NGƯỜI VỖ TAY DUY NHẤT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh”.

Một nữ nghệ sĩ vĩ cầm vừa kết thúc buổi hoà nhạc, tiếng vỗ tay như sấm rền. Thế nhưng, cô vẫn có vẻ không vui. Được hỏi lý do, cô đáp: “Có một người chưa vỗ tay – thầy tôi!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta thường sống vì tiếng vỗ tay. Nhưng Tin Mừng hôm nay cho biết, điều quan trọng không phải có bao nhiêu người tán dương, nhưng là ai đang nhìn thấy. Chỉ cần Thiên Chúa – ‘người vỗ tay duy nhất’.

Chúa Giêsu không phản đối việc làm điều tốt trước mặt người khác; Ngài từng nói: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ”. Điều Ngài cảnh báo là biến đời sống tôn giáo thành một sân khấu – việc cầu nguyện, bố thí hay ăn chay không còn hướng về Thiên Chúa, nhưng hướng về khán giả. Khi đó, việc lành không còn là phụng tự, nhưng là trình diễn; không còn là cầu nguyện, nhưng là nuôi dưỡng cái tôi. “Kiêu ngạo làm chúng ta giả tạo; khiêm nhường làm chúng ta trở nên chân thật!” – Thomas Merton.

Chúa Giêsu còn đi xa hơn. Ba lần Ngài nói về những người thích phô trương: “Chúng đã được phần thưởng rồi!”. Từ Hy Lạp apechousin là một thuật ngữ thương mại, nghĩa là “đã nhận đủ”, “đã thanh toán xong”. Thật đáng sợ! Chúa Giêsu không nói họ không được thưởng; trái lại, họ đã được thưởng rồi – bằng lời khen, sự ngưỡng mộ và sự công nhận. Nhưng một khi đã nhận đủ ở đó, họ không còn gì để mong đợi nữa. Họ đã đổi vĩnh cửu lấy một khoảnh khắc được nhìn thấy.

Chúa Giêsu không ca ngợi sự vô danh; Ngài ca ngợi sự chân thật. Giá trị của một việc lành không nằm ở số người biết đến, nhưng ở tình yêu được đặt vào đó. Bởi lẽ, “Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo” không nhìn như người đời nhìn; Ngài thấy trái tim, đang khi con người chỉ thấy bề ngoài. Sự kín đáo bảo vệ trái tim khỏi cơn đói được công nhận. “Đó không phải là sự trốn tránh thế gian, nhưng là sự tái sinh tâm hồn!” – Lêô XIV.

Bài đọc Cựu Ước là một minh hoạ. Êlisê đã kiên trì bước theo thầy mình mà không tìm kiếm sự chứng kiến của ai – bài đọc một; cũng vậy, người môn đệ được mời gọi trung thành trong điều kín đáo. Thật vậy, sống trước ánh mắt của Thiên Chúa luôn đòi một lòng can đảm lớn hơn nhiều so với việc sống trước ánh mắt của đám đông. “Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô là người đã sống trọn vẹn trước mặt Chúa Cha. Ngài không tìm kiếm vinh quang cho mình, nhưng vinh quang cho Đấng đã sai mình. Cuộc đời Ngài là một lời thưa “xin vâng” với Cha. Đó cũng là con đường của người môn đệ: giữa muôn tiếng nói của thế gian, vẫn chỉ chờ đợi một lời chuẩn nhận; giữa muôn ánh nhìn của con người, vẫn chỉ tìm kiếm một ánh mắt hài lòng của Thiên Chúa – ‘người vỗ tay duy nhất’. “Điều quan trọng không phải chúng ta làm gì, nhưng là đặt bao nhiêu tình yêu vào điều mình làm!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giải thoát con khỏi cơn đói được khen; khỏi cám dỗ đánh bóng chính mình; và đừng để con đổi vĩnh cửu lấy một khoảnh khắc được nhìn thấy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 6,1-6.16-18

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng. 2 Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. 3 Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, 4 để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

5 “Khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả : chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em : chúng đã được phần thưởng rồi. 6 Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

16 “Rồi khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả : chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em : chúng đã được phần thưởng rồi. 17 Còn anh, khi ăn chay, phải rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, 18 để không ai thấy là anh ăn chay, ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.”


 

Người lãnh bí tích Thêm sức được hưởng những gì? – Cha Vương

Nguyện xin ngọn lửa tình yêu của Chúa Thánh Thần sưởi ấm tâm hồn bạn hôm nay. Xin bạn một lời cầu nguyện cho những ai đang mắc phải căn bệnh hiểm nghèo và hoà bình  cho thế giới. nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 16/06/2026.    (n16-25)

GIÁO LÝ: Người lãnh bí tích Thêm sức được hưởng những gì? Khi lãnh bí tích Thêm sức, người đã chịu phép Rửa tội được in một dấu ấn vĩnh viễn, chỉ lãnh một lần và làm cho họ trở thành Kitô hữu mãi mãi. Ơn sức mạnh của Chúa Thánh Thần ban xuống hoàn thành ơn bí tích Rửa tội, làm cho họ trở nên chứng nhân của Chúa Kitô trong cả cuộc sống. (YouCat, số 205)

SUY NIỆM: Lãnh nhận bí tích Thêm sức là ký một “giao ước” với Chúa. Người chịu Thêm sức nói: “Vâng con tin Chúa, Chúa của con. Xin ban cho con Thần trí của Chúa để con hoàn toàn thuộc về Chúa, không bao giờ xa cách Chúa, và con làm chứng cho Chúa suốt đời con, với tất cả tâm hồn và thể xác, bằng hành động cũng như lời nói, trong cả những ngày tốt lẫn ngày xấu”, và Chúa nói: “Ta cũng vậy, Ta tin con, con của Ta, và Ta ban Thánh Thần Ta cho con, đúng vậy, ban chính Ta. Ta sắp hoàn toàn thuộc về con. Ta không bao giờ xa cách con, ở đời này cũng như trong đời sống vĩnh hằng. Ta sẽ ở trong linh hồn và thân xác con, trong hành động và lời nói của con. Dù con có quên ta, ta vẫn luôn có mặt trong những ngày tốt và những ngày xấu”.

❦  Xin hãy tạo dựng cho tôi tấm lòng trong sạch, lạy Chúa, một khí phách mới, xin đặt vào lòng tôi.—Tv 51,12

❦  Hãy đến gần Thiên Chúa, Người sẽ đến gần anh em. Hỡi tội nhân, hãy rửa tay cho sạch; hỡi kẻ hai lòng, hãy tẩy luyện tâm can.—Gc 4,8 (YouCat, số 205 t.t.)

LẮNG NGHE: Ta đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, chúc lành và chúc dữ. Nhưng ngươi hãy chọn lấy sự sống ngõ hầu ngươi được sống, ngươi và dòng dõi ngươi. (Đnl 30,19)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, “xin ban ân đức cho tâm hồn con để con biết gìn giữ những gì là chân thiện mỹ.”

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Chúa Thánh Thần.

From: Do Dzung

********************************

Thánh Thần tình yêu -tinmung.net

GẮNG GỎI ĐỂ SỐNG TRONG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI-Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Trong những năm cuối đời, Thomas Merton đã ẩn cư để cố gắng tìm cô tịch hơn trong đời sống.  Nhưng cô tịch là một điều hết sức khó nắm bắt, và ông nhận thấy rằng nó liên tục chạy trốn ông.

 Tuy nhiên, một buổi sáng nọ, ông có cảm nhận, ít nhất vào giây phút đó, ông đã tìm thấy nó.  Nhưng cái mà ông trực nhận là điều hơi bất ngờ đối với ông.  Hóa ra, sự cô tịch không phải là một trạng thái khác nào đó của sự tỉnh thức hay thậm chí một cảm giác thăng hoa nào đó về Chúa hay về tính siêu việt trong đời sống chúng ta.  Sự cô tịch, như ông trực nhận, là sự trung thực trọn vẹn trong chính da thịt mình, trong giây phút hiện tại, cảm nhận tri ân trước sự phong phú bao la chứa đựng trong cuộc sống bình thường của con người.  Cô tịch bao gồm sự hiện diện đầy đủ trong chính đời sống của mình để trực nghiệm những gì đang ở đó.

 Nhưng nó chẳng dễ dàng.  Hiếm khi chúng ta thấy mình thật sự ở trong phút giây hiện tại.  Tại sao?  Do cái cách chúng ta đã được tạo nên.  Chúng ta đã được nạp quá nhiều năng lượng để sống trong thế giới này.  Khi Chúa đặt chúng ta vào thế giới này, như tác giả sách Giảng Viên nói, Người đã đặt “phi thời gian tính” vào trái tim chúng ta, vì vậy chúng ta không dễ dàng gì hòa điệu với cuộc sống của chúng ta.

 Chúng ta đọc được điều này trong đoạn văn nổi tiếng về giai điệu các mùa trong sách Giảng Viên.  Mọi thứ đều có một thời và một mùa để làm, chúng ta được bảo như vậy: Một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để chữa lành…, và cứ như vậy.  Nhưng sau khi liệt kê cái giai điệu tự nhiên về thời và các mùa này, tác giả kết thúc với những lời sau đây: Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc, nhưng lại đã đặt phi thời gian tính vào trái tim con người để cho con người không đồng điệu với thế gian này từ đầu chí cuối.

 Từ trong tiếng Do Thái để diễn tả “phi thời gian tính” là Ha olam, một từ chỉ “vĩnh hằng” và “siêu việt.”  Một số bản dịch tiếng Anh đã diễn đạt như thế này: Chúa đã đặt cảm giác về quá khứ và tương lai vào trái tim chúng ta.  Có lẽ nói như vậy là cách nắm bắt sự việc tốt nhất, ít nhất là xét cái cách chúng ta thường xuyên nhận điều đó trong cuộc sống.

 Từ trải nghiệm của mình, chúng ta biết ở trong phút giây hiện tại là khó đến mức nào, bởi vì quá khứ và tương lai không để chúng ta yên.  Chúng mãi mãi nhuốm màu lên hiện tại.  Quá khứ ám ảnh với những bài hát ru và giai điệu mơ hồ nửa quên nửa nhớ thỉnh thoảng vụt lên trong ký ức, với những tình yêu đã tìm thấy được và đã mất, với những vết thương lòng không bao giờ lành da non, và với những nỗi thao thức hoài niệm, tiếc nuối, và mong mỏi níu giữ một điều gì đó đã qua.  Quá khứ mãi mãi gieo nỗi bất an vào giây phút hiện tại.

 Và tương lai lại cũng len lỏi vào hiện tại, đổ cái bóng lờ mờ của hứa hẹn và đe dọa, luôn luôn đòi chúng ta phải chú ý, luôn luôn gieo lo lắng vào đời sống, và luôn luôn tước đi của chúng ta cái khả năng đơn giản là đắm mình trong hiện tại.  Hiện tại mãi mãi bị nhuốm màu bởi ám ảnh, những cơn đau của tâm hồn và trí óc, những nỗi lo lắng mà hầu như chẳng liên quan gì đến những người đang ở bên cạnh chúng ta.

 Các triết gia và thi sĩ đã gọi nó bằng nhiều tên khác nhau: Plato gọi nó là “cơn điên đến từ các thần;” các thi sĩ Hindu gọi nó là “nỗi hoài niệm về cái vô hạn;” Shakespeare nói về “những nỗi khát khao bất diệt,” còn Augustin, mà có lẽ nhiều người biết tới cách nói này của ông nhất, nói rằng nó là một nỗi bất an vô phương cứu chữa mà Chúa đã đặt vào trái tim con người để nó không thể tìm thấy bình an trong bất cứ điều gì ở thấp dưới cái vô hạn và vĩnh hằng: Chúa đã tạo ra chúng con cho chính Chúa, và trái tim chúng con sẽ không bình an chừng nào nó chưa tìm về yên nghỉ bên Chúa.

 Và như vậy, rất khó để sống bình an trong cái phút giây hiện tại của đời sống chúng ta, bình an trong chính con người chúng ta.  Nhưng sự “day dứt” này, như T.S. Eliot từng nói, là có mục đích của nó.  Henri Nouwen, trong một đoạn văn nổi bật vừa nhận diện những nỗ lực gắng gỏi này vừa nêu mục đích tối thượng của nó, đã nói như sau: Cuộc sống chúng ta là  khoảng thời gian ngắn mong chờ, là thời gian trong đó nỗi buồn và niềm vui trộn lẫn với nhau trong từng giây phút.  Có một tính cách buồn bao phủ mọi khoảnh khắc của đời sống chúng ta.  Dường như không hề có cái gì là niềm vui tinh khôi trọn vẹn, mà thậm chí trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của cuộc hiện sinh, chúng ta vẫn thấy gợn buồn.  Trong mọi nỗi hài lòng, đều có sự nhận biết về các giới hạn.  Trong mọi thành công đều có nỗi sợ hãi bị tị hiềm.  Đằng sau bất cứ nụ cười nào đều có nước mắt.  Trong mỗi vòng tay ôm đều có nỗi cô đơn.  Trong mọi tình bằng hữu đều có khoảng cách.  Và trong mọi dạng thể của ánh sáng, đều có ý thức về bóng tối vây quanh.  Nhưng khi ý thức sâu xa rằng mỗi mảnh sự sống đều có một mảnh của sự chết thì ý thức này có thể hướng chúng ta vượt lên trên những giới hạn của cuộc hiện sinh.  Nó có thể làm như vậy bằng cách khiến chúng ta mong tới ngày trái tim chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui trọn vẹn, một niềm vui mà sẽ không ai tước đi được khỏi chúng ta.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Cuối cùng rồi ai cũng phải chết – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Vậy mà chỉ những người lớn tuổi mới để ý tới cái chết chứ những người dưới 50 tuổi ít có ai để ý tới cái chết vì cảm thấy nó, cái chết, còn lâu lắm mới tới. Thật ra cái chết xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, và bất cứ tuổi nào.

Dĩ nhiên người già thì thời gian đến gần cái chết rõ ràng hơn, ngắn hơn, gần hơn.

Trước cái chết, ai cũng lo sợ, nhưng làm sao, cách nào bình tĩnh được trước cái chết.

Làm thế nào cuộc sống có ý nghĩa và có hạnh phúc? 

*1)Đặt ra công việc để làm. Đặt cho mình mục đích sống. Sống để làm gì? Có phải mục đích sống của mình chỉ là để kiếm thật nhiều tiền không? Dĩ nhiên phải làm việc để có tiền mà sống, nhưng chỉ duy nhất để kiếm tiền không mà thôi là chưa đủ. Cần xem làm việc là một niềm vui. Còn hơi thở, còn sức khỏe là còn phải làm việc. Dĩ nhiên mình làm việc nào mình thấy thích.

Về hưu rồi, tôi đặt ra công việc để làm, dĩ nhiên là công việc không kiếm được tiền. Viết bài, gởi gấm tâm tư tình cảm cho bạn bè, cho thế hệ sau. Đọc tin tức, gởi E.mail cho bạn bè. Thành lập, chủ biên: website keditim.net. Mỗi ngày đều có bài vở hay và hữu ích cho website này (mời các bạn vào đọc). 

*2)Giữ gìn sức khỏe: Lee Kim Hee (1) chủ tịch tập đoàn Samsung đã nhắc nhở chúng ta là cần phải tập thể dục thường xuyên để giữ cho thân thể khỏe mạnh. Dầu giàu có cỡ nào con người “không thể vượt qua cơn bạo bệnh và phải chịu kết thúc thất bại”vì khi bệnh tật đến không chừa một ai.

+Steve Jobs (2) chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple qua đời ở tuổi 56 (sinh 24-02-1955 mất 5-10-2011) vì ung thư tuyến tụy tạng. Ông nhắc nhở chúng ta rằng “cái giường bệnh” là đắc giá nhất.

+Bác sĩ Richard Teo (1972-2012) (3) bác sĩ thẩm mỹ, triệu phú ở Singapore qua đời ở tuổi 40 vì ung thư phổi.

Ông viết: “Nhưng trớ trêu là mọi thứ mà tôi có – thành công, cúp chiến thắng, những chiếc xe, ngôi nhà – là do tôi đã mua chúng để mang về niềm hạnh phúc. Nhưng giờ đây tôi chẳng mỉm cười được nữa. Nghĩ về việc sở hữu của cải, tôi chẳng có một chút niềm vui nào. Các bạn ạ, tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari vào giấc ngủ. Nó chẳng khiến tôi thoải mái hơn trong những ngày tháng cuối cùng. 

Vậy điều gì đã và sẽ làm tôi hạnh phúc ở khoảng thời gian này? Đó là thời gian với mọi người – những người tôi yêu, bạn bè, những ai thật lòng lo cho mình, cùng khóc cùng cười, cùng đau khổ và chấp nhận mọi chuyện. Điều ấy đem lại cho tôi niềm hạnh phúc”. (1) 

*3)Làm thế nào để sống vui vẻ và hạnh phúc. 

Hạnh phúc của con người là một hành trình chứ không phải là đã đạt mục đích.

Như vậy, hạnh phúc đơn giản chỉ là một cảm giác. Hạnh phúc không hiện hữu trong bóng hình quá khứ hay niềm mong mỏi nơi tương lại, hạnh phúc là hạnh phúc trong thực tại nếu bạn biết nắm bắt nó.

Vậy bí quyết của hạnh phúc là: sống trong phút hiện tại, biết yêu thương và tha thứ.

 Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất.

Trong trại tù tôi bị bỏ đói triền miên từ năm này sang năm khác, chỉ được ăn bo bo, bắp trái, ăn rau rừng đỡ đói. Khi Tết nguyên đán, trại tù phát cơm trắng. Lúc đó, ăn cơm trắng với muối tưởng chừng như ăn cơm với đường. Hạnh phúc ngay lúc đó.

 * a)Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc (Biết đủ thì đủ, đợi đủ bao giờ đủ) trong bài thơ Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ.

 Con người thường tham lam, không bao giờ biết đủ. Khi làm ăn phát đạt, kiếm được nhiều tiền ai ai cũng muốn kiếm thêm nhiều hơn nữa chứ đâu biết dừng lại.

Sự giàu có, tiền bạc không biết bao nhiêu là đủ. Cái khó là biết dừng lại, biết đủ.

Đặc biệt ở nước Mỹ có người Amish, họ sống biệt lập ở tiểu bang Ohio, Pennsylvania và cũng có một số ở Canada nữa. Họ không xài điện thoại cầm tay, không dùng xe hơi (ô tô), TV các loại máy móc, bài trừ sự ly dị… họ bài trừ lối sống hiện đại ở nước Mỹ.

 Người Amish sống đơn giản không có những nhu cầu hiện đại như chúng ta.

Như vậy,  

*b) Cách sống khác nhau, kết quả khác nhau

Nếu cuộc sống của bạn lấy tiền làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất khổ cực.

Nếu cuộc sống của bạn lấy phụ nữ làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất mệt mỏi.

Nếu cuộc sống của bạn lấy ái tình làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất đau thương.

Nếu cuộc sống của bạn lấy leo cao làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất phiền muộn.

Nếu cuộc sống của bạn lấy khoan dung làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất hạnh phúc.

Nếu cuộc sống của bạn lấy tri túc làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất vui vẻ.

Nếu cuộc sống của bạn lấy cảm ơn làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất thiện lương.

Người đi tìm sự khiếm khuyết của mình mới có được sự hài lòng.

Người nhận biết hạnh phúc mới có được hạnh phúc.

 Kết: Vui để đợi chết

 Trước khi chết thường chịu cảnh bịnh hoạn, đau đớn, buồn khổ, cô đơn. Làm sao trong tâm hồn mình có “Vui để đợi chết”.

Lúc cuối đời nếu tâm hồn mình thanh thản, bình an thì sự bình an đó kéo theo cho đến lúc lâm chung, còn ngược lại nếu ta chứa đựng nhiều uẩn khúc đau thương, uất hận; sự buồn sầu này sẽ kéo dài theo lúc chết.

Cho nên làm sao vui để được chết đó là điều rất khó, khó nhưng không phải không làm được?

 Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy

Cho con còn ngày nữa để yêu thương.

 Xem thêm:

(1) Thư từ Chủ tịch Lee Kun-hee

(2) Steve Jobs chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple

(3) Bác sĩ Richard Teo (1972-2012)(3) bác sĩ thẩm mỹ, Lời trăn trối của bác sĩ triêu phú mắc bệnh ung thư

Xem: Tưởng niệm 4 năm Bác Sĩ Richard Teo

Phùng Văn Phụng

Ngày 02-11-2020

(Lễ cầu hồn) 

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

https://keditim.net/wp-content/uploads/2026/05/CHO-TRON-DUONG-TRAN-cuon-2-313-trang.pdf


 

PHÉP THỬ CỦA SOCRATES: SỰ THẬT – THIỆN Ý – LỢI ÍCH

Dong Menthanhgianhatrang

Thứ bảy – 22/02/2025 

Tương truyền vào thời Hy Lạp cổ đại, một bữa nọ có người tới gặp nhà hiền triết vĩ đại Socrates và bảo: “Ngài có biết tôi mới nghe được một chuyện rất xấu về người bạn của ngài không?”. Sau một thoáng trầm ngâm, Socrates từ tốn đáp: “Trước khi nghe ngài kể, tôi muốn ngài tham dự một phép thử nhỏ mà tôi gọi là phép thử lọc ba lớp”. “Lọc ba lớp” – Người muốn báo tin hỏi lại.

“Đúng thế” – Socrates trả lời  – “Tôi cho rằng sẽ là một ý tưởng hay nếu trước khi ngài kể điều đó về bạn tôi, ngài vui lòng dành chút thời gian để lọc lựa những gì ngài định nói. Tôi gọi đó là phép thử lọc ba lớp.

Lớp thứ nhất lọc tìm SỰ THẬT. Ngài có tin tuyệt đối rằng những điều ngài định kể cho tôi nghe là sự thật không? “Không, thực ra tôi chỉ nghe người ta kể lại thôi…”. – Rõ rồi. Chính vì thế ngài không thể biết những điều ngài định nói có phải là sự thật hay không? Socrates nói:

“Nào, bây giờ chúng ta qua lớp lọc thứ 2, được dùng để kiểm tra thiện ý. Ngài có khẳng định rằng ngài hoàn toàn xuất phát từ THIỆN Ý khi định kể cho tôi nghe những chuyện xấu của bạn tôi?”. – “Không, ngược lại”. Vị khách của Socrates trả lời. “Thế nên những chuyện xấu của bạn tôi có thật hay không còn là câu hỏi”, nhà hiền triết Hy Lạp ngắt lời – “Xin ngài chớ vội buồn” – Socrates tiếp lời –

Có thể ngài sẽ qua được lớp lọc còn lại. Xin ngài cho biết: chuyện mà ngài sắp kể đây CÓ ÍCH cho tôi không?”. Người kia đáp: “Không”.

Socrates nhìn vào mắt của vị khách và nói: “Nếu câu chuyện ngài định kể cho tôi nghe chưa chắc đã là sự thật và cũng không xuất phát từ thiện ý và chẳng có lợi cho tôi, thì ngài định kể làm gì, và liệu tôi sẽ nghe và tin ngài chăng?”.


 

ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA BẮT ĐẦU KHI MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN DÁM LÊN TIẾNG DÙ ĐÃ RỜI KHỎI QUÊ HƯƠNG

Chân Trời Mới Media

ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA BẮT ĐẦU KHI MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN DÁM LÊN TIẾNG DÙ ĐÃ RỜI KHỎI QUÊ HƯƠNG

Một nhà nước có thể kiểm soát lãnh thổ của mình bằng luật pháp. Nhưng khi một công dân đã ra nước ngoài mà vẫn cảm thấy sợ hãi vì những gì mình nói, đó là lúc xuất hiện câu hỏi về hiện tượng được nhiều tổ chức quốc tế gọi là “đàn áp xuyên quốc gia”.

Trong nhiều năm qua, các tổ chức như Freedom House và Human Rights Watch đã ghi nhận những trường hợp người Việt ở nước ngoài cho rằng họ bị theo dõi, bị đe dọa trực tuyến hoặc lo ngại người thân trong nước gặp áp lực sau khi họ tham gia các hoạt động nhân quyền, báo chí hay chính trị. Một trong những trường hợp được quốc tế chú ý là vụ bắt giữ và kết án vắng mặt nhà báo độc lập Lê Trung Khoa và luật sư Nguyễn Văn Đài tại Việt Nam, trong khi cả hai đang sinh sống ở Đức. Những vụ việc như vậy được một số tổ chức nhân quyền viện dẫn như ví dụ cho thấy sự mở rộng phạm vi xử lý đối với những tiếng nói đối lập bên ngoài lãnh thổ quốc gia.

Điều đáng lo ngại không phải là sự bất đồng chính kiến, mà là khả năng nỗi sợ trở thành công cụ quản lý xã hội. Khi một người không dám viết, không dám phát biểu, không dám tham gia hoạt động công cộng vì lo cho gia đình còn ở quê nhà, thì quyền tự do biểu đạt đã bị thu hẹp, dù không cần đến một bản án hay một song sắt nhà tù.

Một quốc gia mạnh không cần theo đuổi công dân bằng nỗi sợ. Một quốc gia văn minh phải chứng minh sức mạnh bằng pháp quyền, bằng đối thoại và bằng khả năng chấp nhận những tiếng nói khác biệt. Khi công dân được quyền bất đồng mà không phải lo lắng cho sự an toàn của bản thân và gia đình, đó mới là thước đo thực sự của một xã hội tự do.

#DanApXuyenQuocGia #TuDoNgonLuan #NhanQuyen #PhapQuyen #Chantroimoi 


 

“Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy!- Cha Vương

“Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16:23) – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày nữa để yêu và được yêu. Một ngày thật hạnh phúc bên Chúa và những người thân yêu nhé. Mình xin bạn một lời cầu nguyện khẩn thiết hoặc một hy sinh nhỏ cho nhau và cả thế giới cách riêng cho nước Việt Nam ta. Amen 

Cha Vương

Thư 2: 15/06/2026.     (t3-21)

TIN MỪNG: Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16:23)

SUY NIỆM: Con cần Cha, chứ Cha không cần gì con.—Không phải con đến thánh hóa Cha, nhưng Cha đến thánh hóa và làm cho con nên trọn hảo hơn. Con đến để được thánh hóa và hợp nhất với Cha, để Cha ban ơn và tăng thêm lòng hăng hái cải thiện đời sống. Đừng khinh thường ơn đó con ạ! Và hãy dọn lòng cho thật chu đáo, mà đón Bạn chí ái. (x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q4:12 t.t.) 

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi, mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Thật ra, Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. (Lời kinh Tiền Tụng Chung IV) 

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm kinh Cám Ơn.

From: Do Dzung

******************************************

Con Cần Chúa – Sáng tác: Giang Ân – Trình bày: Sr Hoàng Phương 

KHÔNG YÊU MỘT NỬA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính”.

“Thiên Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta tốt lành; chúng ta trở nên tốt lành vì Thiên Chúa yêu chúng ta!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta thường nghĩ người tốt đáng được yêu hơn người xấu. Lời Chúa hôm nay cho thấy một logic khác. Mặt trời không chọn chỗ chiếu; mưa không chọn chỗ rơi; Thiên Chúa không chọn người để yêu. Ngài ‘không yêu một nửa’.

Chúa Giêsu nói, “Hãy nên hoàn thiện!”. Từ Hy Lạp Ngài dùng ở đây là teleios – hoàn thiện, viên mãn. Điều đáng chú ý là Ngài không nói điều đó sau khi dạy về cầu nguyện, ăn chay hay giữ luật; nhưng sau khi dạy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình. Vì thế, ‘hoàn thiện’ ở đây không phải là không sai lỗi, nhưng là yêu trọn vẹn như Cha trên trời. Mặt trời của Ngài không chỉ chiếu trên người tốt; mưa của Ngài không chỉ rơi trên người công chính. “Chỉ lòng thương xót mới có thể làm nghiêng cán cân của thế giới từ xấu sang tốt!” – Bênêđictô XVI.

Đọc lại câu chuyện cướp vườn nho của Akháp; công lý đòi một bản án nhân danh Thiên Chúa. Vậy mà khi vua hạ mình thống hối, Thiên Chúa lại hoãn tai ương – bài đọc một. Không phải vì Akháp bỗng trở nên tốt lành, nhưng vì Thiên Chúa luôn là Đấng nhân lành. Ngài không yêu con người vì họ đáng yêu; con người trở nên đáng yêu vì được Ngài yêu. Đó là điều mà người công chính thường không thể chấp nhận: lòng thương xót của Thiên Chúa luôn đi xa hơn những tính toán công bằng của con người.

“Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương, vì chúng con đắc tội với Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca – vì thế, không phải là lời cầu của riêng Akháp, nhưng là lời cầu của bất cứ ai đủ khiêm tốn để nhận mình cần được tha thứ. Thật ra, điều làm chúng ta khó yêu người khác – ngay cả kẻ thù – không phải vì họ quá xấu, nhưng vì chúng ta quá yêu cái tôi của mình. Chúng ta muốn công lý; nhưng nhiều khi điều chúng ta tìm kiếm lại chỉ là sự báo trả khoác áo chính nghĩa. Chúng ta muốn sự thật được bảo vệ; nhưng đôi khi lại dùng sự thật như một vũ khí. Chính ở đó, Chúa Giêsu mời gọi người môn đệ bước thêm một bước: không để bóng tối của người khác trở thành bóng tối của mình.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Chúa Giêsu đã sống điều Ngài dạy. Ngài không yêu những người đáng được yêu, nhưng yêu chính những kẻ đóng đinh mình. “Lạy Cha, xin tha cho họ!” – lời ấy mặc khải khuôn mặt của Cha trên trời và ý nghĩa của teleios – hoàn thiện. Không phải là không tì vết, nhưng là ‘không yêu một nửa’. Khi tha thứ, chúng ta không đánh mất công lý; chúng ta để lòng thương xót hoàn tất điều công lý không thể hoàn tất. Và đó là con đường nên thánh của người môn đệ Giêsu. Tha thứ không phải là sự yếu đuối, đó là lúc con người chạm đến giới hạn cao nhất của sự ‘hoàn thiện’. “Tha thứ là phẩm chất của người mạnh!” – Mahatma Gandhi.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương con; dạy con yêu như Chúa yêu, tha như Chúa tha; đừng để con yêu nửa vời khi Chúa hằng yêu con trọn vẹn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em hãy yêu kẻ thù.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 5,43-48

43 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. 44 Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. 45 Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. 46 Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao ? 47 Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu ? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao ? 48 Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.”

KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN

Chân Trời Mới Media

 KHÔNG THỂ XÂY MỘT ĐẠI LỘ 730.000 TỶ ĐỒNG TRÊN SỰ ĐỨT GÃY SINH KẾ CỦA HƠN 200.000 NGƯỜI DÂN

Đại lộ sông Hồng với tổng vốn đầu tư khoảng 730.000 tỷ đồng được kỳ vọng sẽ thay đổi diện mạo Hà Nội. Nhưng phía sau những bản quy hoạch hiện đại và những phối cảnh hào nhoáng là một câu hỏi không thể né tránh: hơn 200.000 người dân ven sông Hồng sẽ sống bằng gì sau khi rời khỏi nơi ở và sinh kế đã gắn bó nhiều thế hệ?

Đối với người dân ở các quận, huyện ven sông như Tây Hồ, Long Biên, Bắc Từ Liêm, Đông Anh hay Gia Lâm, đất đai không chỉ là tài sản. Đó là cửa hàng, xưởng sản xuất, ruộng vườn, nghề truyền thống, mạng lưới quan hệ cộng đồng và nguồn thu nhập nuôi sống cả gia đình. Một căn hộ tái định cư có thể thay thế mái nhà, nhưng không thể tự động thay thế công việc, khách hàng hay môi trường mưu sinh đã được tích lũy qua hàng chục năm.

Lịch sử của nhiều dự án giải phóng mặt bằng cho thấy không ít người dân nhận tiền đền bù nhưng sau đó rơi vào cảnh thất nghiệp, thu nhập giảm sút và đời sống bấp bênh. Nếu điều tương tự xảy ra với hàng trăm nghìn người trong dự án sông Hồng, cái giá xã hội phải trả sẽ lớn hơn rất nhiều những con số trên bản dự toán.

Bởi vậy, thước đo thành công của đại lộ sông Hồng không phải là chiều rộng của con đường hay giá trị bất động sản tăng lên bao nhiêu, mà là sau khi di dời, người dân có sống tốt hơn, có việc làm ổn định hơn và có tương lai tốt hơn hay không. Quy hoạch chỉ thực sự là phát triển khi không ai bị bỏ lại phía sau.

#SongHong #SinhKeNguoiDan #PhatTrienBenVung #Chantroimoi


 

Chúng Con Bất Lực Rồi, Chúa Ơi…!!!

Giáo Phận Bắc Ninh 

Chúng Con Bất Lực Rồi, Chúa Ơi…!!!

===

Ngôi làng của chúng con chẳng còn hình hài như những ngày trước nữa. Quê hương thân thuộc, nơi từng lưu giữ biết bao kỷ niệm của bao thế hệ, giờ đây chỉ còn lại những đống gạch vụn, những khoảng đất ngổn ngang và những dấu tích đang dần bị xóa nhòa bởi máy xúc máy ủi.

Mảnh đất của gia đình chúng con, ngôi nhà đã từng che nắng che mưa, từng chất chứa biết bao tiếng cười, nước mắt và yêu thương, nay đến cả ranh giới cũng chẳng còn nhận ra được nữa.

Dân họ chúng con đã chuyển đến nơi tạm cư. Nơi ở tạm có thể giúp con tiếp tục cuộc sống, nhưng chẳng thể thay thế được quê hương. Vì thế, chúng con vẫn trở về. Trở về để nhìn lại những gì còn sót lại. Trở về để cố ghi thật sâu vào tâm trí hình ảnh của quê hương trước khi tất cả chỉ còn là ký ức.

Thật đau xót khi những tượng Chúa, tượng Đức Mẹ mà các gia đình chúng con vẫn nâng niu gìn giữ, vẫn đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà như báu vật đức tin, nay cũng phải nằm ngổn ngang giữa gạch đá, bụi đất. Chúng con đau lắm, Chúa ơi! Nhưng chúng con quá nhỏ bé trước những gì đang diễn ra. Mỗi nhát máy đi qua như cứa thêm vào lòng chúng con một vết thương mới.

Chúng con chẳng biết phải làm gì hơn ngoài việc đứng nhìn quê hương dần mất đi hình hài trong đôi mắt đẫm lệ.

Chắc chắn ngày ấy cũng sẽ đến, ngày mà ngôi thánh đường đã gắn bó với biết bao thế hệ dân họ cũng phải nhường chỗ cho đổi thay. Nghĩ đến điều đó, lòng chúng con quặn thắt. Chúng con không biết sẽ đối diện như thế nào với thực tế đau đớn khi phải chứng kiến ngôi nhà Chúa sẽ bị giật tung.

Mai này, khi tất cả chỉ còn là một miền ký ức, chúng con – những người phải rời đi – có lẽ sẽ cảm thấy bơ vơ ngay trên chính quê hương mình. Chúng con sẽ đi trên mảnh đất quen thuộc mà chẳng còn nhận ra dấu vết của ngôi làng năm nào. Những con đường, mái nhà, hàng cây, tiếng chuông nhà thờ… tất cả rồi sẽ chỉ còn trong hoài niệm.

Trong khói bụi và tiếng ồn ào của động cơ, con bước vào ngôi nhà Chúa để tìm lại chút bình an. Chúa Giêsu Thánh Thể vẫn hiện diện lặng lẽ trong ngôi thánh đường thân thương. Ngài vẫn âm thầm ở lại đến cùng. Sự thinh lặng ấy như đang ôm lấy nỗi đau của chúng con, như đang chứng kiến từng mất mát, từng giọt nước mắt của đoàn con bé nhỏ. Chúa còn ở lại để nâng đỡ những tâm hồn đang tan vỡ, để cho chúng con biết rằng giữa lúc mọi sự sụp đổ, Ngài vẫn luôn ở bên chúng con.

Lạy Chúa, trong giờ phút này, chúng con yếu đuối lắm. Xin Chúa nâng đỡ chúng con khi lòng người chao đảo. Xin Chúa lau khô những giọt nước mắt của những người già phải rời xa nơi chôn nhau cắt rốn, của những gia đình đang ngổn ngang trước tương lai, của những người con đau đáu nhìn quê hương mình dần biến mất.

Bởi lúc này đây, giữa những đổ nát của quê hương, giữa những mất mát chẳng thể gọi thành tên, chúng con chỉ còn biết ngước nhìn lên Thánh Giá mà thưa cùng Chúa rằng: “Chúa ơi… chúng con bất lực rồi…” Chúng con không thể gắn bó với quê cha đất tổ được nữa, không thể làm gì để giữ lại ngôi nhà Chúa được nữa. Xin Chúa thêm sức cho chúng con…

– An Bình –

(Bài viết trong bối cảnh của giáo họ Ngô Thôn phải di dời, nhường đất cho dự án sân bay Gia Bình)

#sanbaygiabinh #ghngothon #gpbacninh


 

 TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ RICHARD SCOLYER: SỰ HY SINH VĨ ĐẠI CỦA “BỆNH NHÂN SỐ 0”

Ngân LộcSắc Màu Cuộc Sống  

 TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ RICHARD SCOLYER: SỰ HY SINH VĨ ĐẠI CỦA “BỆNH NHÂN SỐ 0”

Cả nhà ơi, hôm nay Vân muốn chia sẻ một câu chuyện y học, khiến cho bất cứ ai biết về chuyện của Ông..cũng phải nghẹn ngào! Đó là hành trình của Giáo sư Richard Scolyer – chuyên gia ung thư hàng đầu thế giới. Có những con người vĩ đại đến mức, ngay cả khi đứng trước bờ vực của cái chết, họ vẫn chọn cách cống hiến trọn vẹn cho sự sống của nhân loại. Hôm nay, giới y khoa toàn cầu nghiêng mình từ biệt một huyền thoại như thế – Giáo Sư Richard Scolyer nhà nghiên cứu ung thư lỗi lạc toàn cầu, người từng được vinh danh là “Người Australia của năm 2024”. Ông qua đời ở tuổi 59 vào ngày 07/06/2026

Bản án tử hình ở đỉnh cao sự nghiệp. Giáo Sư Richard Scolyer từng là một trong những khối óc lỗi lạc nhất thế giới về bệnh lý học ung thư hắc tố da. Cùng với các cộng sự tại Viện Melanoma (Úc), Ông đã cứu sống hàng ngàn người. Nhưng nghịch cảnh ập đến tàn nhẫn khi vào tháng 5/2023, Ông được chẩn đoán mắc Glioblastoma – căn bệnh ung thư não ác tính và tàn khốc bậc nhất, với tiên lượng sống vô cùng ảm đạm.

“KHI ĐỐI MẶT VỚI CÁI CHẾT, ÔNG CHỌN CÁCH ĐỂ LẠI SỰ SỐNG CHO NHÂN LOẠI “

Quyết định lịch sử: “Bệnh nhân số 0”

Thay vì chọn phác đồ điều trị tiêu chuẩn để kéo dài chuỗi ngày an toàn ngắn ngủi, Giáo sư Scolyer đã đưa ra một quyết định chấn động. Cùng với người đồng nghiệp thân thiết là Giáo sư Georgina Long, Ông quyết định biến chính cơ thể mình thành một “phòng thí nghiệm sống”.

Ông tự nguyện trở thành “Bệnh nhân số 0”, áp dụng phương pháp liệu pháp miễn dịch chưa từng có tiền lệ – vốn được dùng cho ung thư da – trực tiếp lên khối u não của mình ngay trước khi lên bàn mổ. Đây là một ván cược khổng lồ với sinh mạng, nơi Ông chấp nhận đối mặt với những rủi ro và tác dụng phụ chưa từng được ghi nhận.

DI SẢN BẤT TỬ ĐỂ LẠI CHO ĐỜI

Giáo Sư hiểu rằng, phương pháp này có thể không cứu được Ông, nhưng Ông muốn để lại một “tấm bản đồ” cho thế hệ sau. Nhờ sự hy sinh quả cảm đó, khối dữ liệu vô giá từ quá trình điều trị của Ông đã giúp các nhà khoa học, giải mã được cách hệ miễn dịch chống lại ung thư não. Chuyến đi của Ông đã mở ra cánh cửa hy vọng rực rỡ, đưa chúng ta tiến một bước dài, tới ngày chữa dứt điểm căn bệnh quái ác này.

Cuộc đời cống hiến vĩ đại thay đổi số phận hàng triệu người

Trước khi qua đời, GS Richard Scolyer đã kịp để lại cho nền y học thế giới những di sản khổng lồ:

Hơn 1.000 công trình nghiên cứu: Ông là một trong những chuyên gia giải phẫu bệnh u.t hắc tố có ảnh hưởng nhất hành tinh, sở hữu ngân hàng sinh học u.t hắc tố lớn nhất thế giới.

Đảo ngược tỷ lệ t.ử v.o.n.g: Nhờ các nghiên cứu của ông và cộng sự, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân u.t hắc tố di căn đã tăng ngoạn mục từ dưới 5% lên tới 55%, mở ra cơ hội sống cho hàng triệu người.

Di sản bất tử ở lại với nhân loại

Điều khiến vị Giáo sư hạnh phúc nhất trong những tháng ngày cuối đời là được nhìn thấy liệu pháp thử nghiệm trên chính cơ thể mình đã chính thức được đưa vào thử nghiệm lâm sàng vào tháng 2/2026 để điều trị cho các bệnh nhân khác.

Ông đã ra đi, nhưng ngọn lửa hy vọng mà Ông thắp lên bằng chính sinh mạng mình sẽ còn cháy mãi. “Xin Tri Ân Và Cúi Đầu Trước Một Nhân Cách Lớn, Một Trái Tim Cống Hiến Đến Nhịp Đập Cuối Cùng!

Cả nhà cùng dành một phút để đọc và cảm nhận về câu chuyện phi thường này nhé

Nguồn ST tồng hợp

Screenshot

 

Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

My Lan Pham

Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

Khi Vicente Cañas lần đầu tiên tìm thấy họ, chỉ còn 97 người.

Một dân tộc hoàn chỉnh. Một quốc gia với ngôn ngữ riêng, những bài hát riêng và các vị thần riêng của mình. Chỉ còn lại 97 con người.

Họ gần như đã biến mất mãi mãi.

Rừng mưa Amazon, Brazil, năm 1974.

Vicente nhìn những con người ấy và quyết định dành phần đời còn lại để bảo đảm họ được sống sót.

Đây là câu chuyện về ông.

Vicente Cañas sinh năm 1939 tại Tây Ban Nha. Ông gia nhập Dòng Tên (Jesuit), không phải với tư cách linh mục mà là một tu huynh ,một người hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa qua sự phục vụ.

Năm 1966, ông được cử đến Brazil làm nhà truyền giáo.

Tại đó, ông chứng kiến một điều khiến trái tim mình tan vỡ.

Các dân tộc bản địa Amazon đang chết dần. Họ bị quét sạch bởi những căn bệnh do người ngoài mang đến. Họ bị đẩy khỏi đất đai bởi các chủ trang trại và những người khai thác gỗ. Cả những bộ tộc biến mất khỏi mặt đất.

Vicente nhìn thấy điều đó và từ chối đứng ngoài cuộc.

Sâu trong rừng có một dân tộc mang tên Enawenê-Nawê. Trong phần lớn lịch sử của họ, chưa từng có người ngoài nào tiếp xúc được với họ. Họ thuộc nhóm mà thế giới gọi là “bộ tộc chưa tiếp xúc”.

Đến khi thế giới bên ngoài tiến đủ gần để thống kê dân số của họ, chỉ còn 97 người sống sót.

Năm 1974, Vicente đã tiếp xúc hòa bình với họ.

Và rồi ông làm một điều mà rất ít người làm được.

Ông không nghiên cứu họ rồi rời đi.

Ông không ghé thăm rồi trở về nhà.

Ông chuyển đến sống cùng họ.

Vicente sống với người Enawenê-Nawê hơn mười năm.

Ông học ngôn ngữ của họ. Học phong tục của họ. Chấp nhận lối sống của họ. Từ bỏ đất nước, nền văn hóa, sự tiện nghi và thậm chí cả tên gọi của chính mình.

Đối với người Enawenê-Nawê, ông trở thành Kiwxi.

Một người trong số họ.

Một người anh em.

Dần dần, ông kéo họ trở lại từ bờ vực diệt vong.

Ông mang đến sự chăm sóc y tế cho một cộng đồng hoàn toàn không có khả năng chống lại những căn bệnh từ thế giới bên ngoài. Ông chiến đấu với những dịch bệnh đang giết chết họ.

Và cái chết bắt đầu dừng lại.

Dân số của họ từ 97 người bắt đầu tăng lên.

100 người.

200 người.

Rồi hơn 400 người.

Một dân tộc từng đứng bên bờ biến mất khỏi thế giới đang hồi sinh.

Tất cả bắt đầu từ một người đàn ông quyết định sống cùng họ.

Có một chi tiết về Vicente cho thấy ông là người như thế nào.

Ông hiểu rằng chính mình cũng có thể là mối nguy hiểm đối với họ.

Ông thường xuyên đi lại giữa thế giới bên ngoài và bộ tộc, trong khi thế giới bên ngoài đầy rẫy những căn bệnh mà cơ thể họ chưa từng học cách chống lại.

Vì vậy, ông dựng một túp lều nhỏ bên bờ sông, cách xa ngôi làng nhiều cây số.

Mỗi khi trở về từ bên ngoài, ông sẽ sống một mình trong túp lều đó.

Tự cách ly.

Cho đến khi chắc chắn mình không mang theo bất kỳ mầm bệnh nào có thể gây hại cho họ.

Ông chấp nhận cô độc vì tình yêu thương.

Ông thà sống một mình giữa rừng còn hơn vô tình mang cái chết đến cho những con người mà ông đã dốc lòng bảo vệ.

Nhưng Vicente còn hiểu một điều sâu sắc hơn.

Thuốc men có thể cứu họ khỏi bệnh tật.

Nhưng chỉ có đất đai mới cứu họ về lâu dài.

Người Enawenê-Nawê cần lãnh thổ của mình. Nếu mất đất, họ sẽ bị phân tán và hủy diệt, dù có khỏe mạnh đến đâu.

Đất đai chính là sự sống của họ.

Vì thế, Vicente đứng lên đấu tranh cho quyền sở hữu lãnh thổ của họ. Ông làm việc không mệt mỏi suốt nhiều năm để bảo vệ vùng đất ấy.

Và chính điều đó đã khiến ông bị sát hại.

Bởi vì có những người khác cũng muốn vùng đất đó.

Những chủ trang trại chăn nuôi.

Những người khai thác gỗ.

Những kẻ đốt phá Amazon để trồng đậu nành và mở rộng đồng cỏ.

Đối với họ, khu rừng là tiền bạc.

Còn bộ tộc cùng người truyền giáo đang bảo vệ họ là vật cản.

Chừng nào Kiwxi còn sống, họ sẽ không thể chiếm được vùng đất ấy.

Vì vậy, họ quyết định loại bỏ ông.

Vicente liên tục nhận được những lời đe dọa giết chết.

Ông vẫn tiếp tục công việc của mình.

Tháng 4 năm 1987, ông gửi một thông điệp vô tuyến cho các đồng nghiệp, báo rằng mình đang rời túp lều để đến làng Enawenê-Nawê.

Ông không bao giờ tới nơi.

Những kẻ sát nhân đã tìm đến túp lều bên sông và đâm ông đến chết.

Rồi bỏ mặc thi thể ông giữa khu rừng mà ông đã hiến dâng cả cuộc đời mình để bảo vệ.

Suốt 40 ngày, không ai biết chuyện gì đã xảy ra.

Khi các đồng nghiệp tìm kiếm, họ phát hiện chiếc thuyền của ông bên bờ sông, chất đầy đồ đạc như thể chuẩn bị cho một chuyến đi nhưng đã chìm một nửa xuống nước.

Trong khoảng sân trước túp lều, họ tìm thấy thi thể của Vicente.

Không bị thú rừng xâm hại.

Được bảo quản bởi không khí khô.

Gần như đã trở thành xác ướp.

Ông qua đời ở tuổi 47.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó.

Trong số những kẻ đứng sau vụ sát hại có cả cảnh sát trưởng địa phương.

Cuộc điều tra bị bóp méo bởi tham nhũng.

Trong nhiều năm, không ai phải chịu trách nhiệm.

Phải mất 38 năm, công lý mới được thực thi.

Kẻ chủ mưu cuối cùng cũng bị kết án khi hắn đã già yếu và bệnh tật.

Và còn một chi tiết cuối cùng khiến người ta nghẹn lòng.

Khi vụ án được đưa ra xét xử, chính người Enawenê-Nawê không thể ra tòa kể về Vicente.

Văn hóa của họ cấm nhắc đến tên người đã khuất.

Vì vậy, một dân tộc láng giềng đã đứng ra thay họ làm chứng.

Họ kể lại câu chuyện của người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất.

Vicente Cañas đã từ bỏ quê hương.

Từ bỏ ngôn ngữ.

Từ bỏ tên gọi.

Từ bỏ sự an toàn.

Và cuối cùng là từ bỏ cả mạng sống của mình.

Ông làm điều đó vì 97 con người xa lạ trong một khu rừng sâu, những người đang đứng bên bờ tuyệt chủng.

Những kẻ giết ông muốn dân tộc ấy biến mất.

Nhưng dân tộc ấy vẫn còn tồn tại.

#VicenteCanas #Kiwxi #Amazon #EnaweneNawe #LichSu #NhanVatLichSu #BaoVeRung #MyLanPham #VanHoaBanDia #CauChuyenCoThat