50 năm nhìn lại những ngày mất Sài Gòn (1)

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục 

01/06/2026

Tăng T-54 của Cộng quân tiến vào Ban Mê Thuột. Nguồn: wikiwand.com

Trong dip kỷ niệm 40 năm này, hy vọng bài sau đây sẽ giúp mọi người Việt di tản nhớ lại mình, nhớ lại những đồng đội, nhớ lại cả một quá khứ vinh quang cũng như tủi nhục.

LỜI MỞ ĐẦU

Có nhiều cách để ghi lại những ngày chót trước khi mất Sài gòn. Có tác giả ghi lại qua các tài liệu sách vở, hoặc người khác qua trải nghiệm sống của mỗi người.

Mỗi cách ghi lại có cái hay và hữu ích của nó.

Riêng bài viết sau đây phần lớn dựa trên những bản tin, bài bình luận của các phóng viên, các tác giả ngoại quốc có mặt ở Việt Nam đã viết trong khoảng thời gian hơn một tháng khi mất Sài Gòn. Những bản tin này thường vắn, gọn cô đọng mang tính thông tin nhiều hơn. Nhưng khi viết thành một bài viết dựa theo thứ tự thời gian, người đọc có thể hiểu tận tường diễn tiến các biến cố ấy đã được diễn ra thực sự trên đất nước của mình như thế nào?

Nó có thể thiếu mức độ rung động tình cảm như thương, ghét, giận, buồn. Nhưng bù lại nó khá trung thực và có thể giúp người đọc gạt bỏ được những nhận thức quá khứ nhiều khi do nghe nói.

Trong dip kỷ niệm 50 năm này, hy vọng bài sau đây sẽ giúp mọi người Việt di tản nhớ lại mình, nhớ lại những đồng đội, nhớ lại cả một quá khứ vinh quang cũng như tủi nhục.

Dẫn đầu đoàn tuần hành chống chiến tranh Việt Nam có bác sĩ Benjamin Spock, cao lớn, người đàn ông tóc bạc trắng, và Tiến sĩ Martin Luther King Jr., thứ ba từ bên phải, trong một cuộc diễn hành trên đường State ở Chicago, Ill., March 25, 1967. Bác sĩ Spock là đồng chủ tịch của Ủy ban Quốc gia về chính sách hạt nhân đúng mực. (AP Photo)

  • Câu chuyện mở đầu từ nước láng giềng của Việt Nam

Thật sự thì người Việt Nam nói chung ít quan tâm đến tình hình của nước láng giềng Cambodia. Từ Sài gòn sang Cambodia, đường bộ chỉ hơn trăm cây số mà mấy người đã đi qua thăm láng giềng. Quan hệ buôn bán làm ăn, quan hệ du lịch, quan hệ liên quan đến an ninh, đến chiến tranh cũng ít ai quan tâm cho đủ.

Nhưng nay câu chuyện có thể khác.

Những gì đang xảy ra, sắp xảy ra ở bên Cambodia cũng là những điềm dự báo thời cuộc cho Việt Nam.

Time is running out | Ngày 7/3/1975

Time is running out, Đại sứ quán Mỹ cảm thấy sẽ mất Campuchia. By SYDNEY H. SCHANBERG New York Times Service PHNOM PENH

Đây là một bản tin của hãng AP gửi đi từ Hoa Thạnh Đốn cảnh báo tình hình ở Cambodia xem ra hết sức bi quan. Phóng viên đăng tải tin này với hàng tít Time is running out.

Đó là tựa đề nhạy cảm về tình hình nước bạn láng giềng. Người bi quan nghĩ rằng vận may có vẻ không còn nữa. Tổng thống Ford được coi là càng ngày càng bị lẻ loi, bất lực vì không hy vọng dàn xếp để có được tối thiếu 220 triệu đô la để giúp cho nước Cambodia có thể cầm cự được.

Tổng thống Ford vào tối thứ ba cảnh cáo tuần này, tức ngày 7 tháng 3 rằng nếu không có số tiền đó thì nội trong 10 ngày sắp tới, Cambodia sẽ rơi vào tay cộng sản.

Cảnh cáo như thế mà xem ra Quốc Hội Hoa Kỳ hầu như có vẻ không quan tâm gì.

Cũng theo thông tin của phóng viên Sydney H.Schanberg của tờ New York Times tại Cambodia thì tòa đại sứ Mỹ ở đây đang cố gắng hết sức mình để sau cuộc đầu hàng có thể giải cứu được một số người ra đi một cách an toàn và nhân đạo.

Ông đại sứ Mỹ tại Cambodia, John Gunther Dean, xem ra hết hy vọng vào lời hứa cứu trợ cấp tốc 220 triệu đô la! Không có số tiền đó cũng là một cách chấm dứt chuyện người Mỹ có mặt trong 5 năm cuộc chiến tranh với bọn phiến loạn (bọn Khmer rouge – Khmer đỏ).

Một bên ngay tại nước Mỹ ông Tổng thống Mỹ lo có tiền để cứu trợ khẩn cấp, một bên tòa đại sứ Mỹ tại Cambodia lại lo tính chuyện di tản.

Mà như thể hai cái lo đó chẳng dính dáng gì đến nhau cả? Tính tình người Mỹ cũng có cái lạ, họ làm tới cùng cho đến khi không còn chút hy vọng gì!

Cái lo của Cambodia cũng là cái lo của các cấp lãnh đạo miền Nam như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Cái lo ấy ông Thiệu cũng đã tìm đủ cách xoay sở. Ông Thiệu cũng đã gửi tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng sang Mỹ vận động, tìm nguồn tài trợ từ Ngân hàng Thế giới, từ Paris cựu thực dân ở Việt Nam, từ Nhật Bản. Và từ vua dầu lửa Arabia bằng cách gửi đại sứ Vương Văn Bắc đi vay tiền các nước Ả Rập.

Và cái lo cuối cùng không biết làm thế nào, ông tính thế chấp 16 tấn vàng để có tiền mua vũ khí đạn dược! Ông cũng nghĩ xa gần đến việc khai thác dầu hỏa ở Vũng Tàu.

Nghĩ lại trong suốt 21 năm cầm cự với cộng sản, đây là thời gian gay go nhất cho chính thể Đệ nhị Cộng hòa.

 Gay go không phải tại người, tại kém trí, tại thiếu can đảm mà chỉ tại không có tiền mua súng đạn.

Nếu cứ theo phúc trinh của ông thượng nghĩ sĩ đảng cộng hòa Paul Norton “Pete” McCloskey, Jr. Thì:

Theo Ngũ giác đài thì quân đội VNCH có số quân bằng 3 so với 1 của phía quân đội miền Bắc.

Trong tài khóa 1973-1975, ngay sau khi ký thỏa ước đình chiến Ba Lê, Sài Gòn nhận được 3,98 tỉ tiền viện trợ từ phía Mỹ. Hà Nội chỉ nhận được 1,48 từ phía Tầu cộng và Nga Xô cộng lại.

Xét về mặt hỏa lực, ‘firepower superiority ratio’, cũng kể từ sau Hiệp Định Ba Lê, là 7 so với 1 của phía bên kia.

Đấy là chưa kể đến khả năng của không quân Việt Nam.

Vậy thì xem bảng so sánh trên, chả có lý do gì Việt Nam lại thua cuộc. Ông nghị đảng Cộng hòa Mỹ đưa ra những lý do tinh thần xem ra chẳng thuyết phục được ai cả.

Đó là vì cộng quân dù thua vì ‘outgunned’, ‘outnumbered” nhưng lại hơn về aggressiveness, will và sense of purpose.

Riêng người Việt chúng ta ngày hôm nay cũng nên suy xét về điều này để hiểu rõ ta và địch.

Chúng ta đi giầy đánh cộng sản. Họ đi chân đất. Rồi có lúc thằng đi chân đất chạy nhanh hơn thằng đi giầy.

Xem ra tiền không giải quyết được mọi chuyện, nhất là chuyện chiến tranh! Chuyện chiến tranh đôi khi không hẳn là chuyện võ khí mà cần thêm yếu tố con người nữa.

Ngày 5/3/1975. Tin AP Tinh Hình Cambodia trở nên nguy kịch

Theo tin Thông Tấn Xã AP, tình hình chính trị bên Cambodia càng bất ổn và ít hy vọng. Để trả lời cho niềm hy vọng của tuyệt vọng của ông đại sứ Mỹ, bọn phiến loạn tiếp tục pháo kích liên tục vào phi trường và thủ đô Phom Penh.

Trong khi đó, theo John Burns, đặc phái viên của tờ The Journal tại Bắc Kinh, Ieng Sary, một nhân vật cộng sản cao cấp làm trung gian giữa Khmer đỏ và thái tử Sihanouk từng bảo đảm rằng trừ một thiểu sổ nhóm người lãnh đạo của Thống chế Lon Nol, tất cả những người còn lại đều được đối xử một cách nhân đạo.

Vì thế, thái tử Sihanouk nói:

Khmer đỏ long trọng tuyên bố với toàn thể thế giới rằng họ sẽ không có cảnh tắm máu khi họ vào Phnom Penh, trừ khi bọn chống cộng có sự kháng cự bằng vũ khí. Còn lại, Khmer đỏ sẵn sàng tha thứ cho mọi người, trừ 7 người.

(The Khmer rouge have declared very solemnly before the whole world that they will not make any blood-bath when they enter Phnom Penh unless the anti-communist there resist with weapon. Otherwise, The Khmer rouge are ready to pardon everybody, except seven people.)”

Tin cuối cùng, cũng theo hãng AP, Tổng thống Lon Nol đã yêu cầu Thủ tướng Long Boret giải tán chính phủ. Trung tướng Sosthène Fernandez, Tham mưu trưởng quân đội Cambodia trước tình hình vô phương cứu vãn đã xin từ nhiệm. Nhiều nguồn tin cho hay là chính người Mỹ yêu cầu ông Lon Nol làm điều này.

Sau đó Thủ tướng Long Boret đã tuyên bố là chính phủ của ông đã không thể nào điều hành được nữa. Nhiều vị tỉnh tỉnh trưởng đã thay đổi người mà không có sự đồng ý của Thủ tướng. Nhiều lính Cambodia đã rã ngũ. Và sau khi ông Long Boret xin từ chức thì Tổng thống Lon Nol tức khắc lại chỉ định ông Long Boret lập chính phủ mới.

Thủ tướng Long Boret bị Khmer Đỏ bắt và xử tử hình ngày 17 tháng Tư, 1975. Nguồn: executedtoday.com

Diễn tiến câu chuyện của nước láng giềng Cambodia xem ra sẽ xảy ra tại Việt Nam không mấy khác chăng?

Hồi chuông báo tử của Cambodia cũng là hồi chuông báo tử cho Việt Nam không bao lâu sau?

Lời hứa xạo của bọn Khmer đỏ có khác chi lời hứa của cộng sản Bắc Việt sau này.

Phần tôi, tôi không dám nghĩ tiếp. Tôi vẫn tin tưởng, Việt Nam không phải Cambodia. Bên Cambodia, chính phủ bắt lính ngay cả những trẻ em 13, 14 tuổi. Tình trạng ấy đã không xảy ra như thế ở Việt Nam. Các sĩ quan quân đội VNCH đều được huấn luyện kỹ càng và bài bản.

Từ trước đến nay, binh sĩ VNCH luôn có mấy khi thua!

Được thì nhiều, thua thì ít. Tỉ lệ tử vong là một đổi ba, có khi lên đến một đổi năm và đến một đổi mười. Luôn gặt hái được những chiến thắng trong nhiều trận đánh. Các sĩ quan về thành phố nghỉ phép trong thái độ hiên ngang, nhiều khi đến ngang tàng!

Cái oai hùng như thế, cả một thời cuốn hút theo nhiều thế hệ thanh niên.

Cá nhân người viết, nhiều khi đi với bạn bè sĩ quan không khỏi hãnh diện. Họ làm nên giới trẻ một thời.

Ngày 10-3, 1975 | Nay thì đến lượt Việt Nam

Cuộc tấn công chiếm Trại Mai Hắc Đế ở thị xã Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên, tháng Ba năm 1975. Một ảnh từ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam.

Hôm nay ngày 10 tháng ba, 1975, một ngày đáng ghi nhớ, một ngày mở đầu cho những nỗi bất hạnh đổ sụp xuống miền Nam. Cộng sản Bắc Việt với xe tăng và đại pháo đã tấn công Ban Mê Thuột, một tỉnh ở Cao Nguyên Trung Phần. Cộng sản đã rót 10.000 đại pháo vào quận lỵ Đức Lập cách Ban Mê Thuột 30 dặm về phía Bắc và các căn cứ quân sự của tỉnh.

Bản tin của AP chỉ cho biết vắn tắt như thế và cho biết thêm có 8 vị truyền giáo người Mỹ còn bị kẹt ở lại. Và số phận họ được bảo đảm an toàn.

Nghĩ bụng 8 vị truyền giáo dù mạng sống họ cũng quan trọng, nhưng so với số phận con dân miền Nam thì có nghĩa gì?

Nếu tính từ khi ký hiệp định Ba Lê thì Đức Lập được kể là quận lỵ thứ 13 bị rơi vào tay cộng sản.

  • Viện trợ và chiến tranh

Chiến tranh thì có gì liên quan đến viện trợ? Vậy mà nay chúng ta mới hiểu một cách chua chát là Viện trợ và Chiến tranh đi đôi với nhau như nước với lửa. Bản tin này cho phép nổi lên trong tôi một thắc mắc, giả dụ không có tiền thì không đánh nhau chăng? Và nếu bớt tiền thì bớt đánh? Bớt nữa thì cho bớt luôn chăng? Có nghĩa là quăng súng, không đánh nữa, muốn ra sao thì ra chăng?

Có cái giá nào cho biết là bao nhiêu thì đánh chăng? Giả dụ nếu không có giá thì ta có thể liệu cơm gắm mắm được chăng? Cha ông ta đã đánh giặc như thế nào? Có bao nhiêu ta đánh bấy nhiêu chăng?

