TIẾNG ĐỜI VÀ TIẾNG NGƯỜI-Quyên Di

TIẾNG ĐỜI VÀ TIẾNG NGƯỜI

(Buổi đọc Kinh Thánh cho Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, hai ngày trước khi ông về nước Chúa.)

Giữa những xôn xao tiếng đời

Tiếng Người khi còn khi mất

Giữa những lo toan kiếp người

Tiếng Người hầu như chìm khuất.

Giữa những vinh quang sáng ngời

Tiếng Người chìm đâu chẳng thấy

Giữa những rộn ràng nói cười

Tiếng Người xa xôi lắm vậy.

Giữa những lo toan rối bời

Tiếng Người không còn có chỗ

Giữa những ưu tư thế thời

Tiếng Người làm sao nghe rõ.

Trong vắng im của tiếng đời

Tiếng Người vang vang rõ tỏ

Khi trí lòng không mù khơi

Tiếng Người ở trong tâm đó.

Cánh cửa mở ra vườn tươi

Nhưng lòng không bay theo gió

Lòng hướng về chốn Quê Trời

Tiếng Người chỉ đường dẫn lối.

Tiếng Người dịu ngọt, êm thay

Như nước suối nguồn mát mẻ

Dâng lên Người phút giây này

Hồn con không còn quạnh quẽ.

“Hãy đưa con về Quê Trời

Lạy Cha nhân hiền dấu ái.”

Tiếng Người vọng lại đáp lời:

“Nắm tay Cha đừng e ngại.”

Dắt con lên tầng mây cao

Gió mát nắng vàng hiện hữu

Giữa trời tinh tú xôn xao

Người đưa vào miền vĩnh cửu.

QD

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở TIẾNG ĐỜI VÀ TIẾNG NGƯỜI-Quyên Di

Thức Ăn Nhanh Cho Tâm Hồn-TỈNH THỨC-Fr. Quảng Trần, C.Ss.R.

Thức Ăn Nhanh Cho Tâm Hồn (The Fast Food for The Soul)

thứ hai, ngày 15 tháng 8 năm 2022.

TỈNH THỨC

Fr. Quảng Trần, C.Ss.R.

Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn.

Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về,

để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay.

(Luca 12: 35-6)

Tỉnh thức là gì?

Tỉnh thức hoặc thức tỉnh là một trạng thái tâm linh bừng tỉnh, ý thức về chính mình và về những thực tại xung quanh. Tỉnh thức, tiếng anh là spritirual awakening (bừng tỉnh tâm linh, thức tỉnh tâm linh). Tỉnh thức là lời mời gọi hãy bừng tỉnh, hãy ý thức RÕ về chính những SUY NGHĨ, LỜI NÓI, HÀNH ĐỘNG của mình, và THẾ GIỚI XUNG QUANH để nâng mình lên cao hơn, thoát khỏi những đam mê, những tội lỗi kéo mình xuống. [Mặc dầu chúng ta, với những giới hạn thân phận con người, không có khả năng nhận thức đầy đủ về chính mình và thế giới xung quanh. Theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, bây giờ chúng ta chỉ thấy mọi sự lờ mờ, chưa sáng tỏ, đợi khi nào vào trong trời mới đất mới, mọi sự mới tỏ tường]. Tỉnh thức (awake) có nghĩa đen là thức dậy nhưng cũng có nghĩa bóng là tỉnh thức, đừng mê đắm vào điều gì đó quá mức. Nói cách cụ thể, tỉnh thức là thành công trong việc chống lại các sự cám dỗ tinh vi, không bị lạc trong những “mật ngọt” của cuộc sống, không bị thiếu ý thức kẻo rơi vào những thứ được giăng ra hầu mong ta sập bẫy.

Tỉnh thức bao gồm BA MỨC ĐỘ. Tỉnh thức trong SUY NGHĨ, LỜI NÓI, và HÀNH ĐỘNG. Tuy nhiên, ba mức độ này là một chuỗi tổng hợp liên kết chặt chẽ, không tách rời. Tỉnh thức trong suy nghĩ sẽ chi phối hướng dẫn lời nói. Một khi đã tỉnh thức trong suy nghĩ, lời nói rồi, thì sẽ tỉnh thức trong các hành động của mình.

Con người thời này, với công nghệ khoa học kỹ thuật số (như vi tính, điện thoại được trang bị với những ứng dụng tối tân…) đã, đang, sẽ chi phối cuộc sống của mỗi cá nhân, và làm cho họ quá bận rộn, nên dường như quên ý thức về cuộc sống xung quanh, và quên cả thân phận mau hư nát của chính mình. Nhiều người sống như là một cỗ máy sẽ hoạt động vĩnh cửu, không bao giờ chết, không bao giờ ngừng hoạt động. Họ dường như không bao giờ có cùng suy nghĩ như nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, hay có suy nghĩ mà không ý thức đủ, cuộc sống ở trần gian chỉ là quán trọ:

Con chim ở trọ cành tre,

Con cá ở trọ trong khe nước nguồn…

Môi xinh ở trọ người xinh,

Duyên dáng ở trọ đôi chân Thuý Kiều…

Tôi nay ở trọ trần gian

Mai sau về chốn xa xăm với Người.

Nhìn những người khác chết, họ chẳng mảy may suy nghĩ “nay người mai ta.” Họ không quan tâm rằng:

Khi cánh cửa quan tài khép lại,

là khép lại mọi ước hẹn.

Tôi nằm xuống sau một lần vào viễn du,

Đất hoang vu khép lại mọi hẹn hò,

Đứa con xưa trở lại nguồn.

Mặt trời còn đây, mặt trời còn lên,

Đồng còn xanh, cỏ còn tươi.

… Mà hôm nay tôi phải ra đi!

Khi mỗi người chúng ta chết,

là thế giới chấm dứt với ta.

Thế giới chấm dứt với ta,

khi ta diện kiến Thiên Chúa.

Sống mà không ý thức một mai mình sẽ chết là đang mê ngủ. Cơn mê ngủ này không có thuốc đặc trị nếu chính đương sự không bừng tỉnh. Một khi con người không bừng tỉnh, không tỉnh thức về số phận phải chết của mình thì họ cũng chẳng thể sống như một con người. Trong ngôn ngữ tiếng Anh có câu: Chỉ khi bạn học thế nào để chết, thì bạn mới học thế nào để sống (Once you learn how to die, you learn how to live). Khi bừng tỉnh:

Kiếp sống thoảng qua: một tiếng thở dài.

Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi…

Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống,

ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan. (x. Tv 90: 9, 10 và 12).

Tính thức với thái độ khôn ngoan là “Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay” (Luca 12: 35-6).

Nếu đã ý thức thân phận con người phải chết, đó là quy luật không thay đổi. Giờ chết đến bất ngờ? Chuẩn bị. Chắc chắn sẽ chết. Vậy, câu hỏi đặt ra là chúng ta có đang “thắt lưng cho gọn, cầm đèn cháy sáng trong tay không?” Xin cho mỗi người chúng ta trong hoàn cảnh, trong bậc sống của mình, hãy thắp sáng đời mình.

Chuyện kể rằng: Vài thế kỷ trước, tại một ngôi làng miền núi ở châu Âu, một nhà quý tộc quyết định bí mật xây một nhà thờ để làm di sản cho người dân trong làng của ông.

Ngày khánh thành, mọi người ngạc nhiên trước vẻ đẹp sắc sảo của ngôi thánh đường. Nhưng một người có cái gì đó không bình thường nên đã hỏi: “Hệ thống đèn, điện ở đâu? Nhà thờ được thắp sáng thế nào?”

Nhà quý tộc chỉ vào một số móc trên tường. Rồi, sau đó, ông trao cho mỗi gia đình một chiếc đèn, và dặn: “Mỗi khi đến đây, chính mỗi người treo đèn của mình lên vào cái móc gần chỗ mình ngồi nhất.”

Ông giải thích: “Mỗi khi bạn đến, khu vực bạn ngồi sẽ sáng. Nếu bạn không đến, khu vực đó sẽ tối. Bất cứ khi nào bạn không đến, một số nơi trong nhà thờ sẽ không có ánh sáng, bị tối tăm chiếm dụng. Và quan trọng hơn, bạn ‘giữ cho đèn tâm hồn luôn sáng’ không chỉ trong nhà thờ mà cả ngoài nhà thờ nữa.”

Cùng Suy Nghĩ và Hành Động: Tôi đã khi nào ngồi, nhắm mắt lại và tưởng tượng ra cảnh chính tôi đang nằm trong quan tài, và mọi người đang thăm viếng tôi không? Thử tưởng tượng xem mọi người đang nghĩ gì về tôi – người ra đi? Tôi có đang sống như một anh hùng và để rồi chết như một anh hùng không? Tôi có đang hành động, hay làm điều gì đó để nhắc nhở tôi phải sống như sẽ chết không?

Fr. Quảng Trần, C.Ss.R.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Thức Ăn Nhanh Cho Tâm Hồn-TỈNH THỨC-Fr. Quảng Trần, C.Ss.R.

Cha Phêrô Nguyễn Văn Khải: Hành trình tìm Chúa của GS Nguyễn Xuân Vinh, Tư Lệnh Không Quân VNCH

Cha Phêrô Nguyễn Văn Khải: Hành trình tìm Chúa của GS Nguyễn Xuân Vinh, Tư Lệnh Không Quân VNCH

Đăng tải tại LỜI CHỨNG | Chức năng bình luận bị tắt ở Cha Phêrô Nguyễn Văn Khải: Hành trình tìm Chúa của GS Nguyễn Xuân Vinh, Tư Lệnh Không Quân VNCH

Thánh ca Mừng Kính Mẹ Lên Trời & MARIA MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI–Sáng tác: Phạm Đức Huyến- Ca sĩ: Thanh Hoài

Thánh ca Mừng Kính Mẹ Lên Trời -Sáng tác: Phạm Đức Huyến- Ca sĩ: Thanh Hoài

MARIA MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI-Sáng tác: Phạm Đức Huyến-Ca sĩ : Thanh Hoài

Đăng tải tại NHẠC CẢNH & BÀI HÁT | Chức năng bình luận bị tắt ở Thánh ca Mừng Kính Mẹ Lên Trời & MARIA MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI–Sáng tác: Phạm Đức Huyến- Ca sĩ: Thanh Hoài

HOUSTON CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM–Minh Đạo & Nguyễn Thạch Hãn

HOUSTON CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM –

Minh Đạo & Nguyễn Thạch Hãn,

Houston là thành phố lớn thứ tư nước Mỹ và là thành phố lớn nhất của Texas với dân số khoảng 2 triệu sống trên một diện tích 1500 km2. Đất rộng người thưa, nhân công Mễ đầy rẫy, cho nên nhà cửa rẻ rề, hai ba chục ngàn, bạn có thể mua được một chung cư đầy đủ tiện nghi, chỗ đậu xe rộng rãi. Nếu bạn muốn upgrade lên một chút, một hai trăm ngàn bạn có thể mua một gia cư hoành tráng, chẳng phải chung đụng với ai. Đánh lộn trong nhà, hàng xóm cũng không ai biết. Nếu bạn muốn chơi sang, bỏ chừng vài trăm ngàn, bạn có thể tậu một lâu đài có cả hồ tắm đàng hoàng của một ông hoàng Ả rập nào đó đang hồi xuống dốc (vì mấy vụ biểu tình, xuống đường), tha hồ hưởng nhàn.

Người Mễ chiếm tỷ lệ khá cao trong các sắc dân thiểu số, họ làm việc rất chịu khó. Những việc nặng nhọc như làm đường, xây cất cầu cống nhà cửa, toàn là nhân công Mễ, chẳng thấy người da màu hay Á châu nào làm cả, bởi vậy giá sinh hoạt rất thấp. Bạn cần sửa chữa nhà cửa hay chỉnh đốn vườn tược, chẳng khó khăn gì dể tìm kiếm một ông thợ người Mễ giúp cho một tay.

