Độc tài: Mạnh hay yếu?

Độc tài: Mạnh hay yếu?
Ở Đức, dưới thời Hitler, đảng Nazi chỉ có trên năm triệu đảng viên trên tổng số khoảng 80 triệu dân
Ở Đức, dưới thời Hitler, đảng Nazi chỉ có trên năm triệu đảng viên trên tổng số khoảng 80 triệu dân
18.09.2013
Người ta thường dễ có ấn tượng là các chế độ độc tài đều mạnh: Chúng có quân đội, có công an, có mật vụ, có chỉ điểm viên (và gần đây, ở một số nước, có “dư luận viên”) trùng trùng điệp điệp. Song song với các lực lượng ấy, chúng có súng đạn, tòa án, nhà tù và các bãi bắn hoặc phòng chích thuốc độc. Nếu các yếu tố trên chưa đủ để khiến mọi người khiếp sợ, các chế độ độc tài còn có thêm một yếu tố này nữa để “thuyết phục” mọi người nên tiếp tục khiếp sợ: Chúng thường có một lịch sử rất dài hoặc khá dài.

Trước hết, nên lưu ý: trong lịch sử nhân loại, độc tài có “tuổi thọ” cao hơn hẳn dân chủ. Dân chủ chỉ là một hiện tượng mới. Thực sự là dân chủ lại càng mới. Mới và lạ: Không phải ở đâu người ta cũng thấy được mặt mũi của dân chủ. Chính vì sống quá lâu với độc tài, từ độc tài phong kiến đến độc tài thực dân và độc tài Cộng sản như vậy, nhiều người cảm thấy quen thuộc, ngỡ nó là số mệnh, như một cái gì đương nhiên. Không thể thoát được. Sự chấp nhận dễ dàng ấy càng làm cho độc tài có vẻ mạnh mẽ hơn.

Độc tài càng có vẻ mạnh hơn nữa khi người ta so sánh nó với dân chủ. Dân chủ, ngay cả khi được xem là hình thức tổ chức hoàn hảo nhất trong tiến trình phát triển của nhân loại, như một điểm “tận cùng của lịch sử” không bao giờ gợi lên ấn tượng về sự mạnh mẽ. Một xã hội càng dân chủ bao nhiêu càng làm cho người ta quên cảm giác về quyền lực bấy nhiêu. Không bị ám ảnh về quyền lực, người ta cũng không có ý niệm về sức mạnh của nó.

Thật ra, tất cả các ấn tượng trên đều giả. Từ góc độ thực tế, các nước dân chủ bao giờ cũng giàu, mạnh và ổn định hơn hẳn các nước độc tài. Từ góc độ lịch sử, xu hướng phát triển chung của nhân loại là chiến thắng của dân chủ trên độc tài chứ không phải ngược lại. Từ góc độ lý thuyết, chính phủ dân chủ bao giờ cũng là chính phủ của đa số, hơn nữa, vì được xây dựng trên nền tảng hiến pháp và luật pháp vững chắc và công minh, luôn luôn bị áp lực của các lực lượng đối lập và của xã hội dân sự mạnh mẽ, chính phủ dân chủ nào cũng cố gắng trở thành chính phủ của toàn dân, của mọi người chứ không phải chỉ giới hạn trong những người đã ủng hộ và bỏ phiếu cho mình.

Chính phủ độc tài, ngược lại, bao giờ cũng là chính phủ của thiểu số. Không bao giờ có thiểu số tuyệt đối: Ngay ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, mọi quyền lực hầu như tập trung hết vào tay nhà vua, kẻ được xem là con Trời. Nhưng vua bao giờ cũng tìm cách liên minh với tầng lớp quý tộc và quan lại để tạo thế lực. Do đó, chính nhà vua cũng phải tự động san sẻ quyền lực với những người khác. Thời hiện đại, các nhà độc tài cũng tìm cách san sẻ quyền lực và quyền lợi với người khác, chủ yếu qua hệ thống đảng mà họ lãnh đạo. Nhưng dù mở rộng đến mấy thì đó cũng vẫn là thiểu số. Ở Đức, dưới thời Hitler, đảng Nazi chỉ có trên năm triệu đảng viên trên tổng số khoảng 80 triệu dân. Ở Việt Nam hiện nay, trên tổng số gần 90 triệu dân, số đảng viên Cộng sản chỉ có khoảng bốn triệu. Vẫn là thiểu số.

Chỉ cần làm một bài tính nhẩm cũng có thể thấy ngay thế yếu của các chế độ độc tài: Đó là sự đối đầu của thiểu số đối với đa số, của một nhóm người ít ỏi với một đám quần chúng đông đảo. Các nhà độc tài thừa hiểu điều đó nên bao giờ cũng tìm cách củng cố sức mạnh của họ bằng ít nhất ba biện pháp chính: Thứ nhất, trong khi củng cố tổ chức của họ thật chặt chẽ, họ tìm cách phân hoá cái khối đa số quần chúng đông đảo kia, không cho phép quần chúng tập hợp lại và thống nhất với nhau. Thứ hai, dùng biện pháp tuyên truyền để, một mặt, khuếch đại sức mạnh của mình, mặt khác, để tạo ảo tưởng là họ đang đại diện cho đa số, thậm chí, đại đa số, hơn nữa, của mọi người. Và thứ ba, sử dụng bạo lực để đàn áp và khủng bố mọi người.

Có thể nói, sức mạnh của các chế độ độc tài chủ yếu được xây dựng trên ba nền tảng chính: Một, phân hoá dân chúng, hai, lừa dối, và ba, khủng bố. Biện pháp đầu làm cho người ta nghi ngờ nhau; hai biện pháp sau làm cho người ta sợ hãi. Cũng có thể nói, sức mạnh các chế độ độc tài không nằm ở bản thân nó mà chủ yếu nằm ở sự chia rẽ và  khiếp nhược của mọi người. Khi, vì lý do nào đó, mọi người đoàn kết và can đảm đòi hỏi quyền lợi và quyền lực cho mình thì các nhà độc tài chỉ có thể làm giống như Muammar Gaddafi ở Libya năm 2012: chui xuống ống cống.

Lãnh tụ Bắc Triều Tiên hành quyết 9 người để tránh tai tiếng cho vợ

Lãnh tụ Bắc Triều Tiên hành quyết 9 người để tránh tai tiếng cho vợ
Lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong Un và vợ Ri Sol Ju.
Lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong Un và vợ Ri Sol Ju.
22.09.2013
Bắc Triều Tiên đã hành quyết 9 nghệ sĩ ca nhạc dường như là để bịt lại các tin đồn phu nhân của lãnh tụ Kim Jong Un đã có thời sống buông thả.

Tin này đến từ một quan chức cao cấp Bắc Triều Tiên mới đào thoát.

Theo các nguồn tin khác nhau, cả hai chính phủ Nhật Bản và Nam Triều Tiên đều xác nhận tin này.

Bà vợ của ông Kim-Ri Sol Ju-từng là ca sĩ cho ban Unhasu trước khi lập gia đình với ông vào năm 2012.

9 người bị hành quyết bị nghi là đã quay và đóng một video có tính cách khiêu dâm.

Bộ Công an Nhân dân đã nghe lén các buổi trao đổi của 9 người này, qua đó có một người nói rằng “Trước đây, Ri Sol Ju cũng đã từng làm chuyện linh tinh theo kiểu chúng mình bây giờ.”

Lãnh tụ họ Kim lo ngại tin đồn về vợ mình có thể lan nhanh.

Ngày 17 tháng 8, cả 9 người đều bị bắt. Ba ngày sau họ bị xử bắn tại Học viện Quân sự Kang Gon, bên ngoài Bình Nhưỡng trước sự chứng kiến của các đảng viên cao cấp của đảng Lao động và nghệ sĩ của hai ban nhạc.

Gia đình của 9 người bị hành quyết bị đưa vào trại cải tạo, còn hai ban nhạc đến xem hành quyết bị giải thể.

Nguồn: Asahi Shimbun, The Malay Mail Online

Không có nhà nước pháp quyền thì không có phương tiện để chống tham nhũng, tham ô

Không có nhà nước pháp quyền thì không có phương tiện để chống tham nhũng, tham ô

Hà Huy Sơn

“Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International – TI), tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công.” (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Nhà nước pháp quyền là nhà nước “của dân, do dân, vì dân”. Một nhà nước không phải là nhà nước pháp quyền thì đó là nhà nước độc quyền của một số ít người. Để tham nhũng, tham ô phải có quyền hành; để chống tham nhũng, tham ô cũng phải có quyền hành. Ở nhà nước độc quyền quyền lực, nhà nước không được phân chia mà thống nhất bởi một chủ thể. Kẻ có quyền hành không chống tham nhũng, tham ô thì xã hội không có phương tiện nào để chống tham nhũng, tham ô. Ở nhà nước độc quyền, những kẻ có quyền hành tham nhũng, tham ô mà không sợ bị trừng phạt vì ở đó không có một bộ phận quyền lực nhà nước nào là độc lập để có thể ngăn chặn hiệu quả. Trong xã hội do nhà nước độc quyền quản lý thì kẻ tham nhũng, tham ô và người chống tham nhũng, tham ô là một. Tệ nạn tham nhũng, tham ô cũng chính là một tiêu chí để phân biệt đâu là nhà nước độc quyền và đâu là nhà nước “của dân, do dân, vì dân”.

Tham nhũng, tham ô vừa là mục đích vừa là mâu thuẫn của nhà nước độc quyền. Một mặt nó gắn kết giữa những kẻ có quyền hành với nhau trong một nhà nước độc quyền; nhưng mặt khác nó cũng làm tan rã và dẫn đến hủy hoại chính cái nhà nước ấy. Bởi vậy, trong xã hội do nhà nước độc quyền quản lý cũng có việc chống tham nhũng, tham ô nhưng đây chỉ là cuộc chơi của những kẻ có quyền hành và nằm trong giới hạn và phục vụ cho mục đích của nhà nước đó chứ không vì lợi ích của người dân. Nếu ví xã hội là cỗ xe ngựa thì nhà nước độc quyền là những kẻ ngồi trên cỗ xe đó. Tham nhũng, tham ô cũng giống như những kẻ ngồi trên cỗ xe luôn ăn bớt vào khẩu phần của những con ngựa kéo xe, nếu ăn bớt quá mức sẽ làm cho những con ngựa kiệt quệ, quá sức chịu đựng mà đổ quỵ thì khi đó những kẻ ngồi trên cỗ xe đó cũng tan xác. Việc chống tham nhũng, tham ô của nhà nước độc quyền chỉ là nửa vời, không triệt để. Vì không còn tham nhũng, tham ô thì nhà nước độc quyền không còn động cơ để tồn tại và sẽ dẫn tới sụp đổ. Nếu chống tham nhũng, tham ô triệt để là đồng nghĩa với việc xóa bỏ nhà nước độc quyền.

Không có nhà nước pháp quyền thì không có phương tiện để chống tham nhũng, tham ô; bản chất của việc chống tham nhũng, tham ô của một nhà nước độc quyền không phải “do dân, của dân, vì dân” là như vậy. Tất cả những tai họa của đất nước trong quá khứ, hiện tại và hiểm họa trong tương lai đều có nguyên nhân là do dối trá. Che giấu sự thật, ngăn cấm sự bày tỏ ý chí của nhân dân, chà đạp nhu cầu cấp thiết của xã hội là tội lỗi và ắt sẽ bị quy luật đào thải.

Hà Nội, 21/09/2013

H. H. S.

Năm Ngàn & Năm Cắc

Năm Ngàn & Năm Cắc

Tưởng Năng Tiến


Lão bà nghỉ chợ bần thần
Đem tiền [Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong
Xếp riêng rồi lại xếp chung
Miệng thời lẩm bẩm mà … (không rõ nhời) !

Lão Nông

Vài bữa sau, sau ngày đổi tiền ở miền Nam,  tờ Sài Gòn Giải phóng (số ra hôm 27 tháng 9 năm 1975) đã gửi đến những người dân ở vùng đất này đôi lời an ủi:

Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ… Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”


Ba mươi tám năm sau, nhà báo Huy Đức lại có lời bàn thêm, và bàn ra, nghe như một tiếng thở dài: “Không biết ‘tủi nhục’ đã mất đi bao nhiêu … nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn.”  (Bên thắng cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” ở nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm!

Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai.

VNCH 1

Hình 1: Đồng tiền 50 xu, năm cắc, in hình ông Ngô Đình Diệm, phát hành năm 1960

VNCH 2

Hình 2: Tờ một đồng, phát hành năm 1955


Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi mới vừa biết xài tiền?

Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá bào nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi cho đến khi xi rô bạc hết cả mầu mới ngừng tay, lễ phép xin thêm:

–  Cho con thêm chút xi rô nữa được không?

–  Được chớ sao không. Bữa nào tụi bay cũng vậy mà còn làm bộ hỏi!

Năm cắc đủ cho một chén bò viên, dù chỉ được một viên thôi nhưng khi nắp thùng nước lèo mở ra là không gian (của cả Sài Gòn) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh đó – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy –   hoà nhẹ với chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay có thể  khiến cho đứa bé xuýt xoa mãi cho đến… lúc cuối đời.

Năm cắc cũng đủ làm cho chú Chệt vội vã thắng xe, mở ngay bình móp, lấy  miếng kem – xắn một phần vuông vắn, cắm phập vào que tre – rồi trịnh trọng trao hàng với nụ cười tươi tắn. Cắn một miếng ngập răng, đậu xanh ngọt lạnh thấm dần qua lưỡi, rồi tan từ từ… suốt cả thời thơ ấu.

Năm cắc là giá của nửa ổ bánh mì tai heo, nửa má xoài tượng hay một xâu tầm ruột ướp nước đường, một cuốn bò bía, một trái bắp vườn, một ly đậu xanh đậu đỏ bánh lọt, một dĩa gỏi đu đủ bò khô, một khúc mía hấp, năm cái bánh bò nước dừa xanh đỏ, mười viên cái bi ròn ròn cái bi ngon ngon nho nhỏ…

Một một đồng thì (Trời ơi!) đó là cả một trời, và một thời, hạnh phúc muôn mầu!

Một đồng mua được hai quả bóng bay. Chiều Sài Gòn mà không có bong bóng bay (cầm tay) để tung tăng e sẽ là một buổi chiều… tẻ nhạt. Những chùm bóng đủ mầu sẽ rực rỡ hơn khi phố mới lên đèn và sẽ rực rỡ mãi trong trong ký ức của một kẻ tha hương, dù tóc đã điểm sương.

Còn hai đồng là nguyên một tô cháo huyết có thêm đĩa dà trá quẩy ròn rụm đi kèm. Hai đồng là một tô mì xắt xíu với cái bánh tôm vàng ươm bên trên, và nửa cọng rau xà lách tươi xanh bên dưới. Tờ giấy bạc với mệnh giá quá lớn lao và rất hiếm hoi này, không ít lúc, đã khiến cho tuổi thơ của tôi vô cùng phân vân và bối rối!

VNCH 3

Hình 3: Tờ bạc hai đồng, phát hành năm 1955


Và trong cái lúc mà tôi còn đang suy tính, lưỡng lự, cân nhắc giữa bốn cái kem đậu xanh năm cắc, bốn cuốn bò bía, bốn ly nước mía, hay một tô hủ tíu xắt xíu thịt bằm béo ngậy (cùng) giá hai đồng thì ở bên kia chiến tuyến người ta đã quyết định cho ra đời Mặt trận Giải phóng Miền Nam – vào ngày 20 tháng 12 năm 1960.

Hệ quả thấy được, vào mười lăm năm sau – vẫn theo báo Sài Gòn Giải phóng, số thượng dẫn:

Miền Nam đã có một nền tiền tệ mới, khai sinh từ sự độc lập toàn vẹn của xứ sở, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã nâng niu từng tờ bạc của Ngân hàng Việt Nam với một niềm hãnh diện chưa từng thấy sau bao nhiêu thế kỷ mất nước phải ép mình sống với đồng bạc của ngoại bang.”

Niềm hãnh diện được nâng niu từng tờ bạc mới (nếu có) cũng nhỏ dần sau từng đợt đổi tiền. Rồi với thời gian những tờ bạc này đã từ từ biến thành… giấy lộn – như tường thuật của nhà báo Bạch Nga, đọc được trên Vietnamnet hôm 21 tháng 5 năm 2012:

Trong khi ngồi đợi xe ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên, tôi được dịp chứng kiến cảnh một bà lão ăn xin chê tiền của khách.

‘Cô tính thế nào chứ 2 nghìn bây giờ chả đủ mua mớ rau, lần sau đã mất công cho thì cho ‘tử tế’ nhá !’

Câu nói của bà lão ăn xin khiến nhiều người phải sốc…

Chị Hương (Cầu Giấy – Hà Nội) chia sẻ câu chuyện có thật mà như đùa: ‘Nói thật, có lần gặp hai chị em nhà này đi ăn xin, thương tâm quá tôi liền rút ví ra đưa cho chúng 3 nghìn lẻ. Ngay lập tức, nó gọi tôi lại, giơ tờ 5 nghìn đồng lên trước mặt tôi bảo: cho chị thêm 2 nghìn cho đủ mua mớ rau nhé.”

Và đó là chuyện xẩy ra năm trước. Năm nay – sau khi dự phiên họp ngày 14 tháng 5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sau khi nghe các báo cáo của Chính phủ và Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính về ngân sách những tháng đầu năm 2013 –  Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan bỗng (chợt) nhận ra rằng: “Tình hình kinh tế gay go lắm rồi!”

Ủa, “gay go” thiệt sao?

Mà “gay go” tới cỡ nào lận?

Ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, người đã từng lạc quan tuyên bố “năm 2015 sẽ có một Vinashin mới” nay đã bắt đầu đổi giọng: “Tình hình doanh nghiệp bi đát, tôi nghĩ có tới 100.000 doanh nghiệp chết chứ không phải chỉ mấy chục nghìn, tỉ lệ doanh nghiệp lỗ có thể còn hơn 65%.” Và đã đến nước này thì ông phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương,Nguyễn Xuân Cường, cũng đành phải (xuôi xị) nói theo thôi: “Tình hình đúng là hết sức đáng lo ngại.

Điều lo ngại nhất là bó rau muống sẽ không ngừng ở giá năm ngàn đồng bạc. Dù với số tiền này – vào năm 1960 – đủ để mua hai ngàn tô phở gánh, hay hai ngàn năm trăm tô mì xe, hoặc mười ngàn chiếc bong bóng đủ mầu.

5000

Bù lại, vẫn theo lời của bà Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Doan, là mọi người được sống với “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân… khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản.”

Cái giá của “dân chủ” (cũng như Độc lập – Tự do – Hạnh phúc) của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, rõ ràng, hơi mắc. Dân Việt, tội thay, không những đã hớ mà còn mua nhầm đồ giả và đồ đểu nữa mới chết (mẹ) chớ !

Tưởng Năng Tiến

Làm chứng cho Lòng Xót Thương của Chúa và Mẹ Maria

Làm chứng cho Lòng Xót Thương của Chúa và Mẹ Maria

Maria Vân Anh

Thu, 24/11/2011

10 giờ sáng thứ Sáu, ngày 21 tháng giêng năm nay, một biến cố vô cùng đau buồn đã xảy ra cho gia đình tôi và nhất là cho riêng tôi..Chồng tôi đã bị stroke, tai biến mạch máu não đang khi làm việc . Hung tin này tôi nhận được  sau khi dự thánh lễ ban sáng về. Vừa bước vào nhà, tiếng phone reo, tôi nhận ra số phone từ trong hãng nhà tôi đang làm việc. Tôi linh cảm một sự gì rất nghiêm trọng đang đến với gia đình tôi. Vợ chồng cháu trai lớn nghe tin, không chần chờ một phút, lên xe ngay, hai cháu vừa đi vừa liên lạc với sở làm của bố để hỏi người ta đã đưa nhà tôi đến cấp cứu ở bệnh viện nào?. Tôi chỉ kịp mặc thêm chiếc áo lạnh, mang theo cây thánh giá nhỏ có tượng Chúa Giêsu đóng đinh mà tôi có được trong dịp hành hương Đất Thánh, chuỗi Mân Côi thì lúc nào cũng sẵn bên mình, cuốn sách “Niềm Vui Phó Thác”  rồi cùng con gái nhỏ đến nhà thương Sharp.

Đến nơi, tôi và cháu gái chưa được gặp nhà tôi ngay mà vẫn phải ngồi chờ tại phòng đợi . Trong lúc đó, tôi nhớ đến nhóm thân hữu Gioan ( hai vợ chồng tôi được cả nhóm bảo trợ dự Khóa Cursillo Ba Ngày vào năm 2003. Từ đó chúng tôi đều đặn sinh hoạt trong nhóm và thân thiết như gia đình thứ hai của mình). Lúc này gia đình tôi cần nhất lời cầu nguyện, chúng tôi cần Ơn Chúa biết bao. Gọi cho chị trưởng nhóm xin chị thông báo với quý anh chị trong Nhóm để hiệp ý cầu nguyện cho anh và cả gia đình tôi trong lúc này. Chị bình tĩnh nói “Mình hiểu là Vân đang lo lắng và quá đau khổ, tuy nhiên chắc chắn Chúa đang ở bên Vân và các cháu. Mình tin tình thương và quyền năng Chúa đang được thể hiện trong biến cố này”

Hình ảnh đầu tiên, tôi vẫn nhớ như in khi bước vào phòng cấp cứu, người bác sĩ trực  nói   “Chồng tôi bị tai biến mạch máu não. Vì đứt mạch máu chính tại trung tâm não nên anh  không cần đến giải phẫu nữa”. Trên đường đến bệnh viện, cháu trai lớn đã gọi xin Cha Đoàn đến ngay để ban những bí tích cấp thiết sau cùng cho nhà tôi. Thật kỳ diệu chỉ sau 10 phút cha Đoàn đã có mặt vì cha đang ở rất gần bệnh viện. Tạ ơn Chúa.  Sự hiện diện của vị mục tử vào lúc nguy nan này là một niềm an ủi rất lớn lao cho gia đình chúng tôi. Sau đó, trong vòng 40 phút có tới 3 bác sĩ đến thăm bệnh cho chồng tôi đều tỏ ra vô cùng ái ngại cho tôi. Bác sĩ cho tôi biết tình trạng sức khỏe của nhà tôi rất nguy hiểm trong 48 tiếng sắp tới. Sau đó, những người y tá làm thủ tục chuyển chồng tôi lên phòng hồi sinh.

Nỗi đau lớn lao, đến nhanh chóng quá đã làm cho tôi và các cháu dường như tê dại. Giờ đọc kinh tối chung trong gia đình thường ngày, hôm ấy ở ngay tại giường bệnh của bố trong phòng hồi sinh..Chỉ có 10 Kinh Kính Mừng mấy mẹ con chúng tôi cùng cầu nguyện với nhau mà nước mắt chan hòa trên mắt cháu lớn và thành tiếng khóc nức nở từ đứa con gái nhỏ. Đêm đã khuya lắm rồi nên tôi nói các cháu ra về và cố gắng thật bình tĩnh để các cháu an lòng..Hai cháu nhỏ xin ở lại nơi phòng chờ đợi dành cho thân nhân. Anh chị trong nhóm Gioan, nhóm Đức Mẹ Lavang đến đây từ chiều, giờ này cũng phải ra về cùng lúc với chị gái và gia đình các em trai của tôi.

Đêm đầu tiên tôi ở lại bệnh viện. Suốt đêm hôm ấy, một mình ngồi nhìn anh bất động trong phòng hồi sinh với  những máy móc, dây nhợ chằng chịt trên người. Lâu lâu nếu có những gì bất thường chuông lại reo lên báo động ..cứ mỗi 2 tiếng lại có 2 người y tá đến trở mình cho anh. Tôi ngồi đây cảm thấy mình như hoàn toàn tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Nhìn anh nằm bất động, bộ quần áo bệnh viện khoác trên thân mình gầy yếu, hơi thở còn phải trông nhờ vào máy móc đó là một sự thật mà tôi chưa bao giờ dám nghĩ tới. Khó biết bao cho tôi khi phải chấp nhận sự thật bất ngờ này. Tôi nhớ lại mới sáng nay, chúng tôi còn đọc kinh  với nhau. Thứ Sáu nên chúng tôi lần chuỗi Mân Côi kính Đức Mẹ suy gẫm 5 mầu nhiệm thương khó của Chúa ..

Trong lúc dùng điểm tâm chúng tôi còn nói chuyện về buổi họp nhóm tân niên sắp tới tại nhà một anh chị trong nhóm..Bước lên xe anh còn dặn tôi chiều nay sau giờ làm việc anh sẽ ghé Home Depote mua một vài vật dụng để che hồ cá trước đài Đức Mẹ giữ an toàn không sợ cháu bé rơi xuống hồ .??? Tôi tự nhủ hay đây chỉ  là 1 cơn ác mộng ??? Thế nhưng còn người nằm kia là ai, không nói một lời. Có những lúc trái tim tôi nhói đau, thắt lại, như bị nắm chặt trong một bàn tay vô hình nào đó. Tôi muốn gào lên thật  to, thét lớn hoặc khóc lóc thảm thiết “Chúa ở đâu giờ này, Chúa có nghe tiếng con kêu xin? Chúa có nhớ mỗi sáng con đều thành tâm dâng lên Chúa lời cầu xin cho được ơn bình an trong gia đình?..Con đâu dám ước ao những gì lớn lao trọng đại, giàu sang phú quý, . Con chỉ xin cho con và những người thuộc về con được sống đẹp lòng Chúa.. mà sao giờ đây Chúa để con phải chịu cảnh thương tâm đến như thế này”. Tôi tự hỏi, vì sao bỗng nhiên một sớm một chiều tôi phải đối diện với nỗi đau đớn, với cái bất định, bất ổn của cuộc sống như thế? Tôi nhìn quanh phòng hồi sinh, mọi sự im lặng một cách đáng sợ. Đặt Thánh Giá có tượng chịu nạn lên trên chiếc gối trắng, bên cạnh đầu của anh. Tôi hồi tưởng lại sáng nay sau khi rước Thánh Thể tôi đã cầu nguyện với Chúa thật sốt sắng thế nào..Tôi luôn cảm tạ Chúa vì đã cảm nghiệm được Chúa ban cho tôi và gia đình đầy những Ơn Thánh và biết bao phúc lành. Tôi còn ước ao điều gì với Chúa hơn nữa.Tôi và gia đình tôi đã được Chúa bảo bọc, yêu thương cho đến ngày hôm nay với quá nhiều hồng ân không sao kể xiết. Có những lỗi phạm, có những vết thương, có những mất mát, lạc lối tưởng chừng như không còn chút hy vọng thế mà với thời gian lại được Chúa thanh tẩy, chữa lành, dẫn dắt và ban cho còn tốt lành hơn trước. Tôi chỉ còn biết thưa với Chúa. Lạy Chúa xin cho con và những người thuộc về con mỗi ngày nên giống Chúa hơn, xin cho chúng con có trái tim giống Chúa, riêng con xin ban cho con biết sống tin yêu và phó thác theo dấu chân của Mẹ Người. Xin Chúa cho Thánh Ý Chúa luôn thực hiện tốt đẹp trên cuộc đời mỗi người chúng con. Kéo chiếc ghế lại gần đầu giường của anh, tôi vẫn hy vọng anh đang cùng tôi cầu nguyện như sáng hôm nay. Như thường lệ, cầm xâu chuỗi Mân Côi trên tay, một lần nữa tôi lại suy gẫm Mùa Thương, 5 mầu nhiệm đau khổ  của Chúa Giêsu, chặng đường thương khó Chúa Giêsu đi cùng có Mẹ Người. .Lời kinh dần dần thấm nhập vào linh hồn tôi. “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con (vâng, chúng con, con không cầu nguyện một mình) là kẻ có tội, khi nay (lạy Chúa, ngay ở đây, giờ phút này) và trong giờ lâm tử Amen. Trong lời khấn xin chân thành từ đáy tim tôi, Chúa đã cho tôi đã nhận ra “. Chúng tôi là “kẻ có tội”. và vì có tội nên tôi biết thân phận mình, dù có khỏe mạnh cách mấy, chắc chắn có ngày chính tôi cũng phải chết.

Đêm càng sâu, tâm hồn tôi càng lắng đọng..Chúa dẫn tôi vào mầu nhiệm khổ đau của Người. Chúa cho  tôi dần dần hiểu được nguyên nhân của những đau khổ đang xẩy ra cho chồng tôi, cho tôi và những người thân yêu của tôi. Đó là những tội, những thiếu sót trong đời sống chung và riêng, những thói quen làm hại đến mình. Thông thường những tội này dẫn đến đau khổ mà ngôn ngữ nhà đạo thường gọi là thập giá. Đương nhiên tôi cũng hiểu rằng có nhiều nỗi đau khổ trong đời thật khó mà tìm được nguyên do. Vì thế đau khổ vẫn là một huyền nhiệm. Tôi hiểu rõ hơn, Chúa Giêsu đã không đến để cất hết đi nỗi khổ đau nhưng Người đã tự nguyện mang tất cả đau khổ của nhân loại vào chính bản thân mình để thể hiện tình yêu tuyệt đối của Người. Đó là mầu nhiệm thập giá.

Từ suy niệm này,  tôi đã tìm được sự an ủi, tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa. Tôi cũng cảm nhận sâu xa ý nghĩa và giá trị của sự đau khổ giờ đây tôi đang gánh chịu. Tôi cảm thấy dường như hoàn cảnh hiện tại của tôi tương tự như Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu. Thoạt đầu Đức Giêsu cũng xin Cha cất chén đắng, ‘Người  bồi hồi xao xuyến và mồ hôi đã đổ ra như những giọt máu (Lc 22,39-46). Người cũng không muốn chịu đau khổ. Tôi cũng vậy, tôi cũng muốn van xin Chúa Cha tha cho tôi đến nỗi có lúc tôi muốn cầu xin Ngài làm phép lạ để mọi chuyện vẫn cứ bình thường như ngày hôm qua.  Nhưng sau đó, Đức Giêsu đã xin vâng theo Ý Chúa Cha. Nhìn lại đời sống Chúa Giêsu tôi nhận thấy đầy gian lao đau khổ từ khi vào đời, làm con người. Cuối cùng Chúa đã đổ đến giọt máu cuối cùng để cứu chuộc tôi. Dưới chân thập giá khi người lính đâm lưỡi đòng vào cạnh sườn thâu đến trái tim Chúa Giêsu, thì cũng là lúc mũi gươm ấy thâu qua trái tim khổ đau của  Mẹ. Từ giờ phút đó, Người Mẹ mà Chúa Giêsu yêu thương vô cùng đã được ban cho tôi và tất cả nhân loại.Tôi cảm nhận rõ ràng Chúa Giêsu đã chịu đau khổ để đền tội cho tôi thì Chúa cũng sẽ thánh hóa sự đau khổ. Kỳ diệu thay, sự nhẫn nại vâng phục trong đau khổ lại trở nên dấu chỉ là môn đệ của Người.  “Ai muốn theo Ta, thì hãy từ bỏ mình, vác thập giá của mình mà theo Ta (Mt 16,24). Tôi xin được trở nên đồng hình đồng dạng với Người mà tôi không muốn nhận thập giá của mình giờ này sao?

Cảm tạ Chúa, sự đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu không ngừng lại ở đó mà chỉ sau 3 ngày Người đã phục sinh vinh hiển.. Chính nhờ Chúa đã dẫn tôi vào mầu nhiệm khổ nạn, sự chết và sự sống lại của Người mà tôi cảm nhận được giờ phút tôi chịu đau khổ  là thời điểm Chúa Giêsu và Mẹ Người đang đồng hành với tôi, ở với tôi. Lòng trí tôi bừng sáng, tôi không còn chỉ chịu đựng đau khổ mà tôi chấp nhận đau khổ. Với sức mạnh từ Chúa và đỡ nâng từ ái của mẫu tâm Mẹ Maria, tôi can đảm đứng lên đón nhận những khổ đau trong những ngày sắp tới. Suốt thời gian ngồi bên giường bệnh của anh, trong niềm tin tôi hồi tưởng lại những gì anh đã sống, đã chia sẻ, đã tạ ơn tình Chúa thương yêu bảo bọc cuộc đời anh như thế nào trước ngày anh ngã bệnh không xa, tôi nhận ra không những Chúa đã chuẩn bị  cho anh, cho tôi và cả cho các cháu nữa.

