Vụ thảm sát Katyn : Tòa án Nhân quyền Châu Âu y án đối với Nga

Vụ thảm sát Katyn : Tòa án Nhân quyền Châu Âu y án đối với Nga

Bia tưởng niệm các nạn nhân Ba Lan bị Liên Xô xử tử

Bia tưởng niệm các nạn nhân Ba Lan bị Liên Xô xử tử

CC-by-nc-sa_katyn, Stuck in Customs / Trey Ratcliff (flickr)

Mai Vân

RFI

Trong phán quyết chung cuộc công bố vào hôm nay, 21/10/2013, Tòa án Nhân quyền Châu Âu trụ sở tại Strasbourg đã xác nhận lời lên án của Nga về tội « thiếu tường trình tích cực » về số phận các tù nhân Ba Lan tại Katyn bị Liên Xô xử tử vào năm 1940.

Mười bảy thẩm phán của thuộc cơ quan tối cao của Tòa án Nhân quyền Châu Âu đã hoàn toàn nhất trí phán quyết rằng « Nga đã thiếu sót trong nghĩa vụ hợp tác với Toàa Án Châu Âu khi đã miễn cưỡng trong việc « cung cấp tất cả các phương tiện thuận lợi cho vieech xem xét vụ án ».

Các thẩm phán tuy nhiên – tương tự như trong phán quyết cấp sơ thẩm năm 2012 – đã tuyên bố không có thẩm quyền phán quyết về các trường hợp người bị chết « xảy ra 58 năm trước khi Công ước Châu Âu về Nhân quyền có hiệu lực tại Nga từ năm 1998 ».

Nguyên đơn trong vụ kiện này là người thân của 12 nạn nhân Ba Lan trong vụ thảm sát ở Katyn, gần thành phố Smolensk (phía tây nước Nga).

Tại đấy, gần 22.000 người Ba Lan, trong đó có nhiều sĩ quan, đã bị xử tử mà không kinh qua xét xử theo lệnh của Stalin vào đầu năm 1940. Mátxcơva trong một thời gian dài đã đổ tội giết người cho phía quân Đức.

Một cuộc điều tra về Katyn được Nga khởi xướng vào năm 1990, nhưng các thủ tục tố tụng hình sự đã kết thúc vào năm 2004 bằng một quyết định kết thúc cuộc điều tra. Văn bản về quyết định này vẫn còn bị liệt vào diện tài liệu mật, cho đến nay không ai được tham khảo.

Hiến pháp mới của Việt Nam sẽ không có những thay đổi căn bản

Hiến pháp mới của Việt Nam sẽ không có những thay đổi căn bản

Thanh Phương

RFI

Tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội, sáng nay, 22/10/2013, Trưởng ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam, ông Phan Trung Lý đã trình bày Báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội và ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Báo cáo giải trình này cho thấy là bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp, dự trù sẽ được Quốc hội thông qua trong kỳ họp lần này, sẽ không có gì thay đổi căn bản.

Theo trình bày của ông Phan Trung Lý, dù vẫn có ý kiến lấy tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng đa số ý kiến đại biểu và nhân dân đồng ý giữ tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông Lý cho rằng, tên nước hiện nay « đã được Quốc hội lựa chọn ngay sau khi đất nước thống nhất, đã thân quen với nhân dân và được quốc tế công nhận », nên việc giữ tên nước là cần thiết.

Về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đề nghị Quốc hội giữ quy định về nội dung này trong điều 4 của bản dự thảo vì “đa số ý kiến tán thành”. Trưởng ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam đề nghị cần quy định rõ trong Hiến pháp là các lực lượng vũ trang có nghĩa vụ « trung thành của với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước ».

Ông Phan Trung Lý cũng đề nghị không bổ sung quy định về Hội đồng Hiến pháp vào dự thảo, bởi vì theo ông, « đa số đồng ý với việc tiếp tục hoàn thiện, nâng cao cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện hành », nên không cần thành lập Hội đồng Hiến pháp.

Theo lời ông Phan Trung Lý, Ủy ban dự thảo cũng đề nghị không quy định những nội dung cụ thể và đối tượng của việc trưng cầu ý dân trong Hiến pháp, mà « để luật quy định, tùy vào tình hình thực tiễn của mỗi giai đoạn phát triển đất nước ».

Trong bản dự thảo Hiến pháp được trình bày hôm nay, đất đai vẫn là « sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý» . Ủy ban dự thảo chỉ đề nghị quy định chặt chẽ việc thu hồi đất, tránh ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

Theo chương trình kỳ họp, sáng mai, 23/10, các đại biểu sẽ thảo luận ở tổ về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Ngày 5/11 và sáng 18/11, Quốc hội thảo luận tại hội trường; đến sáng 28/11 sẽ biểu quyết thông qua dự thảo này.

Nhưng không ai chờ đợi là sau các phiên thảo luận đó sẽ có những sửa đổi căn bản trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp và bản dự thảo này như vậy vẫn không tính đến những ý kiến của giới nhân sĩ trí thức, nhất là trong nhóm kiến nghị 72.

Nhóm này vào đầu tháng 6 vừa qua đã ra tuyên bố phản đối bản dự thảo Hiến pháp đã được trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5, tức kỳ họp trước, vì theo họ, bản dự thảo mới này hầu như không thay đổi so với Dự thảo lần đầu đưa ra lấy ý kiến nhân dân từ đầu tháng 1 năm nay. Đặc biệt, nhóm kiến nghị 72 cho rằng, việc hiến định sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội và Nhà nước là « biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần phản dân chủ ».

Các nhân sĩ trí thức trong nhóm này cũng tố cáo « tính hình thức, áp đặt và quá tốn kém » của việc lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp, nhất là mọi ý kiến khác với quan điểm hoặc ý muốn của cơ quan lãnh đạo « đều không được chấp nhận, thậm chí không được công bố và thảo luận công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, mà chỉ bị phê phán, quy kết một chiều. »

1 công dân VN bị truy tố vì ăn cắp thông tin cá nhân của hàng trăm ngàn người Mỹ

1 công dân VN bị truy tố vì ăn cắp thông tin cá nhân của hàng trăm ngàn người Mỹ

21.10.2013

Một công dân Việt Nam bị truy tố tại Hoa Kỳ vì bị cáo buộc tham gia đường dây quốc tế ăn cắp và bán thông tin cá nhân của hàng trăm ngàn người Mỹ thông qua nhiều trang web bí mật do chính đương sự điều hành.

Cáo trạng của ông Ngô Hiếu Minh, 24 tuổi, quốc tịch Việt Nam, được mở ra hồi tháng 11 năm 2012 nói ông này âm mưu thực hiện các hành vi gian lận trên mạng và đánh cắp thông tin cá nhân của người khác.

Cáo trạng trên website của Bộ Tư pháp Mỹ ngày 18/10 cho hay ông Ngô bị bắt khi đặt chân tới Mỹ vào tháng 2 năm nay.

Theo cáo trạng, trong thời gian từ 2007-2012, ông Ngô cùng với các thành viên trong đường dây tội phạm quốc tế đã thu thập, rao bán, và chuyển giao các gói thông tin cá nhân của trên 500.000 người Mỹ.

Các gói hàng này bao gồm họ tên, ngày sinh, số an ninh xã hội, số tài khoản ngân hàng cũng như các dữ liệu liên quan đến thẻ tín dụng như số thẻ, ngày hết hạn, tên họ, địa chỉ, số phone của các nạn nhân bị đánh cắp.

Ông Ngô bị buộc 15 tội danh, với tổng mức hình phạt có thể lên tới trên dưới 40 năm tù.

Chưa có bình luận từ phía chính phủ Việt Nam về vụ việc.

Trung Quốc bắt một doanh nhân ủng hộ tổ chức xã hội dân sự

Trung Quốc bắt một doanh nhân ủng hộ tổ chức xã hội dân sự

Doanh nhân Vương Công Quyền

Doanh nhân Vương Công Quyền

21.10.2013

Cảnh sát Trung Quốc đã chính thức bắt giữ một doanh nhân có tiếng, người đã ủng hộ một tổ chức xã hội dân sự bị nhà chức trách theo dõi trong năm nay.

Hôm thứ Hai, một luật sư bênh vực cho ông Vương Công Quyền xác nhận rằng ông bị cáo buộc về tội tụ tập các đám đông làm rối loạn trật tự công cộng.

Ông Vương, bị câu lưu từ giữa tháng Chín, là một người ủng hộ Phong Trào Công Dân Mới, bênh vực đường lối pháp trị và có sự tham gia nhiều hơn của công chúng trong các vấn đề chính trị. Hơn một chục người trong tổ chức này đã bị giam giữ hay bị bắt trong năm nay.

Ông Trần Tử Minh, một học giả bênh vực dân chủ đã ký một kiến nghị cùng với 18 người khác yêu cầu phóng thích ông  Vương. Ông Trần đã nói với ban tiếng Quan thoại đài VOA rằng ông Vương không vi phạm pháp luật.

Ông nói những gì ông Vương làm đều phù hợp với hiến pháp và luật pháp Trung Quốc. Nếu chính phủ Trung Quốc muốn nước họ có một nền pháp trị, thì mỗi trường hợp phải chứng tỏ cam kết tôn trọng pháp luật.

Các vụ bắt giữ vừa kể đã diễn ra một ngày trước khi thành tích nhân quyền của Trung Quốc sẽ được đưa ra duyệt xét bởi Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại Geneve.

Trong cuộc điều trần của Bộ Ngoại Giao tại  Bắc Kinh hôm thứ Hai, nữ phát ngôn nhân Hoa Xuân Anh nói rằng Trung Quốc coi cuộc duyệt xét của Liên Hiệp Quốc là rất nghiêm túc và sẽ gởi một phái đoàn đông đảo tới Geneve.

Bắc Kinh bị nhiều nhà hoạt động nhân quyền chỉ trích về vấn đề đối xử với những người bất đồng chánh kiến bênh vực dân chủ cũng như là những người biểu tình tại Tây Tạng và Tân Cương. Hoa Kỳ nói rằng họ quan tâm trước tin cho rằng Bắc Kinh đã ngăn chặn các tổ chức hoạt động không được tham gia cuộc duyệt xét của Liên Hiệp Quốc.

Mười loại thức ăn thức uống làm bạn già nhanh.

Mười loại thức ăn thức uống làm bạn già nhanh.

Tác giả: Anne Roderique-Jones
Mai Đức dịch


Bạn biết dùng kem chống nắng và thoa kem chống lão hóa. Nhưng những gì diễn ra bên trong cơ thể cũng đóng một vai trò trong việc duy trì sự trẻ trung của bạn. Đọc phần dưới đây để xem loại đồ ăn và đồ uống nào làm bạn mau già, và tìm cách thay thế chúng một cách thông minh.

1. Muối: Chất bột màu trắng có vị mặn là nguyên nhân gây nên nhiều vết nhăn không đáng có trên mặt bạn. Nếu bạn sử dụng mỗi ngày nhiều hơn 1,500 mg muối so với khuyến cáo của Hiệp hội Tim Hoa Kỳ, không những bạn bị chứng cao huyết áp mà còn bị xấu da vì muối tác động lên chất collagen. Tại những khu vực có lớp da mỏng như chung quanh mắt, muối làm cho lớp da nhăn nheo. Muối cũng có thể gây ra bọng mắt. Khuôn mặt bạn sẽ không còn nét trẻ trung với cặp mắt sưng húp lên. Bạn có thể thay thế muối bằng thảo mộc để giúp da luôn tươi trẻ.

2. Đường: Thủ phạm cho vẻ già nua của bạn chính là hũ kẹo. Nếu bạn sử dụng nhiều đường hơn cơ thể cần thiết, lượng insulin trong máu sẽ tăng lên, ảnh hưởng tới các mạch máu và tăng tốc quá trình lão hóa của da. Nếu bạn giảm bớt đường, sẽ thấy một sự khác biệt trong vòng một tuần. Da bạn trở nên tươi sáng hơn và sinh động hơn. Để đáp ứng nhu cầu thèm ngọt, bạn nên ăn nhiều trái cây. Đường thiên nhiên trong trái cây giúp cơ thể bạn sinh hoạt chậm lại, tránh được tình trạng lão hóa da.

3. Cà phê: Một loại nước uống là nguyên nhân của các yếu tố lão hóa. Cà phê không chỉ làm xỉn màu răng, làm mất đi vẻ trong sáng của tuổi trẻ, mà còn khử nước của cơ thể khiến da bạn khô và từ đó bớt đi nét trẻ trung. Ngoài ra, những nếp nhăn chung quanh mắt bạn trở nên nổi bật hơn khi cơ thể bị mất nước. Trong một cuộc sống bận rộn, bạn có thể xem cà phê là một điều cần thiết nhưng cũng đừng cho là cứu cánh, rất hại cho da bạn. Nên nghĩ đến chuyện uống trà xanh. Đây là chất chống oxy hóa tuyệt vời, giúp cơ thể ít bị mất nước nhờ vào hàm lượng caffeine thấp hơn.

4. Cồn: Mỗi tối bạn phải uống một ly rượu đỏ? Vậy bạn nên suy nghĩ lại, vì chất cồn rút nước ra khỏi tế bào cơ thể, khiến quanh mắt bạn phồng lên như có túi làm cho bạn già hơn tuổi. Không chỉ vậy. Khi uống rượu bạn có nhu cầu nhấm nháp, và dễ dàng bị cám dỗ bởi các món quà vặt có muối. Mà bạn biết chất muối có thể gây nên điều gì. Chống lại hiệu ứng khử nước của rượu bằng cách mỗi ngày uống thêm một ly nước.



5. Thịt đỏ: Là thực phẩm chính trong bữa ăn của hầu hết người Mỹ, nhưng một nghiên cứu gần đây của Viện Sức khỏe Cleveland Clinic cho thấy ăn thịt đỏ nhiều hơn một lần một tuần sẽ gây ra nếp nhăn trên da, cũng như nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng. Mức độ cao của carnitine (một hợp chất trong protein động vật) làm cứng thành mạch máu và làm cho da nhăn sớm. Nếu bạn cho rằng thịt đỏ là nguồn cung cấp vitamin B12, một chất quan trọng cho tế bào hồng cầu và chức năng não, thì hải sản và các sản phẩm sữa cũng giàu vitamin này. Nếu bạn thích ăn thịt đỏ, nên hạn chế để tránh bị già sớm.

