Con Hoang – Thu Phong.

Kimtrong Lam

 Con Hoang – Thu Phong.

Hình minh hoạ từ internet

Tôi cầm túi đồ ăn ném mạnh vào giỏ rác, nói như hét: “Đã nói má đừng có lên nữa, sao không chịu nghe vậy? Tiền nè, má về đi”.

Mẹ tôi run rẩy bước tới cạnh thùng rác: “Thôi, con không ăn thì má đem về… Tại má nhớ con quá thì lên thăm chớ má đâu có cần tiền. Mai mốt con về thì hết con nước rồi, má sợ không có cá ngon như vầy nữa…”

Tôi dịu giọng: “Sao má không chịu nhớ? Lâu rồi con đâu có thích ăn cá linh? Cá gì mà xương không…”. Mẹ tôi mở giỏ lấy ra túm bông điên điển: “Vậy má để lại cái này cho con nghen? Nước rút rồi nên bông cũng ít. Hôm qua má phải đi hái cả buổi mới được nhiêu đây”. Tôi thấy chạnh lòng nên gật đầu: “Má cứ để đó cho con. Thôi, má về đi, con phải đi làm đây”.

Tôi đứng nhìn theo mẹ bước thấp, bước cao khuất dần nơi đầu hẻm. Tôi để mẹ đi một mình vì không muốn người trong hẻm biết tôi có một người mẹ tật nguyền…

“Cô Tư què”, “bà Tư què”… là những tiếng mà tôi nghe người ta gọi từ khi tôi nhận biết sự bất thường của đôi chân mẹ.

Lớn lên một chút, tôi biết mẹ tôi bị tật cả hai chân từ lúc mới lọt lòng. Bà ngoại mất khi mẹ tôi mới 16 tuổi. Sống một mình giữa đồng nước mênh mông, một đêm mưa nọ, mẹ đã bị một gã đàn ông cùng xóm cưỡng hiếp. Kết quả là – tôi có mặt trên cõi đời này với bao nhiêu điều tiếng xấu xa.

Thế nhưng với mẹ thì ngược lại. Bà xem đó là món quà vô giá mà tạo hóa đã ban cho mình. “Má nói thật đi, ai là cha con?”. Không phải chỉ một lần, tôi hỏi mẹ câu đó. Nhưng lần nào cũng vậy, mẹ chỉ lặng im. Có lần tôi làm dữ thì mẹ nói: “Con biết thì cũng đâu có lợi ích gì mà còn làm cho gia đình người ta xào xáo. Thật lòng, má phải mang ơn người ta chớ thân má như vầy, ai mà thèm…”.

Tôi lớn lên như một cái cây non thiếu ánh sáng. Sau lưng tôi, người ta xầm xì: “Đồ con hoang”. Rồi đến những đứa bạn học cùng lớp cũng trêu chọc: “Đồ không cha”.

Mấy tiếng “con hoang” như một vết chém sâu hoắm vào tâm hồn non nớt của tôi. Không biết từ bao giờ, trong tôi chỉ còn lại sự căm ghét người mẹ tật nguyền của mình.

Trong mắt tôi – mẹ là một kẻ tội đồ vì đã sinh ra một đứa con mà không cho nó biết cha nó là ai…

Lên lớp 10, tôi ra thị xã học. Suốt những năm học cấp 3, tôi chỉ về nhà dịp hè và Tết dù từ nhà ra thị xã chỉ mất 30 phút đi xe máy.

Thằng Kiên con bác Ba Bảo ở cạnh nhà có nhiệm vụ “tiếp tế” cho tôi mỗi tuần. Có lần nó bảo: “Ê, sao mày không về thăm má mày? Tao thấy tội nghiệp má mày lắm. Hôm trước hình như bả bị bịnh đó”. Tôi có hơi băn khoăn nhưng rồi lại quên ngay. “Mày về nói với má tao là nhớ mua thuốc uống, lúc này tao bận học lắm nên không về được”. Thằng Kiên bĩu môi: “Mày đúng là con bất hiếu”.

Học hết lớp 12, tôi quyết định lên Sài Gòn. “Lên trên đó dễ kiếm tiền lắm”- chị Thu con bác chủ nhà tôi ở trọ bảo. Chị làm đầu bếp trong một nhà hàng lớn ở Sài Gòn, lương mỗi tháng cả chục triệu. Chị hứa sẽ đỡ đầu nếu tôi muốn lên trên ấy.

Mẹ tôi đã khóc cả đêm khi biết ý định này. “Con lên trên đó làm sao má đi thăm?”- mẹ tôi sụt sịt. Tôi nạt: “Ai cần má thăm? Má cứ ở nhà, con làm có tiền sẽ gởi về nuôi má”.

Vậy là tôi đi. 4 năm qua, tôi về thăm nhà đúng 1 lần. Mẹ tôi nhờ thằng Kiên dò la tin tức.

Biết chỗ tôi làm, nó gọi điện thoại trách: “Mày đúng là con bất hiếu. Nếu tao không gọi, chắc mày cũng im luôn. Má mày lo tới bịnh luôn đó”. Tôi bực vì cái tiếng “bất hiếu” của nó nên nạt: “Mày còn nói cái giọng đó nữa thì đừng có gọi điện cho tao nghe chưa”. Nói rồi tôi cúp máy.

Có lẽ – nó tức lắm nên dẫn mẹ tôi lên tận Sài Gòn tìm tôi. Dĩ nhiên là nó bị tôi chửi vuốt mặt không kịp. Mẹ tôi cũng bị vạ lây: “Còn má nữa, ai biểu má lên đây?”.

Thật sự thì đâu có ai biểu mà chỉ có tấm lòng, tình yêu của một người mẹ đã thúc giục mẹ tôi lặn lội đi tìm con. “Tại con không về nên má nhớ…” – mẹ tôi rưng rưng. Thấy vậy, tôi cũng không nỡ rầy la: “Thôi được, má muốn lên thì cứ lên; nhưng con nói trước là con không có về dưới nữa đâu”.

Từ đó, cứ vài tháng, mẹ tôi lại lặn lội từ Châu Đốc lên Sài Gòn thăm con. Thỉnh thoảng thằng Kiên rảnh thì lại đi cùng với mẹ.

Có lần nó đùa: “Ê, má bà đã hứa gả bà cho tui rồi đó nghen. Bà ở trên này đừng có lộn xộn”. Tôi không nhớ nó đã đổi cách xưng hô từ khi nào nhưng vừa nghe vậy đã đổ quạu: “Đừng có mơ. Tui không bao giờ trở về cái xứ đó. Mà ông cũng đừng có ăn nói bậy bạ”. Nó cười hì hì: “Giỡn bà thôi chớ cái thứ con cái không ra gì như bà, có cho tui cũng… không thèm lấy”.

Mọi chuyện sẽ không có gì nếu như tôi không tình cờ quen một người. Anh là trưởng phòng của một công ty lớn. Chân dung của tôi trong mắt anh là một đứa trẻ mồ côi, tự lập, tự bươn chải vào đời… “Anh yêu em vì những điều đó. Em là một cô gái đầy nghị lực” – có lần anh bảo tôi như vậy.

Tôi gọi điện cho Kiên: “Ông đừng có dẫn bà già lên nữa nghe chưa. Tôi nói với người ta là tôi mồ côi…”.

Vừa nghe vậy, Kiên đã sừng sộ: “Bà ăn nói gì bất nhơn thất đức vậy? Má bà còn sống sờ sờ đó mà”.

“Tui nói rồi, ông mà còn dẫn má tui lên là đừng có trách sao tui cạn tình nghen” – tôi nói dứt khoát.

Kiên còn dẫn mẹ tôi lên một lần nữa. Sau đó, hắn mất biệt. Mẹ tôi lại lặn lội đi một mình. Tôi bực bội ra tối hậu thư: “Má đừng có lên đây nữa, con khó ăn khó nói với người ta. Nếu má không nghe lời, con sẽ đổi chỗ ở, không cho biết số điện thoại luôn”.

Lần đó về, mãi 4 tháng sau mẹ tôi mới dám lên.

Đó chính là cái lần tôi đã vứt giỏ đồ ăn mà mẹ lụm cụm mang từ nhà lên cho tôi. Và vì giận mẹ không nghe lời nên tôi đã đổi chỗ ở và không thèm gọi điện thoại về nhà.

******

Cho đến một hôm, tôi bỗng thấy ruột gan mình bồn chồn. Tôi lục tìm số điện thoại của Kiên. Nhưng tôi tìm mãi mà chẳng thấy.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi sắp xếp lại đồ đạc, tôi tìm được quyển sổ trong đó có ghi số điện thoại của Kiên. Tôi mừng quýnh vội gọi ngay.

Vừa nghe tiếng Kiên, tôi đã líu lo: “Xin lỗi nghen, tui bỏ mất số điện thoại của ông, giờ mới tìm được. Ông sao rồi? Khỏe không? Cưới vợ chưa hay là còn chờ tui?”.

Không nghe Kiên trả lời, tôi lại ghẹo: “Ê, bộ còn giận hả?”.

Bên kia, giọng Kiên thật chậm: “Giận làm gì cái thứ không phải con người như bà”.

Tôi chột dạ: “Làm gì mà nặng lời như vậy? Ông thấy má tui khỏe không?”.

Không có tiếng trả lời.

Tôi sốt ruột: “Nói đi chớ, tốn tiền điện thoại của người ta…”.

Kiên thủng thẳng: “Giỏi lắm thì bà cũng chỉ tốn tiền điện thoại một lần này chớ mai mốt có muốn tốn cũng không được…”.

Tôi phát bực nên gắt: “Nói gì thì nói lẹ lẹ lên, không thôi tui cúp máy à”.

Lần này tôi không phải chờ lâu vì Kiên nói ngay: “Má bà mất rồi”. Tôi nghĩ là Kiên nói đùa: “Ê, hết chuyện giỡn rồi sao? Má tui đang mạnh sần, ông trù ẻo hả? Đồ xấu xa”.

“Còn bà là đồ bất hiếu. Muốn biết thì về. Tui cúp máy đây”.

Giọng Kiên cụt ngủn. Hắn cúp máy thật. Tôi gọi lại, chuông vẫn đổ nhưng hắn nhất quyết không nghe máy.

Bán tín, bán nghi, hôm sau tôi chạy về…

Kiên không hề nói đùa. Mẹ tôi đã mất cách nay hơn 3 tháng. Trước đó, bà đã bệnh không ăn uống cả tuần…

Kiên kể với tôi, hôm đám tang mẹ tôi, trời mưa tầm tã. Những người đưa đám đều khóc khi thấy người đứng ra lo ma chay cho mẹ tôi lại là Kiên.

“Tui có nhờ nhắn tin trên truyền hình, cả đăng báo nữa…” – giọng Kiên buồn buồn.

Tôi cúi đầu, không dám nhìn vào ảnh mẹ. Kiên đã nói đúng. Tôi không chỉ là một đứa con bất hiếu mà thậm chí, tôi cũng không đáng làm một con người.

Tôi có mẹ mà như một đứa con hoang…

Thu Phong. 


 

KHI TA GIÀ ĐI

Khong Khong

 Khi ta già đi, ta sẽ không nhắc nhở con cháu về một điều gì đó quá cũ, rót vào tai chúng mãi một câu chuyện xa xưa, hay dặn dò chúng những điều hết sức lạc hậu. Cho dù nói nhiều hay ít thì con cháu nó vẫn cho rằng, đó chỉ là lý lẽ vớ vẩn của người già.

Khi ta già đi, ta học cách buông tay, ta chẳng cần phải nghĩ ngợi những người trẻ mỗi ngày nó lướt qua đời ta một cách nhẹ nhàng như thế nào, ta chỉ mong mình đủ sức để tự nấu một món ăn thật nhừ, đủ sức để tự tắm rửa hàng ngày, ta cũng không câu nệ mọi ngóc ngách trong nhà đều phải tinh tươm sạch sẽ, mà chỉ chú ý đến sức khỏe của bản thân mình, nhằm giảm bớt áp lực cho con cháu khi phải chăm sóc ta.

Khi ta già đi, ta cũng mong trời thương, nằm xuống, nhắm mắt một phát là đi ngay. Bởi ta đã nhìn thấy nhiều cảnh đau lòng xảy ra khi con cái chăm sóc cha mẹ già. Có nhiều chuyện bấy lâu nay ta cứ nghĩ nó chỉ có trong văn học thời hiện thực phê phán, nhưng không, nó vẫn được diễn ra trong cuộc sống thường nhật. Mà nghĩ đi rồi cũng nghĩ lại, thực ra thì con cái ai cũng tốt và có hiếu với cha mẹ cả thôi, nhưng khi bố mẹ trở thành gánh nặng hàng ngày, nhiều ngày thì tình cảm sẽ mai một dần đến mức không còn thấy thương yêu nữa, chỉ còn thấy chịu đựng, thấy khổ sở, nhất là con rể hoặc con dâu và các cháu, những người không trực hệ, không được ông bà trực tiếp đẻ ra.

Và khi ta già đi, ta muốn chẳng nợ nần gì nhau trong cuộc đời này, chỉ cần được an yên, bởi ta nghĩ bất cứ ai, cho dù một thời trẻ hoài bão, ngang dọc, vội vã, và rồi cũng đến lúc già, chỉ cần hai chữ an yên mà thôi.

Fb Tinh ca


 

Du Học Sinh Lê Đức Nhân…

Kimtrong Lam

Du Học Sinh Lê Đức Nhân…

Cháu trai 31 tuổi này tên là Lê Đức Nhân, một du sinh thành công tại Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp đại học ngành du lịch, cháu đang làm việc cho Khu du lịch Suối nước nóng Kusatsu, tỉnh Gunma. Từ lúc rời VN ra đi tới nay là 10 năm, cuộc sống của cháu là cả một chuỗi phấn đấu không ngừng nghỉ, vì cháu là một du sinh mồ côi cả cha và mẹ từ 11 tuổi.

Nhân quê ở Bình Định. Năm 11 tuổi, cùng một lúc cậu bé phải nhận 3 cái tang. Mẹ cháu đi chợ bán rau, bị tai nạn qua đời vào tháng 4. Vừa 50 ngày mẹ xong thì ba cháu cũng bị tai nạn không qua khỏi. Đến tháng 11 cùng năm, vì sức khoẻ yếu nên ông nội cũng ra đi.

Hai chị gái đi lấy chồng. Cháu được cưu mang bởi chú thím, sau đó là cậu mợ ruột. Tới năm lớp 12, cháu vào ở cơ sở nuôi dưỡng trẻ mồ côi Hướng Dương, do 1 thày giáo giúp đỡ.

Dù sống đầy khó khăn như vậy, Nhân vẫn học xong trung học và thi đậu đại học SPKT TPHCM.

Người thày giáo đó tên là thày Vinh rất thương cháu. Nên thày tìm đường cho cháu đi du học. Ban đầu lo cho cháu nghỉ học đại học, tập trung học tiếng Nhật. Sau đó tìm học bổng của báo Asahi cho cháu qua Nhật học hành.

Học bổng này chính là học bổng giao báo. Mình từng giới thiệu về học bổng đó cho các cháu con nhà nghèo muốn đi du học ở Nhật.  Mà du sinh nào nhận học bổng thì sẽ vừa học, vừa làm công việc vốn rất vất vả hàng ngày là phải thức khuya dậy sớm trong mọi điều kiện thời tiết nhiều phần khắc nghiệt ở xứ Nhật để đi giao báo theo giờ cam kết trong ngày.

Trong thời gian Nhân mới qua Nhật, người cậu từng cưu mang cháu mất vì đột quỵ. Bà nội cũng qua đời. Hai người chị gái mắc bệnh trọng. Tang tóc và nỗi đau chồng chất lên vai chàng trai trẻ một mình lênh đênh xa xứ.

Nhân khi đó làm việc và học tại Yurigaoka, Kanagawa theo phân công. Cháu thi đậu bằng lái xe máy của Nhật. Mỗi sáng, cháu phải thức dậy vào lúc 1 giờ 30 để ra tiệm báo, lấy báo đi phát đến khoảng 6 giờ sáng về. Chỉ kịp ngả cái lưng nghỉ một tí, đến hơn 8 giờ đã phải rời nhà, đi tàu điện thêm 1 giờ để đến trường. Tan học về nhà, ăn cơm trưa rồi mình lại ra tiệm để phát báo chiều. Hai năm ròng cháu đã vừa làm vừa học như thế. Sau đó cháu chuyển qua làm phụ quán ăn, bán mì, phụ bếp…Một ngày như vậy, Nhân chỉ được ngủ vẻn vẹn 3 giờ. Phải chịu khó làm lụng và học hành, vì gia cảnh không có gì để bấu víu.

Trong suốt thời gian đó, cách duy nhất để Nhân đứng vững là học hành. Chỉ có học vấn mới là cứu cánh duy nhất thay đổi cuộc đời của cậu bé mồ côi ấy. Vì vậy mà 4 năm sau, Lê Đức Nhân đã tốt nghiệp trường Du lịch và Khách sạn JTB. Cháu được nhà trường khen tặng vì chưa từng một ngày nào nghỉ học hay đi trễ.

Ngay sau khi tốt nghiệp, Nhân may mắn tìm được việc làm ở khách sạn tại Khu du lịch Suối nước nóng Kusatsu, tỉnh Gunma. Công việc đúng với chuyên ngành mà Đức Nhân theo học, với mức thu nhập tốt và cơ hội phát triển cao. Báo Đời sống và Pháp luật đã có một bài viết hay về cháu.

Chàng trai ấy cho biết :”không ai có thể lựa chọn hoàn cảnh mình sinh ra, nhưng hoàn toàn có thể chọn cách mình sống và trưởng thành.”

Đọc các thông tin về cháu Nhân thấy rất xúc động. Là vì cháu thật sự là một con người có ý chí, có quyết tâm rất cao. Cháu cũng sống hướng thượng và dám hết mình để chạm tay vào ước mơ. Dù trải qua rất nhiều chia ly, tang tóc, nhưng cháu may mắn vẫn được rất nhiều người thương mến, đặc biệt là gia đình bà con cưu mang cháu và thày Vinh, người thày có tầm nhìn xa trông rộng đã chỉ cho cháu một đường đi tốt cho tương lai.

Mong cháu và gia đình luôn vui khỏe, hạnh phúc.

( Hình từ báo đoisongvaphapluat)

———

Nguyễn Thị Bích Hậu.


 

Mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình, hôm nay Giáo Hội mừng kính 2 thánh Gioankim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. Mừng quan thầy đến những ai chọn các ngài làm bổn mạng nhé. Nhớ nhau trong lời cầu nguyện không quên cho thế giới được bình an nhé

Cha Vương

Thứ 6: 24/7/2026.    (n26-24)

TIN MỪNG: Hạt rơi vào đất tốt: đó là những kẻ nghe Lời với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả. (Luca 8:15) 

SUY NIỆM: Cây tốt sinh trái tốt. Cha mẹ hiền lành để đức cho con. Xem quả biết cây. Đức Maria là hoa quả của hai thánh Gioakim và thánh Anna. Tất cả những điều ấy muốn nói lên rằng Chúa luôn yêu thương những người biết tin tưởng, phó thác, cậy trông vào Ngài. Đọc lại Kinh Thánh, ta không thấy Thánh Kinh thuật lại lai lịch, và cuộc sống của hai thánh Gioakim va Anna là song thân của Mẹ Maria. Nhưng các Thánh Truyền cho ta hiểu rõ rằng hai ông bà Gioakim và Anna luôn phó thác, cậy trông và tin tưởng vào Chúa. Hai ông bà đã già nua tuổi tác mà vẫn không có con, nhưng Thiên Chúa đã yêu thương, chấp nhận lời khẩn nguyện, cầu xin của hai ông bà và cho hai ông bà cưu mang, hạ sinh người con yêu quý là Maria. Đây là hồng ân cao cả Thiên Chúa dành cho ông bà Gioakim và Anna. Cái phúc mà song thân của mẹ Maria đã lãnh nhận từ Thiên Chúa biến đổi cả cuộc đời của hai ông bà như lời Tv 23, 5 đã viết: ”Các Ngài được Chúa ban phúc lành, và được Thiên Chúa cứu độ hằng xót thương”. Thiên chúa đã chúc phúc cho hai ông bà bằng tình yêu vĩnh cửu, tình yêu không bao giờ tàn lụi, phai mờ, tình yêu hiến trọn cho người khác. Vì luôn trung tín với Thiên Chúa, hai ông bà được Thiên Chúa yêu thương một cách đặc biệt và Maria là con hai ông bà đã được Thiên Chúa cất nhắc, để ý và tuyển chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Chính nhờ phúc lành Hai ông bà lãnh nhận nơi Thiên Chúa, qua các Ngài, phúc lành ấy cũng được đổ xuống cho muôn dân, muôn nước và từng người. (Nguồn-mạng Mến Thánh Giá Cái Mơn, hạnh các Thánh)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa xin cho con cháu trong các gia đình luôn biết sống thảo hiếu với Chúa và ngoan hiền với Ông Bà Cha Mẹ.

 LẮNG NGHE: Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (Mátthêu 5:4)

 THỰC HÀNH: Hôm nay Bạn hãy gọi điện thoại hỏi thăm Ông Bà Cha Mẹ và làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho các đấng còn sống cũng như qua đời nhé.

From: Do Dzung

*****

Một bài hát tuyệt vời: Hạt Giống Tình Yêu

CHÉN HAY NGAI? – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?”.

“Chúng ta đến với thế giới để sống; Ngài đến với thế giới để chết! Con người của các nỗi buồn làm quen với vực thẳm đau buồn để trở thành niềm vui cho thế giới!” – A. Fortosis.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta đến với thế giới để sống; Ngài đến để chết. Chúng ta tìm chỗ nhất; Ngài chọn chỗ rốt. Hôm nay, Tin Mừng buộc chúng ta trả lời một câu hỏi không thể né tránh: ‘chén hay ngai?’.

“Chén Thầy sắp uống”. Bản Hy Lạp viết potērion – “chén”. Đó không chỉ là vật để uống, nhưng còn là phần số Thiên Chúa trao, dẫn đời người đến chỗ viên mãn. Giacôbê và Gioan xin ngai, Ngài trao chén; họ tìm vinh quang, Ngài mở ra hiệp thông. Từ ambitio đến communio, người môn đệ được mời bước ra khỏi tham vọng để đi vào sự thông phần với cuộc đời của Thầy. Vì thế, câu hỏi “có uống nổi” không phải là một lời từ chối, nhưng là một lời mời chọn lựa: theo Chúa Giêsu không phải để được nâng lên, nhưng để uống cùng một chén với Ngài. “Chén mà chúng ta uống là chén của niềm vui và nỗi buồn, của sự sống và cái chết!” – Henri Nouwen.

“Uống” không phải là chịu đựng một điều gì bên ngoài, nhưng là đi vào bên trong hành vi tự hiến của Thầy; không phải là mất mát, nhưng là hiệp thông trong yêu thương. Vì thế, điều các môn đệ xin không sai ở ước muốn hiệp thông, nhưng sai ở con đường: muốn vinh quang mà không muốn chung số phận với Thầy. Chính tại đây, nghịch lý Tin Mừng trở nên rõ ràng: chỉ khi chấp nhận đi vào điều mình không chọn, con người mới thực sự đạt tới điều mình tìm.

Sứ mạng không còn là nơi để thể hiện chính mình, nhưng là nơi để chính mình được biến đổi. “Cám dỗ tinh vi nhất không phải là bỏ Chúa, nhưng là dùng điều thuộc về Chúa để tìm kiếm chính mình!” – Hans Urs von Balthasar. Vì thế, người môn đệ không còn hỏi làm sao được ngồi cao hơn, nhưng làm sao dám uống cạn “chén” Thiên Chúa trao. Phaolô đã sống điều ấy: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu” – bài đọc một. Và khi chiếc chén được đón nhận trong yêu thương, nước mắt sẽ không là điểm kết, nhưng là khởi đầu của mùa gặt: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không mời chúng ta uống một chén khác, nhưng uống chính chén Ngài đã uống: chén cứu độ. Nơi Ngài, “chén” không còn là biểu tượng, nhưng là chính cuộc đời trao ban đến tận cùng; và “ngai” không còn là chỗ ngồi, nhưng là vinh quang của tình yêu tự hiến trên ngai thập giá. Chiếc ngai là ảo ảnh của cái tôi, chiếc chén mới là hiện thực của hiệp thông. Vì thế, theo Đức Kitô không phải là bắt chước một hành vi bên ngoài, nhưng là được cuốn vào cùng một chuyển động: từ hiến mình đến trao ban sự sống. Như vậy, câu hỏi không còn là ‘chén hay ngai’, nhưng là làm sao tôi trở nên giống Đức Giêsu Kitô, Thầy mình? “Không ai trở nên giống Đức Kitô mà không đi qua thập giá!” – Edith Stein.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con tham sống, sợ chết; con tìm chỗ nhất, ngại chỗ rốt. Cho con dám uống chén Ngài trao; và biết sống để người khác được sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********

Lời Chúa KÍNH THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ 

25/7 Thứ Bảy Tuần XVI Thường Niên:

Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần…

Chuyện tuổi Xế ChiềuLộc Ninh +

 Ông đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần ba lần trước khi trở thành một trong những tác giả bán chạy nhất thế giới. Cuốn sách nổi tiếng nhất của ông đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Ông từng bị trói vào bàn và phải chịu những cú sốc điện. Khi ấy, ông chỉ là một thiếu niên mà “tội lỗi” duy nhất là muốn trở thành nhà văn thay vì luật sư. Cha mẹ ông, vì lo lắng, cho rằng trí tưởng tượng và sự sáng tạo của con trai là dấu hiệu của bệnh tâm thần nên đã đưa ông vào bệnh viện tâm thần tới ba lần.

Thế nhưng nhiều thập kỷ sau, chính người đàn ông ấy đã ngồi trước một tờ giấy trắng và chỉ trong mười bốn ngày đã viết nên một cuốn sách làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người.

Tên ông là Paulo Coelho, và câu chuyện của ông là minh chứng rằng những người chỉ trích chúng ta gay gắt nhất đôi khi lại sai hoàn toàn về tương lai của chúng ta.

Năm 1988, Paulo đã dồn hết tâm huyết vào một câu chuyện ngụ ngôn giản dị kể về hành trình của một chàng chăn cừu trẻ tuổi đi tìm ước mơ của mình qua sa mạc. Ông đặt tên cho cuốn sách ấy là The Alchemist (Nhà Giả Kim).

Ông biết cuốn sách này có điều gì đó rất đặc biệt, nhưng giới xuất bản lúc bấy giờ lại không hề quan tâm.

Nhà xuất bản đầu tiên phát hành cuốn sách đã nhìn nó nằm phủ bụi trên các kệ sách. Doanh số quá thấp nên họ quyết định ngừng phát hành và trả lại bản quyền cho tác giả.

Người ta nói với ông rằng tác phẩm của ông là một thất bại hoàn toàn.

Nhiều người có lẽ đã từ bỏ vào thời điểm đó. Xét cho cùng, những “chuyên gia” đã lên tiếng. Nhưng Paulo đã từng sống sót sau những liệu pháp sốc điện thực sự; một lá thư từ chối không thể khiến ông bỏ cuộc.

Ông tin sâu sắc vào thông điệp cốt lõi của cuốn sách mình:

“Khi bạn thực sự khao khát một điều gì đó, cả vũ trụ sẽ hợp sức giúp bạn đạt được nó.”

Ông từ chối từ bỏ.

Paulo tìm được một nhà xuất bản thứ hai sẵn sàng trao cho ông cơ hội. Và rồi một điều kỳ diệu đã xảy ra. Thành công không đến nhờ những chiến dịch quảng cáo tốn kém. Cuốn sách phát triển chậm rãi, gần như trong im lặng.

Một người đọc nó, cảm thấy trái tim mình thay đổi và giới thiệu cho một người bạn.

Người bạn ấy lại giới thiệu cho người khác.

Dần dần, những lời truyền miệng nhỏ bé ấy đã trở thành một làn sóng mạnh mẽ.

Cuốn sách đã vượt ra khỏi những con phố của Brazil để đến với mọi ngóc ngách trên thế giới.

Ngày nay, Nhà Giả Kim là một trong những cuốn sách được yêu thích nhất trong lịch sử. Nó đã bán được hơn 150 triệu bản và được dịch ra hơn 80 ngôn ngữ.

Người ta có thể bắt gặp cuốn sách này trên bàn làm việc của những nhà lãnh đạo quyền lực nhất thế giới, cũng như trong ba lô của những sinh viên nghèo không có nhiều tiền.

Nếu Paulo nghe theo cha mẹ mình, có lẽ ông đã sống cả đời như một luật sư bất hạnh.

Nếu ông nghe theo nhà xuất bản đầu tiên, kiệt tác của ông có thể đã biến mất mãi mãi.

Thay vào đó, ông chọn tin vào tiếng nói bên trong mình.

Ông đã cho thế giới thấy rằng thất bại thực sự duy nhất chính là không dám bắt đầu hành trình hoặc bỏ cuộc ngay khi ai đó nói với bạn rằng bạn không thể.

Những khó khăn mà bạn đang trải qua hôm nay không phải là sự trừng phạt.

Chúng chỉ là sự chuẩn bị cho những điều tốt đẹp đang chờ đợi bạn ở phía trước.

Hãy tiếp tục bước đi, vì thế giới vẫn đang chờ được nghe câu chuyện của chính bạn. 


 

Việt Nam bị Mỹ áp thuế thương mại mới (BBC)

(BBC)

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer (phải) – người chỉ đạo cuộc điều tra thương mại đối với Việt Nam – tại một cuộc họp báo ở Nhà Trắng tháng 2/2026

Việt Nam nằm trong nhóm 60 đối tác thương mại sẽ bị chính quyền Tổng thống Donald Trump áp thuế thương mại mới, ngay sau khi mức thuế tạm thời 10% áp dụng trong 150 ngày hết hiệu lực.

Mức thuế mới, từ 10% đến 12,5%, sẽ được áp dụng từ 0 giờ 01 ngày 25/7 theo giờ miền Đông nước Mỹ, theo thông báo đăng trên Công báo Liên bang ngày 24/7.

Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer nói Mỹ đã cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức trong gần một thế kỷ và đã đến lúc các đối tác thương mại cũng thực hiện nghiêm túc các quy định tương tự.

Theo quyết định cuối cùng, Việt Nam nằm trong số các nước sẽ chịu mức thuế 12,5%.

Các mức thuế mới được áp dụng theo Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, với lý do nhiều đối tác chưa thực thi đầy đủ các lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức.

Chính quyền Mỹ cho biết các mức thuế mới sẽ bao phủ 99,4% hàng nhập khẩu vào Mỹ, nhưng miễn trừ đối với nhiều mặt hàng, bao gồm dầu khí, phân bón, một số thực phẩm và các sản phẩm đã chịu thuế theo Điều 232 vì lý do an ninh quốc gia như ô tô, thép, nhôm và đồng.

Hàng hóa đáp ứng các quy định của Hiệp định Thương mại Mỹ-Mexico-Canada (USMCA) cũng được miễn thuế.

Hàng hóa từ Argentina, Bangladesh, Anh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia

Mexico, Pakistan, Sri Lanka và Trinidad và Tobago sẽ chịu thuế 10%.


 

‘Luật To Đẹp’ của Trump đặt 41 tiểu bang trước nguy cơ mất một phần food stamp

Ba’o Nguoi-Viet

July 23, 2026

Mai Phi Long/Người Việt (tổng hợp)

WASHINGTON, DC (NV) – Kể từ Tháng Bảy, 2025, đến Tháng Hai, 2026, khi bắt đầu áp dụng “Luật To Đẹp” (One Big Beautiful Bill) của Tổng Thống Donald Trump đánh dấu bằng việc 3.5 triệu người bị mất các tài trợ thực phẩm qua chương trình SNAP, hay quen gọi là food stamp, theo phân tích của trung tâm Center On Budget and Policy Priorities (CBPP), một viện nghiên cứu chính sách phi đảng phái.

Giữa lúc người dân Mỹ vất vả đối mặt với chi phí thực phẩm, xăng và những nhu yếu phẩm ngày càng cao, hệ quả từ cuộc chiến Iran và chính sách đánh thuế hàng nhập cảng (tariffs), giờ lại chồng thêm tình trạng ngặt nghèo khi “Luật To Đẹp” dần dần có hiệu lực.

Bảng thông báo nhận trả bằng food stamp tại một tiệm bán thực phẩm ở Miami, Florida. (Hình: Joe Raedle/Getty Images)

Theo tường thuật của KTLA và AP, có một con số lạnh lùng rằng 41 tiểu bang đứng trước nguy cơ mất một phần ngân khoản SNAP vì tỷ lệ sai sót vượt 6%, vốn chỉ chín tiểu bang đạt dưới mức này trong tài khóa 2025. 

Luật One Big Beautiful Bill quy định các tiểu bang vượt ngưỡng sai sót 6% phải tự trả từ 5% đến 15% chi phí trợ cấp, bắt đầu sớm nhất từ Tháng Mười, 2027. Luật đặt hóa đơn trước cửa tiểu bang và buộc họ tìm tiền, cắt chương trình khác hoặc loại người đang thụ hưởng ra khỏi SNAP.

Trump áp dụng mức 6% chưa từng có tiền lệ

Mức giới hạn 6% không phải phát minh của chính quyền Tổng Thống Donald Trump. Trước năm 2025, đây là tiêu chuẩn kiểm soát hành chính khi tiểu bang có tỷ lệ sai sót từ 6% trở lên phải nộp kế hoạch sửa chữa, nếu tiếp tục để sai sót cao kéo dài có thể chịu mức chế tài riêng. 

Tuy nhiên, tiền trợ cấp SNAP vẫn do chính phủ liên bang chi trả 100%. Mốc 6% khi ấy chủ yếu là chiếc đèn báo động buộc tiểu bang sửa hệ thống, chứ chưa phải đồng hồ tính tiền trên toàn bộ trợ cấp. 

Luật One Big Beautiful Bill biến chiếc đèn báo động thành hóa đơn. Từ tài khóa 2028, tiểu bang sai sót từ 6% đến dưới 8% phải trả 5% chi phí SNAP; từ 8% đến dưới 10% phải trả 10%; từ 10% trở lên phải trả 15%. Đây là lần đầu Washington chuyển một phần chi phí quyền lợi SNAP sang tiểu bang dựa trực tiếp trên tỷ lệ sai sót. Cùng lúc, phần chi phí điều hành mà tiểu bang phải gánh tăng từ 50% lên 75% bắt đầu từ tài khóa 2027.

Nghịch lý là muốn giảm sai sót, tiểu bang cần thêm nhân viên và hệ thống điện toán; nhưng Washington lại giảm kinh phí. Khi vừa thiếu tiền vừa bị đe dọa phải trả hàng trăm triệu đô la, con đường rẻ nhất có thể làm là tạo khó khăn thêm khiến ít người đạt đủ tiêu chuẩn để được ở lại trong chương trình hơn.

Sai sót không đồng nghĩa với gian lận

“Payment error rate” không phải tỷ lệ gian lận nhưng bao gồm cả việc trả thừa tiền lẫn trả thiếu tiền. Nguyên nhân có thể là người nhận khai báo sai, lợi tức chưa cập nhật, nhân viên tính nhầm, hồ sơ thiếu hoặc quy định quá phức tạp. 

Cơ Quan Nghiên Cứu Quốc Hội nhấn mạnh đây không phải thước đo gian lận vì các hoạt động mua bán trái phép quyền lợi SNAP tại cửa hàng được đo bằng chỉ số khác.

Cho nên việc dùng toàn bộ tỷ lệ sai sót để tạo cảm giác người nghèo “ăn gian” là đánh tráo khái niệm.

Một gia đình được trả thiếu cũng làm tỷ lệ tăng. Một hồ sơ bị tiểu bang tính sai cũng làm tỷ lệ tăng. Nhưng hậu quả có thể rơi xuống người hội đủ điều kiện mà không đủ khả năng đi qua “một núi giấy tờ.” 

Các chuyên gia được CNBC phỏng vấn cho biết người dân đang mất trợ cấp vì không liên lạc được, giấy tờ không được duyệt hoặc đơn bị từ chối sai.

SNAP duy trì ổn định kinh tế

Chương trình SNAP giúp hơn 42 triệu người mua thực phẩm mỗi tháng với khoảng 70% người thụ hưởng là trẻ em, người cao niên hoặc người khuyết tật. Chương trình mang tính “tỷ lệ nghịch” là khi kinh tế suy yếu thì số người thụ hưởng tăng, kinh tế phục hồi thì nhu cầu giảm. 

Bởi vậy, SNAP phải đáp ứng theo thực trạng từng tiểu bang, chứ không thể bị đóng khung bằng mục tiêu tiết kiệm cố định từ Washington.

Về kinh tế vĩ mô, tiền SNAP được tiêu gần như ngay lập tức tại chợ, siêu thị và cửa hàng địa phương. Theo Giáo Sư Sara Bleich, khoa kinh tế của trường Đại Học Harvard, mỗi $1 SNAP tạo ra khoảng $1.50 đến $1.80 trong chu trình hoạt động kinh tế, hỗ trợ việc làm bán lẻ và lợi tức của nông dân. SNAP còn giảm thiếu an ninh thực phẩm, giảm nghèo và hạ chi phí y tế. Cắt SNAP không chỉ lấy đi thức ăn nhưng rút sức mua khỏi những cộng đồng nghèo, nơi mỗi Mỹ kim được “xoay vòng nền kinh tế” nhanh nhất.

Các trung tâm phát thực phẩm miễn phí (ngân hàng thực phẩm/food bank) không thể thay thế SNAP: cứ một bữa ăn do ngân hàng thực phẩm cung cấp thì SNAP cung cấp chín bữa. Kêu gọi từ thiện lấp chỗ trống là chuyển nghĩa vụ quốc gia sang các tổ chức dân sự không đủ nguồn lực.

Cắt gần $187 tỷ trước, rồi để nhu cầu thực tế tự xoay xở

Cần nói chính xác rằng luật không ghi mỗi tiểu bang phải cắt theo hạn ngạch để tổng cộng đúng $187 tỷ. Đây là con số Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội ước tính mức chi liên bang cho các chương trình trợ cấp thực phẩm, tăng dinh dưỡng giảm trong 10 năm, khoảng $186.65 tỷ. 

Nhưng cấu trúc luật được xây dựng trong tiến trình cân đối ngân sách để tạo khoản tiết kiệm ấy, qua yêu cầu làm việc, thu hẹp điều kiện hội đủ, hạn chế cách tính trợ cấp, chuyển chi phí sang tiểu bang và giảm ngân khoản điều hành.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nhu cầu SNAP không phát sinh theo lịch trình “tiết kiệm” của các dân cử Cộng Hòa tại Quốc Hội mà thay đổi theo tình trạng thất nghiệp, tiền thuê nhà, giá thực phẩm, thiên tai, sức khỏe và mức lương địa phương. 

Trung tâm CBPP ghi nhận số người nhận SNAP giảm mạnh trong khi tỷ lệ thất nghiệp gần như đứng yên quanh mức 4% cho thấy rất khó kết sự suy giảm xảy ra là vì người dân bớt cần trợ giúp.

Cơ Quan Ngân Sách Quốc Hội (CBO) dự đoán riêng cơ chế bắt tiểu bang chia sẻ chi phí có thể khiến khoảng 300,000 người mất SNAP trong một tháng trung bình và ảnh hưởng quyền lợi dinh dưỡng của khoảng 96,000 trẻ em. Các thay đổi về giới hạn thời gian làm việc được dự đoán làm giảm khoảng 2.4 triệu người tham gia mỗi tháng trong giai đoạn 10 năm.

Cắt thức ăn giữa lúc giá cả và chiến phí tăng

Vào Tháng Sáu, 2026, giá tiêu thụ tại Mỹ cao hơn một năm trước 3.5%; giá thực phẩm tăng 3%, năng lượng tăng 15.7% và xăng tăng 26.7%. Chiến tranh Iran và gián đoạn quanh eo biển Hormuz không phải nguyên nhân duy nhất của lạm phát, nhưng đã tạo thêm cú sốc dầu khí và đẩy giá xăng trung bình tại Mỹ vượt $4 một gallon trong Tháng Bảy.

Trong khi đó, Bộ Quốc Phòng cho biết chiến tranh Iran tiêu tốn khoảng $37.5 tỷ tính đến ngày 21 Tháng Bảy và xin thêm $67.1 tỷ. 

Hạ Viện do Đảng Cộng Hòa lãnh đạo vừa thông qua đề nghị ngân sách $95 tỷ, trong đó $60 tỷ dành cho Ngũ Giác Đài và $13 tỷ cho các nhu cầu an ninh khác. 

Không thể nói mỗi Mỹ kim cắt khỏi SNAP được chuyển thẳng sang một trái hỏa tiễn; ngân sách liên bang không vận hành bằng cách đánh dấu từng đồng đô la. Nhưng sự đối chiếu cho thấy thứ tự ưu tiên: tiền chiến tranh được gọi là khẩn cấp, còn tiền cho bữa ăn của trẻ em lại bị đặt dưới phép thử sai sót hành chính. 

SNAP giúp hơn 42 triệu người mua thực phẩm mỗi tháng với khoảng 70% người thụ hưởng là trẻ em, người cao niên hoặc người khuyết tật. (Hình minh họa: Joe Raedle/Getty Images)

“Bán cái” cho tiểu bang để Washington thoái thác nghĩa vụ 

Mục tiêu công khai của chính quyền ông Trump là buộc tiểu bang chịu trách nhiệm với việc chống lãng phí và bảo vệ người đóng thuế. Nhưng cơ chế này còn “bán cái” cho tiểu bang qua việc Washington đặt tiêu chuẩn, giảm tài trợ kinh phí rồi chuyển hóa đơn xuống dưới. 

Nếu tiểu bang phải tăng thuế, cắt giáo dục, giảm dịch vụ khác hoặc siết SNAP để cứu đói cho cư dân thì chính phủ liên bang đổ hô rằng “đó là lựa chọn của tiểu bang.”

Đây cũng là cách cắt chương trình mà không phải công khai tuyên bố sẽ lấy thức ăn của hàng triệu người. Một lá thư thất lạc hoặc tài liệu không tải được lên mạng có thể dẫn đến kết quả cắt trợ cấp cho một cư dân đứng trước nguy cơ đói ăn.

Cũng không thể nói một khoản SNAP cụ thể trực tiếp trả cho một khoản giảm thuế cụ thể. Tuy nhiên, đáng đề cập đến là các chương trình dành cho người lợi tức thấp bị cắt trong cùng đạo luật kéo dài nhiều ưu đãi thuế cá nhân và doanh nghiệp, gồm khấu hao nhanh, khấu trừ chi phí nghiên cứu và ưu đãi đối với lợi tức kinh doanh. 

Phân tích của CBO cho thấy gia đình thuộc 10% lợi tức thấp nhất mất trung bình khoảng $1,214 nguồn lực mỗi năm, trong khi 10% cao nhất được thêm khoảng $13,622 và nhóm giàu nhất nhận gần 64% tổng mức gia tăng nguồn tài chính. Đó là bằng chứng rõ về chiều phân phối của đạo luật cắt từ thành phần phía dưới dồn lên trên. (Congressional Budget Office)

“To Đẹp” với người giàu, khắc nghiệt với người đói

Tên gọi One Big Beautiful Bill nghe như một lời quảng cáo bóng bẩy. Nhưng với gia đình trong hoàn cảnh tài chánh chật vật phải chọn giữa tiền thuê nhà, thuốc men và thực phẩm, vẻ “đẹp” ấy rất khó nhìn thấy. 

Với học sinh nghèo mất con đường tự động vào bữa ăn miễn phí, với người cao niên phải chứng minh lại từng giấy tờ, và với tiểu bang bị đặt giữa tăng thuế và cắt trợ cấp. Luật “To” này không hề “Đẹp.”

Điều mỉa mai là nhiều cử tri lợi tức thấp tiếp tục bỏ phiếu cho những chính trị gia với khẩu hiệu đầy mỹ từ về bảo tồn giá trị văn hóa, duy trì bản sắc nhưng thực tế làm ngân sách theo hướng có lợi nhất cho người giàu và đại công ty. 

Không phải là họ thiếu hiểu biết, nhưng cái bẫy quá tinh vi hơn thế. Họ được mời bỏ phiếu vì nỗi sợ và lòng trung thành đảng phái, trong khi sự chuyển giao tài sản diễn ra bằng những công thức khó hiểu như “tỷ lệ sai sót 6%.”

Sau cùng, Big Beautiful Bill có thể thật sự “big” đối với hóa đơn chiến tranh, “beautiful” đối với các mục giảm thuế của người giàu cuối năm, nhưng đối với người nghèo và học sinh cần một bữa ăn, ba chữ cái thứ nhì trong bảng mẫu tự đứng chung với nhau, “BBB” còn có nghĩa là: “Đói!” [kn]


 

KHÁM PHÁ KHO BÁU TIN MỪNG-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Mát-thêu (13, 44-46) Chúa nhật 17 thường niên)

Kho báu núi Tàu

Vụ việc nầy được báo chí trong nước đăng tải khá nhiều trong những năm gần đây, thu hút sự chú ý của nhiều độc giả.

 Từ năm 1963, cụ Trần Văn Tiệp nắm được những thông tin rất thuyết phục cho rằng trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Việt Nam, quân đội Nhật Bản sau khi bị quân đồng minh đánh bại, được lệnh rút khỏi Việt Nam, có mang đi một khối lượng vàng rất lớn nhờ vơ vét được tại các nước châu Á mà họ chiếm đóng, nhưng vì bị phe đồng minh theo dõi, quân Nhật không thể chuyển ngay số vàng mà họ chiếm được về nước nên đã chôn giấu chừng 4.000 tấn vàng trên núi Tàu, một ngọn núi nhỏ thuộc huyện Tuy Phong, gần nhà máy nước Vĩnh Hảo, tỉnh Bình Thuận, để chờ khi có cơ hội thuận tiện sẽ đưa về Nhật sau.

 Cụ Tiệp được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận cho phép thăm dò và khai thác và đã đầu tư rất nhiều tiền bạc cho dự án này suốt 22 năm trời, nhưng không may, đến tháng 3 năm 2015, giấy phép hết hạn, cụ phải ngừng công cuộc thăm dò mà vẫn chưa tìm thấy dấu vết kho tàng.

 Câu chuyện nầy liên quan mật thiết với dụ ngôn Chúa Giê-su dạy hôm nay:

 “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

“Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.”

Kho báu quý nhất trên đời

 Có một kho báu triệu lần đáng quý hơn bất cứ kho báu nào khác ở trần gian đang nằm trong tầm tay chúng ta nhưng tiếc thay, có nhiều người không biết đến, đó là Lời Chúa phán dạy trong Tin mừng, ta gọi đó là kho báu Tin mừng.

 Kho báu Tin mừng đáng quý triệu lần hơn mọi báu vật trần gian vì nhờ lời Chúa dạy trong Tin mừng mà muôn người được cứu rỗi và được hưởng phúc thiên đàng đời đời vinh hiển.

Các thánh Tông đồ, các thánh nam nữ được hưởng phúc thiên đàng không phải vì chiếm hữu được kho báu trần gian, không phải vì có nhiều vàng ngọc châu báu… nhưng vì các ngài thủ đắc được kho tàng lời Chúa trong Tin mừng và áp dụng những lời khôn ngoan đó vào cuộc sống.

 – Kho báu Tin mừng đáng quý triệu lần hơn mọi báu vật trần gian vì khi được thấm nhuần những lời dạy của Tin mừng, tính nết con người được cải thiện, phẩm chất con người được nâng cao, đời sống con người thêm hạnh phúc… trong khi những người nắm giữ kho báu trần gian dễ bị sa đọa vì xa hoa và lạc thú do tiền tài mang lại, nên dễ dàng đánh mất hạnh phúc thiên đàng.

Kiên tâm tìm kiếm kho báu Tin mừng

 Cụ Trần Văn Tiệp đã thao thức đào xới, tìm kiếm kho báu núi Tàu suốt 22 năm. Còn chúng ta, chúng ta có chấp nhận bỏ ra mỗi ngày mươi phút để khai thác kho báu Tin mừng hay không?

 Kho báu trần gian thường nằm ở chốn rừng hoang, ở những nơi xa xôi hiểm trở hoặc dưới lòng đất sâu… nên cần phải mạo hiểm, cần đầu tư rất nhiều tiền bạc và công sức may ra mới chiếm hữu được; trong khi kho báu Tin mừng nằm trong tầm tay mọi người, muốn khai thác lúc nào cũng được mà không phải tốn kém. Vậy thì chúng ta hãy khởi sự khai thác ngay hôm nay để làm giàu cho đời sống thiêng liêng của mình.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã mang kho báu Tin mừng là Lời khôn ngoan của Thiên Chúa từ Trời xuống để ban tặng cho chúng con.

 Xin cho chúng con biết miệt mài khai thác hằng ngày để được sống trong bình an, hạnh phúc ở đời nầy và được hưởng phúc lộc đời đời với Chúa mai sau. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 *****

Tin mừng Mát-thêu 13, 44-46

44 “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy.

45 “Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp.46 Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Bài học của Na-Uy : Mỏ dầu hỏa

Bài học Na Uy: Câu chuyện “hũ gạo” và tầm nhìn xuyên thế kỷ.

Năm 1969, những người ngư dân ngoài khơi Na Uy bỗng thấy một cảnh tượng lạ lẫm: những giàn khoan dầu mọc lên giữa đại dương. Mỏ Ekofisk được tìm thấy, mở ra một trong những túi dầu lớn nhất thế giới.

Lúc đó, Na Uy biết mình sắp giàu to. Nhưng bạn biết đấy, hầu hết các quốc gia khi bỗng dưng “trúng số” nhờ dầu mỏ đều vấp phải một sai lầm chết người: Là có bao nhiêu tiêu bấy nhiêu. Quyết định ngược đời Trong khi những nước khác như Venezuela, Irak, Lybie hay Nigeria tiêu sạch tiền dầu vào các dự án hào nhoáng rồi cuối cùng rơi vào nợ nần khi dầu cạn, thì Na Uy lại chọn một lối đi riêng.

Năm 1990, Quốc hội Na Uy đưa ra một quyết định thay đổi hoàn toàn vận mệnh đất nước: Thay vì tiêu tiền dầu, họ đem đi cất.

Không phải cất một phần đâu, mà là gần như tất cả. Họ lập ra một quỹ đầu tư. Quy tắc cực kỳ đơn giản nhưng gây sốc: Toàn bộ lợi nhuận từ dầu mỏ sẽ được đổ vào quỹ này để đi đầu tư khắp thế giới. Mỗi năm, Chính phủ chỉ được phép rút ra một phần nhỏ (khoảng 3%) để chi tiêu. Phần còn lại? Cứ để đó cho nó “đẻ” thêm tiền. Mãi mãi.

Và lòng kiên trì thắng được sự cám dỗ

Lúc đó, nhiều người bảo họ điên. “Giàu mà không tiêu à?”, “Sao không giảm thuế, xây thêm đường sá ngay đi?”.

Chính phủ Na Uy chỉ trả lời đơn giản: “Vì con cháu chúng ta rồi sẽ ra đời, và chúng sẽ cần số tiền này hơn chúng ta bây giờ.”

Năm 1996, họ bỏ 150 triệu đô la đầu tiên vào quỹ. Suốt 30 năm sau đó, bất kể kinh tế đi xuống hay dân tình kêu ca, các chính trị gia Na Uy vẫn giữ đúng lời hứa. Họ không động vào “tiền xương máu” của tương lai để mua vui cho hiện tại.

Kết quả của việc “chọn cháu chắt thay vì bản thân”

Đến cuối năm 2025 này, quỹ này đã chạm mốc 2.000 tỷ đô la.

Hãy tưởng tượng: Na Uy chỉ có khoảng 5,6 triệu dân. Nếu chia đều, mỗi người dân nghiễm nhiên có khoảng 357.000 đô la (hơn 9 tỷ đồng) trong tài khoản chung.

Nhưng điều kinh ngạc nhất là gì? Hơn một nửa giá trị của quỹ hiện nay không phải đến từ tiền bán dầu, mà đến từ tiền lãi đầu tư. Hiện tại, số tiền quỹ này kiếm được từ việc sở hữu cổ phần của gần 9.000 công ty khắp thế giới (như Apple, Microsoft, Amazon…) còn nhiều hơn cả tiền bán dầu thô.

Một di sản vĩnh cửu

Dầu mỏ rồi sẽ hết, có thể là 30 hay 50 năm nữa. Nhưng với người Na Uy, điều đó chẳng còn đáng sợ.

Khi giọt dầu cuối cùng được hút lên, họ vẫn sẽ có một “núi tiền” khổng lồ tiếp tục sinh lời. Nhờ đó, trẻ em Na Uy vẫn được đi học miễn phí, người già vẫn có lương hưu cao, và người bệnh vẫn được chăm sóc y tế hàng đầu — tất cả nhờ vào những thùng dầu đã bán từ nửa thế kỷ trước.

Cái tài của người Na Uy không phải là tìm thấy dầu. Cái tài của họ là biết nói “Không” với đồng tiền dễ dãi hôm nay để đổi lấy sự thịnh vượng bền vững cho mai sau. Ngoài việc là chính sách kinh tế, đó còn là một bài học về sự tử tế: Sống và xây dựng cho những người thế hệ tương lai mà chúng ta hôm nay thậm chí sẽ không bao giờ gặp mặt.

Anh chị nghĩ như thế nào về quyết sách của chính phủ Na Uy?

From: Tu-Phung


 

HỎI: Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận?

HỎI: Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận?

Đặt bạn vào vị trí của một Triết gia, Khoa học gia, nhà Thần học, bạn nghĩ gì về: sự Vô Thường, Nhân quả và Định mệnh hay Số phận? Chúng liên kết nhau thế nào trong cuộc sống con người?

Đây là một câu hỏi mang tính gợi mở rất lớn, chạm đến những băn khoăn cốt lõi nhất về nhân sinh. Khi đặt ba góc nhìn — Triết gia, Khoa học giaNhà Thần học — bên cạnh nhau, ta không thấy sự bài xích lẫn nhau mà là một bức tranh toàn cảnh, đa chiều về cuộc sống.

GEMINI Tra Loi:

1. Dưới góc nhìn của Triết gia

Triết học coi ba khái niệm này là các trụ cột để định hình thái độ sống và tư duy nhân sinh:

  • Vô thường (Impermanence): Là bản chất của thực tại. Mọi vật, mọi trạng thái hay cảm xúc đều nằm trong dòng chảy biến đổi liên tục. Triết gia cổ đại Hy Lạp Heraclitus từng đúc kết: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” — bởi cả dòng nước lẫn con người bước xuống đó đều đã khác đi từng giây.
  • Nhân quả (Causality): Là quy luật của trách nhiệm. Mọi suy nghĩ, lựa chọn và hành động hôm nay đều là nguyên nhân gieo vào thực tại, từ đó gặt hái kết quả trong tương lai. Nhân quả gạt bỏ sự ngẫu nhiên vô nghĩa, khẳng định con người là chủ thể tạo nên số phận của chính mình.
  • Định mệnh / Số phận (Fate / Determinism): Là cuộc đối thoại giữa Tính tất địnhÝ chí tự do (Free Will). Định mệnh không hẳn là một kịch bản bất biến được gán sẵn, mà là tập hợp những điều kiện ban đầu nằm ngoài tầm kiểm soát của ta (nơi sinh ra, thời đại, gia cảnh).

Góc nhìn triết học: Vô thường nhắc ta buông bỏ sự bám chấp; Nhân quả nhắc ta sống có trách nhiệm; còn Định mệnh nhắc ta biết chấp nhận những gì không thể thay đổi để tập trung vào những gì có thể chuyển biến.

2. Dưới góc nhìn của Khoa học gia

Khoa học không dùng các khái niệm tâm linh, nhưng giải thích các hiện tượng này bằng những ngôn ngữ chính xác của tự nhiên:

  • Vô thường $\rightarrow$ Entropy và Sự tiến hóa: Vũ trụ luôn vận hành theo định luật Nhiệt động lực học — mọi hệ thống từ ngôi sao, tế bào đến xã hội đều đi từ trật tự đến biến đổi và tan rã. Sự sống diễn ra nhờ quá trình không ngừng trao đổi chất và đột biến gen.
  • Nhân quả $\rightarrow$ Nguyên nhân & Hậu quả (Cause and Effect): Đây là nền tảng của phương pháp khoa học và Vật lý cổ điển. Định luật Newton, các phản ứng hóa học hay y học hiện đại đều dựa trên nguyên lý: không có kết quả nào xuất hiện mà không có nguyên nhân báo trước.
  • Định mệnh $\rightarrow$ Điều kiện biên & Xác suất (Probability): Khoa học xem “định mệnh” là sự kết hợp giữa mã gen, môi trường sống ban đầutính ngẫu nhiên/xác suất (như trong Cơ học lượng tử hay Lý thuyết hỗn loạn – Chaos Theory). Việc một người mắc bệnh hay gặp may mắn thường là sự tương tác giữa yếu tố di truyền, hành vi và xác suất thống kê.

Góc nhìn khoa học: “Số phận” là bộ bài ngẫu nhiên mà tự nhiên chia cho bạn, nhưng cách bạn chơi bộ bài đó tuân theo các quy luật nhân quả của vật lý, sinh học và hành vi.

3. Dưới góc nhìn của Nhà Thần học

Trong thần học và các truyền thống tôn giáo lớn, ba yếu tố này gắn kết chặt chẽ với tâm linh và đạo đức:

  • Phật giáo:
    • Vô thường ($Anicca$) là cốt lõi của thế gian.
    • Nhân quả / Nghiệp ($Karma$) là quy luật công bằng của vũ trụ. Nghiệp không phải là sự trừng phạt hay ban thưởng từ bên ngoài, mà là phản chiếu tự nhiên của hành vi ($Cetanā$).
    • Số phận: Phật giáo phủ nhận một định mệnh cố định. Nghiệp cũ tạo ra hoàn cảnh hiện tại, nhưng “nghiệp mới” tạo ra ngay trong giây phút này có thể chuyển hóa và thay đổi hoàn toàn tương lai.
  • Kitô giáo & Các tôn giáo Abraham:
    • Sự Quan phòng (Divine Providence) & Tự do ý chí: Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ có trật tự và có ý định tối thượng. Tuy nhiên, Ngài ban cho con người tự do ý chí để tự lựa chọn con đường của mình.
    • Nhân quả: Được thể hiện rõ qua nguyên lý gieo-gặt: “Ai gieo giống nào sẽ gặt thứ ấy”.

Góc nhìn thần học: Vô thường giúp con người nhận ra tính ngắn ngủi của đời sống trần thế để hướng về giá trị vĩnh cửu; Nhân quả và Định mệnh là bài học tâm linh để con người rèn luyện sự khiêm nhường, lòng tin và tình yêu thương.

4. Sự liên kết giữa ba yếu tố trong cuộc sống con người

Nếu dung hợp cả ba góc nhìn thành một hình ảnh ẩn dụ, cuộc đời con người giống như một hành trình chèo thuyền trên dòng sông:

[Định mệnh / Số phận]       [Vô thường]            [Nhân quả]

(Điều kiện ban đầu &        (Dòng chảy &        (Cú chèo lái &

 Những yếu tố khách quan)    Thời tiết thay đổi)  Lựa chọn hướng đi)

          │                       │                     │

          └───────────────────────┼─────────────────────┘

                                  ▼

                     [Cuộc đời & Tương lai con người]

  1. Định mệnh là chiếc thuyền bạn được trao và điểm xuất phát trên sông (bạn không chọn được nơi mình sinh ra, gen di truyền hay gia cảnh).
  2. Vô thường là bản chất của dòng sông (nước luôn chảy, thời tiết có lúc giông bão, có lúc êm đềm; sức khỏe và cảnh trí hai bên bờ luôn đổi thay).
  3. Nhân quả là cách bạn cầm mái chèo (mỗi quyết định rẽ trái, rẽ phải, chèo tiếp hay dừng lại đều quyết định vị trí của con thuyền ở khúc sông tiếp theo).

Lời kết

  • Nhận thức Vô thường mang lại sự tĩnh lặng và khả năng thích ứng trước sóng gió.
  • Hiểu rõ Nhân quả trao cho bạn sức mạnh và sự chủ động để gieo những điều tốt đẹp ngay từ hôm nay.
  • Chấp nhận Định mệnh mang lại sự bình an, giúp bạn ngưng oán trách những điều không thể chọn lựa.

Sự tương tác liên tục giữa ba yếu tố này chính là nét đẹp và ý nghĩa sâu xa nhất của hành trình làm người: Dù không thể chọn bộ bài được chia, bạn luôn có toàn quyền quyết định cách mình sẽ chơi bài.


 

TRÁI TIM CŨNG CÓ KÝ ỨC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nó không đâm rễ!”.

“Quá khứ không bao giờ chết; nó thậm chí còn chưa qua!” – William Faulkner.

Kính thưa Anh Chị em,

Quá khứ không bao giờ thực sự qua đi; nhiều khi nó vẫn âm thầm sống trong chúng ta. Mảnh đất từng bị giẫm nát sẽ khác với đất được chăm sóc. Trái tim con người cũng vậy: ‘trái tim cũng có ký ức’.

Không phải đất nào cũng giống nhau. Có mảnh mềm, có mảnh cứng; có nơi đầy sỏi đá, có nơi um tùm gai góc. Đó không chỉ là địa chất của cánh đồng, mà còn là địa chất của tâm hồn. Theo năm tháng, mọi chọn lựa, mọi tổn thương, những lần khép lòng hay mở lòng đều âm thầm để lại dấu vết. Bởi thế, trước khi hạt giống kịp bén rễ, mảnh đất đã mang sẵn cả một lịch sử. Trái tim giữ lại những vết thương của quá khứ, và biến chúng thành lớp đất chai sần ngăn Lời Chúa bén rễ.

Dụ ngôn Chúa Giêsu kể không ca ngợi một mảnh đất tốt, nhưng mặc khải một người gieo quảng đại. Hạt giống được gieo khắp nơi, không vì đất nào cũng xứng đáng, nhưng vì Thiên Chúa không bao giờ thôi hy vọng con người được biến đổi. Đó không phải là lãng phí, mà là cách Ngài yêu thương. Ngài không chờ đất tốt rồi mới gieo; Ngài gieo để đất có cơ hội trở nên tốt. Ngài không nhìn mảnh đất như nó đang là, nhưng như nó có thể trở thành. Logic của ân sủng là thế: luôn đi trước mọi công trạng và mở ra khả năng đổi thay.

Nhưng mọi sự phải bắt đầu từ nơi sâu kín nhất. Giêrêmia cho thấy điều Thiên Chúa muốn chữa lành không phải là hoàn cảnh, mà là lòng người, để “chúng sẽ không còn sống buông thả theo lòng dạ xấu xa” – bài đọc một. Bản Hy Lạp của bài đọc viết kardía – “trái tim”, trung tâm của ký ức và những chọn lựa. Vì thế, điều Chúa muốn biến đổi không phải là hạt giống – Lời vốn luôn tốt lành – nhưng là lòng người, mảnh đất bên trong. Chỉ khi đất lòng được Ngài canh giữ mới có thể trở thành mảnh đất sinh lợi. Thảo nào Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Chúa canh giữ chúng ta, như mục tử canh giữ đàn chiên!”.

Phần chúng ta, điều cản trở Lời nhiều khi không phải chúng ta không nghe, nhưng chúng ta nghe bằng một trái tim còn rỉ máu vì quá nhiều thương tổn. Ký ức còn hằn thương tích dễ biến hy vọng thành nghi ngờ, lời mời gọi thành nỗi sợ, và hạt Lời thành điều không thể bén rễ.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã không né tránh thập giá; chính nơi đó, Ngài chữa lành trái tim con người từ tận căn, để những gì đã qua không còn trói buộc hiện tại và Lời có thể đâm rễ. Vì thế, đừng sợ mang đến cho Ngài những ký ức làm chúng ta nặng lòng, những vết thương chưa khép, những tội lỗi đang giấu kín. Đấng đã yêu chúng ta đến cùng sẽ kiên nhẫn biến đất chai cứng thành nơi có thể trổ sinh hoa trái. Nơi Đức Kitô, ‘trái tim cũng có ký ức’, nhưng ký ức không còn là số phận. “Mọi sự sẽ ổn, mọi sự sẽ ổn, và mọi sự rồi sẽ ổn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để quá khứ con cầm tù hiện tại; đừng để vết thương cũ quyết định cách con sống; xin chạm đến và chữa lành những điều con chưa bao giờ thôi đau!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế