Giáo Sư Đoàn Khoách, nguyên phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, qua đời

Ba’o Nguoi-Viet

January 29, 2026

SAN DIEGO, California (NV) – Giáo Sư Đoàn Khoách, tốt nghiệp thủ khoa Viện Hán Học Huế, từng làm giảng viên, trưởng ban Việt Hán, và là cựu phụ tá khoa trưởng Đại Học Sư Phạm Huế, vừa qua đời ở San Diego hôm 25 Tháng Giêng, hưởng thọ 96 tuổi, theo cáo phó của gia đình cho biết.

Giáo Sư Đoàn Khoách sinh năm 1930 tại Dương Nỗ, Phú Vang, Thừa Thiên.

Giáo Sư Đoàn Khoách. (Hình: Lấy từ cáo phó của gia đình)

Ngoài những thông tin nêu trên, theo tác giả Ngô Văn Ban trong bài viết “Tưởng nhớ Thầy Đoàn Khoách” đăng trên trang web namkyluctinh.org, Giáo Sư Đoàn Khoách từng là trợ lý nghiên cứu viên tại Tân Á Nghiên Cứu Sở thuộc Đại Học Trung Văn (Hồng Kông), là giám khảo chính cho International Baccalaureate Organization ở St. Mellons (Anh), và là giảng viên Việt Việt Học (Westminster).

Ông đến Hoa Kỳ năm 1989, và cư ngụ tại San Diego.

Ông từng có bài viết đăng trong các tạp chí Đại Học, Văn Học, Văn Lang, Tiếng Sông Hương, Đất Lành, Nhớ Huế, Dòng Việt, …

Các tác phẩm của ông đã phát hành là Nguyễn Trãi Dữ Kỳ Ức Trai Thi Tập (Hồng Kông, 1965), Văn Tịch Chí (Huế, 1970), Thư Mục Nguyễn Trãi (Sài Gòn, 1979), Thư Mục Nguyễn Đình Chiểu (Sài Gòn, 1981), Nguyễn Đình Chiểu Toàn Tập (Long An và Bến Tre 1982, hợp soạn), Sảng Đình Thi Tập (San Diego, 2002), Nhàn Trung Tùy Bút (San Diego, 2007, hợp soạn), Tiên Hoa Lục Khảo Chú (SEACAEF, 2008), và Mạnh Nghị Tuyển Tập (Viện Việt Học, Westminster, 2011).

Tang lễ vị giáo sư quá cố sẽ được tổ chức trong hai ngày 5 và 6 Tháng Hai, tại nhà quàn Peek Family, Westminster, theo cáo phó. (Đ.D.)


 

CA ĐÊM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên”.

“Thiên Chúa làm việc trong những tầng sâu, nơi ta không thấy, cũng không thể kiểm soát!” – Von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ, Thiên Chúa làm việc không ngưng nghỉ để Nước Trời lớn lên theo nhịp của Ngài. Con người không thấy, cũng không thể kiểm soát những gì Ngài làm. Có thể nói, Ngài làm ca ngày lẫn ‘ca đêm!’.

Tin Mừng khẳng định một chuyển động đầy sức sống, “Hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên”. Dù chậm, dù âm thầm, nhưng sự sống đang lớn lên theo “nhịp Thiên Chúa” chứ không theo nhịp sốt ruột của con người. Nước Trời không nhảy cóc, dù Thiên Chúa đau đáu xót thương con người và muốn làm những gì có thể ca ngày lẫn ‘ca đêm’ để cứu rỗi họ. Và vì Ngài tôn trọng nhịp trưởng thành của từng linh hồn, nên những khởi đầu của Ngài thường rất nhỏ, nhỏ đến mức chúng ta không thấy nên dễ coi thường. “Cuộc đời là một tiến trình trở thành, một hợp thể của những trạng thái ta phải trải qua!” – Anaïs Nin.

Vậy mà tiến trình ấy không phải lúc nào cũng yên ả. Có những giai đoạn tưởng như tan hoang tựa cánh rừng sau lửa cháy. Không ai mong hoả hoạn, nhưng các nhà chuyên môn vẫn nhận ra rằng, chính dưới lớp tro tàn ấy, đất được làm mới, để những hạt mầm bị vùi sâu có cơ hội bật lên. Cũng thế, trong đời sống thiêng liêng, đôi khi Thiên Chúa cho phép những đổ vỡ xảy ra, không để huỷ diệt, mà để mở đường cho sự hoán cải và đổi mới. Trong những khoảng tối đó, khi con người không hiểu hết, Thiên Chúa vẫn âm thầm làm ‘ca đêm’, chuẩn bị cho một mùa gặt mà con người không bao giờ ngờ tới.

Đó cũng là câu chuyện đáng tiếc của Đavít hôm nay – bài đọc một. Đavít đã phạm một lúc hai tội tày đình. Thế nhưng, như cánh rừng rụi tàn sau biển lửa, một lời thoi thóp tận đáy linh hồn được bật lên, “Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương, vì chúng con đắc tội với Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca – Cũng chính trong lời van ấy, Thiên Chúa – Đấng đang làm ‘ca đêm’ – tỏ lòng xót thương, và Ngài không cho tội lỗi có tiếng nói sau cùng.

Anh Chị em,

Lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ dành cho Đavít, cho nhân loại, cho bạn và tôi, mà còn dành cho chính Con Một Ngài. Suốt sứ vụ công khai, và cả những giờ phút đen tối nhất của Chúa Giêsu, khi mọi sự xem ra đã khép lại, thì chính lúc ấy, Chúa Cha vẫn thường xuyên ban sức mạnh để Người Con đi hết hành trình cứu chuộc. Để chính từ sự kính trọng và tín trung lặng lẽ của Chúa Con, ơn cứu độ trổ sinh cho muôn người. Theo Chúa Kitô, vì thế, không phải là tránh né đêm tối, mà là tin rằng: ngay trong đêm tối, chúng ta vẫn đang được dẫn về phía ánh sáng và sự sống; vì lẽ Thiên Chúa không chỉ làm ca ngày, Ngài túc trực cả ‘ca đêm’. “Nếu Đức Giêsu Kitô không bỏ anh em trong bóng tối của Ngài, bóng tối tột cùng, thì làm sao Ngài lại bỏ anh em bây giờ!” – Tim Keller.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con nôn nóng, cho con biết đợi chờ; khi con sợ tương lai, cho con biết tín thác; khi con ở trong đêm tối, cho con nhớ, Ngài đang dẫn con về phía ánh sáng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần III Thường Niên

Một người vãi hạt giống rồi ngủ, và hạt giống mọc lên trong khi người ấy không biết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 4,26-34

26 Khi ấy, Đức Giê-su nói với dân chúng dụ ngôn này : “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. 27 Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào, thì người ấy không biết. 28 Đất tự động sinh hoa kết quả : trước hết cây lúa mọc lên, rồi trổ đòng đòng, và sau cùng thành bông lúa nặng trĩu hạt. 29 Lúa vừa chín, người ấy đem liềm ra gặt, vì đã đến mùa.”

30 Rồi Người lại nói : “Chúng ta ví Nước Thiên Chúa với cái gì đây ? Lấy dụ ngôn nào mà hình dung được ? 31 Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại nhỏ nhất trong các hạt giống trên mặt đất. 32 Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng.”

33 Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà giảng lời cho họ, tuỳ theo mức họ có thể nghe. 34 Người không bao giờ nói với họ mà không dùng dụ ngôn. Nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Người giải nghĩa hết.


 

Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng. (Tv 95:7b-8a)-Cha Vương

Chuẩn bị đón xuân Chúc bạn và gia đình một ngày thật an vui và xua tan tất cả những chuyện buồn trong năm cũ, vững niềm tin đầy ơn lành trong tay Chúa Xuân

Cha Vương

Thu 5: 29/01/2026. (cn-23)

TIN MỪNG: Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng. (Tv 95:7b-8a)

SUY NIỆM: Hàng ngày lời nói và tiếng động ập vào tai bạn bằng nhiều cách, nào là TV, radio, internet, quảng cáo, báo chí, v.v… liệu những thông tin này có giúp bạn đến gần với Chúa và xích lại gần với nhau không, hay nó để lại cho bạn một cảm giác trống trải và thiếu vắng? Không phải tất cả những thông tin đó đều sai lạc nhưng mà là con người thiếu khả năng để lắng nghe để tìm ra sự thật. Vậy đâu là cách thức để bạn lắng nghe? Thiết tưởng bạn vẫn còn nhớ cách đây mấy tuần mình có chia sẻ về 3 cách thức để lắng nghe tiếng Chúa: Bạn lắng nghe bằng lỗ tai của TÂM TRÍ, bằng lỗ tai của TRÁI TIM, và bằng lỗ tai của LINH HỒN.

(1) TÂM TRÍ: Đó là cố gắng tìm hiểu Lời Chúa, và hơn nữa, làm cho lời ấy sống động y như bạn đang nghe chính Chúa nói vậy. 

(2) TRÁI TIM: Đó là ghi tạc Lời Chúa vào trái tim và cố gắng tìm cách áp dụng lời ấy vào hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống bạn. 

(3) LINH HỒN: Đó là tâm sự với Ngài để xem Ngài muốn bạn làm gì khi nghe/đọc lời Chúa. Hôm nay mình muốn đề cập thêm về các chuyển động trong việc lắng nghe Lời Chúa, mình gọi tắt là “4T” (Tai, Trí, Tâm, Thực-thi) để cho dễ nhớ.  Nghe Lời Chúa không chỉ là đến nhà thờ, tắt điện thoại, lật sách phụng vụ đến đúng trang bài đọc trong ngày, và nhẩm đọc theo khi Lời Chúa được công bố. Dĩ nhiên đây là những bước hữu ích, nhưng để thực sự “nghe,” bạn cần nhiều việc khác hơn nữa. Để đón nhận và thực thi Lời Chúa là “Lời Sự Sống” (1 Ga 1:1) bạn cần để ý đến bốn chuyển động sau đây, mình gọi là “4T”: Tai—>Trí—>Tâm—>Thực-thi. Tai bạn nghe gì? Trí bạn hiểu gì? Tâm bạn đang nói vời bạn điều gì, làm lành hay tránh dữ? Chúa muốn bạn Thực-thi điều gì sau khi bạn đọc đi đọc lại cầu Kinh Thánh này? Bạn dừng lại ở Tai không thì chưa đủ, nó phải đưa vào Trí, rồi đến Tâm, và được thực thi bằng việc làm nữa. Đây là bốn chuyển động rất then chốt trong việc lắng nghe Lời Chúa. Chúc bạn thành công nhé.

LẮNG NGHE: Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (Mt 7:21)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Lời Chúa chính là sự sống con cho, xin cho con tấm lòng đơn sơ, rộng mở, khao khát, như muốn để Lời Chúa ùa vào tâm hồn con.

THỰC HÀNH: Hãy đọc đi đọc lại câu Thánh Vịnh này (hoặc câu Kinh Thánh yêu thích của bạn): “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng.” (Tv 95:7b-8a) và áp dụng cách lắng nghe “4T” vào để thực thi ý Chúa nhé.

From: Do Dzung

************************

Lắng Nghe Lời Chúa – Nguyễn Hồng Ân & Hiền Thục

CÔ GÁI HÀ THÀNH LÝ LUẬN VỀ PHẢN ĐỘNG…

CÔ GÁI HÀ THÀNH LÝ LUẬN VỀ PHẢN ĐỘNG…

– Chúng tôi không tham nhũng ngân sách quốc gia, chúng tôi không ăn chặn tiền thuế của các bạn một đồng nào. Nếu chúng tôi có làm những việc đó chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không cướp đất của dân, đẩy người dân ra đường, để cụ già phải ăn xin, em bé phải bán vé số, phụ nữ phải bán dâm. Nếu chúng tôi làm những điều đó chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không cấp phép cho những gian thương, cho những doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam kinh doanh nhưng phá hoại môi trường để rừng trơ trọi, để biển ô nhiễm gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống người dân. Nếu chúng tôi có làm những việc đó chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không ra đường chặn xe bạn vô cớ, không vu khống bạn vi phạm luật, không bắt bạn những lỗi vớ vẩn… rồi tìm cách vòi tiền bạn. Nếu chúng tôi làm việc đó chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không có quyền kiểm soát việc nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam. Chúng tôi không nhập hàng giả, thức ăn độc hại vào thị trường Việt Nam để bạn dùng, vì lợi nhuận mà làm hại giống nòi người Việt. Nếu chúng tôi làm điều đó, chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không đến công ty, cửa tiệm, ki ốt của bạn để hạch sách, nhũng nhiễu để bắt bạn đóng tiền lậu mãi. Khi nào chúng tôi làm vậy chúng tôi mới là phản động.

– Chúng tôi không tạo ra bất công trong xã hội. Chúng tôi không bao che những người làm sai, không nâng đỡ con cháu thiếu năng lực vào những vị trí cao. Nếu chúng tôi làm điều đó hãy gọi chúng tôi là phản động.

– Chúng tôi không mượn nợ nước ngoài cho con cháu du học, xây biệt thự, sắm xe, tiêu xài hàng hiệu, uống rượu ngoại, nuôi bồ nhí… để mỗi người dân gánh $1200 tiền nợ. Nếu chúng tôi làm thế bạn cứ gọi chúng tôi là phản động. – Chúng tôi không ăn chặn tiền cứu trợ đồng bào lũ lụt, không bòn rút tiền từ thiện dành cho bệnh nhân tâm thần, người già neo đơn. Nếu có làm việc đó, gọi chúng tôi là phản động còn nhẹ… hãy xử bắn chúng tôi ngay.

Bạn nói khi tôi và những người giống như tôi chưa có quyền thì kêu gào hay lắm… nhưng đến lúc nắm quyền thì cũng hành xử như những gì chúng tôi lên án thôi. Bạn nói đúng nếu như guồng quay xã hội hiện tại cứ mãi mãi tiếp tục còn kéo dài, thì ai lên nắm quyền cũng sẽ bị biến chất. Và những gì chúng tôi làm chính là muốn thay đổi guồng quay xã hội đó.

Chúng tôi muốn tạo ra 1 guồng quay xã hội khác để người nào lên nắm quyền cũng phải tuân thủ luật pháp, làm đúng trách nhiệm cần có… nếu tắc trách, sai phạm, biến chất phải bị đẩy đi cho người xứng đáng tốt hơn thay thế. Chúng tôi muốn xã hội tốt hơn bằng việc thay đổi cái gốc, thay đổi hệ thống vận hành… và bạn gọi chúng tôi là phản động có đúng không?

NGUYỄN THUỶ TIÊN


 

Nếu còn sống, năm nay anh Hai tôi đã bước sang tuổi u80

Nguyễn Tuấn

 Nếu còn sống, năm nay anh Hai tôi đã bước sang tuổi u80.

Không ai biết chính xác ngày anh mất. Vì vậy, Ba Má tôi lấy ngày anh lên ghe rời Việt Nam làm ngày giỗ. Hôm nay là ngày giỗ thứ 45.

Anh Hai tôi từng là ngôi sao sáng chói trong đại gia đình về học hành. Anh là người đầu tiên trong làng đậu tú tài toàn phần, rồi tốt nghiệp kỹ sư hóa học. Trong họ hàng, còn có một người nữa cũng thi đậu tú tài toàn phần – em họ tôi (gái) – nhưng theo quan niệm truyền thống thời ấy, con gái không được khuyến khích lên đại học.

Thập niên 1960-1970, chỉ khoảng 10-15% học sinh trung học thi đậu tú tài toàn phần, và chỉ 5-10% thí sinh dự thi đại học được tuyển. Hệ thống giáo dục lúc đó mang tính “elite”, chỉ dành cho những người thật sự xuất sắc. Vì vậy, ai đậu đại học là niềm tự hào lớn lao cho cả gia đình và làng xóm.

Sau ngày 30/4/1975, anh Hai làm việc kiểm nghiệm ở một công ty quốc doanh một thời gian ngắn rồi nghỉ. Không ai hỏi lý do, nhưng tôi đoán anh không chịu nổi môi trường mới.

Anh về quê sống với ngoại. Khác với tôi và anh Ba, những người có thể làm ruộng, cày cuốc, anh Hai chỉ quen cuộc sống thành thị, chưa bao giờ đụng tay vào việc đồng áng.

Người ta gọi anh là “công tử bột”. Vẫn còn xe Honda, ăn mặc bảnh bao (thời đó dễ bị gắn mác “tiểu tư sản”). Ngoại tôi rất thương anh, nên anh được đặc quyền trong ngôi nhà cũ kỹ đó. Anh thường lái Honda ra Rạch Giá cà phê, cà pháo với bạn bè cùng cảnh ngộ. Tôi cũng hay gặp anh ở đó.

Những buổi cà phê ấy thực ra là để anh tìm đường vượt biên. Một hôm, anh chủ động gặp tôi, nói sắp đi, rồi hỏi thẳng: “Mày đi hông?”

Tôi hơi sốc. Lúc đó tôi còn đầy lý tưởng lắm, tin rằng đất nước rồi sẽ ổn, nên chưa nghĩ đến chuyện ra đi. Có lần anh Hai tôi giới thiệu với bạn bè bằng giọng nói sốc: ‘thằng này nó là em tao, nhưng nó tả khuynh lắm’.

Tôi đã chứng kiến nhiều bạn bè từ Sài Gòn về Rạch Giá tìm đường vượt biên. Ở chỗ làm, hễ ai mất tích vài ngày là biết ngay họ đã “đi”. Có người thoát được, đến Đông Nam Á rồi Mỹ, gởi thư về báo tin vui. Nhưng cũng không ít bị bắt, giam ở các trại vùng U Minh Thượng. Một số được thả sau vài tháng, rồi lại tìm cách đi tiếp. Tôi có bạn bị bắt tới bảy lần!

Thấy tôi im lặng, anh Hai nói: “Vậy là mày không đi?” Rồi anh giao cho tôi chiếc xe Honda và đồng hồ Seiko, dặn về báo Ba Má rằng anh đã quyết định đi. Chính vì những món đồ ấy mà sau này tôi bị đồng nghiệp “kiểm điểm” đủ kiểu, “lên bờ xuống ruộng” đến mức không chịu nổi, cuối cùng cũng ra đi.

Không ngờ đó là lần cuối chúng tôi gặp nhau.

Anh Hai đi trên một chiếc tàu đánh cá nhỏ, do ông già vợ tương lai của anh làm chủ. Ông là người có hơn 30 năm kinh nghiệm đi biển, tự hào là “nhắm mắt cũng lái từ ngoài khơi về bến Rạch Giá”. Chuyến đi chỉ vỏn vẹn 20 người, toàn thân nhân bên vợ tương lai của anh. Tôi không biết chính xác ngày khởi hành, nhưng thằng em họ tôi nói là ngày 12/2/1981.

Cả 20 người đều mất tích.

Mất tích trên biển đồng nghĩa với việc họ đã ra đi mãi mãi. Nhưng nguyên nhân thì không ai hay: tai nạn chìm tàu? Bão tố? Hay cướp biển? Má tôi từng mời “thầy” về xem ngày giờ, nhưng tất cả đều vô vọng. Mỗi lần nhắc đến anh Hai, Má lại khóc.

Anh Hai tôi có lẽ đã vĩnh viễn nằm lại dưới lòng Biển Đông, cùng với hàng trăm ngàn người Việt khác trong thập niên 1970-1980. Theo thống kê của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), từ 1975 đến 1995, khoảng 800.000 người Việt vượt biên bằng đường biển và đến được nơi an toàn. Ước tính số người bỏ mạng trên biển dao động từ 200.000 đến 400.000, một con số đau lòng, chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số người ra đi.

Những con số đó cũng là một chương sử buồn của dân tộc, dù chưa từng được đề cập chánh thức trong sách vở.

Họ ra đi vì khát khao tự do mới, vì không chịu nổi hoàn cảnh mới. Rất rất nhiều người đã không bao giờ chạm được đến “miền đất hứa”. Trong số ấy có anh Hai tôi, một người tài hoa, một người anh mà tôi mãi mãi nhớ.

Ngày giỗ năm nay, gia đình lại quây quần bên bàn thờ. Mấy đứa em thắp nhang, kể chuyện xưa, và lặng lẽ tưởng nhớ một cuộc đời dang dở giữa biển khơi mênh mông. Anh Hai ơi, nếu có kiếp sau, mong anh được bình yên.


 

ĐỂ HẠNH PHÚC THỰC SỰ-Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 Hạnh phúc là từ được người ta nói nhiều đến trong xã hội.  Trên mạng xã hội, người ta khoe hạnh phúc.  Trong quảng cáo, người ta bán hạnh phúc.  Ngoài xã hội, người ta chạy đua để tìm hạnh phúc.  Thế nhưng, nghịch lý thay, cũng chưa bao giờ con người lo âu, trầm cảm, bất an, bất hạnh như thời đại chúng ta đang sống. 

Giữa một thế giới đầy biến động: kinh tế khó khăn, chiến tranh, dịch bệnh, khủng hoảng gia đình, người trẻ mất phương hướng, người lớn tuổi cô đơn…  Câu hỏi được đặt ra: Hạnh phúc thật sự nằm ở đâu?

 Hạnh phúc là điều mà ai trong chúng ta cũng khao khát.  Có người tìm hạnh phúc trong tiền bạc, thành công, quyền lực, hưởng thụ, danh tiếng…  Thế nhưng, càng tìm, nhiều khi lại càng thấy trống rỗng.  Trong Chúa Nhật IV Thường Niên hôm nay, Chúa Giê-su trao cho chúng ta chìa khóa hạnh phúc đích thực, không theo kiểu thế gian, nhưng theo cái nhìn của Thiên Chúa. 

Hạnh phúc theo cái nhìn của Thiên Chúa 

Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a, mời gọi: “Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước… hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường” (Xp 2,3). 

Lời trên chạm đến hoàn cảnh của rất nhiều người: những gia đình chật vật vì cơm áo gạo tiền, những người lao động bấp bênh,  những người cảm thấy mình nhỏ bé, thua thiệt, không tiếng nói trong xã hội.  Thiên Chúa không chọn kẻ quyền thế, nhưng chọn những người khiêm nhường, người đặt trọn niềm tin cậy nơi Chúa.  Hạnh phúc không hệ tại ở việc “có nhiều,” mà ở chỗ có Chúa, thuộc trọn về Chúa.

 Lời Chúa trong Thánh vịnh đáp ca khẳng định: “Phúc thay người được Chúa Trời nhà Gia-cóp phù hộ, và cậy trông Chúa, Thiên Chúa họ thờ.” (Tv 146). 

Thánh Phao-lô trong bài đọc II nhắc chúng ta nhớ lại ơn gọi của mình: “Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng… điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn” (1 Cr 1,26–28).  Để rồi kết luận: “Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa” (1 Cr 1,31). 

Hiến chương hạnh phúc của người Ki-tô hữu 

Tin Mừng theo thánh Mát-thêu thuật lại việc Chúa Giê-su lên núi và công bố Tám Mối Phúc (Mt 5,1–12).  Các giáo phụ gọi đây là “Hiến chương Nước Trời,” hay “con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực.

 Điều gây sốc là: những người được Chúa Giê-su tuyên bố “phúc” lại chính là những người mà thế gian thường cho là bất hạnh: nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, bị bách hại. 

Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Tám Mối Phúc là những nấc thang đưa con người lên tới hạnh phúc trọn vẹn trong Thiên Chúa.”  Chúa Giê-su không phủ nhận nỗi đau của họ, nhưng Ngài mở ra một chân trời mới, nơi đau khổ không phải là dấu chấm hết, mà là con đường dẫn tới sự sống. 

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì… 

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì trước hết phải biết nghèo khó trong tâm hồn. “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3).  Nghèo khó không chỉ là thiếu thốn vật chất, mà là không bám víu, không đặt an ninh đời mình nơi tiền bạc, quyền lực, hay cái tôi.  Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô lúc sinh thời từng nói: “Nghèo trong tinh thần là để cho Thiên Chúa chiếm chỗ trung tâm, chứ không phải cái tôi của mình.” 

Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải sống hiền lành và xót thương. “Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp” (Mt 5,5).  Hiền lành không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh của tình yêu, biết kiềm chế bạo lực, biết tha thứ.  Trong một thế giới đầy đối đầu và hận thù, người hiền lành chính là chứng nhân của Nước Trời.

 Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải chấp nhận khát khao sự công chính và sẵn sàng chịu thiệt. “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính” (Mt 5,10).  Theo Chúa không hứa hẹn cuộc sống dễ dàng, nhưng hứa ban ý nghĩa, niềm hy vọng và sự sống đời đời. 

Tóm lại: Tám Mối Phúc không phải là những khẩu hiệu đẹp treo trên tường, mà là con đường sống, là chìa khóa hạnh phúc mà Chúa Giê-su trao vào tay mỗi người chúng ta.  Hạnh phúc Ki-tô giáo không phải là tránh né đau khổ, mà là sống đau khổ trong tình yêu và niềm tin.

 Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những lo toan của cuộc sống, biết quay về với lời Chúa hôm nay, để can đảm chọn con đường hẹp của Tin Mừng.  Vì như thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã nói: “Chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm thấy hạnh phúc mà lòng mình khao khát.”  Amen. 

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

From: Langthangchieutim


 

Quyết định từ chối của bà (Tiến sĩ Frances Kelsey) đã cứu sống hàng nghìn người.

My Lan Pham

 Bà vừa nhận việc thì một hãng dược lớn đòi phê duyệt “thuốc bom tấn”.

Quyết định từ chối của bà đã cứu sống hàng nghìn người.

Tháng 9 năm 1960. Washington, D.C.

Tiến sĩ Frances Kelsey bước vào Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) trong ngày làm việc đầu tiên. Khi đó bà 46 tuổi, là một nhà dược lý học có bằng bác sĩ y khoa, và là một trong số rất ít phụ nữ làm việc trong lĩnh vực quản lý dược phẩm liên bang.

Cấp trên giao cho bà một hồ sơ tưởng chừng rất bình thường.

Một công ty dược mang tên Richardson-Merrell đang xin phép lưu hành một loại thuốc an thần mới có tên Kevadon. Hoạt chất của nó là thalidomide ,loại thuốc khi đó đã gây “cơn sốt” tại châu Âu và Canada. Các bác sĩ kê đơn rộng rãi để điều trị lo âu, mất ngủ, đặc biệt là ốm nghén ở phụ nữ mang thai. Thuốc được cho là an toàn đến mức ở một số quốc gia, người dân có thể mua không cần toa bác sĩ.

Công ty dự báo doanh thu khổng lồ tại Mỹ. Họ muốn thuốc có mặt trên kệ hiệu thuốc trước Giáng sinh. Họ tin rằng quá trình phê duyệt chỉ mất vài tuần, thậm chí vài ngày.

Họ không hề biết mình đang đối mặt với ai.

Tiến sĩ Kelsey bắt đầu xem xét hồ sơ. Bà cảm thấy có điều gì đó không ổn. Các nghiên cứu an toàn quá sơ sài. Dữ liệu về cách thuốc được chuyển hóa trong cơ thể rất mơ hồ. Đáng lo ngại nhất, gần như không có thông tin nào về tác động của thuốc đối với phụ nữ mang thai ,dù đây lại là nhóm đối tượng sử dụng chính.

Bà gửi trả hồ sơ với một dòng ngắn gọn:

“Dữ liệu không đầy đủ. Từ chối phê duyệt.”

Richardson-Merrell choáng váng. Đây không phải cách mọi thứ vẫn diễn ra. Thuốc đã được phê duyệt ở hàng chục quốc gia. Doanh thu đã lên đến hàng triệu USD. Vậy mà một viên chức FDA ,lại còn là phụ nữ ,dám chặn đường họ chỉ vì những “chi tiết giấy tờ”.

Công ty lập tức mở một chiến dịch gây áp lực dữ dội ,đủ sức khiến hầu hết mọi người phải khuất phục.

Lãnh đạo công ty gọi điện cho cấp trên của bà, yêu cầu đảo ngược quyết định. Họ đích thân đến văn phòng, dùng dáng vẻ và quyền lực để đe dọa. Họ gọi bà là “quan chức tiểu tiết”, “bới lông tìm vết” vì những điều vô nghĩa. Họ nói bà thiếu kinh nghiệm, cứng nhắc, và đang gây hại cho bệnh nhân khi giữ lại một loại thuốc có lợi.

Các tạp chí chuyên ngành cũng nhập cuộc. Báo chí ngành dược công khai nghi ngờ năng lực chuyên môn của bà. Công ty ám chỉ rằng bà đang “say quyền lực”, lạm dụng thẩm quyền mới có.

Hãy thử đặt mình vào vị trí của bà: mới đi làm, giữa một môi trường gần như toàn đàn ông trong thời kỳ phụ nữ làm khoa học thường xuyên bị xem nhẹ. Không mạng lưới hỗ trợ. Không tiền lệ. Cả ngành công nghiệp dược nói rằng bà sai. Chỉ cần ký giấy là xong. Chỉ cần tự nhủ: “Thuốc đã được phê duyệt khắp nơi rồi, chắc chắn là an toàn.”

Nhưng Frances Kelsey có một thứ không thể bị bắt nạt hay thương lượng: liêm chính khoa học.

Bà yêu cầu bổ sung nghiên cứu. Khi công ty gửi dữ liệu không đạt yêu cầu, bà lại từ chối. Hết lần này đến lần khác. Bà đặt thêm câu hỏi về các báo cáo tổn thương thần kinh ở bệnh nhân Anh sử dụng thuốc lâu dài. Bà chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong nghiên cứu. Bà kéo dài quy trình suốt 11 tháng căng thẳng, bất chấp những lời đe dọa và công kích.

Rồi tháng 11 năm 1961.

Những báo cáo đầu tiên xuất hiện từ Đức. Các bác sĩ nhận ra một mô hình kinh hoàng: trẻ sơ sinh chào đời với phocomelia ,một dị tật bẩm sinh hiếm và cực kỳ nghiêm trọng. Tay chân của các em bị teo ngắn hoặc không hình thành. Có trẻ tay chỉ dừng lại ở vai với bàn tay nhỏ như vây cá. Chân còi cọc hoặc biến mất hoàn toàn. Nhiều em còn bị tổn thương nội tạng nặng.

Con số nạn nhân tăng vọt. Và rồi mối liên hệ được xác nhận: mẹ của các em đã dùng thalidomide khi mang thai.

Sự thật lan khắp châu Âu và Australia như một cơn ác mộng. Hơn 10.000 trẻ em bị ảnh hưởng. Một nửa không sống sót qua những năm đầu đời. Những em còn sống phải đối mặt với tàn tật suốt đời. Hình ảnh những cơ thể non nớt khiếm khuyết khiến cả thế giới bàng hoàng.

Ngành dược chấn động. Các chính phủ vội vàng thu hồi thuốc. Kiện tụng bùng nổ. Sự nghiệp của nhiều người chấm dứt. Nhưng thiệt hại thì không thể đảo ngược. Cả một thế hệ gia đình bị hủy hoại.

Tại Mỹ, thảm kịch này hầu như không xảy ra.

Chỉ có một vài trường hợp do các mẫu thuốc mà công ty phát cho bác sĩ trong thời gian chờ phê duyệt. Nhưng thảm họa trên diện rộng từng tàn phá châu Âu? Nó đã không bao giờ diễn ra tại Hoa Kỳ.

Chỉ vì một người phụ nữ ngồi sau bàn làm việc đã từ chối bị khuất phục.

Năm 1962, Tổng thống John F. Kennedy mời Tiến sĩ Kelsey đến Nhà Trắng và trao cho bà Huân chương Dịch vụ Dân sự Liên bang Xuất sắc ,một trong những phần thưởng cao quý nhất dành cho công chức Mỹ. Bà là người phụ nữ thứ hai từng nhận được vinh dự này.

Nhưng với Frances Kelsey, phần thưởng lớn nhất không phải là huy chương hay sự tôn vinh. Đó là việc bà biết rằng, ở đâu đó trên nước Mỹ, hàng nghìn đứa trẻ đang chạy nhảy, vui chơi, sống trọn vẹn, mà không hề hay biết họ đã từng ở rất gần một số phận hoàn toàn khác.

Câu chuyện của bà cho thấy một điều sâu sắc về chủ nghĩa anh hùng. Nó không phải lúc nào cũng kịch tính. Đôi khi, nó rất lặng lẽ. Đôi khi, đó chỉ là ngồi trước một tập hồ sơ, nhìn vào dữ liệu chưa đầy đủ, và có đủ dũng khí đạo đức để nói “không” khi mọi người đều đang hét “có”.

Đôi khi, anh hùng là người bị cho là khó tính, cố chấp, quá thận trọng.

Đôi khi, anh hùng là người tin vào chuyên môn, trực giác và trách nhiệm với những con người mình sẽ không bao giờ gặp, hơn là tin vào những tiếng nói quyền lực đang đòi hỏi sự tuân phục.

Tiến sĩ Frances Kelsey làm việc tại FDA cho đến năm 90 tuổi. Bà dành cả sự nghiệp để bảo vệ những con người không hề biết tên bà. Và mọi đứa trẻ sinh ra khỏe mạnh tại Mỹ sau năm 1960 đều mang ơn bà ,một món nợ mà họ sẽ không bao giờ có thể hiểu hết.

Bà không chặn một viên đạn.

Bà chặn một cây bút khỏi ký vào một tờ giấy.

Và điều đó đã thay đổi tất cả.

Theo curiously Unusual Wonders

My Lan Phạm


 

‘Ngày Tận Thế’ đang đến rất gần?-Hiếu Chân/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

January 27, 2026

Hiếu Chân/Người Việt

Chỉ hai mươi ngày nữa năm Con Rắn (Ất Tỵ) sẽ đi qua, năm Con Ngựa (Bính Ngọ) sẽ đến. “Mã đáo thành công,” năm mới sẽ mang theo phúc lộc cho nhân quần xã hội, theo niềm tin truyền thống của các người gốc Á Châu như người Việt chúng ta. Tuy vậy, nhìn vào thế cục, cả trong nước Mỹ lẫn trên toàn cầu, chưa bao giờ người ta bi quan về tương lai như hiện nay.

Một di tích của trận đánh bom nguyên tử còn sót lại ở thành phố Hiroshima, Nhật Bản, từ năm 1945. (Hình mminh họa: STR/JIJI Press/AFP via Getty Images)

Theo bản tin của hãng Reuters, hôm Thứ Ba, 27 Tháng Giêng, 2026, kim “Đồng Hồ Tận Thế” đã được vặn tới một chút, chỉ còn cách thời khắc nửa đêm 85 giây đồng hồ, nghĩa là gần với nửa đêm hơn bốn giây so với năm ngoái. Đây là một lời cảnh báo đáng sợ không chỉ cho mỗi cá nhân mà cả nhân loại. Hãy tạm gác những niềm riêng để cùng suy ngẫm về tương lai chung, bởi vì suy cho cùng thế giới cũng chỉ là một ngôi làng toàn cầu trong đó mọi sinh linh đều gắn bó với nhau mật thiết.

Chỉ còn 85 giây!

Đồng Hồ Tận Thế (Doomsday Clock) không có thật mà là một công cụ tượng trưng để cảnh báo cho loài người mối nguy bị huỷ diệt bởi chiến tranh nguyên tử trên thế giới. Ý tưởng về Ngày Tận Thế hay sự hủy diệt nền văn minh xuất hiện sau khi Hoa Kỳ thả hai trái bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật vào Tháng Tám, năm 1945.

Chỉ trong chớp mắt cả thành phố sầm uất bị san phẳng, số người chết lên tới hàng trăm ngàn và hàng trăm ngàn người khác bị nhiễm phóng xạ, sống lay lắt trong bệnh hoạn, tật nguyền. Quả là không có thảm họa nhân tạo nào khủng khiếp hơn; tận thế không còn là truyền thuyết hoang đường mà đã hiển hiện ngay trước mắt.

Choáng váng vì sức hủy diệt của bom nguyên tử, năm 1947, các nhà khoa học thuộc tổ chức phi lợi nhuận Chicago Atomic Scientists do Albert Einstein và J. Robert Oppenheimer lãnh đạo đã lập ra Đồng Hồ Tận Thế để cảnh báo loài người về nguy cơ diệt vong khi các tiến bộ về khoa học và kỹ thuật không được kiểm soát.

Thời điểm tận thế được quy ước là nửa đêm, lúc kim đồng hồ chỉ 24:00. Kim đồng hồ này không chuyển động một chiều mà chạy tới hoặc lùi lại tùy vào nguy cơ chiến tranh nguyên tử và các nguy cơ hủy diệt khác tăng lên hay giảm xuống. Khi ra đời, kim Đồng Hồ Tận Thế chỉ 23:53, tức là bảy phút trước nửa đêm – khoảng cách mà nhân loại bị huỷ diệt không còn xa.

Trong tám mươi năm qua, kim Đồng Hồ Tận Thế đã dịch chuyển 26 lần vào Tháng Giêng hằng năm, trong đó tám lần lùi lại và 18 lần tiến tới. Khi Liên Xô thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên năm 1949, kim đồng hồ nhích lên 23:57 (cách 3 phút); rồi lùi xuống 23:48 (cách 12 phút) năm 1963 khi Mỹ và Liên Xô ký hiệp ước cấm vũ khí nguyên tử; tiến trở lại mức 23:57 năm 1984 khi Mỹ và Liên Xô tái chạy đua vũ trang.

Những năm gần đây, Đồng Hồ Tận Thế không chỉ cảnh báo nguy cơ chiến tranh nguyên tử mà khái niệm “hủy diệt” được mở rộng để bao hàm nhiều nguy cơ khác đe dọa sự sinh tồn của nền văn minh nhân loại. Đó có thể là hậu quả thảm khốc của biến đổi khí hậu, đại dịch, thậm chí sự ra đời và phát triển vượt tầm kiểm soát của trí thông minh nhân tạo.

Thời điểm nhân loại cách xa ngày tận thế nhất là năm 1991, kim đồng hồ chỉ 23:43 (cách 17 phút) sau khi Mỹ và Liên Xô ký hiệp định cắt giảm vũ khí nguyên tử chiến lược START-1 và sau đó là sự tan rã của Liên Xô, kết thúc Chiến Tranh Lạnh. Thời điểm cận kề Ngày Tận Thế nhất là hôm nay 27 Tháng Giêng, 2026, kim đồng hồ chỉ 23:58:35, chỉ cách nửa đêm 1 phút 25 giây!

Đây cũng là lần thứ ba trong bốn năm qua, kim Đồng Hồ Tận Thế nhích về phía trước, chứng tỏ thế giới đang vận hành theo một xu thế hết sức nguy hiểm.

Bóng ma vũ khí nguyên tử trở lại

Khi công bố hiện trạng Đồng Hồ Tận Thế năm 2026, bà Alexandra Bell, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành tổ chức Bulletin of the Atomic Scientists nhận xét: “Về rủi ro nguyên tử, trong năm 2025 không có gì diễn ra đúng hướng. Những khuôn khổ ngoại giao lâu đời hoặc đang sụp đổ, hoặc đang bị chèn ép, mối nguy thử nghiệm vũ khí nguyên tử đã quay trở lại và hiện có ba cuộc chiến tranh diễn ra dưới cái bóng của vũ khí nguyên tử cùng những mối đe dọa đi kèm. Nguy cơ sử dụng vũ khí nguyên tử đang cao một cách không chấp nhận được.”

Có ít nhất sáu cường quốc sở hữu vũ khí nguyên tử đang tham gia chiến tranh ở một mức độ nào đó: Nga xâm lược Ukraine, Mỹ và Israel dội bom Iran, Ấn Độ và Pakistan đụng độ ở biên giới, Trung Quốc gây sức ép quân sự lên Đài Loan trong khi Bắc Hàn không ngừng phô diễn năng lực nguyên tử.

Tuy chưa có nước nào đem bom nguyên tử ra sử dụng trong thực chiến nhưng đe dọa sử dụng thì nhiều. Gần đây Nga phóng loại hỏa tiễn siêu thanh Oreshnik có thể mang đầu đạn nguyên tử vào các thành phố Ukraine và bố trí loại hỏa tiễn này ở Belarus nhằm rút ngắn khoảng cách tới các thủ đô Châu Âu là một sự leo thang không thể coi nhẹ.

Rào chắn ngăn chặn sự lan tràn của vũ khí nguyên tử là các hiệp ước giữa Nga và Hoa Kỳ; hiệp ước cuối cùng đang còn hiệu lực là The New START, ký kết dưới thời Tổng Thống Barack Obama quy định mỗi nước chỉ được bố trí tối đa 1,550 đầu đạn nguyên tử. Nhưng hiệp ước New START sẽ hết hạn vào ngày 5 Tháng Hai, 2026, tức chỉ một tuần nữa. Hồi Tháng Chín, 2025, Tổng Thống Nga Vladimir Putin đề nghị cùng Mỹ gia hạn hiệp ước thêm một năm nhưng Tổng Thống Donald Trump chưa trả lời. Quan điểm của chính quyền Mỹ là mọi hiệp ước về hạn chế vũ khí nguyên tử nhất thiết phải có sự tham gia của Trung Quốc – điều mà Bắc Kinh chưa chấp nhận, lấy lý do kho vũ khí của họ còn quá nhỏ so với Nga và Mỹ.

Nếu Hiệp Ước New START hết hạn mà không có giải pháp ngoại giao nào thay thế thì Nga, Mỹ và nhiều nước khác sẽ không còn bị ràng buộc nữa.

Lựa chọn hợp lý hay rủi ro hủy diệt?

Tổng Thống Donald Trump hồi Tháng Mười năm ngoái còn ra lệnh cho quân đội Mỹ chuẩn bị nổ thử bom nguyên tử trở lại sau hơn ba mươi năm đình chỉ. Gần phần tư thế kỷ qua, trừ Bắc Hàn, không quốc gia nào nổ thử bom nguyên tử cả. Nếu Mỹ tái tục việc nổ thử bom nguyên tử đời mới thì không có gì ngăn cản các nước khác làm theo. Kẻ hưởng lợi nhiều nhất trong việc này là Trung Quốc, theo bà Bell – từng là viên chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao Mỹ phụ trách kiểm soát vũ khí và giải trừ quân bị.

Hơn thế nữa, sự kiện ông Trump đảo ngược chính sách đối ngoại đã tồn tại nhiều thập niên của Mỹ theo hướng dựa trên sức mạnh và đồng tiền, đang buộc các đồng minh, và cả đối thủ, phải tính tới chuyện tự bảo vệ trước dã tâm thôn tính của các thế lực chuyên chế Nga, Trung Quốc, Bắc Hàn.

Phát triển vũ khí nguyên tử được cho là lựa chọn hợp lý nhất. Ông Trump đổ quân bắt sống Tổng Thống Venezuela Nicolas Maduro như lấy đồ trong túi; ông cho ném bom Iran, ông doạ thâu tóm đảo Greenland của Đan Mạch… Nếu các quốc gia này có vũ khí nguyên tử như Bắc Hàn thì chắc ông Trump đã không tự tung tự tác như vậy. Ông Putin cũng chỉ xua quân xâm lược Ukraine sau khi Kiev đã từ bỏ kho vũ khí nguyên tử theo Thỏa Thuận Budapest năm 1994.

Các nước đồng minh lâu nay được che chở dưới chiếc dù an ninh của Mỹ cũng đang tính toán lại chiến lược. Ba Lan và Đức ở Châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản ở Đông Á đều đang có kế hoạch tự phát triển vũ khí nguyên tử khi nhận ra Mỹ không còn là đồng minh tin cậy mà Nga, Trung Quốc và Bắc Hàn cứ đe dọa xâm lấn. Thăm dò dư luận cho thấy 52% cử tri Đức muốn đất nước họ có vũ khí nguyên tử, con số này ở Nam Hàn là 72.8% cử tri.

Mỗi một trái bom nguyên tử ra đời là nhân loại có thêm một rủi ro đi đến sự hủy diệt.

Không thể ngủ yên!

Bà Alexandra Bell cho rằng, sở dĩ tình hình u ám như vậy là do sự thất bại trong lãnh đạo toàn cầu. Các siêu cường Mỹ, Trung Quốc, Nga càng ngày càng hung hăng, làm mọi chuyện chỉ vì lợi ích riêng của mình bất chấp sự an nguy của toàn nhân loại.

Sự sụp đổ của trật tự thế giới dựa trên luật pháp, sự tái sinh của chủ nghĩa đế quốc chẳng những thúc đẩy nhu cầu phát triển vũ khí nguyên tử mà còn ngăn cản sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết những mối đe dọa sinh tử khác như biến đổi khí hậu, đại dịch và trí tuệ nhân tạo (A.I.).

Tổng Thống Trump đã rút Mỹ ra khỏi Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) và Hiệp Ứớc Liên Hiệp Quốc về chống biến đổi khí hậu – hiện tượng mà ông coi là “trò lừa đảo xanh!”

Ở quy mô thế giới, A.I. đang được tích hợp tràn lan vào mọi lĩnh vực cuộc sống mà không được kiểm soát; đáng sợ nhất là đưa A.I. vào các hệ thống vũ khí, chẳng hạn các drone tự tìm và diệt mục tiêu theo lệnh đặt trước ở chiến trường Ukraine hiện nay.

Người ta còn lạm dụng A.I. để tạo ra các mối đe dọa sinh học mới, các mầm bệnh mới để phục vụ các mục đích chính trị. Phổ biến hơn cả là nạn sử dụng A.I. để tạo ra và phát tán tin giả, tin xuyên tạc trên quy mô toàn cầu để lũng đoạn chính trị, định hướng dư luận theo những ý đồ nguy hiểm. Riết rồi bây giờ đọc một bản tin trên mạng, nghe một bài hát hoặc xem một bộ phim người ta cứ băn khoăn không biết đó là tác phẩm thực hay chỉ là một sản phẩm do A.I. tạo ra.

Chiến tranh nguyên tử, đại dịch, trái đất nóng lên, A.I. vượt ngoài tầm kiểm soát… làm cho tương lai của loài người trở nên hết sức bấp bênh và mờ mịt!

Chưa cần nhìn cây kim Đồng Hồ Tận Thế nhích dần tới phía nửa đêm, chỉ quan sát những sự kiện đang diễn ra hàng ngày thì người ưu thời mẫn thế không thể yên lòng cho dù mùa Xuân đang gõ cửa! [kn]


 

SỢ MẤT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.

“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!” – Henry Newman.

Kính thưa Anh Chị em,

Như vậy, “chỉ điều đang lớn mới thật sự sống!”. Ý tưởng này được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay. Chúa Giêsu cảnh báo, ai ‘sợ mất’ mà giữ, thì “ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”.

Chúng ta thường nghĩ đức tin suy yếu vì những thử thách lớn; nhưng Chúa Giêsu cho thấy điều một điều khác: đức tin không lớn vì chúng không được thể hiện! Ánh sáng không tắt vì bóng tối mạnh, mà vì ‘được đặt’ dưới giường, ‘được che’ cho an toàn, như niềm tin được giữ trong vùng ít rủi ro nhất. ‘Sợ mất’ sự yên ổn, nên chúng ta né tránh những chọn lựa phải trả giá; ‘sợ mất’ các mối quan hệ, nên chúng ta im lặng trước điều cần nói; ‘sợ mất’ quyền kiểm soát, nên chúng ta chỉ để Chúa bước vào những phần đời đã được dọn sẵn. Đức tin còn đó, nhưng không còn toả lan; vẫn hiện diện, nhưng không còn sinh lực.

Vậy mà “sự sống phải tăng trưởng!”; bằng không, nó sẽ lãnh lấy một bản án rất tiềm ẩn – bắt đầu mất! Trong ánh sáng ấy, lời Chúa Giêsu vang lên như một tất yếu, chỉ khi chúng ta dám đem điều mình có ra sống, ra cho, đặt lên cao, thì Thiên Chúa mới có chỗ để ban thêm. Còn khi chúng ta giữ lại vì ‘sợ mất’, chính nỗi sợ ấy lại làm chúng ta hoá nghèo, và “Ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi!”. Khi bám vào sự an toàn, sự an toàn ấy làm chúng ta chậm bước; bám vào cái đang có, cái đang có ấy khép lại cánh cửa của điều Chúa muốn ban thêm. Và rồi, chúng ta không mất vì bị lấy đi, mà mất vì không dám trao đi. “Điều ta bám chặt vào rốt cuộc trở nên nặng hơn cả điều ta đang mang!” – Henri Nouwen.

Tin Mừng hôm nay không mời chúng ta tìm nguy hiểm, nhưng mời chúng ta tin đủ để dám sống điều mình tin. Từ đó, chúng ta có thể cho đi thời gian, sức lực, uy tín, và cả những toan tính rất riêng. Bởi lẽ, trong Nước Trời, không phải ai giữ được nhiều thì sống, mà là ai dám để sự sống lưu chuyển qua mình thì sẽ được đầy hơn; “Ai không đủ can đảm để làm nên lịch sử, sẽ trở thành đối tượng nghèo nàn của lịch sử!” – Alfred Delp. “Vì ai đã có, thì được cho thêm!”.

Anh Chị em,

“Tăng trưởng là bằng chứng duy nhất của sự sống!”. Chúa Kitô không cứu chúng ta bằng cách giữ lại sự sống, mà bằng cách làm tăng trưởng nó – hiến trao – sự sống. Ngài không chọn con đường an thân, nhưng con đường tự hiến; không giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng huỷ mình ra không. Trên thập giá, xem ra Ngài mất tất cả, nhưng chính trong sự “mất” ấy, sự sống được mở ra cho muôn người. Can đảm là chìa khoá cho chính sự sống!” – Morgan Freeman. Nếu Chúa Kitô không ‘sợ mất’ để sự sống toả lan, thì không lạ gì người môn đệ không thể lớn lên nếu cứ tìm cách giữ mình khỏi mọi mất mát!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con giữ lại vì sợ hãi, cho con biết trao đi; khi con khép lòng vì tổn thương, cho con biết mở ra; khi con chùn bước vì mỏi gối, cho con biết đứng lên và đi tới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần III Thường Niên

Mang đèn tới để đặt trên đế. Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong đấu ấy cho anh em.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 4,21-25

21 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường ? Nào chẳng phải là để đặt trên đế sao ? 22 Vì chẳng có gì che giấu mà không được tỏ lộ, chẳng có gì bí ẩn mà không được đưa ra ánh sáng. 23 Ai có tai để nghe thì hãy nghe !”

24 Người nói với các ông : “Hãy để ý tới điều anh em nghe. Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em, và còn cho anh em hơn nữa. 25 Vì ai đã có, thì được cho thêm ; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi.”


 

BỨC THƯ CỦA MỘT BÀ MẸ TỪ VIỆN DƯỠNG LÃO

Xuyên Sơn

Năm nay tôi 82 tuổi, tôi có 4 người con, 11 đứa cháu, và 2 chắt, hiện tại thì tôi đang sống trong một căn phòng rộng chừng 12m vuông..

Bây giờ nhà cửa không còn, những thứ xa hoa phù phiếm cũng không có, bù lại tôi được chăm sóc tận tình từ A đến Z; có người lo dọn dẹp phòng, chăn drap gối nệm sạch sẽ, cơm nước được lo tận nơi, mỗi ngày được đo huyết áp và cân đo thường xuyên, nói chung tôi không làm gì cả, mỗi giờ trôi đi là sự hưởng thụ trong tuổi già.

Tôi rất nhớ! Nhớ tiếng cười đùa của lũ cháu, tôi không còn thấy chúng lớn tiếng cãi vã rồi vật nhau.

Không còn được là trọng tài để phán xử đứa nào đúng, đứa nào sai.

Nhớ chúng nhiều lắm.

Tôi thèm được trở về nơi chốn cũ để tận hưởng không gian ấm áp của một thứ gọi là gia đình…

Bây giờ các con tôi, có đứa thì cách 15 ngày đến thăm tôi một lần, có đứa thì ba bốn tháng mới thấy chúng một lần, và có đứa thì chưa thấy mặt nó một lần kể từ khi tôi đến ở Viện Dưỡng Lão này.

Tôi nhớ da diết căn bếp ấm cúng của tôi, nơi đó tôi đã làm đủ các loại bánh, mùi bánh nướng thơm ngậy vẫn còn lưu giữ trong tiềm thức của tôi.

À, còn mảnh vườn sau nhà nữa, đào xới đất để trồng rau, trồng hoa cũng một tay tôi dù lúc đó tôi cũng không còn khoẻ.

Giờ thì mất hết rồi!

Tôi có sở thích đọc sách, giờ vẫn luôn có cuốn sách bên mình nhưng tôi không đọc được vì mắt đã mờ…

Tôi không biết thời gian của tôi còn bao lâu nữa, còn bao lâu thì tôi cũng phải sống trong sự cô đơn và chờ đợi…

Ở căn phòng này xem như ngôi nhà cuối đời của mình, tôi cố gắng xua đuổi nỗi buồn trong sinh hoạt hằng ngày, tôi như một nhóm trưởng,

tôi giúp những người tồi tệ hơn tôi trong giới hạn cho phép của tôi qua những mẫu chuyện vui trong sách, những lời an ủi cho họ và cho chính tôi.

Chúng tôi hát cùng nhau một bài hát cũ, và hôm sau tôi biết được người bạn phòng bên đã ra đi mãi mãi…

Họ nói bây giờ tuổi thọ kéo dài hơn.

Tại sao?

Tôi phải sống trong nỗi cô đơn dài nữa ư?

Lấp đầy sự trống trải bằng cuốn Album hình mà tôi đem theo đến đây. Hình cưới ngày xưa của tôi, hình lúc tôi sanh đứa đầu đến đứa cuối, hình tôi cười sung sướng khi ẵm đứa cháu đầu lòng, rồi đứa chắt bụ bẫm bên bà già đã đầy nếp nhăn.

Hình gia đình đầy đủ, hình lúc ông chồng già của tôi bỏ tôi đi mà về với Chúa.

Và đó là tất cả!

Nếu được mơ ước thì tôi mong các con, cháu, chắt của tôi đừng bao giờ quên hai chữ “GIA ĐÌNH” ngay cả khi cha mẹ về già, các con nên xem đó là bổn phận phải chăm lo khi họ không tự lo được cho mình…

Tôi hy vọng các thế hệ tiếp theo sẽ hiểu rằng Gia Đình là một Đại Gia Đình gồm nhiều thế hệ, gọi là sóng sau dồn sóng trước, như một chu kỳ tuần hoàn vì ai rồi cũng đến “sanh lão bệnh tử”…

Các con hãy chăm lo tốt cho cha mẹ khi họ về già… cũng giống như khi họ còn trẻ lo cho các con là chúng ta vậy…

Chi Nguyen sưu tầm

Ảnh st minh họa cho bài.


 

NGƯỜI KHÔN HIẾM KHI NÓNG NẢY: BẢN LĨNH CỦA SỰ TĨNH LẶNG VÀ NGHỆ THUẬT QUẢN TRỊ TÂM THẾ

Gieo Mầm Ơn Gọi 

Lm. Anmai, CSsR

Trong hành trình tu dưỡng của một đời người, có lẽ bài học khó khăn nhất không nằm ở việc chinh phục thế giới bên ngoài, mà chính là cuộc trường chinh chinh phục những cơn bão lòng. Người ta thường nói: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, nhưng thực tế, người khôn ngoan là kẻ biết rèn giũa bản tính ấy qua sự mài lỳ của lý trí. Họ hiếm khi nóng nảy, không phải vì họ mang trong mình một trái tim hóa đá hay một tâm hồn vô cảm trước những nghịch cảnh, mà bởi họ đã đi qua đủ những đổ vỡ để hiểu rằng: Cái giá của một phút “sướng miệng” thường là những năm tháng hối hận dài đằng đẵng. Sự nóng nảy, xét cho cùng, là một loại chất độc mà ta tự uống nhưng lại mong người khác phải chết.

Sự nóng nảy không bao giờ là biểu tượng của sức mạnh, dù đôi khi nó mang một lớp vỏ bọc đầy uy lực bằng những tiếng quát tháo hay những lời nhục mạ. Ngược lại, khi ta nổi giận, đó là lúc ta đang phơi bày toàn bộ sự bất lực của mình trước thực tại. Người khôn ngoan hiểu một chân lý sắc lạnh: Nóng nảy không làm mình mạnh hơn, nó chỉ giúp người khác nhìn thấu điểm yếu của mình. Khi bạn nóng giận, bạn đánh mất khả năng kiểm soát tình hình và trao quyền điều khiển cảm xúc của mình vào tay kẻ đối diện. Một người làm chủ được cơn giận là một người cầm lái chắc chắn nhất cho con tàu cuộc đời mình, họ không để những cơn sóng dữ cuốn phôi đi lý trí và những thành quả đã dày công xây dựng.

Chính vì hiểu rõ quy luật đó, người khôn chọn cách im lặng. Sự im lặng của họ không phải là sự hèn nhát, không phải là sự trốn tránh hay cam chịu, mà là một sự chọn lọc có ý thức. Họ hiểu rằng có những cuộc cãi vã mà thắng lợi cũng chỉ là một đống tro tàn của các mối quan hệ. Thắng một người thân để rồi mất đi tình cảm, thắng một người đồng nghiệp để rồi tạo ra kẻ thù, thắng một người lạ để rồi rước lấy sự mệt mỏi – những chiến thắng ấy thực chất là những thất bại thảm hại nhất. Họ biết buông đúng lúc để không tự phá nát cuộc đời mình chỉ vì một phút hơn thua vụn vặt.

Lời nói khi đã phát ra, giống như bát nước hất đi, không bao giờ có thể thu hồi trọn vẹn. Người khôn ngoan luôn khắc cốt ghi tâm rằng: Có những lời xin lỗi dù chân thành đến đâu cũng không thể xóa nhòa vết sẹo mà sự nóng nảy đã khắc lên trái tim người khác. Một chiếc đinh đóng vào tường rồi nhổ ra vẫn để lại lỗ thủng, một lời mạt sát nói ra rồi rút lại vẫn để lại nỗi đau thầm kín. Do đó, họ học cách “nhẫn tâm” với chính những cơn bốc đồng của mình. Họ kiềm tỏa nó, bóp nghẹt nó từ khi nó còn là một đốm lửa nhỏ trong tâm trí, không để nó bùng lên thành đám cháy thiêu rụi cả rừng xanh công đức và nhân cách.

Biết khi nào nên im lặng, biết khi nào nên quay lưng, đó chính là đỉnh cao của sự trưởng thành. Người càng từng trải càng ít nói, không phải vì họ nghèo nàn vốn từ hay không còn gì để chia sẻ, mà vì họ đã thấu hiểu giá trị của sự thinh lặng. Họ nhận ra rằng ngôn từ nếu không làm cho thế giới tốt đẹp hơn thì tốt nhất nên được giữ lại trong lòng. Họ dành thời gian để quan sát, để thấu hiểu và để cảm thông thay vì phán xét hay đáp trả bằng sự hung hãn. Họ hiểu rằng trong cuộc đời này, giữ được cái tâm bình thản giữa muôn vàn biến động mới là cách tốt nhất để giữ được cả cuộc đời.

Sự tỉnh thức trong từng hơi thở, sự chậm lại trong từng phản ứng là minh chứng cho một nội lực thâm hậu. Khi ta không còn bị chi phối bởi những kích động bên ngoài, khi ta có thể mỉm cười trước những lời khiêu khích, đó là lúc ta thực sự tự do. Người khôn ngoan biến sự nóng nảy thành sự nhẫn nại, biến sự bốc đồng thành sự thâm trầm. Họ xây dựng cuộc đời mình trên nền tảng của sự điềm tĩnh, bởi họ biết rằng một tâm hồn tĩnh lặng là một hồ nước trong vắt, nơi mà chân lý và hạnh phúc có thể soi bóng rõ ràng nhất. Cuối cùng, bản lĩnh của một con người không được đo bằng việc họ đã hạ gục bao nhiêu người, mà được đo bằng việc họ đã chế ngự được chính mình bao nhiêu lần trước những cơn bão giận.

Lm. Anmai, CSsR


 

THÁNH TÔMA AQUINÔ, LINH MỤC TIẾN SĨ HỘI THÁNH

 

Tại vương quốc Naples, người vợ quí phái của lãnh chúa Aquinô được vị tu sĩ Thánh thiện cho biết, là bà sẽ rất đỗi vui mừng vì con trẻ bà mong đợi sẽ sáng chói với sự hiểu biết khôn sánh, Người con ấy là Tôma.  Ngài sẽ là một vị thánh trong hàng ngũ các thánh.  Tôma sinh tại lâu đài Roccasecca, gần Naples khoảng năm 1225.  Được sáu tuổi cha ngài dẫn tới tu viện Montê Cassinô.  Con trẻ được dâng hiến đã hỏi:
  – Thiên Chúa là gì? 

Và các tu sĩ ngạc nhiên vì thấy con trẻ chìm đắm trong các suy ngắm (quá sớm và sáng suốt) ấy. 

Lúc mười tuổi, Ngài được gửi tới đại học Naples.  Các giáo sư đã khám phá ra dưới dáng vẻ nhút nhát của Ngài, một trí khôn thượng thặng và một đời sống siêu nhiên sáng ngời với các đức tính hiền hòa, trong trắng và đức ái của Ngài.  Trong những kỳ nghỉ tại lâu đài cùng cha mẹ, Ngài gắng sức trợ giúp người nghèo.  Điều này làm cho chủ lâu đài phiền trách Ngài.  Tình yêu của Ngài đối với người mẹ thật bao la và đã tạo nên mối dày vò suốt đời. 

Khi chưa tốt nghiệp đại học, Ngài đã quyết định vào dòng Đaminh.  Lúc ấy dòng thành lập chưa được ba năm.  Gia đình Ngài rúng động với ý tưởng một con người quý phái như vậy lại trở thành một tu sĩ dòng ăn xin.  Ngoài ra họ còn mong mỏi rằng: một ngày kia, Ngài sẽ còn làm điều gì đó, để phục hồi vận mệnh của họ bằng việc trở lại làm tu viện trưởng Montê Cassinô.  Nghe được tin, các anh của Ngài đang là sĩ quan trong quân đội, đã giận dữ.  Họ bắt Ngài trên đường đi Rôma và giam Ngài dưới chân tháp của lâu đài.  Gia đình gắng công vô ích khi nài nỉ, đe dọa và quyến rũ Tôma đổi ý.  Các anh Ngài còn dùng tới một cô gái làng chơi để hại người nữa.  Nhưng cương quyết, Tôma đã dùng cây củi cháy để xua đuổi nàng, rồi dùng than củi này vẽ lên tường hình thánh giá.  Quỳ xuống trước hình thánh giá, Tôma với nhiệt tâm mạnh mẽ hơn bao giờ hết, lập lại lời hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa.  Được hai năm, các chị Ngài đã cảm động trước sư cương nghị và những khổ cực của Ngài, đã giúp Ngài trốn qua cửa sổ bằng một cái thúng.  Các tu sĩ Đaminh đợi Ngài dưới chân tháp.

 Tôma khấn dòng ở Naples, rồi đi bộ từ Rôma tới đại học Colonia.  Trong môi trường học thức ưu việt này, Ngài cố dấu kín các bước tiến khác thường của mình như Ngài đã che kín vinh dự gia đình.  Không khi nào Ngài để cho người ta ngờ rằng mình là cháu của hoàng đế Barberoussa và là bà con của vua Frêdêric II cả.  Khiêm tốn là bà hoàng của lòng Ngài.  Ngày kia một bạn học giảng bài cho Ngài.  Tôma phải là bậc thầy của anh, đã tiếp nhận bài học với lòng biết ơn.  Đó là thói câm lặng của Toma.  Vì bình dị nên Ngài bị coi là đần độn.  Người ta gọi chàng trai to con này là con bò câm.  Nhưng thầy Albertô đã coi Ngài như một thiên tài và tuyên bố:
  – Con bò nầy sẽ rống lớn, đến nỗi những tiếng rống của nó sẽ vang dội khắp thế giới. 

Người sinh viên tài ba này đã tỏ ra dễ dạy như một trẻ em.  Tại phòng ăn, vị chủ chăn lầm lẫn, bắt Ngài sửa lại cách phát âm đã chính xác.  Lập tức Tôma sửa lại liền.  Sau bữa ăn các bạn Ngài bày tỏ sự ngạc nhiên, nhưng thánh nhân trả lời:  – Điều quan trọng không phải là cách phát âm của một từ ngữ, nhưng là biết khiêm tốn vâng phục hay không.

 Lúc hai mươi tuổi, Tôma đã được gọi làm giáo sư tại Côlônia, Ngài xuất bản một tác phẩm danh tiếng, rồi đi Paris mở trường dạy triết học ở đường thánh Giacôbê và thụ phong linh mục.  Các nhà trí thức tới hỏi ý Ngài.  Vua Luy IX xin ý kiến Ngài trong những việc hệ trọng và mời Ngài đồng ban dự tiệc.  Nhưng không hoàn cảnh nào đã làm cho Tôma chia trí khỏi những suy tư sâu xa.  Chẳng hạn tại bàn ăn của nhà vua, người ta thấy Ngài bất chợt ra khỏi sự yên lặng của mình, đập mạnh lên bàn và kêu lên:
  – Đây rồi, một luận chứng quyết liệt chống lại những người theo phái Manicheô.

 Bối rối vì quên rằng mình đang ở trước mặt vua, Ngài muốn xin lỗi, nhưng vua thánh đã truyền cho Ngài đọc ngay cho thư ký chép lại những suy tư có giá trị siêu việt đó. 

Kinh nguyện, làm việc và ý chí là những yếu tố tạo nên sức mạnh của Tôma, Ngài nói:
  – Ai không cầu nguyện thì cũng giống như người lính chiến đấu mà không có khí giới.
  – Ngài định nghĩa sự nhàn rỗi như là: Cái búa mà quân thù bửa xuống.

 Ngài trả lời cho bà chị hỏi làm sao để được cứu rỗi:  Phải muốn. 

Dầu bận việc rao giảng, dạy học và đi tới những nơi Đức Thánh Cha sai tới Thánh Tôma vẫn viết nhiều tác phẩm thành công rực rỡ.  Trong một lần hiện ra, Ngài nghe thấy thầy chí thánh nói với mình:

  – Hỡi con, con đã viết cách xứng đáng về ta, con muốn được thưởng gì?

Tôma trả lời:
  – Ôi lạy Chúa, con không muốn gì ngoài Chúa cả. 

Người ta quả quyết rằng: Ngài đã nói chuyện với Đức Trinh Nữ, các thiên thần và các thánh.  Và khi cầu nguyện tâm hồn Ngài như lìa khỏi xác.  Ngài còn được mệnh danh mãi là “Tiến sĩ thiên thần” Ngài có một tâm hồn vui tươi, nhã nhặn với anh em, đến nỗi có người nói:
  – Mỗi lần thấy và nói chuyện với Ngài, tôi thấy như tràn ngập niềm vui thiêng liêng. 

Thánh nhân đã qua mười năm tại Italia.  Một phần trong thời gian nầy ở trong giáo triều, Đức Thánh Cha Urbanô đã trao phó cho Ngài nhiều trọng trách, rõ ràng nhất là lo cải hóa người Do Thái.  Đức Thánh Cha còn muốn gọi Ngài lên chức giám mục nhưng Ngài đã từ chối.  Năm 1269 Ngài trở lại Paris để dạy thần học.  Năm 1272 Ngài được gọi về Naples để lo việc cho nhà mẹ dòng Đaminh.  Đến năm cuối đời Ngài cống hiến để hoàn tất một tác phẩm vĩ đại, bộ “Tổng luận thần học.”  Nhưng cuối năm 1273 đột nhiên Ngài ngừng viết.  Khi dâng thánh lễ, Ngài bỗng có linh nghiệm rằng mình không thể viết thêm được nữa.  Réginald, thư ký của Ngài thúc giục viết thêm, thánh nhân đã trả lời rằng: theo điều đã hiển hiện cho Ngài thì tất cả chẳng ra gì:
  –   “Vì mọi điều tôi đã viết đối với tôi chỉ là rơm rác so với điều đã được mạc khải cho tôi thấy.”

 Đức Thánh Cha Grêgôriô cho mời thầy dòng danh tiếng đến dự công đồng Lyon.  Dầu bệnh hoạn, thánh Tôma đã tuân phục và đi bộ với hai anh em để tới dự công đồng.  Đi đường lên cơn sốt.  Sức khỏe đã chận Người lại tu viện Fossa Nova.  Cảm thấy sắp chết, Ngài tuyên xưng đức tin và khi rước lễ, Ngài nói:
  –  Tôi tin vững rằng: Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật trong bí tích này, con thờ lạy Chúa, ôi Thiên Chúa, đấng cứu chuộc con”. 

Ngài qua đời năm 1274, khi mới 49 tuổi.  Ngài qua đời đơn sơ và dịu hiền của một trẻ em không ngừng chiêm ngưỡng Thiên Chúa. 

Năm 1328, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXII tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.  Năm 1567, Ðức Piô V lại phong ngài làm tiến sĩ Hội Thánh với biệt hiệu “Tiến Sĩ Thiên Thần.”  Ðến năm 1880, Ðức Lêô XIII đặt ngài làm quan thầy các trường Công Giáo. 

Nguồn: https://www.tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim