BÁNH BỞI TRỜI

BÁNH BỞI TRỜI

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Cuộc đời tiên tri Êlia là một cuộc chiến đấu anh dũng và kiên cường.  Một mình người phải chiến đấu chống lại cả một dân tộc bỏ đạo do hoàng hậu Dêdaben cầm đầu.  Người khiển trách dân chúng vì họ đã nghe theo hoàng hậu mà bỏ Chúa.  Người thách thức 400 sư sãi của thần Baan trong một cuộc dâng của lễ cầu mưa.  Người đã chiến thắng.  Nhưng chính vì chiến thắng.  Người bị hoàng hậu săn đuổi, phải chạy trốn vào sa mạc.  Hôm nay, đói khát đến lả người, vị tiên tri dũng mãnh rồi cũng cảm thấy mệt mỏi rã rời.  Người mất hết sức lực thể chất lẫn tinh thần.  Chẳng thiết sống, người xin Chúa cất người ra khỏi thế gian phiền nhiễu đầy bất trắc.  Người mất hết sức phấn đấu.  Người chỉ muốn an nghỉ trong Chúa.  Nhưng Chúa sai thiên thần đem bánh cho người.  Ăn được bánh bởi trời, tiên tri mới đủ sức vượt qua sa mạc, sau cùng đi tới núi của Thiên Chúa.

Tương tự như thế, đời sống ta cũng là một chuyến đi về nhà Thiên Chúa.  Để đến với Thiên Chúa, ta phải vượt qua sa mạc cuộc đời đầy chông gai cạm bẫy.  Đường đi rất xa và rất khó khăn.  Những chiến đấu có thể sẽ khiến ta mệt mỏi rã rời.  Ta sẽ chẳng đủ sức đi trọn con đường nếu không được nâng đỡ, an ủi.  Để giúp ta đủ sức chiến đấu và đi trọn con đường khó khăn thử thách tiến về nhà Cha. Thiên Chúa đầy tình yêu thương đã ban cho ta tấm bánh bởi trời. T ấm bánh bởi trời mà Chúa Cha ban cho ta chính là Đức Giêsu Kitô, người Con duy nhất của Người.  Món quà của Chúa Cha ban được thực hiện dưới hai hình thức: Lời Chúa và Phép Thánh Thể.

Đức Giêsu Kitô là Lời Ban Sự Sống của Thiên Chúa.  Lời Thiên Chúa là Lời Ban Sự Sống.  Chính Đức Giêsu đã khẳng định điều này khi Người trả lời ma quỉ cám dỗ: “Người ta sống không nguyên bởi bánh.  Nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.”  Thật vậy, chính Lời Chúa làm cho sự sống xuất hiện.  Nhờ Lời quyền năng của Thiên Chúa, vũ trụ được tạo thành.  Lời Chúa là lẽ sống của Đức Giêsu, nên trọn đời Người luôn đi tìm thực hiện thánh ý Chúa Cha: “Lương thực của Thầy là làm theo ý Đấng sai Thầy.”  Xưa kia, Thiên Chúa nói qua trung gian các tổ phụ và các tiên tri.  Nay, Đức Giêsu là Lời của Thiên Chúa trực tiếp nói với nhân loại.  Lời Người ban sự sống cho Ladarô, cho con trai bà góa thành Naim.  Lời Người tha thứ tội lỗi cho Mađalêna, cho người phụ nữ ngoại tình, cho Giakêu.  Lời Người hoán cải người phụ nữ xứ Samaria.  Người đưa tất cả những người tội lỗi trở về con đường sự sống.  Lời Người đã giúp cho bao thế hệ tìm thấy lẽ sống.  Lời Người ban cho họ một sự sống mới, tươi trẻ, phong phú, dồi dào hơn.  Chính vì thế, thánh Phêrô đã lên tiếng tuyên xưng: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết đi theo ai.  Chỉ Thầy mới có những Lời ban sự sống đời đời.”

Ban Lời hằng sống chưa đủ với tình yêu thương của Người, Đức Giêsu còn ban cho ta chính bản thân Người trong bí tích Thánh Thể. Thật là một tình yêu sâu xa tha thiết.  Khi nuôi dưỡng ta bằng chính thịt máu Người, Đức Giêsu không những muốn kết hiệp mật thiết với ta trong từng thớ thịt, từng dòng máu, mà Người còn muốn ban cho ta sự sống đời đời.  Bí tích Thánh Thể là lương thực thần linh.  Lương thực thần linh ban sự sống thần linh.  Qua bí tích Thánh thể, sự sống thần linh dần dần thấm nhập bản thân ta.  Đây là một tiến trình thần hóa chầm chậm.  Ta trở nên một thân thể với Đức Giêsu. Ta sống cùng sự sống của Người, sự sống đời đời trong hạnh phúc của Thiên Chúa.

Thánh lễ chính là bữa tiệc trong đó Thiên Chúa dọn ra hai bàn tiệc.  Bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể.  Cả hai bàn tiệc cũng đều là chính Đức Giêsu.  Trong thánh lễ, ta nghe lời Chúa dạy dỗ ta. Lời Chúa chỉ cho ta con đường ngay thẳng, con đường hạnh phúc, con đường đưa ta về với Chúa. Thánh Thể Chúa ban sức mạnh giúp ta đủ sức đương đầu với những khó khăn thử thách của cuộc đời. Bởi thế, khi tham dự thánh lễ, ta cần lưu ý lắng nghe Lời Chúa.  Chúa muốn nói riêng với từng người. Hãy lắng nghe để tìm ra điều Chúa muốn nhắn gửi.  Hãy lắng nghe để tìm ra lẽ sống.  Hãy lắng nghe để biết con đường phải đi.  Lời Chúa là con đường đưa tới sự thật và sự sống.

Hãy rước lễ một cách kính cẩn sốt sắng.  Phép Thánh Thể chính là một quà tặng của tình yêu Thiên Chúa.  Hãy hưởng nếm sự ngọt ngào được kề cận Thiên Chúa.  Hãy múc lấy nơi Thánh thể nguồn sức mạnh để thắng vượt những thử thách trong cuộc đời.  Hãy để Thánh Thể uốn nắn, biến đổi ta để ta ngày càng nên giống Người hơn.  Hãy nếm cảm hương vị thiên đàng ngay khi còn tại thế.

Lạy Chúa là Cha vô cùng yêu thương, con cảm tạ Cha đã ban cho con chính Con Một yêu quý của Cha làm bánh trường sinh nuôi dưỡng và đưa chúng con vào sự sống đời đời.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

PHẢI SỐNG ĐẠO CÁCH NÀO ĐỂ MUU PHẦN RỖI CHO MÌNH VÀ GIÚP NGƯỜI KHÁC NHẬN BIẾT CHÚA QUA GƯƠNG SÔNG CHỨNG NHÂN CỦA MÌNH ?

PHẢI SỐNG ĐẠO CÁCH NÀO ĐỂ MUU PHẦN RỖI CHO MÌNH VÀ GIÚP NGƯỜI KHÁC NHẬN BIẾT CHÚA QUA GƯƠNG SÔNG CHỨNG NHÂN CỦA MÌNH ?

Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

Hỏi : xin cha cho biết phải sống Đạo cách nào để cho mình và giúp khác được cứu rỗi ?

Trả lời:

Là người có niềm tin Thiên Chúa, thì mục đích tối cao của đời mình  phải  là tìm Chúa để yêu mến Người trên hết mọi sự và ước muốn được cứu độ để vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên cõi vĩnh hằng mai sau.

Cho mục đích nói trên, thì người tín hữu phải thực tâm đầu tư tâm trí , khả năng và thì giờ vào việc tìm kiếm Thiên Chúa và yêu mến Người trong suốt hành trình đức tin của mình  trên trần thế này cho đến ngày nhắm mắt lìa đời.

Cụ thể, phải sống Đạo cách nào để nói lên khát vọng tìm Chúa và Vương Quốc bình an, hạnh phúc của Người ?

Có Đạo và sống Đạo là hai việc  nhìn qua có vẻ giống nhau , nhưng thực rất khác nhau về mọi khía cạnh.

Thật vậy, có Đạo có nghĩa là mình đi theo một tôn giáo nào đang có mặt trên thế giới như Đạo Công Giáo  ( Roman Catholicism), Chính Thông Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) Đạo Do Thái ( Judaism) Tin Lành ( Protestants)  Đạo Phật ( Buddhism), Đạo Ấn Giáo ( Hinduism) Đạo Khổng ( Confucianism), Đạo Lão, ( Taoism) Thần Đạo ( Shinto của Nhật bản)  Hồi Giáo  ( Islam). v..v..

Tin đồ các tôn giáo trên ở khắp nơi trên thế giới.Nhưng đông đảo nhất là tín đồ Kitô Giáo thuộc các Giáo Hội Công Giáo La Mã, Chính Thông Giáo Đông Phương ,  các nhánh Tin Lành, và Anh Giáo ( Anglican Communion) .Trong các Giáo Hội  và giáo phái  này , thì tín hữu Công Giáo chiếm đa số với trên một tỉ người đã gia nhập Giáo  Hội qua Phép Rửa.

Con  số thì  đông và cơ sở thì to lớn và đồ xộ với các Thánh đường nguy nga từ  giáo đô La Mã cho đến các điạ phương nghèo khó như các giáo xứ ở miền quê Việt Nam, nơi giáo dân phần  nhiều còn sống khó khăn về mặt kinh tế nhưng cũng xây được các nhà thờ rộng lớn và khang trang với vật liệu  mua từ nước ngoài như đá hoa cương, tháp chuông  và bàn thờ, đèn nến…

Nếu chỉ nhìn qua những kiến trúc bề ngoài thì người du khách phải trầm trồ thán phục Giáo Hội Việt Nam về sức sống Đạo phong phú hơn nhiều nơi trong khắp Giáo Hội hoàn vũ.

Ở nước ngoài như Hoa Kỳ, Canada, và Úc Châu, người Công giáo Viêt Nam cũng xây được những nhà thờ nhà xứ to và đẹp hơn nhiều nhà thờ ở địa phương.

Nhưng đấy chỉ là bề nổi , bề ngoài của việc sống đạo,  và vẻ huy hoàng  bề ngoài này không hẳn đã phản ảnh trung thực bề sâu và mặt chìm của lòng mộ đạo sâu sắc. Nghĩa là  phải sống Đạo cách đích thực có chiều sâu  để  khiến  cho Chúa Kitô không phải than trách như   Người đã  quở mắng bọn Biết phái xưa kia:

Dân này tôn tính Ta bằng môi bằng miệng

Còn lòng  chúng thì  lại xa Ta.”( Mt 15: 8)

Tôn kính bằng môi bằng miệng có nghĩa chỉ sống đạo cho có hình thức bề ngoài , như  vẫn  đi lễ ,đọc kinh, hành hương v.v nhưng  tâm trí còn  bám chặt những thực tại trần thế như  tiền của,  danh vọng phù phiếm  hư hèn đến mức  làm nô lệ và tôn thờ  chúng  cùng  với mọi thú vui vô luân vô đạo, thay vì  phải tôn thờ một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự chóng qua ở đời này.

Mặt khác, cũng phải sống Đạo cách nào  trước mắt người đời   để cho thiên hạ thấy những công việc tốt đẹp anh  em làm mà tôn vinh Cha của anh  em , Đấng ngự trên Trời. Như Chúa Giê su đã dạy các  môn đệ và dân chúng xưa kia. ( Mt 5: 16).

Thật vậy, có tên là người Công giáo phải đi đôi hay gắn liền với lòng tin yêu Chúa cách sâu đậm  đích thực  thì mới có giá trị  thuyết phục  và hy vọng được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn cho hết mọi người chúng ta.

Trong hoàn cảnh thế giới tục hóa ( secularism) ngày nay, chủ nghĩa vô thần, vô luân, tôn thờ tiền bạc ( cult of money) và ham  mê khoái lạc ( hedonism) đang chi phối mạnh mẽ  để lôi  kéo con người ra  khỏi  mọi niềm tin tôn giáo, nhất là niêm tin có Thiêm Chúa là  Đấng trọn tốt trọn lành, đầy yêu thương và giầu lòng tha thứ. Chính vì Thiên Chúa là Đấng trọn  tốt trọn lành nên Người gớm ghét mọi tội lỗi và sự dữ,  như giết người, giết thai nhi để bán các cơ phận của thai nhi như mắt, tim phổi, thận  để làm giầu ,  khủng bố, bắt cóc  chặt đầu con tin, dâm ô, trộm cướp, gian ác, bóc lột, thù nghịch. ,nhất là  buôn bán phụ nữ và trẻ gái cho bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn  nạn…Do đó, muốn sống niềm tin cho có chiều sâu thực sự, thì người tín hữu Công giáo phải quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi  và sự dữ nói trên cùng với lối sống của  người đời không có niềm tin, hay có mà không sống niềm tin ấy cách cụ thể. Phải xa tránh tội lỗi và những  cách sống  thiếu niềm tin  của biết bao người khác  để nói lên lòng yêu mến Chúa thực sự , tức yêu mến sự thiện, sự tốt lành, sự trong sạch, sự khôn ngoan,  sự  công chính… là những đặc tính cản bản thuộc  về  Thiên Chúa cực tốt cực lành. Cụ thể,  yêu mến Chúa thực sự  đòi hỏi mọi người tin có Chúa trước hết phải tuân giữ mọi Điều Răn của Chúa  như  Chúa Giê su đã dạy:

Ai yêu mến Thầy , thì sẽ giữ lời Thầy

Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy

Cha của Thầy và Thầy sẽ  đến và ở lại trong người ấy. ( Ga  14: 23)

Hay rõ hơn nữa

Nếu  anh  em giữ các điều răn của Thầy

Anh  em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy

Như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy

Và ở  lại trong tình thương  của Người, ( Ga 15 : 10)

Giữ  lời Thầy có nghĩa là thực thi những gì Chúa đã dạy , cụ thể  là  hai điều răn lớn và quan trọng nhất: đó  là yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương người khác như  yêu thương chính mình, như  Chúa Giê su đã nói với một luật sĩ kia. ( Mc 12: 28-31 ).

Tuân giữ các điều răn của Chúa không  phải để làm lợi gì cho  Chúa  mà vì  lợi ích của chính con người mà thôi.Chúa tuyệt đối không  được  lợi lộc gì khi ta tuân giữ các giới răn của Người.Chắc chắn như vậy.

Nói khác đi, nếu ai cũng được tự do cướp vợ  giật chồng của nhau, tự do chiếm đoạt tài  sản của người khác, tự do ăn gian nói dối và tự do giết người và dâm đãng  thì thử hỏi thế giới này sẽ đi về đâu ?

Xã hội có luật pháp và người tín hữu Chúa Kitô có các giới luật của Thiên Chúa , vậy mà vẫn còn đầy rẫy những  tội lỗi và sự dữ như  giết người, oán thù , giết thai nhi, trộm cướp, bóc  lột,  gian dâm và hiếp  dâm , bạo động và chiến tranh…Như vậy, thì thử hỏi :  nếu không có luật pháp xã hội và các giới răn của Thiên Chúa thì  đời sống con người và xã hội  sẽ  thê  thảm đến mức nào  ? Vì thế, tuân giữ luật pháp của xã  hội và các giới răn của Chúa chỉ có lợi cho con người chứ không có lợi lộc gì cho Chúa hết.Cho nên, ta phải cảm tạ Chúa vì Người đã ban  lề  luật cho ta tuân giữ để được  hạnh phúc ngay từ đời này, và nhất là đời sau.

Nói cách khác ,  nếu ai cũng biết tôn trọng mạng sống và danh dự của mình và của người khác, không ai thay vợ đổi chồng  vì ham vui bất chính, không ai lường gạt, bóc lột người khác, không ai tham tiền để mở sòng bạc, nhà điếm,  trồng cây thuốc phiện và cần sa , mở nhà tắm hơi  trá hình để hành nghề mãi dâm, không ai gian ác để giết người, giết thai nhi…thì  bộ mặt của thế giới này đã  không  quá tồi tệ  và ghê sợ như thực trạng  hiện nay.

Vậy, là người Công giáo – tức người tin Chúa Kitô- nếu  muốn sống đức tin cách cụ thể và có sức thuyết phục người khác,  thì   phải  tuân giữ các giới răn  về  mến Chúa, yêu người, yêu sự thiện và công bình, không gian dâm, trộm cắp, không oán thù và làm chứng gian, là những thói hư tật xấu của biết bao người không có niềm tin Thiên Chúa , hay có mà không sống niềm tin ấy cách cân xứng.

Chính việc tuân thủ mọi giới răn của Chúa, thực thi công bình và bác ái, xa lánh mọi thói hư tật xấu của người đời không có niềm tin, sẽ giúp người có và sống  niềm tin  phân biệt mình với họ và nhiên hậu cũng có  sức lôi kéo , mời gọi người khác nhận biết có Chúa nhờ gương sống nhân chứng của mình.

Đây chính là sứ mệnh phúc âm hóa thế giới mà mọi tín hữu trong Giáo Hội có bổn phận thi hành để mang mang Nước Chúa và  góp phần  vào việc cứu rỗi người khác, vì   Thiên Chúa Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý.( 1 Tm 2 : 4).

Nói khác đi, sống giữa  thế gian, người tin hữu Công giáo phải  cố thực hành điều Thánh Phaolô đã khuyên dạy tin hữu  Phi-lip-phê  xưa là :

“ …anh  em  hãy làm mọi vệc  mà đừng kêu ca hay phản kháng. Như thế, anh  em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì , và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà, sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh  em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời.” ( Pl 2:  14-15)

Thế gian với quá nhiều gương xấu, quá nhiều  quyến rũ về tiền bạc  của cải vật chất , danh vọng  và mọi thú vui vô luân vô đạo,  là một thách đố to lớn cho những ai muốn chọn  Chúa làm gia nghiệp để coi khinh , coi thường những  lợi lãi và danh lợi chóng qua ở trần gian này.

Với những ai đang ham mê chạy theo những lôi cuốn đó của thế gian, thì  Lời Chúa sau đây là một cảnh cáo và thức tỉnh cho họ và cũng cho tất  cả những ai có niềm tin Chúa :

“ …Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống ( mất linh hồn) thì  nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình.? ( Mt 16: 26; Mc 8:  36-37; Lc 9 : 25)

Thử hỏi : có ai được cả thế giới này làm lợi lãi đâu ? nhưng cho dù có chiếm được tất cả danh vọng và tiền bạc của trần thế này,  mà mất mạng sống  tức mất linh hồn thì  được ích gì ? và lợi lãi kia có thể  mua được phần rỗi của linh hồn hay không?

Đó là câu hỏi mà Chúa muốn mỗi người tín hữu chúng ta phải  luôn  suy nghĩ và hành động cho thích hợp.

Cũng cần nói thêm là , sống trên trần gian này, ai cũng phải lo cho mình và người thân của mình có được đời sống ấm no cho phù hợp với nhân phẩm.  Trong mục đích và giới hạn  này, Chúa không dạy chúng ta phải nghèo đói, rách rưới  và vô gia cư thì mới  được chúc phúc và cứu độ. Nghĩa là Chúa không cấm chúng ta đi tìm tiền bạc cho những nhu cầu chính đáng của thân xác  và giúp  thực thi bác ái với anh chị em kém may mắn vì  nghèo túng. Nhưng là người có niềm tin Thiên Chúa và tin có sự sống  mai sau trên Nước Trời , thì  phải coi trọng phần rỗi của linh hồn mình hơn hết, dựa trên lời khuyên bảo sau đây của Chúa Giêsu: đó là :  “ hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách , một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời , nơi trộm cắp không bến bảng, mối mọt cũng không đục phá.” ( Lc  12: 33) . Nghĩa là tiên vàn ta phải tìm kiếm  “ Nước Thiên Chúa , còn các thứ kia Người sẽ thêm cho.” ( Lc  12: 31)

Các thứ kia là cơm ăn,  áo mặc, nhà cửa, xe cộ, bảo  hiểm sức khỏe…là những thứ cần thiết cho đời sống con người bao lâu còn sống trên trần gian này. Và cầu xin Chúa ban cho những phương tiện sống cần thiết đó là  điều chính đáng  và đẹp lòng Chúa.

Nhưng điều cần thiết và quan trọng hơn  là phải để hết tâm trí vào việc sống đạo  cho có chiều sâu thực sự, thể hiện cụ thể qua việc siêng năng cầu nguyện để nâng  lòng trí  lên với Chúa là cội nguồn của mọi vinh phúc và giầu sang vĩnh cửu. Tiếp đến , phải siêng năng lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải  tức là năng tham dự Thánh lễ để  tâm hồn được nuôi dưỡng  bằng lời Chúa và  Mình Máu  Chúa Kitô,  là suối nguồn thông ban ơn cứu độ của Chúa  cho ta  qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm mầu của Chúa Kitô trong trần gian.

Sau nữa, cũng cần thiết phải  luôn chạy đến với Chúa qua bí tích Hòa giải  để được tha thứ mọi tội lỗi vì yếu đuối con người , trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội  hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và tình thương của Người.( Mc 3: 29)

Thêm vào đó, phải hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội thể hiện qua việc tuân thủ mọi giáo lý cúa Giáo Hội về hai lãnh vực rất quan trọng là tín lý và luân lý. Tín lý như tin có một Thiên Chúa với Ba Ngôi Vị, tin Chúa Ngôi Hai có hai bản tính là Thiên Chúa và là Con Người thật, tin Đức Maria trọn đời đồng trinh và lên trời cả hồn xác…Luân lý  như cấm phá thai, cấm hôn nhân đồng tính ( same sex marriage)  cấm thụ thai nhân tạo, và không được ly dị, không được  mê tín dị đoan  cờ bạc và mãi dâm…

Nếu không cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các lợi ích thiêng liêng lớn lao qua các Bí Tích Thánh Thể và Hòa giải  và thi hành  giáo lý của Giáo Hội,  thì  đời sống đức tin sẽ không thể tăng trưởng  được. Và từ đó,  cũng không  giúp  gia tăng lòng yêu mến Chúa và khao khát những sự trên trời  mà hậu quả là  chỉ còn  mù quáng chậy theo những quyến rũ của trần gian với  đam mê tiền của và  mọi thú vui vô luân vô đạo, là bộ mặt  thật của “văn hóa sự chết” đang  chi phối biết bao triệu con người ở khắp nơi trên thế giới tục hóa, phi luân và phi nhân hiện  nay.

Tóm lại, là người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, tất cả đều được mong đợi  sống đức tin, đức cậy và đức  mến cách  thực sự có chiều sâu  để nói lên quyết tâm chọn Chúa  làm gia nghiệp , là ưu tiên  nhất cho cuộc sống trên đời này để  chống lại mọi  quyến rũ về tiền bạc, danh lợi và vui thú bất chính  của trần gian  hầu  được cứu độ, được sống hạnh phúc vĩnh  cửu  và  được   thông phần bản tính Thiên Chúa , sau khi đã thoát khỏi cảnh  hư  đốn do dục vọng gây ra trong trần gian này. như Thánh Phêrô  đã khuyên dạy. ( 2 Pr  1 : 4).

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

“Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”

Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”

Nguyễn Văn Tuấn

Đó là câu thơ hay của Tố Hữu viết vào năm 1969, khóc Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Chúng ta biết rằng hiện nay Việt Nam đang nóng lên với cơn sốt tượng đài. Tôi mới “phát hiện” một qui luật rất thú vị: những địa phương nào nghèo nhất cũng chính là những địa phương có tượng đài nhiều nhất, đặc biệt là tượng đài về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngạc nhiên?

Có thể nói rằng Việt Nam đang có một trào lưu xây tượng đài và di tích. Nơi nơi xây tượng. Từ nay đến 2030 sẽ xây thêm 58 tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh (1). Ngoài tượng đài Hồ Chí Minh, người ta còn xây văn miếu và đài tưởng niệm khác. Hãy thử liệt kê một số địa phương nổi cộm xuất hiện trên báo chí:

• Sơn La: dự án xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh, tốn 1400 tỉ đồng.
• Lai Châu: Tượng đài Hồ Chí Minh về thăm Lai Châu (2009), chi phí 41.5 tỉ.
• Tuyên Quang: Tượng đài Hồ Chí Minh với các dân tộc Tuyên Quang (2015), chi phí 200 tỉ.
• Hà Giang: Tượng đài Thanh niên xung phong, tốn 46 tỉ đồng.
• Điện Biên: Tượng đài Điện Biên Phủ, chi phí 51 tỉ (rút ruột 30%).
• Lào Cai: Tượng đài biểu tượng văn hóa, chi phí?
• Hà Tĩnh: Xây Văn Miếu, 80 tỉ đồng.
• Nghệ An: Khu di tích Hoàng Thị Loan (chi phí?), đền thờ Nguyễn Sinh Sắc (tốn 73 tỉ đồng) và chị em Chủ tịch Hồ Chí Minh (không thấy nói tốn bao nhiêu).
• Quảng Nam: Tượng mẹ Việt Nam Anh hùng, tốn 411 tỉ đồng.
• Vĩnh Phúc: Xây Văn Miếu, tốn 300 tỉ đồng.
• Quảng Ninh: Xây tượng đài biểu tượng văn hoá, tốn 25 tỉ đồng (mới bị sét đánh).
• Sài Gòn: Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tốn 7 tỉ đồng.

Nhìn qua danh sách trên, chúng ta thấy sốc nhất và nổi nhất vẫn là Sơn La đòi xây tượng đài với cái giá 1400 tỉ đồng. Nhưng thấy gì qua các địa danh có những tượng đài và khu di tích trên? Ngoại trừ Sài Gòn, đó là những tỉnh nghèo nhất nước. Xin minh chứng: số liệu của Ngân hàng Thế giới mới công bố cho thấy tỉ lệ dân nghèo như sau (2):

Sơn La: tỉ lệ nghèo 64%
Lai Châu: 76%
Tuyên Quang: 40%
Hà Giang: 71%
Điện Biên: 71%
Lào Cai: 57%
Hà Tĩnh: 22%
Nghệ An: 27%
Quảng Nam: 23%
Vĩnh Phúc: 12%
Quảng Ninh: 12%
Sài Gòn: 3%

Những số liệu trên đây cho thấy hai qui luật chung là tỉnh càng nghèo thì càng xây nhiều tượng đài hoặc khu di tích, và chi phí thuộc vào hàng đắt nhất. Chỉ có một ngoại lệ trong danh sách trên là Sài Gòn xây tượng chỉ tốn 7 tỉ đồng. (Thật ra, tôi dùng chữ “chỉ” là đáng bị ném đá). Còn một qui luật phụ nữa là các tỉnh có vẻ thích xây những tượng đài gì có liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nơi như Nghệ An xây khu di tích thờ luôn cả chị em của ông! Qui luật hai này cho thấy ông cụ tuy qua đời đã lâu nhưng uy danh của ông vẫn có thể giúp các tỉnh nghèo có dịp kiếm chác. Chợt nhớ đến những vần thơ bất hủ của Tố Hữu khi thi sĩ Khóc Bác (3):

[…]
Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.
[…]
Bác đã lên đường theo tổ tiên
Mác – Lênin, thế giới Người hiền
Ánh hào quang đỏ thêm sông núi
Dắt chúng con cùng nhau tiến lên!

Tôi nghĩ các địa phương xây tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh nên khắc những vần thơ này dưới chân tượng hay một nơi nào đó uy nghiêm nhất.

====

(1) http://www.tuyengiao.vn/…/Xay-moi-them-58-tuong-dai-Chu-tic…

(2) http://tuanvannguyen.blogspot.com.au/…/cau-sao-ban-o-viet-n…

(3) http://dantri.com.vn/blog/bac-oi-1378458602.htm

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

Phát hiện hàng ngàn chai rượu Trung Quốc có chứa Viagra

Phát hiện hàng ngàn chai rượu Trung Quốc có chứa Viagra

Trung Quốc vừa tịch thu hàng ngàn chai rượu ở Liễu Châu, miền Nam Trung Quốc, trong đó sử dụng Viagra làm một thành phần cho rượu.

Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm địa phương hôm 2/8 cho biết họ đã tịch thu 5.300 chai rượu và các gói bột Sildenafil, một loại thuốc chống rối loạn chức năng cường dương và được bán trên thị trường với tên gọi là Viagra.

Giới hữu trách cho biết loại thuốc kích dục trên đã được cho vào 3 loại rượu “bạch tửu” hay “thiên tửu”, loại rượu ngũ cốc đắt tiền ở Trung Quốc.

Tất cả các chai rượu bị tịch thu đều có quảng cáo về các công dụng ích lợi cho sức khỏe trên nhãn chai. Tuy nhiên, Viagra vốn được xem là không an toàn cho những người bệnh tim và luật pháp Trung Quốc cấm việc sử dụng Viagra làm phụ liệu cho thực phẩm.

Công an đang tiếp tục điều tra hai nhà máy Guikun và Deshun ở Liễu Châu, nơi có số rượu bị tịch thu trên.

Tổng trị giá số hàng bị tịch thu lên đến 113.000 đô-la.

Vụ việc này gây thêm quan ngại về độ an toàn trong thực phẩm Trung Quốc vốn đã có nhiều “tai tiếng” trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi giới chức trách tỉnh Hồ Nam tịch thu hàng trăm tấn thịt thối đã được trữ đông lên đến 40 năm và được nhập lậu qua ngả Việt Nam hồi tháng 6 vừa qua.

Nguồn: UPI, IB Times, RT.

Tính chính trị của tin đồn

Tính chính trị của tin đồn

Nguyễn Hưng Quốc

Ở Việt Nam, hầu như lúc nào cũng có tin đồn này nọ. Mới nhất và có lẽ cũng hấp dẫn nhất là các tin đồn liên quan đến đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Việt Nam. Thoạt đầu, người ta đồn ông Thanh bị ám sát ở Paris; sau đó, đồn ông chết vì bệnh ung thư phổi. Tin đồn lan rộng và lan mạnh đến độ hãng thông tấn DPA của Đức cũng tin là thật khiến đại diện Bộ quốc phòng phải lên tiếng cải chính. Đến lúc ông Thanh bay từ Pháp về Việt Nam, được chụp hình và đăng báo, người ta vẫn không tin: so sánh chiều cao và gò má của người trong bức ảnh với các ảnh cũ của Phùng Quang Thanh, người ta cho đó chỉ là người giả. Rồi Phùng Quang Thanh xuất hiện trong chương trình văn nghệ “Khát vọng đoàn tụ” được phát hình trong cả nước, người ta vẫn khăng khăng cho đó chỉ là người giả. Chưa hết. Sau khi ít nhiều nhìn nhận ông Thanh còn sống, người ta lại tung ra tin đồn khác: ông Thanh bị quản thúc tại trụ sở Bộ quốc phòng! Gắn liền với tin đồn ông Thanh bị quản thúc là tin đồn về các vụ đấu đá trong nội bộ giới lãnh đạo Việt Nam, chủ yếu giữa phe thân Tàu và phe thân Mỹ.

Nhớ, cách đây năm bảy tháng, người ta cũng từng đồn đãi rất nhiều về khối lượng tài sản kếch sù của Phùng Quang Thanh và con trai của ông, đại tá Phùng Quang Hải: Cả hai có cả hàng chục biệt thự ở Việt Nam, hơn nữa, còn có cả biệt thự ở Mỹ nữa.

Tất cả những tin đồn ấy có gì xác thực không?

Thật ra, câu hỏi ấy có thể áp dụng cho tất cả các loại tin đồn chứ không chỉ nhất thiết dành cho các tin đồn chung quanh Phùng Quang Thanh. Tin đồn, tự bản chất, là một thứ diễn ngôn (discourse) gắn liền với thông tin nhưng lại không phải là thông tin chính thức. Tin đồn nào cũng dựa trên một số sự kiện cụ thể nhưng nó đưa ra một tự sự (narrative) và một cách diễn dịch khác với các tự sự và diễn dịch chính thống, hay nói theo chữ của Prashant Bordia và Nicholas DiFonzo, trong bài “Problem Solving in Social Interactions on the Internet: Rumor As Social Cognition” (2004), là một “diễn trình giải thích tập thể” (collective explanation process). Bởi vậy, tin đồn chỉ đặc biệt nở rộ khi các tự sự và diễn dịch chính thống không có hoặc không đủ hoặc không đáp ứng được sự tò mò của quần chúng. Nhận định này giải thích tại sao, dù tin đồn hiện hữu khắp nơi và mọi lúc, chúng chỉ thực sự phổ biến ở những nơi các nguồn tin chính thức và chính thống hoặc ít ỏi hoặc bị xem là đáng nghi ngờ. Nói cách khác, tin đồn bộc phát mạnh mẽ ở những nơi thiếu tính minh bạch nhất, nghĩa là, ở những nơi thiếu dân chủ nhất.

Trong ý nghĩa như thế, ngay cả những tin đồn ấy chỉ là đồn thổi, không bám vào một sự kiện chính xác nào cả, vẫn có thể đúng: Nếu chúng không đúng ở sự kiện thì chúng cũng đúng ở ý nghĩa vì chúng phản ánh được những mơ ước âm thầm của quần chúng. Không phải ngẫu nhiên mà đọc những bài viết liên quan đến các tin đồn về cái chết của Phùng Quang Thanh bao giờ chúng ta cũng bắt gặp có sự hả hê nào đó của những người loan tin hoặc bình luận. Ông Thanh có thể không chết: điều này chứng tỏ tin đồn là sai. Nhưng ngay cả như vậy, có một yếu tố vẫn đúng: rất nhiều người mong ông chết. Sự mong ước này không xuất phát từ những ác ý chung chung mà chủ yếu xuất phát từ điểm: người ta cho là ông thân Trung Quốc, hơn nữa, là tướng mà lại có thái độ sợ hãi và hèn hạ trước Trung Quốc.

Tin đồn không những gắn liền với sự thiếu minh bạch mà còn gắn liền với những thời điểm bị khủng hoảng. Thời thái bình an lạc, không ai cần chú ý đến tin đồn làm gì. Thời mọi người chia sẻ với nhau những niềm tin mãnh liệt vào tương lai, người ta cũng không thèm mặn mà với các tin đồn. Chỉ những lúc người ta bị khủng hoảng về niềm tin, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, sắp xảy ra, người ta mới bám víu vào các tin đồn. Tin đồn, như thế, có chức năng trám vào những khoảng trống trong lý trí của quần chúng. Điều này giải thích tại sao không phải chỉ có quần chúng bình dân mới bị lôi cuốn bởi các tin đồn. Ngay cả giới trí thức cũng vậy: đối diện với các tin đồn, óc phê phán cố hữu của họ rất dễ bị tê liệt. Họ cũng theo dõi, cũng tiếp tay phát tán, và một cách âm thầm, tận trong vô thức, cũng tin vào các tin đồn ấy.

Với hai đặc điểm nêu trên, từ xưa đến nay, tin đồn bao giờ cũng gắn liền với chính trị hoặc có ý nghĩa chính trị. Những người cầm quyền hoặc những người có tham vọng cầm quyền, thường sử dụng tin đồn để tự huyền thoại hoá mình hầu thu phục nhân tâm. Mà không phải chỉ có giới làm cách mạng hay làm chính trị. Ngay cả trong giới văn nghệ sĩ cũng như những người được gọi là nhân vật của cộng đồng (public figures), nhiều người cũng thích dùng tin đồn để tự huyền thoại hoá mình như vậy. Tất cả những thứ chúng ta gọi là “giai thoại” hiện nay, thoạt kỳ thuỷ, đều là những tin đồn.

Tin đồn không những có chức năng xây dựng, nó còn có chức năng phá hoại, hay, nói chính xác hơn, chức năng giải hoặc (demystification): Nó làm cho người ta tin vào câu chuyện và khi tin vào câu chuyện, không còn tin vào các huyền thoại được những người có quyền lực nuôi dưỡng. Có thể nói nếu tin đồn bùng phát rộng rãi nhất vào những thời điểm có khủng hoảng, chúng không có chức năng giải quyết khủng hoảng, chúng chỉ làm khủng hoảng trầm trọng thêm; và bằng cách đó, chúng có thể dẫn tới những sự thay đổi.

Với chức năng giải hoặc, tin đồn là một thứ vũ khí của những người yếu. Yếu thì bao giờ cũng là yếu. Nhưng khi những người bị cho là yếu đó là một đám đông, họ lại trở thành một sức mạnh. Quá trình lan rộng để những người yếu ấy trở thành đám đông tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng ở vào thời điểm hiện nay, có một yếu tố vô cùng thuận lợi: internet.

Xưa, phương thức tồn tại chủ yếu của tin đồn là truyền miệng từ người này sang người khác; sau, ngoài truyền miệng, các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền thanh và truyền hình cũng góp phần quảng bá tin đồn. Hiện nay, phương tiện chính là internet; trên internet, hình thức chính là các trang facebook: ở đó, số lượng người đọc rất đông và mức độ lan truyền cũng rất mau lẹ đến độ một số học giả ví chúng giống như bom (rumor bomb).

Đó là lý do tại sao gần đây các nhà nghiên cứu về chính trị học bắt đầu quan tâm đặc biệt đến ý nghĩa của các tin đồn vốn trước chỉ lôi kéo được sự chú ý của các nhà tâm lý học và xã hội học.

Việt Nam thất bại toàn diện trong việc bảo vệ chủ quyền

Việt Nam thất bại toàn diện trong việc bảo vệ chủ quyền

Người Buôn Gió

03-08-2015

Trong suốt khoảng 10 năm trở lại đây, mỗi lần Trung Quốc gia tăng xây dựng trên các quần đảo chiếm được ở Biển Đông. Việt Nam lập đi lập lại một phương thức ứng phó là lên án và đối thoại.

Việc lên án gần như là độc diễn, Việt Nam nói cho người dân Việt Nam nghe.

Trong những hội nghị, hội thảo liên quan đến biển Đông như môi trường, dầu khí, hàng hải mà các quốc gia khác tổ chức. Người Trung Quốc luôn có mặt và đưa bằng mọi cách họ khéo léo lái đến việc khẳng định chủ quyền của họ tại biển Đông, qua những bằng chứng họ đưa. Thậm chí họ dịch công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng thành nhiều thứ tiếng theo quốc gia có hội thảo, hội nghị để phân phát cho khách tham dự.

Ở cấp độ lớn hơn, trong các dịp quan hệ ngoại giao với các nước ở tầm quốc gia, chính khách Trung Quốc luôn thò việc Biển Đông vào bàn nghị sự. Họ luôn trình bày họ đang ở thế bị hại, họ yêu chuộng hoà bình quá đỗi cho nên bị các nước khu vực xung quanh biển Đông lấn chiếm biển đảo của họ. Thâm hiểm hơn, họ cho rằng việc lấn chiếm ấy của các nước , đặc biệt có Việt Nam, là nhằm đánh bắt trộm tài nguyên, hút trộm dầu khí của họ.

Người Trung Quốc đưa ra những hình ảnh, clip, bản nhận tội của dân Việt Nam bị bắt giữ, những biên bản xử lý phạt tiền và những biên lai do ngư dân Việt Nam nộp phạt, những lời thú tội của ngư dân Việt Nam cho các chính khách quốc tế xem.

Vì lý do nào đó, như chủ quan coi thường, hoặc vì quan hệ chính trị trao đổi, nhà nước Việt Nam không để ý đến những việc làm này của Trung Quốc.

Thế nhưng mưa dần thấm lâu, một hình ảnh Việt Nam khuất tất, cơ hội, trộm cắp vặt đã hình thành trong đầu những chính khách quốc tế. Nhất là ở châu Âu. Trong một thống kê của toà án Đức thì có 5000 vụ trộm cắp do người Việt gây ra trong tổng số một trăm nghìn người Việt tại Đức. Chả quốc gia nào ở Châu Âu lạ lẫm với việc người Việt trồng cần sa, buôn lậu, trốn thuế, làm hàng giả, làm lậu, trộm cắp, thịt chó, thịt mèo, buôn người, làm giấy tờ giả nhận con, kết hôn giả…

Phần đa số người Việt phạm tội này nằm trong nhóm Việt Kiều ra đi từ phía Bắc của vĩ tuyến 17 sau năm 1975.

Với những chứng cứ dàn dựng của Trung Quốc và những lời than thở của họ, thêm những hiện thực về các con số toà án sở tại đưa ra. Việc một chính khách không có nợ nần , tình cảm gì với Việt Nam. Ông ta có nghĩ rằng chuyện Việt Nam đánh cá trộm, hút dầu trộm của Trung Quốc là hoàn toàn có thể. Do đó hành động kêu ca của nhà nước Việt Nam về chủ quyền biển đảo thực ra là nhằm che đậy mục đích trôm cắp mà thôi.

Điều đó dẫn đến khi giàn khoan 981 của Trung Quốc xâm nhập vào lãnh hải Việt Nam. Một số tờ báo Châu Âu gọi đó là cuộc cãi vã do tranh nhau khai thác dầu khí.

Các bạn có tin không, chẳng có quốc gia nào đứng ra nói rằng Trung Quốc xâm lược biển đảo của Việt Nam cả. Các bạn cứ thử tìm xem có phát ngôn chính thức của quốc gia nào khẳng định điều ấy. May lắm là sự lên án Trung Quốc có hành vi gây căng thẳng, xây dựng này nọ trong khu vực tranh chấp, số lên án đó không là bao nhiêu so với hàng trăm quốc gia trên thế giới.

Nhà nước Việt Nam đưa ra giải pháp đối thoại với Trung Quốc để giữ chủ quyền. Lặp đi lặp lại cụm từ ” giải pháp đối thoai ” từ năm này sang năm khác,  trưng ra hình ảnh cuộc gặp gỡ này nọ, hai bên thống nhất giữ tinh thần nọ kia để giải quyết. Thực ra là nhà nước Việt Nam lừa dân Việt Nam. Trung Quốc đã nói rất rõ ràng, họ không bao giờ thoả hiệp với lợi ích cốt lõi.

“Trong một bài viết khác, PLA Daily dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn cho biết quân đội nước này cam kết trở thành một lực lượng vì hòa bình, nhưng không bao giờ thỏa hiệp đối với các nguyên tắc cốt lõi.”

Ai cũng biết cái gọi là ”lợi ích cốt lõi ” mà Trung Quốc gọi ở đây là yêu sách chủ quyền của họ tại Biển Đông. Và họ không nhân nhương nào trong vấn đề này, họ  nói không có mâu thuẫn gì với Việt Nam về chủ quyền ở đây để mà đàm phán chuyện này Chỉ có đàm phán về việc xử lý đánh bắt cá trộm, cứu thương, an ninh biển…những vấn đề nhân đạo, an ninh mà bất cứ nước nào thông thường có biển giáp nhau đều bàn.

Vậy là chẳng có chuyện đối thoại, đàm phán giữ chủ quyền giữa Việt Nam với Trung Quốc cả. Bấy lâu nay Việt Nam vẫn che giấu sự thật này, đem những đàm phán tào lao về tuần tra chung, an ninh, cứu trợ ra để lừa dân là đang có tiến triển tốt trong việc đàm phán với Trung Quốc về chủ quyền.  Đây là lý giải cho những thắc mắc của người dân Việt tại sao lãnh đạo hai nước Việt Trung thống nhất xử lý mâu thuẫn biển Đông, mà Trung Quốc vẫn gia tăng xây dựng căn cứ quân sự, gia tăng bắt bớ ngư dân Việt Nam.

Cái gọi là ” tranh thủ sự ủng hộ quốc tế ” của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam đã thất bại bởi nhiều nguyên nhân. Bởi sự gian manh, vặt vãnh từ người dân Việt Nam khi sinh sống ở nước ngoài, đến sự tráo trở, gian lận của nhà nước Việt Nam trong các cam kết về tôn giáo, nhân quyền, pháp luật. Bạn cứ đặt vj trí mình là một chính khách của Đức, Ba Lan, Tiệp, Anh khi đọc hồ sơ về người Việt tại Châu Âu và những nỗi buồn khi làm việc với nhà nước Việt Nam, bạn sẽ hiểu họ nghĩ gì về con người, chế độ Việt Nam ngày nay. Nếu họ có hoài nghi việc Việt Nam gào hét là bị xâm phạm chủ quyền để che đậy hành vi hút dầu trộm, đánh cá trộm có gì là ngạc nhiên.

Cái gọi là tự cường, phát triển kinh tế để tăng sức mạnh quốc phòng cũng thất bại hoàn toàn. Từ khi có cái ý này đến hôm nay, hàng loạt tập đoàn nhà nước nợ đầm đìa, phá sản, giải thể. Tham nhũng, quan liêu, gây thiệt hại, lãng phí tràn lan. Nợ nần ngày càng chồng chất.

Cái gọi là đoàn kết nội bộ để giữ chủ quyền cũng thất bại nốt. Hãy nhìn những cuộc thanh trừng nội bộ hay những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược của người dân trong nước bị đàn áp, những người lên án Trung Quốc bị bắt tù những năm qua thì thấy rõ sự đoàn kết nội bộ của thể chế này có hay không.

Hãy nhìn lại toàn bộ giải pháp giữ chủ quyền mà nhà nước Việt Nam đưa ra từ trước, đến nay rõ ràng đã thất bại hoàn toàn.

Hà Nội ngày nay

Hà Nội ngày nay

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2015-08-03

  • RFA

08032015-hanoi-today.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Một số ý kiến cho rằng cây trồng thay thế trên phố Nguyễn Chí Thanh là cây mỡ?

Một số ý kiến cho rằng cây trồng thay thế trên phố Nguyễn Chí Thanh là cây mỡ?

Vietbao.vn

Hà Nội mùa sang thu, những hàng cây soi bóng mặt hồ, những con đường rợp bóng cổ thụ, thi thoảng trút lá theo con gió mùa… Một Hà Nội mềm mại và huyền nhiệm khí trời đầu thu. Thế nhưng đó chỉ là câu chuyện của ngày hôm qua, của những ai còn nặng lòng với Hà Nội cũ. Một Hà Nội mới với diện mạo lạ lẫm đang phủ dần lên Hà Nội xưa. Hà Nội của phở mắng cháo chửi, Hà Nội của những công viên cây xanh lổ chổ vết thương tâm hồn của dân oan, Hà Nội của hàng ngàn cây xanh chảy máu…

Hà Nội trở nên vô hồn…

Với người Hà Nội, cây xanh và bờ hồ là chất liệu không thể thiếu để làm nên gương mặt Hà Nội. Người ta ví cây xanh như mái tóc huyền hoặc và bờ hồ như đôi mắt sâu thẳm của người đẹp Hà Nội. Đáng tiếc là bờ hồ đang hẹp dần và cây xanh cũng bắt đầu bị kẻ xấu nhòm ngó, thành phố trở nên xa lạ trong mắt những người yêu thành phố ngàn năm này.

Ông Luật, một cư dân lâu năm ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội chia sẻ:“Các phố thì người ta bảo trồng cây gì đó, hình như là mỡ. Nhưng trồng thì trồng, làm sao bằng hồi xưa được, toàn cây cổ thụ, cây cổ thụ phải đẹp hơn chứ. Báo chí cứ nâng quan điểm lên chứ, nào là đẹp, đường xá thông thoáng…”
Theo ông Luật, Hà Nội đối với ông là một cái nôi, trong đó gồm cả nôi văn hóa, kinh tế và chính trị suốt cả hàng ngàn năm nay. Mỗi dấu tích trên thành phố Hà Nội đều mang bóng dáng lịch sử và văn hóa. Những bờ hồ, những con đường, những ngôi chùa, những bộ trang phục và nếp ứng xử thanh lịch đều cho thấy một Hà Nội ngàn năm.

Thế nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Hà Nội trở nên bừa bộn, nham nhở và trông chẳng còn là một Hà Nội. Sở dĩ phải nói đến mức độ như vậy bởi quá trình qui hoạch đô thị đã đi từ lỗi này sang lỗi khác, xe cộ tấp nập nhưng đường sá lại không đáp ứng được với lưu lượng xe hiện có. Thay vì ngành giao thông sẽ điều tiết, mở rộng các luồng giao thông ra vùng ven để giữ một Hà Nội xưa yên tĩnh và cổ độ, người ta lại nghĩ đến chuyện mở rộng đường phố Hà Nội.

Theo ông Luật, không có sai lầm nào giống sai lầm nào và đương nhiên quyết định mở rộng những con đường trong lòng phố cổ để theo kịp với nhịp sống hiện đại là một sai lầm quá cơ bản. Điều này thể hiện tầm nhìn ngắn ngũi của nhiều nhà hoạch định chính sách trong bộ máy nhà nước. Và hàng ngàn ngôi nhà trong khu phố cổ cũng như cây xanh trên đường phố Hà Nội rơi vào tầm ngắm của các nhà hoạch định vô lương tâm này.

” Các phố thì người ta bảo trồng cây gì đó, hình như là mỡ. Nhưng trồng thì trồng, làm sao bằng hồi xưa được, toàn cây cổ thụ, cây cổ thụ phải đẹp hơn chứ. Báo chí cứ nâng quan điểm lên chứ, nào là đẹp, đường xá thông thoáng

Ông Luật”

Ông Luật nhấn mạnh rằng phải nói đây là những nhà hoạch định vô lương tâm, không có tinh thần cộng đồng. Bởi nếu có tinh thần cộng đồng thì Hà Nội đã không rơi vào bài toán hóc búa như hiện tại. Nghĩa là những nhà hoạch định có hai phương án để lựa chọn: Hoặc là Hà Nội trở nên huyền nhiệm, đẹp và có văn hóa; Hoặc là Hà Nội ra sao cũng mặc kệ nhưng các nhà hoạch định có tiền đầy túi.

Và đương nhiên phương án thứ hai là phương án của những kẻ vô lương tâm. Rất tiếc là các nhà hoạch định, qui hoạch thành phối đã chọn phương án vô lương tâm để xử sự với thành phố ngàn năm tuổi này. Ở lựa chọn thứ hai, vừa cho ra một lượng gỗ lớn để có tiền tư túi, vừa tạo ra được một sự hỗn độn về đền bù, giải tỏa và quĩ đất tiềm năng để bán sau này.

Khi cây xanh bị chặt bỏ, lượng gỗ đi về đâu? Câu hỏi này chưa bao giờ được trả lời minh bạch. Trong khi đó, hàng chục ngàn cây xanh mới trá hình mang vào trồng trong thành phố khiến cho thành phố trở nên xấu xí và nhặng xị. Khi qui hoạch các con đường, lượng tiền đền bù hàng trăm ngàn tỉ, đã chi cho nhân dân được bao nhiều đồng? Câu hỏi này cũng không có câu trả lời. Và khi các quĩ đất vàng trong thành phố được bán, có bao nhiêu người Hà Nội gốc còn trụ nổi nơi này với giá đất cao ngất? Câu hỏi này vô phương cứu chữa.
Và đặc biệt, những bờ hồ trong thành phố, từ Hoàn Kiếm đến Thuyền Quang, Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch… Theo ông Luật là những hồ nước xanh như đôi mắt người đẹp Hà Nội đã bị ô nhiễm nặng, bị người ta xây dựng nhà hàng, quán xá đủ các loại và lấn chiếm lòng hồ quá nhiều nhưng chẳng thấy ai bị động đến, chỉ có hồ là tổn thương nặng nề theo thời gian.

Sông Hồng-Sông Hồng, đoạn chảy qua nội thành Hà Nội...Rác thải, xác động vật chết bị vứt đầy trên mặt sông. Ảnh chụp tại chân cầu Nhật Tân (VOV).

Sông Hồng-Sông Hồng, đoạn chảy qua nội thành Hà Nội…Rác thải, xác động vật chết bị vứt đầy trên mặt sông. Ảnh chụp tại chân cầu Nhật Tân (VOV).

” Họ ăn uống rồi thả đồ trên hồ luôn, từ thức ăn, đại tiện, tiểu tiện, nó thả thẳng xuống hồ chứ không xử lý gì hết. Đương nhiên những người kinh doanh đó phải có thế lực chứ không có thế lực thì làm sao mà làm được

Một cư dân Hà Nội”

Những mặt hồ thương tật

Một cư dân Hà Nội khác, tên Lủng, ở quận Ba Đình, buồn bã chia sẻ thêm: “Nói về diện tích thì các hồ hẹp hơn hồi xưa nhiều, nước thì ô nhiễm nặng nề. Bây giờ các hồ được kè rồi nên dân không lấn chiếm để xây nhà được nữa, lấn thì lấn hồi xưa rồi. Bây giờ lấn là mấy cái thuyền, nhà hàng nổi trên hồ đó, đó cũng là một hình thức lấn chiếm mặt nước trên hồ để kinh doanh. Họ ăn uống rồi thả đồ trên hồ luôn, từ thức ăn, đại tiện, tiểu tiện, nó thả thẳng xuống hồ chứ không xử lý gì hết. Đương nhiên những người kinh doanh đó phải có thế lực chứ không có thế lực thì làm sao mà làm được.”

Theo chị Lủng, hiện nay, mặc dù các bờ hồ ở Hà Nội như Hồ Tây, hồ Thuyền Quang, hồ Hoàn Kiếm hay hồ Trúc Bạch vẫn còn rất đẹp, thơ mộng đối với du khách. Tuy nhiên đối với một người sống với Hà Nội như chị Lủng, những bờ hồ này đã bị lấn chiếm quá nặng. Và chuyện lấn chiếm bờ hồ nếu nhìn bên ngoài chỉ thấy diện tích hồ bị người ta khai thác không hợp lý. Nhưng nhìn về lâu về dài, mọi nguồn nước thải, rác và những chất hóa học để rửa chén bát đều thải xuống hồ.

Với đà này, chừng vài năm nữa, những bờ hồ thơ mông ở Hà Nội sẽ thành một lối nhỏ nằm vắt qua nơi ao tù, hôi thối.

Đó là những hồ lớn, còn những hồi nhỏ nằm trong thành phố Hà Nội và vùng ven Hà Nội, hầu như không có bờ hồ nào là không bị xâm lấn, xây dựng trái phép. Và hầu hết các công trình xây dựng trên bờ hồ đều nhằm mục đích kinh doanh ăn nhậu, tụ điểm hàng quán.

Chị Lủng đưa ra kết luận là với đà này, vài năm nữa thôi, những ca khúc, tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp Hà Nội cũng như mang dáng dấp, hồn vía Hà Nội ngàn năm sẽ trở nên lạc lỏng, vô nghĩa trong con mắt giới trẻ Hà Nội. Bởi giữa văn chương, âm nhạc và thực tế có khoảng cách quá xa.

Hà Nội lại sắp vào mùa thu, những ca khúc về một Hà Nội thơ mộng, huyền nhiệm và lãng mạn lại cất lên đâu đó trong từng góc phố. Nhưng có một Hà Nội khác đang hiện hình, đang phủ bóng lên mùa thu lãng mạn và thơ mộng của Hà Nội.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Vinh dự và lòng tin

Vinh dự và lòng tin

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-08-03

08032015-honnor-n-belief.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

Những cái loa trên các nẻo đường không thể thiếu trên các nước cộng sản

Những cái loa trên các nẻo đường không thể thiếu trên các nước cộng sản

AFP

Lòng tin và truyền thông

Blogger Song Chi viết rằng người dân đã mất lòng tin vào nhà cầm quyền và hệ thống truyền thông của họ, sau bao nhiều lần sự thật bị bưng bít và bóp méo.

Ý đó được trích ra từ bài viết mới của bà ngay sau khi nghi ngờ của dư luận xung quanh câu chuyện của đại tướng Phùng Quang Thanh dường như đã được giải tỏa. Nhưng dù hình ảnh, phim ảnh truyền hình về vị đại tướng đã được loan báo rộng rãi, nhiều người vẫn không tin.

Người ta vẫn tiếp tục đặt những nghi vấn, nêu lên những giả thuyết về các âm mưu,… thậm chí trên trang blog Đinh Tấn Lực, tác giả đặt ra tới 62 dấu hỏi khác nhau xoay quanh sự việc nóng nhất trên các trang truyền thông điện tử một tháng qua. Sự việc ấy không chỉ được bàn tán trên các trang ở hải ngoại hay những trang không do nhà nước kiểm soát, mà cả giới truyền thông chính thống cũng đã được huy động rất rầm rộ trong cuộc chiến truyền thông này. Cuộc chiến mà nhiều người cho rằng truyền thông của đảng cộng sản vẫn chưa chiếm lại được trận địa quan trọng, trận địa lòng tin.

Một trong những nguyên nhân của sự thất bại ấy, theo Song Chi chính là chuyện báo chí của nhà nước chỉ được phép đưa tin những gì mình được phép. Mà những điều được phép ấy không phải bao giờ cũng là sự thật. Blogger Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc viết rằng chỉ có một vũ khí duy nhất mà truyền thông chính thống của VN có thể dùng để chiến thắng, đó là sự thật.

Cũng liên quan đến truyền thông của nhà nước, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn kể lại trên trang của mình câu chuyện không biết là vui hay buồn của chiếc loa phường, một công cụ cơ sở của hệ thống truyền thông của đảng ở địa phương. Giáo sư Tuấn kể lại rằng một người bạn ông đã rất ngạc nhiên trong lần đầu đến Việt nam và bị quấy rầy bởi tiếng loa phường vào một buổi sớm. Người bạn nói rằng ông tưởng đâu Việt nam đã ra khỏi thế giới cộng sản gắn liền với chiếc loa phường từ lâu rồi.

” Cái loa phường nó hiện diện như là một di sản của một thời mông muội. Nó trịch thượng vì nó lúc nào cũng lên giọng dạy đời thiên hạ. Nó thách thức công chúng, vì nó biết công chúng ghét nó nhưng không làm gì được. Nhưng hơn hết, nó là một chứng từ của một sự cai trị bằng tuyên truyền

Giáo sư Tuấn”

Giáo sư Tuấn kết luận:

Cái loa phường nó hiện diện như là một di sản của một thời mông muội. Nó trịch thượng vì nó lúc nào cũng lên giọng dạy đời thiên hạ. Nó thách thức công chúng, vì nó biết công chúng ghét nó nhưng không làm gì được. Nhưng hơn hết, nó là một chứng từ của một sự cai trị bằng tuyên truyền. Việt Nam đã đổi mới khá nhiều, nhưng có cái không/chưa đổi mới theo kịp đà văn minh của nhân loại: đó là cái loa phường.

Các sinh viên ngồi theo dõi những bài diễn văn của một bưởi lễ ở Quảng trường Ba Đình tại Hà Nội

Các sinh viên ngồi theo dõi những bài diễn văn của một bưởi lễ ở Quảng trường Ba Đình tại Hà Nội

Vinh dự

Cái thời mà Giáo sư Tuấn đề cập dường như chưa kết thúc, mặc dù cảnh xếp hàng chờ đổi tem phiếu, hay những bộ đồng phục sẩm màu duy nhất trên đường phố Hà nội đã biến mất từ lâu. Thay vào đó là những chiếc xe đắt tiền mà ông gọi là những chiếc xe phản xã hội của giới quan chức nhà nước. Một trong những chiếc đó được giới blogger phát hiện là đã xuất hiện như điểm nhấn quan trọng trong bức ảnh sân bay Nội bài đón tướng Thanh trở về. Nhưng điều quan trọng hơn trong xã hội hiện nay lại là vinh dự của người Việt dường như đang mất đi sau hàng loạt vụ ăn cắp của người Việt khi đi nước ngoài.

Có thể là những người cộng sản không đồng tình với Giáo sư Tuấn khi gọi thời kỳ của họ là thời kỳ mông muội, nhưng họ dường như cũng không đồng tình với ông khi ông gọi họ là những người cộng sản. Trong bài viết Một nghịch lý rất thú vị về chữ cộng sản, ông kể rằng khi những người cộng sản nói về nhau thì họ hay dùng từ cộng sản để ca ngợi nhau, nhưng khi những người khác dùng từ đó để nói về họ thì họ lại không đồng ý và cho đó là miệt thị hay hay kém thân thiện. Ông kết luận bằng một thông điệp gửi đến những người cộng sản:

Hai chữ “cộng sản” chẳng có gì đáng sợ hay nhạy cảm cả. Những người cộng sản nên tự hào về chí hướng của họ, và không nên khó chịu khi người khác đề cập đến mình là “người cộng sản” hay “theo cộng sản

Trong khi những người cộng sản từ chối danh hiệu mà họ tự đặt cho mình thì dường như họ lại đang tiến hành một cuộc tranh giành quyền lực rất sôi động. Giới blogger phân tích nhiều tin tức về những vụ bổ nhiệm mới trong hàng ngũ lãnh đạo, cũng như số lượng cán bộ xin về hưu hay bị cho về hưu cao vụt lên trong mấy tháng qua.

Blogger Người Buôn Gió viết trong bài Bổ nhiệm và không tái bổ nhiệm:

Người dân Việt Nam như những khán giả dễ tính ngồi xem vở kịch. Một vở kịch đặc biệt có một không hai trên thế giới, đó là việc thay diễn viên  bất thình lình có thể do đạo diễn hoặc ông viết kịch bản hay ông chủ nhiêm sản xuất, nhà đầu tư. Thậm chí là ông giám đốc nhà hát luôn.

Những chiếc xe trang bị loa phóng thanh của một chế độ độc đảng đi kêu gọi bầu cử

Những chiếc xe trang bị loa phóng thanh của một chế độ độc đảng đi kêu gọi bầu cử

Một vở kịch như thế  chỉ mang đến thông điệp rối ren, hỗn loạn, bất ổn, chả đi đến đâu, không có hồi kết.

” Người dân Việt Nam như những khán giả dễ tính ngồi xem vở kịch. Một vở kịch đặc biệt có một không hai trên thế giới, đó là việc thay diễn viên bất thình lình có thể do đạo diễn hoặc ông viết kịch bản hay ông chủ nhiêm sản xuất, nhà đầu tư. Thậm chí là ông giám đốc nhà hát luôn

Người Buôn Gió”

Blogger Cánh Cò thì bình luận về tướng Phùng Quang Thanh, nhân vật được cho là trung tâm trong vở kịch của cuộc đấu tranh quyền lực đó. Cánh Cò viết rằng ông Thanh nên vui lòng chấp nhận vì đảng của ông đã vượt trên cả thượng đế để định đoạt số phận của ông. Cựu nhân viên ngoại giao Việt nam, ông Đặng Xương Hùng đang tị nạn chính trị tại châu Âu thì cho rằng cái tựa đề Khát vọng đoàn tụ của buổi tối ông Thanh xuất hiện tại Bộ quốc phòng, mang nhiều nghĩa mỉa mai.

Tiền đề của dân chủ

Những người Việt vô danh đang làm gì?

Theo nhạc sĩ Tuấn Khanh, nhiều người Việt nam đang làm những công việc âm thầm. Đó là những người thợ làm bánh mì khôi phục lại chiếc bánh đủ cân đủ lượng, những người ngư dân âm thầm đương đầu với giặc biển Trung quốc, hay những người nông dân đòi lại đất đai cha ông. Tuấn khanh gọi những hành động đó là Cứu chuộc phẩm giá, phẩm giá của người Việt mất mát mấy chục năm qua, mất vì hàng đoàn phụ nữ đứng chờ ở khu mại dâm ở đảo quốc Singapore, hay những du khách sang trọng người Việt lấy cắp tại Thụy sĩ.

Lại có những người Việt tuyệt thực để đòi trả tự do cho tù chính trị, dù họ phải đương đầu với những biện pháp cứng rắn của nhà cầm quyền. Nhà văn Phạm Đình Trọng viết:

Tổng tuyệt thực là bài học vỡ lòng về đấu tranh chính trị của những người trẻ, giúp họ vượt qua tuyên truyền lừa dối của hệ thống giáo dục và truyền thông nhà nước cộng sản để nhận ra hiện trạng đau buồn của đất nước, thân phận ai oán của dân tộc và giúp họ nhận ra trách nhiệm lịch sử của thế hệ trẻ hôm nay.

Những người Việt đó cũng đang nổ lực vận động cho một xã hội dân sự (XHDS) Việt nam. Nhà báo Đoan Trang ghi lại lời Tham tán sứ quán Thụy Điển trước khi bà rời Việt nam:

XHDS là một thành tố rất quan trọng trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Và tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta phải bình thường hóa mọi chuyện. Không có gì là bất thường cả khi chúng ta công khai đến với nhau và cùng hoạt động vì một mục đích chung. Chúng ta đôi khi có thể đồng ý với chính quyền, đôi khi có thể bất đồng với chính quyền, đó cũng là một điều rất bình thường

Một trong những thành phần quan trọng của xã hội dân sự là những tổ chức công đoàn độc lập vẫn chưa được công nhận tại Việt nam. Nhiều người hy vọng rằng những quan hệ mới với Hoa kỳ và phương Tây sẽ làm cho nhà cầm quyền Việt nam bớt lo ngại về công đoàn độc lập. Nhưng cũng có những người cho đó là những tham vọng không trùng với thực tế cuộc sống hiện nay. Một trong những người đó là Giáo sư Alan Phan khi ông trình bày ý kiến ấy trong bài Những ảo tưởng về TPP, theo đó sự hà khắc của chế độ cộng sản không mất đi khi có nhiều quan hệ hữu hảo với phương Tây.

Còn blogger Hiệu Minh thì dường như muốn nhắn gửi đến các nhà cai trị Việt nam hiện nay một thông điệp khi kể lại câu chuyện về hoạt động nghiệp đoàn độc lập trong Ngân hàng thế giới, nơi ông làm việc trong nhiều năm qua. Ông viết rằng Công đoàn mạnh giúp cho bộ máy trong sạch, công đoàn yếu không làm gì nổi trước bọn trộm cắp, làm liều.

Sự không đồng ý với nhà cầm quyền như lời bà Tham tán Thụy điển, hay vai trò của nghiệp đoàn trong bài viết của Hiệu Minh là những điều sẽ làm xã hội cân bằng, tạo nên sự bình đẳng, mà theo lời blogger nhà báo Lê Vũ Bình thì đó là Tiền đề của nền dân chủ.

Rộ tin chiếc cầu biểu tượng của Sài Gòn sắp sập

Rộ tin chiếc cầu biểu tượng của Sài Gòn sắp sập

Nguoi-viet.com

SÀI GÒN (NV) Hình ảnh cầu dây văng Phú Mỹ với vết hở gần 1 mét như chực rơi ra khiến nhiều người hoang mang, trong khi đó cơ quan hữu trách khẳng định “chỉ là khe co giãn, nằm trong quy chuẩn thiết kế.”

Vài ngày qua, hình ảnh cầu Phú Mỹ, một biểu tượng của Sài Gòn, nối quận 7 và quận 2 với vết nứt rộng gần 1 mét, được lan truyền và làm dậy “sóng” dư luận trên các trang mạng xã hội ở Việt Nam.


Khoảng hở này dài gần 1 mét, phía trên mặt cầu được che bằng tấm sắt dày. (Hình: Thanh Niên)

Theo tờ Thanh Niên, trên facebook tối 1 tháng 8, 2015, thông tin từ một trang facebook cho biết cầu Phú Mỹ một biểu tượng của Sài Gòn, nối quận 7 và quận 2 đã bị nứt rộng gần 1 mét, kèm theo đó là một hình chụp từ xa cho thấy có một khoảng hở giữa hai tấm bê tông mặt cầu.

Chủ nhân trang Facebook này còn cho biết giám đốc của mình yêu cầu nhân viên không đi qua cây cầu này: “Hiện trạng cầu Phú Mỹ sếp mình mới chụp hình được, cây cầu phần bê tông dưới bị nứt ra, rất dễ xảy ra tình trạng sụp cầu… Sợ quá nên sếp ra lệnh tất cả mọi người trong công ty ai đi Phú Mỹ Hưng cũng không đi bằng đường Phú Mỹ nữa. Các bạn nhớ cẩn thận khi đi qua đoạn này nhé.” Thông tin này thu hút nhiều người xem và chia sẻ. Trong đó có nhiều bình luận thể hiện sự hoang mang, lo sợ.

Trao đổi với báo Thanh Niên, ông Nguyễn Thành Chung, giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải Sài Gòn cho biết, đã cử cơ quan hữu trách ra cầu Phú Mỹ kiểm tra nhưng không phát hiện bất kỳ dấu hiệu khác thường, cả trên mặt và thân cầu.

Về “dấu nứt” đang lan truyền trên mạng, theo ông Chung, đó là khoảng hở cho bê tông co giãn theo thời tiết. Theo đó, khe hở này có độ rộng (phía phần dầm) khoảng 40cm, còn phía mặt vào khoảng 1 mét. Nhìn từ xa, dường như hai mặt bê tông này sắp trượt ra ngoài. “Chúng tôi đang cho kiểm tra kỹ lưỡng và sẽ có thông tin chính thức đến người dân và các cơ quan báo chí,” ông Chung nói.

Còn theo công ty cổ phần đầu tư xây dựng Phú Mỹ, chủ đầu tư, trong bản thiết kế cầu Phú Mỹ, ngay tại vị trí giữa phần cầu chính và phần cầu dẫn, đơn vị thiết kế chừa một khoảng hở 89 cm. Việc này nhằm để cho bê tông co giãn, tránh tình trạng nứt mặt bê tông do quá trình giãn nở khi nhiệt độ thay đổi.

Cầu Phú Mỹ là cây cầu dây văng hiện đại nhất Sài Gòn rộng 27 mét, dài hơn hai cây số,được khởi công năm 2005 và hoàn thành vào tháng 9, 2009, có tổng mức đầu tư hơn 3,000 tỷ đồng. (Tr.N)

Việt kiều về quê mới biết bị truy nã 25 năm

Việt kiều về quê mới biết bị truy nã 25 năm

Nguoi-viet.com

WESTMINSTER (NV) – Ông Bùi Văn Tánh, sinh ngày 4 Tháng Mười Hai, 1954, sống tại Hoa Kỳ, vừa về thăm quê hương thì bị Công an tỉnh Khánh Hòa bắt giữ về hành vi “cướp ghe, vượt biển ra nước ngoài” từ 34 năm trước, theo tin tờ Pháp Luật ở thành phố Sài Gòn.

Ông Bùi Văn Tánh, Việt kiều về nước sau 34 năm mới biết “bị truy nã 25 năm” và bị bắt (Hình: baokhanhhoa.com)

Theo tờ Pháp Luật, “Công an tỉnh Khánh Hòa vừa vận động thành công ông Bùi Văn Tánh (sinh năm 1956, trú tại phường Vĩnh Trường, TP Nha Trang, hiện đang sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ) là đối tượng bị truy nã ra đầu thú.”

Ông Tánh bị truy nã vì tội “Cướp tài sản” và tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép” theo quyết định truy nã số 121 ngày 24 Tháng Bảy, 1990, của Công an tỉnh Khánh Hòa.

Cũng theo tờ báo này, Tháng Bảy, 1981, ông Tánh cùng một số người khác đến khu vực bãi biển thuộc phường Vĩnh Nguyên (TP Nha Trang) chơi. Thấy có chiếc ghe đang chuẩn bị vượt biển ra nước ngoài, nhóm người này đã nhảy lên cướp ghe và trốn thoát sang Philippines.

Trong khi đó, tờ Khánh Hòa lại đưa tin “Đầu Tháng Bảy, 1990, ông Tánh cùng một số người tham gia vượt biển trốn ra nước ngoài. Tuy nhiên, do lực lượng công an phát hiện và truy bắt, nên số người tham gia đón tàu vượt biển phải bỏ chạy. Riêng ông Tánh lúc đó cùng ba thanh niên khác đã dùng vũ lực cướp tàu, bỏ trốn ra nước ngoài.”

“Sau sáu tháng ở trại tị nạn, ông Tánh được bảo lãnh qua Hoa Kỳ định cư. Từ đó tới nay ông Tánh không hề biết mình bị công an Việt Nam truy nã. Đầu Tháng Tám khi về nước thăm gia đình, được lực lượng công an vận động, ông Tánh đã ra đầu thú.” Tờ Khánh Hòa tường thuật. (Q.D)

THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY, LINH MỤC

THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY, LINH MỤC

Thánh Gioan Maria Vianney, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1786 tại Lyon nước Pháp và sau bao nhiêu khó khăn gian khổ, Gioan Maria Vianney được chịu chức linh mục và được giao phó nhiệm vụ làm cha sở họ Ars, một giáo xứ vừa nghèo vừa khô khan nguội lạnh.  Cha Gioan Maria Vianney đã lãnh nhận giáo xứ này với tinh thần vâng phục cao độ.  Ngài quả là vị mục tử gương mẫu.  Cuộc đời của ngài là cuộc đời chỉ biết lo cho việc loan báo Lời Thiên Chúa, giải tội, cầu nguyện và hãm mình. Có nhiều lúc, khuôn mặt ngài rạng rỡ khác thường, nhờ tình yêu bắt nguồn từ bí tích Thánh Thể mà ngài đem hết lòng sốt sắng để vừa cử hành, vừa thờ phượng.

Khi mới 8 tuổi ngài mới học đọc và biết viết.  Vì nhà nghèo nên được cha sở nuôi dạy, và sau đó đã đưa ngài vào chủng viện.  Vào trong chủng viện ngài không học được gì cả.

Ngày kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tiến tới chức Linh mục không.  Nhưng Vianney không thể trả lời câu nào.

Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn, nói: “Vianney, anh dốt đặc như con lừa!  Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì!”

Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: “Thưa thầy, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh.  Vậy với cả một con lừa này, chẳng lẽ Thiên Chúa không làm được việc gì sao?”

Cuộc cách mạng 1789 bùng nổ khiến thầy Vianney phải bỏ dở việc học.  Nhưng sau đó thầy tìm hết cách để tự học dưới sự dìu dắt của cha xứ.  Nhưng khổ thay, học mấy cũng chẳng nhớ.  May lúc ấy địa phận gặp phải cảnh khan hiếm linh mục nên Vianney được bề trên gọi về để khảo hạch.  Và lẽ dĩ nhiên là lần nào Vianney cũng trượt.

Vianney không nản lòng, cứ tiếp tục học.  Cuối cùng, bề trên thấy thầy bền chí quá bèn gọi cha xứ đến để hỏi về thầy:

– Thầy có lòng đạo đức không?

– Thưa có.

– Thầy có kính mến phép Thánh Thể?

– Thưa có.

– Thầy có siêng năng lần hạt không?

– Thưa có.

Cha chính quyết định: “Thôi, cho thầy chịu chức vì thầy bền chí, chứ nếu cứ khảo hạch mãi thì không bao giờ đỗ được.”

Như vậy thầy Gioan Maria Vianney được làm Linh mục là nhờ “phép chuẩn.”  Vì tuy học hành kém cỏi, đầu óc mù tịt, nhưng nhờ có lòng đạo đức và sự bền chí mà ngài đã được thụ phong Linh mục.  Nhưng khi làm Linh mục rồi, Chúa đã ban cho ngài rất nhiều ơn đặc biệt đề cứu các linh hồn, đến nỗi một lần kia, quỷ Satan đã phải nói với ngài: “Nếu trên thế giới có hai đứa như mày thì bọn tao đành phải thất nghiệp mất.”

Nhìn vào “cuốn tự điển cuộc sống” của thánh Vianney, người ta đọc thấy toàn là những chữ: ăn chay, hãm mình, đền tội, khổ hạnh… Nhìn vào gương mặt của ngài, người ta cũng gặp thấy toàn là những nét: gian truân, khắc khổ, lao nhọc, đau thương… Thế nhưng, trong con người ấy lại chói ngời một quả tim luôn tươi vui, từ ái và yêu thương đối với hết mọi người.

Hàng ngày, vào khoảng 12 giờ, cha Vianney rời nhà thờ và trở về nhà xứ để ăn trưa.  Đến một giờ, ngài lại vào toà giải tội và ngồi ở đó mãi cho đến tối.  Trong khoảng thời gian nghỉ ngơi vắn vòi ấy, cha Vianney phải tranh thủ để làm bao nhiêu công việc.  Thường khi ăn cơm bao giờ ngài cũng đứng, vì ngồi thì sợ sẽ kéo dài giờ ra.  Vừa ăn xong, ngài vội đi thăm các trẻ mồ côi, các em mẫu giáo… Ai cũng thấy ngài vui tươi âu yếm và sung sướng giữa những tâm hồn đơn sơ ấy.  Từ giã các em, ngài rảo bước đến nhà các kẻ ốm liệt; gặp ai dọc đàng, ngài cũng ủi an thăm hỏi.  Các gia đình đều mong cha sở đến thăm, vì đối với họ, dường như nơi ngài tàng ẩn một niềm vui không bao giờ cạn. Lúc trở lại nhà thờ ngài thường trao đổi một vài lời vắn tắt, có lúc rất dí dỏm, hài hước với các khách hành hương đang đứng trước sân nhà thờ chờ đến lượt vào toà xưng tội.

Lần nọ, cha Vianney gặp một bà trong xứ đến chào ngài.  Biết rõ bà là người thật lắm mồm lắm mép, ăn nói huyên thuyên suốt ngày, ngài liền hỏi:

– Trong suốt năm, có tháng nào con nói ít hơn mọi tháng không?

Bà ta bỡ ngỡ, ấp úng thưa:

– Thưa cha, con thì quen thói rồi, tháng nào cũng nói như nhau cả.

– Không, có một tháng con nói ít hơn, con biết tháng nào không?

Bà ấy ngẩn ngơ:

– Tháng nào thưa cha?

– Tháng Hai dương lịch, vì tháng đó chỉ có 28, 29 ngày thôi.

Ai nấy cười phá lên.  Ngài vội vã bước vào toà giải tội.

Lần khác, cha Vianney thấy ở trước sân nhà thờ có một quầy hàng bán chuỗi, tượng ảnh và có cả hình của ngài nữa.  Ngài bèn dừng lại, cầm lấy tấm hình của mình đưa lên cao cho mọi ngài xung quanh coi và nói:

– Thiên hạ dại dột thật.  Cái hình nhăn nheo như con khỉ khô thế này mà cũng phải mua mất một đồng quan!

Các người chung quanh được dịp cười bể bụng vui vẻ.  Cha Vianney cũng cười theo, trả tấm ảnh lại rồi bước vào nhà thờ.

Về sau, Vianney đã trở thành một vị thánh thời danh, thu hút nhiều tâm hồn trở về với Chúa.

Đời sống thánh Gioan Maria Vianney quả là một tấm gương hy sinh vì Chúa và các linh hồn, đúng như lời thánh nhân thường nói: “Hạnh phúc cho một vị linh mục được chết kiệt sức vì phục vụ Chúa và các linh hồn.” Hạnh phúc ấy đã đến với thánh Gioan Maria Vianney vào ngày 2 tháng 8 năm 1859. Thánh nhân lãnh nhận Bí tích Xức dầu bệnh nhân và Bí tích Thánh Thể, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa quảng đại quá khi con không đến với Chúa được, thì Chúa đến với con.” Ngày 4 tháng 8 năm 1859, khi vị linh mục đọc kinh cầu nguyện cho người hấp hối đến câu: “Xin các thiên thần Chúa đến rước linh hồn Gioan vào thành thánh Giêrusalem”, thánh nhân trút hơi thở cuối cùng một cách êm ái.  Ngài hưởng thọ 73 tuổi; làm cha sở họ Arc được 41 năm.

Tin thánh Gioan Maria Viannê qua đời đã lôi kéo cả một biển người đổ xô về giáo xứ Arc. Đoàn người đông đảo đã đi qua trước xác thánh nhân suốt 48 tiếng đồng hồ.

Đức Giám mục giáo phận đã đến chủ sự Thánh lễ an táng và giảng thuyết: ngài nhấn mạnh rằng bao thế kỷ mới được thấy một cuộc đời linh mục như Thánh Gioan Maria Vianney.  Thánh nhân được an táng trong nhà nguyện thánh Gioan Tẩy Giả, bên cạnh toà giải tội mà người ta đã gọi là “phép lạ lớn nhất ở Arc”.

Từ ngày ấy, biết bao nhiêu Hồng Y, Giám mục, linh mục đã đến quỳ cầu nguyện và đặt những cái hôn thành kính lên viên đá mộ thánh nhân. Ngày 31 tháng 5 năm 1925, thánh Gioan Maria Vianney được tuyên Hiển Thánh; và năm 1929, thánh nhân được đặt làm thánh bổn mạng các linh mục chính xứ trên toàn thế giới.

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục Gioan Maria nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của một người mục tử. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho chúng con hằng noi theo lòng bác ái của ngài mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Kitô để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc.

http://tgpsaigon.net

Một lời khinh

Một lời khinh

Tuấn Khanh

Hai ông Phạm Quang Nghị và Nguyễn Thế Thảo trong khi vụng về cố vẽ lại mặt mình bằng việc cho trồng cây lát hoa trong đêm thay cho những hàng cây gỗ mỡ đang chết khô vừa trồng tháng trước sau một đợt “ra quân” ào ào chặt phá cây xanh, không hiểu sao lại không biết ngăn cấp dưới đừng bôi lem vào những khuôn mặt vừa đánh phấn sáp ấy bằng các thứ việc “ra quân” tệ hại khác, như bài viết của Nhạc sĩ Tuấn Khanh mà chúng tôi xin đăng lại dưới đây. Ông Tuấn Khanh khinh bỉ những lời bình luận của ai ai đó nhân danh “văn minh đô thị” a dua với loạt việc làm này, nhưng chúng tôi nghiêng về một nỗi băn khoăn khác, có lẽ tê lòng hơn: Có phải cái thói “ra quân” ào ào làm bất kỳ điều gì mà họ muốn đã trở thành căn bệnh vô liêm “danh bất hư truyền” của Hà Nội không sao thay đổi được nữa, “vá” chỗ này lại “bục” ra chỗ nọ? Người Hà Nội tử tế sẽ cúi đầu tủi hổ không để đâu cho hết. 

Bauxite Việt Nam

Không phải lúc nào cũng có, chuyện một truyền thống tốt đẹp từ miền này lại lan được sang miền khác, nếu như truyền thống đó không thuyết phục được lòng người.

Những bình trà đá rất đỗi quen thuộc ở Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung từ cả thế kỷ nay, đột nhiên bỗng trở thành sự kiện lớn ở Hà Nội – cái nôi cao đẹp của văn hoá xã hội chủ nghĩa.

Sự cho đi với tha nhân, không toan tính đột nhiên bị các nhóm trật tự đô thị, dân phòng… ập đến tịch thu không có một mẩu biên lai. Họ nói những bình trà đá nhỏ nhoi đó làm mất trật tự đô thị, điều mà ai cũng phải ngạc nhiên, so với những quán chè nước, cà phê ở trung tâm đô thị vốn đã cống nạp tiền làm ăn cho các khu vực, thì vẫn được hoạt động tràn xuống mặt đường.

Một cô bạn Hà Nội nhắn với tôi, thật ngắn gọn, về câu chuyện những bình trà đá miễn phí bị tịch thu đó: “thật khốn nạn!”.

Không phải lúc nào văn minh và nhân ái cũng được tiếp nhận. Việc tịch thu trà đá miễn phí ở Hà Nội nhắc cho người ta nhớ chuyện những vị linh mục truyền giáo tìm đến những vùng mọi rợ với ước mơ xây dựng điều tốt đẹp, đã bị giết và hò reo ăn thịt ngay tại chỗ. Không khác gì.

Một tác giả nào đó viết rằng những người cho khách qua đường uống nước miễn phí, cần phải bị phạt nặng vì gieo rắc truyền nhiễm cho mọi người, là thiếu ý thức và thiếu văn minh.

Nghe thoạt đầu có vẻ như hợp lý, nhưng soi rọi tận cùng, mới thấy đó là loại lý luận tồi tệ của kẻ chờ gió phất cờ. Loại nguỵ biện xã hội – cơ hội chủ nghĩa.

Để nói về truyền nhiễm, có lẽ chúng ta cũng nên bắt đầu phạt nặng mọi quán ăn vì vẫn dùng chung chén, dĩa, ly… và quy định con người theo thời chiến: đi đâu cũng mang bát, muỗng… theo tư tưởng đôi đũa bác Hồ.

Hãy nên nhớ rằng một bình nước chia sẻ, không có nghĩa là mọi người đều uống vào đấy, mà có cả những người đến để sớt vào bình của mình mang đi, hoặc uống bằng chính ly của mình. Với ý kiến của tác giả ấy (có thể mang sự lo ngại của nền giáo dục miền Bắc XHCN), thì sự vô ý thức của con người có thể dẫn đến bệnh truyền nhiễm. Nhưng ở mặt bằng văn hoá cơ bản của miền Nam từ cả thế kỷ, con người khi dùng chung, đều đã có ý thức của mình. Đó là sự khác biệt lớn mà hôm nay thì mới bị cào bằng.

Người ta không hủy diệt truyền thống với bộ dạng học đòi văn minh hay nguỵ biện. Sự tử tế cần được dắt tay vào những con đường đúng và gìn giữ nó – theo một quy định hỗ tương của cộng đồng. Nếu truyền thống tốt đẹp đó sống trong một yêu cầu, quy định đúng về vệ sinh cộng đồng, thì vẫn tốt hơn sự rầm rập cướp giật ghê tởm được nhìn thấy.

Sự ngụy biện và bao che cho bọn cường hào ác bá cướp tài sản của người khác bằng lý lẽ trật tự đô thị, chỉ vẽ ra sự hỗn mang của một xã hội không còn biết nghĩ, chỉ biết xuẩn động.

Con người cần phải tập ngước nhìn, trước khi tập bước đi vào văn minh. Để biết mình ra sao, con người cũng đơn giản cần biết tập cúi nhìn, trước khi phóng uế vào chính chân mình.

Ngày xưa, khi các phong trào đấu tranh hổn hển cùng uống chung ca nước của các bà mẹ lén lút yểm trợ thì luôn được ca ngợi. Giờ thì những ca nước ấy bị đạp bỏ, bị ghê tởm, có thể bởi các nhân vật đấu tranh ấy đã làm quen với văn minh, uống nước đóng chai. Hoặc việc ca ngợi đó chỉ là giả dối và lợi dụng sự thật thà của nhân dân.

Tôi khinh những bài lý luận trên đất nước này, lúc này, luôn có vẻ dân chủ và khoa học, luôn có vẻ chọn đứng trên mặt trận tuyến đầu, nhưng khi vacccine 3 trong 1 chích trẻ con đến chết hay buộc đóng phí xe máy như thắt cổ dân, thì các tác giả ấy luôn câm miệng.

Tôi khinh những kẻ cơ hội, luồn lách qua các khe hở dân chủ để chứng minh mình tiên phong và tiến bộ, múa may ngòi bút vào chỗ hư không nhưng khi nhìn thấy bọn cẩu quan tham nhũng hay công an đánh chết người vô tội thì tảng lờ như chuyện ở một quốc gia khác.

Một lời khinh không chỉ nhằm đến một ai, mà tôi muốn phát đi tung tẩy trên đất nước này, trúng ai thì nhục nấy chịu. Những kẻ ấy nay đang tràn lan trên đất nước tội nghiệp này.

T.K.

Tham khảo:

http://m.thanhnien.com.vn/story/nen-phat-nang-nhung-nguoi-dat-tra-da-tu-thien-via-he-sid-990530

Nguồn: Nguồn: https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2015/08/02/mot-loi-khinh/