Houston được mệnh danh là “Thủ Đô của năng lượng trên toàn thế giới” bởi vì hầu hết các hãng xưởng kinh doanh liên quan đến dầu hỏa đều tập trung ở đây, gồm có kỹ nghệ khoan mỏ dầu, tìm kiếm mỏ dầu, chế tạo dụng cụ khoan dầu, xưởng lọc dầu, phó sản dầu hỏa, chuyên chở dầu bằng hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt khắp hang cùng ngõ hẻm, còn có những hãng chuyên môn thiết lập các bồn dầu khổng lồ để đầu cơ tích trữ và buôn bán dầu trên thị trường chứng khoán vậy mà chẳng có con ma nào bị đưa ra pháp trường cát như thời ông Kỳ làm Thủ Tướng ! Người Việt mình làm nghề hàn và tiện cho các hãng xưởng đó lương rất cao. Kỹ sư dầu hỏa, hóa học, điện tử, điện toán, luyện kim, cơ khí tha hồ múa may quay cuồng ! Ban đêm đi trên cầu cao bắc ngang Houston Ship Channel bạn nhìn về phía đông, sẽ ngạc nhiên thấy hai bên đèn điện sáng rực, còn hơn kinh đô ánh sáng Paris, đó là tụ điểm của những nhà máy lọc dầu hay chế biến phó sản của dầu hỏa.

Houston có một trung tâm Y Tế (Texas Medical Center) lớn nhất thế giới rất nổi tiếng về giải phẫu Tim và tri bệnh Ung Thư. Các Ông Hoàng bà Chúa Ả Rập hay về đây để chữa trị. Bác sỹ, Y tá, chuyên viên Y Tế người Việt làm trong các nhà thương đó cũng nhiều. Houston còn có Johnson Space Center, nơi điều khiển Phi Thuyền Con Thoi, Trạm Không Gian (Space Station), cũng như huấn luyện Phi Hành đoàn. Thập niên 80, khi chương trình phi thuyền Con Thoi đang phát triển mạnh, rất nhiều kỹ sư, chuyên gia gốc Việt đã đóng góp một phần đáng kể cho trung tâm này, lại có cả một ông Tiến Sỹ Phi Hành Gia người Việt nữa chứ làm tôi hãnh diện quá đi mất. Đi đâu cũng vỗ ngực “Tôi là người Viet Nam”.

Hải cảng Houston vẫn đứng đầu về số lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và thứ nhì về tổng số hàng chuyên chở trên đất và trên biển.

Houston cũng đứng hàng thứ nhì chỉ sau New York về số hãng được xếp vào bảng danh sách 500 hãng hàng đầu (Fortune 500) trong nước Mỹ. Tổng sản lượng của Quốc Gia Houston và vùng phụ cận lên đến 440 tỷ Mỹ kim, xếp hàng thứ 22 trên thế giới trong các nước kỹ nghệ gồm Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp… Thành phố được xếp hạng nhất về ba tiêu chuẩn : Tiềm năng kinh tế, khả năng kiếm việc, và giá sinh hoạt. Lợi tức trung bình cho (gia đình) là $40,443. Cho nên mặc dầu nền kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn nhưng tỷ lệ thất nghiệp tại Houston cũng thấp so với toàn quốc. Mới đây tờ báo nổi tiếng về kinh tế Forbes đưa ra danh sách “The best cities for jobs” theo thứ tự như sau :

Austin

New Orlean

Houston

San Antonio

Dallas

Trong 5 thành phố kể trên, Texas chiếm đến 4, Houston vẫn đứng hàng thứ 3 mấy năm liền

Một điều đáng lưu ý, có lẽ phần đông cư dân Houston cũng không biết, Trung tâm thành phố có một hệ thống đường hầm, nối liền các cao ốc với nhau, dài khoảng 11 km, như một thành phố chìm sâu trong lòng đất. Bạn sẽ tìm thấy rất nhiều quán ăn trong đó chẳng thiếu thứ gì, có cả quán ăn Việt bán phở và bún thịt nướng, ngoài ra còn có các tiệm tạp hóa, văn phòng Bác Sĩ, Nha Sĩ, tiệm hớt tóc, làm móng tay, nhà băng, kể ra không hết.

Giống như hầu hết các thành phố khác, Houston có một số lượng trường Đại Học đáng kể, thu hút rất nhiều sinh viên ngoại quốc, kể cả Việt Nam, vì giá sinh hoạt rẻ, lệ phí không cao lắm.

Nếu quý vị đến Houston để du lịch, tôi xin đề nghị, ngoài khu thương mại Viêt Nam vòng quanh Đại Lộ Bellaire, Beechnut, nên thăm Trung Tâm Không Gian ở Clear Lake, khu giải trí kemah bên bờ vịnh Gaveston, Downtown Houston và Tunnel, Downtown aquadrium, Woodland Waterway, Houston museum of Fine Art, Houston Zoo. Leo lên xe điện, chạy một vòng qua Texas Medical Center.

Kemah Houston

HOUSTON SỬ LƯỢC

Thành phố này được đặt tên Houston để vinh danh vị Tổng Thống đầu tiên của Nước Công Hòa Texas. Tôi hỏng có nói lộn đâu nhé, nhắc lại, Tổng Thống đàng hoàng đó.

Tướng Sam Houston đã lãnh đạo thành công cuộc chiến giành độc lập của nước Cộng Hòa Texas khỏi bàn tay thống trị độc tài của Tổng Thống và Tướng Antonio López de Santa Anna xứ Mễ Tây Cơ, người đã tự ví mình như Napoleon của Pháp Quốc. Ông quên rằng Hoàng Đế Napoleon cũng từng bị đánh bại và chết tủi nhục trong nhà tù ! Khi ra trận Santa Anna ra lệnh tất cả tù binh đều phải xử tử lập tức, dù là hàng binh. Như vậy, dân quân nổi dậy tự hiểu rằng sẽ không có tù binh chiến tranh ! Chỉ có tử chiến mà thôi !

Trong những năm đầu sau khi nước Mễ Tây Cơ giành được độc lập từ người Tây Ban Nha, dân Hoa Kỳ đến lập nghiệp tại Texas rất nhiều. Tướng Santa Anna lên nắm quyền xứ Mễ, ông hủy bỏ hiến pháp dân chủ, giải tán quốc hội và chính quyền các tiểu bang, trở nên một Tổng Thống độc tài của xứ Mễ Tây Cơ. Quân đội và hành pháp đều do một mình ông nắm giữ. Khoảng đầu năm 1835 vùng đất Texas vẫn còn nằm trong vòng cai trị của chính quyền Mễ Tây Cơ. Cuộc cách mạng giành độc lập thật sự khởi đầu chỉ vài tháng sau đó. Trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, Toàn quân Mễ trên đất Texas đã bị tiêu diệt hoặc đẩy lui về bên kia biên giới. Quân Texas chỉ là một đám quân ô hợp, vũ khí thô sơ, chưa có thống nhất chỉ huy và tiếp liệu. Chính quyền tạm thời vẫn chưa thành hình. Có một điều chúng ta phải cúi thấp đầu bái phục đó là lòng quyết chiến cho tới chết của đoàn quân Texas, tuyệt đối trung thành và vâng lời thượng cấp, không tranh giành địa vị hay quyền lợi, không tàn sát lẫn nhau, chỉ một lòng chống kẻ thù chung. Họ là những nông dân tự trang bị cho mình đạn dược, súng ống, lương thực, quần áo. Đó là truyền thống của cao bồi Texas còn lưu đến bây giờ. Chính quyền có thể cấm bài bạc, đĩ điếm nhưng cỡi ngựa mang súng là quyền tự do cá nhân đó.

Chuẩn bị phòng thủ

Alamo

Đầu tiên, quân kháng chiến biến khu truyền giáo Alamo, hiện thời là vùng đất thuộc thành phố San Antonio, thành một pháo đài rộng khoảng 3 mẫu (3 acres) với 1320 feet (400 m) chu vi phòng thủ. Tường bao bọc dầy khoảng 2.75 feet, cao khỏang 9 -12 feet. Thành này vốn lập ra chỉ để phòng ngừa quân da đỏ với vũ khí là cung tên và búa rìu mà thôi, không phải để phòng thủ chống lại đội quân có đại bác như quân của Tướng Santa Anna.

Dân quân đặt 19 khẩu đại bác (tịch thu được trước đây của quân Mễ) vòng theo bờ thành phòng thủ. Họ tin rằng có thể chống cự với một lực lượng đông gấp 10 lần. Lực lượng phòng thủ sơ khởi khoảng gần 100 người, lương thực chỉ đủ cung cấp cho 4 ngày, James C. Neill, vị chỉ huy tạm thời của thành, viết thư kêu cứu với chánh quyền lâm thời, nhưng chẳng ai giúp được gì. Neill bèn tiếp xúc với Sam Houston, một trong bốn vị Tổng chỉ huy Nghĩa quân để xin tiếp liệu, quần áo, và đạn dược. Tướng Houston tiên liệu rằng không thể nào giữ nổi thành nếu bi đại quân Mễ tấn công nên phái James Bowie dẫn theo 30 dân quân để phá hủy thành Alamo và di chuyển tất cả các khẩu đại bác đi. Không thể tìm được phương tiện chuyên chở đại bác, Neil và Bowie viết thơ thuyết phục chính quyền lâm thời rằng Alamo là cứ điểm quan trọng, đó là tiền đồn để ngăn ngừa quân Mễ. Tương lai của Texas đều phụ thuộc vào vùng đất này. Cuối thơ ông viết một câu rất hào hùng “Chúng tôi long trọng thề rằng thà chết ở chiến hào này chứ không giao thành cho địch !” Hai ông cũng xin cung cấp thêm người, tiền bạc, súng ống, đạn dược. Alamo được cung cấp thêm 30 người và một sỹ quan kỵ binh William B. Travis. Vài ngày sau, một số quân nhỏ tình nguyện cũng nhập bọn. Ngày 11 tháng 2 năm 1836 Neil dời thành để đi vận động nhân lực và tiếp liệu, giao quyền chỉ huy cho Travis và Bowie.

Tử chiến thành Alamo

Trong khi thành Alamo, gặp đủ thứ khó khăn về nhân lực và tiếp liệu thì đại quân Mễ đang tiến về hướng Alamo bằng đường bộ. Sáng sớm ngày 23 tháng 2 năm 1836 Santa Anna chỉ còn cách thị trấn 1.5 dặm. Thành Alamo được báo động, Dân chúng di tản khỏi thi trấn, nhưng gia đình của dân quân thì dời vào trong thành. Quân Mễ có khoảng 1500 người sẵn sàng tham chiến, Tướng Santa Anna ra lệnh đặt đại pháo phía đông và nam và cách thành khoảng 1000 feet (300 m), đồng thời kéo cao ngọn “cờ máu”, đó là hiệu lệnh tàn sát không tha. Alamo trả lời bằng một viên đạn đại bác lớn nhất trong thành !

Mỗi đêm, quân Mễ đều quấy rối bằng đại bác mục đích làm mệt mỏi đối phương. Trong tuần lễ đầu tiên vây hãm hơn 200 đạn rơi trong thành. Lúc đầu quân tử thủ cũng bắn trả lại, hầu hết dùng ngay trái đạn của địch quân để bắn trả, nhưng những ngày sau Travis ra lệnh không bắn trả để tiết kiệm thuốc súng.

Ngày 24 tháng 2 Bowie bị bệnh nặng nằm liệt giường, Travis nắm toàn quyền chỉ huy phòng thủ.

Sáng hôm sau, khoảng 300 quân Mễ, lội qua sông ẩn trong những túp lều gần chân thành để tấn công. Quân trong thành phái người ra thiêu hủy những túp lều đó đồng thời bắn trả lại rất gắt. Sau 2 giờ tấn công, quân Mễ bi thiệt hại nhẹ và rút lui.

Ngày 3 tháng 3 quân Mễ được bổ xung thêm 1000 ngươì nữa. Ngày 4 tháng 3 một số nhỏ dân quân tăng viện phá vòng vây từ ngoài lọt vào trong thành.

Ngày 5 tháng 3, Travis tập họp quân thủ thành một lần cuối, thông báo cho toàn quân, sự thật là thành sẽ không thể nào giữ nổi vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch, lại thiếu súng ống đạn dược, ngay cả lương thực, nếu ai muốn bỏ thành thì ông cho phép rời ngay, vẫn còn kịp. Mọi người đều đồng lòng tử thủ, chỉ trừ một người xin được ra đi.

10 giờ đêm ngày 5 tháng 3, đại pháo của quân Mễ ngưng bắn hoàn toàn. Tướng Santa Anna tiên đoán quân đồn trú sẽ rơi vào giấc ngủ say sau bao nhiêu đêm mệt mỏi vì tiếng đại bác. Nửa đêm quân Mễ lặng lẽ tiến gần về chân thành, 500 kỵ binh Mễ bao chung quanh thành ở vòng ngoài để bắt những lính đào ngũ của cả hai bên.

Khi còn cách chân thành vừa tầm súng, quân Mễ la to “Hoan Hô Santa Anna”. Tiếng la vang dội vào thành đánh thức quân trong thành vào vị trí chiến đấu, gia đình vợ con lính được đưa vào trong Nguyện Đường của thành để được an toàn hơn. Travis động viên dân quân bằng khẩu hiệu “Hỡi các chiến hữu, tụi Mễ đang tấn công chúng ta, Hãy tống chúng nó vào Địa Ngục, quyết không đầu hàng”.

Quân trong thành không có đủ đạn đại pháo nên tọng bất cứ mảnh sắt nào vào trong họng súng kể cả bản lề cửa, đinh, móng ngựa, những phát đại bác bắn ra như một phát đạn shotgun khổng lồ, vung vãi miểng ra khắp nơi làm thiệt hại không ít quân Mễ.

Travis bị tử trận ngay trong đợt tấn công đầu tiên. Mặc dầu không có người chỉ huy, quân Mễ vẫn không tiến vào được. Trong vòng 15 phút quân Mễ đã tấn công 3 đợt, mỗi đợt tấn công không lên được thành lại kéo ra để sắp xếp chuẩn bị cho đợt kế tiếp. Đợt tấn công cuối cùng quân Mễ dồn về phía bắc thành, nơi đó tường phòng thủ rất mỏng manh, dễ bị chọc thủng, Phía bắc rồi lần lượt phía nam và đông đều bị thất thủ. Quân Mễ tràn vào thành như nước vỡ bờ. Quân trong thành rút về Nguyện Đường và những căn nhà gạch trong thành, từ đó chĩa súng bắn ra ngoài. Một số nhỏ dân quân không rút kịp bèn ẩn nấp trong giao thông hào giữa tường thành và sông San Antonio River, từ nơi đây có thể bắn trả quân kỵ binh Mễ lội qua sông để tấn công mặt phía tây. Với quân số gần 500 kỵ binh tràn qua, tất cả đám dân quân dưới giao thông hào đều tử trận. Một số nhỏ dân quân khác thoát ra ngoài thành về phía đồng cỏ phía đông nhưng bị kỵ binh Mễ đuổi theo giết sạch. Nhóm dân quân cuối cùng rút vào cố thủ trong các căn nhà gạch và Nguyện Đường. Quân Mễ bắn đại bác phá xập tường rồi tràn vào bên trong. Bowie bị giết trên giường bịnh. Những người khác đều chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. 6:30 sáng, quân Mễ hoàn toàn làm chủ thành ALAMO, kiểm soát từng tử thi, ai còn cử động đều bị đâm chết.

Trong những dân quân tử trận ngoài hai thủ lãnh như Travis và Bowie, Davy Crockett thủ lãnh một đám nhỏ dân quân tình nguyện là nổi tiếng hơn cả. Ông là dân biểu liên bang đại diện của tiểu bang Tennessee, vì bất đồng chính kiến với Tổng Thống Andrew Jackson nên đầu quân vào Texas để phòng thủ thành ALAMO. Ông đã giết chết it nhất 16 lính Mễ bằng dao găm trước khi bị đâm chết, trong khi con dao của chính ông còn cắm sâu trong một xác lính Mễ.

Davy Crockett

Hollywood đã làm rất nhiều phim về Davy Crockett như một người hùng, người khai phá của Hoa Kỳ.

Các sử gia ước lượng khoảng 400 – 600 quân Mễ tử thương và dân quân bị giết khoảng 182-257 người.

Những người không phải là dân quân đều được thả cho đi, trong đó có cả một nô lệ da đen của thủ lãnh Travis và rất nhiều thân nhân của nghĩa quân. Santa Anna cho mỗi phụ nữ một tấm mền và 2 đồng tiền Mễ bằng bạc (silver pesos) làm lộ phí, đồng thời nhắn tin rằng không ai có thể đánh bại đoàn quân viễn chinh của ông!

TEXAS TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP

Trong khi thành ALAMO bị vây ngặt, các dân biểu họp đại hội và đồng thanh tuyên bố thành lập nước CỘNG HÒA TEXAS và chỉ định Sam Houston làm Tổng Tư Lệnh đoàn nghĩa quân khoảng 400 người ! Còn đang chờ đợi để tới giải cứu thành Alamo, họ vẫn chưa biết rằng thành

Alamo đã thất thủ. Chỉ vài giờ sau những người được thả ra từ Alamo đến báo tin, Tướng Sam Houston quyết định tất cả dân chúng, quân đội và chính phủ mới thành lập rút chạy về hướng đông. Mặc dầu thiệt hại nặng khi tấn công thành Alamo, quân Mễ vẫn đông hơn quân Texas

gấp 6 lần !

Santa Anna nghĩ rằng, sự tàn sát thành Alamo sẽ làm khiếp đảm đám quân ô hợp và nhỏ bé của Sam Houston và trước sau gì cũng tan rã. Nhưng ông đã lầm vì quá tự tin và kiêu ngạo.

Thành Alamo bị tàn sát làm nổi lên hào khí khắp nơi, thanh niên ào ạt đầu quân dưới quyền Sam Houston. Nếu Santa Anna không quá độc ác, chưa chắc Sam Houston đã có một số quân đông và lòng quyết chiến như vậy.

Trận chiến cuối cùng

Buổi chiều ngày 21 tháng 4 năm 1836, Sam Houston ra lệnh tấn công quân Mễ bên bờ sông San Jacinto, nằm ở phía đông của thành phố Houston bây giờ. Trận chiến chỉ kéo dài 18 phút ngắn ngủi, dân quân luôn hô to khẩu hiệu “trả thù cho thành Alamo !”. Quân Mễ thiệt hại khoảng 630 người và hơn 700 bị bắt làm tù binh, trong khi chỉ có 9 dân quân Texas bị tử trận

Cuối cùng Santa Anna bỏ chạy và bị bắt làm tù binh ngày hôm sau đó. Sam Houston tha mạng cho ông tướng kiêm Tổng Thống Mễ Tây Cơ và buộc ông ta ký hòa ước trả độc lập cho nước Cộng Hòa Texas. Sam Houston được bầu làm Tổng Thống đầu tiên. Sau khi Texas xin sát nhập vào hiệp chủng quốc Mỹ Châu (USA), Sam Houston được bàu làm Thượng Nghị sỹ, rồi Governor của TEXAS.

Cuộc đời của Sam Houston

 

Đó là một cuộc đời ngoại hạng, một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo. Ông sinh ra ở tiểu bang Virginia nhưng lớn lên ở tiểu bang Tennessee. Sống ở nông trại và chơi rất thân với đám người da đỏ Cherokee. Khi cuộc chiến giữa Hoa kỳ và Anh Quốc lần thứ nhì bắt đàu, ông đầu quân làm binh nhì. Leo dần đến chức Trung Úy rồi giải ngũ đi học luật và hành nghề luật sư. Đắc cử dân biểu liên bang 2 lần đại diện cho tiểu bang Tennessee, sau đó đắc cử Thống Đốc Tennessee. Chưa hết nhiệm kỳ ông xin từ chức về sống với bộ lạc da đỏ Cherokee sau đó dọn về Texas cùng với một số bạn bè thân thiết. Được cử làm đại diện cho vùng Nacogdoches trong đại hội bàu chính phủ lâm thời của nước Cộng Hòa Texas.

Trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ ông rất chống đối việc rút Texas ra khỏi liên bang Hoa Kỳ, nhưng phải chiều theo đa số. Trong cuộc nội chiến Bắc – Nam, chính phủ phía Bắc yêu cầu ông gia nhập Bắc quân nhưng ông từ chối vì không muốn bàn tay mình nhuốm máu người miền Nam. Cuối cùng ông về hưu và chết ở Huntsville, đó là một thành phố nhỏ phía bắc của Houston bây giờ.

Quý vị nào lái xe từ Dallas về Houston cũng nhìn thấy tượng một ông già chống gậy màu trắng khổng lồ bên xa lộ I-45, đó đích thực là ông. Cuộc đời của ông cho chúng ta rất nhiều bài học. Ông là người sãn sàng chiến đấu cho quyền lợi chung của dân tộc, hy sinh quyền lợi riêng tư của mình vì đại cuộc, không tham quyền cố vị, không hãm hại người không đồng chí hướng với mình, biết rút lui khỏi quyền lực đúng lúc. Hãy nhìn lại bao nhiêu lãnh tụ trên thế giới, lấy danh nghĩa vì quốc gia, vì dân tộc, tranh giành quyền lực và mãi mãi bám lấy nó cho đến chết hay bi kẻ khác lật đổ. Thế gian này được mấy người như ông Houston, nhất là vào thời mà sự tôn thờ chủ nghĩa cá nhân còn đang thịnh hành trên địa cầu ! Tôi xin ngả nón nghiêng đầu kính phục và thắp một nén hương lòng cho ngài.

Những ngày gần đây, bao nhiêu cuộc cách mạng đã sảy ra trên thế giới nào là cách mạng Nhung, cách mạng Hoa Hồng, cách mạng Hoa Tulip, Tất cả cùng chung một mục đích lật đổ chế độ độc tài hại dân hại nước. Những kẻ cầm quyền đó chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư của chính họ mà thôi! Bao giờ đến cách mạng hoa Nhài hay Hoa Sen nhỉ? Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Hoa Kỳ | Chức năng bình luận bị tắt ở HOUSTON CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM–Minh Đạo & Nguyễn Thạch Hãn

Đàn ông thắng ai cũng tốt chứ đừng cố chiến thắng vợ mình

Đàn ông thắng ai cũng tốt chứ đừng cố chiến thắng vợ mình

Đàn ông thắng ai cũng tốt chứ đừng cố chiến thắng vợ mình

Phụ nữ lấy chồng, thiệt thòi đủ đường, chồng có thấu?

Phụ nữ lấy chồng, trước tiên là một thân một mình rời xa cha mẹ, anh chị em, rời xa căn nhà thân yêu để đến với một thế giới hoàn toàn xa lạ, chỉ có một điểm tựa duy nhất, ấy là chồng. Cuộc sống hơn 20 năm, bỗng chốc bị thay đổi trong nháy mắt.

Ở đó, cô ấy phải cố gắng làm hài lòng người khác, phải miễn cưỡng gượng cười, miễn cưỡng vui vẻ. Từ một cô gái tự do vô ưu vô lo, được bố mẹ chiều chuộng như công chúa nay lại phải nhìn sắc mặt người khác mà sống.

Rồi đến ngày vượt cạn, cam tâm tình nguyện đón nhận những cơn đau mà những người đàn ông mãi mãi không thể tưởng tượng ra nổi để sinh cho chồng một đứa con máu mủ. Để rồi sau đó như một điều hiển nhiên, thân hình cô ấy tàn tạ, ngực chảy xệ, bụng, đùi rạn nứt, phát tướng, mặt mũi phờ phạc…

Từ cô gái xinh đẹp, thon thả bao chàng trai si mê, theo đuổi, vì ai mà cô ấy phải hy sinh tất cả, nhan sắc ấy, kiêu hãnh ấy. Sau sinh, cô ấy tình nguyện bỏ đam mê, mơ ước, bỏ luôn những cuộc vui bạn bè để làm một người mẹ, người vợ chu toàn.

Cô ấy đã từng tiêu xài không cần suy nghĩ, chuyện gì cũng chẳng cần bận tâm. Nhưng giờ đây không có thu nhập, đến chi tiêu cũng phải lo nghĩ, sợ chồng chê tiêu xài hoang phí…

Những nỗi khổ này, đàn ông đã từng đặt mình vào để hiểu, để thấm, để thương vợ hơn chưa?

Vậy nên, đàn ông thắng ai cũng được đừng cố chiến thắng vợ mình

Phụ nữ bước vào hôn nhân, sinh con đẻ cái là đã lựa chọn đánh đổi tự do, đánh đổi nhan sắc và từ bỏ những cuộc vui để chấp nhận đứng sau, làm cái bóng cho một người đàn ông, chăm lo, săn sóc anh ấy.

Phụ nữ vốn chẳng ai muốn hơn thua với chồng, thậm chí còn luôn tình nguyện nhận thua chồng mọi thứ, từ việc kiếm tiền, đến trước mặt bạn bè, người thân cũng đều nói tốt cho người đàn ông ấy.

Vợ là người vì yêu thương chồng mà hy sinh mọi thứ, đừng xem vợ là kẻ thù, là đối tượng để nhất định phải chiến thắng, hơn thua!

Với đàn ông, có hai điều nhất định phải làm được, một là trách nhiệm làm trụ cột tài chính, mỗi tháng đều đưa tiền cho vợ, hai là trách nhiệm với cảm xúc của vợ mình. Nên nhớ, vợ là người vì yêu thương mình mà hy sinh cả thanh xuân, nhan sắc, tự do, tuyệt đối không phải đối thủ. Đàn ông hơn thua với ai cũng được nhưng tuyệt đối đừng bao giờ tìm cách hơn thua với vợ.

Vậy nên, đàn ông đừng hèn hạ đến mức muốn hơn thua, đố kỵ với vợ mình. Có tranh cãi, đừng nhất định phải có người thắng người thua. Nhường cô ấy một câu, cô ấy sẽ tự khắc cảm kích mà thay đổi. Đàn ông đừng tự cho mình cái quyền là trụ cột gia đình mà bắt vợ răm rắp nghe lời, làm theo ý.

Ở ngoài xã hội, hơn thua với người đời là điều bình thường. Nhưng khi ở nhà, đàn ông mà muốn sống chết hơn thua với vợ thì chỉ là người đàn ông thất bại. Suy cho cùng đàn ông tài giỏi đến mức nào cũng nên nhường nhịn vợ một chút. Trong hôn nhân, không có gì là mất mặt, không có gì là đáng xấu hổ khi nhẫn nhịn người bạn đời. Người đàn ông biết cách lấy lòng và yêu chiều vợ mới là người khôn ngoan.

Hoàng Bách | coocxe.com

From: TU-PHUNG

Đăng tải tại GIA ĐÌNH | Chức năng bình luận bị tắt ở Đàn ông thắng ai cũng tốt chứ đừng cố chiến thắng vợ mình

Hãy sống lương thiện, trời xanh tự an bài – Michael Faraday.

Võ Ngọc Ánh

Hắn chỉ còn nhớ tên, “định luật Faraday”, còn nhân loại nhớ đến ông là nhà khoa học.

BIA MỘ CHỈ CẦN GHI TÊN THẾ LÀ ĐỦ. NGƯỜI CÓ NIỀM TIN TÔN GIÁO THÌ NÊN HIỂU, KHÔNG CẦN GHI CHỨC VỤ ĐẠO VÀ ĐỜI.

“Trên thế giới hiếm có người chỉ hoàn toàn tự học, không qua trường lớp đại học nào mà thành nhà bác học thiên tài như Michael Faraday.

Ông sinh ra tại nước Anh trong một gia đình thợ rèn nghèo vào năm 1791. Cha ốm, mẹ làm nghề giặt thuê, nhà có 4 anh em nheo nhóc. Cả nhà ông phải sống bằng tiền từ thiện nhiều phen khi khó khăn. Do đó ông phải bỏ học rất sớm. Khi xin nghỉ học, thày giáo của ông rất tiếc và động viên học trò: ”Hãy dũng cảm lên! Phải bỏ học giữa chừng như vậy thật tiếc, nhưng em hãy vững lòng tin và nhớ tới gương hiếu học của người xưa. Hãy bền chí.

13 tuổi, Faraday phải tới hiệu sách Ribo ở London làm nghề đóng sách. Cậu tranh thủ đọc sách ngay từ những cuốn sách mà mình phải đóng bìa. Cậu may mắn được ông chủ tiệm động viên hãy đọc sách nhiều hơn. Và cậu mê mải đọc nhiều cuốn sách khoa học, trong số đó cậu thích đọc nhất là cuốn Mạn đàm về hóa học và phần về điện trong Đại Anh Bách khoa toàn thư.

Tối về nhà, Faraday giải trí bằng việc tự mày mò làm các thí nghiệm theo sách hướng dẫn, dù phải bỏ vài xu từ thu nhập ít ỏi của mình mỗi tuần đầu tư cho các thí nghiệm này. Cậu còn chế tạo được máy móc dùng để học về điện. Ban đầu thì tôi dùng những lọ thủy tinh nhỏ, nhưng về sau thì cậu dùng những ống bằng đồng và những dụng cụ thí nghiệm về điện khác.

Khoa học đã làm cho Faraday cảm thấy hạnh phúc và say sưa vô cùng. Cậu bỏ công ra 2 năm liền ghi chép các bài giảng của các bậc thày khi đi tham gia các buổi thuyết trình khoa học do Hội Triết học ở Anh tổ chức.

Một ngày nọ, ông chủ hiệu sách tặng Faraday một tấm vé đi nghe thuyết trình tại Học viện Hoàng gia Anh của giáo sư Humphry Davy.

Nghe xong, cậu ghi chép lại nội dung diễn thuyết, bổ sung những ý tưởng và kiến giải của mình và đóng thành một cuốn sách cẩn thận rồi đem tặng giáo sư Humphry Davy cùng bức thư tự tiến cử mình vào tháng 10 năm 1812.

Là một quý tộc và là khoa học gia, Davy rất xúc động khi nhận món quà này. Ông viết thư trả lời cho Faraday với nhiều lời khen ngợi cậu và sẵn sàng giúp đỡ. Ông hào phóng nhận cậu bé bỏ học là thợ đóng sách đó vào làm trợ lý cho mình tại Học viện Hoàng Gia Anh. Khi đó Faraday đã là một thanh niên 22 tuổi.

Về sau này, giáo sư Davy cho rằng phát hiện quan trọng nhất của ông không hẳn là các công bố khoa học, mà chính là việc ông tìm ra Michael Faraday.

Faraday vào Học viện Hoàng gia chỉ làm phụ việc như rửa chai lọ, lau bàn ghế, quét dọn… nhưng không lâu sau, ông đã nắm được nhiều kỹ thuật và trở thành trợ thủ đắc lực của Davy. Ông được cùng giáo sư Davy đi nghiên cứu và học hỏi tại châu Âu trong 18 tháng. Đó là cơ hội vàng cho ông học hỏi và làm quen với các nhà khoa học bậc thày hồi đó như Marie Ampère, Count Alessandro Volta, Gay Lussac. . . và được tham quan nhiều phòng thí nghiệm lớn. Sau này, Ampère và Faraday đã có một tình bạn keo sơn. Trong hành trình này, ông lao vào học hỏi, ghi chép, tìm tòi.

Từ trợ lý làm việc vặt, Faraday sau đó thành Trợ thủ phòng thí nghiệm kiêm quản lý viên tiêu bản khoáng vật, kiêm tổng quản thiết bị và dụng cụ thí nghiệm cho giáo sư Davy.

Cứ như vậy, ông dần trở thành nhà khoa học. Ông hoàn tất luận văn khoa học đầu tiên năm 25 tuổi, vào năm 1816, dưới sự hướng dẫn của Davy. Sau này ông nhớ lại: “Đây là lần đầu tiên tôi thử bàn về vấn đề hóa học, và sự sợ hãi của tôi lớn hơn sự tự tin. Hơn nữa, cả hai tâm trạng đó lại lớn hơn cả tri thức của tôi. Lúc bấy giờ, tôi không thể tưởng tượng được là mình có thể viết một bài luận văn khoa học mà trong đó có nhiều sáng kiến như vậy”.

Từ sự thành công của bản luận văn đầu tiên, Faraday tiếp tục dấn thân vào con đường nghiên cứu với nhiều bản luận văn khác. Hai năm 26 và 27 tuổi, ông viết 17 luận văn về hóa học. Từ đó, ông trở thành nhà khoa học thực thụ bằng năng lực và sự chăm chỉ, cần cù tự học của mình.

Michael Faraday là nhà hóa học và vật lý học có đóng góp vô cùng to lớn cho lĩnh vực Điện từ học và Điện hóa học của nhân loại. Những khám phá của ông là về cảm ứng điện từ, động cơ điện, máy phát điện, máy biến áp, và các luật về điện phân…

33 tuổi, ông được bầu làm Hội viên Hội Khoa học Hoàng gia London và bắt đầu giảng dạy tại Học viện Hoàng gia Anh. Sau đó ông được phong giáo sư, được bầu là thành viên của Viện hàn lâm khoa học Paris.

Tuy nhiên Faraday là người vô cùng khiêm tốn. Năm 40 tuổi, sau khi ông phát hiện ra cảm ứng điện từ, ông được vinh dự mời giữ chức Chủ tịch Hội khoa học Hoàng gia Anh và ông đã lịch sự từ chối vì muốn chuyên tâm làm khoa học. Để thưởng cho ông, Nữ hoàng Victoria đã tặng ông ngôi nhà ở Hampton Court và phong chức Hầu tước, nhưng ông chỉ nhận nhà với sự biết ơn, và từ chối tước vị.

Ngoài thời gian dành cho khoa học, Faraday còn là người thầy xuất sắc. Ông có trách nhiệm cao và rất quan tâm đến phương pháp giảng dạy phải thực nghiệm để xây dựng hình tượng trực quan. Cho tới tận ngày nay, Học viện Hoàng gia Anh vẫn duy trì những nguyên tắc giảng dạy mà Faraday đã đề ra bằng kinh nghiệm và lòng tận tâm với công việc của ông.

Ông có một gia đình rất hạnh phúc và tràn đầy tình yêu thương. Và dù là một nhà khoa học, ông vẫn có đức Tin mãnh liệt vào tôn giáo. Ông đi nhà thờ cùng vợ hàng tuần với sự cần mẫn và sùng đạo. Năm 1860, khi đã già, Faraday được bầu làm trưởng lão của giáo hội, tham gia chủ trì nghi lễ và giảng đạo. Ông chính là bằng chứng sống cho thấy Khoa học và Tôn giáo đều là những vật báu của loài người.

Ngày 20/3/1862 là ngày cuối cùng đánh dấu công việc nghiên cứu của Michael Faraday. Trong cuốn sổ ghi kết quả nghiên cứu của ông có ghi rõ con số thí nghiệm cuối cùng của ông: 16.041.

5 năm sau, ông bị điếc và mất trí nhớ. Nhà bác học đã từ trần ngày 25/8/1867, thọ 76 tuổi tại nhà riêng ở Hampton Court, khi đang ngồi trên cái ghế bành thân quen. Ông được an táng tại công mộ High Gate. Trên bia chỉ khắc họ tên của ông mà thôi. Đó chính là ước nguyện của ông – được sống và chết như một người bình thường.

Ông đã cống hiến rất nhiều phát kiến khoa học vĩ đại cho nhân loại. Và cuộc đời của ông là cuộc đời sáng chói của một tấm gương miệt mài vì khoa học, giữ Đức Tin vào tôn giáo, sống tử tế với gia đình vợ con và bạn bè, khiêm cung và tận tụy.

Ông cũng cho thấy rằng nếu làm một người tốt, cần cù chịu khó và ham học hỏi thì có biết bao người sẵn sàng giúp đỡ mình. Từ những người như thày giáo của ông cho tới ông chủ hiệu sách nơi ông làm công và giáo sư Davy, những quý nhân đó đã phù trợ một cậu bé nghèo bỏ học đi làm công trở thành nhà khoa học vĩ đại của thế giới.

Hãy sống lương thiện, trời xanh tự an bài.

Nguyễn Thị Bích Hậu

Hình đồng 20 bảng của Anh hiện in hình M Faraday – Twitter.”

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Hãy sống lương thiện, trời xanh tự an bài – Michael Faraday.

Làm Sao Để sống Lâu, Tăng Tuổi Thọ?

Làm Sao Để sống Lâu, Tăng Tuổi Thọ?

Nguyen Thuong Vu

Thưa các anh chị,

Trong lịch sử nhân loại có rất nhiều anecdotes về các hoàng đế, nhất là các Hoàng Đế Trung Quốc, kể từ đời Tần Thủy Hoàng Đế – đã sai bao nhiều Ngự Y/Đại Phu /đi tìm kiếm các bí thuật để sống lâu.

Hồi tôi còn trẻ thì các hãng bào chế Pháp tung ra tin mật ong, nhất là mật ong chúa (Gelée Royale), rất công hiệu làm tăng tuổi già.

Tin này là “ba xạo”.

Huyền sử Trung Hoa, Cao Ly thì ca tụng các củ nhân sâm, các nấm linh chi, – ngàn năm – có sức , không những chữa được bệnh, mà còn tăng tuổi thọ nhiều lắm.

Trong ngành Y Khoa của chúng tôi thì ai cũng biết cái bí quyết quan trọng nhất để sống lâu là có cha, mẹ, ông bà sống lâu.

Genetics: If you have parents who live long, the chance that you will live long is very high.

Lẽ dĩ nhiên là không phải ai cũng có cha, mẹ, ông bà sống lâu cả.

Vậy thì phải làm thế nào để sống lâu?

Nếu không có yếu tố gia truyền/ genetic/ đó thì cái bí quyết quan trọng # 2 là ăn ít.

Chúng tôi gọi là Caloric Restriction.

Đừng ăn nhiều, đừng mang nhiều Calories vào trong thân thể,

Nhịn ăn.

Ăn là 1 trong tứ khoái trong phong tục Việt Nam và Trung Hoa.

Không phải ai cũng nhịn ăn được.

Trong lịch sử hiện đại, có 3 số người bị “bắt buộc” ăn rất ít trong 1 thời gian nhiều năm trời.

Các người Do Thái sống sót nhờ quân đội đồng minh giải phóng họ từ các trại giết người của Hitler Nazi trong Thế Chiến II.

Các người Nga bị tống đi sống tại các Gulag miền Siberia bởi đảng Cộng Sản Nga dưới thời Stalin.

Các sĩ quan Việt Nam bị sống nhiều năm trong các gulags “cải tạo” vùng Hoàng Liên Sơn, Sông Máu, Tây Ninh, Long Bình, do các lãnh đạo Cộng Sản “thắng cuộc” tại Hanoi bắt đi.

“ Đi 10 ngày mà thành 5 năm, 10 năm”.

Trong các group này, thì các người sống sót Do Thái được nghiên cứu nhiều nhất.

Các người Do Thái yếu đuối, tật nguyền thì chết ngay 2-3 năm sau khi được giải phóng.

Các người còn lại, nêu vẫn giử thói quen ăn ít, hoạt động mỗi ngày thì sống rất lâu, có người tới ngày hôm nay, sau 75 năm năm, được giải thoát, vẫn còn sống khỏe mạnh, tinh tường.

Tôi không được biết có cuộc nghiên cứu Y Học về các người Nga và Việt Nam tư Gulag về hay không?

Có lẽ là không, vì không thấy data trên Internet.

Tuy nhiên có nhiều nhận xét của các người thân thuộc nhận thấy, nếu các người từ các trại cải tạo về, vẫn dùng 1 formula về ăn ít – nhiều hơn, nhưng giống – cách ăn ít, thanh bạch ở trại cải tạo/gulag/ thì vấn sống lâu như các người Do Thái.

Trong các giải pháp khác thì người ta nhận thấy các người ăn, uống theo cách ăn miền Địa Trung Hải/ “Mediterranean” / thì sống lâu .

Cách ăn miền Địa Trung Hải/ “Mediterranean” gồm có nhiều hoa quả, các loại nut như Almond, walnut, peanut, ăn dầu Olive và trong các người Pháp sống lâu thì uống “vừa phải” mỗi ngày rượu vang đỏ (tốt hơn rượu vang trắng).

Cái này trong Y Học thì người ta gọi là «The French Paradox »

Gần đây Đại Học Mayo danh tiếng có khởi sự 1 chương trình dùng Quercetin và Resveratrol mổi ngày để xem có thăng tuổi thọ hay không.

Resveratrol là 1 chất lấy ra từ vỏ trái nho dùng làm rượu.

Một viên Resveratrol bán tại Costco có công hiệu ngang với uống 100 ly rượu vang đỏ.

Resveratrol do 2 giáo sư Harvard kiếm ra, rồi bán lại Patent cho 1 hãng Bào Chế, lãnh 800 million $ về ăn chơi. Hai bác sỉ tuổi chỉ hơn con gái tôi, cháu Hoài Trang, 10 -15 tuổi mà thôi.

Người ta nhận thấy khi cho các con chuột Resveratrol thì nó khỏe mạnh và sống lâu 50% hơn các con chuột khác.

Áp dụng vào người thì sẽ sống vào khoảng 120-130 tuổi.

Xin nhắc lại là đây là kết quả trên chuột, không dám chắc là sẽ áp dụng được trên người (human application)

Quercetin là 1 chất được tìm thấy trên các cây cỏ, nó có chất anti-oxidant rất mạnh. Nhiều năm nay người ta dùng Quercetin như 1 cách điều trị “phụ” cho các bệnh nhân dùng chemotherapy chữa Cancer, cách điều trị này do Memorial Sloan Kettering Cancer Center khởi xướng, nhưng được các đại học khác như Harvard, Mayo, MD Anderson, Stanford… cũng áp dụng

Mayo university thấy các bệnh nhân bị Ung Thư, dùng Quercetin, thì sống lâu hơn các bệnh nhân khác đáng kể, và trong 3 năm nay, Mayo dùng Quercetin và Resveratrol để xem có tăng thọ các người không bị Ung Thư hay không?

Trong 20 năm qua, tôi uống Resveratrol mỗi ngày, và 5 năm nay, tôi uống thêm Quercetin mỗi ngày.

Tôi có uống thêm Vitamine D3 nữa.

Uống như vậy có công hiệu hay không ?

Toi không biết.

Tuy nhiên tôi trên 80 lâu nay rồi, mỗi ngày vẫn đi bộ 4-5 km, vẫn thỉnh thoảng leo núi, leo đồi thì mỗi ngày,

Mổi ngày vẫn uống 1-2 ly rượu vang, ca hát với bạn hữu thường xuyên, đọc sách, nghe nhạc mỗi ngày, đi du lịch thường xuyên (2 ngày nữa tôi sẽ dời khỏi Hoa Kỳ trong 1 tháng bụi đời, giang hồ du lịch vùng Cận Đông và sailing vùng Địa Trung Hải).

Cả đời tôi chưa bao giờ phải nhập viên cả (nhập viện các người khác thì rất nhiều ☺☺☺)

Hai hàm răng chưa bị đau bao giờ cả, răng bố mẹ cho từ hồi 5-6 tuổi vẫn còn giữ nguyên vẹn, chưa rụng hay thay răng nào cả.

Một vài dòng viết cho những người bạn thân tình, nhất là cho các đàn anh, đàn chị, của tôi tại Hoa Kỳ, Canada hay Pháp Quốc, mà lâu tôi không được gặp, với ước mong mấy dòng này nếu không giúp đỡ gì các anh chị, thì ít nhất sẽ mang lại 1 trận cười cho các anh chị, ôm bụng cười thằng đồng nghiệp đàn em, già rồi mà còn nhiễu sự.

Rất thân mến

Nguyen Thuong Vu

From: Phi Phượng Nguyễn

Đăng tải tại SỨC KHOẺ | Chức năng bình luận bị tắt ở Làm Sao Để sống Lâu, Tăng Tuổi Thọ?

Trần trọng Khiêm: Người Việt đầu tiên đến nước Mỹ.

Trần trọng Khiêm

Những người Việt có số phận kỳ lạ: Người Việt đầu tiên đến nước Mỹ.

Tác gỉa :Hà Đình Nguyên

Hiện ở P.Long Bình, Q.9, TP.HCM có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm. Có lẽ ít ai biết đây chính là người đã đặt chân đến nước Mỹ cách đây hơn 170 năm.

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1842 (năm Minh Mạng thứ 23) ở làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao (Phú Thọ) có một chàng thanh niên 21 tuổi tên Trần Trọng Khiêm phạm trọng án. Số là người vợ mới cưới của anh bị tên xã trưởng ép bức, làm nhục rồi sát hại. Căm giận, Trần Trọng Khiêm quyết báo thù. Sau khi tương kế tựu kế giết chết tên vô lại, anh trốn xuống Phố Hiến (Hưng Yên) rồi xin vào làm việc trên một chiếc tàu buôn ngoại quốc, khởi đầu cho những chuyến phiêu lưu khắp năm châu bốn biển.

Suốt 12 năm (1842 – 1854), Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Á sang Âu: Hồng Kông, Anh, Hà Lan, Pháp… Nhờ trí thông minh, đi đến đâu anh cũng cố gắng học tiếng địa phương. Năm 1849, anh đặt chân đến thành phố New Orleans (Mỹ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

Sau khi đến Mỹ, Trần Trọng Khiêm bấy giờ 28 tuổi, cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Viễn Tây. Trong gần 2 năm, Lê Kim sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Anh đã tham gia đoàn đào vàng do một người Canada tên Mark khởi xướng. Để tham gia đoàn này, tất cả thành viên phải góp tiền mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Lê Kim góp 200 USD vào thời điểm năm 1849. Do biết nhiều ngoại ngữ, anh được ủy nhiệm làm liên lạc cho thủ lĩnh Mark và làm phiên dịch cho những thành viên trong đoàn gồm tiếng Hà Lan, Trung, Pháp… (trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (nhà xuất bản Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Canada, Anh, Pháp, Hà Lan, Mexico…). Anh nói với mọi người rằng anh còn biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt nhưng không cần dùng đến. Lê Kim cũng nói anh không phải người Hoa nhưng đất nước của anh nằm cạnh nước Tàu.

Lê Kim và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua dãy núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là Oh! Suzannah (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc…). Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng, nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm – họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ. Sốt rét và rắn độc cũng đã cướp đi quá nửa số thành viên trong đoàn.

Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người tháo vát, xông xáo lại biết nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được làm phóng viên tự do cho nhiều tờ báo như: Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

Lê Kim hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng làm việc ở những mỏ khai thác vàng là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Nhiều bài báo của anh đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A.Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, anh đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, tướng Sutter bị bệnh tâm thần và sống lang thang ở các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không ai đoái hoài đến.

Khi gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 USD và chê trách thái độ của người dân San Francisco cũng như nước Mỹ đối với người khai phá ra vùng đất San Francisco.

Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng anh cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

“Người Minh Hương” cầm quân chống Pháp

Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương (người gốc Hoa, không chịu thần phục nhà Thanh nên di dân sang Việt Nam – NV) đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai.

Trong bức thư bằng chữ Nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Mỹ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường.

Chưa đầy 10 năm sau khi Pháp xâm lược Việt Nam, Lê Kim từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười, trở thành một vị tướng giỏi. Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De La Grandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:

“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh.

Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.

(Dựa theo tài liệu của học giả Nguyễn Hiến Lê 1912 – 1984).

From: TRUONG LE

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Trần trọng Khiêm: Người Việt đầu tiên đến nước Mỹ.

Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?- Cha Vương

Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?

Dù có đau buồn mệt mỏi đến đâu đi nữa, Chúa thấu hiểu lòng bạn. Chúc một ngày bình an trong tình yêu của Thiên Chúa và nhớ cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

CN: 14/08/2022

TIN MỪNG: Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. (Lc 12:51)

SUY NIỆM: Bạn biết không? Có một số người hay dùng câu Kinh Thánh này để biện hộ cho cái nhìn cá nhân hạn hẹp về Tin Mừng của họ thay vì coi đây là một bài học Chúa dạy bạn phải đấu tranh cho công lý, hoà bình và sự thật vì Chúa là công lý, là bình an và là sự thật. Thảm nào tục ngữ ta có câu: “Sự thật thì mất lòng”. Có khi nào bạn tuyên bố một sự thật nào đó làm cho mọi người chung quanh bạn sửng sốt nhẩn người ra, rồi họ quay qua quay lại xầm xì với nhau không? Hay là có lần nào bạn cố tình che dấu một sự thật nào đó để làm cho bầu không khí trong gia đình, trong cộng đồng được vui vẻ bình an không? Đây là thứ bình an giả tạo không dựa trên sự thật nhưng dựa trên sự sợ sệt—sợ mất lòng, sợ mất đi thể diện, thể gia, mất đi những quyền lợi riêng của mình. Thứ bình an này là thành quả của việc thoả thuận ngầm với những cái xấu không thật, cái riêng tư, cái sai trái vời Tin Mừng của Chúa. Chúa Giêsu, Ngài không bao giờ sợ mất lòng người đời mà chỉ sợ mất đi sự thật, vì vậy, Lời của Ngài luôn là lời chân thật và bền vững dù Ngài phải trả những giá thật đắt đỏi. Là một người theo Chúa, bạn cũng phải trả một cái giá như vậy. Xin Chúa ban cho bạn ơn can đảm để tranh đấu cho công lý, hòa bình và sự thật trong môi trường sống của bạn.

LẮNG NGHE: Ai không đi với tôi, là chống lại tôi; và ai không cùng tôi thu góp, là phân tán. (Mt 12:30)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống của con, xin ban thêm lòng tin và sức mạnh cho con để con mãi can đảm và trung thành bước theo Chúa trong sự thật và sự thiện. Ước gì mọi điều con suy nghĩ, mọi lời con thốt ra và mọi hành động con làm hôm nay đều được Lời Chúa hướng dẫn để con mãi sống trong bình an và hạnh phúc của Chúa.

THỰC HÀNH: Mình biết có những sự thật mà bạn không thể nào nói ra được với người đời, những đối với lòng thương xót của Chúa thì lại khác, mời bạn hãy chạy đến bí tích hoà giải để xin Chúa tha thứ cho những thấp hèn yếu đuối của mình và đón nhận ơn tha thứ của Chúa nhé.

From: Đỗ Dzũng

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao?- Cha Vương

Vì sao cái ác hễ chiến thắng nơi đâu thì tồn tại mãi ở đó?

Vì sao cái ác hễ chiến thắng nơi đâu thì tồn tại mãi ở đó?

August 13, 2022

Vann Phan/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Sự thể quân đội của ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, sau khi chiếm đoạt rồi sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine vào Liên Bang Nga hồi năm 2014 mà thế giới đành bất lực đứng ngó, đã dẫn đến việc các lực lượng Nga ngày nay đang ngang nhiên giày xéo và hủy diệt từng phần đất nước Ukraine, bất chấp Hoa Kỳ, Liên Hiệp Châu Âu (EU) cùng với “loài người tiến bộ” trên thế giới lên tiếng phản ứng.

Người Duy Ngô Nhĩ tại Kashgar, khu tự trị Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Trung Quốc. Nhóm dân tộc Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi phải đối mặt với những hạn chế về văn hóa và tôn giáo của chính phủ Trung Quốc. (Hình minh họa: Kevin Frayer/Getty Images)

Trong tình thế này, nếu một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh Nga-Ukraine không đạt được thì hậu quả trông thấy sẽ là, cuối cùng, con gấu Nga sẽ nuốt chửng con cừu Ukraine dựa trên cán cân lực lượng quá chênh lệch giữa siêu cường quân sự Nga và quốc gia đang phát triển Ukraine, kẻ tuy thuộc dòng máu anh hùng cái thế nhưng lực lượng quân sự lại yếu kém hơn nhiều so với đối thủ.

Rồi chuyện nước Cộng Hòa Ukraine bị vĩnh viễn xóa sổ trên bản đồ thế giới, cũng giống như trường hợp của Tây Tạng, miền Nam Việt Nam – và kế tiếp có thể là Đài Loan – sẽ không còn là viễn tượng nữa mà sẽ trở thành sự thật. Và điều này có nghĩa là nếu, một lần nữa, phe Thiện lại để mất Ukraine vào tay phe Ác thì những quốc gia bị nước khác thôn tính đó sẽ chẳng bao giờ có cơ hội được phục hồi sự sống.

Những chiến thắng liên tiếp của phe Ác trước phe Thiện

Lịch sử nhân loại từ sau Thế Chiến Thứ Hai cho đến nay đầy dẫy những chuyện cái Ác hễ đã chiến thắng ở đâu thì cứ tồn tại mãi nơi đó.

Tại Châu Á, các lực lượng Cộng Sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo đã đánh chiếm lục địa Trung Hoa khỏi tay chính quyền Trung Hoa Dân Quốc dưới sự lãnh đạo của ông Tưởng Giới Thạch, tổng thống, từ năm 1949 tới nay. Thấy thế giới chẳng có phản ứng gì nhằm ngăn cản hoặc trừng phạt chế độ độc tài, đảng trị của Cộng Sản Trung Quốc trong hành động đặt ách cai trị lên dân chúng tại lục địa Trung Hoa, Cộng Sản Trung Quốc bèn đem quân xâm chiếm luôn vùng Tây Tạng tự trị hồi năm 1950 và sáp nhập phần đất này vào Hoa Lục.

Bắc Kinh hiện cũng đang cai trị vùng lãnh thổ Tân Cương (Xinjiang), với đa số dân chúng theo Hồi Giáo, dưới bàn tay sắt, và đang thi hành chính sách đồng hóa tàn bạo, nếu không nói là diệt chủng, để trừ khử cho bằng hết người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) bản xứ. Hồi năm 1989, Cộng Sản Trung Quốc cũng đã dập tắt một cách tàn nhẫn các cuộc biểu tình đòi tự do, dân chủ của giới trẻ tại Hoa Lục, khiến cả ngàn sinh viên, học sinh tham gia biểu tình bị tàn sát dưới mắt xích của xe tăng Giải Phóng Quân Trung Hoa.

Chế độ Cộng Sản tại Bắc Hàn, do Trung Quốc thiết lập từ thời Chiến Tranh Triều Tiên (1950-1953) đến nay, dù là một chế độ độc tài, gia đình trị, đảng trị, tàn bạo, và không hề tôn trọng nhân quyền, vẫn tồn tại từ ngày đó đến giờ. Sự thật thì Bắc Hàn đang ngày càng hùng mạnh hơn về quân sự nhờ thủ đắc thêm võ khí nguyên tử, để trở thành mối hiểm nguy trực tiếp cho Nam Hàn, Nhật Bản và ngay cả cho Hoa Kỳ.

Chế độ Cộng Sản tại Cuba, chiếm quyền trên đảo quốc này từ năm 1959 cho tới nay, vẫn còn là một chế độ độc tài, độc đảng và vi phạm nhân quyền trầm trọng mà thế giới vẫn cứ phải để yên. Chế độ Cộng Sản Việt Nam, nắm quyền cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam sau khi đánh bại đối thủ là nước Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1975 đến nay, vẫn là một chế độ độc tài, đảng trị, hà khắc và đầy tham nhũng, khiến dân chúng Việt Nam chán ghét tới mức rủ nhau bỏ nước ra đi qua các cuộc vượt biển tìm tự do trong suốt hai thập niên 1970 và 1980.

Chế độ Hồi Giáo chính thống tại Iran, nắm quyền từ năm 1979 cho tới nay, cũng như chế độ xã hội chủ nghĩa của Hugo Chávez và Nicolás Maduro, cướp chính quyền từ 1999 tới nay, vẫn còn là những chế độ phi dân chủ và đàn áp nhân quyền bị dân chúng thù ghét mà thế giới đành bó tay và không có cách nào lật đổ được. Mới đây, nước Cộng Hòa Hồi Giáo Iran đã ra mặt ủng hộ ông Putin trong cuộc xâm lăng tàn bạo và diệt chủng của quân Nga tại Ukraine. Chế độ độc tài, tàn bạo của Bashar al-Assad tại Syria, được nước Nga của ông Putin hà hơi, tiếp sức, vẫn sống mãi với thời gian để cỡi đầu, cỡi cổ dân chúng Syria từ khi đảng Ba’ath lên cầm quyền hồi năm 2000 cho tới nay.

Islami Oikya Jote, một đảng chính trị Hồi Giáo ở Dhaka, Bangladesh, trong cuộc biểu tình vào ngày 4 Tháng Sáu, 2021, để phản đối Trung Quốc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ và tưởng niệm 32 năm vụ thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn, Trung Quốc. (Hình minh họa: Munir Uz Zaman/AFP via Getty Images)

Năm 2008, sáu năm trước khi nước Nga của ông Putin cướp lấy bán đảo Crimea khỏi tay Ukraine và hơn một thập niên trước khi nước Nga khởi sự cuộc chiến tranh diệt chủng và thôn tính nước Ukraine hiện nay, Moscow đã xúi giục người dân gốc Nga tại hai tỉnh Abkhazia và South Ossetia nổi lên tách ra khỏi nước Georgia và xin sáp nhập vào Liên Bang Nga. Các chế độ độc tài, đảng trị tại những quốc gia và vùng đất nói trên vẫ tồn tại mãi với thời gian sau khi giành được quyền cai trị.

Vì sao cái Ác hễ đã chiến thắng nơi đâu thì cứ tồn tại mãi ở đó?

Một khi đã bại trận và bị phe Ác thôn tính rồi, các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc phe Thiện chẳng bao giờ có khả năng khôi phục lại sự tồn tại hoặc vị thế cũ của mình trên trường quốc tế, cho dẫu phần còn lại của thế giới, được coi như thuộc phe Thiện, có đứng ngoài giậm chân thình thịch và la hét ỏm tỏi đến cách mấy đi nữa.

Các sự kiện sau đây có thể giải thích sự trường tồn của cái Ác trên những vùng đất và lãnh thổ mà họ từng chiếm được, đặc biệt là trong thế giới ngày nay:

1-Chủ nghĩa vật chất (materialism) ngự trị thế gian: Từ sau Thế Chiến Thứ Hai, với sự phát triển vượt bực của khoa học và kỹ thuật cùng với sự giàu có gia tăng của con người và của những quốc gia, chủ nghĩa vật chất đã phát triển song hành và đang tìm cách thay thế hai chủ nghĩa Tư Bản và Cộng Sản từng đối đầu nhau quyết liệt. Dựa trên nguyên tắc bất hủ “Cái gì lúc đầu không mua được bằng tiền thì cuối cùng cũng sẽ mua được bằng rất nhiều tiền,” chủ nghĩa vật chất liền xông lên ngự trị khắp thế gian sau khi đã thay thế hầu hết các giá trị tâm linh và tinh thần của con người, từ tôn giáo cho tới đức tính quân tử và tinh thần hiệp sĩ mà mãi cho tới hạ bán thế kỷ trước vẫn còn thấy tồn tại đó đây. Chính cái chủ nghĩa đầy tính thực tiễn này đang hỗ trợ và củng cố hết sức đắc lực cho chiếc ngai vàng của phe Ác, đồng thời hà hơi, tiếp sức cho cái Ác ngự trị lâu dài trên cõi thế gian ngày càng gian manh và gian ác này.

2-Thế giới đang thiếu vắng những tay “sen đầm quốc tế” cỡ siêu cường Mỹ từ sau Thế Chiến Thứ Hai (1945) cho đến lúc cuộc Chiến Tranh Iraq kết thúc (2011). Lẽ ra, sau khi Hoa Kỳ thôi không chịu đứng ra làm tay “sen đầm quốc tế” nữa, vai trò này phải do một tổ chức quốc tế lớn rộng như Liên Hiệp Quốc đảm đương, nhưng vì tổ chức quốc tế này chỉ có tính cách hữu danh, vô thực nên nó không thể can thiệp để chận đứng những cuộc xâm lược của nước này chống nước kia, mà cụ thể là cuộc xâm lược của quân Nga vào đất nước Ukraine đang diễn tiến hiện nay.

3-Chủ nghĩa thỏa hiệp (compromise) làm suy yếu sức chiến đấu chống cái Ác: Chủ nghĩa thỏa hiệp, qua các thể thức như “cho đi, lấy lại” (“give and take”), “dung hòa” (“finding a middle ground”, và “đánh đổi” (“trade off”), làm các cá nhân cũng như các quốc gia không chịu kiên nhẫn theo đuổi cuộc chiến đấu chống cái Ác cho đến khi đạt được chiến thắng sau cùng, dẫn đến tình trạng cái Ác cứ tồn tại mãi.

4-Con người ngày càng ham sống, sợ chết: Lúc con người ngày càng giàu có và ngày càng ham hưởng thụ các khoái lạc vật chất như hiện nay thì họ lại càng ham sống (để hưởng thụ mãi) và sợ chết (do chết đi thì uổng quá chừng), dẫn đến tình trạng thiếu các tay Kinh Kha dám liều mạng sống để lao vào chỗ chết mà diệt trừ cái Ác.

5-Tinh thần “quân tử” và “hiệp sĩ” xưa nay không còn nữa: Muốn diệt cái Ác để giúp đời và giúp người, cần phải có tinh thần của người “quân tử” thời xưa và các “hiệp sĩ” thời Trung Cổ mới thúc giục con người chấp nhận hy sinh, gian khổ để cứu người và giúp đời trên bước đường trừ gian, diệt bạo.

6-Đường lối lãnh đạo tập thể cản trở hành đông quyết liệt: Thế giới ngày nay hầu hết theo đường lối lãnh đạo tập thể qua các chính quyền hoặc tự do, dân chủ hoặc độc tài, đảng trị, dẫn đến tình trạng thiếu các hành động quyết liệt để trừ gian, diệt bạo, tức là loại trừ cái Ác ra khỏi cộng đồng nhân loại, điều mà các vua chúa và các vị tướng quân thuở xưa vẫn một mình hoàn thành sứ mạng. Giới lãnh đạo tập thể thường hay bị trói tay trong tình huống cần phải hành động nhanh chóng và dứt khoát để loại trừ kẻ Ác.

7-Tâm lý “liệng chuột sợ bể đồ” hoặc “chén kiểu ngại đổi chén sành”: Chính tâm lý này của một số dân tộc đang giàu sang, phú quý và có mức sống cao đã khiến cho họ ngần ngại phải lao đầu vào những cuộc chiến tranh với các đối thủ so ra kém phần giàu sang hơn họ. Ngược lại, tâm lý “cùi không sợ lở” tại những nước chỉ mới đủ sức phát triển về quân sự chứ chưa thể trở nên giàu có về kinh tế (cỡ Bắc Hàn) dễ khiến cho họ liều lĩnh hơn, cương quyết hơn và hiếu chiến hơn trong nỗ lực gây hấn với các nước khác hoặc làm điều ác.

8-Mô thức “toàn cầu hóa kinh tế” hiện nay đã ràng buộc đời sống vật chất và mức phồn thịnh của nước này vào nước kia: Việc “toàn cầu hóa kinh tế” dẫn đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong các nỗ lực trừng phạt kinh tế, chứ đừng nói gì đến đánh nhau, của phe Thiện chống phe Ác, rồi lại vô tình giúp giữ nguyên hiện trạng Ác thắng Thiện khắp nơi. Công cuộc trả đũa và trừng phạt các chế độ tàn ác chuyên vi phạm nhân quyền hoặc xâm lấn các nước khác, trong đó có cuộc cấm vận của thế giới chống Nga hiện nay và nỗ lực trừng phạt kinh tế Trung Quốc của Hoa Kỳ trước đây, xem ra chẳng hề dễ dàng gì.

9-Sự thiếu kiên nhẫn của các quốc gia thuộc phe Thiện trong nỗ lực cô lập hóa nhằm trừng phạt các quốc gia thuộc phe Ác: Tình trạng này lại có tác dụng “nối giáo cho giặc” khi, rốt cuộc, lại giúp các nước thuộc phe Ác củng cố thêm vị thế của họ và kéo dài tuổi thọ của các hành vi xâm lược hoặc vi phạm nhân quyền. Khi Hoa Lục mới được phe Cộng Sản “giải phóng,” ngoại trừ Liên Xô và các chư hầu của họ, hầu như không có quốc gia Tây phương nào ngoài Anh công nhận nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Trạch Đông cả. Ấy thế mà ngày nay, tuyệt đại đa số các nước trên thế giới đều hớn hở và lấy làm vinh dự được thiết lập bang giao với Trung Quốc.

Cảnh một tòa nhà tại thị trấn Vasylkiv gần Kiev bị hỏa tiễn tàn phá trong cuộc tấn công của quân Nga vào Ukraine ngày 27 Tháng Hai, 2022. (Hình minh họa: Dimitar Dilkoff/AFP via Getty Images)

Sự thể này dẫn tới tình trạng đối thủ của cường quốc khổng lồ này, là Đài Loan, tuy được thế giới mặc nhiên công nhận là thuộc phe Thiện, ngày càng bị các nước trên thế giới về hùa với các nước khác mà cắt đứt quan hệ ngoại giao đang có đặng có thể công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Mỉa mai thay, chính siêu cường Hoa Kỳ, từng là kẻ tử thù của Mao Trạch Đông thời chiến tranh Quốc-Cộng trước và sau Thế Chiến Thứ Hai, đã gục ngã trước sức cám dỗ mê hồn của thị trường béo bở cả tỷ người tại Hoa Lục mà tham đó bỏ đăng, phản bội tình đồng minh thân thiết và lâu đời với Đài Loan mà đành đoạn đi công nhận Cộng Sản Trung Quốc.

Thay lời kết

Nghĩ cho cùng, chính lòng tham lam cộng với tâm lý nhà giàu ham sống, sợ chết của của con người thời đại đã dung dưỡng cho các chế độ tàn ác trên thế giới tồn tại qua thời gian, khác hẳn với ngày xưa, khi các cường quốc bạo ngược, cỡ Quốc Xã Đức, đã bị thế giới xúm lại đánh cho tan tác rồi diệt vong.

Phải chăng, trong các giai đoạn Bắc thuộc thời phong kiến Trung Quốc, và Pháp thuộc vào các thế kỷ 19 và 20, vì dân tộc Việt Nam còn nghèo và kém mở mang nên đã có thể sản sinh được nhiều vị anh hùng dân tộc biết hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình để giải phóng đất nước Việt Nam khỏi ách nô lệ ngoại bang? Ngược lại, ngày nay, khi đời sống kinh tế của con người được cải thiện hơn và tâm lý ham sống, sợ chết ngày càng gia tăng, người ta chờ mãi vẫn chưa thấy vị anh hùng nào nổi lên giải phóng dân tộc mình khỏi xích xiềng Cộng Sản. (Vann Phan) [qd]

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Vì sao cái ác hễ chiến thắng nơi đâu thì tồn tại mãi ở đó?

ĐẦY LỬA-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

ĐẦY LỬA

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy đã đến ném lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên!”.

Vince Lombardi nói, “Nếu bạn không đầy lửa nhiệt huyết, bạn sẽ chết cháy vì nó!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Nếu bạn không đầy lửa nhiệt huyết, bạn sẽ chết cháy vì nó!”. Ý tưởng của Vince Lombardi được gặp lại qua Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay, khi ngôn từ của cả ba bài đọc thật mạnh mẽ, nếu không nói là ‘dữ dội’. Từ câu chuyện của Giêrêmia đến thư Do Thái, và nhất là những lời ‘đầy lửa’ của Chúa Giêsu trong Tin Mừng, “Thầy đã đến ném lửa xuống thế gian và Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên!”.

Bài đọc thứ nhất kể chuyện Giêrêmia, người của Thiên Chúa, bị dân mình ném xuống giếng; họ muốn chôn sống ông như đã rắp tâm giết ông bao bận, chỉ vì ông ‘đầy lửa’. Ông nóng lòng mang sứ điệp của Chúa, đến nói với dân tộc của ông rằng, ngày lưu đày không còn xa nếu họ không quay về với Ngài; chính bởi ngọn lửa ấy mà ông chấp nhận sự tẩy chay của đồng hương chứ nhất định không để con tim mình bị dao động. Cũng với lửa nhiệt thành này, tác giả thư Do Thái viết, “Hãy nhìn thẳng vào Đức Giêsu, Đấng đã liều thân chịu cuộc tấn công dữ dội của kẻ tội lỗi vào chính con người Ngài”; “Hãy cương quyết xông vào chiến trận đang chờ đợi ta!”.

Với bài Tin Mừng, lửa Chúa Giêsu nói đến là lửa Thánh Thần, Đấng đang sống và hoạt động trong chúng ta từ ngày chúng ta lãnh nhận phép Thánh Tẩy. Lửa ấy là một sức mạnh sáng tạo thanh tẩy và đổi mới, đốt cháy mọi khốn khổ, ích kỷ, tội lỗi; biến đổi chúng ta từ bên trong; tái tạo con tim chúng ta để chúng ta có khả năng yêu thương. Chúa Giêsu muốn Chúa Thánh Thần bùng cháy trong lòng chúng ta, vì chỉ từ bên trong mà ngọn lửa tình yêu của Thiên Chúa mới có thể toả lan và thăng tiến Vương Quốc Nước Trời. Lửa không đến từ cái đầu, nó đến từ tấm lòng; đó là lý do tại sao Chúa Giêsu muốn lửa đi vào trái tim mỗi người. Vậy nếu chúng ta hoàn toàn mở lòng đón nhận tác động của lửa Thánh Thần, Ngài sẽ ban cho chúng ta sự dạn dĩ và lòng nhiệt th
ành để rao giảng cho mọi người biết Chúa Kitô và sứ điệp an ủi của Ngài, một sứ điệp của lòng thương xót và sự cứu rỗi; để dù đi trên biển cả, chúng ta cũng không sợ hãi.

Chính vì ngọn lửa Thánh Thần ấy mà Chúa Giêsu quả quyết, “Thầy đến không đem bình an, nhưng để đem sự chia rẽ”. Điều này hoàn toàn đúng với nhận định của người đương thời về Giêrêmia, “Thực sự, tên này không tìm hoà bình cho dân, mà chỉ tìm tai hoạ”. Vậy phải chăng các ngôn sứ của Thiên Chúa cũng như chính Con của Ngài đến trần gian chỉ để gây tai hoạ? Đúng thế, bình an Chúa Giêsu mang đến có cái giá của nó; đó là một bình an không thoả hiệp với sự dễ dãi của thế gian. Chúa Giêsu muốn nói rằng, thông điệp và sứ mệnh của Ngài thì quan trọng hơn bất kỳ một mối ràng buộc huyết tộc nào. Vì thế, khi chọn con đường Giêsu, chúng ta chọn một điều tốt, một điều đúng đắn, chứ không chọn chia rẽ. Cần dựa vào ân sủng của Ngài, chúng ta duy trì lòng nhân từ, sự khiêm nhường và vui vẻ mọi lúc, mọi nơi, với mọi người. Đó là dấu hiệu chắc chắn của việc được Chúa ban phúc lành nơi một tâm hồn ‘đầy lửa’.

Anh Chị em,

“Thầy mong muốn biết bao cho lửa ấy cháy lên!”. Chúng ta đã lãnh nhận lửa bình an, lửa công chính, lửa tình yêu, lửa cứu độ trong ngày lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Chúa Giêsu ước mong lửa ấy toả lan khắp cả địa cầu; nhưng trước hết, nó phải bùng cháy trong tâm hồn mỗi người. Nói cách khác, nó phải tiêu huỷ tất cả những gì là thế tục trong lòng chúng ta. Chúa Thánh Thần, lò lửa kính mến phừng phừng sẽ dạy chúng ta yêu mến Chúa và yêu mến anh chị em mình. Chúng ta phải mang lấy ngọn lửa nhiệt thành ấy để mạnh dạn rao giảng Chúa Kitô; bằng không, chúng sẽ đốt cháy chúng ta cho đến chết bởi ganh ghét, hiềm khích và hận thù.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để trái tim của con ra nguội lạnh; một xin đốt cháy nó bằng tình yêu con dành cho Chúa và các linh hồn. Nó phải ‘đầy lửa!’. Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐẦY LỬA-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

New York: Tiểu thuyết gia rất nổi tiếng,ông Rushdie bị đâm trọng thương ngay khi đang thuyết trình

New York: Tiểu thuyết gia rất nổi tiếng,ông Rushdie bị đâm trọng thương ngay khi đang thuyết trình

Bọn đó đâu rồi ? Sao không đi theo dõi sinh hoạt của bọn khủng bố nầy ,để cho án mạng một nhân vật nổi tiếng xảy ra. Như vậy là bọn nầy vẫn âm thầm theo dõi nhà văn Ấn độ nầy trong cả chục năm nay , bây giờ thời cơ đến chúng nó ra tay ngay.

Đây mới thật là an ninh quốc gia ne`

Salman Rushdie: Author stabbed at event in New York state

https://www.youtube.com/watch?v=D7a8_uheJrI&ab_channel=Channel4News

Người đại diện của Salman Rushdie cho biết “tin này không tốt” sau khi tác giả bị đâm tại một sự kiện ở bang New York.

Andrew Wylie cho biết trong một tuyên bố, anh đã bị tấn công trên sân khấu, hiện đang thở máy và không thể nói được, đồng thời cho biết thêm rằng tác giả có thể bị mất một bên mắt.

Ông Rushdie đã phải hứng chịu nhiều năm bị những kẻ Hồi giáo đe dọa giết chết sau khi viết The Satanic Verses, xuất bản năm 1988.

Cảnh sát đã bắt giữ một nghi phạm tên là Hadi Matar, 24 tuổi, đến từ Fairview, New Jersey.

Cảnh sát bang New York cho biết nghi phạm đã chạy lên sân khấu và tấn công ông Rushdie và một người phỏng vấn tại Viện Chautauqua ở phía tây bang New York.

“Salman có thể sẽ bị mất một bên mắt; các dây thần kinh ở cánh tay của anh ấy bị cắt đứt; và gan của anh ấy bị đâm và bị tổn thương”, đại diện của anh ấy, Andrew Wylie cho biết.

Tiểu thuyết gia gốc Ấn Độ, ông Rushdie, đã trở nên nổi tiếng với Midnight’s Children vào năm 1981, cuốn sách đã bán được hơn một triệu bản chỉ riêng ở Anh.

Nhưng cuốn sách thứ tư của ông, xuất bản năm 1988 – Những câu thơ của Satan – đã buộc ông phải lẩn trốn trong gần mười năm.

Cuốn tiểu thuyết theo chủ nghĩa siêu thực, hậu hiện đại đã gây ra sự phẫn nộ trong một số người Hồi giáo, những người coi nội dung của nó là báng bổ và đã bị cấm ở một số quốc gia.

Một số người đã thiệt mạng trong các cuộc bạo động chống Rushdie ở Ấn Độ và ở Iran, đại sứ quán Anh ở thủ đô Tehran đã bị ném đá.

Năm 1991, một dịch giả người Nhật của cuốn sách bị đâm chết, trong khi vài tháng sau, một dịch giả người Ý cũng bị đâm và nhà xuất bản người Na Uy của cuốn sách, William Nygaard, bị bắn – nhưng cả hai đều sống sót.

Phản ứng trước cuộc tấn công hôm thứ Sáu, ông Nygaard nói ông Rushdie là một “tác giả hàng đầu có ý nghĩa rất lớn đối với nền văn học”, người đã phải trả “một cái giá đắt” cho tác phẩm của mình.

Một năm sau khi cuốn sách được phát hành, Lãnh tụ Tối cao Iran Ayatollah Khomeini đã kêu gọi hành quyết ông Rushdie. Anh ta đã đề nghị phần thưởng 3 triệu đô la (2,5 triệu bảng Anh) trong một fatwa – một sắc lệnh pháp lý do một nhà lãnh đạo tôn giáo Hồi giáo ban hành.

Tiền thưởng cho người đứng đầu của ông Rushdie vẫn còn hoạt động và mặc dù chính phủ Iran đã xa rời sắc lệnh của Khomeini, một tổ chức tôn giáo gần chính thức của Iran đã bổ sung thêm 500.000 USD vào phần thưởng vào năm 2012.

Công dân người Mỹ gốc Anh – vốn sinh ra từ những người Hồi giáo không theo đạo và bản thân là một người theo chủ nghĩa vô thần – đã nhiều lần trở thành người ủng hộ quyền tự do ngôn luận, bảo vệ công việc của mình.

From: TU-PHUNG

Đăng tải tại Tin Cộng Đồng | Chức năng bình luận bị tắt ở New York: Tiểu thuyết gia rất nổi tiếng,ông Rushdie bị đâm trọng thương ngay khi đang thuyết trình

MỘT ĐIỀM LẠ VĨ ĐẠI

MỘT ĐIỀM LẠ VĨ ĐẠI

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

“Một điềm lạ vĩ đại đã xuất hiện trên trời!” Hôm nay, thế giới Công giáo chiêm ngưỡng và ca tụng một điều kỳ diệu. Ngay từ thuở sơ khai, các tín hữu Kitô đã nhận ra, người phụ nữ được diễn tả trong sách Khải huyền là Đức Trinh nữ Maria, Mẹ Đức Giêsu thành Nagiarét. Kể từ sau Công đồng Êphêsô (431), ngày lễ Đức Mẹ an nghỉ (Dormition de Marie) đã được cử hành tại nhiều nơi, nhất là trong các Giáo Hội Đông phương. Tuy vậy, phải đợi gần 20 thế kỷ sau, tín điều Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời mới được Giáo Hội công bố chính thức. Tại đền thờ thánh Phêrô ở Rôma, ngày 1 tháng 11 năm 1950, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã long trọng tuyên bố: “Chúng tôi công bố, tuyên xưng và định tín giáo lý đã được Thiên Chúa mạc khải này: Đức Maria trọn đời đồng trinh, Mẹ Vô nhiễm của Thiên Chúa, sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, đã được đưa lên trời hiển vinh cả hồn lẫn xác.” Trong lời tuyên tín long trọng trên đây, Đức Giáo Hoàng đã nhắc tới cả 4 đặc ân mà Thiên Chúa ban cho Đức Mẹ, tức là ơn vô nhiễm nguyên tội; ơn trọn đời đồng trinh, ơn làm Mẹ Thiên Chúa và ơn được về trời cả hồn và xác.

Đức Maria là một điềm lạ không phải chỉ ở thời điểm Mẹ được đưa về trời, nhưng suốt cuộc đời của Mẹ, Mẹ đã trở nên một điềm lạ cho cả lịch sử. Điềm lạ là điều người ta rất ít thấy, hoặc là điều không thể có trong thế giới tự nhiên. Quả vậy, mọi người sinh ra đều mắc tội tổ tông truyền, riêng có Trinh nữ Maria thành Nagiarét được Chúa gìn giữ cách đặc biệt ngay từ khi được thụ thai trong lòng thánh Anna. Vì vậy, Đức Mẹ không mắc tội tổ tông truyền, là hậu quả do Ađam và Evà đã phạm ở đầu lịch sử. Cũng vậy, theo lẽ thông thường, chẳng có phụ nữ nào đã sinh con mà lại còn trinh khiết. Đức Mẹ được ơn trinh khiết trọn đời, trước, trong và sau khi sinh Đức Giêsu. Có một thời, người ta bận tâm tranh luận về Đức đồng trinh của Đức Mẹ, nhưng nếu đã tin vào quyền năng của Thiên Chúa, thì như Sứ thần Gabrien nói với Trinh nữ Maria trong ngày truyền tin: đối với Thiên Chúa, không có gì mà Ngài không làm được. Và sau cùng, là danh hiệu Mẹ Thiên Chúa. Đức Mẹ chỉ là một tạo vật, mà lại tôn vinh là Mẹ Thiên Chúa. Bởi lẽ Đức Mẹ đã sinh ra Đức Giêsu, mà Đức Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, nên Đức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu thì cũng là Mẹ Thiên Chúa.

Đức Maria vẫn đang là điềm lạ cho chúng ta. Mẫu gương của người Công giáo không phải là một con người trần thế, dù đó là một vĩ nhân hay một lãnh tụ. Lý tưởng của chúng ta là Đức Giêsu, Con Người Hoàn Hảo. Đức Maria cũng là mẫu gương cho chúng ta trong đời sống Đức tin. Bà Elisabeth đã ca ngợi: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng, Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” Chính Đức tin và niềm tín thác của Đức Mẹ đã làm cho Đức Mẹ được tôn vinh. Dù đã về trời, Đức Mẹ vẫn hiện diện giữa Giáo Hội để dẫn dắt và nâng đỡ chúng ta trong hành trình Đức tin. Có Đức Mẹ dẫn đường, chúng ta sẽ không sợ lạc lối. Đức Mẹ được ví như Sao Biển, giúp người vượt biển lựa chọn hướng đi và cập bến bình an. Giáo Hội hân hoan mừng lễ hôm nay, không chỉ vì những ơn lạ Chúa ban cho Đức Trinh nữ thành Nagiarét, mà còn vì Giáo Hội thấy nơi Đức Mẹ hình ảnh của chính mình trong tương lai. Vâng, Đức Maria là hình ảnh của Giáo Hội phải được hoàn thành (Lời Tiền tụng Thánh lễ).

Thánh Luca là tác giả duy nhất ghi lại bài ca Tạ ơn (Magnificat) của Đức Trinh nữ Maria. Trinh nữ có ý lên đường để kể cho người chị họ những điều kỳ diệu Thiên Chúa sắp thực hiện cho dân Ngài, thì bà Elisabeth đã biết hết những gì đã xảy ra, và bà nói: “Bởi đâu tôi được thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” Trong giây phút hạnh phúc tuyệt vời vì cảm nhận được bàn tay Chúa thương yêu dìu dắt, Trinh nữ đã hát lên bài ca cảm tạ. Nội dung bài ca diễn tả lịch sử của dân tộc, với những đau thương và hạnh phúc đan xen, nhưng trên tất cả, đó là quyền năng yêu thương của Thiên Chúa. Ngài không bỏ rơi dân riêng Ngài chọn, nhưng luôn nâng đỡ chở che và chăm sóc giữ gìn.

Nếu Đức Trinh nữ Maria là một điềm lạ cho thế giới, thì mỗi chúng ta, những người được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô nhờ Bí tích Thanh tẩy, cũng phải trở nên một điềm lạ cho cuộc sống hôm nay. Quả vậy, khi chúng ta chuyên tâm thực hiện giáo huấn của Chúa, chúng ta sẽ làm cho hình ảnh và sự thánh thiện của Người lan tỏa trong môi trường sống của chúng ta, và nơi chúng ta, những người khác sẽ nhận ra chúng ta là con cái của Cha trên trời (x. Mt 5,16).

Nếu thánh Gioan Tông đồ đã nhìn thấy “Đền thờ Thiên Chúa trên trời mở ra,” thì Thánh Phaolô lại nói với chúng ta: “Đức Kitô đã trỗi dạy từ cõi chết mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (Bài đọc II). Vâng, nhờ cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Giêsu, trời đã mở ra, con người có thể lên trời. Giấc mơ ngàn đời của nhân loại đã thành hiện thực. Đức Maria là tạo vật đầu tiên được qua cánh cửa Đền thờ Thiên Chúa trên trời. Chúa Giêsu đã hứa cho tất cả những ai tin vào Người cũng sẽ được vào Đền thờ Thiên Chúa. “Lòng các con đừng xao xuyến. Các con tin vào Thiên Chúa thì hãy tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở… ” (Ga 14,1-2).

Giữa biết bao khó khăn thử thách của cuộc sống, chúng ta hãy đến với Đức Trinh nữ Maria, xin Mẹ che chở và gìn giữ chúng ta.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Đăng tải tại CHUYỆN VỀ CHÚA VÀ ĐỨC MẸ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỘT ĐIỀM LẠ VĨ ĐẠI

Chó là con vật duy nhất trên trái đất yêu bạn hơn yêu chính nó

Lê Hoàng Nam

“Hóa ra, vật nuôi cũng có những mong muốn cuối cùng trước khi chết, nhưng điều đó chỉ được biết bởi các bác sĩ thú y, những người đưa những con vật già và bệnh vào giấc ngủ ngàn thu. Người dùng Twitter Jesse Dietrich đã hỏi bác sĩ thú y đâu là phần khó nhất trong công việc của anh ta?

Bác sĩ chuyên khoa trả lời không chút do dự rằng việc tận mắt nhìn con vật tìm chủ trước khi chết là khó nhất đối với anh ta. Những con vật già yếu hay ốm yếu đưa mắt tìm chủ, ánh mắt đó thật đáng thương và khó quên.

Thực tế là 90% chủ của chúng không muốn ở trong phòng với một con vật sắp chết. Mọi người thường rời đi để không thấy thú cưng của mình ra đi. Nhưng họ không nhận ra rằng chính trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời, con thú cưng của họ cần họ nhất.

Các bác sĩ thú y yêu cầu người chủ phải gần gũi với con vật cho đến phút cuối cùng. Không thể tránh khỏi việc các con vật chết trước bạn. Đừng quên rằng bạn là tất cả đối với cuộc đời của nó.

Có thể nó chỉ là một phần của bạn. Nhưng thú nuôi cũng là gia đình của bạn. Dù khó khăn đến đâu, đừng rời xa chúng trong giờ phút cuối cùng. Đừng để nó chết trong phòng với một người lạ ở một nơi mà nó không thích.

Các bác sĩ thú y rất đau lòng khi chứng kiến ​​cảnh vật nuôi không tìm được chủ trong những phút cuối đời. Nó không hiểu tại sao chủ của nó lại bỏ nó. Sau cùng, chúng cần sự an ủi của chủ nhân.

Các bác sĩ thú y làm mọi thứ có thể để đảm bảo rằng động vật không quá sợ hãi, nhưng họ hoàn toàn xa lạ với chúng. Cho nên đừng e ngại khi việc chứng kiến giây phút cuối cùng đó có thể gây đau đớn cho bạn. Hãy nghĩ về con vật cưng. Hãy chịu đựng nỗi đau này vì lợi ích của chúng. Hãy ở bên chúng cho đến giây phút cuối cùng.”

– Tricia Mo’orea

* Chó là con vật duy nhất trên trái đất yêu bạn hơn yêu chính nó

― Josh Billings

A dog is the only thing on earth that loves you more than he loves himself.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Chó là con vật duy nhất trên trái đất yêu bạn hơn yêu chính nó