CĂN NHÀ CỦA CON- Nguồn: Nguyễn Hélène My Hanh-Truyen ngan HAY

Kien Pham added a new photo to the album: Những câu chuyện cảm động !

Một câu chuyện có thật rất đau lòng cho phụ nữ miền nam Việt Nam sau ngày bị csvn cưỡng chế và cưỡng chiếm !

Căn nhà mặt tiền đường rất đẹp , khang trang và sang trọng của một chủ tiệm vàng , trên đường Lê Lợi , gần khu chợ Bến Thành .

Họ làm tiệm vàng đã qua nhiều đời gia truyền , từ đời Tổ Tiên , đến Ông Bà , Cha Mẹ , nay đến con trai và dâu. Một gia đình vui vẽ hanh phúc , có Ông Bà đã ngoài 70 đến 80 Tuổi , Con trai và dâu cũng đã trên dưới 50 tuổi và đàn cháu 2 trai 1 gái thật ngoan hiền đáng yêu xinh đẹp biết bao … Họ là những người hiền lành, làm ăn rất lương thiện và chính trực , không gian tham …

Thế nhưng đến những ngày cuối cùng của miền nam thất thủ , họ đã không rời Việt Nam vì nhiều lý do ! Cha Mẹ qúa già yếu , sợ không chịu nỗi chen lấn ồ ạt của những người đi chay trốn csvn ! Các con còn qúa nhỏ , con trai lớn chỉ mới 20 đang học Y khoa năm thứ hai , rồi con trai kế là 15 và con gái chỉ mới 10 Tuổi. Chưa đứa nào trưởng thành thật sự và học hành xong !

Chúng ta nhiều đời làm ăn lương thiện , không chận bớt xén gì của ai , hoà bình rồi , hết chiến tranh , có lẽ sẽ an cư lạc nghiệp hơn ….

Nhưng cuộc đời không như suy nghĩ !

Đến ngày sau khi csvn đã nắm quyền , họ dùng chiêu bài

“đánh tư sản mại bản “.  Họ vào vơ vét sạch tài sản trong căn nhà ngập tràn hạnh phúc này , họ cướp sạch không chừa một thứ gì cả ! Họ tống cả nhà ra ngoài đường , họ bắt đi người Chủ gia đình , là con trai , là chồng và cha của 3 đứa trẻ đem đi tù , vì là kẻ có tội ác bán vàng, là hút máu của nhân dân … Rồi số người còn lại là Ông Bà cụ già , đàn bà và trẻ con ! Họ tống hết lên xe thùng và tải thẳng đi kinh tế mới trong rừng thiêng nước độc để tự sinh , tự diệt !

Chỉ một ngày thôi thì tan nát hết cả gia đình !

Trong vùng gọi là ” kinh tế mới ” họ đói rách , họ bệnh tật , họ chết dần mòn bắt đầu từ Ông đến Bà. Rồi đến cậu con trai cả , vì đi phá rừng để làm rẫy bị rắn độc cắn chết , rồi cậu em kế bị sốt rét rừng mà chết. Chỉ còn lại Mẹ và cô con gái , đã ba năm trôi qua , không tin tức của người chồng và cha , hai mẹ con gồng gánh nương nhau mà sống , những người thân ruột thịt không còn ai hết !

Đến một ngày hơi cùng lực kiệt , cạn nước mắt và qúa đau khổ , đói rách , rét mướt , bệnh hoạn vì sốt rét rừng …

Người Mẹ cũng trút hơi thở sau cùng , bỏ lại cô bé 13 Tuổi bơ vơ !

Cô bé ơi như nụ hoa chùm gởi , sẽ biết đi đâu và về đâu ?

Trước khi mất , người mẹ trao lại cho con mãnh giấy bé tí , ghi lại địa chỉ căn nhà ngày xưa và căn dặn :

” Đây là Căn Nhà Của Con ” con trở về tìm có gặp lại cha con không nhen con … Và ra đi vĩnh viễn !

Sau khi chôn Mẹ bằng manh chiếu bó thân , cạnh với Ông , Bà và hai anh trai !

Cô bé 13 Tuổi quyết định trở về tìm lại mái nhà xưa !

Cô bé đi bộ , đi từng đoạn đường đến đâu xin làm việc nơi đó để đổi chén cơm qua ngày .  Cứ như vậy mà đi … Cứ hỏi đường mà đi …

Trở về Sài Gòn , nơi cô bé được sinh ra và lớn lên , nơi có ” căn nhà của con “.  Nơi mà một thời cô bé rất hạnh phúc , ấm êm , vui vẽ bên Ông Bà , cha mẹ và gia đình !  Nơi mà cha cô thường gọi cô là viên ngọc qúy của ba !  Đi mãi , có khi đi bộ , có lúc đi xe chuyền , có người thương tình hoàn cảnh cùng là người miền nam , đã cho cô bộ quần áo cũ , thay cho bộ áo quần rách nát của cô !

Trôi nổi một cuộc đời , một cánh hoa Lục Bình !

Rồi cô cũng về đến địa chỉ , ” Căn Nhà Của Con “.  Căn nhà đó hiện nay là của một ông bà ” cán bộ cao cấp “. Họ cư trú , họ xài và sử dụng toàn bộ tài sản mà của gia đình cô ngày xưa , từ nhà cửa đến xe cộ , ti-vi , máy lạnh , tủ lạnh …. Người chủ mới này không ai xa lạ đó là người đã vào nhà cô năm xưa để tịch thu tài sản !

Trở về nhà nhưng không được vào nhà !

Cô ngủ ngay dưới ” mái hiên nhà của con “

Đã 16 tuổi , cô bé nay đã lớn , trở thành cô tiên nhỏ , với nét đẹp thiên thần , nụ cười duyên dáng , đôi mắt rất buồn !  Buồn vì đời cô côi cút , buồn vì tan nát gia đình , buồn vì mất hết hạnh phúc mà đáng lẽ cô đã có được … !

Mỗi ngày cô đi phụ dọn hàng làm việc cho một bà bán hàng bánh canh bột mì và cháo , vậy là bà cho ăn , bà cho vài bộ quần áo cũ còn lành mà thay đổi . Tối về lại ngủ dưới hiên nhà của cô , vì không có ” hộ khẩu ” không ai dám chứa chấp thời đó !

Cái thời bao cấp , ăn mì sợi , lúa mì , bo bo và khoai lang , khoai mì , cháo với muối … Bột mì rồi tự chế thành bánh mì và bánh canh bột mì sắc thành cọng …

Cô gái đẹp ngủ ngoài hàng hiên , đương nhiên đầy nguy hiễm !

Cái thời mà lộng hành của qủy đỏ , cái thời mà qủy đỏ từ rừng ra thèm những cô gái Sài Gòn đến nhỏ vãi , vì chúng đã không thèm ôm những củ khoai sùng trong rừng như xưa , mà đã biết thèm thuồng khi nhìn thấy sự mỹ miều của các cô gái miền nam !

Cô đã bị loài qủy đỏ phá hoại sự trong trắng , trinh tiết vào một đêm khi chúng nó đi ăn nhậu ở cơ quan về !

Trên đường về thấy cô gái trẻ co ro dưới mái hiên nhà , chúng nó thay nhau cưỡng bức !  Mặc cho cô kêu gào thất thanh trong đêm , chủ mới là cán bộ csvn , chúng nó nghe rõ mồn một , nhưng im hơi lặng tiếng , chúng bỏ mặt cô gái trẻ không nơi nương tựa đau khổ vì bị vùi dập trong đêm !

Sau đêm kinh hoàng đó , cô bị mang thai , cái thai của lủ qủy đỏ , không biết của tên nào trong số đó ! Cô đã đau khổ nay càng khốn khổ hơn , vì cái bụng ngày càng lớn lên !

Vẫn ngủ ngoài mái hiên ” Căn Nhà Của Con “. Thời gian cứ trôi qua và cái ngày cô khai hoa nở nhụy cũng đã đến !  Đêm đó , cô đã quằn quại đau đớn , vì đứa trẻ kia muốn ra đời ! Nhưng không ai giúp , đêm đó cũng là đêm cuối cùng của cuộc đời trầm luân của cô , một cuộc đời bất hạnh do csvn đã gây ra !

Cô đã ra đi cùng với đứa con trong bụng , một xác hai mạng , trước khi trút hơi tàn , lần đầu tiên cô biết cười sau 6 năm khi gia đình cô tan nát và cô đã mĩm cười nói ” Căn Nhà Của Con ” , con đã về và con chết tại căn nhà mà cha mẹ đã dành cho con !

Dạ , ” Căn Nhà Của Con “

Nguồn: Nguyễn Hélène My Hanh

(Bị Chú: hình minh họa)


 

DẪY ĐẦY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng”.

Sau cơn nguy kịch, một bệnh nhân biết mình phải trả 1,3 triệu tiền Oxy; anh thốt lên, “Vậy tôi phải trả bao nhiêu cho khí trời đã hít thở trong suốt 53 năm? Trời cho tôi nhiều quá!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Trời cho tôi nhiều quá!”. Những gì Trời cho thường dư dật ‘dẫy đầy!’. Tin Mừng hôm nay tường thuật phép lạ Chúa Giêsu thết hơn năm ngàn người từ năm chiếc bánh và hai con cá; và sau khi tất cả đã ăn no nê, người ta thu được “mười hai thúng”. Sao nhiều thế?

Augustinô giải thích, Chúa Giêsu đã cung cấp nhiều hơn những gì người ta có thể hưởng dùng. Đây là cách thức mô tả đầy biểu tượng những chân lý tâm linh. “Mười hai thúng” biểu tượng cho những chân lý siêu việt hơn mà đám đông không thể lãnh hội, trừ những ai sống thiết thân với Ngài. Họ được ban dư dật ‘dẫy đầy!’.

“Mười hai thúng” còn tượng trưng cho “Nhóm Mười Hai”. Họ là những người được nhận nhiều hơn. Hãy nhớ lại, nhiều lần – khi đã về nhà – Chúa Giêsu giải thích riêng cho các môn đệ một số chân lý mà đại đa số không thể hiểu hoặc dễ chấp nhận. Sẽ rất hữu ích nếu chúng ta xét xem ba nhóm khác nhau trong phép lạ này.

Nhóm đầu tiên là những người thậm chí “không có mặt” khi phép lạ xảy ra; đây là những kẻ không cùng hành trình với Chúa Giêsu. Nhóm này ‘lớn nhất’ trong thế giới, họ sống mà không hề biết phải tìm cho mình một nguồn ‘lương thực thiêng liêng’ tối thiểu. Tiếp đến, “đám đông” theo Chúa từ những vùng xa xôi, họ ở lại với Ngài. Nhóm này đại diện cho những ai trung thành tìm kiếm Chúa mỗi ngày qua Thánh Lễ, đọc Thánh Kinh, cầu nguyện, lắng nghe và được các Bí tích nuôi dưỡng. Nhiều người ước ao được như họ; nhìn họ bình an, hạnh phúc – dẫu không miễn trừ gian nan, thử thách – không ít người thèm thuồng.

Cuối cùng, “Nhóm Mười Hai” – những môn đệ gắn kết với Chúa Giêsu, tiếp tục được Ngài nuôi dưỡng một cách đặc biệt – dư dật ‘dẫy đầy’ đến nỗi nhiều lúc, họ thốt lên “Trời cho tôi nhiều quá!”. Đây là những người tìm cách đào sâu và nắm lấy những chân lý tâm linh siêu việt và họ được biến đổi ở mức độ sâu sắc nhất; sau đó, ra đi, họ chia sẻ cho người khác. Nhật ký Hội Thánh sơ khai cho biết, “Mỗi ngày, trong đền thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô!” – bài đọc một.  

