Cuộc chiến quyền lực phủ trùm bóng tối ngành y tế Việt Nam -Đàm Chính Sự

Ba’o Nguoi-Viet

January 8, 2025

Đàm Chính Sự

Một thông tin gây chấn động trong giới chính trị và y tế Việt Nam được công bố vào ngày cuối năm 2024: hai dự án bệnh viện lớn là Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 và Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 tại Hà Nam sẽ bị thanh tra. Đây là yêu cầu của Tổng Bí Thư Tô Lâm, do ông Đặng Văn Dũng, Phó Trưởng Ban Nội Chính Trung Ương truyền đạt.

Đây không chỉ là đợt thanh tra, kiểm tra thông thường, mà còn là một đòn đánh mạnh vào Bộ Trưởng Bộ Y Tế Nguyễn Thị Kim Tiến trong thời gian từ 2011 đến 2019. Việc chỉ đạo thanh tra vào thời điểm cuối năm càng cho thấy sự quyết liệt và tính toán kỹ lưỡng trong chiến lược của ông Tô Lâm.

Sự việc này nhanh chóng thu hút sự chú ý của dư luận, đặt ra nhiều câu hỏi về mục đích thực sự của cuộc thanh tra và những hệ lụy có thể xảy ra. Liệu đây chỉ là một biện pháp làm trong sạch bộ máy, hay là một phần trong cuộc chiến quyền lực đang âm ỉ trong nội bộ Đảng?

Bóng đen tham nhũng và những bất cập

Cả hai dự án Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 và Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 đều được phê duyệt và khởi công xây dựng dưới thời Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến. Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai, hai dự án này đều rơi vào tình trạng chậm tiến độ, đội vốn và thậm chí là bỏ hoang. Dư luận phẫn nộ, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống y tế công đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thiếu thốn.

Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2, được khởi công xây dựng vào năm 2014 tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, với tổng mức đầu tư ban đầu là gần 5,000 tỷ VNĐ. Dự án được kỳ vọng sẽ giảm tải cho Bệnh viện Bạch Mai tại Hà Nội, đồng thời nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân khu vực.

Tuy nhiên, đến nay, dự án vẫn chưa hoàn thiện, nhiều hạng mục bị bỏ dở, trang thiết bị y tế không được lắp đặt hoặc bị xuống cấp nghiêm trọng. Theo một số nguồn tin, lý do chậm trễ là do sự chồng chéo trong quản lý, thiếu vốn và đặc biệt là các sai phạm trong đấu thầu, chỉ định thầu.

Cùng thời điểm với Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2, Dự án Bệnh viện Việt Đức cơ sở 2 khởi công tại thị xã Phủ Lý, Hà Nam, được đầu tư hàng nghìn tỷ đồng, cu4ngd 9ang dở dở dang dang.

Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 vẫn còn dang dở. (Hình minh họa: Tiền Phong)

Nguyễn Thị Kim Tiến: Từ ‘ghế nóng’ đến mục tiêu thanh trừng?

Việc ông Tô Lâm chỉ đạo thanh tra hai dự án bệnh viện lớn dưới thời bà Nguyễn Thị Kim Tiến khiến nhiều người đặt câu hỏi về mối quan hệ giữa hai người và động cơ thực sự của ông Tô Lâm. Bà Nguyễn Thị Kim Tiến từng là một trong những bộ trưởng có thời gian tại vị lâu nhất trong chính phủ. Dù không còn là Ủy viên Trung ương Đảng từ năm 2016, bà vẫn được giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế, một trường hợp hiếm gặp và gây nhiều tranh cãi lúc bấy giờ.

Nhiều ý kiến cho rằng sự ưu ái dành cho bà Tiến đến từ sự can thiệp của nhóm lợi ích Hà Tĩnh, quê hương của bà. Nhóm này được cho là có mối quan hệ thân thiết với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người đã bảo đảm cho bà Tiến một vị trí trong chính phủ.

Tuy nhiên, sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời, phe Hà Tĩnh đã suy yếu đáng kể trong cuộc chiến quyền lực nội bộ, bà Tiến cũng không tránh khỏi những sóng gió chính trị. Việc thanh tra hai dự án bệnh viện có thể là một đòn giáng mạnh vào uy tín và sự nghiệp của bà Tiến, nhất là khi những người từng bảo trợ cho bà đã không còn đủ sức để che chở. Nó không chỉ là một cuộc kiểm tra về tài chính, mà còn là một phép thử về quyền lực và sự ảnh hưởng của bà trong bối cảnh chính trị hiện tại. Theo một số nguồn tin nội bộ, bà Tiến có thể sẽ bị xử lý nghiêm khắc, chứ không có chuyện “hạ thủ lưu tình” từ ông Tô Lâm.

Một trong những điểm đáng chú ý trong câu chuyện này là sự mâu thuẫn trong ngân sách giữa các bộ ngành. Trong nhiều năm qua, Bộ Y tế và Bộ Giáo dục chỉ được phân bổ một phần nhỏ ngân sách, khoảng 7 nghìn tỷ đồng mỗi bộ, trong khi Bộ Công an lại được ưu tiên với con số khổng lồ lên đến 100 nghìn tỷ đồng. Sự chênh lệch này đặt ra câu hỏi về chính sách ưu tiên của nhà nước, và đặc biệt là về sự ảnh hưởng của Bộ Công an.

Trong khi Bộ Công an được “vung tay” chi tiêu cho các dự án không thiết yếu như nhà hát và sân bay riêng, thì Bộ Y tế lại phải chật vật xoay sở với nguồn kinh phí hạn hẹp. Chính điều này được cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng các bệnh viện xây xong không có kinh phí để hoạt động. Ngoài ra, còn có nghi ngờ về sự tham nhũng và lãng phí trong quá trình thực hiện các dự án, làm cho tình hình càng trở nên tồi tệ hơn.

Tuy bà Tiến có nhiều tai tiếng trong nhiệm kỳ của mình, một số nhận định cho rằng nếu xét công bằng, thì các sai phạm của ông Tô Lâm lớn hơn rất nhiều so với bà. Tuy nhiên, ông Tô Lâm đang nắm trong tay quyền lực tối cao, có thể quyết định số phận của bất kỳ ai.

Việc thanh tra các dự án bệnh viện không chỉ là một động thái kiểm tra thông thường mà còn là một phần trong chiến lược “công an trị” của ông Tô Lâm. Từ khi lên nắm quyền, ông Tô Lâm đã cho thấy sự quyết liệt trong việc củng cố quyền lực và thanh trừng những đối thủ tiềm tàng. Ông sử dụng hai công cụ mạnh mẽ là “lò đốt” chống tham nhũng và chính sách tinh giản bộ máy để loại bỏ những người không “cùng phe” hoặc có dấu hiệu chống đối.

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến, một người đã về hưu và không còn quyền lực, có thể là một mục tiêu “dễ xơi” trong chiến dịch này. Việc trừng phạt một quan chức đã mất quyền lực có thể không mang lại lợi ích chính trị lớn, nhưng nó có thể là một cách để ông Tô Lâm “dằn mặt” những người khác, đặc biệt là những người từng có ảnh hưởng lớn trong hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng ông Tô Lâm có thể không “trong sạch” như ông thể hiện. Việc ông Tô Lâm chỉ đạo thanh tra bà Tiến có thể là một chiêu trò để “bịt miệng” và loại bỏ một đối thủ tiềm tàng, chứ không phải là một hành động vì công lý.

Việc ông Tô Lâm ra tối hậu thư, yêu cầu việc thanh tra phải xong trước ngày 31 Tháng Ba năm 2025, cho thấy sự quyết liệt và tính toán kỹ lưỡng trong chiến lược của ông. Bà Nguyễn Thị Kim Tiến còn ba tháng để “lo liệu” cho số phận của mình. Trong bối cảnh chính trị hiện tại, nhiều người cho rằng bà Tiến sẽ khó tránh khỏi một kết cục không mấy tốt đẹp.

Một số đồn đoán cho rằng bà Tiến có thể tìm cách “hạ cánh an toàn” giống như trường hợp của Trần Tuấn Anh và Nguyễn Xuân Phúc. Tuy nhiên, việc liệu bà có đủ khả năng để “mua” được sự “tha thứ” của ông Tô Lâm hay không, vẫn còn là một ẩn số.


 

KHI BẤT NGỜ BỊ NHỒI MÁU CƠ TIM, BẠN CHỈ CÓ 10s VÀNG ĐỂ TỰ CỨU MÌNH…

HENRY HOANG 

Khi mới xuất hiện hiện tượng nhồi máu cơ tim, rất có thể hiện tượng này lại tái diễn. Vì thế chúng ta cần nắm vững kiến thức này để có thể tự cứu chính mình trong 10 giây đầu hiện tượng nhồi máu cơ tim xuất hiện.

Giả sử thời gian hiện tại là 17:50, bận rộn cả ngày với các lớp học, hiện đang lái xe một mình về nhà.

Đột nhiên xuất hiện cảm giác rất lo lắng và khó chịu!

Rồi bạn thấy đau ngực, cơn đau bắt đầu lan ra cánh tay và cằm. Tuy nhiên, để đến được bệnh viện, bạn phải đi thêm một đoạn đường nữa. Tệ hơn, nếu gặp đoạn đường xấu, làm sao bạn có thể đi xa hơn? Vậy xử lý thế nào? Trước đây bạn đã từng học phương pháp hô hấp nhân tạo để cứu người khác, nhưng lại chưa từng học cách tự cứu chính mình.

Vậy cần làm gì khi bạn đang ở một mình và cơn đau tim xuất hiện? Khi thấy xuất hiện đau tim, cảm giác như xắp ngất, bạn chỉ có 10 giây để tự cứu mình. Nếu chậm trễ, bạn sẽ bị bất tỉnh nhân sự.

Nếu bên cạnh không có ai giúp, người bệnh cần nên mắm chắc 10 giây vàng ngắn ngủi này để cứu chính mình.

Làm như thế nào để nắm chắc được 10 giây vàng này?

Đầu tiên, hãy bình tĩnh và không ngừng tự ho khan, dùng hết sức để ho. Mỗi lần ho khan, cần hít thật sâu để lấy đầy khí vào phổi rồi dùng sức thật sâu thật dài ho khan hết ra. Mỗi lần hít vào và ho ra hết khoảng 2 giây. Hít vào và ho ra liên tục như thế, làm cho đến khi có xe cứu thương tới trợ giúp hoặc cảm thấy trạng thái bình thường và nghỉ ngơi.

Ghi nhớ:

Hít hơi thật sâu, đưa đầy khí oxy bị vào phổi.

Ho khan, hành động này ép cho máu huyết lưu thông tuần hoàn lại, nó cũng có thể khôi phục lại nhịp tim.

Hành động này sẽ trợ giúp khẩn cấp cho quả tim, cho phép người bệnh có cơ hội đến bệnh viện để được cứu chữa.

Tự cấp cứu khi tim phổi khi gặp vấn đề. Biết được kiến thức này người bệnh có thể tự cứu chính mình rồi. Đừng nghĩ rằng bệnh tim mạch chỉ xuất hiện ở người già. Bởi vì, môi trường sống ngày nay bị thay đổi rất nhiều, bệnh tim mạch có thể xuất hiện ở bất kể lứa tuổi nào. Người từ 25 đến 30 tuổi bị mắc bệnh tim mạch không phải là hiếm.

Hiểu biết kiến thức này có thể tự chăm sóc cho chính mình và người khác. Sinh mệnh đời người thực sự rất trân quý!

Henry Hoang


 

Cá nhân có thể góp phần cho công ích thế nào?- Cha Vương 

Một ngày an lành trong tinh thần yêu thương, tha thứ, và phục vụ nhé.

Cha Vương 

Thứ 4: 8/1/2025

GIÁO LÝ: Cá nhân có thể góp phần cho công ích thế nào? Góp phần cho công ích có nghĩa là đảm nhiệm trách nhiệm đối với người khác. (YouCat, số 328)

SUY NIỆM: Công ích phải lo công việc của mọi người. Vì thế trước hết phải lo dấn thân và đảm nhận những trách nhiệm đối với người thân cận mình – gia đình, lối xóm, nghề nghiệp. Cũng cần phải đảm nhận những trách nhiệm xã hội và chính trị. Vì thế mỗi người có trách nhiệm đều có một quyền và luôn có nguy cơ lạm dụng quyền. Do đó con người luôn được mời gọi không ngừng hoán cải và đổi mới, để thi hành việc quan tâm đến người khác trong tinh thần luôn công bằng và bác ái. “Khi ngươi làm việc gì cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là ngươi làm cho Ta đó.”—Mt 25:40 (YouCat, số 328 t.t.)

❦  Không ai có thể nói như Cain “tôi vô trách nhiệm với số phận người em”. (Thánh Gioan Phaolô II)

❦  Hãy kính trọng tiếng tốt của kẻ thù anh em. (Thánh Gioan Vianney)

❦  Mọi người phải quan tâm đến sự sống và những phương tiện cần thiết giúp đồng loại sống một đời sống xứng đáng.

(Hiến chế Vui mừng và Hy vọng 27,1)

LẮNG NGHE: Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su. (Pl 2:4-5)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn những trách nhiệm trong đời sống ơn gọi của con một cách chu đáo và xin giúp con biết cộng tác tích cực với mọi người trong cộng đoàn xã hội để mọi người cảm nhận được tình yêu của Chúa đang hiện diện trong con.

THỰC HÀNH: Dành ít thời gian để tham gia vào các công việc chung của cộng đồng hoặc giáo xứ.

From: Do Dzung

***************************

Chỉ Một Tình Yêu – Phương Anh 

MỘT NGƯỜI ĐI…NGƯỜI HÀ NỘI KHÓC THƯƠNG CHINH NHÂN VNCH…- Võ Khánh Tuyên

Việt Luận – Viet’s Herald

Võ Khánh Tuyên

Tối 18/11/2024, Đài Truyền hình Kỹ thuật Số VTC kết hợp cùng 1 Trung Tâm tổ chức đêm chung kết Giọng Ca Vàng Bolero 2024 ngay tại Thủ Đô Hà Nội.

Kết quả cuối cùng: Quán quân cuộc thi là cô giáo dạy Âm nhạc đến từ Hà Nội QUỲNH HÀ đã đoạt Quán Quân với nhạc phẩm MỘT NGƯỜI ĐI của Nhạc sĩ Mai Châu, sáng tác tại Saigon năm 1967.

Trong phần dự thi của Cô giáo Quỳnh Hà, có diễn viên múa minh họa mặc quân phục ..”Giải Phóng Quân”, trong khi nguyên mẫu của MỘT NGƯỜI ĐI hoàn toàn ngược lại.

MỘT NGƯỜI ĐI ban đầu là một thi phẩm mang tên “Tiễn Một Người Đi” do Mai Châu- khi đó đang là Sinh viên Dược Khoa Năm 3 Saigon- sáng tác khi người bạn thân từ thuở nhỏ là Chuẩn Úy Tiểu đoàn 31 Biệt Động Quân Nguyễn Ngọc Lân tử trận tại chiến trường Bình Long ngày 27-10-1967. Ở tuổi 24 trẻ măng!

Chuẩn Úy Biệt Động Quân Nguyễn Ngọc Lân trong một lần trợ y cho toán Quân Y cứu đồng đội đã bị trọng thương sau ót và hy sinh. Do mẹ anh ở xa, tận Sóc Trăng và lớn tuổi nên Mai Châu đã thay mặt đi nhận xác bạn, đưa tiễn, chôn cất và lập mộ.

Lúc đi sau xe tang tiễn bạn về nơi an nghỉ sau cùng, trời mưa lất phất, Mai Châu đầy cảm xúc: ”Tôi tiễn anh lên đường, chiều hôm nay mưa buồn lắm, mưa thấm ướt vai gầy, mưa giá buốt con tim”.

Bài thơ “Tiễn Một Người Đi” ban đầu được phổ biến trong Tiểu Đoàn, rồi Liên Đoàn, rồi ra dân chúng, trở thành nổi tiếng, không kém gì bài thơ “Đồi Tím Hoa Sim” của Hữu Loan ngày xưa. Sau một thời gian sửa soạn, với sự phụ giúp của một số bạn bè thân thiết, Mai Châu đã lấy bài thơ phổ vào nhạc, tạo nên ca khúc “Một Người Đi”. Từ đó về sau, nhạc phẩm “Một Người Đi” được rất nhiều ca sĩ nổi tiếng trình diễn, và sống trong lòng dân chúng suốt gần 60 năm qua.

Hiện mộ phần của Thiếu úy Biệt động quân Nguyễn Ngọc Lân ở quê nhà Sóc Trăng.

“Tôi tiễn anh lên đường trời hôm nay mưa nhiều…lắm…

Mưa thấm ướt vai gầy, mưa giá buốt con tim

Mình cầm tay nhau chưa nói hết một câu

Thôi đừng buồn anh nhé, tiếng còi đã ngân dài.

Chinh nhân ơi! Xin anh chớ buồn

Chinh nhân ơi! Xin anh chớ buồn

Người yêu anh còn đó, người yêu anh bé nhỏ …

Hứa thương…anh trọn đời.

Đếm lá thu rơi mười bốn thu tàn tôi đã biết tên anh

Nay cách xa rồi, anh khoác chinh y tôi còn ở lại

Đưa tiễn một người đi

Tôi đứng trông theo

Đoàn tàu đi xa xa thành phố

Tôi thấy dáng anh buồn

Đôi mắt thoáng xa xăm

Vì ngàn yêu thương

Anh xếp bút mực xanh

Băng mình vào sương gió

Sống trọn kiếp trai hùng…”

Tác giả Mai Châu là chồng của nữ Ca sĩ Hoàng Oanh, hiện đang định cư tại Hoa Kỳ.

Võ Khánh Tuyên


 

KHÔNG SỢ HÃI- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”.

Các nhà nghiên cứu của Đại Học Johns Hopkins cho biết: “30 năm trước, nỗi sợ lớn nhất của học sinh tiểu học là: động vật, ở trong phòng tối, độ cao, người lạ và tiếng ồn lớn. Ngày nay, trẻ em sợ nhất là: ly hôn, chiến tranh, ô nhiễm và bị bắt nạt!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tựu trung, theo các nhà nghiên cứu, ngày nay, các em sợ một điều gì đó vốn thiếu vắng tình yêu! Lời Chúa hôm nay nói đến tình yêu và sự sợ hãi. Ở đâu có tình yêu, ở đó ‘không sợ hãi!’.

“Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi!” – bài đọc một. Sự thiếu vắng tình yêu luôn dấy lên sợ hãi! Vậy nếu “Thiên Chúa là tình yêu”, thì ở đâu có Ngài, ở đó không có chỗ cho sợ hãi. Ai biết Thiên Chúa, ai tin Chúa Giêsu là hiện thân tình yêu của Ngài, người ấy ‘không sợ hãi’. Bàng bạc trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói, “Đừng sợ! Đừng sợ!”. Chẳng hạn hôm nay, hiện ra với các môn đệ ở biển hồ khi họ đang gặp bão tố, Ngài nói, “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”.

Một chi tiết tinh tế Marcô ghi lại là, đang khi các môn đệ vật lộn với cuồng phong, ngay lúc ấy, Chúa Giêsu đang đi cầu nguyện. Việc cầu nguyện không làm Ngài quên họ, trái lại, khiến cho tình yêu Ngài thôi thúc Ngài gần họ hơn! “Người thấy các ông phải vất vả chèo chống vì gió ngược”. Bất cứ khi nào họ bị nhồi trên sóng, họ phải học hỏi. Nước tượng trưng cho thế giới, sóng tượng trưng cho thử thách! Và khi mọi sự gần như dẫn đến một kết cục tồi tệ thì Chúa Giêsu có mặt. Ngài không để họ đơn độc; ánh mắt Ngài không rời họ! Ngài muốn đào tạo một niềm tin sâu sắc nơi những người Ngài yêu. Rối loạn không bao giờ vắng mặt, nhưng rối loạn là nơi đào tạo một vị thánh, một tông đồ!

“Chúa Giêsu đã giẫm lên những con sóng; Ngài đặt tất cả những xáo trộn phù nề dưới chân mình. Kitô hữu, tại sao phải sợ?” – Augustinô. Giữa hỗn mang, Ngài đến tiếp sức để chúng ta không bị xô đẩy và thuyền không lật úp. Một con thuyền đang nguy biến và chắc chắn, cái chết sẽ đến nếu không có nó. Hãy ở yên trong thuyền và kêu cầu Chúa! Khi mọi lời khuyên đều thất bại, bánh lái là vô dụng và sự trải rộng của những cánh buồm mang đến nhiều hiểm nguy hơn là lợi thế; khi tất cả trợ giúp nhân loại đã rơi rụng, cách duy nhất còn lại cho các thuỷ thủ là cầu nguyện. Chúa Giêsu sẽ đưa con thuyền vào cảng an toàn; không lẽ Ngài bỏ rơi Giáo Hội và không cho nó cập bến an bình?

