Hàng trăm ngàn người tị nạn có thể bị trục xuất thẳng từ tòa di trú Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

July 28, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Hôm Thứ Ba, 28 Tháng Bảy, chính quyền Tổng Thống Donald Trump bắt đầu khai một kế hoạch nhằm đưa hàng trăm ngàn người xin tị nạn vào thẳng quy trình trục xuất, thay vì có cơ hội phỏng vấn với nhân viên phụ trách vấn đề tị nạn. Quy định này có thể ảnh hưởng đến 440,000 trường hợp.

Theo LA Times, với thay đổi này, Cơ Quan Di Trú Và Nhập Tịch Hoa Kỳ (USCIS) đã loại bỏ yêu cầu nhân viên phụ trách tị nạn phải phỏng vấn một số đương đơn nhất định. Thay vào đó, các trường hợp này sẽ được chuyển trực tiếp đến các chánh án di trú để tiến hành thủ tục trục xuất.

Tòa án di trú tại tòa nhà liên bang Jacob K. Javits ở New York vào ngày 12 Tháng Năm, 2026. (Hình: Michael M. Santiago/Getty Images)

Thay đổi mới nhất này nhằm siết chặt hệ thống nhập cư hợp pháp, là một thay đổi sâu rộng với mục đích giảm bớt số lượng tồn đọng 1.4 triệu hồ sơ xin tị nạn. Quy định tạm thời cuối cùng có hiệu lực từ hôm nay, Thứ Ba và sẽ được đưa ra lấy ý kiến ​​công chúng trong vòng 60 ngày.

“Đã quá lâu rồi, hệ thống tị nạn bị lợi dụng nhằm mục đích trì hoãn và xin giấy phép làm việc, thay vì phục vụ các yêu cầu được bảo vệ chính đáng,” giám đốc USCIS Joseph Edlow cho biết trong một thông cáo báo chí, theo LA Times.

“Hệ thống xin tị nạn của di trú Hoa Kỳ tồn tại để bảo vệ những cá nhân thực sự lo sợ bị ngược đãi. Quy định này sẽ giúp bảo đảm rằng các nguồn lực được tập trung vào việc giải quyết kịp thời những yêu cầu đó, thay vì dành cho những người muốn lợi dụng hệ thống như một kẽ hở pháp lý,” ông Edlow nói thêm.

Tuy nhiên, các nhà vận động vì quyền lợi người nhập cư cùng nhiều chuyên gia khác cho rằng sự thay đổi này khiến những người xin tị nạn – vốn đã nỗ lực tuân thủ pháp luật – có nguy cơ bị giam giữ và trục xuất, trong khi lại không giúp giải quyết tình trạng tồn đọng các vụ việc nhập cư.

Bà Doris Meissner, giám đốc chương trình chính sách nhập cư Hoa Kỳ tại Viện Chính Sách Di Cư (Migration Policy Institute), nhận định: “Mục đích cuối cùng của việc thực hiện thay đổi này dường như là nhằm bác bỏ càng nhiều hồ sơ càng tốt, bất chấp tính công bằng trong quá trình xét duyệt.”

Theo LA Times, những người nhập cảnh Hoa kỳ hợp pháp (bằng visa) và vẫn duy trì tình trạng cư trú hợp pháp có thể nộp đơn lên USCIS để được viên chức phụ trách tị nạn xem xét và ra quyết định về hồ sơ của họ. Ngược lại, những người vượt biên trái phép hoặc không có giấy tờ hợp lệ thường chỉ nộp đơn xin tị nạn sau khi đã bị đưa vào quy trình trục xuất. Khi đó, họ sẽ trình bày hồ sơ của mình trước chánh án di trú.

Các buổi phỏng vấn với nhân viên phụ trách tị nạn được xem là không mang tính đối kháng, bởi các nhân viên này được đào tạo để am hiểu tình hình tại quốc gia của người xin tị nạn, và buổi phỏng vấn diễn ra trong phòng kín đáo, riêng tư. Trong khi đó, tại các phiên tòa di trú, nơi có sự tham gia của công tố viên đại diện chính phủ liên bang, người nhập cư không có quyền được luật sư đại diện như trong các vụ án hình sự.

Sự thay đổi này mang ý nghĩa quan trọng, vì nó này diễn ra trong bối cảnh chính quyền Tổng Thống Trump đã sa thải hơn 100 chánh án di trú và thay thế họ bằng các luật sư quân đội cùng các cựu công tố viên của Bộ Nội An (DHS), theo LA Times. (KL) [kn]


 

KHO KHÔNG KHOÁ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ”.

“Chân lý là một ngọn lửa; nó chỉ sống khi được trao đi!” – Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Ngọn lửa chỉ sáng khi được chuyền đi; nhốt lại, nó sẽ tắt. Chân lý cũng thế. Nước Trời không lớn lên nhờ những kho báu được cất kín, nhưng nhờ những ‘kho không khoá’.

“Chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình”. Bản Hy Lạp viết ekbállei – “đưa ra, lấy ra”, một động từ diễn tả một chuyển động mạnh từ bên trong ra bên ngoài. Chúa Giêsu không ca ngợi một kho tàng đầy ắp, nhưng ca ngợi một người chủ dám lấy ra. Điều làm nên người chủ không phải là sở hữu kho báu, nhưng là đưa kho báu ấy ra dòng chảy sự sống. Chỉ khi ấy, kho tàng đức tin mới không trở thành một viện bảo tàng, nhưng là một nguồn sống luôn mở ra.

Nhưng kho tàng ấy là gì? Không phải vàng bạc châu báu, nhưng là chính sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa. Lời Chúa, đức tin và truyền thống Hội Thánh chỉ có ý nghĩa vì làm cho sự hiện diện ấy trở nên hữu hình, có thể sờ đụng: “Phúc thay người được Chúa Trời nhà Giacóp phù hộ!” – Thánh Vịnh đáp ca. Chính sự hiện diện cứu độ ấy là kho tàng càng được trao ban càng thêm phong phú, càng được chia sẻ càng sinh nhiều hoa trái.

Kho tàng ấy không ngừng trẻ lại; không phải là một di sản của quá khứ, nhưng là sự hiện diện của Đức Kitô hằng sống. Hai ngàn năm đã trôi qua, Tin Mừng vẫn không ngừng soi sáng những khát vọng mới của con người. Không phải vì Tin Mừng thay đổi, nhưng vì Đấng Phục Sinh không ngừng đổi mới những ai được Ngài chạm đến. Chỉ những gì tách khỏi Ngài mới già cỗi. Vì thế, Hội Thánh trao ban kho tàng đức tin không phải để lưu giữ quá khứ, nhưng để đem sự sống của Đức Kitô đến cho hiện tại và mở ra tương lai.

Phần chúng ta, điều quan trọng không phải là chọn cái cũ hay cái mới, nhưng là nhận ra điều gì dẫn con người đến gần Đức Kitô hơn. Chúa Thánh Thần không để Hội Thánh chạy theo cái mới hay níu giữ cái cũ, nhưng ban ơn phân định để luôn trung thành với chân lý và đáp ứng những khát vọng của con người hôm nay. “Đừng sợ sự mới mẻ của Tin Mừng hay sự đổi mới mà Chúa Thánh Thần thực hiện!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Đức Kitô là Kho Tàng tối hậu của Chúa Cha; nơi Ngài, mọi kho tàng của Nước Trời được mở ra trọn vẹn trên thập giá. Hội Thánh không có kho tàng nào khác ngoài chính Ngài. Vì thế, điều Ngài chờ đợi không phải là chúng ta làm mới Hội Thánh, nhưng là để Ngài không ngừng làm mới lòng chúng ta. Lúc đó, chúng ta mới biết lấy ra từ Kho Tàng ấy “cả cái mới lẫn cái cũ” để phục vụ tha nhân. Một trái tim đầy Đức Kitô sẽ tự nhiên trở thành một ‘kho không khoá’, luôn biết trao đi điều mình đã lãnh nhận. “Người giàu không phải là người sở hữu, nhưng là người biết trao ban!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin làm mới lòng con mỗi ngày, để con không giữ Chúa cho riêng mình, nhưng biết trao ban sự hiện diện cứu độ của Ngài bằng chính đời sống con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

https://l1nq.com/egiq1eq

Người ta nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.          Mt 13,47-53

47 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho dân chúng nghe dụ ngôn này : “Nước Trời giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. 48 Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. 49 Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, 50 rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng.

51 “Anh em có hiểu tất cả những điều ấy không ?” Họ đáp : “Thưa hiểu.” 52 Người bảo họ : “Bởi vậy, bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ.”

53 Khi Đức Giê-su kể các dụ ngôn ấy xong, Người đi khỏi nơi đó.


 

Trượt Chân, Té Ngã Trong Tuổi Vàng – Trần Lý Lê

Trần Lý Lê

Chỉ một cú vấp ngã là cuộc sống con người có thể thay đổi hoàn toàn, cuộc thay đổi không thể kềm hãm xoay chuyển. Sự đau đớn thể xác đi kèm với nỗi vật vã tâm thần. Đây là mối ưu tư, ám ảnh của tuổi vàng khắp chốn.Con người sống lâu hơn, ít bệnh tật hơn nhưng tuổi thọ lâu dài kia có những khúc quanh không như ý. Cơ thể trải qua những biến chuyển cần sự̣ thích nghi và chấp nhận từ mỗi cá nhân. Ôi chao, biết bao nhiêu là biến chuyển trong cái thân thể mong manh kia sau 70 – 80 năm dãi dầu với thời gian?

Mắt nhìn không còn tinh anh. Tai nghe không còn tỏ tường, có vị còn chịu chứng ù tai, tinnitus, những âm thanh tai quái u u trong đầu suốt ngày đêm. Khứu giác chẳng còn “cảm” được một mùi hương nhẹ nên vị giác hầu như mòn mỏi. Khoảng 70% khả năng “nếm” đến từ khả năng “ngửi”.

Rượu [ngon] không còn giữ được hương vị cũ dù vẫn mang lại cảm giác lâng lâng và đôi khi còn gây chuếnh choáng nhanh chóng không ngờ. Bắp thịt không mạnh mẽ như trước, khuân vác một món gì cũng khó khăn. Khớp xương ê ẩm khiến việc xê dịch chậm chạp…

Chưa kể sự thăng bằng, balance, kết hợp từ khả năng nhìn thấy, sức mạnh của bắp thịt, và khả năng cảm nhận vị trí của thân thể (proprioception) trong môi trường chung quanh, cũng sụt giảm qua thời gian. Và cuộc sống có thể đến khúc ngoặt không ngờ khi trượt chân, vấp ngã.

Tại Hoa Kỳ, số người cao niên (65+ tuổi) té ngã và chịu biến chứng nặng nề mỗi ngày một gia tăng. Nha Thống Kê của cơ quan Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật (the CDC) công bố một con số đáng ngại, chỉ trong năm 2012, trên 2.4 triệu người té ngã, trong số ấy trên 200 ngàn người tử vong vì biến chứng trong cùng năm.

Theo hội chuyên khoa về tuổi vàng, Geriatrics, tai nạn gia tăng khi con người quá lạc quan quá tự̣ tin, không lượng sức mình; người có tuổi cũng không ngoại lệ nhưng chịu ảnh hưởng của tai nạn nặng nề hơn. Những thứ bình thường trước đây bỗng dưng trở thành chướng ngại vật trong một phút không ngờ: các bậc thang, tấm thảm trên sàn nhà, bồn tắm trắng bóng, vồng u trong chỗ đậu xe, rễ cây ngoài vườn…, và ngay cả con chó con mèo quanh quẩn bên chân hằng ngày. Những món thuốc trị chứng cao huyết áp, chữa trầm cảm… có thể gây chóng mặt, choáng váng khiến việc vấp té, trượt chân xảy ra dễ dàng hơn.

Trong số các cụ cao niên té ngã và gãy xương chậu xương đùi, 20% tử vong trong cùng năm, 80% còn lại chịu ảnh hưởng nặng nề.

Họ không còn tự di chuyển nên việc nhàn tản trên một quãng đường ngắn trở nên bất khả. 

Nhiều người mất luôn khả năng lái xe vì chân ga chân thắng không còn nhậm lẹ nên dễ gây tai nạn.

Không thể tự di chuyển, các cụ này trở nên phụ thuộc vào người chung quanh, từ bạn bè, hàng xóm láng giềng đến con cái. Tuổi vàng sợ đau đớn thể xác thì ít nhưng họ lại hãi hùng trước viễn ảnh mất hết khả năng độc lập.

Một sự thật khó chấp nhận là việc càng cao tuổi, càng dễ té ngã. Theo Tiến Sĩ Judy A. Stevens, chuyên viên Dịch Tễ, epidemiologist, tại CDC, té ngã xem ra giản dị nhưng lại là nỗi ám ảnh kinh hoàng cho tuổi vàng, không mấy ai muốn nhắc đến và ngay cả người bị té cũng không muốn đề cập đến. Lý do? Các cụ ngượng ngùng, bạn ạ, ngại bạn bè chê cười mình vụng về, nhưng lý do sâu thẳm nhất, các cụ sợ con cháu lo lắng quá lại khênh họ vào nhà dưỡng lão hầu được (bị) chăm sóc kỹ lưỡng hơn, và từ đó mất luôn cuộc sống độc lập riêng tư.

Họ sợ̣ hung thần té ngã còn hơn các trận đau ốm. Đau ốm khi hết bệnh còn có thể độc lập chứ té ngã thì lôi thôi lắm!

Phục hồi sau khi té ngã là một hành trình gian nan, chậm chạp. Với các ca gãy xương “bình thường”, sau khi bó xương, nối xương và vết thương tạm lành, bệnh nhân trải qua thời gian tập luyện để có thể tự di chuyển. Chương trình phục hồi kéo dài vài tháng, từ việc dùng xe lăn, khung cân bằng đến cách dùng gậy để chống đỡ thân mình và giúp thăng bằng.

Nhiều cụ không còn leo thang được nữa vì cần dùng khung sắt để di chuyển, và từ đó phải lìa bỏ tổ ấm nơi có các bậc thang thân quen, gần gũi. Thay đổi chỗ ở là cả một cú sốc trong tuổi vàng. Cụ nào chấp nhận và chịu thích nghi thì vết thương “lìa tổ ấm” sớm lành, cụ nào rầu rĩ vật vã với chỗ ở mới thì nhanh chóng rơi vào nỗi trầm cảm u uất và không thiết sống!

Ngược lại, được sinh sống trong khung cảnh quen thuộc là nỗi ấm áp, thoải mái trong tuổi vàng ngay cả khi các cụ không còn có thể tự chăm sóc thân thể.

Như mọi loại bệnh tật, phòng ngừa là phương cách tốt nhất. Té ngã cũng thế. Phòng ngừa té ngã để tránh thương tật và các biến chứng thay đổi đời sống của bệnh nhân.

Để phòng ngừa té ngã, bà Judy Stevens cho rằng thể dục là yếu tố quan trọng nhất. 

Khi thân thể khỏe mạnh, bắp thịt cứng cáp, thì ít bị té ngã; và nếu bị té ngã thì ảnh hưởng cũng bớt trầm trọng so với các cụ ít động đậy, đi lại.

Các lớp thể dục, nhất là các buổi dạy về thăng bằng, như tập đứng một chân, lăn trái banh Bosu cho quen với sự chông chênh. Môn Thái Cực với các động tác co duỗi thong thả, chậm chạp giúp thân thể phối hợp hoạt động của bắp thịt và hai lá phổi thở hít nhịp nhàng.

Sự phối hợp này cần thiết cho việc hô hấp, thăng bằng và dáng đi đứng của thân thể.

Hiệu quả cụ thể nhất của sự tập luyện thân thể là việc có thể tự đứng dậy từ ghế ngồi mà không cần vịn tay: bắp thịt hai chân và bắp thịt bụng, lưng cứng cáp đủ để chống đỡ và thăng bằng thân thể khi thay đổi vị thế.

Những yếu tố khác không kém quan trọng là việc dùng các món thuốc. 

Thuốc trị cao huyết áp, khoảng 70% các cụ tuổi thất thập dùng món thuốc này, 

gây chóng mặt khi huyết áp xuống nhanh và dễ té ngã nếu không cẩn thận. 

Chưa kể các thứ dược thảo lợi tiểu, giảm đường giảm mỡ (?) hầm bà lằng khác 

bán tự do trên thị trường mà các cụ Á Đông dùng thường xuyên như uống trà.

Xin mở ngoặc để nhắc đến dược thảo một chút: Dược thảo là con dao hai lưỡi rất sắc, có thể vô cùng hiệu quả trong việc chữa trị một bệnh tật nào đó, nhưng dược chất trong dược thảo có liều lượng bao nhiêu lại là một điều bí mật. Bí mật thứ nhì là món dược thảo tuy có cùng tên nhưng mức khác biệt về dược chất [và dược tính] lại là khoảng cách mênh mông… chưa kể các phụ chất có dược tính khác.

Các cụ dùng thuốc trị cao huyết áp có tỷ lệ té ngã cao gấp đôi những người không dùng.

Đặc biệt là loại thuốc lợi tiểu, diuretic, [dùng để giảm cao huyết áp và suy tim]. 

Nếu cần dùng, các cụ nên uống thuốc ban ngày để tránh những chuyến vào nhà vệ sinh trong đêm tối. Món thuốc khác, món thuốc trị mất ngủ, có thể gây mất thăng bằng, và nếu có thể, nên thay thế bằng một ly sữa ấm, một cuốn sách dễ đọc hoặc một vài bản nhạc êm dịu.

Cách phòng ngừa té ngã khác là cách xếp đặt vật dụng trong nhà, loại bỏ tấm thảm đặt hờ hững trên sàn nhà, bàn ghế nằm gọn ghẽ trong một góc khuất, dẹp giày dép, đồ chơi… trên lối đi.

Các cụ trong tuổi vàng cần đi khám mắt hàng năm và đeo kính để duy trì thị lực. 

Dùng kính đơn tròng khi đi bộ và chỉ dùng kính hai tròng, ba tròng (bifocal, progressive lenses) khi đọc sách, ngồi tại chỗ vì loại kính này có thể gây vấp té.

Trong nhà cần có đèn đủ sáng để thắp rõ vật dụng chung quanh. 

Và món vật dụng cần thiết nhất, với các cụ sống đơn chiếc, có lẽ là món “gọi cấp cứu”, emergency button, electronic alert, có thể trong dạng vòng đeo trên cổ tay có nút bấm, có thể là dây đeo trên cổ.

Mùa thu của cuộc đời không nhất thiết chỉ là mùa tàn úa, mùa lá vàng; với sự chấp nhận, sửa soạn và sẵn sàng cho tinh thần, mùa thu có thể trở thành…vàng lá, vàng ròng với các chuyến du ngoạn thong thả để tận hưởng sự thanh nhàn khi tâm tư không còn vướng bận với sinh kế nhọc nhằn và bổn phận dưỡng dục khó khăn?

Trần Lý Lê 

https://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2020/02/truot-chan-te-nga-trong-tuoi-vang-tran.html

From: TU-PHUNG


 

Thánh Mácta (Martha)  – Cha Vương

Chúc bạn và gia đình một ngày đầy nhiệt huyết trong tinh thần phục vụ Chúa và tha nhân. Mừng quan thầy Mácta (Martha) đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Cầu nguyện cho nhau và cả thế giới được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 4: 29/7/2026.      (t3-25)

“Ðức Giêsu yêu quý Mácta, Maria và Lagiarô.” Câu nói độc đáo này trong Phúc Âm của Thánh Gioan cho chúng ta biết về sự tương giao đặc biệt giữa Ðức Giêsu và Mácta, người em Maria, và người anh Lagiarô của ngài.

    Hiển nhiên, Ðức Giêsu là người khách thường xuyên đến nhà Mácta ở Bêtania, một ngôi làng nhỏ bé cách Giêrusalem chừng hai dặm. Chúng ta thấy ba lần đến thăm của Ðức Giêsu được nhắc đến trong Phúc Âm Luca 10:38-42, Gioan 11:1-53, và Gioan 12:1-9.

    Nhiều người dễ nhận ra Mácta qua câu chuyện của Thánh Luca. Khi ấy, Mácta chào đón Ðức Giêsu và các môn đệ vào nhà của mình, và ngay sau đó Mácta chuẩn bị cơm nước. 

Sự hiếu khách là điều rất quan trọng trong vùng Trung Ðông và Mácta là điển hình. Thử tưởng tượng xem ngài bực mình biết chừng nào khi cô em Maria không chịu lo giúp chị tiếp khách mà cứ ngồi nghe Ðức Giêsu. Thay vì nói với cô em, Mácta xin Ðức Giêsu can thiệp. 

Câu trả lời ôn tồn của Ðức Giêsu giúp chúng ta biết Người rất quý mến Mácta. Ðức Giêsu thấy Mácta lo lắng nhiều quá khiến cô không còn thực sự biết đến Người. Ðức Giêsu nhắc cho Mácta biết, chỉ có một điều thực sự quan trọng là lắng nghe Người. Và đó là điều Maria đã làm. Nơi Mácta, chúng ta nhận ra chính chúng ta – thường lo lắng và bị sao nhãng bởi những gì của thế gian và quên dành thời giờ cho Ðức Giêsu. Tuy nhiên, thật an ủi khi thấy rằng Ðức Giêsu cũng yêu quý Mácta như Maria.

    Lần thăm viếng thứ hai cho thấy Mácta đã thấm nhuần bài học trước. Khi ngài đang than khóc về cái chết của anh mình và nhà đang đầy khách đến chia buồn thì ngài nghe biết Ðức Giêsu đang có mặt ở trong vùng. Ngay lập tức, ngài bỏ những người khách ấy cũng như gạt đi mọi thương tiếc để chạy đến với Ðức Giêsu.

    Cuộc đối thoại của Mácta với Ðức Giêsu chứng tỏ đức tin và sự can đảm của ngài. Trong cuộc đối thoại, Mácta khẳng định rõ ràng là ngài tin vào quyền năng của Ðức Giêsu, tin vào sự phục sinh, và nhất là tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Và sau đó Ðức Giêsu đã cho Lagiarô sống lại từ cõi chết.

     Hình ảnh sau cùng của Mácta trong Phúc Âm đã nói lên toàn thể con người của ngài. Lúc ấy, Ðức Giêsu trở lại Bêtania để ăn uống với các bạn thân của Người. Trong căn nhà ấy có ba người đặc biệt. Lagiarô là người mà ai cũng biết khi được sống lại. Còn Maria là người gây nên cuộc tranh luận trong bữa tiệc khi cô dùng dầu thơm đắt tiền mà xức lên chân Ðức Giêsu. Về phần Mácta, chúng ta chỉ được nghe một câu rất đơn giản: “Mácta lo hầu hạ.” Ngài không nổi bật, ngài không thi hành những việc có tính cách phô trương, ngài không được hưởng phép lạ kỳ diệu. Ngài chỉ hầu hạ Ðức Giêsu.

    Có truyền thuyết nói rằng ba chị em làng Bêtania đã bị người Do thái bắt thả trôi trên một con thuyền không buồm không chèo không lái. Nhưng họ đã trôi dạt và cặp bến Marseille nước Pháp. 

Ladarô đã trở thành Giám mục tiên khởi Chúa thành này.

Riêng Martha, Ngài đã rao giảng Tin Mừng ở Aix Avignon và Tarascon. 

Thánh Mácta được đặt làm quan thầy của các người hầu hạ và đầu bếp. (Nguồn: Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online)

From: Do Dzung

*****

Chén đắng – Xuân Trường (Ý Vũ)

SỐNG NIỀM HY VỌNG NGÀY CÁNH CHUNG – Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 

 Vũ Quốc Thịnh

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 

Sau khi giải tán đám đông, Chúa Giêsu trở về nhà. Chính trong không gian thân tình ấy, các môn đệ đến gần và xin Người giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng. Chúa không chỉ giải thích một câu chuyện, nhưng dẫn các ông đi sâu vào mầu nhiệm lịch sử cứu độ, vào cuộc chiến âm thầm nhưng quyết liệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa điều thiện và sự dữ, giữa công trình của Thiên Chúa và sự phá hoại của ma quỷ. Người nói rõ: “Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ” (Mt 13,37-39). Như thế, thế giới này không nằm ngoài bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Dẫu có những lúc sự dữ dường như lan tràn, bóng tối như bao phủ, gian ác như thắng thế, thì Thiên Chúa vẫn là Chủ của cánh đồng, là Đấng làm chủ mùa gặt và là Đấng định đoạt chung cuộc của lịch sử. Ma quỷ có thể gieo cỏ lùng, nhưng không thể cướp quyền làm chủ khỏi tay Thiên Chúa. Sự dữ có thể gây đau khổ, có thể làm con người hoang mang, có thể làm cho lúa tốt bị chen lấn, nhưng sự dữ không bao giờ có tiếng nói cuối cùng.

Dụ ngôn cỏ lùng mặc khải cho chúng ta mầu nhiệm Nước Trời vừa “đã hiện diện” nhưng vẫn “chưa hoàn tất”. Nước Thiên Chúa đã đến trong Đức Kitô, đã hiện diện qua lời giảng dạy, qua những phép lạ, qua thập giá và sự phục sinh của Người. Thế nhưng, Nước ấy chỉ được hoàn tất trọn vẹn trong ngày cánh chung, khi mọi quyền lực sự dữ bị tiêu diệt và Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi sự. Vì thế, giữa thời gian hiện tại, chúng ta vẫn phải sống trong một thế giới có lúa tốt lẫn cỏ lùng, có ánh sáng lẫn bóng tối, có thánh thiện lẫn tội lỗi, có yêu thương lẫn hận thù. Thiên Chúa không lập tức nhổ bỏ mọi sự dữ, không phải vì Người bất lực, cũng không phải vì Người dung túng cho tội lỗi, nhưng vì Người kiên nhẫn và giàu lòng thương xót. Người “không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn mọi người ăn năn sám hối” (2 Pr 3,9). Sự chậm trễ của Thiên Chúa không phải là dấu hiệu Người quên lời hứa, nhưng là cơ hội để con người quay về. Hôm nay người ta còn là cỏ lùng, nhưng nhờ ân sủng, ngày mai họ có thể trở thành lúa tốt. Hôm nay một người còn yếu đuối, tội lỗi, lạc xa, nhưng ngày mai có thể trở nên chứng nhân của lòng thương xót. Vì thế, khi Thiên Chúa chưa khép lại lịch sử, con người cũng không có quyền khép lại tương lai của bất cứ ai.

Thánh Gioan Kim Khẩu đã nhận định rằng Thiên Chúa không nhổ cỏ lùng ngay vì lòng thương xót của Người luôn để ngỏ con đường hoán cải. Người không muốn tiêu diệt con người tội lỗi, nhưng muốn tiêu diệt tội lỗi trong con người. Người không muốn khép lại đời ai trong thất vọng, nhưng muốn mở ra cho họ một con đường trở về. Thánh Augustinô cũng nhấn mạnh rằng Hội Thánh tại thế luôn là một cánh đồng có người thánh thiện và người tội lỗi cùng hiện diện. Hội Thánh không phải là cộng đoàn của những người hoàn hảo, nhưng là cộng đoàn của những con người đang được chữa lành, đang được thanh luyện, đang trên đường trở nên thánh. Bởi vậy, chúng ta không được chiếm lấy quyền phán xét vốn chỉ thuộc về Thiên Chúa. Con người thường nhìn dáng vẻ bên ngoài, còn Thiên Chúa thấu suốt cõi lòng. Ta có thể thấy nơi một người toàn khuyết điểm, nhưng Thiên Chúa lại thấy nơi họ một khả năng hoán cải. Ta có thể nhìn người khác bằng quá khứ của họ, còn Chúa nhìn họ bằng tương lai mà ân sủng có thể thực hiện. Ta có thể đóng khung một người trong lỗi lầm, còn Chúa vẫn mở cửa và chờ họ trở về.

Tuy nhiên, lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa không có nghĩa là ngày phán xét sẽ không đến. Chúa Giêsu nói rõ: “Mùa gặt là ngày tận thế” (Mt 13,39). Sẽ có một ngày lịch sử khép lại, mọi mặt nạ rơi xuống, mọi điều kín ẩn được phơi bày, mọi lựa chọn của con người được đặt trước ánh sáng của sự thật. Con Người sẽ sai các thiên thần thi hành cuộc phán xét chung. Những gì thuộc về sự dữ sẽ bị loại bỏ, còn “bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời trong Nước của Cha họ” (Mt 13,43). Đây không phải là hình ảnh nhằm gieo sợ hãi, nhưng là lời khẳng định về công lý của Thiên Chúa. Những người sống ngay lành có thể bị thiệt thòi hôm nay, những người trung tín có thể âm thầm chịu đau khổ, những người bảo vệ sự thật có thể bị hiểu lầm, nhưng không một giọt nước mắt nào của họ bị quên lãng. Thiên Chúa sẽ trả lại công bằng cho những ai bị chà đạp, trả lại danh dự cho những ai bị vu khống, và làm cho những người trung tín được sáng chói trong Nước của Người. Ngày cánh chung vì thế không chỉ là ngày phán xét, nhưng còn là ngày của hy vọng, ngày sự thật chiến thắng, ngày tình yêu được hoàn tất, ngày mọi đau khổ của người công chính được biến thành vinh quang.

Sống niềm hy vọng ngày cánh chung không có nghĩa là chỉ ngồi chờ một tương lai xa xôi. Niềm hy vọng ấy phải biến đổi cách chúng ta sống hôm nay. Bởi ngày phán xét chưa đến nên hôm nay vẫn là thời gian của ân sủng. Hôm nay ta còn có thể trở về, còn có thể làm lại, còn có thể xin lỗi, tha thứ, chấm dứt một thói quen xấu, sửa chữa một bất công và bắt đầu một đời sống mới. Hôm nay ta còn có thể để cho Lời Chúa đi vào lòng và biến đổi mình. Chúa nói: “Ai có tai thì hãy nghe” (Mt 13,43). Nghe không chỉ bằng đôi tai, nhưng bằng cả trái tim. Nghe để nhận ra trong mình có những cỏ lùng nào đang mọc lên. Có thể đó là tính kiêu ngạo khiến ta luôn cho mình đúng; sự ganh ghét khiến ta không vui trước thành công của người khác; thói giả hình khiến ta bên ngoài đạo đức nhưng bên trong đầy toan tính; lòng ích kỷ khiến ta chỉ nghĩ đến bản thân; sự thỏa hiệp khiến ta biết điều sai mà vẫn làm vì lợi ích riêng. Những cỏ lùng ấy nếu không được nhận diện và loại bỏ sẽ dần bóp nghẹt hạt giống tốt mà Chúa đã gieo trong tâm hồn.

Bởi vậy, điều cần làm trước hết không phải là nhìn vào cánh đồng của người khác để tìm cỏ lùng, nhưng là cúi xuống cánh đồng lòng mình. Ta thường dễ dàng nhận ra khuyết điểm của người khác nhưng lại rất khó nhìn thấy bóng tối của bản thân. Ta có thể lên án người này nóng nảy nhưng không thấy mình cay nghiệt; trách người kia ích kỷ nhưng không nhận ra mình chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng; phê phán người khác giả hình nhưng quên rằng nhiều khi chính ta cũng sống hai mặt. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta phải thành thật với chính mình, khiêm tốn xin Chúa soi sáng và can đảm nhổ bỏ những gì không thuộc về Nước Trời. Công việc ấy không dễ dàng, vì cỏ lùng thường mọc rất sâu trong thói quen và bản tính. Nhưng với ân sủng Chúa, không có tội lỗi nào không thể vượt qua, không có vết thương nào không thể chữa lành, không có quá khứ nào không thể được đổi mới.

Đồng thời, dụ ngôn cũng dạy chúng ta phải kiên nhẫn trước những yếu đuối của tha nhân. Kiên nhẫn không phải là dung túng cho cái xấu, cũng không phải là im lặng trước bất công. Kiên nhẫn là biết phân biệt giữa con người và lỗi lầm của họ, là biết góp ý trong yêu thương, sửa dạy trong khiêm tốn và cầu nguyện trong hy vọng. Có những người thay đổi không phải vì bị kết án, nhưng vì được yêu thương. Có những tâm hồn trở về không phải vì bị xua đuổi, nhưng vì có người kiên nhẫn chờ đợi. Có những người bước ra khỏi bóng tối chỉ vì họ gặp được một ánh mắt không khinh miệt, một bàn tay không loại trừ và một lời nói không làm họ tuyệt vọng. Chúng ta không thể biến cỏ lùng thành lúa tốt bằng sự cay nghiệt, nhưng có thể cộng tác với ân sủng Chúa bằng lòng thương xót, lời cầu nguyện và một đời sống chứng tá.

Người Kitô hữu sống giữa thế gian nhưng không thuộc về tinh thần thế gian. Chúng ta vẫn sống trong cánh đồng có nhiều cỏ lùng, nhưng được mời gọi trở thành những bông lúa tốt. Lúa tốt không cần ồn ào, chỉ cần trung thành lớn lên, âm thầm hút lấy nhựa sống từ lòng đất và ánh sáng từ trời cao, rồi đến mùa sẽ trổ sinh bông hạt. Cũng vậy, người môn đệ của Chúa không cần chứng minh mình hơn người khác, nhưng cần trung thành sống yêu thương, công chính, khiêm nhường và phục vụ. Giữa một thế giới đầy gian dối, hãy sống chân thật. Giữa một xã hội đầy hận thù, hãy gieo bình an. Giữa một môi trường thích kết án, hãy sống lòng thương xót. Giữa những người chỉ biết nghĩ cho mình, hãy biết hy sinh. Mỗi việc tốt âm thầm hôm nay chính là một hạt giống cho mùa gặt mai sau.

Niềm hy vọng ngày cánh chung giúp chúng ta không thất vọng trước sự dữ và cũng không kiêu ngạo về sự thiện mình đang có. Ta không thất vọng vì biết sự dữ rồi sẽ bị đánh bại. Ta không kiêu ngạo vì biết mọi điều tốt lành nơi mình đều nhờ ân sủng. Ta không vội kết án vì biết quyền phán xét thuộc về Thiên Chúa. Ta không trì hoãn hoán cải vì biết mùa gặt sẽ đến vào giờ ta không ngờ. Hãy sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, nhưng cũng hãy yêu thương như thể ta còn cả một đời để làm điều tốt. Hãy để Lời Chúa thanh luyện ta, để khi mùa gặt đến, ta được tìm thấy không phải là một bông lúa trống rỗng, nhưng là bông lúa trĩu hạt của lòng tin, đức cậy và đức mến. Khi ấy, ta sẽ không sợ ngày cánh chung, nhưng sẽ đón ngày ấy như cuộc gặp gỡ với Đấng ta đã yêu mến và trung thành chờ đợi suốt cả cuộc đời.

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR 


 

Michigan: Chồng bắn chết vợ, 6 con, đốt nhà rồi tự tử

Ba’o Nguoi-Viet

July 27, 2026

GRAND HAVEN, Michigan (NV) – Một ông chồng ở Michigan bị cáo buộc bắn chết vợ và sáu đứa con, đốt nhà rồi tự tử, cảnh sát loan báo hôm Thứ Hai, 27 Tháng Bảy, theo ABC News.

Lính cứu hỏa tìm thấy thi thể sáu đứa con, từ 5 tới 15 tuổi, và cha mẹ sau khi tới dập tắt đám cháy tại căn ở Grand Haven Township hôm Thứ Sáu tuần trước, Sở Cảnh Sát Ottawa County (OCSO) cho hay.

Xe cảnh sát Ottawa County, Michigan. (Hình minh họa: Ottawa County Sheriff’s Office)

Cả tám người thiệt mạng vì vết đạn, OCSO cập nhật thông tin hôm Thứ Hai sau khi có kết quả giảo nghiệm tử thi.

Người chồng, ông Kristopher Karolkiewicz, 47 tuổi, chết do tự tử, còn người vợ, bà Amanda Karolkiewicz, 39 tuổi, và sáu đứa con bị sát hại, OCSO xác nhận.

Cảnh sát không nêu danh tánh sáu đứa con, chỉ cho biết bao gồm bốn con trai lần lượt từ 5, 11, 12 và 15 tuổi cùng hai con gái 11 tuổi. Trong đó có bốn đứa trẻ là con ruột, còn hai đứa kia là con nuôi, theo OCSO.

“Đây là bi kịch không thể diễn ra bằng lời mà có lẽ chúng tôi không bao giờ biết rõ chuyện gì xảy ra,” Đại Úy Jake Sparks của OCSO cho hay trong buổi họp báo hôm Thứ Hai. “Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức tìm ra câu trả lời và tưởng niệm các nạn nhân.”

Ban đầu, lính cứu hỏa tới khu vực này vào sáng Thứ Sáu sau khi nhận được tin báo có mùi khói, nhưng không thấy nhà nào bị cháy, ông Sparks cho biết.

Vài tiếng sau, lính cứu hỏa quay lại nơi đó sau khi nhận được tin báo có khói trắng bốc lên tại một căn nhà, và khi tiến vào trong để cố gắng dập tắt đám cháy, họ thấy thi thể tám người ở trong phòng ngủ khác nhau khắp nhà, theo ông Sparks.

Cảnh sát đang điều tra nguyên nhân vụ cháy nhưng tin rằng đám cháy do cố ý đốt ở nhiều nơi khắp nhà và tầng hầm bị hư hại nặng nề, ông Sparks cho hay. Mấy con thú nuôi của gia đình này, gồm vài con chó và ít nhất một con mèo, cũng chết trong đám cháy, ông cho biết.

“Không còn nghi can nào khác và kết quả điều tra cho thấy đây là vụ giết người rồi tự tử, và phóng hỏa sau khi giết người,” ông Sparks xác nhận trong thông cáo báo chí của OCSO hôm Thứ Hai.

Ông Sparks nói ông tin rằng sự việc có lẽ bắt đầu vào đêm hôm trước. Khẩu súng được sử dụng trong vụ này là súng lục, theo ông Sparks.

Cảnh sát đang tiếp tục điều tra vụ án này. (Th.Long) [kn]


 

KHÔNG PHẢI ĐIỀU GÌ, NHƯNG LÀ AI – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh – Tgp. Huế

“Chị có tin thế không?”; “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô!”.

Đức tin, về nhiều mặt, như chiếc xe cút kít. Cách đơn sơ, bạn phải thực sự đẩy nó để nó có thể hoạt động. Nếu không sống nó; bạn không tin nó!

Kính thưa Anh Chị em,

Có những điều chỉ thực sự hiện hữu khi chúng ta dám đặt sức nặng đời mình lên đó. Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta đến cốt lõi của đức tin: ‘không phải điều gì, nhưng là Ai’.

“Chị có tin thế không?”. Câu hỏi Chúa Giêsu dành cho Matta không khởi đi từ một giáo huấn cần ghi nhớ, nhưng từ một Ngôi Vị đang hiện diện. Thần học gọi đó là chuyển động từ fides quae – ‘điều chúng ta tin’, sang fides qua – ‘cách chúng ta tin’. Nói khác đi, đức tin không dừng ở những chân lý về Thiên Chúa, nhưng đưa chúng ta đến chính Ngài. “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một ý tưởng, nhưng là cuộc gặp gỡ với một Ngôi Vị!” – Bênêđictô XVI.

Matta không trả lời câu hỏi bằng một công thức, nhưng bằng một lời tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Cô không biết điều gì sẽ xảy ra; nhưng cô nhận ra Đấng mình đang gặp là ai. Đức tin ấy được Gioan tóm tắt: “Ai tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa!” – bài đọc một. Vì thế, chân lý không còn là một khái niệm cần giải mã, nhưng là một con người để gắn bó. Tin, vì thế, không ở chỗ hiểu, nhưng ở chỗ thuộc về; ‘không phải điều gì, nhưng là Ai’.

Với chúng ta cũng thế. Có thể chúng ta biết nhiều về Thiên Chúa mà vẫn chưa thật sự tin; có thể hiểu rất rõ về Ngài mà vẫn đứng ngoài tương quan với Chúa Kitô. Đức tin không được đo bằng điều chúng ta hiểu, nhưng bằng mức độ chúng ta sống thân tình với Chúa. Chỉ khi ấy, điều được biết mới thôi là một khái niệm, để trở thành một kinh nghiệm sống: “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy!” – Thánh Vịnh đáp ca. “Tin Đức Giêsu là để Ngài sống đời sống của Ngài trong ta, làm nhà của Ngài nơi ta!” – Henri Nouwen.

Vấn đề của chúng ta không phải là thiếu hiểu biết, nhưng là biến đức tin thành một điều phải hiểu – hiểu rồi mới tin, nắm rồi mới bước, kiểm soát rồi mới phó mình. Khi đó, đức tin không còn là cuộc gặp gỡ với Chúa, nhưng chỉ còn là một đối tượng để nghiên cứu. Nỗi lầm lớn nhất là mải miết nắm giữ những điều mình biết về Thiên Chúa, nhưng lại không để Ngài bước vào đời mình. Karl Rahner từng cảnh báo: “Người Kitô hữu của tương lai sẽ là một người có kinh nghiệm về Thiên Chúa, hoặc sẽ không tồn tại!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đến để chúng ta biết về Chúa nhiều hơn, nhưng để đưa chúng ta vào chính sự sống của Ngài ngày càng mật thiết hơn. Ngài không trao thêm lời giải thích, nhưng trao chính mình để chúng ta tin. Từ đó, đức tin không còn là nỗ lực nắm bắt, nhưng là để mình được Thiên Chúa nắm lấy; không còn là chiếm hữu một điều gì, nhưng là được chính Thiên Chúa đón nhận.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thuộc về Chúa hơn là biết về Chúa; phó mình cho Chúa hơn là cậy sức mình; và luôn sống dưới ánh mắt Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh – Tgp. Huế

************

Lời Chúa 29/7 Thánh Matta, Maria và Lazarô, Thứ Tu Tuần XVII Thường Niên

Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.       Ga 11,19-27 

19 Khi ấy, nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô là La-da-rô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”


 

NGUY CƠ CỦA QUÁ AN TOÀN – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Tôi thường hay được nhắc nhở là phải thận trọng cả hồn lẫn xác: “Cẩn thận!  Đừng mắc sai lầm!  Hãy thận trọng!  Đừng làm điều gì khiến mình phải hối tiếc!”  Đúng là tôi đã hấp thụ những lời này ngay từ khi còn nhỏ, những năm học ở trường dòng, và phần lớn những năm tháng làm linh mục.  Đây cũng là những lời trối trăn cuối cùng của cha tôi, cha tôi là một trong những người đàn ông chân thật nhất mà tôi được biết.  Đêm đó, anh tôi và tôi đến bệnh viện thăm cha đang bị bệnh ung thư, sau đó chúng tôi ra về không hề biết sáng sớm hôm sau cha ra đi, cha nhắc chúng tôi: “Cẩn thận nghe!”  Ông nhắc chúng tôi lái xe cẩn thận trên con đường mùa đông đầy băng tuyết.  Lời nhắc nhở này cho thấy cá tính, tâm hồn nhạy cảm và sự lo lắng đúng đắn của ông dành cho con cái, và về mặt tinh thần nó cũng có nghĩa: “Cẩn thận!  Thận trọng!”  Đây là lời nhắc nhở thường xuyên của cha tôi.

 Bây giờ những lời đó là một phần tính di truyền của tôi.  Con cái không những thừa hưởng các đặc tính sinh học của cha mẹ mà còn hơn thế nữa, đặc biệt nếu may mắn có một đấng sinh thành có lập trường đạo đức vững chắc.  Và sự thận trọng đó giúp ích cho tôi rất nhiều.  Tôi biết ơn nó.  Hơn năm mươi năm qua, tôi đã giữ gìn nguyên vẹn cả xác lẫn hồn.  Một món quà không phải là nhỏ. 

 Tuy vậy sự thận trọng đó đôi lúc cũng không tốt cho tôi.  Một người có thể  không sứt mẻ, nhưng thận trọng đến mức nhút nhát, rụt rè nhiều hơn yêu thương thì sự thận trọng đó trở thành tâm điểm cuộc đời họ.  Mối nguy cơ trong việc luôn luôn muốn toàn hảo dễ đi đến tâm trạng giống như tâm trạng của người anh cả của người con hoang đàng, đặt niềm tin cứng ngắc vào mọi sự, nhưng lại hay xét đoán, đố kỵ, gắt gỏng cay chua; không bao giờ thỏa hiệp về mặt đạo đức và tín lý, trong khi lại ham muốn những chuyện phi luân lý và tâm hồn như tê cứng với cuộc sống thật.  Đôi lúc một sự thận trọng được rèn giũa kỹ lưỡng trong từng hành vi là do quả tim cảnh giác nhiều hơn là quảng đại, ham muốn nhiều hơn là khẳng định, xét đoán nhiều hơn là tha thứ.  Đôi lúc nó làm do một quả tim mà yêu thương và tha thứ được xem như phần thưởng chứ không phải cho và nhận không vụ lợi.  Nó là kết quả của một quả tim âm thầm sung sướng khi người khác đi lầm đường vì không sống giống như mình.  Không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng nó cũng dễ xảy ra, phải thẳng thắn và khiêm tốn nói thỉnh thoảng trong cuộc đời tôi, tôi cũng vướng vào những trường hợp như vậy.

Goethe, nhà thơ người Đức đã viết: Cuộc sống chứa đựng nhiều nguy cơ, và sự an toàn là một trong những mối nguy cơ đó.  Đối với một vài người thì có lẽ lời nhắc nhở ngược lại mới thích hợp hơn.  Tuy nhiên đối với hầu hết chúng ta, những người luôn được nhắc nhở phải trở nên người tử tế và có đạo thì câu nói của Goethe cũng mang một sự thật làm chúng ta bối rối.

 Có phải chúng ta đang sống quá thận trọng?  Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào những kiềm chế, ghen tương, luận phạt tôn giáo của chúng ta một cách thẳng thắn không?  Có phải cuộc sống của chúng ta bị nỗi sợ hướng dẫn thay vì được tình yêu hướng dẫn không?  Liệu chúng ta có thể yêu đời mà không bị phán xét và cay đắng không?  Người khác có xem chúng ta là những người cứng ngắc không?  Lần cuối cùng chúng ta thật sự tha thứ cho người làm tổn thương mình là lần nào?  Cuộc sống chúng ta có nói lên tình yêu thương và lòng quảng đại hơn là sợ hãi và tự vệ không?  Mối nguy cơ trong việc sống quá thận trọng là đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ cuộc đời nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ sự nghèo nàn của chính đời sống mình, đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ đức hạnh, nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ những kiềm chế và sợ hãi của chính mình, và có khi chúng ta nghĩ chúng ta đang nói về sự quan phòng của Thiên Chúa cho thế gian nhưng, như người anh cả của người con hoang đàng, thật ra chúng ta đáng nói về lòng ghen tương giấu kín trong con người mình.

 Nhân vật nam chính trong bộ phim Những cỗ xe rực lửa là Eric Liddell, một chàng thanh niên hết sức đạo đức, là lực sĩ chạy bộ tham dự Thế Vận Hội Olympic với triển vọng được huy chương vàng, nhưng anh từ chối tham dự cuộc tranh tài vì vòng tranh sơ khởi nhằm vào ngày Chúa Nhật, ngày anh giành cho Chúa.  Rất dễ phê phán việc làm của Eric Liddell là việc làm xuất phát từ nguyên tắc tôn giáo cứng ngắc.  Đối với ai đó thì điều này có thể đúng.  Nhưng đối với Eric Liddell thì không.  Tại sao?  Bởi vì anh không bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi hay nguyên tắc cứng ngắc.  Anh được cuốn đi bởi tình yêu.  “Khi tôi chạy,” anh nói, “tôi cảm thấy niềm vui của Thiên Chúa.”

 Thỉnh thoảng tôi cũng hỏi tôi câu hỏi đó trong mối liên hệ của tôi với tôn giáo và những kiềm chế tinh thần: Liệu Thiên Chúa có vui trong sự thận trọng của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong các hy sinh của tôi?  Liệu Thiên Chúa có vui trong những khắc khoải của tôi về những khiếm khuyết đạo đức của thế giới?  Hay có phải Người Cha đang đứng bên cạnh tôi, bên ngoài bàn tiệc, nài nỉ tôi như ông từng nài nỉ với người con cả, con không thể vì cha mà chấp nhận em con sao?

 Tôi biết ơn sự giáo dục tôi được hưởng, dù tính dè dặt bẩm sinh đi kèm với nó không còn ở tôi nữa.  Thận trọng là điều hay.  Đó là cách sống đầy yêu thương và có trách nhiệm.  Nhưng tôi lớn lên một cách thẳng thắn hơn trên các nguy cơ này.  Đa số thời gian tôi như được trọn vẹn, tuy nhiên đôi lúc tôi sợ hãi nhiều hơn quảng đại, tự vệ nhiều hơn yêu thương, ghen tương nhiều hơn quan tâm lành mạnh.  Sự thận trọng đôi lúc đã không cho tôi một quả tim lớn.  An toàn cũng là một mối nguy cơ.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ — Lm Anmai CSsR 

Anmai CSsR 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ.

Có một ảo tưởng rất phổ biến trong đời sống này: càng nhiều thì càng tốt. Nhiều tiền hơn, nhiều mối quan hệ hơn, nhiều thành tựu hơn, nhiều lời khen hơn. Người ta chạy, và chạy mãi, như thể nếu dừng lại một chút thôi thì sẽ bị bỏ lại phía sau, như thể cuộc đời là một cuộc đua không có vạch đích.

Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, khi lòng đã mỏi, khi đôi vai đã nặng, người ta mới chợt nhận ra một điều giản dị đến đau lòng:

cuộc sống không cần quá đầy, chỉ cần đủ. “Đủ” là một từ rất nhỏ, nhưng lại là một đỉnh cao mà nhiều người không chạm tới.

Đủ không phải là ít. Đủ là khi bạn không còn bị đói khát bởi những thứ bên ngoài. Đủ là khi bạn có thể ngồi xuống, nhìn lại, và nói với chính mình: “Thế này… là được rồi.”

Có người có cả một căn nhà lớn, nhưng không có một góc nào để thật sự nghỉ ngơi.

Có người có hàng trăm mối quan hệ, nhưng không có nổi một người để gọi lúc nửa đêm.

Có người có rất nhiều tiền, nhưng không có một bữa ăn nào thật sự ngon miệng.

Vì họ không sống trong “đủ”, họ sống trong “chưa đủ”. Mà “chưa đủ” thì không có điểm dừng. Một bữa cơm đơn sơ, nếu ăn trong bình an, sẽ no lâu hơn một bàn tiệc thịnh soạn trong lo âu.

Một căn phòng nhỏ, nếu có tiếng cười, sẽ ấm hơn một biệt thự lạnh lẽo.

Một ngày sống chậm, sống sâu, sẽ đáng giá hơn cả trăm ngày vội vã mà rỗng không.

Đời sống không cần phải đầy tràn, chỉ cần vừa vặn với tâm hồn mình.

Rồi đến lòng người.

Người ta thường tự hào về một trái tim “rộng lớn”. Nhưng nhiều khi, cái gọi là rộng ấy lại chỉ là một sự dễ dãi, một sự mở cửa không chọn lọc, để rồi cuối cùng chính mình là người bị tổn thương. Lòng người không cần quá rộng, chỉ cần thật.

“Thật” không phải là nói hết, cũng không phải là cho hết.

“Thật” là khi bạn không giả vờ yêu thương.

“Thật” là khi bạn không mỉm cười chỉ vì lịch sự mà trong lòng lại lạnh tanh.

“Thật” là khi bạn dám im lặng trước những điều không thuộc về mình, và dám nói khi điều đó là cần thiết.

Một trái tim thật có thể không ôm được nhiều người, nhưng những ai ở lại sẽ là những người thật sự được yêu. Một sự quan tâm thật có thể không phô trương, nhưng lại bền bỉ và sâu sắc.

Một lời nói thật có thể không dễ nghe, nhưng lại cứu được một đời người khỏi ảo tưởng. Có những người sống cả đời để làm vừa lòng thiên hạ, để rồi cuối cùng đánh mất chính mình.

Có những người nói chuyện rất hay, rất khéo, nhưng khi cần thì không thấy đâu.

Có những mối quan hệ tưởng như rất rộng, nhưng lại rỗng.

Thà ít mà thật, còn hơn nhiều mà giả.

Thà sâu mà hẹp, còn hơn rộng mà nông.

Một trái tim thật, dù nhỏ, vẫn đủ để giữ ấm một cuộc đời.

Và rồi, chuyện của một đời người. Người ta sợ già, sợ chết, sợ thời gian trôi qua. Ai cũng muốn sống lâu, sống dài, sống thêm. Nhưng ít ai tự hỏi: “Mình đang sống như thế nào trong những ngày đã có?”

Một đời người không cần quá dài, chỉ cần sống trọn vẹn từng ngày.

“Trọn vẹn” không phải là làm được nhiều việc, mà là có mặt trong từng việc mình làm.

Ăn thì biết mình đang ăn.

Nói thì biết mình đang nói.

Yêu thì biết mình đang yêu.

Sống thì biết mình đang sống.

Có những người sống đến tám mươi năm, nhưng phần lớn thời gian là lo lắng, tiếc nuối và chờ đợi. Có những người chỉ sống vài chục năm, nhưng từng ngày của họ đều có ý nghĩa, có tình yêu, có sự dâng hiến. Chiều dài của đời người không nằm ở số năm, mà nằm ở độ sâu của từng khoảnh khắc.

Một cái nắm tay đúng lúc có thể quý hơn cả ngàn lời nói muộn màng. Một lần tha thứ có thể nhẹ hơn cả một đời ôm hận. Một ngày sống tử tế có thể đáng giá hơn cả một tháng sống hời hợt.

Sống trọn vẹn là khi tối đến, bạn không phải tự hỏi:

“Hôm nay mình đã sống chưa?”

Cuối cùng, tất cả lại quay về những điều rất đơn giản:

Không cần quá nhiều, chỉ cần đủ để bình an. Không cần quá rộng, chỉ cần thật để không cô đơn.

Không cần quá dài, chỉ cần sâu để không uổng phí. Cuộc đời, xét cho cùng, không phải là một bài toán để tối đa hóa, mà là một hành trình để hiểu thế nào là vừa vặn.

Và có lẽ, hạnh phúc không nằm ở chỗ bạn có bao nhiêu,

mà nằm ở chỗ bạn biết dừng lại ở đâu —

để mỉm cười và nói:

“Vậy là đủ.”

Lm. Anmai, CSsR 


 

Vụ án sách Chuyện với Thanh: Tổ chức nhân quyền kêu gọi trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và những người liên quan (BBC)

BBC

22 tháng 7 2026

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch – HRW) hôm 22/7 đã kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho ông Nguyễn Thành Nam và bốn người liên quan đến việc xuất bản và quảng bá sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng.

“Chính quyền Việt Nam cần ngay lập tức hủy bỏ mọi cáo buộc đối với cả năm người và phóng thích họ vô điều kiện,” HRW viết trong thông cáo.

Vào ngày 7/7, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam ông Nguyễn Thành Nam và ông Trần Việt Anh để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Ông Nam là tác giả sách Chuyện với Thanh Lời kể mới về ánh sáng, còn ông Trần Việt Anh là nhà sáng lập của Spiderum – một mạng xã hội được quảng bá là nền tảng chia sẻ tri thức của người Việt Nam.

Sau khi bị bắt, ông Nam và ông Việt Anh đã xuất hiện trên sóng truyền hình VTV1, thú nhận hành vi của mình, tương tự như những gì mà đài này kết hợp với công an thường làm trong các vụ án được dư luận quan tâm khác.

Sau đó, công an tiếp tục bắt giữ ba lãnh đạo chủ chốt của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, gồm bà Nguyễn Thúy Hằng, ông Đào Bá Đoàn và ông Nguyễn Văn Yên, cũng với các cáo buộc tương tự.

Bà Elaine Pearson, Giám đốc khu vực châu Á của HRW, được trích lời trong thông cáo nêu trên: “Làn sóng bắt giữ vì một cuốn sách về Hồ Chí Minh gửi một thông điệp lạnh gáy đến toàn bộ giới nhà văn, nhà báo và xuất bản rằng tuyên ngôn về kỷ nguyên ‘vươn mình’ mới chỉ có nghĩa là gia tăng đàn áp.”

“Phản ứng cực đoan về cuốn sách thể hiện rằng ngay cả những nhân vật thành danh trong các lĩnh vực kinh doanh, xuất bản và báo chí cũng không được an toàn trước giới bảo thủ của Đảng Cộng sản,” bà Pearson nói thêm.


 

RỒI MÙA SẼ ĐẾN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời”.

“Mọi sự đều là một thời kỳ thai nghén, rồi mới đến lúc sinh nở!” – Rainer Maria Rilke.

Kính thưa Anh Chị em,

Không ai có thể đòi mùa gặt khi hạt giống vừa được gieo; cũng không ai mong ngày sinh nở khi thời kỳ thai nghén chưa trọn. Mọi sự đều cần thời gian. Lời Chúa hôm nay cho thấy Thiên Chúa không vội vàng, vì Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Và chính ở đó, Chúa Giêsu mặc khải một cái nhìn rất khác về thời gian. Bản Hy Lạp viết synauxanesthai – “cùng lớn lên”. Có những điều chỉ khi lớn lên mới biết mình là gì. Hạt lúa phải đợi đến khi trổ bông, cỏ lùng cũng phải đợi đến lúc kết hạt mới lộ nguyên hình. Chúa Giêsu vì thế không nhìn cánh đồng bằng con mắt của một khoảnh khắc, nhưng bằng cái nhìn của cả một vụ mùa. Con người chỉ nhìn thấy cánh đồng mới mọc; Thiên Chúa đã nhìn thấy mùa gặt. Đầy tớ sợ cỏ lùng; chủ ruộng tin vào lúa. Bởi Ngài biết: ‘rồi mùa sẽ đến’.

Trong cái nhìn của Thiên Chúa, có những điều chỉ đến mùa mới sáng tỏ. Vì thế, Chúa Giêsu không vội phân định. Ngài để thời gian hoàn tất điều mà con mắt con người chưa nhìn thấy. Đến mùa, lúa không cần chứng minh mình là lúa; cỏ lùng cũng không thể tiếp tục giả làm lúa. “Dối trá không thể hoá thành chân lý, cho dù nó có lớn mạnh đến đâu!” – Rabindranath Tagore.

Điều lạ trong dụ ngôn không phải là cỏ lùng, nhưng là sự bình thản của ông chủ. Giữa một cánh đồng đã bị gieo phá, ông không hốt hoảng. Ông hiểu rằng có những việc càng vội càng hỏng, càng nóng lòng càng mất. Chỉ mùa gặt mới có tiếng nói sau cùng. Điều kỳ diệu nhất trong dụ ngôn có lẽ không nằm ở mùa gặt, mà ở khả năng chờ đợi của Thiên Chúa. Chúng ta đo thời gian bằng đồng hồ; Thiên Chúa đếm thời gian bằng hy vọng. Bao lâu còn một hạt lúa có thể trổ bông, bấy lâu Ngài vẫn đợi.

Niềm hy vọng ấy cũng là niềm hy vọng của Giêrêmia. Giữa cảnh đất trời khô cằn và lòng người bội bạc, vị ngôn sứ vẫn không buông lời tuyệt vọng. Ông thú nhận tội lỗi của dân, nhưng đồng thời nài xin Thiên Chúa hành động vì danh Chúa và lòng trung tín của Ngài – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh không ngừng thưa lên: “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Với chúng ta, điều làm chúng ta mệt nhiều khi không phải là cỏ lùng, mà là cảm giác chẳng có gì đổi thay. Chúng ta sốt ruột với chính mình, với người khác, thậm chí với cả Thiên Chúa. Đừng bỏ cuộc quá sớm, vì biết bao mùa gặt đã chết ngay trong ngày người ta bỏ cuộc.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là bằng chứng Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ cánh đồng của mình. Khi con người tưởng mọi sự đã kết thúc trên thập giá, Ngài lại khởi đầu một mùa gặt mới bằng biến cố phục sinh. Với Đức Phanxicô, Chúa không mời chúng ta đi tìm cỏ lùng, Ngài mời chúng ta đi chăm lúa. Vì thế, theo Đức Kitô là dám ở lại với hy vọng, vì ‘rồi mùa sẽ đến’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con đừng thất vọng quá sớm về chính mình, về tha nhân, vì mùa của Chúa luôn đến đúng lúc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

Như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 13,36-43

36 Khi ấy, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng : “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe.” 37 Người đáp : “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. 38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. 39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là quỷ dữ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên sứ. 40 Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. 41 Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, 42 rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. 43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.”