Anh Chị em,

“Họ chất đầy được mười hai thúng!”. Thiên Chúa quảng đại vô song; hồng ân Ngài khôn lường – chính Ngài – “Tôi đến cho chiên tôi được sống và sống dồi dào!”. “Đối mặt với tiếng kêu đói – đủ mọi loại “đói” – của nhiều anh chị em ở khắp mọi nơi trên thế giới, chúng ta không thể là những khán giả vô cảm và bình tâm. Việc loan báo Chúa Kitô – Bánh sự sống vĩnh cửu – đòi hỏi một cam kết quảng đại đối với những người nghèo, những người yếu đuối, những người bé nhỏ nhất, những người không có khả năng tự vệ!” – Phanxicô. Hãy ra sức tìm kiếm “mười hai thúng” chân lý thiêng liêng còn lại, bạn và tôi khám phá ra rằng, sẽ không có hồi kết đối với chiều sâu biến đổi của ân sủng ‘dẫy đầy’ Thiên Chúa ban.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘hời hợt thiêng liêng’ trước bất cứ ân huệ lớn nhỏ nào. Dạy con ‘hít thở’ bầu khí tạ ơn, vì luôn xác tín rằng, ‘Trời cho tôi nhiều quá!’”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

******************************************************

 Thứ Sáu Tuần II Phục Sinh

Đức Giê-su cầm lấy bánh, rồi phân phát cho những người hiện diện, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 6,1-15

1 Khi ấy, Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. 2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. 3 Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ. 4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.

5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê : “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?” 6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. 7 Ông Phi-líp-phê đáp : “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” 8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người : 9 “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” 10 Đức Giê-su nói : “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. 11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. 12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ : “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” 13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. 14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói : “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian !” 15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.


 

 Trầm tích-Thu Hoài

Kimtrong Lam

April 30, 2025 : 9:45 AM

Thu Hoài

Chiếc ghe oan nghiệt rơi trong tay của hải tặc. (Hinh minh hoạ: BBC).

Mới đó đã Tháng Tư. Thêm một lần nữa, mùa Xuân chóng qua!

Như sóng xô bờ: những diễn biến liên tục sau chiến tranh Việt Nam – từng lớp sóng tràn ngập, phủ chồng lên nhau. Khỏa lấp!

Bên cạnh, những tàn phá do bởi chiến tranh, dấu tích, di chứng còn nhìn thấy được những gì, khi tất cả mọi tài liệu, phim ảnh còn lưu giữ được bao nhiêu, giữa thật hư? Để lại?

Những thương tích không hẳn xảy ra trong thời điểm giao tranh. Đáng nói là sự ảnh hưởng về đau khổ mất mát, chia cách vẫn còn âm ỉ cho mãi đến nhiều năm, sau cuộc chiến.

Sự còn lại là trầm tích. Là đất đá phù sa, lắng đọng lại thành tầng lớp, qua thời gian. Là sự tích tụ của cảm xúc, ký ức, hoặc những thứ vô hình lắng đọng trong tâm hồn, qua bao năm tháng.

Như những câu chuyện viết về sự âm ỉ trong lòng. Tôi cũng có một bài viết được ghi chép lại đã lâu, nói về một tâm sự – mà nội dung: Là uẩn khúc của một gia đình. Ghép lại qua từng mảnh vỡ, từ hồi tưởng của một thanh niên, là bạn học của con tôi. Trong đó, bao gồm hoàn cảnh gia đình, cùng nỗi nhục hình phải gánh chịu Và cha mẹ của y thật ra không xa lạ với chúng tôi. Là những người bạn thân, quen biết nhau từ những ngày bắt đầu lập nghiệp ở quê người.

Ngoài sự ghi nhận, cùng với diễn bày trong câu chuyện – nhân vật được xưng TÔI hẳn nhiên không phải là tôi. Tôi chỉ là người viết. TÔI, ở đây, thay mặt như lời người con. Hiện là giảng sư, bác sĩ giải phẫu tim mạch, làm việc tại University of British Columbia, Vancouver, Canada.

Ở đây, khi nói đến tâm sự bên đời, thường, mình hay mỗi ai cũng có chút ít tâm tư, hoặc đến rồi đi! Nhưng đôi khi, có những niềm riêng day dứt khôn nguôi, theo suốt một đời!

Điều muộn màng, bất hạnh nhất, đáng ghi lại: Khi nỗi lòng về sự ngộ nhận được giải bày, cha mẹ của y đã không còn nữa!

Đây là nỗi lòng. Trầm tích:

Cho đến khi TÔI trưởng thành – tuổi có thể gọi đã đầy đủ trí khôn, để hiểu những gì xảy ra trong gia đình, cha mẹ tôi đã không còn. Bên nỗi lòng ấm ức, dằn vặt, tôi thường xuyên tự hỏi với chính mình: Có phải sự hiện diện của tôi, kể từ khi ra đời, một hình ảnh luôn nhắc nhở về kỷ niệm đau lòng? Và có phải chính tôi là nghiệp chướng, là nguyên nhân gây ra những bức xúc, cấu xé trong tâm hồn của cha mẹ?

Có lẽ vậy. Tất cả như nghiệp chướng, bắt đầu thành hình từ những ngày, tôi chưa có mặt với đời này.

Sau 30 Tháng Tư, 1975, vì là sĩ quan phục vụ cho quân đội miền Nam, cha tôi bị giam giữ, gọi là cải tạo, hơn 5 năm.

Trở về, cha tôi rơi trong cùng quẫn. Thiếu thốn. Bên sự nương tựa của những ngày cùng khổ, cha mẹ tôi tìm đến nhau vào thời kỳ kinh tế tối tăm, ở cuối thập niên 70s.

Số phận chừng như đã sắp đặt! Sau đêm ngày cưới, cả hai âm thầm cùng với một nhóm 27 người rời vùng quê Rạch Giá bằng chiếc ghe mong manh – hầu mong thoát khỏi Việt Nam qua đường vượt biển.

Định mệnh phũ phàng!

Tưởng có thể chạy trốn với cảnh đời tối tăm, nhóm người vô tội trên ghe làm sao có thể lường được những hãi hùng đang chờ đợi trên biển cả.

Chiếc ghe oan nghiệt rơi trong tay của hải tặc – một đám cướp biển, săn người đã rình rập tự khi nào. Những gì xảy ra sau đó là địa ngục trần gian!

Sau khi lấy hết những gì gọi là quý giá như vàng, bạc, kế đến là phụ nữ!

Trong số đó có mẹ tôi, bị hãm hiếp dã man.

Riêng đàn ông, bao gồm cha tôi – bị cột chặt, để chứng kiến cảnh cưỡng hiếp và giết người hung bạo. Tất cả sau đó, từng người một bị đập vào đầu bằng cán chèo, hoặc bị đâm vào người bằng dao hay vật nhọn.

Hình ảnh để lại trên sàn ghe có thể mường tượng sự hành hạ ghê rợn, trước khi đối diện với cái chết thê thảm! Thân xác nạn nhân bị ném chất chồng lên nhau như cá mòi, bê bết!

Dân làng ở ven biển tìm thấy chiếc ghe trôi dạt vào bờ, sau những ngày mưa bão! Và oái oăm thay, lẫn lộn trong đống xác người, cha mẹ tôi được cứu sống khi đang còn thoi thóp – để đối diện với sự đọa đày, nối tiếp theo những tháng năm sau này: Đó là nỗi đau của tủi nhục!

Có lẽ, nếu ngày đó cha mẹ tôi chết đi, họ sẽ không bị đau đớn, dằn vặt kéo dài theo những năm lê lết với khổ đau, ray rức, quằn quại sau này. Hay trời đất đã dàn xếp, để cha mẹ tôi phải sống – phải trả cho xong món nợ: Đó là tôi! Bởi vì cùng thời gian này, mẹ tôi có triệu chứng bắt đầu mang thai…

Sau hơn 9 tháng, kể từ thời gian được cứu vớt đến trại tỵ nạn Thái Lan. Trong nỗi oan khiên, mơ hồ – về ai, là tác giả của bào thai mà mẹ tôi đang cưu mang trong người: Tôi, sinh ra nơi đây.

Đời mong manh, nổi trôi như chiếc ghe trên biển ngày ấy – gia đình chúng tôi được định cư tại Vancouver, Canada không lâu sau khi tôi sinh ra đời.

Những gì xảy ra sau đó là địa ngục trần gian! (Hình minh hoạ: BBC Tiếng Việt)

Mặc dầu, tôi lớn lên ở những vùng đất cởi mở, hiền hòa thuộc tỉnh British Columbia, Canada – nơi mà đa số di dân đến đây tìm kiếm đời sống hân hoan, gia đình tôi vẫn sống một cách âm thầm và lẻ loi.

Mãi đến những năm ở tuổi vị thành niên, tôi bắt đầu ghi nhận một cách rõ ràng – cả ba, chúng tôi đều rất cô đơn:

Về Cha tôi

Sau cơn hành hạ dập dìu thập tử nhất sinh trên chiếc ghe ngày ấy, cha tôi sống bên lề đời như người tàn phế – không còn đi đứng bình thường vì ống xương của chân phải đã bị đánh gãy dập!

Ông bệnh hoạn, gầy yếu. Sự sinh sống chỉ dựa vào trợ cấp của xã hội.

Cha tôi như chiếc bóng!

Chỉ một đôi lần, rất hiếm hoi, ông dành để chút tình cảm cha con, chẳng hạn nhường cho tôi những món ăn… trong im lặng! Ông hay ngồi trong những xó góc, uống rượu khi trời sẫm chiều. Và đây là thời gian tôi tìm thấy cha tôi trở nên xa lạ. Những cơn say mịt mờ qua khói sương. Nơi đó chừng như không có hướng về. Và đôi khi tự hỏi, cha đang lạc về đâu?

Tôi thường nghe những câu than trách hay nguyền rủa một mình. Lời, của một người sa cơ thất thế, mặc cảm vì bất lực. Ám ảnh khôn nguôi, vì không thể bảo vệ được người vợ thân yêu? Hay bởi vì: sự có mặt của tôi khơi động đến vết thương lòng vẫn còn lở loét?

Nên có lẽ, chỉ có rượu vào mới có thể thoa dịu, cởi thoát ra được chút nào những nỗi đau cùng cực.

Cha tôi yếu đuối dần theo ngày, không biết làm gì hơn, chỉ còn cách trốn chạy với chính mình. Chìm theo men say, mộng mị trong ảo ảnh sương mờ. Lẫn lộn, mơ hồ giữa địa ngục và thiên đường, trong ảo giác!

Mẹ tôi

Nếu ví cha tôi như chiếc bóng; hình ảnh của mẹ tôi có thể so sánh như ngọn đèn le lói giữa trời khuya!

Hằng đêm mẹ tôi mắc bệnh mất ngủ, nên phải uống thuốc mỗi ngày. Nhiều đêm, không biết bao lần, mẹ tôi choàng tỉnh la hét chạy quanh nhà. Nỗi khiếp sợ tưởng chừng như có người đang đuổi bắt sau lưng. Cho dẫu trấn an đến cách nào, những cơn ác mộng nào đó chừng như luôn chờ chực khi người rơi vào giấc ngủ. Vì thế, chỉ mỗi thuốc an thần mới có thể giảm đi phần nào.

Tuy nhiên, những liều thuốc có tác dụng lúc ban đầu, dần dà đã không còn hiệu nghiệm. Càng lo lắng hơn, khi biết được nếu tình trạng kéo dài, mẹ tôi có thể phải đưa vào những nhà thương trị bệnh cho người điên. Những nơi đó, chắc chắn sẽ khiến mẹ tôi trở thành người mất trí vĩnh viễn vì những lượng thuốc rất nặng về trị liệu tâm thần. Chưa nói đến nơi đây, xứ người – luật của xã hội rất quan tâm về vấn đề bảo vệ an toàn cho trẻ em. Vì vậy, tôi có thể bị tách rời khỏi cha mẹ, nếu người ta khám phá ra cả hai, không còn đủ khả năng nuôi dưỡng được tôi.

Bên cạnh bao nỗi bất hạnh đã xảy ra, lại thêm những bất an đang chờ đợi, dù sao, chúng tôi cũng còn chút ân sủng của đất trời: Được gặp người thầy thuốc chữa bệnh cho mẹ tôi – người, đã từng phục vụ trong cuộc chiến Việt Nam.

Không những ông là một bác sĩ đã có nhiều kinh nghiệm chữa trị về những căn bệnh bị khiếp đảm vì chứng kiến những chết chóc ghê rợn trong chiến tranh – Post Traumatic Stress Disorder (PTSD); thêm vào đó, ông là một người bác sĩ rất có lòng. Ông bảo lãnh cho gia đình chúng tôi về ở phía sau vườn, nằm sau căn nhà nghỉ mát của ông ở vùng West Vancouver. Không ngoài mục đích giúp cho mẹ tôi có cơ hội phục hồi với gió biển, bên đời sống rất bình lặng nơi đây.

Mẹ tôi khỏe phần nào do nhờ ngủ được ít nhiều. Nhưng dẫu thế nào, căn bệnh tâm tưởng vẫn thường xuyên ám ảnh.

Tôi bắt gặp mẹ tôi lắm lần đi thẳng ra bờ vực, nơi có sóng biển đập mạnh vào ghềnh đá. Tôi càng sợ hãi khi biết – sẽ không ai có thể ngăn cản, nếu mẹ tôi muốn tự hủy diệt lấy chính mình. Nhưng đó cũng là lúc, tôi khám phá: Mẹ tôi chưa dám rời khỏi cuộc đời này vì không muốn cắt đứt giọt máu yêu thương vô tội, bỏ rơi đứa con duy nhất: đó là tôi!

Và tôi

Bên đời, tôi sống với chiếc bóng của người cha – khi ẩn khi hiện! Nương theo, với sức sống mỏng manh của mẹ tôi, yếu ớt như ánh sáng của ngọn đèn khuya – khi tỏ khi mờ! Cùng với bao lần, tôi phải lắng nghe những tâm sự của cha mẹ tôi được thốt ra trong những cơn – khi tỉnh khi mê! Tôi bất chợt thấy mình bơ vơ, như đang đứng giữa trời đông, giá lạnh!

Tôi luôn tự nhủ với lòng: Tôi phải sống, để có thể bảo vệ lấy mình và cha mẹ. Vì thế, tôi chấp nhận với đời sống hẩm hiu, tự làm quen với tất cả thăng trầm, không để niềm vui kéo dài sau giờ học. Cứ vậy khi tan học, tôi lo hối hả chạy một mạch về nhà. Vì hơn ai hết, tôi biết, ngoài tôi, không ai có thể đem lại cho mẹ tôi lòng an tâm và niềm tin tưởng.

Có lần, không thấy tôi về như mọi hôm vì bài vở dở dang, mẹ tôi nóng lòng muốn đến đón tôi ở trường. Năm đó, tôi còn đang ở tiểu học. Và trường thì nằm ngay ở bên con đường xe cộ qua lại rất đông. Trong lúc chúng tôi cùng băng qua đường dành cho người đi bộ, bất ngờ có tiếng thắng của xe rít trên mặt lộ, mẹ tôi bấn loạn, hốt hoảng ôm lấy đầu và chạy ra ngay giữa ngã tư, khi dòng xe cộ đan nhau như mắc cửi, trong giờ cao điểm… Khi nhìn thấy, bất chấp nguy hiểm có thể xảy ra trong gang tấc, tôi liều lĩnh lao vào dòng xe qua lại. Những gì xảy ra hôm đó, không làm tôi bận tâm hay sợ hãi! Tôi chỉ có một mục đích duy nhất là bằng mọi cách tôi phải bảo vệ, ôm lấy mẹ tôi! Hơn thế nữa, tôi không có sự chọn lựa nào hơn là không thể bỏ rơi mẹ mình trong cơn nguy cấp.

Tôi nhớ vô cùng khi nhìn vào đôi mắt mẹ – bất chợt, tôi tìm thấy giọt nước rưng rưng như muốn thay lời: Chỉ có tôi mới đem lại cho người nỗi sống. Hay đúng hơn, nếu không có tôi, mẹ tôi đã không còn tha thiết với cuộc đời này.

Tôi không biết có lối nào để có thể đưa dắt cha mẹ tôi thoát ra khỏi bóng đen u buồn, mờ mịt của cuộc đời. Riêng cá nhân tôi, chỉ còn mỗi cách: Tôi tìm kiếm niềm vui qua sách vở, bằng cách cắm cúi lo học nhiều hơn. Tôi ý thức, chỉ có góp nhặt kiến thức – để từ đó, tôi mới có thể tìm ra lối thoát cho chính mình!

Năm tôi vừa xong Trung Học, cha tôi qua đời. Ông ta đã ngủ quên trong cơn say.

Xác ông, khô lạnh co quắp, được tìm thấy ở kho chứa đồ, trong một đêm đông tuyết phủ ngập ngoài sân. Để lại mẹ tôi với tâm trạng càng hoang mang và cô đơn. Ngày đưa cha về lại đất, tuyết phủ ngập đầy, trắng xoá như màu tang. Thênh thang tẻ lạnh.

Những năm tôi được nhận vào Đại Học, mẹ tôi bắt đầu yếu dần, bịnh phát ngày mỗi nặng.

Trong giai đoạn bế tắc cuối cùng, không còn cách nào hơn, phải đưa vào trung tâm y tế để có người chăm sóc. Càng đau lòng hơn, mẹ không có cơ hội tham dự ngày lễ tốt nghiệp Y Khoa của tôi vì người đã không còn. Ngày mẹ ra khỏi cuộc đời, trời đổ cơn giông,và không biết nơi cuối ngàn, tiếng sét có phải là lời tìm nhau vang vọng, khi trong lòng còn chất chứa bao nỗi niềm băn khoăn – biết tỏ cùng ai.

Cả hai, cha mẹ tôi, đã nằm xuống, quạnh hiu nơi xứ người, với nỗi lòng trăn trở.

Vài lời cho cha mẹ

Kính lạy hương hồn cha mẹ.

Cho đến bây giờ, con tin chắc cha mẹ đã thoát ra khỏi nỗi lòng u uất mà từ lâu cha mẹ chưa có cơ hội, hay có lẽ không dám đối diện: Con là con của ai?

Vâng, đã từ lâu – chính vì sự mơ hồ con là của ai, đã ngăn cách tình yêu thương của cả ba: cha, mẹ và con.

Có những lúc thấy cha mẹ buồn vì tủi phận; dù rất muốn, nhưng có gì làm con ngần ngại. Đúng hơn, con không biết làm sao để có thể nói lên những lời an ủi, khi mang cảm tưởng bị bỏ rơi vì xa lạ!

Cũng như rất tội tình, ngay khi lòng cảm thấy cô đơn, con cũng không dám đến gần cha mẹ để được ôm vào lòng, những mong có thể tìm kiếm dỗ dành, khuyên nhủ, trong những năm con còn tuổi ấu thơ!

Hôm nay, nhân sinh nhật của chính mình, con muốn gởi đến cha mẹ một nỗi niềm hân hoan mà con vừa nhận được thử nghiệm về DNA – kiểm tra sự trùng hợp giữa tế bào của con và tro cốt của cha mẹ.

Qua kết quả khám nghiệm: Con, thật sự là con của cha mẹ.

Khi nói lên những lời này, con vô cùng kính mong cha mẹ nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành cho sự hy sinh cao cả mà cha mẹ đã chịu đựng sống còn qua bao nhiêu năm tủi nhục. Con xin hứa sẽ trở nên người hữu dụng hầu không phụ lòng cha mẹ: người đã sống trong quằn quại, thoi thóp, cưu mang – nuôi nấng con được đến ngày hôm nay.

Kính lạy hương hồn cha mẹ nhận nơi đây lòng tri ân của con.

Con yêu quý của cha mẹ.

Viết cho những Trầm Tích của Tháng Tư. Cùng lúc, cũng là lời tưởng niệm đến hai bạn Bảo Trúc. Và lời chúc hạnh phúc, bình yên và may mắn đến với gia đình cháu: Bác sĩ Kh. N. Trần – Cardiologist.

Thân ái.

Thu Hoài


 

“Mua tội” bằng tiền mặt và đất vàng: Đại án Phúc Sơn phơi bày mặt thật chống tham nhũng

Ba’o Dat Viet

May 1, 2025

Trong một vở kịch chống tham nhũng ngày càng trở nên nhàm chán với khán giả, cái tên Hoàng Thị Thúy Lan – cựu bí thư Tỉnh Ủy Vĩnh Phúc – bất ngờ được nhắc đến với “nỗ lực khắc phục hậu quả” bằng cách… nộp lại tiền mặt cùng hai lô đất, sau khi bị cáo buộc nhận hơn $2 triệu hối lộ từ Hậu “Pháo”, đại gia xây dựng đứng sau tập đoàn Phúc Sơn.

Theo cáo trạng vừa được Viện Kiểm Sát Tối Cao ban hành, bà Lan không chỉ nộp lại 20 tỷ đồng (~$769,000) mà còn “tự nguyện” giao hai lô đất gồm một lô mặt tiền rộng 304 mét vuông và một lô đất kho vận hơn 3,000 mét vuông – một hành động được ca ngợi là “tích cực khắc phục hậu quả.”

Cựu chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc, ông Lê Duy Thành, cũng “tự nguyện” đóng góp không kém phần hào phóng: 15 tỷ đồng cùng $830,000, tất cả để đổi lấy sự khoan hồng từ cơ quan tố tụng. Tổng cộng, các bị can trong đại án này đã nộp gần 119 tỷ đồng và $900,000, không phải để trả lại cho dân mà để… giảm án.

Đáng nói, ông Nguyễn Văn Hậu, tức Hậu “Pháo,” bị cáo buộc đã chi tổng cộng hơn $5 triệu cho loạt quan chức tại Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Quảng Ngãi, nhằm trúng thầu và thâu tóm dự án. Riêng tại Vĩnh Phúc, nơi được xem là “trung tâm lộ sáng” của vụ án, có đến 15 quan chức bị đề nghị truy tố, trong đó có hai cựu bí thư tỉnh và hai cựu chủ tịch.

Cáo trạng tiết lộ chi tiết gây sốc: “Chị có việc, chuẩn bị ngay cho chị 1 triệu Mỹ,” bà Lan thản nhiên yêu cầu. Không cần giấy tờ, không cần ngụy trang, chỉ một cái giơ ngón tay là ông Hậu hiểu ngay: tiền mặt, và chỉ tiền mặt.

Nghe qua tưởng như chuyện kịch bản trong phim, nhưng đây là thực tế tại một địa phương ở miền Bắc Việt Nam. Tài sản quốc gia bị bòn rút trắng trợn thông qua “quan hệ – tiền tệ – hậu tệ,” và khi bị lộ, giải pháp lại là dùng chính phần tiền hối lộ để “khắc phục hậu quả.” Thật trớ trêu, đây được xem là “tình tiết giảm nhẹ,” là lý do để các bị can mong chờ mức án nhẹ nhàng hơn khi ra tòa.