6. Tinh bột: Thức ăn có nhiều tinh bột như bánh mì trắng, mì ống hoặc nui có chỉ số đường huyết cao, làm sưng da và tạo nên loại oxy phản ứng. Chúng phá vỡ collagen là chất giúp da mạnh mẽ, và elastin là chất giữ làn da tươi sáng. Ăn nhiều tinh bột, da bạn dễ bị xỉn và bớt vẻ sinh động. Nếu bạn thích tinh bột, nên chọn loại ngũ cốc nguyên hạt. Cơ thể bạn tiêu hóa loại thực phẩm này chậm hơn so với tinh bột, không làm lượng insulin tăng vọt khiến da sẽ phản ứng.

7. Thức ăn nhiều gia vị: Tiêu và ớt có thể là tuyệt vời cho sự trao đổi chất, nhưng không tốt cho da của một số người. Thức ăn cay có thể làm giãn mạch máu ở những người dễ bị nổi mẩn đỏ hoặc những người đang ở giai đoạn mãn kinh. Theo nghiên cứu của Trung tâm Y tế Đại học Maryland, việc tránh thức ăn cay (nhiều gia vị) có thể giúp bạn trẻ lâu. Nếu bạn không rơi vào các điều kiện trên, cũng nên giảm bớt thức ăn nhiều gia vị.

8. Hot dog và thịt nguội: Chất bảo quản cho các loại thịt nguội có thể làm bạn già hơn tuổi. Chúng là hóa chất kích hoạt chứng nổi mẩn đỏ, khiến da bạn mất đi màu hồng tự nhiên và xám xịt. Nên ăn thực thẩm không có chất bảo quản, thay thịt nguội bằng đậu hũ hoặc những loại rau củ không mang yếu tố lão hóa.



9. Soda: Loại thức uống có ga này không tốt cho răng hoặc da bạn. Soda có độ axit cao làm mòn men răng, làm răng bạn dễ bị sâu. Một nụ cười với hàm răng xỉn sẽ làm khuôn mặt bạn trở nên hốc hác. Nhưng đó chưa phải là tất cả: Mức độ sodium cao trong soda khiến da bạn già hơn tuổi. Ngoài ra, soda có thể làm bạn mất nước vì tạo cảm giác giải khát giả tạo. Bỏ thói quen uống soda và thay bằng các loại trái cây mọng nước mỗi khi bạn muốn thưởng thức một thức uống có hương vị.


10. Chất béo chuyển hóa: Là một loại chất béo được hình thành bằng phương pháp hydro hóa dầu ăn, giúp thực phẩm được bảo quản lâu hơn. Chất béo này có trong thức ăn nhanh và bơ thực vật, làm tắc nghẽn động mạch và khiến bạn già nhanh. Tuy nhiên bạn không nên hoàn toàn loại bỏ mà nên thay bằng chất béo thiên nhiên (có trong dầu ôliu hoặc dầu dừa) giàu vitamin E, giúp ổn định các bức tường tế bào, chống lại oxy hóa và gốc tự do khiến bạn nhìn già nua hơn tuổi.

Chờ phán quyết xử Moscow về vụ Katyn

Chờ phán quyết xử Moscow về vụ Katyn

Thứ hai, 21 tháng 10, 2013

Ba Lan đã liên tục đòi Nga phải mở toàn bộ hồ sơ về vụ thảm sát Katyn

Tòa án Nhân quyền châu Âu chuẩn bị ra phán quyết về cách Liên bang Nga xử lý vụ điều tra cuộc thảm sát Katyn năm 1940 khi công an cộng sản Liên Xô giết hại hơn 20 nghìn tù binh chiến tranh Ba Lan.

Vụ xử xảy ra vì 15 thân nhân của một số nạn nhân lên tiếng rằng nước Nga ngày nay đã không thực hiện cuộc điều tra đúng quy cách.

Họ nói Moscow đã ngăn cản họ tìm hiểu sự thực về cuộc thảm sát xảy ra ở vùng phía Tây nước Nga.

Chỉ đến năm 1990 chính quyền Liên Xô mới thừa nhận là thủ phạm vụ giết người hàng loạt mà trước đó họ đổ cho phát-xít Đức.

Nước Nga thời hậu Xô- Viết đã bắt đầu một cuộc điều tra hình sự về vụ Katyn năm 1940 nhưng sau đó, văn phòng công tố viên quân sự tối cao của Nga đã ra lệnh ngưng lại.

Hồ sơ về quyết định này đã được bảo mật và các gia đình Ba Lan không có quyền xem hay hỏi thêm bất cứ thông tin gì về về cuộc điều tra.

Không có bất cứ ai tới nay bị kết án về vụ thảm sát vì các công tố viên Nga nói rằng những người chịu trách nhiệm đã chết rồi.

Nhưng đến năm 2010, Viện Duma của Nga lại ra một văn bản nói cần tiếp tục điều tra để “xác định danh sách các nạn nhân và tìm ra sự thực về bối cảnh của thảm kịch”.

Quốc hội Nga khi đó cũng nói chính Stalin đã ra lệnh cho mật vụ NKVD của Liên Xô thực hiện vụ giết người tại rừng Katyn, gần thành phố Smolensk, và cả tại nơi gần làng Mednoye, vùng Tver, và làng Pyatykhatky khi đó thuộc Cộng hòa Xô-Viết Ukraina.

Các nạn nhân vụ Katyn thuộc giới ưu tú của nước Cộng hòa Ba Lan tư sản, gồm các sỹ quan, linh mục bị bắt sau khi Liên Xô xâm lăng Ba Lan và chiếm phần phía Đông nước này năm 1939.

“Em có nhớ không, một lần khi lá thu bay?”

“Em có nhớ không, một lần khi lá thu bay?”

Là lần em đến thăm tôi

Chung bước yêu đương hẹn hò.

Em có nhớ không, một lần khi gió heo may

Mình ngồi đan giấc mơ say, giận hờn sao vẫn chưa phai?”

(Ngô Thụy Miên – Mắt Thu)

 

(Mt 10: 11/Lc 16: 18)

Chừng như, cứ nói đến mùa Thu là nghệ sĩ nhà mình thường có thêm đôi giòng hỏi han toàn nước mắt với những là: “vùi trên nỗi đau”, “mãi cho u sầu” thì phải? Bần đạo đây, đôi lúc cũng từng hỏi như thế. Hỏi, là vì vẫn nghe văng vẳng ở đâu đó, có giòng nhạc tình tứ, cứ hát rằng:

“Trời còn làm mưa vùi trên nỗi đau
Lời ru ấy mãi cho u sầu.
Bàn chân nuối tiếc thương lạc loài,
Trời còn làm mây buồn qua mắt ai.
Làm tan biến giấc mơ hoang đường,
Rồi buồn trôi theo giòng mưa xuống.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

À thì ra, câu hát trên dọi lại lời thơ rất khẳng định của nghệ sĩ, nói về cơn giận hờn, như sau:

“Giận hờn ngày xưa còn vương mắt em
Làn môi thắm hết ru bao chiều
Vùng ân ái chết trong mây hồng
Một lần vào thu mình đang có nhau
Hàng cây lá rớt trên mi thường
Và tay trắng đan tình với tay.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Nói đi thì nói lại, trích dẫn lời thơ/ý nhạc ở đây, hôm nay, là cốt dẫn nhập cho một tư tưởng mà bần đạo bắt gặp được từ truyền thông báo/đài, rất vi tính.

Báo đài/truyền thông hôm nay, đặt ra rất nhiều vấn đề trong/ngoài nhà Đạo. Những vấn đề cũ/mới tưởng chừng không dứt, nhưng cứ đeo đuổi con người, ở mọi thời. Và thời buổi hôm nay, năm 2013 này, có vấn đề rất “nổi cộm” lại vẫn đưa ra cho mọi người, cả đến đấng bậc chủ-quản Hội thánh, như lời nhận định sau đây:

“Trong một loạt các cuộc trò chuyện với báo chí trên đường về từ Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Rio de Janeiro, Đức Giáo hoàng Phanxicô có trả lời một câu hỏi về trạng-thái của những người đồng-tính luyến-ái đang kiếm tìm Chúa, rằng: “Tôi là ai mà dám kết án một người nào?” Và, khi được hỏi về đường-lối Hội thánh Công giáo đối xử ra sao với những người đã ly-dị rồi, nay tìm cách tái giá dù chưa có phép chuẩn huỷ bỏ hôn-nhân trước đo, Đức Phanxicô trả lời vắn tắt, rằng: “Đây là thời-điểm để ta tỏ lòng thương xót.”

Ở đây, cũng nên nhớ lại lập-trường/đường-lối Hội thánh ta cương quyết: Hôn-nhân một vợ một chồng không rạn nứt, rất cởi mở để ta có khả-năng kiến tạo con cái, vẫn là: bối cảnh lý tưởng cho tương-quan phái-tính. Thế nhưng, lý-tưởng ấy nay đang thay đổi cả với người Công giáo cũng như người Thệ-phản.Tỷ lệ ly dị nay ở mức 40% (chứ không phải 50% như báo chí thường rêu rao) đối với những người có gia đình. Điều này, khiến lũ trẻ trở nên rối rắm, khó khăn. Khó, ở chỗ: đàn ông nào từng chịu cảnh gia đình đổ vỡ khi còn trẻ, thường đi đến tình-trạng bỏ nhà ra đi, trốn học, hoặc chấp nhận làm công việc ít lương/ít tiền và trở thành người bố cũng rất sớm. Nữ-giới ở trường-hợp tương tự, cũng chẳng khá hơn là bao. Phần đông những người này thường sống phóng túng, đã biết ăn nằm thể xác vào lúc còn ở tuổi “teen” hoặc cả trước khi lập gia đình, rồi cũng rơi vào trường hợp dễ trở thành cha mẹ đơn chiếc, hoặc gia đình đổ vỡ, nếu tái giá.

Có sự thể, là: ngày nay rất nhiều người Công giáo hết ly dị rồi lại tái giá mà chẳng bận tâm lo âu gì chuyện xin phép hủy bỏ hôn nhân nào có trước đó, hết. Với Hội thánh, những người như thế đã tự ý lập gia đình theo cách không phải phép hoặc chẳng có hiệu lực; và như thế, vẫn bị ràng buộc vào chuyện bị cấm không được rước Mình Chúa, khi tham dự Tiệc Thánh Thể….” (x. Michael G. Lawler & Todd A. Salzman, How should the Church handle Divorce & Remarriage, 19/9/2013)

Nói theo kiểu nhà Đạo về tình yêu, hôn-nhân, gia đình hợp tan/tan hợp, thì như thế. Như thế, tức: vẫn nhấn mạnh vào thống kê, luật lệ và lý luận. Trong khi, người sống ở đời lại vẫn sử dụng thi ca/âm nhạc để diễn tả tâm trạng của mình và của người, như sau:

“Và rồi mùa thu về trong mắt em
Hàng cây lá úa xanh xao nhiều
Vòng tay khép kín đôi mi nồng
Chuyện mình ngày xưa đành xin lãng quên
Cuộc tình đã chết theo thu tàn
Người về đấy xin chọn giấc mơ.”

(Ngô Thuỵ Miên – bđd)

Diễn thế nào thì diễn, tả thế nào thì tả cũng còn tùy. Tùy mình và tùy người sống ở đâu? Thời nào? Có hệ-lụy gì với ai không? Nay đi vào cảnh sống thế nào? Vẫn hạnh phúc chứ?  Thế đó, là những câu hỏi chỉ để hỏi. Còn, trả lời/trả vốn hay không cũng tùy. Tùy hứng thú, tùy hoàn cảnh để còn phiếm loạn như hôm nay. Và hôm nay, bần đạo lại xin phép được “phiếm” lai rai cho vui đời để hầu bạn đọc cũng như các bạn không-bao-giờ-đọc những chuyện phiếm vớ vẩn này. Trước nhất, là một vài thông tin cũng mới cứng như sau:

“Vừa qua, Đức Phanxicô có nói với các người trẻ bên ngoài Vương cung thánh đường ở Atxidi, hôm 4/10/13, rằng: Các bạn trẻ đừng sợ! Đừng ngại ngần dấn bước với quyết định lập gia đình, chẳng hạn. Ngoài xã hội, người ta lại cứ hô hào cổ võ cho quyền lợi cá thể trong lúc coi mọi sự như chuyện phù du qua mau, và không thấy được giá trị gì nơi sự việc có dính-dấp đến khó khăn này khác hầu đi đến quyết định như chuyện hỏi rằng mình có can đảm lập gia đình không?…”

Đức Phanxicô đã tiếp nhận các vấn-nạn mà lớp người trẻ thường đặt ra như vấn đề hôn nhân và đời sống gia đình một cách nghiêm chỉnh bằng cách trả lời rằng: “Hôn nhân trong Đạo” là ơn gọi thực-thụ giống như ơn gọi linh mục/tu sĩ. Khi tín-hữu nam nữ lấy nhau, họ đều thấy trong câu chuyện tình của họ có lời mời gọi của Chúa, tức: lời mời trở nên một: một than xác, một cuộc đời của cả hai phía, nam và nữ.” Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng nói thêm: “Nhằm bắt đầu thiết-lập một gia đình, ta cũng cần có can đảm, bởi thế giới bây giờ không những chẳng giúp gì được cho ta mà xem ra họ còn tạo nhiều rào cản ngăn cách bằng việc đưa ra những quyền lợi cá-thể, riêng rẽ hơn là đề cao vai trò của gia đình. Và, người thế-gian còn tìm cách thuyết-phục mọi người rằng: quan-hệ hôn-nhân chỉ kéo dài khi hai bên không gặp khó khăn hoặc trở ngại nào hết. “

Đức Phanxicô lại cũng nói: bố mẹ của ngài cũng như ông bà nội/ngoại của giới trẻ, khi trước các cụ lấy nhau trong khung cảnh khác hẳn. Về kinh-tế, các vị đều giáp mặt nhiều thách-đố và cả chiến-tranh nữa, nhưng các ngài luôn thấy một điều rất rõ, là: Thiên Chúa luôn ở với các ngài, vẫn chúc phúc cho các ngài bằng bí-tích hôn-phối có đính kèm sứ-vụ gầy dựng con cái để rồi đưa chúng vào với thế giới và dạy con như thế, họ lại nhận được ơn lành của Chúa. Cuối cùng, Đức Giáo Hoàng lại cũng nói: Cách duy nhất để ta nghe được lời gọi mời của Chúa qua lời nguyện cầu thường xuyên. Và, có quan hệ mật-thiết với Chúa qua việc mở rộng lòng mình. Có như thế, lời gọi mời của Ngài mới được nghe biết…” (x. Cindy Wooden, Marriage takes courage, pope tells young, The Catholic Weekly, 13/10/2013 tr. 5)

Thương yêu, lập gia đình và quan-hệ mật-thiết với Chúa qua nguyện cầu mở lòng mình, đó vẫn là vấn đề của mọi thời. Nhưng, thời nay thiên-hạ cũng đã biết mở rộng lòng và tai ra để nghe và cảm nhận, nên đã thấy nhiều lời mời mọc cũng như ơn gọi từ nhiều phía. Có những lúc, tưởng chừng như đã có người ngoảnh mặt làm ngơ với lời mời của thánh Hội, cách chính đáng. Tuy là thế, nhiều vị vẫn thấy khó xử khi đi vào thực tế mới thấy có những sự thể không mấy dễ. Những sự và việc, được đấng bậc ở đời đặt ra, chí ít là về hôn nhân vỡ đổ, đã tái giá mà chẳng chịu xin phép bãi bỏ hôn ước cũ. Việc này, càng tạo khó khăn cho đôi bạn khi quay về lại với thánh Hội mà sinh hoạt, ở Tiệc Thánh.

Cứ sự thường, thì: bao lâu đôi bạn chưa được miễn-chuẩn hôn nhân có lúc trước, thì hai người trong cuộc dù có tham-dự tiệc thánh cũng không được phép rước Chúa. Về chuyện này, tác-giả Michael G. Lawler được trích ở trên, lại có đôi giòng góp giọng về tình hình thực-tế ở thánh-hội, như sau:

“Theo Giáo lý Hội-thánh, lương tâm con người là vị thẩm phán có lý, qua đó con người nhận ra được phẩm-chất đạo-đức nơi hành-động cụ-thể của mỗi người. Nói khác đi, thì: chính lương tâm vẫn giúp ta nhận ra những việc mình phải làm cho hợp đạo lý, trong mọi tình cảnh mình gặp. Trước nhất, nhờ vào lương tâm mình mới thu thập được mọi bằng cớ để xác-chứng xem Sách thánh cũng thánh truyền, khoa học và kinh nghiệm bản thân từng nói gì, về những chuyện như thế. Thứ đến, ta nguyện cầu xem xét từng chứng cớ cách riêng rẽ xem khi nào thì có xung đột giữa các sự việc. Sau nữa, ta lưu tâm đến chọn lựa nào khả thi nhất và coi xem nó có ảnh hưởng gì lên quan hệ của ta với Chúa, với người đồng loại và chính mình nữa. Cuối cùng, ta phải quyết định trong tự do xem hành động nào thích hợp đối với tình cảnh đưa chúng đến với ta. Theo hiến chế Vui Mừng và Hy vọng thì: lương tâm là cốt tủy của  mọi chuyện và là cung điện thánh thiêng của con người ở đó, con người thấy mình đang lắng nghe lời mời của Thiên Chúa nói với mình…” (x. Michael Lawler, bđd)

Về vấn đề rước Mình Máu Chúa ở Tiệc Thánh vẫn được các đấng bậc đề ra rất nhiều lần để rồi cứ tranh luận mãi vẫn không ngừng. Chung qui, thì mọi sự chỉ là chuyện đối đầu với tinh thần luật lệ của một số vị nắm vai trò chủ-quản trong Hội thánh. Trên thực tế, có sự thể là con dân Chúa ở hoàn cảnh “oái oăm”, “rối mù” vào một lúc nào đó, nhưng cuối cùng khi mọi việc đã qua đi, họ vẫn sống vui, sống mạnh và sống vững chãi với luật yêu thương giùm giúp, được ghi ở Tin Mừng. Và, rốt cuộc thì, nhiều cặp vợ chồng lại quên mất nhà thờ nhà thánh, nói gì chuyện đi lễ và rước lễ.

Thế nên, đấng bậc trích dẫn ở trên, lại có thêm những lời cuối, như sau:

“Một số hôn nhân bất thường nay ổn định dấn, lại được dưỡng nuôi bằng niềm tin Kitô-giáo cũng khá tốt, nên hôn nhân như thế vẫn không thể bị hủy mà không gây hại đáng kể về tinh thần, và cảm xúc lẫn kinh tế…

Đức Phanxicô xem ra cũng đã nhận thấy khó khăn này nên ngài mới nói: “Bổn phận của chúng ta là tìm ra phương cách nào khác vẫn chính đáng để đáp ứng với tình cảnh của người Công giáo đang sống đời hôn nhân bất thường”. Và Đức Giáo Hoàng có nói với nhóm ký giả phỏng vấn ngài trên chuyến bay từ Rio về Rôma, rằng: “Vấn đề là: ta không thể giải quyết sự việc theo cách hỏi xem những người như thế có được phép rước Chúa hay không vì bất cứ ai có ưu- tư/suy nghĩ về vấn đề này theo kiểu cách như thế tức là đã không hiểu rõ vấn đề, một cách thực thụ.” Bằng vào câu trả lời trên, xem ra càng ngày càng thấy rõ, là: ta hiện có một vị giáo hoàng từng hiểu rõ vấn đề này.” (x. Michael G. Lawler, bđd).

Hiểu và biết rõ như thế, nhưng vẫn có một số giáo dân ở đời thường nay cũng biết, là: vấn đề của bậc hôn nhân “không bình thường” nơi người Công giáo, lại được đặt lên bàn cân để xem xét thêm ở chốn cao trọng trong Hội thánh. Hiểu và biết, để rồi cũng sẽ cùng với Hội thánh mừng vui và hy vọng cho mai ngày. Duy có điều, là: một số vị vẫn cứ lo cho tình trạng của một số người anh người chị ở đây đó, đã lung lạc, nên mới vắng bóng ở các buổi sinh hoạt phụng vụ và/hoặc sự kiện nào khác, rất ý nghĩa.

Vốn dĩ ưu tư nhiều, nên bần đạo lại cũng lục lạo tìm đến tâm tư cùng ý-kiến của bậc trưởng thượng, thì nhận được ân huệ Chúa trao ban cho có được một vài ý tưởng từ bậc thày, như sau:

“Sự việc các thể chế Công giáo đang xuống cấp thấy rõ là do có sự bất ổn trong xã hội phương Tây, thời buổi này. Chẳng hạn như: không chỉ mỗi hôn nhân theo kiểu chính mạch của người Công giáo mới giảm sút, thôi, mà ngay chính thể-chế hôn-nhân nói chung cũng suy đồi. Ngay như kiểu cách luân lý/đạo đức đặt ra cho Giáo hội cách chầm chậm và rất nhiều khó khăn lên hành-xử tính-dục và cơ cấu gia đình ở châu Âu từ thời Trung Cổ trở về sau xem ra đang bị gãy đổ trầm trọng. Sau đó, còn thấy các giáo hội khác ở phương Tây trong đó có Hội thánh Công giáo ngày càng phải đương đầu với nhu cầu tạo nên “cung cách sống xem ra mang nhiều chiều hướng rất xã-hội, mà dân thường ở huyện đang phải sống cũng rất mực. Trên hết mọi chuyện, hôn nhân là thể chế xã-hội, nên nếu Giáo hội không suy sụp thành một giáo phái thì các cặp phối ngẫu bình thường lành thánh không thể sống cuộc sống đúng như lòng đợi trông là không bị xã hội và/hoặc nề nếp văn hoá sờ chạm , nói chung. Con số các người Công giáo chung sống tình dục bất thường ngày càng gia tăng là chỉ dẫn cho thấy cung cách mà các giá trị của xã hội đang tạo mẫu cho nếp sống và quan niệm của người tín-hữu Kitô-giáo nói chung.

Và cũng thế, theo ngôn ngữ mục vụ, thì chuyện châm ngòi cho quả bom nổ chậm này bằng cách này hay cách khác đang là chuyện cần phải làm lắng dịu nếu ta không muốn giết chết cộng đồng người Công giáo và, quan trọng hơn nữa, nếu không muốn tước đi sự nâng đỡ hỗ trợ và ánh sáng soi dọi cho hàng ngàn vạn người đang có nhu cầu như thế.” (x. Eamon Duffy, Unfinished Journey: The Church 40 Years after Vatican II, Essays for John Wilkins)

Bàn luận về chuyện gia đình chồng/vợ, tái giá sinh hoạt với cộng đoàn/chòm xóm theo kiểu nhà Đạo ở cấp cao thì như thế. Luận bàn về chuyện vợ/chồng ở đời cũng có lúc giận hờn, trách móc, bỏ bê rồi trở về, theo kiểu người đời có lẽ cũng nên bàn nên kể theo kiểu phiếm luận hay “phiếm loạn”, bằng truyện kể ngày xưa, như sau:

“Ngày xưa có một người đàn ông giàu, vợ chết sớm, chỉ có độc một người con trai.

-Đứa con vốn người xấu nết, đần độn, lại là tay chơi bời lêu lổng không chịu học hành hay làm ăn gì cả.

Thấy con không lo nối nghiệp nhà, người nhà giàu rất buồn phiền, biết rằng của cải của mình sẽ có một ngày đội nón ra đi mà thôị Bởi vậy, ông bèn tính chuyện kiếm cho con một người vợ khôn ngoan đảm đang, để may ra nó sẽ ngăn chặn tay chồng, bảo vệ một phần nào cơ nghiệp. Nghĩ vậy, ông cất công đi khắp nơi tìm kiếm, nhưng đi đã nhiều nơi mà vẫn chưa thấy một người nào vừa ý.

Một hôm, đến một vùng kia, nhân mỏi chân, ông nghỉ lại một gốc đa bên đường. Ông bỗng thấy ở một cây táo gần đấy có một bọn trẻ đang tranh nhau trẩy ăn. Một chốc sau, một cô gái tuổi chừng đôi tám, cũng đến trẩy táo. Ông mới lân la lại gần hỏi xin ăn.

Lúc này, táo chín đã bị bọn người trước trẩy hết, chỉ còn những quả xanh, nhưng cô gái cũng cố chọn lấy những quả ương ương đưa cho khách.

Thấy cô gái tốt bụng, ông ta nghĩ: “Sởi lởi, trời gởi của cho, quăn co, trời gò của lại. Chỉ có người nào tốt bụng với mọi người mới xứng đáng được hưởng giàu có sung sướng”. Bởi vậy, ông mới tìm đến nhà cô gái, giả làm một người lỡ độ đường, xin nghỉ trọ một tối. Và rồi ông được gia đình cô gái ân cần tiếp đãi.

Để thử xem cô gái có khôn ngoan không, ông lân la làm quen với nàng. Khi biết cô sắp đi chợ, ông đưa ra một quan tiền nhờ mua hộ cho mình “một nắm gió, một bó lửa”. Cô gái chẳng nói chẳng rằng, mua về cho ông một cái quạt và một con dao đánh lửa. Thấy thế, ông thầm khen ngợi, nhưng vẫn định thử thêm cho biết.

Qua ngày hôm sau, ông dậy sớm, giở tay nải đưa cho cô mấy bát gạo nếp, nhờ nàng thổi giúp cho mình một nồi vừa cơm vừa bánh để ăn và đem đi ăn đường. Cô gái không từ chối, vội lấy gạo ra vo.

Trước khi cho vào nồi, nàng bớt lại một ít giã làm bột vắt bánh rồi hấp luôn vào cơm. Khi nàng bưng ra, ông già lấy làm vừa ý, cho là con người đó đủ cả đức hạnh, khôn ngoan, đảm đang ít có. Bèn quyết định trở về sửa soạn lễ hỏi cho con trai làm vợ.

Đứa con trai của ông từ ngày có vợ lại càng lêu lổng; hắn thường bỏ nhà đi đánh đàn, đánh đúm với bọn vô lại, làm cho ông hết sức buồn. Và điều làm ông lo lắng nhất là hắn thỉnh thoảng lại trộm tiền của ông, khi dăm bảy quan, khi một vài vác, tung vào cuộc đỏ đen. Mặc dù ông đánh đập, mặc dù vợ hắn khuyên lơn, nhưng hắn chứng nào vẫn tật ấỵ Dần dần ông buồn phiền thành bệnh. Một hôm, biết mình sắp chết, ông gọi con dâu đến bên giường dặn nhỏ:

-Này cha đã gần đất xa trời. Chồng con là một thằng “Phá gia chi tử”, cơ nghiệp này chỉ còn một sớm một chiều mà thôi. Cha rất thương con xấu số. Từ lâu cha làm ăn dành dụm, có để được một hũ vàng chôn ở sau vườn. Vậy cha cho riêng con hũ vàng đó, đừng cho chồng con biết. Sau này chồng con có thật sự ăn năn hẵng giúp cho nó làm lại cuộc đời.

Đứa con trai ông sau khi người cha qua đời, lại càng chơi bời mặc sức. Vợ hết khuyên lơn đến cầu khẩn, hắn chẳng những đã không nghe lại còn phũ phàng với vợ. Mỗi lần thua bạc, hai người lại càng xô xát. Nhiều lần vì vợ cản trở, hắn đánh đập vợ không tiếc tay và làm nhục nàng trước mặt mọi người. Một hôm để khỏi vướng, hắn viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác rồi đuổi nàng ra khỏi cửa.

Từ đó, hắn phỉ chí tung hoành không một ai dám cản. Quả như lời đoán của bố hắn, mấy chục mẫu ruộng đều lần lượt “nướng” vào sòng bạc. Hết ruộng vườn tới nhà ở, chẳng bao lâu tất cả cơ nghiệp mấy đời lưu truyền lại đều sạch sành sanh . Cuối cùng không một đồng dính túi, không một nghề cầm tay, hắn đành bỏ làng mạc quê quán, đi lang thang khắp đầu đường xó chợ, ngửa tay xin ăn qua ngày.

Còn về người đàn bà sau khi bị chồng đuổi, mới đổi tên, tìm đến trấn thành mở một ngôi hàng nước. Sau ít lâu, kiếm được một số nhỏ, nàng bắt đầu buôn hàng tấm. Số vốn của nàng ngày một lớn dần. Một hôm, gặp hai em bé gái mồ côi đi ăn xin, nàng thương tình đưa về nuôi làm con, coi như ruột thịt. Cuộc đời dần dần nở hoa trước mắt nàng. Trong một dịp đi tìm kiếm củi, hai con nàng nhặt được một khúc gỗ mục, về chẻ ra thấy có mấy thoi vàng. Có vốn lớn lại có tài kinh doanh, nên chẳng bao lâu, nàng trở nên giàu có, nổi tiếng trong trấn. Tiền bạc tuôn về như nước. Tuy sống sung sướng nhưng nàng vẫn ở một thân một mình. Thấy nàng giàu có, nhiều kẻ ngấp nghé muốn “gá nghĩa Châu Trần”, nhưng người đàn bà ấy nhất định từ chối mọi lời đường mật. Mặc dù người chồng bạc bẽo và mặc dầu mười lăm năm xa cách, nàng vẫn không quên được tình xưa nghĩa cũ. Đã nhiều lần nàng thuê người lần đi các chợ búa phố phường dò hỏi nhưng tin tức của chồng càng hỏi, càng bặt tăm.

Năm ấy, sau mấy tháng hạn, lúa khoai chết mòn trên những cánh đồng nứt nẻ. Giá gạo cứ lên vùn vụt. Ngoài đường, người đi xin ăn kéo từng đoàn. Người đàn bà lúc này đã là bà chủ hiệu. Bà xin phép quan trên cho mình đem tiền gạo ra phát chẩn cho kẻ khó. Làm như thế, nàng còn mong một khi thấy yết thị dán khắp thôn xóm thì chồng mình tất sẽ lần mò về, nếu hắn còn sống. Y như thế thật, ngày bắt đầu phát, nàng đã thấy bóng dáng của chồng ngồi ở hàng cuối đội quân lĩnh chẩn. Đúng là hắn. Từ ngày bắt đầu cầm bị gậy đến nay, hắn vẫn chưa có cách gì để sống khá hơn và đỡ hèn hạ hơn trước. Bây giờ nghe nói có phát chẩn, hắn vội mò đến đây và ngồi đầu hàng về phía tả. Thế nhưng khi phát, những người giúp việc cho bà chủ hiệu lại được lệnh phát từ phía hữu lạị Khi sắp sửa đến lượt hắn thì bọn họ tự nhiên nói lớn:

-Hôm nay đã hết gạo, mời bà con về đợi đến ngày mai!

Hắn buồn bực trở ra. Qua ngày sau, hắn cố tìm đến thật sớm, ngồi vào đầu hàng bên hữu. Nhưng hắn không ngờ, những người phát chẩn hôm nay lại bắt đầu phát từ phía bên kia. Lúc sắp phát đến hắn thì chúng lại giơ thúng không lên:

-Hôm nay thế là lại hết gạọ Bà con hãy đợi đến mai.

Hắn thở than cho số đen đủi, lần trở ra về. Qua hôm sau, lại mò đến thật sớm. Lần này hắn len vào ngồi đúng chính giữa đội quân lĩnh chẩn. Trong bụng hắn nghĩ lần nầy thì không để mất phần được. Nhưng đến giờ phát, hắn không ngờ người nhà của bà chủ hiệu hôm nay lại phát hai đầu phát lại và cuối cùng người không được gì cả, vẫn lại là hắn. Ba lần hỏng cả ba, hắn rất ngao ngán, bèn đánh liều tìm đến dinh cơ bà chủ để xin ăn. Gặp hai đứa con gái nuôi của vợ, hắn ngả nón kêu van hết lời. Ở trong nhà; người đàn bà nhìn ra biết là chồng, đã do mưu của mình mà đến đây, bèn sai người hầu ra hỏi, xem hắn có biết làm việc gì không để thuê mượn. Nghe hỏi thế, hắn vội trả lời:

-Xin ông bẩm với bà lớn rủ lòng thương, cho tôi được ở hầu bà, rửa bát, quét nhà, mọi việc tôi đều xin hết sức. Chỉ cho tôi ăn ba miếng là đủ rồi!

Người nhà trở ra cho hắn biết bà chủ nhận lời. Từ đó, hắn chăm chỉ làm lụng, cố làm vừa lòng chủ. Nhưng chung quy hắn vẫn không biết chủ chính là vợ cũ của mình. Về phần người vợ cũng không hề để lộ một tí cho hắn biết, chỉ dặn hai con và người nhà đối đãi tử tế mà thôi. Sau một thời gian, thấy hắn chịu khó làm ăn, người đàn bà mừng lắm. Một hôm nàng cho gọi hắn lên nhà hỏi xem có biết chữ nghĩa gì không! Hắn đáp:

-Tôi lúc nhỏ được đi học có biết ít nhiều.

-Vậy từ mai trở đi, anh không hầu hạ nữa, cho anh ở gian nhà khách dạy đám trẻ học tôi sẽ trả mỗi năm ba mươi quan.

Nghe nói, hắn tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa, cảm thấy lòng nhân đức của bà chủ đối với mình bằng trời bằng biển, vội nhận lời ngay . Từ đó, hắn đóng vai thầy đồ cố sức làm cho chủ tin cậỵ Nhưng người vợ vẫn thử mãi không thôi.

Một lần, gặp ngày tết, bà chủ sai lấy tiền ra cho kẻ hầu người hạ. Nàng nói:

-Ta cho mỗi người năm quan, hãy mang đi đánh bạc cho vui, nếu hết sẽ cho thêm. Thầy đồ ta cũng được năm quan tiền. Nhưng trong khi mọi người đem tiền nướng vào xóc đĩa, bài mười, thì trái lại, hắn mang nguyên vẹn số tiền đó về gửi cho chủ. Bà chủ hỏi:

-Tại sao anh không thích đánh bạc? Hắn trả lời:

-Bẩm bà, tôi ngày xưa, vì cờ bạc mà đến nông nỗi nàỵ Cho nên bây giờ buộc chỉ cổ tay thề rằng không đụng đến nó.

Thế rồi luôn miệng, hắn kể hết cho chủ nghe, từ cuộc đời cũ có ruộng nhiều, có vợ ngoan như thế nào, rồi bán ruộng đuổi vợ ra sao, cho đến lang thang đói rách, và ngày nay đã ăn năn hối lỗi v.v… Bà chủ hỏi:

-Anh còn thương vợ nữa không? Hắn rầu rĩ:

-Tôi đã nhiều lần dò tìm mà không thấỵ

-Nghe anh nói tôi rất thương tình. Vậy tôi cho anh năm quan để anh đi tìm vợ. Nếu hết tiền mà vẫn chưa thấy, anh cứ về đây, tôi sẽ cho thêm mà tìm cho ra.

Hắn mừng rỡ vâng vâng, dạ dạ, mang tiền đi tìm. Nhưng sau ba tháng trở về với bộ mặt thiểu não, hắn cho chủ biết không hề thấy tung tích đâu cả, chắc là vợ hắn đã chết. Từ đấy, vợ thấy chồng chí tình, lại có lòng tu tỉnh, nên rất mừng. Nhưng nàng vẫn chưa ra mặt vội, chỉ an ủi hắn hãy ở lại đây, may ra sẽ có ngày hội ngộ.

Một hôm, nhân ngày giỗ cha chồng, bà chủ nhờ thầy đồ chép bài văn tế. Hắn ta ngạc nhiên và bội phần mừng rỡ khi thấy bài vị của tổ tiên nhà chủ chính là bài vị tổ tiên mình. Lập tức, hai vợ chồng ôm nhau khóc lóc. Rồi sau khi cúng xong, họ mời làng xóm và người nhà ngồi lại kể rõ sự tình. Ai nấy đều cho là một cuộc tái ngộ hiếm có.

Về sau, hai vợ chồng dựng vợ gả chồng cho hai con nuôi, giao cửa hiệu lại cho chúng cai quản. Sau đấy, họ dắt nhau trở về quê hương xưa, chuộc lại vườn tược nhà cửa cũ. Và sau khi đã sống yên ổn ở quê nhà, vợ mới sai đào hũ vàng bố chồng cho mình ngày xưa lên . Nàng nói:

-Có vàng chưa chắc đã có hạnh phúc. Cho nên trong những cơn túng thiếu nhất, tôi vẫn không cần đến nó.

Nói đoạn, đem số vàng ấy cúng cho đền chùa để bố thí cho người nghèọ Từ đấy, hai vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc. Câu tục ngữ: “Làm trai rửa bát quét nhà. Vợ gọi thì ‘Dạ bẩm bà tôi đây!'” là do chuyện này mà ra.” (Đỗ Tuấn Hải sưu tầm)

Ngồi buồn, nhiều vị nghĩ mãi cũng chẳng thấy buồn bực, buồn bã hoặc buồn chán, mà chỉ buồn cười cho chuyện người đời và đời người. Chuyện trăm năm vợ chồng người lo chung sống cho êm đẹp, mà sao nhiều vị cứ thích đưa ra luật này lệ nọ để giải quyết ở cấp cao. Bởi, có giải quyết ở cấp nào đó, cũng đâu đến được với cấp trực tiếp của đương sự ở dưới chỉ muốn sống vui, sống hoà hoãn với mọi người, mà thôi.

Chẳng thế mà, người nghệ sĩ ở ngoài đời chỉ quen với những lời hát câu ca, như sau:

“Và rồi mùa thu về trong mắt em
Hàng cây lá úa xanh xao nhiều
Vòng tay khép kín đôi mi nồng
Chuyện mình ngày xưa đành xin lãng quên
Cuộc tình đã chết theo thu tàn
Người về đấy xin chọn giấc mơ.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Hát thế rồi, có lẽ bạn và tôi, ta cũng nên tìm về với Lời Vàng khi trước, mà làm nền cho tâm tình và lập trường sống của ta, mai sau. Lời vang của đấng thánh hiền, bần đạo bầy tôi đây g8ạp được, như thế này:

“Tôi rất vui mừng vì đã gặp thấy trong số con cái của Bà,

những người sống trong sự thật,

đúng như điều răn chúng ta đã nhận được từ Chúa Cha.

Thưa Bà, bây giờ tôi xin Bà điều này

-đây không phải là một điều răn mới tôi viết ra,

nhưng là điều răn chúng ta đã có từ lúc khởi đầu-

đó là: chúng ta phải yêu thương nhau.

Yêu thương là sống theo các điều răn của Thiên Chúa.

Như anh em đã được nghe từ lúc khởi đầu,

điều răn này là:

anh em phải sống trong tình thương.”

(2Ga 1: 4-6)

Xem như thế, thì: lời cuối của bậc thày bần đạo đây chứ không của ai khác, đó là: sống và áp dụng những lời vàng ở trên, mà thôi. Còn, chuyện phiếm luận hay “phiếm loạn” về chủ đề nào đi nữa, cũng chỉ là cơ hội để tỏ bày điều được răn dạy mà thôi.

Nói thế rồi, giờ đây bần đạo lại xin thêm một đề nghị, là: ta cứ ngâm nga lời cuối của bài ca người nghệ sĩ vẫn hát, rất mê say, rằng:

“Chuyện mình ngày xưa đành xin lãng quên
Cuộc tình đã chết theo thu tàn
Người về đấy xin chọn giấc mơ.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Giấc mơ hôm nay ta xin chọn, là: cứ “sống trong tình thương” anh em với nhau, dù có chịu phẩm bình, bàn luận hay “phiếm loạn” bấy lâu nay.

Trần Ngọc Mười Hai

Những muốn nhắn người

và nhắn mình

những câu như thế.

Buộc cẳng chim trời

Buộc cẳng chim trời

Tưởng Năng Tiến


The “world wide web” is not a conspiracy of spiders.
Khuyết danh


Chim trời . Nguồn: flick.com

Trong mục Ý kiến ngắn trên diễn đàn talawas, vào ngày 9 tháng 9 năm 2008, ông Phan Hoàng Sơn phát biểu như sau: “Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ phức tạp nhất của thế kỷ vừa qua. Hai chiến tuyến được thành lập để công kích và ca ngợi ông, mặc dù cả hai bên đều yêu mến các tình ca của ông.”

Vụ thiên hạ thành lập chiến tuyến “để công kích và ca ngợi Trịnh Công Sơn” ra sao, nếu có, để đó, bữa nào rảnh, tính sau. Nhưng chuyện cả nước đều yêu nhạc của đương sự là một sự kiện hoàn toàn khách quan. Muốn bài bác hay nói ra (e) hơi khó. Mà nói vô thì (nghe) có vẻ xu thời.

Còn nói tình ngay thì tui hoàn toàn không hề có ý bài bác, cà khịa, nói ra (hay nói vô) gì ráo. Tiện đây, tui chỉ muốn nói (thêm) rằng họ Trịnh không chỉ có tài mà còn có… thời nữa kìa. Ổng không những đã hay mà còn… hên (dữ) lắm!

Ngay sau khi đương sự vừa xuất hiện (trong những buổi sinh hoạt văn nghệ bỏ túi, giản dị với chiếc đàn guitar, trầm lắng bên cạnh Khánh Ly), mấy cái máy Akai cồng kềnh cũng – theo chân nguời Mỹ – tràn vào nước Việt, mang sáng tác của Trịnh Công Sơn đến mọi hang cùng ngõ hẻm ở miền Nam.

Rồi đất nước thống nhất. Trong lúc bộ đội và dân chúng miền Bắc ào ạt vào Nam, âm nhạc của Trịnh Công Sơn lặng lẽ đi chiều ngược lại – từ Nam ra Bắc. Và ông đã chinh phục được luôn số thính giả của nửa phần quê hương còn lại.

Trịnh Công Sơn tài ba (thấy rõ) nên được rất nhiều người coi là niềm hãnh diện của dân tộc Việt. Tôi, tiếc thay, không có cái may mắn được chia sẻ niềm hãnh diện này – như “rất nhiều người” khác.

Vì sinh ra trong một gia đình sống nhiều đời bằng nghề lý số, bất cứ ai không phải dân “pro” mà thích bói toán hay dự đoán bậy bạ (và trật lất) là tôi không thích. Nghỉ chơi, ít ra (cũng) cho tới tết. Hoặc (không chừng) tới chết luôn!

Với riêng tôi, Trịnh Công Sơn đã mắc phải lầm lỗi (chí tử) như thế. Hơn ba mươi năm trước, khi cuộc chiến Việt Nam còn đang ở giai đoạn khốc liệt, ông đã mường tượng ra một viễn ảnh thanh bình – làm say đắm lòng nguời: “Khi đất nuớc tôi không còn chiến tranh, trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đường.”

Chiến tranh chấm dứt. Nam, Bắc hoà lời ca. Tôi ca (hơi) khó nghe nên bị túm. Dù vào trại cải tạo nhiều năm, giọng (ca) tôi vẫn không thay đổi được bao nhiêu. Bởi vậy, vừa ra khỏi tù là tôi… vù luôn ra biển. Sau khi đã đi hết biển, mặc cho ông Trần Văn Thủy kêu gào, tôi cứ bỏ đi luôn. Cho nó chắc ăn!

Do đó, cái vụ “trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đường” – nếu có – tôi cũng không được thấy. Mà hình như thì không (có) đâu.

Không dám mua vé máy bay về (thiệt) nhưng nhiều đêm – những đêm thâu, sâu hun hút ở Nam Dương, ở Thái Lan, ở Tân Gia Ba, hay ở Hoa Kỳ… – tôi vẫn thường lò dò, bằng những bước chân của kẻ mộng du, trở lại cố hương.

Tôi lang thang, qua khắp mọi miền đất nước. Phần lớn là những địa danh mà tôi chưa bao giờ có dịp ghé qua, trước khi (đành đoạn) bỏ đi. Không nơi đâu có chuyện (“trẻ thơ đi hát đồng dao ngoài đường”) thần tiên như thế. Sau cuộc chiến, quả nhiên, con nít có la cà và tụm năm tụm ba (hơi nhiều) trên đường phố nhưng tuyệt nhiên không thấy đứa nào vui đùa hay hát hỏng gì xất cả.

Từ Hà Nội, ký giả Huw Watkin tường thuật rằng “cứ năm đứa bé đang lê trên vỉa hè của ba mươi sáu phố phuờng là có một đứa… ăn xin. Bốn đứa còn lại, xem chừng, cũng bận: đánh giầy, năn nỉ người đi đường mua vé số, dắt mối, bán ma túy…” (“Children Sold Into Begging, Pimping And Drug Dealing”, South China Morning Post, 18 April 2000).

Cũng vẫn theo y như lời Huw Watkin thì lực lượng trẻ con đi ăn mày, làm ma cô và bán ma túy… ở Việt Nam đang dần được đưa vào tổ chức (“… recent media reports that children are being increasingly used by organized begging gangs, pimps and drug dealers”).

Chuyện này thì thằng chả nói hơi… thừa! Ở một xứ sở mà Nhà nước bao biện mọi chuyện, và lãnh đạo khắp nơi – kể cả chùa chiền, giáo đuờng hay thánh thất… – làm sao để cho trẻ em (những mầm non tương lai của Tổ quốc) sống vô tổ chức được, cha nội?

Tôi còn dự đoán rằng, trong tương lai gần, lũ trẻ thơ bụi đời ở Việt Nam (dám) sẽ được đoàn ngũ hoá – và cho thắt khăn quàng có màu sắc khác nhau – để dễ điều phối. Đại loại như, khăn quàng xanh: đánh giầy; khăn quàng tím: dắt mối; khăn quàng trắng: ma túy; khăn quàng hồng: mãi dâm; khăn quàng nâu: ăn mày; khăn quàng đỏ: thu thuế và theo dõi hoạt động, cũng như tư tưởng, của những loại khăn quàng khác!

Cũng như Trịnh Công Sơn, tiếc thay, tôi đoán… trật! Cho tới bữa nay, vẫn không thấy những sắc mầu khăn quàng (đỏ, xanh, vàng, tím) phất phới mọi nơi – trên đường phố Sài Gòn hay Hà Nội – như tôi đã hình dung!

Đảng chưa rảnh để cho đám trẻ em bụi đời vào khuôn phép. Nhà Nước Việt Nam còn phải bận tâm về nhiều “đám” khác (xem chừng) cấp thiết hơn nhiều: xây dựng lại đội ngũ trí thức, chấn chỉnh lại đội ngũ báo chí, củng cố lại đội ngũ công nhân… Và quan trọng hơn hết là tìm cách quản lý cái đám blogger, một giới người vừa mới xuất hiện – hết sức đột ngột và lộn xộn – ở xứ sở này.

Blog có thể được mô tả như là một hình thức “dân báo”, và blogger là một nhà báo tự do – theo như quan niệm của bà Tạ Phong Tần, một trong những blogger đang được công luận chú ý, ở Việt Nam:

“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”

“Khi bạn đưa thông tin lên blog của bạn, tức bạn đã đem sự hiểu biết của bạn truyền tải cho người khác để mọi người cùng được biết, qua đó, mọi người cùng bàn luận, cùng kiểm tra xem, dùng quyền công dân của mình đòi hỏi công chức Nhà nước phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà luật pháp quy định.”

“Có thể sự hiểu biết của bạn chỉ là một phần nhỏ nào đó trong đời sống xã hội, nhưng nhiều người góp lại sẽ tạo nên một bức tranh hiện thực xã hội hoàn chỉnh. Khi tự mình làm một nhà báo công dân, chính bạn đã góp phần công khai, minh bạch hóa xã hội, cùng chung sức xây dựng một xã hội dân sự cho đất nước chúng ta.”

Quan niệm tích cực vừa nêu, tiếc thay, đã không được chia sẻ bởi những kẻ đang nắm quyền lực ở Việt Nam. Vốn đa nghi, giới người này có khuynh hướng xem blog (nói riêng) và web (nói chung) chỉ là “âm mưu của những con nhện” – những kẻ đang âm mưu “diễn biến hoà bình” – cần phải được theo dõi và kiểm soát, nếu được.

Mà tui thì sợ còn lâu mới được. Tầu còn bó tay thì nói chi ta. Chuyện quản lý Internet ở nước láng giềng, được giáo sư giáo sư Cao Huy Thuần tóm gọn, như sau: “80 muơi triệu con chuột thì mèo đâu ra mà bắt cho hết.”

Nhà nước Trung Hoa vĩ đại đã từng thành công mỹ mãn trong việc huy động dân chúng tóm gọn vài tỉ con chim (sẻ) mà nay đang loay hoay không biết đối phó ra sao với mấy triệu con chuột (điện). Quyết tâm của họ, xem chừng, hơi thấp. Quyết tâm của ta, xem ra, cũng… không cao!

Công cụ truyền thông “gang thép” nhất của nuớc Việt Nam, Công an Nhân dân Online (Cơ quan Ngôn luận của Bộ Công an), đọc được hôm 5 tháng 10 năm 2007, đã mô tả blog như là một thứ “hệ lụy” và “quản lý blog” là… “Chuyện buộc cẳng chim trời”. Thiệt, nghe mà muốn ứa nước mắt:

“Theo ước tính từ Bộ Thông tin và Truyền thông, có khoảng 3 triệu blog tại Việt Nam. Và mỗi ngày có hàng chục ngàn blog mới được khai sinh và việc một người sử dụng nhiều blog với những mục đích khác nhau là hoàn toàn có thể. Đã có những phát sinh và hệ lụy từ blog…”

“Tuy nhiên, liệu có quản lý được không? Quản lý một blog mà danh tính của nó có thể thay đổi trong chớp mắt và những thông tin hiển thị không thực sự chính xác thì đó là cách buộc cẳng chim trời. Hầu hết các blog đều là dịch vụ của một nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, vì vậy việc quản lý sẽ càng trở nên nan giải hơn…”

“Trong bộn bề của những ngày bắt đầu Bộ Thông tin và Truyền thông, trong rất nhiều những vấn đề cần giải quyết và đưa ra những hướng dẫn cụ thể, đưa ra việc quản lý blog với những quy chế hướng dẫn cụ thể là điều chưa khả thi.”

“Việc truy tìm chủ nhân blog có thể được đối với cơ quan an ninh mạng hay lực lượng cảnh sát mạng. Nhưng đó là việc làm mang tính đối phó chứ không phải là cách làm mang tính chiến lược.”

Trời đất, làm sao mà có “chiến thuật” hay “chiến lược” gì cho kịp chớ? Coi: mới hôm qua còn cả đống cà phê chui, bữa nay (tất tần tật) đều biến thành… cà phê Internet hết trơn hết trọi!

Giấc Nam Kha khéo bất bình.
Bừng con mắt dậy thấy mình trắng tay!


Khi khổng khi không, nhà đương cuộc Hà Nội mất (độc) quyền thông tin (mà họ đã từng nắm chặt được) từ hơn nửa thế kỷ nay. Bằng nỗ lực tuyệt vọng – để… hòng “cứu vãn tình thế” – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Nghị định liên quan đến việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet ở Việt Nam, theo như tường thuật của phóng viên Thiện Giao (nghe được qua RFA) hôm 5 tháng 9 năm 2008 vừa qua.

Ta không có tới tám mươi triệu con chuột như Tầu nhưng tính rẻ cũng (đâu chừng)… bốn triệu! Mèo đâu ra mà bắt cho kịp chớ?

Công an mạng và cảnh sát mạng lại không thể đào tạo dễ dàng như mấy ông bạn đồng nghiệp, bên ngành giao thông. Loại sau, khỏi cần huấn luyện, cứ quăng ra đường là tụi nó xông xáo đi ghi giấy phạt để… kiếm thêm chút cháo. Chớ còn rình bắt chuột (điện) thì đòi hỏi cần phải có nghiệp vụ cao mà lại chả được ăn cái… giải (rút) gì, ngoài số tiền lương… chết đói.

Buộc cẳng chim trời hay buộc chỉ chân voi đều là những chưyện (rất) khó thành công.

– Ủa, không thành công thì thành nhân chớ có mất mát gì đâu mà sợ?

– Sợ chớ, theo luật tiến hoá thì đi tới mới có hy vọng thành nhân. Còn cố kìm giữ cả một dân tộc trong tăm tối, dốt nát và nghèo đói… là đi giật lùi. Bước lui thì chỉ có thể thành dã nhân mà thôi!

Tưởng Năng Tiến

Chiếc vĩ cầm tàu Titanic được bán với giá kỷ lục 1,4 triệu đô la

Chiếc vĩ cầm tàu Titanic được bán với giá kỷ lục 1,4 triệu đô la

Chiếc vĩ cầm của nhạc trưởng Wallace Hartley trên tàu Titanic vừa được nhà bán đấu giá Henry Aldridge & S bán với giá 900,000 bảng (1,45 triệu đô la) ngày 19/10/2013.

Chiếc vĩ cầm của nhạc trưởng Wallace Hartley trên tàu Titanic vừa được nhà bán đấu giá Henry Aldridge & S bán với giá 900,000 bảng (1,45 triệu đô la) ngày 19/10/2013.

19.10.2013

Cây vĩ cầm, được người đứng đầu ban nhạc sử dụng trên chiếc tàu Titanic bị chìm, vừa được bán với giá 1,4 triệu đô la.

Cây đàn này được bán vào ngày thứ Bảy ngay sau khi cuộc đấu giá bắt đầu tại một nhà bán đấu giá ở miền nam nước Anh.

Nhà bán đấu giá nói người thắng trong vụ đấu giá này là một người mua tại miền nam nước Anh.

Nhà bán đấu giá Henry Aldridge và Con trai, chuyên về các di vật của tàu Titanic, nói đây là một giá kỷ lục thế giới đối với những vật kỷ niệm có liên hệ đến tàu Titanic.

Ông Alan Aldridge, người điều khiển chính cuộc bán đấu giá nói cây đàn vĩ cầm này tạo được nhiều chú ý vì giá trị tình cảm của đàn.

“Cây đàn có tính cách biểu tượng. Cây đàn tượng trưng cho sự can đảm của con người, cách thức mà nhạc sĩ trẻ này và các đồng nghiệp cũng như tất cả mọi người cư xử một cách can đảm trên con tàu, ở lại với con tàu và hoàn thành nhiệm vụ của họ.”

Nhà bán đấu giá Henry Aldridge và Con trai nói cây vĩ cầm thu hút các nhà sưu tập trên toàn thế giới.

Các giới chức nhà bán đấu giá cho biết họ phải mất 7 năm để kiểm tra về tính xác thực của cây đàn.

Các giới chức này nói thêm là cây đàn thuộc về trưởng ban nhạc Wallace Hartley đang trình diễn bản nhạc “Nearer, My God to Thee” thì con tàu bạc mệnh Titanic bị chìm.

Ông Hartley và các thành viên ban nhạc đều thiệt mạng. Chiếc vĩ cầm được tìm thấy sau đó, vướng trong xác của ông Hartley trôi trên mặt biển.

Nhà bán đấu giá cho biết trong những năm qua, cây đàn qua tay nhiều người, gồm cả hôn thê của ông Hartley, chết vào năm 1939.

Tàu Tinanic ra khơi trong chuyến đầu tiên từ Anh đi New York thì đụng phải một băng sơn và chìm vào ngày 15 tháng 4 năm 1912. Hơn 1.500 hành khách đã thiệt mạng.

CHUYỆN TÌNH RẤT ĐẸP CỦA KỲ NGOẠI HẦU CƯỜNG ĐỂ TẠI NHẬT BẢN

CHUYỆN TÌNH RẤT ĐẸP

CỦA KỲ NGOẠI HẦU CƯỜNG ĐỂ TẠI NHẬT BẢN

Nơi có những cây tùng xanh biếc


Tác giả: Trần Thùy Mai

Phan Boi Chau va Cuong De.jpg

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (đứng)Phan Bội Châu(ngồi) 1907

Ando Chie cúi xuống, nhúng ngón tay vào chậu nước. Nước ấm vừa đủ tắm. Nàng kéo màn che cửa sổ. Ngoài kia, một cây anh đào vừa nở, những nhành hoa rủ xuống trắng hồng.
– Xin ngài vào tắm kẻo nước nguội.
Giọng nàng nhỏ nhẹ và lễ phép.
Ngoài ba mươi tuổi, Chie mạnh khỏe và bầu bĩnh trong bộ kimono giản dị màu lam. Là người giúp việc cho hoàng thân Cường Để, cô đến ở đây đã hai năm theo sự bố trí của đại tá Wanatabe.
Năm ấy hoàng thân đã ngoài năm mươi tuổi, dáng vóc nho nhã nhưng khuôn mặt gầy đượm buồn. Ông chăm chú viết, những chữ Nho chân phương rất đẹp trên giấy trắng.
Thấy Chie, ông ngẩng lên, vẻ mặt ngần ngừ:
– Lại tắm. Ta mới tắm hôm kia…
Chie mỉm cười. Ông hoàng Việt Nam này rất lười tắm gội. Người Nhật vốn rất sạch sẽ. Bao giờ cũng thế, Chie rất cương quyết với ông.
Chie đến gần, đặt tay lên nút áo ông. Chiếc áo năm thân màu nguyệt bạch với rất nhiều khuy vải. Ở Nhật đã hai mươi năm, ông vẫn mặc áo Việt. Những chiếc áo ông đem theo từ Việt Nam đã cũ nát từ lâu, chiếc áo này là do Chie phỏng theo áo cũ để may cho ông, kiểu áo Việt trên nền lụa Nhật.
Nhưng hôm nay, ông hoàng dường như trái tính hơn mọi ngày. Ông chùn lại, xua tay, ánh mắt đầy nghi kỵ:
– Để ta yên!
Từ lúc Chie mới đến đây, ông vốn đã không tin nàng. Ông không cho nàng sắp xếp thư từ giấy tờ trên bàn ông, dù chúng thường rất lộn xộn. Mỗi lần đau ốm, ông cố giấu không cho nàng săn sóc.
Chie là người do quân đội Nhật cử đến. Ông nghi kỵ nàng nhưng không thể từ khước nàng. Ông khư khư không cho nàng chạm tới đống thư từ, nhưng lại quá cần nàng thu dọn giường nằm bề bộn, pha cho ấm trà buổi sáng, khâu lại áo xống, cả ánh mắt cương quyết của nàng mỗi lần bắt ông đi tắm…
Nhưng hôm nay nhìn vẻ mặt ông, Chie lẳng lặng không nài ép gì nữa. Nàng quay ra một lúc rồi trở vào với khay trà. Nàng đã quen, những lúc căng thẳng thế này chỉ có một ấm trà Tàu mới có thể làm ông dịu lại.
Bước qua ngạch cửa, nàng khựng lại. Kỳ ngoại hầu Cường Để, hoàng đích tôn đời thứ năm của vua Gia Long đang bưng mặt khóc.
Ando Chie vội vã đặt khay xuống án thư, chạy đến đỡ lấy mái tóc chớm bạc đang rũ rượi gục về phía trước. Tấm thân gầy mỏng của người đàn ông như muốn sụp xuống trong tay nàng.
– Điện hạ… hoàng tử…
Chie cứ nghĩ ông sẽ đẩy nàng ra. Nhưng lần này Cường Để chỉ ngẩng lên, mắt nhìn sững vào khoảng không trước mặt. Nàng nhẹ nhàng chặm những giọt nước ứa ra quanh đôi mắt thất thần. “Có chuyện gì…?”.
Cường Để không kiềm chế được, khóc nấc lên: “Bác Phan mất rồi!”.
Tại Tokyo một buổi chiều tháng tư, Cường Để nhận được thư báo. Phan Bội Châu, người đã tìm đến ông khi ông mới hai mươi mốt tuổi, đã tôn ông làm minh chủ của phong trào Đông du chống Pháp. Người đã đón ông sang Nhật để tính chuyện phục quốc lâu dài. Việc Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải đã là một đòn quá mạnh đối với ông. Từ ngày ấy, ông không thôi cảm thấy lạc lõng, hoang mang; cảm giác thối chí thỉnh thoảng lại ám ảnh ông, ông phải hết sức chống lại.
Bây giờ Phan Bội Châu đã mất. Hơn ba mươi năm lưu vong trên đất Nhật, bao nhiêu ý chí, nghị lực của ông dường như được truyền từ sức mạnh tinh thần của con người này. Vậy mà giờ đây người ấy không còn nữa. Số phận đã bỏ rơi ông giữa một thế giới mênh mông xa lạ, trong cảnh tiến thoái lưỡng nan.
Không phải là chuyện có thể chia sẻ với Ando Chie, nhưng biết nói cùng ai ở nơi lữ thứ này. Phong trào Đông du đã tan rã, Trần Đông Phong đã tự vẫn, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Siêu đã trốn đi, chỉ còn mình ông trơ trọi giữa trời cùng đất tuyệt.
Chie cố gắng an ủi ông, dù không biết người chết là ai. Nàng dìu ông vào giường, đắp chăn, buông màn cho ông.
“Để mặc ta” – Cường Để nói, xua tay, quay mặt vào góc tối.
Chie gật đầu, nàng ém màn vào dưới nệm, bước lùi mấy bước.
“Chie, đừng đi!”.
Ông ta bíu lấy tay nàng. Chie cảm thấy tất cả nỗi cô đơn, hoảng loạn của người đàn ông. Nàng cúi xuống, lồng tay vào chăn, ôm lấy ông vỗ về, bất giác nàng cũng rơi nước mắt.
“Thiếp thương điện hạ lắm”. Chie nói, những tiếng rất giản dị, nàng biết rõ Cường Để không giỏi tiếng Nhật, và nàng cũng không biết lời an ủi nào hơn. Nhưng linh cảm dạy cho nàng biết phải làm gì: nàng ghé nằm bên ông và ấp ủ ông bằng thân thể ấm áp của mình.
***
Đêm ấy trời mưa, khi trời sáng Chie cuốn màn, mở hé cửa sổ, nàng nhìn thấy những cành anh đào sũng nước. Nàng đặt chậu nước nóng cạnh giường, nhúng chiếc khăn bông trắng muốt rồi vắt thật ráo. Người đàn ông của nàng đã tỉnh giấc. Nàng cúi xuống, mỉm cười dịu dàng, lau mặt cho ông.
Kỳ ngoại hầu nắm lấy tay nàng, vẻ mặt ông lộ vẻ biết ơn. Chốc lát, ông quên người đàn bà này là người của quân đội Nhật. Ba mươi năm lưu lạc trên đất nước này, ông đã nhiều lần được chở che. Ông Innukai và Kashiwabara đã bảo bọc ông, thuyền trưởng tàu Yayomaru đã hết lòng che chở ông thoát khỏi sự truy lùng của mật thám Pháp. Đó là chuyện hai mươi, ba mươi năm trước. Lúc đó ông còn trẻ, chí khí còn hăng hái; gần mười năm nay, từ khi Innukai bị ám sát rồi, ông quá chật vật với cuộc sống, cô đơn, mệt mỏi. Phải nhận sự bảo trợ của lục quân Nhật là bất đắc dĩ, ông không thể không dựa vào người Nhật, nhưng ông biết Nhật và Pháp có thể bắt tay với nhau bất kỳ lúc nào. Ando Chie có phải là tai mắt của quân Nhật không? Ai biết đâu được. Dù sao lúc này bên ông chỉ còn có nàng thôi. Giờ phút này nàng đang dịu dàng lau mặt ông. Cảm giác được chăm sóc làm ông bùi ngùi ứa lệ.
Chie chuyển dần chiếc khăn nóng xuống cổ và ngực ông, nàng nhẹ nhàng mở khuy áo để lau vai và lưng. Bỗng Cường Để buột miệng:
– Về Việt Nam ! Ước gì ta được về Việt Nam !
Chie khựng lại một giây, rồi nàng hiểu, nhẹ vỗ vào lưng ông như dỗ dành:
– Rồi ngài sẽ về, nhất định có ngày ngài sẽ về mà.
Ông hoàng lưu vong cảm thấy ấm lòng, ông siết chặt tay nàng như muốn cảm ơn. Trong lúc đó Chie lại thấy lòng âm thầm một nỗi buồn. Ông sẽ đi, sẽ xa nàng, chắc chắn sẽ có ngày ấy…
Cuối tháng, đại tá Wanatabe gặp Ando Chie ở Bộ Tư lệnh lục quân. Như thường lệ, Chie nói với ông về tất cả những sinh hoạt của Cường Để. Wanatabe hỏi:
– Cô có thấy ông ta tiếp khách khứa từ xa tới không?
– Không ạ.
– Ông ta có nhận thư từ, tin tức gì từ Việt Nam ?
– Không ạ.
Chie trả lời, chắc chắn đến nỗi Wanatabe không hỏi thêm gì nữa. Ông ta nhìn Chie từ đầu đến chân như muốn đánh giá lại quan hệ giữa nàng và người ngoại quốc lưu vong ấy. Chie đỏ mặt, nàng hiểu cái nhìn của đại tá. Chắc chắn là ông ta rất khuyến khích việc nàng lên giường với người đàn ông kia, điều đó rất có lợi cho công việc. Chỉ có điều, ông ta không biết hôm qua nàng đã ủ ấm cho Cường Để, không phải với tư cách một nhân viên của lục quân Nhật, mà với tất cả tấm lòng của một người đàn bà.
Năm năm sau.
Chiến tranh khốc liệt trên khắp đất nước hoa anh đào. Những trận bom Mỹ dội xuống. Những ngôi nhà bằng gỗ và giấy cháy phừng phừng trong các góc phố Tokyo .
Đang mùa lá đỏ nhưng chẳng còn ai nghĩ đến lễ hội mùa thu… Chỉ còn những đoàn người tản cư dắt díu nhau chạy. Ando Chie gói quần áo vào hai chiếc tay nải. Vội vàng, nhưng nàng không quên những chiếc áo lụa năm thân, áo dài the, khăn xếp, và cả bộ bình trà Tàu nhỏ xíu.
– Ông ơi!
Chie gọi. Hoàng thân giật mình, quay ra. Hôm nay ông mặc Âu phục chỉnh tề. Trong cảnh chộn rộn của Tokyo , vẻ chỉnh tề của ông trông thật lạc lõng.
“Mình đi thôi, ông ạ. Mọi người đều tản cư về quê, chiều nay là chuyến chót”.
Hoàng thân hốt hoảng:
– Nhưng ta còn phải chờ máy bay… Biết đâu ngày mai máy bay sẽ tới.
Chie nhìn ông, xót xa. Cuối tháng bảy, nội các Suzuki Kantaro đã tổ chức bữa tiệc linh đình đưa ông về nước. Sau ba mươi hai năm xa quê, cái tin được về nước làm ông bàng hoàng. Trong bữa tiệc linh đình tại khách sạn Đế Quốc, ông hân hoan từ giã hết các chính khách đã ủng hộ ông…Mãi đến lúc sắp ra sân bay Haneda, cầm gói thức ăn đi đường từ tay Chie, ông mới nhìn thấy vẻ buồn trong mắt nàng. “Đừng buồn Chie, ta về nước rồi sẽ tính chuyện đón nàng sang”.
Chie mỉm cười. Ở Việt Nam , ông còn có người vợ cả và hai con nay đã lớn. Người vợ mà ông đã xa cách từ năm hai lăm tuổi. Ông sắp về với người đàn bà ấy. Nàng cảm thấy buồn, nhưng nàng mừng cho ông.
Ngày hôm ấy ông đi, rồi đến tối mịt lại quay về. Ông kể, trên sân bay, nhân viên Bộ Tham mưu lục quân Nhật và ký giả báo chí tề tựu để tiễn chân ông…Nhưng máy bay từ Sài Gòn không đến đón. Ông quay về, ngã vật trên giường, mắt mở trừng trừng nhìn lên cao…Chie tháo giày cho ông, lau mặt cho ông. Nàng nhỏ nhẹ bảo ông: “Ông ạ, đừng buồn, chắc máy bay bị trở ngại gì đó thôi, mai lại đến ấy mà!”.
Từ đó hôm nào nàng cũng quấn sushi cho ông đem theo… Hôm nào ông cũng ra phi trường Haneda, hôm nào ông cũng trở về. Hơn năm hôm sau, nhân viên lục quân lẫn ký giả không còn ai đến nữa, chỉ còn ông ngày ngày một mình ngồi đợi. Lủi thủi tới, rồi lủi thủi về.
Và hôm nay, ngày cuối tháng bảy, bom B29 của Mỹ đã trút xuống Tokyo , ông vẫn còn nghĩ đến chuyện đến phi trường chờ đợi. Chie bảo ông:
– Mình phải đi thôi ông ạ! Phải chạy về quê, nếu không là chết.
– Đúng rồi, nàng cứ đi, ta ở lại, biết đâu…
Chie nắm lấy tay ông. Bàn tay ông gầy quá. Với mọi người, ông là một hoàng thân, được các cơ quan tiếp đón, các ký giả săn tin, được các nghị sĩ bảo trợ…Còn với nàng, đây là một người đàn ông tha hương, lạc lõng, túng thiếu, cô độc… Lúc này, nàng nhất định phải cứng rắn với ông, như những lúc bắt ông phải đi tắm vậy; nàng khoác tay nải lên vai ông và đẩy ông đi. Cường Để gượng lại, phản đối, nhưng khi bị đẩy đến cửa, dòng người tay xách nách mang chạy loạn đập vào mắt ông, và ông hiểu ngay điều gì đang xảy ra.
Đêm đó trên chiếc xe bò lắc lư trong dòng xe qua vùng ngoại ô, ông nhìn thấy Tokyo bốc cháy, lửa rực đỏ dưới những lằn máy bay Mỹ vút ngang. Căn nhà mà lục quân Nhật cấp cho ông đã cháy rụi.
Tháng tám, bom nguyên tử dội xuống Nagasaki và Hiroshima , Nhật Bản đầu hàng. Không còn ai đủ sức nghĩ đến vị hoàng tử lưu vong. Chỉ có một người đàn bà thầm lặng mỗi ngày làm thuê cho một xưởng than ở vùng quê để nuôi một người chồng lớn tuổi. Ando Chie lúc này không còn là nhân viên của lục quân Nhật nữa. Buổi sáng, nàng thức dậy nấu nước nóng cho chồng rồi tất tả đi; nàng vẫn thế, dù làm ở xưởng than nhưng lúc nào về nhà cũng rất sạch sẽ, còn chồng nàng vẫn vậy, rất lười tắm và suốt ngày ngồi chép những trang sách chữ Hán đã cũ nhàu.
Nhiều người hỏi sao ông chồng nàng chẳng làm việc gì mưu sinh, Chie chỉ cười. Ông ấy là một ông hoàng. Dù rất nghèo và chẳng hề có quyền uy. Ông chẳng làm được gì cho nàng cả, nhưng nàng yêu thương ông với tất cả sự trìu mến xót xa. Trong lúc ông thì đau đáu chỉ muốn về quê hương – nghĩa là rời xa nàng. Nhưng nếu ông không có giấc mơ hồi hương, liệu ông có còn là người đàn ông mà nàng thương yêu không?
***
Năm năm sau. Cơ hội về nước lại đến. Ando Chie lại chuẩn bị hành lý cho Cường Để lên đường.
Nước Nhật đã trở lại thanh bình. Trước ngày Cường Để về nước, bạn bè làm tiệc tiễn đưa. Ký giả Báo Asahi cũng đến dự. Cụng ly mừng, nhà báo ngỏ ý muốn đưa tin chuyến trở về của vị hoàng thân sau gần bốn mươi năm biệt xứ.
Chuyến đi lần này bằng đường biển, từ cảng Kobe đáp tàu Hải Minh đến Bangkok rồi theo đường bộ qua Campuchia về Tây Ninh. Vì sao phải về nước qua cửa khẩu Tây Ninh? Vì Việt Nam đang thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, Pháp vẫn còn đóng quân ở Nam kỳ. Nhưng Tây Ninh nằm trong lãnh địa của Giáo chủ Phạm Công Tắc. Với sự bảo trợ của Phạm Công Tắc, ông có thể lên bờ an toàn.
Ký giả Asahi dặn dò:
– Khi ngài tới nơi rồi, xin điện ngay cho tôi biết.
Cường Để ngẫm nghĩ:
– Trong nước hiện đang chiến tranh, tin tức khó gửi. Có lẽ cứ tính theo hải trình, đến trung tuần tháng bảy thì bỉ nhân đã đến quê nhà, quý ông có thể đưa tin được rồi.
Ando Chie đưa ông đến bến cảng. Mùa thu, khí trời se lạnh. Tiếng quạ kêu vang sau những tàn cây lá đỏ. Ông đi rồi, Chie trở lại căn hộ hai phòng ở phố Ogikubo. Con đường bỗng dài hơn bao giờ hết. Ông hứa sẽ có ngày đón nàng sang Việt Nam . Lúc đó nàng chỉ bảo: “Bao lâu cũng được”. Đến bây giờ, một mình trên con đường về nhà, nàng mới thấm thía cả khoảng trống chơ vơ trước mặt, rằng có thể nàng sẽ mãi mãi một mình trên đoạn đường còn lại…
Nàng tiếp tục khâu những con búp bê vải – những con búp bê đã nuôi sống nàng và ông từ lúc về lại Tokyo .
Đến tối, chủ nhà, bà Hashimoto gõ cửa hỏi thăm nàng. Bà đem vào cho nàng một gói bánh dẻo.
“Trông em xanh quá. Tôi pha cho em một chén trà nóng nhé?”.
Chie uống chén trà từ tay bà chủ nhà tốt bụng. Trà nóng làm nàng hồi tỉnh. Nhìn hộp bánh dẻo xinh xắn, nàng nhớ đến chồng. Ông ấy vẫn thích loại bánh này. Nhưng dùng trong khi uống trà Tàu – ông vẫn không quen với trà Nhật.
Bây giờ ông ấy đi đến đâu rồi nhỉ? Bà Hashimoto vuốt tóc nàng, dẫn nàng sang phòng làm việc của chồng bà, giáo sư Hashimoto Masukichi. Trên vách, giữa những tủ sách đồ sộ là tấm bản đồ châu Á. Bà chỉ cho Chie xem chỗ nào là Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam . Chie chăm chú nhìn. Chồng nàng đang ở trên vùng biển xanh xanh kia, ngoài khơi cái khối màu hồng rất lớn mà bà Hashimoto bảo là nước Trung Hoa.
“Em đừng buồn, rồi ông ấy sẽ đạt chí nguyện, sẽ trở lại đón em sang, em phải gắng giữ sức khỏe nhé!” – Bà Hashimoto an ủi.
Chie mỉm cười, nàng cúi đầu thật thấp tỏ lòng cảm ơn bà chủ. Chiều hôm ấy nàng đến chùa Senso, bên chiếc đỉnh lớn nghi ngút khói nhang giữa sân chùa, nàng vớt nhẹ khói hương ủ vào nơi lồng ngực. Lần trong tay áo, nàng lấy ra số tiền nhỏ, đủ cúng dường để xin một lời nguyện cầu.
Vị sư già hỏi nàng cầu nguyện gì để ghi vào tấm thẻ gỗ trắng ngà. Nàng cúi đầu ngẫm nghĩ. Nàng muốn cầu nguyện những gì, chồng nàng sẽ có quyền uy, sẽ thành lãnh tụ, sẽ giàu sang, sẽ đón nàng về cùng hưởng cuộc sống cao sang? Cầu cho chồng nàng sẽ không quên nàng? Sẽ… Thực lòng nàng muốn gì?
Chie ngập ngừng một lát rồi se sẽ đọc cho vị sư già chép vào thớ gỗ:
– Tôi là Ando Chie…Cầu cho chồng tôi là Cường Để vượt sóng gió về đến quê nhà bình yên, sum họp với gia đình.
Vị sư già ngẩng nhìn nàng. Ông đã viết giúp cho thiện nam tín nữ hàng ngàn lời nguyện. Ông nhìn Ando Chie một lát như muốn hỏi điều gì, nhưng rồi lại thôi, cúi xuống cắm cúi viết.
Khi trở về nhà, nàng thấy giáo sư Hashimoto đang chờ trước cổng. “Ando, có tin mừng cho cô đây”. Ông đưa nàng tờ nhật báo Asahi. “Hoàng tử Việt Nam đã về đến quê nhà sau 32 năm ly hương”. Chie mừng rơi nước mắt. Chiều hôm đó nàng làm món mì Nhật và sushi cá hồi, mời ông bà Hashimoto để tỏ lòng biết ơn.
Ông bà về rồi, còn lại một mình Chie trong căn hộ vắng lặng. Một đoạn đời đã chấm dứt, đoạn đời mới bắt đầu, một chặng đường dài hun hút mà nàng sẽ phải đi một mình.
Nàng giở tờ báo Asahi, đọc lại bài viết, rồi lật dần ra những trang sau: những mục tìm nhà, tìm việc.
Cuối tháng bảy, bỗng bà Hashimoto đập cửa căn hộ của Ando Chie, hốt hoảng:
– Ando, người ta vừa điện đến cho ông nhà tôi. Cô phải ra ngay cảng Yokohama !
Chie cuống quýt, hai chân run cầm cập, lưỡi líu lại. Nhưng người phụ nữ Nhật dường như được trời phú cho một nghị lực phi thường, nàng kiềm chế thật nhanh cơn hoảng hốt, cầm lấy chiếc ô, chạy ra cửa.
Bà Hashimoto tốt bụng đã kịp thuê giúp nàng một chiếc xe ngựa.
Trên cảng Yokohama về chiều, có một ông già ngồi trên chiếc ghế dài, ngẩn ngơ nhìn quanh với đôi mắt vô hồn, mặc kệ bao nhiêu người qua lại. Chie chạy lại gần. Sao mới có một tháng mà chồng nàng đổi thay đến thế, y phục nhàu nát, khuôn mặt gầy tọp rám nắng, mái tóc bạc xỉn đi và bê bết bụi.
– Ông ơi…
Chie cầm lấy tay chồng. Bàn tay ông gầy trơ xương, nhưng vẫn là bàn tay của ông, ông đang ở đây, bên nàng. “Ông ơi, sao ông lại về được?”. Chie hỏi, nhưng người đàn ông ngẩn ngơ nhìn mông lung, vẻ mặt sững sờ tuyệt vọng, dường như không còn nhận ra gì chung quanh nữa. Ông chỉ không ngớt lẩm bẩm: “Không về được! Không về được nữa! Không về nữa!”.
Với Chie, về là về Nhật Bản, với ông, về là về Việt Nam .
Hơn một tháng Chie ra sức chăm sóc, Cường Để mới dần dần hồi tỉnh lại. Ông kể với nàng: tàu Hải Minh bị trục trặc bánh lái nên đã ghé Thượng Hải một tuần. Trong khi đó, Báo Asahi đã đưa tin, và mật vụ Pháp biết được rằng chuyến tàu phải cập cảng Bangkok, đã điện cho Bộ Ngoại giao Thái. Vì quan hệ giao thương với Pháp, Chính phủ Thái đã không cho Cường Để nhập cảnh Thái Lan, buộc lòng phải theo tàu quay về Nhật Bản.
Cường Để không bao giờ còn trở lại như trước kia nữa. Tuyệt vọng, suy sụp, ông đã hoàn toàn là một ông già trái tính trái nết, đau ốm triền miên. Đôi khi, căm hận số phận, ông ném bất cứ cái gì vớ được vào vách. Chie phải cất bộ đồ trà ông đem theo từ Việt Nam thật kỹ, mỗi sáng pha trà xong nàng đứng chờ ông uống xong, đem cất ấm chén rồi mới dám dời mắt.
Cuối mùa thu có hai người khách ở Việt Nam sang ghé thăm. Họ là hai chính khách đang có thế lực, hứa sẽ tìm cách đưa Cường Để về nước.
Khách về rồi, Chie dọn tách chén trên bàn, định bưng đi. Chợt ông níu tay nàng:
– Nàng ơi, nàng có tin ta còn về nước được không?
Chie đặt khay xuống, quay lại cầm cả hai bàn tay ông, vỗ về:
– Thiếp tin.
– Ta cũng tin vậy. Nghe nói chẳng bao lâu nữa người Pháp sẽ rút khỏi Đông Dương…
Chie lau những giọt mồ hôi đang ứa ra trên trán người đàn ông. Dạo này ông yếu quá, chỉ một cơn xúc động cũng đủ làm mồ hôi toát ra dầm dề.
Mấy hôm sau ông bồn chồn đến mất ngủ, lúc nào khỏe lại lật giở những thư từ, sách vở đã cất giữ từ bốn mươi năm trước, cả bức Thư huyết lệ của người Việt Nam mà ông viết khi mới ngoài ba mươi tuổi.
Ba mươi năm đã qua, sứ mệnh cứu nước không còn nằm trong tay thế hệ ông nữa rồi. Nhưng những bức thư cũ này sẽ mãi mãi là kỷ niệm rực rỡ nhất của đời ông.
– Nàng cất kỹ những giấy tờ này cho ta. Khi ta về nước, đồng bào nhất định sẽ hỏi đến.
Chie đặt chén thuốc xuống bàn rồi đỡ lấy những tờ giấy cũ vàng tên tay ông.
Bây giờ ông đã tin nàng thật sự, ông giao cho nàng những tờ giấy này, đối với ông nó còn quý hơn cả bạc vàng.
– Uống thuốc đi mình – Chie nhắc. Cường Để gật đầu, không đợi Chie nài ép dỗ dành như mọi lần, ông bưng chén thuốc đắng ngắt uống cạn.
Gương mặt đang rạng rỡ của ông bỗng nhăn nhúm lại, một cơn đau đang âm ỉ dưới sườn non chợt nhói lên.
Chie đỡ cái bát, tay kia vỗ nhẹ lên lưng chồng như muốn xoa dịu phần nào cái buốt nhói trong cơ thể ông. Tuần trước, bác sĩ Bệnh viện Nihon Ika Daigaku đã nói cho nàng biết, Cường Để đã mắc bệnh ung thư gan, ông chỉ còn sống nhiều lắm là ba tháng nữa.
Chie giữ kín tin dữ không cho ai hay. Nàng biết đây là lúc nàng phải mạnh hơn bao giờ hết.
Cường Để cố uống thuốc cho mau khỏi bệnh. Ông xem đi xem lại bức thư của mấy người Việt vừa ghé thăm tháng tám năm ngoái, bức thư hứa sẽ tìm cách vận động cho ông hồi hương. Mỗi lần đọc thư ông thấy khỏe hẳn lên như vừa uống một thang thuốc bổ.
Nhưng đến đầu tháng tư, sau nhiều cơn đau hành hạ, Cường Để cũng nhận ra rằng mệnh của mình đã hết.
Ông cố mở đôi mắt mệt mỏi, gắng nhìn thật kỹ những gì chung quanh: khung cửa sổ nhỏ, những chiếc áo Việt may bằng lụa Nhật treo trên vách, chiếc chậu đồng dưới chân giường, những vật dụng thường ngày của cuộc sống lưu vong tạm bợ, giờ phút này ông nhìn chúng với ánh mắt bịn rịn vô cùng.
Mắt ông dừng lại nơi khuôn mặt Chie đang nhìn xuống, vẻ thầm lặng và nhẫn nhục đầy yêu thương. Ông quờ quạng nắm lấy tay nàng: Mình ơi, mình có phải là Phật Bà Quan Âm của tôi không?
Đó là lần đầu tiên ông nói lời tri ân với nàng sau bao nhiêu năm chung sống. Nhưng nàng không hiểu gì cả, vì ông không biết là mình không dùng tiếng Nhật. Như một bản năng, mấy hôm nay ông chỉ nói toàn tiếng Việt.
Chie vẫn cúi nhìn, vẫn vẻ mặt âu yếm xót xa, nàng áp sát mình xuống thân thể còm cõi của ông, tay nắm lấy cả hai tay ông như muốn bảo: Đừng sợ, có thiếp đây, dù đi đến đâu ngài cũng không cô độc.
Cường Để dần thiếp đi.
Lúc ấy là năm giờ 5 phút sáng mồng 6 tháng 4 năm 1951. Một mình Ando Chie úp mặt khóc lặng lẽ trên thi thể ông.
Ngoài cửa sổ, hoa anh đào đang nở. Hôm ấy là ngày đầu của lễ hội hoa anh đào trên đất Nhật.
***
Cửa mở ra, hai người đàn ông theo Ando Chie bước vào căn hộ. Đập vào mắt họ là những tấm hình của Kỳ ngoại hầu Cường Để trên vách. Vị hoàng thân trẻ măng hai mươi lăm tuổi ngày mới đến Nhật. Hội chủ Hội Đông du Phục Quốc, sinh viên trường Đại học Waseda, hình chụp với Thủ tướng Innukai, hình chụp với ký giả Asahi trong bữa tiệc long trọng tại khách sạn Đế Quốc…Tất cả là những trang đời đẹp nhất của Cường Để. Còn hình ảnh buồn thảm những ngày chờ đợi trên sân bay Haneda, những ngày chạy loạn nghèo túng cơ cực, ngày về tang thương trên cảng Yokohama… Những hình ảnh ấy giờ đây chỉ còn trong ký ức Chie mà thôi.
Hai tay bưng bình tro, Ando Chie trao di cốt Cường Để cho hai con của ông. Nàng cúi mặt thầm nghĩ: Thế là ngài sắp về nhà, giấc mơ cả đời của ngài giờ đây mới thành tựu. Ngài lên đường bình an, lần này thiếp không phải gói sushi cho ngài mang đi nữa rồi.
Người con trai cả của Cường Để đỡ lấy bình tro di cốt của cha. Mặt ông đầy nước mắt. Ông ngạc nhiên thấy người đàn bà Nhật này vẫn bình thản, nét mặt trang nghiêm dịu dàng chỉ hơi phảng phất buồn. Nhưng người con trai thứ hai đứng cách đó vài bước thấy rất rõ đôi bàn tay của Chie sau khi trao xong bình tro. Đôi bàn tay ấy bấu chặt vào nhau, những móng tay quắp vào da thịt, rồi chúng run rẩy bấu víu lấy đôi tay áo kimono, và đến lượt thớ vải giằng co như sắp bị xé rách ra.
Khi hai người đàn ông đi rồi, Chie khép cửa, quỳ xuống sàn. Nàng lấy trong ống tay áo ra một mẩu xương và một nhúm tro nhỏ. Chie đã giữ lại cho mình một phần thân thể của chồng.
Nàng biết mình không làm trái với ý nguyện ông. Dù chẳng hiểu ông nói gì khi sắp mất nhưng nhìn vào mắt ông nàng biết, ông rất muốn ở lại với nàng. Hình như vào giờ phút ấy ông nhận ra mình sắp đi vào một cõi xa thăm thẳm, ở nơi ấy ông sẽ gọi cả trần gian này là quê nhà. Và ở quê nhà đó, một trong những gì giản dị và thân thương nhất chính là Chie…
Ando Chie mất bốn mươi năm sau, trước khi mất bà để lại di chúc muốn được chôn cùng với nắm tro tàn của Kỳ ngoại hầu Cường Để. Nhưng cho đến nay lọ hài cốt của bà vẫn còn trong phòng mộ tập thể của nghĩa trang Zoshigaya, nơi có những cây tùng xanh biếc và tiếng quạ kêu man mác buồn trong những buổi sáng mùa xuân.

Người dân tộc thiểu số Vân Kiều và Pa – kô

Người dân tộc thiểu số Vân Kiều và Pa – kô

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2013-10-18

TTVN10182013.mp3

thieu-nu-Van-Kieu-305.jpg

Người dân tộc thiểu số Vân Kiều ở Khe Sanh, Hướng Hóa, Quảng Trị.

RFA

Thời kháng chiến chống Pháp, đồng bào dân tộc thiểu số Pa – kô và Vân Kiều sống dọc bờ sông Dakrong thuộc các địa phận Hướng Nghiệp, Khe Sanh, Hướng Hóa, Quảng Trị đã tình nguyện theo Việt Minh, tình nguyện lấy họ của mình là họ Hồ để theo bác Hồ chiến đấu chống thực dân, chống cái xấu. Mãi cho đến bây giờ, thế hệ con cháu của đồng bào Pa – Kô và Vân Kiều không còn biết gốc gác của mình nữa, chỉ biết mình mang họ Hồ. Thế nhưng họ lại rất sợ “con cháu bác Hồ”.

Sống quần tụ và lây lất

Có thể nói rằng đời sống của bà con đồng bào thiểu số Vân Kiều và Pa – Kô khổ cực không còn gì để nói. Đi dọc theo đường 9 Nam Lào từ thành phố Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo, qua khỏi những dãy nhà ngói đỏ chói của thành phố chừng 10km, đến đoạn sông Dakrong chảy dọc đường 9 Nam Lào, nhìn sang bên kia sông là những mái nhà lụp xụp nằm lặng lẽ trên đồi, nhìn lại bên cánh rừng dọc đường 9 cũng nhiều mái nhà sàn lợp tranh nhỏ xíu, tuềnh toàng gió lộng nằm giữa các nương sắn hoặc giữa các ngọn đồi trọc. Cảnh nghèo đói hiện ra xác xơ, tiều tụy.

Thi thoảng, trên đường đi, bắt gặp vài cụ già gùi củi trên lưng khom người đi bộ, cố lê chân từng bước một, bước đi vô hồn, nghe có cả âm thanh réo sôi của bụng đói và nỗi buồn tuổi già bóng xế trong tiếng chân bước. Không những thế, có nhiều cụ bà già 60, 70 tuổi phải gùi củi, măng, bắp chuối đi từ 6 đến 9km từ nhà đến trung tâm thương mại Việt – Lào – Thái hoặc chợ Khe Sanh để bán. Phần đông các cụ này đều không có con cái hoặc con cái đã ở riêng nhưng cũng quá nghèo khổ, không giúp được gì cho cha mẹ. Và phần đông các cụ bà này đều chưa chết chồng, các cụ ông vẫn còn khỏe mạnh nhưng chỉ ở nhà uống rượu với nỗi tự hào mình từng là người lính cụ Hồ, là con cháu của Bác, nhờ vào họ mà người vân Kiều, người Pa – Kô đều trở thành con cháu bác Hồ.

Cụ bà Hồ Thị Mười, 76 tuổi, có chồng là cụ ông Hồ Văn Kha, 80 tuổi, bị nát rượu hơn 30 năm nay kể từ ngày không được con cháu bác Hồ người Kinh trọng dụng nữa. Ông chỉ biết uống rượu và ca ngợi về người cha già dân tộc, bắt đầu mở mắt đã cho rượu vào người đến khi chiều tối, có hôm đến khuya, nói lảm nhảm rồi ngủ thiếp, hôm sau lại tái diễn của hôm qua.

nha-san-cua-dong-bao-Pa-Ko-250.jpg

Khu nhà ở của người dân tộc thiểu số Pa-kô ở Quảng Trị. RFA PHOTO.

Cụ Mười than thở rằng đời sống của cụ quá khó khăn, chẳng biết bám víu vào đâu, những người con của cụ cũng nghèo khổ rách nát, chỉ mong nhà nước có chính sách giúp đỡ cho bà con bớt khổ nhưng lâu nay chẳng thấy gì ngoài những chút quà Tết có khi là của nhà nước, có khi là của Việt kiều cho bà con cải thiện mấy ngày đầu năm. Hiện tại, với diện tích đất rừng khai phá trong vườn nhà cụ gần một hecta nhưng trong sổ đỏ chỉ để đó là đất sản xuất, trồng rừng, nhà nước có thể thu hồi bất kỳ giờ nào. Mà cụ cũng mong thu hồi cho xong chứ để lại, cụ có trồng nổi chăng nữa thì cũng chẳng yên ổn được, hiện tại thì vợ chồng cụ trồng không nổi, quanh năm suốt tháng đi hái măng rừng ra chợ bán, ngày nào đắt thì kiếm được ba chục, năm chục ngàn đồng, có ngày kiếm vài ngàn, đủ để mua lon gạo chút muối… Sợ “con cháu bác Hồ”

Chị Hồ Thị Mai, người Vân Kiều, sống ở Hướng Nghiệp, cách chợ Lao Bảo gần 15km, mỗi ngày, chị thức dậy từ 4h sáng, vác gùi lúc đi lúc chạy cho kịp phiên chợ sáng vào lúc 9h ở chợ Lao Bảo, cố gắng bán cho hết măng, một ít ớt rừng và vài nải chuối để kiếm cho được từ 50 ngàn đồng đến 70 ngàn đồng. Hôm nào kiếm được 70 ngàn đồng, chị bỏ ra 15 ngàn đồng để đón xe quay về nhà, hôm nào ít hơn thì lại đi bộ về nhà. Vì số tiền ít ỏi kiếm được chỉ đủ mua gạo muối, dầu chè cho gia đình ba đứa con nhỏ của anh chị. Và để có được măng cũng như các thứ cho chị đi bán, chồng chị phải suốt ngày quần quật trên rẫy để làm ra những thứ ấy rồi hái mang về cho vợ đi bán.

Nạn đồng huyết

Một cô gái thuộc vào dạng lanh lẹ bậc nhất của người Pa – Kô, không giới thiệu tên, hiện không làm nương rẫy nữa mà từng có thời gian đi thồ hàng chẻ rừng, kể với chúng tôi: “Họ làm giống như qua tới Lào, nó bắt trả tiền phần trăm hết, nên nếu như về tới mình mà bị bắt thì mất hết. Thì nó ép người buôn mình chịu hết, ôm sô, bên Lào nó có chịu gì đâu. Nói chung là ăn không mấy sảng, ăn cám trả vàng. Họ làm vất vả lắm. Ví dụ như ngày họ kiếm được một trăm năm mươi ngàn, hai trăm hoặc ba trăm ngàn nhưng nếu các ngành vào cuộc thì mất cả tiền triệu. Còn gánh hàng thì họ tính theo triên, một triên trả hai ngàn đồng, có năm mươi ký cũng tính hai ngàn, mà trên một tạ cũng tính hai ngàn. Nếu đi xa thì được tính năm ngàn, bảy ngàn một triên. Một ngày mà họ kiếm được chừng một trăm rưỡi ngàn là đọa luôn, không dễ làm ăn đâu.”

phu-nu-Van-Kieu-o-cho-Bien-gioi-Viet-Lao-250.jpg

Người dân tộc thiểu số Vân Kiều ở chợ biên giới Việt Lào. RFA PHOTO.

Hiện tại, cô cũng bỏ luôn nghề thồ hàng chẻ rừng vì mối nguy hiểm quá cao, nếu không gặp rắn rết thì cũng gặp công an. Mà với những người nghèo khổ hai dân tộc thiểu số nói trên, công an và cảnh sát biên phòng còn ghê hơn cả rắn rết và thú dữ, đó là nói riêng. Nếu như nói chung thì người đồng bào thiểu số rất sợ con cháu bác Hồ người Kinh, vì những người Kinh con cháu bác Hồ quá lanh lẹ, xảo trá, đã nhiều lần phỉnh bà con dâng nộp vườn tược, đất đai hoặc đưa ra những chính sách nghe rất hấp dẫn, bà con tình nguyện ký đơn giao nộp nhiều thứ, trong đó có cả những cánh rừng bà con đã bỏ công trồng trọt. Kết cục, bà con té ngửa nhận ra rằng mình chẳng được lợi gì cả, khổ vẫn hoàn khổ.

Chị Hồ Thị Trường, người Pa – kô, quanh năm hái măng rừng đi bán ở trung tâm thương mại Lao Bảo, kể với chúng tôi: “Nghèo, toàn người nghèo, khổ. Được 3 – 4 đùm măng, với chuối, bán chợ mua gạo. Đi thì chưa ăn cơm, về thì đi bán măng, có hai đùm măng bán được hai chục.  Học thì lớp 3, lớp 4 bỏ, ba mẹ cho đi làm, đi bẻ măng. Không làm thì không có ăn.”

Chị kể thêm rằng nhà chị không còn đất rừng nữa, vì miếng rừng của anh chị đã bàn giao cho cán bộ nhà nước. Dường như bà con ở đây ai cũng thờ ảnh bác Hồ trong nhà, ai cũng tình nguyện bỏ tiền ra mua ảnh Bác về thờ nhưng Bác chẳng phù hộ gì được cho bà con bớt khổ, thậm chí, con cháu cán bộ người Kinh của Bác đối xử quá tệ với bà con, đôi khi, bà con muốn bỏ đi cái họ của Bác để bớt khổ nhưng rất sợ, vì làm thế, không chừng bị con cháu cán bộ của Bác bắt nhốt. Mà nghiệt nỗi, nếu không còn sợ cán bộ nữa, cũng chẳng biết mình gốc gác họ gì để mà đổi lại vì từ thời kháng chiến chống Pháp đến nay, ai cũng tin mình họ Hồ.

Đời sống của đồng bào Vân Kiều và Pa – Kô thuộc huyện Hướng Hóa, Quảng Trị, nghe ra, còn khổ hơn cả người rừng rú thời xa xưa, mặc dù họ đang sống trong thế kỷ hiện đại. Và có một mối nguy hiểm, có thể dẫn đến diệt vong của đồng bào Pa – Kô và Vân Kiều là nạn đồng huyết, vì họ không còn phân biệt đâu là bà con ruột thịt của mình bởi họ gốc đã mất nên chồng họ Hồ thì vợ cũng họ Hồ, cứ lấy nhau và không cần bàn cãi về dòng tộc, sui gia gì nữa, bởi có nói nhiều cũng mang họ Hồ. Chính vì thế mà đồng bào dân tộc thiểu số vừa nói ai cũng có gương mặt khờ khạo, họ không thể học được con chữ. Đó cũng là dấu hiệu đầu tiên của nạn đồng huyết!