“Anh em hãy học cùng Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”- Cha Vuong

Chúc 1 ngày thật mạnh mẽ trong đức Tin, bền vững trong đức Cậy, tràn đầy trong đức Mến nhé. 

Thứ 2, 3PS: 5/5/2025

TIN MỪNG: Họ liền thưa lại rằng: “Chúng tôi phải làm gì để gọi là làm việc của Thiên Chúa?” Chúa Giêsu đáp: “Đây là công việc của Thiên Chúa, là các ngươi hãy tin vào Đấng Ngài sai đến”. (Ga 6:28-29)

SUY NIỆM: Có những người tự nghĩ rằng chỉ cần có đức tin là đủ để được cữu rỗi. Liệu đức tin của họ có đủ mạnh để tin vào quyền năng của Chúa qua những nghịch cảnh đang xẩy ra trong đời, hay họ sẽ tìm cách bám víu vào những thực tại khác? Còn đức tin của bạn thì sao? Muốn đi theo ai, muốn ở với ai, thì phải biết rõ người ấy, biết người ấy xuất thân từ đâu và có đáng tin không. Muốn đi theo Chúa Giêsu và ở với Chúa Giêsu thì người Kitô hữu phải biết Chúa Giêsu là ai, đường lối của Ngài như thế nào? Vậy thì, đối với bạn, Đức Giêsu Kitô là ai? Bạn mô tả mối quan hệ của bạn với Chúa như thế nào?

    Để biết Chúa Giêsu Kitô là ai và đâu là đường lối của Ngài, bạn cần phải gạt bỏ những hình ảnh trần tục ta vẫn có về Chúa Kitô, những hình ảnh do con người tạo ra: một Đức Kitô của quyền lực, của thống trị… có những người theo Chúa vì ích lợi riêng… “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm ta không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê. Bạn hãy nhớ lời Ngài dạy: “Anh em hãy học cùng Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”.

LẮNG NGHE: Cái lợi tuyệt vời là được biết Chúa Giêsu kitô, Chúa của tôi. (Pl 3:8).

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin tăng thêm lòng tin cho con để luôn biết dấn thân làm chứng cho Chúa và sống đức tin cách can trường trong mọi hoàn cảnh.

THỰC HÀNH: Cố gắng tuân theo lời Chúa dạy trở nên hiền hậu và khiêm nhường hơn.

From: Do Dzung

**************************

Con Tin Chúa Ơi – Lm Duy Thiên 

Tác giả “Thề không phản bội quê hương” qua đời

Saigon Nhỏ 

 Nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân (Hình:TK)

Nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân, tác giả ca khúc lừng danh “Thề không phản bội quê hương” đã bất ngờ qua đời vào ngày 3 Tháng Năm 2025, không biết được giờ chính xác, do ông ngã quỵ trong nhà, và qua đời không ai hay biết. Theo vài người trong xóm ước tính, giờ mất của ông có lẽ vào khoảng 13g30 trưa.

Nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân sinh năm 1939, mất ở tuổi 86, thuộc lứa thứ hai của những nhạc sĩ thành danh trong dòng bolero của miền Nam như Mặc Thế Nhân, Hà Phương, Giao Tiên…

Ngôi nhà của ông ở trong con hẻm nhỏ, đường Trương Tấn Bửu, Quận Ba (nay là đường Trần Huy Liệu, Quận Phú Nhuận) ít người qua lại. Chỉ đến khi hàng xóm nhìn qua song sắt nhà, thấy ông nằm trên đất, gọi không dậy, nên đã hô hoán. Vì ông sống một mình nên sau đó công an khu vực đến phá cửa và đưa ông vào phòng lạnh ở Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, chờ cho thân nhân bên Pháp về chôn cất.

Hiện ngôi nhà nhỏ mà ông vẫn ngày ngày mở cửa nhìn ra ngoài, đón đôi ba đứa học trò đến học nhạc hay thăm viếng, đã niêm phong.

(Hình: AB)

Nhiều năm nay nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân sống cô độc một mình. Sau khi ly hôn, vợ và các con định cư ở nước ngoài, nhạc sĩ chọn ở lại cùng kỷ niệm trong căn nhà nhỏ chỉ khoảng 20m2. Dưới nhà là chỗ ông dạy học, tiếp khách, kể cả nấu bếp. Tối đến ông lên lầu và nghỉ cùng các kỷ vật của vợ con, sách vở của ông.

Sau năm 1975, nhạc sĩ Trường Hoàng Xuân chọn sống đời khép kín. Ông không bè bạn với ai. Những ngày sau này khi sống một mình, lúc buồn, ông lái chiếc honda cũ của mình đi loanh quanh thành phố, ghé nơi nào đó, làm ly café, một mình nhìn phố phường rồi về. Hàng xóm biết ông là nhạc sĩ nổi tiếng một thời nhưng chưa bao giờ nghe ông nói về mình, ông chỉ chào hỏi rồi lại lui vào nhà.

Nhạc sĩ Trường Hoàng Xuân mắc một số bệnh gan, viêm phế quản, viêm mũi dị ứng kinh niên. Ông không khỏe nhưng tự trọng, tránh nhờ cậy ai giúp mình, và cũng không than vãn.

Nhạc sĩ Trương Hoàng Xuân nổi tiếng với nhiều bài hát như Hái Hoa Rừng Cho Em, Xé Thư Tình, Bạc Trắng Lửa Hồng… nhưng ca khúc nổi tiếng và được nhắc nhiều vào thời trước 1975 là Thề Không Phản Bội Quê Hương, viết cho Cục Chỉnh Huấn vào năm 1971. Bài hùng ca này được trình bày ở nhiều nơi và tới nay vẫn còn được yêu thích.

(Hình: PB)

Trương Hoàng Xuân học nhạc trong nhà thờ và chơi đàn kiếm sống tại các nhà hàng khi 16 tuổi.

Năm 1960, ông tốt nghiệp Sư phạm, về dạy tại Long Khánh, tỉnh Bình Tuy. Đến năm 1968 thì ông đi lính và được điều về Đài phát thanh Quân đội làm việc chung với Tô Kiều Ngân, Đỗ Kim Bảng, Trầm Tử Thiêng.

Năm 1972, ông được Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa bổ nhiệm về dạy nhạc tại trường Trung học tổng hợp Nguyễn An Ninh, Quận 10.

Năm 1978, Sở giáo dục chính quyền mới phát hiện ông là tác giả của Thề Không Phản Bội Quê Hương, cũng như quá trình làm việc cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa nên đã cho thôi việc, ông xin qua Ngành Bưu điện làm hoạt động văn nghệ quần chúng cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2000.


 

Những thất bại nhìn thấy từ ‘đại lễ 50 năm giải phóng’

Ba’o Nguoi-Viet

May 1, 2025 

Nam Việt

Hà Nội chưa công bố kinh phí để thực hiện “đại lễ 50 năm giải phóng,” nhưng theo lệ thường tại Việt Nam, các sự kiện tuyên truyền lớn vẫn được rút từ ngân sách nhà nước, kết hợp với các nguồn xã hội hóa, mà các con số chi tiết hiếm khi được công bố rộng rãi.

Nhìn tổng thể, ngân sách thực hiện cho duyệt binh, pháo bông, hậu cần… là rất lớn.

Chỉ riêng bắn pháo bông, chính quyền TP.HCM phải chịu tiền, ước tính chi phí cho hoạt động bắn tầm cao, tầm thấp, hỏa thuật, hậu cần và tổ chức, tại 30 điểm trong ngày 30 Tháng Tư, vào khoảng gần 4 tỷ đồng.

Dù là hoạt động tuyên truyền của nhà nước, nhưng các chi phí này thường được “huy động” từ nguồn xã hội hóa, chủ yếu từ các doanh nghiệp và tổ chức tư nhân. Con số chính xác chỉ nằm trong báo cáo tài chính chính thức từ UBND hoặc Sở Văn Hóa và Thể Thao sau sự kiện, và dĩ nhiên là thường giữ kín.

Kế hoạch cho “đại lễ 50 năm đánh thắng Đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam” được chuẩn bị chu đáo từ năm trước, nhưng cuối cùng để lộ ra những điều không hay, nếu không nói là thất bại.

Khách mời quốc tế “anh em” của Hà Nội. (Hình: Tuổi Trẻ)

Khách mời quốc tế của 30 Tháng Tư là ai?

Chưa bao giờ Việt Nam đón nhận sự lạnh nhạt từ thế giới như qua lễ duyệt binh. Không rõ Việt Nam gửi thư mời đi đến bao nhiêu quốc gia, nhưng phía truyền thông nhà nước chỉ dè dặt chính thức nhắc tên vài nước chắc chắn tham dự là Lào, Campuchia, Cuba, Belarus, thậm chí không có tên Nga. Đa số còn lại là đại diện các Đảng Cộng Sản Ấn Độ, Nhật, Ý, Pháp…

Tin tức rò rỉ chuyện Tổng Thống Donald Trump ra lệnh cho các quan chức ngoại giao Mỹ không chính thức tham gia lễ kỷ niệm, đã tạo không khí đóng băng trong quan hệ quốc tế, khiến các phóng viên quốc tế vào Việt Nam đưa tin dịp này đều có an ninh kèm chặt. Chỉ duy nhất dạ tiệc vào tối 29 Tháng Tư của giới quan chức và các cơ quan ngoại giao đóng tại Việt Nam thì được nói là khá nhiều nước tham dự, nhưng chi tiết về dạ tiệc này không được đưa tin rộng rãi.

Trung Quốc diễn hành tại Sài Gòn (Hình: SGGP)

‘Nghiến răng’ đón Trung Quốc diễu hành

Trên các trang mạng xã hội, người dân Việt Nam vẫn diễu cợt câu chuyện 118 lính Trung Quốc đến Việt Nam diễu binh theo lời mời của phe quân đội, nhưng dồn dập tin tức và hình ảnh về việc Hải cảnh Trung Quốc đổ bộ lên đá Hoài Ân của Việt Nam ở biển Đông và tuyên bố chủ quyền rất “đúng lúc” khiến hình ảnh tốt đẹp của việc “đóng góp” cho đại lễ từ phía Trung Quốc trở nên hết sức gắng gượng.

Suốt hai tuần, kể từ khi tin tức Trung Quốc “vỗ mặt” Việt Nam trên biển Đông, phía Bộ Ngoại Giao Việt Nam chết lặng và không có lời đáp nào, mặc dù hai ngày sau đó, Tòa Bạch Ốc lên tiếng cảnh cáo, và nói đây là một hành động “khiến tình hình trở nên nghiêm trọng.”

Trên các trang mạng báo Trung Quốc đua nhau ca ngợi sự có mặt của lính Trung Quốc diễu hành tại Việt Nam, và bình luận rằng mọi thứ nồng nhiệt và được người Việt Nam chào đón hơn cả phần trình diễn của quân đội chủ nhà.

Tuy vậy, an ninh cho phần lính Trung Quốc diễu hành được tổ chức chặt chẽ. Mọi thành phần chống Trung Quốc xâm lược biển đảo đều bị công an giữ chặt tại nhà. Nhiều người được “mời làm việc” đúng ngày lễ. Giới dư luận viên tung bài viết, nói ra rả đừng nghe bọn “ba sọc” kích động mà chống lính Trung Quốc, làm tổn hại quốc gia. Ngoài những tiếng reo hò cỗ vũ đã được dàn dựng khi lính Trung Quốc diễu hành, người ta chỉ được dăm ba tiếng hô “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam.”

Tô Lâm phát biểu, kêu gọi gác lại quá khứ, tiến đến tương lai (Hình: QĐND)

Diễn văn chính lễ 30 Tháng Tư của CSVN vẫn không thật lòng

Ngôn luận chính của dịp 50 năm chấm dứt chiến tranh, xoay quanh các phát biểu của Tổng Bí Thư Tô Lâm bộc lộ nhiều điều, mà giới phân tích cho rằng còn đầy bóng tối, và chủ yếu cho thế thế giới thấy có chút đổi khác, mặc dù, cốt lõi cộng sản vẫn không thay đổi.

Chủ nghĩa dân tộc, dòng máu Lạc Hồng, tình anh em cùng trong một quốc gia… được họ Tô nhắc đi nhắc lại, ông cũng có lời trân trọng với những người thuộc Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Có thể nói, về mặt ngôn từ, đây là lần đầu tiên một tổng bí thư có phát ngôn cởi mở như vậy về cộng đồng này, đặc biệt khi đề cập đến người Việt ở nước ngoài, bao gồm những người rời đi trong làn sóng thuyền nhân.

Tuy nhiên, lời nói của ông Tô hay Đảng Cộng Sản chưa đi đôi với hành động. Việc vẫn nuôi dưỡng một đạo quân hàng ngày chửi rủa, bẻ cong và phủ nhận lịch sử, vẫn dùng cách gọi thù địch như “ngụy quân,” “ngụy quyền” trong truyền thông chính thống, cổ xúy sỉ nhục cờ vàng VNCH… tạo nghi ngờ về tính chân thành của thông điệp lúc này.

Cũng có ý kiến cho rằng bài phát biểu của ông Tô Lâm có thể phục vụ mục đích chính trị nội bộ, như củng cố hình ảnh cá nhân hoặc tạo sự đồng thuận trong bối cảnh chuẩn bị cho Đại Hội Đảng XIV. Thông điệp hòa hợp bị coi chỉ là một chiến lược tuyên truyền ngắn hạn, thay vì cam kết lâu dài.

Ông Tô Lâm kêu gọi gác lại lịch sử, hướng tới tương lai, nhưng từ chối nhìn nhận những sai lầm và đau thương mà các công dân VNCH đã chịu, như chính sách cải tạo đối với quân nhân và quan chức VNCH, cùng với việc tịch thu tài sản, đã để lại nhiều vết thương khó lành. Việc kêu gọi nghe xuôi tai này, tạo hoài nghi về khả năng thực hiện hòa hợp của chính quyền hiện nay.

Hòa giải dân tộc là một quá trình dài hạn, đòi hỏi sự thay đổi từ cả hai phía – chính quyền và cộng đồng người Việt từng đứng ở hai bờ chiến tuyến, nhưng không có lộ trình rõ ràng và những hành động thiết thực, lại tạo thêm sự bất tín.

Nửa thế kỷ, tính kiêu ngạo vô lối cộng sản vẫn y nguyên 

Tính kiêu ngạo cộng sản cố hữu của Hà Nội vẫn lộ rõ qua vụ dựng pano sỉ nhục Mỹ vào dịp 30 Tháng Tư rồi vội vã gỡ xuống trong một ngày. Nhưng đó cũng chỉ là một trong hàng trăm kiểu tuyên truyền, quảng bá cho bộ mặt “cộng sản quang vinh tự hào.” Sự kiện nhục nhã chung cho mọi cơ quan truyền thông CSVN là vội vàng lấy tấm ảnh làm giả hình ảnh cờ đỏ sao vàng, có dòng chữ tiếng Anh “Kỷ niệm 50 năm ngày thống nhất Việt Nam,” tung hô rằng đã xuất hiện trên màn hình lớn của công ty NASDAQ ở Quảng Trường Thời Đại tại New York, Mỹ.

Nhiều báo của Việt Nam cùng dẫn nguồn lấy từ trang cá nhân của Đại Sứ Đặng Hoàng Giang, trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc. Nhưng trong vài giờ đồng hồ, nhiều người chỉ ra những chi tiết chỉnh sửa. Đến ngày 1 Tháng Năm, hầu hết báo đều gỡ tin và ảnh này, mà không có lời xin lỗi hay đính chính nào.

Một trong những điều mỉa mai, là chính quyền TP.HCM cho dựng pano có hình cô Nhíp dẫn quân Bắc Việt vào Sài Gòn. Thế nhưng giờ đây cô Nhíp đã tham gia dòng người bỏ đảng, tìm đến cuộc sống tự do của “kẻ thù Đế Quốc Mỹ,” và hơn thế nữa là cô còn đang sống trong lòng của những người đào thoát khỏi chế độ Bắc Việt từ năm 1975 đến nay.


 

Từ buông súng tới giải phóng, ai giải phóng ai?

Tác Giả: Đàn Chim Việt

30/04/2025

Sài Gòn trước năm 1975. Giao lộ Tổng Đốc Phương (Châu Văn Liêm) và Hồng Bàng. Ảnh tư liệu

Trong lịch sử nhân loại, chiến tranh chưa từng thiếu vắng những danh nghĩa rực rỡ. “Giải phóng” từng được nhân danh để thúc đẩy những đoàn quân tiến vào, để dựng nên những tượng đài quyền lực, để phủ lên những cánh đồng đầy huyệt mộ. Nhưng khi lịch sử lùi xa khỏi cơn mê sảng của thời đại, người ta buộc phải tự hỏi: Giải phóng là gì? Và ai thực sự giải phóng ai?

Giải phóng không phải là giành lấy một thành phố đã tan hoang. Giải phóng không phải là việc hạ xuống một lá cờ để dựng lên một lá cờ khác. Giải phóng không nằm ở việc thay đổi tên gọi một thể chế hay một chủ nghĩa, mà nằm ở khả năng khơi mở cho con người quyền được làm người: quyền được sống mà không sợ hãi, được suy nghĩ mà không bị bóp nghẹt, được yêu thương, phản tỉnh, và tự do kiến tạo đời mình.

Giải phóng, nếu còn mang chút ánh sáng cho đời sống nhân sinh, là hành trình âm thầm, khổ hạnh và bất tận của tinh thần tự do, chứ không bao giờ là cuộc diễu binh của súng đạn.

Trong bất kỳ cuộc chiến nào, tuyên bố buông súng không đồng nghĩa với thất bại. Trái lại, có khi đó là hành vi nhân bản vĩ đại nhất — khi một người, một lãnh đạo, hay một dân tộc, chọn sinh mạng con người thay vì tiếp tục nuôi dưỡng hận thù. Vua Ashoka sau trận Kalinga, Robert E. Lee tại Appomattox, Mahatma Gandhi trong trường kỳ đấu tranh bất bạo động, Đức Đạt Lai Lạt Ma trong những năm tháng lưu vong — mỗi người, theo cách riêng của mình, đã chứng tỏ rằng: có những chiến thắng lớn lao nhất bắt đầu từ việc buông xả.

Ngày 30 tháng Tư năm 1975, tại Sài Gòn, Tổng thống Dương Văn Minh, trong thế cờ đã an bày, tuyên bố buông súng để tránh đổ máu. Quân đội miền Bắc tiến vào thành phố mà hầu như không còn gặp kháng cự. Sự kiện ấy được gọi là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Nhưng ngay sau đó, hàng triệu con người đã bỏ nước ra đi, trốn chạy khỏi cái gọi là “giải phóng” ấy.

Trong giờ phút cuối cùng đó, hành động buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh — vốn từng bị cho là dấu hiệu của nhược bại — nhưng nay, sau năm mươi năm nhìn lại, đã được giới sử học và cộng đồng lưu vong đánh giá lại với cái nhìn công bằng hơn, ông không phải người gây nên thất bại, mà chỉ là người gánh lấy bi kịch không thể tránh, và chọn cứu thành phố Sài Gòn khỏi một cuộc biển máu. Các nhà nghiên cứu ngày nay thừa nhận rằng nếu không có quyết định buông súng ấy, có thể hàng vạn sinh mạng vô tội đã ngã xuống ngay trong những giờ phút cuối cùng. Hành động của ông, tự nó, là một tiếng thở cuối cùng còn sót lại của lòng nhân bản trong một thời đại đã quá mệt mỏi vì chém giết.

Vậy ai mới thực sự giải phóng người Việt Nam?

Không phải những đoàn quân lăm lăm tay súng tiến vào thành phố. Không phải những bản tuyên ngôn thắng trận.

Người Việt Nam chỉ thực sự được giải phóng khi họ, từng người một, ý thức rằng tự do không đến từ quyền lực áp đặt, mà từ chính khát vọng không chịu khuất phục trong lòng mình.

Khi người mẹ dắt con vượt biển khơi tìm tự do, khi người quân nhân âm thầm bước ra khỏi trại tù cải tạo mà vẫn giữ vững niềm tin vào nhân phẩm, khi thế hệ tiếp nối còn nhắc đến tự do như ngọn lửa nhỏ truyền tay — ấy là lúc Việt Nam, chậm chạp nhưng bền bỉ, đang tự giải phóng chính mình khỏi mọi hình thức giam cầm.

Giải phóng không phải một ngày lịch sử. Không phải một đoàn quân chiến thắng. Không phải một lá cờ dựng trên nóc dinh thự quyền lực.

Giải phóng, rốt cuộc, là hành trình trường kỳ của linh hồn, là cuộc chiến âm thầm nhưng bất khuất giữa con người tự do với mọi cường quyền trấn áp.

Trong ánh sáng ấy, lần buông súng năm xưa không phải là dấu chấm hết của một bi kịch, mà là điểm khởi đầu cho một bản trường ca kiên nhẫn: bản trường ca của những con người biết rằng tự do không thể ban phát, không thể cưỡng chiếm, mà chỉ có thể sinh ra từ trái tim không bao giờ chịu quy hàng.

Yuma, ngày 29 tháng 04 năm 2025

Nguyên Việt (Diễn đàn thế kỷ)


 

LINH HỒN ĐÓI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh!”.

Allen Gardiner trải qua nhiều gian khổ khi truyền giáo tại Picton, cực nam Nam Mỹ. Năm 1851, ở tuổi 57, ông qua đời. Thi thể ông được tìm thấy với cuốn nhật ký ghi lại những trải nghiệm về đói khát và cô đơn. Dòng cuối cùng cho thấy sự vật lộn của bàn tay run khi ông cố sức viết cho dễ đọc, “Tôi choáng ngợp với cảm giác về sự tốt lành của Thiên Chúa, và đó là điều duy nhất có thể thoả mãn một linh hồn đói!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ ra những gì ‘linh hồn đói’ của Gardiner khao khát có được. Đó là đói khát “sự tốt lành của Thiên Chúa, đói khát chính Ngài!”. Ngài là “lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh!”. Vậy bạn đang nỗ lực làm việc cho lương thực nào? Loại “mau hư nát?” hay loại “thường tồn?”.

Nhìn chung quanh, chúng ta nhận ra rằng, có rất nhiều nguồn cung cấp ‘lương thực’ không đến từ Thiên Chúa và xem ra, chúng có vẻ hấp dẫn. Một số người nuôi dưỡng bản thân bằng tiền bạc; số khác, bằng thành công và danh tiếng; số khác nữa, bằng quyền lực và kiêu hãnh. Vậy mà, ‘lương thực’ thật sự có thể thoả mãn tuyệt đối một ‘linh hồn đói’ trên trần gian chỉ có thể là Giêsu, ‘Lương Thực’ được ban từ trời!

Chúa Giêsu coi trọng “lương thực mau hư nát” cho nhu cầu thể chất; Ngài không chịu được cảnh hàng ngàn người phải đói giữa đồng vắng. Ngài cho họ ăn, chữa lành mọi bệnh tật; Ngài kêu gọi người giàu chia sẻ cho người nghèo. Tuy thế, Ngài cũng tiết lộ và hướng chúng ta đến một chân trời không thuộc thế giới này; Ngài muốn chúng ta đi đến tận cuối chân trời đó, ở đúng vị trí của Ngài, để có thể nhìn thấy vinh quang “Con Một của Chúa Cha” – chính Ngài – cũng là “lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”. Như vậy, bạn và tôi hãy để cho mình đói một cơn đói sâu xa hơn, cơn đói tinh thần, cơn đói của linh hồn mà chỉ mình Ngài có thể thoả mãn. Đó là tin vào Ngài.

Têphanô, người được Thánh Thần dẫn đến tận cuối chân trời đó. Kìa! Ông ngước mắt lên và nhìn thấy “Vinh quang Thiên Chúa và Đức Giêsu đứng bên hữu”. Ở đó, ‘linh hồn đói’ của vị phó tế choáng ngợp vì no thoả; người ta thấy “mặt ông giống như mặt thiên sứ” – bài đọc một.

Anh Chị em,

“Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát!”. “Công việc của Thiên Chúa không phải là “làm” những điều này điều kia, mà là “tin” vào Đấng Người đã sai đến. Điều này có nghĩa là niềm tin vào Chúa Giêsu cho phép chúng ta thực hiện các công trình của Thiên Chúa. Một khi cho phép mình tham gia vào mối quan hệ yêu thương và tin tưởng này với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ có thể thực hiện các công trình tốt lành toả hương thơm của Phúc Âm vì lợi ích và nhu cầu của anh chị em mình!” – Phanxicô. “Hãy đói khát Giêsu!” và thú vị thay, chính Thiên Chúa cũng đang thực sự đói khát chúng ta. Ước gì, bạn và tôi không ngừng tìm đến Ngài, đến với Thánh Thể Ngài; vì chỉ nơi Ngài, một ‘linh hồn đói’ mới no thoả; cũng chỉ nơi Ngài, ‘cơn đói của Thiên Chúa và của con người’ mới triệt tiêu!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết đói khát Chúa vì biết rằng, Chúa đang đói khát linh hồn con!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

******************************************************

Thứ Hai Tuần III Phục Sinh

Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 6,22-29

22 Sau khi Đức Giê-su cho năm ngàn người ăn no nê, các môn đệ thấy Người đi trên mặt Biển Hồ. Hôm sau, đám đông dân chúng còn đứng ở bờ bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền và Đức Giê-su lại không cùng xuống thuyền đó với các môn đệ, nhưng chỉ có các ông đi mà thôi. 23 Tuy nhiên, có những thuyền khác từ Ti-bê-ri-a đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn. 24 Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người. 25 Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói : “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy ?” 26 Đức Giê-su đáp : “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. 27 Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” 28 Họ liền hỏi Người : “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.”

“Hãy theo Thầy.” (Ga 21:19)- Cha Vương

 Ngày Chúa Nhật hạnh phúc và tràn đầy yêu thương nhé.

Cha Vương

CN, 3PS: 4/5/2025

TIN MỪNG: “Hãy theo Thầy.” (Ga 21:19)

SUY NIỆM: Tất cả mọi người đều được mời gọi để theo Chúa. Theo Chúa để đón nhận cuộc sống của Chúa, chia sẻ những thao thức của Chúa, thực hiện việc làm của Chúa một cách quảng đại. Có bao giờ bạn nghĩ rằng cách cư xử của bạn với những người chung quanh chính là một bài giảng hùng hồn và hữu hiệu nhất không?

 Chuyện kể có một cô xướng ngôn viên đài phát thanh ở tỉnh kia tự nhiên đến xin học đạo với một linh mục. Vị linh mục mới hỏi nguyên nhân nào thúc đẩy cô muốn theo đạo. Cô kể là nhờ sống gần gia đình công giáo tốt mà cô thấy hấp dẫn và đánh động: họ sống đầm ấm yên vui, giữ đạo chân thành, thân thiện với hàng xóm. Gia đình này không những đã tìm được hạnh phúc cho chính họ, cho vợ chồng con cái an vui, mà còn làm chan hoà hạnh phúc đó sang người lối xóm. 

Không giảng đạo mà cụ thể họ đã lôi kéo người khác đến với Chúa. Đúng là cách cư xử tốt với nhau làm nên một nhà truyền giáo! Bạn cũng có thể làm được như vậy đó. Mời bạn hãy bám lấy Chúa và mở lòng ra để Ngài biến đổi bạn nhé.

LẮNG NGHE: Đức Giêsu bảo: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.” (Lc 9:62)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin giúp con hoàn toàn tin tưởng phó thác để bước theo Chúa và làm công việc của Chúa. Xin đừng để những bận tâm lo lắng công việc ở đời cản trở bước chân và khép kín cõi lòng con. 

THỰC HÀNH: Kiểm điểm lại lối sống và cách cư xử của bạn đối vời những người bạn gặp hôm nay.

From: Do DZung

***********************

Album Thánh Ca HÃY THEO THẦY – Sr Hương Đan

XÔ TỚI TRƯỚC – Lm. Minh Anh, Gp. Huế

 (Lm. Minh Anh, Gp. Huế) 

“Chúa đó!”.

“Vinh quang lớn nhất không phải là không bao giờ ngã, mà là biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã!” – Khổng Tử.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tường thuật lần hiện ra thứ ba sau phục sinh của Chúa Giêsu cho các môn đệ; Gioan kịp nhận ra Ngài khi nói với Phêrô, “Chúa đó!”. Để rồi Ngài dành cho Phêrô ba câu hỏi một nội dung, “Anh có yêu mến Thầy không?”. Câu trả lời của Phêrô – người biết đứng dậy – là điều kiện của một con người được ‘xô tới trước!’.

Với Phêrô, đây là ‘lần gọi thứ hai’. Lần gọi thứ nhất, cách đây ba năm, tại biển hồ này, Phêrô được gọi khi Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ công khai; lần gọi thứ hai, cũng tại đây, Phêrô được ‘gọi lại’ khi khởi đầu sứ vụ công khai của các môn đệ Ngài. Lần này, Ngài chỉ hỏi Phêrô, “Anh có yêu mến Thầy không?”. Và người đã từng chối Thầy sẽ phải cúi mặt lí nhí, “Thầy biết hết mọi sự, Thầy biết, con yêu mến Thầy!”. Để sau đó, Ngài trao cho ông chiên mẹ, chiên con và cả đoàn chiên.

Vậy đâu là khác biệt giữa hai lần gọi? Sau lần gọi thứ nhất, Phêrô đã dứt khoát đi theo Chúa, nhanh nhẹn, chóng vánh nếu không nói là khá tự tin và không ít tự phụ để rốt cuộc, chối Thầy trước một nữ tỳ vô danh. Và lần gọi thứ hai cho thấy Thiên Chúa không bỏ cuộc với bất cứ ai, Ngài chỉ muốn ‘xô tới trước’ những con người Ngài yêu thương. Thiên thần hay ác quỷ, ánh sáng hay bóng tối, mạnh mẽ hay yếu nhược, nồng nàn hay dửng dưng, gần gũi hay xa cách, ngọt ngào hay cay đắng, thánh thiện hay tội lỗi… tất cả đều bộc lộ nơi một con người. Chúa Giêsu thấy rõ điều đó nơi Phêrô; ấy thế, Ngài không loại trừ, Ngài vẫn chọn gọi ông một lần nữa vì nhất định Phêrô phải được Ngài ‘xô tới trước’.

Lần dỡ các trang Tin Mừng, đã bao lần chúng ta chứng kiến Chúa Giêsu xô những con người tới phía trước. Ngài xô Zakêu, “Hãy xuống mau vì hôm nay tôi phải lưu lại nhà ông”; Ngài xô Lêvi đang ngồi ở bàn thu thuế, “Hãy theo tôi” để ông trở thành tông đồ thánh sử; Ngài xô biệt phái Nicôđêmô trong đêm bước ra với ánh sáng để ông trở thành tông đồ táng xác Thầy; Ngài xô Saolô trên đường Đamas để ông trở thành tông đồ dân ngoại; Ngài xô người nữ ngoại tình khỏi vòng tròn nghiệt ngã về nhà bình an, cũng như đã kịp xô anh trộm lành vào nước thiên đàng.

Anh Chị em,

“Chúa đó!”. “Sự hiện diện của Chúa Phục Sinh biến đổi mọi thứ: bóng tối trở thành ánh sáng, công việc vô ích một lần nữa trở nên có kết quả và đầy hứa hẹn, cảm giác mệt mỏi và bị bỏ rơi nhường chỗ cho một động lực mới và niềm tin chắc chắn rằng, Ngài đang ở cùng chúng ta!” – Phanxicô. Dù ở đấng bậc nào, hôm nay, Chúa Giêsu cũng đang gọi, đang hỏi mỗi người chúng ta, “Con có yêu mến Thầy không?”. Chúng ta sẽ nhanh nhảu trả lời hay sẽ nín thinh? Với Ngài, tình yêu thuở ban đầu nơi chúng ta còn nồng nàn hay đã nhạt phai? Chúng ta có cảm nhận được như Phêrô, “Ôi, tình yêu che lấp muôn vàn tội lỗi!”. Chúa đã quên hết quá khứ xấu xa hầu xô mỗi chúng ta về phía trước. Ước gì bạn và tôi có thể nói, “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa!” và Ngài chỉ cần ngần ấy!  

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, thì ra, Chúa chỉ muốn con yêu mến Chúa. Cho con đừng phí thời giờ vào những việc không đâu hầu luôn sẵn sàng để Chúa xô con tới trước!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Gp. Huế) 

*******************************************************

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH, NĂM C

Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho môn đệ ; rồi cá, Người cũng làm như vậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 21,1-19 

1 Khi ấy, Đức Giê-su lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Người tỏ mình ra như thế này. 2 Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. 3 Ông Si-môn Phê-rô nói với các ông : “Tôi đi đánh cá đây.” Các ông đáp : “Chúng tôi cùng đi với anh.” Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.

4 Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su. 5 Người nói với các ông : “Này các chú, không có gì ăn ư ?” Các ông trả lời : “Thưa không.” 6 Người bảo các ông : “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá.” Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. 7 Người môn đệ được Đức Giê-su thương mến nói với ông Phê-rô : “Chúa đó !” Vừa nghe nói “Chúa đó !”, ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. 8 Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.

9 Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. 10 Đức Giê-su bảo các ông : “Đem ít cá mới bắt được tới đây !” 11 Ông Si-môn Phê-rô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. 12 Đức Giê-su nói : “Anh em đến mà ăn !” Không ai trong các môn đệ dám hỏi “Ông là ai ?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. 13 Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông ; rồi cá, Người cũng làm như vậy. 14 Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.

15 Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” 16 Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” 17 Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có thương mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần : “Anh có thương mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. 18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” 19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : “Hãy theo Thầy.”

MIỀN NAM ĐÃ GIẢI PHÓNG MIỀN BẮC NHƯ THẾ NÀO?

Duthapsang Tran

 Fw. Bài hay và đúng sự thật

Hòa hợp, hoà giải, và hòa bình thực sự để đất nước phát triển là nhu cầu bức thiết của dân tộc hiện nay. Sau 50 năm chia cắt, thì lòng người vẫn có “Triệu người vui, triệu người buồn!” theo như nhận xét của ông Võ Văn Kiệt. Đây là bài toán nan giải không dễ giải quyết, nhưng chúng ta phải làm, để theo kịp đà tiến hoá của nhân loại!

Thực ra, nếu hiểu nghĩa vui buồn theo dựa trên kẻ thắng người thua thì cả hai miền Nam – Bắc đều có vui lẫn cả buồn!!!

Miền Bắc vui vì đã thống nhất đất nước qua sức mạnh cứng bằng súng đạn. Công lao này không ai phủ nhận, miễn là đừng lấy cái thế của kẻ thắng trận mà kiêu căng chà đạp lên nỗi đau của dân miền Nam. Miền Nam thì đã giải phóng được miền Bắc qua sức mạnh mềm!

Tự lúc nào văn hóa sống cởi mở, nhân bản của dân Miền Nam đã thức tỉnh dân Miền Bắc, văn chương, âm nhạc đầy tình người, tình tự quê hương của Miền Nam át đi những bài nhạc đầy hận thù, sắc máu với những giai điệu chói tai. Người Miền Nam chia sẻ với dân Miền Bắc tình cảm qua Nhạc Vàng Bolero đầy tình người như bài hát Tôi Muốn của Nhạc sĩ Lê Hựu Hà với câu: “… Tôi muốn mọi người biết thương nhau không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau, Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”

Trong một bài viết nhân dịp 50 năm ngày 30/4 của người bên thắng cuộc, tác giả Trần Lệ Bình muốn nói lên cảm nghĩ thật lòng dù có khi bị ném đá: “Tối tối mỗi khi có điện, đám bạn đến đầy nhà để nghe bài nhạc Pháp “Bang Bang”… Khi sống trong cảnh cả ngày chỉ nghe đài phát thanh phát những bài hát như hét như gào: “…không cho chúng nó thoát, chúng bay vào sẽ không có đường ra nó….” quen tai, bây giờ được nghe hai tiếng “bang bang” với âm điệu du dương đến mê hồn, khiến chúng tôi không ngờ trên đời nay lại có những loại nhạc làm lay động lòng người đến như vậy.”

Ở một đoạn khác, tác giả Trần Lệ Bình nói về chị bán mướp: “… Lúc này chị cầm trong tay chiếc dao gọt tôi chưa thấy bao giờ, tay chị lướt nhẹ nhàng từ trên xuống dưới quả mướp, vỏ mỏng như tờ giấy đều đều chui từ giữa kẽ dao rơi xuống vẫn đúng chiều dài của quả mướp. Chỉ trong tích tắc, quả mướp hết vỏ vẫn tròn trịa như nguyên. Với nét mặt thật sung sướng, chi nói: “Cái thứ dao của bọn ngụy hay thật!”. Mấy chị đang đứng chờ mua cũng xen vào: “Thế đấy, cái dao đơn giản và thuận tiện thế mà miền Bắc XHCN cũng không làm nỗi…”. Tác giả kết luận: “Một sự thật mà bất cứ ai còn có lòng trung thực đều không thể phủ nhận là 30-4-75 đã giải phóng Miền Bắc khỏi nghèo nàn lạc hậu, đã cho dân Bắc được tiếp cận với văn minh của nhân loại.

Dân Miền Nam sẽ rất vui và nên tự hào nếu họ biết được chính họ đã giải phóng người dân Miền Bắc khỏi bức màn sắt của giáo điều đã che đậy tầm nhìn, sự hiểu biết của dân Miền Bắc với thế giới văn minh, nhân bản hơn. Miền Nam vui vì được người bên thắng cuộc, bà Dương thu Hương, công nhận là xứ văn minh tiến bộ ngay trưa ngày 30/4/1975 chứ không phải đợi mãi đến giờ này ông Tô Lâm mới dám xác nhận Sài Gòn là Hòn ngọc Viễn Đông!

Đến đây thì người dân Miền Nam có thể dùng tựa của một bài hát của nhạc sĩ Nhật Ngân để đặt câu hỏi “Anh Giải Phóng Tôi Hay Tôi Giải Phóng Anh” và dân Miền Nam nên vui mừng vì họ đã giải phóng được Miền Bắc qua quyền lực mềm: tinh thần khai phóng, nhân bản và nghĩa đồng bào. 

Nguyễn văn Lợi


 

2 thánh Tông Đồ Philipphê và Giacôbê – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay 3/5 Giáo Hội mừng kính trong thể 2 thánh Tông Đồ Philipphê và Giacôbê. Mừng bổn mạng đến những ai chọn các ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 03/05/2025

Thánh Philipphê là người xứ Bethsaida. Ông là một trong những người đầu tiên được Đức Giêsu kêu gọi. Chính ông đã mách cho Nathanael Tin mừng lớn lao này: “Đấng mà sách luật Môsê và các ngôn sứ nói tới, chúng ta đã gặp. Đó là ông Giêsu, người Nazareth”. Thấy bạn mình còn hoài nghi, ông đã giục: “Cứ đến mà xem”. Nathanael sau khi đã gặp Đức Giêsu và nghe Ngài nói thì đã tin. Philipphê đã xuất hiện nhiều lần trong Phúc âm: Lúc Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều; làm trung gian cho những người ngoại giáo muốn gặp Đức Giêsu. Philipphê cũng là người đã xin Đức Giêsu: “Lạy Ngài, xin chỉ cho chúng con thấy Cha, thế là đủ cho chúng con”. Người ta nghĩ rằng ông đã đem Tin mừng đến cho người Scythen sau ngày lễ Ngũ tuần và chết rất thọ ở Hiérapolis, tại Phrygie.

    Còn thánh Giacôbê mà chúng ta mừng kính hôm nay là Giacôbê hậu, con ông Alphê. Gọi là Giacôbê hậu để phân biệt với Giacôbê tiền, là con của ông Dêbêđê. Phân biệt này không mang ý nghĩa gì khác ngoài việc tránh sự nhầm lẫn. Khoa Thánh Kinh còn nghi ngờ không biết có phải Giacôbê hậu này có phải là “anh em của Đức Giêsu” và là tác giả của lá thư Giacôbê hay không? Nhưng Phụng vụ Rôma lại có sự đồng hoá và xác nhận. Trước khi các Tông đồ tản mác mỗi người một nơi, thì họ chỉ định thánh Giacôbê làm Giám mục Giêrusalem. Ngài là linh hồn của cộng đoàn Giêrusalem. Vì ngài đã làm cho nhiều người trở lại với Đức Giêsu nên bị bản án ném đá. Ngài đã chịu tử đạo đang khi quỳ gối cầu nguyện cho tên lý hình đang kết thúc đời Ngài bằng một thanh sắt giáng xuống trên người, trong thời điểm mừng lễ Vượt Qua. (Theo “Tự điển các thánh”, trang 268-269 và trang 159).

Noi gương thánh Philipphê và thánh Giacôbê, bạn có thể trở thành tông đồ của Chúa qua lối sống hằng ngày của mình hôm nay bằng cách làm những việc nhỏ với một con tim chân thành, với một thái độ cởi mở. Đây là một minh chứng hùng hồn và cụ thể nhất cho đức tin của mình đó. 

Xin thánh Philipphê và thánh Giacôbê, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

**************************

Mai Thảo, Thanh Sử – Hãy Theo Thầy

Đêm đó, tôi hiểu tình yêu đích thực là gì.-Truyện ngắn HAY

Chau Doan 

 Cha mẹ tôi đã kết hôn được 55 năm. Một buổi sáng, mẹ tôi đi xuống cầu thang để chuẩn bị bữa sáng cho cha, nhưng bà bị đau tim và ngã. Cha tôi cố gắng hết sức nâng mẹ dậy và gần như kéo bà lên xe tải. Ông lái xe với tốc độ tối đa, không tuân theo đèn giao thông, để đưa mẹ đến bệnh viện.

Khi đến nơi, đáng buồn là mẹ tôi đã không còn nữa.

Trong tang lễ, cha tôi không nói gì, ánh mắt ông lạc lõng và hầu như không khóc.

Đêm đó, các con của ông đã ở bên ông. Trong không khí đau buồn và hoài niệm, chúng tôi nhớ lại những kỷ niệm đẹp, và ông yêu cầu anh trai tôi – một nhà thần học – nói về nơi mẹ tôi đang ở lúc đó. Anh trai tôi bắt đầu nói về cuộc sống sau cái chết và suy đoán về nơi mẹ có thể đang ở.

Cha tôi lắng nghe chăm chú. Đột nhiên, ông yêu cầu chúng tôi đưa ông đến nghĩa trang.

“Cha!” chúng tôi đáp, “bây giờ là 11 giờ đêm, chúng ta không thể đến nghĩa trang ngay lúc này được!”

Ông cao giọng, ánh mắt đượm buồn: “Đừng cãi cha, xin đừng cãi lại người vừa mất đi người vợ 55 năm của mình.”

Chúng tôi im lặng đầy tôn trọng, không cãi thêm nữa. Chúng tôi đến nghĩa trang, dùng đèn pin để tìm đến mộ mẹ.

Cha tôi ngồi xuống, cầu nguyện và nói với chúng tôi: “Đó là 55 năm… các con biết không? Không ai thực sự có thể nói về tình yêu đích thực nếu chưa từng sống cả đời với một người.”

Ông dừng lại, lau mặt.

“Mẹ và cha đã cùng nhau trải qua những điều tốt đẹp và tồi tệ,” ông tiếp tục. “Khi cha đổi việc, chúng tôi cùng thu dọn đồ đạc khi bán nhà và chuyển đi. Chúng tôi chia sẻ niềm vui khi thấy các con trở thành cha mẹ, cùng nhau đau buồn trước sự ra đi của những người thân yêu, cùng cầu nguyện trong phòng chờ của một số bệnh viện, cùng nâng đỡ nhau trong đau đớn, ôm nhau mỗi ngày, và tha thứ cho những sai lầm.”

Rồi ông dừng lại và nói thêm: “Các con, tất cả đã kết thúc và cha hạnh phúc tối nay. Các con biết tại sao cha hạnh phúc không? Vì mẹ đã ra đi trước cha. Mẹ không phải chịu đựng nỗi đau và sự cô đơn khi chôn cất cha, khi bị bỏ lại một mình sau khi cha rời đi. Cha sẽ là người chịu đựng điều đó, và cha cảm ơn Chúa vì điều này. Cha yêu mẹ đến mức không muốn mẹ phải chịu khổ…”

Khi cha tôi nói xong, tôi và các anh em nước mắt lăn dài. Chúng tôi ôm cha, và ông an ủi chúng tôi: “Không sao đâu. Chúng ta có thể về nhà. Hôm nay là một ngày tốt.”

Đêm đó, tôi hiểu tình yêu đích thực là gì. Nó không chỉ là sự lãng mạn và tình dục, mà là hai người luôn ở bên nhau, cam kết với nhau… qua tất cả những điều tốt đẹp và tồi tệ mà cuộc sống mang lại.

Bình an trong trái tim các bạn.

Nguồn: Susan Arnold


 

ĐÊM TRƯỚC NGÀY 30/4/2024: BUỒN VÀ THƯƠNG CHO DÂN MÌNH NƯỚC MÌNH

Phêrô Nguyễn Văn Khải added 7 new photos from April 29, 2024 at 5:37 PM.

April 29, 2024

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT

 Năm nào cũng vậy cứ những ngày này tôi khó ngủ. Nhớ đến nguyên nhân, diễn biến và hậu quả, đặc biệt là các nạn nhân của cuộc chiến 54-75 tôi càng thấy thương cho dân mình nước mình và càng giận những kẻ gây chiến là cộng sản Việt-Nga-Tầu.

Tôi thương cho những người lính của quân đội VNCS, trong đó có những người thân của tôi, có bố tôi, có chú tôi, có những người anh em của tôi, đã phải hy sinh tuổi trẻ, đã bỏ một phần máu thịt, hoặc bỏ cả mạng mình ở khắp bốn chiến trường A-B-C-D.

Vì họ đã bị tuyên truyền, đã bị tẩy não, đã bị nhồi sọ, đã bị lừa và bị lùa vào cuộc chiến khốc liệt! Họ đã bị đánh cắp tuổi trẻ và mạng sống mà rốt cuộc bản thân họ, gia đình họ và cả quốc gia dân tộc chẳng được lợi lộc gì! Chỉ có một số kẻ cơ hội, những kẻ đầu cơ chiến tranh là được lợi và họ vẫn tiếp tục hưởng lợi từ cuộc chiến này cho đến hôm nay.

Tôi thương cho những người lính của quân đội VNCH đã phải gồng mình bảo vệ một quốc gia tự do được Liên hợp Quốc công nhận, một chế độ dân chủ do người dân chọn lựa. Họ đã thắng trong từng trận đánh, nhưng đã thua trong toàn cuộc chiến, vì bị đồng minh phản bội và bỏ rơi trong khi đối thủ lại được Nga-Tầu hậu thuẫn quá mạnh.

Tôi thương cho các thương binh của VNCH bị hắt hủi, phải sống lay lắt, cơ cực và nhiều người chết một thân một mình. Thế mà đến cái tên gọi là Thương Phế Binh VNCH, nhiều người cũng không dám gọi và lại càng không dám đưa tay giúp đỡ, nhưng miệng thì vẫn ra rả xưng mình là bạn đồng hành của những người nghèo, những người bị loại trừ, những người bị bỏ rơi, etc.

Tôi thương cho những người cha người mẹ bị mất con, những người vợ mất chồng, những người chồng mất vợ, những người con mất bố, những anh chị em mất nhau, ở cả hai miền Bắc-Nam, cả bên cộng sản lẫn bên cộng hoà. Tôi thương cho bao nhiêu thiếu nữ Miền Bắc phải đi dân công hoả tuyến đến khi chiến tranh kết thúc thì đã quá lứa lỡ thì và phải sống côi cút vất vả và bệnh tật cả đời.  

Tôi thương cho những tín đồ, những tu sĩ của các tôn giáo, đã phải vào tù trước sau và vì cái ngày 30 tháng 4 ấy, trong đó có cha đỡ đầu của tôi, có bác của tôi; thậm chí có cha bị bắt và bị đánh chết trong tù chỉ sau mấy ngày giam giữ như cha xứ của tôi. 

Tôi thương cho hàng triệu công dân VNCH bị đảo lộn cuộc sống, cho hàng chục nghìn gia đình quân dân cán chính VNCH bị tan cửa nát nhà, mất tài sản, mất công ăn việc làm và thậm chí phải vào tù hoặc bị lưu đầy chốn rừng thiêng nước độc.

Tôi thương cho những người vượt biên vượt biển, lao vào cõi chết để tìm cõi sống, bao nhiêu người đã bỏ mình trên rừng dưới biển trên đường đi tìm tự do, bao nhiêu người đã bị cán bộ, công an và cướp biển trấn lột, bỏ tù, hãm hiếp và cướp bóc mà thương tích trong tâm hồn còn hằn sâu đến hôm nay.

Tôi thương cho đất nước mình, man rợ thắng văn minh, độc tài thắng dân chủ, ma quỷ nhảy lên làm thần phật, những kẻ bất tài thất đức thâu tóm quyền lực trong khi những kẻ có tâm có tài thì hoặc bị bỏ tù, hoặc bị quản chế, hoặc bị cô lập, hoặc bị loại trừ, hoặc đã phải bỏ nước ra đi…

Nỗi đau buồn của tôi có thể sẽ giảm thiểu ít nhiều, nếu Việt Nam nay có tự do và quyền con người được tôn trọng, nếu môi sinh không bị tàn phá, nếu người dân không bị đè đầu cưỡi cổ và bị móc túi bằng đủ cách khác nhau, nếu đạo đức luân lý không ngày càng xuống cấp bởi tham nhũng, dối trá và bạo lực, nếu các tôn giáo không bị kiểm soát và thao túng, nếu nhiều chức sắc và nhà tu hành không bị tha hoá trở thành tay chân của bạo quyền, etc.

Đằng này…!

Một chế độ thực tâm yêu nước và thương dân sẽ không tổ chức “mừng chiến thắng”, một chính quyền biết chữa lành vết thương chiến tranh sẽ không tiếp tục ăn mày dĩ vãng để chia rẽ và thống trị dân.

Tôi nghĩ người có nhân bản, có đạo đức, có hiểu biết không ai lợi dụng dịp này để đi du hý. Ai lại đi ăn mừng trên nỗi đau của người khác và trên cái mất mát của chính dân tộc mình?

Đến như chính ông Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một lãnh tụ hàng đầu của cộng sản Việt Nam, một người có vợ con chết trong cuộc chiến mà ông là tác nhân còn biết nói hồi hơn 20 năm trước rằng 30 tháng 4 là ngày “triệu người vui thì cũng có triệu người buồn”.

Tôi đọc kinh và làm lễ cầu nguyện cho các nạn nhân trong cuộc chiến 54-75, những người đã qua đời cũng như những người còn đang sống, Bắc cũng như Nam, quốc gia cũng như cộng sản, chết trước cũng như sau 75, chết trên chiến trường, chết trên rừng dưới biển, cũng như trong các trại tập trung của cộng sản.

Tôi cầu nguyện cho những người vì yêu nước và thương đồng bào, vì dấn thân cho tự do dân chủ, cho quyền con người đang bị lưu đầy ở các nước hoặc đang còn bị giam cầm hiện nay trong các trại tù của chính quyền cộng sản.

Xin Chúa cho người chết được hưởng hạnh phúc thiên đàng cùng các bậc tổ tiên và xin cho người sống được tìm thấy ý nghĩa cuộc đời bất chấp những gian nan, khốn khó.

Tôi cũng cầu nguyện cho mọi người Việt Nam sớm được sống như là một con người được tôn trọng và yêu thương chứ không phải như một con vật bị bạo quyền lạm dụng, được sống như con cái của Đức Chúa Trời chứ không phải như nô lệ cho các thế lực đen tối, được có đủ tự do và điều kiện để xây dựng cuộc sống của mình như Chúa muốn và người mong.

Tôi cầu nguyện cho mỗi người thức tỉnh!

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT