Alice Thornton bị bắt vào năm 1913 vì đã ném đá vào cửa sổ tòa nhà Quốc hội.

TTV2 – Quan điểm cá nhân

 Alice Thornton bị bắt vào năm 1913 vì đã ném đá vào cửa sổ tòa nhà Quốc hội. Yêu cầu của bà: quyền bầu cử cho phụ nữ. Bản án: 6 tháng tù giam.

Phản ứng của Alice diễn ra ngay lập tức: bà tuyệt thực. Sự đáp trả của nhà tù thật tàn bạo.

Ba lần một ngày, bà bị cưỡng bức ăn. Người ta trói bà vào ghế bằng dây da. Các cai ngục dùng kìm sắt cạy miệng bà ra. Một ống cao su được đẩy sâu vào cổ họng xuống tận dạ dày, và thức ăn lỏng được đổ vào đó. Alice đã nôn ra máu suốt nhiều tuần liền.

Bức ảnh này — một bản in trên tấm kẽm — đã được một cai ngục có lòng trắc ẩn lén đưa ra ngoài. Người cai ngục đó bị sa thải ba ngày sau đó. Trong ảnh, Alice bị xích vào chiếc ghế cưỡng bức ăn, ống luồn trong cổ họng, bốn nữ quản giáo giữ chặt cơ thể bà. Nhưng đôi mắt bà nói lên một điều rõ ràng: bà sẽ không bao giờ đầu hàng.

Bạo lực đã để lại di chứng vĩnh viễn. Thực quản của bà bị tổn thương. Suốt cuộc đời còn lại, bà gặp khó khăn trong việc nuốt thức ăn rắn.

Alice được thả sau 4 tháng. Bà chỉ còn nặng hơn 33 kg và không thể tự đi lại. Sáu tuần sau, bà lại tiếp tục ném đá vào các tòa nhà chính phủ. Bà bị bắt lại. Bà lại tuyệt thực. Và bà lại bị cưỡng bức ăn. Chu kỳ này lặp lại 5 lần từ năm 1913 đến 1918. Sau mỗi lần bị bắt, cơ thể bà càng thêm suy kiệt. Nhưng sau mỗi lần được thả, bà lại quay lại cuộc chiến.

Năm 1920, phụ nữ cuối cùng đã giành được quyền bầu cử. Alice đã sống đủ lâu để bỏ lá phiếu đầu tiên của mình ở tuổi 35. Bà được đưa đến hòm phiếu trên một chiếc xe lăn — đôi chân bà chưa bao giờ hồi phục hoàn toàn.

Bà qua đời năm 1954, thọ 69 tuổi. Trên mộ bà có khắc dòng chữ: “Bà đã nuốt thức ăn qua đường ống để những người con gái của mình có thể ngẩng cao đầu và được quyền bỏ phiếu.”

TG Văn Chương

#anhchiquandiemcanhan


 

Iran – Đêm dài lắm mộng – Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

March 29, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Bản kế hoạch 15 điểm của Mỹ – về cơ bản là yêu cầu Iran đầu hàng vô điều kiện – bị Tehran bác bỏ. Cả Washington lẫn Tehran đều nói cuộc chiến chỉ chấm dứt khi nào họ muốn. Tuy nhiên, kết thúc cuộc chiến hiện tại không hề đơn giản. Trừ khi hai bên nhượng bộ và phải nhượng bộ rất nhiều, bế tắc sẽ tiếp tục và Mỹ thậm chí có thể bị cuốn vào một cuộc xâm lược trên bộ với những hậu quả thảm khốc hơn cả thời chiến tranh vùng Vịnh 2003.

Căn cứ Prince Sultan Air Base ở Al Kharj, Saudi Arabia, nơi Iran vừa phóng hỏa tiễn làm 10 binh sĩ Mỹ bị thương và một phi cơ tiếp xăng KC-135 bị hư hại. (Hình minh hoạt: Richard M Heileman/DOD/AFP via Getty Images)

Đàm phán gì khi không ai tin ai? 

