Câu chuyện gia đình qua lời kể của chú Phan Trọng Loan – Phan Trọng Kim
(Phúc Trạch – Hương Khê – Hà Tĩnh)
———
Bà ngoại tôi bị bắn ngay sau buổi đấu tố, tại sân vận động xã Phúc Trạch. Đầu bà gục xuống, họ kéo xác bà lại cái hố bên bụi tre đã đào sẵn. Hôm đó đấu tố hai người, bà ngoại tôi là Hoàng Thị Chất và linh mục Trần Trọng Kiểng, vị linh mục chịu án mấy chục năm tù.
Năm năm sau, mẹ tôi bốc xương cốt bà từ cái hố bên bụi tre về nghĩa địa. Mẹ thấy nhiều vết đạn ở sọ. Trong tay bà có chuỗi tràng hạt. Bà cầu nguyện lúc đó.
Bà ngoại sinh mẹ tôi – Võ Thị Hoa – năm 1921. Ông ngoại mất khi mẹ chưa nhớ được mặt ông. Mười mấy năm sau bà ngoại đi bước nữa, sinh thêm dì Huệ. Ông bà ở xứ đạo Phủ Lễ, ven sông Ngàn Sâu. Nhà tranh ba gian, thưng mên, trong khu vườn xanh mát. Ông bà có ba sào ruộng, bà thêm nghề nấu rượu, nấu cao, ông bốc thuốc Nam.
Bắn bà, rồi họ lôi ông đi giam. Giam loanh quanh mấy nhà ở thượng huyện, rồi đưa ra trại giam nào đó ngoài miền tây Nghệ An.
Sửa sai rồi, người ta được về, ông vẫn không được về. Ông chết ở trại nào đó ngoài Nghệ An, năm 1960
Cha tôi đang đi dân công hỏa tuyến ở Trung Lào. Họ đến tận nơi bắt về.
O Xuân, người làng tôi, đi chăn trâu, bị sao đó mà chết trên đồi sim. Vài ba người bị đưa đi tra hỏi về cái chết đột ngột đó.
Họ bắt cha tôi về chịu tội giết o Xuân.
Nghe tin, mẹ tôi chạy đi đưa cho cha bộ quần áo. Đội nhận bộ quần áo, đuổi mẹ về, không cho gặp cha, không cho hỏi.
Mẹ tôi ruột gan rối bời.
Mẹ bị bắn, cha dượng bị bắt, lại tới lượt chồng.
Không biết xảy ra chuyện gì.
Đoàn người kéo đến. Đuổi mẹ con ra khỏi nhà. Mẹ tôi xin thúng hột mít khô mang đi ăn đỡ. Không cho.
Ông bà nội chỉ có một đứa con là cha tôi. Ông bà mất rồi, để lại cho cha ngôi nhà gỗ lim ba gian và hai gian nhà ngang. Hai gia đình nào đó vào ở ngôi nhà lim, một gia đình ở nhà ngang. Ruộng và vườn họ gắn bảng tên người được chia quả thực.
Ba gia đình vào ở được mấy bữa thì cãi lộn. Tháo nhà chia ba. Hai nhà vác các vì nhà đi, nhà ở lại ra vườn chặt gỗ chắp vá vào chỗ gỗ lim đã tháo.
Mẹ tôi với sáu đứa con, từ 1 đến 11 tuổi, ra ở cái lều ngoài đồng. Ở bên nhà ngoại, dì Huệ cũng bị đuổi ra khỏi nhà. Ngôi nhà của ông bà ngoại nông dân đến ở. Dì Huệ 16 tuổi ra ngoài chòi ở một mình, không được qua lại với gia đình tôi.
Đội cho một miếng đất bên bãi bồi sông Ngàn Sâu. Bắt phải làm, không được để hoang.
Sáng, mẹ giao việc cho các con, đứa giữ em, đứa khiêng nước ngoài sông về dùng, đứa đi hái rau dại, mẹ vác cuốc ra ngoài bãi đào.
Chiều về, mẹ ra trụ sở Đội trình báo trong ngày này đã làm những gì. Đến tối, lại ra nhà ông Hường để chịu đấu tố.
Mẹ tay bồng em một tuổi, ngồi giữa sân, nghe đấu tố. Họ hỏi mẹ thuê ai chém o Xuân, mẹ bỏ thuốc độc ai. Mẹ không nhận. Mẹ im lặng họ càng giận dữ. Em ngủ gà gật trong cánh tay mẹ.
Khuya, mẹ được về. Sáng mai mẹ lại vác cuốc ra bãi sông. Cuốc hết miếng đất thì trỉa đỗ.
Đất phù sa, đỗ tốt, sai quả.
Bãi bồi, chỉ một đêm mưa to là ngập lụt. Làm nhưng không thu hoạch được. Đêm mưa, sáng mai nóng ruột, mẹ lội nước ra hái được một bao đỗ, lúc trở về nước sông dâng cao, chảy xiết, mẹ thoát chết trong gang tấc.
Em trai bốn tuổi, nóng sốt, động kinh. Hai chị em tôi chạy sang nhà ông lang bốc thuốc. Đứng ngoài bờ rào, chị tôi kêu cứu: Ông ơi em con ốm lắm, lên kinh, mẹ con nói ông có thuốc chi cứu em con với. “Chi, đồ địa chủ cho mi chết”. Ông ta trong nhà nói vọng ra. Anh Tảo đội trưởng đội cải cách ở nhà ông mà chúng tôi không biết.
Em tôi chết. Mẹ và anh tôi lấy manh chiếu cuốn em lại, buộc túm hai đầu, buộc vào cái đòn tre khiêng em đi chôn ở cồn đất người ta chỉ cho.
Dì Huệ bị canh giữ chặt ở cái chòi, không cho đến. Có thêm vài thanh niên đến nằm chắn ngang lối đi. Dì Huệ liều bước qua. Dì bị điệu đi chịu đấu tố mấy đêm liền. Tội bước qua đầu nông dân. Mẹ tôi cũng bị lôi đi, vì liên lụy.
Một năm qua đi. Tình hình bớt căng thẳng, sang giai đoạn sửa sai. Gia đình tôi nương nhờ một góc vườn nhà thờ ở xóm Thuỷ Lạc, được bà con dựng giúp nhà tre vách nứa. Dì Huệ về ở với chúng tôi. Chị em tôi được đi học.
Ba chị em học cùng lớp 1, co cụm lại với nhau, không dám chơi với các bạn. Mỗi khi thầy cô dạy bài nói đến địa chủ, phong kiến thì các bạn chỉ trỏ chúng tôi. Giờ ra chơi, vài bạn nhảy từ bàn này sang bàn khác qua đầu chị em tôi. Ra ngoài lớp, các bạn đá vào chân chúng tôi rồi cười với nhau. Chúng tôi sợ, chỉ dám về nhà méc mẹ và dì.
Cha tôi chết ngoài trại giam.
Khi cha chết rồi, một o bị bắt vì cái chết của o Xuân, được thả, mới đến nhà gặp mẹ thú tội. Tha lỗi cho em, sợ quá, em khai bậy là nhà chị thuê. Bà mẹ o Xuân thì nói: Nhà chị đạo đức, tôi không tin nhà chị làm chuyện đó. Họ nói ra những lời khi không còn giá trị gì nữa.
Một dạo, bốn giờ sáng là mẹ tôi dậy, ngồi trên giường khóc. Khóc bà ngoại, khóc con, khóc chồng. Mẹ đọc kinh cầu nguyện.
Mẹ bắt đầu một ngày mới như vậy.
Mẹ khuyến khích các con học, đọc sách.
Thấy chúng tôi học, một ông đến bảo, học làm gì, con địa chủ ai cho làm gì mà học, đi rú, đi câu cá thì hơn. Mẹ bảo, cho chúng nó đi học sau này còn biết viết cái thư, cái đơn, không phải mượn người viết là được.
Mẹ kêu đọc chuyện cho mẹ nghe. Mẹ thích nghe chuyện, và cũng là để chúng tôi tập đọc. Tôi chỉ có chuyện trong sách tập đọc để đọc. Tôi đọc cho mẹ nghe truyện ngụ ngôn “Hươu, rùa và tên địa chủ”. Tôi thấy truyện hay, mà được vài dòng, mẹ nạt, sách vậy cũng đọc, cũng học.
Chúng tôi học đến lớp 10 thì ngưng, không được xác nhận lý lịch để học lên đại. Em út (đứa em hồi mẹ bồng trong những đêm đấu tố) nay thi đỗ Đại học Kinh tế Kế hoạch Hà Nội. Có giấy báo nhập học. Yêu cầu lý lịch, hộ khẩu, giấy xác nhận đã bán 50 kg gạo cho Mậu dịch. Cả nhà xay giã dần tràng suốt ngày đêm để kịp bán cho Mậu dịch, lấy giấy xác nhận. Ông cán bộ xã không ký vào lý lịch cho đi học. Vậy là em không được đi học, ở nhà đi bộ đội. Đi bộ đội ba năm, em về thi lại đại học. Tôi cũng đi bộ đội, đến ngày hoà bình thi vào Đại học Bách khoa.
***
Cả gia đình tôi chuyển vào ở Bà Rịa- Vũng Tàu. Năm 1992, khi cuộc sống ổn định, chúng tôi về quê bốc hết mộ phần vào gần gia đình. Chỉ còn mộ ông ngoại và cha nữa là chưa tìm được.
Chúng tôi chỉ biết ông và cha mất ở trại giam nào đó ngoài miền Tây Nghệ An, mường tượng qua vài lá thư cha gửi về, nhưng cụ thể ở trại giam nào thì không biết.
Cha tôi mất trước ông ngoại hai năm. Khi cha mất, ông ngoại viết thư về cho biết, ông và bạn tù đã chôn cất cha, khắc bia mộ bằng đá, ghi họ tên quê quán ngày mất, một trăm năm sau cũng không mờ nếu không bị ai đập phá.
Chúng tôi nhờ người bạn tù của cha dẫn đến trại giam ở Tân Kỳ. Lục tìm hồ sơ và tìm được mộ ông ngoại. Không tìm được hồ sơ và mộ của cha tôi.
Ba năm sau chúng tôi lại đi tìm mộ cha, nhờ cả thầy tìm hài cốt, vẫn không tìm được.
Chúng tôi đi sang các huyện Nam Đàn, Thanh Chương. Nhờ công an giúp đỡ. Công an hướng dẫn đến trại 6. Cán bộ trại đưa cho hàng chục cuốn sổ, danh sách các cố phạm nhân cải cách ruộng đất.
Giở qua vài chục trang. Đập vào mắt chúng tôi:
Biên bản phạm nhân chết.
Phan Văn Châu. Chết ngày ngày 22/2/58. Tuổi: 38.
Thành phần: Địa chủ. Can tội: BL – CHRĐ – ĐĐND (Chúng tôi luận ra là Bóc lột – Chiếm hữu ruộng đất – Đánh đập nông dân). Án 20 năm.
Đọc bản án của cha mà nước mắt chảy tràn.
Chúng tôi ra bãi tha ma. Bãi tha ma rộng vài héc ta, trâu bò thả rong, mộ có bia, mộ không có bia, mộ gần như mất dấu, chỉ là một nấm đất, có mộ con cháu đến nhận nhưng không đưa đi được.
Tìm gần cả buổi chúng tôi không thấy mộ cha đâu. Tôi gạt hàng rào, len vào rẫy mì. Thấy một ngôi mộ. Vạch cỏ cây, thấy một bia đá vững chắc, gạt bụi đất. Tôi hét lên. Cha đây rồi. Anh em tôi nằm lăn ra trước mộ cha mà khóc, mà tạ tội.
Phan Thuý Hà

