THÁNH TÊRÊSA AVILA

THÁNH TÊRÊSA AVILA

 Đây là nhà cải tổ vĩ đại dòng Cát Minh, người đã nỗ lực hết mình để hướng dẫn chị em sống đúng tin thần đan tu.  Thánh nữ là nhà thần bí vĩ đại, để lại rất nhiều tác phẩm, tiêu biểu nhất là quyển “Lâu Đài Nội Tâm,” giải thích hành trình tâm linh của một Kitô hữu tiến tới sự hoàn thiện.  Đức Bênêđictô XVI dành buổi tiếp kiến chung ngày 02 tháng 02 năm 2011 để nói về cuộc đời và tư tưởng của thánh nữ.

 *****

Anh chị em thân mến,

Trong những bài giáo lý trước đây, tôi đã chia sẻ về các vị Giáo phụ trong Hội Thánh, những nhà thần học lớn và nhiều người nữ thời Trung Cổ.  Tôi đã có cơ hội để suy nghĩ thấu đáo hơn về những vị được tuyên phong là “Tiến Sĩ Hội Thánh,” dựa trên đạo lý trổi vượt của các ngài.  Hôm nay, tôi xin được tiếp tục trình bày chủ đề này.  Tôi sẽ giới thiệu một vị rất nổi bật về linh đạo Kitô giáo cho mọi thời – đó là thánh nữ Têrêsa Avila, cũng được biết đến với danh hiệu thánh Têrêsa Giêsu.

 Thánh Têrêsa, tên gọi đầy đủ là Têrêsa de Cepeda y Ahumada, sinh ở Avila, Tây Ban Nha, năm 1515.  Trong quyển tự truyện, thánh nữ có đề cập đến một vài chi tiết thời thơ ấu của ngài.  Ngài được sinh ra trong một đại gia đình lớn, cha mẹ là “những người sùng đạo và hết lòng kính sợ Thiên Chúa.”  Thánh nữ có 3 chị em gái và 9 anh em trai.

 Khi còn bé, chưa đủ chín tuổi, Têrêsa đã có cơ hội đọc về cuộc đời của các vị tử đạo, và điều này đã truyền cho cô bé một cảm hứng mãnh liệt, khát khao được phúc tử đạo, đến độ Têrêsa chạy nhanh ra khỏi nhà, muốn được chết như một chứng nhân tử đạo và tiến lên cõi trời (x. Vida, 1,4); cô bé nói với cha mẹ: “Con muốn nhìn ngắm Thiên Chúa.”

 Một vài năm sau, Têrêsa phải nói về việc đọc sách thời thơ ấu của mình, và ngài chia sẻ rằng, nhờ đọc sách, bản thân mới khám phá ra con đường chân lý, được gồm tóm trong hai nguyên tắc nền tảng. 

Một mặt, “tất cả mọi sự trên thế gian này sẽ qua đi,” trong khi, mặt khác, duy chỉ Thiên Chúa mới tồn tại “mãi muôn đời,” một chủ đề được lặp lại nhiều lần trong các bài thơ nổi tiếng nhất của Têrêsa:

 Đừng để sự gì làm bạn lo lắng,

Đừng để điều chi làm bạn hoảng sợ,
Tất cả mọi sự kìa đang qua đi:
Thiên Chúa vẫn không bao giờ thay đổi.
Kiên trì giúp ta đạt được tất cả.
Có Thiên Chúa, ta chẳng thiếu thốn gì;
Chỉ mình Người lấp đầy tâm hồn ta.

 Khi Têrêsa chừng mười hai tuổi, thì thân mẫu qua đời, và thánh nữ đã tha thiết nài xin Đức Maria Rất Thánh Đồng Trinh trở nên Mẹ của mình (x. Vida, 1,7).

 Vào thời niên thiếu, Têrêsa tìm đọc những sách phàm tục, dẫn đến mấy trò tiêu khiển vô bổ, nhưng tới lúc đi học ở trường Santa María de las Gracias de Ávila của các nữ tu dòng thánh Augustinô, Têrêsa đọc nhiều sách thiêng liêng, đặc biệt là tìm hiểu các tác phẩm kinh điển về linh đạo của thánh Phanxicô, từ đó tiến dần đến đời sống thanh tịnh và cầu nguyện.

 Được hai mươi tuổi, Têrêsa gia nhập đan viện Nhập Thể của dòng Cát Minh ở tại Avila.  Trong đời sống tu trì, ngài lấy danh hiệu là “Têrêsa Giêsu.”  Ba năm sau, người nữ tu trẻ đã ngã bệnh nặng đến nỗi hôn mê bất tỉnh bốn ngày, trông như thể đã qua đời (x. Vida, 5,9).

 Khi chiến đấu với bệnh tật thể xác, Têrêsa cũng nhận thấy một cuộc chiến chống lại sự yếu đuối muốn cưỡng lại lời mời gọi của Thiên Chúa trong nội tâm.  Thánh nhân viết: “Tôi đã ước mong được sống, nhưng tôi nhận thấy rõ ràng rằng, không phải mình đang sống, mà đúng hơn mình đang vật lộn với bóng dáng của tử thần; không một ai cho tôi sự sống, và tôi cũng không thể nắm giữ được sự sống.  Chính Đấng có thể cho tôi sự sống đã không đến trợ giúp tôi vì những lý do tốt lành; tôi biết, đã nhiều lần Thiên Chúa dẫn tôi trở về với Người, và tôi vẫn thường lìa xa Người” (Vida, 7,8).

 Vào năm 1543, Têrêsa mất đi những người thân thuộc, gần gũi với mình; cha của thánh nhân qua đời và tất cả các anh chị em ruột, từng người một, dần di cư đến châu Mỹ.  Mùa Chay năm 1554, lúc đó Têrêsa được ba mươi chín tuổi, đạt đến ngưỡng cao nhất của cuộc chiến chống lại những yếu đuối của bản thân.  Việc tình cờ tìm thấy bức tượng “Đức Kitô bị thương tích nặng nề” đã để lại dấu ấn sâu đậm trên cuộc đời thánh nhân (x. Vida, 9).

 Trong giai đoạn đó, Têrêsa đã cảm nhận sâu sắc tư tưởng và tâm tình của thánh Augustinô trong quyển “Tự Thuật,” thế rồi ngài mô tả về ngày hệ trọng với kinh nghiệm thần bí của mình: “…cảm nhận về sự hiện diện của Thiên Chúa ập đến trên tôi thật bất ngờ, đến nỗi tôi không hồ nghi chút nào rằng, Thiên Chúa ở trong tôi, và tôi hoàn toàn chìm đắm trong Người” (Vida, 10,1).

 Song song với bước tiến triển trong nội tâm, Têrêsa bắt đầu ấp ủ ý tưởng thực hiện một cuộc cải tổ dòng Cát Minh: Năm 1562 ngài thiết lập Tu viện Cát Minh cải tổ đầu tiên ở Avila, với sự ủng hộ của Đức Giám Mục thành phố, Đức cha Don Alvaro de Mendoza, và không lâu sau đó cũng nhận được sự chấp thuận của cha Gioan Baotixita Rossi, Tổng quyền dòng Cát Minh lúc bấy giờ.

 Suốt những năm tiếp theo, Têrêsa tiếp tục thiết lập những Tu viện Cát Minh dành cho nữ, tất cả 17 Tu viện.  Cuộc gặp gỡ giữa Têrêsa với Gioan Thánh Giá mang tính nền tảng quyết định.  Cùng với thánh Gioan Thánh Giá, Têrêsa đã thiết lập Tu viện đầu tiên dành cho những anh em Cát Minh cải tổ ở Duruelo, cách Avila không xa.

 Năm 1580, Têrêsa nhận được sự chấp thuận của Tòa thánh, công nhận dòng Cát Minh cải tổ của ngài là một tỉnh dòng độc lập.  Đây là khởi điểm cho dòng Cát Minh không đi giày.

[1]

 Thật vậy, cuộc đời dương thế của Têrêsa kết thúc khi ngài đang ở giữa giai đoạn hoạt động cải tổ của mình.  Thánh nhân qua đời vào buổi tối ngày 15 tháng 10 năm 1582, ở Alba de Tormes, sau khi thiết lập nữ tu viện Cát Minh ở Burgos, lúc đang trên đường trở về Avila.  Mấy lời khiêm tốn cuối cùng thánh nhân thốt lên: “Sau tất cả mọi sự, tôi ra đi như một người con của Giáo Hội.”  Têrêsa tiếp tục thưa cùng Chúa: “Lạy Chúa của con, lạy Đức Lang Quân của con, thời điểm mà con hằng chờ đợi bấy lâu đã đến.  Đây chính là lúc con được gặp gỡ Ngài, lạy Chúa của con.”

 Têrêsa đã dâng hiến trọn cuộc đời cho Giáo Hội, dù rằng chỉ sống ở Tây Ban Nha.  Ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô V phong chân phước vào năm 1614 và được đức giáo hoàng Grêgôriô XV ghi danh vào sổ bộ các thánh vào năm 1622.  Và vị tôi tớ của Thiên Chúa, Đức chân phước Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên phong ngài là “Tiến Sĩ Hội Thánh” vào năm 1970.

 Tuy không nhận được một sự giáo dục mang tính hàn lâm, khoa bảng, nhưng Têrêsa Giêsu đã tiếp thu rất nhiều từ giáo huấn của các nhà thần học, các vị trí thức, và các thầy dạy tâm linh.  Là một văn sĩ, Têrêsa luôn trung thành viết những điều mà bản thân đã trải nghiệm hoặc đã nhìn thấy nơi kinh nghiệm của những người khác,

[2]

hay có thể nói rằng, Têrêsa viết trên những hiểu biết mà bản thân đã thủ đắc.

 Têrêsa có cơ hội thiết lập nhiều mối tương quan thân hữu thiêng liêng với nhiều vị thánh, và đặc biệt là với thánh Gioan Thánh Giá.  Đồng thời, ngài cũng nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng việc đọc sách về các vị Giáo phụ, như thánh Giêrônimô, thánh Grêgôriô Cả, và thánh Augustinô.

 Trong số các tác phẩm quan trọng nhất của thánh nhân, chúng ta nên đề cập trước tiên đến toàn bộ tự truyện của ngài, El libro de la vida, Têrêsa gọi đây là “Quyển Sách Về Lòng Thương Xót Của Thiên Chúa” (Libro de las misericordias del Senor).  Tác phẩm này được Têrêsa viết trong tu viện Cát Minh tại Avila năm 1565, kể lại tiểu sử và mô tả hành trình tâm linh, từng bước dẫn đưa linh hồn thánh nhân đến sự phân định về một “bậc thầy của những điều thiêng liêng,” thánh Gioan Avila.  Mục đích của Têrêsa là nhấn mạnh đến sự hiện diện cũng như hành động của một Thiên Chúa đầy lòng xót thương trong cuộc đời ngài.  Bởi thế, tác phẩm này thường trích những lời Têrêsa đối thoại với Thiên Chúa trong phút giây cầu nguyện.  Điều này làm cho tác phẩm thêm lôi cuốn, bởi thánh nhân vừa kể lại chi tiết, vừa giải thích những kinh nghiệm sâu sắc về mối tương quan với Thiên Chúa.

 Năm 1566, Têrêsa viết tác phẩm “Đường Trọn Lành” (El Camino de Perfección).  Ngài đã gọi cuốn sách này là “Những Lời Hướng Dẫn Và Khuyên Nhủ Của Têrêsa Giêsu Dành Cho Các Nữ Tu” (Advertencias y consejos que da Teresa de Jésus a sus hermanas).  Cuốn sách này được soạn cho 12 tập sinh của tu viện Cát Minh, tước hiệu thánh Giuse, ở Avila.  Têrêsa đề nghị với các chị em một chương trình nghiêm ngặt sống đời chiêm niệm để phục vụ Giáo Hội, và cội nguồn của nếp sống ấy là các nhân đức và tinh thần cầu nguyện theo Tin Mừng.  Trong số các đoạn nổi bật nhất phải kể đến là phần “Chú Giải Kinh Lạy Cha,” như khuôn mẫu cho đời sống cầu nguyện.

 Tác phẩm thần bí nổi tiếng nhất của Têrêsa là “Lâu Đài Nội Tâm” (El Castillo interior).  Ngài viết tác phẩm này vào năm 1577 khi vẫn còn trẻ.  Tác phẩm là một lối giải thích khác về hành trình tâm linh của chính thánh nhân, đồng thời cũng là tập sách về các điều lệ mang đến khả năng phát triển tròn đầy đời sống Kitô hữu đến mức hoàn thiện, dưới sự tác động của Thánh Thần.

 Têrêsa quan tâm đến cấu trúc của một lâu đài với bảy căn phòng như hình ảnh của nội tâm con người.  Đồng thời, ngài đưa ra biểu tượng về sự lột xác của con tằm chuyển biến thành con bướm, nhằm nhấn mạnh sự chuyển biến từ tự nhiên đến siêu nhiên.

 Thánh nhân lấy cảm hứng từ Sách Thánh, cụ thể là Diễm Ca, để đi đến hình ảnh sau hết về vị “Hôn phu và Hôn thê,” có thể miêu tả ở căn phòng thứ bảy, bốn khía cạnh quan trọng nhất của đời sống Kitô hữu: thuộc về Ba Ngôi, thuộc về Đức Kitô, thuộc về con người, và thuộc về Giáo Hội.

 Thánh Têrêsa dành trọn tâm huyết cho quyển “Sách Các Nền Tảng” (Libro de la fundationes), viết vào giữa những năm 1573 và 1582, về các hoạt động của ngài như Đấng sáng lập dòng Cát Minh cải tổ.  Trong quyển sách này, ngài nói về đời sống của một cộng đoàn tu sĩ mới hình thành.  Quyển sách này, cũng như quyển tự truyện của thánh nhân, được viết để đặc biệt tôn vinh công trình và tác động của Thiên Chúa trong việc thiết lập những Tu viện mới.

 Không dễ tóm tắt đời sống tâm linh sâu sắc và nổi bật của thánh Têrêsa trong vài lời.  Tôi chỉ muốn đề cập mấy điểm trọng yếu.

 Thứ nhất, thánh Têrêsa nói đến các nhân đức Tin Mừng như là nền tảng cho mọi Kitô hữu và cho đời sống con người, cụ thể là thái độ từ bỏ chiếm hữu, khó nghèo Tin Mừng, và điều này liên hệ đến tất cả chúng ta; rồi đến đức ái dành cho tha nhân như một yếu tố quan trọng của đời sống cộng đoàn và đời sống xã hội; tiếp đó, đức khiêm nhường tựa như tình yêu dành cho chân lý; đức kiên nhẫn như hoa trái của lòng can đảm Kitô giáo; đức cậy, điều mà thánh nhân miêu tả là niềm khát khao nguồn nước hằng sống.  Chúng ta cũng không quên những đức tính nhân bản mà thánh nữ chỉ dạy: thái độ nhã nhặn, thành thật, khiêm hạ, lịch sự, luôn niềm nở và cư xử có văn hoá.

 Thứ hai, thánh Têrêsa cho thấy một sự hòa hợp thẳm sâu với những nhân vật vĩ đại trong Kinh Thánh và niềm khát khao lắng nghe Lời Chúa.  Trên tất cả, thánh nữ cảm nhận một sự tương đồng, gần gũi nào đó với vị hôn thê trong sách Diễm Ca, với thánh Phaolô Tông đồ, cũng như với Đức Giêsu trong Cuộc Khổ Nạn và với Đức Giêsu trong Nhiệm Tích Thánh Thể.  Thế rồi, thánh nhân nhấn mạnh việc cầu nguyện quan trọng đến mức nào.  Ngài nói: “Cầu nguyện có nghĩa là sống tình bằng hữu, thường xuyên chuyện trò thân mật với Thiên Chúa, Đấng chúng ta nhận biết và rất mực yêu thương chúng ta” (Vida 8,5).  Quan niệm của thánh Têrêsa tương đồng với câu định nghĩa của Thánh Tôma Aquinô về đức mến, là “amicitia quaedam hominis ad Deum,” tình bằng hữu giữa con người với Thiên Chúa, Đấng chủ động đi bước trước, trở nên bạn hữu của con người; tình bằng hữu giữa con người với Thiên Chúa luôn khởi đi từ phía Thiên Chúa, Đấng là nguyên uỷ vạn vật.

[3]

 Cầu nguyện là sự sống và nó tiến triển dần dần qua mỗi bước tăng trưởng của đời sống Kitô hữu.  Cầu nguyện ban đầu là khẩu nguyện, rồi nội tâm hóa bằng suy niệm, cho đến khi kết hợp trong tình yêu với Đức Kitô và với Ba Ngôi.  Hẳn nhiên, trong quá trình tiến triển, đỉnh cao của cầu nguyện không phải là loại bỏ đi các cách cầu nguyện trước đó, đúng hơn là dần đào sâu mối tương quan với Thiên Chúa, Đấng làm chủ toàn bộ đời sống con người.

 Hơn một đường lối sư phạm, giáo huấn của thánh Têrêsa là “cuộc khai mở” đích thực đời sống cầu nguyện: thánh nhân dạy cho những ai đọc các tác phẩm của ngài biết phải cầu nguyện thế nào, bằng việc cầu nguyện với những lời có trong sách ấy.  Thật vậy, ngài thường ngắt quãng sự đơn điệu, nhàm chán của những lời giải thích trong sách bằng vài lời cầu nguyện tự phát.

 Một chủ đề khác nữa mà thánh Têrêsa nói đến là vai trò quan trọng của nhân tính Đức Kitô.  Thực vậy, đối với Têrêsa, đời sống Kitô hữu chính là mối tương quan cá vị với Đức Giêsu vốn đạt đến cực điểm trong sự kết hiệp với Người nhờ ân sủng, lòng mến, và hoàn toàn bắt chước Người.  Vì tầm quan trọng của nhân tính Đức Kitô, thánh nhân hằng suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô gắn liền với bí tích Thánh Thể như là sự hiện diện của Đức Kitô trong Giáo Hội đối với đời sống của mọi tín hữu, và như là trung tâm điểm của Phụng vụ.  Thánh Têrêsa dành trọn tình yêu tuyệt đối cho Giáo Hội: trình bày một “Cảm thức Giáo Hội” (sensus Ecclesiae) rất sống động, mặc dầu thánh nhân đứng trước sự chia rẽ và mâu thuẫn rất lớn bên trong Giáo Hội vào thời đại của ngài.

 Thánh Têrêsa đã cải tổ dòng Cát Minh với ý định phục vụ và bảo vệ “Giáo Hội Công Giáo Rôma thánh thiện,” tự nguyện hiến dâng cuộc đời của mình cho Giáo Hội (x. Vida, 33,5).

 Một khía cạnh thiết yếu sau cùng về giáo huấn của thánh Têrêsa điều mà tôi muốn nhấn mạnh là sự trọn lành, như toàn bộ khát vọng và cùng đích của đời sống Kitô hữu.  Thánh nhân có một ý niệm rất rõ ràng về sự trọn hảo của Đức Kitô, được thực hiện qua các Kitô hữu.  Kết thúc của hành trình Lâu Đài Nội Tâm, trong “căn phòng” cuối cùng, Têrêsa mô tả về sự trọn hảo này, đạt đến việc cư ngụ của Chúa Ba Ngôi, trong sự hợp nhất với Đức Kitô, qua mầu nhiệmNhân Tính của Người.

 Anh chị em thân mến, thánh Têrêsa Giêsu là một thầy dạy thực thụ của đời sống Kitô hữu cho mọi người qua mọi thời.  Trong xã hội chúng ta, nhiều nơi thường thiếu vắng những giá trị tâm linh, thánh Têrêsa dạy chúng ta hãy trở thành những chứng nhân bất khuất của Thiên Chúa, về sự hiện diện và hành động của Người.  Thánh nhân dạy chúng ta hãy thực sự khát khao hướng về Thiên Chúa, Đấng hiện hữu nơi sâu thẳm trong tâm hồn, lòng khát khao này giúp chúng ta nhìn ngắm Thiên Chúa, tìm kiếm Thiên Chúa, đi vào cuộc trò chuyện với Người và trở nên bạn hữu của Người.

 Đây là tình bằng hữu mà tất cả chúng ta cần đến, điều mà chúng ta phải kiếm tìm lại mỗi ngày không ngơi nghỉ.  Cầu mong cho gương sáng của thánh Têrêsa, sự chiêm niệm thâm sâu và hoạt động có hiệu quả của thánh nhân, khích lệ chúng ta mỗi ngày biết dành ra một khoảng thời gian thích hợp để cầu nguyện, rộng mở tâm hồn cho Thiên Chúa, kiếm tìm Thiên Chúa, nhận biết Thiên Chúa, khám phá tình bằng hữu của Thiên Chúa và đạt được sự sống đích thực; thật thế, nhiều người trong chúng ta vẫn tự nhủ: “Tôi không sống, tôi không sống thực sự, bởi vì tôi không thi hành những điều cốt yếu nhất trong cuộc đời tôi.”

 Vì thế, thời gian dành để cầu nguyện không phải là khoảng thời gian vô bổ, đó chính là khoảng thời gian cho con đường sự sống mở ra; con đường mở ra để học biết từ nơi Thiên Chúa một tình yêu mãnh liệt dành cho Người, dành cho Giáo Hội và quyết lòng thực thi đức ái với tha nhân.

 Trích ĐGH Bênêdictô XVI, 36 Thánh Tiến Sĩ (Tp. HCM: Nxb Phương Đông, 2017), tr. 377-389.

From: Langthangchieutim


 

TĂNG MINH PHỤNG: NHÂN TÀI CHẾT BỞI NHÂN TAI

Xuyên Sơn 

TĂNG MINH PHỤNG: NHÂN TÀI CHẾT BỞI NHÂN TAI

Một ngày đầu năm, tôi bước vào phòng bệnh viện chăm sóc người nhà. Vừa mới ngồi xuống giường thì một bà cụ tầm trạc hơn tám mươi ngồi ở giường đối diện phía trong nhìn tôi chằm chằm, đoạn bà buột miệng bằng một giọng quê Quảng Nam đã pha ít nhiều tiếng Sài gòn:

“Tao nhìn mày có gương mặt hao hao thằng Minh Phụng hồi trẻ, hè!”.

Tôi cứ tưởng bà bảo tôi giống nghệ sĩ Minh Phụng, nào ngờ bà chẹp miệng:

– Tội nghiệp thằng có tài mà vắn số,

nó chết oan thay cho mấy ổng…

– Ẹc ẹc (lúc này tôi đã mường tượng ra Minh Phụng nào  rồi)…

Hồi đó tôi có nghe đến vụ án Minh Phụng – Epco rúng động cả Việt Nam thời bấy giờ.

Báo chí còn thêu dệt nên một tay chơi Minh Phụng có tiếng khi sáng ăn sáng ở Singapore, chiều uống cà phê ở Hongkong đọc báo về bất động sản. Sau này trên đường run rủi, tình cờ tôi gặp nhiều người ngày trước mang ơn ông, những công nhân của ông,

tôi mới biết đó là những điều hoàn toàn bịa đặt.

– Tội nghiệp thằng nhỏ, từ một tay giao hàng dầu ăn đã thành một ông chủ lớn nhưng vẫn lễ phép với người lớn mỗi khi về nhà. Nhà nó ở ngay sau nhà tao, ở đường Hoàng Diệu 2 nè

– giọng bà lão chùng xuống

– hôm người ta bắn nó là đem đi chôn luôn, không ai được đến gần…

Vừa lúc đó, chị con gái út bà bước vào. Bà lại bảo

– Nè, Trinh..nhìn nó giống thằng Minh Phụng he!

Cô con gái nhìn một hồi, lắc đầu:

– Hông giống!

– Trời, cái thằng Minh Phụng ở gần nhà mình đó mậy!

– Ờ, vậy mà con tưởng Minh Phụng nghệ sĩ!

Hic, bị quê xệ lần 2

……

Sở dĩ cho đến bây giờ tôi mới nhắc lại vụ này vì còn phải tìm đọc nhiều tài liệu liên quan, càng đọc tôi càng ngậm ngùi cho một người tài hoa nhưng bạc mệnh.

Nhưng không, cho dù là Bill Gates đi chăng nữa thì ở cơ chế này cũng không thoát khỏi kết cục như Minh Phụng.

Lỗi của Minh Phụng là dám lớn, lớn hơn cái áo cơ chế, lớn hơn sự hiểu biết về kinh tế của các quan chức ở đất nước này

– nơi mà pháp luật chỉ mang tính hợp thức hóa cho mục đích của một số người mà thôi.

Đành rằng việc Minh Phụng mất khả năng chi trả bằng tiền mặt cho Ngân hàng do khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới năm 1997, nhưng việc cho vay và thế chấp tài sản tương ứng để được vay là hoàn toàn hợp pháp.

Nếu có sai, thì trách nhiệm phải thuộc về phía thẩm định tài sản do Ngân hàng trước khi cho vay, tại sao lại quy trách nhiệm cho người vay?

Hơn nữa với khối tài sản gồm có “169 biệt thự, nhà ở, văn phòng các loại. Hệ thống nhà xưởng, kho hàng tại các khu công nghiệp có 78 cái với tổng diện tích hơn 1,2 triệu m2.

Đất chuyên dùng hơn 2,6 triệu m2. Nhà đất của Minh Phụng và Liên Khui Thìn có mặt khắp nơi, từ TPHCM đến các tỉnh Lâm Đồng, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu…”

thì nếu như định đúng giá thị trường, Minh Phụng hoàn toàn thừa khả năng chi trả các khoản nợ đã vay sau khi phát mãi; bằng chứng là với tài sản gồm biệt thự, văn phòng, nhà xưởng tại khu vực TP Hồ Chí Minh, phần lớn giá bán thực tế đều cao hơn rất nhiều so với giá Tòa án định khi xét xử.

Riêng đối với các lô đất mà Minh Phụng đã lập các dự án tại khu vực Thủ Đức trước đây (nay thuộc quận 2), theo quy hoạch của TP Hồ Chí Minh, hầu hết số này nằm ở các vị trí rất đắc địa, lợi nhuận chắc chắn sẽ rất lớn.

Do vậy, có ngân hàng được Tòa án giao cho một số lô đất tại khu vực quận 2, chưa cần phải triển khai xây dựng dự án, cũng không cần đầu tư hạ tầng, qua phiên đấu giá một lô thôi đã thu đủ toàn bộ số nợ trên 15 triệu USD, ngoài ra đơn vị này còn dư ra được số tiền và tài sản trị giá cả chục triệu USD.

Thực tế khi xử lý tài sản thế chấp sau này cho thấy, các danh mục tài sản thế chấp là nhà xưởng, kho tàng tại các khu công nghiệp đều có giá khá cao, với thời gian thuê khoảng 40-50 năm, chỉ tính riêng tiền khai thác có ngân hàng đã thu được hàng trăm tỷ đồng.

Nhưng trong phiên xét xử, vị luật sư bào chữa cho bị cáo đã phải ngậm ngùi thốt lên:

“mỗi m2 đất được Tòa định giá bằng ba cây kem Tràng Tiền”!

…

Vậy thì mọi người có quyền đặt câu hỏi:

phải chăng Minh Phụng phải chết để không còn ai kiện cáo số tài sản trên, để nó được “toàn dân sở hữu”?

Mấy hôm trước, đọc thông tin về tập đoàn Quốc Cường Gia Lai, thú thật tôi không thích gì ông công tử này, cũng như bênh vực các cách thức làm ăn của họ, nhưng việc Nhà nước thu hồi phần BĐS đã bán cho họ thì một lần nữa cho thấy Nhà nước ta làm ăn theo kiểu ..con nít, thích bán là bán, thích lấy lại là lấy lại!

Mặc dầu trước đây họ có gian dối hay hối lộ để quan chức bán cho họ với giá rẻ mạt đi chăng nữa thì với quy luật thị trường, khi anh đồng ý bán thì không có quyền gì tố người khác lừa gạt,

có chăng là cái tội ngu và tham của cán bộ cần phải xử lý mà thôi!

Muốn xử lý doanh nghiệp trên thì Nhà nước chỉ có thể xử lý tội hối lộ (nếu có).

Chợt nhớ vụ bầu Kiên cũng vậy, trách nhiệm thuộc về Ngân hàng, họ có quyền thẩm định giá tài sản để cho vay hay không thì lại quy tội cho kẻ đi vay, ai ép anh?

Nếu muốn bắt thì căn cứ vào việc có thu hồi được nợ để buộc tội người ta, kiểu thiếu nợ thì ở tù chứ sao lại can tội chiếm đoạt tài sản?

Thế mới biết, kẻ cầm cương nảy mực còn không biết Pháp luật là gì, làm sao có thể hô hào người dân “sống và làm việc theo pháp luật”?

Suy cho cùng, Nhà nước ta chỉ thua lỗ khi làm ăn với nước ngoài thôi, còn làm ăn với dân thì đến bao giờ mới lỗ?

Luật hả?

Hãy điền vào chỗ trống …. những câu thích hợp! Dễ thôi mà…

Tác giả: Nhật Huỳnh 


 

NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT giúp NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT muốn VỀ HƯU ở NƯỚC NGOÀI. – Pham Thanh Giao

– Pham Thanh Giao

 (Bài viết này không áp dụng cho người đi du lịch.)

Ở đây, tôi chỉ chia sẻ kinh nghiệm cá nhân sau hơn 12 năm trời tìm tòi và nghiên cứu về việc về hưu vĩnh viễn ở bên ngoài nước Mỹ. Thế nhưng, sự chọn lựa sống hưu ở đâu, hoàn toàn là quyết định riêng tư của mỗi người.)

Trước tiên, việc nghỉ hưu ở nước ngoài đòi hỏi bạn phải đáp ứng các điều kiện để được cấp Thị Thực Cư Trú Dài Hạn (Long-Term Visa), thường là từ 1 năm, đến 5 năm và 10 năm. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có luật riêng của họ dành cho “ngoại kiều,” những người muốn được thường trú vì không mang quốc tịch của đất nước mà họ muốn đến ở dài hạn. Tất cả những điều kiện và đòi hỏi luôn khá gắt gao nhưng đều quy tụ ở vài điểm chính bắt buộc phải có:

1- Nguồn thu nhập đầy đủ, vững chắc và phải có chứng minh, để được phép sống ở đất nước họ dài hạn.

Số tiền đòi hỏi phải có hàng tháng này, thì mỗi quốc gia mỗi khác. Đơn giản là họ không muốn những người “ngoại kiều xin nhập cư”, nhất là người già, một ngày nào đó trở thành gánh nặng tài chánh cho quốc gia của họ. Bên cạnh đó, không một quốc gia nào, chịu cấp Thị Thực Cư Trú Dài Hạn của họ cho “ngoại kiều” mà không bắt buộc họ phải lòi ra một số tiền phải nói là rất lớn để thế chấp.

Vào năm 2025, chính quyền Campuchia tung ra chương trình gọi là

Make Cambodia My 2nd Home

(CM2H) với giá từ vài chục đến vài trăm ngàn đô, giá rẻ nhất trong vùng, do bắt chước chương trình

Make Malaysia My 2nd Home

(MM2H) của Malaysia với giá 1 triệu đô. Những khoản tiền khổng lồ này, được chính quyền nước sở tại, kêu gọi “ngoại kiều” muốn có Thị Thực Cư Trú Dài Hạn phải đầu tư vào ngân hàng hoặc cổ phiếu của chính phủ. Chủ yếu là họ nhằm moi tiền đầu tư từ “ngoại kiều”. Thái Lan cũng không khác, muốn có cái Thị Thực Cư Trú Dài Hạn thì cũng không hề rẻ. Chỉ có Việt Nam là vẫn chưa có bất kỳ chương trình về hưu dài hạn nào cho người nước ngoài cả.

2- Đủ khả năng tài chánh để tự lo liệu cho vấn đề chăm sóc sức khỏe

(do bảo hiểm y tế Medicare của Mỹ không được áp dụng và sử dụng ở nước ngoài). Nhiều quốc gia đòi hỏi “ngoại kiều” phải có bảo hiểm y tế, ít nhất cũng đủ trả cho viện phí, từ 50 ngàn đô cho việc chạy chữa ngoại trú và nếu phải ở lại qua đêm thì bắt buộc phải có đủ 100 ngàn đô thế chấp. Theo bản báo cáo tài chính của chính phủ, thì trung bình mỗi năm, Thái Lan phải gánh khoản nợ y tế “chưa được thanh toán” trị giá khoảng 7 tỷ baht Thái (tương đương 200 triệu USD) từ các bệnh nhân “ngoại kiều – người nước ngoài”.

3- Không có tiền án.

*****

Quyết định nghỉ hưu ở nước ngoài kéo theo hàng loạt các vấn đề lớn nhỏ cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, thế nhưng, vấn đề quan trọng hơn cả vẫn là ngôn ngữ. Nếu người Mỹ gốc Việt về hưu cho rằng cuộc sống ở Mỹ của họ cô đơn và buồn chán, mà lại chọn 1 quốc gia nào đó ở Á Châu như Mã Lai, Thái Lan và Campuchia để sống nốt cuộc đời còn lại, mà không biết nói ngôn ngữ của họ, thì … về hưu chỉ có ngồi trong nhà nhìn ra đường … chờ ngày đi về nơi rất xa.

Không ít Việt kiều Mỹ ngây thơ và nhẹ dạ rơi vào những cái bẫy, qua các hình ảnh thiên đường nơi trần thế ở các quốc gia nhắm vào túi tiền của “ngoại kiều” có ý định về hưu ở đất nước họ. Trên thực tế, các quốc gia có giá cả sinh hoạt thấp ở Nam Mỹ như Mexico, Costa Rica hay Panama, hoặc các quốc gia bên Đông Nam Á như Mã Lai, Thái Lan và gần đây nhất là Cambodia chẳng hạn, thì trong con mắt của người bản xứ, những “ngoại kiều” này, được xem như một loại dịch vụ thương mại có khả năng mang đến một nguồn thu nhập khá đáng kể hàng năm. (Việt Nam chưa thấy quảng cáo những chương trình về hưu như ở thiên đường kiểu này)

Tuy vậy, nếu có lầm lỡ tin vào những quảng cáo hấp dẫn tung ra đầy trên YouTube thì cũng chẳng sao, chỉ tốn ít tiền vé máy bay đến rồi lại đi và chi phí cho một vài tuần lễ du lịch tiêu tiền trên đất nước họ rồi … ngỡ ngàng bỏ chạy thì cũng là một trải nghiệm đầy … thú vị mà thôi.

Đó cũng chính là lý do chúng tôi chọn về hưu và chết già ở quê hương Việt Nam là vậy. Thứ nhất, chính quyền Việt Nam KHÔNG HỀ ĐÒI HỎI “Việt Kiều” phải cung ứng điểm 1 và điểm 2 vô cùng quan trọng kể trên, nghĩa là không phải ứng ra trước một khoản tiền khổng lồ để thế chân, mà không biết số tiền đó của mình, mai này sẽ được mình thu hồi lại bằng cách nào và ra sao. Thứ hai, chỉ cần tốn vài chục đô là người Mỹ gốc Việt sẽ có được cái visa 5 năm tha hồ đi lại mà không bị đòi hỏi phải A, B, C, D gì ráo. Không cần tiền thế chân. Không cần chứng minh tiền thu nhập hàng tháng và cũng không cần phải có bảo hiểm y tế. Nếu cần và nếu muốn, thì việc xin lại quốc tịch Việt Nam giờ cũng không quá khó khăn. Cần phải vào viện dưỡng lão, cũng dễ dàng. Sau này, có chết trên quê hương, thì việc đưa vào nhà thờ làm phép xác hoặc đưa lên chùa ma chay rồi thiêu hay chôn, cũng không có gì là khó khăn cả.

Việc từ bỏ Mỹ, ra nước ngoài sinh sống của người về hưu là điều hoàn toàn có thể thực hiện được khá dễ dàng, nhưng có những việc cụ thể cần phải chuẩn bị trước và nên thực hiện khi mình vẫn còn đang có mặt ở Mỹ, bằng không thì sẽ khá mất công sau này.

1) Hãy giữ lại một địa chỉ thật (Physical Address) để nhận các thư từ quan trọng từ Sở Thuế Vụ (IRS), từ Sở An Sinh Xã Hội (SSA), từ các tổ chức tài chánh, như tiền để dành trong quỹ hưu trí IRAs, quỹ 401(k) và quỹ tiết kiệm chẳng hạn. Địa chỉ này cũng hữu ích cho các văn bản chính thức khác đến từ chính phủ Mỹ. Bạn cũng có thể sử dụng các Dịch Vụ Hộp Thư Ảo (Virtual Mailbox) cung cấp cho bạn một địa chỉ nhận thư tại Mỹ.

Hiện nay, có rất nhiều dịch vụ ảo này, cho phép bạn nhận, quét nội dung và chuyển tiếp thư từ khi đang ở nước ngoài. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ một điểm quan trọng: Hộp Thư Ảo thường là địa chỉ của các đại lý nhận thư thương mại (Commercial Mail Receiving Agency). Đây là địa chỉ nhận thư chứ không phải địa chỉ cư trú. Do đó, dù giải quyết được vấn đề nhận thư, nó thường không thay thế được địa chỉ cư trú thực tế, mà Sở Thuế hoặc Sở An Sinh Xã Hội hay ngân hàng yêu cầu. Vì lý do đó, chúng tôi không sử dụng những dịch vụ hộp thư ảo mà có một địa chỉ thật.

2) Hãy duy trì ít là 1 tài khoản ngân hàng tại Mỹ, cần nhất là có hỗ trợ truy cập trực tuyến (online). Một số ngân hàng có thể sẽ đóng các tài khoản của bạn khi bạn liên kết với họ qua địa chỉ ở nước ngoài. Dù bạn có sống ở bất cứ đâu, việc giữ lại tài khoản ngân hàng tại Mỹ sẽ giúp cuộc sống của bạn thuận tiện hơn nhiều. Nó bao gồm các khoản thu nhập tại Mỹ như lương hưu (pensions), tiền hưu trí từ quỹ An sinh xã hội (SSA), hoặc các nghĩa vụ về tài chính như hóa đơn, thuế má, thẻ tín dụng, vân vân.

Ngoài ra, việc duy trì tài khoản ngân hàng còn giúp cho mình sự linh hoạt trong việc nhận và chuyển tiền đô từ Mỹ về nơi bạn đang sống ở nước ngoài. Một điểm quan trọng cần lưu ý là: ngân hàng tại Mỹ thường yêu cầu địa chỉ cư trú thực tế (địa chỉ nhà ở), chứ không chấp nhận hộp thư bưu điện (PO Box) hay địa chỉ chuyển tiếp thư từ. Vì vậy, trước khi chuyển ra về hưu ở nước ngoài, hãy chuẩn bị để có một địa chỉ cư trú hợp lệ tại Mỹ, trước hết là đăng ký với ngân hàng, sau đó có thể cung cấp giấy tờ chứng minh “khi bị các cơ quan của chính phủ yêu cầu”.

3) Hãy mở ít nhất 1 thẻ tín dụng (Credit Card) của Mỹ không tính phí khi giao dịch ở nước ngoài. Nếu bạn về hưu ở nước ngoài, việc sở hữu thẻ tín dụng Mỹ sẽ rất hữu ích. Nó mang lại phương thức thanh toán thuận tiện cho các chi phí khi cần đến, như chi trả cho các gói đăng ký dịch vụ, chi phí du lịch hoặc mua sắm trên mạng ở quốc gia nơi bạn đang cư ngụ, đồng thời giúp bạn duy trì lịch sử tín dụng vẫn còn hoạt động đều đặn tại Mỹ, nghĩa là bạn vẫn … còn sống chứ chưa chết. Điều này rất quan trọng trong mắt của Sở An Sinh Xã Hội trong việc trả tiền hưu cho bạn hàng tháng.

4) Hãy xác nhận tiểu bang nơi bạn cư trú chính thức (Domicile State) trước khi chuyển ra nước ngoài. Về mặt pháp lý, đây được coi là nơi ở cố định của bạn và yếu tố này trở nên đặc biệt quan trọng khi bạn sống ở nước ngoài. Hai tiểu bang Florida và Texas không có thuế thu nhập cá nhân (State Income Tax), nhưng bạn cần thiết lập nơi cư trú hợp lệ và đáp ứng các yêu cầu của tiểu bang, chẳng hạn như bằng lái xe hoặc thẻ căn cước do tiểu bang cấp (State ID), hoặc đăng ký cử tri để bỏ phiếu. Mục tiêu là tạo ra một hệ thống hồ sơ thể hiện rõ rệt nơi cư trú chính thức của bạn tại Mỹ, thay vì để tình trạng cư trú trở nên mơ hồ sau khi bạn đã ra nước ngoài sống.

5) Hãy đăng ký cử tri bỏ phiếu (Register to Vote) nếu chưa hoặc cập nhật thông tin ở tiểu bang mà bạn cư trú chính thức. Sau khi đã xác định tiểu bang nào là nơi cư trú chính thức tại Mỹ, hãy lên mạng đăng ký cử tri của mình. Điều này góp phần chứng minh rằng bạn vẫn còn sống cho Sở An sinh Xã hội.

Một khi đã chọn về hưu ở nước ngoài, một số quy trình có thể đòi hỏi thêm các giấy tờ chứng minh khác hoặc yêu cầu bạn phải có mặt trực tiếp ở Mỹ, những vấn đề tuy nhìn có vẻ rất đơn giản lại trở nên vô cùng phức tạp và phiền hà nếu không chuẩn bị trước.

Hy vọng bài viết này sẽ giúp được những người Mỹ gốc Việt về hưu, đang muốn tìm cho mình một mái ấm để chuẩn bị cho những tháng ngày cuối cùng của cuộc đời.

From: taberd & NguyenNThu


 

TRAO BÊN NGOÀI – SẠCH BÊN TRONG – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người!”.

“Ích kỷ đặt mình làm trung tâm; vị tha và bác ái đặt người bên cạnh làm trung tâm!” – Fulton Sheen.

Kính thưa Anh Chị em,

Giúp người thiếu thốn là để họ có một chỗ nơi trung tâm lòng mình. Chúa Giêsu tiết lộ: khi lòng dám mở ra, việc cho đi trở thành một lối thanh tẩy – ‘trao bên ngoài – sạch bên trong’.

Người Pharisêu đã mời Chúa Giêsu dùng bữa ngạc nhiên vì Ngài không rửa tay theo nghi thức trước khi ăn. Ngài đưa ông từ bàn tay đến trái tim: “Bên trong thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà!”. Điều làm lòng ô uế là ham muốn chiếm lấy cho mình, ngay cả phần thuộc về người khác. Bởi thế, lời mời bố thí của Chúa Giêsu chạm đúng khối u ấy. Những gì từng gom vào nay cần trao ra; những ai từng đứng ngoài mối bận tâm của chúng ta nay cần được đoái đến.

Chúa Giêsu không chỉ nói hãy bố thí, nhưng hãy bố thí ta enónta – “những gì ở bên trong”. Lời ấy mời chúng ta trao sâu hơn: bàn tay trao của cải; lòng buông điều nó nắm. Của đã trao, lòng có thể vẫn giữ: giữ công, đòi biết ơn, muốn người nhận làm theo mình. Người ấy nhận món quà, nhưng chưa chắc được tự do trước người cho. Lời Chúa Giêsu chạm đến cả điều ấy: cho đi còn là thôi dùng điều đã trao để giữ lấy một người.

Phaolô gọi đó là “đức tin hành động nhờ đức ái” – bài đọc một. Đức Kitô đã giải thoát chúng ta; thế mà chúng ta vẫn có thể tìm chỗ dựa nơi những việc đạo đức mình làm, như thể nhờ đó chúng ta có quyền đòi Chúa thưởng. Khi ấy, việc lành trở thành số vốn chúng ta giữ cho mình. “Lạy Chúa, xin cho con được hưởng tình thương Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca đưa chúng ta về tư thế người đón nhận. Chúng ta trao vì đã được Chúa thương; điều đã nhận nhưng không, nay có thể trao mà không tính sổ.

Một người từng nhận sự giúp đỡ nay gặp chúng ta mà chẳng chào. Chút buồn ấy có thể cho chúng ta biết mình đã âm thầm chờ điều gì. Không cần chối nỗi buồn ấy; chỉ cần chúng ta đừng để nó quyết định người kia còn đáng được giúp hay không. Một lần vẫn giúp mà không nhắc công có thể là bước đầu để lòng được thanh tẩy.

“Yêu là cho đi tất cả và trao chính mình!” – Têrêxa Lisieux.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã trao trọn chính mình cho chúng ta, cả khi chúng ta không biết ơn Ngài. Trên thập giá, Ngài vẫn xin Cha tha thứ cho những người không biết việc họ làm; sự vô ơn của họ không khiến Ngài rút lại tình yêu. Trong Thánh Thể, Ngài vẫn nuôi chúng ta bằng chính mình, cả sau những lần chúng ta sống như chưa từng nhận. Đón nhận Ngài, chúng ta học thương như Ngài thương, trao mà không buộc người nhận phải mang ơn. “Yêu mến Thiên Chúa, bạn cảm được những gì Thiên Chúa cảm!” – Robert Barron. Nhờ ân sủng Ngài, mỗi lần cho đi cũng có thể là một lần lòng chúng ta được thanh tẩy – ‘trao bên ngoài – sạch bên trong’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con thôi đặt mình làm trung tâm; thôi lấy ơn nghĩa mà giữ người con giúp; và vui khi họ lớn lên mà không nhớ đến con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXVIII Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/13.html

Hãy bố thí thì mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 11,37-41

37 Khi ấy, Đức Giê-su đang nói, thì có một ông Pha-ri-sêu mời Người đến nhà dùng bữa. Tới nơi, Người liền vào bàn ăn. 38 Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu lấy làm lạ vì Người không rửa tay trước bữa ăn. 39 Nhưng Chúa nói với ông ấy rằng : “Này, nhóm Pha-ri-sêu các người, bên ngoài chén đĩa, thì các người rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà. 40 Thật là ngốc ! Đấng làm ra cái bên ngoài lại đã không làm ra cái bên trong sao ? 41 Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.”


 

Thiên đàng là gì? (theo sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo)

Thiên đàng là gì? (theo sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo)

Câu 1023

Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa Chúa và đã hoàn toàn được thanh tẩy sẽ sống muôn đời với Chúa Kitô họ sẽ mãi mãi giống như Thiên Chúa vì họ thấy Ngài “đúng như Ngài là” (1Ga 3,2), “mặt giáp mặt”

Câu 1025

Sống trên thiên đàng là “ở với Chúa Kitô”. Những người được chọn thì sống “trong Ngài”, nhưng họ vẫn giữ được, hay nói đúng hơn, họ tìm thấy ở đó bản sắc đích thực của mình tên gọi riêng của mình.

Câu 1026

Nhờ sự chết và sự Sống lại của mình, Chúa Giêsu Kitô đã “mở cửa thiên đàng” cho chúng ta.

… Thiên đàng là cộng đoàn diễm phúc nhất của tất cả những người đã sáp nhập vào Thân Thể của Ngài…

Thánh kinh nói về Thiên đàng qua những hình ảnh; sự sống, ánh sáng, bình an, bữa tiệc cưới, rượu của nước Trời, nhà Cha, thành Giêrusalem trên trời, thiên đàng: mắt chưa từng xem thấy, tai chưa từng nghe thấy, lòng trí con người chưa từng nghĩ tới, đó là tất cả những gì Thiên Chúa đã dành sẵn cho những ai yêu mến Ngài (1Cr 2,9)

Câu 1028

Do tính siêu việt của Ngài, Thiên Chúa chỉ có thể được nhìn thấy ‘đúng như Ngài là”, khi Ngài mở mầu nhiệm của Ngài cho sự chiêm ngưỡng trực tiếp của con người và ban cho con người có khả năng đó. Sự chiêm ngưỡng Thiên Chúa trong vinh quang trên trời được Giáo Hội gọi là “thị kiến mang lại hiển phúc”

 Vinh quang và hạnh phúc của bạn sẽ lớn lao chừng nào được nhận vào để nhìn thấy Thiên Chúa, được hân hạnh tham dự vào những niềm vui của ơn cứu độ và của ánh sáng vĩnh cửu, cùng với Chúa Kitô là Đức Chúa và là Thiên Chúa của bạn… được hưởng những niềm vui của phúc bất tử đã thủ đắc, trên nước Trời, cùng với các người công chính và các bạn hữu của Thiên Chúa.


 

Thiên đàng của Đạo Công Giáo và Niết Bàn của Đạo Phật là gì?

 GEMINI Tra Loi:

Thiên đàng của Đạo Công Giáo và Niết Bàn của Đạo Phật là gì?

Dù đều là đích đến tâm linh tối cao trong hệ thống tín ngưỡng, Thiên đàng trong Đạo Công Giáo và Niết Bàn trong Đạo Phật có bản chất, ý nghĩa và cách tiếp cận hoàn toàn khác nhau. Dưới đây là sự phân tích chi tiết về hai khái niệm này:

1. Thiên đàng trong Đạo Công Giáo (Thiên Chúa Giáo)

  • Bản chất: Thiên đàng là nơi ở vĩnh hằng của Thiên Chúa, các thiên thần và những người được cứu rỗi. Đó không chỉ là một không gian vật lý, mà là trạng thái hiệp thông trọn vẹn và vĩnh cửu với Thiên Chúa trong tình yêu thương.
  • Đặc điểm:
    • Là nơi con người được giải thoát khỏi mọi đau khổ, nước mắt, bệnh tật và sự chết.
    • Trải nghiệm cốt lõi của Thiên đàng là “Chiêm ngắm Thiên Chúa nhãn tiền” (nhìn thấy Thiên Chúa trực diện) và hưởng phúc đời đời bên Ngài cùng cộng đoàn các thánh.
  • Cách đạt được: Không phải do công trạng cá nhân hoàn toàn, mà là nhờ ân sủng của Thiên Chúa qua niềm tin vào Chúa Giê-su Ki-tô, kết hợp với việc sống Lời Chúa, thực thi bác ái và ăn năn sám hối tội lỗi.

2. Niết Bàn trong Đạo Phật (Buddhism)

  • Bản chất: Niết Bàn (Nirvana) không phải là một “nơi chốn” hay thiên đàng để con người đến ở sau khi chết, mà là một trạng thái tâm thức giác ngộ hoàn toàn, nơi mọi tham sân si (tham vọng, sân hận, si mê) đã được dập tắt tận gốc.
  • Đặc điểm:
    • Là sự chấm dứt hoàn toàn của khổ đau, vô minh và chu kỳ sinh tử luân hồi (Samsara).
    • Khi đạt được Niết Bàn, hành giả vượt qua khỏi các khái niệm về không gian, thời gian, sự sống và cái chết; đạt đến sự bình an, tĩnh lặng và tự do tuyệt đối.
  • Cách đạt được: Phải do nỗ lực tự thân của mỗi cá nhân thông qua việc tu tập theo con đường Trung Đạo (Bát Thánh Đạo), thực hành giới định tuệ, thấu hiểu quy luật duy khởi và buông xả chấp thủ.

Bảng so sánh tóm tắt

Tiêu chí Thiên Đàng (Đạo Công Giáo) Niết Bàn (Đạo Phật)
Bản chất Một cõi giới/nơi chốn vĩnh hằng hiệp thông với Thiên Chúa. Trạng thái tâm thức giác ngộ, đoạn tận khổ đau và luân hồi.
Yếu tố trung tâm Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa và nguồn ơn cứu độ. Sự diệt tận vô minh, tham sân si và tỉnh thức nội tâm.
Cách đạt được Ân sủng của Thiên Chúa và lòng tin kết hợp với việc thiện. Nỗ lực tự thân tu dưỡng đạo đức, thiền định và trí tuệ.
Sự tồn tại của bản ngã Tồn tại vĩnh viễn trong tình yêu và sự hiệp thông với Thiên Chúa. Vượt qua cái “Tôi” (vô ngã), hòa vào sự tĩnh lặng tuyệt đối.

Bạn có muốn tìm hiểu sâu hơn về con đường tu tập để đạt được một trong hai trạng thái này không?

Con duong tu ta cua hai ton giao nhu the nao?

Con đường tu tập của Đạo Công Giáo và Đạo Phật

Con đường tu tập (hay còn gọi là phương thức thực hành tâm linh) của hai tôn giáo xuất phát từ nền tảng giáo lý khác nhau, hướng đến hai mục đích tối cao là Thiên đàng và Niết Bàn. Dưới đây là chi tiết về con đường tu tập của từng tôn giáo:

1. Con đường tu tập trong Đạo Công Giáo

Trong Đạo Công Giáo, con đường hướng về Thiên đàng không phải là sự tự lực đạt đến bằng sức mạnh cá nhân, mà là sự đáp trả lại tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa. Con đường này xoay quanh các yếu tố cốt lõi:

  • Đời sống cầu nguyện và kết hợp với Thiên Chúa: Thường xuyên trò chuyện, lắng nghe và phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa qua việc cầu nguyện cá nhân và cộng đồng.
  • Thực thi Giới răn tình yêu: Tâm điểm của đạo Công Giáo là hai điều răn lớn: Mến Chúa hết lòng và Yêu người thân cận như chính mình. Tình yêu thương được thể hiện cụ thể qua việc tha thứ, bác ái, giúp đỡ người nghèo khổ và bệnh tật.
  • Đón nhận các Bí tích: Các bí tích (như Bí tích Rửa tội, Hòa giải, Thánh Thể…) được xem là những nguồn ơn thánh do Thiên Chúa ban tặng để thanh tẩy tâm hồn, nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và tiếp sức cho người tín hữu trên đường đời.
  • Sám hối và vác thập giá hằng ngày: Nhìn nhận những yếu đuối, lỗi lầm của bản thân để canh tân đời sống, đồng thời kiên nhẫn vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống với tinh thần tin tưởng vào Chúa.

2. Con đường tu tập trong Đạo Phật

Trong Đạo Phật, con đường hướng đến Niết Bàn hoàn toàn dựa vào nỗ lực tự thân của mỗi cá nhân (lấy trí tuệ làm đuốc soi đường). Con đường kinh điển và cốt lõi nhất được Phật giáo đề ra là Bát Thánh Đạo (Tám con đường chân chính), nằm trong khuôn khổ của Giới – Định – Tuệ:

  • Về giới (Đạo đức):
    • Chánh ngữ: Nói lời chân thật, ái ngữ, không nói dối, nói đôi chiều hay ác khẩu.
    • Chánh nghiệp: Hành động thiện lành, không sát sinh, trộm cắp, tà dâm.
    • Chánh mạng: Sinh sống bằng nghề nghiệp chân chính, không làm tổn hại đến sự sống của người khác và chúng sinh.
  • Về định (Tâm tĩnh lặng):
    • Chánh tinh tiến: Nỗ lực ngăn ngừa ác pháp sinh khởi, phát triển các thiện pháp.
    • Chánh niệm: Tỉnh thức, luôn ý thức rõ ràng về thân, thọ, tâm, pháp trong từng giây phút hiện tại.
    • Chánh định: Giữ tâm tập trung, an định, không bị dao động bởi ngoại cảnh qua việc thực hành thiền định.
  • Về tuệ (Trí tuệ):
    • Chánh kiến: Thấu hiểu đúng đắn về nhân quả, luân hồi, vô thường, vô ngã và Tứ Diệu Đế (Bốn sự thật thánh thiện).
    • Chánh tư duy: Suy nghĩ hướng về lòng từ bi, buông xả, không tham đắm, sân hận hay oán thù.

Điểm khác biệt mấu chốt

  • Tác nhân chính: Công Giáo nhấn mạnh “Ơn sủng” của Thiên Chúa kết hợp với sự cộng tác của con người; trong khi Đạo Phật đề cao “Nội lực và Trí tuệ tự thân” qua việc thực hành giáo pháp.
  • Mục tiêu hành động: Công Giáo hướng ra bên ngoài qua tình bác ái, phục vụ tha nhân như phục vụ chính Thiên Chúa; Đạo Phật hướng vào bên trong nội tâm để chuyển hóa tâm thức, buông bỏ chấp thủ và dập tắt tham sân si.

Bạn có muốn tìm hiểu chi tiết hơn về cách thực hành cụ thể trong đời sống hằng ngày của một trong hai con đường này không?

Cac thuc hanh cu the cua hai ton giao tren nhu the nao?

Các thực hành cụ thể trong đời sống hằng ngày

Để hiện thực hóa con đường tu tập, mỗi tôn giáo có những hình thức thực hành cụ thể và rõ ràng trong đời sống hằng ngày của người tín hữu:

1. Các thực hành cụ thể trong Đạo Công Giáo

Người Công Giáo thể hiện đức tin và sự gắn kết với Thiên Chúa qua các hoạt động phụng vụ, cầu nguyện và bác ái thường nhật:

  • Tham dự Thánh lễ và rước lễ: Đây là trung tâm của đời sống phụng vụ Công Giáo. Người tín hữu thường tham dự Thánh lễ vào ngày Chủ Nhật (và cả các ngày trong tuần nếu có thể) để dâng lời tạ ơn, nghe Lời Chúa và rước Mình Thánh Chúa nhằm nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng.
  • Cầu nguyện cá nhân và gia đình: Dành thời gian mỗi ngày (buổi sáng, trước các bữa ăn, hoặc trước khi đi ngủ) để trò chuyện với Thiên Chúa, đọc Kinh Thánh, hoặc lần chuỗi Mân Côi (suy ngắm cuộc đời Chúa Giê-su và Mẹ Maria).
  • Xưng tội (Bí tích Hòa giải): Định kỳ nhìn nhận các lỗi lầm, thiếu sót của bản thân trước mặt linh mục (đại diện cho Thiên Chúa) để được tha thứ, hòa giải với Chúa và tha nhân, từ đó canh tân tâm hồn.
  • Làm việc bác ái xã hội: Thực hành lời dạy của Chúa Giê-su qua các hoạt động cụ thể như giúp đỡ người nghèo khó, thăm viếng người bệnh tật, côi cút, đóng góp từ thiện và sống chan hòa, tha thứ trong gia đình và cộng đồng.

2. Các thực hành cụ thể trong Đạo Phật

Người Phật tử thực hành lời Phật dạy qua việc rèn luyện thân – khẩu – ý trong từng phút giây của đời sống:

  • Thực hành thiền định (Thiền Vipassana hoặc Thiền định): Dành thời gian ngồi thiền hoặc thực hành chánh niệm trong mọi hoạt động hàng ngày (như khi đi, đứng, ăn, uống, quét nhà). Mục đích là để tâm tĩnh lặng, nhận diện các cảm xúc, suy nghĩ khởi lên mà không bị cuốn theo chúng.
  • Giữ gìn Ngũ giới (Năm giới cấm): Nền tảng đạo đức cơ bản của người Phật tử tại gia là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu bia hay sử dụng các chất kích thích gây mất tỉnh táo.
  • Ăn chay và phóng sinh: Nhiều Phật tử chọn ăn chay vào những ngày định kỳ (như mùng 1, rằm hàng tháng) hoặc ăn chay trường để nuôi dưỡng lòng từ bi, tránh sát sinh. Phóng sinh cũng là một thực hành thể hiện tâm trắc ẩn với các loài vật.
  • Nghe pháp, tụng kinh và cúng dường: Thường xuyên đọc sách Phật học, nghe các bài giảng pháp để tăng trưởng trí tuệ (Chánh kiến); tụng kinh để nhắc nhở bản thân sống theo lời Phật dạy; và thực hành cúng dường, bố thí (giúp đỡ người khó khăn) để vun bồi phước đức, giảm bớt lòng tham lam, ích kỷ.

Bạn có cảm thấy tò mò về điểm giao thoa hoặc sự khác biệt thú vị nào khác giữa triết lý sống của hai tôn giáo này không?

Hai ton giao tren co nhung diem giong nhau va khac nhau nhu the nao?

Điểm giống và khác nhau giữa Đạo Công Giáo và Đạo Phật

Dù có xuất phát điểm, nền tảng triết lý và hệ thống giáo lý khác nhau, Đạo Công Giáo và Đạo Phật vẫn có những điểm tương đồng thú vị bên cạnh những khác biệt mang tính cốt lõi.

1. Những điểm giống nhau

  • Đề cao đạo đức và tình thương: Cả hai tôn giáo đều đặt nền tảng đạo đức lên hàng đầu. Nếu Công Giáo nhấn mạnh tình bác ái, yêu thương tha nhân như chính mình, thì Đạo Phật đề cao lòng từ bi và hỷ xả đối với tất cả muôn loài.
  • Hướng con người đến sự giải thoát khỏi khổ đau: Mục đích tối hậu của cả hai tôn giáo đều giúp con người vượt qua những trói buộc, đau khổ của kiếp nhân sinh để đạt đến sự bình an vĩnh cửu (Thiên đàng hay Niết Bàn).
  • Khuyên răn con người làm lành lánh dữ: Cả hai đều có hệ thống giới luật rõ ràng (như Giới răn của Chúa hay Ngũ giới của Phật) để hướng dẫn tín hữu sống lương thiện, kiểm soát hành vi, lời nói và ý nghĩ của mình.
  • Đề cao sự tĩnh thức và nội tâm: Cả hai đều coi trọng việc rèn luyện nội tâm—Công Giáo qua việc cầu nguyện, xét mình, sám hối; Đạo Phật qua việc thiền định và chánh niệm.

2. Những điểm khác nhau

Tiêu chí Đạo Công Giáo Đạo Phật
Nhân quan (Về Đấng tối cao) Thần quyền/Hữu thần: Tin có một Thiên Chúa duy nhất là Đấng Tạo Hóa toàn năng, yêu thương và sáng thế. Vô thần/Phi thần học: Không tôn thờ một vị thần sáng thế độc tôn; vạn vật vận hành theo quy luật Nhân Quả và Duyên Khởi.
Góc nhìn về bản ngã Bảo tồn bản ngã: Con người có linh hồn bất tử, cá vị, tồn tại vĩnh viễn trong tình hiệp thông với Thiên Chúa trên Thiên đàng. Vô ngã: Phủ nhận cái “Tôi” cố định. Khi đạt Niết Bàn, hành giả vượt qua mọi ảo tưởng về bản ngã, hòa nhập vào sự tỉnh lặng tuyệt đối.
Con đường cứu độ Bởi ân sủng: Sự cứu rỗi đến từ tình yêu và ơn ban của Thiên Chúa, con người đón nhận qua lòng tin, Bí tích và việc bác ái. Do tự lực: Con đường giác ngộ hoàn toàn dựa vào nỗ lực tu tập, rèn luyện trí tuệ và đạo đức của chính cá nhân.
Thế giới quan Tuy tuyến tính: Có khởi đầu (Chúa sáng thế) và có kết thúc/đích đến vĩnh hằng (Thiên đàng, Hỏa ngục).

CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG: đọc sách để làm gì?”

Cang Huynh

“Thưa thầy, con đã đọc rất nhiều sách… nhưng con quên hầu hết rồi. Vậy đọc sách để làm gì?”

Đó là câu hỏi của một học trò tò mò dành cho sư phụ mình. Người thầy không trả lời. Ông chỉ im lặng nhìn cậu.

Vài ngày sau, họ đang ngồi bên bờ sông, đột nhiên, người thầy nói:

“Ta khát. Con hãy lấy cho ta ít nước… nhưng hãy dùng cái rây cũ nằm dưới đất kia.”

Người học trò trông có vẻ bối rối. Đó là một yêu cầu nực cười. Làm sao có thể lấy nước trong một cái rây đầy lỗ?

Nhưng cậu không dám cãi lại.

Cậu nhặt cái rây lên và thử.

Một lần. Hai lần. Hết lần này đến lần khác…

Cậu chạy nhanh hơn, xoay rây ở các góc độ khác nhau, thậm chí còn dùng ngón tay bịt các lỗ thủng. Không có tác dụng. Cậu không thể hứng được một giọt nước nào.

Kiệt sức và thất vọng, cậu thả cái rây xuống chân thầy và nói:

“Con xin lỗi. Con thất bại rồi. Không thể nào.”

Người thầy nhìn cậu học sinh với ánh mắt ân cần và nói:

“Con không trượt. Nhìn cái rây này xem.”

Cậu học sinh liếc xuống… và nhận thấy điều gì đó.

Cái rây cũ kỹ, tối màu, bẩn thỉu giờ đã sáng bóng sạch sẽ. Nước, dù không bao giờ đọng lại, đã rửa sạch nó hết lần này đến lần khác cho đến khi nó sáng loáng.

Người thầy tiếp tục:

“Đó là tác dụng của việc đọc. Không quan trọng con có nhớ hết mọi chi tiết hay không. Không quan trọng kiến ​​thức có vẻ trôi tuột đi như nước chảy qua cái rây…

Bởi vì khi con đọc, tâm trí con được làm mới.

Tinh thần con được đổi mới.

Những ý tưởng của con được nuôi dưỡng.

Và ngay cả khi con không nhận ra ngay lập tức, con đang được chuyển hóa từ trong ra ngoài.”

Đó là mục đích thực sự của việc đọc.

Không phải để lấp đầy trí nhớ…

mà là để thanh lọc và làm giàu tâm hồn con.

– Cang Huỳnh lược dịch từ La vie est Belle. 


 

CHỜ ĐẾN BAO GIỜ – Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

“Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này như vậy!”.

“Có đủ ánh sáng cho người muốn thấy, và đủ bóng tối cho người có khuynh hướng ngược lại!” – Blaise Pascal.

Kính thưa Anh Chị em,

Trời đã sáng, vẫn có người muốn trời sáng thêm mới chịu bước. Chúa Giêsu đã ở đó, đám đông vẫn đòi thêm dấu lạ. Cũng thế, chúng ta còn ‘chờ đến bao giờ’ mới hoán cải?

Chúa Giêsu bất ngờ đưa ra hai nhân chứng: một nữ hoàng ngoại giáo và một dân thành tội lỗi. Những người ở ngoài lại đứng lên xét xử những người ở trong đang nghe Ngài. Với điều ít hơn, những người ở ngoài đã đáp lại; trước Đấng lớn hơn, những người ở trong vẫn đòi thêm. Nghe Lời không cho phép chúng ta mãi ở vị trí người xem; chúng ta phải trả lời bằng cách sống.

“Bạn không thể trung lập: bạn phải quyết định về Đức Giêsu!” – Robert Barron.

Điều khiến Chúa Giêsu gọi thế hệ này là gian ác không phải vì họ chưa thấy gì, nhưng vì họ vẫn cho là chưa đủ. Ngay trước đó, Ngài vừa trừ một quỷ câm; có người lại đòi một dấu lạ từ trời. Họ thấy người ấy được chữa lành, nhưng chưa nhận ra Thiên Chúa đang viếng thăm. Họ muốn Ngài tỏ mình theo cách họ định. Người câm đã mở miệng; người chứng kiến vẫn chưa mở lòng. Có khi chúng ta cũng chờ một điều phi thường, đang khi lời mời ăn năn đã đến qua một con người, một biến cố rất gần.

Và nhiều lúc chúng ta chưa đổi vì nghĩ những việc lành mình làm đã đủ. Đức Phanxicô nhắc: việc lành thật cần thiết, nhưng nó phải bắt nguồn từ tình yêu thương xót đã cứu chúng ta. “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta!” – bài đọc một. Đã là con cái, chúng ta không cần tìm thêm bảo đảm mới dám tin lời Cha để bước tới. Không phải làm đủ, chúng ta mới được yêu; chúng ta đã được yêu từ lâu để có thể sống khác. Điều tốt đã làm không miễn cho chúng ta việc sửa mình hôm nay. Vì lẽ, Chúa vẫn đang chờ từng ngày!

Chúng ta đọc “Chúc tụng danh thánh Chúa, tự giờ đây cho đến mãi muôn đời!” – Thánh Vịnh đáp ca; nhưng những cuộc trở về cứ chờ lòng thanh thản mới bắt đầu. “Tự giờ đây” chính là lúc lời chúc tụng cần đi vào cách sống. Có thể lòng chưa thuận, chuyện chưa yên; nhưng một lời thật, một nụ cười đã có thể bắt đầu.

Người bên cạnh có thể không biết chúng ta đang cố gắng; nhưng đã thôi phải chờ một cử chỉ tử tế.

“Đừng mất thời giờ băn khoăn liệu bạn có yêu người bên cạnh hay không; hãy hành động như thể bạn yêu họ!” – C. S. Lewis.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đợi chúng ta hoán cải rồi mới trao mình. Ngài đã trao từ lâu, trao tận thập giá, cả khi con người vẫn khước từ. Đấng lớn hơn Giôna đang ở đây: trong Thánh Thể, Ngài tiếp tục trao chính sự sống đã đi qua cái chết để nuôi từng người, cả những anh chị em còn khó thương. Chúng ta có thể chưa sửa được hết những thói quen cũ, nhưng được Ngài nâng đỡ để bắt đầu hôm nay. Trước Đấng đã trao hết, chúng ta còn ‘chờ đến bao giờ?’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con lấy việc lành che điều cần sửa; đợi trời sáng hơn mới dám bước; cho con thôi hẹn Ngài dù chỉ một ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

*****

Lời Chúa Thứ Hai Tuần XXVIII Thường Niên, Năm Chẵn: 

https://www.vaticannews.va/vi/loi-chua-hang-ngay/2026/10/12.html

Thế hệ gian ác này sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 11,29-32

29 Khi ấy, dân chúng tụ họp đông đảo, Đức Giê-su bắt đầu nói : “Thế hệ này là một thế hệ gian ác ; chúng xin dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na. 30 Quả thật, ông Giô-na đã là một dấu lạ cho dân thành Ni-ni-vê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này như vậy. 31 Trong cuộc Phán Xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với những người của thế hệ này và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Sa-lô-môn ; mà đây thì còn hơn vua Sa-lô-môn nữa. 32 Trong cuộc Phán Xét, dân thành Ni-ni-vê sẽ trỗi dậy cùng với thế hệ này và sẽ kết án họ, vì xưa dân ấy đã sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng ; mà đây thì còn hơn ông Giô-na nữa.”


 

Đức Giáo Hoàng Leo XIV sắp phẫu thuật cắt bỏ khối u ở phổi

Ba’o Nguoi – Viet

October 11, 2026

VATICAN CITY (NV) – Hôm Chủ Nhật, 11 Tháng Mười, Đức Giáo Hoàng Leo XIV cho biết ngài sẽ trải qua ca phẫu thuật để loại bỏ một khối u nhỏ ở phổi trong vài ngày tới. Đây là vấn đề sức khỏe đầu tiên buộc ngài phải nhập viện kể từ khi nhậm chức vào năm ngoái.

“Trong các đợt kiểm tra y tế gần đây, các bác sĩ đã phát hiện một nốt nhỏ khu trú ở phổi của tôi,” Đức Giáo Hoàng 71 tuổi chia sẻ với hàng ngàn người đang tập trung tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Peter ở Vatican vào sáng Chủ Nhật để nghe ngài ban phép lành và cầu nguyện hàng tuần, theo The New York Times (NYT).

Đức Giáo Hoàng Leo XIV chia sẻ với hàng ngàn người đang tập trung tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Peter ở Vatican vào sáng Chủ Nhật để nghe ngài ban phép lành và cầu nguyện hàng tuần. (Hình: Filippo MONTEFORTE / AFP via Getty Images)

“Ca phẫu thuật đã được lên lịch thực hiện trong những ngày tới. Tôi cảm ơn sự hiệp thông thiêng liêng của anh chị em và xin phó thác bản thân vào những lời cầu nguyện của anh chị em,” Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói hôm Chủ Nhật.

Ngài nói thêm rằng khối u này được phát hiện ở “giai đoạn rất sớm,” nhưng các bác sĩ khuyên rằng việc can thiệp y tế là giải pháp tốt nhất.

Phát ngôn viên của Vatican, ông Matteo Bruni, cho biết Đức Giáo Hoàng Leo XIV sẽ nhập viện vào “những ngày đầu” của tuần tới và quá trình hồi phục sẽ kéo dài khoảng một tuần.

Dù lịch trình làm việc dày đặc kể từ khi nhậm chức vào Tháng Năm, năm 2025, Đức Giáo Hoàng Leo XIV vẫn giữ thói quen tập thể dục. Ngài thường xuyên chơi quần vợt và bơi lội tại khu nghỉ dưỡng của Giáo Hoàng ở Castel Gandolfo. Truyền thông Ý đưa tin rằng nơi nghỉ vừa được tu sửa tại Điện Tông Tòa, nơi Đức Giáo Hoàng Leo XIV chuyển đến trong năm nay – có trang bị cả phòng tập thể dục ngay tại nhà.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV có kế hoạch đến Nam Mỹ vào tháng tới, trong đó có Peru – nơi ông từng sinh sống nhiều năm. Trong bài phát biểu hôm Chủ Nhật, ngài cảm ơn các tín hữu vì những lời cầu nguyện “cho chuyến thăm mục vụ mà tôi sẽ thực hiện tại Peru,” qua đó cho thấy kế hoạch của ngài vẫn không thay đổi.

Tòa Thánh Vatican không tiết lộ địa điểm sẽ diễn ra ca phẫu thuật. Những người tiền nhiệm gần đây của Đức Giáo Hoàng Leo XIV đều được điều trị tại Policlinico A. Gemelli, một bệnh viện ở Rome. (KL)


 

CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI SAU 1975…

 Tất cả những ai tại Sài Gòn bị tịch thu nhà, tài sản đều phải đi về vùng Kinh tế mới, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. Hơn 600.000 nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng Kinh tế mới và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý.

Khi đến vùng Kinh tế mới để sống, họ phải tham gia vào các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:

– 30% trả thuế

– 25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;

– 15% trả lương cho cán bộ quản lý;

– 30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động

Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế mới đã bị tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa sống trong vùng Kinh Tế Mới, thế là gần cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của chế độ Hà Nội đối với những bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản.

Screenshot

Phát biểu tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội chung cả nước, ngày 25 tháng 6 năm 1976 ông Lê Duẩn chủ trương:

“ … ở miền Nam, những người trước đây nhờ chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ mà có một mức sống vật chất vượt xa khả năng của nền kinh tế trong nước và kết quả lao động của bản thân họ, nên hiểu rằng đó là một cuộc sống phồn vinh giả tạo, đổi bằng đau khổ, chết chóc của hàng triệu đồng bào, bằng sự triệt phá biết bao xóm làng, thị trấn, bằng sự sa đọa của biết bao thanh niên, bằng sự chà đạp nhân phẩm của biết bao phụ nữ ở các vùng tạm bị chiếm, và bằng nhục mất nước.

Họ nên hiểu rằng lối sống chạy theo những nhu cầu giả tạo theo kiểu “xã hội tiêu thụ”, đua đòi theo những thị hiếu tầm thường, hoàn toàn trái với cuộc sống hạnh phúc văn minh chân chính. Những đồng bào ấy ngày nay có thể và cần trở lại với thực tế, trở về với cuộc sống của dân tộc, sống bằng kết quả lao động của mình. Đó là con đường để tiến tới một cuộc đời tươi vui, đẹp đẽ, có ý nghĩa, có phẩm giá, có hạnh phúc thật sự và lâu bền cho chính mình và con cháu mình.”

Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam cả triệu người đang sống sung túc bổng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà.

Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường trở về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.

Nguyễn Dương

 


 

CON RUỒI- Truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh

CON RUỒI – Nguyễn Nhật Ánh

Con ruồi nhỏ, nhỏ xíu, vậy mà cái nhỏ xíu đó đôi khi lại là nguyên nhân của những việc tày đình. Rất có thể hai vợ chồng đâm đơn ra tòa ly dị nhau chỉ bởi một con ruồi. Ai mà lường trước được những việc thần kỳ đó!

Tôi ốm. Ðiều đó vẫn thỉnh thoảng xảy ra cho những người khỏe mạnh. Và vợ tôi pha cho tôi một ly sữa. Tôi nốc một hơi cạn đến nửa ly và phát hiện ra trong ly có một con ruồi. Con ruồi đen bập bềnh trong ly sữa trắng, “đẹp” kinh khủng!

Thế là mọi chuyện bắt đầu.

Tôi vốn rất kỵ ruồi, cũng như gián, chuột, nói chung là kỵ tất thảy các thứ dơ bẩn đó. Tôi đang nằm mà nghe tiếng chuột bò sột soạt trong bếp là tôi không tài nào nhắm mắt được. Thế nào tôi cũng vùng dậy lùng sục, đuổi đánh cho kỳ được. Bằng không, thì cứ gọi là thức trắng đêm.

Vậy mà bây giờ, một trong những thứ tôi sợ nhất lại nhảy tót vào ly sữa tôi đang uống, và đã uống, nói trắng ra là nhảy tót vào mồm tôi. Biết đâu ngoài con ruồi chết tiệt trong ly kia, tôi lại chẳng đã nuốt một con khác vào bụng. Mới nghĩ đến đó, tôi đã phát nôn.

Thấy tôi khạc nhổ luôn mồm, vợ tôi bước lại, lo lắng hỏi:

– Sao vậy anh?

Tôi hất đầu về phía ly sữa đặt trên bàn:

– Có người chết trôi kia kìa!

Vợ tôi cầm ly sữa lên:

– Chết rồi! ở đâu ra vậy cà?

– Còn ở đâu ra nữa? Ố! Tôi nhấm nhẳng: Ố! Chứ không phải em nhặt con ruồi bỏ vào ly cho anh à?
Vợ tôi nhăn mặt:

– Anh đừng có nói oan cho em! Chắc là nó mới sa vào!

– Hứ, mới sa hay sa từ hồi nào, có trời mà biết?

Vì tôi đang ốm nên vợ tôi không muốn cãi cọ, cô ta nhận lỗi:

– Chắc là do em bất cẩn. Thôi để em pha cho anh ly khác.

Tôi vẫn chưa nguôi giận:

– Em có pha ly khác thì anh cũng đã nuốt con ruồi vào bụng rồi.

Vợ tôi trố mắt:

– Nó còn trong ly kia mà!

– Nhưng mà có tới hai con lận. Anh uống một con rồi.

– Anh thấy, sao anh còn uống?

– Ai mà thấy!

– Không thấy sao anh biết có hai con?

Tôi tặc lưỡi:

– Sao lại không biết? Uống vô khỏi cổ họng, nghe nó cộm cộm là biết liền.

Vợ tôi bán tín bán nghi. Nhưng vì tôi đang ốm, một lần nữa cô ta sẵn sàng nhận khuyết điểm:

– Thôi, lỗi là do em bất cẩn! Ðể em…

Tôi là tôi chúa ghét cái kiểu nhận lỗi dễ dàng như vậy. Do đó, tôi nóng nảy cắt ngang:

– Hừ, bất cẩn, bất cẩn! Sao mà em cứ bất cẩn cả đời vậy?

Vợ tôi giật mình:

– Anh bảo sao? Em làm gì mà anh gọi là bất cẩn cả đời?

– Chứ không phải sao?

– Không phải!

A, còn bướng bỉnh! Tôi nheo mắt:

– Chứ hôm trước ai ủi cháy cái quần của anh?

– Thì có làm phải có sai sót chứ! Anh giỏi sao anh chẳng ủi lấy mà cứ đùn cho em?

– Ái chà chà, cô nói với chồng cô bằng cái giọng như thế hả? Cô nói với người ốm như thế hả? Cô bảo tôi lười chảy thây chứ gì? Cô so sánh tôi với khúc gỗ phải không? Ái chà chà…

Thấy tôi kết tội ghê quá, vợ tôi hoang mang:

– Em đâu có nói vậy!

– Không nói thì cũng như nói! Cô tưởng cô giỏi lắm phỏng? Thế tháng vừa rồi ai làm cháy một lúc hai cái bóng đèn, tháng trước nữa ai phơi quần áo bị đánh cắp mà không hay? Cô trả lời xem!

Vợ tôi nhún vai:

– Anh lôi những chuyện cổ tích ấy ra làm gì? Hừ, anh làm như anh không bất cẩn bao giờ vậy? Anh có muốn tôi kể ra không? Tháng trước ai mở vòi nước quên tắt để cho nước chảy ngập nhà? Anh hay tôi? Rồi trước đó nữa, ai làm mất chìa khóa tủ, phải cạy tủ ra mới lấy được đồ đạc?

Tôi khoát tay:

– Nhưng đó là chuyện nhỏ nhặt! Còn cô, năm ngoái cô lấy mấy ngàn bạc cho bạn bè mượn bị nó gạt mất, sao cô không kể luôn ra?

– Chứ còn anh, sao anh không kể chuyện anh đi coi bóng đá bị mất xe đạp? Rồi năm ngoái, ai nhậu xỉn bị lột mất đồng hồ?

Cứ như thế, như có ma quỷ xui khiến, hai vợ chồng thi nhau lôi tuột những chuyện đời xửa đời xưa của nhau ra và thay nhau lên án đối phương, không làm sao dừng lại được. Tôi quên phắt là tôi đang ốm. Vợ tôi cũng vậy. Chúng tôi mải mê vận dụng trí nhớ vào việc lùng sục những khuyết điểm từng từng lớp lớp của nhau. Và thật lạ lùng, có những chuyện tưởng đã chìm lấp từ lâu dưới lớp bụi thời gian, tưởng không tài nào nhớ nổi, thế mà bây giờ chúng lại hiện về rõ mồn một và chen nhau tuôn ra cửa miệng. Từ việc tôi ngủ quên tắt radio đến việc vợ tôi mua phải cá ươn, từ việc tôi bỏ đi chơi ba ngày liền không về nhà đến việc vợ tôi đi dự sinh nhật bạn đến mười hai giờ khuya, v.v…và v.v… chúng tôi thẳng tay quậy đục ngầu quá khứ của nhau và vẽ lên trước mặt mình một bức tranh khủng khiếp về đối tượng.

Trời ơi! Thế mà trước nay tôi vẫn sống chung với con người tệ hại đó! Thật chẳng thể tưởng tượng nổi! Tôi cay đắng nhủ thầm và bùng dậy quyết tâm phá vỡ cuộc sống đen tối đó. Tôi đập tay xuống bàn, kết thúc cuộc tranh cãi:

– Thôi, tra khảo hành hạ nhau thế đủ rồi! Tóm lại là tôi hiểu rằng tôi không thể sống chung với cô được nữa. Tôi ngán tới tận cổ rồi!

Vợ tôi lạnh lùng:

– Tùy anh!

Câu đáp cộc lốc của vợ không khác gì dầu đổ vào lửa. Tôi nghiến răng:

– Ðược rồi! Cô chờ đấy! Tôi làm đơn xin ly hôn ngay bây giờ.

Tôi lập tức ngồi vào bàn và bắt đầu viết đơn. Ngòi bút chạy nhoáng nhoáng trên giấy với tốc độ 100 km/giờ. Viết và ký tên mình xong, tôi đẩy tờ đơn đến trước mặt vợ. Cô ta cầm bút ký rẹt một cái, thậm chí không thèm liếc qua xem tờ đơn viết những gì.

Thế là xong! Tôi tặc lưỡi và thở ra, không hiểu là thở phào hay thở dài. Cuộc đời cứ như xi-nê-ma, nhưng biết làm thế nào được?

Ký tên xong, vợ tôi đứng lên và cầm lấy ly sữa.

– Cô định làm gì đấy?

– Ðem đổ đi chứ làm gì?

– Không được, để ly sữa đấy cho tôi! Tôi phải vớt con ruồi ra, gói lại, đem đến tòa án làm bằng cớ.

Ðặt ly sữa xuống bàn, vợ tôi lẳng lặng đi vào phòng ngủ, đóng sập cửa lại. Trong khi đó, tôi hùng hục lấy muỗng vớt con ruồi ra.

Tôi ngắm con ruồi nằm bẹp dí trên đầu muỗng và có cảm giác là lạ. Tôi đưa con ruồi lên sát mắt, lấy tay khảy nhẹ và điếng hồn nhận ra đó là một mẩu lá trà.