TRƯỜNG HỢP HIỆN RA DUY NHẤT CỦA THÁNH GIUSE ĐƯỢC GIÁO HỘI CÔNG NHẬN – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

TRƯỜNG HỢP HIỆN RA DUY NHẤT CỦA THÁNH GIUSE ĐƯỢC GIÁO HỘI CÔNG NHẬN – Lm. Anmai, CSsR

Trong truyền thống Công giáo, Cotignac bên nước Pháp thường được nhắc đến như trường hợp hiện ra công khai duy nhất của Thánh Giuse được Giáo hội nhìn nhận cách đặc biệt. Biến cố này gắn với đền thánh Thánh Giuse tại Bessillon, gần làng Cotignac, thuộc miền Provence ở Pháp. Trang chính thức của đền thánh xác nhận nơi đây kính nhớ cuộc hiện ra của Thánh Giuse vào ngày 7 tháng 6 năm 1660.

Cũng cần nói thêm một chi tiết quan trọng để tránh nhầm lẫn: nếu nhắc đến 150 năm ngày chân phước Piô IX tuyên bố Thánh Giuse là Đấng Bảo Trợ Giáo hội hoàn vũ, thì mốc ấy là năm 2020, chứ không phải năm 2021, vì sắc lệnh Quemadmodum Deus được ban hành ngày 8 tháng 12 năm 1870. Chính Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse từ 8.12.2020 đến 8.12.2021 để kỷ niệm biến cố ấy.

Biến cố tại Cotignac xảy ra cách đây hơn ba thế kỷ rưỡi. Hôm ấy, vào ngày 7 tháng 6 năm 1660, một người chăn chiên trẻ tên là Gaspard Ricard đang chăn đàn vật trên sườn núi Bessillon, cách làng Cotignac không xa. Giữa cái nắng gay gắt của mùa hè, anh khát khô cổ và kiệt sức. Theo truyền thuật được lưu giữ tại nơi hành hương, một người đàn ông cao lớn bất ngờ hiện ra, chỉ vào một tảng đá và nói với anh: “Ta là Giuse; hãy nhấc tảng đá ấy lên, rồi con sẽ uống nước.” Sự kiện này được các nguồn về Cotignac lặp lại với cùng các yếu tố chính: tên thị nhân là Gaspard Ricard, ngày xảy ra là 7.6.1660, và dấu lạ gắn với mạch nước phát sinh từ dưới tảng đá.

Điều làm người ta kinh ngạc là tảng đá ấy rất nặng, bình thường không thể một mình di chuyển được. Thế nhưng, sau lời của Thánh Giuse, người chăn chiên đã nhấc được tảng đá và uống nước từ một dòng suối trong lành bỗng xuất hiện. Từ đó, mạch nước này trở thành dấu chỉ gắn liền với đền thánh Thánh Giuse ở Bessillon, và nơi đây dần trở thành điểm hành hương của rất nhiều tín hữu. Chính trang chính thức của khu đền thánh tại Cotignac vẫn giới thiệu nơi này như địa điểm tưởng niệm cuộc hiện ra của Thánh Giuse ngày 7.6.1660.

Điểm đặc biệt của biến cố Cotignac là: trong các sách Tin Mừng, Thánh Giuse không để lại một lời nói nào. Ngài hiện diện âm thầm, vâng phục, công chính, bảo vệ Đức Maria và Chúa Giêsu bằng hành động hơn là bằng ngôn từ. Bởi thế, trong lòng đạo bình dân, lời nói gắn với cuộc hiện ra ở Cotignac thường được nhắc đến với lòng xúc động sâu xa, vì đó là lời duy nhất được truyền thống gán cho cuộc hiện ra của Thánh Giuse tại một nơi hành hương được Giáo hội tôn kính. Tuy nhiên, cần diễn đạt cẩn trọng: đây là lời của Thánh Giuse trong biến cố hiện ra tại Cotignac, chứ không phải “lời duy nhất của Thánh Giuse” theo nghĩa tuyệt đối của toàn bộ truyền thống Kitô giáo.

Sau biến cố năm 1660, tại nơi xuất hiện mạch nước, người ta đã dựng một nhà nguyện để kính Thánh Giuse, rồi sau đó hình thành một trung tâm hành hương. Theo các nguồn lịch sử của khu vực này, việc xây dựng nhà nguyện đầu tiên bắt đầu ngay trong năm 1660, công trình lớn hơn được khởi sự năm 1661 và được cung hiến năm 1663. Đến thời Cách mạng Pháp, nơi đây bị bỏ hoang và rơi vào cảnh điêu tàn trong một thời gian dài.

Về sau, đời sống cầu nguyện được phục hồi tại nơi đây. Lịch sử của tu viện Thánh Giuse ở Bessillon cho biết một cộng đoàn nữ đan sĩ Biển Đức từ Médéa, Algeria, đã đến tiếp quản nơi này vào năm 1975. Từ năm 2019, cộng đoàn Mater Dei tiếp tục hiện diện và phục vụ khách hành hương. Nhờ vậy, đền thánh lại trở thành nơi cầu nguyện sống động, đón tiếp nhiều tín hữu tìm đến bên “suối Thánh Giuse” để khẩn cầu, tạ ơn và kín múc bình an.

Ngày nay, Cotignac vẫn là một địa điểm hành hương rất được yêu mến tại Pháp. Không chỉ vì nơi đây gắn với cuộc hiện ra của Đức Mẹ năm 1519, mà còn vì cuộc hiện ra của Thánh Giuse năm 1660, làm cho Cotignac được nhìn như một miền đất đặc biệt của Thánh Gia. Trang chính thức của đền thánh Đức Mẹ ở Cotignac cũng giới thiệu nơi này như vùng đất được Thánh Gia tuyển chọn để ban nhiều ơn lành cho dân Chúa.

Nếu Cotignac là nơi tiêu biểu cho cuộc hiện ra của Thánh Giuse, thì ở một châu lục khác, có một nơi đặc biệt tôn vinh quyền năng chuyển cầu của ngài, đó là Đền thánh Thánh Giuse trên núi Mont-Royal ở Montréal, Canada, thường được gọi là Saint Joseph’s Oratory. Nơi đây gắn liền với Thánh André Bessette, vị tu huynh khiêm nhường của Dòng Thánh Giá, người đã hết lòng cổ võ lòng sùng kính Thánh Giuse và trở nên nổi tiếng vì đời sống cầu nguyện đơn sơ mà đầy quyền năng. Chính trang chính thức của Đền thánh xác nhận ngài là vị sáng lập công trình này.

Thánh André Bessette luôn quy hướng mọi vinh quang về cho Thánh Giuse. Tinh thần của ngài là không nhận công cho riêng mình, nhưng chỉ xem mình như người đầy tớ nhỏ bé phục vụ công trình của Thiên Chúa. Nhờ chứng tá đó, lòng sùng kính Thánh Giuse lan rộng mạnh mẽ, và từ một nhà nguyện nhỏ, nơi đây dần dần trở thành một trung tâm hành hương nổi tiếng khắp thế giới. Công trình đầu tiên được làm phép vào ngày 19 tháng 10 năm 1904. Sau đó, một nhà thờ hầm có sức chứa khoảng 1.000 chỗ được hoàn tất năm 1917.

Phần Vương cung thánh đường lớn của Đền thánh được khánh thành vào ngày 19 tháng 3 năm 1955; còn toàn bộ công trình đồ sộ hoàn thành vào năm 1967. Theo dữ liệu chính thức của Đền thánh, lòng nhà thờ dài 105 mét, rộng 37 mét ở gian chính và 65 mét nơi hai cánh ngang, cao 60 mét ở nội thất và khoảng 97 mét ở phần ngoài của mái vòm. Sức chứa chỗ ngồi là hơn 2.000 người, trong khi tổng sức chứa tối đa lên tới khoảng 10.000 người.

Đây là một trong những đền thánh nổi tiếng nhất tại Canada, thu hút hơn 2 triệu khách hành hương và du khách mỗi năm. Nhiều người tìm đến không chỉ để chiêm ngắm một công trình kiến trúc lớn lao, nhưng còn để cảm nhận bầu khí thinh lặng, cầu nguyện và đức tin mà Thánh André Bessette đã gieo vào nơi ấy bằng chính cuộc sống nghèo hèn và phó thác của mình.

Khi Thánh André Bessette qua đời năm 1937, lòng kính mến của dân Chúa dành cho ngài bộc lộ cách mạnh mẽ. Danh tiếng thánh thiện của ngài không phát xuất từ quyền lực hay học vấn, nhưng từ đời sống hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và lòng gắn bó đặc biệt với Thánh Giuse. Qua con người nhỏ bé ấy, thế giới nhận ra rằng Thánh Giuse không hề xa cách, nhưng vẫn luôn là người cha âm thầm bảo vệ, gìn giữ và chuyển cầu cho Hội Thánh.

Vì thế, khi nói về trường hợp hiện ra duy nhất của Thánh Giuse được Giáo hội nhìn nhận cách nổi bật, người tín hữu thường nhớ đến Cotignac. Còn khi nói về nơi tôn vinh quyền năng chuyển cầu của Thánh Giuse cách hùng hồn nhất trong thời hiện đại, người ta nghĩ đến Đền thánh Thánh Giuse ở Montréal. Một nơi nhắc đến sự hiện ra, một nơi làm chứng cho sự chuyển cầu; cả hai đều dẫn chúng ta đến cùng một xác tín: Thánh Giuse vẫn luôn âm thầm hiện diện trong lịch sử cứu độ và trong đời sống của Giáo hội.

Lm. Anmai, CSsR


 

TRAO SỰ SỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý”.

“Cuộc sống con người là một tiến trình liên lỉ làm quen với những điều không ngờ! Điều không ngờ cuối đời… là đau đớn, thở gấp và đợi chết! Nhưng ở bất cứ giai đoạn nào, một cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi biết ‘trao sự sống’ và cứu sống!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Khác với con người, Thiên Chúa không đi qua bất cứ giai đoạn nào: Ngài hằng hữu, hằng sống và đời đời. Lời Chúa hôm nay mặc khải một Thiên Chúa dịu dàng như mẹ, vững vàng như cha – Đấng ‘trao sự sống’ và cứu sống.

Isaia gợi lên hình ảnh một người mẹ không thể quên đứa con mình cưu mang: “Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca xác tín: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu!”. Thế nhưng, giữa đời thường, không ít lần chúng ta chỉ muốn buông xuôi khi những nỗ lực không được ghi nhận, những hy sinh không ai hay biết, những cô đơn không gọi được tên. Vâng, con người có thể quên nhau, Thiên Chúa thì không. Ngài như một người mẹ đau đáu con mình – cụ thể, bền bỉ và không nguôi. Chính ký ức yêu thương ấy gìn giữ và nâng đỡ chúng ta từng ngày. “Tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn mọi sự lãng quên của con người!” – Henri Nouwen.

Với bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định quyền năng ban sự sống của Ngài: “Người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý”; “Giờ đã đến – và chính là lúc này đây!”. Giờ của Ngài chính là ‘giờ sinh nở’ tử nạn và phục sinh; qua đó, Ngài ‘trao sự sống’ mới cho những ai tin. Vì thế, mọi môn đệ, trong mọi bậc sống, đều được mời gọi tiếp nối công việc của Ngài – ‘trao sự sống’ và cứu sống. Thánh Augustinô gọi đó là “cuộc trao đổi tuyệt vời”: chúng ta làm cho Ngài có thể chết; và Ngài làm cho chúng ta có thể sống!

Cuộc “trao đổi” ấy không dừng ở mầu nhiệm, nhưng chảy vào đời sống – nhận sự sống từ Ngài – chúng ta được mời gọi trao lại sự sống ấy cho anh chị em mình. “Giờ đây, Chúa Kitô không còn thân xác nào khác ngoài thân xác của bạn!” – Têrêxa Avila.

Anh Chị em,

Mọi sự sống phát xuất từ Chúa Cha được trao ban nơi Chúa Con – Đấng hiến mình đến cùng. Trên thập giá, thân xác Ngài bị bẻ ra, máu Ngài đổ ra, để con người được sống. Và hôm nay, nơi Thánh Thể, Ngài vẫn tiếp tục trao ban – lặng lẽ, khiêm hạ, nhưng trọn vẹn. Cảm nghiệm tình yêu của Đấng hiến dâng mạng sống, chúng ta không được phép sống tầm thường. Hãy thôi sống lây lất, tiếc nuối ‘thuở lang thang’, thôi ‘sống qua ngày đợi qua đời’; nhưng tuỳ sức mình, chúng ta nỗ lực tái tạo tình yêu, niềm vui và bình an cho mình, cho người khác! Được như thế, bạn và tôi đang cùng Chúa ‘trao sự sống’ và cứu sống thế giới vậy! “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống trọn vẹn!” – Irênê.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dẫu là ai, sống đến mấy mươi, rồi con cũng chỉ thở gấp và đợi chết – cho con luôn là một ‘khí cụ’ trong tay Chúa để tiếp tục trao, tiếp tục cứu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần IV Mùa Chay

Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 5,17-30

17 Khi ấy, sau khi chữa lành một người bệnh trong ngày sa-bát, Đức Giê-su tuyên bố với người Do-thái rằng : “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc.” 18 Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa.