Thời gian người bạn đời của tôi nằm trong bệnh viện là những ngày tôi cảm nhận Chúa đã thực sự tỏ hiện tình thương sống động vô cùng của Người qua những tấm lòng quảng đại của quý anh chị trong gia đình, Phong Trào, Cộng đồng, Cộng đoàn, và ngay cả hàng xóm nữa..  Tôi không đơn độc một mình. Tôi được đồng hành và nâng đỡ bởi nhiều niềm tin vững mạnh như một câu châm ngôn tôi thuộc nằm lòng trong Khóa Ba Ngày “Một tay nắm lấy Chúa, một tay nắm lấy anh em”. Trong khi nhà tôi nằm bất động trên giường bệnh, tôi và các cháu thay phiên nhau túc trực ngày cũng như đêm với nỗi đau khổ khôn cùng thì đồng thời chúng tôi được hồng phúc trông thấy bao khuôn mặt thân thương của gia đình, bạn hữu. Không chỉ là những lời thăm hỏi, cầu nguyện cho và với gia đình tôi mà còn những điều rất thiết thực như những hộp cơm, lát cá kho gói ghém bao ân tình dành cho tôi và cho ngay  cả ông bà ngoại già yếu  ở nhà. Mỗi anh chị đến thăm đứng bên tôi cùng cầu nguyện đã trao cho tôi những ánh mắt cảm thông chia sẻ, một lời khích lệ làm ấm lòng tôi. Ngày họp nhóm tân niên quý anh chị trong nhóm thay vì họp tại nhà một anh chị đã đến tận giường nhà tôi để chung phần đau khổ và cùng cầu nguyện với tôi. Tôi nhận được không biết bao nhiêu là ân huệ và phúc lành. Tạ ơn Chúa qua biến cố này tôi học biết được giá trị của sự đón nhận đau khổ trong Thánh Ý của Chúa và xác tín rằng trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống Chúa Giêsu và Mẹ Người luôn nâng đỡ và che chở tôi và người thân yêu của tôi.

Sau một tháng mặc dù đã được các bác sĩ dùng hết mọi phương tiện hiện đại để cứu chữa, cuối cùng vào lúc 3 giờ 5 phút sáng thứ Hai ngày 21 tháng 2 năm 2011, người bạn đời của tôi đã được Chúa gọi về bên Người. Theo thường tình sự mất mát nào cũng đau đớn và đầy nước mắt tiếc thương, nhưng đối với gia đình tôi lại một lần nữa trở thành một thời điểm thi ân hồng phúc của Chúa. Đây là nước mắt của niềm tri ân vô bờ mà  tôi được dịp gửi lời chân thành cảm tạ đến tất cả mọi người , những vị bác sĩ, y tá trong bệnh viện Sharp, Kaiser đã chăm sóc, hỏi han, cầu nguyện, thăm viếng, dự Thánh Lễ an táng và đưa tiễn người bạn đời của tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Từ lúc nhà tôi nằm xuống, quý anh chị trong nhóm Gioan đã hết lòng giúp đỡ gia đình chúng tôi để mọi sự được tốt đẹp. Còn gì cảm động hơn, ngay tối thứ Ba có sinh hoạt Trường Lãnh Đạo, tất cả quý anh chị thay vì đến TLĐ, đã đến tận tư gia hiệp thông với gia đình chúng tôi cầu nguyện cho anh, linh hồn Antôn. Một nghĩa cử vô cùng cao đẹp của tình bác ái được thể hiện bằng xương thịt “Lời Chúa đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta Jn 1, 14)”. Lòng Xót thương của Chúa trên gia đình tôi còn được thể hiện qua Thánh lễ an táng. Sáng hôm ấy trời mưa tầm tã, gió lạnh đến thấu xương. Người trong gia đình còn thấy ngại ngần thế mà Thánh Lễ được thật nhiều người đến tham dự cầu nguyện cho người bạn đời của tôi..Trên cung thánh gia đình chúng tôi chỉ nghĩ có cha quản nhiệm làm chủ tế,  nhưng diệu kỳ thay có thêm 4 vị linh mục với tấm lòng người mục tử nhân hậu đã hoàn toàn vì tình thương  chẳng quản ngại đường xá xa xôi đã đến dâng lễ cầu nguyện cho anh. Tôi chỉ biết cúi đầu Tạ Ơn Chúa và ngẫm nghĩ “ Không có sự gì mà Thiên Chúa không làm được (Lc 1,37)” .

Thiên Chúa không chỉ tỏ tình thương của Người trong lúc người bạn đời của tôi ngã bệnh, lúc anh nằm xuống mà cho đến ngày hôm nay Người vẫn quảng đại ban phát trên gia đình chúng tôi bao nhiêu ơn lành hồn xác. Nhất là sự bình an nội tâm. Những ước mong trước kia khi còn sống anh chưa thực hiện được, thì ngày hôm nay dần dần Chúa đã cho hoàn tất.Từ ngày bố mất, các cháu lại trở nên gần gũi với ông bà và mẹ hơn. Quý nhất là cháu trai nhỏ vì thương tôi và có lẽ ý thức được một phần trách nhiệm của mình nên đã phụ giúp tôi chăm sóc ông bà..và sáng nào cũng dậy sớm trước vài phút để lần chuỗi Lòng Thương Xót cầu nguyện cho bố.

Giờ đây, sau biến cố đau thương này, đã 9 tháng 3 ngày trôi qua, càng ngày tôi càng xác tín sâu xa  Thiên Chúa Toàn Năng và muôn đời yêu thương là  ĐẤNG EMMANUEL ĐÃ, ĐANG VÀ MÃI MÃI Ở CÙNG CHÚNG TA

Xin  tiếp tục cầu nguyện cho Linh Hồn Antôn. Gia đình chúng tôi hết lòng Chân Thành Cảm Tạ.

Maria Vân Anh

NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN NGOAN VÀ TRUNG THÀNH

NGƯỜI QUẢN LÝ KHÔN NGOAN VÀ TRUNG THÀNH

Suy niệm của ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Mạnh Thường Quân nhà giàu, cho vay mượn nhiều. Một hôm sai Phùng Nguyên sang đất Tiết đòi nợ. Trước khi đi, Phùng Nguyên hỏi: “Ngài có muốn mua gì không?”. Mạnh Thường Quân trả lời: “Ngươi xem thứ gì nhà chưa có thì mua”. Khi đến đất Tiết, Phùng Nguyên cho gọi dân tới bảo rằng: “Các ngươi nợ bao nhiêu, Mạnh Thường Quân đều cho cả”. Rồi chẳng tính vốn lời, đem văn tự ra đốt sạch. Khi trở về, Phùng Nguyên nói với Mạnh Thường Quân: “Nhà ngài không thiếu gì, có lẽ chỉ thiếu ơn nghĩa. Tôi đã trộm mua ở đất Tiết cho ngài rồi. Tôi chắc là đẹp ý ngài”. Về sau Mạnh Thường Quân bị bãi quan, về ở đất Tiết. Dân ở đấy nhớ ơn xưa ra đón rước đầy đường. Mạnh Thường Quân ngoảnh lại bảo Phùng Nguyên: “Đó hẳn là cái ơn nghĩa mà ông đã mua cho tôi ngày trước”.

Nghe chuyện này, có lẽ mọi người đều đồng ý với Mạnh Thường Quân rằng Phùng Nguyên thực là người quản lý trung thành và khôn ngoan. Trung thành vì ông đã biết cách làm lợi cho chủ. Khôn ngoan vì ông biết nhìn xa trông rộng, đầu tư vào những chương trình có ích lợi lâu dài. Nhờ sự khôn ngoan của Phùng Nguyên, Mạnh Thường Quân đã vượt qua được những khó khăn gian khổ.

Người quản lý trong bài Phúc Âm hôm nay khôn ngoan nhưng không trung thành. Khôn ngoan nhanh nhẹn, trong một thời gian ngắn đã tìm ra phương thế chuẩn bị cho tương lai. Nhưng ông ta đã không trung thành vì ông đã phung phí, làm hại tài sản của chủ.

Khi khen người quản lý này khôn khéo, Chúa Giêsu không khen ngợi tính gian giảo, thiếu trung thực của ông. Người chỉ khen ngợi sự thông minh nhạy bén của ông. Người ước mong con cái sự sáng cũng biết thông minh nhạy bén trong việc tìm kiếm Nước Trời. Quả thực chúng ta là những người quản lý của Chúa. Tất cả những gì ta có đều là của Chúa. Sự sống, sức khỏe, tài năng, tiền bạc… đều không phải của ta. Ta chỉ quản lý chúng.

Hai đức tính quý ở người quản lý là trung thành và khôn ngoan.

Người quản lý trung thành gìn giữ nguyên vẹn tài sản của chủ. Không phung phí, không làm mất mát hao hụt. Người quản lý khôn ngoan sẽ tìm cách sinh lợi cho chủ, làm cho tài sản ngày càng gia tăng. Tiền bạc có thể sinh lợi ở ba góc độ khác nhau.

·        Mức độ bình thường nhất là: tiền đẻ ra tiền. Dùng tiền gởi ngân hàng để lấy tiền lời. Dùng tiền đầu tư vào công việc thương mại, kinh doanh để kiếm được nhiều tiền hơn nữa.

·        Mức độ thứ hai cao hơn là: dùng tiền đầu tư vào chất xám, vào giáo dục, vào nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước đầu tư rất nhiều vào giáo dục. Vì thế họ đã đào tạo được một đội ngũ trí thức đông đảo có kiến thức, có khoa học kỹ thuật. Nhờ thế, không những họ làm cho đất nước giàu mạnh mau chóng, mà còn nâng cuộc sống nhân dân lên cao hơn, giàu có sung túc về của cải vật chất và nhất là cao đẹp vì có văn hóa, đạo đức.

· Mức độ thứ ba, cũng là mức độ cao nhất là: dùng tiền mua hạnh phúc vĩnh cửu. Biến tiền của hay hư nát ở đời này thành gia sản vĩnh viễn ở trên trời. Để làm được việc này, ta phải vượt qua sự khôn ngoan, nhạy bén đầy tính toán của người đời để đạt tới sự khôn ngoan nhạy bén đầy quảng đại theo tinh thần Phúc Âm.

Tạo lập gia sản trên trời khác với tạo lập gia sản nơi trần gian.

–      Gia sản nơi trần gian được tạo lập bằng tích lũy.

–      Gia sản trên trời được tạo lập bằng cho đi.

Để tích lũy tài sản nơi trần gian, ta phải tiện tặt, chắt bóp, nghĩ đến lợi nhuận của bản thân hơn đến người khác. Để tích lũy gia sản trên trời, ta phải rộng rãi, hào phóng nghĩ đến người khác hơn bản thân mình. Càng cho đi ở đời này, ta càng giàu có ở trên trời. Người nghèo là Chúa Giêsu hóa trang. Khi ta giúp đỡ người nghèo là ta chuyển tiền về thiên quốc. Qua trung gian người nghèo, đồng tiền trần gian hay hư nát sẽ biến thành tài sản vĩnh cửu trên trời.

Chúng ta là con cái sự sáng. Hãy biết sống theo con đường sự sáng của Phúc Âm. Hãy xin Chúa ban cho ta sự khôn ngoan của Phúc Âm. Hãy rèn luyện cho ta có sự nhạy bén đối với những thực tại vĩnh cửu trên trời. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1.    Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại. Bạn nghĩ gì về câu này?

2.    Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được. Bạn đã coi thường chủ nào và đã yêu mến chủ nào hơn?

3.    Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu. Bạn hiểu câu này thế nào? Bạn đã thực hành chưa?

4.    Làm sao để trở thành người quản lý trung thành và khôn ngoan của Chúa?

Tác giả: ĐGM Ngô Quang Kiệt

DÂNG CHÚA

DÂNG CHÚA

Chúc Anh

Cha thấu lòng con nhớ phút giây

Sầu thương giăng phủ kín chân mây

Không gian khắc khoải hoài trông đợi

Hình dáng Cha yêu ngự chốn này

Cha thấu đường trần lắm bụi gai

Bước con khờ dại, biết nương ai ?

Thoảng nghe văng vẳng lời truyền dạy :

-“Con hỡi ! cứ theo dấu bước Thầy”

Cha thấu đời con tựa cỏ cây

Một cơn giông bão nhũn tan thây

Theo dòng mưa lũ về tro bụi

Thương xót hồn con héo úa gầy

Dâng kính Cha nguồn cảm bút thơ

Yêu Cha từ thủa, thủa ban sơ

Tâm tư chan chứa niềm tin cậy

Lửa mến tình Cha vô bến bờ

Dâng kính Cha toàn vẹn xác hồn

Tương lai, dĩ vãng, tấc lòng son

Buồn vui, gian khổ đời xa xứ

Nỗi nhớ quê hương, nỗi tủi hờn.

Chúc Anh

OFFER TO GOD

You know me I miss a very time.

Sorrow and love closely web the horizon

Space on hot bricks ever expects

The God’s appearance throne this place

You are aware of world road too thorny bushes

I silly walk, who I could lean on

Slightly I heard the echo of teachings

“Daughter, just follow My footprints

I know your life is the flora

A slight storm you would be succumb

Watching the flowing flood to dust and ash

Compassion my soul meager and pallid

Offer to you the aspiration of poem and pen

Love you since, very early time

Confidence is brimful the faith

The fire loving you is borderless

I offer to You my whole soul and corpse

The future the past, my golden heart

Happy or not, miserable is the far land life

My nostalgia, my self pity

Tin Huu Chu 23-08-2010

LÀM TÔI CHO CHÚA

LÀM TÔI CHO CHÚA

AM Trần Bình An

Mạnh Thường Quân nuôi hơn 3000 thực khách nên chi phí rất nhiều, bổng lộc không đủ chi dụng, phải dựa vào tiền thuê đất đai ở Bích Thành do vua phong, nhưng có một năm không thu được tiền về, mới cử Phùng Hoan đi đòi.  Trước khi đi Phùng Hoan hỏi rằng: “Khi tôi trở về, ông có muốn tôi đem quà gì về không?”  Mạnh Thường Quân ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Thì ông cứ xem ở đây thiếu thứ gì thì đem về,” Phùng Hoan đến Bích Thành mới biết năm đó bị thiên tai mất mùa, nông dân thiếu lương thực ăn khổ cực hết chỗ nói.  Phùng Hoan bèn tập họp họ lại, rồi đốt hết mọi giấy tờ vay nợ, khiến mọi người vô cùng cảm động.  Phùng Hoan trở về nói lại đúng sự thực.  Mạnh Thường Quân nổi giận: “Trước khi đi ông nói sẽ đem quà về, nay ở đâu?”  Phùng Hoan đáp: “Ông đã nói ở đây thiếu gì thì mua về, nhưng tôi thấy ở đây chẳng thiếu gì cả, chỉ thiếu có tình nghĩa mà thôi, nay tôi đã đem tình nghĩa về đây.”  Mạnh Thường Quân nghe vậy khóc cười không được, liền phất tay áo đi ra.

Hai năm sau, Tề Dẫn Vương tin nghe lời bịa đặt của hai nước Tần, Sở, rất lo lắng Mạnh Thường Quân công cao lấn chúa, gây uy hiếp tới vương vị của mình, bèn thu ấn tể tướng của Mạnh Thường Quân. Các môn khách thấy vậy, đều theo nhau bỏ đi, duy chỉ có Phùng Hoan là còn ở lại.  Mạnh Thường Quân đành trở về cố cư ở Bích Thành.  Dân trong thành nghe tin ông trở về, liền dắt già cõng trẻ ra ngoài 100 dặm để đón.  Mạnh Thường Quân nhìn thấy cảnh tượng này, rơm rớm nước mắt nói với Phùng Hoan: “Tình nghĩa mà ông đã đem cho tôi, nay tôi đã thực sự cảm nhận được rồi”.

************************************

Trong Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay, Đức Giêsu kể dụ ngôn người quản gia bất lương khôn khéo, biết dùng tiền của gian lận để mưu cầu chốn nương thân.  Sau cùng Người cảnh báo, không ai có thể làm tôi hai chủ được, vừa làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền của.

Làm tôi cho bản ngã

Trong cuộc mưu sinh, nhiều khi tiền của bỗng dưng trở thành ông chủ cai quản cuộc đời.  Cho nên thi sĩ Horace từ xa xưa đã cảnh báo không thừa: “Tiền bạc là đầy tớ tốt và là ông chủ xấu.” Nếu lệ thuộc vào nó, coi nó là ông chủ, là cứu cánh cuộc đời, kể như đánh mất nhân tính tốt lành, mà trở nên biển lận và tham lam.

Tuy nhiên, xã hội bao đời vẫn không hề phủ nhận sức mạnh, lẫn tầm ảnh hưởng vô song của nó. “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.” Hay là “Nén bạc đâm toạc tờ giấy.” Nếu không có sẵn quyền cao chức trọng, mà lắm tiền nhiều của, thì người ta cũng vẫn được nể nang, trọng vọng, cũng có thể ngoi dần lên vị thế cao, lên hàng khanh tướng. “Có tiền mua tiên cũng được” kia mà!

Thực ra, người ta mê tiền bạc, vì nó không chỉ giúp nuôi sống bản thân và gia đình, mà còn có thể củng cố, biến đổi cơ cực, gian lao, vất vả, thành nhàn hạ, sung túc, biến đổi thân phận tầm thường thành người danh giá, biến sự rủi ro, yếu đuối thành may mắn và quyền lực.

Chung quy, người ta làm nô lệ cho tiền của, vật chất, vì chúng phục vụ lại cho chính bản thân.  Có nghĩa là con người làm tôi mọi cho chính bản ngã, cho ngay chính mình.  Con người tự tôn thờ mình, chứ chẳng cần đoái hoài, tôn thờ thần thánh nào khác.

Vì thế, Đức Giêsu muốn giải thoát con người khỏi ách nô lệ tiền của, thoát ra khỏi cái tôi vị kỷ, khi khuyên nhủ đem nó phục vụ tha nhân: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí.” (Lc 12, 33) Chính là của để dành cho đời sau.

Làm tôi cho Chúa

Người quản lý bất lương khôn khéo dùng tiền của bất chính mua cho mình sự bảo hiểm an cư sau này. Còn Phùng Hoan đổi tiền bạc, của cải lấy tình nghĩa cho Mạnh Thường Quân.  Cả hai người đều có thể giúp cho người Kitô hữu, cảnh tỉnh và nhận thức hơn về sự chọn lựa giữa cái bấp bênh, hư nát với cái ổn định, bền bỉ, giữa phù vân và vững chãi, giữa nhất thời và vĩnh cửu.

Thông thường, ai cũng đều mong muốn, ưa chuộng tự do, đều muốn tự mình quyết định mọi việc, mọi tình huống, mọi nơi, mọi lúc.  Nhưng lại cũng rất dễ mù quáng trở nên nô lệ vào vật chất, thói quen, đam mê, nô lệ vào tiện nghi, nô lệ vào quan niệm và dư luận xã hội, nô lệ vào khuynh hướng hưởng lạc, duy vật, hay rõ ràng là nô lệ vào nền văn minh sự chết.

Thoát ra khỏi vòng kiểm tỏa, nô lệ tiền tài, của cải vật chất, cũng là thoát ra khỏi cái vỏ ốc ích kỷ, vô cảm, bất khoan nhượng, bất nhân, bất nghĩa, để có thể yêu thương, tha thứ và phục vụ tha nhân, thì mới có thể làm tôi cho Chúa, theo Chúa và thờ phượng Ngài.

Do vậy, điều kiện tiên quyết theo Chúa, chọn Chúa làm sản nghiệp, là phải từ bỏ mọi sự, vật chất danh lợi, thậm chí bỏ cả chính mình, chấp nhận đau thương, khổ ải, vác thánh giá bổn phận, trách nhiệm, lý tưởng để theo Đức Giêsu.

Làm tôi cho Chúa có nghĩa thoát khỏi xiềng xích nô lệ vật chất, thế gian, từ bỏ con đường bằng phẳng, dễ dãi, trơn tru, từ bỏ những gì thân xác ham muốn, thích thú, hay thỏa mãn, mà đi theo con đường chông gai, thử thách, nhọc nhằn, đau đớn, bầm dập, tả tơi cả thân xác lẫn tinh thần.

Làm tôi cho Chúa cũng còn có nghĩa xả kỷ vị tha, quên mình giúp người, sống cho người, sống vì người, tìm thấy Chúa hiện diện trong người khốn cùng, nghèo nàn, bênh hoạn, bơ vơ bị bỏ rơi.

Làm tôi cho Chúa nhất thiết cần trở nên chứng nhân đích thực của Đức Giêsu Chịu Đóng Đinh, trở nên đồng dạng, đồng hình và cùng đồng hành với Người trong sứ vụ Đi Gieo Tin Mừng.

“Con đừng lấy làm lạ, lúc theo Chúa, con nghe tiếng gọi của khoái lạc, của danh vọng, của cả bản thân, cha mẹ, quyến rũ con bỏ đường theo Chúa.  Cứ tiến lên, Chúa đã nói trước: “Ai cầm cầy còn ngoảnh mặt lui, không đáng làm môn đệ Ta!” (Đường Hy Vọng, số 71)

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con thoát khỏi xiềng xích của cải, tiền bạc, danh lợi, chức quyền, từ bỏ tất cả để theo Chúa.  Xin giải thoát khỏi những đòi hỏi, cám dỗ, đam mê của thân xác, khỏi những quan niệm, thành kiến thế gian.  Xin giải phóng con khỏi cái tôi ích kỷ, vị kỷ, để con biết nhìn đến tha nhân, yêu thương và phục vụ những nhu cầu cấp bách của anh chị em.

Lạy Mẹ Maria, xin cải hóa tâm hồn chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa chước cám dỗ, khỏi say mê những thứ phù phiếm, giúp chúng con biết khước từ tất cả những chướng ngại vật, để có thể hiến dâng theo Chúa.  Xin cho chúng con được hiệp thông cùng Mẹ, với Mẹ và trong Mẹ, hầu xứng đáng làm tôi tớ Chúa luôn mãi.  Amen!

AM Trần Bình An

From: langthangchieutim &

Anh chị Thụ & Mai gởi

Chuyên gia kêu gọi Mỹ-Trung dự phòng Bắc Triều Tiên sụp đổ

Chuyên gia kêu gọi Mỹ-Trung dự phòng Bắc Triều Tiên sụp đổ

Lãnh đạo Kim Jong Un đến thăm một công trường của quân đội Bắc Triều Tiên (ảnh do KCNA công bố 27/05/2013)

Lãnh đạo Kim Jong Un đến thăm một công trường của quân đội Bắc Triều Tiên (ảnh do KCNA công bố 27/05/2013)

REUTERS

Tú Anh

RFI

Cũng như Đông Đức, chế độ Bắc Triều Tiên có thể sụp đổ bất ngờ, không có dấu hiệu báo trước. Tuy nhiên, khác với Đông Đức, tình trạng « rắn mất đầu » tại Bình Nhưỡng sẽ đưa đến thảm họa kinh hoàng, vì không có chuẩn bị. Viện nghiên cứu chiến lược RAND Corp kêu gọi Hoa Kỳ và Trung Quốc hội ý.

