SỨC MẠNH CỦA CẦU NGUYỆN – Nt. Anna Ngọc Diệp, OP 

SỨC MẠNH CỦA CẦU NGUYỆN

Đã bao nhiêu lần bạn nghe nói rằng cầu nguyện chẳng có tác dụng gì?  Người ta thường chế nhạo vì khi điều bất hạnh xảy ra, cách duy nhất chúng ta thường làm đó là cầu nguyện.  Thực tế cho thấy rằng, nhiều khi chúng ta chẳng thể thay đổi tình hình, chẳng hạn như: chúng ta chẳng thể chữa khỏi ung thư, chẳng thể cho kẻ chết sống lại, và cũng chẳng thể ngăn ngừa tác hại của một trận hỏa hoạn, lũ lụt, … 

Nhưng rõ ràng là, dù chạm đến sự giới hạn cuối cùng đó, chúng ta vẫn có thể thưa chuyện với Chúa, nài xin lòng thương xót, sự phù trợ, giúp giảm bớt phần nào đau khổ mà con cái Ngài đang phải chịu đựng. Trích dẫn lời của Thánh Gioan Damascene, Sách Giáo lý Công giáo dạy rằng: Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa hay là cầu xin Thiên Chúa ban cho những điều xứng hợp” (GLCG 2590).

Cầu nguyện là một điều tuyệt vời và cần thiết trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.  Không cầu nguyện, chúng ta không có mối tương quan với Thiên Chúa.  Không cầu nguyện, chúng ta sẽ lạc lối.  Cầu nguyện là cách thế tốt nhất để chúng ta mở lòng ra với Thiên Chúa, nhờ đó, chúng ta có thể và sẽ tạo ra sự khác biệt trong thế giới.

  1. Cầu nguyện củng cố quyết tâm của chúng ta.

Chúng ta có thể nhận được sức mạnh lớn lao từ cầu nguyện.  Chỉ cần dành thời giờ thân thưa với Chúa về điều khiến chúng ta vui, buồn và tạ ơn Ngài vì những ơn lành chúng ta đã lãnh nhận sẽ mang lại cho chúng ta tầm nhìn quan trọng về cuộc sống và về những gì chúng ta được mời gọi để làm cho người khác.  Trong thực tế, chúng ta dễ cảm thấy chán nản khi mọi việc không như ý mình, nhưng với một chút thời gian yên tĩnh ở một mình với Chúa có thể giúp chúng ta cảm nhận được sự thanh thản, nhìn mọi việc theo một nhãn quan khác và tăng thêm sức mạnh để làm điều tốt cho người khác.

2. Cầu nguyện mang lại cho chúng ta sự hiểu biết sâu sắc.

Thời gian cầu nguyện trước sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể biến đổi tâm hồn khi chúng ta biết suy tư về cuộc sống, hành vi của mình, và quyết tâm thay đổi theo chiều hướng tích cực.  Chúng ta có thể thưa chuyện với Chúa về những gì Ngài muốn dành cho chúng ta và Ngài muốn chúng ta tạo ra sự khác biệt trong cuộc sống của mình và người khác như thế nào.  Việc ngồi tĩnh lặng thưa chuyện với Chúa hoặc đọc Kinh thánh giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc về cách thế Thiên Chúa muốn chúng ta hành động khi chúng ta có thể noi theo gương của các Thánh và của những người nam nữ tốt lành trong Kinh Thánh.

3. Cầu nguyện thúc đẩy chúng ta hành động.

Hành động bắt đầu bằng việc cầu nguyện.  Chúng ta thưa chuyện với Chúa và Ngài lắng nghe.  Chúng ta có thể hỏi Thiên Chúa rằng Ngài muốn chúng ta ở đâu, Ngài muốn chúng ta làm gì và làm sao để chúng ta có thể làm theo ý muốn của Ngài.  Chắc chắn Thiên Chúa sẽ nói với chúng ta, mặc dù nhiều khi chúng ta không nghe được tiếng nói trực tiếp của Ngài.  Tuy nhiên, chúng ta có thể cảm nhận ý muốn của Thiên Chúa được đặt vào lòng chúng ta và khi Ngài giúp chúng ta đưa ra những quyết định vì lợi ích của chúng ta hoặc của người khác.

4. Cầu nguyện đưa người khác đến gần Chúa hơn.

Khi người khác thấy chúng ta cầu nguyện, chúng ta đang làm gương về cách hành động.  Và khi cầu nguyện cho người khác, chúng ta có thể tin chắc rằng Thiên Chúa lắng nghe chúng ta.  Chúng ta có mẫu gương của Thánh Monica, người đã cầu nguyện ròng rã nhiều năm cho người con trai là Augustino được ơn hoán cải, và bà đã được toại nguyện.  Noi gương thánh nữ Monica, chúng ta hãy cầu nguyện cho những người chúng ta yêu thương và khi cảm thấy mệt mỏi, buồn bã vì lời cầu nguyện của mình không được nhậm lời, sự kiên trì của thánh nữ là nguồn khích lệ lớn lao.

Cầu nguyện không chỉ củng cố mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa mà còn biến đổi con người chúng ta.  Cầu nguyện uốn nắn chúng ta thành người trung thành hơn, quảng đại hơn để giúp đỡ người khác, và dấn thân hơn để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn, đáng sống hơn.

Thiên Chúa là Cha và Ngài yêu thương chúng ta sâu xa hơn những gì chúng ta có thể hình dung.  Hãy dành thêm thời gian để thân thưa với Ngài, và xây dựng mối tương quan mà cả Thiên Chúa và chúng ta đều khao khát.

Susan Ciancio

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP 

Chuyển ngữ từ: catholicworldreport.com (15. 04. 2024)

/From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Mừng kính Lễ Thánh Clara, đồng trinh.(11/08)- Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay 11/8, Giáo Hội mừng kính Lễ Thánh Clara, đồng trinh. Ngài là bổn mạng của Giáo Xứ mình đó. Xin  bạn một lời cầu nguyện cho giáo dân của mình và cho công việc mục vụ trong giáo xứ. Mừng Bổn Mạng đến tất cả mọi người nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 11/08/2026.    (t5-22)

Thánh Clara (St. Clare of Assisi, 1194-1253) là thiếu nữ xinh đẹp của một gia đình giầu có ở Assisi. Khi mười tám tuổi, ngài được khích động bởi một bài giảng của Thánh Phanxicô Assisi, và cương quyết noi gương các tu sĩ Phanxicô, thề sống khó nghèo, tận hiến cho Thiên Chúa. Gia đình ngài hoảng sợ, dùng sức lực ép buộc ngài phải trở về nhà; nhưng một đêm kia, trong một hành động vừa có tính cách khôn khéo và ý nghĩa, ngài lẻn ra khỏi nhà qua “cánh cửa người chết” (cánh cửa nhỏ để khiêng người chết ra ngoài), và đến với các tu sĩ Phanxicô.

