Những nhân tài như Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… không bao gio sinh ra ở những nước độc tài.

Nguyễn Văn Đài

Những nhân tài như Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… không bao gio sinh ra ở những nước độc tài.

Trong lịch sử phát triển nhân loại, những thiên tài công nghệ đã thay đổi cả thế giới thường xuất hiện ở những môi trường tự do, cởi mở. Steve Jobs với Apple, Mark Zuckerberg với Facebook, Elon Musk với SpaceX và Tesla là những minh chứng điển hình cho sức mạnh sáng tạo của nước Mỹ – một nền dân chủ tự do. Ngược lại, ở những quốc gia độc tài, nơi quyền lực tập trung, tự do bị kìm hãm, rất hiếm có những nhân tài kiểu ấy. Đây không phải ngẫu nhiên mà là quy luật logic của sự phát triển.

Trước hết, nhân tài công nghệ lớn cần tự do tư tưởng và sáng tạo. Steve Jobs và Steve Wozniak đã có thể thí nghiệm, thất bại và thử nghiệm lại trong garage mà không sợ bị kiểm soát hay đàn áp. Mark Zuckerberg xây dựng Facebook từ ký túc xá đại học với ý tưởng kết nối mọi người một cách cởi mở. Elon Musk dám mơ về du hành vũ trụ và xe điện vì ông tin rằng ý tưởng cá nhân có thể thách thức cả ngành công nghiệp truyền thống. Ở các nước độc tài, nhà nước kiểm soát thông tin, giáo dục và tư tưởng. Bất kỳ ý tưởng nào đi ngược lại đường lối chính thống đều có nguy cơ bị coi là “phản động”. Lịch sử cho thấy, dưới các chế độ toàn trị, sáng tạo bị bóp nghẹt bởi kiểm duyệt, tuyên truyền và sợ hãi. Các nhà khoa học, kỹ sư tài năng thường phải im lặng hoặc chạy trốn (brain drain) thay vì dám nghĩ lớn và làm khác biệt.

Thứ hai, môi trường kinh tế tự do và hệ thống pháp lý bảo vệ quyền sở hữu là yếu tố then chốt. Ở Mỹ, hệ thống tư bản chủ nghĩa khuyến khích đầu tư mạo hiểm (venture capital), bảo vệ bản quyền trí tuệ nghiêm ngặt và cho phép doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh gay gắt. Thất bại không phải là tội lỗi mà là bài học. Nhờ đó, các startup có thể phát triển từ con số zero thành đế chế toàn cầu. Ngược lại, ở nước độc tài, kinh tế thường bị nhà nước chi phối, tham nhũng lan tràn, tài sản cá nhân không được bảo vệ. Doanh nhân tài giỏi dễ bị “vô tình” quốc hữu hóa hoặc bị ép phải phục vụ lợi ích chính trị. Sáng tạo bị thay thế bằng chỉ thị hành chính. Kết quả là, dù có một số công ty lớn (như một số tập đoàn công nghệ ở Trung Quốc), họ thường mạnh về sao chép, sản xuất quy mô lớn hơn là sáng tạo đột phá thay đổi cuộc chơi toàn cầu.

Hơn nữa, hệ thống giáo dục và văn hóa khuyến khích cá nhân cũng đóng vai trò quyết định. Các đại học hàng đầu Mỹ như Stanford, MIT không chỉ dạy kiến thức mà còn nuôi dưỡng tinh thần phản biện, làm việc nhóm và theo đuổi đam mê. Văn hóa Mỹ tôn vinh “American Dream” – ai cũng có cơ hội thành công nếu dám nghĩ, dám làm. Trong khi đó, giáo dục ở nhiều nước độc tài nhấn mạnh sự tuân phục, học thuộc lòng và trung thành với hệ tư tưởng. Cá tính, sự khác biệt bị coi là nguy hiểm. Những Elon Musk tương lai bị dập tắt từ ghế nhà trường.

Tất nhiên, không phải nước độc tài nào cũng hoàn toàn không có nhân tài. Một số quốc gia như Trung Quốc hay Nga cũng có những kỹ sư xuất sắc và thành tựu công nghệ nhất định. Tuy nhiên, những thành tựu ấy thường nằm trong lĩnh vực nhà nước ưu tiên (quân sự, giám sát) hoặc dựa trên chuyển giao công nghệ từ phương Tây, chứ ít khi là những cuộc cách mạng dân sự, sáng tạo tự do như iPhone, mạng xã hội toàn cầu hay tên lửa tái sử dụng. Hơn nữa, nhiều nhân tài thực sự của các nước này lại chọn di cư đến Mỹ để thực hiện ước mơ.

Từ bài học ấy, để có những “Steve Jobs Việt Nam”, chúng ta cần nhận thức rõ: tài năng không sinh ra trong chân không. Việt Nam có dân số trẻ, ham học hỏi và khát vọng vươn lên. Nhưng để nhân tài thực sự nở rộ, cần không gian tự do hơn: cải cách giáo dục theo hướng sáng tạo và phản biện, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, giảm kiểm soát hành chính và xây dựng nhà nước pháp quyền minh bạch. Chỉ khi con người được tự do suy nghĩ, tự do thất bại và tự do thành công, những ý tưởng vĩ đại mới có đất sống.

Tóm lại, Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk không phải sản phẩm ngẫu nhiên của nước Mỹ mà là kết tinh của một hệ thống tôn vinh tự do cá nhân và sáng tạo. Những nước độc tài, với bản chất kiểm soát và sợ hãi sự khác biệt, khó lòng đẻ ra những nhân tài thay đổi thế giới. Muốn Việt Nam có những thiên tài công nghệ tầm cỡ, con đường duy nhất là dũng cảm mở cửa cho tự do – tự do tư tưởng, tự do kinh doanh và tự do theo đuổi giấc mơ. Đó chính là chìa khóa để dân tộc ta không chỉ bắt kịp mà còn dẫn dắt tương lai.

#NguyenVanDai 


 

Lễ trọng thể kính Thánh Tâm Chúa Giêsu- Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình trong Trái Tim của Chúa. 

Ước mong bạn có một con tim khát khao Chúa nguồn tình yêu và hạnh phúc. Hãy nhớ nhau trong lời kinh nguyện và cả thế giới nữa  nhé.

Cha Vương

Th 6: 12/06/2026 (n11-21)

Giáo Hội mừng lễ trọng thể kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Ngay từ ban đầu, Hội Thánh đã minh định việc sùng kính cách đặc biệt Thánh Tâm Chúa Giêsu, và việc tôn thờ này như là một trong những điều nòng cốt của đức tin Kitô giáo. Bởi trong việc sùng kính Thánh Tâm, đức tin Kitô giáo vẫn giữ được nguyên tuyền vì việc sùng kính này dẫn đưa con người tới Chúa Ba Ngôi nhờ sự kết hợp với Trái Tim của Chúa Kitô. Việc tôn thờ này chính yếu hướng đến một Tình Yêu của mọi tình yêu – Tình Yêu chịu đóng đinh và chịu chết cho người mình yêu. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình.” (Ga 15,13) Ngoài ra, việc tôn thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu cũng kêu mời bạn bắt chước Người trong sự tín thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa và quảng đại trao ban tình thương cho mọi người. 

Đây là 12 lời hứa của Thánh Tâm Chúa Giêsu đã mặc khải cho Thánh nữ Margarette Marie Alacoque để khuyến khích mọi người hiểu biết lợi ích của việc thực hành Lòng Sùng Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu và khuyến khích mọi người thực hành ngay lập tức:

  1. Ta sẽ ban cho họ mọi ân sủng cần thiết trong đời sống.
  2. Ta sẽ ban bình an cho gia đình họ và sẽ tái hợp các gia đình đã ly tan.
  3. Ta sẽ an ủi họ trong mọi lúc khó khăn.
  4. Ta sẽ là nơi họ trú ẩn khi sống và trước khi chết.
  5. Ta sẽ ban Phép Lành Nước Trời trên công việc của họ.
  6. Các tội nhân sẽ tìm được Nguồn Thương Xót vô hạn nơi Thánh Tâm Ta.
  7. Các linh hồn lạnh nhạt sẽ trở nên nhiệt thành.
  8. Các linh hồn nhiệt thành sẽ mau đạt tới sự trọn lành.
  9. Ta sẽ chúc lành cho nơi nào trưng bày và tôn sùng linh ảnh Thánh Tâm Ta, và Ta sẽ ghi dấu tình yêu của Ta vào lòng những người đeo hình Thánh Tâm Ta. Ta cũng sẽ phá hủy mọi sự rối loạn nơi họ.
  10. Các linh mục nhiệt thành tôn sùng Thánh Tâm Ta thì Ta sẽ ban cho họ ơn hoán cải các linh hồn chai cứng nhất.
  11. Những người truyền bá lòng tôn sùng này sẽ được ghi tên trong Thánh Tâm Ta, không bao giờ phai nhòa.
  12. Ta hứa với lòng thương xót vô biên của Thánh Tâm Ta rằng những người rước lễ vào Thứ Sáu Đầu Tháng trong 9 tháng liên tiếp, tình yêu mãnh liệt của Ta sẽ ban cho ơn ăn năn trở lại trong cuối đời: Họ sẽ không chết trong tình trạng thất sủng hoặc không được lãnh nhận các bí tích.

 Thánh Tâm Ta sẽ là nơi trú ẩn an toàn cho họ trong giờ sau hết.

Tuần Cửu Nhật Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu của cha Padre Pio (Tuần cửu nhật này được đọc mỗi ngày bởi cha Padre Pio cho những ai xin Ngài cầu nguyện cho họ)

❦  Lạy Chúa Giêsu, Ngài đã phán, “Thật, Ta bảo cùng các con, hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ thì sẽ mở cho”. Vì thế, con xin gõ, tìm kiếm và xin ơn … (nêu ra ý chỉ)

❦ Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh. 

❦ Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu chúng con xin đặt hết tin tưởng nơi Ngài.

From: Do Dzung

********************************

Thánh Tâm Chúa Giêsu – St : Huyền Linh. Xuân Kính – Thanh Huyền & Lệ Hằng

LẦN DÒ MẦU NHIỆM- Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng!”.

“Trước một bộ óc vĩ đại, tôi cúi đầu; trước một trái tim vĩ đại, tôi quỳ gối!” – Johann Wolfgang von Goethe.

Kính thưa Anh Chị em,

Trọng kính Trái Tim Chúa Giêsu, Hội Thánh quỳ gối; kính nhớ Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ, Giáo Hội cúi đầu. Trái Tim Chúa Con bày tỏ tình yêu Thiên Chúa dành cho con người; Trái Tim Mẹ Chúa tỏ bày tình yêu con người dành cho Thiên Chúa. Và trong chính tình yêu ấy, Mẹ lặng lẽ ‘lần dò mầu nhiệm’.

Trước kế hoạch diệu dụng của Thiên Chúa, Maria đón nhận tất cả, dẫu không phải mọi sự đều sáng tỏ. Tin Mừng hôm nay cho thấy điều đó trong biến cố lạc mất con – một khoảnh khắc vừa hốt hoảng vừa mở ra chiều sâu của mầu nhiệm: con ngồi giữa các thầy dạy. Mẹ ở lại với biến cố, lặng lẽ ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Chính thái độ ấy cho thấy một lối sống đức tin: không nắm bắt mầu nhiệm; nhưng kiên trì bước theo ánh sáng mình đang có. “Đức tin không nắm bắt; nhưng để mình được nắm lấy!” – Hans Urs von Balthasar.

Tin Mừng không nói Mẹ hiểu, nhưng nói Mẹ “ghi nhớ trong lòng” – symballein, nghĩa là đặt cạnh nhau, nối kết các biến cố và đọc lại chúng trong một ánh sáng chưa hoàn tất. Theo cách đó, những gì rời rạc không bị loại bỏ, nhưng được cất giữ để dần dần thành nghĩa; không phải bằng suy luận, nhưng bằng một tiến trình nội tâm, nơi mầu nhiệm được tiếp nhận trước khi được hiểu. Mẹ như đất đai “đâm chồi nảy lộc”, như “hoa công chính” nở ra trước mặt muôn dân – bài đọc một; và cũng chính Mẹ đã hát lên: “Tâm hồn con hỷ hoan vì Chúa, là Đấng cứu độ con!” – Thánh Vịnh đáp ca. Mầu nhiệm chưa được hiểu hết, nhưng đã được đón nhận bằng một niềm vui tín thác.

Điều đã diễn ra nơi Maria cũng là điều mỗi người chúng ta phải học để sống. Cuộc đời chúng ta không thiếu những biến cố khó hiểu; có những điều xảy ra mà không thể nối kết, không thể giải thích, thậm chí không thể chấp nhận. Và phản ứng tự nhiên thường là chúng ta loại bỏ, hoặc vội gán cho chúng một ý nghĩa dễ dãi. Vậy mà đức tin luôn mời gọi giữ lại, ở lại; và để những gì chưa hiểu được dần sáng lên từ bên trong. Khi ấy, thay vì khép kín trước mầu nhiệm, con người học cách bước vào đó với lòng tín thác.

Anh Chị em,

Chúa Kitô không đến để xoá bỏ mầu nhiệm, nhưng để đi vào trong mầu nhiệm của Chúa Cha, từng bước trong vâng phục. Suốt cuộc đời, Ngài không chọn con đường dễ hiểu, nhưng là con đường của Cha – dù dẫn tới thập giá; nơi mọi ý nghĩa dường như bị che khuất và mọi lời giải thích trở nên bất lực. Ở đó, không còn là “ghi nhớ trong lòng”, nhưng là hiến trao trọn lòng; không còn là lần dò trong đức tin, nhưng là đi đến tận cùng của tín thác. Và chính ở đó, điều từng được giữ lại và suy ngẫm nay được tỏ lộ: mầu nhiệm không bị giải thích, nhưng được hoàn tất trong tình yêu. “Thập giá là mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con ghi nhớ những gì chưa hiểu; ở lại với những gì còn dở dang; và tín thác rằng mọi sự rồi sẽ ổn trong tình yêu Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

***************************************

Lời Chúa Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ, Thứ Bảy, Tuần X Thường Niên: 

Đức Ma-ri-a hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 2,41-51

41 Hằng năm, cha mẹ Đức Giê-su trẩy hội đền Giê-ru-sa-lem mừng lễ Vượt Qua. 42 Khi Người được mười hai tuổi, cả gia đình cùng lên đền, như người ta thường làm trong ngày lễ. 43 Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn cậu bé Giê-su thì ở lại Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ chẳng hay biết. 44 Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. 45 Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giê-ru-sa-lem mà tìm.

46 Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ, đang ngồi giữa các bậc thầy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi. 47 Ai nghe cậu nói cũng kinh ngạc về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu. 48 Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người : “Con ơi, sao con lại làm cho cha mẹ như thế ? Con thấy không, cha con và mẹ đây đang phải cực lòng tìm con !” 49 Người thưa : “Sao cha mẹ lại tìm con ? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao ?” 50 Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói.

51 Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng.


 

10 ĐIỀU RẤT HAY VỀ TUỔI GIÀ!

Kim Dung Nguyen

10 ĐIỀU RẤT HAY VỀ TUỔI GIÀ!

Người ta thường sợ tuổi già, nhưng thật ra điều đáng sợ hơn là già rồi mà vẫn chưa kịp sống cho mình!

1- Khi tóc bạc, đừng cố chứng minh mình còn khỏe.

– Tuổi trẻ dùng sức để đi xa.

– Tuổi già dùng trí để đi chậm.

Không ai thắng được thời gian,

Giữ sức để sống với thời gian còn lại .

2. Tuổi già là lúc được quyền sống theo ý mình,

Không cần làm vừa lòng thiên hạ nữa!

– Ăn khi đói.

– Ngủ khi mệt.

– Cười khi vui.

– Và từ chối khi không muốn.

3. Thương con đúng cách là giữ một khoảng cách vừa đủ.

– Ở gần để còn qua lại.

– Ở riêng để còn tôn trọng.

– Giúp con khi cần, nhưng đừng sống thay phần đời của con.

– Tình thân bền nhất là tình thân không làm nhau ngột ngạt.

4. Già rồi, hãy chọn nơi khiến lòng mình yên.

– Không cần cao sang.

– Chỉ cần sạch sẽ, có nắng, có người gọi tên mình mỗi sáng.

– Sống sao cho mình không thành gánh nặng, mà là một người được trân trọng.

5. Chuyện cũ hãy kể cho người hiểu.

Không phải ai cũng đủ kiên nhẫn nghe chuyện ngày xưa.

Người cùng tuổi sẽ hiểu một ánh nhìn, một tiếng thở dài.

6. Đừng đợi đủ khỏe, đủ tiền, đủ rảnh mới đi.

– Một chuyến xe buýt cũng là hành trình.

– Một con đường cũ cũng có thể thành kỷ niệm mới.

– Ước mơ không già, chỉ có con người hay trì hoãn.

7. Tuổi già không phải là khổ hạnh!

– Ăn ngon không phải tham.

– Mặc đẹp không phải phù hoa.

– Nghỉ ngơi không phải lười biếng.

– Đó là phần thưởng xứng đáng cho một đời đã quá nhiều cố gắng.

8. Quá khứ đẹp thì nên đặt xuống cho trọn vẹn.

Nơi làm việc cũ, danh xưng cũ, hào quang cũ… hãy để nó nằm yên trong ký ức.

Đừng quay lại chỉ để thấy mình lạc lõng.

9. Muốn tuổi già an nhiên, hãy nhớ ba điều:

– Hạnh phúc không ai cho, phải mình tự tạo.

– Tiền không mua hết mọi thứ, nhưng thiếu tiền thì khó yên.

– Con cái thương mình, nhưng mỗi đứa đều có cuộc đời riêng.

Không trông chờ quá nhiều!

10 . Hành trang tuổi già chỉ cần bấy nhiêu!

Hãy học QUÊN:

– Quên tuổi tác.

– Quên hơn thua.

– Quên oán giận.

(TT K H)


 

Muốn có “Steve Jobs Việt Nam”, hãy cho người Việt có được quyền suy nghĩ khác biệt

Ba’o Tieng Dan

12/06/2026

Trung Ngôn

Đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026 đặt ra câu hỏi: “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?” Đây là một đề tài hấp dẫn vì nó gợi mở khát vọng đổi mới, sáng tạo và phát triển đất nước. Nhưng nếu nghĩ kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy câu hỏi này cũng chứa đựng một giả định khá phổ biến, rằng chỉ cần giáo dục tốt hơn, học sinh cố gắng hơn, thanh niên khởi nghiệp nhiều hơn thì Việt Nam sẽ có những Steve Jobs của riêng mình.

Nhưng vấn đề là câu chuyện không đơn giản như vậy. Rõ ràng, Steve Jobs không phải là một sản phẩm của ý chí cá nhân đơn thuần mà ông là sản phẩm của cả một hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, văn hóa và học thuật đặc biệt mà nước Mỹ đã xây dựng suốt cả trăm năm qua.

Nhiều người thường được nghe kể rằng, Steve Jobs bỏ học đại học, khởi nghiệp từ garage xe hơi và trở thành tỷ phú. Nhưng điều họ ít nhắc đến là ông được sống trong một môi trường mà việc đặt câu hỏi, thách thức những điều cũ kỹ và đi ngược đám đông… không bị xem là một hành vi nguy hiểm.

Ở Mỹ, một sinh viên có thể công khai phản bác các giáo sư của mình. Một nhà nghiên cứu có thể đưa ra giả thuyết trái ngược với quan điểm phổ biến. Một doanh nhân có thể thất bại vài lần rồi tiếp tục kêu gọi vốn cho dự án tiếp theo. Một nhà báo có thể chỉ trích tổng thống mà không sợ bị xử lý vì “đi ngược định hướng”.

Những điều đó nghe có vẻ bình thường với người Mỹ, nhưng chính những điều bình thường ấy lại là nền tảng của sự sáng tạo. Sự sáng tạo không xuất hiện từ sự nghe lời tuyệt đối, mà nó bắt đầu từ quyền được nghi ngờ.

Muốn phát minh cái mới, trước hết phải có quyền nói rằng cái cũ chưa chắc đã đúng. Đó là điểm khác biệt rất lớn giữa môi trường học thuật ở Mỹ và môi trường học thuật ở Việt Nam.

Ở Mỹ, các trường đại học được trao mức độ tự chủ rất lớn. Các giáo sư có thể nghiên cứu những chủ đề nhạy cảm về chính trị, xã hội, lịch sử hay văn hóa mà không cần phải chứng minh trước rằng, kết quả nghiên cứu sẽ phù hợp với một kết luận đã có sẵn.

Ngược lại, ở Việt Nam, nhiều lĩnh vực nghiên cứu vẫn tồn tại những giới hạn nhất định. Có những chủ đề mà người ta biết trước rằng rất khó để xin tài trợ, và ngay cả được tài trợ, cũng khó được xuất bản hoặc khó được khuyến khích theo đuổi. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khoa học xã hội mà còn ảnh hưởng đến tinh thần sáng tạo nói chung, bởi sáng tạo không thể được bật tắt như một công tắc điện.

Không thể nói rằng sinh viên được tự do sáng tạo trong công nghệ nhưng lại phải thận trọng trong việc đặt câu hỏi về lịch sử, xã hội hay các chính sách công. Tự do tư duy không thể tồn tại một cách nửa vời; mà nó tồn tại, hoặc không tồn tại.

Một điểm khác cũng cần nhấn mạnh là văn hóa chấp nhận thất bại. Steve Jobs từng bị chính công ty Apple sa thải. Nếu ở Việt Nam, điều này có thể là dấu chấm hết cho sự nghiệp của ông. Nhưng ở Mỹ, thất bại không phải là dấu chấm hết. Các nhà đầu tư ở Thung lũng Silicon thường hỏi: “Anh/ chị đã thất bại lần nào chưa?” Nếu câu trả lời là chưa, đôi khi nhà đầu tư cảm thấy lo ngại, bởi vì thất bại được xem như là kinh nghiệm.

Trong khi đó, ở Việt Nam, thất bại thường gắn liền với sự xấu hổ, nỗi nhục nhã. Học sinh sợ bị điểm thấp; sinh viên sợ bị rớt môn học; công chức sợ trách nhiệm; doanh nhân sợ phá sản… Cho nên nhiều người chọn giải pháp an toàn, thay vì thử nghiệm những điều mới mẻ.

Một xã hội mà mọi người đều sợ sai thì xã hội đó rất khó có sự đột phá, bởi vì đột phá chính là kết quả của hàng trăm lần sai trước đó.

Thực tế cho thấy, Việt Nam không thiếu người tài. Nhiều người Việt đã và đang có mặt trong các phòng thí nghiệm hàng đầu thế giới. Người Việt đang làm việc ở các công ty lớn trên thế giới như Google, Apple, Microsoft, Meta, Nvidia và hàng loạt tập đoàn công nghệ lớn khác. Các nhà khoa học gốc Việt xuất hiện ở những đại học danh tiếng nhất hành tinh.

Nếu người Việt thiếu năng lực thì những thành công đó không thể tồn tại. Câu hỏi đặt ra là: Vì sao rất nhiều người Việt lại có khả năng phát triển mạnh nhất khi làm việc ở nước ngoài, thay vì ở Việt Nam? Câu trả lời chắc chắn nằm ở môi trường. Một hạt giống tốt không thể phát triển nếu được gieo trồng trên mảnh đất cằn cỗi!

Chúng ta thường nói đến việc đào tạo nhân tài, nhưng đôi khi điều quan trọng hơn là tạo ra môi trường để nhân tài có thể tồn tại. Nếu một nhà khoa học phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính, xin kinh phí, viết báo cáo hình thức hoặc tuân theo những quy định cứng ngắc, thì năng lượng và thời gian dành cho sự sáng tạo sẽ không còn.

Nếu một giảng viên đại học phải cẩn trọng với từng phát biểu ngoài chuyên môn của mình, thì tinh thần phản biện cũng khó phát triển mạnh. Nếu một học sinh ngay từ nhỏ đã được dạy rằng đáp án đúng luôn nằm trong sách giáo khoa, thì rất khó để sau này em ấy trở thành người đặt ra những câu hỏi chưa ai từng nghĩ tới.

Vì vậy, câu hỏi cần đặt ra không phải là: “Làm thế nào để có Steve Jobs Việt Nam?” mà phải là: “Làm thế nào để xây dựng một đất nước Việt Nam, nơi hàng triệu người được tự do suy nghĩ như Steve Jobs?” Bởi Steve Jobs không phải là kết quả của một chương trình giáo dục đặc biệt hay một chiến dịch thi đua nào đó, mà ông chính là kết quả của một xã hội cho phép con người tò mò, tranh luận, sai lầm, thử nghiệm và khác biệt.

Nếu môi trường ấy tồn tại, những người xuất chúng như Steve Jobs sẽ xuất hiện một cách tự nhiên. Nhưng nếu môi trường ấy không tồn tại, cho dù chúng ta có tổ chức hàng ngàn cuộc thi sáng tạo, phát động hàng vạn phong trào khởi nghiệp, treo hàng triệu khẩu hiệu về đổi mới, thì những “Steve Jobs Việt Nam” vẫn sẽ không xuất hiện.

Thiên tài không thể được sản xuất bằng mệnh lệnh hành chính, mà thiên tài chỉ có thể lớn lên trong tự do.

______

Ảnh chụp đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026:

BẤT HẠNH – Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

BẤT HẠNH

1.

Tôi chưa nghe ai nói Úc là một quốc gia anh hùng. Họ chỉ tự nhận là một quốc gia may mắn (Lucky Country). Nếu được lựa chọn, tôi thích sinh ra và sống trong một quốc gia thanh bình hơn là một quốc gia anh hùng. Trong lịch sử, dân tộc anh hùng nào cũng là một dân tộc bất hạnh: Sự anh hùng nở hoa từ máu.

2.

Bất hạnh lớn nhất của Việt Nam hiện nay không phải là đất nước bị cai trị bởi một đảng độc quyền. Bất hạnh lớn nhất là cái đảng độc quyền ấy lại bị cai trị bởi một nhóm người hoàn toàn bất tài và bất lực. Hơn nữa, vô tâm: Họ chỉ lo cho quyền lợi của họ.

3.

Người có tài nhưng không được trọng dụng là một bất hạnh đối với cá nhân người ấy; người không có tài mà lại được trọng dụng, hơn nữa, nắm những vị trí lãnh đạo tối cao, là một bất hạnh cho cả một dân tộc. Trong hiện tại và trong cả tương lai.


 

ĐỪNG LO LẮNG GÌ CẢ (Mc 6, 25-34) – Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu

 Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu

 Ngày Tết báo hiệu một năm cũ đã qua và một năm mới đang đến.  Chúng ta cần nhìn lại một năm qua với cái nhìn của Chúa để thấy tất cả là hồng ân, kể cả những gì người đời coi là xui xẻo, bất hạnh.  Chúa đã cho chúng ta sống thêm một thời gian, thêm một năm trên đời.  Chúng ta nhận ra thời gian một ngày nhờ mặt trời mọc lên rồi lặn xuống.  Nhà nông nhận ra thời gian một tháng nhờ mặt trăng tròn rồi lại khuyết.  Tạ ơn Chúa vì hai nguồn sáng quý báu như vậy trên bầu trời.

Thời gian theo Kitô giáo không đi theo đường xoắn ốc, nhưng theo đường thẳng.  Thời điểm nào cũng là duy nhất, đi rồi không trở lại, nên rất đáng quý.  Con Thiên Chúa làm người đã đắm mình trong dòng thời gian như ta.  Nhờ Ngài, dòng thời gian này sẽ đưa ta vào vĩnh cửu của Thiên Chúa.

 Ngày Tết người ta thường hay chúc nhau.  Chúc sức khỏe, chúc làm ăn phát đạt, chúc mọi sự như ý…

Chúng ta có thể học được một cách chúc rất đẹp trong sách Dân Số (6, 22-27).  Đức Chúa chỉ dạy cho ông Môsê để ông này chỉ lại cho ông tư tế Aaron biết cách chúc lành cho dân.

 Có ba lời chúc, mỗi lời đều bắt đầu bằng chủ từ là Đức Chúa:

“Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em.

Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em.

Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn anh em và ban bình an cho anh em.”

 Ơn bình an là ơn bao gồm mọi ơn về sức khỏe, sống lâu, an ninh, thịnh vượng…  Rốt cuộc chính Đức Chúa mới là Đấng chúc lành cho dân Israel (c. 27).  Chính Đức Chúa đóng ấn Danh của Ngài trên họ để bảo trợ họ.  Và hôm nay chính Ngài cũng ban muôn ơn cho ta nhờ Danh Đức Giêsu.

 Trước thềm Năm Mới, con người không tránh khỏi nỗi lo về tương lai.  Có nhiều nỗi lo rất hữu lý, vì khó khăn trước mắt là có thật.  Có nhiều nỗi lo âu chỉ vì con người thấy mình quá đỗi mong manh.  Nỗi lo quấn lấy con người và làm tâm con người không yên. 

 Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu bốn lần nhắc chúng ta “Đừng lo.”  Nếu Kitô hữu không bị quay quắt vì lo âu thì không phải vì họ là người vô lo, hay vì họ tự tin, giỏi giang hơn người khác.  Đơn giản chỉ vì họ có một Người Cha quan tâm đến mọi nhu cầu của họ.  Kitô hữu tận tụy hết mình cho công việc, nhưng lại không bất an, lo âu.  Tín thác như một đứa con ngồi trong lòng cha, họ đặt vinh quang Thiên Chúa lên trên hết, và tin mọi sự khác sẽ được Ngài lo liệu.

 *****

Lạy Cha, Cha đã cho chúng con sống thêm một năm,

đi thêm một đoạn đường đời.

Nhìn lại đoạn đường đã qua,

chúng con chỉ biết nói lên lời tạ ơn chân thành,

vì Cha vẫn cho chúng con sống,

và sống trong tình yêu.

Mọi biến cố vui buồn của năm qua

đều là những lời mời gọi kín đáo của Cha để thức tỉnh, nâng đỡ và đưa chúng con lên cao.

Tạ ơn Cha

vì những gì cuộc đời đã làm cho chúng con,

và những gì chúng con đã làm được cho cuộc đời.

Xin cho chúng con sống những ngày Tết dân tộc

trong tinh thần vui tươi hoà nhã,

và không quên những ai nghèo khổ, cô đơn.

Ước gì những lời chúng con chúc cho nhau

là những lời chúc lành

xuất phát từ trái tim yêu thương.

và lạy Cha, năm mới đã đến,

Trái đất lại xoay một vòng mới quanh mặt trời,

chúng con cũng muốn

ở lại trong quỹ đạo của Cha,

nhận Cha là trung tâm cuộc sống,

và nhận mọi người là anh em. Amen.

 Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu


 

NGƯỜI THỢ GẶT TRONG ĐỒNG TRUYỀN GIÁO- Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

NGƯỜI THỢ GẶT TRONG ĐỒNG TRUYỀN GIÁO

(Suy niệm Tin mừng Matthêu (Mt 9, 36 – 10, – Chúa nhật XI thường niên năm A)

Sứ điêp: Trước khi tiến vào những cánh đồng rộng lớn bao la, mỗi Ki-tô hữu được sai đến những cánh đồng kế cận.

***

Lúa chín đầy đồng

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy một hình ảnh rất đẹp về Chúa Giêsu. Ngài rảo bước khắp nơi rao giảng, chữa lành và nhất là “chạnh lòng thương” dân chúng lầm than vất vưởng như đàn chiên không người chăn dắt.

Trước tình cảnh nầy, Chúa Giê-su kêu mời chúng ta cầu xin Thiên Chúa Cha sai nhiều người thiện chí đến chăm sóc nâng đỡ họ, như chủ ruộng sai thợ đến chăm sóc đồng lúa. Ngài nói: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa.”

Ai là thợ gặt?

Mỗi người chúng ta đều được mời gọi làm thợ gặt cho Chúa. Hội đồng Giám mục Việt Nam qua thư chung gửi cộng đồng dân Chúa năm 2025 – 2026 nhắc nhở chúng ta nhớ rằng: “Mỗi Ki-tô hữu là một môn đệ thừa sai”, nghĩa là một người thợ được Chúa sai đến làm việc trên đồng lúa của Ngài. 

Người cha, người mẹ, ông bà trong gia đình, người công nhân, người giáo viên… đều phải là những môn đệ thừa sai, thành sứ giả loan Tin mừng của Chúa bằng chính đời sống hằng ngày.

Đây là trách nhiệm chủ yếu của các tín hữu, không loại trừ ai; vì bí tích Rửa tội đã làm cho mỗi Ki-tô hữu nên chi thể của Chúa Giê-su nên phải loan Tin mừng với Chúa Giê-su.

Cánh đồng ở đâu?

Trước khi tiến vào những cánh đồng rộng lớn bao la, Ki-tô hữu được sai đến những cánh đồng kế cận. Đó là những địa bàn gần gũi bên ta như trong gia đình, trong làng xóm, khu phố, trong xứ đạo của chúng ta…

Làm thợ gặt thế nào?

Chúng ta không cần làm những việc lớn lao. Chúa không hỏi chúng ta đã làm được bao nhiêu việc lớn lao, nhưng hỏi chúng ta đã quan tâm, yêu thương, phục vụ được bao nhiêu người mà Ngài đã gửi đến bên ta.

Ở tuổi nào, hoàn cảnh nào, chúng ta cũng có thể là “thợ gặt” trong cánh đồng của Chúa qua hành vi cụ thể như:

  • Một lời khuyên chân thành cho con cháu;
  • Một lời động viên người đang chán nản;
  • Một cuộc điện thoại thăm hỏi người đau ốm;
  • Một sự cảm thông với người đang đau khổ;
  • Một lời cầu nguyện cho những người gặp thử thách…

Nhiều khi những việc nhỏ bé ấy lại là những hạt giống Tin mừng âm thầm nhưng rất hiệu quả.

Chúng ta không thể làm cho cả thế giới tốt đẹp hơn trong một ngày, nhưng chúng ta có thể làm cho cuộc sống của một người nào đó tốt đẹp hơn ngay hôm nay.

Lạy Chúa Giê-su, 

Xin Chúa mở mắt cho chúng con nhìn thấy những “cánh đồng lúa chín” ngay bên cạnh mình; mở rộng trái tim để biết cảm thương như Chúa; và ban cho chúng con lòng quảng đại để trở thành những người thợ gặt nhiệt thành trong cánh đồng của Chúa. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

**********************

Tin mừng Thánh Matthêu (Mt 9, 36 – 10, 8)

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng, liền động lòng xót thương họ: vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”.

Và Người liền triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Đây là tên của mười hai tông đồ: trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em ông; Giacôbê con của Giêbêđê và Gioan em ông; Philipphê và Bartôlômêô; Tôma và Matthêu người thu thế; Giacôbê con của Alphê và Tađêô; Simon người Cananêô và Giuđa Iscariốt, kẻ nộp Người. Chúa Giêsu sai mười hai ông này đi và truyền lệnh cho các ông rằng:

“Các con đừng đi về phía dân ngoại, và đừng vào thành các người Samaritanô. Nhưng tốt hơn, các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: ‘Nước Trời đã đến gần’. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không.”

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Đức Thánh Cha Lêô 14 trả lời những câu hỏi khó về ích kỷ, tự tử và tha thứ

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Đức Thánh Cha Lêô 14 trả lời những câu hỏi khó về ích kỷ, tự tử và tha thứ

Trong buổi canh thức cầu nguyện với giới trẻ tại Sân vận động Olympic Lluís Companys ở Barcelona tối ngày 9 tháng 6, Đức Thánh Cha Pope Leo XIV đã đối thoại trực tiếp với ba bạn trẻ, trả lời những câu hỏi sâu sắc về ơn gọi, đau khổ, trầm cảm, tự tử và tha thứ.

Chúng ta được dựng nên cho sự vô biên

Người đầu tiên là Ferrán, một thanh niên vừa lãnh nhận Bí tích Rửa tội trong đêm Vọng Phục Sinh năm nay. Anh chia sẻ rằng xã hội ngày nay luôn thúc đẩy con người chỉ quan tâm đến bản thân mình và đặt câu hỏi làm thế nào để khám phá ơn gọi giữa một thế giới đầy ích kỷ.

Đáp lại, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng nhiều người trẻ đang tìm lại đức tin Kitô giáo vì họ nhận ra rằng khát vọng chân lý và hạnh phúc của con người cần một chân trời rộng lớn hơn.

Ngài nói:

“Chúng ta được dựng nên cho sự vô biên. Vì thế, không một thành công hay thành tựu hữu hạn nào có thể làm cho trái tim con người hoàn toàn thỏa mãn.”

Đức Thánh Cha cảnh báo rằng việc chạy theo lợi nhuận, thành tích và hình ảnh cá nhân chỉ là những thứ gây tê liệt lương tâm. Ngài mời gọi người trẻ dành thời gian cho sự thinh lặng, đọc Tin Mừng mỗi ngày, cầu nguyện và đồng hành với những người có đời sống đức tin trưởng thành để khám phá tiếng Chúa trong cuộc đời mình.

Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta trong đau khổ

Người thứ hai là Carmina, một nữ giáo viên từng trải qua giai đoạn trầm cảm nặng nề đến mức đã cố gắng tự kết liễu đời mình.

Cô nghẹn ngào hỏi:

“Khi bóng tối bao phủ tất cả và chúng ta không còn sức để bước tiếp, Thiên Chúa ở đâu?”

Sau vài giây thinh lặng, Đức Thánh Cha cảm ơn sự can đảm của cô khi chia sẻ kinh nghiệm đau thương ấy.

Ngài nhận định rằng sức khỏe tâm thần đang bị đe dọa nghiêm trọng ngay cả tại những xã hội được xem là phát triển, cho thấy có điều gì đó đang thực sự bất ổn trong đời sống con người hôm nay.

Đức Thánh Cha hướng mọi người nhìn lên thập giá Chúa Kitô và nói:

“Thập giá của Chúa Giêsu cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta. Người ở lại cùng chúng ta trong những giây phút đau đớn và cô đơn nhất.”

Ngài khuyến khích những người đang đau khổ hãy tìm đến những người có thể lắng nghe, đồng hành và cầu nguyện với họ.

Đồng thời, Đức Thánh Cha cũng lưu ý rằng không được đơn giản hóa đau khổ bằng cách cho rằng đó chỉ là “ý muốn của Thiên Chúa”.

Thiên Chúa không muốn đau khổ. Người mang lấy đau khổ cùng với chúng ta và mời gọi chúng ta tiếp tục tín thác nơi Người.”

Làm sao tha thứ cho người cha đã hủy hoại gia đình tôi?

Người thứ ba là Desirée. Cô kể lại tuổi thơ đầy bi kịch khi cha cô từng tìm cách sát hại mẹ mình. Biến cố ấy khiến mẹ cô rơi vào nghiện ngập, còn bản thân cô phải sống trong trung tâm giáo dưỡng dành cho thanh thiếu niên phạm pháp.

Sau này, nhờ một khóa tĩnh tâm, cô gặp gỡ Chúa và được lãnh nhận Bí tích Rửa tội.

Với đôi mắt đẫm lệ, cô hỏi Đức Thánh Cha:

“Con phải làm sao để tha thứ cho cha mình? Và làm sao để thực sự hòa giải với Thiên Chúa?”

Đức Thánh Cha cho rằng thay vì trách móc Thiên Chúa, con người cần nhìn vào chính mình và xã hội để nhận ra nguồn gốc của bạo lực, ích kỷ và sự dữ.

Ngài lên án mọi hình thức lạm dụng, áp bức và đặc biệt là bạo lực đối với phụ nữ.

“Chúng ta không thể quy trách nhiệm cho Thiên Chúa về những điều đã được trao cho tự do và trách nhiệm của con người.”

Nói về sự tha thứ, Đức Thánh Cha giải thích rằng tha thứ là một hành trình chứ không phải một hành động diễn ra trong chốc lát.

Ngài khuyên trước hết hãy xin Chúa tha thứ cho chính mình, để Người chữa lành những vết thương trong tâm hồn và từng bước biến đổi sự cay đắng thành lòng thương xót.

“Trong việc tha thứ, chúng ta tiến bước từng bước nhỏ.”

Đức Thánh Cha cũng lưu ý rằng tha thứ không nhất thiết có nghĩa là phải quay trở lại mối tương quan như trước đây, đặc biệt trong những trường hợp có bạo lực hoặc tổn thương nghiêm trọng.

Tuy nhiên, người tín hữu vẫn có thể từ bỏ hận thù và ý muốn trả thù, giữ một tấm lòng thiện chí đối với người đã làm tổn thương mình và cầu nguyện cho họ.

Kết thúc cuộc đối thoại, Đức Thánh Cha Lêô 14 một lần nữa mời gọi người trẻ đừng sợ những thao thức sâu xa trong tâm hồn, đừng tuyệt vọng trước đau khổ và đừng nản lòng trên con đường tha thứ, bởi Thiên Chúa luôn hiện diện, đồng hành và chữa lành con người bằng tình yêu của Người.

Nguồn: EWTN News


 

TRÁI TIM KHÔNG PHÒNG THỦ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thiên Chúa là Tình Yêu!” – bài đọc hai.  

“Những kẻ chinh phục hùng mạnh với quân đội và vũ khí khủng khiếp đã tìm cách khuất phục thế giới một cách vô vọng. Đức Kitô chinh phục muôn triệu con tim chỉ bằng tình yêu, một tình yêu không phòng thủ, không giữ lại điều gì!” – Anthony Fortosis.

Kính thưa Anh Chị em,

“Đức Kitô chinh phục muôn triệu con tim bằng tình yêu!”. Ngài không chinh phục bằng sức mạnh, nhưng bằng sự mong manh. Mừng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta chiêm ngắm một ‘trái tim không phòng thủ’.

“Thiên Chúa là Tình Yêu!”. Toàn bộ thần học Kitô giáo có lẽ cũng chỉ là nỗ lực để đi vào chiều sâu của định nghĩa ngắn ngủi ấy. Điều đáng ngạc nhiên là khi chứng minh điều đó, Gioan không đưa ra một lý thuyết, nhưng kể một câu chuyện: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”. Thiên Chúa không gửi một sứ điệp; Ngài gửi chính Người Con. Vì thế, tình yêu không còn là một ý niệm để suy nghĩ, nhưng là một con người để gặp gỡ. “Kitô giáo là một cuộc gặp gỡ, một câu chuyện tình yêu; đó là một biến cố!” – Bênêđictô XVI.

Đó cũng là tình yêu Ngài dành cho Israel từ thuở xa xưa. Qua miệng Môsê, Ngài nhắc dân, họ được chọn không phải vì đông hơn hay tốt hơn các dân tộc khác; họ được chọn chỉ vì được yêu thương – bài đọc một. Trái tim của Thiên Chúa luôn đi trước: yêu trước, rồi mới biến đổi. Thánh Vịnh đáp ca xác tín: “Ân tình Chúa thiên thu vạn đại, Chúa dành cho ai kính sợ Người!”.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu tiết lộ: “Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con”. Chỉ mình Ngài mới biết trọn vẹn trái tim Chúa Cha; vì thế, chỉ mình Ngài mới có thể mở trái tim của Cha cho nhân loại. Nhưng Ngài không dừng lại ở việc mặc khải Chúa Cha, Ngài còn mời gọi chúng ta đến với Cha: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng!”.

Phần chúng ta, chúng ta thường sống bằng những phòng tuyến. Chúng ta phòng thủ trước người khác, phòng thủ trước chính mình, và đôi khi, phòng thủ trước cả tình yêu của Thiên Chúa. Từ địa đàng, con người đã quen trốn chạy; Thiên Chúa thì không. Lời mời “Hãy đến cùng tôi!” cho thấy một điều kỳ diệu: Thiên Chúa không đáp lại sự khép kín của con người bằng một sự khép kín lớn hơn. Ngài mở ra!

Anh Chị em,

Nơi nào chúng ta thấy rõ nhất một ‘trái tim không phòng thủ?’. Nơi cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô trên thập giá! Ở đó, Thiên Chúa không giữ lại điều gì. Máu và nước tuôn trào như dấu chỉ của một tình yêu trao hiến đến tận cùng. Trong Đức Kitô chịu đóng đinh, Thiên Chúa từ bỏ mọi phòng tuyến cuối cùng giữa Ngài và con người. Cạnh sườn mở ra ấy không chỉ là một vết thương, nhưng là một cánh cửa. Thiên Chúa không chỉ mở cửa Nước Trời; Ngài mở chính trái tim mình. Qua Đức Kitô, người mệt mỏi tìm được nghỉ ngơi, người tội lỗi tìm được thứ tha và người lạc lối tìm được đường về. “Không có người tội lỗi nào quá xa để không thể trở về với Thiên Chúa!” – Fulton Sheen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho trái tim con bớt phòng ngự trước Chúa; bớt khép kín trước anh em; và mỗi ngày nhu mì hơn như trái tim Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************

LỜI CHÚA LỄ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU, NĂM A, THỨ SÁU tuần X, TN:

Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.       Mt 11,25-30

25 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. 26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.

28 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”


 

 Thánh Barnabas tông đồ – Cha Vương 

 Chúc bình an, hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Barnabas tông đồ, mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy luôn nhớ nhau trong kinh nguyện không quên cầu nguyện cho thế giới được bình an nhé.

Cha Vương 

Thứ 5: 11/06/2026      (t7-22)

“Vị thánh này có phúc, vì đáng được kể thêm vào số các Tông Đồ: Người thật là tốt, đầy ơn Thánh Thần và lòng tin”( Cv 11, 24 ). Thánh Barnabê là một trong 72 môn đệ đầu tiên đã nghe Chúa Giêsu giảng dậy và đã trở thành môn đệ của Ngài

Thánh Barnabê môn đệ của Chúa Giêsu: Đã có lần, có dịp nghe Chúa Giêsu giảng dậy và đã chứng kiến Chúa Giêsu làm phép lạ, thánh Barnabê đã trở thành một trong 72 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Vì Chúa Giêsu đã nói: “ Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái…” ( Ga 15, 16 ).Chính Chúa Giêsu đã chọn Barnabê để  thánh nhân làm chứng cho tình yêu của Chúa và giới thiệu Chúa Giêsu cho nhiều người. Sau biến cố Chúa Giêsu lên trời, các tông đồ sai Barnabê đi truyền giáo ở Antiokia, một miền trù phú và thịnh vượng, phồn vinh nhất lúc bấy giờ. Và như lời Chúa nói:”… hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân dành Thầy thì Thầy ban cho anh em”( Ga 15, 16 ). Thánh Barnabê luôn có Chúa Thánh Thần tràn đầy và nhờ tài giảng thuyết, Ngài đã đưa được biết bao nhiêu người trở về với Chúa. Thánh nhân đã mời thánh Phaolô về ở với mình và cùng giảng dậy, loan báo Tin Mừng ở Antiokia. Sau đó, thánh nhân mang món tiền mà Ngài đã quyên góp được về Giêrusalem gặp các vị kỳ mục và các tông đồ khác. Đường lối và ý nhiệm mầu của Chúa lại khác, Barnabê và Phaolô lại được trao sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, nên các Ngài lại trẩy đi Séleucie và Chypre. Dân bản xứ và các người ngoại giáo, đón tiếp các Ngài một cách nhiệt tình, họ tin theo các Ngài. Tuy nhiên cũng có những người Do Thái có óc thủ cựu, hẹp hòi đã tìm cách gièm pha, chế diễu và nói nhiều lời ngạo mạn đối với các Ngài, họ xúi giục những thành phần bất hảo ngược đãi và trục xuất các Ngài ( Cv 13, 50 ). 

Chúa cho các Ngài làm nhiều phép lạ: xua trừ ma quỉ, chữa bệnh, làm cho kẻ chết sống lại để củng cố niềm tin của các tân tòng.

Chúa thưởng công cho Thánh Barnabê: Thánh Barnabê và thánh Marcô tiếp tục rao giảng ở đảo Chypre. Chúa đã  yêu thương cho thánh Barnabê được lãnh triều thiên qua cái chết tử đạo của Ngài:” Hạt lúa mì rơi xuống đất không thúi đi, thì nó sẽ không sinh nhiều bông hạt…”.  Người Do Thái ở Syria đã xúi giục dân chúng ném đá và xử tử thánh Barnabê. Đời Hoàng Đế Zénon, vào năm 488, người ta đã tìm thấy xác của thánh Barnabê tại Salamine thuộc đảo Chypre, Hy Lạp.

Lạy Chúa, Chúa đã truyền phải dành riêng thánh Barnabê là một người đầy lòng tin và Thánh Thần, để thánh nhân đưa dân ngoại về với Chúa. Xin cho mọi tín hữu biết dùng lời nói và việc làm để trung thành loan báo Tin Mừng Đức Kitô như thánh nhân đã can đảm rao truyền (ca nhập lễ, lễ thánh Barnabê, tông đồ ). 

 (Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

From: Do Dzung

**********************

Đường con theo Chúa -tinmung.net

 SỐ PHẬN BI THẢM CỦA NỮ MINH TINH MÀN BẠC XÔ VIẾT DÁM TỪ CHỐI CẢ STALIN LẪN BERIA

Lê Thọ Bình

 SỐ PHẬN BI THẢM CỦA NỮ MINH TINH MÀN BẠC XÔ VIẾT DÁM TỪ CHỐI CẢ STALIN LẪN BERIA

Moskva, năm 1946. Trên phố Gorky sầm uất, một người phụ nữ đang sải bước khiến bất kỳ ai đi qua cũng không thể rời mắt. Dáng người cao ráo, quý phái, gương mặt với những đường nét thanh tú như tạc và đôi mắt mang sắc mật ong đậm sâu thẳm.

Người qua đường ngoái lại nhìn, có vài cô gái trẻ khúc khích thì thầm vào tai nhau với ánh mắt đầy ngưỡng mộ. Đó chính là Tatyana Okunevskaya, ngôi sao sáng chói của điện ảnh Xô Viết, người sở hữu gương mặt mà từ góc phố nhỏ đến những quảng trường lớn của toàn liên bang không ai là không biết.

Năm ấy bà ba mươi hai tuổi. Phía sau bà là những vai diễn để đời mang lại danh tiếng lẫy lừng, là ánh hào quang đỉnh cao mà mọi nghệ sĩ đều khao khát. Phía trước bà, như một lẽ tự nhiên, đáng lẽ phải là hàng thập kỷ tỏa sáng rực rỡ hơn nữa trên sân khấu và màn ảnh.

Thế nhưng, vòng xoáy của quyền lực và những âm mưu đen tối nơi hậu trường chính trị đã viết sẵn cho bà một kịch bản khác, một kịch bản tàn khốc, đẫm máu và nước mắt, vượt xa bất kỳ bộ phim chính kịch nào từng được công chiếu.

1- Tuổi Thơ Mang Bóng Ma Thời Đại Và Sự Thăng Hoa Của Nhan Sắc

Tatyana Kirillovna Okunevskaya sinh năm 1914 tại Moskva trong một gia đình cựu quý tộc Tsar. Sau cuộc Cách mạng, để thích nghi với chế độ mới và bảo vệ gia đình, cha bà phải giấu đi nguồn gốc hoàng tộc, chấp nhận làm một kế toán viên bình thường với mức lương khiêm tốn.

Tuổi thơ của Tatyana trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt của sự hoài nghi và sợ hãi. Bóng ma của những cuộc thanh trừng thể chế đã gõ cửa nhà bà khi Tanya mới là một cô bé vị thành niên: cha bà bị bắt giữ vì lý do chính trị.

Cú sốc mất mát và cảm giác bất an từ ngày ấy đã để lại một vết sẹo sâu sắc, định hình nên một Tatyana kiên cường, bướng bỉnh và có phần bất cần đời sau này.

Nhưng số phận đã ban tặng cho Tatyana một vũ khí tối thượng: nhan sắc và tài năng thiên bẩm. Ngay từ nhỏ, cô gái ấy đã bị ánh đèn sân khấu cuốn hút một cách kỳ lạ.

Ở tuổi 16: Tatyana đã đứng trên sân khấu nhà hát, làm chủ không gian bằng đài từ cuốn hút.

Tuổi 21: Bà chạm ngõ điện ảnh với bộ phim đầu tay và ngay lập tức lọt vào mắt xanh của các đạo diễn hàng đầu.

Ống kính máy quay như thể “phải lòng” Tatyana.

Các nhà quay phim thời đó thường truyền tai nhau một lời khẳng định mang tính huyền thoại: Thật bất khả thi nếu muốn tìm một góc quay xấu của Okunevskaya. Bất kỳ góc độ nào, bất kỳ thứ ánh sáng phức tạp nào khi chiếu lên gương mặt bà cũng chỉ làm tôn lên vẻ đẹp kỳ lạ, mang tính ma mị và đầy nam châm quyến rũ.

Đến những năm 1940, Tatyana Okunevskaya đã bước lên hàng ngũ những biểu tượng nhan sắc quốc gia. Những bộ phim như “Pyshka” (Viên mỡ), “Chuyện xảy ra ở Donbass”, “Đêm trên bầu trời Belgrade”… tạo nên những cơn sốt phòng vé, các rạp chiếu luôn trong tình trạng chật kín khán giả.

Sau chiến tranh, sự nổi tiếng của bà đạt đến đỉnh cao tuyệt đối. Những buổi tiệc chiêu đãi ngoại giao, những bó hoa rực rỡ từ người hâm mộ, những ánh nhìn sùng bái từ công chúng… Cuộc sống đối với người đàn bà tuổi băm ấy dường như vô cùng hào phóng, ngọt ngào và kéo dài bất tận.

2- Cuộc Đối Đầu Ngầm Với “Người Cha Già” Stalin

Sự nổi tiếng và nhan sắc rực rỡ của Tatyana Okunevskaya không chỉ thu hút công chúng mà còn lọt vào tầm ngắm của những bộ óc quyền lực nhất Điện Kremlin. Người đầu tiên chú ý đến bà không ai khác chính là Joseph Stalin.

Trong một buổi tiệc sang trọng được tổ chức tại Điện Kremlin nhằm vinh danh các nghệ sĩ có công trạng trong thời chiến, Tatyana xuất hiện như một nữ thần. Chiếc đầm nhung đen đơn giản nhưng cắt cúp tinh tế càng làm nổi bật nước da trắng ngần và đôi mắt màu mật ong của bà.

Stalin, lúc bấy giờ là lãnh tụ tối cao với quyền sinh quyền sát trong tay, đã bước đến gần bà. Với điếu tẩu trên tay và ánh mắt sắc lẹm, Stalin nhìn xoáy vào Tatyana, đưa ra những lời khen ngợi mang đầy tính gợi mở và hàm ý về một sự “nâng đỡ đặc biệt” nếu bà biết cách làm vui lòng lãnh tụ.

Bất kỳ một nữ diễn viên nào khác trong hoàn cảnh đó có lẽ đã run rẩy vì sợ hãi hoặc quỳ rạp trước cơ hội đổi đời. Nhưng dòng máu quý tộc kiêu hãnh và tính cách bướng bỉnh trong Tatyana đã trỗi dậy.

Bà không giả vờ ngây thơ, cũng không vồn vã đón nhận. Tatyana đáp lại bằng một nụ cười xã giao lạnh lùng, giữ một khoảng cách tôn kính nhưng đầy xa cách. Khi Stalin đưa ly rượu vang mời bà, bà đã khéo léo từ chối với lý do sức khỏe và nhanh chóng lùi về phía sau, lẫn vào đám đông các nghệ sĩ khác.

Hành vi khước từ khôn khéo nhưng kiên quyết này của Tatyana là một cú đánh trực diện vào cái tôi vĩ đại của Stalin. Dù lãnh tụ không ra tay trừng phạt bà ngay lập tức để giữ thể diện, nhưng cái tên Tatyana Okunevskaya đã bị đánh dấu đỏ trong danh sách những kẻ “thiếu lòng thành kính”.

Tuy nhiên, điều tồi tệ nhất đối với bà không đến từ Stalin, mà đến từ kẻ đứng sau bóng tối của Stalin: Lavrentiy Beria.

3- Cái Bẫy Của Con Quỷ Dữ: Âm Mưu Tàn Độc Của Beria

Lavrentiy Beria, người đứng đầu Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD), lực lượng cảnh sát mật khét tiếng, là một trong những nhân vật đáng sợ nhất trong lịch sử Xô Viết. Đằng sau cặp kính cận trí thức và nụ cười hòa nhã là một kẻ tàn bạo, một tên bạo chúa tình dục đích thực.

Beria khét tiếng với sở thích săn lùng các phụ nữ đẹp tại Moskva. Đó không phải là tin đồn vô căn cứ, mà là sự thật được chứng minh bằng hàng chục tập hồ sơ, lời khai và tài liệu giải mật sau này.

Xe của Beria thường lượn lờ khắp các con phố, và bất kỳ cô gái nào, dù là nữ sinh, ca sĩ hay minh tinh điện ảnh lọt vào mắt gã, đều sẽ bị mật vụ áp giải về dinh thự riêng. Với Beria, một lời khước từ không chỉ là sự từ chối tình cảm, mà là một tội ác chống lại quyền lực tối cao của gã.

Beria đã tơ tưởng đến Tatyana từ lâu. Gã không chỉ muốn chiếm đoạt thể xác của bà, mà còn muốn bẻ gãy sự kiêu hãnh của biểu tượng nhan sắc số một liên bang. Một kế hoạch tinh vi và tàn nhẫn đã được gã vạch sẵn.

Một buổi tối cuối năm 1946, sau khi kết thúc buổi biểu diễn tại nhà hát, Tatyana bước ra đường để bắt xe về nhà. Bất chợt, một chiếc ô tô hạng sang màu đen (chiếc ZIS huyền thoại của giới chức cấp cao) với cửa sổ kéo rèm kín mít trờ tới.

Hai gã đàn ông mặc măng-tô dài bước xuống, không một lời giải thích, chúng đưa ra chiếc huy hiệu NKVD lạnh lẽo. “Đồng chí Okunevskaya, đồng chí Beria muốn mời đồng chí tham gia một cuộc họp quan trọng về tương lai điện ảnh,”một tên nói với giọng điệu không thể thỏa hiệp.

Tatyana hiểu rằng bà không có lựa chọn. Chiếc xe lao đi trong đêm đông Moskva lạnh giá, hướng thẳng về phía dinh thự riêng của Beria trên phố Malaya Nikitskaya.

Khi bước qua ngưỡng cửa, không có cuộc họp nào cả. Tatyana được dẫn vào một căn phòng lớn, nơi một bàn tiệc xa hoa đã được bày sẵn dưới ánh đèn chùm lộng lẫy: những chiếc ly pha lê lấp lánh, bộ dao nĩa bằng bạc nặng trịch, những đĩa trứng cá tầm đắt đỏ và hương thơm quyến rũ của rượu vang Gruzia hảo hạng. Mọi thứ trông thật tinh tế, nhưng đối với Tatyana, nó chẳng khác nào một pháp trường được trang hoàng lộng lẫy.

Beria bước ra với chiếc áo khoác tháo cúc, nụ cười nham hiểm hiện rõ trên khuôn mặt. Gã rót rượu, buông những lời tán tỉnh trơ trẽn và bắt đầu dùng quyền lực để ra điều kiện. Beria hứa hẹn sẽ đưa Tatyana lên tầm ngôi sao quốc tế, cấp cho bà biệt thự, xe riêng và bảo hộ cho gia đình bà mãi mãi. Đổi lại, bà phải trở thành người tình bí mật của gã.

Khi thấy Tatyana kiên quyết im lặng, ánh mắt hiện rõ sự ghê tởm, Beria thay đổi chiến thuật. Gã lật bài ngửa, giọng nói trở nên lạnh lùng như băng: Gã nhắc lại quá khứ của cha bà, nhắc đến những người bạn của bà đã “biến mất” không dấu vết, và ám chỉ rằng số phận của bà hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay gã.

“Tatyana thân mến, cô nghĩ mình là ai? Một ngôi sao? Tôi có thể biến cô thành một huyền thoại, nhưng tôi cũng có thể biến cô thành cát bụi trong một cái búng tay,” Beria thì thầm bên tai bà.

Đỉnh điểm của đêm kinh hoàng đó là khi Beria lao vào cưỡng bức bà. Tatyana đã phản kháng dữ dội bằng tất cả sức bình sinh, bà tát thẳng vào mặt gã bạo chúa và buông lời nguyền rủa. Sự chống cự của bà chỉ làm kích động thêm sự tàn bạo của Beria.

Đêm hôm đó, nhan sắc kiêu hãnh của điện ảnh Liên Xô đã bị chà đạp thô bạo ngay trong hang ổ của con quỷ dữ. Khi bà bị tống ra khỏi dinh thự vào rạng sáng, Beria nhìn theo với ánh mắt hằn học: “Cô sẽ phải cầu xin tôi, Okunevskaya.”

4- Bản Án Nghiệt Ngã Và Địa Ngục Gulag

Sự trả thù của Beria đến không ồn ào nhưng vô cùng tàn nhẫn và chuẩn xác. Gã không bắt bà ngay lập tức mà bắt đầu cô lập bà. Các đạo diễn đột ngột từ chối giao vai cho Tatyana mà không rõ lý do. Tên bà bị gạch khỏi các sự kiện lớn. Hào quang quanh bà tắt dần trong sự ngỡ ngàng của công chúng.

Và rồi, điều gì đến cũng phải đến. Vào một đêm muộn năm 1948, các đặc vụ NKVD đập cửa nhà Tatyana Okunevskaya. Bà bị bắt giữ với tội danh ngụy tạo: “Tuyên truyền phản động chống Liên bang Xô Viết và gián điệp cho nước ngoài”.

Không có một phiên tòa công khai nào, không có luật sư bào chữa. Dựa trên những bằng chứng giả mạo do chính tay Beria phê duyệt, Tatyana bị kết án 10 năm tù lao động khổ sai.

Từ một nữ minh tinh sống trong nhung lụa, Tatyana bị tống lên một chuyến tàu chở súc vật, hướng thẳng về các trại tập trung Gulag khét tiếng ở vùng Siberia lạnh giá.

Trại Gulag là nơi biến con người thành những bộ xương di động. Tại đây, Tatyana phải đối mặt với:

Thời tiết khắc nghiệt: Mùa đông xuống dưới âm 40 độ C, da thịt đóng băng.

Lao dịch khổ sai: Bà phải chặt cây, đào đất, làm những công việc chân tay nặng nhọc với khẩu phần ăn chỉ là một mẩu bánh mì đen ẩm mốc và bát súp loãng cặn rau hoai.

Sự hành hạ về tinh thần: Các quản giáo trại giam biết bà từng là một ngôi sao, chúng cố tình sỉ nhục, bắt bà phải quỳ lạy hoặc làm những việc nhục nhã nhất để tiêu diệt chút tự trọng cuối cùng của bà.

Mái tóc màu mật ong rực rỡ ngày nào bị cạo trọc để phòng chấy rận. Đôi bàn tay mềm mại từng nhận hàng ngàn bó hoa của người hâm mộ giờ đây chằng chịt những vết sẹo, chai sạn và rớm máu vì lạnh giá. Nhiều đêm nằm trên sạp gỗ buốt giá, nghe tiếng sói hú ngoài bình nguyên Siberia, Tatyana đã nghĩ đến cái chết. Nhưng lòng kiêu hãnh và ý chí sinh tồn mãnh liệt đã giữ bà ở lại. Bà tự nhủ: Phải sống để chứng kiến ngày tàn của những kẻ đã hãm hại mình.

5- Sự Hồi Sinh Từ Tro Tàn

Năm 1953, một bước ngoặt lịch sử vĩ đại diễn ra: Joseph Stalin qua đời. Không lâu sau đó, Lavrentiy Beria bị lật đổ bởi các đồng chí của mình, bị kết tội phản quốc và bị xử bắn ngay sau đó.

Năm 1954, Tatyana Okunevskaya được trả tự do và được phục hồi danh dự sau hơn 5 năm chịu đựng địa ngục trần gian. Khi bước ra khỏi cổng trại giam, bà chỉ còn là một người đàn bà gầy gò, ốm yếu, nhưng đôi mắt màu mật ong ấy vẫn sáng rực một ý chí bất khuất.

Bà trở về Moskva, nhưng thế giới cũ đã thay đổi. Điện ảnh đã bước sang một trang mới, và khán giả trẻ không còn nhớ đến cái tên Okunevskaya. Thế nhưng, Tatyana không đầu hàng số phận.

Bà quay lại với thánh đường sân khấu, chấp nhận đóng những vai phụ, vai nhỏ, từ từ nhặt nhạnh lại những mảnh vỡ của cuộc đời mình. Bà viết hồi ký, phơi bày những sự thật trần trụi về thời kỳ đen tối ấy, trở thành một nhân chứng sống cho một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch.

Tatyana Okunevskaya sống một cuộc đời dài, kiêu hãnh cho đến tận năm 2002, khi bà qua đời ở tuổi 88. Người đàn bà ấy đã đi qua cả một thế kỷ đầy biến động, đã dám nói “Không” trước những kẻ quyền lực nhất thế giới, chịu đựng sự trừng phạt tàn khốc nhất nhưng chưa bao giờ để tâm hồn mình bị khuất phục.

Cuộc đời bà là một minh chứng hùng hồn rằng: Nhỏ bé trước cường quyền nhưng kiên cường trước số phận, cái đẹp chân chính và lòng tự trọng của con người sẽ luôn là thứ chiến thắng cuối cùng trước mọi bạo chúa.

(Lược dịch từ báo Nga)