Thuốc ung thư giả mà năm ngoái Cô nhập về bán cho Con uống có đỡ đau không Con ?

– Thuốc ung thư giả mà năm ngoái Cô nhập về bán cho Con uống có đỡ đau không Con ?
– Dạ ! Con cám ơn Cô đã cho Con …sớm được về đoàn tụ với Ông Bà ạ !!!
(Fb Nguyễn Hoàng)
Mion.
Cụ bà 85 tuổi và con chó tá túc gầm cầu thang
Cụ bà 85 tuổi và con chó tá túc gầm cầu thang
…
Mình ở đây hả cô?
– Dạ
Rồi nước nôi vệ sinh sao cô?
– Thì người ta thương người ta cho xài
Ngày xưa mình ở sao cô?
– Hồi xưa tôi ở bến phà Thủ Thiêm. Ở với cháu. Rồi bị giải toả. Rồi tôi ở cầu thang.
Tối tôi ngủ với con chó. Tôi nuôi mười mấy năm rồi. Giờ nó bị cườm mắt tôi nhỏ thuốc cho nó mỗi ngày. Tội nó lắm.
Cô tên gì ạ?
– Tôi tên Trần Thị Ái Hương, 85 tuổi.
Mình ở cầu thang có ai đuổi mình không?
– Dạ không
Con thấy có nhiều nhà trống quá, mình không xin vào ở được hả cô?
– Người ta không cho ở. Trước có nhà trống tôi dọn vô ở. Nhà dọn dẹp mấy ngày mới sạch sẽ. Tôi ở được mấy ngày, tôi đi bán vé số ở nhà người ta dán giấy nếu không dọn ra người ta sẽ hàn cửa lại…
Mấy ngày được ngủ trong nhà cô ngủ ngon không?
– Dạ thì ngon hơn. Sạch sẽ hơn.
Cô và con chó sống dưới gầm cầu thang bao nhiêu năm rồi cô?
– Dạ đã 7, 8 năm rồi. Nó sống với tôi từ hồi chưa giải toả. Mẹ nó đẻ mỗi mình nó. Mẹ nó chết rồi nó ở với tôi. Nó khôn lắm.
Mỗi ngày đi bán vé số cô đi bao nhiêu cây số?
– Dạ cũng sáu, bảy cây số. Đi lòng vòng ở đây.
Mình ở gầm cầu thang cán bộ có đuổi mình đi không cô?
– Họ cho ở gầm cầu thang. Họ không đuổi.
….
Con chó Thủ Thiêm tình nghĩa quá.
Các anh ơi, có ai còn chút lòng nhân không?
Anh Cang ơi…
P/s: Các bạn share không cần hỏi. Cóp thoải mái.
Hơn 30% lao động Việt Nam cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc
Hơn 30% lao động Việt Nam cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc
Có đến gần 35% lao động Việt Nam phá vỡ hợp đồng và cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc tính đến tháng 4 năm nay.
Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao Động Thương binh và Xã hội Việt Nam công bố tỷ lệ vừa nêu.
Báo Người Lao động trích nguồn tin từ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho biết, con số lao động Việt Nam bỏ trốn những năm qua thậm chí chiếm đến tổng số 40% số lao động nước ngoài đang lao động và cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc.
Hàn Quốc hiện tiếp nhận lao động từ 16 quốc gia. Các quốc gia này đều có lao động bỏ trốn ở Hàn Quốc, tuy nhiên tỷ lệ trung bình của các nước chỉ chiếm khoảng 8 đến 9%, nước nhiều cũng chỉ chiếm khoảng 15 đến 16% trong tổng số lao động nước ngoài bỏ trốn.
Phía Hàn Quốc mới đây cũng cảnh báo nếu tình trạng người lao động từ Việt Nam bỏ trốn ở lại tiếp tục gia tăng thì nước này sẽ ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam trong năm 2019.
Mới đây Bộ Lao động Thương Binh Xã hội đã có thông báo tạm dừng tuyển chọn lao động nước ngoài sang Hàn Quốc theo chương trình EPS năm 2018 tại 49 địa phương là những nơi có đông người lao động bỏ trốn.
Các nhà ngoại giao EU và Mỹ gặp gỡ các nhà hoạt động dân sự tại Sài Gòn
Các nhà ngoại giao EU và Mỹ gặp gỡ các nhà hoạt động dân sự tại Sài Gòn
RFA
2018-05-16

Các nhà ngoại giao từ một số nước thuộc Liên minh châu Âu EU và Hoa Kỳ đã có cuộc gặp với các nhà hoạt động dân sự tại Sài Gòn hôm 15/5 để thảo luận về tình hình nhân quyền tại Việt Nam thời gian qua.
Theo facebook của nhà hoạt động Phạm Bá Hải, Điều phối viên Hội Cự tù nhân Lương tâm, hai bên thảo luận các vấn đề về luật an ninh mạng, luậ tín ngưỡng tôn giáo, luật đất đai liên quan đến những vụ tranh chấp đất gây nhiều bàn cãi gần đây là Thủ Thiêm và Đồng Tâm, tình hình gia tăng đàn áp những người bất đồng chính kiến. Cuộc trao đổi dành nhiều thời gian về hiệp định tự do mậu dịch Việt Nam và EU (FTA).
FTA được Việt Nam và EU kết thúc đàm phán vào năm 2015, tuy nhiên vẫn còn cần phải chờ quốc hội EU thông qua. EU và Việt Nam đang thúc đẩy việc kết thúc ký hiệp định này trong năm nay.
Tuy nhiên, nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế đã lên tiếng kêu gọi EU gắn vấn đề nhân quyền vào điều kiện ký kết FTA với Việt Nam.
Trong thời gian qua, nhiều quan chức Việt Nam đã có các chuyến công du đi các nước châu Âu để thúc giúc việc thông qua hiệp định này.
Theo Facebook Phạm Bá Hải, trong cuộc gặp lần này, phía phái đoàn ngoại giao châu Âu có đại diện đại sứ quán Tây Ban Nha, tham tán chính trị EU tại hà Nội, đại sứ quán Ý, đại sứ quán Pháp, Hà Lan, Anh, Thụy Điển, và Đức. Phía Hoa Kỳ cử đại diệ là ông Justin Brown và bà Pontius Pamela, thuộc Tổng lãnh sự quán Sài Gòn.
Trong tháng 5 này, Việt Nam và Hoa Kỳ cũng sẽ có cuộc đối thoại nhân quyền tại Washington DC.
Việt Nam: cái giá của ô nhiễm môi trường
Việt Nam: cái giá của ô nhiễm môi trường (VOA)

Chất lượng không khí ở Việt Nam nói chung chưa thể qua mặt Trung Quốc hay Ấn Độ về mức độ ô nhiễm. Tuy nhiên nạn ô nhiễm ở Việt Nam đã tới mức tệ hại và sẽ trở nên tồi tệ hơn. Việt Nam sẽ phải trả một cái giá vì không khí nhiễm độc – dù là tiền để nâng cấp lên nhiên liệu sạch hơn hoặc để giải quyết các vấn đề về sức khỏe mà người dân gặp phải vì không khí bị ô nhiễm.
Chuyên gia về kinh tế học môi trường Lê Việt Phú nói không sớm thì muộn, Việt Nam cũng sẽ phải trả giá.
Giáo sư giảng dạy kinh tế học môi trường của Đại học Fulbright ở TPHCM kêu gọi người dân Việt Nam hãy có cái nhìn lâu dài và chi nhiều tiền hơn cho năng lượng sạch, mặc dù ban đầu nó có thể tốn kém. Các dữ liệu thống kê của lãnh sự quán Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh có thể là một lời cảnh tỉnh đối với họ. Thống kê cho thấy Việt Nam giờ đã gia nhập nhóm 10 nước bị ô nhiễm không khí tồi tệ nhất thế giới.
Đánh giá chất lượng không khí của lãnh sự quán Mỹ đã trở thành một tài liệu tham khảo hàng ngày cho người dân ở đây kể từ khi thiết bị giám sát này được lắp đặt vào năm 2015, cùng với một thiết bị tương tự được đặt tại đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội.
“Việt Nam phát triển rất nhanh trong 10 năm qua vì giá năng lượng thấp”, giảng viên của Đại học Fulbright Việt Nam cho biết.
Vấn đề
Việt Nam đã qua một chặng đường dài để có được những phát triển kinh tế sau chiến tranh, nhưng một số người đang dừng lại để xem xét những cái giá đã trả cho thời kỳ đó. Tổng sản phẩm quốc nội tăng lên 6-7% mỗi năm. Trong khi đó, tần suất của những ngày mà không khí ở TP Hồ Chí Minh được coi là không lành mạnh đối với các nhóm nhạy cảm đã tăng gấp đôi so với hai năm trước đây.
Đáng sợ hơn, 66.300 người Việt Nam đã chết vì các nguyên nhân liên quan đến không khí ô nhiễm trong năm 2013, theo Tổng lãnh sự Mỹ tại thành phố Hồ Chí Minh, bà Mary Tarnowka, trích dẫn dữ liệu của Ngân hàng Thế giới.
Bà Tarnowka nói: “Gia đình tôi sống ở Trung Quốc và Ấn Độ trong nhiều năm, chúng tôi hiểu chất lượng không khí ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào, đặc biệt là sức khỏe của trẻ em vì phổi của chúng vẫn đang phát triển.”
Việc các trường học tạm đóng cửa trong một vài giờ hoặc thậm chí cả một ngày để bảo vệ học sinh chống ô nhiễm không khí không phải là chuyện hiếm thấy. Ở nhà và tại văn phòng, bàn và kệ phải được lau hàng ngày vì bụi bám.
Chuyên gia Lê Việt Phú nói nạn ô nhiễm công nghiệp đặc biệt nghiêm trọng bên ngoài các trung tâm đô thị như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng bên trong các thành phố, 90% lượng khí phát thải đều đến từ giao thông.
Giải pháp
Đó là lý do tại sao một số người đề nghị những người lái xe máy phải được yêu cầu kiểm tra thường xuyên khí phát thải.
Việt Nam đã cân nhắc một số sự chọn lựa khác để giảm ô nhiễm do tắc nghẽn giao thông. Chính phủ Việt Nam đã đề xuất tăng thuế nhiên liệu, nhưng vẫn chưa làm được điều này vì vấp phải phản đối từ công chúng. Chính quyền thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã giành nhiều năm để xây dựng hệ thống tàu điện ngầm, nhằm khuyến khích mọi người bớt dùng phương tiện cá nhân, nhưng ngày giờ hệ thống tàu điện bắt đầu hoạt động cứ liên tục bị hoãn lại, vì thiếu hụt ngân sách.
Theo đánh giá của CHANGE, một nhóm môi trường Việt Nam, sẽ có thay đổi lớn nếu Việt Nam chuyển từ sử dụng năng lượng từ than sang năng lượng gió, mặt trời và các năng lượng thay thế khác. Giám đốc CHANGE, Hoàng Thị Minh Hồng, cho biết thực hiện việc này sẽ giúp Việt Nam giữ cam kết trong thỏa thuận biến đổi khí hậu Paris nhằm giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
“Tôi hy vọng Thành phố Hồ Chí Minh, với lợi thế về địa lý và khí hậu, cùng với tiềm lực kinh tế, công nghệ và con người, cũng như tư duy cởi mở của cả chính phủ và nhân dân, sẽ là người tiên phong trong quá trình phát triển năng lượng tái tạo ở đất nước này,” bà Hồng nói.
