Có Phải Người Già Sợ Chết Nên Siêng Đi Lễ Đọc Kinh?

Có Phải Người Già Sợ Chết Nên Siêng Đi Lễ Đọc Kinh?

Đó là câu hỏi khá thú vị, nếu không nói ra, ai cũng cho là đúng. Xin ghi lại một cuộc trao đổi ngắn với một vị được gọi là già.

Trước hết xin rõ ràng, bao nhiêu tuổi thì được gọi là già?

Một chị quê ở miền bắc đến xin hội đoàn chúng tôi cầu nguyện cho linh hồn ông cụ (Bố) em mới qua đời. Xin hỏi: Ông cụ tên thánh là gì? Năm nay cụ được bao nhiêu tuổi?. Thưa: Ông tên thánh là Giuse, năm nay cụ được 52 tuổi.

Trong mỗi xứ đạo đều có các giới sinh hoạt như: Giới trẻ, giới hiền mẫu, giới gia trưởng, giới phụ lão. Các giới này được phân chia theo độ tuổi. Giáo xứ chúng tôi trước kia giới phụ lão quy định là 55 tuổi trở lên, nay nâng lên 60. Như vậy có nghĩa là 60 tuổi được coi là già.

Chúng tôi quan sát các thánh lễ ngày thường lúc 4 giờ 30 sáng, quả là có nhiều người già đi lễ, nhưng cũng chỉ khoảng phân nửa số người già trong xứ. Hỏi thăm một ông tuổi đã ngoài 60.

* Chào ông. Sáng nào ông cũng đi lễ?
* Vâng. Sáng nào tôi cũng đi.
* Theo ông, đi lễ mỗi ngày có phải là một thói quen?
* Cũng có thể, riêng tôi, tôi không cho là thói quen. Qua một ngày đêm Chúa cho an lành, con cháu vui khỏe, không lẽ nào tôi làm ngơ, hơn nữa, Vinh Danh Chúa, Tạ Ơn Chúa là bổn phận của tôi, thể hiện niềm tin của mình cho con cháu và mọi người chung quanh. Ngày nào vì mệt mỏi hay ngủ quên không đi lễ, ngày đó tôi cảm thấy bổn phận của mình thiếu xót.
* Ông có cho rằng, người già đi lễ, đọc kinh cầu nguyện nhiều là vì họ sợ chết không?
* Người già như tôi thì có nhiều, nhưng đâu phải ai cũng đi lễ thường xuyên. Có ông nói rằng, mình không làm điều gì sai trái, không gian tham trộm cắp, ở nhà đọc kinh cũng đủ. Theo tôi, như vậy là chưa đủ, trải qua 60 năm cuộc đời đâu phải dễ, nhiều người đã không bước tới được ngưỡng cửa này. Sự ra đi đột ngột của anh bạn tôi 10 năm trước đã làm tôi tỉnh thức. Sự chết đâu phải chỉ đến với người già. Sự chết không phải là nỗi sợ hãi với người có niềm tin, nhưng sự chết là nỗi sợ hãi của những ai chưa sẵn sàng. Giá trị cuộc đời không đo bằng thời gian, nhưng đo bằng nhân đức yêu thương. Quan trọng hơn cả, mỗi ngày tôi được sống kết hợp với Chúa qua Bí Tích Thánh Thể là tôi đã sẵn sàng.

Như anh thấy, hôm nay thứ hai đầu tuần, ngày khá bận rộn, nhưng thấy cũng có nhiều người lao động đi lễ, họ hy sinh giấc ngủ, đến đây để nói lên niềm tin, sống kết hợp với Chúa và để sẵn sãng.

* Bà nhà có đi lễ sáng với ông?
* Có. Ngoài việc đến nhà thờ cầu nguyện, bà ấy còn có điều thú vị nữa là vừa đi vừa lần hạt vừa tập thể dục, sự kết hợp này đem lại sức khỏe cả phần hồn phần xác.
* Cám ơn ông. Xin Chúa chúc lành cho ông bà.

Như vậy, kiểu lý luận: “chỉ tin là đủ, đạo tại tâm! Không cần đi thờ, đi lễ”, là không ổn, không hợp với đạo Chúa. Không gắn kết với Chúa qua những lời kinh, những thánh lễ cũng như các việc lành, chúng ta sẽ như cành lìa khỏi thân cây. Lúc ấy người ta chỉ biết mang cành cây ấy đốt đi thôi!

Do đó, việc đi thờ, đi lễ rất cần thiết cho mọi người. Ước mong sao các bạn già, các bạn trẻ cũng như tất cả những ai xưng mình là Kitô hữu, luôn biết siêng năng cầu nguyện, chuyên cần đi lễ, nhờ vậy mà được sống dồi dào và sinh nhiều hoa thơm trái ngọt cho đời.

Tôma Đỗ Lộc Sơn

chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Con Yêu Chúa Quá Muộn Màng!

Con Yêu Chúa Quá Muộn Màng!

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

“Lạy Chúa, con yêu mến Chúa quá trễ: Ôi vẻ đẹp của ngàn xưa nhưng muôn thuở vẫn còn tươi mát, trẻ trung.

Con yêu mến Chúa quá trễ: Chúa ở bên trong tâm hồn, còn con, con sống hời hợt bên ngoài và chỉ chú tâm tìm kiếm Chúa ở đó.

Chúa hiện diện ở trong con nhưng con không sống ở trong Chúa.  Nhiều tạo vật đã kềm hãm khiến con sống xa Chúa.

Chúa đã gọi tên con, Chúa đã lớn tiếng kêu gọi con, Chúa đã đâm thủng đôi tai giả điếc làm ngơ của con.

Chúa đã tỏa ánh sáng chiếu soi và đã phá tan màn đêm tối dày đặc nơi con.

Chúa thở ra hơi thơm ngào ngạt, con hít vào và con khao khát Chúa.

Chúa đã chạm đến con và con luôn cảm thấy nung nấu được hưởng sự bình an của Chúa”.

Trên đây là một đoạn trong quyển “Tự Thú” (Confessions) của thánh Augustinô, vị thánh Giáo Hội mừng kính hôm nay.

Sau khi ăn năn trở lại, ngài đã nhận lãnh Phép Rửa vào năm 33 tuổi, chỉ sau đó 3 năm ngài được phong chức linh mục, 5 năm sau đó được đề cử làm giám mục thành Hippo, Phi Châu.

Duyệt qua cuộc sống của thánh Augustinô, chúng ta có thể nói:  ngài là một tội nhân đã trở thành thánh nhân nhờ được Thiên Chúa đến gõ cửa lòng bằng câu nói mạnh mẽ của thánh Phaolô:  “Ðừng sống theo dục tình và lạc thú dâm ô, nhưng hãy mặc lấy Ðức Giêsu Kitô”.

Và kể từ đó, có thể nói được là Tình Yêu Thiên Chúa không bao giờ buông tha ngài, trái lại tạo trong tâm hồn ngài một sự khắc khoải và khao khát để đáp trả lại lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa.

Ngoài lời mời gọi và thôi thúc của Tình Yêu Thiên Chúa, quãng đầu cuộc đời của Augustinô, một tội nhân trở thành thánh nhân, có lẽ được vẽ lại bằng những nét chấm phá và những bàn tay cộng tác với ơn Chúa trong việc hoán cải như sau:

¨    Trước tiên, cường độ của sức sống nơi ngài trên con đường thụt lùi xa lìa Thiên Chúa cũng như cường độ mãnh liệt hơn của sức sống ấy trên con đường tiến về Thiên Chúa.

¨    Tiếp đến, những dòng nước mắt sầu đau và những kinh nguyện thành tâm của  mẹ ngài, bà thánh Mônica (mà Giáo Hội mừng kính hôm qua) dâng lên Thiên Chúa trong kiên tâm, bền chí ròng rã bao năm trời.

¨    Và sau cùng là sự hướng dẫn tận tình của thánh Giám Mục Ambrôsiô.

Tất cả những yếu tố trên cộng lại, đã giúp chuyển tình yêu cuộc sống thành một cuộc sống cho đi và sống vì Tình Yêu, như thánh nhân đã tự thú trong đoạn sách được trích dẫn ở trên:

“Lạy Chúa,

con yêu mến Chúa quá trễ, ôi vẻ đẹp của ngàn xưa,  nhưng muôn thuở vẫn còn tươi mát, trẻ trung”.

 

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

From: Thiên Kim &

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Những Người Không Chịu Lùi Bước Trước Nghịch Cảnh

Những Người Không Chịu Lùi Bước Trước Nghịch Cảnh

Tác giả : Đoàn Thanh Liêm

Hồi đầu tháng 8 mới đây, tôi được nhà báo Thanh Thương Hoàng dẫn đi tham dự một buổi trình diễn văn nghệ thật là đặc sắc diễn ra tại Trung tâm Hội Nghị của thành phố Santa Clara gần với San Jose. Các nghệ sĩ trình diễn đều là những người khuyết tật, người thì cụt hết cả cánh tay mặt như nhạc sĩ Thế Vinh, người thì bị mù lòa như nhạc sĩ Hà Chương, người thì bị câm ngọng hồi còn nhỏ như ca sĩ Thủy Tiên v.v… Cử tọa hôm đó gồm đến 600 người ngồi chật kín cả cái sảnh đường được trang trí như là một rạp hát và mọi người đều nhiều lần đứng lên vỗ tay tán thưởng các mục trình diễn cùa những nghệ sĩ khuyết tật – vừa có người mới từ trong nước qua, vừa có người đã định cư lâu năm tại Mỹ.

I – Từ chương trình văn nghệ “Ngọc Trong Tim” của Việt Nam đến các cuộc thi đua thể thao “Special Olympics” của Mỹ.

Buổi trình diễn văn nghệ nói trên là một trong những tiết mục sinh họat được tổ chức lưu động tại nhiều địa điểm trên thế giới, nơi có đông bà con người Việt sinh sống. Chương trình này nhằm giới thiệu tài năng và cố gắng luyện tập hết sức công phu bền bỉ của những người khuyết tật hầu đạt tới trình độ cao về nghệ thuật sáng tác và trình diễn âm nhạc cũng như trong một số bộ môn khác. Chương trình có tên gọi là “Ngọc Trong Tim” ngụ ý diễn tả cái kho tàng quý báu vẫn còn chứa chất trong trái tim con người – cụ thể như tấm lòng trắc ẩn cảm thông trước nỗi khổ đau của người khác – mà đặc biệt là sự quan tâm chăm sóc đến sự phát triển tài năng của lớp người bị thua thiệt do số phận ngặt nghèo của tật nguyền gây ra. Điển hình là Trung tâm Hướng Dương do nhạc sĩ Thế Vinh thiết lập ở Bình Dương để giúp nơi ăn chốn ở và hướng dẫn việc học tập cho các em khuyết tật.

Chương trình “Ngọc Trong Tim” này làm chúng ta nhớ đến tổ chức “Special Olympics” (Thế vận hội Đặc biệt) dành riêng cho người khuyết tật tham gia thi đua tranh tài về thể thao tại nhiều thành phố trên đất Mỹ. Chương trình này xuất phát là nhờ ở sáng kiến vận động và tổ chức khôn khéo của bà Eunice Kennedy Shriver (1921 – 2009) là người em gái của Tổng Thồng Kennedy – mà cũng là phu nhân của ông Sargent Shriver người lãnh đạo tài ba tiên khởi của chương trình Peace Corps nổi tiếng của chính phủ Mỹ bắt đầu từ năm 1961. Khỡi sự từ năm 1968 – các cuộc tranh tài Special Olympics này đã được nâng lên tầm mức quốc gia không những tại nước Mỹ, mà còn được nhiều nơi trên thế giới mô phỏng theo nữa. Và hiện nay thì các người con của ông bà Shriver cũng đang tiếp nối góp phần vào việc điều hành chương trình này.

Cố gắng vượt qua sự hạn chế của tật nguyền do các nghệ sĩ cũng như các vận động viên thể thao nói trên mà thực hiện được – thì rõ rệt đã làm cho chúng ta nhớ lại nhận xét thật sâu sắc của cụ Nguyễn Du qua câu thơ trong Truyện Kiều, đó là:

Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều.
II – Chuyện về một số người “bất chấp bệnh tật”.

Trên đây là một số chương trình có tầm vóc lớn dành riêng cho số đông người khuyết tật có thể tham gia trong lãnh vực văn nghệ cũng như thể thao. Nhưng trong đời sống thường ngày của các cá nhân, ta vẫn thấy có rất nhiều người đã có những cố gắng bền bỉ phi thường để vượt qua được những nghịch cảnh trớ trêu của số phận – mà tôi xin ghi lại dưới đây một số trường hợp của những người trong số thân quen gần gũi với mình.

Trong số những bạn hữu tôi quen biết, thì cũng có khá nhiều người có ý chí vươn lên để vượt qua được nghịch cảnh do tuổi già hay do tật bệnh gây ra. Bài viết này xin được ghi lại một số chuyện “người thật, việc thật” của vài ba người mà tôi được biết từ bấy lâu nay. Và để công chúng được biết thêm về các chuyện đáng chú ý này, tôi xin các bạn được nói đến trong bài cho phép tôi được tiết lộ đôi chút trong cuộc sống riêng tư của mỗi người. Xin được ghi trước ở đây lời cảm ơn chân thành đến các bạn.

1 – Tác giả Nguyễn Công Luận vẫn không ngừng công việc nghiên cứu biên khảo, dù đã đau bệnh từ 25 năm nay.

Sau khi đi tù “cải tạo” về nhà ít lâu, thì Thiếu tá Nguyễn Công Luận mắc chứng bệnh Parkinson run rảy chân tay, đi đứng khó khăn. Nhưng anh vẫn kiên trì nhẫn nại theo đuổi công việc nghiên cứu sáng tác của mình – nhất là từ khi qua định cư ở bên Mỹ anh được tự do viết lách và phổ biến công trình biên sọan của mình. Anh được mời làm Phụ tá Chủ biên (Associate Editor) cho bộ sách dày 1,200 trang có tên là “The Encyclopedia of the Vietnam War” (Bách khoa Tòan thư về cuộc chiến tranh Việt nam) xuất bản năm 1998 – trong đó anh đã tham gia viết đến cả chục bài.

Và đặc biệt là cuốn Hồi ký do anh Luận viết trực tiếp bằng Anh ngữ trên 600 trang do nhà xuất bản Đại học Indiana ấn hành năm 2012. Cuốn sách này đã được nhiều người Mỹ vốn am hiểu tình hình Việt nam và nhất là các sĩ quan cao cấp trong Quận đội Mỹ ca ngợi nhiệt tình. Về phía người Việt, thì đã có nhà văn Mặc Giao ở Canada và cả tôi cũng đã viết bài giới thiệu cuốn Hồi ký này với độc giả trước đây nữa. Tác giả Nguyễn Công Luận sẽ giới thiệu cuốn Hồi ký nhan đề “ Nationalist in the Vietnam Wars ” này với công chúng tại San Jose vào đầu tháng 10 năm 2013 sắp tới.

2 – Nhà báo Trương Gia Vy vẫn lo điều hành tuần báo Viet Tribune và còn tham gia công tác từ thiện nhân đạo, dù bị bệnh tật ngặt nghèo.

Từ nhiều năm nay, dù bị bệnh phải thay lọc máu mỗi ngày, mà nhà báo Trương Gia Vy vẫn sát cánh cùng với phu quân là nhà văn Nguyễn Xuân Hòang trong việc điều hành tờ báo Viet Tribune ở San Jose. Vào đầu tháng 8 mới đây, khi được tin anh Hòang bị đau nặng, tôi đã tìm cách đến thăm anh chị tại nhà riêng ở thành phố Milpitas – thì tôi thấy anh Hòang tuy đau yếu gày còm, nhưng vẫn còn bình tĩnh tỉnh táo và chuyện trò vui vẻ với bạn hữu đến thăm. Thế nhưng anh cho biết hiện lúc đó là vào 10 giờ sáng ngày thứ Bảy mà bà xã Gia Vy vẫn còn đang phải lo việc lọc máu mỗi ngày.

Ấy thế mà vào chiều ngày Chủ nhật hôm sau, tôi lại thấy Gia Vy có mặt tham gia với Ban Tổ chức chương trình “Ngọc Trong Tim” tại Santa Clara Convention Center như đã ghi ở trên. Nhà báo Thanh Thương Hòang – là người đã từng sinh sống nhiều năm ở San Jose – cho tôi biết: “Trương Gia Vy là người phụ nữ rất năng nổ tích cực trong công tác từ thiện nhân đạo – mặc dầu chị bị bệnh tật lâu ngày và lại rất bận rộn trong việc điều hành tờ báo. Mà nay lại còn phải lo chăm sóc cho ông xã cũng đang bị chứng bệnh nan y nữa. Đó quả thật là một con người có ý chí nhẫn nại và tấm lòng nhân ái – đáng ca ngợi trong cộng đồng người Việt tại khu vực miền Bắc California này…”

3 – Họa sĩ Trần Bản Anh đến khi về hưu ở tuổi 70 mới ghi tên đi học vẽ.

Chị Bản Anh theo học ban Trung học tại trường Quốc Học ở Huế từ cuối thập niên 1940 qua đầu những năm 1950. Sau khi lập gia đình, chị đi làm nhiều năm tại Bộ Kinh tế ở Saigon. Qua Mỹ đầu năm 1990 với diện HO theo ông xã là anh Dương Công Liêm trước 1975 là Đại tá ở Cục Công Binh. Anh chị vẫn tiếp tục đi làm ở thành phố Los Angeles và sau năm 2000 mới về nghỉ hưu và hiện định cư ở San Jose.

Chừng 7 – 8 năm nay, chị Bản Anh mới đi theo học về hội họa theo lối Tàu với một giáo sư người Trung quốc. Nhận thấy chị có năng khiếu đặc biệt, nên ông thày ra sức khuyến khích và tận tâm chỉ dẫn cho chị. Và từ vài ba năm gần đây một số bức tranh của chị đã được ông thày tuyển chọn để gửi đi triển lãm ở bên Đài Loan. Kết quả là họa sĩ Bản Anh của chúng tôi đã mấy lần nhận được bằng khen của Ban Tổ chức cuộc triển lãm cũng như của chánh quyền của một thành phố bên đó.

Vốn tính khiêm tốn, chị không để cho giới nhà báo phỏng vấn để viết bài ca ngợi thành công của một họa sĩ nghiệp dư ở lứa tuổi đã cao. Mà chị chỉ để cho các bạn hữu thân thiết đến thưởng thức tác phẩm hội họa của mình tại nhà trong chỗ riêng tư, âm thầm kín đáo mà thôi. Vì thế, mặc dầu là chỗ quen biết gần gũi với anh chị đã lâu, tôi cũng chưa được chị gửi cho ảnh chụp bức tranh nào của chị để mà giới thiệu với công chúng bạn đọc được.

III – Chính khí ngất trời của Tổng Đốc Hoàng Diệu (1828 – 1882).

Lịch sử nước ta đã ghi lại rất nhiều tấm gương đẹp đẽ tuyệt vời của những vị anh hùng lẫm liệt đã hy sinh xả thân mình trong cuộc tranh đấu bảo vệ đất nước trước sự xâm lăng của ngọai bang. Một trong những vị anh hùng đó là Tổng Đốc Hòang Diệu – ông đã tự kết liễu đời mình khi quân Pháp xâm lược đánh chiếm được thành Hanoi do ông trấn giữ vào năm 1882. Ông đã tuẫn tiết bằng cách tự treo cổ mình trên một cành cây – để tránh không cho quân giặc bắt được vị chỉ huy pháo đài thành lũy.

Vì thế mà sau này trong dân gian nhiều nơi bà con ta vẫn truyền tụng bài thơ “Hà Thành Chính Khí Ca”- để ca ngợi tấm gương tiết tháo anh hùng của ông.

Chuyện của ông có chi tiết này mà chỉ gần đây tôi mới được biết đến – đó là do một hậu duệ của cụ Phạm Phú Thứ thuật lại. Xin lược ghi lại như sau:

Khi được triều Huế cử ra nhậm chức Tổng Đốc Hà Thành ngòai miền Bắc, cụ Hoàng Diệu đã đến thăm và vấn kế bậc đàn anh và cũng là người đồng hương từ đất Quảng Nam với mình: đó là cụ Phạm Phú Thứ người đã cùng với cụ Phan Thanh Giản đi sứ qua Pháp vào năm 1864 để bàn thảo chuyện thương thảo ngọai giao giữa hai nước Việt và Pháp sau khi quân Pháp đánh chiếm đất Nam Kỳ vào năm 1860 – 61. Cụ Phạm lúc đó đã nghỉ hưu, nhưng cũng giúp cụ Hoàng bằng cách phân tích chi tiết về tương quan thế lực giữa bên Việt nam và bên phía quân Pháp. Cụ Phạm kết luận là nhiệm vụ của vị Tổng Đốc Hà Thành thật là nặng nề khó khăn lắm đấy.

Cuộc hội kiến giữa hai cụ Hòang và Phạm chấm dứt. Trước khi vị khách ra về, hai vị chủ và khách đều “LạyTạ nhau” lúc từ biệt. Xin ghi rõ là hai cụ Lạy Tạ nhau, chứ không phải là vái, là xá nhau theo như lối chào hỏi xã giao thường lệ. Vì lý do là cả hai cụ đều biết rõ là vị Tổng Đốc Hà Thành sẽ phải đi vào chỗ chết, vì không có cách nào mà chống trả nổi thế lực quá ư hùng hậu mạnh mẽ của quân Pháp. Và đó là cử chỉ bày tỏ sự Vĩnh biệt giữa hai người bạn thân thiết quý trọng lẫn nhau. Mà cũng đúng như lịch sử đã ghi lại rành rành là: “Tổng Đốc Hòang Diệu đã phải tuẫn tiết sau khi Hà Thành thất thủ về tay quân xâm lược – lúc ông mới có ngoài 50 tuổi.”

Thành ra cụ Hoàng Diệu, dù biết trước nỗi hiểm nguy của chức vụ trấn thủ thành Hanoi, thì cụ cũng không hề nhát gan khiếp nhược để mà thóai thác cái nhiệm vụ này. Mà trái lại cụ vẫn lên đường và sẵn sàng đi vào cõi chết để giữ vững tiết tháo trung trinh của bản thân mình đối với đất nước – cũng như để bảo tồn được danh dự cho giống nòi.

Vào năm 1928, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Tổng Đốc Hoàng Diệu (1828 – 1928), nhà báo Phan Khôi là người cháu ngọai của cụ đã cho phổ biến rộng rãi trên báo chí nguyên văn bài hùng sử ca “Hà Thành Chính Khí Ca” – mà trước đó chỉ mới được phổ hạn chế trong dân gian theo lối truyền khẩu mà thôi.

Nhân tiện cũng xin ghi là khí phách rạng ngời của nhà báo kỳ cựu Phan Khôi trong vụ đòi tự do dân chủ thời phong trào Nhân Văn Giai Phẩm hồi năm 1955 – 1957 ở miền Bắc – thì chắc chắn là phải bắt nguồn từ cái truyền thống anh hùng bất khuất của Vị Tổng Đốc Hà Thành vốn là ông ngọai của nhà báo. Quả thật Phan Khôi là một hậu duệ rất xứng đáng của Tổng Đốc Hòang Diệu vậy.

Costa Mesa, California, Mùa Vu Lan Quý Tỵ 2013

NÉT ĐẸP ĐỜI LINH MỤC

NÉT ĐẸP ĐỜI LINH MỤC


LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J


Cuộc sống quanh ta với biết bao là nét đẹp.  Nét đẹp của hoa cỏ đồng nội.  Nét đẹp của trăng sao, cá nước chim trời.  Nét đẹp của những cánh đồng mênh mông bát ngát, hay nét đẹp của những dòng sông hiền hòa, trĩu nặng phù sa.  Nét đẹp của thiên nhiên và nét đẹp của con người.  Đó là nét đẹp của trí tuệ, nét đẹp về hình thể, nét đẹp của lòng nhân ái bao dung, nét đẹp trong những lời thơ, tiếng hát v.v…  Thế nên, một nhạc sĩ đã từng viết: “Cuộc đời quanh ta có biết bao là nét đẹp.”  Vậy những nét đẹp của đời linh mục là gì?  Tại sao đời linh mục lại có những nét đẹp như thế?

Trong một bài viết đã lâu, linh mục Anthony Đào Quang Chính, OP, có đề cập đến 6 niềm vui sướng và 5 niềm khổ đau trong đời linh mục: “Cái sướng thứ nhất là được gọi bằng “cha”; thứ hai là được bài hát nào đó ca tụng rằng: Chúa chọn con lên hàng khanh tướng; thứ ba là nghe tội người khác; thứ tư là ngồi chỗ kính trọng; thứ năm là không bị lo lay-off, nghĩa là thất nghiệp; và thứ sáu là cha nói một tiếng bằng chúng con nói mười tiếng.” Suy cho cùng, những niềm vui sướng ấy chỉ dừng lại ở khía cạnh hình thức bên ngoài mà thôi.  Những niềm vui sướng ấy không nói lên những nét đẹp nơi căn tính và sứ vụ của người linh mục.  Căn tính sâu xa của đời linh mục đó chính là nét đẹp của tâm linh, nét đẹp của sẻ chia, nét đẹp của tha thứ, và nét đẹp của hy sinh.

Nét đẹp của tâm linh
Linh mục là con người của cầu nguyện, là thầy dạy về cầu nguyện.  Là con người của cầu nguyện, linh mục nguyện gẫm, suy niệm Lời Chúa, giảng dạy Lời Chúa, viếng Chúa, Chầu Thánh Thể và dâng Thánh lễ mỗi ngày.  Đó là những nét đẹp tâm linh trong đời linh mục.

Mỗi lần nguyện gẫm, linh mục có thời gian nhìn lại chính mình, nhìn lại mối tương quan giữa mình với Thiên Chúa, hay mối tương quan giữa mình với giáo dân.  Mỗi lần suy niệm hay giảng dạy Lời Chúa, linh mục phải là người để Lời Chúa soi sáng, dẫn đường để rao giảng những lời của an ủi yêu thương, những lời của sự thật và sự sống.  Mỗi lần viếng Chúa, chầu Thánh Thể, linh mục quỳ gối thinh lặng, cầu nguyện và chiêm ngắm Thánh Thể là bí tích của tình yêu, một tình yêu cao trọng, một tình yêu đến cùng mà Chúa Giêsu, vị linh mục thượng phẩm đời đời đã dành cho nhân loại.  Mỗi lần dâng Thánh lễ là mỗi lần linh mục hiệp cùng hy tế của Chúa Giêsu trên thập giá, để dâng cả những suy nghĩ, dự định, ước muốn; dâng cả những lỗi lầm, bất xứng trong đời linh mục lên cho Thiên Chúa Cha, để cầu nguyện cho bản thân, nhất là cầu nguyện cho những đau khổ của đoàn chiên mà Chúa trao phó.

Nét đẹp của sẻ chia
Nhiều bổn đạo đau khổ, tuyệt vọng bởi những biến cố đau thương giữa đời thường.  Họ tìm đến nhờ linh mục cho những lời khuyên, giúp lời cầu nguyện để vượt qua những khó khăn và thử thách.  Đau khổ về tinh thần lẫn vật chất.  Nhiều bà con vướng vào cảnh nợ nần, hoặc quá nghèo tìm đến với linh mục, nói thật những đau khổ ấy với linh mục, họ hy vọng được ngài sẻ chia.  Có cha mẹ nào lại không thương những đứa con đang hoạn nạn, nghèo túng của mình.  Vì vậy, người linh mục luôn đồng cảm với những nỗi thống khổ của nhiều bổn đạo trong giáo xứ mà ngài coi sóc.  Cha giúp lời cầu nguyện. Cha thăm viếng động viên.  Thậm chí cha giúp một chút tiền để họ vượt
qua khủng hoảng và bế tắc.  Vì vậy, linh mục là người “bị ăn”, là tấm bánh được bẻ ra để phân phát cho những ai đang đói khát.

Nhiều linh mục tổ chức mời đoàn bác sĩ ở thành phố về nhiều giáo xứ tỉnh lẻ ở thôn quê để khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho bà con giáo dân.  Nhiều linh mục tổ chức những đợt phát quà cho bà con giáo dân nghèo mỗi dịp Giáng sinh hay Tết đến.  Nhiều linh mục tổ chức những đợt phát học bổng cho các em thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn nhưng chăm chỉ học hành.  Gia đình nào có tang chế, linh mục đến hiệp dâng Thánh lễ, cầu nguyện và chia sẻ sự mất mát lớn lao.  Đó là những nét đẹp của sẻ chia và yêu thương trong đời linh mục.

Nét đẹp của tha thứ
Theo gương Chúa Giêsu, người linh mục là con người của tha thứ.  Ngài tha thứ cho những bổn đạo nói xấu, chỉ trích, lên án mình.  Ngài tha thứ cho nhiều hối nhân nơi tòa giải tội.  Ngài tha thứ cho những lầm lỗi, thiếu sót cho bà con đang làm việc trong các hội đoàn.  Đó là nét đẹp của lòng bao dung.  Vì yêu thương con cái nên cha mẹ sẵn sàng tha thứ, không chấp nhất những lỗi lầm, khuyết điểm của con. Vì yêu thương đoàn chiên nên người linh mục luôn đón nhận tất cả vào vòng tay nhân ái của người mục tử nhân lành.

Vì vậy, nơi nét đẹp của tha thứ, mỗi Kitô hữu chúng ta còn khám phá ra nơi khuôn mặt của mỗi linh mục sự hiền lành và phúc hậu.  Nét đẹp ấy đã giúp nhiều hối nhân lấy lại niềm tin yêu và cậy trông vào Thiên Chúa.  Cả thế giới vô cùng cảm kích trước nghĩa cử Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tới một nhà tù, thăm hỏi và tha thứ cho người thanh niên bắn những phát súng để ám sát ngài.  Phải chăng đó là nghĩa cử xuất phát từ những gì Chúa Giêsu đã dạy và đã sống?

Nét đẹp của hy sinh
Làm linh mục đòi hỏi phải có sự hy sinh.  Hy sinh thời gian, sức khỏe; hy sinh những phút thư giãn của bản thân để phục vụ nhu cầu tâm linh của nhiều bà con bổn đạo; hy sinh sống đời độc thân không có vợ con để dành trọn thời gian và công việc cho việc phục vụ Giáo hội và mọi người.  Bởi vậy, nét đẹp của hy sinh được kết nên bởi những từ bỏ trong đời linh mục.  Người linh mục đúng nghĩa phải là một con người của sự từ bỏ của cải vật chất, từ bỏ những quyến luyến của tình cảm, của đam mê xác thịt, hay từ bỏ những cám dỗ quyền lực, danh vọng để sống đơn sơ, thanh thoát và dấn thân cho sứ vụ mục tử.

Tình yêu đòi hỏi phải có hy sinh.  Hy sinh càng nhiều tình yêu càng có ý nghĩa và đúng nghĩa.  Tuy nhiên, ngày nay, tâm lý tự nhiên ai cũng sợ hy sinh và từ bỏ.  Người linh mục sợ hy sinh vì thấy lòng mình chưa thật sự từ bỏ dứt khoát những lôi cuốn của sự đời.  Người linh mục sợ cô đơn vì động lực dấn thân vì lòng yêu mến Chúa, yêu mến Giáo hội chưa thật sự mạnh mẽ.  Vì vậy, tận trong sâu thẳm cõi lòng, nhiều linh mục vẫn chân nhận rằng mình cảm thấy cô đơn và đấu tranh với những phân mảnh trái ngược nhau diễn ra trong tâm hồn như trong “Lời Kinh Chiều Chúa nhật”, Linh mục Michel Quoit đã viết: “Lạy Chúa, chiều nay chiều Chúa nhật, một mình con quỳ đây đối diện với ngọn đèn chầu, đối diện với Thánh Thể Chúa.  Giờ này, nhiều gia đình đang sum họp ăn uống, cười nói vui vẻ bên nhau, còn con thì lặng lẽ âm thầm cầu nguyện với Chúa.  Con bắt tay nhiều người nhưng không giữ lại một bàn tay nào cho riêng mình.  Con tiếp xúc với nhiều trẻ con, nâng niu và vui đùa với chúng.  Nhưng lạy Chúa, đó là những đứa trẻ của người khác chứ không phải là của con.  Con giơ tay ban phép lành xá tội cho nhiều người, nhưng những tội đời của con thì chỉ có Chúa mới hiểu mà thôi… Lạy Chúa, làm linh mục có những phút giây cô đơn rất thật như thế, nhưng con tin rằng những phút giây ấy là cơ hội để con trắc nghiệm lại động lực ơn gọi dấn thân trong sứ vụ đời mình.”

Tóm lại, trong cuộc đời này cái gì cũng đều có hai mặt.  Đời linh mục cũng vậy.  Nhiều bậc cha mẹ muốn con đi tu làm linh mục cho sướng cái thân, ra đời lăn lộn kiếm tiền, vất vả khổ cực lắm!  Nhưng họ đâu biết rằng, đằng sau những hào nhoáng, sung sướng bên ngoài ấy, người linh mục hằng ngày phải chiến đấu với bản thân, chiến đấu trong lời kinh, nguyện cầu.  Làm linh mục có nhiều cái sướng nhưng khổ đau cũng không phải là ít, thậm chí khổ nhiều hơn sướng.  Thế nhưng, nhờ những nét đẹp tâm linh, nét đẹp của sẻ chia, nét đẹp của tha thứ, hy sinh mà người linh mục có thêm động lực tình yêu để sống trọn vẹn trong ơn gọi.  Những nét đẹp đời linh mục cho thấy Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng của niềm vui, của niềm tin yêu và hy vọng cho thế giới hôm nay.


LM. Nguyễn Tầm Thường, S.J

From: ngocnga_12

Lần đầu tiên có bằng cử nhân Việt Ngữ tại Hoa Kỳ

Lần đầu tiên có bằng cử nhân Việt Ngữ tại Hoa Kỳ
Bà Natalie Trần (trái) là đồng chủ tịch Hội đồng Cố vấn Giáo dục Mỹ - Việt của Đại học Cal State Fullerton.
Bà Natalie Trần (trái) là đồng chủ tịch Hội đồng Cố vấn Giáo dục Mỹ – Việt của Đại học Cal State Fullerton.
26.08.2013
Một trường đại học của Hoa Kỳ đang gấp rút chuẩn bị các chương trình đào tạo cử nhân Việt Ngữ để giúp các sinh viên có hành trang tốt hơn khi hòa nhập với cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ cũng như ở các nước khác.

Đại học Cal State Fullerton tại tiểu bang California hiện đang chuẩn bị cho 3 chương trình giảng dạy gồm chương trình bằng cử nhân Việt Ngữ, chương trình sư phạm giảng dạy Việt Ngữ và chương trình song ngữ Việt – Anh.

Bà Natalie Trần, giảng viên tại trường này, cho VOA Việt Ngữ biết rằng bà cảm thấy có trách nhiệm tham gia và đóng góp cho chương trình này vì bà là người Mỹ gốc Việt.

Bà nói: “Cộng đồng người Việt Nam sống tại hải ngoại đã được 38 năm. Chương trình này giống như một ước mơ, và một hoài bão của nhiều người trong cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại. Cộng đồng Việt Nam ở quận Cam có một số lớp Việt Ngữ đang dạy trong các trường công lập nhưng mà đa số các thày cô dạy các lớp này có chứng chỉ dạy các môn khác như toán, lý hay hóa. Hiện giờ chưa có chương trình nào đào tạo cho giáo viên có kinh nghiệm và kiến thức để dạy các chương trình Việt Ngữ. Thì đây sẽ là chương trình đầu tiên”.
Cộng đồng người Việt Nam sống tại hải ngoại đã được 38 năm. Chương trình này giống như một ước mơ, và một hoài bão của nhiều người trong cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại.
Bà Natalie Trần nói.
Đây được coi là chương trình đào tạo cử nhân Việt Ngữ đầu tiên và duy nhất ở Mỹ hiện nay và sẽ chính thức nhận học viên vào năm 2014.

Bộ Giáo dục Mỹ đã hỗ trợ một khoản ngân quỹ để Đại học Cal State Fullerton thực hiện các chương trình vừa kể.

Dân biểu Ed Royce, một nhà lập pháp quan tâm tới tình hình Việt Nam và là một cựu sinh viên của Đại học Cal State Fullerton, được cho là người đã có công giúp trường này giành được khoản ngân quỹ thực hiện chương trình đầu tiên là hơn 200 nghìn đôla.

Với số lượng người Việt tại Mỹ tập trung nhiều nhất ở California, hiện có nhu cầu lớn học tập Việt Ngữ tại bang này.

Bà Natalie nói Việt Ngữ rất quan trọng đối với cộng đồng tại đây, nhất là những người trẻ tuổi.

Bà nói: “Vấn đề ngôn ngữ rất là quan trọng và cần thiết. Khi mà các em có được hai ngôn ngữ thì các em có rất nhiều lợi ích cho cộng đồng của chúng ta cũng như cho cộng đồng Mỹ. Thứ nhất là vấn đề tìm việc làm có thể dễ dàng hơn.Thứ nhì là tiểu bang California cần một lực lượng lao động không những có kiến thức văn hóa mà còn biết cả ngôn ngữ về Việt Nam để sử dụng hàng ngày đồng thời tăng cường khả năng đóng góp cho cộng đồng”.

Việc thành lập Hội đồng Cố vấn Giáo dục Mỹ – Việt của Đại học Cal State Fullerton mà bà Natalie là đồng chủ tịch được coi là một bước quan trọng trong quá trình chuẩn bị cho chương trình đào tạo.
Natalie cũng nhận được rất nhiều đóng góp ý kiến từ các vị không những trong cộng đồng Việt Nam tại Quận Cam mà còn từ các tiểu bang khác mà còn từ nươc khác như Úc hay Canada, nơi cộng đồng Việt Nam sinh sống.
Bà Natalie Trần.
Các thành viên của hội đồng này bao gồm nhiều thành phần trong cộng đồng người Việt, trong đó đa phần là những người làm việc trong ngành giáo dục.

Bà Natalie cho biết các thành viên của hội đồng đã có những đóng góp nhằm hình thành chương trình giảng dạy cử nhân Việt Ngữ.

Nữ giáo sư này cho hay, cộng đồng người Việt nói chung phản ứng tích cực trước tin sẽ có chương trình đào tạo cử nhân Việt Ngữ.

Bà Natalie nói: “Trong thời gian 6 tháng nay, khi mà Natalie đi ra tiếp xúc với cộng đồng thì cảm thấy cộng đồng của mình hết sức nỗ lực hỗ trợ cho 3 chương trình này, như là về phương diện truyền thông cũng như là về phương diện phân phối chia sẻ tin tức cần thiết cho chương trình này cho các hội đoàn và các tổ chức. Natalie cũng nhận được rất nhiều đóng góp ý kiến từ các vị không những trong cộng đồng Việt Nam tại Quận Cam mà còn từ các tiểu bang khác mà còn từ nươc khác như Úc hay Canada, nơi cộng đồng Việt Nam sinh sống”.

Ngoài ngôn ngữ, theo bà Natalia, các sinh viên cũng sẽ được giảng dạy về cả văn hóa và lịch sử Việt Nam.

Giới chức của trường báo chí địa phương hay rằng họ hy vọng sẽ đào tạo được khoảng 100 sinh viên thuộc cả 3 chương trình mỗi năm.

ĂN SAO CHO ĐÚNG !

ĂN SAO CHO ĐÚNG !

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng.

Có thực mới vực được đạo. Ăn thì ai cũng phải ăn. Nhưng lắm khi sinh bệnh không vì miếng ăn mà vì cách ăn. Nói có sách mách có chứng, ở CHLB Đức rõ ràng không thiếu bệnh viện chuyên khoa với công nghệ tiên tiến, cũng không thiếu thuốc đặc hiệu. Ấy vậy mà hàng năm vẫn có cả chục ngàn người tìm các tu viện cổ kính ở tiểu bang Badem-Wurtemberg để học cách… ăn!

Sở dĩ như thế không dưới 60% bệnh nhân bên đó quyết liệt đòi hỏi được điều trị bằng liệu pháp sinh học thay vì với thuốc hóa chất tổng hợp. Thêm vào đó, hơn 70% thầy thuốc ở Đức trước sau vẫn trân trọng kinh nghiệm của y học dân gian. Đó là lý do tại sao hàng trăm ngàn bệnh nhân ở Đức thường xuyên tham gia chương trình nghỉ dưỡng trong các tu viện để được chăm sóc sức khỏe với nước khoáng, dược thảo, món ăn… theo kinh nghiệm của các thầy thuốc đồng thời là thầy tu. Nhiều bệnh nhân, kể cả không ít thầy thuốc bên đó, đều nằm lòng nhiều bài thuốc dược thảo gia truyền của nữ tu Hildegard von Bingen, thay vì chuộng lối dùng thuốc theo kiểu đau đâu chữa đó để rồi trả giá bằng phản ứng phụ khó lường. Bên mình thì phản ứng phụ của thuốc dường như vẫn còn là chuyện trà dư tữu hậu!

Nếu tưởng thầy dòng ở xứ làm xe BMW chữa bệnh mát tay nhờ biết cách “tiếp thị” đặc sản nào đó theo kiểu độc quyền “made by thầy tu” thì sai. Cái hay của thầy thuốc mặc áo dòng bên Đức chính là biện pháp hướng dẫn cho “khách hàng” về cách ăn uống sao cho đừng mang bệnh vào thân. Theo các thầy tu trên quê hương của Goethe, nhiều trường hợp mắc bệnh một cách oan uổng, dù tính cho cùng chẳng oan chút nào, là vì gia chủ:
1.    Ăn quá nhanh đến độ mỗi miếng ăn không được nhai tối thiểu 10 lần. Thức ăn vì thế xuống đến bao tử ở dạng khó được hấp thu. Hậu quả là ăn có thể nhiều nhưng hưởng chẳng bao nhiêu!
2.    Ăn trong trạng thái quá căng thằng vì mang theo công việc lên bàn ăn nên tuyến yên không trung hòa nổi lượng nội tiết tố thặng dư do stress. Hậu quả là lượng nước chua trong dạ dày được bài tiết quá sớm trước bữa rồi sau đó quá trễ sau bữa ăn, nghĩa là lúc bao tử còn trống. Dạ dày vì thế dễ bị viêm loét. Đã vậy nếu gia chủ ăn khi đang bực bội hay buồn rầu thì không cần học bói dịch cũng biết sớm muộn cũng gặp hạn “quan lang”!
3.    Quên uống ly nước lớn trước bữa ăn ít phút, hay chọn món canh khai vị, để nhờ nước vừa pha loãng dịch vị, vừa giúp bao tử xay nhuyễn thức ăn, thay vì lúc nào cũng phải rồ ga vì gặp hàng cứng rồi mau cháy máy!
4.    Ăn một lần quá no khiến trái tim sau đó phải gồng mình bơm thêm máu đến trục tiêu hóa rồi đành bỏ quên nơi khác như não bộ, thành tim, đáy mắt… Chính vì thế phải ăn chầm chậm, ăn vừa đủ no nếu đã thiếu máu cơ tim, đã bị bệnh võng mạc. Với người ăn quá nhanh, đến khi có được cảm giác no thì lượng thức ăn đã quá tải trong dạ dày.
5.    Dùng nhiều thực phẩm sống trong bữa cơm chiều để rồi suốt đêm khó ngủ vì hiện tượng lên men trong khung ruột. Đó là chưa kể hậu quả lâu dài trên trục thần kinh – nội tiết – biến dưỡng vì các cơ quan nội tiết như tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng… ngày nào cũng phải tăng năng suất.
6.    Không lưu ý về quân bình giữa thực phẩm gốc động vật và rau quả tươi theo tỷ lệ món đỏ đừng hơn phân nửa món xanh, thậm chí chỉ 1/3 càng tốt, để độ pH trong máu đừng quá chua rồi kéo theo rối loạn biến dưỡng.
7.    Hay tráng miệng bằng món quá ngọt ngay sau bữa ăn khiến tụy tạng mau mệt nhoài vì đã bù đầu với việc điều chỉnh lượng đường huyết ngày nào cũng bội tăng mấy chục lần.
8.    Không cho cơ quan cơ quan trọng yếu giữ nhiệm vụ giải độc như lá gan, trái thận, khung ruột có dịp nghỉ xã hơi nhờ không phải đối đầu với độc chất ngoại lai hay phế phẩm nội sinh từ tiến trình biến dưỡng. Đáng tiếc vì biện pháp tương đối đơn giản. Đó là nhịn đói ít ngày trong tháng, hay một ngày trong tuần, hay vài ngày trong tuần chỉ ăn một bữa.
9.    Ăn nhậu là tiếng kép. Đừng uống rượu mà không ăn. Nên nhớ là lượng thức ăn khi “vô” giữ vai trò chất độn để nhờ đó giảm độ hấp thu của rượu vào máu.
10.    Nhậu nhẹt cũng là tiếng kép. Thầy tu bên Đức không cấm nhậu, miễn là đừng nhậu đến… nhẹt! Trong chương trình dinh dưỡng của các nhà dòng bao giờ cũng hoan nghênh ly rượu vang đỏ hay cốc bia đen sau mỗi bữa ăn. Kẹt một nổi là ở xứ mình nhiều người vẫn chưa phân biệt được giữa một ly với một chai rượu mạnh hay một két bia!

Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) ắt hẳn đã có cơ sở vững chắc khi quả quyết sai lầm trong chế độ dinh dưỡng là nguyên nhân của tối thiểu 70% bệnh chứng nghiêm trọng. Không cần dông dài, khỏi cần thống kê cũng hiểu tại sao nhiều bệnh chứng nghiêm trọng như ung thư, cao huyết áp, tiểu đường, thấp khớp, dị ứng… lại có tỷ lệ cao đến thế ở nước ta! Không cần dông dài cũng hiểu tại sao doanh nhân là miếng mồi ngon của nhiều bệnh chứng chỉ vì mấy ai tránh khỏi ăn uống thất thường, ăn quá nhanh, uống nước không đủ… Đáng tiếc vì ăn thì ai cũng phải ăn nhưng do cách ăn mà sinh bệnh thì đúng là vụng về đến độ đáng trách.


Bác sĩ Lương Lễ Hoàng.

THIÊN CHÚA KHÔNG XÉT LÝ LỊCH

THIÊN CHÚA KHÔNG XÉT LÝ LỊCH

(Lc 13,22-30)

Tác giả: Cao Huy Hoàng

Lời của Chúa là Tin Mừng, không thể nào là tin buồn cả. Nhưng, thiết tưởng,  trang Tin Mừng hôm nay gợi lên cho mỗi người một nỗi buồn chính đáng, nỗi lo chính đáng. Nỗi buồn chính đáng về đoạn hành trình chúng ta đã đi qua, và nỗi lo chính đáng về hành trình chúng ta đang đi tới.

Chúa Giê-su cho chúng ta biết trước về sự tuyển chọn công dân Nước Trời, tuyển chọn người vào dự tiệc trong Nước Trời theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa. Thật đáng buồn thay khi phải đón nhận những lời yêu rất thẳng thắn mà cũng rất đáng buồn, đáng khiếp sợ nếu mỗi chúng ta phải nhận lấy lời này:

“Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến!”

“Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!”

Thiên Chúa không xét lý lịch

Rõ ràng là Thiên Chúa không phán xét mỗi chúng ta theo tiêu chuẩn lý lịch. Đáng buồn thay! Lâu nay chúng ta vẫn tự hào rằng chúng ta là con cháu của các Thánh Tử Đạo, của các chứng nhân anh dũng đã từng bị bách hại, bị giết chết ngàn ngàn người, bị chôn tập thể ở nhiều gò nhiểu nỗng mà bây giờ vẫn còn gọi là Gò Mã Thánh, hay Gò Thánh. Lại cũng có người khoe khoang rằng dòng họ nhà mình có vài người làm Đức Cha, có cả chục người làm Linh Mục, tu sĩ nam nữ thì vô kể. Người khác lại tự hào rằng dòng mình thì không có cha, có sơ nhưng ông cố, ông sơ theo đạo thời xửa thời xưa vài trăm năm trước. Đáng buồn thay khi không chỉ tự hào khoe khoang về lí lịch của mình, mà đôi khi còn lên mặt dạy đời cho những người tân tòng, chê bai dè bỉu những người mới theo đạo trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Theo đạo khi lập gia đình với người có đạo, theo đạo sau một cơn bạo bệnh được giúp đỡ, chẳng hạn… Đáng buồn thay! Chúng ta thật vô lý vì rõ ràng là chính mình đã có đạo, nhưng gần như chỉ là đạo danh nghĩa, đạo giấy tờ mà chửa thực sự sống tinh thần của Đạo. Chúng ta chẳng khác nào những người Do Thái ngày xưa lấy lí lịch của mình ra mà kỳ kèo với Thiên Chúa để được vào Nước Trời rằng: “Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài, và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi”.

Trong lý lịch ở đời, người ta có yêu cầu phải khai rõ làm nghề gì, ở đâu, nhưng đối với Thiên Chúa, Ngài không hỏi chi tiết này. Thế thì chúng ta có nhận ra sự vô duyên của mình khi mãi tự hào về chức vụ của mình trong Hội Thánh Chúa. Cần thiết để được chuẩn vào Nước Trời sao, mà có người cứ phải tranh giành làm ông kia bà nọ trong Giáo Xứ. Và khi không được bầu vào chỗ mà mình ước ao, thì đâm ra bất mãn, chê bai, tìm cách bêu xấu, hạ bệ những người đương chức. Không phải là hiếm những trường hợp kiện cáo vô duyên nơi các giáo xứ, các hội đoàn chỉ vì lòng ganh tỵ không đáng có. Đáng buồn thay. Chúa không tuyển vào Nước Trời theo tiêu chuẩn chức vị, chức vụ hay công trạng làm việc cho Chúa, cho Hội Thánh lâu năm.

Chúa cũng không xét về trình độ hiểu biết về Thiên Chúa. Vậy mà trong chúng ta vẫn có người rất tự mãn về vốn học, vốn tu nghiệp, vốn đào tạo một mớ kiến thức thần học. Cũng có người tự hài lòng về tài năng giảng thuyết về Thiên Chúa rất thuyết phục, rất hấp dẫn. Người khác lại tự hào về những tác phẩm viết về Thiên Chúa, những suy tư, những ca khúc, những bài văn, bài thơ, những công trình nghiên cứu đồ sộ… Đáng buồn thay! Chúa cũng không xét về trình độ, về tác phẩm.

Nhờ Lời Chúa hôm nay soi sáng, chúng ta có thể thấy còn nhiều điều đáng buồn cho cái suy nghĩ kém cỏi của mình, cái lầm tưởng của mình, khi tự vẽ ra cho mình một Nước Thiên Chúa y chang như một đất nước trần gian về chuyện thưởng, phạt. Vì quả thực, các nước ở trần gian thưởng không đúng người, phạt không đúng tội vẫn là chuyện cơm bữa. Nước nào càng kém văn minh về tình thương, kém hiểu biết về Thiên Chúa thì càng bất công, bất chính tồi tệ hơn.

Tiêu chuẩn của Thiên Chúa

Chúa Giê-su biết rõ lòng dạ con người chúng ta đang quá vấn vương mùi đời và không muốn cho chúng ta suy nghĩ lầm lạc về Nước Thiên Chúa. Ngài đã trả lời cho thắc mắc của một người rằng “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?” bằng câu nói “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được”.

“Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào” chính là tiết lộ tiêu chuẩn của Thiên Chúa dành cho những ai muốn được vào Nước Trời.

Câu trả lời ấy là Lời Vàng cho mỗi chúng ta, nhắc nhở cho chúng ta một nỗi lo rất chính đáng trên đoạn hành trình còn lại của mỗi người: vào Nước Trời qua lối hẹp, lối mà Chúa Giê-su đã đi.

Hai từ “lối hẹp” hay “cửa hẹp” mà Chúa Giê-su dùng hôm nay như phần kết luận, hay bản tóm tắt cả một cuộc đời của Ngôi Con Thiên Chúa, tóm tắt bao nhiêu Lời đã mạc khải, Lời đã giảng dạy trong hành trình rao giảng Nước Thiên Chúa.

-Lối hẹp của lòng khiêm cung và vâng phục tuyệt đối: Con Thiên Chúa cao trọng quyền phép lại khiêm cung vô cùng để con người kiêu căng phải biết cúi đầu nhận tội. Con Thiên Chúa chịu bước xuống làm người, để con người được bước lên cùng Thiên Chúa. Con Thiên Chúa chấp nhận bỏ trời xuống đất, để con người biết buông bỏ mọi sự phù vân dưới đất mà lên trời vĩnh cửu. Con Thiên Chúa toàn năng, chí thánh, chí thiện bằng lòng mang thân phận tội nhân, để tội nhân được vinh phúc thông chia sự thánh thiện của Ngài…

-Lối hẹp của tình yêu thương tuyệt đối: Con Thiên Chúa yêu thương con người để con người hẹp hòi ích kỷ biết thương nhau. Con Thiên Chúa hiến thân chịu chết cứu chuộc con người để con người biết hy sinh cho nhau được sống và sống vui. Con Thiên Chúa biết chạnh lòng trước nỗi đau của con người để con người cũng biết chạnh lòng thương xót bao mảnh đời cơ cực. Con Thiên Chúa khoan dung tha thứ cho con người tội lỗi tày trời, để con người cũng biết thứ tha cho nhau và xây dựng bình an hạnh phúc…

Vâng, nói cách khác, tiêu chuẩn của Thiên Chúa: “qua lối hẹp”, “qua cửa hẹp mà vào” là hãy nên giống Chúa Giê-su trong mọi sự, hãy đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su trong hành trình cuộc đời hành hương, hãy đi con đường Thánh Giá mà Chúa Giê-su đã đi mới mong được vào Nước Thiên Chúa.

Bấy giờ, Thiên Chúa Cha không xét lý lịch, nhưng hẳn là ai đã nên giống Chúa Giê-su trong mọi sự, thì sẽ được Ngài đón tiếp, được cho vào Nước Thiên Chúa trước. Và dĩ nhiên là, cả tôi, cả bạn, cả những người trông mong và kỳ kèo Ngài xét cho cái lý lịch con ông cháu cha, chức vụ, hay tài năng trình độ của mình mà không nên giống Chúa Giê-su thì hẳn là chỉ còn biết trông nhờ vào Lòng Thương Xót của Ngài mà thôi, nếu không nói là bị quăng ra ngoài nơi khóc lóc, nghiến răng, trầm luân muôn kiếp.

“Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa. Và kìa có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót”.

Nỗi lo thật chính đáng: “Tôi là kẻ đứng hàng đầu, lại xuống hàng chót đấy sao?”.

Cuộc đời là chuyến hành hương

Người đi phải chọn đúng Đường mà đi…

(Hương Nam)

Lạy Chúa Giê-su, xin tạ ơn Chúa đã cho chúng con biết tiêu chuẩn vào Nước Trời. Xin cho chúng con biết chọn con đường Thánh Giá của Chúa mà can đảm và kiên trì bước đi. A men.

PM. Cao Huy Hoàng,

24-8-2013

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHỊ VERONICA PHONG CÙI:

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHỊ VERONICA PHONG CÙI:

Một lời cầu nguyện thiên đàng cũng phải rơi lệ.

Một lời cầu nguyện hay nhất mùa Lễ Tạ Ơn.

Biết ơn là dấu chỉ làm người và cũng là dấu chỉ của người Kitô hữu trước những hồng ân bao la của Thiên Chúa ban cho. Nhân mùa Lễ Tạ Ơn và Năm Đức Tin, anh chị em thanhlinh.net xin gởi đến Quí vị và các bạn lời cầu nguyện của chị Veronica phong cùi. Một lời cầu nguyện tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa hay nhất, tuyệt vời nhất, và cũng là lời bày tỏ Đức tin sâu đậm nhất của một người mang căn bệnh phong cùi ngặt nghèo, dù mất mát tất cả nhưng vẫn tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu của Thiên Chúa. Xin Quí vị cùng chúng tôi dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ, tri ân khi nghe lời cầu nguyện này.

httpv://www.youtube.com/watch?v=RYggna7hSHs&feature=youtu.be

CHỊ VERONICA PHONG CÙI

Hai linh mục Raymond và Pierre Jaccard – hai anh em ruột – cũng là hai bác sĩ hội viên của tổ chức “Frondations Follereau” tại Ba Lê đã từ nhiều năm hiến đời mình phục vụ “người cùi”. Do đó các ngài đã quen biết chị Veronica và đã tới hàn thuyên với chị nhiều lần. Là một linh hồn rất đặc biệt, chị không muốn hai cha tiết lộ danh tính, nhưng bằng lòng cho hai cha phổ biến lời cầu nguyện sau đây của chị. Hồi xưa, Veronica là một cô gái kiều diễm, ngày nay chị đã mất tất cả: sắc đẹp duyên dáng, tay chân mịn mà, hai con mắt huyền ảo. Nhưng để bù lại sự mất mát phần xác bề ngoài, chị đã được Chúa đền đáp cho một tâm hồn trong sáng, quảng đại, phó thác hoàn toàn, vì ở trong đó tràn đầy ân sủng và sống tiêu tan trong đại dương tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa được chị diễn tả trong một lời cầu nguyện tuyệt vời.

Lời cầu nguyện này là bản toát yếu đời sống bên trong của chị, là tấm gương sáng lạn phản chiếu một nội tâm sâu đậm, phong phú vì đã được lọc luyện qua đau khổ, qua một chứng bệnh bên ngoài thật ghê gớm, nhưng chị Veronica đã chấp nhận sống trong suốt 60 năm trời đằng đẵng, và chị cho đó là một sứ mệnh cá nhân: “Lạy Chúa, suốt bằng ấy năm chịu bệnh, con ý thức Chúa đã chiếm đoạt con cho một mình Chúa: thật sự cho một mình Chúa. Con đã chấp nhận, do đó hồn con đầy tràn thanh bình và hoan lạc”. Để cống hiến quí cha, quí tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân Việt Nam Lời Cầu Nguyện Này, chúng tôi gửi đến như là một đóng góp khiêm tốn – nhưng chân thành – ghi nhớ ngày đại hội ngàn năm một thuở, nhân dịp lễ tôn phong Hiển Thánh các chân phước Tử Đạo Tiên Tổ tại giáo đô La Mã (19.6.1988).

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA CHỊ VERONICA PHONG CÙI
(Bài “Avec Une Infinie Tendresse”)

Lạy Chúa, Chúa đến đòi con tất cả,
Và con đã tận hiến cho Chúa toàn thân.

Hôm xưa con mê đọc sách, nhưng giờ này con đã mù loà.
Con thích chạy nhảy trong khu rừng hoang vắng,
Nhưng hiện nay hai chân con đã thành bất toại!
Con thích đi hái những bông hoa dại dưới nắng trời xuân,
Nhưng ngày nay hai bàn tay ấy không còn nữa!
Là phụ nữ, con ưa nhìn mái tóc mây mượt mà óng ả,
Nhìn những ngón tay mềm mại xinh đẹp,
Nhìn tấm thân liễu đào kiều diễm.
Nhưng giờ này trên đầu con không còn một sợi tóc,
Những ngón tay mịn mà của tuổi giai nhân ngày xưa,
Hôm nay chỉ là những thanh gỗ nhỏ khô cứng!

Lạy Chúa, xin nhìn đến thân con hồi nào mỹ lệ,
Hôm nay đã tàn tệ, nhưng con không dám trách than:
Con tạ ơn Chúa, và ngàn đời con sẽ hát lời ca ngợi.
Và giả như con có chết đêm nay đi nữa,
Con tin chắc đời mình đã được sung mãn dồi dào.
Là vì sống bằng tình yêu, con được quá những gì lòng con ước nguyện.

Lạy Cha chí nhân,
Với đứa con Veronica, Cha đã quá nhân từ hiền hậu.
Quỳ hôm nay, con cầu cho những ai phong cùi trong thể xác,
Nhưng nhất là những ai “phong cùi” trong tâm linh nội diện:
Vì họ có thể đổ xô, gục ngã, tàn phế, tiêu tan:
Chính những lớp người này con càng thành tâm yêu mến,
Và trong âm thầm con nguyện hiến đời mình cho họ,
Bởi vì họ với con là anh chị em một nhà!
Lạy Chúa của lòng con yêu mến thiết tha,
Con dâng lên Chúa tấm thân phong cùi thể xác này,
Để cho họ không còn phải nếm phiền muộn, đắng cay,
Không còn phải lạnh lẽo và khổ đau chua xót,
Vì chứng phong cùi ghê gớm xâu xé tâm linh họ!

Lạy Cha chí nhân,
Con vẫn là đứa con gái bé bỏng thân tình,
Xin cầm tay dẫn con đi, như người mẹ dẫn đứa con thơ dại;
Xin xiết chặt con vào trái tim Cha đang rộng mở,
Như người Cha ấp ủ đứa con nhỏ bé hồi nào!
Xin cho con chìm sâu trong đáy huyệt lòng Cha,
Ở mãi trong đó với những người con yêu thương trìu mến,
Vì ở đó là hạnh phúc thiên đàng trường sinh vĩnh cửu!

Cảm ơn Cha.


Đức ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ (dịch)

NGHÈO ĐÓI

NGHÈO ĐÓI

Gm. Bùi Tuần

Có lúc tôi cảm tưởng nhu nghèo đói là một luật lệ của thân phận gia đình tôi. Từ nhỏ cho tới bây giờ, tôi chưa bao giờ được thấy gia đình sung túc. May mà chưa có ai phải chết đói.

Nhưng không chết đói không có nghĩa là đã đủ ăn. Mà dù có lúc nói được là đủ ăn, thì thứ đủ ăn đó cũng chỉ là thứ đủ ăn của kẻ nghèo, nghĩa là ăn đủ no chứ không ăn đủ sức.

Đủ cơm ăn nhưng không đủ áo mặc, đủ gạo ăn nhưng không đủ nhà ở, đủ đồ ăn không đủ tiền mua thuốc và cho trẻ em đi học.

Thú vật chỉ cần no là đủ.

Con người no mà vẫn có thể nghèo thê thảm.

Con thú no là đã đạt được kiếp thú.

Con người no nhưng nghèo túng vẫn không thể sống cho ra kiếp người. Phương chi lại vừa đói vừa nghèo.

Kẻ nghèo thường phải mất mát nhiều quá, mất sự kính nể, mất bạn bè, có khi mất cả nhân phẩm, niềm tin và hy vọng.

Nhìn sang các gia đình chung quanh, tôi thấy cũng hơn kém như thế. Thì ra cảnh nghèo còn là một thứ quê hương chung của đa số đồng bào tôi.

Muốn an ủi mình và những kẻ cùng trong thân phận nghèo, có lúc tôi muốn lượm lặt tất cả những lời người ta đã nói tốt về cảnh nghèo, để đúc nên một bài ca tán tụng thân phận nghèo đói.


Nhưng tôi không làm được. Vì cảnh nghèo đói hầu nhủ chẳng được ai tán thưởng. Cũng có ít người tỏ vẻ muốn khen, nhưng khổ nổi là họ chẳng bao giờ muốn, đã dám và đã thực sự phải sống nghèo. Vì thế, lời họ khen đã trở thành mỉa mai và mang màu đạo dức giả tạo.

Còn Chúa Giêsu thì có bao giờ Ngài đã khuyến khích cảnh nghèo đói đâu. Trái lại, Ngài tỏ ý muốn mọi người được sống đầy đủ. Chẳng thế mà Ngài đã dạy ta: “Xin Cha cho chúng con lương thực hàng ngày’’. Lương thực hàng ngày ở đây được hiểu về tất cả những sự cần ích cho cuộc sống vật chất và tinh thần.

Nên Chúa có lần đã nói: “Phúc cho kẻ nghèo khó trong tinh thần’’, thì đó không phải là sự cổ võ cảnh nghèo đói, nhưng chỉ là một lời khuyên như mọi người, dù nghèo dù giàu, nên có tinh thần dứt bỏ với của cải.

Mặc dầu Chúa không xuống thế vì mục đích giải quyết vấn đề cơm áo cho nhân loại, nhưng không vì thế mà Chúa không quan tâm đến thân phận kẻ nghèo. Trong số hơn 40 phép lạ được kể trong Phúc âm, có bao nhiêu phép lạ Chúa đã làm cho kẻ nghèo và vì kẻ nghèo.

Đạo Chúa dạy tôi phải làm theo Chúa và giữ luật Chúa. Bổn phận đối với kẻ nghèo thì Chúa nêu lên nhiều gương đáng sợ, và ra nhiều luật quyết liệt. Như gương người giàu có và người ăn mày tên Lazarô. Như gương Chúa sẽ đối xử với người ta trong ngày phán xét căn cứ vào thái độ đối với kẻ nghèo. Như luật đã ghi trong kinh mười bốn mối thương xót.

Nghĩ tới đây, tôi thấy lương tâm tôi áy náy vô cùng.

Bao lần tôi đã không quan tâm đến cảnh nghèo của người khác. Bao lần tôi đã vô tâm xài phí tiền bạc bên cạnh những người đói khổ. Bao lần tôi đã nhẫn tâm khinh miệt hắt hủi những kẻ rách rưới, nghèo nàn. Bao lần tôi đã lên mặt đạo đức giả, gán cho kẻ nghèo những ý nghĩ xấu, chỉ vì họ quá nghèo đến nài van tôi giúp đỡ.

 


Lạy Chúa, con đã gặp kẻ nghèo hay con đã gặp Chúa? Có phải họ, hay là Chúa đó? Đúng là con đã gặp họ, nhưng cũng đúng là con đã gặp Chúa. Vì Chúa kể việc con làm cho kẻ nghèo như việc con làm cho chính Chúa. Đến ngày phán xét, Chúa sẽ tính tất cả, lúc đó, con biết ăn nói làm sao đây? Lạy Chúa, nếu Chúa căn cứ vào thái độ của con đối với kẻ nghèo để đánh giá con, thì con khó thấy có hy vọng được chọn.

Lạy Chúa, xin giúp con biết thành tâm xét kỷ lại thái độ của con đối với kẻ nghèo.

Gm. Bùi Tuần

10 Bài học sức khỏe từ người Nhật

10 Bài học sức khỏe từ người Nhật

1-Bớt ăn thịt, ăn nhiều rau

2-Bớt ăn mặn, ăn nhiều chất chua

3-Bớt ăn ðường, ăn nhiều hoa quả



4-Bớt ăn chất bột, uống nhiều sữa

5-Bớt mặc nhiều quần áo, tắm nhiều lần

6-Bớt ði xe, năng ði bộ

7-Bớt phiền muộn, ngủ nhiều hơn



8-Bớt nóng giận, cười nhiều hơn

9-Bớt nói, làm nhiều hơn

10-Bớt ham muốn, chia sẻ nhiều hơn

Những bài học trên có tác dụng rất lớn ðối với những người bị tăng huyết áp,

bệnh tim mạch, ung thư dạ dày, viêm gan…

Chim Bay Về Biển

Chim Bay Về Biển

Phạm Tín An Ninh

Một mai chim bỏ bay về biển

Ta đứng một mình ngó nhánh sông

Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy

Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng

(Sương Mai)

Một cánh chim vừa bay ra biển, nhỏ dần rồi mất hút giữa mênh mông. Tôi mơ hồ như hình ảnh của chính mình đang tìm về quê cũ. Hình dung đến thành phố Nha trang xưa, nơi mà nếu không có biển sẽ không còn lãng mạn để người ta nhắc nhớ, đắm say, cũng có thể làm nhẹ đi ít nhiều tiếc nuối của những người Nha trang xa xứ.  Bờ biển cát từng chôn giấu những hang động tuổi thơ và ôm ấp dấu tích của bao cuộc tình thơ mộng, nước biển đã cuốn trôi đi, nhưng không thể xóa mất trong ký ức của nhiều cặp tình nhân mà bây giờ tóc ai cũng bạc. Âm thanh những ngọn sóng rì rào đã dệt nên những bài thơ, những bản tình ca từng làm khuấy động bao trái tim người, mà dư âm dường như vẫn còn vang vọng mãi.

Nha trang đẹp đẽ, hiền hòa và thơ mộng đó bây giờ đã không còn nữa. Đã trở thành một Nha trang xa lạ, như thuộc về ai đó chứ không phải của mình. Đó là cảm nhận xót xa của đám bạn bè tôi, không chỉ người đã rời xa mà cả những người vẫn còn ở lại với Nhatrang, sống với Nhatrang gần trọn một đời.

Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng, một đàn anh văn nghệ, cũng là đồng môn huynh trưởng cùng trường Võ Tánh, sau 15 năm trở lại Nhatrang, đã viết:

“Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi quay trở về như một người xa lạ. Thành phố tôi đã ở thời tuổi nhỏ như nhỏ lại, những con đường quen đã xa lạ, tiếng sóng biển vọng lại âm thanh đều đặn kỳ quái của một vùng biển chết nào. Bãi cát không còn cái màu của thời tôi mới lớn và rừng dương đã bị xóa khỏi bản đồ của trái tim.

… tôi trở về nhìn lại biển xưa thấy không còn lại chút dấu vết nào của những ngày trốn học, những buổi trưa hạnh phúc nằm trên bãi cát, gối đầu lên hai cánh tay, đấp mặt bằng cành lá dừa, ngủ một giấc chờ đến giờ tan học lủi thủi trở về”(truyện Từ Đường- VOA/  01.5.2013)

Một chị bạn cùng trường Võ Tánh, hiện định cư ở thành phố Seattle bên Mỹ. Năm 1954 là một cô bé 7 tuổi, di cư theo gia đình từ Hà nộivào Sài gòn. Ông bố là quân nhân, được bổ nhậm ra một đơn vị ở Nhatrang. Cô rất vui mừng được theo cha ra sống ở thành phố biển. Thi đậu vào lớp đệ thất  trường Võ Tánh. Nhưng chỉ mấy năm sau lại bịn rịn bỏ lại bạn bè, theo bước chân cha ra tận Quảng Nam, rồi Huế. Sau này trở thành cô giáo trung học, lên cao nguyên sống với phố núi và đám học trò Kinh – Thượng, giữa chiến tranh vây bủa, may mắn sống còn trong lần di tản kinh hoàng trên con đường Tỉnh Lộ 7B.Vậy mà một thời tuổi thơ ngắn ngủi ấy lại là mảng quá khứ đẹp đẽ nhất. Trong ký ức và cả trong trái tim, chị đã dành ngăn lớn nhất cho Nha Trang . Sang Mỹ định cư khá lâu, chị háo hức trở về thăm Nha trang, để rồi “chỉ thấy lòng buồn rười rượi, bởi đang đi trên đất Nha trang mà cảm giác như mình là  kẻ lạ, không tìm thấy bóng dáng Nha trang của mình ngày trước”.

Hai người bạn học cùng lớp với tôi cũng ở trường Võ Tánh. Sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên và gần trọn một đời sống với Nhatrang. Trước 75 đều là thầy, cô giáo trung học, giờ chỉ âm thầm nhìn đời từng ngày trôi đi vô vị, những đêm mất ngủ thao thức viết những bài thơ buồn trước bao điều đổi thay ngao ngán. Họ vẫn ở lại với Nha trang cho đến hôm nay, sau bao nhiêu lần tưởng chừng Nha trang đã hất hủi, đuổi xô, không còn chỗ cho họ dung thân. Hai người bạn của tôi rất chí tình với bạn, sống chết với quê, vậy mà đã bao lần than thở: “không ra đi như mi, tớ ở lại với Nhatrang mà vẫn không tìm ra Nhatrang của bọn mình ngày trước! Không có gì đau hơn là sống trên chính đất nước mình mà cứ mãi hoài vọng một quê hương!” Họ chỉ còn gặp lại Nhatrang trong ký ức, trong những bài thơ họ viết về một thời quá khứ, nghe chừng đã rất xa xưa:

chiều quá chén nửa đêm tỉnh giấc

mảnh trăng khuya vòi või chờ ai

trong cỏ ướt dế buồn thao thức

giữa quê nhà sao mãi hoài hương.

Từ buổi ấy đồng thu cỏ biếc

nghe âm u gió tạt mùa xa

người đứng giữa trời không – luyến tiếc

nghĩ ngợi gì tóc rủ sương pha.

….

Bao năm tìm lại con đường

nẻo xanh ngần ngại nghe chừng rất xa

chiều thu xứ ấy mù sa

tình thu thuở ấy cũng là chiêm bao.

(đ.ư.v)

Đám học trò bọn tôi thưở ấy, giờ tóc ai cũng bạc. Sau cuộc thăng trầm quá lớn, nhiều lúc bất chợt ngỡ mình giờ là một người nào khác. Dù còn sống ở quê nhà hay lưu lạc tha phương, ai cũng đã phải trải qua một cuộc đổi đời bi thảm. Nhiều người thành công trong cuộc sống mới, tưởng rằng mọi thứ đã lãng quên, nhưng thực ra vết thương lớn, nhỏ trong lòng dường như vẫn còn đó, chưa lành.

Lần trở lại Nha trang duy nhất để tìm bốc mộ thân phụ bên ngoài một trại tù “cải tạo”, cách đây đúng mười năm, tôi đi một mình trên những con đường xưa, nghe sóng vỗ xa xa mà trong lòng chỉ còn dội lại những dư âm ngày cũ.  Tôi may mắn gặp lại vài ba người bạn học. Nhưng dường như tất cả đều nở nụ cười không trọn. Vui đó rồi buồn đó, bởi mỗi người một số kiếp long đong.

Một thằng bạn rất thân, cùng học ba năm cuối ở trường Võ Tánh. To con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ tôi còn gặp lại nó ở Nhatrang. Mặc dù bây giờ nó không được phép ở lại trong ngôi nhà và thành phố xưa của nó.

Sau sáu tháng vào tù, căn nhà nhỏ của nó ở Nha trang bị tịch thu, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông…về đâu đó, không bao giờ trở lại. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên đi làm phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ. Trong lúc phụ hồ sửa sang một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp. Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, đã cưu mang ba đứa bé không thua gì một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn có những tấm lòng còn hơn cả những chữ Từ Bi viết trong mấy ngôi chùa.

Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái ân nhân để xin nói một lời tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau, yêu nhau rồi lấy nhau. Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị lại yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị bảo vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị xem như con ruột của mình. Chính cái tình thương và sự gắn bó ấy mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời. Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu trở về thành phố cũ. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên vùng quê Diên Khánh.

Cũng chính vì Nha trang đã tạo nên cái hộ khẩu mỗi người mỗi nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi được gọi phỏng vấn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và sỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ.

Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.

Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang, tối lại chạy về Diên Khánh!

Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.

Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.

Tôi quay sang bảo thằng bạn:

– Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.

Nó xua tay:

– Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.

Tôi đùa:

– Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.

Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính. Khi chia tay, nó ôm vai tôi buồn bã:

-Mày thấy không, cái thành phố Nha trang mà tao sống cả một thời đẹp đẽ, giờ cũng phụ bạc tao, gây cho gia đình tao bao khốn khó! Từ ngày thuộc về bọn CS, Nhatrang với tao là một vùng đất xấu, lạ lẫm. Mày còn nhớ tác phẩm tiếng Pháp “Le domaine maudit” của ông thầy Cung Giũ Nguyên?

Nha trang bây giờ là thế đó!

Tôi thực sự chưa hiểu, mơ hồ có điều gì không ổn trong cách suy tư của nó. Nhưng tôi cảm được nỗi đau của nó.

Một cô bạn học từ những năm đệ ngũ, đệ tứ bên trường Văn Hóa. Một lần sang Mỹ thăm cô con gái là sư cô ở một ngôi chùa vùng Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc San Liên trường Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO, nên nàng và hai cô con gái không được đến Mỹ. Dắt con lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Nàng bảo nhiều lúc nhớ Nhatrang lắm, thử quay về, nhưng rồi thấy lạc lõng, mọi thứ chỉ mới đây thôi sao giờ trở thành xa lạ quá, không còn nhiều cảm xúc, nếu có chỉ là đắng cay. Cuối cùng, mẹ con quyết định mua một căn nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn xa lạ. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ. Hôm ngồi trên máy bay trở lại Bắc Âu, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Có nhiều bài tiếc nhớ Nhatrang, nhưng không phải bây giờ mà Nha trang của nàng và của đám bọn tôi ngày trước. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ nàng chắc cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.

Một thằng bạn khác cùng học trường Võ Tánh. Sau này gặp nhau trong cùng một đơn vị lính. Đánh giặc rất lì, nhưng luôn bị “đì” bởi bản tính ngang tàng không nể mặt cả cấp chỉ huy. Trong khi đang ở tù ngoài Bắc, chị vợ xinh đẹp ở nhà bị đám người thắng trận theo đuổi, dụ dỗ không được rồi chèn ép dọa dẫm, chán chường cuộc sống nên chị lội xuống biển Nha trang tự vẫn, để lại một thằng con trai bốn tuồi. Nơi người ta phát hiện thi thể của chị lại chính là bờ cát, dấu tích yêu đương hẹn hò, thưở hai người mới quen nhau.

Ra tù, không thể sống trên thành phố quê hương một thời đẹp đẽ giờ chỉ còn là mảnh đất thê lương tang tóc, mỗi ngày ám ảnh bởi cái chết đau đớn của người vợ trẻ đẹp dấu yêu, nó dắt mẹ già và đứa con thơ vượt biển. Sang Mỹ, nhờ mẹ chăm sóc cho đứa con, nó vừa đi làm vừa đi học. Được bạn bè khen, nó bảo: “chẳng phải tao siêng năng chăm chỉ gì đâu, nhưng vì tao không muốn còn có chút thì giờ rảnh rang nào để nghĩ ngợi mông lung, hồi tưởng về một quá khứ đau lòng, nên cố đâm đầu vào sách vỡ!”. Nó chưa bao giở về lại Nhatrang. Bạn bè ai cũng phục khi nó lấy được bằng Cao học Tâm Lý ( Master of Psychology) và có công việc làm lương cao, ổn định. Trong đám bạn bè bất hạnh, nó là đứa thành công nhất. Bỗng một ngày được tin nó chết. Chết đau đớn. Thuê phòng trong một khách sạn ở gần nhà, rồi đến đó dùng súng bắn vào đầu mình tự sát, để lại mấy lá thư. Tôi nhận lá thư nó viết cho tôi, được cảnh sát giao lại, nét chữ đẹp đẽ ngay ngắn, chứng tỏ nó rất bình tĩnh trước khi tự kết liễu đời mình.  Đọc xong thấy lòng đau đớn như có trăm ngàn vết chém, vậy mà không biết vì sao tôi không khóc được:

“Xin lỗi mày, tao đi trước mà không kịp chia tay với mày. Bọn mình rồi sẽ như những con chim đã đến lúc phải bay về với biển. Mày đừng nghĩ là tao buồn. Tao vui lắm đó. Thôi thì tao đi trước để dọn chỗ cho bọn mày, đám bạn bè thân thiết nhất của tao. Chỉ có một điều tao tiếc và ân hận là đã không được chết ở chiến trường như bọn thằng Lâm, thằng Bê, thằng Pho, anh Tài, Đức”.

Những người tiễn đưa nó hôm ấy, hầu hết là bạn bè cùng đơn vị xưa, và một số bạn học cùng trường Võ Tánh Nha trang.

Năm ngoái, một chị bạn cùng trường Võ Tánh, học Ban C sau tôi một năm, định cư ở Canada, cũng đã ra đi, sau hơn hai năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Tôi và có lẽ hầu hết bạn bè Võ Tánh rất mến phục cô bạn có nặng tấm lòng và rất khí khái này từ những năm còn dưới mái nhà trường. Mọi người đã ưu ái tặng chị biệt danh “Nữ hoàng xuống đường”. Luôn sống hết lòng với bạn bè và đất nước. Quyết liệt trước bất công, bạo lực. Ngay cả những ngày đã lâm bệnh, chị vẫn thường liên lạc trao đổi với tôi về những kỷ niệm Nha Trang, về tình hình chính trị và hy vọng chế độ Công sản man rợ độc tài sẽ sớm cáo chung trên quê hương. Chị ra đi, để lại bao thương tiếc cho gia đình và tất cả bạn bè. Chị mong muốn và dặn dò gia đình, sau khi chị mất được hỏa thiêu và mang tro cốt của chị rải ở ngoài khơi Thái Bình Dương để hương linh của chị theo biển trôi về quê hương. Ở đó có bãi biển Nha trang thơ mộng, nơi chị sống cả một thời tuổi thơ và lớn lên với những vui buồn, vinh nhục.Tôi hình dung một cánh chim hùng vĩ và đẹp đẽ vừa bay về với biển.

Cuối tháng 2/2013, trước khi trở về lại Bắc Âu, tôi bất ngờ nhận được hung tin: hiền thê của một anh bạn qua đời vì một chứng ung thư khó chữa. Chị là cựu nữ sinh Nữ Trung Học Nha Trang, và sau này là một người đàn bà tuyệt vời. Gia đình anh chị là một đại gia đình quân đội. Các con của chị đều là sĩ quan cấp tá trong quân đội Hoa Kỳ, một cô con gái tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng West Point. Sau này đều trở thành những bác sĩ, luật sư. Phu quân của chị là một người bạn, người đàn anh của tôi ở trường Võ Tánh cũng như trong quân đội ngày trước. Con nhà giàu, đẹp trai và tính tình hào phóng. Là môt sĩ quan trẻ đầy phong độ khi tốt nghiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, đối tượng của nhiều cô con gái Nha trang thuở ấy. Ngày anh quyết định làm đám cưới với chị, chắc chắn có nhiều cô tốn khá nhiều nước mắt. Cuộc tình đẹp. Một gia đình thành công, hạnh phúc. Chị luôn bặt thiệp vui vẻ, hết lòng với bạn bè, đồng đội cũ của chồng. Nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Ai cũng quí mến chị. Vậy mà đùng một cái, chị ra đi, đột ngột chẳng ai ngờ.

Hôm dự dám tang chị, rất nhiều bạn bè cùng khóa Võ Bị với anh và đồng môn thân quen thời Võ Tánh, Nữ Trung Học Nha trang, từ mọi nơi về tiễn biệt. Trong nhà nguyện không còn chỗ đứng. Anh chồng ốm nhom, tiều tụy. Khi gặp anh nói lời chia buồn, tôi ôm đôi vai gầy gò mà thấy thương anh, tội nghiệp. Khuôn mặt hốc hác, đôi mắt quầng thâm. Tôi nghĩ là anh đã khóc thầm nhiều lắm, ở cái tuổi đã trải qua bao thăng trầm mất mát, tưởng như không còn nước mắt.

Khi nhìn quan tài chị được đưa vào lò thiêu, cửa lò đóng lại, tôi tưởng tượng, lại thêm một cánh chim đẹp đẽ vừa bay về với biển.

Tôi nghĩ rồi sẽ có môt ngày, thế hệ bọn tôi, những cô cậu học trò rời trường Võ Tánh vào những năm đầu thập niên 60, bây giờ đều đã trên tuổi 70, sẽ lần lượt ra đi. Tất cả cuối cùng rồi cũng sẽ là những cánh chim bay về với biển.

Bỗng lòng tôi chợt thoáng lên một chút băn khoăn. Những cánh chim di xứ ấy sẽ bay trở về đâu, khi Nha Trang ngày xưa của họ đã thực sự không còn. Thành phố đã cho họ một thời tuổi thơ đẹp đẽ, nhưng cũng đã cho họ quá nhiều đớn đau, mất mát sau cuộc đổi đời.  Tất cả những hang động tuổi thơ và dấu tích của những cuộc tình ngày xưa ấy, giờ chỉ còn là cổ tích. Tôi nhớ lại lời thằng bạn còn ở lại Nha trang, nhớ tới thầy tôi, nhà văn Cung Giũ Nguyên, và tác phẩm Le domaine maudit viết từ năm 1961 của thầy.

Phạm Tín An Ninh

(Bắc Âu cuối hạ 2013)

UNG THƯ RUỘT GIÀ

UNG THƯ RUỘT GIÀ (Colon cancer)

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

Mỗi năm, có 11 triệu trường hợp ung thư ruột già mới xảy ra trên toàn thế giới. Riêng tại Mỹ, ung thư ruột già nhiều chỉ sau ung thư phổi, mỗi năm có thêm 150.000 trường hợp, làm thiệt mạng khoảng 50.000 người. Đây rồi chúng ta ngày sẽ sống lâu hơn, người già nhiều hơn, và số người bị ung thư ruột già sẽ tăng lên. Ung thư ruột già đến với phụ nữ hơi nhiều hơn đàn ông một chút.

Hầu hết các bướu độc ung thư ruột già phát sinh từ những bướu thịt lành tính có tên “adenomatous polyps”. Trong lòng ruột già, hay có những chỗ lồi lên, tạo thành những bướu thịt dư ra gọi là “polyp”. Tùy theo cấu trúc của các bướu thịt dư này, người ta chia chúng làm 3 loại: juvenile polyp (nonneoplastic hamartoma), hyperplastic polyp (hyperplastic mucosal proliferation) và adenomatous polyp. Theo thời gian, chỉ có loại bướu thịt dư adenomatous polyp là có thể biến thành ung thư. Đến 30% người lớn tuổi chúng ta có bướu thịt adenomatous polyps trong ruột già, và thường thì chúng im lặng, chẳng gây triệu chứng gì cả để ta biết. Thế mới lo, tuy không phải bướu thịt adenomatous polyp nào sau cũng biến thành ung thư.

Ai dễ bị ung thư ruột già?

Một số yếu tố được xem dễ đưa đến ung thư ruột già:

– Tuổi tác: 90% các trường hợp ung thư ruột già xảy ra ở người 50 tuổi trở lên.

– Di truyền:

25% số người bị ung thư ruột già có người thân trong gia đình cũng bị ung thư ruột già. Như vậy, trong nhiều trường hợp, tính di truyền của loại ung thư này rất mạnh. Đi khám bác sĩ, nếu người thân trong gia đình bị ung thư ruột già, bạn nhớ cho bác sĩ biết.

– Người trước bị ung thư ruột già dễ có ung thư ruột già nữa. Người có bướu thịt adenomatous polyp trong ruột già dễ bị ung thư ruột già hơn người khác.

– Thực phẩm:

Tuy nguyên nhân gây ung thư ruột già chưa được biết rõ, nhưng có lẽ ung thư ruột già là bệnh của những người thích ăn thịt.

Người ta thấy ung thư ruột già xảy ra thường hơn ở người thuộc tầng lớp khá, sinh sống nơi phồn hoa đô hội. Những khảo cứu làm tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới cho thấy càng ăn nhiều chất đạm từ thịt (meat protein), càng tiêu thụ nhiều dầu mỡ (dietary fat and oil), càng dễ tử vì ung thư ruột già. Di dân từ những nơi ít có ung thư ruột già, khi đến một quốc gia mới có thói quen ăn thịt, cũng sẽ dễ bị ung thư ruột già giống như người bản xứ ở quốc gia mới đến cư ngụ. Người theo đạo Mormons ít ăn thịt ít bị ung thư ruột già hơn những ông bà bạn hàng xóm của họ không theo đạo Mormons, ăn thịt nhiều hơn; và người Nhật, trước ít có ung thư ruột già, bây giờ nhiều hơn, vì nay họ có thói quen ăn uống giống với người phương Tây.

– Bệnh viêm ruột (inflammatory bowel disease):

Nhiều người không may mang bệnh viêm ruột “inflammatory bowel disease” (gồm hai bệnh “ulcerative colitis” và “granulomatous colitis”), cứ hay đi cầu ra máu, đau bụng, lâu lâu lại tắc ruột.

Sau 25 năm mang bệnh với các triệu chứng tái phát như vậy, triển vọng bị ung thư ruột già rất cao (8-30%). Sau 15 năm mang bệnh viêm ruột, căn bệnh vẫn hay hành, cắt bỏ hẳn ruột già sẽ làm giảm nguy cơ ung thư, đồng thời cũng giúp người bệnh đỡ khổ vì các triệu chứng.

– Thuốc lá: hút thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư ruột già.

– Thiếu vận động: đời sống thiếu vận động cũng khiến ung thư ruột già dễ xảy ra.

Ngược lại, theo vài khảo cứu, calcium (ít nhất 1000 mg mỗi ngày, từ thực phẩm hoặc thuốc uống) có thể giúp giảm nguy cơ ung thư ruột già, thuốc aspirin và các thuốc chống viêm không chứa steroid (nonsteroidal antiinflammary drugs) như ibuprofen, napoxen, … cũng vậy.

Triệu chứng

Như bạn thấy, ruột già của ta dài, gồm nhiều khúc. Triệu chứng của ung thư ruột già tùy vào chỗ ruột già có ung thư.

Khi mới từ ruột non vào ruột già phía bên phải của bụng, phân tương đối còn lỏng nên ung thư nằm ở đoạn ruột già bên phải bụng (gọi là ruột già lên, ascending colon, vì nó đi từ bụng dưới bên phải lên phía bụng trên bên phải), cả đến khi nó đã rất to, thường không gây triệu chứng gì cả. Bướu ung thư tại nơi đây hay gây loét, khiến chỗ loét cứ âm thầm chảy máu tí một, tí một, mắt ta không nhìn thấy, và phân trông vẫn bình thường. Nhưng chảy máu rỉ rả như vậy, về lâu về dài sẽ đưa đến thiếu máu, loại thiếu máu do thiếu chất sắt (iron deficiency anemia). Người có ung thư ruột già bên phải, vì thiếu máu, hay thấy mệt mỏi, hồi hộp, có khi đau ngực do tim không đủ máu nuôi (angina), thử máu thấy các tế bào hồng huyết cầu vừa thiếu, vừa nhỏ, vừa tái, không đỏ như bình thường, làm ta nghĩ đến loại thiếu máu do thiếu chất sắt. Vì thế, ở người lớn chúng ta, nhất là sau 50 tuổi, ai thiếu máu do thiếu chất sắt nhưng không có lý do nào rõ rệt có thể giải thích việc này (như phụ nữ đã mãn kinh, đâu còn ra kinh mỗi tháng, mà sao vẫn thiếu máu), cần được tìm hiểu xem có ung thư ruột già hay không.

Khi đến đoạn ruột già ngang (transverse colon, chạy từ bụng trên bên phải sang bụng trên bên trái) và ruột già xuống (descending colon) bên trái bụng, phân của ta đã trở thành cứng hơn, nên ung thư ở những phần ruột già này cản phân, khiến phân khó di chuyển, gây đau bụng. Ruột có thể tắc, có khi thủng.

Ung thư vùng trực tràng (rectosigmoid area) gần về phía hậu môn hay làm đi cầu ra máu, đi cầu khó phải rặn cho dữ (tenesmus), phân ra bé hơn bình thường. Có điều, thiếu máu lại ít khi xảy ra. Quả những triệu chứng này hay khiến chúng ta nghĩ đến bệnh trĩ, nhưng bất cứ khi nào đi cầu ra máu, và thói quen đi cầu của chúng ta tự dưng thay đổi, ta nên nghĩ đến ung thư ruột già, nhờ bác sĩ dùng ngón tay khám trực tràng cho ta, hoặc soi vùng trực tràng bằng phương pháp soi proctosigmoidoscopy.

Định bệnh

Nghĩ đến ung thư ruột già, nhất là ở những vị 50 tuổi trở lên, là ta đã đặt được bước chân đầu tiên trên con đường định bệnh.

Chúng ta biết rồi, thiếu máu do thiếu chất sắt ở đàn ông hoặc phụ nữ đã mãn kinh mà không có lý do rõ rệt, ta nghĩ đến ung thư ruột già. Đau bụng, thói quen đi cầu thay đổi (mới bón hoặc tiêu chảy thời gian gần đây thôi), đi tiêu ra máu, đi cầu phải rặn dữ quá, phân ra bé tẹo, …, cũng vậy.

Những phương pháp hiện được dùng để khám phá ung thư ruột già: thử phân hầu tìm xem trong phân có máu không (fecal occult blood test), khám trực tràng bằng ngón tay (digital rectal examination), chụp phim ruột già (barium enema), soi đoạn cuối của ruột già gần về phía hậu môn (sigmoidoscopy), và soi toàn ruột già (colonoscopy).

Soi toàn ruột già được xem là phương pháp khám phá ung thư ruột già chính xác nhất. Sau khi ruột già của bạn được xúc rửa sạch sẽ, bác sĩ đặt một ống soi mềm vào hậu môn bạn và đi ngược lên phía trực tràng, rồi từ từ đi lên cao hơn nữa, quẹo phải trên đoạn ruột cong hình chữ S sigmoid, xong, ngược lên đoạn ruột già xuống bên trái bụng, quẹo trái khi gặp đoạn ruột già ngang, đi hết đoạn ruột già ngang, lại quẹo trái nữa, xuống đoạn ruột già lên bên phải bụng. Với ống soi, vừa đi như vậy, bác sĩ vừa xem xét kỹ lòng ruột già của bạn, và nếu gặp bất cứ chỗ nào khả nghi, sẽ cắt lấy một miếng thịt để đem thử.

Phương pháp soi toàn ruột già tốt, khám phá ung thư rất chính xác, song có thể gây biến chứng chảy máu, thủng ruột già, vì việc đi xa trên cả một cái ruột già dài và vòng vèo như thế, thỉnh thoảng cũng gặp bất trắc. Tuy vậy, những biến chứng này ít khi xảy ra, và nếu cần phải soi toàn ruột già để khám phá hoặc truy tìm ung thư, ta chẳng nên ngần ngại.

Chữa trị

Việc chữa trị ung thư ruột già tùy vào việc ta khám phá được ung thư sớm hay trễ, nó còn tại chỗ hay đã ăn sâu xuống, lan đi xa. Ung thư tiến triển qua 5 giai đoạn (Dukes staging system):

– A: khi ung thư còn ở nông trên lớp niêm mạc lòng ruột già hoặc dưới đó một chút (cancer limited to mucosa and submucosa).

– B1: ung thư xuống đến vùng bắp thịt của lòng ruột già (cancer extends into muscularis).

– B2: ung thư xuống sâu đến lớp bao phủ mặt ngoài ruột già (cancer extends into or through serosa).

– C: ung thư đã ra ngoài ruột già, lan đến các hạch bạch huyết quanh đấy (cancer involves regional lymph nodes).

– D: ung thư lan xa đến các cơ quan khác như gan, phổi, … (distant metastases).

Trước khi chữa, để biết ung thư đã lan đến đâu, chúng ta cần soi toàn ruột già (nếu chưa soi), chụp phim ngực (chest x-ray), phim Cat scan bụng và vùng chậu (abdominal and pelvic CT scan).

Khám phá sớm trong giai đoạn A, khi ung thư mới còn trên lớp niêm mạc, chưa ăn sâu xuống lòng của ruột già, sự chữa trị giản dị, ta mổ cắt béng bướu ung thư là xong, và tỉ lệ sống sót được 5 năm (5-year survival rate) của người bệnh rất cao, trên 90%. Dù vậy, ta vẫn cần theo dõi sát trong vòng 5 năm đầu sau khi mổ cắt bướu ung thư thành công, bằng cách đo chất CEA trong máu (carcinoembryonic antigen, một chất tăng cao trong máu khi có ung thư ruột già) mỗi 3 tháng, khám bệnh đều mỗi 6 tháng, và soi lại hoặc chụp phim ruột già mỗi 3 năm.

Ở các giai đoạn B và C, sau khi giải phẫu cắt bỏ ung thư, thường ta phải trị liệu thêm bằng tia phóng xạ (radiation therapy) và các chất hóa học (chemotherapy), với hy vọng tiêu diệt hết những tế bào ung thư chưa cắt hết được.

Còn để quá trễ, khi ung thư đã sang giai đoạn D, lan xa đến cả các cơ quan khác, sự chữa trị chính là hóa học trị liệu (chemotherapy), dùng những thuốc có tác dụng diệt ung thư, nhờ thuốc đến mọi nơi trong cơ thể có tế bào ung thư để giết chúng hộ ta. Việc này không thành công nhiều, và tỉ lệ sống sót 5 năm của người ung thư chỉ khoảng 5%.

Bài kỳ sau, chúng ta sẽ bàn đến các cách phòng ngừa ung thư ruột già.