THẾ GIỚI MỞ, TÂM HỒN KHÓA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín!”.

Chưa bao giờ thế giới “mở” như hôm nay: “AI”, công nghệ và kết nối khiến mọi khoảng cách gần như biến mất. Nhưng nghịch lý thay, càng mở ra với thế giới bên ngoài, con người càng khép kín bên trong.

Kính thưa Anh Chị em,

Một chi tiết rất Gioan trong Tin Mừng lễ Hiện Xuống đáng để chúng ta suy nghĩ: “các cửa đều đóng kín”. Đó không chỉ là cánh cửa của căn phòng, nhưng còn là cánh cửa của sợ hãi, thất vọng và cô độc. Không chỉ ngày trước, nhưng cả hôm nay nữa. Vậy mà Chúa Phục Sinh vẫn bước vào chính nơi đóng kín ấy – ‘thế giới mở, tâm hồn khoá’.

Lý do Gioan tiết lộ khi cửa phải khoá: “các ông sợ”. Nỗi sợ ấy không chỉ đến từ người Do Thái, nhưng còn từ sự vỡ vụn của những trái tim: họ từng bỏ chạy, từng chối Thầy, từng chứng kiến mọi hy vọng của mình bị đóng đinh. Vì thế, “cửa đóng kín” không đơn thuần là một chi tiết lịch sử, nhưng là hình ảnh của một con tim bị thương đang tự nhốt mình lại. Có lẽ đó cũng là điều đang xảy ra nơi chúng ta hôm nay. “Nỗi cô độc của con người bắt nguồn từ nỗi sợ rằng, nếu người khác biết hết con người thật của mình, chúng ta sẽ không còn được yêu nữa!” – Henri Nouwen.

Điều đáng chú ý là Chúa Phục Sinh không phá cửa để đi vào. Gioan cố ý giữ lại chi tiết ấy để cho thấy: quyền năng phục sinh không huỷ bỏ con người, nhưng đi xuyên qua những gì đang đóng kín nơi họ. Sau đó, Ngài “thổi hơi” trên các môn đệ – động từ “enephysēsen” gợi lại hơi thở của Thiên Chúa trong trình thuật tạo dựng Ađam. Hiện Xuống không chỉ là một an ủi, nhưng là một cuộc tạo dựng mới. Thánh Thần không đơn giản giúp con người “cảm thấy khá hơn”, nhưng làm họ sống lại từ bên trong.

Sống lại từ bên trong là không còn để mình bị nhốt trong nỗi sợ. Thánh Thần không cất các môn đệ khỏi thế giới, nhưng biến những kẻ từng im lặng và co cụm thành những con người có thể bước ra để “loan báo những kỳ công của Thiên Chúa” – bài đọc một. Điều đã chết nơi họ không phải thân xác, nhưng là lòng can đảm và khả năng yêu thương. Chính nơi những tâm hồn khoá kín ấy, Thánh Thần bắt đầu tái tạo. Thiên Chúa không phá cửa lòng, Ngài chờ một vết rách của hoán cải để bước vào. “Nhờ Thánh Thần, con người được phục hồi về địa đàng!” – Basiliô Cả.

Anh Chị em,

Chưa bao giờ thế giới năng động như hôm nay, cũng chưa bao giờ con người vong thân như hôm nay. Nhiều người vẫn sống, làm việc, kết nối và cười nói mỗi ngày, nhưng đang chết dần trong sợ hãi, cô đơn và chai lì. Vì thế, phép lạ lớn nhất của Hiện Xuống không phải là nói được nhiều thứ tiếng, nhưng là một con tim tưởng đã chết lại có thể yêu, tin và có thể bước ra khỏi chính mình. Có lẽ, giữa một thời đại ‘thế giới mở, tâm hồn khoá’, nhân loại vẫn đang thiếu một hơi thở của Thánh Thần cho linh hồn mình.

Sống mà không có Thánh Thần chỉ là sự tồn tại của những xác chết biết cười!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở những cánh cửa khoá phía trong của lòng con; bẻ gãy các chấn song và đưa con ra khỏi mọi chốn tù đày mà không còn luyến tiếc!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 20,19-23

19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói : “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông : “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”


 

Hãy tạ ơn CHÚA, vì Chúa nhân từ: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (1 Sb 16:34)- Cha Vương

Cuối tuần Memorial Day tràn đầy hồng ân của Thiên Chúa nhé. Chúa thương bạn rất nhiều đó, xin đừng lãng quên… mà ngoảnh mặt đi…

Cha Vương

Thứ 7: 23/05/2026.     (n27-23)

TIN MỪNG: Hãy tạ ơn CHÚA, vì Chúa nhân từ: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (1 Sb 16:34)

HOA QUẢ THỨ 5: Nhân Hậu—là một nhân đức hiền từ, dễ tính, hấp dẫn người khác nhờ lời nói nhỏ nhẹ, cung cách bao dung, nó bắt nguồn từ tâm hồn đạo đức, từ nếp sống chính trực và được thể hiện qua hành động yêu thương, quan tâm, âu yếm đối với tha nhân.

SUY NIỆM: Trong đời sống xã hội, lòng nhân hậu được bộc lộ qua lời nói: nó diễn tả mối quan tâm và kính trọng đối với tha nhân. Qua lời nói, con người bộc lộ chính bản thân của mình. Lời nói không chỉ chuyển tải một sứ điệp mà nhất là chuyển tải bản thân của sứ giả. Điều này có thể thấy rõ trong “Lời của Thiên Chúa”, tức là Đức Kitô. Theo thánh Gioan, Ngôi Lời chuyển đạt cho chúng ta những chuyện thân mật của Chúa, tình yêu giữa Ba ngôi. Lời ấy là chân lý và tình yêu: Đức Kitô không chỉ nói đến tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, mà cả tình yêu của Người đối với Thiên Chúa.

Ngoài ra, sách Tin mừng còn mô tả lời nhân hậu của Đức Giêsu, khi đón tiếp người tội lỗi (Lc 15:1-2), những người bệnh tật (Lc 18:35-43), các trẻ nhỏ (Mc 10:13-36). Những đối thủ của Người, tuy bất đồng ý kiến trong cách giải thích đạo lý, nhưng nhìn nhận rằng lời lẽ của Người có sức thu  hút đám đông. Đức nhân hậu biết sử dụng lời lẽ hòa nhã để tiếp xúc với tha nhân. Hẳn nhiên, kẻ nhân hậu sẽ không dùng lưỡi để nói xấu người khác hay để gây ra tranh cãi (Tt 3:2). Họ cũng biết sử dụng lời lẽ cách khôn khéo để phục vụ Chúa. Họ biết lắng nghe người khác, tuy không ngại phát biểu những điều xác tín của bản thân. Đôi khi vì trung thành với Sự Thật, mà họ sẵn sàng để cho người khác sửa sai mình và cũng không thiếu lần cảm thấy mình cô đơn, vì không được người khác hiểu biết.  Ước mong nhờ sự tác động của Chúa Thánh Thần lòng nhân hậu của bạn được bộc lộ ra bên ngoài, qua nét mặt hồn nhiên, cởi mở với mọi người, tế nhị trong cách giao tiếp hàng ngày.

LẮNG NGHE: Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.” (Lc 15:31-32)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở lòng trí con để con đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương thực sự bằng việc làm, xin cho lời nói và việc làm của con được cắm rễ trong lòng nhân hậu của Chúa để mọi người nhận ra con là môn đệ của Chúa.

THỰC HÀNH: Trong mọi tương quan của ngày hôm nay, mời bạn hãy tự hỏi chính mình: “Chúa Giêsu sẽ làm gì trong trường hợp này?” Rồi tự thay đổi lời ăn tiếng nói của mình để tình huống trở nên tốt đẹp hơn.

From: Do Dzung

*****************************************

Bài ca lòng nhân hậu -tinmung.net

NÀO AI CHỨA NỔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra!”.

“Hãy coi Kinh Thánh như một tấm bản đồ. Nó chỉ đường cho bạn, nhưng bản đồ không phải là hành trình. Muốn thật sự biết một vùng đất, bạn phải lên đường, ở lại và khát khao nó!” – Charles Swindoll.

Kính thưa Anh Chị em,

“Bản đồ không phải là hành trình!”. Gioan kết thúc Tin Mừng của mình bằng một hình ảnh gần như “quá đáng”: nếu viết hết mọi điều về Chúa Giêsu, cả thế giới cũng không chứa nổi sách. Nói cách khác, ngôn ngữ nhân loại chỉ là một chiếc áo quá chật cho mầu nhiệm Đức Kitô – Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Điều Gioan muốn nói không phải là các Tin Mừng thiếu sót, nhưng là mầu nhiệm Đức Kitô luôn vượt quá khả năng chứa đựng của ngôn ngữ. Các nhà chú giải gọi đây là một “hyperbole Gioan” – một kiểu cường điệu thần học Gioan – nhằm mở ra cảm thức kinh ngạc trước sự vô tận của Đức Kitô. Vì thế, Tin Mừng không phải là một “hồ sơ đầy đủ” về Ngài, nhưng là cánh cửa dẫn con người bước vào tương quan sống động với Thiên Chúa. Đó là lý do càng gần Đức Kitô, con người càng thấy mình chưa biết Ngài. Kẻ tưởng mình đã hiểu thấu Thiên Chúa thật ra chỉ đang thờ lạy một ảo ảnh do chính mình vẽ ra. “Nếu bạn hiểu được Ngài, thì đó không còn là Thiên Chúa!” – Augustinô.

Nhưng Gioan không muốn người đọc chỉ đứng nhìn “tấm bản đồ” – thứ có thể chính xác tuyệt đối nhưng không bao giờ thay thế được hành trình. Người ta có thể biết rất nhiều về Chúa Giêsu qua Kinh Thánh, thần học hay sách vở mà vẫn chưa thật sự gặp Ngài. Vì thế, Tin Mừng không nhằm nhốt Đức Kitô trong chữ nghĩa, nhưng dẫn con người đến một cơn khát gặp Ngài qua cầu nguyện, Thánh Thể, đau khổ, tha nhân và đời sống thường ngày.

Chính cơn “khát” ấy đã đẩy Phaolô đi đến tận cùng hành trình của mình. Bị giam lỏng tại Rôma, ông vẫn tiếp đón mọi người và không ngừng rao giảng – bài đọc một. Phaolô hiểu rằng, Đức Kitô không phải một ý tưởng để hiểu một lần cho xong, nhưng là một Đấng để sống, để tìm kiếm, thuộc về và loan báo. Nhờ đó, muôn dân “được chiêm ngưỡng thánh nhan” – Thánh Vịnh đáp ca. Và càng chiêm ngưỡng Ngài, con người càng khao khát Ngài hơn. “Chiêm ngắm đích thực Đấng ta tìm kiếm hệ tại ở chỗ không bao giờ ngừng khao khát Ngài!” – Grêgôriô Nyssa.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là dung mạo hữu hình của một Chúa Cha, Đấng cửu trùng không chứa nổi. Ngài đến giữa thế gian không để khép Thiên Chúa vào những trang sách hay khái niệm, nhưng để mở con người ra trước một mầu nhiệm vô tận. Vì thế, theo Đức Kitô không phải là nghĩ mình đã hiểu hết Thiên Chúa, nhưng là mỗi ngày bước sâu hơn vào tương quan với Ngài. Có những người biết rất nhiều về Chúa mà lòng vẫn khô cạn; nhưng cũng có những tâm hồn âm thầm cầu nguyện, yêu thương và đau khổ với Chúa mà lại chạm rất gần trái tim Thiên Chúa. Bản đồ có thể vẽ đúng con đường, nhưng chỉ bàn chân rớm máu mới chạm tới đích đến. Có lẽ, chỉ những ai thật sự khao khát mới bắt đầu bước vào Đấng ‘nào ai chứa nổi’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ lòng con đói khát Chúa; cho con biết kinh ngạc khi nhận ra rằng, Chúa còn khao khát con hơn cả con khao khát Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần VII Phục Sinh

Chính môn đệ này đã viết ra những điều đó và lời chứng của người ấy là xác thực.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 21,20-25

20 Khi ấy, ông Phê-rô quay lại, thì thấy người môn đệ Đức Giê-su thương mến đi theo sau ; ông này là người đã nghiêng mình vào ngực Đức Giê-su trong bữa ăn tối và hỏi : “Thưa Thầy, ai là kẻ nộp Thầy ?” 21 Vậy khi thấy người đó, ông Phê-rô nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, còn anh này thì sao ?” 22 Đức Giê-su đáp : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ? Phần anh, hãy theo Thầy.” 23 Do đó, mới có tiếng đồn giữa anh em là môn đệ ấy sẽ không chết. Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông Phê-rô là : “Anh ấy sẽ không chết”, mà chỉ nói : “Giả như Thầy muốn anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh ?”

24 Chính môn đệ này làm chứng về những điều đó và đã viết ra. Chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực.

25 Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ : cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.


 

Quyền tự do căn bản của người Việt Nam trước năm 1975 – Phùng Văn Phụng

 Phùng Văn Phụng

Những ai có học trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn trước năm 1975 đều có biết cuốn sách Luật Hiến Pháp và Chính Trị Học của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, có viết về Đối Lập chính trị.