Khi Tổng Thống Donald Trump tấn công Iran vào Tháng Sáu, 2025, chiến dịch quân sự được thực hiện chớp nhoáng và chỉ tập trung vào việc làm suy yếu chương trình nguyên tử Iran. Thông điệp của Washington tương đối rõ: Tòa Bạch Ốc bị kéo vào cuộc chiến một cách bất đắc dĩ bởi vì cuộc tấn công bất ngờ của Israel, và để chấm dứt xung đột, Mỹ chỉ phá hủy các địa điểm nguyên tử quan trọng. Phần mình, Iran đáp trả bằng cuộc tấn công vào căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ trong khu vực, ở Qatar; tuy nhiên, màn trả đũa được tính toán cẩn thận để tránh gây thương vong cho người Mỹ và để bảo toàn mối quan hệ của Tehran với các nước láng giềng.

Với cuộc chiến lần này, Mỹ và Israel hợp tác ngay từ đầu. Mức độ phản ứng của Iran dữ dội hơn. Bởi vì cuộc xung đột mở rộng và liên quan nhiều bên với những lợi ích khác nhau, việc thương lượng ngừng bắn chắc chắn rất phức tạp. Một lệnh ngừng bắn bền vững đòi hỏi một quy trình đàm phán dài hơi và không thể bị áp đặt một cách đơn phương dựa trên những điều kiện đòi hỏi tối đa từ một phía. Mỹ khó có thể ép Iran hạn chế năng lực hỏa tiễn, trong bối cảnh mà vũ khí này chứng minh được vai trò là công cụ trả đũa chủ chốt. Phần mình, Tehran không thể làm cho người Mỹ cảm thấy nhẹ nhõm nếu không chấp nhận loại bỏ hoàn toàn các mối đe dọa quân sự đối với hoạt động tại eo biển Hormuz.

Hơn nữa, việc đàm phán chắc chắn không đi đến đâu nếu Iran đòi Mỹ bồi thường tổn thất chiến tranh. Nếu vấn đề bồi thường được đưa lên bàn đàm phán, có thể các nước láng giềng cũng yêu cầu tương tự đối với Tehran. Hơn nữa, Iran không thể buộc Mỹ cắt giảm sự hiện diện quân sự hay đóng cửa các căn cứ Mỹ trong khu vực. Tóm lại, gần như không có điểm nào mà bên này đưa ra thì bên kia sẵn sàng nhượng bộ – ít nhất ở thời điểm hiện tại.

Cục diện càng bế tắc càng trông giống cuộc chiến Ukraine mà Nga đang sa lầy. Cách cầm cự của Iran không khỏi không liên tưởng đến cách mà Kiev chống trả Moscow bằng chiến thuật tiêu hao. Tất nhiên, cuộc xâm lược của Nga đối với quốc gia láng giềng Ukraine khác hoàn toàn so với mục tiêu của Washington là kiềm chế mối đe dọa bành trướng cũng như hiểm họa bom nguyên tử của Iran.

Dù vậy, cả Mỹ lẫn Nga đều gặp khó khăn như nhau trong việc dung hòa các mục tiêu cuối cùng với những phương tiện hiện có để đạt được. Nga muốn thôn tính Ukraine như một quốc gia chư hầu. Trong khi đó, mục đích của Mỹ là triệt tiêu mối đe dọa Iran tại khu vực. Tuy nhiên, cả Washington lẫn Moscow đều không thể vạch ra rõ ràng mức tối thiểu cần đạt được để hiện thực hóa mục tiêu mà họ cần. Và đó chính là yếu tố khiến việc giằng co kéo dài dẫn đến nguy cơ sa lầy.