Kèm theo tin này, hãng tin AP cũng cho biết viện trợ Mỹ cho ngoại quốc kể từ khi thế chiến hai chấm dứt đến nay là 164 tỉ đô la! Trong khi đó, CIA phúc trình cho James R. Schlesinger là nếu không có quân viện lập từc thì quân đội VNCH chỉ có thể cầm cự trong vòng một tháng nữa.

Tổng thống Ford trong buổi họp Hội Đồng An ninh Quốc Gia yêu cầu Quốc Hội Hoa Kỳ chuẩn chi 722 triệu đô la, số tiền cần thiết để duy trì cuộc chiến này.

VNCH đang đứng trên bờ vực thẳm về sự thất bại quân sự.

Nhưng ai cũng có thể khẳng định là quân đội miền Nam đang chiến đấu một cách kiên cường với những gì họ có được. Số tiền 722 triệu là để cung cấp 744 đại bác, 466 xe tăng và thiết giáp, 100 ngàn súng cá nhân và 5 ngàn súng đại liên, 11 ngàn súng phóng lựu M. 79, 12 ngàn xe chuyên chở và 120 ngàn tấn bom, đạn đủ loại.

Con số vũ khí viện trợ coi như là lớn lắm! Nhưng nghĩ cho cùng, tiềm năng quân sự của nước Mỹ có thể làm nhiều hơn thế nữa. Người ta còn nhớ khi Mỹ quyết định tham dự thế chiến thứ hai, Mỹ lúc đó chỉ có 1800 máy bay. Roosevelt đã quyết định đưa con số ít ỏi 1200 thành 50.000 máy bay một năm. Khi nói Mỹ ở đây là nói tới hai nhân tố, ông Tổng thống Mỹ và Quốc Hội Mỹ.

Việc từ chối viện trợ cho Việt Nam không phải từ ông Tổng thống mà đến từ phía Quốc Hội với những người như bà dân biểu Bella Abzug.

Phái đoàn Thượng nghị sĩ có bà Abzug sang Việt Nam

Từ trái, Bella Abzug, Gloria Steinem, và Mike Nichols trong một cuộc diến hành ở Manhattan, May 10, 1975.

Bà có tên đầy đủ là Bella Abzug là dân biểu đại diện cho bang Manhattan cùng với Paul Norton “Pete” McCloskey, Jr. Bà và ông “Pete” đều có tiếng là chống chiến tranh Việt Nam. Sự có mặt của bà ở Việt Nam lúc này là một điều bất lợi cho Việt Nam. Chúng ta vẫn muốn chiến đấu. Bà nói không. Tiếng nói không của bà và đồng viện trị giá 722 triệu đô la.

Chúng ta bắt đầu thua từ tòa nhà Quốc Hội Mỹ. Nói thế cũng không sai đâu

Bà sang Việt Nam chẳng đem lại một tin tưởng gì cho ông Thiệu và chính phủ Nam Việt Nam. Sau đó bà và phái đoàn Thượng Viện Hoa Kỳ vào trại Davis gặp phái đoàn cộng sản, bàn về số tù binh Mỹ còn bị Bắc Việt giam giữ, 1.300 người.

Phái đoàn cộng sản đã triệu tập 76 nhà báo do họ mời đến. Con số áp đảo với phía nhà báo Mỹ. Buổi họp giữa hai bên lạnh nhạt và đã hẳn chẳng thu được kết quả gì.

Cũng theo nguồn tin của UPI, ông thượng nghị sĩ Hubert Horatio Humphrey Jr. cho hay rằng viện trợ Mỹ chi ra như thế, nhưng Mỹ cũng đã bán ra một số vũ khí cho 69 quốc gia trên thế giới. Số tiền lên đến 8 tỉ, 300 triệu đô la trong tài khóa năm nay.

Bà Abzug về hôm trước, hôm sau thì cộng quân tấn công Ban Mê Thuột.

Bài diễn văn của Tổng thống Mỹ với những mỹ từ trống rỗng.

Theo nguồn tin cũng của AP, Tổng thống Ford sẽ đọc một bài diễn văn ở Đại Học Notre Dame – một đại học mà người ta ghi nhận số sinh viên ngoại quốc gồm hơn 60 quốc tịch khác nhau theo học ở đây – trong đó ông tin tưởng và thúc dục dân chúng Mỹ là nước Mỹ vẫn có khả năng giải quyết những vấn đề nội bộ của nước Mỹ mà không cần quay lưng với thế giới bên ngoài.

Bài diễn văn là nhắn gửi đến Việt Nam hay muốn trấn an và thoa dịu những đồng minh của Mỹ trên thế giới?

Ford khẳng định chắc chắn là vẫn có thể viện trợ quân sự cho Cambodia và Việt Nam.

Bài diễn văn này được đọc với những mỹ từ văn hoa, cao đẹp nhất của một Tổng thống Mỹ dành cho các dân tộc trên thế giới!

Triệu phú Onassis qua đời

Cũng trong ngày hôm nay, như tin xe cán chó ở Việt Nam, người ta được tin ông triệu phú Onassis mới qua đời. Sở dĩ người ta phải nhắc tới cái chết của ông vì ông vốn là chồng của bà quả phụ của Tổng thống Kennedy – bà Jacqueline Lee “Jackie” Kennedy. Tính ra hai người lấy nhau đã được 6 năm rưỡi. Nay ông trở bệnh nặng và đã được đưa từ Thổ Nhĩ Kỳ sang Paris chữa trị từ tháng Hai.

Khi ông qua đời, Bà Kennedy đã dành cả thẩy 15 phút để viếng xác ông tại nhà nguyện của nhà thương vào đêm Chủ nhật.

Chẳng hiểu sao viên phóng viên này có dụng ý gì khi cố tình nhắc đến 15 phút viếng thăm của bà góa phụ Onassis? Đây có phải là lúc thích hợp để nói về quyền thừa kế bạc triệu này không?

Theo nguồn tin gia đình thì bà quả phụ Jacqueline Onassis được thừa hưởng chỉ nguyên tiền bán các bức tranh của chồng bà như các bức họa của Gaugin, El Greco, Van Gogh và Picasso ước lượng là 20 triệu đô la.

Hai người con của bà là Caroline và John F. Kennedy, Jr. cũng rời căn nhà ở Nữu Ước ngay vào đêm chủ nhật để sang Paris. Họ cũng được thừa hưởng một gia tài kếch sù, hàng nhiều triệu đô la, mà người cha dượng đã mua các Trust Fund cho họ.

Quên, bài báo có nhan đề không mấy lịch sự đối với bà quả phụ là From Rags to Riches (Từ rách nát phát lên giàu có).

Ngày 16- 3, 1975. Another Dunkirk?(1)

Đó là nhan đề một bài báo của ký giả bình luận gia James M. Markham của tờ New York Times. Làm sao một quân đội hùng mạnh như thế, đã từng chiến thắng trong nhiều trận, đã từng chiến đấu dũng cảm trong 21 năm rút cuộc lại có thể thua trong vài tuần lễ.

Đó là câu hỏi mà nhiều người đã đặt ra và tìm câu trả lời. Làm sao lại có thể rút lui và thua một cách dễ dàng như vậy? Ai trách nhiệm sự thua trận và rút lui này?

Nếu nói xa một chút thì nay Hoa Kỳ, hay nói trắng ra là Kissinger đang dồn mọi nỗ lực cho Trung Đông. Kissinger đã cam đoan là sẽ giải quyết được xung đột giữa Israel-Ả Rập. Và những số tiền rút ra từ viện trợ cho Việt Nam thì nay viện trợ cho Do Thái. Một tỷ rưỡi đô la đã được rót thêm cho Do Thái với số dân chưa tới 6 triệu người?

Người ta cho rằng, ‘There is the possibility that Kissinger might make a new Middle- East peace bid before the mandate – of the Un peacekeeping forces expires on april 25 in the Sinai and at the end of may on the Golan Heights.’

Chọn lựa ưu tiên giữa chiến tranh Việt Nam và cuộc xung đột Trung Đông, Mỹ Kissinger rõ ràng nghiêng về phía một giải pháp cho hòa bình ở Trung Đông. Phải chăng Kissinger là người bán đứng Việt Nam cho cộng sản Bắc Việt trong tháng Tư sắp tới?

Tổng thống Thiệu và trách nhiệm rút quân khỏi Tây Nguyên

Sau khi cộng quân tấn công vào Ban Mê Thuột, người ta nói rằng Tổng thống Thiệu đã có dự định trong đầu về một cuộc tái phối trí. Nay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đứng trước hai chọn lựa không dễ chọn.

Một, Tổng thống Thiệu muốn duy trì bằng mọi giá, dù là đắt giá (risky move), phải tái chiếm lại Ban Mê Thuột. Nhưng cho đến chiều thứ sáu thì quyết định này xem như bị loại bỏ.

Hai, quyết định rút lui khỏi các vùng Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Darlac – một quyết định không kém can đảm – và trong cuộc rút lui này, mang theo vũ khí được chừng nào hay chừng nấy.(2)

Cuộc rút quân khỏi Pleiku ngày 16 tháng này, chỉ sau cuộc tấn công của cộng quân vào Ban Mê Thuột một tuần đã để lại nhiều câu hỏi và nhiều nghi vấn?

Có người cho đây là màn tháu cáy người Mỹ của ông Thiệu.

Tôi không tin như vậy. Không thể mang sự sống chết của binh lính để tháu cáy chính trị. Ông Thiệu vốn là một quân nhân không thể nghĩ hạn hẹp như vậy được.

Có thể ông nghĩ là không có viện trợ thì không thể tiếp tục chiến tranh. Các vị chỉ huy VNCH đã chọn con đường số 7B, một con đường đã bỏ hoang từ sau thời Pháp nên nhiều chỗ như cầu cống, đường xá cần có công binh đi trước để dọn đường, làm cầu. Thế rồi công binh, pháo binh, thiết vận xa, hàng ngàn xe camion chở binh lính, súng ống đạn dược, các lực lượng đặc biệt quân đội các binh chủng, gia đình các quân nhân này và cả dân chúng nữa ước định khoảng 100.000 đến 200.000 người chen lấn nhau mà đi.

Tưởng Ngô Quang Trưởng có viết bài Tại sao tôi bỏ quân đoàn I. Ông cho đó là trách nhiệm của riêng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tướng Phú muốn tạo sự bất ngờ cho cộng sản, nhưng đó là một tính toán sai lầm; vì dân chúng được tin quân đội rút quân đã vội vã chạy ùa theo. Tình cảnh này làm cho cuộc rút quân thêm chậm trễ và khó khăn.

Yếu tố bất ngờ không còn nữa.

Bình luận của nhà báo Drew Middleton, “President Thieu. Is he fit to lead?”

Trong một bài bình luận của Drew Middleton, bình luận gia của tờ N.Y. Times cho rằng, mặc dầu tinh thần binh sĩ có xuống. Nhưng chỉ trong vòng ba ngày tấn công Ban Mê Thuột, các phóng viên nhận thấy mặc dầu có sự tấn công vũ bão của cộng quân, nhưng người ta không thấy một sự đáp trả đúng mức của các đơn vị quân đội trong khu vực.

Không có dấu hiệu có sự chống cự và chỉ cho thấy sự rút lui một cách hoảng loạn. Các sĩ quan chỉ huy đã bỏ trốn và binh đội còn sót lại thì đầu hàng.

Chắc hẳn việc Ban Mê Thuột mất vào tay cộng sản chỉ sau một ngày giao tranh của binh sĩ VNCH tại Ban Mê Thuột ảnh hưởng tới những quyết định của ông Thiệu một cách sâu xa.

 Gần như thể, ông ta bị cô lập bởi các phụ tá và cố vấn.

Và rồi ông đã tự mình đưa ra những quyết định mà không tham khảo với ai cả (Cho dù có tham khảo tướng Cao Văn Viên và hai tướng thuộc vùng I, vùng II, nhưng ông là người quyết định một mình) và cũng không đưa ra một lời giải thích cũng không đề xướng ra một cuộc rút quân có chuẩn bị kỹ càng.

Người ta tự hỏi ông Thiệu có còn thích hợp để lãnh đạo nữa hay không? Đó là nhan đề bài báo President Thieu, Is he fit to lead?

Trong một buổi họp ở Nha Trang gồm có Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng Khiêm, tướng Cao Văn Viên, các tướng Tư lệnh vùng như Ngô Quang Trưởng, vùng I, Nguyễn Văn Phú, vùng II. Sau khi nghe tướng Phú thuyết trình về tình trạng Ban Mê Thuột và xin thêm quân. Cả ông Thiệu và ông Khiêm từ chối tăng viện binh vì không có người.(3)

Theo tướng Cao Văn Viên sau này tiết lộ thì đã có đến ba đề nghị rút quân nếu không có viện trợ.(4)

Một thắc mắc nữa không kém quan trọng là ông Nguyễn Văn Thiệu có hỏi ý kiến người Mỹ khi rút quân ra khỏi Tây Nguyên không?

Theo Frank Snepp, ký giả chuyên viên phân tích của CIA ở Saigon, sau này cho biết thì ông Thiệu đã tự ý quyết định một mình mà không hỏi ý kiến người Mỹ.

Cũng theo Frank Snepp cho thấy là tinh thần binh sĩ quân đội miền Nam sa sút trầm trong. (Morale in the army was on the verge of collapse).(5)

Việc rút quân như thế cho thấy một thái độ tuyệt vọng của ông Thiệu vào thiện chí của người Mỹ.

Một thái độ tự tử chính trị của một người lãnh đạo quốc gia miền Nam.

Ngay đại sứ Graham Martin cũng ngạc nhiên về quyết định của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Trong bài viết của ông, The attack on Ban Me Thuot and Thieu’s decision to withdraw from the central highland came as a complete surprise to me. […] I don’t know who convinced him of this. But throughout all of this he didn’t tell us any thing.(6)

Sense of doom engulfs Saigon

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tháng 4, 1975. Nguồn: © Bettmann/CORBIS

Chính việc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rút quân đoàn I và đã tạo cái cảnh tượng mà trong một bài viết nhan đề Sense of doom engulfs Saigon, trong đó phóng viên tờ N.Y. Times News Services mô tả tình trạng: The army is mad with fear and panic. It’s all collapsing before our eyes’. ( Quân đội rơi vào tình trạng điên loạn sợ hãi và sụp đổ trước mắt chúng tôi.)

Binh sĩ có làm loạn vì hoảng sợ thì đó không là lỗi của họ. Lỗi là cấp chỉ huy, các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp đã không làm tròn trách nhiệm của mình.

Mỗi một sĩ quan cao cấp trong ngày 30 tháng Tư phải tự hỏi mình về trách nhiệm trước binh lính, quân đội.

Câu hỏi quan trọng nhất vẫn là tìm hiểu xem Tổng thống Thiệu ra lệnh rút quân mà không tham khảo với người Mỹ!

Theo Frank Snepp tiết lộ, tình báo Mỹ không biết tin về cuộc triệt thoái này. Ngay cả Đại sứ Martin là người có đủ thẩm quyền để được tham khảo về quyết định quan trọng này cũng không hề biết.

Việc rút quân này xem ra có những khuyết điểm sau đây:

Việc rút quân quá vội vã thiếu chuẩn bị. Nếu cần cho công binh đi trước vài ngày san sửa đường, đặt cầu.

Thứ hai, không có kế hoạch để di tản gia đình binh sĩ đi theo. Đến khi họ biết thì dân chúng hốt hoảng chạy theo binh lính, gây trở ngại và làm chậm trễ cuộc rút quân. Tại Phủ Lý, Nam Định, khi người Pháp tính rút quân. Họ đã chuẩn bị cho gia đình các quân nhân đi trước bằng xe camion, sau đó mới đến lượt các quân nhân đi theo. Cuộc rút quân êm thắm vào lúc gần sáng và không bị Việt Minh tấn công, cản đường. Đây đúng là lỗi lầm của tướng Nguyễn Văn Phú.

Ngày 17 tháng ba, 1975. Những giây phút cuối cùng của sự có mặt của người Mỹ ở Phnom Penh

Theo tin AP, ngày 17 tháng ba, tòa đại sứ Mỹ tại Phnom Penh đã cho nhân viên đốt tất cả các tài liệu và chuẩn bị đưa những người Mỹ cuối cùng ra khỏi Cambodia. Và mặc dầu bị pháo kích vào phi trường bằng nhiều quả pháo kích.

Theo nguồn tin của UPI trong một nhan đề bài báo: Airlift resumes to Phnom Penh, foreigners flee cũng viết lại tương tự như hãng AP.

Ngày 20 tháng ba, 1975: South Viet Nam continues to Shrink

Hôm nay là ngày 20 tháng 3, năm 1975, nguồn tin của hãng thông tấn AP với tựa đề S. Vietnam continues to Shrink cho thấy tình trạng miền Nam càng thêm bi quan và có nguy cơ sụp đổ. Ngoài các tỉnh cao nguyên Trung phần đến lượt Huế Quảng Trị, nay có thêm tỉnh Bình Long, chỉ cách phía Bắc, Sài gòn có 60 dặm. Cạnh đó, Phước Long đã bị tràn ngập bởi cộng sản từ hồi tháng giêng. 17.000 dậm vuông đã rơi vào tay cộng sản với số dân là 1.700.000 dân, một phần 10 dân số miền Nam.

Sai Gòn nay phải nuôi thêm số dân cả nửa triệu người từ các nơi kéo về. Thực phẩm khan hiếm kéo vật giá leo thang.

Và nhiều nhà đã bắt đầu lo tích trữ gạo, cá khô. Những người có thân nhân hoặc có tiền thì cũng tạm ổn. Còn những người không có thân nhân ở Sài Gòn thì chắc phải tạm trú ở những nơi công cộng.

Gia đình chúng tôi cũng có thêm anh em chạy từ Nha Trang về. Một số bạn bè từ Huế, Nha Trang, Phan Thiết, Quy Nhơn, lâu lắm không có dịp gặp nhau, nay có dịp họp mặt đông đủ.

Nhưng tôi còn nhớ rõ cái cảm giác lúc bấy giờ. Lo thì có lo nhưng vẫn có lý do chủ quan là Sài Gòn không thể nào mất được. Quân đội VNCH còn mạnh lắm.

Cái niềm tin tưởng biến thành cái mà Lewis gọi là thần thoại. Đó là điều mà ký giả Anthony Lewis đã viết một bài nhan đề Myth and Reality.

Mấy học trò cũ ở Nha Trang về vẫn rủ nhau đi ciné, vẫn đi ăn nhậu với mấy người bạn từ xa về.

Mất ở đâu thì mất, Sài Gòn không mất được!

Tôi tin tưởng không bao giờ Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Tin tưởng vào những lời tuyên bố trấn an của Tổng thống Ford như thuốc an thần, tin tưởng vào phái đoàn quân sự do tướng Frederick Carlton Weyand với những lời trấn an, tin tưởng vào những tin tức thế giới như, “U.S. Aid decision soon”. những trận đánh oai hùng trong quá khứ như trận Quảng Trị 1972, Tết Mậu Thân 1968.

Mỹ đã bỏ ra 150 tỉ đô la và 50.000 xác người Mỹ tử trận ở đây lại không thể có một cố gắng cuối cùng sao?

  • Thiệu trước công chúng Sài gòn

Nếu có một cuộc thăm dò dư luận về ông Thiệu. Chắc ông chỉ nhận được một lá phiếu ủng hộ ông thì đó là lá phiếu của bà Thiệu.

Kể từ sau quyết định triệt thoái khỏi Tây Nguyên. Dân chúng oán ghét ông không ít.

Sợ bị ám toán, với bản tính đa nghi, ông phải đổi chỗ ở luôn.

Trong buổi nói chuyện với dân chúng Sài gòn vỏn vẹn trong vòng 5 phút, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng lực lượng quân số của Bắc Việt đông gấp 4 lần quân số của VNCH. Hà Nội đã gửi vào Nam 5 binh đoàn trong số 8 binh đoàn trừ bị.

Sau 5 phút vắn vỏi nói với dân chúng, ông Thiệu vội vàng rời dinh độc lập chui vào chiếc xe Limousine chống đạn (bullet proof limousine) xe hướng về một chỗ ẩn náu riêng, kín đáo của ông, gần Hotel Majestic. Tại nơi đây, ông lo ngại về việc ông Kỳ có thể nổi loạn chống lại ông.

Bởi vì sáng nay, Kỳ đã công khai yêu cầu ông Thiệu phải từ chức.

Sau đó cảnh sát đã bắt vài người trong nhóm của ông Kỳ cùng với ba nhà báo. Nhưng những thành phần thân cận nhất của ông Kỳ thì vẫn không bị đụng tới.

Xem ra việc bắt bớ này chỉ là một đòn cảnh cáo.

Phải nhìn nhận là miền Nam sắp bị chìm, nhưng các vị lãnh đạo xem ra chỉ lo cho bản thân mình.

Sài Gòn có nguy cơ rối loạn như Đà Nẵng

Để bảo đảm trật tự an ninh cho thành phố Sài Gòn, lệnh giới nghiêm là từ 10 giờ đêm thay vì 12 giờ đêm, vì ’because of the present emergency situation and security requirements’. Tin của AP đã loan báo như thế.

Nguồn tin của UPI cho hay, tòa đại sứ Anh tại xứ ‘Chùa Tháp’ đã đóng cửa và quyết định di chuyển toàn bộ nhân viên sứ quân về Sài Gòn.

Quyết định này chẳng biết là một quyết định khôn ngoan hay có tính giai đoạn?

UPI với tựa đề một bản tin ngày 20-3: Lon Nol won’t quit. Mặc dầu có nhiều áp lực đòi ông từ chức để may ra tình trạng có thể khá hơn không? Nhưng nguồn tin trên cho hay Lon Nol nhất định ngồi lại để đối phó với tình hình.

Mặc dầu nói mạnh miệng như vậy, nguồn tin ngoại giao cho hay, ông Lon Nol sẽ chuẩn bị rời Cambodia trong thời gian không bao lâu nữa.

Việc ra đi của ông coi như dấu hiệu sự đầu hàng cộng sản. Thật vậy, 85 phần trăm lãnh thổ Cambodia nay ở dưới quyền kiểm soát của quân phiến loạn cộng sản.

Với tình hình không mấy sáng sủa gì, bị bao vây bởi cộng sản, Phnom Penh phải đầu hàng. Chỉ còn con đường dẫn sang Sài Gòn, dọc sông Mé Kông là tương đối còn an toàn.

Nhiểu người việt sinh sống tại Cambodia cũng đã tìm cách chạy trốn về Sài Gòn. Nhiều gia đình Việt Nam làm ăn khá giả ở Cambodia nay tìm cách chạy sang Việt Nam.

Một nơi mà cho đến lúc này được coi là còn an toàn.

Mẹ trẻ ôm con thơ trên chiếc trưc thăng chạy khỏi Tuy Hòa, 22 Thàng 3, 1975 Nguồn: AP Photo/ Nick Ut.

Indochina, Light goes out

Trong một bài bình luận tổng quát của UPI về tình hình miền Nam: Indochina: Light goes out . Phóng viên cho hay, nếu tính toàn Đông Dương thì nay 75% đất đai đã thuộc về cộng sản và ánh sáng đang đứng về phía họ. Nay thì 50 % các tỉnh miền Trung và Cao Nguyên đã rơi vào tay cộng sản. Người ta còn nhớ vào năm 1968, quân đội VNCH đã truy đuổi những tên cộng sản cuối cùng ra khỏi Huế. Pleiku cũng là nơi mà McNamara đã cho cộng quân biết thế nào là sức mạnh của vũ khí Mỹ. Quảng Trị ngày nào cũng là nơi chôn vùi không biết bao nhiêu bộ độ cộng sản, vào bao nhiêu chết bấy nhiêu.

Vậy mà nay tình trạng hầu như đã đổi khác, vai trò đã đổi.

Ngày 25, tháng ba. Huế thất thủ: Mass execution reported in Hue

Sáng ngày 25, chính quyền loan báo Huế thất thủ.

Quân đội Nam Việt lấp đầy mọi không gian có sẵn trên một con tàu di tản họ từ biển Thuận An, gần Huế, Đà Nẵng như Cộng quân tiến vào tháng Ba, 1975. (AP Photo / Cung)

Thuận An cách Huế chừng 10 dặm, kể từ chiều thứ hai, hàng ngàn người bằng đủ phương tiện đã tìm đến cửa Thuận An. Lính của quân đoàn một chạy cùng với gia đình nhốn nháo không biết thuộc đơn vị nào. Mạnh ai nấy chạy.

Phóng viên Peter Arnett nói đến một biển người ( an ocean of people) đang chờ đợi để được bốc đi khỏ Huế.

Có một chiếc tầu đậu ngoài xa cách bờ biển khoảng 500 mét. Nhiều người đã cởi bỏ quần áo tìm cách bơi ra tàu.

Hàng ngàn xe cộ, súng ống đủ loại còn để lại chung quanh Huế, làm thế nào có thể chở đi hết được? Chắc là sẽ bỏ lại hết để rơi vào tay cộng quân?

Hầu như có một sự bỏ rơi của cấp chính quyền và quân đội trong giờ phút này. Pleiku dã thế, nay Huế cũng vậy.

Không thấy có một giới chức cao cấp nào có mặt để chỉ đạo các cuộc trốn chạy này.

Sau này, một số người chạy đến được bãi biển Đà Nẵng, cách Huế 50 dặm. Họ kêu gào, khóc lóc thảm thiết vì lạc mất người thân. Một số lính tráng bơi được ra tầu thủy thì nay không có quần áo, giầy bốt. Phần lớn không có súng.

Đến buổi chiều thứ hai thì có khoảng 3000 người tới Đà Nẵng và người ta hy vọng đến đêm và sáng mai thì sẽ có thêm nhiều người hơn. Ngày thứ ba một chiếc tàu có thể chở được 7000 người đã rời Đà Nẵng ra Huế.

Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ sau khi tuyên bố Huế thất thủ, vậy mà cờ của Mặt trận giải phóng miền Nam được kéo lên. Trước đây cờ này cũng đã được kéo lên một lần trong vòng hai tháng. 7 năm sau nó lại được kéo lên một lần nữa . Và lần này chắc không phải chỉ hai tháng!

Xa hơn nữa về phía Nam, Chu Lai và và Quảng Ngãi tự động bỏ ngỏ, rút lui.

Sau này, khi được tin Huế thất thủ, phía bên kia cho hay Văn Tiến Dũng đã không kìm giữ được xúc động. khóc và ông đã viết: Tôi đã đốt một điếu thuốc lá mà từ lâu tôi đã bỏ không hút.

Và Văn Tiến Dũng chắc còn phải khóc và hút thuốc nhiều lần nữa. Khóc đến không kịp khóc nữa.

Theo tin của thông tấn xã UPI khi Cộng quân chiếm thị xã Huế. Chúng đã xâm nhập một bót cảnh sát ở ngoại ô thành phố về phía Đông. Theo lời một nhân chứng sau này vào được Sài gòn, ông cũng là một cảnh sát viên và đã chứng kiến 5 sĩ quan cảnh sát cùng một thiếu niên 18 tuổi bị chặn bắt trên bãi biển. Chúng bắt họ xếp hàng và sau đó đã hành quyết tửng người một như giết một con chó.

Những người dân Huế chắc không thể nào quên được cuộc thảm sát ở Huế. Nhưng mãi 18 tháng sau , vào mùa thu 1969, vụ thảm sát Huế mới nổ bùng ra và kết quả cho thấy không phải hàng ngàn mà hàng vài ngàn dân Huế đã bị thảm sát bởi cộng sản.

Huế đối với tôi vẫn là miền đất bất hạnh. Sinh ra ở đâu cũng được nhưng đừng sinh ra ở Huế.

Ngày 26 tháng 3, 1975 Disorderly retreat..một cuộc rút quân hỗn loạn

Nay Đà Nẵng trở thành bị cô lập!!

Theo thông tấn xã AP thì đây là một cuộc rút quân hỗn loạn. (Disorderly retreat)

Trong một cuộc tháo chạy hỗn loạn thì ai là người anh hùng, ai là kẻ hèn nhát. Thật khó để đưa ra một lời phê phán.

Trước cái chết gần kề, phản ứng của con người có thể là anh hùng và cũng có thể là ngược lại.Vì thế, có một bản tin khác cũng của AP do ký giả Peter O’Loughlin bình luận từ Tuy Hòa như sau:

Heroism, Cowardice, Bitter refugees.

Trước cái sống và cái chết. Ai cũng chọn cái sống còn. Ai cũng muốn chạy thoát thân. Đó phải chăng là trường hợp dành cho đại tá Lữ Đoàn trưởng, và trung tá Lữ đoàn phó Thủy quân lục chiến mà dưới quyền họ có khoảng 4000 thủy quân lục chiến, đã đào ngũ khi đối diện với quân địch?

Tòa án quân sự nào sẽ xử tử hình theo quân luật? Đó là nỗi nhục nào chỉ riêng cho đại tá Lữ đoàn trưởng Thủy Quân lục chiến? Nếu biết rằng sống chết không tùy thuộc vào khả năng của mình thì sẽ phải hành xử như thế nào? Và người ta sẽ dựa vào đâu để sống? Sống hèn hay chết can đảm? Chỗ nào là tình người? Chỗ nào là tình chiến hữu?

Đã có nhiều người bất lực trước những chọn lựa khó khăn đó. Nhưng cũng đã có những người đã chọn lựa thành anh hùng và cũng đã có người chọn lựa sống hèn?

Hay là kết luận cuối cùng vẫn là những người tỵ nạn nếm mùi cay đắng!

Có thể khi rút quân, tướng lãnh miền Nam cũng lo sợ rơi vào tình trạng hỗn loạn mà kinh nghiệm về quân sử còn để lại cho họ. Nhưng không một ai muốn tiên đoán trước về một thảm họa như thế.

Ai anh hùng, ai hèn nhát? Nay không phải là lúc mở hồ sơ để kết tội?

Thiệu abandoned us

Có lẽ trong cuộc tháo chạy này, kẻ bị oán ghét nhiều nhất không ai khác là ông Nguyễn Văn Thiệu. Nhiều người đã ghét ông trong vai trò tổng thống. Kissinger là người lãnh đạo cao cấp của Mỹ cũng ghét cay, ghét đắng ông Thiệu. Nhưng có lẽ sự thù ghét này chỉ thực sự oán ngút trời đối với tất cả những ai rơi vào hoàn cảnh người dân chạy cộng sản từ lúc tha1on chạy từ Tây Nguyên.

Theo ký giả Peter O’Loughlin hàng ngàn người tỵ nạn chạy trốn đã sống sót sau cuộc truy đuổi của cộng quân. Nhiều người trong số họ đã lớn tiếng chửi bới Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: Thieu abandoned us. Một người đàn bà đã nói như thế.

Và có thể nhiều người khác cũng nói như thế. Ông Thiệu, ông Khiêm đều là những người quá khôn ngoan nên biết tham sống mà sợ chết.

Và có thể mọi người dân khốn khổ chạy trên tuyến đường 7B hướng về phía Tuy Hòa đều có tâm trạng như người đàn bà này. Tâm trạng cảm thấy bị đem con bỏ chợ, giữa rừng núi, giữa các con đường mà đôi khi cấu cống chưa sửa chữa, rơi vào thế kẹt. Đi không được, lui cũng không được.

Và rồi các binh lính trên các xe thiết vận xa đã thiếu kiên nhẫn, tức tối cán bừa lên bất cứ trở ngại nào đang cản đường họ để tiến về phía trước. Xe cộ, xác người bị cán. Bất kể. Cán hết. Tiến về phía trước.

Disorderly retreat

Trước khi Đà Nẵng thất thủ thì số dân nay phồng lên đến 2 triệu người. Dưới quyền tướng Trưởng nay chỉ còn 25 ngàn quân. Đà Nẵng có lợi thế hơn Huế vì có hải cảng và việc quân xem ra thuận lợi hơn nhiều. Và nhờ thế có thể giảm áp lực của số dân tỵ nạn khi cần rút lui. Nhưng trong việc rút quân này, cộng sản rút kinh nghiệm ở Huế cũng dùng áp lực dân chúng sợ hãi gây thêm gánh nặng cho chính quyền và quân đội Quốc Gia.

Thời gian nay là yếu tố quan trọng nhất của thành công hay thảm bại của cuộc lui quân. Đại tướng Smith đã gửi ra Đà Nẵng vào ngày 25 tháng ba 5 tàu kéo, 6 sà lan và ba tàu thủy. Phần Air America cho biết không có đủ phương tiện máy bay để ra Đà nẵng.

Con số tàu như thế khéo lắm chỉ đủ chuyên chở người Mỹ và nhân viên phụ cận là cùng. Số còn lại hàng nửa triệu người dân muốn được di tán là một bài toán không có đáp số.

Ngày 26 thì tướng Trưởng chỉ kịp cho vợ con cùng với vợ con lãnh sự Mỹ và Philip Custer  (bí danh của Trưởng cơ sở CIA ở Đà Nẵng), với Terry Tull được đi trên một chuyến bay đặc biệt của DAO.

(Còn tiếp phần II, Kết)

(1) Tác giả gợi lại hình ảnh trận chiến rút lui của liên quân Anh và Pháp bị sa lầy ở bãi biển Dunkerque từ 21 tháng 5 đến 4 tháng sáu năm 1940.
(2) Xem báo Đi Tới, số 32, năm 2000, trang 12. Tướng Ngô Quang Trưởng sau này có tiết lộ trong bài Tại sao tôi bỏ quân đoàn 1. Ông cho biết ngay từ ngày 13 tháng ba, năm 1975, ông được lệnh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi vào trình diện ở Sài Gòn và ra lệnh: ‘Phải rút khỏi Quân Đoàn I càng sớm càng tốt. Lệnh phải rút về Phú Yên, ngày 14-3 lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới.’ Lệnh này chỉ có Tổng thống, Thủ tướng, Đại tướng Cao Văn Viên, tôi (Tư lệnh Quân Đoàn I và tư lệnh quân đoàn II, tướng Phạm Văn Phú biết mà thôi. Đến ngày 18-3, tướng Cao Văn Viên theo chỉ thị Tổng thống ra lệnh bỏ Huế.
(3) Tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh sư đoàn Dù, trước 1975 trong một bài viết, Thiệu xé rách sư đoàn Dù làm gì? Trong đó tướng Lưỡng nhận lệnh trực tiếp của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đưa sư đoàn Dù về Sài gòn. Trích báo Đi Tới, số 32, 2000.
(4) Cao Văn Viên, Những ngày cuối của VNCH, trang 130. Đề nghị của tướng Đồng Văn Khuyên, tổng cục tiếp vận đề nghị co cụm lại cho tương xứng với sự cắt giảm viện trợ. Đề nghị thứ hai của tướng John Murray một sơ đồ tương tự như của tướng Khuyên. Đề nghị thứ ba của tướng Ted Sarong, Úc Đại Lợi một kế hoạch tương tự.
(5) Frank Snepp, Decent Interval, trang, 149.
(6) Larry Engelmann, Tears before the rain, trang 53

 Tất cả những gì của con đều là của Cha – Cha Vương

 Một ngày bình yên và hãy yêu như Chúa đã yêu nhé. Nhớ nhau trong nguyện cầu, không quên cho thế giới được hòa bình nhé

Cha Vương

Thứ 3: 2/6/2026.       (n3-25)

TIN MỪNG: Tất cả những gì của con đều là của Cha, tất cả những gì của Cha đều là của con; và con được tôn vinh nơi họ. Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian; phần con, con đến cùng Cha. (Ga 17:10-11)

SUY NIỆM: Đoạn Tin Mừng hôm nay nói về lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trước khi từ giã các môn để của Ngài. Sự ra đi nào cũng để lại những khoảnh khắc xúc động lưu luyến bùi ngùi. Chúa về trời để lại con sống giữa thế gian được coi như là một “bể khổ”.  Là người Ki-tô hữu, tuy chân chạm đất nhưng bạn thuộc về Chúa qua bí tích rửa tội và nhờ đức tin. Đây là một giằng co lớn của người tín hữu trước sức mạnh cám dỗ của thế gian. Để giữ lòng chung thuỷ với Chúa trong ơn gọi, bạn cần phải liên lỉ kết hiệp mật thiết với Chúa để khỏi bị mất đi phẩm giá cao cả của người môn đệ theo Chúa. Là con Chúa, tuy chân chạm đất nhưng lòng phải luôn hướng về cõi trên để dù phải đau khổ hy sinh bạn vẫn can đảm sống trọn vẹn cho vinh quang Chúa và cho phần rỗi của linh hồn.

LẮNG NGHE: Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng. (Rm 10:11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin gìn giữ con trong tình yêu của Chúa.

THỰC HÀNH: Cầu nguyện và nâng đỡ nhau trong môi trường sống và làm việc của mình.

From: Do Dzung

**************************

Yêu Chúa Yêu Người | Sáng tác: Nguyễn Trung Hải (Tin Yêu)

KHÔNG AI SỞ HỮU AI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ?”.

“Con cái các bạn không phải là con cái của các bạn. Chúng đến qua các bạn, nhưng không từ các bạn!” – Kahlil Gibran.

Kính thưa Anh Chị em,

Điều khó chấp nhận nhất không phải là mất người mình yêu, nhưng là nhận ra họ chưa bao giờ thực sự thuộc về mình. Tin Mừng hôm nay hé mở một sự thật lớn hơn mọi quyền sở hữu: trước mặt Thiên Chúa, ‘không ai sở hữu ai’.

Sau khi kể về một người phụ nữ lần lượt kết hôn với bảy anh em, người Sađucêô chỉ quan tâm một điều: khi sống lại, bà sẽ là vợ của ai? Trong toàn bộ câu chuyện, bà không có một tiếng nói, không một lựa chọn, chỉ xuất hiện như một đối tượng được chuyển từ người đàn ông này sang người đàn ông khác. Vì thế, điều họ thực sự quan tâm không phải là sự sống lại, nhưng là quyền sở hữu. Định nghĩa bản thân bằng những gì mình có là khởi đầu của sự vong thân. Chúa Giêsu đã tháo gỡ tận gốc não trạng ấy. “Khởi đầu của yêu thương là để người mình yêu được là chính họ!” – Thomas Merton.

Chúa Giêsu nhìn bà khác hẳn. Với Ngài, bà không phải là một hồ sơ pháp lý hay một hồ sơ hôn nhân của ai; nhưng là một persona – một ngôi vị sống trước mặt Thiên Chúa. Mà ngôi vị thì không ai có thể sở hữu. Người ta có thể làm chủ một cánh đồng, một ngôi nhà; nhưng không thể sở hữu một con người. Biến người mình yêu thành vật sở hữu là đang tự tay tước đi ngôi vị của họ!

Người Sađucêô nhìn con người qua lăng kính sở hữu; Chúa Giêsu nhìn họ trong tương quan thuộc về. Với Ngài, vấn đề không phải “của ai”, hay ngay cả “ai thuộc về ai”, nhưng tất cả đều thuộc về Thiên Chúa. “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ sống”. Vì thế, Abraham, Isaac và Giacóp không thuộc về quá khứ. Nước Trời không có tủ đựng hồ sơ. Trước mặt Thiên Chúa, không ai là một ký ức đã khép lại; tất cả đều sống trong Ngài. “Nếu tôi là những gì tôi có, và những gì tôi có bị mất đi, thì tôi còn là ai?” – Erich Fromm.

Phaolô hiểu rất rõ điều đó, ông không định nghĩa mình bằng những gì đang sở hữu, nhưng bằng Đấng mình thuộc về. Từ ngục tù, giữa thử thách và cô đơn, Phaolô vẫn xác tín: “Tôi biết tôi tin vào ai” – bài đọc một. Đó là một lời tuyên xưng tín thác. Biết mình tin vào ai, người tín hữu có thể ngước nhìn lên cao giữa mọi bất định của cuộc đời: “Lạy Chúa, con ngước mắt hướng nhìn lên Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô là con người tự do nhất, vì Ngài thuộc về Chúa Cha cách trọn vẹn nhất. Ngài không chiếm hữu ai, nhưng luôn dẫn mọi người về với Cha. Trên thập giá, Ngài phó thác tất cả trong tay Cha. Vì thế, Phục Sinh mặc khải một chân lý lớn lao: con người không được dựng nên để sở hữu nhau, nhưng để cùng thuộc về Thiên Chúa. Yêu mà không dám buông tay để họ đến với Thiên Chúa chỉ là thứ tình cảm vị kỷ. Trước mặt Thiên Chúa, ‘không ai sở hữu ai’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con yêu mà không chiếm hữu, gắn bó mà không nắm giữ, hầu dẫn mọi người con yêu về với Chúa, vì chúng con đều thuộc về Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,18-27

18 Khi ấy, có những người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. Họ hỏi Người : 19 “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta rằng : “Nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ goá mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.” 20 Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không có con nối dòng. 21 Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không có con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. 22 Cả bảy người đều không có con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. 23 Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ ? Vì cả bảy người đều đã lấy bà làm vợ.”

24 Đức Giê-su nói : “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao ? 25 Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. 26 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Mô-sê đoạn nói về bụi gai sao ? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào ? Người phán : ‘Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp’. 27 Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to !”


 

Vũ Trọng Phụng của văn học Việt Nam hiện đại.

Giai Thoại Xưa

Nhà văn qua đời ở tuổi 27 nhưng để lại di sản khiến thế giới nhắc tên.

Từ một cậu bé lớn lên trong cảnh nghèo khó giữa Hà Nội đầu thế kỷ 20, Vũ Trọng Phụng đã trở thành một trong những cây bút đặc biệt và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Dù chỉ sống vỏn vẹn 27 năm, ông vẫn để lại một di sản đồ sộ với hàng loạt tiểu thuyết, phóng sự và tác phẩm trào phúng được xem là kinh điển cho đến tận hôm nay.

Không chỉ nổi tiếng trong nước, Vũ Trọng Phụng còn là một trong số ít nhà văn Việt Nam có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng và được độc giả quốc tế đánh giá rất cao.

Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20/10/1912 tại Hà Nội, quê gốc ở làng Hảo, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông mồ côi cha khi chưa đầy một tuổi và lớn lên nhờ sự tảo tần của mẹ. Gia cảnh khó khăn khiến tuổi thơ của ông không mấy trọn vẹn. Sau khi học hết bậc tiểu học, ông phải nghỉ học sớm để đi làm kiếm sống, từng làm thư ký cho một hãng buôn ở Hà Nội.

Chính cuộc sống chật vật nơi phố thị cùng những va chạm với đủ tầng lớp xã hội đã giúp Vũ Trọng Phụng sớm nhìn thấy những góc khuất của xã hội Việt Nam thời thuộc địa. Những trải nghiệm ấy dần hình thành nên một ngòi bút hiện thực sắc bén, gai góc nhưng đầy chiều sâu nhân văn.

Khoảng năm 18 tuổi, ông bắt đầu có bài viết đăng báo. Tác phẩm đầu tiên xuất hiện trên Ngọ Báo đã nhanh chóng gây chú ý bởi cách viết khác lạ và giàu tính quan sát. Đến năm 1934, ông cho ra mắt tiểu thuyết đầu tay “Dứt Tình”, mở đầu cho quãng thời gian sáng tác rực rỡ nhưng rất ngắn ngủi của mình.

Chỉ trong vài năm, Vũ Trọng Phụng liên tiếp cho ra đời những tác phẩm nổi tiếng như “Giông Tố”, “Số Đỏ”, “Vỡ Đê”, “Làm Đĩ”… Những tác phẩm ấy đều phản ánh trực diện xã hội Việt Nam thời nửa thực dân, nửa phong kiến với đầy rẫy những nghịch lý, giả dối và bi kịch con người.

Điểm đặc biệt trong văn chương của Vũ Trọng Phụng là ông không né tránh hiện thực. Ngòi bút của ông sắc lạnh, trào phúng nhưng cũng đầy chua xót. Ông phơi bày những mặt trái của xã hội thành thị đang bị ảnh hưởng bởi phong trào Âu hóa, nơi nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn bởi đồng tiền, danh vọng và lối sống đua đòi.

Chính vì vậy, nhiều người đã ví Vũ Trọng Phụng là “Balzac của Việt Nam”, so sánh ông với đại văn hào hiện thực nổi tiếng của Pháp. Ông cũng được xem là “ông vua phóng sự đất Bắc” nhờ những tác phẩm phóng sự gây chấn động dư luận thời bấy giờ.

Năm 1933, dưới bút danh Thiên Hư, ông cho đăng phóng sự “Cạm Bẫy Người” trên báo Nhật Tân. Tác phẩm lập tức gây chú ý bởi cách phản ánh thẳng thắn đời sống xã hội. Sau đó là hàng loạt phóng sự nổi tiếng như “Kỹ Nghệ Lấy Tây”, “Cơm Thầy Cơm Cô”, “Lục Xì”… Những tác phẩm này không chỉ phản ánh số phận người nghèo mà còn bóc trần nhiều góc tối của xã hội thuộc địa.

Ngòi bút của Vũ Trọng Phụng luôn hướng về những con người thấp bé, nghèo khổ và bị xã hội chèn ép. Dù văn phong nhiều khi sắc lạnh, châm biếm đến cay đắng, nhưng phía sau đó vẫn là sự đồng cảm rất lớn với con người.

Nhà thơ Tố Hữu từng nhận xét về ông bằng một câu nổi tiếng:

“Ông không phải là nhà cách mạng, nhưng cách mạng biết ơn ông”.

Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, “Số Đỏ” được xem là tác phẩm nổi tiếng và có sức sống mạnh mẽ nhất của Vũ Trọng Phụng.

Tiểu thuyết này lần đầu được đăng nhiều kỳ trên Hà Nội Báo từ năm 1936 rồi in thành sách năm 1938. Nhân vật chính Xuân Tóc Đỏ – một thanh niên xuất thân thấp kém nhưng nhờ gặp thời mà bước chân vào tầng lớp thượng lưu – đã trở thành hình tượng kinh điển của văn học Việt Nam.

Thông qua nhân vật này, Vũ Trọng Phụng châm biếm sâu cay xã hội thành thị Hà Nội thời ấy, nơi những kẻ dốt nát, cơ hội lại được tung hô chỉ vì biết chạy theo phong trào Âu hóa.

Nhiều đoạn trong “Số Đỏ” đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt, chương “Hạnh Phúc Của Một Tang Gia” từng được đưa vào chương trình Ngữ Văn lớp 11 và được xem là đỉnh cao của nghệ thuật trào phúng Việt Nam hiện đại.

Không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam, “Số Đỏ” còn là một trong những tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất.

Tác phẩm hiện đã được dịch ra ít nhất 7 thứ tiếng gồm Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Italy, Tây Ban Nha và Czech. Nhiều bản dịch được xuất bản tại Mỹ, Đức, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác.

Năm 2002, bản dịch tiếng Anh mang tên “Dumb Luck” do giáo sư Peter Zinoman cùng bà Nguyễn Nguyệt Cầm thực hiện được phát hành tại Mỹ.

Đến năm 2003, tờ Los Angeles Times đã bình chọn đây là một trong những cuốn sách hay nhất năm.

Tác phẩm sau đó còn được đưa vào giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Mỹ như một ví dụ tiêu biểu của văn học Đông Nam Á hiện đại.

Năm 2021, bản dịch tiếng Trung của “Số Đỏ” do PGS Hạ Lộ thuộc Đại học Bắc Kinh thực hiện cũng nhận được nhiều lời khen từ độc giả Trung Quốc. Trên nền tảng Douban, tác phẩm được chấm điểm khá cao và nhiều người gọi đây là “kiệt tác văn học Việt Nam”.

Đến năm 2022, bản tiếng Đức “Das große Los” tiếp tục được phát hành và nhận phản hồi tích cực từ độc giả châu Âu. Các dịch giả cho rằng chính yếu tố hài hước, châm biếm và sự xung đột giữa truyền thống với hiện đại đã giúp “Số Đỏ” dễ dàng tiếp cận độc giả quốc tế.

Dù chỉ sống đến năm 1939 và qua đời vì bệnh lao phổi khi mới 27 tuổi, Vũ Trọng Phụng vẫn để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ với hơn 30 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, nhiều vở kịch và hàng trăm bài báo.

Điều đáng nói là sau gần một thế kỷ, văn chương của ông vẫn chưa hề cũ.

Những gì Vũ Trọng Phụng viết về xã hội, con người, sự giả dối, chạy theo hình thức hay những nghịch lý thời đại vẫn khiến nhiều độc giả hôm nay phải bật cười rồi lặng người suy ngẫm.

Từ một chàng trai nghèo lớn lên giữa Hà Nội cũ, Vũ Trọng Phụng đã trở thành một tượng đài đặc biệt của văn học Việt Nam. Một cuộc đời ngắn ngủi, nhưng ngòi bút của ông vẫn sống mãi cùng thời gian.

#giaithoaixua #vutrongphung #sodo #lichsuvietnam #vanhocvietnam


 

Người mẹ kéo sự sống suốt 300 dặm- Truyen ngan HAY

Nguyễn Hoàng Tuấn

Người mẹ kéo sự sống suốt 300 dặm

Có những câu chuyện không cần đến phép màu, bởi chính tình yêu đã là phép màu lớn nhất.

Mùa đông năm 1931, trên những cánh đồng khô cằn của Texas, người ta có thể bắt gặp một người phụ nữ trẻ gầy gò đang kéo theo một chiếc xe gỗ cũ kỹ. Trong xe là cô con gái sáu tuổi, quấn chặt trong những tấm chăn sờn cũ. Người mẹ ấy tên là Rosa Delgado. Cô mới 24 tuổi.

Bác sĩ đã nói với Rosa một sự thật tàn nhẫn: đứa bé bị nhiễm trùng xương nặng. Nếu không được phẫu thuật ở bệnh viện lớn tại San Antonio, con gái cô sẽ không còn sống được bao lâu nữa.

Khoảng cách giữa họ và hy vọng là gần 300 dặm.

Khoảng cách ấy ngày nay có thể được vượt qua bằng vài giờ lái xe. Nhưng với Rosa khi đó, nó là một hành trình gần như bất khả thi. Không xe hơi. Không tiền mua vé tàu. Không người thân để nhờ cậy.

Nhiều người sẽ gọi đó là ngõ cụt.

Nhưng tình mẫu tử không biết thế nào là ngõ cụt.

Rosa tự đóng một chiếc xe kéo bằng những tấm ván hàng rào cũ. Cô buộc một sợi dây vào phía trước, đặt con gái vào trong cùng vài chiếc chăn, một túi đậu khô, ít bánh tortilla và một chiếc cốc thiếc. Rồi cô bắt đầu bước đi.

Ngày thứ nhất.

Ngày thứ hai.

Ngày thứ mười.

Ngày thứ hai mươi.

Suốt 26 ngày liên tiếp, Rosa kéo chiếc xe từ lúc trời chưa sáng cho đến khi bóng tối phủ kín mặt đất. Gió lạnh cắt qua quần áo. Bão bụi quất vào mặt. Bàn tay cô rách toạc vì sợi dây thừng. Có những hôm máu thấm cả vào lòng bàn tay nhưng cô vẫn không dừng lại.

Bởi mỗi lần nghĩ đến việc nghỉ ngơi, cô lại nhớ rằng căn bệnh trong cơ thể Elena cũng không hề nghỉ ngơi.

Nó đang tiến dần về trái tim đứa trẻ.

Trên đường đi, lòng tốt của những con người xa lạ đôi khi xuất hiện như những đốm lửa nhỏ trong đêm tối. Một người nông dân cho nước uống. Một phụ nữ tặng ít sữa. Một công nhân đường sắt cho hai mẹ con trú gió trong nhà kho.

Nhưng phần lớn chặng đường, Rosa phải đối mặt với cô đơn, đói khát và nỗi sợ hãi.

Mỗi đêm, cô nằm co người bên cạnh chiếc xe kéo để chắn gió cho con. Nhiều lần giữa đêm, cô giật mình thức giấc chỉ để áp tai vào ngực Elena, kiểm tra xem con còn thở hay không.

Nỗi sợ lớn nhất của một người mẹ không phải là gian khổ.

Mà là mất con.

Đến ngày thứ hai mươi lăm, đôi giày của Rosa đã rách nát hoàn toàn. Cô phải quấn giẻ quanh chân để tiếp tục bước đi. Vai cô rớm máu vì dây kéo cọ xát liên tục. Elena sốt cao, mê man, lúc tỉnh lúc mê.

Nhưng Rosa vẫn bước.

Bởi phía trước còn có bệnh viện.

Và phía trước còn có cơ hội.

Ngày 4 tháng 12 năm 1931, sau gần 300 dặm đường, Rosa kéo chiếc xe qua cổng Bệnh viện Robert B. Green ở San Antonio rồi gục ngã xuống đất.

Các y tá chạy tới khi nghe tiếng gọi yếu ớt của Elena.

Ca phẫu thuật được thực hiện ngay trong ngày.

Sáng hôm sau, cơn sốt của cô bé đã giảm.

Elena mở mắt, xin một ngụm nước và nói với mẹ:

“Con thấy dễ thở hơn rồi.”

Có lẽ đó là câu nói đẹp nhất mà Rosa từng nghe trong đời.

Nhiều năm sau, Elena lớn lên, lập gia đình và có cuộc sống riêng. Bà vẫn đi hơi khập khiễng, như một dấu vết còn sót lại của cuộc chiến năm xưa.

Trong tang lễ của Rosa năm 1978, Elena nghẹn ngào nói:

“Mẹ tôi đã kéo tôi gần 300 dặm trên một chiếc xe gỗ. Mẹ không có gì ngoài một sợi dây thừng và quyết tâm rằng tôi phải được sống. Mỗi bước chân của mẹ là một bước chống lại tử thần. Tôi có mặt trên đời hôm nay vì mẹ đã không bao giờ dừng lại.”

Có những tượng đài được xây bằng đá.

Có những tượng đài được đúc bằng đồng.

Nhưng cũng có những tượng đài vô hình, được dựng nên từ những bàn tay chai sần, những bước chân rớm máu và tình yêu vô điều kiện của một người mẹ.

Chiếc xe gỗ năm ấy có thể đã cũ kỹ theo thời gian.

Nhưng câu chuyện về Rosa Delgado vẫn nhắc chúng ta nhớ rằng: sức mạnh lớn nhất trên thế giới không nằm ở cơ bắp, tiền bạc hay quyền lực. Sức mạnh lớn nhất là tình yêu của một người mẹ khi đứng giữa con mình và cái chết.

Sưu tầm.


 

Iran ngừng đàm phán, đóng hoàn toàn Hormuz, Trump nói ‘hãy thư giãn’

Ba’o Nguoi-Viet

June 1, 2026

TEHRAN, Iran (NV) – Iran đã đình chỉ các cuộc đàm phán quan trọng với Hoa Kỳ nhằm phản đối việc Israel mở rộng chiến dịch quân sự tại Lebanon, theo các phương tiện truyền thông thân chính phủ Iran hôm Thứ Hai, 1 Tháng Sáu.

NBC News dẫn tin từ hãng thông tấn bán chính thức Tasnim cho biết thêm rằng Tehran sẽ cân nhắc việc đóng cửa hoàn toàn eo biển Hormuz, phong tỏa các tuyến đường thủy khác, bao gồm cả eo biển Bab el-Mandeb, nhằm trừng phạt Israel và các bên ủng hộ nước này.

Hình do ISNA của Iran cung cấp hôm 1 Tháng Sáu, cho thấy các tàu thuyền di chuyển dọc theo eo biển Hormuz. (Hình: AMIRHOSSEIN KHORGOOEI / ISNA / AFP via Getty Images)

Bản báo cáo, đăng tải dưới dạng bản dịch trên nền tảng X, do CNBC dẫn lại, tập trung vào các chiến dịch quân sự của Israel tại Lebanon nhằm chống lại lực lượng dân quân Hezbollah do Iran hậu thuẫn.

Theo nội dung do CNBC dẫn lại, “sẽ không có bất kỳ cuộc đối thoại nào diễn ra” cho đến khi Israel rút quân hoàn toàn khỏi các khu vực đang chiếm đóng tại Lebanon, đồng thời chấm dứt mọi cuộc tấn công tại cả Lebanon lẫn Gaza.

Iran loan báo tin này chỉ vài giờ sau khi Tổng Thống Donald Trump đăng trên Truth Social Media, nói rằng “Iran thực sự mong muốn đạt được một thỏa thuận, và đó sẽ là một thỏa thuận tốt đẹp cho Hoa Kỳ cũng như những đồng minh đang sát cánh cùng chúng ta.”

Cũng trong tin nhắn này, lúc 1 giờ sáng ngày Thứ Hai, tổng thống tấn công những thành viên Quốc Hội lưỡng đảng đã phản đối cuộc chiến Iran.

“Thế nhưng, chẳng lẽ phe ‘Dumocrats’ – cùng một số thành viên đảng Cộng Hòa dường như thiếu tinh thần yêu nước – lại không hiểu rằng việc tôi thực hiện đúng bổn phận và tiến hành đàm phán sẽ trở nên KHÓ KHĂN HƠN GẤP BỘI, khi mà những kẻ cơ hội chính trị cứ liên tục “bới móc” và chỉ trích một cách tiêu cực – với mức độ chưa từng thấy trước đây – rằng tôi nên hành động nhanh hơn, hay chậm lại, hay phát động chiến tranh, hay không phát động chiến tranh, hay bất cứ điều gì khác? Hãy cứ ngồi yên và thư giãn đi. Rốt cuộc thì mọi chuyện đâu sẽ vào đấy cả thôi – lần nào cũng vậy mà! Tổng Thống DJT”

Theo Reuters, thông báo của Iran là một đòn nghiêm trọng đối với các nỗ lực ngoại giao vốn dường như đang tiến gần đến một khuôn khổ nhằm giảm xung đột và mở lại các tuyến hàng hải.

Chỉ vài ngày trước, truyền hình nhà nước Iran nói một dự thảo thỏa thuận Mỹ-Iran có thể dẫn đến việc mở lại eo Biển Hormuz và nới lỏng phong tỏa hải quân của Hoa Kỳ đối với tàu thuyền có liên hệ với Iran. Thế nhưng, thỏa thuận ngừng chiến mong manh đã thật sự bị tắt nghẽn, sau các cuộc đụng độ “ăn miếng trả miếng” cuối tuần qua.

Tờ Times đưa tin Bộ Tư Lệnh Trung Tâm Hoa Kỳ (CENTCOM) nói lực lượng Mỹ đã thực hiện các cuộc tấn công “tự vệ” vào các địa điểm radar và chỉ huy drone của Iran tại Goruk và trên đảo Qeshm, sau khi Iran bắn hạ một drone MQ-1 của Mỹ. Quân đội Kuwait cũng nói phòng không nước này đã đánh chặn “các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn và drone.”

The Guardian đưa tin Iran hiện nói sẽ không có thêm đàm phán hòa bình với Hoa Kỳ cho đến khi Israel ngừng các chiến dịch quân sự. Theo bản tin này, Tehran coi ngừng bắn tại Lebanon là điều kiện cơ bản để nối lại đàm phán, trong khi Iran và các nhóm đồng minh đe dọa gây gián đoạn các tuyến hàng hải then chốt, gồm Hormuz và Bab el-Mandeb.

Trong một bài đăng trên nền tảng X vào sáng Thứ Hai, Ngoại Trưởng Iran Abbas Araghchi tuyên bố: “Lệnh ngừng bắn giữa Iran và Hoa Kỳ rõ ràng là một lệnh ngừng bắn trên mọi mặt trận, bao gồm cả tại Lebanon.”

“Việc vi phạm lệnh ngừng bắn trên một mặt trận đồng nghĩa với việc vi phạm lệnh ngừng bắn trên tất cả các mặt trận. Hoa Kỳ và Israel phải chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh từ bất kỳ hành vi vi phạm nào,” ông Araghchi viết.

Phản ứng của thị trường

Phản ứng của thị trường diễn ra ngay lập tức. The Wall Street Journal đưa tin giá dầu tăng mạnh sau các báo cáo rằng Iran đình chỉ đàm phán, với dầu West Texas Intermediate và Brent đều tăng khi giới giao dịch lo ngại sự gián đoạn kéo dài tại các tuyến hàng hải vùng Vịnh. MarketWatch cũng cho biết giá dầu Brent vượt $95/thùng sau tin Iran ngừng đàm phán và lo ngại về giao thông qua Hormuz.

CBS News đưa tin sáng Thứ Hai rằng ông Trump mới đây đã chỉnh sửa một thỏa thuận “hy vọng” giữa Hoa Kỳ và Iran, đồng thời nói bất kỳ thỏa thuận cuối cùng nào cũng phải bảo đảm eo Biển Hormuz được mở lại và uranium làm giàu cao cấp của Iran bị “Hoa Kỳ khai quật và phá hủy.”

Hành động mới nhất của Iran cho thấy Tehran có thể đang tìm cách gia tăng đòn bẩy bằng cách gắn ngoại giao, hoạt động quân sự của Israel và an ninh hàng hải vào cùng một bàn đàm phán. Đối với Hoa Kỳ và các đồng minh, nguy cơ là áp lực lên Hormuz và Bab el-Mandeb có thể biến một cuộc chiến khu vực thành một cuộc khủng hoảng kinh tế rộng hơn.

Câu hỏi tiếp theo là liệu đe dọa của Iran chủ yếu là chiến thuật mặc cả, hay là bước khởi đầu của một nỗ lực phối hợp từ các lực lượng do Iran hậu thuẫn nhằm siết chặt cùng lúc hai hành lang hàng hải quan trọng nhất thế giới. (K.L) [kn]


 

TIỀN TRUNG THÀNH HƠN NGƯỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa!”.

Chỉ cần nhìn một đồng xu, nhà sưu tập tiền cổ có thể biết ngay nó thuộc triều đại nào, đúc ở đâu, giá trị bao nhiêu. Nhưng khi được hỏi điều gì là quan trọng nhất trong đời, ông lúng túng.

Kính thưa Anh Chị em,

Nhà sưu tập biết gốc gác một đồng tiền cổ; nhưng không biết gốc gác của mình. Tin Mừng hôm nay đưa ra một nghịch lý: đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; con người mang hình Thiên Chúa nhưng không phải lúc nào cũng thuộc về Ngài. Bởi thế, có lúc ‘tiền trung thành hơn người’.

Chúa Giêsu không trả lời câu hỏi có nên nộp thuế không; Ngài chỉ xin xem đồng tiền và hỏi: “Hình và danh hiệu này là của ai?”. Từ được dùng ở đây là eikōn – “hình ảnh”; nhưng Kinh Thánh còn nói đến một eikōn khác: con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, câu hỏi của Ngài không dừng lại ở đồng tiền: đã hẳn, đồng tiền mang hình Caesar, thuộc về Caesar; còn con người mang hình Thiên Chúa thì thuộc về ai?

Điều nghịch lý là những người chất vấn Chúa Giêsu, chống lại việc nộp thuế cho Caesar, lại muốn kéo Ngài vào cuộc; đang khi chính họ vẫn rủng rỉnh Caesar trong túi. Chúa Giêsu không vội trả lời; Ngài để chính đồng tiền lên tiếng. Vấn đề vì thế không còn là thuế, nhưng là sự thật về chính mình. Đôi khi điều tố cáo chúng ta không phải lời nói, mà là những gì chúng ta đang nắm giữ. “Giá mà người ta hiểu được sự ngọt ngào của một tâm hồn không giữ lại gì cho mình trước mặt Thiên Chúa!” – Thérèse Couderc.

Điều đáng suy ngẫm là Chúa Giêsu không nói: “Dâng cho Thiên Chúa”, nhưng: “Trả về Thiên Chúa”. Người ta chỉ trả lại điều vốn thuộc về chủ của nó: Caesar nhận lại đồng tiền của mình; còn con người phải được trả về cho Thiên Chúa. Vì thế, điều Ngài đòi hỏi không phải là một phần, nhưng là toàn bộ con người. Vấn đề không phải chúng ta cho Thiên Chúa bao nhiêu, nhưng giữ lại cho mình bao nhiêu.

Con người có thể quên mình thuộc về ai; Thiên Chúa thì không bao giờ quên con người thuộc về Ngài. Vì thế, Phêrô mời gọi các tín hữu lớn lên trong ân sủng và sự hiểu biết Đức Giêsu Kitô – bài đọc một. Đó là hành trình trở về sâu hơn với Đấng đã in dấu Ngài nơi chúng ta. Và qua bao thế hệ, Kitô hữu vẫn chỉ có một nơi trú ẩn không đổi thay: “Trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nếu có lúc ‘tiền trung thành hơn người’, thì Đức Kitô cho thấy con người được tạo dựng để trung thành hơn cả đồng tiền. Ngài là hình ảnh Chúa Cha và hoàn toàn thuộc về Cha; không quyền lực, đám đông hay thập giá nào khiến Ngài phản bội tư cách làm Con. Chính nhờ sự trung tín của Người Con mà chúng ta được trở nên nghĩa tử, và được đưa về với Đấng đã nắn đúc nên mình. Với chúng ta, để vật chất định đoạt giá trị bản thân là đang tự xoá hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. “Con người đáng giá vô cùng hơn những gì mình sở hữu!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con thuộc về những gì con đang nắm giữ, hay những gì đang nắm giữ con; nhưng thuộc trọn về Đấng đã in dấu Ngài nơi linh hồn con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,13-17

13 Khi ấy, người ta cử mấy người Pha-ri-sêu và mấy người thuộc phe Hê-rô-dê đến cùng Đức Giê-su để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy. 14 Những người này đến và nói : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật. Thầy chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Vậy có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ? Chúng tôi phải nộp hay không phải nộp ?” 15 Biết họ giả hình, Đức Giê-su nói : “Tại sao các người lại thử tôi ? Đem một đồng bạc cho tôi xem !” 16 Họ liền đưa cho Người. Người hỏi : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” Họ đáp : “Của Xê-da.” 17 Đức Giê-su bảo họ : “Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Và họ hết sức ngạc nhiên về Người.


 

Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16:33)-Cha Vương

Ngày Thứ 2 thật can đảm để yêu thương và tha thứ nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới nhé . Xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho nhau  

Cha Vương

Thứ 2: 1/6/2026.       (n2-25)

TIN MỪNG: Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan, khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16:33)

SUY NIỆM: Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo số 180 dạy rằng: “Tin” là hành vi của con người, có ý thức và tự do, xứng hợp với phẩm giá con người. Vì biết rằng đức tin của con người dễ bị lung lay như thế nào, Chúa Giêsu củng cố đức tin của họ bằng lời nhắn nhủ rằng: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian.” Chúa biết rằng vững tin vào Chúa không phải là chuyện dễ nhất là khi những gian nan thử thách của thế gian đang bủa vây cuộc sống hàng ngày của bạn. Chính vì vậy Ngài mới trấn an những tâm hồn yếu đuối: “Can đảm lên!” Trong thế gian này có những chuyện thật là khó hiểu, đó là chưa kể đến lòng người. Nó lại còn khó hiểu hơn nữa. Mặc dù bạn biết rằng Chúa dạy “đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.” (Mt 19:26) nhưng trong lòng vẫn cảm thấy lo sợ. Một khi “lô-gic” không trả lời được thì bạn cần phải có đức tin. “Người tin thì không cần giải thích, người không tin thì giải thích cũng vô ích!” (Thánh Bernadette, Lộ Đức). Đức tin đóng một vai trò chính yếu trong đời sống của người Kitô hữu. Mặc dù Thiên Chúa là Đấng quyền năng và đầy lòng yêu thương, có thể cho bất kỳ một phép lạ nào xảy ra ở bất cứ nơi đâu, nhưng nếu bạn không có đức tin, thì phép lạ ấy cũng chỉ là một “sự kiện lạ” chóng qua.  Vậy hôm nay bạn hãy xin Chúa Thánh Thần soi trí mở lòng bạn để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống hàng ngày mà vững tin vào Ngài là đấng “đã thắng thế gian.”

LẮNG NGHE: CHÚA nói: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi: Thầy sẽ lại đến với anh em, và lòng anh em sẽ vui mừng.” (Ga 14:18;16:22)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con tin vào Chúa: xin gia tăng đức tin của con. Con tín thác vào Chúa: xin củng cố lòng tin của con. Con yêu mến Chúa: xin cho con yêu mến Chúa ngày một nhiều hơn.

THỰC HÀNH: Khi gặp điều không vừa ý, thay vì nguyền rủa, hãy tập động viên và khuyến khích nhau bằng câu: “Hãy can đảm lên!”

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=Yh69LmHbhSA

Can Đảm Lên – Nguyễn,Hữu | Ca Đoàn Đồng Tâm Choir Gx St. Maria Goretti  

https://www.youtube.com/watch?v=wrJcNpILLX8

Ca Khúc Trầm Hương – Hoàng Oanh

Thư của sv Tiếu Ngạo, bị giết, trong cuộc thảm sát Thiên An Môn (4/6/1989)

Xuyên Sơn

  NGƯỜI VIỆT, NÊN ĐỌC VÀ NGẪM!

Dưới đây, trích thư của sv Tiếu Ngạo, bị giết, trong cuộc thảm sát Thiên An Môn (4/6/1989).

Được gia đình tìm thấy, trong những đồ đạc của anh, để lại ở trường:

Kính thưa cha mẹ!

…. Đất nước chúng ta đã đi sai đường, bị sa lầy trong đói nghèo, tăm tối.

Giới thống trị, nắm đặc quyền, đặc lợi, xa xỉ hoang phí, vui chơi hoan lạc.

Con cháu của họ, lại càng hung hăng, đổi trắng thay đen, lưu manh, ngang ngược, lộng hành.

Cảnh sát, thanh tra ô hợp, a dua nịnh hót.

Đối với nhân dân, chúng như lang sói, nhe nanh, múa vuốt…

Hàng triệu nông dân, lâm vào cảnh dốt nát – thường dân thấp cổ bé họng chỉ biết cúi đầu. Xã hội thối nát, bất công, kẻ thống trị thì ô trọc,

nhân dân sống ảm đạm, thờ ơ.

Vậy nên, con khó lòng vui vẻ, để chuyên tâm lo cho gia đình, phụng dưỡng cha mẹ.

Dân chưa an, sao dám quẳng gánh lo? Chí lớn chưa đạt, sao dám ngoảnh đầu nhìn lại.

Trái tim con, vẫn chưa hoàn toàn tê liệt. Nó vẫn thổn thức, những niềm đau và sự tan vỡ.

Nó khiến con không thể nào vô tâm, vô cảm!

Trách nhiệm xã hội, không cho phép con câm nín thêm nữa.

Sứ mệnh lịch sử, không cho phép con khiếp đảm. Chí lớn chưa thành, không cho phép con thuận nước, xuôi dòng, thông đồng làm bậy!

Con muốn hét to, để đánh thức những người còn đang mê ngủ, vực dậy những tâm hồn chai sạn:

“Tỉnh dậy thôi, hỡi những người Hoa Hạ!”.

Nhiệt huyết sục sôi, trong lòng con, đang cuồn cuộn dâng trào, toàn thân tràn đầy sức sống!

Con tuyệt đối không thể khoanh tay đứng nhìn đất nước này, dân tộc này, càng đi, càng dấn xa trên con đường u tối.

Con muốn thay đổi, cái xã hội bệnh hoạn, trăm nghìn u nhọt này.

Sức cùng lực mỏng, nhưng con vẫn muốn tận lực mà làm.

Nhỏ nhoi như hòn sỏi bên đường, nhưng con vẫn muốn cư xử như người chính nghĩa!

…….

Vĩnh biệt Cha Mẹ!

…….

* Theo Tinh hoa. net (4/6/2019).  


 

Trump: Hơn 10,000 luật sư rời bỏ chính quyền là chuyện ‘rất tốt’

Ba’o Nguoi-Viet

June 1, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump hôm Chủ Nhật, 31 Tháng Năm, tuyên bố hàng ngàn luật sư rời bỏ chính quyền là chuyện “rất tốt,” ý nói bản tin của New York Times (NYT) về vấn đề này, theo The Hill.

Từ cuối năm 2024 tới Tháng Ba, 2026, hơn 10,000 luật sư làm việc cho chính phủ liên bang rời bỏ chính quyền, theo bản tin NYT. Nhiều luật sư trong số đó đang “đổ xô tới văn phòng bộ trưởng Tư Pháp các tiểu bang Dân Chủ và tổ chức bất vụ lợi  đang kiện chính sách của chính quyền ra tòa, giúp đối thủ của ông Trump có thêm nhiều luật sư giàu kinh nghiệm,” NYT cho hay.

Tổng Thống Donald Trump phản ứng trong cuộc họp Nội Các tại Tòa Bạch Ốc ở Washington, DC, hôm 27 Tháng Năm. (Hình: Kent Nishimura/AFP via Getty Images)

Trên mạng xã hội Truth Social, Tổng Thống Trump viết NYT “hôm nay đăng bài báo tựa đề, ‘Chính Quyền Ông Trump Chứng Kiến Tài Năng Pháp Lý Ra Đi Hàng Loạt Bất Thường,’ như thể đó là chuyện xấu, trong khi thực ra là rất tốt.”

“Mấy người đang ra đi đó là bọn điên khùng của nhà nước ngầm thuộc phe cánh tả cực đoan, những kẻ đang hủy hoại đất nước chúng ta, và biến chính phủ thành vũ khí,” ông Trump thêm. “Nhiều người trong số đó không phải rời bỏ, mà bị sa thải! Tờ NYT thất bại này viết như vậy, nhưng làm như thể đó là chuyện khủng khiếp, trong khi thực ra là ngược lại.”

Tổng Thống Trump nhấn mạnh, trong “nhiều trường hợp, lẽ ra ngay từ đầu, họ không được đại diện nước Mỹ.”

“Cứ để họ đi tới những thứ ‘lớn hơn, tốt hơn, và tươi sáng hơn’ trong tương lai – tôi hoàn toàn ủng hộ điều đó và chúc tất cả họ điều tốt đẹp!” ông viết.

Trong số luật sư rời bỏ chính quyền năm 2025, nhiều người hoặc là về hưu, hoặc là mất việc làm do chiến dịch sa thải hàng loạt của chính quyền Tổng Thống Trump, hoặc là từ chức để phản đối chính sách của ông, theo NYT. Hiện tại, số lượng luật sư làm việc cho chính phủ liên bang giảm 17% so với cuối năm 2024, ngay trước khi ông Trump nhậm chức. Tính tới Tháng Ba, có khoảng 37,000 luật sư dân sự làm việc cho chính phủ.

Luật sư rời bỏ chính quyền nghĩa là số người biện hộ cho chính sách của chính quyền trước tòa sẽ giảm, theo NYT. Ông Erik Heins – cựu luật sư Bộ Gia Cư bị sa thải năm ngoái sau khi bày tỏ lo ngại về việc luật sư về gia cư công bằng bị chuyển qua văn phòng khác – cho hay, không có luật sư, “rất nhiều thứ không thể làm được.”

Bà Abigail Jackson, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, gửi bản tuyên bố tới NYT cho biết chính quyền Tổng Thống Trump “vẫn hoàn toàn hỗ trợ và mướn những người Mỹ siêng năng, cam kết phục vụ công chúng, và thực hiện nhiều lời hứa của tổng thống với người dân Mỹ.”

“Những người được chính quyền mướn là người cực kỳ có tài và trình độ,” bà Jackson khẳng định. (Th.Long)


 

THẦN ĐỒNG VIỆT NAM GÂY CHẤN ĐỘNG TẠI LONDON: MỚI 14 TUỔI ĐÃ TRỞ THÀNH CỬ NHÂN VÀ LỌT TOP 100 THẾ GIỚI…

8 SÀI GÒN

  THẦN ĐỒNG VIỆT NAM GÂY CHẤN ĐỘNG TẠI LONDON: MỚI 14 TUỔI ĐÃ TRỞ THÀNH CỬ NHÂN VÀ LỌT TOP 100 THẾ GIỚI…

Tim tôi đập thình thịch như muốn vỡ tung trong khán phòng House of Commons, Luân Đôn. Đêm ấy lạnh buốt, ánh đèn vàng vọt chiếu xuống hàng ghế khán giả khiến tôi thấy rõ từng giọt mồ hôi lạnh đang chảy dọc sống lưng. Khi người dẫn chương trình cất giọng vang vọng: “Phạm Vi An”, cả hội trường im bặt một giây rồi vỗ tay rầm rộ. Con bé tôi – chỉ mới 15 tuổi, nhỏ nhắn, mặc chiếc áo dài Việt Nam giản dị màu xanh nhạt – bước lên bục với nụ cười khiêm nhường. Tay con cầm chiếc cúp nặng trịch, ánh flash lóa mắt. Tôi che miệng, nước mắt nóng hổi trào ra không kìm nổi.

Thế giới đang tung hô con tôi là Alisa Pham, là thần đồng, là hiện tượng toàn cầu. Nhưng chỉ mình tôi biết, để con đứng được ở đó, chúng tôi đã đi qua những địa ngục trần gian mà tôi không dám nhớ lại. Lúc này, tôi mới hiểu, hành trình của con không chỉ là những đêm thức trắng học bài, mà còn là những bí mật con giấu kín, những nỗi đau con một mình nuốt xuống để mẹ không phải lo.

Tôi tên L. quê Hà Nội. Chồng tôi mất vì ung thư khi Vi An mới lên ba. Chỉ còn hai mẹ con và bà ngoại già yếu. Nhà tôi ở ngõ nhỏ Phúc Đồng, mái ngói cũ kỹ, mùa mưa dột khắp nơi. Tiền bạc eo hẹp, tôi làm đủ nghề: may áo dài, bán hàng online, thậm chí nhận may thuê đến khuya. Nhưng Vi An khác hẳn. Ba tuổi con đã đọc thuộc lòng truyện cổ tích. Năm tuổi con đọc sách cấp hai. Những đêm hè oi bức, tôi ngồi bên con dưới mái hiên, mùi trầu không của bà ngoại thoang thoảng, hai mẹ con cắm cúi đọc sách đến khi muỗi đốt đầy tay. “Con sẽ học giỏi lắm mẹ ạ,” con hay nói, giọng non nớt nhưng đôi mắt sáng rực như chứa cả bầu trời.

Năm 2017, tôi quyết định bán hết chút tài sản, đưa hai con gái sang New Zealand định cư. Hy vọng cho con một tương lai tốt hơn. Bà ngoại đứng tiễn ở sân bay Nội Bài, nước mắt lưng tròng, tay run run nắm tay Vi An: “Về thăm bà nhé cháu.” Vi An ôm bà chặt, giọng nghẹn: “Con hứa, bà ơi.” Tôi quay đi, nuốt nước mắt. Lòng tôi lúc ấy chỉ toàn hy vọng, không ngờ phía trước là cơn ác mộng.

Đất khách lạ lẫm. Ban đầu còn ổn, tôi làm việc chăm chỉ. Nhưng rồi Covid-19 ập đến như tai ương. Công việc mất trắng. Tiền tiết kiệm cạn kiệt chỉ sau vài tháng. Chúng tôi bị đuổi khỏi nhà thuê vì nợ ba tháng. Không người thân, không bạn bè, không ai giúp. Cuối cùng, ba mẹ con đành mua chiếc xe hơi cũ giá rẻ, đậu ở bãi xe siêu thị vắng vẻ. Đó là những ngày tháng tôi không muốn nhớ đến trong mơ.

Đêm đông New Zealand, mưa tầm tã, lạnh cắt da cắt thịt. Chiếc xe chật hẹp, mùi ẩm mốc nồng nặc, kính mờ hơi nước. Vi An mới 10 tuổi, co ro dưới lớp chăn mỏng, laptop kê trên đùi, học dưới ánh đèn pin yếu ớt. Tiếng mưa rơi lộp độp trên nóc xe như trống trận. Tôi nằm cạnh, nghe tiếng con gõ bàn phím run run vì lạnh, lòng đau như có ai bóp nghẹt. “Mẹ ngủ đi, con học nốt bài,” con hay thì thầm, giọng nhỏ bé nhưng kiên cường lạ thường. Tôi cắn môi đến chảy máu, nước mắt lặng lẽ rơi. Sao con tôi phải chịu khổ thế này? Sao số phận lại hắt hủi hai mẹ con đến vậy?

Có những đêm, gió bão lớn làm xe rung lắc, tôi sợ xe lật, sợ con bị ốm. Vi An bị sốt cao, môi tím ngắt vì lạnh, nhưng con vẫn cố gõ bài. Tôi ôm con vào lòng, truyền hơi ấm từ cơ thể mình, miệng thì thầm cầu nguyện. Có hôm, tiền hết sạch, chúng tôi chỉ ăn bánh mì khô và nước lã hai ngày. Chị gái Vicky của con khóc thầm, còn Vi An im lặng, chỉ siết chặt tay tôi. Những lúc ấy, tôi oán trách trời đất, oán trách bản thân đã dắt con sang đây chịu khổ. Nội tâm tôi lúc đó như bị xé toạc, day dứt không nguôi.

Nhưng Vi An không than vãn. Con hoàn thành chương trình trung học chỉ trong 10 tháng. Ban ngày con tranh wifi miễn phí ở thư viện, ban đêm học trong xe. Có hôm mưa bão lớn, laptop con sắp hết pin, bài luận cuối cùng phải nộp để xin vào đại học. Tay con run lẩy bẩy vì đói và lạnh, nhưng con vẫn gõ những dòng chữ cuối cùng. Tôi nắm chặt tay con, nước mắt rơi: “Mẹ tin con. Mẹ ở đây với con.”

Khi thư chấp nhận từ Đại học Công nghệ Auckland (AUT) gửi đến, con tôi chỉ mới 11 tuổi trở thành sinh viên trẻ nhất lịch sử trường. Tôi ôm con khóc nức nở trong xe hơi. Niềm vui ấy ngắn ngủi. Cuộc sống vô gia cư vẫn tiếp diễn. Nhiều đêm, tôi thức trắng nhìn hai con gái co ro ngủ, lòng đau như cắt. Tôi nghĩ đến bà ngoại ở Việt Nam, nghĩ đến những lời xì xào của họ hàng: “Đi nước ngoài chi cho khổ, ở nhà còn hơn.” Lúc ấy tôi mới hiểu, họ không sai. Nhưng tôi không thể quay đầu…

Nhưng chính đêm mưa bão kinh hoàng ấy đã thay đổi tất cả….

Đêm đó, mưa như trút nước.

Chiếc xe cũ rung lên bần bật dưới những cơn gió đông lạnh buốt. Tôi ôm chặt hai con, cố kéo chiếc chăn mỏng che kín người Vi An vì con đang sốt. Ngoài bãi đậu xe gần như không còn ai. Đồng hồ trên điện thoại hiện 2 giờ sáng. Pin chỉ còn 3%.

Rồi bất ngờ… có tiếng gõ cửa kính.

“Cộc… cộc… cộc…”

Tôi giật mình thót tim. Ở nơi đất khách, giữa đêm khuya, tiếng gõ cửa ấy khiến tôi hoảng sợ đến nghẹt thở. Tôi kéo Vi An sát vào lòng. Ngoài cửa là một người đàn ông lớn tuổi mặc áo mưa vàng, tay cầm đèn pin.

Ông chỉ vào bánh xe sau rồi nói chậm rãi:”Lốp xe của cô xẹp hoàn toàn rồi. Nếu trời sáng mà vẫn chạy, rất nguy hiểm.”

Tôi chết lặng.

Tôi thậm chí không còn tiền để thay lốp.

Người đàn ông ấy tên Michael, là bảo vệ ca đêm của siêu thị. Ông nhìn ba mẹ con co ro trong xe rất lâu rồi khẽ hỏi:

“Các cô… đang sống ở đây sao?”

Tôi muốn nói dối. Nhưng cuối cùng chỉ biết cúi đầu bật khóc.Đó là lần đầu tiên sau nhiều tháng, tôi khóc trước mặt người lạ.Michael im lặng hồi lâu rồi quay đi. Tôi tưởng ông sẽ gọi cảnh sát hoặc yêu cầu chúng tôi rời khỏi bãi xe. Nhưng khoảng hai mươi phút sau, ông quay lại với ba cốc chocolate nóng, vài chiếc bánh mì và một chiếc túi ngủ cũ.

Vi An lúc ấy đang mê man vì sốt. Con vẫn ôm chặt chiếc laptop trước ngực như sợ mất thứ duy nhất giữ tương lai của mình.Michael nhìn màn hình máy tính rồi bất ngờ hỏi?

“Con bé học đại học à?”

Tôi gật đầu trong nghẹn ngào.Ông ngồi xuống lặng người đọc bảng điểm của Vi An rất lâu. Ánh mắt ông thay đổi hẳn. Ông nói nhỏ:

“Đứa trẻ này… đặc biệt lắm.”

Sáng hôm sau, Michael dẫn chúng tôi đến một trung tâm hỗ trợ cộng đồng. Chính từ nơi đó, cuộc đời Vi An bắt đầu đổi hướng.Một giáo viên tình nguyện ở trung tâm nghe câu chuyện của con đã giới thiệu Vi An tham gia một cuộc thi học thuật quốc tế dành cho tài năng trẻ. Ban đầu, Vi An từ chối. Con nói:

“Con chỉ muốn mẹ được ngủ trong một căn phòng ấm.”Câu nói ấy khiến tôi quay mặt đi vì không thể ngăn nước mắt.Nhưng rồi con vẫn thi.Suốt nhiều tuần liền, Vi An học trong thư viện công cộng từ sáng đến tối. Có hôm con ngủ gục trên bàn vì kiệt sức. Những đứa trẻ khác có gia sư, có phòng học riêng, có đầy đủ điều kiện. Còn con tôi chỉ có một chiếc laptop cũ sắp hỏng và một ý chí khiến người lớn cũng phải xấu hổ.

Ngày kết quả công bố, Vi An đứng hạng nhất.Tin tức bắt đầu lan truyền. Báo chí New Zealand gọi con là “cô bé vô gia cư có IQ thiên tài”. Các trường đại học, tổ chức giáo dục và quỹ học bổng bắt đầu chú ý đến con.

Nhưng điều khiến tôi đau lòng nhất… là bí mật tôi phát hiện không lâu sau đó.Một tối, khi Vi An ngủ quên trên bàn học, điện thoại con sáng màn hình vì email mới gửi đến. Tôi vô tình nhìn thấy.

Đó là hàng chục email con gửi cho các giáo sư, tổ chức từ thiện và công ty công nghệ khắp thế giới.Email nào cũng bắt đầu bằng một câu giống nhau:

“Xin đừng nói với mẹ cháu.”

Tôi run tay mở đọc.Con đã âm thầm xin học bổng, xin tài trợ, thậm chí xin việc lập trình online suốt nhiều tháng trời. Con không muốn tôi biết vì sợ tôi cảm thấy mình thất bại.Có đoạn con viết:”Mẹ cháu đã hy sinh tất cả cho cháu. Cháu chỉ muốn mẹ được ngủ trên giường thật trước Giáng sinh.”Tôi bật khóc nức nở ngay trong thư viện.

Con bé mới 11 tuổi…

11 tuổi thôi… Mà đã mang trong lòng nỗi lo của một người trưởng thành.

Không lâu sau, một quỹ giáo dục ở Anh quyết định tài trợ toàn bộ học phí và sinh hoạt cho Vi An. Con được mời sang London tham gia diễn đàn tài năng trẻ toàn cầu.Đó chính là đêm tôi ngồi trong House of Commons, nhìn con bước lên sân khấu giữa tiếng vỗ tay vang dội.Nhưng khoảnh khắc khiến cả khán phòng lặng đi… là khi Vi An kết thúc bài phát biểu.Con nhìn xuống phía tôi rồi nói bằng tiếng Việt:”Mẹ ơi, cuối cùng mẹ không phải ngủ trong xe nữa rồi.”

Cả hội trường chết lặng vài giây.

Rồi tiếng vỗ tay bùng nổ như sấm.

Còn tôi… chỉ biết ôm mặt khóc.

Vì tôi hiểu, phía sau danh hiệu thần đồng mà cả thế giới tung hô, con gái tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ từng co ro trong chiếc xe lạnh giá, cố học dưới ánh đèn pin yếu ớt để cứu lấy gia đình mình.

ĐOÀN MƯỜI

Nguồn: (https://fleuri.info/21950/)


 

CHẤM HẾT MỘT CUỘC TÌNH !- Bùi Mạnh Toàn – Truyen ngan HAY

Nguyen Thi Chau

CHẤM HẾT MỘT CUỘC TÌNH !- Bùi Mạnh Toàn 

Sau bao nhiêu ngày nghĩ tới, nghĩ lui bữa nay ăn cơm xong chị nhẹ nhàng mở lời với anh:

“Chỉ còn nửa tháng nữa là hết hợp đồng nhà, em tính nói với anh dạo này em không khỏe, mình trả nhà rồi ai về nhà nấy… “

Anh giãy nảy lên: “ Em nói thế mà nghe được à! thằng này có phải con nít đâu mà vui thì ở, buồn thì đi”

Chị đành phải tung chiêu cuối cùng:

“ Em bị viêm gan siêu vi C, giờ nếu ở chung lây sang cho anh thì nguy hiểm lắm”.

Anh hoảng hốt:

“Ờ vậy thì đường ai nấy đi, còn tiền cọc tính sao?”

Chị cười buồn: “ Mai em về nhà em, anh cứ ở cho hết tháng rồi làm việc với chủ nhà, tiền cọc (thật ra là tiền của chị) anh cứ lấy mà tiêu”

Anh : “ ừ” nhẹ tênh! Vậy là chấm hết một cuộc tình.

Chuyện là vầy:

Nửa năm trước chị gặp anh ở câu lạc bộ dưỡng sinh. Cùng cảnh góa bụa nên cả hai dễ dàng tìm được tiếng nói chung.Tuy đã 60 tuổi nhưng trông chị vẫn trắng trẻo, đầy đặn, phúc hậu.

Anh hơn chị 5 tuổi nhưng vì chăm tập thể thao nên nhìn anh rất phong độ, đẹp trai. So với ông chồng già đã khuất của chị thì anh hơn hẳn, vừa chiều chuộng, vừa ga lăng.

Muốn hoa có hoa, muốn thơ có thơ. Facebook, Zalo, Viber suốt ngày tưng bừng, rộn rã. Ánh mắt lấp lánh của chị như ngầm công bố cho mọi người biết về quan hệ mới của hai anh chị.

Các con của chị đều rất thương mẹ nên vui vẻ tán đồng. Mấy người con của anh đã có gia đình riêng cũng không phản đối. Vẫn là đứa con gái mà chị coi như bạn đề nghị:

“Mẹ với bác đi thuê căn hộ ở chừng vài tháng xem sao, nếu hợp thì tiến tới, thông báo với họ hàng hai bên, làm một cái lễ nho nhỏ mẹ à! còn nếu không hợp thì thôi, cũng đỡ mang tiếng”

Vậy là chị bàn với anh rồi cùng đi thuê căn hộ nho nhỏ.Tiền cọc một tháng, tiền nhà 3 tháng chị trả hết vì anh nói số tiết kiệm của anh chưa tới kì hạn.

Ngay bữa cơm chung đầu tiên chị đã ngỡ ngàng! Anh ngồi cắm cúi ăn hết món này đến món khác, miệng thì sai chị liên tục.

Bữa cơm có một tiếng mà chị đứng lên ngồi xuống không biết bao nhiêu lần, lúc thì lấy ớt, lúc thì thêm mì chính, món thì bỏ thêm một chút đường… Sau đó vừa nhìn chị dọn dẹp bát đĩa anh vừa xỉa răng tanh tách và nói

“Vợ anh ngày xưa nấu ăn ngon lắm, em cố gắng xem sách dạy nấu ăn đi, anh là ngày phải ăn đủ ba bữa tươm tất, món ăn lúc nào cũng phải nóng sốt, không ăn lại đồ cũ được đâu em”.

Chị chạnh lòng nhớ đến chồng mình. Vì lớn hơn chị nhiều tuổi nên anh rất nhường chị, chị nấu gì anh ăn nấy, đến bữa cơm anh toàn gắp cho chị những món mới còn anh lẳng lặng ăn lại đồ ăn cũ từ bữa trước.

Mấy chục năm chung sống chưa khi nào anh đòi hỏi chị bất cứ điều gì.

Ngày nối ngày chị bắt đầu nuối tiếc cuộc sống yên ả trước khi gặp anh. Sáng làm biếng gặm trái bắp rồi coi phim bộ, trưa chiều gọi ông đi qua bà đi lại tô hủ tiếu, đĩa xôi cũng xong.

Còn giờ đây mới mở mắt ra chị đã phải tất tả ra chợ lo mua đồ ăn cho đủ 3 bữa tươm tất như lời anh dặn. Về nhà hì hụi, lọ mọ dưới bếp cả buổi, đến bữa thì ngồi như học sinh chưa thuộc bài chờ anh kiểm tra, ban phát những lời khen tặn tiện.

Con anh 3 đứa cộng 6 đứa cháu nội ngoại thường xuyên ghé chơi xem chị chăm anh như thế nào. Mỗi lần tới trẻ con thì la hét, bầy bừa người lớn thì ăn nhậu tới khuya.

Khách về chị rửa bát, dọn dẹp còn anh ôm cây đàn guitar ra ban công ngồi gảy. Ngày mới quen nhau chị mê đắm tiếng đàn của anh, ngồi hàng giờ ngắm mái tóc bồng bềnh của anh buông xõa xuống trán.

Giờ đây chị mỏi mệt, hững hờ đấm cái lưng nhức nhối vì suốt ngày phải hầu con, trông cháu người ta. (Chồng cũ chị không biết đàn, biết hát nhưng trong nhà từ việc lớn đến việc bé anh cặm cụi làm, lo cho chị hết)

Mới hơn 2 tháng chị đã phải tới nhà anh nấu 3 cái đám giỗ, rửa cả một nhà chén bát. Mấy cô em gái anh không hề phụ chị một chút nào mà còn ngồi thi nhau kể anh ngày xưa đẹp trai như thế nào, tài giỏi ra sao, bao nhiêu người đẹp hơn hoa hậu theo đuổi mà anh lại chọn chị, phúc ba đời nhà chị đó nên chị cố gắng mà lo liệu cho tốt.

Thỉnh thoảng hai đứa con chị đảo qua xem mẹ có khỏe không thì anh đi tới, đi lui nhìn đồng hồ ngầm nhắc chị sắp đến giờ nấu cơm. Chị biết ý nói với con lần tới mẹ con gặp nhau ở nhà riêng của chị, giờ chị vẫn đang để không, tranh thủ mỗi lần đi chợ chị ghé về tưới cây, nhổ cỏ, thắp nén nhang cho chồng đỡ quạnh hiu.

Mới hơn 2 tháng mà tiền để dành của chị vơi đi quá nhiều.Trước lúc mất chồng chị đưa cho chị 2 quyển sổ tiết kiệm hơn 2 tỉ.

Tiền lãi hàng tháng, tiền các con biếu thêm chị sống rất thoải mái, thỉnh thoảng còn đi du lịch đó đây.

Từ ngày quen anh đến giờ mọi chi phí chị phải lo, ngoại trừ tháng đầu chung sống anh góp 5 triệu tiền cơm, anh luôn nói là chờ đến hạn rút tiết kiệm anh sẽ đưa cho chị. Tiền giỗ chạp, tiền đóng học cho cháu anh chị cũng phải bỏ ra.

Chị chán lắm rồi, chị nản lắm rồi. Ngày khổ một thì đêm khổ mười. Anh thì còn đang hừng hực mà chị nào huyết áp cao, nào tiểu đường chị chiều anh không nổi. Mới vài ngày trước đây sau khi gần gũi anh dài giọng đay nghiến

“Em lúc nào cũng nằm như khúc gỗ ấy, chả bằng một góc vợ anh”.

Rồi anh lăn ra ngáy, còn chị cả đêm ra ban công ngồi ôm mặt khóc. Đến sáng chị quyết định bằng mọi giá phải về nhà cũ thôi.

Anh chị chia tay rất nhẹ nhàng! Giờ mỗi lần nhớ lại chị coi quãng thời gian gần 3 tháng ấy như một giấc mơ, có điều giấc mơ dù đẹp, dù xấu thì cũng phải tỉnh thôi.

Bùi Mạnh Toàn