Anh Chị em,

“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”. Chúa Giêsu không chỉ là Đấng bước trên sóng, mà còn là Chúa của mọi bước sóng. Ngài là nguồn mạch tình yêu, đã chết vì yêu, đang sống vì yêu và để yêu. Như đã luôn nhìn đến các môn đệ, ánh mắt Ngài chăm bẵm chúng ta. Vấn đề là chúng ta phải có đức tin để nhận ra Ngài – Đấng luôn có mặt – bên chúng ta từng ngày, vẫn đang vỗ về để chúng ta ‘không sợ hãi’, “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”. Đấng Phục Sinh toàn thắng nhắc nhở chúng ta rằng, “tình yêu không biết đến sợ hãi”; với Ngài, chân chúng ta tìm thấy nền đá vững chắc giữa cát lún!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết lo sợ nỗi sợ lớn nhất là ‘không có Chúa’ trong cuộc sống. Có Ngài, không nỗi sợ nào trấn áp được con, vì Chúa chăm bẵm con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Kim Bang Nguyen

**************************************************

Thứ Tư sau Lễ Hiển Linh

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

45 Sau khi cho năm ngàn người được ăn no nê, lập tức, Đức Giê-su bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, về phía thành Bết-xai-đa, trong lúc Người giải tán đám đông. 46 Sau khi cho họ đi, Người lên núi cầu nguyện. 47 Chiều đến, chiếc thuyền đang ở giữa biển hồ, chỉ còn một mình Người ở trên đất. 48 Người thấy các ông phải vất vả chèo chống vì gió ngược, nên vào khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông, và Người định vượt các ông. 49 Nhưng khi các ông thấy Người đi trên mặt biển, lại tưởng là ma, thì la lên. 50 Quả thế, tất cả các ông đều nhìn thấy Người và đều hoảng hốt. Lập tức, Người bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” 51 Người lên thuyền với các ông, và gió lặng. Các ông cảm thấy bàng hoàng sửng sốt, 52 vì các ông đã không hiểu phép lạ bánh hoá nhiều: lòng các ông còn chai đá!


 

Truyền thông CSVN còn cần thiết tồn tại nữa không?- *Đặng Đình Mạnh

Ba’o Nguoi-Viet

January 7, 2025

*Chuyện Vỉa Hè

*Đặng Đình Mạnh

Sự nổi tiếng của hành giả Minh Tuệ trong năm 2024 là một trong số ít các sự kiện rất đáng kể về phương diện tôn giáo tại Việt Nam. Vì lẽ, từ biết bao lâu nay, công chúng đã mất lòng tin vào sự chân thật của hàng ngũ tu sĩ Phật giáo mà đại đa số thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam do chế độ thành lập.

Nhưng với hành giả Minh Tuệ, công chúng hoàn toàn tin cậy vào sự chân thật của ông ấy. Thậm chí, sự tin cậy còn đến từ nhiều vị tu sĩ của các tôn giáo khác khi họ công khai thừa nhận điều đó khi rao giảng cho tín đồ của mình. Trong đó, cách thức tu hành tối giản của ông ấy với một bát, ba y, không chùa, không tượng, không thuyết pháp rao giảng, không thu nạp đệ tử, xưng hô khiêm nhường, bộ hành khất thực cho một bữa ngọ, từ chối nhận cúng dường vật phẩm, tiền tài…

Nhà sư Thích Minh Tuệ tu theo pháp môn hạnh đầu đà. (Hình: STR/AFP/Getty Images)

Pháp môn hạnh đầu đà đã hoàn toàn đối lập với cách thức tu hành bằng cách xây chùa to, dựng tượng lớn, trang phục lòe loẹt, danh hiệu cao đạo, thứ bậc phức tạp, thay cho thuyết pháp là luôn miệng yêu cầu cúng dường bằng tiền bạc, tài sản có giá trị của các tu sĩ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Thực ra, việc bộ hành khất thực dọc theo đường quốc lộ Bắc Nam của hành giả Minh Tuệ không phải mới diễn ra, mà đã kéo dài trong suốt 4 năm qua. Thế nhưng, chỉ đến khi truyền thông “dân lập” nhập cuộc rầm rộ với các Youtuber, thì chính họ đã phổ biến, mang câu chuyện về hành giả Minh Tuệ đến với công chúng trong cả nước, thậm chí, rộng rãi đến cả nước ngoài.

Từ đó, hành giả Minh Tuệ vụt trở nên nổi tiếng và có sức thu hút, ảnh hưởng lớn trong công chúng một cách tự nhiên, ngoài chủ ý của ông ấy. Mỗi bước chân của ông ấy kéo theo hàng nghìn người tìm đến tận nơi để đảnh lễ, cúng dường, chiêm ngưỡng và hàng chục vạn người theo dõi qua mạng xã hội.

Các yếu tố này, một mặt đã phủ nhận cả một hệ thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam to lớn, giàu có, nhưng ít Phật tính do chế độ tạo dựng. Mặt khác, cũng vô hình trung trở thành mối nguy hại tiềm ẩn về an ninh cho chế độ.

Đó cũng là lý do mà chế độ đã ra tay bắt cóc ông ấy tại Huế đưa về Gia Lai vào thượng tuần Tháng Sáu 2024, đồng thời, khuyến khích ông ấy ẩn tu để vô hiệu hóa các yếu tố nguy hại.

Về phương diện pháp lý, biện pháp này của chính quyền đã vi phạm vào quyền tự do tôn giáo của hành giả Minh Tuệ. Khiến cho công chúng phản ứng và tạo nên công luận khiến cộng đồng quốc tế quan tâm, lên tiếng về tình trạng vi phạm nhân quyền.

Sự quan tâm lớn từ công chúng và quốc tế đã khiến chế độ chùn tay đàn áp hành giả Minh Tuệ, khác với trước đây họ đã từng đàn áp nhiều tu sĩ, đến mức độ bỏ tù không xét xử hoặc bí mật thủ tiêu tu sĩ.

Tuy vậy, biện pháp ấy vẫn trở nên kém hiệu quả, khi Gia Lai, một tỉnh vùng cao xa xôi, vắng vẻ vẫn không làm nản lòng dòng người ngưỡng mộ hành giả Minh Tuệ vẫn tiếp tục đổ dồn về đấy để được tiếp xúc với ông.

Do đó, việc đưa hành giả Minh Tuệ ra nước ngoài với danh nghĩa đi hành hương về đất Phật là giải pháp mang tính chất tình thế do chính quyền tạo dựng, trong chừng mực nào đó, nó cũng phù hợp với nguyện vọng của hành giả Minh Tuệ.

Như đã phân tích trên, việc đưa hành giả Minh Tuệ ra nước ngoài chỉ là giải pháp tình thế chứ chưa khắc phục được hoàn toàn mối nguy hại tiềm ẩn về an ninh cho chế độ. Vì sau khi hoàn thành chuyến đi, hành giả Minh Tuệ rất có thể sẽ trở về nước với vị thế và sức ảnh hưởng còn lớn hơn thời điểm trước khi ông ra đi. Vì lẽ, không chỉ người dân trong nước, mà thế giới bên ngoài đã biết đến ông ấy nhiều hơn gấp bội phần thông qua chuyến du hành đến nhiều quốc gia.

Vị thế và sức ảnh hưởng lớn của hành giả Minh Tuệ tỷ lệ thuận với mối nguy hại tiềm ẩn về an ninh cho chế độ. Do đó, công chúng hoàn toàn có lý do để lo ngại rằng chế độ sẽ tiếp tục có biện pháp “cấm cửa” ông ấy trở về Việt Nam hoặc thậm chí, áp dụng các biện pháp cực đoan khác.

Trung Cộng, quốc gia từng được chế độ Cộng Sản Việt Nam xem như là mẫu mực về các chính sách an ninh đã từng có tiền lệ xử lý các vị cao tăng có sức thu hút, ảnh hưởng trong công chúng. Như buộc lưu vong vĩnh viễn đối với trường hợp Đức Đạt Lai Lạt Ma (Tây Tạng) là một ví dụ điển hình.

Thế nên, việc chế độ giao cho một người từng là thượng tá an ninh đi theo hành giả Minh Tuệ cùng với nhiều nhân sự và phương tiện như ô tô, máy bộ đàm liên lạc. Cấm đoán hành giả Minh Tuệ tự do tiếp xúc hoặc thu nhận người có nguyện vọng tham gia hành hương… là cách để chế độ kiểm soát, khống chế chặt chẽ hành giả Minh Tuệ trong suốt cuộc hành trình.

Qua đó, trong chuỗi thông tin sự kiện liên quan đến hành giả Minh Tuệ, chúng ta sẽ thấy rất rõ vai trò hết sức nổi bật của hệ thống truyền thông dân lập đã hoàn toàn lấn át vai trò của hệ thống truyền thông của chế độ bao gồm hàng nghìn báo, đài trú đóng trong 63 tỉnh thành trong cả nước. Trong đó, chính truyền thông dân lập đã đưa sự kiện hành giả Minh Tuệ đến với công chúng chứ không phải truyền thông của chế độ.

Sau khi hành giả Minh Tuệ bị bắt cóc tại Huế đưa về Gia Lai vào thượng tuần Tháng Sáu 2024, truyền thông của chế độ mới được huy động thực hiện buổi phỏng vấn hành giả Minh Tuệ để trấn an công chúng sau những thắc mắc của họ về số phận của ông.

Thế nhưng, dịp truyền thông hiếm hoi ấy lại trở thành thảm họa truyền thông vì không ai tin rằng chúng đã thật sự được thực hiện. Thậm chí, cô Liên Liên, MC của chương trình đó cũng vô tình bị công chúng bêu riếu, cười cợt về tính thực hư của buổi phỏng vấn.

Sau dịp truyền thông đầy thảm họa đó, bất chấp công chúng vẫn tiếp tục duy trì sự quan tâm đến hành giả Minh Tuệ đến mức độ nào đi nữa, truyền thông của chế độ vẫn tiếp tục trở lại với thái độ im lặng đầy khó hiểu.

Một sạp báo lề đường ở Hà Nội. (Hình: Nam Nguyễn/AFP/Getty Images)

Cho đến khi diễn ra sự kiện hành giả Minh Tuệ xuất cảnh với danh nghĩa hành hương về “đất Phật” vào trung tuần Tháng Mười Hai 2024, bộ hành đi qua nhiều quốc gia: Lào, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ… thì truyền thông của chế độ vẫn phải im thin thít.

Điều này không nằm ngoài chủ trương của chế độ trong chủ đích nhằm hạn chế sức lan tỏa, ảnh hưởng của hành giả Minh Tuệ trong công chúng. Mặt khác, “cứu vớt” lòng tin còn sót lại của công chúng vào Giáo Hội Phật Giáo đầy tính chất “xôi thịt” do chế độ tạo dựng.

Không sao cả, truyền thông dân lập vẫn tiếp tục chiếm vị thế thượng phong, phủ sóng rộng khắp. Họ kịp thời đưa đầy đủ thông tin, hình ảnh về chuyến bộ hành xuyên qua nhiều quốc gia ấy đến với công chúng quan tâm.

Đến mức này, công chúng không thể không tự hỏi: Hệ thống truyền thông của chế độ với hàng nghìn báo đài, hàng vạn nhà báo có thẻ, được trang bị phương tiện hiện đại… có còn cần thiết tồn tại nữa hay không?

DC, ngày 06 Tháng Một 2025

Đặng Đình Mạnh


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến –  Lê Đình Kình

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

07/01/2025

Khi có dịp gặp nhau, ở bất cứ nơi đâu, những người Việt tị nạn Cộng Sản vẫn thường hay sa đà vào những câu chuyện có liên quan đến vấn đề thời sự hay chính trị ở quê nhà. Bữa rồi, trong tiệc cưới, có ông mượn một thành ngữ thường nghe ở Hoa Kỳ (“The only good Indian is a dead Indian”) để lên tiếng giễu cợt: “Thằng cộng sản chỉ tốt khi nó không còn thở nữa.” Câu nói được nhiều người ngồi chung bàn người bật cười tán thưởng.

Sự thực (e) không giản dị thế đâu. Khối thằng đã chết từ lâu nhưng di hại vẫn kéo dài mãi mãi:

Bác Hồ đang sống bỗng chuyển qua từ trần vào năm 1969 nhưng hơn một phần tư thế kỷ qua ổng vẫn gây ra hao tốn đều đều, và mỗi lúc một thêm hao. FB Vũ Huy Hoàng  cho biết “ngân sách cho BQL Lăng đã tăng từ 157,300 tỷ đồng năm 2010 lên tới 318,730 tỷ đồng cho năm 2016.” Thảo nào mà số nợ công hằng năm cũng  tăng theo vùn vụt.

Cái kiểu lìa đời của bác Trần Đại Quang cũng phiền nhiễu lắm. Ổng chiếm một “khu lăng mộ vài chục ngàn mét vuông” lận. Khoảnh đất bao la này mà mang bán cho anh Vượng Vin để xây chung cư thì số nợ công chắc cũng giảm kha khá, chứ không phải ít. Bác Phạm Văn Đồng tuy đã rời xa nhân thế khá lâu nhưng vẫn để lại một dấu ấn khó phai: Công Hàm (158). Bác Nguyễn Văn Linh và bác Đỗ Mười, tất nhiên, cũng không kém cạnh: Mật Ước Thành Đô

Gần đây, có lẽ, chỉ có một đảng viên cộng sản duy nhất khi sống (cũng như lúc thác) vẫn được coi là một người tốt là ông Lê Đình Kình. Nhân vật này bị giết hại  một cách tàn bạo, vào rạng sáng ngày 9 tháng 1 năm 2020, và ngay hôm sau kẻ thủ ác được Đảng và Nhà Nước truy tặng huân chương chiến công hạng nhất. Tuy thế,  cái chết thương tâm của ông (tựa như một giọt nước tràn ly) đã gây ra một hiệu ứng tích cực về mặt nhận thức nơi rất nhiều người:

  • TS. Mạc Văn Trang: Sự kiện đảng viên Đảng CSVN LÊ ĐÌNH KÌNH 58 tuổi đảng, 84 tuổi đời, một lý lịch đảng viên đầy chiến tích, mà không một UV Trung ương hay UV Bộ Chính trị nào hiện nay dám so sánh với Cụ, đã bị chính các đồng chí của mình sát hại, vẫn gây chấn động nhân tâm. Nhân đây, nhìn lại TÌNH ĐỒNG CHÍ của các đảng viên Đảng cộng sản thì mới rõ. ĐỒNG CHÍ = “ĐỒNG CHÓ”!
  • Nhà báo Lê Phú Khải : “Máu ở Đồng Tâm như một thứ thuốc hiện hình làm rõ những điều mà trước đây người ta không thể nghĩ tới! Nó là một bước ngoặt vô hình của lịch sử.
  • Nhà văn Nguyên Ngọc: “Tôi thiết tha kêu gọi mọi bậc trí giả trong nước và trên thế giới cùng mọi người có lương tri lên án tội ác man dại này và ngăn chặn nó có thể tái diễn bất cứ ở đâu.”

Lời kêu gọi “thiết tha” thượng dẫn được đáp ứng tức thì:

  • BBT trang Bauxite Việt Nam lên tiếng: “Nhiệt liệt hưởng ứng lời tuyên bố nóng hổi của nhà văn Nguyên Ngọc và qua trang mạng chúng tôi cũng như nhiều phương tiện thông tin đại chúng khác, rất mong tiếng nói tố cáo trung thực của nhà văn sớm lan tỏa rộng rãi khắp trong nước và trên toàn thế giới.”
  • Thành viên của Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng gửi thư đến Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc (LHQ) kêu gọi sự can thiệp trong vụ việc Đồng Tâm: “Mong Ngài Tổng Thư ký LHQ có tiếng nói kịp thời để ngăn chặn giải pháp tàn bạo của một nhà nước vừa được đảm nhận vai trò Uỷ viên Không Thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-202.”

Sau bức thư lịch sử này, có thể, cụm từ “đối lập trung thành” sẽ biến mất luôn khỏi ngôn ngữ VN. Cũng từ nay –  hy vọng – sẽ không còn lời kêu cầu, bản kiến nghị, hay đơn thư (tâm huyết) nào gửi đến Bộ Chính Trị, Văn Phòng Thủ Tướng hay Quốc Hội như trước nữa. Ông Hà Sĩ Phu bình luận: “Việc thảm sát đảng viên lão thành rất yêu đảng như cụ Kình là lời tuyên ngôn khai tử hình thức đấu tranh trong nội bộ đảng, cũng chấm dứt hy vọng dùng đường lối cải lương để cải biến tình hình.”

Nguyễn Quang Lập  khái quát vấn đề một cách vô cùng dung dị: “Nguyễn Trọng Tín đánh xe tới nhà tui, nói, tui nói với ông một câu rồi tui dzề: Dzụ Đồng Tâm cho biết điều quan trọng này: Thực sự chính quyền này không phải của dân. Dzậy thôi!”

Sao “thôi ngang” như vậy được, cha nội? Chơi vậy đâu có “fair”! Nẫy giờ toàn trích dẫn ý kiến của một phe thôi – phe của những đảng viên ly khai và của đám dân đen sôi sục vì bất mãn. Còn phía Đảng và Nhà Nước nữa chớ. Để cho nó khách quan xin nghe thêm tiếng nói của hai ông (cố) TBT và TT:

  • Nguyễn Phú Trọng: “Không có một lực lượng nào khác ngoài ĐCSVN có đủ bản lĩnh, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn.”
  • Nguyễn Xuân Phúc: “Điều tôi muốn nhấn mạnh là niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng… chưa bao giờ lớn và sâu sắc như lúc này.”

Sự thực ra sao? Thực trạng và thực lực của Đảng CSVN hiện nay thế nào?

Hãy nghe đôi lời từ vài nhân chứng khả tín và thế giá:

“Tôi ‘thoái Đảng’ vào thời điểm hiện tượng trên còn hãn hữu, nhưng đến nay nó đã trở nên phổ biến. Các đảng viên ĐCSVN, khi nhận quyết định nghỉ hưu, thường họ không chuyển giấy sinh hoạt cho các đảng bộ địa phương, mà lặng lẽ cất kỹ dưới đáy tủ như kỷ niệm của ‘một thời đáng quên!’.

Họ lặng lẽ, âm thầm thực hiện hành động đó, không ồn ào và công khai với bất cứ ai, trừ khi là bạn rất thân của nhau. Đến nay, đã bao nhiêu đảng viên cộng sản chọn cách này để ‘tạm biệt’ Đảng, không một ai có thể biết chính xác, bởi Đảng giấu rất kỹ. Nhưng theo nhiều người dự đoán, con số này ước khoảng 45%! Số còn lại, mang tiếng là ‘vẫn yêu Đảng’, nhưng thực tế đa số họ đã ‘chán Đảng’, họ miễn cưỡng phải tiếp tục ở lại sinh hoạt vì nhiều lý do khác nhau, trong đó phải kể đến lý do hàng đầu là sợ liên lụy đến con cháu, tiếp đến là sợ ảnh hưởng đến ‘sổ hưu’, tức kế sinh nhai hàng ngày của họ.”

  • Nhà văn Tạ Duy Anh, một người ngoài Đảng, viết trong tác phẩm (“Dưới Bàn Tay Vô Hình’) chưa xuất bản như sau: “…Lần ấy P. Thắng, nhân viên chính trị của tiểu đoàn, nhận lệnh đi công tác một tháng. Theo thông lệ, cậu ta bàn giao lại việc cho tôi, nhân viên quân lực. Tuy không phải đảng viên nhưng tôi thông thuộc hết mọi thủ tục để hoàn thiện bộ hồ sơ cho một đảng viên mới, chính là nhờ một tháng làm thay ấy

Vốn là người chu đáo, trước khi đi, Thắng bỏ ra một buổi chiều dặn kỹ tôi phải làm gì. Bấy giờ tôi mới biết: Trọn vẹn một bộ hồ sơ để kết nạp ai đó vào đảng, từ đơn xin gia nhập đảng, lời của hai đảng viên giới thiệu, đến tất cả những trích biên bản cuộc họp, (họp quần chúng, họp chi đoàn, liên chi đoàn, chi bộ, chi ủy…) đều do nhân viên chính trị làm.

Tức là bịa ra hoàn toàn. Càng bịa giỏi càng được coi là có năng lực… Suốt cái tháng cuối năm ấy, tôi “chế” được cả thảy hơn chục bộ hồ sơ “đẹp như mơ”, có bút tích, chữ ký của tôi với cái tên Tạ Duy Anh chưa bao giờ được công nhận về mặt hành chính. Nhiều năm sau thỉnh thoảng tôi vẫn thấy khoái trá với ý nghĩ: “Mình chỉ làm thay có một tháng, trong phạm vi một tiểu đoàn, mà đã góp cho đội ngũ trùng trùng điệp điệp hơn chục thành viên, vẻ vang là cái chắc.”

Cái “đội ngũ trùng trùng điệp” mấy triệu đảng viên CSVN, xem ra, chỉ là những con số không hồn. Nền không chắc mà tường cao thì sự sụp đổ nằm sẵn nơi đó rồiẤy thế mà hôm 3 tháng 2 vừa qua, họ vừa “Kỷ Niệm Trọng Thể 90 Năm Ngày Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.” Rõ ràng là nguyên một dân tộc bị đè đầu cưỡi cổ gần một thế kỷ qua mà không nhóc nhách gì được cả.

Sao thế nhỉ?

Và liệu nghịch lý này sẽ còn kéo dài thêm bao nhiêu năm nữa?


 

 Công ích (common good) được thực hiện thế nào?-Cha Vương

Trời Houston hôm nay gió lớn và lạnh quá! Chúc ban và gia đình tràn đầy Thần Khí và hơi ấm của Chúa. Mời bạn trở lại học hỏi và suy niệm những bài giáo lý căn bản nhé. Bảo trọng!

Cha Vương

Thứ 3: 7/1/2025

GIÁO LÝ: Công ích (common good) được thực hiện thế nào? Công ích được thực hiện khi những quyền lợi nền tảng của con người được tôn trọng, và khi con người được tự do phát triển về trí thức và tôn giáo của mình. Công ích đòi hỏi rằng con người có thể sống trong tự do, hòa bình, yên ổn. Trong thời kỳ toàn cầu hóa ngày nay, công ích phải bao trùm ra cả thế giới để bảo vệ các quyền lợi và bổn phận của cả nhân loại. (YouCat, số 327)

SUY NIỆM: Công ích được tôn trọng khi người ta đặt trọng tâm vào việc lo điều tốt cho mỗi cá nhân và cho những đơn vị nhỏ nhất trong xã hội (chẳng hạn gia đình). Cá nhân hay gia đình đều cần được nâng đỡ và bảo vệ bởi những thể chế chính trị. (YouCat, số 327 t.t.)

❦ Phải lo công bằng và nhân đạo cho tất cả mọi người. (Công đồng Vatican II, Phẩm giá con người.)

❦ Sự thiếu vắng cảm thức về công ích là dấu chỉ chắc chắn về sự xuống cấp của xã hội. Cảm thức cộng đồng bị xói mòn sẽ dẫn đến các dạng suy thoái về công ích, từ đó có thể dẫn tới các hệ lụy khác.

LẮNG NGHE: Anh em sẽ được sung túc mọi bề để làm mọi việc thiện cách rộng rãi. Những việc chúng ta làm sẽ khiến người ta dâng lời cảm tạ Thiên Chúa. Thật thế, việc phục vụ cho công ích này không những đáp ứng nhu cầu của của các người trong dân thánh, mà hơn thế nữa, còn là nguồn phát sinh bao lời cảm tạ dâng lên Thiên Chúa. (2 Cr 9:11-12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, nhân loại đang có chiều hướng thiên về vật chất. Họ tin rằng không có gì tồn tại ngoại trừ vật chất và các chuyển động cũng như sự biến đổi của nó. Họ tìm đủ mọi mánh khóe trà đạp lên nhau để sống. Xin giúp con biết gạt bỏ những toan tính riêng tư ích kỷ đang làm tổn thương đến gia đình nhân loại của Chúa.

THỰC HÀNH: Làm một việc bác ái.

From: Do Dzung

*********************************

Yêu Cho Đến Cùng- Mai Thiên Vân 

CHÚA ĐẾN GẶP BẠN NGAY TRONG TÂM HỒN GIỮA NHỮNG YẾU ĐUỐI – Tứ Quyết SJ

 Tứ Quyết SJ

Chúa dạy chúng ta xây nhà trên đá.  Lời dạy vững chắc ấy dẫn đến nơi nền đất chắc chắn, dù không thấm nước, đôi khi rẽ quanh co ngang dọc, theo những con đường hẹp, để tránh những đầm lầy hoặc những khu rừng ẩn chứa nhiều nguy hiểm.  Ai được hướng dẫn như thế, có thể có cảm tưởng rằng, mình đang đi mà không có mục tiêu rõ ràng, và có thể bị mất niềm tin vào người đang chỉ đường cho mình.  Khi điều ấy xảy ra, là người đi đường, bạn phải mở rộng tâm hồn và giãi bày những gì đang làm bạn lo lắng.  Vì thế bạn sẽ được giúp đỡ để hiểu rằng, điều mà đối với bạn dường như là một cuộc lang thang vô ích, thì thực ra không gì khác là chính sự yếu đuối và bước đi không không chắc chắn của bạn.

Vì vậy, để tránh ảo tưởng và không để bị mình bị cuốn theo, khi mà bạn ít mong đợi nhất, bởi những chuyển động nội tâm làm mê hoặc những ai không có kinh nghiệm trong những điều thiêng liêng, thì điều cần thiết là hãy sửa soạn tâm hồn cho thời điểm mà Thiên Chúa ghé thăm bạn.

Có những người nhận được ơn đặc biệt của Chúa một cách chắc chắn đến độ không thể nghi ngờ.  Có những người khác (phần đông là như thế) nhận biết danh Chúa ngang qua sự giáo dục mà họ thụ hưởng: họ phải học hành và trải nghiệm và nhận biết chân lý khi họ được dạy dỗ.  Có những người khác, như thánh Tông Đồ Phaolô nói trong thư gửi tín hữu Roma (Rm 1:18-21) có thể bị mê hoặc bởi sự hoàn hảo của các tạo vật.

Thế nhưng, có một nơi mà Chúa làm cho ta cảm thấy gần gũi với những tâm hồn cao cả, đó là chiều sâu của trái tim và những khát khao cư ngụ nơi đó.  Đó là khát khao về sức sống tràn đầy và một vùng đất mà ở nơi đó sống tự do và an toàn, đó là khát vọng đánh thức mọi tạo vật trên thế giới, đó là nơi chắc chắn mà Thiên Chúa tỏ lộ chính Ngài…

Bạn có thể hiểu điều này khi đọc câu chuyện về tổ phụ Abraham: tiếng nói của Chúa thúc giục ông từ bỏ mọi thứ để bắt đầu theo một hành trình vô định: ông đi mà không biết mình đi đâu, nhưng ông có lời hứa của Chúa (Ta sẽ chỉ cho ngươi).  Những lời vang vọng trong trái tim ấy lại chẳng phải là tiếng vọng của niềm khao khát về cuộc sống trọn vẹn, về vùng đất mà với ông, chính là nhà hay sao?

Tôi cũng muốn chỉ cho bạn một nơi khác mà Chúa đến gặp chúng ta.  Đó là sự yếu đuối.  Bạn cũng thế, cũng giống như bao người khác, bị đe dọa bởi sự mong manh dễ vỡ.  Bất cứ khi nào nó xuất hiện, bạn không chịu nổi và tìm cách che giấu nó.  Thực tế, bạn cảm thấy yếu đuối, bất lực, và bị đe dọa.  Như thế, nếu từ sâu thẳm tâm hồn mình, bạn có khả năng chấp nhận rằng, tôi yếu đuối, mong manh, không thể mình tự cứu mình, thì khi đó, bạn có thể cảm nhận được sự hiện diện tốt lành của Thiên Chúa, vì Ngài là người Cha đích thực, nâng đỡ bạn và an ủi bạn.

Hãy xem cách Thiên Chúa đối xử với tổ phụ Abraham, như đối xử với một người bạn.  Tổ phụ đã nhận được lời Thiên Chúa hứa, và Chúa đã thực hiện lời Ngài hứa.  Chắc chắn không phải vì mưu trí hay vì các cách thức nỗ lực, mà tổ phụ Abraham trở thành bạn của Chúa, mà vì tổ phụ đã học tin tưởng Thiên Chúa, để chiến thắng những lo lắng của bản thân.  Tổ phụ biết Chúa khi một cách rõ ràng, điều mà ông khao khát, đã đến với ông như một quà tặng.  Vì thế, hãy để cho Chúa, ngang qua cuộc sống, dẫn dắt bạn đến sự nhận biết hoàn hảo về sự không thể của bạn, về sự bất lực của bạn: khi bạn ở đáy vực thẳm, ngước mắt nhìn lên, bạn sẽ được hưởng niềm vui từ sự cao cả vô hạn của Thiên Chúa là Cha chúng ta.

Vì thế, đừng hình dung những điều vĩ đại, chẳng hạn những điều đôi khi được kể về một số vị thánh đã có những cuộc hoán cải to lớn hoặc đã phải đối mặt với những hoàn cảnh đặc biệt, để thay đổi cuộc sống của các vị một cách hoàn toàn và ngay lập tức.  Thay vào đó, hãy suy xét về cái nghèo là tình trạng chung của hầu hết mọi người.

Chúng ta càng yếu đuối, thì càng có xu hướng che giấu sự yếu đuối mong manh của mình.  Và với thói quen, chúng ta sẽ dần dần tự thuyết phục và tin rằng, chúng ta thực sự như chúng ta tưởng tượng hoặc như chúng ta muốn.  Vì thế, nếu chúng ta yếu đuối, chúng ta cố gắng che giấu bằng cách tỏ ra mạnh mẽ.  Chúng ta giống như con vật nhỏ bé, cố gắng xù lông để có vẻ lớn hơn và cố gắng tỏ ra nguy hiểm hơn để đe dọa đối thủ, nhưng sự thường là vô ích…

Tứ Quyết SJ – Chuyển ngữ từ tiếng Ý

Cuốn sách: Maestro di San Bartolo, Abbi a cuore il Signore, Introduzione di Daniele Libanori, (San Paolo 2020).


 

 BẰNG TẤT CẢ TÌNH YÊU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thiên Chúa là tình yêu!”.

“Bi kịch của một cuộc đời không phải là nó kết thúc quá sớm, mà là chúng ta chờ đợi quá lâu để bắt đầu nó!” – Richard L. Evans.

Kính thưa Anh Chị em,

Khác với những gì Evans cảnh báo; từ đời đời, Thiên Chúa đã bắt đầu ‘cuộc đời’ của Ngài – Ngài bắt đầu ‘bằng tất cả tình yêu’, vì “Thiên Chúa là tình yêu!”.

Gioan diễn tả ngắn gọn ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Giáng Sinh, “Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống!” – bài đọc một. Bởi lẽ, sự hiện diện của Ngôi Hai ở giữa loài người là một hiện diện trao ban sự sống ‘bằng tất cả tình yêu’. Tin Mừng hôm nay minh hoạ sự hiện diện yêu thương này.

“Thiên Chúa là tình yêu” – một định nghĩa đơn giản sâu sắc nhất về Thiên Chúa trong toàn bộ Thánh Kinh. Mọi định nghĩa khác có thể nói về Ngài – dẫu mỹ miều nhất – vẫn chỉ là một bình luận về định nghĩa gãy gọn ấy. ‘Bằng tất cả tình yêu’, Thiên Chúa tặng ban Con Một; không phải một lần, nhưng mỗi ngày để bất cứ ai cũng có thể hưởng nếm trước sự sống thần linh vĩnh cửu ‘ở đây và lúc này’; mọi nơi, mọi lúc, qua Bí tích Thánh Thể.

Thật thú vị, Tin Mừng hôm nay như đang ‘tường thuật trực tuyến’ một ‘Thánh Lễ’ mang tính tiên tri, báo trước cho hàng vạn Thánh Lễ mỗi ngày khắp hoàn vũ. Marcô tường thuật ‘Thánh Lễ’ được dâng cạnh một bờ hồ khi ‘Chủ Tế’ vừa ra khỏi thuyền với hơn 5.000 người tham dự. Đây là ‘sự kiện’ duy nhất được cả 4 Tin Mừng nói đến. ‘Rất nghi lễ’, ‘Chủ Tế’ cầm lấy bánh, ngước mắt lên trời, đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ và môn đệ cho dân chúng ‘rước lễ’. Toàn bộ trình thuật có một âm bội mạnh mẽ về Bí tích Thánh Thể. Sau khi giảng dạy – được coi như phụng vụ Lời Chúa – ‘Chủ sự’ ‘cử hành’ phụng vụ Thánh Thể; sau đó, là phần ‘hiệp lễ’.

Chúa Giêsu không tự mình trực tiếp trao ‘của ăn’ cho dân, Ngài ủy nó cho các cộng sự; và đó là cách thức Ngài bước vào cuộc sống của con người. Chỉ Giáo Hội mới có đặc quyền trao ban Thánh Thể! Tình yêu của Chúa Giêsu thể hiện qua việc Giáo Hội nhận lãnh chính Thịt Máu Ngài, sau đó, đem cho những người khác. Nếu những gì Giáo Hội nhận lãnh chỉ để được giấu kín, cất kỹ, thì Bí tích Thánh Thể trở thành một dấu chỉ của hư không; nó đã giảm thiểu đến mức chỉ còn là một nghi lễ trừu tượng.

Anh Chị em,

“Thiên Chúa là tình yêu!”. Ở đâu có Chúa Giêsu, ở đó tràn đầy niềm vui, tình yêu và sự sống. Ngày nay, Chúa Giêsu không chỉ làm phép lạ một lần cho 5.000 người no thoả, nhưng mỗi giây phút, phép lạ vẫn được thực hiện từ tay các linh mục của Ngài cạnh các bàn thờ. Như thế, qua Giáo Hội, chúng ta đang chứng kiến những gì Chúa Giêsu làm để nuôi sống nhân loại ‘bằng tất cả tình yêu’. Được sự sống thần linh nuôi dưỡng, đến lượt chúng ta, bạn và tôi cũng là những con người “cho họ ăn”. “Hãy tiến bước với sự tự tin, vượt qua mọi thử thách, tiến lên trong tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Chúa Giêsu đã hiến mình vì người khác, do đó, trở thành tấm gương về tình yêu và sự phục vụ cho mỗi chúng ta!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để cuộc đời con trở nên bi kịch khi con chờ đợi quá lâu để bắt đầu nó. Giúp con biết cho đi ‘bằng tất cả tình yêu’ như Chúa đã cho đi!”, Amen. 

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

********************************************

Thứ Ba sau Lễ Hiển Linh

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

34 Khi ấy, Đức Giê-su thấy một đoàn người đông đảo, thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. 35 Vì bấy giờ đã khá muộn, các môn đệ đến gần Người và thưa: “Nơi đây hoang vắng và giờ đã khá muộn. 36 Xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn.” 37 Người đáp: “Chính anh em hãy cho họ ăn đi!” Các ông nói với Người: “Chúng con phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh mà cho họ ăn sao?” 38 Người bảo các ông: “Anh em có mấy cái bánh? Đi coi xem!”. Khi biết rồi, các ông thưa: “Có năm cái bánh và hai con cá.” 39 Người ra lệnh cho các ông bảo mọi người ngồi thành từng nhóm trên cỏ xanh. 40 Họ ngồi xuống thành từng đám, chỗ thì một trăm, chỗ thì năm mươi. 41 Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ bánh ra, trao cho môn đệ để các ông dọn ra cho dân chúng. Người cũng chia hai con cá cho mọi người. 42 Ai nấy đều ăn và được no nê. 43 Người ta thu lại những mẩu bánh được mười hai thúng đầy, cùng với cá còn dư. 44 Số người ăn bánh là năm ngàn người đàn ông. 


 

Chuyện người sĩ quan VNCH và nỗi đau sau tù đày – Tư Tuấn – -Truyện ngắn

Ba’o Nguoi-Viet

January 4, 2025

Tư Tuấn

Ông Thắng từng là một sĩ quan của Quân Lực VNCH, một người đàn ông mạnh mẽ và đầy tự hào. Nhưng sau Tháng 4 năm 1975, ông trở thành tù nhân trong các trại cải tạo suốt hơn 10 năm. Những năm tháng ấy không chỉ cướp đi tuổi trẻ của ông mà còn phá nát mọi giấc mơ bình dị về một mái ấm gia đình.

Khi được trả tự do vào năm 1986, ông Thắng gầy rộc, làn da sạm đen, đôi bàn tay chai sần vì những ngày lao động khổ sai trong rừng sâu. Trên đường trở về quê ở một ngôi làng nhỏ ven biển duyên hải miền trung, ông mang trong lòng nỗi khát khao đoàn tụ với gia đình, đặc biệt là vợ ông – bà Dung – và hai đứa con mà ông chưa được nhìn thấy từ khi đi cải tạo.

Tượng người chiến sĩ VNCH tại Đài Tưởng Niệm chiến si74 Việt Mỹ tại Thành Phố Westminster, CA. (Hình: Bảo Khôi)

Nhưng khi ông bước qua cánh cổng rỉ sét của ngôi nhà mình, một cảm giác lạ lẫm tràn ngập. Mọi thứ không còn như xưa. Đứa con trai lớn bây giờ đã là một chàng trai 15 tuổi, còn cô con gái út mới 13 tuổi. Cả hai đứa nhìn ông bằng ánh mắt bối rối, xa lạ.

Vợ ông, bà Dung, cũng không chạy ra ôm chầm lấy ông như ông từng mường tượng trong suốt những năm tù đày. Thay vào đó, bà đứng khựng lại, đôi mắt tránh né, như muốn giấu điều gì.

Những ngày đầu, ông Thắng cố gắng hòa nhập lại với cuộc sống gia đình. Nhưng ông nhận ra sự lạnh nhạt trong cách cư xử của vợ mình. Bà thường lảng tránh ánh mắt của ông, và dường như có điều gì đó bà không muốn ông biết.

Rồi một ngày, trong lúc trò chuyện với hàng xóm, ông nghe những lời thì thầm đầy ác ý:

“Tội nghiệp ông Thắng, đi tù bao nhiêu năm, giờ về lại chẳng biết vợ mình làm gì suốt thời gian qua…”

“Chuyện bà Dung với thằng công an xã ai mà không biết. Nhưng mà cũng khó trách, bả phải nuôi con mà.”

Nghe đến đây, ông Thắng chết lặng. Ông không tin, nhưng lời đồn ấy cứ đeo bám trong tâm trí.

Một đêm nọ, ông quyết định hỏi thẳng bà Dung. Ban đầu bà phủ nhận, nhưng khi bị ông gặng hỏi, cuối cùng bà bật khóc và thừa nhận tất cả.

Bà Dung kể rằng, sau khi ông bị bắt đi cải tạo, bà rơi vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Không đất đai, không tài sản, bà phải bươn chải đủ nghề để nuôi con, từ đi bán rau, cấy lúa thuê cho đến rửa chén. Nhưng số tiền kiếm được chẳng thấm vào đâu, nhất là khi chính quyền địa phương thường xuyên đến nhà sách nhiễu.

Trong lúc cùng quẫn, ông Hải – một công an xã có tiếng quyền lực – ngỏ ý giúp đỡ. Ban đầu, ông ta đưa tiền, gạo và bảo bà không cần trả. Nhưng dần dần, những món quà ấy đi kèm với điều kiện.

“Nếu không có ông ta, chắc mẹ con em đã chết đói. Anh ở tù, em không biết làm gì khác,” bà Dung nói trong nước mắt.

Ông Thắng không thể tin vào tai mình. Nỗi đau từ những ngày tháng tù đày giờ đây không là gì so với cảm giác bị phản bội. Người phụ nữ mà ông yêu thương, người mà ông luôn nghĩ là chờ đợi mình, giờ đây lại có quan hệ với chính kẻ đã từng hạch sách gia đình ông.

Những ngày sau đó, ông Thắng gần như không nói chuyện với bà Dung. Đêm đêm, ông ngồi lặng lẽ ngoài hiên, nhìn lên bầu trời đầy sao, lòng ngổn ngang. Ông nghĩ về những năm tháng tù tội, về lý tưởng mà ông từng tin tưởng, và về gia đình mà giờ đây ông không biết liệu có còn thuộc về mình hay không.

Ông không thể trách con cái, vì chúng là nạn nhân vô tội. Ông cũng không hoàn toàn trách bà Dung, vì ông hiểu những gì bà phải đối mặt khi ông không ở đó. Nhưng ông không thể tha thứ cho thực tế rằng chính kẻ đàn áp ông lại là người đã bước vào gia đình ông.

Cuối cùng, ông Thắng quyết định rời đi. Ông không thể tiếp tục sống dưới một mái nhà với người vợ mà ông không còn tin tưởng, dù trong lòng vẫn yêu thương bà.

Trước khi đi, ông ôm hai đứa con vào lòng, dặn dò chúng chăm sóc mẹ và sống tử tế. “Ba không thể ở lại, nhưng ba sẽ luôn dõi theo các con,” ông nói, giọng nghẹn ngào.

Ông Thắng chọn một cuộc sống ẩn dật, làm thuê kiếm sống qua ngày. Ông vẫn viết thư về cho con, nhưng tuyệt nhiên không nhắc đến bà Dung. Trong những lá thư ấy, ông chỉ kể về cuộc sống giản dị của mình, về những bài học mà ông rút ra sau tất cả những gì đã xảy ra.

Ông mất đi gia đình, nhưng vẫn giữ lại được lòng tự trọng và tình yêu thương dành cho con cái. Một cuộc đời không trọn vẹn, nhưng vẫn ánh lên sự mạnh mẽ và lòng bao dung của một người cha, một con người vượt qua nỗi đau để tiếp tục sống.

Sau những năm tháng sống trong đau khổ và nỗi niềm bất an, ông Thắng quyết định làm hồ sơ đi định cư ở nước ngoài theo diện HO, những người có liên quan đến quân đội hoặc chính quyền VNCH trước 1975.

Trong lòng ông, dù đã bị phản bội bởi vợ, ông vẫn không thể quên được hai đứa con. Mặc dù cuộc sống gia đình đã không còn trọn vẹn như xưa, ông vẫn khao khát đưa các con ra khỏi đất nước này, tránh xa sự nghèo khó và bạo lực mà họ đang phải đối mặt.

Với ý định đưa các con đi cùng mình, ông Thắng bắt đầu chuẩn bị hồ sơ. Những bước chuẩn bị này không dễ dàng chút nào, vì trong thời gian ông đi tù, chính quyền đã thay đổi nhiều chính sách. Việc làm hồ sơ cho các con ông đi chung không chỉ liên quan đến giấy tờ của ông, mà còn cần phải có sự đồng ý của vợ ông. Ông biết đây sẽ là một thử thách lớn.

Ban đầu, bà Dung tỏ ra do dự và khó chịu khi ông Thắng đề nghị đưa các con đi. Những năm tháng sống trong cảnh khó khăn đã khiến bà trở nên hoài nghi và thiếu niềm tin vào tương lai. Cộng thêm việc bà đã về ở hẳn với ông Hải – công an xã – và đã quen với cuộc sống bớt lo âu hơn khi không còn là vợ của một sĩ quan VNCH, bà sợ rằng việc dính líu tới ông Thắng sẽ làm xáo trộn cuộc sống hiện tại.

Mọi thứ bấp bênh và mơ hồ trong mắt bà. Nhưng ông Thắng kiên quyết không từ bỏ, ông biết rằng ông phải làm điều này không chỉ vì mình mà còn vì tương lai của các con.

Dù không thể thay đổi quá khứ, ông Thắng đã hiểu rằng chỉ có một cơ hội duy nhất để thay đổi số phận của các con. Và nếu bà Dung không đồng ý, ông sẽ phải để lại chúng lại trong hoàn cảnh mà ông không muốn, một tương lai không rõ ràng, không biết sẽ ra sao.

Một buổi chiều, khi ông Thắng ngồi xuống đối diện với vợ, không phải để trách móc, mà để thuyết phục bà, ông nói: “Em biết không, anh chỉ có thể đưa các con ra ngoài nếu em đồng ý. Nếu không, tụi nó sẽ mãi sống trong cái nghèo này. Anh không thể để chúng lớn lên như thế. Anh muốn chúng có cơ hội, có tương lai.”

Bà Dung ngồi im lặng một lúc lâu, đôi mắt thăm thẳm như đang suy nghĩ điều gì. Rồi bà nhẹ nhàng thở dài, những giọt nước mắt rơi xuống má. “Em biết, nhưng em cũng lo lắng, lo rằng tụi nó và anh sẽ phải bắt đầu lại từ con số không, như anh đã làm khi ra tù. Tụi nó đã quen với cuộc sống này rồi, dù gì nó cũng an toàn hơn.”

Tuy nhiên, qua những lời nói chân thành của ông, cuối cùng bà Dung cũng đồng ý. Bà biết rằng không thể giữ các con lại một cuộc sống nghèo đói, không có tương lai, dù bản thân bà có lo sợ đến mức nào.

Ngày hôm sau, bà Dung cũng ký vào giấy tờ để ông Thắng đưa các con đi cùng. Đây là một quyết định khó khăn, nhưng bà hiểu rằng Bà không thể chỉ sống cho bản thân mình. Những đứa trẻ đáng thương kia sẽ không có tương lai nếu vẫn ở lại nơi này.

Ngày ông Thắng và các con lên Sài gòn chuẩn bị đi HO, bà Dung tiễn ông với một ánh mắt đầy cảm xúc. Dù không còn tình yêu như xưa, nhưng tình thương cho các con là điều mà cả hai vẫn cùng chung một mục tiêu.

(Hình: tác giả cung cấp)

Trước khi lên đường, ông Thắng nhìn lại ngôi nhà cũ của mình một lần nữa – bà Dung đứng nhìn từ cửa, đôi mắt đẫm lệ. Họ không nói gì, chỉ nhìn nhau, như thể đó là lời chia tay cuối cùng.

Còn ông Thắng, ông không còn nghĩ về những khổ đau đã qua, cũng không còn vướng bận với quá khứ đau buồn nữa. Ông đã có cơ hội bắt đầu lại cuộc đời, và ông sẽ làm tất cả để đem lại một tương lai tốt đẹp hơn cho các con.

Khi ông Thắng lên phi cơ, lòng nặng trĩu. Hành trình tiếp theo là một bước đi đầy hy vọng, nhưng cũng tràn ngập những câu hỏi về tương lai. Liệu cuộc sống mới có thực sự tốt đẹp như ông đã mơ ước không? Hay tất cả sẽ lại là một cuộc bắt đầu lại đầy gian nan? Nhưng ông biết rằng, không có gì quan trọng hơn việc bảo vệ và yêu thương con cái.

Sau khi ông Thắng và các con sang Mỹ, cuộc sống của họ dần ổn định. Các con của ông, dù lớn lên trong nghèo khó và thiếu thốn tình thương của người cha trong suốt những năm đầu đời, đã nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống mới. Chúng học hành chăm chỉ, tìm được công việc làm thêm, và dần dần cảm thấy mình là một phần của xã hội mới.

Cứ mỗi lần nhìn thấy con cái vui vẻ học hành và có những bước tiến vững chắc, ông Thắng lại cảm thấy yên tâm phần nào. Ông biết rằng quyết định của mình khi đưa các con ra đi, dù đã tốn nhiều tâm sức và lo lắng, cuối cùng đã mang lại kết quả tốt đẹp. Các con đã có những cơ hội mới mà trước đây họ không thể có được.

Nhưng dù đã bắt đầu một cuộc sống mới, trong lòng ông vẫn còn một vết thương chưa lành. Bà Dung, người vợ đã cùng ông trải qua bao thăng trầm, vẫn là một bóng mờ trong trái tim ông. Dù bà đã phản bội ông trong quá khứ, ông không thể xóa nhòa những kỷ niệm về gia đình xưa, khi cả bốn người họ còn sống trong một mái nhà, đầy ắp tiếng cười nói.

Một ngày, sau khi các con đã lớn và có công việc ổn định, chúng bày tỏ nguyện vọng muốn bảo lãnh mẹ sang Mỹ. Các con của ông, dù đã hiểu rõ về quá khứ của cha mẹ, vẫn cảm thấy mình cần phải làm điều này để gia đình được đoàn tụ.

“Ba, chúng con muốn mẹ qua đây. Mẹ cũng có quyền được sống với chúng con,” đứa con trai lớn nói, trong khi cô con gái út đồng tình. “Ba vẫn còn thương mẹ, phải không? Chúng con muốn mẹ cũng được sống ở đây với gia đình mình.”

Khi nghe những lời này, ông Thắng im lặng rất lâu. Trong lòng ông, một trận sóng ngầm lớn dâng lên. Ông không thể phủ nhận rằng ông vẫn còn tình cảm với bà Dung, người phụ nữ đã gắn bó với ông suốt bao năm tháng. Tuy nhiên, sự phản bội mà ông đã phải chịu đựng trong quá khứ, sự quay lưng của bà khi ông học tập cải tạo và sự liên kết của bà với kẻ mà ông ghét nhất – ông Hải – công an xã, vẫn là một vết thương quá sâu.

Dù con cái thuyết phục hết sức, ông Thắng vẫn không thể đồng ý với ý tưởng bảo lãnh bà Dung sang Mỹ. Ông không muốn mối quan hệ này tiếp tục ảnh hưởng đến cuộc sống của các con. Ông đã bắt đầu lại, xây dựng lại từ đầu, và ông không thể để quá khứ tiếp tục ám ảnh họ.

“Con đừng có mà làm vậy,” ông Thắng nói, giọng trầm và đầy nặng nề. “Mẹ các con đã làm những điều mà Ba không thể tha thứ. Còn thương thì có, nhưng ba không thể quên được chuyện đã qua. Các con phải hiểu rằng, dù chúng ta có sống ở đâu, gia đình cũng không thể trở lại như xưa.”

Ông nhìn vào mắt các con, cảm giác đau đớn nhưng kiên quyết. “Mẹ có thể sống ở Việt Nam, hay ở đâu đó. Các con không thể đem quá khứ trở lại, dù cho Ba vẫn yêu thương bà ấy. Những chuyện đã qua, Ba không thể chấp nhận nữa.”

Dù các con không hoàn toàn hiểu được lý do tại sao ông Thắng lại từ chối bảo lãnh bà Dung, họ vẫn tôn trọng quyết định của người cha. Những cuộc trò chuyện giữa ông và các con trở nên ít hơn, đôi khi là những cuộc đối thoại khó khăn, khi các con cảm thấy xung đột giữa tình yêu và lý trí.

Con cái của ông đã trưởng thành và đã hiểu rằng những quyết định của cha không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chúng luôn tôn trọng cha mình. Chúng nhận thức được rằng, dù ông Thắng vẫn còn yêu thương bà Dung, nhưng quá khứ đau buồn của gia đình đã để lại vết thương không dễ lành.

Cuộc sống tiếp tục trôi đi. Các con của ông thành đạt trong công việc, họ có gia đình riêng, và ông Thắng cũng tìm được niềm vui trong những ngày tháng an bình. Nhưng mỗi khi đêm về, khi nhìn lên bầu trời đầy sao, ông vẫn nhớ về bà Dung, và cảm giác đau đớn vì quyết định mà ông đã phải đưa ra.

Ông biết rằng mình đã bảo vệ các con khỏi những điều không tốt, nhưng trái tim ông vẫn không thể quên được người vợ cũ, dù mọi thứ đã thay đổi. Ông sống tiếp, chấp nhận rằng trong cuộc sống này, không phải mọi mối quan hệ đều có thể phục hồi, nhưng ông vẫn yêu thương các con và luôn dõi theo bước đi của chúng, như một người cha đầy lòng hy sinh.

Dù ông Thắng đã kiên quyết từ chối bảo lãnh bà Dung, các con của ông, với lòng yêu thương và sự khát khao được đoàn tụ gia đình, đã lén lút làm thủ tục bảo lãnh mẹ sang Mỹ mà không thông báo cho ông. Trong lòng họ, bà Dung vẫn là mẹ, dù bà là người phản bội, họ cũng không thể nhìn mẹ mình sống một mình trong hoàn cảnh nghèo khó, đặc biệt khi bà cũng đã có những năm tháng vất vả vì gia đình.

Một ngày, bà Dung cuối cùng cũng bước chân vào nước Mỹ, được các con đón tiếp với những giọt nước mắt. Dù ông Thắng không hay biết, ông cảm nhận được sự thay đổi trong bầu không khí gia đình. Các con của ông giờ đây có thể sống một cuộc sống đầy đủ hơn, không còn phải lo lắng về tương lai, và họ có thể đoàn tụ với mẹ – người mà họ không thể bỏ rơi.

Ông Thắng, sau khi phát hiện ra việc các con bảo lãnh bà Dung sang Mỹ, cảm giác như một vết thương cũ lại bị xé ra. Ông không thể hiểu được tại sao các con lại làm điều này sau tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ. Dù cho ông có yêu thương bà Dung, nhưng quá khứ đã khiến ông không thể chấp nhận sự quay lại của bà. Ông đã từng đặt hy vọng vào những đứa con, nhưng giờ đây chúng lại làm điều mà ông không thể tha thứ.

Khi ông biết được, sự đau đớn trong lòng ông càng sâu sắc hơn. Ông cảm giác mình đã không thể làm trọn vẹn trách nhiệm với gia đình. Sau tất cả, ông đã chọn sống riêng biệt, tránh xa bà Dung và các con, để tìm lại chút bình yên trong tâm hồn.

Ông Thắng quyết định dọn ra sống một mình. Ông thuê một căn phòng nhỏ, sống một cuộc sống yên tĩnh, không còn phải bận tâm về những sự việc xảy ra trong quá khứ. Ông không còn phải đối diện với sự xung đột trong lòng mình về bà Dung và những kỷ niệm không thể quên.

Từng ngày trôi qua, ông Thắng cảm thấy mình đã hoàn thành trách nhiệm với con cái. Dù đau lòng, ông hiểu rằng mỗi người đều có con đường riêng của mình, và không thể thay đổi được quá khứ. Ông đã làm hết những gì có thể để bảo vệ các con, nhưng giờ đây, ông không thể tiếp tục sống trong bóng tối của quá khứ.

Cuối tuần, đôi khi các con đến thăm ông, mang theo những món quà nhỏ, hoặc cùng nhau ăn bữa cơm đơn giản. Cảnh tượng đó mang đến cho ông một chút an ủi, nhưng cũng không thể làm vơi đi nỗi buồn sâu trong trái tim ông. Ông nhìn con cái trưởng thành, không còn là những đứa trẻ mà ông phải chăm lo, và có những gia đình riêng. Ông cảm nhận được rằng gia đình cũ đã không thể quay lại như trước, dù vẫn có tình yêu và sự quan tâm từ cả hai phía.

Từ ngày mất nước, gia đình ông rơi vào bi kịch. Chiến tranh chia cắt đất nước, gia đình ông cũng bị chia rẽ theo một cách riêng của nó. Những xung đột trong quá khứ không thể xóa nhòa, và dù ông đã cố gắng hết sức, những nỗi đau vẫn dai dẳng. Sự phản bội, những quyết định không thể quay lại, những hối tiếc không bao giờ nguôi ngoai – tất cả tạo thành một bi kịch lớn trong cuộc đời ông.

Gia đình không còn là nơi mà ông có thể tìm lại sự bình yên. Mỗi lần các con đến thăm ông, ông lại nhớ về quá khứ, về những ngày xưa, về một gia đình đầy ắp tiếng cười và hy vọng. Nhưng giờ đây, mọi thứ đã thay đổi quá nhiều. Tình yêu giữa ông và bà Dung không thể quay lại, và những đứa con của ông vẫn phải sống với những ký ức không thể nào quên.

Cuộc sống cứ thế tiếp tục, không thể nào hồi phục hoàn toàn như xưa, dù ông Thắng đã hoàn thành trách nhiệm của mình với các con. Những gì còn lại chỉ là sự chấp nhận.

Một ngày nọ, trong khi ông Thắng đang đọc sách trong căn phòng nhỏ của mình, một cú điện thoại bất ngờ đã thay đổi tất cả. Con trai ông gọi với giọng hoảng hốt:

“Ba ơi, mẹ bị tai nạn giao thông rồi. Bây giờ đang rất nguy kịch. Mẹ muốn gặp ba, muốn xin lỗi ba.”

Lời nói đó như một cú đánh mạnh vào trái tim ông. Ông không biết phải làm gì. Những năm tháng đã qua, những ký ức đầy đau thương và xung đột dường như vẫn còn như mới, chưa bao giờ nguôi ngoai. Bà Dung – người vợ cũ, người đã phản bội ông và để lại vết thương sâu trong lòng – giờ đây đang đứng trước ngưỡng cửa của sự sống và cái chết.

Ông Thắng vội vàng chạy tới bệnh viện, tâm trạng mâu thuẫn và đầy bối rối. Trong lòng ông, một cuộc chiến nội tâm gay gắt đang diễn ra. Liệu ông có nên tha thứ cho bà Dung hay không? Liệu ông có thể bỏ qua tất cả những gì bà đã làm với mình và gia đình trong quá khứ? Những câu hỏi đó không có lời giải đáp, nhưng ông vẫn tiếp tục lái xe, như thể có một sức mạnh vô hình nào đó kéo ông về phía bà.

Khi ông tới bệnh viện, bà Dung đã nằm trong phòng cấp cứu, cơ thể đầy vết thương. Gương mặt bà tái nhợt, đôi mắt mờ mịt, nhưng khi thấy ông bước vào, bà như nhận ra một thứ gì đó trong ánh mắt ông. Những giọt nước mắt bắt đầu rơi xuống, và bà cố gắng mở miệng, dù giọng nói yếu ớt:

“Anh… anh Thắng… Em… xin lỗi anh… Em… đã sai…”

Lời xin lỗi cuối cùng của bà Dung vang lên trong không gian im lặng của phòng bệnh, như một lời kết cho một câu chuyện dài đầy bi kịch. Bà đã không còn sức lực để nói thêm gì nữa, nhưng đôi mắt bà chứa đựng sự ăn năn, sự hối hận sâu sắc mà suốt bao nhiêu năm qua, bà không có cơ hội để thổ lộ.

Ông Thắng đứng đó, nhìn bà Dung trong giây lát, nhưng trái tim ông không thể quên được những gì đã xảy ra. Ông đã sống một cuộc đời khổ đau vì sự phản bội của bà. Tất cả những năm tháng ấy, sự hy sinh, sự cống hiến của ông đều trở thành vô nghĩa trong mắt bà. Bà đã chọn con đường của mình, và ông đã phải chịu đựng những quyết định mà không thể thay đổi.

Nhưng khi nhìn thấy bà giờ đây, trong tình trạng yếu đuối, sắp qua đời, ông chợt cảm thấy một sự đau lòng khác. Dù bà đã phản bội ông, ông không thể phủ nhận rằng tình yêu một thời vẫn còn trong trái tim ông. Nhưng ông đã quá mệt mỏi, quá kiệt sức vì những vết thương cũ. Ông chỉ có thể đứng nhìn bà, không thể tha thứ cho tất cả, nhưng cũng không thể phủ nhận sự xót thương.

Bà Dung cố gắng nói một lần nữa: “Anh Thắng, em… em biết em sai rồi… nhưng anh… đừng để em đi mà chưa nhận được sự tha thứ của anh.” Nhưng chỉ có tiếng thở gấp và nhịp tim yếu ớt, bà đã không còn sức để nói thêm.

Cuối cùng, bà Dung lặng lẽ nhắm mắt, rời khỏi thế gian này, để lại ông Thắng một mình trong căn phòng bệnh lạnh lẽo.

Sau cái chết của bà Dung, ông Thắng không cảm thấy sự thanh thản hay sự giải thoát mà ông mong đợi. Ngược lại, ông cảm thấy nỗi trống rỗng khủng khiếp hơn bao giờ hết. Những năm tháng qua, ông đã sống với nỗi hận, nỗi đau và sự mất mát. Giờ đây, khi bà Dung đã ra đi, ông không biết mình có thể cảm thấy gì. Tha thứ hay không tha thứ đã không còn quan trọng nữa. Tất cả chỉ là quá khứ, và ông buộc phải chấp nhận nó.

Các con của ông, dù đã trưởng thành và có cuộc sống riêng, vẫn không thể hoàn toàn hiểu được những gì cha mình đã trải qua. Họ nhìn thấy cha mình vẫn sống đơn độc, dù đã có một gia đình khác và những mối quan hệ mới. Nhưng trong thâm tâm ông, cái chết của bà Dung chỉ là một dấu chấm hết cho một bi kịch gia đình đã kéo dài suốt bao nhiêu năm.

Ông Thắng sống tiếp những năm tháng còn lại, nhớ về những ngày đã qua, và đôi khi, ông lại tự hỏi liệu cuộc đời này có thể khác đi không nếu như những sai lầm trong quá khứ không xảy ra. Nhưng cuộc đời, như một dòng sông, luôn trôi đi và không thể quay lại. Và ông chấp nhận rằng, dù có cố gắng bao nhiêu đi chăng nữa, bi kịch gia đình ông từ ngày mất nước vẫn là một phần không thể xóa nhòa trong lịch sử riêng của mình.


 

Nữ tu sĩ Brazil mê túc cầu nay là người thọ nhất thế giới, gần 117 tuổi

Ba’o Nguoi-Viet

January 6, 2025

PORTO ALEGRE, Brazil (NV) – Một nữ tu sĩ mến mộ môn túc cầu đến từ Brazil vừa được vinh danh là người sống thọ nhất thế giới khi gần 117 tuổi, sau khi một người phụ nữ Nhật Bản vừa tạ thế trong thời gian gần đây, theo ABC.

Soeur Inah Canabarro, từng ốm o gầy mòn tới nỗi nhiều người nghĩ bà không thể sống nổi tới qua thời thơ ấu, LongeviQuest, một tổ chức theo dõi những người sống thọ trên toàn cầu cho biết.

LongeviQuest đưa ra một tuyên bố hôm Thứ Bảy, 4 Tháng Giêng, xác nhận vị soeur ngồi xe lăn này là người sống thọ nhất thế giới, được xác nhận trong các tài liệu ghi chép cuộc sống của bà từ thời niên thiếu.

Soeur Inah Canabarro trong hình chụp vào Tháng Hai, 2024, ở Brazil. (Hình: LongeviQuest)

LongeviQuest thực hiện một đoạn phim hồi Tháng Hai năm 2024 trong đó soeur Canabarro sảng khoái tươi cười, chỉ ra những bức họa nhỏ nhắn về các loài hoa dại do chính tay bà vẽ và đọc kinh Kính Mừng.

Khi được hỏi bí quyết sống thọ là gì? Soeur trả lời chính là đức tin Công Giáo.

“Tôi trẻ trung, dễ mến và thân thiện, âu cũng là những phẩm chất tốt đẹp, duyên dáng trong mỗi con người,” nữ tu sĩ Dòng Têrêxa nói trước quan khách viếng thăm nhà điều dưỡng tại thành phố Porto Alegre ở miền Nam Brazil.

Soeur Canabarro sinh ngày 8 Tháng Sáu 1908 trong một gia đình con đàn cháu đống ở miền Nam Brazil, theo LongeviQuest. Ông cố bà là một vị tướng kiệt hiệt tại Brazil, từng đứng lên cầm súng tham gia chiến trường trong giai đoạn đầy biến động sau khi Brazil giành độc lập và thoát khỏi ách cai trị của Bồ Đào Nha vào thế kỷ 19.

Soeur dấn thân vào con đường tôn giáo khi còn là một thiếu nữ và sinh sống tại Montevideo, Uruguay được hai năm trước khi chuyển tới Rio de Janeiro và cuối cùng quay về gần bên gia đình hơn ở miền Nam Brazil.

Vào dịp sinh nhật lần thứ 110, soeur Canabarro được Đức Giáo Hoàng Phanxicô tôn vinh. Bà là nữ tu sĩ sống thọ thứ nhì từng được ghi nhận, sau soeur Lucile Randon, người sống thọ nhất thế giới cho tới khi được Chúa gọi về vào năm 2023 ở tuổi 118.

Câu lạc bộ túc cầu địa phương Inter thành lập sau khi Canabarro chào đời, năm nào cũng tổ chức sinh nhật cho cổ động viên lớn tuổi nhất gồm có bánh và bong bóng có màu đỏ và trắng, hai biểu trưng cho đội banh.

“Dù là da trắng hay đen, giàu hay nghèo, bất kể các vị là ai, Inter là đội banh của đại chúng,” bà nói trong một đoạn phim đăng trên mạng xã hội khi mừng sinh nhật lần thứ 116 với chủ tịch câu lạc bộ.

Canabarro giành danh hiệu người sống thọ nhất thế giới sau khi Tomiko Itooka, một vị lão niên người Nhật Bản, tạ thế vào Tháng Mười Hai, theo LongeviQuest. Hiện nay seour Canabarro đang đứng thứ 20 trong danh sách những người sống thọ nhất từng được ghi nhận, đứng đầu là cụ bà Jeanne Calment người Pháp, qua đời năm 1997 ở tuổi 122, theo LongeviQuest. (TTHN)