Chấp Nhận Cuộc Đời – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Làm sao vui vẻ chấp nhận cuộc đời nếu gặp: 

1-Sự bất như ý: 

Nhìn lại quãng đời đã qua của chúng ta, chắc chắn mỗi người trong chúng ta, đa số đều gặp những hoàn cảnh bất như ý:

* Làm nghề nghiệp mà mình không thích, không phải sở trường. Tốt nghiệp ngành này lại đi làm ngành nghề khác. Riêng tôi tốt nghiệp đại học luật khoa, không làm luật sư mà làm nghề dạy học. Rồi sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, lại đi tù cộng sản. Năm 1983 ở tù về, không được dạy học, phải làm nhiều nghề để sống: dạy kèm tư gia, giặt bao nylon, bán bia và nước ngọt. Qua Mỹ, làm chỗ sang băng nhạc, tiệm grocery, bán bảo hiểm.

* Nhiều người thất nghiệp, mất nhà, mất xe, không có tiền bạc, sống cơ cực, khổ sở.

* Nhiều người gặp gia đình đỗ vỡ, chia ly tan tác ngoài ý muốn, con cái thất học, nheo nhóc.

*Nhiều khi con cái không làm theo ý mình hoặc hư hỏng, không chịu học hành theo băng đảng, hút sách.

Nếu gặp sự bất như ý mà chúng ta không thể giải quyết được vì nó vượt ngoài tầm tay, sự hiểu biết, khả năng của chúng ta thì ta phải làm sao?

Chỉ có cách duy nhất là chịu đựng, không than van, và liên tục cầu nguyện. Cho nên nhà thờ, đoàn thể, các nhóm cầu nguyện rất cần thiết để chúng ta chia sẻ những khó khăn, những lo âu, chán nản mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống. Chẳng những cầu nguyện mà còn cần phải ca ngợi Chúa về những hoàn cảnh bất như ý mà ta đã gặp phải. (1)

Đời sống tâm linh rất quan trọng. Chúng ta thường xuyên đến nhà thờ, cầu nguyện với Thiên Chúa toàn năng, chắc chắn khi Chúa đóng cửa này sẽ mở cửa khác cho chúng ta. “Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gỏ thì cửa sẽ mở cho.” (Mt 7, 7-12) 

2- Bịnh hoạn, Tật nguyền 

Nhà Phật có nói: Sinh Lão Bịnh Tử. Ai trong chúng ta cũng phải đi qua con đường này. Không thoát được. 

Bịnh tật là tất yếu phải xảy ra. Khi lớn tuổi, sức khoẻ suy yếu, sinh ra bịnh tật… tiểu đường, cao máu, cao mở, đau nhức… chưa kể có người bị các chứng bịnh nan y như ung thư, đau thận, đau gan, đau phổi, đau tim, mổ tim… Không phải chỉ có những người già cả mới bịnh hoạn, có khi còn trẻ cũng đã vướng nhiều bịnh nan y rồi. Vậy làm sao được bình an khi gặp trường hợp không may xảy ra như bịnh hoạn?

 Rất khó chấp nhận hoàn cảnh đau khổ, bịnh tật. Để được an ủi, để có thể chịu đựng những đau đớn về thể xác và về tinh thần, có thể học hỏi niềm tin, niềm cậy trông của thánh Gióp, niềm tin vào Chúa để chịu đựng khổ sở, khó khăn, chịu nhục hình như các thánh tử đạo Việt Nam. Học tập gương Thánh Giu se, gương Đức Mẹ, nhất là gương Chúa Giê su chịu đựng khổ hình, đau đớn nơi thập giá. Nhờ đó chúng ta có thể chịu đựng được những đau khổ, khó khăn của chính mình. (1) 

3- Đau khổ, cô đơn. 

Sự cô đơn, sống một mình, chịu đựng hoàn cảnh trống vắng, đơn độc.

Đến lúc nào đó, một trong hai vợ chồng phải ra đi sớm. Người còn lại phải chịu đựng sự cô đơn, mất mát vô cùng lớn lao không có gì bù đấp được. Vì gặp cảnh cô đơn chúng ta mới đến với Chúa, chúng ta cần Chúa nhiều hơn nữa. Xem cô đơn là một điều kỳ diệu! 

Làm sao khám phá niềm vui trong đau khổ? 

Trong đau khổ làm sao có niềm vui? Tìm thấy “thú đau thương” chăng?

Thánh Phaolô biểu lộ ước muốn của mình là biết “thông phần những đau khổ của Đức Kitô, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người.”

Thánh nhân đã nghe Chúa phán với mình: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.”

“Thầy ở trong Cha, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.”

Hàng ngày luôn luôn thức tỉnh, học tập, cố gắng thực hành yêu thương và tha thứ. “Yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ đã ngược đãi anh em.” (Mt 5, 44) Nói thì dễ, nhưng làm rất khó. Với sức con người bình thường chúng ta không làm được, nhưng với ơn Chúa chúng ta có thể làm được. 

4- Sự chết:

 Dầu là dân thường hay vua chúa, quan quyền, đến lúc nào đó cũng phải ra đi. Sự chết là tất yếu của đời sống của con người. Ai ai cũng trúng số “độc đắc” một lần, đó là sự chết. Nhưng vẫn có rất nhiều người, nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ chết?

 Để cảm nghiệm về cái chết, ta nên thường xuyên đi đọc kinh nhà quàn, tham dự các thánh lễ an táng, tiễn đưa những người bạn bè, người thân quen, đã ra đi, để cảm nghiệm: “rồi chính mình cũng sẽ chết” cũng sẽ nằm im lặng, bất động trong quan tài giống như thế. 

Khi nhắm mắt rồi, cát bụi lại trở về với cát bụi hư vô: 

*Khi đôi mắt nhắm nghiền và đôi tay lạnh ngắt

Quả tim không chuyển nổi máu tươi hồng

Thì danh vọng phải trả về cho sắc sắc

Thì bạc tiền đành hoãn lại chốn không không…

Những ân ái, hận thù và mưu chước

Những thăng trầm vinh nhục cũng luôn trôi. (2) 

 

*Đời sống con nguời mong manh, mỏng dòn:

“Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,

Mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi.” (Thánh Vịnh 90,10) 

 

*“Con đừng sợ án chết.

Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con,

Và sẽ có những người theo sau.

Đó là điều Đức Chúa quyết định cho hết mọi người phàm

Tại sao cưỡng lại điều Đấng Tối Cao đã muốn?” (Sách huấn ca 41, 3-4)

Đối với người kitô hữu: 

Người chết là người đã vĩnh viễn hoàn tất đời mình. Là người Kitô hữu, chúng ta phải biết đón nhận sự hoàn tất đó với một tâm hồn bình an cao cả, vì mc khải Kitô giáo đã cho biết rằng cái chết như cánh cổng to lớn mở vào thánh điện an vui vĩnh hằng. Như thánh Phaolô đã xác định: vào ngày cuối cùng, cái hư hoại trong ta sẽ trở nên bất hoại, cái khả tử sẽ nên bất tử (x. 1Cor 15, 53)” (LM Thái Nguyên, bài “Suy gẫm về sự chết”, nguồn simonhoadalat.com). 

Đức Giê-su khi biết mình sẽ phải chết, đã nhắc đến cuộc ra đi vượt qua của Ngài để các môn đệ yên tâm và không hoảng sợ trước sự chết. Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14, 1-2). 

Trong thư Rô-ma, thánh Phao-lô đã khẳng định: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Ngài” (Rm 6, 8).”

Với niềm tin tưởng vào Đức Kitô, niềm an ủi lớn lao là chết không phải là yên nghỉ mà là tiếp tục sống. Vì cái chết chính là ngưỡng cửa đi vào đời sống vĩnh cửu. Với người Ki-tô hữu, “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi).

