Thánh Boniface (Bônifaciô), 672-754, Tử Đạo – Cha Vương

Mến chúc bạn và gia đình ngày thứ 6 đầu tháng zui zẻ, khoẻ mạnh, thật can đảm và mạnh mẽ trong đức tin-cậy-mến. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Boniface (Bônifaciô), 672-754, Tử Đạo. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 5/6/2026.       (t5-25)

Thánh Boniface, vị tông đồ của người Ðức, là một đan sĩ người Anh thuộc Dòng Biển Ðức, đã hy sinh vinh dự khi được chọn làm đan viện trưởng để tận hiến cuộc đời trong việc hoán cải các sắc tộc ở Ðức. Ngài có hai đặc tính nổi bật: Kitô Giáo chính truyền và trung thành với đức giáo hoàng ở Rôma.

   Thánh Boniface, tên thật là Wilfrith, sinh ở Anh Quốc. Ngay khi còn nhỏ, hình ảnh cao quý của các đan sĩ truyền giáo đã in sâu trong tâm khảm của ngài, do đó, khi bảy tuổi ngài đã nài nỉ xin theo học trường dòng, dù rằng cha ngài mong muốn cho con một sự nghiệp ở ngoài đời.

   Lớn lên, ngài làm giám đốc một trường học ở Nursling, Winchester, tại đây ngài là người đầu tiên viết về văn phạm Latinh bằng tiếng Anh, cũng như sáng tác nhiều bài diễn giảng được nhiều người sao chép và phổ biến.

Năm ba mươi tuổi, ngài được thụ phong linh mục và đi rao giảng ở Friesland (thuộc Hòa Lan bây giờ), nhưng không bao lâu ngài phải trở về Nursling vì cuộc chiến giữa vua ngoại giáo của Friesland và Charles Martel của Pháp.

Sau cái chết của đan viện trưởng, các đan sĩ ở Nursling tìm cách giữ chân ngài bằng cách bầu ngài làm đan viện trưởng, nhưng ngài đã từ chối để tận hiến cho công cuộc truyền giáo.

   Năm 718, ngài đến Rôma để gặp Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô II, là người sai ngài đi truyền giáo cho người Ðức ở Hesse và Bavaria. Ở Hesse, trước sự hiện diện của đám đông người ngoại giáo rất tin dị đoan, ngài đã chặt cây Sồi Thần Linh ở Geismar to lớn và già nua, được dân ngoại dâng cúng cho thần Thor. Người ta kể chỉ sau vài nhát rìu, cây sồi đã lung lay và sụp đổ, tách ra làm bốn cho thấy sự mục nát bên trong. Ðó là khởi đầu của một công cuộc truyền giáo rất thành công của Thánh Boniface và cũng là hạt giống đức tin cho một giáo hội đầy sinh lực ở Ðức, mà sau này Thánh Boniface được tấn phong làm giám mục ở đây. Ngài xin các Kitô Hữu ở Anh hỗ trợ công cuộc truyền giáo của ngài và họ đã đáp ứng với tài chánh, sách vở, vật liệu, và nhất là thường xuyên cung cấp các đan sĩ để giúp đỡ ngài trong việc giảng dạy.

   Thánh Boniface không chỉ hạn chế hoạt động ở nước Ðức. Ngài còn giúp hình thành sự tương giao giữa Ðức Giáo Hoàng và các vua ở Ý cũng như ở Pháp. Ngài thúc giục các thái tử kế vị vua Charles của Pháp triệu tập công đồng để cải tổ giáo hội trong các phần đất của họ, là nơi chức giám mục được bán cho những người trả giá cao nhất.

       Ngài không bao giờ quên sự thất bại ở Friesland, do đó khi về già, ngài từ chức giám mục và trở về hoạt động ở đây với sự thành công đáng kể.

Vào một ngày trong tháng Sáu năm 754, khi ngài đang chuẩn bị cho người Friesland chịu phép Thêm Sức thì tất cả bị tấn công và bị giết chết bởi các chiến sĩ ngoại giáo.

LỜI BÀN: Thánh Boniface xác nhận một quy tắc của Kitô Giáo: Theo Ðức Kitô là theo con đường thập giá. Ðối với Thánh Boniface, con đường đó không chỉ là sự đau khổ phần xác hay cái chết, mà cả sự đau khổ vì bị sỉ nhục, vô ơn trong việc cải tổ Giáo Hội. Vinh dự của truyền giáo là đem người ngoại giáo trở về với Giáo Hội. Nhưng dường như, việc chấn chỉnh đức tin ngay trong lòng Giáo Hội, là một việc rất cần thiết, thì ít người lại cho đó là một vinh dự.

LỜI TRÍCH: Chúng ta phải bền vững trong những gì là chân lý và chuẩn bị linh hồn cho những thử thách… Ðừng là những con chó không dám sủa hay im lặng nhìn xem, và cũng đừng là người tôi tớ trốn chạy trước đàn sói. —Thánh Boniface.  

(Nguồn: dòng tên VN-hạnh các thánh)

From: Do Dzung

*****************************

Theo Dấu Chân Ngài – Sáng tác: Sr Trinh Nguyên – Trình bày: Sr Hạ Phương


 

CHÂN DUNG TƯỚNG MỸ “XÂM LƯỢC”

Thái Bá Tân Vt

CHÂN DUNG TƯỚNG MỸ “XÂM LƯỢC”

MacArthur đến Nhật vơi đôi bàn tay đẫm máu người Nhật, đã giết chết cả triệu quân Nhật, nhưng khi MacArthur rời Nhật về Mỹ, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật đứng hai bên đường đưa tiễn.

Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật: Đại nguyên soái! MacArthur được người Nhật vinh danh là 1 trong 12 danh nhân nước Nhật mọi thời đại.

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?

Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế người Nhật hận ông thấu xương.

Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”.

Nhưng tướng MacArthur mang quân đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ.

Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi.

Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.

Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?

Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.

Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.

Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận.

Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.

Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”.

Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.

Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.

Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.

Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.

Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định.

Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.

Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”

Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!

Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình.

Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.

Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”

Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.

Ảnh: Tướng MacArthur

Phạm Hải ( sưu tầm và biên tập ) 


 

 PHÁT SÚNG ĐẦU TIÊN CỦA IRS NHẮM VÀO NGÀNH NAIL HOA KỲ

Hoai Linh Ngoc Duong

 PHÁT SÚNG ĐẦU TIÊN CỦA IRS NHẮM VÀO NGÀNH NAIL HOA KỲ.

Vụ án của Vinh Ho và Lan Do không chỉ là một vụ án hình sự thuế vụ lớn, mà còn là một lời cảnh báo đối với toàn bộ ngành nail của người Việt tại Hoa Kỳ.

Theo Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, hai chủ nhân của hệ thống hơn 60 tiệm nail trên toàn quốc đã thừa nhận vận hành một hệ thống trả lương tiền mặt ngoài sổ sách cho thợ nail từ năm 2016 đến 2024.

Tổng số tiền mặt không khai báo lên tới hơn 116 triệu USD, gây thiệt hại thuế ước tính ít nhất 32 triệu USD.  

Luật thuế thu nhập cá nhân của Hoa Kỳ quy định như thế nào?

Một nguyên tắc căn bản của luật thuế Hoa Kỳ là:

Mọi khoản thu nhập đều phải khai báo thuế, bất kể nhận bằng check, chuyển khoản hay tiền mặt.

Đối với một người thợ nail, các khoản sau đây đều là thu nhập chịu thuế:

  • Tiền lương nhận bằng check.
  • Tiền lương nhận bằng tiền mặt.
  • Tiền tip bằng tiền mặt.
  • Tiền tip qua thẻ tín dụng.
  • Tiền hoa hồng (commission).
  • Tiền thưởng.

Về mặt pháp lý, IRS không phân biệt 100 USD nhận bằng check hay 100 USD nhận bằng tiền mặt. Cả hai đều là thu nhập phải khai báo.

Đó là lý do người Mỹ thông thường không có khái niệm:

“Phần check thì khai thuế, phần cash thì không.”

Đối với IRS, đó là hành vi khai thiếu thu nhập.

Tập quán 70% check – 30% cash trong ngành nail Việt

Trong nhiều thập niên, một số tiệm nail Việt hình thành một tập quán không chính thức:

– Một phần lương trả bằng check.

-Một phần lương trả bằng tiền mặt.

Nhiều người cho rằng phần tiền mặt là “tiền riêng”, “tiền tip”, hoặc “không cần khai”.

Đây là một suy nghĩ rất nguy hiểm.

Nếu người thợ nhận:

– 35.000 USD bằng check

-15.000 USD bằng cash

thì thu nhập chịu thuế thực sự là:

50.000 USD

chứ không phải 35.000 USD.

Nếu chỉ khai 35.000 USD, về mặt pháp lý đó là khai thiếu thu nhập.

Vì sao chủ tiệm thường bị liên lụy?

Nhiều người nghĩ:

“Thợ không khai thì thợ chịu.”

Thực tế không đơn giản như vậy.

Khi một doanh nghiệp cố tình:

  • trả lương tiền mặt ngoài sổ sách,
  • lập Form 1099 hoặc W-2 không đúng,
  • che giấu hồ sơ lương,
  • hướng dẫn nhân viên không khai tiền mặt,

thì chủ tiệm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo hồ sơ của Bộ Tư pháp, các công tố viên cáo buộc Vinh Ho và Lan Do đã huấn luyện quản lý tiệm vận hành hệ thống trả lương tiền mặt ngoài sổ sách, lập các mẫu thuế không phản ánh đầy đủ thu nhập thực tế của thợ nail.  

Tại sao các tiệm lớn dễ gặp rủi ro hơn?

Một tiệm nhỏ có thể chỉ có:

  • 5 thợ
  • 10 thợ

Số tiền mặt không khai báo có thể tương đối nhỏ.

Nhưng khi một hệ thống có:

  • 20 tiệm
  • 40 tiệm
  • 60 tiệm

thì khoản tiền mặt được trả ngoài sổ sách có thể lên tới hàng chục triệu đô la.

Đó chính là điều xảy ra trong vụ Anthony Vince Nail Salon.

Càng nhiều tiệm, càng nhiều nhân viên, càng nhiều giao dịch tiền mặt thì rủi ro kiểm toán và điều tra càng lớn.  

IRS hiện nay kiểm tra bằng cách nào?

Nhiều chủ tiệm vẫn nghĩ:

“Tiền mặt không có dấu vết.”

Nhưng trên thực tế IRS ngày nay có nhiều công cụ:

  • Đối chiếu doanh thu thẻ tín dụng.
  • Đối chiếu tiền gửi ngân hàng.
  • Kiểm tra hóa đơn mua vật tư.
  • Kiểm tra tiền thuê mặt bằng.
  • Kiểm tra số ghế và lượng khách.
  • So sánh với các tiệm cùng quy mô.
  • Phỏng vấn nhân viên cũ.
  • Khuyến khích tố giác nội bộ.

Nhiều vụ án nail salon trong những năm gần đây bắt đầu từ lời khai của nhân viên hoặc quản lý cũ.  

Điều đáng lo nhất không phải là tiền phạt

Nhiều người nghĩ nếu bị phát hiện thì chỉ cần nộp lại thuế.

Không hẳn như vậy.

Nếu IRS cho rằng có yếu tố cố ý:

  • che giấu thu nhập,
  • làm sổ sách giả,
  • khai man hồ sơ thuế,
  • tổ chức hệ thống trả lương ngoài sổ sách,

thì vụ việc có thể chuyển từ dân sự sang hình sự.

Trong trường hợp đó có thể xuất hiện:

  • tiền phạt lớn,
  • truy thu nhiều năm,
  • tiền lãi chậm nộp,
  • án quản chế,
  • thậm chí án tù liên bang.

Nhiều chủ tiệm nail trên khắp nước Mỹ đã bị truy tố trong các vụ tương tự trong những năm gần đây.  

Bài học cho cộng đồng nail Việt

Ngành nail là một câu chuyện thành công đáng tự hào của người Việt tại Hoa Kỳ. Hàng trăm nghìn gia đình đã vươn lên từ hai bàn tay trắng nhờ nghề nail.

Nhưng chính vì ngành nail đã phát triển quá lớn nên những tập quán hình thành từ 20 hoặc 30 năm trước không còn phù hợp với môi trường pháp lý hiện nay.

Điều từng được xem là “chuyện bình thường ai cũng làm” có thể trở thành bằng chứng của hành vi trốn thuế trước tòa án liên bang.

Vụ Vinh Ho và Lan Do cho thấy một thực tế rất rõ ràng:

IRS không còn chỉ nhắm vào các tập đoàn lớn. Những ngành nghề sử dụng nhiều tiền mặt như nail salon, nhà hàng, tiệm tóc, tiệm giặt ủi hay sửa xe hiện đang nằm trong nhóm được chú ý đặc biệt.

Đối với chủ tiệm lẫn thợ nail, cách bảo vệ tốt nhất không phải là tìm cách che giấu tiền mặt, mà là khai báo đầy đủ mọi nguồn thu nhập. Tiền mặt không phải là “tiền miễn thuế”. Trong luật thuế Hoa Kỳ, đó vẫn là thu nhập chịu thuế giống như bất kỳ tờ check nào được nhận từ ngân hàng. 


 

MƯờI CĂN BỆNH LÀM BĂNG HOẠI NGƯỜI CÔNG GIÁO- (Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận)

Maria Mai Tâm

MƯờI CĂN BỆNH LÀM BĂNG HOẠI NGƯỜI CÔNG GIÁO

(Đức Hồng Y FX. Nguyễn Văn Thuận)

  1. Bệnh quá khứ cục bộ.

Bệnh này thể hiện qua tâm trạng chỉ nhớ và khen cái quá khứ của mình mà thôi và đóng khung lại trong đó. Ngày tôi bị đưa đi tù ra Bắc, thỉnh thoảng gặp giáo dân và ai cũng hớn hở tâm sự: “Thưa cha, chúng con thấy sung sướng nhất là thời còn Đức khâm sứ . Chúng con đi rước kiệu đầy đường phố, quanh cả bờ hồ Hoàn Kiếm, và thấy Đức khâm sứ quỳ trên chiếc xe, tay cầm Mình Thánh Chúa, mặt ngài sáng láng đỏ hồng như mặt trời. Không biết bao giờ chúng con mới trở lại được như thời kỳ có Đức khâm sứ!”.

Ta không quên quá khứ, vì đó là bài học kinh nghiệm, nhưng ta không dừng lại đó, ta nhìn tương lai để xây dựng còn đẹp hơn xưa.

Bà con chỉ sống trong quá khứ, mong trở về quá khứ. Mà thời gian thì bao giờ quay trở lại !

Tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều anh chị em tới một tuổi nào đó. Chén thù chén tạc bên nhau than thở:

“Biết bao giờ bọn mình trở lại được thời Cộng hoà. Mọi thứ rẻ mạt. Lương tháng mấy nghìn. Một tạ gạo giá chỉ mấy trăm bạc. Sướng thiệt !”.

Ta đang ở năm 1998, làm sao mà lùi lại 1960 được!

Do vậy mà chúng ta đâm ra thiển cận. Thay vì nhìn tới thì lại nhìn lui. Giống như người lái xe, không nhìn đằng trước mà cứ chăm chăm vào kính chiếu hậu để ngắm xe sau. Vậy làm sao mà tiến được.

Mà dù thế nào thì mình vẫn phải sống.

Quá khứ không bao giờ trở lại.

Và thời gian thì cứ tiến mãi.

Nhìn lại gương Chúa Giêsu. Từ trời cao xuống thế, Ngài cứ nhắm tới, một mạch đi tới và cứ nói:

“Thầy sẽ lên thành Giêrusalem chịu nạn”.

Ngài dư biết cuộc tử nạn sẽ rất đau đớn, nhưng vẫn đi tới, chấp nhận. Bởi qua cái đau khổ đó con người được cứu độ.

Cũng vậy, nếu chúng ta muốn cho Đất nước và Giáo hội mình tiến, thì phải nhìn về tương lai. Không quên quá khứ, vì đó là bài học cho tương lai. Nhưng đừng có viễn mơ lui lại quá khứ.

Mỗi người, mỗi thời đại đều có cái hay, cái đẹp. Phải làm sao biết khai triển cái hay cái đẹp đó cho hiện tại đang sống, chứ đứng đó mà than thở tiếc nuối thì ích gì ! Nhìn quá khứ để tạ ơn Chúa, để sám hối. Nhìn hiện tại để hăng say phục vụ với trách nhiệm – Nhìn tương lai với hy vọng.

  1. Bệnh tiêu cực bi quan

Những người mang bệnh này cứ chỉ trích kinh niên. Khi nào cũng có chuyện để chỉ trích. Một người làm cả đám phá. Một chính đảng lên thì các đảng khác xúm nhau phá. Phải đạp nó xuống thì mình mới lên được chứ !