   Trong một nhà nguyện nhỏ bé ở ngoại ô, Thánh Phanxicô đã cắt mái tóc của Clara và trao cho thánh nữ chiếc áo nâu thô kệch làm chiếc áo dòng. Sau đó, thánh nữ sống với các nữ tu dòng Bênêđíctô cho đến khi có thêm sự gia nhập của các phụ nữ khác, trong đó có cả người mẹ goá bụa của ngài và các phụ nữ thuộc gia đình quý tộc ở Florence.

   Cộng đoàn nhỏ bé ấy dần dà được biết đến dưới tên Các Chị Em Hèn Mọn (các tu sĩ Phanxicô là Anh Em Hèn Mọn) hoặc dòng Clara Khó Nghèo. Khi tu hội được thành lập, Thánh Phanxicô đề nghị Clara làm bề trên, nhưng ngài từ chối cho đến khi được hai mươi mốt tuổi. Các nữ tu trong dòng tận tụy trong việc cầu nguyện, chăm sóc bệnh nhân và thi hành việc bác ái cho người nghèo và người bị ruồng bỏ.

   Họ sống theo một quy luật khắc khổ hơn bất cứ tu hội phụ nữ nào khác trong thời ấy, và tuyệt đối khó nghèo, cả về phương diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Họ đi chân đất, không có giường, mà nằm trên các khúc gỗ được đan lại và chăn mền là vỏ cây gai dệt thành. Gió mưa tha hồ lọt qua các vết nứt ở mái nhà cũng như vách gỗ. Họ ăn rất ít và không bao giờ ăn thịt. Thực phẩm của họ là tất cả những gì xin được. Bất kể sự khắc khổ của đời sống, những người theo Thánh Clara lại là những thiếu nữ xinh đẹp nhất Assisi và lúc nào họ cũng có niềm vui vì được sống gần Thiên Chúa.

    Thật vậy, Thiên Chúa đã gìn giữ họ khỏi sự nguy hiểm khi bọn lính hung dữ đến tấn công Assisi và dự định bố ráp tu viện này trước hết. Lúc ấy, dù đang đau nặng, Thánh Clara đã gắng gượng quỳ xuống trước cổng, tay nâng Mình Thánh trong mặt nhật và ngài cầu xin, “Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ các nữ tu mà con không thể nào bảo vệ nổi.” Sau đó, dường như có tiếng trả lời: “Ta sẽ luôn gìn giữ họ” và đồng thời ngay lúc ấy, quân lính cảm thấy vô cùng sợ hãi và họ chạy tán loạn.

   Thánh Clara làm bề trên tu viện trong bốn mươi năm mà hai mươi chín năm ấy ngài trong tình trạng đau yếu. Nhưng lúc nào ngài cũng vui vẻ vì cho rằng đó là sự phục vụ Thiên Chúa. Nhiều người cho rằng các nữ tu đau yếu là vì quá khắc khổ. Ngài nói, “Họ nói chúng tôi quá nghèo khổ, nhưng một tâm hồn có được Thiên Chúa vĩnh cửu thì có thực sự nghèo không?”

   Thánh Clara từ trần ngày 11 tháng Tám 1253. Chỉ hai năm sau, ngài đã được Ðức Giáo Hoàng Alexander IV tôn phong lên bậc hiển thánh.

   Sau đây là những câu nói của Thánh Clara, mời Bạn đọc và suy niệm để noi gương yêu mến Chúa của ngài:

❦ Các Chị Em Hèn Mọn sống tuyệt đối khó nghèo… Nhiều người cho rằng các nữ tu đau yếu là vì quá khắc khổ. Ngài nói, “Họ nói chúng tôi quá nghèo khổ, nhưng một tâm hồn có được Thiên Chúa vĩnh cử thì có thực sự nghèo hay không?”

❦  Yêu mến Chúa, phụng sự Chúa; mọi thứ đều ở trong đó.

❦  Yêu mến Người thì sẽ say mê, chiêm ngưỡng thì được thêm sức mạnh. Lòng nhân hậu của Người làm ta no thoả, sự dịu dàng của Người làm ta ngây ngất.

❦  Nỗi ưu phiền là thuốc độc đối với lòng sùng kính. Khi gặp thử thách, chúng ta cũng nên hân hoan hơn vì chúng ta đang được GẦN CHÚA hơn. 

Thánh nữ Clara, cầu cho chúng con.

From: Do Dzung

*****

Con Yêu Chúa. Ca sĩ: Khắc Thiệu

GIỮ TRỜI Ở LẠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em”.

Ít tuần sau khi làm giáo hoàng, Gioan XXIII đến thăm nhà tù Regina Coeli. Khi ngài sắp ra về, một tù nhân hỏi liệu những lời hy vọng của ngài có dành cho anh không. Vị giáo hoàng ôm người ấy và nói với các tù nhân: “Tôi đã đặt trái tim tôi gần trái tim anh em!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Cái ôm của Gioan XXIII không xoá tội người tù, nhưng trả lại cho anh phẩm giá làm người. Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta bước tới đủ gần người lầm lỗi để nói lời thật trong yêu thương; đó là cách chúng ta ‘giữ trời ở lại’.

Thoạt đầu, trình thuật Phúc Âm có vẻ như một tiến trình sửa lỗi; nhưng đích đến không phải là phân xử đúng sai. Bản Hy Lạp viết ekérdēsas – “đã chinh phục được”; một phiên bản khác dịch rất gợi: “đã được món lợi là người anh em mình”. Trước đó, Matthêu đã dùng chính động từ này khi hỏi: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?”. Bàn cân đã đảo: điều đáng “được” không phải cả thế giới, nhưng là một người anh em. Vì thế, mục đích cuối cùng không phải thắng lý, nhưng thắng tình: được lại người. Bằng không, chúng ta có thể đúng mọi điều mà vẫn sai Tin Mừng.

Lộ trình Chúa Giêsu vạch ra đi từ gặp riêng, thêm một hai người, rồi mới đến cộng đoàn. Vòng tròn rộng dần không để tăng người buộc tội, nhưng tăng người cùng cứu lấy một người. Đáng chú ý, “hai hoặc ba người” làm chứng ở đầu lộ trình lại trở thành “hai ba người” họp nhau nhân danh Chúa ở cuối trình thuật. Một cuộc gặp tưởng là toà án bỗng thành nơi Chúa ngự; bởi Ngài không đến như một chủ toạ, nhưng “ở giữa họ”. “Chúng ta nên thực hành bản giao hưởng này!” – Origen. Bao lâu còn chịu ngồi lại để khỏi mất nhau, bấy lâu chúng ta đang ‘giữ trời ở lại’.