Hiến Pháp ngày 01 tháng 04 năm 1967 (cách nay trên 60 năm) cũng ghi nhận đầy đủ quyền tự do của con người nhất là quyền đối lập chính trị, quyền thành lập đảng phái chính trị. Có tam quyền phân lập rõ ràng: Quyền Hành Pháp, Quyền Tư Pháp (Tối Cao Pháp Viện), Quyền Lập Pháp (Quốc Hội).

Do đó trước năm 1975 có rất nhiều đảng phái chính trị được hoạt động như Đai Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đảng Nhân Xã, Đảng Tân Đại Việt, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến v.v…

Báo chí hoàn toàn tự do cho nên có nhiều báo chí đối lập với chính quyền như báo Cấp Tiến, báo Đại Dân Tộc, báo Tin Sáng, báo Chính Luận v.v… và rất nhiều tờ báo khác nữa tôi không thể nhớ hết được.

Đúng là thời kỳ vàng son của tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do tôn giáo, tự do thành lập đảng phái chính trị (phê bình, chỉ trích, nói khác với nhà cầm quyền không bị chụp mũ phản động và bỏ tù) v.v…

Hy vọng sẽ có ngày mọi người đều có được tự do như thế trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta???

Phùng Văn Phụng


 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Hoai Linh Ngoc Duong 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Bài viết về Abraham Lincoln mà người trí thức trong nước đăng tải thoạt nhìn chỉ là một câu chuyện lịch sử về tinh thần hòa giải sau nội chiến Mỹ. Nhưng điều khiến chính quyền khó chịu không nằm ở Lincoln, mà nằm ở thông điệp chính trị ẩn phía sau sự so sánh đó.

Bởi càng đọc kỹ người ta càng thấy: điều làm nước Mỹ mạnh sau nội chiến không đơn thuần là lòng nhân đạo của Lincoln, mà là mô hình quyền lực mà nước Mỹ lựa chọn sau chiến tranh — một nền cộng hòa đa đảng có hiến pháp kiểm soát quyền lực, nơi phe thua trận vẫn tiếp tục tồn tại về chính trị thay vì bị xóa sổ hoàn toàn.

Đó chính là điểm khác biệt căn bản giữa nước Mỹ sau năm 1865 và Việt Nam sau năm 1975.

Cuộc nội chiến Mỹ kết thúc với chiến thắng quân sự của miền Bắc Liên bang trước Liên minh miền Nam. Nhưng sau chiến tranh, nước Mỹ không xây dựng một chế độ độc đảng để cai trị vĩnh viễn phe thua trận. Họ không thủ tiêu toàn bộ đối lập chính trị miền Nam. Không cấm tuyệt đối tư tưởng bảo thủ miền Nam. Không tuyên bố chỉ duy nhất một đảng có quyền lãnh đạo đất nước đời đời.

Ngược lại, hệ thống hiến pháp Mỹ vẫn giữ nguyên bản chất “checks and balances” — tam quyền phân lập và cạnh tranh quyền lực.

Phe thất bại cuối cùng vẫn:

  • có quyền tham gia chính trị,
  • có quyền tranh cử,
  • có quyền kiểm soát chính quyền thông qua bầu cử,
  • và nhiều thập niên sau chính các bang miền Nam lại trở thành thành trì chính trị mạnh mẽ của phe bảo thủ Mỹ.

Điều quan trọng nhất là: nước Mỹ sau nội chiến không xây dựng một nhà nước dựa trên “chân lý độc quyền”.

Không có đảng nào được quyền tuyên bố:

“Chỉ có ta mới đại diện cho tổ quốc.”

“Chỉ dưới sự lãnh đạo của ta nhân dân mới hạnh phúc.”

“Phe còn lại mãi mãi là phản động.”

Đó là lý do hòa giải dân tộc ở Mỹ có thể diễn ra, dù vẫn đầy đau đớn và bất công lịch sử.

Ngược lại, sau năm 1975, chính quyền miền Bắc chiến thắng ở Việt Nam lại đi theo một con đường hoàn toàn khác:

– thiết lập chế độ độc đảng,

– xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính trị miền Nam,

– cải tạo quân cán chính,

– kiểm soát báo chí,

– cấm đối lập,

– và đặt đảng lên trên nhà nước.

Nói cách khác, mục tiêu không phải là tạo ra một nền cộng hòa nơi các phe cạnh tranh quyền lực dưới hiến pháp, mà là xây dựng một hệ thống trong đó chỉ duy nhất một lực lượng được quyền lãnh đạo vĩnh viễn.

Đó là lý do nhiều lời kêu gọi “hòa hợp hòa giải” ở Việt Nam luôn gặp giới hạn rất lớn.

Bởi hòa giải thật sự chỉ có thể tồn tại khi:

– các bên được thừa nhận quyền tồn tại chính trị,

– có quyền tự do bày tỏ quan điểm,

– có quyền cạnh tranh quyền lực,

– và không phe nào độc quyền chân lý quốc gia.

Nếu một phía vẫn giữ toàn bộ quyền lực tuyệt đối và yêu cầu phía còn lại “hòa giải” trong khi không được phép:

– lập đảng,

– tranh cử,

– phản biện,

– hay kiểm soát quyền lực,

thì đó không phải hòa giải theo nghĩa chính trị hiện đại, mà gần hơn với yêu cầu “chấp nhận trật tự do bên thắng trận áp đặt”.

Chính vì vậy, những bài viết ca ngợi tinh thần Lincoln thường gây khó chịu cho hệ thống tuyên truyền chính thống.

Vì nếu người dân bắt đầu đặt câu hỏi:

“Tại sao Mỹ sau nội chiến vẫn cho phe thua trận quyền tham gia chính trị?”

“Tại sao nước Mỹ cần đối lập để kiểm soát quyền lực?”

“Tại sao hòa giải ở Mỹ gắn với hiến pháp và cạnh tranh bầu cử?”

thì họ sẽ tiếp tục đặt câu hỏi lớn hơn:

“Tại sao Việt Nam không như vậy?”

Đó mới là điều nhạy cảm nhất.

Nhiều trí thức Việt Nam thường nhìn vào tinh thần hòa giải của Lincoln mà quên mất nền tảng tạo ra hòa giải ấy chính là cấu trúc quyền lực của nền cộng hòa Mỹ.

Lincoln không hòa giải bằng cách yêu cầu dân miền Nam “tin tưởng tuyệt đối vào một đảng duy nhất”. Ông hòa giải bằng cách giữ cho nước Mỹ tiếp tục là một quốc gia pháp trị nơi mọi phe cuối cùng phải cạnh tranh dưới hiến pháp.

Chính “checks and balances” mới là điều quan trọng nhất.

Bởi nếu không có:

– bầu cử tự do,

–  báo chí độc lập,

– đối lập hợp pháp,

– và cơ chế thay đổi quyền lực hòa bình,

thì mọi lời kêu gọi hòa hợp cuối cùng rất dễ biến thành:

“Các anh hãy quên quá khứ và chấp nhận để chúng tôi cai trị mãi mãi.”

Đó là lý do nhiều người cho rằng:

muốn có hòa giải dân tộc thật sự trước hết phải có quyền lực thuộc về nhân dân chứ không thuộc độc quyền về một đảng.

Lịch sử cho thấy hầu như không có chế độ độc quyền quyền lực nào tự nguyện trao lại quyền kiểm soát cho dân nếu không chịu áp lực xã hội cực lớn.

Không phải vì cá nhân lãnh đạo tốt hay xấu, mà vì bản chất của quyền lực tuyệt đối luôn có xu hướng tự bảo vệ chính nó.

Và đó cũng là bài học lớn nhất từ nước Mỹ:

điều làm một quốc gia mạnh không phải chỉ là chiến thắng trong nội chiến, mà là khả năng xây dựng một hiến pháp khiến ngay cả phe thắng trận cũng không thể nắm quyền vĩnh viễn mà không bị kiểm soát. 

Screenshot
Screenshot
Screenshot

 

BÌNH YÊN SAU GIÔNG BÃO – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

 BÌNH YÊN SAU GIÔNG BÃO

Bình yên không phải là cuộc sống phẳng lặng, không phải là những ngày không có chuyện buồn, không có mất mát, không có va chạm, không có hiểu lầm, không có nước mắt. Nếu bình yên chỉ là khi mọi sự đều theo ý mình, thì có lẽ cả đời này chẳng mấy ai thật sự bình yên. Vì cuộc đời vốn không phải mặt hồ không gợn sóng. Cuộc đời có khi là một dòng sông đầy đá ngầm, có khi là biển lớn nổi gió, có khi là bầu trời đang nắng bỗng kéo mây đen, có khi là một buổi chiều rất bình thường nhưng lòng người lại bất chợt giông bão.

Có những ngày ta mệt không phải vì làm quá nhiều, mà vì đã chịu đựng quá lâu. Có những nụ cười trên môi nhưng bên trong là cả một vùng thương tích. Có những người vẫn đi làm, vẫn trả lời tin nhắn, vẫn hỏi thăm người khác, vẫn chu toàn bổn phận, nhưng thật ra trong lòng đã có biết bao lần muốn buông xuống tất cả. Người ngoài nhìn vào tưởng ta ổn, nhưng chỉ mình ta biết, để đứng vững đến hôm nay, mình đã phải đi qua bao nhiêu đêm dài không ngủ, bao nhiêu lần tự lau nước mắt, bao nhiêu lần tự nhủ: “Cố thêm một chút nữa thôi.”

Bình yên thật sự không phải là không có bão. Bình yên thật sự là sau khi bão đi qua, lòng ta không còn tan tác như trước nữa. Là khi ta vẫn nhớ những điều đã làm mình đau, nhưng không còn để chúng điều khiển mình. Là khi ta vẫn gặp những người từng khiến mình tổn thương, nhưng trái tim không còn run lên vì oán hận. Là khi ta nhìn lại một đoạn đời đầy nước mắt mà không còn trách trời, trách người, trách mình, nhưng lặng lẽ hiểu rằng: nhờ những ngày ấy, ta đã lớn hơn, sâu hơn, trầm hơn và biết thương mình hơn.

Ai cũng thích bình yên, nhưng không phải ai cũng hiểu cái giá của bình yên. Có những bình yên phải đổi bằng rất nhiều lần im lặng. Có những bình yên phải đổi bằng quyết định bước ra khỏi một mối quan hệ làm mình kiệt sức. Có những bình yên phải đổi bằng việc thôi giải thích với những người không muốn hiểu mình. Có những bình yên phải đổi bằng nước mắt của đêm nay, để sáng mai đủ can đảm mỉm cười. Và có những bình yên chỉ đến sau khi ta học được bài học khó nhất: không phải chuyện gì mình cũng kiểm soát được, không phải ai mình thương cũng sẽ thương mình đúng cách, không phải điều mình cố giữ cũng sẽ ở lại, và không phải mất mát nào cũng là dấu chấm hết.

Có khi Chúa để giông bão đi ngang đời ta không phải để nhận chìm ta, mà để dạy ta nhận ra đâu là nền đá, đâu là cát lún. Khi trời yên biển lặng, ai cũng có thể nói mình mạnh mẽ. Nhưng khi mất mát ập đến, khi bị hiểu lầm, khi bị quay lưng, khi lời cầu nguyện tưởng như không được đáp lại, khi những gì mình xây rất lâu bỗng sụp đổ, lúc đó ta mới biết lòng mình đang tựa vào đâu. Tựa vào tiền bạc thì khi tiền bạc lung lay, ta hoảng sợ. Tựa vào danh tiếng thì khi người đời đổi ý, ta chao đảo. Tựa vào người khác thì khi họ rời đi, ta trống rỗng. Nhưng nếu tựa vào Chúa, dù vẫn đau, ta không tuyệt vọng; dù vẫn khóc, ta không mất hướng; dù vẫn ngã, ta vẫn có thể đứng lên.

Bình yên của người có đức tin không phải là thứ bình yên rẻ tiền, kiểu “không sao đâu” trong khi mọi thứ rõ ràng đang rất đau. Bình yên của người có đức tin là dám nhìn thẳng vào sự thật mà không bị sự thật ấy nuốt chửng. Là biết mình yếu nhưng không buông xuôi. Là biết đời có những điều không như ý nhưng vẫn tin rằng Thiên Chúa không bỏ rơi mình. Là biết có những cánh cửa đóng lại không phải vì Chúa ghét mình, mà vì phía sau cánh cửa ấy có thể là điều không còn dành cho mình nữa. Là biết có những người rời khỏi đời mình không phải để mình cô đơn, mà để mình học cách trở về với chính mình và với Chúa sâu hơn.

Cứ mỉm cười rồi mọi chuyện sẽ qua. Nhưng nụ cười ấy không phải là giả vờ vui. Không phải là che giấu vết thương để người khác khỏi hỏi. Không phải là ép mình mạnh mẽ trong khi lòng đang vỡ. Nụ cười ấy là một lời tuyên xưng âm thầm rằng: “Tôi vẫn còn ở đây. Tôi đã đau, nhưng tôi chưa thua. Tôi đã khóc, nhưng tôi chưa mất hy vọng. Tôi đã đi qua những ngày tối, nhưng tôi vẫn tin bình minh sẽ đến.” Có những nụ cười đẹp nhất không phải vì đời dễ dàng, mà vì người mỉm cười đã từng đi qua rất nhiều điều không dễ dàng.

