Ukraine chính là tương lai của Việt Nam và các nước nhỏ khác

Ba’o Tieng Dan

27/02/2025

 Trần Hữu Huỳnh

LGTTác giả bài viết, LS Trần Hữu Huỳnh từng là Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và là cựu Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)… Ông tốt nghiệp khoa Luật tại Trường Đại học Tổng hợp Kiev năm 1987.

LS Trần Hữu Huỳnh. Nguồn: Bộ Tư pháp VN

Lời bình của nhà báo Vũ Kim Hạnh: Vì có mấy người thích nói rằng, chuyện nội bộ nước mình sao không dám nói gì, mà nói chuyện thiên hạ xa xôi, nên sẵn dịp đọc bài này mình trả lời thắc mắc trên: Chuyện nước khác không xa xôi đâu ạ, khi mà nước giàu hơn, lớn hơn, mạnh hơn, bất chấp đạo trời, pháp luật quốc tế, đòi chiếm nước này, sáp nhập nước kia, tống tiền nước nọ mà thành công thì… đến phiên nước mình sẽ tính sao? Cứ làm ngơ, né tránh “chuyện khó nói” đó được không?

***

Sau đây là bài viết của LS Trần Hữu Huỳnh. Tựa bài do Tiếng Dân đặt:

Sáng nay, thấy tin dân Mỹ biểu tình ủng hộ Ukraine, yêu cầu “trả lại vũ khí hạt nhân lại cho Ukraine” (ảnh 1).

Vì có một số bà con chê Ukraine ngu, dại, phản trắc, gây cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt” tôi xin gửi bà con thông tin có liên quan về Ukraine sau khi Ukraine tách khỏi Liên Xô, đã có ít nhất là có 2 hiệp định lớn nhằm giải quyết vấn đề Ukraine hậu xô viết:

  1. Hiệp định 1994 về kho vũ khí hạt nhân trên đất Ukraine (Bản ghi nhớ Budapest)

Thời gian ký kết: Ngày 5 tháng 12 năm 1994 tại Budapest, Hungary.

Các bên tham gia: Ukraine, Nga, Mỹ và Anh.

Nội dung chính: Ukraine đồng ý từ bỏ kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba thế giới (thừa kế từ Liên Xô) và gia nhập Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) với tư cách quốc gia phi hạt nhân.

Đổi lại, Nga, Mỹ và Anh cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và biên giới hiện tại của Ukraine, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa Ukraine, đồng thời hỗ trợ nếu Ukraine bị tấn công (đặc biệt liên quan đến vũ khí hạt nhân).

Kết quả: Đến tháng 6 năm 1996, Ukraine hoàn tất việc chuyển giao toàn bộ vũ khí hạt nhân cho Nga và tháo dỡ các cơ sở liên quan với sự hỗ trợ của Mỹ.

Ý nghĩa và tranh cãi: Hiệp định được xem là bước đi quan trọng trong kiểm soát vũ khí toàn cầu thời hậu Chiến tranh Lạnh, nhưng sau này, nhiều người Ukraine cho rằng việc từ bỏ vũ khí hạt nhân là sai lầm khi Nga vi phạm cam kết (như vụ sáp nhập Crimea năm 2014).

  1. Hiệp định Minsk

Thời gian ký kết: Minsk I (tháng 9 năm 2014) và Minsk II (tháng 2 năm 2015) tại Minsk, Belarus.

Các bên tham gia: Ukraine, Nga, phe ly khai thân Nga ở Donetsk và Luhansk, với sự trung gian của Pháp, Đức (định dạng Normandy) và giám sát của OSCE.

Nội dung chính:

Minsk I: Nhằm chấm dứt giao tranh ở miền Đông Ukraine, kêu gọi ngừng bắn, rút vũ khí hạng nặng, trao đổi tù nhân và giám sát bởi OSCE, nhưng không được thực thi hiệu quả.

Minsk II: Củng cố Minsk I, yêu cầu ngừng bắn từ ngày 15/2/2015, rút vũ khí hạng nặng tạo vùng đệm, rút lực lượng nước ngoài khỏi Ukraine, tổ chức bầu cử địa phương ở Donetsk và Luhansk theo luật Ukraine, cải cách hiến pháp để trao quyền tự trị cho miền Đông, và khôi phục kiểm soát biên giới cho Ukraine.

Kết quả: Dù giảm cường độ xung đột, các bên không tuân thủ đầy đủ (Nga phủ nhận hiện diện quân sự, Ukraine phản đối bầu cử dưới sự kiểm soát của phe ly khai), khiến thỏa thuận không đạt được hòa bình bền vững.

Ý nghĩa: Là nỗ lực ngoại giao chính để giải quyết xung đột Nga-Ukraine ở Donbas, nhưng bị coi là thất bại do thiếu sự thực thi và bất đồng sâu sắc giữa các bên.

Cả hai hiệp định đều phản ánh những thời điểm quan trọng trong lịch sử Ukraine, liên quan đến an ninh quốc gia và quan hệ với Nga, nhưng đều để lại nhiều vấn đề chưa giải quyết.

Lời bàn của tui (Có tham khảo AI):

1 Quốc gia có quyền tự quyết không?

Câu trả lời là “Có”, Hiến chương LHQ đã quy định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết; dựa trên quyền đó, các dân tộc tự do quyết định chế độ chính trị của mình và tự do mưu cầu phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa”.

  1. Nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ có phải là nguyên tắc của LHQ không?

Câu trả lời là “có”! Nguyên tắc này cũng đã được Việt Nam nhiều lần sử dụng để đấu tranh với các thế lực nước ngoài.

  1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng hoà bình, thương lượng, không được dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, có phải đã được ghi trong Hiến chương LHQ không?

Câu trả lời là “Có”. Việt Nam ta luôn lên án mọi hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế.

  1. Dựa trên các nguyên tắc đó, tui lên án bất kỳ mọi hành động quân sự, dưới bất kỳ danh nghĩa nào, viện bất cứ một lý do nào như để dạy cho ai “một bài học” hôm qua, hay “mở chiến dịch quân sự đặc biệt” hôm nay để chống lại một quốc gia có chủ quyền khác khi họ quyết định lựa chọn tương lai cho chính mình.

Biện minh cho xâm lược hôm nay có nghĩa là mình tự trói quyền tự bảo vệ trong tương lai. Có bạn chê tui ngây thơ, lý thuyết, rằng thế giới xưa nay “luật trong tay kẻ mạnh”, mình “yếu không nên ra gió”, nhưng:

  1. i) Nước nhỏ không dựa vào chính nghĩa và luật pháp quốc tế thì biết dựa vào cái gì và:
  2. ii) Nhiều khi “cây muốn lặng gió chẳng đừng”, bão hung tàn nó nổi lên thì ngả nghiêng tre pheo, liệu có chịu nổi?

(Biển Đông theo Luật biển của LHQ và theo cái gọi là “thực tế lịch sử” là tiếp cận theo hai cách khác nhau và kết quả có thể khác nhau đó nha).

Những lúc này tôi lại hay nhớ đến lời vua Lê Thánh Tông “Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại tự tiện vứt bỏ?… Nếu người nào dám đem một tấc đất của vua Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di”. (Đại Việt sử ký toàn thư).

Biểu tình ủng hộ Ukraine ở Washington, DC ngày 22-2-2025. Nguồn: Ostap Yarysh/ Pravda

Ba nhân vật chính tham gia ký Budapest Memorandum ngày 14-1-1994: Tổng thống Mỹ Bill Clinton (trái), Tổng thống Liên bang Nga Boris Yeltsin (giữa) và Tổng thống Ukraine Leonid Kravchuk, cùng bắt tay ở Moscow, trong buổi lễ chính thức mà Mỹ và Nga đồng ý ngưng bắn tên lửa hạt nhân tầm xa vào nhau. Nguồn: AP/Wide World Photo 

Từ trái qua: Tổng thống Nga Putin, Tổng thống Pháp Hollande, Tổng thống Ukraine Petro Poroshenko và Thủ tướng Angela Merkel tại Hội nghị Misnk. Nguồn: Sergei Grits/AP


 

HÃY BIẾT MÌNH –  TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

“Hãy biết mình!”  Đó là một trong những luận đề quan trọng trong triết lý của Socrates, ông tổ của triết học Hy Lạp, sống ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên.  Bên Đông phương, cụ Khổng Tử cũng chung một quan điểm, khi chủ trương “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.”  Bản thân một người chưa trưởng thành hoặc thiếu tài đức thì không thể làm gì cho gia đình và xã hội.  Chúa Giê-su đã dùng những hình ảnh đơn sơ dễ hiểu mà chúng ta đọc trong Tin Mừng hôm nay, để giáo huấn chúng ta: Hãy xem lại mình trước khi góp ý người khác.  Thông thường, chúng ta có thói quen để ý, thậm chí soi mói lỗi lầm của người khác, trong khi mình còn nhiều khiếm khuyết thì không lưu ý sửa đổi.  Ông La Fontaine, một tác giả ngụ ngôn nổi tiếng của văn học Pháp, đã viết câu chuyện một người mang hai chiếc giỏ, một chiếc đằng trước và một chiếc đàng sau.  Những lỗi lầm của người khác thì bỏ vào giỏ đàng trước; và những lỗi lầm của mình thì bỏ vào giỏ phía sau.  Câu chuyện ngụ ngôn này thật đúng với tâm lý chung của chúng ta.  Biết mình là can đảm khiêm tốn nhận ra những thiếu sót để thiện chí sửa đổi, nên hoàn thiện hơn mỗi ngày.  Trong cuộc sống, có nhiều người không biết bản thân, quá tự tin nên ảo tưởng về quyền lực, hậu quả là trở thành trò cười cho thiên hạ.

Con người sinh ra chưa biết gì.  Cần phải có thời gian học hành tập luyện.  Người khiêm tốn học hỏi sẽ biết đối nhân xử thế, kính trên nhường dưới và xây dựng một mối tương quan hài hòa với những người xung quanh.  Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta chuyên tâm sửa mình để có con mắt sáng.  Một khi có tâm hồn trung thực và ngay thẳng, chúng ta mới có thể giúp đỡ người khác sống tốt.  Người mù không thể dắt người mù!  Điều đó đã quá rõ.  Để hướng dẫn người khác đi đúng đường, chúng ta phải quen biết con đường đó, nếu không tất cả sẽ mất hướng.  Không ai trên đời là hoàn hảo, vì vậy mọi người phải giúp đỡ nhau để cùng nên hoàn thiện.  Động viên khích lệ và sửa lỗi cho nhau, đó chính là đức Ái Ki-tô giáo.

