Nghiện cờ bạc (Kỳ 12): Nên nói gì với con

Ba’o Nguoi-Viet

July 17, 2026

Mục này chỉ nhằm giải đáp các thắc mắc về sức khỏe mang tính tổng quát. Cho các vấn đề cụ thể, chi tiết của từng bệnh nhân, xin liên lạc với bác sĩ để được thăm khám trực tiếp.

Nhiều thông tin thiết thực và bổ ích khác về sức khỏe cũng được phát trên đài 106.3 FM ở vùng Orange County, California, vào mỗi sáng Chủ nhật từ tám đến chín giờ, trong chương trình Radio Sống Vui (nghe trên radio hay vào Google hay Youtube, search Radio Song Vui https://www.youtube.com/@radiosongvui)

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

Điểm quan trọng là “nói chuyện,” không phải chỉ “ra lệnh.” Một đứa trẻ được giúp hiểu cơ chế thì có cơ hội học cách tự bảo vệ mình. (Hình minh họa: Vitaly Gariev/Unsplash)

Tối hôm đó, người mẹ không la.

Bà cũng không giật chiếc iPad khỏi tay con.

Có lẽ bà cũng chưa biết phải làm gì.

Nhưng sau khi dọn bếp xong, khi cậu bé ra lấy nước, bà hỏi nhẹ:

“Hồi nãy con nói đồ hiếm. Mẹ vẫn chưa hiểu. Nó hiếm vì đẹp hơn, hay vì ít người có?”

Cậu bé hơi ngạc nhiên.

Có lẽ em không ngờ mẹ vẫn còn nhớ.

“Nó ít người có.”

“Nếu không mở được thì sao?”

“Thì mở tiếp.”

“Nếu mở nhiều lần vẫn không có?”

Cậu bé im một chút.

“Thì… chắc là con tức.”

“Mà lúc chưa mở, con thấy vui hơn, hay lúc mở xong thì vui hơn?”

Lần này cậu bé không trả lời ngay.

Câu hỏi ấy không phải để bắt lỗi.

Không phải để cấm đoán.

Nó chỉ giúp đứa trẻ nhìn lại cảm giác của chính mình.

Đó là một cách nói chuyện rất khác.

Thay vì nói:

“Con nghiện game rồi.”

Có thể hỏi:

“Điều gì khiến con thích nhất ở trò chơi này?”

Thay vì nói:

“Mấy cái này vô bổ.”

Có thể hỏi:

“Nếu không có phần mở hộp, con còn thích game này như vậy không?”

Thay vì nói:

“Ba mẹ cấm.”

Có thể nói:

“Ba mẹ muốn hiểu vì sao trò chơi này lại hấp dẫn con đến vậy.”

Một câu hỏi đúng đôi khi có sức mạnh hơn cả một bài giảng dài.

Nó không làm đứa trẻ xấu hổ.

Nó mời đứa trẻ cùng suy nghĩ.

Khoa học và sự dịu dàng

Các nhà nghiên cứu đã ghi nhận mối liên hệ giữa việc mua loot box và nguy cơ mắc các vấn đề cờ bạc, đặc biệt ở thanh thiếu niên và người trẻ. Những nghiên cứu này không nói rằng mọi đứa trẻ mua loot box sẽ trở thành người nghiện cờ bạc. Đó sẽ là một kết luận quá đơn giản và không công bằng.

Nhưng chúng nhắc rằng các cơ chế phần thưởng ngẫu nhiên trong trò chơi có nhiều điểm giống với cờ bạc, đặc biệt ở chỗ người chơi bỏ tiền hoặc tài nguyên để nhận được một kết quả không biết trước. Vì vậy, nhiều tổ chức y tế và phòng ngừa nghiện khuyến cáo cha mẹ nên hiểu rõ các cơ chế này, đặt ra giới hạn hợp lý và trò chuyện với con sớm hơn.

Điểm quan trọng là “nói chuyện,” không phải chỉ “ra lệnh.”

Một đứa trẻ bị cấm mà không hiểu lý do có thể chỉ học cách giấu.

Một đứa trẻ được giúp hiểu cơ chế thì có cơ hội học cách tự bảo vệ mình.

Đó là mục tiêu lớn hơn của giáo dục.

Không phải tạo ra một đứa trẻ luôn làm đúng khi có cha mẹ bên cạnh.

Mà là giúp em có đủ hiểu biết để chọn đúng khi cha mẹ không có mặt.

Sống chung với bão

Chúng ta đang sống trong một thời đại rất lạ.

Một đứa trẻ có thể học đàn trên YouTube.

Học toán với AI.

Nói chuyện với bạn bè ở nửa vòng trái đất.

Đọc sách, vẽ tranh, làm phim, viết nhạc, tất cả trên một chiếc điện thoại.

Cũng trên chiếc điện thoại đó, em có thể bị kéo vào game, mạng xã hội, cá cược trá hình, quảng cáo nhắm mục tiêu, hoặc những phần thưởng ngẫu nhiên mà ngay cả người lớn cũng khó cưỡng lại.

Vậy phải làm sao?

Không thể đưa trẻ trở lại một thế giới không có điện thoại.

Cũng không nên dạy trẻ sợ hãi công nghệ.

Điều cần thiết hơn là giúp trẻ hiểu thế giới kỹ thuật số giống như dạy trẻ hiểu đường phố.

Một con đường có thể đưa ta đến trường, đến thư viện, đến nhà người thân.

Nhưng đường phố cũng có xe chạy nhanh, ngã tư nguy hiểm, người lạ, bảng quảng cáo, và những nơi không nên vào.

Không ai vì đường phố nguy hiểm mà nhốt con trong nhà mãi.

Nhưng cũng không ai để con băng qua xa lộ mà không dạy con cách nhìn đèn xanh đèn đỏ.

Môi trường ảo cũng vậy.

Cần được hiểu.

Cần được hướng dẫn.

Cần có luật lệ trong gia đình.

Và cần những cuộc trò chuyện đủ bình tĩnh để trẻ không thấy cha mẹ là kẻ thù của niềm vui.

Điều gia đình có thể làm ngay hôm nay

Có thể bắt đầu bằng một việc rất nhỏ.

Tối nay, khi thấy con chơi game, đừng hỏi ngay:

“Con chơi bao lâu rồi?”

Hãy thử hỏi:

“Trò này có gì hay vậy con?”

Rồi lắng nghe thật sự.

Sau đó, khi có cơ hội, hỏi tiếp:

“Trong trò này có phần nào phải mua mà không biết trước sẽ nhận được gì không?”

Nếu có, đó là lúc để giải thích rất nhẹ:

“À, cái đó giống như một hộp may rủi. Không phải con sai khi thích nó. Nhưng mình nên hiểu rằng nó được thiết kế để khiến mình muốn mở thêm.”

Một câu như vậy không làm mất niềm vui của trẻ.

Nó chỉ bật lên một ngọn đèn nhỏ trong đầu em.

Và nhiều khi, giáo dục bắt đầu chỉ bằng một ngọn đèn nhỏ như vậy.

Điều đáng để suy nghĩ

Có lẽ điều nguy hiểm nhất của thế giới hôm nay không phải là việc trẻ em biết dùng công nghệ quá sớm.

Mà là người lớn hiểu công nghệ quá muộn.

Khi không hiểu, ta dễ sợ.

Khi sợ, ta dễ cấm.

Khi cấm mà không giải thích, đứa trẻ dễ giấu.

Và khi một đứa trẻ bắt đầu giấu, gia đình mất đi điều quý nhất trong việc giáo dục: sự tin cậy.

Một mái nhà lành mạnh không phải là nơi không có màn hình, không có game, không có bất đồng giữa các thế hệ.

Một mái nhà lành mạnh là nơi khi một đứa trẻ mở được “đồ hiếm,” em vẫn còn muốn quay sang kể cho mẹ nghe.

Và người mẹ, dù chưa hiểu hết, vẫn đủ bình tĩnh để hỏi:

“Đồ hiếm là gì vậy con?”

Có khi, chính câu hỏi nhỏ đó là bước đầu để cả nhà hiểu nhau hơn. [dt]

(Kỳ tới: Khi người lớn vô tình dạy trẻ đánh cược cuộc đời)


 

Bốn cái bẫy mà ma quỷ thường bày ra cho chúng ta khi cầu nguyện

Niềm Vui Tin Mừng

 Những trò gạt gẫm của ma quỷ rất phổ biến: khi cầu nguyện, tất cả mọi người, cách nào đó luôn gặp phải điều này. Dưới đây là một số lời khuyên hữu ích để tránh những cái bẫy của ma quỷ khi cầu nguyện trong bình an.

Tên cám dỗ làm mọi thứ để ngăn cản con người cầu nguyện. Vì vậy, thật khó để chúng ta không rơi vào cám dỗ. Chúng ta hãy mở to đôi mắt để cố gắng nhận ra những lời dối trá, để mình không bị ma quỷ lừa bịp.

Bẫy số 1 : “cầu nguyện thật vô ích”

Nếu dựa vào những tiêu chuẩn thông thường của chúng ta về tính hiệu quả của cầu nguyện, thì thực sự cầu nguyện không giúp được gì cả. Theo quan điểm của con người, cầu nguyện là lãng phí thời gian. Đây là câu hỏi lớn mà các tu sĩ nam nữ nêu ra cho thế giới xung quanh họ: đời sống cầu nguyện giúp được gì cho những người này? Dưới cặp mắt của nhiều người thì cuộc sống của họ xem ra quá lãng phí.

Chúng ta thường mắc cùng một sai lầm này khi từ bỏ việc cầu nguyện với lý do chúng ta có quá nhiều việc phải làm. Bởi vì chúng ta đặt mình vào cái luận lý về hiệu suất, thay vì theo luận lý của tình yêu. Trái lại, nếu biết suy nghĩ một chút, chúng ta sẽ thấy trong cuộc sống dường như những thứ xem ra vô dụng nhất thực ra là những thứ quí giá nhất; chẳng hạn như cưng chiều một đứa trẻ, hôn vợ hoặc chồng, chiêm ngắm một phong cảnh đẹp. Cầu nguyện có vẻ vô ích, nhưng thực ra đó là điều tuyệt đối không thể thiếu.

Bẫy số 2: “Bạn không biết cầu nguyện”

Kẻ thù tăng thêm nhiều lý lẽ để cho chúng ta thấy rằng cầu nguyện quá khó đối với chúng ta, rằng chúng ta cần được đào tạo trước khi bắt đầu cầu nguyện… Ngay cả trong trường hợp này, quả thực, chúng ta không biết cầu nguyện. Lời cầu nguyện của chúng ta đầy lơ đãng, đầy những tìm kiếm lợi lộc cho riêng mình, đầy những bất trung và hàng nghìn những cái bất toàn khác. Rồi sao? Có người cha nào khi bồng đứa trẻ sơ sinh trên tay, đứa bé bắt đầu bập bẹ và tươi cười, đặt nó ngay ngắn lại rồi ông nói với nó : “Khi nào con biết nói thì hãy nói chuyện với cha?”. Tất nhiên là không! Trái lại, ông sẽ cảm động và ngạc nhiên trước những lời nói bập bẹ đầu tiên này. Điều đó thật giá trị đối với những bậc cha mẹ trên trần gian, thậm chí còn giá trị hơn trước mặt Thiên Chúa của chúng ta.

Bẫy số 3: “Bạn sẽ cầu nguyện khi có thời gian”

Nếu chúng ta đợi đến khi có thời giờ để cầu nguyện, chắc chắn một điều chúng ta sẽ không bao giờ cầu nguyện, bởi vì chúng ta sẽ có muôn nghìn việc rất khẩn thiết để làm. Nếu hôm nay chúng ta có ý cầu nguyện, nhưng không biết thiết đặt thời gian cụ thể, nguy cơ chúng ta sẽ đi ngủ vào buổi tối mà không tìm thấy dù chỉ một phút để tự mình xắp xếp.

Người cầu nguyện thường xuyên không nhất thiết là người có nhiều thời giờ rảnh rỗi, mà là người quyết định dành thời giờ cho việc cầu nguyện. Đó là một chọn lựa. Vậy ưu tiên của chúng ta là gì? Chúng ta muốn đặt việc cầu nguyện làm trung tâm của đời sống không hay chúng ta coi đó như là điều xa xỉ, không bắt buộc? Nếu đó là điều cần thiết thì nó phải được xếp vào hàng đầu tiên trong lịch trình hằng ngày của chúng ta.

Bẫy số 4: “Công việc của tôi đã là cầu nguyện”

Ma quỷ thì thầm vào tai chúng ta: “Nếu bạn làm việc hết lòng, dâng công việc của bạn cho Chúa, vì vậy bạn sẽ được miễn cầu nguyện”. Thực may mắn cầu nguyện không phải là cách duy nhất để đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa, để được ở gần và phục vụ Chúa. Nếu không chúng ta sẽ chỉ dành một phần nhỏ trong ngày của chúng ta cho Chúa. Tuy nhiên, nếu chúng ta không cầu nguyện thật lòng, không biết dừng lại trong ngày, chúng ta sẽ khó mà cầu nguyện trong mọi lúc. Chúng ta có thể thành công cầu nguyện trong khi làm việc, nếu từng ngày chúng ta biết học cách cầu nguyện ngay cả khi không làm gì cả.

Edifa/Aleteia

G.Võ Tá Hoàng chuyển ngữ


 

Ý Kiến quanh vụ ÔNG NGUYỄN THÀNH NAM bị bắt theo Điều 117 Bộ luật Hình sự-Trương Nhân Tuấn

Trương Nhân Tuấn


Ngày 7/7/2026, báo chí Việt Nam đưa tin ông Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” bị bắt, bị khởi tố

Ông Nguyễn Thành Nam là ai? Là một trong những người sáng lập và là cựu Tổng Giám đốc FPT, Phó Chủ tịch HĐQT trường Đại học FPT, tham gia giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Khoa học và Giáo dục Khai phóng (VinUniversity). Theo báo chí, ông Nam đã bị Công an thành phố Hà Nội khởi tố về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự của nước này.

Nguyên do là từ cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng”. Ông Nguyễn Thành Nam đã viết về ông Hồ Chí Minh với cách nhìn và ngôn ngữ “đời thường, hiện đại, phù hợp với giới trẻ”, khác với cách nhìn và ngôn ngữ nghiêm túc, ca ngợi, tô hồng như từ trước đến nay. Khi cuốn sách vừa ra mắt trong tháng 4/2026, nhiều ý kiến đã khen ngợi, trong đó có ông Nguyễn Quang Thiều nhà văn, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhận định rằng tác phẩm giúp người đọc tiếp cận hình ảnh Hồ Chí Minh một cách gần gũi hơn. Nhưng sau đó thì cuốn sách bị những người có quan điểm bảo thủ chỉ trích, lên án rằng sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm, bôi nhọ hình ảnh “lãnh tụ” Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo ĐCSVN. Nhiều tờ báo đã rút lại những bài viết khen ngợi. Cuốn sách bị thu hồi, NXB Hội Nhà Văn–nơi xuất bản cuốn sách, bị phạt 100 triệu đồng, buộc tiêu hủy toàn bộ sách đã in, bị đình chỉ hoạt động 2 tháng, Và nay thì ông Nguyễn Thành Nam chính thức bị bắt, bị khởi tố.

Điều đáng nói là ông Nguyễn Thành Nam từ trước đến giờ hoàn toàn không phải là một người bất đồng chính kiến mà là một người sinh ra, lớn lên, thành đạt và có cuộc sống khá là viên mãn trong chế độ XHCNVN, thậm chí còn giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh như vừa nêu ở trên.

*****

Với tư cách một người Việt nam luôn trăn trở với tình hình đất nước, tôi cho rằng việc buộc hành vi biên soạn, tàng trữ và phát tán tác phẩm “Chuyện với Thanh –Lời kể mới về ánh sáng” của Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự vào tội danh “Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một sự áp đặt khiên cưỡng, chưa đánh giá đúng bản chất hành vi và sự xung đột sâu sắc với các cam kết quốc tế về Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) mà Nhà nước Việt Nam đang xây dựng.

Tôi trân trọng đề xuất bốn (04) luận cứ nhằm làm rõ tính khách quan, khoa học và tinh thần xây dựng của các bị cáo:

  1. Bản chất của tác phẩm Chuyện với Thanh là “nghiên cứu khoa học lịch sử đa chiều”, không phải “xuyên tạc, chống phá”.

Cáo trạng buộc tác phẩm có nội dung bôi nhọ đời tư Chủ tịch Hồ Chí Minh và hạ thấp lịch sử cách mạng. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chính trị và sử học hiện đại, lịch sử không phải là một giáo điều bất biến, mà là một tiến trình liên tục được bổ sung bằng tư liệu và góc nhìn mới.

Về vấn đề đời tư lãnh tụ: Việc tiếp cận đời tư của các nhân vật lịch sử dưới góc nhìn nhân văn, đời thường – loại bỏ lớp sương mù huyền thoại (thánh hóa) của giai đoạn chiến tranh tuyên truyền – là xu thế tất yếu của thời đại hội nhập. Khái niệm cán bộ “agitprop” (xách động và tuyên truyền) hay việc sử dụng các bút danh như Trần Dân Tiên, T.Lan, CB… để tự thuật trong bối cảnh những năm 1940-1950 là những sự thật lịch sử đã được giải mật và thảo luận rộng rãi trên thế giới. Việc các bị cáo hệ thống hóa các dữ kiện này dưới hệ qui chiếu mới hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu học thuật, không chứa đựng động cơ bôi nhọ hay ác ý chính trị.

Về tính khách quan của lịch sử cách mạng: Tác phẩm chỉ ra những khoảng trống quyền lực (Power Vacuum) trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự thỏa hiệp chính trị tất yếu với Hoa quân Tưởng Giới Thạch để lập Chính phủ Liên hiệp năm 1946, hay vai trò quyết định của nguồn viện trợ quân sự từ Moscow và Bắc Kinh sau năm 1949. Đây là những sự thật địa chính trị phản ảnh tương quan lực lượng thời Chiến tranh Lạnh. Nếu không có đòn bẩy quân sự từ khối Cộng sản, một quốc gia chưa tự chế tạo được vũ khí như Việt Nam không thể giành chiến thắng trước các siêu cường cơ giới hóa. Khẳng định điều này là tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, chứ không phải phủ nhận xương máu của cha ông.

  1. Tính chính danh của Đảng CSVN và Nhà nước hiện nay đến từ “hiệu năng đổi mới”, không phụ thuộc vào việc kể lể công lao quá khứ. Cơ quan công tố đang sử dụng “hệ qui chiếu thời cách mạng” để bảo vệ một tính chính thống lịch sử tuyệt đối. Lập luận này hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế phát triển của đất nước:

Tính chính danh tối cao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thế kỷ 21 không còn nằm ở vị thế “có công đánh Pháp đuổi Mỹ giành độc lập” của quá khứ năm 1945 hay 1975, mà đến từ chính sách Đổi mới (1986).

Bản chất của Đổi mới là việc Nhà nước dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, sửa chữa các sai lầm của giai đoạn trước, xây dựng lại nền kinh tế thị trường, thừa nhận quyền sở hữu tư nhân và mở cửa hội nhập, những điều mà cuộc cách mạng vô sản thời kỳ đầu từng tìm cách xóa bỏ.

Do đó, một tác phẩm đặt ra các câu hỏi phản biện về giai đoạn lịch sử cũ, mục tiêu hiển nhiên là thiết lập lại những thảo luận cay đắng của những lãnh đạo tiền bối trong lúc lúc họ băn khoăn đứng trước bản lề “đổi mới”: hội nhập để phát triển hay là cố thủ rồi sụp đổ. Sự thành công trong hội nhập đã giúp thể chế hiện nay đứng vững, bằng năng lực quản trị kinh tế và sự ổn định xã hội ở hiện tại, chớ không hề đến từ việc ca tụng những hình tượng vô tri trong lịch sử.

Việc kết tội các bị cáo bằng hệ tư tưởng cũ là sự thụt lùi so với chính tinh thần “đổi mới” của đất nước, đặc biệt, là một hành vi đi ngược lại tinh thần khai phóng để đưa “đất nước vươn mình” của ông Tô Lâm.

  1. Sự mâu thuẫn với Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) trong thời kỳ đất nước hội nhập vào dòng chảy quốc tế.

Việt Nam hiện nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện với hơn 190 quốc gia, là thành viên của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các định chế luật pháp quốc tế. Điểm tựa chính thống pháp lý của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đến từ sự thừa nhận của luật pháp quốc tế toàn cầu.

Một trong những cột trụ của hội nhập quốc tế là Tinh thần Trọng luật (Rule of Law), đòi hỏi luật pháp phải rõ ràng, minh bạch và bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền tự do nghiên cứu và tự do ngôn luận.

Việc áp dụng Điều 117 BLHS với những khái niệm định tính mơ hồ như “tuyên truyền thông tin nhằm chống Nhà nước” để hình sự hóa một công trình nghiên cứu sử học sẽ gửi đi một thông điệp tiêu cực tới cộng đồng quốc tế. Nó tạo ra một nghịch lý: Việt Nam muốn hội nhập toàn cầu về kinh tế, chấp nhận luật chơi chung về vật chất, nhưng lại dùng luật thời chiến để “treo cổ” tư duy lý luận. Sự thiếu đồng bộ này làm tổn hại đến uy tín quốc gia và tính chính danh pháp lý quốc tế mà Nhà nước đã dày công xây dựng.

  1. Hoàn toàn không có “Hậu quả nguy hại cho xã hội”

Để cấu thành tội phạm theo tinh thần của luật pháp tiến bộ, hành vi phải gây ra nguy cơ hoặc hậu quả nhãn tiền, nguy hại cho xã hội.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự là những trí thức, nhà khoa học hoạt động thuần túy trên giảng đường, bằng các trang sách. Tác phẩm của họ chỉ được lưu hành trong phạm vi hẹp của giới nghiên cứu và những người quan tâm đến lịch sử.

Tác phẩm không hề kêu gọi bạo loạn, không kích động lật đổ chính quyền, không phá hoại an ninh, trật tự công cộng. Một cuốn sách dày tính học thuật không thể lật đổ một chế độ có hệ thống luật pháp và quân đội vững mạnh. Việc hình sự hóa một cuộc thảo luận học thuật bằng án tù là một biện pháp không tương xứng (disproportionate), vi phạm nguyên tắc nhân văn của pháp luật.

Kết luận:

Nếu chúng ta muốn có một xã hội “tự lực tự cường”, chúng ta cần những trí thức dám tư duy phản biện. Nếu chúng ta muốn có một nhà nước trọng luật thực sự để ngẩng cao đầu hội nhập với thế giới, chúng ta không thể sợ hãi trước những góc nhìn lịch sử khác biệt.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự không chống lại Nhà nước; họ chỉ đang thực hiện quyền và nghĩa vụ của một người trí thức: dùng hệ qui chiếu của thời đại mới để soi rọi lại quá khứ, giúp quốc gia hiểu rõ hơn về chính mình để bước tiếp.

Nhưng những luận cứ trên tôi hy vọng các cơ quan hành pháp và tư pháp Việt Nam sẽ áp dụng tinh thần thượng tôn pháp luật, đình chỉ vụ án, trả tự do cho Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các nhân sự liên quan, khép lại một vụ việc đáng tiếc để bảo vệ uy tín hội nhập của nước nhà.

Trương Nhân Tuấn


 

Nhật Bản và Việt Nam…- Thái Hạo

Thái Hạo

Cách đây mấy ngày, thấy có tờ báo đăng tin hai thanh niên Nhật Bản bị bắt vì tội… dùng đũa cá nhân để gắp gừng trong chiếc lọ đựng gia vị trên bàn ăn của một nhà hàng, rồi quay clip và post lên mạng xã hội. Chủ quán báo cảnh sát, vì hành động “mất vệ sinh” này làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ! Thôi, chắc không cần bình luận nữa về sự nghiêm ngặt của luật pháp xứ ấy.

Tình cờ là cũng hôm trước, tôi có mấy người bạn ghé chơi, trong đó có 2 người mới từ Nhật về nước. Một ông nói, đi 7 năm, về Việt Nam hai tháng rồi nhưng vẫn bị “sốc nhiệt”. Tôi hỏi vì sao bên đó đang làm ăn ngon lành thế mà lại về làm gì.

– Bị đuổi về. Vi phạm pháp luật.

Anh ta kể rằng, buôn xe hơi , mua phải một chiếc xe ăn cắp, bị bắt và giam 15 ngày, sau khi điều tra, kết luận đúng là mua nhầm chứ không phải tự mình ăn cắp, thì được thả nhưng trục xuất luôn.

Lạ là, dù bị bắt tạm giam, nhưng việc đầu tiên là cảnh sát hỏi về thực đơn và thói quen ăn uống của mình, thích ăn những món gì, khẩu vị ra sao…, có nhu cầu gì thay đổi về đồ ăn thì cứ “yêu cầu”, họ phải đáp ứng hết. Bị giam nhưng nhiều lúc quên mất là mình đang phạm tội, vì nào là kêu bật điều hòa, tăng nhiệt độ, giảm nhiệt độ, rồi nói đi mua thứ này, đi lấy thứ kia…, cảnh sát chỉ việc “ngoan ngoãn” làm theo yêu cầu. Không bao giờ có chuyện to tiếng hay tỏ thái độ bất lịch sự với mình, chỉ một lòng cúc cung “phục vụ”.

“Hết 15 ngày sau khi đã có kết luận thì được thả, về toà Đại sứ đang chuẩn bị lên đường hồi hương theo lệnh của chính quyền Nhật thì có người của sở cảnh sát tới, mang theo một chiếc áo. Chiếc áo này tôi bỏ quên ở chỗ giam giữ. Mà thực ra cũng chẳng phải bỏ quên, áo rẻ tiền, lại cũ rồi, vứt đi chứ lấy làm gì. Nhưng họ phái 3 cảnh sát mang tới tận nơi, hỏi có phải áo của anh không, giao lại đường hoàng rồi mới đi”.

Ở Nhật, nếu vì lý do nào đó mà anh “ngủ bờ ngủ bụi” thì sẽ có cảnh sát đứng canh cho ngủ, không để ai làm phiền, khi nào anh tỉnh dậy họ có làm gì mới làm, tuyệt đối không quấy rầy giấc ngủ của anh, chỉ tận tụy đứng đó, giữ đồ và “canh giấc ngủ” cho anh!

Ông bạn này còn kể, có một ông già độc thân, cứ thi thoảng lại ăn trộm ít trái cây trong vườn nhà hàng xóm, để được đi tù! Thế là cứ ra tù là lại liền ăn trộm, vì ở trong tù sướng hơn ở ngoài nhiều. Trong đó, được chăm sóc tận tình và đối xử tử tế. Ở Nhật, cảnh sát và người nhà nước đúng nghĩa là “đầy tớ” luôn. Thử vi phạm giao thông mà xem, cứ ngồi trong xe bật điều hòa mát, họ tới ăn nói lễ phép, chỉ thiếu khúm núm xin được kiểm tra nữa thôi. Không bao giờ có chuyện hách dịch kiểu như ở Việt Nam, chứ đừng nói chuyện vòi tiền…

Anh ta nói, ở Nhật đúng là có hơi “phát xít” thật, vì quy tắc rất nghiêm, cái gì cũng phải nhất nhất tuân thủ, nhưng quyền con người cao lắm, không ai được nhân danh nhà nước để xúc phạm hay đối xử thô bạo với anh, dù anh có phạm tội gì đi chăng nữa.

Còn một chuyện lạ đời này nữa: Ví dụ, người dân trồng vài cây trái trong vườn nhưng chính yếu để cho đẹp chứ rất ít khi ăn, thường để rụng đầy gốc, rồi ra siêu thị mua về dùng. Lý do là cây trái tự mình trồng thật đấy, nhưng vẫn không “chắc ăn”, cứ ra cửa hàng hay siêu thị mua về, ăn nếu lỡ có vấn đề gì thì có chỗ mà bắt đền. Thực phẩm trên thị trường Nhật gần như tuyệt đối an toàn, và nếu có nơi nào bán đồ mà ăn vào “có vấn đề gì” thì chỗ đó chỉ có điêu đứng. Oái oăm thay, ở ta mà muốn bán được hàng thì phải kèm theo câu “nhà làm”…

Những chuyện lan man không đầu không đuôi như thế nhưng cứ làm hiện dần lên hình ảnh của hai đất nước, như thuộc về hai cõi khác nhau. Đến bao giờ chúng ta mới có được một xã hội vừa nghiêm khắc nhưng lại cũng rất tự do và nhân văn, không còn coi “Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay”* mà vụ án cô giáo Dung vừa minh họa một cách hùng hồn?

Ông bạn bảo, 200 năm nữa, may ra…

Thái Hạo

*****

Lời thơ cô giáo Trần Thị Lam:

“Đất nước mình lạ quá phải không anh

Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ

Những dự án và tượng đài nghìn tỉ

Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…”


 

Tha thứ cho người khác không phải là xóa bỏ quá khứ của họ

Học viện Wecap

  Nelson Mandela (1918–2013) là lãnh tụ chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. Ông bị chính quyền da trắng giam cầm suốt 27 năm, trong đó phần lớn thời gian là ở nhà tù khắc nghiệt trên đảo Robben. Ông phải làm công việc khổ sai đập đá hằng ngày, bị đối xử bất công và chịu sự giám sát chặt chẽ của những viên cai ngục da trắng hung dữ.

Trong số các cai ngục có Christo Brand – một thanh niên da trắng được giáo dục để coi người da đen là kẻ thù. Nhưng thay vì đáp lại bằng sự căm hờn, Mandela đã chọn cách đối xử với Brand bằng một lòng trắc ẩn sâu sắc. Ông không xem Brand là kẻ thù, mà xem anh là một con người đang bị vơ vét bởi tư tưởng phân biệt chủng tộc. Ông trò chuyện, hỏi thăm gia đình Brand, chia sẻ những bài học cuộc sống một cách chân thành.

Sự tử tế và nội lực tĩnh lặng của Mandela đã hoàn toàn chuyển hóa Christo Brand. Từ một kẻ coi ngục lạnh lùng, Brand trở thành người bạn thân thiết, lén mang sách báo và giúp đỡ Mandela trong những ngày tháng tăm tối nhất.

Vào ngày 11 tháng 2 năm 1990, khi bước qua cổng tù để trở thành Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, Mandela đã phát biểu một câu triết lý bất hủ: “Khi tôi bước ra khỏi cánh cổng tù để đi đến sự tự do, tôi biết rằng nếu mình không để lại sự đố kỵ và lòng hận thù ở lại phía sau, thì tôi vẫn đang ở trong tù.”

Trong cuộc sống, khi bị ai đó đối xử bất công, lừa dối hay xúc phạm, chúng ta thường ôm giữ sự oán hận trong lòng. Chúng ta nghĩ rằng giận dữ là cách để trả đũa kẻ thù, nhưng thực chất, sự oán hận giống như việc ta tự uống độc dược rồi chờ đợi người khác chết. Tỉnh thức là khi bạn dũng cảm buông bỏ sự oán hận. Tha thứ cho người khác không phải là xóa bỏ quá khứ của họ, mà là cởi trói cho chính tâm hồn bạn, để bạn bước tiếp vào tương lai với một tâm thế tự do.

HỌC VIỆN WECAP | Hiểu mình – Sửa mình để bình an và hạnh phúc

#wecap #chuyenhoatamthuc


 

THÁNH MARIA MADALENA – Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

 Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

Các giáo phụ đã tranh luận và các nhà chú giải vẫn còn tìm hiểu xem Giáo hội có kính nhớ ba thánh nữ dưới cùng một danh xưng Maria Madalena hay không.
Người thứ nhất là một người nữ tội lỗi.  Khi Chúa Giêsu vào nhà ông biệt phái Simon, một tội nhân vô danh đã được ơn tha tội, nhờ tình yêu bà bày tỏ trong việc xức dầu thơm vào chân Chúa rồi lấy tóc mà lau (Lc 7, 36-39). 

Đàng khác, cũng chính việc Thánh sử Luca (Lc 7, 43-48) đã nói đến Maria Madalêna được Chúa Giêsu trừ quỷ cho.  Thánh nữ là một trong số phụ nữ đã theo Chúa trong các cuộc hành trình của Người.  Hiện diện trên đồi Calvê, ngài cũng thuộc số các bà đem dầu thơm đến mồ xức xác Chúa.  Ngài là người đầu tiên báo tin cho các môn đệ biết ngôi mộ trống.  Trở lại mộ ngay sau đó, ngài đã thấy và nói chuyện với các thiên thần.  Sau cùng, ngài đã nhận ra Đấng Phục Sinh mà thoạt đầu ngài tưởng là một bác làm vườn (Ga 20, 1-18). 

Maria Bêtania, là chị em của Matta và Lazarô đã ngồi dưới chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người, trong khi Matta bận rộn chuẩn bị bữa ăn.  Thế mà ngài là người đã chọn phần tốt nhất, phần chiêm niệm (Lc 10,38-42).  Khi Chúa Giêsu đến cứu sống Lazarô, thánh nữ vẫn giữ một phần tương tự.  Ngài ngồi tại nhà cho tới khi Matta kêu ngài tới gặp “Thầy.”  Ít ngày sau, ngài đã xức dầu Chúa Giêsu (Mt 26,6-13). 

Mặc dầu các sách Tin Mừng không bảo đảm đồng nhất ba khuôn mặt này thành một người và ý kiến các Giáo phụ còn trái nghịch, nhưng Giáo hội Tây phương từ thế kỷ thứ VI đã đồng hóa thành một người.  Sự đồng hóa này được diễn tả trong phụng vụ.

 Với sự đồng hóa ấy, lòng đạo đức thường diễn tả thánh Maria Madalena như một phụ nữ có mái tóc dài, được Chúa Giêsu tha thứ, nao nức đón nghe Lời Người.  Bà đã được chứng kiến Lazarô sống lại.  Tiên cảm về thảm kịch khổ nạn, bà đã đổ dầu thơm quý giá lên chân Chúa Giêsu như một cuộc xức dầu cao cả.  Hiện diện dưới chân thánh giá, bà sẽ được Chúa Giêsu thân ái gọi tên “Maria” vào buổi sáng Phục Sinh.

Sau đó, người ta không nghe nói gì về Maria Madalena nữa.  Theo truyền thuyết, ngài đã từ trần và được mai táng ở Êphêsô.  Năm 889, Hoàng đế Lêô VI đã chuyển thi hài thánh nữ về một tu viện ở Constantinople. 

Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

From: Langthangchieutim


 

CÂU CHUYỆN ĐẠI DƯƠNG TRONG LÒNG CON ỐC NHỎ – Trần Khắc Trường

HQ LuuBẢO TỒN TIẾNG VIỆT

 Trần Khắc Trường

Tối nay, vợ chồng tôi cụ bị đồ đạc vào bịnh viện thăm con gái sắp sanh. Ngồi phía trước phòng cấp cứu, tôi thấy một người đàn ông đã ngoài 50 tuổi với vẻ mặt khắc khổ, lo lắng và luôn thấp thỏm nhìn vào trong.

Tôi đến gần ông bắt chuyện:

– Anh chờ người nhà sanh à? vào phòng lâu chưa anh?”

Người đàn ông ấy trả lời:

– Dạ, con gái tôi vào cũng được 6 tiếng đồng hồ rồi, nhưng chưa thấy bác sĩ thông báo gì?”

Tự nhiên trái tim tôi thắt lại, cũng chẳng hiểu lý do gì, có lẽ vì bất ngờ, khi thấy hình ảnh một người cha đưa con mình đi sinh.

Tôi lại tò mò và hỏi:

– Người nhà không có ai là phụ nữ hả anh? Vì anh là đàn ông, chăm con gái sinh rất bất tiện.

Người đàn ông ấy cúi đầu xuống thấp một chút, và giọng cũng nhỏ đi:

– Mẹ nó chẳng may mất sớm, chị gái nó lại có chồng phương xa, tôi một mình nuôi con nên nhà cũng neo đơn.

Tôi lại buột miệng hỏi:

– Vậy cha đứa bé đâu anh?

Anh mỉm cười nhẹ, trên gương mặt đầy nếp nhăn và nhân từ của một người cha, rồi nói:

– Con gái tôi nhẹ dạ, chồng nó bỏ đi mất biệt, khi hay tin con tôi có thai!

Người đàn ông nói tiếp:

– Nghe đâu thằng chồng nó đã có người phụ nữ khác, con gái tôi dại khờ nên đành chịu, nhiều lần nó đòi chết, tôi khuyên nhủ nó và nói nó cố gắng sinh con, tôi sẽ ráng làm để nuôi mẹ con nó.

Tự nhiên khoé mắt tôi cay cay, không cầm được lòng, tôi hỏi anh tiếp:

– Anh làm nghề gì? Rồi sinh sống ở đâu?

Anh trả lời:

– Dạ, tôi làm bốc xếp ở Cảng Sài Gòn, thời gian rảnh chạy xe ôm kiếm thêm, nhà ở quận 4, con gái tôi làm công nhân xí nghiệp may.

Tôi im lặng vài phút, nhìn vào giỏ đồ bên dưới chân của anh, nó nhỏ gọn lắm, rồi quay sang nhìn cái vali cụ bị đồ đạc cho con gái mình, tự nhiên tôi xót xa và thương quá.

Rồi bác sĩ kêu tên con gái tôi, vợ chồng tôi vội chạy lại, mới hay thằng cháu tôi nó vẫn chưa chịu ra đời và bác sĩ lại cho về nhà.

Tôi chào tạm biệt anh, cũng chẳng kịp có món quà nào cho con gái và cháu của anh, tôi chỉ vội lấy trong vali con gái mình vài món đồ, nghĩ sẽ cần cho con gái anh và một ít quà nhỏ, cuộn vào túi đồ, để anh có chi phí trang trải cho những ngày ở bịnh viện.

Anh từ chối không nhận, tôi thuyết phục anh không được.

Đến khi tôi cầm cái túi lại và nói:

– Thứ nhất, đây là món quà tôi tặng cho con gái và cháu của anh, nó không phải món quà của anh, vì thế anh đừng vì lòng tự trọng mà không nhận cho con cháu mình. Thứ hai, tôi cảm ơn anh đã cho tôi thấy được tình cảm và sự bao dung của người cha, và cảm ơn anh vì đã là người tử tế trong cuộc đời này. Nếu anh không nhận thì xem như anh phụ lòng tôi.

Nói xong, tôi quay lưng bước đi, anh vội kêu tôi lại và nói:

– Dạ, tôi cảm ơn anh, anh cho tôi thông tin, sau này tôi nói con gái tôi đi làm, trả ơn lại cho anh.

Tôi cười và trả lời:

– Sẽ có cuộc đời trả lại cho tôi sau, còn bây giờ thì anh nhận món quà này và cầu chúc cho hai mẹ con cháu ấy được mẹ tròn con vuông, chúc anh luôn khoẻ mạnh, để che chở cho cuộc đời của con và cháu mình.

Rồi bước lên xe ra về, chẳng biết bao giờ đủ duyên gặp lại người đàn ông ấy, nhưng tôi biết mình đã đủ duyên để thấy được một bức tranh đẹp trong cuộc sống này.

Chúng ta vẫn thỉnh thoảng nghe câu nói “Cha không hoàn hảo nhưng luôn yêu thương con theo cách hoàn hảo nhất!” Và có một nghịch lý, chúng ta rất dễ nói lời yêu thương ai đó, ngoại trừ cha của mình.

Thiết nghĩ cô gái trong phòng sinh ấy, dù có đang trải qua những tổn thương đau lòng, khi đối diện với những cơn đau thập tử nhất sinh, vì phải một mình vượt cạn và thiếu vắng bóng dáng của người cha đứa bé. Nhưng điều đó có xá chi, khi bên cạnh cô gái ấy, giờ đây chính là tình yêu thương vô bờ bến của người cha vĩ đại trong cuộc đời mình.

Có một tình thương chẳng bao giờ nói mãi mãi, nhưng nó luôn tồn tại từ khi chúng ta sinh ra, đến khi lìa xa cõi đời, chính là tình mẫu tử và phụ tử của cha mẹ dành cho chính mình.

Ngồi trên xe viết lại khoảnh khắc đẹp của tình phụ tử này, trên đường từ bịnh viện về nhà.

Tôi lại thấy tối nay Sài Gòn đẹp thật.

Trần Khắc Trường


 

ICE bắt giữ luật sư nhân quyền Trung Quốc có hồ sơ tị nạn ở Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

LANCASTER, Pennsylvania (NV) – Luật sư nhân quyền người Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình (Wu Shaoping) đã bị Cảnh Sát Di Trú (ICE) bắt giữ hôm Thứ Tư, 15 Tháng Bảy, tại thị trấn Mount Holly Springs thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania, trong lúc ông đang đi giao hàng cho Amazon.

Theo The New York Times (NYT) và The Guardian loan tin, luật sư Ngô Thiệu Bình đã đến Mỹ bằng thị thực du lịch năm 2019 và đã nộp đơn xin tị nạn chính trị (asylum) vào năm 2020.

Luật sư nhân quyền Trung Quốc Ngô Thiệu Bình. (Hình: Trang X của Human Right Watch)

Ở Mỹ, ông Bình làm công việc giao hàng cho Amazon trong khi vẫn tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng đấu tranh cho nhân quyền tại Trung Quốc – một cộng đồng đang gặp nhiều khó khăn, áp lực, theo The Guardian.

Hôm Thứ Tư tuần trước, trong lúc đang trên đường làm công việc của một người giao hàng theo hợp đồng cho Amazon, ông Bình đã bị các cảnh sát chặn lại tại một ngã tư ở thành phố Mount Holly Springs, thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania.

Theo luật sư của ông Bình là ông John Visher, các cảnh sát đã yêu cầu ông Bình trình giấy chứng minh quốc tịch Mỹ. Ông Bình đã đưa ra bằng chứng về hồ sơ xin tị nạn chính trị đang chờ xét duyệt của ông, cùng với giấy phép lao động (working permit) và giải thích ông đã nhập cảnh vào Mỹ một cách hợp pháp.

Sau đó, cảnh sát đã báo cho cơ quan di trú. Ông Bình bị bắt giữ và bị chuyển đến trung tâm giam giữ người nhập cư ở Pennsylvania. Ông có thể sẽ ra hầu tòa di trú vào ngày 27 Tháng Bảy.

Vợ của ông, bà Tào Lưu Lệ (Caoliu Li,) cho biết chồng bà đã bị cơ quan an ninh Trung Quốc thẩm vấn và sách nhiễu trong nhiều năm, nhưng ông vẫn kiên định với sự nghiệp đấu tranh cho quyền lợi của người dân Trung Quốc.

“Suốt thời gian qua, ông ấy luôn chú trọng đến những bất công tại Trung Quốc và tìm cách thay đổi chúng,” bà Lệ chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với NYT từ Lancaster, tiểu bang Pennsylvania, nơi vợ chồng ông bà đang sống cùng cô con gái 17 tuổi.

Bà Lauren Bis, phát ngôn viên của Bộ Nội An, cho biết ông Bình không có tư cách pháp lý hợp lệ và đã ở lại quá hạn thị thực (visa) sáu năm. Bà khẳng định ông sẽ được hưởng đầy đủ quy trình pháp lý theo quy định.

Theo luật sư Visher, do ông Bình đã nộp đơn xin tị nạn trước khi thị thực du lịch hết hạn, do đó ông được bảo vệ khỏi việc bị trục xuất và được phép ở lại trong thời gian chờ xét duyệt hồ sơ.

Cũng theo NYT, hành trình đến Hoa Kỳ của ông Ngô Thiệu Bình bắt đầu từ năm 2019. Khi đó, ông tham dự một cuộc gặp gỡ giữa các luật sư và nhà hoạt động nổi tiếng của Trung Quốc để bàn về phong trào nhân quyền đang bị đàn áp. Chỉ vài ngày sau, chính quyền Trung Quốc bắt giữ những người tham dự cuộc gặp đó, và hai trong số họ hiện đang thụ án tù dài hạn. Ông Bình đã bỏ trốn và nộp đơn xin tị nạn tại Hoa Kỳ vào năm 2020. Hồ sơ đang chờ thụ lý.

Trước khi rời Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình từng làm luật sư thương mại tại Thượng Hải và gia nhập phong trào những người bảo vệ nhân quyền sau khi Bắc Kinh, dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình, phát động cuộc đàn áp luật sư nhân quyền lớn nhất trong nhiều thập niên.

Ông nhận các vụ án đặc biệt về chính trị, đại diện cho một nhà hoạt động chống tham nhũng, một nhà bảo vệ nhân quyền khác, và các học viên Pháp Luân Công, một phong trào tâm linh bị cấm ở Trung Quốc.

Ông Châu Phong Tỏa (Fengsuo Zhou), giám đốc điều hành tổ chức nhân quyền cho Trung Quốc có trụ sở tại New York, cho biết ông Bình đã bào chữa cho những bị cáo mà hầu hết luật sư khác đều né tránh.

Vụ bắt giữ luật sư nhân quyền Ngô Thiệu Bình đã thu hút sự chú ý của các nhà vận động nhân quyền quốc tế. Ông Bob Fu, một nhà hoạt động nhân quyền Cơ Đốc Giáo, đã công khai bày tỏ rằng ông tin các nhân viên ICE đã hành động sai khi bắt giữ ông Bình, người mà ông mô tả là một người bảo vệ tự do tôn giáo tận tụy và có tình trạng cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Những người ủng hộ cho biết họ đang nỗ lực vận động sự hỗ trợ pháp lý và công luận cho ông Ngô Thiệu Bình trước phiên điều trần ngày 27 Tháng Bảy, với hy vọng tránh để ông bị cưỡng bức trả về Trung Quốc. (KL) [kn]


 

HƠN CẢ MÁU- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: ‘Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi!’”.

Sự trọn lành không hệ tại những thị kiến hay xuất thần, nhưng ở chỗ ý muốn chúng ta hoàn toàn phù hợp với ý muốn Thiên Chúa!” – Têrêxa Avila.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta nhận nhau vì cùng một dòng máu. Lời Chúa hôm nay hé mở một điều ‘hơn cả máu’. Chúa Giêsu hướng về các môn đệ và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi!” – những người làm theo ý muốn Chúa Cha.

Sau câu hỏi: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?”, Chúa Giêsu giơ tay chỉ những kẻ Ngài chọn. Bản Hy Lạp viết ekteinas – không chỉ là một động tác chỉ trỏ hay đưa tay, nhưng là vươn ra, duỗi ra. Động từ này gợi lên hình ảnh một vòng tay mở rộng. Chỉ một động từ cũng đã hàm chứa cả một ý định cứu độ phổ quát.

“Vòng tay vươn ra!”. Phải chăng Matthêu muốn nói rằng gia đình mới của Thiên Chúa được khai sinh ‘bằng một cử chỉ’ trước khi được định nghĩa bằng lời? Bởi nhiều khi, một vòng tay có thể nói nhiều hơn cả một bài diễn văn. Không chỉ công bố một chân lý mới, Chúa Giêsu còn biểu lộ chân lý ấy bằng một hành động. Gia đình Thiên Chúa không khởi đầu từ một định nghĩa, nhưng từ một vòng tay. “Trong các Tin Mừng, cộng đoàn của Đức Giêsu mang hình thức một gia đình hiếu khách, chứ không phải một nhóm khép kín và loại trừ!” – Phanxicô.

Nhưng ý muốn của Chúa Cha là gì? Không chỉ là một mệnh lệnh phải thi hành, nhưng là một lời mời gọi mang lấy chính trái tim của Thiên Chúa. Ngôn sứ Mikha mặc khải một Thiên Chúa không thích kết án, nhưng vui thích xót thương; không giữ mãi cơn giận, nhưng ném mọi lỗi lầm xuống đáy biển – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh cất lên lời Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa!”. Người thuộc về gia đình Thiên Chúa không chỉ làm điều Chúa muốn, mà còn học yêu như Ngài yêu, tha thứ như Ngài tha thứ, xót thương như Ngài xót thương và luôn mở ra cho người khác một cơ hội để bắt đầu lại.

Vậy mỗi ngày, chúng ta chọn sẽ để ai định hình trái tim mình? Khư khư giữ ý riêng, chúng ta vẫn đứng ngoài vòng tay của Chúa. Chỉ khi biết nhường chỗ cho thánh ý Ngài, chúng ta không chỉ đổi một quyết định, mà đang đổi cả căn tính mình thuộc về. “Thánh thiện hệ tại việc mỉm cười đón nhận và làm theo thánh ý Thiên Chúa!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Anh Chị em,

Cử chỉ nhỏ bé trong căn nhà năm xưa chỉ là khởi đầu. Trên đồi Canvê, cánh tay vươn ra ấy sẽ mở rộng đến tận cùng. Đức Kitô dang tay không còn để chỉ về một nhóm môn đệ, nhưng để quy tụ toàn thể nhân loại vào gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ nay, tình thân ấy không còn được xác định bởi huyết thống, dân tộc, biên giới hay màu da, nhưng bởi những con người cùng mang lấy trái tim của Chúa Cha. Chính nơi thập giá, chúng ta hiểu thế nào là điều ‘hơn cả máu’: sống tình yêu tự hiến của Đức Kitô!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho thánh ý Chúa luôn định hình trái tim con; để càng thuộc về Chúa, con càng thuộc về những người Ngài trao cho con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

Gói Đường, Gói Muối, Gói Cả Một Đời Chờ Đợi

Liem Pham

 Có những người sau năm 1975 cũng mang án tù, nhưng không có tên trong bất cứ danh sách nào.

Đó là những người vợ. Ngày nhận được mảnh giấy báo chồng đang bị “học tập cải tạo” ngoài Bắc, chị ngồi rất lâu. Không phải vì không biết đọc. Mà vì không biết bắt đầu từ đâu.

Thăm nuôi.

Hai chữ nghe nhẹ như gió, nhưng để đi được một chuyến là cả một hành trình đầy nước mắt.

 Chị bán chiếc nhẫn cưới. Cầm cố chiếc xe đạp. Vay gạo hàng xóm. Gom từng đồng bạc lẻ. Mỗi đồng đều đổi bằng những ngày nhịn ăn của mẹ con ở nhà.

Rồi bắt đầu học:

Học cách gói đường vào túi ni lông nhỏ, buộc thật chặt để khỏi chảy khi gặp mưa.

Học cách chia muối thành từng gói bằng hai ngón tay, vì nghe biết trong trại, một nhúm muối cũng quý hơn vàng.

Học cách gói thuốc lào thật kín để khỏi mất mùi. Với người tù, vài hơi thuốc đôi khi là chút bình yên hiếm hoi sau một ngày lao động kiệt sức.

Học cách khâu tiền vào lai áo. Học cách giấu vài viên thuốc cảm trong ruột bánh. Học cách trả lời cán bộ sao cho vừa đủ, không thừa một câu, không thiếu một chữ.

Không ai dạy chị. Cuộc đời dạy.

 Những người đàn bà gặp nhau ở ga Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng… nhìn chiếc bao tải trên vai là biết cùng chung một số phận. Họ truyền cho nhau từng kinh nghiệm nhỏ:

“Đừng đựng nước mắm bằng chai thủy tinh.”

“Đừng để đường chung với cá khô.”

“Đến trại nhớ cúi đầu, đừng cãi.”

Toàn những bài học không có trong bất kỳ cuốn sách nào.

 Rồi chuyến tàu lắc lư nhiều ngày đêm. Toa tàu đông nghẹt. Mùi mồ hôi, mùi cá khô, mùi khoai luộc hòa với tiếng trẻ con khóc, tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray. Người đàn bà ôm chặt chiếc giỏ như ôm cả sinh mạng của chồng mình.

Bởi trong đó không chỉ có vài ký gạo, ít đường, ít muối. Mà còn có tình nghĩa vợ chồng.

Có niềm hy vọng.

Có lời nhắn của con: “Ba nhớ về.”

 Đến nơi, sau bao lần kiểm tra, cân đo, xét hỏi, nhiều món bị giữ lại. Có thứ bị tịch thu. Có thứ bị cắt xén. Chị chỉ biết im lặng.

 Rồi cũng đến lúc được gặp.

Chỉ vài chục phút.

Qua hàng rào.

Qua ánh mắt của cán bộ.

Qua khoảng cách tưởng gần mà xa như cả một đời người.

Chị cố cười.

Anh cũng cố cười.

Không ai dám khóc.

Bởi người ở lại sợ người đi thêm đau lòng. Người trong trại lại sợ vợ về sẽ khóc suốt dọc đường.

 Khi chuyến tàu quay về Nam, chiếc giỏ đã nhẹ hơn.

Nhưng trái tim người vợ lại nặng hơn.

Lại tiếp tục những tháng ngày dành dụm.

Lại vá áo thuê.

Lại bán từng lon gạo.

Lại gói đường.

Lại gói muối.

Lại gói thuốc lào.

Để chờ một chuyến thăm nuôi khác, không biết sẽ đến sau sáu tháng, một năm hay lâu hơn.

 Lịch sử thường nhắc đến những năm tháng tù cải tạo với những người đàn ông sau hàng rào kẽm gai. Nhưng lịch sử cũng nên dành một trang cho những người phụ nữ lặng lẽ đứng ngoài cánh cổng ấy.

Không được tuyên dương.

Nhưng bằng đôi vai gầy, họ đã gánh cả một gia đình, nuôi con khôn lớn và giữ cho người chồng trong trại còn niềm tin để sống.

Có lẽ, trong ký ức của nhiều cựu tù cải tạo, thứ ngọt nhất không phải là gói đường.

Mà là biết rằng, ở quê nhà, vẫn có một người vợ đang cặm cụi buộc từng nút ni lông, gói ghém cả tình yêu và hy vọng vào chuyến tàu ra Bắc.

Phạm Sơn Liêm


 

Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) – Cha Vương

Chúc một ngày bình yên trong Chúa, mời bạn noi gương các vị Thánh trong lịch phụng vụ để sống mạnh mẽ trong đức tin của mình nhé.

Cha Vương

Thư 2: 20/7/2026.     (n14-25)

Bạn có biết rằng có một thổ dân Hoa Kỳ được gọi là “Đóa huệ của bộ lạc Mohawks” – một cô gái thổ dân được rửa tội để làm Kitô hữu vào ngày lễ Phục Sinh và rước lễ lần đầu vào ngày lễ Giáng Sinh?

    Thánh Kateri Tekakwitha (1656-1680) là trẻ mồ côi và lớn lên trong bộ tộc Mohawks, sống đời sống thổ dân gương mẫu. Nhưng khi 20 tuổi, cô gặp một linh mục truyền giáo nói với cô về Kitô giáo, và Kateri xin được rửa tội. Sau đó, các thổ dân khác tức giận với cô về điều cô đã làm và đối xử với cô như người ngoài bộ tộc.

    Lo sợ, Kateri quyết định rời bộ lạc Mohawks và cố tìm một làng thổ dân Công giáo mà cô đã biết đến. Cô quyết định ra đi một mình, băng qua vùng hoang dã Canada hai ngàn cây số để tìm ra ngôi làng! Cô sống bình yên ở đấy và là một giáo dân tốt, thánh thiện suốt cuộc đời còn lại. Vào năm 1980, cô được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong “chân phước Kateri”. 

Ngày 21/10/2012, Đức Bênêdictô XVI phong thánh cho Kateri như là nữ thánh người da đỏ đầu tiên.

    Bạn có sợ băng qua vùng hoang dã hai ngàn cây số một mình? Hầu hết mọi người đều sợ và có lẽ Kateri cũng thế, nhưng với ơn Chúa giúp sức, cô đã làm được điều mình phải làm. Lần tới, khi bạn phải làm điều gì đó mà bạn sợ thì hãy nghĩ đến Thánh Kateri, xin ngài cầu cùng Chúa giúp– và rồi bạn hãy làm điều bạn phải làm!   

    Thánh nhân nói: “Tôi không cô đơn vì tôi đã tận hiến cho Ðức Giêsu. Người là tình yêu duy nhất của tôi. Tôi không sợ tình trạng bơ vơ nghèo nàn vì không lấy chồng. Tất cả những gì tôi cần là một chút thực phẩm và một vài quần áo. Với công việc tay tôi làm ra, tôi sẽ có những gì tôi cần, và những gì còn dư tôi sẽ cho người bà con và người nghèo. Nếu tôi bị bệnh và không thể làm việc được, tôi sẽ trở nên giống Chúa trên thập giá. Người sẽ thương xót tôi và giúp đỡ tôi. Tôi biết chắc như thế.”

Xin Thánh Kateri Tekakwitha, cầu bầu cho chúng con.

From: Do Dzung

**************

CÓ CHÚA CÙNG ĐI – Nguyễn Hồng Ân

Con Đi Tù Cải Tạo, Cha Mẹ Già Vẫn Đợi

Liem Pham  

Có những người tù cải tạo còn có được vài dòng thư gửi về nhà sau nhiều tháng, nhiều năm.

Nhưng cũng có những người… biệt vô âm tín.

Không thư.

Không tin.

Không biết còn sống hay đã chết.

Ở quê nhà, người đau khổ nhất nhiều khi không phải là người vợ trẻ, mà là những cha mẹ đã bạc đầu.

Mỗi buổi sáng, ông cụ lại chống gậy ra đầu ngõ. Chẳng để làm gì. Chỉ nhìn con đường đất dẫn vào xóm. Mỗi tiếng xe đạp, mỗi bóng người mặc áo xanh, mỗi tiếng chó sủa đều khiến ông ngẩng đầu lên, rồi lại lặng lẽ cúi xuống.

Bà cụ thì vẫn giữ nguyên chiếc chén, đôi đũa của người con trai trên chạn bếp. Bà nói với con dâu:

“Biết đâu nó về bất ngờ… phải có cái để nó ăn.”

Năm này qua năm khác.

Mái tóc của cha trắng thêm.

Đôi mắt của mẹ mờ đi.

Mùa lúa chín rồi lại gặt. Cây trước sân thay bao mùa lá. Người trong làng có người trở về, có người không. Nhưng người con của ông bà vẫn chỉ là một khoảng lặng.

Có những buổi chiều, bà cụ ngồi bên hiên, ôm chiếc áo cũ của con mà vá đi vá lại. Chiếc áo chẳng còn ai mặc, nhưng bà vẫn sợ nếu một ngày con về thì áo rách.

Cha ít nói hơn.

Ông chỉ nhìn xa xăm, thỉnh thoảng lẩm bẩm:

“Chắc nó đói lắm…”

Không ai biết trong những trại cải tạo xa xôi ấy, người con có còn sống hay không. Cũng không ai dám nói một lời chắc chắn để cha mẹ già bớt hy vọng.

Hy vọng là điều cuối cùng người ta còn giữ được.

Có những người cha mất trước khi biết tin con được thả.

Có những người mẹ nhắm mắt vẫn dặn con cháu:

“Nếu anh con có về… nói với nó là má đợi tới phút cuối.”

Đó là điều đau đớn nhất của chiến tranh và những năm tháng sau chiến tranh.

Không chỉ là những năm tù.

Mà còn là những mái nhà có ngọn đèn vẫn thắp mỗi tối, những cánh cổng chưa bao giờ khóa hẳn, và những bậc cha mẹ già dành trọn quãng đời còn lại để chờ một tiếng gọi:

“Cha… Má… Con về rồi.”

Tiếng gọi ấy, với nhiều gia đình, đã không bao giờ vang lên.

Phạm Sơn Liêm