Thật ra, mọi chuyện rồi sẽ qua. Nỗi buồn nào rồi cũng nhạt màu. Vết thương nào rồi cũng lên da non. Người từng làm mình đau rồi cũng trở thành một phần ký ức. Những ngày tưởng như không thể vượt qua rồi cũng sẽ nằm lại phía sau. Điều quan trọng không phải là giông bão đã đến dữ dội thế nào, mà là sau giông bão, ta còn giữ được gì trong lòng. Còn giữ được niềm tin không? Còn giữ được lòng nhân hậu không? Còn giữ được sự tử tế không? Còn giữ được khả năng yêu thương không? Nếu sau tất cả, ta vẫn không trở thành người cay nghiệt, thì đó đã là một chiến thắng rất lớn.

Đừng xấu hổ vì mình từng yếu đuối. Đừng trách mình vì từng khóc. Nước mắt không làm ta nhỏ bé. Nước mắt chỉ chứng minh rằng ta đã từng sống thật, thương thật, hy vọng thật và đau thật. Một người chưa từng tổn thương có thể dễ dàng nói lời mạnh mẽ. Nhưng một người đã từng vỡ vụn mà vẫn chọn sống tử tế, chọn tha thứ, chọn bước tiếp, chọn không trả thù đời bằng sự lạnh lùng, người ấy mới thật sự là người mạnh mẽ.

Bình yên đôi khi bắt đầu từ một quyết định rất nhỏ: hôm nay mình không tự hành hạ mình nữa. Hôm nay mình không đọc lại những tin nhắn cũ làm mình đau nữa. Hôm nay mình không cố giải thích với người đã quyết hiểu sai mình nữa. Hôm nay mình không so sánh đời mình với đời người khác nữa. Hôm nay mình không ép trái tim phải lành ngay lập tức nữa. Hôm nay mình cho phép mình thở, cho phép mình nghỉ, cho phép mình chậm lại, cho phép mình được Chúa ôm lấy trong thinh lặng.

Có những chuyện càng giằng co càng đau, càng giữ càng mệt, càng nghĩ càng rối. Thôi thì đặt xuống. Không phải vì mình thua, mà vì lòng mình cần được sống. Không phải vì người kia đúng, mà vì mình không muốn tiếp tục uống độc dược của oán hận. Không phải vì quá khứ không quan trọng, mà vì tương lai của mình còn quan trọng hơn. Đặt xuống không phải là quên hết, mà là không để điều đã qua tiếp tục lấy mất hiện tại.

Sau giông bão, cây nào còn đứng được thường là cây đã cắm rễ sâu. Con người cũng vậy. Những ai đã từng đi qua khổ đau mà không đánh mất linh hồn mình, thường có một vẻ đẹp rất lặng. Họ không cần nói nhiều để chứng minh mình mạnh. Họ không cần khoe mình đã vượt qua những gì. Họ chỉ sống chậm hơn, thương sâu hơn, nhìn đời hiền hơn, và biết quý những điều rất nhỏ: một buổi sáng còn được thức dậy, một bữa cơm đơn sơ, một người còn ở bên, một lời cầu nguyện trong thinh lặng, một ngày bình thường không có biến cố. Sau nhiều giông bão, người ta mới hiểu: bình thường cũng là một phép lành.

Vì thế, đừng cầu xin một đời không có bão. Hãy xin một trái tim đủ vững khi bão đến. Đừng cầu xin mọi người đều hiểu mình. Hãy xin một tâm hồn đủ sáng để không đánh mất mình vì những lời hiểu lầm. Đừng cầu xin không bao giờ đau. Hãy xin ơn biết đau mà không tuyệt vọng, biết mất mà không hóa cay đắng, biết bị thương mà vẫn còn khả năng yêu thương.

Rồi một ngày, ta sẽ cảm ơn cả những đoạn đường gồ ghề. Cảm ơn những lần bị từ chối đã dạy ta tự trọng. Cảm ơn những lần mất mát đã dạy ta biết trân quý. Cảm ơn những lần cô đơn đã dạy ta trở về với Chúa. Cảm ơn những lần thất bại đã dạy ta khiêm nhường. Cảm ơn những người rời đi đã dạy ta rằng không phải ai xuất hiện trong đời mình cũng có bổn phận ở lại đến cuối cùng. Cảm ơn cả những cơn bão, vì nhờ chúng, ta mới biết trong mình vẫn còn một sức sống âm thầm mà chính ta cũng không ngờ tới.

Bình yên không phải là cuộc sống phẳng lặng. Bình yên là khi lòng ta đã đi qua những xô lệch mà vẫn tìm lại được trục đứng bên trong. Là khi ta không còn cần đời phải hoàn hảo mới có thể mỉm cười. Là khi ta hiểu rằng hôm nay có thể chưa tốt, nhưng không có nghĩa là mãi mãi sẽ tối. Là khi ta tin rằng sau đêm dài, mặt trời vẫn mọc; sau mùa đông, cây vẫn đâm chồi; sau nước mắt, lòng người vẫn có thể dịu lại.

Vậy nên, cứ mỉm cười. Không phải vì mọi chuyện đã dễ dàng, mà vì Chúa vẫn còn đó. Cứ mỉm cười. Không phải vì lòng không đau, mà vì đau rồi cũng sẽ qua. Cứ mỉm cười. Không phải vì mình mạnh hơn tất cả, mà vì mình không đi qua tất cả một mình. Cứ mỉm cười, vì sau những giông bão dữ dội nhất, điều còn lại không chỉ là những vết sẹo, mà còn là một tâm hồn trưởng thành hơn, sâu sắc hơn, bao dung hơn và bình yên hơn.

Và khi một ngày nào đó nhìn lại, ta sẽ nhận ra: mình đã không chết trong cơn bão ấy. Mình đã được thanh luyện. Mình đã được lớn lên. Mình đã học được cách buông điều cần buông, giữ điều cần giữ, tha thứ điều cần tha thứ, và yêu thương chính mình trong ánh mắt nhân từ của Thiên Chúa.

Bình yên là vậy: không phải không còn giông bão, mà là sau giông bão, ta vẫn còn biết ngước nhìn trời, hít một hơi thật sâu, mỉm cười thật nhẹ và nói với lòng mình: “Ơn Chúa đủ cho con. Mọi chuyện rồi sẽ qua.”

Lm. Anmai, CSsR 


 

BA LẦN CHỐI, BẢY LẦN YÊU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh có yêu mến Thầy không?”.

Năm 1795, Joséphine phải lòng Napoléon; một năm sau, họ thành hôn. Napoléon đắm đuối, còn Joséphine lại công khai phản bội ông với nhiều tình nhân. Lên ngôi hoàng đế, Napoléon vẫn triệu bà vào cung và phong làm hoàng hậu. Tại sao một người phản bội vẫn được yêu? Một học giả trả lời, “Tội lỗi có thể trở thành động lực cho tình yêu!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở ra một nghịch lý đầy hy vọng: chính nơi gãy đổ và tội lỗi sâu nhất của con người, tình yêu vẫn có thể được tái sinh – ‘ba lần chối, bảy lần yêu’.

Con người gãy đổ đó là Phêrô. Điều đáng chú ý là Chúa Giêsu gặp lại ông bên một bếp than hồng. Gioan rất tinh tế khi dùng lại chi tiết này: bên bếp than của dinh thượng tế, Phêrô đã chối Thầy; và giờ đây, cũng bên một bếp than, Đấng Phục Sinh đưa ông về với vết thương lòng. Ngài không hỏi, “Tại sao con phản bội?”; nhưng, “Con có yêu Thầy không?”. Đó là điều kỳ diệu của lòng thương xót: Thiên Chúa không xoá ký ức tội lỗi, Ngài biến chính nơi gãy đổ thành nơi tình yêu tái sinh. “Đừng sợ. Đức Kitô biết điều gì trong lòng người; chỉ mình Ngài biết!” – Gioan Phaolô II.

Gioan còn cho thấy một điều đau đớn hơn. Chúa Giêsu hỏi Phêrô có yêu Ngài không bằng động từ agapaō – tình yêu hiến trao; nhưng Phêrô chỉ dám đáp lại bằng phileō – tình yêu như tình bạn. Sau lần chối Thầy, ông không còn đủ can đảm để hứa hẹn lớn lao. Nhưng Chúa Giêsu đã bước xuống dùng lại thứ tình yêu mong manh ấy khi hỏi lần thứ ba. Đó là một kỳ diệu khác của lòng thương xót: Thiên Chúa gặp con người không nơi họ tưởng mình phải là, nhưng nơi họ đang là.

Không còn là một cuộc tra hỏi, nhưng là một cuộc tạo dựng mới. Ba lần chối đã không khép lại ơn gọi của Phêrô; trái lại, nó cho ông hiểu rằng, ông không thể theo Chúa Giêsu bằng nhiệt thành của ý chí, nhưng bằng lòng thương xót được đón nhận. Có lẽ từ giây phút ấy, Phêrô mới thật sự trở thành đá tảng của Hội Thánh – không vì mạnh mẽ, nhưng vì biết mình yếu đuối mà vẫn được yêu. Đó cũng là kinh nghiệm của mọi Kitô hữu: đôi khi, chỉ sau những đổ vỡ sâu nhất, chúng ta mới bắt đầu yêu mến Thiên Chúa thật sự. Kẻ chưa từng nếm mùi đổ vỡ sẽ không bao giờ hiểu được vị mặn của lòng thương xót! Với Hans Urs von Balthasar, chỉ ai đi qua thương tích của tình yêu mới thật sự học biết yêu.

Anh Chị em,

Đức Kitô Phục Sinh đã tìm lại một Phêrô biết yêu sau gãy đổ. Đó cũng là cách Chúa Phục Sinh bước vào đời sống chúng ta. Có những vết thương khiến con người xấu hổ, những ký ức muốn chôn vùi, những lần cặp bồ với đủ loại hình ngẫu tượng mà chúng ta không muốn quay lại; thế nhưng, Ngài vẫn âm thầm chờ chúng ta bên “bếp than hồng” của đời mỗi người và hỏi, “Con có yêu Thầy không?”. Chỉ khi biết mình từng chối Chúa sâu đến đâu, con người mới có thể yêu Ngài thật đến đó. Chỉ khi biết mình đã từng là một Giuđa, ta mới có thể yêu Chúa bằng trái tim của một Phêrô – ‘ba lần chối, bảy lần yêu’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, sau mỗi lần phản bội, xin dạy con biết yêu Chúa sâu hơn thay vì bỏ chạy xa hơn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VII Phục Sinh

Hãy chăn dắt chiên của Thầy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 21,15-19

15 Sau khi dùng bữa với các môn đệ tại Biển Hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su Phục Sinh hỏi ông Si-môn Phê-rô : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su nói với ông : “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” 16 Người lại hỏi : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy có, Thầy biết con thương mến Thầy.” Người nói : “Hãy chăn dắt chiên của Thầy.” 17 Người hỏi lần thứ ba : “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có thương mến Thầy không ?” Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới lần thứ ba : “Anh có thương mến Thầy không ?” Ông đáp : “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự ; Thầy biết con thương mến Thầy.” Đức Giê-su bảo : “Hãy chăm sóc chiên của Thầy. 18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết : lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn.” 19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông : “Hãy theo Thầy.”


 

HOA QUẢ THỨ 3: Bình An – Cha Vương

Chúc bạn một ngày tràn đầy Bình An của Chúa Thánh Thần nhé. Xin bạn dâng một lời kinh cầu nguyện cách riêng cho chiến tranh giữa Mỹ và Iran , Israel được chấm dứt. Đa tạ! Đừng quên cầu nguyện cho nhau và thế giới nhe 

Cha Vương

Thư 5: 21/5/2026.    (n25-23)

TIN MỪNG: Chúa là nguồn mạch bình an, xin Người ban cho anh em được bình an mọi lúc và về mọi phương diện. Xin Chúa ở cùng tất cả anh chị em! (2 Thx 3:16)

HOA QUẢ THỨ 3: Bình An—Kết quả của niềm vui, làm cho ta được thư thái, không lay động trong những rộn ràng, sóng gió của cuộc đời.

SUY NIỆM: Bình an là gì? Bình an có phải là sự vắng mặt của chiến tranh, của đau khổ không? Nói về sự bình an thì đoạn Tin Mừng hôm nay cho bạn biết có hai loại bình an: 

(1) Bình an theo kiểu thế gian, tức là bình an theo chiều ngang: bình an giữa các dân nước, chủng tộc, giai cấp xã hội, tôn giáo. 

(2) Bình an phát xuất từ Thiên Chúa tức là sự bình an theo chiều dọc: bình an từ nguyên thuỷ phát xuất từ Thiên Chúa, giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người. Mọi hình thức bình an khác đều tùy thuộc vào sự bình an này. Khi trời đất được tạo dựng, Chúa Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! (St 1,2)

Loại bình an này là khi bạn cảm thấy lòng mình không lay động trong những rộn ràng, sóng gió cuộc đời! Bình an cũng không phải có ở một gia đình giàu có, sung túc, quyền lực cao sang! Bình an không phải có nơi sở hữu một chiếc xe hạng sang hay có được những món đồ cao cấp. Bình an của Đức Giêsu trao tặng cho các môn đệ và cho bạn hôm nay không chỉ dừng lại ở việc an toàn về mặt thể xác, mà còn đi xa hơn để đạt được thứ bình an trong sâu thẳm trong tâm hồn. Bình an này hướng bạn về mầu nhiệm ơn cứu độ, về sự sống vĩnh cửu. Bạn hoàn toàn thuộc về Chúa, không còn thiếu thốn chi nữa (Tv 23).

LẮNG NGHE: Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. (Ga 14:27)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin thêm ơn cho con để con biết luôn luôn tín thác cuộc đời của con trong tay Chúa và bước đi thanh thản trong sự bình an nhờ có Chúa ở cùng con con không sợ chi.

THỰC HÀNH: Hạn chế tham gia các nhóm buôn chuyện, hãy quyết tâm từ bỏ thói quen nói xấu, chỉ trích sau lưng người khác để mang lại bình an cho chính mình và cho kẻ khác.

From: Do Dzung

******************************

Thánh Ca Công Giáo Đặc Biệt Hay Nhất – KINH HÒA BÌNH 

CHÚA THÁNH THẦN HIỆN DIỆN – Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. 

 Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. 

Trước khi về trời, nhiều lần Chúa Giêsu đã nói và đã hứa với các môn đệ: Ngài sẽ ban Chúa Thánh Thần xuống.  Lời hứa đó đã được hoàn tất trong ngày lễ Ngũ Tuần, tức là lễ ngày thứ 50 tính từ lễ Vượt Qua của người Do Thái, và từ khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, lễ này được gọi là lễ Hiện Xuống.  Chúa Thánh Thần đã hiện xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa và biến đổi các ông thành những con người mới.  Như vậy, Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá là điều kiện để ban Chúa Thánh Thần cho Giáo Hội.  Và khi được vinh quang bên hữu Chúa Cha, Chúa Giêsu đã sai Chúa Thánh Thần xuống và ban Chúa Thánh Thần cho Giáo Hội như linh hồn của Giáo Hội. 

Đối với Giáo Hội nói riêng và đối với toàn thể nhân loại nói chung, ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống thật là quan trọng, vì đánh dấu một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần, kỷ nguyên áp dụng ơn cứu độ, thời kỳ cuối cùng, thời kỳ cánh chung, trước khi Chúa Kitô trở lại để xét xử kẻ sống và kẻ chết.  Nhưng tại sao chúng ta có thể nói hay dám nói Chúa Thánh Thần được ví như linh hồn của Giáo Hội?  Bởi vì những lý do sau đây: 

Thứ nhất, cũng như linh hồn quan trọng đối với thân xác thế nào thì Chúa Thánh Thần cũng quan trọng đối với Giáo Hội như vậy.  Bởi vì Giáo Hội được ví như một thân thể nhiệm mầu, mà Chúa Kitô là đầu và tất cả chúng ta là thân mình.  Vậy nếu đã là một nhiệm thể thì cần phải có một linh hồn, linh hồn của Giáo Hội là Chúa Thánh Thần. 

Thứ hai, cũng như linh hồn ở khắp thân thể và ở trong từng phần thân thể, thì Chúa Thánh Thần cũng ở trong toàn thể Giáo Hội và trong từng người.  Linh hồn là nguyên lý, là căn bản của sự sống tự nhiên của thân thể, không có linh hồn thì chúng ta không sống được, không có linh hồn thì thân thể chúng ta là cái xác chết.  Chúa Thánh Thần cũng là nguyên lý căn bản siêu nhiên nơi đầu là Chúa Kitô và nơi các chi thể là chúng ta, Ngài trực tiếp ban ơn cho từng thành phần để sinh hoa quả là những việc lành. 

Thứ ba, cũng như nơi con người, linh hồn hoạt động qua trí khôn, ý chí, tình cảm.  Cũng vậy, Chúa Thánh Thần hoạt động qua những khả năng siêu nhiên là bảy ơn Chúa Thánh thần, qua ba nhân đức đối thần là tin, cậy, mến.  Chúa Thánh Thần gìn giữ, thánh hóa, biến đổi từng tâm hồn.  Chẳng hạn: 12 tông đồ trước kia nhút nhát, sợ hãi, Chúa Thánh thần đã làm cho họ mạnh bạo can đảm.  Rồi suốt hai mươi thế kỷ qua, biết bao gương anh dũng của các thánh đồng trinh, hiển tu, tử đạo… và hôm nay cả tỉ con cái Chúa đang được Chúa Thánh Thần thôi thúc bước mau về trời, Ngài hướng dẫn, trợ giúp chúng ta trên đường về trời. 

Thứ tư, cũng như một linh hồn hiện diện nơi mỗi người làm cho người đó thành một người riêng biệt, khác với những người khác, thì Chúa Thánh Thần cũng hiện diện nơi mỗi tín hữu, để làm thành những tín hữu khác nhau: Chúa Giêsu, Đức Maria, các thánh, kẻ lành… và ơn Chúa Thánh Thần khác nhau, nên có những loại thánh khác nhau, rồi lại có những ơn sủng khác nhau, tùy theo chức bậc: người truyền giáo, người làm cha mẹ, người đi tu, v.v… 

Ngoài ra, ngày lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống dưới hình lưỡi lửa.  Hình ảnh này thật đầy ý nghĩa: Giáo Hội của Chúa được ví như một đống củi, được lửa của Chúa Thánh thần đốt cháy lên và sưởi ấm trần gian lạnh lẽo.  Không có Chúa Thánh Thần, Giáo Hội chỉ là một tổ chức trần gian như bao hội khác trên đời này, nhưng suốt hai mươi thế kỷ qua, Chúa Thánh Thần luôn ở giữa Giáo Hội, hướng dẫn mọi hoạt động của Giáo Hội và Ngài vẫn tiếp tục hoạt động mãi cho đến tận thế. 

Mỗi người chúng ta đều đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần ngày chúng ta chịu phép Rửa tội, và nhất là khi lãnh nhận phép Thêm sức, Ngài luôn ở cùng chúng ta, hướng dẫn và trợ giúp chúng ta.  Vậy chúng ta chớ dập tắt Chúa Thánh Thần.  Nếu dập tắt Chúa Thánh Thần thì chẳng khác gì chiếc tàu bỏ bánh lái, đoàn xe lửa bỏ đầu tàu, con người bỏ trái tim.  Chúng ta có thể dập tắt Chúa Thánh Thần thế nào? 

Nhiều cách lắm, chẳng hạn: chúng ta không sử dụng tối đa những ân huệ Ngài ban, những khả năng, những tiền bạc Chúa ban để chúng ta làm lợi cho linh hồn, cho gia đình, chúng ta sử dụng vào những việc có hại cho mình và người khác.  Chẳng hạn: Chúa cho chúng ta cơ hội để phục vụ Chúa và Giáo Hội, nhưng chúng ta không lợi dụng những cơ hội đó, bỏ dịp tốt qua đi đó là dập tắt Chúa Thánh Thần. 

Đàng khác, Chúa Thánh Thần là Đấng Phù Trợ.  Phù trợ chứ không phải là làm thay chúng ta.  Chúng ta phải làm hết sức mình, hết khả năng mình, phải học hỏi, phải nghiên cứu, phải thực hiện hết sức của mình, Chúa Thánh Thần sẽ phù trợ thiện chí của chúng ta.  Ngài không bao cấp làm thay chúng ta.  Nếu chúng ta không cố gắng đổi mới chính mình, đổi mới môi trường của mình, nếu chỉ cậy trông suông, khoán trắng cho Chúa Thánh Thần, thì Chúa Thánh Thần sẽ không làm thay.  Bởi vì trách nhiệm ấy thuộc về chúng ta, những người Chúa đã trao cho những khả năng để có thể làm được, không nhiều thì ít, không việc lớn thì việc nhỏ, ai cũng có khả năng làm việc tốt. 

Xin Chúa Thánh Thần khơi dậy trong chúng ta những nguồn sinh lực mới, để chúng ta biết quyết tâm đổi mới chính mình, biết quyết tâm góp phần xây dựng thời đại chúng ta.  Sự quyết tâm này chúng ta sẽ gửi gấm nơi Chúa Thánh Thần.  Ngài sẽ ban phép lành cho chúng ta, Ngài sẽ phù trợ cho chúng ta thực hiện.  Mặc dầu hôm nay chúng ta không thấy kết quả nhưng hãy kiên trì nhẫn nại như những người gieo giống, mùa màng không thấy ngay, nhưng mùa màng nếu làm đúng, làm với cố gắng, với ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần, chắc chắc sẽ thành công và hiệu quả sẽ phong phú. 

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP. 

From: Langthangchieutim

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống- Lm. Nguyễn An Ninh

Chúa Nhật thứ 8 Phục Sinh

Ngày 24 tháng 5, 2026

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống

Sách Tông Đồ công vụ

Các Tông đồ đang họp trong nhà. Cửa đóng kín. Có gió lùa vào. Có từng ngọn lửa đậu xuống trên  đầu mỗi người. Họ bắt đầu nói nhiều tiếng lạ.

Lúc ấy ở Jerusalem có nhiều người từ khắp thiên hạ tới. Mỗi người đều nghe các Tông đồ nói tiếng  riêng của họ.

Các Tông Đồ hầu hết là những người đánh cá, là những thường dân ít học. Các ngài lại đang nhút nhát sợ hãi những ngày sau khi Chúa chịu nạn.

Trước khi về trời, Chúa Giêsu bảo các Ngài Các con cứ ở lại đây, cho đến khi Thày sai Thánh Thần xuống. Ngài sẽ dậy chúng con mọi điều Thày đã nói với chúng con.

Thì hôm nay, Thánh Thần Chúa xuống trong hình lưỡi lửa, ban cho các Ngài sự hiểu biết và sức mạnh, để các Ngài can đảm rao giảng về Chúa chịu đóng đinh, chịu chết, và đã phục sinh:

Điều lạ lùng là các Tông Đồ đều là người Do Thái, mà không ai ăn học gì, ngoại trừ Thánh Luca, thày thuốc. Chắc các Ngài chỉ nói tiếng Do Thái thôi. Thế mà mọi người từ các nước, các vùng ngoài Do Thái, với hàng chục các ngôn ngữ khác nhau. Thế mà mỗi người đều hiểu được, như các  Tông Đồ nói tiếng của riêng họ vậy.

 Chỉ có Chúa mới làm nên sự lạ lùng ấy.

Chúa Thánh thần còn làm sự lạ lùng khác nữa, là từ những người chài lưới lại nhút nhát ấy, Ngài  đã khiến họ nên thông minh như các thần học gia, lại bạo dạn mà rao giảng về Chúa Giêsu Phục Sinh, mà mấy ngày trước đó là điều cấm kỵ, họ không được nói tới, và không dám nói, không dám ra đường, mà chỉ ở trong nhà, cửa còn đóng kín, cài kỹ.

Người Tin Lành họ thuộc Kinh Thánh vanh vách, họ mạnh bạo gõ cửa từng nhà, xin vào giảng đạo. Người Công giáo chúng ta đã không thuộc Kinh Thánh, lại cũng lơ mơ về giáo lý, con cái chúng đi học về hỏi, còn không trả lời được, thì làm sao dám đi rao giảng Lời Chúa cho dân ngoại? Cho những anh em lương dân sống trong cùng xóm ngõ với chúng ta?

Trên sân banh quốc tế, trước những trận đấu giữa các nước, trên truyền hình, chúng ta thấy có những cầu thủ người Nam Mỹ, họ  quỳ xuống  làm dấu Thánh giá. Chúng ta có dám làm dấu mình là người Công giáo như vậy trước công chúng không? Hay ngồi ăn tô phở, cũng phải “làm Dấu” cách dấm dúi, sợ người ở bàn xung quanh họ biết?

Sao đức tin của chúng ta tệ thế?

Anh chị em có nhớ Lời Chúa: Ai xưng Thày trước mặt người thế gian , Thày cũng xưng nhận nó trước mặt cha Thày. Ai chối Thày trước mặt người đời, Thày cũng chối nó trước mặt Cha Thày.

Anh chị em nghĩ sao?

Tự vấn

  1.     Có lần nào tôi  Làm Dấu mà ngại ngùng trước mặt người khác không?
  2.     Tôi có dám dạy con tôi học giáo lý bao giờ không?
  3.     Là phụ huynh, tôi có trau dồi kiến thức để có khả năng dạy dỗ và làm chứng cho Chúa trước mặt con cái tôi không?

 *****

Cái Chết Thánh Thiện Của Đôi Vợ Chồng Già

Ông Archilêô là bạn của Thánh Phanxicô Assisi thời niên thiếu. Sau trở thành thương gia giầu có. Ông bà gia nhập dòng Ba Thánh Phanxicô đem hết của cải trao cho Dòng Ba, để nuôi những người bệnh tật già yếu. 

Đến tuổi già, ông bà chỉ giữ lại 1 sào đất vườn, làm căn nhà nhỏ. Chung quanh vườn, trồng rau, củ quả, cũng để đem cho người nghèo khó chung quanh. 

 Đêm bà Archilêô hấp hối, ông quỳ bên giường cầu nguyện cho bà xong, ông nói: Em ơi, mình sống với nhau yêu thương suốt đời, sao mình không cùng chết với nhau nhỉ?

Nói đoạn, ông làm dấu và chúc lành cho bà.

Rồi ông sang giường của ông. Ông ôm lấy Thánh Giá, ông hôn tượng Chúa chịu nạn. Ông quay sang giường bà, thấy bà đã tắt thở, ông ôm chặt lấy tượng chịu Nạn, mà kêu: Lạy Chúa Giêsu, con xin Chúa nhận lấy linh hồn con.

Nói thế rồi, ông tắt thở, ra đi rất nhẹ nhàng. 

Lm. Nguyễn An Ninh

From: NguyenNThu