Với Êzêkiel, trời đang rời đi dù Đền Thờ vẫn còn đó. Điều đáng sợ không chỉ vì sự dữ đã vào nơi thánh, nhưng vì nó đã trở nên bình thường đến mức hầu như không ai còn đau – bài đọc một. Vì thế, sửa lỗi anh em không phải là xoi bói hay kiểm soát, nhưng là từ chối dửng dưng khi tội lỗi đang huỷ hoại một người. Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Vinh quang Chúa vượt xa trời cao thẳm!”. Đấng vượt trời cao không được giữ lại bằng những bức tường, nhưng bằng những trái tim còn biết đau vì nhau.

Anh Chị em,

Thứ Sáu Tuần Thánh, một phiên bản ngược của lộ trình này được thực hiện: đưa một người anh em ra trước hội đồng, tìm chứng nhân, rồi loại người ấy ra ngoài thành như một tội nhân – kẻ không còn thuộc về cộng đoàn. “Thiên Chúa để mình bị đẩy khỏi thế gian lên thập giá!” – Dietrich Bonhoeffer. Vậy mà Người Anh Em ấy chấp nhận mất tất cả để thu chúng ta về như “món lợi” của tình yêu; và khi phục sinh, Ngài lại “ở giữa” chính nhân loại đã loại trừ Ngài. Từ đó, vinh quang trở về và đất lại mở một chỗ cho trời.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin ở giữa chúng con; cho con đủ yêu thương để bước tới; đủ khiêm tốn để nói lời thật; đủ kiên trì để cùng nhau ‘giữ trời ở lại’ trong gia đình, trong cộng đoàn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Tư Tuần XIX Thường Niên, Năm Chẵn: https://sl1nk.com/0ov93yv

Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 18,15-20

15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16 Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. 17 Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.

18 “Thầy bảo thật anh em : dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.

19 “Thầy còn bảo thật anh em : nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20 Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”


 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi.

Không phải vì họ luôn đúng.

Mà vì họ đã đi qua quá nhiều điều để hiểu rằng không phải chuyện gì cũng đáng để thắng thua.

Họ là thế hệ lớn lên trong một thế giới không có Internet, không có điện thoại thông minh, không có Google để tìm câu trả lời chỉ trong vài giây. Họ học cách sống bằng trải nghiệm, bằng những lần vấp ngã và bằng chính đôi tay của mình.

Khi một món đồ hỏng hóc, họ không vội thay mới. Họ tìm cách sửa chữa. Khi gặp khó khăn, họ không đăng trạng thái lên mạng xã hội. Họ lặng lẽ tìm cách vượt qua.

Họ thuộc về một thế hệ mà trẻ con có thể chạy chân trần ngoài đồng, leo cây, tắm mưa, ngã trầy đầu gối rồi đứng dậy như chưa có chuyện gì xảy ra.

Họ uống nước từ vòi, ăn những bữa cơm đạm bạc, mặc lại quần áo của anh chị và coi đó là điều bình thường. Họ lớn lên trong những năm tháng mà vật chất còn thiếu thốn nhưng tình người lại rất đầy.

Đó là thế hệ biết quý từng hạt gạo trên mâm cơm vì đã từng trải qua những ngày khó khăn. Biết trân trọng đồng tiền vì đã từng lao động từ rất sớm. Biết giữ gìn một món đồ trong nhiều năm vì hiểu giá trị của sự tích góp.

Họ là những người đã chứng kiến thế giới thay đổi với tốc độ chóng mặt.

Từ chiếc radio chạy pin đến điện thoại thông minh. Từ những lá thư viết tay đến các cuộc gọi video xuyên lục địa. Từ những con đường đất đỏ đến các tuyến cao tốc hiện đại. Họ đã sống trong hai thế giới khác nhau: một thế giới hoàn toàn không có công nghệ và một thế giới công nghệ hiện diện trong từng hơi thở của cuộc sống.

Điều đáng khâm phục là họ không chỉ tồn tại giữa những thay đổi ấy.

Họ thích nghi.

Họ học hỏi.

Họ tiếp tục bước đi.

Có thể họ không sử dụng điện thoại nhanh bằng con cháu.

Có thể họ nhắn tin chậm hơn.

Có thể đôi lúc họ bấm nhầm nút hay gửi nhầm tin nhắn.

Nhưng đằng sau những điều ấy là cả một cuộc đời đầy trải nghiệm mà không một công cụ tìm kiếm nào có thể thay thế.

Họ biết thế nào là mất mát.

Biết thế nào là hy sinh.

Biết thế nào là gánh vác gia đình trong những năm tháng khó khăn nhất.

Họ đã nuôi con bằng những đồng lương ít ỏi.

Đã thức trắng đêm vì bệnh tật của con cái.

Đã từ bỏ nhiều ước mơ riêng để đổi lấy tương lai cho những người mình yêu thương.

Có một điều rất thú vị.

Người trẻ thường tự hào vì biết nhiều thứ.

Nhưng người lớn tuổi thường im lặng vì đã hiểu nhiều điều.

Họ hiểu rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng công bằng. Rằng có những chuyện phải học cách chấp nhận. Rằng tha thứ đôi khi mang lại bình yên hơn chiến thắng.

Và rằng thời gian là người thầy nghiêm khắc nhất nhưng cũng công bằng nhất.

Tuổi sáu mươi không chỉ là một con số.

Đó là hàng chục nghìn ngày đã sống.

Là vô số lần đứng lên sau thất bại.

Là những nỗi đau không kể hết bằng lời.

Là những bài học được đánh đổi bằng cả tuổi trẻ.

Vì thế, nếu có thể, hãy dành cho những người lớn tuổi thêm một chút kiên nhẫn.

Một chút lắng nghe.

Một chút tôn trọng.

Bởi họ không chỉ là những người đã già đi.

Họ là những cuốn sách sống.

Là những chứng nhân của thời gian.

Là những con người đã đi qua những mùa giông bão nhất của cuộc đời để hôm nay có thể ngồi đó, mỉm cười kể cho chúng ta nghe một câu chuyện tưởng như rất bình thường nhưng chứa đựng cả một đời người phía sau.

Rồi một ngày nào đó, khi tóc chúng ta cũng bạc đi, khi bước chân cũng chậm lại, có lẽ chúng ta sẽ hiểu rằng điều đáng quý nhất không phải là sống bao nhiêu năm.

Mà là đã sống như thế nào trong những năm tháng ấy.

Và những người trên sáu mươi hôm nay chính là minh chứng đẹp nhất cho sức mạnh của sự bền bỉ, lòng kiên cường và phẩm giá của con người.

Nguồn : NguoiCaoTuoi – Dulichvanhoa

Sưu tầm.


 

Thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990) so nguoi chet la bao nhieu?

Thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990) so nguoi chet la bao nhieu?

GEMINI tra loi:

Theo các báo cáo chính thức từ chính phủ Chile (như Báo cáo Rettig năm 1991 và Báo cáo Valech năm 2004, 2011) về thời kỳ cai trị của nhà độc tài Augusto Pinochet (1973–1990):

  • Số người bị sát hại hoặc mất tích: Ít nhất 3.065 người đã bị sát hại hoặc mất tích do các lý do chính trị.
  • Số người bị tra tấn và giam giữ trái phép: Khoảng 38.000 đến 40.000 người bị bắt giam, tra tấn hoặc bức hại chính trị.
  • Số người bị lưu vong: Hàng trăm nghìn người Chile đã phải bỏ nước ra đi tị nạn chính trị trong giai đoạn này.

 

ĐÂU MỚI LÀ GIA TÀI THẬT SỰ …?

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 ĐÂU MỚI LÀ GIA TÀI THẬT SỰ …?

Nhìn xuống huyệt đất sâu kia: chum vẫn còn nguyên, vàng bạc vẫn nằm đó, đồng tiền vẫn sáng lấp lánh dưới lớp bụi thời gian. Chỉ có con người là nằm im, hóa thành xương trắng.

Tiền vẫn là tiền. Vàng vẫn là vàng. Chum vẫn là chum.

Còn người thì thành cát bụi.

Mang theo được không? Không.

Tiêu được không? Cũng không.

Cả đời lo gom góp, chắt chiu, cất vào chum, chôn xuống đất. Đến lúc nhắm mắt xuôi tay, thứ nằm cạnh mình chỉ là những vật vô tri. Chúng không khóc, không thương, không nhớ.

Vậy nên, khi còn thở được, đừng chỉ sống để tích lũy. Sống để cảm nhận. Sống để yêu thương. Sống để làm điều tử tế.

Vì cuối cùng, thứ ở lại không phải là vàng trong chum…

Mà là hơi ấm trong tim người khác khi họ nhắc về mình.

Tiền bạc có thể nằm lại trong đất.

Nhưng nhân nghĩa, nếu gieo đủ sâu, sẽ nở hoa trong lòng người sống.

Thế mới là “gia tài” thật sự.

Sưu tầm


 

Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), bao nhieu nguoi da chet?

Xin hoi: Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), bao nhieu nguoi da chet?

GEMINI Tra loi:

Dưới thời Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã lãnh đạo (1933–1945), ước tính tổng số người thiệt mạng liên quan trực tiếp đến Chiến tranh Thế giới thứ II ở Châu Âu và các chính sách diệt chủng, đàn áp của Đức Quốc Xã là từ 70 triệu đến hơn 80 triệu người.

Con số này bao gồm các nhóm nạn nhân chính sau đây:

1. Nạn nhân của cuộc Đại diệt chủng (Holocaust) và đàn áp chủng tộc/chính trị

  • Người Do Thái: Khoảng 6 triệu người bị tàn sát hàng loạt tại các trại tập trung, trại diệt chủng và qua các cuộc thảm sát lưu động (Einsatzgruppen).
  • Các nhóm nạn nhân khác bị Đức Quốc Xã diệt chủng hoặc tàn sát:
    • Tù binh chiến tranh Liên Xô: Bị chết do hành quyết, bỏ đói và lao động khổ sai (khoảng 3,1 – 3,3 triệu người).
    • Dân thường Ba Lan (không phải Do Thái): Khoảng 1,8 – 2 triệu người.
    • Người La Mã/Sinti (Roma): Khoảng 220.000 – 500.000 người.
    • Người khuyết tật và bệnh nhân tâm thần: Hơn 250.000 người (qua chương trình “Aktion T4”).
    • Người bất đồng chính kiến, đối thủ chính trị, tù nhân tôn giáo, người đồng tính, v.v.: Hàng trăm nghìn người.

2. Thương vong do Chiến tranh Thế giới thứ II tại Châu Âu (Đức khơi mào)

  • Liên Xô: Bị thiệt hại nặng nề nhất với ước tính 27 triệu người chết (bao gồm khoảng 8,7 triệu lính và gần 19 triệu dân thường).
  • Đức: Khoảng 7 triệu đến 9 triệu người chết (bao gồm khoảng 5,3 triệu binh lính và hơn 1,5 – 3 triệu dân thường do ném bom, giao tranh và bị trục xuất sau chiến tranh).
  • Các quốc gia Châu Âu khác: Hàng triệu lính và dân thường ở Ba Lan, Pháp, Anh, Ý, Yugoslavia, Greece,… tử trận hoặc chết do hậu quả của chiến tranh, đói xót và bệnh tật.

Tổng cộng, Hitler và chính sách của Đức Quốc Xã đã dẫn đến cái chết của khoảng 11 đến 17 triệu người trong các chương trình diệt chủng/đàn áp trực tiếp, cùng với hàng chục triệu người khác thiệt mạng do cuộc chiến do Đức phát động ở Châu Âu.


 

TÔI LÀ AI??

Vạch Lá Tìm Chim

TÔI LÀ AI??

Tôi sinh ra giữa lòng cộng sản. Tôi lớn lên giữa khô cằn sỏi đá Miền Trung. Quê tôi nằm bên trong Vĩ Tuyến (17), nhưng là cái nôi của cách mạng ngày xưa. Tôi không biết Mỹ, Nguỵ là gì? Cũng không biết Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là gì? Cũng chưa bao giờ biết sự phồn hoa của Đô Thành Sài Gòn một thời mà ông Lý Quang Diệu hằng mơ ước.

Tôi không học nhiều nhưng thời học sinh của tôi là cháu ngoan Bác Hồ là đoàn viên ưu tú dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Ngày xưa tập thơ gối đầu của tôi là “Theo Chân Bác”. Tôi vẫn cứ yêu đảng yêu bác cho đến chết nếu Facebook không du nhập vào Việt Nam. Tôi đã được mở rộng tầm mắt, rồi từ đó tôi biết những gì tôi học, những gì tôi bị nhét vào đầu là dối trá, dối trá một cách trơ trẽn.

Chỉ cần đặt một vài câu hỏi nhỏ thôi ví dụ như là: Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Tại sao con cháu của những vị tướng lừng danh như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Quốc Thước lại chọn Pháp, Mỹ để sống mà không phải là Việt Nam?

Tại sao Nguyễn Công Khế, Hồ Thị Thu Hồng một thời chửi Mỹ hay hơn hát rồi cuối cùng lại chọn Mỹ định cư?

Nhiều lắm, nhưng tại sao lắm không thể nào kể hết trong một Stt được. Câu cuối cùng tôi muốn hỏi hơn 90 triệu dân Việt Nam ai đã từng được cầm lá phiếu bầu lãnh đạo thể hiện quyền của một con người chưa?