Lời giáo huấn của Chúa Giê-su không chỉ nhằm tới cá nhân, mà cả cộng đoàn tín hữu.  Ngay từ thuở sơ khai, giữa các tín hữu đã có sự cạnh tranh ghen tỵ, phân biệt giữa những người đàn bà góa gốc Hy Lạp (x. Cv 6,1-7).  Những cộng đoàn xứ họ của chúng ta ngày nay cũng thế.  Có những cộng đoàn bị tổn thương nghiêm trọng do những cá nhân tự phụ hoặc thiếu hiểu biết, thiếu thiện chí.  Xem quả biết cây, một cộng đoàn chia rẽ và thường xuyên xảy ra xung đột, thì không thể là một cộng đoàn đạo đức và như thế không có khả năng diễn tả hình ảnh sống động của Giáo Hội Chúa Ki-tô.  Những mâu thuẫn bất hòa giữa các xứ họ là lực cản của công cuộc truyền giáo trong Giáo Hội, là sứ vụ quan trọng nhất mà Chúa Giê-su đã trao phó.  Tình liên đới hài hòa và cộng đồng trách nhiệm chính là hoa trái của một cộng đoàn đức tin sinh động, có khả năng giới thiệu Chúa cho con người của thời đại hôm nay.

Bài đọc I trích sách Huấn Ca mang nội dung rất gần với những ca dao tục ngữ của người Việt Nam chúng ta.  Tác giả dạy mọi người phải thận trọng khi khen chê cũng như khi nhận định về một con người, một sự việc.  Ông bà ta dạy: người khôn ngoan uốn lưỡi bảy lần trước khi nói.  Đó là lời dạy về sự thận trọng trong ngôn từ để tránh mất lòng và mất mát tình cảm.  Người xưa cũng nói: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy” có nghĩa là một lời nói ra dù bốn ngựa khó đuổi.  Hãy nhớ rằng, một lời đã nói ra thì không thể lấy lại.  Khi nói ra những điều thiếu tế nhị có thể khiến cuộc sống của chúng ta trở nên tồi tệ, và làm rạn nứt những mối quan hệ xung quanh.

Ki-tô hữu không chọn một nhân vật trần thế làm lý tưởng cho mình, nhưng là chọn Chúa Giê-su.  Nói cách khác, hành trình đức tin cũng là hành trình hoàn thiện bản thân để nên giống như Chúa Giê-su.  Trong hành trình này, cần phải kiên trì nhẫn nại và nhất là cần phải khiêm tốn, biết mình.  Thánh Phao-lô khích lệ giáo dân Cô-rin-tô hãy kiên tâm bền chí để đạt tới sự hoàn thiện.  Ngài khẳng định: “Trong Chúa, sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích” (Bài đọc II).

“Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt, lớn mạnh như hương bá Li-ban.  Hình ảnh tươi đẹp tràn đầy sức sống của cây dừa và cây hương bá được tác giả Thánh vịnh dùng để diễn tả những ai sống tốt lành và luôn phó thác cậy trông vào quyền năng của Thiên Chúa.  Giữa cuộc sống còn đầy những âu lo trăn trở và bộn bề hôm nay, nguyện xin Chúa cho chúng ta vẫn ngẩng cao đầu, như đóa sen sống giữa bùn lầy mà vẫn tỏa hương thơm ngát cho những người xung quanh.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

CHẶNG THỨ 12: Chúa Giêsu chết trên Thánh giá – Cha Vương

Ước mong bạn có một ngày đủ can đảm để nói “không” với những cám dỗ làm cho Chúa và mọi người thân yêu buồn. Nhớ cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 27/02/2025

CHẶNG THỨ 12: Chúa Giêsu chết trên Thánh giá

TIN MỪNG: Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni!” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34)

SUY NIỆM: Trong lúc đau đớn của Chúa Giê-su lên đến tột cùng, mặc dù tiếng kêu lớn tiếng này trông có vẻ là một dấu hiệu của sự tuyệt vọng nhưng thực sự nó bộc lộ ra mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa; đau khổ không còn là những phản kháng trần tục, nhưng là một phương tiện thần thiêng mà chính Chúa đã dùng để biểu lộ tình yêu tự hiến của Đấng đã yêu chúng ta, và cũng là một phương cách để tinh luyện và thánh hoá đời sống con người. Ngài phó thác hoàn toàn cho thánh ý Chúa Cha bằng lời kêu lớn—“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Nói xong, Người tắt thở. (Lc 23:46) Bạn có thể noi gương Chúa Ki-tô, hãy tập phó thác linh hồn và xác mình trong tay Chúa trước khi đi ngủ vì giấc ngủ tượng trưng cho cái chết của chính mình đó.

XÉT MÌNH: Có bao giờ bạn không tin tưởng Chúa hay tin Lòng thương xót của Ngài không? Bao nhiêu người chết bất thình lình trong lúc ngủ, có bao giờ bạn đi ngủ mà quên xét mình và dâng mình cho Chúa không? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối suy nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su! Chúa đã bằng lòng vâng lời Chúa Cha để vác lấy thánh giá nặng và bằng lòng chịu chết trên thánh giá để cứu độ nhân loại. Con thật là kẻ tội lỗi! Xin Chúa ban ơn giúp sức để con biết lánh xa dịp tội, biết chu toàn bổn phận, và biết trung thành-can đảm vác thánh giá hàng ngày theo Chúa suốt cuộc đời con. Amen.

From: Do Dzung

******************************

Ngài Vẫn Thứ Tha (Phút Giây Tử Nạn) | St: Phạm Tôn Tẫn | Th: Phạm Tôn Tẫn – Kiều Oanh – Đăng Khoa

Một Hoàng Tử Không Ngai – Nguyễn Thị Cỏ May-Truyen ngan HAY

Nguyễn Thị Cỏ May

Bên lề lịch sử

Truyền thông Pháp loan tin về người con ngoại hôn của Cựu Hoàng Bảo Đại.

 Nam Phương Hoàng Hậu

Cựu Hoàng Bảo Đại chánh thức có 5 người con: 2 trai là Thái tử Bảo Long và Hoàng tử Bảo Thắng, 3 gái là Công chúa Phương Mai, Phương Liên và  Phương Dung. Nói chánh thức vì với bà Nam Phương có lễ cưới đúng theo truyền thống Hoàng tộc. Mặt khác, Bà Nam Phương, trước lễ cưới, có đặt điều kiện Bà phải được phong Hoàng Hậu ngay sau lễ cưới, Bà giữ đạo Công giáo và các Hoàng tử, Công chúa theo phép rửa tội, Hoàng đế Bảo Đại vẫn giữ Đạo Phật, dẹp bỏ cung phi.

Dĩ nhiên tin nhà vua sẽ kết hôn với một phụ nữ dân dã xứ Nam kỳ và Công giáo đã làm cho Hoàng gia và Triều đình rúng động và phản đối kịch liệt. Ông Bảo Đại đã phải nói : «Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và Triều đình”.

Trong lúc đó cái khó về phía Bà Nam Phương là phải được Tòa thánh Vatican cho phép vì lúc bấy giờ luật của Vatican không cho phép người Công giáo kết hôn với người ngoại đạo.  Gia đình bà vận động xin phép Vatican qua đại diện Tòa thánh ở Đông Dương. Tiếp theo, nước Pháp cũng nhập cuộc bằng đường lối ngoại giao vì Pháp thấy sẽ có lợi về chánh trị và tôn giáo trong vụ hôn nhơn này. «Nước Pháp thấy, về mặt chính trị, người con gái này có thể hoá giải các sự chống đối và đố kỵ. Trong khi đó thì tất cả các cô gái được tuyển chọn do hàng quan lại đều không có được một nền học vấn Tây Phương và sẽ không tránh rơi vào ảnh hưởng của các bà Mẫu Hậu…» (Charles Roux, Đại sứ pháp ở Rome).

Nhưng rồi cuộc hôn nhơn vẫn được tiến hành mặc dầu không được Vatican chấp thuận. Tờ Osservatore Romano, cơ quan ngôn luận của Toà thánh, cũng phủ nhận mọi tin đồn và xác nhận Toà thánh vẫn giữ lập trường như cũ, không thay đổi. Vì thế sau 63 năm khi bình luận về tin vua Bảo Đại băng hà, phái viên hãng Reuters vẫn còn nhắc lại một cuộc hôn nhân «không chánh thức» của bà Nam Phương Hoàng Hậu, như một con chiên.

Trong lúc khó khăn đó, trước khi có quyết định dứt khoát, ông Bảo Đại có lần viết «Ở trong cung, chỉ có một ông Trời, đó là Hoàng đế, con ông Trời” (Au palais, il n’y avait qu’un Dieu : L’empereur, fils du ciel).

Ngay hôm sau đám cưới, lễ tấn phong Hoàng hậu được diễn ra rất trọng thể ở điện Thái Hòa. Hoàng đế phong bà vợ dân dã xứ Gò Công Nguyễn Hữu Thị Lan tước vị Nam Phương Hoàng Hậu. Ông kể về sự kiện này trong hồi ký như sau:

«Vâng, tôi đã quyết định đặt vợ tôi lên làm Hoàng hậu trong cuộc hôn nhân này, cái chức mà chỉ dành cho mẫu hậu khi mà nhà vua đã qua đời. Mặc phẩm phục triều đình với chiếc áo choàng rộng, đi giầy hài mũi cong nhọn, chít khăn có đính những viên đá quý. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Annam mà một người đàn bà đã tiến lên một mình giữa sự chào đón của triều đình. Cũng vẫn chỉ một mình, cô đã vào trong đại sảnh đã có tôi đợi ở đó, và ngồi ở một cái đôn để ở thấp hơn». (Le Dragon d’Annam, Plon,  Paris, 1980).

Và cũng theo hồi ký, chỉ sau khi xong đám cưới, nhà vua mới gửi thư cho Giáo hoàng Pie XI qua trung gian người Pháp, vì thời đó Triều đình chưa có quan hệ ngoại giao với Vatican.

Về Nam Phương Hoàng Hậu, cô dâu Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng hậu ngay sau lễ cưới là một điều rất đặc biệt trong triều Nguyễn vì trong các đời vua trước chỉ có Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu, chánh thất của Gia Long và Lệ Thiên Anh Hoàng Hậu, chánh thất của Tự Đức, 2 người được phong Hoàng hậu khi còn sống. Vì vậy, khi nói chuyện với Hoàng Hậu Nam Phương hoặc nói về bà,  người ta dùng cách xưng hô Ngài Hoàng thay vì Hoàng Hậu.

Về tên Nam Phương đặt cho Hoàng hậu, vua Bảo Đại giải thích : «Tôi chọn tên trị vì cho bà là Nam Phương. Nam Phương có nghĩa là «hương thơm của miền Nam», và tôi cũng ra một chỉ dụ đặc biệt cho phép bà được phục sức màu vàng – màu dành riêng cho Hoàng đế» (sdd).

Ở trong Hoàng cung, công việc hằng ngày của Hoàng hậu Nam Phương là dạy dỗ các hoàng tử, công chúa. Thỉnh thoảng bà phải cùng các quan ở Bộ Lễ bàn thảo các lễ tiệc trong cung đình, lo việc cúng giỗ các tiên đế và đi thăm sức khỏe các bà tiên cung và Từ Cung Hoàng thái hậu, tức mẹ của Bảo Đại. Hoàng hậu còn tham gia các việc xã hội và từ thiện. Hằng năm bà đều tham dự các buổi phát giải thưởng cho các học sinh giỏi. Hoàng hậu còn cho Bộ Giáo dục đem môn nữ công gia chánh vào chương trình giáo dục quốc gia.

Không giam mình trong cung cấm như các bà truớc kia, Hoàng hậu Nam Phương thường xuất hiện  bên cạnh ông Bảo Đại trong các nghi lễ ngoại giao như đón tiếp các Quốc khách. Hoàng hậu cũng cư xử rất khéo với mọi người tôn sùng đạo Phật trong hoàng tộc. Bà năng đi lễ chùa và tham dự các ngày lễ lớn của Phật giáo, có khi cho cả các con cùng đi theo. Nhưng bà can ngăn Thái hậu đeo bùa ở cổ tay cháu nội của bà. Bà cũng đi thăm các lăng tẩm, luôn đứng thẳng người nhưng hai tay bao giờ cũng chắp lại ngang ngực với một thái độ kính cẩn.

Hai năm sau ngày cưới, đêm mùng 4 tháng 1 năm 1936, người dân Huế nghe những tiếng súng lớn báo tin mừng Nam Phương Hoàng Hậu hạ sanh một Hoàng tử. Mờ sáng lại một lần nữa 7 tiếng súng thần công làm lay động cả Hoàng thành. Đó chính là Đông cung Thái tử Nguyễn Phúc Bảo Long.  Tiếp theo, cứ năm một, sau cùng là Hoàng tử Bảo Thắng. Nhưng cả 2 Hoàng tử này đều không có con nối ngôi.

Ngày 23/10/1955, sau kết quả Trưng cầu dân ý, nhờ Phong trào Cách mạng Quốc gia tích cực vận động: Nghe vẻ, nghe ve, nghe vè Bảo Đại/ Là quân ăn hại, theo gót thực dân… và trên lá phiếu ghi, thêm hướng dẩn nhiệt tình của cán bộ thông tin để cử tri dễ chọn lúc bầu: Phiếu đỏ ta bỏ vô bì/ Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vứt đi, Hoàng hậu và gia đình từ giã Việt Nam, lưu vong ở Pháp. Bà mất năm 1963 ở Chabrignac, Corrèze (Miền Tây Nam Pháp). Mộ của bà chỉ làm tạm, rất đơn sơ vì chờ xin phép nhà cầm quyền Sài Gòn đem về an táng trong phần mộ gia đình ở Đà Lạt nhưng bị từ chối (Văn khố Tòa Thị xã Chabrignac).

Mãi gần đây mộ mới được xây lại tươm tất. Mộ Cựu Hoàng cũng phải mất mươi năm do bà vợ 2 Monique gây khó khăn, nay Hoàng tử Bảo Ân vừa xây lại tử tế. Thật ra cả hai mộ đều không bằng một góc của ngôi mộ một tên huyện ủy ở Việt nam!

Những Thứ phi và tình nhơn của Bảo Đại 

Chấp nhận điều kiện của bà Nam Phương, Ông Bảo Đại dẹp bỏ cung phi. Riêng ông, ông cũng chủ trương cải cách nề nếp sanh hoạt cũ của Triều đình như bãi bỏ lễ quì mọp chào vua khi lâm triều.

Nhưng trong đời sống cá nhơn, khi hoàn cảnh thuận lợi, ông lần lượt, chớ không cùng một lúc, cặp bồ với nhiều bà. Người đầu tiên là Bà Mộng Điệp lúc ông ở Hà Nội làm Cố vấn Tối cao cho chánh phủ Hồ Chí Minh. Tuy lúc này ông đã thoái vị để làm «công dân một nước độc lập», bà Mộng Điệp vẫn được mang tước Thứ phi Mộng Điệp. Bà thường sát cánh giúp ông rất nhiều việc quan trọng. Cả lúc ông bị Hồ Chí Minh đưa qua Hồng Kông và không cho trở về, bà lặn lội qua Hồng Kông, đem tiền bạc giúp ông sanh sống.

Kế tiếp là các bà Lý Lệ Hà, nghệ sĩ, bà Hoàng Tiểu Lan (Jenny Wong), bà  Phi Ánh, bà X. Vicky. Riêng bà Phi Ánh là Thứ phi có với ông 2 người con, một trai là Hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo Ân, sanh năm 1951, hiện sống cùng với gia đình ở Nam California, Huê kỳ. Trước giờ, người ta biết Hoàng tử Bảo Ân là con trai út của Cựu Hoàng và nghĩ Hoàng tộc nhà Nguyễn may mắn còn hậu duệ. Với Hoàng tử Bảo Ân, ai cũng nghĩ việc nối dõi rất chánh đáng. Đúng! Nhưng Hoàng tử Bảo Ân có phải là con trai út của Cựu Hoàng hay không? Câu trả lời là: Không!

Bán lâu đài Thorenc ở Cannes, Cựu Hoàng và gia đình dọn lên Alsace (Đông Bắc Pháp) mua một nông trại để sanh sống. Ông vẫn không bỏ được sở thích săn bắn. Ở đây, ông thường cùng với một người bạn Pháp tổ chức săn heo rừng. Mỗi lần đi săn, họ mang theo café để uống trong thời gian ngồi chờ heo rừng xuất hiện. Vừa uống café vừa hút thuốc, heo rừng ngửi mùi không dám xuất hiện. Nên mỗi lần ông đi săn đều về không. Bỗng một hôm, trong một bữa tiệc săn bắn heo rừng, ông săn được, không phải heo rừng, mà một bà đầm xinh đẹp, tóc vàng óng ánh. Hai người gặp nhau, ăn ý với nhau nên giữ quan hệ đến tận năm 1970. Năm 1958, bà sanh cho Cựu Hoàng một người con trai đặt tên là Patrick-Edouard Bloch-Carcenac. Không khai được theo họ Nguyễn Phúc như những người khác vì mẹ của anh và chồng, cả hai đều không muốn ly dị. Đây mới là người con cuối cùng của Bảo Đại. Năm nay, người này được 63 tuổi, vẫn sống ở Alsace.

Duyên với Hoàng tử không ngai

Phần lớn người Việt Nam hải ngoại chỉ biết ông Bảo Ân ở California là người con trai út của Cựu Hoàng Bảo Đại. Nay Patrick-Edouard xuất hiện xác nhận chính anh mới là người con út thiệt tình của ông Bảo Đại tuy anh không được mang họ hoàng tộc Nguyễn Phúc như những người khác.

Nói «duyên với Hoàng tử», thật đúng như vậy vì bỗng một hôm, bác sĩ Trần Ngọc Quang, ở ngoại ô Đông Paris, được Patrick-Edouard trực tiếp liên lạc. Từ đó hai người trao đổi thông tin với nhau và Patrick-Edouard không ngần ngại gởi cho bác sĩ Quang nhiều tài liệu về mẹ của anh với Bảo Đại và về riêng anh. Patrick cũng gom góp những bài báo địa phương viết về gia đình anh, những buổi phát hình của đài Fr3 địa phương sau khi họ khám phá ra được trường hợp đặc biệt của thành phố Strasbourg của Alsace có một Hoàng tử Việt Nam là dân địa phương.

Patrick-Edouard liên lạc được với bác sĩ Quang nhờ đọc bài «La fin de la dynastie des Nguyên» của ông đăng trên Ái hữu Cựu Học sinh Trung học Jean-Jacques Rousseau ở Sài Gòn trước đây, sau đó bài báo được phổ biến thêm ra bên ngoài. Tuy nhiên Patrick đã phải mất bốn năm kiên trì sau cùng mới gặp được ông Quang. Nay hai người trở thành khá thân với nhau tuy chưa gặp mặt. Ông Quang, qua trao đổi bằng điện thoại và Internet, hỏi Patrick-Edouard nhiều chuyện cũ, đều được anh ấy trả lời. Có những chuyện éo le, những giai đoạn khó khăn trong đời sống, v.v… đã làm ông Quang thật sự cảm động. Nhứt là về tuổi thơ của Patrick.

Trở lại thời điểm Bảo Đại gặp gỡ mẹ Patrick, đó là khoảng năm 1957, ông Rochereau, người tùy tùng của Cựu Hoàng giới thiệu với ông bà Christiane Bloch, nhũ danh Carcenac, ở Strasbourg nhơn chuyến ông đi săn heo rừng ở Alsace cùng với người bạn Bá tước Jean de Beaumont. Bà Christiane Bloch lúc đó 35 tuổi, đẹp, tóc vàng, nhưng chẳng may bị ông chồng Georges Bloch vì quá say mê kinh doanh mà lơ là với bà. Ông chồng thường ở Algérie theo dõi cơ sở làm ăn ở bên đó. Trong đời sống, bà Christiane Bloch không thiếu thốn điều gì cả, tiền bạc được ông chồng cung cắp đầy đủ.

Cựu Hoàng Bảo Đại với một trong những tình nhân của ông, bà Christiane Bloch.

Christiane Bloch là một phụ nữ kín đáo, ít giao thiệp, kết hôn với ông Georges Bloch năm 1941 ở Dordogne (Tây Nam  Pháp) lúc bà 19 tuổi. Hai người có chung một người con trai Jean-Paul Bloch sanh năm 1942, hiện sanh sống ở Espagne.

Ông Georges Bloch gốc Do Thái nên gia đình bên ông không muốn ông kết hôn với người Công giáo. Điều ít nhiều không tránh khỏi gay cấn giữa gia đình ông với bà vợ.

Trở lại với Cựu Hoàng, ngay khi vừa gặp bà Christiane Bloch-Carcenac, ông như bị hớp hồn. Để được gần bà, ông liền thuê biệt thự Les Muriers ở Gerstheim, cách ngôi nhà nguy nga của bà Christiane đang sanh sống ở thành phố Erstein chừng 5 km. Mối liện hệ này bị Hoàng Hậu Nam Phương biết. Bà tỏ ra vô cùng khó chịu. Với bà Christiane, đây có lẽ là lần thứ hai ông liên hệ tình ái với một phụ nữ Pháp. Mối liên hệ giữa hai người rất khắng khít, cho ra đời một cậu trai đặt tên Patrick-Edouard nhưng khai theo họ Bloch, họ chồng của bà Christiane. (Lần trước, cũng ở Alsace, ông liên hệ với bà Vicky và có một người con gái tên Nguyễn Phúc Phương Từ đang sanh sống ở Pháp).

Ông Bảo Đại vẫn giữ liên lạc với bà Christiane Bloch và thường xuyên tới thăm con. Patrick-Edouard gọi ông bằng «Sa Majesté» hoặc «Sire» chớ không Papa vì nguồn gốc của anh bị giấu kín, cho tới một hôm ông Bảo Đại đưa Patrick tới một khách sạn giới thiệu đây là con trai của ông, lúc Patrick được sáu bảy tuổi. Nhưng trong thời gian đó, dân địa phương ở thành phố Erstein đều gọi Patrick là le petit Bảo Đại.

Con của một ông vua và mẹ là nhà tư sản nhưng tuổi trẻ của Patrick lại đầy bất hạnh. Không được sống nuông chìu đầm ấm trong tình thương trọn vẹn của cha mẹ, tuổi trẻ của Patrick là kéo lê va-li và cạt-táp qua hết nội trú này tới nội trú khác. Những món đồ chơi như xe hơi, xe điện, anh cũng không có được trong lúc đó phải nhìn đám bạn trang lứa chơi mà thèm. Có lẽ vì sự thiếu thốn đó mà sau này, khi lớn lên, Patrick mê xe hơi. Anh chơi xe hơi gần như người sưu tập xe vậy.

Năm Patrick 20 tuổi, anh có bạn gái tên Claudine Lang và hai người cưới nhau ngày 10/10/1992 tại thành phố Strasbourg. «Sa Majesté» tới dự đám cưới của con trai út. Dĩ nhiên là cơ hội cho báo chí địa phương tới làm phóng sự. Rất tiếc hai người ăn ở với nhau suốt 8 năm dài mà không có con. Phải chăng do tình trạng sức khỏe của Patrick, vì năm 1972, anh bị mổ tim 2 lần và hậu quả không tốt? Năm 2000, hai người xa nhau. Từ đó tới nay, Patrick không có vợ khác.

Con trai của «Sa Majesté» mà anh hoàn toàn không giống cha về mặt bay bướm! Chỉ giống mê xe hơi thôi! Không chỉ riêng Patrick, mà cả những Hoàng tử khác cũng không ai giống cha về máu «có nhiều Thứ phi» như người đời thường nói. Có lẽ cái gène «mê» đó của Cựu Hoàng tới đây cũng kết thúc như ông là Hoàng  đế cuối cùng của nhà Nguyễn!

Vế nghề nghiệp, Patrick hoạt động trong ngành địa ốc.

Cựu Hoàng Bảo Đại với Hoàng tử không ngai Patrick-Edouard.  

Ông vua hai mặt 

Cựu Hoàng có 2 vợ chánh thức là Nam Phương Hoàng Hậu và Monique Baudot. Ông thật sự không có cung phi trong hoàng cung nhưng ông có tất cả 4 bà Thứ phi Việt và 2 tình nhơn bà đầm. Hoàng hậu, Thứ phi và tình nhơn cho ông tất cả 13 người con vừa trai vừa gái.

Thật ra không có gì là quá đáng đối với một ông vua thời Việt Nam còn ảnh hưởng văn hóa phong kiến hủ lậu của Tàu «trai năm thê bảy thiếp». Hơn nữa, ông chỉ cặp những người lớn tuổi và công khai thừa nhận những mối quan hệ ngoại hôn và luôn luôn nhìn con. Cả lúc khó khăn về đời sống như lúc có cậu con trai út Patrick-Edouard ở Strasboug.

Trước sau, về mặt này, ông vẫn tỏ ra là một người lương thiện. Về chánh trị, ông đã không xoay được tình thế có lợi cho Việt Nam nhưng ông giữ được bàn tay không dính máu đồng bào như Hồ Chí Minh trong vụ Cải cách ruộng đất, Cải tạo công thương nghiệp, vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế, đánh cướp Miền Nam, tập trung tù tội dân miền nam,v.v…

Cựu Hoàng tỏ ra một người thật lòng thương nước. Năm 1945, tin vào tình thế, nghĩ Việt Nam được độc lập, ông không ngần ngại thoái vị để làm «công dân một nước độc lập». Năm 1948, ông chấp nhận với các đảng phái Quốc gia thành lập «Quốc gia Việt nam» (Etat du Việt nam) để xác định chủ quyền Việt Nam Độc lập và Thống nhứt trong lúc Hồ Chí Minh và cộng sản đã chạy lên rừng Việt Bắc, và chánh phủ VNDCCH xuất hiện theo cách du kích hôm 2/9 không được quốc tế nhìn nhận, ngoại trừ Liên Xô.

Lúc ông làm Quốc trưởng, nhiều vị quan lại cũ của Triều đình yêu cầu ông trở lại làm vua vì tình hình thuận lợi, ông từ khước và bảo rằng «Tôi trở lại làm vua không khác gì rước Pháp trở lại cai trị». (Cụ Trần Trọng Kim ghi lại lời này của Cựu Hoàng).

Ngoài Tuyên ngôn Độc lập ngày 11/3/1945, ông tuyên bố Việt Nam hoàn toàn thống nhứt và độc lập, ban hành chế độ dân chủ, qui định các quyền căn bản như quyền tự do đi lại, tự do lập hội, tự do nghiệp đoàn, quyền phụ nữ, v.v… Ông vẫn kiên trì đòi Việt Nam ra khỏi Liên Hiệp Pháp. Tháng 10 năm 1953, ông ban hành sắc lệnh tổ chức Đại Hội Toàn Quốc tại Tòa Đô chánh Sài Gòn qui tụ đại diện 3 Miền Nam, Trung, Bắc. Mỗi Miền gởi tới 100 Đại biểu. Đại Hội họp liên tiếp 3 ngày, mọi chi phí do Bảy Viễn đài thọ.

Nhiệm vụ chủ yếu của Đại Hội — tạm thế Quốc hội vì chưa có Quốc hội — không gì khác hơn là đưa ra một bản kiến nghị để Quốc trưởng cầm qua Paris, nhơn danh toàn dân Việt Nam, đòi dứt khoát Việt Nam không đứng trong Liên Hiệp Pháp. Phải độc lập hoàn toàn về kinh tế, tài chánh, quân sự và ngoại giao. Paris với Chánh phủ Laniel đã chấp thuận.

Người Việt Nam biết về ông Bảo Đại, ai cũng bảo đó là «ông vua mê gái»! Do ảnh hưởng tuyên truyền vừa của phe quốc gia vừa của cộng sản. Về chuyện ông có nhiều thứ phi và tình nhơn như đã biết, ký giả pháp Daniel Grandclément được ông thẳng thắn trả lời « …luôn có nhu cầu đối với đàn bà, một thứ nhu cầu thường xuyên không thể dập tắt được như đồ ăn thức uống. Từ khi đến tuổi lớn, đêm nào cũng phải có một người đàn bà nằm bên, mỗi đêm một người». (Bao Đai ou les derniers jours de l’Empire d’Annam — Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam).

Vẫn theo Daniel Grandclément, Bảo Đại là ông con Trời hai mặt. Báo chí cho ông là một người mê thể thao, thích cờ bạc, một tài tử về đàn bà và xe hơi. Với những người thân cận, ông là người chỉ có một mục tiêu duy nhứt là Độc lập và thống nhứt đất nước của ông, một áp lực lên các chánh phủ của ông với ít nhiều cứng rắn phải phục vụ dân chúng».

Khi quí bạn đọc đang đọc những dòng này thì báo chí, TV vùng Đông Bắc Pháp lần lượt tường thuật, phóng sự về một «Hoàng tử Việt Nam không ngai», Patrick-Edouard. Trong những nhà báo này, còn có cả Stephen Bern, nhà báo lớn của TV Pháp chuyên về những «bí ẩn lịch sử».

Phải chăng chuyện «một Hoàng tử Việt Nam không ngai» cũng là một «bí ẩn lịch sử» cần được khám phá?

Nguyễn thị Cỏ May

https://youtu.be/RyKyWzIS52U?si=oRXuW39UsIz3rFH3

Mời bạn mở link xanh bên trên để xem YT phỏng vấn người con trai cuối của Hoàng đế Bảo Đại, Patrick-Edouard Bloch.

Quan trọng hơn hết, trong file đính kèm bạn xem được PDF rất giá trị của BS Trần ngọc Quang đề cập trong bài viết trên mà anh đã chuyển cho tôi từ năm 2024. Anh Quang tốt ngiệp YKSG năm 1968 hiện định cư tại Pháp và chúng tôi cùng đều là đồng hương Trảng Bàng Tây Ninh.

Chúc bạn một cuối tuần vui.

GLN


 

CỚ VẤP PHẠM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chặt nó đi!”; “Móc nó đi!”.

“Những bộ óc vĩ đại thảo luận về các ý tưởng; những bộ óc trung bình thảo luận về các sự kiện; những bộ óc nhỏ bé thảo luận về con người!” – Eleanor Roosevelt. Trích dẫn này đề cập xu hướng mọi người thường tập trung vào các vụ tai tiếng, thay vì các chủ đề có ý nghĩa; phản ánh các vụ này có thể khiến xã hội mất tập trung vào những vấn đề lớn hơn. Vậy mà “Điều duy nhất chắc chắn là ‘không có gì chắc chắn!’. Và một vụ bê bối – bất kể đúng đến mức nào – luôn luôn không chắc chắn!” – Ben. Franklin.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay nói đến ‘cớ vấp phạm’. Thuật ngữ này được các phương tiện truyền thông gọi là ‘tai tiếng’ hoặc ‘bê bối’; tuy nhiên, không phải lúc nào chúng cũng có chung ý nghĩa. Chúa Giêsu nói, những gì gây ‘cớ vấp phạm’, hãy “Chặt nó đi!”; “Móc nó đi!”.

Trong thời đại ngày nay, ‘tai tiếng’ có xu hướng ám chỉ những hành vi không được mong đợi. Chúng ta đọc các vụ ‘tai tiếng’ và nói, “Thật kinh khủng!”. Tuy nhiên, trong Tin Mừng, đó là những ‘cớ vấp phạm’ – ‘chướng ngại vật’ – cản trở hành trình của một người trên con đường họ đến với Chúa. Nếu một nguyên thủ cư xử không đúng với ai đó trong văn phòng của ông, điều đó có thể là ‘tai tiếng’ theo nghĩa truyền thông, nhưng không có khả năng ảnh hưởng đến việc sống đức tin Kitô giáo của một ai khác!

Con đường của Chúa Kitô là con đường yêu thương; ở đâu có yêu thương, hành vi này được ghi nhận và khen thưởng. Vì vậy, bất kỳ ai cho một người dù chỉ một ly nước, vì người đó là một môn đệ Chúa Kitô, họ không mất phần thưởng. Mặt khác, “bất kỳ ai” làm hỏng niềm tin của một tín đồ thì đáng chịu số phận tệ hơn cả cái chết. Và điều đó áp dụng chủ yếu cho những người có cùng đức tin, những ai mà bằng hành động của họ, có thể là rào cản cho một người theo Chúa Kitô hoặc đến với Ngài.

Trong cuộc sống, có thể có những thứ vốn có thể ngăn cản chúng ta sống sứ điệp Tin Mừng. Một bàn tay ‘vô tâm’ có thể làm tổn thương, ăn cắp, lạm dụng tình dục; thà cụt còn hơn để nó làm những điều ấy. Một bàn chân ‘vô định’ có thể đưa chúng ta đến những nơi mà chúng ta bị tha hoá hoặc tha hoá người khác; thà què còn hơn là dính líu vào những điều đó. Một đôi mắt ‘vô hướng’ có thể khiến chúng ta đối xử với người khác – dù xinh đẹp và hấp dẫn đến đâu – chỉ như những đối tượng ham muốn vốn có thể dẫn đến những điều tồi tệ; mù loà sẽ là một điều xấu ít hơn.

Anh Chị em,

“Chặt nó đi!”; “Móc nó đi!”. Yêu cầu của Chúa Giêsu thực sự là yêu cầu về tình yêu và sự trưởng thành! Thực hành lời Ngài, bạn sẽ không mất phần thưởng. Điều làm cho hành động của chúng ta có ý nghĩa phải luôn là tình yêu. Chúa Giêsu chỉ lên án nghiêm khắc những kẻ làm điều ác và gây ‘cớ vấp phạm’, những kẻ khiến ‘những người bé mọn’ không đến được với Ngài. Ngài không thúc giục chúng ta thực hiện những cuộc cắt cụt theo nghĩa đen, Ngài chỉ cảnh báo chúng ta về nhiều điều có thể là chướng ngại vật trong đời sống Kitô của mình. Hôm nay, bạn và tôi suy ngẫm và cố gắng liệt kê những điều cản trở chính mình và cản trở người khác đến với Chúa!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con “ỷ được tha thứ mà khinh nhờn!” – bài đọc một. Cho con biết sợ tội – sợ cho mình và sợ cho người khác!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen
*********************************************

Thứ Năm Tuần VII Thường Niên, Năm Lẻ

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

41 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

42 “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn. 43 Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. [44] 45 Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. [46] 47 Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, 48 nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt. 49 Quả thật, ai nấy sẽ được luyện bằng lửa như thể ướp bằng muối. 50 Muối là cái gì tốt. Nhưng muối mà hết mặn, thì anh em sẽ lấy gì ướp cho mặn lại? Anh em hãy giữ muối trong lòng anh em, và sống hoà thuận với nhau.”


 

10 CHỮ “ĐỪNG” GIÚP BẠN SỐNG KHÔN NGOAN HƠN

Chính Trực

  1. Đừng vội hưởng thụ: Khi năng lực chưa đủ, hãy kiên nhẫn học hỏi và trau dồi, điều tốt đẹp sẽ đến khi bạn xứng đáng.
  2. Đừng buông thả bản thân: Nếu chưa sẵn sàng đối diện với hậu quả, hãy biết kiềm chế ham muốn và suy nghĩ cẩn trọng.
  3. Đừng mất bình tĩnh: Khi bị phản bác, hãy lắng nghe, im lặng đúng lúc và tìm cách học hỏi thay vì tranh cãi.
  4. Đừng nóng giận: Sự giận dữ chỉ khiến bạn mất kiểm soát. Hít thở sâu và bình tĩnh trước khi đưa ra quyết định.
  5. Đừng sợ thất bại: Thất bại là cơ hội để trưởng thành. Hãy mạnh dạn đối mặt và học hỏi từ nó.
  6. Đừng bỏ ngoài tai lời khuyên của cha mẹ. Kinh nghiệm của họ là tài sản quý báu, hãy lắng nghe và rút kinh nghiệm.
  7. Đừng cố làm hài lòng người khác: Hãy tập trung phát triển bản thân, sức hút sẽ đến từ giá trị thực của bạn.
  8. Đừng buồn khi bị lợi dụng: Hãy nhìn nhận đó là cơ hội để giúp đỡ và phát huy khả năng của mình.
  9. Đừng lãng phí: Trân trọng những gì bạn đang có, bởi đôi khi chỉ khi mất đi, ta mới nhận ra giá trị thực sự.
  10. Đừng quên những bài học cuộc sống: Những trải nghiệm, dù thành công hay thất bại, đều là bài học quý giá giúp bạn trưởng thành.

(Sưu tầm)


 

CHẶNG THỨ 11: Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào thập giá-Cha Vương

Chúc bạn và gia quyến ngày tràn đầy yêu thương của Chúa nhé.

Cha Vương

Thư 4: 26/02/2025

CHẶNG THỨ 11: Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào thập giá

TIN MỪNG: Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm. (Lc 23:33-34)

SUY NIỆM: Trước tiên họ đóng đinh vào chân tay Ngài trên cây thập tự và dựng cây thập tự lên. Ngài bị treo một cách đau đớn trong suốt ba giờ đồng hồ. Đây là một tấm gương về sự kiên nhẫn và hy sinh để cho mọi người noi theo. Có lời tường thuật rằng, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII có treo một tượng chịu nạn trên tường phòng ngủ của ngài. Trước khi đi ngủ, khi thức dậy hoặc bất kỳ lúc nào người coi sóc làm ngài thức dậy trong đêm, ngài quỳ gối cầu nguyện trước tượng đó. Ngài nói “Ôi Thập Giá! Đó là dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta.” Chúa ơi, nhìn vào thân hình bầm dập của Chúa,  thật con không đáng! Làm sao con có thể đáp lại tình yêu mà Chúa đã dành cho con? Giờ đây bất cứ bệnh tật, đau khổ, mất mát, phiền muộn nào đến với con, con sẽ chấp nhận tất cả.

XÉT MÌNH: Lược qua 7 mối tội đầu sau đây: Kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, lười biếng, tội nào bạn cần phải đóng đinh nó vào thập giá để được ơn tha thứ. Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối suy nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xưa Chúa đã chịu đóng đinh thân mình vào thập giá, để nhắc nhở con rằng: Hãy đóng đinh những thói hư tật xấu vào thánh giá Chúa để được Người đón nhận, thứ tha và chữa lành. Xin cho con học nơi Chúa sự hy sinh quên mình vì hạnh phúc tha nhân. Xin giúp con quyết tâm từ bỏ những tội xúc phạm đến thân xác và linh hồn, và xin cho con biết từ bỏ những ý riêng mà hướng lòng đến những nhu cầu của người khác, để sự hiện diện mỗi ngày của con làm cho gia đình và môi trường sống của con thêm niềm vui và hạnh phúc. Amen.

From:Do Dzung

**************************

Thập Giá Nói Gì – Hồng Duy (Sáng tác: Phanxico) 

ĐỘC QUYỀN -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta!”.

“Trong quá trình theo đuổi sự độc quyền, chúng ta quên rằng, những điều tốt nhất là ‘để chia sẻ’, chứ không ‘để tích trữ’. Độc quyền luôn xây những bức tường, chứ không phải những cây cầu; nó cô lập, thay vì nâng cao, chia cắt thay vì hiệp nhất!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến cám dỗ ngàn đời của bất cứ người nào, bất cứ tổ chức nào trong Giáo Hội, trong thế giới – cám dỗ ‘độc quyền!’ – “Nó cô lập, thay vì nâng cao, chia cắt thay vì hiệp nhất!”.

Gioan – đại diện cho tất cả – thưa với Chúa Giêsu, “Chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta!”. Chúa Giêsu không đồng ý, “Đừng ngăn cản người ta!”. Đây là một nguyên tắc cần khắc ghi. Có thể có một sự cám dỗ mạnh mẽ giữa chúng ta về sự ‘độc quyền’. Nhiều nhóm Kitô giáo – cả Công Giáo và những người từ các giáo phái khác – có thể rơi vào cái bẫy này. Chúng ta quên rằng, “Lời Thiên Chúa đâu bị xiềng xích!” – Phaolô.

Thiên Chúa có thể thực hiện công việc của Ngài thông qua mọi loại người – những người Công Giáo, những người theo các tôn giáo khác và cả những người không theo tôn giáo nào. Ngài thậm chí có thể thực hiện công việc của Ngài đôi khi thông qua những người có vẻ chống lại tôn giáo. Bởi thế, thay vì tức giận, chúng ta nên vui mừng khôn xiết khi người khác làm công việc mà chúng ta cảm thấy chỉ dành cho tôn giáo mình. Đây là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy Vương Quốc Thiên Chúa đang hoạt động. Nơi nào có tình yêu thương, nơi nào có sự phục vụ, ở đó có Chúa!

Việc trở nên thành viên của Giáo Hội không phải là phép thử. Phép thử là liệu những gì người khác làm có phù hợp với mục tiêu của chúng ta về chân lý, tình yêu, công lý, lòng trắc ẩn, tự do, hoà bình, bất bạo động và tất cả những điều tốt đẹp hay không! Thiên Chúa được tìm thấy trong tất cả những điều này. Giáo Hội là con đường dẫn đến một mục tiêu xa hơn; bản thân Giáo Hội không phải là mục đích! Giáo Hội được kêu gọi để trở thành dấu chỉ của Vương Quốc, nhưng không phải là toàn bộ Vương Quốc. Mục tiêu của Giáo Hội là liên kết mọi người tốt lành để ‘cùng họ’ ra sức hiện thực hoá thực thể Nước Thiên Chúa ở giữa trần gian!

Anh Chị em,

“Vì người ấy không theo chúng ta!”. Vậy làm sao có thể vượt qua cám dỗ này? Hãy cầu xin Chúa Thánh Thần, Ngài sẽ thanh tẩy và giải thoát chúng ta khỏi mọi đố kỵ và ghen tuông; đồng thời, thúc đẩy chúng ta mừng vui khi thấy điều tốt lành nơi những người khác. “Mọi sự khép kín thực ra có xu hướng giữ chúng ta xa cách những người không nghĩ như chúng ta, và điều này là gốc rễ của bao điều ác lớn trong lịch sử: của chủ nghĩa chuyên chế vốn thường tạo ra chế độ độc tài và bạo lực đối với những người khác biệt. Nhưng cũng cần cảnh giác về sự khép kín trong Giáo Hội. Bởi vì ma quỷ là kẻ chia rẽ – đây là ý nghĩa của từ “ma quỷ”, kẻ chia rẽ – luôn luôn ám chỉ ‘độc quyền’, sự nghi ngờ để chia rẽ và loại trừ mọi người!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con vui mừng khi thấy điều lành nơi anh em con; thanh luyện con bằng lửa Thánh Thần để con ‘chia sẻ thay vì tích trữ’, ‘hiệp nhất thay vì chia cắt!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

**********************************************

Thứ Tư Tuần VII Thường Niên, Năm Lẻ:

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

38 Khi ấy, ông Gio-an nói với Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.” 39 Đức Giê-su bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. 40 Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.”


 

NHỮNG THỨ CẦN PHẢI QUÊN- Têrêsa NgọcNga (st)

Têrêsa NgọcNga (st)

Trong cuộc sống của mình, bạn đã học được nhiều thứ, đó là học sự yêu thương, học được cách nhớ nhung một ai đó và bây giờ bạn sẽ học cách quên. Vì trong cuộc sống có những chuyện nên gìn giữ, nên cất giấu nhưng cũng có những thứ cần phải quên đi.
Vậy những gì bạn cần phải quên đi?

Quên đi những đau khổ: Cuộc đời không ai lúc nào cũng vui vẻ và lúc nào những điều tốt đẹp nhất cũng đến với mình. Khi bạn chia tay với người yêu bạn sẽ giam cầm mình trong đau khổ, trong những lần khóc sướt mướt.

Bạn thu mình lại và có những lúc bạn tưởng chừng như trái tim mình vỡ tung ra. Bạn mềm yếu, cảm giác như chỉ có người đó mới đưa bạn ra khỏi cái nỗi đau đó mà thôi. Khi ấy bạn cần phải học cách quên đi người đó, học cách quên đi một người sẽ làm cho trái tim bạn lành lại theo thời gian. Mọi đau khổ sẽ tan biến. Mặc dù với một số bạn sẽ rất khó nhưng chưa thử làm sao chúng ta biết có làm được hay không.

Quên đi những hận thù: Ai đó đã lấy đi của bạn một thứ gì đó quý giá, ai đó đã lỡ xúc phạm bạn, ai đó vô tình đã làm bạn đau. Bạn cảm thấy tức giận, bạn cảm thấy lòng hận thù trong mình dâng cao. Nhưng Người ta nói tức giận là lấy sai lầm của người khác trừng phạt chính mình.

Cứ mãi nhớ đến những hận thù đó thì người bị tổn thương nhiều nhất chính là bạn. Suốt ngày bạn sẽ dằn vặt bản thân, bạn sẽ tìm mọi cách để trả thù lại người ta nhưng càng suy nghĩ càng khiến cho bạn cảm thấy nặng nề. Tâm hồn bạn sẽ chẳng khi nào được thanh thản. Vậy tại sao bạn không thử học cách quên đi mọi hận thù và dám tha thứ cho những gì người khác đã làm khiến bạn tổn thương . Cuộc sống sẽ đẹp hơn, nhẹ nhõm hơn nếu bạn biết quên đi thứ cần phải quên đấy bạn ạ.

Quên đi những khuyết điểm của người khác: Đối với chúng ta thường dễ dàng giang tay đón lấy những ưu điểm của bạn bè, người thân. Nhưng khi họ có khuyết điểm chúng ta lại khép tay lại và tránh thật xa họ. Trên đời này chẳng có gì là hoàn hảo, chính bản thân chúng ta cũng là một mảnh ghép của cuộc sống cũng có những lúc phạm phải một sai lầm, và có một vài khuyết điểm nào đấy.

Chúng ta học cách quên đi khuyết điểm của người khác là chúng ta đang học cách hoàn thiện bản thân mình, đang làm cho tâm hồn chúng ta trở nên rộng lượng hơn. Đừng lúc nào cũng nghĩ đến mặt xấu của người đối diện mà hãy nghĩ đến ưu điểm. Vì như thế sẽ làm cho mối quan hệ của bạn và người ta sẽ trở nên tốt đẹp, khăng khít hơn.

Quên đi những kỷ niệm, quên đi quá khứ: Những kỷ niệm đẹp, những quá khứ êm đềm hay đau khổ đối với một số người sẽ giữ mãi trong lòng để từ đó mà chiêm nghiệm mà sống tốt hơn. Nhưng trong một vài trường hợp bạn cũng phải cố quên đi quá khứ, quên đi những kỷ niệm. Bạn không thể lúc nào cũng sống trong cái kỷ niệm một thời tay trong tay với người yêu cũ. Bạn cũng không thể sống mãi trong cái quá khứ của một thời tuổi thơ êm đềm hay đau khổ mãi được.

Bạn cần phải quên nó đi, bỏ lại nó ở phía sau lưng để mà bước đi, để mà lớn lên. Quên ở đây không hẳn bắt bạn quên vĩnh viễn mà quên ở đây là bạn tạm thời cất giữ nó ở một góc nào đó sâu thẳm trong tim để rồi có lúc lấy ra mà nhớ, mà vui mà buồn. Rồi cũng có thể khi bạn lớn lên một chút bạn sẽ nghĩ về chúng như một cái gì đó quý giá. Bạn sẽ tự cười, “à thì ra mình đã lớn”…

Quên đi lợi ích cá nhân: Ai cũng chỉ biết sống cho mình thì cuộc sống này sẽ trở nên ích kỷ và hẹp hòi, sẽ chẳng còn ai quan tâm đến ai nữa. Bạn phải học cách quên đi cái tôi cá nhân để có thể hòa cùng nhịp sống chung của cộng đồng. Bạn đi mùa hè xanh nhưng luôn chọn những việc nhẹ nhàng, luôn nghĩ cho bản thân. Trước khi làm một việc gì đó bạn luôn nghĩ đến mình sẽ được gì và mình sẽ mất gì. Nếu mất nhiều hơn được bạn sẽ chẳng bao giờ làm. Triết lý đó sẽ đúng đối với một số trường hợp.

Nó sẽ hoàn toàn là ích kỷ nếu đó là làm vì lợi ích cộng đồng, làm vì tập thể. Chắc trong chúng ta chẳng lạ lẫm gì với những chiếc áo xanh tình nguyện, đêm ngày túc trực nơi bến xe để tiếp sức cho các thí sinh thi Đại học. Họ chẳng nề hà một công việc gì dù nắng làm cho cháy da, áo ướt đẫm mồ hôi. Bởi lẽ họ đã quên lợi ích cá nhân mà dốc sức vào lợi ích của tập thể. Cho và nhận đôi khi có thể mang ra để so sánh nhưng không phải lúc nào cũng so sánh được đâu bạn ạ. Có thể bạn sẽ mất nhiều hơn được nhưng đến một lúc nào đấy bạn sẽ cảm thấy cái mất ấy của mình là một điều đáng tự hào.

Và mỗi khi như vậy bạn sẽ cất cao tiếng hát “ ai cũng chọn việc nhẹ nhàng gian khổ sẽ thuộc về ai…”

Nhớ và Quên là hai phạm trù trái ngược nhau. Hãy nhớ những cái gì cần phải nhớ và hãy quên đi những thứ đáng phải quên. Chỉ khi quên đi những thứ gọi là “spam” trong tâm hồn mình bạn sẽ cảm thấy thật thanh thản. Tâm lí của bạn khi ấy sẽ trở nên cân bằng hơn. Vì ai đó đã nói rằng “ Trong cuộc sống phải biết thứ gì cần nhặt lên và thứ gì cần bỏ xuống”.

 Têrêsa NgọcNga (st)

 From: ngocnga_12 &NguyenNThu


 

CHẶNG THỨ 10: Quân lính lột áo Đức Chúa Giê-su-Cha Vương

Chu’c ngày hom nay bình an và vui tươi nhé! Xin Chúa biến đổi con tim bạn để bạn biết lắng nghe và sống theo Lời Chúa. Hãy nhớ nhau trong cầu nguyện.

Cha Vương

Th 3: 25/02/2025 24

CHẶNG THỨ 10: Quân lính lột áo Đức Chúa Giê-su

TIN MỪNG: Chúng lấy cây sậy đập lên đầu Người, khạc nhổ vào Người, và quỳ gối bái lạy. Chế giễu chán, chúng lột áo điều ra, và cho Người mặc áo lại như trước. Sau đó, chúng dẫn Người đi để đóng đinh vào thập giá. (Mc 15:19-20)

SUY NIỆM: Vào thời Chúa Giê-su, những người bị đóng đinh thường bị lột hết quần áo. Đó là một bước nhục mạ cuối cùng. Chúa đã chịu bị tước bỏ mọi thứ để dạy cho bạn một bài học “từ bỏ” thế gian để được sống đời đời với Chúa—“Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16:26) Tuy rằng tiền bạc, của cải, danh vọng, quyền lực được coi như là một thần tượng của mọi thời đại nhưng nó không thể đáp ứng cho những khát khao của một con tim yêu mến Chúa. Bạn đang khao khát gì và tìm kiếm gì?

XÉT MÌNH: Có bao giờ bạn cảm thấy ghanh tỵ với những của cải mà người khác có không? Bạn có đau lòng xót ruột vì sự sung túc giàu sang của người khác không? Bạn có ước muốn cho người khác hay cho công việc của họ bị sụp đổ không? Bạn có gian lận trong việc phân chia tài sản gia đình không? Bạn có ham lợi hay ích kỷ không? Bạn có tin Thiên Chúa là người chăm sóc mọi nhu cầu thể xác tâm linh của bạn không? Bạn có đặt của cải, vật chất, quyền hành, danh vọng là mục đích chính của đời sống không? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối suy nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, còn gì cho bằng giờ phút này, đau đớn và tủi nhục biết bao. Xin cho con biết nói “không” với cuộc sống chỉ biết hưởng thụ; biết nói “không” với những đòi hỏi của tính ích kỷ ; biết nói “không” với tất cả, để rồi cuộc đời con chỉ cần một điều duy nhất là sống trọn vẹn trong bàn tay Tình Yêu của Chúa.

From: Do Dzung

*****************************

Thập giá đời con | Nguyễn Hồng Ân (sáng tác : Lm. Phong Trần)

Ukraina không phải là nước duy nhất bị thao túng số phận -Phan Minh -RFI

RFI

Từ Hội nghị Berlin năm 1885 giữa các cường quốc thực dân châu Âu để phân chia châu Phi cho đến Hội nghị Yalta năm 1945 chia châu Âu thành các vùng chịu sự ảnh hưởng của Mỹ và Liên Xô, từ thỏa thuận Sykes-Picot về Trung Đông năm 1916 cho đến thỏa thuận Munich về Sudetenland năm 1938.

Ảnh minh họa : Quốc huy trên nền lá cờ Ukraina.

 

Ảnh minh họa : Quốc huy trên nền lá cờ Ukraina. © Armando Franca / AP

Phan Minh

Không kể đến hàng loạt những cuộc họp quốc tế khác đã định đoạt số phận của các dân tộc mà không có sự tham gia của đại diện của chính họ, giống như cuộc họp cấp cao về tương lai của Ukraina vừa diễn ra tại Ả Rập Xê Út giữa các quan chức Nga và Mỹ, nhưng không có sự tham gia của đại diện phía Kiev.

Tổng thống Volodymyr Zelensky đã tuyên bố “sẽ không bao giờ chấp nhận” những quyết định được đưa ra mà không có sự tham gia của Kiev trong các cuộc đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh mà Nga đã khơi mào và tiến hành ở Ukraina từ 3 năm qua.

Quyết định đàm phán về chủ quyền của Ukraina mà không có sự tham gia của Kiev, cùng với những áp lực bắt chẹt của tổng thống Mỹ Donald Trump, tìm cách giành lấy một nửa lượng khoáng sản quý hiếm của Ukraina và đe dọa ngưng viện trợ quân sự cho Kiev, cho thấy cách mà chủ nhân Nhà Trắng nhìn nhận Ukraina nói riêng và châu Âu nói chung.

Tuy nhiên, đây không phải là lần đầu tiên các cường quốc quyết định đàm phán về việc thiết lập đường biên giới mới hoặc vùng ảnh hưởng mà không có ý kiến của dân cư sống ở đó. Những cuộc đàm phán như vậy hiếm khi mang lại kết quả tích cực cho những nước và dân cư bị ảnh hưởng.

Sự phân chia châu Phi (1885)

Trong mùa đông 1884-1885, nhà lãnh đạo Đức Otto von Bismarck đã mời các cường quốc châu Âu đến Berlin để dự hội nghị nhằm chính thức hóa việc phân chia toàn bộ lục địa châu Phi. Không có một đại diện châu Phi nào có mặt.

Các nước tham dự hội nghị đã nhất trí thành lập Nhà nước Tự do Congo, đặt dưới sự kiểm soát của Bỉ, nơi sau đó trở thành nơi diễn ra những tội ác thực dân với hàng triệu người chết.

Nhân hội nghị này, Đức cũng đã thành lập thuộc địa Tây Nam Phi (nay là Namibia), nơi mà cuộc diệt chủng đầu tiên của thế kỷ XX được tiến hành vài năm sau đó chống lại người Herero.

Công ước Ba bên (1899)

Năm 1899, Đức và Hoa Kỳ đã tổ chức một hội nghị tại Washington, bàn thảo chia nhau quần đảo Samoa, mặc dù cư dân ở đó đã bày tỏ mong muốn tự trị hoặc thành lập một liên bang các quốc gia Thái Bình Dương với Hawaii. Với khoản “bồi thường” cho việc tự rút khỏi Samoa, Vương Quốc Anh đã nhận được quyền kiểm soát tuyệt đối với quần đảo Tonga.

Samoa thuộc Đức đã được chuyển giao cho New Zealand sau Đệ Nhất Thế Chiến và chỉ giành được độc lập vào năm 1962. Samoa thuộc Mỹ (cùng với một số đảo khác ở Thái Bình Dương) vẫn là một lãnh thổ của Hoa Kỳ cho đến bây giờ.

Thỏa thuận Sykes-Picot (1916)

Trong Đệ Nhất Thế Chiến, các đại diện Anh và Pháp đã gặp nhau để quyết định phân chia Đế quốc Ottoman sau khi chiến tranh kết thúc. Với tư cách là một cường quốc đối địch, đại diện Ottoman không được mời tham dự các cuộc thảo luận.

Các nhà ngoại giao Anh Mark Sykes và Pháp François Georges-Picot đã vẽ lại biên giới Trung Đông theo lợi ích của nước họ.

Thỏa thuận Sykes-Picot đã đi ngược lại với những cam kết được đưa ra trong một loạt văn bản được biết đến với tên gọi Thư tín giữa Hussein-McMahon. Trong những văn bản này, Luân Đôn hứa ủng hộ nền độc lập của các quốc gia Ả Rập khỏi sự thống trị của Thổ Nhĩ Kỳ.

Thỏa thuận này đã đi ngược lại với những cam kết mà Vương Quốc Anh đưa ra trong Tuyên bố Balfour, tức là cam kết ủng hộ những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái muốn xây dựng một quê hương mới ở Palestine thuộc Ottoman. Đó cũng là nguồn gốc của nhiều thập kỷ xung đột với chính sách thuộc địa tồi tệ ở Trung Đông, và hậu quả vẫn có thể kiểm chứng cho đến tận bây giờ.

Thỏa thuận Munich (1938)

Tháng 09/1938, thủ tướng Anh Neville Chamberlain và đồng nhiệm Pháp Édouard Daladier đã gặp các nhà độc tài Ý Benito Mussolini và Đức Adolf Hitler để ký Thỏa thuận Munich.

Luân Đôn và Paris tìm cách ngăn chặn sự lan rộng của chiến tranh ở châu Âu sau khi phe Quốc xã đã khơi mào một cuộc nổi dậy và bắt đầu tấn công các khu vực nói tiếng Đức của Tiệp Khắc, được biết đến với tên gọi Sudetenland, với lý do bảo vệ cộng đồng thiểu số người Đức sống ở đó. Không có đại diện Tiệp Khắc nào được mời tham dự cuộc họp.

Thỏa thuận đúc kết từ cuộc họp này vẫn thường được gọi là “sự phản bội Munich” và được coi là một ví dụ kinh điển về những cố gắng vô ích nhằm xoa dịu một cường quốc hiếu chiến với hy vọng sai lầm là có thể tránh để xảy ra chiến tranh.

Hội nghị Évian (1938)

Năm 1938, 32 quốc gia đã tập trung tại Évian-les-Bains (Haute-Savoie), Pháp, để quyết định về việc tiếp nhận người tị nạn Do Thái chạy trốn khỏi sự đàn áp của Đức Quốc xã.

Trước khi hội nghị bắt đầu, Vương Quốc Anh và Hoa Kỳ đã nhất trí không gây áp lực với nhau về vấn đề hạn ngạch người Do Thái mà họ sẽ chấp nhận tại Palestine thuộc Anh hoặc Mỹ.

Mặc dù Golda Meir (sau này trở thành thủ tướng Israel) đã tham dự hội nghị với tư cách quan sát viên, bà cũng như bất kỳ đại diện nào khác của Nhà nước Do Thái đều không được phép tham gia đàm phán. Ngoại trừ Cộng hòa Dominica, các quốc gia tham dự đều không chấp nhận tiếp nhận di dân Do Thái. Hầu hết người Do Thái ở Đức không thể rời khỏi đất nước trước khi chủ nghĩa Quốc xã đạt đến đỉnh điểm diệt chủng trong Holocaust.

Hiệp ước Molotov-Ribbentrop (1939)

Khi lên kế hoạch xâm lược Đông Âu, Hitler nhận ra rằng trở ngại chính của mình là Liên Xô. Đức đã ký một hiệp ước không xâm lược Liên Xô.

Hiệp ước, được đặt theo tên ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav Molotov và đồng nhiệm Đức Joachim von Ribbentrop, bảo đảm Liên Xô sẽ không đáp trả việc Hitler xâm lược Ba Lan. Hiệp ước cũng chia châu Âu thành các vùng chịu sự ảnh hưởng của phe Quốc xã và Liên Xô. Điều này cho phép Liên Xô mở rộng lãnh thổ đến các quốc gia vùng Baltic, tấn công Phần Lan và chiếm một phần lãnh thổ của Ba Lan và Rumani.

Không có gì ngạc nhiên khi mà một số nước Đông Âu coi các cuộc đàm phán hiện tại giữa Hoa Kỳ và Nga về tương lai của Ukraina như một sự trở lại của loại hình ngoại giao bí mật đã chia các quốc gia nhỏ ở châu Âu giữa các cường quốc lớn trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Hội nghị Yalta (1945)

Khi thất bại của Đức Quốc xã cận kề, thủ tướng Anh Winston Churchill, nhà độc tài Liên Xô Joseph Stalin và tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã gặp nhau vào tháng 02/1945 để định đoạt số phận của châu Âu sau chiến tranh. Cuộc họp này được biết đến với tên gọi Hội nghị Yalta.

Cùng với Hội nghị Potsdam 1 năm sau đó, Yalta đã tạo ra “kiến trúc” chính trị dẫn đến sự chia cắt châu Âu trong Chiến tranh Lạnh.

Tại Yalta, “ba đại cường” đã quyết định chia cắt Đức, trong khi Stalin được trao một vùng ảnh hưởng ở Đông Âu.

Liên Xô sau đó đã biến một số quốc gia Đông Âu thành các quốc gia vùng đệm dưới sự kiểm soát của mình, mô hình mà một số quan sát viên cho rằng đang truyền cảm hứng cho Vladimir Putin ở Đông và Đông Nam Âu ngày nay.

Nguồn : The Conversation


 

Nguyễn Viện: “Chúng ta bị ràng buộc ngay trong giấc chiêm bao”

Ba’o Nguoi-Viet

February 25, 2025

Tuấn Khanh thực hiện

Cuộc trò chuyện với nhà văn Nguyễn Viện ở Sài Gòn trong những ngày đầu năm mới 2025 mở ra một cái nhìn khác về thân phận trí thức hôm nay trước ngưỡng cửa sáng tạo và ý thức tồn tại, như đứng trước cánh cửa mùa Xuân mới, mà bàn tay không thể nào mở.

*Tuấn Khanh: Lại một năm nữa đã trôi qua, văn chương Việt Nam như đứa trẻ gầy guộc ngay trên chính quê hương của mình. Ông có thể điểm lại, nửa thế kỷ qua, ông nhìn thấy những điều làm được, và cả thất bại của văn học trong nước lẫn hải ngoại là gì?

-Nhà văn Nguyễn Viện: Cho đến tận hôm nay, sau 50 năm máu lửa, có vẻ như chúng ta vẫn máu lửa với nhau, vẫn nghi kỵ một mất một còn với nhau. Trong bối cảnh hận thù chia rẽ ấy, hệ luỵ trong đời sống cá nhân hay sự phát triển của đất nước hẳn là không tránh được ảnh hưởng.

Tôi có thể nói ngay, một số thành tựu về kinh tế và phát triển của đất nước mà không ít người trong nước tự hào, hoàn toàn không tương xứng với thời gian và tiềm lực chúng ta có. Trong lãnh vực văn học cũng vậy, sự thống khổ mà cả dân tộc này đã hứng chịu vượt tầm thời đại, nhưng sự sáng tạo của chúng ta lại không lớn hơn một bàn nhậu. Có vẻ như chúng ta muốn trả thù đời hơn là chúng ta muốn trở thành những con người khoan dung. Chúng ta không thoát được cái tâm lý nhược tiểu ngay cả khi chúng ta “tự hào quá Việt Nam ơi” hoặc “chưa bao giờ Việt Nam được như hôm nay.” Chúng ta sợ nhìn vào chính mình, vào dân tộc mình. Chúng ta thiếu dũng cảm để đối diện với sự thật.

Nền giáo dục trong nước đào tạo được rất nhiều người có bằng cấp, nhưng không tạo ra được một tầng lớp trí thức như một mũi nhọn điều hướng và động lực phát triển. Nơi chúng ta sống, trí thức như lươn trạch và xu thời. Họ sống hai mặt, cần kiếm cơm hơn lòng tự trọng và lương tâm công chính.

Chúng ta thất bại từ nội tại mỗi cá nhân. Bởi thế, cái thất bại trong văn học của chúng ta không phải là thiếu tính nhân loại, mà văn học của chúng ta thiếu tính cá nhân.

*Vẫn miệt mài sáng tác từ trước đến giờ và trung thành với con đường tự do sáng tạo, dù được mặc định đó là một phong cách không thể thay đổi của cá nhân, nhưng ông có thấy mình mòn mỏi và dị biệt trong một thế giới sống mà hôm nay, sự tự do sáng tác đã trở thành một định nghĩa khác, thậm chí là chấp nhận tự do có định mức để được tồn tại với sáng tác?

– Cho đến thời điểm này, tôi vẫn viết như tôi từng viết và không ngừng kiếm tìm cái mới cho chính mình. Cái mới cho tôi niềm hưng phấn không mòn mỏi. Dị biệt với tôi là sự sống còn. Vì thế, chẳng có lý do gì tôi lại phải chấp nhận tự do có định mức để tồn tại. Cũng vì bởi, tôi không cho rằng tự do là thứ được ban phát. Trong đời sống xã hội, không một ai trên thế giới này thoát khỏi những luật định. Nhưng trong sáng tạo, chẳng có luật định nào cho một tâm thức tự do. Với tôi, hoặc là không tất cả, hay là có tất cả. Điều hiển nhiên, tôi không phải kiếm cơm bằng cách viết. Nếu phải theo đuổi danh vọng (cái danh vọng hão ấy) thì chẳng phải tự do danh giá hơn lệ thuộc sao?

*Có một nhà phê bình văn học từ hải ngoại về nước làm việc phát biểu rằng ‘một tác phẩm chỉ gọi là tồn tại, khi được chính thức in ra và đến với độc giả.’ Là một trong những nhà văn hiếm hoi của Việt Nam trong suốt 50 năm qua, ông vẫn viết và tự in, gửi đi hàng loạt tác phẩm không thông qua kiểm duyệt, ông nghĩ sao về nhận định nói trên?

-Tôi và tác phẩm của tôi vẫn tồn tại đấy chứ. Sách tôi vẫn được in ra và đến với độc giả. Vấn đề chỉ là cách thức xuất hiện và tiếp nhận, cũng như cách thức xác lập vị trí của một tác giả trong mối tương quan với độc giả, bối cảnh xã hội và lịch sử. Không kiểm duyệt, cũng có nghĩa là sách in ra không được quảng bá chính thức trên các phương tiện truyền thông của nhà nước và không được bày bán trong các cửa hàng. Nhưng thời đại hôm nay, không chỉ có các phương tiện truyền thông nhà nước và các cửa hàng ngoài phố. Cũng không chỉ có trong nước khi chúng ta đang sống một thời đại toàn cầu. Có phải bạn đang phỏng vấn tôi như cách nhìn nhận một tồn tại?

Nói thật, tôi chưa bao giờ cảm thấy thiệt thòi vì không một nhà phê bình nào trong nước đề cập đến văn chương tôi. Tôi là kẻ không đáng nói đến, hoặc họ là những người không đáng để tôi quan tâm, cũng chỉ là ở chỗ đứng hay góc nhìn thôi, phải không?

*Năm 2024 sôi động với câu chuyện Han Kang – nhà văn nữ Á châu, người Nam Hàn đoạt giải Nobel. Cũng có những bình luận từ phía Việt Nam mơ ước rằng một ngày nào đó, người Việt cũng sẽ có một tác phẩm đoạt giải Nobel như vậy, ông nghĩ sao và nhận định này, và về chuyện được hay không được, ông bình luận như thế nào?

-“Một ngày nào đó Người Việt cũng sẽ có một tác phẩm đoạt giải Nobel.” Mơ ước thì không tốn tiền. Cũng nên mơ để còn có niềm tin hay động lực cho cái nghề của mình. Tuy nhiên, để có ngày đó, ngoài những nỗ lực cá nhân của người viết, tôi nghĩ cần có một chiến lược quốc gia cho việc giới thiệu văn chương Việt với thế giới. Bởi vì Viện Hàn Lâm Thuỵ Điển hay hội đồng xét giải của các giải thưởng uy tín khác không đọc được tiếng Việt. Theo tôi cũng còn một lý do khác để văn học Việt có thể tìm được chỗ đứng trên bản đồ thế giới, đó là vị thế quốc gia. Bản thân tiếng Việt đã là một ngôn ngữ yếu thế, nếu vị thế quốc gia không đủ mạnh thì hẳn nhiên chúng ta khó cầu mong sự quan tâm của thế giới.

*Han Kang được coi là một nhà văn thể hiện đầy tính chính trị, diễn đạt lịch sử với những ngóc ngách chân thực nhất mà xã hội không phải ai cũng dám chạm đến. Kim Bo-young – cây viết cũng người Nam Hàn phát biểu “giải thưởng này trực tiếp bác bỏ sự ngu ngốc của việc cố gắng che giấu và bóp méo lịch sử quá khứ của Nam Hàn.”

Rõ ràng lịch sử và sự thật nằm trong sức mạnh văn chương của thời đại hôm nay. Trung Quốc từng có một nhà văn quân đội là Mạc Ngôn đoạt giải Nobel với văn chương phục vụ nhà nước. Ông nghĩ gì về nhà văn với lịch sử chân thực và lịch sử phục vụ? Ở thời buổi văn chương hiện nay, viết trung thành với sự thật lịch sử, tự do sáng tác theo ý của mình mà ông vẫn theo đuổi, có là một lựa chọn sai lầm?

-Tôi là người vốn quan tâm đến lịch sử cũng như bối cảnh chính trị đương thời, vì thế khi Han Kang của Hàn Quốc nhận giải Nobel và biết bà cũng là một tác giả dám đương đầu với sự thật lịch sử nơi bà đang sống, tôi lại càng tin rằng mình đã có một chọn lựa đúng. Cho dù trước đó, một ông quan văn nghệ của Trung Quốc cũng đã nhận được giải thưởng danh giá này là Mạc Ngôn như chúng ta đã biết.

Có một số vấn đề cần phải được nhìn nhận lại:

Một là chúng ta cần phải thấy giải Nobel Văn học vẫn bị chi phối bởi yếu tố chính trị mà Mạc Ngôn không phải là trường hợp duy nhất trong toàn bộ lịch sử của giải này. Ngay tại Trung Quốc, chúng ta cũng từng chứng kiến những phản ứng chính trị khác nhau của chính quyền nước này với các giải Nobel Văn học lần lượt dành cho Cao Hành Kiện (mang quốc tịch Pháp), Mạc Ngôn và một Nobel Hòa Bình cho Lưu Hiểu Ba.

Hai, một số tác phẩm của Mạc Ngôn như “Phong nhũ phì đồn,” “Tửu quốc”… không chỉ là “hiện thực xã hội chủ nghĩa” theo tiêu chí Đảng Cộng sản về văn nghệ, mà trong đó chúng ta còn thấy một xã hội Trung Quốc sa đoạ về nhân tính. Chẳng phải đấy cũng là sự thật lịch sử sao?

(Hình Nhân vật cung cấp)

*Di sản hôm qua và hiện thực hôm nay có tác động như thế nào đối với những tác phẩm của ông, khác với những nhà văn ở hải ngoại, viết và chất đầy những vấn đề của quá khứ, những nhà văn trong nước lại viết và vẫn mang theo đường ray của chuyến tàu chính trị ý thức hệ, còn với ông thì sao?

-Trong đầu của bất cứ nhà văn trong nước nào cũng có một Ban Tuyên Giáo và một ông công an tư tưởng văn hoá hiện hữu một cách thường trực, kể cả trong giấc ngủ hay chiêm bao. Chưa kể, chúng ta còn một gánh nặng của di sản lịch sử và truyền thống văn hoá. Nhà văn hải ngoại cũng không trút bỏ được quá khứ. Chúng ta quá bận tâm với những thứ như “sứ mệnh,” “nhiệm vụ”…

Dẫu sao với tôi, viết vẫn là một nhu cầu bức thiết. Nhưng, cái chúng ta gọi là tự do sáng tạo, thật ra cũng không đơn giản. Tôi không tự đeo cái vòng kim cô của chế độ lên đầu. Nhưng truyền thống văn hoá vẫn là một bàn tay xương xẩu bóp cổ tôi. Vì thế, nhiều khi tôi cũng không khỏi ú ớ khi muốn diễn đạt sự thật theo cách chân thật vốn có của nó.

*Tự do trong chế độ độc tài có phải là sự tưởng tượng của cá nhân hay không và làm sao ông có thể biến sự tưởng tượng đó thành ngôn ngữ viết hoàn chỉnh trong tiểu thuyết của mình được?

Bạn nói đúng, tự do trong chế độ độc tài là một tưởng tượng như cách tự an ủi. Đường lối hay định hướng của Đảng chi phối mọi thứ của đời sống, hay nói cách khác, Đảng lãnh đạo toàn diện. Điều này được minh định cụ thể trong điều lệ của các hội nhà văn. Tuy nhiên, không phải nhà văn nào cũng sẵn lòng để Đảng lãnh đạo. Rất tiếc, như mọi kẻ tầm thường khác, nhà văn phần lớn lại rơi vào những định kiến hay những mặc định về nghệ thuật, và họ thật sự không thể vượt thoát khỏi những khuôn khổ, mẫu mực.

Thật ra, trong điều kiện bị áp chế, vẫn không thiếu những tài năng xuất chúng đâu đó lộ diện. Tôi cho rằng đó là do năng lực tự tại nơi mỗi cá nhân, sự dũng cảm và liêm khiết trong nhân cách.

Phần tôi, làm sao có thể biến cái ảo tưởng về tự do ấy thành ngôn ngữ viết hoàn chỉnh trong tác phẩm của mình? Bí mật này, chỉ có Chúa biết.

*Người chọn sáng tác tự do trong một chế độ độc tài kiểm duyệt, có phải họ đang dựng một giấc mơ của mình về văn bản không bị trói buộc ý thức, có thể vượt qua, tìm thấy mình ở một nơi khác ngày mai, tìm được một lớp độc giả chân thành mà họ không thể nghĩ tới. Đó có phải là giấc mơ quá mong manh và thậm chí là còn là một sự an ủi để tự mình đi ngoài bóng tối kiểm duyệt?

– Có vẻ như bạn đã biết bí mật của tôi. Ít nhất là trong thời điểm này, tôi đã chọn để văn bản văn chương của mình khai sinh bên ngoài biên giới quốc gia, và bên ngoài sự can thiệp của bức tường lửa trên không gian mạng. Quả thực, giấc mơ cho ngày mai là một giấc mơ mong manh và đầy tính an ủi, nhưng nếu không có giấc mơ xa xỉ ấy, làm sao con người còn hy vọng cho sự hiện hữu tối tăm này?

Nhưng nói cho đúng hơn, tôi lại nghĩ tôi chẳng có một giấc mơ nào. Đơn giản là tôi chỉ đang làm điều phải làm cho chính bản thân mình. Không băn khoăn.

*Nếu nhìn về văn chương Việt Nam nói chung, và ý khác nếu muốn phân tích riêng biệt văn chương người Việt hải ngoại với văn chương trong nước, ông hình dung bức tranh nào cho tương lai?

-Với thế hệ nhà văn tuổi khoảng 50 trở lên, trong và ngoài nước, tôi coi như đã xong. Họ có viết nữa cũng chỉ đến thế. Riêng ở hải ngoại, chẳng bao lâu nữa, sẽ không còn người đọc tiếng Việt. Ở trong nước, một thế hệ mới sẽ hình thành. Tất nhiên, chúng ta không thể trông cậy vào số đông. Tính bầy đàn và hội hè sẽ mãi mãi tồn tại. Cái làng nhàng vẫn mãi mãi là thị hiếu. Nhưng tôi tin vào sự đột phá của một vài cá nhân kiệt xuất. Cho dù, chế độ chính trị vẫn là độc tài, nhưng con đường đi tới của dân tộc không phải là tuyệt lộ. Những mầm mống tươi sáng vẫn được gieo trồng. Những khát vọng vươn dậy vẫn tiềm tàng đâu đó. Và may thay, chúng ta vẫn đồng hành cùng nhân loại, vẫn cập nhật được mọi tri thức và thông tin cần thiết. Cánh cửa mở ra với thế giới không đóng kín. Ai có chân thì đi. Cứ đi thì sẽ tới.

*Cuối cùng, ông có ấp ủ ý tưởng nào mới, hoặc muốn giới thiệu tác phẩm nào đến với người đọc trong năm 2025?

-Mặc dù viết vẫn là một nhu cầu bức thiết như tôi đã nói, nhưng tôi không bận tâm hay ấp ủ điều gì. Cái gì phải đến sẽ đến. Những ý tưởng mới cho một tác phẩm thường là ngẫu nhiên. Và tôi không phải mất công “thai nghén.” Bởi thật sự chẳng có gì mới, mọi thứ trong tôi như một trầm tích, cơ duyên đến thì nó mở ra. Tôi viết rất nhanh.

À, ngoài viết văn, tôi cũng làm thơ. Số thơ chưa in còn rất nhiều. Có thể trong những ngày còn lại, tôi sẽ in thêm một tập thơ để đắp trên nấm mộ gió đời mình, bớt lạnh.