51 năm nhìn lại tháng 4 năm 1975.- Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

51 năm nhìn lại tháng 4 năm 1975.

Ngày 20, tháng 12, năm 1960, CS Bắc Việt Nam lập tay sai là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (tức Việt Cộng)

Mục đích của VC là nhất quyết lật đổ chính quyền Miền Nam Việt Nam để dâng cho Cộng Sản Bắc Việt và quan thầy Nga Hoa.

Rồi cứ bốn năm một lần, CS Bắc Việt và tay sai mở ra những trận đánh lớn vào năm 1964, 1968, 1972, 1975 (chúng định là  năm 1976)

Nhưng suốt 15 năm, chiều dài cuộc chiến khốc liệt, thần chết hiếm khi chạm đến Sài Gòn. Ngoại trừ vài lần pháo kích, một số vụ đặt mìn khủng bố trên đường phố hoặc nhà hàng hay rạp hát…

Tuy nhiên cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân vào cố đô Huế và cuộc xâm nhập vào khuôn viên của Tòa Ðại sứ Mỹ ở Sài Gòn làm phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ bùng lên.

Tuy nhiên “Ta hồ! Thời vận bất tề, mệnh đồ đa suyễn” (Than ôi! Thời vận chẳng đều nhau, đường đời nhiều ngang trái).

Năm 1973, về chính trị, Tổng thống Richard Nixon đang càng lúc càng lún sâu vào vụ bê bối ‘Watergate’.

Về kinh tế, giá dầu thô tăng cộng với chi phí khổng lồ của cuộc chiến tranh làm lạm phát gia tăng. Hậu quả là: dẫu Sài Gòn đã được Nixon hứa hẹn, Quốc hội Mỹ vẫn cắt giảm quân viện. Số đạn pháo, số phi vụ yễm trợ chiến trường đang sôi động bị giảm dần theo từng tháng.

Ngược lại với sự tận tình chi viện của đàn anh CS Nga Hoa, CS Bắc Việt vét hết tài nguyên, nhân vật lực cho một chiến dịch kéo dài dự trù hai năm, tới năm 1976. Nhưng cuộc chiến tranh đẫm máu đã kết thúc chóng vánh chỉ trong vòng hai tháng.

Tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger, theo Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973, đã đồng ý rút quân đội Hoa Kỳ.

Nhưng ai cũng nghĩ không cần có lính Mỹ hiện diện (như ý của Tổng thống Ngô Đình Diệm) nếu vẫn được Hoa Kỳ tận tình giúp đỡ, Việt Nam Cộng Hoà vẫn có thể sống sót, ngăn chặn được CS Miền Bắc xích hóa Miền Nam tự do.

Quyết định của các cấp chỉ huy, rút quân khỏi Ban Mê Thuột, thủ phủ vùng Cao Nguyên, thuộc Quân Ðoàn 2, như một ván cờ ‘domino’, làm Huế, Ðà Nẵng thuộc Quân đoàn 1, sụp đổ theo sau.

Cảnh loạn lạc khủng khiếp khắp nơi theo từng bước chân của đồng bào tị nạn về Nam trốn chạy CS, cho dù những người lính Việt Nam Cộng Hòa anh dũng hy sinh chiến đấu trong vô vọng.

Hình ảnh một người cha cõng trên vai một đứa con trai, một túi đựng đồ đạc rời bỏ làng quê của mình gần Trảng Bom trên Quốc lộ số 1 về phía tây bắc Sài Gòn, ngày 23 tháng 4 năm 1975 gây nhiều xúc động.

Vào ngày 28, tháng 4, những tên CS nằm vùng bắt đầu lộ diện: như 1. Phạm Xuân Ẩn, phóng viên báo Time, là điệp viên CS.

  1. Phi công phản loạn Nguyễn Thành Trung hướng dẫn Không quân CS Bắc Việt ném bom làm Phi trường Tân Sơn Nhứt bị bốc cháy.

Ngày 28, tháng 4, năm 1975, tại phòng Bầu Dục, Tòa Bạch Ốc, sau cuộc họp với Phó Tổng thống Nelson Rockefeller, Ngoại trưởng Henry Kissinger và Cố vấn An ninh Quốc gia Brent Scowcroft, Tổng thống Gerald Ford ra lịnh bắt đầu Chiến dịch ‘Frequent Wind’ (Gió thường xuyên)

Ðài phát thanh Quân đội Mỹ ở Sài Gòn phát đi mật khẩu: “Nhiệt độ ở Sài Gòn là 105 độ và đang tăng lên” và bài “White Christmas” do Bing Crosby hát. Trong đó có câu: “I’m Dreaming of a White Christmas” (Tôi đang mơ một mùa Giáng Sinh trắng). Ðó là một ám hiệu truyền tin báo cho người Mỹ biết là: ‘Hãy sẳn sàng chờ để được di tản khỏi Sài Gòn trong cơn hấp hối!”

Cùng lúc đó, tại nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, hai người con gái, còn rất trẻ, đứng trầm ngâm trước mộ của một người thân, một tử sỉ mới được chôn cất, chìm sâu dưới ba tấc đất gây ra bao dòng nước mắt.

Một người lính VNCH bị thương tập tễnh chiếc nạng, trên tay còn băng bó, rán cầm theo vài hộp thức ăn. Hình ảnh biểu tượng cho môt quân đội đã một thời chiến đấu rất kiêu hùng, giờ tàn tạ trong nỗi tuyệt vọng cô đơn gây ra bao niềm chua xót.

Tại Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ trên Ðại lộ Thống Nhứt, đám đông kêu gào xin được vào. Lính Thủy quân lục chiến Mỹ kéo những người có giấy tờ chứng nhận vào; một mặt chặn những người còn lại.

Bức ảnh đen trắng của phóng viên người Hà Lan Hugh Van Es đã trở thành một hình ảnh mang tính biểu tượng, tượng trưng cho việc Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam.

(Vị trí của cuộc di tản này thường được xác định là sân thượng của Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ, nhưng thực tế không phải vậy. Những người trong ảnh đang ở trên tầng thượng của một chúng cư dành cho các quan chức CIA và gia đình.)

Ngoài khơi gần bờ biển Việt Nam, các nhân viên Hải quân Hoa Kỳ trên tàu USS Blue Ridge đẩy một chiếc trực thăng xuống  biển để dành chỗ cho nhiều chuyến bay khác di tản từ Sài Gòn.

Hình ảnh của các hãng thông tấn quốc tế đầy xúc động ghi lại: Một người mẹ Miền Nam và ba đứa con cúi mình trên trên một boong tàu chiến nhấp nhô ở Biển Ðông.

Tại Sài Gòn, hai chiếc trực thăng Sikorsky CH-53 đang trong một bãi đáp vốn là một bãi đậu xe! Thủy quân lục chiến Mỹ, quân phục ngụy trang chìm trong màu cây xanh vùng nhiệt đới. Chỉ có những nòng súng M 16 là thò ra từ dưới một bụi cây. Hai xạ thủ tay nắm chặt tay cây M16 và chiếc trực thăng chất đầy người Mỹ và người Việt cất cánh bay lên.

Lúc 7 giờ 53 phút, sáng ngày định mệnh 30 tháng 4, chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh từ nóc Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn và hướng ra biển. Trong mười chín tiếng đồng hồ, 81 chiếc máy bay trực thăng chở khoảng 7,000 người ra hàng không mẫu hạm ở ngoài khơi.

Sài Gòn đã sống trong mộng mị trong suốt nhiều tuần lễ. Hầu như không ai biết mình phải làm gì? Có đi làm hay không? Có mua gì ở chợ hay không? Xăng có hay không?

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, nắng sớm chói chang chiếu trên những con đường vắng vẻ của Sài Gòn. Những con đường thông thường vào giờ đó thường đã bắt đầu ồn ào, náo nhiệt. Nỗi sợ bị Cộng sản tàn sát như Tết Mậu Thân ở Huế vào năm 1968 đã làm cho người dân Sài Gòn bị quẩn trí. Sài Gòn rùng mình! Quân Bắc Việt đã chuẩn bị sẵn sàng để bắn phá thành phố bằng pháo hạng nặng và tiến vào từng dãy nhà, nếu hệ thống phòng thủ mà chúng gặp phải vững chắc hơn.

Tại số 4, Ðại lộ Thống Nhứt, góc đường Mạc Ðĩnh Chi, gần Dinh Ðộc Lập. Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, 6 tầng lầu trông giống như một pháo đài, không còn người Mỹ nào trong đó. Không có quan chức nào trong Tòa Ðô Chánh, số 86 đường Lê Thánh Tôn. Không có dân biểu nào trong Quốc Hội ở Công trường Lam Sơn. Trong Dinh Ðộc Lập, không có tổng thống; chỉ còn Tổng thống hai ngày Dương Văn Minh.

Nhà văn đoạt giải Nobel về văn chương John Steinbeck (1902-1968), người quyết liệt chống lại việc Hoa Kỳ vội vã rút quân đã chết!

Trong nhạc kịch ‘Miss Sài Gòn’ có lời thoại: “Những chiếc trực thăng đang trên đường bay tới. Ông Ðại sứ sẽ không rời đi. Sẽ đủ chỗ dành cho tất cả các bạn!”

Có một khoảng lặng trong thành phố. Có một nỗi buồn ập xuống với cơn mưa. Hoa Kỳ không còn ở Việt Nam nữa! Sài Gòn đã bị chiếm đóng! Sài Gòn tự do không còn nữa. Giờ nó là của Cộng Sản Viêt Nam!

Trong “The California’s Tale” (Câu chuyện về người California”), một truyện ngắn bi ai, Mark Twain đã kể rằng: vợ của Henry trên đường trở về thăm mẹ đã bị thổ dân da đỏ bắt cóc. Dẫu 19 năm trôi qua, cứ tới ngày em hẹn sẽ về, Henry vẫn đợi. Henry không chấp nhận sự thật đau lòng là người vợ yêu quý của mình đã chết.

Mới đầu, tôi không tin câu chuyện mà Mark Twain đã viết.  Nhưng sau biến cố mất Miền Nam năm 75, thì tôi tin Mark Twain.  Dẫu cách nay 51 năm ròng rã, niềm đau đớn như mới xảy ra vào tối hôm qua.

Tôi cũng tin nhà thơ Thanh Nam (1931 – 1985) nữa!

“Một năm người có mười hai tháng. Ta trọn năm dài một Tháng Tư”

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.


 

CHƯA TIN, VÌ QUÁ MỪNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các ông còn chưa tin, vì mừng quá!”.

“Hãy tin để hiểu!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy tin để hiểu!”. Nhưng với các môn đệ, Lời Chúa hôm nay cho thấy: niềm vui đi trước, và đức tin theo sau. Không phải vì thiếu bằng chứng, nhưng vì niềm vui quá lớn; họ ‘chưa tin, vì quá mừng’.

Luca ghi lại một chi tiết hiếm hoi. Các môn đệ chưa tin Đấng Phục Sinh đang đứng đó, vì tràn ngập niềm vui. Không phải thiếu ánh sáng, nhưng là một ánh sáng quá mạnh. Ở đây, trật tự quen thuộc đảo ngược: không còn là “tin rồi mới vui”, nhưng niềm vui đến trước, buộc đức tin mở ra – gaudium đi trước fides. Một điều gì đó vượt quá khả năng tiếp nhận; chính vì thế, họ dừng lại, không phải trong nghi ngờ, nhưng trong sự chững lại của một người đang đứng trước một điều quá tốt để có thể tin ngay. Và như thế, không phải con người chạm tới Thiên Chúa trước, nhưng là Thiên Chúa chạm tới con người trước – cả khi con người còn chưa kịp tin.

Ngay trong lúc họ còn chần chừ, Chúa Giêsu nói: “Bình an cho anh em!”. Ngài không làm giảm niềm vui, nhưng đặt vào đó một sự lắng lại từ bên trong, để điều đang tràn ra có thể được đón nhận. Bình an ấy không thay thế niềm vui, nhưng làm cho nó trở nên có thể tin; và chỉ khi đó, điều quá lớn mới dần trở nên có thể đón nhận. Chính vì thế, điều xảy ra nơi các môn đệ không khép lại nơi họ, nhưng vẫn tiếp diễn nơi chúng ta.

Với chúng ta, có những lúc, niềm vui chạm đến, nhưng chúng ta vẫn chậm lại; không phải vì không muốn tin, nhưng vì hồng ân quá lớn. Khi đó, điều chúng ta thiếu không phải là bằng chứng, nhưng là một bình an đủ để tin.

Chúa Giêsu không giải thích thêm, nhưng nói: “Nhìn chân tay Thầy coi!”; “Cứ rờ xem!”. Không phải một ý tưởng để hiểu, nhưng là một thân xác để chạm. Ngài không xoá đi những dấu thương tích, nhưng giữ lại chúng – và chính qua đó, Ngài tỏ mình: một thân xác đã bị đóng đinh, nay hiện diện giữa họ; không phải để chứng minh, nhưng để họ bước vào một thực tại mới. Chính ở đó, điều họ chưa thể tin bắt đầu trở nên có thể – khi niềm vui không còn ở ngoài, nhưng chạm đến được. “Những dấu thương ấy không còn là nơi của oán hận, nhưng là nơi của một tình yêu đã đi qua tất cả; không phải để trách móc, nhưng để khẳng định một tình yêu mạnh hơn mọi bất trung” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nơi Chúa Giêsu, nghịch lý của các môn đệ được sống đến cùng. Ngài không chỉ đón nhận niềm vui, nhưng sống trong niềm vui, vì luôn ở trong tương quan với Chúa Cha. Ngay cả khi bị khước từ, bị đóng đinh, Ngài vẫn không ngừng tín thác. Ngay cả trong giờ phút ê chề nhất, Ngài vẫn không rời khỏi tình yêu và ý muốn của Cha. Nơi Ngài, niềm vui và đức tin là một, không bao giờ bị đứt đoạn. Chính vì thế, từ thập giá đến phục sinh, nơi Ngài chỉ còn là sự hiệp nhất với Cha đến cùng. “Ngay trong sự bị bỏ rơi, sự hiệp nhất giữa Cha và Con không bị phá vỡ!” – Von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đặt trong con sự bình an của Chúa, để niềm vui không còn làm con chững lại, nhưng mở lòng con ra để tin!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Có lời Kinh Thánh chép rằng : Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 24,35-48

35 Khi ấy, hai môn đệ từ Em-mau trở về, thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

36 Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo : “Bình an cho anh em !” 37 Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. 38 Nhưng Người nói : “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ? 39 Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà ! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ?” 40 Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. 41 Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi : “Ở đây anh em có gì ăn không ?” 42 Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. 43 Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông.

44 Rồi Người bảo : “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm.” 45 Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh 46 và Người nói : “Có lời Kinh Thánh chép rằng : Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại ; 47 phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. 48 Chính anh em là chứng nhân về những điều này.” 


 

Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không?- Cha Vương

Chúc bạn và gia đình ngày thứ 4 bát nhật Phục Sinh tràn đầy niềm vui nhé. Cầu nguyện cho nhau và cho thế giới trong thời không bình an nhé 

Cha Vương

Thứ 4: 08/04/2026  (n20-22)

GIÁO LÝ:  Có những bằng chứng về việc Chúa Giêsu đã sống lại không? Không có bằng chứng theo khoa học về việc Chúa Giêsu sống lại. Nhưng có những chứng cớ rất mạnh của cá nhân cũng như tập thể của nhiều người đương thời tại Giêrusalem. (1Cr 15,3-6; Lc 24,2-3; Ga 20,8). (YouCat, số 106)

SUY NIỆM: Bằng chứng cổ xưa nhất ghi chép Chúa Giêsu sống lại là thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Côrintô, viết khoảng 20 năm sau cái chết của Chúa Giêsu: “Trước hết tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Sau đó Người đã hiện ra với năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống nhưng một số đã an nghỉ (1Cr 15,3-6). Ở đây thánh Phaolô nói về một truyền thống sống động ngài gặp trong cộng đồng Kitô giáo sơ khởi, khi chính ngài vừa mới trở thành Kitô hữu, hai ba năm sau cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu – theo sau cuộc gặp gỡ ngao ngán với Chúa đã phục sinh. Các môn đệ đã cho rằng ngôi mộ trống là chỉ dẫn đầu tiên về thực tại Chúa sống lại (Lc 24,5-6). Đây là việc các phụ nữ đã khám phá thấy – theo luật thời đó thì bằng chứng của họ không được chấp nhận. Dù người ta nói rằng tông đồ Gioan đến mộ, đã thấy và đã tin (Ga 20,8), việc xác tín rằng Chúa Giêsu sống lại chỉ phát triển nhờ một loạt các lần hiện ra. Chỉ sau khi Chúa về trời, mới không còn những gặp gỡ với Đấng đã sống lại. Nhưng cho đến ngày nay, vẫn tiếp tục có những gặp gỡ với Chúa Giêsu, Người vẫn sống. (YouCat, số 106 t.t.)

❦ Tình yêu Thiên Chúa đi tới chỗ sáng như chớp. Như một tia chớp Chúa Thánh Thần đi qua đêm của mỗi người. Đấng Phục Sinh bắt lấy bạn, đảm nhận mọi sự, mang trên Người tất cả những gì bạn không mang nổi. Chỉ như thế mà sau này, đôi khi rất lâu sau này điều đó mới rõ ràng: Chúa Kitô đã đi qua và đã phân phát những gì quá đầy của Người. (Frère Roger Schutz)

LẮNG NGHE: Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tô-ma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:27-29)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin cho con!

THỰC HÀNH: Tự suy ngẫm coi có những gì chung quanh bạn tuy mắt người phàm không thấy nhưng bạn tin là nó có thật?

From: Do Dzung

***********************

CHO CON THẤY CHÚA – Sr. Hiền Hòa

 KHI BẠN CHẾT ĐI – T/g : Thi Thien

Chi NguyenNhững Câu Chuyện Thú Vị

T/g : Thi Thien

Đừng lo lắng về thân thể của bạn… người thân của bạn sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết tùy theo khả năng của họ. Họ sẽ cởi quần áo của bạn, tắm rửa, mặc quần áo cho bạn, đưa bạn ra khỏi nhà và đưa bạn đến địa chỉ mới.

Nhiều người sẽ đến dự đám tang của bạn để “nói lời tạm biệt”. Một số sẽ hủy bỏ các cam kết và thậm chí bỏ lỡ công việc để đến dự đám tang của bạn.

Đồ đạc của bạn, ngay cả những thứ bạn không muốn cho mượn, sẽ bị bán, cho đi hoặc đốt cháy.

Chìa khóa, dụng cụ, sách, giày, quần áo của bạn… Và hãy yên tâm rằng thế giới sẽ không dừng lại vì bạn. Nền kinh tế sẽ tiếp tục.

Trong công việc của bạn, bạn sẽ bị thay thế. Người có năng lực tương đương hoặc tốt hơn sẽ thay thế vị trí của bạn.

Tài sản của bạn sẽ thuộc về những người thừa kế của bạn…. Và đừng nghi ngờ rằng bạn sẽ tiếp tục bị trích dẫn, phán xét, chất vấn và chỉ trích vì những điều nhỏ nhặt và lớn lao mà bạn đã làm trong cuộc sống.

Những người chỉ biết đến bạn qua vẻ bề ngoài sẽ nói; Đàn ông hay đàn bà tội nghiệp!

Những người bạn chân thành của bạn sẽ khóc trong vài giờ hoặc vài ngày, nhưng sau đó họ sẽ trở lại cuộc sống vui vẻ và cười đùa bình thường.

Những con vật của bạn sẽ được cho đi và sẽ mất thời gian nhưng chúng sẽ quen với người chủ mới.

Những bức ảnh của bạn sẽ được treo trên tường hoặc lưu lại trên một món đồ nội thất trong một thời gian, nhưng sau đó có thể chúng sẽ được cất giữ ở đáy ngăn kéo. Và chúng ta sẽ chỉ sống trong ký ức của những người yêu thương chúng ta.

Người khác sẽ ngồi trên ghế của bạn và ăn tại bàn của bạn.

Nỗi đau sâu sắc trong ngôi nhà của bạn sẽ kéo dài một tuần, hai tuần, một tháng, hai tháng, một năm, hai năm… Rồi bạn sẽ được thêm vào những kỷ niệm và rồi, câu chuyện của bạn kết thúc.

Nó kết thúc ở giữa con người, nó kết thúc ở đây, nó kết thúc ở thế giới này.

Nhưng hãy bắt đầu câu chuyện của bạn trong thực tế mới… trong cuộc sống sau khi chết.

Cuộc sống của bạn, nơi bạn không thể di chuyển với những thứ từ đây bởi vì khi bạn rời đi, chúng đã mất đi giá trị mà chúng có.

Thân hình

Sắc đẹp

Vẻ bề ngoài

Họ

An ủi

Tín dụng

Tình trạng

Chức vụ

Tài khoản ngân hàng

Trang chủ

Xe hơi

Nghề nghiệp

Tiêu đề

Bằng cấp

Huy chương

Cúp

Bạn

Địa điểm

Vợ chồng

Gia đình…

Trong cuộc sống mới, bạn sẽ chỉ cần tinh thần của mình. Và giá trị bạn tích lũy được ở đây sẽ là tài sản duy nhất bạn có ở đó.

Vận may đó là thứ duy nhất bạn mang theo bên mình và nó được tích lũy trong suốt thời gian bạn ở đây. Khi bạn sống một cuộc sống yêu thương người khác và hòa bình với hàng xóm, bạn đang tích lũy vận may tinh thần của mình.

Đó là lý do tại sao bạn nên cố gắng sống trọn vẹn và hạnh phúc khi còn ở đây vì :

“TỪ ĐÂY… BẠN SẼ KHÔNG LẤY NHỮNG GÌ BẠN CÓ MÀ CHỈ LẤY NHỮNG GÌ BẠN ĐÃ CHO “…

———-

Ảnh ST.


 

Canh thức Cầu nguyện cho Hòa bình vào thứ Bảy ngày 11 tháng 4 với Đức Giáo hoàng Lêô XIV …

Canh thức Cầu nguyện cho Hòa bình vào thứ Bảy ngày 11 tháng 4 với Đức Giáo hoàng Lêô XIV …

Đức Tổng Giám mục Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ kêu gọi:

 “Đức Thánh Cha Lêô XIV đã mời gọi mọi người cùng tham gia với Ngài trong một buổi Canh thức Cầu nguyện cho Hòa bình vào thứ Bảy, ngày 11 tháng 4.

Tôi tha thiết kêu gọi quý anh em giám mục, quý linh mục, giáo dân và tất cả những ai đang khao khát một nền hòa bình đích thực,

hãy cùng tham gia vào Buổi Canh thức Cầu nguyện cho Hòa bình của Đức Thánh Cha

—dù là tham dự trực tuyến, tại các giáo xứ, nhà nguyện, hay ngay trước sự hiện diện của Chúa trong thinh lặng của tâm hồn mình—

để hiệp thông cùng Đức Thánh Cha mà cầu nguyện cho hòa bình trên thế giới chúng ta.”

 Kính mời xem chi tiết nơi đường dẫn

https://vietcatholic.net/Media/DGHcnchb11042026.pdf

Nguon: LIÊN ĐOÀN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

LỜI BỪNG LỬA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?”.

“Lòng chúng ta khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Ngài!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Trình thuật hai môn đệ trên đường Emmaus hôm nay cho thấy, không phải đôi mắt mở ra trước; nhưng là lòng. Và chỉ khi lòng bừng cháy, con người mới nhận ra Đấng mình khắc khoải tìm – ‘Lời bừng lửa!’.

Trong trình thuật độc quyền của Luca, có một động từ âm thầm nhưng quyết định: aperiebat – “mở ra”. Chúa Giêsu mở Kinh Thánh, và cũng mở lòng hai môn đệ. Đó không phải là hai hành vi; nhưng là một chuyển động: mở Lời; và mở lòng. Vì thế, điều xảy ra không phải là các môn đệ hiểu thêm; nhưng là họ được biến đổi từ bên trong. Chính trong tiến trình ấy – không chớp nhoáng – trước khi mắt họ được mở, lòng họ đã bừng cháy. “Yêu là biết!” – Grêgôriô Cả.

Luca không mô tả một cảm xúc; nhưng một kinh nghiệm: cor ardens – một trái tim được đánh thức từ bên trong. Điều lạ là họ vẫn chưa nhận ra Thầy: đôi mắt còn bị giữ lại; nhưng lòng đã bừng cháy. Vì thế, lửa đến trước nhận ra. Không phải hai môn đệ thấy rồi mới tin; nhưng chính khi Lời chạm tới, lòng họ bừng lên. Và đó cũng là điều rất gần với chúng ta: có những lúc chúng ta nghe rất nhiều; nhưng không có gì xảy ra. Không phải vì thiếu ‘Lời bừng lửa’; nhưng vì lòng chưa mở ra để Lời có thể chạm tới.

Bởi thế, vấn đề không phải là họ nghe ít; nhưng là họ chưa để Lời đi vào nỗi thất vọng, mất mát – có khi là sụp đổ. Chỉ khi Lời chạm tới đúng nơi đang đau, lòng người mới bừng cháy. Và chỉ khi lòng bừng cháy, bước chân đang đi xa mới có thể quay về.

Niềm tin mang tính quyết định – Thầy đã sống lại – không nằm ở lúc hai môn đệ nghe; nhưng ở lúc họ nhận ra: họ nhận ra Ngài đúng vào lúc Ngài biến mất! Không phải khi Ngài hiện diện trước mắt; nhưng khi Ngài không còn ở đó. Trong Luca, nhận ra không đến từ việc giữ lại một hình ảnh; nhưng từ một kinh nghiệm làm lòng bừng cháy. Vì thế, sự vắng mặt không xoá đi sự hiện diện; trái lại, làm viên mãn nó. Và từ đó, họ “không còn cần thấy” Ngài nữa; vì Lời đã bừng cháy trong họ, đủ để họ quay lại thành. “Dưới lớp tro của vỡ mộng vẫn còn một đốm than hồng sống động, chỉ chờ được nhóm lại; không có đêm nào là vĩnh cửu!” – Lêô XIV.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Lời không chỉ được nói; nhưng cháy lên trong chính đời Ngài. Lời ấy không dừng lại ở đầu môi; nhưng đi vào phận người, đi qua đêm tối và thập giá vì yêu; bừng sáng trong phục sinh để cứu độ. Bởi thế, khi chạm tới con người, Lời không chỉ soi sáng; nhưng làm cho lòng bừng lửa. Và chỉ khi lòng đã bừng cháy, con người được thôi thúc để nhen nhóm nơi người khác. Tại cửa Đẹp đền thờ, Phêrô đã làm điều đó. ‘Lời bừng lửa’ đã đốt cháy lòng, biến khắc khoải thành hỷ hoan. “Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỷ!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa một thế giới đầy lời lắm tiếng, xin cho con nghe được Lời Chúa; khi con mệt mỏi và vỡ mộng, xin giữ trong con một đốm lửa nhỏ, đủ để con quay về!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần Bát Nhật Phục Sinh

Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.   Lc 24,13-35

13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.

18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”

25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”

33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông : “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.


 

Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?  – Cha Vương

Ha-lê-lui-a!!! Nguyện xin Chúa Phục Sinh sưởi ấm tâm hồn bạn hôm nay nhé.không quên nhớ nhau trong lời cầu nguyện và cho cả thế giới nhe

Cha Vương

Thứ 3: 07/04/2026. (n19-22)

GIÁO LÝ:  Bạn có thể là Kitô hữu mà không tin Chúa Giêsu đã sống lại không?  Không. Thánh Phaolô viết: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì lời chúng tôi rao giảng sẽ vô ích, và đức tin của bạn cũng vô ích” (1Cr 15,14). Vậy, Làm thế nào mà các môn đệ Chúa Giêsu đã đi đến chỗ tin Người sống lại? Đầu tiên, các ông mất hết hy vọng, nhưng dần dần, các ông đã đi đến chỗ tin Chúa sống lại, vì sau khi Người chết, họ đã thấy Người trong nhiều dịp khác nhau, các ông đã nói chuyện với Người, đã có kinh nghiệm rõ ràng là Người đang sống. (YouCat, số 104 & 105)

SUY NIỆM: Những biến cố Phục Sinh diễn ra ở Giêrusalem khoảng năm 30 không phải là chuyện bày đặt ra. Bị sốc vì cái chết của Chúa và vì sự nghiệp chung thất bại, các môn đệ đã trốn mất. Chúng tôi hy vọng rằng Người là Đấng sẽ giải thoát Israel (Lc 24,21). Hoặc các ông ẩn núp sau những cửa đóng kín. Chỉ nhờ được gặp gỡ Chúa Kitô sống lại họ mới được giải thoát khỏi bị ức chế và được đầy niềm tin phấn khởi vào Chúa Giêsu, Chúa của sự sống và sự chết. (YouCat, số 105 t.t.)

❦   Biến cố Chúa Giêsu chết và sống lại trở thành tâm điểm của Kitô giáo. Đó là điểm tựa cho đức tin của ta, là đòn bảy mạnh mẽ cho tin tưởng vững chắc của ta, là luồng gió mạnh quét sạch mọi sợ hãi, và lưỡng lự, mọi hồ nghi và tính toán của loài người. (Đức Bênêđictô XVI, 19-10-2006)

❦  Ai hiểu biết lễ Vượt Qua thì không thể thất vọng nữa. (Dietrich Bonhoeffer, 1906–1945, thần học gia Tin lành và chống Hitler bị xử tử trong trại tập trung Flossenbürg)

LẮNG NGHE: Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; vì Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết. (Rm 14: 8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Kitô phục sinh, Chúa là Đường  để con bước đi, là Sự Thật để con tín thác, là Sự Sống để con được sống muôn đời. Xin đừng để con xa lìa Chúa bao giờ.

THỰC HÀNH: “Đấng Cứu Thế đã bảo đảm cho chúng ta về sự hiện diện hữu hình của Người ở giữa chúng ta, ngang qua Lời Chúa và bí tích Thánh thể.” Trong Mùa Phục Sinh này mời bạn hãy tham dự Thánh Lễ một cách sốt sắng hơn

From: Do Dzung

***********************

Ngọn Nến Phục Sinh – Sáng tác: Sr. Têrêxa – Phương Thảo

Anh qua đời ở tuổi 30 vì đã trao cơ hội sống duy nhất của mình cho một đứa trẻ

My Lan Pham

 Anh qua đời ở tuổi 30 vì đã trao cơ hội sống duy nhất của mình cho một đứa trẻ mà anh thậm chí không hề quen biết.

Tên anh là Giuseppe Girolamo ,một tay trống trẻ đến từ miền Nam nước Ý, đang sống giấc mơ của mình khi biểu diễn âm nhạc trên con tàu du lịch Costa Concordia.

Đêm ngày 13 tháng 1 năm 2012, con tàu khổng lồ lướt qua vùng biển Tyrrhenian yên ả như một cung điện nổi rực sáng. Ly chạm ly, âm nhạc vang lên, và hàng ngàn hành khách đang tận hưởng khoảnh khắc lễ hội.

Rồi âm thanh kinh hoàng của kim loại xé vào đá vang lên gần đảo Giglio.

Chỉ trong vài giây, niềm vui biến thành hỗn loạn.

Đèn vụt tắt.

Boong tàu nghiêng đi ở một góc đáng sợ.

Nỗi hoảng loạn lan khắp con tàu khi lệnh rời tàu cuối cùng được ban ra.

Mọi người chen lấn, la hét, tuyệt vọng tìm đường đến các xuồng cứu sinh.

Giuseppe có một vị trí được chỉ định sẵn trên một xuồng cứu sinh.

Là thành viên thủy thủ đoàn, chỗ của anh đã được dành riêng.

Nhưng khi đến điểm sơ tán, anh nhìn thấy một người mẹ hoảng loạn tên Antonella đang ôm cô con gái nhỏ.

Chiếc xuồng lúc đó đã kín chỗ.

Không còn chỗ cho hai mẹ con.

Không chút do dự, Giuseppe lùi lại.

Anh nhìn người mẹ và đứa bé rồi bình tĩnh nói:

“Mời chị và bé lên đi.”

Anh đã nhường chỗ của mình ,cơ hội sống sót duy nhất được bảo đảm để họ có thể sống.

Điều đau lòng nhất là:

Giuseppe không biết bơi.

Khi chiếc xuồng cứu sinh dần rời khỏi thân tàu đang nghiêng, anh đứng một mình trên boong tàu chao đảo, nhìn họ khuất dần vào bóng tối.

Trong khi cả thế giới sau đó tập trung vào việc vị thuyền trưởng bỏ tàu và sự hỗn loạn tiếp theo, hành động dũng cảm lặng lẽ của Giuseppe đã trở thành một tia sáng trong một trong những thảm họa hàng hải đen tối nhất thời hiện đại.

Phải mất nhiều tháng sau, các thợ lặn mới tìm thấy thi thể anh trong xác tàu.

Nhưng di sản của anh đã được khắc sâu trong cuộc đời của hai mẹ con đã trở về nhà an toàn nhờ anh.

Trong một đêm bị bao trùm bởi nỗi sợ và bản năng sinh tồn, một chàng trai trẻ đã chọn lòng nhân ái thay vì mạng sống của chính mình.

Giuseppe Girolamo không chỉ chơi nhịp trống trên con tàu ấy.

Anh đã trở thành nhịp tim của ý nghĩa thật sự của lòng dũng cảm.

Yên nghỉ nhé, Giuseppe.

Bản nhạc cuối cùng của anh là bản nhạc mạnh mẽ nhất.

Hãy chia sẻ nếu bạn tin những câu chuyện như thế này xứng đáng được ghi nhớ.

Theo Curiously Unusual Wonder

My Lan Phạm

SỐNG ĐƠN GIẢN – Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 Trong kho tàng văn chương tu đức Ấn Giáo có chuyện kể như sau:

Ở một làng nọ, có vị đạo sĩ, Sadhu, tu thân lâu ngày, gần đạt đến bậc thánh nhân.  Dân chúng ngưỡng mộ, quý mến nhà đạo sĩ, đến thỉnh ý, tầm thầy học đạo.

Một ngày kia, thấy vị đạo sĩ rách rưới, kẻ qua đường biếu nhà đạo sĩ manh vải che mình.  Những lúc Sadhu ngồi thiền niệm, bầy chuột tưởng tượng gỗ, rúc vào tấm vải gặm nhấm.  Tội nghiệp, có kẻ qua đường thấy thế, biếu Sadhu con mèo bắt chuột.  Dân trong làng thương tình, thay nhau đem sữa nuôi con mèo.  Rồi ngày nọ, có kẻ hành hương từ phương xa, nghe tiếng thơm nhân đức, đến viếng nhà đạo sĩ.  Người đàn bà giàu có ấy tặng đạo sĩ Sadhu con bò để lấy sữa nuôi con mèo.  Để nuôi con bò, người ta làm cho nó cái chuồng.  Từ dạo đó, con bò có chuồng, vị đạo sĩ không có nhà.  Thấy thế không ổn, dân trong làng làm cho nhà đạo sĩ chiếc chòi lá.

Từ ngày ấy, nhà đạo sĩ không còn nhiều thời giờ tu niệm như xưa, bận rộn nuôi con bò để lấy sữa nuôi con mèo.  Nuôi con mèo để đuổi lũ chuột.  Phải lo sửa sang căn nhà.  Dân trong làng không muốn nhà đạo sĩ mất thời giờ săn sóc con bò, họ gởi một người đàn bà đến cắt cỏ nuôi con bò, săn sóc con mèo thay cho nhà đạo sĩ có giờ thiền tu.

Nhà đạo sĩ đã có tấm vải che thân, có con mèo đuổi chuột, có con bò cho sữa, có căn nhà để ở, có người đàn bà săn sóc cuộc đời mình.  Chẳng bao lâu, nhà đạo sĩ không còn thời gian tĩnh mịch nữa, ông đầy đủ hết rồi.

Đâu là con đường tu đạo?  Ông lấy người đàn bà làm vợ, thế là chấm dứt cuộc đời hạnh tu…

Sống đơn giản đưa Shadu vào đời sống tu hạnh.  Mất đơn giản, ông mất lý tưởng.  Trong Giáo Hội, tất cả các đại thánh đều có đời sống đơn giản.  Không phải trong Giáo Hội Công Giáo mà thôi, tất cả thánh nhân trong tôn giáo khác cũng vậy. (x. Những trang nhật ký của một linh mục, Nguyễn Tầm Thường, SJ).

*****

Bài đọc 1 hôm nay kể chuyện Êlisa quyết tâm theo Êlia để làm Ngôn sứ.  Êlisa là nông dân, đang cày ruộng với 12 cặp bò.  Nghe Thầy Êlia kêu gọi, Êlisa đã chẻ cày làm củi, giết bò làm lễ vật, thiêu đốt tất cả để dâng tiến Chúa, rồi lên đường theo Thầy.  Ruộng đất, trâu bò, cày cuốc là tài sản của nông dân.  Đốt cày cuốc, làm thịt trâu bò, có nghĩa là từ bỏ tài sản, là đoạn tuyệt với nghề nghiệp cũ.  Đó là một lựa chọn dứt khoát.  Ra đi không vướng bận, không luyến tiếc những gì đã có.  Đó là thái độ dứt khoát và phó thác, vâng phục hoàn toàn.

 Khác với thái độ của Êlisa, Tin Mừng hôm nay thuật chuyện ba người muốn theo Chúa Giêsu, xin được làm môn đệ.  Chúa đòi hỏi họ phải dứt khoát trong chọn lựa.

 Người thứ nhất hăng hái xin theo Chúa đi bất cứ nơi đâu.

Chúa Giêsu không giấu anh hoàn cảnh bấp bênh của mình.  Ngài sống cuộc đời phiêu bạt, không mái nhà để trú, lúc nào cũng ở trong tư thế lên đường.  Chấp nhận theo Ngài là chịu bỏ mọi an toàn, không ổn định, là sống thân phận lữ khách trên mặt đất (x.1Pr 2,11).  Theo Ngài là theo Đấng có chỗ tựa đầu.  Chỗ tựa đầu tiên là máng cỏ.  Chỗ tựa đầu cuối là thập giá.

 Người thứ hai chấp nhận theo Chúa với điều kiện cho anh về chôn cất người cha mới qua đời trước đã.  Anh muốn chu toàn bổn phận thiêng liêng của người con.  Chúa Giêsu coi trọng việc hiếu kính mẹ cha (x. Mt 15,3-9), nhưng Ngài đòi anh dành ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng. 

Người thứ ba xin về từ giã gia đình trước đã.

Chúa Giêsu đòi anh ta dứt khoát thẳng tiến như người cầm cày, không quay lại với những kỷ niệm quá khứ, không bị cản trở bởi những ràng buộc gia đình, để tận tâm tận lực lo cho Nước Thiên Chúa. 

Ba người muốn xin đi theo để làm môn đệ của Chúa Giêsu.  Thế nhưng, họ không dứt khoát chọn lựa như Êlisa, họ vẫn còn đắn đo kỹ lưỡng, chần chừ vì những lý do xác thịt và bịn rịn gia đình.  Chúa Giêsu trả lời cho cả ba trường hợp là “hãy theo Ta” và đặt giá trị thiêng liêng lên trên mọi của cải vật chất.  Theo Chúa lên Giêrusalem là đánh đổi cuộc đời quá khứ để lấy một tương lai mới, tuy vô định, đầy gian nan, bất trắc nhưng tươi sáng và chân thật hơn.  Ba trường hợp khác nhau, nhưng đều chung một lời mời gọi từ Chúa Giêsu.  Ba lời đối thoại trên cũng là ba đòi hỏi hướng đến điều răn thứ nhất: “Phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” (Mt 22, 37). 

Theo Chúa phải can đảm, phải chọn lựa và ưu tiên tìm kiếm và loan báo về Nước Thiên Chúa trước, còn mọi chuyện khác, Chúa sẽ lo cho sau.  Con đường đi tìm Chúa là con đường con đường của từ bỏ… Tuy nhiên, muốn đạt được hạnh phúc thật thì phải lựa chọn trong tinh thần dứt khoát.

 Nếu cuộc đời con người là một chuỗi những chọn lựa, thì chính những chọn lựa ấy sẽ dệt nên cuộc đời riêng của mỗi người.  Nếu cuộc đời người Kitô hữu là một chọn lựa dứt khoát cho việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa, thì đó chính là một chuỗi những lời đáp trả tiếng Chúa vang lên từng phút giây trong cuộc sống. 

Nhìn lại những chọn lựa hằng ngày, chúng ta chợt giật mình, vì thấy chúng ta thường hay chọn mình: sở thích của mình, tự do của mình, hạnh phúc của mình, gia đình của mình…  Chúng ta chọn tất cả những gì ít nhiều dính dáng đến bản thân.  Nhưng Đức Giêsu lại dạy: “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa trước đã, còn mọi sự khác, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33). 

Ơn gọi của Êlisa đến trong lúc ông đang cày ruộng, đang làm những công việc hàng ngày.  Ơn gọi của Phêrô xảy đến khi ông đang thả lưới, của Môsê khi ông đang chăn chiên, của Mathêu khi ông đang ngồi bàn thu thuế…  Ơn gọi tiêu biểu của mỗi cá nhân là ở trong bổn phận hàng ngày.  Sống ơn gọi của mình là biết chọn lựa và ưu tiên.  Đó cũng là lời mời gọi, hãy đơn giản hoá cuộc sống.

 Cuộc sống thật đơn giản vì nó vốn rất đơn giản.  Khi còn nhỏ thì đơn giản, lớn lên trở nên phức tạp.  Khi nghèo khó thì đơn giản, lúc giàu có trở nên phức tạp.  Khi thất thế thì đơn giản, lúc có địa vị thì trở nên phức tạp.  Tự nhận bản thân đơn giản, đánh giá người khác phức tạp.  Thật ra, thế giới này rất đơn gỉan chỉ có lòng người là phức tạp.  Mà suy cho cùng thì lòng người cũng đơn giản, chỉ vì có lợi ích chi phối nên con người mới trở nên phức tạp.  Đời người, đơn giản thì vui vẻ.  Nhưng người vui vẻ được mấy người.  Đời người, phức tạp thì phiền não.  Nhưng người phiền não thì quá nhiều.  Trong cuộc đời mỗi người đều không thể tránh khỏi những lúc buồn phiền, lo lắng thậm chí là đau khổ.  Người vui vẻ không phải là người không có buồn phiền, mà là người không để cho những nỗi buồn và niềm đau ấy khống chế” (St).  Để sống bình an vui vẻ hạnh phúc, chúng ta chỉ cần sống đơn giản.  Chúa Giêsu là người thích sống đơn giản và bình thường.  Suốt ba năm rao giảng, Ngài mặc những chiếc áo, mang những đôi dép giản dị.  Ngài không nghĩ mình là Thiên Chúa, nhưng đã hạ mình trở nên như tôi tớ rửa chân cho các môn đệ, để đến với người nghèo, bệnh nhân và tội nhân.  Chúa Giêsu thích sự đơn sơ và bé nhỏ giữa đời thường.  Bởi vậy, Ngài mới nhắn nhủ các môn đệ: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời ” (Mt 18,4).  Chúa Giêsu đã gieo vào lòng thế giới giá trị của yêu thương và phục vụ trong đơn giản âm thầm.

 Đơn sơ là một đức tính quý báu trong linh đạo “thơ ấu thiêng liêng” của thánh Têrêxa Hài Đồng.  Sống đơn sơ và giản dị.  Đối với những tâm hồn đơn sơ, không cần có những phương thế phức tạp.  Nếp sống của Têrêxa luôn trong sáng, thành thực và tự nhiên.  Con đường thơ ấu thiêng liêng là sống cuộc sống đơn sơ, yêu mến Chúa, hướng tới trọn lành.  Sống đơn giản mới có được tinh thần thanh thoát và nhẹ nhàng, chúng ta mới nhạy bén để sống theo hướng dẫn của Thần Khí chứ không theo xác thịt, vì “anh em được gọi để hưởng tự do.”

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An

From: Langthangchieutim

CHẾT VÀ SỐNG LẠI – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên 

Đức Giê-su đã chết và đã sống lại!  Đó là khẳng định của Ki-tô giáo từ hai mươi thế kỷ nay.  Đó cũng là cốt lõi lời rao giảng của Giáo hội Ki-tô, ngay từ những ngày đầu.

 Trước hết, chúng ta phải xác định: Chúa Giê-su đã chết trên cây thập giá.  Bởi lẽ nếu Người không chết, thì không thể nói đến sống lại.  Một người được coi là “sống lại” tức là người trước đó đã chết thực sự.  Trong lịch sử, cũng đã có những lập luận cho rằng Đức Giê-su chỉ chết lâm sàng mà không chết thật, sau đó Người hồi sinh.  Cả bốn tác giả Phúc âm đều khẳng định: Đức Giê-su đã chết khi còn bị treo trên thập giá, và đã được an táng trong mồ.

 Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhập thể làm người.  Người cũng là Thiên Chúa quyền năng.  Vì thế thân xác của Người không bị chi phối theo quy luật vật lý thông thường, và việc Người từ cõi chết sống lại cũng không phải là bất khả thi.  Các tông đồ đều làm chứng, Chúa Giê-su đã sống lại.  Phê-rô vốn là một người dân chài đơn sơ ít học, nhưng đã trở nên can đảm lạ thường.  Trước Công nghị Do Thái, ông dõng dạc khẳng định: Đức Giê-su là Đấng Thiên sai mà Thiên Chúa của Tổ phụ chúng ta đã hứa.  Người đã bị chính quý vị hành hạ, đóng đinh và giết chết.  Thiên Chúa đã làm cho Người phục sinh, như lời Thánh Kinh, và chúng tôi xin làm chứng về điều ấy.  Trước đó, ông cũng công khai giảng dạy trước cử tọa đông đảo khách hành hương về Giê-su-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần.  Bài giảng của ông đầy lửa và Thần Khí, nên đã có ba ngàn người xin theo Đạo. 

Ngay từ thời sơ khai, Giáo hội Ki-tô đã suy tư về cái chết và sống lại của Chúa Giê-su với lăng kính phụng vụ.  Cái chết của Chúa Giê-su đích thực là một hy tế, nhằm tôn vinh Thiên Chúa.  Trên cây thập giá, Đức Giê-su dâng hiến chính thân mình làm của lễ, thay cho những của lễ cũ được quy định bởi Luật Môi-sen, như chiên, cừu, mỡ động vật, máu bò…  Tác giả thư gửi người Híp-ri đã nêu rõ: “Máu các con bò, con dê không thể nào xóa được tội lỗi.  Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.  Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.  Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây.  Con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,4-7).  Như thế, theo Giáo lý Ki-tô giáo, kể từ cái chết của Chúa Giê-su, nhân loại không cần các hy lễ xưa nữa.  Hy lễ xưa chỉ là hình bóng, nay thực tại đã đến rồi thì hình bóng trở nên lỗi thời và phải nhường bước.  Vì vậy, mà trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo) chúng ta hát: “hy lễ xưa nhường cho hy lễ mới”; hay bản dịch khác: “Phụng vụ xưa phải được thay, này đây nghi lễ mới”. 

Về điều này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Cái chết của Đức Ki-tô đồng thời vừa là hy lễ Vượt qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao ước mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra cho muôn người được tha tội” (số 613). 

Thánh Au-gút-ti-nô đã diễn tả rất sinh động và sâu sắc: “Người (Đức Giê-su) không có gì ở nơi mình để chết vì chúng ta, nếu Người đã không nhận lấy xác phàm phải chết của chúng ta.  Như thế, Đấng bất tử đã có thể chết.  Như thế, Người đã muốn ban sự sống cho loài người phải chết: vì chưng với những gì chúng ta có xưa, chúng ta không thể sống; cũng như với những gì là của Người trước kia, Người không thể chết” (Bài đọc II, Kinh Sách thứ Hai Tuần Thánh).  Thánh nhân muốn diễn tả: chết là bản tính của con người.  Con Thiên Chúa vốn không bao giờ chết, nhưng vì yêu thương nhân loại, nên đã mang lấy xác thịt để có thể chết. 

Khi suy tư về cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra cái chết và sống lại của Người nơi chính bản thân mình.  Thánh Phao-lô quảng diễn: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” ( 2 Cr 4,10).  Thật là một điều kỳ lạ!  Chấp nhận chết với Chúa, thì có sự sống của Người nơi bản thân.  Khước từ chết với Người, sẽ không được chung phần vinh quang với Người.  Thực ra, nơi con người của chúng ta, sự chết và sự sống luôn hòa quyện đan xen.  Mỗi ngày chúng ta chết đi cho tội lỗi, ích kỷ, gian trá và những điều nhỏ nhen, thì niềm vui, sự an bình và lòng quảng đại lại được sinh ra và lớn lên trong chính tâm hồn và cuộc đời chúng ta.  Lời mời gọi sống lại với Chúa luôn vang lên trong cuộc đời của Ki-tô hữu chúng ta. “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.”  Đó là những cố gắng nỗ lực của một cuộc đời đã sang trang, muốn chuyển hướng định mệnh tương lai, không còn hướng xuống đất, nhưng hướng lên trời. 

Nếu cái chết của Chúa Giê-su là một hy tế, thì cuộc sống của Ki-tô hữu cũng là một lễ dâng.  Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.  Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).  Vâng, chính những cố gắng hy sinh, những thiện chí và quảng đại, những trách nhiệm của chúng ta đối với tha nhân, với môi trường, với công ích… đều là những của lễ đẹp lòng Chúa, nếu chúng được thực hiện với tâm tình vâng phục của Đức Giê-su.  Đó là cách thức thờ phượng mà Chúa muốn nơi chúng ta. 

Trong cuộc sống hôm nay, cái chết vẫn luôn ám ảnh và hành hạ chúng ta.  Đó không chỉ là cái chết thể lý, mà còn là cái chết tinh thần, cái chết thiêng liêng.  Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, và sự sống đời sau, Ki-tô hữu vừa xác tín vào sự sống lại của ngày tận thể, vừa khẳng định: hôm nay, ở đây, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể sống lại thực sự với Đức Ki-tô, nếu chúng ta cùng chết với Người.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

Thế giới của Margaret Mitchell bỗng thu nhỏ lại chỉ còn bằng một chiếc ghế.

My Lan Pham

Bà bị mắc kẹt trong phòng khách của mình, chỉ còn lại nỗi đau và những cuốn sách và rồi bà đã viết tên mình vào lịch sử.

Năm 1926, thế giới của Margaret Mitchell bỗng thu nhỏ lại chỉ còn bằng một chiếc ghế.

Bà vốn luôn là người không thể ngồi yên ,một nữ nhà báo lao đi trên những con phố Atlanta, săn tin, chạy deadline, sống với nguồn năng lượng mãnh liệt như thể đó là bản chất của mình.

Margaret Mitchell House (2026) 

 

Rồi chấn thương mắt cá chân xảy đến.

Nặng nề.

Kiệt quệ.

Là kiểu cơn đau khiến thời gian trôi theo một cách hoàn toàn khác.

Bỗng chốc, cả vũ trụ của bà co lại.

Sách trở thành lối thoát duy nhất.

Chồng bà, John Marsh, liên tục đến thư viện Atlanta, mang về những chồng sách cao ngất:

  • tiểu thuyết
  • lịch sử
  • tiểu sử
  • bất cứ thứ gì có thể giúp bà thoát khỏi sự bồn chồn

Bà đọc chúng như hít thở oxy, hết cuốn này đến cuốn khác, như thể việc đọc có thể giúp chạy trốn khỏi sự nhàm chán đang dần nuốt chửng mình.

Nhưng rồi ngay cả John cũng bắt đầu để ý.

Một buổi chiều, nửa đùa nửa thật, ông nhìn núi sách đã đọc xong và nói:

“Lạy Chúa, Peggy, em không thể tự viết một cuốn sách thay vì đọc hàng nghìn cuốn như thế sao?”

Đó chỉ là một câu nói buột miệng.

Một lời bông đùa.

Nhưng nó rơi xuống như một hạt giống gặp đúng mảnh đất màu mỡ.

Margaret hay “Peggy” với những người yêu quý bà lớn lên giữa những câu chuyện.

Khi còn nhỏ, bà thường nghe người thân kể về Nội chiến Hoa Kỳ và thời kỳ Tái thiết như thể mọi chuyện chỉ mới xảy ra hôm qua.

Chiến tranh đã kết thúc hàng chục năm trước khi bà ra đời, nhưng dư âm của nó vẫn sống trong mỗi buổi sum họp gia đình, trong những đồn điền hoang tàn, trong từng vết sẹo hằn sâu vào bản sắc miền Nam nước Mỹ.

Giờ đây, bị giam trong căn phòng chỉ còn thời gian và trí tưởng tượng, bà bắt đầu viết.

Bà kéo chiếc máy đánh chữ ra và bắt đầu tạo nên từng cảnh.

Không theo thứ tự thời gian.

Không theo bất kỳ dàn ý gọn gàng nào.

Chỉ là những đợt cảm hứng tuôn trào dữ dội.

Bà viết về một cô gái miền Nam cứng đầu, người từ chối để chiến tranh và nghèo đói hủy diệt mình.

Bà viết về:

  • sự sinh tồn
  • lòng bướng bỉnh
  • tình yêu không thể
  • mất mát đau đớn
  • sự biến đổi dữ dội của cả một thế giới bị lật nhào

Từ những trang viết ấy, Scarlett O’Hara dần hiện ra sống động, phức tạp và không thể quên.

Những dinh thự đồn điền được dựng lên rồi bốc cháy.

Những đạo quân hành quân.

Những gia đình tan vỡ rồi lại tự tái sinh từ tro tàn.

Nhưng Margaret không nói với ai.

Suốt nhiều năm, bà viết trong bí mật, giấu những trang bản thảo vào phong bì và ngăn kéo mỗi khi có khách gõ cửa.

Bản thảo trở thành nỗi ám ảnh riêng tư của bà thứ bà âm thầm nuôi dưỡng giữa những cơn tự nghi ngờ và quyết tâm.

Trong gần 10 năm, gần như không ai biết nó tồn tại.

Cuối cùng, vào năm 1936, bà cho một nhà xuất bản đọc bản thảo ấy.

Khi Gone with the Wind ra mắt, nó bùng nổ.

Độc giả không thể rời mắt.

Câu chuyện sử thi, nhân vật không thể quên, quy mô bao trùm cả một thời đại tất cả khiến nó trở thành một hiện tượng văn hóa tức thì.

Cuốn sách bán hàng triệu bản.

Năm 1937, nó giành giải Pulitzer.

Ba năm sau, bộ phim cùng tên Gone with the Wind ra mắt, đưa câu chuyện đi xa hơn nữa.

Qua nhiều thế hệ, đây vẫn là một trong những bộ phim biểu tượng nhất từng được tạo ra.

Điều bắt đầu từ một câu đùa của người chồng trong lúc bà đang hồi phục sau đau đớn, cuối cùng lại trở thành một trong những tiểu thuyết được đọc nhiều nhất thế kỷ 20.

Nhưng nguồn gốc của nó lại rất con người, rất đẹp:

một người phụ nữ trong đau đớn, cảm thấy mắc kẹt và mất phương hướng, đã bám lấy trí tưởng tượng như một chiếc phao cứu sinh.

Bà không hề biết, khi gõ những trang đầu tiên, rằng câu chuyện ấy sẽ đi qua nhiều thế hệ và nhiều châu lục.

Bà chỉ biết mình có một tiếng nói, những ký ức về các câu chuyện cũ, và khoảng thời gian trống cần được lấp đầy.

Bà đã nghiêm túc với câu đùa của chồng.

Bà biến sự giam cầm thành sáng tạo.

Biến giới hạn thành di sản.

Đôi khi những hành trình phi thường nhất lại bắt đầu từ những khoảnh khắc nhỏ bé và yên lặng nhất:

một chấn thương, một chiếc máy đánh chữ, và một người nhìn thấy trong bạn nhiều hơn chính bạn nhìn thấy ở mình.

Margaret Mitchell đã dành cả thập kỷ để viết về một người phụ nữ không bao giờ đầu hàng dù mọi thứ tuyệt vọng đến đâu.

Thật ra, bà đang viết về chính mình.

Và thế giới đã đọc bà từ đó cho đến tận hôm nay.

Câu mình thích nhất:

Bà biến giới hạn thành di sản.

Đây đúng là một bài học rất đẹp về việc biến đau đớn thành sáng tạo.

Theo Remember The Past

My Lan Phạm