Tôi lưu lạc khắp nơi để chỉ nói lên những điều mình thấy, viết những điều mình biết. Tôi đủ lớn và cũng đủ già để chịu trách nhiệm với những gì mình viết và nói ra không liên quan gì tới những người thân của tôi cả. Vì thế đừng chơi trò đe doạ và méc phụ huynh. Đời người một lần sống và một lần chết bình tĩnh “Đối Mặt” thôi!

 


 

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Ryan Phan – Chuyện tuổi Xế Chiều

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Có một loại cô đơn rất đặc biệt, một loại cô đơn mà chỉ những người từng chứng kiến mới hiểu hết. Đó không phải là cái cô đơn của người thiếu thốn, đói khổ. Ngược lại là đằng khác. Đó là cái cô đơn của một cụ già ngồi giữa một căn nhà khang trang ở Mỹ, có máy sưởi mùa đông, máy lạnh mùa hè, tủ lạnh lúc nào cũng đầy ắp thức ăn, có tivi màn hình lớn, có mọi tiện nghi mà cả một đời ở quê nhà có nằm mơ cũng không thấy. Vậy mà trong ánh mắt của cụ, người ta vẫn đọc được một nỗi trống vắng mênh mông không gì lấp nổi.

Câu chuyện này lặp đi lặp lại trong biết bao gia đình người Việt trên đất Mỹ, quen thuộc đến mức gần như đã thành một khuôn mẫu. Những người con, sau bao năm vất vả, cuối cùng cũng ổn định, cũng mua được nhà, cũng có công có việc. Và điều đầu tiên nhiều người nghĩ đến là đón cha mẹ già từ Việt Nam sang, để phụng dưỡng, để báo hiếu, để cha mẹ được hưởng những năm cuối đời trong sung túc. Đó là một tấm lòng đẹp, một ý định hoàn toàn xuất phát từ tình thương. Không ai có thể trách được cái mong muốn ấy.

Nhưng rồi thực tế lại diễn ra theo một cách mà ít ai lường trước.

Buổi sáng, các con đi làm từ sớm, có khi trời còn chưa sáng hẳn. Các cháu thì lên xe bus đến trường, hoặc được chở đi từ tinh mơ. Và thế là căn nhà rộng rãi ấy, chỉ vài phút sau khi mặt trời lên, đã trở nên vắng lặng như tờ. Còn lại một mình cụ già, giữa bốn bức tường đầy đủ tiện nghi, với cả một ngày dài trước mặt không biết phải làm gì cho hết.

Cụ không lái xe được. Ở cái xứ mà không có xe thì gần như không có chân này, điều đó có nghĩa là cụ bị giam lỏng trong chính ngôi nhà của mình. Muốn ra ngoài đi dạo cũng khó, vì đường sá mênh mông, nhà nào biết nhà nấy, vỉa hè nhiều nơi còn chẳng có người đi bộ. Cụ không biết tiếng Anh, nên dù có ra ngoài, gặp người hàng xóm bản xứ cũng chỉ biết gật đầu cười trừ, không thể trò chuyện dù chỉ một câu. Cái tivi thì đầy những kênh mà cụ không hiểu người ta đang nói gì. Cái điện thoại thông minh con cái mua cho thì phức tạp quá, học mãi không thạo.

Và thế là những giờ đồng hồ cứ trôi qua trong im lặng. Cụ ngồi bên cửa sổ nhìn ra con đường vắng, đếm những chiếc xe thi thoảng chạy qua. Cụ đi từ phòng khách xuống bếp, rồi từ bếp lên phòng khách, lặp đi lặp lại. Cụ ngóng đồng hồ, đợi đến giờ con cháu về, bởi đó là khoảnh khắc duy nhất trong ngày căn nhà có tiếng người. Nhưng khi con cháu về đến nơi, sau một ngày làm việc mệt nhoài, ai cũng bơ phờ, cũng vội vàng với cơm nước, bài vở, rồi lại điện thoại, máy tính. Bữa cơm chung, nếu có, cũng trôi qua chóng vánh. Đôi khi cả ngày cụ chỉ nói được vài ba câu, và những câu ấy cũng chỉ là “con ăn cơm chưa”, “cháu đi học về rồi à”.

Điều nghịch lý đến quặn lòng là: khi còn ở Việt Nam, những cụ già ấy thường sống trong những căn nhà đơn sơ hơn nhiều, thiếu thốn tiện nghi hơn nhiều. Nhưng họ lại giàu có ở một thứ mà đồng tiền không mua được. Buổi sáng, mở cửa ra là gặp bà hàng xóm sang mượn củ hành, hỏi thăm đêm qua ngủ có ngon không. Ra đầu ngõ là gặp ông bạn già ngồi uống trà, bàn chuyện thời sự, kể lại những chuyện từ mấy chục năm trước mà cả hai đều đã nghe đến thuộc lòng nhưng vẫn cười vang. Chiều đến có người rủ đi bộ, đi chùa, đi lễ. Con cháu ở xa nhưng hàng xóm ở gần, và cái tình làng nghĩa xóm ấy đủ để lấp đầy những khoảng trống trong ngày. Ở quê nhà, dù nghèo hơn về vật chất, người già không bao giờ phải cô đơn.

Sang đến Mỹ, mọi thứ đảo ngược. Vật chất thì dư dả, nhưng cái tình người gần gũi kia thì biến mất. Xã hội Mỹ vận hành theo một nhịp điệu khác — mạnh mẽ, hiệu quả, nhưng cũng lạnh lùng và cô lập. Mỗi ngôi nhà là một ốc đảo riêng. Người ta có thể sống cạnh nhau nhiều năm mà không biết tên hàng xóm. Cái sự riêng tư được xem là văn minh ấy, đối với một người trẻ đi làm cả ngày thì không sao, nhưng đối với một cụ già chỉ ở nhà, nó trở thành một nhà tù êm ái, đầy đủ tiện nghi nhưng vẫn là một nhà tù.

Có một câu ngạn ngữ của người châu Phi mà mình rất tâm đắc: nuôi một đứa trẻ cần cả một ngôi làng. Nhưng ít ai nói đến vế còn lại, cái vế cũng đúng không kém: chăm sóc một người già cũng cần cả một ngôi làng. Con người, dù ở tuổi nào, cũng cần một cộng đồng xung quanh mình — cần những gương mặt quen thuộc, những câu chuyện được sẻ chia, cái cảm giác mình thuộc về một nơi nào đó, mình vẫn còn ý nghĩa với ai đó. Sự phụng dưỡng đầy đủ về vật chất, dù quý giá, cũng không thể thay thế được cái nhu cầu sâu xa ấy. Một người già không chỉ cần được cho ăn, được ở trong ấm áp. Họ cần được trò chuyện, được lắng nghe, được cảm thấy mình vẫn còn là một phần của cuộc sống, chứ không phải một món đồ quý được cất kỹ trong một căn phòng đẹp.

Và đây chính là bi kịch âm thầm của lòng hiếu thảo thời hiện đại. Những người con không hề thiếu tình thương. Họ đón cha mẹ sang chính vì thương. Họ làm việc quần quật cũng một phần vì muốn lo cho cha mẹ một cuộc sống tốt hơn. Nhưng cái guồng quay của cuộc sống ở Mỹ khắc nghiệt đến mức cuốn phăng đi thứ mà cha mẹ họ cần nhất: thời gian, và sự hiện diện. Người ta có thể mua cho cha mẹ một căn nhà đẹp, nhưng không mua được cho họ một người bạn già để trò chuyện. Người ta có thể trả tiền cho mọi tiện nghi, nhưng không thể trả tiền để mua lại cái tình làng nghĩa xóm đã bỏ lại ở quê nhà. Lòng hiếu thảo, trong hoàn cảnh ấy, trở thành một điều gì đó vừa đẹp đẽ vừa bất lực.

Đó cũng là lý do vì sao không ít cụ già, sau vài năm sống ở Mỹ trong đầy đủ tiện nghi, cuối cùng lại xin được về Việt Nam. Về để sống những năm tháng cuối đời trong một căn nhà giản dị hơn, thiếu thốn hơn, nhưng có tiếng người, có hàng xóm, có những buổi chiều ngồi trước hiên nhà nhìn người qua lại. Với nhiều người, cái quyết định rời bỏ sự sung túc để về với sự gần gũi ấy không phải là một sự lựa chọn khó khăn. Bởi ở cái tuổi gần đất xa trời, người ta hiểu rõ hơn ai hết rằng thứ quý giá nhất không phải là tiện nghi, mà là được sống giữa tình người, được chết ở một nơi mình thuộc về.

Viết những dòng này, mình không có ý trách cứ ai cả. Không trách những người con, bởi họ đã làm điều tốt nhất mà hoàn cảnh cho phép. Cũng không trách nước Mỹ, bởi mỗi xã hội có một cách vận hành riêng. Mình chỉ mong, những ai đang có cha mẹ già sống cùng trên đất khách, hãy thử một lần đặt mình vào vị trí của các cụ. Thử tưởng tượng một ngày dài của mình sẽ ra sao nếu không thể ra khỏi nhà, không nói được với ai một câu trọn vẹn, chỉ ngồi đợi từ sáng đến tối để nghe một tiếng người thân thuộc. Và rồi, biết đâu, giữa cái guồng quay bận rộn kia, ta sẽ cố dành ra thêm vài phút mỗi ngày để ngồi xuống bên cha, bên mẹ, hỏi han vài câu, kể cho các cụ nghe một chuyện nhỏ trong ngày. Đôi khi, món quà lớn nhất mà một người già cần không phải là một căn nhà đầy tiện nghi, mà chỉ đơn giản là vài phút được thấy mình vẫn còn quan trọng với những người mình thương yêu.

Còn bạn, lần gần nhất bạn ngồi xuống trò chuyện thật lâu với cha mẹ hoặc ông bà của mình, không vội vàng, không điện thoại, là khi nào?

Ryan Phan –— in Atlanta, GA.


 

CHÍN MƯƠI CHÍN , VẪN THIẾU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc”.

Một bà mẹ đông con được hỏi: “Trong các con, bà thương đứa nào?”. Bà đáp: “Đứa đau yếu, cho đến khi nó khoẻ; đứa đi xa, cho đến khi nó về; đứa bé nhất, cho đến khi nó lớn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

 

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: trọn vẹn không phải là có thật nhiều, nhưng là không để thiếu một ai. Trái tim người mẹ khác nào trái tim Thiên Chúa: ‘chín mươi chín – vẫn thiếu!’.

Các môn đệ hỏi, “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”. Chúa Giêsu không nêu tên ai; Ngài đặt một em bé giữa họ. Bản Hy Lạp viết mikrōn – “bé nhỏ”: không chỉ người nhỏ tuổi, nhưng còn là người không địa vị, dễ bị coi thường. Và Ngài cảnh báo, “Chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này!”. Trước mặt người đời, họ có thể là phần không đáng kể; nhưng với Thiên Chúa, thiếu họ là thiếu tất cả. “Không có những con người tầm thường. Bạn chưa bao giờ trò chuyện với một kẻ chỉ là phàm nhân!” – C. S. Lewis.

Để hiểu “thiếu họ”, Chúa Giêsu kể dụ ngôn chiên lạc. Các ông bận xếp hạng; Ngài bận đếm người. Họ hỏi ai đứng trên ai; Ngài nhìn đàn chiên: vắng một con – người chăn chiên lên đường. Khi tìm được, ông “vui mừng vì con chiên đó”; không vì yêu chín mươi chín con ít hơn, nhưng vì niềm vui một con được tìm lại lớn hơn sự yên lòng với những con an toàn. Thiên Chúa không bằng lòng với một đoàn chiên gần đủ; trái tim Ngài chỉ đủ vui khi không còn thiếu một ai.

 Nhưng phía sau niềm vui ấy luôn có một trái tim dám đau. Êzêkiel đã mang nỗi đau của Thiên Chúa trước sự phản nghịch của dân. Ngài sai ông đến với họ bằng Lời ông phải nuốt. Đó là “những khúc ai ca, những lời than vãn và những câu nguyền rủa”; nhưng vào miệng ông, cuộn sách ấy lại hoá ngọt – bài đọc một. “Lạy Chúa, con cảm thấy lời Ngài đã hứa ngọt ngào hơn mật ong trong miệng!” – Thánh Vịnh đáp ca. Lời Chúa ngọt không vì che khuất nỗi đau, nhưng vì giữa nỗi đau, Lời ấy không cho phép ai thôi kiếm tìm.

