Lệnh dỡ nhà thờ giáo xứ Dak Jak

Lệnh dỡ nhà thờ giáo xứ Dak Jak

Gia Minh, biên tập viên RFA
2015-01-14

01142015-intervw-bishop-hduc-oanh.mp3

Nhà thờ tạm của giáo dân Công giáo thuộc giáo xứ Dak Jak tại huyện Dak Glei của tỉnh Kon Tum

Nhà thờ tạm của giáo dân Công giáo thuộc giáo xứ Dak Jak tại huyện Dak Glei của tỉnh Kon Tum

thanhnienconggiao

Your browser does not support the audio element.

Gần 6000 giáo dân Công giáo thuộc giáo xứ Dak Jak tại huyện Dak Glei của tỉnh Kon Tum trong những ngày này đang tập trung cầu nguyện để giữ lại ngôi nhà thờ tạm mà họ dựng lên để thờ phụng trong mấy năm qua, nhưng bị chính quyền địa phương buộc phải tháo dỡ mà hạn chót được nói là ngày 17 tháng giêng này.

Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh trình bày.

Đức giám mục Micae Hoàng Đức Oanh: Vấn đề có hai phía: phía chúng tôi gặp những khó khăn như vậy, phía Nhà nước thì anh em tôi xác định đã hơn một lần nói với chính quyền địa phương là tôi xác tín cán bộ địa phương rất thương chúng tôi, rất hiểu nhu cầu của chúng tôi; nhưng ở trong một chế độ như thế này, với thể chế như thế này thì họ không làm khác được bởi vì đụng đến nồi cơm, địa vị, quyền lợi của họ. Họ không làm khác được vì nó cứ chằng chéo như vậy. Chính những vị cao cấp cũng nói rằng với hệ thống như hiện nay những cá nhân nói chuyện với chúng tôi đều nói họ hiểu, thông cảm với chúng tôi nhưng không thể giải quyết được vì có luật như vậy, chằng chéo như vậy thì chịu thôi. Bây giờ chỉ có đổi thôi, thay đổi luật như thế nào. Chỉ có chừng đó thôi.

“ Chính những vị cao cấp cũng nói rằng với hệ thống như hiện nay những cá nhân nói chuyện với chúng tôi đều nói họ hiểu, thông cảm với chúng tôi nhưng không thể giải quyết được vì có luật như vậy, chằng chéo như vậy thì chịu thôi

GM. Micae Hoàng Đức Oanh”

Gia Minh: Chính những người trong cuộc nói với Đức Giám mục cần phải thay đổi những luật như thế và hệ thống như thế?

Đức giám mục Micae Hoàng Đức Oanh: Họ không nói ra nhưng họ nói như thế này ‘xin quí vị thông cảm với chúng tôi, rất hiểu nhu cầu của quí vị, nhưng ở trên chỉ đạo xuống nên phải làm thôi’. Họ rất thông cảm với chúng tôi, tôi xác định lại như vậy.

Thế nhưng điều quan trọng đối với tôi trong tư cách giám mục: tôi vẫn tự nói với mình và nói với anh em tôi là chúng tôi phải điều chỉnh lại cuộc sống của chúng tôi làm sao để người ta thương mình. Tôi vẫn tự hỏi tại sao chúng tôi có niềm tin tôn giáo tuyệt vời ‘mến Chúa, yêu người’; chúng tôi vẫn thường tự hào là người có đạo, người công dân tốt nhất, là người hiếu thảo nhất nếu như chúng tôi sống đúng Lời Chúa dạy. Mà như vậy nay vẫn có người anh em chưa hiểu chúng tôi, chúng tôi tự trách chúng tôi, điều chỉnh lại cuộc sống chúng tôi bằng cách chúng tôi sẽ xử sự với những chuyện như thế này rất hài hòa bằng cách rất bình thản và chúng tôi phải nói thật điều chúng tôi suy nghĩ, chúng tôi không giả dối, không tự lừa dối nhau hay lừa dối ai cả.

Tôi nghĩ qua những chuyện như thế này, với niềm tin của tôi, là Chúa đang thanh luyện chúng tôi. Tôi cũng nói với cán bộ rằng chính chúng tôi được sai đi loan báo Tin Mừng, Sự Thật và Yêu Thương cho tất cả mọi người mà anh em chúng tôi không làm được, thì chính Chúa có cách là dùng chính cán bộ làm cho chúng tôi. Đó là quan niện của tôi.

Gia Minh: Người giáo dân vẫn theo đúng lời dạy của các vị chủ chăn nhưng rồi họ bị chèn ép không có nơi thờ tự đáp ứng nhu cầu tâm linh của họ?

“ Họ nói như thế này ‘xin quí vị thông cảm với chúng tôi, rất hiểu nhu cầu của quí vị, nhưng ở trên chỉ đạo xuống nên phải làm thôi’. Họ rất thông cảm với chúng tôi

GM. Micae Hoàng Đức Oanh”

Đức giám mục Micae Hoàng Đức Oanh: Điều này kéo dài lâu rồi, ba- bốn chục năm rồi. Lâu như vậy, tôi vẫn thường nói với cán bộ rằng quí vị thông cảm cho chúng tôi, về luật pháp chúng tôi nghiêm túc tôn trọng mặc dù những luật đó có những bất công, bất cập. Chúng tôi đã thi hành luật, chúng tôi nói lên nhu cầu của chúng tôi, chúng tôi làm đơn xin nhưng quí vị cứ ở vòng lẩn quẩn như thế này: ‘chưa có Nhà thờ thì chưa có linh mục, mà chưa có linh mục thì chưa có giáo xứ, mà chưa có giáo xứ chì chưa được cử linh mục làm việc’. Cái vòng lẩn quẩn như vậy thì cuối cùng không bao giờ giải quyết được.

Chúng tôi đã làm hết mức, chúng tôi đã trình bày, chúng tôi đã làm đơn xin nhiều lần mà không cho thì nhu cầu của người có đạo đến lúc họ không chịu đựng được nữa thì họ tự giải quyết cho họ thôi. Tôi lấy ví dụ giống như người phụ nữ: chưa đến ngày sinh thì họ trình bày từ từ, họ yêu cầu, đề nghị…; nhưng đến giờ sinh rồi thì không còn giờ mà xin phép nữa, phải sinh thôi!

Với niềm tin tôn giáo như vậy mà xin miết rồi không được thì phải dựng lên ‘một túp lều’ để ổn định cho anh em chứ không thể kéo dài tình trạng cả 6 ngàn người mà suốt 30 năm phải ngồi ngoài mưa, ngoài nắng mà cuối cùng không ai thấy được động lòng thương thì chúng tôi phải tự giải quyết lấy thôi.

“ Chúng tôi đã làm hết mức, chúng tôi đã trình bày, chúng tôi đã làm đơn xin nhiều lần mà không cho thì nhu cầu của người có đạo đến lúc họ không chịu đựng được nữa thì họ tự giải quyết cho họ thôi

GM. Micae Hoàng Đức Oanh”

Tôi nghe giáo dân nói bây giờ chúng tôi giữ luật đàng hoàng, thành ra quí vị không giữ luật thì chính quí vị đã vi phạm. Giống như đứa con trong gia đình, trước khi đi học ‘thưa ba mẹ con đi học’, đi học về ‘thưa ba mẹ con đi học về’; tức nó có xin phép vào buổi sáng mà bữa nào cha mẹ cũng bảo để coi đã, không cho thì như thế là bất công và nó phải phản ứng. Trường hợp của chúng tôi là như vậy đó; nhưng chúng tôi rất tôn trọng anh em.

Gia Minh: Là một địa phân xa xôi có biết bao khó khăn trong cuộc sống, nay lại gặp khó khăn với chính quyền như thế, so với những địa phận ở các tỉnh, thành; nhưng qua lời Đức Giám mục hẳn đó là một thách thức, rèn luyện để người giáo dân ở Kon Tum vững vàng, thưa Đức Giám mục?

Đức giám mục Micae Hoàng Đức Oanh: Có lẽ tôi cũng phải tự trách tôi là một giám mục không có ‘khéo’; các cán bộ có thể thấy tôi không ‘có khéo’ đủ thành ra cuối cùng… Tôi nghĩ vậy, nhưng tôi tự xét đoán mình đã làm hết mức của mình, Chúa không đòi hỏi tôi làm hơn được.

Gia Minh: Cám ơn Đức Giám mục.

Nhà báo Việt Nam và khủng bố Tự do báo chí

Nhà báo Việt Nam và khủng bố Tự do báo chí

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-01-14

01142015-vn-journ-n-press-freed.mp3

Tự do báo chí, tự do ngôn luận

Tự do báo chí, tự do ngôn luận

RFA

Your browser does not support the audio element.

Câu chuyện của tờ báo Charlie Hebdo cùng hàng triệu người Pháp xuống đường biểu tình chống lại hành động dã man của bọn khủng bố đã làm những người quan tâm tới tự do báo chí một lần nữa đặt ra nhiều dấu hỏi cho cái quyền được xem là sức mạnh thứ tư này. Mặc Lâm tìm hiếu thêm về cái chết của những nhà báo Việt Nam điển hình là Từ Chung của tờ Chính Luận và Tú Rua của tờ Văn Nghệ Tiền Phong.

Tự do báo chí căn bản của thể chế dân chủ

Khi nhắc đến Charlie Hebdo là nhắc tới những bức tranh biếm họa trên tờ tạp chí của họ. Những biếm họa ấy làm khó chịu hàng triệu người mặc dù nó chỉ có chức năng giải tỏa phiền muộn của vài chục ngàn người đọc trong một khoảnh khắc nào đó. Tại sao Charlie Hebdo theo đuổi cái ít ỏi ấy mà bất cần sự tức giận, chống đối của hàng triệu người khác? Câu hỏi này vẫn là đề tài từ cả trăm năm qua khi báo chí thế giới xuất hiện những bức tranh biếm họa đầu tiên để từ đó tới nay những tác giả phiếm ấy vẫn được sự bảo vệ của những nước dân chủ trong cái quyền được hiến pháp quy định: Tự do báo chí.

Nhà báo khắp thế giới luôn là nạn nhân của các chế độ độc tài, quân phiệt, cộng sản ngay cả các tồ chức khủng bố. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cũng từng có nhiều nhà báo nạn nhân bởi các thế lực, cá nhân tấn công, ám sát nhằm bịt tiếng nói của họ. Người bị giết đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam là nhà báo Từ Chung, Tổng thư ký nhật báo Chính Luận, tờ báo chống cộng nổi tiếng thời bấy giờ. Trưa ngày 30 tháng 12 năm 1965 hai đặc công cộng sản đã ám sát Từ Chung và hành động này đã được công khai tuyên dương trên mặt báo sau năm 1975.

Nhà báo khắp thế giới luôn là nạn nhân của các chế độ độc tài, quân phiệt, cộng sản ngay cả các tồ chức khủng bố

Nói về việc này nhà báo, nhà văn Uyên Thao, người thành lập tờ báo Sóng Thần rất nổi tiếng của Sài Gòn cho biết:

-Lúc đó tôi nghĩ tờ Chính Luận nó đề cập nhiều vấn đế liên hệ đến những đường lối chính trị phía cộng sản ở miền Bắc vì vậy nó mới xảy ra chuyện liệng lựu đạn nó tấn công tòa soạn Chính Luận rối sau đó là vụ ám sát anh Từ Chung. Đây là vụ coi như xảy ra với báo chí Việt Nam lần đầu tiên lúc đó.

Phản ứng của những người cầm bút chắc chắn không ai chấp nhận được chuyện đó hết còn mình bày tỏ ra sao thì phải nói không khí lúc đó nó không có điều kiện cho mình bày tỏ. Đất nước đang có những biến cố lớn, dồn dập thành ra chuyện một người bị khủng bố sát hại thì cũng giống như chuyện bom đạn giết bao nhiêu người khắp nơi cho nên ít có sự lưu tâm tới ,nói chung là của dư luận chứ còn đối với anh em cầm bút tất nhiên họ đều bất bình đối với chuyện đó.

Khủng bố giết hại nhà báo là tiêu diệt nền tự do ngôn luận

Mục tiêu ám sát nhà báo Từ Chung là mục tiêu chính trị và hành động khủng bố này trong một thời gian dài được xem là yêu nước, anh hùng. Tuy nhiên đối với nhà báo, họ là người mang tin tức đến cho người đọc do đó ám sát nhà báo đồng nghĩa với với bịt nguồn thông tin và tiêu diệt tự do báo chí.

Khủng bố đối với tin tức bất lợi cho cuộc chiến không loại trừ cả những cây bút viết phiếm luận mà mục tiêu của đa số người giữ mục này không giới hạn đối với cá nhân hay tổ chức nào. Trong hoàn cảnh nền chính trị xô bồ gần như mất kiểm soát của Sài Gòn lúc ấy xuất hiện một mục phiếm nổi tiếng của nhà văn Chu Tử trên báo Sống với cái tên Ao thả vịt. Trong cái ao đặc biệt ấy, những con vịt mà Chu Tử nhắm tới không thiếu một ai, kể cả người cộng sản. Giống như Từ Chung trước đó, 5 tháng sau Chu Tử cũng bị ám sát nhưng may mắn là ông thoát chết. Nhà báo Uyên Thao nhớ lại:

Đối với nhà báo, họ là người mang tin tức đến cho người đọc do đó ám sát nhà báo đồng nghĩa với với bịt nguồn thông tin và tiêu diệt tự do báo chí

-Toàn bộ hoàn cảnh miến Nam lúc đó mình có thể hình dung ra. Xã hội của mình là xã hội đang bị chiến tranh tàn phá. Coi như là nó không bình thường trong khi đó những người có trách nhiệm lo cho đất nước cũng có người lợi dụng tình thế hỗn loạn lo cho chuyện riêng của mình.

Chính vì vậy giới cầm bút chứ chẳng riêng gì ông Chu Tử khó chịu đối với việc người trách nhiệm lơ là đối với việc nước mà chỉ lo chuyện cá nhân, thành ra người ta cần phải bày tỏ thái độ đối với một số những cơ cấu, những viên chức của chính quyền miền Nam. Còn đối với cộng sản thì đương nhiên đối với những người có ý thức thì làm sao mà chấp nhận được cộng sản cho nên chuyện chống cộng sản là chuyện đương nhiên phải chống. Trường hợp anh Chu Tử lúc đó sau này chính người cộng sản họ nói rõ chính họ đã làm việc ấy.

Sau năm 1975, báo chí miền nam Việt Nam di tản sang Mỹ cùng hàng chục nước Tây phương khác. Trong thời gian đầu sự xuất hiện trở lại của các tờ báo trong cộng đồng người Việt là một món ăn tinh thần không thể thiếu. Vậy mà hàng loạt cuộc tàn sát nhà báo đã diễn ra do nhiều thế lực, cá nhân thực hiện khiến báo chí trở thành nạn nhân ngay trên mảnh đất được xem là tự do báo chí nhất hành tinh.

Mở đầu là nhà báo Đạm Phong, chủ nhiệm tuần báo Tự do tại Houston Texas. Ông bị bắn chết tại nhà riêng vào ngày 24 tháng 8 năm 1982. Nhà báo Hoài Điệp Tử, một cây viết nổi tiếng trước năm 1975 cũng bị hỏa thiêu đến chết tại nơi làm việc là tuần báo Mai tại Wesminster, California.

Nhưng vụ ám sát hai vợ chồng nhà báo Tú Rua của tờ Văn Nghệ Tiền Phong đã làm người Việt sững sờ. Văn Nghệ Tiền Phong là tờ báo có rất nhiều độc giả và mục được thường xuyên chú ý một cách thích thú là “Ngày lại ngày” của ký giả Lê Triết tức Tú Rua, ngòi bút trào phúng có giọng văn châm biếm khó kiếm.

Tối 22 tháng 9 năm 1990 Tú Rua cùng với vợ là bà Đặng Thị Trần Tuyết bị bắn chết tại bãi đậu xe trước nhà tại tiểu bang Virginia, nơi có tờ Văn Nghệ Tiền Phong mà ông cộng tác.

Nhà văn Sơn Tùng, người cùng làm việc với Tú Rua lúc ấy kể lại:

-Thời gian tôi cộng tác với Văn Nghệ Tiền Phong thì tôi thấy ngòi bút ông Triết viết trong mục “Ngày lại ngày” rất là sắc bén nhưng có thể nói đôi khi nó cay độc nữa thành ra bị va chạm khá nhiều. Lúc đó độc giả rất thích cái mục của ổng vì ổng chỉ trích rất thẳng thắn. Đôi khi tôi cũng có nói với ổng nhưng mà văn phong của ông Tú Rua như vậy mà nói ổng sửa lại thì nó cũng rất khó. Ông ấy viết thì đúng chứ không phải là không nhưng có cái là quá nặng.

Tự do báo chí là căn bản của thể chế dân chủ do đó nhà báo khắp nơi trên thế giới vẫn đang nổ lực xây dựng và gìn giữ nó. Khủng bố giết hại nhà báo là trực tiếp giết hại nền tự do không thể thiếu ấy của loài người

Tôi có thể nói ngay là hoàn toàn không có một thế lực nào mua chuộc ngòi bút của ông ấy được đâu. Có thể nói là ổng rất say mê, say mê cái mục của ổng vì được viết như vậy, vì cái đam mê của ông ấy thì đúng hơn. Cứ mỗi hai tuần một lần ổng đem bài tới lúc tôi làm việc ở tòa soạn. Ông đem bài tới đưa bài cho tôi thì ông ấy ngồi đọc cho tôi nghe rồi ổng bình luận này kia có vẻ thích thú lắm. Ông ấy đam mê cái công việc của ông ấy thì đúng hơn, ổng viết coi như rất nguy hiểm chứ không phải là không.

Lúc trước khi ông ấy chết ông viết một loạt bài đụng chạm rất nhiều và ông biết là nguy hiểm nhưng mà ổng không bỏ được.Ổng viết như quá đam mê thành ra đi đến hậu quả như vậy.

Nhà báo kỳ cựu Uyên Thao của tờ Sóng Thần chia sẻ về vấn đề tự do báo chí của Việt Nam trong thời gian chiến tranh, ông nói:

-Nếu mà nói vấn đề tự do báo chí thì có lẽ lúc nào cũng cần thiết cho đời sống bởi vì nó là điều kiện để bảo đảm cho tất cả mọi công việc tiến hành được tốt. Riêng vào lúc đó mình bị hạn chế do điều kiện của cuộc chiến nên có thể giới hạn trong một mức độ nào. Lúc đó mình vừa có tự do báo chí nhưng cũng có những giới hạn trật chìa. Giới hạn đó không nhằm cản trở những liên hệ đến yêu cầu của cuộc chiến mà nó chỉ là yêu cầu của một số cá nhân.

Nhìn lại hai biến cố đối với nhà báo Việt Nam lúc trước và các nhà báo Charlie Hebdo hiện nay, nhà văn Sơn Tùng cho biết:

-Cái giống nhau là sự bạo động chống lại người cầm bút. Vụ bên Pháp thì chức năng của họ là người cầm bút thì họ viết gì họ muốn. Tự do của người cầm bút bị giết vì bạo lực. Bên này cũng vậy ông Tú Rua ổng chỉ viết những gì ông ấy nghĩ là đúng. Ông ấy bênh vực những gì mà ông cho là đúng nên gây ra sự thù oán với những người bị ổng chỉ trích mặc dù ổng chỉ dùng ngòi bút thôi. Những người đó thay vì lên tiếng lại đi giết ổng, cái đó là cái tuyệt đối tôi thấy phải chống lại.

Tự do báo chí là căn bản của thể chế dân chủ do đó nhà báo khắp nơi trên thế giới vẫn đang nổ lực xây dựng và gìn giữ nó. Khủng bố giết hại nhà báo là trực tiếp giết hại nền tự do không thể thiếu ấy của loài người.

Charlie Hebdo phát hành số mới

Charlie Hebdo phát hành số mới

 

Người dân tại Pháp xếp hàng dài từ sớm tại các quầy bán báo để đón mua số mới nhất của tạp chí Charlie Hebdo ra ngày hôm nay.

5 triệu bản được in và phát hành một tuần sau khi các tay súng giết 12 người tại tòa báo này và 5 người khác ở Paris.

Trang bìa tạp chí có hình Đấng Tiên tri Muhammad khóc và mang biển hiệu nói “Tôi là Charlie” – thông điệp ủng hộ cho tạp chí này.

Trong khi đó, Thủ tướng Pháp Manuel Valls nói rằng nước ông đang tuyên chiến với chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa cực đoan chứ không phải với người Hồi giáo.

Phát biểu trước Quốc hội Pháp, ông Valls nói các tay súng Hồi giáo sát hại 17 người ở Paris muốn tiêu diệt ‘tinh thần nước Pháp’ nhưng đã thất bại.

Thủ tướng Valls đưa ra phát biểu này sau nghi thức tang lễ cho bảy nạn nhân thiệt mạng trong vụ tấn công hồi tuần trước.

‘Không tuyên chiến với đạo Hồi’

Các nghị sỹ Pháp đã nhóm họp lần đầu tiên kể từ các vụ tấn công hồi tuần trước. Họ đã dành một phút mặc niệm nạn nhân trước khi hát Quốc ca.

Ông Valls nói rằng cuộc tuần hành đoàn kết khổng lồ của hàng triệu người trên khắp nước Pháp hôm Chủ nhật ngày 11/1 là ‘sự đáp trả tuyệt vời’ trước bạo lực và nói thêm: “Chúng ta tuyên chiến với thánh chiến và khủng bố… nhưng nước Pháp không tuyên chiến với đạo Hồi và người Hồi giáo.”

Chúng ta tuyên chiến với thánh chiến và khủng bố… nhưng nước Pháp không tuyên chiến với đạo Hồi và người Hồi giáo.

Thủ tướng Pháp Manuel Valls

Ông thông báo một loạt các biện pháp từ các bài học rút ra sau các vụ tấn công, trong đó có giam giữ các phần tử thánh chiến ở những khu riêng biệt trong nhà tù và thắt chặt việc giám sát Internet và mạng xã hội.

“Chúng ta phải đáp trả tình huống bất thường bằng những biện pháp bất thường,” Thủ tướng Valls nói nhưng ông cũng loại trừ những biện pháp đi quá xa những nguyên tắc luật pháp và những giá trị của nước Pháp.

Bộ Quốc phòng Pháp đã triển khai 10.000 binh sỹ tại các địa điểm như giáo đường Do Thái, thánh đường Hồi giáo và các sân bay.

Trước đó, trang bìa số mới của tạp chí Charlie Hebdo đã được truyền thông Pháp đăng tải rộng rãi trước khi số mới này được chính thức phát hành.

Nước Pháp vẫn trong tình trạng an ninh cao độ

Trang bìa lần này là bức biếm họa vẽ Đấng Tiên tri Muhammad cầm tấm biển có dòng chữ ‘Je Suis Charlie’, có nghĩa là ‘Tôi là Charlie’ với câu chú thích ghi rằng ‘Tất cả được tha thứ’.

Rất ít báo chí ở Trung Đông và Bắc Phi sẽ đăng lại hình hảnh trên trang bìa này của Charlie Hebdo. Tuy nhiên hãng tin Tabak của Iran sẽ đăng lại nhưng nó sẽ bị làm mờ chỉ còn thấy rõ dòng chú thích ‘Tất cả được tha thứ’.

Tạp chí này sẽ phát hành ba triệu bản cho số mới, trong đó có bản tiếng Anh, tiếng Ả Rập và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Thông thường thì số phát hành của tạp chí này chỉ khoảng 60.000 bản mỗi tuần.

’70 trinh nữ đâu?’

Các họa sỹ của tờ báo sống sót sau vụ thảm sát đã làm việc ở văn phòng của nhật báo Libération.

Chúng tôi vui mừng đã làm xong và đã làm được. Công việc rất khó khăn. Làm trang bìa… rất phức tạp bởi vì nó phải diễn đạt cái gì đó mới, nó phải nói được điều gì đó liên quan đến những gì mà chúng tôi đã đối mặt.

Gerard Biard, Tổng biên tập Charlie Hebdo

Tổng biên tập Gerard Biard nói với các phóng viên: “Chúng tôi vui mừng đã làm xong và đã làm được. Công việc rất khó khăn. Làm trang bìa… rất phức tạp bởi vì nó phải diễn đạt cái gì đó mới, nó phải nói được điều gì đó liên quan đến những gì mà chúng tôi đã đối mặt.”

Trong một diễn biến khác, các nhà điều tra ở Bulgaria cho biết một công dân Pháp mà họ bắt giữ hôm 1/1 có tên là Fritz-Joly Joachin đã liên lạc với một trong số các anh em nhà Kouachi, thủ phạm vụ tấn công vào tạp chí Charlie Hebdo ở Paris.

Người này bị bắt theo một lệnh bắt ở phạm vi châu Âu do Pháp đưa ra sau khi vợ ông ta cáo buộc ông ta đã bắt cóc con trai của họ, các quan chức Bulgaria cho biết.

Một trát bắt khác sau đó đã được đưa ra đối với Joachin nhưng lần này với tội danh là ‘tham gia vào nhóm tội phạm có tổ chức có mục tiêu tổ chức các hành động khủng bố,” bà Darina Slavova, công tố viên Bulgaria nói với hãng tin AFP.

Ông Valls đã có bài phát biểu trước Quốc hội Pháp

Từ Paris, phóng viên BBC Hugh Schofield nhận định về số mới của Charlie Hebdo như sau:

“Toàn trang bìa là hình vẽ Đấng Tiên tri Muhammad đang rớm lệ nhưng bên trong không có thêm bất cứ hình ảnh nào về Đấng Tiên tri cả.

Số báo này dành rất nhiều sự châm biếm cho các phần tử Hồi giáo cực đoan. Một bức tranh vẽ cảnh hai kẻ khủng bố đang lên thiên đường và hỏi ’70 trinh nữ đâu?’ trên nền là cảnh các nhà báo bị sát hại của Charlie Hebdo đang vui vẻ với các trinh nữ.

Ban biên tập tờ báo cũng dành lời cảm ơn đến hàng triệu người đã gọi mình là Charlie trong những ngày qua nhưng cũng nói rằng họ không muốn có thêm lời ám chỉ nào rằng họ đã tự chuốc rắc rối với việc khiêu khích người Hồi giáo.”

 

Một năm sau khi VN vào Hội đồng Nhân quyền: Tăng bắt bớ những người vô tội

Một năm sau khi VN vào Hội đồng Nhân quyền: Tăng bắt bớ những người vô tội

RFA

Nhà văn Võ Thị Hảo, viết từ Hà Nội

  • Quà Giáng sinh: bắt bớ người viết trung thực

“Cho đến thời điểm này, những  ngày cuối năm 2014, phải nói rằng còn rất nhiều tù nhân lương tâm đang phải chịu hành hạ, đày đọa, tra tấn đủ mọi kiểu. ..Và còn hằng lọat tù nhân khác mặc dù cho đến thời điểm này, nhà nứơc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết Công ứơc Chống Tra tấn với quốc tế rồi mà tình hình không có gì cải thiện hết. Đó là điều mà ai cũng thấy”.

Blogger Nguyễn Ngọc Già(được xác định là Nguyễn Đình Ngọc) đã xót xa về các tù nhân lương tâm cho đến những ngày cuối năm vẫn đang  bị giam cầm như vậy, trong bài trả lời phỏng vấn rfa.org ngày 22/12/2014. Về nhà văn Nguyễn Quang Lập mới bị bắt,  Nguyễn Ngọc Già cũng phản đối mạnh mẽ : “Điều gây xúc động lớn nhất đối với tôi, nguời theo dõi sát tình hình Việt Nam từ trước  đến nay, là chưa có một tù nhân lương tâm nào bị bắt vào lúc mà chính bản thân nguời đó đang bị ‘bán thân bất tọai’ như thế”.

Và rồi chỉ vài ngày sau, Nguyễn Ngọc Già đã bị bắt. Chính anh cũng phải nhập dòng nạn nhân vô tội bị chế độ độc tài VN  đày đọa trong tù.

Tỏ rõ sự bất chấp trước Hiến pháp quy định về quyền công dân, những cam kết quốc tế mà VN đã ký  và dư luận phản đối, bắt  Nguyễn Ngọc Già vào  ngày 27/12/2014, nhà chức trách đã chứng tỏ thêm thái độ “sắt máu” với những người bày tỏ chính kiến.

Một điều khiến người ta khâm phục và biết ơn  Nguyễn Ngọc Già là dù đã hình dung rất rõ ràng những hiểm nguy khi viết và nói lên sự thật, khi đứng về phía quyền lợi của đất nước và người dân VN nhưng anh vẫn tiếp tục con đường của mình và không hề nao núng trước đe dọa:

Hãy bỏ mặc những lời dèm xiểm và chọc ngoáy, nếu bạn viết từ óc và từ tim của chính bạn – viết cho dân oan, tù oan. Viết cho thế hệ trẻ và viết cho ngay chính người CS dưới mọi lớp áo hiểu rằng: Việt Nam này không của riêng ai. Chính vì thế người CS hãy dừng tay cướp đoạt của chúng tôi, của chúng ta và của tất cả người Việt Nam trên toàn cầu.

Người CS hãy dừng tay cướp đoạt tất cả mọi loại tài sản của người Việt Nam trước khi quá muộn! Ngược lại, họ sẽ phải trả giá. Không lâu nữa đâu – một niềm tin có căn cứ khoa học.”

Chính kiến rất rõ ràng nhưng Nguyễn Ngọc Già không vi phạm pháp luật. Trước sau, blogger này vẫn chủ trương cải thiện xã hội, thể chế bằng biện pháp ôn hòa, bất bạo động”:

“Hiện nay có khỏang 20 tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam, nhưng tôi chưa nghĩ đến ‘đòan kết’ vì đòan kết là một chương trình khoa học, chứ không phải gọi lên ‘khơi khơi’, ai cũng gọi được vì sẽ trở nên ‘coi thường’ và hạ thấp chữ ‘đòan kết’. Mà trứơc tiên tôi cho rằng phải ‘liên kết’ 20 hội đòan đó. Có liên kết được một cách chặt chẽ thì tạo dần niềm tin lẫn nhau. Đó là điều mà 20 tổ chức xã hội dân sự đó nên nghĩ tới. Đứng kêu gọi đòan kết trong lúc này mà hãy liên kết chặt chẽ trong khoa học bằng những chương trình, mục tiêu công khai, ôn hòa, bất bạo động’…

Nhưng sự vô tội của công dân VN đã tỏ ra chẳng có giá trị gì trước bộ máy đàn áp nhân quyền và tự do ngôn luận của người dân VN.

  • Sự đổi giọng  và âm hưởng Cách mạng Văn hóa

Ngược với cam kết cải cách thể chế của nhà cầm quyền VN đưa ra vào tháng 1/2014, Giáng sinh 2014 và Năm mới 2015 đến trong tiếng gọi xé lòng của dân oan, trong những cuộc bắt bớ, khủng bố tăng cường những tù nhân lương tâm.

Có thể nói những ngày cuối năm 2014 đã in dấu những vết đen trong lịch sử  của nhà cầm quyền VN khi họ đã bất chấp thể diện của một chính thể khổng lồ lại đi  “bắt quả tang một nhà văn đang viết văn…”, giam cầm nhà văn  ôn hòa – blogger Nguyễn Quang Lập đã bị liệt nửa người, bị bệnh hiểm nghèo trong tù ngục.

Và nơi nơi tại VN ngày càng thêm nhiều cái chết tức tưởi của người dân mới bị bắt vào đồn công an mà theo chứng cứ hiển hiện và sự tố cáo của gia đình nạn nhân cùng nhiều luật sư thì đó là những cái chết do tra tấn, bức cung và nhục hình chứ không phải là tự sát. Chưa kể có rất nhiều án tử đã được tuyên một cách tàn nhẫn và oan trái do không đủ chứng cứ, do bức cung và nhục hình bởi quyền lợi của một ai đó trong bộ máy quyền lực hoặc do thành tích, hoặc do “nén bạc đâm toạc tờ giấy”…

Bên cạnh việc tăng cường bắt bớ các blogger, điều khiến người đọc ngỡ ngàng là trên  trang web mang  tên một số  vị  lãnh đạo cao nhất xưa nay vẫn giương cao khẩu hiệu “lắng nghe tiếng nói phản biện”, “chống tham nhũng”, “cải cách thể chế….”.. thì nay lại đăng những loạt bài mang tính đe dọa và lăng mạ những công dân trung thực,  vô tội, xưa nay có phát biểu hoặc viết ra những ý kiến phản biện cũng chỉ vì lợi ích của đất nước.

Những trang web này đã  nêu đích danh những blogger và trí thức bất đồng chính kiến  như Phạm Chí Dũng; Đinh Kim Phúc; Nguyễn Thị Từ Huy; Nguyễn Tường Thụy; Nguyễn Xuân Diện; Nguyễn Hồ Nhật Thành; Hà Sĩ Phu; Nguyên Ngọc; Nguyễn Quang A; Bùi Chát; Bùi Minh Quốc; Chu Hảo; Huỳnh Kim Báu; Phạm Đình Trọng; Phan Thị Hoàng Oanh…và một số người khác là  “có tư tưởng chống đối ngông cuồng”và  đe dọa sẽ bắt giam họ. Một loạt bài với những tiêu đề gây sốc: “Những kẻ phá hoại đội lốt nhà dân chủ sẽ sa lưới pháp luật”, “Hồi chuông cảnh tỉnh cho những kẻ mang tư tưởng phá hoại”, “Kẻ nối gót sẽ bị pháp luật trừng trị”…”Đập tan âm mưu đen tối chống phá Đảng và Nhà nước của các đối tượng chống đối”…

Và họ kết luận : “Đây là âm mưu hoạt động của các đối tượng và tổ chức chính trị phản động rất nguy hiểm đi từ bất bạo động đến công khai chống đối chính quyền và cuối cùng là thay đổi chế độ”.

Công dân chỉ phát biểu chính kiến của mình một cách ôn hòa, chống tham nhũng, bảo vệ chủ quyền đất nước, bênh vực dân oan, đề nghị cải cách thể chế theo kêu gọi của nhà cầm quyền, mà bị quy chụp, khủng bố đến mức ấy sao?!

Một điều khiến cho người ta không thể không sốc là giọng điệu nói trên bỗng mang hơi hướng quy chụp của thời Cải cách ruộng đất ở VN, giọng điệu Hồng vệ binh của thời Cách mạng văn hóa và Đại nhẩy vọt của Trung quốc những năm trước đây.

Tưởng đã xa lắm rồi, thời người ta thực hành những tội ác chống lại nhân loại. Thời điểm mù lòa của những người nhân danh quyền lợi của nhân dân để quy tội cho bất kỳ ai đó là địa chủ, là phản động …để khiến cho con phải đi đổ tội cho cha, vợ đấu tố chồng hòng sống sót. Cái thời những người đã từng nhịn ăn giúp cách mạng và thành lập những chi bộ cộng sản đầu tiên cũng bị đồng chí búa liểm của mình đổ tội và mang ra đập đầu phọt óc chết giữa ruộng mạ,  bất kể tòa án và công lý.

Tưởng như nghe trong không trung tiếng rên xiết chói óc của mấy chục triệu người chết dưới bàn tay của Mao và “bè lũ bốn tên”. Những cách chụp mũ, đổ tội cho bất kỳ ai đã là công cụ để hãm hại, tàn sát người trí thức, nhà văn và người dân Trung quốc. Những người này bị giết chết  bởi chính tay đồng bào đồng chí của mình và chết đói dưới thời Cách mạng Văn hóa và Đại nhẩy vọt…

Các nhà cầm quyền Việt Nam! Hãy tỉnh ngộ! Bởi vì nếu tiếp tục giọng điệu này trên những cách chỉ đạo và tuyên truyền của các vị, thì rất nguy hiểm. Không có gì để đảm bảo rằng cung cách này nếu đi tiếp thì sẽ không đẩy VN đến ngày tái diễn thảm họa huynh đệ tương tàn, một cuộc khủng bố và giết chóc giữa người VN với nhau như trong lịch sử đã từng diễn ra và kéo lùi lịch sử VN trở về thời Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm tàn bạo và mông muội.

Vì ai cũng biết rằng, quyền lực và tài sản vốn rất mong manh, lại càng mong manh hơn trong  không khí mông muội và huynh đệ tương tàn. Vệt chết của Cách mạng Văn hóa, Cải cách ruộng đất, Đại nhẩy vọt cho tới Khơ me Đỏ là những thí dụ còn tươi rói. Đó là một vệt đỏ khiến loài người ghê sợ và dùng đủ mọi cách để ngăn chặn. Các đồng chí trong vệt đỏ đó đã làm những gì với nhau và người dân của họ, là một thí dụ được tạc bởi núi xương sông máu.

Thời thế đã khác xưa rồi. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, loài người đã khôn ngoan hơn, biết vì nhau hơn và có những công cụ tốt hơn để tự vệ trước sự đàn áp dân chủ và nhân quyền./.

VTH

Ăn Mày, Ăn Bẩn & Ăn Cướp

Ăn Mày, Ăn Bẩn & Ăn Cướp

RFA

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

“Mục tiêu đến năm 2010 giải quyết cơ bản không còn người lang thang xin ăn ở TP.”

Nguyễn Văn Xê – Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH

Ngày 22 tháng 12 năm 2014, báo Tuổi Trẻ hân hoan đăng lời “kêu gọi người dân không cho tiền người ăn xin,” cùng với một kế hoạch rất hoành tráng và (xem chừng) quyết liệt của UBND TP.HCM:

“Kể từ ngày 28-12, TP.HCM sẽ bắt đầu đưa những người ăn xin, người sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định vào các cơ sở xã hội…

Trung tâm hỗ trợ xã hội được giao nhiệm vụ tăng cường khảo sát, phối hợp với các lực lượng công an, thanh niên xung phong, các đoàn thể… tập trung người lang thang về các cơ sở xã hội.

Đường dây nóng của trung tâm sẽ trực 24/24g để tiếp nhận thông tin về người lang thang trên địa bàn TP…

Người nào bị đưa vào Trung tâm hỗ trợ xã hội từ lần thứ hai trở lên thì trung tâm tiếp nhận nuôi dưỡng. Tại đây, các đối tượng được học văn hóa, học nghề và giới thiệu việc làm. Người nước ngoài lang thang xin ăn sẽ được đưa về nước theo quy định…

Việc giải quyết tình trạng người xin ăn lang thang phải được giải quyết theo hướng căn bản, thiết thực và bền vững.”

Mấy bữa sau, cũng báo Tuổi Trẻ buồn rầu cho biết: “Người ăn xin vẫn đầy đường Sài Gòn ngày đầu năm.”

Hình chụp tại góc đường 3-2 và đường Lý Thường Kiệt lúc 10g trưa 1-1-2015, bà cụ ngồi ngay giữa trời nắng nóng – Ảnh và chú thích: T.T.N.Đ

Đây không phải là lần đầu tiên “đám ăn mày” hay “tụi ăn xin” đã “làm phiền” công luận. Nhiều năm trước, chính xác là vào ngày 7 tháng 7 năm 2009, báo Pháp Luật cũng đã có lời kêu gọi (thiết tha) tương tự, cùng với nhiều kế hoạch quyết liệt không kém:

“Dự kiến từ tháng 7-2009, các quận, huyện phải đưa nội dung phát động không cho tiền người ăn xin sống lang thang nơi công cộng vào buổi họp tổ dân phố, khu phố.

Ông Nguyễn Văn Xê, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH, cho rằng để giải quyết tình trạng lang thang xin ăn cần rà soát khu vực, tuyến đường trọng điểm, phân rõ trách nhiệm của quận, huyện, không để trách nhiệm chung chung như hiện nay. Có như thế mới mong thực hiện được mục tiêu đến năm 2010 giải quyết cơ bản không còn người lang thang xin ăn ở TP.”

Về  “mục tiêu cơ bản” này (hồi đó) ở trong nước, đã có vị độc giả nhận xét như sau:

“Thôi nói thẳng ra là thế này. Mới đây, UBND TPHCM đã chỉ đạo tăng cường vận động nhân dân không cho tiền trực tiếp các ‘đối tượng’ lang thang, ăn xin trên đường phố. Mà cái chỉ đạo này thì thật ra có từ năm 2003 rồi. Nay thì quyết liệt làm lại…”

Không phải từ năm 2003 đâu mà trước nữa lâu lắm lận, theo lời của nhà báo Văn Lang:

40 năm qua, biết bao nhiêu lần họ mở chiến dịch “thu gom” mà đâu vẫn hoàn đấy, là vì nước nghèo thì ăn mày – ăn xin vẫn cứ tiếp tục sản sinh ra, đem “giấu” đi đâu cho hết?”

Những người vô gia cư ngủ ở trạm xe buýt ở Sài Gòn. Ảnh: Văn Lang/Người Việt

Sở dĩ cứ phải mở “chiến dịch thu gom” rồi “quyết liệt làm lại” hoài hoài chỉ vì cách “làm sạch” đường phố, theo kiểu “quét” hết ăn xin, của UBND TPHCM đã đi ngược … qui trình: đó là cách quét rác cầu thang bắt đầu từ bậc thấp nhất.

Tại sao cứ chăm chăm lo hốt đám ăn mày mà lại dung túng và bao che cho bọn ăn bẩn. Bọn này ăn tất tần tật. “Ăn của dân không từ một cái gì” nên mới đẩy không ít nạn nhân của chúng vào cảnh phải ăn mày.

Xin đan cử một thí dụ (ngay) trong địa bàn thành phố:

Ngày 8 tháng 8 năm 2010, luật sư Cù Huy Hà Vũ đã nộp  đơn “tố cáo và yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự và đưa ra vành móng ngựa tên Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và đồng bọn do đã đập nhà, cướp đất ở của bà Dương Thị Kính, thân nhân của Ba Liệt sĩ, tại 255/6/27 Ngô Tất Tố, phường 22 quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.”

Đây là một lời tố cáo vô cùng nghiêm trọng nhưng người bị đưa ra trước vành móng ngựa lại không phải là ông UVBCT Lê Thanh Hải (và đồng bọn) mà lại là chính L.S. Cù Huy Hà Vũ với “tội tuyên truyền chống nhà nước,” cùng bản án bảy năm tù giam và ba năm quản chế.

Vụ Án Hai Bao Cao Xu Đã Qua Sử Dụng (theo như cách gọi của dân gian) chung cuộc đã trở thành một màn hài kịch vô duyên và lố bịch. Nó đã không cứu vãn được “thanh danh” cho ông Lê Thanh Hải (đã đành) mà còn khiến cho đương sự trông càng bẩn thỉu hơn.

Câu hỏi đặt ra là đã có bao nhiêu vụ cướp đất tương tự đã xẩy ra ở Sài Gòn, và có bao nhiêu người dân đã trở nên trắng tay rồi buộc phải ngửa tay ăn xin (hay ăn mày) sau những chuyện ăn bẩn như vậy của đám quan chức ở thành phố này?

Trên phạm vi toàn quốc thì có vô số những quan chức cũng đã ăn bẩn hay ăn cướp (giữa ban ngày) y như thế. Chỉ xin nhắc đến hai vị đang được công luận quan tâm (ông Trần Văn Truyền và ông Nguyễn Xuân Phúc) theo như thông tin đọc được trên trang Dân Luận:

“Ông Trần Văn Truyền sở hữu căn biệt thự cùng 4 căn nhà gỗ đặc biệt ở xứ tỉnh Bến Tre, rộng trên 16.000m2 ước tính 24 tỷ riêng tiền đất; 1 căn nhà 300m2 được cấp hồi làm bí thư tỉnh ủy; 1 nhà 200m2 trước cổng chùa Bạch Vân; 3 cơ ngơi ở khu đô thị 5 sao Phú Mỹ Hưng, TP Hồ Chí Minh, do người thân quản lí.

Nhà đất có liên quan đến ông Trần Văn Truyền ước tính trị giá chưa tới 100 tỷ… Còn khối bất động sản của Phó Thủ tướng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Xuân Phúc thì lại ở đẳng cấp quốc tế ước tính nhiều nghìn tỷ mà ông Truyền khó có thể so sánh:

Tài sản (tính theo bất động sản) của ông Trần Văn Truyền xem ra vẫn còn khiêm tốn lắm lắm so với khối bất động sản nhiều nghìn tỷ của Phó Thủ tướng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Xuân Phúc.

Dù sao thì ông Trần Văn Truyền cũng đã nghỉ hưu, mối họa ông để lại cho nhân dân cũng không lớn lắm nhưng còn ông Phó Thủ tướng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Xuân Phúc thì vẫn còn đang đương chức và có khả năng tiến xa hơn nữa … Đây mới là thực sự là nhân tố hút cạn máu Nhân dân …”

Cán bộ Đảng thi nhau “hút cạn máu” thiên hạ thì nhân dân, những kẻ sống trong “thiên đàng của bọn tham nhũng,” tránh sao được cảnh ăn mày?

Đó mới là chuyện ở bình diện cá nhân của một “bộ phận không nhỏ những cán bộ biến chất,” hay còn gọi (theo ngôn ngữ đương đại) là những “bầy sâu,” đang ngày đêm (ngoem ngoém) đục khoét tài sản quốc gia.

Ở bình diện thể chế thì những đường lối và chính sách cướp ngày của Đảng và Nhà Nước (CCRĐ, Hợp Tác Hoá Nông Nghiệp, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Kiểm Kê Tài Sản, Đổi Tiền, Thu Hồi Đất Đai …) đã “sản xuất” ra vô số ăn xin. Đó là chưa kể không ít những chủ trương lớn (Kinh Tế Quốc Doanh Chủ Đạo, Vinashin, Bauxite…) không ngừng đưa cả đất nước và dân tộc đến mức bần cùng.

Hãy đọc qua vài tiêu đề trên cùng một tờ báo, báo Pháp Luật:

Gia cảnh cơ cực của hai cụ già 10 năm xích chân con

Đắng lòng gia cảnh thanh niên nhặt rác chết cóng

Rơi nước mắt cảnh mẹ già nuôi 3 con bị tâm thần

Cha già bươn chải nuôi 2 con tâm thần

Bên dưới những bài viết thương tâm này thường có đôi dòng viết phụ:

Mọi sự giúp đỡ của những tấm lòng hảo tâm xin gửi về địa chỉ:

– Cụ Nguyễn Văn Thân

Xóm 2, xã Thạch Bàn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Báo Đời sống & Pháp luật tại Miền Trung

Số 03, Đại lộ Lê Nin, TP Vinh – Nghệ An; ĐT/Fax: 038.8601010;

Số tài khoản: 0191012468008, Ngân hàng Bảo Việt Nghệ An, chủ tài khoản: Báo Đời sống & Pháp luật tại Miền Trung.

Mỗi tuần tôi nhận được qua bưu điện bốn tờ tuần báo: Sống (phát hành từ Westminster, California) Thời Báo (Cheektowaga, New York) Trẻ (Dallas, Texas) và Việt Tribune (San Jose, California). Trừ tờ cuối cùng, ba tờ còn lại đều có mục “Những Tấm Lòng Vàng” hay “Trang Tương Trợ” với tên tuổi, địa chỉ, và hình ảnh những đồng bào đang lâm trọng bệnh hay rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát – ở quê nhà – cùng với lời kêu gọi xin độc giả hảo tâm giúp đỡ.

Sống trong một đất nước không có mạng lưới an sinh xã hội để nâng đỡ những người neo đơn, thất thế, già yếu, bệnh tật .. thì người dân còn biết trông chờ và đâu – ngoài lòng hảo tâm của tha nhân. Chớ không ngửa tay xin thì biết làm sao khác.

Sự giúp đỡ không chỉ giới hạn ở mức độ cá nhân.  Thử “google” vài cụm từ, như  “giúp đỡ xây cầu” (chả hạn) trong vòng năm mươi giây sẽ thấy hơn chục ngàn “kết quả” – đại loại như:

Nhóm Việt kiều xây hơn 100 chiếc cầu cho quê hương

Bạn đọc Dân trí ủng hộ xây cầu Dân trí ở Quảng Bình gần 1,3 tỷ đồng

Độc giả VnExpress quyên góp xây cầu vượt sông Pôkô

Cầu treo ở Khánh Hòa. Ảnh Nguyễn Thành Chung. Nguồn: Dân Trí

Một cá nhân, một gia đình, hoặc ngay cả một tập thể người (đôi lúc) cũng cần đến sự trợ giúp khi hoạn nạn nhưng một quốc gia thì không thể theo đuổi chính sách sống nhờ vào lòng từ thiện, vào kiều hối, hay vay vốn ODA nước ngoài – mãi mãi – như vậy được.

Vậy mà đây lại là một trong những chủ trương và chính sách (lớn) của Đảng và Nhà Nước, theo như nhận định của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“VN cũng là nước chuyên xin xỏ: suốt năm này sang năm khác, quan chức VN ngửa tay xin viện trợ từ rất nhiều nước trên thế giới. Xin nhiều đến nỗi có quan chức nước ngoài phàn nàn nói ‘Sao chúng mày nói là chúng mày rất thông minh và cần cù mà cứ đi xin hoài vậy. Dân xứ tao phải làm lụng vất vã mới có tiền cho chúng mày’. Thật là nhục. Xin người ta thì nhiều mà khi người ta gặp nạn thì VN chẳng đóng góp bao nhiêu.

Nếu không xin thì cũng đi vay. VN bây giờ là một con nợ quốc tế. Nợ ngân hàng thế giới, nợ ngân hàng ADP, nợ đủ thứ ngân hàng và nợ đủ các nước. Chính phủ thì nói nợ công của VN là 54%, nhưng các chuyên gia độc lập thì nói con số cao hơn nhiều và ở mức báo động đỏ (tức là sắp vỡ nợ?). Con số có lẽ quá lớn để cảm nhận, các nhà kinh tế học ước tính dùm cho chúng ta: mỗi một đứa trẻ mới ra đời ở VN hiện nay phải gánh một món nợ công 1000 USD.”

Vừa mở mắt chào đời đã mang một đống nợ nần, rồi lớn lên trong một xứ sở “chuyên xin xỏ” thì thế hệ tương lai e (lại) cũng sẽ lâm vào cảnh ăn mày thôi – nếu chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại.

NHỮNG CÂU NÓI ĐÁNG SUY NGẪM

NHỮNG CÂU NÓI ĐÁNG SUY NGẪM

1. Cầu nguyện không phải là “bánh xe dự phòng” để lấy ra khi gặp khó khăn, nhưng là “tay lái” để lái đi đúng đường suốt cuộc tạm hành trên trái đất nầy.

2. Tại sao xe hơi có KIẾNG TRƯỚC lớn hơn nhiều so với KIẾNG CHIẾU HẬU? Vì QUÁ KHỨ của chúng ta không quan trọng so với TƯƠNG LAI. Vậy, hãy nhìn thẳng phía trước và đi tới.

3. Tình bạn như một QUYỂN SÁCH. Chỉ cần vài phút để đốt đi, nhưng cần vài năm để viết.

4. Tất cả những điều mình có trong đời sống nầy đều tạm bợ. Nếu được hạnh thông, hãy vui hưởng, vì nó sẽ chóng qua. Nếu không thuận lợi, cũng đừng lo lắng, vì nó cũng sẽ không kéo dài.

5. Thường khi ta mất hy vọng và nghĩ đây là đoạn cuối đường, THƯỢNG ĐẾ ở trên cao cười và nói: “Hãy thư giãn, con yêu của ta, đó chỉ là khúc quanh, chứ không phải là đường cùng.”

6. Khi Thượng Đế giải quyết những vấn đề của ta, ta đặt niềm tin nơi Ngài. Khi Thượng Đế không giải quyết những vấn đề của ta, Ngài đặt niềm tin vào khả năng của ta.

7. Một người mù hỏi thánh Anthony: “Có thể còn điều nào khổ hơn là bị mù không?” Thánh trả lời: “Có, lúc ngươi mất định hướng!”

8. Khi chúng ta cầu nguyện cho người khác, Thượng Đế lắng nghe và ban phước cho người đó, và đôi khi chúng ta bình an, hạnh phúc, hãy nhớ rằng một người nào đó đã cầu nguyện cho ta.

9. Sự LO LẮNG không dẹp bỏ được sự KHÓ KHĂN ngày mai. Nhưng nó lấy đi sự BÌNH AN của hiện tại.

(Sưu tầm)

Photo: ĐÔI TAI CỦA TÂM HỒN    Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại ra khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi một bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa.     Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ, tại sao mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.

ĐÔI TAI CỦA TÂM HỒN

Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại ra khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi một bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa.

Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ, tại sao mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.

“Cháu hát hay quá!’.
Một giọng nói vang lên: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ”. Cô bé ngẩn người. Người vừa khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông cụ nói xong liền đứng dậy và chậm rãi bước đi.

Hôm sau, khi cô bé tới công viên đã thấy ông già ngồi ở chiếc ghế đá hôm trước, khuôn mặt hiền từ mỉm cười chào cô bé. Cô bé lại hát, cụ già vẫn chăm chú lắng nghe. Ông vỗ tay nói lớn: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!” Nói xong cụ già lại chậm rãi một mình bước đi.

Cứ như vậy nhiều năm trôi qua, cô bé giờ đây đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ già ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều mùa đông, cô đến công viên tìm cụ nhưng ở đó chỉ còn lại chiếc ghế đá trống không.

Hỏi một người làm trong công viên, cô nghe được câu trả lời:
“Cụ già ấy đã qua đời rồi. Cụ ấy điếc đã hơn 20 năm nay.”

(Sưu tầm)

TrueMove H : Giving

TrueMove H : Giving

httpv://www.youtube.com/watch?list=PLgasypGCGRsSJ2XOegoIAFIF9Aohg_8Nb&v=7s22HX18wDY

Phim “Cho Đi” làm hằng triệu người chảy nước mắt.

Dài chỉ có ba phút, mà Phim “Giving” (Cho Đi) làm hằng triệu người chảy nước mắt.

”Đoạn phim” ấy do Công Ty Viễn Thông TrueMoveH, Thái Lan, sản xuất.

Sau một tuần, tức vào ngày 11.9.2013, phim được năm triệu người xem.

Chuyện phim:

Cậu bé nọ ăn cắp chai thuốc trị bệnh. Bà chủ tiệm giựt lại chai thuốc và chửi mắng cậu ta xối xả.

Có người đàn ông, là chủ quán ăn, động lòng thương, liền chạy ra, hỏi cậu để biết rõ sự việc.

Khi hay rằng cậu bé ăn cắp chai thuốc vì mẹ của cậu đang bệnh nặng, ông chủ quán ăn liền trả tiền cho bà chủ tiệm thuốc, rồi tặng cậu bé chai thuốc ấy và còn bảo con gái của ông mang cho cậu bé ít thức ăn.

Ba mươi năm sau, người-đàn-ông-tốt-bụng-xưa-kia vẫn còn là chủ quán ăn cùng cô con gái đã lớn.

Ngày nọ, ông bị đột quỵ và phải nhập viện. Muốn chạy chữa thì ông ta phải trả số tiền quá lớn!

Cô con gái tính đến chuyện bán quán ăn…

Nào ai ngờ rằng ”cậu-bé-ăn-trộm-năm-xưa” giờ là bác sỹ tình cờ tiếp nhận bệnh nhân là ân nhân của mình.

Với lòng biết ơn, ”ông-bác-sỹ-chịu-ơn” quyết tâm chữa trị cho ân nhân, mà không để ông ta phải trả tiền bởi vì “Viện-phí-của-người-đàn-ông-ngày-hôm-nay đã được trả trước cách đây ba mươi năm!!!”

từ: http://baomai.blogspot.com/2013/09/bm-phim-cho-i-lam-hang-trieu-nguoi-chay.html

Thằng nhỏ cầm cái lon …

Thằng nhỏ cầm cái lon …

image

Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn.

Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.

Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.

Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé. Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi vói tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không ?

image

Note: hình trong bài này là minh họa

Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:

– “Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…”

Tôi hỏi tiếp:

– “Còn con có đi học không ?”

Thằng bé nói:

– “Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…”…

Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nữa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân với nhau lắm.

Có lần thằng bé hỏi tôi:

– “Chú làm nghề gì vậy hả chú?”

Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là ” Chú đang làm thinh”.

image

Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bữa cơm độn qua ngày. Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cữ sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chỗ ngồi mà không bữa nào vắng tôi. Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang dấu diếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài. Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ.

Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chỗ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều. Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nẫy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi. Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.

image

Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm. Một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…

Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tảo tần nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn. Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa. Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau này nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm. Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó.

Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.

Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa. Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.

Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết! Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha.

image

Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó. Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nỗi.

Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia dình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lỗi”. Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé “…

http://baomai.blogspot.com/

Đời nầy cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney. Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đỡ gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến.

Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ. Tôi xin cảm ơn cả hai: người chiến sĩ vô danh sống trong hẩm hiu và Hội cứu trợ thương phế binh đã thể hiện tình người trong công việc hết sức cao cả này.

Minh Tạo

Đứa con của biển Đông.

Đứa con của biển Đông.

Đây là câu chuyện có thật được cha Nguyễn Tầm Thường, Dòng Tên, thuật lại nhân kỷ niệm 5 năm ngày Mẹ Têrêsa Calcutta qua đời năm 2002.

Giao Chỉ, San Jose đặt lại tựa đề và chuyển tiếp từ internet. Bài này phổ biến cách đây hơn 10 năm. Lịch sử Thuyền Nhân Việt Nam trên biển Đông suốt 20 năm từ 1975 đến 1995 với 1 triệu người đến bến tự do và một phần tư là thảm kịch. Sóng gió tầu chìm chết ngay lại là những cái chết hạnh phúc. Năm mười lần hải tặc là bi kịch hãi hùng. Bị bắt giữ trên hoang đảo là những ngày dài thảm khốc. Đau thương hơn cả là những em bé gái bất hạnh bị bắt có thể vẫn còn sống trong các nhà chứa bên Thái Lan. Nhưng câu chuyện này là một phép lạ viết về đứa con của biển Đông 3 tuổi. Câu chuyện liên quan đến 3 bà mẹ. Bà mẹ Việt Nam, bà mẹ Tàu và đức mẹ Teresa. Cha của đứa bé là ông Việt Nam ngồi lặng thinh tráng bánh trong trại chuyển tiếp trên đất Phi, ba tháng góp được 20 Mỹ kim gửi cho vợ con bên trại Hồng Kông. Giấc mơ vô vọng của ông là tìm lại đứa con trai 3 tuổi bị bắt đi đang lưu lạc trong số hàng tỷ dân Tàu. Chúng ta có 40 năm trôi nổi trên thế giới và hiện đã an cư lạc nghiệp. Xin ngồi xuống đây nghe cha Tầm Thường kể chuyện về đứa con của biển Đông. Xin linh mục tác giả vui lòng liên lạc với chúng tôi, Viện bảo tàng Thuyền Nhân tại San Jose. Ai biết gia đình này hiện ở đâu, xin cho chúng tôi biết.  (giaochi12@gmail.com) Sau đây là nguyên văn câu chuyện.

(Linh mục Nguyễn Tầm Thường) Năm 2000, tôi tới giúp tĩnh tâm cho cộng đoàn Công Giáo Việt Nam ở Oakland, miền bắc California. Hôm ấy, cuối nhà thờ có người gọi. Quay lại nhìn, ngờ ngợ, ai ngờ đâu gặp lại người đàn ông tôi đang muốn tìm từ lâu…

Sáu năm làm việc tại trại tỵ nạn Palawan, Philippines 1989 – 1995, tôi gặp ông ta ở đấy. Một người đàn ông im lặng, ít nói. Ông lúc nào cũng như có chuyện khổ tâm. Ngày ngày ngồi tráng bánh ở một góc đường trong trại tỵ nạn. Ngâm gạo đêm trước, dậy tráng bánh từ hai giờ sáng bên đường. Mỗi ngày vài chục pesos. Ngày ấy,1 US dollar được 25 pesos tiềnPhilippines.

Hoàn cảnh tỵ nạn bấy giờ nhiều người túng cực. Ông này lại phải đùm bọc hai người gốc Chàm không người quen với bốn em bé không thân nhân. Mấy người sống chung với nhau trong căn nhà tỵ nạn. Kẻ xách nước, người kiếm củi, phần ông lo tráng bánh. Khoảng ba tháng ông góp được hai chục đô la, lại nhờ cha Crawford gởi qua trại tỵ nạn Hongkong cho vợ. Cha già Crawford người Mỹ trước ở Việt Nam, sau qua trại tỵ nạn giúp đồng bào,. Phần ông Việt Nam rời cửa biển Cam Ranh ngày 2/9/1988 vào đất Philippines. Một năm sau, tháng 9 năm 1989 ghe của vợ ông rời Vạn Ninh, Nha Trang được hai ngày bị bể máy. Ghe lênh đênh trên biển đông, rồi lâm nạn. Vợ ông đem theo ba con nhỏ. Hết lương thực, nhờ mưa gió có nước uống mới sống sót.

Sau nhiều ngày bão táp, một chủ ghe đánh cá người Tầu ở đảo Hải Nam bắt gặp chiếc ghe lâm nạn này. Ông ta chỉ đồng ý tiếp tế gạo, cho nước và kéo ghe ra khỏi vùng lâm nạn san hô với điều kiện cho ông ta bé cháu trai trên ghe. Cháu bé chính là con của người đàn ông này. Kể từ ngày rời bờ biển Vạn Ninh đến khi gặp chiếc ghe người Tầu rồi cập được vào đất liền là 25 ngày. Nước Tầu hạn chế sinh sản. Ông chủ ghe người Tầu mong một cháu trai mà không được. Cuộc mặc cả là xé ruột gan người mẹ. Trước biên giới sống và chết, họ phải chọn đường sống. Vấn đề ở đây là sự sống của toàn thể 44 người trên chiếc ghe. Nếu không hy sinh đứa bé, toàn ghe có thể chết.

Chiếc ghe đánh cá người Tầu mang theo cháu bé rồ máy chạy vội vã biến mất hút về phía Trung Quốc. Rồi tin ấy đưa đến cho người đàn ông này ở Palawan. Mỗi ngày ông cứ lặng lẽ tráng bánh, kiếm ăn gởi qua cho vợ ở trại tỵ nạn Hongkong. Ðau thương vì mất con. Con tôi trôi giạt nơi đâu ?

Vợ chồng mỗi người một ngả. Ðứa con mất tích sẽ ra sao? Dáng ông buồn lắm. Cháu bé lúc đó mới hơn ba tuổi. Cha Crawford kể cho tôi câu chuyện này. Không biết người đàn ông đã nhờ cha M ỹ gởi tiền cho vợ như thế bao lâu rồi. Theo ông kể lại, vì không là người Công Giáo, ông đâu có tới nhà thờ. Một hôm có mấy người vào tìm cha xin tiền mua tem gởi thư. Ông cũng đi theo. Rồi một linh cảm nào đó xui khiến ông gặp cha. Ông kể cho cha già Mỹ nghe chuyện mất con. Phần tôi, tác giả bài này kể tiếp….Một trong những ý định qua trại tỵ nạn làm việc là thu lượm những mẩu đời thương đau của người tỵ nạn. Tôi tìm gặp ông ta để hỏi chuyện.

Câu chuyện bắt đầu về chuyến đi sau của vợ con.

Sau khi chiếc ghe được kéo vào đảo Trung Quốc, một nửa số người quá sợ hãi, đi đường bộ trở về Việt Nam. Số còn lại kết hợp với ít người đã trôi dạt vào đảo trước đó, sửa ghe tìm đường qua Hongkong. Người đàn ông tưởng chừng vợ đã chết trên biển nhưng hơn ba tháng sau nhận được mấy lời nhắn tin viết vội bằng bút chì từ trại tỵ nạn Hongkong. Ông đưa miếng giấy nhàu với nét bút chì mờ cho tôi. Sau khi ông rời trại tỵ nạn, mất liên lạc, tôi chỉ còn giữ tấm giấy như một kỷ niệm quý hơn chục năm nay.

Ðó là lá thư thứ nhất ông nhận được. Tiếp theo là câu chuyện mất đứa con trai. Những lần giảng trong Thánh Lễ về tình nghĩa vợ chồng, tôi lại nghĩ đến ông.. Một người đàn ông cặm cụi tráng bánh để rồi ba tháng trời dành được 20 đô la gởi tiếp tế cho vợ. Không nghe ông oán trách sao vợ lại bỏ con của ông. Ông tâm sự với tôi là ông dự tính một ngày nào đó được đi định cư, dành dụm tiền rồi đi Trung Quốc dò hỏi tin con. Nghe ông nói vậy, tôi thấy ngao ngán. Bao giờ ông mới được định cư ? Rồi định cư xong, biết bao giờ ông mới thực hiện được mơ ước ? Tình trạng tỵ nạn lúc này quá bi đát. Mười người vào phỏng vấn may ra đậu được ba. Ðất Trung Quốc rộng mênh mông như thế biết đâu tìm ? Bao nhiêu khó khăn tuyệt vọng hiện ra trước mặt. Tôi thấy ý nghĩ mơ ước đi tìm con của ông như cây kim lặng lờ chìm xuống lòng đại dương.

– Tại sao không nhờ Cao Ủy Tỵ Nạn, nhờ Hội Chữ Thập Ðỏ Hongkong ?

Người đàn ông này sợ lên tiếng như thế gia đình Tầu kia biết tin sẽ trốn mất. Chi bằng cứ âm thầm tìm kiếm. Tôi thấy dự tính của ông khó khăn quá. Những năm làm việc bên cha Mỹ già, tôi biết một đặc tính của ngài là thương kẻ nghèo. Ngài thương họ vô cùng, ngài sẽ làm bất cứ gì có thể. Tôi đề nghị cha già cứ viết thư khắp nơi, kêu cầu bốn phương…

Những lá thư được viết đi. Ngài cầu cứu Cao Ủy Tỵ Nạn, Hội Hồng Thập Tự, cơ quan từ thiện dịch vụ tỵ nạn Công Giáo, từ Manila đến Bangkok, Thailand.

Ðợi chờ mãi mà năm tháng cứ bặt tin. Tôi vẫn thấy người đàn ông dáng điệu buồn bã ngồi bên đường tráng bánh. Trời nhiệt đới nắng và nóng, mỗi khi xe chạy qua, bụi đường bay mờ người. Hàng ngày lên Nhà Thờ, tôi lại hình dung bóng hình ông. Chỗ ông ngồi không xa tháp chuông Nhà Thờ bạc vôi sơn và vẳng nghe có tiếng chuông mỗi chiều.

Mỗi chiều dâng lễ, tôi lại nhìn thấy cây Thánh Giá trên nóc Nhà Thờ đã nghiêng vì gỗ bị mục. Cây thánh giá trải qua nhiều mùa mưa nắng quá rồi. Bức hình Mẹ Maria bế Chúa Hài Nhi trên tấm ván ép dưới cây Thánh Giá cũng bạc nước sơn. Những người tỵ nạn đã bỏ đi từ một vùng đất rất xa. Quê hương của họ bên kia bờ biển mặn. Nhiều người cứ chiều chiều ra biển ngồi. Ðêm về sóng vỗ ì ầm. Biết bao người đã không tới bến.. Họ đến đây tìm an ủi trong câu kinh.

Giữa tháng ngày cằn cỗi ấy, rồi một chiều bất ngờ tin vui đến.. Hội Hồng Thập Tự Hongkong báo tin về Manila. Manila điện xuống báo cho cha Crawford biết người ta đã tìm được cháu bé. Lúc bắt cháu bé, người Tầu trên ghe đánh cá kia đã lanh trí che tất cả số ghe. Không ngờ trời xui khiến, trong lúc thương lượng bắt cháu, trên chuyến ghe tỵ nạn Việt Nam có kẻ lại ghi được mấy chữ Tầu ở đầu ghe bên kia vào một chiếc áo. Không ngờ chiếc áo này lại là chính chiếc áo của cháu bé bỏ lại. Quả thật là chiếc áo định mệnh. Nguồn gốc nhờ mấy số đó mà sau này người ta mới phanh phui ra được gốc tích chiếc ghe. Ðó là một thuyền đánh cá ở đảo Hải Nam. Tìm được cháu rồi, bây giờ lại đến phần gia đình người Tầu đau khổ. Cháu không còn nói được tiếng Việt, vì hơn một năm liền sinh hoạt trong gia đình Tàu Hải Nam. Hồi bị bắt cháu còn bé quá, mới hơn ba tuổi. Bà mẹ người Tầu cũng khóc, biết mình sẽ mất đứa con mà họ đã nuôi. Họ nhất định không trả. Cao Ủy phải can thiệp nhiều lắm. Gia đình ở đảo Hải Nam kia dựa lý do là cháu đang được nuôi nấng tử tế, còn ở trại tỵ nạn cháu thiếu thốn đủ thứ, họ không chịu mất con. Nhưng Cao Ủy bắt phải trả cháu về cho bố mẹ ruột.

Ðể thỏa mãn điều kiện, Sở Di Trú Mỹ liền cho bà mẹ bị bắt con quyền định cư tại Mỹ, dù đã đến trại sau ngày thanh lọc. Trong lúc đó người đàn ông này đã bị Mỹ từ chối tại Philippines. Ông buồn lắm. Cha Crawford bảo tôi rằng vợ người đàn ông đã được vào Mỹ, nên cơ quan Cao Ủy Tỵ Nạn tại Philippines yêu cầu cho ông cũng được vào Mỹ theo. Vì nhân đạo, sở di trú Hoa Kỳ đồng ý. Tin vui đến như vậy mà ông cứ đứng như trời trồng, không tin chuyện có thể xảy ra như thế. Ngày trao trả cháu bé, báo chí Hongkong đăng hình cháu khóc thảm thiết. Cháu đẩy mẹ ruột ra, đòi về với mẹ nuôi. Người mẹ nuôi khóc vì thương nhớ cháu. Mẹ ruột cũng khóc vì thấy lại con mà con không nhận mình. Tất cả ai cũng khóc. Cao Ủy Tỵ Nạn bồi thường lại phí tổn nuôi nấng cháu bé cho gia đình người Tầu kia. Chuyến bay rời Hongkong mang theo bao tình cảm của con người với con người.

Thời điểm bấy giờ không biết bao chuyện thương tâm xảy ra. Hàng trăm ngàn người chết trên biển, ăn thịt nhau vì đói. Hải tặc Thái Lan tung hoành bắt người nhốt ngoài đảo, hãm hiếp, chặt răng vàng, giết hết để bịt miệng. Ðối với thế giới chuyện cháu bị bắt cóc chỉ là chuyện nhỏ. Vậy vì đâu họ ra sức đi tìm ?

Ðây là lý do:

Câu chuyện thương tâm của người mẹ mất con đến tai Mẹ Têrêsa Calcutta. Ấn Ðộ là thuộc địa cũ của người Anh. Mẹ Têrêsa viết cho chính phủ Anh xin can thiệp chuyện này. Từ London, chính phủ Anh xin Bộ Ngoại giao Bắc Kinh điều tra tìm chiếc ghe mang số như thế..

Bên ngôi mộ Mẹ Têrêsa ở Calcutta, ngày 14.5.2001 tôi kể chuyện này cho Sơ Bề Trên. Sơ yêu cầu tôi viết lại cho sơ làm tài liệu. Trong những ngày này, nhân viên Tòa Thánh đang ở Calcutta điều tra để xúc tiến hồ sơ phong thánh cho Mẹ Têrêsa.

Một Linh Mục ngồi nghe chuyện tôi kể, ngài nói:

– Tâm hồn Mẹ Têrêsa rất bao dung. Mẹ thương người nghèo. Mẹ là người của biên giới giữa sống và chết.

Nghe câu nói đó của cha. Tôi hiểu ý là Mẹ luôn đứng bên lề sự sống kéo kẻ chết về phía mình. ….

Nghe tiếng người đàn ông gọi. Quay lại nhìn, không ngờ chính người đàn ông mất con, ngồi tráng bánh ở trại Palawan ngày xưa, tôi mừng lắm. Sau lễ chiều, tôi tới nhà ông dùng cơm. Ông rời trại tỵ nạn Palawan tháng 6, lên Bataan rồi vào Mỹ tháng 12 năm 1990. Không ngờ mười năm sau tôi gặp lại.

Cháu bé bây giờ lớn rồi. Chuyện đã hơn cả chục năm qua. Cháu chẳng nhớ gì. Riêng cha mẹ thì nhớ lắm, nhất là những gì đau thương vì con cái thì trong trái tim cha mẹ không bao giờ quên. Còn tôi, đấy là một kỷ niệm đẹp trong những ngày làm việc bên trại tỵ nạn.

Không ngờ có ngày tôi gặp lại người đàn ông này. Không ngờ có ngày tôi ngồi bên mộ Mẹ Têrêsa trên đất Ấn. Một vùng đất rất xa với chỗ ngồi tráng bánh của người đàn ông mất con. Không ngờ tôi lại là kẻ chứng kiến những chuyện này, để rồi nối kết khung trời này với khung trời kia.

Không ngờ vào ngày Lễ Phục Sinh năm 1999 ông đã nhận lãnh Bí Tích Rửa Tội, nếu ông không đi lễ ở Nhà Thờ Oakland hôm đó, làm sao tôi gặp lại.

Tại vùng đất Vạn Ninh, chỉ có một ngôi Nhà Thờ nhỏ miền quê độc nhất.

Ðêm Noel năm 1985 sau khi đến Nhà Thờ về, em bé chào đời đúng ngày 25 tháng 12 năm 1985. Người đàn ông kể cho tôi ngày sinh nhật của em thật đặc biệt. Còn tôi, tôi thấy ngày em mới hơn ba tuổi phải hy sinh để cứu chuyến ghe là hình ảnh thế mạng sống chuộc thay cho người khác. Trong câu chuyện này cả ba người đàn bà đều có những tấm lòng rất đỗi đáng yêu. Người mẹ sinh cháu bé, bao yêu thương và xót xa. Mẹ Têrêsa với tấm lòng hiểu nỗi thương đau của những người mẹ. Bà mẹ nuôi người Tầu đã săn sóc em khi ông chồng đánh cá đem cháu về. Tất cả là tấm lòng bao dung của những bà mẹ.

Khi tôi viết dòng này, cha già Crawford đã chết rồi. Mẹ Têrêsa cũng chết rồi.

Ngày mai, giữa biên giới của sự sống và chết , còn những chuyện không ngờ nào sẽ xảy đến nhỉ ?

Người nghèo phải chết

Người nghèo phải chết

VienDongDaily.Com

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Đây là tiêu đề của một người dân, bạn Lê Phương đăng trên báo Người Lao Động ngày 5 tháng Một, 2015 vừa qua. Bài này phát xuất do một số quy định có hiệu lực từ đầu năm nay. Trong đó quy định về cắt giảm việc trả chi phí cho các loại thuốc có chi phí cao với những bệnh nhân có bảo hiểm y tế làm dấy lên một luồng dư luận vô cùng hoang mang lo ngại cho hầu hết những gia đình nghèo.
Quy định này của Bộ Y Tế VN có nhiều chi tiết nhưng có thể tóm tắt vài điểm chính:
Từ ngày 1/1/2015, một số thuốc ung thư mới, chi phí cao sẽ chỉ được quỹ bảo hiểm chi trả 50% thay vì 100% như trước đây, hoặc không được chi trả.
Bộ Y Tế vừa ban hành danh mục thuốc tân dược được Quỹ Bảo Hiểm Y Tế (BHYT) chi trả, gồm 845 hoạt chất, 1,064 thuốc tân dược; giảm cả về số lượng hoạt chất và thuốc được chi trả so với danh mục hiện nay. Danh mục thuốc được BHYT chi trả hiện hành có 900 hoạt chất với 1,143 thuốc.
Ông Phạm Lương Sơn, trưởng ban thực hiện chính sách BHYT, Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam cho biết, danh mục thuốc BHYT lần này có tổng số lượng thuốc ít hơn vì bỏ bớt một số loại.
Số thuốc bị giảm chi từ quỹ gồm 4 loại, giảm từ chi trả 100% chi phí xuống còn 30-50%. Đây đều là các thuốc giá rất cao mà hiệu quả điều trị chưa được chứng minh rõ ràng. Trong số này có thuốc điều trị viêm gan siêu vi C phải giảm chi từ 100% xuống còn 30%. Ước tính nếu dùng thuốc này phải mất 90,000 tỷ đồng mỗi năm để chi cho đủ nhu cầu điều trị của bệnh nhân, trong khi thu quỹ cả năm 2014 mới được khoảng 53,000 tỷ đồng. Sắp tới Bộ Y tế sẽ ban hành tiếp danh mục thuốc Đông y được quỹ bảo hiểm thanh toán.

Tại sao người nghèo phải chết?

Không phải tất cả bệnh nhân đang dùng thuốc mới, giá cao đều có thể đổi sang dùng thuốc thông thường. Vì thế, với không ít người mắc bệnh hiểm nghèo, sự thay đổi này thực sự là một gánh nặng. Bởi nếu không được chữa trị với những loại thuốc thường dùng họ sẽ phải chết. Mời bạn đọc bài “tâm sự” của người dân.
– Bạn Lê Phương viết: “Tôi nhớ một bác già nằm vắt tay lên trán, chép miệng: “Mấy ổng ban hành chính sách như vậy chẳng khác nào ép người nghèo phải chết”.
Ba tôi nghỉ hưu đã 6 năm. Chưa kịp an hưởng tuổi già bên con cháu thì ông mắc phải căn bệnh quái ác: ung thư gan. Sau 2 lần phẫu thuật rồi hóa trị, xạ trị bệnh tình vẫn không thuyên giảm.
May mắn thay, gần đây bệnh viện thay đổi phác đồ điều trị và hiệu quả thấy rõ. Ba tôi đã ăn được, ngủ được, da dẻ hồng hào, khối u gom lại còn bằng 1/2 lúc trước.
Nếu không có bảo hiểm y tế chi trả các khoản chi phí điều trị căn bệnh hiểm nghèo này, ba tôi chắc đã theo ông, theo bà.

Tổng Cục Hải quan vừa bắt 1 lô hàng thiết bị y tế quá đát nhập vào Việt Nam. (Báo Tiền Phong)
Ấy vậy mà ngay trong Đêm Giáng sinh an lành, ba tôi nhận được tin sét đánh: Từ ngày 1-1-2015, loại thuốc đang điều trị cho ba tôi nằm trong danh sách 28 loại thuốc mới, đắt tiền sẽ thay đổi phương thức chi trả từ bảo hiểm y tế. Thay vì được thanh toán 100% như trước thì nay chỉ được chi trả tối đa 50%.
Hay tin này, ngay tối đó ba tôi đã không ăn uống rồi không ngủ được. Hôm sau ông bảo mẹ tôi về lấy quyển sổ tiết kiệm đem vào bệnh viện cho ông kiểm tra. Sau gần 40 năm làm việc, cống hiến, ba tôi dành dụm được 500 triệu đồng. Đây là khoản tiền “dưỡng già” như cách ba tôi hay nói vui.
Ông bảo: “Tao với mẹ mày có lương hưu, có bảo hiểm y tế; tụi bây khỏi lo. Tiền tiết kiệm này thì để dành đi du lịch và lo hậu sự”. Đó là nói chuyện trước kia, còn từ khi phát hiện bệnh hiểm nghèo, ba tôi không còn lạc quan như trước. Ông luôn miệng nói: “May mà có bảo hiểm y tế, nếu không chắc chỉ còn biết nằm chờ chết chứ tiền đâu mà chữa trị? Bởi vậy người ta mới gọi là bệnh nan y…”.
Ấy vậy mà mấy hôm nay niềm hi vọng sống vốn đã mong manh của ba tôi lại càng lay lắt như ngọn đèn trước gió. Ông nói quả quyết: “Nằm bệnh viện tới 31-12 thì về. Trước sau gì cũng chết, tốn kém làm gì?”. Ông không chỉ quyết định như vậy mà còn “rủ rê” mấy người bạn chung phòng “về nhà chờ chết”. Tôi nhìn hoàn cảnh của những người kia mà không khỏi áy náy trong lòng.
Họ đều là người hưởng lương hưu, là dân nghèo hoặc cận nghèo. Tiền mua thẻ bảo hiểm y tế phải trông chờ nhà nước hỗ trợ, vậy thì lấy đâu để “đồng chi trả” một khoản chi phí cao ngất ngưởng như vậy?
Chợt nhớ mục đích của chính sách bảo hiểm y tế là “người khỏe san sẻ cho người bệnh”. Những năm qua, hẳn là số người khỏe lớn hơn người bệnh gấp nhiều lần nên mới có khoản kết dư bảo hiểm y tế 20.000 tỉ. Ấy vậy mà các quan chức bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế lại lo vỡ quỹ nên không dám chi và còn đổ thừa qua lại.
Biết làm sao được. Chỉ còn mong cho toàn dân khỏe mạnh để những người rủi ro bệnh tật sẽ được cứu sống từ sự chung sức của cộng đồng. Nếu không thì chắc chắn những người nghèo mắc bệnh nan y sẽ phải chết dù y học có phát triển đến đâu!”
Lá thư này đã cho bạn biết rõ tại sao người nghèo phải chết.

Chuyện ở Mỹ và ở VN

Tất nhiên tôi không dại gì đi so sánh nền văn minh nhân loại hay nói gọn hơn là sự chăm sóc người dân giữa Mỹ và VN. Đây chỉ là câu chuyện nhỏ.
Tôi nhớ có lần nói chuyện qua điện thoại với ông bạn ở Virginia, ông hỏi tôi hồi này cuộc sống thế nào. Tôi thành thật trả lời ngay, “Bây giờ tôi già rồi, từ ngày tôi bị CA sờ gáy, chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày đã có ông chủ báo ở Úc cũng là bạn cùng làm báo và là đồng đội từ những ngày xa xưa lo cho từ A đến Z đến khi tôi chết hoặc ông ấy ra đi. Tôi chỉ còn lo mỗi chuyện khi phải vào bệnh viện (BV). Bắt buộc phải có một khoản tiền để sẵn, ở đây vào BV không có tiền chỉ có nước nằm đầu hè chờ chết.”
Ông bạn tôi kể chuyện ở Mỹ, vào BV là “nó” lo cho rất kỹ, có khi còn lo hơn cả điều mình mong muốn. Bởi “nó” tính tiền cho nhà nước Mẽo trả chứ tụi tôi đâu có mất xu nào.
Tôi kể tiếp rằng tôi không mua bảo hiểm, và cũng căn dặn người nhà rất kỹ dù gần chết cũng không đưa tôi vào BV công. Vì có mua bảo hiểm cũng như không, còn gặp nhiều phiền toái. Cụ thể như bà Thụy Vũ, có thẻ bảo hiểm nhưng đến khi về Sài Gòn chữa bệnh không dám đưa thẻ bảo hiểm ra vì thứ nhất phải chờ dài người mới được khám, thứ hai là uống loại thuốc rẻ tiền, còn lâu mới hết bệnh. Đấy là chưa nói đến những chuyện khác như máy móc thuộc loại hàng giả, hàng “đểu”, tay nghề kém nên có nhiều bệnh nhân khám không ra bệnh hoặc đi hai ba bệnh viện đều cho kết quả khác nhau.
Một vấn đề nhức nhối hơn đó là y đức của một số không nhỏ bác sĩ (BS) tại VN. Tôi không nói là tất cả các BS VN đều kém y đức, vẫn còn có những “lương y như từ mẫu” như tôi đã tường thuật trong bài “Buồn Vui Ở Bệnh Viện” ngày 11 tháng 5, 2012, nhưng một số không ít những BS và y tá đã “nhiễm” cái thói quen có phong bì thì săn sóc đến nơi đến chốn, còn không phong bì thì à ơi ví dầu cho xong chuyện. Mời bạn đọc vài “chuyện vặt” sau đây để hiểu rõ những gì đã và đang xảy ra với các BV ở VN.
Tôi chỉ nêu 3 vấn đề chính:

Máy xịn của Mỹ, Nhật trùm mền, xài máy TQ trôi nổi

Sở Y Tế tỉnh Đồng Nai vừa có kết luận các sai phạm trong việc quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế (TBYT) và công tác dược đối với BV huyện Xuân Lộc (Đồng Nai). Theo đó có hàng loạt sai phạm tại bệnh viện (BV) này như không dùng máy được Nhà nước trang bị mà sử dụng máy trôi nổi, đã qua sử dụng của Trung Quốc; giao cho người không đủ điều kiện bán thuốc gây nghiện, thả nổi việc quản lý dược…
Theo kết luận, tháng 5-2012, BV Đa khoa Xuân Lộc được trang bị, đưa vào sử dụng máy xét nghiệm 2000i do Nhật sản xuất. Hai tháng trước khi đưa máy vào sử dụng, công ty Nguyễn Tùng (đơn vị cung cấp máy) trúng thầu cung cấp hóa chất xét nghiệm dùng cho máy này. Tuy nhiên, BV chỉ sử dụng máy ba tháng rồi ngưng với lý do đưa ra là BV không có hóa chất.
Với lý do “không có hóa chất” nên không xài máy “nhà nước”, Sở Y tế chỉ rõ: Trước khi máy hoạt động, đơn vị cung cấp máy đã trúng thầu hóa chất sử dụng cho máy. Năm 2013, Công ty Kỹ thuật thiết bị y tế Tân Hồng Bảo trúng thầu hóa chất xét nghiệm, cũng có hóa chất sử dụng cho máy trên. Cuối năm 2013, khoa Dược của BV xuất hóa chất xét nghiệm cho chiếc máy (trị giá gần 52 triệu đồng). Vì vậy BV cho rằng không có hóa chất nên không sử dụng máy là không hợp lý.
Cũng năm 2012, BV được trang bị một máy xét nghiệm tự động XL 640 do Nhật sản xuất và máy hoạt động bình thường. Tuy nhiên, từ khi đưa vào sử dụng đến tháng 10-2014, BV không sử dụng cũng với lý do… không có hóa chất. Trong khi loại hóa chất sử dụng cho máy thì BV vẫn mua!
Tương tự, năm 2007 phòng sinh hóa của BV được cấp một máy xét nghiệm do Mỹ sản xuất nhưng đến năm 2012 thì cho đắp chiếu với lý do chuyển sang sử dụng máy tự động.
Đối với thiết bị hệ thống tán sỏi ngoài cơ thể bị “trùm mền” từ tháng 11-2012 đến nay, máy do Sở Y tế làm chủ dự án cung cấp cho bệnh viện trong khi bệnh viện chưa có phòng bảo đảm đủ điều kiện về an toàn bức xạ nên phải để tạm ở chân cầu thang.
Ngoài ra, bộ phẫu thuật nội soi mũi xoang được bệnh viện mua về từ năm 2007 nhưng sử dụng không hiệu quả vì trước khi mua sắm, bệnh viện chưa có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật cho viên chức bệnh viện, chưa thực hiện đúng công năng của thiết bị nên hiệu quả phục vụ điều trị chưa cao. Nói thẳng ra là các viên chức này chưa biết cách sử dụng máy nên… nhắm mắt làm liều để kiếm tiền của người bệnh.

Công ty Bio-Rad của Mỹ hối lộ $2.2 triệu USD cho các quan chức chính phủ Việt Nam

Theo hồ sơ của Ủy ban Chứng khoán Mỹ và Bộ Tư pháp nước này, Bio-Rad là nhà cung cấp các thiết bị xét nghiệm và chẩn đoán y tế nổi tiếng tại Mỹ, đã thừa nhận đã hối lộ $7.5 triệu USD cho quan chức y tế các nước Nga, Thái Lan và cả Việt Nam. Số tiền để bôi trơn tại VN được cho là $2.3 triệu USD và đổi lại họ có được doanh số đạt hơn $23 triệu USD.
Hồ sơ điều tra từ năm 2005- 2009, Bio-Rad Văn phòng tại Việt Nam có hàng loạt hợp đồng bán thiết bị với giá mỗi hợp đồng từ $100,000 USD- $200,000 USD và mỗi hợp đồng có được họ phải chi “hoa hồng” khoảng $20,000 USD.
Sự việc bị phát lộ khi giám đốc Bio-Rad Singapore nhận thấy đại diện Văn phòng tại Việt Nam đã đi ngược lại với chuẩn mực đạo đức kinh doanh bị cấm của Bio-Rad nhưng theo tờ BBC, đại diện của Bio-Rad tại Việt Nam cho rằng “nếu không bôi trơn họ sẽ mất trên 80% doanh số”.
Được biết văn phòng Bio-Rad tại Việt Nam đưa số tiền $2.2 triệu USD thông qua một đơn vị trung gian để hối lộ lại cho các quan chức bệnh viện. Vụ việc sẽ làm sáng tỏ khi Bộ Công An vào cuộc.

Nhiều hình thức hối lộ tinh vi trong lĩnh vực y tế

Tài trợ tiền, mời bác sĩ dự hội thảo quốc tế, hoa hồng qua hóa đơn… những cách hối lộ trong lĩnh vực y tế được Phó chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Nguyễn Văn Tiên nêu ra trong cuộc phỏng vấn sáng 6/11.
Ông Tiên nói: Năm ngoái, Trung Quốc đã xử phạt một công ty của Mỹ mấy trăm triệu USD vì tội hối lộ mà họ chấp nhận chịu phạt. Còn trường hợp này ở ta (VN), hiện nay phải xác định là họ hoạt động trong lĩnh vực nào: thuốc, hóa chất hay thiết bị y tế… Tôi nghĩ là trong 5 năm hối lộ $2.2 triệu USD, có lẽ còn quá nhỏ.
Thực tế nhiều năm nay, chi hoa hồng cho bác sĩ kê đơn thuốc là chuyện phổ biến. Đây là một vấn đề rất lớn. Ở các nước như Mỹ thì họ kiểm soát ngay từ các công ty, xem danh sách chi hoa hồng, chi cho những ai do đó mới phát hiện được. Ta cũng muốn kiểm soát nhưng rất khó. Tôi mong là qua đợt này, chúng ta sẽ phát hiện được xem ở lĩnh vực nào, dược hay thiết bị y tế.
Họ có thể tài trợ dưới hình thức mời đi nước ngoài tham dự hội thảo, cộng vào là có thể thành mấy triệu đôla. Ví dụ, hãng tài trợ cho mấy trăm bác sĩ đi dự hội thảo, mỗi người vài nghìn đôla cộng lại đã thành một khoản lớn. Hình thức hối lộ rất khó, vấn đề phát hiện ra như thế nào. Nhiều nơi có tình trạng chủ yếu trả hoa hồng qua đơn thuốc rất tinh vi.
Tôi nghĩ là những công bố của cơ quan điều tra ở nước ngoài như vậy sẽ khó với chúng ta. Nhưng đây cũng là một dịp tốt cho Việt Nam tìm cách đưa giá thuốc, giá trang thiết bị y tế về giá thực mà không bị chi phối bởi những khoản hoa hồng rất khó kiểm soát.
Tôi rất muốn Quốc hội ban hành luật Đấu thầu, trong đó có mục riêng cho đấu thầu cung ứng thuốc và thiết bị y tế để kiểm soát. Nhưng cũng rất vất vả vì thực tế này tồn tại ở nhiều nước.
Có hàng mấy chục công ty nước ngoài đầu tư trang thiết bị y tế và bán thuốc ở Việt Nam. Chỗ nào cũng có hoa hồng, vấn đề là làm thế nào để phát hiện được, rất khó.
Ở đây là vấn đề y đức, sự tự giác, quản lý của cơ quan cán bộ, bác sĩ đó.
Ví dụ mời đi hội thảo, ta không phát hiện được. Họ có cơ chế trả hoa hồng rất tinh vi, không qua tài khoản, ngân hàng…
Ngoài ra, Cục Điều tra chống buôn lậu – Tổng Cục Hải quan đã phá đường dây chuyên nhập khẩu thiết bị y tế quá đát của Công ty Kĩ thuật Thiết bị Y tế Bảo Trân (Công ty Bảo Trân, ở số 19, 180/2, đường Trần Duy Hưng, Hà Nội). Theo kết quả giám định ban đầu, toàn bộ số thiết bị y tế nhập khẩu gồm máy soi dạ dày, máy scan phim X Quang và các phụ kiện đi kèm của có xuất xứ từ Nhật Bản, Trung Quốc, Mexico đã bị thải ra do không còn giá trị sử dụng. Hiện cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc.

Tốn hàng tỉ USD đi nước ngoài chữa bệnh

Chỉ cần nhìn qua vài sự kiện trên bạn còn thể tin tưởng gì vào những thiết bị y tế để khám chữa bệnh của BV tại VN được không? Vì thế bạn đọc hiểu rõ hơn tại sao tôi căn dặn người nhà có chết cũng không đưa tôi vào BV công. Còn một số lớn các “đại gia, đại quan” cứ mắc bệnh là đi Singapore, đi Mỹ chữa bệnh. Mỗi năm chảy ra nước ngoài hàng tỉ đồng chứ không ít.
Theo thống kê, hiện cả nước VN có khoảng 170 bệnh viện tư nhân với vốn đầu tư hàng chục ngàn tỷ đồng (chưa kể hệ thống bệnh viện công xuống tới cấp huyện). Tuy nhiên, theo Bộ Y tế, hằng năm người Việt vẫn đem hơn 2 tỷ USD ra nước ngoài chữa bệnh
Có những câu chuyện khiến ngay cả người vai vế trong xã hội cũng phát khóc khi phải chịu đựng lối ứng xử hống hách của một số bác sĩ tại bệnh viện của giới nhà giàu. Không ít bệnh viện gắn sao được xây to, trang bị hiện đại, nhưng cung cách ứng xử vẫn hống hách, coi thường bệnh nhân.

Dài cổ chờ mua thuốc ở bệnh viện

Gần xế chiều, các nhà thuốc tại các bệnh viện ở TP Sài Gòn vẫn đông nghịt bệnh nhân chờ đợi. Nhiều người ở tỉnh xa trót hẹn xe đến đón buộc phải dời lại giờ, số khác ngại mất thời gian đã chấp nhận ra ngoài mua.
Nguyên nhân gây quá tải nhà thuốc là do quá tải tải bệnh viện dẫn đến người mua thuốc nhiều. Trong khi đó mỗi bệnh viện chỉ có một nhà thuốc.
Nhà thuốc Bệnh viện Nhân dân Gia Định, dù không phải là ngày đầu tuần, số bệnh nhân đến khám không quá đông, nhưng đến gần 11 giờ vẫn ngập người ngồi đợi.
Khu vực cấp thuốc bảo hiểm y tế, có khoảng 100 người ngồi chờ đến lượt. Khu bán thuốc cạnh đó cũng đông người chờ. Cảnh chờ đợi mua thuốc kéo dài gần đến xế chiều mới vơi dần.
Chờ mệt mỏi, nhiều bệnh nhân bỏ bảo hiểm khám dịch vụ
Người dân xếp hàng dài đợi chờ, mệt mỏi với các thủ tục hành chính rườm rà, nhiều người đành bỏ bảo hiểm sang khám dịch vụ khiến khu dịch vụ của các bệnh viện đông lại càng đông. Gần nửa tháng áp dụng Luật Bảo hiểm y tế (BHYT), tình hình quá tải tại các bệnh viện tuyến trên không những vấn tiếp diễn, mà phía người bệnh còn chật vật hơn khi đi khám chữa bệnh
Đông nhất là Bệnh viện Bạch Mai, người đến khám bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) chen nhau chật kín quầy tiếp đón. Bác Trịnh Văn Quân, trú tại quận Hoàng Mai than thở: “Đi bệnh viện thời nay mà như đi xếp hàng thời bao cấp vậy, chờ đợi sốt ruột vẫn chưa đến lượt mình. Càng ngày tôi càng phải chờ đợi lâu hơn”.
Sự đông đúc này khiến nhiều người đành phải bỏ BHYT để khám dịch vụ. Do đó, tại khu khám dịch vụ của các bệnh viện, số bệnh nhân rất đông.
Còn ở TP. Sài Gòn, tại Bệnh viện Thống Nhất và Bệnh viện Chợ Rẫy, 2 đơn vị thí điểm được Bộ Y tế chọn để thục hiện việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế cũng vẫn có nhiều bệnh nhân phải than phiền vì chờ đợi.
Đến đây bạn đọc lại có thể thông cảm với người dân Việt về nỗi khổ của cái bảo hiểm y tế và nỗi sợ hãi thế nào khi phải vào bệnh viện công ở VN.
Đề tài này còn khá dài, tôi sẽ có dịp tường thuật với bạn đọc vào một kỳ báo sau.

Văn Quang

(9 tháng Một, 2015)

“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về”,

“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về”,

Gọi hồn liễu rủ lê thê, gọi bờ cát trắng đêm khuya.

(Trịnh Công Sơn – Biển Nhớ)

(Thư Do thái 4: 7-13)

Trần Ngọc Mười Hai

Ngày em đi, phải chăng là đi ra biển để đến nỗi biển vẫn nhớ? Nhớ đến độ, người viết nhạc họ Trịnh, lại cứ đong đưa những điệu nhạc phải nghe tiếp kẻo quên sót, như sau:

“Ngày mai em đi, đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ
Sỏi đá trông em từng giờ, nghe buồn nhịp chân bơ vơ
Ngày mai em đi, biển nhớ em quay về nguồn
Gọi trùng dương gió ngập hồn, bàn tay chắn gió mưa sang
Ngày mai em đi, thành phố mắt đêm đêm mờ
Hồn lẽ nghiêng vai gọi buồn, nghe ngoài biển động buồn hơn.

Hôm nào em về, bàn tay buông lối ngõ
Đàn lên cung phím chờ sầu lên dây hoang vu”.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Người viết nhạc đầy hồn thơ, thì viết thế. Chứ, người làm thơ đầy hồn nhạc, lại sẽ diễn-tả như sau:

“Mai tôi đi… chẳng có gì quan trọng,
Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,
Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,
Chuyện bé nhỏ giữa giòng đời động loạn…
Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,
Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,
Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,
Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.
Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết…
Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.
Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,
Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi…
Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,
Để đi vào ranh giới của âm dương,
Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,
Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…
Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả,
Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,
Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,
Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…
Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ,
Đừng vòng hoa, phúng điếu hoặc phân ưu,
Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu.
Gây phiền toái, nợ thêm người còn sống…
Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng,
Đến trần truồng và đi vẫn tay không.
Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng,
Nay rũ sạch… lên bờ, thuyền đến bến…
Nếu tưởng nhớ..Xin âm thầm cầu nguyện,
Nên xem như giải thoát một kiếp người,
Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,
Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…

Thơ và nhạc, mà lại nói về “cõi hết” cũng rất buồn. Dù bạn dù người “ra đi” có khyên bảo “xin đừng khóc”. Có khóc hay không, đời mình vẫn thế. Cũng vì vẫn như thế, nên có người viết lại đã vội vang đề nghị những lời như sau:

“Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta lang thang trong sân trường khuôn viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già !

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc vì qua một ngày, chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một ngày. Vui một ngày…rồi không biết được bao nhiêu ngày nữa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xảy ra trong đời sống.

Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm “ Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời nhàn”…

Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người nhưng tiền không phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền và cũng đừng lệ thuộc vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta sống, làm sao để được thoải mái.

Ta vẫn biết khi ta ra đời ,ta đâu có mang nó đến và khi ra đi, chúng ta cũng không mang nó theo. Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình. Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quảng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú .

Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.

Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rỗi đi làm những việc từ thiện xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già

Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ. Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ chất bổ dưởng, quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “ Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa”. Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.

Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghĩ đến đồng tiền, đừng nghĩ đến giàu hay nghèo nữa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều tiền. Đừng nói ta không có tiền. Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẩu của chúng ta.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Cuối tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó là những niềm vui trong cuộc sống cuả tuổi già. (Dodom ST sư tầm và chuyển cho mọi người đọc trên mạng)

Đọc trên mạng, hay đọc trong cuộc đời, vẫn có những điều mình chưa được biết trọn gói hay trọn vẹn. Đọc trên mạng hoặc đọc trên thư từ bạn bè gửi, lại cũng có những điều chỉ nói một nhưng hiểu nhiều. Cũng tựa hồ như chuyện nhà Đạo có những Tin vui mừng lâu nay tưởng chừng như đã quen quen, dù được “chia sẻ” mỗi Chúa nhật, suốt một đời, thế mà cứ tưởng như rất mới. Mới như câu chuyện được đề cập ở bên dưới:

“Cô bé và cậu bé là hàng xóm từ thuở nhỏ. Trò chơi thuở bé của hai đứa trẻ là chạy ra bờ sông nghịch, lấy đất nặn thành hình búp bê. Khi khuôn mặt cậu bé nhem nhuốc đầy buồn đất, cô bé sẽ khẽ dùng tay áo quẹt đi những vết bẩn trên mặt cậu. Và cậu bé sẽ nhoẻn miệng cười cảm ơn cô bé. Lúc đó, khuôn mặt của hai đứa trẻ trông còn đáng yêu hơn cả những con búp bê mà chúng nặn ra.

Cô bé vốn hay khóc nhè. Một con sâu nhỏ cũng có thể làm cô bé khóc thét vì sợ hãi. Những lúc đó, cậu bé sẽ dẫm chết con sâu, rồi làm ra vẻ người lớn dỗ dành cô bạn nhỏ.

Cô bé vẫn thút thít không ngừng. Cậu bé không biết nên làm thế nào, rút từ trong túi quần ra một đồng xu nhỏ mà khi đứng đợi cô bé đã nhặt được trên đường. Cậu bé đặt đồng xu nằm trong lòng bàn tay để trước mặt cô bé.

“Em xem này, đây là đồng xu anh nhặt được trên đường lúc nãy. Hai mặt của nó không giống nhau đâu. Bây giờ anh tung nó lên, nếu lúc rơi xuống nó vẫn là mặt này, thì em không được khóc nữa. Còn nếu là mặt kia thì anh sẽ khóc cùng với em có được không?”.

Cô bé dụi mắt, nhìn đồng bạc sáng loáng trước mặt lạ lẫm hiếu kỳ, rồi ngước lên nhìn cậu bé gật đầu mếu máo. Cậu bé khẽ tung đồng xu vào không trung. Đồng xu lật mấy lần, rồi trở lại lòng bàn tay cậu bé. Cô bé tò mò vội gỡ những ngón tay bụ bẫm của cậu bé. Vẫn là mặt lúc nãy của đồng xu. Hai đứa trẻ nhoẻn miệng cười thật to. Cô bé không khóc nữa. Chúng chạy ra bờ sông nặn búp bê bằng đất.

Tuổi thơ của hai đứa trẻ trôi qua trên những cánh đồng bát ngát, những buổi đi bắt chuồn chuồn bên bờ ao và thả thuyền giấy trên con kênh nhỏ. Cả hai cùng bước vào tiểu học. Những lúc không có người bạn thời thơ ấu bên cạnh, cô bé vẫn thường bị những đứa bé trai cùng lớp trêu đùa bắt nạt. Cô bé khóc nhè cả quãng đường về nhà. Đợi đến khi cậu bé về, đồng tiền xu ngày trước lại xoay vòng trên không trung để quyết định tất cả. Hai đứa trẻ lại nhoẻn miệng cười rồi đi tìm trò chơi thuở bé.

Thời gian lại trôi nhanh qua những bài hát đồng dao thuở học trò. Hai đứa trẻ học lên trung học. Cậu bé cho dù ham chơi đến đâu cũng vẫn có thể tính ra những đáp số chính xác nhờ công thức được học. Thầy giáo luôn khen cậu là một học sinh thông minh.

Còn cô bé, cho dù có cố gắng đến đâu cũng không thể hiểu được rằng, khi X và Y có quan hệ, Y và Z có quan hệ, thì X và Z nhất thiết phải có mối quan hệ nào đó. Sau mỗi lần trả bài kiểm tra, cô bé lại nằm bò ra bàn và khóc, nước mắt rơi ướt nhòe cả khung điểm kém. Cậu bé lại rút đồng xu từ trong túi ra và tung vào không trung. Vẫn quy định cũ. Cô bé không khóc nữa, ngoan ngoãn ngồi nghe cậu bé giảng giải những chỗ không hiểu, những công thức toán học, những định luật vật lý mà cô không nắm vững. Điểm số của cô không còn thấp dưới 5.

Thời gian lại trôi theo những tháng ngày bận rộn, những kỳ thi cuối cấp. Khoảng trời đại học mở ra trước mắt hai người bạn. Cuộc sống thời đại học an nhàn tự tại. Tuổi thanh xuân với những tình cảm lứa đôi ngây thơ trong sáng in dấu từng góc sân trường. Chàng trai và cô gái kết thành một đôi kim đồng ngọc nữ trong sự ngưỡng mộ của biết bao nhiêu người. Tình yêu chân thành và bình lặng trong từng khoảnh khắc. Cô gái vẫn hay mau nước mắt. Và chàng trai vẫn luôn giữ đồng xu thuở bé bên mình.

Trong một trận đấu bóng chuyền của trường, chàng trai tham gia cùng vài người bạn. Cô gái đứng trên hàng ghế khán giả, cầm áo khoác cho anh và không quên reo hò cổ vũ. Cuối trận đấu, chàng trai cảm thấy khá mệt, mồ hôi vã ra trên trán. Anh lảo đảo bước về phía khán đài. Mọi thứ trước mắt bất chợt trở nên mơ hồ như qua một làn khói ảo.

Khi còn chưa bước được tới trước mặt người yêu dấu, anh cảm thấy một luồng khí nóng trào qua lồng ngực. Rồi máu từ mũi chảy xuống. Chàng trai ngã xuống trước ánh mắt hốt hoảng của cô gái cùng sự ngạc nhiên của bao người đứng đó.

Bác sĩ cho biết chàng trai bị ung thư máu. Trái tim cô gái vốn nhỏ bé mềm yếu lại như vỡ ra từng mảnh. Khi lần đầu tiên đến thăm anh trong bệnh viện, khi lần đầu tiên nhìn khuôn mặt thân thương của anh nhợt nhạt mệt mỏi, cô không nén nổi xúc động, ôm lấy anh và òa khóc. Những giọt nước mắt rớt vội trên bờ môi anh, ấm áp và mặn chát.

Anh cố gắng với tay lấy từ dưới gối đồng xu mà năn nỉ mãi bác sĩ mới cho giữ lại.

-Em nhìn này, đây là cái gì?”.

Cô gái lấy tay quệt nước mắt, nhìn đồng xu thân thương. “Vẫn quy tắc cũ nhé. Nếu là mặt này, em không được khóc nữa. Còn nếu là mặt kia, anh sẽ khóc cùng em có được không?”

Cô nhìn người con trai thân yêu đang nằm đó. Anh đang cố gắng dỗ dành cô. Bao năm rồi vẫn vậy, anh chưa từng dửng dưng trước giọt nước mắt của cô. Và cô cũng chưa từng lắc đầu mỗi khi anh lấy đồng xu nhỏ ra.

Chàng trai run rẩy tung đồng xu lên không trung. Đồng xu lại xoay vòng lóe sáng rồi rơi xuống lòng bàn tay anh. Vẫn là mặt “không được khóc nữa”. Chàng trai cố gắng mỉm cười kéo cô gái vào lòng dỗ dành như thời thơ ấu. Nước mắt anh chảy xuôi theo nụ cười.

Đám tang anh, mọi người đến dự trong bao đau buồn và tiếc nuối. Cô tiễn anh không một giọt nước mắt. Mọi người nghĩ cô thật cứng rắn. Nhưng họ không biết, trái tim cô đang vỡ vụn. Và nước mắt cô không thể rơi cho anh được nữa.

Ba mẹ anh gửi cho cô một chiếc hộp nhỏ nói là món quà cuối cùng của anh muốn dành tặng cô. Cô run rẩy mở chiếc hộp của anh. Bên trong là một tờ giấy nhỏ với dòng chữ: “Đừng khóc nữa người mà anh yêu suốt đời”, và một đồng tiền xu sáng bóng.

Đồng tiền xu quen thuộc đã theo hai người từ thời thơ ấu. Cô cầm đồng tiền lên, lần đầu tiên mới nhìn kỹ nó. Nước mắt cô chợt trào ra. Đồng tiền xu rơi xuống đất xoay vòng lóe sáng. Hai mặt của nó vốn dĩ không hề khác nhau…” (Lính thủy sưu tầm)

Sưu tầm chuyện ngắn, đâu cứ chỉ mỗi anh lính thủy còn làm việc ấy. Sưu tầm chuyện nhà Đạo, hẳn bạn và tôi, ta vẫn cứ sưu và cứ tầm, rồi ra sẽ nhận được quà tặng như lời dặn sau đây:

“Ngày hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Chúa, thì chớ cứng lòng.

Thật vậy, nếu ông Giôsuê đã cho họ được yên nghỉ,

thì sau đó, Thiên Chúa đã chẳng nói đến một ngày khác nữa.

Như thế, Dân Thiên Chúa còn có thể được nghỉ

như Thiên Chúa nghỉ ngày thứ bảy,

vì ai đã vào chốn yên nghỉ của Thiên Chúa,

thì cũng đã nghỉ sau khi làm xong công việc của mình,

như Thiên Chúa đã nghỉ sau khi làm xong công việc của Người.

Vậy, chúng ta hãy cố gắng vào chốn yên nghỉ này,

kẻo có ai cũng theo gương bất tuân đó mà sa ngã.

Lời Thiên Chúa là lời sống động,

hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi:

xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ;

lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người.

Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa,

nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.”

(Thư Do thái 4: 7-13)

Hiểu thế rồi, bạn và tôi, ta cứ hiên ngang hát lời buồn nhưng không bực, có ca-từ như sau:

“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về,
Chiều sương ướt đẫm cơn mê,
Trời cao níu bước sơn khê.
Ngày mai em đi, cồn đá rêu phong rũ buồn,
Đèn phố nghe mưa tủi hồn, nghe ngoài trời giăng mây luôn.
Ngày mai em đi, biển có bâng khuâng gọi thầm,
Ngày mưa tháng nắng còn buồn, bàn tay nghe ngóng tin sang.
Ngày mai em đi, thành phố mắt đêm đèn vang,
Nửa bóng xuân qua ngập ngừng, nghe trời gió lộng mà thương”.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

“Nghe trời lộng gió mà thương”. Vâng. Đúng thế. Hôm nay và mai ngày dù trời có lộng gió hay không, ta cứ thương. Thương, như lời người kể truyện ở bên dưới làm đoạn kết cho buổi phiếm luận, rất hôm nay.

“Truyện rằng:

Ngày lễ hội hôm ấy, hai người bạn thân gặp nhau sau một thời-gian xa cách, ít có dịp tâm sự đôi điều về nhân-sinh cuộc đời, vui buồn lẫn lộn. Trò chuyện một hồi lâu, chợ ngu72i này hỏi:

-À này, mối tình của cậu với “con nai vang ngơ ngác” khi xưa bây giờ ra sao?

-Hết rồi cậu ạ! Lâu lắm rồi, chẳng thấy “nai vang” nào còn ngơ ngác hết, mà chỉ là…

-Chỉ là làm sao?

-Chỉ là “muông thú quen gầm, ở Hà Đông thôi!

-Ấy chết! Sao lại là sư tử Hà Đông được?

-Chữ đó là do cậu nói đấy, chứ không phải của tớ đâu nhé. Liều mồm mà ăn nói, kẻo chết không kịp ngáp cho mà coi.

-Tớ chết từ lâu rồi, cậu ạ. Nưng, chỉ là chết trong lòng một chút ít, thôi…”

Chết trong lòng một ít hay rất nhiều, vẫn là sống như đang chết. Là, thứ chết rồi nhưng vẫn còn ngáp. Ngá ngáp, chứ chẳng chơi. Đó là cuộc đời, của bạn và của tôi, rất hôm nay.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn luôn chết trong lòng một ít

Suốt nhiều ngày

Trong đời.