ĐỜI ĐỜI HƠN-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Đến mà xem!”.

“Mọi con đường trong cuộc đời đều kết thúc ở nấm mồ. Con đường của các tôn giáo, con đường danh vọng và thành công không bao giờ có thể đưa bạn qua lũng tối của cái chết. Chỉ con đường Giêsu mới làm được điều đó. Ngài sẽ dẫn bạn đến một nơi giàu có hơn, đời đời hơn, nếu bạn đặt trọn niềm tin vào Ngài!” – Carol Berubee.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tường thuật việc Gioan Tiền Hô để các đồ đệ của mình chọn đi con đường Giêsu. Dõi theo vị ‘Thầy mới’, họ dè dặt, “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”; Ngài bảo, “Đến mà xem!” – không là một tấm danh thiếp, nhưng là một lời mời – Họ đã đến, xem, và “ở lại với Ngài”. Kìa! Nào ai biết, nhờ nghĩa cử hào hiệp này, thầy trò Gioan Tiền Hô đã trở nên giàu có hơn, ‘đời đời hơn!’.

Trên đường trần, có rất nhiều cuộc gặp gỡ. Có những cuộc gặp sớm rơi vào quên lãng; có những cuộc gặp mà sau khi chia tay, bạn cảm thấy mình nghèo hơn. Nhưng cũng có những cuộc gặp khiến một số người đổi đời, chẳng hạn cuộc gặp gỡ của các môn đệ Gioan với Chúa Giêsu hôm nay. Đó là cuộc gặp gỡ làm cho phong phú, đổi đời, đời đời và còn hơn thế, ‘cứu đời’; bởi lẽ hàng chục năm sau, khi viết Tin Mừng thứ tư, Gioan – người đi theo Chúa Giêsu chiều hôm ấy – vẫn còn nhớ chính xác thời điểm, “Lúc đó khoảng giờ thứ mười”, tức khoảng bốn giờ chiều.

Tính giản dị của cuộc gặp khiến độc giả hụt hẫng. Họ muốn biết về những gì các môn đệ đã thấy ‘chiều ngày định mệnh’ ấy; họ muốn biết ‘nơi chỗ’ mà vị ‘Thầy mới’ tiếp ‘quý khách’; và nhất là ‘nội dung’ của cuộc gặp. Thế nhưng, tác giả không nói gì về chủ đề này – không một lời về nơi chỗ, một lời về diễn biến – chỉ có thời giờ nhưng cũng phỏng chừng.

Thế mà chiều ngày hôm ấy, một điều gì đó mang tính quyết định đã xảy ra; vì đó là cuộc gặp gỡ đã thay đổi ‘đến mấy’ cuộc đời – niềm vui, ánh sáng tràn ngập trong trái tim họ như một dòng sông dữ dội – Anrê vồn vã thổ lộ, “Chúng tôi đã gặp Đấng Messia” và dẫn Simon em mình đến gặp Chúa Giêsu. Hôm sau, Philipphê, đến lượt mình, cũng tuyên bố, “Đấng mà sách luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp Ngài!”.

Cảm nhận việc đúng đắn khi đi theo vị ‘Thầy mới’, về sau Gioan viết, “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, đừng để ai làm cho anh em đi lạc đường!” – bài đọc một. Đi theo Giêsu, họ trở nên giàu hơn, ‘đời đời hơn’; và qua họ, ơn cứu độ được loan truyền cho thế giới, “Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

“Đến mà xem!”. Gioan Tẩy Giả đã dun dũi các đồ đệ của mình đến và xem Chúa Giêsu. Đó hẳn là một trải nghiệm buồn vui lẫn lộn. Ở một mức độ nào đó, có lẽ Gioan cảm thấy mất đi những đồ đệ của mình; nhưng mất mát này được đền bù bởi một niềm vui lớn hơn khi biết rằng, mình đang hoàn thành mục đích sứ vụ khi hướng người khác đến với Chúa Kitô. Tình yêu đích thực của người môn đệ Kitô luôn luôn vị tha, tập trung vào Chúa Kitô, hướng người khác về Ngài. Và Gioan là tấm gương tuyệt vời về nhân đức này; nhờ đó, thầy trò họ trở nên phong phú hơn, ‘đời đời hơn’. Bạn và tôi được mời gọi hãy làm vậy!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con nghèo đi khi không dám buông bỏ. Cho con biết ‘dun dũi’ những ai đến với con về phía Chúa, hầu con bớt tục luỵ nhưng trở nên ‘đời đời!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: Kim Bang Nguyen

****************************************

Ngày 4 tháng 1

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

35 Khi ấy, ông Gio-an đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông. 36 Thấy Đức Giê-su đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa.” 37 Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giê-su. 38 Đức Giê-su quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: “Các anh tìm gì thế?” Họ đáp: “Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?” 39 Người bảo họ: “Đến mà xem.” Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười.

40 Ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gio-an nói và đi theo Đức Giê-su. 41 Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-môn và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô). 42 Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su. Đức Giê-su nhìn ông Si-môn và nói: “Anh là Si-môn, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha” (tức là Phê-rô). 


 

Hôm nay tôi bị đánh vỡ đầu!-Đoàn Bảo Châu

Ba’o Tieng Dan

Đoàn Bảo Châu

3-1-2025

Tôi thấy vợ thằng hàng xóm trông ngon quá, tôi lân la sang nói chuyện. Chuyện đang vào thì thằng hàng xóm bỏ mẹ đi công tác về. Nó chào có vẻ miễn cưỡng và cố nở ra một nụ cười tỏ ra thân thiện.

Sau một hồi, thấy tôi nói chuyện với vợ nó lâu quá, nó bảo: “Thôi, ông về đi, để vợ chồng tôi còn có việc, tôi đi công tác lâu ngày, để bọn tôi còn ấy ấy tí…”

Tôi thủng thẳng bảo: Ấy ấy gì, ông lịch sự tí đê, khách đến chơi phải tiếp đón tử tế chứ.

Nó không nói gì, nhưng mặt có vẻ bắt đầu bực. Được 15 phút sau, nó bảo: “Thôi ông ạ, tôi đi công tác dài ngày về, mệt rồi, lúc khác ông sang chơi nhé, ông thông cảm cho!”

Tôi cũng bực mình bảo: “Ông éo hiểu gì cả, cái đất này cũng là của tôi nhé. Sao ông có quyền đuổi tôi về?!”

Nó trợn trừng mắt, rồi mặt đỏ gay, cố họng nó có vẻ bị nghẹn, mãi mới quát ầm lên được: “Mày nói cái éo gì vậy? Sao lại là của mày được?”

Tôi bảo: Mày ngu vừa thôi, éo biết gì về luật đất đai, nghiên cứu đi. Ở xứ sở thiên đường này, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, tức là tao và tất cả mọi người Việt Nam ai cũng có phần ở mảnh đất này. Chính vì vậy mà mày thấy người dân đang có nhà cửa, ruộng vườn, bỗng một ngày thằng Toàn Dân thích lấy là lấy, có ai làm gì được đâu.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Thằng hàng xóm ớ người.

Tôi bảo, vậy mày không hiểu chữ toàn dân là gì à? Ghi trong luật rõ ràng.

Tôi thấy nó nghệt mặt ra thì khoái chí, tiếp tục thao thao bất tuyệt dạy cho thằng ngu ấy hiểu về sự ưu việt của luật đất đai ở Việt Nam, thì bỗng nhiên thấy trời đất tối đen.

Khi tỉnh dậy tôi thấy mình đang nằm ngoài cổng của nhà nó. Máu trên đầu kín cả mặt, bết hết vào tóc. Hoá ra là nó dùng cái điếu cày phang tôi, giờ thì tôi mang máng nhớ ra.

Đầu đau như búa bổ, tôi lê về nhà. Kiểu này mai tôi phải đi kiện nó thôi. Đúng là rất khổ khi phải sống gần một thằng ngu. Chỉ tội cái là thằng ngu ấy có vợ xinh quá. Đời thật bất công ghê. Tôi thế này mà sao đường tình duyên lận đận?!

Luật sở hữu toàn dân là một đỉnh cao trí tuệ của đất nước ta, đố ở đâu trên thế giới có được phát minh ấy mà thằng .ó ấy không chịu hiểu, không chịu tuân thủ pháp luật gì cả. Kkk!


 

Để có thể thực sự hòa giải-Tác Giả: Nguyễn Tường Tâm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Tường Tâm

03/01/2025

Bây giờ là năm 2025, chiến tranh Việt Nam 1955-75 đã kết thúc nửa thế kỷ, nhưng lòng người vẫn ly tán, bởi vì bản chất cuộc chiến đã không được xác định đúng đắn. Đảng Cộng sản Việt nam vẫn cố gắng tuyên truyền và giáo dục dân chúng rằng họ, dưới lá cờ chủ nghĩa Mác Lê Nin bách chiến bách thắng, đã giải phóng nhân dân miền Nam thoát khỏi cuộc sống đói khổ tù đày, kềm kẹp của một chế độ độc tài tay sai đế quốc Mỹ. Để có thể thực sự hòa hợp hòa giải, bản chất cuộc chiến Việt Nam 1955-75 cần được xác định chính xác.

Năm 1939, thế chiến thứ II bùng nổ, dân Việt Nam nô nức thành lập các lực lượng chính trị và vũ trang (các đảng phái, giáo phái) đánh đuổi thực dân Pháp. Ông Hồ Chí Minh chọn con đường cộng sản thân Nga. Thành phần Quốc gia chọn con đường thân Trung Hoa Dân Quốc (Tổng thống Tưởng Giới Thạch).

Năm 1946, hai phe Quốc Cộng Việt Nam thành lập chính phủ liên hiệp. Nhưng sau khi Chính phủ Liên Hiệp tan vỡ, phe Cộng sản do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, được sự trợ giúp của Liên xô (cộng sản), thành lập lực lượng Việt Minh, tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia để một mình lãnh đạo công cuộc đánh Pháp dành Độc Lập. (Theo “Lịch sử Biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam – Tập 3–Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia – Sự thật–Năm xuất bản: 2009”, để có thể thực hiện được chủ trương hoà với Pháp, bản Chỉ thị nêu bật những nhiệm vụ cần kíp sau đây:

– Lợi dụng thời gian hoà hoãn với Pháp mà diệt bọn phản động bên trong, tay sai của Tưởng, trừ những hành động khiêu khích ly gián ta và Pháp.)

Kể từ đó những người Quốc Gia, không áp dụng biện pháp bạo lực của cộng sản như không ám sát, bắt cóc thủ tiêu thành phần cộng sản nên phải thua Cộng Sản. Vì vậy thành phần Quốc gia đã không còn đất sống và họ phải hoặc lưu vong ở Trung Hoa, hoặc trở về Việt nam sống dưới chế độ bảo hộ của Pháp với tính cách thường dân, không tham gia chinh trị.

Năm 1949, theo môt thỏa thuận giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và Tổng Thống Pháp, Quốc gia Việt Nam được thành lập nằm trong Liên Bang Đông Dương (gồm 3 nước Việt, Miên, Lào), thuộc Liên Hiệp Pháp. Chính phủ này gồm những thành phần không chấp nhận Cộng Sản; họ có thể chưa từng tham gia kháng chiến chống Pháp, hoặc họ có thể là những thành phần từng tham gia kháng chiến trong hàng ngũ Việt Minh nhưng rời bỏ tổ chức này vì không chấp nhận Cộng Sản.

Ngày 7 tháng 5, 1954, quân đội Việt Minh đánh bại quân Pháp tại Điện Biên Phủ khiến Pháp phải đầu hàng.

Chỉ một ngày sau khi trận Điện Biên Phủ kết thúc, vấn đề Đông Dương được đem ra bàn hội nghị (ngày 8/5/1954) (https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c886ypzvz7wo: Góc khuất của Hiệp định Genève—Nguyễn Tiến Hưng và Nguyễn Kim Cương)
Lúc 3 giờ chiều ngày 21 tháng 7, 1954, Ngoại trưởng Anh Anthony Eden, với cương vị chủ tịch Hội Nghị, dọc lời kết thúc Hội nghị. Hội nghị Geneve đã kết thúc với bản tuyên bố (declaration) với không có chữ ký của các bên tham gia hội nghị, mà chỉ có tiêu đề liệt kê danh sách tất cả các quốc gia tham dự (I had already been warned by Bedell Smith that the United States Government could not associate themselves with the final declaration…I also feared that it might lead to serious difficulties at our final meeting, for the Chinese had indicated that they would insist upon signature of the final declaration by all the delegations. I thought that I had better have this out with Molotov before the meeting. I went to see him and we eventually agreed that, in order to eliminate the problem of signature, the declaration should have a heading in which all the participating countries would be listed… At 3 p.m. on July 21st, I took the chair at the final plenary session of the conference.) The Memoires of Sir Anthony Eden, page 142. (1)

Bản Tuyên Bố của Hội nghị Geneve 1954, thường được gọi là Hiệp định Geneve 1954, qui định chia đôi Việt Nam tại Vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải), với Việt minh ở miền Bắc thành lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Chính phủ Quốc gia dưới sự lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại, mà Thủ Tướng là ông Ngô Đình Diệm, ở miền Nam. Hai miền sẽ bầu cử thống nhất đất nước vào năm 1956.

Năm 1955, ở miền Nam, được hậu thuẫn của Hoa Kỳ, ông Ngô Đình Diệm lật đổ Quốc Trưởng Bảo Đại để lên làm Tổng Thống thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa. Chính vì Hoa Kỳ và chính phủ VNCH không ký vào “Hiệp định Geneve 1954” nên họ tuyên bố không có bổn phận phải thực thi Tổng tuyển cử để thống nhất hai miền vào năm 1956 như Hiệp định qui định. Thực ra, thành phần Quốc gia lãnh đạo VNCH đã biết rõ Cộng sản miền Bắc sẽ không thực hiện tự do bầu cử, như mọi người đều chứng kiến những cuộc bầu cử do Cộng sản tổ chức cho tới nay (2025) cho nên giới lãnh đạo VNCH đã từ chối tổ chức bầu cử.

Việc chia đôi nước Việt Nam đều không được cả hai phe Quốc Gia và Cộng Sản (Việt Minh) đồng ý, mà đó là sự thỏa thuận giữa 4 siêu cường: Anh, Mỹ, lãnh đạo phe tự do; Liên Xô và Trung Cộng, lãnh đạo phe Cộng Sản.

Một bài báo Mỹ cho biết, theo cuốn “Lịch sử Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa,”công bố bởi Nhà xuất bản chính thức của Nhà nước, Lưu trữ, xuất bản,(“The History of the People’s Republic of China,” published by the official State Archives Publishing House,) trong chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đã gửi tới Nam Việt Nam 500 ngàn quân, trong khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa gửi tới miền Bắc 320 ngàn quân, thiệt mạng hơn 4 ngàn người. Đồng thời Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng viện trợ cho miền Bắc hơn 20 tỉ đô la. Tiết lộ trên được công bố sau khi các viên chức quân sự Liên Xô thừa nhận Liên Xô gửi một đoàn cố vấn, không nói rõ con số (a contingent of Soviet advisers) tới miền Bắc tham gia chiến đấu và bắn hạ máy bay Hoa Kỳ. (Nguồn: The Washington Post, bài China Admits Combat In Vietnam War, xuất bản ngày 17, 5, 1989)

Thông tin về việc Trung Quốc đã lần lượt cử 320 nghìn quân tình nguyện đến Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam đã được Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc CRI loan báo (với hơn 1400 cán bộ và binh lính tử trận được chôn cất tại 40 nghĩa trang liệt sĩ tại 19 tỉnh, thành Việt Nam và được Đại sứ quán Trung Quốc đến tảo mộ hàng năm vào Tết Thanh minh.) (2) Việc hàng năm chính phủ và nhân dân Việt Nam chỉnh trang nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc tại miền Bắc cũng được báo của nhà nước Việt nam xác nhận.

Theo các dữ liệu trên, rõ ràng cuộc chiến giữa hai miền Nam & Bắc Việt Nam kể từ 1955 là do sự thúc đẩy của ngoại bang (Anh, Mỹ ở miền Nam; Liên Xô và Trung quốc ở miền Bắc). Bởi thế, thật chính xác, cuộc chiến 1955-75 tại Việt Nam có thể được coi là cuộc chiến tranh ủy nhiệm của các siêu cường (a proxy war), đồng thời là cuộc chiến tranh ý thức hệ (tự do và cộng sản), và cũng chính là cuộc nội chiến, nồi da xáo thịt. Dứt khoát cuộc chiến 1955-75 do Cộng sản miền Bắc phát động chưa bao giờ là cuộc chiến tranh giải phóng, bởi vì, trong thời chiến tranh, nhân dân miền Nam sống tự do và sung túc gấp trăm lần nhân dân miền Bắc.

