NỢ ÂN TÌNH – Tg Phạm Nhật Minh 

 Tg Phạm Nhật Minh 

NỢ ÂN TÌNH LÀ MÓN NỢ KHÓ TRẢ NHẤT ĐỜI NGƯỜI

Có những món nợ cầm giấy tờ đi trả là xong. Có những món nợ chỉ cần đủ tiền thì mọi chuyện khép lại rất nhanh. Người ta vay nhau vài triệu, vài trăm triệu, thậm chí cả một gia tài rồi cũng có ngày thanh toán sạch sẽ. Riêng nợ ân tình thì khác. Càng sống lâu càng thấy nặng lòng. Càng đi nhiều càng hiểu thứ khó trả nhất trên đời chưa bao giờ là tiền bạc, mà là cái nghĩa người khác dành cho mình lúc sa cơ.

Đời người ai cũng từng có lúc khó khăn. Có người khổ vì tiền. Có người khổ vì tình. Có người bên ngoài cười nói bình thường nhưng bên trong nát vụn tới mức chỉ muốn buông xuôi tất cả. Những lúc như thế, thứ cứu một con người nhiều khi không phải vật chất lớn lao, mà chỉ là một bàn tay chìa ra đúng lúc. Một câu nói tử tế. Một ánh mắt tin tưởng. Một người chịu ngồi nghe mình nói hết nỗi lòng giữa lúc ai cũng quay lưng.

Chính những thứ tưởng nhỏ bé ấy lại theo con người ta suốt cả cuộc đời.

Người từng trải thường sống nặng tình hơn nặng tiền. Vì họ hiểu cảm giác lúc bản thân rơi xuống đáy mà vẫn còn người đứng cạnh quý giá tới mức nào. Có những năm tháng đi hết túi vẫn chưa đáng sợ bằng đi hết niềm tin. Có những giai đoạn chỉ cần một người bỏ mặc thôi cũng đủ khiến lòng mình lạnh ngắt. Nên ai từng giúp mình giữa lúc tăm tối, mình nhớ rất lâu. Không cần họ nhắc. Không cần họ đòi. Trong lòng tự khắc ghi.

Nhiều người trẻ nghĩ rằng chỉ cần mang quà cáp tới biếu, gửi chút tiền gọi là đáp lễ thì xem như tròn nghĩa. Không đơn giản như vậy. Ân tình chưa bao giờ đo bằng giá trị món quà. Có người cho mình cả tuổi trẻ để nuôi mình khôn lớn. Có người hy sinh giấc ngủ, sức khỏe, công việc chỉ để mình có chỗ dựa lúc khó khăn. Những thứ ấy lấy gì cân cho đủ.

Cha mẹ là món nợ ân tình lớn nhất đời người. Lúc còn nhỏ, mình đau một chút thì cha mẹ lo đứng lo ngồi. Mình thiếu ăn thiếu mặc một ngày, cha mẹ mất ngủ cả đêm. Có những người cha đi làm quần quật ngoài trời nắng chang chang, lưng áo ướt đẫm mồ hôi vẫn không dám mua cho mình bộ đồ mới. Có những người mẹ ăn uống dè sẻn từng đồng nhưng sẵn sàng vét sạch tiền trong túi để con có bữa cơm ngon. Họ sống cả đời vì con cái nhưng chưa từng tính toán công lao.

Đến lúc con trưởng thành, kiếm được tiền, nhiều người nghĩ đưa tiền về hàng tháng là đủ. Nhưng thứ cha mẹ cần nhiều khi chỉ là một cuộc gọi hỏi han, một bữa cơm đông đủ, một ngày con cái về nhà ngồi nói chuyện tử tế. Tiền bạc giúp cuộc sống dễ thở hơn, nhưng không khỏa lấp được cảm giác cô đơn trong lòng những người già chỉ mong con cháu quan tâm thật lòng.

Có những người khi cha mẹ còn sống thì vô tâm. Lúc mất rồi mới bật khóc, mới thấy lòng trống rỗng, mới muốn báo hiếu nhưng không còn cơ hội. Đó là món nợ day dứt nhất. Muốn trả cũng không biết trả cho ai.

Tình nghĩa vợ chồng cũng là món nợ khó cân đo. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy cưới nhau về sống chung một nhà. Nhưng chỉ người trong cuộc mới hiểu để đồng hành với nhau qua năm tháng không hề dễ. Một người chấp nhận ở cạnh mình lúc tay trắng, chịu cùng mình đi qua nghèo khó, chịu nhẫn nhịn tính xấu, chịu gánh vác lúc mình thất bại, người ấy đáng quý vô cùng. Có những người đàn ông lúc chưa có gì thì vợ ở cạnh động viên từng chút. Tới lúc khá giả hơn lại thay lòng. Có những người phụ nữ từng cùng chồng vượt qua những ngày cơ cực nhưng rồi lại bị bỏ quên khi cuộc sống tốt hơn.

Con người ta nhiều khi bạc với người từng cùng mình chịu khổ, nhưng lại hết lòng với những mối quan hệ hào nhoáng ngoài xã hội. Đó là điều đau nhất.

Tình bạn cũng vậy. Lúc vui vẻ thì quanh mình rất đông người. Lúc có tiền, có địa vị, đi đâu cũng có kẻ cười nói thân thiết. Nhưng tới khi thất bại mới biết ai thật lòng. Người dám ở cạnh mình lúc trắng tay mới là người đáng trân trọng. Có những người bạn nhiều năm không gặp, nhưng chỉ cần mình xảy ra chuyện, họ sẵn sàng có mặt. Có người chẳng khá giả gì nhưng vẫn cố giúp mình một khoản lúc túng quẫn. Khoản tiền ấy chưa chắc lớn, nhưng cái tình nằm phía sau mới đáng quý.

Người từng nghèo mới hiểu bát cơm lúc đói ngon tới mức nào. Người từng cô độc mới hiểu một câu động viên đúng lúc ấm lòng ra sao. Nên càng va chạm, con người càng sống chậm lại. Không còn nhìn mọi thứ bằng giá trị vật chất nữa. Họ nhìn bằng lòng người.

Đời này đáng sợ nhất không phải mang nợ tiền, mà là nợ một người đã từng tốt với mình. Tiền còn có giá rõ ràng. Ân tình thì không có con số cụ thể. Có những việc giúp xong là quên, nhưng người được giúp nhớ cả đời. Có những người chỉ vô tình cứu mình một lần nhưng lại thay đổi cả quãng đời phía sau của mình.

Có người từng nói, lúc nghèo khổ mà gặp được người thật lòng giúp đỡ, cảm giác ấy nhớ tới già cũng chưa quên được. Vì khi con người rơi xuống thấp nhất, họ mới thấy rõ ai thật tâm, ai giả tạo. Người đứng cạnh mình lúc huy hoàng chưa chắc quý bằng người ngồi cạnh mình lúc thất bại.

Cuộc sống bây giờ khiến nhiều người sống thực dụng hơn. Quan hệ cũng tính toán hơn. Người ta sợ thiệt, sợ cho đi, sợ sống quá chân thành. Có người giúp ai cũng cân nhắc xem sau này nhận lại được gì. Có người đối tốt với người khác chỉ vì lợi ích. Nên giữa một xã hội nhiều toan tính, gặp được người sống có tình có nghĩa càng hiếm.

Càng lớn càng hiểu, giàu nghèo chưa nói lên giá trị một con người. Thứ đáng quý nhất nằm ở cách họ đối đãi với người từng giúp mình. Có những người thành công rồi quay lưng với ân nhân. Có những người khá giả hơn một chút liền xem thường bạn cũ. Nhưng cũng có người dù đi tới đâu vẫn nhớ người từng nâng đỡ mình những ngày gian khó. Người như thế thường sống bền, sống lâu trong lòng người khác.

Con người sống hơn nhau ở chữ nghĩa. Một người biết nhớ ơn, đi tới đâu cũng được quý trọng. Một người vô ơn, giàu cỡ nào lòng người khác cũng lạnh nhạt. Vì tiền bạc kiếm lại được, còn nhân cách mất rồi rất khó lấy lại.

Nhiều lúc nghĩ cũng buồn. Có những người sống tử tế cả đời nhưng lại gặp toàn bạc bẽo. Giúp người lúc khó khăn, tới khi mình sa cơ thì chẳng ai nhớ tới. Nhưng người sống sâu sắc thường không than trách nhiều. Họ hiểu giúp người là do cái tâm của mình. Chỉ cần bản thân sống không thẹn lòng là được.

Đời người ngắn ngủi lắm. Nay còn gặp nhau, mai chưa chắc còn cơ hội. Có người sáng còn nói cười, chiều đã rời xa mãi mãi. Nên ai còn cha mẹ thì cố dành thời gian nhiều hơn một chút. Ai còn ân nhân bên đời thì cố đối đãi tử tế hơn một chút. Đừng để tới lúc không còn gặp được nữa mới ôm tiếc nuối.

Tiền nợ còn có thể trả dần theo năm tháng. Ân tình nhiều khi mang theo tới hết đời vẫn chưa trả đủ. Vì thứ người khác cho mình đâu chỉ là sự giúp đỡ. Trong đó còn có lòng thương, sự tin tưởng, sự bao dung và cả chân thành.

Có những người bước qua đời mình như cơn gió. Nhưng cũng có những người chỉ cần xuất hiện một lần thôi cũng đủ khiến mình nhớ mãi. Không phải vì họ giàu có hay tài giỏi. Chỉ vì lúc cả thế giới quay lưng, họ vẫn chọn đứng về phía mình.

Người từng đi qua đủ thăng trầm thường sống chậm hơn, trầm hơn, ít khoe khoang hơn. Vì họ hiểu cuộc đời này thứ quý nhất không nằm trong tài khoản, cũng không nằm ở danh tiếng ngoài xã hội. Thứ đáng quý nằm ở những người thật lòng bên cạnh mình lúc khốn khó.

Nợ tiền còn có ngày trả hết.

Nợ ân tình nhiều khi mang theo cả đời vẫn thấy chưa đủ.

Tg Phạm Nhật Minh 

Ngày 26/05/2026 

From: luong bui & KimBằngNguyễn 


 

TINH HOA ÍT NGỌT – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Ai nấy đều ăn và được no nê”.

“Thiên Chúa thì thầm với chúng ta trong niềm vui, nói với chúng ta qua lương tâm, nhưng kêu lớn trong đau khổ!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những lần Thiên Chúa chỉ cất tiếng khi cuộc đời bắt đầu có vị đắng. Có những lần khi nếm qua, chúng ta mới nhận ra đó là phần tinh hoa Ngài dành cho mình. Lời Chúa hôm nay mặc khải một sự thật: không ít lần, điều Thiên Chúa chọn cho chúng ta lại là một ‘tinh hoa ít ngọt’.

“Ai nấy đều ăn và được no nê”. Bản Hy Lạp viết echortásthēsan – “no đầy, thoả thuê”. Đó không chỉ là cái no của bánh ăn, nhưng là sự no đầy mà chỉ mình Thiên Chúa biết điều gì thật sự làm no lòng mỗi người, và chỉ mình Ngài mới có thể ban điều ấy. Ngài ban cho người này niềm hạnh phúc, người khác thời gian thử thách; cho người này một người dễ thương, người khác một người khó thương; cho người này những ngày thuận lợi, người khác những hoàn cảnh bất tiện. Và dù thế nào đi chăng, Ngài vẫn chọn phần tinh hoa tốt nhất cho mỗi người; không ai giống ai. “Để mỗi người nên thánh, Thiên Chúa luôn ban cho họ điều gì là tốt nhất!” – François de Sales.

Nhưng làm sao nhận ra phần tinh hoa ấy? Isaia không định nghĩa, nhưng đặt một câu hỏi đầy trăn trở: “Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng?” – bài đọc một. Hoá ra điều chúng ta tưởng là bánh nhiều khi không nuôi được tâm hồn; điều chúng ta ngại đón nhận lại có thể là lương thực đang làm mình lớn lên. Vì thế, Thiên Chúa mời gọi: “Đến mà ăn!”. Ngài không trao cho chúng ta điều chúng ta muốn, nhưng trao đúng điều chúng ta cần. “Điều Thiên Chúa muốn luôn tốt hơn điều chúng ta chọn!” – François Fénelon.

Điều Thiên Chúa chọn không bao giờ sai lầm. Vì thế, Thánh Vịnh hân hoan hát lên: “Chúa thương rộng mở tay ban, đoàn con hết thảy muôn vàn thoả thuê!”. Đó không phải là lời hứa về một cuộc đời không còn thiếu thốn, nhưng là niềm xác tín rằng Thiên Chúa luôn biết đâu là lương thực thật. Bởi vậy, Phaolô quả quyết: “Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta!” – bài đọc hai. Nghĩa là, trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, không biến cố nào vô nghĩa, không mảnh đời nào bị bỏ phí. Tất cả đều có thể trở thành phần tinh hoa làm nên một con người.

Anh Chị em,

Chúa Cha đã không dành cho Chúa Con một con đường dễ dàng, nhưng dành cho Ngài chính thập giá. Và Chúa Con đã đón nhận chén đắng ấy trong yêu thương và tuyệt đối vâng phục. Vì thế, điều xem ra cay đắng nhất lại trở thành nguồn mạch cứu độ nhân loại. Theo Đức Kitô là tin rằng phần Chúa Cha dành cho chúng ta, dẫu hôm nay chưa hiểu, vẫn đang dẫn chúng ta đến sự sống đời đời. “Hãy đón nhận mọi sự như hồng ân của Thiên Chúa; điều đó có thể biến đổi tận gốc cuộc đời bạn!” – Hans Urs von Balthasar. Chỉ dưới ánh sáng thập giá, chúng ta mới nhận ra đó chính là một ‘tinh hoa ít ngọt’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết tín thác điều Chúa an bài; đón nhận điều Chúa trao, dẫu trong nước mắt; và can đảm thi hành thánh ý Ngài, dẫu phải nghẹn ngào!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

************

Chúa Nhật Tuần XVIII – Mùa Thường Niên

https://l1nq.com/d6zpwsp

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

13 Khi ấy, được tin ông Gio-an Tẩy Giả chết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.

15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16 Đức Giê-su bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17 Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” 18 Người bảo : “Đem lại đây cho Thầy !” 19 Sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn khoảng chừng năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.


 

Mừng kính Thánh Anphonsô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1696-1787) – Cha Vương

Chúc bình an! Trong bài huấn từ của Đức Thánh Cha Giáo Hoàng Biển Đức XVI, ngài có nói về Kinh Mân Côi: “Trong thế giới hiện nay, rất phân tán, kinh này giúp đặt Chúa Kitô làm trung tâm, như Đức Trinh Nữ đã làm, Đấng suy niệm trong lòng tất cả những gì được nói về Con mẹ, và cũng những gì Người đã làm và đã nói. Khi đọc kinh Mân Côi, những thời điểm quan trọng và đầy ý nghĩa của lịch sử cứu độ được SỐNG LẠI. Những bước khác nhau về sứ vụ của Chúa Kitô được phát hiện. Với Đức Maria tâm hồn hướng về mầu nhiệm Chúa Giêsu.” 

Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới được bình an nhé. 

Tháng 8 rồi bạn ơi! Xin Chúa chúc lành cho bạn và gia đình. Hôm nay 01/8 Giáo hội mừng kính Thánh Anphonsô, Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (1696-1787). Mừng Bổn Mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 01/08/2026     t 3: 2023

Thánh Anphonsô sinh năm 1696 tại Na-pô-li. Người từ bỏ nghề luật sư để làm linh mục, rồi sau lại nhận trách nhiệm giám mục để loan báo tình yêu của Chúa Ki-tô. Người đi giảng không mỏi mệt, siêng năng giải tội và rất nhân từ với các hối nhân. Người đã lập dòng Chúa Cứu Thế nhằm mục đích loan báo Tin Mừng cho dân các miền quê (năm 1732). Người đã giảng dạy luân lý và viết nhiều tác phẩm về đời sống thiêng liêng. 

    Hạnh tích kể rằng một trong các linh mục của dòng có cuộc sống rất trần tục, và cưỡng lại mọi biện pháp nhằm thay đổi lối sống ấy. Vị linh mục được Đức Cha Anphonsô mời đến, và ngay ở lối vào phòng của ngài, thánh nhân cho đặt một tượng thánh giá thật lớn. Khi vị linh mục do dự không dám bước qua, Đức Cha Anphonsô ôn tồn nói, “Hãy bước vào đi, và nhớ đạp lên thánh giá. Đây không phải lần đầu tiên mà cha đạp Chúa dưới chân mình.”

    Vào năm 71 tuổi, ngài bị đau thấp khớp khủng khiếp. Ngài đau khổ trong 18 tháng sau cùng với “sự tăm tối” vì sự do dự, sợ hãi, bị cám dỗ đủ mọi khía cạnh đức tin và mọi đức tính. Ngài qua đời ngày 01 tháng 8 năm 1787 tại Nocera de’ Pagani, Salerno.

    Để noi gương thánh nhân mời Bạn suy niệm và tự hỏi ngài đang muốn nhắn nhủ bạn điều gì nhé:

(1) Ai cầu nguyện, thì được cứu rỗi.

(2) Lạy Mẹ Maria, xin hãy nhận con, như của riêng Mẹ, và cho Mẹ, xin hãy chăm lo phần rỗi của con.

(3) Bất cứ sự bất an nào, cho dù có lý do tốt cách mấy, cũng không thể phát xuất từ Thiên Chúa.

(4) Khi một tư tưởng xấu xa hiện lên trong tâm trí, chúng ta phải cố gắng lập tức hướng tư tưởng về Thiên Chúa hoặc một đều trung lập nào đó. Nhưng qui luật trước tiên là phải lập tức kêu cầu thánh danh Chúa Giêsu và Mẹ Maria và tiếp tục kêu cầu cho đến khi cơn cám dỗ chấm dứt.

(5) Người không bỏ cầu nguyện thì chẳng thể kéo dài thói quen xúc phạm đến Thiên Chúa.

(6) Người nào tin tưởng vào bản thân sẽ hư mất. Người nào tin tưởng vào Thiên Chúa sẽ làm được mọi sự.

(7) Hôm nay Chúa mời bạn làm điều tốt; hãy làm ngay hôm nay. Ngày mai bạn có thể không có thời gian, hoặc Chúa có thể không còn kêu gọi bạn làm điều đó nữa.

Câu nào đánh động bạn mạnh nhất?

From: Do Dzung

***************

Một mình con với Chúa – Diệu Hiền (St: Giang Ân)

ĐỪNG LÀM BUỒN LÒNG NGƯỜI TRANH ĐẤU VÌ CHÚNG TA

 Manh Dang is with Gia-quoc Nguyen

ĐỪNG LÀM BUỒN LÒNG NGƯỜI TRANH ĐẤU VÌ CHÚNG TA

——-///——-

Đặng Đình Mạnh

Việt Báo, ngày 24/07/2026

Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.

Mỗi nơi tôi đến làm việc đều có cộng đồng người Việt, các tổ chức hoạt động theo mục tiêu, tôn chỉ hướng về quốc nội. Nhờ vậy mà tôi biết rất nhiều người, nhiều tổ chức đang công khai, hoặc âm thầm dấn thân cho mục tiêu dân chủ hóa Việt Nam. Điều khiến tôi chú ý là tuyệt đại đa số những người ấy đều đã có cuộc sống ổn định. Họ có nghề nghiệp, có gia đình, có cơ ngơi và một tương lai khá vững vàng trên đất nước Hoa Kỳ.

Tò mò, tôi hỏi họ “Nếu một ngày Việt Nam thay đổi, các anh chị có trở về quê hương sinh sống không?”. Hỏi nhiều lần và ở nhiều nơi, nhưng hầu như câu trả lời đều chỉ có một: “Không anh!”.

Điều đó không làm tôi ngạc nhiên.

Sau nhiều chục năm định cư, nước Mỹ đã trở thành quê hương thứ hai của họ. Con cái họ sinh ra, lớn lên, học hành và lập nghiệp tại đây. Cuộc sống của họ đã gắn chặt với xã hội Hoa Kỳ. Nếu đặt lên bàn cân giữa điều kiện sống, hệ thống pháp luật, cơ hội phát triển và mức độ bảo đảm phẩm giá con người thì rất ít người có lý do để từ bỏ tất cả để quay về sinh sống tại Việt Nam, cho dù xã hội Việt Nam có thay đổi như thế nào.

Đó chính điều khiến tôi suy nghĩ và trân trọng họ.

Nếu họ không có ý định trở về quê hương, nếu họ không mong đợi lợi ích tại Việt Nam sau khi đất nước chuyển đổi dân chủ hóa thành công, vậy thì điều gì khiến họ vẫn kiên trì dành hàng chục năm trời để tranh đấu?

Họ bỏ tiền túi tổ chức hội họp. Họ dành thời gian vận động chính giới. Họ viết bài, làm truyền thông. Họ xuống đường. Họ tổ chức gây quỹ. Họ hỗ trợ gia đình tù nhân lương tâm. Họ tiếp xúc các tổ chức nhân quyền quốc tế. Họ tham dự các phiên điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ. Họ chịu đựng những cuộc tấn công mạt sát trên mạng, những lời vu khống, thậm chí nhiều người còn bị đe dọa đến thân nhân còn ở trong nước, kể cả mất cơ hội về thăm quê hương, người thân.

Đổi lại, họ nhận được điều gì? Nếu không muốn nói hầu như không có gì cho bản thân.

Nếu nhìn hoàn toàn bằng lăng kính lợi ích vật chất thì thật khó giải thích. Tôi chỉ có thể lý giải bằng một điều rằng họ không có món nợ pháp lý, cũng không có món nợ kinh tế. Họ chỉ có món nợ quê hương, một món nợ tinh thần về nơi họ sinh ra. Có thể là nơi cha mẹ họ nằm xuống, là nơi có nấm mồ tổ tiên, là nơi để lại di sản tiếng Việt…

Và trên tất cả, là nơi hàng trăm triệu đồng bào của họ vẫn đang sống mà chưa được hưởng những quyền tự do căn bản, phẩm giá như chính họ đang được hưởng tại Hoa Kỳ.

Có lẽ vì thế mà họ không đấu tranh để đòi lợi ích cho bản thân sau này. Họ đấu tranh để đồng bào mình còn ở lại trong nước có thể được sống đúng với phẩm giá con người.

Vậy thôi.

Đó mới là điều cần nói về các cá nhân, tổ chức của đồng bào tại hải ngoại.

Những ngày gần đây, tôi rất buồn và ngạc nhiên khi nghe những lời nhận xét rất nặng nề, rằng “phần lớn” các tổ chức chống Cộng tại hải ngoại chỉ là giả danh để trục lợi. Rằng nhiều người là đặc tình của chế độ Cộng sản.

Không ai phủ nhận rằng trong bất kỳ cộng đồng nào cũng tồn tại hiện tượng “vàng thau lẫn lộn”. Trong giới doanh nhân có người làm ăn chân chính và cũng có người lừa đảo. Trong giới luật sư có người bảo vệ công lý và cũng có người vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Trong tổ chức từ thiện có nơi minh bạch và cũng có nơi lợi dụng lòng tốt của người khác.

Thế nên, công cuộc đấu tranh cho dân chủ hóa Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.

Có những tổ chức hoạt động thiếu hiệu quả. Hoặc, thay vì bảo vệ cộng đồng, hướng về quốc nội lại quay ra chống nhau. Có những cá nhân lợi dụng danh nghĩa đấu tranh để đánh bóng tên tuổi hoặc gây quỹ không minh bạch. Thậm chí, cũng có thể có những trường hợp làm đặc tình cho chế độ Cộng Sản.

Đó là sự thật.

Nhưng số đó là bao nhiêu? Đã có những cuộc điều tra, hoặc thống kê chính thức nào để có thể kết luận rằng “phần lớn”, nếu không phải chỉ là sự võ đoán phiến diện! Là người hiểu biết, có tiếng nói thì lại càng phải cẩn trọng ngôn từ như vậy khi phủ nhận nhau.

Hơn thế nữa, cách kết luận ấy còn vô tình phủ nhận công sức của biết bao thế hệ người Việt hải ngoại.

Nếu không có họ, liệu vấn đề nhân quyền Việt Nam có được duy trì liên tục trong chương trình nghị sự của nhiều quốc gia dân chủ suốt nhiều thập niên?

Nếu không có họ, liệu các tổ chức quốc tế có nhận được lượng thông tin đồ sộ về tình trạng đàn áp trong nước?

Nếu không có họ, liệu nhiều tù nhân lương tâm có nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế?

Nếu không có họ, liệu nhiều chiến dịch vận động tại Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội châu Âu hay các diễn đàn quốc tế có thể diễn ra?

Bản thân tôi và nhiều người khác đang được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ cũng không thể nói rằng là nhờ chính phủ Hoa Kỳ là đủ, vì nếu không có sự tranh đấu bền bỉ, hiệu quả của bao thế hệ người Việt đến đây trước chúng tôi, thì cũng chưa hẳn sẽ có chính sách mà ngày nay chúng tôi đang được hưởng.

Tôi nghĩ, chúng ta có thể tranh luận về hiệu quả. Có thể góp ý về phương pháp. Có thể phê bình một tổ chức cụ thể. Nhưng không thể phủ nhận toàn bộ theo cách chụp mũ “phần lớn”.

Vì khi đó, nó không còn là phản biện mà là phủ định sạch trơn.

Thực tế, phần lớn những người tôi từng gặp không hề giàu lên nhờ hoạt động đấu tranh. Ngược lại. Họ mất nhiều hơn được. Mất thời gian, tiền bạc, công sức, những ngày cuối tuần bên gia đình. Có người còn mất cả sự an toàn của thân nhân còn sinh sống tại Việt Nam.

Điều đáng tiếc là lời quy kết vô căn cứ không chỉ làm tổn thương những người đang dấn thân, nó còn tạo ra sự hoài nghi trong cộng đồng. Làm người thiện chí nản lòng, nhất là làm cho người trẻ, thế hệ kế thừa cuộc đấu tranh suy giảm niềm tin.

Và cuối cùng, người được hưởng lợi nhiều nhất lại chính là những thế lực luôn mong phong trào dân chủ bị chia rẽ và tự phủ nhận lẫn nhau.

Nhìn lại, hơn 2 năm qua, tôi được đi nhiều, gặp gỡ nhiều cá nhân và tổ chức, nhưng vẫn chưa tự tin rằng mình hiểu biết hết về cộng đồng người Việt hải ngoại, điều tôi thấy có thể chỉ mới là lớp váng nổi trên bề mặt mà thôi. Nhưng khi tận mắt thấy những đội ngũ hoạt động bất vụ lợi bằng tiền bạc, thời gian, công sức của chính họ cho mục tiêu dân chủ hóa đất nước, tôi lạc quan tin rằng tiền đồ dân tộc mình còn sáng sủa lắm.

Thế nên. Tôi biết ơn các cá nhân, tổ chức cộng đồng người Việt hải ngoại, nhờ họ, mà tôi tìm lại được các giá trị mà chế độ Cộng Sản trong nước đã phá hủy, hoặc làm cho phôi pha dần. Nhờ họ, mà tôi tin rằng công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước sẽ thành công.

Hoa Thịnh Đốn, ngày 24 Tháng Bảy 2026

——-///——-

@highlight

*Tranh minh họa bài viết của họa sĩ Đinh Trường Chinh và ảnh chụp kỷ niệm với nhạc sĩ Nam Lộc, người được vinh danh nhân kỷ niệm 75 năm ra đời Công ước Người Tỵ nạn tại Thượng viện Hoa Kỳ


 

Đảng Tân Đại Việt tổ chức Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 36 Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy

 Viet Ba’o

30/07/2026

Thanh Huy

Nghi thức chào cờ từ phải: Ông Hoàng Đình Khuê, Nhà Giáo, Nhà văn Trần Phong Vũ, Nhà văn Nguyễn Quang, TS. Mai Thanh truyết, Ông Phan Thanh Châu và Bà Nguyễn Thế Thủy

 Westminster, Nam California  (Thanh Huy) – Tại Hội trường VietlifeTV thành phố Westminster vào lúc 1 giờ chiều Chủ Nhật ngày 26 tháng 7 năm 2026, Đảng Tân Đại Việt đã long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm lần Thứ 36 Cố  Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy,  Đảng Trưởng Đảng Tân Đại Việt.

 Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời vào ngày 28 tháng 7, 1990 trên bước đường hoạt động tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự. Từ đó đến nay đã trải qua 36 năm, cứ đến độ hè về vào cuối tháng bảy hàng năm Đảng Tân Đại Việt đều long trọng tổ chức lễ tưởng niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. Chính sự kiện này cho thấy hậu thế không bao giờ quên một nhân vật đặc biệt trong lịch sử VN.

 Tham dự lễ tưởng niệm, ngoài một số các Đảng viên Tân Đại Việt, Liên Minh Dân Chủ, còn có quý vị quan khách như: Nhà Văn Nguyễn Quang, Nhà Giáo, Nhà Văn Trần Phong Vũ, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, Ông Phan Thanh Châu Đại Diện Việt Nam Quốc Dân Đảng, Kỹ Sư Phạm Ngọc Lân, Bà Nguyễn Thế Thủy, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Westminster, Nhà Văn Việt Hải và phái đoàn Nhân Văn Nghệ Thuật-Tiếng Thời Gian, Bình Luận Gia Nguyễn Kim Bình, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Nam California, Kỹ Sư Cao Thái Hải, Cô Annie Wright (con gái Giáo Sư Nguyễn Văn Bông) một số quý vị nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông và đồng hương tham dự.

 Điều hợp chương trình buổi lễ do MC: Thụy Lan, mở đầu MC Thụy Lan cho biết lý do và thông qua chương trình. Sau đó nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm.

Quang cảnh lễ tưởng niệm

Tiếp theo ông Hoàng Đình Khuê  Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt lên tuyên bố lý do buổi lễ, Ông nói: “Thay mặt cho Ban tổ chức TĐV, chúng tôi xin Chào mừng và Cảm tạ sự hiện diện của Quý vị trong Buổi Lễ Tưởng Niệm Lần thứ 36 Cố GS Nguyễn Ngọc Huy. Điều này nói lên lòng ưu ái và mối thiện cảm của Quý vị với GS Nguyễn Ngọc Huy và Đảng Tân Đại Việt.

MC. Thụy Lan điều hợp chương trình

Hôm nay chúng tôi không nói gì về Tiểu sử, Văn bằng và Di sản cũng như Sự nghiệp của GS Huy. Chúng tôi sẽ tiết lộ những điều ít biết về cuộc đời của GS:

1- Cơ duyên học chữ Hán:

GS Huy quê ở Tân Uyên/ Biên Hòa trong một gia đình 10 ACE, GS Huy thứ 9 và cô Út Uyên thứ 10. Không may trong gia đình có cái “huông” hễ sanh con trai là chết yểu gọi là giờ “SÁT” chẳng hạn như anh Hai, anh Tư, anh Bảy, anh Tám đều chết; còn chị Ba, chị Tư, chị Sáu còn sống. Cho nên khi sinh ra GS Huy là con Trai thứ 9 thì gia đình rất lo sợ mới đi chùa, cầu khẩn Thầy chùa, Thầy pháp thì được mách là phải đổi ra người Nữ để tránh tai mắt Thần Thánh.

Theo tục lệ và mê tín dị đoan của người xưa thì trường hợp này gọi là “Xấu Hài”. Những người sinh ra giờ Sát rất khó nuôi. Theo truyền miệng đứa trẻ từ lúc sinh ra đến 12 tuổi phải có Cô Mụ đỡ đầu cho đến khi 13 tuổi thì coi như qua được cõi Chết. Cho nên để dối gạt Thần Linh, người Nam phải sống theo lối người Nữ, nghĩa là phải mang tên Nữ, mặc quần áo như Nữ, xỏ lỗ tai, mang kiểng ở cổ chân và nhất là đem bán cho gia đình khác nuôi.

Do đó gia đình mới gởi cho Dì Sáu nuôi.

Gia đình bên Ngoại sống ở làng Tân Hòa, Tân Khánh/ Biên Hòa. Hai làng này nổi tiếng giỏi Võ. Có một dạo người Pháp cấm hai làng này không được dạy Võ. GS Huy sống với gia đình Dì Sáu và học hành rất chăm chỉ.

Ông Ngoại của GS Huy là cụ Trần Văn Thỉnh, biệt danh là Trần Minh Đức, một nhà Nho nổi tiếng và cũng là nhà Nho cuối cùng của miền Nam. Lúc bấy giờ GS Huy mới 9 tuổi, lúc rảnh rỗi GS Huy thường đứng bên ngoài nghe ông Ngoại dạy chữ Nho. Nhận thấy cháu ngoại hiếu học và thông minh, nên ông Ngoại truyền hết kho chữ Nho cho cháu ngoại.

Sau này GS Huy có biệt hiệu “ông Đồ mặc âu phục.”

Lý do tôi biết được bí mật này là nhân dịp đi công tác ở Sydney-New South Wales/Úc Châu gặp được GS Liêng Khắc Văn là anh em bạn Dì với GS Huy cho biết; một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng Sydney và cũng là cựu hoc sinh Petrus Ký, bạn với GS Dương Ngọc Sum. 

2- Học giả với viễn kiến sâu sắc:

Mặc dù GS Huy là một chính trị gia với bằng cấp Tiến sĩ Chính Trị Học với một di sản Văn hóa gồm nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và Hán văn, nhưng người đời khâm phục và ngưỡng mộ sự hiểu biết thời sự quốc tế, nhất là viễn kiến uyên bác và đa diện của GS Huy:

  1. a) Trong cuộc chiến Việt Nam, ai đã gây ra sự kiện 30/04/1975?

Phần lớn các Sử gia, các nhà bình luận chính trị đều đổ trách nhiệm cho nhau đã làm mất miền Nam. Nhưng GS Huy đã thấy rõ nguyên nhân chính đã xảy ra biến cố 30/04/1975.

Theo GS Huy nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ miền Nam kể sau vụ Tết Mậu Thân.

Ông Hoàng Đình Khuê, Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt chào mừng và cảm ơn quan khách và đồng hương tham dự

Thế lực đứng sau kế hoạch bỏ miền Nam là do hai sắc tộc mạnh nhất, đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan và sắc tộc Do Thái. Trong giai đoạn này thì sắc tộc Do Thái là thủ phạm. Họ chủ trương nắm giữ các cơ quan trong chính phủ từ Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp, nhất là Truyền thông đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.

Những tiết lộ tế nhị của GS Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao Văn Luận nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử, ông cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam.

  1. b) Ai đã làm sụp đổ bức tường Bá Linh (9/11/1989) và tan rã Liên Xô (21/12/1991)?

Câu hỏi lịch sử này đã gây tranh cãi mấy chục năm qua và có nhiều câu trả lời chủ quan khác nhau tùy theo hoàn cảnh, trình độ và đề cao tinh thần Dân tộc.

– Phía Ba Lan cho là nhờ hai công dân Ba Lan là Lãnh tụ Nghiệp đoàn Walesa và Đức Giáo Hoàng John Paul II.

– Phía Hung Gia Lợi cho rằng nhờ cựu Thủ tướng Nemeth đã mở đường biên giới Áo-Hung.

 – Phía Đông Đức cho rằng nhờ lực lượng cải cách của Đảng cộng sản Đông Đức đã thành công lật đổ nhà độc tài Honecker …

– Phía Tây Đức cho rằng nhờ chánh sách hòa dịu của cựu Thủ tướng Brandt đã thay đổi chế độ công sản …

– Phía Liên Xô thì cho rằng chính TBT Gorbachev với chánh sách cởi mở nên xảy ra tình trạng mất kiểm soát. 

Nhưng theo GS Huy cho rằng nhờ cố Tổng thống Reagan hành xử cứng rắn với Liên Xô. Ông khích tướng kêu gọi Gorbachev mở cửa và làm sụp đổ bức tường này. GS Huy đã tiên đoán rất sớm và trình bày cặn kẻ trong tác phẩm “Perestroika” (viết bằng Anh ngữ), dày 420 trang với 200 lần dẫn chứng tài liệu) và “Glasnost”.Ông cho rằng bắt buộc ông Gorbachev phải cởi mở chánh sách để đối đầu với Hoa Kỳ của Tổng thống Reagan đang trên đà leo thang với phòng thủ chống hỏa tiễn SDI (Strategic Defense Initiative)

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết phát biểu  

  1. c) Biến cố Anh quốc trao trả Hồng Kông cho Trung quốc năm 1997.Từ đó GS Huy đã tiên đoán Dân Hồng Kông sẽ biểu tình chống đối giống như Truyện Tây Du Ký khi Bà La Sát nuốt Tôn Hành Giả vào bụng (Tôn Ngộ Không) khi Tôn Hành Giả hóa ra con bồ hóng trong chén trà, Tôn Hành Giả dùng thiết bản quậy lục phủ ngũ tạng, bà La Sát đau quá phải chịu thua.

GS Huy mất năm 1990, Hồng Kong được trả cho Trung Quốc ngày 1/7/1997, 7 năm sau khi GS qua đời nhưng viễn kiến về chính trị của ông rất nhậy bén trước nhiều thập niên:dân chúng Hồng Kông sẽ biểu tình đòi Dân chủ.

Sau đó Phong trào Dân chủ Hong Kong biểu tình qua cuộc Cách Mạng Dù năm 2014. Thành phần học sinh đã tham gia tranh đấu. Một học sinh tên Joshua Wong (Hoàng Chí Phong) và cô sinh viên Alex Chao (Chu Đình) trong vai trò thủ lãnh đã thành công huy động thành phần sinh viên, học sinh lên tới hàng trăm ngàn người.

Đến ngày 9 tháng 6 năm 2019, hơn 1 triệu người Hong Kong lại xuống đường với những cánh Dù vàng. Joshua Wong vẫn còn trong tù. 

  1. d)  Những lá thơ của các vị Tổng Thống Hoa Kỳ vinh danh GS Huy:

1) Sau khi GS Huy qua đời, biết bao nhiêu các nhà lãnh đạo trong chính quyền Mỹ, các nhân vật nổi tiếng như các chính trị gia, học giả, nhân sĩ …, trong đó có Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush Cha đã gởi một lá thơ chia buồn cho Ái nữ của GS Huy và lên tiếng ca ngợi:

“GS Nguyễn Ngọc Huy là một nhân vật tận tụy cho dân tộc Việt Nam và dân tộc Mỹ với tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau”. 

Những chuyện kể của Ông Hoàng Đình Khuê còn nhiều vấn đề chưa được tiết lộ (Rất tiếc trong phạm vi bản tin chúng tôi không thể tường thuật hết được). 

Tiếp theo là phần phát biểu của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết về những kỷ niệm với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy khi ông còn là một sinh viên tại Pháp. TS.Mai Thanh Truyết cho biết, GS. Nguyễn Ngọc Huy có cuộc sống thật giản dị, lúc nào cũng hòa mình vào những điều kiện đơn giản nhất trên bước đường hoạt động của ông, bình dị với mọi người, nhất là những anh chị em sinh viên đang du học tại Pháp thời bấy giờ. TS. Mai Thanh Truyết có rất nhiều tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua các loạt bài khá dài, nhất là những kỷ niệm về Hòa Đàm Paris, hy vọng trong những ngày sắp tới sẽ được TS. Mai Thanh Truyết phổ biến trên các hệ thống truyền thông để đồng hương có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn. 

Sau đó Giáo Sư Trần Phong Vũ lên phát biểu về cuộc đời và sự nghiệp chính trị của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. 

Tiếp theo, Minh Phượng lên có lời phát biểu về Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, trong những lời phát biểu mọi người đều ca ngợi tinh thần quốc gia, dân tộc và sự hy sinh cao cả của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho một Việt Nam có tự do, dân chủ và phú cường.

 Sau những lời phát biểu, Ban Hợp Ca lên hát bản “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” (Đảng Ca của Đảng Tân Đại Việt.)

 Tiếp theo ban tổ chức mời quý vị lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt, Liên Minh dân Chủ Việt Nam, quý vị quan khách, quý vị thân hào nhân sĩ lên trước bàn thờ có chân dung Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy làm lễ niệm hương.

 Sau lễ niệm hương, Kiều My và Ngọc Quỳnh lên song ca bản “Dân Tộc Sinh Tồn”.

 Kết thúc chương trình với phần hội luận về đề tài: “Chủ Nghĩa Dân Tộc trong chiều hướng toàn cầu hóa” dưới sự chủ tọa của Ông Hoàng Đình Khuê, Nguyễn Kim Bình và Minh Phượng.

 Buổi lễ bế mạc vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày.


 

Mười Điều Tâm Niệm

1) Nghĩ đến thân thể đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì tham dục dễ sanh .

2) Ở đời đừng cầu không khó khăn hoạn nạn, vì không khó khăn hoạn nạn thì kiêu sa nổi dậy.

3) Tự xét tâm tính đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

4)  Xây dựng đạo hạnh đừng mong không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.

5) Việc làm đừng mong dễ thành, vì dễ thành thì lòng khinh thường ngạo mạn.

6) Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

7) Với người đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.

8) Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cẩu đền đáp là có ý mưu đồ.

9) Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.

10) Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.

     S.T.


 

Thánh Ignatio (I Nhã hoặc St. Ignatius of Loyola) Loyola, (1491-1556). – Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay giáo hội mừng kính Thánh Ignatio (I Nhã) Loyola Đấng sáng lập dòng Tên. Mừng lễ quan thầy đến những ai nhận Thánh Ignatio làm bổn mạng nhé.

Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới được an bình trong tình thương yêu của Chúa. Xin Thánh Ignatio Cầu bào cho chung ta nhé 

Cha Vương

Thứ 6: 31/07/2026.    (t7-21)

Thánh Ignatio (I Nhã hoặc St. Ignatius of Loyola) Loyola, (1491-1556). . Vị sáng lập dòng Tên này đang trên đà danh vọng và quyền thế của một sĩ quan trong quân đội Tây Ban Nha thì một trái đạn đại bác đã làm ngài bị thương ở chân. Trong thời kỳ dưỡng bệnh, vì không có sẵn các cuốn tiểu thuyết để giết thời giờ nên ngài đã biết đến cuộc đời Ðức Kitô và hạnh các thánh. Lương tâm ngài bị đánh động, và từ đó khởi đầu một hành trình lâu dài và đau khổ khi trở về với Ðức Kitô.

       Inigo Lopez de Loyola sinh năm 1491 tại Loyola, Guipuzcoa, Tây Ban Nha trong một gia đình quý tộc. Vào năm 1522, được thấy Mẹ Thiên Chúa trong một thị kiến, ngài thực hiện cuộc hành hương đến đan viện dòng Biển Ðức ở Monserrat. Ở đây, ngài xưng thú tội lỗi, mặc áo nhặm và đặt thanh gươm trên bàn thờ Ðức Maria thề hứa sẽ trở nên một hiệp sĩ cho Ðức Mẹ.

       Trong khoảng thời gian một năm, ngài sống gần Manresa, có khi thì ở với các tu sĩ Ða Minh, có khi thì ở nhà tế bần, nhưng lâu nhất là sống trong một cái hang ở trên đồi để cầu nguyện. Chính trong thời gian hoán cải này ngài bắt đầu một công trình mà sau đó rất nổi tiếng, cuốn Những Thao Luyện Tâm Linh.

       Vào năm 1523, ngài rời Manresa đến Rôma và Giêrusalem, là nơi ngài sống nhờ việc khất thực và hăng say hoán cải người Hồi Giáo ở đây. Vì lo sợ cho tính mạng của ngài các tu sĩ Phanxicô khuyên ngài trở về Barcelona. Tin tưởng rằng kiến thức uyên bác sẽ giúp đỡ tha nhân cách thiết thực hơn, ngài dành 11 năm tiếp đó trong việc học hành ở Alcalá, Salamanca và Balê.

       Vào năm 1534, lúc ấy đã 43 tuổi, cùng với sáu người khác (trong đó có Thánh Phanxicô Xaviê) ngài thề sống khó nghèo và khiết tịnh và tất cả cùng đến Ðất Thánh. Các ngài thề quyết rằng nếu không thể ở đây thì sẽ dâng mình cho công việc tông đồ của đức giáo hoàng. Và đó là điều đã xảy ra. Bốn năm sau, ngày 15 tháng 8 năm 1534  Ignatio hợp thức hóa tổ chức của ngài. Tu Hội của Ðức Giêsu (The Constitutions of the Society of Jesus / Dòng Tên) được Ðức Giáo Hoàng Phaolô III chuẩn nhận năm 1541 và Ignatio được bầu làm bề trên đầu tiên.

       Trong khi các bạn đồng hành được đức giáo hoàng sai đi truyền giáo thì  Ignatio vẫn ở Rôma, chăm sóc tổ chức mới của ngài nhưng vẫn dành thời giờ để thành lập các nhà cho cô nhi, cho người tân tòng. Ngài thành lập Trường Roma (sau này là Ðại Học Grêgôriô), với mục đích là trường này sẽ trở nên khuôn mẫu cho các trường của Tu Hội. Ngày nay Tu Hội của Đức Giêsu (Dòng Tên) phát triển trên 500 đại học với 30,000 thành viên khắp nơi trên thế giới và mỗi năm dạy trên 200,000 học sinh.

       Thánh Y Nhã đích thực là một vị thần bí. Ngài tập trung vào đời sống tâm linh dựa trên các nền tảng thiết yếu của Kitô Giáo – Thiên Chúa Ba Ngôi, Ðức Kitô, Bí Tích Thánh Thể. Linh đạo của ngài được tỏ lộ trong châm ngôn của Dòng Tên, ad majorem Dei gloriam – “để Thiên Chúa được vinh danh hơn.” Trong quan niệm của ngài, sự tuân phục là một đức tính nổi bật nhằm đảm bảo cho thành quả và sự năng động của tu hội. Mọi hoạt động phải được hướng dẫn bởi lòng yêu mến Giáo Hội thực sự và tuân phục Ðức Thánh Cha vô điều kiện, vì lý do đó, mọi thành viên của dòng phải khấn lời thề thứ tư, đó là phải đến bất cứ đâu mà đức giáo hoàng đã sai đi vì sự cứu rỗi các linh hồn.

       Trong những năm tháng cuối đời, ngài phải chịu nhiều đau khổ vì bệnh tật và qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1556 tại Rome, nước Ý. Đức Giáo Hoàng Pius V đã tôn phong Chân Phước cho Ignatio ở Loyola ngày 27 tháng 7 năm 1609 và Đức Giáo Hoàng Gregory XV đã tôn phong hiển thánh cho Ignatio ở Loyola ngày 12 tháng 3 năm 1622. (Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Patron Saints & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saint, Vatican Blesseds và Santi-Beati-Testimoni)

Sau đây là những câu nói của Thánh Ignatiô Loyola. Mời Bạn suy niệm những lời này để nâng cao tâm trí và linh hồn đến Chúa.

❦ Việc làm đầu tiên là tín thác nơi Chúa. Hãy cố gắng làm như Chúa đang làm mọi sự và bạn không làm điều gì cả.

❦ Ai muốn làm cho những người khác tốt hơn thì vô ích, trừ khi người ấy bắt đầu từ chính mình trước.  

❦ Từ thiện và tử tế mà không có chân lý thì là sự giả dối và hư vô. 

❦ Sao bạn lại để mọi sự sang một bên cho tháng sau hay năm sau? Tại sao, tại sao bạn lại tin rằng bạn sẽ sống lâu như thế?

❦ Không nên nói hay làm điều gì mà không tự hỏi xem những điều ấy có làm Chúa vui lòng không, có ích lợi cho bạn và có làm ích cho người khác không?

❦ Nếu Chúa muốn cho bạn đau khổ nhiều, đó là dấu hiệu mà Chúa muốn bạn trở nên một vị thánh vĩ đại.

❦ Cẩn thận khi chê trách hành động của người khác. Hãy quan tâm đến ý nghĩ của người khác, có khi họ thành thật và vô tội, dù cho hành động của họ có vẻ xấu xa khi ta nhìn vào. 

(Nguồn HĐ đaminh)

Câu nói nào đánh động Bạn nhất, tại sao?

Lạy Thánh I Nhã, xin Cha Thánh cầu bầu cho con được ơn hiền lành, khiêm nhường và khôn ngoan. Amen.

From: Do Dzung

*****

NHẠC THÁNH CA VPV || CON ĐỪNG SỢ || TCVPV

Chính phủ Trump cắt trợ cấp Medicare Part D, giới cao niên phải trả thêm thế nào?

Ba’o Nguoi-Viet

July 29, 2026

Mai Phi Long/Người-Việt (tổng hợp)

WASHINGTON, DC (NV) – Chính quyền Tổng Thống Donald Trump hôm 28 Tháng Bảy quyết định sau năm 2026 sẽ chấm dứt chương trình trợ cấp tạm thời nhằm giữ ổn định phí bảo hiểm thuốc theo toa Medicare Part D.

Hãng thông tấn Reuters cho hay, Cơ Quan Dịch Vụ Medicare và Medicaid, gọi tắt là CMS, cho rằng các hãng bảo hiểm đã có đủ kinh nghiệm để tự định giá cho năm 2027 mà không cần khoản hỗ trợ đặc biệt. CMS dự báo phí bảo hiểm hằng tháng của các chương trình Part D tăng chưa tới $10 đối với phần lớn người tham gia. Tuy nhiên, đây chỉ là dự báo chung, không phải mức trần bắt buộc cho từng chương trình.

Bác Sĩ Mehmet Oz (trái), giám đốc Cơ Quan Quản Lý Medicare & Medicaid,và Tổng Thống Donald Trump tại Tòa Bạch Ốc hồi Tháng Mười, 2025. (Hình: Saul Loeb/AFP via Getty Images)

Nhiều người hiểu Medicare đơn giản là một chương trình do chính phủ trực tiếp cung cấp và thanh toán toàn bộ chi phí y tế cho mọi người từ 65 tuổi trở lên. Thực tế, Medicare không miễn phí mà là một hệ thống bảo hiểm chung, được tài trợ bằng thuế Medicare trên tiền lương, ngân sách liên bang, phí bảo hiểm hàng tháng và những khoản người thụ hưởng phải tự trả như deductible, copay hoặc coinsurance. 

Đối với Medicare Part D, CMS dùng tiền ngân sách ký hợp đồng và trợ cấp các hãng bảo hiểm tư nhân. Người thụ hưởng trả thêm phí bảo hiểm hàng tháng cho chương trình mình chọn. Như vậy, phía sau một toa thuốc là cả một chuỗi tiền đi từ người đóng thuế, ngân sách liên bang và người thụ hưởng sang hãng bảo hiểm, nhà thuốc, đơn vị trung gian và cuối cùng là hãng sản xuất thuốc.

Khi chính phủ rút trợ cấp, chi phí không biến mất mà được phân chia lại giữa ngân sách, hãng bảo hiểm và người cao niên.

Từ tiền thuế đến quyền lợi Medicare

Medicare Part D là bảo hiểm thuốc theo toa, được tài trợ từ phí của người tham gia, ngân sách liên bang, một số khoản đóng góp của tiểu bang và phụ phí của người có thu nhập cao.

Chính phủ không trực tiếp điều hành phần lớn các chương trình Part D. CMS ký hợp đồng với hãng bảo hiểm tư nhân để họ cung cấp bảo hiểm thuốc cho người cao niên.

Mỗi năm, hãng bảo hiểm ước tính khách hàng sẽ sử dụng bao nhiêu thuốc, số người mắc bệnh mãn tính, chi phí điều hành và mức rủi ro. Hãng sau đó gửi CMS một mức giá đề nghị, gọi là “bid.” CMS xem xét các mức giá để tính khoản trợ cấp của chính phủ và phần phí bảo hiểm người thụ hưởng phải trả.

Reuters cho biết mức đề nghị trung bình toàn quốc dùng trong công thức trợ cấp năm 2027 là $296.05 mỗi tháng. Đây không phải hóa đơn của từng người hay khoản CMS trả cố định cho mỗi người, mà là mức giá trung bình được dùng làm chuẩn để tính trợ cấp.

CMS cũng ấn định mức phí căn bản dùng để khởi đầu công thức tính phí Part D năm 2027 là $41.33 mỗi tháng. Đây không phải số tiền mọi người đều phải trả. Phí thực tế có thể cao hoặc thấp hơn tùy mức giá của từng chương trình, nơi cư trú, quyền lợi kèm theo và tình trạng trợ cấp của từng người.

Chương trình ổn định phí Part D hoạt động ra sao?

Đạo Luật Giảm Lạm Phát được cựu Tổng Thống Joe Biden ký ban hành ngày 16 Tháng Tám, 2022. Trong lĩnh vực y tế, luật này chủ yếu nhằm giảm gánh nặng tiền thuốc cho người thụ hưởng Medicare qua việc giới hạn số tiền người tham gia Part D phải tự trả, bảo vệ họ khi chi phí thuốc lên rất cao, giới hạn giá insulin và miễn khoản cùng trả cho một số vaccine.

Để cung cấp các quyền lợi đó, đạo luật thay đổi cách phân chia hóa đơn thuốc. Người bệnh được bảo vệ nhiều hơn, còn hãng bảo hiểm Part D và hãng dược phẩm phải chịu trách nhiệm lớn hơn. Nói đơn giản, chính quyền Biden muốn chuyển một phần gánh nặng từ túi tiền người cao niên sang hãng bảo hiểm, hãng dược phẩm và ngân sách Medicare.

Tuy nhiên, hãng bảo hiểm có thể đưa phần chi phí mới vào mức giá cho năm kế tiếp, tăng phí, siết danh sách thuốc hoặc rút khỏi những thị trường ít lợi nhuận. Vì vậy, năm 2024, chính quyền Biden lập Chương Trình Thí Điểm Ổn Định Phí Medicare Part D, bắt đầu áp dụng năm 2025. Mục đích là ngăn phí tăng đột ngột, đồng thời cho hãng bảo hiểm thời gian thích nghi và thu thập dữ kiện để định giá chính xác hơn.

Theo chương trình, chính phủ giảm $15 trong phần phí bảo hiểm căn bản của các chương trình Part D độc lập tham gia, không cho tổng phí của một chương trình tăng quá $35 so với năm trước và chia sẻ thêm rủi ro nếu chi phí thuốc thực tế vượt xa dự đoán.

Chương trình phục vụ cả phía người cao niên tránh bị tăng phí quá nhanh, còn hãng bảo hiểm không phải tự gánh toàn bộ rủi ro chuyển đổi.

Thí dụ, nếu hãng tính cần thu $60 mỗi tháng nhưng nhờ chương trình này giúp giảm $15, người cao niên có thể chỉ trả khoảng $45. Ngân sách liên bang bù phần còn lại cho hãng.

Dưới thời chính phủ Tổng Thống Trump

Khi chính quyền Trump tiếp quản chương trình trong năm 2025, CMS bắt đầu rút dần hỗ trợ. Đối với năm 2026, khoản liên bang giúp giảm phí bảo hiểm bị hạ từ $15 xuống $10, giới hạn tăng phí được nới từ $35 lên $50 và cơ chế chia sẻ thêm rủi ro với hãng bảo hiểm bị loại bỏ. CMS nói các hãng đã có thêm kinh nghiệm và Part D cần trở lại “điều kiện thị trường thông thường.”

Nay chính quyền Trump quyết định chấm dứt toàn bộ chương trình sau năm 2026. Bác Sĩ Mehmet Oz, giám đốc CMS, gọi khoản hỗ trợ này là một “gói cứu trợ” không còn cần thiết và nói phần lớn người tham gia chỉ bị tăng phí Part D chưa tới $10 mỗi tháng. Nhưng con số đó không bảo đảm mức tăng của từng chương trình.

Quy định mới này cho thấy trọng tâm chính sách thay đổi. Đó là chính quyền Tổng Thống Trump giảm trợ cấp liên bang và để thị trường tự định giá, thay vì dùng ngân sách bảo vệ người cao niên trước biến động lệ phí bảo hiểm.

Trong hệ thống này, hãng bảo hiểm có nhiều cách bảo vệ lợi nhuận. Họ có thể tăng phí, chuyển thuốc sang bậc có copay cao hơn, thay copay cố định bằng coinsurance, tăng deductible trong giới hạn luật pháp hoặc yêu cầu bác sĩ xin phép trước.

Một số hãng có thể áp dụng cách buộc bệnh nhân thử thuốc rẻ hơn trước khi được chấp thuận thuốc đắt tiền. Họ cũng có thể thu hẹp danh sách nhà thuốc ưu tiên, khiến người cao niên phải đổi nơi mua thuốc hoặc trả nhiều hơn.

Các hãng bảo hiểm còn có thể thương lượng mạnh hơn với công ty dược phẩm và công ty quản trị quyền lợi thuốc để đòi bồi hoàn cao hơn. Những chương trình ít lợi nhuận có thể bị đóng, hợp nhất hoặc ngừng bán tại một số khu vực.

Đây mới là những phản ứng có thể dự đoán. CMS dự kiến công bố phí và chi tiết cuối cùng trong Tháng Chín.

Khi chương trình kết thúc, khoản $10 chính phủ hỗ trợ trong năm 2026 sẽ không còn được tự động bù lại.

Tác động đến các nhóm cao niên trong Medicare

  1. Người có bệnh nặng hoặc sử dụng nhiều thuốc

Đây là nhóm có rủi ro cao nhất. Với họ, mức tăng $5 hoặc $10 mỗi tháng chưa chắc là vấn đề lớn nhất.

Quan trọng hơn là thuốc còn nằm trong danh sách được bảo hiểm hay không, bị chuyển sang bậc nào, copay tăng bao nhiêu, có cần xin phép trước hay nhà thuốc quen thuộc còn được ưu đãi hay không.

Người mắc ung thư, tiểu đường, bệnh tim, bệnh phổi hoặc bệnh tự miễn không nên chọn chương trình chỉ dựa trên phí hằng tháng. Một chương trình rẻ hơn $15 nhưng không bảo hiểm tốt cho một loại thuốc cần thiết có thể làm tổng chi phí cả năm tăng hàng trăm hoặc hàng ngàn dollar.

  1. Người có thu nhập cao

Người có thu nhập cao thường phải trả phí Part D cộng với phụ phí dựa trên thu nhập, gọi là IRMAA. Nhóm này không đủ điều kiện nhận Extra Help và phải tự gánh phần tăng.

Họ vừa đóng thuế nhiều hơn, vừa trả phí bảo hiểm và IRMAA. Người vừa nghỉ hưu hoặc bị giảm thu nhập nên kiểm tra hồ sơ thuế cũ và có thể yêu cầu Sở An Sinh Xã Hội xét lại IRMAA.

  1. Người có thu nhập thấp

Người có thu nhập thấp dễ bị tổn thương trước bất kỳ mức tăng nào, nhưng có nhiều lớp bảo vệ hơn.

Extra Help có thể hỗ trợ phí Part D, deductible và copay. Người có cả Medicare và Medicaid, tại California là Medi-Cal, hoặc đang được Medicare Savings Program hỗ trợ thường có thể tự động đủ điều kiện.

Extra Help, Medi-Cal và Medicare Savings Programs không bị chấm dứt cùng chương trình ổn định phí. Tuy nhiên, các chương trình này không thay thế hoàn toàn khoản trợ cấp đối với mọi người cao niên.

  1. Nhóm thu nhập trung bình dễ bị bỏ quên

Người có thu nhập cao có thể trả thêm; người có thu nhập rất thấp có thể được Extra Help. Nhóm dễ rơi vào khoảng trống nhất là người có thu nhập trung bình, sống chủ yếu bằng Social Security nhưng vượt giới hạn trợ cấp.

Họ đã đóng thuế nhiều thập niên, vẫn trả phí Part B và Part D, nhưng phải tự chịu phần tăng phí, copay và deductible. Thêm $10 mỗi tháng là $120 một năm; nếu thuốc bị chuyển bậc hoặc nhà thuốc thay đổi, tổng chi phí có thể tăng nhiều hơn.

Ai thật sự gánh chi phí?

Trong hệ thống này, người cao niên vừa là người thụ hưởng vừa là người đóng thuế.

Khi chính phủ trợ cấp, tiền đến từ thuế và ngân sách. Khi chính phủ rút trợ cấp, người cao niên có thể phải trả thêm qua phí bảo hiểm hoặc chi phí thuốc. Câu hỏi chính không phải chi phí có biến mất hay không, mà là nó được chuyển sang ai.

Chính phủ cắt bớt chi tiêu nhân danh tiết kiệm ngân sách. Hãng bảo hiểm có thể bảo vệ lợi nhuận bằng cách tăng phí hoặc siết quyền lợi. Hãng dược phẩm có thể tiếp tục giữ giá thuốc nếu không bị thương lượng giảm xuống. Người cao niên lại là phía ít khả năng kiểm soát nhất, dù đã góp phần tài trợ hệ thống bằng tiền thuế nhiều năm.

Chính quyền Trump gọi khoản trợ giúp giảm phí là một “gói cứu trợ” không còn cần thiết. Nhưng với người sống bằng thu nhập cố định, khoản trợ cấp là tấm đệm trước chi phí tăng quá nhanh.

Khi tấm đệm bị rút, chi phí không biến mất mà chỉ chuyển từ ngân sách liên bang sang nơi khác. Và nơi cuối cùng thường là túi tiền của những người cao niên đã đóng thuế suốt phần lớn cuộc đời. [kn]


 

MẤT ĐẦU – KHÔNG MẤT LỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy!”.

“Họ có thể giết tôi, nhưng họ không thể giết được những ý tưởng của tôi. Họ có thể nghiền nát thân xác tôi, nhưng không thể nghiền nát tinh thần tôi!” – Bhagat Singh.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta có thể giết sứ giả, nhưng không thể giết sứ điệp; có thể lấy đi một cái đầu, nhưng không thể lấy đi một lời thật. Tin Mừng hôm nay kể câu chuyện về một người ‘mất đầu – không mất lời’.

“Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy”. Bản Hy Lạp viết ēgerthē – “trỗi dậy”. Matthêu sẽ dùng động từ này để loan báo biến cố Phục Sinh. Hêrôđê tưởng Gioan đã trỗi dậy, nhưng điều thật sự trỗi dậy không là người nói, mà là sự thật người ấy đã nói. Lương tâm vua không thể chôn vùi tiếng nói ấy. Ngôn sứ có thể ngã xuống, nhưng Lời Thiên Chúa vẫn đứng vững và tiếp tục cất tiếng qua những ngôn sứ khác. “Lời chân lý mang trong mình chính uy quyền của nó!” – Justin Martyr.

Sự thật ấy mang một nghịch lý: càng bị khước từ, lời càng bộc lộ sức sống; càng bị bịt miệng, lời càng vang xa. Người ta có thể dập tắt tiếng nói của người được sai đi, nhưng không thể xoá bỏ sự thật người ấy đã loan báo. Quyền lực có thể buộc một chứng nhân im tiếng, nhưng không thể làm cho Lời Thiên Chúa câm lặng. Bởi lẽ, Lời không sống nhờ sức mạnh của người loan báo, nhưng nhờ quyền năng của Đấng đã phán dạy. Vì thế, khi một chứng nhân ngã xuống, Ngài sẽ chọn một người khác để trao Lời.

Gioan mất đầu không là một biến cố cá biệt. Trước Gioan, Giêrêmia cũng bị kết án vì đã nói nhân danh Thiên Chúa: “Các người cứ xử với tôi thế nào như các người coi là tốt đẹp và chính đáng!” – bài đọc một. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca mới cất lên: “Lạy Chúa, xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày!”. Thế gian đáp lại chứng nhân bằng bản án; Thiên Chúa đáp lại họ bằng tín nghĩa. Đời sống của người môn đệ trung kiên chính là bằng chứng hùng hồn rằng gươm giáo hay bạo lực chưa bao giờ thắng nổi Ngôi Lời.

Phần chúng ta, điều đáng sợ không phải là thế gian khước từ Tin Mừng, nhưng là tâm hồn chúng ta không còn là nơi Lời cư ngụ. Bởi lẽ, điều làm cho Lời tiếp tục sống không phải là lời nói, nhưng là sự vâng phục của một con người. Chính ở đó, mỗi Kitô hữu được mời gọi trở thành nơi Lời dựng lều.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mang Lời cho thế gian; Ngài là Ngôi Lời. Điều Thiên Chúa nói sau cùng với nhân loại không còn là một giáo huấn, nhưng là một Con Người. Thập giá là nơi Ngôi Lời bị khước từ; Phục Sinh là nơi Ngôi Lời cất tiếng sau hết. Kết hợp với Đức Kitô là để đời mình trở thành tiếng nói của Ngài giữa thế gian. Vì thế, nơi Đức Kitô, ‘mất đầu – không mất lời’ không còn là một bi kịch, nhưng là tiếng nói sau cùng của một tình yêu mạnh hơn sự chết.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho lòng con đủ thinh lặng để thấm nhuần Lời; đủ trung tín để gìn giữ Lời; và đủ yêu mến để đời con trở thành chứng nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

Vua Hê-rô-đê sai người vào ngục chặt đầu ông Gio-an. Môn đệ ông đi báo tin cho Đức Giê-su.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, tiểu vương Hê-rô-đê nghe danh tiếng Đức Giê-su, 2 thì nói với những kẻ hầu cận rằng : “Đó chính là ông Gio-an Tẩy Giả ; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ.”

3 Số là vua Hê-rô-đê đã bắt ông Gio-an, xiềng ông lại, và tống ngục vì chuyện bà Hê-rô-đi-a, vợ ông Phi-líp-phê, anh của nhà vua. 4 Ông Gio-an có nói với vua : “Ngài không được phép lấy bà ấy.” 5 Vua muốn giết ông Gio-an, nhưng lại sợ dân chúng, vì họ coi ông là ngôn sứ. 6 Vậy, nhân ngày sinh nhật của vua Hê-rô-đê, con gái bà Hê-rô-đi-a đã biểu diễn một điệu vũ trước mặt quan khách, làm cho nhà vua vui thích. 7 Bởi đó, vua thề là hễ cô xin gì, vua cũng ban cho. 8 Nghe lời mẹ xui bảo, cô thưa rằng : “Xin ngài ban cho con, ngay tại chỗ, cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả đặt trên mâm.” 9 Nhà vua lấy làm buồn, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho cô. 10 Vua sai người vào ngục chặt đầu ông Gio-an. 11 Người ta đặt đầu ông trên mâm, mang về trao cho cô, và cô ta đem đến cho mẹ. 12 Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem đi mai táng, rồi đi báo cho Đức Giê-su.


 

Ả Rập Xê Út tấn công lực lượng thân Iran tại Irak, chiến tranh Trung Đông thêm khó lường (RFI)

(RFI)

Đêm 28 rạng sáng ngày 29/07/2026, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến Hoa Kỳ chống Iran, Ả Rập Xê Út chính thức thông báo tham gia chiến dịch của Mỹ chống lại các lực lượng thân Iran tại Irak. Dù quy mô chiến dịch này được xem là hạn chế, và chính quyền Riyadh ngay lập tức tuyên bố muốn xuống thang, hành động nói trên vẫn góp phần khiến viễn cảnh xung đột Vùng Vịnh ngày càng thêm khó lường.

Đăng ngày: 30/07/2026

Người dân đến xem các tòa nhà bị hư hại do một vụ không kích vào căn cứ của một lực lượng thân Iran ở Mosul, Irak, ngày 29/07/2026.

Người dân đến xem các tòa nhà bị hư hại do một vụ không kích vào căn cứ của một lực lượng thân Iran ở Mosul, Irak, ngày 29/07/2026. © AP Photo/Farid Abdulwahed

Trọng Thành

Ít nhất 20 thành viên của lực lượng dân quân Irak PMF (Popular Mobilisation Forces) thiệt mạng và 32 người bị thương trong đợt oanh kích của Mỹ và Ả Rập Xê Út tại miền đông Irak. Lý do chính thức mà phía Riyadh đưa ra là để trả đũa các cuộc tấn công bằng drone của các nhóm vũ trang thân Iran thuộc lực lượng PMF trong những ngày gần đây.

Kể từ ngày 28/02/2026 cho đến đợt oanh kích chưa có tiền lệ này, bất chấp nhiều cuộc tấn công của Iran và các lực lượng thân Iran nhắm vào các căn cứ của Mỹ cũng như nhiều cơ sở khác tại Ả Rập Xê Út, chính quyền Riyadh đã không phản công. Theo giới quan sát, lựa chọn của Ả Rập Xê Út phần nào đã giúp ngọn lửa chiến tranh không lan rộng thêm. Chính vì vậy, quyết định nói trên của Riyadh là một bước ngoặt đáng chú ý.

Trong khi chính quyền Mỹ cho biết đã báo trước với Bagdad về đợt oanh kích, chính quyền Irak bác bỏ và cực lực lên án “hành động vi phạm trắng trợn chủ quyền của Irak”. Một điểm đáng chú ý khác là trong cùng ngày, Iran đã chủ động tấn công trước vào các căn cứ quân sự của Mỹ tại Jordanie, thay vì chỉ phản công như thông lệ. Cuộc oanh kích tại Jordanie khiến Mỹ tấn công trở lại lãnh thổ Iran, chấm dứt những ngày chiến sự tạm ngưng.

Irak có nguy cơ trở thành lò lửa mới

Lực lượng dân quân Irak PMF, tiếng Ả Rập gọi là Hachd al-Chaabi, là một liên minh vũ trang bao gồm nhiều nhóm vũ trang Hồi giáo dòng Shia, được Teheran hậu thuẫn, đã đóng vai trò lớn trong cuộc chiến chống tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi Giáo (Daech), sau khi Daech chiếm lĩnh nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn của Irak năm 2014. Năm 2016, chính quyền Irak công nhận PMF là “lực lượng quân sự độc lập” trực thuộc Quân đội Irak, tuy vậy nhiều phe phái thân Iran vẫn duy trì mức độ tự chủ cao.

Về nguyên tắc, theo AP, chính phủ Irak cam kết sẽ giải giáp các nhóm vũ trang nằm ngoài Nhà nước. Theo thủ tướng Al-Zaidi, các lực lượng này sẽ không còn lý do tục tồn tại sau ngày 30/09, khi Mỹ rút quân khỏi Irak. Việc Ả Rập Xê Út tấn công lãnh thổ Irak khiến chuyến thăm Riyadh của thủ tướng Al-Zaidi, dự kiến hôm nay 30/07, bị đình chỉ vô thời hạn. Hội đồng An ninh Quốc gia Irak lên án cuộc tấn công của Mỹ và Ả Rập Xê Út, cho rằng hành động này làm suy yếu Nhà nước Irak, trong bối cảnh chính phủ Baghdad đang nỗ lực điều tra những lo ngại của Ả Rập Xê Út về các cuộc tấn công xuất phát từ lãnh thổ Irak.

Thế lực của các nhóm dân quân thân Iran tại Irak có thể phần nào so sánh với lực lượng Hezbollah tại Liban. Sau cuộc tấn công nói trên, Harakat Hezbollah al-Nujaba, một thành viên thân Iran của lực lượng dân quân PMF, đe dọa sẽ trả đũa Ả Rập Xê Út. Chính quyền Irak có nguy cơ khó giữ được thế cân bằng mong manh lâu nay giữa Mỹ và Iran.

Hành động chưa có tiền lệ của Ả Rập Xê Út diễn ra ngay sau cuộc gặp giữa thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và tổng thống Mỹ Donald Trump tại Nhà Trắng ngày 28/07. Theo trang mạng thân cận chính phủ Mỹ Axios, hôm qua, 29/07, bộ trưởng Quốc Phòng Ả Rập Xê Út Khaled Ben Salman khẳng định muốn xuống thang căng thẳng với Teheran, đồng thời tiết lộ chính thủ tướng Israel đã thúc đẩy xung đột leo thang.


 

Chiếc va-li 100.000 mỹ kim và sáu tháng đời người dưới gầm cầu Los Angeles.

Đoàn Xuân Thu 

Chiếc va-li 100.000 mỹ kim và sáu tháng đời người dưới gầm cầu Los Angeles.

Giữa thành phố Los Angeles hoa lệ của tiểu bang California, nơi những đại lộ thênh thang chạy qua những khu phố giàu sang, nơi Hollywood mỗi ngày sản xuất những giấc mơ phù hoa cho hàng triệu người trên thế giới, vẫn tồn tại một thế giới khác — thế giới của những con người không nhà cửa, sống lặng lẽ bên lề xã hội. Dưới những gầm cầu xa lộ, trong những khu vực bỏ hoang, bên cạnh những thùng rác của các khu thương mại sang trọng, có những kiếp người mà phần đông chúng ta chỉ nhìn thấy trong vài giây ngắn ngủi rồi vội vàng quay đi.

Năm 2005, nhà viết kịch bản điện ảnh Wayne Powers, trong một lần đi qua đường phố Los Angeles, gặp một người vô gia cư xin tiền. Ông chỉ cho người đàn ông ấy vài Mỹ kim rồi tiếp tục bước đi. Nhưng cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đó lại không rời khỏi tâm trí ông.

Ông tự hỏi: “Nếu thay vì cho người ấy vài đồng bạc lẻ, tôi trao cho ông ta cả một gia tài thì chuyện gì sẽ xảy ra? Số tiền ấy có thể thay đổi cuộc đời ông ta hay ngược lại, nó sẽ hủy hoại ông ta?

Câu hỏi ấy dần trở thành một ám ảnh đối với Wayne Powers. Ông đem ý tưởng này trình bày với đài truyền hình Showtime: chọn một người vô gia cư, trao cho họ 100.000 Mỹ kim tiền mặt, rồi quay phim lại toàn bộ hành trình để xem đồng tiền có thể giúp một con người thoát khỏi cảnh khốn cùng hay không.

Showtime đồng ý thực hiện cuộc thử nghiệm đặc biệt này, nhưng đặt ra hai điều kiện quan trọng: người tham dự phải vượt qua cuộc kiểm tra tâm thần và thử nghiệm ma túy. Họ không muốn chọn một người đang mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng hoặc đang chìm trong cơn nghiện không kiểm soát. Mục đích của chương trình là tìm hiểu xem một người lâm vào cảnh nghèo khó vì hoàn cảnh có thể thay đổi cuộc đời ra sao khi bất ngờ nhận được một cơ hội lớn.

Trong nhiều tuần lễ, Wayne Powers đi khắp các khu vực dành cho người vô gia cư ở Los Angeles để trò chuyện, tìm kiếm nhân vật thích hợp cho cuốn phim tài liệu mang tên “Reversal of Fortune” (Sự đảo ngược số phận).

Ông cần một người vừa đủ tỉnh táo để hiểu cuộc thử nghiệm, vừa đủ cởi mở để máy quay có thể ghi lại cuộc sống thật, nhưng đồng thời cũng phải là người mà 100.000 Mỹ kim thật sự có ý nghĩa như một chiếc phao cứu sinh.

Cuối cùng, ông gặp được Ted Rodrigue. Ted lúc ấy 45 tuổi. Ông đã sống cảnh không nhà cửa suốt khoảng 20 năm. Nơi trú ngụ của ông là dưới một gầm cầu xa lộ ở Los Angeles. Những tài sản ít ỏi của ông được cất trong một cái hốc nhỏ dưới chân cầu — vài bộ quần áo, vài vật dụng cá nhân và những thứ cần thiết cho cuộc sống qua ngày.

Mỗi ngày của Ted trôi qua theo một nhịp điệu quen thuộc: ông đi nhặt lon nước ngọt, chai lọ bỏ đi rồi đem đến trung tâm tái chế để đổi lấy tiền. Một ngày khá may mắn, ông kiếm được từ 20 đến 35 Mỹ kim. Số tiền ấy dùng để mua thức ăn, thuốc lá và bia.

Người bạn thân duy nhất của Ted là Mike, một thanh niên 18 tuổi làm việc tại trung tâm tái chế nơi Ted thường mang lon chai đến. Đối với Ted, Mike là người hiếm hoi vẫn đối xử với ông như một con người bình thường, không khinh miệt, không xa lánh.

Tài sản quý giá nhất của Ted là một chiếc xe đạp cũ. Mỗi tuần ông đem xe ra tiệm rửa xe để lau chùi cẩn thận. Điều nghịch lý là ông chăm sóc chiếc xe ấy rất kỹ, dù bản thân ông đã nhiều tháng không được tắm rửa đàng hoàng.

Qua những cuộc trò chuyện trước máy quay, Wayne Powers biết được câu chuyện phía sau cuộc đời Ted. Tuổi thơ của ông đầy bất hạnh với một người mẹ nghiện rượu. Ông bắt đầu uống rượu từ năm 13 tuổi. Những năm tuổi trẻ trôi qua trong vòng xoáy tội phạm và tù tội. Khi ra tù, Ted không có gia đình nâng đỡ, không có nghề nghiệp, không có một mạng lưới xã hội nào để giúp ông trở lại đời sống bình thường.

Hai mươi năm sống trên đường phố đã biến sự sinh tồn thành thói quen.

Ted từng nói trước ống kính: “Nếu có một điều ước, tôi chỉ muốn được sống trong xã hội như một người dân bình thường.”

Ông không biết rằng cuộc đời mình sắp bước sang một chương mới.

Một buổi sáng nọ, trong lúc đang bới tìm lon chai trong đống rác quen thuộc, Ted phát hiện một chiếc va-li cũ kỹ phủ đầy bụi. Ông tò mò lau sạch rồi mở ra.

Bên trong là những bó tiền mặt. Những tờ giấy bạc 20 Mỹ kim, 50 Mỹ kim xếp đầy chiếc va-li. Trên cùng là một mảnh giấy ghi dòng chữ: “Điều gì sẽ xảy ra nếu một người vô gia cư được trao 100.000 Mỹ kim?”

Ted đứng sững người. Ông không tin vào mắt mình. Nước mắt chảy xuống trên khuôn mặt người đàn ông đã quen với những ngày tháng lạnh lẽo dưới gầm cầu.

Máy quay ghi lại trọn vẹn khoảnh khắc ấy: sự kinh ngạc, niềm vui, sự hoài nghi và cảm giác như một phép lạ vừa xảy đến.

Những ngày đầu tiên, Ted tỏ ra khá thận trọng. Ông mua một chiếc xe đạp mới. Ông thuê một phòng khách sạn — lần đầu tiên sau nhiều năm được ngủ trong một căn phòng có mái che. Ông đưa người bạn trẻ Mike đi chơi công viên giải trí. Để cảm ơn người duy nhất từng giúp đỡ mình, Ted mua tặng Mike một chiếc xe hơi cũ.

Những nhà sản xuất chương trình cũng cố gắng giúp Ted chuẩn bị cho tương lai. Họ giới thiệu ông với một chuyên viên hỗ trợ người vô gia cư và một cố vấn tài chính. Họ khuyên ông nên lập ngân sách, tìm nơi ở ổn định, học nghề và đầu tư số tiền để bảo đảm cuộc sống lâu dài.

Ted lắng nghe, gật đầu, nhưng rồi ông làm theo ý mình. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, tin tức lan truyền trong cộng đồng người vô gia cư rằng Ted đang có tiền. Những người trước đây từng tránh xa ông nay tìm đến làm quen. Những người từng không muốn tiếp xúc vì mùi rượu và sự nhếch nhác của ông nay lại tỏ ra thân thiện.

Ted gọi điện cho mẹ và các chị em ở Sacramento. Trong nhiều năm, gia đình gần như đã xa lánh ông vì cuộc sống lang thang. Nhưng khi biết Ted có 100.000 Mỹ kim, họ bắt đầu nghe điện thoại của ông trở lại. Mẹ ông còn mời ông về sống chung.

Ted rời Los Angeles đến Sacramento, nhưng từ đó mọi chuyện bắt đầu đi xuống.

Ông uống rượu mỗi tối tại các quán bar. Tiền bạc ra đi với tốc độ chóng mặt. Có thời điểm ông tiêu khoảng 10.000 Mỹ kim mỗi tuần. Ông mua một chiếc xe Dodge Ram mới giá 35.000 Mỹ kim, thuê căn hộ, mua sắm đồ đạc và bắt đầu cuộc sống xa hoa mà trước đây ông chưa từng có.

Ông cùng lúc quen nhiều phụ nữ, mua cho người này những bữa ăn đắt tiền, tặng người kia một chiếc xe tải.

Các chị em của Ted cố gắng can ngăn. Họ khuyên ông hãy tiết kiệm, tìm việc làm và nghĩ đến tương lai. Nhưng Ted cho rằng họ chỉ muốn kiểm soát mình vì tiền bạc. Ông không còn tin ai.

Sáu tháng sau, bộ phim hoàn tất. Ted từ chối cho biết ông còn lại bao nhiêu tiền. Gia đình ông ước tính số tiền còn chưa tới 5.000 Mỹ kim.

Tháng 12 năm 2006, Ted cùng Wayne Powers xuất hiện trong chương trình truyền hình nổi tiếng “The Oprah Winfrey Show” để giới thiệu bộ phim.

Oprah hỏi thẳng: “Ông còn lại bao nhiêu trong số 100.000 Mỹ kim ấy?”

Ted trả lời ngắn gọn: “Không còn gì cả.”

“Bây giờ ông đang sống ở đâu?”

“Tôi lại vô gia cư.”

Khán giả im lặng sững sờ.

Chỉ trong sáu tháng, Ted đã tiêu hết toàn bộ số tiền. Ông trở lại đúng nơi mình từng sống: dưới gầm cầu ở Los Angeles. Vẫn nhặt lon chai. Vẫn kiếm khoảng 20 Mỹ kim mỗi ngày. Vẫn cuộc đời cũ.

Khi được hỏi có hối tiếc không, Ted trả lời rằng ông hài lòng với cuộc sống của mình. Ông không nghĩ mình đã làm điều gì sai và cũng không muốn thay đổi những gì đã xảy ra.

Câu chuyện của Ted Rodrigue đã gây nên một cuộc tranh luận lớn trong dư luận Hoa Kỳ.

Có người cho rằng đây là bằng chứng rằng không thể giúp một người không muốn tự giúp mình. Nhưng cũng có người chỉ trích cuộc thử nghiệm, cho rằng việc trao cho một người từng nghiện rượu, từng chịu nhiều tổn thương tâm lý một số tiền lớn rồi quay phim sự thất bại của họ là một hình thức khai thác con người.

Những người phê bình nói rằng tiền bạc không thể tự nó cứu một cuộc đời. Ted không chỉ thiếu tiền. Ông thiếu những thứ sâu xa hơn: sự chữa trị cho chứng nghiện, sự hỗ trợ tinh thần, kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức quản lý tài chính và một môi trường ổn định để làm lại cuộc đời.

100.000 Mỹ kim không thể chữa lành tuổi thơ bất hạnh của ông. Nó không thể xóa bỏ hàng chục năm sống trong cảnh sinh tồn. Nó không thể dạy một người chưa từng học cách lập kế hoạch cho tương lai.

Nó chỉ làm cho những vấn đề cũ trở nên đắt giá hơn.

Câu chuyện Ted cũng phản ánh một bài học rộng lớn trong xã hội hiện đại. Không ít người trúng số rồi phá sản. Không ít vận động viên nổi tiếng kiếm hàng triệu Mỹ kim rồi trắng tay. Không ít người thừa kế gia sản lớn nhưng cuối cùng mất tất cả.

Tiền bạc là một công cụ, nhưng muốn sử dụng công cụ ấy, con người cần có kiến thức, kỷ luật và sự hỗ trợ cần thiết.

Điều khiến câu chuyện của Ted trở nên ám ảnh là ông không chỉ thất bại trong im lặng. Cả thế giới đã nhìn thấy sự thất bại ấy qua màn ảnh.

Nhưng có lẽ cũng cần nhìn Ted như một con người, không chỉ như một bài học cảnh báo. Có thể ông chưa bao giờ thật sự muốn một cuộc đời mà xã hội gọi là “thành công”. Có thể đối với ông, sự tự do dưới gầm cầu — không trách nhiệm, không ai sai khiến, sống theo cách riêng — lại là điều ông quen thuộc và chấp nhận.

Cuối cùng, câu hỏi lớn nhất mà câu chuyện đặt ra không phải là: “Tại sao Ted tiêu hết tiền?”

Mà là: “Nếu thật sự muốn cứu giúp một con người, chúng ta cần trao cho họ tiền bạc, hay cần trao cho họ một con đường?”

Một chiếc va-li đầy tiền có thể đem lại hy vọng trong một khoảnh khắc. Nhưng để xây dựng lại một cuộc đời, con người cần nhiều hơn thế: một mái nhà, sự chăm sóc y tế, sự giáo dục, một công việc, những người bạn chân thành và một cộng đồng sẵn sàng dang tay nâng đỡ.

Ted Rodrigue từng có 100.000 Mỹ kim trong tay. Sáu tháng sau, ông trở lại dưới gầm cầu.

Nhưng câu chuyện của ông vẫn còn đó như một lời nhắc nhở sâu sắc: tiền có thể thay đổi hoàn cảnh trong chốc lát, nhưng chỉ sự thay đổi từ bên trong và sự nâng đỡ đúng cách mới có thể thay đổi số phận của một con người.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Tất cả mục đích của giáo lý và lời giảng dạy phải được đặt trong Tình Yêu vĩnh cửu…- Cha Vương

Chúc bạn và gia đình ngày Thứ 5 tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa, đừng quên dành ra một chút thời gian để tâm sự với Chúa nhé. Nhớ cậu Nguyện cho nhau và thể giới đầy tình yêu thương nhé

Cha Vương

Thứ 5: 30/07/2026.    (t6-21)

GIÁO LÝ:  Tất cả mục đích của giáo lý và lời giảng dạy phải được đặt trong Tình Yêu vĩnh cửu… điều chính yếu là phải làm nổi bật lòng yêu mến Chúa, để mọi người hiểu rằng mọi hành vi tốt theo đúng nghĩa Kitô giáo không có nguồn gốc nào khác ngoài Tình Yêu và không có cùng đích nào khác ngoài Tình Yêu. (SGLHTCG, số 25)

SUY NIỆM: Trên hết mọi sự là ĐỨC ÁI! Đức ái là thước đo rõ ràng nhất để bạn kiểm tra sự tiến bộ của mình trong cuộc sống hằng ngày và đời sống đức tin. Mặc dù bạn thuộc lòng toàn bộ Sách Giáo Lý Công Giáo hoặc làm được tất cả mọi việc, nếu bạn không có đức ái, thì việc làm của bạn cũng chẳng có lợi ích gì. Vậy đức ái là gì? Là nhân đức dạy ta biết yêu thương, phục vụ và tha thứ cho người khác, theo gương Chúa Giêsu Kitô.

❦ Xét về tự nhiên: Tứ hải giai huynh đệ. Người trong bốn biển đều là anh em. Vì thế, cần cổ võ tình thương nhân loại, tình người, tình nghĩa anh em, tình đồng loại…

❦ Xét về siêu nhiên: Từ Cựu Ước đến Tân Ước. Thiên Chúa luôn dạy dỗ Dân Chúa, cũng như tất cả chúng ta: Hãy yêu thương nhau, như Chúa đã yêu thương chúng ta.

❦ Nền tảng của Đức ái chính là Thiên Chúa: Thiên Chúa là Tình Yêu, ai biết yêu thương là đang trở nên giống như Thiên Chúa.

Ước mong bạn hãy cố gắng trở nên giống như Chúa mỗi ngày.

LẮNG NGHE: Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng… Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được. (1 Cr 13:1, 4-8)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin hãy biến đổi tim con nên giống như trái tim của Chúa để con có một tình yêu sâu sắc và chân thành đối với mọi người con gặp gỡ hôm nay.

THỰC HÀNH: Quyết tâm dâng trí lòng, hồn xác, mọi tài năng trong ngoài để kính mến Chúa, và làm mọi việc chỉ vì vinh Danh Chúa mà thôi.

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=v-G9eQckkFk

Tình Yêu Của Chúa – Dao Do