KHÔNG CÓ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN NÀO XEM HÀNH LANG THOÁT LŨ LÀ ĐẤT TRỐNG.

Kim Phan

 NHỮNG BÀI POST HAYKim Phan  

Nguyễn Nam Hải

KHÔNG CÓ QUỐC GIA PHÁT TRIỂN NÀO XEM HÀNH LANG THOÁT LŨ LÀ ĐẤT TRỐNG.

BỞI HỌ HIỂU MỘT ĐIỀU: KHOẢNG TRỐNG CŨNG LÀ HẠ TẦNG

Fb Phan Phụng Long

“Nhớ ai đó đã nói; Dốt nát và phá hoại luôn song hành và là tội đồ của Dân Tộc. Lịch sử mai sau sẽ ghi lại; khi thể chế không còn tồn tại.”.

Khi nhìn một bãi sông rộng hàng trăm mét, rất nhiều người sẽ nghĩ:

“Đất bỏ không.”

“Lãng phí.”

“Sao không xây công viên?”

“Sao không làm đô thị?”

Đó là cách nhìn của bất động sản.

Nhưng kỹ sư thủy lợi lại nhìn thấy một thứ hoàn toàn khác.

Họ nhìn thấy… một công trình đang hoạt động.

Đây là sai lầm lớn nhất của con người

Chúng ta chỉ coi những gì nhìn thấy là hạ tầng.

Cây cầu.

Con đường.

Đê.

Cống.

Hồ chứa.

Nhưng lại quên rằng…

Có những hạ tầng được tạo nên bằng… khoảng trống.

Một khoảng trống có thể đáng giá hơn một cây cầu.

Tại sao?

Vì cây cầu chỉ phục vụ giao thông.

Nhưng hành lang thoát lũ…

…phục vụ sự sống của cả một thành phố.

Hà Lan hiểu điều này.

Người Hà Lan từng xây đê ngày càng cao.

Sau đó họ nhận ra…

Đó không phải cuộc chiến có thể thắng mãi.

Họ đổi tư duy.

Không còn:

║ Chặn nước.

Mà là:

Trả lại không gian cho nước.

Đó là triết lý nổi tiếng:

Room for the River.

Không phải vì họ thiếu tiền xây đê.

Mà vì họ hiểu:

Không gian cũng là hạ tầng.

Nhật Bản cũng vậy.

Họ đào các hồ điều hòa khổng lồ.

Những công viên có thể ngập.

Những bãi sông có thể bị nước chiếm.

Ngày nắng…

Đó là công viên.

Ngày lũ…

Đó là hồ chứa.

Một công trình.

Hai chức năng.

Đức cũng vậy.

Rất nhiều bãi bồi được giữ nguyên.

Không phải vì họ chưa phát triển.

Mà vì họ biết:

Một mét vuông đất hôm nay có thể bán.

Nhưng một mét vuông không gian thoát lũ có thể cứu cả thành phố sau này.

Hàn Quốc cũng vậy.

Các dòng sông lớn luôn được quy hoạch với hành lang an toàn.

Không phải vì họ thích để đất trống.

Mà vì họ hiểu…

Nếu dòng sông mất không gian…

Thì dòng nước sẽ tự tìm không gian khác.

Và nơi đó thường là…

Nhà của con người.

Quy luật của mọi nền văn minh ven sông

Có một nghịch lý.

Những quốc gia càng giàu…

…lại càng để nhiều đất “không xây”.

Thoạt nhìn…

Có vẻ lãng phí.

Nhưng thực ra…

Đó là khoản đầu tư rẻ nhất.

Bởi chi phí giữ lại khoảng trống…

Luôn nhỏ hơn rất nhiều…

So với chi phí sửa chữa sau một trận đại hồng thủy.

Điều đáng sợ nhất

Không phải là xây trên bãi sông.

Mà là…

quên mất vì sao bãi sông tồn tại.

Thiên nhiên không tạo ra bãi sông để lãng phí.

Thiên nhiên tạo ra nó…

Để dòng sông còn có chỗ thở khi mùa lũ đến.

Kết

Có một nghịch lý của mọi nền văn minh. Con người rất giỏi đo giá trị của những gì có thể nhìn thấy:

Một cây cầu.

Một tòa nhà.

Một đại lộ.

Một khu đô thị.

Nhưng những nền văn minh trưởng thành lại hiểu rằng, có những tài sản quan trọng nhất không nằm ở những gì được xây lên, mà nằm ở những gì họ chủ động không xây.

Không gian thoát lũ là một trong số đó.

Một bãi sông rộng có thể không tạo ra doanh thu hằng năm.

Không đóng thuế.

Không bán được căn hộ.

Không làm tăng GDP ngay lập tức.

Nhưng nó âm thầm hấp thụ những trận lũ cực đoan, bảo vệ hệ thống đê điều và gìn giữ sự an toàn cho hàng triệu con người trong suốt nhiều thế hệ.

Đó không phải là đất bỏ trống.

Đó là một công trình hạ tầng được xây dựng bằng sự kiềm chế.

Và cũng từ đó, chúng ta có thể rút ra một quy luật lớn hơn.

Một quốc gia không trở nên vĩ đại vì khai thác tối đa mọi mét vuông đất. Một quốc gia trở nên vĩ đại khi biết rằng có những mét vuông phải được giữ lại để bảo vệ tương lai.

Đó không chỉ là bài học của sông Hồng.

Đó là triết lý của quản trị rủi ro.

Là nền tảng của quy hoạch hiện đại.

Và cũng là thước đo của một nền văn minh phát triển bền vững.

║ Con người hiện đại rất giỏi xây dựng những gì nhìn thấy. Nhưng những nền văn minh vĩ đại lại biết bảo vệ cả những thứ tưởng như vô hình.

║Không gian thoát lũ là một trong số đó. Khoảng trống ấy không tạo ra lợi nhuận mỗi năm, nhưng nó âm thầm bảo vệ một thành phố trong suốt hàng trăm năm. Đó không phải đất bỏ trống. Đó là một tài sản chiến lược của quốc gia.

Nếu bài viết mang đến cho bạn một góc nhìn mới, hãy chia sẻ để nhiều người cùng hiểu rằng:

Không phải mọi khoảng đất chưa xây dựng đều là đất lãng phí. Có những khoảng trống chính là hạ tầng bảo vệ cả một thành phố.

Theo dõi Phan Phụng Long (PhungLongVOL) để đồng hành cùng chuỗi phân tích về:

  • Quy hoạch sông Hồng dưới góc nhìn tư duy hệ thống.
  • Địa lý, thủy văn và quản trị rủi ro trong phát triển đô thị.
  • Những nguyên lý mà mọi siêu dự án đều phải trả lời trước khi khởi công.

Một quyết định quy hoạch có thể ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Vì vậy, điều chúng ta cần nhất không chỉ là tầm nhìn phát triển, mà còn là sự tôn trọng những quy luật của thiên nhiên.


 

Chú chó ở trại cứu hộ này đã che mặt và khóc suốt nhiều ngày- Truyen ngan HAY

Thuy Phan

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 Chú chó ở trại cứu hộ này đã che mặt và khóc suốt nhiều ngày, và không có gì tôi làm có thể an ủi được nó cho đến khi chúng tôi tìm thấy mẩu giấy được giấu bên trong vòng cổ của nó.

Tên nó là Max. Ít nhất thì vòng cổ ghi như vậy. Một con chó lai giống Pit Bull, khoảng ba tuổi, được nhân viên kiểm soát động vật đưa đến vì bị lạc.

Nhưng Max không phải là một con chó lạc bình thường. Nó không sợ người. Nó không hung dữ. Nó không bị ốm hay bị thương.

Nó đang đau khổ tột cùng.

Tôi là Sarah, và tôi đã làm việc tại Trại cứu hộ động vật của quận được mười một năm. Tôi đã thấy hàng nghìn con chó đi qua cánh cửa này. Những con chó vui vẻ. Những con chó ốm yếu. Những con chó hung dữ. Những con chó sợ hãi. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy một con chó nào giống như Max.

Nó không ăn. Không uống. Chỉ ngồi ở góc chuồng, úp mặt vào tường, hai chân che mắt, phát ra những tiếng khóc đau lòng nhất mà tôi từng nghe.

“Nó đã như vậy ba ngày rồi,” đồng nghiệp Jenny nói với tôi vào ngày đầu tiên tôi trở lại làm việc sau kỳ nghỉ. “Chúng tôi đã thử mọi cách. Thức ăn. Bánh thưởng. Đồ chơi. Nó thậm chí không thèm nhìn chúng tôi.”

Tôi đi đến chuồng của Max. Nó đúng như Jenny mô tả. Cuộn tròn trong góc, mặt giấu đi, cơ thể run rẩy với những tiếng nức nở thầm lặng.

“Chào con,” tôi nói nhẹ nhàng. “Không sao đâu. Con an toàn ở đây rồi.”

Nó không cử động. Không hề phản ứng lại tôi. Chỉ tiếp tục khóc.

Tôi ngồi xuống sàn bên ngoài chuồng của nó. “Ta biết con đang buồn. Ta biết con nhớ ai đó. Nhưng con phải ăn gì đó chứ, được không? Con phải uống nước.”

Không có chút động tĩnh gì.

Tình trạng này kéo dài thêm ba ngày nữa. Max không chịu ăn. Chúng tôi phải truyền dịch cho nó để giữ cho nó sống sót. Bác sĩ thú y đã khám kỹ lưỡng cho nó. Không có vết thương. Không có bệnh tật. Chỉ là một trái tim tan vỡ.

“Nếu nó không bắt đầu ăn vào ngày mai, chúng ta sẽ phải đưa ra quyết định,” giám đốc trại cứu hộ nói với tôi vào ngày thứ sáu. Mắt bà ấy đỏ hoe. Bà ấy đã khóc. “Chúng ta không thể để nó chịu đựng như thế này.”

Tôi biết điều đó có nghĩa là gì. Nếu Max đã từ bỏ cuộc sống, chúng tôi không thể ép buộc nó sống trong đau khổ. Đêm đó, tôi ở lại muộn. Ngồi bên ngoài chuồng của Max và chỉ nói chuyện với nó. Về mọi thứ. Về những chuyện không đâu. Về con chó của tôi đã chết vì ung thư hai năm trước. Về việc tôi hiểu nỗi đau mất mát. Về việc tôi biết cảm giác muốn bỏ cuộc là như thế nào.

“Nhưng con không thể bỏ cuộc, Max,” tôi thì thầm. “Ai đó ngoài kia có thể cần con. Ai đó có thể đang tìm kiếm con ngay lúc này.”

Lần đầu tiên sau sáu ngày, Max ngẩng đầu lên. Chỉ một chút thôi. Mắt nó nhìn thẳng vào mắt tôi. Đó là đôi mắt buồn nhất mà tôi từng thấy. Màu nâu. Sâu thẳm. Tràn đầy nỗi đau không thể chịu đựng nổi.

Rồi nó lại úp mặt vào góc chuồng.

Tôi quyết định thử một cách khác. Tôi bước vào chuồng của nó. Chậm rãi. Cẩn thận. Tôi chưa bao giờ làm điều này với một con chó mà tôi không quen biết, nhưng có điều gì đó mách bảo tôi rằng Max sẽ không làm hại tôi.

Nó không di chuyển khi tôi ngồi xuống bên cạnh. Không giật mình khi tôi nhẹ nhàng chạm vào lưng nó.

“Không sao đâu, con. Dù chuyện gì đã xảy ra, buồn cũng không sao cả.”

Đó là lúc tôi cảm nhận được điều đó. Chiếc vòng cổ của nó dày. Quá dày. Tôi nhìn kỹ hơn. Có thứ gì đó được may bên trong lớp vải. Thứ gì đó làm cho chiếc vòng cổ trở nên cồng kềnh.

Với đôi tay run rẩy, tôi cẩn thận kiểm tra chiếc vòng cổ. Có một vết rách nhỏ ở lớp lót bên trong. Tôi nhẹ nhàng kéo nó ra.

Một mảnh giấy rơi ra.

Tôi mở nó ra bằng những ngón tay run rẩy. Đó là chữ viết tay. Mực bị nhòe như thể ai đó đã khóc khi viết nó.

“Gửi người nào tìm thấy Max –

Tôi tên là Daniel Peterson. Tôi 73 tuổi và mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối. Các bác sĩ cho tôi biết tôi chỉ còn sống được hai tháng nữa. Tôi không có gia đình. Không có ai ngoài Max.

Max là người bạn thân nhất của tôi suốt ba năm qua. Nó là lý do tôi thức dậy mỗi sáng. Lý do tôi tiếp tục chiến đấu. Lý do tôi mỉm cười vượt qua nỗi đau.

Nhưng tôi không thể chăm sóc nó nữa. Ngày mai tôi sẽ vào viện dưỡng lão. Ở đó không cho phép nuôi chó. Tôi không đủ tiền để gửi nó ở trại nuôi chó. Tôi không có ai để gửi gắm nó.

Vì vậy, tôi đang làm điều khó khăn nhất mà tôi từng làm. Tôi đang để nó đi.

Tôi lái xe đưa Max đến một khu phố đẹp và thả nó ra. Tôi bảo nó ở lại. Hãy ngoan ngoãn. Hãy tìm một gia đình mới yêu thương nó như tôi.

Nó không hiểu. Nó cố gắng chạy theo xe của tôi. Tôi phải lái xe đi trong khi nó vẫn chạy theo phía sau. Tiếng khóc của nó là điều tôi sẽ nghe thấy cho đến khi chết.

Tôi là một kẻ hèn nhát. Lẽ ra tôi nên đưa nó đến trại cứu hộ chó. Nhưng tôi không thể làm được. Không thể bỏ đi khi nó đang nhìn tôi. Không thể là người nhốt nó vào lồng.

Làm ơn, bất cứ ai tìm thấy Max, hãy yêu thương nó. Nó là con chó tốt nhất trên thế giới. Nó trung thành. Nó hiền lành. Nó thông minh. Nó thích chơi bóng tennis, thích ngủ dưới ánh nắng mặt trời và thích đi xe ô tô với cửa sổ mở.

Nó đang đau khổ vì tôi. Tôi biết điều đó. Nó không hiểu tại sao tôi lại bỏ rơi nó. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi xin lỗi. Làm ơn hãy nói với nó rằng tôi yêu nó hơn bất cứ điều gì. Làm ơn hãy nói với nó rằng không sao cả nếu nó yêu thương một người khác.

Tôi đã khâu lá thư này vào vòng cổ của nó vì tôi biết nếu ai đó tìm thấy nó, họ sẽ thắc mắc tại sao một con chó tốt như vậy lại hành động đau khổ đến vậy. Bây giờ thì bạn đã biết rồi.

Thức ăn yêu thích của nó là thịt gà. Nó có một con gấu bông nhồi bông để ngủ cùng – tôi không thể mang nó theo vì tôi không muốn nó làm mất. Nó biết các lệnh: ngồi, đứng yên, bắt tay, nằm xuống. Nó đã được huấn luyện đi vệ sinh đúng chỗ. Nó chưa bao giờ cắn ai. Nó rất hoàn hảo.

Làm ơn hãy cho nó một cơ hội. Xin đừng giết nó chỉ vì nó buồn. Nó chỉ cần thời gian. Và tình yêu thương. Rất nhiều tình yêu thương.

Cảm ơn vì đã tìm thấy nó. Cảm ơn vì đã đọc bức thư này. Cảm ơn vì đã cho nó cuộc sống mà tôi không thể cho nó nữa.

Hãy nói với Max rằng Danny yêu nó. Luôn luôn.

Daniel Peterson”

Tôi khóc nức nở. Không thể thở được. Không thể nhìn thấy gì qua những giọt nước mắt. Max đã bị bỏ rơi bởi người mà nó yêu thương nhất trên thế giới. nó không hiểu tại sao. Nó đang chờ Danny quay lại. Khóc vì Danny. Đau buồn vì Danny.

“Ôi Max,” tôi thì thầm. “Ôi con ơi. Ông ấy không muốn bỏ rơi con. Ông ấy buộc phải làm vậy. Ông ấy yêu con rất nhiều.”

Max quay lại. Nhìn tôi. Thấy tôi đang khóc. Và lần đầu tiên sau sáu ngày, nó tiến lại gần một người thay vì tránh xa.

Nó đặt đầu vào lòng tôi. Và nó khóc. Cả hai chúng tôi đều khóc.

Tôi ôm Max suốt đêm. Đọc bức thư cho nó nghe hết lần này đến lần khác. “Danny yêu con. Ông ấy rất xin lỗi. Ông ấy muốn con được hạnh phúc. Ông ấy muốn con tìm được một gia đình mới.”

Sáng hôm sau, tôi mang thịt gà đến. Món ăn yêu thích của Max. Tôi ngồi trong chuồng của nó và đưa cho nó ăn.

Nó ăn. Không nhiều. Nhưng nó đã ăn.

Tiến triển tốt.

Trong tuần tiếp theo, Max dần dần hồi phục. Nó bắt đầu ăn uống đều đặn. Bắt đầu uống nước. Bắt đầu nhận biết mọi người. Nhưng nó vẫn có đôi mắt buồn bã ấy.

Tôi gọi điện đến tất cả các viện dưỡng lão trong khu vực. Cuối cùng cũng tìm thấy nơi mà Daniel Peterson đang ở.

“Tôi rất tiếc,” y tá nói với tôi. “Ông Peterson đã qua đời bốn ngày trước. Một cách thanh thản. Ông ấy cứ hỏi về con chó của mình. Muốn biết liệu có ai tìm thấy nó không. Chúng tôi nói với ông ấy rằng có, có người đã tìm thấy nó. Ông ấy mỉm cười và nói ‘tốt’.” Đó là những lời cuối cùng của ông ấy.”

Tôi cúp máy và khóc suốt một tiếng đồng hồ. Sau đó tôi đến chuồng của Max. Ngồi xuống bên cạnh nó.

“Danny đã ra đi rồi, con ạ. Ông ấy không bỏ rơi con vì không yêu con. Ông ấy bỏ rơi con vì yêu con quá nhiều. Ông ấy muốn con có một cuộc sống tốt hơn. Hạnh phúc hơn. Được yêu thương nhiều hơn.”

Max nhìn tôi bằng đôi mắt buồn bã ấy. Và tôi đã đưa ra một quyết định.

“Con sẽ về nhà với ta.”

Tôi nhận nuôi Max ngày hôm đó. Đưa nó về nhà. Cho nó xem sân vườn. Chiếc ghế sofa. Chiếc giường. Mua cho nó một con gấu bông giống hệt con gấu mà Danny đã mô tả.

Max mang con gấu đó đi khắp mọi nơi trong nhiều tháng. Ngủ cùng nó. Khóc vào nó. Dần dần vết thương lòng cũng lành lại.

Đã hai năm rồi. Max vẫn có những khoảnh khắc buồn bã. Thỉnh thoảng nó vẫn ngồi ở góc nhà và khóc. Nhưng giờ nó cũng chơi đùa. Chạy nhảy. Âu yếm. Yêu thương.

Tuần trước, tôi đưa Max đến thăm mộ của Danny. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy mộ ông ấy sau nhiều tháng tìm kiếm. Max ngửi bia mộ. Nằm xuống bên cạnh. Đặt đầu lên hai chân trước.

“Danny, nếu ông đang nghe thấy, Max vẫn ổn,” tôi nói to. “Nó được yêu thương. Nó an toàn. Hầu hết các ngày nó đều hạnh phúc. Nó nhớ ông. Cả hai chúng tôi đều biết nó sẽ không bao giờ ngừng nhớ ông.” “Nhưng nó đang sống cuộc sống mà ông muốn dành cho nó.”

Max ngước nhìn bầu trời. Cái đuôi của nó vẫy một lần. Rồi hai lần. Như thể nó nghe thấy điều gì đó mà tôi không nghe thấy.

Chúng tôi ở đó khoảng một tiếng. Sau đó Max đứng dậy, rũ người và đi về phía xe. Nó ngoảnh lại nhìn một lần. Rồi nó nhảy vào xe và chờ đợi cuộc phiêu lưu tiếp theo của chúng tôi.

Lá thư của Danny giờ được đóng khung trong phòng khách của tôi. Thỉnh thoạt tôi đọc nó cho Max nghe. Nhắc nhở nó về nguồn gốc của nó. Về việc nó được yêu thương nhiều như thế nào. Về việc người chủ đầu tiên của nó đã từ bỏ tất cả để Max có được mọi thứ.

Max giờ là người bạn thân nhất của tôi. Người bạn đồng hành không thể thiếu của tôi. Là lời nhắc nhở tôi rằng tình yêu không kết thúc chỉ vì cuộc sống kết thúc.

Nếu bạn đang đọc bài này và bạn đang ở trong hoàn cảnh giống như Danny, làm ơn đừng bỏ rơi con chó của bạn. Hãy tự mình đưa chúng đến trại cứu hộ. Hãy nói lời tạm biệt một cách đàng hoàng. Hãy cho chúng thấy rằng bạn yêu chúng ngay cả khi bạn phải rời xa chúng. Hãy viết một lá thư giải thích câu chuyện của chúng.

Bởi vì Max đã trải qua sáu ngày nghĩ rằng mình đã làm điều gì đó sai. Nghĩ rằng Danny không còn muốn nó nữa. Không con chó nào phải chịu đựng nỗi đau đó.

Và nếu bạn đang đọc bài này và bạn làm việc tại một trại cứu hộ, hãy kiểm tra vòng cổ. Kiểm tra kỹ lưỡng. Đôi khi có một câu chuyện được giấu bên trong giải thích tất cả mọi thứ.

Max chưa bao giờ là một con chó bị tổn thương. Nó là một con chó đang đau buồn. Có sự khác biệt.

Nó chỉ cần ai đó hiểu nỗi đau của nó. Cho nó thời gian. Để cho nó thấy rằng việc yêu thương trở lại là điều bình thường.

Danny đã tặng tôi món quà tuyệt vời nhất khi giấu lá thư đó trong vòng cổ của Max. Ông ấy đã tặng Max cho tôi. Và Max, ngược lại, đã cứu tôi khỏi nỗi đau của chính mình.

Chúng tôi đã cứu nhau. Giống như Danny đã hy vọng.

ST


 

Có nên bắt giam nhà văn?-Hiệu Minh

Ba’o Tieng Dan

Hiệu Minh

24-7-2026

Người ta có thể khóa một cánh cửa. Có thể khóa một căn phòng, một ngôi nhà, thậm chí cả một thành phố. Nhưng từ rất lâu trước khi phát minh ra nhà tù, nhân loại đã phát hiện ra một điều khá bất tiện đối với mọi quyền lực: Ý tưởng là thứ gần như không biết nghe lệnh.

Nhà văn sống bằng những ý tưởng ấy. Sách và văn học

Họ giống những người đi dọc bờ biển lúc bình minh, nhặt lên những chiếc vỏ sò mà người khác bước qua. Có chiếc chỉ là một mảnh vỏ vô nghĩa. Có chiếc lại giữ tiếng vọng của cả đại dương. Công việc của nhà văn đôi khi chỉ là lắng nghe những âm thanh rất nhỏ mà cuộc sống quá ồn ào đã bỏ quên.

Bởi vậy, mỗi cuốn sách  giống như một bức thư gửi cho tương lai. Có người mở thư rồi mỉm cười. Có người mở thư rồi nổi giận. Điều đó hoàn toàn bình thường. Văn học chưa bao giờ được sinh ra để tất cả cùng đồng ý với nhau. Nếu mọi cuốn sách đều chỉ lặp lại những điều ai cũng muốn nghe, nhân loại chẳng cần nhà văn. Chỉ cần một dây chuyền sản xuất gương soi với công nghệ đánh bóng ngày càng hiện đại.

Nhưng nhà văn không phải chiếc gương. Họ thường là chiếc cửa sổ. Mà cửa sổ thì rất bất lịch sự

. Nó luôn cho người ta thấy còn có một thế giới khác bên ngoài căn phòng.

Lịch sử  văn học thế giới là một thư viện đầy nghịch lý. Có những cuốn sách từng bị cấm nhưng sau này lại được đưa vào chương trình học. Có những tác giả từng bị nguyền rủa rồi được dựng tượng. Cũng có những tác phẩm từng được tung hô như chân lý cuối cùng để rồi lặng lẽ phủ bụi trên giá sách. Danh tiếng trong văn học đôi khi có vòng đời ngắn hơn cả một trào lưu trên mạng xã hội.

Thời gian là nhà phê bình khó tính nhất, đọc rất chậm, nhưng hiếm khi đọc theo hashtag.

Lịch sử Việt Nam với phong trào Nhân văn – Giai phẩm, cũng như nhiều giai đoạn ở Liên Xô, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác, cho thấy một điều đáng suy ngẫm, đánh giá về một tác phẩm đôi khi thay đổi theo thời đại. Điều hôm nay bị xem là nguy hiểm, ngày mai có thể trở thành tư liệu để nghiên cứu. Không phải vì cuốn sách tự viết lại chính mình, mà vì xã hội học được cách đọc lại chính mình. Lịch sử Jorge Luis Borges từng hình dung thiên đường giống như một thư viện. Có lẽ ông không tưởng tượng rằng ở một số nơi, thư viện đôi khi còn khiến người ta lo lắng hơn… kho vũ khí.

Vậy có nên bắt giam một nhà văn?

Có lẽ câu hỏi ấy cũng giống như hỏi có nên bỏ tù một người làm vườn chỉ vì ông gieo một hạt giống mà ta không thích. Nếu ông phá hoại khu vườn của người khác, pháp luật phải lên tiếng. Nhưng nếu điều khiến người ta sợ chỉ là khả năng hạt giống ấy có thể nảy mầm, thì vấn đề có lẽ không còn nằm ở cái cây.

Điều đáng sợ nhất không phải một ý tưởng được viết ra. Điều đáng sợ là bầu không khí khiến chẳng còn ai dám viết bất kỳ ý tưởng nào nữa.

Một khu vườn chỉ có một loài hoa chắc chắn rất ngăn nắp. Nhưng hiếm ai gọi đó là thiên nhiên.

Dĩ nhiên, nhà văn cũng chỉ là công dân như mọi công dân khác. Họ không đứng trên pháp luật chỉ vì biết đặt dấu phẩy đúng chỗ. Nếu phạm tội, họ phải chịu trách nhiệm như bất kỳ ai. Cây bút không phải tấm hộ chiếu miễn trừ trước công lý.

Nhưng khi điều bị trừng phạt chủ yếu là một ý tưởng hay một tác phẩm, xã hội nên tự hỏi một câu khác: Điều gì khiến vài trăm trang giấy trở nên đáng sợ đến vậy? Toánhọc

Có những cuốn sá ch làm người đọc khó chịu. Có những câu văn khiến người ta mất ngủ. Có những ý tưởng giống như hạt cát rơi vào vỏ trai, gây đau đớn trước khi hóa thành viên ngọc. Văn học chưa bao giờ hứa sẽ mang lại sự dễ chịu. Điều duy nhất nó cố gắng gìn giữ là sự thành thật.

Umberto Eco từng nhận xét rằng sách  giống như cái thìa, cái búa hay bánh xe, một khi đã được phát minh, rất khó có thứ gì thay thế tốt hơn. Có lẽ cũng vì thế mà nhiều người vẫn tin rằng cách hiệu quả nhất để đối phó với một cuốn sách là… đừng để ai đọc nó. Lịch sử, tiếc thay, nhiều lần chứng minh đây là một chiến lược có tỷ lệ thành công khá khiêm tốn.

Một nền văn minh trưởng thành không được đo bằng số lượng tượng đài dành cho nhà văn, mà bằng sự bình thản khi đối diện với những cuốn sách mình không thích. Người ta có thể phản biện, phê bình, bác bỏ, hoặc viết một cuốn sách khác để tranh luận. Đó là cách câu chữ đối thoại với câu chữ. Còn nếu lập luận phải nhờ đến còng tay hỗ trợ, thì có lẽ vấn đề không còn nằm ở văn chương nữa.

Đôi khi, chúng ta cư xử với một cuốn tiểu thuyết như thể nó nguy hiểm hơn lạm phát, tham nhũng hay một con đường đầy ổ gà. Đó là lúc cuốn tiểu thuyết ấy hẳn cũng phải ngạc nhiên về sức mạnh mà chính nó chưa từng dám nhận.

Bởi ý tưởng, cũng như gió, không biết dừng lại trước song sắt.

Người ta có thể giữ một con người  trong bốn bức tường. Nhưng rất khó giữ một câu chuyện ở yên một chỗ. Nó sẽ theo một độc giả bước ra khỏi thư viện , ngồi trên chuyến tàu chiều, nằm trong chiếc ba lô của một sinh viên, hoặc lặng lẽ ở lại trong ký ức của ai đó suốt nhiều năm. Con người và xã hội

Rồi con người sẽ già đi. Những nhà tù cũng sẽ cũ. Những cánh cửa sắt rồi cũng han gỉ.

Chỉ có những câu chuyện, nếu còn chạm được vào trái tim con người, vẫn tiếp tục cuộc hành trình của mình, bình thản như một cánh chim bay qua bầu trời mà chẳng cần xin phép bất kỳ hàng rào nào.

Và đó có lẽ là điều khiến văn chương vừa đáng yêu, vừa đáng sợ: phàm đã là văn chương thì không bao giờ biết cách ngồi yên.

PS. Hôm trước đọc bài của chị Beo về nhà văn bị bắt, bỗng viết bài này một cách chung chung để khỏi bị nhắc nhở.


 

CHUYỆN ĐỜI Ở HÀNH LANG BỆNH VIỆN…

Chuyện tuổi Xế Chiều – Lộc Ninh 

Khi mẹ nằm truyền, mình đi ra ngoài và hỏi thăm người đàn bà mà mình thấy đã ngồi đó rất lâu:

– Trễ rồi sao cô chưa về?

– Cô chưa có tiền đóng để mua dây, mua…vì mai tới ngày chạy thận.

– Cô đóng nhiêu ạ?

– 260 đồng. Sáng nay cô lấy 100 tờ vé số, bán được 50 tờ, còn 50 tờ nhờ bà kia bán mà chắc chưa hết nên chưa đưa tiền qua….

…Cô ở một mình, tối trải ghế bố ngủ ngoài kia, cả ngày đi bán vé số kiếm tiền trị bệnh.

– Để con đi đóng cho cô nha.

– Con giỡn chơi hà.

Mình vào phòng tìm y tá hỏi thăm. Bạn í ngạc nhiên:

– Ủa, cô Hường không có người thân mà. Chị quen gì với cô?

– Chị không quen, nhưng chị muốn đóng cho cô ấy. Một tháng cô hết bao nhiêu em hén?

– Dạ, một tháng 2,5 triệu. Chị đóng một tháng luôn hay mấy trăm ngàn thôi?

…..

Mình suy nghĩ, vì mình chỉ đưa mấy triệu để lo cho mẹ, nếu đóng cho cô mà lỡ Bs nói đóng thêm gì cho mẹ thì không đủ. Thế là, mình đi hỏi xem mẹ còn gì phải đóng tiền,  bạn nói không…Mà mình còn thẻ nữa.

– Em ơi, chị đóng luôn cho cô ấy 2 tháng. 5 triệu nha.

Bạn y tá ngạc nhiên nhìn mình, hỏi lại có đúng không. Mình gật đầu. Bạn cho tờ giấy đóng tiền, thế là mình vội chạy đi đóng ở dãy nhà khác – kịp để về chăm mẹ.

Ôi trời, mình không tưởng tượng được khi đưa biên lai cho cô ấy. Cổ đâu tin, đọc đi đọc lại tên mình xem có đúng không, rồi đọc số tiền…Là thiệt rồi, cổ thốt lên vậy…

…Rồi cổ khóc, khóc ngon ơ như có gì chất chứa trong lòng, nay được tuôn ra ngoài – người đàn bà bán vé số mang bệnh mà không có người thân – 2 tháng tới đây, chắc vơi đi khó nhọc nhiều lắm!

Rồi cũng trên dãy hành lang ấy, có cô kia đã níu tay mình:

– Cô ơi, đỡ tui dậy đi vệ sinh được không? Bị mệt và choáng nên tui không ngồi lên được.

– Cô không có ai đi cùng à?

– Con tui nó bận hết rồi, tui đi một mình.

Thế là mình đỡ cô dậy, dìu cô đi. Vào nhà vệ sinh, ngay cả quần cô cũng không kéo nổi. Mình lại loay hoay giúp cô, đứng đó cho cô nắm vào tay vì ngồi không vững.

Cô đi xong, mình chùi rửa sạch sẽ cho cô rồi dìu ra ngoài. Cô nói, sáng giờ chưa ăn gì, muốn đi mua mà không bước được.

Thế rồi mình lại chạy đi, mua 2 hộp sữa Ensure mang về cho cô 1 hộp, cô vé số 1 hộp. Mình nói, cô đưa số điện thoại con của cô, con gọi.

Cô đọc số, mình gọi và nghe giọng con trai.

– Em ơi, mẹ em yếu lắm, em vào lo cho mẹ.

Giọng bên kia gắt lên:

– Đã vào đó là có bác sĩ, y tá, không ai lo hay sao mà đưa số cho chị gọi.

– Ủa em, dù có ai đi nữa thì mẹ em cũng phải có người nhà chứ.

– Chiều tối xong việc mới vào được, chị chuyển máy cho mẹ tôi đi.

Mình muốn chửi ghê trời, nghe cái giọng điên hết cả người, nhưng rồi sợ cổ buồn, nên thôi.

– Tui có 2 đứa con, một trai, một gái. Trai có vợ rồi, còn gái thì chưa lập gia đình. Tụi nó bận lắm, muốn nhờ cũng khó.

…Rồi cô lại nói mình dìu nằm xuống ghế, đợi khỏe tí rồi tui ra phòng cấp cứu.

Lòng mình xót xa quá đỗi, chạy vội vào canh chừng mẹ:

– Cha mi, đi đâu nãy chừ để mẹ trông.

…Mình ỏn ẻn, nói con đi nhiều chuyện ở ngoài kia. Mẹ mệt, nhưng mẹ cười rất tươi…Mình nhìn mẹ – rồi lại nghĩ đến những người đàn bà nơi góc hành lang bệnh viện…

     Có vào viện mới hiểu lòng con cái …

Tác giả : Trần Linh

Ảnh st minh họa


 

Người mẹ đã từ chối phá thai… và đứa bé được sinh ra sau này làm thay đổi cả thế giới.

 Thầy Cao Anh 

Người mẹ đã từ chối phá thai… và đứa bé được sinh ra sau này làm thay đổi cả thế giới.

Cuối năm 1919, tại thị trấn Wadowice của Ba Lan, một người phụ nữ tên Emilia Wojtyła mang thai đứa con thứ ba. Nhưng niềm vui ấy nhanh chóng trở thành nỗi tuyệt vọng.

Bác sĩ sau khi khám đã nói với bà:

“Bà phải chấm dứt thai kỳ. Bà không còn lựa chọn nào khác. Thận của bà đã suy nặng, tim cũng rất yếu. Nếu tiếp tục mang thai, cả hai mẹ con đều có thể mất mạng.”

Theo y học lúc bấy giờ, đó là lời khuyên hợp lý. Các bác sĩ tin rằng giữ lại đứa bé gần như không có hy vọng, còn người mẹ cũng rất khó sống sót.

Nhưng Emilia đã đưa ra một quyết định khiến nhiều người kinh ngạc.

Bà từ chối phá thai.

Bà chấp nhận đánh đổi chính mạng sống của mình để bảo vệ đứa con còn chưa chào đời. Không phải vì bà biết tương lai sẽ thế nào, mà vì niềm tin rằng mỗi sinh mạng đều xứng đáng có cơ hội được sống.

Vượt qua mọi dự đoán của bác sĩ, ngày 18 tháng 5 năm 1920, Emilia sinh hạ một bé trai khỏe mạnh.

Cậu bé ấy được đặt tên là Karol Józef Wojtyła.

Đáng tiếc, sức khỏe của Emilia ngày càng suy kiệt. Bà qua đời khi Karol mới 8 tuổi.

Không ai lúc đó có thể ngờ rằng cậu bé năm xưa sau này sẽ trở thành Giáo hoàng Gioan Phaolô II – một trong những vị giáo hoàng có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20.

Ông đã dẫn dắt Giáo hội Công giáo suốt gần 27 năm, góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Đông Âu, cổ vũ hòa bình, bảo vệ phẩm giá con người và truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên khắp thế giới.

Nếu ngày hôm đó Emilia nghe theo lời khuyên của bác sĩ, có lẽ lịch sử thế giới đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.

Câu chuyện này không nhằm phán xét bất kỳ ai hay bất kỳ lựa chọn nào. Nhưng nó nhắc chúng ta một điều rất đáng suy ngẫm:

Đôi khi, không ai có thể biết được giá trị của một sinh mạng ở thời điểm hiện tại. Một đứa trẻ bình thường hôm nay có thể trở thành người làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người trong tương lai.

Và đôi khi, những quyết định âm thầm của một người mẹ lại đủ sức làm thay đổi cả lịch sử nhân loại.


 

CỦA TÌM NGƯỜI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng”.

“Vấn đề không phải là: ‘Làm sao tôi tìm được Thiên Chúa?’, nhưng là: ‘Làm sao để tôi được Thiên Chúa tìm thấy?’” – Henri Nouwen.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta vẫn thường nghĩ người tìm của. Tin Mừng hôm nay mở ra một nghịch lý lớn hơn: nhiều khi của lại tìm người. Đó là câu chuyện ‘của tìm người’.

Có một sự tương phản rất đẹp trong hai dụ ngôn. Người thương gia dành cả đời để tìm viên ngọc quý; cuối cùng, ông gặp được. Người nông dân không hề đi tìm kho báu; kho báu lại bất ngờ được tìm thấy trên chính thửa ruộng ông thuê tậu. Một người gặp điều hằng mong, người kia gặp điều không hề ngờ. Hai con đường trái ngược, nhưng gặp nhau ở một điểm: người gặp của, của gặp người. Đó là cách Thiên Chúa đến với con người: có người miệt mài kiếm tìm Ngài, lại có người bất ngờ được Ngài tìm thấy. Có những cuộc gặp chỉ khi nhìn lại, chúng ta mới biết mình không phải người đến trước.

