DỐT NÁT MỚI TIN VÀO ĐẠO!

Xuyên Sơn

 DỐT NÁT MỚI TIN VÀO ĐẠO!!

“Chỉ những người ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào đạo”.

Nghe xong câu kết luận đó, cả lớp học im phăng phắc, còn lòng tôi thì bực tức mà không nói nên lời.

Sự bực tức này có lẽ một phần vì nội dung mà vị giáo sư giảng dạy không chỉ đang đụng đến đức tin của người Công giáo như tôi mà còn xúc phạm đến người có đạo.

Phần nữa, tôi đau vì không đủ khả năng để đứng lên bảo vệ Đạo của mình.

Sau khi nghe xong phần trình bày của vị giáo sư đại học mà tôi nghĩ là ông không có thiện cảm gì với người Công giáo, tôi về nhà cố đi tìm câu trả lời cho riêng mình.

Và khi đã tìm hiểu xong, tôi quyết định tìm gặp và đối thoại với vị giáo sư này.

Câu hỏi đầu tiên mà tôi đặt ra cho ông đó là “Thưa Thầy, thầy có thể cho biết, đất nước nào hiện nay văn minh, tiến bộ nhất thế giới”.

Vị giáo sư trả lời ngay “ Nước Mỹ”.

Tôi nói liền “ Vậy, thầy có thể cho em biết hiện nay nước Mỹ có bao nhiều người tin vào Thiên Chúa?”

Vị Giáo sư nhìn tôi và hỏi 

“Em hỏi vậy là có mục đích gì?”.

Tôi đáp

“Vì Thầy nói

“Chỉ những ai ít học, mê muội, dốt nát mới tin vào Thiên Chúa” nên em mới hỏi thầy câu này.

Ông chần chừ một lúc rồi nói

“ Nước Mỹ là nước có số người tin vào Thiên Chúa khá đông”. 

“Đúng vậy. Em được biết tại nước Mỹ có tới 86% tin vào Thiên Chúa,

còn 14% nhận mình là vô thần mà. Chẳng lẽ 86% này cũng là những người mê muội, ít học phải không thầy?”

Hơn nữa, em còn thấy những bác học lừng danh như Bacon, Isaac Newton, Albert Einstein, Louis Pasteur, 31-Georges Lemaître (1894-1966)

Linh mục Công Giáo, người khai phá ra thuyết Big Bang.

Max Planck (1858-1947)

Đoạt giải Nobel về vật lý

và là cha đẻ của thuyết Quantum mechanics.

Blaise Pascal (1623–1662)

Thần đồng toán học, vật lý, và Lý Thuyết.

René Descartes (1596–1650)

Nhà bác học về Hình học và Những con số bất biến.

Người hướng dẫn cuộc Cách Mạng

Khoa học của phương Tây.

Roger Bacon (c.1214–1294), người áp dụng phương pháp

thực nghiệm và các phương pháp khoa học tân tiến.

Viết về Luật Thiên Nhiên, cơ khí, địa lý và quang học.

Johannes Kepler (1571–1630)

Nhà vũ trụ học, tính toán sự di chuyển của các thiên hà.

-Isaac Newton (1643–1727)

Nhà khoa học và toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại và biết bao nhiêu nhà bác học khác đều là những ki tô hữu tốt lành.

Chẳng nhẽ, những nhà bác học này cũng là những người dốt nát và mê tín sao thầy?

Em thấy tiền đề thầy đưa ra xem ra không ổn tí nào.

Vị giáo sư như chùng xuống một lúc rồi nói

“ Tôi cũng chỉ nói những gì mà sách vở và bổn phận tôi phải nói. Vì đó là nghề của tôi”.

Tôi đáp lại

“ Vâng nếu thầy nói vậy thì em hiểu rồi. Có điều em cảm thấy thầy không có tự do khi truyền giảng cho sinh viên những kiến thức thực sự của thầy. Nhưng còn một điều nữa khiến em cũng đang thắc mắc”.

Ông nhìn tôi và hỏi

“ Em còn muốn hỏi điều gì”. 

“Vâng, cũng chỉ liên quan đến điều thầy nói ở lớp thôi. Em muốn hỏi thầy có cái gì giả dối, mê muội nó tồn tại được lâu không thầy”. Tôi đáp lại.

Người thầy của tôi lúc này thong thả nói “ Người ta vẫn nói sự thật trước sau gì cũng là sự thật, sự giả dối có lừa được một số người, một số lần rồi sẽ có ngày lộ diện em ạ”. 

“Cám ơn thầy. Thầy nói chí phải.

Sự thật ma vật không đổ thầy nhỉ.

Nếu Đạo Công Giáo mà giả dối sao nó lại tồn tại lâu quá vậy. Nó không chỉ tồn tại mà còn phát triển khắp cả thế giới và đứng vững một cách chắc chắn phải không thầy!”.

Người thầy gật đầu và nói với tôi

“ Thầy cảm phục tinh thần của em.

Em là người có chứng kiến và dám sống cho chứng kiến của mình.

Thầy tin rằng em sẽ làm được những điều tốt lành cho đất nước cho xã hội. Chỉ tiếc những người có chứng kiến và bản lãnh như em nơi sinh viên không có nhiều lắm. Chúc em thành công”.

Tạm biệt người thầy mà tôi đã làm phiền quấy rầy.

Tuy thời gian gặp gỡ không dài những tôi hiểu được phần nào nỗi đau của nhiều người, nhất là những giáo sư, thầy giáo, dẫu biết được sự thật mà không dám nói sự thật .

Ước mong sao nơi giảng trường đại học sẽ có những cánh cửa của tự do để tri thức thật được lên tiếng.

“IN GOD WE TRUST”

– ”Chúng tôi tin vào Chúa”

– Dòng chữ này hiện diện trên bất kỳ !tờ tiền nào của Mỹ!

Nguồn Facebook Giáo xứ Mỹ Khánh.


 

ĐẾN MỨC TRÀN ĐẦY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”.

“Kitô hữu xét cho cùng là một con người kỳ cục nhưng không kém độc đáo: yêu Đấng chưa gặp, trò chuyện với Đấng chưa thấy; mất mình để được sống; mạnh khi yếu; giàu khi nghèo; và chết đi để được sống đến mức tràn đầy hôm nay và mãi mãi!” – A.W. Tozer.

Kính thưa Anh Chị em,

Những ai theo Chúa có thể xem ra kỳ cục nhưng không kém độc đáo. Lời Chúa hôm nay chỉ ra điều khiến họ trở nên độc đáo: sống với Ngài bằng một tình yêu ‘đến mức tràn đầy’.

Vì Thiên Chúa là Đấng chưa gặp, chưa thấy, nên Israel cứ sống nửa vời: lúc gần Ngài, lúc xa Ngài; lúc hăng hái, lúc nguội lạnh. Và đời sống họ khô cằn như một cánh đồng bị bỏ quên. Qua Hôsê, Thiên Chúa không trách nhiều, chỉ gọi một câu rất đơn giản, “Hãy trở về!” – bài đọc một. Bởi lẽ, Israel không tự làm mình sinh hoa trái; chỉ khi quay lại với Ngài, gắn đời mình vào Ngài, thì điều kỳ diệu mới xảy ra: “Chính nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái” – đời người bắt đầu sống ‘đến mức tràn đầy’. “Không có Thiên Chúa, chúng ta không thể; nhưng không có chúng ta, Thiên Chúa cũng không thể!” – Augustinô.

Với bài Tin Mừng, khi được hỏi giới răn nào lớn nhất, Chúa Giêsu không đưa ra một danh sách dài, nhưng chỉ nói một điều: “Hãy yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực!”. Nghĩa là đừng yêu Chúa bằng một phần con người, nhưng bằng cả con người. Vì chỉ khi Thiên Chúa chiếm trọn trái tim, tình yêu của chúng ta mới không còn nhỏ hẹp, không còn tính toán; nó bắt đầu lan ra, chạm đến người khác và làm cho mọi tương quan của đời sống lớn lên ‘đến mức tràn đầy’.

Trái lại, khi chia cắt tình yêu, yêu nửa vời, đứt đoạn và thiếu cam kết để chỉ dâng Chúa một phần trái tim, một phần linh hồn, một phần trí khôn, một phần sức lực, thì tình yêu của con người luôn què quặt, nghèo nàn. Đóng cửa và lấy đi chìa khoá tình yêu đối với Chúa, con người không bao giờ đạt đến sự cứu rỗi; và như thế, tình yêu với Chúa và với người sẽ luôn nông cạn, hời hợt. “Ai không yêu Thiên Chúa thì cũng không thực sự yêu điều gì!” – Henry Newman.

Anh Chị em,

“Nhờ Ta mà ngươi trổ sinh hoa trái”. Thập giá Chúa Kitô cũng là một cái gì “kỳ cục nhưng không kém độc đáo!”. Thập giá là biểu tượng của tình yêu, hoa trái của nó là tình yêu, yêu cho đến cùng. Chúa Giêsu đã yêu Chúa Cha đến nỗi chỉ sống để làm vui lòng Cha; Ngài cũng yêu con người đến mức chấp nhận hiến dâng mạng sống vì nó. Chính nhờ tình yêu của Ngài mà “chúng ta nhận được hết ơn này đến ơn khác”. Đúng thế, chỉ trong Chúa Kitô, bạn và tôi mới trở nên những Kitô hữu độc đáo, trổ sinh hoa trái trong các mối tương quan – với Chúa, với tha nhân – ‘đến mức tràn đầy!’. “Người Kitô hữu của tương lai sẽ là một người có kinh nghiệm sống với Thiên Chúa, nếu không, người ấy sẽ không còn tồn tại!” – Karl Rahner.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con yêu Chúa ‘cầm chừng’, nhưng yêu ‘tuyệt đối’. Nhờ đó, tình yêu của con đối với tha nhân không nửa vời, chẳng đứt đoạn và luôn cam kết!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************************

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần III Mùa Chay

Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất ; ngươi phải yêu mến Người.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,28b-34

28b Khi ấy, có một người trong các kinh sư đến gần Đức Giê-su và hỏi rằng : “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng hàng đầu ?” 29 Đức Giê-su trả lời : “Điều răn đứng hàng đầu là : Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. 30 Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. 31 Điều răn thứ hai là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” 32 Ông kinh sư nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. 33 Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” 34 Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo : “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu !” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.


 

“Con trẻ sẽ là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,34-35) – Cha Vương

Mến chào bình an trong Chúa và Mẹ! Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày Thứ 5 Tuần Thánh—bắt đầu Tam Nhật Vượt Qua. Trong lúc này có lẽ Mẹ Maria là người đang mang lấy những đau đớn mà Con của Mẹ đã chịu nơi thân xác và tâm hồn. Tuy vậy Mẹ vẫn đặt hết niềm tin  tưởng vào thánh ý Thiên Chúa, lòng Mẹ không bao giờ đổi thay. Vậy 7 ngày sắp tới đây, mời bạn cùng mình suy niệm 7 Sự Đau Đớn của Mẹ. Hãy đi lại lộ trình đau thương của Mẹ, để cùng Mẹ bạn đi trọn lộ trình cuộc đời mình. Hãy xin Mẹ dạy bạn biết  đón nhận những đau khổ, để đời bạn được thánh hóa và được thông phần vào công cuộc cứu thế của Chúa Giêsu như Mẹ.

Cha Vương

Thứ 5: 12/03/2026. (n21-24)

NỖI ĐAU THỨ 1: Lời tiên báo của cụ già Simeeon—Theo tập tục Do Thái, 40 ngày sau khi sinh, con trẻ phải được đem lên đền thờ để được thầy cả thanh tẩy. Đây không chỉ là một nghi lễ bắt buộc mà nó còn thể hiện niềm vui của cha mẹ và gia đình cháu bé. Thế nhưng, đối với Đức Maria niềm vui ấy không kéo dài bao lâu đã trở thành nỗi sầu muộn giăng mắc trong tâm trí Mẹ khi Mẹ nghe lời tiên báo của tiên tri Simêon: “Con trẻ sẽ là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,34-35).

❦  Trong giây phút thinh lặng, mời bạn đặt hết những đau khổ của đời mình dưới sự che trở của tà áo Mẹ hôm nay.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Mẹ Maria, trinh nữ thương đau, xin cầu cho chúng con có một đức tin mạnh mẽ, để khi những niềm vui qua đi và những thử thách ập đến trong cuộc đời, chúng con vẫn luôn tin rằng có Chúa và Mẹ luôn đồng hành và nâng đỡ.

❦  Kính mừng Maria…

❦  Chúng con cậy vì Danh Chúa Nhân Từ, xin cho… (các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục) được lên  chốn nghỉ ngơi…

❦  Lạy Mẹ Maria, Mẹ của lòng nhân từ và lòng thương xót, xin cầu bầu cho chúng con và toàn thế giới. (Đọc 3 lần)

From: Do Dzung

***********************

MẸ SẦU BI – Lm. Tiến Dũng & Lm. Nguyễn Văn Tuyên- Huy Nguyễn

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Xuyên Sơn

Bài hay, mời đọc và SUY NGẪM

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Một ước vọng của nhiều người là được sống lâu, sống thọ.

Tôi cũng từng như vậy.

Cho đến một ngày, tôi tận mắt chứng kiến những năm tháng cuối đời của người bạn thân của cha tôi, một nghệ sĩ nhiếp ảnh khá nổi tiếng.

Ông từng đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế, có người vợ xinh đẹp, hết lòng yêu thương chồng, năm con đều thành đạt, giỏi giang. Nhiều người xem ông như hiện thân của sự sung sướng, hạnh phúc đủ đầy.

Tôi được ông coi như con.

Một lần hai bác cháu ngồi thưởng trà, tôi bảo:

“Trong mắt con, bác là người hạnh phúc nhất trần gian”.

Bác nhìn tôi hiền từ, bảo:

“Khi nào nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ con ạ”.

75 tuổi, bác bị tai biến mạch máu não. Gia đình đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời nên qua khỏi nhưng bị di chứng liệt nửa người, nói ngọng.

Con cái thành đạt, bận rộn nên việc chăm sóc trông cậy cả vào bác gái.

Tuổi cao, mắt kém, tối nọ, vợ bác bị vấp ngã cầu thang, gẫy xương hông.

Thế là hai bác cùng nằm liệt một chỗ.

Con bác phải thuê người giúp việc. Nhưng chăm sóc hai người già bị liệt quá cực nhọc nên chẳng ai làm được lâu.

Cứ tuyển người được vài hôm họ lại nghỉ.

Bí quá, các con gửi hai bác vào một trung tâm dưỡng lão tư nhân.

Thương bác, gần như tuần nào tôi cũng vào thăm.

Bác cháu chuyện trò rất vui.

Tuần nào tôi bận quá không vào là bác điện thoại kêu nhớ.

Thời gian đầu, các anh chị con bác còn luân phiên hàng tuần vào thăm bố mẹ. Nhưng rồi những cuộc thăm viếng thưa dần, sau này tính bằng mỗi tháng – ngày nộp tiền cho trung tâm.

Tôi vẫn dành thời gian vào thăm bác. Vẫn gắng kể những câu chuyện vui cho bác nghe.

Nhưng bác thì ít nói, ít cười dần.

Đôi mắt ngày càng u uẩn.

Nhiều lần bác nhìn tôi, ánh mắt vô hồn. Tôi biết bác bị trầm cảm nặng.

Mà ở trung tâm dưỡng lão này, chẳng riêng gì bác bị.

Nhiều người vào đây thời gian đầu hoạt bát, vui vẻ, nói cười rổn rảng.

Về sau, tiếng nói, tiếng cười tắt dần rồi im bặt.

Có những lần, nhìn mắt ai cũng đờ dại khiến tôi có cảm giác họ là bệnh nhân tâm thần.

Người già rất cần tình thương, nhất là sự quan tâm của con cháu. Nhưng con cháu còn mải mê trong vòng quay cơm áo, gạo tiền,

đâu có nhiều thời gian cho cha mẹ già.

Hơn bốn năm trong trung tâm dưỡng lão, bác mất vào một đêm giông gió. Chẳng ai biết bác mất giờ nào.

Bảy giờ sáng hôm sau, cô nhân viên vào phòng thấy người bác đã cứng.

Mắt vẫn mở.

Con cháu đưa thi hài bác về quê mai táng.

Khách từ khắp các tỉnh thành về viếng nườm nượp, đủ các thành phần, đủ các tầng lớp. 

Con đường vào làng tắc nghẽn ô tô. Vòng hoa rợp ngõ.

Cả làng, cả xã trầm trồ trước đám tang hoành tráng nhất trong lịch sử làng rồi báo chí đăng tin ngưởng mộ.

Ai cũng khen bác sướng nhất làng, nhất huyện.

Họ bảo:

“Sống sướng, chết cũng sướng.

Bõ một kiếp người”, nào có mấy ai biết được bốn năm qua bác “sống hay là bác tồn tại” ra sao…!!!

Riêng tôi, lúc đứng trước linh cữu, nhìn di ảnh bác cười hiền hậu, tai tôi vẳng tiếng của bác “lúc nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ”.

Trong tôi chợt vọng lên câu hỏi:

Sống thọ hay sống sướng có thực sự là giá trị lớn nhất của đời người?

Cho đến một ngày kia, chứng kiến cái chết của người em thân thiết, tôi mới tìm được câu trả lời.

Em tên Vinh, kỹ sư tin học cho một tập đoàn viễn thông quốc tế tại Việt Nam. Lớp bảy, em bị bệnh thấp khớp chạy vào tim.

Tìm hiểu về bệnh, em biết, sự sống của mình có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào.

Mặc dầu vậy, Vinh không hề sợ hãi, lúc nào cũng tràn đầy năng lượng tích cực, yêu đời.

Hàng tuần, từ thứ hai đến thứ sáu, em làm việc cho tập đoàn.

Thứ bảy, chúa nhật, em dành toàn bộ thời gian cho hoạt động thiện nguyện. Khi thì phóng xe máy về quê hướng dẫn nông dân cách trồng trọt, chăm sóc rau củ sạch, lúc phóng lên miền núi dạy cho trẻ em dân tộc con chữ, vận động mọi người quyên góp xây trường cho các em.

Tôi có cảm giác, bao nhiêu năng lượng em dành tặng hết cho mọi người.

Một lần, tôi hỏi:

“Vinh có sợ chết không?”.

Em cười bảo:

“Không”. Em thấy cái chết không hề đáng sợ. Nếu “nghiệp” mình phải chết thì xin thêm một phút cũng không được. Vì thế, buồn lo làm gì cho sầu khổ.

Đời cho em bao nhiêu ngày thì em vui tươi và yêu thương hết thảy.

Khi chết, thân thể sẽ về với cát bụi, chỉ những gì ta đã làm sẽ còn với bạn bè, mọi người, gia đình, thiên nhiên và vũ trụ.

Vinh mất trong chuyến đi thiện nguyện xây trường cho trẻ em Sơn La ở tuổi 32, vì bệnh tim.

Hơn 2.000 người đã đến viếng em.

Tôi vẫn “thấy” Vinh ở khắp nơi, trong những thanh niên đến với những bản làng xa xôi để thực hiện những chương trình từ thiện với mong muốn giảm bớt sự thiếu thốn, nghèo khổ của bà con.

Tôi “thấy” Vinh trong hình dáng các y bác sĩ ngày đêm căng mình trên tuyến đầu chống dịch để đem lại sự sống cho bao người.

Những người tận hiến cho đời như Vinh giúp tôi thấm thía lời nói của cố Hòa thượng Thích Phổ Tuệ:

“Sống được bao nhiêu năm không phải thước đo giá trị của đời người.

Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho đời, cho đạo”.

Thước đo của đời người không phải thời gian sống mà là sự cống hiến.

Dâng tặng cho mọi người trí tuệ và tình yêu thương, đưa ra sáng kiến, phát minh, phát triển khoa học, giáo dục, tạo ra năng suất và sản phẩm, nếu bạn có năng lực.

Và nếu không có gì để cho đi thì bạn vẫn còn có sự chân thành, trung thực, ân cần, thiện chí, nụ cười hay lời nói tử tế để làm ai đó cảm thấy tốt hơn.

Bởi, thế giới này luôn không đủ.

(sưu tầm)


 

BÂY GIỜ TÔI ÐÃ THẤY – Lm. Mark link S.J.

 Lm. Mark link S.J.

Vào thập niên 1960, John Howard Griffin ngụy trang thành một người da đen đi chơi vòng quanh miền Nam.  Ông muốn trực tiếp cảm nghiệm được sự kiện phải làm người da đen trong những năm ầm ĩ về vấn đề chủng tộc này.  Griffin mô tả lại cảm nghiệm của mình trong một cuốn sách nhan đề “Black Like Me” (da đen như tôi).  Cuốn sách này về sau được dựng thành phim.

Tuy nhiên còn một khía cạnh khác trong cuộc đời của John Howard Griffin mà rất ít người biết đến: trong thế chiến thứ hai, John đã bị mù trong một vụ nổ máy bay suốt 12 năm sau đó, ông không trông thấy gì cả.  Một hôm, trong khi bước xuống con phố cạnh nhà bố mẹ ông ở Texas, thình lình John bỗng thấy được “cát đỏ” (red sand) trước mắt ông.  Thị giác của ông đã phục hồi trở lại mà chẳng hề báo trước.  Về sau, một bác sĩ chuyên khoa mắt cắt nghĩa cho ông là vết máu tụ thần kinh thị giác do vụ nổ gây ra được khai thông, vì thế thị giác ông phục hồi trở lại.  Khi bình luận về kinh nghiệm này, Griffin đã kể lại cho một phóng viên báo chí như sau:

“Quí bạn không cảm nghiệm được những gì mà một ông bố cảm nghiệm khi nhìn thấy con cái mình lần đầu tiên đâu.  Cả bố với con đều tuyệt vời hơn tôi nghĩ rất nhiều.”

Giai đoạn bi đát trong đời Griffin giúp anh ta đánh giá sâu sắc hơn câu chuyện của bài Phúc âm hôm nay, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn cảm giác người mù từ lúc mới sinh khi anh ta được Chúa Giêsu chữa lành thật kỳ kiệu như thế nào.

Tuy nhiên, trong câu chuyện người mù trên còn có một phép lạ thứ hai.  Phép lạ này còn tuyệt diệu hơn: đó là đức tin hay còn gọi là ánh sáng thiêng liêng mà Ðức Giêsu ban cho người mù ấy, chính phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin đã khiến cho anh quì gối xuống nói với Ðức Giêsu với tư cách là “Chúa.”  Thánh Gioan đã nhấn mạnh phép lạ thứ hai này tức ân sủng đức tin một cách thâm thuý trong bài Phúc âm hôm nay.

Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn về điểm này.

Ðiều đầu tiên chúng ta để ý đến trong phép lạ này là phép lạ ấy diễn ra từ từ không xảy ra ngay tức khắc.  Chẳng hạn, phản ứng đầu tiên của anh mù đối với Ðức Giêsu là anh ta xem Ðức Giêsu cũng giống như người bình thường khác.  Vì thế, khi vài người hỏi anh ta về sự lành bệnh của mình, anh liền trả lời: “Cái ông có tên là Giêsu ấy lấy một ít bùn bôi lên mắt tôi và bảo tôi tới hồ Silôê rửa mặt.  Thế là tôi đi và ngay khi rửa xong tôi được trông thấy.”

Ðầu tiên gã mù chỉ coi Ðức Giêsu như một người tuy khá đặc biệt nhưng dầu sao cũng chỉ là một con người.  Thế rồi anh ta bước qua nhận thức thứ hai về Ðức Giêsu khi đám Pharisêu điều tra anh: “Mày bảo ông Giêsu chữa cho mày khỏi mù à!  Vậy mày cho rằng ông ấy là ai?” anh ta liền đáp: “Ông ấy là một ngôn sứ.”  Câu trả lời trên đây chứng tỏ rõ ràng nhận thức của anh mù về Ðức Giêsu đã nhảy vọt một bước vọt khổng lồ về phía trước.  Càng suy nghĩ đến sự kiện xảy ra, gã ta càng xác tín Ðức Giêsu không chỉ là một người như những người khác mà Người còn là một vị ngôn sứ.  Ðiều này dẫn chúng ta đến nhận thức sau cùng của anh mù về Ðức Giêsu.

Cuối ngày anh mù mới được gặp mặt đối mặt với Ðức Giêsu, vì khi anh mù đi rửa mắt ở hồ Silôê về, thì Ðức Giêsu, không còn quanh quẩn đó nữa.  Lúc này, khi gặp lại anh mù, Ðức Giêsu nhìn thẳng vào mắt và nói: “Anh có tin vào CON NGƯỜI không?”  Anh ta trả lời: “Thưa Ngài, xin nói cho tôi biết vị ấy là ai để tôi tin.”  Ðức Giêsu trả lời: “Anh đã thấy vị ấy rồi, vị ấy chính là kẻ hiện đang nói chuyện với anh.”  Anh đáp ngay: “Lạy Chúa, con tin!” vừa nói anh vừa quì gối xuống trước mặt Ðức Giêsu.

Như thế, nhận thức của anh về Chúa Giêsu đã nhảy bước cuối cùng về phía trước.  Anh nhận ra Ðức Giêsu không phải chỉ là một người bình thường hoặc một vị ngôn sứ, mà Người còn là Thiên Chúa, vị Chúa mà “muôn loài trên trời dưới đất, cả trong địa ngục phải quì gối” (Pl 2: 10).  Ân sủng đức tin, hay “ánh sáng tâm linh” mà Ðức Giêsu ban cho anh mù còn kỳ diệu hơn sự phục hồi thị giác cho anh nữa.

Không cần bàn bạc quá nhiều về ân sủng đức tin nơi anh mù nọ, chúng ta nên nhớ lại chúng ta cũng đã nhận được ân sủng đức tin này do Ðức Giêsu ban cho trong bí tích rửa tội.

Trước khi thanh tẩy trong nước rửa tội, chúng ta cũng bị “đui mù tâm linh” như anh mù trong Phúc âm hôm nay.  Nhưng sau khi được rửa tội, Ðức Giêsu trở nên quí báu hơn nhiều đối với chúng ta.  Người trở thành một kẻ hết sức thân mật đối với chúng ta.

Ðiều này dẫn đến điểm tương tự thứ hai giữa chúng ta và anh mù trong Phúc âm hôm nay.  Ngoài việc nhận lãnh ân sủng đức tin, nhận thức của chúng ta về Chúa Giêsu cũng dần dần lớn lên giống như nơi anh mù ấy.  Chẳng hạn khi còn rất bé chúng ta thường mường tượng Ðức Giêsu là một con người phi thường.  Ðến lúc lớn lên.  Nhận thức của chúng ta về Người cũng trưởng thành hơn.  Cuối cùng nhận thức ấy đạt được hình thức viên mãn nhất: chúng ta nhận ra Người đúng như bản chất thực sự về Người, là Con Thiên Chúa.  Ðiều thú vị là khi chúng ta càng học hỏi về Ðức Giêsu thì Người càng trở nên cao cả hơn đối với chúng ta.  Thông thường, có sự kiện đáng buồn trong các mối tương giao khác là càng tìm hiểu về kẻ khác chúng ta càng nhận khiếm khuyết của kẻ ấy.  Nhưng trong trường hợp Ðức Giêsu thì không như thế.  Càng hiểu biết về Người, chúng ta càng thấy Người tuyệt diệu và vinh hiển hơn.

Ðể kết thúc, chúng ta hãy trích lại lời Albert Schweitzer ở cuối cuốn sách của ông nhan đề “The Quest for The Historical Jesus” (Tìm kiếm Chúa Giêsu Lịch sử) Schweitzer từng là nhạc sĩ dương cầm thính phòng ở Âu Châu.  Ông đã từ bỏ nghề nghiệp âm nhạc của mình để trở thành một bác sĩ, và ông đã đến sống ở Phi châu với tư cách một thừa sai.  Schweizer viết: “Chúa Giêsu đến với chúng ta như một người vô danh, chẳng khác nào thưở xưa Người đến với các tông đồ trên bờ biển.  Người nói với chúng ta cũng chính những lời Người đã từng nói với họ: ‘Hãy theo Ta!’  Và bất cứ ai chấp nhận lời mời gọi của Người thì dù họ thông thái hay tầm thường, trẻ trung hoặc già nua, Chúa Giêsu đều mạc khải chính Người cho họ ngay trong những truân chuyên và đau khổ của họ.  Và qua kinh nghiệm riêng của mình, họ sẽ biết được “NGƯỜI là ai?”

Lm. Mark link S.J.

From: Langthangchieutim


 

Jim Caviezel vào vai Chúa Giê-su trong phim “Sự Khổ Nạn của Chúa Kitô,”

Tony Nguyễn

Khi Mel Gibson lần đầu tiên đề nghị Jim Caviezel vào vai Chúa Giê-su trong phim “Sự Khổ Nạn của Chúa Kitô,” ông đã hoàn toàn thẳng thắn với anh.

“Anh cần hiểu điều này,” Gibson nói với anh. “Bộ phim này sẽ vô cùng khó khăn. Nó thậm chí có thể khiến anh mất đi sự nghiệp ở Hollywood.”

Vai diễn này rất quyền lực, nhưng cũng gây tranh cãi và đầy rủi ro. Caviezel xin một ngày để suy nghĩ.

Khi trở lại, câu trả lời của anh rất đơn giản.

“Tôi tin rằng chúng ta phải làm điều đó – ngay cả khi nó sẽ khó khăn.”

Rồi anh ấy nói thêm điều mà anh vừa nhận ra.

“Tên viết tắt của tôi là J.C… và tôi 33 tuổi.”

Mel Gibson nhìn anh và đáp lại, nửa đùa nửa thật nhưng rõ ràng là bị ấn tượng bởi sự trùng hợp:

“Anh bắt đầu làm tôi sợ đấy.”

Việc quay phim hóa ra lại căng thẳng đúng như Gibson đã cảnh báo.

Để vào vai Chúa Giê-su, Jim Caviezel đã giảm khoảng 20 kg. Trong một cảnh quay, anh vô tình bị roi quất hai lần, để lại một vết sẹo dài hơn 9 cm trên lưng. Trong lúc vác thập tự giá khi quay phim, anh ấy bị trật khớp vai. Việc phải đứng gần như khỏa thân trên thập tự giá trong nhiều giờ liền giữa thời tiết giá rét đã dẫn đến viêm phổi và hạ thân nhiệt.

Có lúc trong quá trình sản xuất, anh ấy thậm chí còn bị sét đánh.

Chỉ riêng cảnh đóng đinh trên thập tự giá đã cần đến năm tuần để quay trong tổng thời gian sản xuất hai tháng của bộ phim.

Mặc dù phải chịu đựng nhiều về thể chất, Caviezel sau đó đã giải thích điều gì đã thúc đẩy anh ấy nhất.

“Tôi không muốn mọi người nhìn thấy tôi. Tôi muốn họ nhìn thấy Chúa Giê-su. Và thông qua đó, nhiều người sẽ tìm thấy đức tin.”

Đối với nhiều thành viên trong đoàn làm phim, trải nghiệm này đã để lại ấn tượng sâu sắc.

Pedro Sarubbi, diễn viên đóng vai Barabbas, nhớ lại một khoảnh khắc khi Caviezel nhìn thẳng vào mắt anh trong một cảnh quay. Anh nói rằng cảm giác không giống như đang nhìn một diễn viên khác, mà là nhìn thấy một điều gì đó vĩ đại hơn nhiều. Trong ánh mắt của Caviezel, anh nói, không có sự giận dữ hay oán hận — chỉ có lòng thương xót và tình yêu thương.

Luca Lionello, người đóng vai Judas, bắt đầu quay phim với tư cách là một người vô thần. Sau trải nghiệm này, cuộc đời anh đã thay đổi đáng kể. Theo thời gian, ông đã đón nhận Kitô giáo, công khai nói về sự cải đạo của mình và cho con cái được rửa tội.

Một số thành viên đoàn làm phim sau đó chia sẻ rằng việc làm phim đã ảnh hưởng sâu sắc đến họ, thậm chí cả về mặt tâm linh.

Bản thân bộ phim đã trở thành một hiện tượng độc đáo trong điện ảnh.

Mel Gibson quyết định tự mình tài trợ cho bộ phim, đầu tư khoảng 30 triệu đô la sau khi một số hãng phim từ chối hỗ trợ dự án. Đó là một rủi ro lớn.

Nhưng bộ phim đã vượt quá mọi kỳ vọng.

Nó thu về khoảng 370 triệu đô la ở Hoa Kỳ và hơn 600 triệu đô la trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, nhiều người tin rằng tác động thực sự của bộ phim không phải là về mặt tài chính.

Mà là về mặt tâm linh.

Đối với hàng triệu khán giả trên khắp thế giới, “Sự khổ nạn của Chúa Kitô” đã thu hút sự chú ý trở lại đối với câu chuyện về sự hy sinh của Chúa Kitô.

Trong những năm qua, Jim Caviezel vẫn tiếp tục nói chuyện cởi mở về đức tin của mình và về ý nghĩa của vai diễn đó trong cuộc đời anh – ngay cả trong một môi trường như Hollywood, nơi điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Đối với anh, bộ phim chưa bao giờ chỉ là một công việc khác.

Nó là một lời chứng.


 

Tôi đến thăm cha, người đang mắc bệnh Alzheimer, để nhờ cha dắt mình vào lễ đường trong ngày cưới.

Những Câu Chuyện Thú VịChi Nguyen

 Tôi đến thăm cha, người đang mắc bệnh Alzheimer, để nhờ cha dắt mình vào lễ đường trong ngày cưới.

Khi bước qua cánh cửa của viện dưỡng lão trong chiếc váy cưới trắng, tôi cảm nhận ánh mắt của mọi người hướng về phía mình. Có vài cô y tá mỉm cười rất dịu dàng, vài người khác nhìn tôi với vẻ thương cảm. Nhưng lúc đó tôi không để ý gì cả. Tôi chỉ muốn biết cha sẽ phản ứng thế nào.

— Cô chắc muốn làm vậy chứ? — Clara, cô y tá, nhẹ nhàng hỏi.

Tôi gật đầu, cố nuốt nước mắt.

— Hôm nay là ngày cưới của tôi. Dù ngày mai cha có quên hết, hôm nay tôi vẫn muốn cha ở bên cạnh.

Khi bước vào phòng, cha đang ngồi cạnh cửa sổ, ánh mắt xa xăm như đang trôi trong một ký ức nào đó chỉ mình ông còn thấy.

— Cha ơi… — tôi khẽ gọi.

Ban đầu cha không phản ứng. Một lúc sau, như có điều gì chạm đến ông, cha quay đầu nhìn tôi.

Ánh mắt ông bỗng sáng lên, giống hệt ánh mắt tôi từng thấy nhiều năm trước.

— Con gái của cha… con đẹp như thiên thần.

Tôi không kìm được nước mắt.

— Hôm nay con chồng, cha à — tôi nói, giọng nghẹn lại — con muốn cha dắt con vào lễ đường, giống như con vẫn luôn mơ.

Cha chớp mắt vài lần, như đang cố sắp xếp lại những mảnh ký ức rối rắm trong đầu. Rồi bất ngờ, ông đứng dậy. Sự mạnh mẽ ấy khiến ai nhìn cũng ngạc nhiên.

Cha mỉm cười.

— Tất nhiên rồi. Con gái của cha thì phải do chính cha dắt vào lễ đường.

Cha đưa cánh tay ra cho tôi khoác vào, giống hệt ngày xưa. Trong khoảnh khắc ấy, căn bệnh Alzheimer như lùi lại phía sau.

Chúng tôi cùng đi qua hành lang của viện dưỡng lão. Các cụ già và những người y tá đứng nhìn theo, nhiều người xúc động.

Cha khẽ nói bên tai tôi:

— Con đẹp lắm, con gái của cha… Còn cậu ấy… là người tốt chứ?

— Người tốt nhất, cha à — tôi trả lời, nước mắt làm nhòe cả tầm nhìn.

Khi đến gần cửa, chồng sắp cưới của tôi đang đứng chờ. Mắt anh đỏ hoe vì xúc động.

Cha cầm tay tôi, đặt vào tay anh.

Ông nói với giọng chắc chắn, giống hệt người cha mạnh mẽ ngày nào:

— Hãy chăm sóc con bé. Con bé là kho báu của tôi.

Khoảnh khắc ấy khắc sâu trong tim tôi.

Ngày mai có thể cha sẽ quên tất cả.

Nhưng tôi thì không bao giờ quên.

Bệnh Alzheimer đã lấy đi rất nhiều điều trong cuộc đời của cha. Nhưng nó không thể lấy đi món quà cuối cùng mà cha dành cho tôi.

Cha đã dắt tôi vào lễ đường, như tôi vẫn hằng mơ ước.

TG Văn Chương

ST.


 

 TIẾNG NÓI BỊ ĐÁNH CẮP – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Khi quỷ xuất rồi, người câm nói được!”.

“Hãy kêu lên bằng trăm ngàn tiếng nói; thế giới đang mục nát vì sự im lặng!” – Catharina Siêna.

Kính thưa Anh Chị em,

Giữa một thế giới đang mục nát vì sự im lặng, biết bao tiếng nói của sự thật, của lương tâm, của Tin Mừng đã dần dần bị cướp mất… ‘tiếng nói bị đánh cắp’. Tin Mừng hôm nay kể chuyện một tiếng nói được trả lại.

Thời xưa cũng như thời nay, sự dữ luôn tìm cách cướp lấy tiếng nói của con người. Làm được điều đó, nó đã thắng một nửa! Giêrêmia hiểu rõ điều ấy – bài đọc một. Ông được sai đi nói Lời Thiên Chúa cho một dân tộc không muốn nghe. Mỗi lần mở miệng, ông phải trả giá: bị chống đối, bị nhạo báng, bị cô lập. Có lúc ông muốn im lặng cho xong; nhưng ông thú nhận, Lời trong lòng ông như ngọn lửa bị giam trong xương cốt; ông cố nén lại mà không được. Ông phải nói, vì im lặng lúc ấy cũng là phản bội. “Im lặng trước sự dữ còn tệ hơn chính sự dữ!” – Gioan Kim Khẩu.

Tin Mừng cho thấy sự dữ còn đi xa hơn: nó không chỉ chống lại tiếng nói của sự thật, nó tìm cách làm cho con người câm luôn. Chúa Giêsu không chấp nhận điều đó. Ngài ra lệnh cho quỷ câm phải ra khỏi người kia, vì khi miệng bị khoá lại, sự thật không còn được nói ra; lương tâm không còn dám lên tiếng; Tin Mừng sẽ chết lặng. Ngài giải thoát và trả lại tiếng nói cho con người; không chỉ chữa lành thân xác, Ngài còn giải phóng con người khỏi thứ im lặng do sợ hãi. Vì thế, nơi nào Ngài đi qua, sự câm lặng của sự dữ phải chấm dứt.

Nhìn quanh đời sống, chúng ta thấy điều đó không xa lạ. Có những tiếng nói của lương tâm bị bóp nghẹt bởi lợi ích; tiếng nói của sự thật bị che lấp bởi sợ hãi; tiếng nói của công lý chìm xuống giữa những thoả hiệp ngầm. Và nhiều khi, tiếng nói của Tin Mừng cũng dần dà lặng đi trong chính đời sống chúng ta. Chúng ta không thiếu đức tin; nhưng thiếu can đảm nói về đức tin; không thiếu Tin Mừng, nhưng Tin Mừng nhiều khi chỉ ở lại trong lòng. Từng chút một, sự im lặng trở thành thói quen. Và khi sự im lặng thành thói quen, tiếng nói Tin Mừng dễ dàng bị lấy đi… ‘tiếng nói bị đánh cắp’. “Khi sự thật im lặng, dối trá bắt đầu lên tiếng!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Chính Chúa Giêsu cũng đi con đường của những tiếng nói bị chống đối. Ở quê nhà, người ta muốn xô Ngài xuống vực. Tiếng nói ấy vẫn vang lên giữa dân chúng, chữa lành và nói sự thật của Thiên Chúa. Nhưng càng vang lên, nó càng bị chống đối. Người ta tìm cách bịt miệng, kết án, và cuối cùng treo Ngài lên thập giá. Người ta tưởng thập giá sẽ làm tiếng nói ấy im lặng. Nhưng chính trên thập giá, tiếng nói của Chúa Giêsu lại vang lên rõ nhất: tiếng nói của lòng thương xót và tha thứ. Thập giá không dập tắt tiếng nói ấy; thập giá làm cho nó vang xa hơn. “Sự thinh lặng của Đức Kitô trên thập giá mạnh hơn mọi lời nói của con người!” – Von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa Giêsu, xin bẻ gãy sự im lặng hèn nhát trong con; để khi thế gian cần tiếng nói của sự thật, con không còn là người câm!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần III Mùa Chay

Ai không đi với tôi là chống lại tôi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 11,14-23

14 Khi ấy, Đức Giê-su trừ một tên quỷ, và nó là quỷ câm. Khi quỷ xuất rồi, thì người câm nói được. Đám đông lấy làm ngạc nhiên. 15 Nhưng trong số đó có mấy người lại bảo : “Ông ấy dựa thế quỷ vương Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ.” 16 Kẻ khác lại muốn thử Người, nên đã đòi Người một dấu lạ từ trời. 17 Nhưng Người biết tư tưởng của họ, nên nói : “Nước nào tự chia rẽ thì sẽ điêu tàn, nhà nọ đổ xuống nhà kia. 18 Nếu Xa-tan cũng tự chia rẽ chống lại chính mình, thì nước nó tồn tại sao được ?… bởi lẽ các ông nói tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ. 19 Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông. 20 Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông. 21 Khi một người mạnh được vũ trang đầy đủ canh giữ lâu đài của mình, thì của cải người ấy được an toàn. 22 Nhưng nếu có người mạnh thế hơn đột nhập và thắng được người ấy, thì sẽ tước lấy vũ khí mà người ấy vẫn tin tưởng và sẽ đem phân phát những gì đã lấy được.

23 “Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán.” 


 

Vai trò cứu mạng quan trọng của các chú chó nghiệp vụ K-9

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn 

Trong một cơn bão lúc nửa đêm, chiếc xe tuần tra của sĩ quan Sarah bị trượt khỏi đường và lao xuống một khe núi băng giá, khiến cô bị mắc kẹt và bất tỉnh dưới vô lăng. Chú chó nghiệp vụ K-9 Koda, một con German Shepherd nặng khoảng 90 pound, đã không rời đi. Nó chui qua cửa sổ phía sau đã vỡ, leo vào khoang trước bị biến dạng của chiếc xe, rồi ép sát cơ thể mình vào người nữ sĩ quan, dùng chính hơi ấm của mình để che chở cho cô khỏi cái lạnh buốt.

Đội cứu hộ đã tìm thấy họ bốn giờ sau đó. Các nhân viên y tế xác nhận rằng hành động của Koda đóng vai trò quyết định trong việc giúp sĩ quan Sarah sống sót. Sự dũng cảm và trung thành của Koda đã ngăn chặn tình trạng hạ thân nhiệt và cứu một mạng người, cho thấy vai trò cứu mạng quan trọng của các chú chó nghiệp vụ K-9 trong những tình huống khẩn cấp.

NĂM SỰ THƯƠNG: Thứ năm thì ngắm—Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây Thánh Giá – Cha Vương

Mến chào bình an trong Chúa và Mẹ nhé! Thánh Alfonso de Liguori nói rằng: ”Nếu chúng ta muốn giúp đỡ các linh hồn trong Luyện Ngục, thì hãy lần hạt Mân Côi cầu nguyện cho họ, vì Kinh Mân Côi đem lại cho họ sự vơi nhẹ rất lớn”. Hôm nay mời Bạn hãy đọc và suy niệm chặng cuối cùng của Mùa Thương cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện Ngục, những người đang hấp hối, và trong chiến tranh xin Mẹ hãy cứu con người khỏi phạm tội—đang đi theo con đường lầm lạc để họ khỏi bị hình phạt đời đời. Nhớ cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 11/03/2026. (n20-24)

NĂM SỰ THƯƠNG: Thứ năm thì ngắm—Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây Thánh Giá. Chúa chết để cho Bạn được sống! Vì một người duy nhất [Adam], mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. (Rôma 5:12) Nhưng ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội. Như vậy, nếu tội lỗi đã thống trị bằng cách làm cho người ta phải chết, thì ân sủng cũng thống trị bằng cách làm cho người ta nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. (Rôma 5:20b-21) Hôm nay qua 10 Kinh Kính Mừng này, Bạn hãy xin đóng đanh tính xác thịt vào Thánh Giá Chúa. (Nêu ra ý chỉ cầu xin…)

+ Kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

  1. Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá… (Luca 23:33) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  2. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Luca 23:34) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  3. [Một trong hai tên gian phi] thưa với Đức Giê-su: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi! ” (Luca 23:42) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  4. Và Người nói với anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Luca 23:43) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  5. Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người [là Maria]… (Gioan 19:25a) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  6. Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” (Gioan 19:26b-27a) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  7. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình. (Gioan 19:27b) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  8. …Bóng tối bao phủ khắp mặt đất… Mặt trời ngưng chiếu sáng. Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa. (Luca 23:44-45) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  9. Đức Giê-su kêu lớn tiếng: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. (Luca 23:46a ) Kính mừng Maria đầy ơn phúc… 
  10. Nói xong, Người tắt thở. (Luca 23:46b) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…

+ Kinh Sáng Danh: Sáng danh Đức Chúa Cha…

+ Câu Than Fatima: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con…

+ Kinh Lạy Nữ Vương: Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành…

+Kinh Hãy Nhớ: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay… 

From: Do Dzung

****************************

Còn Tình Yêu Nào Như Tình Chúa Giêsu

Chiếc khăn Mu-soa – nhà văn Tiểu Tử -Truyen ngan HAY

Lâm Bình Duy Nhiên

 Sáng chủ nhật, tình cờ đọc lại Chiếc khăn Mu-soa của nhà văn Tiểu Tử. Bất chợt nước mắt rơi. Một cảm xúc khó tả xâm chiếm tâm hồn. Ôi cái ngôn ngữ bình dân sao thắm đượm tình người của miền Nam dấu yêu. Cảm động vì mẩu chuyện ngắn mà dường như rất nhiều người trong chúng ta đều từng sống và từng trải qua, khi định mệnh đẩy đưa cuộc đời tha hương tận phương xa…

Cái tài của Tiểu Tử là sự bình dị, chân tình nhưng chan chứa tình người. Đó là sự dấu yêu qua những mảnh đời, những mẩu chuyện cảm động nhưng luôn ẩn chứa một sức sống và niềm tin mãnh liệt vào cái đẹp nhân ái.

Tất cả chỉ bằng sức mạnh của lời văn đậm chất nông thôn Nam bộ, đi thẳng vào lòng người, vào tâm hồn của những kẻ lữ khách phương xa…

——————————————————————————

Chiếc khăn Mu-soa

Hôm đó, tôi nhận được một CD gởi từ Bruxelles (nước Bỉ) trên CD thấy đề: “À Monsieur Tiêu Tu”. Chữ viết bằng bút feutre rõ nét, nói lên người viết có trình độ. Tuy viết “Tiểu Tử” không có dấu, người gởi viết tên của mình lại có dấu đầy đủ: “Exp: Nguyễn Thị Sương”! Vừa ngạc nhiên vừa thích thú, tôi vội vã đặt dĩa vào máy, nghe. Đó là giọng một người con gái miền Nam, trong trẻo, phát âm rõ ràng. Những gì cô ta nói đã làm tôi xúc động, có lúc tôi ứa nước mắt! Tôi đã nghe nhiều lần và cố gắng ghi chép lại đây. Dĩ nhiên là tôi đã viết để đọc cho suông sẻ chớ cô gái nói còn nhiều chỗ nghe sượng hay dùng từ chưa chính xác …

…Thưa ông,

Con tên Nguyễn Thị Sương, con của Nguyễn Văn Cương, một trong những nhân vật trong truyệnngắn “Con Rạch Nhỏ Quê Mình” của ông.

Thưa ông. Con sanh ra và lớn lên ở Pháp, biết nói tiếng Việt nhưng không biết đọc và viết tiếng Việt. Vì vậy, con phải dùng cách nầy để liên lạc với ông. Xin ông thông cảm!

Hôm chúa nhựt rồi, chị Loan bà con bạn dì của con ghé nhà nói: “Sương ơi! Người ta nói về ba của Sương ở trong truyện ngắn đăng trên internet cả tuần nay nè! Chị in ra đem qua đây đọc cho em nghe.” Rồi chỉ đọc. Đó là truyện “Con Rạch Nhỏ Quê Mình”.

Thưa ông. Con chưa biết Việt Nam, nhưng những gì ông tả trong truyện làm như con đã thấy qua rồi! Bởi vì hồi con mới lớn ba con thường hay kể chuyện về cái làng Nhơn Hòa và con rạch Cồn Cỏ của ba con, về những người bạn của ba con hồi thời tuổi nhỏ, kể tỉ mỉ đến nỗi con có cảm tưởng như ba con đang cầm tay con dẫn đi coi chỗ nầy chỗ nọ (Nói đến đây, giọng cô gái như nghẹn lại vì xúc động. Ngừng mấy giây rồi mới nói tiếp…) Mà ba cứ kể đi kể lại hoài làm như là những hình ảnh đó nó ám ảnh ba dữ lắm. Sau nầy thì con mới hiểu khi ba con nói: “Hồi đó, ba đi Pháp quá sớm, ở cái tuổi chưa biết gì nhiều. Rồi qua đây, chóa mắt ngất ngây với những văn minh tiến bộ của xứ người làm ba quên đi cái làng nhà quê của ba. Điều ân hận lớn nhứt của ba là đã không viết gởi về một chữ để hỏi thăm bạn bè hồi đó. Ba phải về thăm lại Nhơn Hòa Cồn Cỏ, con à! “. Nói đến đó, ba ứa nước mắt nắm bàn tay con dặc dặc: “Mà con cũng phải về với ba nữa! Về để cho ba lên tinh thần! Về để thấy ba biết xin lỗi mọi người! Về để thấy ba biết nhìn lại cái quê hương của ba cho dầu nó có quê mùa xấu xí bao nhiêu đi nữa! Về để thấy ba chưa đến nỗi là thằng mất gốc!”. (Đến đây, không còn nghe gì nữa!) Xin lỗi ông! Con đã ngừng thâu để con khóc (Rồi giọng cô lạc đi) Con thương ba con! (Ngừng một lúc)

Thưa ông. Ba má con đều là giáo sư toán, dạy ở lycée. Má con mất hồi con mười tuổi. Bây giờ con làm chủ một tiệm sách ở Bruxelles, ba con dạy ở cách nhà không xa lắm. Một hôm, ba nói: “Ba được một thằng bạn học hồi ở đại học, người Phi Châu, mời qua xứ nó giúp tổ chức lại hệ trung học. Ba đã OK.”. Rồi ba đưa cho con một phong bì loại A4, nói: “Con ráng tìm cách về Nhơn Hòa Cồn Cỏ, trao cái nầy cho cô Hai Huê nói ba không quên ai hết!”. Con nhìn thấy trên phong bì ba viết “Mến trả lại Huê, kỷ vật của thời tuổi nhỏ. Cương”. Vậy rồi ba qua Phi Châu làm việc rồi mất ở bển trong mấy trận nội chiến (Chắc ngừng thâu ở đây nên không nghe gì nữa).

Thưa ông. Nhờ nghe đọc “Con Rạch Nhỏ Quê Mình” mà con biết được mối tình một chiều của cô Hai Huê, biết được cái khăn mu-soa mà cô Hai đã thêu tặng ba con thuở thiếu thời. Cái khăn đó, bây giờ thì con biết nó đang nằm trong phong bì A4 mà con đang giữ để trả lại cô Hai. Và bây giờ thì con thấy thương cô Hai vô cùng và cũng thấy tội nghiệp ba con vô cùng (Chỗ nầy giọng cô gái lệch đi, ngừng một chút mới nói tiếp) Con nhờ ông giới thiệu con cho bác Sáu Lân, người đã kể chuyện để ông viết về Nhơn Hòa Cồn Cỏ. Con sẽ xin bác Sáu đưa con về đó để con làm theo lời dặn của ba con …

Địa chỉ và số phôn của con như sau:

Mlle Nguyên …

Con cám ơn ông.

Con: Sương

* * *

Nhớ lại, cách đây khá lâu, một thằng bạn ở Marseille (miền Nam nước Pháp) gọi điện thoại lên Paris cho tôi, nói:

“Dưới nầy trời tốt, mầy xuống chơi, đi câu với tao. Sẵn dịp, tao giới thiệu mầy cho một ông bạn mới từ Việt Nam qua định cư ở đây. Tao có khoe với ổng là mầy viết lách khá lắm. Ổng nói ổng muốn nhờ mầy viết một chuyện nhỏ ở dưới quê của ổng để ổng tìm một người bạn. Tao thấy coi bộ ngộ à! Xuống, đi!”.

Vậy rồi tôi đi Marseille. Sau đó, tôi viết “Con rạch nhỏ quê mình” với câu gởi gắm của ổng:

“Tôi nhờ ông viết lại giùm. Biết đâu chừng thằng Cương sẽ đọc. Để nhắc nó đừng quên con rạch CồnCỏ, đừng quên thằng Đực Nhỏ, thằng Lân, con Huê …”

Sau khi nghe CD và ghi chép lại, tôi gọi điện thoại xuống Marseille thì thằng bạn tôi cho hay là ông Lân đã dọn về ở ngoại ô Paris, cách đây mấy năm. Nó cho tôi địa chỉ và số điện thoại của ổng. Vậy rồi ổng và tôi gặp nhau. Tôi kể sơ câu chuyện và đưa cho ổng mượn cái CD. Tôi thấy ổng rơm rớm nước mắt khi nghe tôi nói làm tôi cũng xúc động: người đàn ông hiên ngang, xông xáo trong trận mạc, gan lỳ đánh Việt cộng đến nỗi mang hỗn danh “thằng Lân ăn pháo”… vậy mà bây giờ cũng biết ứa nước mắt khi nhận được tin thằng bạn không bao giờ gặp lại!

Khi chia tay, ổng nói:

“Cám ơn ông! Nhờ có bài viết của ông mà hôm nay tôi mới có tin của thằng Cương! Tôi sẽ thay nó, đưa con gái nó về thăm Cồn Cỏ! Và thắp cho nó ba cây nhang ở đầu vàm để vong hồn nó nương theo đó mà tìm lại con đường về…”

* * *

Hơn một tháng sau, ông Lân gọi điện thoại cho tôi nói ổng vừa ở Việt Nam về, muốn gặp tôi để trả cáiCD và để ổng kể chuyến đi nầy của ổng. Vậy là chúng tôi đã gặp nhau và tôi đã ghi những lời ổng kể…

… Nhờ cái CD ông cho tôi mượn mà tôi liên lạc được con Sương. Tội nghiệp! Biết được là tôi gọi, nó khóc ồ ồ ở đầu dây bên kia! Sau đó, nó kêu tôi bằng “Bác Sáu”, ngọt như tôi là bác ruột của nó vậy! Thấy thương quá!

Vậy rồi hai bác cháu tôi bay về Việt Nam. Ở Sài Gòn chúng tôi mướn một chiếc xe hơi có tài xế để vềNhơn Hòa Cồn Cỏ. Trên xe, tôi nói với con Sương:

“Ở Cồn Cỏ, ba của con không còn bà con gì hết, họ đã dọn lên tỉnh ở mấy chục năm nay. Bây giờ, bacon chỉ còn có một người bạn thân …”

Con nhỏ nói: “Cô Hai Huê!”. Tôi gật đầu “Ờ”. Nó nói tiếp:

“Cô Hai là người ba nhắc thường nhứt và ba hay thở dài nói ba có lỗi với cô Hai nhiều lắm! Thấy ba con như vậy, con cũng nghe đau lòng, bác Sáu à!”

Thấy thương quá, tôi cầm bàn tay nó bóp nhẹ. Con Sương nhìn cảnh vật bên ngoài nhưng vẫn để bàn tay nó trong long bàn tay tôi. Ông biết không? Tôi không có con, bây giờ, trong cái cầm tay nầy, tôi bỗng cảm thấy như thằng Cương vừa đặt vào tay tôi một đứa con. Trời Đất! Sao tôi muốn nói: “Sương ơi! Từ nay, bác Sáu sẽ thay ba con mà lo lắng bảo vệ con như con là con của bác vậy!”. Nhưng thấy có vẻ cải lương quá nên tôi làm thinh!

Xe ngừng ở chợ Cồn Cỏ. Bác cháu tôi vô chợ nhà lồng đến sạp vải của con Huê thì thấy một cô gái lạ.Cổ nói cổ là cháu kêu con Huê bằng dì và đến đây phụ bán vải từ mấy năm nay. Cổ nói:

“Dì Huê có ở nhà, ông bà vô chơi!”

Chúng tôi đi lần theo con đường nằm dọc bờ rạch. Đường nầy bây giờ được tráng xi-măng sạch sẽ.Tôi nói:

“Nhà cô Hai có cây mù u nằm trước nhà cạnh bờ rạch, dễ nhận ra lắm!”

Đến nơi, thấy còn nguyên như cách đây mấy chục năm: cũng hàng rào bông bụp thấp thấp, qua một cái sân nhỏ là ngôi nhà xưa ngói âm dương, kèo cột gỗ, ba gian hai chái với hàng ba rộng, một bên hàng ba có một bộ ván nhỏ… Tôi hơi xúc động vì bắt gặp lại những gì của thời cũ. Chỉ có bao nhiêu đó thôi – nhỏ xíu – vậy mà sao gợi lại được vô vàn kỷ niệm! Tôi gọi lớn: “Huê ơi Huê!”. Trong nhà chạy ra một người đàn bà tóc bạc nhìn tôi rồi la lên: “Trời Đất! Anh Lân!”. Tuy cô ta đang nhăn mặt vì xúc động, tôi vẫn nhận ra là Huê! Không kềm được nữa, Huê và tôi cùng bước tới nắm tay nhau vừa dặc dặc vừa nói “Trời Đất! Trời Đất!” mà không cầm được nước mắt!

Một phút sau, Huê buông tay tôi ra quay sang con Sương, hỏi:

“Còn ai đây?”

Tôi nói:

“Con Sương! Con thằng Cương!”

Nó hỏi:

“Còn anh Cương đâu?”

Con Sương thả rơi ba-lô xuống đất, bước lại phía con Huê, nói:

“Ba con chết rồi, cô Hai ơi!”

Con Huê chỉ nói được có một tiếng “Chết” rồi xiêu xiêu muốn quị xuống. Con Sương phóng tới đỡ con Huê, nói: “Cô Hai ơi!”. Rồi hai cô cháu ôm nhau khóc nức nở. Tôi đứng tần ngần một lúc mới bước lại đặt tay lên vai Huê bóp nhẹ:

“Tại cái số hết, Huê à! Thằng Cương đang dạy ở bên Bỉ, mắc gì mà qua Phi Châu làm việc để rồi chếtmất xác trong chiến tranh ở bên đó. Tại cái số hết! Phải chịu vậy thôi!”

Con Sương dìu Huê lại ngồi ở bực thềm, vói tay mở ba-lô lấy phong bì A4, nói:

“Ba con gởi cái nầy cho cô”.

Huê cầm phong bì, nheo mắt đọc rồi lắc đầu nhè nhẹ: “Chắc là cái khăn mu-soa!”. Huê xé phong bì lấy khăn ra cầm hai góc khăn đưa lên nhìn: khăn còn thẳng nếp, chưa có dấu hiệu xử dụng! Huê nhăn mặt, đưa khăn lau nước mắt của mình rồi sang qua lau nước mắt của con Sương làm nó cảm động nấc lên khóc. Huê nói:

“Khăn nầy cô thêu tặng cho ba của con, nhưng không có duyên nên khăn lại trở về. Bây giờ, cô tặng cho con để kỷ niệm ngày cô cháu mình gặp nhau”.

Con Sương cầm lấy khăn rồi ngả đầu vào vai Huê, nói:

“Con cám ơn cô Hai”.

Huê vừa gật đầu vừa choàng tay ôm con Sương lắc nhè nhẹ như vỗ về đứa con! Tôi bước ra bờ rạch ngồi cạnh gốc cây mù u đốt thuốc hút. Tôi thấy trên thân cây có đóng một cây đinh dài đã gỉ sét đen thui, vắt lên cây đinh là một cuộn dây dừa cũ mèm như muốn mục. Tôi nghĩ chắc con Huê nó làm như vậy, nó vốn nhiều tình cảm và giàu tưởng tượng. Nó có ý nói con thuyền ngày xưa đã bỏ bờ đi mất, nếu một mai có trôi về được thì cũng có sẵn dây để cột con thuyền vào gốc cây mù u… Tôi đốt thêm một điếu thuốc rồi đặt lên cuộn dây dừa, vái lâm râm: “Cương ơi! Mầy có linh thiêng thì về đây hút với tao một điếu thuốc!”. Tự nhiên, tôi ứa nước mắt!

Khi tôi trở vô nhà thì cô cháu tụi nó ngồi cạnh nhau trên bộ ván, nói chuyện coi bộ tương đắc! Thấy tôi, Huê nói để vô làm cơm cùng ăn. Tôi từ chối vì phải về trả xe. Huê xin cho con Sương ở lại chơi với nó mươi hôm, còn con Sương thì hớn hở:

“Bác Sáu đừng lo! Con về một mình được!”.

Tôi bằng lòng nhưng đề nghị cùng ra đầu vàm thắp ba cây nhang cho thằng Cương. Con Huê vô nhà lấy nhang và một tấm ni-long để ra đó trải cho ba người ngồi. Khi đi ngang cây mù u, con Huê bước lại gốc cây lấy cuộn dây dừa liệng xuống rạch, rồi phủi tay, đi!

Sau khi cúng vái ở đầu vàm, cô cháu nó đưa tôi ra xe. Nhìn tụi nó cập tay nhau mà thấy thương quá, ông ơi!

* * *

… Bây giờ thì cô Sương đã đem cô Huê qua Bỉ ở với cổ. Nghe ông Lân nói hai cô cháu rất “tâm đồng ý hợp”. Còn chiếc khăn mu-soa thêu thì ông Lân nói cô Sương đã cho lộng vào một khuôn kiếng rất đẹp treo ở phòng khách, ở một vị trí mà ai bước vào cũng phải thấy!

16/09/2012

Tiểu Tử