 Chúng ta rất giỏi biến một người thành con số có thể bỏ qua. Chín mươi chín là lý do đủ đẹp để quên chiếc ghế trống. Nhưng Thiên Chúa không xướng tên người có mặt; Ngài đọc tên người vắng. Nơi chúng ta chỉ thấy sự khiếm diện, Ngài vẫn nghe một cái tên đang ơi ới gọi mình. “Đừng bận tâm đến những con số. Hãy giúp từng người một và luôn bắt đầu với người gần bạn nhất!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Anh Chị em,

Suốt một đời, Thiên Chúa không ngừng đi tìm con người. Từ buổi đầu, Ngài đã gọi, “Ađam, ngươi đang ở đâu?”; rồi sai Con Một vào trần gian, xuống mọi ngả đường, đến với ai bị bỏ lại và kịp tìm anh trộm lành. Rạng sáng Phục Sinh, Đức Kitô hỏi Maria Mađalêna, “Bà tìm ai?”. Đấng đã tìm thấy cô nay gọi tên để cô nhận ra: chính Ngài là Đấng cô kiếm tìm. Bởi ‘chín mươi chín – vẫn thiếu’ không chỉ là nỗi thao thức của Thiên Chúa mà còn là khoảng trống của con người – cho đến khi gặp Đức Kitô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết ở bên người bệnh, đợi họ bình phục; tìm người lạc, đợi họ trở về; và chở che người bé nhỏ, đợi họ lớn lên trong Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XIX Thường Niên, Năm Chẵn:

https://ourl.in/@qqtq

Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 17,1-9

1 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo. Người đưa các ông đi riêng với mình lên một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ thấy một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”


 

Nỗi sợ – vũ khí của độc tài, cũng là kẻ thù của độc tài

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

07/08/2026

Người ta thường nói rằng NỖI SỢ LÀ NỀN TẢNG CỦA MỌI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI. Chính nỗi sợ khiến người dân im lặng, khiến đối lập tê liệt và giúp nhà độc tài duy trì quyền lực trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Điều đó đúng. Nhưng lịch sử còn kể một câu chuyện khác, ít người để ý hơn: cũng chính nỗi sợ ấy, lại trở thành nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chính nhà độc tài.

Cách mạng Pháp năm 1789 là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại. Từ đống tro tàn của chế độ quân chủ chuyên chế, nước Pháp đã khai sinh những tư tưởng làm thay đổi thế giới: quyền con người, chủ quyền của nhân dân, bình đẳng trước pháp luật và khát vọng tự do. Khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã vượt ra khỏi biên giới nước Pháp để trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều cuộc cải cách và cách mạng trong hơn hai thế kỷ sau đó.

Nhưng cũng như nhiều cuộc cách mạng khác, Cách mạng Pháp không chỉ có ánh sáng mà còn có những bóng tối. Một trong những chương đen tối nhất của nó là thời kỳ Khủng bố (La Terreur), nó cũng cho chúng ta thấy rằng một cuộc cách mạng, dù bắt đầu bằng những lý tưởng cao đẹp, vẫn có thể đi đến cực đoan nếu quyền lực không còn được kiểm soát.

Không ai tượng trưng rõ hơn cho nghịch lý ấy bằng Maximilien Robespierre.

Ban đầu, Robespierre được xem là một trong những nhà cách mạng trong sạch và có nguyên tắc nhất. Ông phản đối đặc quyền quý tộc, bảo vệ nền cộng hòa và luôn nói đến “đức hạnh” như nền tảng của chính trị. Trong mắt nhiều người đương thời, ông là “Người không thể mua chuộc” (L’Incorruptible).

Nhưng khi nước Pháp phải đối mặt với chiến tranh bên ngoài và nổi dậy trong nước, Robespierre ngày càng tin rằng muốn cứu cách mạng thì phải tiêu diệt tất cả những ai có thể đe dọa cách mạng. Theo ông, khủng bố chỉ là công lý được thực hiện nhanh chóng và nghiêm khắc để bảo vệ nền cộng hòa.

Từ tư tưởng ấy, nước Pháp bước vào thời kỳ mà lịch sử gọi là Thời kỳ Khủng bố .

Tháng 9 năm 1793, Quốc ước(Convention Nationale : Cơ quan quyền lực tối cao của CM) thông qua Luật Nghi ngờ (Loi des suspects). Đạo luật này cho phép bắt giữ bất kỳ ai bị coi là “đáng nghi”. Khái niệm “đáng nghi” rất mơ hồ. Chỉ cần bị cho là không đủ nhiệt thành với cách mạng, có quan hệ với quý tộc hoặc bị hàng xóm tố cáo cũng có thể bị bắt.

Hàng chục nghìn người bị giam giữ. Hàng nghìn người bị đưa lên máy chém.

Ban đầu, mục tiêu của các cuộc thanh trừng là những người trung thành với chế độ quân chủ. Nhưng rất nhanh sau đó, lưỡi dao của chiếc máy chém bắt đầu quay sang chính những người cách mạng.

Nhóm Hébert bị xử tử. Rồi đến Georges Danton, một trong những người có công lớn nhất với Cách mạng Pháp. Danton từng là đồng chí thân cận của Robespierre, nhưng vì kêu gọi chấm dứt các cuộc hành quyết nên bị kết tội phản bội. Ông bị xử chém ngày 5 tháng 4 năm 1794.

Cùng ngày hôm đó, Camille Desmoulins cũng bước lên đoạn đầu đài. Desmoulins không chỉ là đồng chí mà còn là người bạn từ thuở thiếu thời của Robespierre. Tình bạn nhiều năm không đủ để cứu ông khỏi bản án tử hình.

Máy chém không còn phân biệt bạn hay thù. Mỗi bản án đều được tuyên nhân danh nhân dân.

Mỗi cuộc hành quyết đều được giải thích là để cứu cách mạng.

Đó là nghịch lý bi thảm của mọi cuộc thanh trừng chính trị: người ta nhân danh một lý tưởng để loại bỏ những người từng cùng mình xây dựng chính lý tưởng ấy.

Trong Quốc ước, bầu không khí ngày càng nặng nề. Nhiều đại biểu hiểu rằng không còn ai thực sự an toàn, nhưng hầu như không ai dám phản đối. Mỗi lần một đồng nghiệp bị bắt, những người còn lại lại im lặng. Không phải vì họ đồng tình, mà vì họ sợ mình sẽ là người tiếp theo. Nỗi sợ trở thành nền tảng của quyền lực.

Tháng 6 năm 1794, Quốc ước thông qua Luật 22 Prairial, đạo luật còn khắc nghiệt hơn tất cả những gì đã có trước đó. Quyền bào chữa gần như bị xóa bỏ. Tòa án Cách mạng chỉ còn hai khả năng: tha bổng hoặc tử hình. Số vụ xử chém tăng lên với tốc độ chưa từng có. Các nhà sử học gọi những tuần cuối cùng ấy là Đại Khủng bố (Grande Terreur).

Rồi Robespierre phạm phải sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của mình.

Ngày 26 tháng 7 năm 1794, ông đọc một bài diễn văn dài trước Quốc ước. ÔNG TUYÊN BỐ RẰNG NGAY TRONG QUỐC ƯỚC Và CÁC ỦY BAN VẪN CÒN NHỮNG KẺ PHẢN BỘI. NHƯNG ÔNG KHÔNG NÊU TÊN. Có lẽ Robespierre nghĩ rằng sự mập mờ ấy sẽ khiến mọi người sợ hãi hơn. Ông đã đúng. Nhưng không theo cách ông mong muốn.

Nếu trước đó mỗi đại biểu chỉ lo cho số phận của người khác, thì sau bài diễn văn ấy, tất cả đều tự hỏi: “Liệu ngày mai đến lượt mình không?”

Đó chính là khoảnh khắc quyền lực của Robespierre bắt đầu tan vỡ.

Cho đến lúc ấy, nỗi sợ khiến mọi người chia rẽ. Ai cũng cúi đầu để tự cứu mình.

Nhưng khi tất cả đều tin rằng mình có thể trở thành nạn nhân tiếp theo, nỗi sợ ấy lại tạo ra điều ngược lại: nó buộc họ đoàn kết với nhau.

Ngay ngày hôm sau, 27 tháng 7 năm 1794, Robespierre bước vào Quốc ước như mọi ngày.

Ông không ngờ rằng cán cân đã đổi chiều. Những đại biểu vốn im lặng lại ngắt lời ông liên tục. Tiếng hô “Đả đảo tên bạo chúa!” vang lên trong nghị trường. Quốc ước biểu quyết bắt giữ Robespierre, em trai ông(Augustin), Saint-Just, Couthon và các cộng sự thân cận.

Chỉ trong vài giờ, người đàn ông quyền lực nhất nước Pháp trở thành tù nhân.

Nhưng đêm hôm đó, chính quyền thành phố Paris đứng về phía Robespierre. Họ đưa ông đến Tòa thị chính và kêu gọi lực lượng vũ trang của Paris chống lại lệnh bắt giữ do Quốc ước ban hành. Tuy nhiên, Robespierre lại chần chừ, không phát động cuộc nổi dậy. Chỉ vài giờ sau, các lực lượng trung thành với Quốc ước tràn vào Tòa thị chính và bắt giữ ông.

Ngày 28 tháng 7 năm 1794, Robespierre cùng 21 cộng sự bị đưa lên máy chém. Chiếc máy chém mà ông từng coi là công cụ bảo vệ cách mạng, bảo vệ ông cuối cùng đã lấy chính mạng sống của ông. Thời kỳ Khủng bố kết thúc.

Cái hay nhất mà tôi thấy trong câu chuyện này không phải là cái chết của Robespierre, mà là cơ chế dẫn đến sự sụp đổ của ông.

Ông không bị đánh bại bởi quân đội nước ngoài, không bị lật đổ bởi một cuộc nổi dậy của quần chúng, ông bị lật đổ bởi chính những người đã từng ủng hộ mình.

Ban đầu, họ chấp nhận im lặng vì nghĩ rằng sự phục tùng sẽ giúp mình sống sót. Nhưng khi cuộc thanh trừng mở rộng đến mức không còn ai chắc chắn về số phận của mình, họ hiểu rằng im lặng không còn là sự lựa chọn an toàn nữa.

Đó là nghịch lý của quyền lực dựa trên nỗi sợ.

Khi chỉ một nhóm người sợ hãi, chế độ vẫn có thể đứng vững. Nhưng khi tất cả đều sợ, kể cả những người trung thành nhất, thì chính nỗi sợ ấy sẽ phá hủy nền tảng của quyền lực.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên vẹn. Mỗi thời đại có hoàn cảnh riêng, mỗi quốc gia có con đường riêng. Nhưng những quy luật về tâm lý quyền lực và bản năng sinh tồn của con người thường có sức sống rất dài.

Mỗi khi khái niệm “kẻ thù” ngày càng được mở rộng, mỗi khi các cuộc thanh trừng không còn dừng ở đối lập mà bắt đầu lan sang chính những người trong hàng ngũ của mình, thì một câu hỏi sẽ âm thầm xuất hiện trong đầu tất cả những người còn lại: “LIỆU NGÀY MAI CÓ ĐẾN LƯỢT MÌNH KHÔNG?”

Và khi câu hỏi ấy trở thành nỗi ám ảnh chung, sự trung thành sẽ dần nhường chỗ cho bản năng tự vệ.

Trong nhiều chế độ độc tài, người ta thường thấy một vòng xoáy đầy nghịch lý, có thể dẫn chính người cầm quyền đến chỗ sụp đổ.

Để duy trì quyền lực, nhà độc tài luôn tìm cách loại bỏ mọi đối thủ và mọi mầm mống có thể đe dọa mình. Không làm như vậy, họ lo sợ sẽ bị lật đổ. Nhưng càng thanh trừng, họ lại càng khó xác định đâu là kẻ thù thực sự. Bởi trong một bầu không khí ngờ vực, bất kỳ ai cũng có thể bị coi là đối thủ tiềm tàng: đối lập, đồng minh, cộng sự, thậm chí cả những người từng trung thành nhất.

Vì thế, các cuộc thanh trừng có xu hướng ngày càng mở rộng. Khi mọi người đều tin rằng lòng trung thành không còn bảo đảm cho sự an toàn của mình, bản năng tự vệ sẽ thay thế lòng trung thành.

Đó chính là điều đã xảy ra với Robespierre. Chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi bốn giờ, người đang ở trên đỉnh cao quyền lực đã trở thành nạn nhân của chính cơ chế mà ông tạo ra.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên xi, nhưng những quy luật của quyền lực thì thường có những nét tương đồng. Người tiếp theo sẽ là ai? Putin, Kim Jong-un, Tập Cận Bình, hay một nhà lãnh đạo nào khác mà hôm nay vẫn đang nắm quyền tuyệt đối? Không ai có thể biết trước. Chỉ có thời gian mới đưa ra câu trả lời.

BẤT KỲ QUYỀN LỰC NÀO ĐƯỢC XÂY DỰNG CHỦ YẾU TRÊN NỖI SỢ ĐỀU MANG TRONG MÌNH NHỮNG MẦM MỐNG TỰ HỦY CỦA NÓ.

Những gì đã xảy ra trong Cách mạng Pháp – nhân danh cách mạng để đàn áp, để thanh trừng, để loại bỏ những người bị coi là “kẻ thù của cách mạng”… – đáng tiếc không chỉ là câu chuyện của nước Pháp. Điều làm tôi suy nghĩ không phải là bản thân những cuộc thanh trừng ấy, mà là khoảng cách về thời gian. Người Pháp đã trải qua giai đoạn đó từ cuối thế kỷ XVIII. Thế nhưng, hơn hai thế kỷ sau, ở một số quốc gia đi sau, người ta vẫn bắt gặp gần như cùng một cơ chế vận hành của quyền lực, chỉ khác ở tên gọi và hình thức.

Đó không chỉ là một sự tương đồng của lịch sử. Đó còn là thước đo cho thấy khoảng cách về trình độ phát triển chính trị giữa các quốc gia đôi khi không chỉ tính bằng vài chục năm, mà bằng cả vài thế kỷ.

Vậy mà vẫn dám nói « kỷ nguyên vươn mình”.