Hãy bắt đầu chăm sóc cơ thể bằng sự hiểu biết, đừng để quá muộn như tôi

Nga Nguyễn

 Chỉ vì tin rằng uống nước râu ngô và nước đậu đen rang “bổ thận”… tôi đã tự đẩy mình từ suy thận giai đoạn đầu vào phòng lọc máu.

Tôi năm nay 42 tuổi – cái tuổi mà tôi vẫn nghĩ mình còn tràn đầy sức sống, vẫn đủ sức thức khuya lo cơm nước cho chồng con, vẫn gồng gánh áp lực công việc và mệt mỏi mà tự nhủ “mình ổn”.

Tôi chưa bao giờ hình dung được có một ngày mình phải nằm bất động trong phòng lọc máu lạnh ngắt, nhìn dòng máu của chính mình chậm rãi chảy qua một chiếc máy khổng lồ rồi mới quay trở lại cơ thể.

Mọi chuyện bắt đầu từ những đêm mất ngủ vì tiểu đêm, những buổi sáng thức dậy với gương mặt hơi phù nề và đôi chân nặng trĩu vào mỗi buổi chiều.

Khi chồng ép, tôi mới đi khám.

Cầm tờ kết quả trên tay, tai tôi như ù đi: Suy thận giai đoạn đầu.

Tôi vẫn nhớ như in lời bác sĩ dặn lúc đó, rằng bệnh chưa đến mức quá nguy hiểm nhưng tôi phải tuyệt đối nghe theo chỉ định, tuyệt đối không được tự ý uống các loại nước lá, nước “bổ thận” theo lời truyền miệng.

Tôi gật đầu rất ngoan, nhưng bước chân ra khỏi bệnh viện, nỗi sợ hãi lại đẩy tôi vào một cơn hoảng loạn khác.

Thay vì tin bác sĩ, tôi lên mạng lao vào tìm kiếm những phương thuốc tự nhiên với hy vọng đảo ngược bản án.

Những lời mách bảo ngọt ngào như “nước râu ngô lợi tiểu, mát thận”, “nước đậu đen rang bổ thận, thải độc, uống thay nước lọc càng tốt” nghe dễ chịu hơn những cảnh báo khô khốc ở bệnh viện rất nhiều.

Và tôi đã tin.

Tôi tin bằng tất cả sự hoang mang của một người đàn bà sợ đổ bệnh nặng.

Căn bếp nhà tôi từ đó lúc nào cũng nghi ngút khói với những bình nước râu ngô, nước đậu đen rang.

Tôi uống thay nước lọc, đi làm mang theo một chai lớn, uống bằng một niềm tin tuyệt đối rằng mình đang tự cứu lấy chính mình.

Mỗi lần đi tiểu nhiều hơn, tôi còn thấy yên tâm. Tôi nghĩ chắc thận đang được làm sạch, độc tố đang được đào thải ra ngoài.

Chồng tôi lo lắng hỏi, tôi chỉ cười xòa bảo:

“Cái này đồ tự nhiên, mát thận mà anh”.

Nhưng sự thật là thận của tôi đang âm thầm kiệt quệ.

Người tôi cứ lả dần đi, miệng nhạt nhẽo, ăn không ngon, những cơn chóng mặt ập đến khiến tôi phải bám vào tường để không ngã khuỵu.

Đôi mắt sưng húp mỗi sáng và đôi chân phù căng cứng vào cuối ngày được tôi bao biện bằng lý do:

“Chắc do cơ thể đang thải độc nên mới mệt thế thôi”.

Cho đến một buổi sáng, tôi không thể ngồi dậy nổi nữa. Cơ thể nặng như chì, hơi thở đứt quãng. Chồng tôi mặt biến sắc, đưa thẳng tôi vào viện.

Khi các chỉ số xét nghiệm trả về, mọi thứ trong tôi như sụp đổ hoàn toàn.

Chỉ số Creatinin tăng vọt, mức lọc cầu thận giảm sâu, điện giải rối loạn nghiêm trọng.

Nghe tôi run rẩy kể về những bình nước râu ngô, nước đậu đen uống thay nước lọc suốt mấy tháng qua, bác sĩ im lặng vài giây, rồi kéo ghế ngồi đối diện tôi.

Giọng ông trầm xuống, từng câu chữ như đánh thẳng vào sự tự tin mù quáng của tôi:

“Chị không sai vì muốn cứu thận. Nhưng chị sai vì nghĩ cứ thứ gì ‘mát’ là thận sẽ khỏe lên. Cơ thể người suy thận không giống người khỏe mạnh. Đậu đen rất nhiều khoáng chất, khi thận đã yếu mà chị bắt nó lọc một lượng lớn mỗi ngày, nó sẽ quá tải.

Râu ngô có tính lợi tiểu, nhưng đi tiểu nhiều không có nghĩa là thận khỏe lên, nó chỉ làm cơ thể chị mất cân bằng điện giải nặng hơn mà thôi. Thận yếu cần được giảm gánh nặng đúng cách, chứ không phải được ‘rửa’ bằng mẹo dân gian.”

Tôi ngồi chết lặng, cổ họng nghẹn đắng không thốt nên lời.

Một lúc sau, bác sĩ thông báo tình trạng đã quá nặng, tôi phải chuẩn bị tinh thần để lọc máu. Tôi quay sang nhìn chồng, gương mặt anh trắng bệch, không một lời trách móc, anh chỉ hỏi rất nhỏ:

“Em uống mấy thứ đó vì nghĩ sẽ khỏe hơn đúng không?”.

Câu hỏi ấy còn đau đớn hơn cả một cái tát. Chính tay tôi nấu, chính miệng tôi uống, tôi không có một ai để đổ lỗi ngoài sự thiếu hiểu biết của chính mình.

Những ngày sau đó là chuỗi ác mộng. Lần đầu tiên bước vào phòng lọc máu, mùi sát trùng nồng nặc và tiếng máy chạy đều đều khiến lòng tôi lạnh ngắt. Nhìn dòng máu đỏ sẫm của mình chảy ra ngoài, tôi hiểu có những sai lầm phải đánh đổi bằng cả phần đời còn lại.

Qua tấm kính hành lang bệnh viện, con gái nhỏ của tôi đứng nhìn vào, không dám lại gần, nó lí nhí hỏi bố:

“Mẹ phải nằm máy như vậy đến bao giờ hả bố?”.

Giây phút ấy, nước mắt tôi chảy ngược vào trong, đau đớn đến tận cùng xương tủy.

Sau biến cố nghiệt ngã đó, tôi bừng tỉnh. Tôi không còn dám chạm vào những bài viết truyền miệng, không còn tin vào cái mác “tự nhiên thì an toàn”.

Nghĩ lại, điều khiến tôi đau nhất là lúc chồng khuyên đi tái khám, tôi còn cáu gắt vì nghĩ anh không hiểu.

Tôi bắt đầu học lại từ đầu: ăn gì, uống bao nhiêu nước, muối phải giảm thế nào, đạm phải tính ra sao, kali và photpho là gì, tại sao có món rất lành với người khỏe nhưng lại có thể trở thành gánh nặng với người bệnh thận.

Nhờ ăn uống đúng khoa học, cơ thể tôi dần đỡ mệt hơn, sắc mặt khá lên và cân nặng dần ổn định. Thận đã tổn thương thì không thể hồi phục như cũ, tôi vẫn phải gắn liền cuộc đời với chiếc máy lọc máu, nhưng ít nhất, tôi không còn sống trong sự hoang mang, mù quáng nữa.

Mỗi buổi chiều ngồi ở phòng chờ lọc máu, nhìn những gương mặt mệt mỏi, lặng lẽ xung quanh, tôi lại tự hỏi có bao nhiêu người trong số họ cũng từng giống tôi? Cũng từng ăn uống bằng niềm tin để rồi bước vào đây bằng sự hối hận muộn màng?

Tôi kể câu chuyện của đời mình không phải để nói râu ngô hay đậu đen là xấu. Tôi chỉ muốn thức tỉnh những ai ngoài kia đang có người thân bị bệnh thận, gan, tiểu đường, huyết áp cao… xin đừng tự chữa bệnh bằng những lời mách bảo vô căn cứ.

Đừng để chữ “mát” khiến chúng ta quên mất chữ “đúng”. Một cơ thể đã tổn thương cần được bảo vệ bằng kiến thức khoa học, chứ không phải bằng sự đánh cược của niềm tin mù mờ.

Nếu bạn cũng đang loay hoay, hoang mang không biết người bệnh thận hay bất kỳ căn bệnh mạn tính nào thực sự nên ăn gì, kiêng gì cho đúng, tôi sẽ chia sẻ lại tài liệu giúp tôi học được các kiến thức đó ở phần bình luận.

Hãy bắt đầu chăm sóc cơ thể bằng sự hiểu biết, đừng để quá muộn như tôi.


 

Thân xác không hư nát của Thánh Gioan Maria Vianney, Cha sở họ Ars.

Joseph Phạm Nguyên

 Một trong những minh chứng sống động nhất về sự thánh thiện trong thời hiện đại chính là thân xác không hư nát của Thánh Gioan Maria Vianney, vị Cha sở họ Ars.

Sinh năm 1786 tại Pháp, ngài từng gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tập nhưng sau cùng vẫn được thụ phong linh mục. Khi được bổ nhiệm về Ars — một ngôi làng nhỏ bé và dường như đã nguội lạnh về mặt đức tin, ngài đã hoán cải nơi này bằng đời sống cầu nguyện mãnh liệt, những hy sinh hãm mình ngặt nghèo và sự tận tụy không biết mệt mỏi nơi tòa giải tội.

Ngài thường dành từ 12 đến 18 tiếng mỗi ngày để ban bí tích hòa giải, thu hút hàng ngàn khách hành hương từ khắp châu Âu đổ về. Dù liên tục bị ma quỷ quấy phá và hành hạ về mặt thể xác, Cha Vianney chưa bao giờ lung lạc ý chí.

Ngài qua đời ngày 4 tháng 8 năm 1859.

Năm 1904, trong tiến trình phong chân phước, mộ phần của ngài được cải táng. Dù quan tài bằng gỗ đã mục nát và phẩm phục đã tiêu tan, nhưng thân xác của ngài lại hoàn toàn nguyên vẹn — mềm mại và sống động như thể vừa nằm xuống dù đã trải qua 45 năm dưới lòng đất.

Ngày nay, thánh thể không hư nát của ngài được tôn kính trong một hòm kính tại Vương cung thánh đường Ars, Pháp, nơi đón tiếp hàng triệu khách hành hương đến kính viếng. Gương mặt và đôi tay của ngài được phủ một lớp mặt nạ sáp mỏng để bảo quản, nhưng toàn bộ phần thân thể còn lại vẫn vẹn nguyên một cách kỳ diệu — một minh chứng mạnh mẽ cho cuộc đời thánh thiện của ngài.

Thánh Gioan Vianney là Quan thầy của các linh mục chính xứ. Ngài từng nói:

“Chức linh mục chính là tình yêu từ Thánh Tâm Chúa Giêsu.”

Cuộc đời của ngài nhắc nhở chúng ta rằng: sự thánh thiện đích thực không đến từ những tài năng xuất chúng, mà đến từ sự phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa và lòng mến yêu các linh hồn.

Bạn có ước mong một lần đến Ars để chiêm ngưỡng thánh thể không hư nát của ngài không? Bạn đã bao giờ cầu xin sự chuyển cầu của ngài chưa?

Thánh Gioan Vianney, xin cầu cho chúng con.

Nguồn: Totus Tuus

Theo dõi trang để đọc thêm nhiều bài viết từ Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#StJohnVianney #IncorruptSaints #CatholicSaints #CureOfArs #Faith #Holiness #FaithInAction #miracles #ThanhGioanVianney #ChaSoArs #GiaoXo #CongGiao #DucTin


 

HOA QUẢ THỨ 11: Khiêm Nhu – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay bạn ráng trở thành một người khiêm nhu đi, mình biết chắc những người chung quanh sẽ zui lắm đó.

Cha Vương

Thứ 6: 29/05/2026.   (n3-6-22)

TIN MỪNG: Lòng kính sợ ĐỨC CHÚA là trường dạy khôn ngoan, khiêm nhu là đường dẫn đến vinh dự. (CN 15:33)

HOA QUẢ THỨ 11: Khiêm Nhu— Trong tự điển tiếng Việt định nghĩa là: 

  1. tính khiêm tốn, tính nhún nhường, tính nhũn nhặn, 
  2. tính thùy mị, tính nhu mì, tính e lệ, 
  3. tính vừa phải, tính phải chăng, tính bình thường, tính giản dị. 

Nhưng theo ý nghĩa truyền thống và thần học, khiêm nhu mang tính yếu đuối, nhưng người khiêm nhu chiến thắng cơn tức giận của mình, biết kiềm chế, biết điều chỉnh và điều khiển năng lực để làm điều tốt hơn điều xấu.

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong xã hội có những phần tử đề cao sự thành công của con người dựa trên bao nhiêu huy chương, bao nhiêu phần thưởng, bao nhiêu bằng cấp, bằng khen, bao nhiêu tài sản họ có. Họ rất hãnh diện và tự hào về sự thành công của họ. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì đó là mồ hôi nước mắt của họ, họ phải lao động hết sức vất vả mới có được như ngày hôm nay. Họ có đi ăn cướp ăn trộm của ai đâu. Vấn đề ở đây là một khi họ thần thánh hoá niềm tự hào, sự hãnh diện và những thành công của thì họ đã tự biến những gì rất bình thường trở thành bất bình thường. Họ trở thành người kiêu ngạo, tự cao, tự đắc qua cách ứng xử không tế nhị, không tôn trọng kẻ khác. Hay nói cách khác đi, họ coi trời bằng vung. Họ luôn tìm kiếm những sự chú ý cho riêng mình. Ngược lại trong xã hội ngày nay cũng không thiếu những người rất khiêm nhu và khiêm nhường. Họ biết kiềm chế, điều chỉnh, và điều khiển cảm xúc của họ. Họ phục vụ một cách tích cực, biết động viên và khuyến khích những người cùng làm việc chung với cả sự khiêm nhu và hết sức tế nhị. Họ không muốn người khác nói lời cảm ơn hoặc tìm kiếm lời khen ngợi của người khác. Họ làm việc tận tuỵ trong âm thầm vì yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân. Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói: “Nếu bạn khiêm nhu, không có gì ảnh hưởng tới bạn, dù lời khen ngợi hoặc sự ghen ghét, vì bạn biết mình là ai”.  Ước mong bạn cảm nhận được tầm quan trọng của nhân đức khiêm nhu trong cuộc sống, biết dấn thân, quên mình, không đòi hỏi gì nơi người khác nhưng luôn biết cộng tác kết nối với tha nhân làm việc chỉ để cho danh Chúa được cả sáng mà thôi.

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải  biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin biến đổi qua tim con để con biết những việc con phải làm, từ lúc khởi sự cho đến khi hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa chứ không bởi con.

THỰC HÀNH: Tập nhận biết tôi chẳng là gì trước mặt Chúa. Tôi chỉ là người quản lý của Chúa thôi.

From: Do Dzung

******************************

Tất Cả Là Hồng Ân || St Lm. Huy Hoàng || Tb Sr Hoàng Phương 

 Các trung tâm sinh hoạt văn học hải ngoại – Trần Doãn Nho

 Trần Doãn Nho

 Quá trình hình thành nền báo chí hải ngoại diễn ra gần như song song với quá trình hình thành các cộng đồng người Việt ở nhiều nơi trên đất nước Hoa Kỳ. Đặc biệt, là tiểu bang California.

Phát giải cuộc thi Áo Dài Việt Nam Truyền Thống tại Phước Lộc Thọ, Little Saigon năm 2020. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Từ tháng Năm 1975, khoảng vài ngàn người Việt tị nạn được chuyển đến trại Pendleton (căn cứ Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, San Diego, California). Được cư dân địa phương giàu lòng nhân ái giúp đỡ, họ lần lượt đi định cư rải rác trong các thành phố Santa Ana, Garden Grove, Westminster, Costa Mesa và các vùng phụ cận. Đến năm 1979, gần 100 cơ sở thương mại của người Việt xuất hiện quanh quanh trên đường Bolsa (Westminster), đường First (Santa Ana) và đường Westminster (Garden Grove),  tạo thành một khu sinh hoạt riêng biệt. Ngày 9 tháng hai năm 1988, Hội đồng thành phố Westminster thông qua Quyết nghị số 58, công nhận khu này là “Little Saigon.”

Ngày 17 tháng Sáu, 1988, thống đốc California, ông George Deukmejian đến cắt băng khánh thành các bảng chỉ dẫn “Little Saigon, Next Exit” được “California Department of Transportation” (Bộ Công Chánh California) dựng ở hai xa lộ 405 và 22 dẫn vào hai đường Brookhurst và Magnolia. Từ đó, Little Saigon thu hút di dân Việt khắp nơi về định cư, biến vùng đất ngoại ô của khu Bolsa-Garden Grove vốn vắng vẻ và yên tĩnh thành một đô thị phát triển với chùa chiền, nhà thờ, thánh thất và các cơ sở thương mại, các đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, các trung tâm ca nhạc… Đó cũng là nơi khởi nghiệp của những chính trị gia người Mỹ gốc Việt tham gia vào dòng chính của nền chính trị Hoa Kỳ qua các chức vụ dân cử như: nghị viên, dân biểu, thị trưởng…[1]

Khánh thành bảng “Little Saigon Next Exit” hôm Thứ Sáu, 17 Tháng Sáu, 1988, tại thương xá Phước Lộc Thọ. Từ trái, Luật Sư Trần Thái Văn, Giáo Sư Nguyễn Tư Mô và Thống Đốc California George Deukmejian. (Hình: Trần Thái Văn cung cấp)

Như một điểm quy tụ nhân tâm, Little Saigon đột nhiên trở thành “ngôi nhà” của cộng đồng người Việt tị nạn, không những của cư dân ở đó mà còn của cư dân ở nhiều nơi trên thế giới. Một trong những bản sắc dân tộc riêng được biểu hiện trong văn hóa nghệ thuật. Sau 1975, hầu hết những khuôn mặt trí thức văn hóa cũng như văn nghệ sĩ của miền Nam, sớm hay muộn, đều lần lượt tìm cách thoát ra hải ngoại.[2] Phần lớn trong số đó đều đến, hay tìm cách đến, định cư ở vùng Quận Cam. Đây là nguồn nhân lực tiên phong gây dựng nên nền móng báo chí cũng như văn học nghệ thuật hải ngoại. Các tờ báo, các tạp chí văn học nghệ thuật và các trung tâm băng nhạc lớn, nhỏ đều tọa lạc tại Little Saigon. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi phần lớn các tổng biên tập đầu tiên của ngành truyền thông tiếng Việt tại Little Saigon đều là những cây bút kỳ cựu của VNCH trước năm 1975. Nhận xét về vai trò của những nhà văn này đối với văn học hải ngoại, Trangdai Glassey-Tranguyen viết:

Trong khi ghi nhận nỗ lực, sự hiện diện và đóng góp của tất cả các nhà văn, tôi cho rằng chính những nhà văn đã thành danh (the established and committed writers) – trong đó có nhiều người nay đã qua đời – là những người tạo ra các tác phẩm có ý nghĩa then chốt đối với việc hình thành bản sắc tị nạn Việt Nam (Vietnamese refugee-endity), bởi khả năng của họ nhằm truyền tải những hiện thực đã trải qua và các triển vọng một cách mạnh mẽ nhất.(…) Các nhà văn này kiến tạo một không gian để phản ánh chính những kinh nghiệm và quan điểm riêng của họ, cũng như của đồng hương và cách nhìn của cộng đồng văn hóa của họ về đời sống tại VietnAmerica và trong các cộng đồng di dân khác. Họ chủ động vận dụng tối đa khả năng sáng tác: tự xuất bản, xây dựng các hội đoàn văn chương,thành lập các nhà xuất bản và các chương trình viết lách, xây dựng các cơ sở truyền thông và tạp chí văn học, tiếp tục các sáng tác mà họ đã khởi viết từ miền Nam Việt Nam trước năm 1975, và mở ra một cầu nối giữa văn học “tị nạn” của người Mỹ gốc Việt với văn học lai và/hoặc văn học của các thế hệ 1.5 và các thế hệ sinh sau tại Hoa Kỳ.”[3]

Nhà sách Tú Quỳnh, một trong những cửa tiệm của người Việt sớm nhất ở Little Saigon. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Nguyễn Hưng Quốc, một nhà nghiên cứu văn học ở Úc, chẳng chút đắn đo khi  khẳng định chắc nịch:

Sau năm 1975, không còn hoài nghi gì nữa, California, đặc biệt là Nam California, đã dần dần nổi lên như một trung tâm của nền văn học hải ngoại. Đó là nơi tập trung nhiều người Việt nhất đồng thời cũng là nơi người Việt làm ăn buôn bán tấp nập và thành công nhất. Những cái “nhất” ấy là cơ hội thuận tiện cho việc thương mại hóa văn học bằng tiếng Việt. Hầu hết các tạp chí văn học lớn đều nằm ở Nam California, từ Văn đến Văn Học, Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, Khởi Hành, và Thế Kỷ 21. Số lượng các tạp chí tương đối có tầm vóc nằm ngoài California rất hiếm, và trừ Làng Văn ở Canada, đều yểu mệnh, có khi chỉ hoạt động yếu ớt được vài ba năm, kể cả tạp chí Việt ở Úc. Các nhà xuất bản cũng vậy, từ Văn Nghệ đến Thanh Văn, Văn Mới, Văn Khoa, Tân Thư, Đại Nam và Xuân Thu đều nằm ở California. Chỉ có một số ít nhà xuất bản lớn nằm ngoài California như An Tiêm (Pháp), Làng Văn (Canada), Cành Nam (Washington, D.C.),… Nhưng phần lớn đều nhờ đến một trung tâm phát hành chính là Nhà Văn Nghệ ở California. Chính vì thế, trong một thời gian dài, khi nói đến văn học hải ngoại, người ta nghĩ ngay đến California. California trở thành thủ đô của văn học Việt Nam hải ngoại.”[4]

Vùng đất “nhỏ bé” ấy gánh trên mình vai trò của…hai “thủ đô”: thủ đô tị nạn và thủ đô văn học. Thiệt tình!

Thành phố Westminster, nơi có đông đảo người Việt sinh sống. (Hình minh họa: Trà Nhiên/Người Việt)

Cũng chỉ là cách nói tượng trưng. Văn học hải ngoại đâu chỉ Little Saigon (hay Quận Cam) hay Cali(fornia). Các sinh hoạt văn học nghệ thuật còn nằm ở nhiều nơi trong nước Mỹ, ở những thành phố lớn: Boston, Dallas, Houston, San Jose, Washington, DC…; mỗi nơi đều tìm cách xây dựng các “Tiểu Sài Gòn” riêng cho từng địa phương.

Tiếp sức cho những Little Saigon ở Mỹ, còn có Pháp với Paris; Paris không chỉ là một thủ đô văn hóa mà còn là biểu tượng cho tự do dân chủ và nhân quyền. Đó là nơi quy tụ một số lượng lớn các khuôn mặt trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam nổi tiếng của nhiều thế hệ, hoặc đã định cư nhiều thập niên trước 1975, chẳng hạn như Trần Thiện Đạo, Đặng Tiến, hai cây bút thường viết cho tạp chí “Văn”, Sài Gòn (mà tôi biết), hoặc đến tị nạn sau 1975.

Không kém Hoa Kỳ, Pháp là nơi xuất hiện nhiều tài năng văn chương hải ngoại như Đỗ Quỳnh Dao, Đặng Mai Lan, Miêng, Mạch Nha, Mai Ninh, Trần Thị Diệu Tâm và Phan Thị Trọng Tuyến, những nhà văn nữ đem lại cho vườn văn học Việt Nam ở hải ngoại một nét trẻ trung, tươi mát, theo Liễu Trương;[5] hay Trần Vũ, một nhà văn tài hoa và độc đáo. Đó cũng là nơi có đài phát thanh RFI (Radio France International), mà chương trình văn học nghệ thuật do nhà biên khảo Thụy Khuê phụ trách, đã từng là một chiếc cầu nối văn học nghệ thuật trong và ngoài nước khi việc giao lưu trong và ngoài nước hãy còn rất khó khăn do chính sách cấm đoán của nhà cầm quyền cộng sản. Cũng là nơi của hai tạp chí mạng “Diễn Đàn Forum” và “Ăn Mày Văn Chương,” được điều hành bởi những trí thức vốn là thành phần thiên tả trước 1975, sau trở thành  bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền Việt Nam. Cũng là nơi “Câu lạc bộ Văn hóa Việt Nam Paris” đã được thành lập vào năm 1994, quy tụ rất nhiều nhân sĩ trí thức và văn nghệ sĩ như Trần Văn Cảnh, Hồ Trường An, Trần Thanh Hiệp, Lê Mộng Nguyên, Vũ Quốc Thúc, Từ Thức, Nguyễn Đăng Trúc, Liễu Trương, Phan Thị Trọng Tuyến…

Còn có Úc. So với Hoa Kỳ và Pháp, chỉ trừ vài ba khuôn mặt là thuộc giới văn nghệ sĩ thời VNCH, phần lớn, nếu không muốn nói là hầu hết, những người sáng tác nổi tiếng tại Úc trong thời gian qua đều cầm bút sau năm 1975. Đó là nơi xuất hiện hai tạp chí thuần túy về văn học đầu tiên của cộng đồng người Việt Nam tại Úc: Việt (báo giấy 1998-2001, 8 số) và Tiền Vệ (báo mạng 2002-2018), do Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn chủ trương.

Điểm đặc biệt là cả hai tạp chí đều nghiêng về các khía cạnh lý thuyết văn học và phổ biến những sáng tác có xu hướng cách tân, gây ảnh hưởng khá lớn lao đối với dòng văn học ở trong và ngoài nước. Tạp chí “Văn Học” tại California đã dành một số đặc biệt (số 41, 6/1989) “giới thiệu những cây bút trẻ ở Úc”: Hoàng Ngọc-Tuấn, Thường Quán, Cao Huy, Cheo Reo và Uyên Nguyên. Úc cũng là nơi cư trú của nhà văn Nam Lê, mà tác phẩm “The Boat” (Thuyền) của ông đoạt gần chục giải thưởng quốc tế, đã là một niềm hãnh diện cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Còn có Canada. Là láng giềng của Hoa Kỳ, Canada là nơi mà sinh hoạt báo chí mọi loại phát triển không thua gì ở Hoa Kỳ, trong đó có một số tạp chí để lại nhiều dấu ấn của văn học hải ngoại như Làng Văn, Trăm Con. Đó là nơi định cư của một số văn nghệ sĩ nổi tiếng như Luân Hoán, Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Chính, Trần C. Trí…; là nơi có Kim Thúy, nhà văn nữ đoạt nhiều giải văn học ở Canada, và cũng là nơi ra đời của “Ngôn Ngữ”, tờ tạp chí văn học giấy duy nhất vẫn còn tồn tại ở hải ngoại cho đến giờ, do Song Thao, Luân Hoán, Nguyễn Vy Khanh chủ trương. Đó cũng là nơi thành lập “Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do,” một tổ chức y khoa, nhưng lại quan tâm đến văn học nghệ thuật qua các “Giải Thưởng Văn Học” được trao cho các công trình biên khảo, nghiên cứu, nghị luận có giá trị về các lãnh vực văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội của những  người Việt tị nạn.

Còn có Đức. Đức là nơi định cư của một số cây bút ra đi từ miền Bắc như Thế Giang, Lê Minh Hà, Phạm Kì Đăng…và nhất là Phạm Thị Hoài, người sáng lập ra tạp chí mạng Talawas lừng danh một thời.

Còn có Ba Lan, nơi xuất phát tạp chí mạng Đàn Chim Việt, hiện vẫn còn tiếp tục hoạt động.

Và ở nhiều nước Âu Châu khác.  

Trần Doãn Nho

(Tháng Năm, 2026)

From: taberd & Nguyen NThu


 

KHÔNG SỢ CHÚA – SỢ ĐÁM ĐÔNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúng tôi không biết!”.

Khi cả nước tuyên thệ trước Henry VIII, công nhận vua là thủ lãnh tối cao của Giáo Hội Anh Quốc, Thomas More vẫn cự tuyệt. Ông chấp nhận mất địa vị, tự do và cả mạng sống hơn là phản bội lương tâm. More hiểu rằng vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, các thượng tế, kinh sư và kỳ mục không trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu bằng một lập luận, nhưng bằng một câu thoái lui: “Chúng tôi không biết!”. Thực ra, họ biết nhiều hơn điều họ dám nói. Họ ‘không sợ Chúa’, nhưng ‘sợ đám đông’. Vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ!

Câu hỏi của các thượng tế xuất hiện ngay sau khi Chúa Giêsu thanh tẩy Đền Thờ, đụng chạm trực tiếp đến trung tâm quyền lực tôn giáo tại Giêrusalem. Khi hỏi Ngài lấy quyền nào mà làm các điều ấy, họ không thực sự tìm kiếm một câu trả lời. Trong Marcô, exousia là quyền bính đến từ Thiên Chúa. Vấn đề là họ hiểu quá rõ hệ quả của câu trả lời ấy. Thừa nhận quyền bính của Chúa Giêsu cũng đồng nghĩa với việc phải xét lại quyền bính của chính mình. Vì thế, vấn đề của họ không phải là thiếu bằng chứng, nhưng là sợ hệ quả của bằng chứng. Giả vờ ‘không biết’ trước đòi hỏi của Tin Mừng là một hình thức phản bội tinh vi. “Chân lý không được quyết định bởi biểu quyết của số đông!” – Fulton Sheen.

Điều trớ trêu là câu trả lời “Chúng tôi không biết!” lại phát xuất từ những người biết quá nhiều. Họ không thiếu dữ kiện để kết luận, nhưng thiếu can đảm để kết luận. Vì thế, “không biết” ở đây không còn là một tình trạng tri thức, nhưng trở thành một nơi trú ẩn. Họ chọn sự an toàn của dư luận hơn sự đòi hỏi của chân lý.

Từ góc độ Kinh Thánh, nỗi sợ luôn đi theo khát vọng. Con người sẽ bảo vệ điều họ yêu thích và sợ mất nhất. Vì thế, giới lãnh đạo sợ đám đông vì họ đã gắn đời mình với quyền lực và sự công nhận. Trái lại, Thánh Vịnh đáp ca cho thấy một trật tự khác: “Linh hồn con đã khao khát Chúa!”. Khi Thiên Chúa trở thành khát vọng tối hậu, Ngài cũng trở thành nền tảng tối hậu, “Đấng có quyền năng gìn giữ anh em khỏi sa ngã và cho anh em đứng vững” – bài đọc một. Chỉ lúc đó, những nỗi sợ khác mới mất quyền chi phối. Vì nơi nào có nỗi sợ lớn nhất, nơi đó chính là ngẫu tượng bạn đang thờ lạy.

Anh Chị em,

Đức Kitô là phản đề của giới lãnh đạo tôn giáo. Ngài không cần ai xác nhận mình là ai. Khi dân chúng muốn tôn Ngài làm vua, Ngài lánh đi; khi đám đông hô “Đóng đinh nó đi!”, Ngài không thay đổi. Đức Kitô không sống bằng tiếng vỗ tay, cũng không chết vì những tiếng la ó. Ngài chỉ tìm và thi hành ý muốn của Cha. Chỉ khi Thiên Chúa là Đấng chúng ta yêu nhất, bạn và tôi mới thôi ‘sợ đám đông’ để biết ‘sợ Chúa’. “Tôi chết như một bề tôi trung thành của nhà vua, nhưng trước hết là của Thiên Chúa!” – Thomas More.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con núp sau những câu ‘con không biết!’. Cho con đủ can đảm để sống điều con đã biết và làm điều con phải làm!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 11,27-33

27 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ lại vào Giê-ru-sa-lem. Đang khi Người đi đi lại lại trong Đền Thờ, thì các thượng tế, kinh sư và kỳ mục đến cùng Người và hỏi : 28 “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy, hay ai đã cho ông quyền làm các điều ấy ?” 29 Đức Giê-su đáp : “Tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi. Các ông trả lời đi, rồi tôi sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. 30 Vậy, phép rửa của ông Gio-an là do Trời hay do người ta ? Các ông trả lời cho tôi đi !” 31 Họ bàn với nhau : “Nếu mình nói : ‘Do Trời’, thì ông ấy sẽ vặn lại : ‘Thế sao các ông lại không tin ông ấy ?’ 32 Nhưng chẳng lẽ mình nói : ‘Do người ta’ ?” Họ sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an thật là một ngôn sứ. 33 Họ mới trả lời Đức Giê-su : “Chúng tôi không biết.” Đức Giê-su liền bảo họ : “Tôi cũng vậy, tôi cũng không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy.”

Viết vài dòng về Phạm Đoan Trang, nhân sinh nhật 27/5

Kim Dao Lam

Fb Khanh Nguyen

Phạm Đoan Trang là một cây viết chính trị đặc biệt, không phải ở tính cách quyết liệt, hay sự lặng lẽ chấp nhận những tình huống kinh hoàng xảy ra trong đời mình, mà đi đâu, làm gì Trang cũng phải có một cây đàn.

Trong những tháng đầu năm 2020, áp lực đối với Trang ngày càng lớn, dù không hiện rõ, nhưng bằng bản năng nhạy bén của một nhà hoạt động, dự đoán được điều gì sẽ xảy đến, Phạm Đoan Trang đã di chuyển liên tục, chuyển nhà ít nhất là 4 lần cho đến khi bị bắt vào tháng 10 năm 2020.

Có những chuyến đi bất ngờ không kịp đem theo đồ đạc, Trang chỉ vác vội cái ba lô và bước ra khỏi nơi đang trú ngụ, bỏ lại mọi thứ. Có ít nhất là 3 tới 4 cây đàn đã phải bỏ lại, mà không thể quay về để lấy.

Bạn bè lúc đó thăm hỏi, có người muốn tặng quà, có người muốn gửi ít lộ phí, những Trang thường hay hỏi lại ” Em chỉ cần một cây đàn. Anh-chị có đàn guitar không thì cho em mượn”.

Trang đi ra ngoài một buổi cũng mang theo đàn. Lúc đó, anh chị em cảm giác những ngày tháng không may sắp đến nên đã tổ chức những chuyến đi chơi để Trang khuây khỏa, và cũng để, lỡ như “ngày ấy” đến, ít ra Trang cũng giữ được bên mình những kỷ niệm đẹp. Thế là Trang và đàn guitar lại cùng nhau lên đường.

Trong một chuyến đi xuống miền Tây, Trang hẹn xe ghé đón ở một ngã tư nhỏ. Từ một góc khuất, Trang khập khiểng đi ra, vai cũng vác cây đàn. Đó là hình ảnh tôi không thể quên: hình dáng một cô gái có lửa bốc trên chữ, có sự can trường đủ sức ghi vào lịch sử, do vậy mà cô đã phải chịu biết bao nhiêu những trận đòn tàn bạo, dù không thù không oán, nhưng lúc nào cũng sẵn sàng mỉm cười, và ngồi xuống mở đàn, hát một bản tình ca.

Có lần hỏi Trang, nếu mai này không còn viết về những câu chuyện gai góc nữa, Trang sẽ làm gì? Trang cười, nói “thì đàn hát thôi anh”. Không biết những ngày tháng này, Trang có đàn hát được không?

Không thấy Phạm Đoan Trang nói về lòng nhân ái, nhưng những trang viết về Đồng Tâm là những cái nhìn quặn đau tình đồng bào. Trang cũng chẳng bao giờ muốn mình đứng ở tuyến đầu, cầm cờ phất như một chiến sĩ lấp lánh hào quang, nhưng Trang kiên cường đến mức chưa bao giờ lùi lại một bước nào khỏi vị trí của mình. Đó là một cô gái lớn lên với lẽ phải, công bằng của dòng máu Việt và có đủ danh dự, trách nhiệm của một trí thức với Tổ Quốc.

Viết vài dòng về Phạm Đoan Trang, nhân sinh nhật 27/5, lúc này trong trại giam, cũng như là một cách để nhắc tôi và bạn không quên Trang và những con người yêu nước can trường khác, đã góp vào lịch sử Việt Nam những thời khắc kiêu hãnh. Họ tự nguyện bước lên và chấp nhận tất cả mọi thứ, biến đời mình thành những dữ liệu thô sơ, không bóng bẩy như hàng thời trang, nhưng đó chính là những nền móng cho một ngày mai nước Việt. 


 

DỊCH EBOLA BÙNG PHÁT ‘VƯỢT KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ CỦA THẾ GIỚI’

BBC News Tiếng Việt

 DỊCH EBOLA BÙNG PHÁT ‘VƯỢT KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ CỦA THẾ GIỚI’

Ebola, do một chủng virus có tên Bundibugyo gây ra, hiện chưa có vaccine hay phương pháp điều trị nào, đến nay đã gây ra khoảng 220 ca tử vong và 900 ca nhiễm ở Congo, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Dịch đã lan sang Uganda, với 7 trường hợp mới mắc bệnh.

Các đội y tế đang chạy đua để truy vết hàng ngàn người có thể đã tiếp xúc với virus, đồng thời phải đối mặt với vô số thách thức khiến việc kiểm soát dịch bệnh trở nên khó khăn.

Dịch bệnh đang “vượt quá khả năng ứng phó ”, Tổng Giám đốc WHO, ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, cho hay hôm 27/5.

“Các cuộc tấn công vào các cơ sở y tế khiến việc theo dõi các trường hợp mắc bệnh và người tiếp xúc với họ gần như không thể.”

Tại miền đông Congo, khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, các bệnh viện đã bị tấn công và lều cách ly bị đốt cháy khi đám đông giận dữ đòi lại thi thể người thân.

Theo các chuyên gia, nhiều người dường như không nhận thức được nguy cơ lây nhiễm từ thi thể bệnh nhân, khiến nỗ lực khoanh vùng dịch và truy vết tại khu vực vốn đã chìm trong xung đột và thiếu thốn y tế càng thêm khó khăn.

Giáo sư Salim Abdool Karim, một nhà dịch tễ học hàng đầu của Nam Phi và là một trong những nhân vật chủ chốt tư vấn cho Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh châu Phi (Africa CDC), cho biết dịch bệnh đang lan rộng với tốc độ “chóng mặt” trong khi không có đủ vaccine.

Dù Congo dày dạn kinh nghiệm ứng phó Ebola, vốn đã là đợt bùng phát thứ 17 kể từ năm 1976, quốc gia này vẫn gặp khó vì thiếu xét nghiệm đủ khả năng phát hiện chủng Bundibugyo.

Reuters

#BBCNewsTiengViet – #Ebola See less


 

MỘT ANH HÙNG CỦA NƯỚC MỸ…

8 SÀI GÒN

MỘT ANH HÙNG CỦA NƯỚC MỸ…

Katherine Johnson ( trong hình) là nhà toán học được yêu thích tại Nasa. Một phụ nữ tuyệt vời đã giúp đưa các nhà du hành vũ trụ Mỹ đầu tiên lên Mặt trăng nhờ các công thức tính toán của bà.

Katherine sinh ra tại một vùng quê nghèo ở tiểu bang Tây Virginia, Mỹ. Khi còn là một cô gái trẻ, Katherine thích đếm. Cô đã đếm tất cả mọi thứ như số bước  đã đi trên đường, từng bước vào nhà thờ, số thìa và số dĩa khi rửa bát. Katherine cực kỳ thích Toán và thông minh. Do đó nên học nhảy cóc. 10 tuổi Katherine đã học trung học và 15 tuổi được nhận vào đại học.

18 tuổi cô tốt nghiệp đại học và trở thành cô giáo dạy Toán. Khi lấy chồng và sinh con, cô ở nhà làm nội trợ. Không may chồng bị bệnh, Katherine phải đi làm trở lại.

Khi đó Nasa đang tuyển nhân sự làm công việc tính toán vì hồi đó chưa hề có máy tính như sau này. Bà là  phụ nữ gốc Phi đầu tiên được tuyển dụng vào Nasa. Các phụ nữ như bà chỉ thuần túy là công việc thay cái máy tính. Nhưng Katherine khác hẳn. Bà liên tục đặt ra rất nhiều câu hỏi. Bà muốn tìm hiểu thêm về công việc của mình và về Nasa. Vì vậy, bà bắt đầu đi họp. Trước Katherine, chỉ có đàn ông tham dự những cuộc họp này.  Bà đã thay đổi điều đó! Bà đã học nhiều đến mức được bổ nhiệm là thành một thành viên trong nhóm làm việc cho các dự án không gian khác nhau ở Nasa. Bà từng là người phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên theo học và tốt nghiệp cao học ở West Virginia University ở Morgantown.

