Tử tù Hồ Duy Hải có khả năng được giảm án xuống chung thân

Ba’o Nguoi-Viet

May 14, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Một đề nghị của Bộ Công An Việt Nam được cho là “mở đường” cho việc giảm án đối với tù nhân Hồ Duy Hải từ án tử hình xuống chung thân.

Đến nay, vụ án Hồ Duy Hải bị cáo buộc giết người tại bưu điện Cầu Voi, tỉnh Long An cũ, nay thuộc Tây Ninh, “rơi vào ngõ cụt,” do đã qua trình tự xét xử giám đốc thẩm, nhưng tòa vẫn tuyên y án tử hình.

Bà Nguyễn Thị Loan và con gái có 18 năm đi kêu oan cho con trai là tử tù Hồ Duy Hải. (Hình: Người Lao Động)

Theo tờ Thanh Niên hôm 14 Tháng Năm, Bộ Công An đề nghị, nếu hết thời hiệu 20 năm mà tử tù chưa bị thi hành án thì được chuyển xuống tù chung thân, nhằm “hạn chế thi hành án tử hình sau thời gian quá dài.”

Đại diện Bộ Công An khẳng định, việc quy định trường hợp hết thời hiệu thi hành án tử hình thì chuyển thành tù chung thân là cần thiết, nhằm “xử lý khoảng trống, vướng mắc thực tiễn trong thi hành bản án tử hình.”

Tử tù Hồ Duy Hải bị bắt ngày 21 Tháng Ba, 2008, tính đến thời điểm hiện tại đã hơn 18 năm.

Theo báo Dân Việt hôm 3 Tháng Năm, bà Nguyễn Thị Loan, mẹ ông Hồ Duy Hải, đã rơi vào cảnh khánh kiệt, phải bán sạch tài sản, nhà đất để trang trải chi phí sau 18 năm đi kêu oan cho con trai.

Biết được hoàn cảnh này, ông Nguyễn Văn Phước, giám đốc công ty Sách First News-Trí Việt, đứng ra kêu gọi mạnh thường quân chung tay trợ giúp gia đình bà Loan có kinh phí thăm nuôi con và trang trải cuộc sống.

Sau vài giờ kêu gọi, các mạnh thường quân chuyển khoản cho bà Hồ Thị Thu Thủy, em gái ông Hồ Duy Hải, tổng cộng 140 triệu đồng ($5,311).

Ngay sau đó, bà Thủy nhận được tin nhắn trên ứng dụng Zalo mạo danh ông Nguyễn Văn Phước, yêu cầu bà chuyển lại số tiền nêu trên cho “nhóm bạn của ông Phước” để gộp chung vào một quỹ lớn hơn.

Kẻ gian hứa hẹn sau khi gom đủ tiền sẽ đến tận nhà trao cho bà Loan để “tạo sự lan tỏa.”

Do xúc động trước sự giúp đỡ bất ngờ và tin tưởng vào uy tín của người mà mình ngỡ là ông Phước, bà Thủy thực hiện lệnh chuyển tiền cho chủ tài khoản Lê Văn Vinh tại ngân hàng Techcombank. Sau đó, bà Thủy mới nhận ra mình bị lừa.

Theo cập nhật của ông Trương Châu Hữu Danh, nhà báo tự do, bà Thủy sau đó được cộng đồng mạng chuyển khoản 140 triệu đồng bù lại khoản tiền bị lừa mất.

Bị cáo Hồ Duy Hải tại một phiên tòa. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hồ Duy Hải, thanh niên 23 tuổi, quê Long An, bị kết án tử hình vì tội giết hai nữ nhân viên bưu điện Cầu Voi vào năm 2008. Tuy nhiên, ngay từ đầu, vụ án đã vướng rất nhiều điểm nghi vấn, khiến dư luận và gia đình Hải tin rằng ông bị oan.

Không có nhân chứng nào nhìn thấy Hồ Duy Hải gây án, mẫu DNA của ông cũng không được tìm thấy tại hiện trường. Con dao được cho là hung khí đã bị thay đổi một cách khó hiểu so với ban đầu, các vật chứng khác cũng có dấu hiệu bị làm giả hoặc bị hủy một cách có chủ đích.

Hồ Duy Hải từng khai nhận tội nhưng sau đó lại liên tục rút lại lời khai, khẳng định mình bị ép cung, bị đánh đập và đe dọa để nhận tội.

Đáng chú ý, cơ quan điều tra đã bỏ qua những bằng chứng ngoại phạm quan trọng, cho thấy Hải có thể đã ở nơi khác vào thời điểm xảy ra vụ án, thậm chí còn có những nhân chứng có thể xác nhận điều này. (N.H.K) [dt]


 

Private James Sullivan 19 tuổi đứng bịt mắt trước đội hành quyết gồm tám binh sĩ

Tuan Bui AnhNhững câu chuyện Nhân Văn

Private James Sullivan 19 tuổi đứng bịt mắt trước đội hành quyết gồm tám binh sĩ tại Căn cứ Quân đội Boston vào ngày 10 tháng 11 năm 1917.

Fb Loan Trinh

Anh bị tòa án quân sự kết án tội đào ngũ. Tuy nhiên, điều mà đội hành quyết chưa biết cho đến khoảnh khắc ấy là lý do anh đào ngũ.

Thiếu tá William Morrison, 55 tuổi, đã đọc cáo trạng: “Binh nhì Sullivan, anh bị kết án tử hình bằng đội hành quyết vì tội đào ngũ trong thời chiến.”

James đã nói lớn: “Thưa ngài, tôi xin được phát biểu lời cuối cùng.” Thiếu tá Morrison đáp: “Hãy tiến hành.” James tiếp tục: “Tôi đào ngũ vì phát hiện em gái 12 tuổi của tôi, Rose, đã bị gả cho một người đàn ông 41 tuổi trong lúc tôi đang ở trại huấn luyện.

Cha tôi đã bán em ấy với giá 600 đô la. Tôi đã vắng mặt không phép để cố gắng cứu em. Tôi tìm thấy em đang mang thai ở tuổi 13. Tôi đưa em đến cơ quan chức năng. Sau đó tôi trở về căn cứ và tự nộp mình. Tôi chấp nhận bản án, nhưng tôi muốn đội hành quyết này biết rằng tôi đào ngũ để cứu một đứa trẻ, chứ không phải vì hèn nhát.”

Thiếu tá Morrison đã lập tức dừng việc hành quyết và tuyên bố: “Đội hành quyết, đứng xuống. Binh nhì Sullivan, tôi hoãn thi hành bản án của anh trong khi chờ điều tra.” Quân đội đã tiến hành điều tra, phát hiện tình trạng của Rose, bắt giữ chồng và cha của em, đồng thời cho James xuất ngũ danh dự thay vì xử tử.

James đã làm chứng tại phiên tòa cứu trợ em gái, và biên bản phiên hành quyết trở thành bằng chứng cho thấy ngay cả những người lính đối mặt với cái chết cũng ưu tiên bảo vệ gia đình.

James sống đến năm 1979, qua đời ở tuổi 81. Trước khi qua đời, ông đã hồi tưởng: “Tôi lúc ấy 19 tuổi, bịt mắt đứng trước đội hành quyết vì tội đào ngũ. Họ hỏi tôi có lời cuối cùng không. Tôi nói tôi đào ngũ để cứu em gái 12 tuổi bị bán vào hôn nhân trong lúc tôi đang huấn luyện.

Chỉ huy đã dừng việc hành quyết. Tôi sẵn sàng chết để cứu em. Thay vào đó, lời thú nhận của tôi đã cứu tôi và kết tội những kẻ lạm dụng em.

Đội hành quyết ấy chưa từng bắn. Lời nói của tôi mạnh mẽ hơn cả những viên đạn của họ.”

Theo The History Hub 


 

HÃY CẦU NGUYỆN KHÔNG NGỪNG

  Thánh Alphonso Ligouri là Đấng Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế  và cũng là tác giả của nhiều tác phẩm thiêng liêng đã cho rằng cầu nguyện có quyền năng vô cùng vì cầu nguyện làm thay đổi bộ mặt thế giới. Ngài nói: “Ai cầu nguyện thì sẽ được ơn cứu độ.”

Nhà thơ Frances Morton đã nói về cầu nguyện như sau:
1. Lời cầu nguyện vào buổi sáng sẽ bảo đảm cho chúng ta một ngày đầy ơn lành.
2. Lời cầu nguyện vào buổi tối sẽ cho chúng ta một đêm nghỉ ngơi bình an.
3. Lời cầu nguyện khi chúng ta yếu đuối thì chắc chắn chúng ta có bàn tay mạnh mẽ của Chúa giúp đỡ.
4. Lời cầu nguyện khi chúng ta cô đơn thì Chúa sẽ đồng hành và giúp đỡ.
5. Lời cầu nguyện khi đau khổ thì sẽ được Chúa an ủi, ban bình an và nghỉ ngơi.
6. Lời cầu nguyện khi nghi ngờ thì Chúa sẽ an ủi và soi sáng và ban ơn đức tin cho chúng ta.
7. Lời cầu nguyện khi vui mừng thì sẽ gặt hái nhiều niềm vui và sự vui thỏa.
8. Lời cầu nguyện để cảm tạ lòng từ bi của Chúa thì chúng ta sẽ hạnh phúc trong mọi lúc.
9. Mỗi ngày, mỗi mùa và mỗi giờ, chúng ta cần cầu nguyện để được chúc phúc mỗi giây phút trong cuộc sống.
10. Không có linh hồn nào mà không cần ơn thánh Chúa và khi chúng ta cùng nhau kết hợp để cầu nguyện thì Chúa sẽ ban cho chúng ta những quyền năng vô biên.

From: Ngoc Bích & KimBang Nguyen


 

NỖI BUỒN SẼ TRỞ THÀNH NIỀM VUI – Anmai CSsR

Anmai CSsR

  Trong đời sống con người, có những nỗi buồn làm ta mệt mỏi, có những giọt nước mắt làm ta kiệt sức, có những mất mát khiến ta tưởng như không còn đứng dậy được nữa. Có những lúc ta nhìn cuộc đời mình và chỉ thấy một màu tối. Cầu nguyện mà lòng vẫn nặng. Tin Chúa mà nước mắt vẫn rơi. Đi lễ mà trong lòng vẫn nhói đau. Làm điều lành mà vẫn bị hiểu lầm. Yêu thương mà vẫn bị phản bội. Hy sinh mà vẫn không được nhìn nhận. Sống ngay thẳng mà vẫn gặp thiệt thòi.

Và chính trong những lúc ấy, lời Chúa hôm nay vang lên như một ánh sáng rất dịu nhưng rất mạnh: “Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”

Chúa Giêsu không nói: “Anh em sẽ không bao giờ buồn.” Chúa cũng không hứa: “Ai theo Thầy thì khỏi đau khổ.” Chúa càng không dạy ta trốn tránh nước mắt. Ngược lại, Chúa nói rất thật: “Anh em sẽ khóc lóc và than van.” Nghĩa là người môn đệ của Chúa vẫn có lúc khóc. Người tin Chúa vẫn có lúc than van. Người yêu Chúa vẫn có lúc đau lòng. Người sống đạo vẫn có lúc rơi vào đêm tối.

Kitô giáo không phủ nhận đau khổ. Đức tin không bắt con người giả vờ mạnh mẽ. Tin Chúa không có nghĩa là lúc nào cũng phải cười, lúc nào cũng phải nói “con ổn”, trong khi trái tim đang tan vỡ. Chúa Giêsu hiểu nước mắt của con người. Người đã khóc trước mộ Lazarô. Người đã buồn sầu trong vườn Cây Dầu. Người đã run sợ trước chén đắng. Người đã thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Vì thế, khi Chúa nói với các môn đệ về nỗi buồn, Người không nói như một người đứng ngoài đau khổ, nhưng như Đấng đã đi vào tận đáy đau khổ của phận người.

Chúa Giêsu biết các môn đệ sắp trải qua một đêm rất dài. Đêm ấy là đêm Thầy bị bắt. Đêm ấy là đêm các ông tan tác. Đêm ấy là đêm Phêrô chối Thầy. Đêm ấy là đêm Giuđa phản bội. Đêm ấy là đêm thập giá dựng lên trên đồi Canvê. Đêm ấy là đêm người môn đệ tưởng rằng mọi hy vọng đã chấm hết.

Thế gian sẽ vui mừng. Những kẻ chống đối Chúa sẽ tưởng rằng họ đã thắng. Những người loại trừ Chúa sẽ tưởng rằng tiếng nói của Người đã bị bịt lại. Những người đóng đinh Chúa sẽ tưởng rằng tình yêu đã bị tiêu diệt. Nhưng Chúa nói: “Nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”

Chúa không nói nỗi buồn sẽ bị quên đi. Chúa không nói nỗi buồn sẽ biến mất như chưa từng có. Chúa nói nỗi buồn sẽ trở thành niềm vui. Đây là điều rất sâu. Có những nỗi buồn không bị xóa khỏi đời ta, nhưng được Chúa biến đổi. Có những vết thương không biến mất hoàn toàn, nhưng trở thành dấu tích của ân sủng. Có những thập giá không được lấy đi ngay, nhưng được Chúa làm cho trổ sinh ơn cứu độ. Có những giọt nước mắt không vô ích, vì khi rơi vào tay Chúa, chúng trở thành hạt giống của một niềm vui mới.

Chúa Giêsu dùng hình ảnh người phụ nữ sinh con để diễn tả mầu nhiệm ấy. Khi đến giờ sinh nở, người mẹ đau đớn. Không ai có thể phủ nhận nỗi đau ấy. Đó là nỗi đau thật, nỗi đau sâu, nỗi đau đi qua thân xác và tâm hồn. Nhưng khi đứa con chào đời, niềm vui tràn ngập đến nỗi nỗi đau không còn là điều cuối cùng nữa. Cơn đau không vô nghĩa, vì từ cơn đau ấy, một sự sống mới được sinh ra.

Chúa Giêsu đã nhìn thấy nơi nỗi đau của người mẹ một mầu nhiệm cao cả. Người không khinh thường nỗi đau ấy. Người không coi đó chỉ là chuyện tự nhiên của thân phận con người. Người mượn chính hình ảnh ấy để nói về cuộc Tử nạn và Phục sinh của Người. Thập giá giống như cơn đau sinh nở của ơn cứu độ. Đồi Canvê giống như phòng sinh của nhân loại mới. Máu và nước từ cạnh sườn Chúa chảy ra là dấu chỉ một đời sống mới được khai sinh cho Hội Thánh. Qua đau khổ, sự sống mới xuất hiện. Qua thập giá, phục sinh bừng lên. Qua cái chết, ơn cứu độ được ban tặng.

Vì thế, bài Tin Mừng hôm nay không chỉ nói với những người đang buồn. Bài Tin Mừng hôm nay nói với những người đang cố tìm ý nghĩa cho nỗi buồn của mình.

Có người buồn vì mất người thân.

Có người buồn vì gia đình đổ vỡ.

Có người buồn vì bệnh tật kéo dài.

Có người buồn vì con cái hư hỏng.

Có người buồn vì bị hiểu lầm.

Có người buồn vì thất bại trong công việc.

Có người buồn vì bị phản bội trong tình yêu.

Có người buồn vì sống tốt mà vẫn bị thiệt.

Có người buồn vì cầu nguyện lâu năm mà chưa thấy Chúa trả lời.

Có người buồn vì nhìn Hội Thánh, nhìn xã hội, nhìn gia đình mà thấy quá nhiều tổn thương.

Và Chúa không đến để trách: “Sao con buồn?” Chúa đến để nói: “Nỗi buồn của con không phải là dấu chấm hết. Nếu con biết đặt nỗi buồn ấy trong tay Thầy, Thầy có thể biến nó thành niềm vui.”

Đây là cái nhìn đức tin mà Tin Mừng mời gọi chúng ta. Nhìn cuộc đời bằng đức tin không có nghĩa là phủ nhận thực tế. Đức tin không làm cho nước mắt bỗng trở thành ngọt ngào. Đức tin không biến thập giá thành đồ trang trí dễ chịu. Đức tin không bảo ta rằng đau khổ là chuyện nhỏ. Không. Đức tin giúp ta thấy rằng đau khổ không phải là lời cuối cùng. Đức tin giúp ta tin rằng sau Thứ Sáu Tuần Thánh còn có Chúa Nhật Phục Sinh. Đức tin giúp ta hiểu rằng trong cơn đau sinh nở, một sự sống mới đang hình thành. Đức tin giúp ta đứng vững khi mắt chưa thấy ánh sáng nhưng lòng vẫn tin rằng bình minh đang đến.

Không có đức tin, đau khổ dễ trở thành tuyệt vọng.

Không có đức tin, hy sinh dễ trở thành cay đắng.

Không có đức tin, mất mát dễ trở thành oán trách.

Không có đức tin, nước mắt dễ trở thành hố sâu chôn vùi tâm hồn.

Nhưng trong đức tin, đau khổ có thể trở thành hy lễ. Hy sinh có thể trở thành tình yêu. Nước mắt có thể trở thành lời cầu nguyện. Thập giá có thể trở thành con đường dẫn tới phục sinh.

Tuy nhiên, chúng ta phải nói cho rõ: Kitô giáo không đề cao đau khổ vì đau khổ. Thiên Chúa không thích nhìn con người đau khổ. Thiên Chúa không vui khi thấy một người mẹ khóc con, một người chồng mất vợ, một người bệnh quằn quại, một gia đình chia lìa, một người nghèo bị chèn ép, một tâm hồn bị nghiền nát. Thiên Chúa không phải là Đấng thích thử thách con người để xem con người chịu đựng được đến đâu. Thiên Chúa là Tình Yêu.

Điều Kitô giáo loan báo không phải là: hãy tìm đau khổ. Điều Kitô giáo loan báo là: khi đau khổ đến, đừng để nó trở thành vô nghĩa; hãy kết hợp nó với tình yêu của Đức Kitô.

Đau khổ tự nó không cứu độ. Chính tình yêu trong đau khổ mới cứu độ.

Thập giá tự nó là hình phạt. Nhưng khi Chúa Giêsu ôm lấy thập giá bằng tình yêu, thập giá trở thành cây sự sống.

Hy sinh tự nó có thể làm con người khô cằn. Nhưng hy sinh vì yêu thương làm con người nên giống Chúa.

Nước mắt tự nó có thể làm tâm hồn chìm xuống. Nhưng nước mắt dâng lên Chúa có thể trở thành lời cầu nguyện tinh tuyền nhất.

Bởi đó, câu hỏi không phải là: “Tại sao tôi phải đau khổ?” Câu hỏi sâu hơn là: “Tôi sẽ sống nỗi đau này như thế nào?”

Tôi sẽ sống nỗi đau này trong oán trách hay trong phó thác?

Tôi sẽ để nỗi buồn này làm tôi khép kín hay làm tôi biết cảm thông hơn với người khác?

Tôi sẽ để vết thương này biến tôi thành người cay nghiệt hay thành người nhân hậu hơn?

Tôi sẽ để thử thách này kéo tôi xa Chúa hay đưa tôi đến gần Chúa hơn?

Tôi sẽ để nước mắt này chỉ rơi xuống đất hay dâng lên như của lễ trước mặt Chúa?

Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.”

Đây là lời hứa rất đẹp. Niềm vui mà Chúa ban không phải là niềm vui mong manh của thế gian. Niềm vui thế gian có thể bị lấy mất rất nhanh. Một tin buồn có thể lấy mất niềm vui. Một lần thất bại có thể lấy mất niềm vui. Một lời nói nặng có thể lấy mất niềm vui. Một căn bệnh có thể lấy mất niềm vui. Một sự phản bội có thể lấy mất niềm vui. Một biến cố bất ngờ có thể làm đời ta đảo lộn.

Nhưng Chúa nói có một niềm vui “không ai lấy mất được.”

Đó là niềm vui của người biết mình được Chúa yêu.

Đó là niềm vui của người biết mình không mồ côi.

Đó là niềm vui của người biết thập giá không phải là điểm cuối.

Đó là niềm vui của người biết Chúa Phục Sinh vẫn đang sống.

Đó là niềm vui của người biết rằng dù mình mất nhiều thứ, mình vẫn còn Chúa.

Đó là niềm vui của người đã đi qua nước mắt và gặp lại Chúa trong chính nơi mình tưởng chỉ có bóng tối.

Niềm vui ấy không ồn ào. Không phải lúc nào cũng biểu lộ bằng tiếng cười. Có khi đó là sự bình an rất sâu nơi một người đang bệnh nặng nhưng vẫn tin. Có khi đó là nụ cười hiền của một người mẹ đã hy sinh cả đời cho con. Có khi đó là ánh mắt thanh thản của một người đã tha thứ cho kẻ làm mình đau. Có khi đó là sự vững vàng của một người bị mất mát nhưng không mất lòng tin. Có khi đó là lời cầu nguyện thầm lặng của một người đã khóc rất nhiều nhưng vẫn không bỏ Chúa.

Niềm vui của Chúa không phải là không còn đau, nhưng là biết rằng nỗi đau đã được Chúa ôm lấy.

Niềm vui của Chúa không phải là đời không còn bão, nhưng là biết Chúa đang ở trong thuyền.

Niềm vui của Chúa không phải là mọi sự theo ý mình, nhưng là tin rằng đời mình vẫn nằm trong tay Cha.

Niềm vui của Chúa không phải là khỏi thập giá, nhưng là biết thập giá có thể dẫn tới phục sinh.

Trong đời sống gia đình, có biết bao cơn đau sinh nở thiêng liêng. Một người mẹ sinh con không chỉ một lần trong phòng sinh. Người mẹ còn “sinh” con trong từng đêm thức trắng, từng bữa cơm lo toan, từng lần tha thứ, từng lời cầu nguyện, từng giọt nước mắt âm thầm khi con lầm lạc. Người cha cũng “sinh” con trong trách nhiệm, trong hy sinh, trong mồ hôi lao động, trong những lo lắng không nói ra. Vợ chồng cũng “sinh” lại tình yêu của mình qua những lần vượt qua hiểu lầm, qua những ngày tập nhường nhịn, qua những lúc phải chết đi cho cái tôi để gia đình được sống.

Trong đời sống cộng đoàn cũng vậy. Muốn có một cộng đoàn hiệp nhất, phải có những người chấp nhận đau đớn sinh nở. Phải có người biết nhịn một lời. Phải có người biết lùi một bước. Phải có người biết bỏ qua một tự ái. Phải có người biết làm việc âm thầm mà không đòi ghi công. Phải có người biết cầu nguyện nhiều hơn phàn nàn. Phải có người biết xây dựng thay vì chỉ trích. Một cộng đoàn không tự nhiên mà bình an. Bình an được sinh ra từ những hy sinh âm thầm.

Trong đời sống Hội Thánh cũng thế. Tin Mừng không tự nhiên lan rộng nếu không có những con người chấp nhận cơn đau sinh nở của sứ mạng. Các Tông Đồ đã khóc, đã sợ, đã bị bắt bớ, đã chịu tù đày, đã đổ máu. Nhưng từ những hy sinh ấy, Hội Thánh được sinh ra và lớn lên. Bao thế hệ chứng nhân đã đi qua đau khổ để chúng ta hôm nay được nhận đức tin. Đức tin chúng ta đang có không phải là món quà rẻ tiền. Đức tin ấy được truyền lại qua mồ hôi, nước mắt, máu đào và lòng trung thành của biết bao người.

Vậy hôm nay, Chúa mời gọi ta đừng sợ cơn đau sinh nở trong đời sống thiêng liêng. Muốn trưởng thành, phải có lúc đau. Muốn yêu thật, phải có lúc hy sinh. Muốn nên thánh, phải có lúc được thanh luyện. Muốn sinh hoa trái, hạt lúa phải mục nát. Muốn phục sinh, phải đi qua thập giá.

Có những người muốn niềm vui phục sinh nhưng không muốn đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh.

Có những người muốn bình an nhưng không muốn từ bỏ tự ái.

Có những người muốn gia đình hạnh phúc nhưng không muốn tha thứ.

Có những người muốn cộng đoàn hiệp nhất nhưng không muốn hy sinh ý riêng.

Có những người muốn theo Chúa nhưng không muốn vác thập giá.

Nhưng Tin Mừng hôm nay dạy ta: niềm vui sâu nhất thường được sinh ra sau những cơn đau được sống trong tình yêu. Không có cơn đau sinh nở, sẽ không có niềm vui của sự sống mới. Không có thập giá, sẽ không có phục sinh. Không có hy sinh, tình yêu chỉ còn là lời nói. Không có phó thác, đức tin chỉ là lý thuyết.

Vì thế, khi gặp đau khổ, đừng vội kết luận rằng Chúa vắng mặt. Có khi Chúa đang âm thầm sinh ra một điều mới trong ta. Khi lời cầu nguyện chưa được nhận lời, đừng vội nghĩ Chúa không nghe. Có khi Chúa đang dạy ta tin sâu hơn. Khi phải hy sinh mà chưa thấy hoa trái, đừng vội bỏ cuộc. Có khi hạt giống đang nảy mầm dưới lòng đất. Khi thấy mình đang khóc, đừng nghĩ nước mắt ấy vô ích. Có khi chính nước mắt đang rửa sạch tâm hồn ta khỏi những điều phù phiếm.

Điều cần nhất là đừng đau khổ một mình. Hãy đem nỗi buồn đến với Chúa. Hãy nói với Chúa thật lòng. Đừng cầu nguyện bằng những lời đạo đức giả tạo. Hãy thưa: “Lạy Chúa, con đau.” “Lạy Chúa, con mệt.” “Lạy Chúa, con không hiểu.” “Lạy Chúa, con sợ.” “Lạy Chúa, con muốn bỏ cuộc.” Những lời cầu nguyện thật lòng ấy có khi đẹp hơn những lời hoa mỹ nhưng không chạm đến trái tim.

Chúa không sợ nước mắt của ta. Chúa chỉ sợ ta đóng cửa lòng và không cho Người bước vào. Chúa không trách ta vì yếu đuối. Chúa chỉ mời ta đừng rời khỏi Người. Vì Người đã hứa: “Thầy sẽ gặp lại anh em.” Mọi nỗi buồn của người môn đệ đều được đặt trong lời hứa ấy: Thầy sẽ gặp lại anh em. Không phải nỗi buồn gặp lại nỗi buồn. Không phải nước mắt gặp lại tuyệt vọng. Nhưng môn đệ sẽ gặp lại Thầy. Và khi gặp lại Thầy, lòng họ sẽ vui mừng.

Phục Sinh không chỉ là một biến cố đã xảy ra hơn hai ngàn năm trước. Phục Sinh còn là cách Chúa tiếp tục bước vào đời ta hôm nay. Chúa Phục Sinh đến trong một lời Lời Chúa làm ta được nâng đỡ. Chúa Phục Sinh đến trong một lần xưng tội giúp ta bắt đầu lại. Chúa Phục Sinh đến trong Thánh Thể nuôi ta giữa hành trình mỏi mệt. Chúa Phục Sinh đến qua một người bạn biết lắng nghe. Chúa Phục Sinh đến qua một biến cố nhỏ làm ta nhận ra mình vẫn được thương. Chúa Phục Sinh đến khi ta tưởng mình không còn gì, nhưng lại khám phá rằng Chúa vẫn còn đó.

Hôm nay, có lẽ mỗi người hãy đặt trước Chúa một nỗi buồn cụ thể của mình. Đừng giấu. Đừng né tránh. Đừng giả vờ. Hãy đặt nó trước Thánh Thể. Hãy đặt nó dưới chân thập giá. Hãy nói với Chúa: “Lạy Chúa, con không tự biến nỗi buồn này thành niềm vui được. Nhưng Chúa có thể. Xin Chúa chạm vào nỗi buồn của con. Xin Chúa thanh luyện nỗi buồn của con. Xin Chúa biến nước mắt của con thành lời cầu nguyện. Xin Chúa biến đau khổ của con thành hy lễ. Xin Chúa biến vết thương của con thành nơi tình yêu được sinh ra.”

Và rồi, cũng hãy nhìn những người chung quanh bằng ánh mắt dịu dàng hơn. Vì ai cũng có nỗi buồn. Có những người cười đó, nhưng bên trong đang vỡ. Có những người im lặng không phải vì họ không có gì để nói, nhưng vì họ đã quá mệt. Có những người khó tính vì họ đang mang một vết thương chưa lành. Có những người khô khan vì họ đã từng thất vọng quá nhiều. Nếu ta đã được Chúa an ủi trong nỗi buồn, ta cũng phải trở thành người an ủi cho anh chị em mình.

Đừng làm cho nỗi buồn của người khác nặng thêm bằng lời xét đoán.

Đừng làm cho vết thương của người khác sâu thêm bằng sự vô tâm.

Đừng làm cho người đang khóc phải cô đơn hơn vì thái độ lạnh lùng của ta.

Hãy học nơi Chúa Giêsu: nhìn nỗi đau bằng lòng thương xót, chạm vào vết thương bằng tình yêu, và mở ra cho người khác một niềm hy vọng.

Thứ Sáu tuần VI Phục Sinh đặt chúng ta giữa hai thực tại: nỗi buồn và niềm vui, thập giá và phục sinh, nước mắt và hy vọng. Chúa không hứa ta sẽ tránh được mọi đau khổ. Nhưng Chúa hứa một điều lớn hơn: nỗi buồn của ta có thể trở thành niềm vui, nếu ta sống nó trong Người.

Xin Chúa cho những ai đang khóc biết rằng nước mắt của họ không bị bỏ quên.

Xin Chúa cho những ai đang mệt biết rằng họ không phải đi một mình.

Xin Chúa cho những ai đang đau biết rằng đau khổ của họ có thể được biến đổi.

Xin Chúa cho những ai đang hy sinh trong âm thầm biết rằng tình yêu của họ không vô ích.

Xin Chúa cho những ai đang ở trong đêm tối biết tin rằng bình minh Phục Sinh đang đến.

Và xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết sống mọi biến cố đời mình bằng cái nhìn đức tin: không chạy trốn thập giá, không tôn thờ đau khổ, nhưng biết kết hợp mọi nỗi đau với tình yêu của Đức Kitô, để từ chính những đau đớn tưởng như làm ta gục ngã, một con người mới, một niềm vui mới, một sự sống mới được sinh ra.

Bởi vì Chúa đã nói, và lời Chúa không bao giờ sai: “Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”

Amen. 


 

Ðường gian truân đi đến tự do – Tác giả: Phùng văn Phụng

Tác giả: Phùng văn Phụng

Khoảng tháng Giêng năm 1983, tôi trở về nhà sau gần tám năm đi tù cải tạo, xa gia đình. Nhìn dọc theo đường Phạm Thế Hiển bên kia cầu Chữ Y, hoàn toàn thay đổi, không còn nhìn ra được các chỗ quen thuộc trước đây.

Nhiều nhà lấn ra phía trước. Nhiều nhà lên lầu. Những nền trống lúc ra đi tôi thấy, nay được xây lầu, nhà mới. Bước vào nhà, tôi thấy bốn năm đứa nhỏ đang ngồi học, tôi không biết đứa nào là con của tôi. Một đứa trẻ đang ngồi học, chạy thẳng ra phía sau nhà nói: “Má ơi có ông nào kiếm má kìa?” Tôi đi theo, ra sau nhà, tôi thấy bà xã tôi đang nấu cơm. Tôi gặp cậu Bảy, tự nhiên nước mắt tuôn trào, tôi khóc!

Tôi không thể nào cầm được nước mắt. Tôi không ngờ còn sống để được gặp lại cha mẹ, vợ con, vì tôi cứ đinh ninh rằng tôi sẽ bỏ xác ở nơi rừng thiêng nước độc, khó hy vọng sống sót để về tới nhà.

Trước 1975, tôi là giáo sư trung học. Khi cải tạo về, tôi chưa được làm người dân bình thường. Tôi còn bị quản chế, đi đâu cũng phải khai báo, phải trình diện công an hàng tuần. Mỗi sáng thứ hai đem sổ trình công an, ghi rõ từng ngày đã làm gì, tiếp xúc với ai. Nội cái việc trình diện hàng tuần như vậy cũng đủ làm cho tôi không còn sáng suốt, không còn tâm trí để tính chuyện làm ăn. Mà làm ăn cái gì mới được, khi tôi không có đồng xu dính túi. Lúc này nhà cầm quyền cấm tư nhân làm ăn. Ngay cả bán cà phê còn phải bán chui nữa mà. Mọi thứ buôn bán đều phải vô hợp tác xã hết.

Người dân bình thường còn bị khó khăn trong công ăn việc làm, huống hồ gì tôi, người vừa về từ trại cải tạo. Tôi phải xoay sở, kiếm sống bằng nghề lao động chân tay.

Tôi quyết định đi… đạp xích lô

Anh Ðạt, bạn tù, trước ở chung cùng trại cải tạo với tôi ở trại Tân Lập, Vĩnh Phú về trước tôi mấy tháng, có chiếc xe xích lô cho mướn. Sáng sớm, tôi lấy bộ quần áo hơi tệ một chút. Áo sơ mi cũ. Quần tây cũ nhưng lành lặn.

Tôi đến nhà anh Ðạt mượn chiếc xích lô chạy thử, xem có hành nghề xích lô nổi không? Ðạp tới dốc cầu Nhị Thiên Ðường, tôi phải xuống xe, đẩy lên dốc. Nhưng chỉ là chiếc xe xích lô, không có người, nên tôi đẩy chiếc xe không lấy gì làm khó khăn. Tôi thấy vui vui, vì lần đầu tiên… đạp xích lô, dùng sức lao động của mình để kiếm sống.

Tôi đạp xe qua cầu Nhị Thiên Ðường, chạy đến bến xe Chợ Lớn, khu chợ Bình Tây để kiếm khách. Vì là lần đầu chạy xích lô, tôi đâu có biết, là người ta cấm rước khách trước cổng chợ.

Vừa đậu xe trước cổng, bảo vệ chợ đến lấy cái nệm trên xe để dùng cho khách ngồi. Thế là cái xe xích lô của tôi trống trơn. Tôi đạp xe không, chạy vòng vòng một hồi, đến ngã tư đường Nguyễn Trãi và Nguyễn Tri Phương, gặp khách gọi. Ðó là hai vợ chồng người Hoa mập mạp leo lên xe, bảo tôi chạy từ ngã tư, từ đường Nguyễn Trãi, chạy dọc theo đường Nguyễn Tri Phương để đi lên phía đường Vĩnh Viễn. Tôi không ngờ là đường lên dốc, tôi đạp không nổi vì ông bà người Hoa này quá mập. Chắc hai vợ chồng này cũng phải gần 160 hay 170 kí lô. Sau chuyến xe chở hai người Hoa đó, tôi thấy quá mệt, đành phải đem xe về trả lại cho anh Ðạt. Tôi biết sức mình không thể làm nổi nghề này. Ðêm đó, tôi trằn trọc suốt đêm, tim tôi đập nhiều, đập liên hồi, không ngủ được. Mãi đến mấy ngày sau mới bình tĩnh trở lại, sức khỏe mới bình thường.

Tôi lại đổi nghề, đi làm… thợ hồ

Anh Hai tôi nhờ tôi đi theo để sửa chữa ống cống ở Quận 11. Sáng sớm, tôi cùng anh Hai, mỗi người một chiếc xe đạp chạy qua Quận 11. Tôi xách theo một phần cơm đeo tòn ten ở ghi đông xe. Ðến nơi, tôi phụ anh Hai bốc dỡ các miếng “đan” vuông vức mỗi bề chừng tám tấc, khiêng ra khỏi miệng cống. Anh Hai tôi sửa chữa những chỗ hư hại. Sau đó hè hục khiêng đậy lại chỗ cũ. Sau một ngày làm việc ngoài trời nắng gắt, anh phát cho tôi một ngày “lương” là công tôi phụ giúp khiêng mấy tấm “đan.” Ngày hôm sau anh không nhờ tôi nữa vì tôi không làm nổi những việc nặng nhọc mà anh cần tôi giúp.

Thế là lại đổi nghề, tôi đi bán… vé số dạo

Anh Nguyễn Tấn Th. đang làm nghề bán vé số. Anh đặt cái bàn bán vé số ở chợ Phạm Thế Hiển. Trước năm 1975, anh tốt nghiệp Cao Học Hành Chánh, làm ở Nha Thuế Vụ, Bộ Tài Chánh.

Bây giờ anh thất nghiệp, lãnh vé số để bán, vừa bán lẻ, vừa giao cho các bạn hàng. Tôi đến nhà anh để nhận vé số về bán kiếm lời. Chỗ ngồi thì bà con đã sắp xếp hết rồi, tôi đâu còn chỗ nào chen chân vô được. Ðành phải đi bán dạo.

Lúc đó, tôi nghĩ phải đi thật xa ra khỏi khu vực Quận 8 thì mới hy vọng không gặp học trò cũ của mình. Tôi nghĩ, trước đây cũng từng đi dạy học, cũng là một giáo sư trung học, mà bây giờ đi bán vé số thì cảm thấy mắc cỡ quá, coi kỳ cục quá.

Sau khi anh Thời đưa sấp vé số cho tôi, tôi đâu dám mời bà con ở Quận 8. Tôi đi bộ qua đò Chánh Hưng, đi vòng qua chợ Xóm Củi cũng chưa dám bán, tôi đi dọc Kinh Tàu Hủ, bến Lê Quang Liêm, qua khỏi Bưu điện Chợ Lớn, khoảng khá xa, tôi hy vọng sẽ không còn gặp ai là người quen nữa.

Tôi đi một khoảng xa đến bến xe xích lô đạp, có mấy anh tài xế đang đợi khách. Tôi nghĩ trong đầu chắc là bán được rồi đó. Tôi liền lấy trong túi quần một cọc chừng năm sấp vé số để mời khách. Tôi vừa đưa sấp vé số, vừa nói:

– “Mời mấy anh mua giùm vé số.”

Vừa mời xong, có một người trong nhóm tài xế nói:

– “Chào thầy. Em là học trò trường Lương Văn Can, mời thầy uống cà phê, hút điếu thuốc.”

Tôi giựt mình, vội vàng đút thật nhanh mấy xấp vé số vào trong túi quần và em này kéo ghế mời tôi ngồi đưa ngay một điếu thuốc thơm đầu lọc, bấy giờ gọi là thuốc “có cán.” Tình nghĩa thầy trò, quí nhau lắm mới mời thuốc lá thơm. Uống vội chút cà phê, hút xong điếu thuốc. Tôi mắc cỡ, thấy ngại ngùng quá nên không dám tiếp tục đi bán nữa. Trở về nhà, tôi giao hết mấy xấp vé số cho đứa con gái út lúc đó chín tuổi, nhờ cháu đi đò qua phường Chánh Hưng bán tới xế trưa khoảng bốn, năm giờ chiều thì hết.

Thế là có nghề mới: giặt bao nylon

Tôi cùng anh Hoàng Văn Ð. đi đến các tiệm mua bán vật liệu phế thải, kiếm bao nylon dơ mà mua. Ðem giặt ở chỗ máy nước công cộng, phơi khô rồi đem đến các cơ sở sản xuất ra bao ny lon mà bán. Ngồi giặt bao nylon cho hết các chất bẩn như dầu mỡ, đất cát, bụi, giặt cho thật sạch cũng rất gian nan. Kiếm chỗ sân vận động để phơi cho thật khô rồi đem đến cho các tiệm làm bao ny lon bán. Nhưng họ ép giá, đòi giá quá thấp cho nên bán xong chỉ lấy lại được vốn là mừng rồi. Giặt sạch, phơi khô, công việc cả ngày mà không có lời nên đành bỏ cuộc, không tiếp tục làm nghề này được.

Chuyển sang nghề mua bán sách báo cũ

Tôi vào trong các tiệm phế liệu ở Quận 7 (cũ), mua bịch nylon, thấy họ có một số sách báo cũ, tôi lựa các sách tạm gọi là “coi được,” mua lại để ở nhà. Sắp xếp loại nào có giá trị đem ra đường Huỳnh Thúc Kháng để bán cho các gian hàng bán sách cũ. Tôi đi với đứa con gái lúc đó khoảng 13, 14 tuổi, ôm phụ giùm các cuốn sách.

Ra đến nơi, mới vừa ôm các cuốn sách để giới thiệu với các quày bán sách, thì bị bảo vệ đến tịch thu sạch trơn, không cho bán, mặc dầu các sách này chẳng phải là sách cấm. Họ nói rằng buôn bán không có giấy phép nên họ tịch thâu. Tôi đau lòng, rất buồn vì thầy giáo không đi dạy được, bán sách cũ cũng không cho. Làm gì để sống đây? Tôi chỉ còn có con đường hồi hương, về quê làm ruộng hay đi kinh tế mới cuốc đất trồng khoai. Ðó cũng là chủ trương của nhà nước lúc bấy giờ.

Trở lại nghề cũ: đi dạy kèm

Phụ huynh học sinh cũ thương tình mời tôi đến nhà để dạy Toán, Anh văn cho con họ. Tôi làm nghề dạy kèm tư gia. Mỗi chỗ dạy chừng hai ba học sinh. Những lúc trời mưa, trời gió cũng đi xe đạp đến dạy. Dạy đâu được vài tháng các em cũng không chịu học nữa vì cái học lúc này không hấp dẫn các em. Bác sĩ ra trường lãnh tháng lương không bằng nghề vá xe đạp ở ven đường. Tôi lại chuyển nghề.

Ði bán bia, nước ngọt

Sau một thời gian dạy học không đủ sống, bà xã tôi có một người bạn dạy chung trường có cơ sở nước ngọt, cần người bỏ mối.

Họ cho mượn năm kết vỏ chai để tôi lấy hàng đi bỏ mối. Tôi đến các quán bán nước ngọt, bán bia, mời chào. Quán đầu tiên là quán… bà Ba, trên đường Liên Tỉnh số năm, dưới dốc bên phải cầu Nhị Thiên Ðường.

Thấy giá rẻ, cho mượn vỏ chai nữa nên bà Ba chịu liền. Tôi mừng quá, lần đầu giới thiệu hàng mới mà có người nhận ngay. Tôi vòng qua chợ Bông Sao, đi dọc theo đường Lộ Ðá Ðỏ hỏi bất cứ quán bán nước nào ven đường. Lúc này, chỉ có một người bỏ mối nước ngọt mà thôi, nên tôi không có gặp sự cạnh tranh nào đáng kể. Tôi ráng hết sức đi lấy hàng và giao hàng.

Có khi trời đang nắng, cái nắng gay gắt của buổi trưa Hè, tôi cũng phải chở nước ngọt bằng xe đạp, hai kết được ràng ở phía sau xe, hai giỏ xách để ở đàng trước chở được một kết nước ngọt, vị chi là ba kết trên xe.

Sau khoảng ba tháng chở nước ngọt bằng xe đạp, tôi bắt đầu bị cảm thường xuyên. Sau một thời gian cảm ho, nằm ngủ không được vì khó thở, tôi phải kê đầu gối lên cao mới ngủ được, mới thở được. Nhiều đêm ho và quá mệt, tôi đành phải đi bác sĩ. Người ta khám phá tôi bịnh lao và phổi có nước. Thế là phải vô bịnh viện Nguyễn Trãi nằm điều trị mất một tháng.

Về nhà phải uống thuốc mất một năm rưỡi nữa mới lành bịnh. Tôi còn nhớ, lúc đó vừa giao nước ngọt và bán thêm rượu bia, có tên là “bia lên cơn,” bia này được nấu bằng cùi thơm hay vỏ của trái thơm để vài ngày lên men, có gas uống cũng chóng mặt, cũng say. Bà con thích uống loại này vì… rẻ, còn bia hơi quá đắt, lại khan hiếm, nên không đủ cung ứng cho nhu cầu.

Ngoài “bia lên cơn,” còn có rượu nhẹ 36, là loại rượu pha cồn công nghiệp, uống vô nhức đầu chịu không nổi.

Lúc mới về, phó chủ tịch phường sai tôi đi đắp kinh. Sáng sớm phải đội cái nón lá lên đầu, xách theo bình nước lã để uống và phải lội xuống sình để đắp bờ đê. Trong thực tế, họ cho người dẫn chúng tôi đến con kinh nhỏ gần ụ Nam Chành, bắt chúng tôi xuống sình để vét kinh, đào đất đắp lên bờ.

Người ở dưới ruộng, từ xa giữa ruộng, xắn một cục đất tạm coi là khá lớn, chuyền tay cho người thứ nhất đã rớt xuống một miếng, chuyền đến tay người thứ hai đã rớt thêm một miếng đất nữa đến khi miếng đất truyền đến người cuối cùng quăng được cục đất lên bờ thì nó chỉ còn bé tí tẹo.

Sau một buổi làm việc như vậy, số đất đem lên bờ chẳng còn bao nhiêu, chỉ làm cho đường đi càng dơ bẩn hơn mà thôi. Ðối diện với nhà tôi là công an phường. Cho nên sáng ngủ thức dậy là thấy công an rồi. Công an thường xuyên theo dõi xem tôi có liên lạc với sĩ quan của chế độ cũ để tổ chức phản động chống nhà cầm quyền hay không? Ðó là hình thức tù “lỏng” mà thôi. Tôi thì lúc nào cũng lo sợ, hồi hộp không biết sẽ bị bắt lại bất cứ lúc nào vì bất cứ lý do gì. Lòng tôi không yên. Lo âu hoài. Lo hết chuyện này đến lo chuyện khác. Lo làm ăn. Lo bị đói, không đủ ăn. Toàn gia đình làm việc cật lực mới sống được, mới tồn tại được. Theo luật bù trừ, con cái tôi vì phụ giúp buôn bán nên không còn chú tâm hoàn toàn vào việc học nữa. Còn riêng cá nhân tôi lo bán bia, bán nước ngọt nên không còn thì giờ dạy con cái học hành. 

Cám ơn Thượng Đế, Cám ơn mọi người.

Hành trình qua Mỹ thật cam go. Khi được cộng sản thả ra từ trại Nam Hà, thành phố Hà Nam Ninh về đến Sài Gòn, một thời gian ngắn khoảng vài tháng, tôi nhờ anh Nguyễn Gia Ph., một cựu giáo sư dạy cùng trường Lương Văn C. về trước tôi khoảng hai năm, cho tôi mẫu đơn để tôi điền đơn gởi sang Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thái Lan để xin định cư tại Hoa Kỳ. Trong thời gian này, ít ai dám làm đơn vì còn sợ cộng sản biết được có thể bắt bỏ tù trở lại vì đã ở tù rồi mà còn muốn theo kẻ thù là “Ðế Quốc Mỹ,” còn thích “bơ sữa” của kẻ thù. Như vậy là chưa… cải tạo được.

Tôi quyết định làm đơn rồi “lén,” gởi… chui, nhờ người làm trong bưu điện gởi giùm. Không có ai, không có chỗ nào dám nhận đánh đơn của mình. Tôi phải tự đánh máy lấy và tự gởi, lòng tôi lo âu không biết thơ của mình có tới Thái Lan không? Ðơn tôi có bị công an kiểm duyệt và tôi có bị làm khó dễ khi nộp đơn chui như vậy hay không?

Tôi gởi nhiều đơn, đơn nào cũng giống nhau cứ vài tháng lại gởi một cái đơn. Tôi cứ gởi đại nhiều lần, hy vọng thơ này lạc còn có thơ khác tới. Tôi cũng gởi cho bà Khúc Minh Thơ để bà gởi sang Bangkok can thiệp giùm tôi.

Ði dạy học trở lại thì nhà nước cộng sản không cho. Tôi hoàn toàn thất nghiệp. Tôi chỉ còn hy vọng lối thoát duy nhất này, đi Mỹ để giải quyết chuyện làm ăn, chuyện học hành của con cái, nhất là tôi có thể tìm được tự do.

Tôi được người cháu gọi bằng cậu, cháu ngoại bác Hai tôi ở làng Tân Tập nhận bảo trợ cho tôi từ năm 1983. Khi nộp đơn đi Mỹ, người cháu này lo giấy tờ cho tôi và được phía Mỹ chấp thuận từ năm 1984, được gọi là tờ “Loi.” Nếu có tờ giấy này, có thể dùng để xin xuất cảnh ở Việt Nam. Hành trình đi Mỹ của gia đình chúng tôi rất là gian nan. Tôi thường ra Sở Ngoại Vụ, trước dinh Ðộc Lập cũ, để nghe ngóng tin tức. Ôi thôi đủ thứ loại tin tức, thêu dệt đủ thứ về cuộc sống sung sướng, giàu sang ở Mỹ.

Tôi cùng với người bạn, là anh Quang, đi nộp đơn, nhưng vì anh ấy có bảo lãnh trước nên Sở Ngoại Vụ nhận đơn để làm giấy xuất cảnh, còn tôi chỉ có tờ “Loi.” không có ai bảo lãnh cả, nên họ không cho nộp đơn, bảo phải chờ thông báo sau.

Khi cho tù cải tạo nộp đơn, vì nộp trễ, tôi được lên danh sách HO 23. Lúc này có rất nhiều người khiếu nại bên phía Mỹ để xin đi sớm nêu lý do là nộp đơn quá lâu rồi, ở trong nước bị chèn ép, khó khăn, nguy hiểm. Tôi cũng có làm đơn khiếu nại. Cuối cùng tôi được “đôn” lên HO 19, đi trước khoảng một năm.

Trước khi ra đi, phải khám sức khỏe. Khi đi khám bịnh phải lo đủ thứ, lo đủ nơi. Phải lo khám trước ở nhà riêng của bác sĩ, chụp phổi trước xem có bị nám không? Chi tiền cho bác sĩ để đến khi khám bịnh chính thức sẽ được dễ dàng hơn. Khi đi phỏng vấn cũng phải bỏ vô hồ sơ vài chục ngàn đồng để được dễ dàng không bị các viên chức cộng sản làm khó dễ. Tôi quá sức hồi hộp vì sợ có điều gì trở ngại không? Tôi biết hồ sơ tôi rất tốt vì từ năm 1983 khi tôi làm đơn gởi qua Bangkok, Thái Lan, cho đến lúc được phỏng vấn không có gì thay đổi cả.

Tháng cuối cùng, trước khi được lên máy bay, tôi bị cảm liên miên vì quá lo lắng. Tôi thuộc “diện” phải giao nhà cho nhà nước quản lý. Tôi có khiếu nại. Họ ngâm hồ sơ không chịu giải quyết để tôi nóng lòng muốn đi Mỹ thì phải ký giao nhà cho họ.

Tối hôm Chúa Nhật lên máy bay mà cả tuần cuối cùng đó, tôi thường xuyên lên Sở Nhà Ðất họ cũng không chịu trả lời, bảo tôi phải chờ. Tôi đã có giấy tờ đăng ký chuyến bay, đã có dịch vụ lo chuyên chở hành lý. Ðã hẹn ngày giờ chở gia đình tôi ra sân bay. Nhưng đến những ngày chót mà tôi cũng chưa có giấy chứng nhận không có nhà cửa. Nếu thiếu tờ giấy này tôi không thể nào lên máy bay được. Sáng Thứ Bảy, tôi đi cùng một nhân viên dịch vụ của tôi đứng đợi ở Sở Nhà Ðất. Chúng tôi phải chung tiền cho họ, vậy mà mãi đến chiều Thứ Bảy, khi sắp đóng cửa, họ mới chịu đưa giấy tờ cho tôi.

Trước đó mấy ngày, hôm Thứ Năm, tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay. Khi nhận được giấy đình chỉ chuyến bay, tôi như người mất hồn, không biết giải quyết ra sao? Vợ tôi thúc hối cứ ký giao nhà cho nhà nước để được đi sớm. Tôi lòng rối như tơ vò, tôi không thể làm như vậy được vì nhà này đâu phải là nhà của tôi đâu mà tôi ký giao, tôi chỉ đứng tên cái nền nhà giùm cho ba má tôi mà thôi.

Tôi không thể ký giao nhà của ba má tôi được. Cơ sở đại lý bia thì đã bán lại cho em tôi rồi. Ðã cầm lấy tiền, đã thanh toán nợ nần xong. Trong một tháng cuối cùng tôi không lúc nào yên ổn cả. Lo bán tiệm. Lo khám sức khỏe. Lo thăm viếng bà con, anh em, bạn bè. Lòng tôi ngổn ngang trăm mối, đầu óc quay cuồng bao nỗi lo âu.

Lần ra đi này lại thêm thử thách mới, lại phải thay đổi nghề nghiệp nữa, rồi sẽ sống bằng nghề gì đây, lại bắt đầu bằng nghề mới ở tuổi 51, sức khỏe tôi không phải loại tốt cho nên nếu làm nghề gì nặng nhọc đâu có làm nổi.

Ở quê hương mình, tôi có thể nói tiếng Việt với nhau, làm ăn cũng có cơ sở rồi, phấn đấu gần tám năm được một cửa hàng để buôn bán, một số khách hàng quen thuộc, sinh sống tương đối thoải mái so với người xung quanh như vậy là mình có phước lớn lắm rồi. Cho nên bạn bè mới nói làm ăn rần rần như vậy, còn muốn đi Mỹ làm gì nữa. Nhưng họ đâu hiểu rằng làm ăn như vậy, nhưng có gì chắc chắn đâu. Họ có thể đóng thuế thật cao lên, mình chịu không nổi mà bỏ cuộc hoặc rủi ro có truyền đơn hay có biến động gì họ có thể bắt mình vô tù ngay. Về tinh thần làm sao mà yên ổn được. Do đó, tôi phải dứt khoát ra đi, đi bất cứ xứ sở nào, nếu được đi Mỹ thì còn quí giá nào bằng.

Ngày ra đi mừng vui, lo âu lẫn lộn. Mừng vui vì thoát khỏi chế độ cộng sản, được tự do đọc báo, đọc sách với mọi tư tưởng, mọi khuynh hướng. Tôi có thể nói về bất cứ điều gì mình cho là đúng, không sợ bị bắt bớ, bỏ tù. Nhưng tôi lo lắng không biết làm gì để sống đây. Anh văn không giỏi lắm, nghề nghiệp chuyên môn không có. Tôi cũng đành phó thác cho “Thượng Ðế, Ông Trời” về tương lai của mình.

Mặc dầu có lo lắng cho tương lai, sự ra đi thoát khỏi chế độ cộng sản cũng là niềm vui đối với tôi và gia đình tôi, để giải quyết nhiều vấn đề cùng một lúc, nhà cửa chật chội sẽ được rộng rãi thêm ra vì vắng một gia đình. Con cái sau này có nghề nghiệp theo ý muốn. Tôi không còn bị sự kềm kẹp của công an. Tôi được hít thở không khí tự do đó chính là niềm ao ước thiêng liêng, quan trọng nhất trong đời tôi.

Hôm lên phi cơ ra đi, phi cơ vừa cất cánh, tôi cảm tưởng như mình vừa thoát khỏi cơn mơ. Tôi thành thật cám ơn tất cả những người thân yêu, bạn bè, thầy cũ, học trò cũ đã quan tâm nâng đỡ tinh thần tôi trong những ngày tháng khó khăn lúc tôi vừa mới ra tù. Tôi vẫn nhớ Bác Sĩ Trạm, tay cầm hai hộp sữa đến thăm lúc tôi mới về. Tôi vẫn nhớ thầy Hoàn, thầy dạy tôi hồi tôi học lớp Chín ở trung học, đến thăm tôi rất sớm. Các bạn của bà xã tôi đến ăn mừng tại nhà tôi. Con xin hết lòng tạ ơn Thượng Ðế đã quan tâm, săn sóc, nâng đỡ con, hướng dẫn gia đình con đi được đến bến bờ tự do.

Tác giả: Phùng văn Phụng

Đăng trong Báo Người Việt ngày 16 March 2010

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả: Phùng Văn Phụng   


 

CHÚA LÊN TRỜI DỌN CHỖ CHO CHÚNG TA-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Lễ Thăng thiên)

Con thuyền không bến

Một chiếc thuyền lênh đênh giữa đại dương bao la, hết ngày nầy qua ngày khác, hết năm nầy đến năm kia, thuyền cứ trôi nổi bồng bềnh trên sóng nước mà không có bến đậu cho đến khi bị sóng to bão dữ nhận chìm thì thật là đau thương! 

Thế giới hôm nay cũng có lắm mảnh đời có chung số phận như con thuyền không bến nầy. Người ta sống mà chẳng biết mình sống vì mục đích gì, chết rồi sẽ ra sao… Cuộc đời của họ như thuyền trôi lênh đênh, không mục đích, không định hướng, không tương lai, không hy vọng… Vì thế, họ thấy cuộc sống là vô nghĩa và phi lý… Sống như thuyền không bến thì bi đát biết bao!

Cuộc phục sinh và lên Trời của Chúa Giê-su đem hy vọng cho thế giới

Chúa Giê-su là Thiên Chúa xuống thế làm người và đã sống trọn vẹn thân phận con người như chúng ta.

Ngài đã đi đến tận cùng đau khổ khi bị hành hình như một tội đồ gian ác nhất và chịu chết tủi nhục, thê thảm trên thập giá.

Ngài đã cảm nếm sự cô đơn cực độ khi hấp hối trên thập giá, bị người đời ghét bỏ, nhạo cười, phỉ nhổ…

Ngài đã rơi vào tối tăm bi thảm của kiếp người khi trở thành một thi hài không còn sự sống và chịu mai táng trong mồ hoang lạnh!

Thế rồi,

Nhờ quyền năng Chúa Cha, Ngài đã sống lại và lên Trời vinh hiển.

Qua việc phục sinh và lên Trời vinh hiển, Chúa Giê-su khai mở cho nhân loại một con đường tiến vào thiên đàng hồng phúc, nơi không còn đau khổ, tang thương, chết chóc nhưng tràn đầy hoan lạc và bình an.

Chúa Giê-su lên Trời không phải để rời xa chúng ta, nhưng Ngài đi để dọn chỗ cho chúng ta như lời Ngài nói: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em… Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14, 2-3).

Thế là từ đây, cửa Trời đã được mở ra, vương quốc trường sinh đã được dọn sẵn để đón nhận muôn dân muôn nước vào hưởng phúc đời đời.

Từ đây, đời người không phải như những con thuyền không bến, mà có một bờ bến tuyệt vời là thiên đàng, là chốn hạnh phúc thiên thu vạn đại đang chờ đón họ.

Nhờ sự lên Trời vinh hiển, Chúa Giê-su cho thấy cuộc đời rất đáng sống vì những chuỗi ngày ở trần gian là những bậc thang dẫn đưa nhân loại tiến đến quê Trời.

Hướng lòng về thượng giới

Biến cố Chúa Giê-su lên Trời hướng lòng trí chúng ta về quê hương đích thực của mình trên thiên quốc và thúc đẩy chúng ta phấn đấu để đạt tới mục tiêu cao quý nầy. Thánh Phao-lô trong thư Cô-lô-xê kêu gọi chúng ta: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, thì hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới…” (Col 3,1-2).

Lạy Chúa Giê-su,

Sự phục sinh và lên Trời vinh hiển của Chúa đã đem lại cho đời người một hướng đi, đó là tiến về thiên quốc, đã mang lại cho đời sống con người một ý nghĩa cao đẹp, đã khơi lên trong lòng người niềm hy vọng mai đây được vui sống hạnh phúc trên thiên đàng.

Xin cho chúng con hôm nay luôn hướng lòng về thượng giới, cố gắng sống tốt lành thánh thiện để mai sau, được cùng nhau sum họp bên Chúa trên thiên quốc. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

****************************

Tin mừng Mát-thêu (28, 16-20)

16Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên Trời dưới đất.   19Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”


 

*Giữa đối đầu và ràng buộc: thực chất chuyến đi Trung Quốc của Trump*- Lê Diễn Đức

Lê Diễn Đức

*Giữa đối đầu và ràng buộc: thực chất chuyến đi Trung Quốc của Trump*

Nếu chỉ nhìn vào nghi thức tiếp đón trọng thể mà Bắc Kinh dành cho Donald Trump, nhiều người sẽ nghĩ quan hệ Mỹ–Trung đang bước vào một giai đoạn “tan băng”. Nhưng thực tế có lẽ phức tạp hơn nhiều.

Ông Tập Cận Bình vẫn tiếp Trump với sự long trọng mà ông Trump đặc biệt yêu thích: nghi lễ lớn, biểu tượng lịch sử, sự tôn trọng dành cho vị thế cường quốc. Trump cũng đáp lại bằng những lời ca ngợi quen thuộc dành cho Tập như một “nhà lãnh đạo vĩ đại”, đồng thời tránh những phát biểu đối đầu trực diện về Đài Loan.

Nhưng đằng sau những hình ảnh ngoại giao ấy là một sự thật rất rõ ràng: cả Washington lẫn Bắc Kinh đều hiểu rằng họ chưa thể tách rời nhau.

Mỹ cần Trung Quốc để giữ ổn định chuỗi cung ứng, thị trường tài chính và tránh một cú sốc kinh tế toàn cầu. Trung Quốc cũng cần thị trường Mỹ, công nghệ phương Tây và một môi trường quốc tế đủ ổn định để duy trì tăng trưởng trong bối cảnh kinh tế nội địa đang gặp nhiều khó khăn.

Đó là lý do chuyến đi lần này không còn mang màu sắc “tuần trăng mật” như năm 2017, nhưng cũng chưa phải một cuộc đối đầu kiểu Chiến tranh Lạnh toàn diện.

Việc cuộc gặp biểu tượng diễn ra ở Thiên Đàn thay vì “uống trà ở Tử Cấm Thành” như trước cũng mang nhiều hàm ý. Thiên Đàn không phải nơi thể hiện sự thân tình cá nhân, mà là biểu tượng của “đại cục”, của trật tự và ổn định thiên hạ. Nó phản ánh đúng trạng thái hiện nay của quan hệ Mỹ–Trung: cạnh tranh gay gắt nhưng vẫn phải giữ ổn định hệ thống.

Về Đài Loan, lập trường của Tập không thay đổi. Bắc Kinh tiếp tục xem đây là “lằn ranh đỏ” quan trọng nhất trong quan hệ với Mỹ. Nhưng Trump cũng khó có thể nhượng bộ Trung Quốc trong vấn đề này, bởi chính sách hỗ trợ Đài Loan giờ đây đã gắn chặt với luật pháp, chiến lược và đồng thuận chính trị của Washington.

Điều Trump có thể làm là giảm mức độ đối đầu công khai và duy trì sự “mập mờ chiến lược” nhằm tránh một cuộc khủng hoảng cùng lúc trên nhiều mặt trận: chiến tranh Iran, eo biển Đài Loan và chiến tranh thương mại.

Có lẽ điểm quan trọng nhất của chuyến đi lại nằm ở vấn đề Hormuz.

Cả Mỹ lẫn Trung Quốc đều không muốn eo biển này bị phong tỏa. Trung Quốc cần dầu mỏ để duy trì nền kinh tế, còn Trump cần giá năng lượng ổn định để tránh lạm phát và áp lực chính trị trong nước.

Việc Bắc Kinh đồng ý với mục tiêu “mở lại Hormuz” cho thấy hai siêu cường vẫn còn những lợi ích chiến lược buộc phải hợp tác với nhau, dù cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

Nhưng giải pháp cụ thể vẫn là một ẩn số.

Trung Quốc có ảnh hưởng với Iran, song Bắc Kinh cũng không muốn bị xem như đang phục vụ lợi ích chiến lược của Washington. Trong khi đó, Iran lại coi Hormuz là công cụ mặc cả sống còn của mình.

Vì vậy, điều đang diễn ra có lẽ không phải là một “sự hòa giải” giữa Mỹ và Trung Quốc, mà là một dạng đình chiến chiến lược tạm thời giữa hai siêu cường đang bị ràng buộc với nhau quá sâu để có thể thật sự tách rời.

Trong thế giới hôm nay, cạnh tranh vẫn tồn tại. Nhưng ngay cả đối thủ lớn nhất của nhau cũng buộc phải tìm cách cùng tồn tại để tránh kéo cả hệ thống toàn cầu vào khủng hoảng.

Photo: Trump và Tập thăm chùa Thiên Đàn thay vì uống trà tại Tử Cấm Thành năm 2017 .


 

NỖI BUỒN MANG THAI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được!”.

Thomas Ice & Robert Dean đặt câu hỏi, “Khi nào chúng ta hành động như Satan?”. Đó là khi con người coi đau khổ như một ngõ cụt thay vì một lối mở; khi nước mắt bị xem là thất bại thay vì là dấu hiệu của một niềm vui đang thành hình.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Chúa Giêsu không xem đau khổ như một ngõ cụt, nhưng như một lối mở. Như người phụ nữ đi qua cơn quặn đau để sinh một con người, nỗi buồn của người môn đệ cũng là một ‘nỗi buồn mang thai’.

Gioan mô tả đau khổ như một cuộc chuyển dạ. “Nỗi buồn” – lypē – của người môn đệ không bị phủ nhận; nó được biến đổi từ bên trong, như cơn quặn đau của người mẹ lâm bồn. Vì thế, nước mắt và khổ đau không là hết đường, nhưng là một lối mở, là khúc dạo đầu của một tạo thành mới; nơi đó, ‘nỗi buồn mang thai’ một niềm vui, và nước mắt bắt đầu học cách hát. Bởi có những mất mát âm thầm khiến con người không còn biết phải mở lòng với cuộc đời thế nào nữa. Ấy thế, “Có những mất mát làm đổi thay toàn bộ cấu trúc đời người!” – Judith Viorst.

“Anh em sẽ khóc lóc và than van!”. Chúa Giêsu không phủ nhận nước mắt trong đời sống người môn đệ; Ngài chỉ không cho phép nó trở thành tiếng nói cuối cùng. Trong Tin Mừng Gioan, đau khổ luôn mang một hậu âm; cơn quặn đau của người mẹ không khép lại nơi tiếng khóc, nhưng mở ra nơi sự xuất hiện của một sinh linh mới. Những giọt nước mắt tưởng như đang khép đời mình lại, như khi một tương lai sụp đổ, một tương quan tan vỡ, hay một lời cầu nguyện mãi không được đáp lại. Thật ra, đó chỉ là khúc dạo đầu của một niềm vui không ai lấy mất.

Với Phaolô, lời “Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh!” – bài đọc một, không chỉ là một trấn an, nhưng là một bảo đảm thần linh. Chúa Phục Sinh không cất khỏi ông chống đối hay hiểm nguy; Ngài chỉ hứa, “Thầy ở với anh!”. Và như thế là đủ. Có những đêm, chỉ một lời “Thầy ở với anh” cũng đủ giữ người môn đệ khỏi gục ngã. Có lúc, điều giữ con người đứng vững không phải lời giải thích, nhưng là cảm thức mình không bị bỏ lại. Vì thế, giữa bách hại và bất an, Phaolô vẫn tiếp tục lên tiếng, vì ông biết lịch sử nằm trong tay Đấng mà Thánh Vịnh đáp ca tung hô: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô là nơi ‘nỗi buồn mang thai’ đạt tới ý nghĩa sâu xa nhất. Thập giá tưởng như khép lại mọi hy vọng, lại trở thành khởi đầu của phục sinh. Trong Ngài, không đau khổ nào còn hoàn toàn vô nghĩa; nước mắt người môn đệ không chỉ biết khóc, nhưng dần học cách hát niềm hy vọng. Có những đêm con người tưởng mình đã mất hết, nhưng cũng chính từ những khoảng tối ấy, Thiên Chúa âm thầm làm nảy mầm một sự sống mới; vì chỉ có bóng tối mới đủ sâu để nảy mầm ánh sáng. “Chỉ người thầy thuốc mang thương tích mới thực sự chữa lành!” – Carl Jung.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi nước mắt làm con tưởng mọi lối đi đều tắt, cho con biết, trong Chúa, đau khổ vẫn còn hậu âm hy vọng; và nỗi buồn vẫn có thể thai nghén niềm vui!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

****************************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần VI Phục Sinh

Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 16,20-23a

20 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em : anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui. 21 Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình ; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian. 22 Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng ; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được. 23a Ngày ấy, anh em không còn phải hỏi Thầy gì nữa.”


 

ĐỨC KHỔNG TỬ…. BÁI SƯ…!

Nguyen Thi Chau

 Chuyện ảo chút nhưng hay.

ĐỨC KHỔNG TỬ…. BÁI SƯ…!

Một lần, Khổng Tử ngồi trên chiếc xe nhỏ có ngựa kéo chu du khắp các nước. Đến một vùng nọ thấy có chú bé lấy đất đắp một tòa thành, rồi ngồi vào trong đó, Khổng Tử liền hỏi:

“Này cháu, cháu trông thấy xe ta đi tới cớ sao không chịu tránh?”

Chú bé trả lời:

“Cháu nghe người ta đồn rằng, Khổng Phu Tử trên thông Thiên Văn, dưới tường Địa Lý, giữa hiểu lòng người. Vậy mà hôm nay cháu gặp Phu Tử thì không phải vậy….

Bởi vì từ xưa đến nay, chỉ nghe nói đến chuyện xe tránh thành, chứ thành nào lại tránh xe đâu?”.

Khổng Tử ngạc nhiên quá, liền hỏi:

– Cháu tên là gì?

– Dạ Hạng Thác

– Năm nay cháu bao nhiêu tuổi?

– Dạ, 7 tuổi ạ.

– Mới 7 tuổi mà đã khôn ngoan vậy sao?

– Dạ thưa, cháu nghe nói, con cá nở được 3 ngày đã bơi tung tăng từ hồ nọ sang hồ kia. Con thỏ 6 ngày tuổi đã chạy khắp đồng cỏ. Cháu sinh ra đến nay đã được 7 tuổi, lấy gì làm khôn…?

Lần này thì Khổng Tử thực sự kinh ngạc, bèn đưa ra liền 16 câu hỏi khó để thử tài Hạng Thác. Thế nhưng Hạng Thác đã trả lời trôi chảy, rồi nói:

– Vừa nãy Khổng Phu Tử hỏi cháu nhiều quá…! Bây giờ, cháu xin hỏi Phu Tử: “Tại sao con ngỗng và con vịt nổi trên mặt nước? Tại sao chim hồng, chim hộc lại kêu to? Tại sao cây tùng, cây bách lại xanh cả mùa hè lẫn mùa đông…?”

Khổng Tử đáp: Con ngỗng, con vịt nổi được trên mặt nước là nhờ hai bàn chân vuông làm phương tiện. Chim hồng, chim hộc kêu to, là vì cổ chúng dài. Tùng bách xanh tươi bốn mùa là vì thân chúng đặc.

– Thưa, không đúng…! Hạng Thác reo lên – con rùa nổi lên mặt nước, đâu có phải nhờ đôi bàn chân vuông làm bàn đạp. Con ễnh ương kêu to mà cổ nó đâu có dài. Cây trúc cũng xanh bốn mùa, mà ruột nó rỗng đấy thôi…!

Khổng Tử chưa biết giải thích ra sao, thì chú bé lại hỏi:

– Thưa Phu Tử, cho phép cháu hỏi thêm. Tại sao mặt trời buổi sáng lại to mà buổi trưa lại nhỏ?

Khổng Tử nói:

– Là vì buổi sáng, mặt trời gần ta hơn.

– Không phải ạ! – Hạng Thác vặn lại – Buổi sáng mặt trời gần ta hơn, sao lại mát, còn buổi trưa mặt trời xa ta hơn, sao lại nóng…?

Rồi Hạng Thác lý sự một hồi, khiến Khổng Tử phải thốt lên:

– Cháu còn ít tuổi mà lại thích hỏi những chuyện xa xôi, viễn vông, ở tận đẩu tận đâu, chuyện trước mắt thì không hỏi.

Hạng Thác cười khanh khách nói:

– Vâng, cháu xin hỏi chuyện ngay trước mắt ngài: – Vậy lông mày của Phu Tử có bao nhiêu sợi ạ…!

Khổng Tử không đáp, sai người đánh xe đi, và than rằng: “Hậu sinh khả úy!” (Lớp hậu sinh thật đáng sợ!).

Câu “Hậu sinh khả úy” ra đời từ đấy. Hạng Thác mất năm 10 tuổi, được lập đền thờ, gọi là Tiểu Nhi Thần, nghĩa là Thần Nhi Đồng, gọi tắt là thần đồng.

Chữ “Thần Đồng” cũng có từ ngày đó.

Tương truyền rằng Khổng Tử có bái Hạng Thác là sư phụ….!

(Sưu tầm) 


 

Triệu phú ngành kinh doanh mỹ phẩm sắp trở thành linh mục

Thao Teresa

Triệu phú ngành kinh doanh mỹ phẩm sắp trở thành linh mục

Việc Chúa làm quả là huyền nhiệm. Câu chuyện của thầy phó tế Scott – Vincent Borba là một câu chuyện như thế.

———————

Ngày 23/5/2026 tới đây, phó tế Scott – Vincent Borba, đồng sáng lập hãng elf Cosmetics, sẽ được thụ phong linh mục tại Giáo phận Fresno, California.

Phó tế Scott – Vincent Borba sinh ngày 23/6/1973. Thầy từng là một chuyên viên thẩm mỹ, diễn viên, người mẫu, nhà văn và ca sĩ, và đã từ bỏ sự nghiệp triệu đô của mình để đáp lại tiếng gọi của Chúa để trở thành linh mục.

Trước khi vào chủng viện, phó tế Scott Borba đã dành hơn 20 năm làm việc trong lãnh vực người mẫu, chăm sóc sắc đẹp và đã tạo lập được một sự nghiệp nổi bật khi còn khá trẻ.

Thầy từng là chuyên gia thẩm mỹ cho các ngôi sao, thậm chí còn thực hiện liệu trình chăm sóc da mặt trị giá 7.000 đô la cho nữ diễn viên Mila Kunis – sử dụng các tinh thể siêu nhỏ từ kim cương và hồng ngọc – cho lễ trao giải Quả cầu vàng năm 2011.

Thầy cũng có văn phòng ở Beverly Hills, một biệt thự ven biển không xa nơi làm việc, và một cuộc sống xã hội xa hoa, những bữa tiệc với Paris Hilton, cùng hàng triệu đô la trong tài khoản ngân hàng.

Ngoài ra, trước khi theo đuổi ơn gọi, thầy đang là giám đốc điều hành hãng mỹ phẩm quốc tế elf Cosmetics, với các dòng sản phẩm do chính thầy chế tạo.

Lạ lùng thay, giữa cuộc sống xa hoa, giữa ánh hào quang sân khấu, điều mà biết bao người ước mơ, thì thầy lại cảm thấy trống rỗng.

Có lúc thầy đã than thở với Chúa: “Chúa ơi! Nếu đây là cuộc sống, nơi tất cả những gì bạn làm là làm việc và tiệc tùng, rồi lặp lại điều đó và chết đi, thì đây không phải là cuộc sống mà con nghĩ Ngài đã dành cho con. Nhưng con chỉ có thể thay đổi nếu Ngài giúp con.”

Thế rồi, năm 2019, ở tuổi 46, đáp lại tiếng Chúa gọi, thầy đã bán một lượng lớn sản phẩm và quyên góp số tiền thu được cho từ thiện, đồng thời lên kế hoạch để trở thành một linh mục Công giáo.

Năm 2021, thầy chính thức gia nhập chủng viện St-Patrick và được chịu chức phó tế ngày 21/6/2025 vừa qua.

Câu chuyện thầy trở lại với đời sống đức tin sau bao năm xa lạ, nhất là việc thầy từ bỏ mọi sự để theo đuổi ơn gọi tu trì, đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều người và được Wikipia đưa lên thành sự kiện.

https://phailamgi.com/…/trieu-phu-nganh-kinh-doanh-my…/