TẠI SAO CÓ NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN, CÓ NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH?

 

Tôi 71 tuổi, gặp nhiều bạn già lắm rồi.

Có bác 75 tuổi, ai gặp cũng quý. Bác nói nhỏ nhẹ, hay cười, con cháu quây quần, hàng xóm nhờ gì cũng giúp. Ở gần bác thấy ấm.

Cũng có bác 75 tuổi, ai gặp cũng sợ. Bác hay xét nét, hay kể công, hay giận, con cháu đến thăm một chút rồi về vội. Ở gần bác thấy mệt.

Cùng một tuổi 75, cùng một thời chiến tranh đi qua, tại sao lại khác nhau đến vậy?

Tôi nghiệm ra, không phải do tuổi. Mà do 4 thứ người ta ôm trong lòng suốt 20 năm qua.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI ĐÃ HỌC ĐƯỢC CHỮ BUÔNG. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI CÒN ÔM CHỮ GIỮ.

Nhà tâm lý học Carl Jung nói: “Tôi không phải là những gì đã xảy ra với tôi. Tôi là những gì tôi chọn trở thành.”

Người khó tính là người 60 tuổi vẫn còn giữ trong lòng chuyện 30 năm trước: Anh kia nợ tôi 2 chỉ vàng chưa trả. Chị dâu nói xấu tôi năm 1985. Con dâu cãi tôi một câu năm 2010. Họ giữ hết. Mỗi ngày họ nhai lại một lần. Lâu ngày, mặt họ hằn lên sự giận dữ.

Người hiền là người đã buông được. Không phải vì họ quên, mà vì họ hiểu: Giữ giận là uống thuốc độc làm mình mau chết.Buông không phải là thua, buông là để tay mình rảnh mà ôm cháu.

Hiền hay khó tính, là do mình chọn ôm hay chọn buông.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI CÒN BIẾT TÒ MÒ. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI ĐÃ ĐÓNG CỬA LẠI.

Tôi để ý, bác nào 70 tuổi mà vẫn ham học cái mới: học bấm điện thoại, học trồng một loại rau mới, học nghe một bài nhạc của cháu, hỏi cháu “cái này là gì vậy?” – thì bác đó rất hiền và trẻ.

Vì não của bác đó còn mở. Bác đó biết mình còn nhiều thứ chưa biết, nên bác khiêm tốn.

Bác nào 70 tuổi mà nói “Tao sống 70 năm rồi, cái gì tao chẳng biết. Chúng mày biết gì mà nói” – thì bác đó sẽ rất khó tính. Vì bác đã đóng sập cửa lại rồi. Không ai nói được bác nữa. Bác cô đơn trong chính cái biết của mình.

Tâm lý học gọi là “Tư duy phát triển” và “Tư duy đóng kín”. Người hiền luôn nghĩ mình còn phải học. Người khó tính luôn nghĩ mình phải dạy người khác.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI CÒN CÓ VIỆC ĐỂ LÀM. NGƯỜI KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI THẤY MÌNH HẾT GIÁ TRỊ.

Đây là điều đau nhất.

Một bác trai 62 tuổi về hưu. Trước đây bác là trưởng phòng, ai cũng chào. Nay về nhà, không ai chào nữa. Bác thấy mình vô dụng. Bác bèn đi quản con, quản cháu, xét nét từng bữa cơm, từng cái chổi quét nhà. Bác khó tính không phải vì bác xấu, mà vì bác sợ mình không còn giá trị.

Ngược lại, bác nào về hưu mà tìm được một việc mới: nuôi 5 con gà, trồng giàn mướp, sáng đi bộ với mấy ông bạn, chiều viết vài dòng, tối gọi điện cho con… Bác đó bận rộn với niềm vui của mình, nên bác không có thời gian để khó tính với ai cả.

Muốn hiền, phải có một việc nhỏ để làm mỗi ngày, và thấy việc đó có ích.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI ĐÃ CHỊU THIỆT NHIỀU RỒI, NÊN HIỂU RA RẰNG HƠN THUA LÀ VÔ NGHĨA.

Lúc 40 tuổi, ta hơn thua nhau từng lời nói.

Lúc 50 tuổi, ta hơn thua nhau tiền nhiều tiền ít.

Lúc 60 tuổi, ta hơn thua nhau con mình giỏi hơn con người ta không.

Đến 70 tuổi, đi qua một đám tang người bạn, đi qua một lần nằm viện, ta mới hiểu: Hơn thua là vô nghĩa hết.

Người hiền là người đã hiểu ra điều đó sớm hơn. Nên họ nhường. Họ nói lời dịu dàng. Họ không chấp.

Người khó tính là người đến 70 vẫn còn muốn thắng. Muốn con phải nghe mình, muốn cháu phải theo ý mình, muốn hàng xóm phải nể mình. Càng muốn thắng, càng cô đơn.

Cho nên, tôi nghiệm ra một câu để tự răn mình mỗi sáng:

Càng già, không phải là để khó tính hơn. Càng già, là để hiền hơn.

Hiền không phải là nhu nhược. Hiền là trí tuệ. Vì chỉ người trí tuệ mới hiểu: Cuộc đời này ngắn lắm, giận nhau làm gì, khó nhau làm gì, để thời gian mà thương nhau.

Bạn 60 tuổi, 70 tuổi ơi, hôm nay bạn chọn hiền hay chọn khó tính?

#TuoiGia #HienLanh #BaiHocCuocSong— ở Shakopee.


 

Bắt Cóc Xuyên Quốc Gia — Thủ Tướng Úc Đã Lên Tiếng

Chau Doan 

Bắt Cóc Xuyên Quốc Gia — Thủ Tướng Úc Đã Lên Tiếng

Ngày 18/9, hai ông Trần Hiệp và Nguyễn Đức Thuận mất liên lạc tại Campuchia — đúng đêm trước giờ họ lên máy bay. Mười ngày sau, Bộ Công an công bố: bắt quả tang nhập cảnh trái phép, khởi tố tội khủng bố.

Sáng nay, Thủ tướng Úc Anthony Albanese lên tiếng: chính phủ đang hỗ trợ lãnh sự cho công dân của mình. Không còn là chuyện riêng giữa một tổ chức lưu vong và công an nữa.

Tôi chỉ ra một lỗi trong cáo trạng: là thành viên của một tổ chức không đồng nghĩa với việc thực hiện hành vi khủng bố. Phải chứng minh mục tiêu, kế hoạch, phương tiện cụ thể. Đến nay, không có gì được công bố.

Và tôi đặt vụ này cạnh những vụ trước — có vụ đã được cả một chính phủ châu Âu xác nhận là bắt cóc.

Tôi nói đủ trong video. Link ở bình luận đầu.


 

PHƯƠNG DIỆN KHẮT KHE CỦA THIÊN CHÚA –  Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Chúng ta có khuynh hướng hình dung sự vật không đúng với bản chất của nó, nhưng theo ý thích của mình.  Chúng ta thi hành điều này cả với Thiên Chúa

 Bảy trăm năm trước khi Đức Giêsu giáng sinh, ở Hy Lạp có một ông thầy nổi tiếng là Aesop.  Một lý do khiến ông nổi tiếng là vì ông dùng nhiều câu chuyện để dậy bảo.  Ông kể một câu chuyện và từ đó rút ra một chân lý quan trọng.

Thí dụ, một trong những câu chuyện của ông là về sự tranh luận giữa con sư tử và con người về vấn đề ai mạnh hơn ai.

 Con người quả quyết rằng loài người thì mạnh hơn.  Để minh họa điểm này, hắn đưa con sư tử ra một công viên và chỉ cho nó thấy bức tượng của một người đàn ông dùng đôi tay giang rộng hàm của con sư tử.  Con sư tử nhìn bức tượng và nói, “Điều đó chẳng có nghĩa gì cả!  Bức tượng này là do con người làm ra.”

 Điểm mà ông Aesop muốn nói là: Loài người chúng ta có khuynh hướng miêu tả sự vật không đúng với bản chất của nó, nhưng theo ý thích của mình.  Nói cách khác, chúng ta thường bóp méo sự thật để nó trở thành điều mà chúng ta muốn, thay vì những gì đúng như vậy. 

Một số thần học gia lo rằng các Kitô Hữu ngày nay cũng đang thi hành điều đó khi đề cập đến Thiên Chúa.  Họ lo rằng chúng ta đang bóp méo ý tưởng về Thiên Chúa trong Kinh Thánh.  Đó là họ lo rằng chúng ta đang biến Thiên Chúa thành một vị chúa mà chúng ta muốn.

 Chúng ta thi hành điều này bằng cách chú trọng đến những đặc tính của Thiên Chúa mà chúng ta muốn trong khi lại coi thường những đặc tính mà chúng ta không thích.

 Thí dụ, chúng ta nhấn mạnh đến tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa và coi thường sự thật rằng Thiên Chúa còn là một thẩm phán chính trực mà một ngày nào đó chúng ta phải trả lời với Người về đời sống của chúng ta.

 Điều này đưa chúng ta đến dụ ngôn đáng kể của Đức Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay.  Tôi nói “đáng kể” vì chỉ có một vài dụ ngôn có tính cách dậy bảo như vậy. 

Trước hết, nó tóm lược toàn thể câu chuyện cứu độ trong Kinh Thánh.  Để tôi minh họa thêm.

 Vườn nho tượng trưng cho dân Israel, như bài đọc một hôm nay nói rõ.

Chủ vườn nho tượng trưng cho Thiên Chúa.

Các tá điền tượng trưng cho các thượng tế và người Biệt Phái, là những người mà Thiên Chúa giao cho trách nhiệm với dân của Chúa.

Các đầy tớ trong nhóm thứ nhất, những người mà chủ vườn sai đến gặp các tá điền để thu hoa lợi, là các ngôn sứ thời tiên khởi mà Thiên Chúa đã sai đến với dân Israel.

Các đầy tớ trong nhóm thứ hai là các ngôn sứ thời sau này.

Con của chủ vườn, bị các tá điền giết chết, là Đức Giêsu.

Các tá điền mới, những người mà chủ vườn cho thuê vườn nho, là các Tông Đồ của Đức Giêsu.  Họ thế cho các thượng tế và Biệt Phái làm người lãnh đạo mới của dân Chúa.

Sau cùng, sự thuê mướn vườn nho lúc đầu tiên ám chỉ giao ước cũ.  Và sự thuê mướn vườn nho lần thứ hai ám chỉ giao ước mới.

 Và vì thế dụ ngôn này là một tóm lược mỹ miều về toàn thể câu chuyện cứu độ trong Kinh Thánh.  Đó là một cuốn Kinh Thánh thu nhỏ trong bộ Kinh Thánh.

 Ngoài việc đem cho chúng ta một tóm lược về câu chuyện cứu độ, dụ ngôn này còn đem cho chúng ta một cái nhìn tóm lược trong Kinh Thánh về Thiên Chúa.

 Nó cho chúng ta thấy cả hai diện của Thiên Chúa: Thiên Chúa như một cha mẹ kiên nhẫn và Thiên Chúa là một thẩm phán chính trực.

 Cũng như chủ vườn nho trong dụ ngôn, Thiên Chúa cho thấy sự kiên nhẫn vô bờ với các người lãnh đạo Israel.  Người đã cho họ cơ hội này đến cơ hội khác để thay đổi đường lối của mình.  Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến với họ.

 Tuy nhiên, khi hiển nhiên thấy rằng sự kiên nhẫn đều vô hiệu, Thiên Chúa đã xét xử họ.  Thiên Chúa buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.

 Trong bài đọc một chúng ta cũng thấy như vậy.  Bài này cho thấy Thiên Chúa rất kiên nhẫn với dân của Người.  Nhưng khi thấy rằng sự kiên nhẫn này vô hiệu, Thiên Chúa đã xét xử họ.  Thiên Chúa buộc họ phải chịu trách nhiệm về hành động của mình.

 Và vì vậy, các bài đọc hôm nay cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa thì không chỉ như một người cha kiên nhẫn, luôn luôn yêu thương chúng ta, nhưng Người còn là một thẩm phán, buộc chúng ta phải chịu trách nhiệm về hành động của chúng ta.

 Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, phản ánh hai chiều kích này của Thiên Chúa.  Đôi khi chúng ta quên rằng Đức Giêsu, cũng như Thiên Chúa, cũng có một “phương diện khắt khe.”

 Chính Đức Giêsu đầy lòng thương xót, là người từng nói với dân chúng, “Hãy đến với ta, tất cả những ai gánh nặng, và ta sẽ cho các ngươi nghỉ ngơi” (Mt 11:28) thì cũng nói với những ai không đếm xỉa đến người nghèo, “Hãy xa khỏi ta, hỡi những người bị Thiên Chúa nguyền rủa!  Hãy đi vào lửa đời đời” (Mt 25:41). 

Và cũng chính Đức Giêsu nhân từ, là người từng nói với dân chúng, “Hãy học nơi ta, vì ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11:29) thì cũng “lấy dây kết thành roi” (Gioan 2:15) và xua đuổi những người đổi tiền ra khỏi Đền Thờ.

 Và cũng chính Đức Giêsu dễ thương, là người nói rằng “Những ai công khai tuyên bố thuộc về ta, ta cũng sẽ thi hành như vậy cho họ trước mặt Cha ta ở trên trời.  Nhưng ai công khai chối bỏ ta, ta sẽ chối bỏ họ trước Cha ta ở trên trời” (Mt 10:32-33).

 Và vì vậy chúng ta thấy Đức Giêsu phản ánh hai chiều kích như Thiên Chúa.

 Sự áp dụng những điều này vào đời sống chúng ta thì hiển nhiên.  Chúng ta cần biết rằng Thiên Chúa là một cha mẹ nhân từ.  Vì quá nhiều năm Thiên Chúa bị coi là người thích trừng phạt hơn là yêu thương.

 Tuy nhiên, giờ đây, quả lắc đang nguy hiểm vung về phía trái ngược và đem cho chúng ta một hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa.  Tuy nhiên, những hình ảnh sai lầm này không phải là những gì chúng ta cần trong giây phút này của lịch sử.  Điều chúng ta cần là sự thật.

 Và đó là điều chúng ta tìm thấy trong các bài đọc hôm nay: phúc âm chân lý về Thiên Chúa.  Thiên Chúa vừa là một cha mẹ kiên nhẫn và là một thẩm phán chính trực.

 Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu của Đức Giáo Hoàng Clement XI.  Lời này có cả hai khía cạnh của Thiên Chúa:

 Lậy Chúa, con tin ở Chúa; xin ban cho con đức tin vững vàng.
Con hy vọng nơi Chúa; xin ban cho con niềm hy vọng chắc chắn.
Con yêu mến Chúa; hãy giúp con yêu Chúa nhiều hơn.

Con tôn thờ Chúa như Khởi Đầu của con,
và con khao khát Chúa như Cùng Đích của con.
Con ngợi khen Chúa như Ân Nhân bất biến của con,
và con kêu cầu Chúa như Đấng Bảo Vệ độ lượng của con.

Xin hãy hướng dẫn con trong sự khôn ngoan của Chúa,
hãy cản trở con bởi sự công chính của Ngài,
hãy an ủi con bằng sự thương xót của Ngài,
hãy bảo vệ con bằng sức mạnh của Ngài.

Con dâng lên Chúa
các ý nghĩ của con, chỉ để hướng đến Chúa;
các lời nói của con, để Chúa là chủ đề các lời ấy;
hành động của con, để thi hành theo thánh ý của Ngài.

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

MỘT VÒNG ĐỜI – MỘT LẦN TỈNH THỨC

My Lan Pham 

MỘT VÒNG ĐỜI – MỘT LẦN TỈNH THỨC

Lương y Ngô Đức Vượng

Tôi đã nhìn bức ảnh này rất lâu…

Một hạt giống rơi xuống đất.

Nảy mầm. Lớn lên. Trưởng thành.

Con người cũng vậy.

Ta sinh ra, tập đi, lớn lên…

Rồi bắt đầu chạy.

Chạy theo việc học.

Chạy theo công việc.

Chạy theo tiền bạc.

Chạy theo danh vọng.

Chạy theo những điều mà ta nghĩ rằng: có được rồi mình sẽ hạnh phúc.

Nhưng càng chạy, thời gian càng trôi.

Một ngày ngoảnh lại, cha mẹ đã già.

Con cái đã lớn.

Mái tóc mình cũng bắt đầu bạc.

Và rồi ta chợt hiểu:

Cuộc đời không dài như ta từng nghĩ.

Ngày còn nhỏ, một năm tưởng như vô tận.

Đến tuổi trưởng thành, mười năm đôi khi chỉ như một cái chớp mắt.

Sinh ra.

Lớn lên.

Mưu sinh.

Lập gia đình.

Nuôi con.

Già đi…

Rồi một ngày, thân này cũng trở về với đất.

Cả một đời tranh hơn thua, cuối cùng mang theo được gì?

Tiền bạc – để lại.

Nhà cửa – để lại.

Danh vọng – để lại.

Những điều từng khiến ta giận dữ, hơn thua, mất ăn mất ngủ… rồi cũng để lại.

Chỉ có những gì ta đã sống, đã yêu thương, đã cho đi và đã gieo là để lại dấu ấn trong cuộc đời này.

Vậy nên…

Khi cha mẹ còn bên cạnh, hãy dành thời gian cho cha mẹ.

Khi vợ chồng còn ngồi chung một mâm cơm, hãy biết trân trọng nhau.

Khi con còn muốn nắm tay mình, hãy đặt điện thoại xuống và nắm lấy bàn tay ấy.

Khi cơ thể còn khỏe mạnh, hãy biết chăm sóc nó.

Khi còn có thể nói lời yêu thương, xin đừng chờ đến ngày chỉ còn đứng trước một di ảnh mới nói hai chữ: “Giá như…”

Đời người ngắn lắm.

Đừng dành cả cuộc đời để chạy đi tìm hạnh phúc, rồi đến cuối con đường mới nhận ra:

Hạnh phúc từng ở ngay bên cạnh mình.

Một bữa cơm đủ người.

Một mái nhà bình an.

Cha mẹ còn khỏe.

Con cái còn cười.

Thân còn khỏe mạnh.

Tâm còn biết yêu thương.

Ấy đã là phước.

Cuộc đời là một vòng tròn.

Ta đến với hai bàn tay trắng, rồi cũng trở về với hai bàn tay trắng.

Vì vậy, khi còn được sống…

Hãy sống cho tử tế.

Hãy thương khi còn có thể thương.

Hãy biết ơn khi còn có thể biết ơn.

Và hãy tỉnh thức, trước khi thời gian đánh thức chúng ta bằng hai chữ: QUÁ MUỘN.


 

Tiểu sử tóm lược thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Linh Mục Mi Trầm

Tiểu sử tóm lược thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương

Sinh: ngày 24/9/1925, tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, trong một gia đình Nho học nổi tiếng. Thân phụ là Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm. Thầy là em của bác sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, và anh của GS Nguyễn Khắc Phi, nhà văn Nguyễn Khắc Phê.

Thuở nhỏ học tại Trường Thiên Hựu (Providence), Huế.

Giai đoạn 1945–1949, thầy từng tham gia một thời gian trong các hoạt động xã hội và Đội Tuyên truyền Việt Minh Trung Bộ, sau đó trở về dạy học.

Năm 1949, thầy lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chọn thánh Stêphanô làm bổn mạng. Đây là bước ngoặt rất lớn trong cuộc đời tìm kiếm đức tin của thầy.

1950–1954: vào tu học với Dòng Phanxicô tại Vinh, sau đó tiếp tục tu học tại Nha Trang.

Sau một thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự, thầy trở lại đời sống tu trì.

1956–1965: sang Pháp học tập, tiếp tục tu học và học Triết học tại Đại học Sorbonne. Thầy tốt nghiệp Cử nhân Triết học. Điểm này cần lưu ý: một số nơi gọi thầy là “tiến sĩ” hoặc “giáo sư”, nhưng các nguồn nghiên cứu cho biết thầy không có bằng tiến sĩ; danh xưng “giáo sư” chủ yếu xuất phát từ quá trình giảng dạy và uy tín học thuật.

Những năm giảng dạy tại Đà Lạt

Sau khi trở về Việt Nam cuối năm 1965, thầy giảng dạy tại một số cơ sở Công giáo ở Sài Gòn rồi Viện Đại học Đà Lạt.

Tại đây, thầy từng giữ vai trò Trưởng Ban Triết học và quyền Trưởng khoa Văn – Triết, đồng thời được mời giảng tại một số đại học khác. Rất nhiều thế hệ sinh viên, linh mục và tu sĩ từng là học trò của thầy.

Điều đặc biệt là học trò thường gọi ông một cách kính trọng là “Thầy Nguyễn Khắc Dương”, dù về mặt học hàm chính thức ông không phải là giáo sư do Nhà nước phong.

Một cuộc đời tìm kiếm Thiên Chúa

Điểm nổi bật nhất trong cuộc đời thầy không chỉ là chuyện học hành hay giảng dạy, mà là một hành trình dài đi tìm ý nghĩa cuộc đời và chân lý đức tin.

Một nghiên cứu về cuộc đời thầy nhận xét rằng nơi Nguyễn Khắc Dương luôn có một sự thao thức, khao khát và tìm kiếm; cuối cùng, thầy tìm thấy ý nghĩa và niềm vui của đời mình trong Đức Giêsu Kitô.

Sau năm 1975, cuộc sống của thầy trải qua nhiều giai đoạn khác nhau: có thời gian ở Đà Lạt, làm việc tại Lâm Đồng, tiếp tục giảng dạy và sau này dành nhiều thời gian cho việc viết hồi ký, nghiên cứu và hướng dẫn triết học cho các chủng sinh, tu sinh.

Những năm cuối đời, thầy sống tại Tu đoàn Anh Em Bác Ái Chúa Kitô Tôi Tớ thuộc Giáo phận Phan Thiết.

Qua đời

Ngày 24/9/2026, thầy vừa mừng sinh nhật 102 tuổi.

Đến 20g15 ngày 28/9/2026, thầy Stêphanô Nguyễn Khắc Dương qua đời, chỉ bốn ngày sau khi bước sang tuổi 102.

Theo Internet


 

SAU TUỔI 60 CÓ MỘT KIỂU “GIÀU CÓ”  MÀ TIỀN NHIỀU CHƯA CHẮC MUA ĐƯỢC

Ds Lê Tiện

Sau tuổi 60:

Có người tài khoản rất nhiều tiền…

nhưng bước đi phải có người dìu.

Có người nhà rất rộng…

nhưng đêm nằm mãi không ngủ được.

Có người con cháu thành đạt…

nhưng trong lòng lúc nào cũng nặng trĩu.

Và cũng có những cô bác cuộc sống rất giản dị…

Nhưng sáng tự mình thức dậy.

Tự đi bộ.

Tự ăn uống.

Tự chăm sóc bản thân.

Tối ngủ một giấc tương đối yên.

Gặp con cháu còn cười vui.

Theo DS. Lê Tiện, đó mới là một kiểu “giàu có” rất đáng quý của tuổi già.

  1. GIÀU SỨC KHỎE: MUỐN ĐI ĐÂU VẪN TỰ ĐI ĐƯỢC

Sau tuổi 60, đôi chân khỏe đôi khi quý hơn một chiếc xe đẹp.

Vì xe có thể mua.

Nhưng khả năng tự đứng lên khỏi ghế, tự bước lên cầu thang, tự đi chợ, tự tắm rửa…

Nếu đã mất đi, muốn lấy lại không hề dễ.

Cô bác đừng chỉ hỏi:

“Cholesterol của tôi bao nhiêu?”

Hãy hỏi thêm:

“Cơ chân của tôi còn khỏe không?”

“Tôi có đứng lên ngồi xuống dễ dàng không?”

“Tôi có đi bộ 20–30 phút mà không quá mệt không?”

Tuổi già giữ được khả năng tự lập là một tài sản rất lớn.

  1. GIÀU MỘT GIẤC NGỦ YÊN

Có những người cả đời kiếm tiền.

Đến khi có tiền rồi lại chỉ mong một điều rất đơn giản:

Đặt lưng xuống là ngủ được.

Không trằn trọc tới nửa đêm.

Không 2–3 giờ sáng thức giấc rồi nhìn trần nhà.

Không sáng dậy với cái đầu nặng trĩu.

Một giấc ngủ ngon không chỉ giúp cô bác dễ chịu hơn.

Nó còn liên quan đến trí nhớ, tâm trạng, huyết áp, chuyển hóa và sức khỏe tim mạch.

Sau tuổi 60, ngủ được tương đối yên đã là một loại phúc.

  1. GIÀU KHẢ NĂNG TỰ CHĂM SÓC MÌNH

Có thể tự ăn.

Tự tắm.

Tự mặc quần áo.

Tự đi vệ sinh.

Tự nhớ lịch thuốc.

Tự quyết định những việc quan trọng của đời mình.

Những việc khi trẻ ta thấy quá bình thường…

Đến một ngày mới hiểu:

Đó chính là tự do.

Vì vậy, đừng đợi đến lúc yếu mới nghĩ đến chuyện giữ cơ, giữ xương, giữ thăng bằng và giữ trí nhớ.

Hãy bắt đầu khi mình vẫn còn khỏe.

  1. GIÀU NHỮNG MỐI QUAN HỆ ẤM ÁP

Sau tuổi 60, cô bác không cần quá nhiều người bên cạnh.

Chỉ cần vài người thật lòng.

Một người có thể ngồi ăn cùng mình.

Một người để gọi điện khi buồn.

Một người sẵn sàng hỏi:

“Hôm nay mình có khỏe không?”

Tiền có thể thuê người chăm sóc.

Nhưng tiền không dễ mua được sự quan tâm thật lòng.

Vì thế, khi còn có thể…

Hãy đối xử tử tế với bạn đời.

Gần gũi với con cháu.

Giữ vài người bạn cũ.

Và đừng vì một chuyện nhỏ mà đánh mất một mối quan hệ đã đi cùng mình hàng chục năm.

  1. GIÀU MỘT CÁI TÂM NHẸ

Đây có lẽ là kiểu giàu khó nhất.

Có nhà đẹp mà lòng bất an thì vẫn mệt.

Có tiền nhiều mà ngày nào cũng so đo, giận dữ, tiếc nuối thì vẫn khổ.

Càng lớn tuổi, DS. Lê Tiện càng thấy:

Có những chuyện thắng cũng chẳng để làm gì.

Một lời nói cũ.

Một người từng làm mình phật ý.

Một chuyện xảy ra từ mười năm trước.

Nếu giữ mãi trong lòng…

Người mệt nhất vẫn là mình.

Tuổi già đẹp nhất không phải là không có chuyện buồn.

Mà là mình đã học được cách:

Chuyện đáng nhớ thì giữ.

Chuyện không đáng thì buông.

SAU TUỔI 60, “GIÀU” KHÔNG CHỈ NẰM TRONG TÀI KHOẢN

Mà còn là:

Chân còn khỏe để đi.

Tay còn khỏe để làm.

Đầu óc còn minh mẫn để tự quyết.

Đêm còn ngủ được.

Nhà còn tiếng người thân.

Và lòng mình còn đủ nhẹ để mỉm cười.

Nếu cô bác đang có phần lớn những điều này…

Xin đừng coi đó là chuyện bình thường.

Đó là một gia tài.

Và quan trọng hơn:

Gia tài này phải được chăm sóc mỗi ngày.

Ăn uống điều độ một chút.

Tập cơ mỗi ngày một chút.

Đi bộ vừa sức một chút.

Ngủ sớm hơn một chút.

Bớt giận một chút.

Thương mình nhiều hơn một chút.

Có thể cô bác không trở thành người giàu nhất.

Nhưng hoàn toàn có thể trở thành một người giàu sức khỏe, giàu bình an và giàu những năm tháng đáng sống.

Nếu thấy bài viết này đáng để nhắc mình, cô bác hãy lưu lại.

Và thử tự hỏi một câu:

“Ở tuổi của mình hôm nay, tôi đang giàu nhất ở điều gì?”


 

KẺ BÉ NHỎ BẨY THẾ GIỚI –  Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời!”.

Archimède từng nói, “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng bổng trái đất!”. Ông không bao giờ tìm được điểm tựa ấy; nhưng Têrêxa Hài Đồng Giêsu lại tìm thấy nó: cầu nguyện và yêu thương – một “đòn bẩy” đủ sức nâng cả thế giới đau khổ và tội lỗi.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay nói đến trẻ nhỏ. Và với Têrêxa, chính sự bé nhỏ mới là nơi Thiên Chúa đặt vào tay con người đòn bẩy lớn nhất – ‘kẻ bé nhỏ bẩy thế giới’.

Điểm độc đáo nơi Têrêxa không phải là làm những việc phi thường, nhưng là khám phá cách sống Tin Mừng ngay trong những việc nhỏ – la petite voie, “con đường thơ bé”. Trong một thế giới say mê những gì lớn lao, Têrêxa lại tin Thiên Chúa đặc biệt cúi xuống nơi những gì bé nhỏ, nghèo hèn và yếu đuối. Vì thế, “trẻ nhỏ” trong Tin Mừng không phải là sự non nớt, nhưng là thái độ tuyệt đối tín thác. Và đó là nghịch lý của Nước Trời: càng nhỏ bé, con người càng có chỗ cho quyền năng Thiên Chúa hoạt động. “Sự vĩ đại của Thiên Chúa xuất hiện nơi những ai biết dành chỗ cho Ngài!” – Hans Urs von Balthasar.

Vì thế, Têrêxa không xấu hổ vì yếu đuối hay bất toàn; trái lại, ví mình như cây cọ ba xu trong tay Thiên Chúa, một dụng cụ đơn sơ góp phần vào một kiệt tác. Và như trẻ con thường ngã mà không đau vì mình còn bé, Têrêxa hiểu rằng sự thánh thiện không khởi đi từ sức mạnh, nhưng từ một linh hồn đủ nhỏ để hoàn toàn nương tựa vào Chúa; vì có những ngày con người chỉ còn biết để Chúa nâng mình lên. Sự thánh thiện không phải là trèo lên đỉnh cao, mà là để Chúa cúi xuống nhấc bổng chúng ta lên! Đó là nghịch lý đẹp nhất của Tin Mừng.

Vậy mà bên dưới sự đơn sơ của Têrêxa lại là một linh hồn mang những khát vọng “ngông cuồng”. “Em muốn như các thánh, làm những chuyện ngông cuồng cho Chúa!”; “Cho con được tử đạo trong lòng hay nơi thân xác; tốt hơn, cả hai!”. Như một người tình say đắm, Têrêxa để tâm hồn mình bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của Đức Kitô đến mức “Khi tâm hồn bị cuốn hút bởi làn hương say đắm của Ngài, nó không chạy một mình; tất cả người nó yêu đều được cuốn theo!”. Và như thế, sự nhỏ bé nơi Têrêxa không thu mình, nhưng trở thành một ngọn lửa âm thầm lan xa khắp thế giới; để rồi, trước lúc nhắm mắt, Têrêxa hứa sẽ tiếp tục “mưa hoa hồng” xuống trần gian.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là “kẻ bé nhỏ” viên mãn đã “bẩy” thế giới. Ngài không cứu độ nhân loại bằng sức mạnh của đế quốc hay quyền lực áp đảo, nhưng bằng máng cỏ, thập giá và tấm bánh bẻ ra. Trong mắt thế gian, đó là thất bại; nhưng chính nơi sự tự hạ ấy, quyền năng Thiên Chúa đã nâng cả nhân loại lên. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là cố trở nên vĩ đại trước người đời, nhưng là dám sống hy sinh âm thầm với một tình yêu lớn. Linh hồn quá khổ sẽ không lọt qua được khe hẹp của Nước Trời! “Người bé nhỏ thu hút Đức Giêsu!” – Charles de Foucauld.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con đủ nhỏ để Chúa làm những điều lớn; đủ yếu để biết con cần Chúa; và đủ yêu để âm thầm ‘bẩy’ thế giới bằng những việc rất nhỏ!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

******

Lời Chúa Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Trinh Nữ, Tiến Sĩ Hội Thánh, 

01/10 -Thứ Năm Tuần XXVI Thường Niên: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/01.html

Nếu anh em không trở nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 18, 1-5

1 Khi ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời ?” 2 Đức Giê-su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông 3 và nói : “Thầy bảo thật anh em : nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

4 “Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời.


 

Máu đào nước lã  – Truyen ngan HAY

Máu đào nước lã 

– Câu chuyện cảm động đầy ý nghĩa nhân văn sâu sắc về tình thân

Ngày mà tôi yêu anh, trừ ba tôi ra, không ai ủng hộ. Nhưng sau khi tôi lấy anh rồi, đầu trên xóm dưới ai cũng khen tôi có ρhước. Anh hiền lành, chăm chỉ làm ăn, không chơi bời, hết lòng với gia đình và công việc, một lòng yêu thươпg và trân trọng tôi. Con bạn thân của tôi, xưa từng chê ănh không manh giáρ, nay chậc lưỡi:

– Sao hồi đó mày có con mắt tinh đời mà chọn hắn ta nhỉ, tao nhớ mày khó tính lắm mà ?

Đúng là hồi đó tôi cực kỳ khó. Con trai nhà giàu không biết bao nhiêu người theo đuổi, chẳng hiểu sao, tôi lại để ý chàng “Ôsin” vừa nghèo vừa khổ của ba mình.

Quyết định lấy anh là một quyết định đầy tính toán, sau khi tôi đưa lên bàn cân kỹ lưỡng:

Thứ nhất, là cuộc đời anh quá bầm giậρ, chắc chắn anh sẽ rất trân trọng người mình yêu và yêu mình.

Thứ hai, là khả năng chịu đựng của anh cực kỳ tốt, chắc chắn anh sẽ luôn vươn lên và không đầu hàng khi gặρ thất bại.

Thứ ba, là làm vợ anh cực kỳ sướng, khỏi phải làm dâu, chỉ có mỗi ba chồng, thì anh đã chăm sóc mất rồi.

Thật may mắn cho tôi, là bài toán này tôi đã tính không sai.

Lão thức dậy, khi những tia nắng nóng bỏng hắt vào mắt. Lão bước xuống giường, thân thể rã rời như chính mình bị đánh.

– Ăn cơm đi.

Nó mở lồпg bàn mời trổng. Lão bước đến, mặt tối sầm lại, khi thấy trên bàn vỏn vẹn một chén cơm và một trái chuối già.

– Sao không có thứ gì hết vậy ?

Nó nhếch môi:

– Vậy chứ ông muốn gì ? Còn cơm là may rồi đó.

Lão bực bội cầm đũa, miếng cơm khô khốc, khó khăn lắm mới trôi qua cổ.

– Chiều nay, làm sao có đồ ăn cho tao.

Lão gằn. Nó thở một hơi dài:

– Ông nướng hết một tháng lương của tui vô sòng bạc trong vòпg có nửa ngày. Bây giờ trong túi tui, một ngàn cũng không có, có nước đi ăn cắρ mới kiếm được đồ ăn cho ông.

– Không có thì đừng về đây nữa.

Nó cười nhạt:

– Nghĩ cho kỹ rồi đuổi nha, tui đi, không biết ai sướng ai khổ à.

Lão nổi nóng giơ ngọn roi lên. Nó buông một câu rồi co giò chạy:

– Tui còn đi làm nữa, muốn đánh, tối về cho đánh.

Chiều về, nó vẫn lẳng lặng vào bếρ nấu cơm. Hôm nay kiếm được mấy con tép, kho tép, luộc rau, nấu cơm xong, nó bày ra, để vào lồпg bàn rồi lêп giườпg nằm, không nhìn lão, cũng không nói tiếng nào. Lão ngậρ ngừng:

– Ăn miếng đi.

Nó im lặng. Lão hạ giọng:

– Ngồi dậy ăn miếng đi.

Nó vẫn làm thinh, mặt quay vào vách. Lão gằn:

– Mày câm rồi hả ?

Nó vẫn im. Lão quát:

– Nói.

Nó quay người lại, nhếch môi:

– Dạ, con ăn rồi. Nói cũng bị chửi, không nói cũng bị chửi, không biết sống sao mới vừa lòng ông.

Lão chùng giọng:

– Mày ăn gì, ở đâu ?

– Ông chủ cho tô cháo lòng.

– Cho hết công nhân, hay cho có mình mày ?

– Mình tui hà.

– Sao vậy ?

– Ai biết, chắc thấy bầm giậρ quá, tội nghiệρ.

Lão sượng trân, im lặng một lúc, lão nói:

– Ổng có hỏi thương tích của mày không ?

– Có.

– Rồi mày trả lời sao ?

– Tui nói, ở nhà quậy quá, ba đánh.

Lão nổi пóпg:

– Ai cho mày nói vậy, ai là ba mày?

Nó ngước mắt nhìn lão, môi mím chặt. Lần đầu tiên, lão thấy nó nổi giận. Mắt đỏ hoe, nó gằn từng tiếng:

– Tất cả những gì tui cắn răng chịu đựng từ bàn tay ông, tất cả những gì tui ráng hết sức mang về cho ông, không đổi được một tiếng ba trước người ngoài sao ? Vậy thì tui xin lỗi, từ đây về sau, tui không bao giờ dám nhận ông là ba trước bất kỳ ai nữa, ông vừa lòng chưa ?

Nó quay mặt vào trong, khóc. Lão run.

Bảy ngày liền, lão không đánh nó nữa. Nhưng cũng bảy ngày liền, nó không nói chuyện với lão dù chỉ một câu, cơm nước thì vẫn đầy đủ.

Chín giờ tối mà nó chưa về. Lão sốt ruột. Chưaα bao giờ nó đi làm về trễ, chưa bao giờ bỏ đói lão như thế này.

Mười giờ. Lão nóng hơ. Không lẽ, nó bỏ lão thật sao ?

Mười một giờ. Lão buồn thiu. Chắc nó bỏ lão thật rồi.

Mười hai giờ. Lão hối hận. Vậy là nó đã bỏ lão.

Nó với lão chẳng là gì hết, không máu mủ. Mười tám năm trước, nhìn nó, lão đã biết không ρhải con lão. Nó quá đẹρ, không có một nét nào của lão, nhưng lão không truy cứu, vì yêu vợ.

Vậy mà cuối cùng, vợ lão vẫn bỏ đi, không biết theo ai, bỏ lão, bỏ luôn đứa con dứt ruột đẻ ra. Lão tự cho mình cái quyền đổ trút lên nó những đau khổ, bất lực và hận thù, vì nó lớn lên từ bàn tay lão.

Nhưng thật ra, nó chỉ sống nhờ cơm thừa canh cặn của lão trong vòng mười năm đầu tiên của cuộc đời, mười một tuổi, thì nó đã biết kiếm tiền về cho lão, và mười lăm tuổi, thì nó đã hoàn toàn nuôi lão.

Đúng ra thì lão không có quyền hành hạ nó nữa, đúng ra thì nó không việc gì phải chịu đựng lão như vậy. Nhớ những lời của nó ngày hôm qua, tự nhiên lão ray rứt tột cùng.

Lão biết nó thương lão thật lòng, lão biết nó là đứa trẻ ngoan, lão biết hết. Nhưng rượu vào là lão nổi cơn điên, nhớ lại đời mình là lão nổi cơn điên. Nổi cơn điên, thì chỉ có nó làm tấm thớt cho gã trút giận, khi con cá đã quẩy đuôi đi mất rồi.

Một giờ khuya. Lão tuyệt vọng. Ừ, đi đi, tại tao không nhìn mày là con, mày đi là đúng rồi, người dưng ở với nhau sao được. Nước mắt bỗng ứ trên mi lão. Lão lêп gιườпg nằm:

– Ông ngủ rồi hả ?

Giọng nói nhẹ tênh của nó văng lên. Lão giật bắn mình, vội vã ngồi dậy. Ôi, nó làm lão đau tim, nó không bỏ lão.

Nhưng lão bàng hoàng khi thấy máu loang lỗ chiếc áo màu cháo lòng của nó. Mặt mày nó cũng thâm tím, rớm máu.

Nó buông người xuống giường, giọng mệt mỏi:

– Xin lỗi ông nhé, hôm nay tui có chút vấn đề, không đem đồ ăn về cho ông được. Mai tui bù cho.

Lão nhìn nó không chớρ mắt:

– Ai đánh mày ?

Nó làm thinh quay mặt vào trong. Lão gào lên:

– Nói, ai đánh mày ?

Nó quay lại, nhếch môi:

– Ai đánh tui, ông quan tâm làm gì ?

– Ngoài tao ra, ai còn đánh mày nữa ?

– Ông tưởng, chỉ có ông mới đánh tui được sao ?

– Làm ơn nói cho tao biết đi.

Giọng nó chùng xuống.

– Tui thươпg con gái của ông chủ, cô ấy cũng thươпg tui. Ông chủ cũng được lắm, không cấm, chỉ kêu tui ráng làm việc chăm chỉ, học nghề cho tốt, rồi vài năm nữa tính.

Nhưng mà có thằng con nhà giàu theo đuổi cô ấy không được, nên đón đường đánh tui, chửi tui “Vừa nghèo, vừa không cha không mẹ mà bày đặt trèo cao”.

– Sao không đánh lại ?

– Bốn thằng vây, đỡ còn không được, đừng nói đánh lại.

– Đau không ?

– Ông hỏi lạ, trâu bò sao không đau. Nhưng nhờ ông luyện, không đến nỗi nào.

Lão thấy gan ruột sôi lên:

– Mày chỉ cho tao biết thằng đó là ai đi, mai tao xử nó cho mày.

Nó nhìn lão đăm đăm:

– Hôm nay ông làm sao vậy, uống lộn thuốc hả ?

Lão im lặng một lúc lâu, rồi ngượng ngậρ lên tiếng:

– Tao hứa, không ăn hiếp mày nữa, không cờ bạc nữa. Ngày mai, tao dựng lại cái chòi sửa xe. Hôm nào được, dẫn tao đi gặρ ông chủ mày.

Nó ngỡ ngàng, rồi cười cười không nói. Lão tiếρ tục một cách khó khăn:

– Mai mốt ai đánh mày, nói mày không cha không mẹ, mày ρhải trả lời là mày có cha đàng hoàng, rồi dẫn tao đi gặρ thằng đó, nghe chưa ?

Nó bật cười, lần đầu tiên, lão thấy nụ cười của nó tươi đến như vậy.

– Nói thì nhớ đó nha, tui ghi sổ đó.

Sau đám cưới tôi và anh đúng một năm, ba ruột anh có về tìm. Làm tới Giám đốc gì đó, rất ngon lành, ông mong muốn nhận lại anh với lý do đơn giản, là kiếm hoài không có con trai nối dõi tông đường, chỉ có bốn đứa con gái.

Tôi liếc ba chồng, thấy lão buồn hiu, ra sân ngồi, nhìn vu vơ những tia nắng chiều sắρ tắt. Trong nhà, anh đang tiếρ ba ruột.

Thấy lão tội nghiệρ quá, tôi trấn an:

– Ba yên tâm đi, ảnh không bao giờ bỏ ba đâu.

Giọng lão buồn buồn:

– Một giọt máu đào hơn ao nước lã mà con. Ba cũng có đối xử tốt gì với nó đâu.

Tôi mỉm cười:

– Nhưng con tin chắc, ảnh không có về đó đâu.

Đúng như lời tôi, anh nhận ba ruột, không oán hận gì, sẵn sàng lui tới chăm nom, nhưng dứt khoát, không về hưởng gia tài gì đó. Ba chồng tôi sung sướng lắm, nhưng làm bộ không có gì

Đêm đó, anh vuốt tóc tôi, hỏi:

– Hỏi thật nha, em có tiếc gia tài đồ sộ đó không ? Anh chỉ hỏi vậy thôi, có nói có, không nói không, đừng nổi пóпg với anh nha.

Tôi nheo mắt:

– Em con nhà giàu từ nhỏ tới lớn, không ham làm dâu nhà giàu đâu, chỉ thích làm vợ người giàu thôi.

– Tức là chỉ xài tiền tui cày mới chịu ρhải không ? Công nhận, chưa ai khôn bằng vợ tui.

Tôi bật cười. Anh cũng cười. Nhìn sâu vào mắt anh, tôi thì thầm:

– Em biết, anh sẽ quyết định như vậy, em biết anh không bao giờ bỏ ba. Nhưng có một điều em muốn hỏi anh, tại sao ngày xưa, anh từng bị đòn nhiều với ba như thế, nhưng anh vẫn thươпg ba, không giận ba. Chính ba cũng không biết tại sao đó.

Anh trầm giọng:

– Vì nếu không có ba, thì không có anh. Ba nuôi dưỡng anh bằng lòng thù hận, nhưng sự thật là ông đã không ném anh ra đường khi má anh bỏ đi, và suốt hai mươi mấy năm, ba và anh đã gắn bó với nhau, theo một cái kiểu không tốt đẹρ chút nào, nhưng vẫn là gắn bó.

Không một giọt máu đào, nhưng đời đã ném ba và anh vào chung một ao nước lã. Đó là lý do trong lòng anh, ba vẫn là người cha duy nhất.

Sưu tầm 


 

Mừng kính Thánh Giêronimô (Jerome) Linh mục Tiến sĩ, người Ý (340-420)- Cha Vương

Chúc bình an nhé! Hôm nay Ngày 30/09 Giáo Hội mừng kính Thánh Giêronimô (Jerome) Linh mục Tiến sĩ người Ý (340-420). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Đừng quên câu nguyện cho nhau và thể giới luôn được bình an nữa nhé

Cha Vương

Thứ 4: 30/09/2026.       (t6-22)

Thánh Giêronimô sinh quãng năm 340 tại Xơ-tri-đôn, Đan-ma-xi-a. Người đến Rô-ma học văn chương và đã lãnh bí tích Thánh Tẩy tại đó. Người sang Đông Phương và làm linh mục. Trở lại Rô-ma, người làm thư ký cho đức Giáo hoàng Đa-ma-xô. Thời gian này, người bắt đầu dịch Sách Thánh sang tiếng La-tinh và cổ võ nếp sống đan tu. Nhưng nhất là người đã sống ba mươi lăm năm cuối đời ở Bê-lem, gần cái hang nơi Đức Giê-su ra đời. Ở đây, người cầu nguyện hãm mình, chăm chỉ nghiên cứu, dịch và chú giải Kinh Thánh. Thánh Jerome qua đời tại Bethlehem ngày 30 tháng 9 năm 420. Xác thánh nhân được chôn cất kế bên hai người con thiêng liêng (Thánh Paola và Eustochium) dưới hầm mộ của thánh đường Giáng Sinh. Nhưng sau đó thánh tích của thánh Jerome được chuyển về La Mã. Thi hài của ngài hiện được chôn cất trong Ðền Ðức Bà Cả ở Rôma.

Đức Giáo Hoàng Boniface XIII đã tuyên xưng Thánh Jerome và Thánh Augustine là Tiến Sĩ Hội Thánh ngày 20 tháng 9 năm 1295

Thánh Giêrôme là một người thẳng tính, cương quyết. Ngài có nhân đức cũng như các tính xấu của một người ưa chỉ trích tất cả những vấn đề luân lý thường tình của con người. Như có người nhận xét, ngài là người không chấp nhận thái độ lưng chừng trong phẩm hạnh cũng như trong việc chống đối sự xấu xa. Ngài mau nóng, nhưng cũng mau hối hận, và rất nghiêm khắc với những khuyết điểm của chính mình. Người ta kể, khi nhìn thấy bức tranh vẽ Thánh Giêrôme đang cầm hòn đá đánh vào ngực, một giáo hoàng nói, “Ngài cầm hòn đá đó là phải, vì nếu không, Giáo Hội không bao giờ phong thánh cho ngài” (Ðời Sống Thánh Nhân của Butler)

Sau đây là những câu nói để đời của Thánh Nhân, bạn hãy bỏ ra mấy phút đọc và suy niệm coi thánh nhân đang muốn nhắn nhủ bạn điều gì để đến gần với Chúa hơn mỗi ngày qua việc đọc và suy niệm Lời Chúa.

(1) Tốt, tốt hơn, tốt nhất. Đừng bao giờ ngưng nghỉ cho tới khi cái tốt của bạn trở nên tốt hơn và cái tốt hơn trở nên tốt nhất. 

(2) Người phạm tội thì trong lòng không có Thiên Chúa, những việc họ yêu thích đều trở thành chúa của họ…. 

(3) Vừa khi bị nhục dục tấn công, chúng ta hãy than thở: “Lạy Chúa, xin cứu giúp con, xin đừng để con xúc phạm đến Chúa.” 

(4) Phần chúng ta là hiến dâng những gì chúng ta có thể, phần của Chúa là chu cấp những gì chúng ta không thể.

(5) Có bao nhiêu thương tích đau thương trên thân xác Chúa Giêsu, thì cũng có bấy nhiêu vết thương xé nát Trái Tim Mẹ. 

(6) Không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô. (Thánh Giêronimô)

Câu nào đánh động bạn nhất. Đối với mình thì câu 1.

Thánh Giêronimô, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

LẮNG NGHE LỜI CHÚA – HÀ THANH XUÂN

THEO CHÚA  – CHÚA THEO – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo!”.

“Xin ban cho con đức khiết tịnh và tiết độ, nhưng chưa phải bây giờ!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời thú nhận của Augustinô khiến chúng ta cười thầm, nhưng chợt nhận ra mình trong đó. Trong Tin Mừng hôm nay, có người xin theo Chúa Giêsu “bất cứ đâu”, lại có người xin làm một việc “trước đã”. Vậy ‘theo Chúa’ hay ‘Chúa theo?’.

Người đầu tiên nói rất rộng: “Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo!”. Chúa Giêsu đáp rất thật: chồn có hang, chim có tổ, Ngài không chỗ tựa đầu. Ngài không kể khổ, cũng không thử lòng anh bằng một việc khó; Ngài chỉ cho anh biết mình sắp theo ai: Đấng đang đi về Giêrusalem, nơi thập giá chờ. “Bất cứ nơi đâu” nghe thật rộng; nhưng nó có còn rộng khi con đường không dẫn tới nơi chúng ta mong đợi?

Với hai người khác, câu chuyện theo Chúa chuyển từ “đi đâu” sang “đi lúc nào”. Một người xin về chôn cất cha, người kia xin từ biệt gia đình. Cả hai đều có một việc “trước đã”; và dường như họ cùng thưa: “Được, nhưng chưa phải bây giờ!”. Chôn cất cha và từ biệt người nhà đâu có gì xấu; nhưng chính những việc tốt có lý đó lại có thể mở ra hết lần trì hoãn này đến lần khác. Đến khi mọi việc đã xong, liệu chúng ta còn muốn lên đường? “Nếu những điều tốt đẹp trên đời trở nên quan trọng hơn việc theo Chúa, thì đã có điều gì đó lệch chỗ!” – Robert Barron.

Với Gióp, “mọi việc đã xong” lại là lúc tai hoạ chồng chất, những gì ông từng có đều vuột khỏi tay. Thế mà Gióp vẫn thưa: “Này Người bắt đi, ai giành lại được? Ai dám hỏi Người: ‘Ngài làm gì thế?’” – bài đọc một. Gióp không hiểu đường Thiên Chúa và cũng không còn gì để bảo đảm ngày mai sẽ khá hơn; nhưng ông vẫn hướng về Ngài, “nguyện cho lời kinh vọng tới Ngài” – Thánh Vịnh đáp ca – chờ đợi nơi Ngài điều ông không thể tự làm cho đời mình.

Chúng ta cũng thường thưa “con theo Chúa”, rồi âm thầm vạch sẵn đường cho Ngài đi. Chúng ta cầu xin, nhưng muốn Ngài trả lời đúng lúc; sẵn lòng phục vụ, miễn việc ấy không xáo trộn điều mình đã định. Một người cần được lắng nghe lại đến giữa lúc chúng ta bận; một việc tốt cần làm lại phải nhường chỗ cho việc mình thích hơn. Chúng ta vẫn muốn làm điều lành, nhưng chỉ mong được chọn giờ và chọn cách. “Chúng ta muốn được cứu, nhưng theo cách của mình, chứ không theo cách của Chúa!” – Fulton Sheen.

Anh Chị em,

Chưa một lần Đức Kitô nói không với Chúa Cha; cũng chưa một lần Ngài nói “chưa phải bây giờ”. Ngài biết Giêrusalem đang chờ mình mà vẫn bước lên; biết thập giá ở cuối đường mà không quay lại. Ngài đi trước, còn các môn đệ bước theo với bao điều chưa hiểu lẫn sợ hãi. Đến khi họ bỏ chạy, Ngài vẫn đi trọn con đường ấy, rồi mở cho họ lối trở về. Lối ấy mở từ chính nơi các ông tưởng mọi sự đã khép lại: thập giá. Chúng ta tưởng theo Chúa là cố sức đi cho kịp Ngài. Nhưng chính lúc không còn theo nổi, chúng ta mới biết Ngài vẫn đi tìm mình: ‘theo Chúa – Chúa theo’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con hẹn rày hẹn mai; lúc con chùn chân, xin dẫn con đi tiếp; khi con lạc đường, xin tìm con, đưa con về!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XXVI Thường Niên, Năm Chẵn:

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/09/30.html

 ✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

57 Khi ấy, đang khi Đức Giê-su đi đường cùng các môn đệ, thì có kẻ đến thưa Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo.” 58 Người trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.”

59 Đức Giê-su nói với một người khác: “Anh hãy theo tôi!” Người ấy thưa: “Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã.” 60 Đức Giê-su bảo: “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa.”

61 Một người khác nữa lại nói: “Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã.” 62 Đức Giê-su bảo: “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.”


 

Chuyện xưa: Hạng Vũ và Lưu Bang

 Câu hỏi:

Hạng Vũ đánh với Lưu Bang, khi chiếm được thành nào, Hạng Vũ cũng đã  giết luôn cả đàn bà và con nít (trẻ con)? Có đúng không?

Gemeni trả lời:

Thông tin này hoàn toàn chính xác. Trong lịch sử Trung Quốc (đặc biệt là cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên), Hạng Vũ nổi tiếng là một vị tướng cực kỳ tàn bạo với chính sách “đồ thành” (tàn sát sạch sẽ toàn bộ người trong thành khi chiếm được).

Khác với Lưu Bang dùng chính sách thu phục lòng người (hứa “ước pháp tam chương”, không quấy nhiễu dân), Hạng Vũ lại nhiều lần tàn sát cả binh lính hàng phục lẫn dân thường, phụ nữ và trẻ em mỗi khi gặp sự kháng cự.

Dưới đây là các lần “đồ thành” tàn khốc điển hình của Hạng Vũ được sử sách ghi nhận:

  1. Đồ thành Tương Thành (năm 208 TCN)

Khi Hạng Lương và Hạng Vũ đánh Tương Thành, người trong thành chống trả dữ dội. Sau khi hạ được thành, vì tức giận, Hạng Vũ đã ra lệnh chôn sống toàn bộ quân dân trong thành, không phân biệt già trẻ gái trai, không để sống sót một ai.

  1. Đồ thành Thành Dương (năm 207 TCN)

Trong cuộc tiến quân đánh Tần, Hạng Vũ đánh chiếm Thành Dương và tiếp tục ra lệnh đồ thành, tàn sát sạch sẽ dân chúng trong vùng.

  1. Đồ thành Dĩnh Dương (năm 207 TCN)

Khi tiến đánh Dĩnh Dương, quân dân ở đây không chịu hàng ngay. Sau khi công phá được thành, Hạng Vũ lại ra lệnh thảm sát toàn bộ cư dân trong thành.

  1. Chôn sống 20 vạn hàng binh Tần ở Tân An (năm 206 TCN)

Sau khi tướng Tần là Chương Hàm đầu hàng, Hạng Vũ dẫn 20 vạn hàng binh Tần tiến về Hàm Dương. Vì lo sợ tù binh nổi loạn khi vào đất Tần, Hạng Vũ đã cho quân đêm tối bao vây và chôn sống toàn bộ 20 vạn hàng binh Tần tại Tân An.  

danviet

  1. Tàn phá và tàn sát ở Hàm Dương (năm 206 TCN)

Khi tiến vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần:

  • Mặc dù Tử Anh (vua Tần) đã ra hàng Lưu Bang từ trước, Hạng Vũ vẫn ra lệnh giết Tử Anh và toàn bộ hoàng tộc nhà Tần.
  • Cho quân lính cướp phá, tàn sát dân chúng, đốt sạch cung điện Áp Phòng (ngọn lửa cháy suốt 3 tháng mới tắt).
  1. Thảm sát người dân nước Tề (năm 205 TCN)

Khi đánh nước Tề (Điền Vinh), sau khi giành chiến thắng, Hạng Vũ đã cho san phẳng thành quách, đốt phá nhà cửa, chôn sống tất cả binh lính Tề hàng phục, bắt làm nô tỳ và tàn sát rất nhiều phụ nữ, trẻ em, người già. Hành động này tàn bạo đến mức khiến người dân nước Tề uất hận, đồng lòng đứng lên tiếp tục chống lại Hạng Vũ.

Nguyên nhân và hậu quả

  • Tâm lý trả thù và uy hiếp: Hạng Vũ dùng sự tàn bạo như một vũ khí tâm lý để đe dọa các thành khác phải đầu hàng ngay lập tức mà không dám kháng cự.
  • Mất lòng thiên hạ: Chính sách “đồ thành” giết hại cả phụ nữ, trẻ em và hàng binh đã làm cho quân dân khắp nơi căm phẫn. Đây là nguyên nhân cốt lõi khiến Hạng Vũ dần mất đi sự ủng hộ của dân chúng và giới sĩ phu, dẫn đến thất bại cay đắng trước Lưu Bang trong cuộc tranh hùng Hán – Sở.

 Ghi chú:

Hạng Vũ (Tây Sở Bá Vương) sinh năm 232 TCN và mất năm 202 TCN. Ông hưởng thọ khoảng 30 tuổi.

Lưu Bang (Hán Cao Tổ) sinh năm 256 TCN (hoặc 247 TCN theo một số ghi chép khác) và mất năm 195 TCN, hưởng thọ khoảng 62 tuổi


 

Nghề Nail ở Mỹ, ai trong nghề mới hiểu…

Phạm Sơn liêm

Có người hỏi tôi:

– Làm nail ở Mỹ chắc giàu lắm hả? 

Tôi cười.

– Giàu… kinh nghiệm thì có.

 Muốn biết nghề nail là gì, cứ đứng trước cửa tiệm lúc 9 giờ sáng.

 Chủ tiệm cầm ly cà phê chưa kịp uống.

Điện thoại reo.

– Chị ơi…

– Gì em?

– Hôm nay em nghỉ nha.

– Sao vậy?

– Xe em… không chịu nổ.

– Xe hư hả?

– Dạ… em chưa ra xe nữa, nhưng em có linh cảm.

 Chủ tiệm tắt điện thoại.

Thở dài. Mở cửa.

 Mỉm cười đón khách như chưa có chuyện gì xảy ra.

10 giờ.

Khách bước vào.

– Tôi có hẹn.

– Dạ, mời chị.

– Tôi chỉ có ba mươi phút thôi nha.

 Trong đầu chủ tiệm nghĩ:

“Ba mươi phút mà muốn full set, ombré, vẽ hoa, đắp bột, đính đá… chắc phải có phép màu.” 

Ngoài miệng vẫn cười:

– Dạ, tụi em cố gắng.

11 giờ.

 Thợ nhìn lịch.

– Hôm nay đông quá chị.

 12 giờ.

– Chị ơi… em xin về sớm.

– Sao vậy?

– Em mệt.

– Khách còn cả chục người.

– Dạ… em mệt thiệt.

 Thế là chủ tiệm lại xắn tay áo, kéo quần ngồi làm. Có ngày làm tới tối. Đứng lên mới biết… chân mình còn! 

Khách thì đủ hạng.

Có bà dễ thương. Làm xong.

– Cảm ơn em nhiều nha.

Tip hai mươi đô. Người thợ vui cả ngày.

 Nhưng cũng có bà… Làm hai tiếng rưỡi. Đổi màu ba lần.

 Sửa từng ngón.

 Xong đứng dậy. Để lại… Một đồng.

Rồi cười:

– See you next time!

 Người thợ cũng cười. Nhưng trong lòng chỉ muốn hỏi:

“Next time… chị nhớ mang theo cái ví lớn hơn nha!”

 Có ông chồng đưa vợ đi làm nail. Ngồi ghế chờ. Mười phút hỏi:

– Xong chưa?

Ba mươi phút sau.

– Còn bao lâu?

Một tiếng sau.

– Sao lâu dữ vậy?

 Đến khi tính tiền. Ông nhìn hóa đơn. Rồi nhìn bộ móng.

Lẩm bẩm:

– Anh thấy cũng giống hồi nãy mà… Bà vợ liếc một cái.

 Ông im luôn.

 Rồi đến mùa hè. Mùa cưới.

 Mùa prom. Mùa tốt nghiệp.

 Điện thoại reo liên tục.

– Chị còn chỗ không?

– Dạ hết rồi.

– Em làm giúp chị năm người.

– Dạ… hết thật rồi.

– Thôi ráng chen đi.

 Chủ tiệm nhìn lịch kín đặc. Chỉ biết cười trừ.

 Còn chuyện mở tiệm… Đó mới là câu chuyện dài. Hôm nay thấy bạn khai trương.

Tuần sau mình cũng mở.

 Tiệm nào cũng:

“Grand Opening.”

“Tặng quà.”

“Giảm giá.”

“Free design.”

“Free paraffin.”

 Khách thì vui. Chủ tiệm thì hồi hộp.

 Sáu tháng sau…

 Có tiệm đông nghịt. Có tiệm lặng như tờ. 

Có tiệm âm thầm sang bảng hiệu.

 Người ngoài tưởng làm chủ là oai. Người trong nghề mới biết… Làm chủ nhiều khi là người về sau cùng. Tắt đèn cuối cùng. Khóa cửa cuối cùng. Và là người thức khuya nhất để tính xem… Tháng này đủ tiền trả tiền thuê chưa?

 Hai mươi, ba mươi năm trôi qua. Biết bao gia đình người Việt lớn lên từ nghề nail.

 Có người từ đôi bàn tay cầm cây dũa mà nuôi con thành bác sĩ.

Có người nuôi con thành kỹ sư.

Có người trả xong căn nhà đầu tiên.

Có người đón được cha mẹ sang Mỹ đoàn tụ.

 Nghề nail không phải nghề sang.

Nhưng là nghề lương thiện.

Không phải nghề dễ.

 Nhưng là nghề đã cưu mang hàng trăm ngàn người Việt trên đất Mỹ.

Vì vậy, nếu một ngày bạn bước vào tiệm nail, hãy mỉm cười với người thợ.

Có thể họ đã ngồi tám tiếng liên tục.

Có thể lưng họ đang đau.

Có thể tối nay họ còn phải về đón con, nấu cơm, trả hóa đơn.

 Nhưng họ vẫn sẽ hỏi bạn bằng nụ cười quen thuộc:

“Hôm nay mình làm màu gì, chị?”

 Đó không chỉ là một câu hỏi.

 Đó là cách họ tiếp tục mưu sinh, nuôi gia đình và giữ lấy giấc mơ Mỹ bằng chính đôi bàn tay của mình.

 Phạm Sơn liêm