Cái mặt Việt Nam!

Cái mặt Việt Nam!

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Đã có lần bạn là người khách quý đến Honolulu, tại phi trường được một thiếu nữ xinh đẹp tươi tắn, choàng cho một vòng hoa sứ với câu chào Aloha cùng một nụ cười thân thiện. Nhưng không phải du khách nào trên thế giới cũng được sự chào đón như thế!

(Hình minh họa: Suhaimi Abdullah/Getty Images)

Tuần trước, báo chí lại loan tin, những người Việt Nam, đồng bào của chúng ta, từ Sài Gòn đến phi trường Changi, Singapore, bị từ chối nhập cảnh, nói rõ ra là bị đuổi về.

Singapore là một trong 48 quốc gia mà người mang visa Việt Nam vào không cần thị thực, nhưng lần này mặc dù có đầy đủ giấy tờ tùy thân, nhiều hành khách Việt Nam, phần lớn là phụ nữ, vẫn bị nhà chức trách Singapore từ chối cho vào xứ của họ. Những người Việt này bị đối xử như tội phạm, bị đưa vào phòng riêng, kiểm soát chặt chẽ giấy tờ, bị phỏng vấn và bắt tự đếm số tiền mang theo trước mặt nhân viên sân bay. Những người khách này buộc phải trở lại Việt Nam trên các chuyến bay đưa họ đến, hay lưu lại những khách sạn gần phi trường mà hãng hàng không Việt Nam phải đài thọ chi phí.

Lối hành xử này của Singapore cũng na ná như lối đối xử của chính quyền Việt Nam đối với những nhà hoạt động chính trị, nghi ngờ có hoạt động chính trị hay bất đồng chính kiến về Việt Nam lâu nay, mà không hề nói lý do.

Chính quyền Singapore cũng không hề nói lý do họ không cho những người Việt này vào nước họ, nhưng cái lý do này thì những người trong cuộc, hay toàn thể “khúc ruột ngàn dặm” trên khắp thế giới đều biết rõ, đều cảm thấy xấu hổ và đau lòng.

Hãng Jetstar Pacific, một trong hai hãng máy bay rẻ tiền có những đường bay ngắn cho biết, khi hành khách bị nhà chức trách từ chối nhập cảnh Singapore, người đó sẽ phải trả tiền ăn ở, tại sân bay. Phía Singapore thường buộc hãng hàng không phải ứng trước chi phí sau đó sẽ tính lại với hành khách. Chi phí cho mỗi khách bị từ chối nhập cảnh là khoảng hơn $200, chưa kể vé máy bay trở lại Việt Nam. Mỗi tháng, hãng này phải trả khoảng $20,000 cho những hành khách bị từ chối nhập cảnh tại Singapore.

Hãng Vietjet Air có hai chuyến bay Sài Gòn đi Singapore mỗi ngày. Trung bình mỗi tháng có 200 nữ hành khách bị Singapore yêu cầu quay về nước. Như vậy mỗi tháng Vietjet Air phải chi ra phí khoảng $750,000 cho những hành khách này mà không bao giờ đòi lại được tiền.

Phía Việt Nam mong phía Singapore cho họ biết danh sách những người Việt không được nhập cảnh vào Singapore để tiện việc ngăn chận, tránh sự tổn thất như trên, nhưng những người này đâu phải như những người làm chính trị có sổ đen của công an Việt Nam, mà chỉ là những cô gái, một ngày đẹp trời nào đó được rủ rê hay móc nối sang đây để… “đứng đường!” Trên các trang net, và ngay cả một phóng sự trên báo Thanh Niên trong nước, cũng công nhận rằng phần đông những cô gái đến với nghề này là hoàn toàn tự nguyện.

Chuyện không phải bây giờ mà cách đây vài năm Singapore đã loan tin cảnh sát tổng càn quét vào khu mại dâm Việt ở Geylang và Joo Chiat, bắt giữ hàng chục gái mại dâm người Việt lẫn bảo kê. Liên tục trong vòng một tuần, chỉ riêng tại khu Joo Chiat, 52 cô gái Việt đã bị bắt giữ. Các cô trang điểm diêm dúa, ăn mặc hở hang đón xe buýt hoặc xe taxi đến quán karaoke, vô từng bàn khách, ăn uống, rượu bia, lả lơi, ôm ấp, bán dâm tại bàn rượu hoặc đi ngủ đêm với khách, cố moi tiền bằng đủ mọi cách. Dân Singapore cho biết gái mại dâm Việt đã câu kéo khách bằng cách không mặc đồ lót và cho phép khách thoải mái sờ soạng. Sang Singapore là một nghề kiên trì, lần này bị đuổi lần sau lại lên máy bay sang nữa. Một cô gái cho biết cô đến rồi về nhiều lần, mỗi lần ở Singapore kiếm vài nghìn đô la.

Lối cấm cửa phụ nữ Việt Nam ở Singapore rõ ràng là nỗi đau đớn, nhục nhã. Rồi liệu, Bộ Ngoại Giao Việt Nam như lời yêu cầu có dám gửi công hàm đến Singapore để xin làm rõ trắng đen chuyện này không, hay nói ra chỉ thêm mất mặt! Làm người khác mất mặt cũng là một thứ làm nhục nhau. Ngày xưa làm nhục nhau thì kẻ sĩ thách nhau đấu súng hay rút gươm ra khỏi vỏ. Ngày nay, bị nhục thì đành ráng ngậm miệng mà đi.

Thể diện cũng có nghĩa là danh dự, ai làm mình mất thể diện là làm mất danh dự mình.

Nếu danh dự phụ nữ Việt Nam bị coi thường hay chà đạp là danh dự của cả dân tộc cũng bị coi thường. Ai có trách nhiệm trong việc đàn bà con gái Việt Nam bị cấm cửa và cái mặt Việt Nam trong thời gian gần đây, có thể nói xa hơn là dưới chế độ xã hội chủ nghĩa đã bị lấm lem đến mức tồi tệ.

Cái mặt Việt Nam ở Nhật mà đại diện là phi công, tiếp viên hàng không, người mẫu, du học sinh ăn cắp… không kể hết tên.

Cái mặt Việt Nam ở Thụy Điển rồi Anh, mà đại diện là Kiều Trinh, kẻ ăn cắp, đã rao giảng văn hóa trên truyền hình nhà nước, con cán bộ Trung Ương Đảng, đã được Bộ Y Tế Việt Nam chứng nhận là tâm thần và Tòa Đại Sứ Việt Nam can thiệp.

Cái mặt Việt Nam ở Phi Châu mà đại diện là nhân viên ngoại giao Vũ Mộc Anh, bí thư thứ nhất của Đại Sứ Quán Việt Nam tại Nam Phi, buôn lậu sừng tê giác.

Cái mặt Việt Nam ở Thụy Sĩ, ở Thái Lan mà đại diện là du khách ăn cắp.

Cái mặt Việt Nam ở Đài Loan mà đại diện là công nhân “xuất khẩu” ăn trộm chó làm thịt.

Cái mặt Việt Nam ở Nhật mà người Việt trộm dê làm thịt.

Cái mặt Việt Nam ở Malaysia: Khám phá một lần mà tống xuất 150 phụ nữ mại dâm về nước.

Cái mặt Việt Nam ở Nga, Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức với những nhóm băng đảng, buôn người có các tòa đại sứ Việt Cộng… chống lưng.

Chuyện mất mặt, bẽ mặt, xấu mặt hay mất thể diện thì cũng một nghĩa.

Hãnh diện thì ngẩng mặt, xấu hổ thì cúi mặt, vuốt mặt, quay mặt, giấu mặt đi.

Cái mặt chai lì, tê cứng, không biết xấu hổ, vô cảm là cái mặt mo, mặt mẹt, mặt trơ.

Những cái mặt… Việt Nam nên che đi là những cái mặt của Đặng Xuân Hợp, Vũ Mộc Anh, Kiều Trinh, vì họ đại diện cho chính quyền Việt Nam. Cái mặt đáng thương những người phụ nữ vì xấu hổ cũng phải che đi, tủi thân vì số kiếp phụ nữ Việt Nam, nhưng quả đáng thương hơn những đảng viên luôn luôn trơ mặt làm liều.

Quá đẹp là cái tên Việt Nam, hôm nay vang lừng khắp bốn biển năm châu.

Cờ đỏ sao vàng được minh họa cho hai chữ “ăn cắp.” (*)

Tiếng Việt được dùng để viết những thông báo răn đe người Việt chớ… ăn cắp.

Ai đã sáng tác ra cái câu nói dối trá, “Tôi mơ ước một buổi sáng thức dậy, thấy mình là người Việt Nam?” sẽ phải ân hận suốt đời.

Phần tôi, mỗi khi soi gương, tôi vẫn nhớ, “Tôi là người Việt Nam!” và cảm thấy thương cho tôi và thù ghét những con người đã làm cho hình ảnh Việt Nam xấu xa đi như hôm nay.

Cám ơn ký giả Xuân Dương ở trong nước với câu viết, “Một người, một gia đình, một dòng họ hay một dân tộc, khi sự xấu hổ bị đánh cắp thì không còn gì để mất!”

(*) Xem bài “Đẹp sao là lá cờ đỏ sao vàng” của Bùi Bảo Trúc.

Bảng chống tiểu bậy ở San Francisco khá hiệu quả

Bảng chống tiểu bậy ở San Francisco khá hiệu quả

Nguoi-viet.com

SAN FRANCISCO, CaliforniaTờ San Francisco Chronicle hôm Thứ Bảy loan tin những bức tường chống tiểu bậy, tuy mới được dựng lên tại một số khu phố ở San Francisco, đã mau lẹ nổi tiếng và đang tỏ ra thật là hữu hiệu.


Một bảng chống tiểu bậy được niêm yết ở một bức tường tại San Francisco. (Hình: San Francisco Public Works)

Vào đêm hôm Thứ Năm tại góc các đường 16th và Mission, nơi dân tiểu bậy vẫn ưa tập trung để tùy tiện hành động, nay thấy vắng vẻ một cách đáng kinh ngạc. Hành khách vẫn thản nhiên túa ra từ nhà ga tàu điện BART gần đó, nói cười chẳng dứt. Xa hơn một chút, sáu, bảy người vô gia cư lặng lẽ tìm những góc khuất êm đềm để ngả lưng vào lúc màn đêm buông xuống. Trong khi đó, bức tường danh tiếng sừng sững nơi đây, từng là địa điểm “xả bầu tâm sự” của dân tiểu bậy từ khắp nơi đổ về, vẫn thấy khô queo.

Nữ phát ngôn viên Sở Tiện Ích San Francisco, là Rachel Gordon, thốt lên: “Cho tới nay thì mọi sự vẫn tốt đẹp. Nhân viên của chúng tôi vẫn chưa ngửi thấy mùi khai của nước tiểu tại một điểm nóng như thế này trong thành phố của chúng ta.”

Tuần trước, nhân viên Sở Tiện Ích đã hoàn tất việc sơn lên một loạt 9 bức tường trong thành phố một loại sơn có khả năng chống hoạt động tiểu bậy.

Lớp sơn này tạo nên một cấu trúc chằng chịt những hình lập thể lồi lõm tinh vi, khiến cho khi có ai dùng nước tưới vào vách tường thì lập tức mớ nước đó sẽ dội ngược trở lại vào giày dép và quần áo của người đó, nhất là khi loại nước kia chẳng sạch sẽ gì và khi kẻ tưới nước cứ ưa ép sát người vào vách tường để mong đạt hiệu quả cao trong hành động tiểu bậy. (V.P.)

Tàu Trung Quốc tràn vào biển Ðông, tàu VN liên tục bị tấn công

Tàu Trung Quốc tràn vào biển Ðông, tàu VN liên tục bị tấn công

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Khoảng 9,000 tàu đánh cá với hơn 35,000 ngư dân Trung Quốc vừa tràn vào biển Ðông. Cũng thời điểm này là tin một số tàu đánh cá của Việt Nam tiếp tục bị tấn công.

Theo Tân Hoa Xã, ngay sau lệnh cấm đánh cá mà phạm vi bao gồm cả vịnh Bắc bộ lẫn khu vực quần đảo Hoàng Sa hết hiệu lực, khoảng 9,000 tàu đánh cá với hơn 35,000 ngư dân Trung Quốc đã đồng loạt tiến vào biển Ðông.


Biên Phòng Việt Nam kiểm tra tàu đánh cá mang số hiệu QNg 90127 để lập biên bản, ghi nhận thiệt hại sau khi tàu này bị tàu của Trung Quốc tấn công gần đảo Bạch Quý, quần đảo Hoàng Sa. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hồi thượng tuần tháng 5, chính quyền thành phố Hải Khẩu, tỉnh Hải Nam của Trung Quốc thông báo cấm đánh bắt cá ở vịnh Bắc bộ và khu vực quần đảo Hoàng Sa, từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 1 tháng 8.

Tuy lúc đó, Bộ Ngoại Giao Việt Nam phủ nhận giá trị của lệnh cấm vừa kể và cho đó là một hành động “vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển của Việt Nam theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.”

Nhưng Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, thản nhiên cho rằng, lập trường của Trung Quốc về chủ quyền trên biển Ðông là “nhất quán và rõ ràng.” Việc Trung Quốc thực hiện “mùa nghỉ đánh bắt” trên vùng biển do Trung Quốc quản lý là “biện pháp quản lý hành chính bình thường” nhằm bảo vệ tài nguyên biển. Lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc còn là “biện pháp nhằm làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế của Trung Quốc.”

Trung Quốc đã đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá ở biển Ðông từ năm 1999 và lệnh này gây nhiều khó khăn cho cả ngư dân Việt Nam lẫn ngư dân của các quốc gia trong khác trong khu vực Ðông Nam Á.

Trung Quốc không giấu diếm tham vọng thay đổi trọng tâm hoạt động ngư nghiệp: khuyến khích ngư dân đóng tàu lớn, khám phá những vùng biển xa. Mỗi năm, riêng tại Hoàng Sa, ngư dân tỉnh Hải Nam, Trung Quốc đánh bắt khoảng 80,000 tấn cá. Năm ngoái, Trung Quốc đã cử một đội tàu đánh cá lớn đến quần đảo Trường Sa để thăm dò nguồn lợi thủy sản.

Bên cạnh đó, tàu của các lực lượng vũ trang của Trung Quốc (hải giám, hải cảnh, hải quân) liên tục rượt đuổi, tấn công tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam.

Tin mới nhất cho biết, tàu có vũ trang của Trung Quốc (chưa rõ thuộc lực lượng nào) vừa tấn công tàu đánh cá mang số hiệu QNg 90127 của ông Tiêu Viết Bản khi ông Bản đang điều khiển tàu đến cứu một tàu đánh cá khác bị hư máy, đang trôi tự do. Những nhân viên có vũ trang trên tàu mang số hiệu 02 của Trung Quốc đã đánh người lái tàu, đập kính ở cabin, cướp một máy định vị, hai máy tầm ngư, hai tấn hải sản, chặt đứt bảy bành dây dẫn hơi cho thợ lặn.

Ngoài tàu QNg 90127, còn có tàu đánh cá mang số hiệu QNg 96507 của ông Nguyễn Lợi bị ba tàu có vũ trang của Trung Quốc mang số hiệu 37102, 45101, 46102 vây bắt rồi cướp toàn bộ ngư cụ.

Từ tháng 6 đến nay, các vụ tàu có vũ trang của Trung Quốc tấn công tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam xảy ra liên tục. Hồi trung tuần tháng 7, trong cuộc đối thoại với tờ Pháp Luật ở Sài Gòn, về tình trạng, càng ngày, các lực lượng vũ trang của Trung Quốc càng tỏ ra thô bạo, hung hãn với những ngư dân Việt khi họ đánh bắt hải sản trên biển Ðông, ông Lưu Văn Huy, cục trưởng Cục Kiểm Ngư của Bộ Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Việt Nam, nhận định, điều đó có thể vì Trung Quốc muốn ngư dân Việt Nam sợ hãi, nản lòng, không dám tiếp tục ra khơi hành nghề tại các ngư trường truyền thống nữa. (G.Ð)

Nữ trí thức TP.HCM bị Singapore tạm giữ vì tội trộm đồ siêu thị

Nữ trí thức TP.HCM bị Singapore tạm giữ vì tội trộm đồ siêu thị

Hang hieu

Các nghi phạm trộm cắp người Việt bị bắt giữ tại đồn cảnh sát Thái Lan. (Ảnh: The Nation).

Cơ quan chức năng Singapore vừa tạm giữ một nữ trí thức ở TP. HCM vì nghi ngờ trộm cắp trong siêu thị. Bà đi mua sắm tại siêu thị và cầm một món đồ trị giá khoảng 300 SGD nhưng lại không trả tiền. Nhiều khả năng, bà này sẽ bị đưa ra xét xử tại quốc đảo Sư Tử.

Ăn cắp ở nước ngoài về Việt Nam bán

Cơ quan chức năng Singapore vừa tạm giữ một nữ trí thức ở TP. HCM vì nghi ngờ trộm cắp trong siêu thị. Theo VTC News, bà này được TP HCM cử đi học ngoại ngữ ngắn hạn tại Singapore. Khi lớp học sắp kết thúc, bà đi mua sắm tại siêu thị và cầm một món đồ trị giá khoảng 300 SGD nhưng lại không trả tiền. Nhiều khả năng, bà này sẽ bị đưa ra xét xử tại quốc đảo Sư Tử.

Vụ việc 5 người Việt Nam ở Thái Lan bị bắt vì ăn cắp các món đồ hiệu trị giá tới hàng trăm ngàn baht (100.000 baht tương đương 3.000 USD) cũng đang gây xôn xao dư luận. Năm người này bao gồm 3 nữ và 2 nam, độ tuổi từ 24 đến 39.

Báo The Nation dẫn lời cảnh sát Thái cho biết, những người này lấy trộm 64 món đồ xa xỉ trong trung tâm mua sắm ở thành phố Chiang Mai rồi bọc chúng lại bằng giấy bạc để tránh sự phát hiện của cổng từ kiểm tra. Dự định sau khi lấy trộm, họ sẽ đem những món này về Việt Nam bán với giá rẻ hơn.

Trước đó, đã có nhiều người Việt ăn cắp bị phát hiện ở nước ngoài khiến nhiều người cảm thấy xấu hổ. Thậm chí, có trường hợp người Việt có học thức, có vai vế, cũng bị bắt giữ vì ăn cắp trong siêu thị hoặc ăn cắp tài sản của người bản xứ.

Cách đây không lâu, 6 người Việt (gồm cả nam và nữ) ăn cắp quần áo hiệu Uniqlo bị cơ quan chức năng Nhật Bản bắt giữ. Nhóm người này đã hơn 100 lần thực hiện hành vi trộm đồ. Khi điều tra về tài khoản của một phụ nữ trong nhóm, cảnh sát phát hiện nhiều giao dịch hàng hóa trị giá tới 10 triệu yên (tương đương 1,9 tỷ đồng). Họ trộm đồ từ nhiều cửa hàng ở những khu vực khác nhau và bán hàng thông qua các trang mạng xã hội.

Điều đáng nói, đây không phải là vụ đầu tiên người Việt ăn cắp ở Nhật bị phát hiện. Hồi đầu năm 2014, một nữ tiếp viên hàng không của Việt Nam cũng bị phía Nhật bắt giữ vì bị tình nghi buôn lậu hàng mỹ phẩm, quần áo từ một đường dây ăn cắp tại các siêu thị Nhật và có thể đang tìm cách buôn lậu ra khỏi nước Nhật. Năm 2009, một cơ phó của Vietnam Airlines cũng từng bị trục xuất về nước cũng vì liên quan đến đường dây vận chuyển hàng ăn cắp từ Nhật về Việt Nam.

Vào tháng 12/2013, bốn thanh niên người Việt cũng bị phát hiện đang ăn cắp quần áo, mỹ phẩm tại một siêu thị ở Tokyo. Hàng ăn cắp gồm những sản phẩm của các thương hiệu nổi tiếng như mỹ phẩm Shiseido, quần áo hiệu Uniqlo.

An cap hang hieu tu Thai qua Nhat: Xau mat nguoi Viet-hinh-anh-1
Cảnh sát thu giữ số quần áo mà nhóm người Việt đã lấy cắp tại cửa hàng quần áo Uniqlo. (Ảnh: ANN News).

Thống kê từ Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Nhật Bản cho thấy, số các vụ ăn cắp đồ bị bắt liên quan tới người Việt tăng mạnh tại nước này, từ 247 vụ năm 1998 lên 999 vụ năm 2012. Như vậy chỉ trong vòng 4 năm, số người Việt đi chôm chỉa rồi bị bắt giữ tăng gấp 4 lần, chỉ riêng tại Nhật.

Và 6 tháng đầu năm 2013, đã có 401 vụ liên quan tới người Việt, chiếm 40% tổng số vụ chôm đồ liên quan tới người nước ngoài tại Nhật.

Không chỉ ở Nhật, ở các quốc gia khác như Singapore, Đài Loan, Thái Lan… cũng đã có trường hợp người Việt bị bắt giữ vì ăn cắp trong siêu thị hoặc ăn cắp tài sản.

Theo báo Thanh Niên Online, cảnh sát Thái Lan ngày 25/3/2013 đã bắt một người Việt bị tình nghi là ăn cắp hơn 200 mặt hàng thuộc loại hàng hiệu ở trong trung tâm hàng thời trang cao cấp Central World, Bangkok. Những mặt hàng này bao gồm quần, áo, mũ, túi xách, được xác định có giá trị hơn 140 triệu đồng.

Tháng 8/2014, cảnh sát Malaysia đã bắt 3 đàn ông người Việt chuyên đột nhập các cửa hàng để ăn trộm. Ba người này được cho là có liên quan đến 9 vụ đột nhập các cửa hàng làm thất thoát hơn 57.000 USD.

An cap hang hieu tu Thai qua Nhat: Xau mat nguoi Viet-hinh-anh-2
Tấm biển cảnh cáo có thêm tiếng Việt.

Xấu hổ khi dùng hàng hiệu xách tay ăn cắp

Tại nước ngoài, không khó để bắt gặp những tấm biển cảnh báo hành vi ăn cắp bằng tiếng Việt tại những nơi công cộng như siêu thị, nhà hàng,…

Hồi tháng 6/2013, bức ảnh chụp biển cảnh báo hành vi ăn cắp vặt được viết bằng tiếng Việt, ở dưới là dòng chữ dịch sang tiếng Nhật, đã gây xôn xao cộng đồng mạng. Những lời cảnh cáo được viết bằng tiếng Việt cụ thể là: “Ăn cắp vặt là phạm tội. Nếu ăn cắp vặt thì bị phạt tù dưới 10 năm. Ngay khi phát hiện ăn cắp vặt thì chúng tôi sẽ thông báo cho cảnh sát ngay lập tức. Camera phòng chống tội phạm đang hoạt động. Tăng cường điều tra”. Bên dưới là phần dịch sang tiếng Nhật được viết nhỏ hơn.

An cap hang hieu tu Thai qua Nhat: Xau mat nguoi Viet-hinh-anh-3

 

An cap hang hieu tu Thai qua Nhat: Xau mat nguoi Viet-hinh-anh-4
Cảnh báo ăn cắp bằng tiếng Việt ở Đài Loan.

Sau đó, vào tháng 7/2014, trên mạng xã hội cũng đăng tải bức ảnh chụp biển cảnh báo ăn cắp trong một shop thời trang tại Nhật khiến nhiều người Việt xấu hổ. Bức ảnh được chụp tại một cửa hàng thời trang tại Wako-shi, tỉnh Saitama, Nhật Bản. Trên tờ cảnh báo có ghi dòng chữ: “Hệ thống camera giám sát đang hoạt động” bằng tiếng Việt.

Không chỉ ở Nhật Bản, mà các nước và vùng lãnh thổ khác như Thái Lan, Đài Loan cũng đều có biển cảnh báo về thói trộm cắp vặt của một số người Việt.

Những lời cảnh cáo được viết bằng tiếng Việt như trên, tại nhiều quốc gia đã khiến không ít người cảm thấy buồn và xấu hổ khi hình ảnh, đất nước mình đang trở nên xấu xí trong mắt người nước ngoài, bởi lòng tham của một số cá nhân.

Trước tình trạng này, nhiều người đã kêu gọi cộng đồng người Việt trong nước không dùng những hàng xách tay mà không rõ nguồn gốc. Việc làm này sẽ bớt được tình trạng ăn trộm, ăn cắp bởi không có người mua, thì việc trộm cắp để bán chui sẽ bị hạn chế dần và biến mất hẳn.

Theo VietnamNet

CÁI VA-LI

THE SUITCASE

CÁI VA-LI

A man died, when he realized it, he saw God coming closer with a suitcase in his hand.

Khi một người đàn ông nhận thức rằng mình đã chết, ông thấy Thượng Đế/Chúa đến gần hơn với một cái va-li trong tay.

God said: Alright son, it’s time to go.

Thượng Đế bảo:  Nầy con, đã đến lúc đi rồi.

Surprised the man responded: Now? So soon? I had a lot of plans…

Ngạc nhiên, người đàn ông trả lời:  Bây giờ sao? Mau quá vậy? Con có nhiều dự định…

– I’m sorry but it’s time to go.

_    Rất tiếc nhưng đã đến giờ đi rồi.

– What do you have in that suitcase? the man asked.

Người đàn ông hỏi: Thượng Đế có gì trong cái va-li đó vậy?

God answered: Your belongings.

Thương Đế trả lời:  Những gì thuộc về nhà ngươi.

– My belongings? You mean my things, my clothes, my money?

Những gì thuộc về con? Ý Thượng Đế muốn ám chỉ những đồ đạc, áo quần, tiền bạc của con?

God answered: Those things were not yours; they belonged to the earth.

Thượng Đế trả lời:  Những cái đó đã không phải của nhà người; chúng thuộc vào trần gian.

– Is it my memories? The man asked.

Người đàn ông hỏi:  Có phải nó là ký ức của con?

God answered: Those never belonged to you; they belonged to Time.

Thượng Đế trả lời:  Những cái đó đã không bao giờ thuộc về nhà người; chúng thuộc vào Thời Gian.

– Is it my talents?

Có phải là những tài ba của con?

God answered: Those were never yours; they belonged to the circumstances.

Thượng Đế trả lời: Những thứ đó đã không bao giờ là của nhà ngươi; chúng tuỳ thuộc vào những tình huống.

– Is it my friends and family?

Có phải là các bạn và gia đình?

God answered: I’m sorry they were never yours; they belonged to the path.

Thượng Đế trả lời:  Rất tiếc chúng đã không bao giờ là của nhà ngươi; họ thuộc vào con đường (mà nhà người đã đi qua).

– Is it my wife and son?

– Có phải là vợ và con trai của con?

God answered: They were never yours; they belonged to your heart.

Thượng Đế trả lời:  Họ đã không bao giờ là của nhà ngươi; họ thuộc vào trái tim của nhà ngươi.

– Is it my body?

_ Có phải là thân xác con?

God answered: that was never yours; it belonged to the dust.

Thượng Đế trả lời:  Cái đó đã không bao giờ   là của nhà ngươi; nó thuộc vào cát bụi.

-Is it my soul?

_ Có phải là linh hồn của con?

God answered: No, that is mine.

Thượng Đế trả lời:  Không, cái đó là của ta.

Full of fear, the man took the suitcase from God and opened it just to find out the suitcase was empty.

Đầy sợ hãi, người đàn ông lấy cái va-li từ Thượng Đế/Chúa và mở nó ra mà chỉ thấy nó trống trơn.

With a tear coming down his cheek, the man said: I never had anything???

Với một giọt nước mắt lăn xuống gò má, người đàn ông thốt lên:  Con đã chẳng có gì cả sao???

God answered: That is correct, every moment you lived were only yours.

Thượng Đế trả lời: Đúng đó, chỉ mỗi thời gian ngắn ngủi nhà người đã sống là của nhà ngươi.

Life is just a moment–A moment that belongs to you. For this reason enjoy this time while you have it.

Cuộc đời chỉ là thời gian ngắn ngủi–Một thời gian ngắn ngủi thuộc về bạn.

Don’t let anything that you think you own stop you from doing so.

Đừng đề bất cứ cái gì bạn nghĩ rằng bạn làm chủ ngăn bạn làm như thế.

Live Now!

Hãy sống bây giờ!

Live your life!

Sống đời của bạn!

Don’t forget to be happy; that is the only thing that matters.

Đừng quên sống hạnh phúc; đó mới là điều đáng quan tâm.

Material things and everything else that you fought for stay here.

Những gì vật chất và mọi thự khác mà bạn tranh đấu ở lại đây.

YOU CAN’T TAKE ANYTHING WITH YOU…

BẠN KHÔNG THỂ MANG BẤT CỨ GÌ THEO BẠN …

Share this reflection with anyone you love or appreciate. Enjoy every second you live.

Hãy san sẻ quan điểm nầy với bất cứ người nào mà bạn thương yêu hay quý báu.  Hãy hưởng thụ mỗi giây bạn sống.

(Người dịch:  Vương Đằng, 6/2015)

Bài Học Nhớ Đời

Bài Học Nhớ Đời

Một ngày kia, có một người đàn ông trung niên tướng mạo xấu xí, dẫn theo một cô gái vô cùng trẻ trung xinh đẹp, đến một cửa hàng chuyên buôn bán những chiếc túi xách hàng hiệu cao cấp.

Ông ta đã chọn một túi xách trị giá đến 18.000 USD cho cô gái. Khi trả tiền, người đàn ông lấy ra cuốn chi phiếu, chẳng ngần ngại điền số tiền tương ứng vào một tờ chi phiếu, nhân viên cửa hàng có phần khó xử. Người đàn ông nhìn thấu tâm tư của cô nhân viên, nên hết sức bình tĩnh nói với người bán hàng: “Tôi cảm thấy dường như cô đang lo sợ đây là một tờ chi phiếu khống, phải không? Hôm nay lại là Thứ Bảy, ngân hàng không mở cửa. Thôi thì tôi đề nghị cô hãy giữ tờ chi phiếu và cả cái túi xách này lại. Đợi đến đầu tuần tới, sau khi đổi được tiền rồi, thì xin cô hãy gửi túi xách này đến nhà của vị tiểu thư xinh đẹp này, cô thấy như vậy có được không?”.

Kết quả sẽ như thế nào? Xin hãy mau đọc tiếp…….

Cô nhân viên cửa hàng nghe xong hoàn toàn yên tâm, vui vẻ chấp nhận lời đề nghị này, lại còn hào hứng cam đoan rằng chi phí gửi túi xách sẽ do cửa hàng này đảm nhiệm.

Sáng Thứ Hai, nhân viên cửa hàng đem tấm chi phiếu đến ngân hàng thanh toán, kết quả tờ chi phiếu này quả thật là tờ chi phiếu lủng!

Người nhân viên vô cùng tức giận, liền gọi điện cho người đàn ông đó, người đàn ông nói với cô rằng: “Chuyện này có gì to tát lắm đâu, tôi và cô cả hai đều không bị tổn thất gì cả. Hôm Thứ Bảy đó, tôi cuối cùng đã chiếm hữu được cô gái đó rồi! Thật lòng cảm ơn sự hợp tác của cô”.

Câu chuyện này nói với chúng ta rằng:

Những gì mà chính bản thân ta “nhìn thấy tận mắt” cũng chưa chắc đã là thật.

Tham hư vinh thì phải trả một cái giá rất đắt. Cô gái xinh đẹp kia cho rằng cái túi xách trị giá hàng chục nghìn USD đó sẽ được giao đến tận cửa nhà vào sáng Thứ Hai, nên tự nhiên cũng đã buông lơi cảnh giác, cho rằng đầu tư như vậy thật là xứng đáng. Cô vốn đã không biết rằng bản thân mình đang chơi trò mạo hiểm, chẳng hề có bất cứ sự đảm bảo nào.

Một con cáo phát hiện một chuồng gà, nhưng con cáo đó vì quá mập nên không thể chui lọt qua hàng rào để ăn gà. Thế là nó nhịn đói suốt ba ngày, cuối cùng đã vào được. Tuy nhiên, sau khi ăn no nê rồi, chiếc bụng phình to nên lại không ra được nữa, đành phải bắt đầu nhịn đói lại ba ngày mới ra được. Cuối cùng nó xót xa than thở rằng, bản thân mình ngoài nhất thời sướng miệng ra, trên cơ bản hoàn toàn là phí công vô ích.

Đời người không phải cũng như vậy sao. Đến trần truồng mà ra đi cũng trần truồng. Không ai có thể mang theo tài sản và danh vọng mà mình đã vất vả kinh doanh một đời để theo cùng.

Dùng tuổi trẻ để kiếm tiền, nhưng tiền lại không mua lại được tuổi trẻ;

Dùng mạng sống để kiếm tiền, nhưng tiền lại không mua lại được mạng sống;

Dùng hạnh phúc để đổi lấy tiền, nhưng tiền lại không mua lại được hạnh phúc;

Dùng thời gian để kiếm tiền, nhưng tiền lại không mua lại được thời gian.

Cho dù dùng cả cuộc đời để có được tất cả tiền bạc của cả thế giới, nhưng tiền bạc của cả thế giới cũng không mua lại được cuộc đời của bạn.

Vậy nên những lúc nên làm việc thì hãy làm việc, những lúc nên nghỉ ngơi thì hãy nghỉ ngơi, vui vẻ làm việc, tận hưởng cuộc sống, trân quý tất cả những gì mà mình có được, hãy yêu thương những người mà bạn yêu thương, vui vẻ mà sống trọn từng ngày.

Sống một ngày vui vẻ là sống một ngày,

Sống một ngày không vui vẻ cũng là sống một ngày…….

Vậy tại sao chúng ta lại không trân quý hết thảy, vui vẻ mà sống trọn một ngày chứ!

(Nguyễn Giang Đức chuyển)

Anh chị Thụ Mai gởi

NGHỊCH LÝ CỦA ĐỜI TU

NGHỊCH LÝ CỦA ĐỜI TU

Image result for linh måc

Nhìn từ bên ngoài, người ta luôn thấy đời tu rất đẹp, hệt như một Thiên Đường tại thế. Suốt ngày cất cao giọng hát ngợi khen Chúa, vui vẻ với những công việc tầm thường như việc cắt cỏ trồng rau, không một chút bon chen với cuộc đời, không phải lắng lo chuyện gia đình, con cái, không ganh đua với danh vọng cao sang. Nhìn những vị tu sĩ cao niên đắc đạo, miêng lúc nào cũng nở những nụ cười tươi, không quần áo sang trọng, không vàng bạc trữ kho, nhưng tâm hồn lúc nào cũng bình yêu thư thái, lối hành xử luôn chậm rãi khoan thai, không hờn ai, không trách cứ, đó quả thực là điều nhiều người ước mong. Rồi những tấm gương hy sinh cả một đời giúp đỡ những người cơ nhỡ, người nghèo, hay những ai bị cuộc đời ruồng rẫy, họ làm việc như thể đó là niềm vui, cho đi mà chẳng mong gì đền đáp, bao lụy phiền của nhân tình thế thái chẳng thể bám víu trái tim họ. Đời tu quả là tươi đẹp, là dấu chỉ của Nước Chúa hiện diện ở trần gian.

Thế nhưng, chỉ có những ai sống trong đời tu mới có thể hiểu rõ được sống đời tu thật không dễ tí nào. Để có thể trở nên một cây cổ thụ sừng sững uy phong, nó đã phải trải qua không ít những gian nan thử thách. Cây nào chịu đựng được thì lớn lên; cây nào không đủ sức thì gục ngã. Đời tu tuy đẹp đấy, nhưng để có thể sống trọn vẹn lý tưởng này, chẳng con người nào có thể tự sức mình mà sống được. Ấy là bởi vì sống đời tu là sống giữa nghịch lý vô cùng căng thẳng của kiếp người.

Người đi tu là người sống giữa thế gian nhưng không được để mình bị thế gian đụng đến. Họ người có đôi chân chạm đất nhưng đầu thì hướng thẳng về trời cao. Họ phải sống trong cuộc đời nhưng lại bị xem là người ở cõi khác. Họ chọn đời hiến dâng không phải để trốn đời, hận đời, nhưng là để vào đời và yêu mến đời nhiều hơn. Người đi tu cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp như ai kia, nhưng phải chọn lấy cho mình phần kém nhất. Họ phải trải rộng tình thương của mình cho người khác, nhưng lại không được để một người nào đó được phép yêu mình. Họ phải yêu người nhưng không được giữ lại riêng cho mình một ai. Họ yêu nhưng không được nắm giữ.

Ai cũng mong muốn mình có một bến đỗ dừng chân, nơi một mái ấm nhỏ, có tiếng cười của con thơ. Nhưng người đi tu thì phải vượt trên mong muốn ấy. Họ có đôi bàn chân không bao giờ ngừng bước. Họ như ngọn gió ngao du khắp núi rừng, băng qua biển khơi. Chẳng nơi đâu là nhà nhưng cũng chẳng nơi đâu là xa lạ. Nơi họ đặt chân đến là quê hương, là cuộc sống của họ… Họ không được đậu neo ở điểm dừng nào, không được để lòng lưu luyến ai hay bất cứ nơi đâu, nhưng phải thanh thoát và tự do với mọi sự. Nơi con tim của người đi tu chất chứa đầy những tâm tư sâu kín. Họ có yêu ai không, không ai biết; họ có ghét ai không, chẳng ai hay; họ có nóng giận, buồn phiền với ai không, không ai tỏ. Dù bên trong có thế nào, điều mà họ thể hiện ra bên ngoài phải là niềm hạnh phúc, phải là niềm vui, phải là dấu chỉ của Nước Trời.

Đó là lý tưởng đẹp, nhưng cũng là điều không phải dễ mà sống được. Sống giữa căng thẳng luôn làm người ta như muốn xé nát con người mình làm đôi. Làm sao giữa dòng đời vạn biến, tâm mình vẫn không động, vẫn yên vui? Làm sao giữa một thế giới đang hô hào chuyện hưởng thụ vật chất, sống trụy lạc và tự do cá nhân, mình lại chủ trương chọn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục người khác? Có những tu sĩ đã vì những xu hướng và thúc bách cá nhân đưa đẩy, lại thiếu đi sự kết hiệp với Chúa nên đã dần dần đánh mất đi lý tưởng tuyệt vời và cao quý của đời tu.

Trong giờ phút này, chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện cho những vị tu sĩ ấy:

Trước hết, chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai đang đứng trước chọn lựa giữa đời tu và đời sống bình thường. Xin cho họ được ơn soi sáng để có thể bình tâm chọn lựa điều nào hợp với thánh ý Chúa cho cuộc đời mình.

Chúng ta cũng xin Chúa đến kề bên và nâng đỡ những tu sĩ nào đang bị ngả nghiêng theo cơn gió cuộc đời. Xin cho họ biết chạy đến với Chúa khi tâm hồn có chút gợn sóng nhân gian để được ủi an và thêm sức, chứ đừng tìm bù trừ nơi những niềm vui thế tục, nơi những vật chất, tiện nghi. Xin Chúa giúp cho các tu sĩ biết tìm hạnh phúc nơi những hy sinh và thập giá, chứ không phải nơi bạc tiền và danh vọng.

Xin cho các tu sĩ nhận ra rằng biết bao linh hồn đang cần họ đi tới và chia sẻ; có rất nhiều người đang nhìn đến đời sống phục vụ vô vị lợi của họ mà thầm tạ ơn Chúa và nhờ đó có thêm nghị lực đứng lên làm lại cuộc đời. Xin cho họ đừng vì ích kỷ cá nhân và quên đi lời gọi mời cao quý Chúa đã dành cho họ.

Xin cho các tu sĩ, mỗi ngày nên giống Đức Giêsu Kitô vác thập giá – mẫu gương đời sống dâng hiến của họ hơn.

Chau Micae

Hồi Ký của một người kẹt lại Hà-Nội sau 1954

Hồi Ký của một người kẹt lại Hà-Nội sau 1954

(tựdo Nguyễn Văn Luận)

Với bút hiệu tựdo ‒ chữ thường, viết liền ‒ ông Nguyễn Văn Luận là tác giả bài “Người tìm tự do và tượng thần tự do” đã được bình chọn trúng giải chính thức trong giải sơ kết 3 tháng Giải Thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ.

Tác giả sinh năm 1937, hiện cư ngụ tại Worcester, Massachusetts.

Sau đây là bài viết mới nhất của ông.


TỰ DO

Tượng đài Thuyền nhân VN tìm Tự Do Westminster, California

Tác phẩm bằng đồng của Vi Vi Võ Hùng Kiệt dựng ở Tượng đài Thuyền nhân, Westminster, California, khánh thành năm 2009
(nguồn:http://vi.wikipedia.org/wiki/)

Ông Hòa là cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bị Cộng sản bắt đi tù năm 1975, sang Mỹ theo diện HO. Tôi gặp ông tại một tiệc cưới, trở thành bạn, thường gặp nhau bởi cùng sở thích, nói chuyện văn chương, thời thế, dù trong quá khứ ông sống tại miền Nam, tôi ở xứ Bắc.

Một lần tới thăm, cháu Thu Lan, con ông Hòa, hỏi tôi, “Bác ở Hà Nội mà cũng đi tị nạn à…?”

Nghe hỏi tự nhiên nên tôi chỉ cười, “Cái cột đèn mà biết đi, nó cũng đi, …nữa là bác!”

Thực ra tôi đã không trốn thoát được từ lần đầu “vượt tuyến” vào miền Nam. Rồi thêm nhiều lần nữa và 2 lần “vượt biển”, vẫn không thoát. Chịu đủ các “nạn” của chế độ cộng sản trong 27 năm ở lại miền Bắc, tôi không tị nạn, mà đi tìm Tự Do, trở thành thuyền nhân, đến nước Mỹ năm 1982.

Sinh trưởng tại Hà Nội, những năm đầu sống ở Mỹ, tôi đã gặp nhiều câu hỏi như cháu Thu Lan, có người vì tò mò, có người giễu cợt .

Thời gian rồi cũng hiểu nhau.

Tôi hằng suy nghĩ và muốn viết những giòng hồi tưởng, vẽ lại bức tranh Hà Nội xưa, tặng thế hệ trẻ, và riêng cho những người Hà Nội di cư.

Người dân sống ở miền Nam trù phú, kể cả hàng triệu người di cư từ miền Bắc, đã không biết được những gì xảy ra tại Hà Nội, thời người cộng sản chưa vận com-lê, đeo cà-vạt, phụ nữ không mặc áo dài.

Hiệp định Geneva chia đôi nước Việt. Cộng sản, chưa lộ mặt là Cộng sản, tràn vào miền Bắc tháng 10 năm 1954. Người Hà Nội đã “di cư” vào miền Nam, bỏ lại Hà Nội hoang vắng, tiêu điều, với chính quyền mới là Việt Minh, đọc tắt lại thành Vẹm. Vì chưa trưởng thành, tôi đã không hiểu thế nào là …Vẹm!

Khi họ tiếp quản Hà Nội, tôi đang ở Hải phòng. Dân đông nghịt thành phố, chờ tầu há mồm để di cư.

vietminhtiepquanhanoi

Trước Nhà Hát Lớn, vali, hòm gỗ, bao gói xếp la liệt. Lang thang chợ trời, tôi chờ cha tôi quyết định đi Nam hay ở lại.

Hiệp định Geneva ghi nước Việt Nam chỉ tạm thời chia cắt, hai năm sau sẽ “Tổng tuyển cử” thống nhất.

Ai ngờ cộng sản miền Bắc “tổng tấn công” miền Nam!

Gia đình lớn của tôi, không ai làm cho Pháp, cũng không ai theo Việt Minh. Cha tôi làm chủ một hãng thầu, nghĩ đơn giản là dân thường nên ở lại. Tôi phải về Hà Nội học.

Chuyến xe lửa Hà Nội “tăng bo” tại ga Phạm Xá, nghĩa là hai chính quyền, hai chế độ, ngăn cách bởi một đoạn đường vài trăm mét, phải đi bộ hoặc xe ngựa. Người xuống Hải phòng ùn ùn với hành lý để đi Nam, người đi Hà Nội là con buôn, mang xăng về bán. Những toa tầu chật cứng người và chất cháy, từ chai lọ đến can chứa nhà binh, leo lên nóc tầu, bíu vào thành toa, liều lĩnh, hỗn loạn …

Tới cầu Long Biên tức là vào Hà Nội. Tầu lắc lư, người va chạm người. Thằng bé ù chạc 15 tuổi, quắc mắt nhìn tôi :

“Ðề nghị đồng chí xác định lại thái độ, lập trường tư tưởng!”

xeluahanoi1954

Tôi bàng hoàng vì thứ ngoại ngữ Trung quốc, phiên âm thành tiếng Việt, nghe lần đầu không hiểu, để rồi phải “học tập” suốt 20 năm, “ngoại ngữ cộng sản”:đấu tranh”, “cảnh giác”, “căm thù” và …” tiêu diệt giai cấp”! (Thứ ngôn ngữ này ghi trong ngoặc kép.)

Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng “chính sách” mới ban hành.

“Cán bộ” và “bộ đội” chỉ khác nhau có ngôi sao trên mũ bằng nan tre, phủ lớp vải mầu cỏ úa, gọi là “mũ bộ đội”, sau này có tên là “nón cối”. Hà Nội “xuất hiện” đôi dép “Bình Trị Thiên”, người Bắc gọi là “dép lốp”, ghi vào lịch sử thành “dép râu”.

Chiếc áo dài duyên dáng, thướt tha của thiếu nữ Hà Nội được coi là “biểu hiện” của “tư sản, phong kiến”, biến mất trong mười mấy năm sau, vì “triệt để cách mạng”. Lần đầu tiên, “toàn thể chị em phụ nữ” đều mặc giống nhau: áo “sơ mi”, quần đen. Hãn hữu, như đám cưới mới mặc sơ mi trắng vì “cả nước” không có xà phòng.

Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số “lớp Chín hậu phương”, năm sau sẽ sát nhập thành “hệ mười năm”.

Số học sinh “lớp Chín” này vào lớp không phải để học, mà là “tổ chức Hiệu đoàn”, nhận “chỉ thị của Thành đoàn” rồi “phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!”

Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn “kiểm tra”, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang “tập trung” tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm “phấn khởi”, lời hô khẩu hiệu “quyết tâm”, và “phát biểu của bí thư Thành đoàn”: tiểu thuyết của Tự Lực Văn Ðoàn là … “cực kỳ phản động!” Vào lớp học với những “phê bình, kiểm thảo…cảnh giác, lập trường”, tôi đành bỏ học.

Chiếc radio Philip, “tự nguyện “ mang ra “đồn công an”, thế là hết, gia tài của tôi!

Mất đời học sinh, tôi bắt đầu cuộc sống đọa đày vì “thành phần giai cấp”, “sổ hộ khẩu”, “tem, phiếu thực phẩm”, “lao động nghĩa vụ hàng tháng”. Ðây là chính sách dồn ép thanh niên Hà Nội đi “lao động công trường”, miền rừng núi xa xôi. Tôi chỉ bám Hà Nội được 2 năm là bị “cắt hộ khẩu”, …đi tù!

Tết đầu tiên sau “tiếp quản”, còn được gọi là “sau hòa bình lập lại”, Hà Nội mơ hồ. Những bộ mặt vàng võ, áo quần nhầu nát, xám xịt, thái độ “ít cởi mở”, từ “nông thôn” kéo về tiếp quản chiếm nhà người Hà Nội di cư.

Người Hà Nội ở lại bắt đầu hoang mang vì những tin dồn và “chỉ thị”: ăn Tết “đơn giản, tiết kiệm”. Hàng hóa hiếm dần, “hàng nội” thay cho “hàng ngoại”.

Âm thầm, tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm, tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nhòa, ảm đạm, đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thủy Tạ, đêm nay có ca nhạc, lần cuối cùng của nghệ sĩ Hà Nội.

Ðoàn Chuẩn nhớ thương hát “Gửi người em gái miền Nam”, để rồi bị đấu tố là phong cách tiểu tư sản, rạp xinê Ðại Ðồng phố Hàng Cót bị “tịch thu”. Hoàng Giác ca bài “Bóng ngày qua”, bị kết tội thành “tề ngụy”, hiệu đàn nhỏ phố Cầu Gỗ phải dẹp, vào tổ đan mũ nan, làn mây, sống “tiêu cực” hết đời trong đói nghèo, khốn khổ.

Danh ca Minh Ðỗ, Ngọc Bảo, nhạc sĩ Tạ Tấn, sau này làm gì, sống ra sao, “phân tán”, chẳng ai còn dám gặp nhau, sợ thành “phản động tụ tập”.

“Chỉ thị Ðảng và Ủy ban Thành” “phổ biến rộng rãi trong quần chúng” là diệt chó. “Toàn dân diệt chó”, từ thành thị đến “nông thôn”. Gậy gộc, giây thừng, đòn gánh, nện chết hoặc bắt trói, rồi đầu làng, góc phố “liên hoan tập thể”.

Lý do giết chó, nói là trừ bệnh chó dại, nhưng đó là “chủ trương”, chuẩn bị cho đấu tố “cải tạo tư sản” và “cải cách ruộng đất”. Du kích, công an rình mò, “theo dõi”, “nắm vững tình hình” không bị lộ bởi chó sủa. Mọi nơi im phăng phắc ban đêm, mọi người nín thở đợi chờ thảm họa.

Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải “cung cấp” một năm theo “từng người trong hộ”. Mẹ may thêm chiếc quần “đi lao động “ thì con nít cởi truồng. Người thành thị, làm cật lực, xây dựng cơ ngơi, có ai ngờ bị quy là “tư sản bóc lột”? nhẹ hơn là “tiểu tư sản”, vẫn là “đối tượng của cách mạng”.

Nông dân có dăm sào ruộng đất gia truyền vẫn bị quy là “địa chủ bóc lột, cường hào ác bá ”!

Giáo sư Trương văn Minh, hiệu trưởng trường Tây Sơn, ngày đầu “học tập”, đã nhẩy lầu, tự tử.

“Tư sản Hà Nội” di cư vào Nam hết , chẳng còn bao nhiêu nên “công tác cải tạo được làm “gọn nhẹ” và “thành công vượt mức”, nghĩa là mang bắn một, hai người “điển hình”, coi là “bọn đầu xỏ” “đầu cơ tích trữ”, còn thì “kiểm kê”, đánh “thuế hàng hóa”, “truy thu”, rồi “tịch thu” vì “ngoan cố, chống lại cách mạng!”

Báo, đài hàng ngày tường thuật chuyện đấu tố, kể tội ác địa chủ, theo bài bản của “đội cải cách” về làng, “bắt rễ” “bần cố nông”, “chuẩn bị thật tốt”, nghĩa là bắt học thuộc lòng “từng điểm”: tội ác địa chủ thì phải có hiếp dâm, đánh đập, bắt con ở đợ, “điển hình” thì mang thai nhi cho vào cối giã, nấu cho lợn ăn, đánh chết tá điền, hiếp vợ sặc máu …! Một vài vụ, do “Ðảng lãnh đạo”, “vận động tốt”, con gái, con dâu địa chủ, “thoát ly giai cấp”, “tích cực” “tố cáo tội ác” của cha mẹ.

Cảnh tượng này thật não nùng! Lời Bác dạy suốt mấy mươi năm: “Trung với Ðảng, hiếu với dân …” là vậy!

“Bần cố nông” cắm biển nhận ruộng được chia, chưa cấy xong hai vụ thì phải “vào hợp tác”, “làm ăn tập thể”, ruộng đất lại thu hồi về “cộng sản”.

“Toàn miền Bắc” biết được điều “cơ bản” về Xã hội chủ nghĩa là… nói dối!

Mọi người, mọi nhà “thi đua nói dối”, nói những gì Ðảng nói. Nói dối để sống còn, tránh bị “đàn áp”, lâu rồi thành “nếp sống”, cả một thế hệ hoặc lặng câm, hoặc nói dối, vì được “rèn luyện” trong xã hội ngục tù, lấy “công an” làm “nòng cốt” chế độ.

Ở Mỹ, ai hỏi bạn: “How are you?”, bạn trả lời: “I’m fine, thank you.”

Ở miền Bắc VN thời đại Hồ chí Minh, “cán bộ” hỏi: “Công tác” thế nào?” Dù làm nghề bơm xe, vá lốp, người ta trả lời, “…rất phấn khởi, ra sức thi đua, lập thành tích chào mừng… các nước anh em!”

Bị bắt bên bờ sông Bến Hải, giới tuyến chia hai miền Nam Bắc, năm 19 tuổi, tôi bị “bộ đội biên phòng”giong về Lệ Thủy, được “tự do” ở trong nhà chị “du kích” hai ngày, đợi đò về Ðồng Hới. Trải 9 trại giam nữa thì về tới Hỏa Lò Hà Nội, vào xà lim. Cảnh tù tội chẳng có gì tươi đẹp, xã hội cũng là một nhà tù, không như báo, đài hằng ngày kêu to “Chế độ ta tươi đẹp”.

Cơ hàn thiết thân, bất cố liêm sỉ, người tù “biến chất”, người tứ chiến kéo về, nhận là người Hà Nội, đói rét triền miên nên cũng “biến chất”!

Ðối xử lọc lừa, gia đình, bè bạn, họ hàng, “tiếp xúc” với nhau phải “luôn luôn cảnh giác”.

Hà Nội đã mất nền lễ giáo cổ xưa, Hà Nội suy sụp tinh thần vì danh từ “đồng chí”!

Nằm trong xà lim, không có ngày đêm, giờ giấc, nghe tiếng động mà suy đoán “tình hình”. Ánh điện tù mù chiếu ô cửa sổ nhỏ song sắt, cao quá đầu, tôi đứng trên xà lim, dùng ngón tay vẽ chữ lên tường, “liên lạc” được với Thụy An ở xà lim phía trước.

Thụy An là người Hà Nội ở lại, “tham gia hoạt động “Nhân Văn Giai Phẩm, đòi tự do cho văn nghệ sĩ, sau chuyển lên rừng, không có ngày về Hà Nội. Bà phẩn uất, đã dùng đũa tre chọc mù một mắt, nói câu khí phách truyền tụng: “Chế độ này chỉ đáng nhìn bằng nửa con mắt!”

Người du lịch Việt Nam, ít có ai lên vùng thượng du xứ Bắc, tỉnh Lào Cai, có trại tù Phong Quang hà khắc, có thung lũng sâu heo hút, có tù chính trị chặt tre vầu theo “định mức chỉ tiêu”. Rừng núi bao la, tiếng chim “bắt cô trói cột”, nấc lên nức nở, tiếng gà gô, thức giấc, sương mù quanh năm.

Phố Hàng Ðào Hà Nội, vốn là “con đường tư sản”, có người trai trẻ tên Kim, học sinh Albert Sarraut. Học trường Tây thì phải chịu sự “căm thù đế quốc” của Ðảng, “đế quốc Pháp” trước kia và “đế quốc Mỹ” sau này.

Tù chính trị nhốt lẫn với lưu manh, chưa đủ một năm, Kim Hàng Ðào “bất mãn” trở thành Kim Cụt, bị chặt đứt cánh tay đến vai, không thuốc, không “nhà thương” mà vẫn không chết.

Phố Nguyễn công Trứ gần Nhà Rượu, phía Nam Hà Nội, người thanh niên đẹp trai, có biệt danh Phan Sữa, giỏi đàn guitar, mê nhạc Ðoàn Chuẩn, đi tù Phong Quang vì “lãng mạn tiểu tư sản”. Không hành lý nhưng vẫn ôm theo cây đàn guitar. Chỉ vì “tiểu tư sản”, không “tiến bộ”, không có ngày về…! Ba tháng “kỷ luật”, Phan Sữa hấp hối, khiêng ra khỏi Cổng Trời cao vút, gió núi mây ngàn, thì tiêu tan giấc mơ Tình nghệ sĩ!

Người già Hà Nội chết dần, thế hệ thứ hai, “xung phong”, “tình nguyện” hoặc bị “tập trung” xa rời Hà Nội. Bộ công an “quyết tâm quét sạch tàn dư đế quốc, phản động”, nên chỉ còn người Hà Nội từ “kháng chiến” về, “nhất trí tán thành” những gì Ðảng … nói dối!

Tôi may mắn sống sót, dù mang lý lịch “bôi đen chế độ”, “âm mưu lật đổ chính quyền”, trở thành người “Hà Nội di cư”, 10 năm về Hà Nội đôi lần, khó khăn vì “trình báo hộ khẩu”, “tạm trú tạm vắng”. “Kinh nghiệm bản thân”, “phấn đấu vượt qua bao khó khăn, gian khổ”, số lần tù đã quên trong trí nhớ, tôi sống tại Hải Phòng, vùng biển.

Hải Phòng là cơ hội “ngàn năm một thuở” cho người Hà Nội “vượt biên” khi chính quyền Hà Nội chống Tầu, xua đuổi “người Hoa” ra biển, khi nước Mỹ và thế giới đón nhận “thuyền nhân” tị nạn.

Năm 1980, tôi vào Sài Gòn, thành phố đã mất tên sau “ngày giải phóng miền Nam”. Vào Nam, tuy phải lén lút mà đi, nhưng vẫn còn dễ hơn “di chuyển” trong các tỉnh miền Bắc trước đây. Tôi bước trên đường Tự Do, hưởng chút dư hương của Sài gòn cũ, cảnh tượng rồi cũng đổi thay như Hà Nội đã đổi thay sau 1954 vì “cán ngố” cai trị.

Dân chúng miền Nam “vượt biển” ào ạt, nghe nói dễ hơn nên tôi vào Sài Gòn, tìm manh mối. Gặp cha mẹ ca sĩ Thanh Lan tại nhà, đường Hồ Xuân Hương, gặp cựu sĩ quan Cộng Hòa, anh Minh, anh Ngọc, đường Trần Quốc Toản, tù từ miền Bắc trở về. Ðường ra biển tính theo “cây”, bảy, tám cây mà dễ bị lừa. Chị Thanh Chi (mẹ Thanh Lan) nhìn “nón cối” “ngụy trang” của tôi, mỉm cười: “Trông anh như cán ngố, mà chẳng ngố chút nào!”

“Hà Nội, trí thức thời Tây, chứ bộ…!.”

Cả nước Việt Nam, ai cũng sẽ trở thành diễn viên, kịch sĩ giỏi!”

Về lại Hải Phòng với “giấy giới thiệu” của “Sở giao thông” do “móc ngoặc” với “cán bộ miền Nam” ở Saigòn, tôi đã tìm ra “biện pháp tốt nhất” là những dân chài miền Bắc vùng ven biển. Ðã đến lúc câu truyền tụng “Nếu cái cột điện mà biết đi….”, dân Bắc “thấm nhuần” nên “nỗ lực” vượt biên.

Năm bốn mươi tư tuổi, tôi tìm được Tự Do, định cư tại Mỹ, học tiếng Anh ngày càng khá, nhưng nói tiếng Việt với đồng hương, vẫn còn pha chút “ngoại ngữ Việt cộng” năm xưa.

Cuộc sống của tôi ở Việt Nam đã đến “mức độ” khốn cùng, nên tan nát, thương đau. Khi đã lang thang “đầu đường xó chợ” thì mới đủ “tiêu chuẩn” “xuống thành phần”, lý lịch có thể ghi là “dân nghèo thành thị”, nhưng vẫn không bao giờ được vào “công nhân biên chế nhà nước”.

Tôi mang nhẫn nhục, “kiên trì” sang Mỹ, làm lại cuộc đời nên “đạt kết quả vô cùng tốt đẹp”, “đạt được nguyện vọng” hằng ước mơ!

Có người “kêu ca” về “chế độ tư bản” Mỹ tạo nên cuộc sống lo âu, tất bật hàng ngày, thì xin “thông cảm” với tôi, ngợi ca nước Mỹ đã cho tôi nhân quyền, dân chủ, trở thành công dân Hoa kỳ gốc Việt, hưởng đầy đủ “phúc lợi xã hội”, còn đẹp hơn tả trong sách Mác Lê về giấc mơ Cộng sản.

Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ rồi. Cộng sản Việt Nam bây giờ “đổi mới”. Tiếng “đổi”“đổ” chỉ khác một chữ “i”. Người Việt Nam sẽ cắt đứt chữ “i”, dù phải từ từ, bằng “diễn biến hòa bình”.

Chế độ Việt cộng “nhất định phải đổ”, đó là “quy luật tất yếu của lịch sử nhân loại”.

Ôi! “đỉnh cao trí tuệ”, một mớ danh từ…!

11,000 người bị rắc rối vì liên quan đến ‘tín dụng đen’

11,000 người bị rắc rối vì liên quan đến ‘tín dụng đen’

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV) – Tội phạm liên quan đến “tín dụng đen” ở Việt Nam xảy ra liên tiếp nhiều năm qua, từ thành thị đến nông thôn, thậm chí cả những vùng quê hẻo lánh, khiến nhiều gia đình tan nát.

Với giấy nhận nợ đơn sơ này, nhiều người vẫn giao tiền cho người huy động
vốn do lãi suất quá hấp dẫn. (Hình: Người Lao Động)

Đó là đánh giá được đưa ra tại hội thảo “Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động ‘tín dụng đen’” do Bộ Công An tổ chức ngày 30 Tháng Bảy tại Hà Nội.

Người Lao Động dẫn phúc trình tại hội thảo, mặc dù thống kê chưa đầy đủ nhưng từ năm 2010 đến 2014, Việt Nam liên tiếp xảy ra hàng trăm vụ vỡ nợ lớn với thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng, làm ảnh hưởng đến nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức.

Tin cho hay, có 10,885 bị can liên quan đến “tín dụng đen.” Cụ thể, vụ án liên quan đến “tín dụng đen” là 6,367 vụ, trong đó có 41 vụ giết người; 318 vụ cố ý gây thương tích; 588 vụ cướp tài sản; 1,089 vụ cưỡng đoạt tài sản; 1,707 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 2,496 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; 104 vụ hủy hoại tài sản.

Ngoài ra, “tín dụng đen” còn mang lại những hệ lụy khác như bắt giữ người trái pháp luật, hủy hoại tài sản, gây rối trật tự công cộng, làm nhục người khác, các vi phạm pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản.

Tại hội thảo, ông Lê Quý Vương, thứ trưởng Bộ Công An, cho biết, theo đánh giá, các loại tội phạm, vi phạm pháp luật có liên quan đến “tín dụng đen” xảy ra liên tiếp ở nhiều nơi tại Việt Nam, từ thành thị đến nông thôn, thậm chí cả những vùng quê hẻo lánh, miền núi làm cho nhân dân hoang mang, bất bình, giảm niềm tin vào các tổ chức tín dụng, các cơ quan quản lý nhà nước trong các lĩnh vực có liên quan.

Trong khi đó, hoạt động phòng ngừa còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc vì những kẽ hở pháp luật trong quy định đối với loại tội phạm này. (Tr.N)

Đẹp sao là lá cờ đỏ sao vàng – Bùi Bảo Trúc

Đẹp sao là lá cờ đỏ sao vàng – Bùi Bảo Trúc

Đẹp sao là lá cờ đỏ sao vàng – Bùi Bảo Trúc

Phải nói ngay người vẽ cái poster đó vẽ rất khéo. Những ai không phải là người Nhật hay người Việt, không đọc được chữ Nhật và chữ Việt mà nhìn tấm poster ấy thì chỉ thấy lá cờ đỏ sao vàng quang vinh (?) của nước ta để rồi nghĩ ngay rằng (nội dung của tấm poster là) nước ta đang oai hùng tiến lên cùng năm châu thế giới.

Manbiki wa hanzai desu 万引き わ 犯罪 です
“ăn cắp là phạm tội”

Tấm poster này được một sinh viên Việt Nam học tại Đại Học Matsuyama Matsudo, Chiba tìm thấy ở trong khuôn viên của đại học. Nửa trên của poster là lá cờ đỏ sao vàng với ngôi sao phinh phính beo béo của nước ta, không thể lầm với bất cứ một ngôi sao nào trong các lá cờ của thế giới. Thực ra trong tấm poster đó cũng không hẳn là một lá cờ, mà là một khoảng mầu đỏ chẩy loang xuống nửa dưới của tấm poster. Khoảng mầu đỏ loang che gần hết hai chữ “Trộm cắp”. Một hình vẽ bàn tay, biểu tượng quốc tế cho chữ “STOP!”. Ngay phía dưới là hàng chữ Nhật mà kiến thức rất hạn hẹp về chữ Hán của tôi chỉ đọc được lõm bõm ba bốn chữ, nhưng chắc ý nghĩa của hàng chữ Nhật ấy chắc cũng không ngoài một lời nhắn là đừng ăn cắp. Ở cuối của tấm poster là hàng chữ Việt nguyên văn: “LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG”.

Chuyện ăn cắp thì ở đâu mà lại không có. Ăn cắp không chỉ thấy ở những người thuộc riêng một quốc tịch nào nghĩa là những người ăn cắp thì nước nào cũng có. Nhưng theo một bản tin của đài BBC mới đây, thì người Việt ở Nhật dính vào hơn 40% những vụ ăn cắp vặt. Các vụ này thường diễn ra tại các siêu thị, luôn cả các cửa tiệm bán quần áo, mỹ phẩm sang trọng. Thủ phạm là những thành phần lao động, du sinh, và luôn cả các phi công và tiếp viên hàng không. Tình trạng này diễn ra nhiều đến nỗi cảnh sát của một thành phố (Nhật) nọ phải đưa người sang Việt Nam để học tiếng Việt ngõ hầu giải quyết những trường hợp ngôn ngữ bất đồng giữa cảnh sát và những người Việt phạm tội ăn cắp. Ở một số nơi đã xuất hiện những poster có nội dung cảnh cáo những người trộm cắp viết bằng tiếng Việt hăm là hình phạt sẽ rất nặng. Điều an ủi duy nhất là, vẫn theo bản tin của đài BBC, thành tích ăn cắp của người Việt ở Nhật vẫn còn thua Trung Quốc.

Nhưng người ta phải đồng ý là không có một tấm poster cảnh cáo nào có nội dung độc địa (nhắm vào Việt Nam) như tấm ở Đại Học Matsuyama. Có thể nó cũng xuất hiện ở những nơi khác nữa chứ chẳng lẽ chỉ in ra vài tấm treo trong khuôn viên đại học thôi.

Người designer vẽ tấm poster đó rất khéo nhưng cũng rất đểu. Thay vì chỉ là mấy dòng chữ Việt cũng đủ để răn đe những người có toan tính bất lương, phạm pháp thì designer dùng ngay lá cờ và những hàng chữ Việt để đích danh nói thẳng với các công dân của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chứ không hề nhắm vào các lao động đến từ Phi Luật Tân, Nam Dương, Đại Hàn…

Lá cờ được ghép vào tấm poster nhưng không phải là môt lá cờ tung bay ngạo nghễ trong gió, mà là một khoảng mầu đỏ loang lổ.

Sau hết, cái đểu của người vẽ tấm poster đó ghép vào tấm poster đó là câu mà nhà nước vẫn đem ra để bảo ban, dậy dỗ những người dân cùng khổ của Việt Nam: “LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG”.

Người design tấm poster rất đểu khi đem câu này ra để mỉa mai, rỉa rói, xỏ xiên nhà nước Việt Nam… Này mấy anh kia, cứ hô hào, cổ vũ cho chuyện lao động là vinh quang thì hãy cứ nhìn lại coi người dân của các anh có làm đúng theo lời cổ vũ của mấy anh không. Họ có thực tâm tin rằng lao động là vinh quang không? Hay những công dân khốn khổ của nước Việt Nam mà các anh xuất cảng đi làm nô lệ ở khắp mọi nơi (nhưng không thấm nhuần đạo đức Hồ Chí Minh và những lời kêu gọi của các anh) chỉ là thứ hàng xuất cảng trây lười, chỉ biết trộm cắp sang nước Nhật của chúng tôi và làm bẩn, làm ô nhiễm đất nước của chúng tôi.

Tấm poster xuất hiện từ hồi cuối năm 2014 nhưng tới nay, đại sứ quán của nước ta vẫn chưa có bất cứ một phản ứng nào. Không có một công hàm phản đối gửi cho chính phủ Nhật đòi tháo gỡ những tấm biểu ngữ có nội dung lăng mạ người dân và đất nước Việt Nam.

Hay là chúng nó cũng đồng tình với những lời chửi cha chúng nó lên như vậy?

NhatAnCap

Đáng lẽ ra Bộ Ngoại Giao phải gọi đại sứ Nhật tới than phiền, đòi chính phủ Nhật phải ra lệnh cho thành phố Chiba dẹp bỏ, thu hồi những tấm poster đó và xin lỗi người Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Nhưng Bộ Ngoại Giao, Sứ Quán Việt Nam ở Tokyo không hề mở mồm, mặc cho người Việt và lá cờ (dơ dáy ấy) bị mặc tình bôi bẩn thêm.

Nhưng làm thế nào được, khi mà cả nước chúng nó toàn là một bầy trộm cướp, đạo tặc với nhau. Cứ tìm chữ kleptocracy (chế độ ăn cắp) trong internet là lại thấy có tên Việt Nam ngay lập tức.

Cái danh dự của Việt Nam sau năm 1975 bị bọn chó dại ném xuống đất đen biết đến bao giờ mới gột rửa cho sạch đây!

Bùi Bảo Trúc

Nhật in poster chống ăn cắp với hình cờ đỏ sao vàng vẽ theo dạng những giọt máu tươi – Nguyễn Văn Tuấn

Nhật in poster chống ăn cắp với hình cờ đỏ sao vàng vẽ theo dạng những giọt máu tươi – Nguyễn Văn Tuấn

Báo chí mới rộ lên một tin làm nhiều người Việt buồn rầu và tức giận. Đó là bản tin hai người du khách từ Việt Nam bị cảnh sát Thuỵ Sĩ bắt vì tội ăn cắp trong một tiệm bán hàng đắt tiền (1). Dĩ nhiên, đây không phải là trường hợp cá biệt, vì đã xảy ra nhiều vụ như thế trong quá khứ.

Ngoài vụ ăn cắp, báo chí còn làm ồn ào một vụ nhục nhã chẳng kém là một số hành khách nữ bị chận lại ở phi trường Tân Gia Ba, không cho nhập cảnh (3), vì họ bị nghi ngờ là sang đó làm điếm (4-5).

Cả hai sự việc đều liên quan đến quốc thể. Một vụ là người ta in hình quốc kỳ của nước Việt Nam hiện nay để như cảnh cáo bàn dân thiên hạ là người mang quốc tịch Việt Nam hay ăn cắp. Lá cờ đó với cách in như thế cũng ngầm để hiểu rằng đó là biểu tượng của một nhóm người ăn cắp. Cũng như cái hộ chiếu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là tín hiệu của “có vấn đề”. Vấn đề cụ thể là làm điếm.

Điều làm tôi suy nghĩ là họ thiết kế cái poster theo thể loại tuyên truyền của Việt Nam. Tôi nghĩ họ (người Nhật) thừa biết rằng Việt Nam là nước theo Cộng Sản, và tuyên truyền là một trong những “món ăn tinh thần” không thể thiếu được. Chính vì thế mà họ sử dụng chiêu “gậy ông đập lưng ông” để tuyên truyền ngược lại. Nhưng tại sao lá cờ đỏ rỉ máu? Tại sao có dòng chữ “lao động là vinh quang”? Có lẽ họ muốn người ăn cắp hay có ý định ăn cắp phải nhận thức rằng để làm ra những sản phẩm này họ phải bỏ sức lao động, phải làm việc cực nhọc đến đổ máu. Do đó ăn cắp làm cho họ rỉ máu.

Cả hai vụ (lá cờ ăn cắp và hộ chiếu làm điếm) đều là nhục nhã. Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc có hai sự hạ nhục quốc thể như thế. Hai sự việc có thể làm cho người nói câu “thời đại ngày nay là thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử” cảm thấy ngượng, nếu không muốn nói là xấu hổ.

Nguyễn Văn Tuấn

(1) http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/251857/du-khach-viet-an-cap-hang-hieu-o-thuy-si.html
(2) http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=200475&zoneid=1#.VbFwkOiqpBc
(3) http://dulich.vnexpress.net/tin-tuc/viet-nam/singapore-tu-choi-nhap-canh-nhieu-nu-hanh-khach-viet-3252322.html
(4) http://vtc.vn/nhung-truong-hop-du-khach-nu-viet-co-the-bi-tu-choi-nhap-canh-vao-singapore.1.563827.htm
(5) http://antgct.cand.com.vn/Nguoi-trong-cuoc/Khu-pho-den-do-o-Singapore-Nhung-dieu-trong-thay-ma-dau-314718/

Tị nạn giáo dục hay tị nạn chính trị?

Tị nạn giáo dục hay tị nạn chính trị?

GS Nguyễn Văn Tuấn

Hôm qua đọc được một bài báo mà cái tựa đề [nói theo tiếng Anh là] rất “revealing”: Thạc sĩ, cử nhân thất nghiệp: Có làm được việc đâu mà kêu ca (1). Bài báo liệt kê vài nhược điểm của tình trạng đào tạo trong các đại học Việt Nam, nhưng chủ yếu vẫn là vấn đề chất lượng. Dĩ nhiên, câu chuyện không mới, nhưng nó một lần nữa nhắc nhở vấn đề chất lượng đào tạo, và dẫn đến vấn nan “tị nạn giáo dục” như hiện nay. Nhưng tôi nghĩ trong thực tế thì đó là một cuộc tị nạn chính trị, chứ không hẳn là tị nạn giáo dục.

Vấn đề này đã được đề cập đến gần 20 năm trước đây. Lúc đó tôi bắt đầu có những tìm hiểu về vấn đề, và đọc được một báo cáo của UNDP (Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc). Trong báo cáo đó, tác giả nhận xét rằng sinh viên ra trường chưa đảm nhận được công việc mà đáng lẽ những người được đào tạo như thế phải làm được: “Hệ thống GD-ĐT [giáo dục và đào tạo] lâu nay của Việt Nam còn bất cập. Tỉ lệ người được đào tạo ra đạt tiêu chuẩn quốc tế là rất ít.” Một nghiên cứu của bà Maureen Chao thuộc Trường Đại học Seattle (Mĩ) vào thập niên 1990s, trong nhiều công ti liên doanh với Việt Nam, như Intel chẳng hạn, hầu hết sinh viên Việt Nam đều phải được đào tạo lại cả về chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp!

Một trong những vấn đề mà ít ai đề cập đến là sinh viên VN tiêu ra khá nhiều thì giờ học những môn mà [nói theo ông Hồ Ngọc Nhuận] là “thầy không muốn dạy và trò thì không muốn học”. Đó là những môn cách mạng Việt Nam, lịch sử đảng, kinh tế mác lê, v.v. Chưa có một hệ thống giáo dục nào trên thế giới mà có chương trình quái đản như thế! Thật ra, sau này tôi tìm hiểu thi mới biết là bên Tàu họ cũng dạy như thế. Một em nghiên cứu sinh của tôi (nay đã đi Mĩ) kể rằng em ấy phải học mấy môn học vô bổ đó, và nó chiếm 20% chương trình. Một lần nữa, VN lại bắt chước cách tẩy não của Tàu. Một hệ thống giáo dục lẫn lộn giữa tuyên truyền chính trị và giáo dục thì làm sao đào tạo ra con người giỏi được.

Đến nay vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Một bài báo trên tạp chí công nghệ thông tin cnet (do Zing dịch) cho biết “Sau khi tốt nghiệp, sinh viên Việt Nam phải được đào tạo thêm để đứng máy ở các dây chuyền sản xuất. Đây là thực tế được hàng chục nhà tuyển dụng xác nhận. Quá trình đào tạo này mất vài tháng, có khi vài năm” (2). Các nhà tuyển dụng còn phê bình hệ thống giáo dục VN không linh động, và không cải tiến nhanh để theo kịp tình hình phát triển kinh tế.

Nhưng các công ti lại thấy đó là cơ hội cho họ, để họ liên kết với đại học nước ngoài đào tạo lại các giảng viên và giáo sư Việt Nam (2). Nói cách khác, họ không tin tưởng vào hệ thống đại học VN, nên họ phải nhờ nước ngoài làm giúp. Đào tạo lại giảng viên, giáo sư Việt Nam? Trong thực tế, theo như bài báo cho biết, công ti Intel liên kết cùng một cơ sở khác “đã đào tạo 291 giảng viên người Việt Nam, trong đó có 71 giảng viên nữ, với các khoá học kéo dài 6 tuần cùng hàng trăm giáo sư khác.”

Có lẽ điều này cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì trước đây một vị trưởng lão trong làng giáo dục đã từng nhận xét rằng hệ thống đào tạo tiến sĩ trong nước còn có nhiều bất cập. Trong một bài viết năm 2007, Gs Hoàng Tuỵ cho rằng “Có những công trình khoa học, những luậnvăn tiến sĩ của ta ngay cả về những ngành học thuậtcó tính quốc tế như khoa học cơ bản, kinh tế,…,nếu xét theo tiêu chuẩn thông thường ở các nước thì thậm chí chỉ là những mớ giấy lộn. Đội ngũ GS của ta thì nhiều người hữu danh vô thực, số khá đông dưới xa chuẩn mực quốc tế bình thường nhất” (3).

Nhưng GS Tuỵ không phải là người duy nhất nhận định như thế; Gs Trần Văn Thọ cũng từng có nhận xét giống như thế trong ngành kinh tế. Anh Thọ viết: “Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở VN chỉ làm cho luận án tiến sĩ thiếu tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc sáng. Nội dung, trình độ của luận án do đó còn rất xa mới đạt được tiêu chuẩn tối thiểu của thế giới và người được cấp bằng trong trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa học với chuyên gia nước ngoài trong cùng ngành” (4).

Đặt những nhận xét đó trong bối cảnh chung thì chúng ta sẽ có một bức tranh logic. Do cách đào tạo người thầy bậc đại học đã có vấn đề, nên từ đó dẫn đến hàng loạt vấn đề về trò. Tôi cũng từng viết trong cuốn sách về giáo dục là chất lượng đào tạo phải bắt đầu từ thầy cô. Chẳng có gì là một sáng kiến mới, mà rất ư hiển nhiên. Thầy cô là “thợ giảng” thì làm sao có thể đào tạo ra trò giỏi được. Nhưng nói như thế có thể không công bằng cho những bạn được đào tạo ở trong nước nhưng được đào tạo đàng hoàng. Nhưng con số “đàng hoàng” đó chẳng bao nhiêu, nên cả hệ thống phải ở trong tình trạng vàng thau lẫn lộn như hiện nay.

Nói một cách nôm na, thầy dỏm “sản xuất” ra một thế hệ dỏm I. Thế hệ dỏm I lại cho ra một thế hệ dỏm II, và cứ thế cả hệ thống theo thời gian là dỏm nhiều thế hệ. Nói như thế để thấy việc gác “đền thiêng” giáo dục rất quan trọng. Nhưng rất tiếc, việc đó đã bị lơ là cả 40 năm nay, nên để lọt và dung túng những kẻ bất tài có mặt trong cái đền thiêng giáo dục. Những kẻ bất tài đó đã làm cho nền giáo dục trở nên tầm thường hoá, có khi dung tục hoá. Và, hệ quả là cả nước phải hứng chịu tình trạng như ngày nay.

Nhớ ngày xưa, những người gác đền thiêng rất nghiêm (như Gs Phạm Biểu Tâm) nên còn giữ được phẩm giá giáo dục một thời. Xin nhắc lại thời đó Gs Tâm từ chối không cho con gái của ông Ngô Đình Nhu theo học y khoa chỉ vì cô ấy thiếu một chút xíu điểm. Dù có áp lực gián tiếp từ hệ thống chính trị (chứ không phải từ ông Nhu) nhưng Gs Tâm nhất định giữ vững quyết định. Còn sau 1975 thì có một thời gian dài người ta nhận sinh viên theo chế độ lí lịch, thì việc gác đền thiêng giáo dục coi như vô hiệu hoá.

Cái khó là có một số người dỏm và “ngồi nhầm chỗ” lại đang cầm trịch hệ thống giáo dục và đào tạo ở khắp nơi. Thành ra, việc cải cách giáo dục có thể xem là gần như vô vọng, không có lối ra. Có lẽ đó là một cái nhìn hơi bi quan, nhưng quả thật đã 20 năm qua từ lúc tôi quan tâm đến vấn đề cho đến nay, tôi vẫn chưa thấy tín hiệu gì tích cực để thay đổi cái nhìn đó.

Vì thế, xin đừng trách tại sao Việt Nam có hiện tượng “tị nạn giáo dục” ở nước ngoài. Người nước khác thì đi tị nạn chính trị, còn Việt Nam thì tị nạn giáo dục. Những người biết rõ nhất sự vô vọng của nền giáo dục chính là các quan chức trong chính quyền, vì con cháu họ thường được gửi đi tị nạn giáo dục. Thật ra, tị nạn giáo dục của Việt Nam cũng là một hình thức tị nạn chính trị, vì các em ấy khi ra nước ngoài là để giải phóng khỏi những môn học vô bổ và sau đó là xin định cư luôn ở nước ngoài. Khi định cư, các em ấy lại bảo lãnh anh em và cha mẹ sang tị nạn tiếp! Tị nạn khỏi nền giáo dục lẫn lộn giữa tuyên truyền chính trị và giáo dục. Do đó, nói là tị nạn giáo dục, nhưng phải hiểu là tị nạn chính trị.