19 Đức Giê-su lên tiếng nói với họ rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm ; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. 20 Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. 21 Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý. 22 Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, 23 để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con. 24 Thật, tôi bảo thật các ông : ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.

25 “Thật, tôi bảo thật các ông : giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa ; ai nghe thì sẽ được sống. 26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, 27 lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người. 28 Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con 29 và sẽ ra khỏi đó : ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án.

30 “Tôi không thể tự ý mình làm gì. Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.”


 

NƯỚC CỨU SỐNG- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông đền thờ tuôn ra!”.

“Một phụ nữ cùng đứa con đi dạo dọc bờ sông. Đột nhiên đứa trẻ trượt xuống dòng nước. Cô hét lên. Cô không biết bơi. Sau cùng, có người lao xuống. Bi kịch là, khi lao xuống dòng nước đục, họ phát hiện đứa bé đã chết và nước chỉ ngang thắt lưng! Người mẹ lẽ ra có thể cứu con mình nhưng cô đã không làm được vì thiếu hiểu biết!” – Ray Comfort.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói đến một dòng nước cạn giết chết một đứa bé; nhưng nói đến một dòng nước sâu, ‘nước cứu sống’ muôn người!

Nước từ đền thờ thời Êzêkiel báo trước ‘nước ân sủng’ thời Giêsu. “Nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống” – bài đọc một. Tin Mừng Gioan kể rằng, bên hồ nước, một người bại liệt lay lắt 38 năm, tương đương 40 năm của Israel trong sa mạc. Và xem ra anh này cũng ‘lang thang’ trong sa mạc đời anh ngần ấy năm.

‘Lang thang!’ – một hành động mang tính biểu tượng cho sự ‘tê liệt’. Đó là hậu quả của tội lỗi. Khi phạm tội, chúng ta ‘tê liệt’ và ‘lang thang’ trong sa mạc đời mình. Tội lỗi có những hậu quả nghiêm trọng khiến chúng ta không thể đứng dậy và bước đi đúng hướng. Đặc biệt, tội trọng khiến tôi bất lực: biết điều đúng mà vẫn chần chừ, thấy điều phải mà vẫn không làm.

Chúa Giêsu tự nguyện đi đến với người bại liệt; và dù không được mời, Ngài bước vào sự cô lập của anh. Ngài thấy anh, biết hoàn cảnh và trực tiếp hỏi, “Anh có muốn được khỏi không?”. Anh không trả lời nhưng chỉ phàn nàn, “Khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ!”. Anh mắc bệnh bi quan, lười, phát ốm vì buồn! “Đúng, tôi muốn, nhưng!” – và anh đợi ở đó. Thế mà mấu chốt lại là cuộc gặp gỡ của anh với Chúa Giêsu; dẫu xem ra – rất “thiếu hiểu biết” – anh không cần Ngài, dường như anh vẫn tiếc nuối ‘thuở lang thang’. Và nhiều khi, người tiếc nuối thuở lang thang ấy lại chính là tôi.

Thật tuyệt vời! Chúa Giêsu đã chữa anh mà không cần dìm anh xuống hồ. Bêthesda có nghĩa là “Ngôi nhà của lòng thương xót”, “Ngôi nhà của ân sủng”. Người này cần lòng thương xót và ân sủng cả khi không ý thức. Và Chúa Giêsu không phải là dòng nước giết chết, nhưng là dòng ‘nước cứu sống’. “Vết thương của chúng ta rất nghiêm trọng, nhưng vị Thầy thuốc thì toàn năng. Tôi sẽ tuyệt vọng về vết thương chí mạng của tôi, nếu tôi không tìm thấy một Thầy Thuốc vĩ đại như Ngài!” – Augustinô.

Anh Chị em,

“Tôi đã thấy dòng nước từ cửa đông đền thờ tuôn ra!”. Chúa Giêsu là dòng nước sâu, là đền thờ mới. Đỉnh cao của đền thờ là Canvê, nơi nước và máu của các Bí tích chảy ra từ cạnh sườn Ngài. Và cho đến ngày nay, dòng nước cứu độ ấy vẫn tiếp tục chảy, tiếp tục nuôi sống, tiếp tục rửa sạch mọi thương tích trong tâm hồn chúng ta. ‘Nước cứu sống’ ấy – chính Chúa Giêsu – tiếp tục đem lại hạnh phúc viên mãn cho con người ngay trong sa mạc khô khốc trần gian; Ngài đang nói với bạn và tôi, “Thôi! Đừng thiếu hiểu biết!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con tiếc nuối thuở lang thang. Xin giải thoát con; dìm con vào lòng thương xót Chúa mà đừng thèm hỏi con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần IV Mùa Chay

Người ấy liền được khỏi bệnh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 5,1-3a.5-16

1 Nhân một dịp lễ của người Do-thái, Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem. 2 Tại Giê-ru-sa-lem, gần Cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Híp-ri gọi là Bết-da-tha. Hồ này có năm hành lang. 3a Nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt. 5 Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. 6 Đức Giê-su thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói : “Anh có muốn khỏi bệnh không ?” 7 Bệnh nhân đáp : “Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi !” 8 Đức Giê-su bảo : “Anh hãy trỗi dậy, vác chõng mà đi !” 9 Người ấy liền được khỏi bệnh, vác chõng và đi được.

Hôm đó lại là ngày sa-bát. 10 Người Do-thái mới nói với kẻ được khỏi bệnh : “Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác chõng !” 11 Nhưng anh đáp : “Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : ‘Anh hãy vác chõng mà đi !’” 12 Họ hỏi anh : “Ai là người đã bảo anh: ‘Vác chõng mà đi’ ?” 13 Nhưng người đã được khỏi bệnh không biết là ai. Quả thế, Đức Giê-su đã lánh đi, vì có đám đông ở đấy. 14 Sau đó, Đức Giê-su gặp người ấy trong Đền Thờ và nói : “Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước !” 15 Anh ta đi nói với người Do-thái : Đức Giê-su là người đã chữa anh khỏi bệnh. 16 Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát.


 

NỖI ĐAU THỨ 5: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá-Cha Vương

Buổi sáng tốt lành nhé. Mến chúc bạn và gia đình Tuần Thánh tràn đầy ân sủng với những khoảnh khắc gặp được Chúa và Mẹ trên đường tiến tới đồi Canvê. Bạn thân mến, vì tội lỗi của nhân loại mà Chúa có thể làm tất cả! Vì Con mà Mẹ cũng có thể làm tất cả! Luật tự nhiên, không có cha mẹ nào chuẩn bị cho cái chết của con mình. Riêng đối với người mẹ thì chẳng nỗi mất mát nào lớn cho bằng mất đi đứa con yêu quý của mình, thế mà Mẹ Maria vẫn một lòng một dạ “xin vâng” nhìn con mình bị đối xử như kẻ gian ác và bị đưa đến nơi hành hình. Thật là một nỗi đau xé lòng! Thiết tưởng rằng bạn cũng có một lần trải qua nỗi đau tương tự, chứng kiến người thân yêu của mình chút hơi thở hoặc thấy họ dằn vặt trong nỗi đau tinh thần… Dù đang trong hoàn cảnh nào đi nữa, bạn hãy nhớ lời Mẹ dạy 2 chữ “xin vâng” để hiệp thông với Mẹ, cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 16/3/2026  (n25-24)

NỖI ĐAU THỨ 5: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá—Quân lính đóng đinh tay chân Chúa Giêsu vào thập giá, chúng đâu ngờ chúng đang cùng một lúc đóng đinh vào trái tim Mẹ Người. Nơi đồi Canvê, Mẹ Maria đã cùng với Chúa Giêsu sát tế chính mình, làm của lễ dâng lên Thiên Chúa để cứu chuộc nhân loại.

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che chở của tà áo Mẹ hôm nay nhé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, trinh nữ đau thương, xin mở mắt tâm hồn con, để con nhận ra tình yêu của Mẹ đã cùng hiệp thông với Chúa Giêsu cứu chuộc con.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới. (Đọc 3 lần)

From: Do Dzung

*********************

Mẹ dưới chân thập giá | St: Lm Văn Chi | Tb: Anh Dũng

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, trong một cuộc phỏng vấn với tờ Daily Mail, cựu Phó Tư lệnh NATO, Tướng Sir Richard Shirreff, tuyên bố rằng chỉ trong 100 giờ – tức chưa đầy năm ngày – Tổng thống Nga Vladimir Putin có thể phá hủy châu Âu. Nhưng bỏ qua mọi cân nhắc luân lý, liệu có thật sự có thể tiêu diệt hoàn toàn đối phương bằng chiến tranh thông thường mà không sử dụng vũ khí hạt nhân – điều chắc chắn sẽ dẫn đến một thảm họa hạt nhân toàn cầu?

Nhận định của Shirreff, ít nhất cũng đáng nghi ngờ, và thực tế đang diễn ra trên chiến trường – cũng như trong nhiều cuộc chiến khác – cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều.

Các báo cáo về máy bay không người lái

Trong cùng những tuần khi các cảnh báo được đưa ra trong giới quân sự NATO về sức mạnh quân sự của Nga, nhiều báo cáo xuất hiện về các máy bay không người lái bay trên bầu trời châu Âu.

  • Ngày 9/9, máy bay chiến đấu phải cất cánh tại Ba Lan và nhiều sân bay bị đóng cửa.
  • Ngày 22/9, tình trạng tương tự xảy ra ở Copenhagen và Oslo.
  • Đầu tháng 10, Munich phải dừng giao thông hàng không.
  • Cuối tháng 10 và đầu tháng 11, đến lượt các sân bay Berlin và Bremen.
  • Ngày 7/11 tại Bỉ.
  • Và cuối cùng ngày 4/12, gần căn cứ tàu ngầm hạt nhân Brest (Pháp).

Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sau đó không có xác nhận chính thức về nguồn gốc của các máy bay không người lái (ban đầu có nghi ngờ từ Nga) cũng như mức độ nguy hiểm của chúng.

Chẳng hạn, theo báo cáo của Cơ quan Kiểm soát Không lưu Đức (DFS), chỉ riêng trong năm 2025 tại Đức đã có 225 lần gián đoạn chuyến bay do drone. Vì vậy, có thể đặt câu hỏi: liệu những cảnh báo ấy có bị thổi phồng hay không?

Luật ngân sách và việc tái vũ trang

Trong cùng thời gian đó, các nước Liên minh châu Âu cũng đang thông qua luật ngân sách, với yêu cầu tăng đáng kể chi tiêu quân sự.

Các quốc gia Eurozone phải trình Kế hoạch Ngân sách Dự thảo cho Ủy ban châu Âu trước ngày 15 tháng 10, sau đó được thảo luận và phê chuẩn tại các quốc hội trước cuối năm.

Chi tiêu quân sự toàn cầu tăng liên tục trong những năm gần đây:

  • +9,4% chỉ riêng năm 2024, theo Niên giám SIPRI 2025: Vũ khí, Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế.

NATO – theo thỏa thuận tại Hội nghị Thượng đỉnh La Haye tháng 6 – đặt mục tiêu:

  • 5% GDP cho quốc phòng vào năm 2035
  • 3,5% cho vũ khí
  • 1,5% cho an ninh mở rộng

Tuy nhiên, quyết định chiến lược tái vũ trang sẽ tất yếu kéo theo việc chuyển nguồn lực khỏi:

  • chính sách xã hội
  • y tế
  • giáo dục
  • việc làm
  • bảo vệ môi trường

Tháng 3 năm 2025, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, nhận định:

“Chính sách của Tòa Thánh từ Thế chiến thứ nhất luôn là thúc đẩy giải trừ quân bị chung và có kiểm soát trên bình diện quốc tế. Vì thế chúng ta không thể vui mừng trước hướng đi hiện nay.”

Những tình huống bị cảm nhận như mối nguy nghiêm trọng có thể khiến dư luận dễ dàng chấp nhận cuộc chạy đua tái vũ trang. Việc nhấn mạnh nguy cơ Nga xâm lược châu Âu – ngoài cuộc chiến ở Ukraine – cũng có thể thu hẹp không gian tranh luận phê phán, đúng vào lúc các ngân sách quốc gia đang được thông qua.

Cuộc chạy đua vũ trang trong lịch sử

Lịch sử cho thấy chi tiêu quân sự thường được coi là cần thiết theo chu kỳ.

Sau Thế chiến II, với 60 triệu người chết và sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, việc tái vũ trang được xem là điều kiện sống còn.

Học thuyết răn đe hạt nhân và thế cân bằng giữa các khối khiến việc tăng chi tiêu quân sự gần như trở thành bắt buộc.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, tình hình thay đổi:

  • chi tiêu quân sự giảm hoặc ổn định
  • quân đội mở rộng nhiệm vụ sang
  • gìn giữ hòa bình
  • can thiệp nhân đạo
  • quản lý khủng hoảng khu vực

Nhưng ngày nay, chiến tranh lại quay trở lại trong đời sống quốc tế:

  • xung đột cường độ cao
  • cạnh tranh giữa các cường quốc
  • suy giảm tôn trọng luật pháp quốc tế

Một số hiệp ước kiểm soát vũ khí cũng không còn được gia hạn.

Ví dụ mới nhất là Hiệp ước New START, hết hạn ngày 5/2/2026, vốn nhằm giảm và giới hạn vũ khí hạt nhân giữa Mỹ và Nga.

So sánh các con số

Ước tính năm 2025 cho thấy:

NATO

  • GDP: 57.000 tỷ USD
  • Chi tiêu quân sự: 1.495 tỷ USD (2,62% GDP)

Trong đó:

  • Mỹ:
  • GDP: 30.620 tỷ USD
  • quân sự: 921 tỷ USD (3,01%)
  • Các nước NATO khác:
  • GDP: 26.380 tỷ USD
  • quân sự: 574 tỷ USD (2,18%)

Nga

  • GDP: 2.540 tỷ USD
  • quân sự: 187 tỷ USD (7,4%)

Trung Quốc

  • GDP: 19.398 tỷ USD
  • quân sự: 314 tỷ USD (1,62%)

Những con số này cho thấy sự bất cân xứng lớn giữa nguồn lực NATO và Nga.

Vì thế câu hỏi đặt ra:

Liệu cách chúng ta phản ứng với các mối đe dọa hiện nay có thực sự làm giảm chúng, hay lại càng làm chúng gia tăng?

Ngành công nghiệp vũ khí

Chỉ cần tăng 1% GDP cho quốc phòng tương đương khoảng 600 tỷ USD mỗi năm.

Cổ phiếu ngành vũ khí cũng tăng mạnh:

  • Europe Stoxx Aerospace & Defence: +28,97%
  • S&P Aerospace & Defense (Mỹ): +73,45%

Nhưng cuộc chạy đua vũ trang cũng mang theo:

  • chi phí chính trị
  • gánh nặng kinh tế
  • nợ công
  • hạn chế tự chủ của các quốc gia

Lời Đức Thánh Cha về giải trừ quân bị

Trong Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV viết:

“Những lời kêu gọi gia tăng chi tiêu quân sự thường được trình bày như một phản ứng hợp lý trước các mối đe dọa bên ngoài. Nhưng ý tưởng về sức mạnh răn đe quân sự – đặc biệt là răn đe hạt nhân – dựa trên một quan niệm phi lý về quan hệ giữa các quốc gia: không dựa trên luật pháp, công lý và niềm tin, mà trên nỗi sợ và sự thống trị bằng vũ lực.”

Chi tiêu quân sự toàn cầu đã đạt 2.718 tỷ USD, tương đương 2,5% GDP toàn cầu.

Theo Đức Thánh Cha, ngày nay còn xuất hiện cả:

  • chiến dịch truyền thông
  • chương trình giáo dục

nhằm nuôi dưỡng cảm giác đe dọa, và hứa hẹn rằng an ninh chỉ có thể đạt được bằng vũ trang.

Ngài nhấn mạnh:

An ninh ngày nay không thể chỉ được hiểu qua sức mạnh quân sự. Giải trừ quân bị – về văn hóa, chính trị và tinh thần – phải được coi là một con đường nghiêm túc.

Nguy cơ tận thế hạt nhân

Thế giới hiện có khoảng 12.000 đầu đạn hạt nhân:

  • Nga: 5.459 (1.718 sẵn sàng phóng)
  • Mỹ: 5.177 (khoảng 1.700 sẵn sàng)

Sức mạnh của chúng đủ để hủy diệt nền văn minh nhân loại hàng trăm lần.

Chỉ 50 đầu đạn cũng đủ gây thảm họa toàn cầu.

Học thuyết hủy diệt lẫn nhau (MAD) cho thấy:

  • không bên nào có thể thắng
  • bên tấn công trước cũng sẽ bị hủy diệt bởi đòn đáp trả.

Con đường duy nhất

Chiến tranh hiện đại – với công nghệ và trí tuệ nhân tạo – có sức tàn phá khổng lồ và kéo dài vô tận.

Vì thế giải pháp duy nhất, như Huấn quyền của các Giáo hoàng nhắc nhở, là:

  • ngoại giao
  • đối thoại
  • đàm phán
  • giải trừ quân bị

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắc lại lời Chúa Giêsu với thánh Phêrô trong vườn Cây Dầu:

“Hãy xỏ gươm vào vỏ.”

Ngài nói:

“Đó là lời gửi đến những người quyền lực trên thế giới: hãy can đảm giải trừ vũ khí! Nhưng đồng thời cũng là lời mời gọi mỗi người chúng ta giải trừ chính trái tim mình, bởi vì nếu chúng ta không có bình an trong lòng, chúng ta không thể trao ban bình an cho người khác.”

Và cũng là lời mời gọi:

hãy nhìn thế giới từ vị trí thấp hơn — từ đôi mắt của những người đang đau khổ, chứ không phải từ vị trí của kẻ quyền lực.

Andrea Tornielli

Nguồn: Vatican News


 

Iran bắn 700 hỏa tiễn và 3,600 ‘drone’ vào mục tiêu Mỹ, Israel

Ba’o Nguoi-Viet

March 15, 2026

TEHRAN, Iran (NV) – Iran bắn khoảng 700 hỏa tiễn và 3,600 chiếc “drone” (máy bay điều khiển từ xa) vào mục tiêu Mỹ và Israel từ khi chiến tranh bùng nổ, phát ngôn viên Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo (IRGC), lực lượng bán quân sự tinh nhuệ của Iran, tuyên bố hôm Chủ Nhật, 15 Tháng Ba, theo thông báo của IRGC trên Telegram, CNN đưa tin.

Thông báo của IRGC không nói rõ họ bắn số vũ khí đó lúc nào, mục tiêu ở đâu hay thiệt hại ra sao.

Một phụ nữ ngồi giữa căn nhà bị đổ nát của bà ở Tehran, Iran, hôm Chủ Nhật, 15 Tháng Ba, sau hai ngày căn nhà này bị không kích. (Hình: Majid Saeedi/Getty Images)

Cũng hôm Chủ Nhật, thông tấn xã bán chính thức Tasnim của Iran loan báo chiến dịch không kích của Mỹ và Israel từ khi cuộc chiến bắt đầu hôm 28 Tháng Hai tới nay làm hư hại hơn 54,000 căn nhà, cơ sở thương mại và cơ sở y tế.

Theo Tasnim, 29,146 căn nhà ở hàng loạt tỉnh bị hư hại, cùng với 6,851 cơ sở thương mại khắp Iran. Ở tỉnh Tehran, nơi có thủ đô Tehran, 18,180 căn nhà và cơ sở thương mại bị hư hại.

Tổng cộng 236 cơ sở y tế, như bệnh viện và tiệm thuốc tây, bị hư hại, theo Tasnim.

Cùng ngày, phát ngôn viên chính phủ Iran xác nhận chiến dịch không kích của Mỹ và Israel làm hư hại hơn 42,000 cơ sở dân sự khắp đất nước, gồm nhà cửa, trường học, bệnh viện, và làm hàng trăm người chết, hàng ngàn người bị thương, theo đài Al Jazeera.

Bộ Y Tế Iran công bố hơn 1,200 dân thường thiệt mạng và trên 10,000 người bị thương trong chiến dịch của Mỹ và Israel, theo đài NPR hôm Thứ Bảy. (Th.Long) [kn]


 

KIẾN TẠO KHÔNG GIAN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!”.

“Đức tin là không gian chúng ta tạo ra cho Thiên Chúa!” – Jonathan Sacks.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy một người cha đã ‘kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa; và khi đức tin mở ra, quyền năng Chúa Giêsu bước vào.

Người cha trong trình thuật thưa Chúa Giêsu, “Xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất!”; Chúa Giêsu đáp, “Ông cứ về đi, con ông sống!”. Ông xin Ngài xuống; Chúa Giêsu không xuống. Ngài chỉ nói một lời. Và chính lời đó làm nên phép lạ. Niềm tin của ông mở lối cho Ngài, và Ngài đã tạo nên một sự khác biệt – con ông sống! Con người sợ khoảng trống. Chúng ta thường vội vàng lấp đầy đời mình bằng kế hoạch, lo toan, tham vọng, và cả những bận rộn đạo đức. Khi mọi thứ đã chật kín như thế, Thiên Chúa khó tìm được một chỗ để bước vào. Vấn đề không phải Thiên Chúa vắng mặt; vấn đề là đời chúng ta quá đầy để Ngài hiện diện.

Đức tin không chỉ mở cửa cho quyền năng Thiên Chúa, mà còn đan dệt một mối tương quan yêu thương cá nhân giữa con người với Ngài. Khi “con ông sống”, người cha ấy hẳn đã xác tín: có một Đấng quyền năng tột bậc đang hành động, và Đấng ấy là Đấng yêu thương mình. “Quyền năng của Thiên Chúa không bao giờ tách rời khỏi tình yêu của Ngài!” – Jürgen Moltmann.

Thật thú vị, ‘kiến tạo không gian’ không chỉ là việc của con người, mà còn là việc của Thiên Chúa. “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới!”; “Ta sẽ tạo Giêrusalem nên nguồn hoan hỷ, nơi đây sẽ không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la!” – bài đọc một. Giêrusalem được biến đổi; và không chỉ Giêrusalem, bạn và tôi được biến đổi. Hội Thánh – Giêrusalem mới – được biến đổi; và Thiên Chúa vui thoả khi những ai Ngài yêu được biến đổi, “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Lời cầu của người cha thúc bách sự có mặt cấp thiết của Chúa Giêsu. Nhưng ông nào biết rằng thuộc tính của Ngài là hiện diện mọi lúc mọi nơi; không cần xuất hiện thể lý, Ngài hiện diện bằng Lời. Vậy mà Chúa Giêsu vẫn cần đến lòng tin của ông! Cần, vì lòng tin ấy mở đường cho quyền năng Ngài làm nên điều kỳ diệu. Chính lòng tin ‘kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa; và khi khoảng trống ấy mở ra, quyền năng Ngài bước vào. “Đức tin không phải là một sức ép, mà là sự mở lòng để Thiên Chúa được là Thiên Chúa!” – Karl Rahner.

Anh Chị em,

‘Kiến tạo không gian’ cho Thiên Chúa là can đảm rút mình khỏi trung tâm để Thiên Chúa trở thành trung tâm. Nơi Chúa Kitô, Chúa Cha là trung tâm. Ngài mở một không gian cho Cha – không gian của thập giá – nơi lòng thương xót mạnh hơn tội lỗi và sự chết. Khi đức tin đồng nhịp với lòng thương xót – không chỉ của Thiên Chúa, mà còn của con người với nhau – sự hiện diện vô hình của Ngài trở thành quyền năng cứu độ giữa những đổ vỡ rất thật của đời người. Quả thế, “Lòng thương xót làm cho công trình vô hình của Thiên Chúa trở nên hữu hình giữa thế gian!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ khoảng trống, nên lấp đầy đời mình bằng những thứ chóng qua, và Chúa phải vô gia cư. Cho con can đảm dọn trống cõi lòng, để Chúa có một chỗ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************************

Lời Chúa Thứ Hai Tuần IV Mùa Chay

Ông cứ về đi, con ông sống.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 4,43-54

43 Khi ấy, sau hai ngày lưu lại Sa-ma-ri, Đức Giê-su đi Ga-li-lê. 44 Chính Người đã quả quyết : ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. 45 Khi Người đến Ga-li-lê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.

46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um. 47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. 48 Đức Giê-su nói với ông : “Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu !” 49 Viên sĩ quan nói : “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !” 50 Đức Giê-su bảo : “Ông cứ về đi, con ông sống.” Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về. 51 Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. 52 Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp : “Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt.” 53 Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình : “Con ông sống”, nên ông và cả nhà đều tin. 54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.


 

“Việc Chúa làm ôi vĩ đại biết bao.”

Thao Teresa

CÓ NHỮNG ĐIỀU CẦN PHẢI NHẮC MÃI cho thế hệ tương lai biết rằng chúng ta đã có một quá khứ tuy đau khổ nhưng anh dũng và trung kiên.

Ngày 15/3 là Sinh nhật của một vị Giám mục Việt Nam thầm lặng.

Ngài sinh tại Bắc Ninh ngày 15/3/1921, thụ phong Linh mục ngày 21/12/1945 khi mới 24 tuổi. Ngài đã từng phải ngồi tù 7 năm, sau đó làm Cha xứ các giáo xứ, trong đó có Giáo xứ Chính tòa Bắc Ninh, kiêm Tổng Đại diện Giáo phận. Khi Chủng viện Bắc Ninh được mở, ngài làm Giám đốc kiêm Giáo sư duy nhất!

Vào tháng 5/1975 ngài được Đức Giám mục Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng phong chức Giám mục. Thánh Lễ phong chức diễn ra trong căn phòng nguyện có diện tích chưa đến 8 mét vuông mà sau này được biết đến với tên gọi lịch sử: Phòng U8. Chỉ có một Giám mục chủ phong, một tân Giám mục và một Linh mục.

Chỉ sau hơn 2 tháng được tấn phong chức Giám mục, ngài bị trục xuất, bị buộc phải lặng lẽ rời Tòa Giám mục Bắc Ninh và bị đưa đi quản chế tại Giáo xứ Đại Lãm, Lục Nam, Bắc Giang trong suốt 17 năm. Sau 17 năm bị quản chế, vị Giám mục đau khổ và kiên cường này về với Chúa, để lại cho hậu thế tấm gương kiên trung trong Đức Tin, không thoả hiệp, không lấy lòng thế gian để mưu lợi. Năm ấy là năm 1992.

Đó là Đức Cha Đaminh Đinh Huy Quảng, Giám mục phụ tá Giáo phận Bắc Ninh.

Ngài là vị Giám mục được tấn phong không ai biết, chưa hề đội mũ Mitra, chưa đeo nhẫn Giám mục hay mặc phẩm phục Giám mục công khai, chưa bao giờ được ai gọi là Đức Cha.

15 năm sau khi ngài về với Chúa, năm 2007, Đức Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt công bố công khai về ngài tại Nhà thờ Chính tòa. Và giáo dân Bắc Ninh kinh ngạc vì một vị Giám mục sống giữa họ bao nhiêu năm trời mà họ không hề hay biết.

“Việc Chúa làm ôi vĩ đại biết bao.”

Và Đức cha đã lấy khẩu hiệu Giám mục là: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,7).

=J Vinh Le=


 

TƯỞNG MÌNH THẤY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!”.

“Kiêu ngạo là căn bệnh của mắt tâm hồn; nó làm người ta tưởng mình sáng, trong khi họ ở trong bóng tối!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến căn bệnh của mắt tâm hồn. Vì thế, điều nguy hiểm không phải là không thấy, nhưng là ‘tưởng mình thấy’.

Một người mù từ thuở mới sinh được Chúa Giêsu chạm đến và anh được thấy. Nhưng phép lạ ấy lại khơi lên tranh cãi: đám đông bàn tán, cha mẹ anh sợ hãi, các biệt phái tra hỏi và kết án. Họ hỏi, ai đã mở mắt cho anh? Anh trả lời, “Người tên là Giêsu!”. Họ tiếp tục chất vấn, thậm chí mạt sát; nhưng chính lúc ấy, ánh sáng trong anh lại lớn dần. Mắt anh mở ra trong phút chốc; nhưng mắt đức tin mở ra qua cả một hành trình: thoạt đầu anh chỉ biết “Người tên là Giêsu”; rồi “Người là một ngôn sứ”; cuối cùng, gặp lại Ngài, anh sấp mình thưa, “Lạy Ngài, tôi tin!”. “Chúa mở mắt anh; sự thật mở linh hồn anh!” – Grêgôriô Cả.

Đang khi những người tưởng mình hiểu mọi sự lại đi theo hướng ngược lại. Họ không phủ nhận phép lạ, nhưng không muốn thấy điều phép lạ nói lên; vì ánh sáng Giêsu không chỉ mở mắt, mà còn phơi bày trái tim. Bởi thế, thay vì vui mừng với người được sáng mắt, họ lại cố chấp bảo vệ quan điểm – bi kịch của những kẻ ‘tưởng mình thấy’. “Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” – bài đọc một. Vì vậy, ánh sáng của Thiên Chúa không dừng ở đôi mắt, nhưng chiếu vào tâm hồn; và khi ánh sáng ấy chạm đến, con người được mời gọi “hãy ăn ở như con cái ánh sáng” – bài đọc hai.

Nhưng câu chuyện ấy không xa; nó đang xảy ra nơi chúng ta – những người quen với Lời Chúa, với nhà thờ, với việc đạo, đến mức tưởng mình thấy rõ mọi sự. Nhưng chính lúc đó, chúng ta có thể đánh mất sự đơn sơ của người mù – thừa nhận mình cần được mở mắt. Khi con người ngừng tìm kiếm ánh sáng, họ bắt đầu sống bằng những điều mình nghĩ là đúng. Đó là lúc căn bệnh âm thầm của những người ‘tưởng mình thấy’ bắt đầu lớn lên. Bóng tối nguy hiểm nhất là bóng tối tưởng mình đang ở trong ánh sáng. “Trở ngại lớn nhất của tri thức không phải là ngu dốt, nhưng là ảo tưởng mình hiểu biết!” – Daniel J. Boorstin.

Anh Chị em,

Chiêm ngắm Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra Ngài là Ánh Sáng thật. Ngài đến không để kết án, nhưng để mở mắt con người; không chỉ nói về ánh sáng, nhưng trao ánh sáng. Và đỉnh cao của ánh sáng ấy là thập giá: nơi tưởng như bóng tối đã thắng, nhưng chính tại đó ơn cứu độ bừng lên. Vì thế, “kẻ xem thấy lại nên đui mù” không chỉ là một lời cảnh báo, mà còn là một lời mời gọi. Ai dám nhận mình mù, người ấy có thể được mở mắt; ai khép kín trong sự tự mãn, người ấy có nguy cơ rơi vào bóng tối mà không hay biết. Chỉ khi dám nhận mình mù, con người mới bắt đầu nhìn thấy!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành đôi mắt tâm hồn con; đừng để con tưởng mình đã thấy, trong khi lòng còn ở trong bóng tối!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, NĂM A

Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 9,1-41

1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3 Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”

6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10 Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11 Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12 Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”

13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”

18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20 Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”

24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25 Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26 Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27 Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28 Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30 Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.

35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” 41 Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !” 


 

HIỂU ĐỜI – TÂM SỰ TUỔI GIÀ. Tác giả: Chu Dung Cơ – Thanh Dũng dịch

NHỮNG CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNGTri Duc Nguyen

Tác giả: Chu Dung Cơ – Thanh Dũng dịch

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh, nhưng chỉ có hiểu cuộc đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày, mất một ngày.

Qua một ngày, vui một ngày.

Vui một ngày lãi một ngày…

Hanh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc và vui sướng là cảm giác và cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng có coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng ai mang nó đến, khi chết chẳng ai mang nó theo. Nếu có người cần bạn giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khoẻ và niềm vui thì tại sao không bỏ tiền ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền, biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đùng làm tôi tớ cho nó.

“Quãng đời còn lại càng ngắn ngủi thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh” hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc, cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao phẩm chất cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của TUỔI GIÀ.

Tiền bạc rồi sẽ là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khoẻ là của mình.

*Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.

*Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một cái, hỏi vài câu là thấy đủ rồi.

*Con tiêu tiền của cha mẹ thoải mái; cha mẹ tiêu tiền của con chẳng dễ chút nào.

*Nhà cha mẹ là nhà của con; nhà của con không phải là nhà cha mẹ.

Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ốm đau trông cậy vào ai ? Trông cậy con ư ? Nếu ốm dai dẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu “cứu bệnh sàng tiền vô hiếu tử”. Trông vào bạn đời ư ? Người ta cũng yếu, có khi lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi. Trông cậy vào đồng tiền ư ? chỉ còn cách đấy.

Cái được người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong đời tuỳ thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người ta hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì cho mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình “Tỷ thượng bất túc, tỷ hạ hữu dư”, biết đủ thì lúc nào cũng vui “tri túc thường lạc”.

*Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt mỏi, tự tìm niềm vui.

*Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ người ta cũng nghĩ cả rồi, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên.

*Thực ra nghề cao chẳng bằng tuổi thọ cao,

*Tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc gì muốn làm thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình.

Sống trên đời không thể vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

*Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già;

*Tuổi không già tâm già, thế là không già lại thành già.

Nhưng giải quyết một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá thanh đạm thì khôhg đủ chất bổ, quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu… mọi thứ đều nên “VỪA PHẢI”.

*Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn, tham uống…).

*Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh…).

*Người khôn phòng bệnh, chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.

*Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới chữa bệnh….ĐỀU LÀ MUỘN.

Phẩm chất sống người già cao hay thấp chủ yếu tuỳ thuộc vào cách suy tưởng: Suy tưởng hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng suy tưởng hướng lợi để xây dựng cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và tự tin, cuộc sống có hương, có vị. Suy tưởng hướng hại là suy tưởng tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết

“Chơi” là một trong những nhu cầu căn bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi yêu thích nhất, trong khi chơi hãy thử nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm lý và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

“Hoàn toàn khoẻ mạnh” đó là nói thân thể khoẻ mạnh, tâm lý khoẻ mạnh và đạo đức khoẻ mạnh.. Tâm lý khoẻ mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao tiếp; Đạo đức khoẻ mạnh là có tình yêu thương, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu…

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong xã hội, thể hiện giá trị của mình đó là cách sống lành mạnh.

Cuộc sống tuổi già nên có nhiều bạn gìà trong nhiều thành phần, nhiều mẫu người với nhiều màu sắc khác nhau trong xã hội. Có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình đẹp làm thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hoà giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất, quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống như thế nào.

Tại sao khi về già người ta hay hoài cổ “hay nhớ lại chuyện xưa?” Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân ga cuối. Tâm linh cần trong phòng, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tìm lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thủa nhỏ, cùng bạn sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thanh là một niềm vui lớn của tuổi già.

Nếu bạn đã cố hết sức, mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó. Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, “Quả ngắt vội không bao giờ ngọt”.

“SINH – LÃO – BỆNH – TỬ” là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình dấu chấm hết thật TRÒN.

(Sưu tầm)


 

NỖI ĐAU THỨ 3: Lạc mất con trong đền thờ – Cha Vương

Ngày Thứ 7 an lành trong Chúa và Mẹ yêu nhé. Bạn thân mến, trong cuộc đời ai cũng có một lần gặp cảnh “tử biệt sinh ly”. Đây là hai nỗi đau lớn của đời người. Mẹ Maria cũng không tránh khỏi được nỗi đau sinh ly, Mẹ lạc mất con. “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con?” Lời trách móc này bộc lộ tất cả trái tim con người của Mẹ. Mẹ đối xử với Chúa Giêsu với tất cả tình cảm của một con người và chính vì là một con người cho nên Mẹ trở thành mẫu mực cho chúng ta trong cuộc lữ hành đức tin. Mẹ đã yêu thương Chúa Giêsu với tất cả trái tim nhân loại của Mẹ. Ngày nay, Mẹ cũng tiếp tục dõi theo mỗi người chúng ta với trái tim hiền mẫu ấy. Mẹ đã trải qua thử thách, Mẹ hiểu được thế nào là khổ đau. Hơn ai hết, Mẹ đồng cảm với bao nỗi lo lắng và khổ đau của chúng ta. Mẹ hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng. Mẹ đã từng dõi theo từng bước trong tiến trình trưởng thành của Chúa Giêsu Con Mẹ. Mẹ suy niệm từng biến cố của cuộc sống. Ngày nay cũng thế, không có giây phút nào trong cuộc sống của mỗi người mà không được Mẹ ôm ấp trong lòng. Với niềm tin tưởng ấy, bạn hãy phó thác tất cả những nỗi đau của cuộc sống cho Mẹ.

Cha Vương

Thứ 7: 14/3/2026. (n22-24)

NỖI ĐAU THỨ 3: Lạc mất con trong đền thờ—Trong ngày chịu truyền tin, Mẹ Maria được sứ thần loan báo sẽ sinh hạ Đấng Cứu Thế. Đối với Mẹ, Giêsu là con yêu dấu, là tình yêu, là lẽ sống và là tất cả của Mẹ. Vì thế, ba ngày lạc mất con là ba ngày Trái Tim Mẹ phải héo hon mòn mỏi. Mẹ vội vã lên đường trở lại Giêrusalem tìm Chúa.

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che trở của tà áo Mẹ hôm nay nhé.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ Maria, trinh nữ đau thương, có những lúc chúng con bị lạc mất Chúa Giêsu trong cuộc đời. Xin mẹ giúp chúng con biết mau mắn vội vã như Mẹ, lên đường tìm về cùng Chúa là tình yêu, là lẽ sống và là tất cả của chúng con.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới. (Đọc 3 lần) 

From: Do Dzung

***************************

MẸ SẦU BI – Lm. Tiến Dũng & Lm. Nguyễn Văn Tuyên- Huy Nguyễn