Hôm qua 19/09/2013,Viện nghiên cứu chiến lược Mỹ RAND Corp, một tổ chức bất vụ lợi, công bố bản phúc trình về tình hình Bắc Triều Tiên với nhận định : Chính quyền Kim Jong Un có dấu hiệu mất ổn định trong một giai đoạn. Hầu hết các nhà phân tích đều đồng ý rằng chế độ này có khả năng bị sụp đổ. Tác giả bản báo cáo, Bruce Bennett, một chuyên gia về quốc phòng cho rằng đây không còn là vấn đề « khi nào » hay là « nếu ».

Bản báo cáo liệt kê một loạt hệ quả nếu chính quyền Kim Jong Un sụp đổ : Từ khủng hoảng lương thực cho đến nội chiến tại quốc gia khép kín, nhưng có vũ khí sát hại hàng loạt . Rand Corp không loại trừ kịch bản chiến tranh với Trung Quốc.

Theo dự báo, tình hình Bắc Triều Tiên có thể suy thoái nhanh chóng. Trong điều kiện lương thực và thuốc men đang thiếu nghiêm trọng, một khi chế độ lung lay sẽ đưa đến phản xạ tích trữ nhu yếu phẩm, làm cho tình hình nguy ngập hơn. Nạn đói sẽ làm cho dân chúng bỏ nhà đi kiếm sống tạo ra một làn sóng tỵ nạn làm cho các giải pháp viện trợ nhân đạo, cứu đói khó có thể thực hiện. Rồi số phận của 200.000 tù nhân cải tạo sẽ ra sao ?

Trong tình thế này, quân đội và lực lượng an ninh có thể xung đột với nhau để bảo vệ trước nạn giành giựt lương thực. Nếu cộng đồng quốc tế không phản ứng kịp thì có nguy cơ xẩy ra nội chiến với những cuộc nổi dậy mang tinh chất cướp bóc, gây ra tình trạng bất ổn kéo dài, cản trở tiến trình thống nhất đất nước.

Do vậy, bản báo cáo đề nghị các biện pháp làm giảm bớt các hệ quả này: Hoa Kỳ và đồng minh Hàn Quốc cần phải có sẵn kế hoạch và phương tiện nhanh chóng vận chuyển lương thực thuốc men cho miền bắc. Nhưng điều quan trọng hơn hết là phải thuyết phục được cán bộ và binh sĩ Bắc Triều Tiên biết rằng họ sẽ được Hàn Quốc đối xử tốt, và có đời sống tươi sáng hơn trong một đất nước thống nhất. Có lẽ ý thức và lo ngại quân đội bội phản, bộ máy tuyên truyền của chính quyền Bình Nhưỡng khẳng định người dân miền nam đói khổ gấp mười lần người dân miền bắc.

Về quân sự, quân đội Bắc Triều Tiên, với kho vũ khí hóa học, vi trùng và có thể có cả hạt nhân là một mối đe dọa lớn. Mỹ và Hàn Quốc cần phải can thiệp nhanh chóng để « kiểm soát » kho vũ khí này được cất giấu đó đây trên lãnh thổ.

Vấn đề là Trung Quốc cũng dự phóng khả năng này và sẽ đưa quân ra tay trước để « bảo vệ » các kho vũ khí chiến lược này và nhân đó « lấn chiếm một phần lớn lãnh thổ Bắc Triều Tiên » .

Nguy cơ quân đội Mỹ và Trung Quốc đụng nhau sẽ rất lớn, nhưng theo viện RAND Corp, thái độ của Bắc Kinh đang thay đổi trong thời gian gần đây và có thể mở đường cho đối thoại.

Cho đến nay, Trung Quốc ngần ngại thảo luận về khả năng chế độ Bình Nhưỡng sụp đổ, vì không muốn mang tiếng « phản bội » đồng minh và vô tình làm tình hình Bắc Triều Tiên suy thoái thêm.

Bản báo cáo đề nghị Bắc Kinh và Washington cần phải thỏa thuận lập một đường ranh để quân đội hai bên không chạm mặt nhau. Đường ranh đó không lấn sâu quá 50 km kể từ dòng sông Áp lục, biên giới thiên nhiên Trung-Triều.

Một điểm đáng lo khác được nêu lên là quân số của Bắc Triều Tiên có thể đươc cắt giảm từ 22 sư đoàn xuống còn 12 sư đoàn vào năm 2022 vì sinh suất thấp. Bình Nhưỡng sẽ cân bằng quân số bằng cách nào ? Vũ khí hạt nhân ? Hay gia tăng lực lượng trừ bị ?

Trước câu hỏi chất vấn của báo chí về « xác suất » Bình Nhưỡng sụp đổ trong năm tới, chuyên gia Bruce Bennett trả lời là 2%. Tuy nhiên, ông lý giải, xác xuất này tuy thấp, nhưng vẫn còn cao hơn xác xuất « bị cháy nhà ». Biết vậy nhưng ai cũng mua bảo hiểm.

Cũng theo Bruce Bennett, tất cả các quốc gia trong khu vực đều lo âu chế độ Bình Nhưỡng tự tan rã. Một trong những kịch bản có xác suất cao nhất là Kim Jong Un bị ám sát.

Tuy mở cửa nhưng Miến Điện vẫn chưa có công lý

Tuy mở cửa nhưng Miến Điện vẫn chưa có công lý

Chùa Shwedagon tại thành phố Rangoon - DR

Chùa Shwedagon tại thành phố Rangoon – DR

Đức Tâm

RFI

Cách nay 25 năm, quân đội Miến Điện đã đàn áp phong trào nổi dậy đòi dân chủ năm 1988. Miến Điện rơi vào tình trạng hỗn loạn trong vòng 6 tháng. Khoảng 3 ngàn người thiệt mạng và vào ngày 18/09/1988, quân đội đã nắm lại chính quyền, sau một cuộc đảo chính đẫm máu.

Phóng sự của RFI tại Rangoon

21/09/2013

Nghe (03:20)

 

Những sự kiện này để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử chính trị Miến Điện. Từ hơn hai năm nay, Miến Điện đã mở cửa, chính quyền đã chấp nhận để cho người dân có nhiều quyền tự do hơn, thế nhưng, điều trái ngược là các đòi hỏi công lý và sự thật lại ngày càng hiếm, kể cả trong hàng ngũ phe đối lập. Phóng sự của thông tín viên RFI Rémy Favre tại Rangoon giúp giải đáp phần nào câu hỏi này.

Con trai của bà Daw Sein Kyi đã thiệt mạng sau ngày xẩy ra cuộc đảo chính 18/09/1988. Bà đã không thể làm tang lễ cho đứa con theo như phong tục truyền thống, bởi vì quân đội cấm các nhóm tụ tập quá 5 người. Cũng giống như nhiều nạn nhân khác, bà Daw Sein Kyi không đòi hỏi công lý.

« Người chết thì đã chết rồi, điều gì xẩy ra thì cũng đã xẩy ra rồi. Tôi có thể tha thứ nhờ vào những khuyên dạy của Phật. Tôi muốn làm những việc thiện cho anh linh của con tôi siêu thoát, để tôi bớt buồn. Ví dụ, tôi muốn gặp và mời các nhà sư một bữa cơm. Khi có tiền, tôi đã làm như vậy, nhưng giờ đây, tôi không thể làm được nữa. Tôi cảm thấy rất buồn và xấu hổ vì không làm được các việc thiện ».

Các nay hai năm, Giải Nobel Hòa bình Aung San Suu Kyi đã đề cao mô hình các ủy ban sự thật và hòa giải của Nam Phi, để buộc những kẻ chịu trách nhiệm vụ thảm sát năm 1988 phải tự thú, chứ không nhất thiết để kết án họ. Giờ đây, bà đã không đưa ra những đòi hỏi như vậy nữa.

Bà Aung San Suu Kyi không trả lời đề nghị xin phỏng vấn của RFI và phát ngôn viên của Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ, U Nyan Win cũng không muốn đòi quân đội phải xin lỗi.

« Chúng tôi muốn cố gắng đi về phía trước, hướng tới nền dân chủ. Chúng tôi không muốn đánh thức con hùm đang ngủ. Điều đó có nghĩa là quân đội vẫn bình yên. Quân đội nguy hiểm lắm. Chúng tôi không muốn quấy rầy quân đội ».

Thế nhưng, kể từ nay, quân đội cũng như chính phủ Miến Điện chấp nhận sự chỉ trích. Cách nay hai năm, nói đến vụ thảm sát năm 1988 còn là điều cấm kỵ. Bây giờ, thì không.

Ông Thar Gyee, phụ trách liên lạc của hiệp hội ND Burmua, chuyên thu thập và thống kê các vụ vi phạm nhân quyền tại Miến Điện cho biết :

« Trong lễ tưởng niệm vụ thảm sát 1988, có một bộ trưởng tham dự, ông U Aung Min và ông nói rằng đã có những vụ vi phạm nhân quyền do chế độ chính trị tồi tệ trong quá khứ. Điều này có nghĩa là ông ta thừa nhận sự tồi tệ của bộ máy chính quyền ».

Cách nay hai năm, cộng đồng quốc tế còn đe dọa lập một ủy ban điều tra để làm rõ những tội ác chống nhân loại tại Miến Điện. Giờ đây, theo đặc phái viên Liên Hiệp Quốc Tomas Quintana, phụ trách về nhân quyền thì điều này không khả thi. Ông Quintana đã không còn có được sự ủng hộ của các nước phương Tây về sáng kiến này nữa. Mối quan tâm hàng đầu hiện nay của các nước phương Tây là đầu tư vào Miến Điện.

Kinh hoàng phát ngôn bá đạo của những tờ báo có tên Nhân Dân

Kinh hoàng phát ngôn bá đạo của những tờ báo có tên Nhân Dân

Người Buôn Gió

clip_image002

Dường như cuộc chiến trên mặt trận tư tưởng của các tờ báo này đã vào chỗ bế tắc, khủng hoảng bởi thực tiễn không minh họa được cho lời lẽ của họ.

Tờ báo QĐND đưa ra bài viết có nhan đề Ba lần Bác cười trước lúc đi xa (http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/242/242/242/101538/Default.aspx). Bài viết miêu tả chi tiết và sống động Chủ tịch HCM kính yêu trước lúc từ trần theo lời kể của y tá Trung Quốc Vương Tinh Minh có đoạn:

“Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài hát mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo. Bác nghe xong rất vui, Bác nở nụ cười hiền từ. Bác nắm nhẹ tay tôi, tặng tôi một bông hoa biểu thị cảm ơn. Đó là lần thứ ba tôi thấy Bác cười. Và đó cũng là nụ cười cuối cùng của Người.”

Nếu đây là sự thật, thì sự thật này khiến nhiều người dân Việt phải ngỡ ngàng, hoang mang. Có lẽ nào nhạc sĩ Trần Hoàn là một tên nói phét, hoặc là một kẻ lợi dụng mong muốn nghe hát của Bác để xuyên tạc sai lệch, nhằm kích động chiến tranh. Bài hát của nhạc sĩ Trần Hoàn có tên Lời bác dặn trước lúc đi xa (http://tainhaccho.vn/loi-bai-hat/tran-hoan/bnl/loi-bac-dan-truoc-luc-di-xa.htm).

Bài hát như một câu chuyện kể rất cảm động, rằng trước lúc đi HCM muốn nghe câu hò Huế, bởi vì nước non chia cắt, Huế ở miền Nam. Rồi bác nhớ làng Sen quê mình, rồi bác nghe quan họ ”người ở người ở đừng về ”… rồi bác nghe câu hát dặm.

Bài hát của Trần Hoàn đã khắc sâu trong tâm trí của bao người Việt về một hình ảnh lãnh tụ HCM thân thương tha thiết với dân tộc, đất nước. Đến lúc cuối đời còn chỉ còn muốn nghe những làn điệu đầy bản sắc quê hương như hò, ví dặm, quan họ.

Thế nhưng báo QĐND dựa vào lời kể của một y tá Trung Quốc đã đưa lên thành một bài viết đi ngược 180 độ với những gì mà Trần Hoàn đã khắc sâu trong tâm trí nhân dân Việt Nam về hình ảnh của Người.

Bài viết của báo QĐND đã nói rằng, bác chỉ muốn nghe câu hát Trung Quốc thôi. Không hề có một dòng nào của bài báo nói về những giây phút cuối đời HCM nhắc nhở gì đến nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam cả. Chỉ có những hành động tình cảm với phía Trung Quốc như khi nghe giới thiệu y tá TQ, Chủ tịch HCM nhìn y tá TQ với đôi mắt hiền từ, rồi nhắm lại tuôn lệ (như là đang bồi hồi cảm xúc nghĩ lại điều gì rất tha thiết?).

Những lời kể của y tá Trung Quốc Vương Tinh Minh liệu có tin cậy được không.? Tại sao bây giờ mới kể khi các nhân chứng có mặt lúc đó đều đã chết như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn và người còn sống duy nhất lại đang ở trạng thái sinh học không còn nói gì được nữa là đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Một chi tiết nữa rất khó hiểu là theo lời kể của Vương Tinh Minh thì sức khỏe HCM đã hôn mê, tình lại chỉ lắc đầu yếu ớt ra hiệu. Nhưng sau khi nghe hát đã nắm tay Vương Tinh Minh và tặng hoa rồi trút hơi thở. Tại sao người duyệt bài báo này không nghĩ rằng trong tình trạng nằm hấp hối chỉ còn giây phút nữa lìa đời, chỉ ra hiệu bắng mắt và lắc đầu thì HCM lấy đâu ra sức để tặng Vương Tinh Minh hoa. Cho dù hoa có để bàn ngay đầu giường thì HCM cũng phải nhỏm dậy rút hoa từ trong lọ ra thì mới có hoa tặng được Vương Tinh Minh. Nếu HCM mà ngồi dậy, ngoái đầu, với tay rút hoa tặng thì hành động đó không hề phù hợp với người chỉ còn vài giây phút nữa lia đời, mới vài giây trước còn ra hiệu bằng ánh mắt hay cái lắc đầu.

Có lẽ từ khi VN hợp tác toàn diện với TQ, báo QĐND Việt Nam đã có những thay đổi khó lường, để học được bài học đấu tranh chống ” diễn biến hòa bình ” của Trung Quốc. Những nhà làm tuyên truyền của báo QĐND đã tiếp thu hổ lốn tất cả những gì Trung Quốc nói, TQ viết. Báo QĐND hăng hái đi đầu như lính xung kích trên mặt trận tư tưởng để phê phán những tư tưởng chủ quan, ấu trĩ, lệch lạc của bọn phần tử phản động núp trong nhân dân. Báo QĐND lên án những thế lực phản động đang âm mưu hạ bệ thần tượng HCM trong lòng nhân dân ta.

Thế nhưng báo QĐND vì quá u mê hay cuồng tín vào ông thầy dạy môn ”đấu tranh chống diễn biến hòa bình” mà đã đưa ra một bài viết cực kỳ tai hại, tác động xấu đến niềm tin nhân dân bấy lâu . Bài viết theo lời kể của y tá Trung Quốc là non kém về nghiệp vụ, không có cơ sở thẩm tra thế nhưng vẫn được tùy tiện đưa lên. Nhất là bài viết lại liên quan đến hình ảnh lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam.

Phải chăng chính báo QĐND đang làm những việc mà họ thường lên án người khác?

Báo Nhân dân

Tờ báo Nhân dân hôm nay 20/9/2013 có bài viết nhan đề Tôn giáo chân chính đồng hành cùng dân tộc (http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/21251502.html). Bài báo của tác giả Trần Chung Ngọc lên án những hãng truyền thông quốc tế đưa tin sai lệch về các vụ việc tôn giáo ở Việt Nam.

clip_image004

Không biết Trần Chung Ngọc uy tín cỡ nào mà khẳng định rằng những hãng truyền thông lớn quốc tế đưa tin sai, chỉ có ông ta là nói thật?

Nhưng dẫu thế nào thì một điều nhận thấy được rõ, là các hãng truyền thông đưa tin về tôn giáo Việt Nam không bao giờ có bài xúc phạm, mạt sát tôn giáo hay nhân vật tôn giáo nào. Không hề có sự so sánh giữa hai tôn giáo khác nhau để dè bỉu, gây chia rẽ, kích động thì hằn nhau.

Trong bài báo của Trần Chung Ngọc thì trái lại những giọng điệu hằn học, bạo lực được lộ rõ không hề che đậy. Trình độ kém hay bản chất của tư tưởng Trần Chung Ngọc là vậy?

Bài báo có đoạn:

“Trong cuộc kháng chiến ở Việt Nam gần đây cũng vậy, nhiều tu sĩ bỏ áo cà sa đi theo kháng chiến, vì theo truyền thống yêu nước, xét đúng ưu tiên của thời thế, giặc đến nhà đàn bà phải đánh, nền độc lập của nước nhà trên hết, không như bọn Việt gian vô Tổ quốc, phi dân tộc, chủ trương “thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”.

Đoạn viết này chắc hẳn những người theo đạo Công Giáo, những linh mục, giám mục và hồng y Thiên Chúa Giáo hiểu ý đồ tác giả nói về “bọn… vô tổ quốc, phi dân tộc” là không chỉ nói riêng về con người, mà cao hơn tác giả Trần Chung Ngọc còn muốn đả phá về học thuyết, ý thức hệ, tư tưởng của đạo Thiên Chúa. Một sự xúc phạm thật nặng nề đến tôn giáo. Sở dĩ gọi là nặng nề vì không phải nó động đến hành động nhất thời của một tổ chức tôn giáo. Mà nó động hẳn đến chủ thuyết, tư tưởng thần học của tôn giáo ấy.

Phát ngôn táo bạo hay phát ngôn bá đạo

Một tờ báo lấy tên Nhân dân, lại cho đăng bài của một kẻ xưng là Việt Kiều Mỹ, xúc phạm niềm tin của gần chục triệu nhân dân (tín đồ Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam xấp xỉ 10 triệu người). Cuộc kháng chiến chống Pháp đã xa xôi như vậy rồi, mà sự thù nghịch đến nay vẫn còn hiện rõ. Vẫn được báo Nhân dân lên án… vậy thì mấy triệu người miền Nam di tản hồi 1975 khi đọc được bài viết của Trần Chung Ngọc trên báo Nhân dân hôm nay liệu có tin được vào đoàn kết, tha thứ, hòa giải, yêu thương mà nhà nước Việt Nam đang kêu gọi không?

Trần Chung Ngọc lộ rõ ý đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ tôn giáo khi so sánh hình ảnh người Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Sau khi vạch tội Thiên Chúa Giáo là Việt gian, phi dân tộc, tổ quốc, chịu mất nước chẳng thà mất Chúa… đến lượt kể công lao của tu sĩ Phật Giáo. Thậm chí quá đà ca ngợi tinh thần chiến đấu của các tu sĩ Phật Giáo, bài báo có đoạn: “Thậm chí còn vui lòng dấn thân vào cuộc, kể cả xông pha trận mạc chém giết quân thù, giữ gìn cuộc sống thanh bình cho dân tộc’”.

Học thuyết của Phật Giáo có cho chém giết quân thù để bảo vệ mình không? Dường như chưa ai dám khẳng định rằng học thuyết nhà Phật cho phép chủ động xông pha trận mạc chém giết quân thù. Nhưng cứ tạm gác điều đó lại, cứ cho rằng học thuyết nhà Phật cho phép hay ngầm cho phép chém giết quân thù như ý của Việt kiều Trần Trung Ngọc đi chăng nữa thì chả lẽ một tờ báo lớn toàn tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, phó giáo sư lý luận không biết được cách sửa từ ”chém giết” bằng từ nào khác trong kho tiếng Việt phong phú của Việt Nam? Ví dụ như sửa thành ”xông pha trận mạc chiến đấu với quân thù”, nghe có phải hay hơn từ ”chém giết” rất bá đạo đối với người tu hành.

Một bài viết lủng củng, ý tứ đối nghịch nhau, loạn ngôn, giọng điệu hằn học chia rẽ tôn giáo, kích động hận thù của Trần Trung Ngọc lại được báo Nhân dân đưa lên. Chả lẽ không còn ai viết được hơn nữa sao?

Hay báo Nhân dân cũng như báo Quân đội Nhân dân cũng đang tự làm những điều mà họ hay phê phán các thế lực thù địch là chia rẽ dân tộc, kích động hằn thù, gây mất đoàn kết khối đại dân tộc.

Đến lúc phải dùng loại y tá Trung Quốc để nói về lãnh tụ nước mình, dùng Việt kiều (gian) để nói về nội tình tôn giáo trong nước, có lẽ các tờ báo có tên Nhân dân đã chẳng còn nhân dân nào trong đó nữa rồi.

N. B. G.

Nguồn: FB Người Buôn Gió

THẾ NÀO LÀ KHÔN NGOAN TRONG VIỆC SỬ DỤNG TIỀN CỦA ?

THẾ NÀO LÀ KHÔN NGOAN TRONG VIỆC SỬ DỤNG TIỀN CỦA ?

BÀI SUY NIỆM PHÚC  ÂM CHÚA NHẬT 25 MÙA THƯỜNG NIÊN


Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

Tin mừng Chúa Nhật thứ 25 mùa thường niên hôm nay mời gọi  tín hữu chúng ta suy nghĩ thêm một lần nữa về  cách sử  dụng  tiền bạc và của cải vật chất ở đời này trong ánh sáng  của  Phúc Âm,  để  một mặt  thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của  con người  trong cuộc  sống trên trần gian này,  và mặt khác  tích lũy  vào kho tàng  giầu sang, phú quý trên Nước Trời.  là nơi trộm cắp không bén bảng và mối một cũng không thể đục phá như Chúa Giêsu đã khuyên dạy các môn đệ xưa.( Lc 12: 33)

Thật vậy, qua dụ ngôn người quản lý bất trung đã khôn khéo dùng của cải của chủ dể phòng thân  sau khi không còn được làm quản lý nữa,  Chúa muốn dạy chúng  ta  là con cái của  ánh sáng ,  phải  học cái khôn ngoan của anh quản lý kia để mưu cầu hạnh phúc  vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau bằng cách dùng tiền của  sao cho phù hợp vơi sự  khôn ngoan của  Tin Mừng  cứu độ .

Nhưng trước khi suy niệm  thêm về lời Chúa qua dụ ngôn trên , thiết tưởng cần nói qua về sự cần thiết và quan trọng của tiền bạc trong đời sống của con người nói chung và cách riêng của người tín hữu chúng ta.

Quả vậy,   là con người sống trên trần thế này thì ai  ai cũng cần được thỏa mãn những nhu cầu tối cần thiết cho thân xác  như  cơm  ăn , áo mặc, thuốc men,  nhà ở và phương tiện di chuyển như xe cộ.  Vì nếu sống ở Mỹ, thì bó buộc phải có xe hơi để đi làm việc , đi nhà thờ ,  đi thăm  thân nhân, bạn bè, hay  đi mua thức ăn và đồ dùng cần thiết  vào cuối tuần.

Do đó, phải có tiền để chi phí cho những nhu cần tối cần thiết  nói trên .Cho  mục đích này, không ai có thể ngây thơ  và thiếu thực tế nói là mình không cần tiền. Ngược lại, phải  nói là rất cần  có tiền để  để  sống xưng đáng với phẩm giá là con người.  Trong giới hạn  này, chắc chắc Chúa không cấm chúng ta đi tìm tiền của cách công bằng , hợp lý để thỏa mãn  những nhu cầu chính đáng của  bản thân , của  gia đình và thương  giúp người khác thiếu thốn hơn mình. .

Không những chúng ta cần tiền bạc mà Giáo Hội cũng phải cần đến phương tiện tài chính dồi dào để thi hành sứ mệnh  truyền bá Phúc Âm , đào tạo linh mục và tu sĩ, đặc biết là trợ  giúp cho việc truyền giáo ở các xứ nghèo bên Á Châu và Phi Châu. Và còn biết bao chương trình  hữu ích khác của Giáo Hội đòi hỏi  phải có tiền  thì mới  thực hiện được ..

Ở cấp giáo hội địa phương, các địa phận và các giáo xứ cũng  rất cần sự đóng góp tài chính của giáo dân để tồn tại và thi hành trách nhiệm  mục vụ, giáo dục và phúc âm hóa môi trường. Nếu không có tiền thì không một giáo xứ nào có thể tồn tại và hoạt động được. Như thế  cho mục đích tốt đẹp  này,  thì cần  phải có phương tiện tốt là tiền bạc để chi phí cho những nhu cầu chính đáng  của giáo xứ, giáo phận.

Nhưng không phải vì tầm quan trọng  và chính đáng đó mà chúng ta được phép làm  mọi cách để có được tiền bạc, bất kể  những tiêu chuẩn ràng buộc về luân lý đạo đức và giáo lý của GH. Cụ thể  là  không thể  mở sòng  cờ bạc, tiếp tay với bọn   buôn bán  trẻ em và phụ nữ cho kỹ nghệ mãi dâm  rất khốn nạn,  hoặc buôn bán cần sa ma túy hay các sản phẩm đồi truy, sách báo phim ảnh  dâm ô …để lấy tiền giúp xây nhà thờ , nhà Dòng, nhà thương , trường học, nhà hưu dưỡng .. .Mục đích tốt ở đây không thể biện mình cho phượng tiện xấu là kiếm tiền cách bất chính , tội lỗi bằng những phương tiện kể trên.

Cũng  vậy,  người tín  hữu  Chúa Kitô  cũng  không được phép tìm tiền của bằng  hành nghề phá thai, cờ bạc,  cá độ, lường gạt, bóc lột sức lao động của người khác, khi  trả lương thấp cho công nhân, hay người giúp việc   dưới mức lương căn bản theo luật lao động, hoặc  tiếp tay sản suất và phổ biến  những sản phẩm  dâm  ô  đồi trụy có hại cho tinh thần người tiêu thụ

Hơn thế nữa  là không được say mê  đi tìm tiền của để  làm giầu đến nỗi  không còn tâm trí và  thì  giờ  để lo cho đời sống  thiêng liêng như  đi tham dự thánh Lễ ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ buộc trong năm,  để giờ cầu nguyện, đi  xưng tội., hoặc đi tĩnh tâm .v.v

Say mê tiền của  như vậy  sẽ đưa đến làm nô lệ cho tiền bạc  đến mức coi nhẹ  hay bỏ qua mục đích  chính của người tín hữu  là tìm kiếm Thiên Chúa và Vường quốc giầu sang của Người. trên hết mọi sự  ở đời này,  căn cứ  vào lời   Chúa Giêsu đã  dạy  các môn đệ xưa là  :

Trước hết  hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” ( Mt 6 :33)

Tìm kiêm Nước Thiên Chúa  có nghĩa là  trên hết mọi sự, người tín hữu chúng ta phải tha thiết  đi  tìm  và yêu mến Chúa là cội  nguồn của mọi phú quí giầu sang bất diệt, mà tiền của trần gian này không thể mua được. Tiền của trần gian chỉ giúp thỏa mãn những nhu cầu vật chất  cần thiết như cơm ăn áo mặc nhà cửa , thuôc men khi ốm đau, có tiền cho con cái đi học , có  phương tiện di chuyển v.v  , nên chỉ được phép tìm tiền bạc cách chính đáng cho những nhu cầu  này mà thôi.

Nếu may mắn có được  nhiều  của cải tiền bạc  thì  hãy  nghe lời Chúa khuyên dạy như sau :

“ Hãy bán của cải mình đi mà bố thí. Hãy sắm cho mình những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao mòn ở trên trời nơi trộm cắp không bến bảng , mối một cũng không đục phá ( Lc  12:  33-34)

Nói khác đi, nếu ta không biết dùng tiền của để mưu  ích  thiết thực cho thể xác và đặc biết  cho  linh hồn  thì sẽ rơi vào nguy  cơ  tôn thờ  tiền của thay vì  tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi  lợi  lãi ở đời này.

Đó cũng là lý do tại sao Chúa nói trong bài Tin Mừng hôm nay là “ anh  em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được,” ( Lc 16 : 13)

Làm tôi tiền của thì sẽ trở nên ích kỷ ,  tham lam, bất công  và lãnh cảm trước sự đau khổ, nghèo đói của người khác. Riêng  người Tông Đồ mà mê tiền của thì không thể  sống và làm chứng cho tinh thần nghèo khó của Chúa Kitô “ Đấng vốn giầu sang  phú quí, nhưng đã tự ý trở nên  nghèo khó vì anh  em,  để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có. ( 2 Cor  8: 9).

Dụ ngôn ông nhà  giầu và anh nghèo khó Lazarô   trong Tin Mừng Thánh Luca  đủ mình chứng  nguy cơ  của sự  nô lệ, làm tôi tiền của ở đời này. Ông nhà giầu kia khi còn sống, đã ăn sung mặc sướng  và không hề bó thí cho anh nghèo La-za-rô, nên sau khi chết,  đã bị phải phạt xuống hỏa ngục. Bị phạt không phải vì tội giầu có, ăn uống thỏa thê  mà vì không có lòng bác ái, bố thí  chút gì  cho anh nghèo La-za-rô  hàng ngày  ngồi ăn xin trước của nhà mình .( Lc  16: 19- 26)

Lại nữa, câu truyện người thánh niên giầu có  trong Tin Mừng Thánh Matthêu cũng cho thấy rõ là  nếu ham  mê  và làm nô lệ cho tiền của,  thì khó có thể được vào Nước Trời,  như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ, sau khi anh thanh niên giầu có kia buồn rầu  bỏ  ra đi,  vì không thể thực hành được lời Chúa khuyên anh ta là hãy về bán hết tài sản, lấy tiền bố thí cho người nghèo  rồi đi theo Chúa. Anh ta không  muốn  đi theo Chúa,   vì anh có quá nhiều tiền của và không thể hy sinh cho người nghèo  được. ( Mt 19  : 16- 23).

Sau hết, qua dụ ngôn người quản lý bất trung  trong bài  tin Mừng Chúa nhật hôm nay , Chúa cũng dạy mọi người chúng ta phải khôn ngoan như  tên quản lý bất trung kia. Nhưng không phải khôn ngoan  bằng cách lấy  của cải của người khác  để phòng thân  sau khi bị mất việc. Ngược lại,  sự khôn ngoan mà Chúa muốn dạy chúng ta là hãy dùng tiền của chóng qua  ở đời này để mua lấy sự giầu sang  hạnh phúc  là được vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Nước Trời, sau khi kết thúc hành trình  đức tin trên trần thế này . Nghĩa là  chỉ dùng tiền của như phương tiện hữu ích để đạt mục đích tối hậu là được sống hạnh phúc và giầu sang trên Thiên Quốc mai sau. Cho mục đích đó,  ta phải giới hạn lòng tham, không mượn cớ  nhu cầu, để tìm mọi cách  cho có tiền bạc. Người Tông Đồ của Chúa càng phải giới hạn  nhu cầu bất tận của mình để  ngưng  chạy đôn đáo đi tìm  tiền ở  bên ngoài nữa, mà hậu quả là có  những  người đã sống mâu thuẫn với Tin Mừng mình rao giảng,  chỉ vì  quá hăng  say đi tìm dollars, Euro hơn là thực  tâm muốn sống  tinh thần khó nghèo  theo gương Chúa Kitô, Người nghèo  khó  đến nỗi không có chỗ tựa đầu, trong khi chim trời có tổ, con chồn có hang. ( Mt  8: 20).

Tóm lại, chỉ không làm tôi cho tiền của thì mới dễ  mở lòng   bác ái, thương giúp, chia sẻ với  anh  chị em nghèo khó những gì mình may mắn có dư thừa. Đó là cách làm giầu trước mặt Chúa là Đấng sẽ trả công bội hậu cho những ai  biết dùng tiền của   để mưu ích cho phần rỗi của mình  bằng cách  thương giúp những người nghèo khó  vì  chính Chúa Giêsu  đang hiện diện nơi những người đói khổ, vô gia cư,  bệnh tật, tù đầy  ở  khắp nơi,  và thách đố chúng ta nói chung, và những người giầu có nói riêng tỏ lòng thương giúp họ. Thương giúp họ cách thiết thực vì  lòng bác ái  là  bố thí cho chính Chúa  Giêsu,  như Người đã nói qua dụ ngôn ngày phán xét chung trong Tin Mừng Thánh Matthêu.,chương  25.

Xin Chúa giúp chúng ta biết dùng tiền của chóng qua ở đời này để mưu tìm hạnh phúc, giầu sang vĩnh cửu trên  Nước Trời. Amen

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.