Nói lời phải chăng (Phần cuối)

Ba’o Tieng Dan

21-4-2025

Tiếp theo phần 1phần 2phần 3phần 4phần 5phần 6

Chu Sơn: Hơn 35 năm sau cái ngày lịch sử (30–4) mà gần như tình cờ anh Tòng tham dự, có bao giờ anh tự nhìn lại mình, nhìn lại đất nước khi nhớ nghĩ lại những gì mình đã làm, những gì mình đã nói tại dinh Độc Lập và Đài phát thanh Sài Gòn?

Huỳnh Văn Tòng: Không phải chỉ “có bao giờ” mà rất nhiều và gần như thường trực tôi cứ hỏi tại sao? Tại sao? Tại sao cái cơ hội ngàn năm một thuở ấy bị bỏ lỡ, bị phí phạm một cách đáng tiếc? Không phải chỉ với cá nhân tôi, kẻ muốn làm một Việt Cộng tép riu (thuộc lực lượng Thứ Hai) hơn làm một “nhân vật” đứng giữa (thuộc lực lượng Thứ Ba), cũng không phải những người đứng giữa (thuộc lực lượng Thứ Ba) mà cả một số không ít những người phía bên kia (thuộc lực lượng Thứ Nhất – Việt Nam Cộng Hòa) cũng tiếc một cách quay quắt không được tham dự vào vận hội hòa giải hòa hợp dân tộc, xây dựng đất nước trong hòa bình độc lập và thống nhất sau biến cố 30-4-1975.

Tôi trở về nước đầu năm 1972 sau một thời gian khá dài (9 năm) tiếp cận với nền học thuật Pháp – Tây phương. Sự tiếp cận đó cho phép tôi nhận ra rằng, trí thức, quần chúng Pháp và Tây phương có điều kiện thời gian và nền tảng học thuật để nhận biết chủ nghĩa Marx, phong trào Cộng sản quốc tế và cách mạng tháng 10 Nga sớm và chính xác hơn trí thức và quần chúng Việt Nam. Đảng Cộng sản Pháp và các đảng Cộng sản Tây phương thành lập sớm hơn đảng Cộng sản Việt Nam hàng chục năm, nhưng rồi nhân dân Pháp và phương Tây đã không chọn mô hình Xã hội Chủ nghĩa để đổi mới đất nước họ như khẳng định của các lý thuyết gia Cộng sản là sự phát triển kinh tế của phương Tây đã chín mùi và sự trưởng thành của giai cấp công nhân và quần chúng lao động ở các nước này đã sẵn sàng để cách mạng Xã hội chủ nghĩa nổ ra và thắng lợi.

Sự chọn lựa này chủ yếu do nền tảng văn hóa truyền thống của họ sâu dày và trình độ học thuật của họ cao. Họ thừa nhận Marx – Angel và các nhà hoạt động cách mạng theo ý thức hệ Cộng sản ôm ấp lý tưởng và khát vọng trong sáng và cao đẹp. Nhưng đồng thời họ nghi ngờ khả năng hiện thực của học thuyết Marx và chủ nghĩa Lenin. Cuối cùng đảng Cộng sản Pháp và các đảng Cộng sản Tây phương đành chấp nhận làm lực lượng đối trọng chính trị và phản biện xã hội đóng vai trò thúc đẩy sự đổi mới, sự tiến bộ trong các nước Tư bản chủ nghĩa, và ủng hộ công cuộc giải trừ các thế lực thực dân đế quốc tại các thuộc địa.

Trong khi đó lý tưởng cộng sản, cách mạng tháng 10 Nga, chủ nghĩa Lenin lại nhanh chóng chiếm lĩnh tâm trí đa số người Việt ở trong nước cũng như Việt kiều tại Pháp. Lý do của sự quy hướng này là khát vọng độc lập tự do, công bằng xã hội vô cùng mãnh liệt nơi một số bộ phận không nhỏ trí thức, và ước mơ đổi đời một cách cấp thiết của toàn thể đồng bào cùng khổ (90% là nông dân) trước tình cảnh đói nghèo và nô lệ cùng cực do chế độ thực dân. Còn một lý do nữa của sự quy hướng này là mặt bằng nhận thức chung của dân tộc chưa đủ để vượt qua tình trạng mê tín dị đoan đã biến học thuyết Marx thành những tín điều tôn giáo và đảng Cộng sản thành một giáo hội không sai lầm, một guồng máy bạo lưc có quyền lực tuyệt đối trong mọi lãnh vực của đời sống đất nước.

Tôi đã từng nhận định như thế về đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án ở trường đại học, đặc biệt là sau chuyến viếng thăm, quan sát, học hỏi dài ngày (6 tháng) tại những cơ quan thông tấn báo chí danh tiếng trên thế giới, tôi đã hiểu vì sao Nguyễn Ái Quốc đã nhanh chóng tìm thấy con đường giải phóng đất nước dân tộc sau khi đọc luận cương của Lenin về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Lòng yêu nước sâu nặng và sự phẫn nộ mãnh liệt trước tội ác của bọn đế quốc thực dân đã lấn lướt khả năng suy luận lạnh lùng và khách quan của những người ngoài cuộc, hay của những người đã tìm thấy nơi học thuyết Tư sản Dân quyền những giá trị cách mạng triệt để như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và đặc biệt Nguyễn An Ninh vào thời điểm thập niên thứ hai của thế kỷ trước.

Tôi trở về nước với ý định tìm đường tham gia kháng chiến để giải tỏa ray rức là kẻ thờ ơ vô trách nhiệm trước tình hình đất nước ngày một lún sâu vào thảm cảnh chiến tranh xâu xé vô vọng. Hòa bình, độc lập, thống nhất đối với tôi vào thời điểm đó vẫn là mục tiêu hàng đầu. Vấn đề thể chế sẽ là sự đồng thuận của cả dân tộc sau khi đạt được các mục tiêu ấy. Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ rút kinh nghiệm từ những sai lầm tai hại trong các cuộc cải cách, cải tạo mà họ đã thực hiện trên miền Bắc trước và sau 1954. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không thể không biết tới những tội ác kinh khủng: Giết chết và đày đọa hàng trăm triệu con người trong các cuộc thanh trừng, đấu tranh giai cấp đẫm máu và sự điêu tàn suy sụp toàn diện tại Liên xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa. Tôi đã sai lầm khủng khiếp.

Do suy nghĩ đơn giản như vậy, tôi chấp nhận đề nghị của ông Chu Sơn cùng với Nguyễn Hữu Thái, Nguyễn Trực, Bùi Minh (những người thân cận của thượng tọa Trí Quang) tiếp sức cho phong trào đô thị Huế bằng hành động cụ thể là thúc đẩy Lực lượng Hòa giải Dân tộc sớm thành lập, liên kết nó với các tổ chức, phong trào đô thị Sài Gòn, Huế và cả miền Nam, góp phần hình thành lực lượng Thứ Ba tại Sài Gòn, tạo điều kiện mở rộng hoạt động của nó ra các tỉnh miền Trung, kết nối tất cả thành lực lượng Thứ Ba thống nhất cho cả Miền Nam.

Ông Chu Sơn cần chú ý: Sáu nhân vật hàng đầu của chính phủ Dương Văn Minh, trừ luật sư Nguyễn Văn Huyền là người Công giáo, năm người còn lại là Phật giáo đồ, là Phật tử thuần thành. Hai trong số đó là luật sư Vũ Văn Mẫu, giáo sư Bùi Tường Huân là nhân vật lãnh đạo của Lực lượng Hòa giải do thượng tọa Trí Quang bàn thảo cùng đại tướng Dương Văn Minh sắp xếp đề cử vào chức vụ Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Việc giáo sư Bùi Tường Huân giữ chức bộ trưởng quốc phòng là chủ ý của thượng tọa Trí Quang thể hiện ý chí và khát vọng hòa bình theo tinh thần của đạo Phật và đường lối chủ trương của giáo hội Phật giáo. Việc Dương Văn Minh đề cử các nhân vật khác từ Phó Tổng thống trở xuống đêu có sự đồng thuận của thượng tọa Trí Quang.

Không phải chuyện tình cờ khi sáng sớm ngày 30 tháng 4 Nguyễn Hữu Thái tới chùa Ấn Quang và sau đó thượng tọa Trí Quang điện thoại đề nghị các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu nhanh chóng chấp nhận đầu hàng. Nguyễn Hữu Thái và tôi tới dinh Độc Lập và đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30 tháng 4 có manh mối từ những cơ duyên như thế, chứ không phải tình cờ như ông Chu Sơn đã nhận xét. Những việc chúng tôi làm, những điều chúng tôi nói tại dinh Độc Lập và Đài phát thanh đơn giản nhằm thực hiện câu châm ngôn mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã hành xử suốt đời ông: Dĩ bất biến ứng vạn biến. Cái bất biến đối với chúng tôi vào thời điểm đó là Hòa giải, Hòa hợp Dân tộc, toàn dân chung sức chung lòng xây dựng đất nước sau 117 năm bị xâm lược, chiến tranh tàn phá và xâu xé, tương tàn.

Lời kêu gọi ấy sau hơn một phần ba thế kỷ chắc chắn câu chữ có thay đổi do ký ức hao mòn nhưng nội dung vẫn trước sau như một. Làm sao quên được khi tôi biết chắc chắn rằng nhiều người trong số học trò, bạn bè, bà con thân thuộc và cả một số quen biết tôi gián tiếp vì lời kêu gọi ấy mà tin tưởng, mà ở lại để rồi phải chịu đọa đày, sĩ nhục, đói khổ, tù đày, tuyệt vọng, chết chóc. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do đảng Cộng sản tiến hành sau 1975 đã biến tôi thành kẻ lừa dối. Thậm chí có một cô học trò đã nói thẳng vào mặt tôi rằng: “Ông đích thực là một tên cò mồi. Gia đình tôi vì ông mà bị sập bẫy”.