Bệnh chỉ trích phát sinh từ lòng ích kỷ hoặc kiêu căng. Một biểu hiện song hành của bệnh này là người chỉ trích thường hay thiếu tự tin.

Người tiêu cực cái gì cũng chỉ trích. Nhưng khi được yêu cầu đưa đề nghị thì “để xem đã”, hoặc có ai đưa ra đề nghị gì thì lại lắc đầu “không làm nổi đâu” !

Người tiêu cực thì bất cứ một cơ hội nào cũng là một tai họa cho mình (for the pessimists every opportunity is a calamity).

Trái lại, người lạc quan thì bất cứ tai họa nào cũng là một cơ hội cho mình (for the optimists every calamity is an opportunity).

Người ta kể câu chuyện:

Một công ty lớn gởi hai đại diện sang một nước Phi châu để nghiên cứu thị trường tiêu thụ giày dép. Trở về điều trần, một vị lắc đầu: Thưa quý vị, không có cách gì tiêu thụ được; người dân ở đó chỉ đi chân đất, có ai đi giày dép đâu ! Trong khi đó vị kia lại hớn hở: Thưa quý vị, chuyến này chúng ta thắng lớn; cả một lục địa mênh mông chưa có ai có giày dép để đi cả !

Người tích cực thì lạc quan.

Kẻ tiêu cực bi quan.

Tùy theo cách nhìn mà vấn đề nẩy sinh. Người Pháp nói:

Đừng trách rằng tối;

tối là vì mình không chịu thắp đèn lên thôi !

Đức Gioan Phaolô II kêu gọi: “Đừng sợ”, vì ta tin vào Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, ta tin con người có thiện chí, ta tin vào mình có Chúa giúp.

  1. Bệnh phô trương chiến thắng

Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng pháp gọi là triomphalisme; người Mỹ cũng có từ ngữ show up.

Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng:

Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế …

Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Đại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về ! Hãy cai chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?

Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, Cộng đoàn hiệp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự.

  1. Bệnh cá nhân chủ nghĩa

Các nhà phân tích cho hay: Người Âu châu bị bệnh này nặng hơn. Nhưng mình cũng không kém. Thời đại này đâu đâu cũng nghe người ta hô hào đoàn kết (Solidarité). Mà xem ra càng hô hào đoàn kết chừng nào, thì bệnh cá nhân lại nặng chừng nấy !

Biểu hiện của bệnh này:

Mình là nhất, là trung tâm của vũ trụ.

Mình chiếm độc quyền, ngay cả độc quyền thờ Chúa, độc quyền yêu Nước. Không muốn ai chia sẻ với mình, vì sợ người ta hơn. Người ta không tiếp tay với mình thì trách. Nhưng khi tiếp tay thì lại chỉ muốn họ đứng sau lưng mình mà thôi.

Cá nhân chủ nghĩa phát sinh từ lòng ích kỷ. Kính Chúa, yêu người thực chất là vì mình, vì lợi cho mình chứ chẳng phải vì Chúa vì người gì cả.

Người ta kể chuyện vui:

Một số Hồng y và Giám mục ngồi ăn cơm chung với Đức Thánh Cha (ĐTC). Có mấy vị hỏi ngài: Thưa ĐTC, nghe nói có bí mật Fatima, ĐTC có thể nói cho chúng con nghe được không.

ĐTC bảo: Bí mật mà, nói sao được. Nghe thế các ngài càng tha thiết: ĐTC đừng sợ, chúng con cam đoan sẽ dấu rất kỹ, không hở miệng. Sau năm lần bảy lượt nghe năn nỉ, ĐTC mỉm cười trả lời: Đức Mẹ Fatima bảo rằng đóng cửa Đức Mẹ Lộ-Đức lại !

Câu chuyện khôi hài này muốn nói lên cái cá nhân chủ nghĩa của con người ngày nay. Đức Mẹ Fatima sợ Đức Mẹ Lộ Đức nổi tiếng hơn và do đó khách hành hương đến viếng đông hơn nên đề nghị dẹp Lộ-Đức.

Chẳng đâu xa xôi. Quanh ta cũng không thiếu thí dụ.

– Hai nhà thờ cạnh nhau, chuông bên này kêu thì bên kia phải làm sao để kêu hơn.

Câu chuyện nầy có thật. Một giáo xứ xin Đức cha cho một quả chuông. Về đánh lên thì bà con giáo xứ bên cạnh sốt ruột khó chịu, liền cùng nhau kéo xin phép đổi một quả chuông lớn hơn. Khệ nệ mang về, đánh lên thì ai nấy thất vọng. Tưởng chuông lớn hơn thì tiếng phải hay hơn. Ai dè âm thanh của chuông thường đã được định chuẩn sẵn; theo nốt nhạc, cái chuông mới trùng một nốt nhạc với chuông cũ!

Trong Giáo hội có một điểm quan trọng, đó là tính đa diện (Pluralité). Giáo hội không đòi hỏi phải đồng bộ, nhưng trân trọng nét cá biệt của mỗi giáo hội địa phương. Khác nhau hầu bổ túc cho nhau, chứ không phải để rồi, tôi đi đường tôi, anh đi đường anh.

  1. Bệnh lười biếng tránh né

Triệu chứng của bệnh này là sợ tốn sức tốn của, sợ liên lụy, a dua: ai mạnh thì hùa theo. Khi nói thì rất hăng, nhưng vào việc thì viện đủ lý do để che đậy cái hèn nhát và lười biếng của mình. Giữa đại hội thì phát biểu thật hùng hồn, lúc phân việc thì lẩn đâu mất.

Trong đội tù của tôi trước đây có một ông cũng từ miền Nam ra. Mỗi lần họp anh ta phát biểu ào ạt. Đụng chuyện gì cũng dơ tay phát biểu. Nói huyên thuyên mà thường lạc đề. Đến lúc chia việc thì im re. Riết anh em trong tổ ngán. Nên mỗi lần anh ta dơ tay phát biểu là anh em đồng loạt hô: Im mà nghe, đài Mát-cơ-va phát !

Chuyện kể:

Hai nhà thông thái nọ muốn tìm hiểu xem thành phố Rôma có mấy người làm việc.

Họ bắt đầu bằng một chuỗi phân tách loại trừ. Trước tiên trừ đi con số trẻ em chưa đến tuổi làm việc, đến số người bệnh tật, số người ở tù, rồi số dân biểu nghị sĩ quanh năm suốt tháng chỉ cãi nhau và dơ tay bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ, số người làm nghề phê bình đá bóng… Cứ thế mà trừ, kỳ cùng chỉ còn lại hai người làm việc, đó là hai nhà thông thái. Nhưng rồi một ông lên tiếng ngay: Tôi từ nãy giờ tính toán quá mệt rồi, nên chi tôi bầu anh làm việc tiếp để tôi nghỉ !

Để xây dựng cộng đoàn có trăm công ngàn việc. Việc gì cũng đáng làm. Chẳng cần phải ngồi ghế lãnh đạo mới là làm việc. Việc nào cũng có thể nên thánh, miễn là làm cho tới nơi tới chốn.

Khi ở Dublin một tháng để học hỏi về Đạo binh Đức Mẹ tôi may mắn được gặp người sáng lập, ông Frank Duff. Tôi háo hức, tưởng sẽ diện kiến một nhân vật quốc tế tiếng tăm; người mà các Hồng y, Giám mục khắp nơi đều phải ngồi nghe. Nhưng không ngờ, ông chỉ là một cụ già đưa thư. Hàng ngày khiêm tốn đạp chiếc xe cọc cạch ra bưu điện mang thư về cơ quan, bỏ vào hộp thư của gần một ngàn chi nhánh Đạo binh ở Dublin. Ngưởi ta nói công việc của ông bây giờ chỉ có thế; có tuổi rồi không còn giữ vai trò quan trọng nào nữa; nhưng khi ai cần ý kiến thì ông sẵn sàng đóng góp và hướng dẫn giải quyết.

Đấy, công việc đưa thư hèn mọn có làm giảm tư cách con người đâu!

  1. Bệnh chuẩn mực trần tục

Lấy tinh thần, não trạng trần tục làm chuẩn mực cho cuộc sống mình. Làm việc Chúa, nhưng không theo tinh thần Phúc Âm mà lại dùng tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục để chuẩn định. Người công giáo kiểu đó thường hay trở thành công giáo tùy thời: Thịnh thì công giáo, suy thì chối.

Công giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn.

Công giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy.

Nhiều khi chẳng phải là bản chất, chẳng tội lỗi gì, nhưng là vì mình đua đòi. Chính đua đòi này làm cho cuộc đời khổ sở. Sang đây thấy người ta có xe đẹp, nhà rộng; mình đua đòi muốn hơn người nên phải nô lệ cho công việc, cả nhà làm việc quá mức.

Và chuẩn mực trần thế thường được căn cứ theo báo chí, truyền thanh truyền hình. Báo bảo cái gì hay là hay, cái gì số đông theo là tốt…mặc dù những cái đó không hợp với lương tâm.

Năm ngoái, tôi ghé Na Uy tới thăm một bà giáo sư giữ một ghế thứ trưởng trong nội các. Na Uy đa số theo Tin lành và Giáo hội này, như tại các nước Tin lành khác, phải tùy thuộc thế quyền. Bà phàn nàn: nguy quá cha ơi, Giáo hội chúng tôi đang sa lầy trong vòng kềm toả dư luận.

Chính phủ ra lệnh cho Giáo hội; Quốc hội ra lệnh (bằng đạo luật) cho chính phủ; mà đạo luật thì lại hình thành do áp lực dư luận truyền thông; vừa rồi chính phủ mới cách chức hai mục sư vì họ chống lại việc phá thai!

Một số cơ quan truyền thông chửi bới Đức Giáo hoàng, kết ngài vào tội thiếu thực tế, thiếu tiến bộ. Nhưng khi Đức Giáo hoàng đến với giới trẻ thì hàng triệu anh chị em trẻ lại tuôn đến với ngài. Tất cả chỉ vì ngài là người dám nói lên sự thật, bất chấp dư luận. Tuổi trẻ hôm nay đang bị chao đảo trong một thế giới khủng hoảng niềm tin và giá trị. Nên chi họ cần người tín cẩn dám nói thẳng cho họ đâu là điều đúng, đâu là sai.

Cái khó và nguy hiểm của ngày hôm nay là người ta phạm tội, nhưng lại bắt cả nhà nước và Giáo hội coi đó là nhân đức. Chẳng hạn như chuyện đồng tính luyến ái. Dư luận đang bắt mọi giới phải xem đó là chuyện hợp luân thường đạo lý. Giáo hội thương cảm, nhưng Giáo hội cần nói sự thật. Đức Thánh cha nói: “không cần ai bỏ phiếu cho sự thật” vì sự thật vẫn là sự thật.

  1. Bệnh đợi chờ phép lạ

Cứ chờ cứ đợi người khác, mà bản thân mình chả chịu làm gì. Mình có làm thì Chúa mới giúp được chứ. Chúa sinh ra mình không cần hỏi ý mình, nhưng để cứu mình Ngài phải cần đến sự cộng tác của ta.

Có bà suốt ngày cầu với Chúa: Con bao nhiêu ngày tháng hy sinh cho cộng đoàn. Nấu cơm, nấu chè, hết việc này đến chuyện nọ. Đâu cũng có mặt. Giúp ngày không đủ tranh thủ giúp đêm giúp thêm giờ nghỉ ! Con chỉ xin Chúa có một điều, vậy mà Chúa không chịu đoái nghe.

– Chứ con xin điều gì ?

– Dạ xin Chúa cho con trúng vé số, chỉ cần trúng một lần độc đắc thôi!

– Ừ mà Chúa cũng đang đợi bà đây!

– Dạ Chúa đợi gì con đây?

– Thì Ta đang đợi bà mua vé số!

Trong một vụ lụt xe cứu thương rảo khắp phố phường kêu gọi người dân rời nhà di chuyển lên nơi cao để tránh nước lũ. Ông bố của một gia đình bảo với con cháu: Tụi bây đứa nào đi thì đi, còn tao không đi; tin tưởng phó thác vào Chúa thì sao Ngài bỏ rơi được. Nước lũ tới, dâng cao. Ghe cấp cứu lại kêu gào tản cư gấp. Ông già kê bàn kê ghế leo lên rồi giục: Mẹ con bây đi thì đi nhanh lên, tao không. Nước tiếp tục dâng cao, ông già leo lên mái nhà ngồi. Máy bay trực thăng lượn qua lượn lại, thả dây kêu gọi ông di tản. Ông nhất quyết không đi, bởi tin rằng có Chúa che chở. Và nước ngập cuốn ông đi luôn.

Ông gặp thánh Phêrô.

Thánh Phêrô hỏi sao lại dạt vào đây. Ông già bực bội trách cứ, tại sao con đặt hết tin tưởng vào Chúa mà Ngài không cứu sống, lại để con chết trôi chết nổi thế này và ông yêu cầu thánh Phêrô mở cửa đưa ông vào Thiên đàng cấp tốc. Thánh Phêrô ngạc nhiên đáp lại:

– Chúa có cứu ông chứ! Ông có nghe đài báo tin không ?

– Có.

– Ông nghe xe cứu thương kêu gọi không?

– Có.

– Ông có thấy ghe máy, trực thăng đến cứu không ?

– Có.

– Tại sao ông bảo Chúa bỏ ông?

  1. Bệnh tùy hứng vô định

– Người không có lý tưởng rõ ràng.

– Đời vô định hướng.

– Ai xúi thì nhắm mắt làm theo, bất kể hay dở, khôn dại.

Xong rồi phủi tay. Chẳng có dự án và chẳng có một người nào làm lý tưởng cho đời mình. Đây là loại người tùy hứng.

Người ta hay nói đời là một giấc mơ. Nhưng đời có thật là một giấc mơ không ? Mơ là chuyện mộng, không bắt buộc phải hiện thực. Nhưng đời trái lại là cuộc sống thực tế của mỗi người, bắt mình phải hoàn thành.

Thánh Kinh nói đến giấc mơ của Thánh Giuse. Ông mơ thiên thần báo phải đem Hài nhi và Mẹ người trốn sang Ai Cập. Cái đặc biệt ở đây là Giuse đã thực hiện giấc mơ đó và nhờ vậy Chúa Giêsu thoát chết.

Người trẻ cần có lý tưởng và phải thực hiện cho bằng được.

Nhưng phải định hướng cho trúng.

Truyện kể:

– Có người khi còn trẻ quyết tâm sẽ thay đổi cả thế giới.

– Khi đứng tuổi thấy mình chả thay đổi được ai, bèn chuyển mục tiêu gần hơn: sẽ thay đổi gia đình mình.

– Đến khi về già quay lại thấy mình cũng chả thay đổi được gia đình, mới nhận chân ra rằng muốn thay đổi gia đình hay thế giới trước hết phải thay đổi chính con người của mình đã!

  1. Bệnh sống vô trách nhiệm

Triệu chứng:

Thờ ơ trước những khó khăn của Hội thánh và Quê hương, trước những đau khổ của người khác. Chả thấy mình có trách nhiệm gì cả. Hoá ra những người mắc bệnh này chẳng hiểu gì về phép Rửa, chẳng còn nhớ gì sứ mạng được trao qua phép Rửa đó.

Qua phép Rửa, được làm con Chúa, đó là Hồng ân, và phép Thêm sức làm cho ta nên chiến sĩ của Chúa đó là trách nhiệm, mỗi người chúng ta được trao ban cả Nước Trời trong lòng mình, đồng thời cũng được giao phó sứ mạng phải loan báo cho mọi người về Nước Trời mình đang mang. Vì không ý thức và quan tâm nên họ giữ đạo hời hợt, sống đạo một cách vô trách nhiệm.

Ngày xưa cha Hậu (cố Olivier) ở Sàigòn thường nói với bổn đạo: Anh chị em phải biết, mình quả thật sung sướng vì được Chúa cho cả Nước Trời trong lòng. Anh chị em cũng giống như một người mang trong mình vé số độc đắc đã trúng mà chưa lãnh. Và bổn phận của anh chị em là chia sẻ ân huệ và niềm vui đó cho người khác.

Mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm riêng. Chứ không phải giáo dân thì cứ đổ cho cha xứ, linh mục thì đổ cho giám mục, giám mục lại chỉ tay về Giáo hoàng. Như thế Giáo hoàng lại đổ cho Chúa à! Thái độ phủi tay không giải quyết được gì. Mà mỗi người, tùy vị trí và hoàn cảnh riêng, trước hết phải xắn tay nắm lấy mà giải quyết nhiệm vụ của mình.

  1. Bệnh bè phái chia rẽ

Đây là căn bệnh trầm kha nhất. Vô cùng nguy hiểm, vì nó thường là căn nguyên của các bệnh khác.

Một cơ thể mà các tế bào chống nhau thì làm sao sống được. Nội bộ một cộng đoàn mà chưa hợp tác với nhau được thì đừng nên bàn chuyện đấu tranh, giải phóng. Ai ở thôn quê đều biết hoàn cảnh cấy lúa. Một mảnh ruộng cần cả chục người cấy suốt ngày. Lưng đội trời nóng cháy da, tay xé lúa nhấn xuống bùn, bẩn và mệt. Nhưng cũng miếng ruộng đó chỉ cần một người thôi là chỉ trong vòng vài ba tiếng đồng hồ là nhổ sạch. Xây khó, phá rất dễ.

Một cách hay nhất để tránh và chữa bệnh này là lắng nghe người khác, sẵn sàng chấp nhận cái khác của người.

Câu chuyện tổng thống Lincoln nước Mỹ là một bài học:

Trong cuộc chiến Nam Bắc, ngày nọ trước ba quân ông xuống lệnh hành quân. Một anh sĩ quan phản đối và cho rằng Lincoln điên khi hạ lệnh đó. Có người vào báo cáo. Lincoln cả giận. Nhưng thay vì tức khắc cho thi hành kỷ luật đối với thuộc viên, ông cho mời người đó vào. Và sau khi nghe trình bày phải trái, Lincoln đổi ý, trao trách nhiệm lớn cho vị sĩ quan đó. Ông biết lắng nghe nên đã tránh được đổ vỡ lớn cho binh sĩ và quốc gia.

Trong một giáo phận, một cộng đoàn, một hiệp hội, việc làm tổn thương, mất giờ để giải quyết nhất của Giám mục, của những người có trách nhiệm, là chứng bệnh triền miên bè phái, chia rẽ – mà những người mắc bịnh thường vẫn tưởng mình đạo đức.

Có nhiều người “phạm tội vì Chúa”: lấy lý do “vì Chúa” mà loại trừ kẻ khác, không thuộc phe ta.

Người Pháp đã nếm kinh nghiệm cay đắng tai hại của bịnh này nên có câu châm ngôn: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống kẻ khác”. Chúa Giêsu biết trước điều nầy nên Ngài tha thiết cầu xin trước giờ tử nạn:

“Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để thế gian tin Cha đã sai con” (Gioan. 17, 21). Nếu ta không hiệp nhất thì thế gian không tin.

Lời ông Gandhi đáng cho ta suy nghĩ: “Tôi yêu Chúa Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu, vì họ không giống Chúa Kitô”.

H.Y. Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

—————————

(Bài nói chuyện của Tôi tớ Chúa là Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận khi còn làm Tổng Giám mục, với giới trẻ Việt Nam hải ngoại tại Strasbourg, Pháp, chiều ngày 12.9.1998) 


 

CƠN GIẬN DỮ RÚT NGẮN TUỔI THỌ

Nguyen Thi Chau

  CƠN GIẬN DỮ RÚT NGẮN TUỔI THỌ

   Khi con người tức giận, cơ thể thật sự sẽ sinh ra “khí”, nên cũng nói là hỏa khí bốc lên, có thể thiêu đốt năng lượng, khiến người ta sinh bệnh thậm chí vì tức mà chết. Cho nên muốn trường thọ nhất định tiết chế nóng giận…

  Có một vị phu nhân, thường vì những chuyện vặt vãnh mà sinh nóng giận. Có một ngày bà đi tìm một vị cao tăng thỉnh giáo. Cao tăng nghe xong, liền dẫn bà đến một gian thiền phòng, khóa cửa lại rồi rời đi.

     Vị phu nhân tức giận chửi mắng ầm ĩ một hồi, cao tăng cũng không để ý tới. Rồi bà lại bắt đầu cầu khẩn, cao tăng vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Vị phu nhân cuối cùng đành phải im lặng.

   Cao tăng ở bên ngoài cửa hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Tôi chỉ tức giận chính mình, sao lại đến cái nơi quỷ quái này để chịu tội khổ không biết!”.

   Cao tăng phẩy tay áo rời đi, nói vọng vào: “Người mà ngay cả chính mình cũng không chịu tha thứ, thì làm sao tâm có thể phẳng lặng như mặt nước được đây?”

  Một lát sau, cao tăng lại hỏi: “Bà còn tức giận không?”. Vị phu nhân nói: “Hết rồi, tức giận để làm gì cơ chứ?”.

“Tức giận cũng có làm gì được đâu!”, cao tăng lại rời đi.

    Lúc cao tăng trở lại lần thứ ba, vị phu nhân nói với ông: “Tôi hết tức giận rồi, bởi vì không gì đáng để tức giận”. Cao tăng cười nói: “Bà còn biết nó có đáng hay không, xem ra trong nội tâm vẫn còn cái gốc rễ của khí”. Một hồi sau, đang lúc cao tăng đứng ở trước cửa ngắm trời chiều. Vị phu nhân hỏi: “Đại sư, khí là gì vậy?”. Cao tăng đổ nước trà vào trong tay làm rơi vãi khắp đất, vị phu nhân nhìn thật lâu chợt tỉnh ngộ, cảm tạ rồi rời đi.

     Sinh mệnh của chúng ta cũng giống như chén nước trà trong tay vị cao tăng kia, chỉ trong giây lát đã hòa vào trong đất. Năm tháng ngắn ngủi như thế, những việc nhỏ nhặt trong đời đâu có đáng giá để chúng ta uổng phí thời gian mà đi tức giận?

   Đôi khi trong cuộc sống, chúng ta vì những việc nhỏ nhặt mà tức giận, đơn giản là vì tranh giành cao thấp, hơn thua mạnh yếu, nhưng cuối cùng đều không ai chiến thắng cả. Bạn có thể thắng ở việc này, nhưng có thể lại thua ở việc khác. Lúc bạn nhắm mắt từ giã thế gian này, dù có là ai thì cũng đều giống nhau, chỉ là hai bàn tay trắng.

    Đời người quan trọng nhất là làm được một chút việc gì đó mà bản thân cảm thấy có ý nghĩa, không nên tốn thời gian đi tranh danh đoạt lợi, không nên cứ lại hơn thua vì một câu nói mãi thế.

    Người có tu dưỡng chân chính sẽ biết nén cơn tức giận này xuống. Biết kiểm soát được nóng giận mới có thể khiến sự tình trở nên tốt hơn, mới có thể khỏe mạnh và trường thọ.

   Nếu để bạn mắc bệnh nhẹ một tuần, bạn sẽ phát hiện tiền tài không còn là quan trọng, chỉ có gia đình và thân thể mới là đáng quý.

   Nếu để bạn mắc bệnh nặng một tháng, bạn sẽ phát hiện tiền tài đặc biệt không hề quan trọng, thân thể và người nhà mới là trọng yếu.

   Nếu để bạn mắc bệnh nặng nửa năm, đoán chừng bạn sẽ sẵn lòng buông bỏ hết thảy tiền tài và danh lợi, chỉ có thân thể mới là thứ quan trọng nhất.

    Đời người ta nên bình thản mà sống, khỏe mạnh, hạnh phúc mới là quý giá nhất.

  Hoa do tưới nước quá nhiều mà chết, cá ăn bể bụng mà chết, người vì tức khí mà chết. Bạn kiểm soát được cơn nóng giận được bao nhiêu, thì sẽ có thể sống thọ được tới đó.

   Vừa không tức giận người khác, mà chính mình cũng không tức giận, gọi là chân nhân, thông thường có thể sống trăm tuổi hoặc hơn.

   Trăm bệnh đều từ tức khí mà sinh ra. Cho nên, muốn trường thọ phải biết tiết chế cơn nóng giận, cải biến quan niệm, cải biến tập quán sinh hoạt không tốt, quan tâm đến bản thân mình, hãy bắt đầu ngay từ hôm nay.

Sưu tầm


 

CÂU CHUYỆN ỨA NƯỚC MẮT VỀ NGHỀ BỊ CHO LÀ BẨN THỈU NHẤT THẾ GIỚI…!

Thu Hương

 CÂU CHUYỆN ỨA NƯỚC MẮT VỀ NGHỀ BỊ CHO LÀ BẨN THỈU NHẤT THẾ GIỚI…!

Người đàn ông trong bức ảnh “gây bão” mạng xã hội này là ông Idris, một người lao động nghèo ở Bangladesh. Ông làm nghề dọn cống để lo cho 4 đứa con ăn học.

Có thể nhiều người chưa biết, nghề dọn cống ở Bangladesh bị coi là công việc vất vả và bẩn thỉu nhất trên thế giới. Những người công nhân phải làm việc trong môi trường mất vệ sinh chính là những cái cống nước thải đen ngòm, bốc mùi khủng khiếp, dễ mắc bệnh truyền nhiễm mà lương thì ba cọc ba đồng.

Khó khăn, vất vả là vậy nhưng ông bố nghèo Idris ấy đã giấu nhẹm công việc của mình vì lo sợ nếu biết sự thật, các con sẽ cảm thấy xấu hổ trước bạn bè. Ông làm việc quần quật không một lời oán thán mong sao các con có thể yên tâm học hành. Để các con không nghi ngờ, mỗi ngày trước khi đi làm về, ông đều chui vào nhà tắm công cộng tắm rửa sạch sẽ để xua đi mùi hôi thối sau khi lặn ngụp dưới các ống cống.

Thế nhưng, một biến cố xảy ra đã khiến ông quyết định công khai sự thật cho các con biết. Nhiếp ảnh gia GMB Akash đã giúp ông giãi bày tâm sự trên mạng xã hội, nào ngờ lấy nước mắt của bao người.

Tôi chưa bao giờ nói với các con công việc của mình. Tôi không bao giờ muốn chúng cảm thấy xấu hổ vì tôi. Khi con bé út hỏi tôi làm nghề gì, tôi thường ngập ngừng rồi nói với con rằng tôi là một người lao động.

Trước khi về nhà mỗi ngày, tôi thường tắm sạch sẽ trong nhà vệ sinh công cộng nên chúng không biết tôi đang làm gì. Tôi muốn các con được đến trường học và hưởng sự giáo dục tốt nhất để chúng được ngẩng cao đầu trước bất kỳ ai. Tôi không bao giờ muốn người khác coi thường các con tôi như cách người đời vẫn nhìn tôi. Mọi người luôn khinh rẻ tôi.

Tôi dồn hết từng xu kiếm được cho các con ăn học. Tôi không dám mua một cái áo mới mà dùng tiền để mua sách cho chúng.

Một ngày trước ngày con gái út vào đại học, tôi không thể xoay xở đủ tiền phí nhập học cho con. Cả ngày hôm đó, tôi chẳng làm được việc gì. Tôi ngồi bên đống rác, cố giấu đi những giọt nước mắt buồn tủi. Những người công nhân làm cùng đều nhìn tôi nhưng không ai nói lời nào. Tôi cảm thấy thất bại và đau lòng lắm. Tôi không biết phải đối mặt với con gái mình như thế nào khi trở về nhà. Tôi sinh ra đã nghèo và giây phút đó tôi nghĩ rằng đã là người nghèo thì chẳng bao giờ được đón nhận điều tốt đẹp.

Sau giờ làm việc, những anh em làm cùng đến ngồi bên cạnh tôi và hỏi tôi có coi họ như anh em không. Tôi chưa kịp thốt nên lời thì mỗi người đã dúi vào tay tôi số tiền công một ngày của họ. Khi tôi cố gắng từ chối thì nhận được câu động viên: “Hôm nay không ăn thì chúng tôi cũng chẳng chết đói được, nhưng con gái anh phải được đi học đại học”. Cổ họng tôi nghẹn ứ lại.

Hôm đó tôi không tắm. Tôi trở về nhà trong bộ dạng nhem nhuốc, bẩn thỉu, bốc mùi hôi thối của một công nhân dọn cống đúng nghĩa. Tôi quyết định không giấu các con về nghề nghiệp của mình nữa.

Đó chính là ngày ông Idris nói cho các con biết nghề nghiệp của mình. Ông cũng kể chuyện mình không có đủ tiền cho con gái út đi học đại học nhưng các đồng nghiệp của ông đã hy sinh đồng lương ít ỏi của họ cho bố con ông….

(Lang thang trên mạng đọc,cảm xúc đem về mà không rổ nguồn)


 

PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Joseph Phạm Nguyên

 PHÉP LẠ CỦA THÁNH CHA PIO: CÔ BÉ KHÔNG CÓ CON NGƯƠI NHƯNG VẪN NHÌN THẤY THẾ GIỚI

Vào đầu thế kỷ 20, một cô bé người Ý tên là Gemma Di Giorgi đã chào đời với một tình trạng hiếm gặp và nghiệt ngã — cô bé hoàn toàn không có con ngươi trong đôi mắt mình.

Ngay từ khi mới lọt lòng, Gemma đã bị mù vĩnh viễn. Khoa học y tế thời bấy giờ hoàn toàn bất lực; bởi không có con ngươi, ánh sáng không thể đi vào mắt để tạo nên thị lực. Các bác sĩ xác nhận rằng không có bất kỳ phương cách nào để cứu chữa.

Thế nhưng, đức tin đã viết nên một câu chuyện khác.

Khi Gemma còn nhỏ, gia đình đã đưa cô đến gặp vị linh mục dòng Capuchino thánh thiện — Thánh Padre Pio (Cha Pio) thành Pietrelcina. Với lòng nhân từ và sự thánh thiện vẹn toàn, Cha Pio đã nhìn cô bé mù với lòng trắc ẩn sâu sắc. Ngài đã làm phép trên đôi mắt và cầu nguyện cho cô.

Ngay khoảnh khắc ấy, một phép lạ đã xảy ra.

Thị lực của Gemma được phục hồi hoàn toàn. Cô có thể nhìn rõ mọi thứ — gương mặt mọi người, màu sắc và thế giới xung quanh — mặc dù đôi mắt vẫn hoàn toàn không có con ngươi. Sự chữa lành này đã thách thức mọi giải thích y khoa. Các chuyên gia kiểm tra cho cô sau đó đều phải kinh ngạc vì không thể giải thích nổi làm thế nào cô có thể nhìn thấy được.

Trường hợp của Gemma đã được ghi chép hồ sơ đầy đủ và sau đó được công nhận là một trong những phép lạ chính thức do sự chuyển cầu của Thánh Cha Pio.

Phép lạ đầy quyền năng này vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho các tín hữu trên toàn thế giới. Nó nhắc nhở chúng ta rằng quyền năng của Thiên Chúa không bị giới hạn bởi khoa học hay sự hiểu biết của con người. Những gì bác sĩ cho là không thể, đều có thể đối với Thiên Chúa.

Thánh Cha Pio, người mang trên mình các dấu thánh của Chúa Kitô và đã dành trọn đời mình để an ủi những người đau khổ, vẫn luôn là một đấng chuyển cầu mạnh mẽ. Cuộc đời và các phép lạ của ngài cho chúng ta thấy rằng sự chữa lành thực sự — cả thể xác lẫn tâm hồn — đều đến từ đức tin, lời cầu nguyện và sự phó thác vào ý muốn của Thiên Chúa.

Nguyện xin câu chuyện của Gemma củng cố tâm hồn bạn ngày hôm nay. Dù bạn đang đối mặt với tình huống “bất khả thi” nào, đừng bao giờ thấp kém hóa quyền năng của lời cầu nguyện.

Lạy Thánh Cha Pio, xin cầu cho chúng con!

#PadrePio #SaintPadrePio #CatholicMiracles #GemmaDiGiorgi #Faith #Miracle #PowerOfPrayer #CatholicFaith #PhepLa #ChaPio #CongGiao


 

Suy ngẫm về lời cầu xin

Lạy Chúa, con cầu xin ơn Mạnh Mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Chúa lại làm cho con ra yếu ớt để biết vâng lời khiêm hạ.

Con cầu xin có sức khỏe để mong thực hiện những công trình lớn lao, Chúa lại cho con tàn tật để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành.

Con cầu xin được giàu sang để sống sung sướng thoải mái, Chúa lại cho con nghèo nàn để học biết thế nào là khôn ngoan.

Con cầu xin được có uy quyền để mọi người phải kính nể ca ngợi, Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết, con cần đến Chúa.

Con cầu xin có được tất cả để tận hưởng cuộc đời, Chúa lại cho con cả cuộc đời để được hưởng mọi sự.

Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn. Nhưng những điều con đáng phải mơ ước, mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin thì Chúa lại đã ban cho con thật dư đầy từ lâu.

Lạy Chúa, hoá ra, con lại là người may mắn hơn hết trên cõi đời này bởi con đã nhận được ơn phúc Chúa vô vàn. Amen

(trích trong Lịch Phụng Vụ Ất Tỵ 2025 của Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ, tháng 06 trang 127)


 

Điều gì xảy ra khi lãnh bí tích Rửa tội?- Cha Vương

Xin Chúa gìn giữ bạn và gia quyến để bạn đừng xa lạc con đường Chân Thiện Mỹ nhé. Nhớ cầu nguyện cho nhau và thể giới nhe 

Cha Vương

Thứ 5: 04/06/2026.     (n8-23)

GIÁO LÝ: Điều gì xảy ra khi lãnh bí tích Rửa tội? Nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta được trở nên chi thể của thân thể Chúa Kitô, anh chị em của Đấng Cứu chuộc, con cái Thiên Chúa. Chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi, thoát khỏi sự chết, được lãnh số phận sống vui trong Đấng Cứu chuộc ta. (YouCat, số 200)

SUY NIỆM: Được rửa tội có nghĩa là lịch sử đời tôi được chìm đắm trong dòng chảy tình yêu của Chúa. Đức Bênêđictô XVI nói: “đời tôi thuộc về Chúa Kitô chứ không còn thuộc về tôi nữa… Được Chúa tháp tùng, vâng, được Chúa đón nhận vào tình yêu của Người, tôi được thoát khỏi sợ hãi. Chúa bao bọc tôi và mang tôi đi tất cả nơi nào tôi đi, Người là chính sự sống”. (YouCat, số 200 t.t.)

❦  Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. (Rm 6,4)

❦  Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. (1 Tm 2,4)

Đức Giêsu đáp: “Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.” (Ga 3,5)

❦  Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa. (Rm 14,8)

❦  Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất. (1 Cr 12,13)

LẮNG NGHE: Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người. (Rm 8,17)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, qua bí tích rửa tội, Chúa đã cho con được tái sinh nhờ nước thánh tẩy, để nên một với Đức Kitô. Xin Chúa thương phù trì, giúp con luôn chiến thắng tội lỗi và trung thành đáp lại tình thương của Chúa.

THỰC HÀNH: Bạn có nhớ người lãnh nhận bí tích Rửa tội thề hứa những gì không? Từ bỏ ma quỷ, xa lánh tội lỗi, tin kính Thiên Chúa Ba Ngôi và giữ lề luật của Ngài. Hôm nay, xin bạn hãy cố gắng sống theo lời hứa của mình nhé.

From: Do Dzung

************************

[THÁNH CA] – ĐOAN HỨA | PHƯƠNG THẢO

KHÔNG VỪA KHUÔN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 “Chính vua Đavít gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng!”.

Tương truyền, khi được hỏi làm sao tạo nên tượng Đavít, Michelangelo trả lời: “Bức tượng vốn đã ở trong khối đá; tôi chỉ loại bỏ những gì không phải Đavít!”. Con người thường làm điều ngược lại: họ cố đẽo Đức Kitô cho vừa với những mong đợi và khuôn mẫu của mình.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, Đức Kitô không vừa với bất cứ khuôn mẫu nào con người dựng lên. Ngài không chỉ là “con vua Đavít”; Ngài còn là “Chúa Thượng của Đavít”. Ngài là Đấng ‘không vừa khuôn’.

Với người Do Thái, gọi Đấng Messia là “con vua Đavít” đã là một tước hiệu rất cao. Đó không chỉ là một danh xưng, nhưng hàm chứa khát vọng phục hồi Israel. Nhưng Chúa Giêsu đi xa hơn: nếu Đavít gọi Đấng Kitô là “Chúa Thượng”, thì Ngài không thể chỉ là hậu duệ của Đavít; nghĩa là, Thiên Chúa luôn lớn hơn mọi hình dung tôn giáo, chính trị hay lịch sử con người dựng lên. Bi kịch lớn nhất là bắt Trời cao phải làm đầy các nhu cầu ích kỷ của một linh hồn tham lam. “Thiên Chúa luôn là mầu nhiệm vượt quá khả năng nắm bắt của con người!” – Karl Rahner.

Khi gọi Đấng Kitô là Kyrios – Chúa Thượng, Chúa Giêsu mở tung mọi giới hạn con người áp đặt cho Thiên Chúa. Người ta muốn một vị thần giải quyết vấn đề, bảo vệ lợi ích hay đứng về phía mình; nhưng Thiên Chúa luôn là Deus semper maior – Đấng lớn hơn mọi định nghĩa. Ngài không đến để xác nhận những mong đợi của con người, nhưng để hoán cải chúng. Chúa Giêsu liên tục làm người đương thời khó chịu: Ngài không vừa với tham vọng chính trị của người Pharisêu, không vừa với thứ đạo đức khép kín của giới kinh sư, cũng không vừa với giấc mơ quyền lực của các môn đệ. Đẽo gọt Thiên Chúa cho vừa với ý mình là đang tạo ra một ngẫu tượng thay vì thờ phượng Ngài. “Chỉ Thiên Chúa mới hiểu thấu Thiên Chúa!” – Karl Barth.

Bình an không đến từ một Thiên Chúa vừa khít với các nhu cầu của mình, nhưng từ việc để chính mình được biến đổi theo ý Ngài. Timôthê được mời gọi trung thành với chân lý đã lãnh nhận – bài đọc một. “Kẻ yêu luật Chúa hưởng an bình thư thái!” – Thánh Vịnh đáp ca – bởi lẽ, chỉ khi thôi bắt Thiên Chúa phải vừa với ý mình, con người mới bắt đầu nếm cảm sự bình an! “Thiên Chúa vượt khỏi mọi điều con người có thể nắm bắt hay gọi tên!” – Angelus Silesius.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để vừa với những khuôn mẫu con người dựng lên; Ngài đến để phá vỡ chúng. Là Kyrios – Chúa Thượng, Ngài không thể bị thu nhỏ trong bất cứ khuôn mẫu nào. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là giữ một Thiên Chúa vừa tầm với mong đợi của tôi, nhưng là dám để đời tôi bị phá vỡ và tái tạo bởi một Thiên Chúa luôn lớn hơn. Nhiều khi, con người không gặp được Chúa Kitô không phải vì Ngài quá xa, nhưng vì họ chỉ muốn một Thiên Chúa vừa khuôn với mình. Đức tin không nhằm giúp ai an vị trong vùng đất cũ, nhưng là cuộc phá vỡ để bước vào Đấng lớn hơn!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, như nhà điêu khắc đã loại khỏi khối đá những gì không phải Đavít; xin đẽo khỏi đời con những gì không thuộc về Chúa, để Đức Kitô thành hình nơi con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Sao người ta nói Đức Ki-tô là con vua Đa-vít.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,35-37

35 Khi ấy, khi giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su lên tiếng hỏi : “Sao các kinh sư lại nói Đấng Ki-tô là con vua Đa-vít ? 36 Chính vua Đa-vít được Thánh Thần soi sáng đã nói : Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi : bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt dưới chân Con.

37 “Chính vua Đa-vít gọi Đấng Ki-tô là Chúa Thượng, thì Đấng Ki-tô lại là con vua ấy thế nào được ?” Đám người đông đảo nghe Đức Giê-su cách thích thú.


 

LUÔN CÓ NHỮNG TÊN MẬT THÁM – Lm. Mark Link, S.J.


Lm. Mark Link, S.J.

 Chúng ta có khuynh hướng cho là dĩ nhiên những quà tặng đặc biệt như Mình Thánh Chúa và cha ruột của chúng ta.

 Cha Walter Ciszek bị lính Nga bắt trong Thế Chiến II.  Người bị kết tội là “gián điệp của Vatican” và bị 23 năm tù trong các trại lao động ở Siberia.  Sau cùng khi ra khỏi tù, cha đã viết một cuốn sách về các cảm nghiệm này.  Cha lấy tên sách là Người Đã Dẫn Dắt Tôi.

 Trong sách có nhiều câu chuyện cảm động về những hy sinh của các tù nhân khi rước Mình Thánh Chúa trong tù.  Một câu chuyện đáng được nhắc đến.  Trước khi chia sẻ câu chuyện ấy, chúng ta cần biết một chút về quá khứ.

 Trong thời Thế Chiến II, trước khi có Công Đồng Vatican II, luật Giáo Hội buộc phải kiêng ăn uống 24 giờ trước khi rước Mình Thánh Chúa.  Hãy nhớ đến điều này khi lắng nghe Cha Ciszek kể trong sách:

 Tôi từng thấy… các tù nhân đành mất giấc ngủ cần thiết và thức dậy sớm trước khi chuông reo để dự Thánh Lễ cách lén lút…  Chúng tôi sẽ bị phạt nặng nếu việc tham dự Thánh Lễ bị khám phá, và luôn luôn có những tên mật thám…

 Tất cả những điều này gây khó khăn khi có nhiều tù nhân tham dự, do đó chúng tôi thánh hiến thêm bánh và phân phát Mình Thánh cho các tù nhân khác khi có thể.  Đôi khi điều đó có nghĩa là chúng tôi chỉ có thể gặp họ khi trở về doanh trại vào ban đêm trước khi ăn tối.

 Tuy thế, những người này thực sự đã giữ chay cả ngày dài và lao động kiệt lực mà không ăn uống gì từ sau bữa ăn tối hôm trước, chỉ để rước Mình Thánh Chúa – đó là ý nghĩa của bí tích này đối với họ! 

 Nói cách khác, nó giống như bạn và tôi không ăn uống gì kể từ lúc này ngày hôm qua.  Trong khi đó, chúng ta còn phải lao động muốn gẫy lưng trong nhiệt độ dưới số không.  Đó là ý nghĩa của Mình Thánh đối với Cha Ciszek và các tù nhân.

 Câu chuyện này là một câu chuyện thích hợp cho lễ Mình Thánh Chúa.  Chữ Corpus Christi tiếng Latinh có nghĩa “thân thể của Chúa Kitô.”  Vào ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa chúng ta tôn kính Thân Thể của Chúa Kitô.

 Tại sao chúng ta lại dành riêng một ngày để kính Thân Thể Chúa Kitô?  Không phải là chúng ta kính Mình Thánh Chúa trong mọi Thánh Lễ hay sao?  Vậy tại sao lại có ngày đặc biệt này?

 Chúng ta cử hành lễ Mình Máu Thánh Chúa với cùng lý do như chúng ta cử hành Ngày Người Cha.  Đó là vì loài người chúng ta có khuynh hướng cho là điều dĩ nhiên những món quà đặc biệt như Mình Thánh Chúa Kitô và như các người cha của chúng ta.

 Đó là một trong những thảm kịch lớn của đời sống khi chúng ta có khuynh hướng đánh mất sự cảm kích một số quà tặng rất quý báu mà chúng ta có.  Tại sao lại như vậy?

 Các nhà tâm lý nói rằng nếu chúng ta chú ý đến mọi tiếng động nghe được hoặc mọi mầu sắc thấy được, có thể nói chúng ta sẽ trở thành điên.  Để bảo vệ chúng ta khỏi bị điên, chúng ta quen thuộc hóa các tiếng động và mầu sắc này.  Chúng ta cản trở và gạt chúng ra ngoài sự chú ý.

 Tỉ như, nếu chúng ta nghe tiếng lạch cạch đánh máy chữ ở phòng bên cạnh, tai chúng ta không còn nghe được âm thanh ấy nữa.  Các nhà tâm lý gọi tiến trình này là “quen thuộc hóa.”

 Nhưng quen thuộc hóa có một khía cạnh tiêu cực.  Nó có sự hạn chế.  Chúng ta có khuynh hướng quen thuộc hóa mọi thứ sau một thời gian – cảnh hoàng hôn, bông hoa, bạn hữu, cha mẹ, và ngay cả Mình Thánh Chúa Kitô.  Chúng ta mất sự nhận thức về các điều ấy.  Chúng ta không còn phấn khởi về các điều ấy.  Chúng ta coi các điều ấy là điều dĩ nhiên.

 Quen thuộc hóa là một trong những lý do chính tại sao thiền trở nên phổ thông.  Mục đích của thiền là giúp chúng ta đừng quen thuộc hóa.  Nó giúp chúng ta lại trở nên nhạy cảm trước cảnh đẹp của hoàng hôn, bông hoa, và bạn hữu.

 Để có ý tưởng về cách hoạt động này, thử chú ý đến một vật quen thuộc, tỉ như một cánh hoa, như thể bạn nhìn thấy nó lần đầu tiên.  Hoặc chú ý đến ai đó bạn yêu mến, như cha của bạn, như thể lần đầu tiên bạn nhìn thấy người và muốn in sâu vào tâm khảm hình ảnh cuối cùng này của ông.

 Điều này đưa chúng ta trở về Mình Máu Thánh Chúa.  Ngày lễ này đề ra cho chúng ta một lời mời và một thách đố.

 Trước hết, lời mời.  Mình Máu Thánh Chúa mời chúng ta tự hỏi, Thánh Thể có ý nghĩa gì đối với chúng ta?  Chúng ta có còn quý trọng như trước đây chúng ta rước lễ lần đầu tiên không?  Điều này có ý nghĩa thật nhiều đối với chúng ta như đối với các tù nhân trong sách của Cha Ciszek không?

 Nếu câu trả lời của chúng ta là không, chúng ta đối diện với một thách đố.  Nó cũng giống như thách đố mà Ngày Người Cha đặt ra cho chúng ta.  Nó như thế này:

 Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng Thánh Thể một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta có thể làm sâu đậm hơn sự quý trọng người cha của chúng ta một cách cá biệt?

Làm thế nào chúng ta lại trở nên phấn khởi coi hai điều này như quà tặng quý báu cho chúng ta?

 Một cách thi hành là làm những gì người thiền thi hành.  Cố gắng suy niệm về Mình Thánh Chúa Kitô như thể bạn mới khám phá ra điều đó lần đầu tiên.

 Emilie Griffin, bà là người ở trong kỹ nghệ quảng cáo Nữu Ước, và trở nên người Công Giáo vài năm trước đây.  Bà viết một cuốn sách thu hút được gọi là Turning.  Bà viết:

 Một sự sùng kính Thánh Thể ngày càng gia tăng – và một niềm tin vào sự Hiện Diện Thật – đã lôi kéo tôi về với Giáo Hội Công Giáo…  Khi sự sùng kính Thánh Thể của tôi gia tăng, tôi lại càng hấp dẫn với đạo Công Giáo.

 Và như thế chúng ta phải cố gắng suy niệm về Thánh Thể theo cách bà Emilie Griffin đã làm khi bà khám phá ra mầu nhiệm khôn lường này lần đầu tiên.

 Tôi có thể kết thúc với hai đề nghị được không?

 Thứ nhất, trong tuần lễ trước mặt hãy thêm một lời cảm tạ trong phần kinh nguyện hàng ngày của bạn vì món quà của Chúa Kitô là Thân Thể của Người ban cho chúng ta.

 Thứ hai, trong Thánh Lễ khi bạn xếp hàng lên rước lễ, hãy tập trung tư tưởng đến người mà bạn sẽ lãnh nhận khi thừa tác viên thánh thể nâng bánh lễ lên và nói, “Mình Thánh Chúa Kitô.”

 Bạn sẽ lãnh nhận Thân Thể sống động của Chúa Kitô.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã sinh ra ở Bêlem.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chết trên thập giá.

Bạn sẽ lãnh nhận cùng Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết.

 Khi bạn nghĩ về điều này, nó thật vô cùng khó khăn để mường tượng.  Nhưng qua đức tin, chúng ta biết đó là sự thật.

Chỉ có một Thiên Chúa đầy yêu thương mới có thể ban cho chúng ta một món quà không thể tưởng được như thế. 

Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

“Mười năm của một trăm người” (一百个人的十年) tác giả Phùng Ký Tài.

Nguyen Thi Chau

Vào thời kỳ Cách mạng Văn hóa tại Trung Quốc, một cặp vợ chồng bị lực lượng “phái tạo phản” và đám đông quần chúng cách mạng trói chặt bằng năm dây bảy mối, trên người quấn đầy thuốc nổ.

Sau đó đám người này ép buộc chính đứa con ruột của cặp vợ chồng này phải bước lên châm ngòi nổ. Đứa trẻ kiên quyết từ chối thực hiện hành vi tàn nhẫn đó. Ngay lập tức, đám đông nổi điên và lao vào đánh đập đứa bé một cách dã man, đẩy em vào con đường chết.

Cuối cùng, trong sự bất lực và hoảng loạn, đứa trẻ vừa khóc nức nở vừa lao về phía bố mẹ mình để châm ngòi nổ. Nhưng thay vì bỏ chạy để giữ mạng sống, đứa bé đã chọn ở lại, ôm thật chặt lấy bố mẹ… và tiếng nổ vang lên, xóa sổ cả ba sinh mạng.

Câu chuyện này được ghi lại trong cuốn sách “Mười năm của một trăm người” (一百个人的十年) tác giả Phùng Ký Tài.

Hậu Trường Trung Quốc