Chống tham nhũng kiểu này chẳng khác nào bật đèn xanh cho sai phạm: “Cứ ăn đi, nếu bị bắt thì nộp lại một ít là xong.”

Trong khi đó, người dân, giới lao động và những ai dám lên tiếng chống bất công xã hội vẫn đang chịu cảnh lao lý, không tiền để nộp “khắc phục hậu quả,” cũng chẳng có đất để tự nguyện hiến tặng. Luật pháp rõ ràng không mù, nhưng dường như luôn chọn cách nhìn theo… số dư tài khoản.


 

CHÚA PHỤC SINH ĐỂ Ý ĐẾN CÁC TÔNG ĐỒ – Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

 Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

 Đức Giêsu Phục Sinh vẫn luôn luôn ở với con người, nhưng có thể họ không nhận ra Ngài.  Đức Giêsu Phục Sinh luôn quan tâm săn sóc con người, như xưa Ngài quan tâm săn sóc các tông đồ.  Ngài không bao giờ bỏ con người, Ngài sẽ ở với con người cho đến ngày tận thế. 

Hành vi không bình thường

Các tông đồ trở lại Galilê và ít nhất có bảy người tham dự đêm đánh cá với Simon Phêrô.  Sau một đêm mệt nhọc mà không được gì, Đức Giêsu đã chờ họ sẵn ở bờ hồ.  Ngài gợi chuyện, hỏi thăm, và tìm cách giúp đỡ: “thả lưới bên mạn thuyền thì có đó.” 

Mẻ cá lạ giúp Gioan nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh: “Thầy đó.”  Chúa vẫn hiện diện đó, nhưng người ta không nhận ra Ngài.  Vẫn cần một dấu lạ, ngay cả đối với các tông đồ, để con người có thể nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh; và cũng phải nói, không phải ai cũng nhận ra. 

Thái độ của Phêrô rất là tức cười.  Đang ở trần, nghe Gioan nói đó là Thầy, ông liền mặc đồ vào, rồi nhẩy xuống biển bơi vào bờ để gặp Chúa, bỏ các bạn ở lại với lưới cá dù rằng chính ông là người đề nghị các bạn đi đánh cá!  Tại sao vậy?  Vào bờ, ông nói gì với Chúa, hay ông chỉ làm vậy vì muốn gần Thầy mà thôi?

 Cách hành xử của Đức Giêsu 

Đức Giêsu đã dọn sẵn bánh và cá cho các tông đồ bên bờ hồ.  Đức Giêsu dọn ăn cho các tông đồ.  Đức Giêsu vẫn làm công việc của một người đầy tớ, Ngài vẫn luôn là người phục vụ những người Ngài yêu thương. 

“Hãy mang cá các anh vừa bắt được lại đây.”  Một khi có bếp và lửa, có bánh và cá, tại sao Ngài không dọn cho đủ?  Thiên Chúa vẫn muốn có sự đóng góp của con người, ngay cả trong chuyện nhỏ nhất.

 Tại sao lại là con số 153 con cá?  Có người nói rằng, vì đó là tất cả các loại cá mà con người ngày đó tìm được.  Con thuyền Giáo Hội, tung một mẻ lưới với sự trợ giúp của Đức Giêsu Phục Sinh, bao gồm tất cả mọi dân tộc trên hoàn vũ này.

 Không một ai trong các ông dám hỏi “Ngài là ai,” vì tất cả đều biết đó là Chúa.  Dường như Ngài vẫn có một cái gì đó khác trước, vì nếu không thì tại sao lại “không ai dám hỏi Ngài là ai.”  Tuy vậy, không ai dám hỏi “Ngài là ai”, vì tất cả đều biết đó là Thầy.

 Số phận và thái độ cần có của con người 

Sau bữa ăn, Đức Giêsu hỏi Phêrô: “anh có yêu Thầy hơn những người này không?”  Nếu chỉ là câu hỏi: “anh có yêu Thầy hơn yêu những người này không,” chắc là Phêrô không cảm thấy khó khăn để trả lời.  Có lẽ câu hỏi là: “Phêrô, anh có yêu Thầy hơn những người này yêu Thầy không?”  Phêrô, trước đó khi ở bữa tiệc ly đã quả quyết: “dù tất cả mọi người bỏ Thầy, con thà chết chứ không bỏ thầy,” và hậu quả là Phêrô đã chối Thầy ba lần.  Bây giờ, Phêrô khiêm tốn hơn: “Vâng, Thầy biết rằng con yêu Thầy.”  Ba lần hỏi, bù vào ba lần chối.  Phêrô không còn dám tin vào mình nữa: “Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự, Chúa biết rằng con yêu Chúa.”  Dường như Phêrô muốn nói: Với bao lần phản bội, Chúa biết con sẽ như thế nào trong tương lai, nhưng lúc này, Chúa biết rõ rằng con yêu Chúa.  Khiêm tốn là thái độ rất quan trọng của người lãnh đạo, chăn dắt đàn chiên của Chúa.

 “Khi con còn trẻ, con muốn đi đâu tuỳ ý, nhưng khi con về già, con sẽ giang tay và người ta sẽ dẫn con tới nơi con không muốn.”  Phêrô được ơn biết tương lai mình.  Còn những người khác?  Tương lai của chúng ta ở trong tay Chúa, chúng ta không dám tin vào sức mình, nhưng có một điều rất chắc chắn: Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và Ngài sẽ làm điều tốt nhất cho chúng ta.  Thiên Chúa của chúng ta, là Thiên Chúa quyền năng trong tình yêu.

 “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người ta.”  Phêrô đã trả lời những người lãnh đạo dân Do Thái như vậy.  Đây là một tiêu chuẩn mà mỗi người tin vào Thiên Chúa đều phải áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, dù điều này có gây hại cho mình.  Thái độ tương tự như vậy, đã dẫn Phêrô và những người “làm chứng”đến cái chết.

 Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm

From: Langthangchieutim

THUỞ ĐI BAY – Minh Thảo Elizabeth Hoàng

Minh Thảo Elizabeth Hoàng

Posted by GLN

Lời Tác giả: Thấy tin tức mấy cô Tiếp Viên Hàng Không của Việt Nam bây giờ đi bay mà mang hàng quốc cấm coi như đời tàn. Nhất là thời buổi văn minh hiện nay đồ đạc đều qua máy kiểm soát họ thấy tất cả mọi thứ rất rõ.

Ngoài ra tất cả các phi trường luôn luôn nhắc nhở hành khách không nên giữ đồ hay mang đồ giùm cho bất cứ người nào mình không quen biết.

Mấy cô Tiếp Viên này đủ thông minh để hiểu.

Cho nên tôi ngẫu hứng viết về Air Việt Nam trước năm 1975 để nhiều người hiểu thêm về công việc của các Tiếp Viên Hàng Không Air Việt Nam [Cộng Hòa] trước kia mà tôi đã từng làm và trong thời gian tôi làm chưa từng thấy Tiếp viên Hàng Không của Air Việt Nam mang đồ quốc cấm. 

Trân trọng.

Minh Thảo Elizabeth Hoàng.

Khi còn nhỏ, mỗi lần tôi theo gia đình ra phi trường đón người nhà. Tôi thích ngắm nhìn các nữ Tiếp Viên hàng không của Air Việt Nam mặc đồng phục với chiếc áo dài màu xanh da trời, đầu đội mũ thêu con rồng, tay đeo bao tay trắng trông đẹp và dễ thương làm sao.

Các cô khi thì đi riêng, khi thì đi từng nhóm với phi hành đoàn.

Tôi ước ao không biết bao giờ tôi cũng được đi bay như họ để được đặt chân tới những nước văn minh trên thế giới để được tận mắt ngắm nhìn những thành phố đồ sộ với những công trình kiến trúc độc đáo, những chiếc cầu vắt chéo chạy ngang dọc hay thăm viếng những di tích lịch sử tôi từng đọc trong sách vở.

Tuy máy bay Air Việt Nam không đi những nước Âu Châu, nhưng mỗi khi đi vacation, tiếp viên phi hành đoàn hay đi ngoại quốc vì vé máy bay được giảm giá tới 90% cho các nhân viên phi hành đoàn theo luật lệ hàng không.

Một hôm chị bạn thân của tôi học Đại học Luật khoa trước tôi đang làm việc cho văn phòng hành chánh của Air Việt Nam cho tôi biết Air Việt Nam đang tuyển lựa Tiếp Viên Hàng Không. Chị thúc dục “Thảo ghi tên đi thi đi, người như bạn nên làm nghề này”.

Tôi liền ghi tên dự thi. Điều kiện ưu tiên là phải đẹp, cao từ 1 mét 55 trở lên, nói được hai thứ tiếng Anh và Pháp. Trình độ học thức Tú Tài trở lên.

Trước tiên tôi phải gặp một vị của Air Việt Nam phỏng vấn. Khi được vị này chấp nhận thì tôi mới chính thức qua 8 vị giám khảo khác gồm cả nam lẫn nữ phỏng vấn. Các vị này thay phiên mỗi người đặt một câu hỏi để dò xét sự hiểu biết của tôi.

Thấm thoắt hôm nay đã đến ngày phỏng vấn. Tôi đứng trước tủ áo lưỡng lự không biết chọn chiếc áo nào mặc cho hợp với thời tiết và nước da của tôi.

Ướm thử từng cái áo trên người cuối cùng tôi chọn chiếc áo dài màu vàng anh, quàng chiếc khăn voan trắng ngà quanh cổ. Tôi trang điểm chút phấn hồng trên hai má, đánh son môi màu hồng nhạt, đánh mascara trên hai hàng lông mi. Ngắm nhìn mình trong gương tôi tạm ưng ý và ra khỏi nhà.

Khi vào phòng để gặp các vị giám khảo, tôi hồi hộp thấy họ nhìn tôi chăm chú. Tôi cố gắng bình tĩnh mỉm cười chào ban giám khảo và tập trung trả lời những câu hỏi của họ.

Cuối cùng tôi đã pass cuộc thi và được đưa đi may đồng phục, họ cho mũ, giầy, bóp đều do hãng Air Việt Nam đài thọ.

Họ phát cho chúng tôi mỗi người một vali nhỏ sách tay để đựng đồ đạc khi đi bay.

Sau đó chúng tôi phải qua một khóa huấn luyện cứu thương do một y tá chuyên môn dậy và hướng dẫn. Môn học này phần lớn ai cũng pass.

Air Việt Nam cũng huấn luyện chúng tôi cách mở phao và những dụng cụ khẩn cấp khi máy bay lâm nạn.

Kế chúng tôi phải đi bay tập sự trong ba tháng cách bưng đồ ăn, cách đọc thông báo trước khi máy bay cất cánh và trước khi máy bay đáp xuống phi trường dưới sự kiểm soát của mấy chị làm lâu năm trong ngành (Chef–de–cabin).

Sau ba tháng tôi đã pass lúc đó mới chính thức được đi bay và làm lâu năm tôi cũng trở thành Chef–de–cabin khi đi bay cùng với những tiếp viên mới vào nghề.

Chương trình sắp xếp đi bay chúng tôi phải bay xen kẽ đường bay quốc nội và quốc ngoại. Khi tôi làm lâu năm được đi bay đường quốc ngoại nhiều hơn.

Tuy nhiên chúng tôi phải pass khóa bơi và lặn do Hàng Không Dân Sự chấm điểm vì đường bay ngoại quốc như Hồng Kông sân bay ngay bờ biển, cũng như để biết ứng phó khi phi cơ khẩn cấp phải đáp xuống biển.

Khi đi thi bơi thật vui. Vì có vài anh biết bơi nhưng không lặn được, người cứ nổi lềnh bềnh trên mặt nước dù rán làm nhiều lần, nước mắt nước mũi chảy ra thật thảm.

Vì vậy mấy ông chấm điểm nói “cứ nhìn sâu dưới đáy hồ thấy tơ lụa, vải vóc thì người sẽ chìm.” Vì khi đó đi đường bay Hồng Kông và Đài Loan mang vải vóc về bán rất có lời.

Tôi đứng trên bờ phì cười nhưng cũng lo không biết mình lặn được nửa hồ bơi theo sự đòi hỏi hay không. Tới phiên tôi, tôi suy nghĩ đánh liều lên đứng trên cầu cao nhảy xuống chắc chắn thân mình sẽ chìm. Tôi nín thở qươ tay lặn qua hẳn bờ hồ phía bên kia lúc nào không hay. Tôi đã pass và chính thức đi bay.

Thời đó Air Việt Nam chỉ có phi cơ Caravel đi ngoại quốc. Sau này bay tới Nhật Air Việt Nam mới có thêm máy bay Boeing mới. Những đường bay quốc ngoại gồm có Nhật, Thái Lan, Singapore, Hồng Kông, Taiwan, Cambodge và Lào. Phần lớn những đường bay ngoại quốc phi hành đoàn phải ngủ qua đêm. Chúng tôi đều có phòng riêng biệt ở Hotel để ở.

Đường bay trong nước là máy bay mướn của Đài Loan, phi công cũng người Đài Loan lái. Máy bay cũ nên hay bị trục trặc, phải sửa nên hay trễ giờ.

Bởi vậy dù ngày phòng hờ (stand by) của tôi nhưng luôn luôn bị gọi đi bay. Nhiều khi tôi muốn nghỉ cũng không được.

Vào thời kỳ tôi làm việc, máy bay Caravel do phi công người Việt Nam lái, Máy bay Boeing do người Mỹ lái và máy bay mướn của Đài Loan do phi công người Đài Loan lái.

Mấy ông Phi công Đài Loan đi bay đường quốc nội, ham ăn hết sức. Mỗi lần tới sân bay họ toàn gọi đồ ăn Tàu mắc tiền để ăn trưa. Tôi nhìn không ăn nổi vì mệt. Nên chỉ ghé quán ở phi trường ăn bún bò hay vài cái nem chua là xong bữa ăn hoặc có khi chẳng ăn gì ngoài uống nước trái cây. Cho nên hồi đó tôi rất eo và mảnh khảnh.

Tất cả những chi phí ăn uống đều được hãng Air Việt Nam đài thọ.

Chúng tôi phi hành đoàn có thể mua hàng hóa ngoại quốc với một mức lượng cho phép. Nếu quá tải sẽ phải đóng thuế hay bị phạt tùy theo loại hàng hóa.

Đường bay Lào, vàng nổi tiếng tốt và rẻ, nhưng chỉ có thể mua đồ trang sức chút đỉnh thôi. Có một tiếp viên hàng không phái nam mới đi bay đã dát vàng mỏng bó vào giầy để che mắt quan thuế đã bị bắt và bị đuổi khỏi hãng. Quan thuế và kiểm nã họ rất tài tình, rất chuyên nghiệp khó có ai qua mặt họ được và họ có đủ dụng cụ để kiểm soát dù bạn cất giữ đồ bất cứ ở đâu.

Về an ninh kiểm soát ở phi trường rất khó khăn. Mọi người phải qua tới 3 cửa ải, trước tiên là quan thuế, thứ hai là kiểm nã và cửa ải cuối cùng ở ngoài sân bay là cảnh sát.

Cho nên khó có ai thoát nếu giấu giếm hay mua đồ quốc cấm.

Vào dịp Noel hay Tết mấy vị này nhờ chúng tôi mua đồ ở ngoại quốc giùm. Chúng tôi không bao giờ tính tiền, chỉ là những món quà nho nhỏ cho vui vẻ.

Thông thường đi những chuyến bay quốc ngoại tôi phải có một người khiêng đồ giúp tôi để mang hành lý ra xe. Những người này làm hãng trả lương để giúp phi hành đoàn. Tôi phải chọn một người vui vẻ, nhanh nhẹn giúp riêng tôi. Dù rơi vào những chuyến bay không đúng giờ cho người này làm nhưng họ vẫn tới phi trường có mặt để giúp tôi. Họ rất vui làm việc cho tôi nhưng tôi luôn luôn không quên cảm ơn họ bằng cách mua những món quà ngoại quốc hay đồ chơi cho con cái họ hoặc đồ dùng cho gia đình họ. Những món quà này thật sự chẳng đáng giá gì nhưng rất quý đối với họ vào thời buổi lúc đó.

Chúng tôi phi hành đoàn không bao giờ kéo vali lớn hay khiêng đồ đạc.

Khi ra khỏi máy bay chúng tôi chỉ đeo trên vai một cái bóp và kéo theo một chiếc vali nhỏ đựng đồ lặt vặt như kiếng, telephone vân vân như quý vị ra phi trường đều thấy tất cả các tiếp viên phi hành đoàn của các công ty ngoại quốc ở phi trường đều làm như vậy. Đồ đạc của phi hành đoàn sẽ do các người khuân vác của Air Việt Nam mướn để giúp chúng tôi mang vào phi trường cho quan thuế kiểm soát rồi mới được mang ra xe.

Một hôm tôi bay trên chuyến DC4 đi Đà Nẵng. Khi đáp xuống phi trường thì thắng không ăn nên đoàn cứu cấp phải quăng những giây cáp dưới bánh xe phi cơ để giữ phi cơ lại đã làm cho một bánh xe phi cơ bị gãy. May mắn phi trưởng nhanh trí đã cho máy bay chạy trên những thảm cỏ và đất bên cạnh phi đạo. Bụng máy bay đã sụt sâu dưới đất nên máy bay mới dừng lại. Xe cứu hỏa, xe cứu thương bóp còi inh ỏi chạy tới giúp hành khách thoát ra khỏi máy bay gấp rút để tránh hỏa hoạn. Tôi và phi hành đoàn vẫn phải bình tĩnh để giúp đỡ hành khách ra khỏi máy bay và chúng tôi ra sau cùng. Cảnh tượng lúc đó không khác gì những cảnh phi cơ lâm nạn chiếu trên màn hình. Tất cả phi hành đoàn và phần lớn hành khách được an toàn, chỉ có mấy người bị thương nhẹ mà thôi.

Tôi cảm ơn Thượng Đế đã cho tôi thoát khỏi tai nạn này.

Tôi bước ra khỏi máy bay, mũ bóp đều mất, tóc tai bù xù và sau đó đã được máy bay của MỸ giúp đưa chúng tôi về Sài Gòn lại. Tuy nhiên cá nhân tôi chẳng thấy Air Việt Nam gửi chúng tôi đi nhà thương để kiểm tra sức khỏe. Thật thiếu sót.

Tôi thấy nghề làm tiếp viên hàng không cũng rất nguy hiểm. Tôi tự hỏi không biết có nên tiếp tục đi bay nữa hay không. Chưa kịp hoàn hồn thì hai ngày sau lại có giấy báo cần tôi đi bay gấp vì thiếu người. Tôi đi làm trở lại và tự an ủi và nghĩ rằng tất cả chúng ta đều có số mệnh. Nhất là thực tế mưu sinh cần giúp đỡ cho gia đình và bản thân tôi đã thắng thế. Tôi đi bay trở lại cho tới khi lập gia đình với chồng tôi.

Người yêu của tôi yêu cầu sau khi làm đám cưới anh muốn tôi nghỉ bay vì không muốn vợ đi xa vắng nhà vì những chuyến bay ngoại quốc phải ngủ qua đêm. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh vì tôi thấy gia đình hạnh phúc là quan trọng hơn tất cả. Mặc dù đi bay tôi có đồng lương khá cao.

Theo tôi khi đã yêu, kiếm được người yêu lý tưởng hợp với mình thì phải biết giữ lấy hạnh phúc dù phải hy sinh về vật chất.

Blaise Pascal đã nói “Hạnh phúc duy nhất trên đời là Yêu và được Yêu”

Minh Thảo Elizabeth Hoàng

Hồi ký – Nguyễn Hiến Lê

Thienlong Nguyen 

( Hồi kí của một người cảm tình sâu sắc với kháng chiến,  với Miền Bắc VNDCCH, một đại trí thức  Miền Nam- Học giả uyên bác  Nguyễn Hiến  Lê )

THẤT BẠI TRONG HÒA BÌNH

Mấy tháng đầu sau ngày 30-4-75, các bạn kháng chiến, già cũng như trẻ, nhất là trẻ, đều có tâm lý chung là hăm hở hưởng thụ sau mấy chục năm gian khổ sống chui, sống nhủi trong rừng, trong bụi, dưới hố dưới hầm. Đành rằng phải bắt tay ngay vào việc kiến thiết, nhưng đã có đường lối sẵn rồi, có kinh nghiệm 20 năm ở Bắc thì không có gì khó; vả lại đã thắng được Mỹ, thành cường quốc thứ ba trên thế giới, sau Nga và Trung Hoa thì có việc gì mà làm không được, chỉ trong 5 năm sẽ tiến bộ, 20 năm sẽ đuổi kịp Nhật Bản về kinh tế.

Đồng chí Lê Duẩn - nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam

Muốn kiến thiết thì trước hết phải san phẳng chế độ cũ đã không để lại một dấu vết nào cả. Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ. Phải diệt bọn tư bản, chiếm nhà cửa, tài sản như núi của họ, chia nhau mỗi người một chút. “Đó là quyền của mình mà!”

Thời chiến hễ nung được lòng yêu nước của quốc dân rồi, giữ cho lòng đó đừng giảm, quốc dân kiên trì chịu đựng được tới phút chót thì không còn vấn đề gì nữa: thiếu cái gì đã có Nga, Trung Hoa cung cấp cho; trái lại trong thời bình mới phải đương đầu với nhiều vấn đề nội bộ, ngoại giao, kinh tế, nhất là kinh tế. Nước ta nghèo, thiếu vốn đầu tư thiếu kỹ thuật gia, khó phát triển kinh tế mau được. Thất bại về kinh tế thì sự nghiệp của cách mạng sụp đổ.

Bây giờ 5 năm sau ngày 30-4-75, hết kế hoạch ngũ niên đầu tiên rồi, chúng ta mới thấy cơ hồ chẳng tiến bộ về một phương diện nào hết mà còn thụt lùi nữa, và ai lạc quan tới mấy cũng phải nhận chúng ta đã bỏ phí 5 năm, và không biết phải mấy năm nữa mới bắt lại được thời gian đã mất đó. Trong khi ấy thì thế giới cứ vùn vụt tiến tới.

KHÔNG ĐOÀN KẾT

Thất bại lớn nhất, theo tôi, là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mỹ đi, lập lại hòa bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ 6, 7 tháng sau, cuối 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc. Tôi nhớ như ở phần trên tôi đã nói năm 1976, trong một cuộc hội nghị ở Sài Gòn, bàn về vấn đề thống nhất quốc gia, một học giả lão thành miền Bắc, ông Đào Duy Anh (đã có hồi sống ở Nam nhiều năm, có nhiều bạn thân ở Nam) khi được mời phát biểu ý kiến, chỉ nói mỗi một câu đại ý là thống nhất cái gì cũng dễ; quan trọng nhất là phải thống nhất nhân tâm đã. Cả hội trường sửng sốt và làm thinh.