Ông Chu Sơn biết không, cô học trò ấy là một trong những sinh viên thân thiết nhất của tôi, đã cộng tác hết mình với nhóm chúng tôi trong suốt hai năm “tôi nghĩ rằng mình là một Việt Cộng”, là đồng chí, đồng sự của ông Chu Sơn trong nhiệm vụ hỗ trợ cho phong trào đô thị Huế. Suốt hai năm ấy tôi nhận được từ cô sự tin tưởng và quý trọng. Cô vận động cha cô – một trung tá trong quân đội Việt Nam Cộng hòa – cùng gia đình (mẹ và bốn em) “ở lại để cùng với đất nước làm lại cuộc đời”. Nhưng rồi họ đã bị sập bẫy – chính xác như lời cô nói – Cha cô đã bị đưa đi cải tạo dài ngày, nhà bị lấy. Đứa em trai kế thi đậu nhưng không được vào đại học vì là con ngụy quân. Cô tiếp tục học hai năm cuối, tốt nghiệp cử nhân nhưng không xin được việc làm cũng vì là con ngụy. Mẹ và cô phải lăn ra chợ trời để lo cái ăn cho cả nhà và thăm nuôi cho chồng, cho cha.

Tù đày, đói khổ, cực nhục và tuyệt vọng là những gì họ nhận được từ ngày “miền Nam được giải phóng”. Thực tế này hoàn toàn trái ngược với những gì tôi đã đoan chắc với cô ấy trước 30 tháng 4. Quả thực tôi là kẻ nói dối, là một thứ cò mồi… Cô ấy đã hoàn toàn chính xác khi không gọi tôi là Thầy như trước, mà gọi tôi là ông, và xỉ vả tôi như thế…

Chu Sơn: Xin lỗi anh Tòng. Tôi thấy trên trán anh đã lấm tấm mồ hôi. Tôi đã hành anh suốt cả buổi chiều. Tuy vậy tôi vẫn muốn chính anh, chứ không phải tôi, kết thúc cuộc trò chuyện này bằng một vài câu ngắn gọn.

Huỳnh Văn Tòng: Hồi học bên Pháp tôi may mắn làm học trò của ba vị thầy lỗi lạc: Giáo sư Chesneax, giáo sư Jean Lacouture và giáo sư Phillipe Devillieris. Các vị ấy và nền đại học, truyền thông báo chí Pháp và quốc tế dạy cho tôi phương pháp nghiên cứu khoa học và tư duy lịch sử trên cơ sở của nền văn minh phương Tây – Ky tô giáo. Qua các vị ấy và nền tảng văn hóa học thuật ấy, tôi hiểu nhiều hơn về thế giới và đất nước dân tộc mình.

Về dạy đại học Vạn Hạnh và làm “Việt Cộng nội thành”, tôi lại may mắn tiếp cận với ba vị thầy lỗi lạc và thâm trầm hơn: Thầy Thích Minh Châu, thầy Thích Trí Quang, thầy Hồ Hữu Tường. Ba vị này và môi trường đại học Vạn Hạnh dạy cho tôi tình yêu đất nước, lòng bao dung, trách nhiệm nhân loại và chúng sinh theo cốt tũy đạo Phật và tinh hoa Phật giáo Việt Nam.

Qua các cuộc trao đổi, các vị ấy thường nhắc nhở tôi câu châm ngôn: “Tồn tại là tồn tại trong những tương quan”. Câu châm ngôn này với những giải bày của các vị ấy giúp tôi nhìn nhận văn hóa, lịch sử Việt Nam, hiện tình đất nước và các mối quan hệ quốc tế chính xác và công bình hơn.

Chúng ta đang ở trong đất nước. Đất nước đang ở trong thế giới. Tất cả thường trực vận động và đang trên đà chuyển hóa. Kết quả của cuộc vận động chuyển hóa ấy thế nào tùy thuộc vào nhận thức và bản lãnh sống của tất cả mọi chủ thể tham dự.

Khẳng định như thế để thấy rằng, mối chủ thể tồn tại từ cá nhân, gia đình, địa phương, thành phần dân tộc, đảng phái, tôn giáo, quốc gia, cộng đồng khu vực và quốc tế đều chia phần trách nhiệm trước quá khứ và hiện thực cuộc sống.

Không đổ hết trách nhiệm, cái xấu và lỗi lầm lên đầu đối phương, không dùa hết cái tốt, cái đúng, cái ưu việt về phía mình.

Không trông chờ sự tôn trọng của kẻ khác, của quốc gia dân tộc khác khi bản thân mình, cộng đồng mình, dân tộc đất nước mình chìm đắm trong chia rẽ, xâu xé, nô lệ và hủ bại.

Đất nước chưa có độc lập, hòa bình, thống nhất; dân tộc chưa có tự do và hạnh phúc như chúng ta đã mơ tưởng, như đảng Cộng sản đã rêu rao và tiếp tục lảm nhảm.

Hết nô lệ Pháp, Mỹ, chúng ta đang nô lệ Tàu. Hết bị áp bức bóc lột bởi chế độ vua quan chuyên chính, chúng ta đang bị đàn áp bóc lột tồi tệ hơn, triệt để hơn bởi bạo quyền lý Toét, xã Xệ, thị Nỡ và Chí Phèo: Đảng Cộng sản.

Sau hơn một thế kỷ rưỡi chiến tranh, chết chóc, đọa đày và đổ nát để rồi chúng ta có được ngày nay sao?

Bà Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 và hai câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Bùi Giáng.

***

Chu Sơn: Câu hỏi bỏ lửng của anh Tòng kết thúc cuộc trò chuyện của chúng tôi vào khoảng 8 giờ tối một ngày cuối tháng 4 năm 2010, chưa đầy một năm ba tháng trước ngày anh qua đời (tháng 7 năm 2011).

Mấy trang ghi chép này chắc chắn không tránh được những sai sót ngoài ý muốn. Xin anh Tòng rộng lòng tha thứ.


 

Các nghi lễ sau khi Giáo hoàng Francis qua đời – Cù Tuấn biên dịch

Cù Tuấn biên dịch

Tóm tắt: Sau khi Giáo hoàng Francis qua đời, các nghi lễ chính bắt đầu, bao gồm việc niêm phong căn hộ của ông, phá hủy chiếc nhẫn và chuẩn bị tang lễ

Sau khi Giáo hoàng Francis qua đời, được Vatican công bố vào thứ Hai, Giáo hội Công giáo La Mã sẽ bắt đầu các nghi lễ phức tạp mang đậm truyền thống để đánh dấu sự kết thúc của một triều đại giáo hoàng và mở đầu cho triều đại giáo hoàng tiếp theo.

Hầu hết đều tuân theo hiến pháp được gọi là Universi Dominici Gregis (Của toàn thể đàn chiên của Chúa) được Giáo hoàng John Paul II phê chuẩn vào năm 1996 và được Giáo hoàng Benedict XVI sửa đổi vào năm 2007 và 2013.

Một hồng y được gọi là thị thần (giám mục), hiện là Hồng y người Mỹ gốc Ireland Kevin Farrell, sẽ điều hành các công việc thường ngày của Giáo hội Công giáo La Mã với gần 1,4 tỷ thành viên trong giai đoạn được gọi là “sede vacante” (trống toà).

Thị thần sẽ chính thức xác nhận cái chết của Giáo hoàng, một vấn đề đơn giản ngày nay, liên quan đến bác sĩ và giấy chứng tử. Cho đến một thời điểm nào đó trong thế kỷ 20, điều này được thực hiện theo nghi lễ bằng cách gõ một chiếc búa bạc vào trán Giáo hoàng ba lần.

Thị thần và ba trợ lý được chọn trong số các hồng y dưới 80 tuổi, được gọi là hồng y cử tri, sẽ quyết định thời điểm đưa thi hài của giáo hoàng vào Vương cung thánh đường Thánh Peter để công chúng đến tỏ lòng thành kính.

Họ cũng đảm bảo rằng “Chiếc nhẫn của ngư dân” và con dấu bằng chì của giáo hoàng sẽ bị hủy đi để không ai khác có thể sử dụng chúng. Không có cuộc khám nghiệm tử thi nào được thực hiện.

Thị thần sẽ khóa và niêm phong nơi ở riêng của giáo hoàng. Trước đây, nơi này nằm trong các căn hộ tại Cung điện Tông đồ, nhưng Francis sống trong một dãy phòng nhỏ tại nhà khách Vatican được gọi là Santa Marta.

Thị thần và các hồng y khác không thể đưa ra những quyết định quan trọng ảnh hưởng đến Giáo hội hoặc thay đổi giáo lý của Giáo hội. Người đứng đầu hầu hết các bộ phận của Vatican đều từ chức cho đến khi giáo hoàng mới xác nhận hoặc thay thế họ.

Lễ tang sẽ kéo dài chín ngày, ngày tổ chức tang lễ và chôn cất sẽ do các hồng y quyết định. Universi Dominici Gregis cho biết lễ tang sẽ bắt đầu vào khoảng ngày thứ tư đến ngày thứ sáu sau khi ngài qua đời.

  1. Lễ tang của Giáo hoàng

Giáo hoàng Francis, người đã tránh xa phần lớn sự phô trương và đặc quyền khi lãnh đạo Giáo hội Công giáo toàn cầu, đã sửa đổi và đơn giản hóa các nghi lễ tang lễ của giáo hoàng vào năm 2024.

Lễ tang vẫn được tổ chức tại Quảng trường Thánh Peter, nhưng không giống như nhiều người tiền nhiệm, Giáo hoàng Francis đã yêu cầu được chôn cất tại Vương cung thánh đường Đức Mẹ Maria ở Rome để gần bức tượng Đức Mẹ mà ngài yêu thích nhất.

Giáo hoàng Francis cũng yêu cầu được chôn cất trong một chiếc quan tài gỗ đơn giản, không giống như những người tiền nhiệm được chôn cất trong ba chiếc quan tài lồng vào nhau làm bằng gỗ bách, chì và gỗ sồi. Ông yêu cầu không đặt thi thể của mình trên một bệ cao, hay còn gọi là catafalque, tại Vương cung thánh đường Thánh Peter để du khách ở Rome có thể chiêm ngưỡng, như trường hợp của các giáo hoàng trước đây.

  1. Mật nghị Hồng y

Các hồng y từ khắp nơi trên thế giới sẽ đổ về Rome sau khi một giáo hoàng qua đời. Họ tổ chức các cuộc họp hàng ngày được gọi là các hội đồng chung để thảo luận về các vấn đề của Giáo hội và nêu ra những đặc điểm mà mỗi người tin rằng giáo hoàng mới nên có.

Các hồng y từ 80 tuổi trở lên có thể tham dự các phiên họp chung nhưng không được phép vào mật nghị để bầu giáo hoàng tiếp theo, đây là cuộc họp của các hồng y dưới 80 tuổi. Phần lớn các cuộc thảo luận diễn ra trong các tương tác cá nhân giữa các hồng y.

Theo truyền thống, thời gian để tang là 15 ngày trước khi một mật nghị có thể bắt đầu. Trước khi từ chức vào năm 2013, Giáo hoàng Benedict đã sửa đổi hiến pháp để cho phép bắt đầu sớm hơn nếu các hồng y chọn, hoặc tối đa là 20 ngày sau khi qua đời nếu một số hồng y gặp khó khăn khi đến Rome.

Mật nghị được tổ chức tại Nhà nguyện Sistine. Cho đến hai mật nghị năm 1978 bầu ra John Paul I và John Paul II, các hồng y vẫn ở trong những căn phòng tạm bợ xung quanh Nhà nguyện Sistine.

Kể từ cuộc mật nghị năm 2005 bầu Giáo hoàng Benedict, họ đã bỏ phiếu tại Nhà nguyện Sistine nhưng vẫn ở nhà khách Santa Marta, với khoảng 130 phòng. Santa Marta sẽ bị phong tỏa và họ được đưa bằng xe buýt đến Nhà nguyện Sistine.

Từ conclave bắt nguồn từ tiếng Latin có nghĩa là “có chìa khóa”. Nó bắt nguồn từ một truyền thống bắt đầu từ thế kỷ 13, khi các hồng y bị nhốt lại để buộc họ phải quyết định càng nhanh càng tốt và hạn chế sự can thiệp từ bên ngoài.

Ngày nay, những Hồng y tham gia mật nghị bị cấm giao tiếp với thế giới bên ngoài. Điện thoại, internet và báo chí là không được phép và cảnh sát Vatican sử dụng thiết bị an ninh điện tử để thực thi các quy tắc.

Ngoại trừ ngày đầu tiên của mật nghị, khi chỉ có một lần bỏ phiếu, các hồng y sẽ bỏ phiếu hai lần một ngày.

Cần phải có đa số hai phần ba cộng một để bầu cử thành công. Nếu không có ai trúng cử sau 13 ngày, một cuộc bầu cử vòng hai sẽ được tổ chức giữa hai ứng cử viên hàng đầu, nhưng vẫn cần đa số hai phần ba cộng một. Điều này nhằm thúc đẩy sự thống nhất và ngăn cản các ứng cử viên tìm kiếm sự thỏa hiệp.

  1. ‘Habemus Papam’

Khi mật nghị bầu thành công một giáo hoàng, mọi người sẽ hỏi ông có chấp nhận không và muốn lấy tên nào. Nếu người được chọn từ chối, quy trình sẽ bắt đầu lại từ đầu.

Giáo hoàng mới sẽ mặc lễ phục trắng được chuẩn bị theo ba kích cỡ và ngồi trên ngai vàng trong Nhà nguyện Sistine để tiếp các hồng y khác, những người tỏ lòng tôn kính và tuyên thệ vâng phục.

Thế giới sẽ biết rằng một giáo hoàng đã được bầu khi một viên chức đốt các lá phiếu giấy bằng hóa chất đặc biệt để tạo ra khói trắng bốc ra từ ống khói của nhà nguyện. Khói đen báo hiệu một cuộc bỏ phiếu không có kết quả.

Vị cử tri cao cấp nhất trong số các hồng y phó tế, hiện là Hồng y người Pháp Dominique Mamberti, sẽ bước lên ban công trung tâm của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô để tuyên bố với đám đông tại quảng trường bằng tiếng Latin: “Habemus Papam” (Chúng ta đã có một Giáo hoàng).

Sau đó, Giáo hoàng mới sẽ xuất hiện và ban phước lành lần đầu tiên cho đám đông trên cương vị chính thức.

From: NguyenNThu


 

 Ngài đã sống lại, và thực sự đang sống!- Cha Vuong

 Alleluia! Alleluia! Mừng Chúa Phục Sinh đến bạn gia đình nhé. 

CN Phục Sinh: 20/4/2025

TIN MỪNG: Bấy giờ, người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. (Ga 20:8)

SUY NIỆM: Tin Mừng Thánh Gioan diễn tả việc hai môn đệ chạy đến mộ để kiểm chứng những gì họ đã nghe mấy người phụ nữ kể lại. Các bà này đã nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu”. Các bà bàng hoàng và lo sợ vì mất Chúa, và các bà cảm thấy đau xót về điều đó. Hai môn đệ là Phêrô và Gioan đã vội vàng chạy đến xem và họ thấy ngôi mộ trống. Khác với mấy người phụ nữ, hai ông không lo sợ bàng hoàng, mà tin vào sự phục sinh của Chúa, vì Người đã tiên báo với các ông điều này. Nếu như nấm huyệt vẫn được đậy kín, thì Chúa Giêsu cũng chỉ như một vĩ nhân, khi còn sống thì rao giảng những điều uyên bác cao siêu, nhưng khi chết thì cũng giống như bao người khác. Ngôi mộ trống khẳng định một điều: Chúa Giêsu không còn ở đây. Người đã sống lại! Người không còn bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Người không bị giam cầm bởi sự chết cũng như bởi nấm mộ. Sự phục sinh của Chúa mang đến cho bạn 3 điều: 

(1) niềm hy vọng vào quyền năng và sức mạnh của Chúa, Ngài đã đánh bại sự chết, cái chết không làm chủ được Ngài được nữa

 (2) cuộc sống mới (x 2 Cr 5:17), 

(3) sự sống vĩnh cửu cho những ai yêu mến Ngài.

Đây là niềm vui và an ủi của  Mầu nhiệm lễ Phục sinh mà bạn được thông phần vào sự Phục sinh của Ngài! Ngài đã sống lại, và thực sự đang sống!

LẮNG NGHE: Cho nên, phàm ai ở trong Đức Ki-tô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi. (2 Cr 5:17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, xin giúp con biết hướng tâm hồn lên cao để con thấy Chúa đang đồng hành với con và dẫn con đến một một cuộc sống tươi sáng và huy hoàng hơn.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Tin Kính 

From: Do Dzung

*********************

REO VANG MỪNG CHÚA PHỤC SINH – Khắc Thiệu 

BA NỖI ĐAU KHỔ – Lm. Mark Link, S.J. 

Lm. Mark Link, S.J. 

Chủ đề: “Chúa Giêsu đã chịu đau khổ trong ba phương cách như chúng ta chịu về tinh thần, thể xác và tâm linh”

Trong thời thế chiến II, linh mục Titus Brandsma làm viện trưởng một đại học tại Hòa Lan.  Người bị Đức Quốc Xã đem về trại tập trung ở Dachau.  Nơi đây, người bị biệt giam trong một chiếc cũi nhốt chó cũ kỹ.  Bọn lính gác mua vui bằng cách bắt người phải sủa lên như chó mỗi lần chúng đi ngang qua.  Cuối cùng người bị chết vì bị tra tấn.  Bọn lính kia đâu có ngờ rằng ngay giữa cơn thử thách, vị linh mục ấy vẫn tiếp tục viết nhật ký giữa những dòng chữ in trong quyển sách kinh cũ của người.  Người kể lại rằng, sở dĩ người có thể chịu đựng được nỗi đau đớn là vì người biết rằng Chúa Giêsu cũng đã từng chịu đau khổ như thế.  Trong một bài thơ ngỏ gởi Chúa Giêsu, người viết: “Sẽ không có đau đớn nào làm con gục ngã, bởi con luôn nhìn thấy đôi mắt đầy khổ đau của Chúa.  Con đường cô độc mà Chúa từng đi qua đã giúp con chịu đựng nỗi cay đắng một cách khôn ngoan.  Tình yêu của Chúa đã biến màn đêm tăm tối trong con thành nguồn sáng rực rỡ.  Lạy Chúa Giêsu, xin ở lại với con, chỉ cần ở lại thôi.  Con sẽ chẳng còn sợ hãi chi nếu khi đưa đôi tay ra con cảm thấy Chúa đang ở bên con.” (Kilian Healy, Walking with God).

 Sự thống khổ của Chúa Giêsu được chúng ta đặc biệt nhắc lại trong ngày hôm nay đã từng là nguồn sức mạnh cho rất nhiều người trong lịch sử.  Giống như linh mục Brandsma, những người này sẽ không bao giờ chịu đựng nổi sự đau đớn nếu họ không biết rằng Chúa Giêsu đã từng chịu đau khổ như vậy, và Người hiện đang nâng đỡ họ trong giây phút thử thách.

 Khi nhìn lại sự thống khổ của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Người đã chịu đau khổ dưới cả ba hình thức khác nhau.

 Trước hết là đau khổ tinh thần.  Chúa Giêsu chịu đau khổ này trong vườn Cây Dầu, Người đổ mồ hôi máu khi nghĩ đến thử thách trước mặt, đồng thời Người rất đau khổ khi các môn đệ phản bội và bỏ Người chạy trốn hết.  Tất cả chúng ta đều cảm nghiệm sự đau khổ tinh thần này, tỉ như một cậu bé 15 tuổi bỏ nhà ra đi đã mô tả sự đau khổ tinh thần của mình trong cuộc phỏng vấn của tạp chí Parade như sau: “Tôi không bao giờ thực sự có được một mái nhà, tôi không bao giờ được thực sự nhìn thấy người cha của tôi.  Tôi luôn cô độc… Tôi cảm thấy có gì sái quấy nơi tôi.  Chắc là tôi tệ lắm.  Tôi cảm thấy mình không hiện hữu, vì chẳng có ai yêu mến tôi.”  Trong lúc đau khổ tinh thần như thế, chúng ta chỉ còn một nguồn an ủi duy nhất, đó là biết rằng chính Chúa Giêsu từng bị đau khổ như thế trước chúng ta, và Người hiện đang nâng đỡ chúng ta trong khi bị thử thách.

 Tiếp đến, Chúa Giêsu từng bị đau khổ nơi thể xác.  Người bị đánh đập tàn bạo, bị đội mão gai và bị đóng đinh vào thập giá.  Và chúng ta, ít nhiều cũng đã từng chịu những đau đớn phần xác.  Đây là loại đau đớn mà bác sĩ Sheila Cassidy đã phải gánh chịu khi ở Chile vào đầu thập niên 1970.  Cô là một bác sĩ y khoa và đã phạm một lỗi lầm tai hại là đã chữa lành vết thương cho một phần tử chống đối chính phủ.  Cảnh sát đã bắt cô và tra tấn buộc cô phải khai tên những người dính líu đến phong trào chống đối.

 Giống như Chúa Giêsu bị treo trên thập giá, cô cũng bị căng thây trong bốn ngày.  Nhớ về sự thử thách ấy cô viết:

 Tôi cảm nghiệm được một cách mơ hồ về sự đau đớn mà Chúa Giêsu từng chịu.  Trong suốt cơn thử thách, tôi luôn luôn cảm thấy Người ở đó, và tôi nài xin Người giúp tôi được kiên vững. 

Cũng thế, trong giờ phút chịu đau đớn thể xác, chúng ta thường chỉ còn nguồn an ủi là biết rằng Chúa Giêsu đã từng chịu đau đớn như thế, và Người hiện đang nâng đỡ chúng ta trong cơn thử thách này.

 Và cuối cùng, chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu cũng từng chịu đau đớn về tâm linh.  Tỉ như, khi Người bị treo bơ vơ trên thập giá, dường như chính Chúa Cha cũng đã ruồng bỏ Người.  Chúa Giêsu cầu xin: “Lạy Chúa con, lạy Chúa con, sao Ngài lại bỏ rơi con” (TV 22:1).  Tất cả chúng ta cũng từng gặp đau khổ tâm linh giống như Người.  Nhiều lần, chúng ta cảm thấy như bị Chúa bỏ rơi.  Đây là sự đau đớn mà Walter Ciszel, vị linh mục người Hoa Kỳ đã từng chịu khi bị cầm tù ở Nga suốt 23 năm.  Có lúc, tâm linh người bị suy sụp đến mức gần như tuyệt vọng.  Nhưng thay vì đầu hàng, người lại biết noi gương Chúa Giêsu trên thập giá, hướng về Thiên Chúa Cha trong cơn thử thách.  Cha Walter Ciszel viết:

 Tôi thưa với Chúa rằng, ‘hiện giờ mọi khả năng của tôi đều cạn kiệt và chỉ còn Ngài là nguồn hy vọng duy nhất của con’…  Tôi chỉ có thể mô tả lại cảm nghiệm này giống như một sự ‘phó mặc’”.

Vào lúc bấy giờ, lần đầu tiên, cha Ciszel hiểu được những lời cuối cùng trên thập giá của Chúa Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc. 23:46).  Về sau, cha Ciszel nói rằng chính quyết định phó thác ấy đã giúp người kiên định và sống sót.

 Như thế, Chúa Giêsu đã từng chịu cả ba sự đau đớn mà con người có thể gặp phải.  Người đau đớn tinh thần vì bị các môn đệ phản bội.  Người đau đớn thể xác vì bị tra tấn, và sau cùng Người đau đớn tâm linh khi cảm thấy bị Chúa Cha bỏ rơi.  Đây chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu trao lại cho chúng ta, để khi gặp bất cứ đau khổ nào, chúng ta cũng biết hướng về Chúa Giêsu.  Người hiểu được sự đau khổ của chúng ta và sẵn sàng nâng đỡ chúng ta.  Từ đó, chúng ta hãy trở lại câu chuyện mở đầu nói về Cha Brandsma.  Khi gặp đau đớn dưới bất cứ hình thức nào, không có gì tốt hơn là chúng ta hãy lập lại những lời mà Cha Brandsma đã cầu nguyện với Chúa Giêsu: “Sẽ không có đau đớn nào làm con gục ngã, bởi con luôn nhìn thấy đôi mắt đầy khổ đau của Chúa.  Con đường cô độc mà Chúa từng đi qua đã giúp con chịu đựng nỗi cay đắng một cách khôn ngoan . Tình yêu của Chúa đã biến màn đêm tăm tối trong con thành nguồn sáng rực rỡ.  Lạy Chúa Giêsu, xin ở lại với con, chỉ cần ở lại thôi.  Con sẽ chẳng còn sợ hãi chi nếu khi đưa đôi tay ra con cảm thấy Chúa đang ở bên con.”

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim 


 

Đến một độ tuổi nhất định, ta mới hiểu rằng…

Huỳnh Thu Thủy

Đến một độ tuổi nhất định, ta mới hiểu rằng…

Sự giàu có lớn nhất không phải là tiền bạc, mà là sức khỏe và thời gian. Kiếm được bao nhiêu cũng vô nghĩa, nếu đến cuối cùng phải dùng nó để mua lại từng hơi thở.

Tình cảm chân thành không nằm ở số người vây quanh, mà ở ai còn ở lại khi ta chẳng còn gì. Bạn bè có thể đông, nhưng tri kỷ chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Quần áo hàng hiệu, xe sang cũng chỉ là vỏ bọc bên ngoài, còn bên trong tâm hồn, nếu không an nhiên, thì vẫn chỉ là kẻ lạc lối trong phù hoa.

Những gì ta theo đuổi cả đời đôi khi không đáng giá bằng một giấc ngủ ngon, một bữa cơm ấm áp bên người thân.

Cuộc sống này không cần phải hơn thua với ai, chỉ cần mỗi ngày trôi qua đều nhẹ nhàng, an yên. Vì đến cuối cùng, thứ đáng giá nhất không phải là ta có gì, mà là ta đã sống ra sao.

1 chú chó chờ đợi gia đình mình tại cây xăng cũ suốt 4 năm..

1 chú chó chờ đợi gia đình mình tại cây xăng cũ suốt 4 năm – và một buổi sáng nọ – phép màu xảy ra ….

Giữa một cây xăng cũ kỹ, phủ đầy bụi thời gian trên tuyến quốc lộ vắng bóng người, có một chú chó đã nằm chờ suốt bốn năm trời. Ngày nắng cháy da, nó nằm co mình dưới bóng cây bơm xăng số ba. Ngày mưa tầm tã, nó vẫn lặng lẽ chờ… Một người. Một gia đình. Một ký ức mà không ai xung quanh còn nhớ rõ – ngoại trừ nó.

Không ai biết vì sao nó ở đó. Không ai hiểu vì sao nó chẳng chịu rời đi. Nhưng rồi, vào một buổi sáng rất bình thường… điều kỳ diệu đã xảy ra.

Trên một đoạn quốc lộ ít người qua lại, nằm giữa hai thị trấn nhỏ miền Trung, có một cây xăng cũ, gỉ sét và đã bị bỏ hoang suốt nhiều năm. Bên dưới mái che đã mục nát, giữa cái nắng cháy da và mưa gió tơi bời, người ta thường thấy một chú chó màu vàng nhạt nằm cuộn mình bên trạm bơm xăng số ba.

Không ai biết tên nó là gì. Dân trong vùng gọi nó là Mực, vì bộ lông có mảng đen loang lổ như mực tàu. Mực không hung dữ, nhưng cũng chẳng thân thiện. Nó không sủa, không đuổi theo  xe, không chạy tới khi ai gọi. Nó chỉ lặng lẽ… chờ đợi.

Người dân quanh đó đồn rằng bốn năm trước, có một gia đình dừng lại cây xăng này. Họ đi xe hơi – loại xe gia đình màu bạc. Trong xe có đôi vợ chồng trẻ và một đứa bé trai tầm 5 tuổi. Mực khi ấy là chú chó vui vẻ, nhanh nhẹn, thường chạy quanh xe trong lúc người cha đổ xăng. Nhưng rồi, vì một lý do nào đó – có thể là tai nạn, hoặc một sự hiểu nhầm – họ rời đi… và để quên Mực lại.

Từ hôm ấy, Mực không đi đâu nữa. Nó ở lại, mỗi ngày nhìn về hướng quốc lộ. Mưa cũng như nắng. Người ta đem cho nó ít cơm nguội, có người mang nước sạch. Nhưng Mực chẳng bao giờ đi theo ai, chẳng chịu rời khỏi mảnh đất hoang tàn ấy.

Bốn năm là quãng thời gian dài. Trên người Mực, những vết thương cũ và mới giao thoa. Có lần nó bị xe tông, một chân sau đi cà nhắc. Có lần bị đàn chó hoang rượt đuổi. Nhưng điều kỳ lạ là Mực vẫn sống sót, như có điều gì đó níu giữ sinh mệnh của nó nơi đây.

Thỉnh thoảng, mỗi khi thấy một chiếc xe màu bạc chạy qua, nó nhỏm dậy, hai tai vểnh lên, mắt sáng rực – nhưng rồi ánh sáng ấy tắt lịm khi xe đi khuất.

Người dân quanh đó ai cũng xót. Có người từng cố bế nó đi, mang về nuôi. Nhưng Mực giãy giụa đến mức bị thương, rồi lại quay về cây xăng cũ ấy, bằng mọi giá.

Một ngày mùa đông, khi sương mù giăng kín con đường, một người phụ nữ mặc áo khoác dài, tóc buộc gọn sau lưng, dừng lại trước cây xăng. Cô tên là Hà, đến từ thành phố. Hà là một phóng viên tự do, nghe câu chuyện về “chú chó chờ chủ suốt bốn năm” qua mạng xã hội và quyết định đi điều tra.

Ban đầu, Mực lẩn tránh cô. Nhưng Hà có kiên nhẫn. Cô đến mỗi sáng, ngồi cách xa, mang đồ ăn đặt trước mặt Mực, rồi im lặng. Sau một tuần, Mực bắt đầu cho cô đến gần. Sau hai tuần, nó để cô chạm nhẹ lên đầu mình.

Hà bắt đầu ghi chép. Cô phỏng vấn người dân, truy vết những gì từng xảy ra. Cô tìm được người chủ trạm xăng cũ, ông lão gần 70, kể lại rằng:

“Cái hôm đó, thằng bé cứ khóc mãi vì quên con chó. Nhưng tụi nó đang gấp, hình như chở ai đi cấp cứu. Tôi cũng không biết sau đó ra sao. Mà rồi chỗ này đóng cửa, tôi về quê, mãi gần đây mới nghe lại câu chuyện.”

Hà không dừng lại ở đó. Cô xin được đoạn camera cũ từ cửa hàng cách đó 3 km – nơi chiếc  xe ấy từng dừng lại sau cây xăng. Hình ảnh mờ, nhưng cô phóng to được biển số. Với sự giúp đỡ của vài mối quan hệ, Hà lần ra danh tính chủ xe – một người đàn ông tên Trịnh Văn An, từng sống tại Huế, nay đã chuyển vào Sài Gòn.

Hà tìm đến Sài Gòn. Cô đến địa chỉ trong hồ sơ, gõ cửa một căn nhà nhỏ trong hẻm. Mở cửa là một cậu bé chừng 9 tuổi. Mắt cậu mở to khi Hà nhắc đến “cây xăng” và “chó tên Mực”.

Mẹ cậu – chị Trang – từ sau bước ra. Khi Hà đưa ra bức ảnh Mực đang nằm trước cây xăng, chị Trang bưng miệng bật khóc.

“Chồng tôi mất trong tai nạn hôm đó. Chúng tôi đang đưa anh đi cấp cứu từ Đà Nẵng về. Mọi thứ hỗn loạn, xe vội vã… Tôi không biết… tôi không biết là nó rơi khỏi xe…”

Cậu bé – tên là Nam – run run đưa tay cầm ảnh.

“Mẹ, đó là Mực. Mực chờ tụi mình thật sao? Bốn năm ạ?”

Một tuần sau, vào một buổi sáng bình thường như mọi ngày, Mực vẫn nằm đó. Trời se lạnh. Gió thổi qua mái che kêu lạch cạch.

Bỗng… từ xa, tiếng động cơ quen thuộc. Một chiếc xe bảy chỗ màu bạc dừng lại.

Cánh cửa mở ra. Một đứa bé trai bước xuống, trên tay cầm quả bóng nhỏ màu đỏ – món đồ chơi năm xưa Mực rất thích.

“Mựcccc!!!” – cậu bé gọi lớn.

Mực giật mình. Đầu nó quay phắt lại. Ánh mắt nó dại đi, rồi mở to. Một tiếng rên khẽ phát ra từ cổ họng khàn khàn.

“Mựccc, là con Nam đây!”

Chú chó bật dậy, cà nhắc chạy về phía cậu bé. Không còn hoài nghi, không còn sợ hãi – chỉ có mừng rỡ, vỡ òa. Mực nhảy vào lòng Nam, liếm tay, vẫy đuôi đến mức mất thăng bằng.

Người phụ nữ bước xuống, đôi mắt đỏ hoe. Cô ngồi thụp xuống ôm cả hai – con trai và chú chó – vào lòng.

Bầu trời sáng lên, dù vẫn mây mù. Người dân quanh đó chạy tới, chứng kiến khoảnh khắc kỳ diệu ấy – một phép màu giữa đời thực.

Hà đứng lặng, ghi lại khoảnh khắc ấy bằng chiếc máy ảnh cũ. Câu chuyện của Mực trở thành tiêu đề chính trên nhiều trang báo lớn trong nước. Một chú chó trung thành, chờ đợi giữa hoang tàn, cuối cùng cũng được đoàn tụ.

Mực giờ đã có ngôi nhà mới – ở Sài Gòn, với Nam và mẹ. Dù tuổi đã cao, sức khỏe yếu dần, nhưng trong ánh mắt Mực không còn buồn nữa.

Mỗi buổi chiều, Nam thường ôm Mực ra hiên nhà, kể chuyện ở trường. Còn Mực, chỉ cần thế – là đủ để sống thêm một đời.

Cuộc đời có thể tàn nhẫn, thời gian có thể lạnh lùng. Nhưng lòng trung thành – như của Mực – chính là thứ cảm động và đẹp đẽ nhất. Và đôi khi, chỉ cần một chút hy vọng, một chút tình thương – phép màu sẽ xảy ra.


 

TUỔI GIÀ, KHI THIẾU MỘT NGƯỜI BẠN ĐỜI

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

Trong cuộc sống, nhất là khi về già, một trong những điều quan trọng nhất, đó là có cho mình một người bạn đời. Nếu người ta không may, vì mộ lý do nào đó, ví dụ như ly hôn, hay một trong hai người kia ra đi quá sớm, mà phải sống cuộc đời còn lại một mình đơn lẻ, thì quả là một điều bất hạnh.

Bởi vì, người bạn đời là một trong những yếu tố quan trọng, để quyết định cho bạn có một cuộc sống trong quãng thời gian còn lại, hạnh phúc và viên mãn kể cả khi bạn nghèo, thậm chí nó còn giúp cho bạn kéo dài thêm tuổi thọ.

Thật vậy, các bạn thử nghĩ xem, khi con người ta bắt đầu bước sang cái tuổi xế chiều, với những năm tháng của cuộc đời, mà phải sống trong cô đơn và im lặng, thì sẽ buồn như thế nào.

Đến bữa ngồi ăn một mình, và tối đến đi ngủ cũng một mình, đêm đêm khi tỉnh giấc, nhìn sang bên cạnh cũng chẳng có ai, sáng sáng tỉnh dậy, cũng vẫn chỉ một mình…thì đó là một điều đáng sợ và buồn tủi.

Cuộc đời này, người sống bên bạn lâu nhất, không phải là bố mẹ và con cái, cũng không phải anh em hay bạn bè, càng không phải là đồng nghiệp hay người yêu, mà chính là người bạn đời. Đấy mới thực sự là người duy nhất chung sống bên bạn suốt đời.

Bạn bè, dù có chân thành đến mấy, cũng không thể ở bên bạn mãi mãi. Bố mẹ, dù có tốt đến mấy, cũng không thể sống với bạn cả đời. Con cái, có thân thương là vậy, cũng không thể sống mãi bên cạnh bạn, rồi cũng có lúc chúng vỗ cánh bay đi, để có một cuộc sống riêng.

Anh em, dù có là máu mủ ruột thịt thân tình, cũng không thể ở bên bạn mỗi ngày, cũng không thể chăm sóc bạn những khi “Tối lửa tắt đèn”. Chỉ có vợ chồng, người mà ta vẫn thường gọi là bạn đời, mới có thể chung sống và bên bạn lúc sớm chiều.

Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi khi nhìn thấy những cụ ông, cụ bà với mái tóc bạc phơ, dắt tay nhau từng bước đi bộ trên đường, tôi rất ngưỡng mộ.

Lúc đó, tôi mới hiểu được rằng, con người ta có được những khoảnh khắc hạnh phúc như vậy, họ đã phải cùng nhau trải qua không biết bao nhiêu những sóng gió gian truân của cuộc đời, để rồi, họ vẫn còn ở bên nhau, tay nắm tay, và cùng nhau đi nốt quãng đời còn lại, cho đến hết cuộc đời của mình.

Đừng vì một điều gì trong cuộc sống, mà đánh mất đi người vợ hay người chồng của mình, người mà hằng ngày vẫn hết mực yêu thương mình nhất. Vì suy cho cùng, họ mới chính là người sẽ ở lại bên bạn, và sống với bạn trong cuộc đời này.

Chính vì thế, hãy thật trân trọng người bạn đời của mình, và trân trọng những gì mình đang có khi còn có thể !!!

Sưu tầm


 

 Hoa Kỳ Đe Dọa Đánh Thuế 245% Lên Hàng Trung Quốc: “Quả Bóng Ở Sân Bắc Kinh”

Ba’o Dat Viet

April 16, 2025

WASHINGTON – Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung lại nóng rực sau khi Tòa Bạch Ốc đêm 15 Tháng Tư công bố một sắc lệnh hành pháp mới từ Tổng Thống Donald Trump, trong đó cảnh báo mức thuế lên tới 245% sẽ được áp dụng với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, như một động thái đáp trả chính sách trả đũa gần đây từ Bắc Kinh.

Sắc lệnh này không chỉ khởi động cuộc điều tra an ninh quốc gia về các nguồn tài nguyên quan trọng, mà còn làm rõ lý do vì sao Trung Quốc là quốc gia duy nhất bị loại khỏi danh sách tạm hoãn áp thuế trong khi hơn 75 quốc gia khác đang tích cực đàm phán thương mại với Mỹ.

Theo Tòa Bạch Ốc, Bắc Kinh đã trả đũa bằng cách tăng thuế lên hàng hóa Mỹ đến 125%, nhằm đáp lại mức thuế 145% mà Mỹ áp đặt trước đó. Không những thế, Trung Quốc còn đình chỉ xuất khẩu một loạt tài nguyên chiến lược, bao gồm gali, germani, antimon – những nguyên liệu có vai trò sống còn trong các ngành công nghệ cao và quân sự.

Trong tuần qua, Trung Quốc tiếp tục gây sức ép bằng cách ngưng xuất khẩu kim loại đất hiếm nặng và nam châm đất hiếm, khiến các ngành công nghiệp then chốt của Mỹ như sản xuất ô tô, hàng không vũ trụ, chip bán dẫn và quốc phòng đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng.

“Trung Quốc hiện phải đối mặt với mức thuế lên tới 245%, điều chưa từng có tiền lệ trong lịch sử thương mại giữa hai nước,” tuyên bố từ Tòa Bạch Ốc cho biết. Dù vậy, chi tiết cụ thể về loại hàng hóa bị áp mức thuế này vẫn chưa được công bố.

Trong khi các nước khác phản ứng với chiến lược thương mại “Nước Mỹ trên hết” bằng cách tìm kiếm các thỏa thuận song phương với Washington, thì Bắc Kinh lại chọn cách im lặng trước lời đề nghị đàm phán từ phía Mỹ và tiếp tục gia tăng sức ép.

Về phía Trung Quốc, chính quyền Bắc Kinh lên tiếng kêu gọi Mỹ “ngừng gây áp lực” nếu thực sự muốn đối thoại, đồng thời tuyên bố sẵn sàng đương đầu với bất kỳ cuộc chiến thương mại nào. “Chúng tôi không sợ,” tuyên bố từ Bộ Thương Mại Trung Quốc khẳng định.

Tuy nhiên, phía Mỹ lại cho rằng mọi quyết định giờ đây phụ thuộc vào Trung Quốc. Thư ký báo chí Tòa Bạch Ốc Karoline Leavitt tuyên bố:

“Quả bóng đang ở trong sân Trung Quốc. Họ phải đi bước trước nếu muốn có thỏa thuận. Chúng ta không cần họ, họ cần chúng ta.”

Với tuyên bố cứng rắn này, căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới tiếp tục leo thang, đặt ra những hệ lụy tiềm ẩn đối với chuỗi cung ứng toàn cầu, thị trường tài chính, và các ngành công nghiệp chiến lược từ Mỹ đến châu Á. Câu hỏi lúc này là: Liệu Bắc Kinh sẽ lùi bước, hay sẵn sàng lao vào cuộc đối đầu thuế quan tốn kém không có hồi kết?


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một tỉ người Tầu

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến 

Ba’o Dan Chim Viet

15/04/2025

Gần hai năm trước, tôi có một bài báo ngắn được phổ biến trên trang Đàn Chim Việt. Mãi đến cuối tháng rồi, vẫn còn có đôi vị “độc giả” gửi lời bình luận. Xin đơn cử một: “Ông Nội – says (20/09/2014 at 15:12): Nơi đây – Có được mấy con vện vàng 3 khoang, sủa theo bồi bút Tàu gian họ Tưởng này?”

Đây là lần gần nhất, chứ không phải là duy nhất – kể từ khi ông Hồ Quang Lợi, Trưởng Ban Tuyên Giáo Thành Ủy Hà Nội, tổ chức nhóm chuyên gia đấu tranh tham gia bút chiến trên internet – tôi bị qúi vị “chuyên gia đấu tranh” buộc tội là… “Tàu gian!”

Sự cáo buộc này, nói nào ngay, không hoàn toàn vô cớ vì tôi nói được tiếng Hoa. Chỉ tiếc là vốn liếng Hoa Ngữ của tôi vô cùng giới hạn, vỏn vẹn chỉ có mỗi một câu thôi: “Bỉ ngộ dách mánh mìn báo.”

Đó cũng là câu ngoại ngữ đầu đời tôi học được từ một phụ nữ Trung Hoa. Có hôm, bà rụt rè đến xin mẹ tôi cho được để nhờ trước cửa nhà một cái thúng bán bánh mì vào buổi sáng.

Bên trong cái thúng này là một lò than be bé, với xoong xí mại đặt bên trên, cùng với vài chục ổ bánh mì nho nhỏ. Bánh mì xí mại giá hai đồng. Một đồng chỉ có bánh mì không rưới thêm nước thịt, kèm mấy cọng dưa chua làm bằng củ cải trắng và cà rốt đỏ au.

Bà cụ không rách rưới nhưng trông rất lôi thôi và tàn tạ: bộ quần áo xẩm lùi xùi, cái nón cói cong vành (hẳn là phải mang từ cố quốc) bao quanh một khuôn mặt già nua, buồn bã và cam chịu.

Dù mỗi sáng tôi chỉ mua một đồng bánh mì thôi (dách mánh mìn báo) nhưng luôn luôn được bà ưu ái cho (thêm) một viên xí mại, kèm theo một nụ cười hiền… miễn phí.

Thế là mỗi sáng tôi có dư ra được một đồng. Đồng bạc còn lại, tôi mang “nộp” ngay cho bà cai trường – người có một mẹt hàng khiến cho tất cả những đứa trẻ con (con nhà nghèo) như tôi đều phải thèm thuồng: me ngào, cóc và xoài xanh ngâm nước đường, mức dừa, kẹo cau, đậu phụng, bánh qui, quả mác mác, quả sim hay say chín…

Tôi suýt chết cái tên là “Tiến bánh mì xí mại” thì bà cụ đột ngột qua đời. Từ đó, thỉnh thoảng, trong xóm vẫn còn có tiếng rao (“loong sữa pò, de chai, pao pán hông”) của cụ ông nhưng nghe yếu hẳn ớt và buồn bã hơn nhiều.

Hình ảnh những người khách trú trong trí tưởng ấu thời (xa xôi) của tôi, xem ra, hoàn toàn khác xa với của qúi vị “thương lái” Trung Quốc ngày nay – ở Việt Nam:

Từ việc mua đuôi trâu, móng trâu, rễ hồi, ốc bươu vàng tới việc sẵn sàng thu mua phế liệu, đỉa, cá cơm với giá cực cao – những hành động tưởng như vô thưởng vô phạt nhưng lại ẩn chứa những dụng ý sâu xa của lái thương Trung Quốc…

Thâm độc hơn, chúng mở chiến dịch thu mua dây đồng vụn với giá cao “trên trời”, đẩy từng đoàn “đồng tặc” lùng sục chặt trộm dây đồng từ các đường điện cao thế, băm nát mạng lưới điện quốc gia. Sau đó là thu mua cáp quang phế liệu với mức giá trên trời.

Đến khi dân nghèo lặn xuống biển chặt phá mạng cáp quang viễn thông, thì dân chúng mới “ngã ngửa” ra mục đích sâu xa của chúng là phá hoại con đường huyết mạch thông tin của Việt Nam…

Tôi chưa bao giờ có dịp gặp gỡ những vị “thương lái TQ” có ý đồ “thâm độc” và “phá hoại” như thế nhưng lại có dịp tiếp xúc (qua sách vở) với nhiều người Tầu khác: Lão Tử, Khổng Tử, Lý Bạch, Thôi Hiệu, Mạnh Hạo Nhiên, Kim Thánh Thán, Lỗ Tấn, Ba Kim, Kim Dung, Lâm Ngữ Đường, Mặc Ngôn, Trương Hiền Lượng, Lưu Hiểu Ba, Dương Kế Thằng…

Tam Giáo (Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo) ở Việt Nam có đồng quy hay không là điều mà tôi hoàn toàn không “bảo đảm,” và cũng không dám lạm bàn nhưng tôi biết chắc chắn là cá nhân mình – đôi lúc – có hơi bị quân tử Tầu (chút xíu) là do ảnh hưởng của Khổng Phu Tử và… Kim Dung!

Cũng không ít lúc tôi trở nên… “thoát tục” (và văng tục: “Đ…má, tao đéo care cái con cặc gì ráo trọi”). Thái độ sống “vô vi” này, không chừng, tôi bị lây từ Lão Trang. Chắc là hai thằng chả chớ còn ai vô đây nữa?

Bởi vậy, thỉnh thoảng, quí vị dư luận viên vẫn gọi tôi là “Tầu Tưởng” (tưởng) cũng không trật chi nhiều – dù tôi chưa đến Trung Hoa bao giờ và vẫn ao ước có dịp được sống ở đất nước này (vài ngày) cho biết.

May mắn sao, tháng rồi, tôi vớ được cuốn Đèn Cù của ông Trần Đĩnh. Tác giả có cơ hội đi “du học” ở tuốt bên Tầu, nhiều năm, và chuyện ông kể về dân tộc này cứ khiến tôi cứ suy nghĩ mãi:

Bữa ấy tôi đang đọc báo chữ to gần Da Xan Ting – Đại thiện đình (Nhà ăn lớn). Một sinh viên Trung Quốc đến bên tôi. Trắng, đẹp, kính trắng, mắt hiền.

– Xin lỗi, anh là lưu học sinh Việt Nam?

– Vâng, còn anh ala Thượng Hải? (ala tiếng Thượng Hải là chúng ta, chúng tôi).

– Tôi là… (anh nói tên nhưng tôi không nhớ), muốn nói chuyện một ít với anh, có được không?

Anh nhờ tôi chuyển cho sứ quán Việt Nam một thư đề nghị Bắc Việt Nam hãy tôn trọng hiệp định Genève, đình chỉ đưa quân và vũ khí vào trong Nam cũng như rút lực lượng đã phi pháp cài lại từ 1954.

– Làm gì có chuyện ấy nhỉ?

Hoàn toàn bị xúc phạm, tôi vừa ngớ ra ngạc nhiên vừa khó chịu. Anh đốt đảng anh thôi chứ lại định đốt cả đảng tôi nữa ư?

– Có, đài nước ngoài thường xuyên lên án, tố cáo Bắc Việt Nam.

– Sao anh tin những thứ ấy?

– Đọc các đại tự báo đây anh có tin không?

Tôi quay đi và nói:

– Tôi không chuyển thư anh được vì bận và vì ý kiến của anh thiếu cơ sở.

Nhưng từ hôm ấy, tôi bỗng cứ lởn vởn nghĩ ta có vi phạm hiệp định Genève thật không? Chả lẽ ta chính nghĩa lại bội ước? Chả lẽ bản chất ta hòa bình lại thích chiến tranh?

Lúc ấy thật tình tôi không biết đảng có phương án kế hoạch cài cán bộ và quân lính ở lại miền Nam cũng như tiến hành nghiên cứu ngay từ đầu hình thế bờ biển để sau này lập “đội thuyền không số” có cơ sở ở huyện Thuỷ Nguyên. v.v…

Tuần sau tình cờ tôi gặp anh “Thượng Hải” ở gần Đại lễ đường. Anh đi với một cô gái trăm phần trăm Shang hai gu niang, Thượng Hải cô nương. Cô gái nhìn tôi như có ý hỏi anh bạn đi bên: “Cha từ chối đưa thư đấy phải không?”

Không nghe thấy nhưng tôi cáu – đinh ninh cô gái nói nei jia huo, thằng cha kia. Cùng lúc thấy cô gái rất đẹp. Picasso có lẽ lấy mẫu kiểu tóc đuôi ngựa ở cô gái thanh tú này.

Chẳng hiểu sao tôi rẽ ngoắt luôn. Tức. Không, có cả ghen vớ ghen vẩn.

Khi chống phái hữu, nhiều giáo sư, sinh viên bị đưa đi, tôi có ý tìm anh “Thượng Hải”. Không thấy nữa. Nghĩ cô gái Thượng Hải nếu không xuống nông thôn lao động cải tạo – để bị người ta cưỡng hiếp, chửa hoang và treo cổ chết – thì chắc phải bỏ học và bỏ cái đuôi ngựa “văn hoá đồi truỵ phương Tây”, tôi bỗng bồn chồn cùng ân hận lạ lùng.

Tôi chưa hiểu với tôi những ông thày sống động đầu tiên chỉ ra con đường và cách thức đấu tranh cho dân chủ chính là làn sóng “phái hữu” trong đó có anh sinh viên cùng cô bạn gái xinh đẹp của anh. Sau này trong gian nan phải chịu đựng tôi mới nhận ra hình ảnh của họ càng đậm nét trong tôi.

Nhưng tại sao anh sinh viên đeo kính trắng lại chọn tôi để nhờ chuyển thư phản đối ta “phạm pháp” đưa súng ống, binh lính vào Nam? Anh đọc thấy gì ở trên mặt tôi. Một hừng sáng nào đó ư? Một kiểu Nàng Kiều với Đạm Tiên ngày Thanh Minh.

Tôi còn một bạn học, người Nam Kinh. Lúc “phái hữu” lên tiếng, anh từng bảo tôi:

– Chắc cậu cũng biết truyện “cô gái quàng khăn đỏ?” Chúng ta đấy. Cũng quàng khăn đỏ cả mà. Hỏi bà ơi, tại sao tai bà to thế? Bà nói: Để bà nghe thấu bọn phản động chúng nó thì thào. Thế sao mắt bà sáng thế? À, sáng mới thấy được chỗ chúng nó ẩn nấp. Còn răng? Sao răng bà to thế? Răng bà to để ăn thịt những đứa khỏe thắc mắc về bà… như cháu. Ăn luôn.

Tôi hỏi anh:

– Người Trung Quốc nghĩ như cậu có nhiều không?

– Zen ma shuo ya? Nói sao nhỉ? Một nửa đi. Nhưng nửa kia có loa ở mồm và có súng trên tay.  (Trần Đĩnh. Đèn Cù, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Đó là “một nửa nước Trung Hoa” khi mới rơi vào tay đám cộng sản Tầu. Cho tới khi xẩy ra biến cố Thiên An Môn thì tôi tin rằng không phải là một nửa mà có đến ba phần tư dân số nước này đã trở nên “phản động.”

Đến sáng nay, 30 tháng 9 năm 2014, South China Morning Post đi tin:

“Hàng chục ngàn người đang chiếm lĩnh đường phố, đòi hỏi Bắc Kinh phải cải cách dân chủ.” Bây giờ thì tôi tin rằng bốn phần năm người Tầu cũng đang muốn thoát Trung (cộng) y như tuyệt đại đa số dân Việt hiện nay.

Hồng Kông 2014. Ảnh: Dickson Lee. Nguồn: South China Morning Post

Nói cách khác là dân Việt có một tỉ người Tầu đồng cảnh nhưng dường như không mấy ai để ý đến điều này – trừ nhà báo Lê Phú Khải. Ông nói chắc (như bắp) thế này đây: “Bắc Kinh sợ nhất cái gì?…Sợ nhất Việt Nam dân chủ. Vì, Bắc Kinh giống hệt Hà Nội: Đang ngồi trên kho thuốc nổ.”

Chế độ đảng trị độc tài ở Trung Quốc đã tạo ra những mâu thuẫn đối kháng trong lòng nó và không có cách nào hóa giải được…

Một Việt Nam cải cách chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền lúc này là tiếng sét ngang tai đối với độc tài đảng trị ở TQ. Việt Nam dân chủ là tiếng gọi mênh mông được vẫy chào từ hàng triệu trái tim TQ bị đè nén bởi bạo quyền bấy lâu nay.

Chữ “triệu” trong đoạn văn thượng dẫn được cho in đậm vì tôi tin rằng ông Lê Phú Khải viết lộn nên xin phép được viết lại: “Việt Nam dân chủ là tiếng gọi mênh mông được vẫy chào từ hàng tỉ trái tim TQ bị đè nén bởi bạo quyền bấy lâu nay.”

Chúng ta nên ứng xử khôn ngoan hơn với một tỉ đồng minh (cùng khổ) đang sống kề bên


 

MỘT LẦN TẶNG, MUÔN LẦN TRAO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Này là mình Thầy!”.

“Người khôn ngoan không coi trọng món quà của người yêu cho bằng tâm tình của người tặng. Chúa Giêsu vừa là người yêu, vừa là người tặng! Độc đáo hơn, món quà Ngài tặng chính là mình Ngài. Không chỉ một lần, Ngài tặng trao mỗi ngày! Một lần tặng, muôn lần trao!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Ý nghĩa Thánh Lễ chiều Thứ Năm Tuần Thánh có thể được tóm gọn trong hai từ: “Tự Hiến!”. Vì yêu thương đến cùng các môn đệ và những ai sẽ dõi bước theo Ngài, Chúa Giêsu đã tự hiến đến ‘ba lần’ vào hai buổi chiều cuối đời; nhưng không chỉ ‘ba’, Ngài tự hiến đến ‘n’ lần, muôn lần! Bởi lẽ, mỗi ngày, trên các bàn thờ, Ngài tiếp tục tự hiến cho đến tận thế. Ngài quả là một món quà ‘một lần tặng, muôn lần trao!’.

Chính trong bữa tiệc yêu thương mà người Do Thái phải cử hành hằng năm – bài đọc một – Chúa Giêsu tự hiến khi cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Cũng trong bữa tối đó, Ngài tự hiến dưới hình thức của ăn của uống khi cầm lấy bánh rượu thiết lập Bí tích Thánh Thể – thiết lập chức Linh mục – “Hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Thầy!”, “Hãy nhận lấy mà uống, này là Máu Thầy!”. Trong thư Côrintô hôm nay, Phaolô viết, “Mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết!”.

Như vậy, khi cúi xuống rửa chân các môn đệ hay khi cầm bánh rượu là chính Thịt Máu Ngài để trao cho họ, Chúa Giêsu đã tiên liệu một món quà ít trừu tượng hơn, thiết thực hơn mà Ngài sẽ trao vào ngày hôm sau: một thân xác rách bươm đỏ một màu máu trên thập giá. Vì thế, chỉ trong hai ngày Tuần Thánh đầu tiên ấy, Ngài đã tự hiến chính mình đến ba lần. Và còn hơn thế! “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy!”; với các Linh mục của Ngài, mầu nhiệm đức tin đó còn được cử hành liên lỉ trên các bàn thờ. Qua Bí tích này, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tự hiến phục vụ lẫn nhau. Khi chúng ta phục vụ nhau, Ngài tiếp tục phục vụ mỗi người; và qua chúng ta, Ngài phục vụ những người khác trên toàn thế giới, nhất là những ai đang thiếu thốn. Bởi đó, Món Quà Giêsu không chỉ được trao một lần, ba lần, nhưng liên lỉ trao đến tận thế!

Anh Chị em,

“Này là mình Thầy!”. “Chúa Giêsu muốn ở lại với chúng ta trong Bí tích Thánh Thể và chúng ta trở thành nhà tạm của Chúa, mang Chúa theo với chúng ta. Rửa chân, cử chỉ này là điều kiện để vào Vương Quốc. Vâng, để phục vụ mọi người. Nếu tôi không để Chúa là ‘tôi tớ’ của tôi, không để Chúa rửa sạch tôi, giúp tôi lớn lên, tha thứ cho tôi, thì tôi sẽ không vào Vương Quốc. Và cả chức Linh mục nữa. Hôm nay tôi muốn gần gũi với tất cả Linh mục từ những người mới được thụ phong cho đến Giáo hoàng. Tất cả chúng ta đều là Linh mục. Chúng ta được Chúa xức dầu để cử hành Bí tích Thánh Thể, được xức dầu để phục vụ” – Phanxicô. Thánh Thể nuôi dưỡng phục vụ; phục vụ, hiện thực hoá Thánh Thể. Hãy để Thứ Năm Tuần Thánh; hãy để Thánh Thể dạy chúng ta tự hiến như Ngài mỗi ngày, chết cho mình, khiêm nhường phục vụ tha nhân và yêu như Ngài đã yêu.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, nhờ việc tham dự vào thần tính của Đấng đã đoái thương thông phần nhân tính của chúng con, ước chi Thánh Thể Chúa biến đổi con mỗi ngày nên ‘một Giêsu khác!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

***********************

THỨ NĂM TUẦN THÁNH

Phúc Âm: Ga 13, 1-15

“Ngài yêu thương họ đến cùng”.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Gio-an.

Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, con Si-môn, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ Si-môn Phê-rô, ông này thưa Người rằng: “Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?” Chúa Giê-su đáp: “Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”. Phê-rô thưa lại: “Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”. Chúa Giê-su bảo: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy”. Phê-rô liền thưa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa”. Chúa Giê-su nói: “Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu”. Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói: “Không phải tất cả các con đều sạch đâu”.

Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: “Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con”.

Ðó là lời Chúa.


 

CHỌN LỰA NGÀN VÀNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thưa Thầy, chẳng lẽ con sao?”.

“Quả là một sự dữ khi mắc đầy lầm lỗi, nhưng sẽ là một sự dữ lớn hơn khi đầy lầm lỗi mà không nhận ra!” – Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Qua Tin Mừng hôm nay, ý tưởng “một sự dữ lớn hơn” của Pascal lộ rõ nơi con người Giuđa, “Thưa Thầy, chẳng lẽ con sao?”. Giá mà Giuđa thừa nhận tội mình để ăn năn thống hối, thì quả đây là một ‘chọn lựa ngàn vàng!’.

Vậy mà đến phút này, Giuđa vẫn không nghĩ mình phản bội! Không ai biết điều gì diễn ra trong tâm trí ông lúc đó; nhưng rõ ràng, ông đã phản bội! Nhưng xem ra Giuđa không mảy may tự vấn lương tâm; có lẽ ông đã quá lún sâu trong ý định nộp Thầy nên ông phủ nhận nó, một phủ nhận chết chóc! “Phủ nhận” có nghĩa là “Tôi thậm chí không biết mình đang nói dối!”. Phải chăng vì quá tham tiền, phải chăng vì quá hụt hẫng bởi tham danh khi Thầy mình chọn con đường trị vì bằng khiêm nhu phục vụ… Vì thế, Giuđa đắm chìm trong tội và sa lầy trong đó đến nỗi không thể thừa nhận với chính mình, chứ đừng nói thừa nhận với người khác; rằng, ông đang nói dối và chuẩn bị phản Thầy.

Đây là một bài học quan trọng. Tội lỗi không bao giờ là điều thú vị khi nhìn vào nó; phải hết sức can đảm mới có thể đối diện nó! Nếu Giuđa thực sự thú nhận những gì ông sắp làm; hoặc nếu ông sấp mình dưới chân Chúa Giêsu, trước các bạn đồng môn, nói cho Thầy và anh em biết toàn bộ sự thật, thì có lẽ, hành động lương thiện này đã cứu được linh hồn và mạng sống ông. Điều này rất khó vì đau đớn và sĩ diện, nhưng nếu vượt qua, thì đó là một chọn lựa sáng suốt nhất, một ‘chọn lựa ngàn vàng!’.

Có lẽ chúng ta không ở vào thời điểm mà tội lỗi có thể dẫn đến phản bội Chúa Giêsu như Giuđa; nhưng mỗi người đều có thể tìm thấy một số loại hình phản bội của mình. Với sự giúp đỡ của Chúa Thánh Linh, bạn và tôi hãy tìm khám phá một số ‘nếp tội’ hoặc một thói quen xấu vốn đã hình thành nơi bản thân. Hãy gọi tên nó; và quan trọng hơn đem nó đến cho Chúa Giêsu! Đây là một khám phá tuyệt vời nếu chúng ta dũng cảm đối mặt với một tội ‘đầu nậu’ nào đó. Điều này cho phép bạn bóc trần tội mình; chiến thắng nó, để khám phá sự tự do mà Chúa Phục Sinh muốn bạn trải nghiệm!

Anh Chị em,

“Thưa Thầy, chẳng lẽ con sao?”. Câu hỏi này hẳn đã làm cho trái tim Chúa Giêsu tan nát. “Và câu chuyện kết thúc thế nào? Ma quỷ là một người trả lương kém: hắn không phải là một người trả lương đáng tin cậy. Hắn hứa hẹn mọi thứ, cho bạn thấy mọi thứ và cuối cùng, bỏ bạn lại một mình trong tuyệt vọng để tự treo cổ mình!” – Phanxicô. Đừng để ma quỷ thắng bạn. Lòng thương xót Chúa lớn hơn tội chúng ta vạn lần, đến nỗi nếu hiểu được nó, không ai cần phải tiếp tục chối nhận tội mình. Hãy có cho mình một ‘chọn lựa ngàn vàng!’. Chúa Giêsu sẵn sàng “nâng đỡ sự nhọc nhằn”, Ngài “biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức” – bài đọc một. An ủi biết bao khi chúng ta hiểu được điều này! “Lạy Chúa, đây giờ phút thi ân; vì ơn cả nghĩa dày!” – Thánh Vịnh đáp ca. Tuần Thánh, tuần Thiên Chúa thi ân!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, vẫn còn kịp! Xin giúp con dám sấp mình trước toà Cáo Giải ngay hôm nay; ở đó, Chúa đang đợi để ôm lấy con. Và đó là một chọn lựa quý hơn ngàn vàng!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế) 

********************************************************

 Thứ Tư Tuần Thánh

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 26,14-25

14 Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế 15 mà nói : “Tôi nộp ông Giê-su cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. 16 Từ lúc đó, hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su.

17 Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giê-su : “Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu ?” 18 Người bảo : “Các anh đi vào thành, đến nhà một người kia và nói với ông ấy : “Thầy nhắn : thời của Thầy đã gần tới, Thầy sẽ đến nhà ông để ăn mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ của Thầy.” 19 Các môn đệ làm y như Đức Giê-su đã truyền, và dọn tiệc Vượt Qua.

20 Chiều đến, Đức Giê-su vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. 21 Đang bữa ăn, Người nói : “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” 22 Các môn đệ buồn rầu quá sức, lần lượt hỏi Người : “Thưa Ngài, chẳng lẽ con sao ?” 23 Người đáp : “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. 24 Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người : thà nó đừng sinh ra thì hơn !” 25 Giu-đa, kẻ nộp Người cũng hỏi : “Ráp-bi, chẳng lẽ con sao ?” Người trả lời : “Chính anh nói đó !”


 

Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. (Ga 15:13)

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới! Ước mong bạn mãi mãi gắn liền với Chúa để được bình an. 

Thứ 4, TT, 16/4/2025

TIN MỪNG: Bấy giờ, một người trong Nhóm Mười Hai tên là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, đi gặp các thượng tế mà nói: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu.” Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. (Mt 26:14-15)

SUY NIỆM: Sống ở đời này cái gì cũng có cái giá của nó. Cái giá của chần chừ chính là mất mát. Cái giá của thành công chính là đã trải qua nhiều lần thất bại. Cái giá của sự giàu có chính là kiệt sức, thiếu thốn về tinh thần. Cái giá của một người tử tế là chính những thử thách họ phải phấn đấu hằng ngày. Vậy còn cái giá của tình yêu là gì, nhất là tình yêu hiến mạng cho người mình yêu? Có phải là đau khổ và cái chết?

Đức Giê-su đã phải trả giá cho Tình Yêu dành cho con người bằng chính mạng sống của mình, dù Ngài biết rằng Tình Yêu ấy đang bị phản bội bởi chính tội lỗi, bởi sự thờ ơ và vô tâm của con người. Hôm nay, bạn được mời gọi biết ăn năn hối lỗi vì đã phản bội Tình Yêu ấy, để nhận ra mình luôn được yêu thương và để biết sống thế nào cho xứng đáng với Tình Yêu ấy.

LẮNG NGHE: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. (Ga 15:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban sức mạnh cho con để con quyết tâm không phạm tội xúc phạm đến tình yêu lớn lao của Chúa.

THỰC HÀNH: Nghiền ngẫm Kinh Ăn Năn Tội để hối lỗi về những tội lỗi bạn đã xúc phạm đến tình yêu của Chúa dành cho bạn. 

From: Do Dzung

**********************

Còn Tình Yêu Nào Như Tình Chúa Giêsu