Mức ô nhiễm ở Việt Nam chưa lên tới mức ngang hàng với các nước lớn trong khu vực châu Á, và các nhà môi trường đang hy vọng là hãy còn thời gian để đảm bảo Việt Nam không rơi vào tình trạng ô nhiễm tương tự.
Bác sĩ gốc Việt lừng danh thế giới, ngỏ lời tạ ơn một trường nhỏ từng có lòng tốt đối với người tị nạn
Bác sĩ Phạm Sĩ hiện làm việc tại Mayo Clinic ở Minnesota. (Lebanon Valley College News)LEBANON – Ông Phạm Sĩ từng học để trở thành bác sĩ ở Sài Gòn, thì ước mơ bỗng bị tan vỡ bởi cuộc chiến. Câu chuyện lưu lạc của ông đến nước Mỹ đã được nhật báo Lebanon Daily News tường thuật vào đầu tháng Năm, với nội dung như sau.Ông thoát khỏi Việt Nam vào ngày 30 tháng Tư, 1975, ngày Sài Gòn và cả miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Ông có mặt trên một chiếc thuyền, bị tách rời khỏi đất nước, bỏ lại những người thân trong gia đình, và chỉ có bộ quần áo trên người.
Bốn mươi năm sau đó, Phạm Sĩ là một bác sĩ giải phẫu tim mạch tài ba hiếm hoi của thế giới, và là nhà nghiên cứu y khoa từng viết hơn 170 bài nghiên cứu và tham gia ca mổ ghép tim và gan cho cựu Thống Đốc Bob Casey của tiểu bang Pennsylvania.
Nhưng theo ông Phạm Sĩ nói, câu chuyện tay trắng làm nên sự nghiệp của ông chỉ có thể xảy ra là nhờ lòng nhân đạo của thị xã Annville và trường đại học nhỏ bé chuyên về khoa học và nghệ thuật tại thung lũng Lebanon này, được tỏ bày dành cho những người tị nạn chiến tranh cách đây hơn bốn thập niên.
Ông Phạm Sĩ kể rằng ông đã lớn lên cảm thấy bất lực trong một đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh. Ông ước ao có thể chữa lành những vết thương mà bạn bè ông phải chịu đựng do bom đạn gây ra. Vì vậy ông vào Sài Gòn để học ngành bác sĩ.
Nhưng đến năm 1975, cuộc chiến diễn biến tệ hơn cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi, quân cộng sản Bắc Việt nhanh chóng xâm nhập và cưỡng chiếm miền Nam. Cha mẹ ông hồi đó sống ở miền Trung, và họ bị kẹt trong sự kiểm soát cộng sản khi cuộc xâm lăng tiến đến gần Sài Gòn.
Ông Phạm Sĩ nói, “Tôi biết chế độ cộng sản là gì và tôi biết dân chủ là gì, vì vậy tôi đã lựa chọn rời khỏi đất nước để rồi thành người tị nạn.”
Bác sĩ giải phẫu tim mạch Phạm Sĩ đang nhận giải thưởng Distinguished Alumnus (Cựu Sinh Viên Xuất Sắc) của trường Lebanon Valley College vào ngày 27 tháng Tư, 2018. (Hình cung cấp cho báo Lebanon Daily News)
Những người tị nạn được đưa tới đảo Guam, nơi họ ở lại cho tới tháng Sáu 1975, khi họ được phép đến trại Fort Indiantown Gap, nơi chứa 15,000 người tị nạn.
Ông nói, “Hồi đó tôi không có gì cả. Tôi chỉ có một bộ quần áo trên người.”
Những người tị nạn không được phép rời khỏi trại Gap, cho đến khi họ có được một người Mỹ bảo trợ, và những người độc thân như ông Sĩ đều nằm cuối danh sách mà sự ưu tiên là dành cho những gia đình. Tuy vậy, đến tháng Tám năm ấy, trường Lebanon Valley College (LVC) tạo một cơ hội cho 12 học sinh tị nạn được ghi danh và có được nơi ăn chốn ở, thông qua sự kết hợp giữa chương trình học bổng Pell Grants, chương trình vừa học vừa làm, một học bổng và một khoản tiền vay nhỏ. Thậm chí trường đại học này còn cung cấp các lớp học tiếng Anh bổ túc cho các sinh viên.
Giáo Sư Hóa Học Danh Dự Owen Moe, thời đó là một giáo sư nghiên cứu tại LVC, đã không lập tức để ý tới Phạm Sĩ. Cho đến khi họ bắt đầu cùng nhau làm việc trên các dự án, ông mới xác định ông Sĩ thuộc hạng sinh viên có thể vươn lên tới hàng đầu trong chức nghiệp.
Ông Moe nói, “Anh ấy có sự quyết tâm, và phải đối phó trước nhiều trở ngại. Anh đã tìm cách vượt qua mọi trở ngại đó.”
Bác sĩ Phạm Sĩ được ngồi cạnh vị Giáo Sư ân nhân Owen Moe (bên trái) và Viện Trưởng Lewis Thanye của trường Lebanon Valley College trong đêm trao giải thưởng 27 tháng Tư, 2018 tại trường này. (Hình cung cấp cho báo Lebanon Daily News)
Ông Phạm Sĩ nói rằng thầy Moe là một người dìu dắt tuyệt vời và là một niềm khích lệ lớn cho ông. Lúc đó ông rất biết ơn vì có cơ hội hoàn tất việc học tại một trường đại học Mỹ, với các giáo sư trực tiếp giảng dạy. Nhưng ít nhất mỗi tuần một lần, ông vẫn thức dậy và nghĩ rằng mình vẫn còn ở Việt Nam. Nơi đó cha mẹ ông đang sống dưới ách cai trị của cộng sản, và không biết ông còn sống hay đã chết.
Phạm Sĩ nói, “Chiến tranh làm cho người ta mau trưởng thành hơn. Đó là một vấn đề sống còn – bạn phải lớn lên, chiến đấu và tìm cách sống sót.”
Ông tốt nghiệp từ trường Lebanon Valley College, sau đó từ trường y khoa, và nhanh chóng vươn lên vượt qua hàng ngũ nghề nghiệp, trở thành trưởng khoa cấy ghép tim, phổi và tim nhân tạo, tại trường y khoa thuộc đại học University of Miami, ngoài những công việc khác. Ông đã công bố hơn 170 bài báo khoa học, giúp thành lập những phương pháp để ngăn chặn sự việc cơ thể tìm cách loại bỏ những bộ phận cấy ghép tim và phổi, và giúp một giải pháp được tiến xa hơn trong việc một phương thay thế phẫu thuật tim hở, theo thông tin do trường LVC cung cấp.
Vào năm 1993, ông là thành viên của một nhóm thực hiện ca cấy ghép gan và tim lần thứ bảy trên thế giới, mà bệnh nhân là cựu thống đốc Robert Casey của Pennsylvania.
Hiện nay ông đang làm việc cho Mayo Clinic tại Minnesota.
Tuy nhiên, những thành tựu mà ông Phạm Sĩ hãnh diện nhất sẽ không xuất hiện trong các cuốn sách lịch sử: đó là cung cấp các ca mổ cần thiết cho di dân, cho những người nghèo cư ngụ trong thành phố, và những người không có khả năng trả tiền giải phẫu.
Chính ở đó, ông Phạm Sĩ cảm thấy như thể đã hoàn thành sứ mạng ban đầu của ông: là sửa chữa những cơ thể bị phá hỏng, giống như những cơ thể mà cuộc chiến Việt Nam đã tìm cách hủy hoại. Ông cũng có cơ hội để chăm sóc các cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Trong số đo có một đại tá về hưu, người đã giúp lập một trại tị nạn nơi mà ông Phạm Sĩ từng ở.
Vì ông đam mê giúp đỡ người bệnh, một trong những thách thức chuyên nghiệp lớn nhất của ông là đối phó với thất bại sau một ca mổ có mức rủi ro cao.
Ông nói, “Bạn phải nói chuyện với các người thân trong gia đình, bạn biết đấy, nói cho người thân biết rằng bệnh nhân không thể qua khỏi. Thật khó, rất khó. Bạn phải học cách đối phó với chuyện đó và rồi tiếp tục đi tới. Nếu không, chuyện đó có thể trở nên khó khăn về mặt tâm lý.”
Mấy năm sau khi đến Mỹ, ông Sĩ mới có thể gửi thư cho cha mẹ thông qua một người bạn sống ở Canada. Bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được nối lại vào cuối thập niên 1980, và trong thập niên 1990, ông đưa cha mẹ sang Mỹ để sống với ông trong một thời gian.
Đến lượt ông dẫn con cái về Việt Nam và tới các quốc gia nghèo kém khác, để các con ông có thể hiểu được sự may mắn mà chúng có được ở đất nước Hoa Kỳ này.
Ông đã nhận được giải thưởng cựu sinh viên xuất sắc của LVC, tại một buổi lễ ngày 27 tháng Tư, và ông rất vui khi lãnh thưởng. Thực vậy, ông ghi nhận công lao của cả trường LVC lẫn cộng đồng Annville đã đón tiếp những người tị nạn trắng tay như ông.
Ông nói, “Dân chúng Mỹ rất rộng lượng, giúp đỡ rất nhiều.”
Vị bác sĩ này hy vọng mọi thành công của ông sẽ khích lệ những di dân khác, để họ không bị nản lòng khi theo đuổi ước mơ của họ.
Ông nói, “Mọi sự sẽ tốt đẹp hơn. Thời gian sẽ chữa lành nhiều vết thương.”
KẾT QUẢ CỦA SỰ MÙ LOÀ VÀ CỐ CHẤP
Một gia đình nghèo đông anh em, ở chen chúc trong một ngôi nhà cũ nát. Trong nhà có một đứa em nhỏ tuổi nhưng thông minh vượt trội với đám anh chị già đầu mà ngu dốt. Thằng nhỏ nói: “Nhà ta đã cũ nát lắm rồi, nó có thể sập bất cứ lúc nào, và gia đình chúng ta có thể bị chôn sống dưới cái xác căn nhà này bất kì lúc nào. Em lạy mấy anh mấy chị hãy giật sập căn nhà này đi. Không có tiền xây nhà to thì dựng lều ở tạm còn an toàn hơn. Em nghĩ với sức lực của anh em trong nhà, nếu chịu làm ăn, thì một năm sau nhà ta sẽ có nhà mới khang trang hơn”.
Đám anh chị ngu ngốc nghe thằng nhỏ nói thế liền tự ái, vì bọn họ tưởng thằng nhỏ tài lanh dạy khôn mình. Thế là đám già đầu xúm lại xỉ vả thằng bé, lớp chê bai nhỏ mà biết gì, lớp thì nói nó hỗn, lớp thì đòi đánh nó vì nhỏ mà bày đặt dạy đời blah blah blah… Thất thế vì họ không cho điều kiện thanh minh, thằng bé đành bỏ nhà đi lang thang một mình.
Chẳng bao lâu sau, căn nhà sập đè chết quá nửa số người anh em trong nhà. Số còn lại thì bị thương. Thấý gia đình bị nạn túng tiền chạy chữa, thế là thằng hàng xóm tỏ ra “hảo tâm”, ra tay “cứu” người hoạn nạn. Nó bảo “tao sẽ bỏ tiền lo ma chay cho mấy người chết, và chi trả cho khoản tiền chữa trị tai nạn cho bọn bay. Đổi lại, tao sẽ lấy căn nhà này”. Đến nước này, không còn lựa chọn, đám đàn anh đặt bút kí vào hợp đồng. Lúc này hối hận không nghe lời thằng út thì đã quá muộn.
Tương tự vậy, đại gia đình Việt Nam cũng thế. Cái nhà XHCN đã quá nát, những người chủ mảnh đất hình chữ S này đa phần là không muốn giật sập nó dù ai cũng biết nó quá nát và quá nguy hiểm. Nếu phá bỏ tất cả đều an toàn, còn để nó tồn tại cho đến khi tự sập thì đã quá muộn. Mảnh đất chữ S này luôn trong tầm ngắm của thằng hàng xóm gian trá. Nhà sập, người chết nó sẽ thả câu. Đấy là cái nguy hiểm của tư tưởng lánh xa chính trị buông xuôi mọi thứ cho ĐCS.
Nên nhớ, giật đổ nó có cái giá hoàn toàn khác với để nó tự đổ. Coi chừng bị chết vùi đấy!
Kiếp Người Là Chuyến Hành Trình, Gặp Gỡ Nhau Nên Cảm Kích



Khi tàu về đích, trăm người đi trăm hướng, cuộc gặp gỡ bất chợt, thoáng qua âu cũng là duyên phận. Không ai là vô duyên vô cớ xuất hiện trong cuộc đời của bạn cả, sự xuất hiện của mỗi người đều có nguyên do, đều đáng được cảm kích.
Ta không thể sống một mình. Cuộc sống là sự tương duyên nương tựa giữa ta và người. Mấy mươi năm sống trong đời, không biết bao nhiêu người đã đi ngang đời ta. Có lẽ ta sẽ không nhớ hết những người từng gặp từ khi mở mắt chào đời đến bây giờ.
Nhưng gặp gỡ trong một khoảnh khắc nào đó hay một thời gian dài thì cũng không ngoài chữ duyên. Dù duyên ấy là thiện duyên hay ác duyên, nhưng có gặp nhau thì đã có duyên rồi.
Người với người gặp gỡ là dựa vào một chút duyên phận, sống được với nhau, là dựa vào một chút thành ý…
Sự hấp dẫn của đàn ông không ở chỗ có bao nhiêu tiền, lớn lên đẹp trai đến đâu, mà là khi gặp chuyện có thể gánh vác trách nhiệm.
Sự quyến rũ của phụ nữ không phải ở chỗ xinh đẹp bao nhiêu, mà là ở tính cách ôn nhu, thiện lương và một nội tâm khoan dung độ lượng.
Trong cuộc sống, bất kể tình thân, tình bạn hay là tình yêu, có thể tự nhiên mà gắn bó mới thực sự là tình cảm tốt đẹp nhất.
Tai thính thật sự có thể nghe được tiếng lòng; mắt sáng thực sự có thể nhìn thấu nội tâm…
Chứng kiến không có nghĩa là đã nhìn thấy,
Nhìn thấy không có nghĩa là thấy rõ,
Thấy rõ không có nghĩa là đã xem hiểu,
Xem hiểu không có nghĩa là đã nhìn thấu,
Nhìn thấu không có nghĩa là đã thông suốt,
Thông suốt không có nghĩa là không phiền não.
Chuyện trên đời có những lúc biến hóa khôn lường, nhưng có thể bảo trì một nội tâm bao dung, thấu hiểu và trân quý thì có thể khiến các mối quan hệ được bền chặt lâu dài. Bởi dù sao, những người có thể gặp được trong kiếp này đều là duyên phận hy hữu.
Mọi người thường nói, duyên do trời định, phận do nhân định. Đúng là như thế, gặp nhau là ý trời, bên nhau là ý người. Dựa vào đôi bên gìn giữ, phát triển thì duyên một lần gặp gỡ mới thành mối phận trăm năm. Nhưng duyên phận dài ngắn thế nào lại chẳng ai hay, ai biết? Một năm, năm năm, cả đời? Hết thảy chúng ta đều không đoán được.
Hôm nay có duyên phận không có nghĩa là vĩnh viễn sẽ có duyên phận. Phật bàn về nhân duyên rằng, cái gì cũng chỉ có thời điểm, duyên phận cũng vậy. Bởi thế mà phải nắm thật chắc, giữ thật chặt, hết lòng quý trọng. Đó là món quà trời ban, chỉ trong một giây, một khắc, một đoạn.
Kiếp này có thể tương ngộ chính là điều hạnh phúc nhất. Bất kể là gặp thoáng qua, là bạn bè, đồng sự, hay hẹn ước trăm năm đều vô cùng trân quý.
Sinh mệnh vốn là một hành trình phiêu bạt, gặp được ai cũng đều không hề ngẫu nhiên, vậy nên ta cần trân trọng tất cả những người gọi ta là bằng hữu, cảm ơn những người mà kiếp này ta tương ngộ.
CHUYỆN RẤT NGẮN… NHƯNG RẤT BUỒN..
CHUYỆN RẤT NGẮN… NHƯNG RẤT BUỒN..
1- Nồi cá bống kho tiêu
Ba mươi tuổi đầu, lận đận chiến chinh, chưa kịp lấy vợ thì trời sập. Đi t ù . Mẹ thăm nuôi 6 tháng một lần .Quà chỉ có nồi cá bống kho tiêu và nước mắt thương con. Được 3 năm thấy mẹ già đi, tóc bạc phơ. Thương mẹ, hắn bảo mẹ đừng lên thăm nữa. Nhưng đến kỳ thăm lại đi ra đi vào ,trông ngóng mẹ. Suốt hai năm không thấy mẹ lên thăm.
Được tha, về nhà mới hay khi mẹ về gặp mưa bị cảm nặng trong lần thăm nuôi sau cùng và đã qua đời hai năm rồi. Giỗ mẹ, hắn đi chợ mua cá bống về kho tiêu. Giỗ xong bưng chén cơm và đĩa cá bống kho tiêu cúng mẹ xuống ăn, hình như có vị mặn của nước mắt.
2- Tình đầu
Mười tám tuổi, yêu tha thiết, tỏ tình. Nàng chu mỏ : học trò ,nhỏ xíu, bày đặt. Hai mươi hai ,Thiếu úy Sư Đoàn 18 ,về phép đến thăm ,nàng lạnh lùng.
Sợ làm góa phụ lắm. Hai mươi sáu , Đại úy Trưởng khối CTCT Trung Đoàn. Khó chết rồi ,xin bỏ trầu cau.Nàng ậm ừ để suy nghĩ lại đã . Tháng 4/75 chạy giặc, lạc mất nhau.
Ở tù ra, gặp lại. Nàng đã có chồng, hai con. Buồn và mặc cảm, thôi cứ ở vậy không lấy ai. Ba mươi năm sau , lận đận quê người, gặp lại. Nàng chồngchết, các con trưởng thành ra ở riêng. Mừng rơn, mời nàng đi ăn cơm tối nhà
hàng. Tỏ tình. Nàng thẳng thừng: già rồi bận bịu nhau làm gì, ở một mình cho khỏe.
3- Hai chị em
Chị quen anh Hân, trung úy phi công. Anh đến nhà chơi, thấy em gái quấn quít Hân, chị nhường. Hai người tổ chức đám cưới, chị gom hết tiền để dành tặng đôi vợ chồng mới .
Em có thai đứa con đầu lòng được 6 tháng thì Hân đi tù cải tạo. Chi thương em đang có con dại, thay em đi ra Bắc thăm nuôi Hân. Con được hai tuổi, em đi buôn hàng chuyến, lỡ có thai với người tài xế. Chị tiếp tục đi thăm, dối Hân em dẫn con đi vượt biên rồi. Thấy Hân mừng cho tương lai vợ con mình, chị xấu hỗ, tủi thân ,âm thầm khóc lặng lẽ trên chuyến tàu lửa từ Hà Nội về lại Sài Gòn.
Hân về, biết sự thật. Buồn, dẫn con gái đi vượt biên. Nghe tin hai cha con chết trên biển, chị lập bàn thờ. Lấy tấm hình Hân đứng bên cạnh chiếc máy bay phản lực F5 Hân tặng chị hồi mới quen rọi lớn ra, bỏ vào khung đặt lên bàn thờ, chị khóc gọi Hân ơi…
4- Trả hiếu
Thằng Út đói bụng, tìm Lan. Chị ơi nấu cho em gói mì .Từ sáng đến giờ hai chị em chưa ăn gì cả. Nhà hết mì gói ăn liền lại hết cả gạo.
Lan dỗ dành, ba đi thồ về thế nào cũng mua bánh mì cho em. Trời tối dần vẫn không thấy ba về, Lan dẫn em ra đầu hẽm nơi anh Tư sửa xe gắn máy, ngồi đợi. Tư và Lan thương nhau đã hơn hai năm. Tư đang cố dành dụm ít tiền để sang năm làm đám cưới. Trời tối hơn, chú Bảy xe thồ chạy về báo tin ba bị xe đụng gãy chân rồi. Bệnh viện đòi 5 triệu mới chịu bó bột.
Lan về nhà thay áo, chạy vội ra nhà dì Năm đầu phố. Dì ơi con bằng lòng. Đêm bán trinh cho ông Đài Loan ,Lan khóc lặng lẽ. Anh Tư ơi, cho em xin lỗi…
5- Khói thuốc
Năm thứ hai ở Đại học CTCT Đà Lạt, Duy quen Trinh ,học năm thứ nhất ở Đại học Chính Trị Kinh Doanh. Hai đứa yêu nhau tha thiết, thề hẹn sống chết với nhau. Tốt nghiệp, Duy về Sư Đoàn 5 bộ binh, hành quân liên miên Bình Dương, Bình Long, Phước Long. Đêm hành quân giăng võng nằm trong rừng cao su Đồng Xoài, Duy mơ có dịp về phép Đà Lạt, cùng Trinh tay trong tay dạo khắp Thành Phố Sương Mù, rồi vào Cà phê Tùng gọi một gói thuốc Capstan, một tách cà phê sữa, một ly sữa đậu nành nóng, cho ấm.
Trinh ra trường về nhà ba mẹ ở Sài Gòn. Duy xin phép thường niên được 7 ngày, ghé thăm. Trinh báo tin ba mẹ gả em cho anh giám đốc Trung Á ngân hàng. Cưới xong chắc em cũng vào làm ở đó luôn cho tiện. Mẹ bảo em hãy quên ông Trung úy đó đi.
Hai tháng sau Duy bị thương về nằm Tổng Y Viện Cộng Hòa. Anh lính đơn vị cử đi theo chăm sóc chạy về báo tin hôm nay đám cưới cô Trinh, thấy nhà trai tới với nhiều xe hơi sang trọng lắm.
Duy chống nạng ra ngồi trước hiên ,châm điếu thuốc. Thẩm quyền ! bộ ông đang khóc đó hay sao? Không phải đâu, chỉ là khói thuốc lá cay cay làm chảy ra nước mắt…
6- Chồng xa
Tin vào chủ trương của lãnh đạo ủy ban nhân dân huyện, cha Hạnh bỏ lúa đổi sang nuôi tôm xuất khẩu .Vay của ngân hàng nhà nước 3 tỷ bạc. Tôm chết trắng ruộng, lỗ nặng. Đến hạn trả nợ, không trả được bị ngân hàng hăm tịch thu nhà. Vịnh, em trai đang học lớp 10 muốn bỏ học đi làm thuê. Hạnh khuyên em cứ tiếp tục học lên đại học, mong sau nầy đổi đời. Nợ nần của gia đình để chị lo.
Nuốt nước mắt vào lòng, Hạnh lên Sài Gòn tìm mối lấy chồng Đại Hàn. Được ba tháng chị gọi phôn về thăm Vịnh, dặn dò em cố gắng học và chăm sóc cho cha.
Tiếng chị nghèn nghẹn như đang khóc. Thương chị, Vịnh nghẹn ngào hứa vâng theo lời chị dặn dò . Hai tuần sau, tòa lãnh sự Đại Hàn mời gia đình đến nhận bình đựng tro cốt của Hạnh. Họ giải thích tại chị nhảy lầu tự tử…
Trên chuyến xe đò từ Sài Gòn về Long Xuyên, xe chạy qua những cánh đồng lúa bạt ngàn tận chân trời, Vịnh thút thít khóc gọi chị Hai ơi …
From: Cam Tuyet & Kim Bang Nguyen
LỜI NGUYỆN XIN TĨNH LẶNG
LỜI NGUYỆN XIN TĨNH LẶNG
Hãy làm thinh và biết Ta là Đức Chúa.
Kinh thánh quả quyết với chúng rằng nếu chúng ta làm thinh thì sẽ biết Chúa, nhưng có được sự lặng yên thì nói dễ hơn làm. Như Blaise Pascal từng nói, “Mọi khốn khổ của con người là do chẳng ai có thể ngồi yên trong một tiếng đồng hồ.” Đạt được sự tĩnh lặng có vẻ là việc quá tầm của chúng ta, và như thế chúng ta gặp một song đề: chúng ta cần tĩnh lặng để tìm Chúa, nhưng cần Chúa giúp để tìm sự tĩnh lặng. Nghĩ như thế, tôi xin gởi ý các bạn một lời guyện xin sự tĩnh lặng.
Lạy Thiên Chúa của tĩnh lặng…
Xin làm tĩnh lặng những bồn chồn tuổi trẻ của con, tĩnh lặng cơn đói khát cứ ập vào con, cơn đói khát muốn nối kết với mọi người, muốn thấy và và thưởng nếm mọi thứ, cơn đói khát khiến con mất bình an những buổi tối cuối tuần. Xin tĩnh lặng những giấc mơ tự đại muốn mình nổi bật với người khác. Xin cho con ơn sống hài lòng hơn với bản thân con.
Xin tĩnh lặng cơn bồn chồn khiến con thấy mình quá nhỏ bé. Xin cho con biết rằng đời con là đủ, và con không cần đòi hỏi về mình, dù cho cả thế giới đang cố lôi kéo con làm thế với vô vàn những hình ảnh tiếng động khắp nơi. Xin cho con ơn sống bình an trong cuộc đời mình.
Xin làm tĩnh lặng tính dục của con, chỉnh đốn những khao khát bừa bãi, dục vọng của con, nhu cầu không ngơi muốn được thân mật hơn nữa của con. Xin tĩnh lặng và chỉnh đốn những dục vọng trần tục của con mà không cần phải xóa bỏ chúng đi. Xin cho con biết nhìn người khác mà không phải với con mắt tình dục ích kỷ.
Xin tĩnh lặng những lo âu, trăn trở của con và đừng để con lúc nào cũng sống ngoài giây phút hiện tại. Xin cho con biết ngày nào có mối lo của ngày ấy. Xin cho con ơn biết rằng Chúa đã gọi con trong yêu thương, viết sẵn tên con trên thiên đàng, và con được tự do sống mà không cần lo lắng.
Xin tĩnh lặng nhu cầu muốn bận rộn luôn mãi của con, muốn kiếm việc gì đó để làm, muốn lên kế hoạch cho ngày mai, muốn hoạt động mọi phút giây, muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng thinh lặng. Xin cho con biết thêm tuổi thêm khôn ngoan. Xin làm nguôi đi những cơn giận âm ỉ vô thức của con vì thấy quá nhiều mong muốn của mình chưa thành sự. Xin tĩnh lặng sự chua cay vì thất bại của con. Xin giữ con khỏi ghen tương khi con cay đắng chấp nhận những giới hạn của cuộc sống mình.
Xin cho con ơn chấp nhận những thất bại và hoàn cảnh của mình.
Xin tĩnh lặng nỗi sợ chính mình, nỗi sợ trước những thế lực tăm tối đang đe dọa con trong vô thức. Xin cho con can đảm để đối diện với bóng tối cũng như ánh sáng của chính mình. Xin cho con ơn đừng sợ sự phức tạp của mình.
Xin tĩnh lặng nỗi sợ hiện tại của con là sợ mình không được yêu thương, sợ con không xứng đáng để yêu. Xin làm tĩnh lặng sự hoài nghi dằn vặt rằng con luôn là kẻ ngoài cuộc, rằng cuộc sống thật bất công, rằng con không được tôn trọng và thừa nhận. Xin cho con ơn biết rằng con là con yêu dấu của Chúa, Đấng yêu thương con vô điều kiện.
Xin tĩnh lặng trong con nỗi sợ vô cớ đối với Chúa, để con đừng thấy Chúa xa cách và đáng sợ, mà thay vào đó là nhìn thấy Chúa nồng ấm và thân thiện. Xin cho con ơn liên kết với Chúa thật hồn nhiên, như một người bạn mà con có thể chuyện trò, đùa giỡn, vui vẻ và thân thiết.
Xin tĩnh lặng trong con những suy nghĩ bất dung, về những giận hờn từ quá khứ, những bội bạc, lăng mạ mà con phải chịu. Xin tĩnh lặng trong con những tội mà chính con đã phạm. Xin tĩnh lặng trong con những tổn thương, cay đắng và giận hờn. Xin cho con sự tĩnh lặng từ sự tha thứ, từ con và cho con.
Xin tĩnh lặng những nghi ngờ, lo lắng về sự hiện diện của Chúa, về lòng trung tín của Chúa. Xin tĩnh lặng trong con xung lực muốn để lại dấu ấn, muốn tạo nên gì đó bất tử cho bản thân mình. Xin cho con ơn biết tin tưởng, ngay cả trong tối tăm và nghi hoặc, rằng chính Chúa sẽ cho con sự sống đời đời.
Xin tĩnh lặng tâm hồn con để con biết Chúa là Thiên Chúa, và cho con biết Chúa đã tạo dựng và gìn giữ mọi hơi thở của con, rằng Chúa yêu thương con cũng như hết thảy mọi người, rằng Chúa muốn cuộc sống chúng con bừng nở, Chúa muốn chúng con hạnh phúc, Chúa yêu thương và chăm lo hết mọi người, rằng chúng con sẽ được an bình trong bàn tay nhân từ của Chúa, ở đời này và đời sau.
Rev. Ron Rolheiser, OMI
From Langthangchieutim
Một Cơn Giận
Một Cơn Giận
Thạch Lam
Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi trước lò sưởi, trong một căn buồng ấm áp. Tự nhiên trong câu chuyện, một người nói đến những cơn giận tự nhiên đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều cái kết quả không hay. Rồi mỗi người đều bày tỏ ý kiến riêng của mình.
Anh Thanh, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên có vẻ trầm ngâm, cất tiếng nói:
– Sự giận dữ có thể sai khiến ta làm những việc nhỏ nhen không ai ngờ. Tôi biết hơn ai hết, vì chính tôi đã trải qua sự đó. Tôi sẽ kể các anh nghe một câu chuyện mà cái kỷ niệm còn in sâu trong trí nhớ tôi.
Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.
Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay đằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
– Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
– Thầy cho sáu xu.
– Không, bốn xu là đúng giá rồi.
Tôi vừa nói vừa bước đi. Người phu xe đã có tuổi, cứ kéo cái xe theo sau tôi mà lẩm bẩm: “Bốn đồng xu từ đây về nhà bò”. Cái tiếng nhà bò anh ta nhắc đi nhắc lại làm cho tôi khó chịu. Tôi biết đó là một cách của các phu xe cứ đi theo sau khách để làm cho người ta bực tức, tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
– Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
– Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
– Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lai còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
– Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
– Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.
Tôi đoán không sai, chính là một cái xe hiệu “con lợn” cái tên hiệu cũng xứng đáng một hạng xe tàng ở ngoại ô mà tôi vẫn phải đi. Anh xe này đã vào đây kéo trộm, vì xe ngoại ô không được phép vào thành phố đón khách, nếu không tuân lệnh thì bị phạt từ ba đến bốn đồng bạc. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
– Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
– Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Anh xe bướng bỉnh cũng không chịu kém. Tôi nói câu gì là anh ta đối lại liền. Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
– Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
– Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân… Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
– Lạy thầy… thầy nói giúp con… thầy làm ơn…
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết răn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe.
Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
– Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
– Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Trong bóng tối của vành nón qua ngang mặt, tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Những khi nói chuyện với các phu xe khác, tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
– Tôi đi từ phố hàng Bún.
– Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:
– Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.
Tôi rung mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Tôi càng nghĩ đến bao nhiêu lại càng khinh bỉ tôi bấy nhiêu. Qua ô Yên Phụ, nhìn thấy những thợ thuyền tấp nập làm việc dưới ánh đèn trong những căn nhà lá lụp xụp, tôi rảo bước đi mau, hình như trông thấy tôi họ sẽ biết cái hành vi khốn nạn và nhỏ nhen đáng bỉ của tôi ban nãy.
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt.
Tôi nhất đinh đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình. Đến phố hàng Bột hỏi dò những người chung quanh xưởng xe, tôi biết được anh xe bị phạt đêm hôm ấy là tên Dư, và ở trong một dãy nhà quá ngã tư Khâm Thiên.
Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Các anh thử tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê.
Người phu xe Dư ở trong ấy. Một bà cụ già gầy giơ xương ngồi cắn chấy ở vệ hè chỉ cho tôi một cái cửa thấp bé ở đầu nhà. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
– Bẩm thầy muốn gì?
Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đầy những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.
– Bác Dư có nhà không?
– Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:
– Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:
– Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
– Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dần số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không đuợc nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
Người đàn bà ngồi trong cất tiếng ốm yếu nói theo:
– Nó còn bảo hễ không trả nó sẽ bắt lấy thẻ.
– Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:
– Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Tôi yên lặng, trong lòng náo nức.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
– Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, măt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thỏang lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.
– Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhíc lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.
Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rướm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực.
Qua ngưỡng cửa, tôi va phải một người đàn ông ốm yếu tay cắp một cái áo quan con bằng gỗ mới. Đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà.
Đứa bé con đã chết.
Anh Thanh lặng yên một lát như nghĩ ngợi, rồi nói tiếp:
– Cái kỷ niệm buồn rầu ấy cứ theo đuổi tôi mãi mãi đến bây giờ, rõ rệt như các việc mới xảy ra hôm qua. Sự đó nhắc cho tôi nhớ rằng người ta có thể tàn ác một cách dễ dàng. Và mỗi lần tôi nghĩ đến anh phu xe ngoại ô kia, lại thấy đau đớn trong lòng, như có một vết thương chưa khỏi.
From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen
_____________________________ __________
“Tuyệt vời của cuộc đời là sự khác biêt !”





