CÁI NO ĐÓI MÃI – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Anh em đã no nê rồi, đã giàu có rồi!”.

“Không phải người có quá ít, nhưng người ham muốn nhiều hơn mới là người nghèo!” – Seneca.

Kính thưa Anh Chị em,

Có cái đói chỉ cần vài bông lúa là dịu xuống; cũng có cái no càng được nuôi càng cồn cào. Lời Chúa hôm nay chỉ ra nghịch lý ấy: ‘cái no đói mãi’.

Các môn đệ đói, họ bứt lúa; những người Pharisêu có lẽ no, họ bứt lỗi. Họ nhanh mắt thấy những con người phạm luật, nhưng chậm thấy những con người cần ăn. Chúa Giêsu nhắc Đavít lúc đói đã vào nhà Thiên Chúa, lấy bánh tiến mà ăn. Ngài không coi nhẹ ngày thánh; chỉ không để nó trở thành ngày con người phải đói trước mặt Chúa. Luật được ban để gìn giữ sự sống; khi chỉ dùng luật để kết tội, người ta đã đánh mất linh hồn của luật. “Công lý không có lòng thương xót chỉ là sự tàn nhẫn!” – Tôma Aquinô.

Chúa Giêsu kết luận: “Con Người làm chủ ngày Sabbat!”. Những người Pharisêu tưởng mình bảo vệ ngày của Chúa, hoá ra lại chất vấn chính Chúa của ngày ấy. Họ nâng ngày thánh lên cao, nhưng không nhận ra Đấng Thánh làm cho nó nên thánh. Vấn đề không còn là bứt vài bông lúa, nhưng là trật tự bị đảo ngược: lề luật thay chỗ Đấng ban luật. Ngài không hạ thấp ngày Sabbat; Ngài trả Sabbat về đúng chỗ. Bởi một ngày giữ đủ mọi điều mà vắng bóng lòng thương xót của Thiên Chúa chưa thật sự là ngày của Ngài.

Phaolô nhận ra sự vắng bóng ấy nơi cộng đoàn Côrintô: “Anh em đã no nê rồi, đã giàu có rồi!”; nhưng cũng hỏi, “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” – bài đọc một. Khi quên mọi sự là quà tặng, người ta dễ no kiến thức mà đói khiêm nhường, no lý lẽ mà đói cảm thông, no phần mình mà không thấy người khác đang thiếu. “Kiêu ngạo không phải là sự cao cả, nhưng là chứng phù thũng; vật sưng phồng xem ra lớn, nhưng không khoẻ mạnh!” – Augustinô.

Và ‘cái no đói mãi’ cứ âm thầm lớn lên trong chúng ta mỗi khi điều đã nhận không dẫn đến tạ ơn, nhưng trở thành chiếc bục để đứng cao hơn người khác. Và này, Thánh Vịnh đáp ca mở ra lối thoát: “Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Người!”. Cầu khẩn là nhận mình cần Chúa. Đứng trước Ngài như một kẻ nghèo, chúng ta không thể tiếp tục đứng trên anh em.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã đi vào tận cùng cái đói của nhân loại. Trên thập giá, lời “Ta khát!” không chỉ vọng lên từ một thân xác cạn kiệt, nhưng còn hé lộ cơn khát sâu hơn của Thiên Chúa: Ngài khát chính con người.

 Chiều thứ Sáu, Ngài không còn một hơi thở; ngày thứ Bảy, Ngài nằm yên trong mộ. Sự nghỉ ngơi ấy không phải là khoảng trống của thất bại, nhưng là sự hoàn tất của một Người Con đã trao lại mọi sự cho Cha. Sáng Phục Sinh cho thấy: tình yêu trao đi tất cả mà không hề vơi cạn. Nơi Người Con ấy, sự no đầy của Thiên Chúa không giữ lại, nhưng tự hiến; không đòi thêm, nhưng trao đến cùng. Chỉ sự no đầy ấy mới chữa được những ‘cái no đói mãi’ của con người.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con tưởng mình đủ, cho con biết mình thiếu; con tưởng mình giàu, cho con biết mình nghèo; xin đừng bao giờ để con đứng trên người anh em như một thẩm phán!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Thứ Bảy Tuần XXII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn 

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

1 Vào một ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ bứt lúa, vò trong tay mà ăn. 2 Nhưng có mấy người Pha-ri-sêu nói: “Tại sao các ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát?”

3 Đức Giê-su trả lời: “Ông Đa-vít đã làm gì khi ông và thuộc hạ đói bụng? 4 Ông vào nhà Thiên Chúa lấy bánh tiến mà ăn và cho thuộc hạ ăn. Thứ bánh này, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi. Câu chuyện ấy, các ông chưa đọc sao?” 5 Rồi Người nói: “Con Người làm chủ ngày sa-bát.”


 

Mừng kính Thánh Mẹ Tê-rê-sa Calcutta (1910-1997) – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Mẹ Tê-rê-sa Calcutta (1910-1997) Xin Mẹ Tê-rê-sa cầu bầu cùng Chúa cho bạn và gia đình hôm nay nhé. ” Giáo hoàng Benedicto XVI nói. Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a đặt hết niềm tin tưởng vào Chúa. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé. bạn muốn tìm hiểu về ý nghĩa của ngày Labor Day của nước Hoa Kỳ thì hãy bấm vào link sau đây: https://www.voatiengviet.com/a/le-lao-dong-hoa-ky/5571162.html

Cha Vương

Thứ 7: 05/09/2026.      (t2-22)

Mẹ Têrêsa sinh ngày 26/8/1910 tại Skopje, Macedonia, Yugoslavia (Nam Tư); Mẹ có tên thật là Agnes Gonxha Bojaxhiu; con út trong một gia đình có ba người con; cha làm nghề xây dựng và qua đời khi Mẹ mới được 8 tuổi. Ngày 27/8/1910 lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Mẹ Têrêsa thường tâm sự, ngày Rửa Tội chính là ngày sinh nhật chính thức trong cuộc đời của Mẹ.

      Ðủ 18 tuổi, Mẹ Têrêsa gia nhập Dòng Nữ Vương Ðức Bà Loreto ở Ái Nhỉ Lan (Ireland). Tu học tại nhà mẹ của Dòng Loreto ở Dublin. Mẹ Têrêsa chọn cho mình tên gọi là Sơ Têrêsa để luôn tưởng niệm Thánh Nữ Têrêsa Lisieux. Tháng 12 năm 1928, Sơ Têrêsa bắt đầu một cuộc hành trình dài đến Ấn Ðộ, rồi tiếp tục đến Darjeeling, khu vực gần Dãy Núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan Mountains), nơi Sơ Têrêsa tiếp tục tu học cho đến ngày khấn. Không lâu sau đó, vào ngày 6/1/1929 Sơ Têrêsa đến Calcutta, thủ đô Bengal, Ấn Ðộ, để dạy học tại một trường Nữ Trung Học. Trong thời gian tại Calcutta, điều đánh động Sơ Têrêsa nhiều nhất đó là tận mắt trông thấy các bệnh nhân ốm liệt, nghèo đói và hấp hối đầy trên các đường phố.

 Năm 1946, sau khi đã chứng kiến những nạn nhân khốn khổ đầy thương tích và chết chóc, các trẻ em bơ vơ trên đường phố, kết quả của những biến cố nổi loạn giữa Hồi Giáo và Ấn Giáo, ngày 10/9/1946, trên một chuyến xe lửa đi về Darjeeling để điều trị bệnh lao mới phát, Sơ Têrêsa nhận ra được tiếng mời gọi của Chúa thúc dục Sơ phục vụ cho những người nghèo đói khốn khổ. Mẹ Têresa kể lại: “Tôi bắt đầu nhận ra tiếng gọi của Chúa kêu mời tôi săn sóc cho những người bệnh tật và nghèo đói, những kẻ rách rưới và lang thang – thúc dục tôi ban phát tình yêu của Chúa cho các người khốn khổ và bơ vơ. Sự kiện nầy đã mở cửa cho bước đầu phục vụ Bác Ái của đời tôi.”

       Mẹ Têrêsa không chần chờ, đắn đo, và bắt đầu xin phép rời Hội Dòng Loreto để thiết lập một nhà Dòng mới. Ðược Ðức Giáo Hoàng Piô XII cho phép. Và năm 1948, Mẹ Têrêsa, với chiếc áo dòng củ kỷ và một vài đồng lẻ trong túi đã đến sống giữa những người Ấn Ðộ như một người Ấn Ðộ. Ðương nhiên Mẹ Têrêsa cũng chọn màu áo xanh xám có những viền xanh (biểu hiệu cho Thánh Ý của Thiên Chúa) giống như áo Hội Dòng của Mẹ.

       Năm 1952 Mẹ Têrêsa cùng với Hội Dòng Nữ Tu Bác Ái của Mẹ đã bắt tay vào việc. Hội Dòng của Mẹ đã được bản quyền Calcutta cho phép xử dụng ngôi đền Kali đã bị bỏ hoang của Ấn Giáo. Mẹ Têrêsa đã biến nó trở thành Hội Quán Kalighat cho những người nghèo đói đau khổ. Mẹ đã cùng với các cộng tác viên tìm kiếm những người bệnh tật, hấp hối thất thểu ngoài đường phố, đem về săn sóc cho đến ngày họ qua đời. Ðối với những người bệnh tật, Mẹ đã tìm kiếm thuốc thang săn sóc cho họ, đối với những người khổ đau, Mẹ là một nguồn ủi an đem bình an và tình yêu của Chúa đến với họ…

       Năm 1962, Mẹ được giải thưởng đầu tiên về công việc Nhân Ðạo của Mẹ. Năm 1979, được giải thưởng Nobel Hòa Bình. Năm 1985, được trao Huy Chương Tự Do, huy chương dân sự cao quý nhất của Hoa Kỳ. Mẹ đã dùng tất cả những số tiền giải thưởng này để thiết lập thêm nhiều trung tâm khác.

       Ngày 5/9/1997, Mẹ Têrêsa đã được Chúa gọi về, hưởng thọ 87 tuổi. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nâng Mẹ lên hàng chân phước ngày 19 tháng 10 năm 2003, chỉ 6 năm sau ngày qua đời. Mẹ Teresa đã được phong thánh vào ngày 4 tháng 9 năm 2016 do Đức Giáo Hoàng Phanxicô chủ sự.

Sau đây là những câu nói đầy thách thức của Mẹ để lại cho nhân loại trong thời đại hôm nay:

(1) Bạn có thể làm gì để xây dựng hòa bình thế giới? Hãy về nhà và yêu thương gia đình bạn.

(2) Dễ để yêu thương người ở xa, nhưng không dễ yêu thương người xung quanh chúng ta. Dễ cho người đói chén cơm để đỡ cơn đói hơn là làm giảm bớt nỗi cô đơn và đau khỗ của người thân trong gia đình. Hãy mang tình yêu thương về nhà vì đây chính là nơi tình yêu thương nên phát xuất.

(3) Niềm vui chính là sức mạnh.

(4) Cuộc sống nếu như không sống vì người khác thì đó không còn là cuộc sống nữa.

(5) Nếu bạn phán xét người khác, bạn chẳng còn thời gian để yêu thương họ nữa.

(6) Mỗi khi bạn cười với ai đó, đó là một hành động của yêu thương, một món quà, một điều đẹp đẽ.

(7) Hãy tận tâm với những điều nhỏ nhặt, bởi điểm mạnh của bạn nằm ở đó.

Mời bạn chọn 1 câu làm châm ngôn sống cho mình hôm nay nhé.

From: Do Dzung

*****

Kinh Hòa Bình

MẸ TÊRÊSA CALCUTTA – NGƯỜI GẶP CHÚA NƠI NGƯỜI NGHÈO VÀ ĐAU KHỔ – Hồng Thủy – Vatican

Hồng Thủy – Vatican

 Toàn bộ cuộc đời và sứ mạng của Mẹ Têrêsa là một chứng từ sống động về niềm vui của tình yêu thương, cũng như giá trị của những việc nhỏ bé được thực hiện cách trung thành và với tất cả tình yêu. Ngày nay, dấu ấn và sự hiện diện của Mẹ vẫn tiếp tục được thể hiện qua đời sống và hoạt động của các Nữ tu Thừa sai Bác ái, những người đang âm thầm phục vụ người nghèo và những người đau khổ tại nhiều nơi trên khắp thế giới.

 Ngày 4 tháng 9 năm 2016, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên phong Mẹ Têrêsa lên hàng hiển thánh.  Mẹ đã để lại cho thế giới gia sản của tình yêu Kitô giáo.  Ngày nay, gia sản và hoạt động của mẹ vẫn được tiếp tục trên khắp thế giới.

 Mẹ Têrêsa… đã cúi xuống trên những người hấp hối bị bỏ mặc cho chết ở bên vệ đường vì mẹ nhận ra phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ….  Sứ vụ của mẹ ở những khu ngoại ô của thành phố và trong những cảnh đời bị gạt ra ngoài vẫn tồn tại đến ngày hôm nay là chứng tá hùng hồn về sự gần gũi của Thiên Chúa với những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo….  Tôi nghĩ rằng, có lẽ, chúng ta hơi có khó khăn khi gọi mẹ là thánh Têrêsa: sự thánh thiện của mẹ quá gần với chúng ta, quá dịu dàng và tích cực đến nỗi chúng ta ngay lập tức gọi mẹ là Mẹ Terêsa.”  Đó là những lời Đức Thánh Cha Phanxicô nhớ về Mẹ Têrêsa trong Thánh lễ tuyên phong mẹ lên hàng hiển thánh vào ngày Ngày 4 tháng 9 năm 2016.

 Đến với người ở bên lề xã hội

 Một nữ tu bé nhỏ với nụ cười tỏa sáng trong bộ áo sari trắng viền xanh, thường đến các khu phố tồi tàn xuống cấp của thành phố Calcutta để ở gần những người nghèo.  Mẹ luôn đến với tràng hạt Mân côi trong tay, để tìm kiếm và phục vụ Chúa nơi những người không được xã hội quý mến, yêu thương và chăm sóc.

 Chiếm trọn tình yêu của thế giới 

Thế giới nhớ hình ảnh của Mẹ Têrêsa, một nữ tu nhỏ nhắn, mỏng manh trong bộ áo sari trắng viền xanh, nhưng sự vĩ đại của mẹ đã chiếm được trái tim của con người trên toàn thế giới, ngay cả những người không có tín ngưỡng.

 Giải Nobel hòa bình 

Tình yêu và sự ngưỡng mộ mẹ Têrêsa đã vượt qua các biên giới của tôn giáo, đến nỗi xã hội dân sự đã trao tặng mẹ giải Nobel hòa bình năm 1979 vì sự phục vụ người nghèo và với người nghèo.  Trong diễn văn cám ơn nhân dịp này, mẹ đã gửi đến thế giới sứ điệp về việc phá thai với câu nói nổi tiếng: “Nếu một người mẹ có thể giết chết con của mình thì ai có thể ngăn cản con người giết nhau?”  Mẹ đã dấn thân vì sự sống và chống phá thai.  Trong lễ tuyên phong mẹ lên bậc chân phước, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc lại lời của mẹ: “Nếu các con nghe có phụ nữ nào đó không muốn giữ lại đứa con của mình và muốn phá thai, các con hãy tìm cách thuyết phục cô ta trao cho mẹ đứa trẻ sơ sinh.  Mẹ sẽ yêu thương nó khi nhìn thấy nơi nó dấu chỉ tình yêu của Chúa.”

 Thánh Têrêsa Calcutta 

Không đầy hai năm sau khi mẹ qua đời, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cho mở án phong thánh cho mẹ.  Ngày 19 tháng 10 năm 2003, mẹ được tuyên phong chân phước.  Trong bài giảng Thánh lễ, thánh Gioan Phaolô II nói: “Tôi biết ơn cách riêng người phụ nữ can đảm này, người tôi luôn cảm thấy ở gần bên tôi…  Mẹ đã đi bất cứ nơi đâu để phục vụ Chúa Kitô trong những người nghèo nhất giữa những người nghèo.  Ngay cả xung đột và chiến tranh cũng không thể ngăn cản mẹ…  Mẹ đã chọn không chỉ là người bé nhỏ nhất nhưng là nữ tỳ của những người bé nhỏ nhất…  Sự vĩ đại của mẹ ở nơi khả năng trao tặng mà không tính toán chi phí, trao tặng hết sức mình.  Cuộc sống của mẹ là một cách sống hết mình và là lời loan báo Tin mừng mạnh mẽ.”

 Gia sản tình yêu Kitô giáo

 Toàn cuộc sống và hoạt động của Mẹ Têrêsa làm chứng về niềm vui yêu thương  và giá trị của của những điều bé nhỏ nhưng được thực hiện cách trung thành và với tình yêu. Ngày nay, những dấu chỉ về sự hiện diện của mẹ tỏ hiện qua hoạt động của các Nữ tu Thừa sai Bác ái đang thực hiện trên khắp thế giới.

 Hồng Thủy – Vatican

 From: Langthangchieutim


 

ĐIỆP VIÊN PHẠM XUÂN ẨN – XIN ĐỪNG CHÔN TÔI GẦN NGƯỜI CỘNG SẢN…

Việt Luận – Viet’s Herald

David DeVoss

Người gián điệp và nhà báo trầm lặng – Phạm Xuân Ẩn và cuộc đời hư thực.

Phạm Xuân Ẩn, phóng viên chiến tranh tài hoa của tạp chí Time bí mật làm gián điệp cho Hà Nội vừa qua đời ngày 20 tháng 9, 2006. Những lời cáo phó rất tử tế. Người ta nhớ đến Ẩn như một nhà báo ưu tú, ban ngày viết cho Time, ban đêm gởi mật mã và microfilm cho Việt Cộng đang quanh quẩn ở các khu rừng ngoại thành Sài Gòn.

Nhưng lời cáo phó còn thiếu, không đề cập đến việc Ẩn – người mà Hà Nội đã công kênh thành “Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân” – chán ghét cái chế độ chính trị mà ông đã giúp cướp được chính quyền.

Tôi gặp Phạm Xuân Ẩn lần đầu vào năm 1972, khi vừa bước chân đến Việt Nam, năm mới 24 tuổi làm phóng viên chiến trường cho Tạp chí Time. Lúc ấy, Ẩn là một huyền thoại, một tay phong lưu vui tính được mệnh danh là “Tướng Givral” theo tên tiệm bán bánh và cà phê nổi tiếng trên đường Tự Do nơi ông thường lui tới.

Mọi người đều tin tưởng Ẩn bất kể không khí ngờ vực phủ kín Sài Gòn thời đó. Khi cuộc chiến đột ngột chấm dứt cuối tháng tư 1975, gia đình Ẩn và các nhân viên khác của tạp chí Time muốn chạy thoát đều được di tản trong khi Ẩn ở lại tiếp tục làm việc cho Time tại Sài Gòn.

Screenshot

Ẩn điện về New York: “Tất cả phóng viên người Mỹ đã được di tản vì tình trạng khẩn trương, Văn phòng tạp chí Time hiện do Phạm Xuân Ẩn điều động”. Time tán dương quyết định ở lại của Phạm Xuân Ẩn và đăng hình ông, với vẻ căng thẳng, đứng hút thuốc giữa con phố vắng ở Sài Gòn.

Tôi gặp gia đình của Ẩn ở trại tị nạn Pendleton tại California và giúp đưa họ về Arlington, Virginia để định cư ở đó. Cuối cùng, sau một năm im lặng, vợ của Ẩn nhận được điện tín bảo bà phải trở lại Việt Nam. Dù lòng đầy lo âu và nghi ngại, vợ Phạm Xuân Ẩn đã quay về theo lệnh. Đưa gia đình về lại Việt Nam xác định lòng trung thành với chính quyền cộng sản nhưng Ẩn vẫn phải đi học tập cải tạo 10 tháng ở Hà Nội (Theo Lâm Lễ Trinh, tháng 8/1978 Ẩn phải đi học tập mười tháng tại Viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, một loại trại tẩy não về chủ nghĩa Mác-Mao dành cho cán bộ trung và cao cấp).

Năm 1979, tôi trở lại Việt Nam. Đây là chuyến đầu trong suốt 24 lần tôi đến đây trong 5 năm năm liền. Việc đi lại giữa Sài Gòn của một ký giả ngoại quốc không phải là chuyện dễ trong khoảng thời gian đó, nhưng cuối cùng tôi đã thực hiện được vào năm 1981.

Thành phố, Sài Gòn mà tôi biết, lúc ấy rất ảm đạm, lạnh lùng. Khách sạn đầy những “người Mỹ không đô la” (dân Việt Nam gọi người Đông Đức, người Bulgary, người Nga như thế). Công an theo sát bước của tôi đến mọi nơi mọi chỗ. Hàng ngàn người (miền Nam) Việt Nam không được việc làm vì có liên hệ với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đang vượt biển bỏ lại quê hương. Những người ở lại phải bán dần gia sản để sinh tồn.

Mục đích của tôi là đi tìm Ẩn, nhưng đây không phải chuyện dễ làm. Tất cả bản đồ Sài Gòn cũ đã bị tịch thu, đốt bỏ. Những con đường lớn đã đổi tên.

Nhà vẫn có số đấy, nhưng chúng không theo một thứ tự nào khiến không thể tìm nhà được dù có địa chỉ trong tay. Cuối cùng, trong tuyệt vọng, tôi hối lộ quan chức Hà Nội bằng thuốc bổ và tã cho trẻ con mua ở Bangkok và tôi được số điện thoại của Ẩn. Tôi gọi Ẩn. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở chợ chim, Ẩn nói: “Tôi sẽ dẫn theo con chó của tôi”.

Ẩn cũng dặn tôi không được nói hay làm gì khi thấy nhau vì công an đang theo dõi. Dường như, đến ngay cả anh hùng, người chỉ huy cả lực lượng tình báo ngoại giao, cũng không thoát khỏi lưới theo dõi. Chợ chim thực ra là lề đường (Huỳnh Thúc Kháng) hai bên chồng chất hàng trăm lồng chim, người mua để thả đi lấy phúc hay nuôi làm chim cảnh. Ẩn đến, dắt theo con béc-giê, chỉ gật đầu khi đi qua mặt nhau. Ẩn và tôi lên hai cái xích lô khác nhau của hai người lính cũ miền nam nghèo khổ. Tôi theo anh ấy về nhà.

Khi đã ở trong nhà, Ẩn bày tỏ nỗi buồn nản, thất vọng ê chề trước hoàn cảnh đất nước của anh. Ẩn thở dài:

– Tại sao tham gia cả cuộc chiến chỉ để thay người Mỹ bằng người Nga?

Ẩn cũng cho tôi biết, đã hai lần anh đưa gia đình vượt biển, đi trốn và thất bại. Lần đầu, tàu hư máy. Lần thứ hai, người lái tàu không đến, dù tàu tốt, đủ sức vượt biển. Trốn đi bây giờ lại càng khó hơn nhiều, anh nói, vì con trai Ẩn sắp được gởi đi học ở Moscow. Ẩn yêu cầu tôi sang Singapore tìm gặp một người Hoa bí ẩn, nếu được trả đúng giá, sẽ tổ chức cuộc vượt biển. Ẩn nói anh tuyệt vọng rồi.

Tôi viết một thư dài cho Time và gởi phó bản cho tất cả phóng viên của Time đã một thời phục vụ tại Việt Nam. Dự án khá nguy hiểm vì tiếng tăm của Ẩn, tôi viết. Một tướng nổi tiếng và gia đình đi trốn, làm xấu mặt đảng CSVN, nếu thất bại chắc chắn họ sẽ xử tử. Tôi cảnh báo Time đừng làm những gì có thể xảy ra ngoài tầm kiểm soát của mình.

Time quyết định không tham dự vào dự án đưa người đi trốn

đầy nguy hiểm. Người tị nạn, vượt biển đã đang là mồi ngon cho hải tặc ở vịnh Thái Lan. Tàu đánh cá Thái Lan đâm vào, đánh chìm thuyền người tị nạn, chỉ vớt những thiếu nữ làm đồ tiêu khiển, làm hàng đổi chác giữa các đoàn thuỷ thủ đến khi nạn nhân chết hay phải tự sát. Đây là một quyết định rất khó khăn chúng tôi phải chấp nhận, nhưng tôi hay bất cứ ai khác ở Time đều không có kinh nghiệm đối đầu với quân hải tặc và khả năng rủi ro cho thuyền vượt biển rất lớn trong tình cảnh lúc bấy giờ.

Ẩn ở lại Việt Nam, chờ một ngày sáng sủa hơn. Cuối cùng, ngày ấy đến năm 1986 với chương trình Đổi mới của Hà Nội. Tôi quay lại Việt Nam thăm Ẩn và vợ anh, Nguyễn Thị Thu Nhạn, giữa thập niên 1990 và thấy cả hai có vẻ lạc quan hơn. Đúng như Ẩn lo ngại, con trai anh, Phạm Xuân Hoàng bị gởi đi Moscow, nhưng sau đó lại được phép đi sang North Carolina và cuối cùng tốt nghiệp luật ở Đại học Duke University. Dù được tập đoàn luật sư nước ngoài thuê làm việc với lương 4.000 USD/tháng, nhưng Phạm Xuân Hoàng làm việc cho Sở Quan hệ Ngoại giao ở thành phố Hồ Chí Minh với số lương 200 USD/tháng. Không như bố, Hoàng không phải là đảng viên đảng cộng sản.

Ngày Ẩn mất, được an táng tại nghĩa trang Sài Gòn theo lời yêu cầu sau cùng của Ẩn:

“Đừng chôn tôi gần người cộng sản”…

Trà Mi lược dịch 


 

Mùa ấy — có lẽ tôi đã gặp lại chính mình – Duy Khang 

Khang Duy Nguyen is at Hermann Park Centennial 

Tháng Chín gõ cửa bằng một cơn mưa thu mềm như lụa, lăn nhẹ qua mái hiên rồi đọng lại trên những vạt lá còn xanh. Cơn mưa đầu mùa không còn cái ồ ạt, xối xả của những ngày hạ chói chang, cũng chưa mang theo cái rét buốt của mùa đông. Nó đến dịu dàng, chầm chậm, rào rạt như một lời thì thầm, cuốn đi phần nào những bộn bề và khói bụi còn vương trên vai người.

Screenshot

Những ngày đầu Thu đã khẽ chạm ngõ Texas. Thế nhưng, sống ở Texas, đôi khi thật khó nhận ra một mùa Thu đang về. Khí hậu nơi đây vốn thất thường; cái nóng của mùa Hạ có thể vẫn còn đó, trong khi một buổi sớm nào đó, gió đã bất chợt trở nên dịu hơn, bầu trời cao hơn và lòng người cũng chợt chùng xuống.

Tản bộ qua một góc phố quen, nhấp một ngụm cà phê ấm, tự nhiên ta thấy lòng mình chùng xuống một nhịp. Tháng Chín chạm vào đất trời bằng chút se lạnh dịu êm, khiến con người dễ lắng lại, dễ bao dung hơn với những điều đã qua và rộng mở hơn với những gì đang đến.

Tiếng mưa rơi rào rạt trên mái hiên, tưởng như một bản hòa tấu trầm lắng của đất trời. Nó ru dịu những lo toan, xoa mềm những góc lòng đã từng tổn thương, để ta nhận ra rằng có những bình yên không cần phải tìm kiếm ở đâu xa.

Giữa dòng đời vốn quá vội vàng, đôi khi chỉ cần ngồi yên bên khung cửa, nghe mưa rơi và nhấp một ngụm cà phê nóng, ta đã có thể tìm lại một chút an nhiên cho chính mình. Chẳng cần đọa đày mình trong những cuộc đua phù hoa, bởi bình yên đôi khi chỉ là một quãng lặng rất nhỏ — nơi lòng mình vẫn còn đủ ấm để đi qua những giông bão đã từng.

Thứ 6 tan sở sớm……Một mình lái xe và tản bộ qua Rice University, rồi men theo những con đường quen thuộc về phía Hermann Park và khu Museum District. Đó là một phần Houston mà tôi đã quá quen thuộc sau hơn ba mươi năm sống nơi này.

Những hàng cây vẫn đứng đó. Mặt hồ vẫn phẳng lặng dưới ánh nắng nhạt. Một vài chiếc lá khẽ rời cành, rơi xuống mặt nước rồi trôi đi rất chậm. Có chút gió mát len qua những tán cây, mang theo mùi cỏ và hơi ẩm của đất. Houston buổi trưa nay bỗng trở nên hiền lành đến lạ.

Tôi ngồi xuống bên một góc hồ, chợt nghĩ:

“Thu là thơ của đất trời, thơ là thu của lòng người.”

Có lẽ bởi vậy mà mùa Thu luôn khiến người ta dễ lắng lòng hơn. Một cơn gió nhẹ, một chiếc lá rơi, một buổi chiều vàng hay tiếng mưa ngoài hiên cũng đủ đánh thức một điều gì đó tưởng đã ngủ quên rất lâu.

Và rồi, cơn mưa trưa hôm nay  đến bất chợt sau những ngày dự báo cơn bão đánh vội vào biên giới giữa tiểu bang Louisiana và Texas mang theo những trận mưa và lụt lội phía Đông Bắc Houston.

Tôi đứng bên khung cửa office nhìn ngắm, và nghe mưa rơi xuống mái hiên và những tán cây ngoài sân. Thành phố đang vội vã bỗng chậm lại. Những con đường ướt,  cây cối rung lên trong gió, còn tiếng mưa cứ đều đều rơi như một bản nhạc cũ.

Không hiểu vì sao, tiếng mưa hôm ấy lại khiến tôi nhớ.

Có lẽ trong ký ức của mỗi người, những cơn mưa luôn giữ một vị trí rất riêng.

Tôi nhớ những ngày còn trẻ, Nước mưa chảy trên mái tóc. Những hạt mưa li ti đọng trên hàng mi. Một ánh mắt, một nụ cười, một bàn tay khẽ đưa lên che mưa…

Những điều tưởng như thật nhỏ bé ấy, qua năm tháng, lại trở thành những hình ảnh dịu dàng nhất của một thời tuổi trẻ.

Có những cơn mưa đã đi qua từ rất lâu. Người xưa có thể đã ở một nơi rất xa. Con đường cũ có thể đã thay đổi. Nhưng chỉ cần một ngày nghe tiếng mưa rơi, tất cả bỗng trở về — rất nhẹ, rất gần, như thể thời gian chưa từng đi qua.

Có lẽ ký ức là như thế. Nó không cần một lời gọi. Chỉ một giai điệu cũ, một mùi hương quen, một cơn mưa đầu mùa… cũng đủ mở lại một cánh cửa mà ta tưởng mình đã khép từ lâu.

Chiều xuống ở Hermann Park.

Sau cơn mưa, ánh mặt trời cuối ngày xuyên qua những tán cây, rót xuống mặt hồ một màu vàng nhạt. Cỏ cây còn đẫm nước. Không khí mang theo mùi đất ẩm và hương xanh của lá. Tôi đứng lặng nhìn những chiếc lá cuối mùa khẽ rơi, chợt nghe rõ hơn bước đi của thời gian.

Hơn ba mươi lăm năm đã trôi qua.

Những hàng cây này vẫn còn đó, nhưng thành phố đã khác. Người đi qua những con đường này cũng đã khác. Và tôi — dĩ nhiên — cũng không còn là tôi của những ngày đầu đặt chân đến Houston.

Ngày trước, tôi đi qua những nơi này để đến một nơi nào đó.

Bây giờ, đôi khi tôi đi chỉ để… đi.

Để nhìn một mặt hồ.

Để nghe tiếng gió.

Để ngồi yên một lúc giữa một thành phố luôn chuyển động.

Có lẽ càng đi qua nhiều năm tháng, người ta càng hiểu rằng hạnh phúc không phải lúc nào cũng nằm ở những điều lớn lao. Đôi khi, nó chỉ là một buổi trưa cuối tuần bình yên, một tách cà phê nóng, một cơn mưa bất chợt… và trong khoảnh khắc ấy, ta nhận ra lòng mình vẫn còn biết rung động.

Tôi cũng nhớ những mùa Trung Thu của một thời rất xa.  Những chiếc đèn ông sao, tiếng trống múa lân, những chiếc bánh Trung Thu và con đường làng ngập ánh trăng. Khi còn nhỏ, ta chỉ nghĩ đó là những ngày bình thường. Mãi đến khi lớn lên, đi xa quê hương, ta mới hiểu: đó chính là những năm tháng đẹp nhất của đời mình.

Có những điều chỉ khi mất đi khoảng cách, ta mới nhìn thấy hết giá trị của nó.

Có lẽ vì vậy mà tôi yêu những bài thơ về mùa Thu, yêu những giai điệu viết về một thời đã xa. Không phải chỉ vì Thu đẹp, mà bởi trong cái đẹp ấy luôn có một chút buồn — thứ nỗi buồn rất nhẹ của một người đã đi qua nhiều năm tháng và biết rằng có những điều không thể trở lại.

Houston hôm nay vẫn là Houston của những con đường quen thuộc, những hàng cây, những mặt hồ và những cơn mưa bất chợt.

Chỉ có người đứng nhìn đã khác.

Tôi đứng giữa một buổi chiều tháng Chín, nghe tiếng lá rơi và tiếng mưa còn sót lại đâu đó trong ký ức. Bỗng nhận ra điều làm mình xúc động không hẳn là mùa Thu đang về, mà là những năm tháng đã từng đi qua đời mình — những con người, những con đường, những cuộc gặp gỡ và những yêu thương tưởng đã ngủ yên.

Thời gian không lấy đi tất cả.

Nó chỉ đưa mọi thứ vào một nơi sâu hơn trong lòng người.

Để rồi một ngày, giữa Houston xa xôi, chỉ cần một cơn mưa tháng Chín rơi xuống mái hiên, một giai điệu cũ vang lên, hay một chiếc lá vàng lặng lẽ rơi bên mặt hồ…

Ta lại gặp một phần của chính mình.

Có những mùa đi qua đất trời.

Có những mùa đi qua đời người.

Và có những mùa, dù đã rất xa, vẫn mãi ở lại trong tim.

Mùa ấy — có lẽ tôi đã gặp lại chính mình.

Houston, ngày cuối tuần mưa bão.

Duy Khang 


 

Đức tin là gì? – Cha Vương

Thứ Sáu rồi bạn ơi! Cuộc đời đã ngắn ngủi rồi đừng làm cho nó ngắn thêm qua việc lãng phí thời gian nhé. Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới nữa nhé

Cha Vương

Thứ 6: 4/9/2026.     (t4-24)

GIÁO LÝ: Đức tin là gì? Là nhân đức giúp ta đi lên tới Thiên Chúa, trông cậy ở Thiên Chúa, nhận biết sự thật của Người, và hiến thân mình cho Người. (YouCat, số 307)

SUY NIỆM: Đức tin là con đường Thiên Chúa làm để dẫn ta đến sự thật, là chính Thiên Chúa. Vì Chúa Giêsu là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (Ga 14,6), đức tin không thể chỉ là một thái độ đơn thuần, một “tin tưởng” vào sự gì đó. Một đàng đức tin bao gồm những dữ kiện chính xác: Hội thánh tuyên xưng trong kinh Tin Kính, và có trách nhiệm gìn giữ. Ai đón nhận ơn đức tin, nghĩa là muốn tin, thì tự mình tuyên bố theo đức tin đã được trung thành gìn giữ qua mọi thời và mọi nền văn hóa. Đàng khác, tin cũng là dấn thân vào một quan hệ cậy trông với Chúa, hết lòng hết trí khôn, hết sức lực hữu hình của mình. Vì điều quan trọng là “đức tin hành động nhờ đức ái” (Gl 5,6). Không phải qua những lời nói hay mà ta biết người nào tin Chúa thật, nhưng là xem các hành động tình yêu của họ.

Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.—Ga 14,12

❦ Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy. 1 Ga 2,4 (YouCat, số  307 t.t.)

LẮNG NGHE: Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. (Mt 10:32.33)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa, xin thêm lòng tin cho chúng con!”, xin tuôn độ Thánh Thần tình yêu xuống đầy tâm hồn con, để con có sức nhổ tận gốc tất cả những nghi nan và sống bằng lòng trung thành với Chúa cho đến cùng.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm kinh Tin Kính

From: Do Dzung

*****

Tôi Tin – Nguyễn Hồng Ân

 Gần 40% số nhạc được phát hành trên toàn cầu vào tháng 7 năm 2026 sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tạo âm nhạc vẫn là một chủ đề gây tranh cãi và những số liệu gần đây xác nhận rằng sự bùng nổ của các bản nhạc được tạo ra bằng AI không hề giảm bớt. Tệ hơn nữa, một số nghệ sĩ đang ngày càng cởi mở hơn về việc sử dụng công nghệ gây tranh cãi này.

Đây là một tin chắc chắn sẽ khiến nhiều người rơi nước mắt: Khi âm nhạc do AI tạo ra tiếp tục tràn ngập các nền tảng phát trực tuyến, một nghiên cứu mới đã tiết lộ rằng gần 40% âm nhạc mới được phát hành trên toàn cầu vào tháng 7 năm 2026 đã sử dụng AI trong quá trình sáng tạo.

Con số đáng báo động đó đến từ một cuộc khảo sát mới của SubmitHub , một nền tảng trực tuyến cho phép người dùng gửi nhạc vào danh sách phát và blog. Họ đã phân tích hơn một triệu bản nhạc và sử dụng công cụ phát hiện AI riêng của mình, SH Labs, để tìm ra rằng 23,2% trong số đó hoàn toàn do AI tạo ra.

Ngoài ra, người ta phát hiện ra rằng 15,3% số nhạc được phát hành tháng trước đã sử dụng các yếu tố âm thanh do AI tạo ra nhưng đã được con người “chỉnh sửa hoặc xử lý”. Điều này có nghĩa là tổng cộng 38,5% số nhạc được phát hành tháng trước có sự tham gia của AI.

SubmitHub được SH Labs ra mắt vào đầu mùa hè năm nay nhằm mục đích làm nổi bật “vấn đề tiết lộ thông tin ngày càng gia tăng” liên quan đến trí tuệ nhân tạo trong âm nhạc. Công cụ phát hiện AI của họ đang được Bandcamp và Traxsource sử dụng để phát hiện việc sử dụng AI trong âm nhạc, cũng như GEMA, tổ chức bản quyền biểu diễn vừa thắng một vụ kiện mang tính bước ngoặt chống lại nền tảng tạo nhạc bằng AI Suno .

Trong một tuyên bố, người sáng lập SubmitHub, Jason Grishkoff, cho biết: “Tôi nghĩ con đường phía trước cho âm nhạc do AI tạo ra là sự minh bạch. Mọi người nên được tự quyết định xem họ có muốn tương tác với âm nhạc do AI tạo ra hay không.”

Ông nói thêm: “Nhiệm vụ của chúng tôi là cung cấp cho họ đủ thông tin để họ đưa ra lựa chọn đó.”

Những số liệu gần đây được cập nhật sau thống kê mới từ Deezer , cho thấy các bản nhạc do AI tạo ra chiếm hơn một nửa tổng số lượt tải lên mới mỗi ngày trong tháng Sáu. Chúng cũng phù hợp với một nghiên cứu năm 2025 cho thấy 97% người dùng “không thể phân biệt được giữa nhạc thật và nhạc do AI tạo ra” .

Một số tổ chức cuối cùng cũng bắt đầu nhận ra những lo ngại của các nghệ sĩ và người yêu nhạc thực thụ về chất lượng âm thanh AI kém cỏi được cung cấp trên các nền tảng phát trực tuyến.

Ví dụ, Bandcamp đã cấm tất cả nhạc do AI tạo ra vào đầu năm 2026, tuyên bố rằng họ “có quyền xóa bất kỳ bản nhạc nào nếu nghi ngờ được tạo ra bằng AI”, trong khi gã khổng lồ phát trực tuyến Spotify gần đây đã thông báo rằng họ sẽ bắt đầu thêm huy hiệu “AI Persona” vào một số hồ sơ nghệ sĩ , giúp người nghe nhận biết khi nào nhạc của một nghệ sĩ có thể được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo. Sáng kiến ​​này sẽ bắt đầu vào tháng 9.

Trong khi các nghệ sĩ từ Kate Bush đến Brian May của Queen đã lên tiếng về cuộc khủng hoảng hiện sinh mà AI gây ra cho giới sáng tạo, khẳng định rằng “việc sử dụng trái phép các tác phẩm sáng tạo để huấn luyện AI tạo sinh là một mối đe dọa lớn và bất công đối với sinh kế của những người đứng sau các tác phẩm đó”, thì cũng có một số người sáng tạo đã có cách tiếp cận đơn giản hơn đối với việc sử dụng công nghệ gây tranh cãi này.

Luke Steele của ban nhạc Empire Of The Sun gần đây thừa nhận anh sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để sáng tác nhạc; Boy George cho biết anh đã sử dụng AI để viết ca khúc reggae ủng hộ Israel đầy gay gắt “We Will Dance Again” (điều này cuối cùng dẫn đến việc ca khúc bị xóa khỏi Bandcamp vì vi phạm quy tắc về AI); và một nghệ sĩ gần đây gây ra sự phẫn nộ trong giới nghệ sĩ là rapper người Mỹ Tyga.

Nam rapper thừa nhận anh đã sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như một “công cụ” trong album mới (và bị giới phê bình chê bai) của mình, ‘$tarface’. Tyga đã sử dụng AI để tạo ra âm thanh synth mang hơi hướng cổ điển trong album của mình, và coi nó như một “công cụ” “không khác gì so với khi Auto-Tune mới ra đời”.

Tuy nhiên, album này đã bị giới phê bình chỉ trích dữ dội, với Pitchfork chấm điểm thấp nhất là 0/10, mô tả ‘$tarface’ là “tự mãn, tự phụ và u ám” và “sự tồn tại của nó đã khiến thế giới trở nên tồi tệ hơn.”

Nhiều nghệ sĩ đã lên tiếng chỉ trích Tyga – trong đó có Doja Cat, người đã nói thay cho nhiều người yêu nhạc khi gọi anh ta là “thằng khốn nạn vì làm ra album về trí tuệ nhân tạo”.

Đối với một số người, đó là một công cụ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng; đối với những người khác, đó là một trò lừa đảo hoàn toàn.

Một dấu hiệu nữa cho thấy một số nhà sáng tạo nội dung đang ngày càng thoải mái/trơ tráo hơn trong việc chấp nhận những thứ “lố bịch” từ AI là việc nhà sản xuất âm nhạc kiêm rapper người Mỹ Timbaland đã ra mắt một dự án “A-Pop” có tên Stage Zero và ký hợp đồng với nghệ sĩ đầu tiên, TaTa, người mà anh mô tả là “một nghệ sĩ âm nhạc sống động, biết học hỏi và tự chủ được xây dựng bằng AI.”

Những ví dụ này và các số liệu gần đây, cùng với “âm nhạc” đáng sợ do các sản phẩm trí tuệ nhân tạo như Tilly Norwood , Velvet SundownBreaking Rust tạo ra – những sản phẩm cạnh tranh với các nghệ sĩ thực thụ về thời gian nghe cũng như tiền bản quyền – cho thấy một điều rõ ràng. Chúng ta vẫn chưa thoát khỏi “rừng rậm” của âm nhạc nhân tạo.

From: taberd & NguyenNThu


 

Độc tài ở đâu cũng vậy!

K75 LƯƠNG VĂN CANThanh Hung

Độc tài ở đâu cũng vậy!

Tháng 4 năm 2022, Masha Moskalyova, một cô bé 12 tuổi người Nga, được yêu cầu vẽ một bức tranh ủng hộ quân đội Nga tại Ukraine trong giờ học mỹ thuật.

Thay vào đó, cô bé đã vẽ một người mẹ Ukraine đang bảo vệ con mình trước những quả tên lửa của Nga đang lao tới.

Trên lá cờ Ukraine, cô bé ghi: “Vinh quang cho Ukraine.” Trên lá cờ Nga: “Phản đối chiến tranh. Phản đối Putin.”

Nhà trường đã báo cáo cô bé với chính quyền.

Cảnh sát bắt đầu điều tra cha cô, ông Alexei Moskalyov, một người cha đơn thân đã một tay nuôi dạy Masha từ nhỏ. Họ lục soát tài khoản mạng xã hội của ông và phát hiện nhiều bài đăng chỉ trích cuộc xâm lược của Nga và ghi lại những tội ác của quân đội Nga tại Bucha.

Tháng 12 năm 2022, khoảng một chục nhân viên an ninh Nga đã đột kích vào nhà của họ. Họ lục tung nhà cửa, tịch thu máy tính, điện thoại và toàn bộ tiền tiết kiệm.

Alexei sau đó kể lại rằng trong quá trình thẩm vấn, các sĩ quan đã đánh đập và đập đầu ông vào tường và sàn nhà. Họ bật quốc ca Nga hết công suất trong lúc tra hỏi ông.

Cuối cùng, chế độ này đã buộc tội ông vì nhiều lần “làm giảm uy tín” quân đội Nga thông qua các bài đăng phản chiến trên mạng xã hội.

Masha bị tách khỏi cha và đưa vào một trung tâm “phục hồi xã hội” của nhà nước.

Alexei bị tuyên án hai năm tù tại một trại cải tạo.

Sau đó, ông đã mô tả những điều kiện khắc nghiệt ở đó: một phòng giam phạt nhỏ hẹp chỉ dài khoảng hai mét, nhiệt độ băng giá, chuột bò ra từ cống rãnh, và những ngày ông bị buộc phải đứng suốt 16 tiếng đồng hồ vì giường ngủ bị khóa chặt vào tường.

Trong khi đó, con gái ông đã viết thư cho ông.

“Bố ơi, đừng bỏ cuộc.”

“Bố là chiếc anh hùng của con.”

Họ đã bị chia cắt hơn một năm rưỡi.

Ngày 15 tháng 10 năm 2024, Alexei cuối cùng cũng bước ra khỏi tù.

Masha đã đứng chờ ông.

Năm ngày sau, họ chạy trốn khỏi Nga.

Đầu tiên, họ trốn sang Armenia và nộp đơn xin thị thực nhân đạo của Đức. Sau hơn một năm chờ đợi, hồ sơ của họ bị đình trệ khi Đức tạm dừng chương trình tiếp nhận nhân đạo liên quan.

Sau đó, Pháp đã can thiệp.

Tháng 3 năm 2026, Masha và Alexei nhận được thị thực nhân đạo của Pháp và bay đến Paris.

Vào ngày 17 tháng 7 năm 2026, Pháp đã chính thức cấp quyền tị nạn chính trị cho họ.

Ngày nay, Masha đã tiếp tục vẽ tranh và hy vọng sẽ đuổi theo con đường nghệ thuật. Cô bé cũng viết lách và đã lên tiếng ủng hộ các tù nhân chính trị Nga.

Khi được hỏi liệu biết trước mọi chuyện xảy ra sau đó, cô bé có còn vẽ bức tranh ấy nữa không, Masha nói rằng cô bé vẫn sẽ làm.

“Đời người chỉ sống một lần.”

Chỉ một bức tranh.

Một đứa trẻ nói không với chiến tranh.

Và vì điều đó, nhà nước Nga đã phá hủy ngôi nhà của họ, chia cắt hai cha con, bỏ tù người cha và đẩy cả hai vào cảnh lưu vong.

Đây chính là bộ mặt của chế độ độc tài.

(Nguồn: Le Monde, Reuters, Euronews, Meduza, DW) 


 

HAI MỐI TÌNH  “VÒNG TAY HỌC TRÒ” – Vương Trùng Dương

Kimtrong Lam

HAI MỐI TÌNH  “VÒNG TAY HỌC TRÒ”

Vương Trùng Dương

Nguyễn Thị Hoàng sinh năm 1939, tại Huế. Học trung học Đệ Nhất Cấp ở trường Ðồng Khánh, Huế.  Năm 1957 gia đình chuyển vào Nha Trang, học trường trung học Võ Tánh Nha Trang. Năm học lớp Đệ Nhị xảy ra mối tình với nhà văn, nhà giáo Cung Giũ Nguyên, lớn hơn ba mươi tuổi. Hậu quả sinh con gái đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng, chuyển cho bà Nguyên nuôi vì bà không có con.

Gia đình kiện ông Nguyên tội dụ dỗ gái vị thành niên. Trước toà, Nguyễn Thị Hoàng đứng ra nhận trách nhiệm: “không hề bị dụ dỗ”, vị giáo sư được trắng án. Vụ án nầy xôn xao dư luận ở Nha Trang và báo chí ở Sài Gòn khai thác tối đa mối tình thầy trò, tuổi tác so le!

Screenshot

Mối tình của Nguyễn Thị Hoàng và Mai Tiến Thành xảy ra khi cô giáo Nguyễn Thị Hoàng ở Đà Lạt. Bà sống cô đơn trong ngôi nhà lớn (trên lầu), thuê của Linh Mục người Pháp gần như hoang phế và cậu học trò (nhỏ hơn khoảng sáu tuổi) ở trọ tấng dưới, kết quả, theo nhà văn Thụy Khê: “Sanh con gái Mai Quỳnh Chi (giao cho mẹ của Thành nuôi)” nhưng sau Thành mang về cho chị Điệp nuôi.

Và từ Vòng Tay Học Trò, Mai Tiến Thành cũng viết cuốn Tiếng Nói Học Trò. (Mai Tiến Thành nhập ngũ và phục vụ ở Quân Đoàn II, qua đời tháng 10 năm 2008 tại Little Saigon)

Thực tế trải nghiệm từ hai mối tình học trò vụng trộm, nên Vòng Tay Học Trò  của Nguyễn Thị Hoàng lần đầu ra mắt năm 1966, trở thành “quả bom” chấn động văn đàn miền Nam. Nhiều tờ báo lúc ấy nhận xét sách về mối tình cô giáo – học trò là “đồi trụy”, khiến tác giả lao đao thời gian dài.

Dù nhận các tác phẩm của bà phần lớn được sinh ra từ trải nghiệm và quá trình sống nhiều lúc đau khổ, nhiều lúc thăng hoa, Nguyễn Thị Hoàng khẳng định không viết văn để gửi gắm điều gì đó.

Trải qua hai mối tình “vụng trộm” lãng mạn, Nguyễn Thị Hoàng chính thức kết hôn với giáo sư Nguyễn Phúc Bửu Sum (gốc Huế, cùng tuổi, qua đời năm 2022) đã có 5 người con. Năm 1967, hai người lập nhà xuất bản Hoàng Ðông Phương, nhưng ông trốn quân dịch về lục tỉnh trốn ẩn, ở Long Xuyên, nơi hẻo lánh, lập Trại Ðá Mềm…. bà ở Sài Gòn.

Screenshot

Trong quyển Vào Nơi Gió Cát của Nguyễn Thị Hoàng đề cập đến trường hợp nầy. Theo nhà văn Nguyễn Văn Lục “Thời VNCH, Bửu Sum trốn lính, rồi bị bắt, trở thành lao công đào binh, bị đầy ra Quảng Ngãi. (Nguyễn Thị Hoàng, ngoài việc nuôi chồng ẩn náu, còn phải chăm sóc đàn con 5 đứa, lo việc nhà, việc cơm nước. Đó là những giai đoạn vất vả và đầy nước mắt”.

Vào thời lập nhà xuất bản Nguyễn Thị Hoàng ấn hành rất nhiều tác phẩm và là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng như Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Lệ Hằng.

Trong giai đoạn vinh quang của người cầm bút thì Nguyễn Thị Hoàng chấp nhận thương đau “phận đàn bà” khi lập gia đình!

Theo nhà văn Vũ Ngọc Tiến “Sau năm 1975, chị cùng gia đình đi kinh tế mới rồi mưu sinh ở Suối Dầu, tỉnh Khánh Hòa ba năm”. Trở lại Đà Lạt, sống ẩn dật, theo người bạn cho biết, bà hút thuốc liên tục và thích uống rượu giải sầu.

Năm 1990 bà xuất hiện với tác phẩm Nhật Ký Của Im Lặng. Năm 2020, ấn hành tập thơ Mây Bay Qua Trời Xưa và văn với Trên Thiên Đường Ký Ức. Rồi từ đó, bà hiển hiện trong những lần trò chuyện ở Sài Gòn. Có dịp sang Pháp và lần nầy sang Mỹ. Mừng cho bà trong tuổi cuối đời tìm được niềm vui.

Vương Trùng Dương


 

XÓT XA TẠI ĐỒNG NAI

Hội Thích Nghe Cha Lm. GB Phương Đình Toại – TGP Sài Gòn

XÓT XA TẠI ĐỒNG NAI

Một gia đình nhỏ quê Nghệ An đã gặp phải thảm kịch đau lòng khi bị sát hại vào lúc nửa đêm.

Đau đớn hơn, 3 mẹ con đã không qua khỏi. Người bố may mắn đã qua cơn nguy kịch.

Chỉ trong một đêm kinh hoàng, 3 sinh mạng đã bị cướp đi, để lại nỗi đau quá lớn cho gia đình, người thân và quê hương.

Cầu mong người bố sớm hồi phục để có đủ sức khỏe vượt qua nỗi đau quá lớn này.

Xin được gửi lời chia buồn sâu sắc nhất đến gia đình và cầu mong các nạn nhân được an nghỉ.

Xin Chúa đón nhận các linh hồn sớm được nghĩ yên trong Chúa..

Nguồn: Thanh Lê


 

Mừng kính Thánh Grêgôriô Cả (540-604), Tiến Sĩ Hội Thánh. – Cha Vương

Chúc bạn và gia đình một ngày tươi vui bình an trong Chúa nhé. Hôm nay 03/09, Giáo Hội mừng kính Thánh Grêgôriô Cả (540-604), Tiến Sĩ Hội Thánh. Mừng ai chọn ngài làm quan thầy nhé đừng quên cầu nguyện  cho nhau và thể’ giới được bình an cùng những nạn nhân thiên tai ở Nepal  

Cha Vương

Thứ 5: 3/9/2026

Trong cuộc đời Thánh Grêgôriô Cả, sự nghiệp của ngài càng ngày càng lẫy lừng. Ngài là trưởng thánh bộ Rôma trước khi 30 tuổi. Năm năm sau đó, ngài từ chức, sáng lập sáu đan viện trên các phần đất của ngài ở Sicilia và chính ngài là một tu sĩ dòng Biển Ðức (Benedictine) ở Rôma. Sau khi thụ phong linh mục, ngài là một trong bảy phó tế của đức giáo hoàng, và còn giữ chức vụ sứ thần tòa thánh ở Constantinople, Ðông Phương. Sau đó ngài được gọi về làm đan viện trưởng, và vào lúc 50 tuổi, ngài được chọn làm giáo hoàng thứ 64 kế vị Thánh Phêrô bởi hàng giáo sĩ và giáo dân Rôma. Ngài thẳng tính và kiên quyết. Ngài cách chức các linh mục bất xứng, cấm không được lấy tiền khi phục vụ, và ngài lấy tất cả quỹ riêng của đức giáo hoàng để chuộc các tù nhân bị phe Lombard bắt và săn sóc những người Do Thái bị bách hại và các nạn nhân của nạn dịch tễ cũng như nạn đói kém. Ngài rất lưu tâm đến việc trở lại của nước Anh nên đã sai 40 đan sĩ của ngài đến hoạt động ở đây. Ngài nổi tiếng vì những cải cách phụng vụ, và củng cố sự tôn trọng học thuyết. Người ta đang tranh luận xem có phải chính ngài là người chịu trách nhiệm phần lớn nhạc bình ca (Gregorian) hay không.

   Thánh Grêgôriô sống trong giai đoạn luôn luôn có bất hòa vì sự xâm lăng của phe Lombard và vì những tương giao khó khăn với Giáo Hội Ðông Phương. Khi Rôma bị tấn công, chính ngài là người đến chất vấn vua Lombard. Một sử gia Anh Giáo đã viết: “Không thể nào tưởng tượng được những gì sẽ xảy ra trong thời Trung Cổ–thật lộn xộn, vô trật tự–nếu không có triều đại giáo hoàng; và nói về giáo hoàng của thời trung cổ, vị cha chung đích thực là Ðức Grêgôriô Cả.” Cuốn sách của ngài “Cách Chăm Sóc Mục Vụ” nói về nhiệm vụ và đặc tính của một giám mục, đã được đọc trong bao thế kỷ sau khi ngài chết. Ngài diễn tả vị giám mục chính yếu như một y sĩ mà nhiệm vụ chính là rao giảng và duy trì kỷ luật. Trong các bài giảng thực tế của ngài, Thánh Grêgôriô có tài áp dụng phúc âm hàng ngày vào nhu cầu đời sống của giáo dân. Ðược gọi là “Cả”, Thánh Grêgôriô được nâng lên một vị trí ngang hàng với Thánh Augustine, Thánh Ambrôsiô và Thánh Giêrôme như một trong bốn vị tiến sĩ nòng cốt của Giáo Hội Tây Phương.

Lời Bàn: Thánh Grêgôriô thích là một đan sĩ, nhưng ngài sẵn sàng phục vụ Giáo Hội trong các phương cách khác khi được yêu cầu. Ngài đã hy sinh những sở thích của ngài trong nhiều phương cách, nhất là khi làm Giám Mục Rôma (Giáo Hoàng). Một khi được kêu gọi để phục vụ công ích, Thánh Grêgôriô đã dùng hết khả năng để chu toàn nhiệm vụ.

Lời Trích: “Nói cho cùng có lẽ không khó để người ta từ bỏ của cải, nhưng chắc chắn là thật khó để từ bỏ chính mình. Khước từ những gì mình có là chuyện nhỏ; nhưng khước từ cái tôi của mình, đó mới thật đáng kể” (Thánh Grêgôriô, Bài Giảng về Phúc Âm).

 (Nguồn: Người Tín Hữu)

❦ Thánh Grêgôriô, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Song Hy Vong TV, Quang Harvest – Chúa Ơi Con Xin Lỗi

CÂU CHUYỆN CỦA MỘT BỨC ẢNH

Cang Huynh

 CÂU CHUYỆN CỦA MỘT BỨC ẢNH.

Đây là một trong những bức ảnh đau lòng nhất trong lịch sử nhân loại. Nhìn  nó thôi cũng đã thấy xót xa.

Tháng 4 năm 1980, tại Uganda. Vùng Karamoja đang trải qua nạn đói, vấp phải sự thờ ơ hoàn toàn từ phần còn lại của thế giới. Hơn 20% dân số sẽ chết, chủ yếu là trẻ em.

Ngày hôm đó, nhiếp ảnh gia Mike Wells đang đi bộ cùng một nhà truyền giáo Công giáo, Cha Ali Facey. Bất chợt, một cậu bé bốn tuổi tiến đến. Cậu bé không xin gì cả. Cậu chỉ đơn giản đặt tay mình vào tay vị linh mục.

Mike Wells chụp một bức ảnh.

Ngay lập tức, ông đã ghi lại được sự tương phản đen tối nhất trong thế giới của chúng ta: bàn tay gầy gò, yếu ớt của một đứa trẻ, lạc lõng trong lòng bàn tay của một người lớn tượng trưng cho sức mạnh và sự sung túc.

Ban đầu, nhiếp ảnh gia cảm thấy xấu hổ khi chụp bức ảnh này. Ông thậm chí không muốn nó được công bố. Ông thậm chí còn từ chối ăn mừng giải thưởng quốc tế lớn mà ông đã giành được cho bức ảnh, nói rằng ông buồn khi trở nên nổi tiếng vì hoàn cảnh khốn khổ của một đứa trẻ đang hấp hối.

Ban đầu, các tạp chí lớn từ chối đăng tải bức ảnh. Họ cho rằng nó quá gây sốc. Nhưng một khi được chia sẻ rộng rãi, nó đã trở thành biểu tượng toàn cầu về nạn đói và bất bình đẳng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Paris Match.