Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi.

Năm 1936, giữa thời kỳ Đại Khủng Hoảng và cơn ác mộng Dust Bowl phủ lên miền Trung nước Mỹ, hàng ngàn trẻ em nông thôn tại tiểu bang Oklahoma vẫn ngày ngày lội gió bụi đến những trường học nhỏ giữa đồng hoang. Đó là thời kỳ mà đất đai nứt nẻ như da trâu mùa hạn, mùa màng chết khô, gia súc lăn ra chết bên hàng rào, còn nhiều gia đình thì sống lay lắt nhờ vài bao bột mì cứu trợ của chính phủ liên bang. Nhưng giữa cảnh khốn cùng ấy, người dân quê Oklahoma vẫn giữ một niềm tin gần như thiêng liêng: con chữ có thể cứu đời con cái họ khỏi cái nghèo truyền kiếp.

Gia đình Harper sống tại một nông trại nhỏ bên ngoài thành phố Enid. Mảnh đất vốn từng màu mỡ ấy giờ đây bị những cơn bão bụi biến thành một biển đất chết. Mỗi khi gió nổi lên, bụi đỏ cuồn cuộn như khói chiến tranh, phủ kín mái nhà, chuồng bò, hàng rào và cả bên trong căn bếp nghèo. Người ta kể rằng có những sáng ngủ dậy, lớp bụi dày đến nỗi bà Harper phải lấy xẻng nhỏ xúc đất ra khỏi nền nhà.

Ông Harper, cha của bọn trẻ, trước kia là nông dân trồng lúa mì. Nhưng sau nhiều mùa thất bát, ông phải đi tìm việc tạm bợ bằng nghề chở lúa thuê hoặc phụ hồ tại các thị trấn lân cận. Đồng lương ít ỏi chẳng đủ nuôi đàn con đông đúc. Bà Harper đành vá quần áo bằng bao bột mì cũ, tận dụng từng mảnh vải vụn để may áo cho con. Bữa ăn gia đình quanh quẩn chỉ có đậu, khoai tây và bánh bắp. Thịt là món xa xỉ hiếm hoi xuất hiện vài lần trong tháng.

Tuy vậy, mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, những đứa trẻ Harper vẫn chuẩn bị đến trường. Chúng đi bộ nhiều cây số qua các con đường đất phủ bụi mù. Đứa lớn dắt đứa nhỏ, tay ôm tập vở cũ đã sờn góc. Có đứa mang giày rách đế, có đứa chân trần vì cha mẹ không đủ tiền mua giày mới. Mùa đông Oklahoma lạnh buốt, gió thổi xuyên qua áo khoác mỏng. Nhưng chưa bao giờ cha mẹ chúng cho phép nghỉ học chỉ vì nghèo.

Những ngôi trường quê thời ấy phần lớn chỉ là trường một phòng học. Trong căn phòng gỗ nhỏ, học sinh từ lớp Một đến lớp Tám ngồi chung. Một chiếc lò sưởi bằng than đặt giữa lớp để chống rét mùa đông. Sách giáo khoa được truyền tay từ khóa này sang khóa khác đến mức gáy sách bung ra từng mảnh. Nhiều học sinh phải dùng chung bút chì vì gia đình không đủ tiền mua đồ dùng học tập.

Các giáo viên miền quê Oklahoma trong thời Dust Bowl không chỉ làm nghề dạy học. Họ còn là y tá, người phát chẩn và đôi khi là chỗ dựa tinh thần cho cả cộng đồng. Có cô giáo phải bỏ tiền túi mua bánh mì cho học sinh đói bụng. Có thầy giáo sau giờ học còn lái xe đi thăm những gia đình bị bệnh dịch hoặc mất mùa. Nhiều người vận động quyên góp quần áo cũ từ thị trấn để đem phát cho trẻ em nông thôn.

Thời kỳ Dust Bowl không phải chỉ là thiên tai đơn thuần. Đó là hậu quả của nhiều năm canh tác quá mức trên các đồng bằng miền Trung Hoa Kỳ. Khi hạn hán kéo dài kết hợp với gió mạnh, lớp đất mặt màu mỡ bị cuốn lên trời thành những cơn “bão đen” khổng lồ. Từ năm 1930 đến 1936, hàng triệu mẫu đất tại Oklahoma, Texas và Kansas bị phá hủy nghiêm trọng. Hàng trăm ngàn gia đình nông dân phải bỏ quê hương di cư sang California tìm kế sinh nhai.

Nhà văn John Steinbeck sau này đã mô tả thảm cảnh ấy trong cuốn The Grapes of Wrath, một tác phẩm nổi tiếng phản ánh đời sống khốn khổ của dân nghèo miền Dust Bowl. Nhưng đối với những đứa trẻ như nhà Harper, bi kịch ấy không nằm trong sách vở. Chúng sống giữa nó từng ngày, từng giờ.

Năm 1935, một trận bão bụi khổng lồ mang tên “Black Sunday” đã biến ban ngày thành đêm tối. Người dân kể rằng khi cơn bão kéo đến, họ không nhìn thấy bàn tay mình trước mặt. Trẻ em phải lấy khăn ướt che mũi để khỏi nghẹt thở. Bụi lọt vào phổi gây ra căn bệnh gọi là “dust pneumonia” khiến nhiều người tử vong. Những đứa trẻ nông thôn lớn lên giữa bụi đất và nỗi sợ mùa màng thất bại.

Dẫu vậy, trường học vẫn là nơi đem lại chút hy vọng hiếm hoi. Trong lớp học nhỏ ấy, bọn trẻ được học đọc, học viết, học địa lý và nghe kể về một thế giới rộng lớn bên ngoài cánh đồng khô cằn. Với nhiều phụ huynh, con đường học vấn là cơ hội duy nhất để con cái họ thoát khỏi kiếp bám đất mà vẫn nghèo.

Một học sinh cũ sau này nhớ lại: “Chúng tôi không biết mùa màng có sống nổi hay không, nhưng cha mẹ vẫn bắt chúng tôi đi học mỗi sáng. Họ tin rằng dù đất đai có chết, con chữ vẫn còn sống.”

Niềm tin ấy phản ánh tinh thần đặc biệt của tầng lớp nông dân Mỹ thời Đại Khủng Hoảng. Dù mất tiền bạc, mất mùa màng, họ vẫn không chịu đầu hàng số phận. Chính phủ của Tổng thống Franklin D. Roosevelt sau đó đã đưa ra chương trình New Deal nhằm cứu trợ nông dân, tạo việc làm và cải tổ kinh tế. Nhưng trước khi các chính sách ấy phát huy hiệu quả, nhiều gia đình đã phải tự chống chọi bằng nghị lực phi thường.

Điều đáng nói là những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 không hề xem mình là anh hùng. Chúng chỉ đơn giản làm điều phải làm: thức dậy, đi học và tiếp tục sống. Nhưng chính sự bình dị ấy mới là vẻ đẹp lớn nhất của thế hệ Dust Bowl. Không súng đạn, không chiến công, không huy chương, chỉ có đôi chân trẻ thơ lầm lũi bước qua đồng bụi để giữ lấy tương lai.

Ngày nay, nhiều trường học một phòng tại Oklahoma đã biến mất, nhường chỗ cho xa lộ và các thị trấn hiện đại. Nhưng những bức ảnh cũ còn lưu lại vẫn khiến hậu thế xúc động. Trong ảnh, lũ trẻ gầy gò đứng trước mái trường gỗ đơn sơ, áo quần vá chằng vá đụp nhưng ánh mắt vẫn sáng. Đó là ánh mắt của một thế hệ sinh ra giữa tai họa nhưng không chịu khuất phục.

Câu chuyện của những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 nhắc hậu thế một bài học đơn giản mà sâu xa: nghèo đói có thể lấy mất tài sản, thiên tai có thể phá hủy ruộng đồng, nhưng tri thức và nghị lực vẫn là thứ giúp con người đứng dậy sau mọi biến động. Chính những bước chân bé nhỏ trên con đường bụi đỏ năm xưa đã góp phần dựng lại nước Mỹ sau thời Đại Khủng Hoảng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Ngo Duc Chien

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – người nhìn thấy “tư bản hoang dã” từ năm 1993

Có những trí thức càng đi trước thời đại thì lời nói của họ càng khiến hậu thế giật mình vì… quá đúng. Nguyễn Khắc Viện là một người như thế.

Trong phần bổ sung “Con đường đi tới tương lai” của cuốn Việt Nam, một thiên lịch sử viết năm 1993, ông từng cảnh báo Việt Nam sau Đổi Mới có nguy cơ xuất hiện một thứ “chủ nghĩa tư bản hoang dã”: đồng tiền lấn át đạo lý, bất bình đẳng xã hội gia tăng, tội phạm, ma túy, phá rừng, ô nhiễm môi trường và nguy hiểm nhất là sự cấu kết giữa quyền lực với lợi ích kinh tế kiểu “mafia”.

Ba mươi năm trước, khi xã hội còn ngập trong không khí lạc quan của mở cửa và tăng trưởng, rất ít người nói được điều ấy. Nhưng Nguyễn Khắc Viện đã nhìn thấy mặt trái của phát triển nếu kinh tế đi quá nhanh còn văn hóa, pháp luật và lương tri đi quá chậm.

Hôm nay nhìn lại, từ các đại án tham nhũng, thực phẩm giả, thuốc giả, hàng giả đến lợi ích nhóm và môi trường bị tàn phá, người ta mới thấy những cảnh báo năm ấy giống một dự cảm đáng sợ về hiện tại.

Ông đặc biệt chua chát trước kiểu quan chức biến chất: lúc đương quyền thì huênh hoang quyền lực, nhưng khi ra tòa lại khóc lóc, kêu bệnh tật, kể công trạng để xin giảm tội. Theo ông, ngoài việc lợi dụng chức quyền để kiếm chác, họ hầu như không để lại giá trị nào cho đất nước. Cái nghèo đáng sợ nhất không phải nghèo tiền bạc, mà là nghèo nhân cách và lòng tự trọng.

Nguyễn Khắc Viện không phản đối làm giàu. Ông chỉ phản đối kiểu giàu lên bằng sự tha hóa của quyền lực và sự xuống cấp của đạo lý xã hội. Ông cho rằng một xã hội lấy giàu-nghèo làm thước đo phẩm giá con người sẽ rất nguy hiểm. Giàu cá nhân, giàu dòng họ mà không giàu lòng yêu nước chín chắn thì không đáng để tôn vinh.

Sinh năm 1915 tại Hà Tĩnh trong gia đình Nho học, ông từng đỗ đầu ba bằng Tú tài tại Trường Bưởi, nay là Trường THPT Chu Văn An, rồi học y trước khi sang Pháp.

Năm 1942, ông mắc lao phổi nặng, trải qua nhiều cuộc đại phẫu, bị cắt bỏ một phần phổi và nhiều xương sườn. Từ cửa tử, ông tự nghiên cứu yoga, khí công và dưỡng sinh để cứu chính mình. Sau này, phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện được phổ biến rộng rãi và giúp nhiều người phục hồi sức khỏe.

Về nước năm 1963, ông hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghiên cứu xã hội; dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp, viết nhiều công trình về lịch sử, tâm lý trẻ em và văn hóa Việt Nam. Sau nghỉ hưu, ông càng viết mạnh mẽ hơn về giáo dục, dân chủ và phản biện xã hội.

Trong những năm 1980, nhiều ý kiến của ông từng bị xem là “lệch chuẩn”, “xét lại”. Ông phê phán bệnh giáo dục nhồi nhét, tâm lý sợ phản biện và thói phục tùng máy móc. Có thời gian bài viết của ông bị hạn chế phổ biến vì ông nói quá thẳng những điều xã hội không muốn nghe.

Nhưng ông không phải người chống đối cực đoan. Ông là mẫu trí thức yêu nước, muốn đất nước mạnh lên bằng sự tự soi lại chính mình. Điều khiến ông khó được chấp nhận là ông luôn đòi hỏi xã hội phải trung thực với sự thật.

Nhiều năm sau, những điều Nguyễn Khắc Viện cảnh báo về giáo dục, văn hóa và sự tha hóa quyền lực dần trở thành vấn đề ai cũng nhìn thấy. Có lẽ bi kịch lớn nhất của ông là nói quá sớm những điều mà nhiều năm sau xã hội mới chịu thừa nhận.

Ông mất năm 1997 tại Hà Nội, nhưng những điều ông để lại vẫn còn nguyên tính thời sự: một quốc gia muốn phát triển bền vững phải có đạo lý, phải biết kiểm soát quyền lực và phải biết lắng nghe những trí thức dám nói thật.

ST 


 

BỎ MỘT THẾ GIỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy!”.

“Nếu tôi khám phá nơi mình những khát vọng mà không gì trong thế giới này có thể làm thoả mãn, thì lời giải thích hợp lý nhất là: tôi đã được dựng nên cho một quê hương khác!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy, đi theo Chúa Kitô, người môn đệ không chỉ từ bỏ những thứ này thứ kia; họ từ bỏ cả một cách thuộc về thế giới. Tắt một lời: ‘bỏ một thế giới’.

Trong Tin Mừng Marcô, điều Phêrô nhấn mạnh không phải “chúng con theo Thầy”, nhưng là “chúng con đã bỏ mọi sự”. Ông vẫn nghĩ theo logic mất để được, từ bỏ để được đền bù. Nhưng Chúa Giêsu đưa các môn đệ đi xa hơn. Đong đếm hơn thiệt với Trời cao là chưa bước hẳn vào Tin Mừng. Theo Ngài, người môn đệ không chỉ từ bỏ những gì thuộc về thế gian; họ từ bỏ một cấu trúc sở hữu để bước vào một cấu trúc thuộc về. “Đừng sợ Đức Kitô! Ngài không lấy đi điều gì, nhưng trao ban cho bạn tất cả!” – Bênêđictô XVI.

Vì thế, điều Chúa Giêsu hứa không phải một sự bù đắp vật chất cho những gì đã hy sinh, nhưng là một tương quan mới. Người môn đệ bỏ lại một mái nhà, nhưng nhận được nhiều mái nhà; rời một gia đình, nhưng bước vào một đại gia đình. Nước Trời không lấy con người ra khỏi mọi tương quan; Nước Trời chữa lành cách con người sống với nhau. Như vậy, “được gấp trăm” trước hết không phải là có nhiều hơn, nhưng là sống trong một sự hiệp thông rộng lớn hơn. Nói cách khác, theo Chúa Kitô là bước ra khỏi một trật tự cũ của đời sống – ‘bỏ một thế giới’ – để đi vào một thế giới mới của sự thuộc về.

Thánh Phêrô kêu gọi: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở!” – bài đọc một. Một khi đã bước vào “đời sống mới của hiệp thông”, người môn đệ không thể tiếp tục sống theo những đam mê và lề thói cũ. Cứ bám mãi vào vùng đất cũ, con người sẽ đánh mất khả năng lớn lên của linh hồn. Sự thánh thiện Kitô giáo không hệ tại ở việc rút khỏi thế gian, nhưng ở khả năng sống khác giữa chính thế gian ấy. Và chính đời sống ấy làm cho “ơn cứu độ Chúa đã biểu dương” – Thánh Vịnh đáp ca – không còn là một ý niệm trừu tượng, nhưng trở thành một thực tại.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là Đấng đã từ bỏ mọi sự trọn vẹn nhất. Ngài từ bỏ vinh quang của Con Một Thiên Chúa để bước vào thân phận giới hạn của con người; từ bỏ quyền lực để sống kiếp tôi tớ; cuối cùng, từ bỏ cả mạng sống mình trên thập giá. Vì thế, theo Chúa Kitô chưa bao giờ là một chọn lựa nửa vời. Có những lúc con người phải bước ra khỏi những gì từng định nghĩa đời mình, để khám phá rằng: điều làm cho con người sống không phải những gì họ nắm giữ, nhưng là Đấng họ thuộc về. Và nhiều khi, muốn bước vào sự sống mới ấy, người môn đệ phải dám ‘bỏ một thế giới’. “Sống là thay đổi; và nên hoàn thiện là đã nhiều lần đổi thay!” – Henry Newman.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa một thế giới luôn chèo kéo để giữ con lại với những sở hữu, cho con biết can đảm từ bỏ những gì không dẫn con đến với Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em nhận được gấp trăm ở đời này cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 10,28-31

28 Khi ấy, ông Phê-rô lên tiếng thưa với Đức Giê-su rằng : “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy !” 29 Đức Giê-su đáp : “Thầy bảo thật anh em : Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, 30 mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con, hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau. 31 Quả thật, nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu.”


 

Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời…

Phong AnhSAIGON KỶ-NIỆM

Giữa đêm khuya ở Sài Gòn, vòng quanh những bệnh viện lớn như Chợ Rẫy, Bình Dân, Đại học Y Dược… là những cảnh tượng không khác gì địa ngục. Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời, quạt mo, bạt tạm bợ. Gương mặt tiều tụy, lo âu, mệt mỏi vì thức trắng đêm chờ thân nhân bên trong đang thập tử nhất sinh. Cơ sở y tế địa phương không đủ khả năng, buộc phải chuyển lên tuyến trên. Và tuyến trên thì chật cứng. 

Đây không phải chuyện hiếm, không phải “mùa dịch”, mà là tình trạng kéo dài nhiều năm của y tế Việt Nam. Bệnh viện công tuyến cuối luôn trong cảnh quá tải kinh niên. Bệnh nhân phải nằm ghép, nằm hành lang, chờ khám cả ngày. Người nhà thì “màn trời chiếu đất” để túc trực.

Ai dám chắc mình và người thân sẽ không bao giờ rơi vào cảnh ấy? Một tai nạn, một cơn bệnh nặng, hay đơn giản là ung thư, tim mạch – những thứ có thể xảy đến với bất kỳ ai – lập tức đẩy gia đình vào vòng xoáy khốn cùng về tiền bạc, thời gian và sức khỏe tinh thần.

Nguyên nhân sâu xa không chỉ là “thiếu tiền”.

Hệ thống y tế cơ sở yếu kém khiến người dân mất niềm tin, dồn hết lên bệnh viện lớn. Thiếu nhân lực chất lượng cao, bác sĩ tuyến dưới không đủ trang thiết bị và kinh nghiệm. Cơ chế tự chủ bệnh viện đôi khi đẩy chi phí lên cao, trong khi bảo hiểm y tế vẫn hạn chế với nhiều dịch vụ. Quan trọng nhất là sự quản lý và đầu tư chiến lược thiếu tầm nhìn dài hạn.

Trong đó, trách nhiệm của những người từng đứng đầu ngành không thể phủ nhận. Bà Nguyễn Thị Kim Tiến – cựu Bộ trưởng Y tế – đang phải hầu tòa với cáo buộc vi phạm quy định quản lý tài sản nhà nước, gây thất thoát lãng phí hơn 803 tỷ đồng tại hai dự án cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức.

Những dự án lẽ ra phải giảm tải cho tuyến trên, nhưng lại “đắp chiếu” nhiều năm do sai phạm trong lựa chọn nhà thầu, phê duyệt, dẫn đến đình trệ kéo dài. 

Khi những người nắm quyền lại để xảy ra lãng phí hàng trăm tỷ đồng trong khi dân nghèo nằm ngoài đường chờ cứu chữa, thì lời chỉ trích mạnh mẽ là có cơ sở.

Lãnh đạo ngành y không chỉ quản lý chuyên môn mà còn phải chịu trách nhiệm về đạo đức và lương tâm. Để người dân phải chịu đựng cảnh “thân nhân thập tử nhất sinh, người nhà ngủ vỉa hè” trong khi ngân sách nhà nước bị thất thoát, là điều không thể chấp nhận.

Y tế là quyền con người cơ bản. Một xã hội văn minh không thể để người dân phải đánh đổi tính mạng bằng cảnh màn trời chiếu đất. Cần thay đổi thực sự:

  • Tăng mạnh đầu tư và nâng cao năng lực y tế cơ sở, tuyến huyện, tỉnh để giảm tải cho tuyến cuối.
  • Minh bạch chi phí, chống tham nhũng, lãng phí dự án.
  • Thu hút nhân tài, cải thiện thu nhập và môi trường làm việc cho bác sĩ.
  • Xây dựng niềm tin để người dân không nhất thiết phải đổ dồn về thành phố lớn.

Cảnh tượng ngoài cổng bệnh viện đêm khuya không chỉ là nỗi đau của những gia đình cụ thể, mà là vết nhơ của cả hệ thống. Ai cũng có thể trở thành nạn nhân.

Vì vậy, đây không chỉ là vấn đề của “người bệnh”, mà là vấn đề của toàn xã hội. Cần tiếng nói mạnh mẽ và hành động quyết liệt hơn nữa để y tế Việt Nam thực sự phục vụ nhân dân, chứ không phải để một số cá nhân “phè phỡn trên nỗi đau đồng loại”.

Đau lòng, nhưng phải nhìn thẳng vào sự thật để thay đổi. 


 

GIẤY CHỨNG SINH EM BÉ ĐẦU TIÊN RA ĐỜI TRÊN ĐẢO HOÀNG SA NĂM 1939…

8 SÀI GÒN

GIẤY CHỨNG SINH EM BÉ ĐẦU TIÊN RA ĐỜI

TRÊN ĐẢO HOÀNG SA NĂM 1939…

Ít ai biết rằng một trong những tài liệu đặc biệt nhất về Hoàng Sa lại là một giấy chứng sinh được lập cách đây gần một thế kỷ.

Đó là giấy chứng sinh của Mai Kim Quy, sinh ngày 07/12/1939 trên đảo Hoàng Sa. Dù đã hơn 86 năm trôi qua, tờ giấy vẫn còn được lưu giữ và ghi rõ nơi sinh là đảo Hoàng Sa, cùng đầy đủ thông tin về cha mẹ, người làm chứng và đại diện hành chính trên đảo thời bấy giờ.

Cha của Mai Kim Quy là ông Mai Xuân Tập, nhân viên khí tượng đang công tác tại Hoàng Sa. Hai người làm chứng gồm bác sĩ Nguyễn Tăng Chuẩn và ông Đỗ Đức Mai, Giám đốc Đài Phát thanh. Tài liệu còn có chữ ký xác nhận của đại diện phái đoàn hành chính trên đảo.

Điều thú vị là tờ giấy này cho thấy Hoàng Sa không chỉ là nơi có các hoạt động quản lý, khí tượng hay thông tin liên lạc, mà còn từng có những gia đình người Việt sinh sống, làm việc và sinh con ngay trên đảo.

Ngày nay, giấy chứng sinh của Mai Kim Quy được xem là một trong những tư liệu lịch sử có giá trị, phản ánh đời sống dân sự của người Việt tại Hoàng Sa từ trước năm 1940.

Một tờ giấy nhỏ đã nhuốm màu thời gian, nhưng vẫn lưu giữ nguyên vẹn câu chuyện về sự hiện diện của người Việt trên quần đảo Hoàng Sa cách đây gần một thế kỷ, trở thành tư liệu sinh động khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

IFACT 


 

Trump ngậm cái gân gà Iran. Nuốt không trôi; nhả ra bị quê – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Trump ngậm cái gân gà Iran. Nuốt không trôi; nhả ra bị quê.

Trong chính trị thế giới, có những lúc người ta cứ tưởng trò chơi chỉ là “ai mạnh hơn ai”. Nhưng với Donald Trump và Iran hiện nay, thì “mạnh” không chỉ tính bằng súng ống, mà còn bằng lời lẽ, ánh mắt và… truyền hình trực tiếp.

Hình ảnh hàng ngàn người Iran đổ ra đường, hô vang “Chết cho Mỹ nó chết” dưới biển cờ Iran đã trở thành biểu tượng của tinh thần bất khuất.

Trong khi đó, Trump thì dùng mạng xã hội như gươm báu, đe dọa, nhưng vẫn chưa dám mạo hiểm bước chân vào lãnh thổ Iran.

Ai đang thắng, ai đang thua, hay chỉ là đang “gặm gân gà” một cách căng thẳng?

Hàng đêm, ở Tehran, người dân được chính quyền vận động tham gia các cuộc “họp đêm”, hô khẩu hiệu, giương cờ, và học cách sử dụng AK-47. Các cô gái trẻ, mặc chador đen, còn được hướng dẫn tháo lắp súng như những chiến binh cừ khôi.

Trên sóng truyền hình nhà nước, MC Hossein Hosseini bắn súng lên trần studio; Mobina Nasiri thì cầm súng tươi cười, thông báo rằng cô cũng nhận được vũ khí từ Quảng trường Vanak để… học bắn.

Một kịch bản vừa nghiêm trọng, vừa có phần hài hước – như trong phim hành động Hollywood – nhưng lại là thực tế ngoài đời.

Tuy nhiên, không phải tất cả người Iran đều mơ thấy bom đạn và khẩu súng. Ở công viên gần Bảo tàng Điện ảnh, những cặp tình nhân tay trong tay, người già đọc sách, trẻ em chơi đùa, nhắc nhở rằng cuộc sống vẫn diễn ra bình thường giữa tâm bão.

Một giáo sư đại học thì lén nói với phóng viên “Chúng tôi chỉ muốn sống trong một đất nước bình thường, nơi con cái có tương lai.”

Một thanh niên trẻ lướt qua thì lắc đầu: “Không chiến tranh!”

Điều này chứng tỏ rằng, bên cạnh chính quyền cứng rắn, vẫn tồn tại một lớp dân thường tìm kiếm hòa bình, minh chứng rằng không phải ai cũng muốn đứng trên mặt trận.

Còn Trump thì sao? Ông tổng thống Mỹ vẫn tung lời đe dọa trên mạng xã hội, kiểu: “Đối với Iran, đồng hồ đang đếm ngược, họ nên hành động nhanh, nếu không sẽ không còn gì lại cho họ.”

Nghe thì oai phong, nhưng thực tế, ông chỉ dám bắn tên lửa từ căn cứ ở nước láng giềng, có thể dẫn đến lính Mỹ tử vong, mà chưa dám đặt chân vào đất Iran. Chính sách này giống như “ăn gân gà”: đối phương căng thẳng, nhưng không liều lĩnh nhảy vào chảo lửa. Chiêu này vừa tạo sức ép ngoại giao, vừa giảm nguy cơ thiệt hại trực tiếp cho quân đội Mỹ – một kiểu toán học chiến tranh vừa an toàn, vừa… căng thẳng tinh thần.

Trung Quốc cũng không đứng ngoài cuộc. Trump muốn nhờ Tập Cận Bình gây áp lực Iran nhượng bộ về hạt nhân, nhưng ngược lại, Tập có thể đòi hỏi Mỹ nhượng bộ về Đài Loan. Chuyện này làm cho bàn cờ quốc tế càng thêm phức tạp. Một bên “đang ăn gân gà”, một bên “giữ dao trong tay”, cả ba phe đều đang xem ai sẽ nháy mắt trước.

Chương trình hạt nhân của Iran là trung tâm của mọi tính toán. Người dân Iran thừa nhận chưa có bom hạt nhân, nhưng nhấn mạnh quyền phát triển công nghệ hạt nhân và tên lửa để bảo vệ biên giới. “Chúng tôi cần năng lượng sạch, không phải bom,” họ nói.

Trong khi đó, Trump muốn Iran chấm dứt chương trình hạt nhân, coi đó là điều kiện để ngừng chiến tranh.

Một bế tắc ngoạn mục: người Mỹ ép, người Iran phòng vệ, và dân chúng chia rẽ giữa chiến tranh và hòa bình.

Thông điệp từ Tehran còn được nhấn mạnh trên sóng truyền hình: những người dẫn chương trình cầm súng bắn trực tiếp, các quầy huấn luyện công khai, học sinh, phụ nữ, trẻ em đều được dạy cách dùng vũ khí. Đây là chiến lược “răn đe mềm”, vừa nhắm vào tâm lý dân chúng, vừa gửi thông điệp tới Mỹ: Iran sẵn sàng chiến đấu nếu bị khiêu khích. Và quả thật, Trump biết rằng một bước sai lầm có thể khiến mọi thứ bùng nổ ngoài kiểm soát.

Xét tổng thể, tình hình hiện nay là một vở kịch ngoại giao kỳ lạ: Trump “ăn gân gà”, Iran vừa chuẩn bị chiến tranh vừa duy trì hình ảnh đoàn kết dân tộc, Trung Quốc đứng bên cạnh như một người cầm cân nảy mực.

Mọi động thái nhỏ đều có thể tạo ra hiệu ứng domino: từ leo thang xung đột Trung Đông đến tác động chiến lược toàn cầu. Chính trị quốc tế, vì thế, không chỉ là súng đạn, mà còn là lời hăm dọa, truyền thông, và cả… nghệ thuật diễn xuất.

Bài học rút ra là, trong thế giới hôm nay, chiến tranh và hòa bình nằm trong tay lời nói, hình ảnh, và chiến lược tinh thần nhiều hơn là trong khẩu súng. Dù Trump tung lời đe dọa, Iran tập huấn dân chúng, hay Trung Quốc quan sát từ xa, ranh giới giữa áp lực và chiến tranh thật mong manh. Trump muốn thắng, nhưng giờ giống như Trump nhai gân gà.

Trong khi thế giới theo dõi từng nhịp điệu của cuộc chơi chính trị này, câu hỏi vẫn còn đó: liệu ngoại giao có thể thắng chiến tranh? Hay tất cả sẽ chỉ là một chuỗi hăm dọa, huấn luyện súng ống và căng thẳng tinh thần, để rồi cuối cùng, ai cũng mệt, nhưng chưa ai thực sự giành phần thắng? Chỉ có thời gian sẽ trả lời, nhưng một điều chắc chắn: trong trò chơi này, cả Trump lẫn Iran đều phải tập “gặm gân gà” thật khéo để sống sót.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

Theo CNN.


 

Đồ ăn và thuốc hết hạn – BS. Hồ Ngọc Minh

BS. Hồ Ngọc Minh

Nhiều lần, bệnh nhân của tôi rất quan tâm, lo ngại về việc thuốc “hết hạn”, quá “đát”, cho dù trên lọ thuốc ghi rõ là còn vài ba ngày nữa mới hết hạn. Về đến nhà, tôi mở tủ lạnh ra, thì, ôi thôi, một mớ đồ ăn cũng đã “hết hạn”, và quá “đát”.. Bệnh nhân của tôi, nhiều người sẵn sàng quăng thuốc vào thùng rác, và lũ “Mỹ con” nhà tôi cũng thế, nhanh tay vứt đồ ăn vào thùng rác cho dù có những thức ăn đóng hộp chưa khui ra bao giờ

Nhớ lại thời còn ở Việt Nam, tôi đã từng đi lượm đồ ăn hay thuốc men từ những “hầm bứa” mà quân đội Mỹ quăng đồ hết hạn vào đấy. Cho đến giờ phút nầy tôi vẫn còn sống “nhăn răng”, chẳng chết con ma nào, và đang viết bài “hết hạn” cũng nhờ vào những “của quý” lượm được từ những hố rác ấy. Thế thì, đâu là giới hạn của sự an toàn của đồ ăn hay thuốc men đã hết hạn?

1/. Đồ ăn “hết hạn”.

Trước tiên hãy bàn về sự “hết hạn” đồ ăn.

 Ở Mỹ, chỉ có thức ăn của trẻ sơ sinh thì mới “bắt buộc” (mandatory) ghi ngày hết hạn. Một số tiểu bang cũng bắt buộc ghi ngày hết hạn trên các thực phẩm chế biến từ sữa (diary products). Còn lại, việc ghi ngày hết hạn trên nhãn hiệu của các loại thực phẩm chỉ có tính cách “tự nguyện” mà thôi, voluntary system of labeling. Như thế, trên lý thuyết, không ghi ngày hết hạn thì cũng chả sao!

   Cũng vì tính cách tự nguyện tự giác cho nên thực phẩm được dán nhãn, được tự biên tự diễn theo nhiều cụm từ khác nhau, như “expiration date”, “sell by date”, “best if used by (or before) date”, “guaranteed fresh date”, “pack date”… Tất cả những cụm từ nầy đều đặt nặng yếu tố phẩm chất của thức ăn nhiều hơn là sự an toàn của thức ăn.. Chúng không có nghĩa là tới ngày “hết hạn” ghi trên nhãn hiệu là đồ ăn sẽ biến thành chất độc. Tuy nhiên, những cụm từ nầy nhằm để bảo vệ sự an toàn của nhà sản xuất thực phẩm nhiều hơn là cho người tiêu thụ. Thứ nhất, sau ngày hết hạn, người dùng có “chuyện gì” thì ráng chịu vì “I told you so”. Thứ nhì, một hình thức doạ dẫm để người “yếu bóng vía” vứt đồ ăn vào thùng rác và đi mua thêm thức ăn mới.

   Để đơn giản hoá, hãy nhớ một số quy tắc chung cho thực phẩm được xem là an toàn để dùng, “sau ngày hết hạn” ghi trên nhãn:

– Sữa tươi có thể dùng một tuần sau ngày hết hạn.

– Trứng gà, từ 3 đến 5 tuần.

– Thịt gà, thịt vịt, đồ biển phải nấu hay đông lạnh trong vòng một đến hai ngày. Còn thịt bò, thịt heo phải nấu hay đông lạnh sau 3 đến 5 ngày. Một khi đồ ăn đã được đông lạnh thì sẽ giữ được vĩnh viễn bất kể ngày hết hạn.

   Đồ hộp, đồ đóng chai chưa khui có thể giữ được 18 tháng sau ngày hết hạn nếu bảo quản trong chỗ mát. Nếu lon đồ hộp bị phồng lên là dấu hiệu có vi trùng, thì phải vất bỏ cho dù chưa hết hạn.

   Tất cả các thức ăn khác, nhất là thức ăn do chính mình nấu nướng hay mua ở tiệm về thì phải dựa vào sự nhận xét và phán đoán của người dùng bằng cách quan sát, ngửi mùi và nếm. Nếu thấy không ổn thì quăng ngay. Đừng có tiếc.

   Vì thế, để khỏi phải đương đầu với vấn nạn quá nhiều đồ ăn hết hạn, ta không nên tích luỹ, đầu cơ nhiều đồ ăn nhất là các loại đồ ăn đóng hộp, đóng bao, đóng bì. Riêng đồ ăn tươi thì chỉ nấu ăn vừa đủ bữa, và… ăn ít lại! Ăn ít sống lâu, và đỡ stress vì phải lo chuyện thức ăn bị… hết hạn.

2/. Thuốc men “hết hạn”.

Bây giờ bàn tới thuốc men “hết hạn”.  Nói chung, bạn không mất mạng vì dùng thuốc quá hạn, trừ một vài trường hợp phải cẩn thận.

   Dĩ nhiên, tôi không khuyên bạn cứ uống bừa những thuốc quá hạn kỳ ghi trên nhãn, và bạn phải hỏi thăm bác sĩ về những những loại thuốc đang uống, nếu lỡ quá hạn có nguy hiểm gì hay không. Nếu lỡ thì một vài viên “quá đát” cũng không sao, vì hầu hết thuốc không tự dưng hết hiệu lực qua đêm sau ngày hết hạn, và cũng không tự dưng biến thành thuốc độc, hay hôi thúi như đồ ăn ngay sau ngày hết hạn. Trong lịch sử y khoa chưa có một loại thuốc hết hạn nào gây ra ngộ độc cả. Trên thực tế, rất nhiều thuốc hết hạn đã cứu được rất nhiều mạng người ở những nước nghèo, trong tình trạng khó khăn. Trong đó có cả tôi trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam!

   Điều đúng là thuốc càng để lâu càng mất dược tính. Những thành phần cấu tạo nên thuốc có thể từ từ yếu đi theo thời gian vì thế dược tính không còn đảm bảo 100% sau ngày hết hạn. Năm 2006, một nghiên cứu đăng trên tờ báo dược khoa, Journal of Clinical Pharmacology cho thấy 88% thuốc, nếu bảo quản trong điều kiện tốt vẫn còn hiệu lực tối thiểu 12 tháng, và trung bình đến 5 năm sau ngày hết hạn. Một số thuốc vẫn còn hiệu lực lâu hơn nữa. Một vài thí dụ nêu ra: thuốc trụ sinh Doxycyclin vẫn còn 80% dược tính sau 20 năm, thuốc Cipro (ciprofloxacin) vẫn còn tốt sau 12 năm, và thuốc phóng xạ muối potassium iodide vẫn còn hiệu lực sau 18 năm!

   Tuy nhiên, vấn đề là mỗi loại thuốc đều có một thời hạn hiệu lực khác nhau sau ngày mãn hạn, và, khác với đồ ăn, bạn không thể nếm, ngửi, để biết.

Quy tắc chung, những loại thuốc không cần toa bác sĩ như thuốc bổ, thuốc nhức đầu Tylenol chẳng hạn, hay những loại thuốc dùng ngoài da, như kem trị ngứa thì có thể dùng sau ngày hết hạn “một chút”. Ngoài ra tất cả những loại thuốc trị bệnh, thí dụ như những loại thuốc trị bệnh tim, thuốc trị dị ứng hen suyễn khẩn cấp chẳng hạn, thì không nên “liều mạng” với chúng.

   Sau đây là một số thuốc cần phải thay thế, sau ngày hết hạn:

– Thuốc trị các bệnh thần kinh như phenytoin, carbamazepine, lamotrigine, và oxcarbazepine

– Thuốc trị bệnh kinh phong như Dilantin, phenobarbital

– Thuốc trị bệnh tim, Nitroglycerin

– Thuốc loãng máu, Warfarin

– Procan SR

– Theophylline

– Digoxin

– Thuốc bướu cổ, Thyroid levothyroxine sodium

– Paraldehyde

– Thuốc ngừa thai, Oral contraceptives

– Thuốc Epinephrine (Epi-Pen) trị dị ứng khẩn cấp như khi bị ong đốt chẳng hạn

– Insulin

– Các loại thuốc nhỏ mắt.

Tương tự như thức ăn, để khỏi phải lo lắng về thuốc men khi quá hạn, ta nên tránh mua và “tàng trữ” lung tung những loại thuốc bổ linh tinh, lang tang mà nghiên cứu cho thấy chẳng có ích lợi gì cả. Chúng ta ngộ độc vì uống qua’ nhiều… thuốc bổ chứ không phải vì thuốc quá hạn. Riêng với thuốc của bác sĩ cho toa thì phải uống hết, uống đúng theo lời dặn bác sĩ, không nên uống một phần toa thuốc một cách tuỳ hứng, vui thì uống, buồn thì không.

   Trong cuộc sống, chúng ta có quá nhiều ngày “hết hạn” để nhớ, thí dụ như ngày trả tiền “bill” điện nước, điện thoại, internet; ngày trả thuế… mà từ ngữ Mỹ gọi là “deadline”. Ở Mỹ có hai cái deadline gần như chắc chắn, đó là ngày trả thuế và ngày trả… nợ đời. Một cái có thể gia hạn được còn một cái thì không.

   Bạn có biết, người ta dùng chữ “expiration date” để chỉ ngày hết hạn của thuốc, nhưng trong y khoa, chúng tôi dùng chữ “expired” để nói về một bệnh nhân vừa mới qua đời? Chúng ta đều biết, ai cũng có một ngày “hết hạn”, chỉ khác với thuốc men và đồ ăn, ngày đó sẽ đến cho mỗi người, mà khi chào đời, nhãn hiệu không ghi rõ. Vì thế, ta nên tận dụng từng giây phút khi cuộc sống còn hiệu năng, còn tươi tốt, “best if used by (or before) date”, “guaranteend fresh date”. Vì, khác với thuốc men và đồ ăn, sau ngày hết hạn, là thật sự chấm hết, chúng ta không còn cơ hội để gia hạn tiếp tục nữa. Bạn nhé..

Bác sĩ Hồ Ngọc Minh

Mỹ ra chính sách mới: người muốn xin thẻ xanh phải về nước nộp đơn (BBC)

BBC

Một gia đình gốc Việt trong ngày chính thức được ghi nhận là công dân Mỹ hôm 23/6/2020

Tác giả, Nardine Saad

và Tác giả,Sareen Habeshian

23 tháng 5 2026

Mỹ vừa công bố một chính sách mới, theo đó hầu hết người nhập cư muốn xin thẻ xanh sẽ phải rời Mỹ và nộp đơn tại đại sứ quán hoặc lãnh sự quán ở nước ngoài.

Cơ quan Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ (USCIS) cho biết hôm 22/5 rằng những người muốn thay đổi tình trạng cư trú phải thực hiện thông qua quy trình lãnh sự bên ngoài nước Mỹ “trừ những trường hợp đặc biệt”.

Động thái này – một phần trong nỗ lực của chính quyền Trump nhằm hạn chế nhập cư bất hợp pháp – đã bịt kín một kẽ hở cho phép người có thị thực và khách du lịch nộp đơn xin thẻ xanh khi vẫn còn ở Mỹ.

Những người chỉ trích cho rằng chính sách trước đây, vốn đã được áp dụng trong thời gian dài, cho phép nhiều người ở lại Mỹ cùng gia đình trong lúc chờ hồ sơ được xét duyệt – một quá trình thường mất khá nhiều thời gian.

Phương thức mới này cũng có thể khiến một số người rời Mỹ để xin thẻ xanh – loại giấy tờ cho phép thường trú tại Mỹ – gặp khó khăn hoặc thậm chí không thể quay trở lại Mỹ.

Xem trong (BBC)

NHÀ KHÔNG MỒ CÔI -Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình!”.

Một nhà tâm thần học nhận định: điều giúp một đứa trẻ lớn lên không chỉ là mái nhà, nhưng là sự hiện diện dịu dàng và bảo bọc của một người mẹ.

Kính thưa Anh Chị em,

Dưới chân thập giá, Chúa Giêsu trao Mẹ Maria cho Gioan; và Gioan “rước bà về nhà mình”. Đó không chỉ là cử chỉ cuối cùng của Đức Giêsu, nhưng là giây phút một ngôi nhà mới được khai sinh; để từ nay, nhân loại có một ‘nhà không mồ côi’.

Khi đặt Mẹ Maria dưới chân thập giá đúng vào “giờ” Đức Giêsu được tôn vinh, Gioan không chỉ coi đó là giờ khổ đau, nhưng còn là giờ khai sinh nhân loại mới. Vì thế, khi trao Mẹ cho Gioan, Chúa Giêsu không chỉ lo cho tương lai của Mẹ mình, nhưng còn trao Hội Thánh cho tình mẫu tử của Mẹ. Nếu Eva cũ từng hiện diện bên cây biết lành biết dữ trong ngày nhân loại đánh mất ngôi nhà Địa Đàng – bài đọc một, thì giờ đây, dưới cây thập giá, Eva mới đứng đó để đón nhân loại trở về. Từ cạnh sườn Đấng chịu đóng đinh, Hội Thánh được sinh ra và đã có một người mẹ. “Maria là Mẹ Hội Thánh vì Mẹ là Mẹ Đức Kitô!” – Phaolô VI.

Gioan viết, người môn đệ “rước bà về nhà mình”. Động từ Hy Lạp elaben không chỉ có nghĩa “đưa về”, nhưng còn là “đón nhận”; nghĩa là Maria được trao cho người môn đệ như một gia sản đức tin. Vì thế, Maria không đứng ngoài mầu nhiệm Hội Thánh như một yếu tố đạo đức phụ thêm, nhưng hiện diện ngay nơi căn tính sâu xa của Hội Thánh. Chiều kích Phêrô xây cơ cấu; chiều kích Maria mới làm nên tổ ấm. Hội Thánh được sinh ra dưới chân thập giá và lớn lên trong tình mẫu tử của Mẹ – một ‘nhà không mồ côi’.

Giữa một thế giới ngày càng đông đúc nhưng cũng ngày càng cô độc, con người vẫn khao khát một nơi để thuộc về. Hội Thánh không chỉ là một cơ cấu tôn giáo, nhưng là “Giêrusalem mới”, là ngôi nhà nơi con người thôi lưu lạc và học lại cách thuộc về nhau; và muôn dân sẽ hát lên “Thành của Thiên Chúa hỡi, thiên hạ nói bao điều hiển hách về thành!” – Thánh Vịnh đáp ca. Giữa thành thánh ấy, Maria hiện diện như người mẹ giữ cho Hội Thánh mang hơi ấm của một mái nhà. “Chiều kích Maria của Hội Thánh có trước chiều kích Phêrô!” – Hans Urs von Balthasar.

Anh Chị em,

“Người môn đệ rước bà về nhà mình!” không chỉ là việc dành cho Đức Maria một chỗ ở, nhưng là mở lòng để đón Mẹ vào đời sống đức tin. Có những Kitô hữu yêu mến Hội Thánh nhưng sống đức tin như những đứa con thiếu hơi ấm của một mái nhà; họ giữ đạo nhưng lòng vẫn lưu lạc. Một đức tin chỉ còn luật lệ mà thiếu tình mẫu tử rất dễ biến Hội Thánh thành cơ chế thay vì mái nhà. Vì thế, rước Mẹ về nhà cũng là để học nơi Mẹ cách ở lại dưới chân thập giá, cách tin giữa đau khổ và cách làm cho đời mình trở thành một ngôi nhà có chỗ cho Thiên Chúa và cho nhau. Chỉ khi ấy, con người mới thôi sống như những tâm hồn không có mái nhà cho linh hồn.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Mẹ Maria, xin làm cho lòng con trở thành một mái nhà có hơi ấm của Mẹ và Tin Mừng, nơi Thiên Chúa được đón nhận và con người được yêu thương!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************

Lời Chúa Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hội Thánh, Thứ Hai sau lễ Hiện Xuống

Đây là con của Bà. Đây là mẹ của anh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 19,25-27

25 Khi ấy, đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : “Thưa Bà, đây là con của Bà.” 27 Rồi Người nói với môn đệ : “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.


 

Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (Ga 20:22) – Cha Vương

Hôm nay Giáo Hội Công Giáo mừng đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, hay được gọi là ngày Sinh Nhật của Giáo hội. Chúc mừng Sinh Nhật nhé. Nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho cả thế giới nhé

Cha Vương

CN: 24/05/2026   (n5-6-22)

TIN MỪNG: Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo : “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (Ga 20:22)

SUY NIỆM:  Trước khi về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã sẽ xin Chúa Cha gửi một Đấng Bảo Trợ khác là Chúa Thánh Thần đến ở với ta mãi mãi. Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa Ngôi Ba, Ngài cũng là Thiên Chúa như ngôi Cha và Ngôi Con. Ngài bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Ngài là Đấng Phù Trợ và là Đấng ban sự sống. Thánh Gioan Maria Vianê có viết, “Người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ cảm nghiệm mọi thứ vui sướng trong mình. Thánh Thần dẫn chúng ta giống như một người mẹ dẫn dắt đứa con nhỏ, hoặc giống như một người sáng dẫn một người mù. Những người yêu mến Chúa Thánh Thần sẽ thấy việc cầu nguyện đầy hoan lạc đến nỗi họ không thấy có đủ giờ để cầu nguyện.” Nếu bạn muốn có bình an và hạnh phúc thật trong cuộc sống, bạn cần áp dụng nguyên tắc “xem quả để biết cây” vào trong công việc hằng ngày. Bạn hãy lấy 12 Hoa Quả Chúa Thánh Thần (Sách Giáo Lý Công Giáo, #1832) làm quy tắc chung để hướng dẫn tư tưởng, hành động, và lời nói của mình. Đây là 12 Hoa Quả Chúa Thánh Thần:

1/ Bác Ái—Giúp ta làm mọi việc vì mến Chúa.

2/ Hoan Lạc—Giúp ta nhận biết lòng nhân từ của Chúa.

3/ Bình An—Kết quả của niềm vui, làm cho ta được thư thái.

4/ Kiên Nhẫn—Giúp ta chịu đựng những nghịch cảnh ở đời 

5/ Quảng Đại—Quảng đại là sự rộng lượng cho đi hay hiến tặng những gì mình có (sở hữu) cách bất vụ lợi, không so đo ích kỷ, không toan tính thiệt hơn, trái lại chỉ mưu cầu lợi ích cho tha nhân.

6/ Nhân Từ—Thôi thúc ta làm sự lành cho mọi người.

7/ Từ Tâm—Phát sinh do lòng nhân từ trong lời nói và trong việc làm.

8/ Khoan Dung—Khoan Dung—là thái độ của người có quyền, sẵn sàng làm ngơ hoặc tỏ lòng thương xót và tha thứ cho những người phạm pháp, là sự tha thứ khoan hồng của người trên đối với người, sự quên đi lầm lỗi và thông cảm của đồng bạn với nhau, là không chấp nhất, không trả thù…, là yêu thương tôn trọng người yếu thế hơn,… là sống luật bác ái của Chúa một cách triệt để. 

9/ Trung Tín—Giúp ta trung thành, thẳng thắn trong những giao tế với mọi người.

10/ Khiêm Nhu—Trong tự điển tiếng Việt định nghĩa là: 1. tính khiêm tốn, tính nhún nhường, tính nhũn nhặn, 2. tính thùy mị, tính nhu mì, tính e lệ, 3. tính vừa phải, tính phải chăng, tính bình thường, tính giản dị. Nhưng theo ý nghĩa truyền thống và thần học, khiêm nhu mang tính yếu đuối, nhưng người khiêm nhu chiến thắng cơn tức giận của mình, biết kiềm chế, biết điều chỉnh và điều khiển năng lực để làm điều tốt hơn điều xấu.

11/ Tiết Độ—Chế ngự những dục vọng.

12/ Khiết Tịnh—Giúp canh phòng ngũ quan để chúng không trở nên dịp tội cho ta; giúp ta coi thân xác mình và thân xác người khác như đền thờ Chúa Thánh Thần.

Cây cuộc sống của bạn ngay bây giờ đang sinh ra những trái gì vậy?

LẮNG NGHE: Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng. (Rm 15:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin gửi thần khí Chúa vào tâm hồn con để con sinh ra những hoa trái thơm lành trong cuộc sống và cho mọi người con gặp gỡ. 

THỰC HÀNH: Tập đếm hoa quả Chúa Thánh Thần mỗi ngày để sống tốt đẹp hơn.

From: Do Dzung

************************

Thần Khí Chúa – Lệ Hằng

CHIẾC HUY CHƯƠNG PHÉP LẠ VÀ SỰ THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI CỦA MỘT KẺ HOÀI NGHI

Vào tháng 1 năm 1842, Alphonse Ratisbonne đến Rome. Khi đó, anh là một ngân hàng trẻ người Pháp 27 tuổi—giàu có, tự tin và công khai thù nghịch với Giáo hội Công giáo. Anh chẳng mấy bận tâm đến đức tin, đặc biệt là sau khi người anh trai ruột khiến cả gia đình sốc nặng bằng việc cải đạo và đi tu làm linh mục.

Nhưng trong chuyến dừng chân tại Rome, anh đã đồng ý—gần như chỉ để làm trò đùa—trước một lời thách đố đơn giản từ Nam tước de Bussières: Đeo chiếc Huy chương Phép Lạ và đọc kinh Hãy Nhớ (Memorare) mỗi ngày.

Và rồi, ngày 20 tháng 1 năm ấy, mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn.

Trong lúc một mình chờ đợi tại Nhà thờ Sant’Andrea delle Fratte, một luồng ánh sáng rực rỡ đột ngột tràn ngập khắp nguyện đường. Giữa vầng hào quang ấy, anh đã nhìn thấy Mẹ: Đức Trinh Nữ Maria, hiện ra chính xác như hình ảnh trên chiếc Huy chương Phép Lạ. Không một lời nào được thốt ra, nhưng sự hiện diện của Mẹ là quá đủ.

Trong tích tắc, mọi sự hoài nghi trong anh hoàn toàn sụp đổ. Anh quỳ sụp xuống, run rẩy và khóc nức nở, thốt lên rằng mình đã được nhìn thấy Mẹ.

Chỉ vài ngày sau, anh chịu phép rửa tội và nhận tên thánh là Marie-Alphonse. Anh từ bỏ sự giàu sang, hủy bỏ giao ước hôn hôn phối, và cuối cùng trở thành một linh mục Công giáo. Cuộc đời anh bước sang một trang hoàn toàn mới, sau này anh đã đồng sáng lập Dòng Đức Bà Sion và cống hiến hết mình cho công cuộc truyền giáo.

Một người bước vào nhà thờ như một kẻ hoài nghi, nhưng khi bước ra lại là một nhân chứng.

Một lời nhắc nhở rằng: Ân sủng của Chúa có thể xuyên qua cả những lòng chai đá nhất chỉ trong một khoảnh khắc.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Nội dung : tại sao đã 51 năm rồi kể từ ngày cộng sản chiếm miền Nam mà người VN vẫn tìm đường ra nước ngoài. Như vậy chế độ cộng sản có mang lại cho cơm no áo ấm và hạnh phúc cho người dân chưa thì bài viết này đã là một câu trả lời. Thương dân Việt quá. Trước năm 1975 dưới chính thể của VNCH không ai muốn ra nước ngoài cả. Đi du học xong là quay về đóng góp và phục vụ cho đất nước.