Năm 1962, Mỹ quyết định cử người lên Mặt Trăng. Vì vậy, Nasa đã tạo ra các nhóm lớn để giải quyết rất nhiều vấn đề phát sinh để làm sao thực hiện được nhiệm vụ này. Katherine đã nghiên cứu cách sử dụng hình học để du hành không gian.  Bà đã tìm ra các con đường để tàu vũ trụ đi vòng quanh Trái đất và hạ cánh trên Mặt trăng. Nasa đã sử dụng phép toán của Katherine và nó đã chính xác. Ban đầu Nasa thử nghiệm bằng việc đưa các phi hành gia vào quỹ đạo quanh Trái đất. Sau đó, tính toán của Katherine đã giúp đưa các phi hành gia lên Mặt trăng và quay trở lại an toàn.

Nasa và nước Mỹ không thể làm được những điều này nếu không có Katherine Johnson và tình yêu của bà dành cho toán học!

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2008, bà Johnson kể lại rằng: “Lúc đầu, khi các nhà lãnh đạo ở Nasa nói họ muốn tàu quay về Trái Đất ở một địa điểm cụ thể, họ cố gắng tính toán thời điểm bắt đầu. Tôi đã nói: ‘Hãy để tôi làm. Các ngài hãy cho tôi biết thời điểm và địa điểm tàu cần hạ cánh. Tôi sẽ làm sao để tàu quay trở về và cho biết thời điểm cất cánh. Đó là điểm mạnh của tôi”.

Sau đó, bà Johnson đã tính toán đường bay cho chuyến bay lịch sử năm 1961 của Alan Shepard – người Mỹ đầu tiên bay vào vũ trụ. Bà đã giúp để nhà du hành vũ trụ này hạ cánh ở Đại Tây Dương. Điều này vô cùng quan trọng, là vì nếu cho các phi hành gia hạ cánh đại xuống trái đất ở bất cứ chỗ nào, thì việc giải cứu được họ và đưa về nơi an toàn vô cùng khó khăn. Bà đã tham gia chương trình Apollo đưa con người lên Mặt Trăng lần đầu tiên. Tính toán của bà rất quan trọng đối với việc đưa tàu đổ bộ đáp xuống bề mặt Mặt Trăng, rồi sau đó quay trở lại tàu vũ trụ trên quỹ đạo quanh Mặt Trăng. Sau này, bà Johnson làm việc trong chương trình tàu con thoi vũ trụ cũng như chương trình vệ tinh . Bà là tác giả của 26 bài báo khoa học quan trọng.

Ông Bill Barry, sử gia của Nasa đánh giá đóng góp của bà. Ông nói: “Nếu muốn trở lại Mặt Trăng hay lên tới Sao Hỏa, chúng ta sẽ phải dùng công thức toán học của Katherine Johnson”.

Katherine Johnson đã làm việc cho NASA hơn 30 năm. Bà nghỉ hưu vào năm 1986. Trong thời gian nghỉ hưu, bà thích đi du lịch, chơi bài và dành thời gian cho gia đình và bạn bè. Bà cũng thích nói chuyện với học sinh về trường học. Bà khuyến khích học sinh tiếp tục học tập và làm việc chăm chỉ. Bà luôn nói với học sinh và sinh viên để thôi thúc các em tìm hiểu thêm về toán học và khoa học. Và bà nói hãy đừng bao giờ từ bỏ ước mơ!

Bà vinh dự được nhận Huân chương Tự do của Tổng thống Mỹ năm 2015. Bà từng nhận lãnh rất nhiều giải thưởng, huân chương cao quý từ Nasa và nước Mỹ. Bà có tên trong Đại lộ danh vọng phụ nữ Mỹ. Và bà từng nhận rất nhiều bằng tiến sĩ danh dự từ các đại học tại Mỹ và trên thế giới. Năm 2016, cuộc đời của bà đã được dựng thành phim Nhân tố bí ẩn, hết sức xúc động. Ngày nay, có một cơ sở nghiên cứu máy tính của Nasa ở Langley mang tên bà.

Katherine Johnson sinh năm 1918 tại Tây Virginia. Bà mất vào ngày 24 tháng 2 năm 2020. Bà thọ 101 tuổi. Bà có chồng, 3 con, 6 cháu và 11 chắt. Bà là thành viên của nhà thờ Caver Memorial Prebyterin trong 50 năm, nơi bà hát trong dàn đồng ca ở đây. Bà cũng là thành viên của Anpha Kappa Anpha Sorocity, Hội nữ sinh gốc Phi đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ.

Sau khi bà qua đời,  Jim Bridenstine, nhà quản trị của Nasa đã gọi bà là “một anh hùng của nước Mỹ” và tuyên bố rằng “di sản tiên phong của bà sẽ không bao giờ bị lãng quên”.

Kaycee chia sẻ từ fb NT Bích Hậu

Hình tư liệu từ Nasấ

Hoạt ảnh do META AI


 

TÌNH YÊU CAO VỜI – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gioan (3,16-18) Lễ Chúa Ba Ngôi)

 Khát vọng cháy bỏng nhất của tổ phụ Áp-ra-ham là có con nối dõi tông đường. Sau nhiều năm trời mòn mỏi đợi trông, mãi đến trăm tuổi, Cụ Áp-ra-ham mới được diễm phúc có con nối dõi. I-xa-ác chào đời đem lại niềm vui vỡ òa cho cả gia đình. I-xa-ác là lẽ sống, là gậy chống đỡ tuổi già, là tương lai cho giống nòi và là niềm hy vọng của Cụ Áp-ra-ham (Sáng thế 22, 1-18).

Thế mà, oái oăm thay, Thiên Chúa truyền cho Cụ sát tế đứa con quý yêu để tế lễ cho Ngài. Trời đất như quay cuồng sụp đổ khi Cụ Áp-ra-ham nghe lệnh truyền của Thiên Chúa.

Phải tự tay sát tế đứa con một rất đỗi yêu dấu là nỗi đau thương làm tan nát cõi lòng, thế nhưng vì tình thương và lòng thần phục đối với Thiên Chúa, Cụ Áp-ra-ham chấp nhận hy sinh.

 Tuy nhiên, Thiên Chúa chỉ thử lòng Cụ Áp-ra-ham thôi. Ngài không nỡ để cho một người cha già phải gánh chịu một nỗi đau thương lớn lao đến thế. 

 Trao ban Người Con Một 

Thế nhưng ít ai ngờ có một người Cha khác đã thể hiện một hy sinh lớn lao hơn rất nhiều, chỉ vì tình yêu thương vô bờ dành cho nhân loại. Đó là Thiên Chúa Cha. 

 Vì quá yêu thương nhân loại lỗi lầm, vì không muốn cho muôn người phải lâm vào cảnh trầm luân muôn đời vì tội lỗi ngút ngàn của họ, Thiên Chúa Cha đã hiến tế Người Con Một yêu dấu của mình, cho Con Một chết thay cho nhân loại lầm than và để cho những ai tin vào Con của Ngài thì được sống muôn đời. Chúa Giê-su xác nhận điều nầy như sau:

 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.  Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài, mà được cứu độ” (Gioan 3, 16-17).

 Tuyệt vời thay!

 Xưa kia, Thiên Chúa không nỡ để cho I-xa-ác phải chết dưới lưỡi dao oan nghiệt của Cụ Áp-ra-ham, không để cho thân xác của I-xa-ác phải chịu thiêu đốt trên bàn thờ để làm lễ tế cho Thiên Chúa, nhưng đến một thời, Thiên Chúa Cha lại để cho Con Một Ngài, là Ngôi Hai Thiên Chúa, phải chịu đóng đinh, chịu quằn quại đau thương và chịu chết trên thập giá để đền tội thay cho nhân loại và để ban cho muôn dân được sống đời đời. Thiên Chúa đã yêu thế gian như thế đó. Yêu đến nỗi trao ban Người Con Một… 

Người tôi tớ thấp hèn liều mình chết thay cho chủ nhân quyền quý, hay người dân đen cùng khốn chết cho hàng vua chúa cao sang… là điều dễ chấp nhận; đằng nầy Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Tể trời đất lại hiến thân chết thay cho loài người hèn mọn thì quả là điều vượt quá trí tưởng tượng con người. Chỉ vì quá đỗi yêu thương loài người, Thiên Chúa mới có thể hy sinh đến thế.

 Kính lạy Thiên Chúa Ba Ngôi,

 Chúa Cha yêu thương chúng con đến nỗi hiến ban Người Con Một xuống thế cứu sống chúng con; Chúa Con đã yêu thương chúng con đến nỗi hiến dâng cả mạng sống và trao ban cho chúng con  đến giọt máu cuối cùng; Chúa Thánh Thần thông ban sự sống vĩnh cửu cho chúng con.

 Xin cho chúng con đừng thờ ơ hững hờ, vô tâm vô cảm trước tình yêu trời bể ấy nhưng biết đền đáp tình yêu của Chúa bằng cách hiến dâng cuộc sống mình để phụng sự Chúa và đem công sức, khả năng giúp đỡ những người bệnh tật, đau buồn hay gặp khó khăn. Amen.

 Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Gioan (3,16-18)

16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, Nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

50 năm – còn đó nỗi buồn- Phạm Tín An Ninh

50 năm – còn đó nỗi buồn

   Phạm Tín An Ninh

Ngày 24.2.2025 tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ đã quay lưng trước đồng minh NATO cùng hầu hết các quốc gia thuộc thế giới tự do, chính thức đứng về phía Nga, Iran, Bắc Hàn, và những nước thân Cộng sản, bỏ phiếu chống lại nghị quyêt lên án Nga gây chiến tranh xâm lược Ukraine, nhân dịp thế giới kỷ niệm 3 năm ngày Vladimir Putin xua quân vào lãnh thổ Ukraine. Sau đó, cả thế giới lại bàng hoàng, khi vị Tổng thống thứ 47 của Hoa Kỳ đã tỏ ra thân thiện với kẻ thù Nga, ca ngợi, bênh vực tên đồ tể Putin trong khi hết lời mạt sát, nhục mạ Tổng thống Zelensky, người đồng cấp, từng là đồng minh thân tín của Hoa Kỳ. Đã vậy, Tổng thống Mỹ còn đòi phải được khai thác khoảng sản, đất quý, tài sản quốc gia của Ukraine để trừ vào số tiền viện trợ trước đây. Có lẽ đây là nguyên nhân tiềm ẩn đưa đến cuộc tranh luận gay gắt, trở thành trận cải vã nặng nề ngay tại Tòa Bạch Ốc, giữa Tổng thống Zelensky của Ukraine và Tổng thống  D. Trump cùng Phó Tổng thống  J.D Vance của Hoa Kỳ vào ngày 28.2.2025, trước sự chứng kiến của các cơ quan truyền thông hiện diện cùng cả thế giới qua màn ảnh truyền hình. Sau khi “mời” Tổng thống Zelensky cùng phái đoàn tùy tùng ra khỏi Phòng Bầu Dục, Tổng thống Trump cũng đã quyết định ngưng tức khắc mọi viện trợ quân sự cũng như cung cấp tin tức tình báo, nhằm áp lực Ukraine phải nhanh chóng ngồi vào bàn hội nghị theo sự sắp xếp của Hoa Kỳ. Đến hôm nay, kết quả hội đàm tuy chưa chính thức ngã ngũ, nhưng ai cũng đã nhìn thấy trước số phận của Ukraine!

*  *  *

Sự kiện này xảy ra đúng vào thời điểm người Việt chuẩn bị tưởng niệm 50 năm, ngày kết thúc cuộc chiến Việt Nam. Chính xác hơn là ngày miền  Nam Việt Nam hay nước VNCH bị Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm, cũng với sự phản bội tương tự của đồng minh Hoa Kỳ, khi Mỹ và Bắc Việt đã cùng bắt tay thỏa thuận ký kết hiệp định mạo danh Hòa Bình vào ngày 27.1.1973 tại Paris, quyết định số phận của VNCH, quốc gia chính trong cuộc chiến nhưng bị áp lực để (gần như) phải đứng bên lề. Trong các cuộc hội đàm, phái đoàn VNCH bị xếp ngồi ngang hàng với (cái gọi là) Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền  Nam, trong khi ai cũng biết đó chỉ là đám tay sai, con rối do Cộng sản Bắc Việt nặn ra.

Vẫn biết rằng, quyết định của nước lớn đối với đồng minh luôn tùy thuộc vào quyền lợi của chính đất nước họ, tuy nhiên điều đau lòng là cung cách hành xử khi quay lưng, phản bội lại những người từng một thời nhận là bạn, cùng sống chết bên nhau. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, ngày 29.4.1975, tại Đài Loan, ngay sau đêm đầu tiên bị áp lực phải rời khỏi nước, khi trả lời cho một đại diện của chính phủ Mỹ, cũng đã lên tiếng trong ngậm ngùi, cay đắng “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó”

Ukraine và VNCH bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi khi cuộc chiến đấu của hai quốc gia này có cùng một đích: tự vệ, chống lại quân xâm lược. Chỉ khác là trong cùng tình huống này, Ukraine có nhiều may mắn hơn VNCH. Bởi cuộc chiến Việt Nam kéo dài quá lâu, có hơn 58.000 quân nhân Mỹ tử trận, một số khác bị bắt làm tù binh, đẩy phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ ngày một dâng cao, đỉnh điểm vào tháng 5/ 1970, đã có đến 4 triệu sinh viên thanh niên liên tục xuống đường, gây bạo động, một số đã bị cảnh sát bắn chết. Thời điểm này đại đa số dân chúng Mỹ, qua lưỡng viện Quốc hội, không còn ủng hộ cuộc chiến Việt Nam. Cũng phải thẳng thắn để thừa nhận, trên thực tế quân dân VNCH đã không chiến đấu hết lòng và dũng cảm bằng Ukraine, và các cấp lãnh đạo, đặc biệt vị tổng thống của họ rất xứng đáng. Ngoài ra, Ukraine vẫn còn được đa số dân chúng Mỹ ủng hộ, quan trọng hơn, được Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và gần như toàn bộ Âu Châu luôn hết lòng, sát cánh. Trong khi ở vào thời điểm (trước và sau) Hiệp định Paris ký kết, VNCH gần như cô thân độc mã. Cùng lúc bị Mỹ bỏ rơi, các đồng minh khác như Úc, Nam Hàn, Thái Lan, kể cả Phi Luật Tân cũng đều theo Mỹ, quay lưng!

*  *  *

Vào thời gian này, đơn vị chúng tôi đang hành quân tảo thanh tại khu vực Kontum – Tây Nguyên, sau khi vừa liên tục tạo các chiến thắng lẫy lừng, đánh tan các lực lượng hùng hậu thuộc Mặt Trận B-3 của tướng Cộng sản Hoàng Minh Thảo. Với khẩu hiệu “sinh Bắc tử Nam”, Cộng sản Bắc Việt chuyên áp dụng chiến thuật biển người, đẩy đám bộ đội, đa phần là thanh niên, sinh viên miền Bắc bị cưỡng bách nhập ngũ, như những con thiêu thân lao theo sau các trận địa pháo, để bằng mọi giá phải chiếm được căn cứ Charlie của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù,  mở cánh cửa ngõ xua chiến xa T-54 với hỏa tiễn tầm nhiệt của Liên Xô, tràn ngập BTL Tiền Phương SĐ22BB tại Tân Cảnh, chiếm cứ một vùng Bắc Kontum. Sau đó, một lực lượng Cộng quân hùng hậu hơn, gồm Sư Đoàn 320, Sư Đoàn 2 (sau này tăng cường thêm Sư Đoàn 968 từ Lào sang), cùng 4 trung đoàn biệt lập 66, 95, 20, 24, Trung đoàn Đặc công 400, 2 trung đoàn Pháo,  6 tiểu đoàn Phòng không và 1 tiểu đoàn Tăng T-54… tràn xuống phía Nam nhằm thôn tính thành phố Kontum, trong ý đồ tiến chiếm Pleiku, nơi có bản doanh của BTL/QĐII/VNCH hầu dùng làm bàn đạp tràn xuống đồng bằng, duyên hải, nhưng đã bị thảm bại trước một lực lượng VNCH, với chỉ duy nhất mỗi Sư Đoàn 23 BB cùng 3 tiểu đoàn Pháo Binh và 1 chi đoàn chiến xa M-41 cơ hữu, đặc biệt được Không quân (giai đoạn đầu có B-52 của Hoa Kỳ) yểm trợ. Điều này đủ để chúng tỏ khả năng chiến đấu của Quân Lực VNCH.

Ngay trong trận chiến đầu tiên tại tuyến Tây Bắc Kontum, vào sáng ngày 14.5.1972. cả hai Trung đoàn 28 và 64 của Sư Đoàn (Thép) 320 Cộng sản cùng 1 tiểu đoàn xe tăng bị tiêu diệt, làm cho cả sư đoàn có tiếng, kỳ cựu này bị kiệt quệ, không còn khả năng chiến đấu. Sau đó chỉ đúng 10 ngày, sáng sớm ngày 24.5.72. trong trận tấn công cùng lúc vào Tòa Giám Mục, Bệnh Viện 2 Dã Chiến và vòng đai phi trường Kontum, cả Trung đoàn 52 thuộc Sư Đoàn 2 (Quảng Đà) mới tăng cường từ vùng Quảng Nam vào, bị đánh tan, đã phải giải thể. Một số lớn cán binh của Trung đoàn 141 thuộc sư đoàn này bị bắt và ra hồi chánh. (Những thất bại này Cộng sản Bắc Việt đã phải công nhận qua chính các hồi ký, quân sử của họ)

Chiến thắng Kontum vào Mùa Hè 1972 của đơn vị chúng tôi ở Quân Đoàn II, cùng lúc với Bình Long ở Quân Đoàn III và Quảng Trị ở Quân Đoàn I đã bẻ gãy ý đồ thôn tính VNCH của Cộng sản Bắc Việt, khi lợi dụng việc Hoa Kỳ vừa rút hết quân về nước, đồng thời cắt giảm tối đa quân viện cho VNCH, sau chiêu bài “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”.

Nhưng rồi Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973 như một trận gió chướng tàn độc, cuốn trôi hầu hết những chiến công mà chúng tôi đã phải trả bằng biết bao máu xương để đạt được, cùng lúc làm tiêu hao hào khí mà quân sĩ đơn vị chúng tôi vừa dâng cao trong men say chiến thắng. Hiệp định Paris mà Hoa Kỳ và Bắc Việt đã thỏa hiệp, ký kết trên nỗi đau thương, phẫn uất cùng thân xác của những người lính khốn khổ chúng tôi, chính là huyệt mộ do chính Hoa Kỳ đào lên nhằm chôn sống quân lực và cả quốc gia đồng minh VNCH sau đó.

Ủy Ban Nobel Hòa Bình Na Uy năm 1973 đã phải vô cùng xấu hổ và ân hận khi có một quyết định vội vã, sai lầm, trao giải cho Henry Kissinger và Lê Đức Thọ. Bị cả thế giới và nhiều dân biểu Na Uy phản đối, một số thành viên bất mãn rút tên ra khỏi Ủy Ban. Sau đó chính Lê Đức Thọ đã phải từ chối nhận giải, vì hơn ai hết, chính cá nhân ông ta và cả Bộ chính trị Đảng Cộng sản đều biết trước là sẽ không hề có hòa bình, bởi họ đã mưu đồ từ trước, không hề tôn trọng hiệp định mà chỉ lợi dụng những kẽ hở có toan tính, để đẩy mạnh cuộc chiến nhằm sớm cưỡng chiếm Nam Việt Nam.

Hiệp định mang tên Hòa Bình, nhưng kỳ thực chỉ là hình thức ngưng bắn kiểu “da beo”, để các lực lượng Cộng sản Bắc Việt không phải rút về Bắc mà được tiếp tục hiện diện hợp pháp tại các phần đất mà họ vừa lấn chiếm, cùng lúc Hoa Kỷ cắt hết viện trợ quân sự cho VNCH để đổi lấy tù binh, trong khi Cộng sản Bắc Việt vẫn được Trung Cộng, Liên Xô cùng khối Cộng sản gia tăng tối đa viện trợ. Lợi dụng tình hình này, Cộng sản Bắc Việt đã ào ạt chuyển đại quân, chiến xa, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu vào chiến trường miền Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh, và một số từ Lào sang để gia tăng cường độ các cuộc tấn công, trong khi chúng tôi phải chiến đấu trong những điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn, từ quân số, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu, đến mọi phương tiện khác.

Hồi tưởng thời gian này, tôi bỗng thấy đồng cảm và thấm thía với tâm trạng của người lính trẻ Paul Bäumer, nhân vật chính trong “All Quiet On The Western Front” (Mặt Trận miền  Tây Vẫn Yên Tĩnh), tác phẩm viết về chiến tranh nổi tiếng của nhà văn Đức, Erich Maria Remarque, mặc dù tình huống tương tự đã xảy ra từ thời Đê Nhất Thế Chiến, hơn 55 năm trước:

“Ngày tháng trôi qua. Mùa hè 1918 này là mùa hè đẫm máu và kinh hoàng nhất. Thời gian giống như những thiên thần đang bay lượn trên vùng hủy diệt một cách không thể hiểu nổi. Dường như ai cũng biết rằng chúng tôi sẽ phải thua trong cuộc chiến này. Nhưng rất ít ai nói ra điều ấy. Chúng tôi đang bị đẩy lui. Chúng tôi không còn đủ quân số, không đủ tiếp liệu, đạn dược để có khả năng phản kích sau cuộc tổng công kích này. Duy chỉ có các chiến dịch hành quân là còn đang tiếp diễn – và những cái chết sẽ vẫn còn tiếp tục…”

Là những người trực tiếp chiến đấu, cận kề quân sĩ, chúng tôi đã phải xót xa, đau đớn đến dường nào khi chứng kiến đồng đội của mình ngã xuống mỗi ngày trong tình trạng tức tưởi, oan khiên như thế!

Hơn mười năm phục vụ trong một đơn vị Bộ Binh bình thường, nhưng chúng tôi chưa hề một lần chiến bại, ngay cả những trận chiến gay go, đẫm máu nhất, với lực lượng địch đông gấp nhiều lần và vũ khí tối tân hơn, điển hình như trận chiến Kontum. Vậy mà bỗng dưng chúng tôi trở thành những người bại trận. Bi thảm và tủi nhục hơn là dù có “gãy súng”, “buông súng” hay không, chúng tôi cũng bị thuộc về bên phía “đầu hàng” theo lệnh của ông tướng mới lên làm tổng thống ba ngày, nhân danh Tổng Tư Lệnh. Sau này, có người bảo ông làm đến đại tướng mà ngây thơ, nghe theo lời dụ dỗ, móc nối của ai đó và một người em ở phía bên kia, tin Cộng sản sẽ thành lập “chính phủ ba thành phần”. Có người lại bảo ông giành chức tổng thống chỉ để làm một điều duy nhất – đầu hàng. Cũng có người bênh vực, bảo nhờ ông đầu hàng nên tránh được một cuộc tắm máu, và có đủ thời gian cho một số người kịp chạy đến Subic Bay hay đảo Guam, sang Mỹ sớm. Là những thằng lính khốn khổ nhất, năm tháng chỉ ở trong núi rừng, dưới các giao thông hào, ngộp thở với tiếng bom đạn cùng bao nhiêu thứ lệnh lạc chiến trường, chúng tôi đâu có biết gì về chính trị bẩn thỉu, nhất là các biến cố dồn dập, hỗn độn trong những ngày tháng cuối cùng tại thủ đô Sài gòn.

*  *  *

Trong chiến tranh, thắng bại dù sao cũng là lẽ thường tình. Cuộc nội chiến Mỹ 1861-1865, Nam quân đã đầu hàng Bắc quân, và trong Đệ Nhị Thế Chiến, nước Nhật hùng mạnh đã phải đầu hàng quân đội đồng minh, sau khi hai quả bom nguyên tử do Mỹ thả xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki. Kẻ chiến thắng đã hành xử văn minh, nhân bản như thế nào, cho dù các cuộc chiến ấy cũng vô cùng tàn khốc, cướp đi rất nhiều sinh mệnh của hai bên – cả dân lẫn lính. Nhưng cuộc bại trận của chúng tôi sao mà phẫn uất và đau đớn quá. 

Bị đồng minh phản bội, bỏ rơi trong đành đoạn, tức tưởi. Thua một kẻ địch không đáng để thua. Một chế độ tự do nhân bản, văn minh, phồn thịnh lại phải đầu hàng một chế độ man rợ, nghèo nàn, lạc hậu. Có lẽ trong lịch sử chiến tranh Đông-Tây, chưa từng có những người lính nào ở phe thắng trận lại ngồi khóc ở vệ đường trên phần đất vừa mới chiếm được – như trường hợp nhà văn bộ đội Cộng sản Dương Thu Hương và nhiều người khác nữa– bởi nhận ra mình bị lừa dối, uổng phí cả một thời trai trẻ để đi “giải phóng” một miền đất tự do, văn minh, nhân bản, giàu có, hạnh phúc gấp vạn lần “miền Bắc xã hội chủ nghĩa” của mình. 

Đến hôm nay, cuộc chiến oan nghiệt ấy đã kết thúc vừa đúng nửa thế kỷ. Hầu hết những dấu tích chiến tranh trên quê hương đã bị “bên thắng cuộc” chôn xóa, hủy diệt, ngoại trừ một số rất ít được chọn lọc, tô son thiếp vàng, trưng bày trong các viện bảo tàng, nhằm để tô vẽ, tuyên truyền. Trong số chứng tích còn sót lại là những nấm mồ xác xơ của hàng vạn tử sĩ miền Nam, nằm trong các nghĩa trang tiêu điều hoang phế, bị kẻ chiến thắng đập phá, hủy hoại, nhục mạ. Thực ra, họ rất muốn phá hủy hoàn toàn cho sạch hết chứng tích cuộc chiến mà chính họ đã làm hoen ố lịch sử dân tộc một thời, như đã từng san bằng, giải tỏa một số các nghĩa trang quân đội ở các tỉnh miền Trung, nhưng sở dĩ một số ít nghĩa trang lớn còn sót lại, dù trong tình trạng bị phá hủy, thay tên gọi (như nghĩa trang quân đội Biên Hòa trở thành một nghĩa trang dân sự địa phương lạ lẫm nào đó), chỉ nhằm để kiếm lợi trong các cuộc tuyên truyền, thương lượng, đổi chác với Hoa Kỳ cùng thế giới tự do, và cũng để gạt gẫm, lừa mị đồng bào miền Nam hầu ngụy tạo một chút gì cái “tình dân tộc” trong chiêu bài “hòa hợp hòa giải”.

Mới đây, có người phát hiện Nghĩa trang Sư Đoàn 22BB hoang phế nằm lẩn khuất trong một vùng núi rừng Bình Định. Cây cỏ và cả rác rến gần như che lấp hàng ngàn mộ phần tử sĩ rêu phong. Một số đồng đội, nhà hảo tâm trong và ngoài nước cùng hô hào đóng góp, nhờ một số các anh chị em còn nặng tấm lòng với miền Nam trong nước tiếp tay, phát quang, sơn sửa, kẻ lại tên tử sĩ và dựng lại các tấm bia gãy đổ. Vậy mà, sau đó họ đã bị chính quyền Cộng sản đe dọa, ngăn chặn, gây bao phiền muộn. Kế hoạch trùng tu “kín” một số nghĩa trang hoang phế khác trong vùng cũng vì đó mà đành phải hủy bỏ.

Hàng vạn trại tù vội vàng được dựng lên sau tháng 4/1975, trên khắp mọi miền đất nước, nhằm đày ải, hành hạ, giết dần mòn gần một triệu quân cán chính, trí thức, văn nghệ sĩ, kể cả nhà sư và linh mục miền Nam. Giờ hầu hết những trại nằm trong rừng sâu, núi thẳm đã biến mất, một số trại tù lớn ở các thành phố thì đã được nâng cấp, sửa sang để trở thành những trại giam lớn của tỉnh hay cấp nhà nước. Tuy nhiên cứ thi thoảng người dân lại phát hiện một số nấm mồ “tù cải tạo” nằm sâu trong núi rừng Lào Cai, Yên Bái hoang vu, giờ chỉ còn mỗi tấm bia xám xịt rêu phong, lẩn khuất dưới cỏ cây từ gần 50 năm trước.

(Mộ tù cải tạo trong rừng núi Yên Bái – Ảnh từ youtube)

Một chứng tích đau lòng khác, những thương phế binh VNCH bị đối xử tệ hại, đang phải sống từng ngày khốn cùng trong nước. Phần đông, theo thời gian đã chết do nghèo đói, bệnh tật. Số còn lại cũng đã già nua, sống lây lất trên các vỉa hè góc phố. Vậy mà họ vẫn không yên với một chế độ thiếu vắng tính nhân bản, tình tự dân tộc, luôn nặng hận thù. Với nghĩa tình cùng lòng tri ân của những đồng đội, đồng bào từ hải ngoại và cả trong nước, vận động gom góp gởi về, qua các vị Linh mục nhân từ thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn, để các vị tổ chức mỗi năm một, hai lần buổi họp mặt “Bên nhau đi nốt cuộc đời”, như là một chút ủy lạo trong tinh thần huynh đệ chi binh và biết ơn những người đã hy sinh một phần thân thể, vậy mà chính quyền Cộng sản cũng đã tìm mọi cách gây khó khăn, đe dọa, ngăn chặn cấm đoán, để cuối cùng phải hủy bỏ.

(thương binh VNCH – Ảnh: trên Net)

Chứng tích quan trọng và sinh động hơn, là sự hiện diện của hơn 5 triệu người Việt đã phải bỏ nước ra đi, đang sống lưu vong trên khắp mặt địa cầu. Sau tháng 4.1975, cả một miền Nam “thua cuộc” đã nhanh chóng trở thành một vùng đất chết, khốn cùng, bi thảm. Người dân có cảm giác như bị lưu đày ngay trên chính quê hương mình. Tương lai chỉ còn là những cơn ác mộng. Thời ấy, mọi người chỉ còn biết nhìn ra biển khơi mênh mông để ước mơ một sự đổi thay nào đó ở phía bên kia chân trời mịt mờ vô định. Và còn gì đau đớn hơn khi con người nghĩ tới chuyện phải bỏ quê hương ra đi lại là một niềm khát vọng! Trong suốt lịch sử thăng trầm của dân tộc, chưa có thời kỳ nào mà người dân phải bỏ cả quê hương, nhà cửa, mồ mả ông bà cha mẹ để vượt thoát ra đi trong cái chết. Chính quyền Cộng sản từng tuyên truyền, bôi xấu họ là bọn phản quốc chạy theo chân đế quốc nhằm tìm chút bơ thừa sữa cặn, để rồi không lâu sau đó lại âu yếm, chiêu dụ, gọi họ là những “khúc ruột ngàn dặm”, những “sứ giả” của quê hương, dân tộc. Thực chất, các cộng đồng người Việt tỵ nạn trên hầu hết các quốc gia tự do – mà chính quyền Cộng sản vẫn luôn xem là “các thế lực thù địch”- đa phần đã thành công vượt bậc tại các quốc gia định cư, thế hệ con cháu thành đạt trên đủ mọi lãnh vực, từ giáo dục, khoa học kỹ thuật, chính trị, quân sự, văn học, âm nhạc. Đó là những đóng góp rất tích cực cho các quốc gia đón nhận họ, nhưng cũng là những chất xám quý báu mà chính quyền Cộng sản trong nước hằng mơ ước.

Trong suốt 50 năm, kẻ chiến thắng đã cố tình biến miền Nam, vùng đất tự do văn minh hạnh phúc xinh đẹp một thời, trở nên nghèo nàn, khốn khổ hơn so với cái nôi “cách mạng” miền Bắc, nhưng rồi dù có bị đàn áp, bần cùng hóa. phân biệt đối xử đến đâu, người miền Nam vẫn luôn giữ được văn minh, nhân bản, và đất miền Nam vẫn luôn đáng yêu, đáng sống. Đã có hằng triệu triệu người dân miền Bắc bỏ quê cha đất tổ tìm vào đất phương Nam, mong được đổi đời. Mật độ dân số miền Nam, đặc biệt tại Sài gòn ngày một đông đúc, có khi gấp gần 5 lần so với tháng 4.1975, nhà cửa, cao ốc thi nhau dựng lên bừa bãi, đến nỗi nhiệt độ trở nên nóng bức trong cả mùa đông, và nhiều con đường phố đã trở thành sông, chỉ sau một cơn mưa, dù không lớn lắm. Ngay cả các tỉnh cao nguyên, miền Trung, giờ cũng đầy những người miền Bắc bỏ xứ vào đây lập nghiệp, giành nương chiếm rẫy của những người Thượng, vốn từng bao nhiêu đời khai sơn phá thạch, sống chết ở đây.

50 năm, nền giáo dục “xã hội chủ nghĩa” lạc hậu, xuống cấp đã làm cho bao thế hệ học trò trở nên thua kém rất xa so với thế giới chung quanh. Đến nỗi một cô giảng viên trường Đại học Sư phạm (Thái Bình) đã công khai trong một chương trình trên truyền hình Hà Nội, rằng “Tự Lực Văn Đoàn là một gánh cải lương, và ông Nhất Linh là ca sĩ cổ nhạc”. Tệ hại và tủi nhục hơn là tình trạng tha hóa trong ngành giáo dục, kể cả thầy giáo và học trò. Chuyện thầy giáo gạ tình, hiếp dâm nữ sinh cũng như chuyện học trò, kể cả nữ sinh, đánh nhau và đánh luôn cả thầy cô giáo, gần như là chuyện thường tình.

Đặc biệt, ngôn ngữ Việt (cả tiếng nói lẫn chữ viết) bị biến cải một cách tùy tiện, ngốc nghếch, kể cả muốn Tàu hóa như trường hợp ông giáo sư tiến sĩ Bùi Hiền nào đó. Lịch sử (và môn Sử học) được dựng lên từ bao điều dối trá. “Anh hùng Lê Văn Tám” được xây tượng đài, đặt tên cho các con đường lớn, công viên, trường học, bắt học trò cả nước phải học tập, noi gương như một vị anh hùng. Thực chất, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật tưởng tượng. Chính ông GS Trần Huy Liệu, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN đã thú nhận với GS Phan Huy Lê, nhân vật Lê Văn Tám là do mình “dựng” nên và nhờ GS Phan Huy Lê sau này khi đất nước yên ổn, nói lại giùm, lỡ khi đó ông Trần Huy Liệu không còn nữa.  (GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám, Khoa Đông phương học). Và ông Phan Huy Lê đã công bố sự thật này năm 2005, người dân trong nước do đó đều biết câu chuyện gian dối lừa mị này, vậy mà đảng và nhà nước vẫn không hề một lời lên tiếng.

50 năm, nền văn học “xã hội chủ nghĩa” còn lại những gì, ngoài mấy trăm bài thơ tuyên truyền, nịnh lãnh tụ, tiêu biểu cỡ Tố Hữu “Ta bên người, người tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn bên Người một chút…” hay “ Xta-lin ơi!/Hỡi ôi Ông mất, đất trời có không?/Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười), cùng các bản nhạc “đỏ”: Bác đang cùng chúng cháu hành quânTrường Sơn Đông Trường Sơn Tây,Tiếng Chày Trên Sóc Bam Bo,  Năm Anh Em Trên Một Chiếc Xe Tăng, Cô Gái Vót Chông… mà đám văn công hát đi hát lại trong mấy ngày lễ lớn, và tất nhiên chẳng ai còn muốn nghe!

Nhưng 50 năm với những bản tình ca miền Nam, một thời bị cho là nhạc vàng, cấm đoán, đến nỗi có người hát (như Toán Xồm, Lộc Vàng) đã từng bị đàn áp,  tù đày để người phải bỏ mình, người thì gần cả một đời khốn đốn, giờ lại làm mê mẩn say đắm mọi người lớn nhỏ, kể cả những “đồng chí lãnh đạo”, công an, bộ đội, từ Nam ra Bắc, từ thành phố cho đến các hang cùng ngõ hẻm, vùng sâu vùng xa. Mà oái ăm thay, đa phần những bản nhạc tình ca này lại viết rất đẹp về lính VNCH, người lính “bên thua cuộc”.

Trong một bài tiểu luận viết vào ngày 1.1.2022, dưới nhan đề “Níu một thời, giữ một đời”, nhà văn Ban Mai, một trí thức trẻ của chế độ (giảng viên tại trường Đại Học Quy Nhơn) đã viết:

“Việt Nam, sau năm 1975 kết thúc chiến tranh giữa hai miền Nam – Bắc. Hòa bình đã đến sau mấy thập niên tang tóc vì bom rơi, đạn nổ. 

Thế nhưng, người miền Nam đã không thể tưởng tượng nổi, tiếp sau đó là một thảm cảnh kinh hoàng… Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thụ tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Tất cả sách báo, văn học nghệ thuật bị tịch thu tiêu hủy, nền văn chương miền Nam hoàn toàn bị bôi xóa. Giống như thời man rợ của Tần Thủy Hoàng năm 210 trước công nguyên… 

Bắt đầu sau năm 1975, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam không hề biết đã từng có một nền văn học nghệ thuật miền Nam vô cùng gíá trị với nhiều thể loại “trăm hoa đua nở”, đề cao tự do, dân chủ, với ý thức khai phóng, nhân bản, theo kịp trào lưu thế giới…

Bên trong nước, mấy năm gần đây có một bạn trẻ Nguyễn Trường Trung Huy ở Sài Gòn cũng dày công sưu tầm văn học miền Nam và bộ sưu tập của bạn ngày một đồ sộ đáng cho ta kinh ngạc, đó là một kỳ công. Tôi tin rằng, trên đất nước Việt Nam này có nhiều người thầm lặng âm thầm tìm kiếm, lưu giữ một nền văn chương nhân bản mà ta tưởng rằng đã chết sau năm 1975. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học trong nước đang ngày càng tìm kiếm để nghiên cứu, mới đây trong một đề thi luận văn bậc trung học phổ thông, có một giáo viên đã đem bài thơ “Ta về” của Tô Thùy Yên cho học sinh bình giảng, với những câu thơ đầy tính nhân văn:

“Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay

Chút rượu hồng đây xin rưới xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này”.

(Tô Thùy Yên là một sĩ quan VNCH, từng bị tù đầy qua nhiều trại giam trong gần 13 năm, sau tháng 4.1975)

Tuy đây chỉ mới là một hành động đơn lẻ nhưng đó là một tín hiệu vui.

Tôi tin rằng, sẽ không còn bao lâu nữa dòng văn chương miền Nam (1954-1975) sẽ được đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường, nó xứng đáng được trả về với đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại, không ai và không một thể chế nào có thể bôi xóa một thời đại lịch sử của nước nhà. Giữ gìn, bảo tồn và chia xẻ văn học miền Nam cho đời sau là trách nhiệm của chúng ta, của tôi và các bạn những người yêu tiếng Việt, những người yêu văn chương Việt Nam”

Một vị giáo sư khác trong nước, chuyên nghiên cứu về Văn Học Việt Nam đã khẳng định “Trong hai thập niên 1955-1975, nếu không có Văn Học miền Nam, thì nền Văn Học Việt Nam xem như không hề có, hoặc chẳng có gì cả!”

Nhà thơ, nhà giáo cũng là nhà báo nổi tiếng miền Bắc, Hoàng Hưng, trong bài viết “Về ảnh hưởng của Văn hóa miền Nam (VNCH) sau 1975”, sau khi hết lời ca ngợi lối sống, văn hóa, văn học miền Nam, đã kết luận:

“…nhìn một cách tổng thể, toàn bộ đời sống miền Nam, trong đó có đời sống văn hoá, văn học, trong 45 năm qua đã dần dần “giải phóng” người dân miền Bắc khỏi cái nhà tù lớn trong đó con người bị buộc phải giả tạo, “gồng mình” hoặc bị mê hoặc mà mù quáng tuân phục trong thời chiến và theo “định hướng XHCN….

Đến nay nó vẫn tiếp tục đóng góp vào tiến trình “giải Cộng” gian lao của đất nước! Chắc chắn sẽ đến một ngày, đất nước chứng kiến một cuộc phục hưng văn hoá, văn học, đi tiếp con đường mà văn hoá, văn học miền Nam đã đi. Con đường Tự Do, Nhân Bản, Hội Nhập Quốc Tế.”

*  *  *

Sau 50 năm, tất nhiên đất nước cũng đã có những đổi thay nhất định. Cơ sở hạ tầng, đặc biệt tại các đô thị có nhiều phát triển, đời sống người dân ở đây có khá hơn so với nông thôn. Tuy nhiên trên thực tế, Việt Nam vẫn còn tụt hậu khá xa so với nhiều nước chung quanh. Chính ông Tổng Bí thư Tô Lâm mới đây đã công khai tuyên bố: “Cách đây 50 năm vào những năm 1960-1970, Singapore chỉ mong được sang Bệnh viện Chợ Rẫy (Sài gòn) để chữa bệnh, giờ thì ta lại ước mơ được vào khám bệnh ở Singapore.”

Theo thống kê của IMF (International Monetary Fund/Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế), lợi tức tính theo đầu người ở Việt Nam cho năm 2025 là 4,986 Mỹ kim (Mk), trong khi ở Singapore là 93,956 Mk, và so với hầu hết các quốc gia Đông Nam Á khác, mức sống của người dân Việt nam đều rất thấp:

– Hàn Quốc (Nam Hàn): 37,675 Mk

– Nhật Bản                   :  35,611 Mk

– Đài Loan                   :  34,944 Mk

– Malaysia                   :  14,423 Mk

– Thái Lan                   :    7,754 Mk

Tệ hơn, Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với cả Mộng Cổ (Mongolia), một nước chỉ có đồng cỏ và sa mạc, với lợi tức trung bình của người dân năm 2025 ở đây là: 7,576 Mk.

Điều đặc biệt đáng chú ý hơn là trong hầu hết các quốc gia Đông Âu, mới giã từ chế độ Cộng sản khoảng 30 năm nay, người dân đều có lợi tức cao hơn nhiều so với Việt Nam (4,896 Mk).

– Tiệp Khắc (Czech Republic) = 33,038 Mk

– Hung Gia Lợi (Hungary)       = 25,703 Mk

 Ba Lan (Poland)                     = 25,040 Mk

 Lỗ Ma Ní (Romani)               = 21,570 Mk

 Bảo Gia Lợi (Bulgari)           = 18,456 Mk 

 Tuy vậy, chủ trương làm “kinh tế thị trường (với cái đuôi) theo định hướng XHCN” thực tế cũng đã làm giàu nhanh chóng cho hầu hết tầng lớp đảng viên, gia đình và phe nhóm, đưa họ sớm trở thành những nhà tư bản “đỏ”, đào thêm cái hố ngày càng sâu giữa giai cấp giàu (đảng) và nghèo (dân). Điều này hoàn toàn trái ngược mục tiêu “đấu tranh giai cấp” mà đảng Cộng sản từng hô hào; đấu tố, giết hại dã man hàng mấy vạn người vô tội trong “Cải Cách Ruộng Đất”, lộ rõ chiêu trò lừa gạt “giải phóng miền Nam”, và hiện nguyên hình một đám thảo khấu khi chủ trương “tiêu diệt tư sản mại bản” rất tàn độc ngay sau khi cướp được miền Nam.

Sự làm giàu bộc phát (và bất chính) của tầng lớp tư bản đỏ này đã kéo theo hiện tượng xuống cấp từ Giáo Dục, Văn Hóa, Y Tế, tha hóa về Đạo Đức, Xã Hội và cả Tôn Giáo. Đặc biệt nhất là vấn nạn thối nát, tham nhũng – tất nhiên ngay trong hàng ngũ đảng Cộng sản, kể cả những lãnh đạo cao cấp nhất, từ hàng tướng lãnh, thứ bộ trưởng, thủ tướng đến cả chủ tịch nước – như là một thứ quốc nạn không còn thuốc chữa. Chức quyền được chuyền tay theo kiểu “cha truyền con nối”, “gia đình trị” của thời phong kiến. Đảng đứng trên pháp luật, thu tóm mọi quyền lực, tài sản quốc gia. Đảng viên sống phè phỡn giàu sang trên đầu những người dân cùng khốn. Đám con cháu, những “hạt giống đỏ”, được đưa sang du học tại các trường tư nổi tiếng ở các nước tư bản, tất nhiên bằng tiền của nhà nước hoặc từ tham nhũng, chuẩn bị cho các vai trò kế vị.

Một ông thủ tướng (sau đó là chủ tịch nước) từng mở miệng khoe khoang “Việt nam bây giờ đang là một đất nước đáng sống nhất, cái cột đèn ở hải ngọai mà có chân thì cũng đã chạy hết về Việt Nam” (sic!). Trong khi ấy, hàng vạn cô con gái phải bỏ cha mẹ, người tình sang làm vợ cho những ông già bệnh hoạn, tàn tật ở tận Đài Loan, Nam Hàn, như một thứ nô lệ, kể cả nô lệ tình dục. Nhiều cô không liên lạc được với gia đình. Một số bị giết chết hoặc bị bán vào các động mãi dâm. Tại một số nước Á châu, báo chí công khai quảng cáo dịch vụ “mua vợ Việt Nam” với giá bằng một món đồ chơi rẻ mạt. Trong lịch sử dân tộc, dù có những giai đoạn lệ thuộc khó khăn, nhưng không có thời kỳ nào mà thân phận những người con gái, đàn bà Việt Nam lại rẻ rúng và thê lương như thế. Chính quyền đã “xuất khẩu” hàng vạn, hàng trăm ngàn người lao động đi khắp thế giới, ngay cả những nước nghèo ở tận châu Phi, nhằm kiếm sống và kiếm thêm ngoại tệ cho nhà nước. Đã vậy vẫn cứ tiếp tục những dòng người tìm mọi cách trốn khỏi Việt Nam, để một số phải chết ngạt trong những chiếc xe đông lạnh, kín mít, một số phải sống trong núi rừng, trồng á phiện và bị bắt, vì không có quốc gia nào chấp nhận để dung thân. Một sự kiện đáng xấu hổ, khi nhóm chín người tháp tùng chuyên cơ của bà Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân trong chuyến viếng thăm “hữu nghị” Hàn Quốc, vào đầu tháng 12.2018, đã bỏ trốn khi vừa mới bước chân lên đất khách. Đó là chưa kể một số ra nước ngoài chỉ để ăn cắp, làm gái điếm, đến nỗi cái “hộ chiếu” Việt Nam đã từng trở thành nỗi ô nhục.

*  *  *

Sau đúng 50 năm, tại Sài gòn, trước cả mấy tháng, nhà nước Cộng sản Việt Nam đang chuẩn bị rầm rộ mừng ngày “thống nhất”, thao dược một cuộc diễn binh rất qui mô mà tốn phí dự trù hằng chục triệu Mỹ kim, vẫn với lời ca “thề phanh thây uống máu quân thù” vẫn với các khẩu hiệu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, hừng hực không khí kiêu ngạo, hận thù. Trong khi ấy, đã có những anh bộ đội có mặt trong đoàn quân giải phóng ngày nào, theo chân nhà văn Dương Thu Hương (ngồi khóc ở vệ đường, khi nhận ra mình bị lừa gạt để chém giết đồng bào, hủy hoại cả một miền Nam nhân bản, văn mình, giàu đẹp) giờ cũng đã tột cùng ăn năn hối hận, như trường hợp cựu cán binh Bình Ngọc với bài thơ Xin Lỗi Tháng Tư!”:

Thời trai trẻ, gác bút nghiên, gác mọi ước mơ …lên đường “ đánh Mỹ!”

Cây súng trên vai, máu đỏ trong tim!

Mụ lí trí! Hùng hục vượt Trường Sơn.

Đêm nghỉ, ngày đi, giày vẹt gót, áo sờn vai thấm lạnh!

Mẹ còng lưng vắt kiệt sức, mỏi mòn, thao thức đợi con về!

“Ba mươi tháng Tư” bên thắng cuộc, hả hê

Con trở thành kẻ “kiêu binh!” trong đoàn “quân Giải phóng!”

Nhưng! Ba mươi tám năm sau con vô cùng thất vọng!

Không hiểu mình đi Giải phóng cho ai?

Chễm chệ trên cao, toàn những kẻ bất tài!

Đáy xã hội, nhiều “dân oan!” mất đất.

Những nghịch lý, tai ương…chồng chất!

Khoảng cách “sang, hèn” cứ rộng mãi ra.

Người ở “quê” không còn tha thiết với “ao nhà”.

Tràn vào miền  Nam “ngoạ, chiếm, xâm canh…từ núi, rừng, chợ búa, thị thành, lầu cao, gác tía ….!”

Đi đâu, ở đâu cũng gặp toàn người “ngoài ấy”.


Nhà cửa, ruộng vườn ngoài ấy họ bỏ hoang???

Quê Hương tôi, tên thật đẹp (làng Vàng).

Cũng có đình, chùa, bờ xôi, ruộng mật!

Không hiểu vì sao nhiều người “bỏ tất” để vào Nam chen lấn, đua đòi?

Riêng tôi!


Đã mấy năm nay, tôi đã làm kẻ “chạy trốn!”

Trốn khỏi “sai lầm” những năm, tháng …đã đi qua!


Mỗi tháng Tư về tôi lại nhớ vào Nam!

Xin lỗi! “tháng Tư!”

Xin lỗi! miền Nam, những việc tôi đã làm!

Xin lỗi tất cả!

Cả những người “bên thua cuộc!”

Biết sao được!

Mọi người chúng ta sinh ra, đâu có thể chọn được thời cuộc

Nhưng! Lẽ đời, Đen, trắng phải phân minh!

Xin lỗi! “tháng Tư!”

Hãy tha thứ cho mình! Rất chân thành, chứ không phải lời giả dối.

Hay trường hợp của Trần Đức Thạch, cựu phân đội trưởng trinh sát, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341, Quân đoàn 4, qua các bài thơ

Tạ Lỗi miền Nam

Tôi sinh ra ở miền Bắc

Không hình dung ra giặc thế nào

Người ta hô hào

Phải căm thù giặc…?

Người ta dạy tôi là người miền Bắc

Phải biết thương yêu đồng bào miền Nam

Bà con ruột thịt đang lầm than

Dưới gót giày của Mỹ Diệm…

Những người con nông dân thật thà như đếm

Mặc áo lính vai khoác súng lên đường

Hồn nhiên tin là đi bảo vệ tổ quốc quê hương

Đánh đuổi quân xâm lược…

Thống nhất đất nước

Mới ngớ ra “Quân ta đánh dân mình

miền Nam giàu và dân sống văn minh

Không đói khát vật vờ như dân miền Bắc…”

Hận ngút trời đứa nào lừa tuổi xuân tôi coi dân mình là giặc!

Sám Hối

Thế hệ chúng tôi tội lỗi ngập đầu

Nhìn con cháu lòng muôn hổ thẹn…

Thế hệ chúng tôi một thời chinh chiến

Thắng lợi mang về là xua đuổi văn minh

Thắng lợi mang về là làm khổ dân mình

Để đểu cáng lên ngôi gây tội ác

Thế hệ chúng tôi hoàn toàn lầm lạc

Quên dân tộc mình theo chủ nghĩa Mác Lê Nin

Bệnh hoạn tư duy méo mó cách nhìn

Gieo thù hận trong lòng con cháu

Thế hệ chúng tôi đổ bao xương máu

Chẳng ý nghĩa gì khi dân tộc điêu linh

Chẳng ý nghĩa gì khi đất nước tanh bành

Lãnh thổ giang sơn bị ngoại bang gậm nhắm

Thế hệ chúng tôi cuộc đời cay đắng lắm

Mất chính mình mang tội ác với tương lai

*  *  *

Riêng những người lính miền Nam, sau nhiều năm bị tù ngục, đọa đầy, nhiều gia đình ly tán, lưu lạc khắp bốn phương trời, nếu còn sống sót giờ cũng đã trên dưới 80, nhưng vết thương từ cuộc chiến bất hạnh ấy vẫn mãi luôn âm ỉ trong lòng. Một quãng đời trai trẻ, những vinh nhục, những đớn đau tức tưởi trong giờ khắc phải buông súng, cùng những món nợ máu xương chưa trả được cho đồng đội anh em, rồi cùng sẽ xót xa theo họ về cõi vô cùng.

Xin được đồng cảm với tâm sự của một đồng đội đàn anh, nhiều năm chiến đấu bên nhau, từng là một cấp chỉ huy trẻ tuổi, thao lược:

“Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày tháng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt mình. Điều tự nhiên này, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chính mình, thế hệ chúng ta, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải…thực sự là gì, hoặc chẳng là gì hết?”

Cuối tháng 4-2025  

Phạm Tín An Ninh

https://hon-viet.co.uk/PhamTinAnNinh_50NamConDoNoiBuon.htm


MẶT TIỀN XANH TỐT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa!”.

Ở Hollywood, có những dãy phố nhìn từ phía trước trông hoàn toàn như thật: ban công, cửa sổ, quán cà phê, khách sạn… Nhưng bước ra phía sau, tất cả chỉ là những tấm phông mặt tiền chống đỡ những khoảng trống.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cũng kể về một cây vả như thế: một thứ ‘mặt tiền xanh tốt’ – rất nhiều lá, nhưng bên trong lại không có trái.

Marcô rất ý tứ khi “kẹp” câu chuyện cây vả vào giữa việc Chúa Giêsu thanh tẩy Đền Thờ – một kiểu Markan sandwich quen thuộc; nghĩa là, cây vả và Đền Thờ soi sáng cho nhau. Điều Chúa Giêsu nguyền rủa không chỉ là một cái cây không sinh trái, nhưng còn là một thứ tôn giáo chỉ còn những tán lá bên ngoài. Đền Thờ đầy người hành hương, đầy nghi lễ và hoạt động, nhưng lại thiếu điều Thiên Chúa tìm kiếm nhất: hoa trái của một đời sống thật. Tắt một lời, có những nơi nhìn rất giống đức tin, nhưng bên trong lại trống sự sống. “Có những Kitô hữu sống như những xác ướp trong viện bảo tàng!” – Phanxicô.

Điều gây ngỡ ngàng là Marcô ghi rất rõ: “không phải là mùa vả”. Nghĩa là, Chúa Giêsu không đến tìm một sản phẩm nông nghiệp đúng mùa, nhưng tìm hoa trái nơi một đời sống giao ước. Trong truyền thống ngôn sứ Do Thái, cây vả thường tượng trưng cho Israel và đời sống tôn giáo của dân Chúa. Vì thế, điều làm cây vả bị nguyền rủa không phải vì nó thiếu lá, nhưng vì nó chỉ có lá. Nó tạo ra dáng vẻ xanh tươi của sự sống, nhưng bên trong lại không có gì để nuôi dưỡng ai. Có những đời sống đạo cũng như thế: ‘mặt tiền xanh tốt’ – lá nhiều, trái ít; rất nhiều hoạt động, rất nhiều mỹ từ tôn giáo đã trở thành sáo ngữ, nhưng không còn hoa trái của hoán cải, của công lý và lòng thương xót.

Phêrô nhắc các tín hữu: “Thời cùng tận của vạn vật gần đến rồi!”. Vì thế, điều quan trọng không còn là vẻ bề ngoài của một đời sống đạo, nhưng là những hoa trái thật của tỉnh thức, yêu thương và phục vụ: “Hãy hết tình yêu thương nhau… Hãy tiếp đón nhau!” – bài đọc một. Vì sẽ đến ngày “Chúa ngự đến xét xử trần gian” – Thánh Vịnh đáp ca. Thiên Chúa đến xét xử mà không bị đánh lừa bởi những tán lá xanh của một “tôn giáo trang điểm” – thuật ngữ của Đức Phanxicô. Trước mặt Thiên Chúa, điều còn lại không phải là những gì con người phô trương, nhưng là trái trăng mà đời sống họ thật sự sinh ra cho người khác.

Anh Chị em,

Đức Kitô không sống bằng lớp “lá” của danh tiếng hay nghi thức, nhưng sinh trái bằng một tình yêu trao hiến đến tận cùng. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải là giữ cho đời mình xanh tốt bề ngoài, nhưng là để đời mình thật sự sinh hoa kết trái cho Thiên Chúa và cho người khác. Tắt một lời, điều Thiên Chúa tìm kiếm không phải là lá, nhưng là trái; Ngài chán ngấy thứ tôn giáo ‘mặt tiền xanh tốt’. Henri Nouwen từng cảnh báo, cám dỗ lớn nhất của con người là trốn sau những công thức tôn giáo để khỏi phải đối diện sự thật của đời mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con chỉ sống một thứ tôn giáo trình diễn như phim trường; xin cho con sống một đức tin có thể nuôi dưỡng người khác!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc. Anh em hãy tin vào Thiên Chúa.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 11,11-26

11 Đang khi đám đông reo hò vang dậy, Đức Giê-su tiến vào Giê-ru-sa-lem và đi vào Đền Thờ. Người rảo mắt nhìn xem mọi sự, và vì giờ đã muộn, Người đi ra Bê-ta-ni-a cùng với Nhóm Mười Hai.

12 Hôm sau, khi thầy trò rời khỏi Bê-ta-ni-a, thì Đức Giê-su cảm thấy đói. 13 Trông thấy ở đàng xa có một cây vả tốt lá, Người đến xem có tìm được trái nào không. Nhưng khi lại gần, Người không tìm được gì cả, chỉ thấy lá thôi, vì không phải là mùa vả. 14 Người lên tiếng bảo cây vả : “Muôn đời sẽ chẳng còn ai ăn trái của mày nữa !” Các môn đệ đã nghe Người nói thế.

15 Thầy trò đến Giê-ru-sa-lem. Đức Giê-su vào Đền Thờ, Người bắt đầu đuổi những kẻ đang mua bán trong Đền Thờ, lật bàn của những người đổi bạc, và xô ghế của những kẻ bán bồ câu. 16 Người không cho ai được mang đồ vật gì đi qua Đền Thờ. 17 Người giảng dạy và nói với họ : “Nào đã chẳng có lời chép rằng : Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của mọi dân tộc sao ? Thế mà các người đã biến thành sào huyệt của bọn cướp !” 18 Các thượng tế và kinh sư nghe thấy vậy, thì tìm cách giết Đức Giê-su. Quả thế, họ sợ Người, vì cả đám đông đều rất ngạc nhiên về lời giảng dạy của Người. 19 Chiều đến, Đức Giê-su và các môn đệ ra khỏi thành.

20 Sáng sớm, khi đi ngang cây vả, các ngài thấy nó đã chết khô tận rễ. 21 Ông Phê-rô sực nhớ lại, liền thưa Đức Giê-su : “Kìa Thầy xem : cây vả Thầy rủa đã chết khô rồi !” 22 Đức Giê-su nói với các ông : “Anh em hãy tin vào Thiên Chúa. 23 Thầy bảo thật anh em : nếu có ai nói với núi này : ‘Dời chỗ đi, nhào xuống biển !’, mà trong lòng chẳng nghi nan, nhưng tin rằng điều mình nói sẽ xảy ra, thì sẽ được như ý. 24 Vì thế, Thầy nói với anh em : tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý. 25 Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng tha lỗi cho anh em. [26 Nhưng nếu anh em không tha thứ, thì Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ không tha lỗi cho anh em].”


 

BA NGÔI THIÊN CHÚA – Lm. Mark Link, S.J.

 Lm. Mark Link, S.J. 

Một cô giáo lớp giáo lý giải thích cho học sinh về Thiên Chúa Ba Ngôi.  Sau phần trình bày, cô nói học sinh hãy viết bài trả lời cho câu hỏi này: “Trong Ba Ngôi, em thấy có liên hệ tốt đẹp nhất với Ngôi nào trong thời gian này?”

 Tôi muốn chia sẻ với quý vị câu trả lời của ba học sinh.  Một em trai viết:
Cha em và em không có sự tương quan gì hết.  Em cần một người cha, và vì em không thể nói chuyện với cha em, em quay về với Chúa Cha trên trời.  Nhiều khi em nói chuyện với Người về các vấn đề của em theo cùng một kiểu cách mà em muốn nói với cha em. 

Một em gái viết:
Anh trai của em sống với cha em, còn em sống với mẹ.  Từ khi cha mẹ em ly dị hai năm trước đây, chúng em không còn gặp nhau như trước.  Không bao giờ em nghĩ rằng sẽ phải xa anh mình, nhưng sự thật là như vậy.  Vì vậy, bây giờ, em muốn chấp nhận Đức Giêsu như một người anh. 

Sau cùng, một em trai viết: Mới gần đây em cầu nguyện với Chúa Thánh Thần.  Em sẽ lên đại học vào năm tới, và em không biết sẽ lấy môn gì.  Em hy vọng Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng cho em.  Dầu gì đi nữa, em cầu xin Người hướng dẫn em.

 Tôi thấy những nhận xét này rất thành khẩn.  Tôi cũng nhận thấy rằng điều đó khiến tôi tự hỏi mình, “Trong Ba Ngôi, tôi thấy có liên hệ tốt đẹp nhất với Ngôi nào?”

 Vì vậy, trong ngày lễ Thiên Chúa Ba Ngôi, thật xứng hợp để chúng ta suy nghĩ về mầu nhiệm này và về học thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi.

 Một cách cô đọng, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nói rằng trong sự hiệp nhất của Thiên Chúa, có ba ngôi riêng biệt: Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần.

 Ngôi Cha là Thiên Chúa, Ngôi Con là Thiên Chúa, và Ngôi Thánh Thần là Thiên Chúa.  Tuy nhiên, không phải ba chúa, mà chỉ có một Chúa. 

Để giúp dân chúng có một ý niệm về Ba Ngôi, Thánh Y Nhã dùng thí dụ của một hợp âm.  Nó được tạo bởi vài nốt nhạc nhưng chỉ có một âm thanh. 

Một văn sĩ tân thời dùng thí dụ nước.  Nó hiện diện trong ba thể khác nhau — hơi, nước đá và mưa, đó là thể hơi, thể đặc, và thể lỏng — nhưng mỗi thể thì giống nhau về phương diện hóa học. 

Nhớ rằng, đây chỉ là những so sánh mờ nhạt, nhưng chúng có thể giúp chúng ta biết quý trọng mầu nhiệm vô cùng cao cả của Ba Ngôi. 

Trong Kinh Thánh, sự nhắc đến Ba Ngôi hiển nhiên nhất là trong câu sau cùng của Phúc Âm Mátthêu, khi Đức Giêsu dậy bảo các môn đệ:Hãy ra đi… đến với mọi người ở khắp nơi và hãy làm cho họ trở thành môn đệ của Thầy: hãy rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.” 

Hình ảnh ấn tượng nhất trong Kinh Thánh về Ba Ngôi là khi Đức Giêsu chịu thanh tẩy.  Thánh Luca viết:

Khi Đức Giêsu đang cầu nguyện, các tầng trời mở ra, và Chúa Thánh Thần ngự trên người dưới hình dạng chim bồ câu.  Và từ trời có tiếng phát ra, “Con là con yêu dấu của Ta.  Ta hài lòng về con.” (Luca 3:21-22) 

Ba Ngôi thường được nhắc đến trong Phúc Âm Gioan.  Thí dụ, Đức Giêsu nói về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong các đoạn như đoạn này:

Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, Người sẽ ở với các con mãi mãi.  Người là Thánh Thần, sẽ tiết lộ chân lý về Thiên Chúa” (Gioan 14:16-17) 

Những câu nói như vậy làm giới cầm quyền Do Thái rất tức giận đến độ họ quyết định giết Đức Giêsu bởi vì “hắn nói rằng Thiên Chúa là Cha của hắn và như vậy coi mình ngang hàng với Thiên Chúa” (Gioan 5:18) 

Hiểu biết thần học hấp dẫn nhất về Ba Ngôi thì được thấy trong Luca.  Trong Phúc Âm Luca và trong sách Công Vụ Tông Đồ, hiển nhiên rằng thánh sử nhìn thấy lịch sử cứu độ trong viễn cảnh ba ngôi. 

Với Luca, thời kỳ Cựu Ước là “thời của Chúa Cha.”  Thời Phúc Âm là “thời của Chúa Con.”  Và giai đoạn hậu Phúc Âm, được bắt đầu với lễ Pentecost, là “thời của Chúa Thánh Thần.” 

Và sau cùng, chúng ta thấy rất nhiều ám chỉ về Ba Ngôi trong các thư của Thánh Phaolô.  Tiêu biểu là lời chúc lành của thánh nhân trong bài đọc hai hôm nay . Thư viết: 

Nguyện xin ơn sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em. 2 Cor. 13:13

 Điều này đưa chúng ta đến phụng vụ.  Trong đó có vô số đề cập đến Ba Ngôi.  Hãy suy nghĩ về một vài điểm.

 Chúng ta rửa tội và thêm sức “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”

 Hội Thánh cũng xức dầu bệnh nhân và tha tội cho hối nhân, “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”

 Tuy nhiên, trong Thánh Lễ, Ba Ngôi thường được nhắc đến nhiều nhất.  Ngoài lúc bắt đầu và kết thúc “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.”  Thánh Lễ thì đầy dẫy những lời cầu xin với Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.

 Tiêu biểu là Kinh Tin Kính, mà chúng ta sẽ tuyên xưng trong giây lát.  Kinh này có cơ cấu ba ngôi. Kinh khởi đầu với Thiên Chúa Cha là Đấng Tạo Hóa, đi sang Chúa Con là Đấng Cứu Thế, và chấm dứt với Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống.

 Điều này đưa chúng ta trở về với câu hỏi mà cô giáo đã hỏi học sinh: “Trong Ba Ngôi, quý vị thấy có liên hệ tốt đẹp nhất với Ngôi nào trong thời gian này?”

 Có phải chúng ta thấy liên hệ tốt đẹp nhất với Chúa Cha, Đấng đã dựng nên chúng ta và yêu thương chúng ta hơn cả chính chúng ta yêu mình?

 Hoặc chúng ta có liên hệ tốt đẹp nhất với Chúa Con, Người đã sống giữa chúng ta và đã chứng tỏ tình yêu dành cho chúng ta bằng cái chết trên thập giá?

Hoặc chúng ta thấy liên hệ tốt đẹp nhất với Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Cha và Chúa Con đã sai đến để hướng dẫn chúng ta đến đường chân lý và sự thánh thiện?

 Hay chúng ta thấy liên hệ với cả Ba Ngôi trong một phương cách chung dưới danh hiệu là Thiên Chúa? 

Hãy kết thúc với đoạn trích từ kinh Tin Kính Athanasia, có từ thế kỷ thứ tư:

 Đây là đức tin Công Giáo…
Chúng ta thờ phượng một Thiên Chúa trong ba ngôi
và ba ngôi trong một Thiên Chúa,
mà không lẫn lộn các ngôi
cũng không chia cách thần tính.
Vì Chúa Cha là một ngôi,
Chúa Con là một ngôi khác,
và Chúa Thánh Thần lại là một ngôi khác nữa.
Nhưng chỉ có một Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần,
cả ba cùng ngang bằng vinh quang và uy nghi vĩnh viễn…
Đây là đức tin thực sự mà chúng ta tin…
Đây là đức tin Công Giáo.

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim