BỐN PHÉP LẠ THÁNH THỂ MỚI ĐÂY – Trầm Thiên Thu 

Trầm Thiên Thu 

Mặc dù đã có rất nhiều phép lạ Thánh Thể từ thời Trung cổ, nhiều phép lạ đã xảy ra trong thế kỷ trước, với một số phép lạ đã được xác nhận trong 20 năm qua.  Các phép lạ này là bằng chứng sống động cho giáo lý của Giáo Hội Công giáo rằng mặc dù hình dạng của bánh và rượu vẫn còn, nhưng bản chất đã được thay đổi hoàn toàn (nhờ quyền năng của Thiên Chúa) thành Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô.  Đó là giáo huấn dựa trên Kinh Thánh và Thánh Truyền vẫn không thay đổi về bản chất từ thời các tông đồ.

Ngoài ra, Giáo Hội đã công nhận rằng đôi khi Thiên Chúa can thiệp theo cách hữu hình hơn và có thể thay đổi ngay cả hình dạng của bánh rượu thành Mình Máu Ngài.  Hoặc Thiên Chúa có thể bảo quản tấm bánh đã thánh hóa một cách kỳ diệu trong một khoảng thời gian dài, vượt qua những gì tự nhiên đối với bánh.

 Tại Legnica – Ba Lan

 Năm 2013, Đức Giám mục Zbigniew Kiernikowski, Giáo phận Legnica, cho biết: “Ngày 25-12-2013, khi đang cho rước lễ, một Bánh Thánh rơi xuống, sau đó được cầm lên và đặt vào một bình nước.  Ngay sau đó, các vết màu đỏ xuất hiện.  Đức Giám mục Stefan Cichy, Giáo phận Legnica, đã thành lập một ủy ban để nghiên cứu hiện tượng này.  Tháng 02-2014, một mảnh nhỏ màu đỏ của Bánh Thánh được tách ra và đặt trên khăn thánh.  Ủy ban đã lấy mẫu để tiến hành các cuộc kiểm tra kỹ lưỡng của các viện nghiên cứu thích hợp.” 

Sau khi điều tra, Bộ phận Pháp y cho biết: “Trong hình ảnh mô bệnh học, các mô đã được tìm thấy có chứa các phần cơ có vân chéo. (…) Toàn bộ (…) rất giống cơ tim với những thay đổi thường xuất hiện trong cơn hấp hối.  Các nghiên cứu di truyền chỉ ra nguồn gốc con người của mô.”

 Tại Sokółka – Ba Lan

 Trong Thánh Lễ Chúa Nhật 12-10-2008, tại nhà thờ giáo xứ Thánh Antôn ở Sokolka, một Bánh Thánh đã rơi khỏi tay linh mục khi đang cho rước lễ.  Linh mục ngừng cho rước lễ, cúi xuống cầm Bánh Thánh lên, rồi đặt Bánh Thánh vào một bình nước nhỏ.  Bình thường thì Bánh Thánh sẽ tan trong nước, sau đó sẽ được xử lý đúng quy cách phụng vụ. 

Sau Thánh Lễ, theo lời yêu cầu của cha xứ Stanislaw Gniedziejko, sơ Julia Dubowska đã đổ nước và Bánh Thánh vào một bình chứa khác.

 Một tuần sau, vào ngày 19-10-2008, sơ Julia thấy có mùi thơm dịu dàng của bánh không men.  Khi mở hộp đựng, sơ nhìn thấy ở giữa Bánh Thánh – phần lớn còn nguyên vẹn – có một vết cong màu đỏ tươi, giống như vết máu: một phân tử sống của cơ thể.  Nước không bị loang màu sắc.

 Một phần của Bánh Thánh đã thay đổi và được lấy để phân tích riêng bởi hai chuyên gia, giáo sư Maria Sobaniec-Lotowska và giáo sư Stanislaw Sulkowski, để đảm bảo độ tin cậy của kết quả. 

Kết quả của cả hai nghiên cứu độc lập đều hoàn toàn phù hợp.  Họ kết luận rằng cấu trúc của Bánh Thánh đã biến đổi giống hệt với mô cơ tim của một người sắp chết.  Theo giáo sư Maria Sobaniec-Lotowska, cấu trúc của các sợi cơ tim liên kết chặt chẽ với cấu trúc của bánh, theo cách mà con người không thể làm được.

 Tại Tixtla – Mexico

Ngày 21-10-2006, trong một cuộc tĩnh tâm của giáo xứ, một Bánh Thánh sắp được trao đã tiết ra chất màu đỏ.  Đức Giám mục Alejo Zavala Castro đã triệu tập một ủy ban thần học điều tra để xác định xem đó có phải là một phép lạ hay không.  Tháng 10-2009, ngài đã mời tiến sĩ Ricardo Castañón Gómez tiến hành nghiên cứu khoa học với một nhóm các khoa học gia và xác minh tính chất kỳ diệu của sự việc.  Tiến sĩ Gómez đã hoàn thành cuộc điều tra. 

Nghiên cứu khoa học được thực hiện từ tháng 10-2009 đến tháng 10-2012, với nhận định này: “Chất màu đỏ được phân tích tương ứng với máu, trong đó chứa Hemoglobin và DNA có nguồn gốc từ con người.  Hai nghiên cứu được thực hiện bởi các chuyên gia pháp y lỗi lạc với các phương pháp luận khác nhau đã cho thấy rằng chất này có nguồn gốc từ bên trong, loại trừ giả thuyết rằng ai đó có thể đã đặt nó từ bên ngoài.  Đó là loại máu AB, giống như máu ở Khăn Liệm Turin.  Một phân tích hiển vi về độ phóng đại và độ xuyên thấu cho thấy phần trên của máu đã đông lại từ tháng 10-2006.  Hơn nữa, tháng 02-2010, các lớp bên trong cho thấy sự hiện diện của máu tươi.

 Tại Chirattakonam – Ấn Độ

 Ngày 28-04-2001, tại nhà thờ giáo xứ Đức Mẹ Chirattakonam, cha xứ nhận thấy một hình ảnh kỳ lạ xuất hiện trên một Bánh Thánh, và ngài đã ghi lại chính xác những gì xảy ra. 

Lúc 8 giờ 49 sáng, tôi đã đặt Mình Thánh để mọi người tôn thờ.  Một lúc sau, tôi thấy như có ba chấm trên Thánh Thể.  Tôi ngừng cầu nguyện và bắt đầu nhìn vào Mặt Nhật, cũng mời các tín hữu chiêm ngưỡng dấu ba chấm.  Sau đó, tôi mời các tín hữu tiếp tục cầu nguyện và đóng cửa Nhà Tạm…  Sáng thứ Bảy, 05-05-2001, tôi mở cửa nhà thờ để cử hành phụng vụ bình thường.  Tôi đến mở cửa Nhà Tạm để xem điều gì đã xảy ra với Thánh Thể trong Mặt Nhật.  Tôi thấy ngay trong Bánh Thánh có một hình tượng giống như mặt người.  Tôi vô cùng xúc động và yêu cầu các tín hữu quỳ xuống và bắt đầu cầu nguyện.  Tôi nghĩ chỉ mình tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt, vì vậy tôi đã hỏi người giúp lễ xem có thấy gì ở Mặt Nhật hay không.  Người giúp lễ trả lời: “Con nhìn thấy bóng dáng một người đàn ông.” 

Cuối cùng, hình ảnh trở nên rõ ràng hơn và là một người giống như Chúa Giêsu Kitô đội vòng gai.  Hình ảnh kỳ diệu đã được Tổng Giám mục Beatitude Cyril Mar Baselice, Tổng Giáo Phận Trivandrum, điều tra.  Mặt Nhật với Bánh Thánh vẫn được lưu giữ trong nhà thờ cho đến ngày nay. 

Philip Kosloski

Trầm Thiên Thu 

(chuyển ngữ từ Aleteia.org)


 

Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa! (Lc 14:15b) – Cha Vương

Mến chào một ngày mới, nào ta hãy tấu lên, “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.” Cầu mong muôn ơn bình an đến với bạn và gia đình  và cả thế giới  hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 09/06/2026.     (t4-21)

TIN MỪNG: Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa! (Lc 14:15b)

SUY NIỆM: Lương thực hiện thế—Khi nào tới giai đoạn trọn hảo, Bí tích sẽ không còn. Các Thánh trên nơi vĩnh phúc không cần đến phương thế nhiệm mầu ấy nữa. Các Ngài sẽ vui mừng luôn luôn trước nhan Chúa, diện đối diện chiêm ngưỡng vinh hiển Chúa. Nhờ vinh quang Chúa, các Ngài am hiểu bản tính cao siêu của Thiên Chúa. 

Các Ngài nhàn hưởng chính Ngôi Hai Thiên Chúa như đã có từ trước và sẽ tồn tại muôn đời. Nghĩ đến những kỳ diệu ấy, con nhàm chán hẳn mọi an ủi dù là an ủi thiêng liêng, vì bao lâu chưa thấy được tường tận vinh hiển Chúa, mọi điều mắt thấy, tai nghe ở đời phải kể là không! 

Lạy Chúa! Chúa chứng cho lòng con. Không gì an ủi được con, không tạo vật nào thỏa mãn được con, trừ một mình Chúa, lạy Chúa, mà lòng con ao ước chiêm ngưỡng muôn đời. Nhưng điều đó lại chưa có thể thực hiện, bao lâu con còn sống trong thân xác. Vì thế con cần phải nhẫn nại và phó thác mọi ước muốn con cho Chúa. Chính các Thánh đang vui cùng Chúa trên trời, lúc bình sinh cũng đã tin tưởng và nhẫn nại chờ giai đoạn vinh hiển Chúa đến. Con tin như các Ngài đã tin. Con hy vọng như các Ngài đã hy vọng. Chắc chắn nhờ ơn Chúa, con sẽ đến nơi các Ngài đã đến. Trong khi chờ đợi, con sẽ noi gương các Ngài để giữ vững Đức Tin. 

(x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q4:11 t.t.) 

LẮNG NGHE: Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống. (Ga 6:51)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa không muốn tội nhân phải chết, nhưng muốn họ hoán cải để được sống. Xin đoái thương đến thân phận yếu đuối của con, để con được sống trong tình yêu Chúa và xứng đáng hưởng ơn cứu chuộc Chúa hứa ban trên Thiên Đàng.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Tin, Cậy, Mến

From: Do Dzung

********************

Ta Là Bánh Hằng Sống – Hiệp Lễ (Mình Máu Thánh Chúa)

Tình Yêu và Nỗi Nhớ Khôn Nguôi- Truyen ngan HAY

Câu chuyện thật cảm động về lòng nhân ái.

Tình Yêu và Nỗi Nhớ Khôn Nguôi

(Posted by Ho Bình)

Một nữ phục vụ nhận được tiền tip 500 đô cùng dòng chữ: “Cảm ơn vì sự kiên nhẫn của cô với mẹ tôi.”

Tôi vẫn giữ chiếc khăn giấy ấy, gấp gọn trong ngăn tủ của mình.

Năm trăm đô la và một mảnh giấy viết:

> “Cảm ơn vì sự kiên nhẫn của cô với mẹ tôi.”

Ban đầu, tôi không hiểu.

Mỗi ngày, có quá nhiều khách ra vào — thật khó để nhớ hết từng gương mặt.

Rồi tôi thấy dòng chữ nhỏ ở cuối:

“Bàn số 7, thứ Ba.”

Và mọi ký ức ùa về.

Người phụ nữ lớn tuổi ấy.

Tất nhiên là tôi nhớ.

Bà bắt đầu đến quán khoảng sáu tháng trước.

Luôn là thứ Ba, 11 giờ sáng, bàn số 7, cạnh cửa sổ.

Và luôn gọi:

 “Hai ly cà phê Mỹ, làm ơn. Một có đường, một không.”

Lần đầu, tôi tưởng bà đang đợi ai đó.

Tôi mang hai ly cà phê ra, đặt một ly trước mặt bà, và một ly trước chiếc ghế trống đối diện.

Bà chỉnh tách cà phê ấy thật cẩn thận, như đang phục vụ cho một vị khách quan trọng.

 “Cảm ơn con yêu. Ông ấy thích uống nóng.”

Tôi đứng đó, cuốn sổ ghi order trên tay.

Chiếc ghế đối diện hoàn toàn trống.

>“Bà muốn gọi thêm món gì không ạ?” – tôi hỏi, theo phản xạ, vẫn nói “bà” và “ông”.

“Chưa đâu, cô bé. Cho chúng tôi xem thực đơn một lát nhé.”

Rồi bà bắt đầu nói chuyện.

Với chiếc ghế trống. Với khoảng không trước mặt.

 “Anh nhớ không, hồi những năm 60 mình hay tới đây? Họ vẫn còn làm món sandwich gà tây anh thích đấy.”

Lúc đầu, tôi thấy hơi sợ. Tôi suýt nữa đã gọi quản lý.

Nhưng ánh mắt bà… không có chút lẫn lộn nào. Không điên dại.

Chỉ có niềm hạnh phúc.

Một thứ hạnh phúc trong trẻo, dịu dàng, như thể bà thật sự nghe thấy ai đó trả lời.

 “Anh nói đúng! Ta nên gọi một phần cho hai người như mọi khi.”

Tôi không biết vì sao, nhưng tôi đã nhập cuộc.

 “Một phần sandwich gà tây để chia đôi ạ?”

“Vâng, cảm ơn con. À, và ông ấy vẫn thích khoai tây chiên hơn salad, con biết mà.”

“Dĩ nhiên rồi. Còn ông, có muốn thêm gì không ạ?”

Bà nhìn tôi, ánh mắt chan chứa biết ơn.

“Cô thật dễ thương, cô bé.”

Từ đó, thứ Ba nào cũng vậy.

Hai tách cà phê. Hai đĩa đồ ăn. Một cuộc trò chuyện dành cho người đã khuất.

Tôi luôn rót đầy hai ly.

Tôi hỏi xem “ông” có cần thêm khăn ăn không.

Các đồng nghiệp nghĩ tôi điên.

Một hôm, quản lý hỏi:

 “Tại sao em lại lãng phí cà phê cho một chiếc ghế trống?”

Tôi chỉ đáp:

“Vì điều đó khiến bà ấy hạnh phúc.”

Và đúng vậy.

Trong những giờ phút ấy, bà không cô đơn.

Bà không lạc lối.

Bà đang yêu, đang được yêu, đang sống.

Bà kể về những chuyến du lịch, những đứa con, ngôi nhà bên hồ.

Thỉnh thoảng, bà bật cười đến chảy nước mắt.

 “Anh lúc nào cũng khiến em cười, sau 52 năm vẫn thế.”

Năm mươi hai năm.

Lần cuối cùng bà đến, cách đây ba tuần, bà trông yếu hơn.

Bà vẫn gọi hai ly cà phê, nhưng tay run rẩy.

> “Bà ổn chứ?”

“Ừ, chỉ là mệt thôi, cô bé. Rất mệt.”

Bà nhìn chằm chằm chiếc ghế trống, ánh mắt thoáng buồn.

> “Đôi khi tôi tự hỏi, liệu ông có thật sự ở đây không… Nhưng rồi tôi ngửi thấy mùi nước hoa của ông, và tôi biết là có.”

Khi trả tiền, bà nắm tay tôi:

> “Cảm ơn con, vì đã đối xử với chúng tôi bằng cả tấm lòng.”

Đó là lần cuối cùng tôi thấy bà.

Cho đến hôm nay.

Một người phụ nữ trẻ bước vào — khoảng ba mươi tuổi, ánh mắt mệt mỏi nhưng dịu dàng.

> “Cô là người phục vụ vào thứ Ba, bàn số 7, phải không?”

“Vâng.”

“Tôi là Carolina. Người phụ nữ ấy… là mẹ tôi.”

Là.

> “Mẹ tôi qua đời hai tuần trước. Bệnh Alzheimer giai đoạn cuối. Cuối cùng, mẹ không còn nhớ nổi tên mình.”

Nước mắt tôi ứa ra trước khi cô nói tiếp.

> “Chúng tôi tìm thấy nhật ký của mẹ. Trong đó, mẹ viết về những bữa trưa ở đây. Về cô.

Nơi mà mẹ có thể ‘gặp lại’ ba tôi.”

> “Ba cô à?”

“Ông mất năm năm trước. Ung thư tụy. Họ đã bên nhau 52 năm.

Khi mẹ bắt đầu mất trí, bác sĩ bảo mẹ sẽ quên hết.

Nhưng có một điều mẹ không bao giờ quên — là ông ấy.

Trong tâm trí mẹ, ba tôi vẫn còn sống.

Và vào những ngày thứ Ba, họ cùng ăn trưa — như trước đây.”

Carolina lấy ra một chiếc khăn giấy và 500 đô.

> “Đây là từ di chúc của mẹ. Mẹ viết:

‘Gửi người phục vụ đã luôn phục vụ cả hai chúng tôi mà không bao giờ đặt câu hỏi.

Cảm ơn cô đã cho tôi thêm một năm được sống bên người tôi yêu.’”

Tôi không thể nói gì, chỉ biết khóc.

Carolina cũng khóc.

> “Điều tuyệt vời nhất,” cô nói qua nước mắt,

“là những ngày thứ Ba ấy là khoảnh khắc tỉnh táo cuối cùng của mẹ.

Trước khi qua đời, mẹ không nhớ nổi tôi là ai, nhưng khi tôi nhắc đến quán cà phê,

mẹ đã mỉm cười và nói:

‘Nơi mà mẹ ăn trưa cùng ba con.’”

Tôi thì thầm:

> “Tôi… tôi chỉ mang cà phê ra cho bà thôi.”

“Không,” Carolina đáp. “Cô đã mang lại cho mẹ tôi lòng nhân ái. Một nơi mà tình yêu của mẹ vẫn được công nhận. Cô không tưởng tượng nổi điều đó có ý nghĩa thế nào đâu.”

Chúng tôi ôm nhau — hai người xa lạ, gắn kết bởi một người mẹ và một chiếc ghế trống.

Và từ đó, mỗi thứ Ba lúc 11 giờ, tôi luôn để bàn số 7 trống một lát.

Tôi đặt hai tách cà phê — một có đường, một không.

Và tôi nhớ rằng:

Đôi khi, tình yêu lớn nhất chỉ đơn giản là nhìn thấy người khác — thật sự thấy họ — ngay cả khi không ai khác nhìn thấy.

S.T.

From: Tu-Phung

AI – robot : “ Vũ khí thần kỳ ” trong chiến tranh hiện đại ?(RFI)

RFI

Mỗi cuộc chiến tranh đều có những “vũ khí thần kỳ” của riêng mình. Chúng luôn được giới thiệu theo cùng một cách: hoặc sẽ chấm dứt mọi cuộc chiến tranh, hoặc ít nhất cũng giúp kết thúc chiến tranh với tổn thất tối thiểu cho phe sử dụng chúng.

Đăng ngày: 08/06/2026 

Thùy Dương

Trong nội chiến Hoa Kỳ thời trước, đó là các loại súng “liên thanh”, tàu bọc thép và tàu ngầm. Trong Thế chiến thứ nhất, đó là xe bọc thép, thời đó được ví như những “chiến hạm trên bộ”, và vũ khí hóa học. Khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, tổng thống Harry Truman thì cảm tạ Chúa vì sự ra đời của bom nguyên tử. Còn đối với các quân đội thời nay, trí tuệ nhân tạo (AI) chính là “vũ khí thần kỳ” phiên bản mới nhất.

Trên đây là nhận định của Paul Josephson trong bài viết “Vì sao robot không thể giành chiến thắng trong chiến tranh ?”. Bài viết đăng ngày 03/06/2026 trên trang mạng Pháp ngữ Le Grand continent, chuyên về địa-chính trị. Paul Josephson là giáo sư lịch sử tại trường đại học tư thục Colby College của Hoa Kỳ, và chuyên nghiên cứu về nước Nga và Liên Xô, lịch sử khoa học và công nghệ trong thế kỷ XX.

Một cách khái quát, AI được sử dụng thế nào trong chiến tranh ?

Những người ủng hộ AI cho rằng công nghệ này cho phép tiến hành các cuộc tấn công từ xa, giảm thiểu thương vong cho lực lượng của mình, thực hiện các đòn đánh chính xác mà vẫn bảo vệ được dân thường. Các drone và phương tiện tự hành có thể thực hiện các nhiệm vụ định vị mục tiêu và tiêu diệt mà không khiến binh sĩ gặp nguy hiểm.

Tuy nhiên, theo tác giả bài viết, AI thực chất là sản phẩm của một tổ hợp công nghiệp – quân sự – kỹ thuật số được hậu thuẫn bởi hàng chục tỷ đô la đầu tư, khuyến khích các hành động quân sự vội vã thay vì ngoại giao, tạo ra cảm giác bất khả chiến bại giả tạo và, giống như những “vũ khí thần kỳ” của thế kỷ XX, AI cũng dẫn đến các hành vi lạm dụng chống lại dân thường.

Theo các phương tiện truyền thông và nhiều nhà phân tích được sử gia Paul Josephson dẫn lại, AI hiện diện ở hầu hết các cuộc chiến tranh đương đại. Xuất phát từ lĩnh vực quân sự, các ứng dụng của AI được sử dụng để nhắm vào đối thủ ở nước ngoài hoặc để giám sát công dân trong nước. Các tập đoàn AI lớn và các nhà lãnh đạo của các công ty này, từ Palantir, OpenAI, cho đến Google, và nhiều công ty khác, đang đặt cược vào ý tưởng rằng AI có thể tiến hành chiến tranh thay cho con người, với chi phí thấp hơn và ít thương vong hơn.

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử khoa học và công nghệ trong thế kỷ XX, đó là một giả định sai lầm.

Không chỉ có nguồn gốc quân sự, AI dường như còn lệ thuộc vào quân đội ?

Từ những năm 2010, drone bắt đầu bay trên các khu dân cư. Vừa là đồ chơi cho trẻ em vừa là công cụ giám sát, chúng dần dần hòa vào đời sống thường nhật. Tuy nhiên, nguồn gốc của chúng vẫn là quân sự. Thiết bị này được tạo ra để tấn công các mục tiêu ở xa mà không đặt binh lính vào cảnh nguy hiểm. Nhẹ và dễ điều khiển, drone đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chiến tại Syria, Ukraina, Palestine, Venezuela và Iran trong thập kỷ này.

Xuất phát từ nhu cầu quân sự, cho đến nay AI vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn tài trợ từ quân đội và phần lớn các ứng dụng của AI vẫn gắn với lĩnh vực chiến tranh.

Tác giả bài viết dẫn ví dụ tại Hoa Kỳ : Ngân sách nghiên cứu trong lĩnh vực quốc phòng của Mỹ vượt xa đáng kể ngân sách của Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF). Nguồn tài trợ của bộ Quốc Phòng Mỹ dành cho trí tuệ nhân tạo hiện giờ vượt gấp 20 lần so với Quỹ Khoa học Quốc gia. Bên cạnh việc thúc đẩy sự phát triển của điện tử lượng tử- yếu tố thiết yếu cho các chất bán dẫn vận hành máy tính, điện thoại di động và các thiết bị viễn thông khác, các khoản tài trợ khổng lồ dành cho quốc phòng không còn chỉ hướng đến nghiên cứu cơ bản mà đã mở đường cho nghiên cứu ứng dụng.

Nghiên cứu trong lĩnh vực quân sự quyết định phần lớn các cách sử dụng và ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI). Cũng theo sử gia này, Lầu Năm Góc giờ đây thậm chí còn hướng tới việc thay thế toàn bộ binh lính trên chiến trường.

Vai trò mới của AI trong chiến tranh hiện đại là gì ?

Chính quyền Mỹ của tổng thống Donald Trump không che giấu sự quan tâm đặc biệt đối với AI, một công nghệ được sử dụng không chỉ trong các chiến dịch quân sự ở nước ngoài mà còn trong chính sách đối nội, đặc biệt là các chiến dịch bắt giữ quy mô lớn do Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ tiến hành.

Ngân sách dự kiến của Nhà Trắng dành cho Cơ quan Các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến (DARPA) trong năm 2027 lên tới hơn 5 tỷ đô la, tăng gần 20% so với năm 2026. Trên trang web chính thức, DARPA khẳng định các đổi mới của cơ quan này “đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống dân sự hiện đại”, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải “đưa các công nghệ mới phục vụ những người đang chiến đấu vì đất nước”.

Văn phòng Nghiên cứu Hải quân thuộc bộ Quốc Phòng Mỹ cũng xác định AI là ưu tiên trong phát triển các hệ thống hàng hải tự động, dù theo tác giả, quyết định này được đưa ra quá muộn để có thể giúp tái mở cửa eo biển Hormuz trong ngắn hạn.

Trong khi đó, Văn phòng Kỹ thuật số và Trí tuệ nhân tạo thông báo sẽ hợp tác với các công ty tư nhân chuyên về AI như Anthropic, OpenAI, Google và xAI nhằm phát triển các công cụ AI có khả năng sát thương.

Lầu Năm Góc cũng đang thúc đẩy dự án “Thunderforge”, một chương trình nhằm tự động hóa một số khâu trong chuỗi chỉ huy, đồng thời xây dựng các kế hoạch tác chiến và mô phỏng chiến tranh để dự báo các mối đe dọa khác nhau.

Marc Andreessen, một nhà tài trợ lớn của Donald Trump, người có tư tưởng “lạc quan về công nghệ” và ủng hộ việc đẩy nhanh phát triển AI, chỉ toàn nhìn thấy những mặt tích cực trong làn sóng đổi mới này của Lầu Năm Góc, cũng như trong các ứng dụng tiềm năng của AI đối với chiến tranh. Tương tự như những nhà hóa học từng cho rằng vũ khí hóa học là một phương tiện giết chóc “nhân đạo hơn” trong Đệ Nhất Thế chiến, Andreessen lập luận rằng AI sẽ “cải thiện chiến tranh” trong trường hợp không thể tránh khỏi chiến tranh, bằng cách làm giảm đáng kể tỷ lệ thương vong. Theo ông, điều đó có thể đạt được nhờ “những quyết định chiến lược và chiến thuật tốt hơn, giúp giảm thiểu rủi ro, sai sót và sự đổ máu không cần thiết”.

Tuy nhiên, Paul Josephson phản bác là nếu các “vũ khí thông minh” giúp binh sĩ tránh xa tuyến đầu, thì chúng cũng không làm giảm khả năng gây sát thương, mà ngược lại còn có thể khiến người sử dụng trở nên ít nhạy cảm hơn với hành vi giết chóc, đồng thời khuyến khích việc sử dụng vũ lực ở quy mô lớn hơn, kéo theo những “thiệt hại ngoài dự kiến” và ngày càng nghiêm trọng đối với dân thường.

Ví dụ, theo sử gia Paul Josephson, các loại vũ khí được mô tả là “thông minh” này đã góp phần gây ra cái chết của hàng ngàn người dân Iran, trong đó có nhiều học sinh.

Nhưng AI quân sự cũng làm dấy lên nhiều tranh luận về đạo đức ?

Ngày 15/05/2026, Giáo hoàng Lêô XIV đã công bố thông điệp đầu tiên của triều đại giáo hoàng của mình và lựa chọn chủ đề AI làm trọng tâm.

Nhắc đến tổ hợp công nghiệp – quân sự – kỹ thuật số, Giáo hoàng Lêô XIV đã cảnh báo rằng AI đang góp phần khiến “việc sử dụng các hệ thống vũ khí có khả năng tự chủ tác chiến trở nên dễ dàng hơn, qua đó khiến chiến tranh trở nên ‘dễ tiếp cận’ hơn và ngày càng ít chịu sự kiểm soát của con người”.

Ngài kêu gọi việc “phát triển và sử dụng AI trong lĩnh vực quân sự phải tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt nhất, tôn trọng phẩm giá con người và tính thiêng liêng của sự sống, đồng thời tránh một cuộc chạy đua vũ trang”, đặc biệt là “không thể chấp nhận việc giao cho các hệ thống nhân tạo quyền đưa ra những quyết định liên quan đến sinh mạng con người hoặc những quyết định không thể đảo ngược. Không có thuật toán nào có thể khiến chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt đạo đức”.

Trên thực tế, sử gia Paul Jesephson lưu ý là trong một thời gian dài, các nhà lãnh đạo, nhà phát triển, lập trình viên và các nhà tài trợ cho các công cụ AI đã đánh giá quá cao năng lực nhận thức của máy móc, đến mức cho rằng có thể loại bỏ yếu tố con người khỏi quá trình ra quyết định. Trong lĩnh vực nghiên cứu và lập trình AI, các vấn đề đạo đức đặc biệt nghiêm trọng, bởi vì các thuật toán có thể nhanh chóng khuếch đại bạo lực, đưa ra những quyết định nhắm mục tiêu thiếu minh bạch hoặc mang định kiến, làm suy giảm trách nhiệm của con người và gia tăng nguy cơ xác định nhầm “kẻ thù”.

Một số ý kiến khác còn cho rằng các loại vũ khí tự động hoặc được hỗ trợ bởi AI tạo ra những rủi ro pháp lý và đạo đức không thể chấp nhận được, ngay cả khi chúng chỉ nhằm vào các mục tiêu quân sự.

Dĩ nhiên, các hệ thống phòng thủ, từ đánh chặn tên lửa, phát hiện mìn, tổ chức hậu cần sơ tán cho đến phòng thủ mạng, có thể cứu sống nhiều mạng người. Tuy nhiên, liệu việc các lập trình viên phát triển những thuật toán được thiết kế để tấn công dân thường có thể được coi là hành động phù hợp về mặt đạo đức hay không ?

Theo luật nhân đạo quốc tế của Liên Hiệp Quốc, dân thường phải được bảo vệ trong các cuộc xung đột vũ trang. Việc cố ý nhắm mục tiêu vào dân thường nhìn chung bị coi là tội ác chiến tranh. Các bên tham chiến phải phân biệt mục tiêu quân sự và mục tiêu dân sự, đồng thời tránh gây ra những thiệt hại quá mức đối với dân thường.

Chính các nhà sản xuất vũ khí và giới quân sự đang kêu gọi những “chính phủ có trách nhiệm” đầu tư nghiên cứu nhằm bảo đảm triển khai các hệ thống AI có khả năng phân biệt giữa mục tiêu hợp pháp và mục tiêu không hợp pháp, bao gồm cả dân thường. Tuy nhiên, những sai sót thường xuyên trong việc xác định mục tiêu của con người dù được hỗ trợ bởi các loại vũ khí thông minh, cùng với việc dân thường ngày càng bị biến thành mục tiêu chiến tranh cho thấy đó có thể chỉ là một ảo tưởng nguy hiểm và đầy bạo lực.

Điều đó có nghĩa là AI không khiến chiến tranh trở nên chính nghĩa hơn, cũng không hiệu quả hơn ?

Đối mặt với nước Nga của Vladimir Putin, các kỹ sư quân sự Ukraina đã khai thác đến cùng những tiến bộ trong lĩnh vực AI, khoa học vật liệu mới và công nghệ drone.

Các drone của Ukraina sử dụng công nghệ nhận dạng mục tiêu bằng AI để phát hiện xe tăng được ngụy trang hoặc ẩn trong rừng. Ngày nay, các drone thường được trang bị những tay đòn bằng sợi carbon dài khoảng 2,5 mét mỗi bên, cùng với cánh quạt, dây cáp và ăng-ten. Chúng có khả năng tấn công mục tiêu với độ chính xác rất cao. Trước một đối thủ Nga đang tiến hành cuộc chiến nhằm hủy diệt một quốc gia có chủ quyền, rất khó để phủ nhận tính chính đáng của việc Ukraina sử dụng công nghệ này. Nhưng một câu hỏi được đặt ra là vấn đề đạo đức của việc sử dụng AI trong một cuộc chiến tranh bị coi là không có lý do chính đáng từ phía bị tấn công nằm ở đâu.

Theo sử gia Paul Josephson, chính sách địa chính trị của tổng thống Mỹ Donald Trump và thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là một trường hợp nghiên cứu đáng chú ý, vừa cho thấy cách AI quân sự được triển khai trong các cuộc xung đột cường độ cao, vừa cho thấy vì sao công nghệ này có thể tỏ ra kém hiệu quả hơn kỳ vọng, hoặc ít nhất là nuôi dưỡng một ảo tưởng về hiệu quả.

Ông nhận định là các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran được khởi động nhờ cơ hội công nghệ do những tiến bộ trong lĩnh vực AI tạo ra. Việc loại bỏ các lãnh đạo chính trị và quân sự Iran không hẳn xuất phát từ một nhu cầu quân sự cấp thiết, mà trước hết là tận dụng một cơ hội chiến thuật mang tính tạm thời. Trước và trong chiến dịch quân sự, các nhóm chuyên gia Mỹ và Israel đã sử dụng những công cụ này để thu thập thông tin tình báo, xác định mục tiêu, lập kế hoạch không kích và đánh giá thiệt hại chiến trường với tốc độ chưa từng có.

Nhờ khả năng xác định mục tiêu và mức độ sát thương chưa từng thấy, các nhà hoạch định chiến lược và giới lãnh đạo chính trị tin rằng họ có thể nhanh chóng kết thúc cuộc xung đột. Tuy nhiên, Washington đã mắc phải sai lầm quen thuộc của những người quá tin vào các “vũ khí thần kỳ”: bỏ qua những thách thức mới xuất hiện sau các “chiến thắng” ban đầu, khiến Mỹ rơi vào thế bế tắc về bước đi tiếp theo.

Chỉ trong hai ngày đầu của chiến dịch tấn công, Hoa Kỳ đã chi 5,6 tỷ đô la cho đạn dược. Hơn 2.000 đơn vị vũ khí đã được sử dụng nhằm vào những mục tiêu mà Lầu Năm Góc xác định là của Iran. Kể từ khi Donald Trump ra lệnh phát động chiến tranh chống Iran, Mỹ đã mất ít nhất 42 máy bay, làm cạn kiệt một phần đáng kể kho tên lửa và drone, đồng thời chi ít nhất 30 tỷ đô la cho cuộc xung đột.

Tuy nhiên, vũ khí không phải là nguồn lực vô hạn. Việc bổ sung kho dự trữ cần đến nhiều tháng, đặc biệt đối với các loại vũ khí chính xác cao được hỗ trợ bởi AI. Dường như Mỹ đã không nhận ra rằng công nghệ, tự nó, không thể mang lại chiến thắng trong chiến tranh. Sử gia Paul Josephson, chuyên về lịch sử công nghệ thế kỷ XX, kết luận : công nghệ cũng không thể ngăn chặn những chi phí khổng lồ mà mọi cuộc xung đột vũ trang đều gây ra. Niềm tin vào AI chắc chắn đã thúc đẩy việc sử dụng công nghệ này trên chiến trường, nhưng đồng thời cũng thổi phồng hiệu quả thực sự của nó.


 

NHƯ ĐÃ DẤU YÊU – Tác giả: Chu Thị Hồng Hạnh – Truyen ngan HAY

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

Đưa vợ vào làm xong tất cả các thủ tục, chỉ còn ít phút nữa là phải ra máy bay, anh vẫn lấy cớ chạy ra ngoài. Trời mưa như trút nước. Anh dáo dác nhìn khắp bốn xung quanh. Chỉ đến khi xác nhận một lần cuối cùng là chị không tới anh mới thẫn thờ đi vào.

Anh đâu có biết rằng đã mấy tiếng đồng hồ chị nép trong góc cột, nhìn từ lúc vợ chồng anh bước xuống xe taxi, đẩy hành lý qua bảo vệ. Nhìn thấy anh bước đi mà đầu luôn ngoảnh lại kiếm tìm. Nhìn thôi là đủ rồi, gặp nhau để mà làm gì?

Họ quen nhau cũng vào một ngày mưa tầm tã như thế này. Anh đi đám cưới về cũng đúng lúc chị vừa đi hẹn bạn bước ra khỏi khách sạn. Nhìn thấy chị đứng co ro giữa trời mưa gió, anh hạ cửa kính hỏi chị về đâu anh cho đi nhờ. Trông chị cũng tầm ngoài 40, vóc dáng thon thả, nước da trắng hồng. Nhìn sống mũi cao thanh tú của chị anh đoán ngày trẻ chị đẹp lắm. Chị vừa vào xe thì điện thoại vang lên, chị cố gắng nói rất nhỏ nhưng anh nghe thấy hết.

– Tớ đang đi nhờ xe về nhà. Trời mưa to quá không bắt được xe. Ông Dũng nhà tớ đang bận đi gặp bồ cũ. Thì vẫn bà ấy đó, năm nào cũng bay từ Sài Gòn ra Hà Nội 2 lần thăm nhà, rồi tổ chức gặp gỡ bạn cũ. Bạn nói sao? Tớ làm sao ngăn cản được, ông ấy luôn mồm nói là gặp cả đống bạn bè, có làm gì đâu. Họ có quá nhiều kỉ niệm với nhau. Mình là người đến sau cũng nên tôn trọng họ. Tớ không sao đâu.

Chị cười to rồi ngồi im. Anh liếc qua thấy mắt chị như có ngấn nước. Chả bù cho vợ anh, lấy nhau 25 năm rồi mà anh lúc nào cũng cảm thấy như đang sống trong tù. Anh chả có ai mà chị ghen suốt ngày đêm. Lâu lâu chị lên công ty anh đi dạo một vòng qua các phòng ban, để kiểm tra xem có em nhân viên nữ nào mới không, và thể hiện uy quyền của vợ giám đốc. Thư kí của anh toàn là nam. Vợ chồng cãi nhau suốt nhưng chị không sửa đổi. Anh là người rất thương con, muốn êm cửa ấm nhà nên phải nhịn. Có đêm anh thức giấc, bất chợt thấy chị đang ngồi nhìn anh rất hung dữ. Anh còn chưa tỉnh ngủ nên lắp bắp hỏi:

– Em làm sao vậy?

Chị tru tréo:

– Tôi nằm mơ thấy anh chở bồ đi chơi, hai người ôm nhau mà tôi rượt theo không kịp.

Ngày hôm sau anh dỗ dành hết sức chị mới chịu để anh đưa đi khám. Kết luận của bác sĩ rất đáng buồn. Chị có dấu hiệu bệnh tâm thần dạng hoang tưởng. Vì anh đẹp trai, giỏi giang nên chị nghe lời người ngoài lúc nào cũng nghi ngờ chồng mình có bồ. Riết rồi thành tâm bệnh. Hai đứa con lúc ấy mới 16 ,17 tuổi rất buồn. Anh hứa với các con sẽ chăm sóc chị thật chu đáo để các con yên tâm đi du học. Được vài năm thì chị đòi lên chùa cúng vái suốt. Nhiều lúc chị nửa tỉnh, nửa mơ bảo anh thích ai thì cứ lấy, chị sẽ vào chùa ở luôn.

Đã hơn chục năm nay anh cứ sống một cuộc sống không giống ai như vậy. Niềm an ủi duy nhất là hai đứa con học hành giỏi giang, tốt nghiệp xong ở lại Úc làm việc và công ty của anh ngày càng phát triển.

Mưa càng lúc càng lớn, cả một dòng xe kẹt cứng lại giữa đường. Anh với chị có cả một khoảng thời gian dài để nói chuyện với nhau. Chị lấy chồng muộn nên cu lớn mới 14, con gái nhỏ lên 10. Anh hỏi:

– Ngày xưa em kén lắm hả?

Chị cười:

– Tại vì đọc tiểu thuyết nhiều nên cứ chờ bằng được hoàng tử giống như trong truyện “Cánh buồm đỏ thắm” đến, mà chờ mãi không thấy, thế là được xếp vào loại gái già, phải lấy chồng vội anh ạ!

Anh cũng là con mọt sách nên họ say sưa nói về các nhà văn yêu thích. Anh kinh ngạc khi thấy chị rất am hiểu về văn học, âm nhạc, hội hoạ. Chị cũng có một công ty nhỏ, theo lời chị là đủ để nuôi các con.

Khi mưa ngớt, anh đưa chị về đến tận nhà và xin số điện thoại của chị, anh nói rất thật lòng:

– Hôm nay gặp em anh rất vui, vì em có rất nhiều sở thích giống anh. Nếu em đồng ý thì thỉnh thoảng anh mời em đi uống cà phê nhé!

Sau đó mỗi tháng một hoặc 2 lần anh mời chị đi uống cà phê hoặc ăn trưa. Chị nói chuyện rất hóm hỉnh và có duyên. Dần dần anh cảm thấy tình cảm mình dành cho chị không còn đơn thuần nữa. Có lần anh kể hơn 10 năm nay vợ anh bị bệnh, chị buột miệng:

– Em đẻ con bé được mấy tháng chồng em đã cặp bồ rồi, bọn em cũng ly thân từ ngày ấy.

Quen nhau hơn một năm anh ngỏ lời:

– Anh rất quý em Thanh à, chúng mình có thể đi xa hơn được không?

Chị đang vui vẻ cười nói bỗng sựng lại và kiếm cớ ra về.

Ít bữa sau anh nhận được cuộn băng thu bài “Như đã dấu yêu” của nhạc sĩ Đức Huy do chị hát, và một bức thư. Giọng chị rất hay, chị vừa hát vừa khóc

“Nhưng em ước gì mình gặp nhau lúc anh chưa ràng buộc.

Và em chưa thuộc về ai”

Và đây là nguyên văn bức thư của chị

Anh à!

Hơn một năm qua em rất vui khi được làm quen với anh, được nhận từ anh những sự quan tâm chân thành. Là phụ nữ em không thể không cảm nhận những tình cảm của anh, mặc dù em cứ quy ra nó chỉ đơn thuần là tình bạn thôi. Đấy là em tự lừa mình dối người. Em đã rất nhiều lần khóc thầm trong đêm khi nhớ đến ánh mắt say đắm, yêu thương của anh mỗi lần chúng mình gặp gỡ.

Muộn màng hết rồi anh ạ!

Em lấy chồng cho bố mẹ em vui lòng, và suốt mười mấy năm qua em luôn luôn phải chiến đấu với một đống bồ cũ, bồ mới của chồng. Em hận những người đàn bà trơ trẽn luôn tìm đủ mọi cách quyến rũ chồng em, moi tiền của anh ấy (thực ra là tiền em làm ra). Vậy nhưng em vẫn phải duy trì cuộc hôn nhân này, vì chồng em tuy tàn nhẫn với vợ nhưng rất thương các con, và em cố nuốt nước mắt vào trong để các con có đủ cả bố lẫn mẹ. Đã mấy lần em đau đớn chạy về nhà xin bố mẹ cho ly hôn vì em đâu phải tượng gỗ, em cũng thèm khát được có một người chồng chung thủy, yêu thương em hết lòng chứ không phải sống với một người chồng trên danh nghĩa, không hề nhớ ngày sinh của vợ,  nhưng rất nhiệt tình tổ chức sinh nhật hoành tráng cho bồ. Bố mẹ em lúc thì van lơn, lúc lại đay nghiến dứt khoát không cho em ly hôn vì “dòng họ nhà mình từ trước đến giờ không có người nào ly hôn cả”. Em cứ sống vật vờ lấy công việc và các con làm nguồn vui, cho đến khi gặp anh. Anh à! em tiếc lắm. Nếu như ngày xưa em được gặp anh, thì chắc chắn chúng mình sẽ có một cuộc hôn nhân rất hạnh phúc. Nhưng đấy chỉ là “Nếu như” thôi.

Vợ anh, chị ấy bị bệnh cũng vì yêu anh quá (điều mà em không có được trong cuộc hôn nhân của mình). Vì vậy em không thể vì bất hạnh mà đi cướp chồng người khác, giống như những người đàn bà của chồng em.

Mình không nên gặp nhau nữa anh ạ!

Em xin cảm ơn anh vì tất cả.

Đọc xong bức thư của chị, anh cảm thấy người như bị rút hết sức lực.

Hạnh phúc giống như một giấc mơ đẹp, vĩnh viễn không bao giờ gặp lại được nữa.

Vài tháng sau anh thu xếp công việc, tìm người quản lý giỏi rồi đưa vợ sang sống với các con.

Trước khi đi, anh nhắn tin muốn được nhìn thấy chị một lần cuối cùng.

Chị đến, nấp sau cột, nhìn từ lúc anh đỡ vợ xuống xe, nhìn anh vừa đẩy xe hành lý, vừa ngoái về sau, nhìn anh làm thủ tục xong lại chạy dáo dác ra ngoài. Nước mắt giàn giụa, chị lẩm bẩm “Anh đi may mắn nhé!”

NHƯ ĐÃ DẤU YÊU

Tác giả: Chu Thị Hồng Hạnh

( Mượn tựa đề bài hát của Nhạc sĩ Đức Huy)

Bài và ảnh sưu tầm 


 

Người mẹ đầy lòng tin ấy đứng trước cánh cửa phòng đóng chặt của con… và đọc kinh Mân Côi

Joseph Phạm Nguyên 

Bà Anne Galea, một người mẹ tại Úc, từng phải bất lực nhìn đứa con trai 17 tuổi của mình là Rob trượt dài trong sự nổi loạn. Những ảnh hưởng xấu từ bạn bè cùng sự cô lập đã đẩy anh vào bóng tối. Anh tự nhốt mình trong phòng, khóc nức nở trong tuyệt vọng và khước từ mọi sự giúp đỡ. Trái tim người mẹ thắt lại từng ngày.

Thế nhưng, đêm nào cũng vậy, người mẹ đầy lòng tin ấy lại lặng lẽ đứng trước cánh cửa phòng đóng chặt của con… và đọc kinh Mân Côi. Bà lắng nghe tiếng khóc của con qua khe cửa, nước mắt tuôn rơi, nhưng chưa bao giờ bà ngừng cầu nguyện. Từng lời kinh Kính Mừng cất lên, bà phó thác đứa con trai của mình cho Chúa Giêsu qua bàn tay hiền mẫu của Đức Maria.

Lúc ấy, mọi thứ dường như hoàn toàn bế tắc.

Nhưng rồi, Thiên Chúa đã ra tay.

Nhờ lời cầu nguyện kiên trì của người mẹ, Rob đã có một cuộc gặp gỡ sâu sắc với Chúa Giêsu hằng sống. Sự giận dữ, cô độc và bóng tối bỗng chốc tan biến. Anh đã trải qua một cuộc hoán cải kỳ diệu, thay đổi hoàn toàn cuộc đời mình!

Giờ đây, chàng trai năm ấy chính là Cha Rob Galea — một linh mục Công giáo, diễn giả quốc tế, nhạc sĩ từng đoạt nhiều giải thưởng và là tác giả của cuốn hồi ký đầy cảm hứng “Breakthrough: A Journey from Desperation to Hope” (Đột phá: Hành trình từ Tuyệt vọng đến Hy vọng).

Ngài là vị sáng lập ICON Ministry, mục vụ tiếp cận và loan báo Tin Mừng cho hơn 2 triệu người trên toàn thế giới mỗi năm. Cha Rob Galea cũng từng biểu diễn tại các kỳ Đại hội Giới trẻ Thế giới, xuất hiện trên chương trình The X Factor của Úc, và vẫn đang tiếp tục chạm đến trái tim của hàng triệu người qua âm nhạc và công cuộc tái truyền giáo.

Trong những ngày tháng tuyệt vọng nhất, bà Anne thậm chí đã được thấy một thị kiến về tương lai của Rob: anh trở thành một linh mục, tay cầm cây đàn guitar và dẫn dắt các bạn trẻ đến với Chúa Kitô. Vào thời điểm đó, điều ấy tưởng chừng như không tưởng. Nhưng hôm nay, nó đã trở thành sự thật.

Các bậc làm cha, làm mẹ — xin đừng bao giờ ngừng cầu nguyện cho con cái mình. Kinh Mân Côi là một vũ khí ân sủng đầy quyền năng. Thiên Chúa nhậm lời mọi lời cầu nguyện được dâng lên bằng tình yêu và sự kiên trì.

Bạn đã từng chứng kiến quyền năng của lời cầu nguyện kiên trì thay đổi một cuộc đời chưa? Hãy chia sẻ câu chuyện của bạn dưới phần bình luận nhé!

Khi cảm thấy muốn bỏ cuộc, bạn thường suy ngẫm Mầu nhiệm Mân Côi nào?

Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#daoconggiao #kinhmancoi #phepmla #SongDao #KienTri #QuyenNangLoiCauNguyen 


 

“Ta đã gọi tên con, con thuộc về Ta” (Is 43, 1). – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày nữa để yêu và được yêu. Một ngày thật hạnh phúc bên Chúa và những người thân yêu nhé. Mình xin bạn một lời cầu nguyện khẩn thiết hoặc một hy sinh nhỏ cho đất nước mình đang sống và cho thế giới nhé

 Cha Vương

Thứ 2: 08/06/2026.    (n10-24)

GIÁO LÝ: Khi lãnh bí tích Rửa tội, người ta nhận một tên, điều này có ý nghĩa gì? Qua tên ta nhận khi lãnh bí tích Rửa tội, Thiên Chúa như nói với ta: “Ta đã gọi tên con, con thuộc về Ta” (Is 43, 1). (YouCat, số 201)

SUY NIỆM: Khi được rửa tội, con người không bị tan biến trong một khối vô danh, trái lại nhân cách của họ được xác nhận. Nhận một tên khi được rửa tội có nghĩa là: Chúa biết ta, Người nói với ta, “tốt”, “được” và đón nhận ta đời đời với tất cả nét đặc thù của ta. 

❦ Tôi được mời gọi để làm hoặc để là cái mà không ai khác được mời gọi. Trên trái đất của Chúa, tôi có một chỗ trong chương trình của Chúa mà không ai có như vậy. Dù tôi giàu hay nghèo, bị khinh dể hay được trọng vọng bởi người đời, Chúa biết tôi và gọi tôi bằng chính tên tôi. (Hồng y John Henry Newman) (YouCat, số 201 t.t.)

LẮNG NGHE: Nhưng bây giờ, đây là lời ĐỨC CHÚA phán, lời của Đấng tạo thành ngươi, hỡi Gia-cóp, lời của Đấng nắn ra ngươi, hỡi Ít-ra-en: Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta! (Is 43:1)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, vì yêu Chúa đã dựng nên con giống hình ảnh của Chúa. Chúa còn ban cho con được làm con cái Chúa qua Bí Tích Rửa Tội để được sống hạnh phúc mãi mãi với Chúa. Xin giúp con biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, cùng vui sống bên nhau, đem lại hạnh phúc cho nhau để làm vinh danh Chúa. 

THỰC HÀNH: Tên thánh (còn gọi là thánh quan thầy hay thánh bảo trợ) của bạn là gì? Bạn có biết ngày lễ bổn mạng (còn gọi là lễ quan thầy) của bạn là ngày nào không? Tập thói quen đọc kinh thánh quan thầy của mình để xin các ngài hướng dẫn và cầu bầu cho bạn nhé.

From: Do Dzung

***************************

Ngài Gọi Tên Con – Sáng tác: Dương Quảng -Trình bày: Nguyễn Minh Tâm 

NGƠ NHƯ MUỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh em là muối cho đời; nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại được?”.

Một đứa trẻ bị bắt cóc đem vào rừng từ thuở bé. Lớn lên giữa bầy khỉ, em sống như khỉ cho đến ngày được tìm thấy. Phải mất nhiều năm để giúp em nhận ra mình là người.

Kính thưa Anh Chị em,

Bi kịch không phải là sống trong rừng, nhưng là quên mình là người. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu gọi các môn đệ là muối; nhưng muối có thể nhạt. Lời Chúa cảnh báo một nguy cơ tương tự: quên mình là ai. Đó là lúc người môn đệ trở nên ‘ngơ như muối’.

Khi nói “muối nhạt đi”, Matthêu dùng động từ mōranthē. Thật thú vị, trong nguyên ngữ Hy Lạp, động từ này không chỉ có nghĩa là mất vị, nhưng còn là “trở nên ngốc nghếch”, “mất khôn ngoan”. Điều đáng sợ không phải là thế giới thiếu muối, nhưng là muối quên mình là muối. Khi đó, muối vẫn còn đó, nhưng không còn là chính mình. Đó cũng là điều xảy ra khi người môn đệ quên mình là ai: vẫn hiện diện, nhưng không còn ướp mặn trần gian bằng Tin Mừng. Tan biến là quên mình là ai; tan ra là nhớ mình được sai đi để làm gì. “Hãy từ bỏ bản thân, và bạn sẽ tìm thấy con người đích thực của mình. Hãy mất mạng sống mình, và bạn sẽ cứu được nó!” – C. S. Lewis.

Điều làm muối mất vị không phải là sự hiện diện giữa thế gian, nhưng là sự đồng hoá với thế gian. Người môn đệ được sai vào đời để ướp mặn đời, chứ không phải để tan biến trong đời. Mỗi lần chúng ta đánh đổi sự thật lấy an toàn, đánh đổi lương tâm lấy thuận lợi, hay đánh đổi điều đúng đắn để giữ sĩ diện, vị mặn Kitô hữu lại nhạt đi. Khi ấy, bạn và tôi tự tước mất vị mặn của đời mình. Nói cách khác, khi việc làm không còn phản ánh điều mình tin, khi đời sống không còn mang hương vị của Tin Mừng, người môn đệ bắt đầu trở nên ‘ngơ như muối’.

Bà goá Sarepta là mẫu gương của một đức tin chưa nhạt. Dù chỉ còn một nắm bột và chút dầu cuối cùng, bà vẫn dám tin lời ngôn sứ – bài đọc một. Thay vì để sự khan hiếm quyết định tương lai, bà để ánh sáng của Thiên Chúa dẫn đường. Vì thế, điều kỳ diệu không bắt đầu từ hũ bột không cạn hay bình dầu không vơi, nhưng từ một trái tim biết ngước nhìn lên Thiên Chúa. “Lạy Chúa, xin toả ánh tôn nhan Ngài trên chúng con!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô là Muối Thiên Chúa gửi vào thế gian. Ngài đã đi vào một nhân loại đang nhạt dần tình yêu, nhạt dần sự thật và nhạt dần lòng thương xót. Bằng cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của mình, Ngài trả lại cho con người hương vị nguyên thuỷ của đời sống làm con Thiên Chúa. Chỉ khi ở lại trong Chúa Kitô, chúng ta mới không trở nên nhạt nhẽo giữa một thế giới đang quen dần với sự tầm thường. Môn đệ không được gửi vào đời để hòa tan, mà để làm biến đổi thực tại từ bên trong. “Người Kitô hữu không biết trao ban chính mình sẽ trở nên cằn cỗi!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ đức tin con luôn mặn mà; lương tâm con luôn thức tỉnh; và đừng để con ‘ngơ như muối’ mà quên mình thuộc về Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần X Thường Niên, Năm Chẵn

Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 5,13-16

13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

14 “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”


 

SÙNG BÁI LÃNH TỤ

Ph Ng posted to BẢO TỒN TIẾNG VIỆT

 SÙNG BÁI LÃNH TỤ

Sống trong chế độ độc tài, người dân dần trở nên mù quáng.

Ở Tây phương, hầu như ai cũng đồng ý ba 3 “siêu sát thủ” hàng đầu của thế kỷ 20 là Hitler, Stalin và Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, cả Stalin và Hitler còn thua xa Mao về số người bị thiệt mạng.

Tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông được coi là “biểu tượng dân tộc”, được dân chúng ca tụng và tôn sùng. Thế nhưng, trong mắt người phương Tây, Mao chính là 1 trong 3 “sát thủ” hàng đầu của thế kỷ 20.

Trả lời phỏng vấn về tội ác của Mao, sử gia Frank Dikotter, giải thích với phóng viên của L’Obs là Mao đã lấy Stalin làm gương và không chỉ làm y như Stalin mà còn muốn vượt qua nhà độc tài Soviet, muốn vượt lên trên cả Lenin.

Là tấm gương của Mao, nhưng Stalin vẫn còn thua xa Mao tính về số người bị hy sinh. So sánh 3 nhân vật này, Hitler, Mao và Stalin, sử gia Dikotter cho rằng điểm chung của họ là họ rất thông minh, không hề có cảm giác tội lỗi, có tài thao túng – cả con người lẫn tình thế.

Trong 3 người, Hitler là kẻ bị căm ghét nhất và bị lên án nhiều nhất, nhưng thật ra, theo các sử gia, đó lại là người gây ra tội ác ít nhất. Số nạn nhân của những ‘sát thủ’ này thay đổi theo từng tài liệu và từng cách tính, nhưng nói chung, nạn nhân của Hitler là khoảng từ 17 đến 30 triệu; của Stalin là từ 40 đến 62 triệu; của Mao Trạch Đông là từ 45 đến 75 triệu. Nhìn vào con số nào, tối thiểu hay tối đa, Stalin và Mao Trạch Đông cũng đều vượt xa Hitler.

Tất cả các tội ác của Hitler đều được công khai. Ở nhiều quốc gia, không phải việc ca ngợi mà cả việc hoài nghi hay biện bạch cho các tội ác ấy cũng đều bị phê phán gay gắt, thậm chí, bị xem là phạm pháp. Hitler trở thành biểu tượng của cái ác, của tội ác chống lại nhân loại. Mọi người đều biết điều đó và công nhận điều đó.

Tội ác của Stalin được giấu giếm kỹ hơn. Suốt cả mấy chục năm, ông được xem như một vị “cha già dân tộc”, hơn nữa, một cứu tinh của nhân loại. Nhiều nhà thơ, nhà văn và trí thức nổi tiếng khắp nơi trên thế giới đua nhau ca tụng và góp phần thần thánh hoá ông.

Tuy nhiên, sau khi Stalin chết được một thời gian, trong thời xét lại ở Liên Sô, một số tội ác của Stalin bắt đầu được vạch trần; đặc biệt, sau khi Liên Sô sụp đổ, hầu như toàn bộ những tội ác ấy đều được phanh phui.

Số nạn nhân bị hành quyết chính thức lên đến cả triệu người. Số người bị chết, dưới hình thức này hay hình thức khác, trong các trại tù và trại cải tạo lên đến mấy triệu. Số nạn nhân mà người ta không thể đếm hết là số những người thuộc các sắc tộc khác, kể cả người Đức và người Ukraine, bị Stalin ra trục xuất, đày đến những nơi hoang vu hẻo lánh và đầy băng giá, cũng như những người dân bị chết vì đói khát do các chính sách kinh tế và kiểm soát lương thực ngặt nghèo của Stalin. Con số này lên đến vài chục triệu.

Nhận ra sự thật ấy, hầu như ở khắp nơi trên thế giới, người ta đều lên án Stalin. Từ đầu thập niên 1990, khi chế độ Cộng sản ở Nga và Đông Âu sụp đổ, rất nhiều bức tượng của Stalin bị giật sập.

Giống như trường hợp của Hitler và Stalin, rất khó biết được chính xác số nạn nhân bị chết dưới tay của Mao Trạch Đông. Họ gồm 2 loại chính : Một là những người bị giết theo lệnh, trực tiếp hoặc gián tiếp của Mao (ví dụ trong thời chiến tranh trước 1949, thời cải cách ruộng đất, thời chống xét lại và thời Cách mạng Văn hóa); hai là những người bị chết do các chính sách của Mao gây ra, từ các chính sách thanh trừng trong nội bộ đảng và các chính sách thanh tẩy chủng tộc ở Tây Tạng đến các chính sách kinh tế dẫn đến những nạn đói kinh hoàng nhất trong lịch sử Trung Quốc khiến cả hàng chục triệu người chết.

Từ các tài liệu lưu trữ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, cho thấy là Mao đã chọn một chính sách bạo lực thật sự và triệt để làm phương pháp củng cố quyền lực. Sự sùng bái của dân chúng đối với lãnh tụ như một trong những chiến lược chính để xây dựng và bảo vệ chế độ.

Một ví dụ cụ thể là cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu ở Mãn Châu, từ năm 1947 – song song với cuộc chiến giành chính quyền – và kết thúc năm 1952 : Với hơn một nửa nông dân làm chủ ruộng đất của họ, một phần khác thì chia nhau khai thác ruộng đất gia đình, chỉ khoảng 6% là thuê đất, không dễ dàng có địa chủ bóc lột dưới tay để nhân dân trút giận. Thế là đảng Cộng sản đã “tạo ra” thành phần này, và kết quả là có 2 triệu người chết theo các báo cáo nội bộ của đảng.

Trong thời kỳ chiến tranh chống Tưởng Giới Thạch, chính sách vây hãm thành phố của các tướng lãnh của Mao – dồn binh lính, dân chúng vào nạn đói, những ai bỏ chạy bị bắn tại chỗ – để buộc đối thủ đầu hàng, đã làm hàng trăm ngàn thường dân chết như ở Trường Xuân. Phương thức này cũng được áp dụng ở các thành phố khác như Bắc Kinh, Thượng Hải…

Sau khi chiếm chính quyền, từ năm 1950, những cuộc thanh trừng tiếp diễn, Mao còn đưa ra chỉ tiêu về số người bị hành quyết. Trong vòng 1 năm, có 2 triệu người bị hành quyết trước công chúng. Những cuộc thanh trừng về sau cũng rất nhiều, cộng thêm nạn nhân nạn đói do sai lầm chính sách Đại Nhảy Vọt, cuộc Cách mạng Văn hóa… Mao đã để lại một hình ảnh thật đen tối.

Ngoài việc giết người trực tiếp và gián tiếp, Mao Trạch Đông còn phạm nhiều sai phạm nghiêm trọng khác đối với đất nước Trung Quốc, trong đó, đáng kể nhất là : Một, phá nát nền văn hóa truyền thống vốn lừng lẫy khắp thế giới trong cả hơn 2,000 năm; hai, làm kinh tế Trung Quốc hoàn toàn suy sụp và kiệt quệ; và cuối cùng, ba, đẩy cả 1 tỉ người vào tù ngục của một chế độ độc tài.

Trong 3 sai phạm ấy, Đặng Tiểu Bình, với chính sách đổi mới từ giữa thập niên 1980, chỉ cứu chữa được 2 sai phạm đầu. Còn chế độ độc tài thì vẫn còn đó, đè nặng lên cuộc sống của mọi người. Dù kinh tế phát triển nhanh, Trung Quốc vẫn nằm trong danh sách những nước chà đạp lên nhân quyền một cách trầm trọng nhất. Người dân Trung Quốc, dù no ấm, thậm chí, giàu có hơn, vẫn tiếp tục bị nghẹt thở dưới một chế độ hà khắc.

Trong khi huyền thoại Hitler đã hoàn toàn sụp đổ, huyền thoại Stalin đã sụp đổ gần hết, huyền thoại Mao Trạch Đông tại Trung Quốc hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Hình ảnh của ông vẫn xuất hiện đầy trên áo chemise, ly tách và nhiều loại đồ trang trí khác. Bày bán nhiều như thế hẳn là có nhiều người mua, trong đó, có khá nhiều người thuộc giới trẻ. Đến Bắc Kinh, vẫn thấy bức tượng của Mao dựng uy nghi ngay trước cổng Thiên An Môn. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, những lời ca ngợi Mao vẫn tràn ngập.

Năm 2013, một bức tượng Mao bằng vàng ròng trị giá $16 triệu được dựng lên để dân chúng đến cúng vái. Cúng vái thực sự với nhang khói nghi ngút. Mà số người đến cúng vái như vậy, theo báo chí, lên đến cả mấy trăm ngàn người. Họ ùn ùn kéo về từ mọi miền trên đất nước. Một bài báo đăng trên tờ Telegraph ở Anh có tiêu đề : “In China, Chairman Mao still bigger than Jesus”. Trong bài, ký giả dẫn lời một y tá 23 tuổi : “Mao là một vị thần ở Phương Đông”.

Thật ra, hiện tượng sùng bái lãnh tụ như vậy cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Sùng bái là tâm lý chung của loài người. Nguyên nhân chính là sự yếu đuối với 2 khía cạnh : Một, tâm lý bầy đàn; và hai, ước mơ được “cứu rỗi” qua hình ảnh của thần tượng: người ta hoặc nhìn các thần tượng ấy như giấc mơ của chính mình hoặc hy vọng thần tượng sẽ làm thay đổi đời mình.

Ở Tây phương, trong nền văn hóa đại chúng và nặng tính chất tiêu thụ, nhiều người cũng mê mệt với các hoàng tử và các công chúa hay các ngôi sao trong các lãnh vực âm nhạc, điện ảnh, thể thao, v.v… Tuy nhiên, kiểu sùng bái như vậy, về bản chất, khác hẳn kiểu sùng bái lãnh tụ. Người ta có thể mê mệt một ngôi sao trong làng giải trí nhưng không ai sẵn sàng chết hay hy sinh bất cứ thứ gì cho các ngôi sao ấy cả. Trong chính trị, ngược lại, sự sùng bái mang tính chất tôn giáo, do đó, có thể dẫn đến những hành vi tử vì đạo. Mức độ mê muội của sự sùng bái, do đó, lớn, sâu và nghiêm trọng hơn nhiều.

Ở các nước Dân chủ, về phương diện chính trị, với các lãnh tụ, người ta có thể ngưỡng mộ, cực kỳ ngưỡng mộ, nhưng không sùng bái, hoặc nếu sùng bái, chỉ là một sự sùng bái có mức độ.

Lý do của việc gắn liền giữa chế độ độc tài và sự sùng bái lãnh tụ rất dễ hiểu : Tất cả các chế độ độc tài đều sử dụng sự sùng bái của dân chúng đối với lãnh tụ như một trong những chiến lược chính để xây dựng và bảo vệ chế độ. Không có chính nghĩa và cơ sở pháp lý, họ chỉ có một cách duy nhất để tồn tại là mê hoặc nhân tâm. Biện pháp chính để mê hoặc là tuyên truyền. Nhưng muốn tuyên truyền một cách hiệu quả thì lại cần đến 2 điều kiện khác : Một, nắm toàn bộ các phương tiện truyền thông để có thể dập tắt tất cả những tiếng nói khác, đặc biệt, những tiếng nói trái chiều; và hai, trình độ dân trí thấp đủ để có thể tin những lời nói dối trá.

Ở Trung Quốc, sự độc quyền thông tin vẫn tồn tại. Nhưng còn dân trí thấp? Trên nguyên tắc, có cảm tưởng như đó là một nghịch lý. Một đất nước có truyền thống lịch sử và văn hóa huy hoàng đến vậy không thể có dân trí thấp. Một nền kinh tế phát triển nhanh và mạnh như vậy cũng không thể có dân trí thấp.

Nhưng trên thực tế, đặc biệt trong lãnh vực chính trị, người ta lại không thể không nói trình độ dân trí của Trung Quốc, nói chung, còn khá thấp. Người ta thường nói độc tài đi đôi với ngu dân là như vậy.


 

Ông bà gốc Việt làm chủ hơn 60 tiệm nail nhận tội trốn thuế $32 triệu

Ba’o Nguoi-Viet

June 5, 2026

COLUMBUS, Ohio (NV) – Một người đàn ông và một phụ nữ gốc Việt ở Texas làm chủ hơn 60 tiệm nail vừa nhận tội gian lận và trốn thuế hàng chục triệu đô la bằng cách “trả lương chui” (under-the-table) cho nhân viên, thông cáo báo chí của Văn Phòng Bộ Tư Pháp Mỹ, chi nhánh Southern District of Ohio ở Columbus, cho biết hôm Thứ Tư, 3 Tháng Sáu.

Theo hồ sơ tòa án và các tuyên bố đưa ra tại tòa, ông Vinh Q. Hồ, 53 tuổi, và bà Thanh Lan Đỗ, 34 tuổi, làm chủ và quản lý một doanh nghiệp bao gồm hơn 60 tiệm nail cao cấp khắp Hoa Kỳ, với các tên như Anthony Vince’ Nail Spa, Prive Nail Spa, và Zen Nail & Spa.

 

Một tiệm nail Anthony Vince’ Nail Spa ở Santa Clarita, California. (Hình minh họa: Google Maps)

Ông Vinh là tổng giám đốc trên thực tế. Còn bà Thanh là người điều hành các tiệm nail.

Các tiệm nail này mướn nhân viên và trả tiền cho họ phần lớn bằng tiền mặt.

Vào cuối năm, tiệm nail của họ chuẩn bị hồ sơ khai thuế cho mỗi nhân viên.

Để giúp nhân viên che giấu thu nhập và trốn thuế, các hồ sơ thuế này không bao gồm số tiền lương trả bằng tiền mặt.

Ông Vinh và bà Thanh còn huấn luyện nhân viên quản lý tiệm cách “trả lương chui” cho nhân viên.

Ngoài ra, họ còn làm mẫu khai thuế 1099 giả và nói nhân viên không khai số tiền lương thật.

Thông cáo của Bộ Tư Pháp Mỹ liên quan vụ hơn 60 tiệm nail gian lận và trốn thuế. (Hình: Chụp từ màn hình trang web Bộ Tư Pháp)

Ông Vinh cũng không khai báo trung thực thu nhập trong hai năm 2020 và năm 2021 trong hồ sơ thuế.

Trong thỏa thuận nhận tội, bà Thanh đồng ý rằng từ năm 2016 đến năm 2024, các tiệm nail của họ trả lương bằng tiền mặt hơn $116 triệu, nhưng không khai báo với Sở Thuế IRS, nên không phải đóng một khoản tiền thuế ít nhất là $32 triệu.

Cả ông Vinh và bà Thành đều nhận một tội âm mưu lừa đảo nước Mỹ. Ông Vinh cũng nhận một tội trốn thuế.

Theo dự trù, cả hai sẽ bị tuyên án trong những ngày tới.

Ông Vinh Q. Hồ có thể bị tối đa 10 năm tù. Còn bà Thanh Lan Đỗ có thể bị tối đa 5 năm tù.

Một chánh án liên bang sẽ quyết định bản án với hai người gốc Việt này sau khi tham khảo hướng dẫn bản án tù của Hoa Kỳ và các yếu tố khác. (Đ.D.)