Điều gì xảy ra khi của gặp người? Tin Mừng trả lời bằng một chi tiết tinh tế. Bản Hy Lạp viết apo tēs charas autou – “vì niềm vui của mình”. Niềm vui ấy có trước mọi quyết định. Người nông dân bán tất cả những gì mình có để mua thửa ruộng, nhưng không phải vì thửa ruộng, mà vì kho báu đã thuộc về chân trời đời ông. Người thương gia cũng vậy. Anh bán tất cả những gì anh có không phải để đổi lấy viên ngọc, nhưng vì đã gặp được viên ngọc anh tìm kiếm suốt đời – đáng để đánh đổi mọi sự. Niềm vui không phải là phần thưởng của sự từ bỏ; niềm vui làm cho sự từ bỏ trở nên thanh thản.

Thế nhưng, không phải mọi kho báu đều đáng để bán tất cả. Chỉ điều tuyệt đối xứng với một quyết định tuyệt đối. Salômôn không xin trường thọ, giàu sang hay chiến thắng, nhưng xin “một tâm hồn biết lắng nghe” – bài đọc một. Cũng vì thế, tác giả Thánh Vịnh mới thốt lên: “Luật pháp Ngài, lạy Chúa, con yêu chuộng dường bao!”. Phaolô còn đi xa hơn: kho báu ấy không chỉ thay đổi điều chúng ta có, mà còn biến đổi chính con người chúng ta để “nên đồng hình đồng dạng” với Con Thiên Chúa – bài đọc hai. Chỉ khi gặp được Đấng tuyệt đối, mọi giá trị khác mới rơi đúng vào vị trí khiêm nhường của nó.

Với chúng ta, bi kịch của một đời người không phải là không gặp kho báu, nhưng gặp kho báu mà không nhận ra. Có những điều chúng ta theo đuổi; lại có những điều lặng lẽ đi ngang cuộc đời. Điều đáng tiếc nhất không phải là đánh mất một kho báu, nhưng là không hề biết mình đã từng gặp nó.

Anh Chị em,

Kho báu ấy có một khuôn mặt: Đức Kitô. Trước mọi cuộc kiếm tìm của con người, luôn có một cuộc kiếm tìm của Thiên Chúa. Phaolô không nói: “Tôi đã nắm được Đức Kitô!”, nhưng: “Đức Kitô Giêsu đã chiếm lấy tôi!”. Đức tin khởi đi từ giây phút con người nhận ra mình đã được yêu, được gọi và được tìm thấy. Đó chính là nghịch lý của việc ‘của tìm người’. “Đừng nghĩ rằng bạn có thể dẫn đường cho tình yêu; chính tình yêu, nếu thấy bạn xứng đáng, sẽ dẫn đường cho bạn!” – Kahlil Gibran.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết nhanh nhẹn để nhận ra, biết trân quý để giữ lấy, và đừng bao giờ vì một phút ơ hờ mà vuột mất Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

GIÂY PHÚT SINH TỬ…Truyen ngan HAY

Võ Hữu Nhậm

GIÂY PHÚT SINH TỬ…

Ông Minh ngoài 60, mái tóc bạc quá nửa, sống ở Mỹ gần 30 năm. Công việc của ông tại lò hỏa táng công lập San Jose không ồn ào, nhưng ông luôn coi đó là trách nhiệm.

 Ông thường nói:

Người sống cần được tôn trọng, người đã mất càng cần hơn.

Chiều hôm ấy, hồ sơ cuối cùng:

 Trần Mỹ Linh, 28 tuổi, mang thai 8 tháng

Nguyên nhân tử vong:

Ngừng tim đột ngột tại phòng khám tư ở Oakland. Giấy tờ hợp lệ, chữ ký đầy đủ. Nhưng khi đọc đến dòng thai nhi 32 tuần, lòng ông trĩu xuống.

Quan tài được đưa đến.

 Gia đình bên chồng có mặt:

  Nguyễn Hoàng Nam, chồng, tầm 30, gương mặt căng thẳng nhưng không biểu lộ đau buồn.

 Bà Nguyễn Thị Hạnh, mẹ chồng, dáng cứng cỏi, mắt lạnh.

 Jessica, bạn thân gia đình. Không ai tiến lại gần quan tài, không ai muốn nhìn mặt lần cuối, không có lời cầu nguyện.

 Nam liên tục xem đồng hồ, bà Hạnh hỏi thời gian, Jessica nhắn tin. Ông Minh ghi nhận điều khác lạ.

 Đến bước kiểm tra cuối, ông đặt tay lên nắp quan tài như thói quen. Khoảnh khắc ấy, ông cảm nhận một điều khiến tim chậm lại – hơi ấm nhẹ, và một dao động rất nhỏ. Không phải ảo giác. Ông đã chạm vào hàng nghìn quan tài, ông biết cảm giác của gỗ lạnh. Nhưng đây khác. Ông kiểm tra lại, lần này rõ hơn:

  Một chuyển động có nhịp. Ông biết nếu sai sẽ mất việc, nếu đúng thì nhấn nút là sai lầm không thể cứu vãn.

Nam bước tới thúc giục. Bà Hạnh tỏ ý khó chịu. Jessica tiếp tục nhắn tin. Ông Minh đặt tay lên nắp lần thứ ba – dao động rõ ràng hơn. Ông nghĩ đến đứa trẻ chưa chào đời.

 Ông quay sang quản lý:

 “Cần thêm bước xác minh.”

 Nam phản ứng ngay, bà Hạnh yêu cầu không chậm trễ. Họ viện dẫn quyền pháp lý, khẳng định bệnh viện đã xác nhận.

 Ông Minh lắng nghe nhưng không thay đổi. Ông không buộc tội, chỉ nói ông cảm thấy bất thường và cần kiểm tra lại. Giọng ông kiên định.

Căng thẳng leo thang. Quản lý nhắc về lịch trình. Nam mất kiên nhẫn, bà Hạnh cho rằng đó là xúc phạm. Ông Minh hiểu mình đang đơn độc, nhưng ông cũng hiểu nếu bỏ qua sẽ ám ảnh cả đời. Ông tuyên bố tạm dừng quy trình. Không nhấn nút, không kích hoạt lò, cho đến khi có xác nhận bổ sung.

Không khí căng cứng. Nam yêu cầu giải thích căn cứ pháp lý. Bà Hạnh cho rằng thiếu tôn trọng. Jessica trao đổi ánh mắt với Nam. Quản lý muốn kết thúc. Ông Minh gọi 911 báo có nghi vấn về tình trạng sinh tồn của sản phụ đã được xác nhận tử vong.

 Ngay lúc đó, cha mẹ ruột của Linh – ông Trần Văn Hòa và bà Nguyễn Kim Lan – vừa đáp chuyến bay từ Houston đến, chưa từng gặp gia đình bên chồng. Họ chỉ biết con gái đột ngột qua đời. Khi biết quy trình bị tạm dừng vì nghi ngờ, ông Hòa yêu cầu giải thích.

 Ông Minh nói rõ: Ông cảm nhận được chuyển động bất thường. Nam phản đối, bà Hạnh cho rằng làm tổn thương hai bên. Nhưng ông Hòa nói nếu còn một phần nhỏ nghi ngờ, ông muốn kiểm tra.

Tiếng còi xe cấp cứu vang lên. Nhân viên y tế ban đầu hoài nghi, nhưng khi nghe sản phụ 8 tháng, họ trao đổi ánh nhìn. Họ đặt thiết bị cảm biến lên quan tài – một đường dao động mảnh xuất hiện: nhịp tim thai.

 Họ kiểm tra mạch người mẹ qua vị trí cổ – có mạch yếu. Bà Lan bật khóc, ông Hòa gần như khuỵu xuống. Ông Minh đứng yên, trong lòng dâng lên sóng mạnh. Nam không giữ bình tĩnh, khẳng định không thể có chuyện đó. Nhân viên y tế thông báo cần chuyển khẩn cấp đến bệnh viện Stanford.

 Khi nắp quan tài được mở ra, Linh nằm đó, tái nhợt, nhưng mạch yếu được xác nhận, nhịp tim thai nghe rõ bằng thiết bị. Linh và con được đưa lên cáng, xe cứu thương lao đi.

 Ông Minh nhìn theo, nghĩ:

 Nếu ông đã nhấn nút, mọi thứ đã chấm dứt.

Tại Stanford, Linh được đưa thẳng vào phòng mổ khẩn cấp. Huyết áp rất thấp, nhịp tim yếu, thai nhi đang giảm cường độ. Bác sĩ quyết định mổ lấy thai ngay.

 Ông Hòa ký giấy đồng ý, chỉ hỏi một câu: “Còn cơ hội không?”

Bác sĩ: “Nếu hành động ngay thì có thể .”

 Em bé được đưa ra, da tái nhợt, không khóc. Đội hồi sức kích thích, hỗ trợ hô hấp. Nhịp tim dao động, rồi một tiếng khóc yếu ớt vang lên. Bà Lan nghe thấy, quay sang ông Hòa, không dám tin. Nhưng Linh vẫn mất máu nghiêm trọng, các bác sĩ kiểm soát xuất huyết, truyền máu. Sau nhiều nỗ lực, các chỉ số bắt đầu nhích lên. Cả hai mẹ con còn sống.

 Sáng hôm sau, hai thanh tra xuất hiện tại trung tâm hỏa táng. Ông Minh kể chi tiết những gì mình cảm nhận. Họ trích xuất camera, thấy sự vội vã của Nam và bà Hạnh. Họ kiểm tra phòng khám Oakland, phát hiện hồ sơ sơ sài, không có siêu âm cuối cùng, không theo dõi tim thai trước khi tuyên bố tử vong. Bác sĩ được mời làm việc, ban đầu khẳng định quy trình đúng, nhưng đối chiếu dữ liệu từ Stanford cho thấy Linh vẫn có mạch. Điều đó có nghĩa tuyên bố tử vong là sai.

