Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

 Ryan Phan is in Atlanta, GA.

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

Có một đoạn văn từng đọc được ở đâu đó, mà càng ngẫm càng thấy lạnh người vì nó đúng.

Nếu bạn cầm súng và tôi cũng cầm súng, chúng ta có thể ngồi xuống nói chuyện với nhau về luật pháp. Nếu bạn cầm dao và tôi cũng cầm dao, chúng ta có thể bàn với nhau về quy tắc. Nếu bạn đến tay không và tôi cũng đến tay không, chúng ta có thể nói chuyện phải trái với nhau bằng lý lẽ. Nhưng nếu bạn có súng còn tôi chỉ có con dao, thì chân lý nằm gọn trong tay bạn. Và nếu bạn có súng còn tôi chẳng có gì trong tay, thì thứ bạn đang cầm không còn đơn thuần là một vũ khí nữa. Nó là mạng sống của tôi.

Đọc xong mấy dòng đó, người ta hiểu ra một điều giản dị mà cay đắng: những khái niệm đẹp đẽ như luật pháp, quy tắc, đạo đức, thật ra chỉ có ý nghĩa khi chúng đứng trên một nền tảng duy nhất, đó là sự bình đẳng. Khi hai bên ngang sức ngang quyền, luật pháp là thứ giữ cho cuộc chơi công bằng. Nhưng khi một bên mạnh áp đảo, còn một bên yếu thế trơ trọi, thì những quy tắc ấy rất dễ biến thành một thứ khác hẳn. Nó không còn là tấm khiên bảo vệ kẻ yếu, mà trở thành cây gậy trong tay kẻ mạnh.

Mấy ngày nay, có một câu chuyện khiến lòng nhiều người trĩu nặng. Xin phép không nhắc lại chi tiết, không gọi tên ai, bởi điều đáng nói ở đây không phải là một sự việc cụ thể, mà là cái cảm giác nhức nhối mà nó khơi dậy trong lòng biết bao con người. Cái cảm giác rằng, trong cuộc chơi này, không phải ai cũng cầm cùng một thứ vũ khí. Rằng có những người bước vào với cả một kho súng đạn quyền lực sau lưng, còn có những người bước vào chỉ với hai bàn tay trắng và một nỗi đau.

Ở một góc đường, dưới một gốc cây, những ngày qua người ta lặng lẽ đến đặt xuống những bó hoa. Hoa cúc trắng. Vài ngọn nến. Đôi khi chỉ một nhành hoa dại hái vội bên đường. Phần lớn những người đến đặt hoa chẳng hề quen biết người đã khuất. Họ đến vì một điều gì đó thôi thúc từ sâu bên trong, một điều mà chính họ đôi khi cũng khó gọi thành tên.

Bởi vì dưới gốc cây ấy, người ta đặt xuống không chỉ là những bông hoa. Người ta đặt xuống cả một nỗi niềm. Một nỗi niềm về sự công bằng.

Có một sự thật về con người mà giữa bộn bề cuộc sống ta hay quên: sâu trong lòng mỗi người đều cháy âm ỉ một khát khao công lý. Không phải công lý theo nghĩa trả thù hay trừng phạt, mà là một niềm tin gần như bản năng, rằng thế giới này phải có một sự công bằng nào đó để mà bám víu. Rằng mọi sinh mạng đều đáng quý như nhau. Rằng nỗi đau của một người dân thường cũng đáng được nhìn thấy, được lắng nghe, được xem trọng ngang với nỗi đau của bất kỳ ai. Khi cái niềm tin ấy bị lung lay, khi người ta thấy dường như có những sinh mạng được coi trọng hơn những sinh mạng khác, thì trong lòng trỗi lên một nỗi bất an rất khó gọi tên. Và những bó hoa lặng lẽ dưới gốc cây, thực ra, chính là cách người ta nói lên nỗi bất an ấy mà không cần đến một lời nào.

Người xưa có một câu nói phũ phàng nhưng thật: khi đồng tiền cất lời, sự thật thường phải im lặng. Và khi quyền lực lên tiếng, thì đôi khi ngay cả đồng tiền cũng phải lùi lại vài bước. Đó là một sự thật cay đắng của cuộc đời mà ai sống đủ lâu rồi cũng phải chạm tới. Những người đặt ra luật lệ đôi khi lại chính là những người đầu tiên biết cách lách qua nó. Quy tắc, trong tay người này, là sợi xích trói buộc; nhưng trong tay người khác, lại là một công cụ tiện lợi.

Nhưng nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó, thì nó quá bi quan, và cũng không công bằng với chính bản chất con người. Bởi vì có một điều mà tiền bạc và quyền lực không bao giờ mua được, không bao giờ đè bẹp được hoàn toàn: đó là lương tri của những con người bình thường. Chính cái đám đông lặng lẽ đặt hoa dưới gốc cây kia là bằng chứng cho điều đó. Họ không có quyền lực gì. Họ không cầm trong tay thứ vũ khí nào. Nhưng họ có một thứ mà không ai tước đoạt được: cái khả năng rung động trước nỗi đau của một người xa lạ, và cái khát khao được sống trong một thế giới công bằng hơn. Đó là thứ vũ khí duy nhất của kẻ yếu, nhưng cũng là thứ vũ khí bền bỉ nhất, vì nó không nằm trong tay ai để mà bị tịch thu.

Có một câu nói xưa đáng để khắc vào lòng: công lý không chỉ cần được thực thi, mà còn cần được nhìn thấy là đã được thực thi. Bởi vì công lý không chỉ là chuyện của những trang giấy, những kết luận, những thủ tục. Nó còn là chuyện của niềm tin. Khi người dân thường tin rằng công lý được áp dụng như nhau cho tất cả, không phân biệt kẻ sang người hèn, thì họ yên lòng mà sống, mà làm ăn, mà nuôi hy vọng. Nhưng một khi cái niềm tin đó bị tổn thương, thì thứ mất đi không chỉ là lòng tin vào một sự việc, mà là một điều lớn hơn nhiều, cái chất keo vô hình gắn kết cả một cộng đồng lại với nhau.

Điều đáng mong mỏi, sau tất cả, không phải là cơn giận. Giận dữ rồi cũng nguôi đi, và hiếm khi đưa người ta đến đâu tốt đẹp. Điều đáng mong là lòng trắc ẩn được giữ lại. Là mỗi người, khi thấy một nỗi đau, dù nó xảy đến với ai, ở đâu, cũng dừng lại một chút để thấy rằng nỗi đau ấy là thật, và người đang mang nó cũng là một con người bằng xương bằng thịt như mình. Là đừng để trái tim chai sạn đi trước những bất công, dù nhỏ hay lớn. Bởi vì cái ngày mà con người thôi rung động trước nỗi đau của đồng loại, thôi khao khát sự công bằng cho những kẻ yếu thế, thì đó mới thật sự là ngày đáng sợ nhất.

Dưới gốc cây ấy, những bó hoa rồi sẽ héo. Người ta rồi cũng sẽ dọn chúng đi. Nhưng có một thứ không héo, và không ai dọn đi được: đó là cái khát khao công bằng, cái lòng trắc ẩn, cái niềm tin rằng mọi sinh mạng đều đáng quý, đang lặng lẽ cháy trong lòng biết bao con người. Ngọn lửa ấy nhỏ nhoi, âm thầm, nhưng nó là điều tốt đẹp nhất còn sót lại trong bản chất con người. Và chừng nào người ta còn biết cúi xuống đặt một bó hoa cho một người xa lạ, thì chừng đó lòng người vẫn chưa nguội lạnh, và hy vọng vẫn còn.

Xin được thắp một nén nhang trong lòng, cầu cho những sinh mạng vô tội đã ra đi khi còn quá trẻ, ở bất cứ nơi đâu trên cõi đời này, được về một nơi bình yên, nơi không còn bất công, không còn nước mắt, nơi mà cuối cùng, mọi người đều thật sự bình đẳng như nhau.

Còn bạn, điều gì trong lòng khiến bạn dừng lại và xót thương, khi nghe về nỗi đau của một người mà mình thậm chí chưa từng quen biết?

Ryan Phan 


 

SỰ NGÂY THƠ CỦA CON TIM-Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.

Thần học gia Karl Rahner đưa ra một nhận xét rất sâu sắc về đoạn văn trong Phúc Âm, nơi Chúa Giê-su bị đóng đinh và nói về những kẻ hành hình Ngài: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Rahner cho rằng họ biết chính xác mình đang làm gì.  Họ biết mình đang giết một người vô tội, rằng họ đang đổ máu người vô tội.  Vậy tại sao Chúa Giê-su lại nói như vậy?

 Sự ngây thơ của họ là gì?  Sự cả tin của họ là gì? 

Câu trả lời của Rahner: Họ không biết mình đang làm gì vì họ không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Và điều đó có thể dẫn đến sự ngây thơ trong tâm hồn.  Tại sao vậy?

 Có một nơi sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta, một nơi mà chúng ta hiếm khi ý thức được, nơi mỗi người được Chúa yêu thương vô điều kiện.  Những người đóng đinh Chúa Giê-su không biết mình đang làm gì vì họ không nhận thức được điều đó.  Đó là sự mù quáng, sự thiếu hiểu biết của họ.  Mặc dù bề ngoài có vẻ như vậy, nhưng họ không biết mình đang làm gì.

 Điều này cũng đúng với chúng ta.  Quá thường xuyên chúng ta đóng đinh người khác và chính mình vì sự thiếu hiểu biết này: chúng ta không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Hậu quả là, đôi khi chúng ta tàn nhẫn trong phán xét và dễ làm những điều làm tổn hại đến phẩm giá của mình.  Chúng ta đấu tranh để không trở thành một trong những kẻ hành quyết trên thập tự giá bởi vì, cuối cùng, chúng ta hành động vì thiếu hiểu biết.  Chúng ta không biết gì hơn, giống như sự ngây thơ của đứa trẻ tự làm tổn thương mình vì thiếu hiểu biết.

 Nhưng đây không phải là một nhận định mới.

 Thần học cổ điển đã phân biệt giữa sự ngu dốt có lỗi và sự ngu dốt không có lỗi.  Loại thứ hai, còn được gọi là sự ngu dốt không thể khắc phục, được xem là biện minh cho việc người ta không phạm tội và không chịu trách nhiệm.  Do đó, có quan điểm cho rằng bạn có thể làm những việc sai trái nhưng không phạm tội vì bạn hành động trong sự ngu dốt.  Điều này dựa trên niềm tin rằng bạn chỉ có thể hành động một cách đạo đức và có trách nhiệm nếu bạn thực sự biết mình đang làm gì.  Để phạm tội, bạn phải hành động một cách “có chủ ý.”  Tuy nhiên, đó là một điều kiện khá phức tạp.

 Nhìn vào thế giới ngày nay, tôi dám khẳng định rằng trong một số vấn đề đạo đức quan trọng, chúng ta đang hành động trong sự ngu dốt không thể cứu vãn.  Nói một cách đơn giản, chúng ta không biết điều gì tốt hơn.  Chỉ có kiểu ngu dốt đã cho phép những người chân thành đóng đinh Chúa Giê-su mới có thể giải thích tại sao chúng ta, những người tốt và chân thành, lại có thể mù quáng đến vậy, cả về mặt cộng đồng và cá nhân, đối với người nghèo, đối với những đòi hỏi về kinh tế và xã hội mà đức tin của chúng ta đặt ra.  Lý do thực sự khiến chúng ta có thể sống thoải mái trong khi khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng nới rộng không phải vì chúng ta xấu xa và vô lương tâm, mà đúng hơn, như Rahner nói, chúng ta không biết mình được yêu thương đến mức nào.

 Điều tương tự cũng đúng với thái độ của chúng ta đối với tình dục.  Chúng ta đã có thể coi thường tình dục, tách rời nó khỏi sự thiêng liêng của hôn nhân, và biến nó thành một phần mở rộng của việc hẹn hò (hoặc đơn giản là tình dục giải trí) chỉ vì một sự thiếu hiểu biết cố hữu nào đó.  Chúng ta không biết điều gì tốt hơn, không phải vì chúng ta thiếu lương tâm, mà vì chúng ta thiếu bất kỳ cảm nhận thực sự nào về tình yêu sâu sắc của Chúa và phẩm giá mà nó ban cho chúng ta. 

Giống như những kẻ hành quyết Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc trong việc hợp lý hóa, coi nhẹ và bù đắp chính vì chúng ta không biết mình đang làm gì.  Chúng ta không có nhận thức rõ ràng về tình yêu thương của Chúa dành cho mình.  Do đó, rất dễ đánh mất cái nhìn khách quan, cảm thấy bị loại trừ và làm những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ làm nếu nhận thức đầy đủ hơn về phẩm giá của mình.

 Chẳng có gì lạ khi chúng ta chấp nhận những điều kém cỏi hoặc bất cứ thứ gì hứa hẹn sự thoải mái và an toàn.  Chắc chắn Chúa Giê-su đang nhìn chúng ta và nói: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Nhưng liệu điều đó có đúng không?  Chúng ta có thể thực sự viện cớ thiếu hiểu biết và vô tội để nói rằng mình không biết gì hơn được không?

 Tôi nói có, không phải vì chúng ta ngu ngốc hay thiếu thông minh.  Đây là sự ngây thơ trong tâm hồn.  

Chúng ta vô tình không nhận thức được tình yêu thương vô bờ bến của Chúa dành cho chúng ta.

 Rất ít người trong chúng ta, ở bất kỳ cấp độ hiện sinh nào, từng nghe Chúa nói với mình: “Ta yêu con!”  Rất ít người trong chúng ta từng nghe và cảm nhận được những gì Chúa Giê-su hẳn đã cảm nhận khi chịu phép báp-têm, khi Ngài nghe Cha mình phán: “Con là con yêu dấu của Ta; Ta vui mừng vì con!”  Thật vậy, rất ít người trong chúng ta từng nghe một người khác, từ tâm hồn đến tâm hồn, nói với mình: “ Ta yêu con vô điều kiện! Ta vui mừng vì con!”  Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên khi, giống như những kẻ hành hình Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc, với lương tâm trong sáng, đôi khi lại mù quáng và không trung thực với chính mình?

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.  Sự phản bội chỉ có thể xảy ra nếu trước đó người ta đã nghe những lời: “Tôi yêu bạn.”  Những kẻ hành hình Chúa Giê-su đã hành động trong bóng tối xuất phát từ việc chưa bao giờ nghe thấy điều đó.  Tôi cho rằng điều tương tự cũng đúng với nhiều người trong chúng ta.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Sự im lặng của tình yêu 

Sự im lặng của tình yêu 

“Bố câm điếc ngay từ khi sinh ra và bố xin lỗi con vì điều đó. Bố không thể nói được như những ông bố khác. Nhưng bố muốn con biết rằng, bố yêu con bằng cả trái tim mình” Lời người cha muốn nhắn nhủ tới cô con gái nhưng đã quá muộn… Vì có người bố bị câm điếc bẩm sinh nên cô gái thường xuyên trở thành mục tiêu bị trêu chọc của bạn bè ở trường. Từ việc phản kháng đến gây lộn với các bạn, cô gái dần trở nên ác cảm với chính người bố của mình.

Trong khi đó, dù không thể nghe, nói, như một người bình thường được, ông cũng phần nào hiểu được nỗi buồn của cô con gái mình cho dù ông luôn quan tâm, động viên, cố gắng làm con vui hơn trong mỗi bữa ăn của hai người. Dù người bố luôn cố gắng nhưng cô con gái lại tỏ ra khó chịu do bị bạn bè chế giễu.

Với tất cả tình yêu thương của một người cha, ông đã âm thầm chuẩn bị chiếc bánh mừng sinh nhật con gái và cùng với đó là những tâm sự ông muốn nhắn nhủ. “Bố câm điếc ngay từ khi sinh ra và bố xin lỗi con vì điều đó. Bố không thể nói được như những ông bố khác. Nhưng bố muốn con biết rằng, bố yêu con bằng cả trái tim mình”.

Đáng tiếc, lời nhắn nhủ đó của ông mãi mãi không được cô con gái biết đến. Người bố bế con tới bệnh viện với lời cầu xin “Con gái tôi, nó không thể chết” Vì sự muộn phiền và áp lực không thể vượt qua, cô gái đã tự tử đúng ngày sinh nhật của mình. Trong cơn tuyệt vọng, người bố bế thốc con tới bệnh viện, cầu xin các bác sỹ cứu sống cô con gái bé bỏng của mình dù có hết sạch tiền hay phải bán nhà với một hy vọng: “Con gái tôi, nó không thể chết”. Và cô con gái đã được cứu sống bằng những giọt máu và chính tính mạng của chính ông. Đến lúc này, cô con gái chỉ còn biết nắm tay cha và khóc. Những ký ức yêu thương về người cha hiện về với cô gái…

 Video clip câu chuyện

http://www.youtube.com/watch?v=qZMX6H6YY1M&feature=player_embedded

Đoạn clip trên có tên tiếng Anh “Silence of love”. Dù là đoạn phim của một hãng bảo hiểm Thái Lan nhưng chỉ ít ngày đăng tải trên youtube, hơn 600.000 lượt truy cật cùng hàng nghìn bình luận về tình yêu thương mà người cha dành trọn cho cô con gái.

Một trong số bài bình luận của đọc giả:

 This is really sad love story. Well you could hear his voice at 1:21 and I start to cry when he’s in front of a doctor. His expression makes me understand clearly that he can give everything for the one dear to him; then 2:15 he’s carrying his child and he can’t yell at anyone to ask for help in that situation. I too asked myself what should I do. I watched it 5 times and am still crying. Love it !

Bên cạnh thông điệp: “không có người cha hoàn hảo mà chỉ có người cha luôn dành yêu thương hoàn hảo nhất cho những đứa con của mình”, đó còn là lời nhắn nhủ tới các bạn trẻ biết gạt qua chút ích kỷ cá nhân để quan tâm hơn tới cha mẹ, gia đình và những người xung quanh.

(ST) From: NguyenNThu

Ta sống ở đời này để làm gì? – Cha Vương

Mến chào ngày mới! Chúc Bạn và gia đình một ngày tốt lành trong tình yêu và sự quan phòng của Chúa. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới biến đổi chiến tranh thành yêu thương nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 17/08/2026.     (t3-21)

GIÁO LÝ: Ta sống ở đời này để làm gì? Ta sống ở đời này để nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, để làm việc lành theo ý Thiên Chúa, và để một ngày nào đó sẽ đạt tới quê Trời.

SUY NIỆM:  Được làm người có nghĩa là đến từ Thiên Chúa và đi về với Thiên Chúa. Nguồn gốc của con người đến từ cao xa hơn là từ cha mẹ họ, nghĩa là đến từ Thiên Chúa, nơi có chứa hạnh phúc của cả trời đất, nơi ta được chờ đón để hưởng hạnh phúc đời đời vô hạn định. Ta đang sống ở trần gian này. Đôi khi, ta thấy gần gũi với Đấng Tạo hóa, nhưng thường là chẳng thấy gì. Để dẫn ta vào đúng hướng tốt, Thiên Chúa đã sai con của Người là Chúa Giêsu để giải thoát ta khỏi tội, cứu ta khỏi mọi sự dữ và dẫn ta vào sự sống thật không sai lầm. Người “là Con Đường, là Sự Thật, là Sự Sống”. (Ga 14,6) (Youcat, số 1)

  Điều gì đang làm bạn không nhận biết và yêu mến Thiên Chúa? 

Có phải là bạn đang bị cuốn hút trong cơn lốc của văn minh, của tiền bạc, danh vọng và hưởng thụ. Bạn hãy nghĩ xem, nếu con người quá chú trọng đến nhu cầu thể xác mà quên đi đời sống tâm linh, thì họ đã tự tách ra khỏi quỹ đạo của Sự Sống, tự đánh mất chính mình. Họ chỉ là những thây ma không hồn, gieo tai hoạ và khổ đau cho nhau. Con người sẽ đối xử tàn bạo với nhau nếu con người chỉ coi mình thuần túy là loài vật mà chối bỏ niềm tin vào Trời, vào Thiên Chúa, vào Ðấng tạo thành. Thiết tưởng rằng bạn cũng cảm nhận được điều này trong cơn đại dịch COVID này…

LẮNG NGHE: Thiên Chúa muốn cho mọi người được ơn cứu rỗi và nhận biết sự thật (the truth) (1 Tm 2:4)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… Vì chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

THỰC HÀNH: Hãy dành một chút thời giờ để nhìn lại mục đích đời người là gì?

From: Do Dzung

*****

Hạt Bụi Đời Con….!


 

 NHƯNG GẤP BỘI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp”.

“Sự sống được trao cho chúng ta; chúng ta sinh lợi nó bằng cách trao ban!” – Rabindranath Tagore.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữ lại, sự sống nhỏ đi; trao ban, sự sống lớn lên. Tin Mừng hôm nay còn đi xa hơn: những gì trao cho Chúa tưởng như mất đi. Thế mà không – ‘nhưng gấp bội’; và trên cả gấp bội, còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp.

Cái “gấp bội” bắt đầu từ điều không thể: người thanh niên vừa bỏ đi, Chúa Giêsu nói đến con lạc đà và lỗ kim. Các môn đệ sửng sốt: “Thế thì ai có thể được cứu?”. Họ hiểu, Chúa Giêsu không chỉ nói về người giàu, nhưng đang đánh sập một ảo tưởng: con người có thể tự bảo đảm phần rỗi. Ngài không mở rộng lỗ kim, cũng không thu nhỏ lạc đà; Ngài hướng mắt họ về phía Thiên Chúa: “Đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được”. Không ai tự bước qua cái không thể; chỉ Thiên Chúa mới đưa họ qua.

Phêrô đã bỏ lưới, nhưng chưa bỏ phép tính: “Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?”. Chúa Giêsu không trách ông; Ngài mở phép tính ấy đến vô cùng. Bản Hy Lạp viết palingenesia – “thời tái sinh”. Phêrô hỏi phần mình sẽ nhận lại gì ở đời này; Chúa Giêsu đặt trước ông cả một cuộc tạo thành mới. Phêrô kê ra phần mình đã bỏ; Chúa Giêsu cho một đáp số vượt mọi phép tính: một trời mới đất mới. “Gấp bội” không phải là hoàn vốn, nhưng là bước vào sự sống Thiên Chúa đang mở ra, nơi không điều gì đã trao cho Ngài bị mất đi.

Bài đọc Cựu Ước phơi ra một thứ “gấp bội” khác. Nhờ “rất khôn ngoan và có tài buôn bán”, thủ lãnh Tia tích luỹ vàng bạc; của cải càng đầy, lòng ông càng cao. Ông tưởng mình đã vượt khỏi phận người đến mức tự nhận: “Ta là thần!”. Nhưng trước lưỡi gươm của kẻ sát hại, ảo tưởng ấy sụp đổ: ông chỉ là người! Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca xác lập chủ quyền tối hậu của Thiên Chúa trên sự sống: “Ta cầm quyền sinh tử!”. Con người có thể làm cho của cải sinh lợi gấp bội, nhưng không thể kéo dài đời mình thêm một ngày.

Cũng thế với chúng ta. Đôi lúc, trao cho người một giờ, chờ một lời cảm ơn; dâng cho Chúa một điều, lại thầm hỏi sao Ngài chưa bù lại nhiều hơn. Nhưng ân sủng không hoàn vốn. Điều trao đi vượt khỏi kích thước nhỏ hẹp của chúng ta để bước vào sự phong nhiêu của Thiên Chúa: một hy sinh âm thầm có thể giữ ấm cả một gia đình; một đời tận hiến có thể làm chín vàng những cánh đồng mãi ngoài tầm mắt.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cái ‘gấp bội’ của Thiên Chúa mang hình một thập giá. Trên đó, Ngài mất hết – áo xống, danh dự, cả hơi thở – nhưng vẫn trao mình vào tay Cha. Chúa Cha đã làm cho Ngài trỗi dậy trong một sự sống không còn chết nữa. Một cuộc tạo thành mới bừng lên từ ngôi mộ trống. Thập giá tưởng mất sạch. Thế mà không! Phục Sinh làm phát sinh điều chưa từng có và thực hiện điều loài người không thể. Không chỉ được lại, ‘nhưng gấp bội’: một Người Con trao mình, một nhân loại được đưa về nhà Cha.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con dám trao mà không tính toán; dám mất mà không sợ hãi; và tin rằng trong tay Chúa, mọi hy sinh sẽ sinh hoa kết trái ‘gấp bội!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XX Thường Niên, Năm Chẵn:

https://bom.so/dfQnvi

Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 19,23-30

23 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. 24 Thầy còn nói cho anh em biết : con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” 25 Nghe nói vậy, các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói : “Thế thì ai có thể được cứu ?” 26 Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói : “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.”

27 Bấy giờ ông Phê-rô lên tiếng thưa Người : “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì ?” 28 Đức Giê-su đáp : “Thầy bảo thật anh em : anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en. 29 Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp.

30 “Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.”


 

“TIẾNG ĐÀN VIOLIN TRONG MƯA”

Cang Huynh

“TIẾNG ĐÀN VIOLIN TRONG MƯA”

Jonas Kovač là một nghệ sĩ violin đường phố ở Praha. Anh chưa từng học ở nhạc viện hay chơi trên những sân khấu lớn; sân khấu của anh là Quảng trường Phố Cổ, mái nhà của anh là bầu trời, và khán giả của anh… bất cứ ai dừng lại để lắng nghe.

Cây violin cũ kỹ với lớp sơn đã sờn, anh thừa hưởng từ cha mình, một nhạc sĩ chưa bao giờ kiếm sống được bằng nghề này, nhưng người đã dạy anh một điều quý giá hơn bất kỳ tấm bằng nào: “Âm nhạc không cần phải hoàn hảo, nó cần phải chạm đến tâm hồn.”

Mỗi buổi chiều, Jonas chơi nhạc từ năm giờ cho đến khi đèn đường bật sáng. Mọi người đi ngang qua, đôi khi để lại vài đồng xu, đôi khi thậm chí không nhìn anh. Anh không phàn nàn; anh nói rằng âm nhạc, giống như mưa, không phải để đón nhận, mà để rơi xuống bất cứ nơi nào cần đến.

Một ngày thứ Năm mùa thu, khi anh đang chơi một bản adagio của Albinoni, bầu trời bắt đầu tối sầm. Sấm sét vang lên, và mưa bắt đầu trút xuống dữ dội. Du khách chạy tìm chỗ trú. Các tiểu thương đóng cửa hàng. Quảng trường gần như vắng tanh.

Nhưng Jonas… vẫn tiếp tục chơi.

Mưa làm ướt áo khoác của anh, dây đàn trở nên trơn trượt, nhưng tay anh không hề run. Anh nhắm mắt lại và để mỗi nốt nhạc trôi nổi trong không khí ẩm ướt.

Rồi một cô bé, không quá 10 tuổi, xuất hiện dưới chiếc dù màu đỏ. Cô bé dừng lại trước mặt anh và nhìn anh với vẻ say mê.

“Sao chú vẫn chơi khi trời mưa?” cô bé hỏi một cách ngây thơ.

Jonas mỉm cười.

“Vì có những bài hát không thể dừng lại… ngay cả khi không ai khác có thể nghe thấy chúng.”

Cô bé mở ba lô, lấy ra một đồng xu nhỏ và bỏ vào hộp đựng đàn, vốn đã đầy nước. Trước khi rời đi, cô bé nói:

“Mẹ cháu đang nằm viện. Mẹ thích chơi đàn violin. Cháu sẽ thu âm bài hát này cho mẹ nghe.”

Jonas gật đầu và đổi giai điệu. Anh đàn bản “Meditation” của Thaïs với sự cẩn trọng và dịu dàng mà anh đã không cảm nhận được trong nhiều năm. Trong lúc chơi nhạc, anh tưởng tượng ra người phụ nữ nằm trên giường bệnh, nghe nhạc con gái mang đến qua điện thoại.

Khi cô bé rời đi, Jonas đứng lặng một lúc. Cơn mưa làm anh ướt sũng, nhưng anh cảm thấy một hơi ấm khác lạ trong lồng ngực.

Tuần sau, anh quay lại quảng trường. Trong số những người dừng lại, anh nhận ra chiếc dù màu đỏ. Đó là cô bé, đi cùng một người phụ nữ ngồi xe lăn.

“Là ông ấy,” cô bé nói, chỉ vào Jonas. “Mẹ ơi, ông ấy là người đàn ông mà con kể cho mẹ.”

Đôi mắt người phụ nữ sáng lên.

“Cảm ơn cậu vì đã không dừng lại hôm đó,” bà nói, giọng nghẹn ngào. “Tôi đang phải trải qua hóa trị… và âm nhạc của cậu đã giúp tôi quên đi nỗi đau trong giây lát.”

Jonas cúi đầu, không biết nói gì. Và anh bắt đầu chơi nhạc cho họ nghe, chỉ dành riêng cho họ.

Từ ngày đó trở đi, cứ mỗi thứ Năm lúc năm giờ chiều, mẹ con họ lại xuất hiện ở quảng trường. Họ sẽ ngồi bên nhau, bất kể trời mưa hay nắng, và lắng nghe.

Theo thời gian, sức khỏe của người phụ nữ được cải thiện, và nhiều năm sau, khi cô gái, lúc này đã là một thiếu nữ, bắt đầu học violin, cô lại tìm Jonas để nhờ anh một điều duy nhất: dạy cô chơi như thể trời luôn mưa, ngay cả vào những ngày nắng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

Vì sao người La Mã bẻ chân những người bị đóng đinh?

Cang Huynh

BẠN CÓ BIẾT.!?

Vì sao người La Mã bẻ chân những người bị đóng đinh?

Đóng đinh là một trong những phương pháp hành quyết tàn bạo nhất trong Đế chế La Mã. Mục đích của nó không chỉ là giết người, mà còn là kéo dài sự đau đớn hàng giờ, thậm chí hàng ngày.

Treo trên thập tự giá, người bị kết án phải vật lộn để thở. Trọng lượng cơ thể đè nặng lên ngực, buộc họ phải dùng chân đẩy người lên để duỗi thẳng và hít thở. Mỗi hơi thở đều đòi hỏi nỗ lực vô cùng lớn, trong khi nỗi đau đớn, sự mệt mỏi, mất nước và các vết thương dần dần trở nên tồi tệ hơn.

Khi chính quyền muốn đẩy nhanh cái chết, binh lính đã thực hành phương cách crurifragium: họ bẻ chân người bị kết án bằng thanh sắt. Không thể gượng đứng dậy để thở đúng cách, nạn nhân sẽ chết nhanh hơn nhiều.

Thực hành này cũng được đề cập trong Phúc âm Gioan. Khi ngày Sa-bát đến gần, binh lính La Mã đã bẻ chân hai người bị đóng đinh cùng với Chúa Giê-su trong nỗ lực đẩy nhanh cái chết của họ. Khi đến chỗ Chúa Giê-su, họ thấy Ngài đã chết và do đó không bẻ chân Ngài.

Trong nhiều thế kỷ, các nhà sử học chỉ dựa vào các văn bản cổ để hiểu về việc đóng đinh. Nhưng vào năm 1968, một khám phá khảo cổ học đặc biệt đã cung cấp bằng chứng hữu hình.

Trong một ngôi mộ từ thế kỷ thứ nhất gần Jerusalem, các nhà khảo cổ đã khai quật được hài cốt của một người đàn ông tên là Yehohanan. Một chiếc đinh sắt vẫn còn xuyên qua gót chân ông. Khi xuyên vào xương, chiếc đinh đã bị cong do cọ xát vào gỗ của cây thánh giá, khiến việc rút nó ra là không thể. Do đó, người đàn ông này đã được chôn cất với chiếc đinh vẫn còn nguyên vị trí.

Khám phá này vô cùng hiếm hoi. Thông thường, đinh sẽ được rút ra sau khi hành quyết để tái sử dụng, và xương hiếm khi giữ lại dấu vết rõ ràng của việc đóng đinh.

Nhờ bộ xương của Yehohanan, các nhà nghiên cứu hiện đang sở hữu một trong số rất ít bằng chứng vật lý về phương pháp hành quyết này của người La Mã.

Hầu như không có gì được biết về cuộc đời của người đàn ông này. Câu chuyện của ông đã bị thời gian vùi lấp. Tuy nhiên, gót chân của ông đã tồn tại gần hai nghìn năm để làm chứng cho một trong những hình thức tra tấn khủng khiếp nhất thời cổ đại, xác nhận rằng các ghi chép lịch sử đã mô tả một thực tế về sự tàn bạo tột độ.

Cang Huỳnh lược dịch từ Le Saviez-Vous. 


 

MỘT NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG.- Truyen ngan HAY

Cang Huynh

MỘT NGHỊ LỰC PHI THƯỜNG.

Cô ấy mất cả tay và chân, nhưng cô ấy không để bi kịch cướp đi tương lai của mình.

Ngày 30 tháng 10 năm 2002, cuộc đời của Daniela García, một phụ nữ Chile 22 tuổi, đã mãi mãi chia làm hai giai đoạn “trước” và “sau”.

Cô là sinh viên y khoa năm thứ tư, đang đi tàu đến dự một sự kiện của trường đại học. Khi cố gắng chuyển từ toa này sang toa khác, cô đã ngã xuống đường ray.

Hậu quả thật khủng khiếp: cô mất cả hai tay và cả hai chân.

Dường như cùng với đôi chân, cô cũng mất đi tất cả những gì mình mơ ước: trở thành bác sĩ, sống độc lập, lập gia đình và sống một cuộc sống bình thường.

Nhưng Daniela đã quyết định đi theo một con đường khác.

Cô phải học lại cách làm những việc mà hầu hết chúng ta làm một cách vô thức: mặc quần áo, ăn uống, đi lại, sử dụng chân tay giả và chấp nhận cơ thể mới của mình.

Đây không chỉ là một câu chuyện truyền cảm hứng.

Có những cơn đau, sự kiệt sức, nỗi sợ hãi, và hàng trăm lần cố gắng mỗi ngày.

Dù vậy, cô ấy đã quay trở lại trường đại học.

Bốn năm sau tai nạn, cô tốt nghiệp ngành Y tại Đại học Công giáo Giáo hoàng Chile. Sau đó, cô chuyên về vật lý trị liệu và phục hồi chức năng.

Cô trở thành bác sĩ trong chính lĩnh vực mà nhiều năm trước đã giúp cô xây dựng lại cuộc sống của mình.

Hiện tại, Daniela làm việc với Teletón Chile, hỗ trợ trẻ em và thanh thiếu niên trải qua quá trình phục hồi chức năng khó khăn. Cô cũng tham gia vào việc đào tạo các chuyên gia tương lai.

Ngoài ra, cô đã trở thành vợ và mẹ của ba đứa con.

Câu chuyện của cô không phải về những người mạnh mẽ không bao giờ khóc hay cảm thấy sợ hãi.

Nó nói về điều gì đó sâu sắc hơn nhiều.

Hoàn cảnh có thể làm tổn thương một người, nhưng điều đó không có nghĩa là họ phải mãi mãi bị tổn thương.

Daniela không lấy lại được cuộc sống như trước thảm kịch.

Cô đã xây dựng một cuộc sống mới, tràn đầy đam mê, gia đình, tình yêu và phục vụ người khác.

Đã có thời điểm cô ấy cần đến bác sĩ, chân tay giả và phục hồi chức năng.

Ngày nay, cô ấy đứng bên cạnh những người mới bắt đầu hành trình của mình, chứng minh bằng chính cuộc đời mình rằng:

ngay cả sau mất mát to lớn, cuộc sống không kết thúc. Nó có thể thay đổi mãi mãi nhưng vẫn tươi đẹp và tràn đầy ý nghĩa.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Elle. 


 

TẤM SÉC KHỐNG. – Truyen ngan HAY

Nguyen Thi Chau

TẤM SÉC KHỐNG.

Một chủ doanh nghiệp nhỏ đang chìm trong nợ nần và không còn thấy lối thoát nào. Các chủ nợ liên tục gọi điện, nhà cung cấp đòi thanh toán, và dường như mỗi ngày lại xuất hiện thêm một hóa đơn mà ông không thể trả nổi.

Một buổi chiều nọ, quá tải và kiệt sức, ông đi bộ đến một công viên gần đó chỉ để giải tỏa đầu óc. Ông ngồi xuống một chiếc ghế đá, úp mặt vào hai bàn tay và cố gắng nghĩ ra bất cứ điều gì có thể cứu công ty của mình khỏi phá sản.

Một lúc sau, một người đàn ông lớn tuổi dừng lại trước mặt ông.

“Trông ông có vẻ đang rất lo lắng,” người lạ mặt nói. “Ông có muốn kể cho tôi nghe chuyện gì đang xảy ra không?”

Chủ doanh nghiệp do dự, nhưng cuối cùng cũng kể hết mọi chuyện: khoản nợ, vấn đề dòng tiền, các nhà cung cấp chưa được thanh toán, và các ngân hàng đã từ chối đơn xin vay vốn của ông.

Người đàn ông lớn tuổi lắng nghe mà không ngắt lời.

Khi câu chuyện kết thúc, ông gật đầu và nói, “Tôi nghĩ tôi có thể giúp ông.”

Ông hỏi tên người doanh nhân, lấy ra một cuốn sổ séc, viết một vài dòng và đưa cho ông ta tấm séc.

“Cầm lấy cái này. Gặp tôi ngay đây một năm nữa. Đến lúc đó, anh có thể trả lại tiền cho tôi.”

Trước khi doanh nhân kịp hỏi thêm câu nào, ông lão đã biến mất vào đám đông.

Ông nhìn xuống tờ séc và chết lặng. Trên đó ghi 500.000 đô la.

Và chữ ký ở dưới cùng là: John D. Rockefeller.

Doanh nhân khó có thể tin vào mắt mình. Rockefeller từng là một trong những doanh nhân giàu có và quyền lực nhất trong lịch sử nước Mỹ.

“Với số tiền này,” ông nghĩ, “mình có thể giải quyết mọi vấn đề của mình ngay hôm nay.”

Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, ông đã đưa ra một quyết định khác.

Ông cất tờ séc vào két sắt và quyết định không rút tiền.

Chỉ cần biết nó ở đó đã mang lại cho ông thứ mà ông đã thiếu suốt nhiều tháng: sự tự tin. Ông bắt đầu tin rằng ngay cả khi mọi việc diễn ra tồi tệ, ông vẫn có một chỗ dựa an toàn.

Sự thay đổi trong tư duy đó đã ảnh hưởng đến cách ông làm việc.

Ông quay lại với các nhà cung cấp và thương lượng các điều khoản thanh toán tốt hơn.  Ông ấy đã theo đuổi những cơ hội mà trước đây mình từng quá nản chí để theo đuổi. Ông ấy trở nên tự tin hơn trong các cuộc họp, thực hiện những thương vụ thông minh hơn và chốt được một số hợp đồng lớn.

Dần dần, áp lực giảm bớt.

Trong vòng vài tháng, ông ấy đã trả hết phần lớn nợ nần. Chẳng bao lâu sau, công ty lại có lãi.

Đúng một năm sau, ông ấy quay lại công viên đó với tấm séc còn nguyên vẹn trong túi.

Đúng lúc đó, ông lão xuất hiện.

Người doanh nhân mỉm cười và bước về phía ông, háo hức trả lại tấm séc và nói cho ông biết mọi chuyện đã thay đổi như thế nào.

Nhưng trước khi ông kịp nói gì, một y tá chạy đến và nhẹ nhàng nắm lấy cánh tay ông lão.

“Ông đây rồi!” cô ấy reo lên. Rồi cô ấy quay sang người doanh nhân. “Tôi hy vọng ông ấy không làm phiền ông. Ông ấy thỉnh thoảng đi lạc khỏi viện dưỡng lão và nói với mọi người rằng ông ấy là John D. Rockefeller.”

Người doanh nhân đứng đó không nói nên lời.

Suốt cả một năm trời, ông đã làm việc, đàm phán, mua bán và xây dựng lại công ty của mình với niềm tin rằng nửa triệu đô la sẽ luôn sẵn có nếu ông thực sự cần đến.

Nhưng tấm séc đó chưa bao giờ có giá trị gì.

Và đột nhiên ông hiểu ra một điều quan trọng.

Không phải tiền bạc – dù là thật hay tưởng tượng – đã cứu vãn công ty của ông.

Mà chính là sự tự tin mà tấm séc mang lại.

Ông đã ngừng suy nghĩ như một người đang chờ đợi thất bại và bắt đầu hành động như một người vẫn còn cơ hội. Niềm tin đó đã thay đổi quyết định, lòng can đảm và cuối cùng là kết quả của ông.

Đôi khi điều thay đổi cuộc đời bạn không phải là một cơ hội mới, một tài khoản ngân hàng lớn hơn, hay ai đó đến giải cứu bạn. Đôi khi, đó chỉ đơn giản là khoảnh khắc bạn bắt đầu tin tưởng vào chính mình một lần nữa.

Hãy chủ động thay vì chờ đợi điều kiện hoàn hảo. Trong những thời điểm quan trọng, sự tự tin có thể là sức mạnh thay đổi mọi thứ.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie. 


 

Một danh y vừa qua đời

Lão Ngoan Đồng

 Một danh y vừa qua đời

Đó là Giáo sư Trần Ngọc Ninh, một cựu giáo sư y khoa của Y khoa Đại học Đường Sài Gòn ngày xưa. Ông cũng là một cựu Thuyền Nhân. Ông mới qua đời ngày 16/7/2025 tại Nam California, thọ 103 tuổi [1]. Ông ra đi nhưng đã để lại một di sản đồ sộ mà có lẽ giới bác sĩ và sinh viên ngày nay ít biết tới.

GS Trần Ngọc Ninh sanh ngày 6/11/1923 tại Hà Nội, nhưng quê gốc ở Ninh Bình. Theo bài viết của BS Ngô Thế Vinh [1], lúc nhỏ thân phụ ông là một giáo viên nghèo, và có lúc gia đình không đủ ăn, nên khi còn đi học, ông viết bài cho các tạp chí y khoa phổ thông như Vui Sống dưới bút danh Kỳ Ngọc để kiếm sống.

Giáo sư Trần Ngọc Ninh bắt đầu hành trình học vấn tại Trường Bưởi (1939), chuyển từ khoa Toán sang Y khoa. Ông nội trú tại Bệnh viện Hà Nội (1946-1948), hoàn thành luận văn tiến sĩ y khoa năm 1948, và làm bác sĩ tại Bệnh viện Yersin, Hà Nội (1948-1952). Từ 1952-1954, ông du học tại Pháp và Anh, chuyên sâu về phẫu thuật cột sống và nhi khoa.

Sau Hiệp định Genève (1954), ông di cư vào Nam cùng với GS Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Hữu, Đào Đức Hoành, Ngô Gia Hy, Nguyễn Đình Cát, giảng dạy tại Y khoa Đại học đường Sài Gòn, trở thành Giáo sư Phẫu thuật Chỉnh hình và Nhi khoa (1961-1967) và Trưởng khoa Phẫu thuật Chỉnh hình, Bệnh viện Bình Dân (1956-1977). Ông từng đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Văn hóa và Xã hội phụ trách Giáo dục (1966-1967), sáng lập SEAMEO (1967), và tham gia các ủy ban văn hóa, giáo dục (1968-1975).

Sau 1975, toàn hệ thống giáo dục bị thay đổi và cũng có tác động đến cá nhân ông. Cuộc sống của ông và đồng nghiệp như GS Phạm Biểu Tâm, GS Hoàng Tiến Bảo, GS Nguyễn Đình Cát phải đi làm bằng xe đạp mỗi ngày đến bệnh viện. Ngoài việc chăm sóc bệnh nhân và giảng dạy sinh viên, các giáo sư còn phải làm thêm các công việc không liên quan đến y khoa, như lau chùi nhà vệ sinh và đổ rác. Ông kể rằng “Tôi không thể quên cảnh Giáo sư Phạm Biểu Tâm, trong khi lau chùi nhà vệ sinh tại Bệnh viện Bình Dân, bị ngã và bị bầm tím. Giáo sư Tâm rất sợ vợ mình lo lắng, nên đã dặn các đồng nghiệp không được thông báo cho bà.”

Sau 1975 GS Trần Ngọc Ninh không được trọng dụng vì quan điểm Y khoa Khoa học của ông không được những người mới đón nhận. Ông kể lại là từng nói với các tân sinh y khoa năm 1977 rằng: 

“Các anh chị là những sinh viên cuối cùng mà tôi sẽ dạy Y khoa Khoa học. Tôi sẽ không dạy nữa. Từ năm sau, tôi chỉ dạy Y khoa Nhân dân. Và các anh chị phải cố gắng theo những gì tôi dạy. Đừng quên rằng các anh chị là những người thừa kế cuối cùng của Y khoa Khoa học.”

Năm 1977, ông vượt biển đến Mã Lai Á, định cư tại Mĩ, thi lại các chứng chỉ y khoa (1978-1980) và hành nghề tại Nam California. Ông tích cực tham gia hoạt động văn hóa, giáo dục, là thành viên Ban Cố vấn (2000) và Hiệu trưởng Viện Việt Học (2003-2008), giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt.

Ông là một danh y, nhưng cũng nổi tiếng như là một nhà văn hoá học. Ông viết nhiều tiểu luận về văn hoá, và sau này tập hợp thành một cuốn sách. Ông còn là một nhà nghiên cứu về Phật học thâm sâu. Mấy mươi năm trước, tôi tìm tòi về văn hoá và đọc được nhiều ý kiến hay của ông.

GS Trần Ngọc Ninh đã sống một cuộc đời trọn vẹn, để lại di sản rực rỡ trong cả y khoa và văn hóa Việt Nam. Không chỉ xuất sắc trong lãnh vực y học, ông còn là một nhà văn hóa uyên thâm, với những tác phẩm sâu sắc về văn hóa, giáo dục, và ngữ pháp tiếng Việt, thể hiện khát vọng xây dựng một Việt Nam hiện đại, hòa bình. Dù trải qua những biến cố lịch sử, ông luôn giữ vững tinh thần trí thức, cống hiến không ngừng nghỉ cho đến tuổi 103. Sự ra đi thanh thản của ông tại Nam California, bên cạnh người vợ quá cố, với bia mộ giản dị mang pháp danh “Orgyen Karma,” là biểu tượng cho một cuộc đời tận tụy vì lí tưởng và nhân văn.

[1] https://vietecologypress.blogspot.com/…/professor-tran…

Những tác phẩm và tiểu luận của GS Trần Ngọc Ninh:

Về Văn hóa

  • Những Vấn đề Văn hóa, Giáo dục và Xã hội (tập hợp các bài phát biểu của Giáo sư Trần Ngọc Ninh, Bộ trưởng Văn hóa và Xã hội phụ trách Giáo dục, Cộng hòa Việt Nam). Sài Gòn, Việt Nam, 1966.
  • Văn hóa Dân tộc trước những Nhu cầu của Đất nước. Nhà xuất bản Vovinam, Sài Gòn, Việt Nam, 1969.
  • Đức Phật Giữa Chúng Ta. Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn, Việt Nam, 1972.
  • Làm Gì? (Tập Luận đề Tháng Chín). Bút danh Trần Lê. Nhà xuất bản Việt Nam Hải Ngoại, California, 1979.
  • Tuyết Xưa. Tuyển tập các bài viết về các vấn đề văn hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Khởi Hành, California, 2000.
  • Tố Như và Đoạn Trường Tân Thanh. Những giả thuyết mới về Nguyễn Du và Đoạn Trường Tân Thanh, cũng như mối quan hệ giữa Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương. Nhà xuất bản Khởi Hành & Viện Việt Học, California, 2004.
  • Cơ Cấu Việt Ngữ. Nhà xuất bản Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1973; tái bản bởi Viện Việt Học, California, 2009.
  • Dạy Đọc Dạy Viết Tiếng Việt. Viện Việt Học, California, 2010.
  • Ước Vọng Duy Tân: Văn Hóa, Huyền Thoại, Văn Học Sử. Tuyển tập tác phẩm của Trần Ngọc Ninh. Viện Việt Học, California, 2012.
  • Ngữ Pháp Việt Nam. Viện Việt Học, California, 2017.
  • Ngữ Pháp Tiếng Việt Đầu Tiên.
  • Giới thiệu Ngữ pháp Tiếng Việt cho lứa tuổi từ 5 đến 15. Viện Việt Học, California, 2017.

Về Y học

  • Nhà Thương, Phỏng vấn. Nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội, 1946.
  • Thượng Kinh Ký Sự. Éthique Médicale de la Médecine Traditionnelle du Vietnam, d’après les Mémoires d’un Voyage à la Capitale de Hải Thượng Lãn Ông (thế kỷ 18). Isis, Bruxelles, Belgique, 1950.
  • Những Bệnh Cần Cấp Cứu. Nhà xuất bản Gió Việt, Sài Gòn, 1956.
  • Một Chút Lịch sử Y khoa Đại học đường Sài Gòn. Nhà xuất bản Tập San Y Sĩ, Montréal, Canada, 2000.
  • Lịch sử hình thành hai Chuyên khoa Y học: Phẫu khoa Chỉnh trực và Phẫu Nhi khoa ở Việt Nam. Nhà xuất bản Tập San Y Sĩ, Montréal, Canada, 2000.
  • Hơn 200 bài nghiên cứu chuyên ngành được đăng trên các tạp chí y khoa tại Việt Nam, Pháp, và Hoa Kỳ.

DANH MỤC BÀI BÁO

Ngoài các sách đã xuất bản và các bài nghiên cứu chuyên ngành trên các tạp chí y khoa Việt Nam và quốc tế, Giáo sư Trần Ngọc Ninh còn viết nhiều bài về các chủ đề văn hóa. Dưới đây là danh sách các bài viết của ông trên ba tạp chí được số hóa: Tình Thương, Bách Khoa, và Thế Kỷ 21, do thủ thư Phạm Lệ Hương của Viện Văn hóa và Văn học Việt Nam (Viện Việt Học) sưu tập.

TÌNH THƯƠNG

  • Y học và Chính trị / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 1 (Tháng 1, 1964), tr. 9–10.
  • Mười lăm năm trước, Kỷ niệm về Triều Sơn / Trần Ngọc [bút danh của Trần Ngọc Ninh]. Tình Thương, Số 1 (Tháng 1, 1964), tr. 46–50.
  • Các vấn đề hiện tại trong Giáo dục Việt Nam / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 3–4 (Tháng 3–4, 1964), tr. 9–11.
  • Tinh thần Đại học; hoặc một bài luận về Khái niệm Đại học / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 5 (Tháng 5, 1964), tr. 6–12.
  • Phỏng vấn các Giáo sư Đại học về các vấn đề Sinh viên — Ngô Thế Vinh & Nguyễn Hữu Ân: Phỏng vấn Giáo sư Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 12 (Tháng 12, 1964), tr. 6–7.
  • Tương lai của Giáo dục Y khoa Việt Nam / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 14 (Mùa Xuân Ất Tỵ, Tháng 1, 1965), tr. IV–VI.
  • Các vấn đề Thanh niên và Sinh viên trong Thời đại chúng ta / Trần Ngọc Ninh. Tình Thương, Số 20 (Tháng 8, 1965), tr. 17–20.

BÁCH KHOA

  • Xã hội và Văn hóa Việt Nam cổ đại (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 343, tr. 5–14.
  • Xã hội và Văn hóa Việt Nam cổ đại (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 344, tr. 29–37.
  • Đức Phật và Cải cách Xã hội (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 345, tr. 9–16.
  • Đức Phật và Cải cách Xã hội (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 346, tr. 31–39.
  • Đức Phật và Cải cách Xã hội (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 347, tr. 33–41.
  • Tương Lai của Chúng Ta / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 348, tr. 9–12; 71–77.
  • Viết về Xã hội và Văn hóa Việt Nam cổ đại / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 349, tr. 39–45.
  • Kết thúc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 351, tr. 9–11.
  • Ánh sáng Phật giáo trong đời sống cộng đồng (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 351, tr. 23–30.
  • Ánh sáng Phật giáo trong đời sống cộngiasing (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 352, tr. 23–27.
  • Ánh sáng Phật giáo trong đời sống cộng đồng (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 353, tr. 31–40.
  • Giáo dục như một khoản đầu tư đòi hỏi quản lý và lập kế hoạch: Nền tảng kinh tế của giáo dục (Phần 1 – Viết cho tương lai đất nước) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 368, tr. 31–38.
  • Giáo dục như một khoản đầu tư đòi hỏi quản lý và lập kế hoạch: Nền tảng kinh tế của giáo dục (Phần 2 – Viết cho tương lai đất nước) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 369, tr. 23–31.
  • Giáo dục như một khoản đầu tư đòi hỏi quản lý và lập kế hoạch: Nền tảng kinh tế của giáo dục (Phần 3 – Viết cho tương lai đất nước) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 370, tr. 23–29.
  • Thảo luận về nguồn gốc từ ngữ “Cái” và “Con” (với ông Bình Nguyên Lộc) (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 373, tr. 19–26.
  • Thảo luận về nguồn gốc từ ngữ “Cái” và “Con” (với ông Bình Nguyên Lộc) (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 374, tr. 29–37.
  • Văn hóa và Y học / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 374, tr. 43–50.
  • Thảo luận về nguồn gốc từ ngữ “Cái” và “Con” (với ông Bình Nguyên Lộc) (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 375, tr. 19–22.
  • Thảo luận về nguồn gốc từ ngữ “Cái” và “Con” (với ông Bình Nguyên Lộc) (Phần 4) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 376, tr. 23–30.
  • Ý nghĩa của Truyện Kiều trong văn hóa dân gian (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 381, tr. 13–22.
  • Ý nghĩa của Truyện Kiều trong văn hóa dân gian (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 382, tr. 23–31.
  • Nguyễn Trãi: Ảo ảnh, Thực tại và Hư không / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 390, tr. 9–15; 82–85.
  • Sống với các Ý thức hệ (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 394, tr. 9–17.
  • Ngôn ngữ học và Cấu trúc Ngôn ngữ Việt Nam / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 395, tr. 21–28.
  • Sống với các Ý thức hệ: Các phái khổ hạnh và Bà-la-môn qua lăng kính Phật giáo (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 395, tr. 29–34.
  • Sống với các Ý thức hệ: Các phái khổ hạnh và Bà-la-môn qua lăng kính Phật giáo (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 396, tr. 39–42.
  • Sống với các Ý thức hệ: Các phái khổ hạnh và Bà-la-môn qua lăng kính Phật giáo (Phần 4) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 397, tr. 33–40.
  • Thần thoại và Logic Thần thoại trong việc tìm kiếm nguồn gốc dân tộc / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 413, tr. 39–46.
  • Y học và Văn học / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 413, tr. 73–79.
  • Tư tưởng Việt Nam (Phần 1) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 421–422, tr. 49–54; 113–117.
  • Tư tưởng Việt Nam (Phần 2) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 423, tr. 29–33.
  • Tư tưởng Việt Nam (Phần 3) / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 424, tr. 31–37.
  • Thảo luận về Cấu trúc và Ngôn ngữ / Trần Ngọc Ninh. Bách Khoa, Số 425, tr. 39–44.

THẾ KỶ 21

  • Tưởng nhớ Nhà báo Trần Việt Sơn — Bài nói chuyện của Bác sĩ Trần Ngọc Ninh, ghi lại bởi Bích Hằng. Thế Kỷ 21, Số 111 (Tháng 7, 1998), tr. 24–31.
  • Vấn đề nghiêm trọng nhất của Thiên niên kỷ sắp tới: Rủi ro và Hứa hẹn (Phần 1–6) / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 132–137 (2000).
  • Những Người Rỗng: Một bài thơ của T.S. Eliot (1888–1965) — Dịch và chú thích bởi Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 148 (Tháng 8, 2001), tr. 38–44.
  • Tưởng nhớ Nhà văn Phạm Duy Tốn / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 174 (Tháng 10, 2003), tr. 38–41 & 17.
  • Bốn mươi năm sau / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 175 (Tháng 11, 2003), tr. 15–19.
  • Hồ Xuân Hương và “Đoạn Trường Tân Thanh” (Phần 1–2) / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 193 & 196 (2005).
  • Các vấn đề và Thách thức của Thời đại / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 207 (Tháng 7, 2006), tr. 18–23.
  • Tôn vinh một Trí thức Việt Nam / Trần Ngọc Ninh. Thế Kỷ 21, Số 215 (Tháng 3, 2007), tr. 23–24.

Họ sợ rằng, công lý có bị bỏ quên?

Quang Lê added a photo to the album: Thinking 😊

Hơn 1 triệu bài viết, hàng chục triệu lượt tiếp cận, liên tục đứng đầu xu hướng nhiều ngày liền trên Threads, GenZ đang khiến cho chúng ta phải nhìn nhận lại về những cấu thành trong Quản Trị Nhà Nước Tốt.

Một trong những đặc điểm nổi bật của phản ứng Gen Z trong vụ này là sự kiên trì.

Không chỉ là làn sóng dâng lên rồi rút đi sau vài ngày. Họ tiếp tục đặt hoa tại gốc cây, bày tỏ niềm thương xót tới nạn nhân, hay đặt ra những câu hỏi về kết quả điều tra vụ việc.

Đó là biểu hiện của một thế hệ đang xây dựng ký ức tập thể về công lý. Họ sợ rằng, công lý có bị bỏ quên?

Rằng nếu một vụ việc như thế này mà không có thông tin thỏa đáng, thì tiền lệ ấy sẽ trở thành chuẩn mực cho những vụ việc tiếp theo.

Minh bạch ở đây không chỉ phục vụ quyền được biết của công chúng. Nó còn giúp cho chính người bị buộc tội tránh được những sự suy diễn và buộc tội vô căn cứ (nếu có).

Bởi một khi thông tin chính thức vắng bóng, mọi cáo buộc trên mạng xã hội – dù có cơ sở hay không đều trở nên khó bác bỏ.

Một kết luận điều tra của cơ quan công an được công khai, dù là không khởi tố vì không đủ căn cứ, hay khởi tố rồi miễn trách nhiệm hình sự vì đã bồi thường và hòa giải đúng quy định, đều tốt hơn sự im lặng.

Hoặc các cơ quan báo chí chính thống có thể tiếp cận nguồn tin, thường xuyên cập nhật về diễn biến sự việc sẽ giúp tỏ tường nhiều góc khuất.

Nên nhớ, trong mô hình quản trị tiên tiến mà Việt Nam đang áp dụng, có hai cấu thành cực kỳ quan trọng là Minh Bạch đi kèm với Trách Nhiệm Giải Trình.

Minh bạch (Transparency) là khi thông tin được cung cấp ở dạng nguyên thủy, dễ tiếp cận, để công chúng và báo chí có thể soi rọi vào quá trình ra quyết định. Ví dụ: Tại sao vụ việc này không bị khởi tố? Căn cứ pháp lý, tình tiết liên quan dẫn tới quyết định đó?

Đi kèm với đó là Trách nhiệm giải trình (Accountability): Minh bạch mà không có chế tài, không có trách nhiệm giải trình thì chỉ là lý thuyết xuông. Giải trình không phải là “xin rút kinh nghiệm sâu sắc”.

Nó đòi hỏi hai yếu tố: Trả lời và Chế tài. Khi một sự việc vi phạm pháp luật hoặc quy định xảy ra , phải có người chịu trách nhiệm, bị cách chức, bị truy tố hoặc phải bồi thường.

Khi không có những thông tin ấy, công chúng – đặc biệt là thế hệ Gen Z sẽ tự điền vào khoảng trống bằng những giả thuyết tiêu cực nhất, những thuyết âm mưu cực kỳ đa dạng.

Họ nhìn thấy ông N.S.C, cựu đại biểu Q.H, là tài xế, chủ xe BMW gây ra tai nạn thương tâm dường như không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì cho hành vi của mình, dù điều đó đôi khi chưa chắc đã đúng.

Thế nhưng, kết luận ấy có thể đúng, hoặc sai, nhưng theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng việc để cho khoảng trống ấy tồn tại quá lâu là điều cần tránh.

Suy cho cùng, minh bạch đi kèm với trách nhiệm giải trình không phải là công cụ để làm vừa lòng dư luận, nó là công cụ để bảo vệ chính thể chế khỏi sự nghi ngờ có cơ sở.

Sự im lặng kéo dài của cơ quan chức năng, báo chí chính là điểm làm suy yếu sự minh bạch một cách nghiêm trọng nhất.

Trong quản trị tốt, minh bạch không chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối – khi có bản án hay quyết định đình chỉ vụ việc.

Việc không lên tiếng trong những trường hợp như thế này không bảo vệ ai, nó chỉ làm xói mòn niềm tin của tất cả các bên, tệ hơn là dẫn tới một cuộc khủng hoảng truyền thông mất kiểm soát mà thôi!

P/S: Mình chỉ thấy chạnh lòng, thương xót cho con bé còn cả tuổi xuân, tương lai phía trước, Để rồi bỗng một ngày mở mắt thấy mình trong viện, và ngó xuống dưới chẳng có gì cả,…

Rồi em Cố Gắng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng trước khi rời xa thế giới tươi đẹp này!


 

Donald Trump : Eo biển Hormuz sẽ là “lãnh thổ của Hoa Kỳ” (RFI)

RFI

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 14/08/2026, nói rằng một khi đánh bại được Iran, ông sẽ tuyên bố eo biển Hormuz là “lãnh thổ của Hoa Kỳ”, một phát biểu với giọng điệu như đang đùa cợt. Teheran đã có phản ứng ngay tức khắc, khẳng định eo biển mang tính chiến lược này sẽ vẫn là của Iran.

Đăng ngày: 15/08/2026 

Tổng thống Mỹ Donald Trump. Ảnh ngày 14/08/2026. AP Photo/Mark Schiefelbein – Mark Schiefelbein

Thanh Phương

Theo hãng tin AFP, ông Trump đã phát biểu như trên trong một cuộc mít tinh tại Garden City, gần New York. Báo Mỹ Wall Street Journal dẫn lời một quan chức cấp cao Nhà Trắng trên mạng xã hội X cho biết  tổng thống Trump chỉ nói “đùa” khi tuyên bố eo biển Hormuz sẽ trở thành “lãnh thổ Mỹ”. 

Đáp lại tuyên bố của tổng thống Hoa Kỳ, trên mạng xã hội X sáng nay 15/08/2026, thứ trưởng Ngoại Giao Iran Kazem Gharibabadi khẳng định eo biển Hormuz “sẽ mãi mãi là của Iran”, “sẽ chỉ mở hoặc đóng theo lệnh của Iran.” Donald Trump nhiều lần khẳng định rằng Hoa Kỳ đang “kiểm soát” eo biển Hormuz, một tuyên bố mà Teheran coi là “lời nói dối”. 

Tại cuộc mít tinh ở Garden City, tổng thống Hoa Kỳ cũng bảo vệ quyết định tiến hành chiến tranh nhằm ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân, khẳng định sẽ “không bao giờ xin lỗi” về điều đó, cho dù đời sống người dân Mỹ ngày càng khó khăn do giá nhiên liệu tăng cao, hệ quả của chiến tranh Iran. 

Hôm 14/08/2026 tổng thống Trump đã gạt bỏ những lo ngại về điều kiện sống và sức khỏe tâm thần của các quân nhân trên hàng không mẫu hạm Mỹ USS Abraham Lincoln đang được triển khai để đối phó với Iran, đồng thời xác nhận tàu sân bay này sẽ sớm được thay thế. Các phương tiện truyền thông Mỹ, trích dẫn lời người thân của các thủy thủ, cho biết điều kiện sống trên tàu Lincoln đã trở nên tồi tệ hơn, thậm chí đã có một số vụ tự tử bất thành. Các nghị sĩ Dân Chủ đang kêu gọi mở cuộc điều tra về vụ này. 

Về tình hình tại chỗ, một tàu chở dầu thuộc công ty Adnoc của Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE) đã bị tấn công vào tối qua khi đang đi qua eo biển Hormuz, theo thông báo của công ty này được hãng thông tấn chính thức WAM dẫn lại. Công ty Adnoc cho biết thêm: “Không một ai bị thương và tình hình đã được kiểm soát”. Các tàu chở dầu của công ty này cũng đã bị tấn công tại eo biển Hormuz vào thứ Năm và tuần trước.