Hôm nay CN XII dâng lễ 1 mình.

Chúa Nhật XII TN (mùa Covid)

Hôm nay CN XII dâng lễ 1 mình.

Đức Cha Agatho, Giám Mục Giáo phận Palermo, đi từ đảo Sicily đến Rome. Trong cuộc hành trình, ngài gặp nguy cơ chìm tàu. Một cơn giông tố hãi hùng nổi lên, sắp sửa đánh chìm con tàu ngài đang đi. Không còn hy vọng gì, ngoại trừ lòng thương xót nhân lành của Thiên Chúa toàn năng.

Khi ấy, tất cả mọi người bắt đầu cầu nguyện và dâng lên Chúa lời cầu xin hãy gìn giữ mạng sống cho họ. Trong khi họ cầu nguyện như thế, thì người thủy thủ đang cầm bánh lái, tuy được cột chặt vào tàu, nhưng một cơn giông mạnh mẽ đã làm đứt dây cột và kéo người thủy thủ xấu số kia xuống sóng nước, và Đức Cha Agatho coi anh ta như đã chết. Trong lúc đó, con tàu vẫn đi, sau những cơn hiểm nguy, đã đến được đảo Ostika. Tại đây, Đức Giám Mục dâng thánh lễ cầu cho người thủy thủ không may; nhưng ngay khi con tàu được sửa chữa xong, tiếp tục hành trình đến Rome. Khi vừa lên bờ, Đức Giám Mục đã thấy anh thủy thủ, người mà ngài tưởng rằng đã chết, đang đứng trên bờ. Tràn ngập niềm vui, ngài hỏi anh đã thoát những nguy hiểm dữ dằn suốt nhiều ngày như thế nào. Người thủy thủ khi ấy kể lại chiếc xuồng nhỏ bé của anh lúc nào cũng như sắp sửa lật úp, nhưng lại luôn luôn trồi lên trên những làn sóng, vô hại. Hết ngày lại đêm, anh ta mới thành công trong việc chinh phục những ngọn sóng; nhưng đuối sức vì đói và khát, chắc chắn anh cũng bị chết chìm nếu như không được phù giúp. Anh ta kể tiếp, “Thế rồi bỗng nhiên, khi tôi đã hoàn toàn vô vọng, như thể xuất thần, không biết mình đang ngủ hay thức, tôi nhìn thấy một người đứng trước mặt và cho tôi bánh. Vừa khi tôi lãnh nhận bánh ấy, sức lực của tôi liền hồi phục, và ngay sau đó, tôi được một con tàu cứu vớt và chở về đây.” Khi hỏi biết ngày giờ sự việc này xảy ra, Đức Giám Mục nhận thấy trùng với ngày giờ ngài dâng thánh lễ tại đảo Ostika để cầu cho người thủy thủ xấu số. (Joan Carroll Cruz, Phép Lạ Thánh Thể)

Tin mừng (Mc 4, 35-40) hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu có quyền trên sóng gió, cứu các môn đệ được bình an. Vì trên chiếc thuyền của các Môn đệ có Chúa Giêsu hiện diện, cho nên sóng gió không làm gì được các ngài.

Như vậy, sóng gió COVID đang hoành hành trên con thuyền nhân loại, con thuyền mỗi gia đình và con thuyền cuộc đời của mỗi người chúng ta. Mỗi người chúng ta nhìn lại xem, trên con thuyền cuộc đời của mình có Chúa Giêsu ơ trong đó không? Tuy không có được dự lễ như thường lệ, chúng ta có nhớ đến Chúa không? Có mời Chúa đến trên con thuyền gia đình và con thuyền cuộc đời mỗi người chúng ta không?

Qua câu chuyện của Đức cha , Agatho, làm cho chính bản thân linh mục của con càng siêng năng và sốt sắng dâng lễ hơn. Vì trong thánh lễ chính Thiên Chúa ban muôn vàn Ân sủng cho nhân loại. Hơn thế nữa, trong lúc đại dịch Covid bùng phát, linh mục dâng lễ 1 mình để kéo ơn thánh Chúa xuống trên nhân loại, trên giáo xứ, ân nhân và thân nhân.

Và chính nơi giáo dân cũng cố gắng sắp xếp hiệp thông và sốt sắng dự lễ online, cùng với linh mục và giám mục để cầu nguyện kéo ơn Chúa xuống trên thế giới và cho mỗi người chúng ta.

Qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria và Thánh cả Giuse, xin Chúa Ba Ngôi gìn giữ và chúc lành cho chúng ta luôn mãi. Amen.

Đăng tải tại LỜI CHỨNG, TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở Hôm nay CN XII dâng lễ 1 mình.

Truyện ngắn Tuổi Già Là Thời Sung Sướng Nhất – Tràm Cà Mau

Truyện ngắn Tuổi Già Là Thời Sung Sướng Nhất – Tràm Cà Mau

Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Chức năng bình luận bị tắt ở Truyện ngắn Tuổi Già Là Thời Sung Sướng Nhất – Tràm Cà Mau

Dinh Dưỡng ở Tuổi Già

Dinh Dưỡng ở Tuổi Già.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D.

Hỏi rằng có một công thức dinh dưỡng nào toàn hảo cho tuổi thọ trường sinh, thì câu trả lời là không có. Nhưng những lời khuyên thực tế sẽ là: thực phẩm phải đa dạng, phẩm chất dinh dưỡng cao và các chất dinh dưỡng phải cân bằng.

Tại sao lại có chuyện đa dạng, cân bằng, dinh dưỡng cao?

Thưa lý do là vì ngoài các chất dinh dưỡng chung thì mỗi loại thực phẩm lại có những chất mà chỉ riêng mình mới có. Cho nên, bữa ăn cần phải có nhiều món ăn khác nhau. Chẳng hạn ta chỉ ăn thịt cá mà quên món rau tươi xanh, thì là điều thiếu sót rất đáng trách vì thịt cá không có chất xơ của rau. Mà chất xơ lại rất cần cho cơ thể.

Đa dạng nhưng không “hổ lốn”, hỗn độn, nhất bên trọng, nhất bên khinh mà cần theo một lỷ lệ đã được nghiên cứu chỉ định. Đó là sự cân bằng giữa các loại thực phẩm. Thông thường các nhà dinh dưỡng khuyến cáo nên dùng từ 45-55% chất carbohydrate từ cơm, gạo, mì, rau trái, 25-30% chất béo và phần còn lại là chất đạm thịt cá, các loại hạt.

Và món ăn phải có giá trị dinh dưỡng cao, tức là có đủ các chất mà cơ thể cần để hoạt động, để tái tạo tế bào hư hao, để trẻ thơ tăng trưởng. Các thực phẩm như đường tinh chế, rượu chỉ cho calori mà không cho chất dinh dưỡng, cho nên nếu tiêu thụ nhiều chỉ làm cho cơ thể phì lộn, béo bệu.

Dù ở tuổi già, nhưng quý lão niên vẫn cần năng lượng để làm việc, để duy trì sức khỏe tuổi cao đồng thời, nếu dinh dưỡng tốt, cũng có thể phòng tránh được một số bệnh như bệnh loãng xương, bệnh tim, bệnh cao huyết áp, thiếu hồng cầu, sa sút trí tuệ Alzheimer và vài loại ung thư. Chẳng may mà cụ nào đang mắc một vài trong các bệnh vừa kế thì dinh dưỡng đúng cách cũng khiến cho bệnh nhẹ nhàng, hồi phục mau hơn.

Về số lượng chắc chắn là nhu cầu của quý cụ sẽ ít hơn là khi còn trung niên trai tráng, vì bây giờ đâu còn phải lao động chân tay cật lực. Do đó quý cụ vẫn cần các chất dinh dưỡng chính như mọi người. Đó là chất carbohyrat (chất bột, đường), chất dạm, chất béo, vitamin, khoáng chất và nước.

Con người, nói chung, không giống các sinh vật khác ở chỗ là ta không phải di chuyển để lùng kiếm thức ăn hay e ngại không kiếm đủ thức ăn. Mà ta lại có mối lo là làm sao không chỉ-ngồi-đó-mà-ăn hoặc ăn-quá-nhiều. Lý do là tại nhiều quốc gia, thực phẩm quá dư, chỉ muốn ăn gì và có tiền là xong. Nhưng ăn nhiều mà không vận động, tiêu dùng thì thật là nguy hiểm.

Sau đây là một số điều cần làm để có dinh dưỡng tốt cho tuổi già:

1- Biết lựa thức ăn thích hợp.

Tại Hoa kỳ, năm 1990 một đạo luật liên hệ tới việc liệt kê phẩm chất, thành phần của thức ăn đã được ban hành với mục đích để giới tiêu thụ dễ chọn lựa thức ăn thích hợp với nhu cầu của mình. Các quốc gia khác cũng phụ họa, làm theo.

Nhãn hiệu (Food label) đó không hoàn toàn đáng tin cậy, nhưng ít nhất cũng có giá tri hướng dẫn. Ta nên coi kỹ bảng phân tích này để lựa thức ăn thích hợp với cơ thể của mình.

2-Khi nào thì ăn?

Tất nhiên sẽ có câu trả lời: Thấy đói là ăn. Vậy khi nào thì đói, đói bụng hay đói con mắt? Laị nữa: ăn để sống hay sống để ăn?

Người phương Tây có thói quen: ăn bữa sáng bữa trưa nhe, bữa tối thịnh soạn. Kể ra cũng tiện, vì sáng dậy vội vã đi làm, chỉ đủ thì giờ để chiêu một ly cà phê.

Trưa ngồi ở sở vừa làm việc vừa nhai miếng bánh mì kẹp chả mới làm tối hôm qua, kèm theo quả chuối, ly coke.

Tối về rảnh rang, làm một bữa cơm rượu no nê, rồi lên giường ngủ.

Thế là cholesterol trong máu tăng cao, những tảng mỡ không mời mà ngang nhiên xâm lấn vùng bụng, vùng hông.

Từ hơn ba chục năm trước, tại viện Đaị Học Chicago, nhà dinh dưỡng Clarence Cohln đã chứng minh rằng những người ăn một bữa no mỗi ngày thì cholesterol sẽ cao hơn những người nhâm nhi nhiều lần trong ngày. Ðây có lẽ cũng là lý do mà cholesterol ở nữ giới, lúc thiếu thời, thấp hơn ở nam giới, vì quý bà hay ăn quà vặt. Còn quý ông thì nhồi nhét một bữa cho xong.

Ăn một bữa no cũng bắt buộc sự biến hóa thực phẩm phải làm việc qúa sức, vị tố tiêu hóa, nhất là Insulin, phải tiết ra nhiều trong một thời gian qúa ngắn, đôi khi có khuyết điểm.

Tốt hơn hết là tuổi già cứ nhâm nhi, chia phần ăn ra nhiều phần nhỏ rồi ăn lai rai nhiều lần trong ngày.

3-Hỏi rằng ăn bao nhiêu cho đủ?

Xin thưa là các cụ Á đông ta quan niệm để sống lâu chỉ nên ăn” ba phần đói, bẩy phần no”. Để còn hơi thòm thèm, sau này còn muốn ăn món đó nữa và cũng để tránh ăn quá nhiều.

Các nhà dinh dưỡng lại khoa học hơn. Họ khuyên:

-Nam giới trên 50 tuổi tiêu thụ khoảng 2000 calo nếu ít hoạt động, 2200-2400 calori nếu hoạt động vừa phải và nếu còn rất hoạt động lại cần nhiều hơn: 2400-2800 calo mỗi ngày.

Với nữ giới thì theo thứ tự như trên sẽ là 1600 calori, 1800 calori và từ 2000-2200 calori.

4-Làm sao để ăn ngon?

Ăn uống đứng đầu tứ khoái (ăn, ngủ, sinh lý, “đổng ìa”). Nhưng nhiều vị cao niên lại chẳng muốn ăn hoặc thấy món ăn nhạt tuếch, vô vị. Trở ngại này có thể là vì răng không còn nhiều, lợi viêm sưng, nhai nuốt khó khăn, nước miếng giảm hoặc đang uống nhiều dược phẩm trị bệnh làm giảm khẩu vị; hoặc cô đơn lủi thủi ăn uống một mình.

Hãy thổ lộ với các nhà chuyên môn dinh dưỡng, y tế để cùng nhau giải quyết.

Lựa nấu món ăn ưa thích, cho thêm chút gia vị mầu mè để món ăn hấp dẫn hơn. Và cũng tìm thêm bạn để đồng thực, đồng ẩm.

5-Giới hạn thực phẩm có nhiều chất béo nhất là mỡ động vật.

Chất béo bão hòa làm tăng cholesterol trong máu. Chất béo từ thực vật, bất bão hòa, làm giảm cholesterol.

Giản dị nhất là ăn thịt nạc, thịt gà, vịt bỏ lớp da đầy mỡ; hấp hay nướng nhiều hơn là chiên; thay thịt bằng cá, rau, trái cây; uống sữa ít chất béo.

6-Ăn thực phẩm có nhiều rau, trái cây hạt ngũ cốc

Các thực phẩm này tương đối vừa rẻ lại tốt lành và cũng có nhiều năng lượng.

Các nhà dinh dưỡng khuyên nên dùng 5 đơn vị trái cây và rau mỗi ngày, 6 tới 11 đơn vị hạt ngũ cốc. Mỗi đơn vị là lượng thức ăn mà ta thường dùng như là một bát cơm, một quả táo cỡ trung.

Nên nhớ là trên thế giới có cả hàng trăm triệu người ăn chay mà họ vẫn sống lâu. Như vậy ăn chay chắc phải có một gía trị dinh dưỡng nào đó.

Lại nữa: phần ăn của các lực sĩ vô địch trước khi tranh giải đều có nhiều carbohydrat, là một lý do để ta tăng số lượng rau và trái cây trong bếp và trên bàn ăn của chúng ta .

7-Một vài ý kiến về chất đạm protein.

Cơ thể được cấu tạo bằng chất đạm. Chất này có nhiều nhất trong thịt động vật nhưng cũng có trong thảo mộc, nhất là các cây thuộc họ đậu như đậu hoà lan, đậu cô ve, đậu nành.

Khoa học đã chứng minh là một khẩu phần có nhiều thịt động vật làm tăng hiểm họa bệnh tim.

Do đó, tới tuổi cao, nên theo một chế độ thực phẩm với thịt nạc, sữa ít chất béo, nhiều rau, trái cây.

8-Nước và muối cũng cần được lưu ý.

Trong cơ thể, tỷ lệ nước lên đến 60% trọng lượng, mỗi ngày thận lọc gần hai trăm lít máu và thải ra1/100 dung dịch nước. Như vậy cơ thể cần có một số nước tối thiểu để tồn tại. Trung bình, cần uống 1 lít rưỡi nước mỗi ngày, và uống thêm khi nào thấy cần để tránh tình trạng khô nước hay loãng tiểu.

Nước không có calories, không có khoáng chất, đôi khi không mất tiền mua lại còn là chất bôi- trơn (lubricant) tốt cho cơ thể.

Với muối, chỉ cần một phần tư thìa cà phê mỗi ngày là đủ. Dân chúng dùng nhiều muối, như người Nhật, thường có nhiều nguy cơ cao huyết áp.

9- Tăng tiêu thụ chất xơ

Gần đây, chất xơ (fiber) trong rau và trái cây được nhắc nhở tới nhiều vì có công dụng trong việc hạ thấp lượng cholesterol trong máu, tăng tốc độ di chuyển của thức ăn trong ruột, tránh táo bón và viêm ruột.

Chất xơ không có giá trị dinh dưỡng mà chỉ làm đầy bao tử, cho nên còn có tác dụng giúp ta giảm béo mập…

10- Dùng bổ sung sinh tố và khoáng chất

Các vi chất này có tác dụng xúc tác trong việc chuyển hóa thức ăn và có nhiều trong các loại thực phẩm. Tuy nhiên, ở người cao tuổi, khẩu phần nhiều khi không được cân bằng và có thể thiếu một vài loại sinh tố, khoáng chất. Vì vậy nên dùng thêm một phân lượng phụ trội.