 Rà soát giao dịch:

 200.000 đô la được chuyển từ tài khoản bà Hạnh vào tài khoản bác sĩ vài ngày trước khi Linh nhập viện. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 2 triệu đô, người thụ hưởng ban đầu là hai vợ chồng, một tháng trước được đổi thành duy nhất Nam.

 Tin nhắn giữa Nam và Jessica về “cuộc sống mới” và “kế hoạch phải hoàn tất nhanh”. Bác sĩ thừa nhận đã ký giấy chứng tử trong khi biết bệnh nhân vẫn có dấu hiệu sinh tồn.

 Nam, bà Hạnh, Jessica bị truy tố về âm mưu giết người chưa đạt và gian lận bảo hiểm.

 Tòa tuyên án: bác sĩ 12 năm tù, tước giấy phép hành nghề;

 Nam, bà Hạnh, Jessica mỗi người 20 năm tù.

Linh hồi phục chậm nhưng chắc chắn. Con trai cô nằm trong lồng ấp ba tuần, nhịp tim ổn định, tự thở đều. Khi lần đầu được bế con, Linh không nói nên lời.

 Cô viết thư cho ông Minh:

 “Nếu ông đã làm theo quy trình, tôi và con sẽ không còn cơ hội. Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc một người xa lạ đã chọn tin vào trực giác thay vì áp lực.” Ông Minh cất thư vào ngăn bàn, không kể với ai.

 Năm năm sau, Linh đến gặp ông, bế con trai năm tuổi. Cô cúi đầu thật sâu, cảm ơn ông. Cô nói mỗi sinh nhật con đều nhớ đến khoảnh khắc chiếc nút đỏ không được nhấn. Cô đặt vào tay ông một tấm ảnh gia đình: cô, cha mẹ, và con trai. Tất cả đều cười. Ông Minh cầm tấm ảnh rất lâu, đặt cạnh lá thư cũ. Ông quay lại chiếc nút khởi động, vẫn chỉ là nút đỏ bình thường. Nhưng với ông, nó nhắc về trách nhiệm, sự thận trọng và lòng can đảm thầm lặng.

Câu chuyện nhắc nhở:

 Đôi khi lòng can đảm không phải là làm điều phi thường, mà là dám dừng lại khi mọi người đang thúc giục tiến lên. Và trong một thế giới mọi thứ bị quyết định quá nhanh, điều quý giá nhất là khả năng chậm lại đủ lâu để lắng nghe sự thật đang khẽ gõ cửa.

Nguồn:

https://newsyz.com/…/nguoi-vo-vi-et-mang-th-ai-sap-bi…/?

By Sơn Vũ 


 

NGẪM NGHĨ 

NGẪM NGHĨ 

Vì sao loạt phi hành gia trở về từ vũ trụ đều hóa “điên dại,” người nát rượu, kẻ trầm cảm vứt bỏ cả sự nghiệp? 

 Chỉ một lần ngoái nhìn về Trái Đất từ không gian bao la cũng đủ để đảo lộn hoàn toàn nhận thức của một con người.  Hiện tượng tâm lý này kinh điển đến mức các nhà khoa học đã đặt tên cho nó: Hiệu ứng cái nhìn tổng quan.

 Kể từ sau các sứ mệnh Apollo lịch sử, NASA đã ghi nhận rất nhiều phi hành gia trở về với những thay đổi sâu sắc, thậm chí là cực đoan trong thế giới quan:

 Buzz Aldrin (Apollo 11): Người đàn ông thứ hai đặt chân lên Mặt Trăng đã rơi vào trầm cảm và nghiện rượu kéo dài sau khi trở về.  Khi đứng ở đỉnh cao của vinh quang nhân loại, ông bỗng nhận ra cái gọi là “vĩ đại” của con người thực chất chỉ là một ảo tưởng nực cười.  Vinh quang không cứu rỗi được ông, nó chỉ làm nổi bật thêm sự trống rỗng của thực tại.

 Những người khác: Người thì từ bỏ chức quản lý cấp cao, người lập tức vứt bỏ cả công ty tỷ đô để đi tìm một lối sống hoàn toàn khác.

 Giới siêu giàu cũng không ngoại lệ: Từng chi ra số tiền tương đương 700 tỷ VNĐ (hơn 26 triệu đô Mỹ) để mua một tấm vé bay vào vũ trụ, tỷ phú Tôn Vũ Thần sau khi trở về đã im lặng suốt 3 ngày mới thốt lên một câu: “Tôi không biết chúng ta đang sống vì điều gì.”

 Tài sản, thể diện, tranh giành bỗng chẳng là gì giữa khoảng không vô tận.

 Người đời chê cười anh bỏ tiền mua về nỗi sợ, nhưng thực chất, khoảnh khắc nhìn thấy Trái Đất nhỏ bé, anh hiểu ra tài sản, thể diện hay những cuộc tranh giành danh lợi ngoài kia bỗng chốc chẳng bằng một hạt cát giữa hư không.

 Hãy tưởng tượng bạn đã đạt được điều mà 99,9999% nhân loại cả đời này không thể chạm tới: đứng ở rìa thế giới, nhìn ngắm ngọn nguồn của sự sống trong một khoảng không tĩnh lặng tuyệt đối.

 Và rồi, bạn buộc phải quay lại mặt đất để xếp hàng mua đồ ăn sáng, loay hoay trả hóa đơn tiền điện, và chứng kiến những cuộc cãi vã vặt vãnh của người đời.  Sự chênh lệch quá lớn ấy chính là thứ đã bẻ gãy tâm lý của họ.

 Nhìn vào bức ảnh Trái Đất chỉ là một chấm sáng mỏng manh kích thước 0.12 pixel giữa không gian vô tận, nhà thiên văn học Carl Sagan đã viết nên những dòng triết học lay động lòng người: “Mọi vị vua và kẻ ăn xin, mọi kẻ độc tài và nạn nhân, mọi cuộc chiến tranh đẫm máu hay nỗi dằn vặt xé lòng của con người… tất cả đều chỉ diễn ra trên một hạt bụi nhỏ ngoai ngoắt bám trên một tia nắng.”  (Trích từ cuốn “Đốm xanh mờ” – Carl Sagan)

 Vì vạn vật mong manh, nên từng giây phút mới là vô giá 

Những thứ như danh vọng, thể diện, sự hơn thua… thực chất chỉ là những quy ước do con người tự tạo ra.

 Hàng ngày, chúng ta tự làm khổ mình bằng những áp lực tự tạo: hơn thua nhau một câu nói, dằn vặt vì một lỗi lầm trong quá khứ, hay lo lắng thái quá về tương lai. 

Nếu một tỷ phú sở hữu trăm tỷ còn thấy tiền bạc vô nghĩa trước vũ trụ, thì việc bạn chưa mua được cái túi hiệu hay chưa thăng chức tháng này thực ra cũng chẳng phải là thảm họa của thế giới.

 Nhìn thấy sự bao la của vũ trụ dạy chúng ta rằng: Mọi đau khổ, sĩ diện và tranh giành của con người thực ra rất nực cười.

 Nếu những tủi hờn, thất bại hay áp lực của bạn nhỏ bé đến mức vô hình trước vũ trụ, thì tại sao bạn lại để chúng gặm nhấm tâm hồn mình ngày này qua ngày khác?

 Nhận ra sự vô nghĩa giúp chúng ta dũng cảm buông bỏ cái tôi vặt vãnh, tha thứ cho bản thân, tha thứ cho người khác, và bước đi một cách nhẹ nhõm hơn.

 (Theo Sách Hay Chọn Đọc)

Nguồn: Tâm Lý Học & Khoa Học Hành Vi  

From: Langthangchieutim


 

Con Hoang – Thu Phong- Truyen ngan HAY

Kimtrong Lam

 Con Hoang – Thu Phong.

Hình minh hoạ từ internet

Tôi cầm túi đồ ăn ném mạnh vào giỏ rác, nói như hét: “Đã nói má đừng có lên nữa, sao không chịu nghe vậy? Tiền nè, má về đi”.

Mẹ tôi run rẩy bước tới cạnh thùng rác: “Thôi, con không ăn thì má đem về… Tại má nhớ con quá thì lên thăm chớ má đâu có cần tiền. Mai mốt con về thì hết con nước rồi, má sợ không có cá ngon như vầy nữa…”

Tôi dịu giọng: “Sao má không chịu nhớ? Lâu rồi con đâu có thích ăn cá linh? Cá gì mà xương không…”. Mẹ tôi mở giỏ lấy ra túm bông điên điển: “Vậy má để lại cái này cho con nghen? Nước rút rồi nên bông cũng ít. Hôm qua má phải đi hái cả buổi mới được nhiêu đây”. Tôi thấy chạnh lòng nên gật đầu: “Má cứ để đó cho con. Thôi, má về đi, con phải đi làm đây”.

Tôi đứng nhìn theo mẹ bước thấp, bước cao khuất dần nơi đầu hẻm. Tôi để mẹ đi một mình vì không muốn người trong hẻm biết tôi có một người mẹ tật nguyền…

“Cô Tư què”, “bà Tư què”… là những tiếng mà tôi nghe người ta gọi từ khi tôi nhận biết sự bất thường của đôi chân mẹ.

Lớn lên một chút, tôi biết mẹ tôi bị tật cả hai chân từ lúc mới lọt lòng. Bà ngoại mất khi mẹ tôi mới 16 tuổi. Sống một mình giữa đồng nước mênh mông, một đêm mưa nọ, mẹ đã bị một gã đàn ông cùng xóm cưỡng hiếp. Kết quả là – tôi có mặt trên cõi đời này với bao nhiêu điều tiếng xấu xa.

Thế nhưng với mẹ thì ngược lại. Bà xem đó là món quà vô giá mà tạo hóa đã ban cho mình. “Má nói thật đi, ai là cha con?”. Không phải chỉ một lần, tôi hỏi mẹ câu đó. Nhưng lần nào cũng vậy, mẹ chỉ lặng im. Có lần tôi làm dữ thì mẹ nói: “Con biết thì cũng đâu có lợi ích gì mà còn làm cho gia đình người ta xào xáo. Thật lòng, má phải mang ơn người ta chớ thân má như vầy, ai mà thèm…”.

Tôi lớn lên như một cái cây non thiếu ánh sáng. Sau lưng tôi, người ta xầm xì: “Đồ con hoang”. Rồi đến những đứa bạn học cùng lớp cũng trêu chọc: “Đồ không cha”.

Mấy tiếng “con hoang” như một vết chém sâu hoắm vào tâm hồn non nớt của tôi. Không biết từ bao giờ, trong tôi chỉ còn lại sự căm ghét người mẹ tật nguyền của mình.

Trong mắt tôi – mẹ là một kẻ tội đồ vì đã sinh ra một đứa con mà không cho nó biết cha nó là ai…

Lên lớp 10, tôi ra thị xã học. Suốt những năm học cấp 3, tôi chỉ về nhà dịp hè và Tết dù từ nhà ra thị xã chỉ mất 30 phút đi xe máy.

Thằng Kiên con bác Ba Bảo ở cạnh nhà có nhiệm vụ “tiếp tế” cho tôi mỗi tuần. Có lần nó bảo: “Ê, sao mày không về thăm má mày? Tao thấy tội nghiệp má mày lắm. Hôm trước hình như bả bị bịnh đó”. Tôi có hơi băn khoăn nhưng rồi lại quên ngay. “Mày về nói với má tao là nhớ mua thuốc uống, lúc này tao bận học lắm nên không về được”. Thằng Kiên bĩu môi: “Mày đúng là con bất hiếu”.

Học hết lớp 12, tôi quyết định lên Sài Gòn. “Lên trên đó dễ kiếm tiền lắm”- chị Thu con bác chủ nhà tôi ở trọ bảo. Chị làm đầu bếp trong một nhà hàng lớn ở Sài Gòn, lương mỗi tháng cả chục triệu. Chị hứa sẽ đỡ đầu nếu tôi muốn lên trên ấy.

Mẹ tôi đã khóc cả đêm khi biết ý định này. “Con lên trên đó làm sao má đi thăm?”- mẹ tôi sụt sịt. Tôi nạt: “Ai cần má thăm? Má cứ ở nhà, con làm có tiền sẽ gởi về nuôi má”.

Vậy là tôi đi. 4 năm qua, tôi về thăm nhà đúng 1 lần. Mẹ tôi nhờ thằng Kiên dò la tin tức.

Biết chỗ tôi làm, nó gọi điện thoại trách: “Mày đúng là con bất hiếu. Nếu tao không gọi, chắc mày cũng im luôn. Má mày lo tới bịnh luôn đó”. Tôi bực vì cái tiếng “bất hiếu” của nó nên nạt: “Mày còn nói cái giọng đó nữa thì đừng có gọi điện cho tao nghe chưa”. Nói rồi tôi cúp máy.

Có lẽ – nó tức lắm nên dẫn mẹ tôi lên tận Sài Gòn tìm tôi. Dĩ nhiên là nó bị tôi chửi vuốt mặt không kịp. Mẹ tôi cũng bị vạ lây: “Còn má nữa, ai biểu má lên đây?”.

Thật sự thì đâu có ai biểu mà chỉ có tấm lòng, tình yêu của một người mẹ đã thúc giục mẹ tôi lặn lội đi tìm con. “Tại con không về nên má nhớ…” – mẹ tôi rưng rưng. Thấy vậy, tôi cũng không nỡ rầy la: “Thôi được, má muốn lên thì cứ lên; nhưng con nói trước là con không có về dưới nữa đâu”.

Từ đó, cứ vài tháng, mẹ tôi lại lặn lội từ Châu Đốc lên Sài Gòn thăm con. Thỉnh thoảng thằng Kiên rảnh thì lại đi cùng với mẹ.

Có lần nó đùa: “Ê, má bà đã hứa gả bà cho tui rồi đó nghen. Bà ở trên này đừng có lộn xộn”. Tôi không nhớ nó đã đổi cách xưng hô từ khi nào nhưng vừa nghe vậy đã đổ quạu: “Đừng có mơ. Tui không bao giờ trở về cái xứ đó. Mà ông cũng đừng có ăn nói bậy bạ”. Nó cười hì hì: “Giỡn bà thôi chớ cái thứ con cái không ra gì như bà, có cho tui cũng… không thèm lấy”.

Mọi chuyện sẽ không có gì nếu như tôi không tình cờ quen một người. Anh là trưởng phòng của một công ty lớn. Chân dung của tôi trong mắt anh là một đứa trẻ mồ côi, tự lập, tự bươn chải vào đời… “Anh yêu em vì những điều đó. Em là một cô gái đầy nghị lực” – có lần anh bảo tôi như vậy.

Tôi gọi điện cho Kiên: “Ông đừng có dẫn bà già lên nữa nghe chưa. Tôi nói với người ta là tôi mồ côi…”.

Vừa nghe vậy, Kiên đã sừng sộ: “Bà ăn nói gì bất nhơn thất đức vậy? Má bà còn sống sờ sờ đó mà”.

“Tui nói rồi, ông mà còn dẫn má tui lên là đừng có trách sao tui cạn tình nghen” – tôi nói dứt khoát.

Kiên còn dẫn mẹ tôi lên một lần nữa. Sau đó, hắn mất biệt. Mẹ tôi lại lặn lội đi một mình. Tôi bực bội ra tối hậu thư: “Má đừng có lên đây nữa, con khó ăn khó nói với người ta. Nếu má không nghe lời, con sẽ đổi chỗ ở, không cho biết số điện thoại luôn”.

Lần đó về, mãi 4 tháng sau mẹ tôi mới dám lên.

Đó chính là cái lần tôi đã vứt giỏ đồ ăn mà mẹ lụm cụm mang từ nhà lên cho tôi. Và vì giận mẹ không nghe lời nên tôi đã đổi chỗ ở và không thèm gọi điện thoại về nhà.

******

Cho đến một hôm, tôi bỗng thấy ruột gan mình bồn chồn. Tôi lục tìm số điện thoại của Kiên. Nhưng tôi tìm mãi mà chẳng thấy.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi sắp xếp lại đồ đạc, tôi tìm được quyển sổ trong đó có ghi số điện thoại của Kiên. Tôi mừng quýnh vội gọi ngay.

Vừa nghe tiếng Kiên, tôi đã líu lo: “Xin lỗi nghen, tui bỏ mất số điện thoại của ông, giờ mới tìm được. Ông sao rồi? Khỏe không? Cưới vợ chưa hay là còn chờ tui?”.

Không nghe Kiên trả lời, tôi lại ghẹo: “Ê, bộ còn giận hả?”.

Bên kia, giọng Kiên thật chậm: “Giận làm gì cái thứ không phải con người như bà”.

Tôi chột dạ: “Làm gì mà nặng lời như vậy? Ông thấy má tui khỏe không?”.

Không có tiếng trả lời.

Tôi sốt ruột: “Nói đi chớ, tốn tiền điện thoại của người ta…”.

Kiên thủng thẳng: “Giỏi lắm thì bà cũng chỉ tốn tiền điện thoại một lần này chớ mai mốt có muốn tốn cũng không được…”.

Tôi phát bực nên gắt: “Nói gì thì nói lẹ lẹ lên, không thôi tui cúp máy à”.

Lần này tôi không phải chờ lâu vì Kiên nói ngay: “Má bà mất rồi”. Tôi nghĩ là Kiên nói đùa: “Ê, hết chuyện giỡn rồi sao? Má tui đang mạnh sần, ông trù ẻo hả? Đồ xấu xa”.

“Còn bà là đồ bất hiếu. Muốn biết thì về. Tui cúp máy đây”.

Giọng Kiên cụt ngủn. Hắn cúp máy thật. Tôi gọi lại, chuông vẫn đổ nhưng hắn nhất quyết không nghe máy.

Bán tín, bán nghi, hôm sau tôi chạy về…

Kiên không hề nói đùa. Mẹ tôi đã mất cách nay hơn 3 tháng. Trước đó, bà đã bệnh không ăn uống cả tuần…

Kiên kể với tôi, hôm đám tang mẹ tôi, trời mưa tầm tã. Những người đưa đám đều khóc khi thấy người đứng ra lo ma chay cho mẹ tôi lại là Kiên.

“Tui có nhờ nhắn tin trên truyền hình, cả đăng báo nữa…” – giọng Kiên buồn buồn.

Tôi cúi đầu, không dám nhìn vào ảnh mẹ. Kiên đã nói đúng. Tôi không chỉ là một đứa con bất hiếu mà thậm chí, tôi cũng không đáng làm một con người.

Tôi có mẹ mà như một đứa con hoang…

Thu Phong. 


 

KHI TA GIÀ ĐI

Khong Khong

 Khi ta già đi, ta sẽ không nhắc nhở con cháu về một điều gì đó quá cũ, rót vào tai chúng mãi một câu chuyện xa xưa, hay dặn dò chúng những điều hết sức lạc hậu. Cho dù nói nhiều hay ít thì con cháu nó vẫn cho rằng, đó chỉ là lý lẽ vớ vẩn của người già.

Khi ta già đi, ta học cách buông tay, ta chẳng cần phải nghĩ ngợi những người trẻ mỗi ngày nó lướt qua đời ta một cách nhẹ nhàng như thế nào, ta chỉ mong mình đủ sức để tự nấu một món ăn thật nhừ, đủ sức để tự tắm rửa hàng ngày, ta cũng không câu nệ mọi ngóc ngách trong nhà đều phải tinh tươm sạch sẽ, mà chỉ chú ý đến sức khỏe của bản thân mình, nhằm giảm bớt áp lực cho con cháu khi phải chăm sóc ta.

Khi ta già đi, ta cũng mong trời thương, nằm xuống, nhắm mắt một phát là đi ngay. Bởi ta đã nhìn thấy nhiều cảnh đau lòng xảy ra khi con cái chăm sóc cha mẹ già. Có nhiều chuyện bấy lâu nay ta cứ nghĩ nó chỉ có trong văn học thời hiện thực phê phán, nhưng không, nó vẫn được diễn ra trong cuộc sống thường nhật. Mà nghĩ đi rồi cũng nghĩ lại, thực ra thì con cái ai cũng tốt và có hiếu với cha mẹ cả thôi, nhưng khi bố mẹ trở thành gánh nặng hàng ngày, nhiều ngày thì tình cảm sẽ mai một dần đến mức không còn thấy thương yêu nữa, chỉ còn thấy chịu đựng, thấy khổ sở, nhất là con rể hoặc con dâu và các cháu, những người không trực hệ, không được ông bà trực tiếp đẻ ra.

Và khi ta già đi, ta muốn chẳng nợ nần gì nhau trong cuộc đời này, chỉ cần được an yên, bởi ta nghĩ bất cứ ai, cho dù một thời trẻ hoài bão, ngang dọc, vội vã, và rồi cũng đến lúc già, chỉ cần hai chữ an yên mà thôi.

Fb Tinh ca


 

Du Học Sinh Lê Đức Nhân…

Kimtrong Lam

Du Học Sinh Lê Đức Nhân…

Cháu trai 31 tuổi này tên là Lê Đức Nhân, một du sinh thành công tại Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp đại học ngành du lịch, cháu đang làm việc cho Khu du lịch Suối nước nóng Kusatsu, tỉnh Gunma. Từ lúc rời VN ra đi tới nay là 10 năm, cuộc sống của cháu là cả một chuỗi phấn đấu không ngừng nghỉ, vì cháu là một du sinh mồ côi cả cha và mẹ từ 11 tuổi.

Nhân quê ở Bình Định. Năm 11 tuổi, cùng một lúc cậu bé phải nhận 3 cái tang. Mẹ cháu đi chợ bán rau, bị tai nạn qua đời vào tháng 4. Vừa 50 ngày mẹ xong thì ba cháu cũng bị tai nạn không qua khỏi. Đến tháng 11 cùng năm, vì sức khoẻ yếu nên ông nội cũng ra đi.

Hai chị gái đi lấy chồng. Cháu được cưu mang bởi chú thím, sau đó là cậu mợ ruột. Tới năm lớp 12, cháu vào ở cơ sở nuôi dưỡng trẻ mồ côi Hướng Dương, do 1 thày giáo giúp đỡ.

Dù sống đầy khó khăn như vậy, Nhân vẫn học xong trung học và thi đậu đại học SPKT TPHCM.

Người thày giáo đó tên là thày Vinh rất thương cháu. Nên thày tìm đường cho cháu đi du học. Ban đầu lo cho cháu nghỉ học đại học, tập trung học tiếng Nhật. Sau đó tìm học bổng của báo Asahi cho cháu qua Nhật học hành.

Học bổng này chính là học bổng giao báo. Mình từng giới thiệu về học bổng đó cho các cháu con nhà nghèo muốn đi du học ở Nhật.  Mà du sinh nào nhận học bổng thì sẽ vừa học, vừa làm công việc vốn rất vất vả hàng ngày là phải thức khuya dậy sớm trong mọi điều kiện thời tiết nhiều phần khắc nghiệt ở xứ Nhật để đi giao báo theo giờ cam kết trong ngày.

Trong thời gian Nhân mới qua Nhật, người cậu từng cưu mang cháu mất vì đột quỵ. Bà nội cũng qua đời. Hai người chị gái mắc bệnh trọng. Tang tóc và nỗi đau chồng chất lên vai chàng trai trẻ một mình lênh đênh xa xứ.

Nhân khi đó làm việc và học tại Yurigaoka, Kanagawa theo phân công. Cháu thi đậu bằng lái xe máy của Nhật. Mỗi sáng, cháu phải thức dậy vào lúc 1 giờ 30 để ra tiệm báo, lấy báo đi phát đến khoảng 6 giờ sáng về. Chỉ kịp ngả cái lưng nghỉ một tí, đến hơn 8 giờ đã phải rời nhà, đi tàu điện thêm 1 giờ để đến trường. Tan học về nhà, ăn cơm trưa rồi mình lại ra tiệm để phát báo chiều. Hai năm ròng cháu đã vừa làm vừa học như thế. Sau đó cháu chuyển qua làm phụ quán ăn, bán mì, phụ bếp…Một ngày như vậy, Nhân chỉ được ngủ vẻn vẹn 3 giờ. Phải chịu khó làm lụng và học hành, vì gia cảnh không có gì để bấu víu.

Trong suốt thời gian đó, cách duy nhất để Nhân đứng vững là học hành. Chỉ có học vấn mới là cứu cánh duy nhất thay đổi cuộc đời của cậu bé mồ côi ấy. Vì vậy mà 4 năm sau, Lê Đức Nhân đã tốt nghiệp trường Du lịch và Khách sạn JTB. Cháu được nhà trường khen tặng vì chưa từng một ngày nào nghỉ học hay đi trễ.

Ngay sau khi tốt nghiệp, Nhân may mắn tìm được việc làm ở khách sạn tại Khu du lịch Suối nước nóng Kusatsu, tỉnh Gunma. Công việc đúng với chuyên ngành mà Đức Nhân theo học, với mức thu nhập tốt và cơ hội phát triển cao. Báo Đời sống và Pháp luật đã có một bài viết hay về cháu.

Chàng trai ấy cho biết :”không ai có thể lựa chọn hoàn cảnh mình sinh ra, nhưng hoàn toàn có thể chọn cách mình sống và trưởng thành.”

Đọc các thông tin về cháu Nhân thấy rất xúc động. Là vì cháu thật sự là một con người có ý chí, có quyết tâm rất cao. Cháu cũng sống hướng thượng và dám hết mình để chạm tay vào ước mơ. Dù trải qua rất nhiều chia ly, tang tóc, nhưng cháu may mắn vẫn được rất nhiều người thương mến, đặc biệt là gia đình bà con cưu mang cháu và thày Vinh, người thày có tầm nhìn xa trông rộng đã chỉ cho cháu một đường đi tốt cho tương lai.

Mong cháu và gia đình luôn vui khỏe, hạnh phúc.

( Hình từ báo đoisongvaphapluat)

———

Nguyễn Thị Bích Hậu.


 

Mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình, hôm nay Giáo Hội mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. Mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm bổn mạng nhé. Nhớ nhau trong lời cầu nguyện không quên cho thế giới được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 6: 24/7/2026.    (n26-24)

TIN MỪNG: Hạt rơi vào đất tốt: đó là những kẻ nghe Lời với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả. (Luca 8:15) 

SUY NIỆM: Cây tốt sinh trái tốt. Cha mẹ hiền lành để đức cho con. Xem quả biết cây. Đức Maria là hoa quả của hai thánh Gioakim và thánh Anna. Tất cả những điều ấy muốn nói lên rằng Chúa luôn yêu thương những người biết tin tưởng, phó thác, cậy trông vào Ngài. Đọc lại Kinh Thánh, ta không thấy Thánh Kinh thuật lại lai lịch, và cuộc sống của hai thánh Gioakim va Anna là song thân của Mẹ Maria. Nhưng các Thánh Truyền cho ta hiểu rõ rằng hai ông bà Gioakim và Anna luôn phó thác, cậy trông và tin tưởng vào Chúa. Hai ông bà đã già nua tuổi tác mà vẫn không có con, nhưng Thiên Chúa đã yêu thương, chấp nhận lời khẩn nguyện, cầu xin của hai ông bà và cho hai ông bà cưu mang, hạ sinh người con yêu quý là Maria. Đây là hồng ân cao cả Thiên Chúa dành cho ông bà Gioakim và Anna. Cái phúc mà song thân của mẹ Maria đã lãnh nhận từ Thiên Chúa biến đổi cả cuộc đời của hai ông bà như lời Tv 23, 5 đã viết: ”Các Ngài được Chúa ban phúc lành, và được Thiên Chúa cứu độ hằng xót thương”. Thiên chúa đã chúc phúc cho hai ông bà bằng tình yêu vĩnh cửu, tình yêu không bao giờ tàn lụi, phai mờ, tình yêu hiến trọn cho người khác. Vì luôn trung tín với Thiên Chúa, hai ông bà được Thiên Chúa yêu thương một cách đặc biệt và Maria là con hai ông bà đã được Thiên Chúa cất nhắc, để ý và tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Chính nhờ phúc lành Hai ông bà lãnh nhận nơi Thiên Chúa, qua các Ngài, phúc lành ấy cũng được đổ xuống cho muôn dân, muôn nước và từng người. (Nguồn-mạng Mến Thánh Giá Cái Mơn, hạnh các Thánh)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa xin cho con cháu trong các gia đình luôn biết sống thảo hiếu với Chúa và ngoan hiền với Ông Bà Cha Mẹ.

 LẮNG NGHE: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mátthêu 5:4)

 THỰC HÀNH: Hôm nay Bạn hãy gọi điện thoại hỏi thăm Ông Bà Cha Mẹ và làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho các đấng còn sống cũng như qua đời nhé.

From: Do Dzung

*****

Một bài hát tuyệt vời: Hạt Giống Tình Yêu