Quyết định từ chối của bà (Tiến sĩ Frances Kelsey) đã cứu sống hàng nghìn người.

My Lan Pham

 Bà vừa nhận việc thì một hãng dược lớn đòi phê duyệt “thuốc bom tấn”.

Quyết định từ chối của bà đã cứu sống hàng nghìn người.

Tháng 9 năm 1960. Washington, D.C.

Tiến sĩ Frances Kelsey bước vào Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) trong ngày làm việc đầu tiên. Khi đó bà 46 tuổi, là một nhà dược lý học có bằng bác sĩ y khoa, và là một trong số rất ít phụ nữ làm việc trong lĩnh vực quản lý dược phẩm liên bang.

Cấp trên giao cho bà một hồ sơ tưởng chừng rất bình thường.

Một công ty dược mang tên Richardson-Merrell đang xin phép lưu hành một loại thuốc an thần mới có tên Kevadon. Hoạt chất của nó là thalidomide ,loại thuốc khi đó đã gây “cơn sốt” tại châu Âu và Canada. Các bác sĩ kê đơn rộng rãi để điều trị lo âu, mất ngủ, đặc biệt là ốm nghén ở phụ nữ mang thai. Thuốc được cho là an toàn đến mức ở một số quốc gia, người dân có thể mua không cần toa bác sĩ.

Công ty dự báo doanh thu khổng lồ tại Mỹ. Họ muốn thuốc có mặt trên kệ hiệu thuốc trước Giáng sinh. Họ tin rằng quá trình phê duyệt chỉ mất vài tuần, thậm chí vài ngày.

Họ không hề biết mình đang đối mặt với ai.

Tiến sĩ Kelsey bắt đầu xem xét hồ sơ. Bà cảm thấy có điều gì đó không ổn. Các nghiên cứu an toàn quá sơ sài. Dữ liệu về cách thuốc được chuyển hóa trong cơ thể rất mơ hồ. Đáng lo ngại nhất, gần như không có thông tin nào về tác động của thuốc đối với phụ nữ mang thai ,dù đây lại là nhóm đối tượng sử dụng chính.

Bà gửi trả hồ sơ với một dòng ngắn gọn:

“Dữ liệu không đầy đủ. Từ chối phê duyệt.”

Richardson-Merrell choáng váng. Đây không phải cách mọi thứ vẫn diễn ra. Thuốc đã được phê duyệt ở hàng chục quốc gia. Doanh thu đã lên đến hàng triệu USD. Vậy mà một viên chức FDA ,lại còn là phụ nữ ,dám chặn đường họ chỉ vì những “chi tiết giấy tờ”.

Công ty lập tức mở một chiến dịch gây áp lực dữ dội ,đủ sức khiến hầu hết mọi người phải khuất phục.

Lãnh đạo công ty gọi điện cho cấp trên của bà, yêu cầu đảo ngược quyết định. Họ đích thân đến văn phòng, dùng dáng vẻ và quyền lực để đe dọa. Họ gọi bà là “quan chức tiểu tiết”, “bới lông tìm vết” vì những điều vô nghĩa. Họ nói bà thiếu kinh nghiệm, cứng nhắc, và đang gây hại cho bệnh nhân khi giữ lại một loại thuốc có lợi.

Các tạp chí chuyên ngành cũng nhập cuộc. Báo chí ngành dược công khai nghi ngờ năng lực chuyên môn của bà. Công ty ám chỉ rằng bà đang “say quyền lực”, lạm dụng thẩm quyền mới có.

Hãy thử đặt mình vào vị trí của bà: mới đi làm, giữa một môi trường gần như toàn đàn ông trong thời kỳ phụ nữ làm khoa học thường xuyên bị xem nhẹ. Không mạng lưới hỗ trợ. Không tiền lệ. Cả ngành công nghiệp dược nói rằng bà sai. Chỉ cần ký giấy là xong. Chỉ cần tự nhủ: “Thuốc đã được phê duyệt khắp nơi rồi, chắc chắn là an toàn.”

Nhưng Frances Kelsey có một thứ không thể bị bắt nạt hay thương lượng: liêm chính khoa học.

Bà yêu cầu bổ sung nghiên cứu. Khi công ty gửi dữ liệu không đạt yêu cầu, bà lại từ chối. Hết lần này đến lần khác. Bà đặt thêm câu hỏi về các báo cáo tổn thương thần kinh ở bệnh nhân Anh sử dụng thuốc lâu dài. Bà chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong nghiên cứu. Bà kéo dài quy trình suốt 11 tháng căng thẳng, bất chấp những lời đe dọa và công kích.

Rồi tháng 11 năm 1961.

Những báo cáo đầu tiên xuất hiện từ Đức. Các bác sĩ nhận ra một mô hình kinh hoàng: trẻ sơ sinh chào đời với phocomelia ,một dị tật bẩm sinh hiếm và cực kỳ nghiêm trọng. Tay chân của các em bị teo ngắn hoặc không hình thành. Có trẻ tay chỉ dừng lại ở vai với bàn tay nhỏ như vây cá. Chân còi cọc hoặc biến mất hoàn toàn. Nhiều em còn bị tổn thương nội tạng nặng.

Con số nạn nhân tăng vọt. Và rồi mối liên hệ được xác nhận: mẹ của các em đã dùng thalidomide khi mang thai.

Sự thật lan khắp châu Âu và Australia như một cơn ác mộng. Hơn 10.000 trẻ em bị ảnh hưởng. Một nửa không sống sót qua những năm đầu đời. Những em còn sống phải đối mặt với tàn tật suốt đời. Hình ảnh những cơ thể non nớt khiếm khuyết khiến cả thế giới bàng hoàng.

Ngành dược chấn động. Các chính phủ vội vàng thu hồi thuốc. Kiện tụng bùng nổ. Sự nghiệp của nhiều người chấm dứt. Nhưng thiệt hại thì không thể đảo ngược. Cả một thế hệ gia đình bị hủy hoại.

Tại Mỹ, thảm kịch này hầu như không xảy ra.

Chỉ có một vài trường hợp do các mẫu thuốc mà công ty phát cho bác sĩ trong thời gian chờ phê duyệt. Nhưng thảm họa trên diện rộng từng tàn phá châu Âu? Nó đã không bao giờ diễn ra tại Hoa Kỳ.

Chỉ vì một người phụ nữ ngồi sau bàn làm việc đã từ chối bị khuất phục.

Năm 1962, Tổng thống John F. Kennedy mời Tiến sĩ Kelsey đến Nhà Trắng và trao cho bà Huân chương Dịch vụ Dân sự Liên bang Xuất sắc ,một trong những phần thưởng cao quý nhất dành cho công chức Mỹ. Bà là người phụ nữ thứ hai từng nhận được vinh dự này.

Nhưng với Frances Kelsey, phần thưởng lớn nhất không phải là huy chương hay sự tôn vinh. Đó là việc bà biết rằng, ở đâu đó trên nước Mỹ, hàng nghìn đứa trẻ đang chạy nhảy, vui chơi, sống trọn vẹn, mà không hề hay biết họ đã từng ở rất gần một số phận hoàn toàn khác.

Câu chuyện của bà cho thấy một điều sâu sắc về chủ nghĩa anh hùng. Nó không phải lúc nào cũng kịch tính. Đôi khi, nó rất lặng lẽ. Đôi khi, đó chỉ là ngồi trước một tập hồ sơ, nhìn vào dữ liệu chưa đầy đủ, và có đủ dũng khí đạo đức để nói “không” khi mọi người đều đang hét “có”.

Đôi khi, anh hùng là người bị cho là khó tính, cố chấp, quá thận trọng.

Đôi khi, anh hùng là người tin vào chuyên môn, trực giác và trách nhiệm với những con người mình sẽ không bao giờ gặp, hơn là tin vào những tiếng nói quyền lực đang đòi hỏi sự tuân phục.

Tiến sĩ Frances Kelsey làm việc tại FDA cho đến năm 90 tuổi. Bà dành cả sự nghiệp để bảo vệ những con người không hề biết tên bà. Và mọi đứa trẻ sinh ra khỏe mạnh tại Mỹ sau năm 1960 đều mang ơn bà ,một món nợ mà họ sẽ không bao giờ có thể hiểu hết.

Bà không chặn một viên đạn.

Bà chặn một cây bút khỏi ký vào một tờ giấy.

Và điều đó đã thay đổi tất cả.

Theo curiously Unusual Wonders

My Lan Phạm


 

‘Ngày Tận Thế’ đang đến rất gần?-Hiếu Chân/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

January 27, 2026

Hiếu Chân/Người Việt

Chỉ hai mươi ngày nữa năm Con Rắn (Ất Tỵ) sẽ đi qua, năm Con Ngựa (Bính Ngọ) sẽ đến. “Mã đáo thành công,” năm mới sẽ mang theo phúc lộc cho nhân quần xã hội, theo niềm tin truyền thống của các người gốc Á Châu như người Việt chúng ta. Tuy vậy, nhìn vào thế cục, cả trong nước Mỹ lẫn trên toàn cầu, chưa bao giờ người ta bi quan về tương lai như hiện nay.

Một di tích của trận đánh bom nguyên tử còn sót lại ở thành phố Hiroshima, Nhật Bản, từ năm 1945. (Hình mminh họa: STR/JIJI Press/AFP via Getty Images)

Theo bản tin của hãng Reuters, hôm Thứ Ba, 27 Tháng Giêng, 2026, kim “Đồng Hồ Tận Thế” đã được vặn tới một chút, chỉ còn cách thời khắc nửa đêm 85 giây đồng hồ, nghĩa là gần với nửa đêm hơn bốn giây so với năm ngoái. Đây là một lời cảnh báo đáng sợ không chỉ cho mỗi cá nhân mà cả nhân loại. Hãy tạm gác những niềm riêng để cùng suy ngẫm về tương lai chung, bởi vì suy cho cùng thế giới cũng chỉ là một ngôi làng toàn cầu trong đó mọi sinh linh đều gắn bó với nhau mật thiết.

Chỉ còn 85 giây!

Đồng Hồ Tận Thế (Doomsday Clock) không có thật mà là một công cụ tượng trưng để cảnh báo cho loài người mối nguy bị huỷ diệt bởi chiến tranh nguyên tử trên thế giới. Ý tưởng về Ngày Tận Thế hay sự hủy diệt nền văn minh xuất hiện sau khi Hoa Kỳ thả hai trái bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật vào Tháng Tám, năm 1945.

Chỉ trong chớp mắt cả thành phố sầm uất bị san phẳng, số người chết lên tới hàng trăm ngàn và hàng trăm ngàn người khác bị nhiễm phóng xạ, sống lay lắt trong bệnh hoạn, tật nguyền. Quả là không có thảm họa nhân tạo nào khủng khiếp hơn; tận thế không còn là truyền thuyết hoang đường mà đã hiển hiện ngay trước mắt.

Choáng váng vì sức hủy diệt của bom nguyên tử, năm 1947, các nhà khoa học thuộc tổ chức phi lợi nhuận Chicago Atomic Scientists do Albert Einstein và J. Robert Oppenheimer lãnh đạo đã lập ra Đồng Hồ Tận Thế để cảnh báo loài người về nguy cơ diệt vong khi các tiến bộ về khoa học và kỹ thuật không được kiểm soát.

Thời điểm tận thế được quy ước là nửa đêm, lúc kim đồng hồ chỉ 24:00. Kim đồng hồ này không chuyển động một chiều mà chạy tới hoặc lùi lại tùy vào nguy cơ chiến tranh nguyên tử và các nguy cơ hủy diệt khác tăng lên hay giảm xuống. Khi ra đời, kim Đồng Hồ Tận Thế chỉ 23:53, tức là bảy phút trước nửa đêm – khoảng cách mà nhân loại bị huỷ diệt không còn xa.

Trong tám mươi năm qua, kim Đồng Hồ Tận Thế đã dịch chuyển 26 lần vào Tháng Giêng hằng năm, trong đó tám lần lùi lại và 18 lần tiến tới. Khi Liên Xô thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên năm 1949, kim đồng hồ nhích lên 23:57 (cách 3 phút); rồi lùi xuống 23:48 (cách 12 phút) năm 1963 khi Mỹ và Liên Xô ký hiệp ước cấm vũ khí nguyên tử; tiến trở lại mức 23:57 năm 1984 khi Mỹ và Liên Xô tái chạy đua vũ trang.

Những năm gần đây, Đồng Hồ Tận Thế không chỉ cảnh báo nguy cơ chiến tranh nguyên tử mà khái niệm “hủy diệt” được mở rộng để bao hàm nhiều nguy cơ khác đe dọa sự sinh tồn của nền văn minh nhân loại. Đó có thể là hậu quả thảm khốc của biến đổi khí hậu, đại dịch, thậm chí sự ra đời và phát triển vượt tầm kiểm soát của trí thông minh nhân tạo.

Thời điểm nhân loại cách xa ngày tận thế nhất là năm 1991, kim đồng hồ chỉ 23:43 (cách 17 phút) sau khi Mỹ và Liên Xô ký hiệp định cắt giảm vũ khí nguyên tử chiến lược START-1 và sau đó là sự tan rã của Liên Xô, kết thúc Chiến Tranh Lạnh. Thời điểm cận kề Ngày Tận Thế nhất là hôm nay 27 Tháng Giêng, 2026, kim đồng hồ chỉ 23:58:35, chỉ cách nửa đêm 1 phút 25 giây!

Đây cũng là lần thứ ba trong bốn năm qua, kim Đồng Hồ Tận Thế nhích về phía trước, chứng tỏ thế giới đang vận hành theo một xu thế hết sức nguy hiểm.

Bóng ma vũ khí nguyên tử trở lại

Khi công bố hiện trạng Đồng Hồ Tận Thế năm 2026, bà Alexandra Bell, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành tổ chức Bulletin of the Atomic Scientists nhận xét: “Về rủi ro nguyên tử, trong năm 2025 không có gì diễn ra đúng hướng. Những khuôn khổ ngoại giao lâu đời hoặc đang sụp đổ, hoặc đang bị chèn ép, mối nguy thử nghiệm vũ khí nguyên tử đã quay trở lại và hiện có ba cuộc chiến tranh diễn ra dưới cái bóng của vũ khí nguyên tử cùng những mối đe dọa đi kèm. Nguy cơ sử dụng vũ khí nguyên tử đang cao một cách không chấp nhận được.”

Có ít nhất sáu cường quốc sở hữu vũ khí nguyên tử đang tham gia chiến tranh ở một mức độ nào đó: Nga xâm lược Ukraine, Mỹ và Israel dội bom Iran, Ấn Độ và Pakistan đụng độ ở biên giới, Trung Quốc gây sức ép quân sự lên Đài Loan trong khi Bắc Hàn không ngừng phô diễn năng lực nguyên tử.

Tuy chưa có nước nào đem bom nguyên tử ra sử dụng trong thực chiến nhưng đe dọa sử dụng thì nhiều. Gần đây Nga phóng loại hỏa tiễn siêu thanh Oreshnik có thể mang đầu đạn nguyên tử vào các thành phố Ukraine và bố trí loại hỏa tiễn này ở Belarus nhằm rút ngắn khoảng cách tới các thủ đô Châu Âu là một sự leo thang không thể coi nhẹ.

Rào chắn ngăn chặn sự lan tràn của vũ khí nguyên tử là các hiệp ước giữa Nga và Hoa Kỳ; hiệp ước cuối cùng đang còn hiệu lực là The New START, ký kết dưới thời Tổng Thống Barack Obama quy định mỗi nước chỉ được bố trí tối đa 1,550 đầu đạn nguyên tử. Nhưng hiệp ước New START sẽ hết hạn vào ngày 5 Tháng Hai, 2026, tức chỉ một tuần nữa. Hồi Tháng Chín, 2025, Tổng Thống Nga Vladimir Putin đề nghị cùng Mỹ gia hạn hiệp ước thêm một năm nhưng Tổng Thống Donald Trump chưa trả lời. Quan điểm của chính quyền Mỹ là mọi hiệp ước về hạn chế vũ khí nguyên tử nhất thiết phải có sự tham gia của Trung Quốc – điều mà Bắc Kinh chưa chấp nhận, lấy lý do kho vũ khí của họ còn quá nhỏ so với Nga và Mỹ.

Nếu Hiệp Ước New START hết hạn mà không có giải pháp ngoại giao nào thay thế thì Nga, Mỹ và nhiều nước khác sẽ không còn bị ràng buộc nữa.

Lựa chọn hợp lý hay rủi ro hủy diệt?

Tổng Thống Donald Trump hồi Tháng Mười năm ngoái còn ra lệnh cho quân đội Mỹ chuẩn bị nổ thử bom nguyên tử trở lại sau hơn ba mươi năm đình chỉ. Gần phần tư thế kỷ qua, trừ Bắc Hàn, không quốc gia nào nổ thử bom nguyên tử cả. Nếu Mỹ tái tục việc nổ thử bom nguyên tử đời mới thì không có gì ngăn cản các nước khác làm theo. Kẻ hưởng lợi nhiều nhất trong việc này là Trung Quốc, theo bà Bell – từng là viên chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao Mỹ phụ trách kiểm soát vũ khí và giải trừ quân bị.

Hơn thế nữa, sự kiện ông Trump đảo ngược chính sách đối ngoại đã tồn tại nhiều thập niên của Mỹ theo hướng dựa trên sức mạnh và đồng tiền, đang buộc các đồng minh, và cả đối thủ, phải tính tới chuyện tự bảo vệ trước dã tâm thôn tính của các thế lực chuyên chế Nga, Trung Quốc, Bắc Hàn.

Phát triển vũ khí nguyên tử được cho là lựa chọn hợp lý nhất. Ông Trump đổ quân bắt sống Tổng Thống Venezuela Nicolas Maduro như lấy đồ trong túi; ông cho ném bom Iran, ông doạ thâu tóm đảo Greenland của Đan Mạch… Nếu các quốc gia này có vũ khí nguyên tử như Bắc Hàn thì chắc ông Trump đã không tự tung tự tác như vậy. Ông Putin cũng chỉ xua quân xâm lược Ukraine sau khi Kiev đã từ bỏ kho vũ khí nguyên tử theo Thỏa Thuận Budapest năm 1994.

Các nước đồng minh lâu nay được che chở dưới chiếc dù an ninh của Mỹ cũng đang tính toán lại chiến lược. Ba Lan và Đức ở Châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản ở Đông Á đều đang có kế hoạch tự phát triển vũ khí nguyên tử khi nhận ra Mỹ không còn là đồng minh tin cậy mà Nga, Trung Quốc và Bắc Hàn cứ đe dọa xâm lấn. Thăm dò dư luận cho thấy 52% cử tri Đức muốn đất nước họ có vũ khí nguyên tử, con số này ở Nam Hàn là 72.8% cử tri.

Mỗi một trái bom nguyên tử ra đời là nhân loại có thêm một rủi ro đi đến sự hủy diệt.

Không thể ngủ yên!

Bà Alexandra Bell cho rằng, sở dĩ tình hình u ám như vậy là do sự thất bại trong lãnh đạo toàn cầu. Các siêu cường Mỹ, Trung Quốc, Nga càng ngày càng hung hăng, làm mọi chuyện chỉ vì lợi ích riêng của mình bất chấp sự an nguy của toàn nhân loại.

Sự sụp đổ của trật tự thế giới dựa trên luật pháp, sự tái sinh của chủ nghĩa đế quốc chẳng những thúc đẩy nhu cầu phát triển vũ khí nguyên tử mà còn ngăn cản sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết những mối đe dọa sinh tử khác như biến đổi khí hậu, đại dịch và trí tuệ nhân tạo (A.I.).

Tổng Thống Trump đã rút Mỹ ra khỏi Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) và Hiệp Ứớc Liên Hiệp Quốc về chống biến đổi khí hậu – hiện tượng mà ông coi là “trò lừa đảo xanh!”

Ở quy mô thế giới, A.I. đang được tích hợp tràn lan vào mọi lĩnh vực cuộc sống mà không được kiểm soát; đáng sợ nhất là đưa A.I. vào các hệ thống vũ khí, chẳng hạn các drone tự tìm và diệt mục tiêu theo lệnh đặt trước ở chiến trường Ukraine hiện nay.

Người ta còn lạm dụng A.I. để tạo ra các mối đe dọa sinh học mới, các mầm bệnh mới để phục vụ các mục đích chính trị. Phổ biến hơn cả là nạn sử dụng A.I. để tạo ra và phát tán tin giả, tin xuyên tạc trên quy mô toàn cầu để lũng đoạn chính trị, định hướng dư luận theo những ý đồ nguy hiểm. Riết rồi bây giờ đọc một bản tin trên mạng, nghe một bài hát hoặc xem một bộ phim người ta cứ băn khoăn không biết đó là tác phẩm thực hay chỉ là một sản phẩm do A.I. tạo ra.

Chiến tranh nguyên tử, đại dịch, trái đất nóng lên, A.I. vượt ngoài tầm kiểm soát… làm cho tương lai của loài người trở nên hết sức bấp bênh và mờ mịt!

Chưa cần nhìn cây kim Đồng Hồ Tận Thế nhích dần tới phía nửa đêm, chỉ quan sát những sự kiện đang diễn ra hàng ngày thì người ưu thời mẫn thế không thể yên lòng cho dù mùa Xuân đang gõ cửa! [kn]


 

SỢ MẤT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.

“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!” – Henry Newman.

Kính thưa Anh Chị em,

Như vậy, “chỉ điều đang lớn mới thật sự sống!”. Ý tưởng này được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay. Chúa Giêsu cảnh báo, ai ‘sợ mất’ mà giữ, thì “ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.

Chúng ta thường nghĩ đức tin suy yếu vì những thử thách lớn; nhưng Chúa Giêsu cho thấy điều một điều khác: đức tin không lớn vì chúng không được thể hiện! Ánh sáng không tắt vì bóng tối mạnh, mà vì ‘được đặt’ dưới giường, ‘được che’ cho an toàn, như niềm tin được giữ trong vùng ít rủi ro nhất. ‘Sợ mất’ sự yên ổn, nên chúng ta né tránh những chọn lựa phải trả giá; ‘sợ mất’ các mối quan hệ, nên chúng ta im lặng trước điều cần nói; ‘sợ mất’ quyền kiểm soát, nên chúng ta chỉ để Chúa bước vào những phần đời đã được dọn sẵn. Đức tin còn đó, nhưng không còn toả lan; vẫn hiện diện, nhưng không còn sinh lực.

Vậy mà “sự sống phải tăng trưởng!”; bằng không, nó sẽ lãnh lấy một bản án rất tiềm ẩn – bắt đầu mất! Trong ánh sáng ấy, lời Chúa Giêsu vang lên như một tất yếu, chỉ khi chúng ta dám đem điều mình có ra sống, ra cho, đặt lên cao, thì Thiên Chúa mới có chỗ để ban thêm. Còn khi chúng ta giữ lại vì ‘sợ mất’, chính nỗi sợ ấy lại làm chúng ta hoá nghèo, và “Ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”. Khi bám vào sự an toàn, sự an toàn ấy làm chúng ta chậm bước; bám vào cái đang có, cái đang có ấy khép lại cánh cửa của điều Chúa muốn ban thêm. Và rồi, chúng ta không mất vì bị lấy đi, mà mất vì không dám trao đi. “Điều ta bám chặt vào rốt cuộc trở nên nặng hơn cả điều ta đang mang!” – Henri Nouwen.

Tin Mừng hôm nay không mời chúng ta tìm nguy hiểm, nhưng mời chúng ta tin đủ để dám sống điều mình tin. Từ đó, chúng ta có thể cho đi thời gian, sức lực, uy tín, và cả những toan tính rất riêng. Bởi lẽ, trong Nước Trời, không phải ai giữ được nhiều thì sống, mà là ai dám để sự sống lưu chuyển qua mình thì sẽ được đầy hơn; “Ai không đủ can đảm để làm nên lịch sử, sẽ trở thành đối tượng nghèo nàn của lịch sử!” – Alfred Delp. “Vì ai đã có, thì được cho thêm!”.

Anh Chị em,

“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!”. Chúa Kitô không cứu chúng ta bằng cách giữ lại sự sống, mà bằng cách làm tăng trưởng nó – hiến trao – sự sống. Ngài không chọn con đường an thân, nhưng con đường tự hiến; không giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng huỷ mình ra không. Trên thập giá, xem ra Ngài mất tất cả, nhưng chính trong sự “mất” ấy, sự sống được mở ra cho muôn người. Can đảm là chìa khoá cho chính sự sống!” – Morgan Freeman. Nếu Chúa Kitô không ‘sợ mất’ để sự sống toả lan, thì không lạ gì người môn đệ không thể lớn lên nếu cứ tìm cách giữ mình khỏi mọi mất mát!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con giữ lại vì sợ hãi, cho con biết trao đi; khi con khép lòng vì tổn thương, cho con biết mở ra; khi con chùn bước vì mỏi gối, cho con biết đứng lên và đi tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần III Thường Niên

Mang đèn tới để đặt trên đế. Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong đấu ấy cho anh em.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 4,21-25

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường ? Nào chẳng phải là để đặt trên đế sao ? 22 Vì chẳng có gì che giấu mà không được tỏ lộ, chẳng có gì bí ẩn mà không được đưa ra ánh sáng. 23 Ai có tai để nghe thì hãy nghe !”

24 Người nói với các ông : “Hãy để ý tới điều anh em nghe. Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa. 25 Vì ai đã có, thì được cho thêm ; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi.”


 

BỨC THƯ CỦA MỘT BÀ MẸ TỪ VIỆN DƯỠNG LÃO

Xuyên Sơn

Năm nay tôi 82 tuổi, tôi có 4 người con, 11 đứa cháu, và 2 chắt, hiện tại thì tôi đang sống trong một căn phòng rộng chừng 12m vuông..

Bây giờ nhà cửa không còn, những thứ xa hoa phù phiếm cũng không có, bù lại tôi được chăm sóc tận tình từ A đến Z; có người lo dọn dẹp phòng, chăn drap gối nệm sạch sẽ, cơm nước được lo tận nơi, mỗi ngày được đo huyết áp và cân đo thường xuyên, nói chung tôi không làm gì cả, mỗi giờ trôi đi là sự hưởng thụ trong tuổi già.

Tôi rất nhớ! Nhớ tiếng cười đùa của lũ cháu, tôi không còn thấy chúng lớn tiếng cãi vã rồi vật nhau.

Không còn được là trọng tài để phán xử đứa nào đúng, đứa nào sai.

Nhớ chúng nhiều lắm.

Tôi thèm được trở về nơi chốn cũ để tận hưởng không gian ấm áp của một thứ gọi là gia đình…

Bây giờ các con tôi, có đứa thì cách 15 ngày đến thăm tôi một lần, có đứa thì ba bốn tháng mới thấy chúng một lần, và có đứa thì chưa thấy mặt nó một lần kể từ khi tôi đến ở Viện Dưỡng Lão này.

Tôi nhớ da diết căn bếp ấm cúng của tôi, nơi đó tôi đã làm đủ các loại bánh, mùi bánh nướng thơm ngậy vẫn còn lưu giữ trong tiềm thức của tôi.

À, còn mảnh vườn sau nhà nữa, đào xới đất để trồng rau, trồng hoa cũng một tay tôi dù lúc đó tôi cũng không còn khoẻ.

Giờ thì mất hết rồi!

Tôi có sở thích đọc sách, giờ vẫn luôn có cuốn sách bên mình nhưng tôi không đọc được vì mắt đã mờ…

Tôi không biết thời gian của tôi còn bao lâu nữa, còn bao lâu thì tôi cũng phải sống trong sự cô đơn và chờ đợi…

Ở căn phòng này xem như ngôi nhà cuối đời của mình, tôi cố gắng xua đuổi nỗi buồn trong sinh hoạt hằng ngày, tôi như một nhóm trưởng,

tôi giúp những người tồi tệ hơn tôi trong giới hạn cho phép của tôi qua những mẫu chuyện vui trong sách, những lời an ủi cho họ và cho chính tôi.

Chúng tôi hát cùng nhau một bài hát cũ, và hôm sau tôi biết được người bạn phòng bên đã ra đi mãi mãi…

Họ nói bây giờ tuổi thọ kéo dài hơn.

Tại sao?

Tôi phải sống trong nỗi cô đơn dài nữa ư?

Lấp đầy sự trống trải bằng cuốn Album hình mà tôi đem theo đến đây. Hình cưới ngày xưa của tôi, hình lúc tôi sanh đứa đầu đến đứa cuối, hình tôi cười sung sướng khi ẵm đứa cháu đầu lòng, rồi đứa chắt bụ bẫm bên bà già đã đầy nếp nhăn.

Hình gia đình đầy đủ, hình lúc ông chồng già của tôi bỏ tôi đi mà về với Chúa.

Và đó là tất cả!

Nếu được mơ ước thì tôi mong các con, cháu, chắt của tôi đừng bao giờ quên hai chữ “GIA ĐÌNH” ngay cả khi cha mẹ về già, các con nên xem đó là bổn phận phải chăm lo khi họ không tự lo được cho mình…

Tôi hy vọng các thế hệ tiếp theo sẽ hiểu rằng Gia Đình là một Đại Gia Đình gồm nhiều thế hệ, gọi là sóng sau dồn sóng trước, như một chu kỳ tuần hoàn vì ai rồi cũng đến “sanh lão bệnh tử”…

Các con hãy chăm lo tốt cho cha mẹ khi họ về già… cũng giống như khi họ còn trẻ lo cho các con là chúng ta vậy…

Chi Nguyen sưu tầm

Ảnh st minh họa cho bài.


 

NGƯỜI KHÔN HIẾM KHI NÓNG NẢY: BẢN LĨNH CỦA SỰ TĨNH LẶNG VÀ NGHỆ THUẬT QUẢN TRỊ TÂM THẾ

Gieo Mầm Ơn Gọi 

Lm. Anmai, CSsR

Trong hành trình tu dưỡng của một đời người, có lẽ bài học khó khăn nhất không nằm ở việc chinh phục thế giới bên ngoài, mà chính là cuộc trường chinh chinh phục những cơn bão lòng. Người ta thường nói: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, nhưng thực tế, người khôn ngoan là kẻ biết rèn giũa bản tính ấy qua sự mài lỳ của lý trí. Họ hiếm khi nóng nảy, không phải vì họ mang trong mình một trái tim hóa đá hay một tâm hồn vô cảm trước những nghịch cảnh, mà bởi họ đã đi qua đủ những đổ vỡ để hiểu rằng: Cái giá của một phút “sướng miệng” thường là những năm tháng hối hận dài đằng đẵng. Sự nóng nảy, xét cho cùng, là một loại chất độc mà ta tự uống nhưng lại mong người khác phải chết.

Sự nóng nảy không bao giờ là biểu tượng của sức mạnh, dù đôi khi nó mang một lớp vỏ bọc đầy uy lực bằng những tiếng quát tháo hay những lời nhục mạ. Ngược lại, khi ta nổi giận, đó là lúc ta đang phơi bày toàn bộ sự bất lực của mình trước thực tại. Người khôn ngoan hiểu một chân lý sắc lạnh: Nóng nảy không làm mình mạnh hơn, nó chỉ giúp người khác nhìn thấu điểm yếu của mình. Khi bạn nóng giận, bạn đánh mất khả năng kiểm soát tình hình và trao quyền điều khiển cảm xúc của mình vào tay kẻ đối diện. Một người làm chủ được cơn giận là một người cầm lái chắc chắn nhất cho con tàu cuộc đời mình, họ không để những cơn sóng dữ cuốn phôi đi lý trí và những thành quả đã dày công xây dựng.

Chính vì hiểu rõ quy luật đó, người khôn chọn cách im lặng. Sự im lặng của họ không phải là sự hèn nhát, không phải là sự trốn tránh hay cam chịu, mà là một sự chọn lọc có ý thức. Họ hiểu rằng có những cuộc cãi vã mà thắng lợi cũng chỉ là một đống tro tàn của các mối quan hệ. Thắng một người thân để rồi mất đi tình cảm, thắng một người đồng nghiệp để rồi tạo ra kẻ thù, thắng một người lạ để rồi rước lấy sự mệt mỏi – những chiến thắng ấy thực chất là những thất bại thảm hại nhất. Họ biết buông đúng lúc để không tự phá nát cuộc đời mình chỉ vì một phút hơn thua vụn vặt.

Lời nói khi đã phát ra, giống như bát nước hất đi, không bao giờ có thể thu hồi trọn vẹn. Người khôn ngoan luôn khắc cốt ghi tâm rằng: Có những lời xin lỗi dù chân thành đến đâu cũng không thể xóa nhòa vết sẹo mà sự nóng nảy đã khắc lên trái tim người khác. Một chiếc đinh đóng vào tường rồi nhổ ra vẫn để lại lỗ thủng, một lời mạt sát nói ra rồi rút lại vẫn để lại nỗi đau thầm kín. Do đó, họ học cách “nhẫn tâm” với chính những cơn bốc đồng của mình. Họ kiềm tỏa nó, bóp nghẹt nó từ khi nó còn là một đốm lửa nhỏ trong tâm trí, không để nó bùng lên thành đám cháy thiêu rụi cả rừng xanh công đức và nhân cách.

Biết khi nào nên im lặng, biết khi nào nên quay lưng, đó chính là đỉnh cao của sự trưởng thành. Người càng từng trải càng ít nói, không phải vì họ nghèo nàn vốn từ hay không còn gì để chia sẻ, mà vì họ đã thấu hiểu giá trị của sự thinh lặng. Họ nhận ra rằng ngôn từ nếu không làm cho thế giới tốt đẹp hơn thì tốt nhất nên được giữ lại trong lòng. Họ dành thời gian để quan sát, để thấu hiểu và để cảm thông thay vì phán xét hay đáp trả bằng sự hung hãn. Họ hiểu rằng trong cuộc đời này, giữ được cái tâm bình thản giữa muôn vàn biến động mới là cách tốt nhất để giữ được cả cuộc đời.

Sự tỉnh thức trong từng hơi thở, sự chậm lại trong từng phản ứng là minh chứng cho một nội lực thâm hậu. Khi ta không còn bị chi phối bởi những kích động bên ngoài, khi ta có thể mỉm cười trước những lời khiêu khích, đó là lúc ta thực sự tự do. Người khôn ngoan biến sự nóng nảy thành sự nhẫn nại, biến sự bốc đồng thành sự thâm trầm. Họ xây dựng cuộc đời mình trên nền tảng của sự điềm tĩnh, bởi họ biết rằng một tâm hồn tĩnh lặng là một hồ nước trong vắt, nơi mà chân lý và hạnh phúc có thể soi bóng rõ ràng nhất. Cuối cùng, bản lĩnh của một con người không được đo bằng việc họ đã hạ gục bao nhiêu người, mà được đo bằng việc họ đã chế ngự được chính mình bao nhiêu lần trước những cơn bão giận.

Lm. Anmai, CSsR


 

THÁNH TÔMA AQUINÔ, LINH MỤC TIẾN SĨ HỘI THÁNH

 

Tại vương quốc Naples, người vợ quí phái của lãnh chúa Aquinô được vị tu sĩ Thánh thiện cho biết, là bà sẽ rất đỗi vui mừng vì con trẻ bà mong đợi sẽ sáng chói với sự hiểu biết khôn sánh, Người con ấy là Tôma.  Ngài sẽ là một vị thánh trong hàng ngũ các thánh.  Tôma sinh tại lâu đài Roccasecca, gần Naples khoảng năm 1225.  Được sáu tuổi cha ngài dẫn tới tu viện Montê Cassinô.  Con trẻ được dâng hiến đã hỏi:
  – Thiên Chúa là gì? 

Và các tu sĩ ngạc nhiên vì thấy con trẻ chìm đắm trong các suy ngắm (quá sớm và sáng suốt) ấy. 

Lúc mười tuổi, Ngài được gửi tới đại học Naples.  Các giáo sư đã khám phá ra dưới dáng vẻ nhút nhát của Ngài, một trí khôn thượng thặng và một đời sống siêu nhiên sáng ngời với các đức tính hiền hòa, trong trắng và đức ái của Ngài.  Trong những kỳ nghỉ tại lâu đài cùng cha mẹ, Ngài gắng sức trợ giúp người nghèo.  Điều này làm cho chủ lâu đài phiền trách Ngài.  Tình yêu của Ngài đối với người mẹ thật bao la và đã tạo nên mối dày vò suốt đời. 

Khi chưa tốt nghiệp đại học, Ngài đã quyết định vào dòng Đaminh.  Lúc ấy dòng thành lập chưa được ba năm.  Gia đình Ngài rúng động với ý tưởng một con người quý phái như vậy lại trở thành một tu sĩ dòng ăn xin.  Ngoài ra họ còn mong mỏi rằng: một ngày kia, Ngài sẽ còn làm điều gì đó, để phục hồi vận mệnh của họ bằng việc trở lại làm tu viện trưởng Montê Cassinô.  Nghe được tin, các anh của Ngài đang là sĩ quan trong quân đội, đã giận dữ.  Họ bắt Ngài trên đường đi Rôma và giam Ngài dưới chân tháp của lâu đài.  Gia đình gắng công vô ích khi nài nỉ, đe dọa và quyến rũ Tôma đổi ý.  Các anh Ngài còn dùng tới một cô gái làng chơi để hại người nữa.  Nhưng cương quyết, Tôma đã dùng cây củi cháy để xua đuổi nàng, rồi dùng than củi này vẽ lên tường hình thánh giá.  Quỳ xuống trước hình thánh giá, Tôma với nhiệt tâm mạnh mẽ hơn bao giờ hết, lập lại lời hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa.  Được hai năm, các chị Ngài đã cảm động trước sư cương nghị và những khổ cực của Ngài, đã giúp Ngài trốn qua cửa sổ bằng một cái thúng.  Các tu sĩ Đaminh đợi Ngài dưới chân tháp.

 Tôma khấn dòng ở Naples, rồi đi bộ từ Rôma tới đại học Colonia.  Trong môi trường học thức ưu việt này, Ngài cố dấu kín các bước tiến khác thường của mình như Ngài đã che kín vinh dự gia đình.  Không khi nào Ngài để cho người ta ngờ rằng mình là cháu của hoàng đế Barberoussa và là bà con của vua Frêdêric II cả.  Khiêm tốn là bà hoàng của lòng Ngài.  Ngày kia một bạn học giảng bài cho Ngài.  Tôma phải là bậc thầy của anh, đã tiếp nhận bài học với lòng biết ơn.  Đó là thói câm lặng của Toma.  Vì bình dị nên Ngài bị coi là đần độn.  Người ta gọi chàng trai to con này là con bò câm.  Nhưng thầy Albertô đã coi Ngài như một thiên tài và tuyên bố:
  – Con bò nầy sẽ rống lớn, đến nỗi những tiếng rống của nó sẽ vang dội khắp thế giới. 

Người sinh viên tài ba này đã tỏ ra dễ dạy như một trẻ em.  Tại phòng ăn, vị chủ chăn lầm lẫn, bắt Ngài sửa lại cách phát âm đã chính xác.  Lập tức Tôma sửa lại liền.  Sau bữa ăn các bạn Ngài bày tỏ sự ngạc nhiên, nhưng thánh nhân trả lời:  – Điều quan trọng không phải là cách phát âm của một từ ngữ, nhưng là biết khiêm tốn vâng phục hay không.

 Lúc hai mươi tuổi, Tôma đã được gọi làm giáo sư tại Côlônia, Ngài xuất bản một tác phẩm danh tiếng, rồi đi Paris mở trường dạy triết học ở đường thánh Giacôbê và thụ phong linh mục.  Các nhà trí thức tới hỏi ý Ngài.  Vua Luy IX xin ý kiến Ngài trong những việc hệ trọng và mời Ngài đồng ban dự tiệc.  Nhưng không hoàn cảnh nào đã làm cho Tôma chia trí khỏi những suy tư sâu xa.  Chẳng hạn tại bàn ăn của nhà vua, người ta thấy Ngài bất chợt ra khỏi sự yên lặng của mình, đập mạnh lên bàn và kêu lên:
  – Đây rồi, một luận chứng quyết liệt chống lại những người theo phái Manicheô.

 Bối rối vì quên rằng mình đang ở trước mặt vua, Ngài muốn xin lỗi, nhưng vua thánh đã truyền cho Ngài đọc ngay cho thư ký chép lại những suy tư có giá trị siêu việt đó. 

Kinh nguyện, làm việc và ý chí là những yếu tố tạo nên sức mạnh của Tôma, Ngài nói:
  – Ai không cầu nguyện thì cũng giống như người lính chiến đấu mà không có khí giới.
  – Ngài định nghĩa sự nhàn rỗi như là: Cái búa mà quân thù bửa xuống.

 Ngài trả lời cho bà chị hỏi làm sao để được cứu rỗi:  Phải muốn. 

Dầu bận việc rao giảng, dạy học và đi tới những nơi Đức Thánh Cha sai tới Thánh Tôma vẫn viết nhiều tác phẩm thành công rực rỡ.  Trong một lần hiện ra, Ngài nghe thấy thầy chí thánh nói với mình:

  – Hỡi con, con đã viết cách xứng đáng về ta, con muốn được thưởng gì?

Tôma trả lời:
  – Ôi lạy Chúa, con không muốn gì ngoài Chúa cả. 

Người ta quả quyết rằng: Ngài đã nói chuyện với Đức Trinh Nữ, các thiên thần và các thánh.  Và khi cầu nguyện tâm hồn Ngài như lìa khỏi xác.  Ngài còn được mệnh danh mãi là “Tiến sĩ thiên thần” Ngài có một tâm hồn vui tươi, nhã nhặn với anh em, đến nỗi có người nói:
  – Mỗi lần thấy và nói chuyện với Ngài, tôi thấy như tràn ngập niềm vui thiêng liêng. 

Thánh nhân đã qua mười năm tại Italia.  Một phần trong thời gian nầy ở trong giáo triều, Đức Thánh Cha Urbanô đã trao phó cho Ngài nhiều trọng trách, rõ ràng nhất là lo cải hóa người Do Thái.  Đức Thánh Cha còn muốn gọi Ngài lên chức giám mục nhưng Ngài đã từ chối.  Năm 1269 Ngài trở lại Paris để dạy thần học.  Năm 1272 Ngài được gọi về Naples để lo việc cho nhà mẹ dòng Đaminh.  Đến năm cuối đời Ngài cống hiến để hoàn tất một tác phẩm vĩ đại, bộ “Tổng luận thần học.”  Nhưng cuối năm 1273 đột nhiên Ngài ngừng viết.  Khi dâng thánh lễ, Ngài bỗng có linh nghiệm rằng mình không thể viết thêm được nữa.  Réginald, thư ký của Ngài thúc giục viết thêm, thánh nhân đã trả lời rằng: theo điều đã hiển hiện cho Ngài thì tất cả chẳng ra gì:
  –   “Vì mọi điều tôi đã viết đối với tôi chỉ là rơm rác so với điều đã được mạc khải cho tôi thấy.”

 Đức Thánh Cha Grêgôriô cho mời thầy dòng danh tiếng đến dự công đồng Lyon.  Dầu bệnh hoạn, thánh Tôma đã tuân phục và đi bộ với hai anh em để tới dự công đồng.  Đi đường lên cơn sốt.  Sức khỏe đã chận Người lại tu viện Fossa Nova.  Cảm thấy sắp chết, Ngài tuyên xưng đức tin và khi rước lễ, Ngài nói:
  –  Tôi tin vững rằng: Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật trong bí tích này, con thờ lạy Chúa, ôi Thiên Chúa, đấng cứu chuộc con”. 

Ngài qua đời năm 1274, khi mới 49 tuổi.  Ngài qua đời đơn sơ và dịu hiền của một trẻ em không ngừng chiêm ngưỡng Thiên Chúa. 

Năm 1328, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXII tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.  Năm 1567, Ðức Piô V lại phong ngài làm tiến sĩ Hội Thánh với biệt hiệu “Tiến Sĩ Thiên Thần.”  Ðến năm 1880, Ðức Lêô XIII đặt ngài làm quan thầy các trường Công Giáo. 

Nguồn: https://www.tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim


 

Thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày mới để mang chữ “NHÂN” vào những mảnh đời đang đau khổ. Hôm nay 27/1 Giáo Hội mừng kính thánh An-giê-la Mê-ri-si, Trinh nữ. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 27/01/2026. (t2-25)

Thánh nhân sinh ngày 21 tháng 3 năm 1474  tại Desenzano, xứ Lombardie, Ý Đại Lợi. An-giê-la  mồ côi cha mẹ và ở với các anh và cậu. Vào lúc 56 tuổi, An-giê-la Mê-ri-si (Angela Merici) từ chối lời yêu cầu của Ðức Giáo Hoàng. Ngài biết Ðức Clementê VII muốn ban cho ngài một vinh dự lớn lao và một cơ hội vĩ đại để phục vụ khi đức giáo hoàng yêu cầu ngài nhận trách nhiệm lãnh đạo một dòng nữ tu chuyên về điều dưỡng. Nhưng An-giê-la  biết công việc điều dưỡng không phải là điều Thiên Chúa muốn mời gọi ngài thi hành.

    Ngài mới từ Ðất Thánh trở về. Khi trên đường đến đó ngài bị bệnh nặng và bị mù. Tuy nhiên, ngài nhất quyết tiếp tục cuộc hành hương và thăm viếng các thánh địa với tất cả lòng sùng kính hơn là muốn chiêm ngưỡng bằng cặp mắt. Trên đường về ngài được chữa lành và được sáng mắt. Ðiều ấy chắc chắn đã nhắc nhở ngài rằng không thể nhắm mắt trước nhu cầu của những người chung quanh, và đừng đóng cửa lòng trước lời mời của Thiên Chúa.

    Ở khắp nơi trong thành phố, đâu đâu ngài cũng thấy các em gái nghèo nàn, không có học vấn và cũng không có tương lai. Trong thế kỷ mười lăm và mười sáu của Thánh Angela, vấn đề giáo dục phụ nữ là dành cho người giầu và cho các nữ tu. An-giê-la là người có học thức. Cha mẹ ngài chết sớm khi ngài mới mười tuổi và sau đó ngài phải sống với người chú. Ngài thực sự bối rối khi thấy chị của ngài từ trần mà không được lãnh nhận các bí tích. Trong một thị kiến ngài được đảm bảo là chị của ngài được an toàn trong bàn tay Thiên Chúa — và cũng qua thị kiến ấy ngài tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa.

    Khi chú ngài từ trần, trở về nhà ngài nhận thấy các em gái trong vùng không có một chút học vấn. Nhưng ai sẽ dạy các em? Thời ấy thật khác biệt. Phụ nữ không được phép làm nghề giáo và các cô chưa chồng thì không được tự ý đi ra ngoài — dù để phục vụ người khác. Nữ tu là các phụ nữ có kiến thức nhưng họ không được phép bước chân ra khỏi tu viện. Thời đó không có dòng nữ tu chuyên về giáo dục như ngày nay.

    Ðể giúp đỡ các em, An-giê-la nghĩ ra một phương cách mới. Ngài quy tụ một nhóm các cô thuộc dòng Ba Phanxicô, đi ra đường phố và tụ tập các em gái lại để dạy học cho các em. Các cô không có tiền cũng như không có quyền thế, họ chỉ có tấm lòng tận tụy cho việc giáo dục và cho Ðức Kitô. Sống trong chính nhà của mình, họ gặp gỡ để cầu nguyện và dạy học. Họ thành công đến nỗi An-giê-la được yêu cầu đưa sáng kiến ấy để thực hiện ở các thành phố khác, và đã làm nhiều người kinh ngạc, kể cả đức giáo hoàng.

    Mặc dù ngài từ chối đức giáo hoàng, nhưng có lẽ thỉnh cầu của đức giáo hoàng đã gợi ý cho ngài thấy rằng cần phải chính thức hóa tổ chức của ngài. Mặc dù chưa bao giờ là một nữ tu, Hội Thánh Ursula của An-giê-la  là nhóm nữ tu đầu tiên hoạt động ngoài khuôn khổ nhà dòng và là dòng nữ đầu tiên chuyên lo giáo dục.

     Thánh An-giê-la Mê-ri-si từ trần ngày 27 tháng 1 năm 1540 tại Brescia, khi ngài khoảng bảy mươi tuổi. Mộ phần trở nên một nơi hành hương. Thánh tích còn tại thánh đường Thánh Afra, Brescia Ý Đại Lợi. Ngay sau khi qua đời, nữ tu Angela đã được dân chúng thành phố ca tụng như một đấng thánh. Họ đến kính viếng thi hài của chị thánh đông đảo đến độ phải hoãn lễ an táng đến 30 ngày sau.

    Thánh nữ được tôn phong Chân Phước năm 1768 do Đức Giáo Hoàng Clement XIII và đến ngày 27 tháng 5 năm 1807 Đức Giáo Hoàng Pius VII đã ghi tên thánh nữ vào sổ bộ các thánh của Giáo Hội.

 (Nguồn: Dòng Tên) Mời bạn suy niệm 3 câu nói của ngài hôm nay nhé:

1/ Chúng ta phải làm phúc bố thí. Đức bác ái chinh phục và lôi kéo các linh hồn đến với nhân đức.

2/ Hãy nhớ rằng ma quỷ không ngủ đâu nhưng luôn tìm đủ mọi cách để huỷ hoại chúng ta.

3/ Hãy làm ngay bây giờ những gì mà bạn ao ước làm khi giờ lâm tử của bạn đến.

Câu nào đánh động bạn nhất? Theo mình thì câu 3

Lạy Thiên Chúa nhân từ, Chúa đã cho thánh An-giê-la trinh nữ nên gương bác ái và khôn ngoan; vì lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con cũng noi theo Người mà trung thành tuân giữ lời Chúa dậy, và tuyên xưng đức tin trong cuộc sống hằng ngày.

(Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh nữ An-giê-la Mê-ri-si). 

From: Do Dzung

*************************

Nguyện cầu – Nguyễn Hồng Ân (Sáng tác Lm. Thành Tâm)

NAY VẬY, MAI KIA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người gieo giống đây là người gieo Lời!”.

“Tiến triển là không thể nếu không thay đổi, và những ai không thể đổi tư duy thì không thể thay đổi bất cứ điều gì!” – Bernard Shaw.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, không thể sinh hoa kết trái nếu không có biến chuyển; hạt Lời chỉ lớn lên khi cách nghĩ của lòng người chịu đổi thay – một lòng người ‘nay vậy, mai kia!’.

Dụ ngôn không chỉ hỏi bạn đang là loại đất nào, mà sâu xa hơn: đất ấy “đang trở thành gì?”. Không đất nào sinh ra đã là đất tốt; chỉ có những mảnh đất “đang được biến đổi – hoặc đang bị bỏ mặc!”. Bốn loại đất không là bốn hạng người cố định, mà là bốn trạng thái có thể luân chuyển – ‘nay vậy, mai kia’ – trong cùng một con người! Nay, vệ đường – nghe mà không dừng lại; mai, sỏi đá – hứng khởi nhưng không bám rễ; rồi thành gai góc – đời sống bóp nghẹt; và cũng có lúc là đất tốt. Vì thế, trọng tâm không phải là, “Tôi, loại đất nào?” mà là “Tôi đang để mình trôi về hướng nào?”.

Tiếp đến, hạt giống không đổi; chỉ có “độ mở” lòng người đổi. Vấn đề không nằm ở sức sống của Lời, mà ở “độ rộng” của tim! Không vì Lời yếu, mà vì con tim có thể khép lại theo nhiều cách rất tinh vi – dửng dưng, nông cạn, hoặc bận rộn cùng những lo lắng trông có vẻ rất “chính đáng”. Và chúng có thể trở thành những “lực kéo” quen thuộc kéo đời sống chúng ta xuống bởi quá nhiều thứ phải lo. Vì thế, Lời không chết vì bị chống đối, mà vì bị đặt sau quá nhiều ưu tiên khác! Bạn không thể làm nên việc lớn nếu bị phân tâm bởi những việc nhỏ. “Nơi bạn dồn sự chú ý là nơi bạn dành thời gian theo đuổi!” – Idowu Koyenikan.

Vậy mà người gieo cứ gieo, không dò đất, không chọn chỗ, và không ‘sẻn so’ hạt giống. Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta là đất tốt; nhưng Ngài gieo vì tin đất “có thể hoá tốt”. Điều đó mở ra một chân trời hy vọng cho mỗi người, và một cái nhìn bao dung với người khác – hôm nay, vệ đường; mai kia, đất tốt – và Thiên Chúa vẫn không ngưng gieo. Vậy điều quan trọng không phải là tôi đã từng thế nào, mà là hôm nay tôi có cho phép Lời “ở lại?”. “Cách duy nhất để hiểu được sự thay đổi là đắm mình vào nó, hoà nhịp và cùng nhảy!” – Alan Watts.

Anh Chị em,

Giữa những đổi thay của lòng người, “Chúa Kitô vẫn là một – hôm qua cũng như hôm nay!”. Nơi Ngài, không có “lưỡng lự”, không có “có lẽ”, không có “để sau”, chỉ một tiếng “có” trọn vẹn dành cho Chúa Cha và cho con người. Vì thế, dù chúng ta “khép mở thất thường”, Ngài vẫn nhẫn nại gieo; dù chúng ta té lên ngã xuống, Ngài không mệt mỏi tha, và không thôi yêu thương. Chúng ta chậm, Ngài đợi; chúng ta lạc, Ngài dẫn về. Chính sự trung tín không đổi ấy bảo đảm cho ngày mùa cứu rỗi: không vì bạn và tôi luôn là đất tốt, nhưng vì đã để cho Ngài ở lại, cày xới, và biến đổi. “Đổi suy nghĩ, và bạn sẽ đổi thế giới!” – Vincent Peale.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những lối quanh co, Chúa đã chờ con; qua biến cố lớn nhỏ, Chúa đã gọi con; cho con bớt thất thường để trung thành với những chọn lựa lặng lẽ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần III Thường Niên

Người gieo giống đi ra gieo giống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 4,1-20

1 Khi ấy, Đức Giê-su lại bắt đầu giảng dạy ở ven Biển Hồ. Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống ngồi trên thuyền đang đậu dưới biển, còn tất cả dân chúng thì ở trên bờ. 2 Người dùng dụ ngôn mà dạy họ nhiều điều. Trong lúc giảng dạy, Người nói với họ :

3 “Các người nghe đây ! Người gieo giống đi ra gieo giống. 4 Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. 5 Có hạt rơi trên sỏi đá, chỗ không có nhiều đất ; nó mọc ngay, vì đất không sâu ; 6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. 7 Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt và không sinh hoa kết quả. 8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nó mọc và lớn lên, sinh hoa kết quả : hạt được ba chục, hạt được sáu chục, hạt được một trăm.” 9 Rồi Người nói : “Ai có tai để nghe thì hãy nghe !”

10 Khi còn một mình Đức Giê-su, những kẻ ở chung quanh Người cùng với Nhóm Mười Hai mới hỏi Người về các dụ ngôn. 11 Người nói với các ông : “Phần anh em, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa đã được ban cho anh em ; còn với những người kia là những kẻ ở ngoài, thì cái gì cũng phải dùng dụ ngôn, 12 để họ có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy, có lắng tai nghe cũng không hiểu, kẻo họ trở lại và được ơn tha thứ.”

13 Người còn nói với các ông : “Anh em không hiểu dụ ngôn này, thì làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn ? 14 Người gieo giống đây là người gieo Lời. 15 Những kẻ ở bên vệ đường, nơi Lời đã gieo xuống, là những kẻ vừa nghe thì Xa-tan liền đến lấy đi Lời đã gieo nơi họ. 16 Còn những kẻ được gieo trên nơi sỏi đá là những kẻ khi nghe Lời thì liền vui vẻ đón nhận, 17 nhưng họ không đâm rễ mà là những kẻ nông nổi nhất thời ; sau đó, khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, họ vấp ngã ngay. 18 Những kẻ khác là những kẻ được gieo vào bụi gai : đó là những kẻ đã nghe Lời, 19 nhưng những nỗi lo lắng sự đời, bả vinh hoa phú quý cùng những đam mê khác xâm chiếm lòng họ, bóp nghẹt lời khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. 20 Còn có những người được gieo trên đất tốt : đó là những kẻ nghe Lời và đón nhận, rồi sinh hoa kết quả, kẻ được ba chục, kẻ được sáu chục, kẻ được một trăm.”


 

Bắn chết người gần Little Saigon, trốn về Việt Nam, nghi can gốc Việt bị giải về Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

January 26, 2026

ORANGE COUNTY, California (NV) – Lê Việt Quốc Bảo, 21 tuổi, bị tình nghi bắn hai thiếu niên ở Stanton, California, làm một người chết và một bị thương nặng, sau đó trốn về Việt Nam, rồi bị bắt và bị giải giao về Mỹ hôm 21 Tháng Giêng, theo Văn Phòng Biện Lý Orange County (OCDA) cho biết hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng.

Nghi can đang bị giam tại nhà tù Orange County và sẽ bị truy tố tội giết người và âm mưu giết người.

Nghi can Lê Việt Quốc Bảo. (Hình: OCDA)

Ngoài ra, còn có hai nghi can gốc Việt khác trong án mạng này là Danny Huỳnh và Troy Quang Lư cũng bị giam ở nhà tù quận hạt.

Theo OCDA, nghi can Lê Việt Quốc Bảo bị tố cáo là một trong năm đồng phạm và là một trong hai người nổ súng bắn chết em Samuel Vidal, 15 tuổi, cư dân San Bernardino, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025.

Sự việc xảy ra vào khoảng 2 giờ trưa ở khu nhà có dãy số 11000 đường Court, giữa đường Beach với trường trung học Rancho Alamitos High School.

Bốn ngày sau, nghi can gốc Việt trốn về Việt Nam, FBI được xác nhận với sự trợ giúp của cơ quan điều tra phía Việt Nam.

Bắt đầu từ Tháng Mười, 2025, FBI, cùng với sự trợ giúp của Sở Cảnh Sát Orange County và đơn vị điều tra tội phạm của Biện Lý Cuộc Orange County, bắt đầu cuộc truy lùng quốc tế đối với nghi can Lê Việt Quốc Bảo.

Theo yêu cầu của FBI, an ninh Việt Nam bắt Lê Việt Quốc Bảo, rồi Bộ Công An phối hợp với Bộ Ngoại Giao Việt Nam tiến hành giải giao nghi can về Mỹ.

Ngày 21 Tháng Giêng, nghi can Lê Việt Quốc Bảo được đưa lên máy bay về Mỹ và đưa vào nhà tù Orange County qua sự phối hợp của nhiều cơ quan liên bang và địa phương.

Nghi can Ali Ibrahim Alsouqi. (Hình: OCDA)

Hai nghi can gốc Việt khác – Danny Huỳnh, 24 tuổi, bị tố cáo là người nổ súng, và Troy Quang Lư, 21 tuổi, bị tố cáo là người lái xe cùng đồng bạn bỏ trốn lúc xảy ra sự việc – cũng bị truy tố nhiều tội hình, bao gồm giết người và có ý định giết người, và đang bị giam tại nhà tù Orange County.

Còn nghi can thứ tư, Ali Ibrahim Alsouqi, đang trốn ở Jordan, OCDA tin là như vậy. 

Nghi can thứ năm chưa được xác định, vẫn theo OCDA. 

Theo thông cáo, vào ngày 5 Tháng Bảy, 2025, Ali Ibrahim Alsouqi dàn xếp cho bốn người khác đến nhà anh ở Garden Grove, nơi họ lên kế hoạch bắn các thành viên băng đảng đối thủ.

Hôm đó, nghi can Lê Việt Quốc Bảo gặp Danny Huỳnh, Troy Quang Lư, và một người chưa được xác định tại nhà nghi can Alsouqi.

Tất cả năm người sau đó lên chiếc Mercedes Benz màu đen của Troy Quang Lư. Chủ xe sau đó che bảng số xe trước khi lái đến Stanton để thực hiện kế hoạch.

Khoảng 2 giờ chiều, Vidal và người bạn 13 tuổi đụng độ những thanh niên che mặt trên chiếc Mercedez ở đường Court. Danny Huỳnh bước ra khỏi xe, bắt đầu nổ súng vào hai thiếu niên.

Lê Việt Quốc Bảo, lúc đó ngồi phía trước, bên cạnh người lái xe Troy Quang Lư, nổ súng ra.

Nạn nhân Vidal bị bắn năm phát, thủng tim, phổi, gan, và tụy, chết tại chỗ.

Thiếu niên 13 tuổi bị bắn vào ngực, nhưng sống sót.

Vài giờ sau, Troy Quang Lư bị bắt.

Đoạn đường ở Stanton, nơi xảy ra án mạng. (Hình: Google Maps)

Các nhà điều tra xác nhận Danny Huỳnh, Lê Việt Quốc Bảo, Ali Ibrahim Alsouqi, và một người chưa xác định là những người ngồi trong xe cùng với Troy Quang Lư.

Nếu bị kết tội, nghi can Lê Việt Quốc Bảo có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân vì đồng lõa với bốn người khác trong án mạng ngày 5 Tháng Bảy, 2025, giết chết Samuel Vidal, và làm bị thương nặng thiếu niên 13 tuổi, bạn của nạn nhân.

Troy Quang Lư có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân và Danny Huỳnh có thể bị tối đa từ 50 năm tù tới chung thân.

Nghi can Alsouqi bị truy tố một tội âm mưu giết người và có thể bị tối đa từ 25 năm tù tới chung thân, nếu bị kết tội.

Stanton có khoảng 40,000 cư dân, tọa lạc sát phía Bắc Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại.

Thành phố từng có một nghị viên gốc Việt đầu tiên và duy nhất vào năm 2019. (Đ.D.)


 

Nợ ân tình – TG Văn Chương

TG Văn Chương

Cách đây ba tháng, thằng con đang tuổi ăn tuổi lớn của tôi gây tai họa: nó làm nát bét chiếc xe gia đình vì mải nhắn tin lúc lái. Ơn trời, không ai bị thương, nhưng bảng báo giá sửa xe làm tôi muốn xỉu: 4.200 đô. Riêng tiền bảo hiểm bắt mình tự chịu đã là 2.500 đô rồi. Tôi vừa giận, vừa run. Nhà làm gì có số tiền đó. Tôi phải cày hai công việc một lúc, chồng tôi thì mất sức lao động. Có những tháng, cả nhà phải thắt lưng buộc bụng, đắn đo mãi giữa việc đóng tiền điện hay mua đồ ăn.

Anh thợ sơn xe chỉ tôi đến một chỗ dưới mạn Nam thành phố. — “Dưới đó rẻ hơn,” ảnh nói. “Nhưng chỉ nhận tiền mặt thôi nhé.”

Tôi lái xe đến một nơi trông chẳng khác gì bãi đồng nát. Xe cộ rỉ sét chất đống, cỏ dại mọc lởm chởm qua những vết nứt bê tông. Tấm biển hiệu thì bạc phếch, treo lủng lẳng sắp rụng. Tôi đã định quay đầu xe đi về cho rảnh nợ.

Thế rồi, một ông lão lẹt bẹt bước ra. Chắc cũng phải 75 tuổi trở lên. Bộ đồ công nhân lấm lem dầu mỡ, đôi bàn tay hơi run run. Ông nói với cái giọng địa phương đặc sệt: — “Xe cần sửa hả cô?”

Tôi kể hết nỗi khổ của mình. Ông nhìn cái xe, lầm bầm rồi đi vào trong. Một lúc sau, ông cầm ra cái bảng kẹp giấy: — “Tôi lấy 800 đô thôi.” Tôi há hốc mồm: — “Nhưng người ta bảo tận…” — “Kệ họ. Họ đòi thay đồ mới, sơn xịn nên mới đắt,” ông thản nhiên đáp. “Tôi có đồ tốt rồi, tôi sẽ làm cho nó chạy chắc chắn là được. 800 đô nhé.” — “Dạ… rồi khi nào thì tôi phải gửi tiền ông?” — “Giờ đưa trước 50 đô cũng được. Còn lại bao giờ có thì đưa, không vội.”

Tôi đứng ngẩn tò te: — “Sao ông lại tin tôi thế?” Ông nhìn tôi bằng ánh mắt của một người đã trải đời: — “Hồi chiến tranh, có một người lạ đã giấu cả nhà tôi trong kho thóc của họ suốt nửa năm trời. Họ chẳng lấy một đồng, chỉ dặn: ‘Sau này có điều kiện thì hãy giúp lại người khác’. Tôi thì chẳng có kho thóc nào để giấu ai cả, nhưng tôi biết sửa xe.”

Tôi đã đứng khóc ngon lành ngay giữa cái bãi xe cũ nát đó.

Ông sửa xong trong ba ngày. Xe chạy êm ru, chắc chắn. Lúc đến lấy xe, tôi thấy một bà cụ đang vừa khóc vừa múa may bên chiếc xe móp méo của mình. Ông lão chỉ gật đầu, đặt tay lên vai bà cụ rồi cầm lấy chìa khóa. — “Lại một ca ‘từ thiện’ nữa hả ông?” — Tôi hỏi khẽ. Ông nhún vai: — “Chồng bà ấy mới mất, chưa có lương hưu. Không có xe thì bà ấy không đi thăm cháu được. Thôi, giúp bà ấy một tay.”

Suốt hai tháng sau, mỗi lần có chút tiền, 50 hay 100 đô, tôi lại mang qua trả ông. Lần nào ghé, tôi cũng thấy một người nào đó đang ở đó — khi thì anh bố đơn thân, lúc thì anh công nhân vừa mất việc. Họ đều lái những chiếc xe nát tưởng chỉ có nước bán sắt vụn, nhưng vẫn chạy tốt nhờ bàn tay ông lão — người chỉ lấy tiền theo kiểu “tùy tâm”… hoặc chẳng lấy xu nào.

Lần cuối cùng sang trả nốt nợ, tôi tò mò hỏi: — “Ông cứ làm thế này mãi thì sống sao nổi?” Ông mỉm cười hiền từ: — “Cũng có người trả đủ tiền mà cô. Tiền của họ giúp tôi duy trì cửa hàng, còn những người trả ít giúp tôi duy trì… cái tâm mình. Thế là huề.”

Tuần trước, tôi chạy ngang qua xưởng của ông. Cửa đóng then cài, có tấm biển “Bán nhà” dựng trước sân. Tôi hoảng quá, gọi ngay vào số điện thoại trên danh thiếp. Con gái ông bắt máy, giọng nghẹn lại: — “Cha cháu mất hôm thứ Ba rồi cô ạ. Cụ bị đột quỵ ngay tại xưởng.”

Tôi lặng người, tim thắt lại. — “Chị em cháu đang kiểm kê sổ sách,” cô ấy nói tiếp. “Trong ngân hàng cụ chỉ có 847 đô. Nhưng cuốn sổ tay của cụ… có tận 73 người vẫn còn nợ tiền. Tổng cộng hơn 30.000 đô.” Cô ấy dừng lại một chút, rồi kể: — “Cụ để lại mảnh giấy ghi: ‘Xóa nợ hết đi. Họ cần cái xe để mưu sinh hơn là cha cần tiền’.”

Đám tang ông hôm qua đông lắm. Cả 73 con người có tên trong sổ đều đến. Những người xa lạ không quen biết nhau, nhưng đều mang ơn ông lão — người đã không bỏ mặc chúng tôi lúc khốn khó. Chúng tôi gom tiền lại, trả hết các khoản nợ còn tồn của xưởng, rồi đưa phần còn lại cho con gái ông.

Về nhà, con trai tôi hỏi: — “Mẹ ơi, sao mẹ khóc nhiều thế? Mẹ có thân với ông ấy lắm đâu.” Tôi bảo con: — “Bởi vì ông ấy đã dạy mẹ một bài học mà thế hệ của con cần phải biết. Mỗi ngày, con nhìn thấy rất nhiều người — nhưng hãy thực sự nhìn thấy họ. Thấy cái xe họ hỏng, thấy lòng họ đau, thấy túi họ rỗng. Lúc đó con phải chọn: mình sẽ là người chìa tay ra giúp, hay là người quay lưng bỏ đi?”

Thằng bé im lặng. Tháng trước, tôi thấy nó bắt đầu đi làm tình nguyện ở chỗ phát cơm từ thiện. Nó không khoe khoang, cứ lặng lẽ mà làm thôi.

Cái xưởng của ông lão vẫn đang treo biển bán. Tấm biển “Chỉ nhận tiền mặt” vẫn còn đó. Nhưng 73 người chúng tôi đều hiểu ý nghĩa thật sự của nó là gì: Có bao nhiêu trả bấy nhiêu. Lúc nào có thì trả. Nếu có thể thì trả.

Vì có những món nợ không thể tính bằng tiền. Đó là món nợ của lòng trắc ẩn: Nhớ rằng vào cái ngày ta tuyệt vọng nhất, đã có một người bằng lòng “sửa chữa” cuộc đời ta mà không đòi hỏi gì.

TG Văn Chương

From: T. Nguyen


 

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Gieo Mầm Ơn Gọi

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Ngày 16/10/1943. Rome vừa rơi vào tay phát xít Đức được năm tuần. Pietro chạy đến cửa sổ.

Những gì ông nhìn thấy đã thay đổi cuộc đời mình mãi mãi.

Xe tải quân sự lấp đầy những con phố hẹp của khu Do Thái. Lính SS lôi các gia đình ra khỏi nhà. Trẻ em gào khóc gọi cha mẹ khi bị đẩy lên xe. Người già loạng choạng, hai tay bị trói quặt ra sau lưng.

Pietro chứng kiến hơn 1.200 người bị bắt đi. Ông hiểu rất rõ điều đó có nghĩa là gì.

Hai ngày sau, những chuyến tàu rời Rome hướng về Auschwitz. Chỉ có 16 người sống sót trở về.

Nhưng điều ám ảnh Pietro nhất là những người đã thoát được trong hỗn loạn ,các gia đình tản mác trốn chạy. Họ đang ở đâu? Họ có thể sống sót được bao lâu trong một thành phố đầy rẫy lính Đức Quốc xã?

Đêm đó, Pietro đưa ra một quyết định.

Chủng viện chỉ cách nơi lùng bắt vài dãy nhà. Những bức tường đá dày, các phòng ngủ bỏ trống ,và một thứ mà Đức Quốc xã không dễ chạm tới: sự bảo hộ của Vatican.

Pietro bắt đầu âm thầm, trò chuyện với các linh mục khác. Không lâu sau, gia đình đầu tiên xuất hiện ,một gia đình Do Thái tuyệt vọng tìm nơi trú ẩn.

Ông dẫn họ lên căn phòng tầng ba. “Ở đây các bạn sẽ an toàn,” ông nói. Nhưng chính ông cũng hiểu: sự bảo vệ của Vatican không phải là tuyệt đối.

Rồi nhiều gia đình nữa đến. Nhà Rosenberg. Nhà Cohen. Nhà Segre. Mỗi người chạy trốn, chỉ mang theo những gì kịp vơ lấy. Pietro biến chủng viện thành nơi trú ẩn bí mật. Phòng ngủ thành nơi ở. Kho chứa thành bếp. Trẻ con được dạy phải nói thì thầm ,ngay cả khi chơi đùa.

Nhưng ẩn náu thôi chưa đủ. Họ cần giấy tờ.

Pietro chưa từng làm giả giấy tờ bao giờ. Nhưng nỗi sợ là một người thầy rất nhanh. Ông nghiên cứu giấy chứng nhận rửa tội cho đến khi có thể sao chép hoàn hảo. Ông làm việc dưới ánh nến, xóa đi những danh tính cũ và tạo ra những cuộc đời mới.

Gia đình Rosenberg trở thành Romano.

Sarah Cohen trở thành Maria Colombo.

Mỗi tờ giấy là một canh bạc. Nếu bị phát hiện, cái chết là điều chắc chắn.

Mỗi ngày trôi qua là một cuộc đếm ngược. Tuần tra. Lục soát. Tin đồn. Mỗi đêm, Pietro lắng nghe, sợ hãi tiếng giày đinh vang lên trên nền đá.

Ba mươi bảy người. Mười hai đứa trẻ.

Mùa đông đến sớm. Thức ăn cạn dần. Hệ thống sưởi gần như không hoạt động. Sốt lan rộng. Cha mẹ ôm con khóc trong im lặng, hiểu rằng cuộc sống cũ đã không còn.

Nhưng họ vẫn còn sống.

Tháng Hai, Pietro nghe tin về một cuộc đột kích tại San Lorenzo ,mười hai gia đình bị phát hiện và trục xuất. Ông quen các linh mục ở đó. Những người đã đưa ra lựa chọn giống mình.

Đêm đó, nỗi sợ suýt đánh gục ông. Ông đã nghĩ đến việc yêu cầu các gia đình rời đi. Rủi ro quá lớn.

Nhưng rồi bé Sarah ,giờ là Maria ,đưa cho ông một bức vẽ: hình ảnh chủng viện, phía dưới là hai từ viết nguệch ngoạc:

“Ngôi nhà an toàn.”

Pietro giữ bức vẽ ấy suốt phần đời còn lại.

Đến mùa xuân, hy vọng xuất hiện. Quân Đồng minh đang tiến gần. Các gia đình bắt đầu dám nói về “sau này”.

Ngày 4/6/1944, xe tăng Mỹ tiến vào Rome.

Pietro đứng trước cổng chủng viện khi các gia đình bước ra ánh sáng lần đầu tiên sau tám tháng. Họ khóc. Họ ôm chầm lấy ông, hứa sẽ không bao giờ quên.

Ba mươi bảy người bước vào với thân phận kẻ chạy trốn.

Họ rời đi với tư cách những người sống sót.

Sau chiến tranh, Pietro trở lại cuộc sống bình thường: giảng dạy chủng sinh, lo những công việc thường nhật. Năm 1973, Giáo Hoàng Paul VI phong ông làm Hồng y.

Pietro hiếm khi nhắc đến chiến tranh. Ngay cả khi các nhà báo tìm đến “vị linh mục anh hùng”, ông vẫn kín tiếng.

Ông mang ký ức ấy một mình ,tiếng trẻ con khóc, những giấy tờ giả trong túi áo, và gương mặt của những người không kịp đến cửa ông đúng lúc.

Năm 1985, khi 73 tuổi, Israel vinh danh ông là Người Công Chính giữa các Dân Tộc. Ông gặp lại những người mình từng che chở và bế trên tay những đứa cháu ,tương lai được tạo nên từ những lựa chọn của ông.

“Tôi chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng nên làm,” ông nói.

Nhưng ai cũng biết đó không phải là sự thật giản đơn.

Không phải ai cũng dám liều mạng vì người xa lạ.

Không phải ai cũng biến nơi làm việc thành nơi trú ẩn.

Không phải ai cũng tạo dựng lại những cuộc đời khi Đức Quốc xã đang tuần tra ngoài kia.

Pietro Palazzini qua đời năm 2000, hưởng thọ 88 tuổi ,56 năm sau ngày những chuyến xe lăn bánh về Auschwitz.

Tại lễ tang của ông, người đứng lên phát biểu không phải là các Hồng y hay chức sắc cao cấp.

Mà là những gia đình.

Những đứa trẻ năm xưa giờ đã là người lớn. Những người từng thì thầm tên thật của mình sau cánh cửa chủng viện, nay bế trên tay chính các cháu của họ.

Họ nói về một linh mục trẻ đã chọn mở cửa giúp người khác, vào thời điểm mà quay lưng làm ngơ mới là lựa chọn an toàn và dễ dàng nhất.

Pietro Palazzini chưa bao giờ chắc chắn rằng mình đã cứu được đủ người. Ông mang theo suốt đời nỗi day dứt về những người không kịp gõ cửa. Nhưng có một điều không thể phủ nhận:

Ba mươi bảy con người đã sống sót vì ông đã hành động.

Và từ ba mươi bảy sinh mạng ấy, hàng chục, rồi hàng trăm cuộc đời khác đã được sinh ra.

Họ mang theo ký ức, sự sống và lòng can đảm ấy đi tiếp.

Điều đó quan trọng hơn mọi danh hiệu.

Quan trọng hơn mọi lời ca ngợi.

Vì trong một thời đại mà im lặng đồng nghĩa với an toàn,

Pietro Palazzini đã chọn can đảm.

Và nhờ vậy, lịch sử có thêm những người được sống.

(Theo Inspire Daily )


 

Ít nhất 34 người chết vì bão tuyết, hơn 11,000 chuyến bay bị hủy hoặc trễ

Ba’o Nguoi-Viet

January 26, 2026

NEW YORK, New York (NV) Hàng ngàn người ở Mỹ sẽ trải qua một đêm lạnh cóng nữa mà không có điện sau khi bão mùa Đông lớn trút thêm tuyết xuống vùng Đông Bắc và phủ băng giá tại nơi ở miền Nam hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng, theo AP.

Tính tới 7 giờ tối Thứ Hai (giờ miền Tây Hoa Kỳ), ít nhất 34 người thiệt mạng ở những tiểu bang bị ảnh hưởng, theo USA TODAY.

Công nhân dọn dẹp tuyết trên vỉa hè sau trận bão tuyết ở Silver Spring, Maryland, hôm Thứ Hai, 26 Tháng Giêng. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)

Tuyết rơi dày đặc, hơn 1 foot trải dài 1,300 dặm từ Arkansas  tới vùng New England, làm giao thông bị ngưng trệ, hàng loạt chuyến bay bị hủy và  trường học khắp nơi phải đóng cửa hôm Thứ Hai. Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS) dự báo nhiều nơi phía Bắc Pittsburgh, Pennsylvania, tuyết rơi tới 20 inche và gió lạnh tới âm 25 độ F cuối hôm Thứ Hai tới Thứ Ba.

Cái lạnh khắc nghiệt ảnh hưởng tới 2/3 nước Mỹ này chưa dứt. Hôm Thứ Hai, NWS cho hay một đợt không khí lạnh khác từ Bắc Cực dự trù sẽ giữ nhiệt độ lạnh cóng ở những nơi hiện đã bị tuyết và băng đá bao phủ. Và chuyên gia dự báo thời tiết cho biết một trận bão mùa Đông khác có thể ập vào nhiều khu vực miền Đông cuối tuần này.

Trong ít nhất 29 người chết, có hai người bị xe cào tuyết cán ở Massachusetts và Ohio, một số người thiệt mạng do tai nạn xe trượt tuyết ở Arkansas và Texas, và thi thể một phụ nữ bị tuyết chôn vùi được cảnh sát tìm thấy sau khi người ta nhìn thấy phụ nữ này ra khỏi quán rượu ở Kansas. Ở thành phố New York, giới chức loan báo tám người được phát giác thiệt mạng ngoài trời cuối tuần qua.

Tính tới tối Thứ Hai, hơn 670,000 căn nhà vẫn còn bị cúp điện, theo poweroutage.com, hầu hết ở miền Nam, nơi mưa tuyết làm cành cây bị gãy và dây điện bị đứt, khiến phía Bắc Mississippi và nhiều nơi ở Tennessee bị cúp điện.

Hôm Thứ Hai, hơn 11,000 chuyến bay khắp nước Mỹ bị hủy hoặc bị hoãn, theo trang web theo dõi chuyến bay flightaware.com. Trước đó, hôm Chủ Nhật, 45% chuyến bay ở Mỹ bị hủy, nhiều nhất kể từ đại dịch COVID-19, theo công ty phân tích hàng không Cirium.

Theo dự báo, tuyết tiếp tục rơi từ nhẹ tới trung bình ở vùng New England tới hết tối Thứ Hai.

Hàng loạt văn phòng liên bang, tiểu bang, địa phương và trường học loan báo đóng cửa ít nhất tới hết Thứ Hai tuần này, theo USA Today.

Vì nhiều vụ cúp điện xảy ra khắp miền Đông đất nước, chuyên gia khí tượng và giới chức tình trạng khẩn cấp đang ngày càng lo ngại về cái lạnh khắc nghiệt theo sau trận bão này vào Thứ Hai.

“Vẫn chưa hết nguy hiểm cho dù bão tan,” ông Brian Hurley, chuyên gia Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS), nói với USA Today. “Nhiều nơi vẫn còn bị đóng băng nặng nề, mưa lạnh cóng, mưa tuyết và tuyết rơi, sẽ tiếp tục lạnh dưới mức đóng băng tới hết tuần làm việc.”

“Chúng tôi đang lo người dân sẽ hứng nhiệt thời tiết lạnh cóng mà không có điện,” ông Hurley nói.

Trận bão tuyết này lan qua vùng Trung Đại Tây Dương nửa đêm hôm Thứ Bảy rồi di chuyển qua vùng Đông Bắc hôm Chủ Nhật. (Th.Long) [kn]