Kết luận

Để sống già sống khỏe, cần có dinh dưỡng đầy đủ, cân bằng, đa dạng.

Hãy tiêu thụ nhiều loại thực phẩm khác nhau.

Hãy giới hạn các thực phẩm “rỗng”, chỉ có calori mà không có chất dinh dưỡng, như rượu, nước có hơi, bánh ngọt.

Hãy lựa thực phẩm có ít cholesterol, chất béo.

Và phòng tránh ngộ độc, tiêu chẩy với vệ sinh an toàn thực phẩm. Ăn chín, uống sôi, rau trái sạch, rửa tay thường xuyên.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D.

From: TU-PHUNG

Đăng tải tại SỨC KHOẺ | Chức năng bình luận bị tắt ở Dinh Dưỡng ở Tuổi Già

Biet On Cha-Le Ha & Tình cha tựa thái sơn-Ca sĩ Quang Linh.

HAPPY FATHER’S DAY 2021


 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biết Ơn Cha-Le Ha

Tình cha tựa thái sơn. Ca sĩ Quang Linh.

From: NguyenNThu

Đăng tải tại NHẠC CẢNH | Chức năng bình luận bị tắt ở Biet On Cha-Le Ha & Tình cha tựa thái sơn-Ca sĩ Quang Linh.

TÔN VINH THIÊN CHÚA LÀ CHA

TÔN VINH THIÊN CHÚA LÀ CHA

(Nhân ngày Lễ Hiền Phụ)

Tuyết Mai

Lạy Đức Chúa Cha đang Ngự Trên Trời!

Quyền năng sáng láng

Trị vì khắp cõi khắp nơi

Trên khắp tầng trời

Trên khắp vũ trụ

Trên muôn vạn vật

Trên trời, dưới đất

Và cả tận đáy lòng của đại dương.

**

Nhân Loại chúng con trên cùng khắp địa cầu

Cúi mình kính lạy Đức Thiên Vương

Danh Người lẫy lừng khắp bờ cõi

Cả Triều Thần trên Thiên Quốc

Cả Nhân loại và mọi sinh linh dưới đất

Cả thảy sấp mình chúc tụng, ngợi khen

Và Tôn Vinh Thiên Chúa Cha.

**

Chúc Thiên Chúa Cha ngày Lễ Hiền Phụ

Tình Yêu hoài chứa chan, an khang hoan lạc

Tình yêu đổ xuống như mưa tuôn

Thành Hồng Ân ban phát

Cho dân Chúa dưới trần

Được bình an, hạnh phúc, luôn yêu thương

Đó là niềm vui là nguồn an ủi

Cần thiết nhất cho con cái Chúa.

**

Cảm tạ lòng sủng ái và hồng ân của Chúa

Ban cho chúng con một Tình Yêu chan chứa

Vô biên hải hà và độ lượng của Người

Cùng với tất cả mọi sự, mọi điều và mọi thứ

Tất cả những gì mắt chúng con có thể thấy

Và trái tim chúng con có thể cảm nhận được.

**

Nhân loại chúng con sấp mình cảm tạ

Một Thiên Chúa đấng rất vô cùng

Trong mọi ngày sống của chúng con

Trong mọi phút giây

Cho những thứ chúng con cần

Nhưng mắt không thể thấy

Tay không sờ được nên thiếu cảm nhận

Và tai chúng con chưa có từng được nghe.

**

Nhưng chúng con hẳn hiểu biết rằng:

Những điều mắt chẳng được thấy

Tai chẳng được nghe

Lại là những điều chúng con cần được biết

Được dạy dỗ và được bảo ban

Nhờ ơn Chúa Thánh Thần.

**

Nhân Loại chúng con thật sự là giống loài

Yếu đuối đức tin vì có trái tim chai cứng

Mắt để bị che bởi những phù hoa

Cùng những thứ chóng qua

Luôn để bị mê hoặc và sống trong tội lỗi

Luôn vô ơn, bội bạc

Bất nhân và gian ác

Chẳng hề cần biết dâng lời cảm tạ

Đến một Thiên Chúa luôn yêu thương

Đấng sẵn sàng xóa hết mọi tội lỗi

Khi con người biết sám hối ăn năn.

**

Lạy Đức Chúa Cha nhân từ!

Tự bao đời Người đã luôn yêu thương

Cùng nhẫn nại

Phạt chúng con rồi lại bồi đắp yêu thương

Phạt rồi lại thấy thương cảm tội nghiệp

Suốt từ đời cha ông chúng con

Cho đến cả thế hệ của con cháu

Của chúng con sau này.

**

Lạy Thiên Chúa Cha Đấng muôn đời

Toàn năng và hằng hữu!

Chúng con cúi lạy và nguyện xin

Thương ban cho hết thảy chúng con

Ơn khôn ngoan để biết hoán cải

Ban cho chúng con có tấm lòng đơn sơ

Ngoan hiền như chim bồ câu.

**

Chúng con nguyện xin với Đức Chúa Cha!

Vì lòng từ bi và hằng Thương Xót

Thương ban cho chúng con luôn biết sống:

Trong tâm tình cảm tạ, tri ân

Và biết ơn Cha

Hằng ngày, hằng giờ và mọi phút giây

Trôi qua trong cuộc sống (của từng người)

Rất tạm bợ ở nơi trần gian này.

**

Để mai sau chúng con có được

Cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu, muôn đời

Là cùng đích để được lên Thiên Đàng

Sẽ là nơi cho tất cả chúng con

Khao khát Tìm Về Chúa Ơi!.

**

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

20 tháng 6, 2021

***

Xin bấm vào mã số dưới đây để cùng hát:

https://www.youtube.com/watch?v=GRXVWFARZug

(Đấng Cứu Tinh)

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở TÔN VINH THIÊN CHÚA LÀ CHA

“Việt Kiều” về thăm quê – CHUYỆN PHIẾM – NGUYÊN CHÂN

CHUYỆN PHIẾM – NGUYÊN CHÂN

“Việt Kiều” về thăm quê

– Mấy người? Mấy người?

– Bốn, hai Việt Kiều với hai Việt Cộng!

Đó là câu đối đáp giữa nhóm người vừa bước vào tiệm phở với ông chủ tiệm. Cách ăn nói ở Việt Nam bây giờ coi mòi tự nhiên và hình như họ không còn e dè gì nữa.

Về nước, mặc bộ đồ lao động, da được phơi nắng hai ba tuần nám đen cho giống người trong nước, tôi ung dung ngoắc chiếc xe ôm và oách như người Di Cư 54:

– Đi Thủ Đức!

Gió chiều lồng lộng trên xa lộ Biên Hoà, tôi mỉm cười đắc chí, lẩm bẩm ca bài “Từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau…. đay, còn tay kia… chúng ông dắt con cầy…”

Chạy ngang khoảng Cát Lái, chú xe ôm bắt chuyện:

– Anh ở lước lào về?

– Ô hay, sao lại “lước lào về” xế lày?

Tôi hỏi:

– Anh tưởng tôi là Việt Kiều à? Tôi quê ở ngoài Hà Lam Linh đấy.

Anh nhất định tôi chẳng lừa được anh:

– Có đời nào người trong “lước” mà lại ra đường đứng ngẩn ngơ ngó trời ngó đất, ngó cái bảng hiệu, ngó lùm cây Bông Giấy và ngó… con gái đi đường, y hệt đám bộ đội hồi mới vô Nam năm 75!

Anh giải thích thêm:

– Ra đường, cứ thấy ai băng qua lộ mà thập thò như con nít, nắm tay nhau hai ba người như dân quê lần đầu ra tỉnh, chắc trăm phần trăm họ là Việt Kiều đấy.

Hôm về quê, vợ chồng tôi ra chợ, cũng được chào đón một câu rất niềm nở:

– Mời anh chị Việt Kiều mua cho em ít rau.

Tôi ngạc nhiên, nhưng con em giải thích:

– Ai đời vào chợ mà mặt mày ngơ ngáo, chợ quê có ai đi cả hai vợ chồng như thế, mà có đi chăng nữa cũng người đầu chợ kẻ cuối chợ lo mua đồ mà về cho sớm, chứ có đâu dẫn nhau đi vô hàng rau, nhìn quả khổ qua, ngó thúng cà pháo, ngó cả bó rau dền.

Nhớ lúc mới bước xuống phi trường, tôi mắc cười ngay cái bảng ghi hàng chữ “Tổ Lái”, người đi bên cạnh hỏi nhỏ:

– Cười gì thế?

– Cái bảng ghi Tổ Lái.

– Kệ họ, đó là lối đi dành riêng cho tiếp viên và phi công, mình đi lối bên này.

Khi về tới đò Vàm Cống gần Long Xuyên, vợ tôi lại chúm chím cười với hàng chữ: Cụm Phà Vàm Cống. Thằng em tôi thấy thế nói rằng:

– Ăn thua gì, ở Sài Gòn còn có một cơ quan đề là Cụm Cảng Hàng Không Phía Nam nữa kìa.

Từ đường lộ vào nhà Má tôi còn hai cây số nữa, khi bước xuống đò, tôi thấy hàng chữ sơn trên một tấm tôn treo toòng teng: Đừng cột ghe sập nhà.

Em tôi lại phải giải thích là nhà làm de ra phía trên sông, nếu người ta cột ghe vào mấy cây chống sàn nhà, khi tàu lớn chạy ngang sẽ tạo ra sóng nhồi xóc chiếc ghe, thì nó sẽ giật tung lên và đổ nhà là cái chắc.

Bao nhiêu năm xa nhà, về lại thì cái gì cũng lạ và dễ tức cười, mà người ở nhà họ cũng cười cái lạ của mình. Tôi ra phố chợ, đặt tiệm da giầy một cái bao điện thoại theo ý mình, đeo vào, thằng bạn lắc đầu cười:

– Y như cái bao đựng đạn súng lục.

Mặc cái áo sơ mi kiểu Hawaii định ra phố, bà chị nói:

– Trông cậu y như phường tuồng!

Tôi ở Garden City, Kansas, muốn về Việt Nam phải lên Wichita để đón máy bay, lái xe hơn ba tiếng đồng hồ. Khi đi, mùa hè oi ả, mặc chiếc quần ngắn cho nó mát, lên đến nơi, gặp bạn bè nói chuyện đến khuya, gần nửa đêm chuẩn bị áo quần để sáng mai ra phi trường sớm mà về Việt Nam, lục quần áo mới thấy “sự cố” là không có cái quần dài nào cả, vội vàng ra chợ Walmart kiếm cái quần vào lúc nửa đêm. Walmart bán đủ mọi cỡ áo quần, duy chỉ có cỡ của tôi nó lại không bán, cuối cùng cũng lựa được một cái tạm hài lòng: – Lưng rộng hơn hai số, bù lại, chiều dài ngắn đi một số.

Hôm sau tôi mặc vào cảm thấy nó làm sao ấy, nhưng lỡ rồi, mặc đại, đi đường cứ lâu lâu lại phải ôm nó mà xốc lên vì dây lưng cũng quên tuốt ở nhà.

Về đến Sài Gòn, bà chị tôi nhìn em thương hại quá, cứ xuýt xoa hoài, tội nghiệp nó ở Mỹ mà quần áo xốc xếch, xộc xệch!

Trời mùa hè Việt Nam nóng thật, con tôi không muốn đi giầy nên tôi dẫn nó ra chợ Thái Bình mua đôi dép Nhật, tôi định tập cho nó trả giá cho quen. Hỏi giá thì bà hàng nói 4,500 đồng, thằng bé ngơ ngác không hiểu nên tôi phải thông dịch từ tiếng Việt qua tiếng Việt:

– Giá bốn mươi lăm trăm đó con, trả giá đi.

Thằng bé nói: – Đâu cần trả đâu, được rồi, rẻ quá mà.

Những người chung quanh cười um lên, xúm lại coi thằng Việt Kiều con mua đồ.

Có bữa kia ngồi ở quán cóc đầu ngõ uống cà phê, đứa em thò cổ vô gọi:

– Anh ra đây xem Việt Kiều Con bị đày.

Tôi ngạc nhiên không hiểu nó nói gì, ra xem thì thấy một bà già kè hai đứa nhỏ khoảng dưới sáu tuổi, ăn mặc có vẻ tươm tất lắm, không biết là đi nhà trẻ hay ra công viên chơi nhưng mặt tụi nó ỉu xìu.

Thì ra hai đứa bé đó có cha mẹ làm Nail ở Mỹ, không hiểu sao lại giao chúng về cho bà ngoại nuôi, cả xóm này gọi tụi nó là hai thằng Việt Kiều Con Bị Đày!

***

MỜI BẠN CÙNG TÔI KHÁM PHÁ SỰ ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM TRONG 3 TUẦN THĂM QUÊ CỦA TÔI.

Xe Đò Nằm:

Hồi này có một loại xe đò (xe khách) gọi là xe đò nằm. Đi xe này hành khách không ngồi ghế như xe đò thường, mà được nằm dài ra. Xe có ba dãy giường, mỗi dãy ba chiếc giường sắt và lại còn chồng lên một tầng nữa, vị chi là 24 cái giường. Đây là loại giường hiện đại điều chỉnh được, tựa như giường ở trong bệnh viện.

Xe có điều hoà không khí và mở nhạc vàng nghe thoải mái. Mỗi người lên xe đều được phát một chiếc mền để đắp vì xe mở máy lạnh. Hành khách mua vé qua điện thoại, tài xế sẽ bốc khách hẹn trước tại bất cứ khúc đường nào trên tuyến xe sẽ chạy qua.

Xe chạy khá đúng giờ, giá vé cũng tương đối hạp với túi tiền, thí dụ tuyến Rạch Giá-Vũng Tàu là 125,000 một lượt (chưa tới 8 đô la). Lơ xe rất điệu nghệ, phục vụ hành khách rất lịch sự và tận tình.

Hôm đó, nằm kế tôi là một cô nhìn dễ thương lắm, nhưng hai giường lại cách nhau đến nửa thước. Tôi ước ao lần sau họ ghép giường gần nhau hơn, để hành khách có thể nằm mà dòm nhau, âu cũng là cách rút ngắn thời gian trên đường dài.

Ai cũng biết xe đò Việt Nam có cái tật là hễ thấy khách đón xe thì không cần biết họ muốn đi tới đâu, anh lơ nhảy xuống kéo ào lên xe, miệng la “Tới luôn bác tài”.

Chuyến tôi đi, có hai cha con ông kia lên xe, xe chạy một quãng thì lơ xe mới khám phá ra “có vấn đề”. Ông già có tính tiết kiệm, đặt mua vé có một giường, mà lại dẫn theo cô con gái. Ông cãi với lơ xe:

– Hai người ngồi trên giường thì cũng choán chỗ y như một người nằm chớ gì.

Mặt nạ lịch sự của anh lơ xe bèn rớt xuống, anh ta với ông già xổ tiếng Đức với nhau một hồi, rồi sau cùng ông già nhượng bộ trả thêm 20,000 để cô con có thể ngồi ké ở phía cuối giường.

Tôi rất tội nghiệp mà không thể mời cô ngồi qua phía giường tôi, hoặc là mua cho cô một vé, vì hôm đó tôi đang đi chung với “con gấu yêu dấu” của tôi!

***

Ăn Uống

Nghệ thuật ẩm thực Việt Nam thì quá siêu đẳng rồi, tôi xin không đề cập đến những chuyện uống máu rắn, ăn bò cạp hoặc trích mật gấu …, mình chỉ làm một người bình thường ăn những món ăn bình thường.

-Bạn muốn xài tiền triệu?

Mời vào tiệm C. Steak House ở đường Đinh Công Tráng (chợ Tân Định), một miếng T Bone 6oz… giá rất nhẹ nhàng là 250,000 (tiệm này có vẻ kỳ thị nặng, trên bảng giá đề: Thịt bò Mỹ: 250.000 thịt bò Úc: 225.000, thịt bò nội địa: 180.000).

Miếng steak ăn vào, nuốt đến đâu, thấy nó nghẹn nghẹn đến đó, vì giá cả là một, nhưng cũng tại vì nó giống như miếng thịt được bỏ trong Microwave!

Bạn muốn xài tiền lẻ?

Mời bạn đi ăn cháo lòng bình dân với tôi. Tôi biết cô bán cháo lòng ở quê, trước 1975 cô thuộc loại sắc nước hương trời, nhưng hồng nhan đa truân, cô đã kẹt lại. Quán cô chỉ là một cái bàn làm bằng gỗ tạp nho nhỏ, trên để mấy chai lọ lỉnh kỉnh như muỗng đũa, nước mắm, ớt… ngang chỗ cô ngồi là một nồi cháo đang sôi ọc ạch đặt trên cái cà ràng lửa liu riu.

Là khách đặc biệt nên tôi được cô vồn vã hỏi thăm và ân cần đưa cho một đôi đũa không nằm trên ống đũa “dân gian” trên bàn, cô lau cẩn thận bằng một miếng giẻ và nói:

– Anh dùng đũa này sạch hơn (đũa của cô có nhiều loại: Sạch, sạch vừa, sạch hơn)

Cháo bán giá từ 3 ngàn một tô, dĩ nhiên khách muốn thêm thịt, thêm lòng thì sẽ tính thêm tiền. Tôi ngồi ăn cháo mà ái ngại cho cuộc đời cô, vì cách đây hơn hai mươi năm, thấy cô đi ngoài đường thì tôi “chỉ nhìn mà không dám nói” vì nghĩ tới cái thân phận “quản chế” của mình.

***

Người Xưa Lối Cũ

Có người về Việt Nam thăm thắng cảnh quê hương, có người về kiếm thế hưởng thụ ăn chơi, cũng có người về vì tình cảm sâu đậm đối với thân nhân bạn bè năm cũ, thoáng đâu đó, có người tìm về để ôn lại một mối tình xưa.

Tôi theo người bạn đi đến nhà người xưa của nó. Bước chân vào con hẻm cụt có bóng mấy cây khế rợp mát, chân nó bước líu ríu như lê không nổi. Đến trước căn nhà có cây Ngọc Lan toả bóng, thấy có người đàn bà đang quét lá, tôi với tay bấm chuông, chứ thằng Thịnh như người mất hồn. Người đàn bà hỏi:

– Hai ông kiếm ai?

Thịnh buột miệng nói liền:

– Thưa bác, cô Hằng có ở nhà không ạ?

Người đàn bà vừa mở cổng vừa ngờ ngợ:

– Anh là ai mà biết Hằng?

– Trời ơi, bác không nhớ cháu hay sao? Cháu là thằng Thịnh hồi trước đây có kèm cho Hằng lúc cô thi Tú Tài đó.

Cây chổi rớt xuống đất cái xẹp, hai tay bà ôm chầm lấy Thịnh và tiếng khóc oà ra:

– Trời ơi anh Thịnh, em là Hằng đây mà.

Thì ra qua hơn 30 năm, Hằng ngày xưa nay đã hơn 50 rồi. Thời gian nó tàn phá chẳng chừa một ai.

Hôm tôi về Rạch Giá, vừa bước xuống con đò ngang thì đã có cả hơn chục người đứng ngồi dưới đò, ai cũng đưa mắt nhìn tôi, miệng cười cười như chào hỏi, nhưng tôi không nhận ra mặt ai quen, bỗng có một người đàn ông chừng 50 tuổi nhưng tóc còn loe hoe có mấy sợi phất phơ trước gió, vồn vã:

– Anh mới về chơi ạ, anh còn nhớ em không?

Đầu óc tôi bây giờ Tây Ta lẫn lộn, chỉ nhớ mang máng hình như anh này là Khanh Khờ. Và để tỏ ra là người nhiều tình cảm, chẳng bao giờ quên anh em bạn bè, tôi tiến tới vỗ vai rồi cả quyết:

– Quên thế chó nào được, cậu là thằng Khanh Khờ đây mà!

Nguyên cả chuyến đò cười ngặt nghẹo, có người ôm bụng rũ xuống cười suýt rớt xuống sông. Tôi sượng trân, còn người đàn ông hem hễ kia nói như than:

– Em là Đĩnh đây, nhưng mà thằng Khanh mới bị khờ, còn em thì bình thường mà anh.

Tôi chỉ còn biết xin lỗi anh ta vì cái tài nhớ dai của mình.

Về đi lại trên bờ con kinh xưa, tôi gặp một thiếu phụ bồng con trên tay, thôi đúng là người vợ của bạn tôi rồi, tôi xăng xái hỏi:

– Xin lỗi, chị là chị Độ phải không? Anh chị hồi này khoẻ chứ?

Cô ta ngơ ngác vài giây rồi lí nhí:

– Dạ thưa, Độ là tên của bố mẹ cháu ạ.

Ôi! Từ Thức về trần, tôi quên béng đi là mình đã xa quê hương hơn một thế hệ rồi.

Ngày còn nhỏ, thập niên 50, tôi thường nghe bản Gạo Trắng Trăng Thanh khi nghe tiếng cắc cụp đều đều ở quê tôi, vùng suối rừng Thủ Dầu Một. Người dân vần công giã gạo cho nhau, cũng là dịp trai gái hẹn hò gặp gỡ qua công việc và lời ru tiếng hát:

“Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ta hát vang trong đêm trường mênh mang. Ai đang xay, chày buông lơi nghe tiếng vơi tiếng đầy“.

Bây giờ không còn cảnh giã gạo đêm trăng nữa, nhưng bạn tôi, một ông Pilot 69A – Ông Đông Nguyên (thi sĩ Điên Ngông) – cũng trong tâm trạng Từ Thức về trần như tôi, nặn ra được một bài thơ có thể làm nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phiền lòng:

Ta về giã lại cối xưa

Nửa đêm trăng tỏ bóng dừa ngả nghiêng

Thấy trong gạo trắng ưu phiền

Thương em hạt gạo còn nguyên nỗi buồn

Vận nước xoay vần, có những người đi xa, có những người còn ở lại, bài Tình Già của Phan Khôi sao mà thấm thía quá thể:

Hai mươi bốn năm xưa

Một đêm vừa gió lại vừa mưa

Dưới ngọn đèn mờ trong gian nhà nhỏ

Hai mái đầu xanh kề nhau than thở…

Để rồi:

Hai mươi bốn năm sau

Tình cờ QUÊ CŨ gặp nhau

Đôi mái đầu đều bạc

Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được…

Người ta nói “Quê hương là chùm khế ngọt”, ngọt như vần điệu ca dao và ngọt như nụ hôn người tình.

Vài vần thơ lạc điệu, xin gửi cho ai có những kỷ niệm khó quên của cây khế quê nhà:

Năm xưa có cây khế ngọt

Quả non đeo nhẹ trên cành

Tay trần anh đưa muốn hái

Em cười: Khế hãy còn xanh

Hôm nay anh cầm trái khế

Muốn cắn vào năm cánh hồng

Nhưng rồi nâng niu tay khẽ

Ôm ấp chuyện xưa vào lòng…

May be an image of 1 person, standing and text
Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Chức năng bình luận bị tắt ở “Việt Kiều” về thăm quê – CHUYỆN PHIẾM – NGUYÊN CHÂN

Tiếng Việt “Mới XHCN” và Tiếng Việt “Truyền Thống”!!!

Van Pham is with Viet Dao Pham

Tiếng Việt “Mới XHCN” và Tiếng Việt “Truyền Thống”!!!

Trần Văn Giang,

Lịch sử đã chứng minh nhiều lần là cộng sản đi tới đâu thì gây giết chóc, băng hoại, phá hủy tàn hại đến đó: từ tâm linh, tình cảm, văn học, tình người, sinh mạng người vô tội…

***

Đời sống biến chuyển (dynamic) và liên tục thay đổi theo tiến hóa của văn minh và kỹ thuật. Ngôn ngữ cũng tự nó tìm cách thay đổi theo cho phù hợp. Những chữ gắn liền với lối sống cũ không còn thích hợp sẽ ít được dùng hoặc sẽ không được sử dụng nữa. Như vậy, đời sống (living) của Ngôn ngữ cũng gần giống như đời sống của con người: sinh ra, lớn lên, già đi và đến lúc sẽ chết. Chỉ khác là ngôn ngữ chết đi có thể sống lại; trong người chết thì không sống lại được – Thí dụ: Người Do thái đã hồi sinh tử ngữ (a dead language) Hebrew thanh một sinh ngữ (living language) đang được dân Do thái sử dụng.

Trong ngôn ngữ, sự thay đổi là cần thiết. Trong từ điển Anh Ngữ, một sinh ngữ rất phổ thông, có thêm chừng 750-800 chữ mới trong 1 năm (độ 2-3 chữ 1 ngày). Thay đổi để làm cho chữ nghĩa linh động và phong phú hơn là chuyện phải làm.

Nhưng thực tế cho thấy trường hợp Việt Ngữ (văn chương chữ nghĩa Việt Cộng – “vi-xi”) từ sau 1975, riêng ở miền Bắc thì phải nói rõ hơn là từ sau ngày cộng sản cướp chính quyền – tháng 8 năm 1945 – đến nay, không thay đổi theo cái chiều hướng tốt đẹp và cần thiết đó. Mỗi lúc sự thay đổi càng thấy tệ hại hơn. Sau 1975, tiếng Việt bị bóp méo, sửa chữa bừa bãi mất chuẩn đến mức độ cần phải báo động.

Những chữ nghĩa quái lạ, hạ cấp, dung tục, mất dạy, du thủ du thực, lóng thường chỉ được dùng ở chợ búa, đường phố hay trên bàn nhậu đã thấy xuất hiện đầu tiên ở miền Bắc rồi lan tràn vào miền Nam; bây giờ lan tràn ra cả hải ngoại trên văn viết của các báo chí (print press) và truyền thông (đài truyền hình, phát thanh…) dòng chính (main streams). Người Việt nói sai, viết sai, hiểu sai tiếng Việt một cách tùy tiện vô trách nhiệm.

Có một số “học giả thiệt” ở trong nước còn có “công sức” và can đảm đề nghị đổi hoàn toàn cách viết chữ Quốc Ngữ thành một thứ tiếng gần như xa lạ ngay với người Việt. Thiệt tình!? (Xin xem thêm loại “Chữ Việt Mới” phá hoại chữ Quốc Ngữ của “Gs Ts” Bùi Hiền ở phần Phụ Đính kèm bên dưới bài viết).

Tiếng Việt viết và tiếng Việt nói có hai cấp bậc khác nhau: Bác học và Bình dân. Loại bác học dùng để viết sách, để dạy học, làm văn hóa, nói chuyện một cách đứng đắn, nghiêm chỉnh; loại bình dân để nói chuyện bình thường hàng ngày trong các vấn đề xã giao, giữa bạn bè thân hữu, nơi chợ búa, đường phố không cần thiết phải nghiêm trang, khó hiểu…

Bây giờ, ở trong nước Việt Nam, cái lằn ranh Bác học và Bình dân đó hình như không còn nữa (?) Đối với những người nông dân chân lấm tay bùn, thợ tay chân ít học thì không nói làm gì; ngay cả 600-700 tờ báo in, bao nhiêu diễn đàn, đài phát thanh, đài truyền hình dòng chính… đều đồng loạt sử dụng một thứ chữ nghiã quái đản, kỳ cục, ngây ngô, buồn cười mà người ta còn gọi là “Văn hoá Đồ Đểu.”

Lịch sử đã chứng minh nhiều lần là cộng sản đi tới đâu thì gây giết chóc, băng hoại, phá hủy tàn hại đến đó: từ tâm linh, tình cảm, văn học, tình người, sinh mạng người vô tội…

Tất cả những cái tốt, cái đẹp, cái lịch thiệp, cái hòa nhã văn minh dường như đã mất hết sạch. Cộng sản Việt Nam ( CSVN) có tài thích “tự sướng” về mục “phá kỷ lục”; nhưng họ lại quên ghi lại cái thành tích đáng kể là chỉ trong một thời gian ngắn, kỷ lục 43 năm, tạm thời tính từ tháng 4 năm 1975, họ đã hủy hoại một nền văn hóa mà tổ tiên ta khổ công gầy dựng trên 4000 năm!

Tôi muốn nhấn mạnh ở đây về sự phân biệt nổi bật giữa “Tiếng Việt Mới” và “Tiếng Việt Truyền Thống.” Tôi cố tránh dùng chữ “Tiếng Việt Chuẩn” bởi vì, cho đến ngày hôm nay, nước Việt Nam chưa có một “Viện Hàn Lâm” về ngôn ngữ, và chưa có “Nhà Ngôn Ngữ Học” nào có đủ thẩm quyền để đặt hay gọi tiếng Việt loại nào? Vùng nào? là “Chuẩn.”

Trước khi CSVN cướp chính quyền (vào khoảng tháng 8 năm 1945) chữ Quốc Ngữ với hình thức chính tả (như được dùng trên toàn lãnh thổ nước Việt Nam và hải ngoại) đã tạm ổn định không có khó khăn gì đáng kể; ngoại trừ một ít vấn đề phương ngữ, thổ ngữ cần được bàn và thỏa thuận thêm về sau.

Sự thành hình và tiếp tục thay đổi của chữ Quốc Ngữ khởi sự từ năm 1632 (?) khi hai giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa đã sáng tạo ra cách dùng chữ La-tinh để ghi âm tiếng Việt, và sử dụng ký tự La-tinh, dựa trên các bảng chữ cái của nhóm ngôn ngữ La Mã (Roman – như mẫu tự A, B, C, D…), đặc biệt là bảng chữ cái Bồ Đào Nha, với các dấu phụ chủ yếu (Accent marks) từ bảng chữ cái Hy Lạp. mà sau này được gọi là Chữ Quốc Ngữ.

Kế tiếp là giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660) được coi là người có vai trò quan trọng nhất trong tiến trình cải tiến và hệ thống hóa một cách rất công phu chữ Quốc Ngữ như chúng ta đọc và viết ngày hôm nay qua hai quyển sách Từ điển “An Nam – Bồ Đào Nha – Latin” (còn gọi là Từ điển Việt – Bồ – La) và “Phép giảng tám ngày” (một phần của Phúc âm Công giáo) bằng Quốc Ngữ được xuất bản năm 1651 ở Roma. Đến hôm nay đã trải qua trên vài trăm năm chữ Quốc Ngữ trở nên khá vững vàng, mạch lạc và trong sáng.

Bây giờ cùng nhau nhìn lại một số chữ tiêu biểu của loại “văn chương mới” này của “vi-xi”:

A- Đổi chữ

  1. Đổi mẫu tự trong một chữ:

a)- Y thành I:

Trong tiểu mục này phải đề cập ngay đến vấn đề đổi “Y” (i dài) ra “I” (i ngắn).

Với thâm ý muốn phá hoại chữ Quốc Ngữ “truyền thống” mà VNCH đã sử dụng rộng rãi trước 1975, vào ngày 30 tháng 11 năm 1980, Bộ Giáo dục CSVN ban hành một “Quy định” gọi là “Quy Định 1980” để làm cái gọi là “Nhất thể chữ I (ngắn)” có nghĩa là thay tất cả các chữ viết có mẫu tự “Y” (dài) thành ra “I” (ngắn); ngoại trừ khi chữ “Y” đúng một mình (như Y tế, Y hệt, Y nguyên…) với mục đích (!) để “đơn giản cách viết(?!)” (chứ không phải để phá hoại chữ Quốc Ngữ nhỉ!)

Không cần phải nói thêm, “quy định” này có sai lầm và thiếu sót nghiêm trọng vì rất nhiều chữ có chứa mẫu tự “Y” nếu được thay thế bằng “I” nhìn và đọc rất ngớ ngẩn, khôi hài không chịu được.

Sau đó Bộ Giáo Dục CSVN đã ban hành thêm vài “quy định” khác để sửa sai “Quy Định 1980” nhưng hầu hết các từ điển, sách giáo khóa, báo chí kiểm soát bởi đảng csvn ngay sau đó đã dùng đường lối “Nhất Thể i (Ngắn)” này một cách vô trật tự, bừa bãi hết thuốc chữa (!): “Chống Mĩ cứu nước,” “Thế kỉ,” “Kỉ luật,” “Thẩm mĩ…” và CSVN rất lúng túng khi gặp các chữ có “Y” truyền thống khác như “Thủy tinh,” “Thanh Thúy,” “Mỹ Đình,” “Phú Mỹ Hưng…”

Nên biết, vấn đề Y-dài-và-I-ngắn chữ Việt truyền thống đã khá rõ rệt từ lâu rồi: “Ngoại trừ vài ngoại lệ, các chữ thuần Việt (Nôm) nhất là các chữ láy (như tỉ mỉ, li ti, kì kèo, kì cọ…) sẽ dùng “i ngắn”; riêng các chữ Hán hay Hán-Việt thì phải dùng “y dài” (như Hy vọng, Thế kỷ, Kỷ luật, Thẩm mỹ, Công ty…)

b)- C và K:

Trường hợp thay đổi kỳ lạ giữa C và K này xảy ra vì “cha già” HCM (lúc đó boác còn lấy tên cha chung Nguyễn Ái Quốc) đã từng viết 3 chữ “Đường cách mạng” thành ra là “Đường kách mệnh (?)” trong những bài giảng của các lớp đào tạo cán bộ cộng sản Việt Nam tại Quảng Châu, Tàu. Các cháu ngoan của boác cứ thế mà rập theo khuôn ngu dốt đần độn của boác cho có vẻ chung lòng “kách mệnh” “kíu cuốc”: Chẳng hạn viết là Bắc Cạn là Bắc Kạn (nhưng tại sao các bác lại không viết là “Bắk Kạn” cho nó thống nhất với chữ Đắk Lắk?). Trong khi đó các chữ ùn tắk, lâm tặk, cát tặc… thì lại giữ y nguyên mẫu tự “C” truyền thống ở mẫu tự cuối cùng? Thật là chuyện lủng củng, vớ vẩn, nhức đầu đau bụng, không biết đâu là mà lần?

2)- Đổi thứ tự của chữ kép:

Dùng chữ cũ với nghĩa cũ nhưng lại đảo ngược chữ một cách không cần thiết để hợp thời trang với “kách mệnh, giải phóng”: triển khai, đảm bảo (nhưng vẫn giữ “thư bảo đảm?” là sao vậy?), kiếm tìm, lớp trưởng, xa xót, giản đơn, nhóm trưởng, chối từ ( nhưng không thấy đổi chữ “le lói” thành “lói le” lạ nhỉ?).

3)- Thay chữ cũ bằng chữ mới mà không cần biết có hợp lý hay hợp nghĩa không!?

a)- Thay Chữ Nôm:

Lái xe (tài xế): Cứ thử nói câu “Lái xe gặp lái xe rồi cùng nhau lái xe đi!!!

Tổ lái (Phi hành đoàn), lính Thủy đánh Bộ (TQLC), máy bay lên thẳng (trực thăng), xưởng đẻ (nhà bảo sinh), nhà ỉa (cầu tiêu, nhà xí), lính gái (nữ quân nhân), thủy thủ gái (nữ thủy thủ), lệch pha (“Out of phase?” – lệch, không còn ăn khớp), phượt (du lịch? Xin chào thua chữ này!), đái tháo đường (tiểu đường), đứng lớp (dạy học), tốp ca (hợp ca), múa đôi (khiêu vũ), bú mồm (hôn môi), đuối nước (chết đuối), mặt bằng (diện tích), kênh (băng tần, đài), đắng lòng (đau lòng), nổi cộm (nổi bật), tổ lái (phi hành đoàn),

b)- Thay Chữ Hán-Việt:

– Sự cố (nghe giống chữ Hán Việt; nhưng tiếng Hán không hề có chữ quái gở vô nghĩa này. Tiếng Hán có “cố sự” là “chuyện cũ” mà thôi – trở ngại).

– Đại trà (nghe giống chữ Hán Việt; nhưng tiếng Hán không hề có chữ này, quy mô),

– Chất lượng (nhập nhòe lượng với phẩm, phẩm chất),

– Liên hệ (liên lạc),

– Quan hệ (làm tình?),

– Phi vụ (dịch vụ? nghe giống như một chuyến bay),

– Viện Da liễu (hoàn toàn không có nghĩa gì cả, hay là “Da cây Liễu?”),

– Triều cường (là nước đi lên; chỉ là một nửa của Thủy triều. Thủy triều là “nước lên và nước xuống”),

– Chuyên cơ (máy bay riêng – của Tổng thống),

– Nội thất ( bàn ghế trong nhà),

– Nội y (đồ lót),

– Cơ trưởng (phi công trưởng),

– Ngoại hình (hình dáng bên ngoài),

– Đột tử (chết bất tử),

– Bồi dưỡng (hối lộ? ăn thêm?),

– Bảo kê (bảo hiểm),

– Tử vong ( chết),

– Cảnh báo (báo động),

– Dự báo (tiên đoán),

– Tuyến đường (đường),

– Động thái ( chuyển động – VNCH không có chữ này),

– Kinh điển (hay, đẹp – VNCH không hề có chữ này),

– Đột biến (chợt thay đổi),

– Cá thể (một con),

– Thể lực (sức lực),

– Giáo án ( bài soạn trước để dạy),

– Tư duy (suy nghĩ),

– Thư giãn ( nghỉ ngơi),

– Truy cập ( vào?),

– Thuyết phục (rõ ràng).

B- Ghép chữ Hán và chữ Nôm:

Nối nửa Hán nửa Nôm với nhau thành chữ kép rất kinh hoàng, không giống con giáp nào như : – Siêu sao, siêu rẻ, siêu bèo, siêu lạ, siêu nhanh, siêu mỏng, siêu kinh điển (?) nữ nhà báo, đa mầu sắc, múa đôi, cao tốc, tăng tốc.

C- Ghép chữ Hán-Việt với chữ Hán-Việt:

Một cách cẩu thả chưa từng thấy: – Siêu mẫu, kích cầu, kích hoạt, giao hợp, lễ tân, bảo quản, bảo lưu, tích hợp.

D- Dùng lại chữ cũ:

Sử dụng lại một số chữ “truyền thống” cũ đã không thấy sử dụng nữa trước 1975: – Xiển dương (phát huy), cơ ngơi (toàn bộ cơ sở, bất động sản).

E- Dùng trực tiếp chữ ngoại quốc một cách không cần thiết

– Teen (tuổi vị thành niên), hot (hot girl, hot boy), sốc (“shocked”), cờ-clip (clip), bờ-lốc (blog), phây (facebook), pa-nô (panneau), băng rôn (bande de role), casino (sòng bạc), gu (gout, sở thích), xả stress (làm bớt căng thẳng), ống tuýp (tube), lô-cốt (pháo tháp?), ô-tô (xe hơi), gym (phòng tập thể dục).

F- Dùng chữ ngoại ngữ phiên âm:

Rất cẩu thả, tùy hứng, không có quy luật gì cả, không thể nhận ra được là cái gì khi cần phải tra cứu thêm: Ốt-tra-lia (Nước Úc / Australia), Ít-ra-en (Nước Do Thái – Israel), Oa-sinh-tơn (Thủ đô Hoa Thịnh Đốn của Hoa Kỳ – Washington); Ác-Hen-ti-na (Nước Á Căn Đình ở Nam Mỹ – Argentina), Bo (pourboire, Tips), Top (dứng hàng đầu), Quá Đát (outdated),

G- Dùng chữ lóng / chữ đường phố, của giới giang hồ

Rò rỉ (tiết lộ), ném đá (chỉ trích), ùn tắc (kẹt, nghẹt), dao kéo (giải phẫu), nhí (nhỏ bé, nhi đồng), gái (điếm), bèo (rẻ), cháy (hết), săm soi (tìm hiểu), dỏm (giả), chui (lén lút).

H- Dùng ngữ pháp sai lệch và rối loạn

1)- Dùng danh từ thành tĩnh từ

“Bức tranh nhìn rất ấn tượng?!”

“Chị ta sống rất hoàn cảnh?!”

2)- Danh từ thành động từ

“Hôm nay khả năng trời không mưa?!”

“Tôi không cho anh em lên chức thì anh em tâm tư?!”

3)- Tĩnh từ thành động từ

“Anh cứ vô tư?!”

“Các đồng chí khẩn trương lên!”

4)- Động từ thành danh từ

“Lãnh đạo đang sửa soạn cho đại hội đảng?!”

5)- Trạng từ thành động từ

“Trời có khả năng mưa?!”

6)- Giới từ thành danh từ

“Trên bảo dưới không nghe!”

7)- Dùng thừa (dư) chữ

Rau xanh, cặp đôi, thể hình thể lực (sức vóc), hành trình phá án.

8)- Dùng chữ mất đầu:

Tuyển Việt Nam (Đội Tuyển Túc cầu Việt Nam), Cảng Hải Phòng (Hải cảng Hải Phòng), Hầm Thủ thiêm (Đường Hầm Thủ Thiêm), phí (lệ phí).

9)- Dùng chữ mất đuôi (dangling!):

– Xuất viện (ra nhà thương – viện bảo tàng hay viện dưỡng lão?),

– Nhập viện (vào nhà thương),

– Làm móng (móng tay? móng chó hay móng heo?),

– Thoát Trung (Trung Hoa hay miền Trung?),

– Căng (căng thẳng),

– Sư (sư đoàn),

– Trung học chuyên (trung học chuyên ngành),

– Choáng (choáng váng).

Lời cuối:

Tiếng Việt “truyền thống” hình thành qua hơn 300 năm (từ 1632 – Xin xem 2 bản Chữ Quốc Ngữ của năm 1632 và 1700 chụp lại được kèm bên dưới bài viết này) đã khá ổn định, nhất là sự phát triển không ngừng, vượt bực để gần hoàn chỉnh trong vòng 100 năm nay. Tiếng Việt “truyền thống” đã thấm sâu vào đời sống và sự suy nghĩ của người dân Việt.

CSVN hiện nay cố gắng áp dụng một cách khắc nghiệt chính sách “cải lùi” (không phải “cải tiến”) Tiếng Việt nằm trong âm mưu phá hoại mà tôi tạm gọi là “Tằm Ăn Dâu” (hay “Nồi Nước Luộc Ếch” – dần mòn, âm thầm thôn tính toàn diện nước Việt Nam!) trong 60 năm cs cầm quyền ở Việt Nam cũng là một chính sách diệt chủng có hệ thống được hỗ trợ, giật giây, thao túng và áp lực trực tiếp bởi Tàu cộng (TC).

Hiển nhiên, ở thế kỷ 21, thế giới không thể chấp nhận một sự xâm lăng Việt Nam của TC bằng bạo lực quân sự như các thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử. TC biết điều đó, cho nên họ chỉ chủ trương xâm lăng nước Việt mà không cần phải bắn phát súng nào – “Bất chiến tự nhiên thành.” Nhìn cho rõ, TC nhắm vào việc tiêu diệt Tiếng Việt thì dân tộc Việt sẽ tự nhiên biến mất y như Học giả Phạm Quỳnh đã từng nhận xét mà bản thân tôi thấy không còn gì đích thực hơn: “Tiếng Việt Còn thì Nước Việt Còn.”

Chúng ta, 97 triệu người Việt, kể cả người Việt trong nước và hải ngoại, không thể nhắm mắt vô tình hay cố ý cổ xúy cho chính sách ngu si tự diệt chủng này của CSVN. Hãy thức tỉnh trước sự phá hoại Tiếng Việt của CSVN dưới sự chỉ huy trực tiếp của TC.

Ít ra, 4 triệu người Việt đang sống ở các nước tự do trên thế giới có tất cả mọi cơ hội để không làm gì mà phải sợ cộng sản (vì bất cứ lý do gì). Chúng ta phải làm ngay cái gì đó để CSVN sợ – Tuyệt đối không dùng chữ nghĩa “mới” đần độn của “vi-xi” dưới mọi hình thức chẳng hạn – trước khi dân số Việt Nam được nói tiếng Việt chỉ còn độ 4 triệu người trên hành tinh này?!

Đây không phải là lời tiên tri mà là một kêu gọi thật lòng! Xin thành thật cám ơn sự lưu tâm của quý vị. Vì tiền đồ của đất nước, xin rất mong mỗi người trong chúng ta cố gắng đóng góp một chút ít cho tương lai và sự trong sáng của Tiếng Việt để Tiếng Việt sống mãi thì Nước Việt sống mãi.

“Thượng đế hỡi có thấu cho Việt Nam này!”-

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, Tin Cộng Đồng | Chức năng bình luận bị tắt ở Tiếng Việt “Mới XHCN” và Tiếng Việt “Truyền Thống”!!!

Ba Tầu

Ba Tầu

Tưởng Năng Tiến

Trước khi hạ cánh an toàn, Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh đã không quên bầy tỏ sự quan ngại sâu sắc về cái mối tình hữu nghị (rất) mong manh giữa nước ta và nước bạn: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc.”

Nỗi lo lắng này cũng được ông Nguyễn Bắc Việt, Trưởng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tỉnh Ninh Thuận, tận tình chia sẻ: “Hai nước xã hội chủ nghĩa lình xình với nhau như thế này, ai có lợi.”

Cả ông Đại Tướng lẫn ông Đại Biểu đều đánh đồng nhà nước Trung Hoa Lục Địa với hàng tỷ sinh linh ở mảnh đất này nên mới “tâm tư” như thế, chứ chuyện “hai nước xã hội chủ nghĩa lình xình với nhau” thì chả có liên quan gì đến đám dân đen cả? Người Tầu và người Việt – trước giờ – vẫn giao hảo bình thường, nào có vấn đề chi với nhau đâu.

Có vị cầm bút còn tin rằng giữa hai dân tộc này có chút tình “tương lân” nữa chớ. Mối tương lân của những người đồng bệnh: “Bắc Kinh sợ nhất cái gì?…Sợ nhất Việt Nam dân chủ. Vì, Bắc Kinh giống hệt Hà Nội: Đang ngồi trên kho thuốc nổ… Việt Nam dân chủ là tiếng gọi mênh mông được vẫy chào từ hàng triệutrái tim TQ bị đè nén bởi bạo quyền bấy lâu nay.” (Lê Phú Khải. Lời Ai Điếu, nxb Người Việt, CA: 2016).

Một người cầm viết khác (đã từng du học bên Tầu) cho biết thêm:

Tôi còn một bạn học, người Nam Kinh. Lúc “phái hữu” lên tiếng, anh từng bảo tôi: Chắc cậu cũng biết truyện “cô gái quàng khăn đỏ?” Chúng ta đấy. Cũng quàng khăn đỏ cả mà. Hỏi bà ơi, tại sao tai bà to thế? Bà nói: Để bà nghe thấu bọn phản động chúng nó thì thào. Thế sao mắt bà sáng thế? À, sáng mới thấy được chỗ chúng nó ẩn nấp. Còn răng? Sao răng bà to thế? Răng bà to để ăn thịt những đứa khỏe thắc mắc về bà…

Tôi hỏi anh:

– Người Trung Quốc nghĩ như cậu có nhiều không?

– Zen ma shuo ya? Nói sao nhỉ? Một nửa đi. Nhưng nửa kia có loa ở mồm và có súng trên tay. (Trần Đĩnh. Đèn Cù I, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Thảo nào mà tập thể người Hoa sinh sống ở VN luôn luôn được đối xử rất đàng hoàng, tử tế. Những nghệ sỹ nổi tiếng (La Hối, Hồ Dzếnh, La Quốc Tiến, Dư Thị Hoàn, Trịnh Hoài Giang, Phù Sa Lộc …) được quí mến, đã đành. Ông Tầu hủ tiếu, bà Tầu cháo huyết, chú Chệt bò bía, thím Chệt ve chai … cũng đều sống rất an lành và chan hoà tình nghĩa giữa vô số những chòm xóm khắp nơi.

Sau cuộc chiến tranh biên giới, và sau khi phong trào bài Hoa (do Hà Nội khởi xướng và Bắc Kinh cổ vũ) qua đi, người Tầu sinh trưởng ở nước Việt Nam vẫn được cả dân tộc này dành cho tất cả sự thương yêu cùng quí mến.

Xin đan cử một trường hợp nho nhỏ: chú Năm!

Ông tên họ đầy đủ là Trương Năm, và tên thường gọi là Năm Đậu Phụng. Gần đây, nhân vật này được tất cả mọi phương tiện truyền thông (báo chí, fb, youtube …) trong cũng như ngoài nước nhắc đến với rất nhiều thiện cảm và ưu ái:

  • Câu chuyện cuộc đời nhiều xót xa của người cha bán đậu…

Nhà báo Nguyễn Toàn mệnh danh chú Năm là “người bán hàng có tâm nhất Sài Gòn.” Ông còn viết thêm: “Chính bản thân tôi khi nhìn thấy túi đậu cũng vô cùng ấn tượng, tôi có niềm tin rằng phía sau những dòng chữ, nét vẽ này là cả một câu chuyện tuyệt đẹp.”

Chuyện đời của chú Năm, thực ra, không có chi “ tuyệt đẹp” mà còn chất chứa nhiều tình tiết rất thương tâm. Ông sinh trưởng trong một gia đình khá giả, chủ nhân của công ty Thuận Phát chuyên sản xuất xà phòng, trước 1975. Sau đó, sau chiến dịch đánh tư sản mại bản của nhà nước VN, doanh nghiệp này tiêu tán. Đại gia đình của chú Năm cũng tứ tán trong vụ “nạn kiều.”

Về sự kiện này, Wikipedia tiếng Việt có ghi nhận khái quát như sau:

“Vào năm 1978, số lượng người Hoa chiếm tới 70% trong số những người vượt biên từ Việt Nam bằng đường biển. Ngoài ra, có khoảng 250.000 người gốc Hoa vượt biên sang Trung Quốc bằng đường bộ tại biên giới phía Bắc từ tháng 4 năm 1978 đến mùa hè năm 1979…

Sau giai đoạn này, số Hoa kiều tại Việt Nam đã giảm một nửa (từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000 vào năm 1989), người Hoa đã không còn là thế lực kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và Việt Nam đã trở thành nước duy nhất ở Đông Nam Á thành công trong việc đồng hóa người Hoa.”

Vợ con của chú Năm thuộc trong số gần triệu Hoa Kiều đã “biến mất” khỏi VN. Còn tổng số cả người Tầu lẫn người Việt vượt biên nhưng không bao giờ đặt chân lên được đến bờ thì đến nay vẫn còn là một điều bí mật. Họ sống chết ra sao, lưu lạc phương nào thì chỉ Trời (may ra) mới biết. Dù vậy, là kẻ ở lại và là cột trụ của gia đình nên ông Trương Năm vẫn kiên tâm mong chờ ngày gia đình đoàn tụ.

Tuy không còn vốn liếng, và ngay cả không còn có khả năng trả tiền điện nước hằng tháng (và phải dùng nước mưa thay nước máy) nhưng chú Năm vẫn cố “biến” hãng xà phòng Thuận Phát của gia đình thành cơ xưởng sản xuất đậu phụng. Nói là “cơ xưởng” cho nó vui tai chứ mỗi lần ông chỉ “sản xuất” được chừng nửa ký, và bán với giá rất tượng trưng.

Nhà báo Hồng Vi nhận xét:

“Giữa thành phố hoa lệ, 2 ngàn đồng nhiều khi không đủ gửi một chiếc xe, mua một gói bánh, nhưng suốt bao năm, gói đậu phộng của chú Năm vẫn chỉ 2 ngàn đồng. Chú không bán nhiều, hai tuần bán một lần, mỗi lần chỉ bán 5-10 bịch để ‘quảng bá thương hiệu.’

Chú Năm mất khoảng 30 phút để làm một tờ thông tin sản phẩm. Vì chú là người Việt gốc Hoa nên tờ giấy được viết song ngữ Hoa – Việt. Không đủ tiền để in, chú mua một khúc gỗ về rồi ngồi đục đẽo thành bản in. Những tờ giấy sản phẩm ra đời bằng cách lấy mực quét lên khúc gỗ rồi in ra giấy, chữ nào nhạt, mất nét thì chú lấy viết đồ đậm lên. Cứ thế, những bịch đậu phộng ra đời bằng tất cả sự trân trọng và đôi tay tỉ mỉ của một người đàn ông.”

Với “đôi tay tỉ mỉ” và “bằng tất cả sự trân trọng” của chú Năm thì mỗi “tờ thông tin sản phẩm” (có lẽ) không chỉ thuần là thương hiệu mà còn là tín hiệu tình cảm gửi đến những người thân rằng nơi căn nhà cũ vẫn có người cha luôn chờ trông đến ngày đoàn tụ – như cách đặt tựa của đôi ba tác giả:

Xem ra: ba Tầu, ba Việt, ba Lào, ba Miên, ba Miến, ba Tây, ba Mỹ, ba Úc, ba Nhật, ba Angola, ba Mozambique … cũng đều là ba cả. Các ông cha luôn lừng lững tựa núi Thái Sơn. Các bà mẹ cũng thế, cũng đều triền miên “như nước trong nguồn chảy ra.” Tuy thế, việc “thờ mẹ kính cha” thì xem ra mỗi ngày một hiếm. Thường thì đám con chỉ nhớ đến công ơn phụ mẫu khi song thân đều (đà) khuất núi.

Tưởng Năng Tiến
6/2021

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở Ba Tầu

Hối tiếc muộn màng vì chần chừ tiêm chủng

Hối tiếc muộn màng vì chần chừ tiêm chủng

Trong lúc cả đất nước đang hân hoan vì sắp đánh bại được đại dịch, Michele Preissler ngồi rầu rĩ, nhớ người chồng mới qua đời vì Covid-19.

Sau hơn một năm chống chọi Covid-19, hàng triệu người Mỹ giờ đây có thể bỏ những chiếc khẩu trang lại phía sau, lên kế hoạch du lịch hè và vui vẻ đoàn tụ cùng gia đình, bạn bè. Dường như nước Mỹ đã vượt qua thời kỳ tồi tệ nhất của đại dịch khi ngày càng có nhiều người được tiêm chủng hơn và số ca nhiễm mới giảm mạnh.

Nhưng với những người như Michele Preissler, 60 tuổi, ác mộng mới chỉ bắt đầu.

smerlin-188360361-8c7e58f1-b93-2083-5987-1622521880.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=c0yzuU__x-utXgEaWwMptg

Michele Preissler tại nhà riêng ở Pasadena, Maryland, hồi cuối tháng trước, trong một buổi lễ bà tổ chức để người thân, bạn bè nhìn mặt chồng bà lần cuối. Ảnh: NYTimes.

Preissler mất chồng vì Covid-19 vào cuối tháng trước, khi hàng loạt biện pháp giới hạn, phong tỏa đã được dỡ bỏ và cuộc sống bắt đầu quay về trông giống như bình thường. Tuần trước, khách hàng tới siêu thị Walmart gần nhà bà ở thành phố Pasadena, Maryland, cũng không đeo khẩu trang. Bà đến đây để mua những đồ đạc cần thiết cho đám tang chồng.

“Tất cả đều nói ‘mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi'”, Preissler chia sẻ. “Giá như họ biết những gì tôi đã trải qua”.

Chồng bà, Darryl Preissler, 63 tuổi, nhiễm Covid-19 sau khi tham dự một đám cưới hồi đầu tháng 4. Lúc bấy giờ, bà đã tiêm vaccine nhưng ông thì chưa.

Với 50% dân số đã được bảo vệ bởi ít nhất một liều vaccine, tình hình dịch bệnh tại Mỹ đang khả quan hơn bao giờ hết. Số ca nhiễm mới, nhập viện hay tử vong vì Covid-19 đều giảm mạnh. Ngay cả những quan chức y tế thận trọng nhất cũng đang ăn mừng trước tiến bộ của đất nước.

Những người đã tiêm đầy đủ vaccine có thể cởi bỏ khẩu trang và hòa nhịp với phần lớn các hoạt động thường ngày trước đại dịch.

Dù vậy, hiện nay, vẫn còn trung bình khoảng 450 ca tử vong vì Covid-19 được báo cáo mỗi ngày. Điều đó khiến hàng trăm gia đình phải đối mặt với một niềm đau mới: Nỗi tiếc nuối, dằn vặt khi người thân gục ngã ngay trước ngưỡng cửa chiến thắng.

Không như giai đoạn trước, khi hầu hết cuộc sống của người dân đều bị ảnh hưởng, gia đình, bạn bè của những nạn nhân tử vong vì Covid-19 giờ đây thường nói về một nỗi buồn lạc lõng: Họ than khóc giữa lúc bao người xung quanh ăn mừng.

Trong nhiều trường hợp, buồn đau còn chồng chất thêm bởi nỗi dằn vặt rằng người qua đời đã không tiêm vaccine hoặc không thể tiêm vaccine kịp thời.

Một số người tử vong những tuần gần đây tại Mỹ nhiễm nCoV trước khi họ đủ điều kiện tiêm chủng, làm dấy lên câu hỏi liệu chương trình triển khai vaccine có thực sự đủ nhanh để tiếp cận được tất cả người dân hay không. Số khác bị Covid-19 đánh bại vì tâm lý lưỡng lự, không chịu tiêm chủng, làm bật lên thách thức đối với các cơ quan y tế trong nỗ lực thuyết phục người dân tin tưởng vaccine.

Tình cảnh của họ “giống như việc một người lính bị bắn chết ngay trước khi hiệp định đình chiến có hiệu lực”, tiến sĩ Toni P. Miles, nhà dịch tễ học tại Đại học Georgia, nhận xét. “Tất cả mọi người khác đều vô cùng hạnh phúc vì chiến tranh đã chấm dứt nhưng bạn lại mất đi người thân trong lúc không ai muốn đau buồn”.

Hollie Rivers vẫn suy sụp dù đã vài tuần trôi qua kể từ khi chồng cô, Antwone, qua đời vì Covid-19 ở Michigan. Tại đám tang của chồng hồi tháng trước, Hollie nhất quyết muốn cùng khiêng quan tài. “Tôi muốn ở bên anh ấy cho đến giây phút cuối cùng, đến bao giờ tôi không thể giữ anh ấy được nữa thì thôi”, cô nói.

Sau khi Hollie trả lời phỏng vấn một kênh truyền hình ở Detroit và tiết lộ rằng chồng mình chưa tiêm vaccine, cô đã phải đối mặt với vô số lời chỉ trích nặng nề trên mạng.

smerlin-188427912-a63422dc-ac6-3723-4915-1622521880.jpg?w=680&h=0&q=100&dpr=1&fit=crop&s=tXd6NSQwnF99zvmYqc18nQ

Hollie Rivers cùng 5 con tại nhà riêng ở bang Michigan hôm 28/5. Ảnh: NYTimes.

Theo lời Hollie, ban đầu, cô và chồng do dự, song cuối cùng họ vẫn quyết định sẽ tiêm vaccine. Nhưng không may, chồng cô lại nhiễm virus hồi đầu tháng 4 trước khi Michigan cho phép tiêm chủng cho những người ở độ tuổi của anh. Antwone 40 tuổi, hơn vợ 12 tuổi.

Gia đình Rivers đã lập chiến dịch quyên góp trên trang GoFundMe để hỗ trợ chi phí mai táng cho Antwone, nhưng nhận về không ít bình luận tiêu cực. “Anh ta từ chối tiêm, sao bạn còn dám xin tiền từ thiện chứ?”, Hollie nhớ lại một bình luận.

“Tôi bây giờ chỉ muốn hủy chiến dịch đó đi. Vấn đề không nằm ở tiền bạc”, cô nói. “Tôi sẵn sàng sống trong hộp các tông nếu điều đó giúp chồng tôi quay về với tôi và các con”.

Camille Wortman, chuyên gia nghiên cứu cảm xúc, giáo sư danh dự tại Đại học Stony Brook, New York, cho biết những người mất người thân vì Covid-19 ở thời điểm này của đại dịch thường sẽ trải qua cảm giác tức giận, tội lỗi và hối tiếc mạnh hơn.

“Nỗi đau của những người còn sống sẽ dữ dội hơn”, bà nói.

Với Yvonne Santos, 30 tuổi, đến từ Houston, câu hỏi liệu chồng cô có chết không nếu được tiêm vaccine kịp thời thường xuyên ám ảnh tâm trí cô, nhất là lúc cô ngồi một mình, ngắm nhìn bức ảnh hai người chụp chung. Yvonne lo lắng về tính an toàn và hiệu quả của các loại vaccine bởi chúng được phát triển và sản xuất quá nhanh. Chồng cô, Angel Stantos, cũng chần chừ đi tiêm.

“Tôi không nói chuyện này với bất kỳ ai nhưng tôi thực sự cảm thấy tệ, bởi anh thấy không thực sự băn khoăn về nó giống như tôi”, Yvonne cho hay. “Tôi là người mà đến giờ vẫn còn lo sợ”.

Sau khi nhận kết quả xét nghiệm dương tính hồi tháng 4, Angel, nhân viên xã hội chuyên giám sát trẻ vị thành niên, đã phải nằm nhiều tuần trong bệnh viện. Suốt thời gian đó, theo lời Yvonne, chồng cô luôn hối tiếc vì đã không tiêm chủng. Angel qua đời hôm 19/5, hưởng thọ 35 tuổi.

Vào ngày Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC) thông báo người dân không cần phải đeo khẩu trang khi ở trong nhà nữa, Kole Riley, 33 tuổi, đang ở bên giường bệnh của mẹ anh tại một bệnh viện gần thành phố Sedona, bang Arizona, để nói lời từ biệt.

Mẹ anh, Peggy Riley, 60 tuổi, nhiễm Covid-19 vài tuần trước đó. Bà không tiêm vaccine vì quả quyết rằng mình có kháng thể. Một số thành viên trong gia đình bà, bao gồm cả chồng bà, đã có dấu hiệu hoặc được chẩn đoán mắc Covid-19 vào cuối năm ngoái.

Sau khi nắm tay mẹ trong những giây phút cuối cùng, Kole rời khỏi bệnh viện, chứng kiến cảnh có rất ít người đeo khẩu trang trên đường phố và đất nước đang hân hoan vì sắp vượt qua đại dịch. Lòng anh quặn thắt, nỗi nhớ mẹ vẫn giày vò.

“Giận dữ là cách tốt nhất và lịch sự nhất mà tôi có thể nói về cảm xúc của mình”, Kole cho biết sau khi nhìn thấy những người không đeo khẩu trang tại một cửa hàng tạp hóa. Anh gặp khó khăn trong việc hóa giải nỗi đau giữa bầu không khí lạc quan của đất nước.

“Tôi không nghĩ mình sẽ phải đối mặt với điều này, khi mà tất cả mọi thứ xung quanh đều đang hướng về trạng thái bình thường”, anh chia sẻ.

Vũ Hoàng (Theo NYTimes)

Đăng tải tại Tin Cộng Đồng | Chức năng bình luận bị tắt ở Hối tiếc muộn màng vì chần chừ tiêm chủng

VĂN CHƯƠNG NHƯ THẾ

VĂN CHƯƠNG NHƯ THẾ

Quan giám khảo kêu một thí sinh tự cho mình là người có học vấn lên thi làm văn.

Thí sinh cầm cuộn giấy thi từ sáng đến tối mà cũng không thể viết được chữ nào, anh ta không biết làm sao cả, nên đành viết trên cuộn giấy thi:

– “Bởi vì như thế, cho nên như thế, nếu muốn như thế, hà tất như thế?”

(Tiếu Đắc Hảo)

Suy tư 73:

Thời nay người ta báo động có những tiến sĩ giấy, tức là luận án của họ không đem lại tính khả thi cho xã hội, tấm bằng tiến sĩ của họ là do tiền mà có, và ban giám khảo cấp bằng không phải vì tài học hành nghiên cứu của thí sinh, mà là do thí sinh có nhiều tiền…

Tiến sĩ giấy thì thường đem cái bằng của mình đi phô-tô-cóp-pi thành nhiều bản: bản chính làm một cái khung hình thật đẹp treo ngay giữa phòng khách, còn các bản sao thì cái kẹp trong sách, cái bỏ trong cặp, cái gởi đi cho bạn bè.v.v…nhưng bài vở (luận án) của họ thì ngồi nghiên cứu cả ngày cũng không tìm ra được cái trí tuệ của người tiến sĩ đích thực.

Tiến sĩ là người đã dày công nghiên cứu thực tế một vấn đề thiết thực có ích cho xã hội…

Cho nên có thể nói, mỗi người Ki-tô hữu nếu biết sống theo Lời Chúa dạy, đem Lời Chúa làm “luận án” cho cuộc sống đời thường của mình và chỉ dẫn cho người khác làm như vậy, thì họ cũng sẽ là những tiến sĩ rồi vậy: những tiến sĩ khôn ngoan của Nứơc Trời đang âm thầm nghiên cứu cách sống Lời Chúa qua cuộc sống của mình.

Ước mong được như vậy.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)

Đăng tải tại BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN | Chức năng bình luận bị tắt ở VĂN CHƯƠNG NHƯ THẾ

Câu chuyện xúc động trong ngày.

BBC News Tiếng Việt

Câu chuyện xúc động trong ngày.

Bệnh nhân Covid-19 lâu nhất của Anh đã qua đời sau 14 tháng rưỡi trong bệnh viện. Bản thân ông tự quyết định chấm dứt biện pháp điều trị vì “không còn muốn sống thế này”.

Jason Kelk, 49 tuổi, đã qua đời hôm 18/6.

Ông được đưa vào bệnh viện ở Leeds, Anh từ ngày 31/3/2020, ở trong viện cho tới thứ Sáu tuần này.

Người vợ của ông tiết lộ bà đã van xin chồng đừng chấm dứt việc điều trị.

Theo trang Sky News, người vợ cho hay ông đã qua đời khoảng 90 phút sau khi máy thở được tắt.

Jason, người mắc bệnh tiểu đường và bệnh hen suyễn, đã chiến đấu trong phòng chăm sóc đặc biệt từ năm ngoái.

Đã từng có hy vọng vào tháng 3 năm nay khi ông trải qua 15 ngày liên tiếp không sử dụng máy thở.

Sự phục hồi của Jason tiếp tục và ông từng có thể uống trà và ăn bánh.

Nhưng từ tháng 5/2021, bệnh trở nặng.

Ba tuần trước, ông phải dùng máy thở toàn thời gian và người vợ nói rằng đó là thời điểm ông quyết định ngừng lại.

Bà nói: “Anh ấy chỉ muốn mọi chuyện kết thúc.”

Trước khi ngã bệnh vì Covid-19, ông làm nghề kỹ thuật viên máy tính tại một trường học.

Trường tiểu học Parklands, tại Leeds nơi ông Kelk đã làm việc trong 17 năm, cho hay sẽ đặt tên phòng máy tính bằng tên ông để tưởng nhớ.

Hiệu trưởng của trường đã đến thăm ông lần cuối trong viện hôm thứ Năm.

May be an image of phone and screen
Đăng tải tại Tin Thế Giới | Chức năng bình luận bị tắt ở Câu chuyện xúc động trong ngày.

“HỠI MARIA, BÀ NÓI TRÁI TIM BÀ SẼ THẮNG. VẬY GIỜ ĐÂY, AI ĐANG THẮNG BÀ?”

“HỠI MARIA, BÀ NÓI TRÁI TIM BÀ SẼ THẮNG. VẬY GIỜ ĐÂY, AI ĐANG THẮNG BÀ?”

Từ một dòng chữ vô danh, suy nghĩ về sự im lặng của Thiên Đàng.

Người ta kể lại rằng, khi những người cộng sản Bắc Việt xâm chiếm thành công thủ đô Sài Gòn của nước VNCH. Có một dòng chữ được vẽ trên một bước tường gần khu tiếp quản: “Hỡi Maria, Bà nói trái tim Bà sẽ thắng. Vậy giờ đây, ai đang thắng Bà?”.

Không ai biết tác giả của dòng chữ trên, người ta chỉ thấy ở đó sự hả hê, sự tự cao của một kẻ cho rằng “chẳng có Thiên Chúa nào ngoài chính tao”. Tôi không bàn về cuộc chiến, cũng như sự thắng thua của của các phe phái đối lập. Tôi chỉ muốn nêu suy nghĩ và gần như là nghi vấn của tất cả mọi người Kitô Hữu dành cho Thiên Chúa trong những giờ phút đen tối nhất của cuộc đời:

“Chúa ơi, sao Ngài im lặng?”,

và có lẽ không chỉ Thiên Chúa im lặng mà cả Thiên Đàng cũng im lặng. Đức Maria, mẹ hiền của đoàn con cháu Eva cũng im lặng, Đức Giêsu, Đấng từng bảo “Chính Thầy đây, đừng sợ”, Ngài cũng im lặng và chính thiên thần bản mệnh của chúng ta cũng gần như câm lặng.

Người ta có thể tìm thấy sự im lặng lạ lùng của Thiên Chúa trong Kinh Thánh và trong dòng lịch sử.

Khi thành Jerusalem bị vây hãm, người ta kêu cầu Chúa, kết quả thì sao? Dân Israel phải đi lưu đày tại Babylon những 40 năm.

Khi Đức Giêsu hấp hối trên Thánh Giá, Ngài la lớn tiếng với Chúa Cha: “Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ rơi con?”, và Chúa Giêsu nhận lại là gì? Sự im lặng chết chóc cùng tiếng chửi rủa “Nếu mày là con Thiên Chúa, hãy tự cứu mình đi”.

Hay gần hơn là những biến cố trong dòng lịch sử cận đại.

Chúa ở đâu khi ĐHY Px Thuận bị biệt giam 13 năm?

Chúa ở đâu khi người ta cắt cổ các tín hữu Coptic trên bờ biển Libya?

Và Thiên Chúa ở đâu khi người ta đốt phá nhà thờ, đập phá tượng ảnh và bách hại con Chúa trên khắp thế giới?

Câu trả lời là: Thiên Chúa vẫn ở đó, Ngài để sự dữ đó hoành hành và phát triển như một thứ ung nhọt, để chứng minh rằng loài người tự sức mình chẳng làm được gì cả và thật nực cười nếu ai nói rằng “Thiên Chúa chỉ là một sản phẩm của trí tưởng tượng”.

Chính Thiên Chúa, bằng một cách chẳng ai hiểu lại ĐEM ĐẾN NHỮNG SỰ LÀNH cho thế giới BẰNG NHỮNG SỰ DỮ coi chừng quá đen tối và ghê tởm kia.

Như một đứa con nghĩ rằng cha mẹ đánh đòn mình là một sự dữ, thật ra cha mẹ rút ra cho nó một sự lành về sự vâng lời và cẩn trọng. Thiên Chúa cũng thế, sau 40 năm lưu đày, sự lành đầu tiên Thiên Chúa cho dân Israel thấy là sự hồi hương về cố quốc, và sự lành thứ hai là những áng văn chương, những lời hứa hẹn về một Đấng Cứu Thế sẽ giải phóng dân khỏi tội lỗi của họ – kết quả thì họ có Đấng Cứu Thế, và chính họ giết Ngài như một sự mù quáng về niềm tin.

Sự dữ gây ra cái chết cho Đức Giêsu Kitô lại đem lại một sự lành lớn hơn cả, một niềm hy vọng rằng người ta sẽ được tha tội và sống lại trong ngày tận thế. Không ai phải chết vĩnh viễn, cũng không ai phải mang lấy tội lỗi mà không có hy vọng được tha thứ, Đức Kitô phục sinh như bằng chứng sống động về một sự lành tuyệt hảo được lấy ra từ sự dữ đen tối.

Thế giới ngày nay, nếu không nhìn bằng con mắt Đức tin, người ta dễ mất hy vọng và trở nên hồ đồ vì những sự dữ. Việc bách hại đạo Chúa Kitô xảy ra đâu phải một sớm một chiều, nhưng đã từ lúc Hội Thánh khai sinh. Nhìn vào danh sách các tín hữu tử đạo, đó là bằng chứng cho thấy sự dữ đang cố gắng triệt tiêu niềm hy vọng cứu rỗi duy nhất cho thế giới,

và rồi sao?

Chẳng ai làm lại Mẹ Hội Thánh!!!

Thế giới nghĩ rằng chẳng còn hy vọng gì nữa vì không thể ngăn được làn sóng vô thần hóa bắt nguồn từ Liên Xô và Trung Quốc.

Thật vậy, tâm tư nhiều người cho rằng, mọi cuộc rước kiệu, mọi lời cầu nguyện gần như trở nên vô vọng sau 04/1975 vì người ta nghĩ rằng Chúa đã bỏ rơi miền Nam. Nhưng kìa Chúa đâu phải một chính trị gia mà theo một phe nào đâu. Chúa có công việc của Ngài, và chúng ta không biết kèo solo giữa Đức Mẹ và Liên Xô như nào. Chúng ta chỉ biết rằng cho đến hiện tại, Ba Lan và Nga là 2 quốc gia sùng kính Chúa Giêsu và Đức Mẹ bậc nhất châu Âu. Còn ở Việt Nam, Thiên Chúa vẫn được phụng thờ và tôn vinh như cách Ngài vẫn hiện diện từ những thế kỉ đầu khi Kitô Giáo đến Việt Nam. “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

Khi gặp sự dữ, bạn thân mến, đừng cố chất vấn Thiên Chúa tại sao Ngài lại im lặng. Hãy cố gắng vững tin vào Ngài, và Ngài sẽ CHO BẠN ĐIỀU BẠN CẦN, chứ KHÔNG PHẢI ĐIỀU BẠN MUỐN.

“Hỡi Maria, Bà nói trái tim Bà sẽ thắng. Vậy giờ đây, ai đang thắng Bà?”

Sau tất cả, chẳng biết ai thắng ai thua.

Chỉ biết rằng Đức Maria đã, đang và sẽ được TÔN VINH trên môi miệng người tín hữu lẫn người lương dân (cách nào đó).

Và tất nhiên, Thiên Đàng không im lặng, chỉ là mọi người trên Thiên Đàng đang thực hiện công việc của mình thôi.

Bài viết của Quân Đào

May be an image of 1 person, monument and outdoors

Đăng tải tại TÔN GIÁO | Chức năng bình luận bị tắt ở “HỠI MARIA, BÀ NÓI TRÁI TIM BÀ SẼ THẮNG. VẬY GIỜ ĐÂY, AI ĐANG THẮNG BÀ?”

Duyên Phận và Mệnh Số – TRUYỆN NGẮN… Lê Nguyễn Hằng…

TRUYỆN NGẮN CUỐI TUẦN… Lê Nguyễn Hằng…

Duyên Phận và Mệnh Số

Từ San Jose, tôi đón xe đò Hoàng xuôi Nam. Từ hôm cùng với mấy đứa con của Hà bí mật bàn tính chuyện tổ chức buổi lễ sinh nhật thứ 60 cho Hà ở San Diego, tôi rất nôn nóng chuẩn bị cho chuyến đi này. Đây không phải một họp mặt sinh nhật bình thường như những lần trước. Đến đó tôi sẽ gặp lũ đông đủ lũ bạn “quỷ sứ” của trường tiểu học và trung học ngày xưa.

***

Hà là một người chị họ con bà bác, chỉ hơn tôi một tuổi và học cùng lớp nên hai chị em thân nhau hơn bạn. Hai đứa từ giã Hà Nội cùng gia đình di cư vào Nam và cùng định cư tại Tuy Hòa, cùng ở gần nhà nhau trong khu “Bắc Kỳ di cư” từ ngày “tóc còn để chỏm.”

Dù là vai chị nhưng vì xuýt xoát tuổi nhau, lại học cùng lớp nên hai đứa tôi vẫn mày tao. Hà và tôi lúc nào cũng ngồi bàn đầu và sát cạnh nhau vì chúng tôi vừa nhỏ tuổi lại vừa nhỏ con, cùng nổi tiếng là “cây gạo”. Chúng tôi thân nhau đến độ cắt tóc và mặc quần áo giống nhau.

Ngoài giờ học ở trường, hai đứa thường đến nhà nhau học bài chung. Đi thi Tú Tài I ở Quy Nhơn và Tú Tài II ở Nha Trang đều ngồi cạnh nhau vì tên cùng vần.

Đậu Tú Tài Toàn xong, như chim rời tổ, mỗi đứa một nơi, Hoành vào Saigon học tiếp, Hà đi Nha Trang, riêng tôi ở lại Tuy Hòa đi làm giúp đỡ gia đình một thời gian.

Cuộc sống nổi trôi theo dòng đời, tôi thuyên chuyền vào Saigon, mãi đến năm 1974, mới tình cờ gặp lại Hà ở Chợ Bến Thành thì cả hai đã tay bế tay bồng, mỗi đứa đều có hai con gái và một con trai. Gia đình Hà rất hạnh phúc, hai vợ chồng làm cùng nghề. Phong, chồng Hà cưng chiều vợ hết mực.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 như cơn hồng thủy đổ ập lên đầu mọi người, chúng tôi mất liên lạc một lần nữa. Gia đình tôi may mắn được di tản và định cư tại Mỹ, còn Hà ở lại sống với gian truân thử thách.

Phong bị đi tù cải tạo như hàng vạn quân dân cán chính khác. Hà lo sợ hoảng hốt vì chồng đi biệt tăm không trở về sau 10 ngày như lời hứa hẹn của chính quyền, cũng không có tin tức còn sống hay chết dù chỉ một lời nhắn.

Cũng như những gia đình của miền Nam phải đối mặt với cuộc sống mới khó khăn vô định, Hà bắt đầu bán tất cả những gì có thể, từ cái TV, tủ lạnh, bộ bàn thờ, giường tủ, bát đĩa, xoong nồi đến những bộ quần áo, giầy dép của hai vợ chồng đều từ từ bỏ Hà ra đi để đổi lấy gạo và thức ăn nuôi ba đứa con đang sức lớn mà không được ăn đủ no. Hà phải thoát ra khỏi cái vỏ ốc của một phụ nữ yếu đuối mong manh, bươn chải theo những người bạn đi buôn để có tiền nuôi con và chờ tin tức của chồng.

Rồi Hà được tin về Phong từ những trại tù ở những tỉnh miền Bắc xa xôi chưa bao giờ Hà nghe tên. Những chuyến thăm nuôi vất vả, ngủ đêm chờ đợi ở bến xe, rồi băng rừng lội suối, đi bộ trên những đoạn đường mấp mô gập ghềnh khó khăn để rồi nhìn thấy một hình hài quắt queo, nhăn nhúm của chồng chỉ làm Hà thêm quyết tâm cố gắng làm ra tiền dù phải vất vả trăm bề để nuôi chồng sống sót mong một ngày trở về.

Gần sáu năm sau, Phong ra tù, tinh thần và thể xác đều kiệt quệ. Hà đau lòng nhìn thấy chổng tàn tạ rũ rượi như tàu lá héo trong khi các con ở trường thì bị trù dập vì là “con của ngụy”, học thì bị nhồi sọ những giáo điều cũ kỹ, không tưởng, bịa đặt và láo khoét. Để phụ với mẹ kiếm sống, sau giờ học, chúng đi bán bánh kẹo nên phải học cách mánh mung, gian trá.

Thời ấy, bên cạnh phong trào đi bán chính thức đang rầm rộ, có những chuyến vượt biên không chính thức cũng diễn ra trong âm thầm, các con Hà cũng được tập nói dối trơn tru khi bị hạch hỏi tra gạn về những chuyến vượt biên hụt của gia đình.

Ngay khi Phong trở về từ nhà tù, hai vợ chồng đã quyết định phải tìm cách mang các con ra đi, dù có cùng bỏ mạng trên biển cả còn hơn sống trên quê hương mà như trong cõi chết.

Cả gia đình đã vài lần cùng đi nhưng thất bại và đồng tiền Hà dè xẻn, dành dụm đã cạn dần, cuối cùng phải quyết định để Phong đi một mình trước rồi Hà sẽ tìm đường đem các con đi sau.

Ngày Phong ra đi, Hà đeo vào cổ anh sợi dây chuyền có tượng Phật Bà Quan Âm nhỏ bằng vàng giả, giống hệt như cái nàng đang đeo, Hà bảo anh rằng gặp cơn hoạn nạn thì nhớ cầu Phật Bà che chở.

Ba tháng, rồi sáu tháng, chờ mãi không được tin tức gì của chồng, chỉ nghe người ta xì xào là chuyến ghe đó bị chìm, cả gia đình chủ tàu cũng không ai sống sót.

Hà bèn liều mạng dùng mấy lạng vàng cuối cùng dẫn các con đi với gia đình một người bạn. May mắn thay mẹ con Hà đã đến được bến bờ tự do.

Năm 1983, tôi được tin Hà đã một mình vượt biển mang theo ba đứa con, Linh 14. Nga 11 và Nhi 4 tuổi, vừa được Lộc, người em kế rất thân với Hà, bảo lãnh ra San Diego ở với vợ chồng cậu ấy, cả gia đình tôi lập tức xuống vùng Nam California để gặp Hà.

Phút tương phùng, chúng tôi ôm nhau mừng rỡ trong nước mắt. Nhìn một Hà gầy guộc, đen xạm, dấu tích của những ngày lao động cơ cực, tôi không khỏi đau xót nhớ đến một Hà xinh đẹp, duyên dáng, ăn mặc thanh nhã nhưng hợp thời trang của thời đi học và trước năm 1975.

Hà ôm lấy tôi nức nở: “Anh Phong bỏ tao đi rồi Hằng ơi, gần một năm rồi còn gì.” Tôi thương bạn quá đỗi nên an ủi: “Đã chắc gì, nhiều khi anh ấy trôi giạt vào một hoang đảo nào đấy thôi, từ từ xem.” Tôi nói nhưng thực sự không tin điều mình nói. Tôi nhìn những ngón tay xương xẩu của bạn mà lòng xót xa. Tôi đã ở lại mấy ngày với Hà và lũ nhỏ để chia sẻ, an ủi với Hà những bất hạnh, giúp ý kiến cho Hà trong những ngày đầu bỡ ngỡ nơi xứ lạ.

Rất may là Hà và tụi nhỏ đã đến bến bờ tự do, thôi thì muộn còn hơn không! Hãy làm lại từ đầu, nước Mỹ sẽ là nơi cho chúng mặc sức học hành và phát triển tài năng. Tôi nói. Hãy nhìn về phía trước Hà ơi…

Mới vừa được tạm ổn dưới mái nhà của Lộc, “họa vô đơn chí” vẫn không buông tha người bạn khốn khổ của tôi. Ở chung trong gia đình với người em được gần sáu tháng, Lộc mới trên ba chục tuổi đang khỏe mạnh, có việc làm tốt, bỗng nhiên đột tử chỉ sau một cơn nhức đầu. Hà đã lăn lộn vật vã khóc thương Lộc, người em mà Hà thương nhất trong các anh chị em. Được tin, dù đang bận việc sở cho cuối tài khóa, tôi cũng lập tức chạy xuống thăm để nâng đỡ tinh thần bạn tôi.

Tôi vừa bước vào cửa, Hà đã rũ xuống tay tôi như cây chuối bị đốn. Tôi chỉ còn đủ sức dìu Hà vào phòng đặt nằm trên giường, kéo gối và đắp mền cho thẳng thắn rồi ghé nằm xuống bên cạnh, tay tôi lại chạm vào đôi vai gầy gò đang rung lên từng hồi theo tiếng kể lể thảm thiết đứt quãng của bạn mà lòng đau như cắt. Lúc đó tôi thực sự oán trách ông Trời. Chúa ơi, Phật ơi, các Ngài ở đâu mà để cho một người đàn bà chân yếu tay mềm như Hà gánh hết oan khiên khổ nạn của cuộc đời! Chỉ trong hai năm mà chồng mất tích, hai đứa em vượt biển bị chết và bây giờ cái phao cuối cùng để Hà bám vào cho sự sống cũng không còn nữa.” Tôi chỉ có thể nắm chặt hai bàn tay lạnh giá run rẩy của bạn như một lời hứa “bên mày luôn có tao, Hà ơi.”

Về lại San Jose, hằng ngày tôi điện thoại xuống an ủi, động viên và khích lệ tinh thần Hà để vượt qua những tai ương nghiệt ngã đeo đẳng. Phải mất mấy tháng Hà mới lấy lại bình tĩnh và lo cho cuộc sống thường nhật. Lúc đầu rất khó khăn vì Hà chưa biết lái xe và các con còn nhỏ. Nhờ tính tần tiện và vén khéo, tiền trợ cấp cũng đủ cho mẹ con sống và ăn học. Cũng may, một mình lo cho bốn mẹ con vừa ăn vừa học lại thêm bài vở của mình, Hà không có rảnh một phút để buồn tủi cho thân phận cô đơn vất vả của mình trên đất lạ. Các con cũng biết thương mẹ khổ sở nên chịu khó học hành và ngoan ngoản vâng lời mẹ dạy.

Tuy tiếng Anh hơi yếu, nhưng nhờ quyết tâm và vốn liếng chữ nghĩa có sẵn, Hà đã lấy được mảnh bằng đại học sau bốn năm miệt mài kinh sử. Hè năm 1987, Linh xong trung học và Hà đậu bằng cử nhân. Tôi xuống San Diego dự lễ ra trường của hai mẹ con. Chúng tôi thật là hạnh phúc!

Biết là Hà không có thì giờ và tâm trí để đi mua sắm, thỉnh thoảng trong những chuyến công tác xuống Santa Ana, tôi vẫn ghé thăm Hà cùng 3 đứa con và những khi đi “shopping”, thấy quần áo hay ví tay mà tôi thích, tôi mua luôn một cặp, để hai đứa tôi vẫn còn được mặc quần áo giống nhau như ngày xưa còn bé.

Khi chúng tôi có thì giờ tâm sự, tôi nói bóng gió xa gần về sự lẻ loi đơn chiếc của Hà:

– Mày cứ thui thủi một mình làm tao không yên tâm tí nào.

– Còn đám con tao đấy thôi. Hà ngắt lời.

– Con khác. Chúng nó có đời sống riêng. Mày phải cần kiếm một bờ vai của một người đàn ông cho mày tựa những lúc cuộc đời làm khó mày, hay những lúc mày ốm đau xuống tinh thần là những điều không đứa con nào có thể cho được.

Lúc nào Hà cũng gạt đi:

– Tao đã sống quá nửa đời người, qua bao nhiêu khổ đau nghiệt ngã, đâu còn thiết tha gì chuyện tình ái. Tao chỉ mong cho mấy đứa nhỏ ăn học thành tài, sống cuộc đời ngay thẳng đạo đức như ông bà nội ngoại và vợ chồng tao đã dạy, muốn vậy thì chính tao phải là một tấm gương tốt cho chúng nó noi theo, với lại…

Tôi ngắt lời:

– Với lại gì?

Hà ngập ngừng:

– Với lại… tao vẫn có một linh tính mơ hồ là anh ấy chưa chết cho nên tao vẫn…đợi. Mày có nghĩ tao hoang tưởng thì tao cũng đành vậy thôi.

Không chịu thua, thỉnh thoảng tôi vẫn gợi tên những người đàn ông yêu mến Hà và muốn cho Hà hạnh phúc. Họ thấy không cách nào gây được sự chú ý của Hà nên đã nhờ cậy đến tôi, nhưng những lời bóng gió, khuyên nhủ, dỗ dành của tôi đều như gió thoảng mây bay, Hà vẫn một mực ôm ấp và gìn giữ tình yêu cho chồng. Bây giờ Hà đã 60, nhưng tình yêu ấy không hề suy giảm.

Hà cũng tâm sự về con. Thằng Linh có tính nghệ sĩ, nó nói với tao rằng:

– Từ bé con đã mê hội họa và đàn dương cầm, con xin phép Me cho con học hai môn này.

– Me biết con thích những thứ đó, nhưng hãy thực tế một chút đi con. Gia đình mình nghèo, con là anh cả trong nhà thay ba con làm cột trụ gia đình, con nên chọn một nghề có thể nuôi sống gia đình và giúp đỡ bà con nội ngoại còn đang sống nghèo khổ thiếu thốn ở Việt Nam. Sau này, con vẫn có thể học thêm những món ưa thích kia cho con vui và giải trí, nghe lời me đi con.

Thế là Linh chọn nghề bác sĩ, ngành giải phẫu cho Mẹ vui lòng với lý do rất nhân bản là để cứu giúp những người đau ốm bệnh tật ngoài việc kiếm đủ tiền nuôi gia đình.

Nga là một đứa con gái hiền lành, nền nếp dễ bảo, lúc nào cũng muốn làm vừa ý mẹ, nó học làm dược sĩ để cùng hợp tác với Linh trong vấn đề thuốc thang cho bệnh nhân. Hai anh em vẫn thường bàn cãi sôi nổi về những phát minh y khoa và dược khoa.

Nhi, bé út nhưng ngỗ nghịch và hay lý sự nhất nhà. Mặc dù rất thương mẹ, nhưng đôi khi cũng làm phật ý mẹ, Nhi luôn làm theo ý mình. Nó bảo trong nhà có hai bác sĩ là quá nhiều rồi, nó muốn làm kỹ sư. Nhờ có dòng máu thông minh của cả ba lẫn mẹ, Nhi đã trở thành một chuyên gia xuất sắc trong ngành của mình và làm chủ nhiều bằng phát minh.

Người bạn mà tôi rất thương yêu và khâm phục ấy, một người đàn bà chân yếu tay mềm như thế đó, trải qua bao nhiêu gian truân, đau thương trong cuộc đời, đã đơn thương độc mã chiến đấu với cuộc sống mới khó khăn trên đất Mỹ, bắt đầu với hai bàn tay trắng cùng ba đứa con nhỏ dại và mấy cái khăn tang dấu kín trong lòng đã vượt thoát khỏi nghịch cảnh, tự xây dựng cho mình một cơ sở làm ăn vững vàng nhờ bản tính trung thực, nhã nhặn và ba đứa con thành công trong những lãnh vực khác nhau.

Đã gần 35 năm, kể từ ngày mẹ con Hà đến được nước Mỹ. Còn số phận của Phong, người chồng mất tích trong chuyến vượt biển trước đó thì sao?

***

Sau chín ngày lênh đênh trên biển cả, con tầu hết dầu, chết máy, thả neo trông đợi thuyền tàu nào tới cứu. Rồi ngày qua ngày, không thấy gì ngoài bầu trời mênh mông và biển dữ cuồng nộ. Khi thì mưa tầm tã, lúc lại nắng chang chang rát mặt, đêm bao la đen tối đến rợn người. Những mảnh khăn trắng treo trên cột buồm không mảy may làm xúc động những con tầu đi ngang, những lời lạy lục van xin cũng không động tâm những người trên các chuyến tàu vô tình kia. Mỗi ngày là một thách đố cho sự sống còn của mấy chục mạng người trên chiếc thuyền mong manh ấy. Lương thực đã hết.

Cái chết đầu tiên đã làm mọi người hoang mang, hoảng loạn. Ngày hôm sau, hôm sau nữa lại thêm những cái chết cô đơn trong đói khát, nằm ngồi ngổn ngang. Tiếng khóc than tuyệt vọng tắt dần. Phần Phong, cũng chỉ còn sức để lặng lẽ cầu nguyện.

Thuyền cứ lênh đênh trôi cho đến khi vừa nhìn thấy bờ ở xa xa thì chiếc tàu bị đội lên, một tiếng soạc khủng khiếp và chiếc tàu bị nứt rạn do đá tảng cứa vào, tiếng la hét vang dội, nhưng không ai còn sức lực nào để có thể bơi vào được tới bờ.

Phong chỉ nhớ được rằng khi chiếc tàu lật úp, đập lên người Phong, chàng thấy đau nhói ở đùi bên trái và máu ra lênh láng, chàng cố vẫy vùng trong tuyệt vọng, cuối cùng bám được một mảnh gỗ của chiếc ghe, phó mặc cho số mạng…

Sau cơn trôi dạt vô vọng không biết bao lâu, Phong bỗng thấy quanh mình lao xao tiếng người, rồi chàng dần hồi tỉnh. Một thanh niên cho Phong biết là khi tàu của họ được vớt sau khi đã chết gần hết thì thấy trên bờ xa xa hình như có một thân người, họ đến nơi thấy chàng còn thoi thóp thở nên kéo chàng nhập chung vào nhóm người cùng ghe của họ và tất cả 9 người đều được hội Hồng Thập Tự chăm sóc sức khỏe.

Phong bị con thuyền đập vào gẫy chân trái, máu ra nhiều mà không được cứu chữa ngay, nên bị nhiễm độc và bác sĩ phải cưa chân trái của chàng tới trên đầu gối.

Lúc tỉnh dậy, Phong thấy mình cụt một chân, tay trái bị bó bột, toàn thân đau đớn vì xương sườn bị dập. Thấy mình đã thành người tàn phế, chàng không muốn sau này trở thành gánh nặng cho vợ con nếu chàng may mắn tìm được họ vì vậy chàng chỉ muốn tự vẫn, hóa kiếp cái hình hài dị dạng này cho xong một đời người. Một tuần sau mọi người đã có mặt trên đảo Pulau Bidong, Malaysia.

Nhờ sự giúp đỡ của các bác sĩ, nhất là sự chăm sóc tận tình của một nữ y tá người địa phương tên Wani Avarat và lời khuyên răn của những thuyền nhân khác, Phong dần dần nguôi ngoai nhưng vẫn nhất quyết không trở thành một gánh nặng cho vợ con với một tinh thần sa sút và một thân xác tàn tật.

Cô y tá Wani, một người đàn bà trẻ góa chồng và không có con, tìm thấy trên mặt của chàng còn phảng phất nét thông minh tuấn tú của một người có học thức dù bao năm bị tù đầy vùi dập và chuyến vượt biển thập tử nhất sinh của Phong nên ngoài việc lưu tâm săn sóc thể chất, cô luôn luôn động viên tinh thần cho Phong. Chờ khi Phong tỉnh táo, cô đã đề nghị với chàng để cô bảo lãnh ra sống với cô ở Mã Lai với lời hứa là Phong có thể đi tìm và trở về với gia đình của chàng bất cứ lúc nào.

Nhờ có sự khuyến khích của cô Wani, Phong dần dần hồi phục. Sau khi đã được lắp chân giả, Phong đi học lại và cũng theo ngành y tá. Hai người sống với nhau hạnh phúc cho đến hai năm trước đây, cô Wani bị bệnh ung thư. Để đền đáp mối ân tình cho người đã cứu mạng sống của mình, Phong đã tận tụy săn sóc Wani, nhưng cuối cùng, Wani vẫn không thể vượt qua cơn bệnh ngặt nghèo. Hai năm trước đây, Wani đã giã biệt cõi đời. Từ đó Phong xin làm thiện nguyện và rồi trời đã xếp đặt cho chàng có cơ duyên làm việc cùng toán với Linh, một bác sĩ giải phẫu từ Hoa Kỳ sang làm thiện nguyện tại một làng nghèo bên Mã Lai.

Ngày cuối của công việc thiện nguyện, sau khi đã hoàn tất một ca giải phẫu cho bệnh nhân, Bác sĩ Linh mời y tá Phong ra ngoài sân bệnh viện uống cà phê cho tỉnh táo. Sau mấy ngày làm việc với ông y tá đứng tuổi của địa phương có nước da nâu sạm và đôi tay gân guốc, hai người đều đeo khẩu trang nên Linh không thấy rõ chi tiết trên khuôn mặt, ngoại trừ đôi mắt sâu thẳm u uẩn của ông ta. Nay xong công việc, khẩu trang đã gỡ bỏ, thong thả bên ly cà phê, bác sĩ và y tá biết nhau cùng là người Việt, trò truyện bằng tiếng Việt, Linh bỗng cảm thấy một cái gì gần gũi thân quen khác thường.

Khi ông Phong cúi xuống dập tàn thuốc lá, nhìn khuôn mặt khắc khổ của người bạn lớn tuổi mới quen, Linh bỗng giật mình khi thấy trên cổ ông ta một sợi dây chuyền có tượng Phật Bà. Phải rôi, cũng sợi dây chuyền ấy, tượng Phật Bà ấy, Linh từng thấy Mẹ mang trên cổ hàng ngày. Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng mẹ vẫn mân mê cái tượng đã xám xỉn lâm râm lời cầu nguyện. Linh kiên nhẫn gợi chuyện và ngồi yên lắng nghe về chuyến hải hành đầy khủng khiếp của Phong.

Bây giờ thì Linh đã chắc chắn người y tá già ngồi trước mặt là người cha mất tích suốt tuổi niên thiếu của mình vì nơi chốn và ngày đi của ông ấy đều trùng hợp với cha mình.

Hai bố con nhận ra nhau. Linh ôm ông, chàng khóc như chưa từng khóc trong đời, chàng thương cho sự bất hạnh của Ba và nhất là cho Mẹ đã bao năm vò võ ở vậy nuôi con chờ chồng.

Trên đây là chuyện do chính Linh kể lại cho tôi nghe. Chú bé 13 tuổi khi theo mẹ đến Mỹ năm xưa nay đã là một bác sĩ giải phẫu 48 tuổi. Hàng năm, thay vì đi du lịch ngắm thắng cảnh thế giới, Bác sĩ Linh dành 2 tuần lễ nghỉ phép, đi theo đoàn thiện nguyện đến chữa bệnh ở những nơi mà người dân thiếu may mắn trong vùng Đông Nam Á. Nhờ đó mà sau 35 năm thất lạc, bố con có dịp nhận ra nhau. Giấc mơ đoàn tụ bao năm thành sự thật. Sinh nhật mẹ Hà cũng sắp tới. Đâu còn món quà sinh nhật nào quí hơn. Mọi thủ tục bảo lãnh, đưa Bố Phong từ Mã Lai vào Mỹ được lặng lẽ hoàn tất. Mọi diễn tiến, với sự đồng ý của bố, anh em Linh giữ kín, mẹ Hà hoàn toàn không hay biết.

Là người thân trong nhà, tôi được các cháu của Hà nhờ mời dùm đông đủ các bạn học cũ của chúng tôi từ thời ở Tuy Hoà về dự sinh nhật mẹ năm nay. Nhưng cũng chỉ tới giờ chót, mới được cho biết câu chuyện, mà còn nghe cháu Nga dặn đi dặn lại “không cho mẹ biết trước, nghe dì”.

***

Sinh nhật của Hà năm nay được tổ chức tại nhà cháu Linh. Tuổi sáu mươi sắp đến, nhưng Hà vẫn tươi tắn, rạng rỡ cùng các con chào đón các bạn cũ, bạn mới.

Trong phòng khách rộng lớn của ngôi nhà, bánh sinh nhật và các bàn ăn đã sẵn sàng. Đúng giờ phút định trước, ánh sáng thay đổi. Hà được mời đứng giữa Linh và Nhi, con trưởng và con út. Tất cả được thông báo bắt đầu những phút trân trọng nhất của đông đủ gia đình cùng ra mắt trong tiệc sinh nhật. Linh rời mẹ, trong lễ phục nghiêm chỉnh, bước lên mấy bước, cầm micro, hướng về phía mẹ Hà:

– Thưa Mẹ. Chúng con xin cám ơn Mẹ và tất cả bà con bạn bè có mặt hôm nay. Đây là lần đầu tiên đông đủ gia đình ta cùng mừng sinh nhật mẹ. Xin mẹ cho phép con có vài lời về gia đình chúng ta. Hơn bốn mươi năm trước đây, Sàigòn sụp đổ, miền Nam đổi chủ, bố chúng con phải đi tù cải tạo. Từ ngày ấy, tuy còn là đứa trẻ mới sáu bẩy tuổi, con vẫn không quên những ngày tháng mẹ vất vả, cực nhọc thay bố nuôi chúng con.

Sau 6 năm tù đầy, trở về với gia đình không được bao lâu, mẹ lại phải cắn răng để Bố một mình ra đi và từ đó mất tích. Có tin chuyến tầu vượt biển có bố đi theo đã tan tành, không còn ai sống sót. Sau nhiều tháng vô vọng, mẹ lại một mình mang chúng con ra đi, lo cho chúng con thành người trên đất Mỹ. Đã 35 năm qua, hàng ngày, mẹ không ngừng cầu nguyện gia đình có ngày được đoàn tụ. Hôm nay, xin Mẹ quay nhìn sang phía trái…

Không chỉ Hà mà tất cả cùng nhìn theo hướng tay của Linh. Từ bao giờ, trên lối đi từ phía cầu thang, em gái Nga của Linh xuất hiện trong áo dài vàng rực, bên vai Nga là một người đàn ông cao gầy. Trong ánh nến bập bùng ven lối đi, cả hai đang bước ra. Từng bước. Từng bước chậm.

Cả sảnh đường bỗng im lặng tới mức nghe được từng hơi thở.

– Thưa Mẹ, Linh tiếp tục nói, em Nga đang cùng Ba bước về phía Mẹ. Hôm nay Ba đã trở về từ một nơi xa xôi để dự lễ sinh nhật của Mẹ và đoàn tụ với gia đình. Và thưa Ba, Mẹ và em Nhi đang chờ Ba. Thưa bà con, thưa các bạn, sau bao năm cầu nguyện, đây là lần đầu tiên Ba Mẹ chúng tôi thấy lai nhau. Cám ơn Trời Phật đã đáp ứng lời cầu nguyện kiên trì của bốn mẹ con mình.

Hai bố con Phong và Nga đã đến trước mặt mẹ con Hà. Họ đứng lặng nhìn nhau. Hà bước tới, tưởng như mình đang bước trong cơn mơ. Đúng Phong đây rồi, Phong bằng xương bằng thịt vẫn thường hiện ra trong giấc ngủ của nàng làm lệ ướt gối chăn. Dù có bao nhiêu nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt, dù có bao vết thương, vết sẹo trên thân thể chàng, dù Phong có bước đi chân thấp chân cao, đây vẫn là người chồng mà Hà một đời yêu thương mong nhớ và chung thủy đợi chờ. Họ lặng lẽ ôm nhau. Linh cũng đã lặng lẽ bước lại đứng cạnh bố mẹ và các em. Đúng là đông đủ cả nhà đang đoàn tụ. Cả sảnh đường đang im lặng bỗng cùng lúc vỡ òa. Rồi Phong sẽ nói, Hà sẽ nói, không biết bao lời chúc tụng sẽ được nói lên.

Ai bảo là “phước bất trùng lai?”

Cuối cùng thì bạn tôi sau những đau thương, mất mát khủng khiếp trong cuộc đời, bây giờ được đền bù xứng đáng.

Tôi trao cho Hà món quà sinh nhật của tôi tặng và Linh được yêu cầu đọc mấy dòng tôi viết trong tấm thiệp mừng bạn. Đó là mấy câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Hồ Dzếnh:

Cô gái Việt Nam ơi!

Nếu chữ hy sinh có ở đời,

Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực

Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

Tôi đã chép những câu thơ trên cho bạn tôi và viết thêm đoạn tường thuật này tặng chung các Bà Mẹ Việt Nam.

May be an image of one or more people and text that says 'TU TU TRĂM NGÀN NĂM NĂM MỚI MỚI NÊN Đ/ DUYÊN CHUNG vơ THUYỀN CHÔNG'

Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Chức năng bình luận bị tắt ở Duyên Phận và Mệnh Số – TRUYỆN NGẮN… Lê Nguyễn Hằng…

Bài ca vọng cổ

Bài ca vọng cổ

Tiểu Tử

Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ như quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khoé môi, mái tóc đã ngả bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước ’’Cách mạng thành công’’ và tôi của bây giờ – nghĩa là chỉ sau có mấy năm sống dưới chế độ gọi là ưu việt – thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi … tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt!

Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’ivoire (Phi Châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu tôi cho Công ty Đường mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gửi cho tôi vé máy bay nữa!

Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi Châu da đen như là: ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v.v… Vì vậy, tôi hơi … ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia…

Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800km! Vùng này toàn rừng là rừng. Không phải là rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam. Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mươi, mười lăm thước … coi khô hóc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng, nhưng đồi không cao và trũng không sâu…

Nhà nước phá rừng trồng mía. Rung mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v.v.. nằm cách nhau cỡ vài cây số.

Muốn về thủ đô Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần ba chục cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến.

Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đất đỏ, mỗi lần máy bay bay lên đáp xuống là bụi bay … đỏ trời !

Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi “làm lại cuộc đời’’ ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhứt làm việc chung với Tây trắng (chỉ có năm người) và Tây đen (đông vô số kể). Ở đây, thiên hạ gọi tôi là “le chinois’’ – thằng Tàu – Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi … nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.

… Một hôm, sau hơn tám tháng “ ở rừng’’, tôi được gọi về Abidjan để họp (Đây là lần đầu tiên được về thủ đô!). Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa.

Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:

– Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi tôi mới về.

Ở xứ đen, họ dùng từ “Patron’’ để gọi ông chủ, ông xếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v.v… Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết!

Tôi nói:

– Về đi! Đâu cần phải đợi!

Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng toát:

– Tại Patron không biết chớ ở đây lâu lâu họ lại huỷ chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.

Rồi hắn đi ra xe. Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh : hành khách khá đông, nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-ly v.v… Không phải họ không biết gởi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gửi đã đủ số ký-lô giành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ … xách tay, cho dầu là nhiều món vừa nặng vừa cồng kềnh!

Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngã người trên lưng ghế, lim dim…

Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy’’. Rồi lại nhắm mắt lim dim… Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò’’: “Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng… đang vươn lên ngọn khói… á… lam… à… chiều…’’

Đúng rồi! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca vọng cổ ngoài kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá! Người đen đâu có năm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển … họ cũng ít dùng nữa.

Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là loại võng nhà binh của quân đi Việt Nam Cộng Hoà hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:

– Bonjour!

Anh ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói “ Bonjour’’. Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:

– Anh hát cái gì vậy?

Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp_

– Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là le chinois làm việc cho hãng đường ở Borotou không?

Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:

– Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.

Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:

– Trời ơi! … Bác là người Việt Nam hả?

Rồi hắn vỗ lên ngực:

– Con cũng là người Việt Nam nè!

Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại ’’trôi sông lạc chợ’’ đến cái xứ “ khỉ ho cò gáy’’ này mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt…

Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:

– Trời ơi!… Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!… Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt… con mừng “ hết lớn’’ bác à!

Rồi hắn kéo tôi lại võng:

– Bác nằm đi! Nằm đi!

Hắn lại đống gạch “ bờ-lóc’’ gần đấy lấy hai ba viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:

– Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu đợi tới bây giờ…

Hắn móc gói thuốc, rút lòi ra một điếu, rồi đưa mời tôi:

– Mời bác hút với con một điếu.

Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một “ cái gì’’ rất Việt Nam.

Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:

– Bộ bác nhìn ra nó rồi hả?

Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, dẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:

– Của ông ngoại con cho đó! Ổng cho, hồi ổng còn sống lận.

Rồi hắn bật cười:

– Hồi đó ổng gọi con bằng “ thằng Lọ Nồi’’.

Ngừng một chút rồi tiếp:

– Vậy mà ổng thương con lắm à bác!

Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm… Tôi nói:

– Vậy là cháu lai Việt Nam à?

– Dạ. Má con quê ở Nha Trang.

– Rồi má cháu bây giờ ở đâu?

Giọng của hắn như nghẹn lại:

– Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi Việt cộng vô năm 1975.

– Còn ba của cháu?

– Ổng hiện ở Paris. Tụi này nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà ni. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!

Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ này, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi môi dầy…

Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:

– Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!

Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:

– Có chớ bác. Con có lai chớ bác.

Hắn xoè hai tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:

– Bên ni của con là nằm ở bên ngoài đây nè.

Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim:

– Còn bên ngoại của con, nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.

Bỗng giọng hắn nghẹn lại:

– Con lai Việt nam chớ bác!

Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt tôi, một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vói tay vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:

– ô! Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy…

Hắn mỉm cười:

– Ở đây người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà ni con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?

Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:

– Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người giống mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh này, thiệt là Trời còn thương con quá!

Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng…

Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:

– Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài “ Đường về quê ngoại’’ đó bác.

– Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe vọng cổ.

Giọng nói của hắn bỗng như hăng lên:

– Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết.

– Bác cũng vậy.

Tôi nói, mà thầm phục sự hiểu biết của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có mt người như vậy để chuyện trò từ đây về sau…

Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:

– Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.

Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:

– Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết -“Jean le vietnamien’’ hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.

Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ, rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:

– Ghé con nghe bác… Ghé con…

Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật gật đầu, vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con…

Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi vội vã quay đi, lầm lũi bước nhanh nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho ’’thằng Jean le vietnamien’’. Hồi nãy, nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ…

…Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến “ thằng Jean’’ rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!

* **

Bây giờ, viết lại chuyện thằng Jean mà tôi tự hỏi:

“Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiều người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam?’’

“ Và có được bao nhiêu người còn mang trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nằm nguyên trong đó?’’./.

Tiểu Tử

Đăng tải tại TRUYỆN NGẮN | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài ca vọng cổ

Thánh Ca: Xin Thánh Giuse Chữa Lành (Dịch Corona Covid -19 tái bùng phát) St. Phạm Trung

Thánh Ca: Xin Thánh Giuse Chữa Lành ( Dịch Corona Covid -19 tái bùng phát) St. Phạm Trung

Nguyện Thánh Giuse xin thương trợ giúp chúng con, trong cơn đại dịch khổ đau lan tràn thế giới. Nguyện Thánh Giuse xin thương giải thoát chúng con, trong nỗi đớn đau chúng con thiết tha van nài.

Proshow: Fx. Lê Khắc Lâm (ofm)

Đăng tải tại NHẠC CẢNH | Chức năng bình luận bị tắt ở Thánh Ca: Xin Thánh Giuse Chữa Lành (Dịch Corona Covid -19 tái bùng phát) St. Phạm Trung