Ông Anh đã nhận xét đúng và dám nói. Quả thực là lúc đó có sự chia rẽ nặng giữa người Nam và người Bắc, Nam đã không muốn thống nhất với Bắc rồi. Từ đó, tinh thần chia rẽ cứ mỗi ngày mỗi tăng, năm nay (1980) có thể nói 90% người miền Nam hay hơn nữa, muốn tách khỏi miền Bắc.

Có nhiều nguyên nhân.

Nguyên nhân chính theo tôi là người miền Bắc vơ đũa cả nắm, coi người Nam là “ngụy” hết, trụy lạc, bị nhiễm độc nặng của Mỹ. Ngay hạng trí thức miền Bắc như ông Đào Duy Anh cũng có thành kiến rằng dân Sài Gòn hư hỏng quá rồi Họ chỉ nhìn bề ngoài, chỉ thấy một số thanh niên híp pi, lêu bêu ở ngoài đường; tôi phải giảng cho họ hiểu rằng đó chỉ là thiểu số, chứ đại đa số người trong này ghét Mỹ, ghét văn minh Mỹ, có thể nói gia đình nào cũng có người có cảm tình với kháng chiến, giúp kháng chiến cách này hay cách khác, nếu không vậy thì làm sao kháng chiến thành công được. Chỉ nội một việc biết người nào đó là kháng chiến mà không tố cáo cũng đủ có công với kháng chiến, chớ đừng nói là còn che chở, giúp tiền bạc, tiếp tay cho nữa. Chỉ trừ một số phản quốc, theo Mỹ, Thiệu triệt để vì quyền lợi, còn thì không có gia đình nào trong Nam là ngụy cả. Một số người yêu nước, có tư cách, mới đầu gia nhập kháng chiến, sau vì lập trường chính trị, phải rời hàng ngũ, về thành, mà không ưa Pháp, Mỹ, hạng đó không nên coi người ta là ngụy. Bọn thanh niên hư hỏng chỉ ở Sài Gòn mới có nhiều, mà tỉ số không cao so với những thanh niên đứng đắn.

Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mỹ thì cái gì cũng làm được.Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lý, anh đừng nói nữa”.

Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kỹ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau … Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè, hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú…

Chợ trời | Sài gòn thập cẩm

 

Trong mỗi cơ quan ở Sài Gòn cũng có sự chia rẽ. Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5; hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn “nằm vùng” cũng không ưa bọn tập kết về đó; bị khinh nhất là bọn ngụy được tạm dùng lại, mà bọn này thạo việc hơn hết. Chỉ vì thiếu đoàn kết cho nên trong cuộc hội họp nào người ta cũng hô hào “Đoàn kết, đại đoàn kết”. Còn ở trong phòng họp thì ai cũng hoan hô tinh thần đoàn kết, ra khỏi phòng rồi thì hết đoàn kết. Người ta chỉ đoàn kết với nhau vì quyền lợi thôi; do đó mà có tinh thần bè phái, gia đình trị, và ở Bắc có câu này: Nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế.

CHỢ TRỜI SAU 1975 ĐẢNG cs CƯỚP SÀI GÒN - THÔNG TIN-VĂN HÓA

BẤT CÔNG

Điểm thứ nhì làm cho chúng ta thất vọng là xã hội còn bất công hơn thời trước nhiều.

Có người nói một số “ông lớn” đi đâu cũng có người hầu xách bình nước sâm Cao Ly để ông lớn uống thay trà; một ông nọ luôn luôn có một bác sĩ ở bên và một thiếu nữ quạt hầu vì ông không chịu được quạt máy. Tôi không biết những tin đó đúng hay không, chỉ biết những tin đó do “anh em cách mạng” đưa ra cả.

Một ông bạn tôi bảo có vô nhà thương mới thấy có cả chục (sic) giai cấp bệnh nhân, tùy giai cấp mà được ở phòng nào, khám bệnh ra sao, trị bệnh ra sao, cấp thứ thuốc nào v.v.

Người chết cũng phân biệt giai cấp khi đăng cáo phó: cán bộ thường thì được mấy phân trên cột báo, cán bộ bự thì được mười mấy phân; lời cáo phó cũng theo những tiêu chuẩn riêng. Đúng là đường lối Staline.

Sài Gòn được giải phóng vài năm thì ta thấy xuất hiện ngay một hạng giàu sang mới nổi, thay thế bọn giàu sang thời Thiệu, và cũng thích những xa xí phẩm (áo hàng thêu, hột xoàn, máy điều hòa không khí v.v.) của thời Thiệu. Tiền đâu mà họ mua những thứ đó nhỉ?

Sự bất công chướng nhất, tàn nhẫn nhất là lương công nhân viên từ 1975 cứ đứng yên trong khi sự phân phối nhu yếu phẩm giảm đi gần hết, chỉ còn gạo, bo bo là tạm đủ, nhất là trong khi mãi lực của đồng bạc năm 1980 chỉ còn bằng 1/10 năm 1975; thành thử lương một công nhân viên chỉ đủ để mua củi chụm, lương một bác sĩ mới ra trường chỉ đủ để mua rau muống ăn. Khắp thế giới không đâu có chế độ lương bổng kỳ cục như vậy (2). Người nào cũng phải bán đồ đi mà xài, nhờ cha mẹ giúp đỡ, nếu không thì phải xoay trở mọi cách, làm sao sống được thì làm, chính phủ không biết tới. Một cán bộ ở Hà Nội đã phàn nàn: “Người ta có rất nhiều quyền hành mà không có một chút tinh thần trách nhiệm nào cả. Thật lạ lùng!” Kravchenko (trang 185) nói chính phủ Nga bắt dân đói để dân biết phép chính phủ mà phải răm rắp tuân lệnh. Ở nước ta không đến nỗi như vậy, có áp dụng chính sách đó thì chỉ áp dụng cho những kẻ thù của chế độ thôi, tức bọn ngụy quân ngụy quyền còn ở trong một số trại cải tạo.

kinh tế việt nam thời bao cấp

Giành giật mua hàng nhu yếu phẩm ở mậu dịch quốc doanh.

THIẾU KỶ LUẬT

Không ai có trách nhiệm mà tinh thần bè phái quá nặng, nên không có kỷ luật, dưới không tuân trên, loạn.

Chương trên tôi đã nói tới cái tệ mỗi tỉnh là một tiểu quốc, địa phương tự do tới mức không tuân lệnh trung ương (ngay xã cũng không tuân lệnh tỉnh, huyện), lấy lẽ rằng chỉ địa phương mới hiểu tình trạng của địa phương, cấp trên không nên xen vào; cái tệ nhân viên được lệnh đi công tác mà không đi, nằm ỳ ở nhà, một tuần sau trở lại sở, trả sự vụ lệnh mà không bị khiển trách; cái tệ nhân viên muốn bỏ sở về giờ nào thì về, lấy cớ là phải kiếm gạo, chủ nhiệm đành làm thinh, chứ không biết đáp sao.

Tôi kể thêm một trường hợp nữa. Ông giám đốc một cơ quan nọ đến tuổi về hưu, bảo người giúp việc: “Tôi sẽ không về, về thì mất hết quyền lợi: xe hơi, “bìa” (sổ đặc biệt để mua nhu yếu phẩm), nhà ở v.v. mà còn bị xã ấp nó ăn hiếp, hoạnh họe cái này, cái khác; không, tôi không về”. Một ông giám đốc mà sợ công an ấp vì công an có quyền bắt ai thì bắt, giam ai thì giam. Một viên công an bảo: “Tôi làm việc 4, 5 năm rồi, mà bây giờ mới biết quyền hạn của tôi, từ trước tôi muốn làm gì thì làm”.

Vì mất kỷ luật, cho nên thanh niên trốn nghĩa vụ quân sự: ở miền Nam trốn tới 90%, có nơi cả 100% mà vẫn sống yên ổn. Bắt được họ, đưa họ ra mặt trận, họ lại trốn nữa. Không thể giam hoài họ được, gạo đâu mà nuôi? Họ sống yên ổn ngay ở làng vì chỉ cần đút lót cho công an là êm. Còn nạn đào ngũ thì toàn quốc tới 25%. Trước kia người ta hy sinh để giành độc lập; bây giờ độc lập rồi lại đánh nhau với nước anh em, người ta không hăng hái nữa.

Nghe nói ở một tỉnh nọ, viên giám đốc sở tài chánh kiêm giám đốc ngân hàng (?) ôm 60 lượng vàng cùng với 30 viên công an xuống một chiếc tàu của chính phủ, mang theo đầy đủ khí giới (và không biết bao nhiêu lượng vàng nữa) để vượt biên. Tin đó chưa lấy gì làm chắc nhưng chuyện công an – cây cột chống đỡ chế độ – ôm vàng vượt biên thì mấy năm nay nghe thường quá rồi.

Tinh thần vô kỷ luật đó, không biết một phần có phải do chính sách giáo dục trẻ em không. Người ta cấm đánh trẻ – điều đó có thể hiểu được – cấm nghiêm khắc với trẻ, chúng nghỉ học thì lại nhà mời chúng đi học; chúng làm biếng thì không bị phạt mà cô giáo bị trách là dạy dở. Kỳ tựu trường có nơi còn tổ chức múa lân, đốt pháo để dụ trẻ em đi học nữa. Cô giáo nào mời được ít trẻ thì bị rầy. Riết rồi cô giáo ngán dạy quá, cứ tự ý nghỉ bừa, hiệu trưởng phải tới nhà năn nỉ, nếu không thì lỗi ở hiệu trưởng chứ không phải ở cô giáo. Và người ta ngán luôn cả nghề sư phạm: dốt hoặc muốn tránh nghĩa vụ quân sự mới phải thi vô sư phạm.

Kỷ luật như vậy, trẻ em càng được thể làm biếng, sức học rất kém, mà tính ngỗ nghịch (bóp vú cô giáo như trên đã nói) thì quá sức tưởng tượng. Một số cán bộ già ở Bắc vô nhận rằng trẻ em trong này ngoan ngoãn, lễ phép. Nhưng tôi sợ rằng ít năm nữa, chúng đuổi kịp bạn chúng ở Bắc mất.

KÍNH TẾ SUY SỤP

Sự thất bại hiển nhiên nhất của chế độ là sự suy sụp của kinh tế mà tôi đã trình bày sơ lược ở trên. Hậu quả là Việt Nam trước thế chiến tự hào là “tiền rừng bạc bể”, có những đồng lúa, đồn điền cao su mênh mông ở miền Nam, những mỏ than, mỏ phốt phát (phosphate) phong phú ở miền Bắc mà bây giờ thành một trong vài nước nghèo nhất thế giới.

Sau 30/4/1975, Chính Quyền VNCH Để Lại Nhiều Vàng Và USD, Tại Sao Nước ...

Từ ngày 30-4-75, do những đồng bào ở Bắc vào, chúng ta ở Nam mới lần lần biết cảnh điêu đứng của dân tình ngoài đó sau 20 năm sống dưới chế độ mới. Từ trên xuống dưới ai cũng phải ăn độn có khi 60-70% (3); có hồi gạo quý tới nỗi người ta cất vào trong những cái thố, cái liễn, trân trọng như nhân sâm, chỉ khi nào đau ốm mới lấy ra một nhúm để nấu cháo; ngày Tết mà có đủ gạo nấu cơm cúng ông bà là mừng lắm; khi nào được ăn một bữa cơm không độn với nước mắm thôi thì coi như được dự một bữa tiệc. Nước mắm rất hiếm, có người ở Nghệ An hay Hà Tĩnh mấy năm không có nước mắm ăn, gặp người trong Nam ra đem theo nước mắm, xin một vài muỗng rồi cầm nuốt ực ngay hết, không đợi đem về nhà.

Nhiều người vào Sài Gòn thăm bà con, khi ra vơ vét đủ thứ, từ cây đinh, khúc dây chì, lon sữa bò, ve chai … đem ra, vì ở ngoài đó thường cần dùng tới mà không kiếm đâu ra. Họ cho miền Nam này là thiên đường. Nhưng một người Ba Lan trong ủy ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bảo chỉ trong 5 năm, miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quần áo … về giúp bà con ở đây thì chúng ta hiện nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi.

Dân miền Nam từ xưa chưa bao giờ biết đói, phải ăn độn thì năm 1979 đã phải ăn độn 70-80%, có những gia đình phải ăn bữa cơm bữa cháo, có cô giáo và học sinh đói quá, tới lớp té xỉu

Nhà nào cũng bán đồ cũ đi để ăn; nhiều giáo viên nhà đã trống rỗng, không còn bàn ghế nữa, ăn ngủ trên sàn. Ai cũng chỉ lo sao có cái gì nuốt cho đầy bao tử, chứ không dám nghĩ tới miếng ngon. Tết Canh Thân vừa rồi, ở Long Xuyên, nhà một giáo viên hồi hưu, trên bàn thờ ông bà chỉ bày một đĩa có mấy chiếc bánh phồng và bánh gai, không có một đòn bánh tét, một quả dưa hấu.

Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài Gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ … để bán cho “ve chai”. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá.

Không có tiền mua rau thì làm gì có tiền mua thịt. Muốn lâu lâu có thịt thì phải nuôi heo, gà, cho nên nhiều cơ quan ngay khi mới thành lập đã nghĩ ngay đến việc hùn tiền (hay lấy trong quỹ?) mua heo con, phân công nhau nuôi tại khu ở tập thể, như vậy đến lễ, Tết mới có thịt liên hoan. Người ta thèm thịt quá, cho nên liên hoan lu bù, bất kỳ một dịp gì cũng liên hoan được: một bạn đồng nghiệp được ban khen, ngày tựu trường, bãi trường, họp bạn để học tập, ban hành hiến pháp mới, làm xong một công tác, mỗi ngày lễ, Tết … mỗi năm liên hoan cả chục lần là ít.

Cơ quan nào cũng có đủ nhà bếp, chén đĩa, xoong chảo, người làm bếp (lựa trong nhân viên) để nấu ăn làm tiệc Và khi ngồi vào bàn tiệc thì chẳng ai mời ai, đợi ai, mạnh ai nấy gắp, ăn cho thật mau (tới nỗi có người bảo cứ nuốt trước rồi sẽ nhai sau!), tệ gấp 10 thói ăn uống ở đình làng mà Ngô Tất Tố đã mạt sát trong cuốn Việc làng.

Nghèo thì sinh ra ở bẩn. Ngay trong khu tập thể một trường Đại học Hà Nội, phòng một giáo sư ở Pháp về cũng dơ dáy, từ sàn gạch đến tường đều đầy vết bẩn. Hỏi như vậy làm sao chịu được, ông ta nhún vai đáp: “Lâu rồi quen đi” Không nên trách ông ta. Dù muốn sống sạch cũng không thể được: đâu có vôi để quét tường? đâu có xà bông để rửa sàn? đâu có giẻ để lau? Nước thì có nhưng phải xuống dưới sân để hứng rồi xách lên 5-6 chục bực thang, ai mà không ngại?

Phải, lâu rồi thì quen đi. Nếu tình trạng không thay đổi thì chỉ mươi năm nữa, toàn dân sẽ quen đi, không thấy gì là bẩn nữa. Hiện nay ở trong Nam đã nhiều nhà để bụi đóng đầy bàn ghế – mà trước kia họ sống rất sạch – mạng nhện giăng đầy trần, còn dân thị xã thì đã quen với cảnh 4, 5 người cùi nằm trên đường đưa tới chợ, lăn ở giữa chợ để xin ăn.

Câu “nghèo cho sạch, rách cho thơm” của ông cha, chúng ta không giữ được vì chúng ta nghèo tới mức không thể ở sạch được.

Năm 1978, chính quyền Bắc … ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam…, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo. (Nguyến Hiến Lê tâm sự)

Nguyễn Hiến Lê

————————

( Nguồn: FB Sơn Bùi )

 


 

VÔ NGẦN VÔ HẠN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn!”.

“Lạy Chúa, xin cứ quấy rầy con, thúc bách con dám táo bạo hơn, lao ra những vùng biển lớn, nơi bão tố thể hiện quyền làm chủ của Chúa; nơi mất đất liền, con sẽ lần dò những vì sao! Xin đẩy lùi chân trời hy vọng của con ở người đời; giục con hướng tới một tương lai chỉ biết cậy trông vào Chúa, vào sức mạnh, khôn ngoan và tình yêu, những quà tặng vô ngần vô hạn của Ngài!” – Sir Frances Drake.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến những quà tặng vô giá mà Sir Frances Drake đề cập, đó là những gì Thần Khí Đấng Phục Sinh tặng trao những ai thuộc về Ngài – “Đấng được Thiên Chúa sai đi” – Đấng mà “Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người ‘vô ngần vô hạn!’”.

Hãy nhìn vào Hội Thánh sơ khai, nhìn vào các tông đồ để thấy sức mạnh nội tại của Thần Khí được ban! Trước thượng hội đồng, Phêrô và các tông đồ bị tra vấn về việc đã rao giảng một Đức Kitô tử nạn và phục sinh; các ngài đã ngoan cường lên tiếng, “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm!” – bài đọc một. Những lời ấy chỉ có thể phát xuất từ những con người đầy Thần Khí, tuyệt đối tin tưởng vào Ngài. Thánh Vịnh đáp ca xác tín, “Kẻ nghèo hèn kêu xin, và Chúa đã nhận lời!”.

Chúa Phục Sinh sẽ không dè sẻn khi phân chia món quà Thánh Thần cho bất cứ ai! Ngài ban tặng Thánh Thần cách ‘vô ngần vô hạn’. Nhờ Thánh Thần, Ngài nâng toàn bộ cuộc sống chúng ta lên một bình diện khác, bình diện ân sủng. Sự hào phóng của Ngài, trước hết, thể hiện trong Bí tích Thánh Thể. Mỗi khi chúng ta tiếp nhận Mình Máu Thánh, Chúa Phục Sinh để lại trong tâm hồn chúng ta một sự đổi mới; đồng thời, giúp chúng ta đào sâu sự hiện diện của Thánh Thần trong cuộc sống. Hiệp thông với Thánh Thể, thân xác và linh hồn chúng ta hưởng nếm sự bất tử của mầu nhiệm Phục Sinh.

Thánh Thần là món quà hiệp nhất, cung cấp thuốc giải độc cho mọi khuynh hướng chia rẽ; chống lại sự kiêu ngạo, ích kỷ, bằng cách nhắc nhở chúng ta về sự khiêm nhường; thúc đẩy chúng ta sống bác ái, ban sức mạnh để mỗi người cho đi “Giêsu”, quà tặng ‘vô ngần vô hạn’ đã lãnh nhận, mà không tính toán hay kiết cáu.

Anh Chị em,

“Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn!”. Bởi Thánh Thần, Chúa Giêsu đi vào trần gian, hoạt động trong Thánh Thần; khi trút hơi thở, Ngài “trao Thần Khí”. Cũng thế, nhờ Thánh Thần, các tông đồ và con cái Giáo Hội hai ngàn năm qua không ngừng “lao ra những vùng biển lớn, bất chấp bão tố”. Bởi lẽ, Thánh Thần là tình yêu, sức mạnh và là món quà tuyệt hảo của Đấng không tính toán; trái lại, ban ân sủng của Ngài cách hào hiệp. Và tất nhiên, Ngài cũng đang chờ đợi sự đáp trả của bạn và tôi là những người vốn không cần “lần dò những vì sao”, chỉ cần ngoan nguỳ dưới bàn tay của Thánh Thần để hoàn tất những gì Chúa Phục Sinh còn dang dở; đó là trở nên chứng tá “hướng đến một tương lai” đầy sự hiện diện của Thiên Chúa trong một thế giới loại trừ Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con thoả mãn với những con cá quèn của ao đầm! Dạy con lao ra những vùng biển lớn; với Thánh Thần, con đánh bắt từng mẻ linh hồn về cho Chúa!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

*************************************************************************

Thứ Năm Tuần II Phục Sinh

Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người.  

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 3,31-36

31 “Đấng từ trên cao mà đến thì ở trên mọi người ; kẻ từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất. Đấng từ trời mà đến thì ở trên mọi người ; 32 Người làm chứng về những gì Người đã thấy đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người. 33 Ai nhận lời chứng của Người, thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật. 34 Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn. 35 Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người. 36 Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời ; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy.”


 

Ngày 30/4 của Phạm Xuân Ẩn

Tác Giả: Đàn Chim Việt

30/04/2025

Tuần báo Newsweek đã miêu tả về ngày 29-4 của Phạm Xuân Ẩn – người được đánh giá là “nhân vật của Thế kỷ XX” một “Điệp viên hoàn hảo”, một “Người Việt trầm lặng” sau này mới rõ dần chân dung ông. Còn ngày 29-4 ấy trong một biến động được miêu tả là “cuộc tháo chạy tán loạn”, là ”Sài Gòn sụp đổ “, thì ông Ẩn đã làm gì?

Tờ Newsweek viết về việc Phạm Xuân Ẩn đã cứu trùm cảnh sát mật vụ của chế độ Sài Gòn, bác sỹ Trần Kim Tuyến, đi được chuyến bay cuối cùng di tản khỏi Sài Gòn như thế nào? “Tuyến sẽ bị giết chết nếu ông ta còn ở lại”, Newsweek viết.

Khi ông Tuyến cuống cuồng gọi điện cho Sứ quán Mỹ tìm sự giúp đỡ của CIA thì được trả lời là tất cả đã đi hết. Quá hoảng sợ lo cho tính mạng, ông quay lại tìm người bạn thân Phạm Xuân Ẩn, một phóng viên báo Time nhiều quyền lực và có mối quan hệ rộng vào bậc nhất Sài Gòn.. Ông Ẩn vội đưa Tuyến lên chiếc xe của mình tới Tòa Đại sứ Mỹ kiếm tìm cơ hội cuối cùng nào có được.

Nhưng cảnh tượng thật hãi hùng. Tòa đại sứ đông nghẹt những người cầu cứu hoảng loạn. Chiếc xe cũ Renault của ông Ẩn không sao len vào được… Gọi điện khắp các địa chỉ cần thiết khác trong thành phố, cuối cùng ông Ẩn liên lạc được với một nhà báo Mỹ có thể nhắn cho Tòa Đại sứ… Nhờ thế họ mới biết được còn chuyến di tản cuối cùng của CIA tại ngôi nhà của CIA ở đường Gia Long, nơi đã diễn ra biểu tượng cuối cùng của Sài Gòn sụp đổ.

Ở tòa nhà này, họ cũng suýt nữa thì trượt chuyến đi. Khi xe của ông tới nơi, cánh cửa thép của tòa nhà đã đóng lại để tránh dòng người có thể ập vào. “Đề nghị cho gọi ông Polgar”. Ẩn yêu cầu được gặp người sếp mà ông quen. Nếu gặp được Polgar chắc chắn ông ta biết được câu chuyện trầm trọng của ông Tuyến, sẽ giải quyết ngay. Nhưng người lính gác không chịu gọi.

