Sáu tháng đánh Iran, Mỹ được gì, mất gì?- Hiếu Chân/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

August 28, 2026

Hiếu Chân/Người Việt

Cuộc chiến Mỹ và Israel chống Cộng Hoà Hồi Giáo Iran đã kéo dài đúng sáu tháng; bắt đầu bằng chiến dịch tấn công quân sự có tên Operation Epic Fury, nối tiếp bằng chiến dịch bao vây kinh tế có tên Operation Economic Outcast, nhưng đến nay chưa thấy lối thoát cuối cùng. Nhìn lại sáu tháng bom rơi đạn nổ, chúng ta được gì, mất gì?

Những người phản đối cuộc chiến tranh giữa Mỹ-Israel với Iran giơ bảng “Chấm dứt chiến tranh” tại Quảng Trường Copley ở Boston, Massachusetts, hôm 2 Tháng Tám. (Hình: JOSEPH PREZIOSO/AFP via Getty Images)

Không đạt mục đích

Ngày 28 Tháng Hai, trong lúc cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Iran đang tiến triển ở Geneva qua trung gian của Oman, liên quân Mỹ và Israel bất ngờ dội bom xuống nhiều địa điểm ở Iran. Ngay trong vài ngày đầu tiên, bom Mỹ đã giết chết nhà lãnh đạo tối cao Iran, Giáo Chủ Ali Khamenei, và nhiều quan chức cao cấp nhất của chế độ, làm trọng thương con trai và người kế vị ông ta, Giáo Chủ Mojtaba Khamenei. Vài tuần sau đó, chiến dịch oanh tạc và phóng hoả tiễn cấp tập của Mỹ đã huỷ diệt phần lớn không quân và hải quân Iran, phá hoại trầm trọng chương trình hoả tiễn của nước này.

Tuy vậy, người dân Iran không nổi dậy lật đổ chế độ như dự tính. Những lãnh đạo cao cấp bị giết lập tức được thay thế bằng một lớp lãnh đạo mới, trẻ tuổi hơn và cũng cứng rắn hơn. Sử dụng chiến lược chiến tranh “bất cân xứng,” quân đội Iran tấn công các nước đồng minh giàu có nhưng yếu ớt của Mỹ trong khu vực, phá huỷ các căn cứ Mỹ không được bảo vệ đầy đủ và phong tỏa eo biển Hormuz gây gián đoạn nguồn cung dầu và khí đốt toàn cầu.

Chuyện Iran phong tỏa eo biển Hormuz, nơi có 20% lượng dầu và khí đốt của thế giới đi qua, là điều mà các nhà quân sự đã cảnh báo từ lâu nhưng bị chính quyền Trump và Israel phớt lờ với suy nghĩ chế độ Tehran sẽ bị xoá sổ trong một trận chiến chớp nhoáng trước khi kịp phản pháo. Hậu quả là dòng thương mại dầu khí toàn cầu bị xáo trộn, giá xăng dầu và phân bón leo thang, ảnh hưởng tai hại đến người Mỹ và toàn thế giới. 

Xăng dầu là “mạch máu” của nước Mỹ. Khi người Mỹ phải mua xăng với giá cao hơn thì uy tín chính trị của đảng cầm quyền giảm xuống tương ứng. Mà cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ đang lừng lững đi tới.

Bí thế, ngày 17 Tháng Sáu, ông Trump ký Bản Ghi Nhớ Islamabad 14 điểm, do Pakistan làm trung gian, dành cho Iran nhiều ưu đãi về kinh tế để mở lại eo biển Hormuz, chấm dứt tình trạng thiếu nhiên liệu. Nhưng Bản Ghi Nhớ Islamabad – mà những kẻ độc miệng coi như một văn kiện “đầu hàng” của Mỹ – sớm chết yểu chỉ sau một tuần; eo biển Hormuz tiếp tục tắc nghẽn, và Mỹ phải đổi chiến thuật từ tấn công quân sự sang bao vây tài chính với mục đích cô lập Iran và đánh sập nền kinh tế đã èo uột của nước này.

Những mục tiêu ban đầu của cuộc chiến như lật đổ chế độ thần quyền, ngăn chặn chương trình vũ khí nguyên tử và hoả tiễn tầm xa của Iran, chấm dứt việc Tehran tài trợ các tổ chức vũ trang quấy nhiễu khu vực… tạm gác lại cho tương lai, ưu tiên hiện nay của Mỹ là mở lại eo biển Hormuz như thời trước chiến tranh và tái lập hoà bình cho vùng Vịnh Ba Tư đầy sóng gió.

Ở phía đối lập, Hoa Kỳ đã tổn thất sinh mạng, vũ khí cạn kiệt, căn cứ bị phá huỷ và uy tín quốc tế suy giảm trầm trọng; kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nặng nề. Mỹ và Israel đã không đánh giá chính xác sức chịu đựng của chế độ độc tài Iran và phải trả giá đắt.

Trung Đông bất ổn

Không chỉ không khuất phục được Iran, không hoàn thành các mục tiêu đặt ra, cuộc chiến còn gây bất ổn cho toàn vùng Trung Đông và xói mòn uy tín chiến lược của nước Mỹ.

Từ lâu, Mỹ và đặc biệt là Israel luôn coi Iran là một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định của vùng Trung Đông do việc Iran sở hữu kho hoả tiễn tầm trung và tầm xa lớn nhất khu vực, có công nghệ chế tạo phi cơ không người lái (UAV) phát triển và nuôi dưỡng một mạng lưới các tổ chức vũ trang khủng bố quấy nhiễu các nước lân cận. Nhưng sáu tháng chiến tranh với ý định xóa sổ mối đe dọa đó đã làm cho Iran trở nên liều lĩnh hơn, và vùng Trung Đông trở nên bất an hơn.

Dưới sự “che chở” an ninh của Mỹ, mấy thập niên qua, nhiều nước Trung Đông đã phát triển vượt bậc, trở thành các trung tâm tài chính, giao thương, du lịch tầm cỡ với nhiều đô thị đẳng cấp quốc tế như Dubai, Doha, Abu Dhabi, Riyadh, Qatar… Chiến tranh đã làm tan vỡ tất cả. Hoả tiễn và UAV của Iran liên tục tấn công các căn cứ quân sự Mỹ trong khu vực, đánh cả các cơ sở dầu khí, cảng biển, phi trường của các nước đồng minh, vô số chuyến bay bị gián đoạn hoặc hủy bỏ, các đô thị sầm uất trở nên vắng vẻ đìu hiu.

Iran tấn công tàu bè đi qua eo biển Hormuz, xúi giục phiến quân Houthi phong toả tàu dầu Saudi Arabia đi qua eo biển Bab El Mandeb nối Hồng Hải với Vịnh Aden, thực tế là phong tỏa toàn bộ hoạt động dầu khí, cắt đứt nguồn thu nhập chính của của các nền kinh tế phụ thuộc tài nguyên dầu khí ở Trung Đông. Iran không chỉ muốn bắn cháy một vài tàu dầu mà gieo rắc nỗi hoảng sợ cho các chủ tàu, các công ty bảo hiểm, từ đó làm gián đoạn việc chuyên chở, gián đoạn chuỗi cung cấp và đẩy các nền kinh tế vùng Vịnh vào bất ổn.

Suzanne Maloney, chuyên gia về Iran, đứng đầu về chính sách đối ngoại của Viện nghiên cứu Brookings ở Washington đánh giá cuộc chiến là một thất bại: “Chúng ta đã gây nhiều thiệt hại cho Iran, nhưng họ trở nên mạnh mẽ hơn trước,” bà nói và dẫn chứng các nước láng giềng của Iran đã quyết định họ phải tìm phương thức hòa giải với Tehran.

Đã có dấu hiệu cho thấy để tồn tại, các nước vùng Vịnh phải chấp nhận chung sống hoà bình với một chế độ Hồi Giáo chuyên chế phi nhân, chấp nhận cho Iran kiểm soát eo biển Hormuz và tìm cách tách dần ra khỏi ảnh hưởng của Mỹ. “Bán anh em xa mua láng giềng gần,” họ không có lựa chọn nào khác.

Suy giảm uy thế

Tất nhiên lựa chọn đó sẽ làm suy giảm ảnh hưởng chính trị và kinh tế của Mỹ ở khu vực, từ lâu được coi là bệ đỡ của đồng tiền petro-dollar từ doanh thu dầu khí mà có. 

Về quân sự, ít nhất 15 căn cứ quân sự của Mỹ tại các nước vùng Vịnh đã bị hoả tiễn và UAV của Iran tấn công gây hư hại rất nghiêm trọng, kể cả trụ sở bộ tư lệnh Đệ Ngũ Hạm Đội tại Bahrain. Chi phí sửa chữa xây dựng lại các căn cứ này là rất lớn, và trong tương lai chưa chắc các căn cứ đã an toàn khi Iran bí mật được Nga và Trung Quốc hỗ trợ về tình báo vệ tinh. Và chưa biết sau những tổn thất trong cuộc chiến Iran mà họ không được góp ý kiến trước, các đồng minh vùng Vịnh có sẵn lòng cho phép Mỹ duy trì các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ như từ trước tới nay hay không.

Nên để ý, điều khoản số 4 trong Bản Ghi Nhớ mà ông Trump ký với Iran hôm 17 Tháng Sáu ghi nhận “Hoa Kỳ cam kết sẽ rút quân khỏi khu vực lân cận Cộng Hòa Hồi Giáo Iran trong vòng 30 ngày sau khi đạt được thỏa thuận cuối cùng.” Bản Ghi Nhớ đó đã hết hiệu lực thi hành nhưng yêu sách của Iran về rút quân đội Hoa Kỳ thì vẫn còn đó và có thể sẽ được nhắc lại trong các thỏa thuận tương lai.

Trong sáu tháng chiến tranh, Mỹ đã mất 18 binh sĩ, hơn 750 binh sĩ khác bị thương, tổn thất nhiều phi cơ và UAV, một phần do hoả lực của Iran, một phần do tai nạn. Bản tường trình Tháng Năm của Sở Nghiên Cứu Quốc Hội ghi nhận Mỹ đã mất 43 phi cơ quân sự trong cuộc chiến. Hãng tin Reuters cho biết quân đội Mỹ đã xài “gần hết” nguồn dự trữ hoả tiễn có độ chính xác cao. Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS) ước tính đến Tháng Bảy, Mỹ đã sử dụng hết 65% hoả tiễn đánh chặn Patriot và 38% hoả tiễn đánh chặn tầm cao THAAD chuyên chống đỡ hoả tiễn đạn đạo của đối phương.

Tình hình căng thẳng tới mức quân đội Mỹ phải điều động chiến đấu cơ, chiến hạm, hệ thống phòng không từ Châu Âu và Đông Á sang Trung Đông, kéo dài thời gian triển khai sẵn sàng chiến đấu của binh sĩ. Hàng không mẫu hạm (HKMH) USS Gerald Ford đã trực chiến hơn một năm, dài nhất kể từ thời Chiến Tranh Việt Nam, HKMH USS Abraham Lincoln mới được quay về bến sau hơn 200 ngày trực chiến khi thuỷ thủ và binh lính phải chịu áp lực và thiếu thốn đến mức trầm cảm!

Rõ ràng chiến tranh Iran làm bộc lộ điểm yếu của quân đội Mỹ là dàn trải trên nhiều mặt trận từ Âu sang Á, sử dụng những vũ khí tối tân nhưng hết sức đắt đỏ để chống lại những đòn tấn công rẻ tiền của kẻ địch nhỏ hơn, nghèo hơn, lạc hậu hơn nhưng quyết không đầu hàng. Khi không thực hiện được những trận đánh tốc chiến tốc thắng như ở Venezuela hồi đầu năm nay mà phải kéo dài và tiêu hao thì quân đội hùng cường của nước Mỹ dễ bị thất thế.

Các đối thủ truyền kiếp như Nga, Trung Quốc và Bắc Hàn vẫn theo dõi sát tình hình cuộc chiến Iran và chắc chắn họ thu nhận được những bài học quý giá cho cuộc chạm trán với Mỹ trong tương lai. Xem ra sáu tháng chiến tranh với Iran, nước Mỹ sa vào một cuộc khủng hoảng lớn do chính mình tạo ra chứ không phải là một điều cần thiết. [dt]


 

 TỪ BỎ DANH LỢI ĐỜI NÀY ĐỔI LẤY HẠNH PHÚC ĐỜI SAU – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mat-thêu ( 16, 21-27) Chúa nhật 22 thường niên.

Sứ điệp: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26).

***

Danh vọng, giàu sang, phú quý đời nầy có sức cuốn hút mạnh mẽ. Nếu không phải là người có bản lãnh cao, nếu không phải là người khôn ngoan sáng suốt… thì khó thoát khỏi sự lôi cuốn của chúng.

Nghĩ cho cùng, nếu đời sống con người chỉ vỏn vẹn 100 năm trên dương thế nầy mà thôi, chẳng có đời sau, thì chọn theo Thần Tài, đua tranh tìm kiếm giàu sang, lạc thú đời nầy là điều chính đáng. 

Tuy nhiên, so với đời sau thì cuộc đời nầy chỉ kéo dài trong gang tấc, còn cuộc sống đời sau là thiên thu vạn đại. Vì thế, mải mê tìm kiếm hạnh phúc thoáng qua đời nầy mà đánh mất hạnh phúc vĩnh cửu mai sau thì thật vô cùng đáng tiếc.

Nếu cuộc sống đời nầy có giá bằng một đồng tiền vàng thì giá trị cuộc sống đời sau phải tỷ lần cao hơn. Vì thế, ham muốn chiếm lấy một đồng trước mắt mà đánh mất tỷ đồng trong tương lai là sai lầm hết sức tai hại. 

Sự chọn lựa cực khôn ngoan

Phanxicô Xavie lúc còn thanh xuân muốn đầu tư hết tài trí, sức lực để chiếm hữu địa vị xã hội và vinh quang trần thế. 

May thay, Thiên Chúa đã gửi đến cho anh người bạn tốt, đó là thánh Inhaxiô, một người bạn lớn tuổi học cùng trường. Inhaxiô thường dùng câu lời Chúa chúng ta nghe hôm nay để nhắc bảo Phanxicô: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26).

Ngày nầy qua ngày khác, Phan-xi-cô Xa-vi-e nghiền đi ngẫm lại câu nói đó. Cuối cùng, ánh sáng Lời Chúa từ câu nói nầy đã loé lên trong tâm hồn chàng trai đầy tham vọng trần thế và đã làm xoay chuyển cuộc đời anh. Anh từ bỏ vinh hoa phú quý, rời xa kinh thành Pa-ri hoa lệ, xuất phát từ Lisbon thuộc Bồ Đào Nha, vượt qua Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương để loan báo Tin mừng cho các dân tộc ở Ấn-độ, Sri-lanca, Malaysia, In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản… Nhờ đó, Phan-xi-cô Xa-vi-e đã đem ơn cứu độ cho muôn vạn người Châu Á và được toàn thể Hội thánh ca ngợi, tôn vinh cũng như được hạnh phúc vinh hiển muôn đời.

Như thế, lời dạy của Chúa Giê-su: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi ích gì?” là một bài học khôn ngoan cần ghi tâm khắc cốt và là châm ngôn, là ánh sáng soi đường dẫn lối cho mỗi người chúng ta. 

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con luôn ghi nhớ lời vàng Chúa dạy, đó là “Được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì được ích gì?” để sẵn sàng từ bỏ danh lợi phú quý ngắn ngủi đời nầy mà đổi lấy hạnh phúc vô tận đời sau. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà


 

Hai phi công cùng ngủ quên 28 phút ở độ cao 36.000 ft – trên máy bay có 153 hành khách!

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

Hai phi công cùng ngủ quên 28 phút ở độ cao 36.000 ft – trên máy bay có 153 hành khách!

Ngày 25/1/2024, chuyến bay BTK 6723 của Batik Air từ Kendari đến Jakarta (Indonesia) đã xảy ra một sự cố hàng không nghiêm trọng, rất may không dẫn đến thảm họa.

Chiếc Airbus A320 chở 153 hành khách cùng 4 thành viên phi hành đoàn đang bay ở độ cao 36.000 ft thì cơ trưởng xin nghỉ ngơi và được cơ phó đồng ý.

Cơ trưởng ngủ quên, tỉnh dậy trong thời gian ngắn rồi tiếp tục ngủ. Trong khi đó, cơ phó đang cố tránh thời tiết xấu và duy trì đường bay theo yêu cầu cũng vô tình ngủ quên.

Kết quả là buồng lái hoàn toàn không có phi công tỉnh táo trong khoảng 28 phút.

Trong thời gian này, kiểm soát không lưu Jakarta đã cố gắng liên lạc với máy bay 14 lần, thậm chí nhờ phi hành đoàn của hai máy bay khác thiết lập liên lạc. Tuy nhiên, vẫn không có phản hồi.

Khi tỉnh dậy, cơ trưởng nhận ra máy bay đã lệch khỏi đường bay dự kiến. Ông lập tức đánh thức cơ phó và cả hai nhanh chóng điều chỉnh lại hướng bay.

Máy bay sau đó hạ cánh an toàn xuống sân bay quốc tế Soekarno-Hatta. Không có hành khách hay thành viên phi hành đoàn nào bị thương, máy bay cũng không bị hư hại.

Theo báo cáo cuối cùng của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia Indonesia (KNKT), được công bố năm 2025, mệt mỏi nghiêm trọng (fatigue) là một trong những yếu tố chính dẫn đến sự cố.

Cơ phó khi đó đang phải đối mặt với tình trạng rối loạn giấc ngủ do chăm sóc hai em bé sinh đôi mới khoảng một tháng tuổi, đồng thời chuẩn bị chuyển sang nhà mới.

Báo cáo cũng chỉ ra những thiếu sót trong công tác quản lý rủi ro do mệt mỏi của hãng hàng không cũng như việc giám sát định kỳ đối với buồng lái.

May mắn là máy bay vẫn đang hoạt động ở chế độ autopilot (lái tự động), góp phần ngăn tình huống trở nên nghiêm trọng hơn.

Sự việc là một lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng yếu tố con người luôn là một trong những mắt xích quan trọng nhất của an toàn hàng không.

Mệt mỏi có thể nguy hiểm không kém một sự cố kỹ thuật — và đôi khi còn khó nhận biết hơn.

Nếu là hành khách trên chuyến bay đó và biết cả hai phi công đều đang ngủ, bạn sẽ cảm thấy thế nào?


 

NÓI BẰNG MÁU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Miệng con sẽ tường thuật ơn cứu độ Ngài ban!” – Thánh Vịnh đáp ca.

“Với tình yêu dành cho Chúa Kitô, cho Lời Ngài và cho Chân lý, chúng ta không thể thoả hiệp. Đời sống Kitô giáo đòi hỏi, có thể nói, sự ‘tử đạo’ của lòng trung thành hằng ngày với Tin Mừng!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Gioan Tẩy Giả đã sống trọn cuộc tử đạo hằng ngày ấy; và khi không còn có thể nói bằng lời, ông đã ‘nói bằng máu’.

Điều gây chấn động nơi cái chết của Gioan không chỉ là sự tàn nhẫn của Hêrôđê, nhưng còn là việc Thiên Chúa dường như im lặng. Người dọn đường cho Đấng Messia không chết giữa đền thờ, nhưng trong ngục tối; không giữa lời tung hô, nhưng giữa một bữa tiệc đầy dục vọng và hèn nhát. Đầu vị ngôn sứ nằm trên mâm như chiến lợi phẩm của quyền lực; mọi sự cho thấy sự thật đã thua! Nhưng Hêrôđê chỉ lấy được đầu Gioan; sự thật Gioan nói vẫn còn.

Marcô dựng nên một cuộc đổi chỗ lạ lùng: Gioan bị giam mà vẫn làm chủ lời mình nói; Hêrôđê ngồi trên ngai lại trở thành nô lệ cho lời mình thề. Ông sợ Gioan, kính nể Gioan, thích nghe Gioan; vậy mà chỉ vì những người đồng bàn, ông làm điều mình biết là không đúng. Hêrôđê giữ Gioan trong ngục như giữ sự thật ở một khoảng cách vừa đủ: đủ gần để nghe, đủ xa để khỏi phải vâng theo. Đến lúc phải chọn, ông thà để Gioan mất đầu hơn để mình mất mặt. Chúng ta cũng có thể nhốt sự thật theo cách kín đáo hơn: nghe Lời Chúa trong nhà thờ, rồi để Lời ở lại đó, không cho bước vào những chọn lựa của mình. “Kinh Thánh rất dễ hiểu. Nhưng chúng ta vờ không hiểu, vì biết rất rõ: một khi hiểu, chúng ta buộc phải hành động!” – Søren Kierkegaard.

Đặt bên cái chết của Gioan, lời Chúa phán với Giêrêmia ngày nào gần như trái ngược: “Chúng sẽ giao chiến với ngươi, nhưng sẽ không làm gì được, vì – sấm ngôn của Đức Chúa – có Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi” – bài đọc một. “Không làm gì được”, thế mà Gioan bị chém đầu! Hoá ra, Thiên Chúa ở với những người làm chứng không phải lúc nào cũng để kéo họ khỏi lưỡi gươm, nhưng để họ không cúi đầu trước lưỡi gươm. Hêrôđê lấy được mạng Gioan, không lấy được lời Gioan. Vì thế, dẫu miệng đã khép lại, đời ông vẫn tiếp tục “tường thuật ơn cứu độ Ngài ban”.

Anh Chị em,

Ngay cả khi chết, Gioan vẫn dọn đường. Ông chết giữa một bàn tiệc; cuộc Thương Khó của Đức Kitô cũng bắt đầu quanh một bàn tiệc, nhưng mọi sự đảo ngược. Tại nhà Hêrôđê, một người vô tội đã chết để cứu thể diện của một vị vua; tại bàn Tiệc Ly, chính Đức Kitô tự trao mình để cứu phẩm giá của cả nhân loại. Một bên lấy mạng người khác để cứu lấy danh dự của một người; một bên trao mạng mình để cứu lấy sự sống của muôn người. “Dù lòng thù hận của con người đi xa đến đâu, tình yêu Thiên Chúa vẫn luôn lớn hơn!” – Raniero Cantalamessa. Máu Gioan phơi bày sự hèn nhát của quyền lực; Máu Đức Kitô tỏ lộ quyền năng của tình yêu. Và Đấng ‘nói bằng máu’ đã sống lại, không trở về để đòi máu, nhưng để trao bình an.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con đừng chỉ nói Tin Mừng bằng môi, nhưng biết viết nó bằng chính đời sống, cả khi phải trả giá bằng nước mắt và mất mát!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa,Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết-Thứ Bảy Tuần XXI TN

https://bom.so/qcE2su

Con muốn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả, đặt trên mâm.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 6,17-29z

17 Khi ấy, vua Hê-rô-đê đã sai người đi bắt ông Gio-an và xiềng ông trong ngục. Lý do là vì vua đã lấy bà Hê-rô-đi-a, vợ của người anh là Phi-líp-phê, 18 mà ông Gio-an lại bảo : “Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài !” 19 Bà Hê-rô-đi-a căm thù ông Gio-an và muốn giết ông, nhưng không được. 20 Thật vậy, vua Hê-rô-đê biết ông Gio-an là người công chính thánh thiện, nên sợ ông, và còn che chở ông. Nghe ông nói, nhà vua rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.

21 Một ngày thuận lợi đến : nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hê-rô-đê mở tiệc thết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Ga-li-lê. 22 Con gái bà Hê-rô-đi-a vào biểu diễn một điệu vũ, làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái : “Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con.” 23 Vua lại còn thề : “Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được.” 24 Cô gái đi ra hỏi mẹ : “Con nên xin gì đây ?” Mẹ cô nói : “Đầu Gio-an Tẩy Giả.” 25 Lập tức cô vội trở vào đến bên nhà vua và xin rằng : “Con muốn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả, đặt trên mâm.” 26 Nhà vua buồn lắm, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa với cô. 27 Lập tức, vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gio-an tới. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục, 28 bưng đầu ông trên một cái mâm trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ. 29 Nghe tin ấy, môn đệ đến lấy thi hài ông và đặt trong một ngôi mộ.


 

Thảm họa ở Nepal quá sức kinh hoàng…

Thao Teresa

Thảm họa ở Nepal quá sức kinh hoàng, được ví như sóng thần trên cạn, thảm khốc đến mức nó phả hủy hoàn toàn mọi công trình trên đường đi, kéo dài 1 vệt đến 30km, các mảnh thi thể người được tìm thấy khắp nơi dọc bờ sông, chân, tay bị cắt rời, vô cùng đau khổ. Vô cùng kinh hoàng, em không dám đăng những video đó, rất ám ánh.

Bài viết ở lần trước em nói đến nguyên nhân có sự liên quan đến Trung Quốc, điều này là sự thật. Sự kiện kinh hoàng mới diễn ra đây là lời cảnh báo về chất lượng công trình của Trung Quốc và sự mong manh của địa chất của dãy Himalaya. Tự nhiên không phải để con người hủy hoại.

Thảm họa kinh hoàng tại biên giới Nepal – Tây Tạng một lần nữa cho thấy Himalaya không phải một vùng đất mà con người có thể tùy tiện đào xẻ, nổ mìn, khoan hầm, xây đập rồi mặc kệ những hậu quả lâu dài.

Một khối băng và đá khổng lồ sụp xuống ngày 26/8 đã tạo ra dòng lũ bùn đá khủng khiếp, tàn phá cả phía Nepal lẫn Tây Tạng. Hàng 1000 người thiệt mạng, hơn 1.000 người khác mất tích, hàng chục cây cầu, đường sá và các công trình hạ tầng bị phá hủy.

Con người đã can thiệp vào vùng núi này đến mức nào, và Trung Quốc đang làm gì với một trong những hệ thống địa chất nhạy cảm nhất hành tinh?

Himalaya là nơi các mảng kiến tạo trên hành tinh này va chạm, nơi tồn tại hàng loạt đứt gãy địa chất, sông băng, tầng đất đóng băng và những sườn núi có độ dốc cực lớn. Đó vốn đã là một hệ thống tự nhiên luôn vận động.

Thế nhưng nhiều năm qua, Trung Quốc biến Tây Tạng thành một đại công trường khổng lồ.

Từ khi Trung Quốc xâm lược chiếm đóng, sát nhập Tây Tạng, Trung Quốc đã đưa đến vùng đất bình yên này hàng loạt thay đổi mang tính tàn phá thiên nhiên và địa chất nguy hiểm.

Trung Quốc điên cuồng xây đường cao tốc, đường sắt, đường hầm, mở các mỏ khoáng sản, xây dựng nhà máy thủy điện, ngăn nước làm đập chắn nước, đường dẫn nước.

Các công trình này đòi hỏi đào núi, cắt chân sườn dốc, khoan xuyên đá và nổ mìn với quy mô rất lớn.

Một nghiên cứu công bố năm 2026 về một vụ sạt lở trên cao nguyên Thanh-Tạng kết luận rằng hoạt động xây dựng đường hầm của Trung Quốc là yếu tố chính thúc đẩy biến dạng sườn núi. Quá trình này bắt đầu từ những vụ trượt nhỏ ở chân sườn, sau đó phát triển thành các vết nứt và cuối cùng hình thành một khối sạt lở sâu.

Khi con người khoan cắt vào một dãi địa chất đang cân bằng mong manh, những biến động nhỏ có thể tích tụ trong nhiều năm rồi biến thành một vụ sụp đổ lớn.

Năm 2025, TQ khởi công dự án thủy điện khổng lồ trên hạ lưu Yarlung Tsangpo với vốn đầu tư khoảng 1.200 tỷ nhân dân tệ, tương đương khoảng 168 tỷ USD.

Công suất dự kiến khoảng 60.000 MW, sản lượng khoảng 300 tỷ kWh điện mỗi năm.

Đây là một trong những dự án thủy điện lớn nhất lịch sử nhân loại.

Một báo cáo tổng hợp về thủy điện Tây Tạng dẫn các nghiên cứu trước đây cho biết 48% trong số 130 vị trí đập ở miền Tây Trung Quốc được đánh giá nằm trong vùng có nguy cơ địa chấn cao hoặc rất cao.

Trung Quốc xây đập tích nước trên núi cao với sức chứa khổng lồ đặt lên một vùng địa chất phức tạp không đơn giản chỉ là chứa nước.

Hàng tỷ mét khối nước tạo thêm tải trọng lên nền đất và đá.

Nước có thể thâm nhập vào các khe nứt. Mực nước thay đổi có thể làm thay đổi áp lực nước trong các tầng đá. Việc đào hầm và cắt chân sườn núi có thể làm mất cân bằng mái dốc.

Xây dựng đường sá có thể phá vỡ lớp phủ thực vật và hệ thống thoát nước tự nhiên.

Những biến dạng địa chất dưới lòng đất tích tụ theo thời gian, không ai có thể nhìn một quả núi hôm nay rồi kết luận rằng nó sẽ ổn định mãi mãi sau khi bị khoan xuyên, nổ mìn và cắt xẻ vô tội vạ. Trung Quốc đang tiến hành một quá trình can thiệp quy mô cực lớn vào địa hình, sông ngòi và cấu trúc địa chất của Tây Tạng, trong khi khu vực này vốn đã có mức độ bất ổn tự nhiên rất cao.

Trung Quốc có thể xây những con đập lớn nhất thế giới. Có thể đào những đường hầm dài nhất. Có thể mở những tuyến đường xuyên qua những vùng núi hiểm trở nhất.

Nhưng TQ không thể xây dựng một bức tường để ngăn hậu quả của những biến động địa chất ấy chảy xuống các quốc gia hạ lưu.

Himalaya không thuộc riêng TQ. Những con sông cũng không thuộc riêng TQ . Và an toàn của hàng trăm triệu người ở hạ lưu càng không thể trở thành cái giá phải trả cho tham vọng năng lượng của TQ.

Nếu Trung Quốc tiếp tục nổ mìn, đào hầm, khai khoáng và xây dựng đập với tốc độ hiện nay, thì chắc chắn một chuỗi tác động tích tụ đủ lớn để biến một tai biến địa chất thành thảm họa xuyên biên giới. Những quốc gia như Nepal, Tây Tạng, Ấn Độ, Bangladesh hay cả các quốc gia phương nam như Việt Nam, lào… sẽ đứng trước những thảm họa thảm khốc trong tương lai.

Rùa tiên sinh 

Xem them:

Gần 1.500 người, trong đó có khoảng 800 người nước ngoài, đang mất tích tại Nepal và Khu tự trị Tây Tạng của Trung Quốc.

https://www.youtube.com/watch?v=Y6_3UVuK94g

Biên giới Nepal – Trung Quốc tan hoang sau trận lũ quét kinh hoàng • RFI

https://www.youtube.com/watch?v=3N-p-1iyfKY

CÁC GIA ĐÌNH NEPAL MONG NGÓNG TIN TỨC NGƯỜI THÂN (BBC)


 

Một nữ tu người Pháp 63 tuổi tên là Sơ Emmanuelle Maillard…

Cang Huynh

MỖI NGÀY MỘT CÂU CHUYỆN.

Năm 1971, một nữ tu người Pháp 63 tuổi tên là Sơ Emmanuelle Maillard bước vào khu ổ chuột Moqattam ở Cairo, Ai Cập, và quyết định ở lại đó trong hai thập kỷ.

Sau 40 năm dạy văn học cho học sinh giàu có trong những lớp học tiện nghi, sơ đã từ bỏ cuộc sống nghỉ hưu yên bình. Sơ đặt một câu hỏi đơn giản:

“Những người nghèo nhất ở Ai Cập sống ở đâu?”

Mọi người đều chỉ về phía bãi rác khổng lồ của thành phố, nơi sinh sống của 40.000 người được gọi là Zabaleen. Họ thu gom rác thải của bảy triệu công dân bằng tay không, sống mà không có nước sạch, điện hay trường học.

Khi sơ hỏi liệu sơ có thể sống giữa họ không, người dân địa phương đã rất sốc.

Họ xây cho sơ một căn phòng nhỏ bằng bê tông chỉ có một chiếc giường, một cây Thánh giá và một cuốn Kinh Thánh.

Điều kiện sống thật đau lòng. Các cô gái trẻ sinh con khi mới 12 tuổi, trẻ em chết vì những bệnh nhiễm trùng nhẹ, và đàn ông bị đứt tay hàng ngày vì mảnh kính vỡ mà không có thuốc men cơ bản.

Sơ Emmanuelle không đến để thuyết giáo hay cải đạo ai cả.

Sơ chỉ đơn giản muốn chia sẻ cuộc sống của họ.

Sơ bắt đầu bằng việc băng bó vết thương, viết thư cho các bà mẹ và dạy trẻ em đọc trên những con phố bụi bặm.

Sơ nhanh chóng nhận ra rằng những người thu gom rác không nghèo vì lười biếng, mà vì xã hội đối xử với họ như những người vô hình.

Sơ quyết định dùng tiếng nói của mình để giúp họ xây dựng một tương lai thực sự.

Sơ viết thư khắp châu Âu và tiếp cận các nhà hảo tâm giàu có để tài trợ cho tầm nhìn của mình.

Đến năm 1980, những nỗ lực không ngừng nghỉ của sơ đã được đền đáp. Sơ đã xây dựng một trường tiểu học miễn phí, một phòng khám mở với các loại thuốc căn bản và một trung tâm cung cấp các lớp học xóa mù chữ cho phụ nữ.

Sơ thậm chí còn hợp tác với một kỹ sư để xây dựng một nhà máy ủ phân biến phân chuồng thành phân bón.

Điều này đã mang lại thu nhập ổn định cho những người thu gom rác.

Khi những người chỉ trích đặt câu hỏi về những phương pháp táo bạo của sơ ở khu ổ chuột, bao gồm cả việc cung cấp các nguồn lực kế hoạch hóa gia đình cho các bé gái, bà vẫn kiên định.

“Tôi đứng về phía người nghèo. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì người nghèo cần.”

Sơ Emmanuelle sống trong khu ổ chuột đó cho đến năm 84 tuổi, chịu đựng những mùa hè nóng như thiêu đốt và những đợt dịch bệnh nghiêm trọng mà không hề than phiền.

Sơ dùng một chiếc xô đơn giản làm nhà vệ sinh và mặc cùng một bộ áo tu màu xám trong nhiều năm.

Danh tiếng của sơ ngày càng tăng sau khi sơ xuất bản sách về người Zabaleen, và sơ đã tận dụng mọi lần xuất hiện trên truyền hình để quyên góp hàng triệu đô la cho thiện nguyện của mình.

Khi dòng tu của sơ cuối cùng triệu hồi sơ về Pháp vào năm 1993, sơ đã dành mười lăm năm tiếp theo để nói chuyện trên các đài phát thanh và tham dự các hội nghị để hỗ trợ các dự án trên khắp tám quốc gia.

Sơ qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào năm 2008, chỉ vài tuần trước sinh nhật lần thứ 100 của mình.

Trở lại Cairo, những người thu gom rác đã tổ chức một buổi lễ cảm động để tưởng nhớ người phụ nữ mà họ gọi là Mẹ Emmanuelle.

Những đứa trẻ từng sống ở bãi rác, nay là bác sĩ, giáo viên và y tá, đã tụ tập để tưởng nhớ sơ.

Câu chuyện của sơ cho thấy rằng không bao giờ là quá muộn để tạo ra sự khác biệt.  Ở độ tuổi mà hầu hết mọi người thường chậm lại, Sơ Emmanuelle đã chọn bắt đầu một chương mới, chứng minh rằng tình yêu không phải là những lời nói hoa mỹ, mà là sự hiện diện và luôn bên cạnh người mình cần.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire.


 

3 BÁC SĨ XUẤT THÂN PHẬT GIÁO TRỞ THÀNH LINH MỤC CÔNG GIÁO

Con Tin Chúa Ơi

3 BÁC SĨ XUẤT THÂN PHẬT GIÁO TRỞ THÀNH LINH MỤC CÔNG GIÁO

Ba con người, ba hành trình rất khác nhau, nhưng lại có một điểm chung đặc biệt: đều từng gắn bó với Phật giáo, đều trở thành bác sĩ, rồi sau đó bước vào đời sống linh mục Công giáo.

  1. Linh mục Giuse Nguyễn Phát Tài

Cha Giuse Nguyễn Phát Tài sinh năm 1972 tại Trảng Bàng, Tây Ninh, trong một gia đình theo Phật giáo. Thuở nhỏ, ngài thường theo mẹ đi chùa, đọc kinh và thắp hương.

Sau thời gian sống tại nhà xứ và tìm hiểu đạo, năm 1989, ở tuổi 17, ngài lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Sau đó, Nguyễn Phát Tài theo học Đại học Y Dược TP.HCM và tốt nghiệp bác sĩ năm 1996.

Dù có một tương lai nghề nghiệp rộng mở, vị bác sĩ trẻ lại chọn vào Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn và được truyền chức linh mục năm 2004 cho Giáo phận Phú Cường. Trong đời mục vụ, cha vẫn sử dụng kiến thức y khoa để khám bệnh, phát thuốc và phục vụ người nghèo.

  1. Linh mục Augustinô Nguyễn Viết Chung, CM

Cha Augustinô Nguyễn Viết Chung sinh năm 1955, từng là một bác sĩ Phật giáo chuyên ngành Da liễu.

Từ năm 18 tuổi, khi đọc câu chuyện về Đức cha Jean Cassaigne, vị mục tử tận tụy phục vụ các bệnh nhân phong tại Di Linh, Nguyễn Viết Chung đã ước mong trở thành bác sĩ để giúp những người mắc căn bệnh này.

Sau nhiều năm hành nghề và trực tiếp phục vụ tại trại phong Bến Sắn, chứng kiến đời sống tận tụy của các linh mục và nữ tu Công giáo, đức tin dần lớn lên trong ngài.

Năm 1994, ở tuổi 38, bác sĩ Nguyễn Viết Chung lãnh nhận Bí tích Rửa tội, sau đó gia nhập Tu Hội Truyền Giáo Thánh Vinh Sơn và được truyền chức linh mục năm 2003.

Suốt đời mình, cha tiếp tục phục vụ người nghèo, bệnh nhân phong và những người mắc HIV/AIDS cho đến khi qua đời năm 2017.

  1. Linh mục Phêrô Giuse Maria Hà Thiên Trúc

Cha Hà Thiên Trúc sinh trong một gia đình rất đặc biệt: cha ruột theo đạo Cao Đài, mẹ theo Phật giáo. Từ nhỏ, ngài được mẹ đưa đi chùa và từng quy y Phật với pháp danh Thiện Tuấn.

Năm 1989, ở tuổi 19, Hà Thiên Trúc lãnh nhận Bí tích Rửa tội và gia nhập Công giáo. Cũng trong năm đó, ngài thi đậu Đại học Y khoa.

Sau khi tốt nghiệp bác sĩ năm 1995, ngài làm việc tại Trung tâm Y khoa Medic Hòa Hảo nhiều năm. Năm 2003, bác sĩ Hà Thiên Trúc quyết định vào Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn để theo đuổi ơn gọi và được truyền chức linh mục năm 2009.

Ba vị linh mục, ba hành trình khác nhau, nhưng đều cho thấy một điều rất đặc biệt: kiến thức của người bác sĩ không bị bỏ lại khi bước vào đời linh mục, mà tiếp tục trở thành phương tiện để phục vụ con người.

Từ những người từng gắn bó với Phật giáo, họ đã gặp Đức Kitô trên những nẻo đường rất khác nhau, rồi dành phần đời còn lại để phục vụ Giáo hội và tha nhân.

Xin Chúa tiếp tục gìn giữ cha Giuse Nguyễn Phát Tài và cha Phêrô Giuse Maria Hà Thiên Trúc; đồng thời xin thương đón nhận linh hồn cha Augustinô Nguyễn Viết Chung vào hưởng bình an trong Ngài.


 

Sự trỗi dậy của phong trào Công Giáo chống AI – Vũ Văn An

Vũ Văn An

24/Aug/2026

Việc phản đối AI phát sinh [generative AI] không chỉ là quan điểm riêng của người Công Giáo, vì người dân trên khắp thế giới đang tổ chức để ngăn chặn sự mở rộng của Kỹ thuật này. (ảnh: minh họa của Victoria Arruda/EWTN News; hình ảnh nguồn: Sergey Poplev

Jonah McKeown của tạp chí National Catholic Register, ngày 20 tháng 8 năm 2026, cho hay: Giống như nhiều người Công Giáo khác, Eliza Monts rất háo hức đọc hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng Leo về trí tuệ nhân tạo (AI) khi thông điệp được mong đợi của ngài, Magnifica Humanitas, được công bố vào tháng Năm.

Là một nhà văn và người sáng tạo nội dung mạng xã hội nổi tiếng sống ở Charleston, Nam Carolina, Monts đã quyết định chắt lọc phân tích của Đức Giáo Hoàng về AI thành một danh sách khách quan về ưu điểm và nhược điểm. Ví dụ, “Tốc độ và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được tăng lên” được liệt kê là một “ưu điểm”, trong khi những tác động tiêu cực của việc lạm dụng AI đối với giáo dục của giới trẻ được xếp vào mục “nhược điểm”.

Nhưng sau khi đọc kỹ thông điệp dài 42,000 từ của Đức Giáo Hoàng, sự phân tích này không hề sát nhau. Monts chỉ đếm được năm ưu điểm — và 37 nhược điểm.

Thao tác này chỉ càng củng cố thêm niềm tin mà Monts đã có về AI.

“Là con người rất quan trọng và khác biệt, bởi vì chúng ta được tạo ra theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa, còn robot thì không”, Monts, 27 tuổi, nói với tờ Register trong một cuộc phỏng vấn. “Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào phong trào không muốn thấy con người bị gạt sang một bên để nhường chỗ cho robot.”

“Phong trào” mà Monts nói đến là một số lượng ngày càng tăng những người Công Giáo đã quyết định không sử dụng AI, đặc biệt là loại “phát sinh”: Kỹ thuật được cho là tạo ra văn bản, hình ảnh, âm thanh hoặc mã máy tính mới bằng cách dựa trên các mẫu thống kê trong các cơ sở dữ liệu khổng lồ. Hầu hết mọi người đều đã trải nghiệm trí tuệ nhân tạo phát sinh thông qua các “chatbot” như ChatGPT, Claude, Grok và Gemini.

Việc phản đối trí tuệ nhân tạo phát sinh không chỉ là quan điểm riêng của người Công Giáo, vì người dân trên khắp thế giới đang tổ chức để ngăn chặn sự mở rộng của Kỹ thuật này. Những mối lo ngại lớn khác, chẳng hạn như tác động môi trường của các trung tâm dữ liệu AI, cũng đang thúc đẩy sự phản kháng.

Nhưng giữa phong trào văn hóa rộng lớn này, những người Công Giáo phản đối AI tự coi mình đang bổ sung một quan điểm dựa trên đức tin độc đáo, một quan điểm tập trung vào việc bảo vệ phẩm giá của con người, được tạo ra theo hình ảnh của Chúa, với sự sáng tạo và trí tuệ được ban tặng bởi Chúa Thánh Thần.

Và mặc dù những người Công Giáo này không nhận được sự lên án mạnh mẽ đối với các chatbot AI từ Đức Giáo Hoàng Leo XIV như họ mong đợi, họ vẫn tin rằng lập trường của họ đang được ủng hộ.

“Nó không chỉ xảy ra trong một tòa nhà, hay chỉ xảy ra ở một giáo xứ,” Marc Barnes, biên tập viên của tạp chí Công Giáo New Polity, nói về phong trào này. “Điều này đang xảy ra ở khắp mọi nơi, nơi mọi người cảm thấy thật nhàm chán và buồn tẻ khi bạn bè của họ nói chuyện với những người ảo.”

Một Liên minh Đa dạng

Những người Công Giáo phản đối AI đến từ nhiều tầng lớp khác nhau, và lập luận của họ chống lại Kỹ thuật này vừa mang tính triết học vừa mang tính thực tiễn.

Phong trào này bao gồm các nhà báo và nhà tư tưởng có ảnh hưởng, chẳng hạn như Matthew Walther, người sáng lập tạp chí Công Giáo The Lamp, người đã gọi AI là “một điều ác mà tất cả mọi người nên bác bỏ”. Tương tự, Lily Abadal, giáo sư triết học tại Đại học Nam Florida, St. Petersburg, đã cảnh báo rằng “Chúa Thánh Thần không hướng dẫn các xuất lượng” của chatbot.

Các nghệ sĩ thị giác, bị sốc trước sự lan tràn trực tuyến của “sản phẩm rác” do AI tạo ra, đã đặc biệt lên tiếng. Chris Lewis, người sáng lập xưởng nghệ thuật Công Giáo Baritus, đã gọi nghệ thuật AI là “một sự chế nhạo hoặc bắt chước sự sáng tạo đích thực”, trong khi nghệ sĩ thánh Kate Capato đã cảnh báo trong một bài đăng dài trên blog rằng người Công Giáo “phải cảnh giác trước sự xâm nhập của hình ảnh AI vào không gian thánh của chúng ta, và đặc biệt là trong phụng vụ của chúng ta”.

Trong số những tiếng nói này, New Polity, ấn phẩm do Barnes lãnh đạo, đã nổi lên như một điểm tập hợp cho điều gọi là “liên minh chống chatbot”. Ngoài việc dành toàn bộ một số báo gần đây cho những điều xấu xa được cho là liên quan đến AI, ấn phẩm này sẽ tổ chức một sự kiện vào mùa xuân tới tại Pittsburgh nhằm mục đích hình thành một phong trào phản kháng Công Giáo có tổ chức chống lại việc bình thường hóa AI phát sinh.

Một mối đe dọa đến phẩm giá con người

Một số lập luận chống AI đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong văn hóa đại chúng cũng thu hút nhiều người Công Giáo. Ví dụ, các trung tâm dữ liệu tiêu tốn nhiều tài nguyên cần thiết để xử lý AI đang tác động xấu đến môi trường; có nguy cơ sử dụng Kỹ thuật để thay thế chứ không phải tăng cường nhận thức của con người; và có nhiều bằng chứng cho thấy chatbot nguy hiểm đối với trẻ em.

Trong khi tất cả những lập luận đó vẫn đang được tranh luận sôi nổi, mối quan tâm chính đối với người Công Giáo, đặc biệt là việc nói chuyện với một thực thể phi nhân loại theo cách giống con người — ngay cả khi người dùng biết rằng họ không nói chuyện với một người thật — là không tự nhiên, phi lý và không phù hợp với quan điểm Công Giáo về phẩm giá con người.

Barnes, một giáo sư tại trường Cao đẳng Thánh Giuse Thợ ở Steubenville, đã gây xôn xao năm ngoái với một bài luận có tiêu đề ngắn gọn “Chatbot AI là Ác quỷ”, một quan điểm mà ông đã bảo vệ trong nhiều cuộc tranh luận kéo dài nhiều giờ.

Barnes cũng thẳng thừng kêu gọi “xóa bỏ” Magisterium — một sản phẩm AI phổ biến được đào tạo chỉ dựa trên các nguồn Công Giáo và sử dụng giao diện trò chuyện — nhắc lại quan điểm của ông rằng chatbot nói chung là ác quỷ “bởi vì, về mặt thiết kế, chúng liên quan đến con người trong một hành động phi lý”. Ông lập luận rằng chatbot chỉ chọn từ ngữ của chúng thông qua xác suất, và do đó không thể “làm chứng” trực tiếp cho chân lý của đức tin Công Giáo như con người có thể.

Hơn nữa, Barnes cho rằng chatbot làm trầm trọng thêm tình trạng cô đơn và xa lánh vốn đã phổ biến bằng cách khuyến khích kết nối với một thực thể phi nhân bản. Ngược lại, khi một đời sống Công Giáo được sống trọn vẹn trong sự hiệp thông với chính Chúa Kitô và với các tín hữu khác, “Trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng trở nên kém hấp dẫn như một phương thuốc cho căn bệnh cô đơn đặc trưng của nền văn hóa chúng ta”, ông tiếp tục.

Trong khi một số người Công Giáo phản đối AI khẳng định với tờ Register rằng họ tin Kỹ thuật mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) làm nền tảng cho AI có thể có những ứng dụng hợp pháp, thì vấn đề giao diện dựa trên trò chuyện — ngay cả khi được sử dụng cho AI “Công Giáo” — vẫn là một điểm vướng mắc nghiêm trọng.

Monts coi thông điệp tháng Giêng của Đức Giáo Hoàng Leo nhân Ngày Truyền thông Xã hội Thế giới lần thứ 60 — trong đó vị Giáo hoàng mô tả hành vi của chatbot là “lừa dối, đặc biệt là đối với những người dễ bị tổn thương nhất” — là “điểm tựa” của cô trong việc ủng hộ quan điểm của mình về AI dựa trên trò chuyện, vốn rất phù hợp với quan điểm của Barnes.

Trên Substack của mình, Monts thường xuyên đăng bài với các tiêu đề như “Liệu AI có thực sự đáng để bạn hủy hoại trí tuệ của mình?” và “Làm thế nào để loại bỏ AI khỏi cuộc sống của bạn trong 15 phút”. Trong một bài đăng thẳng thắn vào cuối tháng 7, trong đó cô mô tả sự đấu tranh bản thân khi chứng kiến nội dung do AI tạo ra lan tràn, cô đã cầu xin độc giả hãy quan tâm rằng, theo quan điểm của cô, hàng triệu người đang tự nguyện làm giảm đi những món quà trí tuệ và sáng tạo mà Chúa ban cho bằng cách giao phó các hoạt động trí tuệ cho robot.

“Điều đó làm chúng ta đau lòng rất nhiều… nhưng từ góc độ ích kỷ, bạn phải thuyết phục mọi người rằng những mặt tiêu cực lớn hơn những mặt tích cực,” cô nói.

Sự khác biệt trong cách diễn giải

Những người Công Giáo phản đối AI nói với tờ Register rằng họ tin rằng các tiêu chuẩn phân định mà Đức Giáo Hoàng Leo đã nêu ra trong Magnifica Humanitas ủng hộ mạnh mẽ kết luận rằng người Công Giáo không nên sử dụng AI phát sinh. Nhưng cách diễn giải này không phải là phổ quát.

Một trong những đoạn gây tranh cãi gay gắt nhất trong thông điệp là Đoạn 100, trong đó Đức Giáo Hoàng viết rằng “AI có thể là một công cụ có giá trị” mà “đòi hỏi một cách tiếp cận thận trọng và có chừng mực.”

Những người Công Giáo hoài nghi về trí tuệ nhân tạo (AI) coi lời kêu gọi kiềm chế của Đức Giáo Hoàng là lý do để không dành cho Kỹ thuật này, và những người tạo ra nó, sự khoan dung. Nhưng những người Công Giáo lạc quan hơn về việc sử dụng AI lại đọc đoạn văn này không phải như một lời khiển trách để từ chối Kỹ thuật mà là như một “mệnh lệnh” – một thách thức đối với người Công Giáo trong việc sử dụng và định hướng Kỹ thuật hướng tới những mục đích tốt đẹp và tích cực.

Matthew Harvey Sanders, người sáng lập Magisterium AI, cho biết sau khi thông điệp được ban hành rằng những lời chỉ trích của Đức Giáo Hoàng Leo chỉ ra kết luận rằng người Công Giáo không nên rút lui khỏi lĩnh vực AI mà thay vào đó nên tham gia vào việc xây dựng các hệ thống AI tốt hơn từ đầu.

Tương tự, Taylor Black, một người Công Giáo giữ chức giám đốc hệ sinh thái AI và đầu tư mạo hiểm của Microsoft, nói với tờ Register rằng ông không coi AI khác biệt so với các Kỹ thuật khác mà người Công Giáo đã “thánh hóa” và sử dụng để giúp truyền bá Tin Mừng trong suốt nhiều thế kỷ.

Trong khi đó, một số người Công Giáo chỉ trích mạnh mẽ AI đã bày tỏ lo ngại rằng hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng còn thiếu sót so với một lệnh cấm toàn diện. Ví dụ, cựu giám đốc điều hành Thung lũng Silicon Ned Desmond đã viết trên First Things rằng Magnifica Humanitas là một “cơ hội bị bỏ lỡ” để nhấn mạnh những nguy hiểm của chatbot.

Và Walther, trong một bài phê bình thẳng thắn trên tờ The New York Times, đã viết rằng ông thấy cách xử lý AI trong thông điệp này “đáng thất vọng vì quá thận trọng và dè dặt” và thậm chí là “ngây thơ”, nói rằng tầm nhìn tích cực rõ ràng của vị Giáo hoàng về AI như một công cụ có mục đích sử dụng đạo đức có nguy cơ bị hiểu nhầm là giấy phép cho phép AI lan tràn.

Nếu không có bất kỳ lệnh cấm nào của Giáo hoàng về việc sử dụng AI, Walther nói rằng những người Công Giáo bình thường nên thể hiện sự hiện diện cá nhân bằng cách sống đức tin của họ và tham gia vào các bí tích, thay vì hình thành bất cứ mối quan hệ nào với một thực thể phi vật chất, phi nhân bản.

Một Phong Trào Phản Văn Hóa

Mặc dù ý nghĩa của Magnifica Humanitas có thể gây tranh cãi, nhưng thông điệp này không phải là hướng dẫn duy nhất của Vatican về AI. Ví dụ, Đức Giáo Hoàng Leo đã kêu gọi rõ ràng việc loại trừ một số cách sử dụng AI nhất định, cảnh cáo các linh mục không nên sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để viết bài giảng và khuyên giới trẻ không nên để AI làm bài tập về nhà hộ mình. Ngài cũng đã cảnh báo mạnh mẽ về việc mô phỏng giọng nói và khuôn mặt con người, và trong thông điệp của ngài, ngài đã bày tỏ sự hoài nghi sâu sắc và lo ngại về việc sử dụng AI trong chiến tranh.

Về phần mình, Barnes cho biết ông đánh giá cao việc Đức Giáo Hoàng không cấm hoàn toàn người Công Giáo sử dụng AI, mà thay vào đó, với “tốc độ hoàn hảo”, ngài đang kêu gọi các tín hữu quay trở lại những nguyên tắc cơ bản và thúc giục họ trau dồi khả năng phân định của riêng mình. Nếu một sự lên án của Giáo Hoàng đối với AI phát sinh từng diễn ra, Barnes cho biết ông nghi ngờ điều đó sẽ chỉ xảy ra sau rất nhiều cuộc tranh luận, tương tự như cách Giáo Hội đã mất nhiều năm để nghiên cứu và phân định trước khi khẳng định lệnh cấm truyền thống đối với việc kiểm soát sinh sản nhân tạo vào những năm 1960.

Dù điều gì có thể xảy ra tiếp theo, Monts cho biết cô đang tập trung vào việc đáp lại hiện tượng AI không chỉ bằng luận lý và lập luận, mà còn bằng lời cầu nguyện. Cô cũng suy gẫm rằng trong một tương lai có thể xảy ra khi nội dung do AI tạo ra trở nên phổ biến hơn nữa, việc cung cấp ngôn từ và tác phẩm nghệ thuật do con người tạo ra có thể được coi là một “việc làm bác ái tinh thần thứ tám” một cách không chính thức.

Đối với Monts, những ngày đầu của phong trào phản kháng chống lại AI do phần lớn giáo dân dẫn đầu này không khác gì những gì cô đã đọc về những ngày đầu của phong trào bảo vệ sự sống ở Hoa Kỳ. Nhưng cô cũng cảm thấy an ủi trước số lượng ngày càng tăng của những người Công Giáo không chỉ bày tỏ sự hoài nghi về AI phát sinh mà còn đưa ra quyết định đi ngược lại với văn hóa hiện đại là không sử dụng nó.

“Xu hướng đang thay đổi, về mặt thống kê. Mọi người ghét các trung tâm dữ liệu. Họ ghét AI phát sinh. Trong thế giới thế tục rộng lớn hơn của Hoa Kỳ, [mọi người] đang lên tiếng mạnh mẽ về điều đó,” cô nói. Cô nói thêm rằng cô thường nhận được nhiều tin nhắn trực tiếp từ những người Công Giáo cảm ơn cô vì thông điệp chống AI hơn là bày tỏ sự phản đối.

“Tôi phải tự nhắc nhở mình điều đó rất nhiều,” cô nói. “Rằng tôi thực sự không đơn độc.”


 

Ông Hồ Chí Minh cướp chính quyền Thủ tướng Chính phủ Trần Trọng Kim do Vua Bảo Đại bố nhiệm

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Khánh 

23/08/2026

Sách giáo khoa học sinh sinh viên ở Việt Nam học sách lịch sử do đảng cộng sản biên soạn giáo dục như sau:

Là cuộc cách mạng bằng bạo lực vĩ đại nhất, long trời lở đất trong 4000 lịch sử dựng nước và giữ nước !

Công đầu do lãnh tụ Hồ Chí Minh thiên tài ra chỉ thị phải cướp chính quyền của chế độ phong kiến bằng mọi giá, với bài viết “thời cơ Nhật Bản, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, ông hồ cùng với nhóm Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng … Lãnh đạo cướp chính quyền thành công ở Hà Nội ngày 19.8.1945, ngày 2.9.45, ông hồ tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa !

Vậy cướp chính quyền là gì ?

Một lực lượng chính trị hành động bất ngờ, không thông qua bầu cử, hoặc chuyển giao hợp pháp theo luật hiện hành, chiếm các cơ quan nhà nước, lật đổ chính quyền hiện tại và nắm quyền lực.

* Đặc điểm cướp chính quyền là không có bầu cử, dùng sức mạnh bạo lực vũ trang, biểu tình chiếm trụ sở, lật đổ chính quyền cũ, thành lập chính quyền mới.

Như vậy chính quyền cộng sản Hồ dùng bạo lực cách mạng cướp chính quyền Trần Trọng Kim bất hợp pháp.

Vua Bảo Đại là vị vua triều Nguyễn, hình thức cao lớn, thông minh có tài ngoại giao, ông đã thành công khi được chính quyền Pháp trao trả độc lập cho nước Việt Nam, đồng thời chính quyền Nhật Bản trao trả độc lập cho nước Việt Nam vì bối cảnh thua trận trong chiến tranh thế giới thứ hai 1945.

Chính quyền Trần Trọng Kim tồn tại với danh xưng tên nước ” Đế Quốc Việt Nam “,

Trong thời gian ngắn nắm chính quyền, Chính phủ Trần Trọng Kim làm rất nhiều việc tốt cho đất nước Việt Nam nếu bạn đọc xem lịch sử thật của chính quyền Trần Trọng Kim sẽ biết rất rõ.

Tại sao chính quyền Trần Trọng Kim bị đảng cộng sản hồ cướp chính quyền dễ dàng như thế ?

Do Trần Trọng Kim là một trí thức khoa bảng nổi tiếng giỏi chuyên môn nhưng không có kinh nghiệm chính trị.

Trần Trọng Kim không xây dựng tổ chức đảng chính trị có dự án tư tưởng, không có quân đội và lực lượng cảnh sát, an ninh bảo vệ chính quyền.

Bị mất chỗ dựa khi Nhật Bản thua trận 15.8.1945, nên không được quân đội Nhật Bản giúp sức bảo vệ chính quyền non trẻ.

Nên ông hồ Lưu manh cướp giật chính quyền 19.8 .45 từ Trần Trọng Kim !

Nếu ông hồ cướp từ Pháp , từ Nhật Bản thì lại chuyện khác ! Ông hồ cướp chính quyền kiểu hớt tay trên, Đúng bản chất Lưu manh của con người ông ta và đảng cộng sản.

Với bản chất cả tin, nhẹ dạ , bao dung của Trần Trọng Kim và vua Bảo Đại thì ông hồ lừa đảo dễ dàng, cướp mất chính quyền dân chủ sơ khai, non trẻ sau 4 tháng ! Đó cũng là số phận dân tộc Việt Nam còn yếu kém, văn hóa khổng giáo, nho giáo lạc hậu so với thế giới văn minh nói chung.

Vua Bảo Đại có chính danh dòng dõi vua chúa Việt Nam, ông biết thế yếu nên không đối đầu với đế quốc Pháp thời đó, đấu tranh bằng phương pháp ôn hòa, dần dần Chính quyền Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam và rút quân đội về nước.

Cướp chính quyền Trần Trọng Kim năm 1945 , chính quyền cộng sản gây ra nội chiến Việt Nam 30 năm, trong đó 10 năm đánh Pháp , 20 năm nội chiến Việt Nam với chính quyền Việt Nam cộng hòa và sự giúp đỡ trực tiếp của quân đội Mỹ, cuối cùng chiến thắng thuộc về chính quyền cộng sản sau 1975 , thiết lập nhà nước cộng sản với cái tên ” nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “.

Nội chiến Việt Nam với những hệ lụy lâu dài như 6 triệu người Việt chết và bị thương, hàng triệu người vượt biên qua Biển Đông, chết hàng trăm ngàn người.

Cướp chính quyền là thành công của đảng cộng sản, nên dùng thủ đoạn bằng chế độ công an trị, không bầu cử tự do thông qua lá phiếu, không chấp nhận đảng phái khác hoạt động ôn hòa, bắt giữ bỏ tù hàng nghìn người vì đòi hỏi dân chủ tự do, quyền con người phổ quát cho dân tộc Việt Nam.

Nhân ngày cướp chính quyền do đảng cộng sản lãnh đạo thành công với ông hồ mang chủ nghĩa Mác Lê Nin vào Việt Nam, chúng tôi những nhà báo độc lập viết bài này cho bạn đọc hiểu thêm về lịch sử dân tộc Việt Nam bi tráng và hào hùng 4000 năm lịch sử, đảng cộng sản chỉ 81 năm cầm quyền như chớp mắt dưới thời gian dài lịch sử chính trị thế giới.

19/8/2026 


 

Tổng thống Trump ký sắc lệnh đổi tên Hồ Ontario của Canada thành Hồ America (RFI)

(RFI)

Trong bối cảnh đang đối đầu thương mại với Canada, tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm qua, 27/08/2026, đã ký một sắc lệnh hành pháp đổi tên “Hồ Ontario”, nằm vắt ngang biên giới Mỹ – Canada, thành “Hồ America – Hồ nước Mỹ”. Thủ tướng Canada đã phản đối ngay lập tức.  

Đăng ngày: 28/08/2026

Hi`nh Ba’o Thanh Ho’a

Tại Nhà Trắng, ngày 27/08/2026, tổng thống Mỹ Donald Trump giới thiệu với báo chí sắc lệnh mà ông đã ký, theo đó tên hồ Ontario được đổi thành «Hồ America – Hồ nước Mỹ»

Thanh Phương

Theo hãng tin AFP, một tấm bản đồ được trưng bày tại Phòng Bầu dục của Nhà Trắng cho thấy cho thấy Hồ Ontario, một trong Ngũ Đại Hồ nằm ở khu vực biên giới, đã được ghi là Lake America ​​bằng những chữ cái màu đỏ cỡ lớn. Sắc lệnh hành pháp do Nhà Trắng công bố sau đó nêu rõ: “Hoa Kỳ tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn thể tích của hồ, vì những khu vực sâu nhất nằm trong lãnh thổ Hoa Kỳ.” Tuy nhiên quyết định này của ông không có nghĩa là quốc tế công nhận tên mới của hồ Ontario. Trước đó, vị tổng thống Cộng hòa đã nhiều lần bày tỏ ý định sáp nhập toàn bộ Canada để biến nước này thành bang thứ 51 của Hoa Kỳ. Kể từ khi trở lại Nhà Trắng, Donald Trump đã công bố các bản đồ thể hiện Canada, Groenland (vùng lãnh thổ tự trị của Đan Mạch) và thậm chí cả eo biển Hormuz là lãnh thổ của Mỹ. 

Trên mạng xã hội X, thủ tướng Mark Carney đã phản ứng gay gắt: “Người dân Canada hiểu rằng mọi thứ cần được gọi đúng tên của chúng, và hồ này có tên là Hồ Ontario, hôm nay và mãi mãi.” Thủ tướng Carney lưu ý tên “Ontario“, cũng là tên một tỉnh của Canada, bắt nguồn từ chữ “Ontari’io” trong tiếng bản địa Huron, có nghĩa là “hồ đẹp, hồ lớn“. Ông nói thêm rằng tên gọi này đã có từ “hơn 400 năm trước, rất lâu trước khi Liên bang Canada được thành lập và trước cả Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ.” 

Ngay đầu nhiệm kỳ thứ hai, Donald Trump từng ra lệnh đổi tên “Vịnh Mexico” thành “Vịnh America- Vịnh nước Mỹ“. Hôm qua, ông Trump tuyên bố: “Chúng ta đã có một vịnh và một hồ. Giờ chỉ còn thiếu một đại dương nữa thôi. Có lẽ chúng ta sẽ đổi luôn tên Đại Tây Dương hoặc Thái Bình Dương. Hoặc có thể đổi cả hai.” 


 

SỰ ĐỐI LẬP GIỮA RONALD  REAGAN – BIỂU TƯỢNG CỦA ĐẢNG CỘNG HÒA VỚI DONALD TRUMP

Dolphin TranSự Thật Lề Đường (STLĐ)

SỰ ĐỐI LẬP GIỮA RONALD  REAGAN – BIỂU TƯỢNG CỦA ĐẢNG CỘNG HÒA VỚI DONALD TRUMP

   Năm 1988 Ronald Reagan: Chúng ta cần cảnh giác trước những kẻ mị dân sẵn sàng tuyên bố chiến tranh thương mại với các nước bạn bè, gây tổn hại cho nền kinh tế và an ninh quốc gia của chính chúng ta cũng như toàn bộ thế giới tự do.

   Bài phát biểu năm 1988 của Reagan mang lại bài học vượt thời gian về cuộc chiến kinh tế mà Trump đang tiến hành với Canada.

Đó không phải là bài phát biểu năm 1988 về Liên Xô, mà là bài phát biểu ngay sau cuộc bầu cử ở Canada, khi Thủ tướng Brian Mulroney người ủng hộ Hiệp định Thương mại Tự do Mỹ-Canada vừa tái đắc cử.

   Ronald Reagan: “Các đối tác thương mại hòa bình không phải là kẻ thù, mà là đồng minh của chúng ta. Chúng ta cần cảnh giác trước những kẻ mị dân sẵn sàng tuyên bố chiến tranh thương mại với bạn bè mình, gây tổn hại cho nền kinh tế, an ninh quốc gia và cả thế giới tự do, trong khi lại toan tính trục lợi bằng cách phất cao lá cờ Mỹ.”

Reagan khi đó đã có những phát biểu cho đến bây giờ vẫn là thời sự nóng hổi của Mỹ và cả thế giới tự do.

Năm 1930, Quốc hội Mỹ thông qua thuế Smoot-Hawley và Reagan cho rằng nó đã dẫn tới Đại Suy thoái, nhưng Trump lại vừa lôi ra để đánh Canada.

Năm 1988 Reagan ký Luật Thực thi Hiệp định Thương mại Tự do Mỹ-Canada ngày 28/9/1988, tiền thân của NAFTA và sau này là USMCA.

Lập luận cốt lõi của Reagan, Thương mại không phải là chiến tranh. Trong chiến tranh, một bên thắng thì bên kia thua. Trong thương mại, cả hai bên cùng thắng, và thương mại giúp củng cố thế giới tự do.

Vì sao phát biểu của Reagan được nhắc lại khi nước Mỹ của Trump đã gây ra cuộc chiến thuế quan với Canada hiện nay.

So sánh chính sách của Reagan với Trump mà nhiều nhà bình luận rút ra.

Reagan nói về Canada như là đồng minh, láng giềng thân thiện không phải đối thủ, nhưng Trump lại áp dụng ngược lại.

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Canada 2025-2026 do chính Trump gây ra, đã xóa sạch chính sách đối với Canada của Reagan.

  Reagan cho rằng Chủ nghĩa bảo hộ thường được ngụy trang bằng chủ nghĩa dân tộc giá rẻ – “một dạng chủ nghĩa dân tộc rẻ tiền, một tấm bình phong che đậy” – để che đậy sự thiếu ý chí duy trì sức mạnh quân sự và đối đầu với kẻ thù thực sự.

  Kết quả mà Reagan đã cảnh báo, làm suy yếu nền kinh tế, an ninh quốc gia và toàn bộ thế giới tự do của chúng ta.

Cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan trong các bài phát biểu về thương mại tự do vào thập niên 1980, trong đó ông cảnh báo rằng thuế quan cao và chiến tranh thương mại sẽ làm suy yếu kinh tế và tổn hại các nước đồng minh. Reagan từng nhắc lại bài học lịch sử từ đạo luật thuế quan Smoot-Hawley thập niên 1930, vốn đã châm ngòi cho chiến tranh thương mại toàn cầu và làm trầm trọng thêm cuộc Đại suy thoái. Reagan cho rằng các quốc gia thân thiện và đồng minh cần hợp tác thương mại công bằng thay vì dựng lên các hàng rào thuế quan gây tổn hại lẫn nhau. Reagan nhấn mạnh rằng việc kích động chủ nghĩa bảo hộ dưới vỏ bọc yêu nước thực chất mang lại rủi ro lớn cho nền kinh tế và vị thế quốc tế của nước Mỹ.

   Chính vì sự đối lập rõ rệt giữa Reagan – biểu tượng của Đảng Cộng hòa ủng hộ tự do thương mại và Trump – người chủ trương dùng thuế quan như vũ khí chính sách, mà bài phát biểu 1988 này được trích lại rất nhiều trong năm qua như một lời cảnh báo vượt thời gian.


 

NGƯỜI VỢ ĐI TÌM CHỒNG – Truyen ngan HAY

BẢO TỒN TIẾNG VIỆT

NGƯỜI VỢ ĐI TÌM CHỒNG

Sau ngày miền Nam đổi thay, anh bị đưa đi tù cải tạo.

Ngày lên đường, anh chỉ kịp ôm vợ thật lâu rồi nhìn đứa con trai mới lên sáu.

— Em ở nhà lo cho con. Anh đi ít bữa rồi về.

Chị cố cười.

— Anh cứ yên tâm. Em chờ.

Chiếc xe chở anh khuất dần cuối con đường.

Chị đứng đó, một tay nắm tay con, một tay giữ chặt chiếc áo cũ của chồng.

Chị không biết “ít bữa” ấy sẽ kéo dài bao nhiêu năm.

Chỉ biết rằng từ ngày hôm đó, chị bắt đầu sống bằng một chữ chờ.

Một năm.

Hai năm.

Rồi nhiều năm trôi qua.

Tin tức về anh lúc có lúc không.

Người ta nói anh bị chuyển từ trại này sang trại khác.

Có người bảo tận miền Bắc.

Có người lại nói:

— Chắc không còn đâu chị à…

Chị không bao giờ chịu nghe hết câu.

— Chồng tôi còn chưa nói với tôi là ảnh không về, thì tôi chưa tin.

Ban ngày chị làm đủ thứ để nuôi con. Tối đến, chị lại ngồi bên ngọn đèn nhỏ, vá từng chiếc áo, dành dụm từng đồng.

Căn nhà nghèo. Bữa cơm nhiều khi chỉ có rau và chút cá khô.

Nhưng trong chiếc tủ gỗ cũ, chị luôn giữ một bộ quần áo mới. Không phải cho con. Mà cho chồng. Chị vẫn tin một ngày nào đó anh sẽ trở về.

Một buổi chiều, một người đàn ông lạ tìm đến.

Ông nhìn chị thật lâu rồi hỏi:

— Chị có phải vợ của anh… không?

Chị đứng bật dậy.

— Dạ phải. Anh là ai?

— Tôi là bạn tù của ảnh.

Chị run giọng:

— Anh biết chồng tôi?

— Tôi từng ở cùng trại với ảnh.

Chị nắm lấy cánh tay ông.

— Ảnh còn sống không anh?

Người đàn ông cúi đầu… Một khoảng im lặng kéo dài.

Rồi ông nói:

— Tôi phải nói thật với chị…

Tim chị như ngừng đập.

— Ảnh… mất rồi.

Chị đứng chết lặng, sụp xuống đất!

Nhưng ngay sau đó, người bạn tù nói tiếp:

— Ảnh mất trong trại. Những ngày cuối, ảnh cứ nhắc tới chị và đứa con. Ảnh nói… chỉ mong được gặp hai mẹ con một lần nữa.

Chị ngồi bệt xuống.Hai bàn tay ôm lấy mặt. Không có tiếng khóc lớn. Chỉ có đôi vai run lên từng hồi.

Bao nhiêu năm chị đi tìm một người sống. Cuối cùng lại nhận được tin về một người đã nằm xuống ở một nơi rất xa.

Người bạn tù lấy trong túi ra một mảnh giấy cũ.

— Tôi giữ được cái này của ảnh.

Đó là vài dòng chữ nguệch ngoạc. Chị đọc đi đọc lại. Chữ đã nhòe. Nhưng chị nhận ra ngay nét chữ của chồng. Chỉ mấy chữ:

“Nếu tôi không về được, nhờ anh báo cho vợ tôi biết. Tôi nhớ hai mẹ con nhiều lắm.”

Chị áp mảnh giấy vào ngực.

— Ảnh nằm ở đâu?

Người bạn tù nói tên một vùng đất xa xôi.

Chị hỏi:

— Tôi có thể tìm được mộ ảnh không?

— Khó lắm chị ơi. Sau từng ấy năm…

Chị im lặng.

Rồi nói:

— Khó cũng phải tìm.

Chị bắt đầu chuyến đi cuối cùng. Không còn là đi tìm chồng. Mà là đi tìm người chồng đã nằm lại.

Chị nghèo đến mức tiền mua vé tàu cũng phải chắt chiu từng đồng.

Người con khuyên:

— Má ở nhà đi. Con sẽ tìm cách.

Chị lắc đầu.

— Không.

— Má lớn tuổi rồi.

— Má là vợ mà.

Chị nhìn con.

— Nếu ba con nằm ở nơi nào đó một mình suốt hàng chục năm, má không thể để ba con nằm lại đó.

Chị bán đi vài món đồ trong nhà. Những thứ ít ỏi mà hai mẹ con đã dành dụm.

Người ta hỏi:

— Bán hết vậy rồi sống sao?

Chị chỉ nói:

— Nhà nghèo thì sống nghèo. Nhưng ba của con em phải về nhà.

Chuyến đi ấy gian nan hơn tất cả những chuyến đi trước.

Chị hỏi từng người. Tìm từng địa chỉ. Lần theo tên những tù trại cải tạo cũ.

Có nơi người ta không còn nhớ.

Có nơi nghĩa trang đã thay đổi.

Có những nấm mộ vô danh nằm lặng lẽ dưới cỏ.

Chị đi từng hàng. Đọc từng cái tên.

Có lúc không tìm thấy gì.

Chị ngồi xuống bên một gốc cây, nước mắt chảy dài.

— Anh ơi…

— Em đến tìm anh đây.

Không ai trả lời.

Chị đứng lên.

Lại đi.

Cuối cùng, nhờ người bạn tù và những người từng ở cùng trại, chị lần ra được nơi anh được chôn cất.

Một ngôi mộ đơn sơ.

Không bia.

Không ảnh.

Chỉ có một cái tên được ghi lại trong ký ức của những người còn sống.

Chị quỳ xuống. Bàn tay run run chạm vào mặt đất.

— Anh…

Chỉ một tiếng ấy. Bao nhiêu năm chờ đợi tan thành nước mắt.

— Em tới trễ quá.

Chị cúi đầu thật lâu.

— Nhưng cuối cùng em cũng tìm được anh.

Người ta khuyên chị:

— Thôi chị à. Để anh ấy nằm đây cũng được. Đường xa lắm, tốn kém lắm.

Chị lắc đầu.

— Không.

— Chị đưa ảnh về bằng cách nào?

Chị nhìn xuống ngôi mộ.

— Tôi chưa biết.

Rồi chị nói thật chậm:

— Nhưng tôi sẽ đưa chồng tôi về.

Ngày làm thủ tục cải táng, chị chỉ có vài người giúp đỡ.

Không có tiền.

Không có phương tiện.

Không có gì ngoài một lời hứa đã nói từ mấy chục năm trước.

“Anh cứ yên tâm. Em chờ.”

Giờ đây chị lại giữ lời hứa ấy lần nữa.

Chị muốn anh về quê.

Về nơi hai người từng cưới nhau.

Về căn nhà nghèo nơi anh đã ra đi.

Về bên đứa con mà anh chưa kịp nhìn thấy trưởng thành.

Khi chiếc hộp nhỏ được đặt trước mặt, chị đứng lặng rất lâu.

Rồi chị đặt tay lên đó.

— Về nhà thôi anh. Nha.

— Mình về nhà.

Ngày đưa anh về đến quê, người con trai đứng chờ ở đầu đường.

Anh đã trưởng thành. Nhưng khi nhìn thấy mẹ ôm chặt di hài của cha, anh vẫn bật khóc như một đứa trẻ.

— Ba về rồi, má ơi…

Chị gật đầu.

— Ừ.

— Ba về rồi.

Hai mẹ con đưa anh về căn nhà cũ. Bộ quần áo chị cất giữ suốt bao nhiêu năm vẫn còn đó. Chị lấy ra. Đặt ngay ngắn bên cạnh di ảnh.

Rồi chị ngồi xuống. Nhìn người chồng trong tấm hình.

— Em đã nói em chờ.

— Em chờ thật.

— Và em cũng nói… nếu anh không tự về được, em sẽ đi đón anh.

Chị mỉm cười qua nước mắt.

— Em làm được rồi.

Người vợ ấy nghèo. Rất nghèo. Nhưng cả cuộc đời chị có một thứ mà không tiền bạc nào mua được:

Một lời hứa với người mình thương.

Chị đã đi qua những năm tháng dài nhất của đời mình.

Từ miền Nam ra Bắc tìm chồng.

Tìm trong những trại tù.

Tìm trong những danh sách cũ.

Tìm giữa những nghĩa trang xa lạ. Và cuối cùng, khi biết anh đã nằm xuống từ lâu Chị vẫn đi.

Không phải để thay đổi quá khứ.

Không phải để trách móc ai.

Chỉ để làm một điều cuối cùng cho người chồng của mình:

Đưa anh về nhà.

Bởi có những người phụ nữ cả đời không cần chồng tặng mình một món quà.

Họ chỉ cần đến cuối đời có thể nói:

“Anh đã đi xa quá lâu rồi.

Thôi, về nhà với em, với con. Mình ơi ”

Phạm Sơn liêm.