LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Xuyên Sơn

 LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3 Hà Nội, do MC Lại Văn Sâm điều khiển, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm,

27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”

Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả.

Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương.

– Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp, “cứu bồ” cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi:

“Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…”

Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng.

Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam. Như vậy phần thưởng của chị từ năm triệu đồng còn lại một triệu đồng. Nhưng không sao, chúng ta lấy vui làm chính.

Xin cám ơn chị đã tham dự chương trình.

Câu chuyện về cô giáo giảng viên trường Đại học sư phạm thành phố Thái Bình thật ra không có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam bởi lẽ chương trình giáo dục không hề có bốn chữ Tự Lực Văn Đoàn mặc dù đây là một nhóm tác giả quan trọng bậc nhất trong nền văn học hiện đại của Việt Nam.

Điều làm cho Tự Lực Văn Đoàn bị gạt ra khỏi dòng văn học là chủ trương chính trị của nó.

Nguyễn Tường Tam, thủ lãnh của nhóm cũng là một chính khách với quan điểm chính trị đi ngược lại hoàn toàn quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.

  • Tự Lực Văn Đoàn

Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới văn học, nâng cao dân trí, chống cường quyền phong kiến, bài thực dân, trong đó không quên những người cùng khổ và bị áp bức dưới bất cứ hình thức nào.

Sức mạnh của Tự Lực Văn Đoàn bắt đầu từ sự ủng hộ của trí thức tiểu tư sản sau đó lan rộng trong quần chúng bình dân và ảnh hưởng trực tiếp tới nền báo chí An Nam đang có xu hướng hòa nhịp cùng đời sống đô thị.

Chẳng những tại miền Bắc, Tự Lực Văn Đoàn bị cấm xuất hiện nhưng sau năm 1975 ngay cả khi hai miền Nam Bắc đã hoàn toàn thống nhất thì số phận của nó cũng không may mắn gì hơn, vẫn bị vùi dập, che dấu và cấm đoán ngay trong từng tù sách gia đình.

Những tên tuổi như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng, Hoàng Đạo… hoàn toàn biến mất trong mái trường xã hội chủ nghĩa, mãi tới hơn hai mươi năm sau một vài tác phẩm của họ mới được in lại từ những chiếc máy in của nhà nước với nội dung bị cắt xén cho vừa với tầm nhìn của cách mạng vô sản, vốn bất đồng với các tác giả này.

  • Aki Tanaka

Vậy mà từ nước Nhật xa xăm, lại xuất hiện những con người yêu văn hóa Việt Nam trong đó Tự Lực Văn Đoàn được nhắc tới như một dấu son của nền văn học Việt.

Một trong những người ấy là cô sinh viên Aki Tanaka.

Từ Tokyo, Aki Tanaka đã lặn lội tới Việt Nam, tìm hiểu về Tự Lực Văn Đoàn với mục đích học chữ Việt để rồi mê đắm nó đến nỗi bỏ hơn 13 năm theo dõi, nghiên cứu, viết tham luận rồi luận án về Tự Lực Văn Đoàn.

Aki đã bay sang Hoa Kỳ nơi có khá nhiều tư liệu lẫn thân nhân của các tác giả để từ đó thấy yêu mến thêm nhóm tác giả đặc biệt này.

Mặc Lâm có duyên may gặp Aki Tanaka tại California trong lần cô sang Mỹ tìm kiếm thêm tư liệu về nhà văn Khái Hưng, người mà Aki Tanaka đặc biệt yêu thích. Cuộc phỏng vấn ngắn nhằm mang cô sinh viên người Nhật này tới gần với người Việt Nam hơn bởi cô đáng được người Việt mở lòng ra đón nhận như một người bạn chân thành của văn hóa Việt.

Aki Tanaka, trước tiên cho biết thời gian đầu cô tới Việt Nam:

Aki Tanaka:

-Khoảng năm 2000 khi sang Việt Nam tôi đã gặp ông Huy Tưởng thì ông ấy nói nếu Aki muốn học tiếng Việt thì nên tìm đọc Tự Lực Văn Đoàn để biết được tiếng Việt chính xác cho nên tôi đã tìm mua các cuốn sách về Tự Lực Văn Đoàn. Ban đầu thì tôi không hiểu hết, chỉ hiểu sơ sơ thôi nhưng mà đã cảm thấy tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn rất hay cho nên tiếp tục mua sách Tự Lực Văn Đoàn. Ước mơ của tôi là muốn nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn nhưng lúc đó cảm thấy là điều thực tế chỉ là ước mơ thôi.

Mặc Lâm:

-Aki vừa nói là tìm mua những cuốn sách Tự Lực Văn Đoàn trong nước, không biết là sách cũ đã được in từ xưa hay những cuốn vừa được in lại trong nước?

Aki Tanaka:

-Tôi chỉ mua được sách tái bản thôi lúc đó không để ý là sách của nhà nước in hay sách cũ nó có gì khác nhau hay là sự khác biệt như thế nào cho nên chỉ mua được sách tái bản thôi.

Mặc Lâm:

-Sau này khi nghiên cứu sâu về Tự Lực Văn Đoàn thì Aki có thấy sự khác biệt nào giữa bản in gốc và bản in đã được in lại sau năm 1975 và nếu có thì những khác biệt ấy có quan trọng không?

Aki Tanaka:

-Dạ có. Tôi có học với thầy giáo người Nhật thì thầy này sử dụng sách cũ là sách trước 75 còn tôi thì cầm sách tái bản mới.

Cuốn tôi thất vọng nhất là cuốn Đời mưa gió. Khi hai người đọc chung với nhau thì chúng tôi phát hiện sách tái bản và sách gốc nó khác biệt nhau. Tôi thấy nếu mình nghiên cứu văn học Việt Nam mà có sự khác biệt quá nhiều như thế này, mà mình là người phân tích mà tài liệu sai thì rất nguy hiểm cho việc nghiên cứu của mình.

Mặc Lâm:

-Khi Aki sang Mỹ để tìm gặp thân nhân những người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì Aki đã gặp được ai và câu chuyện gặp gỡ ấy như thế nào?

Aki Tanaka:

-Hai năm trước có một buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn tại Mỹ lúc đó gia đình con cháu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tập họp lại cho nên lúc đó tôi gặp được nhiều người nhưng lúc đó tôi không có dịp nói chuyện nhiều với họ. Tháng Ba năm nay tôi có dịp thăm riêng ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của ông Khái Hưng và Nguyễn Tường Thiết là con trai út của ông Nhất Linh. Tôi đã thăm được hai người này.

Mặc Lâm:

-Về ông Nguyễn Tường Thiết là con ruột thì đã đành rồi riêng về ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của Khái Hưng thì Aki có nắm vững những nhận định hay lời kể lại của ông Triệu có chính xác và phù hợp với những gì Aki tìm hiểu không?

Aki Tanaka:

-Aki cũng biết được sơ sơ thôi vì lúc ông Khái Hưng mất thì ông Triệu còn rất nhỏ cho nên ông Triệu không biết gì nhiều.

Tuy nhiên ông Triệu có cung cấp một số tài liệu cho Aki.

Mặc Lâm:

-Trong khi nghiên cứu Tự Lực Văn Đoàn và có dịp gặp gỡ hay thông qua tư liệu thì tác già nào trong nhóm làm cho Aki ấn tượng và yêu thích nhất?

Aki Tanaka:

-Tôi rất thích ông Khái Hưng.

Lý do ông là người có tư tưởng sâu sắc nhất trong Tự Lực Văn Đoàn cho nên đọc tác phẩm của ông thì thấy rất hay.

Mặc Lâm:

-Nhưng rất nhiều người cho rằng ông Nhất Linh là người lãnh đạo của nhóm và là linh hồn của Tự Lực Văn Đoàn … Aki thấy thế nào về tác phẩm của ông?

Aki Tanaka:

-Theo tôi thì Nhất Linh là một người hành động, ông có cái ý tưởng cách mạng tuy nhiên so với ông Nhất Linh thì ông Khái Hưng là người suy nghĩ và theo sự tìm hiểu của tôi thì ông Khái Hưng không quan tâm mấy đến chính trị.

Mặc Lâm:

Trong một thời gian khá dài sống ở Việt Nam Aki quan sát và thấy giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên khoa văn họ có chú ý tới Tự Lực Văn Đoàn hay không?

Aki Tanaka:

-Tôi thấy họ không chú ý đâu.

Tôi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp với cái ý là tôi thích Tự Lực Văn Đoàn nhưng bạn bè đồng nghiệp của tôi lại không biết Tự Lực Văn Đoàn là ai nữa! Bây giờ ở Việt Nam không giảng dạy tác phẩm của nhóm này cho nên không ai biết, không được ai quan tâm đến.

Mặc Lâm:

-Có một thời gian rất dài Aki đã sang Mỹ tiếp xúc với người viết văn hay hoạt động văn hóa…

Aki thấy họ có còn tha thiết khi nói về Tự Lực Văn Đoàn nữa hay không hoặc thời gian đã quá lâu khiến họ dần dần quên Tự Lực Văn Đoàn luôn, không giống như cách đây 40 năm?

Aki Tanaka:

-Do tôi tiếp xúc với nhiều người làm văn nghệ cho nên họ thường bảo rất còn quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn và họ muốn bảo tồn tác phẩm của nhóm này cho con cháu để sau biết được việc làm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho đời sau. Tôi cảm thấy như vậy

Mặc Lâm:

-Aki cũng có bạn bè người Nhật yêu mến văn hóa Việt Nam trong số họ có ai nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn như Aki hay không?

Aki Tanaka:

-Thầy cũ của tôi đã nghỉ hưu rồi ông ấy hồi trước cũng có nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn trong trường đại học của tôi và ông cũng đã dạy Tự Lực Văn Đoàn cho sinh viên Nhật. Nhưng bây giờ vị giáo sư mới không quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn nên không dạy nữa cho nên sinh viên không biết gì về Tự Lực Văn Đoàn nữa

Mặc Lâm:

-Một lần nữa xin cám ơn Aki Tanaka rất nhiều và hy vọng những công trình nghiên cứu của Aki về Tự Lực Văn Đoàn sẽ mang lại nhiều kết quả mong đợi.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2015-09-05

(share từ Nguyễn Thanh Bình FB, Le Van Quy) 

ảnh: Cô sinh viên người Nhật Aki Tanaka 


 

 VŨ NỮ CẨM NHUNG

Xuyên Sơn

 VŨ NỮ CẨM NHUNG

Người Sài Gòn trước đây không mấy ai mà không nghe qua cái tên vũ nữ Cẩm Nhung (1940-2013)

và vụ đánh ghen tạt acxit rùng rợn lần đầu tiên xảy ra tại Việt Nam. Cẩm Nhung là nạn nhân của vụ đánh ghen tàn khốc này khiến dung nhan của cô trở nên dị dạng, trở thành phế nhân tàn tật, suốt cuộc đời còn lại phải lê lết trên đường phố ăn mày ăn xin, cũng chỉ vì Cẩm Nhung là một “hồng nhan họa thủy”. ĐXGK mạn phép đăng lại bài viết sau đây của tác giả Trúc Giang MN tường thuật lại vụ đánh ghen kinh hoàng chấn động Sài Gòn đầu thập niên 60.

“khoảng 8 giờ tối ngày 17-7-1963, một phụ nữ vừa bước ra khỏi nhà, tiến về chiếc taxi chờ sẵn, thì bổng nhiên một người đàn ông xuất hiện, tay bưng một ca acid tạt vào mặt người phụ nữ.

Thiếu nữ thét lên trong đau đớn: “Chết tôi rồi! Cứu tôi với”, rồi ôm mặt ngã quỵ.

Một người đàn ông chạy đến, bế cô lên chiếc taxi chạy vào bịnh viện Sài Gòn cấp cứu.

Sau đó được chuyển đến Bịnh viện Đồn Đất (Grall) vào lúc hai giờ sáng ngày 18-7-1963.

Cái tin vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt acid gây xôn xao trong giới thượng lưu thường lui tới các vũ trường.

Báo chí đăng tấm hình rất xinh đẹp của Cẩm Nhung đã gây xúc động và thương tiếc của người Sài Gòn và cả Miền Nam VN.

Đó là vũ nữ tài sắc vẹn toàn nổi danh là “Nữ hoàng vũ trường”, Cẩm Nhung bị đánh ghen bằng tạt acid.

Hai người thân là mẹ và bà vú lần lượt ra đi. Tài sản cạn kiệt.

Không nơi nương tựa nên phải đi ăn mày.

Đặc biệt là người ăn xin nầy mang trước ngực tấm hình cô chụp chung với người yêu là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Cẩm Nhung sinh năm 1940 tại Hà Nội.

Năm 15 tuổi theo gia đình di cư vào Nam, và trở thành vũ nữ chuyên nghiệp năm 19 tuổi.

Con gái 17 tuổi mà trổ mã đều đặn, nói chung là rất đẹp và hấp dẫn.

Cẩm Nhung bỏ học.

Lén đi học khiêu vũ ở một lớp dạy tư, do hai nhạc sĩ và là vũ sư Nguyễn Tình và Nguyễn Thống phụ trách.

Hai nhạc sĩ nổi tiếng với ngón đàn hạ uy cầm (Hawaiian guitar), đã đào tạo hàng chục vũ nữ cho các vũ trường Sài Gòn thời đó.

Nhờ có năng khiếu, mới học được nửa khóa đã tỏ ra nghệ thuật nhảy múa rất xuất sắc.

Vũ sư Nguyễn Tình nói với người tài pán Marie Sang:

“Đôi chân của nó, thân hình gợi cảm của nó rồi đây sẽ có khối đàn ông ngã rạp dưới chân nó mà chết cho coi”.

Tài pán là người quản lý vũ nữ ở vũ trường, còn gọi là “cai gà”. Khách đi solo muốn nhảy với vũ nữ đều phải do người cai gà đó sắp xếp.

Phải mua ticket thời đó là 20$. Mỗi ticket chỉ nhảy được một vài bản mà thôi. Muốn bao thầu cả đêm thì phải mua trọn gói chừng 15 ticket.

Đối với “Nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung, thì khách phải lo lót chị tài pán.

Người nào cho tiền nhiều thì được cuộc. Muốn nhảy với kiều nữ suốt đêm, tới một hai giờ sáng thì khách phải mua trọn gói 15 ticket.

Khách sành điệu cùng vũ nữ rời vũ trường nầy, đến một vũ trường khác vừa khiêu vũ thoải mái, vừa giữ được tiếng tăm về đức hạnh của vũ nữ.

Nhảy được vài ba bản rồi rủ nhau đi ăn khuya như ăn cháo cá ở Chợ Cũ, cơm thố, cơm siu siu, hoặc mì La Cai…

Đó là xong phần một.

Phần còn lại do sự thỏa thuận của hai bên.

Khách nhảy phải típ cho vũ nữ, thời giá lúc đó là 500$.

Đêm vui trọn vẹn đạt “mục đích yêu cầu” thì tốn phí khoảng 1,000$, tương đương với mấy cây vàng. Cẩm Nhung đã qua nhiều vũ trường, và Kim Sơn là điểm chót. Nghe nói Trung tá công binh mua cho Cẩm Nhung một căn nhà trong hẻm bên cạnh vũ trường Au Chalet.

Từ đó, Cẩm Nhung đã bước vào con đường của định mạng, người tài hoa bạc mệnh.

“Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.

Vụ đánh ghen bằng acid diễn ra ngày 17-7-1963 tại Sài Gòn.

Đó được xem như vụ đánh ghen tàn bạo và rùng rợn nhất chưa từng có ở Việt Nam trước kia.

Sự việc gây chấn động cả Sài Gòn và Miền Nam trong một thời gian.

Báo chí nhận định vụ đánh ghen bằng acid là lần đầu tiên xảy ra trong giới thượng lưu Sài Gòn. Nạn nhân bị đánh ghen bằng tạt acid là vũ nữ vô cùng xinh đẹp tên Cẩm Nhung của vũ trường Kim Sơn.

Báo chí thời đó hết lời ca ngợi nhan sắc và đôi chân dài điệu nghệ của cô vũ nữ gốc Hà Thành. Mệnh danh là “Nữ hoàng vũ trường”.

Tại vũ trường Kim Sơn,

đường Tự Do, Cẩm Nhung phải lòng một khách nhảy hào hoa, dân chơi có tiếng tại các vũ trường là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Việc ông Thức cặp kè với Cẩm Nhung đến tai bà vợ là Lâm Thị Nguyệt, biệt danh là Bà Năm Rado, vì bà chuyên bán đồng hồ Thụy Sĩ hiệu Rado.

Máu Hoạn Thư nổi lên.

Người đàn bà dữ tợn nhất, độc ác nhất là lúc lên cơn ghen.

Thuở đó, ở Sài Gòn và cả Miền Nam chưa có vụ đánh ghen nào bằng tạt acid cả.

Thông thường thì đón đường chửi bới về việc giựt chồng, làm nhục nơi công cộng.

Bạo động hơn là “xởn tóc”, cao hơn nữa là “lột quần”.

Bà Lâm Thị Nguyệt thuê người tạt acid vào mặt Cẩm Nhung với giá hai lượng vàng.

Vụ đánh ghen bằng tạt acid diễn ra trong khi bà Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, đang ở nước ngoài.

Nghe được tin, bà vô cùng tức giận. Ngay sau khi về nước, bà Ngô Đình Nhu đến Bịnh viện Grall thăm Cẩm Nhung.

Với tư cách là người lãnh đạo Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ Việt Nam, binh vực quyền lợi và sự bình đẳng của phụ nữ, bà thúc đẩy điều tra và lập hồ sơ đưa ra tòa.

Vào tháng 10 năm 1963, tòa kết án Lâm Thị Nguyệt,  vợ của Trung tá Trần Ngọc Thức và người đàn ông tạt acid mỗi người 20 năm tù.

Một người đàn ông liên hệ 15 năm.

Trung tá Trần Ngọc Thức bị cho giải ngũ.

Sau năm 1975, Đại tá Trần Ngọc Thức đi tù cải tạo ở Trại Z.30C, Hàm Tân.

Cẩm Nhung còn giữ được cái mạng nhưng dung nhan kiều diễm bị hủy hoại hoàn toàn. Tháng 9 năm 1963, Cẩm Nhung được đưa qua Nhật chữa trị, hy vọng phục hồi gương mặt như trước kia.

Bác sĩ Nhật bó tay.

Khi Cẩm Nhung về nước thì nền Đệ nhất Cộng Hòa đã sụp đổ.

Bà Ngô Đình Nhu sống lưu vong ở nước ngoài.

Người vũ nữ nổi tiếng một thời đã biến mất trong các sinh hoạt ở Sài Gòn.

Những biến cố chính trị dồn dập khiến cho việc đánh ghen dã man, tàn bạo rơi vào quên lãng và chìm trong quá khứ.

Từ địa vị của một nữ hoàng sống trên đỉnh cao danh vọng, rực rỡ dưới ánh đèn màu và điệu nhạc, phong lưu công tử bay bướm đa tình và các thương gia giàu sụ săn đón, bổng nhiên trở thành thân tàn ma dại, ngậm đắng nuốt cay cho số phận hẩm hiu,

Cẩm Nhung lao vào con đường đập phá, rượu chè, nghiện ngập, sa đọa…

Năm 1964 người mẹ qua đời. Cẩm Nhung sống với bà vú tên Sọ.

Tiền bạc, nữ trang lần lượt từng bước ra đi.

Bán căn nhà 200 lượng vàng và cùng với bà vú ra ở thuê nhà trọ. Bà vú Sọ qua đời.

Cẩm Nhung tật nguyền.

Không nghề nghiệp, không nơi nương tựa nên chỉ có con đường là đi ăn xin.

Trước Tết năm 1969, người ăn mày xuất hiện ở chợ Bến Thành. Mặt mày dị dạng, đeo trên ngực tấm hình chụp chung với người tình là Trung tá Trần Ngọc Thức. Cô lê bước trên các con đường Sài Gòn, trên hành lang của Thương Xá Tax.

Rồi đến những Chợ Bà Chiểu, Chợ Bình Tây…và sau cùng về Miền Tây ở bến bắc (Phà) Mỹ Thuận, Vĩnh Long.

Hành khách qua lại trên bến phà Mỹ Thuận cho biết Cẩm Nhung không còn mang tấm hình chụp chung với người tình nữa, mà chỉ mang tấm hình của bản thân người ăn mày.

Chuyện kể rằng, một hôm có mấy người lạ mặt đến trao cho người ăn xin một số tiền và giật lấy tấm hình chụp chung hai người.

Ở Sài Gòn xuất hiện bản nhạc “Bài Ca Cho Người Kỹ Nữ”

của hai nhạc sĩ Nhật Ngân và Duy Trung.

Các tác giả viết bài hát này vì xót thương số phận của cô vũ nữ Cẩm Nhung.

Bài hát có đoạn:

Ta tiếc cho em trong cuộc đời làm người

Ta xót xa thay em là một cánh hoa rơi

Loài người vô tình giẫm nát thân em

Loài người vô tình giày xéo thân em

Loài người vô tình giết chết đời em…

Trong hồi ký “Đời 1998”,

(nhà thơ) Nguyên Sa thuật lại nhiều lần ông và nhà văn Mai Thảo đến nhà chở Cẩm Nhung đi vũ trường Arc en Ciel, ăn kem và hóng mát ở Bến Bạch Đằng.

Lần sau cùng ông gặp Cẩm Nhung như sau:

“Lần chót tôi gặp lại người phụ nữ ấy, Mai Thảo dừng xe có phần gấp gáp, không có nét bay bướm nào. Anh đang phóng nhanh bỗng thắng két, táp xe vào lề, đậu xe bên phía tay mặt đường Pasteur.

Mai Thảo ra khỏi xe không một lời giải thích.

Tôi không hỏi, xuống theo ngay, linh cảm có chuyện gì khác lạ. Chúng tôi băng qua con lộ xe chạy một chiều vun vút.

Mai Thảo dừng lại trước một người hành khất, một người phụ nữ, móc trong túi ra một nắm giấy bạc, anh chuyển nắm giấy bạc sang tay kia, tìm kiếm thêm, tôi không nhận ra người hành khất là ai, chỉ thấy mặt loang lổ những vết cháy nổi lên những mảng thịt nửa đỏ nửa tím sậm,

dị dạng, hai mắt vết cháy càng rõ, lòng trắng và lòng đen bị hủy hoại lổn nhổn.

Bạn tôi bỏ nắm tiền vào chậu bằng nhôm, những tờ giấy chạm vào tay người đàn bà hành khất, dường như nàng biết ngay người cho tiền là ai, sự va chạm của bàn tay vào những tờ giấy bạc cho nàng biết ngay là ai, ai có thể cho nàng nhiều tờ giấy bạc như thế, nàng ngẩng mặt lên gọi “anh”.

Mai Thảo vỗ nhẹ vào bàn tay nàng có tiếng nói an ủi bằng xúc giác, không có âm thanh nào được phát lên.

Tôi muốn nói lên tên người đàn bà hành khất.

Tôi chưa kịp nói thì Mai Thảo kéo tôi băng qua đường.

Tôi ngồi vào trong xe, nói lên ngay tên nàng.

Mai Thảo gật đầu.

Cẩm Nhung.

Tên người vũ nữ thay quần áo sau tấm bình phong mỗi lần Mai Thảo và tôi đến đón nàng đi làm hay đi ăn, đi ra Pointe des Blagueurs (Bến Bạch Đằng) hóng mát.

Cẩm Nhung bị tạt át xít trong một trận đòn ghen có sức mạnh của tiền hô hậu ủng, có sự tàn bạo mới của thế kỷ khoa học.

Tôi nhìn bạn tôi ngậm ngùi:

-Cẩm Nhung!

Mai Thảo nhìn về phía trước mặt, như nói một mình, rất khẽ:

-Nhung đấy!”

Một ngày đầu năm 2013, tại một xóm trọ nghèo ở thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang), nơi những người ăn xin, bán vé số, bốc vác và dân tứ xứ đến thuê ở trọ, có một đám ma nghèo.

Một bà lão bán vé số đã qua đời vì già yếu, bệnh tật. Không một người thân, bà lão được những người đồng cảnh ngộ lo cho một quan tài loại rẻ tiền, rồi đưa ra nghĩa địa…

Sẽ không có chuyện gì đáng nói về đám ma nghèo của bà lão vô gia cư, nếu như người quá cố nói trên không phải là vũ nữ Cẩm Nhung, đã lừng danh ở nửa thế kỷ trước.”

Nguồn fb Thầy Lê Văn Thông 


 

Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta.- Truyen ngan HAY

Cang Huynh

 CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG.

Một người đàn ông gặp tai nạn xe hơi rất nghiêm trọng trên đường cao tốc và được đưa đến bệnh viện ở một thị trấn gần đó, vì vụ tai nạn xảy ra khá xa thành phố. Trong khi ở đó, anh ta gọi điện cho vợ cũ, người mà anh ta có mối quan hệ tồi tệ: anh ta liên tục kiện tụng cô ta ra tòa về quyền nuôi con trai, cố tình không trả một xu tiền cấp dưỡng nuôi con để ép cô ta nhượng bộ, và thẳng thắn mà nói, anh ta đã bỏ rơi cô ta.

Anh ta muốn được tự do và cặp kè với mọi phụ nữ anh ta gặp. Anh ta đang sống cuộc sống xa hoa ở biệt thự vùng quê, cho đến khi tai nạn xảy ra.

Và đó là lúc anh ta nhận ra mình không còn ai để nhờ vả. Cha mẹ anh ta đã già yếu và không thể giúp đỡ anh ta được gì; ngược lại, họ sẽ chỉ càng sợ hãi hơn. Bạn bè? Bạn bè nào chứ? Chỉ là những người quen biết và bạn nhậu, mỗi người đều bận rộn với việc riêng của mình. Tất nhiên, họ cũng chính là những người trước đây đã khuyên anh ta nên chấm dứt mối quan hệ với vợ cũ và cắt đứt nguồn tài chính của cô ta. Nhưng không ai trong số họ sẽ đi đến tận đó, đến một thị trấn hẻo lánh như vậy. Nếu anh ta ở trong một bệnh viện tốt ở thành phố thì có lẽ khác; nhưng ở một thị trấn nhỏ, không đời nào.

Toàn thân anh ta đau nhức khủng khiếp. Và anh ta vô cùng sợ hãi. Gọi điện cho các đối tác kinh doanh hay những cô gái anh ta đang hẹn hò đều vô ích, vì họ sẽ chỉ nói với anh ta câu kinh điển: “Cố lên! Mạnh mẽ lên! Mau chóng khỏe lại!”

Anh ta chắc chắn về điều đó như thể mình chắc chắn mình bị gãy hai chân. Và nỗi đau cũng tương tự.

Vì vậy, anh ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gọi cho vợ cũ: “Nina,” anh ta nói, “Anh bị tai nạn nặng. Anh đang ở bệnh viện này ở thị trấn kia. Anh chỉ gọi báo cho em biết phòng khi anh chết.” “Xin lỗi vì đã làm phiền. Gửi lời chào đến con trai nhỏ của em, Alex nhé.”

Và tất nhiên, Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta. Cô ấy không đến ngay lập tức, vì chính anh ta đã lấy xe của cô ấy. Cô ấy phải đi xe buýt liên tỉnh trước rồi mới đi xe buýt địa phương, nhưng cuối cùng cô ấy cũng đến. Cô ấy mang đến cho anh mọi thứ anh cần và bắt đầu làm mọi cách để chuyển anh đến một bệnh viện trong thành phố.

Một người phụ nữ trung niên, mệt mỏi, thừa cân, không hề quyến rũ, tay xách những túi đồ mua sắm, và không biết vì sao, bên trong một trong những túi đó lại có một bát canh gà nóng hổi và vài viên thịt viên. Còn người đàn ông thì gần như kiệt sức, anh thậm chí không thể tự ăn…

Nhưng anh đã vượt qua được. Anh mất một thời gian để hồi phục, nhưng anh đã vượt qua, và ngày nay anh sống với Nina, bởi vì cô ấy đã trở thành người bạn thân thiết thực sự của anh. Người thân cận nhất và là thành viên gia đình thân thiết nhất của anh. Thân thiết nhất trong tất cả.

Cuối cùng anh cũng nhận ra khi nằm trên giường bệnh: rằng một số mối liên kết mạnh mẽ hơn bất kỳ điều phù phiếm nào khác trong cuộc sống này… Đó là những mối liên kết của tình yêu, của định mệnh và của chính cuộc sống.

Và mỗi chúng ta nên dừng lại và suy nghĩ: chúng ta sẽ gọi cho ai nếu có chuyện không may xảy ra với mình? Ai sẽ bắt xe buýt… với một bát súp trên tay? Ai sẽ ở đó để chăm sóc chúng ta và dọn dẹp mớ hỗn độn khi chúng ta thậm chí không thể tự di chuyển?

Có lẽ không ai cả. Có thể chỉ có một người, hoặc nhiều nhất là hai người… Nhưng chắc chắn đó sẽ là người thân trong gia đình chúng ta. Gia đình đích thực của chúng ta. Những người thân yêu của chúng ta, với tất cả những khuyết điểm và đức tính tốt đẹp của họ. Và chúng ta không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ được thô lỗ với những người đó, cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và bản thân chúng ta cũng phải sẵn sàng lên xe buýt nếu có cơ hội… Hoặc xe buýt công cộng, với hộp đựng thức ăn trong túi.

Và với vài xu cuối cùng trong túi quần…

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

CÓ PHẢI LÀ BI QUAN KHI NÓI ĐẾN CÁI CHẾT LÚC TUỔI GIÀ?-  Norris Le LPN

Norris Le LPN

Một vài bạn FB có ý kiến cho rằng ai rồi cũng chết. Khi nào chết sẽ hay. Đâu cần chi phải bận lòng?

Thật tình, tôi không nghĩ thế. Vẫn biết ai rồi cũng chết, nhưng chết như thế nào ? Một chuyến đi chơi vài ngày cũng cần chuẩn bị chu đáo, hà huống gì một việc quan trọng của đời người như “cái chết” lại không cần chuẩn bị ? Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Lúc còn khỏe mạnh, mình tưởng như mọi việc sẽ xãy ra êm thắm, ngay cả cái chết, tắt thở là hết! Đơn giản vậy sao ? Tôi đã biết nhiều người lăn lộn, khổ sở trong thời gian cuối cùng của cuộc đời. Lúc cơ thể suy tàn, ngoài sự đau nhức, còn biết bao sự hành hạ về thể xác lẫn tinh thần…

Ỉa, đái trong quần lúc nào không biết. Ho, hen, khạc nhổ suốt ngày. Tất cả đều phải nhờ vào sự giúp đỡ, chăm sóc của người khác. Tính khí mỗi ngày càng khó khăn, bực dọc, cáu kỉnh, than phiền, trách móc. Ai dám chắc rằng mình sẽ không như thế? Ai mà chịu nổi? Ngay cả những người được thuê để chăm sóc người già nhiều khi cũng phải bỏ việc vì không chịu nổi cái khó tính của người già sắp chết, dù họ rất cần một việc làm để nuôi thân và gia đình. – Đó là một thực tế.

– – – Vậy thì mình phải tính cách nào để đối phó với thực tế đó?

Nếu là người có niềm tin tôn giáo, thì ngay từ lâu trước khi già yếu, đã phải thành tâm học đạo, chấp nhận sự quan phòng hay thử thách của Ơn Trên, chấp nhận Nghiệp báo, Nhân Quả, chẳng riêng của đời này hay của nhiều đời trước. Niềm tin vững chắc này sẽ giúp người tin đạo quyết tâm chịu đựng những khó khăn khi nó xãy đến. Tất nhiên Quả Lành cũng đến với những người được ra đi một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng. Từ niềm tin tôn giáo này, mình sẽ phải cố gắng thay đổi cách sống, làm điều thiện, tránh điều ác.

Bên cạnh đó, tài chánh cũng là một phương tiện cần thiết, giúp ích cho mình rất nhiều trong những lúc phải cần đến dịch vụ chăm sóc. Tiền nào, của đó. Thực tế bạn ơi! Ở đâu cũng thế. Trong lúc đang làm việc, mỗi tháng, hay mỗi kỳ lương, chịu khó để riêng một chút tiết kiệm cho quỹ tuổi già. Đừng mong đợi gì vào con cháu, vì chúng nó cũng phải lo cho bản thân và gia đình chúng nó, luôn cả tuổi già của chúng nó sau này!

Tất cả những chuẩn bị này thường nên chia sẻ với con cháu, mình muốn gì khi sắp nhắm mắt lìa đời, để tất cả người thân trong gia đình cùng hiểu, và sẽ không ai tranh cãi điều gì khi chuyện đó xãy ra. Một ông bạn già của tôi quyết định rút ống thở cho bà Mẹ già trên 100 tuổi để bà khỏi phải cứ nằm đó mà không còn biết gì, vì bộ não đã chết. Người em út nhào tới cào, xé , la hét, bảo anh “giết Mẹ”.

Việc tang lễ cũng thế. Việc này không phải chỉ làm hoàn toàn theo ý kiến của mình, mà đôi lúc cũng phải nghĩ tới tâm trạng của thân nhân, con cháu nữa. Nếu mình bảo: “tao chết thì cứ đem thiêu, rồi rãi tro xuống sông, xuống biển là xong, đừng lễ lạc gì hết! “ . Con cháu mình có đứa nào đành lòng như thế ? Chúng cũng muốn đội khăn tang cho Bố Mẹ, cũng muốn đọc kinh cầu siêu, cầu hồn, quỳ lạy tiễn đưa trong niềm thương nhớ, để nước mắt giúp xoa dịu niềm đau chia lìa, âm dương từ nay cách trở. Chỉ mong chúng hãy làm trong giản dị, trong phạm vi gia đình, hay bạn bè thân thuộc, không nên đình đám, phô trương, tiêu phí một cách vô ích, có thể trở thành gánh nặng cho con cháu sau này. Và nếu có thể, mình chuẩn bị trước một “quỹ tang chế” cho chính mình, thì sẽ nhẹ cho con cháu lắm.

Có thể bạn có cách chọn lựa khác. Mình chỉ nói lên ý nghĩ của mình, để, không những con chau biết, mà cũng để thân nhân, bè bạn xa gần cũng biết,- đây là ý nguyện của mình. Có gì thiếu sót trong tang lễ của mình thì xin thứ lỗi, vì đó là lỗi của mình, tại mình muốn thế, không phải của người ở lại.

Tuổi 80+ rồi. Trải qua bao gian khổ của tuổi thơ, trong thời chiến tranh ly loạn, tản cư, chạy giặc, đi lính, đi tù, vượt biên, tị nạn, làm lại cuộc đời …

Rồi, về hưu tại xứ sở tự do này đã non 20 năm, trong an bình, no ấm.

Mỗi ngày thức dậy, cảm tạ Ơn Trên, còn có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc uống khi đau yếu, còn lo lắng được cho chính mình, còn có bạn bè thương mến, hàng xóm tử tế, còn có vườn rau nho nhỏ để mỗi ngày ra vào chăm sóc , và đám con, cháu tốt lành, hiếu để … Lòng Tri Ân vô hạn !

Nhưng biết còn được bao lâu, và khi nào bác sĩ sẽ lắc đầu bảo rằng : “ NO MORE QUALITY OF LIFE” ?

Mình không bi quan đâu bạn. Người ta bỏ cả đời người để lo lắng, chuẩn bị cho những cái KHÔNG HỀ CHẮC CHẮN: của cải, tài sản, danh vọng, tiền bạc, sức khỏe, kể cả thân xác này.

Nhưng cái CHẾT là chắc chắn. Mình chỉ cố gắng một chút để chuẩn bị cho cái chắc chắn đó thôi, vì chắc chắn nó sẽ xãy đến với mình trong một ngày không xa.

Xin chúc bình an đến mọi nhà.

Norris Le LPN

Houston, TX 2 tháng Tư, 2022.

=== Đình kèm bài của một bác sĩ về giai đoạn cuối đời = = = =

TẠI SAO MỘT SỐ BÁC SĨ TỪ CHỐI ĐIỀU TRỊ CỨU SỐNG BẢN THÂN

(Nguồn: luomtrennet. )

Câu hỏi:

Tại sao một số bác sĩ từ chối phương pháp điều trị cứu sống cho bản thân, chẳng hạn như hóa trị, lọc máu, thông khí, phẫu thuật hoặc đặt ống ăn?

Trả lời bởi Maureen Boehm, cựu bác sĩ nội khoa:

” Tôi không thể nói thay cho tất cả các bác sĩ, nhưng tôi nghĩ rằng họ (các bác sĩ ) thường từ chối khi mục đích duy nhất của những phương pháp điều trị đó là kéo dài cuộc sống, chứ không phải chữa khỏi. Rõ ràng là khi một người gần chết, cuộc sống của họ là khủng khiếp , họ kiệt sức, ốm yếu , cơ thể của họ, đã từ lâu, không còn mang lại cho họ niềm vui nữa tuy nhiên, gia đình bệnh nhân thường yêu cầu chúng tôi làm mọi thứ.

Không muốn làm gia đình thất vọng, bệnh viện cho phép điều trị. Bác sĩ biết rằng sẽ không cứu được bệnh nhân mà còn khiến họ đau đớn và dẫn đến một loạt những phản ứng phụ khó chịu và mệt mỏi khác. Điều này, về cơ bản là điều trị để chết.

Là bác sĩ, chúng tôi thấy việc này xảy ra hàng ngày , nó cực kỳ vô nhân đạo. Bản thân tôi sẽ không cho phép bệnh nhân hóa trị hoặc lọc máu hoặc đặt máy thở, nếu không có hy vọng phục hồi.

Gia đình tôi biết điều này, tôi để lại di chúc thể hiện mong muốn của tôi nếu việc điều trị là vô ích.

Hãy để tôi kể chuyện này:

Tôi đã có một đồng nghiệp, anh ta là một chàng trai khá trẻ, ở độ tuổi 40, có con đang đi học. Anh được chẩn đoán mắc GBM, dạng u não nguy hiểm nhất và còn khoảng 4 tháng nếu không điều trị hoặc có thể lâu hơn một chút.

Khi được hỏi anh đang cân nhắc điều trị gì, anh suy nghĩ một lúc, rồi thì thầm : ” Đi biển ” .

Anh đưa gia đình đi du lịch châu Âu, anh chơi với con, trên bãi biển. Họ đi du lịch qua những nơi vui vẻ và thú vị. Anh ấy đã có những bữa ăn tuyệt vời, ấm áp cùng vợ con trong những quán cà phê nhỏ. Họ đã thử nhiều loại rượu vang hảo hạng và rất nhiều món ăn ngon. Họ giữ lại rất nhiều niềm vui và những kỷ niệm đẹp trong trái tim suốt chuyến đi đó. Khi bệnh tình trở nên nặng hơn, anh trở về Mỹ và vào bệnh viện , và anh ta chết ở nhà, được bao quanh bởi gia đình, vài tuần sau đó.

Tôi nghĩ anh ấy là người đàn ông rất khôn ngoan.

Anh ta đã thấy, giống như tôi, tất cả những người được trị liệu sẽ kéo dài cuộc sống của họ, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng sẽ tàn phá gia đình của họ cả về mặt cảm xúc và tài chính. Những tháng cuối cùng của họ trên trái đất này được dành để phục hồi sau khi điều trị hoặc vượt qua cuộc phẫu thuật. Họ đã bỏ lỡ cơ hội của mình cho một sự ra đi yên bình, đáng yêu với những người thân yêu của họ, thay vào đó họ chờ vòng hóa trị tiếp theo, hoặc phẫu thuật hoặc lọc máu, v.v.

Tôi sẽ không bao giờ, cho phép điều đó xãy ra cho bản thân mình.

Khi thời gian của tôi kết thúc, tôi sẽ đi.

Với tất cả sự bình yên. /.


 

KHÁT KHAO KHÔNG KHỞI ĐẦU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Làm sao Ngài lại biết tôi?”.

“Hãy an tâm; con đã chẳng tìm Ta, nếu con đã không gặp Ta!” – Blaise Pascal.

Không phải con người khởi sự đi tìm Thiên Chúa; chính Thiên Chúa đã có mặt nơi tâm điểm khát khao của con người.

Kính thưa Anh Chị em,

Nathanael đi tìm Chúa Giêsu; gặp Ngài, ông ngỡ ngàng vì đã được Ngài biết từ trước. Con người khát khao Thiên Chúa – một ‘khát khao không khởi đầu’ – bởi Thiên Chúa đã đi trước trong chuyển động ấy.

Được Philipphê giới thiệu, Nathanael dửng dưng, “Từ Nazareth, làm sao có cái gì hay được?”. Nhưng ông vẫn đến. Và chính nơi cuộc gặp ấy, ông bị chặn lại bởi một lời không ngờ: “Đây đích thật là một người Israel, lòng dạ không có gì gian dối!”. Nathanael nghẹt thở, “Làm sao Ngài lại biết tôi?”. Trước khi Nathanael kịp hiểu, Chúa Giêsu nói thêm: “Trước khi Philípphê gọi anh, lúc anh còn ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi”. Không phải ông được biết sau cuộc gặp, nhưng đã được biết từ trước.

Một lời như sấm rền khiến Nathanael ngẩn ngơ. Toàn bộ hữu thể ông như tan chảy trước một cái nhìn đã đọc đến tận cùng; những dè dặt, hoài nghi bỗng rơi xuống, để phần thật nhất nơi ông lộ ra như vàng ròng. Nhưng lạ thay, bị nhìn thấu, ông không thấy mình bị kết án; trái lại, ông nhận ra mình đã được chờ đợi từ lâu. Điều ông tưởng là khát khao thực ra đã được chạm tới từ trước. Có lúc chúng ta tưởng mình bắt đầu; nhưng hoá ra, đó chỉ là một ‘khát khao không khởi đầu’, vì đã có một khởi đầu khác đi trước.

Người vừa hỏi Nazareth nào có gì hay, cuối cùng lại được ghi tên trong thành thánh: “Tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai Tông Đồ của Con Chiên” – bài đọc một. Chúa Giêsu không chỉ thấy Nathanael đang là ai, nhưng còn thấy ông sẽ trở thành ai: một kẻ hoài nghi thành tông đồ, một người đứng ngoài nên nền móng.

Để trở thành con người Chúa đã thấy trước, Nathanael đã dám ở lại dưới cái nhìn ấy. Không phải ai cũng dám như ông; nhiều khi, chúng ta lại tìm cách lẩn tránh. Bởi được biết không chỉ là được hiểu, nhưng là để ánh sáng chạm tới tận đáy lòng và xuyên qua mọi lớp che phủ. “Được biết mà không được yêu là nỗi sợ sâu nhất của con người; nhưng được biết trọn vẹn và được yêu thật sự, đó là điều con người khao khát nhất!” – Timothy Keller.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cái nhìn thấu suốt không kết án, nhưng cứu độ. Trên thập giá, Ngài thấy hết sự phản bội, hèn nhát và tội lỗi của con người; vậy mà vẫn mở rộng vòng tay. Đức Kitô không yêu chúng ta vì Ngài chưa biết hết; Ngài biết hết mà vẫn yêu. Điều khiến người đời bớt yêu lại khiến Ngài yêu nhiều hơn. Bởi thế, cuộc trở về của chúng ta vẫn là một ‘khát khao không khởi đầu’: trước khi chúng ta khao khát được cứu, Chúa đã khao khát cứu chúng ta. Không ai còn bị đóng đinh vào con người cũ; mỗi người được gọi về với con người Thiên Chúa đã thấy từ đời đời. “Không phải tội lỗi của chúng ta lớn, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không góc khuất nào trong con nằm ngoài ánh mắt Chúa; xin đừng để con trốn chạy khi được nhìn thấu; nhưng dám ở lại với Đấng khát khao con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa KÍNH THÁNH BARTHÔLÔMÊÔ TÔNG ĐỒ. 

24/8, Thứ Hai, Tuần XXI TN: 

https://bom.so/TRzsCt

Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 1,45-51

45 Khi ấy, ông Phi-líp-phê gặp ông Na-tha-na-en và nói : “Đấng mà sách Luật Mô-sê và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp : đó là ông Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.” 46 Ông Na-tha-na-en liền bảo : “Từ Na-da-rét, làm sao có cái gì hay được ?” Ông Phi-líp-phê trả lời : “Cứ đến mà xem !” 47 Đức Giê-su thấy ông Na-tha-na-en tiến về phía mình, liền nói về ông rằng : “Đây đích thật là một người Ít-ra-en, lòng dạ không có gì gian dối.” 48 Ông Na-tha-na-en hỏi Người : “Làm sao Ngài lại biết tôi ?” Đức Giê-su trả lời : “Trước khi Phi-líp-phê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.” 49 Ông Na-tha-na-en nói : “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ít-ra-en !” 50 Đức Giê-su đáp : “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin ! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa.” 51 Người lại nói : “Thật, tôi bảo thật các anh, các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống trên Con Người.”


 

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Nghệ Lâm Hồng

Jocelyn Minh Tue

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Năm 11 tuổi, khi một chân đã teo liệt, không thể tự đi lại, bà Nguyễn Thị Thủy được người cậu chở đến khu vực bắc Mỹ Thuận. Người cậu mua cho bà một ổ bánh mì rồi nói sẽ đi mua đồ Tết và quay lại đón.

Nhưng ông không trở lại.

Đứa trẻ mồ côi cha mẹ, không thể tự đi tìm người thân, chỉ biết ngồi một chỗ chờ đợi rồi bật khóc. Đến khi những người xung quanh nói rằng bà đã bị người thân bỏ lại, cô bé mới hiểu chuyến đi ấy không phải để mua quần áo Tết.

Đó là ngày bà mất đi mái nhà của mình.

MỘT Ổ BÁNH MÌ VÀ CUỘC ĐỜI BỊ BỎ LẠI

Bà Thủy quê Vĩnh Long, mồ côi cha mẹ từ nhỏ và sống nhờ bà cố. Từ bé, bà bị suy dinh dưỡng, một bên chân teo nhỏ, gần như không thể đứng và đi lại bình thường.

Sau khi bà cố qua đời, bà sống cùng cậu mợ. Nhưng theo lời kể của bà, vì không muốn tiếp tục chăm sóc một đứa trẻ khuyết tật, người thân đã tìm cách đưa bà đi.

Tại khu vực bắc Mỹ Thuận, người cậu để bà lại với một ổ bánh mì và lời hứa sẽ quay lại.

Bà chờ từ sáng đến gần trưa.

Nhưng người cậu không bao giờ quay lại nữa.

May mắn, một người chạy xe lam nhìn thấy cô bé đang khóc đã dừng lại. Ông nghe câu chuyện rồi đưa bà về bến phà, nhờ những người làm việc ở đó giúp đỡ.

Từ đó, cuộc đời cô bé 11 tuổi bắt đầu gắn với những bến phà, vỉa hè và những mái hiên tạm bợ.

KHÔNG CÙNG MÁU MỦ NHƯNG KHÔNG AI BỎ RƠI

Ban ngày, bà ngồi với chiếc nón lá trước mặt để xin tiền ăn. Người cho vài đồng, người cho hộp cơm, người cho quần áo.

Đêm xuống, bà tìm một góc gần phòng vé hoặc vỉa hè để ngủ.

Những người làm việc tại bến phà thương hoàn cảnh của cô bé nên góp tiền đưa bà đi chữa chân. Bà được tập vật lý trị liệu, nẹp chân và tập đứng.

Từ một đứa trẻ chỉ có thể lết trên nền đất, bà dần bước được những bước đầu tiên.

“Nhờ người dưng hết đó con. Không có người ta chắc cô đâu có đi được tới giờ.”

Sau này, bà có một người đàn ông thương hoàn cảnh và hai người nương tựa nhau sống dưới gầm cầu Chợ Mới. Nhưng khi ông bị tai biến và được con cái đón về chăm sóc, bà lại trở về cuộc sống một mình.

HƠN 20 NĂM DƯỚI GẦM CẦU

Ở tuổi 65, bà Thủy vẫn sống trong một khoảng trống sát mố cầu.

Một chiếc giường gỗ, vài chiếc nồi, thùng nước, quần áo và những món đồ được người khác cho là gần như toàn bộ tài sản của bà.

Mỗi ngày, nếu chân còn đỡ đau, bà chống chân ra chợ. Người bán hàng quanh khu vực đã quen với cô Ba Thủy. Người cho rau, người cho trái cây, người để lại phần thức ăn.

Có ngày bà xin được vài chục nghìn đồng. Có ngày trời mưa hoặc chân đau, bà chỉ ở lại dưới gầm cầu.

“Có gì ăn đó. Có tương thì ăn tương, có rau thì luộc rau.”

Giờ đây, đôi mắt bà đã mờ đến mức người đứng trước mặt chỉ còn là một bóng hình. Hai chân thường xuyên sưng đau, việc đi lại ngày càng khó khăn.

Thế nhưng bà vẫn cố tự giặt quần áo, nấu ăn và sắp xếp mọi thứ quanh mình.

“HẬN LÀM CHI CON ƠI…”

Hơn 50 năm đã trôi qua, khi được hỏi có còn giận người cậu đã bỏ mình hay không, bà chỉ lắc đầu.

“Hận làm chi con ơi. Cuộc đời mình số phận nó như vậy rồi, hận cũng đâu đổi lại được gì đâu.”

Nếu một ngày gặp lại, bà nói mình cũng không muốn trách móc.

“Gặp thì mừng, rồi bỏ qua hết.”

Ở tuổi 65, bà không mong nhà cao cửa rộng, cũng chẳng mong một cuộc sống sung túc.

Điều bà mong chỉ là mỗi ngày có hai bữa cơm, dành dụm được một ít tiền để khi chân đau còn có tiền mua thuốc.

Và bà đã nghĩ đến ngày cuối đời:

“Chừng nào cô mãn phần, chỉ nhờ bà con chòm xóm ở đây chôn cất giùm, hoặc đem đi thiêu. Cô không dám phiền ai.”

Phía trên đầu, xe cộ vẫn ngày ngày chạy qua cầu.

Còn phía dưới, người ta vẫn thấy một bà cụ 65 tuổi với đôi mắt đã mờ, đôi chân đau nhức, sống qua ngày nhờ sự giúp đỡ của những người xa lạ.

Hơn 50 năm trước, bà là một cô bé 11 tuổi bị bỏ lại bên bắc Mỹ Thuận với một ổ bánh mì.

Hơn nửa thế kỷ sau, thứ giữ bà ở lại với cuộc đời không phải là người thân ruột thịt, mà chính là lòng tốt của những người xa lạ.


 

“Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1:37)-Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Hôm nay Giáo Hội mừng Lễ Đức Ma-ri-a Nữ Vương. Xin Mẹ Maria cầu bầu cho chúng con đang vất vả trên đường lữ hành tiến về quê trời.

Với Đức Maria tâm hồn hướng về mầu nhiệm Chúa Giêsu.” Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 22/08/2026.    (t5-24)

TIN MỪNG: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1:37)

SUY NIỆM: Có người đặt câu hỏi để gài bẫy thánh Bernadette khi còn là một thiếu nữ : “Con thích gì hơn, rước lễ hay thấy Đức Mẹ hiện ra ở hang đá?” Vị thánh nhỏ suy nghĩ một phút rồi trả lời: “Đúng là một câu hỏi kỳ lạ! Chúa Giê-su và Đức Mẹ không thể tách riêng ra. Cả hai lúc nào cũng phải đi với nhau.” Từ giây phút thụ thai trong lòng Đức Mẹ, Đức Giê-su và Mẹ của Ngài luôn nối kết với nhau. Không lạ gì Con về trời thì Mẹ cũng phải được lên trời cả hồn lẫn xác. Đức Mẹ được đưa lên trời để được tôn phong là Nữ vương thiên đàng, Nữ vương vũ trụ. Mẹ thi hành tước vị Nữ vương ấy trong tư thế của một người mẹ, người mẹ của tất cả nhân loại, và là mẹ của từng người. Trong lịch sử Giáo Hội, Mẹ đã nhiều lần hiện ra để cứu giúp con cái gặp cảnh gian nguy, cảnh tỉnh con cái sửa đổi đời sống, nhắn nhủ con cái sống đúng tư cách môn đệ Chúa Ki-tô. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô XVI dạy rằng: “Đức Ma-ri-a là người đầu tiên đi ‘con đường’ vào Nước Trời mà Đức Ki-tô đã mở, một con đường chỉ đạt được dành cho những người khiêm tốn, tin tưởng nơi Lời Chúa và nỗ lực đem ra thực hành” (Đức Bê-nê-đi-tô 16). Mời bạn hãy đi con đường Đức Mẹ đã đi, để cũng được phần thưởng cao quý là hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa như Mẹ.

LẮNG NGHE: Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” (Lc 1:28)

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Ma-ri-a là Nữ vương vũ hoàn, và là Mẹ con, con cảm tạ Mẹ luôn đồng hành với con trong mọi nẻo đường con đi, mọi khoảnh khắc quãng đời con sống. Xin cho con cũng biết noi gương Mẹ, đi con đường vào Nước Trời mơ ước. Amen.

THỰC HÀNH: Mỗi tối tôi đọc chậm rãi, sốt sắng ba kinh Kính Mừng kính Đức Mẹ, xin ngài nâng đỡ bạn sống xứng đáng con cái Thiên Chúa mọi ngày.

From: Do Dzung

*****

MARIA NỮ VƯƠNG | Phạm Đức Huyến – Vũ Đình Ân

TỐ HỮU VÀ CÁI CHẾT CỦA NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

TỐ HỮU VÀ CÁI CHẾT CỦA NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Vũ Hoàng Chương (5 tháng 5 năm 1916 – 6 tháng 9 năm 1976) là một nhà thơ người Việt Nam, với văn phong được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông Phương. Ông được xưng tụng là “thi bá Việt Nam” và cũng là một trong 100 tác giả trên thế giới được Ủy ban Nobel văn học chọn lọc để đề cử cho giải Nobel văn học năm 1972.

Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.

Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937.

Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm.

Năm 1941, ông rời Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975. Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn.

Vũ hoàng Chương với Tố Hữu là bạn nhưng Vũ Hoàng Chương lớn hơn Tố Hữu vài tuổi. Năm 1946 Huy Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ kháng chiến, dần lên chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ Hoàng Chương không theo kháng chiến, sau hiệp định Genève năm 1954 di cư vào Saigon tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.

Năm 1976, Huy Cận được cử vào Sài Gòn cùng với một phái đoàn gồm có Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Vũ Đình Liên, …, với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.

Phái đoàn được Thanh Nghị ký giả (một cộng sản nằm vùng) tiếp đón và tổ chức một đêm “họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ Hoàng Chương đã được mời và ông đã tham dự.

Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố Hữu đã làm để khóc Stalin chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp với Tố Hữu:

“Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười”.

Hoài Thanh mời Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ của Miền Nam góp ý. Vũ Hoàng Chương đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái “sáng giá” của đêm họp “văn nghệ đặc biệt” này. Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương:

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được “đóng khung” tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao… Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép…

Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việt Nam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việt Nam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca. Nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việt Nam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài “Đời Đời Nhớ Ông”, Tố Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”

Chắc chắn là không có một bà mẹ Việt Nam nào, kể cả Bà Tố Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm. Đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtn Nam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm”.

Lời phê bình của Vũ Hoàng Chương đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ Hoàng Chương, có người đã yêu cầu ông nói về thơ và sự thực mà ông đã đưa ra để chê Tố Hữu và cùng nghĩ rằng Vũ Hoàng Chương khó lòng mà đưa ra một luận cứ vững vàng được, nhưng ông vẫn ôn tồn phát biểu:

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.

“Tôi xin nhắc, sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca. Vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống”.

Tố Hữu không ngờ bị Vũ Hoàng Chương chê bai là nịnh hót Stalin nên bực tức. Sau đêm đó, Vũ Hoàng Chương đã bị công an nửa đêm ngày 3/4/1976, tràn vào nhà bắt giam tại khám Chí Hoà nhốt chung với bác sỹ (cựu Thủ Tướng VNCH).

Trong nhà tù bị hành hạ, ăn uống thiếu thốn, bệnh không có thuốc uống nên ông kiệt sức, đến khi quá tiều tụy thì được thả về. Chỉ vài ngày sau đó, ngày 6/9/1976 thì ông qua đời… Việt Nam đã mất đi một thi nhân tài hoa, bởi bàn tay sắt máu của một ai đó mà chúng ta rất khó tìm ra chứng cứ trực tiếp.

(Quê Mẹ số 63/64)

 


 

HAI TẦNG LUẬT PHÁP VIỆT NAM: NGỌC TRINH NGỒI MÔ TÔ SAI TƯ THẾ PHẢI ĐI TÙ, SỸ CƯƠNG NGỒI Ô TÔ TÔNG CHẾT NGƯỜI VẪN KHÔNG SAI

 Chân Trời Mới Media

HAI TẦNG LUẬT PHÁP VIỆT NAM: NGỌC TRINH NGỒI MÔ TÔ SAI TƯ THẾ PHẢI ĐI TÙ, SỸ CƯƠNG NGỒI Ô TÔ TÔNG CHẾT NGƯỜI VẪN KHÔNG SAI

Ở cái xứ sở nơi khẩu hiệu mọi người bình đẳng trước pháp luật được treo khắp nơi như tờ giấy lau bàn, công lý thực chất chỉ là một món hàng phân cấp rõ ràng theo thẻ đảng và ghế ngồi.

Ngọc Trinh lái mô tô sai tư thế trong khu nội bộ Thủ Thiêm. Không tông ai, không bỏ chạy, không làm đổ một giọt máu. Thế mà bị quy cố ý, đề nghị 2–7 năm tù, cuối cùng được “khoan hồng” một năm treo, hai năm thử thách. Tòa án nghiêm khắc lắm. Luật là luật. Không ai được đứng trên pháp luật.

Còn ông nghị Cương? Lái ô tô sai làn ngay trung tâm Hà Nội, tông chết một người đi xe máy. Kết quả là miễn trách nhiệm hình sự. Không án, không treo, không thử thách. Chỉ cần là ông nghị, là đồng chí, là người của hệ thống thì mạng người cũng chỉ là chi phí giao thông. Tòa án lúc này bỗng nhiên trở nên nhân văn, xem xét hoàn cảnh, cân nhắc đóng góp.

Thật là một hệ thống đầy tính đảng. Người không có ghế thì bị soi đến tư thế ngồi xe. Người có ghế thì được miễn đến cả tội giết người vì bất cẩn. Đây không còn là bất công thông thường nữa. Đây là bất công được thiết kế, được vận hành, được bảo vệ bằng chính bộ máy nhà nước.

Luật pháp Việt Nam không phải là công cụ bảo vệ công lý. Nó là công cụ bảo vệ quyền lực. Nó là cái roi để răn đe những kẻ không biết điều, và là cái dù để che cho những kẻ biết đứng đúng hàng ngũ. Ngọc Trinh không biết đứng đúng hàng nên phải nhận án. Ông nghị biết đứng đúng hàng nên được tha.

Và cái hay nhất là sau mỗi vụ việc như thế này, người ta vẫn cứ lớn tiếng hô không ai đứng trên pháp luật. Thật ra thì có. Rất nhiều người đang đứng trên pháp luật. Họ đứng trên nó mỗi ngày, ngồi trên nó mỗi khi lái xe, và thỉnh thoảng còn dùng nó để đè những kẻ phía dưới xuống.

Đó chính là công lý kiểu Việt Nam, công lý có tầng, có hạng, có thẻ. Và tầng dưới thì đừng bao giờ ảo tưởng rằng luật là để bảo vệ mình.

#luatphap #ngoctrinh #nguyensycuong #congly #chantroimoi 


 

TRỜI LUÔN ĐI TRƯỚC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”.

“Chúng ta không thể bước nổi một bước về phía trời; Thiên Chúa băng qua vũ trụ để đến với chúng ta!” – Simone Weil.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Phêrô tưởng mình đang trả lời một câu hỏi dưới đất; Chúa Giêsu cho biết điều ông nói đến từ trời. Khi con người chưa kịp bước, ‘Trời luôn đi trước’.

“Người ta nói Con Người là ai?”; “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Đám đông chỉ gọi Chúa Giêsu bằng những cái tên đã biết. Phêrô không đặt Ngài vào hàng bất cứ ai: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Khoảng cách giữa hai câu trả lời nằm ở nguồn phát sinh: một bên đi lên từ ký ức của đất, một bên đi xuống từ mặc khải của Trời. Mặc khải không đến như phần thưởng của trí tuệ, nhưng đi trước để lời tuyên xưng có thể cất lên. Trước khi miệng người mở ra để nói về Chúa, Trời đã băng qua vũ trụ để xuống tận lòng người.

Chỉ sau khi xác nhận nguồn của lời tuyên xưng, Chúa Giêsu mới nói: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá”; “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời”. Đức tin đi trước quyền bính. Phêrô là đá, nhưng Đấng xây Hội Thánh vẫn là Chúa Kitô; ông giữ chìa khoá, nhưng không phải để buộc trời theo ý đất, mà để đất không đi lạc ý trời. Chìa khoá chỉ mở đúng cửa trong tay người biết vâng phục.

Chìa khoá ấy đã được báo trước. “Ta sẽ gọi tôi tớ Ta là Engiakim”; “Chìa khoá nhà Đavít, Ta sẽ đặt trên vai nó” – bài đọc một. Trước khi mở một cánh cửa, trách nhiệm đã được đặt lên vai người nhận. Người giữ khoá có thể thay, nhưng quyền vẫn đến từ Đấng trao. Phaolô đưa mọi sự về nguồn: “Muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người” – bài đọc hai. Mặc khải do Trời, lời tuyên xưng nhờ Trời, quyền bính quy về Trời. “Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang!” – Thánh Vịnh đáp ca. Con người cầm chìa khoá, nhưng chỉ Thiên Chúa mới hoàn tất công trình.

Chúng ta thường muốn đóng mở đời người khác trước khi hỏi ý Chúa. Nhiều tổn thương gia đình, cộng đoàn không bắt đầu từ ác ý, nhưng từ những người thiện chí đi trước Trời. Đức tin không chỉ hỏi, “Tôi có thể làm gì?”, nhưng còn hỏi, “Chúa đã đi trước tôi thế nào?”. “Để bản sắc Kitô hữu không bị thu hẹp thành một tàn tích của quá khứ, chúng ta phải vượt qua một đức tin mệt mỏi và trì trệ!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Trời không chỉ gửi xuống một mặc khải; Trời đến bằng một khuôn mặt. Phêrô được trao chìa khoá, nhưng Đức Kitô là Cửa; Phêrô được gọi là đá, nhưng Đức Kitô vẫn là đá góc tường. Ngài bước vào nơi không ai muốn bước – cô độc, khổ đau và sự chết – để mở lối không ai có thể mở. Vì thế, cả khi chúng ta vác thập giá, con đường trước mặt đã có dấu chân và dấu máu của Ngài. ‘Trời luôn đi trước’ để gánh lấy điều đang đợi chúng ta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết lắng nghe trước khi lên tiếng; tìm ý Chúa trước khi khoá một ai; và theo dấu chân Chúa trước khi dẫn người khác về với Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN, NĂM A

: https://bom.so/VQwNn8

Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 16,13-20

13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.


 

Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 Đầu của cô đã bị cạo trọc. Máy chém đang chờ sẵn. Rồi một người đàn ông xuất hiện và cứu mạng cô, bằng cách giao cho cô công việc đáng sợ nhất ở Paris.

Cô sẽ sống sót. Và cô sẽ xây dựng cả một đế chế từ chính điều đó.

Bạn biết tên cô. Madame Tussaud.

Cô sinh ra với tên Anna Maria Grosholtz vào năm 1761, tại thành phố Strasbourg của Pháp, chỉ hai tháng sau khi cha cô tử trận. Người mẹ góa bụa của cô nhận công việc quản gia tại Bern, Thụy Sĩ, trong ngôi nhà của một bác sĩ người Thụy Sĩ trầm lặng và lập dị tên Philippe Curtius, người có một niềm ám ảnh kỳ lạ và ngày càng lớn dần.

Ông tạc tượng bằng sáp.

Ban đầu, ông tạo hình giải phẫu cho sinh viên y khoa. Sau đó, ông bắt đầu tạo khuôn mặt của người chết. Và rồi, cả khuôn mặt của người sống. Ông làm chân dung bằng sáp của các công tước, nữ công tước, triết gia và những người cách mạng, những tác phẩm sống động đến mức đám đông tụ tập tại triển lãm ở Paris chỉ để đứng nhìn.

Curtius coi cô bé Marie như con gái và dạy cô mọi thứ ông biết.

Đến năm 16 tuổi, cô đã tạo tác phẩm đầu tiên, một tượng bán thân bằng sáp của Voltaire, nhà triết học nổi tiếng nhất châu Âu lúc bấy giờ.

Khi mới ngoài hai mươi, Marie Grosholtz đã tài năng đến mức em gái của vua Louis XVI, công chúa Élisabeth of France, đã mời cô đến Versailles làm giáo viên nghệ thuật riêng và người tâm sự. Marie sống nhiều năm trong cung điện hoàng gia Pháp, giữa lụa là, bạc vàng và những lời thì thầm về cách mạng.

Rồi năm 1789, thế giới mà cô biết bốc cháy.

Ngục Bastille sụp đổ. Nhà vua bị bắt. Đường phố Paris ngập tràn đám đông và máu. Và những người cách mạng, truy tìm bất cứ ai có liên hệ với hoàng gia, đã tìm đến cô.

Cô bị tống vào một nhà tù ở Paris.

Đầu cô bị cạo.

Cô chỉ còn vài ngày trước khi lên máy chém, số phận giống hàng ngàn người khác, thì Curtius bằng cách nào đó biết được việc cô bị bắt. Ông vội vàng đến gặp những người cách mạng. Ông cho họ xem các tác phẩm của cô, chân dung Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Benjamin Franklin, và cầu xin rằng cô là một nghệ sĩ của tự do, không phải người ủng hộ hoàng gia.

Điều đó đã có hiệu quả.

Marie được thả.

Nhưng chính quyền cách mạng đưa ra một điều kiện. Để chứng minh lòng trung thành, cô phải làm một công việc mà gần như không ai dám làm.

Cô sẽ tạo mặt nạ tử thần cho mọi nhân vật nổi tiếng bị xử bằng máy chém.

Cô bắt đầu với những người mà cô từng quen biết.

Cô làm mặt nạ tử thần của vua Louis XVI, người từng chào đón cô vào cung điện.

Cô làm mặt nạ của Marie Antoinette, người từng bước qua cô trong hành lang Versailles.

Cô làm mặt nạ của công chúa Élisabeth of France, người mà cô từng dạy dỗ và yêu quý.

Khi nhà báo cấp tiến Jean-Paul Marat bị Charlotte Corday đâm chết trong bồn tắm, Marie được gọi đến nhanh đến mức, như bà viết trong hồi ký, “cơ thể ông vẫn còn ấm”. Bà làm mặt nạ tử thần ngay tại đó, trong làn nước nhuốm máu.

Khi Maximilien Robespierre, kiến trúc sư của Thời kỳ Khủng bố, bị xử tử, bà cũng làm mặt nạ của ông. Khuôn mặt ông bị biến dạng vì đã tự bắn mình trước đó một ngày, và bà tái hiện đúng như những gì bà thấy.

Trong hồi ký, bà kể lại một điều gần như quá u tối để tưởng tượng. Sau các cuộc hành quyết, bà viết rằng mình ngồi “trên bậc thềm của triển lãm, với những chiếc đầu đẫm máu đặt trên đầu gối, lấy khuôn khuôn mặt của họ.”

Đó là công việc đáng sợ, nguy hiểm và gần gũi với cái chết đến mức không thể tưởng tượng. Và bà đã làm điều đó suốt nhiều năm, bởi vì lựa chọn còn lại là lưỡi dao.

Khi Curtius qua đời năm 1794, ông để lại cho bà toàn bộ bộ sưu tập sáp và hai bảo tàng. Marie trở thành người sở hữu duy nhất của một trong những ghi chép sống động nhất về Cách mạng Pháp, chính là khuôn mặt thật của những người đã tạo nên và chết trong cuộc cách mạng ấy.

Năm 1802, Marie rời Paris mãi mãi.

Bà đưa con trai nhỏ và các tượng sáp vượt qua eo biển Manche đến Anh và không bao giờ gặp lại chồng nữa. Trong suốt 33 năm, bà đi khắp vùng quê Anh bằng xe ngựa, từ thị trấn này sang thị trấn khác, tổ chức triển lãm trong những hội trường thuê đầy bụi, bán vé với giá một shilling. Những khán giả chưa từng đến Paris giờ có thể tận mắt nhìn thấy mặt nạ tử thần thật của Marie Antoinette, chỉ cách họ vài bước.

Năm 1835, ở tuổi 74, khi nhiều phụ nữ cùng thời đã nghỉ ngơi từ lâu, Marie Tussaud định cư tại London, trên phố Baker, và mở bảo tàng sáp cố định đầu tiên trên thế giới.

Bà là một người mẹ đơn thân đã sống sót qua cuộc cách mạng đẫm máu nhất thời hiện đại. Bà xây dựng đế chế của mình từ những cái đầu bị chặt và ý chí sinh tồn, một mình, tại một đất nước mà bà gần như không nói được ngôn ngữ.

Năm 1842, ở tuổi 81, bà tạo tác phẩm sáp cuối cùng, một bức chân dung tự họa. Một người phụ nữ lớn tuổi với ánh mắt sắc sảo, đội mũ trắng, bình thản nhìn những vị khách.

Bức tượng đó vẫn đứng ở lối vào bảo tàng Madame Tussauds tại London cho đến ngày nay.

Bà “nhìn” từng vị khách, trong suốt 183 năm.

Bà qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào ngày 16 tháng 4 năm 1850, ở tuổi 88.

Lần tới khi bạn chụp ảnh cùng một tượng sáp người nổi tiếng, hãy nhớ rằng cả một ngành công nghiệp bắt đầu từ một người phụ nữ trẻ đáng lẽ đã phải chết, ngồi trên bậc thềm ở Paris, với những chiếc đầu của các vị vua trên đầu gối, làm công việc duy nhất có thể giữ bà sống sót.

Có những con người được lịch sử tạo nên.

Còn Marie Tussaud, bà đã khắc lại lịch sử.


 

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

Xuyên Sơn

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

NGUY CƠ MẤT NƯỚC ĐANG ĐẾN TỪ BỘ GIÁO DỤC XUỐNG CẤP, VONG THÂN, KHÔNG CHÍNH DANH, KHÔNG TRUNG THỰC, THIẾU TRI THỨC VÀ KHÔNG CÓ TẦNG LỚP TRÍ THỨC

“Trí thức là cục phân” ( Trích thư Lê Nin gửi Goocky, Mao Trạch Đông nhắc lại câu này ).

Mao Trạch Đông nói : “Súng bầu (đẻ) ra chính quyền”.

Mao phản lại Marx : ” Chính trị là thống soái”

Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Mạnh Hảo từ rừng vào Sài Gòn và ở hẳn thành phố này cho đến nay. Cuối năm 1975, qua anh Trịnh Công Sơn, anh Nguyễn Mộng Giác, bạn Bửu Chỉ và một số bạn bè khác như

họa sĩ, nhà văn Khánh Trường, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, nhà văn Ngụy Ngữ, nhạc sĩ Trương Quốc Khánh… chúng tôi bắt đầu giao du với tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ ( mặc dù phần lớn tầng lớp ưu tú nhất này của Việt Nam cộng hòa đã di tản, đã vượt biên hoặc còn trong trại tù cải tạo).

Các bạn kể trên nhiều người đã qua đại học, có người mới đậu tú tài ngang tôi hết cấp 3 ngoài Bắc, mà sao các bạn giỏi thế, uyên bác thế, lại biết Pháp ngữ, Anh ngữ.

Tôi có dẫn vài ba bạn ngoài Bắc vào đã học ở Liên Xô, có học vị phó tiến sĩ hẳn hoi, đến giao du với các bạn đồng lứa Sài Gòn được nền giáo dục VNCH đào tạo, thì than ôi chúng tôi quả là mới i tờ rít…

Trong khi chế độ mới ( CS) luôn vỗ ngực khoe khoang chế độ ta ưu việt nhất từ chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục…

Trong lòng mình, tôi mặc cảm tự ti với các bạn Sài Gòn mà không dám nói ra vì xấu hổ.

Rằng thế hệ chúng tôi ngoài Bắc dốt hơn, được giáo dục sai lệch và sơ sài hơn các bạn được “chế độ Mỹ-ngụy” đào tạo….

Ai thắng ai không phải so về chém giết, súng đạn, mà phải so găng bằng tri thức, bằng học vấn…

May mà kho sách dịch Sài Gòn cũ đã dạy tôi thoát nạn mù tri thức,

cho tôi có đủ kiến thức có thể ngồi phản biện ngon ơ tất cả luận án tiến sĩ văn học, triết học, luật học, văn hóa học, sử học, mỹ học, ngôn ngữ học…

Nhắc lại điều này, lòng tôi cũng chẳng vui vẻ gì cho cam, nhưng trước sự thật, tôi không thể tảng lờ, câm miệng.

Nền giáo dục của Việt Nam cộng hòa trước 1975 nhân bản theo cách giáo dục của người Pháp, nên nó chính là nền giáo dục đúng nghĩa.

Còn nền giáo dục của “phe thắng trận” chúng ta là một nền giáo dục bị vong thân, nền giáo dục phục vụ chính trị, bị chính trị hóa.

Mà chính trị là gì, là thủ đoạn.

Còn GIÁO DỤC, VĂN HÓA VĂN NGHỆ… không lấy cái lợi, cái thủ đoạn làm mục đích, mà nó lấy CHÂN THIỆN MỸ LÀM MỤC ĐÍCH vậy.

Khẩu hiệu của Đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1930 và Đảng Lao Động Việt Nam từ năm 1951 vẫn cứ là “TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ”

Chao ôi, từ cổ đại đến nay, có nhà nước nào, chế độ nào diệt trí thức hay không, hay chỉ có ĐẢNG TA mới dám làm như thế ?

Cho đến nay, chúng tôi chưa hề thấy ĐẢNG TA công khai thừa nhận

KHẨU HIỆU DIỆT TRÍ THỨC kia là ấu trĩ, là sai lầm tả khuynh, cứ “làm thinh Việt Minh đồng ý”.

Đã chủ trương diệt trí thức thì làm sao tạo ra xã hội có học vấn, có văn minh ?

Chẳng lẽ nền giáo dục của chúng ta chủ trương diệt trí thức chỉ tạo ra các thế hệ thiếu tri thức làm công cụ cho chính trị mà thôi hay sao?

Thời chúng tôi học cấp 3, có một thầy giáo dạy văn rất hay, lại đẹp trai, nho nhã có nhiều bạn nữ khá nhan sắc muốn chọn thầy làm chồng tương lai, mới điều tra lý lịch thầy, biết cha thầy là ông quan huyện, lại là trí thức học trường hậu bổ do Tây đào tạo, bèn giật thót người không dám tiến tới nữa; vì thầy là thành phần xấu, con ông quan huyện là xấu, bố lại là trí thức còn xấu nữa, than ôi !

Thời chúng tôi đi học, hầu hết bọn con địa chủ, con tư sản …đều học giỏi và đều không được đi đại học.

Con bần cố nông dù dốt đặc cán mai cũng được cử đi đại học bên Liên Xô, Đông Đức…

HỌC TÀI THI LÝ LỊCH là vậy đó..

Một chế độ diệt người giỏi từ trong trứng nước, ưu tiên người dốt,

DỐT NÁT MUÔN NĂM, HỒNG HƠN CHUYÊN MUÔN NĂM…

thì giáo dục ơi, ta chào mi, vì mi lấy cái dốt, cái ngu làm mục đích…

Sau năm 1954, trong khoa học xã hội nhân văn, các giáo sư giỏi nhất như Cao Xuân Huy, Trương Tửu – Nguyễn Bách Khoa, Trần Đức Thảo,

Đào Duy Anh…sau này là Cao Xuân Hạo…đều bị cấm lên bục giảng đại học, cho đi chăn bò hay ngồi dịch sách.

Từ đó, người giỏi bị loại ra ngoài cơ chế xã hội, tôn trọng người dốt nát ngu đần thì giáo dục ơi mi còn sinh ra làm gì nữa.

Do vậy, mấy chục năm qua hầu hết học vị tiến sĩ là học vị phong bì, hầu hết học hàm PGS, GS là học hàm phong bì…

Một xã hội mua bằng cấp, mua học vị học hàm, mua quan bán chức công khai như ngày nay, thì giáo dục ơi, coi như em đã chết, sự thật đã chết, chân lý đã chết…

Do nền giáo dục lấy bần cố nông làm gốc lâu dài quá nên dân tộc Việt Nam hôm nay hầu như không còn đời sống tinh thần mang tính chân thiện mỹ nữa, tất cả phải nói dối lẫn nhau để tồn tại…

Than ôi, họa mất nước ở đây chứ đâu.,.

Sài Gòn ngày 19-8-2021

T.M.H.

Nguồn fb Trần Mạnh Hảo