BƯỚC THEO HAY CHỈ THÁN PHỤC –  Lm. Mark Link, S.J. 

Lm. Mark Link, S.J. 

Chủ đề: “Khi thánh giá chúng ta trở nên quá nặng, chúng ta nên bắt chước Chúa Giêsu là chấp nhận cho kẻ khác giúp đỡ mình.” 

Clarence Jordan là người từng phát hành bản dịch Tân Ước của Cotton Patch vào hai thập niên 1950 và 1960.  Suốt thời kỳ này ông còn tham dự vào công việc giao hoà giữa các chủng tộc ở vùng Georgia. 

Ðây không phải là một công việc có nhiều người làm ở miền Nam vào những năm 1960.  Sự căng thẳng giữa dân da đen và dân da trắng đang lên cao.  Người ta ngồi ăn vạ trong các nhà hàng, xuống đường ở các phố.  Cảnh sát phải dùng chó và vòi phun lửa để giải tán đám dân chống đối dân da đen và ủng hộ dân da trắng.  Chẳng bao lâu công việc của Clarence cũng bị chỉ trích gắt gao.  Ông đến với em trai mình là Robert để xin sự giúp đỡ của luật pháp.  Ông em này hiện là luật sư cũng là một chính trị gia rất sáng gía ở Georgia.  Clarence sững sờ khi thấy em ông từ chối không giúp đỡ ông. 

Robert Mc Clendon, người kể lại câu chuyện này trong cuốn “Biography As theology” (tiểu sử được viết như thần học) nói rằng: điều khiến cho Clarence sửng sốt hơn hết là cả hai anh em ông đã cùng nhau dâng hiến cuộc đời cho Chúa Giêsu, thế mà em ông lại từ chối việc ấy.  Lập tức Clarence trách em về việc đã từng thề nguyền việc ấy.  Robert tự bào chữa: “Anh Clarence ơi!  Em theo Chúa Giêsu đến một mức độ nào đó thôi.  Em chỉ theo Người đến thập giá chứ không theo Người lên trên thập giá đâu!  Em không thích bị đóng đinh đâu.”  Clarence nhìn thẳng vào người em và nói: “Robert, chú không phải là người theo Chúa Giêsu!  Chú chỉ thán phục Người mà thôi!” 

Nhận xét của Clarence khiến Robert phải xét lại tâm hồn mình theo lời Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay: “Ai không vác thập giá mình và theo Ta, người ấy không xứng đáng là môn đệ Ta.” 

Tất cả chúng ta đều có những lúc suy nghĩ giống Robert.  Trong đời sống chúng ta, việc ta dâng mình cho Chúa Giêsu nhiều khi bị thử thách đến mức muốn bỏ Chúa luôn.  Nhiều khi trong cuộc đời chúng ta ấn tượng mạnh mẽ lời của Chúa Giêsu trong bài phúc âm hôm nay thực sự có sức mạnh hăm doạ.  Vào lúc đó vì sự khó khăn hoặc bi đát nào đó vùi dập, chúng ta bị cám dỗ từ bỏ thánh giá và không vác thánh giá theo Chúa Giêsu nữa, chúng ta bị cám dỗ rồi bỏ Chúa Giêsu và không bước theo Người nữa. 

Chẳng hạn sau khi người tình mà mình yêu thương khôn tả ruồng bỏ mình, thì đối với một thiếu phụ quả là khó mà vực nổi thánh giá lên, quả là khó mà cúi xuống vác thập giá lên tiếp tục bước theo Chúa.  Hay như cha mẹ sau khi đã bị cưỡng bức đưa vào viện dưỡng lão.  Cũng như đối với một bà vợ thật khó mà vực nổi thập giá lên để tiếp tục vác theo Chúa Giêsu khi chồng bà đêm nào cũng bỏ bê bà và đám con.  Và một thanh niên bị một gã say rượu xô đẩy phần đời còn lại của mình vào chiếc xe lăn thì đối với anh qua thực là khó mà vực nổi thập giá lên để tiếp tục bước theo Chúa Giêsu. 

Những người như trên sẽ làm gì khi mà cây thập giá thình lình đè xuống trên họ một sức nặng khiến họ dường như vác không nổi?  Chúng ta sẽ làm gì khi cây thập giá thình lình đè xuống trên chúng ta một sức nặng khiến chúng ta dường như không thể nào vác nổi nữa? 

Khi cây thánh giá nặng quá mức như thế ụp xuống đời mình, chúng ta nên nhớ lại rằng Chúa Giêsu đã từng có lúc cảm thấy thánh giá của mình nặng quá sức.  Lúc đó, Người đã chấp nhận để cho người lạ là Simon Cyrênê giúp đỡ. 

Xin anh chị em hãy suy nghĩ về điều ấy! 

Ðường đường là Con Thiên Chúa, là đấng cứu độ trần gian, thế mà Chúa Giêsu đành thú nhận với chính mình và với thế gian rằng Người không đủ sức vác nổi thập giá của mình nữa.  Nếu Con Thiên Chúa còn có đủ khiêm nhượng để làm điều đó thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ phải đủ khiêm nhượng để theo gương Người.  Khi thập giá trong đời trở nên nặng quá sức vác của mình.  Chúng ta phải kêu cầu sự giúp đỡ giống như Chúa Giêsu đã từng làm.  Nhưng chúng ta sẽ kêu cầu ai giúp đây?

 Trước hết và trên hết, chúng ta kêu cầu chính Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu đã từng biết thế nào là lảo đảo và té sấp xuống đất dưới một cây thánh giá.  Người cũng biết rõ cảm tưởng khi phải thú nhận rằng cây thập giá đã trở nên nặng quá không thể vác nổi một mình nữa.  Người đã biết rõ cảm tưởng khi phải khiêm nhường chấp nhận sự giúp đỡ của kẻ khác. 

Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn mình câu hỏi khiêm nhượng sau: Có phải đã có những lúc trong đời chúng ta gần như không thể vác nổi thập giá mình để tiếp tục bước theo Chúa Giêsu nữa không? – Nếu có thì bài phúc âm hôm nay quả là đưa ra cho chúng ta một thách đố.  Nó thách đố chúng ta bắt chứơc Chúa Giêsu khi thánh giá của Người nặng qúa không vác nổi nữa.  Nó thách đố chúng ta làm giống như Clarence Jordan là kêu cầu sự giúp đỡ của người khác, nó thách đố chúng ta cầu cứu kẻ khác giúp đỡ. 

Cuối cùng, câu chuyện Simon Cyrênê giúp đỡ Chúa Giêsu vác thập giá như thế nào, cũng như câu chuyện Robert Jordan đã từ chối giúp đỡ anh mình lúc cần thiết ra sao, khiến chúng ta phải tự vấn mình xem: “Chúng ta trả lời thế nào với những kẻ đến yêu cầu chúng ta giúp đỡ?  Chúng ta có từ chối họ không?  Chúng ta giúp đỡ họ một cách miễn cưỡng với lời càu nhàu không?  Hay là chúng ta nồng nàn tiếp đón vui vẻ giúp đỡ họ?”

 Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện sau đây, nó tóm tắt được cả lời mời gọi lẫn thách đố chứa đựng trong bài Phúc âm hôm nay: 

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con sức mạnh của Ngài vì đôi khi sự việc quá cam go khiến chúng con sẵn sàng bỏ cuộc.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con tình yêu của Ngài, bởi vì đôi khi bị thiên hạ ruồng rẫy, chúng con bị cám dỗ căm ghét họ.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con đôi mắt Ngài bởi vì đôi khi cuộc đời trở nên tối tăm và chúng con lạc mất lối đi.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con lòng can đảm của Ngài, bởi vì khi thường chúng con hay bị áp lực khiến chúng con khó làm được điều gì đúng đắn.

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con chính Ngài bởi vì tâm hồn chúng con được tạo nên cho Ngài và chúng con có thể được an nghỉ trong Ngài. Amen.” 

Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Mừng kính Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả (Gioan Baotixita)-Cha Vương

Chúc bình an! Hôm nay 24/06, Giáo Hội mừng kính trọng thể Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả (Gioan Baotixita). Ngài là con của bà Elizabeth và tiên tri Zacharia, đấng tiền hô, đấng đã làm phép rửa cho Chúa Kitô, đấng tử đạo đầu tiên khi Tin Mừng được rao giảng. Thánh Gioan Baotixita có hai ngày lễ kính trong lịch phụng vụ, ngày 24 tháng 6 là ngày sinh nhật và ngày 29 tháng 8 là ngày tử đạo. Chúng ta cùng hát Chúc Mừng Sinh Nhật Ngài đi nào!

Cha Vương

Thứ 5: 24/6/2026  (t7-25)

Ðức Giêsu gọi Gioan là người cao trọng nhất trong tất cả mọi người và là người đến trước Ngài: “Ta nói với các ngươi, trong những người sinh ra bởi phụ nữ, không ai cao trọng hơn Gioan…” Nhưng có lẽ Thánh Gioan sẽ hoàn toàn đồng ý với điều Ðức Giêsu nói thêm sau đó: “Tuy nhiên, người nhỏ nhất trong nước Thiên Chúa còn cao trọng hơn ông ta” (Luca 7:28).

   Có một thời gian Thánh Gioan sống trong sa mạc, là vị ẩn tu. Ngài loan báo nước trời đã gần đến, và mời gọi mọi người hoán cải đời sống.

   Mục đích của ngài là chuẩn bị con đường cho Ðức Giêsu. Ngài nói, phép rửa của ngài là để ăn năn sám hối. Nhưng Ðấng sắp đến sẽ rửa với Thần Khí và lửa. Gioan không xứng đáng để xách dép cho Người. Thái độ của Thánh Gioan đối với Ðức Giêsu là: “Ngài phải gia tăng; tôi phải nhỏ đi” (Gioan 3:30).

   Trong khi thanh tẩy những kẻ tội lỗi, Thánh Gioan đã khiêm tốn nhận ra Ðấng Thiên Sai và nói: “Tôi cần được thanh tẩy bởi Ngài” (Mt 3:14b). Nhưng Ðức Giêsu nhất định, “Hãy tiếp tục thi hành, vì như vậy chúng ta mới giữ trọn đức công chính” (Mt 3:15b). Ðức Giêsu, một con người đích thực và khiêm tốn cũng là Thiên Chúa hằng hữu, đã sẵn sàng thi hành bổn phận của bất cứ người Do Thái tốt lành nào. Thánh Gioan như vậy đã công khai đi vào tập thể của những người đang chờ đợi Ðấng Thiên Sai. Nhưng khi tự trở nên một phần tử của cộng đồng đó, ngài quả thực thuộc về Ðấng Cứu Tinh.

   Sự cao trọng của Thánh Gioan, một địa vị then chốt trong lịch sử cứu chuộc, được nhận thấy qua tường thuật của Thánh Luca về sự sinh hạ và các biến cố sau đó của Thánh Gioan – cả hai yếu tố này đều xảy ra song song với cuộc đời của Ðức Giêsu. Thánh Gioan thu hút được rất nhiều người đến bờ sông Giođan, và một số người đã coi ngài như Ðấng Thiên Sai. Nhưng ngài luôn luôn chỉ đến Ðức Giêsu, ngay cả một số môn đệ của ngài cũng được sai đến để trở thành các môn đệ đầu tiên của Ðức Giêsu.

   Có lẽ Thánh Gioan không nghĩ là Nước Trời được hoàn tất một cách tuyệt hảo trong sứ vụ rao giảng của Ðức Giêsu. Vì bất cứ lý do gì, (trong khi ở tù) ngài đã sai các môn đệ đến hỏi Ðức Giêsu xem có phải Người là Ðấng Thiên Sai hay không. Câu trả lời của Ðức Giêsu cho thấy Ðấng Thiên Sai mang hình ảnh Người Tôi Tớ Ðau Khổ trong sách tiên tri Isaia. Chính Thánh Gioan cũng đã chia sẻ trong sự đau khổ của Ðấng Cứu Tinh, ngài đã chết vì sự trả thù của Herodias. 

(Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online)

Bạn rút ra bài học gì cho mình khi đọc qua tiểu sử của thánh nhân? Hãy áp dụng vào cuộc sống hằng ngày nhé.

From: Do Dzung

**************

Nuns playing HAPPY BIRTHDAY on Piano  

DÔNG TỐ BIẾT NÓI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ!”.

“Nghịch cảnh không tạo nên con người; nó chỉ bày tỏ con người ấy là ai!” – James L. Allen.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, nghịch cảnh có thể làm lộ nền móng thật của một con người. Mưa sa, nước cuốn, bão táp không làm cát chắc hơn hay đá cứng hơn; chúng chỉ khiến cát và đá lộ diện. Đó chính là lúc ‘dông tố biết nói’.

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’… nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy!”. Hoá ra, điều quyết định không phải là điều chúng ta tuyên xưng, nhưng là điều chúng ta trở nên. Nguyên ngữ Hy Lạp dùng động từ poieō – “làm, thực hiện”. Đời sống Kitô hữu không được xây trên kinh nguyện hay những lời đạo đức, nhưng trên việc thi hành ý muốn của Thiên Chúa trong những chọn lựa cụ thể của đời sống. Những gì được kiên trì sống trong âm thầm mới dần tạo nên vóc dáng thiêng liêng của một con người. “Điều quan trọng không phải là nói những điều lớn lao về Chúa, nhưng là làm những điều nhỏ bé vì tình yêu Ngài!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Nền móng không chỉ được xây trong những ngày bình yên, nhưng cả khi dông bão đang ập xuống. Mỗi lần vâng phục, mỗi lần trung tín trong âm thầm, mỗi lần tha thứ đều đào sâu thêm nền đá của đời mình. Khi cuồng phong đến, ngôi nhà đứng vững không nhờ những gì được hứa, nhưng nhờ những gì đã được sống. Chính phần ẩn sâu ấy quyết định liệu nó có đứng vững khi bão táp ập vào. Đức tin cũng vậy. Và đó là lúc ‘dông tố biết nói’.

Israel đã trải nghiệm điều đó. Vua, Đền Thờ, thành thánh – tất cả đều lần lượt sụp đổ. Họ mất những gì từng làm nên niềm tự hào và cảm giác an toàn của mình – bài đọc một. Có những điều chỉ mất đi mới cho biết chúng chưa bao giờ là chỗ dựa sau cùng; bởi chỗ dựa đích thực không phải là những gì thuộc về Thiên Chúa, nhưng là chính Ngài. Vậy mà giữa cảnh lưu đày, Thánh Vịnh đáp ca lại cất lên, “Lạy Chúa, để danh Ngài rạng rỡ, xin giải thoát chúng con!”. Chính trong cảnh trắng tay ấy, dân Chúa mới học lại bài học căn bản: vinh quang Thiên Chúa không ở nơi những gì con người sở hữu, nhưng ở sự hiện diện và lòng trung tín của Ngài. “Điều Thiên Chúa ban trước hết không phải là một điều gì, nhưng là chính Ngài!” – Karl Rahner.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ dạy chúng ta xây đời trên đá; Ngài chính là Đá Tảng ấy. Ngài đến để trở nên nền móng không lay chuyển của một nhân loại vốn quen xây đời mình trên cát của quyền lực, của cải, thành công và cái tôi. Bởi đó, điều cứu chúng ta không phải là một đức tin chỉ ở trên môi miệng: “Lạy Chúa! Lạy Chúa!”, nhưng là một đức tin dự phần vào sự vâng phục hiếu tử của Đức Giêsu đối với Chúa Cha. Khi mọi chỗ dựa khác sụp đổ, người tín hữu khám phá rằng mình vẫn chưa mất tất cả, vì vẫn còn Đức Kitô. Đến lúc ấy, dông tố không cần nói thêm gì nữa. “Ai có Thiên Chúa thì không thiếu gì; chỉ mình Ngài là đủ!” – Têrêxa Avila.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con chỉ xây cao, nhưng biết xây sâu; để khi bão đến, đời con vẫn đứng vững trên Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XII Thường Niên, Năm Chẵn

Nhà xây trên đá và nhà xây trên cát.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 7,21-29

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : ‘Lạy Chúa ! lạy Chúa !’ là sẽ được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. 22 Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng : ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao ?’ 23 Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ : ‘Ta không hề biết các ngươi ; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác !’

24 “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. 25 Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. 26 Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. 27 Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành”.

28 Khi Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong, dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người, 29 vì Người giảng dạy như một Đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư của họ.


 

THÂN XÁC KHÔNG HƯ NÁT CỦA CHÂN PHƯỚC ANNA MARIA TAIGI

Irene Thanh Minh

THÂN XÁC KHÔNG HƯ NÁT CỦA CHÂN PHƯỚC ANNA MARIA TAIGI

Chân phước Anna Maria Taigi là một trong những trường hợp đặc biệt thường được nhắc đến trong Giáo Hội Công giáo khi nói về các vị thánh có thân xác không hư nát.

Bà sinh ngày 29/05/1769 tại Siena, nước Ý, sau đó sống phần lớn cuộc đời tại Rôma. Không phải là một nữ tu trong tu viện, Anna Maria Taigi là một người vợ, một người mẹ trong gia đình, đồng thời là thành viên Dòng Ba Chúa Ba Ngôi. Chính giữa đời sống hôn nhân, bổn phận gia đình, những lo toan và hy sinh thường ngày, bà đã sống một đời cầu nguyện sâu xa, bác ái và kết hợp mật thiết với Thiên Chúa.

Bà qua đời ngày 09/06/1837 tại Rôma, hưởng thọ 68 tuổi. Sau khi qua đời, thi hài của bà được ghi nhận là được bảo tồn cách đặc biệt. Vì thế, Chân phước Anna Maria Taigi thường được nhắc đến như một trong những vị có thân xác không hư nát trong truyền thống Công giáo.

Hiện nay, thi hài của Chân phước Anna Maria Taigi được tôn kính trong hòm kính tại Vương cung thánh đường San Crisogono, khu Trastevere, Rôma. Phần bên ngoài, đặc biệt là gương mặt và đôi tay, được phủ sáp để bảo quản và giúp các tín hữu dễ dàng tôn kính.

Điều đáng nói là thân xác không hư nát của bà không chỉ khiến người ta tò mò, nhưng còn nhắc nhớ về một đời sống thánh thiện âm thầm. Anna Maria Taigi không nên thánh bằng những điều xa lạ, mà bằng chính đời sống gia đình: làm vợ, làm mẹ, cầu nguyện, hy sinh, chịu đựng và yêu thương.

Nơi bà, người ta thấy rằng sự thánh thiện không chỉ dành cho linh mục hay tu sĩ. Một người mẹ cũng có thể nên thánh. Một người vợ cũng có thể sống kết hợp sâu xa với Chúa. Một mái nhà bình thường cũng có thể trở thành nơi Thiên Chúa hiện diện, nếu được xây dựng bằng đức tin, lòng mến và sự tín thác.

Thân xác không hư nát của Chân phước Anna Maria Taigi vì thế trở thành một dấu chỉ âm thầm, mời gọi mỗi người nhìn lại đời sống của mình: điều tồn tại sau cùng không phải là danh vọng hay của cải, nhưng là tình yêu dành cho Chúa và cho những người được trao phó cho mình.

Xin Chân phước Anna Maria Taigi cầu bầu cho các gia đình Công giáo, đặc biệt cho những người vợ, người mẹ đang âm thầm hy sinh mỗi ngày, để họ luôn tìm thấy sức mạnh và bình an nơi Chúa.


 

Học dốt còn hơn đốt sách !

 Xuyên Sơn 

Đây là lý do ngành giáo dục suy đồi ấu trĩ, nhồi sọ sau 1975 chúng cướp,

phá hoại những gì để lại thế hệ sau . Với chúng thà giết lầm chứ không bỏ xót!

      Học dốt còn hơn đốt sách !

Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương.

Nhưng với bản chất bần cố nông chúng đâu biết giá trị của những cuốn sách chúng đốt phá ấy !

Là cả nền dân trí giáo dục & tâm huyết của những tiền nhân đi trước, với chúng đấy là sự ô nhục dù là kẻ thắng cuộc, chúng đem những tư tưởng phát xít vào nghành giáo dục suy đồi & nhồi sọ những thế hệ sau này thành những thành phần ngu ngơ, ngờ nghệch che dấu đi những tội ác man rợ mà chúng gây ra trong lịch sử dân tộc!

Thời chúng tôi còn học Trung học, tức dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sách tiếng Việt ít nên muốn thi đậu bắt buộc phải dùng sách tiếng Pháp, như Toán hình học, Toán đại số, Toán vật lý…

Học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) mà làm hết cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs gồm 1.144 bài thì nhất, đi thi trung học chắc ăn như bắp.

Thời ấy các tiệm sách lớn như Khai Trí chẳng hạn không có nhân viên bảo vệ mặc đồng phục ngồi gác ở cửa như bây giờ, mà có các nhân viên giả làm khách hàng, trông nom, ngăn chặn những người muốn ăn cắp sách.

Buổi sáng hôm ấy, cậu học sinh này cứ lang thang mở coi hết cuốn này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách tiếng Pháp. Việc lấm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ.

Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.

– Tại sao cậu ăn cắp sách?

Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ:

Gia Long,

Trưng Vương,

Pétrus Ký,

Chu Văn An.

– Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi!

Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát.

Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:

– Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…

Cậu bé khóc quá khiến cô thâu ngân viên cũng thấy mủi lòng:

– Ba má em làm gì mà nghèo?

– Ba em chết, má em quét chợ An Đông…

– Mẹ quét chợ An Đông mà con học Pétrus Ký? Em học đến đâu rồi?

– Dạ thưa quatrième année.

Chị tha cho em, nếu cảnh sát bắt, đưa giấy về trường em bị đuổi học tội nghiệp má em…

– Các em quen với tiếng Pháp lắm phải không?

– Dạ.

– Bởi vậy nên mới lấy trộm sách Pháp. Bằng bấy nhiêu mà đã học lớp Đệ tứ, sắp thi Trung học là giỏi lằm.

Nhưng chú ấy đã đi gọi cảnh sát thì biết làm sao…

Cậu bé sợ quá lại khóc…

Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện.

Thấy cô thâu ngân nói thế,

ông bảo cô ta:

– Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…

Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vô.

Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì.

Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân.

Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

– Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa…

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

– Từ nay hễ cần sách gì cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà…

Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong.

Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.

Thời gian qua đi.

Một năm sau biến cố lịch sử 1975, nhà sách Khai Trí bị tịch thu,

mới đầu người ta đặt tên là nhà sách “Ngoại văn”, sau đó đổi thành nhà sách “Fahasa” (viết tắt của 3 chữ “Phát hành sách”), hiện nay lại đổi lần nữa thành nhà sách “Sài Gòn”.

Hồi ấy nhà sách Khai Trí là nạn nhân của nạn hôi của, đốt phá, sách vở tung toé khắp nơi từ trong nhà sách ra ngoài đường, nhiều người đã chính mắt chứng kiến cảnh ấy trong nỗi bất lực…

Kho sách 60 tấn bị tiêu hủy.

Ông Khai Trí bị đi cải tạo vì tội “biệt kích văn nghệ”.

Sau khi được thả, ông sang định cư bên Hoa Kỳ.

10 năm sau, ông ở Mỹ về Việt Nam một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước.

Ông đã mang về 2.000 đầu sách để tiếp tục làm văn hoá.

Sách bị tịch thâu với lý do: in trước 75.

Phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người, báo chí quý hiếm trước 1954, như bộ Loa rất nổi tiếng..

Sách ông mang về ai cũng biết là sách về giáo dục, sách hiền, sách tốt cả.

Mà dại gì ông mang sách dữ, mà làm gì kiếm ra đâu được sách dữ.

Nó chỉ có một cái tội:

Tội đã in trước 1975…

Ông đau lòng vì sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi đến đâu.

Ông buồn bã nói:

– Chắc… năm 3.000 thì họ trả…

Ông mất năm 2005 tại Sài Gòn.

Trước khi ông mất, người ta đã “không quên” đặt tên ông cho một con phố nhỏ (!?!).

Một buổi chiều, người ta thấy một “ông già” khoảng ngoài 70 tuổi, ăn mặc theo lối Việt kiều, đứng ngắm trước cửa nhà sách Sài Gòn với nét mặt buồn buồn rồi bước vào hỏi thăm các cô bán sách về ông Khai Trí,

các cô nói hình như ông đã mất cách đây đến hàng chục năm.

“Ông già Việt kiều” lại ra đứng ngắm trước cửa tiệm sách hồi lâu, lấy khăn giấy lau nước mắt, chắp tay hướng lên trên trời khẽ vái ba vái rồi đi.

Không ai biết ông ta là ai cả…

Nguồn fb Yến Hải Âu

Trong hình:

Ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương. 


 

Quà tặng thứ 3 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương vâng phục Thánh ý Chúa-Cha Vương 

Tạ ơn Chúa đã soi sáng cho con người biết sáng chế ra cái máy lạnh, nếu không có nó thì khốn đấy nhỉ. Cũng không quên có lời cảm ơn đến các ông bố/mẹ biết sửa máy lạnh. Chúc một ngày mát mẻ trong Chúa và Mẹ yêu nhớ nhau trong lời cầu nguyện không quên cho thế giới  nhé.

Cha Vương 

Thứ 3: 23/6/2026.      (n21-22)

Quà tặng thứ 3 cho người cha yêu quý: Thánh Giuse, mẫu gương vâng phục Thánh ý Chúa

TIN MỪNG: Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. (Mt 1:20)

SUY NIỆM: Trước thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, Đức Maria đã khiêm tốn và ngoan thảo thưa tiếng “xin vâng”. Thánh cả Giuse với một niềm tín thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa, Ngài cũng đã quảng đại làm theo ý Chúa trong mọi việc. Ngài đã không nghĩ đến quyền lợi cá nhân nhưng luôn lấy thánh ý Chúa là trên hết. Vì thế, Ngài sẵn sàng từ bỏ ý riêng để mau mắn thi hành ý Chúa, cho dù có những điều không thể hiểu nổi, nhưng Ngài luôn tận tâm, tận lực chu toàn bổn phận để thiên ý được hoàn thành cách tốt đẹp nhất.

CẦU NGUYỆN: Lạy Thánh Giuse là gương mẫu cho chúng con về sự vâng phục Thánh ý Thiên Chúa! Xin giúp chúng con dám từ bỏ ý riêng, can đảm chọn và thi hành Thánh ý Chúa. Xin giúp chúng con trong những cơn gian nan thử thách, trong những đêm tối của đức tin, biết tín thác tuyệt đối vào Chúa và buông mình vào bàn tay quyền năng của Chúa, để Người dẫn dắt chúng con đi trong đường lối của Người. Lạy Thánh Giuse hiển vinh, chúng con kêu cầu Thánh Giuse trong tuần cửu nhật này, lại xin ban những ơn cần thiết, giúp chúng con trung thành với bổn phận, và mai sau đạt tới hạnh phúc trường sinh. Amen. 

(Nguồn: MTG Thủ Đức)

1 Kinh Lạy Cha, 3 Kinh Kính Mừng—Cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng Phanxicô và cho các người cha trong gia đình con sống cũng như đã qua đời.

KINH KHẤN THÁNH GIUSE BẢO TRỢ KHÓ KHĂN: Lạy Thánh Giuse, xưa nay không ai kêu cầu Cha mà vô hiệu. Cha có thần thế trước mặt Đức Chúa Trời đến nỗi người ta có thể nói rằng: “Trên trời Thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”. Lạy Cha hiền xin cầu bầu cùng Chúa Giêsu cho chúng con. Khi ở thế gian này Cha đã từng là Cha nuôi và là vị bảo hộ trung thành của Chúa Con Chí Thánh, này xin Cha bào chữa cho chúng con bên tòa Chúa. Chúng con trao phó nơi Cha vụ khó khăn này (Nêu ra ý chỉ cầu xin, hoặc tên của các người cha… ) xin Cha giải gỡ giúp chúng con, để thêm một vinh quang mới và bao nhiêu vinh quang sẵn có của Cha. Lạy Thánh Giuse nhân từ, chúng con tin tưởng, vâng chúng con tin tưởng Cha có thể chấp nhận lời nguyện của chúng con, và giải thoát chúng con khỏi khổ cực ưu sầu mà chúng con đang gặp phải. Hơn nữa, chúng con vững lòng trông cậy. Cha không bỏ qua điều gì giúp cho người sầu khổ kêu cầu Cha. Chúng con sấp mình dưới chân Cha, tha thiết nài xin Cha đoái thương đến những than van khóc lóc của chúng con. Xin Cha lấy tình thương như áo choàng che phủ chúng con và chúc lành cho chúng con. 

Amen

From: Do Dzung

********************

THÁNH GIUSE – LỜI XIN VÂNG LẶNG LẼ ; Sáng tác & Trình bày: Lm Giuse Sỹ Tùng

Lagom – Wabi-sabi – Tri túc – Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết  

 Lagom – Wabi-sabi – Tri túc

Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết

 Nhân loại đang bước vào một giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử. Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, khoa học và kỹ thuật đã đưa con người từ chiếc xe ngựa đến phi thuyền không gian, chuyển thư từ, từ bằng con người, đến ngựa, và ngày nay, đến trí tuệ nhân tạo, từ nền kinh tế nông nghiệp đến nền kinh tế số toàn cầu.

Nhưng nghịch lý lớn nhất của thời đại chúng ta là càng tiến bộ về vật chất, con người dường như càng bất an về tinh thần. Ngày nay, thế giới sản xuất đủ lương thực để nuôi sống toàn thể dân số địa cầu, nhưng hàng trăm triệu người vẫn đói nghèo. Những thành phố hiện đại mọc lên khắp nơi, nhưng sự cô đơn và chứng trầm cảm ngày càng phổ biến. Công nghệ kết nối hàng tỷ người trong vài giây, nhưng lòng tin giữa con người với nhau lại suy giảm nghiêm trọng. Khủng hoảng môi trường, biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học và những bất ổn xã hội đang đặt ra một câu hỏi căn bản: “Liệu sự phát triển vật chất có đủ để bảo đảm hạnh phúc cho nhân loại hay không?”

Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại những giá trị tinh thần đã từng giúp nhiều dân tộc sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Trong hành trình đó, ba triết lý sống đáng chú ý xuất hiện từ ba nền văn hóa khác nhau:

  • Lagom của Thụy Điển;
  • Wabi-sabi của Nhật Bản;
  • Tri túc của Phật giáo.

Mỗi triết lý mang một sắc thái riêng, nhưng tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung, đó là giúp con người tìm lại sự quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa phát triển và đạo đức, giữa thành công và hạnh phúc.

1- Khủng hoảng của một nền văn minh tiêu thụ

Sau cuộc cách mạng công nghiệp, thế giới phương Tây đã xây dựng một mô hình phát triển dựa trên sản xuất và tiêu dùng liên tục. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phải bán được nhiều hàng hóa hơn. Nhưng, muốn bán được nhiều hàng hóa hơn phải kích thích nhu cầu. Và, muốn kích thích nhu cầu phải tạo ra cảm giác thiếu thốn. Từ đó, đưa đến kết quả là con người bị cuốn vào một cuộc chạy đua không có điểm dừng. Hôm nay, mua một chiếc xe mới, ngày mai đã có mẫu xe hiện đại hơn, tối tân hơn! Hôm nay, sở hữu một căn nhà lớn, ngày mai lại muốn mua căn nhà lớn hơn, rộng hơn nữa! Có địa vị hôm nay, ngày mai lại muốn một địa vị cao hơn! Cả xã hội vận hành trên giả định rằng hạnh phúc nằm ở phía trước và chỉ đạt được khi có thêm một điều gì đó.

Tuy nhiên, thực tế đã và đang chứng minh một điều ngược lại. Nhiều quốc gia giàu có đang phải đối diện với một sự thật không chối cải là tỷ lệ trầm cảm gia tăng trong dân chúng, tình trạng cô đơn xã hội xảy ra ở khắp nơi từ những quốc gia giàu đến tận những nơi cùng khổ, niềm tin cộng đồng ngày càng suy giảm, tình trạng ô nhiễm môi trường, khủng hoảng đạo đức ở các quốc gia tư bản lẫn cộng sản. Con người càng ngày càng có thêm nhiều phương tiện để phục vụ cho nhu cầu sống và sinh hoạt hàng ngày, nhưng lại thiếu lý do để sống, cũng như không có thì giờ để chiêm nghiệm lại … sự hiện hữu của chính mình!

Đó là cuộc khủng hoảng sâu xa nhất của nền văn minh hiện đại.

2- Lagom – Một nghệ thuật sống vừa đủ

Bí quyết để có được sự hạnh phúc trong cuộc sống hiện đại của người Thụy Điển là Lagom (phát âm là lah-gom), có nghĩa là không quá thừa cũng không quá thiếu, chỉ vừa đủ. Về bản chất, lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom có nghĩa là biết được điều gì là thiết yếu trong cuộc sống của bạn và biết những thứ không thực sự cần đến. Người Thụy Điển coi lagom như là một kim chỉ nam trong cuộc sống. Một số ý kiến cho rằng lagom có thể là một lối sống tiêu cực, bởi nó dựa trên sự chối bỏ vật chất. Tuy nhiên, với sự bền bỉ chứng minh, người Thụy Điển đã cho chúng ta thấy lagom đã thực sự cải thiện cuộc sống bằng cách nắm lấy sự “vừa đủ“.

Trong một thế giới có nhịp độ sống nhanh, bạn sẽ trở nên tuyệt vời nếu bạn có thể sống chậm lại và tận hưởng một cuộc sống với ít áp lực hơn, ít căng thẳng hơn và có nhiều thời gian hơn cho mọi thứ bạn yêu thích, phải không?

Về bản chất, Lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom – Một chữ đơn độc nầy, gói gọn toàn thể triết lý dân chủ xã hội của Thụy Điển về cuộc sống rằng:”mọi người nên có đủ nhưng không quá nhiều – “that everyone should have enough but not too much.”

Tại văn phòng, những chuyên gia làm việc chăm chỉ, nhưng không làm tổn hại đến những phần khác trong cuộc sống của họ. Thay vì đốt cháy bản thân với một tuần làm việc 60 giờ và sau đó bị căng thẳng, Lagom khuyến khích sự cân bằng và sống ở đâu đó ở giữa – living somewhere in the middle. Các tính năng khác bao gồm tiết kiệm, giảm căng thẳng, tạo ra sự cân bằng hoàn hảo giữa công việc và giải trí và tập trung vào các mối quan tâm về môi trường và tính bền vững cũng nằm trọn vẹn trong chữ Lagom.

Câu tục ngữ cổ điển của Thụy Điển, “Lagom är bäst”, nghĩa đen là, “Lượng vừa đủ là tốt nhứt” nhưng cũng được dịch là “Đủ tốt như một bữa lễ lạc” và “Có đức có chừng mực”.Enough is as good as a feast” and “There is virtue in moderation”.

Đến đây, chắc bạn đang tập thể dục Lagom về nhiều mặt trong cuộc sống của bạn rồi.

Nếu có một chữ để định nghĩa cuộc sống hiện đại của chúng ta ngày nay, thì đó chính là thừa thãi. Chúng ta đang sở hữu quá nhiều thứ, thậm chí cả những thứ chúng ta chẳng bao giờ cần đến. Bên cạnh đó, suy nghĩ về một cuộc sống hoàn hảo vô hình đã tạo ra cho chúng ta quá nhiều áp lực.

  •         Bạn đã bao giờ ngắm nghía cuộc sống của một người hoàn toàn lạ trên Facebook, Instagram và rồi ao ước rằng mình cũng như họ?
  •         Bạn đã bao giờ mua những bộ áo đắt tiền nhưng rồi để chúng trong tủ quần áo đến cả năm trời không mặc lấy một lần?
  •         Bạn đã bao giờ cảm thấy quá mệt mỏi với việc chạy đua theo chủ nghĩa vật chất, để lấp đầy cuộc sống của bản thân trong khi tâm hồn thì lại thiếu thốn?

Đây là lúc bạn cần biết đến Lagom, bí quyết sống hạnh phúc của người Thụy Điển. Đối với người Thụy Điển, Lagom là một lối sống, một thói quen của tâm trí. “Có một tư duy bên trong về sự chấp nhận và hài lòng ở Thụy Điển. Đó là một phần của bí quyết để trở nên hạnh phúc và đừng ám ảnh về điều đó. Triết lý của Lagom rất đơn giản và cung cấp một giải pháp thay thế cho ý tưởng “luôn tìm kiếm điều tốt nhất tiếp theo”. Khái niệm này khuyến khích sự cân bằng tổng thể trong cuộc sống của chúng ta, nghĩa là mọi thứ ở mức độ vừa phải. Nó đối lập với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu dùng. Người Thụy Điển, đa số có một cuộc sống cân bằng. Họ làm việc chăm chỉ nhưng không để công việc hủy hoại gia đình. Họ tiêu dùng hợp lý nhưng không phung phí. Họ nghỉ ngơi đầy đủ nhưng không buông thả. Họ hưởng thụ cuộc sống nhưng không lệ thuộc vào vật chất.

Lagom phản ánh một nền văn hóa coi trọng sự điều độ và trách nhiệm xã hội. Người Thụy Điển thường tránh sự phô trương, ngay cả những người thành đạt cũng ít khi khoe khoang tài sản hay địa vị. Vì họ tin rằng giá trị của con người không nằm ở những gì sở hữu mà ở cách sống và những đóng góp cho cộng đồng.

Trong lĩnh vực môi trường, Lagom cũng có ý nghĩa đặc biệt. Một xã hội biết sống vừa đủ sẽ giảm thiểu việc tiêu thụ không cần thiết; giảm lượng rác thải; giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên; và tăng tính bền vững cho/vì các thế hệ tương lai.

Nói cách khác, Lagom không chỉ là một triết lý cá nhân mà còn là một triết lý phát triển xã hội nghiêm chỉnh nhứt.

3- Wabi-sabi – Vẻ đẹp của sự bất toàn

Wabi sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén.

Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh.

Các chén cổ trong phòng khách của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng” những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn của chúng ta?

Wabi-Sabi (侘 寂), một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu như là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ. Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!

Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…Và, để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.

Thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa?

Do đó, sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra.

Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì?

Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo!

Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời, thì cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện như thể nó là hoàn hảo. Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản tối thiểu để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ mà còn là những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.

4- Tri túc – Trí tuệ của sự biết đủ

Tri túc (知足) trong Phật giáo có nghĩa là biết đủ. Đây là trạng thái hài lòng, an vui với những gì mình đang có trong hiện tại, nỗ lực làm việc chân chính nhưng không để tâm tham đắm, mong cầu vượt quá giới hạn gây ra phiền não. Tri túc không có nghĩa là thụ động, lười biếng hay từ bỏ mọi mục tiêu tranh đấu. Trái lại, đây là phương thức làm chủ tâm trí, bảo vệ con người khỏi vòng xoáy của lòng tham và sự bất mãn.

Nếu Lagom nói về sự cân bằng và Wabi-sabi nói về sự chấp nhận, thì Tri túc trong Phật giáo nói về sự giải phóng nội tâm. Trong kinh điển Phật giáo có câu:“Tri túc giả phú”, tứcNgười biết đủ là người giàu có”. Đây là một trong những định nghĩa sâu sắc nhất về sự giàu có. Thông thường, xã hội đánh giá sự giàu có bằng tài sản, nhưng Phật giáo đánh giá bằng mức độ tự do và thoát khỏi lòng tham. Một người sở hữu hàng tỷ đô la nhưng luôn bất an vẫn là người nghèo về tinh thần, nhưng, ngược lại, một người sống giản dị nhưng thanh thản có thể là người giàu có thực sự. Từ đó, tri túc không phải là thái độ an phận hay từ bỏ mọi nỗ lực.

Đức Phật không khuyến khích con người lười biếng. Ngài chỉ nhắc rằng, mọi ham muốn đều cần có giới hạn, và khi lòng tham trở thành động lực chính của đời sống, con người sẽ không bao giờ cảm thấy đủ. Và khi không bao giờ cảm thấy đủ, hạnh phúc sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm tay. Vì vậy, tri túc là nghệ thuật nhận ra giá trị của những gì mình đang có.

Đó là nền tảng của lòng biết ơn, của sự bình an và của tự do nội tâm.

5-    Những điểm tương đồng giữa ba triết lý

Dù xuất phát từ ba hoàn cảnh văn hóa khác nhau, Lagom, Wabi-sabi và Tri túc có nhiều điểm gặp gỡ và trùng hợp, cùng bổ túc lẫn nhau đáng kinh ngạc. Cả ba đều không khuyến khích sự thái quá, đề cao sự giản dị, tôn trọng thiên nhiên và nuôi dưỡng lòng nhân ái. Về việc không khuyến khích sự thái quá. Lagom phản đối việc tiêu dùng quá mức. Wabi-sabi phản đối sự theo đuổi hoàn hảo tuyệt đối. Tri túc phản đối lòng tham vô hạn. Tất cả đều hướng con người về sự quân bình.

Về việc đề cao sự giản dị, trong một thế giới ngày càng phức tạp, cả ba triết lý đều khẳng quyết rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở số lượng mà nằm ở chiều sâu, thà ít hơn nhưng ý nghĩa hơn, thà đơn giản hơn nhưng nhân bản hơn.

Về việc tôn trọng thiên nhiên, Lagom hướng đến sự tiêu dùng bền vững, Wabi-sabi tìm thấy vẻ đẹp trong những chu kỳ tự nhiên của trời đất, và Tri túc khuyến khích giảm thiểu lòng tham đối với tài nguyên vật chất. Đây chính là những giá trị cần thiết cho việc bảo vệ môi trường trong thế kỷ XXI.

Về việc nuôi dưỡng lòng nhân ái, rõ ràng, người biết đủ thường ít ganh đua hơn (Tri túc), người chấp nhận bất toàn thường khoan dung hơn (Wabi-sabi), và người sống cân bằng thường dễ cảm thông hơn (Lagom).

Tóm lại, ba triết lý này đều góp phần xây dựng một xã hội nhân ái và hòa hợp.

6- Ý nghĩa đối với Việt Nam

Những triết lý lớn chỉ có giá trị khi chúng góp phần làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là những khái niệm để trưng bày trong sách vở hay giảng đường. Chúng có thể trở thành những nguyên tắc thực tiễn giúp chúng ta định hướng được sự phát triển của xã hội trong tương lai.

Việt Nam đang ở một giai đoạn phát triển đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức. Trong nhiều thập niên qua, đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế; tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy là nhiều vấn đề đáng suy nghĩ và cần đặt lại, như tình trạng ô nhiễm môi trường, việc khai thác tài nguyên quá mức. Về giáo dục, chương trình học tập, áp lực học sinh, bệnh thành tích, cùng việc chạy theo chỉ tiêu là những vấn nạn căn bản cần xét lại. Sự xuống cấp của các giá trị đạo đức trong xã hội cùng tâm lý sính vật chất ngày càng làm cho xã hội thoái hóa thêm ra. Và sau cùng, nguy hại tiềm ẩn nhứt là tình trạng căng thẳng và lo âu trong giới trẻ trước tương lai.

Những hiện tượng này cho thấy tăng trưởng kinh tế, dù cần thiết, không thể là mục tiêu duy nhất cho việc phát triển quốc gia. Một quốc gia muốn phát triển bền vững cần phải có một nền tảng văn hóa và đạo đức vững chắc. Lagom có thể giúp hình thành một nền văn hóa tiêu dùng có trách nhiệm; Wabi-sabi có thể giúp con người trân trọng bản sắc dân tộc và vẻ đẹp của những giá trị truyền thống; và Tri túc có thể giúp hạn chế lòng tham và củng cố tinh thần phụng sự cộng đồng.

Đó không phải là sự quay lưng với hiện đại hóa. Ngược lại, đó là cách làm cho hiện đại hóa trở nên nhân bản và đạo đức hơn. Đối với Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt.

Về môi trường: Biết đủ để thiên nhiên được hồi phục. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhân loại đã khai thác thiên nhiên với tốc độ chưa từng có. Rừng bị tàn phá. Nguồn nước bị ô nhiễm. Đất đai bị thoái hóa. Biển cả bị khai thác quá mức. Nguyên nhân sâu xa không phải do khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân nằm ở lòng tham không có giới hạn. Con người luôn muốn nhiều hơn, nhiều gỗ hơn, nhiều khoáng sản hơn, nhiều năng lượng hơn, nhiều lợi nhuận hơn. Trong tình trạng đó, Lagom và Tri túc đưa ra một bài học quan trọng:  

  •         Thiên nhiên không cần con người cứu giúp.
  •         Thiên nhiên chỉ cần con người ngừng phá hoại.

Một xã hội biết đủ sẽ giảm tiêu thụ không cần thiết. Một nền kinh tế biết đủ sẽ khai thác tài nguyên trong giới hạn tái tạo. Một quốc gia biết đủ sẽ đặt quyền lợi của các thế hệ tương lai ngang hàng với lợi ích trước mắt. Có lẽ trong thế kỷ XXI, khẩu hiệu phát triển cần được thay đổi. Không phải: “Phát triển bằng mọi giá.” Mà là: “Phát triển trong giới hạn của thiên nhiên.”

Đối với nền giáo dục hiện đại thường tập trung vào kiến thức và kỹ năng. Giáo dục ở Việt Nam hiện nay chánh yếu dạy học sinh nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau, ít khi dạy các em cách sống hạnh phúc. Người trẻ sau khi tốt nghiệp, được học đủ mọi cách cách kiếm tiền dù lương thiện hay không lương thiện. Tuổi trẻ cố gắng học những phương cách thành công ngoài xã hội nhưng không được học (hay không muốn học) cách đối diện với sự thất bại! Do đó, một nền giáo dục tương lai cần bổ túc thêm những giá trị đạo đức và triết học nhân sinh. Học sinh, sinh viên cần hiểu rằng, không ai hoàn hảo, không ai chiến thắng mãi mãi, không ai sở hữu mọi thứ mình muốn. Trái lại, ai cũng có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa. Một khi biết đủ, con người sẽ bớt ganh đua. Một khi chấp nhận bất toàn, con người sẽ bớt tự ti. Một khi sống cân bằng, con người sẽ bớt kiệt sức. Đó là những bài học quan trọng không kém toán học hay khoa học kỹ thuật.

Điều đó rất cần thiết, nhưng chưa đủ. Một học sinh có thể giỏi toán có thể giỏi khoa học, có thể giỏi công nghệ, nhưng vẫn có thể trở thành một người ích kỷ, tham lam hoặc vô cảm. Do đó, giáo dục tương lai phải đặt lại câu hỏi:”Mục đích cuối cùng của giáo dục là gì?” Nếu câu trả lời chỉ là tạo ra nguồn nhân lực thì giáo dục đã thất bại. Giáo dục phải đào tạo những con người có trách nhiệm với xã hội và với môi trường.

  •         Tinh thần Lagom có thể dạy học sinh biết sống cân bằng.
  •         Wabi-sabi giúp các em chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân và của người khác.
  •         Tri túc giúp các em hiểu rằng giá trị con người không được đo bằng tiền bạc hay địa vị.

Một nền giáo dục như thế sẽ tạo ra những công dân trưởng thành chứ không chỉ những người lao động có kỹ năng.

Về y tế, ngày nay, nhiều căn bệnh phổ biến không chỉ xuất phát từ vi khuẩn hay virus. Chúng bắt nguồn từ lối sống, cung cách ăn uống, và tâm lý buông thả. Từ đó sinh ra bịnh béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, bị áp lực (stress), trầm cảm, tâm lý lo âu kéo dài. Những chứng bệnh ấy thường liên quan đến nhịp sống quá nhanh, áp lực quá lớn và những ham muốn không có điểm dừng. Và trong lãnh vực nầy:

  •         Lagom khuyến khích một lối sống điều độ là làm việc vừa phải, ăn uống hợp lý, và nghỉ ngơi đầy đủ.
  •         Wabi-sabi giúp con người chấp nhận quá trình lão hóa tự nhiên thay vì sống trong nỗi ám ảnh phải trẻ mãi.
  •         Tri túc giúp giảm bớt những căng thẳng phát sinh từ sự so sánh và cạnh tranh không ngừng.

Vì vậy, một hệ thống y tế tiến bộ không chỉ chữa bệnh khi bệnh đã xuất hiện, mà còn cần đề phòng bịnh nữa. Nó còn giúp xây dựng những điều kiện xã hội để con người sống khỏe mạnh ngay từ đầu.

7-. Một nền văn minh của lòng biết đủ

Có thể nói rằng phần lớn các cuộc khủng hoảng hiện nay trên thế giới đều bắt nguồn từ một nguyên nhân chung cho nhân loại rằng con người muốn nhiều hơn mức cần thiết, muốn tiêu thụ nhiều hơn, muốn khai thác nhiều hơn, muốn thống trị nhiều hơn, muốn sở hữu nhiều hơn. Nhưng Trái Đất có giới hạn, Tài nguyên có giới hạn, và Tuổi thọ cũng có giới hạn. Và ngay cả cuộc đời con người cũng có giới hạn! Do đó, một nền văn minh bền vững không thể được xây dựng trên những ham muốn vô hạn. Một nền văn minh bề vững phải được xây dựng trên ý thức về giới hạn. Ý thức ấy chính là điểm gặp nhau của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc.

7-    Thay lời kết

Lagom của Thụy Điển dạy chúng ta nghệ thuật sống vừa đủ. Wabi-sabi của Nhật Bản dạy chúng ta vẻ đẹp của sự bất toàn. Tri túc của Phật giáo dạy chúng ta sự tự do tránh khỏi lòng tham. Ba triết lý ấy không phải là những học thuyết kinh tế hay những chương trình chính trị. Chúng là những lời nhắc nhở sâu sắc về thân phận con người.

Trong một thế giới mà mọi người đều muốn tiến nhanh hơn, sở hữu nhiều hơn và tiêu thụ nhiều hơn, các triết lý ấy nhắc chúng ta dừng lại để tự hỏi chính mính:

Ta đang sống vì điều gì?

Ta cần bao nhiêu là đủ?

Điều gì thực sự tạo nên hạnh phúc?

Có lẽ câu trả lời không nằm trong những tòa nhà cao hơn, những chiếc máy hiện đại hơn hay những tài khoản ngân hàng lớn hơn. Mà câu trả lời nằm trong khả năng sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Một con người biết đủ sẽ có bình an. Một xã hội biết đủ sẽ có công bằng. Một nền văn minh biết đủ sẽ có tương lai. Đó có lẽ là thông điệp quý giá nhất mà Lagom, Wabi-sabi và Tri túc gửi đến nhân loại trong thế kỷ XXI.

Từ “phát triển bằng mọi giá” đến “phát triển có giới hạn và có lương tri”. Nếu cần phải tóm tắt ba triết lý này trong ba động từ, có thể nói:”Lagom chỉ cho ta biết giới hạn. Wabi-sabi chỉ cho ta biết chấp nhận. Tri túc chỉ cho ta biết buông bỏ”. Ba bài học ấy tưởng chừng như giản dị, nhưng chính sự giản dị đó lại là điều mà nền văn minh hiện đại đang bị đánh mất. Chúng ta đã học cách khai thác thiên nhiên, nhưng chưa học đủ các phương cách phải dừng lại trước khi thiên nhiên bị thoái hóa và biến thành sa mạc hóa. Chúng ta đã học cách cạnh tranh để thành công, nhưng chưa học đủ cách sống tử tế để không hủy hoại nhau. Chúng ta đã học cách sản xuất nhiều hơn, nhưng chưa học đủ cách nhận ra điều gì là đủ, là điểm tới hạn (threshold limit) nào để dừng lại trước khi quá muộn.

 Vấn đề của thế kỷ XXI không còn là sự khiếm khuyết về năng lực khoa học kỹ thuật. Vấn đề chánh yếu vẫn là thiếu giới hạn đạo đức đối với việc sử dụng năng lực ấy. Không có trí tuệ nào đủ lớn để bù cho một lòng tham không giới hạn của một cá nhân hay một tập thể lãnh đạo quốc gia. Không có tăng trưởng nào đủ nhanh để cứu một xã hội đánh mất niềm tin và lòng nhân ái. Không có công nghệ nào đủ hiện đại để thay thế một nền đạo đức biết tự kiềm chế.

 Vì vậy, bài học sâu xa nhất của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là sống ít đi, nghèo đi hay chậm lại một cách cực đoan. Bài học ấy chính là con người phải học cách đặt giới hạn cho sự ham muốn của mình trước khi những điều kể trên đạt tới giới hạn của thiên nhiên, của xã hội và của chính sự sống bị áp đặt bằng những khủng hoảng nội tâm. Đối với Việt Nam, điều cần thiết không chỉ là một nền kinh tế mạnh hơn, mà là:

         Một nền kinh tế biết tự giới hạn trong khuôn khổ sinh thái;

  •         Không chỉ là một hệ thống giáo dục cạnh tranh hơn, mà là một nền giáo dục dạy lòng biết đủ và trách nhiệm công dân;
  •         Không chỉ là một nền y tế chữa được nhiều bệnh hơn, mà còn là một xã hội tạo ra ít nguyên nhân gây bệnh hơn;
  •         Không chỉ là những đô thị lớn hơn, mà còn là những cộng đồng đáng sống hơn. (Mời đọc “Việt Nam Tương Lai. Tập I và II của cùng tác giả. Xuất bản năm 2014).

Một dân tộc biết đủ sẽ khó bị lôi kéo vào những cuộc chạy đua nhằm hủy hoại chính đất nước mình. Một dân tộc biết chấp nhận sự bất toàn sẽ khoan dung hơn với sự khác biệt và mạnh mẽ hơn trước những biến động. Một dân tộc biết tự giới hạn lòng tham sẽ có cơ hội phát triển bền vững mà không phải trả giá bằng môi trường, sức khỏe và phẩm giá của con người. 

Trong nhiều thế kỷ, nhân loại đã đặt câu hỏi: “Làm sao để mạnh hơn?” Có lẽ câu hỏi của thời đại mới phải là: “Làm sao để mạnh mà không tự hủy diệt mình?” Nếu không học được bài học ấy, mọi thành tựu vật chất cuối cùng có thể chỉ là những công trình xây trên nền đất đang lún. Nếu học được bài học ấy, nhân loại vẫn còn cơ hội xây dựng một nền văn minh mà ở đó phát triển không đối nghịch với đạo đức, giàu có không đồng nghĩa với tham lam, và tiến bộ không phải trả giá bằng tương lai của những thế hệ chưa sinh ra. Đó không chỉ là một lựa chọn triết học. Đó là một lựa chọn sinh tồn.

 Và Việt Nam, chắc chắn sẽ không có sự lựa chọn nào khác nữa! 

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Mùa Phật đản 2026 –  Wednesday, June 17, 2026


 

RỒI RA SẼ THẾ NÀO? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây? Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em!”.

“Thiên Chúa sử dụng bạn để trở thành một ai đó mà bạn không bao giờ có thể tự mình trở thành!” – Philip C. Brewer.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không biết ‘rồi ra sẽ thế nào?’”, đó cũng là điều họ hàng của Zacharia – Êlisabeth tự hỏi về Gioan; và có lẽ, mỗi người cũng từng âm thầm tự hỏi điều ấy về chính mình.

Một em bé chào đời là cách Thiên Chúa nói với thế giới rằng, “Nó sẽ tiếp tục!”. Mỗi sự sống mới là một phóng chiếu của Thiên Chúa đã mang lấy hình hài. Một đôi hiếm muộn ‘mong mỏi’ nó; Thiên Chúa thì ‘khát khao’ nó! Với bất cứ một sinh linh nào, chúng ta đều tin như vậy, phương chi đối với vị Tiền Hô của Con Thiên Chúa! “Gioan” – Yôhanan – nghĩa là “Đức Chúa đã thi ân”. Trước khi Gioan làm bất cứ điều gì cho Đấng Cứu Thế, chính tên của ông đã là một Tin Mừng.

“Rồi ra sẽ thế nào?” là câu hỏi của con người; “Ta muốn nó trở thành ai?” mới là câu hỏi của Thiên Chúa. Chúng ta thường lo về tương lai; Thiên Chúa lại chăm sóc một ơn gọi. Vì thế, “có bàn tay Chúa phù hộ em” không chỉ nói đến sự che chở, nhưng nói đến một bàn tay đang nhào nặn. Điều quan trọng nhất nơi một con người không phải là điều họ sẽ làm, nhưng là con người họ được mời gọi trở nên. “Gioan được thánh hoá từ dạ mẹ!” – Tôma Aquinô; “Gioan đầy Thánh Thần trong lòng mẹ!” – Luca.

Như vậy, Gioan đã có một tên gọi trước khi có một cuộc đời. Được sinh ra đã là một huyền nhiệm; được gọi tên là một ân ban; được sai đi lại là một huyền nhiệm lớn hơn. Isaia xác tín, “Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ!” – bài đọc một. Những lời ấy ứng nghiệm cách sung mãn nơi Chúa Giêsu, cách đặc biệt nơi Gioan và, theo một nghĩa nào đó, nơi mỗi người chúng ta. Phaolô xác nhận, “Để dọn đường cho Người, ông Gioan đã rao giảng” – bài đọc hai. Trước mầu nhiệm được dựng nên và được sai đi ấy, Thánh Vịnh đáp ca cất cao lời tri ân, “Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng!”.

Ân sủng Bí tích Rửa Tội nhắc chúng ta rằng: trước khi thuộc về bất cứ ai, chúng ta đã thuộc về Thiên Chúa; trước khi chọn một con đường, chúng ta đã được Ngài biết đến và sai đi. “Bạn không phải là một sự tình cờ. Bạn được Chúa muốn, được Chúa biết và được Chúa yêu!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Gioan sinh ra không để người khác dừng lại nơi mình, nhưng để dẫn họ đến với Đức Kitô. Tên Giêsu – Iēsous, trong Hy Lạp – có nghĩa là “Đức Chúa cứu”. Ngài đến không chỉ để cứu chúng ta khỏi tội lỗi, nhưng còn để mặc khải chúng ta là ai trước mặt Thiên Chúa. Chỉ nơi Đức Giêsu, câu hỏi ‘Rồi ra sẽ thế nào?’ của mỗi người mới tìm được câu trả lời sau cùng: chúng ta được dựng nên để được cứu độ, để cộng tác vào công trình cứu độ của Ngài và để nên thánh. “Hãy trở nên con người Chúa muốn bạn trở thành, và bạn sẽ làm bừng cháy cả thế giới!” – Catarina Siêna.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con phụ lòng Chúa khi không đáp lại điều Chúa hằng ước mong nơi con từ muôn đời!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************

LỜI CHÚA,  SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ 

24/6, Thứ Tư, Tuần XII

Tên cháu là Gio-an.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.    Lc 1,57-66.80

57 Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Ê-li-sa-bét sinh hạ một con trai. 58 Nghe biết Chúa đã quá thương bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.

59 Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Da-ca-ri-a mà đặt cho em. 60 Nhưng bà mẹ lên tiếng nói : “Không! Phải đặt tên cháu là Gio-an.” 61 Họ bảo bà : “Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả.” 62 Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. 63 Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết : “Tên cháu là Gio-an.” Ai nấy đều bỡ ngỡ. 64 Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa. 65 Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giu-đê. 66 Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi : “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây ?” Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

80 Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.


 

NGÀY TÔI QUA ĐỜI – Lm. Anmai, CSsR 

KHẢ TÂMChuyện tuổi Xế Chiều

NGÀY TÔI QUA ĐỜI – Lm. Anmai, CSsR 

Vào ngày tôi qua đời, rất nhiều điều sẽ xảy ra, rất nhiều thay đổi sẽ diễn ra và thế giới sẽ bận rộn như thường lệ, như thể không có gì thực sự quan trọng đã mất đi. Mọi người vẫn thức dậy vào buổi sáng, pha cà phê, chen chúc trên đường phố, cười đùa với bạn bè, lo lắng về hóa đơn, mơ mộng về kỳ nghỉ sắp tới. Cuộc sống vẫn tiếp diễn với nhịp độ hối hả quen thuộc, không dừng lại để thương tiếc một cá nhân nào đó quá lâu. Nhưng đối với tôi, mọi thứ sẽ kết thúc vĩnh viễn. Đó là ngày mà tôi không còn hiện diện, không còn tham gia vào dòng chảy của thế gian nữa. Và khi suy ngẫm về ngày ấy, tôi nhận ra rằng cuộc đời này ngắn ngủi biết bao, mong manh biết bao, và chúng ta thường lãng phí nó vào những điều phù phiếm, những thứ mà cuối cùng chẳng mang theo được gì.

Vào ngày tôi qua đời, tất cả những cuộc hẹn hò tôi đã lên lịch sẽ không có tôi nữa. Những buổi cà phê với bạn bè cũ, những cuộc gặp gỡ đối tác kinh doanh, những buổi hẹn lãng mạn mà tôi từng háo hức chờ đợi, tất cả sẽ bị hủy bỏ hoặc diễn ra trong sự thiếu vắng đột ngột. Không ai còn chờ tôi xuất hiện với nụ cười quen thuộc, không ai còn nhắn tin hỏi han xem tôi có đến muộn không. Những kế hoạch tôi đã vạch ra cẩn thận, từ những chuyến du lịch mơ ước đến những mục tiêu dài hạn trong sự nghiệp, sẽ mãi mãi dang dở. Chúng sẽ nằm im lìm trong cuốn sổ tay, trên ứng dụng lịch điện tử, hoặc trong trí nhớ của những người thân cận, như những lời nhắc nhở thầm lặng về một cuộc đời bị cắt ngang giữa chừng. Lịch công việc của tôi sẽ chẳng còn liên quan chút nào đến tôi nữa. Những cuộc họp đang chờ đợi, những dự án đang sôi sục, những trách nhiệm tôi từng gánh vác với tất cả nhiệt huyết, sẽ được chuyển giao cho người khác một cách vội vã, hoặc đơn giản là bị đẩy sang một bên, rồi dần bị lãng quên theo dòng thời gian.

Tất cả những giá trị vật chất tôi đã theo đuổi và gìn giữ suốt bao năm sẽ rơi vào tay của những người khác để họ chăm lo hoặc vứt bỏ mà không chút do dự. Ngôi nhà mà tôi đã dành bao công sức trang trí, sửa chữa, biến nó thành tổ ấm, sẽ thuộc về người thừa kế hoặc bị bán đi cho người lạ. Chiếc xe hơi mà tôi tự hào lái, những món đồ xa xỉ tôi tích cóp mua sắm, bộ sưu tập sách hay quần áo mà tôi trân trọng, tất cả sẽ được phân chia, tặng đi, hoặc nằm phủ bụi trong góc nhà. Tôi từng lo lắng ngày đêm về tiền bạc, về việc đầu tư thông minh, về việc bảo vệ tài sản để đảm bảo một tương lai an toàn cho bản thân và gia đình. Tôi đã hy sinh bao giấc ngủ, bao khoảnh khắc vui vẻ để tích lũy, để mở rộng. Nhưng vào ngày ấy, chúng chẳng còn ý nghĩa gì với tôi nữa. Chúng chỉ là những thứ vô tri vô giác, không thể mang theo khi bước qua ngưỡng cửa cuối cùng. Tiền bạc, nhà cửa, của cải – tất cả chỉ là ảo mộng mà con người tự tạo ra để trấn an bản thân trong cuộc sống tạm bợ này.

Những lời chỉ trích từng đè nặng tâm trí tôi sẽ không còn ám ảnh tôi nữa. Những lời nói cay nghiệt từ đồng nghiệp, những đánh giá khắc nghiệt từ xã hội, những lời thì thầm sau lưng mà tôi từng nghe ngóng và đau đớn, tất cả sẽ tan biến như khói. Không ai còn có thể đụng chạm đến tôi bằng lời lẽ hay hành động, không ai còn có thể làm tổn thương trái tim tôi thêm lần nào. Tôi sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi những gánh nặng vô hình ấy, khỏi sự phán xét không ngừng nghỉ của thế gian. Những cuộc tranh luận tôi từng giành chiến thắng, những lần tôi kiên trì chứng minh mình đúng trước đám đông, cũng chẳng còn có thể phục vụ tôi hoặc an ủi, giúp tôi hài lòng nữa. Sự tự hào về những chiến thắng nhỏ nhen ấy sẽ trở nên vô ích, như những huy chương bụi bặm trên kệ sách. Và những điều tiếc nuối của tôi chỉ còn là quá khứ xa xôi, với những câu bắt đầu bằng “lẽ ra…”. Lẽ ra tôi đã dành nhiều thời gian hơn bên cha mẹ già yếu, lẽ ra tôi đã gọi điện cho người bạn cũ ấy thường xuyên hơn, lẽ ra tôi đã dũng cảm theo đuổi đam mê thay vì chọn con đường an toàn, lẽ ra tôi đã tha thứ cho những lỗi lầm nhỏ nhặt để trái tim nhẹ nhàng hơn.

Hình ảnh mà tôi đã mất công gìn giữ suốt bao năm, hình ảnh tôi đã cố gắng hết sức để người khác nhìn thấy và công nhận, cũng không còn ý nghĩa gì nữa. Tôi từng chăm chút ngoại hình, chọn quần áo phù hợp với địa vị, nói năng khéo léo để tạo ấn tượng tốt, xây dựng một vỏ bọc hoàn hảo che đậy những nỗi bất an bên trong. Tôi lo lắng về cách người khác nghĩ về mình, về việc duy trì hình ảnh thành công, hạnh phúc, mạnh mẽ. Nhưng vào ngày ấy, hình ảnh ấy sẽ phai mờ nhanh chóng. Danh tiếng mà tôi đã vật vã để tạo ra và duy trì sẽ chẳng còn tác dụng gì với tôi nữa. Những lời khen ngợi từ đám đông, những chức vụ cao sang, những bài báo ca tụng, tất cả sẽ thuộc về quá khứ. Người ta có thể nhắc đến tôi một thời gian ngắn ngủi, trong những câu chuyện phiếm hoặc bài điếu văn, nhưng rồi cuộc sống sẽ cuốn họ đi, và tên tuổi tôi sẽ dần chìm vào quên lãng, như bao nhiêu con người khác đã từng tồn tại trên đời này.

Tất cả những nỗi lo lắng trong cuộc sống đã lấy đi của tôi biết bao đêm ngủ ngon bây giờ chẳng còn khiến tôi mệt mỏi nữa. Những lo âu về sức khỏe suy giảm theo tuổi tác, về tiền bạc thiếu thốn trong tương lai, về con cái trưởng thành ra sao, về những rủi ro bất ngờ từ công việc hay mối quan hệ, chúng từng khiến tôi trằn trọc, nằm thao thức đến sáng. Tôi đã dành bao năng lượng để suy nghĩ, lập kế hoạch đối phó, tìm cách kiểm soát mọi thứ. Nhưng khi nhắm mắt xuôi tay, mọi lo lắng ấy sẽ tan biến hoàn toàn, như chưa từng tồn tại. Những điều bí ẩn liên quan đến cuộc sống và cái chết, vốn đã từng choán hết tâm trí tôi, những câu hỏi triết lý về ý nghĩa của sự tồn tại, về linh hồn đi đâu sau khi rời xác thân, về có hay không một thế giới bên kia, bây giờ đã trở nên hết sức sáng tỏ. Tôi từng sợ hãi cái chết, từng đọc sách, tìm kiếm câu trả lời từ tôn giáo, triết học, khoa học. Nhưng vào khoảnh khắc ấy, tất cả sẽ rõ ràng, không còn bí ẩn nữa. Tất cả những điều ấy trở nên thực tế một cách giản đơn vào ngày tôi qua đời.

Cuộc đời con người thật kỳ lạ và mâu thuẫn. Chúng ta dành phần lớn thời gian để chạy theo những thứ phù phiếm, để xây dựng những thứ sẽ tan vỡ theo thời gian một cách không thương tiếc. Chúng ta bận rộn với sự nghiệp, với việc thăng tiến, với việc chứng minh giá trị bản thân trước thế giới rộng lớn. Chúng ta tích lũy của cải, đuổi theo danh vọng, cạnh tranh không ngừng nghỉ, và quên mất rằng mọi thứ đều có hạn kỳ rõ ràng. Cái chết không phải là một kết thúc đáng sợ nhất, mà là lời nhắc nhở mạnh mẽ nhất, sắc bén nhất về giá trị thực sự của cuộc sống. Nó dạy chúng ta rằng thời gian là tài sản quý giá nhất mà chúng ta sở hữu, và chúng ta không nên lãng phí nó vào những pursuit vô bổ, những mối hận thù nhỏ nhen, những lo toan không đáng.

Nhưng dù rất nhiều điều sẽ xảy ra hôm đó, dù thế giới thay đổi ở vô số khía cạnh nhỏ bé liên quan đến tôi, có một điều chắc chắn sẽ xảy ra, một điều chân thực và sâu sắc nhất. Vào ngày tôi chết, sẽ chỉ có vài người thực sự hiểu và yêu thương tiếc tôi một cách chân thành. Họ sẽ cảm thấy sự trống vắng sâu thẳm trong lòng, như một khoảng tối đột ngột bao trùm lấy cuộc sống hàng ngày. Họ sẽ cảm thấy bị cuộc đời lừa dối, như thể mọi kế hoạch tương lai chung đột nhiên bị xé toạc. Họ chưa cảm thấy sẵn sàng để tiễn đưa tôi, chưa chuẩn bị tâm lý cho sự chia ly vĩnh viễn ấy. Họ sẽ cảm thấy một phần trong họ cũng chết đi theo tôi, vì những kỷ niệm chung, những tình cảm sâu đậm đã gắn kết chúng ta. Đó không phải là đám đông giả tạo, không phải những lời chia buồn xã giao từ xa xôi, mà chỉ vài người thực sự gần gũi, những người đã chia sẻ với tôi những khoảnh khắc chân thực nhất của cuộc đời: những bữa ăn gia đình, những cuộc trò chuyện đêm khuya, những lúc vui buồn bên nhau.

Tôi biết điều này từ chính những người tôi đã yêu mến và khóc thương khi họ qua đời. Khi mất đi một người thân yêu, nỗi đau không phải là những lời an ủi suông, mà là khoảng trống không thể lấp đầy trong trái tim. Là những thói quen hàng ngày đột ngột thiếu vắng, những câu nói đùa quen thuộc không còn ai đáp lại, những kỷ niệm ùa về khiến nước mắt lặng lẽ rơi trong đêm tối. Tôi đã trải qua nỗi đau ấy nhiều lần, và chính từ đó, tôi nhận ra rằng tình yêu thực sự, sự kết nối chân thành với con người là thứ duy nhất còn lại sau cái chết, là thứ duy nhất mang ý nghĩa trường tồn.

Và vì hiểu điều ấy một cách sâu sắc, trong khi đang còn sống, còn hơi thở, tôi sẽ cố gắng ghi nhớ rằng thời gian trên đời của tôi là có hạn và trôi rất nhanh, rằng mỗi ngày trôi qua là một ngày không bao giờ trở lại. Thời gian rất đáng quý, quý hơn vàng bạc, quý hơn bất kỳ của cải nào. Tôi sẽ làm tất cả để không lãng phí phần đời còn lại của mình vào những điều vô ích. Tôi sẽ ưu tiên những khoảnh khắc bên người thân yêu, những cái ôm ấm áp không cần lý do, những lời nói yêu thương được thốt ra kịp thời. Tôi sẽ không để công việc hay tiền bạc chi phối hoàn toàn cuộc sống, không để sự theo đuổi danh vọng làm mờ mắt trước những điều giản dị đẹp đẽ. Tôi sẽ học cách buông bỏ những lo lắng vô ích, những hận thù nhỏ nhen, những tranh chấp không đáng để giữ lấy sự bình an nội tâm.

Đừng bỏ lỡ cơ hội để nhảy với người yêu thương khi bạn còn có thể, khi cơ thể còn khỏe mạnh, khi trái tim còn rung động. Hãy tưởng tượng những buổi tối gia đình quây quần, tiếng nhạc vang lên rộn ràng, mọi người cùng nhảy múa tự do, cười đùa mà không ngại ngùng về tuổi tác hay hình thức. Những khoảnh khắc ấy mới là hạnh phúc thực sự, là những viên ngọc quý mà cuộc đời ban tặng. Chẳng có gì dễ hơn việc lãng phí ánh sáng ban ngày trong những ngày trước khi bạn chết. Chúng ta thường dành thời gian cho màn hình điện thoại, cho mạng xã hội ảo, cho những cuộc trò chuyện vô bổ, cho những công việc lặp lại nhàm chán, mà quên mất rằng cuộc đời đang trôi qua từng giây từng phút, không chờ đợi ai.

Đừng để những điều bạn cho là quan trọng đánh cắp cuộc đời của bạn hàng ngày, bởi vào ngày bạn chết, những điều ấy chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Sự nghiệp thành công rực rỡ, tài sản đồ sộ tích lũy, danh tiếng lẫy lừng vang xa – tất cả sẽ trở nên vô nghĩa, như bụi tro bay theo gió. Chỉ có tình yêu chân thành, sự kết nối sâu sắc với con người, những kỷ niệm đẹp đẽ được xây dựng từ những điều nhỏ bé mới trường tồn trong lòng những người ở lại, và có lẽ, trong một chiều kích nào đó mà chúng ta chưa biết.

Phải, một ngày nào đó tôi và bạn sẽ chết. Đó là sự thật không thể tránh khỏi, là quy luật bất biến của tạo hóa, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, thông minh hay bình thường. Không ai thoát khỏi vòng luân hồi ấy. Nhưng trước khi ngày đó đến, chúng ta hãy sống. Hãy sống trọn vẹn từng khoảnh khắc, hãy yêu thương hết mình mà không tính toán, hãy tha thứ cho những vết thương cũ để trái tim nhẹ nhàng, hãy buông bỏ những gánh nặng không cần thiết. Hãy dành thời gian cho những điều thực sự quan trọng: gia đình quây quần, bạn bè chân thành, những đam mê cháy bỏng, và sự bình an nội tâm sâu lắng.

Hãy nghĩ về cái chết không phải để sợ hãi hay trốn tránh, mà để sống tốt hơn, ý nghĩa hơn mỗi ngày. Mỗi buổi sáng thức dậy, hãy tự nhắc mình rằng hôm nay có thể là ngày cuối cùng, và rồi hãy sống sao cho không hối tiếc. Hãy nói lời yêu thương khi còn có thể nghe thấy, hãy ôm chặt người thân khi họ còn bên cạnh, hãy cười thật nhiều, hãy trải nghiệm thật sâu, hãy cho đi thật nhiều. Cuộc đời ngắn ngủi, nhưng nếu sống đúng cách, nó sẽ đẹp đẽ và trọn vẹn vô cùng.

Lm. Anmai, CSsR 


 

“NGÀY CÒN CHA, XIN ĐỪNG ĐỂ MUỘN” – PHẠM SƠN LIÊM 

FATHER’S DAY:  “NGÀY CÒN CHA, XIN ĐỪNG ĐỂ MUỘN”

PHẠM SƠN LIÊM 

Có những ngày trong năm người ta mong đợi chờ vì quà tặng, vì những cuộc vui.

Nhưng Father’s Day lại khác.

Đó là ngày làm nhiều người mỉm cười. 

Và cũng là ngày làm nhiều người lặng lẽ quay mặt đi lau nước mắt.

Với người còn cha, xin đừng quên nhấc điện thoại lên gọi một cuộc.

Chỉ một câu:

“Ba khỏe không?”

Đôi khi, với một người cha già, câu hỏi ấy quý hơn mọi món quà đắt tiền.

Rồi sẽ có một ngày…

Điện thoại vẫn còn đó.

Số của cha vẫn còn đó.

Nhưng đầu dây bên kia sẽ không còn ai bắt máy nữa.

 Ngày còn nhỏ, chúng ta luôn nghĩ cha là người mạnh nhất thế gian.

Cha sửa được chiếc xe hư.

Cha khiêng được bao gạo nặng.

Cha đánh đuổi được những điều làm con sợ hãi.

Cha giống như một ngọn núi.

Lớn lên mới hiểu… Ngọn núi ấy cũng biết mỏi. Đôi vai ấy cũng biết đau. Mái tóc ấy cũng bạc đi từng ngày.

Nhưng cha vẫn âm thầm gánh hết những lo toan mà không bao giờ kể.

Có những người cha cả đời chưa từng nói:

“Ba thương con.”

Nhưng họ thức trắng đêm khi con bệnh.

Họ ăn phần cơm nguội để con được phần ngon.

Họ mặc chiếc áo cũ nhiều năm để dành tiền cho con đi học.

Tình yêu của cha không nằm trên môi.

Mà nằm trong những hy sinh lặng lẽ suốt một đời. 

Còn với những ai đã mất cha… Father’s Day đôi khi là một vết cắt trong tim. Bước ngang một cửa tiệm thấy người ta mua quà cho cha.

Lướt qua một tấm hình gia đình. Nghe ai đó gọi hai tiếng “Ba ơi”…

Tự nhiên mắt cay.

Tự nhiên thấy nhớ. Nhớ một giọng nói. Nhớ một dáng đi.

Nhớ một người đã không còn trở về nữa.

Có những người cha ra đi vì tuổi già.

Có những người cha ra đi vì bệnh tật.

Có những người cha nằm lại nơi chiến trường từ khi con còn rất nhỏ.

Để rồi cả cuộc đời, đứa con ấy chỉ biết cha qua một tấm hình đã ngả màu. Một tấm hình được đặt trang trọng trên bàn thờ. 

Năm tháng qua đi. Con người có thể trưởng thành. Có thể già đi. Có thể làm cha, làm ông. Nhưng khi nghĩ về cha mình… Ai cũng lại thấy mình là đứa trẻ. Đứa trẻ năm nào vẫn mong được cha xoa đầu một lần. Được nghe cha gọi tên một lần. Được ngồi bên cha thêm một bữa cơm. Dù chỉ một lần thôi.

 Nếu hôm nay cha còn sống…

Xin hãy ôm cha. Nếu ngại ngùng, hãy gọi một cuộc điện thoại. Nếu ở gần, hãy về nhà ăn với cha một bữa cơm.

Đừng đợi đến khi chỉ còn nén nhang trên bàn thờ mới nói lời yêu thương.

Bởi lúc ấy…

Cha không còn nghe được nữa. Và nếu cha đã đi xa…

Xin hãy dành cho cha một lời cầu nguyện.

Một nén hương.

Một ký ức đẹp.

Bởi cha chưa bao giờ thật sự mất đi.

Cha vẫn sống trong từng bước chân của con.

Trong cách con đối xử với gia đình.

Trong những điều tốt đẹp con làm mỗi ngày.

 Father’s Day.

Xin cầu chúc những ai còn cha biết trân quý thời gian đang có. Và xin gửi một lời thương nhớ đến những người cha đã đi về phía bên kia bầu trời. Nơi ấy, có lẽ họ vẫn đang dõi theo chúng ta. Vẫn âm thầm mỉm cười. Vẫn là người hùng của đời con.

Mãi mãi.

Phạm Sơn Liêm.