BAO LẦN TRONG ĐỜI CHÚNG TA NHẬN PHÉP LẠ TỪ THIÊN CHÚA?

BAO LẦN TRONG ĐỜI CHÚNG TA NHẬN PHÉP LẠ TỪ THIÊN CHÚA?

(CN II TN, Năm C)

Tuyết Mai

Trong Phúc Âm tuần này Chúa Giêsu lần đầu tiên làm phép lạ cho một đám cưới nghèo đã thiếu rượu mời khách. Có nghĩa phép lạ của Chúa làm trên chúng ta có thể chỉ cần duy nhất một lần trong đời đã đủ hay nhiều lần khác nhau, thưa có phải?. Có nhiều phép lạ Chúa cho xảy ra ngay trước mắt nhờ Mẹ Thiên Chúa yêu cầu. Như Mẹ đã nhờ Chúa Giêsu mà Ngài đã biến 6 chum nước lã thành rượu ngon quý trong giờ cuối của buổi tiệc đám cưới ở Cana.

Có nhiều phép lạ Chúa ban cho mà chúng ta cảm nhận được; có nhiều phép lạ mà Chúa ban cho qua miệng của người anh em, qua những bài viết như có lời nhắn nhủ riêng với mình hay thấy những tấm gương tốt lành của nhiều người để chúng ta nhận biết đó là dấu chỉ từ Thiên Chúa. Có nhiều phép lạ vì linh hồn sống đời rất quý giá của chúng ta mà Thiên Chúa muốn biến đổi chúng ta thành con người mới; tốt lành hơn, hữu ích hơn, giúp Chúa hơn với đôi bàn tay đóng góp cho chương trình của Thiên Chúa trên thế gian này được thánh thiện hơn, hoàn hảo hơn theo thánh ý Chúa.

Cùng hiểu rằng Thiên Chúa Người biết khả năng riêng biệt của từng người chúng ta; cần thiết là chúng ta cố gắng dành nhiều thời giờ cho Chúa để lắng nghe tiếng của Người muốn chúng ta làm gì?. Vì Thiên Chúa luôn ẩn mình ở nơi thanh vắng và khi tâm hồn của chúng ta lắng đọng thì mới có thể nghe tiếng Chúa cách rõ ràng, mạch lạc hơn là nơi có cuộc sống quá ồn ào, náo nhiệt, tiếng còi xe inh ỏi suốt cả ngày lẫn đêm. Còn tệ hơn nữa là chúng ta lại luôn tụm năm, tụm bảy để nói hành nói xấu nhau. Luôn thích coi những phim ảnh tục tĩu, đọc truyện dâm ô và rồi phải đi tìm nơi kín ấy để phạm tội.

Thiên Chúa Người là sự sáng, là ánh sáng cho muôn dân mà ánh sáng và bóng tối là hai thế cực âm, dương không bên nào có thể vượt qua bên nào hay hòa tan vào nhau cho được. Như ánh bình minh và bóng đêm vậy. Cho nên chúng ta là con cái Thiên Chúa đã được nhận bí tích Rửa Tội để trở nên con cái ngoan hiền, dễ dạy bảo và vâng lời như một con trẻ THÌ con đường dẫn đến Thiên Đàng sẽ luôn có Chúa cùng đồng hành với chúng ta trong bình an và hạnh phúc.

Như Người là Thiên Chúa đã ban cho chúng ta mỗi người đều có một Thiên Thần bản mệnh hay gọi là thiên thần hộ thủ. Cố gắng đừng để cho thiên thần hộ thủ ấy bị chúng ta chích choác cho ngủ, để chúng ta trói cột ngài và thay thế ngài bằng quỷ dữ để chúng luôn xúi giục chúng ta phạm tội; làm mất lòng Chúa, mất linh hồn và mất cả Thiên Đàng hạnh phúc mà đáng lý ra chúng ta phải được đến … thì có đáng không người ơi?. Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

20 tháng 1, 2019

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Để lại phản hồi

PHI BẠO LỰC, PHI BẠO LỰC, PHI BẠO LỰC…

Trần Bang

Sách hay nên đọc “Phản kháng phi bạo lực” của tác giả Pham Doan Trang

CHƯƠNG VIII:

PHI BẠO LỰC, PHI BẠO LỰC, PHI BẠO LỰC…

Hãy cố chống lại cám dỗ bạo lực. Bởi vì phi bạo lực dễ thu hút người hơn và có hiệu quả hơn.

Tất cả các chuyên gia về đấu tranh phi bạo lực, như Gene Sharp, Bob Helvey, Srdja Popovic, đều khẳng định rằng phải kiên trì, nhất quán sử dụng đường lối ôn hòa, tuyệt đối phi bạo lực.

Vì sao nên kiên trì phi bạo lực?
Biết trước là sẽ có những độc giả lý luận kiểu “ôn hòa với lũ sói thì chỉ có chết”, nên Popovic chỉ đưa ra vài lý do rất căn bản và thực dụng để giải thích vì sao nên chọn cách đấu tranh phi bạo lực.

1. Khả năng thành công cao hơn

Lý do thứ nhất, đơn giản là vì theo thống kê, trong tất cả 323 chính biến từ năm 1900 đến năm 2006 trên toàn thế giới, các phong trào phản kháng phi bạo lực có tỷ lệ thắng lợi (hoàn toàn hoặc một phần) cao gần gấp đôi những trận chiến bạo lực: 53% so với 26%.

Ở đây, Popovic trích dẫn thống kê của hai học giả Mỹ, Erica Chenoweth và Maria J. Stephan, và thống kê chỉ tính đến năm 2006. Nếu muộn hơn thì không thể không kể đến những trường hợp bi thảm: Ai Cập, Lybia, Syria. Chế độ độc tài cũ đã bị lật đổ, máu đã chảy, người đã chết, nhưng dân chủ, tự do vẫn không đến với những xứ sở này và không biết bao giờ mới đến.

2. Thu hút được nhiều người hơn

Số người tham gia phản kháng phi bạo lực luôn luôn đông hơn hẳn số tham gia vào xung đột vũ trang, kể cả khi đó là những cuộc khởi nghĩa hoàn toàn chính đáng và anh hùng. Đó là bởi vì những người sẵn sàng lên núi hay vào rừng lập chiến khu, chịu đựng đủ mọi gian khổ, tích cóp vũ khí để chiến đấu không thể nào nhiều bằng những người hào hứng góp mặt trong các phong trào hay chiến dịch phản kháng đầy tính sáng tạo, thậm chí hài hước, vui nhộn. Tổn thất tất nhiên là phải có, song ít khi đến mức mất mạng.

Vì vậy, thay vì chỉ có một nhóm nhỏ dùng biện pháp đương đầu trực tiếp, sinh tử, một mất một còn với chế độ độc tài, những người đấu tranh hãy nên tìm cách kéo những người dân bình thường về phía mình, tách khỏi phía kẻ độc tài. Hãy cố gắng để có họ, mà cách đầu tiên là đừng làm họ sợ hãi. Song song với đó, có các hoạt động bào mòn tính chính danh của nhà cầm quyền độc tài, gây hao tổn nguồn lực của chúng, thay vì gài mìn, ném bom xăng, v.v.

3. Tạo điều kiện cho dân chủ

Đây sẽ là một lý do cực kỳ thuyết phục: Tại các nước thay đổi nhờ phản kháng ôn hòa, phi bạo lực, có tới 40% xác suất họ xây dựng hoặc duy trì được một nền dân chủ sau 5 năm. Với các nước thay đổi nhờ đấu tranh vũ trang, xác suất xác lập được dân chủ sau 5 năm chỉ là 5%.

Các nước chuyển đổi ôn hòa thì có 28% khả năng rơi vào nội chiến sau một thập kỷ. Với những nước lỡ chọn hoặc chẳng may phải chọn con đường đấu tranh vũ trang, sử dụng bạo lực để lật đổ độc tài, thì khả năng đó lên tới 43%.
Có nghĩa là, nếu chúng ta muốn xây dựng một nền dân chủ ổn vững sau khi lật đổ ách độc tài, thì rất, rất nên kiên trì với đường lối đấu tranh phi bạo lực, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, sao cho ai cũng cảm thấy họ là một phần của sự thay đổi, họ tạo nên sự thay đổi. Thay đổi xã hội không thể là cuộc chơi chỉ của một nhóm nhỏ, càng không thể là trò đảo chính cung đình của một phe phái nào đó trong chế độ nhằm cướp quyền lực về tay mình và mặc xác dân chúng.

Nói theo ngôn ngữ thời thượng là, chúng ta cần những cuộc cách mạng nhân dân, cách mạng quần chúng, chứ không cần những đảo chính cung đình trong đó người dân bị gạt ra rìa cuộc chơi quyền lực.

4. “Oan oan tương báo, bao giờ mới dứt”
Một lý do nữa để không nên theo đuổi đường lối bạo lực, là việc bạo lực chắc chắn sẽ kéo theo bạo lực, tạo thành một cái vòng luẩn quẩn và tới lúc đó thì rất khó phân biệt đâu là tấn công, đâu là tự vệ chính đáng, cũng như rất khó xác định được bên nào là bên chính nghĩa.

Thế giới văn minh – lực lượng lớn nhất ủng hộ cho dân chủ và nhân quyền – cũng không ủng hộ bạo lực.

Nói chung, đã qua rồi cái thời một nhóm người lên núi lập chiến khu, dùng súng đạn tiêu diệt quân thù trên chiến trường hay gài mìn đánh bom giết chúng ở “vùng tạm chiếm”. Cứ cho là mục đích chính đáng, hành động ấy vẫn có thể bị coi là khủng bố, nhất là nếu thiệt hại mà nó gây ra lan cả đến những dân thường vô tội.

Trong nhiều trường hợp, bạo lực đẻ ra bạo lực, khiến cuối cùng chẳng còn biết chính nghĩa thuộc về ai. Syria là một ví dụ: Đến giờ thì cộng đồng quốc tế, trong đó có cả chúng ta ở Việt Nam, chẳng hiểu vấn đề nằm ở đâu và nên ủng hộ ai nữa.

Vì thế, khi đi vận động quốc tế, nhất thiết bạn phải thể hiện rõ chủ trương thay đổi ôn hòa, phi bạo lực, nếu không sẽ chỉ phản tác dụng.

* * *
Nhưng tôn trọng những người chủ trương “nợ máu trả bằng máu”
Như trên đã nói, thế giới văn minh không ủng hộ bạo lực; cái thời làm cách mạng bằng vũ khí đã qua. Như vậy có nghĩa là cũng đã có những thời kỳ mà bạo lực, sức mạnh, đấu tranh vũ trang là một con đường đúng đắn.

Và vì thế, chúng ta có thể hiểu được thế hệ những con người đã ở lại Việt Nam sau năm 1975 để chiến đấu tới cùng chống cộng sản, chứ không tìm đường đào thoát ra nước ngoài. Những người đã vượt biên trở về nước cho những trận chiến mà họ biết là gần như vô vọng, chiến thắng là không thể, chỉ mong gây một tiếng vang nhằm thức tỉnh đồng bào. Những người đã chấp nhận hy sinh tuổi xuân, tự do và cả sinh mạng của họ để chiến đấu trực tiếp với độc tài.

Họ có thể thất bại, đường lối đấu tranh của họ có thể không còn hợp thời. Nhưng họ xứng đáng được tôn trọng, lòng can đảm của họ xứng đáng được tôn vinh, bởi họ dám sống và dám chết cho lý tưởng dân chủ tự do của mình.

Ý thức được rằng thời nay là thời của đấu tranh ôn hòa, phi bạo lực, chúng ta cũng không nên quên rằng có những lúc, bạo lực là không thể tránh khỏi. Lại có nhiều khi, đó chính là ý đồ của kẻ cầm quyền. Thường xuyên, chính lực lượng an ninh mới là bên khiêu khích và châm ngòi cho bạo lực, để làm mất tính chính danh, chính nghĩa của những người đấu tranh.

Thật khó có cách đối phó thống nhất trong những trường hợp đó; tuy vậy, bạn có thể nhớ lại các khái niệm “chiến lược” và “chiến thuật” mà chúng ta đã bàn ở Chương VII. Có thể coi việc sử dụng bạo lực như một chiến thuật, nghĩa là chỉ sử dụng ngắn hạn, tức thời, tùy hoàn cảnh cụ thể.

Trong việc đấu tranh chống độc tài, khi lên án bạo lực, chúng ta cũng chớ nên quên rằng ngay cả Nelson Mandela – người anh hùng đấu tranh cho nhân quyền và bình đẳng – cũng từng có lúc phải theo đuổi con đường bạo lực. ” …

(TB Đã đăng FB 20/1/2018 )

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Nếp nhăn thời gian

Nếp nhăn thời gian

Tùy bút của Việt Nguyên.

January 17, 2019

Một ngày cuối năm, trời Nam Cali nắng đẹp, tôi đến thăm thầy tôi, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh, 97 tuổi, người thầy y khoa tôi kính trọng ngày tôi 18 tuổi trước khi vào trường y khoa.

Ngôi nhà ở vùng Huntington Beach trong năm năm qua trở thành quen thuộc, ông đích thân mở cửa sau tiếng chuông, bóng dáng chậm theo năm tháng nhưng hình ảnh vẫn không đổi, vẫn trịnh trọng, quần áo chỉnh tề đợi người học trò cũ, nhân dáng của những ông thầy của thế hệ xưa như Giáo Sư Đào Đức Hoành.

Tôi có được diễm phúc đến thăm thầy không cần báo trước. Năm năm trước sau những bài viết về Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh và những kỷ niệm về trường Y Khoa Sài Gòn cũng như về bệnh viện Bình Dân, ông đã xem tôi như “người cầm viết nối nghiệp ông” khi nhận được hai quyển sách “Từ bài viết Houston của Việt Nguyên” từ tay Bác Sĩ Đặng Phú Ân biếu thầy.

Tuổi đã cao, sống gần một thế kỷ, nhưng ông vẫn giữ được những thói quen cũ, đọc sách và viết. Nhờ nói chuyện với những người đã mất qua sách vở (như ông tâm sự lần này) những người đã giữ được hồn nước, mà ông vẫn giữ được tinh thần quê hương.

Tuổi già, đời là cát bụi như Phật dạy nhưng thầy tôi đã nói với tôi một lần qua điện thoại “cát bụi cuối đời cũng đẹp lắm anh ơi.” Tuổi già không bị trầm cảm như những người sống cô đơn trong viện dưỡng lão, thiếu bạn nói chuyện, không còn trong xã hội trọng người già cả. Cuộc đời thay đổi theo giòng thời gian, kỹ thuật truyền thông tân tiến, giới trẻ không cần lời khuyên của người già trong một xã hội thay đổi nhanh chóng từng ngày từng giờ.

Kiến thức nếu cần đã có Google trả lời cho những thắc mắc về đời sống, về y khoa, về khoa học, về kiến thức, người già trở nên lạc lõng. Thầy tôi vẫn giữ được tinh thần vững vàng tuy hơi buồn, tuổi già và thân phận tị nạn “một lần tị nạn cả đời tị nạn” đã giúp thầy tôi thay đổi tính tình, vui vẻ và giúp học trò ngay từ ngày lập nghiệp lại trên xứ người.
Đến thăm ông, tôi nhớ lại một tháng trước đến thăm thầy Đào Văn Dương, 100 tuổi, người thầy trung học dạy toán ở trường Chu Văn An, khó tính khi dạy ở Chu Văn An với điếu thuốc trên tay và khuôn mặt nghiêm khắc nay sống ở Làng Tre Houston, khuôn mặt hiền hậu với nụ cười như Phật (ông đã gọi điện thoại sau khi đọc bài “Tạ lỗi các thầy trường Chu Văn An.” “Hồi đi dạy tôi khó như vậy sao anh?”

Thầy Dương cũng như thầy Ninh nay gặp tôi hay cầm tay tâm sự, ông đã cười nói chuyện với người học trò cũ và khuyên: “Không nên sống lâu trăm tuổi anh ơi. Ngày còn trẻ tôi vẫn mơ sống lâu trăm tuổi nay đã sống lâu trăm tuổi tôi thấy khổ lắm.” Tâm hồn tĩnh lặng, trí nhớ vẫn minh mẫn nhưng thầy vẫn thấy những nỗi khổ của người già. “Sinh lão bệnh tử” người thầy cảm nhận và nhắc cậu học trò cũng đã lão và đến cạnh bờ tử sinh.

Các thầy đã sống đến một thế kỷ, đã đạt những ước vọng, đã làm được những điều ích lợi trong cuộc đời, dạy học trò theo những mục đích cao cả, nay đối diện với thực tế và xã hội không còn như thời của các ông. Tâm trạng không khác gì những người Mỹ già sống trong xã hội như cựu Tổng Thống George W. Bush. Ngày 30 Tháng Mười Một khi Tổng Thống Bush mất tôi có dịp đọc sách đời Tổng Thống Bush do sử gia Jon Meacham viết (cuốn “Destiny and Power” cụ ĐạiSsứ Bùi Diễm, 96 tuổi, tặng tôi).

Vị tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ mất 95 tuổi, con người tư cách, biết nhận những lỗi lầm và tha thứ lỗi lầm của kẻ khác. Tôi có duyên gặp hai ông bà tại Houston vào ngày ra mắt cuốn phim “Up in the air” của George Clooney năm 2009 tại rạp Edwards và một lần gặp ông tại phòng cấp cứu bịnh viện St Joseph khi ông đưa bạn ông đến khám bệnh. Ông nhã nhặn vui vẽ nhưng năm 1992 sau khi thua ứng cử viên trẻ tuổi Bill Clinton ông đã mất ngủ hai đêm.

Tổng Thống Bush đã không ngờ: “Bill Clinton một người đã trốn quân dịch trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, không tư cách làm tổng thống vì những quá khứ cá nhân không trong sáng, đã được dân Mỹ bầu làm tổng thống.” Sau hai đêm mất ngủ ông đã nhận thức: “Có lẽ mình bây giờ đã già, không còn lãnh đạo được. Ý nghĩ và suy luận của những người trẻ ‘Baby Boomer’ khác với thế hệ trước, đã đến lúc phải nhường cho người trẻ lãnh đạo quốc gia.”

Nhìn thầy tôi, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh đứng lên ngồi xuống khó khăn và đi từng bước chậm như trẻ mới tập đi, tôi nhớ đến bốn tháng trước, ngày 24 Tháng Tám, sau cuộc mổ tim cũng đã tập đi tập đứng như đứa bé.

Trong đời tôi đã trải qua hai kỳ giải phẫu. Lần đầu năm tôi 6 tuổi, Giáo Sư Trần Quang Đệ cắt ngón tay dư bàn tay phải, ngón tay cạnh ngón cái, ba đốt, dài hơn ngón giữa, tôi đi học không thể cầm viết tay trái vì người Việt xem viết tay trái là quỷ nên ba tôi phải đem đến nhờ Giáo Sư Đệ cắt ở nhà thương Chợ Rẫy, ở bệnh viên hai đêm là những ngày vui với các bạn trẻ thơ.

Lớn lên lại thấy cắt ngón tay dư là một may mắn, ở Sài Gòn phương tiện chuyên chở ngày ấy là xe buýt công cộng, đứng trên xe đông đúc chật chội ngón tay thừa đụng vào người khác dễ gây hiểu lầm! Lần thứ hai, năm năm trước tôi qua cuộc giải phẫu mắt cườm. Con mắt phải bị cườm vì chấn thương, từ Giáo Sư Nguyễn Đình Cát ở bệnh viện Bình Dân qua đến Mỹ các bác sĩ giải phẫu nhãn khoa cũng bó tay cho đến khi có kỹ thuật mới Bác Sĩ Koch đại học Y Khoa Baylor đã giải phẫu thành công.

Con người tôi khá bất thường cho đến lần giải phẫu tim kỳ này cũng không bình thường.

Tuần lễ giữa Tháng Tư huyết áp bỗng nhiên không bình thường,lên cao buổi sáng và chiều. Trong 30 năm tôi bị tiểu đường loại 2, được điều chỉnh bằng cách tập thể dục và ăn kiêng. Áp huyết bình thường. năm năm trước tôi bắt đầu uống Metformin sau khi mổ mắt. Trong gia đình có bệnh sử tiểu đường và cao áp huyết, hai bệnh có thể đưa đến biến chứng bệnh tim mạch như 610,000 bệnh nhân mỗi năm và là nguyên nhân tử vong hàng đầu. Làm bác sĩ chuyên khoa cấp cứu trong 40 năm ở Mỹ, tôi chữa và cấp cứu nhiều bệnh nhân bị đau tim, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não và đột qụy nhưng đến khi làm bác sĩ cho chính mình thì thật khó!

Các bạn già đã thăm hỏi tôi về bệnh tình và yêu cầu viết lại kinh nghiệm cá nhân. Francis Bacon, triết gia đã viết: “Điều ngu dốt sẽ giết bạn.” Người thông minh hiểu biết vẫn bị bệnh tim mạch giết và khi bị bệnh bạn phải tin một phần vào số trời! “Tri thiên mệnh” sống gần 70 tuổi nay phải tin Khổng Tử nói!

Bác sĩ phòng cấp cứu (E.R.Doc) chiều hôm ấy chóng mặt áp huyết 200/100, nằm nghỉ áp huyết không xuống, đứng dậy đi không được phải vịn, cuối cùng phương cách tốt nhất hữu hiệu và an toàn vẫn là gọi 911, hệ thống cấp cứu nhanh chóng ở nước Mỹ tân tiến. Tôi đã nhiều lần ngồi trên xe cứu thương làm cấp cứu, CPR cho bệnh nhân trong khi chuyên chở đến bênh viện nay chính mình là bệnh nhân nằm trên băng ca, mang nịt an toàn chở đến phòng cấp cứu bệnh viện Methodist gần nhà, một tay được truyền nước biển, đường giây để chích thuốc cấp cứu khi cần, các cực tâm động đồ đuợc gắn vào ngực và tay chân nối vào máy, áp huyết đo bên tay trái. Trên đường đến bệnh viện được ưu tiên nằm trong xe chạy trên những con đường ở Houston, lần đầu tiên có tài xe và nhiều cặp mắt nhìn vào, cảm giác vừa là bệnh nhân vừa là bác sĩ lẫn lộn. Trong cảnh đêm hôm ấy tôi càng thấy thông cảm với bệnh nhân khi bị bệnh phải tin tuyệt đối vào các bàn tay của những người trong ngành y.

Xe cấp cứu chở bác sĩ cấp cứu đến phòng cấp cứu qua đường giây 911 được bác sĩ và y tá chờ đợi. Giai đoạn đầu hỏi bệnh, với triệu chứng chóng mặt, đứng không được, xây xẩm, huyết áp cao, tai biến mạch máu não được đặt hàng đầu, các thử nghiệm CT não, CT mạch máu cổ bình thường. Tâm động đồ và phân hóa tố cơ tim vẫn bình thường, bác sĩ chuyên khoa tim vào xem đồng ý với tôi và bác sĩ cấp cứu. Thuốc trị áp huyết và Nitrogrycelin không làm giảm áp huyết.

Sau vài tiếng tôi được giữ lại bệnh viện 24 giờ để quan sát. Bác sĩ tim không nghi ngờ tôi bị đau tim nhất là khi xem thêm hai chỉ số BMI (cơ thể mập hay ốm) và lượng mỡ trong máu bình thường. Sáng hôm sau vẫn chóng mặt, áp huyết lên xuống bất thường nhất là khi đứng dậy, tâm động đồ không đổi, phân hóa tố cơ tim cũng không tăng. Siêu âm tim và thử nghiệm tiếp theo thấy tim không lớn, co thắt rất mạnh ở mức 67% cao nhất. Thử nghiệm kế tiếp phải làm là Nuclear Stress test hay vì đi trên Tread mill, chất phóng xạ được chích vào người làm tim đập mạnh và nhanh như đi trên Tread mill.

Bác sĩ tim Isaac nghi ngờ có một chỗ cơ tim đập yếu (Hypokinesia) ngoài ra không có dấu hiệu suy tim hay tim lớn. Thử nghiệm kế tiếp phải làm là CT Angiogram để nhìn thấy rõ tất cả các động mạch tim. Cuối tuần máy hư phải đợi đến thứ hai mới có kỹ thuật viên đến sửa cuối cùng cũng không sửa được. Cuộc tranh luận giữa bác sĩ tim và bệnh nhân bắt đầu. Bác sĩ nhập viện và bác sĩ tim muốn cho tôi xuất viện đợi làm CT ngoại chẩn hay giới thiệu đến bệnh viện khác.

Y tá và bác sĩ cũng nghĩ là áp huyết của tôi bất bình thường vì tình trạng tâm thần căng thẳng, dĩ nhiên làm phòng cấp cứu đêm hôm (như năm 2017 trung bình làm 48 giờ một tuần một ngày 12 tiếng) và bác sĩ phòng cấp cứu theo thống kê là nghề căng thẳng nhất nước nhưng tôi không đồng ý vì áp huyết lên quá cao không thể chỉ vì căng thẳng. Theo luật Medicare nếu bệnh nhân xuất viện về nhà trong vòng 24 giờ trở lại Medicare sẽ không trả tiền bệnh viện nên tôi nghĩ tôi bị bệnh tim không nên xuất viện.

Ngày hôm sau, tôi được chở đến trung tâm y tế Texas Houston, bệnh viện Methodist trung ương để làm CT Angiogram. Trường hợp tôi là trường hợp ngoại lệ chưa xảy ra trong nghành y tế hiện đại kết quả CT Angiogram mới cho thấy ba động mạch vành bị nghẽn, động mạch bên tâm thất trái nghẹt 100%, hai động mạch khác 70% nhưng các mạch máu tân tạo rất nhiều nên tim không bị hư thối (Infarct). Bác sĩ giải phẫu tim sau cuộc mổ đã nói với tôi là “Khi cầm trái tim trên tay tôi thấy nhiều động mạch mới vì nhờ anh tập thể dục nhiều.”

Với kết quả CT Angiogram, bác sĩ chuyển tôi về bệnh viện Methodist trung uơng để thông tim. Bác Sĩ Isaac nghĩ trường hợp tôi rất dễ khi thông tim đẩy hết các mảng đóng cứng ở động mạch là xong. Ông lại nhức đầu khi thông tim không dễ như ông tưởng (trong bệnh viện tôi cũng gây nhức đầu cho bác sĩ và y tá, khi nhịn đói không dùng Metformin 48 tiếng, trong khi đói đường lên cao 303, họ định chích Insulin tôi từ chối, ăn xong đường xuống 160, đi ngược lại người bệnh thông thường khi đói đường xuống ăn xong đường lên cao. Tôi nghiệm lại, cơ thể mỗi người mỗi khác).

Qua chiều hôm sau tôi được đưa qua phòng mổ, Bác Sĩ Lawrie giải phẫu tim nổi tiếng nhất thay cho Bác Sĩ De Bakey, là bác sĩ giải phẫu của tôi. Sinh mệnh được đặt trong tay phẫu thuật gia nổi tiếng nhất ở trung tâm y khoa giải phẫu tim nổi tiếng nhất nước nên tôi không lo sợ (Bác Sĩ De Bakey người Lebanon năm 1973 có qua Việt Nam giảng, ông đã gây dựng nghành giải phẫu tim mạch ở Trung Tâm Y Khoa Texas. Ông qua các nước trên thế giới tuyển nhân tài giỏi nhất về Houston như Bác Sĩ Lawrie giỏi nhất ở Úc. Tiền các nước đóng góp cho Trung Tâm Y Khoa Texas rất nhiều nhất là Trung Đông. Nếu có chính sách “Mỹ trên hết” trong 30 năm qua thì đã không có Trung Tâm y khoa Texas và các bác sĩ ngoại quốc giỏi đến Houston).

Giải phẫu kéo dài 7 tiếng không biến chứng. Sau 12 tiếng nằm phòng săn sóc đặc biệt tôi được rút ống thở cho về phòng thường, buổi chiều cùng ngày ống dẫn nước thoát từ lòng ngực và máy tạo nhịp tim tạm thời được rút ra. Giải phẫu thành công ngoại trừ một sai xuất nhỏ hậu giải phẫu, phòng săn sóc đặc biệt đổi qua chỗ mới, lệnh cho thuốc giảm đau như Morphine bị quên.

Trong 24 giờ tôi không được tiêm thuốc giảm đau, chỉ uống ba viên thuốc Narco trị đau, ngoài ra chỉ dùng Tylenol. Giải phẫu lồng ngực mở lớn, máy cưa cắt xương ức, đường mổ dài từ ngực xuống bụng, xương sườn được banh ra, lấy động mạch vú sau xương ức ghép vào động mạch lớn nghẹt 100%, hai tĩnh mạch từ chân trái được ghép vào hai động mạch nhỏ hơn nghẹt 70%. Mỗi lần ho hay cử động cả lồng ngực từ trước ra sau đau buốt.

Bốn mươi năm trước đi vượt biên đến Thái Lan tôi bị đuổi ra khơi ở bãi biển Trengganu hai người lính xốc hai vai, hai người khác xốc hai chân quăng xuống thuyền. Cái đau ấy không so được với cái đau lần này, ngay cả khi được y công hay vợ con nhẹ nhàng giúp nằm xuống tấm nệm êm ái trên giường bệnh tôi vẫn thấy đau như bị quăng xuống giường! Bác Sĩ Lawrie ngạc nhiên vì lệnh thuốc giảm đau không được viết. Ông đồng ý tôi là bệnh nhân đầu tiên trong lịch sử y khoa không dùng thuốc giảm đau sau một giải phẫu lớn!

Tôi may mắn được Bác Sĩ Gerald Lawrie giải phẫu, ông đã mổ gần 30,000 ca trong đó có cả bà Barbara Bush. Ông hơn tôi sáu tuổi, 75 tuổi, thực hành y khoa lâm sàng như các bác sĩ thế hệ cũ với cử chỉ, lời nói, bàn tay từ ái, khuôn mặt vui vẻ, bỏ thời gian nói chuyện với bệnh nhân không để các kỹ thuật truyền thông thời đại chi phối như các bác sĩ thời nay lệ thuộc vào máy vi tính quên đi một nền y khoa nhân bản. Ông hợp với tính của tôi không nghiêm nghị quá.

Ngày thăm bệnh sau khi giải phẫu với đông phụ tá đứng quanh ông, tôi đã đùa: “Ông nói tiếng Mỹ giọng Úc cho nên ông muốn giết tôi thay vì bắn súng ông đã dùng dao đâm và rạch một đường từ trên ngực xuống vì tôi nói tiếng Mỹ giọng Việt ông không thích.” Ông cười trả lời: “Đúng đấy, tôi là Crocodile Dundee” (phim năm 1986). Tôi cám ơn ông đã mổ và hỏi: “Con người tôi hơi khác thường, mấy ông thần nghe lệnh Thượng Đế tạo ra tôi đặt ‘chip’ hơi sai chỗ không hiểu ông có thay ‘chip’ khác không. Ông chỉ bác sĩ phụ tá đứng cạnh: “Anh này giỏi vi tính lắm đứng cạnh tôi đã thay ‘chip’ khác cho anh rồi.”

Ông ngạc nhiên khi thấy tôi hồi phục nhanh chóng chỉ một ngày đã đứng dậy đi, nhanh hơn các bệnh nhân ông đã mổ. Một ngày sau khi mổ tôi tự mình đánh răng, rửa mặt, ngồi trên ghế thay vì nằm giường, tập đi tập đứng vệ sinh như đứa trẻ với sự phụ giúp của vợ con. Thói quen đứng “dậy mà đi,” đi bộ chân trái đi trước đến chân mặt, đi bộ như năm 14 đi Hướng Đạo sáng mang ba lô đi từ Sài Gòn đến Thủ Đức, đi bộ không phải là môn thể thao mà là một động tác thể dục, đi ngắm cảnh, đi suy nghĩ chuyện đời, đi tìm người tán gẫu dù trong cảnh nào đi nữa như trong bệnh viện vẫn có người để nói chuyện, vẫn ngắm cảnh thành phố Houston nhìn xuống từ phòng bệnh.

Bệnh nhân hồi phục cũng như diễn viên chính trong phim kịch, phải chính mình giúp mình với những diễn viên phụ bên cạnh như vợ con, anh em trong gia đình, bạn bè thăm hỏi cầu nguyện. Những lời nói vui vẻ những khuôn mặt thân tình đã giúp tôi hồi phục nhanh chóng. Năm ngày về nhà, tuần lễ thứ ba lái xe chạy khắp Houston, đi bộ 2, 3 dặm mỗi ngày, sáu tuần sau đi làm lại bán thời gian.

Rời Nam Cali, trở về Houston, một năm mới lại đến, thăm Giáo Sư Trần Ngọc Ninh người thầy cũ sống gần một thế kỷ, cảm thấy đời người như một giấc mơ, tôi chợt nhớ đến câu thơ “lòng buồn nhớ chuyện trăm năm” và nhớ đến một người thầy trẻ trường y khoa Sài Gòn ngày xưa, Giáo Sư Trần Kiêm Thục. Tôi và Giáo Sư Thục có một mối giao tình đặc biệt, một trong những người vừa là thầy, là anh và là bạn tâm giao với những chuyện tâm tình từ y khoa đến chính trị. Mỗi lần gặp ông, anh em trò chuyện tâm đầu ý hợp vậy mà cuộc đời oái ăm, ngày ông ra đi hồi cuối Tháng Mười tôi lại không được gặp lần cuối để nói một lời từ biệt!

Image may contain: Tran Mui and Huoiv Ta, people sitting and indoor
Giáo Sư Trần Ngọc Ninh (phải) và tác giả. (Hình: Việt Nguyên cung cấp)
Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

VÀI ĐIỀU KHIẾN VIỆT NAM “KHÁC BIỆT” THẾ GIỚI

Lê Hoàng

“VÀI ĐIỀU KHIẾN VIỆT NAM “KHÁC BIỆT” THẾ GIỚI

– Trên thế giới, khi bị tước đoạt dân chủ người ta đổ ra kín đường để đấu tranh, ở VN người ta đổ ra kín đường xem bắn pháo hoa.

– Trên thế giới, ở tuổi 17 người ta nổi tiếng vì đoạt giải nobel hòa bình, ở VN người ta nổi tiếng vì ngậm bao cao su lên mạng khoe vú.

– Trên thế giới, khi để bùn đỏ nguy hiểm tràn ra người ta bồi thường và truy cứu trách nhiệm, ở VN người ta lên báo bảo rằng đấy là “bùn có màu đỏ”.

-Trên thế giới khi tham nhũng thành quốc nạn người ta thực hiện chiến dịch “bàn tay sạch”, ở VN người ta bảo đừng ném chuột kẻo vỡ bình.

– Trên thế giới, khi ngân sách cạn kiệt, nợ công tăng cao người ta quy trách nhiệm cho chính phủ, ở VN người ta coi đấy là trách nhiệm toàn dân.

– Trên thế giới, người ta coi việc giành lại những gì của đất nước đã bị cướp đoạt là trách nhiệm của mình, ở VN người ta “ưu ái” nhường lại cho đời sau.

– Trên thế giới, khi để tham nhũng tràn lan, kinh tế kiệt quệ người ta từ chức, ở VN người ta bảo Đảng phân công thì tôi làm, tôi không xin xỏ ai.

– Trên thế giới, khi ngoại bang xâm lược bờ cõi, người ta gọi đấy là kẻ thù, ở VN người ta gọi đấy là anh em.

– Trên thế giới, người ta gọi là thắng lợi khi đánh đuổi được ngoại xâm, ở VN người ta chờ nó rút sau khi đã tung hoành chán chê rồi tuyên bố thắng lợi.

– Trên thế giới, khi người ta biểu tình chống ngoại xâm mọi người bảo đấy là yêu nước, ở VN người ta bảo đấy là phản động.

– Trên thế giới, người ta bảo nhân quyền là do tạo hóa ban cho và bất khả xâm phạm, ở VN người ta bảo đấy là do Đảng ban cho và tao thích xâm phạm lúc nào thì xâm phạm.

Tội ác ghê gớm nhất của người ta ở VN là:

– biến con người Việt thành những con người không còn tử tế, không còn liêm sỉ, càng lúc càng tham lam, tàn bạo, thủ đoạn;

– biến xã hội Việt Nam thành xã hội suy đồi và giả dối đến mức chưa từng có từ trước tới nay trong văn hoá Việt;

– biến nước Việt thành một nơi chất độc huỷ hoại không những đến thứ để ăn, để uống, để hít thở mà còn huỷ hoại đến tận ý chí, tinh thần và đạo làm người; một nơi không còn một chút nội lực, một nơi con người thờ ơ với hiểm hoạ diệt vong ngay trước mắt…”

Ps: xin like, bình luận, chia sẻ !

Nguồn: https://www.facebook.com/100010321244448/posts/639827813037921/

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Người Việt hôm nay đang gắng sức để trốn chạy khỏi nước mình.

Image may contain: 2 people
Image may contain: plant, flower, tree, sky, outdoor and nature
No photo description available.
Image may contain: text
Image may contain: 1 person, text and outdoor
+5

Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Người Việt hôm nay đang gắng sức để trốn chạy khỏi nước mình.

Trốn chạy dù lưu vong. Trốn chạy để hy vọng. Không chỉ với kẻ đi mà còn với vô vàn người ở lại.

Tháng Chạp trời Hà Nội mù sương. Sớm 9h, mưa phùn lất phất, hạt bay liêu xiêu trong gió. Những chấm người vội vã di động trong cái lạnh trên mặt đất thẫm màu vì ướt. Chưa đầy một tháng nữa sẽ là Tết, cái ngày dễ khiến người ta phiền lòng vì những chúc tụng, những bữa cơm rời rạc và đầy tràn. Nó nhắn tin: “Em đặt vé máy bay rồi. Tết năm nay em ăn Tết ở nhà!“. Nó hớn hở như khoe quà. Đôi khi mọi người mơ hồ không rõ nó đã đi bao năm. “8 năm, em đi từ 2011“, nó nhớ rành rọt. Những ngày rời nhà trọ, lội trong tuyết, tất bật phụ bếp rồi nấu hàng trăm suất ăn cho tới khi kiệt sức dạy nó biết đếm thời gian. Nó vẫn đang đếm thời gian, đếm xuôi cho tới ngày về Tết, và đếm ngược cho đến ngày… ly hôn.

Về pháp lý, nó đã 2 lần vợ. Lần đầu để đi. Lần hai để kiếm tiền trả nợ cho “ván bạc” ban đầu.

Thằng nhỏ giờ đã đang mang quốc tịch khác.

Nhưng những năm tuổi xuân của nó, tuổi 20 mãi nằm trong những bối rối không nói được thành lời. Đôi khi nó tin việc cố gắng là cần thiết. Bố mẹ toan tính, vay nợ, sắp đặt cho kết hôn giả đều là vì sửa soạn cho tương lai của nó. Tương lai của nó cũng là tương lai của cả nhà. Rồi biết đâu cả đời con nó, cháu nó. Rời nước mà đi, chuyện đó nào có ai nghĩ khó. Nhưng đôi khi, những đêm 2h sáng không thể ngủ, những hồ nghi và cơn mù mịt dằn vặt nó trong thống khổ. Tỵ nạn sinh kế hay tỵ nạn ước mơ? Ước mơ để sống của nó đang bó khung trong tháng ngày xa lạ. Cuộc sống vốn đâu đơn thuần chỉ có ăn và mặc.

Ở cố hương của nó bây giờ, đi tìm xứ khác định cư đã trở thành câu chuyện thời thượng. Những ai đã đánh tiếng đi, vô tình chạm mặt người khác sẽ được đón bằng lời hỏi thăm: “Bao giờ đi?“. Đi được là mừng. Rồi người ta chép miệng nghĩ bao giờ mình mới có “cửa”. Dù đi ở đây chính là lưu vong, là rời bỏ nơi họ chôn nhau cắt rốn!
Năm 2018 kết thúc bằng ồn ào “quốc thể” quanh việc 152 người Việt mua tour du lịch để bỏ trốn tại Đài Loan. Năm 2019 bắt đầu bằng những tấm hình người Việt chui trong giường hộp, tủ lạnh trốn ở lại Đài Loan để tìm sinh kế. Từ gần 1 triệu người sau năm 1954 đến hàng triệu người sau năm 1975, người Việt đã hoảng hốt di tản, tỵ nạn từ Bắc vào Nam, tỵ nạn ra nước ngoài. Hàng triệu người đã lao ra biển trên những chiếc tàu đánh cá các loại để thoát khỏi đất mẹ của mình, chấp nhận cả cái chết để… lưu vong.
Không ai nghĩ sau ngày “đổi mới”, người Việt còn ra đi khốc liệt hơn thế. Theo số liệu của Tổ chức Di cư quốc tế (IMO) lấy từ nguồn dữ liệu của Vụ Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và xã hội (UN DESA), từ năm 1990 đến năm 2017, 2.727.398 người Việt Nam đã di cư ra nước ngoài [1]. Trong 28 năm qua, mỗi năm có trên 97,4 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài, bình quân mỗi tháng có hơn 8.000 người Việt ra đi. Mà dễ hình dung hơn, cứ mỗi giờ, 11 người Việt rời khỏi Việt Nam.

Bản đồ di cư của người Việt Nam. (Nguồn: IOM)

Năm 2018, số hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam nhiều hơn 82 lần so với số hồ sơ xin nhập tịch và trở lại quốc tịch Việt Nam (4.418 hồ sơ xin thôi so với 45 hồ sơ xin nhập, 9 hồ sơ xin trở lại quốc tịch), theo số liệu của Bộ Tư pháp.

Những người rời Việt Nam, họ đi đâu? Hơn 1,4 triệu người đã tới Mỹ, 238 nghìn người di cư sang Australia, hơn 190 nghìn người rời nước qua Canada. Đó chỉ là 3 nước mà người Việt chọn để đi đông nhất. Khác với những năm 1954, 1975, làn sóng di cư âm thầm mà dai dẳng sau ngày “kinh tế đổi mới” khiến người Việt có mặt ở khắp nơi trên thế giới, kể cả châu Phi, điều mà trước đó, cả hai miền Nam Bắc đều không hề có.

Sau năm 1975, họ bằng mọi giá phải thoát khỏi nước mình. Sau năm 1990, chẳng có lý do gì để họ ở lại. Theo IMO, người Việt đang di cư để lao động. Di cư du học. Di cư do hôn nhân. Di cư do nhận con nuôi. Di cư do buôn bán người. Trong nghĩa Hán Việt, di cư (移居) chỉ là dời chỗ ở. Còn người Việt đơn thuần hơn, họ gọi tên cho những cuộc ra đi của đồng bào mình là tỵ nạn.

Tỵ (避) có nghĩa là tránh, lánh xa; nạn (難) nghĩa là tai họa, khốn ách. Tỵ nạn (避難) có nghĩa là lánh họa, tránh điều không may xảy tới. Tất cả đều đang lánh họa, sợ hãi cho điều tai ương đang trờ tới.

Những làn sóng người Việt ra đi từ hơn bốn mươi năm trước “tỵ nạn chính trị”, hai mươi năm kéo dài tới nay “tỵ nạn sinh kế”, “tỵ nạn giáo dục”, “tỵ nạn môi trường”. Đó đâu đơn giản chỉ là di cư. Với rất nhiều người, họ đang trốn chạy, trốn chạy vì mưu sinh, trốn chạy để học hành, trốn chạy để cống hiến năng lực, trốn chạy để thở trong một môi trường không ô nhiễm tệ nạn, thiếu nhân quyền.

“Thuyền nhân”

Ô nhiễm rác thải trên đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi

Lội bắt cá, xúc tép ở rạch Cầu Tôm, Đồng Tháp

Người nghèo, kẻ bất đắc chí ra đi. Người có tiền, quan chức cũng dọn đường lưu vong để hưởng thụ. 3 tỷ USD người Việt đổ vào mua nhà ở Mỹ công bố năm 2017 chỉ là thống kê sơ bộ của Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Mỹ (NAR), con số thực tế còn cao hơn nhiều.

Nhưng dù là giới có tiền, người có học hay kẻ cùng đường, chọn con đường tha hương có lẽ ít nhiều vì cùng chung nhau một điểm. Không còn hy vọng vào sự thay đổi của xã hội Việt Nam, họ “tỵ nạn niềm tin”. Không ai muốn sống trong một xã hội từ chối sự thay đổi. Niềm tin bị cùn mòn khi cái ác quá lớn còn lòng thiện lương liên tục phải gắng gượng mỗi ngày. Trong môi trường nhiễm độc, bất kỳ ai cũng có thể trở thành Đặng Văn Hiến, Hoàng Công Lương. Người bần cùng phải chết. Người thanh thiện cũng không tha. Thay vì an sinh, giáo dục và y tế Việt Nam lại trở thành hiểm họa. Xã hội bất tín, giả dối trở thành thói quen để sinh tồn. Quan chức lo ngày “đứt cương”, còn dân sinh thì mỗi lúc sợi dây thuế phí càng thít chặt mặc tệ sách nhiễu, lạm thu, hối lộ đương nhiên tồn tại. Người dân bị cấm nói lên sự thật của đất nước mình…
Theo Gallup, ít nhất 50% người Syria muốn bỏ nước ra đi vì nội chiến không biết bao giờ kết thúc. Khoảng 2 triệu người Venezuela đã chạy khỏi đất nước trong năm 2018. Còn tại Việt Nam, người dân đang tha hương vì thiếu đói. Ít nhất 180.000 người Việt bị đẩy sang nước khác sau thảm họa Formosa. Kiều hối gửi về góp phần tăng GDP và ngoại tệ cho Chính phủ.
Tìm xứ khác định cư, ngay thời bình, đã trở thành mưu cầu để hạnh phúc.
Nơi không người thân, không có ký ức, vẫn rất nhiều người ra đi.
Nhưng khi những xô đẩy của cuộc sống xứ lạ qua đi, sự hoang hoải ở lại. Lao động, làm việc nơi xứ người cần gấp đôi sự kiên cường. Một nửa để thiêu đốt ngày xanh. Một nửa để nuôi lòng ở lại.

Cá chết dưới sông do nguồn nước bị ô nhiễm.

Người Việt Nam chúng ta sinh sống trên một vùng lãnh thổ mở rộng qua nhiều biến cố lịch sử, thời gian khác nhau, tiếp nối mà thành hình dựa trên các giá trị văn minh của nhiều nền văn hóa. Nơi giữa mỗi miền, trải qua các thế hệ, phong tục, tập quán khác nhau, phương ngôn khẩu ngữ khác nhau, thói quen dưỡng dục cũng khác. Vậy điều gì đã liên kết chúng ta lại thành một thể? Không phải là ở các sản vật văn minh mà là cái gốc văn hóa và truyền thống.

Sự gắn kết văn hóa của một dân tộc khởi nguồn từ sự gắn bó sâu sắc với đất đai và thiên nhiên. Trong cái toàn thể của tự nhiên, con người dần hình thành các phương thức hành vi để phù hợp với cộng đồng, thích ứng với môi trường tự nhiên để tồn tại. Triết lý tinh thần được tạo ra từ đó. Đó đơn giản là đạo lý – giá trị chung mang tính phổ quát – hướng con người tới cách tư duy và hành vi đúng đắn. Vì sự khác biệt địa khu, lịch sử, mà tâm thức của mỗi dân tộc mỗi khác. Nhưng mỗi dân tộc mang một nội hàm văn hóa riêng, ăn sâu vào ký ức của cộng đồng. Nên dù sinh sống trên lãnh thổ này hay vùng đất khác, tâm thức của mỗi người dân mỗi dân tộc vẫn mang theo dấu ấn văn hóa của dân tộc đó. Khi lịch sử bị đoạn đứt, phong tục tập quán, ngôn ngữ bị tách rời, tự nhiên và các di sản văn minh bị hủy hoại một cách hệ thống, những người thuộc về dân tộc ấy dần trở nên cô độc, đánh mất bản tính tự ngã khi văn hóa không còn.

Nỗi niềm thương quê nhớ xứ từng là điều day dứt khôn nguôi đối với thế hệ đánh cược cả mạng sống để rời nước sau năm 1975. Bốn mươi năm, hai mươi năm sau, tâm thức đó thế nào trong nghĩ suy của mỗi con người Việt còn ở lại và đã di cư sang xứ người?

Sài Gòn xưa và nay.

Sự rạn nứt văn hóa không chỉ bắt đầu bằng những suy đồi về văn hóa trong xã hội Việt trong vùng lãnh thổ Việt. Sự rạn nứt văn hóa khơi nguồn khi những giá trị văn hóa truyền thống bị phá bỏ, di sản bị coi là lạc hậu, giá trị quan thay đổi khi sức mạnh hay sự giàu có được tôn vinh làm thước đo phẩm giá. Trong cơn đứt gãy ấy, dòng di cư thời hiện đại của người Việt không chỉ đơn thuần là một cuộc chuyển dịch mang tính địa khu. Tự bản thân nó đã mang tâm thức lưu vong khi người Việt phủ định văn hóa Việt, các giá trị nhân sinh hình thành trong nền văn hóa đó. Sự luyến tiếc, nhớ thương, những thói quen sinh hoạt, tập quán Việt vẫn được người Việt tại hải ngoại giữ gìn tựa như chỉ dẫn rằng có một nền văn hóa giàu nhân sinh đã tồn tại, có các giá trị văn hóa tinh thần không thể bị thay thế của người Việt.

Năm 1944, luật sư Raphael Lemkin đưa ra thuật ngữ “Cultural Genocide” – Diệt chủng văn hóa, như một phần của tội diệt chủng. Dù chưa được chính thức thừa nhận trong công ước về quyền con người của Liên Hợp Quốc, thuật ngữ này vẫn được lưu ý trong các nghiên cứu về tính tồn vong của một nhóm cộng đồng. Từ góc nhìn về nạn diệt chủng người bản địa ở Canada, nhà xã hội học Andrew Woolford và giáo sư Adam Muller (cùng tại Đại học Manitoba, Canada) cùng đi đến lập luận: “Nếu như diệt chủng là việc phá huỷ nhắm vào sự tồn tại của một nhóm nào đó – tức là nhắm vào điều tạo nên nhóm đó – thì tất cả những hành động được thiết kế để làm cho nhóm đó bị huỷ diệt – về tài sản, văn hóa, chính trị, kinh tế hoặc bất cứ điều gì – đều được tính là diệt chủng”

Trong xã hội Việt hôm nay, mỗi ngày trôi qua, lại có thêm những cá nhân phải chịu đau đớn bởi bất công xã hội, áp bức và cướp bóc, phủ định tín ngưỡng. Trong cái nhìn về toàn thể, sự tổn thương đối với các giá trị văn hóa đang thực sự gieo rắc nỗi đau lên toàn bộ cộng đồng. Những cuộc tấn công vào di sản văn hóa đã và đang làm lung lay nền tảng tinh thần cơ bản của mỗi người: Niềm tin. Niềm tin vào sự thay đổi của xã hội. Niềm tin vào giá trị cốt lõi về tình người. Niềm tin rằng lẽ phải và sự thật là điểm tựa cho công lý. Niềm tin người chính trực được tôn vinh, người thiện lương được đền đáp. Niềm tin xã hội có người giàu, người nghèo, nhưng người nghèo không phải bỏ xứ đi, người giàu không tìm đủ mọi cách “đào xới” nước mình… Khi văn hóa sa đọa, những niềm tin ấy bị rớt xuống đến đáy. Đó là lý do người Việt ra đi, âm thầm và mạnh mẽ như sự đổ vỡ trong nền tảng xã hội.

Hơn bốn mươi năm qua, Việt Nam hiện hữu trước thế giới với tư cách của một quốc gia đã thôi tiếng súng. Có những biến động nằm trong dòng chảy phát triển, có những biến động mà hệ quả để lại là sự đổ vỡ của tự nhiên, của văn hóa, và di sản. Dù ở lại hay ra đi, nhiều người Việt vẫn tiếp tục trăn trở về sự đổi thay của đất nước. Ai cũng hiểu niềm tin là điều cần níu giữ. Không phải chỉ riêng niềm tin vào sự khởi sắc của văn minh xã hội, mà là niềm tin về những giá trị văn hóa hài hòa – cái gốc của nền tảng đạo đức xã hội. Từ bỏ các luân lý phản giá trị, khôi phục văn hóa, tìm về với các giá trị phổ quát của nhân loại, đó mới là lối đi để người Việt Nam rũ bỏ những bế tắc hiện nay, tìm về cội nguồn của chính mình.

Trai

Chú thích:
[1] International Organization for Migration – IOM (https://www.iom.int/world-migration)
[2] Culture Genocide – Chapter 7: Genocide & Mass Violence, website: Facing History and Ourselves (https://www.facinghistory.org/stolen-li…/…/cultural-genocide)

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Thánh Nhân-Ác Nhân Từ Ảnh Hưởng Của Giáo Dục_Lm. Michael Phạm Quang Hồng.

Nên nghe bài giảng này để suy nghĩ tại sao có thiện, có ác dầu hoàn cảnh sự kiện xảy ra tương tự nhau

Thánh Nhân-Ác Nhân Từ Ảnh Hưởng Của Giáo Dục_Lm. Michael Phạm Quang Hồng.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

BA ĐIỆN TÍN CỦA BỘ NGOẠI GIAO MỸ VỀ BIẾN CỐ HOÀNG SA THÁNG 1 NĂM 1974

Image may contain: sky, outdoor and water
Image may contain: outdoor
Image may contain: ocean, sky, outdoor and water
Image may contain: 4 people
Image may contain: outdoor
+2

Hoang Le Thanh

Ngày này cách đây 45 năm (1974 – 2019) – 2:

BA ĐIỆN TÍN CỦA BỘ NGOẠI GIAO MỸ VỀ BIẾN CỐ HOÀNG SA THÁNG 1 NĂM 1974

TRẦN ĐỨC ANH SƠN (tổng thuật)

Từ ngày 16/1 đến ngày 19/1/1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm các nhóm đảo phía tây nam thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Lực lượng đồn trú của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trên đảo, cùng với hải quân vừa được tăng cường từ đất liền đã giao chiến với quân Trung Quốc, nhưng do tương quan lực lượng bất cân xứng nên đã để mất Hoàng Sa vào tay Trung Quốc.

Do không thể dùng hải quân để tái chiếm các đảo, nên chính quyền VNCH dự định dùng không quân để phản công giành lại Hoàng Sa. Theo lời kể của Đại tá Nguyễn Quốc Hưng, Phụ tá tham mưu phó hành quân của Bộ Tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng hòa, với TS. Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ VNCH, kiêm cố vấn của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, thì ngày 19/1/1974, ông Thiệu đã ra mật lệnh cho Tư lệnh Không quân VNCH điều động máy bay chiến đấu siêu thanh F5-E ra oanh kích, phản công quân Trung Quốc để giành lại quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 19/1/1974, Tư lệnh Không quân VNCH đã điều 5 phi đoàn F5-E, gồm 4 phi đoàn ở Biên Hòa và 1 phi đoàn ở Đà Nẵng, mỗi phi đoàn gồm 24 máy bay và 120 phi công, tập kết về sân bay Đà Nẵng chuẩn bị tái chiếm Hoàng Sa. Trong những ngày này, máy bay do thám RF5 của VNCH đã liên tục bay thám thính lực lượng Trung Quốc ở khu vực Hoàng Sa, chụp ảnh và cung cấp thông tin để không quân chuẩn bị phương án tác chiến.

Cũng trong ngày 19/1/1974, 2 phi đoàn F5-E của Không lực VNCH tại Đà Nẵng, mỗi phi đoàn gồm 2 chiếc, đã 2 lần cất cánh ra khơi, nhưng vừa bay được khoảng trên 100 dặm thì được lệnh phải quay trở lại. (Nguyễn Tiến Hưng, “Tổng thống Thiệu và hải chiến Hoàng Sa, BBC, ngày 7/3/2017).

Chính quyền VNCH đã hủy bỏ lệnh tái chiếm Hoàng Sa bằng không quân, để cho Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ đó đến nay. Vì sao có sự thay đổi này?

Một số tài liệu liên quan đến trận “hải chiến Hoàng Sa” được công bố trong thời gian qua cho rằng: do Mỹ đã bắt tay với Trung Quốc trong vấn đề Hoàng Sa, không ứng cứu lực lượng VNCH khiến Hoàng Sa thất thủ, đồng thời ngăn cản VNCH phản công tái chiếm Hoàng Sa; hoặc do phía VNCH do tự lượng sức mình, thấy khó có thể tái chiếm Hoàng Sa nếu không có sự yểm trợ từ phía Mỹ nên đã ngưng việc phản công. Tuy nhiên, đó chỉ là những phỏng đoán chưa được kiểm chứng.

Trong số những tài liệu mật về chiến tranh Việt Nam được phía Mỹ giải mật trong thời gian gần đây, có 3 điện tín trao đổi giữa Bộ Ngoại giao Mỹ ở Washington D.C với Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 1/1974. Nội dung 3 điện tín này sẽ làm sáng tỏ vì sao Tổng thống VNCH hủy bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa bằng không quân.

* ĐIỆN TÍN TỪ WASHINGTON D.C

Trong bài viết đăng trên BBC ngày 7/3/2017 đã dẫn trên đây, ông Nguyễn Tiến Hưng có công bố nội dung một bức điện tín, mức độ KHẨN – MẬT, do Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger gửi cho Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn là Graham Martin vào ngày 19/1/1974. Nội dung bức điện như sau (bản dịch nguyên văn):

“Mật điện Bộ Ngoại giao 012641

1. Xung đột quân sự tại Hoàng Sa đã đưa đến thương vong cho VNCH với hai chiến hạm bị tên lửa STYX của Trung Quốc bắn chìm. Chính phủ VNCH có yêu cầu Mỹ giúp tìm kiếm và cứu vớt các nạn nhân. Tình hình thêm phức tạp vì báo cáo là trên đảo Pattle [đảo Hoàng Sa, nơi có lực lượng VNCH đóng quân] lại có một nhân viên dân sự Mỹ làm việc cho Văn phòng Tùy viên ở Đà Nẵng. Chúng tôi không hiểu tại sao người này lại có mặt ở đó.

2. Bộ Ngoại giao đã yêu cầu Bộ Quốc phòng ra lệnh cho Hải quân Mỹ tránh khỏi khu vực này. Hai ngày trước đây [17/1/1974] chúng tôi [Kissinger] có bàn luận với Đại sứ Martin qua điện thoại và bày tỏ ý muốn của chúng tôi là tình hình phải được hạ nhiệt…

3. Thông cáo của Bộ Ngoại giao gửi cho báo chí về vụ này sẽ nói theo những điểm như sau:

– Chính phủ Mỹ không đứng về phe nào trong việc tranh chấp Hoàng Sa nhưng hết sức mong muốn là sự tranh chấp được giải quyết trong hòa bình.

– Lực lượng quân sự Mỹ không dính líu gì vào xung đột này.

4. Chúng tôi yêu cầu Tòa Đại sứ ở Sài Gòn tư vấn cho chính phủ VNCH chỉ nên có những hành động tối thiểu để tự vệ và để cứu vớt nạn nhân (và người nhân viên Mỹ ở trên đảo) nhưng làm tất cả những gì có thể để tránh đụng độ trực tiếp thêm nữa với lực lượng Trung Quốc. Việc mà VNCH hay chúng ta không cần chút nào trong lúc này là đụng độ giữa Trung Quốc và Chính phủ Việt Nam về mấy hòn đảo, dẫn tới vai trò bất chấp của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam”.

* HAI ĐIỆN TÍN TỪ SÀI GÒN

Trong quá trình tìm kiếm các tư liệu về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tôi đã tiếp cận 2 điện tín do Graham Martin, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn gửi về Washington D.C., ngay sau khi xảy ra biến cố Hoàng Sa. Nội dung 2 điện tín này đề cập nhiều vấn đề, trong đó có nguyên nhân khiến VNCH hủy bỏ lệnh không kích tái chiếm Hoàng Sa.

1. Điện tín do Đại sứ Martin gửi đến Nhà Trắng ngày 20/1/1974, mức độ KHẨN

Bức điện gồm 8 mục, xin lượt thuật những nội dung chủ yếu như sau:

– Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc đã gọi điện cho Đại sứ Martin vào lúc 4g15 sáng ngày 20/1/1974 để báo tin về tình hình nghiêm trọng ở Hoàng Sa. Cuộc gọi này thực hiện theo lệnh của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, nhằm thông qua Đại sứ Martin để báo tin đến Tổng thống Mỹ Nixon về tình hình tại quần đảo Hoàng Sa và kế hoạch hành động của chính quyền VNCH. Theo đó hải quân Trung Quốc với sự yểm trợ của 3 chiếc MIG, đã tấn công lực lượng VNCH đang đóng giữ trên các đảo Hữu Nhật, Quang Hòa và Hoàng Sa, đã buộc lực lượng VNCH rút lui, để lại khoảng 70 quân nhân, có khả năng bị Trung Quốc giết hoặc bắt làm tù binh.

– Do lực lượng Trung Quốc áp đảo, “nên nó dường như không thực tế để cố gắng giải quyết vấn đề bằng phương thức quân sự, kể cả phản công bằng máy bay” (it did not seem practical to attempt to solve the problem by military means. Even counterattack by air was not feasible). Vì vậy Tổng thống Thiệu [cần] chỉ thị cho Ngoại trưởng Bắc tiến hành các bước đi ngoại giao để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và kêu gọi sự ủng hộ của Hoa Kỳ và các đồng minh thân cận. Theo đó, VNCH sẽ đưa vụ việc ra Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc (LHQ); thông báo với SEATO về hành động xâm lược của Trung Quốc; cân nhắc đưa vụ việc tranh chấp ra tòa án công lý quốc tế. Tuy nhiên, VNCH chưa quyết định việc này vì e ngại Trung Quốc sẽ không chấp nhận ra tòa.

– Thông báo cho các bên tham gia ký kết Hiệp định Paris (1973) rằng Hiệp định quy định tất cả các bên đều phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, và Trung Quốc là một bên tham gia ký kết Hiệp định này. Ngoại trưởng Bắc cũng kêu gọi một cuộc họp với các phái đoàn ngoại giao ở Sài Gòn về vụ việc và yêu cầu sự hỗ trợ từ chính phủ của họ.

– Đại sứ Martin hứa với Ngoại trưởng Bắc là sẽ cập nhật tình hình cho Ngoại trưởng Mỹ [Henry Kissinger], và sẽ liên lạc với ông Bắc ngay khi có phản ứng chính thức từ Washington D.C, đồng thời nói rằng nếu VNCH đưa vụ việc ra Hội đồng bảo an LHQ thì Mỹ sẽ lên tiếng nhưng cần cân nhắc đến những tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa của các đồng minh khác của Mỹ như Đài Loan và Philippines.

– Đại sứ Martin nghĩ rằng VNCH cần xem xét lại mối nghi ngờ khi đưa vấn đề ra Tòa án La Haye, kể cả khi Trung Quốc từ chối ra tòa thì việc này cũng chứng tỏ là VNCH đã chọn giải pháp hòa bình thay cho vũ lực. Điều này rõ ràng là có ích trong việc duy trì sự liên lạc sau này.

2. Điện tín do Đại sứ Martin gửi cho Tướng Brent Scowcroft, trợ lý của Ngoại trưởng Henry Kissinger, ngày 21/1/1974, mức độ KHẨN,

Bức điện gồm 10 mục, xin lượt thuật những nội dung chủ yếu như sau:

– Thông báo cho Brent Scowcroft biết diễn biến tình hình, để Brent Scowcroft báo cho Kissinger biết và quyết định cách tiếp cận của ông ta đối với Trung Quốc, nếu có. Martin cho rằng sự hiện diện của Tổng thống Thiệu ở Đà Nẵng tại thời điểm này đã tạo ra áp lực vô hình không cần thiết để xử lý vụ việc. Nếu như ông Thiệu có mặt ở Sài Gòn thì phía Mỹ sẽ biết được dự định của ông ấy và tham vấn cho ông Thiệu những hành động hợp lý hơn. Martin thông báo rằng: “sáng nay tôi đã nghe nói ông Thiệu đã ra lệnh cho không lực Việt Nam Cộng hòa ném bom quân Trung Quốc ở Hoàng Sa. Lệnh đó đã được đình chỉ”. (I heard this morning he had ordered RVN airforce to bomb Chinese forces in Paracels. That has been stopped).

– Cân nhắc việc tư vấn cho chính quyền VNCH rút đơn vị đồn trú ra khỏi đảo Nam Yết ở Trường Sa hay chờ đợi trong trường hợp Trung Quốc tiếp tục xâm phạm Trường Sa.

– Khẳng định Mỹ “không thể tham gia trực tiếp trong cuộc tranh chấp chủ quyền giữa các đồng minh lâu đời là VHCH, Đài Loan và Philippines, hoặc giữa những nước này với Trung Quốc mà Mỹ đang hy vọng xây dựng một mối quan hệ nhiều hơn trong tương lai” (We cannot, I think, become directly involved in the disputes over sovereignty between our old allies – the RVN, the ROC, and the Philippines. Or between them and the PRC with whom we would hope to build a more forthcoming relationship).

– Sử dụng tổ chức Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm quốc tế (ICRC) để yêu cầu các bên trao trả tù binh và những binh lính tử trận, tốt nhất là tiến hành trước dịp Tết [Giáp Dần, 1974] và nơi thực hiện việc trao trả này là ở đảo Hải Nam hay Đại lục thì sẽ thuận tiện hơn so với việc trao trả ở đảo Hoàng Sa.

– Xác minh việc hãng tin UPI ở Sài Gòn đưa tin “có một người Mỹ là [Gerald] Kosh bị Trung Quốc bắt giữ tại trạm khí tượng trên đảo Hoàng Sa”, xem thử ông ta đã bị giết hay bị bắt giữ.

– Dựa vào những quan sát của phái đoàn Mỹ tại Liên hiệp quốc để khuyên Việt Nam chỉ gửi công hàm phản đối Trung Quốc lên Hội đồng bảo an, nhưng không thông tin cho báo chí và chắc chắn là không phải để bỏ phiếu [lên án Trung Quốc].

– Đại sứ Martin cho biết Tổng thống Thiệu muốn gửi thư cho Tổng thống Nixon yêu cầu can thiệp và lên án Trung Quốc, nhưng Martin đã tìm cách ngăn cản việc gửi lá thư này đến Nixon, mà chỉ đề nghị Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc yêu cầu chính phủ VNCH đưa sự vụ ra Tòa án quốc tế và gửi báo cáo tới SEATO (Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á). Dùng ảnh hưởng của cá nhân để kiềm chế bất cứ hành động thiếu cân nhắc nào của Tổng thống Thiệu.

– Cân nhắc để tìm cách sử dụng sự kiện đáng tiếc này theo cách tiến hành các mục tiêu tổng thể của Mỹ; tìm cách tiếp cận với Trung Quốc theo các hướng có ích. Không đề nghị Trung Quốc trả lại quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam, vì Trung Quốc đã chiếm được nó và rõ ràng là không muốn trả lại. Chỉ khuyến nghị Trung Quốc trao trả cho VNCH những người tử trận và tù binh trong dịp Tết [Giáp Dần 1974]; Giúp VNCH bảo vệ Trường Sa và những mỏ dầu tiềm năng ở đó…

* MỘT VÀI NHẬN XÉT

Từ nội dung 3 điện tín trao đổi giữa Bộ Ngoại giao Mỹ với Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn trên đây, cho thấy:

– Mỹ đã “đi đêm” với Trung Quốc trong vấn đề Hoàng Sa, vì thế họ không hỗ trợ VNCH giành lại Hoàng Sa, bỏ mặc cho Trung Quốc chiếm đóng quần đảo này.

– Mỹ ngăn không cho chính quyền VNCH, đặc biệt là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, có những hành động có thể gây phương hại cho mối quan hệ Mỹ

– Trung đang ấm dần lên. Vì thế Mỹ ủng hộ VNCH lựa chọn giải pháp hòa bình (ngoại giao và pháp lý) đối với vấn đề xung đột ở Hoàng Sa, mà không dùng giải pháp quân sự.

– Tuy nhiên, phía Mỹ không trực tiếp yêu cầu VNCH hủy bỏ việc dùng không quân để phản công giành lại Hoàng Sa, mà tạo sức ép tâm lý, buộc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cân nhắc tương quan lực lượng và nhận thấy thái độ của Mỹ đối với vấn đề Hoàng Sa, rồi tự ra quyết định hủy bỏ việc không kích tái chiếm Hoàng Sa.

– Phía Mỹ khẳng định là sẽ giúp VNCH giữ Trường Sa trong trường hợp Trung Quốc manh động xâm phạm quần đảo này. Như vậy có thể thấy rằng Mỹ quyết định buông Hoàng Sa cho Trung Quốc nhưng với Trường Sa thì không.

T.Đ.A.S.

Nguồn: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10211457441106283&id=1670718810

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

10 Phép Lạ Thiên Chúa đã làm khiến Khoa Học không thể giải thích

CONGGIAOVN.COM
Dưới đây là một số hiện tượng Thiên Chúa bí ẩn khó giải thích nhất trong lịch sử:
Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Pháp tung bằng chứng khẳng định Hoàng Sa là chủ quyền của Việt Nam

No photo description available.

Lê Hoàng

Pháp tung bằng chứng khẳng định Hoàng Sa là chủ quyền của Việt Nam

https://tapchivn.net/phap-tung-bang-chung-khang-dinh-hoang-…

( trích )

“Theo luận điểm của Pháp, quần đảo Hoàng Sa đã được sáp nhập vào Việt Nam bởi Vua An Nam (Vua Nguyễn) vào năm 1816, sau đó là bởi Courbet vào năm 1885. Vào năm này, Trung Quốc đã thừa nhận rằng, Pháp thay thế quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này”.

( hết trích )

***

Người Pháp khi xâm lược Việt Nam cũng đã sớm nhận ra tầm quan trọng chiến lược của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đối với việc phòng thủ Đông Dương, nên đã tiếp quản hai quần đảo này với tư cách nhà nước bảo hộ từ những năm 1920.

Trích “Nước Pháp và chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam” ( http://www.reds.vn/…/hoang-sa-tru…/2516-nuoc-phap-va-hoag-sa ) :

– Ngày 8/3/1925, toàn quyền Đông Dương tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đất của nước Pháp.

– Ngày 24/4/1932, chính phủ Pháp đã có kháng nghị nêu rõ các danh nghĩa lịch sử và các bằng chứng về sự chiếm hữu của An Nam, sau đó là của Pháp đối với Hoàng Sa.

Cùng năm 1932, Pháp đề nghị đưa vụ tranh chấp Hoàng Sa ra các tòa án quốc tế, nhưng Trung Quốc đã từ chối chấp nhận đề nghị này. Đồng thời, theo Bản ghi chú ngày 25/5/1950 của Cố vấn pháp luật Bộ Ngoại giao Pháp gửi vụ châu Á Bộ Ngoại giao Pháp, vào các năm 1937 và 1947, Chính phủ Trung Quốc cũng từ chối chấp nhận gợi ý của chính phủ Pháp đưa tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa ra giải quyết trước tài phán quốc tế. Như vậy dưới thời Pháp thuộc, Pháp 3 lần đề nghị và Trung Quốc đều từ chối đưa tranh chấp Hoàng Sa ra trọng tài quốc tế.

Ngày 26/11/1937, Pháp phái kỹ sư trưởng công chính J. Gauthier ra Hoàng Sa để nghiên cứu tìm địa điểm xây dựng đèn biển, bãi đỗ cho thủy phi cơ và các điều kiện định cư ở quần đảo này.

Tháng 6/1938, một đơn vị lính bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú tại Hoàng Sa. Một bia chủ quyền được dựng trên đảo Hoàng Sa.

Ngày 5/5/1939, Toàn quyền Đông Dương J. Brévié ký quyết định tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành hai đơn vị hành chính “Croissant và các đảo phụ thuộc” và “Amphitrite và các đảo phụ thuộc”.

Đầu tháng 1/1947, một phái đoàn quân sự Pháp đến đảo Hoàng Sa.

Ngày 14/10/1950, chính phủ Pháp chính thức trao cho chính phủ Bảo Đại quyền kiểm soát các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” ( hết trích ).

Chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa cũng đã được khẳng định tại Hội Nghị San Francisco ( Mỹ ) hồi tháng 9 năm 1951 giải quyết các vấn đề về biên giới lãnh thổ sau Thế Chiến II. Trong hội nghị này, Cộng Hòa Nhân Nân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc không được mời tham dự do giữa Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai là người đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Hoa. Tại hội nghị này, trưởng phái đoàn Quốc Gia Việt Nam, Thủ Tướng Trần Văn Hữu nêu rõ :

“Chúng tôi cũng sẽ trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận … Việt Nam rất hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình và cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.

Tuyên bố của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được ghi vào văn kiện của Hội Nghị San Francisco mà không có sự phản đối nào của các nước tham gia cũng chính là sự thừa nhận của các nước Đồng Minh về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này, và 48/51 quốc gia đã bỏ phiếu phản đối đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc do phái đoàn Liên Xô nêu ra.

Fb Canh Le

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

TQ: Người đứng đầu các bệnh viện lớn thừa nhận thu hoạch nội tạng

Nửa cuối năm 2018 và đầu năm 2019, thế giới không chỉ nóng lên với cuộc thương chiến giữa Trung Quốc và Mỹ, mà còn liên tục đón nhận những bằng chứng không thể chối cãi về sự vi phạm nhân quyền cực kỳ nghiêm trọng tại quốc gia đông dân nhất thế giới này.

#Trithucvn

Đăng tải tại Tin Thế Giới | Để lại phản hồi

Công an đánh người

Hoa Kim Ngo and 3 others shared a post.
Image may contain: 3 people, people standing and outdoor
Image may contain: 3 people, people standing and outdoor
Image may contain: 2 people, outdoor

Image may contain: 2 people, people standing, flower, plant and outdoor
+5

Nguyễn Thúy Hạnh is with Dũng Trương and Nguyễn Văn Phương at Tượng Đài Lý Thái Tổ.

Chúng tôi đã đến được khu vực tượng đài Lý Thái Tổ, thắp nhang, dâng hoa tưởng niệm các anh hùng tử sĩ Hoàng Sa.

Gần đó, ngay trước cửa Nhà hát lớn, trên bục cao đám thanh niên được tổ chức nhảy múa tưng bừng. (Clip kèm theo đây).

Khi ra về, tôi và Dũng Trương đi tìm xe bus thì bị chặn lại. Viên AN đi kèm Trương Dũng đã vô cớ đánh anh, mặc dù Trương Dũng đang rất ôn hoà. Cùng lúc đó một tên côn đồ ngoài đường thấy vậy cũng hùa theo đánh đấm anh Dũng.

Tôi hô lên: “ĐÁNH NGƯỜI!”, tên côn đồ mới buông ra. Tuy anh Dũng ko bị đau lắm, nhưng chúng tôi phản đối hành động này của CA Hoàn Kiếm.

Công an Thanh Xuân sau đó đã ”áp giải” chúng tôi về nhà tôi ở Royal.

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Để lại phản hồi

Diễn biến mới nhất về việc cấm ghi hình khi tiếp dân của Hà Nội

Thanh Hieu Bui
Quả này gay go, giờ đưa ra bộ tư pháp xem anh Chung Con hay anh Phúc Nghẹo đúng. Bộ Tư Pháp né tránh trả lời, phía Hà Nội đề nghị chính phủ trả lời rõ ràng có cho dân quay phim, ghi hình trong trụ sở tiếp dân hay không.?

Rất căng, nếu anh Phúc Nghẹo không đồng ý thì rõ là anh Phúc ăn nói lươn khươn nh

Nhìn link tiêu đề một đằng, bên trong tiêu đề một kiểu thì biết rõ là đang rất căng. Có vẻ anh Phúc đã cảm thấy lỡ lời, giờ không biết nuốt lại ra sao, còn phía Hà Nội đang dồn anh Phúc buộc phải ý kiến tiếp.

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Uống trà sữa, ăn rau câu, bánh kẹo… gần 30 học sinh tiểu học nghi ngộ độc thực phẩm

Hiep Lev shared a link.
Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi

Được bồi thường 21 triệu USD vì bị bắt rửa chén vào chủ nhật

Trang Minh and Tin Tây Nguyên shared a link.
Đăng tải tại Tin Thế Giới | Để lại phản hồi

“VÀI ĐIỀU KHIẾN VIỆT NAM “KHÁC BIỆT” THẾ GIỚI

“VÀI ĐIỀU KHIẾN VIỆT NAM “KHÁC BIỆT” THẾ GIỚI

– Trên thế giới, khi bị tước đoạt dân chủ người ta đổ ra kín đường để đấu tranh, ở VN người ta đổ ra kín đường xem bắn pháo hoa.

– Trên thế giới, ở tuổi 17 người ta nổi tiếng vì đoạt giải nobel hòa bình, ở VN người ta nổi tiếng vì ngậm bao cao su lên mạng khoe vú.

– Trên thế giới, khi để bùn đỏ nguy hiểm tràn ra người ta bồi thường và truy cứu trách nhiệm, ở VN người ta lên báo bảo rằng đấy là “bùn có màu đỏ”.

-Trên thế giới khi tham nhũng thành quốc nạn người ta thực hiện chiến dịch “bàn tay sạch”, ở VN người ta bảo đừng ném chuột kẻo vỡ bình.

– Trên thế giới, khi ngân sách cạn kiệt, nợ công tăng cao người ta quy trách nhiệm cho chính phủ, ở VN người ta coi đấy là trách nhiệm toàn dân.

– Trên thế giới, người ta coi việc giành lại những gì của đất nước đã bị cướp đoạt là trách nhiệm của mình, ở VN người ta “ưu ái” nhường lại cho đời sau.

– Trên thế giới, khi để tham nhũng tràn lan, kinh tế kiệt quệ người ta từ chức, ở VN người ta bảo Đảng phân công thì tôi làm, tôi không xin xỏ ai.

– Trên thế giới, khi ngoại bang xâm lược bờ cõi, người ta gọi đấy là kẻ thù, ở VN người ta gọi đấy là anh em.

– Trên thế giới, người ta gọi là thắng lợi khi đánh đuổi được ngoại xâm, ở VN người ta chờ nó rút sau khi đã tung hoành chán chê rồi tuyên bố thắng lợi.

– Trên thế giới, khi người ta biểu tình chống ngoại xâm mọi người bảo đấy là yêu nước, ở VN người ta bảo đấy là phản động.

– Trên thế giới, người ta bảo nhân quyền là do tạo hóa ban cho và bất khả xâm phạm, ở VN người ta bảo đấy là do Đảng ban cho và tao thích xâm phạm lúc nào thì xâm phạm.

Tội ác ghê gớm nhất của người ta ở VN là:

– biến con người Việt thành những con người không còn tử tế, không còn liêm sỉ, càng lúc càng tham lam, tàn bạo, thủ đoạn;

– biến xã hội Việt Nam thành xã hội suy đồi và giả dối đến mức chưa từng có từ trước tới nay trong văn hoá Việt;

– biến nước Việt thành một nơi chất độc huỷ hoại không những đến thứ để ăn, để uống, để hít thở mà còn huỷ hoại đến tận ý chí, tinh thần và đạo làm người; một nơi không còn một chút nội lực, một nơi con người thờ ơ với hiểm hoạ diệt vong ngay trước mắt…”

Ps: xin like, bình luận, chia sẻ !

Nguồn: https://www.facebook.com/100010321244448/posts/639827813037921/

Đăng tải tại Tin Việt Nam | Để lại phản hồi