Nguyễn Tường Tâm

—————————————-

(1): The Memoirs of Sir Anthony Eden, Full Circle, Cassel & Company LTD, 1960

(2): https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/bo-quoc-phong-vn-sua-mo-liet-si-trung-quoc-12072024190326.html (Bộ Quốc phòng sẽ tôn tạo mộ của các liệt sĩ Trung Quốc có công với cách mạng Việt Nam—RFA–2024.12.07)


 

Lễ  Kính Thánh Danh Chúa Giêsu-Cha Vương

Đêm đã kết thúc nhường chỗ cho một ngày mới. Tạ ơn Chúa! Chúc Bạn một ngày bình an. Bạn chỉ còn 362 ngày nữa để đón mừng Năm Mới 2026. Nhớ để bụng nhé :

Cha Vương

Thứ 6: 03/01/2025

Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ  Kính Thánh Danh Chúa Giêsu.   Thánh Phêrô khẳng định rằng “dưới gầm trời này không có danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12). Thánh Phaolô cũng viết về việc này trong thư gửi cho các tín hữu Philípphê, ngài nói: Thiên Chúa Cha đã ban cho Đức Giêsu Kitô “một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu” (x. 2:9).

Theo lịch sử phụng vụ, trước Công Đồng Vatican II, ngày Lễ đầu năm, 1 tháng 1, là lễ Đặt Tên.  Theo Phúc Âm (Lk 2:21), đến ngày thứ tám người làm phép cắt bì cho Con Trẻ và đặt Tên Giêsu cho Con Trẻ. Thánh Danh Chúa Giêsu được tôn kính đặc biệt trong phụng vụ bằng việc cúi đầu khi đọc hay nghe đọc đến Thánh Danh Giêsu. Việc cúi đầu hay cúi mình là cử chỉ tỏ lòng tôn kính đối với chính nhân vật hay những biểu hiệu tượng trưng cho người đó.  Cúi đầu trước mặt nhân vật chúng ta tôn kính, hay trước hình ảnh của họ.

Theo luật phụng vụ, chúng ta phải cúi đầu khi đọc tới tên Ba Ngôi Thiên Chúa, hoặc khi đọc Thánh Danh Giêsu, Đức Trinh Nữ Maria, tên vị Thánh được tôn kính trong Thánh Lễ hôm ấy (cf. GIRM 275).  Ở đây luật Phụng vụ nói về Tên. Tên của Chúa Giêsu được chính Thiên Chúa gọi để ứng nghiệm lời của ngôn sứ: ” Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là” Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”( Mt 1, 23 ). Thánh Bernardine dùng việc sùng kính Thánh Danh Đức Giêsu như một phương cách để khắc phục các cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu và cay đắng cũng như sự thù nghịch giữa các dòng tộc ở các tỉnh nước Ý. Ngái nói: “Danh huy hoàng, danh từ bi, danh của tình yêu và quyền thế! Nhờ Ngài mà tội lỗi đã được tha thứ, nhờ Ngài mà kẻ thù bị chế ngự, nhờ Ngài mà người đau ốm được lành mạnh, nhờ Ngài mà những ai đang đau khổ vì thử thách được vững mạnh và phấn khởi. Ngài đem vinh dự cho những ai có lòng tin, Ngài dạy bảo những người rao giảng, Ngài thêm sức cho những người lao nhọc, Ngài duy trì những kẻ chán chường” (Thánh Bernardine ở Siena). Việc sùng kính gia tăng, một phần là nhờ các vị rao giảng thuộc dòng Phanxicô và Đaminh. Việc sùng kính này lan rộng hơn nữa sau khi các linh mục dòng Tên bắt đầu đẩy mạnh trong thế kỷ 16. Vào năm 1530, Đức Giáo Hoàng Clementê V phê chuẩn một Nghi Thức Cầu Thánh Danh cho các tu sĩ Phanxicô. Vào năm 1721, Đức Giáo Hoàng Innôcentê XIII nới rộng ngày lễ này cho toàn Giáo Hội.

Vậy kể từ ngày hôm nay xin Bạn hãy ý thức lại về việc kêu tên Chúa. Đừng kêu tên Chúa Giêsu vô cớ nhé ;). Xin Bạn hãy kêu Thánh Danh Chúa Giêsu một cách kính cẩn và nghiêm túc vì tên “Giêsu” có một sức mạnh huyền nhiệm mang bình an và nâng cao con người lên.

From: Do Dzung

*****************************

Ôi…Giê.. su..khi nghe tên Thánh Chúa Giêsu

HIỂU BIẾT THẦN HỌC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian!”.

Ngày 3 tháng 1

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

29 Hôm sau, khi ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. 30 Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.

31 Tôi đã không biết Người, nhưng tôi đến làm phép rửa trong nước để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en.” 32 Ông Gio-an còn làm chứng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. 33 Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.’ 34 Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

“Dòng suối máu chảy ra từ động mạch của Đấng Emmanuel; những tội nhân bị nhấn chìm dưới dòng máu lũ đó, nó cuốn sạch mọi vết nhơ tội lỗi. Tên trộm hấp hối vui mừng khi thấy nguồn suối đó trong ngày của hắn; và tôi, cũng đê tiện như hắn, tẩy sạch mọi tội lỗi của mình. Chiên Con yêu dấu hấp hối, bửu huyết của Ngài sẽ không bao giờ mất đi sức mạnh của nó cho đến khi toàn thể Hội Thánh được cứu chuộc!” – William Cowper.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng thứ tư, Gioan Tẩy Giả chưa bao giờ làm phép rửa cho Chúa Giêsu như trong Matthêu, Marcô hay Luca; thay vào đó, Gioan chứng kiến việc Thánh Thần ngự xuống; để hôm sau, đưa tay chỉ Chúa Giêsu cho các đồ đệ và nói, “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian!”. Quả là một ‘hiểu biết thần học’ sâu sắc!

Tại sao có sự khác biệt này giữa các Phúc Âm? Thật khó để trả lời, nhưng một điều hiển nhiên là, Gioan Tẩy Giả đã được mặc khải một sự hiểu biết tâm linh lạ lùng; rằng, Giêsu là “Chiên Thiên Chúa!”. Chỉ Tin Mừng thứ tư có ‘danh hiệu’ này và cũng chỉ ‘môn đệ vô danh’ – “người được Chúa Giêsu yêu” – tiết lộ mặc khải này. Rõ ràng, Tin Mừng Gioan đã nêu bật sự ‘hiểu biết thần học’ mà chỉ mình Gioan Tiền Hô được mặc khải.

“Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian!” cũng là lời chủ tế cất lên khi đưa cao Mình Thánh Chúa trong lễ Tạ Ơn; cộng đoàn đáp, “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con!” – lời viên đại đội trưởng. Trình thuật này không có trong Tin Mừng Gioan, nhưng phụng vụ đã tài tình kết hợp hai trình thuật này để có một ý nghĩa thâm trầm tuyệt vời dù thoạt đầu, chúng rất riêng lẻ; thậm chí tương phản nhau.

Bộ sưu tập ảnh chúa chiên lành đỉnh cao với hơn 999 hình ảnh đẹp nhất ...

Sự kết hợp ý vị này thể hiện một ‘sự thật kép’. Trước hết, “Đây Chiên Thiên Chúa!”. Thời Cựu Ước, tội nhân cần một con vật đổ máu để đền tội thay. Nhưng “Máu các con bò, con dê không thể xoá được tội lỗi!” – thư Do Thái; vì thế, Chiên Thiên Chúa phải đổ máu. “Đức Giêsu đã xuất hiện để xoá bỏ tội lỗi!” – bài đọc một; và kết quả là “Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Tiếp đến, “Con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con!”. Không ai xứng đáng để Chúa ngự vào; tuy nhiên, chúng ta không chỉ được phép đón Chúa, mà còn chủ động đến với Ngài. Bất xứng của con người không là trở ngại cho việc Thiên Chúa giữ mối tương quan với nó hay việc nó liên hệ với Ngài. Chúa Giêsu không yêu cầu chúng ta thật xứng đáng; Ngài yêu cầu chúng ta trở nên xứng đáng để hiểu biết, tìm kiếm và chào đón Ngài.

