SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC…Nguyễn Ngọc Chính

Nguyễn Ngọc Chính

Có nhà văn nào đó cho rằng khi viết về ẩm thực bụng phải đói mới “lột tả” hết cái ngon của món ăn. Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Hồi còn trong trại tù cải tạo, cái bụng lép kẹp lúc nào cũng sôi ùng ục, tôi và vài người bạn tù có “tâm hồn ăn uống” vẫn thường kể cho nhau nghe những món khoái khẩu của mình. Ăn “hàm thụ” sao mà ngon thế.  Phải nói ngon gấp nghìn lần ăn… thực thụ !

Thời cải tạo qua đi nhưng thời điêu linh lại kéo tới. Vào thời đó, cái để đút vào mồm chỉ toàn khoai mì chạy chỉ với bo bo, còn được mệnh danh là… cao lương.  Ngồi nhấm nháp cao lương mà cứ tức anh ách. Ai đó đã khéo chơi chữ mà đặt tên, mỉa mai không khác gì cái món “mầm đá” của ông vua ngày xưa !. Nhưng rồi cũng qua đi cái thời ăn để mà sống, người ta bỗng nhớ đến thời… sống để mà ăn ở Sài Gòn hoa lệ ngày nào.

Theo tôi, một trong những món ngon đó phải kể đến phở. Mặc dù phở có xuất xứ từ miền Bắc nhưng phở Sài Gòn thường ăn kèm với giá, ngò gai, húng quế vẫn ngon hơn phở Hà Nội thiếu hẳn các loại rau thơm mà lại không có giá.  Vào đến Sài Gòn ngày xưa có con đường tên Turc (Thổ Nhĩ Kỳ), một đầu là đường Tự Do (Catinat), đầu kia là đường Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).  Tiệm Phở Bắc được bán trong khuôn viên nhà thờ Hồi Giáo này, nên có tên là Phở Turc.

Sài Gòn 1954, lúc người Bắc mới vào Nam, những tiệm Phở Bắc hãy còn đếm được trên đầu ngón tay. Ðó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 ở đường Frère Louis (sau này đổi tên thành đường Võ Tánh và đến 1975 lại đổi thành Nguyễn Trãi thuộc quận 1).

Ngay bên hông rạp Casino có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa số là nhà dân Bắc Kỳ di cư sớm, từ những năm 1920. Tiệm Phở Minh nằm ở dãy nhà đó. Phở Minh có cả phở bò lẫn phở gà nhưng đặc biệt hơn cả còn có bài thơ do thi sĩ Trần Rắc đề tặng.  Bài thơ được cắt chữ, đóng khung kính, treo trên tường.  Bài thơ Ðường Luật có

4 câu đầu như sau:

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,

Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh

Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,

Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh.

Thi sĩ Trần Rắc chính là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Thánh Tôn, gần Khám Lớn Catinat năm xưa. Tiệm giầy Trần Rắc, và cả mấy tiệm giầy ở đường này, đều có cửa sau đi vào hẻm “ẩm thực” Casino.

Việt Nam ta đúng là… ra ngõ gặp nhà thơ. Ðến như ông chủ tiệm giày cũng có thể làm thơ về phở chứ chưa dám nói đến Tản Ðà là người viết nhiều về nghệ thuật ăn uống!

Trên đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges), gần bên hông Tòa Ðại Sứ Mỹ, còn có phở Cao Vân, dù tiệm phở này không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause) cách đó không xa. Theo tôi, phở Cao Vân chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng được nhắc tới cùng với phở Minh vì Cao Vân cũng có một bài thơ ca tụng phở của thi sĩ Tú Mỡ được viết bằng sơn ngay trên tường.

Trong các món ăn Quân Tử Vị

Phở là quà đáng quý trên đời

Chủ của phở Cao Vân ngày nay là một ông cụ Bắc Kỳ hom hem theo năm tháng. Ông không còn đứng ra nấu phở nhưng chiều chiều thường ngồi nhậu lai rai với các “chiến hữu” để hưởng nhàn !

… Trên đường Pasteur có Phở Hòa, khá nổi tiếng.  Ban đầu, lúc khai trương năm 1960, tiệm phở này mang tên Hòa Lộc.  Có lẽ sau này khách ăn cứ gọi tắt là Hòa nên Hòa Lộc biến thành Hòa theo kiểu gọi tên một chữ cho dễ nhớ thường thấy ở các tiệm phở (?). Phở Hòa chỉ chuyên loại phở bò, nếu vào đây mà tìm tô phở gà thì không có. Khách phải chịu khó ra đường Hiền Vương (bây giờ đổi tên là Võ Thị Sáu), đến tiệm Hương Bình, “chuyên trị” phở gà.

Nói đến phở Sài Gòn tại khu vực trung tâm, phải nói đến tiệm Phở 79, ngay tại số nhà 79 trên đường Võ Tánh.  Khoảng năm 1952, tiệm Phở 79 mở cửa, khi đó nền nhà của tiệm còn thấp hơn mặt đường.  Chỉ vài năm sau tiệm phát đạt, chủ nhân mua hai nhà bên cạnh, mở lớn thành tiệm Phở 79 khang trang và có thể nói là một trong những tiệm phở sạch nhất Sài Gòn thời đó.

Trường Sinh ngữ Quân đội có chi nhánh ở đường Nguyễn Văn Tráng rất gần với Phở 79 tại khu vực Ngã Sáu Sài Gòn. Ðám giảng viên chúng tôi thường xuyên ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối mỗi khi “ứng chiến” tại trường.

Phở tại đây được đánh giá là… “ăn được”. Nếu ai “ăn không được” thì chịu khó đi thêm vài bước ra Ngã Sáu, nơi đây có đủ các món ăn chơi thuộc loại bình dân, từ phở, hủ tíu cho đến mì và có cả xe… bánh mì mua về trường nằm gặm trong những đêm ứng chiến!

Gần ngã tư Phú Nhuận có phở Quyền trên đường Võ Tánh (thuộc quận Phú Nhuận), cách cổng phụ của Tổng Tham Mưu chừng 100 mét.  Tôi thường ghé ăn nơi đây mỗi khi về trụ sở chính của trường sinh ngữ trong Tổng Tham Mưu.  Nước phở ở đây rất đậm đà, vị ngọt là của xương ống chứ không phải vì bột ngọt.  Phở Quyền còn có cả món “tái sách tương gừng” được xếp vào loại… trứ danh.

Con cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào Nam lập nghiệp năm 1954, trong cơ hội lịch sử này có phở Tàu Bay.  Vốn là quán phở do ông nội mở vào 1950 ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, ông chủ quán được người bạn thân tặng cho chiếc mũ bay. Ông thường xuyên đội nón, khách thấy lạ, gọi ông “Tàu Bay” rồi chết tên thành tên quán.

Phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ ngày nay vẫn bán và khách quen ngày nào vẫn chịu khó mò đến đây để tìm lại hương vị đặc thù.  Phải nói Phở Tàu Bay rất… hiếu khách.  Gọi thêm nước béo, nhà phở đem ra cả tô chứ không bằng chén nhỏ như những tiệm khác. Tô đặc biệt của Tàu Bay lại là tô “Xe Lửa”, bánh và thịt trên mức hậu hĩnh.

… Kể từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn là món “đặc sản” của miền Nam.  Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu Phạm Thị Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường Nguyễn Trung Trực…

Có người đến hủ tíu Phạm Thị Trước gọi thêm bánh patechaud ăn kèm, cũng giống như hủ tíu Gà Cá. Tuy nhiên, mỗi tiệm hủ tíu đều có hương vị riêng khiến một khi khách đã “kết” thì khó đi ăn nơi khác.  Hủ tíu Sài Gòn sáng nào cũng đông người đến thưởng thức, không cần đợi đến những ngày cuối tuần.

Thường thì hủ tíu có bánh mềm, chỉ riêng hủ tíu Thanh Xuân hay Mỹ Tho thì thêm bánh dai, nấu khô hay nước, tùy theo ý thích của khách. Chỉ nhìn dĩa rau dọn lên trước thì cũng thấy bắt mắt: giá, hẹ, rau cần tàu, tần ô và vài cọng xà lách.  Thêm vào đó, mùi nước lèo xông lên như đập vào khứu giác thực khách làm cho bụng cứ gào thét…

Người bồi bàn bưng mâm ra để tô hủ tíu trên bàn, mùi nước lèo xông lên mũi, nếm thử “nghe” được mùi thơm của nước lèo, thêm chút gia vị vào và cầm đũa ngay. Hủ tiếu Thanh Xuân thì phải có rau tần ô, rau cần tàu, giá sống.  Hủ tíu Phạm Thị Trước hay Thanh Thế cũng thế, nhưng không có rau tần ô.  Riêng hủ tíu Gà Cá thì chỉ có giá sống.

Tuy nhiên, các thứ hủ tíu nếu thiếu vài miếng tóp mỡ và cải bắc thảo thì hình như thiếu mất cái gì đó.  Nước lèo vừa ngọt của xương, vừa béo của chất tủy từ ống xương, thoang thoảng chút mùi của con mực, tôm khô, hào khô và củ cải.  Những thứ ấy quyện vào nhau thành một thứ nước lèo hấp dẫn.  Hủ tíu bình dân thì có những xe hủ tíu bán dạo.  Từ mờ sáng cho đến khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng rao… lòng thấy nao nao !

***

Ðối với tôi, một món cũng thuộc loại “khoái khẩu” ở Sài Gòn là… bánh mì thịt nguội, trong đó có cả jambon, xúc xích, pate ăn kèm với sốt mayonnaise và đồ chua! Bánh mì thịt nguội ăn sẽ ngon hơn nếu bạn có thì giờ ngồi nhẩn nha tại tiệm: các loại thịt bày trên đĩa trắng tinh kèm thêm một cục sốt bên cạnh dao, nĩa sạch bóng.  Bẻ một miếng bánh mì còn nóng, trét sốt lên trên rồi một lớp patê, sau đó cắt một miếng jambon… đưa vào miệng. Tuyệt cú mèo !

Một trong những tiệm bán bánh mì thịt nguội có tiếng ở Sài Gòn từ năm 1954 và còn tồn tại đến ngày nay là Hòa Mã. Tiệm Hòa Mã nằm trên đường Cao Thắng, gần khu vực Bàn Cờ, nơi có những địa điểm nổi tiếng như Kỳ Viên Tự, Tam Tông Miếu, Trường Aurore, Cư Xá Ðô Thành, Nhà Bảo Sanh Ðức Chính…

Ngày nay, Hòa Mã không khác xưa là mấy.  Hòa Mã cũ kỹ, bảng hiệu phai màu theo năm tháng vì đã tồn tại hơn 50 năm kể từ ngày mở cửa.  Nhiều người nói chủ nhân Hòa Mã là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn… Tiệm Hòa Mã gọi ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, dùng theo tiếng Pháp casse croute, bữa ăn lót dạ, bữa ăn nhẹ.  Những năm 60, giá bán một ổ bánh mì Hòa Mã là 3 đến 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 đến 10 đồng.

 

… Xe bánh mì Tám Lự gần chợ Bàn Cờ chỉ bán từ sẩm tối đến đêm khuya.  Một ổ bánh mì Tám Lự dài cỡ 4 tấc, hai gang tay, tối ăn vào no đến sáng.  Bánh mì ngon, ngoài pâté chả lụa, pâté foie, bơ Bretel còn thêm dưa leo, ngò, hành lá, nước tương, muối tiêu, ớt xắt.  Ngày xưa khách chỉ cần nói: “Cho một tàu lặn hay một tiềm thủy đỉnh đi, anh Tám!” là khách sẽ có ngay một ổ bánh mì nóng giòn, thơm phức.

 

Nếu muốn sang hơn thì lên bánh mì Pâté Tòa Ðô chính trên đường Nguyễn Huệ hoặc tiệm bánh Hương Lan trên đường Tự Do hay ngồi Thanh Bạch đường Lê Lợi (gần bệnh viện Sài Gòn). Chỉ cần gọi đĩa bánh mì thịt nguội kèm theo một ly cà phê sữa đá là đủ no cho đến trưa.  Thanh Bạch vẫn là nơi lý tưởng để vừa ăn sáng vừa ngắm cảnh người Sài Gòn sửa soạn cho một ngày mới.

 

… Sài Gòn xưa có hai tiệm Thanh Bạch, một ở đường Lê Lợi, bên rạp xi-nê Vĩnh Lợi. Tiệm Thanh Bạch thứ hai ở đường Phạm Ngũ Lão, trong dãy phố trệt dưới tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới năm xưa.  Ngoài bánh mì ốp-la, ôm-lết, thịt nguội, Thanh Bạch có bánh mì bò kho, hủ tíu và đặc biệt là món suông.  Bún suông dùng xương heo để nấu nước lèo, và đặc biệt ở đây là dùng tôm tươi lột vỏ, bỏ đầu, bằm nhuyễn sau đó vo lại thành sợi dài (như sợi bún).  Nước lèo ở đây rất trong, ăn kèm với rau sống…

Nhà hàng Tài Nam trên đường Ohier (Tôn Thất Thiệp) nổi tiếng với món đuông chà là chiên bơ rất ngon nhưng cũng rất mắc tiền.  Theo nhà văn Sơn Nam, vua chúa cũng còn thèm “con đuông chà là”, tên chữ là “hồ đa tử”.  Hồ đa là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang thường mọc miền nước mặn Nam bộ, giống như cây cau kiểng. Cây dừa rừng có “củ hũ”, tức đọt non, đến mùa sau Tết thường xuất hiện con đuông, giống như con nhộng. Ðuông ăn đọt dừa non nên to, mập và thường được bắt trước khi nở thành bướm.

 

Sơn Nam viết : “Ðem đuông nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm với nước mắm nhĩ nguyên chất.  Con đuông béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ cây chà là”.

 

… Vùng Thanh Ða (Bình Thạnh) nổi tiếng khắp Sài Gòn với món cháo vịt, gỏi vịt.  Vào buổi tối người Sài Gòn hay ra bán đảo Thanh Ða trước là để đón những luồng gió mát từ sông Sài Gòn thổi vào và khi về, ghé mấy quán cháo vịt, gọi thêm đĩa gỏi vịt ăn kèm. Nếu là “bợm nhậu” thì gọi thêm chai bia Con cọp BGI để… đưa cay.  Nếu ngại ra Thanh Ða thì trên đường Hồng Thập Tự cũng có khu bán cháo vịt thuộc loại… “ăn được”. Thịt vịt tại đây khá mềm, nhai kỹ thấy ngọt và đặc biệt không thấy mùi hôi vốn có của thịt vịt.  Có thể họ tuyển loại vịt chạy đồng nên không hôi (?).

 

Ðinh Công Tráng là một con đường nhỏ gần nhà thờ Tân Ðịnh nhưng cũng đi vào lịch sử ăn uống của Sài Gòn với món bánh xèo. Bí quyết của bánh xèo nằm ở kỹ thuật pha bột, sao cho khi chiên lên, bánh giòn tan khiến người ăn có thể cảm được cái thú nghe miếng bánh đang được nhai dưới hai hàm răng.  Lớp bột gạo pha chút nghệ khi đổ vào chảo dầu tạo nên một tiếng “xèo” khiến ta hiểu được tại sao lại gọi là… bánh xèo!

 

Ngày nay, đường Ðinh Công Tráng trở thành “đường bánh xèo” nhưng người sành ăn thì chọn quán bên tay trái, nếu đi từ đường Hai Bà Trưng vào.  Quán không tên nhưng người ăn vẫn nhớ vì nó đã đi vào “bộ nhớ” của người Sài Gòn từ bao năm nay.  Những quán đối diện bên kia đường trông có vẻ lịch sự hơn, sạch sẽ hơn nhưng vẫn chịu cảnh vắng khách vì là kẻ… hậu sinh.

 

Khu Ða Kao có tiệm bánh cuốn Tây Hồ (Ðinh Tiên Hoàng), gần chợ Ða Kao, quận 1, nổi tiếng.  Tại đây, mỗi bàn có để sẵn một thẩu nước mắm và một chồng chén nhỏ để khách tùy nghi sử dụng, thêm nhiều hay ít ớt bằm theo sở thích riêng của từng người.  Tuy nhiên, có khách lại thích chan luôn nước mắm vào đĩa để bánh cuốn thấm nước mắm, đậm đà hơn.

 

Chả quế và giò lụa được cắt thành miếng lớn, để riêng trong một đĩa nhỏ.  Khách có thể chỉ ăn bánh cuốn nhân thịt mà không đụng tới đĩa giò chả, như vậy người phục vụ nhìn vào đĩa chả còn nguyên mà không tính tiền. Nếu cần, có thể gọi thêm đĩa bánh tôm hoặc bánh cuốn không nhân.

Sài Gòn cũng có bánh cuốn Thanh Trì kiểu Bắc, mỏng như tờ giấy, ăn với “ruốc” (chà bông) và nước mắm phải kèm với vài giọt cà cuống mới là “sành điệu”! Còn bánh ướt là kiểu bánh cuốn bình dân ở Sài Gòn, cũng ăn kèm với bánh tôm chiên, giò, chả và rau, giá. Những xe bánh ướt được đẩy đi khắp Sài Gòn, có cả nồi hấp nên lúc nào bánh cũng nóng và người bán bao giờ cũng chan nước mắm vào đĩa thay vì chấm kiểu “thanh cảnh” như bánh cuốn Thanh Trì.

 

Lại nói thêm, đường Albert (vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đổi tên thành Ðinh Tiên Hoàng) khá dài nên dọc theo con đường này có nhiều địa chỉ ẩm thực nổi tiếng.  Tiệm ăn Chez Albert (lấy tên theo con đường), Cà phê Hân, Mì Cây Nhãn (tên đặt theo cây nhãn hồi đó còn trồng trước sân), Thạch chè Hiển Khánh (nơi sưu tầm rất nhiều thơ ca tụng thạch chè)… Tôi chắc chắn còn bỏ quên khá nhiều điểm ăn uống khác nữa trên con đường này.

 

Ở góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi, trước kia vào thập niên 30 có một quán cháo cá nổi tiếng một thời. Buổi chiều cho đến gần khuya, khách đến ăn rất đông, nhất là khi cải lương, hát bội, hát bóng vãn hát. Theo Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp Pín Lù, quán cháo cá này của người Tàu, gốc Quảng Ðông, “cha truyền con nối suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi…”

 

Cháo tại đây nấu bằng gạo tấm hầm với cá, xương heo và thịt tôm hùm để thành một thứ hồ sền sệt khiến “người đau mới mạnh dùng không sợ trúng thực, người mệt mỏi ăn vào cảm thấy nhẹ bụng, mau tiêu.  Tô cháo cá Chợ Cũ quả là một ‘tô thuốc tráng thần’…”

 

Cháo nóng hổi bốc hơi nghi ngút.  Vừa thổi vừa húp xì xụp mới thấy được cái thú vị của món cháo cá Chợ Cũ.  Thịt cá giòn, thơm, lẫn lộn hương vị của hành, tiêu, gừng và có thể ăn với “dầu chá quẩy”.  Thú thật, tôi là người thích thịt hơn cá nhưng thỉnh thoảng được thưởng thức món cháo cá vẫn thấy ngon đến toát mồ hôi !

 

Có một tiệm cháo giò heo khá nổi tiếng trong ngõ đường Phan Ðình Phùng (ngày nay là Nguyễn Ðình Chiểu). Tiệm không có tên, chuyên bán cháo từ 6 giờ tối tới một, hai giờ sáng.  Khách của tiệm này đa số là khách chơi đêm, khách đi nhảy, khuya về đói bụng đến ăn tô cháo nóng.

Tôi lại nhớ đến món phá lấu ở góc đường Lê Lợi-Pasteur, nơi đây còn có xe bò bía và nước mía Viễn Ðông.  Bán phá lấu là một chú Tàu và “cửa hàng” của chú chỉ vỏn vẹn một cái khay tròn, trên đó bày đầy đủ nội tạng heo: lòng, dồi, gan, bao tử, ruột non, ruột già, tim, phèo, phổi… Trông thật hấp dẫn, ngửi thơm phức và ăn vào thì giòn tan.  Phá lấu nói chung có vị hơi ngòn ngọt, gan thì bùi bùi, lòng thì hơi dai dai nhưng khi nhai kỹ mới thấy ngon… thấu trời xanh !

 

Nghệ thuật làm phá lấu chắc chỉ mấy chú ba mới đáng hàng sư phụ. Phá lấu làm tại nhà cũng ướp húng lìu, ngũ vị hương nhưng không thể nào so sánh với phá lấu góc nước mía Viễn Ðông. Từng miếng phá lấu được ghim sẵn bằng tăm, chấm với tương đỏ trộn tương đen.  Khách ăn xong chú Ba chỉ nhìn tăm mà tính tiền nhưng tuyệt không bao giờ sai.  Quá bộ vài bước là xe nước mía tươi mát đang chờ… để kết thúc một chuyến ăn hàng bên lề đường.

 

Gần nước mía Viễn Ðông có xe thịt bò khô của ông Năm (theo tên gọi của khách quen) và sau 1975 ông dời về đường Tự Ðức (nay đã đổi tên là đường Nguyễn Văn Thủ) thuộc khu Ða Kao.

 

Dân chơi Sài Gòn thường xếp hạng : “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1” nên viết về món ngon Sài Gòn mà bỏ qua khu vực Chợ Lớn là cả một thiếu sót lớn. Dọc đường Trần Hưng Ðạo nối với đường Marins (Ðồng Khánh) thuộc địa phận quận 5 có những nhà hàng, tửu lầu nổi tiếng một thời như Arc-en-Ciel, Ðồng Khánh, Á Ðông, Bát Ðạt.

Theo tôi, Chợ Lớn nổi tiếng hơn cả là đường Lacaze mà người Việt hay gọi trại là La Cai, tức đường Nguyễn Tri Phương sau này. Khu La Cai có mì vịt tiềm hầm thuốc bắc, một trong những món “tủ” của người Hoa. Bên cạnh đó còn có những tiệm hủ tíu mang tên Mỹ Tiên, Cả Cần và tiệm bánh bao Bà Năm Sa Ðéc.

 

Ðêm đến có các quán sò huyết dọc theo lề đường. Khách bình dân ngồi ăn nhậu thoải mái giữa dòng xe cộ ồn ào bên ánh đèn nê-ông từ các nhà hàng, vũ trường sang trọng của Chợ Lớn “by night”!

 

… Thôi thì đời người có lúc hưng lúc tàn, cũng như vận nước có khi thịnh khi suy.  Viết lại món ngon Sài Gòn chỉ để thỏa mãn kiểu “ăn hàm thụ” như đã nói ở trên.  Giờ có cho ăn thực thụ chắc cũng chẳng thấy ngon như thời còn trai trẻ.

 

Tất cả chỉ còn là… hoài niệm!

 

Nguyễn Ngọc Chính

From: T. Nguyen 


 

CHỢ RẪY – MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT

Kiều Diễm

CHỢ RẪY – MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT

Ai từng có người thân điều trị dài ngày ở Chợ Rẫy, có lẽ sẽ hiểu nơi này chất chứa biết bao nỗi đau chẳng thể gọi thành tên.

Hôm qua, sau khi thăm anh, mình bấm thang máy đi xuống. Khi ngang qua khoa Thận, một nhân viên y tế đẩy chiếc xe có người bệnh được phủ khăn kín mặt vào cùng khoang thang máy với mình. Bên cạnh là người thân đang khóc nức nở.

Mình lặng người. Không cần ai nói, mình cũng hiểu, có lẽ một cuộc chia ly vừa xảy ra.

Mẹ mình cũng từng chạy thận, từng trải qua những tháng ngày chống chọi với bệnh tật, rồi cuối cùng rời xa anh em mình. Có những ký ức tưởng chừng đã ngủ yên, vậy mà chỉ một khoảnh khắc cũng đủ khiến lòng đau nhói.

Giờ đây, mình lại đứng trước nỗi sợ ấy một lần nữa. Người đang nằm trên giường bệnh, chống chọi với bệnh tật, chính là người anh trai duy nhất của mình.

Gia đình nhỏ ngày ấy có bốn người: ba, mẹ, anh và mình. Vậy mà ba mẹ đã lần lượt rời xa anh em mình khi cả hai đều ở tuổi 46. Từ một gia đình đủ đầy, giờ chỉ còn hai anh em nương tựa vào nhau giữa cuộc đời.

Có những nỗi sợ chẳng thể nói thành lời. Mình vẫn cố gắng hy vọng, vẫn mong anh sẽ vượt qua, vẫn tự nhủ mọi chuyện rồi sẽ ổn. Nhưng sâu thẳm trong lòng, mình thật sự rất sợ. Sợ nỗi đau năm xưa một lần nữa lặp lại, sợ một ngày nào đó, người thân cuối cùng cũng rời xa mình.

Chứng kiến quá nhiều bệnh tật và mất mát, mình mới hiểu sức khỏe quý giá đến nhường nào. Chỉ mong bản thân biết thương lấy mình hơn, để những người yêu thương không phải khổ sở, lo lắng vì mình.

Ở nơi này, có người đang cố giành giật sự sống, có người ngày đêm cầu mong người thân tỉnh lại, và cũng có người phải đau đớn chấp nhận một cuộc chia ly.

Mình chỉ mong anh đủ mạnh mẽ để vượt qua. Mong ông trời đừng lấy đi người thân cuối cùng mà mình còn có thể gọi là gia đình.

Ba mẹ đã đi xa rồi. Mình thật sự không muốn một lần nữa phải học cách sống tiếp khi thiếu đi một người thân yêu.

Anh à, D chẳng mong gì nhiều. D chỉ mong anh khỏe lại, để hai anh em mình còn có nhau


 

Người dì đang định cư ở Mỹ chuyển tiền về cho cháu ruột để mua nhà ở Đà Nẵng, song đã bị người cháu này chiếm đoạt.

 Người dì đang định cư ở Mỹ chuyển tiền về cho cháu ruột để mua nhà ở Đà Nẵng, song đã bị người cháu này chiếm đoạt.

Hôm 27 Tháng Mười, Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra Công An Thành Phố Đà Nẵng đã khởi tố, bắt giữ bị can Trần Hoàng Vĩnh Tú, 37 tuổi, ở phường Hải Châu, để điều tra về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.”

Báo Thanh Niên dẫn tin điều tra ban đầu cho hay, do tin tưởng người thân ở Việt Nam, bà LHC, Việt kiều Mỹ, đã nhiều lần chuyển tiền về nhờ bị can Tú, cháu kêu bằng dì, quản lý, gửi tiết kiệm và tìm mua nhà đất để ở khi hồi hương.

Vào Tháng Hai, 2026, bà C. gom hết tiền bạc bán căn nhà cũ và chuyển thêm cho bị can Tú tổng cộng hơn 4.7 tỷ đồng ($182,285) để nhờ mua nhà. Đến đầu Tháng Ba vừa qua, thông qua người quen giới thiệu, bà C. tìm được một căn nhà ưng ý trên đường Trần Xuân Lê, thành phố Đà Nẵng, với giá 4.77 tỷ đồng ($184,644) và nhờ bị can Tú đến đặt cọc để mua. Tuy nhiên, bị can Tú chỉ đặt cọc 70 triệu đồng ($2,709), không thanh toán đủ hết số tiền cọc theo thỏa thuận với người bán nhà, đồng thời cắt đứt liên lạc với bà C.

Vụ án đang được Công An Thành Phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra, làm rõ. 


 

XÂY NHÀ TRONG ĐÊM – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa!”.

Có người nhận xét: “Nhà thờ sống luôn có nhiều vấn đề; nhà thờ chết thì không! Nhà thờ sống có thể ồn ào vì trẻ em chạy nhảy; nhà thờ chết đìu hiu như nghĩa trang. Nhà thờ sống luôn cần đổi thay; nhà thờ chết nhện tha hồ dăng!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Hội Thánh trở nên sống động không nhờ những không gian vật chất, nhưng nhờ những con người cầu nguyện. Lời Chúa lễ hai Thánh Simon và Giuđa tông đồ hé mở bí quyết ấy: ‘xây nhà trong đêm’.

Trước khi gọi Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Chúa Cha. Nền móng Hội Thánh được đặt trong tương quan ấy.

Mỗi ơn gọi, mỗi gia đình và mỗi cộng đoàn không thể lớn lên ngoài cầu nguyện. “Hội Thánh không phải là một cơ chế, nhưng là một sự sống siêu nhiên!” – Henri de Lubac.

Hội Thánh được xây trên nền tảng các tông đồ và ngôn sứ, với chính Đức Kitô là đá góc tường.

Nền móng ấy không chỉ để tuyên xưng mà để sống.

Những viên đá sống chỉ đứng vững khi gắn bó với Đấng là đá tảng. “Trong Người, toàn thể công trình ăn khớp với nhau” – bài đọc một.

Một viên đá đứng riêng vẫn chỉ là viên đá; chỉ khi gắn kết với những viên đá khác quanh Đức Kitô, nó mới trở thành viên đá sống của Đền Thờ Thiên Chúa.

Vì thế, xây dựng Hội Thánh không khởi đi từ hoạt động, nhưng từ tương quan với Thiên Chúa. Cành cây chỉ sinh hoa trái khi ở lại trên thân cây.

Chúa Giêsu cầu nguyện rồi mới đến những việc khác: dân chúng, tuyển chọn, chữa lành, trừ quỷ. Đêm ấy, Ngài thức cầu nguyện; sáng ra, Ngài gọi tên từng người.

Những con người bình thường ấy lại được sai đi đánh thức cả thế giới.

Họ được chọn không phải vì đã chuẩn bị đủ, nhưng vì Đấng sai đi đã mang họ vào lời cầu nguyện của Ngài.

Trước mặt Chúa Cha, Ngài vẫn đang nói với mỗi người chúng ta như đã nói với Phêrô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh”. Chúng ta được gọi không phải vì đã xứng đáng, nhưng vì được Chúa Giêsu yêu thương và cầu nguyện cho. “Lời cầu nguyện của Đức Kitô là nền tảng cho lời cầu nguyện của Hội Thánh; lời chúng ta có thể bay lên vì lời cầu của Ngài không bao giờ ngơi nghỉ!” – Hans Urs von Balthasar.

Có những ‘đêm’ chúng ta chỉ biết loay hoay tìm cách giải quyết mọi sự, nhưng lại quên quỳ xuống cầu nguyện. Chúng ta muốn xây thật nhanh, trong khi Thiên Chúa vẫn âm thầm đặt từng viên đá móng. Điều được dựng nên trong cầu nguyện luôn bền hơn điều chỉ được dựng bằng sức riêng.

Anh Chị em,

Đức Kitô vẫn đang xây Hội Thánh bằng lời chuyển cầu của Ngài.

Ngài tiếp tục ‘xây nhà trong đêm’: đêm thử thách, đêm chờ đợi, đêm hoán cải và đêm tín thác. Ai đón nhận lời chuyển cầu của Đức Kitô và gắn bó với Ngài, người ấy trở thành viên đá sống, được ghép vào Đền Thờ của Thiên Chúa. Ngay cả những rạn nứt muốn che giấu cũng có thể thành nơi Ngài nối chúng ta lại với nhau.

Bấy giờ, chúng ta mới có thể cùng các tông đồ làm cho “Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết quỳ xuống giữa những đêm lo âu; dạy con gắn bó với Ngài và anh em; và dùng đời con xây một mái nhà cho những người còn đứng ngoài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa kính Thánh Simon & Thánh Giuđa Tông Đồ, 28/10,

Thứ Tư tuần XXX Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/28.html

Đức Giê-su chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.  Lc 6,12-19

12 Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. 13 Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ. 14 Đó là ông Si-môn mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là các ông Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, 15 Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn biệt danh là Nhiệt Thành, 16 Giu-đa con ông Gia-cô-bê, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người đã trở thành kẻ phản bội.

17 Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn 18 đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật. Những kẻ bị các thần ô uế quấy nhiễu cũng được chữa lành. 19 Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người.


 

Tại sao chúng ta đọc “Amen” vào cuối kinh Tin kính-Cha Vương

Tạ ơn Chúa một ngày mới, ước mong bạn tận dụng những thời gian trong ngày để đến gần với Chúa và những người thân yêu hơn hôm qua  luôn nhớ nhau trong nguyện cầu và thể giới được bình an nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 27/10/2026.     (t5-22)

GIÁO LÝ: Tại sao chúng ta đọc “Amen” vào cuối kinh Tin kính [hoặc các kinh đọc hằng ngày]? Chúng ta kết thúc kinh Tin Kính bằng từ Amen. Từ này theo tiếng Do Thái có nghĩa là “thưa vâng”, bởi vì Thiên Chúa mời gọi chúng ta trở thành nhân chứng đức tin. Ai nói Amen là vui sướng và tự do tán thành công việc tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa, Amen cũng là tin tưởng chắc chắn, trông cậy và trung thành. (YouCat, số 165)

SUY NIỆM: Theo tiếng Hibá, từ Amen có ý nghĩa vừa là “tin” vừa là “tin chắc, tin cậy và trung thành”. “Ai nói Amen là ký tên xác nhận” (Thánh Augustinô). Ta chỉ có thể công bố Amen không chút nghi ngại chỉ vì Chúa Giêsu đã chứng tỏ cho ta biết bằng cái chết và sự sống lại của Người rằng: Người là đấng trung thành, và đáng tin cậy. Người là “Amen” của loài người đối với tất cả những lời Thiên Chúa hứa, Người cũng là “Amen” dứt khoát của Thiên Chúa với mọi người chúng ta. 

❦  Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là “có” nơi Người. Vì thế, cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên “Amen” để tôn vinh Thiên Chúa. (2 Cr 1:20)

❦  Amen được dùng trong Cựu Ước với ý nghĩa chính là “mong được như vậy”, để làm cho mong ước hoạt động của Thiên Chúa mạnh mẽ hơn, hoặc để liên kết với lời ca tụng Thiên Chúa. Trong Tân Ước, Amen được dùng để tăng cường cho kết luận của lời cầu nguyện. Thường Chúa Giêsu dùng Amen cách đặc biệt để dẫn vào một lời nói quan trọng. Amen ở đây làm nổi uy thế của lời nói. (YouCat, số 165 t.t.)

LẮNG NGHE: Amen, Amen, Thầy nói cho anh em hay, anh em sẽ thấy Trời mở ra, và các Thiên Thần của Thiên Chúa lên xuống trên Con Người. ( Ga 1:51)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, là một người Ki-tô hữu tiếng “Amen” không còn gì xa lạ nhưng rất nhiều lần con chỉ đọc cho qua loa vô ý thức, xin cho con biết tin tưởng chắc chắn, trông cậy và trung thành vào lời con tuyên xưng như là một mệnh lệnh sống của đức tin trong ngày.

THỰC HÀNH: Đọc chữ “amen” với niềm xác tín.

From: Do Dzung

********

AMEN – Nguyễn Hồng Ân

GIỚI TRẺ BIẾT ƠN NGÀI-Nt. Maria Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, O.P   

Nt. Maria Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, O.P   

 Đọc lại những trang tiểu sử cuộc đời của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, có lẽ người trẻ chúng ta chỉ thực hiện một nghĩa cử tuyệt đẹp đó là tạ ơn Chúa và tri ân ngài mà thôi.

 Ngài tên là Karol Josef Wojtyla, sinh ngày 18/5/1920, nước Ba Lan.  Là người con út trong gia đình có ba người con.  Năm lên chín tuổi (1929) mồ côi mẹ, năm 21 tuổi mất cả cha (1941).  Sau khi học hết chương trình Trung học cậu Josef Wojtyla ghi danh vào Đại học Jagellônica, Cracôvia.  Năm 19 tuổi, khi quân xâm lược Naziste đóng cửa trường Đại học (1939), cậu Karol làm việc trong một hầm mỏ (1940-1944) để kiếm sống.

 Cảm nghiệm được tiếng gọi của Chúa, năm 22 tuổi (1942) cậu bắt đầu theo học tại Đại Chủng viện Cracôvia dưới sự hướng dẫn của chính Đức Tổng Giám mục Cracôvia.  Thầy được thụ phong linh mục năm 26 tuổi (11/11/1946) và được cử đi học tại Roma, rồi làm Giáo sư Thần học.  Ngài được thụ phong giám mục vào năm 38 tuổi (28/9/1958) tại nhà thờ chánh tòa Cracôvia.  Sáu năm sau đó (13/01/1964), Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI đặt ngài làm Tổng Giám mục Cracôvia và rồi đề cử ngài lên tước vị Hồng y vào ngày 26/6/1967.  Ngài tham dự Công đồng Vaticanô II (1962-1965) với sự đóng góp quan trọng trong việc soạn thảo Hiến chế Gaudium et Spes.  Với tư cách Hồng y, ngài cũng là thành viên trong 5 Thượng Hội đồng Giám mục trước khi trở thành Giáo hoàng vào ngày 16/10/1978.  Ngài qua đời tại Vatican ngày 02/4/2005 vào chiều thứ Bảy bước vào Ngày Chúa nhật Lòng Chúa Thương Xót.

 Ðức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II là vị giáo hoàng thứ 264 (1978-2005) của Giáo hội Công giáo. Ngài là giáo hoàng người Ba Lan duy nhất cho đến nay, và là giáo hoàng đầu tiên trong thời hiện đại không phải là người Ý.  Với lòng hăng say trong sứ vụ mục tử, ngài đã thăm 104 quốc gia, đi qua 700.000 dặm tương đương với 28 lần đường vòng quanh Trái Ðất, hay tương đương 3 lần từ Trái Đất đến Mặt Trăng.  Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên đến Anh quốc, thăm ngôi đền Hồi giáo ở Syria, thuyết giảng trong buổi lễ tại một nhà thờ Tin Lành ở Áo (1983), bước vào đại hội đường Do Thái tại Roma (1986), thăm Rumania một nước Chính Thống giáo (1999), thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Vatican và Israel. 

 Ngài đã chủ tọa 15 Thượng Hội đồng Giám mục, ban hành 14 Thông điệp, 15 Tông huấn, 11 Tông hiến và 45 Tông thư.  Ngài cũng đã ban hành cuốn Giáo lý của Giáo hội Công giáo…

 Ngài đã xuất bản 5 cuốn sách:

“Bước qua ngưỡng cửa Hy vọng”

 (10/1994);

“Hồng ân và Mầu nhiệm”

 (11/1996); 

những bài suy niệm  dưới hình thức thơ văn (3/2003);

“Hãy đứng dậy, chúng ta cùng đi!”

 (5/2004);

“Ký ức và căn tính”

 (02/2005).

 Ngài đã dành cho giới trẻ một chỗ đứng quan trọng trong trái tim Giáo hội, vì thế ngài thành lập Ngày Giới trẻ Thế giới  kể từ năm 1985.  19 lần Ngày Giới trẻ Thế giới – diễn ra trong triều đại của ngài – đã quy tụ hàng triệu bạn trẻ trên khắp thế giới.  Ngài cho rằng khởi điểm của Đại hội giới trẻ thế giới nằm trong cuộc tập họp người trẻ một cách rất tự nhiên khi họ đi theo Đức Giêsu tại Giêrusalem…  Trẻ em và thanh niên mang cành lá đón rước Đức Kitô và tuyên dương Ngài:

‘Hoan hô con vua Đavit!’

 Vì vậy, có thể nói rằng Chúa Giêsu hân hoan đi vào Giêrusalem là Ngày Giới trẻ Thế giới đầu tiên.[1]

 “ Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Đức Kitô!”

  Ngay bài diễn văn thứ nhất, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bộc lộ tinh thần rất trẻ trung của ngài.  Hôm nay đây, khi cùng nhau ngắm nhìn chân dung của Ngài, chúng ta và các bạn trẻ hãy dâng lên Thiên Chúa tâm tình tri ân, cảm mến và chung tiếng thân thưa với Ngài rằng:

“Chúng con – những người trẻ rất biết ơn ngài.”

Ngài là mẫu gương, là điểm kết nối, là nhân chứng, là vị thầy dạy người trẻ chúng con sự can đảm: “ Đừng sợ!Hãy mở rộng cửa cho Đức Kitô!”

 Các bạn trẻ thân mến, các bạn hãy đẩy lui những ý thức hệ hẹp hòi và tàn bạo; các bạn hãy tránh xa mọi hình thức quốc gia chủ nghĩa quá khích và cố chấp.  Các bạn được giao “sứ vụ mở ra những con đường huynh đệ mới giữa các dân tộc, để xây dựng một gia đình nhân loại duy nhất, trong khi đào sâu quy luật cho và nhận, hy sinh và đón nhận kẻ khác.  Các bạn có nhiệm vụ loan truyền “nền văn hoá Tin Mừng” phong phú, trong đó Chúa Kitô “hôm qua, hôm nay và mãi mãi” là giải pháp cụ thể cho những vấn nạn cụ thể chủ yếu của con tim khắc khoải loài người…[2]

 Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã cho Giáo hội có một vị mục tử tài đức; chúng con tạ ơn Chúa đã cho một vị cha luôn yêu thương và gần gũi với người trẻ; chúng con tạ ơn Chúa đã dùng Ngài để hướng dẫn người trẻ chúng con cung cách sống phục vụ Giáo hội và xã hội.  Xin cho chúng con có được tinh thần trẻ trung và thánh thiện như ngài.  Amen!

 Nt. Maria Thérèse Bùi Thị Minh Thùy, O.P   

  [1]

  1. Lm. Giuse Nguyễn Thịnh Phước, SDB,

“Đức Gioan Phaolô II- Bạn của Giới trẻ.”

https://songtinmungtinhyeu.org/index.php?open=contents&id=1247

 Jean Offredo, Đức Gioan Phaolô II: giấc mơ về Giê-ru-sa-lem, 236.

[2]

  1. Lm. Giuse Nguyễn Thịnh Phước, SDB,

“Đức Gioan Phaolô II- Bạn của Giới trẻ.”

https://songtinmungtinhyeu.org/index.php?open=contents&id=1247

 “Tin tưởng và Hy vọng,” tr 227.

 From: Langthangchieutim


 

 Thế giới sẽ tận cùng thế nào ? – Cha Vương

 Houston hôm nay trời ấm , ước mong bạn cảm nhận được hơi ấm của bình an, của tình thương trong lòng hôm nay nhé. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và cho nền hoà bình trên thế giới.

Cha Vương

Thứ 2: 26/10/2026.      (T4-22)

GIÁO LÝ: Thế giới sẽ tận cùng thế nào ? Khi tận thế, Thiên Chúa sẽ tạo dựng một trời mới đất mới. Sự dữ sẽ không còn quyền lực hay quyến rũ nữa. Những ai được cứu rỗi sẽ chiêm ngưỡng Thiên Chúa mặt đối mặt như bạn hữu của Người. Niềm ước mong hòa bình và công lý của họ sẽ được thỏa mãn. Hạnh phúc của họ là được chiêm ngắm Chúa. Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ ở giữa họ, sẽ lau khô mọi giọt lệ trên mắt họ: sự chết sẽ không còn nữa, và cũng không còn tang chế, khóc lóc, và đau khổ nữa. (YouCat, số 164)

SUY NIỆM: Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất. Đấng ngự trên ngai phán: Này đây Ta đổi mới mọi sự. Rồi Người phán: Ngươi hãy viết: Đây là những lời đáng tin cậy và chân thật. (Kh 21.4-5) (YouCat, số 164 t.t.)

LẮNG NGHE: Lúc đó, Người sẽ sai các thiên sứ đi, và Người sẽ tập họp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời. (Mc 13:27)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin thương ban cho con niềm hy vọng vào Lời Hứa và lời Chúa căn dặn để con biết sống từng giây phút hiện tại với lòng trông cậy, tin yêu và phó thác tuyệt đối vào Chúa để một ngày nào đó được tận hưởng niềm hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa.

THỰC HÀNH: Nếu bạn có một ngày nữa để sống, bạn cần phải là gì? Tập kết hiệp với Chúa qua lời kinh tiếng hát thay vì lướt mạng.

From: Do Dzung

******

Nếu chỉ còn 1 ngày để sống. Ca sĩ HIỀN THỤC – TUẤN TÚ

Vương Hồng Sển: Người Viết “SÀI GÒN NĂM XƯA” , Xé Di Chúc Hiến Nhà Làm Bảo Tàng.

Vương Hồng Sển: Người Viết “SÀI GÒN NĂM XƯA” , Xé Di Chúc Hiến Nhà Làm Bảo Tàng.

Kẻ Đi Tìm thông tin thêm:

Căn nhà của cụ Vương đang bị  xuống cấp: Do vướng mắc về thủ tục bồi thường, tái định cư cho hậu duệ của cụ cũng như thủ tục công nhận di tích, ngôi nhà cổ Vân Đường Phủ bị bỏ hoang trong thời gian dài và xuống cấp nghiêm trọng. Đến nay, phần lớn bộ sưu tập cổ vật đã được Bảo tàng Lịch sử TP.HCM tiếp nhận và lưu giữ, còn ngôi nhà cổ vẫn đang trong quá trình bảo tồn, giải quyết vướng mắc.

Dù thiết tha yêu nước đến mấy nhưng phải dính vào Chính Quyền Cộng Sản là khổ, tàn tạ!

LỚN – LÀM CHO LỚN – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Nó lớn lên và trở thành cây”.

“Vấn đề không phải lúc nào cũng là bạn lớn lên nhanh đến đâu, mà là bạn có đang lớn lên không!” – Donald S. Whitney.

Kính thưa Anh Chị em,

Không phải nhanh hay chậm nhưng chúng ta có thật sự đang lớn lên? Lời Chúa hôm nay mở ra một nghịch lý: lớn lên thật là biết làm cho người khác lớn lên – ‘lớn – làm cho lớn’.

Chúa Giêsu ví Nước Thiên Chúa như hạt cải một người gieo trong vườn. Hạt lớn lên thành cây, chim trời đến làm tổ. Chim không chỉ ghé đậu rồi bay đi, nhưng tìm được một chốn ở lại, nghỉ ngơi, đẻ trứng, ấp con và nuôi dưỡng sự sống. Điều quý nhất của cây không phải là đã vươn cao bao nhiêu, mà là có bao nhiêu chim trời đã tìm được chỗ ở, được nâng đỡ và trưởng thành nhờ cây.

“Cây trong vườn đâu tính chuyện ai xứng đáng, đàn vật ngoài đồng cũng vậy. Chúng cho đi để sống; giữ lại là tàn lụi!” – Kahlil Gibran.

Nắm men lại lớn lên theo một cách khác! Người phụ nữ vùi nó vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả dậy men. Men không lớn thành một khối men đồ sộ, nó trộn vào bột; không còn được nhìn thấy, nhưng chính lúc ấy, cả khối bột bắt đầu biến đổi. Cây lớn lên để có chỗ cho chim; men khuất đi để cả khối bột dậy lên. Một bên trở nên lớn lao bằng vươn cao xoè tán; bên kia làm nên điều lớn lao bằng cách ẩn khuất. Nước Thiên Chúa lớn lên theo cả hai cách: trở thành nơi đón nhận sự sống, và âm thầm biến đổi sự sống từ bên trong.

Từ hạt cải đến nắm men, từ gia đình đến Hội Thánh, tình yêu đích thực mang dáng dấp một Đức Kitô tự hiến. “Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh” – bài đọc một. Ngài yêu thương và hiến mình để làm cho Hội Thánh nên thánh. Thánh Vịnh đáp ca cũng vẽ nên một mái nhà đầy sức sống: người vợ như cây nho sai trái, đàn con như những chồi ôliu quanh bàn ăn. “Hạnh phúc thay những người kính sợ Chúa!” không dừng ở phúc lành mình nhận, nhưng còn nở ra nơi những sự sống được nuôi dưỡng bên cạnh.

Chúng ta có khi tuổi đã cao, có địa vị, kinh nghiệm, nhưng người ở bên vẫn không có chỗ để lớn lên; muốn họ trưởng thành, nhưng chúng ta không muốn họ vượt khỏi tầm kiểm soát. Cây cao mà bóng không toả; muốn cả khối bột dậy, nhưng men vẫn muốn được nhìn thấy. Muốn người khác lớn lên, đôi khi chính mình phải biết rút lui – ‘lớn – làm cho lớn!’.

Anh Chị em,

Đức Kitô lớn lên trong thân phận con người, rồi chấp nhận nhỏ lại đến tận cái chết trên thập giá. Từ cạnh sườn rộng mở của Ngài, Hội Thánh được khai sinh; từ sự sống Ngài trao, muôn người được sống. Đấng đã khuất mình trong lòng đất nay phục sinh, vẫn âm thầm nuôi dưỡng Hội Thánh và nhân loại. Chúng ta không thể làm cho ai được sống dồi dào nếu trước hết không đón nhận sự sống từ Đức Kitô. “Cành nho không thể làm gì nếu lìa thân nho, vì nhựa sống không đến được với chúng. Chúng cần nhựa sống để lớn lên và sinh hoa trái!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con nôn nóng trước những đổi thay chậm chạp; cho con kiên trì với điều thiện nhỏ bé mỗi ngày; và biết vui khi anh em tiến xa hơn con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXX Thường Niên,Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/27.html

Hạt cải lớn lên và trở thành cây.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.       Lc 13,18-21

18 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng rằng : “Nước Thiên Chúa giống cái gì đây ? Tôi phải ví Nước ấy với cái gì ? 19 Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được.”

20 Người lại nói : “Tôi phải ví Nước Thiên Chúa với cái gì ? 21 Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men.”


 

“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa…ngươi phải yêu người thân cận như chính mình – Cha Vương

Ngày Chúa Nhật thật mạnh mẽ, can đảm và hạnh phúc trong Chúa. Đừng buông tay Chúa nhé. Cậ`u nguyện cho nhau và cả thế giới luôn được bình an nữa nhé  

Cha Vương

CN: 25/10/2026.   (n29-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. (Mt 22:37-39)

SUY NIỆM: “Trong lề luật, giới răn nào trọng nhất”, Đây là một câu hỏi hóc búa, bởi vì đạo Do Thái có rất nhiều khoản luật (365 luật buộc và 248 luật cấm) mà luật nào cũng đều quan trọng cả. Câu trả lời của Đức Giêsu rất xuất sắc

 (1) Ngài đã lọc ra được hai điều luật quan trọng nhất là “mến Chúa và yêu người”, 

(2) Ngài liên kết hai điều đó lại mến Chúa thì phải yêu người và yêu người thì phải mến Chúa, và 

(3) Ngài chỉ cho thấy hai điều ấy—mà thực ra còn có thể tóm lại thành một điều duy nhất là YÊU THƯƠNG—là cốt lõi của tất cả mọi khoản luật khác. Trong bài suy niệm của Đức Cha Bùi Tuần về giới luật yêu thương ngài nói: “Tôi nghĩ rằng giới luật yêu thương, nghe thì dễ, nhưng thực tình rất khó. Bời vì sẽ mãi mãi có những mâu thuẫn trong cuộc sống giữa các tính tình, giữa các ý kiến và giữa các quyền lợi. Ngay trong một gia đình, bác ái yêu thương, đôi khi cũng là vấn đề có nhiều sóng gió. Ðiều ta cố gắng làm để xây dựng bác ái yêu thương, không phải là xoá bỏ mọi khác biệt, để cái gì cũng nhất trí như nhau, nhưng là biết kính trọng nhau, thông cảm nhau, tha thứ cho nhau, và bổ túc cho nhau.” Trong cuộc sống ai mà không muốn được kính trọng, được sự thông cảm, được tha thứ, và được hỗ trợ… Vậy tại sao mình không làm cho người khác đi? Cuộc sống chỉ thay đổi khi ta thay đổi mà thôi! Vậy bạn muốn có yêu thương trong gia đình ư? 

Trước hết bạn phải sống yêu thương trước đi rồi mọi sự sẽ thay đổi thôi.

LẮNG NGHE: Con yêu mến Ngài, / lạy CHÚA là sức mạnh của con; / Lạy CHÚA là núi đá, / là thành luỹ, là Đấng giải thoát con. (Tv 17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, sống yêu thương bác ái là chu toàn lề luật của Chúa, xin giúp con hôm nay biết hết lòng yêu mến Chúa và tha thiết yêu người như Chúa đã dạy.

THỰC HÀNH: Trong mọi mối quan hệ, nhất là quan hệ vợ chồng, chiến tranh lạnh làm cho tinh thần vô cùng căng thẳng, thậm chí phải dùng tới thuốc an thần mới ngủ được. Nó làm cho bầu không khí trong gia đình sự trở nên tồi tệ hơn. Mời bạn hãy sống giới luật yêu thương nhé. Tuy khó đó bạn nhưng nó sẽ mang lại cho bạn và những người chung quanh thành quả bất ngờ! Tập liều lĩnh một tí đi nhé để mang yêu thương vào nơi bất hoà. 

From: Do Dzung

*****

Lời Nguyện Cầu 2 – Sr. M. Tigon – Cover by Thiên Âm

THƯ CỦA ALBERT EINSTEIN GỬI CON GÁI VỀ MỘT NGUỒN SỨC MẠNH VÔ HÌNH

Xuyên Sơn 

THƯ CỦA ALBERT EINSTEIN GỬI CON GÁI VỀ MỘT NGUỒN SỨC MẠNH VÔ HÌNH

Thiên tài Albert Einstein đã qua đời hơn hai thập kỷ, bức di thư đầy ý nghĩa của ông để lại cho con gái vừa được công bố.

Những bức thư viết tay của Einstein được giữ gìn kỹ lưỡng và mới được phép công bố trong thời gian gần đây.

Theo nhà khoa học thiên tài này, nguồn sức mạnh đó hoàn toàn có thật và sẽ khiến cho chúng ta có một cuộc sống hạnh phúc.

PLO xin giới thiệu với bạn đọc một phần nội dung bức thư gây tiếng vang của ông về nguồn sức mạnh vô hình.

“….Khi cha công bố thuyết tương đối, nhiều người đã không hiểu được nó. Cũng như vậy, điều cha sắp nói đây sẽ vấp phải sự hoài nghi, thậm chí phủ nhận của đa số mọi người trên thế giới.

Vì vậy cha đề nghị con giữ bức thư này kín đáo lâu nhất có thể, nhiều năm, thậm chí là nhiều thập kỷ cho đến khi tư tưởng đám đông cởi mở đến mức sẽ chấp nhận những gì cha giải thích dưới đây.

Có một loại sức mạnh vô hình đã có từ rất lâu, tới nay khoa học vẫn chưa thể giải thích tường tận.

Nó là ngọn nguồn của mọi diễn tiến trong cuộc sống, dẫn dắt và chi phối tất cả con người, thậm chí đứng sau cả sự vận hành của vũ trụ vạn vật mà chúng ta chưa hiểu thấu.

Sức mạnh ấy chính là tình yêu.

Tình yêu chính là ánh sáng, soi rọi cho những ai yêu và được yêu.

Tình yêu chính là lực hấp dẫn bởi nó khiến một số người bị cuốn hút vào một người khác.

Tình yêu cũng là sức mạnh bởi nó khiến những gì tốt đẹp chúng ta có càng được nhân lên bội phần. Tình yêu khiến con người không bị che mờ bởi sự ích kỷ của bản thân, nó hé lộ và gợi mở những chân trời mới.

Chúng ta sống và chết với tình yêu.

Tình yêu là chúa trời và chúa trời cũng là tình yêu.

Sức mạnh này giải thích mọi điều và cho cuộc đời này ý nghĩa đích thực.

Nguồn sức mạnh này đã bị chúng ta bỏ quên quá lâu rồi. Có lẽ bởi vì con người còn e ngại tình yêu vì nó là năng lượng duy nhất trong vũ trụ chúng ta không thể điều khiển.

Để khiến nguồn sức mạnh này dễ hình dung hơn, cha sẽ áp dụng vào phương trình nổi tiếng của mình. Thay vì sử dụng công thức E=mc2, chúng ta đồng ý rằng năng lượng để hàn gắn thế giới có thể thu được từ phép nhân tình yêu với tốc độ ánh sáng.

Như vậy ta thấy rõ là sức mạnh của tình yêu là không có giới hạn bởi nó thực sự bất tận.

Sau những thất bại của con người trong việc sử dụng và điều khiển các nguồn sức mạnh từ vũ trụ, cũng đã đến lúc chúng ta phải bồi dưỡng cho bản thân một nguồn năng lượng khác.

Nếu chúng ta muốn loài người tồn tại, muốn cuộc sống luôn tràn ngập ý nghĩa,

nếu chúng ta muốn cứu thế giới này và những gì đang có trên đó thì tình yêu là câu trả lời đầu tiên và duy nhất.

Có thể chúng ta chưa sẵn sàng chế tạo ra được một quả bom tình yêu hay một thiết bị đủ mạnh để loại bỏ hết hận thù, ích kỷ, tham lam đang chiếm lĩnh hành tinh.

Thế nhưng mỗi một cá nhân có thể là một “máy phát điện” nhỏ với nguồn năng lượng tình yêu luôn sẵn sàng để lan tỏa.

Lieserl yêu quý của cha, khi chúng ta học cách cho và nhận nguồn năng lượng vô hình này, chúng ta sẽ nhận ra rằng tình yêu sẽ chiến thắng tất cả,

nó có thể nâng ta vượt qua tất cả mọi khó khăn, trở ngại.

Tình yêu chính là những gì tinh túy nhất của cuộc sống.

Cha cảm thấy rất ân hận vì đã không bày tỏ tất cả những tình cảm trong trái tim, tình yêu thương mà cả cuộc đời mình cha đã dành cho con.

Có thể bây giờ đã muộn để nói lời xin lỗi nhưng thời điểm cũng chỉ là tương đối thôi con à, cha cần phải nói với con là cha yêu con vô cùng và cảm ơn con, nhờ có con mà cha đã tìm ra chân lý tận cùng của mọi sự.

Cha của con

Albert Einstein”

Theo N.C / PLO

Bao Nguyen Quang St & T/h.

………………….

Chú thích ảnh:

1) Albert Einstein cùng các cô con gái

2) Einstein và vợ, bà Elsa Lowenthal

3) Albert Einstein và con gái Lieserl Einstein

Nguồn fb Bao Nguyen Quang 


 

Phan sinh Trần – Kẻ Đi Tìm

Bức thư về “năng lượng tình yêu” nổi tiếng trên mạng chưa được các chuyên viên lịch sử xác nhận là do Einstein thực sự viết. Tuy nhiên, nếu đọc toàn bộ các phát biểu đã được xác thực của Einstein, có thể thấy ông ở vị trí trung lập ngả về nguồn gốc Sáng Tạo, nói cách khác:
– Einstein ở vị trí trung gian, nhưng nghiêng về việc vũ trụ có một trật tự hoặc thực tại sâu xa vượt trên sự hiểu biết thông thường của con người.
 

CÓ NHỮNG “NGƯỜI THẦY” NHƯ THẾ

Xuân Hồng

1968, năm tôi thi Tú Tài toàn phần ở Huế, có con gái vị bộ trưởng ở Sài Gòn cũng thi, chỉ thiếu nửa điểm để đậu.

Mẹ của cô này là vợ vị bộ trưởng bộ giáo dục VNCH bị bệnh sắp từ giã cõi đời chỉ muốn nghe được con đậu để nhắm mắt xuôi tay.

Vị bộ trưởng điện thoại cho thầy chánh chủ khảo kỳ thi và xin thầy chủ khảo bỏ qua nửa điểm cho cô con gái đậu trước khi mẹ cô qua đời!

Nhưng thầy Chánh Chủ khảo từ chối, thầy nói nếu cho con của bộ trưởng đậu thì tất cả thí sinh thiếu nửa điểm của cả nước cũng phải đậu hết, điều này làm giảm tính xác thực của tấm bằng tú tài mà nhà nước đã giao cho tôi phụ trách bộ trưởng…

Các thầy của trường Đại Học Y Khoa Huế cái thời tôi học cũng thế, rất thương sinh viên nhưng không bao giờ vì tình cảm hay thân quen gì đó mà nương nhẹ trong các kỳ thi cho bất cứ sinh viên nào.

CÓ NHỮNG “NGƯỜI THẦY” NHƯ THẾ.

Nhìn tấm hình (ảnh dưới), có thể thấy phong thái học hành tuyệt vời của Đại học Y khoa Sài Gòn trước 1975, khi sinh viên nghe như uống từng lời của giáo sư Phạm Biểu Tâm: khoa trưởng khoa Y… Việt Nam đầu tiên của trường.

Một chuyện đáng nhớ về giáo sư là vào đầu thập niên 60, trong kỳ thi tuyển sinh vào Đại học Y khoa Sài Gòn, Ngô Đình Lệ Thuỷ (con của Cố vấn Tổng thống Ngô Đình Nhu) thi không đạt điểm đậu.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Chủ tịch Hội đồng thi đã từ chối cho Lệ Thuỷ vào học, mặc dù có sự can thiệp của Bộ trưởng Giáo dục thời đó.

Giáo sư Ngô Gia Hy nói: “Ở Sài Gòn, trong cương vị Giám đốc Bệnh viện Bình Dân, khoa trưởng Đại học Y khoa Sài Gòn, quyền Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, Anh (GS Tâm) cũng vẫn tấm lòng đôn hậu, nhưng rất cương trực điều hành và cư xử tốt với tất cả mọi người.

Anh đã cương quyết thực hiện công bằng trong các kỳ thi tuyển sinh vào trường Y khoa, vượt qua những áp lực dựa vào quyền thế.

“Anh có đặc tính khiêm tốn, dù ở địa vị cao, mà Anh không hề nói xấu một người nào.

Ngoài ra, Anh còn là người con hiếu thảo, là giáo sư nhưng mỗi khi về Huế, Anh vẫn mặc áo the thâm hầu hạ phụ thân đã cao tuổi như một người con nhỏ.

Đối với những thầy cũ của mình, bất cứ ở đâu, trong trường hợp nào, Anh vẫn tỏ lòng kính trọng, lắng nghe…”.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm học tiểu học tại Huế, và sau đó qua trung học phổ thông tại Vinh.

Đến lúc trung học chuyên khoa (Tú tài), ông theo học tại Trường Quốc học Huế và Trường Bưởi (Hà Nội).

Năm 1932 ông bắt đầu theo học Trường Thuốc tại Hà Nội.

.Khi đã tốt nghiệp, ông tiếp tục làm nội trú bệnh viện trong nhiều năm để học hỏi thêm kinh nghiệm.

Năm 1947 ông đệ trình luận án Tiến sĩ y khoa với đề tài là “Introduction de la Médecine occidentale en Extrême-Orient” (Sự du nhập của y khoa Tây phương vào các nước miền Viễn đông).

Năm 1948 ông trúng tuyển kỳ thi Thạc sĩ y khoa (professeurs agrégés des universités, để làm Giáo sư) tại Paris, đồng thời với bác sĩ Trần Quang Đệ, một nhà phẫu thuật lừng danh khác của Việt Nam.

Ông trở về nước làm Giáo sư giảng dạy tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội suốt trong khoảng thời gian từ 1949 đến 1954.

Ông cũng kiêm nhiệm chức Giám đốc Bệnh viện Yersin tại Hà Nội và sau đó là Phó giám đốc Trường Quân Y.

Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào nam và trở thành Giám đốc kiêm Trưởng khoa Ngoại tại Bệnh viện Bình Dân.

Một năm sau, ông trở thành khoa trưởng người Việt đầu tiên của Trường Đại học Y Dược Sài Gòn.

Nhưng ít năm sau đó, ông từ chối lời mời làm Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, nhất quyết ở lại với Trường Y khoa để tiếp tục chương trình đã theo đuổi từ nhiều năm.

Sau 1975, giáo sư Phạm Biểu Tâm vẫn ở lại Việt Nam.

Một học trò cũ của ông là Ngô Thế Vinh viết: “Thầy Tâm vẫn có được sự kính trọng và vị nể của chế-độ mới, vì đức độ tài-năng và nhân-cách đặc-biệt của Thầy.

Thầy thì cứ như một nhà nông biết là thời tiết không thuận lợi, nhưng vẫn cứ cắm cúi vun xới thửa đất để cấy trồng.

Trước sau, chưa bao giờ Thầy có phòng mạch tư, cuộc sống của Thầy rất thanh bạch.

Hàng ngày toàn thời gian Thầy tới nhà thương Bình Dân khám bệnh, mổ xẻ và hết lòng chăm sóc người bệnh cùng với công việc giảng dạy cho các thế hệ môn sinh.

Chế độ mới cần tới uy tín Thầy nhưng họ vẫn không bao giờ tin nơi Thầy.

Bằng cớ là nhà của thầy Tâm ít nhất đã hai lần bị Công an Thành phố xông vào lục xét, và cứ sau một lần như vậy, không phát hiện được gì…”

Thầy Phạm Biểu Tâm mất năm 1999 tại Mỹ sau thời gian dưỡng bệnh.

Tháng 12 hàng năm là dịp tưởng niệm ngày mất của thầy.

Mỗi khi nhớ tới thầy, tôi rất xúc động, bởi thầy thực sự là một tri thức Việt Nam rất hiếm có kể cả về tài năng, đức độ, nhân cách.

Tiếc thay… giờ đây ở ta rất khó tìm thấy những giáo sư như thầy Phạm Biểu Tâm.

Nguồn: Nguyễn Thị Bích Hậu

Đã có một thời LƯƠNG  Y NHƯ TỪ  MẪU