 Quả thật, với một cái nhìn đầy lạc quan và hy vọng, một niềm tin về đời sống vĩnh cửu, có sự sống lại đời sau nên trong giờ phút lâm chung thi sĩ Tagore đã thốt lên: “Bởi yêu cuộc đời nên tôi cũng yêu cả sự chết”. (3)

Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận cũng nói: “Sự chết cũng là một bổn phận cuối cùng mà con làm cách sẵn sàng và đầy yêu mến”. (Sách Đường Hy Vọng và Dẫn Giải)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tháng 08 năm 2021 

(1) Sách Quyền Năng của Tâm Hồn biết ca ngợi LM Nguyễn Đức Mầu

(2) Trong bài Cảm Nghĩ tuổi già:

xem thêm: Đời Người Luôn Có: 2 Thứ Không Thể Sợ

(3) Trong bài “Kitô Hữu và Sự Chết” của Aug Trần Cao Khải

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

https://keditim.net/wp-content/uploads/2026/05/CHO-TRON-DUONG-TRAN-cuon-2-313-trang.pdf


 

Nước đun sôi, nước suối, nước tinh khiết, nước khoáng Loại nào tốt hơn – Phần I-Mai Thanh Truyết

Mai Thanh Truyết

Lời người viết: Sự gia tăng tiêu thụ nước đóng chai trên toàn cầu không chỉ phản ảnh những thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng, mà còn cho thấy một sự chuyển đổi sâu sắc trong mối quan hệ giữa cá nhân, cơ sở hạ tầng công cộng và sự bền vững môi trường. Bài viết này tái xem xét vấn đề nước uống, bao gồm nước đun sôi, nước tinh khiết, nước suối, và nước khoáng dưới lăng kính của sức khỏe con người, đồng thời lập luận rằng sự phụ thuộc vào nước đóng chai là dấu hiệu của một sự đổ vỡ mang tính cấu trúc về niềm tin đối với các hệ thống công cộng. Thông qua những phân tích so sánh từ bối cảnh của Hoa Kỳ và Việt Nam, bài viết cố gắng làm nổi bật cách thức mà các cung cách quản trị khác biệt lại dẫn đến những hệ quả tương đồng như sự thương mại hóa ngày càng gia tăng và những chi phí sinh thái ngày càng leo thang. Bài viết kêu gọi một sự chuyển hướng từ các giải pháp mang tính cá nhân hóa sang một mô hình quản trị nước mang tính hệ thống và dựa trên niềm tin của người tiêu dùng.

***

Câu hỏi này tưởng đơn giản nhưng thực ra liên quan đến sinh lý cơ thể, dinh dưỡng và cả an toàn môi trường. Không có một loại “tốt tuyệt đối”, mà tùy mục đích sử dụng và hoàn cảnh. Trong đời sống hiện đại, con người có thể tranh luận về thực phẩm hữu cơ, về thuốc men, về môi trường; nhưng có một điều tưởng chừng hiển nhiên mà lại ít được suy xét một cách đúng mức. Đó là, nước uống hằng ngày.

Câu hỏi “nước nào tốt hơn: nước đun sôi, nước tinh khiết hay nước khoáng?” thực chất không chỉ là vấn đề khoa học, mà còn phản ánh nhận thức, thói quen và cả niềm tin của xã hội đối với hệ thống cung cấp nước.

Muốn hiểu rõ vấn đề này, trước hết cần xem các loại nước trên khác nhau như thế nào?

1-    Nước sạch không phải là nước “hoàn hảo”

Một trong những ngộ nhận phổ biến hiện nay là:“Nước càng tinh khiết càng tốt.” Nước tinh khiết là nước không chứa tạp chất, lấy từ nguồn nước máy đạt tiêu chuẩn, sau đó được thanh lọc bằng các công nghệ như chưng cất, trao đổi ion, hay thẩm thấu ngược (reverse osmosis – RO). Nước tinh khiết tuy an toàn kỹ thuật tinh loc, nhưng không hoàn chỉnh sinh học. Nước tinh khiết, đặc biệt là nước qua hệ thống lọc RO, có ưu điểm vượt trội về khả năng loại bỏ tạp chất. Trong bối cảnh nguồn nước bị ô nhiễm bởi kim loại nặng, thuốc trừ sâu hoặc vi sinh, đây là một bước tiến quan trọng của khoa học.

Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi con người tuyệt đối hóa ưu điểm này. Ngược lại, vướng những nhược điểm là gần như không còn khoáng chất tự nhiên, và nếu uống lâu dài (nếu chỉ dùng duy nhất) có thể làm mất cân bằng điện giải nhẹ trong cơ thể. Có vị không tự nhiên, đôi khi làm cho … khó uống.

Một xã hội chỉ dựa vào nước tinh khiết để uống hằng ngày, mà không quan tâm đến chế độ dinh dưỡng tổng thể, có thể rơi vào tình trạng thiếu hụt khoáng vi lượng một cách âm thầm.

Tuy nhiên, nước tinh khiết gần như loại bỏ toàn bộ khoáng chất tự nhiên, trong khi cơ thể con người không chỉ cần nước để “giải khát”, mà còn cần các điện giải vi lượng như calcium, magnesium, potassium. Một loại nước hoàn toàn “trống rỗng” về khoáng chất, nếu sử dụng lâu dài mà không có chế độ ăn cân đối, có thể dẫn đến mất cân bằng sinh lý nhẹ.

Do đó, tiêu chuẩn của nước uống không phải là tối đa tinh khiết, mà là cân bằng giữa an toàn và sinh học.

2- Nước khoáng

Có hai loại nước khoáng: nước khoáng thiên nhiên và nước tinh khiết kết hợp thêm khoáng chất. Nước khoáng thiên nhiên gồm nước lấy từ những mạch nước, suối nguồn chứa những vi khoáng chất như Calcium, magnesium, kalium v.v… Còn nước tinh khiết được kết nạp thêm các khoáng chất trên và trên nhãn chai thường ghi rõ hàm lượng phụ gia. Về ưu điểm, nước có chứa khoáng chất tự nhiên: Ca, Mg, K…có thể hỗ trợ xương (calcium), tim mạch (magnesium), và dễ uống hơn.

Nước khoáng thiên nhiên thường được quảng bá như một lựa chọn “cao cấp” hơn, với hàm lượng khoáng chất có lợi cho sức khỏe. Điều này không sai, nhưng cũng không hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp. Một số loại nước khoáng có hàm lượng sodium hoặc calcium cao, không phù hợp với cho người bệnh thận, người  cao huyết áp, người cần ăn ít hạn chế, và nhứt là giá cao hơn, và thường có nguy cơ “marketing thổi phồng” phẩm chất.

Do đó, nước khoáng nên được xem là nguồn bổ túc, không phải nguồn thay thế hoàn toàn.

3- Nước đun sôi: giải pháp cổ điển nhưng chưa lỗi thời

Nước đun sôi là nước lấy trực tiếp từ vòi nước trong nhà, sau đó được đun sôi. Ưu điểm là diệt được vi khuẩn, virus cho nên an toàn về mặt vi sinh, rẻ, dễ tiếp cận, thích hợp sinh hoạt hằng ngày. Trong nhiều thập niên, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, nước đun sôi là phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo an toàn.

Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là khả năng tiêu diệt vi khuẩn và virus, những tác nhân gây bệnh trực tiếp và cấp tính. Tuy nhiên, nước đun sôi không loại bỏ được các chất hòa tan như kim loại nặng hoặc hóa chất công nghiệp như chì, arsenic, không có thêm khoáng chất (hoặc rất ít), và nếu đun nhiều lần có thể làm cô đặc tạp chất.

Điều này dẫn đến một thực tế cần nhìn nhận thẳng thắn, nước đun sôi chỉ an toàn khi nguồn nước ban đầu đã tương đối sạch. Nói cách khác, đây là giải pháp “gia cố” chứ không phải “cứu cánh”.

4- Lựa chọn hợp lý với suy nghĩ …cân bằng

Từ các phân tích trên, có thể rút ra một nguyên tắc thực tiễn:

  • Nước dùng hằng ngày: nước đun sôi hoặc nước lọc đạt tiêu chuẩn.
  • Nước bổ túc: nước khoáng với mức độ vừa phải.
  • Tránh cực đoan: không lệ thuộc hoàn toàn vào một loại nước nào cả.

Nhưng quan trọng hơn, con người cần quay lại với câu hỏi cốt lõi:“Nguồn nước của chúng ta có đáng tin cậy hay không?”

5- Những điều bổ túc cần biết

Nếu nghi ngờ nước có chứa vi khuẩn, virus, cần đun sôi.

Nếu nước chứa kim loại nặng (chì, arsenic), các kim loại nầy không mất đi khi đun, do đó, chỉ cần lọc→ cần lọc

“Nước càng tinh khiết càng tốt”: Sai, vì cơ thể cần khoáng chất.

“Nước khoáng luôn tốt hơn”: Sai, quá nhiều khoáng chất gây hại thận.

“Nước đun sôi là đủ”: Sai, vì nước trong vùng ô nhiễm chứa nhiều kim loại nặng.

Các dấu hiệu cho thấy nước không an toàn: có mùi lạ (kim loại, clo nặng) – đục, có cặn – uống lâu gây khó chịu tiêu hóa. Khi nghi ngờ, không nên dùng dù đã đun sôi.

Lời khuyên thực tế, trong một gia đình bình thường, nên dùng 70–80% nước đun sôi hay lọc, và 20–30% nước khoáng nhẹ. Đối với trẻ em và người già, nên tránh nước quá tinh khiết hoặc quá nhiều khoáng chất.

6- Kết luận – Văn hóa nước

Ở những quốc gia tiến bộ, người dân có thể uống nước trực tiếp từ vòi; vấn đề lựa chọn giữa các loại nước gần như không tồn tại. Ngược lại, tại những nơi mà người dân phải đun sôi, lọc, hoặc mua nước đóng chai, điều đó phản ánh một thực tế sâu xa hơn, niềm tin vào hệ thống công cộng của chính quyền chưa được bảo đảm. Do đó, câu chuyện nước uống không chỉ là câu chuyện của cá nhân, mà còn là một chỉ số niềm tin của việc quản trị quốc gia.

Nước uống tốt không phải là nước đắt tiền nhứt, mà là nước an toàn, phù hợp và bền vững với điều kiện sống lâu dài.”

Và sâu xa hơn nữa, một xã hội văn minh không phải là xã hội tiêu thụ nhiều nước đóng chai, mà là xã hội nơi con người không phải lo lắng khi uống một ly nước bình thường từ vòi nước trong nhà.

Nhiều người nghĩ:”“Nước càng tinh khiết càng tốt”. Điều này không hoàn toàn đúng. Cơ thể con người không cần nước “trống rỗng”, mà cần cân bằng giữa nước sạch và nước có khoáng. Ngược lại, cũng không nên rơi vào cực đoan:“Chỉ nước khoáng mới tốt”.

Trên thực tế, không có loại nào “tốt nhất tuyệt đối”. Lựa chọn hợp lý nhất vẫn là hằng ngày, dùng nước đun sôi hoặc nước lọc đạt chuẩn. Và thỉnh thoảng lấy nước khoáng để bổ túc cho việc cân bằng khoáng chất cho cơ thể.

Có một điều quan trọng hơn các loại nước kể trên là nguồn nước có sạch không, và bạn uống đủ nước không cho ngày hôm nay?

Mai Thanh Truyết

Houston – Tháng Tư – 2026 

 https://maithanhtruyet1.blogspot.com/

https://www.facebook.com/TruyetMaiUSA

 “We carry our Motherland within us; 

From: haiphuoc47 & NguyenNThu

“Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy!- Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày nữa để yêu và được yêu. Một ngày thật hạnh phúc bên Chúa và những người thân yêu nhé. Mình xin bạn một lời cầu nguyện khẩn thiết hoặc một hy sinh nhỏ cho đất nước mình đang sống  và cho thế giới nữa nhé

Cha Vương

Thư 4: 17/06/2026.   (n12-24)

TIN MỪNG: Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16:23)

SUY NIỆM: Con cần Cha, chứ Cha không cần gì con.—Không phải con đến thánh hóa Cha, nhưng Cha đến thánh hóa và làm cho con nên trọn hảo hơn. Con đến để được thánh hóa và hợp nhất với Cha, để Cha ban ơn và tăng thêm lòng hăng hái cải thiện đời sống. Đừng khinh thường ơn đó con ạ! Và hãy dọn lòng cho thật chu đáo, mà đón Bạn chí ái.

 (x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q4:12 t.t.) 

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi, mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Thật ra, Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. 

(Lời kinh Tiền Tụng Chung IV) 

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm kinh Cám Ơn.

From: Do Dzung

*******************************

CON CẦN CHÚA …Bài thánh ca giúp bạn đứng lên khi gục ngã...

TRƯỚC KHI CON MỞ MIỆNG – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin”.

Một đứa trẻ tỉnh giấc giữa đêm vì cơn ác mộng. Chưa kịp gọi, nó đã thấy cha mình ngồi bên, tay đặt trên trán nó. Đứa bé ngạc nhiên: “Ba biết con sợ?”. Người cha mỉm cười: “Ba đã nghe tiếng con trở mình từ lâu!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ một nghịch lý: chúng ta không cầu nguyện để được Thiên Chúa lắng nghe; chúng ta cầu nguyện vì Cha đã nghe cả tiếng trở mình của chúng ta từ trước. Bởi lẽ, Cha đã biết, đã yêu và đã chờ đợi – ‘trước khi con mở miệng’.

Chúng ta thường nghĩ cầu nguyện là chuyển thông tin từ đất lên trời. Nhưng Chúa Giêsu cho biết, không có điều gì nơi chúng ta là “tin mới” đối với Thiên Chúa. Động từ Hy Lạp oiden – “đã biết và vẫn đang biết” – diễn tả một sự hiểu biết đi trước mọi lời thưa gửi. Vì thế, cầu nguyện không nhằm mở mắt Thiên Chúa, nhưng mở lòng người.

Vậy nếu Cha đã biết, tại sao còn phải cầu nguyện? Bởi lẽ, lời cầu nguyện không nhằm thay đổi Thiên Chúa, nhưng biến đổi con người. Mỗi lần thưa “Lạy Cha”, chúng ta học bước ra khỏi cái tôi tự trị; mỗi lần nói “Xin cho ý Cha thể hiện”, chúng ta học trao lại quyền định đoạt cho Cha. Cầu nguyện không phải là kéo Thiên Chúa vào chương trình của chúng ta, nhưng là để chúng ta được đưa vào chương trình của Ngài. Thế nhưng, chúng ta vẫn khó tin điều đó. Chúng ta sợ bị bỏ quên, nên cứ muốn nói nhiều, xin nhiều và tự xoay xở. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta bình an xác tín một sự thật: trước khi chúng ta biết mình cần gì, Cha trên trời đã biết.

Câu chuyện Cựu Ước hôm nay là một minh hoạ. Êlia là người đã để Thiên Chúa viết nên câu chuyện đời mình. Ông không sống theo dự tính riêng, nhưng theo ý định của Thiên Chúa; không nắm giữ, nhưng phó thác; không tìm vinh quang cho mình, nhưng làm rạng danh Ngài. Vì thế, ông bừng lên như ngọn lửa – bài đọc một. “Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca. Niềm vui chỉ nảy sinh nơi những ai không giằng co với Thiên Chúa, nhưng bình an ở trong tay Ngài. “Đừng để điều gì làm con xao xuyến, đừng để điều gì làm con sợ hãi. Mọi sự đều qua đi; chỉ mình Thiên Chúa là không đổi thay!” – Têrêxa Avila.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu là Người Con đã sống trọn vẹn trong niềm tín thác vào Chúa Cha. Từ sa mạc đến núi Sọ, Ngài không ngừng trao mình cho Cha, để rồi cuối cùng phó dâng linh hồn trong tay Cha. Đó cũng là con đường của người môn đệ: càng cầu nguyện, chúng ta càng học bớt đòi Thiên Chúa theo ý mình. Cầu nguyện không phải để Thiên Chúa làm điều chúng ta muốn, nhưng để chúng ta trở thành điều Thiên Chúa muốn – biết trao đời mình cho Đấng luôn đi bước trước. Bởi lẽ, ‘trước khi con mở miệng’, Cha đã ở đó.

“Lý do chúng ta cầu nguyện là để được nên một với Thiên Chúa, Đấng chúng ta cầu khẩn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trước khi con tìm Chúa, Chúa đã đi tìm con; trước khi con gọi Cha, Cha đã biết con; trước khi con cất tiếng, Cha đã ở đó. Cho con biết sống và cầu nguyện như một người con!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế này.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 6,7-15

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

9 “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

‘Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
10triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
11Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày ;
12xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con ;
13xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.’

14 “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”


 

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Phong Thanh Nguyen is with Phong Nguyen.

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Trước năm 1975, ở miền Nam có một câu nói dân gian nghe rất chua chát:

“Ai xấu quá thì bị nói: xấu như Việt cộng.”

Mới nghe tưởng là câu đùa ác miệng. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chữ “xấu” ở đây không chỉ nằm ở khuôn mặt, dáng vẻ hay áo quần. Cái xấu đáng sợ hơn là **cái xấu của một lối sống**, một thứ văn hóa chính trị nghèo nàn, thô bạo, luôn dị ứng với sự thanh lịch, tử tế, văn minh và tự do.

Người miền Nam trước 1975 không hoàn hảo. Không xã hội nào hoàn hảo. Nhưng miền Nam có một nếp sống đô thị, một tinh thần cởi mở, một không gian văn hóa tương đối tự do. Người ta đọc sách, nghe nhạc, xem phim, mặc đẹp, nói chuyện lịch sự, tranh luận, yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp. Một cô gái có thể uốn tóc, sơn móng tay, mặc áo dài, dùng son phấn. Một người đàn ông có thể mặc vest, đeo kính, nói năng từ tốn, đọc sách Tây phương, nghe nhạc tiền chiến, bàn chuyện văn chương, triết học, chính trị.

Những điều đó vốn rất bình thường trong một xã hội văn minh. Nhưng dưới con mắt của người cộng sản, cái đẹp ấy lại trở thành “tiểu tư sản”, “ủy mị”, “đồi trụy”, “phản động”, “mất lập trường”. Họ không chỉ muốn chiếm chính quyền. Họ còn muốn chiếm luôn cách ăn mặc, cách nói năng, cách suy nghĩ, cách yêu cái đẹp của con người.

Sau tháng Tư năm 1975, cái xấu ấy không còn là lời đồn. Nó bước thẳng vào đời sống miền Nam bằng dép râu, nón cối, lý lịch, hộ khẩu, công an khu vực, tổ dân phố, kiểm điểm, học tập cải tạo và những buổi đấu tố tinh thần kéo dài từ nhà ra phố.

Những cô gái, những quý bà từng thanh lịch phải tự làm thẳng mái tóc uốn cong. Móng tay từng được chăm chút phải cắt ngắn. Sơn móng tay phải bôi đi. Son phấn phải giấu. Đồ trang sức, quần áo đẹp, sách vở, băng nhạc, tranh ảnh, tiểu thuyết — tất cả trở thành thứ có thể gây nguy hiểm cho chủ nhân.

Không ai ra lệnh bằng văn bản rằng người miền Nam phải xấu đi. Nhưng ai cũng hiểu: muốn sống yên, phải tự làm mình bớt nổi bật. Muốn khỏi bị soi, phải ăn mặc nghèo đi. Muốn khỏi bị nghi ngờ, phải nói ít đi. Muốn khỏi bị chụp mũ, phải giấu sách, giấu nhạc, giấu cả quá khứ.

Thế là những chiếc áo đẹp bị cất vào đáy tủ. Những cuốn sách bị đốt trước khi bị quy là “văn hóa đồi trụy”. Những bản nhạc bị im tiếng. Những câu nói lịch sự bị thay bằng khẩu hiệu. Những con người có giáo dục phải học cách cúi đầu trước những kẻ nhân danh “giai cấp” nhưng cư xử rất thiếu văn hóa.

Cái xấu của cộng sản không chỉ là nghèo. Nghèo chưa chắc xấu. Người nghèo vẫn có thể rất đẹp nếu biết trọng nhân phẩm, trọng lẽ phải, trọng tình nghĩa. Cái xấu của cộng sản nằm ở chỗ họ **biến cái nghèo thành tiêu chuẩn đạo đức**, biến sự thô kệch thành “lập trường”, biến sự ganh ghét cái đẹp thành “đấu tranh giai cấp”.

Họ không nâng người nghèo lên cho đẹp hơn, văn minh hơn, tự do hơn. Họ kéo người khác xuống cho giống cái khuôn nghèo nàn của họ. Ai thanh lịch quá thì bị nghi. Ai học nhiều quá thì bị soi. Ai nói năng mạch lạc quá thì bị ghét. Ai có phong thái đàng hoàng quá thì bị xem là “không giống quần chúng”.

Trong trại cải tạo, nhiều người kể lại rằng những sĩ quan VNCH nào trắng trẻo, trí thức, đeo kính, ăn nói nhã nhặn, có vẻ học thức, thường bị “chiếu cố” nhiều hơn. Vì trong mắt kẻ cai trị bằng hận thù, sự lịch lãm của người tù cũng là một lời tố cáo. Nó làm lộ ra khoảng cách giữa một bên là văn hóa và một bên là bạo lực nhân danh cách mạng.

Cái đẹp làm họ khó chịu.

Cái lịch sự làm họ bất an.

Cái trí thức làm họ nghi ngờ.

Cái tự do làm họ sợ hãi.

Cái sang trọng làm họ căm ghét.

Bởi vì một chế độ được xây trên kiểm soát luôn sợ những con người có nội lực. Người có văn hóa thì khó bị nhồi sọ. Người có nhân phẩm thì khó bị khuất phục. Người biết yêu cái đẹp thì khó chấp nhận sự thô bỉ. Người biết sự thật thì khó cúi đầu trước tuyên truyền.

Vì vậy, trong xã hội cộng sản, “xấu” dần dần trở thành một thứ tiêu chuẩn ngầm.

Không ai viết thành nghị quyết: phải xấu mới là phe ta.

Không ai ban hành nghị định: phải thô kệch mới dễ thăng tiến.

Không ai công khai tuyên bố: ai đẹp, ai sang, ai lịch sự thì khó được tin dùng.

Nhưng trong thực tế, người ta hiểu rất nhanh.

Muốn tiến thân trong guồng máy ấy, nhiều khi không cần tài năng lớn, không cần nhân cách lớn, không cần tư tưởng lớn. Chỉ cần biết cúi đúng chỗ, nói đúng khẩu hiệu, ghét đúng đối tượng, im đúng lúc và tỏ ra đủ “lập trường”. Còn nếu đẹp quá, văn minh quá, độc lập quá, lịch sự quá, có tri thức quá, thì tự nhiên trở thành cái gai.

Nhìn vào chính trường cộng sản cũng thấy một điều lạ: người có phong thái sáng sủa, có khả năng nói chuyện mạch lạc, có vẻ văn minh, thường rất khó sống lâu trong guồng máy. Họ hoặc phải tự làm mình xấu đi, hoặc bị đẩy ra ngoài. Còn những khuôn mặt càng khô cứng, càng giáo điều, càng vô cảm, càng nói như đọc văn bản, càng dễ được xem là “an toàn”.

Đó không phải chuyện ngoại hình đơn giản. Đó là chuyện **khí chất của một hệ thống**.

Một hệ thống đẹp sẽ sinh ra con người biết tôn trọng cái đẹp.

Một hệ thống tự do sẽ không sợ người dân ăn mặc đẹp, đọc sách hay, nói chuyện lịch sự.

Một hệ thống văn minh sẽ không xem son phấn, sách vở, âm nhạc, nghệ thuật là kẻ thù.

Một hệ thống tự tin sẽ không cần bắt người dân phải giống nhau từ quần áo đến suy nghĩ.

Chỉ có một hệ thống mặc cảm mới ghét cái đẹp.

Chỉ có một hệ thống dối trá mới sợ sự thật.

Chỉ có một hệ thống thấp kém mới muốn kéo mọi người xuống thấp.

Chỉ có một hệ thống cai trị bằng hận thù mới xem văn minh là nguy hiểm.

Cho nên chữ “xấu” ở đây phải hiểu cho đúng.

Không phải ai nghèo cũng xấu.

Không phải ai mặc áo bà ba cũng xấu.

Không phải ai xuất thân từ nông thôn cũng xấu.

Không phải ngoại hình quyết định nhân phẩm con người.

Cái xấu cần nói đến là cái xấu của một thứ quyền lực đã làm cho con người phải che giấu vẻ đẹp của mình để được sống yên. Cái xấu của một chế độ khiến người dân phải đốt sách, giấu nhạc, cất áo đẹp, bôi son đi, cắt tóc ngắn lại, đổi giọng nói, đổi cách sống, đổi cả con người thật của mình.

Đó là cái xấu của sự sợ hãi.

Cái xấu của ganh ghét.

Cái xấu của kiểm soát.

Cái xấu của tuyên truyền.

Cái xấu của một nền chính trị không dung nổi sự thanh lịch.

Và bi kịch lớn nhất là: sau nhiều chục năm, cái xấu ấy vẫn chưa biến mất. Nó chỉ thay áo. Ngày xưa là dép râu, nón cối, biên bản, loa phường. Hôm nay là dư luận viên, an ninh mạng, truyền thông định hướng, hội đồng đấu tố trên mạng xã hội. Hình thức có thể khác, nhưng bản chất vẫn là một: ghét người tự do, sợ người có tri thức, dị ứng với tiếng nói độc lập và luôn tìm cách bôi xấu những gì mình không kiểm soát được.

Nếu bạn là một người đàn ông có phong thái đàng hoàng, ăn nói từ tốn, biết suy nghĩ độc lập, có tri thức lịch sử khách quan, không quen cúi đầu trước điều sai; hoặc nếu bạn là một người phụ nữ có vẻ đẹp, có khí chất, có giáo dục, có lòng tự trọng và không chấp nhận sống bằng khẩu hiệu — thì có lẽ bạn thật sự “không đủ điều kiện” để tiến thân trong guồng máy ấy.

Bạn có thể chạy xe ôm.

Bạn có thể bán cà phê.

Bạn có thể làm móng tay.

Bạn có thể cắt tóc, buôn bán nhỏ, lao động bình thường.

Thu nhập có thể không cao. Đời sống có thể vất vả. Nhưng ít nhất bạn còn giữ được một thứ mà nhiều kẻ trong guồng máy đã đánh mất: **nhân phẩm**.

Vì sau cùng, cái đẹp thật sự không nằm ở khuôn mặt. Nó nằm ở cách một con người sống, nói, nghĩ và đối xử với sự thật.

Còn cái xấu thật sự cũng không nằm ở làn da, mái tóc hay áo quần. Nó nằm ở một tâm hồn căm ghét tự do, một bộ máy sợ văn minh, và một ý thức hệ muốn biến cả xã hội thành một hàng người cúi đầu giống nhau.

Cái xấu ấy mới là cái xấu đáng sợ nhất.


 

Mất một người thân không chỉ là nói lời tạm biệt…- TG Văn Chương

Bình Yên LNChuyện tuổi Xế Chiều 

Mất một người thân không chỉ là nói lời tạm biệt…

Mà là học cách sống tiếp khi không còn họ bên cạnh.

Là nhìn vào chỗ trống mà họ từng ngồi, từng cười, và cảm thấy tim mình hụt đi một mảnh.

Nỗi đau mất mát không có thời hạn.

Không có ngày nào đó mà bạn bỗng dưng “hết buồn”.

Có hôm bạn thấy mình ổn, đi làm, cười nói như thường.

Nhưng rồi có hôm, chỉ cần một câu hát, một mùi hương quen, hay ánh sáng ban chiều giống như hôm ấy… là bạn lại vỡ òa.

Và chuyện đó hoàn toàn bình thường.

Bạn không yếu đuối – bạn chỉ đang thương thật lòng.

Tình yêu bạn đã trao cho họ – và những gì họ từng dành cho bạn – không biến mất khi họ ra đi.

Nó vẫn còn ở đó, chỉ là đổi hình dạng thôi.

Thành một ký ức khiến bạn cười vu vơ.

Thành một giấc mơ khiến bạn thức dậy rồi nghẹn ngào.

Thành một giọt nước mắt không cần lý do.

Có thể bạn sẽ thấy áy náy khi mình vui, khi mình vẫn sống tiếp, khi mình bắt đầu lại điều gì đó mới.

Nhưng sống không có nghĩa là quên.

Sống – chính là một cách để biết ơn.

Là tiếp tục bước đi, mang theo tình thương họ để lại trong tim bạn.

Hãy cứ nhớ họ.

Cứ nói về họ nếu bạn muốn.

Cứ khóc khi thấy lòng mình đau.

Nhưng cũng hãy cho phép mình được bình yên lại – từng chút một.

Vì dù câu chuyện giữa bạn và họ không còn như xưa, nhưng nó chưa bao giờ thực sự kết thúc.

Bạn vẫn đang viết tiếp, mỗi ngày.

Hãy sống sao cho, nếu họ đang dõi theo ở đâu đó – họ sẽ mỉm cười và tự hào vì bạn đã mạnh mẽ đến thế.

Và nếu một ngày nào đó bạn thấy không thể gượng dậy nổi,

hãy ngẩng đầu lên.

Vì ngay giữa những ngày buồn nhất… vẫn có ánh sáng.

TG Văn Chương


 

MỘT TIẾNG “CON” BỊ CHÔN VÙI DƯỚI BÓNG TƯỢNG ĐÀI

 Phong Thanh Nguyen 

**MỘT TIẾNG “CON” BỊ CHÔN VÙI DƯỚI BÓNG TƯỢNG ĐÀI**

Con ruột của người được gọi là “cha già dân tộc” vừa qua đời ở tuổi 70. Nhưng điều trớ trêu và cay đắng nhất là: cả một đời người ấy, điều ông mong mỏi không phải vinh hoa, chức quyền, tiền bạc hay quân hàm. Điều ông mong chỉ là một sự thật rất nhỏ, rất người, rất căn bản: được gọi đúng một tiếng — **con**.

Theo câu chuyện đã được nhiều nguồn ngoài luồng nhắc lại trong nhiều năm, ông Nguyễn Tất Trung được cho là con của Hồ Chí Minh và bà Nông Thị Xuân, một phụ nữ trẻ người miền núi, từng được đưa về phục vụ trong hệ thống quanh Phủ Chủ tịch. Nếu câu chuyện ấy là sự thật, thì đây không chỉ là một chuyện tình bị giấu kín. Đây là bi kịch của một con người bị xóa tên khỏi lịch sử để bảo vệ một huyền thoại chính trị.

Một người mẹ trẻ, mới ngoài hai mươi tuổi, bước vào vòng xoáy quyền lực mà mình không có khả năng tự vệ. Một đứa trẻ sinh ra không được sống như một đứa trẻ bình thường. Một thân phận bị đổi tên, gửi đi, che giấu, né tránh, như thể sự tồn tại của nó là một lỗi kỹ thuật trong bản tuyên truyền về “lãnh tụ đạo đức sáng ngời”.

Cay đắng nằm ở chỗ đó.

Người ta có thể dựng tượng, viết sách, treo khẩu hiệu, bắt học sinh học thuộc từng lời dạy. Người ta có thể gọi một lãnh tụ là “cha già dân tộc” suốt mấy thế hệ. Nhưng nếu ngay cả một đứa con ruột — máu mủ của chính mình — cũng không được công khai thừa nhận, thì chữ “cha” ấy còn lại bao nhiêu phần sự thật?

Làm cha không phải là đứng trên lễ đài để nhận hoa.

Làm cha không phải là để hàng triệu người gọi mình bằng danh xưng thiêng liêng.

Làm cha trước hết là dám nhận trách nhiệm với sinh mạng do chính mình tạo ra.

Một người đàn ông bình thường, dù nghèo, dù thất học, dù không có quyền lực, vẫn biết rằng đứa con cần một danh phận. Nó cần biết mình từ đâu đến. Nó cần một người cha không quay mặt đi khi sự thật trở nên bất tiện.

Nhưng trong một chế độ toàn trị, sự thật không được đối xử như sự thật. Sự thật bị đo bằng lợi ích chính trị. Con người bị đo bằng giá trị tuyên truyền. Một người mẹ có thể bị xóa khỏi ký ức công cộng. Một đứa con có thể bị biến thành cái bóng. Một đời người có thể bị đặt sau nhu cầu giữ cho tượng đài luôn trắng sạch, luôn “vĩ đại”, luôn không tì vết.

Đó là bi kịch lớn hơn cả bi kịch gia đình. Đó là bi kịch của một xã hội bị buộc phải yêu một hình tượng hơn yêu con người thật. Người ta không được phép nhìn lãnh tụ như một con người có dục vọng, sai lầm, trách nhiệm và hệ quả. Người ta phải nhìn ông như một thánh nhân thế tục. Và để bảo vệ thứ “thánh nhân” ấy, người thật phải biến mất.

Bà Nông Thị Xuân, nếu đúng như các lời kể, không chỉ là một phụ nữ bị phụ bạc. Bà là biểu tượng cho những thân phận nhỏ bé bị nghiền nát dưới bánh xe quyền lực. Bà không có diễn đàn để tự biện hộ. Không có báo chí độc lập để đặt câu hỏi. Không có tòa án công minh để bảo vệ. Không có lịch sử chính thức để ghi nhận. Bà chỉ còn lại trong những lời kể rời rạc, trong những ký ức bị truy đuổi, trong những câu chuyện bị xem là “nhạy cảm”.

Còn Nguyễn Tất Trung, nếu đúng là người con bị che giấu ấy, thì số phận của ông là một bản cáo trạng lặng lẽ. Ông không cần ngai vàng. Không cần đặc quyền. Không cần được đưa vào sách giáo khoa. Ông chỉ cần điều mà bất cứ đứa trẻ nào sinh ra trên đời cũng có quyền được biết: **tôi là con của ai?**

Một đời người đi qua, cuối cùng vẫn chỉ còn một câu hỏi: tại sao sự thật đơn giản ấy lại đáng sợ đến vậy?

Nếu Hồ Chí Minh thật sự là “cha già dân tộc”, thì tại sao một người con lại phải sống trong bóng tối? Nếu ông là biểu tượng đạo đức tuyệt đối, thì tại sao lịch sử lại phải bị khóa miệng trước những câu hỏi về đời tư, trách nhiệm và nhân phẩm? Nếu chế độ tin vào sự trong sạch của lãnh tụ, tại sao không mở hồ sơ, công khai tài liệu, cho hậu thế đối diện với sự thật?

Vì sự thật, một khi được nói ra, có thể làm nứt tượng đài.

Mà tượng đài trong chế độ toàn trị không được xây bằng đá. Nó được xây bằng kiểm duyệt, sợ hãi, im lặng và những câu chuyện bị cấm kể. Nó đứng được không phải vì nó vững chắc, mà vì người ta bị bắt phải quỳ xuống nhìn lên.

Cái chết của một người đàn ông 71 tuổi, vì vậy, không chỉ là sự khép lại của một đời người. Nó mở lại một câu hỏi lớn hơn: một dân tộc có thể trưởng thành không, nếu lịch sử của nó vẫn bị viết bằng những khoảng trắng bắt buộc?

Không ai đòi lịch sử phải hoàn hảo. Không lãnh tụ nào là thiên thần. Nhưng một xã hội văn minh phải có can đảm gọi sự thật bằng đúng tên của nó. Sai thì nói sai. Có thì nói có. Con thì phải được gọi là con. Người mẹ thì phải được trả lại nhân phẩm. Người chết thì phải được trả lại tiếng nói. Và dân tộc thì phải được trả lại quyền biết sự thật.

Bởi một dân tộc không thể sống mãi bằng huyền thoại.

Một thế hệ không thể trưởng thành bằng sự che giấu.

Và một tượng đài, dù được sơn son thếp vàng đến đâu, cũng không thể thay thế cho lương tâm.

Câu hỏi cuối cùng vẫn còn đó, lạnh và đau:

**Một người được gọi là “cha già dân tộc” mà ngay cả con ruột còn không dám nhận, thì dân tộc ấy đã được thương bằng tình thương nào — hay chỉ được dùng như phông nền cho một huyền thoại chính trị?**


 

Cậu đã cứu 18 người khỏi đống đổ nát… rồi dành những hơi sức cuối cùng để cứu thêm một người nữa.

Animal Stories 

Cậu đã cứu 18 người khỏi đống đổ nát… rồi dành những hơi sức cuối cùng để cứu thêm một người nữa.

Đó là Atlas.

Một chú Golden Retriever làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn.

Nhưng đến những giờ phút cuối cùng…

Atlas không còn đơn thuần là đang tìm kiếm.

Cậu đang chiến đấu.

Chiến đấu với những khối bê tông khổng lồ.

Với sự kiệt sức.

Với chính cơ thể đã vượt quá giới hạn.

Bởi vì đâu đó dưới hàng nghìn tấn đổ nát…

Atlas tin rằng vẫn còn một người đang sống.

Và cậu nhất quyết không bỏ cuộc.

Sau trận động đất kinh hoàng xảy ra ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, đội cứu hộ từ nhiều quốc gia đã nhanh chóng có mặt.

Trong số đó có lính cứu hỏa Lukas Hartmann cùng người đồng đội bốn chân mang tên Atlas.

Atlas không phải chú chó nhanh nhất.

Cũng không phải khỏe nhất.

Nhưng ai từng làm việc với cậu đều biết một điều:

Một khi Atlas tin rằng còn người sống… sẽ không gì khiến cậu từ bỏ.

Chỉ trong vòng 20 phút đầu tiên tại hiện trường, Atlas phát hiện một cậu bé tuổi teen còn mắc kẹt.

Cậu bé được cứu sống.

Sau đó là một người mẹ và con gái nhỏ.

Rồi một cụ ông.

Hai công nhân xây dựng.

Hết người này đến người khác…

Atlas liên tục dẫn đội cứu hộ đến những khoảng không nhỏ bé giữa biển bê tông.

Đến cuối ngày đầu tiên, cậu đã giúp tìm thấy 12 người còn sống.

Sáng hôm sau, thêm 4 người nữa.

Rồi 17.

Rồi 18.

Tin tức về chú chó cứu hộ phi thường nhanh chóng lan rộng.

Nhưng Atlas vẫn chưa dừng lại.

Ở một góc nguy hiểm của tòa nhà sụp đổ, cậu liên tục sủa, cào bới rồi nhất quyết không chịu rời đi.

Máy quét nhiệt không phát hiện gì.

Thiết bị thu âm cũng chỉ là im lặng.

Nhiều người đề nghị chuyển sang khu vực khác.

Chỉ riêng Lukas lắc đầu.

“Nếu Atlas nói còn người ở đó…

thì chắc chắn còn người.”

Đội cứu hộ tiếp tục đào.

Hàng giờ trôi qua.

Cho đến khi…

Ba tiếng gõ yếu ớt vang lên từ sâu bên dưới.

Một người phụ nữ vẫn còn sống.

Mọi người lập tức tăng tốc đào bới.

Còn Atlas?

Cậu không chịu nghỉ.

Không ăn.

Không uống.

Dù được kéo đi nhiều lần, cậu vẫn quay lại đúng vị trí ấy.

Như thể muốn chắc chắn rằng người bên dưới sẽ được đưa ra an toàn.

Đến khoảng 4 giờ sáng…

Atlas bất ngờ gục xuống.

Các bác sĩ thú y xác định cậu bị kiệt sức nghiêm trọng, mất nước và gặp biến chứng nội tạng do làm việc quá sức.

Trong khi đội cứu hộ vẫn tiếp tục giải cứu người phụ nữ, Lukas quỳ xuống bên Atlas và khẽ nói:

“Con đã tìm thấy họ rồi.

Mười tám người…

và cả người thứ mười chín nữa.”

Vài giờ sau, người phụ nữ cuối cùng cũng được đưa ra ngoài.

Còn sống.

Việc đầu tiên Lukas làm là mang tin vui đến cho Atlas.

“Con làm được rồi.

Cô ấy an toàn rồi.”

Những người có mặt kể lại rằng…

chiếc đuôi của Atlas khẽ đập xuống mặt đất hai lần.

Như thể cậu đã hiểu.

Chiều hôm ấy, Atlas lặng lẽ ra đi trong vòng tay của cả đội cứu hộ.

Nhưng câu chuyện về cậu thì vẫn còn ở lại.

Những người sống sót vẫn trở về nơi dựng tượng Atlas mỗi năm.

Có người mang theo hoa.

Có người mang theo ảnh gia đình.

Có người dắt theo những đứa trẻ mà họ từng nghĩ sẽ không bao giờ còn được gặp lại.

Bởi một chú chó Golden Retriever…

đã từ chối bỏ đi khi vẫn còn một người cần được cứu.

#AnimalStories – #RescueDog – #HeroDog – #SearchAndRescue – #GoldenRetriever – #DogHero – #InspiringStory – #Heartwarming#NeverGiveUp – #HopeLives – #DogLover – #FeelGoodStory-RescueMission – #LoyalCompanion – #TrueHero 


 

MẸ TERESA: Nữ tu sĩ vĩ đại nuôi dưỡng hàng triệu trẻ em mồ côi và những người bần cùng nhất xã hội

Khám Phá Tri Thức

 MẸ TERESA: Nữ tu sĩ vĩ đại nuôi dưỡng hàng triệu trẻ em mồ côi và những người bần cùng nhất xã hội

Có những cuộc đời sinh ra để định nghĩa lại hai từ “Tình yêu”. Mẹ Teresa chính là một biểu tượng vĩ đại như thế. Cả cuộc đời bà là một hành trình không mệt mỏi vì những con người bần cùng nhất thế giới.

Ước mơ tuổi thơ

Mẹ Teresa sinh ngày 26/08/1910 tại Skopje (nay là thủ đô của Bắc Macedonia), trong một gia đình gốc Albania sùng đạo. Năm 12 tuổi, cô bé Agnes (tên khai sinh của bà) đã nuôi dưỡng ước mơ trở thành một nữ tu truyền giáo. Đến năm 18 tuổi, bà chính thức rời bỏ quê hương, chọn cuộc sống thanh bần để dấn thân vào hành trình bác ái.

Người mẹ của những mảnh đời bị bỏ rơi

Suốt hơn nửa thế kỷ phục vụ tại Ấn Độ và toàn cầu, bà và Dòng Thừa sai Bác ái đã dang tay nuôi sống hàng triệu trẻ em mồ côi, khuyết tật và chữa trị cho những bệnh nhân phong cùi, HIV/AIDS bị xã hội ruồng bỏ. Với bà, mỗi đứa trẻ đều xứng đáng được yêu thương và có một mái nhà.

Giải Nobel Hòa bình và chiếc áo Sari 1 Đô-la

Năm 1979, Mẹ Teresa được trao giải Nobel Hòa bình ở tuổi 69. Xuất hiện trước các nguyên thủ quốc gia, bà vẫn mặc chiếc áo sari vải thô giá 1 USD và đi đôi dép sờn cũ. Bà từ chối bữa tiệc chiêu đãi hoàng gia trang trọng, yêu cầu quyên góp toàn bộ chi phí và tiền thưởng (192.000 USD) để xây nhà tình thương cho người nghèo.

Bất tử với danh hiệu Cao quý

Mẹ Teresa trút hơi thở cuối cùng vào năm 1997, hưởng thọ 87 tuổi. Để vinh danh những phép lạ và cuộc đời thánh thiện của bà, năm 2016, Tòa thánh Vatican đã chính thức tổ chức đại lễ phong Thánh, tôn vinh bà là Thánh Teresa thành Calcutta.

 “Nếu bạn không thể nuôi sống một trăm người, thì hãy chỉ nuôi sống một người thôi.” — Câu nói kinh điển của Mẹ vẫn luôn là kim chỉ nam nhắc nhở chúng ta về lòng trắc ẩn trong cuộc sống hiện đại.

Hãy cùng chia sẻ câu chuyện này để lan tỏa những giá trị tốt đẹp của tình yêu thương không biên giới! 


 

Cuối cùng rồi ai cũng phải chết – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Vậy mà chỉ những người lớn tuổi mới để ý tới cái chết chứ những người dưới 50 tuổi ít có ai để ý tới cái chết vì cảm thấy nó, cái chết, còn lâu lắm mới tới. Thật ra cái chết xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, và bất cứ tuổi nào.

Dĩ nhiên người già thì thời gian đến gần cái chết rõ ràng hơn, ngắn hơn, gần hơn.

Trước cái chết, ai cũng lo sợ, nhưng làm sao, cách nào bình tĩnh được trước cái chết.

Làm thế nào cuộc sống có ý nghĩa và có hạnh phúc? 

*1)Đặt ra công việc để làm. Đặt cho mình mục đích sống. Sống để làm gì? Có phải mục đích sống của mình chỉ là để kiếm thật nhiều tiền không? Dĩ nhiên phải làm việc để có tiền mà sống, nhưng chỉ duy nhất để kiếm tiền không mà thôi là chưa đủ. Cần xem làm việc là một niềm vui. Còn hơi thở, còn sức khỏe là còn phải làm việc. Dĩ nhiên mình làm việc nào mình thấy thích.

Về hưu rồi, tôi đặt ra công việc để làm, dĩ nhiên là công việc không kiếm được tiền. Viết bài, gởi gấm tâm tư tình cảm cho bạn bè, cho thế hệ sau. Đọc tin tức, gởi E.mail cho bạn bè. Thành lập, chủ biên: website keditim.net. Mỗi ngày đều có bài vở hay và hữu ích cho website này (mời các bạn vào đọc). 

*2)Giữ gìn sức khỏe: Lee Kim Hee (1) chủ tịch tập đoàn Samsung đã nhắc nhở chúng ta là cần phải tập thể dục thường xuyên để giữ cho thân thể khỏe mạnh. Dầu giàu có cỡ nào con người “không thể vượt qua cơn bạo bệnh và phải chịu kết thúc thất bại”vì khi bệnh tật đến không chừa một ai.

+Steve Jobs (2) chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple qua đời ở tuổi 56 (sinh 24-02-1955 mất 5-10-2011) vì ung thư tuyến tụy tạng. Ông nhắc nhở chúng ta rằng “cái giường bệnh” là đắc giá nhất.

+Bác sĩ Richard Teo (1972-2012) (3) bác sĩ thẩm mỹ, triệu phú ở Singapore qua đời ở tuổi 40 vì ung thư phổi.

Ông viết: “Nhưng trớ trêu là mọi thứ mà tôi có – thành công, cúp chiến thắng, những chiếc xe, ngôi nhà – là do tôi đã mua chúng để mang về niềm hạnh phúc. Nhưng giờ đây tôi chẳng mỉm cười được nữa. Nghĩ về việc sở hữu của cải, tôi chẳng có một chút niềm vui nào. Các bạn ạ, tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari vào giấc ngủ. Nó chẳng khiến tôi thoải mái hơn trong những ngày tháng cuối cùng. 

Vậy điều gì đã và sẽ làm tôi hạnh phúc ở khoảng thời gian này? Đó là thời gian với mọi người – những người tôi yêu, bạn bè, những ai thật lòng lo cho mình, cùng khóc cùng cười, cùng đau khổ và chấp nhận mọi chuyện. Điều ấy đem lại cho tôi niềm hạnh phúc”. (1) 

*3)Làm thế nào để sống vui vẻ và hạnh phúc. 

Hạnh phúc của con người là một hành trình chứ không phải là đã đạt mục đích.

Như vậy, hạnh phúc đơn giản chỉ là một cảm giác. Hạnh phúc không hiện hữu trong bóng hình quá khứ hay niềm mong mỏi nơi tương lại, hạnh phúc là hạnh phúc trong thực tại nếu bạn biết nắm bắt nó.

Vậy bí quyết của hạnh phúc là: sống trong phút hiện tại, biết yêu thương và tha thứ.

 Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất.

Trong trại tù tôi bị bỏ đói triền miên từ năm này sang năm khác, chỉ được ăn bo bo, bắp trái, ăn rau rừng đỡ đói. Khi Tết nguyên đán, trại tù phát cơm trắng. Lúc đó, ăn cơm trắng với muối tưởng chừng như ăn cơm với đường. Hạnh phúc ngay lúc đó.

 * a)Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc (Biết đủ thì đủ, đợi đủ bao giờ đủ) trong bài thơ Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ.

 Con người thường tham lam, không bao giờ biết đủ. Khi làm ăn phát đạt, kiếm được nhiều tiền ai ai cũng muốn kiếm thêm nhiều hơn nữa chứ đâu biết dừng lại.

Sự giàu có, tiền bạc không biết bao nhiêu là đủ. Cái khó là biết dừng lại, biết đủ.

Đặc biệt ở nước Mỹ có người Amish, họ sống biệt lập ở tiểu bang Ohio, Pennsylvania và cũng có một số ở Canada nữa. Họ không xài điện thoại cầm tay, không dùng xe hơi (ô tô), TV các loại máy móc, bài trừ sự ly dị… họ bài trừ lối sống hiện đại ở nước Mỹ.

 Người Amish sống đơn giản không có những nhu cầu hiện đại như chúng ta.

Như vậy,  

*b) Cách sống khác nhau, kết quả khác nhau

Nếu cuộc sống của bạn lấy tiền làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất khổ cực.

Nếu cuộc sống của bạn lấy phụ nữ làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất mệt mỏi.

Nếu cuộc sống của bạn lấy ái tình làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất đau thương.

Nếu cuộc sống của bạn lấy leo cao làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất phiền muộn.

Nếu cuộc sống của bạn lấy khoan dung làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất hạnh phúc.

Nếu cuộc sống của bạn lấy tri túc làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất vui vẻ.

Nếu cuộc sống của bạn lấy cảm ơn làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất thiện lương.

Người đi tìm sự khiếm khuyết của mình mới có được sự hài lòng.

Người nhận biết hạnh phúc mới có được hạnh phúc.

 Kết: Vui để đợi chết

 Trước khi chết thường chịu cảnh bịnh hoạn, đau đớn, buồn khổ, cô đơn. Làm sao trong tâm hồn mình có “Vui để đợi chết”.

Lúc cuối đời nếu tâm hồn mình thanh thản, bình an thì sự bình an đó kéo theo cho đến lúc lâm chung, còn ngược lại nếu ta chứa đựng nhiều uẩn khúc đau thương, uất hận; sự buồn sầu này sẽ kéo dài theo lúc chết.

Cho nên làm sao vui để được chết đó là điều rất khó, khó nhưng không phải không làm được?

 Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy

Cho con còn ngày nữa để yêu thương.

 Xem thêm:

(1) Thư từ Chủ tịch Lee Kun-hee

(2) Steve Jobs chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple

(3) Bác sĩ Richard Teo (1972-2012)(3) bác sĩ thẩm mỹ, Lời trăn trối của bác sĩ triêu phú mắc bệnh ung thư

Xem: Tưởng niệm 4 năm Bác Sĩ Richard Teo

Phùng Văn Phụng

Ngày 02-11-2020

(Lễ cầu hồn) 

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

https://keditim.net/wp-content/uploads/2026/05/CHO-TRON-DUONG-TRAN-cuon-2-313-trang.pdf


 

ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA BẮT ĐẦU KHI MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN DÁM LÊN TIẾNG DÙ ĐÃ RỜI KHỎI QUÊ HƯƠNG

Chân Trời Mới Media

ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA BẮT ĐẦU KHI MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN DÁM LÊN TIẾNG DÙ ĐÃ RỜI KHỎI QUÊ HƯƠNG

Một nhà nước có thể kiểm soát lãnh thổ của mình bằng luật pháp. Nhưng khi một công dân đã ra nước ngoài mà vẫn cảm thấy sợ hãi vì những gì mình nói, đó là lúc xuất hiện câu hỏi về hiện tượng được nhiều tổ chức quốc tế gọi là “đàn áp xuyên quốc gia”.

Trong nhiều năm qua, các tổ chức như Freedom House và Human Rights Watch đã ghi nhận những trường hợp người Việt ở nước ngoài cho rằng họ bị theo dõi, bị đe dọa trực tuyến hoặc lo ngại người thân trong nước gặp áp lực sau khi họ tham gia các hoạt động nhân quyền, báo chí hay chính trị. Một trong những trường hợp được quốc tế chú ý là vụ bắt giữ và kết án vắng mặt nhà báo độc lập Lê Trung Khoa và luật sư Nguyễn Văn Đài tại Việt Nam, trong khi cả hai đang sinh sống ở Đức. Những vụ việc như vậy được một số tổ chức nhân quyền viện dẫn như ví dụ cho thấy sự mở rộng phạm vi xử lý đối với những tiếng nói đối lập bên ngoài lãnh thổ quốc gia.

Điều đáng lo ngại không phải là sự bất đồng chính kiến, mà là khả năng nỗi sợ trở thành công cụ quản lý xã hội. Khi một người không dám viết, không dám phát biểu, không dám tham gia hoạt động công cộng vì lo cho gia đình còn ở quê nhà, thì quyền tự do biểu đạt đã bị thu hẹp, dù không cần đến một bản án hay một song sắt nhà tù.

Một quốc gia mạnh không cần theo đuổi công dân bằng nỗi sợ. Một quốc gia văn minh phải chứng minh sức mạnh bằng pháp quyền, bằng đối thoại và bằng khả năng chấp nhận những tiếng nói khác biệt. Khi công dân được quyền bất đồng mà không phải lo lắng cho sự an toàn của bản thân và gia đình, đó mới là thước đo thực sự của một xã hội tự do.

#DanApXuyenQuocGia #TuDoNgonLuan #NhanQuyen #PhapQuyen #Chantroimoi 


 

“Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy!- Cha Vương

“Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16:23) – Cha Vương

Tạ ơn Chúa đã ban cho bạn một ngày nữa để yêu và được yêu. Một ngày thật hạnh phúc bên Chúa và những người thân yêu nhé. Mình xin bạn một lời cầu nguyện khẩn thiết hoặc một hy sinh nhỏ cho nhau và cả thế giới cách riêng cho nước Việt Nam ta. Amen 

Cha Vương

Thư 2: 15/06/2026.     (t3-21)

TIN MỪNG: Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16:23)

SUY NIỆM: Con cần Cha, chứ Cha không cần gì con.—Không phải con đến thánh hóa Cha, nhưng Cha đến thánh hóa và làm cho con nên trọn hảo hơn. Con đến để được thánh hóa và hợp nhất với Cha, để Cha ban ơn và tăng thêm lòng hăng hái cải thiện đời sống. Đừng khinh thường ơn đó con ạ! Và hãy dọn lòng cho thật chu đáo, mà đón Bạn chí ái. (x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q4:12 t.t.) 

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi, mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con. Thật ra, Cha không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Cha lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Cha nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. (Lời kinh Tiền Tụng Chung IV) 

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm kinh Cám Ơn.

From: Do Dzung

******************************************

Con Cần Chúa – Sáng tác: Giang Ân – Trình bày: Sr Hoàng Phương