BÍ TÍCH THÁNH THỂ MẠC KHẢI TÌNH YÊU THIÊN CHÚA DÀNH CHO BẠN

Anh Chị em,

“Đây Chiên Thiên Chúa!”. Chiên Thiên Chúa đã lấy máu từ trái tim bị đâm thâu của Ngài để rửa sạch tội lỗi chúng ta. “Hãy học từ Gioan Tẩy Giả khi không cho rằng chúng ta đã biết Chúa Giêsu, rằng chúng ta đã biết mọi điều về Ngài. Không phải vậy! Hãy dừng lại với Tin Mừng, thậm chí có thể chiêm ngưỡng một biểu tượng của Chúa Kitô, một “Khuôn Mặt Thánh Thiện”. Chiêm ngưỡng bằng đôi mắt và hơn thế, bằng trái tim; và hãy để Chúa Thánh Thần hướng dẫn, Đấng nói với chúng ta bên trong rằng: Chính Ngài – Con Thiên Chúa – đã trở thành Chiên Con, bị hiến tế vì tình yêu!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, suối máu Chúa tuôn trào, tội lỗi của tên trộm và của nhân loại được tẩy sạch. Dạy con hiểu biết tình yêu Chúa hơn, hầu con bớt đê tiện và nên thánh mỗi ngày!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

**********************************************

 


 

Thánh Thánh Ba-xi-li-ô Cả và Thánh Ghê-gô-ri-ô Na-di-en-Cha Vương

Chúc bình an! Sau những ngày yến tiệc linh đình, chịu khó vận động tay chân một tí để đốt calo nhé. Hôm nay Giáo hội mừng kính Thánh Thánh Ba-xi-li-ô Cả và Thánh Ghê-gô-ri-ô Na-di-en. Mừng bổn mạng đến những ai chọn các ngài làm qua thầy.

Cha Vương

Thứ 5: 02/01/2025

Thánh Ba-xi-li-ô Cả, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh

TIỂU SỬ: Thánh Ba-xi-li-ô sinh tại Xê-da-rê miền Ca-pa-đô-xi-a năm 330, trong một gia đình Ki-tô giáo. Vốn là người tinh thông văn học lại nổi tiếng nhân đức, ban đầu thánh nhân chọn cuộc đời đan tu. Đến năm 370, người được cắt đặt làm giám mục cai quản nơi người sinh trưởng. Người tích cực chống lại giáo phái A-ri-ô, viết nhiều tác phẩm. Đặc biệt, người đã soạn thảo những quy luật cho đời sống đan tu, mà cho đến bây giờ, nhiều đan sĩ Đông Phương vẫn còn tuân giữ. Người hết sức chăm lo cho người nghèo. Người qua đời ngày 1 tháng Giêng năm 379.

NHÂN ĐỨC:

❦ Làm việc không biết mệt trong công việc mục vụ, chống chọi lại với nạn buôn thần bán thánh, giúp đỡ nạn nhân của hạn hán và đói kém, cố gắng thay đổi hàng giáo sĩ, nhấn mạnh đến tinh thần kỷ luật. Ngài không sợ lên án những điều xấu xa một khi đã thấy, và sẵn sàng ra vạ tuyệt thông cho những ai dính líu đến nạn mãi dâm ở Cappadocia.

❦ Thánh Ba-xi-li-ô là một người hết lòng chăm sóc cho những người nghèo. Có lần Ngài đã phát biểu: “Thực phẩm mà bạn không dùng là thực phẩm của người đói; quần áo bạn treo trong tủ là quần áo của người trần truồng; giày dép bạn không dùng là giày dép của người chân không; tiền bạc bạn cất giữ là tiền bạc của người nghèo; hành động bác ái mà bạn không thi hành là những bất công mà bạn đã phạm.”

NOI GƯƠNG THÁNH NHÂN:

❦ Hy sinh ít thời gian làm việc bác ái

❦ Bên vực cho sự thật, bài trừ văn hoá phẩm đồi trụy

===+===

Thánh Ghê-gô-ri-ô Na-di-en, giám mục, tiến sĩ Hội Thánh

TIỂU SỬ: Thánh Ghê-gô-ri-ô cũng sinh năm 330 gần thành Na-di-en. Người đi rất nhiều nơi để học hỏi, người đã kết thân với thánh Ba-xi-li-ô, đã chọn cuộc sống tu hành, nhưng sau đó thụ phong linh mục, rồi được chọn làm giám mục. Năm 381 người được đặt lên cai quản giáo phận thành Công-tăng-ti-nô-pô-li ; tuy nhiên, 18 tháng sau, vì có sự chia rẽ và bè phái trong địa phận, người lui về thành Na-di-en và qua đời tại đó ngày 25 tháng Giêng năm 389 hay 390. Hậu thế thường gọi thánh nhân là nhà thần học vì người vừa am tường đạo lý cao siêu, vừa có tài hùng biện.

NHÂN ĐỨC:

❦ Nhờ tài hùng biện và sự thánh thiện của Ngài, mà Ngài đã chinh phục được mọi người, đem lại sự bình an cho Giáo Hội lúc đó. Người ta đã phong tặng cho thánh nhân một cái tên hết sức thân thương: “Cha của những kẻ khốn cùng”.

NOI GƯƠNG THÁNH NHÂN:

❦ Giữ gìn vẻ chân thật trong lời ăn tiếng nói để đem lại sự tin tưởng và bình an trong môi trường sống hằng ngày của bạn.

From: Do Dzung

***************************

Sống trong tình Chúa – Gia Ân 

CSVN dự kiến nhận 16 tỷ USD kiều hối trong năm 2024, vẫn vuốt ve kiều bào

Ba’o Dat Viet

January 2, 2025

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn vừa chia sẻ với báo chí rằng Việt Nam dự kiến sẽ nhận khoảng 16 tỷ USD kiều hối trong năm 2024. Con số này được xem là tương đương mức cao kỷ lục của năm 2023, bất chấp những thách thức từ kinh tế toàn cầu.

Theo ông Bùi Thanh Sơn, kiều hối không chỉ là nguồn tài chính quan trọng mà còn là “nguồn lực rất quan trọng cho sự phát triển của đất nước”. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã và đang đóng góp vào nhiều lĩnh vực như kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế và các hoạt động thiện nguyện.

Hiện tại, Việt Nam có gần 6 triệu kiều bào sinh sống và làm việc tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2023, kiều hối về Việt Nam đạt khoảng 16 tỷ USD, trong đó riêng Sài Gòn đã nhận khoảng 9,46 tỷ USD, tăng hơn 43% so với năm 2022 và gấp 3 lần lượng vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Ông Sơn nhấn mạnh, Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách và pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào kết nối với trong nước. Đồng thời, các biện pháp tổng thể và dài hạn sẽ được triển khai để hỗ trợ sự phát triển bền vững của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Ông cũng bày tỏ tin tưởng rằng kiều bào sẽ tiếp tục phát huy tiềm năng, gắn bó với quê hương và đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển của đất nước trong tương lai.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam là một trong 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới, cùng với các nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Mexico, và Ai Cập. Năm 2023, lượng kiều hối về Việt Nam đạt mức tăng trưởng vượt trội sau giai đoạn chững lại do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19.

WB cũng dự báo lượng kiều hối về Việt Nam trong năm 2024 có thể đạt 14,4 tỷ USD. Tuy nhiên, với các chính sách hỗ trợ từ chính phủ, con số thực tế có thể vượt dự báo và đạt mức tương tự năm 2023.

Thư Viện Lịch Sử Việt Nam - Nguy-Cơ Tan-Rã Của Đảng Cộng-Sản Việt-Nam

Riêng tại Sài Gòn, nguồn kiều hối đã trở thành động lực quan trọng, giúp thúc đẩy đầu tư, hỗ trợ các gia đình và đóng góp vào nhiều lĩnh vực phát triển. Sự tăng trưởng ấn tượng về kiều hối ở thành phố này không chỉ phản ánh sự gắn bó của kiều bào mà còn cho thấy tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ kịp thời từ các cấp chính quyền.

Với mức kiều hối ổn định và tăng trưởng cao, cộng đồng người Việt ở nước ngoài không chỉ là nguồn lực tài chính mà còn là cầu nối văn hóa, tri thức và kinh nghiệm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Chính phủ Việt Nam cam kết tiếp tục đồng hành và tạo điều kiện để kiều bào gắn kết hơn với quê hương, đóng góp mạnh mẽ hơn vào sự thịnh vượng của đất nước trong những năm tới.


 

NÊN CAO CẢ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi không đáng cởi quai dép cho Người”.

“Điều hấp dẫn tôi là tôi cảm thấy mình tự làm chủ được số phận; nhưng cảm giác đó hoàn toàn thiếu trung thực và lừa dối bản thân nghiêm trọng. Tự hào về bản thân khiến tôi tự tôn thờ mình như ngẫu tượng; và đó là quốc giáo của địa ngục!” – Howard Butt.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy Gioan không theo “quốc giáo của địa ngục” khi không tự tôn, tự hào. Việc Gioan thừa nhận mình không xứng đáng cởi quai dép cho Chúa Giêsu là bằng chứng. Trớ trêu thay, chính sự thừa nhận này lại làm cho Gioan ‘nên cao cả!’.

Bạn có muốn ‘nên cao cả’ mà không tự tôn, tự hào? Bởi lẽ, “Tự tôn, tự hào, tự kiêu, tự đại, tự ti, tự mãn, tự cao, tự ái… và kể cả tự tin, tự trọng đều là tự tử!” – Gioan XXIII. Tự thâm tâm, tất cả chúng ta đều muốn ‘nên cao cả’ và khát khao hạnh phúc. Ước muốn bẩm sinh này thật chính đáng và chẳng có gì sai! Chúng ta muốn cuộc sống mình có ý nghĩa, có mục đích và tạo ra một sự khác biệt. Vấn đề là “Làm thế nào?”. Làm thế nào để tôi có thể ‘nên cao cả’, cao cả thực sự!

Từ góc độ trần thế, sự cao cả thường đồng nghĩa với thành công, giàu có, quyền lực và sự ngưỡng mộ từ người khác… Nhưng từ góc độ thiêng liêng, sự cao cả chỉ đạt được bằng việc dâng cho Thiên Chúa vinh quang lớn nhất mà chúng ta có thể có trong đời. Dâng Chúa mọi vinh quang có tác dụng ‘luỹ thừa’ đối với cuộc sống mỗi người.

Trước hết, dâng Chúa mọi vinh quang cho phép chúng ta sống phù hợp với sự thật là “Chúa và chỉ một mình Chúa” xứng với mọi khen ngợi và vinh quang. Bởi lẽ, mọi điều tốt lành đều đến từ Ngài. Thứ đến, dâng Chúa mọi vinh quang chỉ ra sự thật rằng, chúng ta tội lỗi, hoàn toàn bất xứng và điều này có tác dụng hỗ tương là chính Thiên Chúa sẽ hạ cố và nâng chúng ta lên. “Sự tách biệt khỏi tội lỗi và tính thế gian tự nó không phải là mục đích, nhưng là phương tiện để đạt được điều gì đó lớn lao hơn, cụ thể là Vương Quốc Thiên Chúa, hiệp thông với Thiên Chúa và tình bạn với Thiên Chúa!” – Phanxicô.

Andrew Murray thật thâm thuý, “Khiêm tốn là sự yên tĩnh hoàn hảo của trái tim. Đó là sự bình yên khi không được ai khen ngợi, khi bị chê trách hay khinh thường. Đó là ngôi nhà hạnh phúc, nơi tôi có thể vào, đóng cửa lại và quỳ lạy Cha tôi cách bí mật; và tôi bình an như trong biển sâu yên tĩnh, khi mọi thứ xung quanh và bên trên đều hỗn trọc!”.

Anh Chị em,

“Tôi không đáng cởi quai dép cho Người”. Hãy suy ngẫm về ơn gọi của bạn và chiêm ngắm gương khiêm nhường của Gioan. Đừng bao giờ né tránh việc hạ mình trước sự vĩ đại và quyền năng của Thiên Chúa. Làm như vậy chúng ta không hạ thấp chính mình hoặc cản trở sự cao cả của bản thân. Đúng hơn, chỉ trong sự khiêm nhường nhìn nhận sự yếu hèn, tội lỗi của mình trước Thiên Chúa, bạn và tôi mới có thể cho phép Chúa Giêsu lôi kéo vào sự cao cả của Ngài – ‘cao cả của thập giá’. “Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và ban tặng danh hiệu, trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu!” – Phaolô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘tự tử’ khi theo ‘quốc giáo của địa ngục’. Cho con biết hạ mình trước Chúa, trước anh em, để được Chúa hạ cố nâng lên!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*****************************************

Ngày 2 tháng 1

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

19 Đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy thầy Lê-vi đến hỏi ông: “Ông là ai?” 20 Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: “Tôi không phải là Đấng Ki-tô.” 21 Họ lại hỏi ông: “Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Ê-li-a không?” Ông nói: “Không phải.” – “Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?” Ông đáp: “Không.” 22 Họ liền nói với ông: “Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông?” 23 Ông nói : Tôi là tiếng người hô trong hoang địa : Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.  Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pha-ri-sêu. 25 Họ hỏi ông: “Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là ông Ê-li-a hay vị ngôn sứ?” 26 Ông Gio-an trả lời: “Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. 27 Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” 28 Các việc đó đã xảy ra tại Bê-ta-ni-a, bên kia sông Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa. 


 

Tình Người – Tác giả: Huyên Chương Quý- Truyen ngan HAY

 Tác giả: Huyên Chương Quý

Tác giả tên thật Quy Ly, tuổi trên 50. Nguyên là sinh viên tại Saigon, một mình vượt biên đường bộ tháng 11/1980 – qua Mỹ cuối tháng 4/ 1982. 
Công việc: Vài năm vẽ bìa sách cho nhà xuất bản Xuân Thu, vài năm làm bầu show ca nhạc. Hiện là cư dân quận Cam, làm nghề bảng hiệu. Bài viết về nước Mỹ thứ ba của ông nhiều chi tiết sống thực. Mong ông tiếp tục viết.

*************************
“Em vì hiếu thuận với cha mẹ nên không trọn được tình với anh. Anh thứ lỗi cho em. ..” Câu nói này của Huyền tôi nghe hình như quen tai lắm,  đâu đó trong các phim bộ Tàu, hay trong các vở tuồng cải lương của người Việt mình. Nhưng cũng rất đúng trong trường hợp của tôi với Huyền. Cha mẹ Huyền không bằng lòng cho Huyền lấy tôi, cho rằng tôi nghèo, không thân, không thế, không thể nào đem lại đời sống hạnh phúc cho Huyền. Chúng tôi chia tay trong nước mắt. Lần đầu tiên trong đời tôi  khóc vì một cuộc tình buồn. Tôi phải rời khỏi Quận Cam này ngay. Tôi phải đi đâu thật xa. Thật xa. Để không còn nhìn thấy lại những con đường quen thuộc có tôi với Huyền cùng tay trong tay chung bước. Để không còn nhìn thấy lại căn tiệm cà phê của cha mẹ Huyền, có bóng dáng xinh đẹp của Huyền với đôi mắt bồ câu đen lay láy và nụ cười duyên dáng nở trên môi mỗi khi thấy tôi đến. Tôi hy vọng ở một nơi xa khuất, lạ chỗ, lạ người, tôi có thể dần quên đi Huyền. Vậy là tôi lên đường, với hành lý chỉ có một va li nhỏ quần áo và vỏn vẹn 300 đồng trong túi.
.. . .
Trên đường phiêu lãng, tôi ghé San Jose để thăm một anh bạn sơ giao tên Phan, quen năm ngoái ở quán cà phê Dễ Thương, Quận Cam. Sẵn nhà còn trống một phòng nên ảnh bảo tôi hãy ở lại và kiếm việc làm, có tiền lương cuối tháng thì trả tiền nhà cho ảnh. Nghe theo lời ảnh, tôi vào làm bồi bàn cho một nhà hàng, lương 6 đồng một giờ. Ngày đầu làm việc, tôi bị mấy bạn làm chung đố kỵ vì nghe chị chủ khen tôi nhanh nhẹn. Họ đâm thọc với mấy chị trong bếp, khiến mấy chị thấy ghét tôi. Trong lúc đứng trong bếp chờ bưng thức ăn, có chị đứng quay lưng về phía tôi và nói móc: 

 – Đứng chật chổ thêm. 

   Một chị khác nói hùa theo: 

– Có làm được gì đâu mà cũng khen. 

   Ngày hôm sau, trong lúc đang dọn bàn, tôi nghe vài bạn chụm lại nói với nhau: 
– Nó chỉ lãnh tiền giờ, không có chia típ đâu. Coi chừng nó ăn cắp tiền típ của tụi mình đó. 

   Tôi biết cái nạn “ma cũ ăn hiếp ma mới” ở đâu cũng có, nên tôi cố gắng nhẫn nhịn, không đôi co với ai. Nhưng, một bạn khác còn chơi xấc hơn, trong lúc tôi bưng thau chén dĩa dơ đi ngang, đã thình lình đưa chân ra chặn bước chân tôi. Tôi ngã chúi về phía trước, nhưng may kịp lấy được thăng bằng, không bị té. Tôi không trách móc gì, chỉ lẳng lặng bưng thau chén dĩa vào trong bếp, nghe sau lưng có tiếng chị chủ la anh bạn đó: 

– Mày còn chơi vậy lần nữa là tao đuổi mày ngay. 

Cố gắng làm đến giờ đóng cửa, tôi xin nghỉ việc. Hai ngày sau, tôi vào làm cho môt nhà hàng khác, cũng bị nhiều chuyện phiền phức bởi sự sân si, ganh ghét.

Tôi lại xin nghỉ. Tôi nghĩ, San Jose là thành phố đông người Việt nhất trên xứ Mỹ này, cả trăm ngàn người Việt đang được an cư lạc nghiệp, sao tôi có thể không được? Nghĩ vậy, tôi lại tìm việc làm. Bà bạn thân của anh Phan kêu tôi đi phụ bán chợ trời 2 ngày cuối tuần cho bả. Một người làm khác được bả trả 60 đồng một ngày. Riêng tôi, hai ngày qua cũng khuân vác, phụ bán hàng, rồi dọn dẹp, rất mệt, nhưng lại không được trả tiền công. Tôi hỏi, bả trả lời: 

 – Có ăn, có uống cả ngày là may rồi. Đang thất nghiệp mà đòi hỏi.  

    Tôi nói lại cho anh Phan biết, ảnh lại binh vực bà bạn của ảnh: 

 – Bả nói vậy không đúng sao? Nếu không, thì Quý chết đói. Tôi đâu có nuôi cơm Quý được. Nếu Quý không thích vậy thì đi đâu thì đi. 

   Chán cho tình đời. Tôi quyết định rời khỏi nhà anh Phong, đi San Francisco. Bấy giờ là đầu tháng 10, 1996. 

   Từ bến xe Greyhound, tôi kéo va li đi dọc theo đường 4 TH, hướng về những tòa nhà cao ngất ngưỡng. Tôi biết chỉ có Downtown mới có nhiều tòa nhà cao như vậy. Tôi nhìn đồng hồ, đã 9 giờ tối rồi. Khí trời mát mẻ. Bầu trời thăm thẳm, ngàn sao lấp lánh, có Chị Hằng sáng tỏ đang bay theo bước chân phiêu lưu của tôi. Phiêu lưu thật, vì tôi chỉ còn 100 đồng và chẳng quen biết ai ở San Francisco mà cũng cứ đâm sầm đến, để tìm một lãng quên tình cảm !
           

Trước mặt tôi là đại lộ Market, có nhiều cây cao dọc hai bên đường. Xe cộ chạy qua lại dập dìu. Ở giữa đại lộ có tuyến đường sắt dành cho xe điện. Một chiếc xe điện từ xa đang chạy đến. Tôi hỏi một người Mỹ đen đang đứng ở góc đường xe điện đó chạy đi đâu,  anh cho biết chạy về Castro, khu dân gay. Không phải chỗ của tôi. Tôi nhờ anh chỉ đường đi đến Chinatown rồi tiếp tục kéo chiếc va li đi. Từ lâu, tôi vẫn nghe bạn bè cho biết nước Mỹ có hai khu Chinatown lớn nhất, lâu đời nhất của người Hoa. Một ở New York và một ở San Francisco . Tôi nghĩ thầm, đến ở khu người Hoa chẳng ai biết mình, sống và làm việc với họ chắc dễ chịu hơn. 

   Đi theo đường Kearny qua khỏi đường California , tôi biết mình đã đi vào Chinatown, vì trước mắt là những cửa tiệm sáng trưng có bảng hiệu chữ Tàu. Tôi mừng rỡ bước nhanh hơn về phía trước. Cả khu phố Broadway sáng rực ánh đèn. Người Mỹ, người Hoa qua lại tấp nập ở hai bên đường. Tôi dừng lại, châm một điếu thuốc hút, nhìn ngó cảnh trời Chinatown về đêm thật đẹp, thật rộn ràng sức sống. Trước mặt tôi, nhiều tiệm Showgirl chạy đèn chớp chớp, có nhiều cô Mỹ trắng trẻ đẹp mặc quần áo hở hang đứng trước cửa, uốn éo thân mình mời khách qua đường. Một chị Mỹ đen thấy tôi hút thuốc thì đi đến xin. Tôi móc ra ngay 3 điếu đưa cho chị. Hai anh Mỹ đen khác đứng gần đó thấy vậy cũng chạy lại xin. Tôi cũng đưa mỗi anh 3 điếu. Một anh nói: 

– You good men. Can you give me one dollar ?

            Tôi lại móc túi lấy cho mỗi anh một đồng , rồi hỏi chỗ nào có hotel rẻ tiền. Nhờ sự chỉ dẫn của họ, tôi có được một giấc ngủ thật ngon lành trong một hotel của người Hoa với giá 35 đồng một đêm. Hôm sau tôi đi tìm việc làm ngay. Khu chợ Tàu mới 9 giờ sáng đã đông nghẹt người Hoa qua lại hai bên đường. Đi không khéo có thể dẫm chân nhau hoặc đụng vào nhau. Tôi vào từng cửa tiệm để hỏi việc, nhưng đều bị từ chối. Chỗ thì chê tôi ốm yếu không làm được việc nặng. Chỗ đòi phải biết nói tiếng Hoa mới nhận. Nhiều chỗ khác cho biết đã đủ người rồi, kêu tôi cho số phone nhà, khi cần sẽ gọi. Tôi làm gì có phone nhà. Lại đi lòng vòng hỏi việc cho đến chiều, tối về lại hotel ở thêm một đêm nữa. Tôi bắt đầu lo lắng. Chỉ còn có 20 đồng, ngày mai mà không tìm ra việc làm thì biết ăn đâu, ở đâu ?.. .. 

 Thêm một ngày tìm không ra việc làm, tôi trở thành người Homeless. Buổi tối đầu tiên của đời không nhà, tôi ngủ trên lề đường 4 TH gần bến xe Greyhound. Nửa đêm, trời trở lạnh, khí lạnh từ nền xi măng bốc lên thấm vào da thịt lạnh buốt khiến tôi phát run. Tôi ngồi dậy mặc thêm 5 cái áo vào người rồi nằm co ro cố ngủ tiếp. Giấc ngủ chập chờn nửa tỉnh, nửa mê. Đến sáng, ăn cái bánh ngọt xong tôi lại kéo chiếc va li đi vào Chinatown tìm việc làm. Các chủ tiệm thấy tôi kéo theo vali  thì biết tôi là dân Homeless nên đều lắc đầu. Còn có 5 đồng, tôi vào một tiệm “food to go” ăn trưa, mua thêm vài cái bánh để tối ăn. Thế là cạn túi. Ăn xong, tôi hỏi chị chủ tiệm có cần thêm người làm không. Chị cũng lắc đầu và chỉ đường cho tôi đến hỏi việc ở khu thương mại của người Việt. Người Việt ở San Francisco không nhiều, khoảng mười mấy ngàn người, nên khu thương mại chỉ tập trung trên đường Larkin. Tôi kéo va li đi qua các cửa tiệm người Việt, chỉ nhìn nhìn mà không dám vào hỏi việc, vì mặc cảm đang bị homeless. Hoàng hôn đến, tôi lại về bến xe. Tôi bắt chước mấy người Mỹ homeless khác, tìm vài thùng carton ở thùng rác lót làm chổ nằm. Dù đã mặc thật nhiều áo, tôi cũng bị thức dậy lúc nửa đêm vì khí trời lạnh rét. Một chiếc xe dân chơi về đêm chạy ngang, không hiểu sao chạy chậm lại, ném lon bia đang uống vào người tôi rồi cười ha ha và vọt xe chạy nhanh. Trời đất ơi. Tên nào ác ôn thế?! Sao mà khốn kiếp vậy?! Tôi lầm bầm rủa thầm rồi cởi cái áo ướt nước bia ra, mặc thêm vài áo khác vào. Tôi không ngủ được nữa, ngồi co ro chịu đựng cơn lạnh đến sáng.

Tôi vẫn cứ ngồi co ro vậy cho đến mặt trời lên trên đỉnh đầu. Đói bụng quá. Làm sao đây? Một thời làm bầu show ca nhạc, vui sướng tận cùng, bây giờ phải đi ăn xin sao? Tôi nghĩ thầm rồi bất chợt nước mắt tuôn trào. Khóc một hồi, tôi nằm dài ra trên tấm carton ngủ một giấc đến tối thì thức dậy. Tôi nhớ lại Quang, người bạn tốt thâm niên của tôi ở Houston , có dặn nếu bị gì thì phone cho Quang để Quang gửi tiền  cấp cứu. Tôi đến một trạm phone công cộng, mấy lần nhấc phone lên rồi đặt xuống. Tôi thấy xấu hổ với bạn, nên thôi. Cái đói lại cồn cào bao tử tôi suốt đêm. Trưa hôm sau, thật may mắn, một anh Mỹ đen, cũng dân homeless, đến ngồi bên tôi, hỏi: 

– Are you hungry?

Tôi mau mắn trả lời: 

– Yes. I am very hungry!

Anh Mỹ đen kéo tay tôi đứng dậy: 

– Ok, go with me. 

– Where are we go ?

– Go to the church for eat. 

  Tôi mừng quá đi theo anh. Đến nơi, tôi đã thấy một hàng dài mấy trăm người Mỹ homeless đang chờ vào nhà thờ để ăn bữa cơm từ thiện. Đứng vào hàng rồi, nước mắt tôi tự nhiên lại ứa ra. Tôi đã thật sự là dân homeless ở thành phố xa lạ này.

Nhờ có nhà thờ ở đường Jones giúp cho ăn  bữa trưa, tôi tạm thời giải quyết được cái bao tử lây lất qua ngày. Cứ ngày thì đến nhà thờ ăn trưa, tối về bến xe, nhịn đói, và ngủ trong trời giá lạnh. Tính ra đã bị homeless nửa tháng rồi. Một hôm, sau khi ăn trưa ở nhà thờ, tôi đến công viên ở khu Civic Center trên đường Larkin, ngồi trên ghế đá nhìn trời mây bao la mà buồn cho thân phận. Anh Mỹ trắng ngồi gần bên thấy tôi có chiếc va li mới hỏi: 

–  Are you Chinese? Where are you come from?

 Tôi nhìn anh một lúc rồi trả lời: 

– Yes, I am Chinese. I came from Orange County , South California . I have been here for 3 weeks. Now, I am homeless. No home, no money!

Anh cũng nhìn tôi một lúc rồi nói: 

– Why you don’ t go to Social Office? They’ ll help you Food Stamps emergency and Voucher hotel for seven days.  

Trong hoạn nạn, vì quá buồn, tôi đã quên mất chương trình An sinh Xã hội giúp người khốn khổ. Tôi cũng không ngờ ở thành phố San Francisco này lại có thêm chương trình giúp Voucher hotel cho người lỡ đường không có chỗ ở.  Mừng quá, tôi nói: 

– I don’t know where Social Office. May you help me? 

– Ok. I help you. Go!

Thần may mắn đã mỉm cuời với tôi. Anh Mỹ trắng tốt lòng dẫn tôi đến trước cửa Sở Xã hội,  dúi vào tay tôi tờ giấy 10 đồng rồi bỏ đi ngay. Tôi cảm ơn anh nhiều lần. Anh đi đã hơi xa nhưng còn ngoái đầu lại nói: Good luck. Tôi thấy xúc động, nước mắt lại ứa ra. Từ khi thất tình Huyền đến những ngày homeless vừa qua, tôi trở thành “mít ướt”! Trời sinh ra con người cũng ngộ: Buồn khổ, đau thương thì khóc đã đành, cảm động, vui mừng cũng khóc. 

  Điền các thứ giấy tờ xong, tôi ngồi chờ khoảng một tiếng thì được gọi vào gặp cán sự phỏng vấn. Người tiếp tôi là một chị người Việt, tên Tường, khoảng 45 tuổi. Chị nói chuyện nhỏ nhẹ, dịu dàng. Nghe tôi kể hoàn cảnh cha mẹ, anh chị em ruột thịt đã chết hết trong chiến tranh Việt Nam, qua Mỹ một mình, bị thất tình rồi trải qua những ngày homeless, chị tỏ ra cảm thông:

– Tội nghiệp em quá. Chị ở San Fran này 20 năm rồi, lần đầu tiên mới thấy một người Việt bị homeless như em. Trông em ốm quá. Có bị bệnh không?

– Dạ, trong hơn nửa tháng qua, mỗi ngày em chỉ ăn có một bửa trưa ở nhà thờ. Tối lại lạnh quá nên ngủ không được. Nhiều hôm bị cảm sốt, cũng phải ráng chịu đựng. Em bị khủng hoảng tinh thần,  cảm thấy chán đời lắm.

Chị Tường thở dài rồi tiếp tục ghi chép hồ sơ. Sau đó, chị bảo tôi ký tên vài chổ trên hồ sơ và nói:

– Em được trợ cấp Food Stamps mỗi tháng 145 đồng để ăn uống. Còn đây là phiếu ở tạm Shelter 3 ngày. Nơi đó có tắm rửa, ăn uống, giường ngủ đàng hoàng, lại có bác sĩ MD mỗi chiều đến khám bệnh cho thuốc uống.. Em hãy xin bác sĩ làm giấy chứng nhận em có bệnh. Sau 3 ngày, em trở lại đây để nhận Voucher ở Hotel 7 ngày, và cán sự phụ trách y tế sẽ phỏng vấn em lần nữa. Nếu được họ thông qua, em sẽ được trợ cấp tiền mỗi tháng 345 đồng để tiêu xài và mướn chỗ ở lâu dài, không còn lo homeless nữa.  

Nóí xong, chị móc ví lấy ra tờ giấy 20 đồng đặt vào tay tôi. Chị nói: 

– Đây là chút tấm lòng riêng của chị. Trong khi chưa có tiền trợ cấp, em giữ để tiêu xài lặt vặt. Chị chúc em từ nay về sau sẽ luôn gặp nhiều may mắn. 
Tôi cảm động quá, chẳng biết nói gì, chỉ biết cảm ơn chị rồi đứng dậy. Chị tiễn tôi ra tới ngoài cửa văn phòng. 

   Shelter là nơi tạm trú ngắn hạn dành cho người homeless. Mỗi Shelter có quy định riêng. Shelter dành cho phụ nữ thì cho ở từ một tháng trở lên, đến khi nào phụ nữ đó có đời sống ổn định. Shelter dành cho nam giới, tùy theo trường hợp, cho ở 3 ngày, một tuần, tối đa là một tháng.. Có Shelter còn trống một số giuờng thì cho xổ số hàng đêm để người homeless nào trúng số thì được vào ngủ, chỉ một đêm, hôm sau là phải đi. Shelter tôi ở có hai tầng, tọa lạc trên đường 10 th. gần đại lộ Market. Buổi chiều, người homeless đã tụ về đông đảo,  tụm năm tụm ba nói chuyện ồn ào trong phòng sinh hoạt. Đa số là Mỹ đen. Tôi làm thủ tục nhận giuờng ở tầng 2 xong là vội vàng đi tắm. Sau hơn nửa tháng dơ bẩn ngoài đường, giờ được tắm, cảm giác vui sướng không thể tả hết được. Tắm xong cũng vừa tới giờ ăn chiều. Đến 7 giờ tối, có bác sĩ và y tá đến khám bệnh. Vị bác sĩ và cô y tá trẻ đều có nụ cười luôn nở trên đôi môi, ân cần hỏi han từng bệnh nhân. Tôi cũng được khám và được cho thuốc uống. Tôi xin bác sĩ viết giấy chứng nhận bệnh cho tôi, ông vui vẻ làm ngay. 

  Tôi đã có 3 ngày sống thật an vui trong Shelter. Hết hạn, tôi lại kéo va li đến Sở Xã Hội. Lần này, người phụ trách hồ sơ của tôi là chị Liên, trông trẻ hơn chị Tường. Sau khi đưa cho tôi Voucher hotel 7 ngày, chị dẫn tôi qua phòng cán sự phụ trách về y tế cho họ phỏng vấn bệnh trạng của tôi. Thật may mắn, tôi được thông qua. Tôi trở lại bàn làm việc của chị Liên. Chị cười thật tươi và nói: 

  – Như vậy là anh Quý được hưởng tiền trợ cấp mỗi tháng 345 đồng rồi đó. Tiền này anh không phải trả lại. Tiền trợ cấp chỉ ngưng khi anh khoẻ mạnh và đi làm, có lợị tức sinh sống. Tôi có nghe chị Tường nói lại, về hoàn cảnh của anh. Tôi cũng thấy xót xa cho anh lắm. Anh ngồi chờ tôi hoàn tất hồ sơ cho anh nhé. 

– Vâng, cảm ơn chị nhiều. 

   Khoảng nửa tiếng sau, chị Liên bảo tôi ký vài chỗ trong hồ sơ rồi cười thật vui vẻ:  

– Chúc mừng anh qua cơn hoạn nạn. Anh đạo gì vậy?

– Tôi đạo Phật. 

– Tôi thì đạo Công giáo. Đạo nào cũng tốt thôi. Tôi có cái này tặng anh. 

  Chị mở túi xách lấy ra một bao thư, rồi mở bao thư lấy ra một thánh giá nhỏ bằng vàng đưa cho tôi, chị nói: 

– Đây là thánh giá vàng thật. Anh cất vào bóp để có được sự may mắn. Chúa sẽ luôn phù hộ anh. Còn 20 đồng trong bao thư là tấm lòng tôi, cũng giống như chị Tường vậy. Để anh tiêu lặt vặt. Vì một tuần sau anh mới nhận được tiền trợ cấp của chính phủ. Anh nhận cho tôi vui. 

  Tôi lại thêm một lần xúc động, nhưng cố gắng kềm nén không cho nước mắt trào ra. Một lúc sau, tôi mới nói được nên lời: 

 – Tôi thật không biết nói như thế nào để tỏ lòng biết ơn chị Liên và chị Tường. Tôi thật may mắn gặp được hai chị tốt quá. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Tôi sẽ luôn nhớ đến tình cảm tốt lành của hai chị dành cho tôi. Tôi kính chúc chị và gia đình luôn mạnh khoẻ, an vui. Tôi cảm ơn chị nhiều. 

   Chị Liên cũng tiễn tôi ra tới cửa. Chị dặn: 

– Tôi phụ trách hồ sơ của anh, nếu có gì thắc mắc thì anh cứ gọi phone đến Sở Xã Hội,  bấm thêm mã số của tôi thì sẽ nói chuyện được với tôi. Chúc anh nhiều may mắn. 

   Tôi cảm ơn chị và cúi đầu chào chị rồi kéo va li đi. Vừa ra khỏi Sở Xã Hội, tôi giơ thẳng cánh tay trái lên và hét lớn: 

 – Vui quá Trời ơi. Ông Bà, Ba Mẹ, Anh Chị Em của Quý ơi. Con vui sướng quá. Con hết homeless rồi… Hết homeless rồi. ..

Sau một tuần ở hotel, cũng vừa lúc tôi nhận được tiền trợ cấp 345 đồng và Food Stamps 145 đồng. Tôi lại may mắn xin được trợ cấp Housing của City San Francisco dành cho người lợi tức thấp, và tìm được một building cho mướn phòng theo chương trình Housing, chỉ 98 đồng một tháng. Cuộc sống ổn định, tôi có lại những ngày tháng an vui, lo học hành thêm để có được sự thăng tiến đời sống cho những năm tháng về sau này. 
…..
Trong những ngày tháng êm đềm về sau này, tôi nhớ lại… Có lần trong giấc ngủ dưới gầm cầu xa lộ gần bến xe, tôi chợt cảm thấy một luồng hơi ấm từ dưới đôi chân chạy dần lên tới ngực, rồi tới đầu, giúp cho tôi chống lại được tiết trời San Francisco giá lạnh. Và Mẹ tôi hiện ra bên cạnh tôi, đẹp rạng rỡ như nàng tiên trong chuyện cổ tích tôi thường đọc thời thơ ấu. Mẹ âu yếm vuốt tóc tôi và dịu dàng nói: “Con đừng bao giờ chán nản cuộc sống dù có gặp muôn ngàn cay đắng, khổ đau. Con phải dũng cảm vươn lên, vượt qua những phong ba, bão tố để sẽ tìm thấy được bờ bến yên lành, hạnh phúc. Cuộc đời có lấy ở con cái này thì sẽ cho con có được cái khác. Con hãy luôn ghi nhớ ở hiền thì sẽ gặp lành. Số con có Ơn Trên Thiêng Liêng phù hộ. Sẽ có rất nhiều người tốt thương mến, giúp đỡ con trên những bước gian nan của cuộc đời. Sau này, khi có được sự thành công, con hãy trả ơn đời bằng cách luôn yêu thương tất cả mọi người, làm thật nhiều việc thiện cứu giúp những người bất hạnh, khổ đau khác. Và còn phải lo giúp Dân giàu Nước mạnh. .. Ví thử cuộc đời bằng phẳng cả, Anh hùng hồ dễ có mấy ai?…” 

   Mẹ tôi ngâm khe khẽ hai câu thơ rồi biến mất. Tôi chìm vào giấc ngủ,  một giấc mơ khác lại đến. Tôi thấy tôi bay bay trong không gian trong lành tràn ngập ánh sáng dìu dịu. Hồn tôi lâng lâng vui sướng. Tôi thấy thế giới này trở thành một Thiên Đàng. Tôi bay đi khắp cùng trái đất.  Đâu đâu cũng có cảnh sắc đẹp tuyệt vời, cỏ cây tươi xanh, ngàn hoa khoe sắc thắm, tỏa hương thơm ngát, và chim muông nhảy nhót, líu lo bên cạnh con người. Con người ở khắp năm châu đều có cuộc sống an bình, thịnh vượng. Không còn có sự đe dọa của bom nguyên tử và những vũ khí độc hại tàn sát loài người. Không còn có những kỳ thị màu da, sắc tộc. Không còn có những tranh chấp lợi quyền,  hận thù, ganh ghét giết hại nhau. Nhân loại sống với nhau thật hiền lành, hòa ái, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau cùng có được đời sống an lạc, vui sướng, hạnh phúc vĩnh cửu. .. 
Giấc mơ đó bao giờ sẽ thành sự thật? 
….
Như trăng có khuyết, có tròn ; như ngày có mưa, có nắng ; như khí hậu có thời lạnh, thời nóng; ý nghĩa ” tình người ” cũng có hai mặt tương phản: xấu và tốt. Nhưng thường, người ta hiểu hai chữ “tình người” theo ý tốt: Lòng Bác Ái. Trường hợp tôi ở San Francisco , cũng vậy. Tôi đã gặp được những con người xa lạ không có tình thân thuộc, nhưng đã hết lòng giúp đỡ tôi vượt qua nghịch cảnh.

Và, nhớ lại thời hoạn nạn vượt biển, vượt rừng của mấy triệu người Việt tỵ nạn, có tôi trong đó, cũng nhờ có Tình Người  của hàng tỉ người dân nhiều nước trên thế giới, thể hiện Lòng Bác Ái thông qua Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, Hồng Thập Tư Quốc Tế, đã cứu giúp tất cả chúng ta có được cơm no,  áo ấm ở trại tỵ nạn, và nhận hưởng ánh sáng tự do, dân chủ ở các nước thứ ba, để từ đó được thăng hoa đời sống, hình thành Cộng đồng người Việt hải ngoại phát triển lớn mạnh như ngày nay.

Riêng tại Mỹ, đã có hơn một triệu rưởi người Việt đang có được cuộc sống thành công, vui sướng. Xin trân trọng biết ơn nhân dân Mỹ, chính phủ Mỹ, Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, Hồng Thập Tự Quốc Tế, cùng hàng tỉ con người có Lòng Bác Ái trên trái đất này. 

Và, xin được vinh danh hai chữ: Tình Người.

From: Kristie Phan & Kim Bang Nguyen