Vừa may lúc vợ của người lính gác mua đồ ăn đến, cánh cửa hé ra cho bà ta vào. Thế là ông Ẩn một tay giữ chặt cửa, tay kia đẩy thật mạnh bạn mình vào lọt. Tờ Newsweek kết luận: “Thế là, vị trùm cảnh sát mật vụ Sài Gòn đã được một điệp viên của Hà Nội cứu thoát, leo lên mái nhà để lên máy bay đi di tản.”

Nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn: Biểu tượng của hòa bình và hòa hợp - Ảnh 2.

Khi tất cả phóng viên của Time được sơ tán trước ngày Sài Gòn thất thủ ngày 30/4 /1975, Phạm Xuân Ẩn là người ở lại. Ảnh tư liệu đăng ở Afamily Magazine.

Chuyện gì đã xảy ra sau đó? Vợ con ông Ẩn đã đi theo người của báo Time. Để rồi sau này lại phải vất vả mới về lại Sài Gòn. Chỉ còn mình ông ở lại vì chưa có mệnh lệnh nào. Ông không đi, bởi “ngoài việc đất nước đang sang giai đoạn mới, đã đẩy được người ngoại quốc chiếm đóng ra khỏi xứ sở, còn lý do nữa là mẹ tôi đã quá già yếu không thể đi được”. Đó là lời ông Ẩn trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài.

Vào năm 1992 khi tôi bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên đưa Phạm Xuân Ẩn ra ánh sáng, mãi tới 10 năm sau mới in được, cuốn “Phạm Xuân Ẩn — Tên người như cuộc đời”, một công việc có ý nghĩa trong đời viết lách của mình, tôi đã phỏng vấn Phạm Xuân Ẩn về ngày 30-4 ở Sài Gòn.

Vì sao ông Tuyến lại rơi vào cảnh đó, khi mà ông ta là người đứng đầu bảng danh sách số người mà Mỹ phải đưa đi? Phạm Xuân Ẩn tả lại: “Ông ta là nhân vật thứ ba sau Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Làm giám đốc Sở Nghiên cứu Văn hóa Chính trị Xã hội, người Mỹ gọi là Sở Mật vụ. Trong suốt cuộc đời tôi hoạt động dưới vỏ bọc làm một nhà báo của Mỹ, ông mến tôi. Sau đảo chính Ngô Đình Diệm năm 1963, ông ta cũng bị bắt. Ông ta đi cùng chuyến máy bay với ký giả Stanley Karnow từ Hồng Kông về và bị bắt ngay trước mắt Stanley. Sau lúc ông bị bắt, tôi tới nhà thăm. Bả đang mang bầu. Vì sao ông ta kẹt lại khi vợ con ông ta đi cả rồi? Vì ông này ghét Thiệu. Trước giải phóng một tháng, ngay sau khi Đà Nẵng đã thất thủ, Tuyến vẫn đang trong một âm mưu lật đổ Thiệu để lập chính phủ mới.

Tối 1-4 bác sỹ Trương Khuê Quang, giám đốc trường Quốc gia Nghĩa tử, người trung gian của Tuyến đưa Tuyến đến gặp Trí Quang. Đêm mùng 3 rạng mùng 4 Thiệu bắt nhốt hết những phần tử âm mưu đảo chính, kể cả nghị sỹ, dân biểu, nhà báo.. Ông Tuyến vẫn nấn ná chờ vì nghĩ rằng Thiệu bỏ chạy sớm sẽ thả đàn em của mình ra… Nhưng mãi khi ông Hương lên rồi, ngày 26 mới thả. Ông Tuyến yên trí thế nào CIA cũng phải đưa mình đi.”

Tướng Phạm Xuân Ẩn nhớ lại cảnh ông Tuyến chạy đến cầu cứu:

Người cháu ông Tuyến – một viên thiếu tá – chở ông đến bằng xe Honda. Tôi giục nó về lo cho vợ con, để ông Tuyến lại. Tôi bắt đầu gọi điện. Kêu Tòa Đại sứ. Năm cái telephon tất cả. Sự thể diễn ra đúng như báo chí đã nói rồi.

Tuyến đi chuyến cuối cùng với ông Trần Văn Đôn. Ông Đôn cũng thảm, không sao chen lên được mấy chuyến trước. Con ông phải động viên “Ba, ba đừng bỏ cuộc.” Cô bí thư của ông Polgar chủ nhiệm CIA tên là Hà Hiếu Lang, em đại tá Điệp nhường 3 chỗ cho gia đình tướng Đôn. Người cuối cùng lên được máy bay là ông Tuyến. Trong hình, cái người thấp bé là ổng… Không leo lên được, tướng Đôn phải đưa tay kéo lên.

Chi tiết này sau tôi biết được do đọc báo trong bài người ta phỏng vấn tướng Đôn. Tấm hình minh chứng phút cuối cùng đó của một phóng viên hãng UPI. Hãng được sử dụng 20 năm, gần đây tác giả mới lấy bản quyền.”

Trong bài của Morley Safer, ông ta viết: “Ẩn đã can đảm giúp cho Trần Kim Tuyến thoát khỏi Việt Nam. Tuyến là một trong những viên chức cao cấp nhất của CIA tại Việt Nam. Là một tay âm mưu bất trị làm việc cho Thiệu sau đó chống lại chính quyền Thiệu. Vào ngày cuối cùng của Sài Gòn Tuyến vẫn còn nỗ lực thương thuyết với Phật giáo để lập một chính quyền mới.”

Những việc cứu “kẻ thù” như thế không chỉ diễn ra một lần. Ông đã từng cứu nhiều bạn Mỹ của ông thoát chết trong những hoàn cảnh vô cùng phức tạp và còn nguy hiểm cho ông trong chiến tranh.

Câu chuyện ngày 30-4 của tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn vẫn còn gây tranh luận tới tận gần 30 năm sau – vào năm 2006 khi ông Ẩn mất và giới truyền thông trong ngoài nước viết nhiều về ông.

Một bài phỏng vấn nhà báo Mỹ Don Southerland – người đang là Tổng giám đốc chương trình, trong đó có lý giải ngày 30-4 của Phạm Xuân Ẩn lý giải tại sao ông Ẩn lại cứu bác sỹ Trần Kim Tuyến.

Dan Southerland là người chứng kiến phút giây đó: “Đêm 29-4 trước khi các trực thăng chuẩn bị rời Việt Nam, tôi đang liên lạc với các trụ sở truyền thông nước ngoài thì Ẩn vẫn còn ở lại đó dù vợ con ông đã đi. Ông nói có một vấn đề hệ trọng là cần tìm cách cho bác sỹ Tuyến ra đi. Tôi sau khi liên hệ với một giới chức cao cấp của tòa Đại sứ Mỹ và được bảo là hãy nói cho ông Tuyến hay rằng có thể đến 22 Gia Long có thể gặp được số quan chức Nam Việt nam như Trần văn Đôn và một số người khác để được bốc đi khỏi Sài Gòn.” Và câu chuyện diễn ra như thế nào ta đã biết.

Dan Southerland nhận định như sau:

“Ông Ẩn đã giúp người vốn chống Cộng cuồng nhiệt. Tôi muốn nói là ông Ẩn đã giúp một người có lý tưởng mà ông Ẩn hoạt động gần hết đời để chống lại nó… Lời của đại tướng Võ nguyên Giáp đánh giá rằng “nhờ các tài liệu tình báo của Phạm Xuân Ẩn mà Hà Nội như có mặt tại phòng chiến tranh của Lầu Năm góc” là đúng. Bởi vì Ẩn có thể cung cấp cho Hà Nội một số việc, chẳng hạn cách suy nghĩ, lý luận của người Mỹ. Đó là khả năng lớn nhất của ông Ẩn. Ông ta có thể cảm nhận sự thật.”

Phạm Xuân Ẩn: Vừa làm báo, vừa... tình báo - Báo Công an Nhân dân điện tử

Tình báo Phạm Xuân Ẩn (phải) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp ảnh của báo lề phải.

“Có thể kết luận việc ông Ẩn hết sức giúp Trần Kim Tuyến ra khỏi Việt nam là chỉ thuần về ơn nghĩa và tình bằng hữu mà chuyện này có thể đã khiến ông mất sự tin cậy của Hà Nội.

Nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn: Biểu tượng của hòa bình và hòa hợp - Ảnh 3.

Phạm Xuân Ẩn khoe thẻ nhà báo năm 1965 tại nhà riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, ngày 26/4/2000. Ảnh tư liệu đăng ở Afamily Magazine.

Khi viết cuốn sách “Phạm Xuân Ẩn – Tên người như cuộc đời”, tôi cũng băn khoăn về suy diễn này và đã đem hỏi hai người chỉ đạo trực tiếp của ông là Trần Quốc Hương, Nguyên Bí thư TW Đảng, và Đại tướng Mai Chí Thọ. “Cứu Tuyến, đó là biểu hiện rất đặc biệt về tư chất Ẩn. Con người trung hậu như vậy nhất định sẽ thành công trong sự nghiệp. Đó gần như là Luật Nhân – Quả”(lời đại tướng Mai Chí Thọ). Còn ông Trần Quốc Hương thì nói: “Ẩn xử sự đúng với bản chất con người của mình trọng đạo lý.”

Ngày 30-4-1975 đã lùi xa 40 năm. Giá như tổ chức một cuộc đại phỏng vấn mọi người Việt Nam chung một câu hỏi: Ngày 30-4-75 đến với bạn như thế nào? Câu trả lời sẽ là phần máu thịt toàn vẹn đắp lên phần xương, là những diễn biến sự kiện lịch sử đã ghi lại.

Phạm Xuân Ân, phóng viên chiến tranh Việt Nam của tờ Times, 2005 ©AFP - Nicolas Cornet

Phạm xuân Ẩn năm 2005, hình của TTX AFP

Và trong số đó, ngày 30-4 của Phạm Xuân Ẩn đã hiện lên con người nhân văn nhất trong những giây phút sống còn. Viết về ông, tôi được các tác giả nước ngoài nhận xét tặng những lời ghi nhận quý báu:

Giáo sư sử học Mỹ Larry Berman, tác giả cuốn “Điệp viên hoàn hảo”:

“Cuốn sách của bà đã mở đường cho tất cả chúng tôi” (Your biography of Pham Xuân Ẩn led the way for the rest of us..). “Trong tất cả những người viết về Phạm Xuân Ẩn, bà là người hiểu rõ chủ nghĩa nhân văn của ông ấy hơn ai hết” (You know An’s humanity better than anyone who writes his story”.

Giáo sư người Mỹ Thomas Bass – tác giả cuốn sách mới viết về Phạm Xuân Ẩn “Điệp viên Z 21, kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ” đã trả lời phỏng vấn trên “Tuổi trẻ cuối tuần” ra ngày 27-4-2014 như sau:

“Bà Nguyễn Thị Ngọc Hải là tác giả quan trọng hàng đầu về Phạm Xuân Ẩn. Cuốn sách của bà là chỉ dẫn quan trọng cho tất cả chúng tôi những người theo bước chân bà viết về ông”.

Sau cùng, tôi vinh dự còn giữ một kỷ vật quý không công bố, đó là lá thư viết tay của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cảm ơn về cuốn sách Phạm Xuân Ẩn.

NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

 (Facebook)

***************************************************************

Ghi chú của Kẻ Đi Tìm:

Ý thức về cái xấu, cái bẩn của Cộng Sản, Phạm xuân Ẩn đã trăn trối với gia đình đừng chôn ông ở nghĩa trang của Cộng Cán. Sự tuyệt vọng và chán ghét chế độ Cộng Sản đã theo ông tới cuối đời bằng lời yêu cầu trước khi ông trút hơi thở cuối cùng, được tiết lộ bởi David Devoss: “Đừng chôn tôi gần Cộng sản”.