranh gay gắt càng ngày càng phức tạp hơn, như vậy, động vật và sinh vật đều phải phát triển to hơn, mạnh hơn, dài hơn để tranh ăn.. Nhưng, rất tiếc, thực tế đã chứng minh hoàn toàn ngược lại, con gì, cái gì bây giờ cũng nhỏ hơn tổ tiên của chúng.

Điều quan trọng nữa để đánh gục thuyết Tiến Hóa và Chọn Lựa Tự Nhiên của Darwin là sự thoái hóa và lão hóa, sau cùng là cái Chết! Nếu đã khẳng định là mọi loài (all species) phải tiến hóa để sống còn, sao sự phát triển của mọi loài chỉ tới một giới hạn là đứng lại, lão hóa, và chết? Quy luật nào đã hãm sự tiến hóa lại? Con rùa sống dai nhất cũng chỉ trên dưới 100 năm. Con người sống lâu nhất là hơn 110 tuổi. Và cứ đúng đến tuổi 50,60, lập tức mọi cơ phận của con người bắt đầu đi ngược lại chu trình tiến hóa, trở thành lão hóa, và cuối cuộc đời là cái quan tài dưới hai thước đất (bây giờ thì hỏa thiêu, nghĩa là không còn “gần đất, xa trời” nữa).

Tại sao vậy? Thuyết Tiến Hóa cũng bị bế tắc khi cho rằng mọi sinh vật phải tự chọn lọc và biến đổi cuộc sống của mình cho thích hợp với môi trường chung quanh hầu tồn tại, nhưng lại không thể dẫn giải sự việc con cá hồi cứ đâm đầu từ biển vào sông, leo ngược qua bao nhiêu thác đứng, nhẩy ngược qua bao tảng đá chặn đường mà không tìm hiểu chiều cao của thác, của đá tương xứng với thân hình nhỏ bé của mình là bao nhiêu, để rồi chết bờ, chết bụi khi nhẩy hụt, hay khi đập đầu vào đá…chưa kể bị mấy chú gấu đứng chặn đầu thác, thong dong chộp lấy cho vào miệng! Mùi vị gì đã dẫn dắt đàn cá hồi đi trở về nguyên quán như thế? Tiếng gọi nào réo trong tim cá, buộc cá tìm cái chết như thế? Trường hợp này, nếu đem thuyết Tiến Hóa mà áp dụng thì thật là vụng về và ngớ ngẩn.

Điều quan trọng cuối cùng là ngay trong quan niệm về Tiến Hóa và Luật chọn lọc tự nhiên để sinh tồn đã khẳng định rằng có Thượng Đế, có Thiên Chúa. Khi nói rằng muôn loài đều tiến hóa, có nghĩa là con cá ở Bắc Cực, con chim cánh cụt ở Nam Cực, con chuột ở châu Á, hay con đại bàng ở Mỹ Châu cũng đều phải theo cái quy trình ấy. Vậy thì khi đã có một quy trình chung cho muôn loài, thì tất nhiên, phải hiểu là có một “luật” ràng buộc muôn loài ở trên khắp mặt địa cầu phải tiến hóa trong cùng một cường độ, tốc độ, và cùng một tần số, và nếu đã là “luật” thì phải có một sức mạnh (power), một đối tượng (object) tạo ra cái luật ấy và cai quản cái luật ấy. Sức Mạnh hay Đối Tượng ấy là Ai? Dĩ nhiên, để có thể điều khiển muôn loài theo quy trình tiến hóa, Sức Mạnh ấy phải ở Trên và Bao Trùm muôn vật, và phải là Toàn Năng (Omnipotence), Toàn Diện, ở khắp mọi nơi (Omnipresence), và Toàn Trí (Omniscience) thì mới có thể điều khiển muôn loài tiến hóa chung với nhau, không để chỉ mình con khỉ tiến lên nhưng lại để con voi đi lùi, không để con chó săn cừu ở Trung Đông mọc lông dầy trong khi bỏ mặc con ngựa ở vùng Siberia lông mỏng sinh sống trong cùng một thời tiết lạnh…

Như thế, với các khám phá về khoa học hiện đại, thuyết Tiến Hóa đã thật sự trở thành lỗi thời, lạc hậu. Và, nếu không chấp nhận Thuyết Sáng Tạo, người ta không có khả năng chứng minh sự hiện hữu của muôn loài, sự thiết kế thông minh trong từng hơi thở, từng tế bào của con người hay của các vi sinh vật, kể cả vi trùng và vi khuẩn.

Để tìm hiểu về Thuyêt Sáng Tạo, những người thực tâm muốn biết nguyên lý của các sinh hoạt của vũ trụ, chỉ cần cầm lấy một chiếc lá nhỏ bé trong tay, với một tâm hồn cầu tiến thật trong sáng, vô vụ lợi, không dục vọng, không ham danh hám lợi, mà suy nghĩ về sự hình thành của chiếc là từ khi còn là một nụ non, rồi lắng nghe nhịp chẩy của dòng nhựa trong chiếc lá, suy nghĩ về sự phân phối khí Oxy đến từng tế bào trong lá, thì sẽ thấy ngay BÓNG DÁNG CỦA MỘT ĐẤNG TOÀN NĂNG, Đấng đã sáng tạo ra chiếc lá nhỏ bé đó cũng như cả vũ trụ mênh mông này.

Thật vậy, trí óc của con người đang tập trung mọi nỗ lực hầu mong vươn tới những nơi cao hơn, xa hơn, khó khăn hơn, mù mịt hơn…để tìm gặp Đấng Toàn Năng ấy, Đấng mà con người đặt tên là Thiên Chúa, hay là Thượng Đế (Vua ở trên cao), hay Ông Trời.  Dĩ nhiên, con đường ấy sẽ còn gặp rất nhiều khó khăn, vì có những điều khó chứng minh bằng khoa học thực nghiệm, tuy nhiên, nếu hiểu rằng có những sự kiện vật chất mà chúng ta không thể cân, đo, đong, đếm trên bàn cân được, nhưng vẫn hiện diện trong đời sống, như ý nghĩ, hơi thở, không khí, gió.. Người ta không thể mang ý nghĩ lên bàn cân, nhưng ý nghĩ vẫn tràn ngập trong trí não. Người ta cũng không thể đưa hơi thở và không khí cũng như gió lên màn ảnh để xem chúng nó hình thù như thế nào, nhưng không có chúng, thì đời sống không có thực. Trên hết, là người ta không thể mang linh hồn ra mà chụp hình, nhưng nhất định có linh hồn, vì nếu không có linh hồn thì cái điều gì đã mất đi khi một con người nằm xuống, bất động, và chết? Tại sao khi một phút trước, cái xác thân đó cử động, suy nghĩ, và làm việc mà chỉ một phút sau, đã trở thành một đống thịt ghê sợ?

Có một ẩn số X đã mất đi khi người ta chết.

Người sống – (ẩn số X) = Người Chết!

Nói khác đi,

Người Sống – Người Chết = ẩn số X

Có phải ẩn số X là linh hồn không? Và, nếu tin là con người có linh hồn, thì phải tin có Thượng Đế, có Ông Trời, có Thiên Chúa.

Đó là con đường tìm hiểu của các nhà khoa học chân chính. Mặc cho các lời phỉ báng đến từ các kẻ vô thần, mặc cho chính các người tin vào sự hiện hữu của Linh Hồn và Thiên Chúa đã làm muôn vàn tội lỗi khiến cho bóng dáng của Thiên Chúa mờ đi trước nhân loại, nhưng Thiên Chúa vẫn hiện diện, vô thủy vô chung, đời đời kiếp kiếp với tình thương bao la bảo bọc cho Con Người sống yêu thương nhau mãi mãi.

Chu Tất Tiến. M.S.P.

Nhân vụ Đức Giáo Hoàng từ chức, vài suy nghĩ về đường Hội Thánh đi (1)

Nhân vụ Đức Giáo Hoàng từ chức, vài suy nghĩ về đường Hội Thánh đi (1)

L.M. Vũ Khởi Phụng

Đăng bởi lúc 12:09 Sáng 18/02/13

nguồn:chuacuuthe.com

VRNs (18.02.2013) – Hà Nội – Giáo hội nói chung, Đức Giáo Hoàng nói riêng, không cần phải có ai khen lấy được, cũng không cần phải có ai chê lấy được. Giáo Hội và các Đức Giáo hoàng vẫn đi con đường của mình, con đường có sáng có tối, có thăng có trầm, và bên trong những sáng tối thăng trầm ấy, có cái mà thế gian khó nhận biết là Đức Tin vẫn nhất mực tìm đường xuyên qua mọi trở ngại nội sinh hay ngoại sinh. Không ai có thể mô tả hoàn toàn chính xác Giáo Hội tương lai cụ thể sẽ thế nào, hoặc Đấng kế vị Đức Benedict XVI sẽ thế nào. Nhưng sức sống, sức thu hút của Giáo Hội chỉ có thể phát xuất từ con đường đức tin đó.

1. Sét đánh giữa trời quang

Mồng hai tết Quí Tị, chúng ta đang sống trong bầu khí hiệp thông linh thiêng của những ngày Nguyên Đán, các gia đình đang đến nhà thờ thắp hương và nhận lộc Lời Chúa, ở Kỳ Đồng một cộng đoàn lớn đang cầu nguyện tạ ơn chung quanh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, thì ở Roma sấm sét vang rền giữa trời thanh. Lúc ấy là 11g53 phút giờ Roma, xế chiều ở Việt Nam, Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI, giữa công nghị hồng y, bất ngờ tuyên bố từ chức vì lí do tuổi cao sức yếu:

Sau khi đã tự vấn lương tâm nhiều lần trước mặt Chúa, nay tôi chắc chắn rằng tôi tuổi cao sức yếu, không thể thi hành sứ vụ của Thánh Phêrô một cách thích hợp nữa.

Thế giới ngày nay thay đổi mau chóng, đặt ra nhiều vấn đề rất quan trọng cho đời sống đức tin, cho nên để điều khiển con thuyền của thánh Phêrô và loan báo Tin Mừng, thì cũng cần mạnh khỏe cả thể xác lẫn tinh thần, mà những tháng gần đây, sức khỏe của tôi đã suy giảm đến độ phải nhìn nhận là tôi không còn khả năng để chu tòan sứ vụ đã được trao phó cho tôi.

Vì thế, ý thức được hành động nghiêm trọng của mình, và hoàn toàn tự do, tôi tuyên bố từ nhiệm giám mục Roma… Ngày 28/2/2013, từ 20 giờ, Tòa Roma… sẽ trống ngôi…”.

Đã 600 năm nay, không thấy một biến cố như vậy, nên chẳng ai chờ đợi. Đến cả phát ngôn viên của Tòa Thánh, cha Federico Lombardi, cũng chỉ “mới biết tin sáng nay thôi, khi theo dõi công nghị hồng y”. Cho nên một người có địa vị quan trọng ởVaticanlà Đức hồng y Angelo Sodano, đã phải thốt lên: “Sấm nổ giữa trời quang”. Tưởng là Đức hồng y dùng lối nói tượng hình thế thôi, nào ngờ vài tiếng đồng hồ sau, sét đánh xuống đỉnh vòm đền thờ Thánh Phêrô thật, tấm hình rất ngoạn mục loan đi, lại càng thêm hương vị cho những lời bình luận vốn đã râm ran của truyền thông thế giới.

Người ta liên tưởng đến một vụ sét đánh khác ở đền Thánh Phêrô. Đó là ngày 20/10/1870, Công ĐồngVaticanI kết thúc với một thành quả chính là công bố tín điều về ơn vô ngộ của Đức Giáo Hoàng khi ngài định tín. Đúng vào lúc công bố tín điều và kết thúc công đồng thì một cơn giông tố với sấm sét khủng khiếp nổ ra, át cả những tiếng nói trong đền thánh. Những người bực dọc với công đồngVaticanI thì bảo đó lòng trời nổi giận với Giáo Hội Công Giáo. Những người cổ võ cho công đồng và Đức chân phước giáo hoàng Piô IX lại gợi lên hình ảnh Thiên Chúa uy nghi ngự xuống núi Sinai trong Cựu Ước, giữa lửa cháy và sấm sét rền vang.

Những chuyện bình tán như vậy, nói ngược nói xuôi thế nào cũng được. Không chỉ những người sính điềm thiêng dấu lạ, mà cả những nhà quan sát tự cho mình là rất thành thạo tình hình, cũng nói ngược nói xuôi đủ kiểu. Đúng là sau công đồngVaticanI cùng với tín điều mới, Giáo Hội đã trải qua rất nhiều gian nan khốn khó. Công đồng kết thúc vào lúc bầu trời Châu âu tối sầm vì cuộc chiến tranh tàn khốc giữa Pháp và Đức, mà một hậu quả là Toà Thánh “mất nước” trước phong trào thống nhất nước Ý của triều đại Savoie. Đức Giáo Hoàng Pio IX từ đó cấm cung, tự cho mình là tù nhân trong điệnVatican. Thế giới Công Giáo coi đây là một thảm họa, Giáo Hội đã mất tự do, mà nếu không khôi phục nước cũ của Tòa Thánh thì vết thương sẽ không bao giờ nguôi ngoai.

Các nước châu Âu lần lượt chèn ép Giáo Hội về mọi mặt. Đầu tiên là ở Đức, cường quốc số một của Châu Âu, với thủ tướng Bismarck, được coi là người hùng số một mà cũng là gian hùng số một của thời đại, phát động cuộc chiến văn hóa (Kulturkampf) chống lại Giáo Hội Công Giáo. Nguyên nhân sâu xa là vì ông cho rằng tín điều Đức Giáo Hoàng vô ngộ tạo điều kiện cho Giáo Hoàng can thiệp vào việc chính trị của các nước. Chiến dịch chống Công Giáo củaBismarcktừ Đức lan sang Thụy Sĩ, khiến cho giáo hội ở hai nước này chịu nhiều phen điêu đứng. Nước công giáo lớn nhất châu Âu là nước Pháp thì chính quyền dần dần rơi hết vào tay của phe chống Giáo Hội. Trong một nửa thế kỷ từ đó mà đi, những vụ tấn công liên tiếp và hiểm độc vào Giáo Hội, khiến giáo hội vỡ thành từng mảng lớn. Nước Ý cứ tưởng là toàn tòng thì với phong trào thống nhất đã trở nên một sức mạnh gay gắt bài xích Giáo Hội, nhất là Toà Thánh lại phản ứng bằng cách kêu gọi người Công Giáo tẩy chay mọi sinh hoạt chính trị, không tham gia bầu cử, không ứng cử và tất nhiên không đắc cử. Đa số các giới văn hóa, khoa học tỏ vẻ coi thường tôn giáo và Giáo Hội, như những tàn dư cũ của một quá khứ còn ngắc ngoải. Nếu bảo Trời giận Giáo Hội Công Giáo thì Trời giận đấy!

Nhưng tại sao Trời giận mà Trời vẫn tặng nhiều quà lạ? Giáo Hội phát triển ở nhiều miền đất mới. Châu Á, Châu Phi, Châu Đại Dương, Bắc Mỹ… đã tạo ra tính cách toàn cầu cho Giáo Hội ngày nay. Ở thế giới Âu Mỹ được coi là đầu tầu văn minh hiện đại, thì từ 1878, với Đức Giáo Hoàng Leo XIII, Giáo Hội bắt đầu phục hồi vị thế, đôi lúc có thể nói là rực rỡ. Đức Leo XIII với sự mẫn cảm phi thường lại chỉ là người mở đầu một kỷ nguyên mới của chức vụ Giáo Hoàng. Vụ tòa thánh mất nước, mà tuyệt đại đa số người công giáo coi là thảm họa, hóa ra lại là một sự giải thoát. Từ ngày không còn nhiều vướng bận quanh co với những ràng buộc chính trị, Tòa Thánh trở về gần với thực chất là một trung tâm tinh thần và tâm linh. Xuất hiện một loạt các vị Giáo Hoàng tuy khác nhau, thậm chí bề ngoài đôi khi đến mức tương phản, nhưng đều là những lãnh tụ tinh thần, những bậc tôn sư rất lớn, tạo ra sức lan tỏa của Giáo Hội và Tòa Thánh cho đến ngày nay. Dù thế kỷ XX đã có hai cuộc thế chiến, đã có những ý thức hệ tàn khốc đối với Giáo Hội trong thời gian lâu dài và trên những vùng đất rộng lớn của thế giới, Giáo Hội cũng không vì thế mà suy tàn.

Ôn lại cả những điều gian nan mất mát, lẫn những thành tựu như vậy, ta có thể nhận ra: Giáo Hội, về mọi mặt giống như cuốn Kinh thánh, vừa là một sự mầu nhiệm Chúa làm, lại vừa là một công trình của con người với tất cả những nỗ lực, trí tuệ, tâm hồn, mồ hôi nước mắt, với tất cả những ưu khuyết điểm của con người. Có lẽ nên nghĩ đến cái tổng hợp Nhân Thần đó trong những ngày này, khi sự từ chức của Đức Benedicto XVI, đang làm dấy lên đủ thứ bình luận. Có những bình luận nhìn Giáo Hội theo một quan điểm hoàn toàn trần thế, do đó mất hút cái thực tại tâm linh của Giáo Hội. Nhìn kiểu này sẽ đưa ra những dự đoán lung tung mà tương lai sẽ chứng minh là thiếu thực chất. Nhưng cũng có nhiều người Công Giáo quan niệm quá giản đơn về mối tương quan giữa siêu nhiên và tự nhiên, giữa siêu việt và nhập thể, để rồi ngạc nhiên, hoang mang, hoặc là có thái độ nặng về tình cảm, mà không đếm xỉa thực tại. Giáo hội nói chung, Đức Giáo Hoàng nói riêng, không cần phải có ai khen lấy được, cũng không cần phải có ai chê lấy được. Giáo Hội và các Đức Giáo hoàng vẫn đi con đường của mình, con đường có sáng có tối, có thăng có trầm, và bên trong những sáng tối thăng trầm ấy, có cái mà thế gian khó nhận biết là Đức Tin vẫn nhất mực tìm đường xuyên qua mọi trở ngại nội sinh hay ngoại sinh. Không ai có thể mô tả hoàn toàn chính xác Giáo Hội tương lai cụ thể sẽ thế nào, hoặc Đấng kế vị Đức Benedict XVI sẽ thế nào. Nhưng sức sống, sức thu hút của Giáo Hội chỉ có thể phát xuất từ con đường đức tin đó.

Nay xin trở về vụ việc Đức Benedict XVI từ chức…

(Còn nữa)

LM. Vũ Khởi Phụng

BUỒN VUI NGÀY TẾT

BUỒN VUI NGÀY TẾT

Tác giả: Lm. Vĩnh Sang, DCCT

nguồn:conggiaovietnam.net

Báo Tuổi Trẻ số ra đầu tiên ngày thứ sáu 15 tháng 2 năm 2013 ( mồng 5 Tết ) đưa tin “25.000 vụ tai nạn giao thông trong 6 ngày Tết”, cũng số báo này cho biết 4.700 ca nhập viện do đánh nhau… các số liệu này là của thứ trưởng Bộ Y Tế gởi Văn Phòng Chính Phủ. Không thấy nói gì về con số thương vong, nhưng cứ sự thường mà suy, một vụ tai nạn giao thông kéo theo hệ lụy về nhân mạng và thương tật không bao giờ dưới một người, thiệt hại tài sản tại chỗ, hậu quả lâu dài về thể xác cũng như tinh thần cho nhiều người, có thể tiếp tục gây gánh nặng cho xã hội ( Ảnh chụp một tai nạn giao thông tại Hà Nội ).

Cũng trong số báo này có hẳn một phóng sự về việc trẻ em phải rất khó khăn khi bắt nhịp trở lại trường sau nghỉ Tết. “Học sinh ngáp ngắn ngáp dài, uể oải mở cặp ra mới phát hiện thiếu tập vở, bút, thước kẻ, khi giáo viên hỏi bài thì ấp úng… vì quên trước quên sau.” Đó là học đường, còn các môi trường khác, chắc chắn không khác bao nhiêu, có khi còn tệ hại hơn.

Xin phép được trích một đoạn trong bài viết của tiến sĩ Nguyên Xuân Diện, “Đầu năm bàn về văn hóa tâm linh hiện đại của người Việt” http://danluan.org/tin-tuc/20130215/nguyen-xuan-dien-dau-nam-ban-ve-van-hoa-tam-linh-hien-dai-cua-nguoi-viet:

“Người trảy hội thời nay không còn đem đến lễ hội sự chính tâm như ngày xưa nữa ! Có người nói: quan sát lễ hội và người tham gia lễ hội là biết xã hội đang vận động ra sao. Người ta kéo đến lễ hội bằng những lời cầu khẩn quyết liệt nhưng đầy mê lầm, bằng những mâm lễ vật phàm tục để mặc cả với thần thánh, bằng những đồng tiền lẻ gài lên khắp thánh tượng, phật tượng, bằng những cuộc nhậu nhẹt say khướt nơi đất Phật Hương Sơn, Yên Tử, bên những mâm đặc sản thú rừng được chặt chém bởi những tay đồ tể ( cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng ). Lễ hội là dịp để gặp gỡ và đánh chén. Sau đó là chuyện xả rác không tiếc tay, khiến cho những khu di tích thành ra một bãi rác khổng lồ.”

( Ảnh chụp của VNExpress: Người Hà Nội ngồi giữa đường để xin giải hạn trước Tổ Đình Phúc Khánh ).

Vấn đề lễ hội ngày nay đã từ lâu rồi là một vấn đề nhức nhối của cả xã hội.

Trong phạm vi Giáo Hội Công Giáo. Một vị Giáo Dân than phiền với chúng tôi: “Trong khi Nhà Chùa người ta mở cửa cả ngày để đón khách đến viếng Chùa, dâng hương cầu khẩn cho năm mới, hái lộc để tìm sự may mắn, xin săm để biết hướng tương lai, người vào ra tấp nập, khói nhang nghi ngút không gian. Vậy mà Nhà Thờ Giáo Xứ của con lại đóng cửa im ỉm, ngày thường hai lễ sáng chiều, ngày Tết gom lại còn một Lễ sáng, cha Xứ sau Lễ sáng rồi thì đi đâu mất, tối mịt mới về, ngày nào cũng vậy, ngài nói phải đi mừng tuổi các ân nhân. Cha Phó thì được cho về nghỉ Tết, lý do: còn mẹ già !”

Một vị Linh Mục Dòng khác chia sẻ: “Con rất buồn vì cộng đoàn anh em con cùng với Giáo Dân đề nghị đóng cửa Nhà Chầu Thánh Thể, tạm nghỉ những ngày Tết để anh em ăn Tết, miễn trực nhà chầu !” Tranh luận căng thẳng trong cộng đoàn, đến khi quyết định đóng cửa được Nhà Chầu những ngày Tết xem ra anh em vui thích lắm.

Một bạn trẻ gởi cho tôi Email thắc mắc: “Con xem trên mạng thầy nhiều Nhà Thờ có Thánh Lễ Giao Thừa, sao ở Giáo Xứ con không có ? Tại sao Xứ có, Xứ không ? Con không đi Lễ đêm Giao Thừa thì có tội không ?” ( Ảnh chụp rước kiệu Mẹ Hằng Cứu Giúp hành hương Minh Niên 2013 tại DCCT Kỳ Đồng, Sàigòn ).

Một Nữ Tu chiều mồng hai Tết sau Lễ chiều ở Nhà Thờ ghé vào thăm tôi, nói chuyện loanh quanh một lúc tôi được biết chị và một chị nữa “bị” phân công giữ nhà cho chị em về quê ăn Tết, nhà cộng đoàn vắng như chùa bà đanh, đi ra đi vào chẳng có ai, tôi hỏi thế chị kia đâu, câu trả lời là “cũng đi đâu mất không biết” – “Vậy ăn uống thế nào ?” – “Dạ, mạnh ai người nấy ăn !”

Ở “Góc Thương Xót” DCCT, chiều 29 Tết vừa rồi vẫn còn xác em bé được mang về. Trọn 3 ngày Tết thấy cái chum trống trải đã mừng, thế rồi chiều mùng 4 Tết đã lại ngập cao các túi nylon đen. Sang mùng 5, mùng 6 thì y như thể người ta phải nhịn mấy ngày đầu năm, bây giờ đổ xô nhau đi phá thai ào ạt, bù lại vậy ! Chẳng kiêng kỵ gì Tết nhất cả !

Ấy lại chuyện giải quyết “hậu quả” năm cũ, còn chuyện quan hệ phóng túng, “mừng tuổi” nhau năm mới, theo kinh nghiệm của chúng tôi, cứ sau Tết khoảng ba tuần lễ cho đến hai tháng, đó là thời điểm các bệnh viện có phòng phá thai, các trung tâm “Bảo Vệ Bà Mẹ và Trẻ Em” ( nhưng thực chất là những ổ phá thai ), các “phố phá và nạo thai” sẽ cực kỳ bận rộn, khách ra vào nhộn nhịp và những “phế phẩm y tế” chúng tôi gom về cũng sẽ… “được mùa bội thu”, những nhóm tình nguyện BVSS cũng hoạt động tăng tốc hẳn lên, các “Nhóm Tobia” lo hậu sự cho các bé phải chạy hết công suất !

Chắc chắn bức tranh toàn cảnh không chỉ có thế, có rất nhiều cá nhân, nhóm, tập thể sử dụng những ngày Tết vào rất nhiều công việc hữu ích. Họp mặt gia đình ôn lại truyền thống tổ tiên, củng cố mối dây liên kết, anh em họ hàng nhận biết nhau.

Có những nhóm sử dụng những ngày nghỉ để đến với người nghèo, đêm Ba Mươi đi thăm người vô gia cư, trẻ lang thang không nhà, dấn thân vào những vùng sâu vùng xa, mang cái Tết qua những hộp bánh, những cân mứt, những nụ cười đến cho những người dân tộc nghèo, người khuyết tật bị bỏ rơi. ( Ảnh chụp các bạn Nhóm Fiat từ Sàigòn ra thăm và tặng quà mùng 4 Tết cho đồng bào nghèo dân tộc Chăm ở Giáo Xứ Ma Lâm, Giáo Phận Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận ).

Có những người, những nhóm tình nguyện đến các nhà nuôi trẻ bại não, nhà nuôi người già đau yếu, vào cả những nhà hưu dưỡng để làm việc thay cho các nhân viên về nghỉ Tết. Có một Đan Viện nọ quyết định ba ngày Tết liên tục Chầu Thánh Thể thay cho những người xao nhãng việc thờ phượng ở thời điểm nay. Và nhiều, thật nhiều những bàn tay “xây dựng hòa bình” khác nữa vì “họ là con Thiên Chúa”.

Nhưng những mảng tối to lớn như trên kia cũng phải làm cho chúng ta trăn trở không ít, nhất là trong Năm Đức Tin này. Chúa muốn mỗi người Kitô hữu sống Đức Tin của mình như ngọn đèn rạng soi vào chốn tối tăm, Chúa muốn mỗi người Kitô hữu là mỗi hạt muối ướp mặn cho cuộc đời, Chúa muốn mỗi người Kitô hữu là hạt men để Chúa gieo vào trong thúng bột làm cho bột dậy men. Đèn không sáng, muối ra nhạt, men biến chất… Chúa biết làm gì bây giờ ? Chẳng lẽ vất ra đường cho người ta dày đạp lên sao ?

Tôi không ủng hộ việc bỏ Tết Nguyên Đán như người Nhật đã làm, nhưng tôi ước ao chúng ta sẽ sống một cái Tết Nguyên Đán thấm đượm Tin Mừng Chúa Kitô.

Lm. VĨNH SANG, DCCT, Mùng 7 Tết, thứ bảy 16.2.2013 (Ephata 549)