Đêm dài lắm mộng 

Mục tiêu chiến lược hiện tại của Iran là buộc Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh phải gánh những tổn thất nặng nề đến mức ông Trump phải lựa chọn một thỏa thuận ngừng bắn. Về bản chất, Iran muốn ép ông Trump phải chọn giữa lợi ích an ninh của Israel và sự ổn định của thị trường toàn cầu. Tựu trung lại, cuộc chiến do ông Trump châm ngòi không hề dễ dàng kết thúc “theo cách của mình,” huống hồ có một kết cục tốt đẹp.

Suốt nhiều năm bị cấm vận, bị cắt đứt khỏi thị trường tài chính quốc tế, bị đóng băng tài sản, bị kìm hãm doanh thu dầu mỏ…, Iran đã xây dựng một chiến lược đối phó và bây giờ là lúc họ áp dụng. Việc bị loại khỏi hệ thống tư bản toàn cầu, vô hình trung, giúp Iran bảo tồn cấu trúc hệ thống riêng để phản ứng lại các mối đe dọa từ bên ngoài.

Iran đang làm chính xác những gì họ rút ra trong suốt những năm tháng bị phong tỏa, khi phóng hỏa tiễn phá hoại các cơ sở hạ tầng năng lượng trong khu vực; bắn phá cảng biển, ngân hàng, phi trường…; và đặc biệt phong tỏa eo biển Hormuz. Đó không phải là hành động leo thang ngẫu nhiên mà là một chiến dịch có hệ thống nhằm chống lại nền tảng kinh tế của trật tự khu vực do Mỹ dẫn đầu – một trật tự được xây dựng, phần lớn, để kiềm chế Iran.

Còn nữa, yếu tố quan trọng trong chiến lược Iran là gây ra sự chia rẽ giữa Mỹ và các đối tác vùng Vịnh. ​​Từ năm 1979, Washington xây dựng và duy trì một mạng lưới an ninh khắp Trung Đông, về cơ bản được thiết kế để kiềm hãm sức mạnh của Iran. Các căn cứ quân sự mà Washington ban đầu thiết lập tạm ở Bahrain, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất (UEA), trong và sau cuộc chiến vùng Vịnh 1990-1991, dần trở thành những công trình cố định. Thỏa thuận mà Mỹ đạt được với các quốc gia này rất rõ: Các quốc gia vùng Vịnh khi liên minh an ninh với Washington sẽ nhận được bảo đảm an ninh từ Mỹ và cơ hội phát triển trong trật tự do Mỹ dẫn đầu.

Với Iran, họ hiểu mối quan hệ trên không đơn thuần là cách phòng thủ tập thể mà còn là một liên minh mà ngày nào đó nhắm vào họ. Tehran cũng hiểu điểm yếu của hệ thống này: Nó nằm ở việc phụ thuộc vào sự ủng hộ của các nước vùng Vịnh; mà yếu tố này lại liên đới với việc Mỹ thực hiện các cam kết an ninh. Năm 2019, niềm tin các nước vùng Vịnh dành cho Mỹ rạn nứt, khi Mỹ không bảo vệ Saudi Arabia trước các cuộc tấn công của Iran vào các cơ sở dầu mỏ nước này. Với khu vực Trung Đông, Mỹ thật ra chỉ bảo vệ Israel.

Chẳng phải tự nhiên mà từ khi cuộc chiến nổ ra, Iran bắn phá quyết liệt các nước vùng Vịnh. Họ muốn nhắc rằng, các nước này, chưa bao giờ bằng lúc này, cần phải nghiêm túc đặt câu hỏi về giá trị của sự liên minh với Washington. Nói cách khác, với Tehran, an ninh lâu dài của họ không phụ thuộc vào việc đánh bại Mỹ về mặt quân sự mà là làm cho chi phí hiện diện của Mỹ ở vùng Vịnh trở nên cực kỳ đắt đỏ về mặt chính trị.

Ngày 27 Tháng Ba, Ngoại Trưởng Marco Rubio của Mỹ nói rằng Hoa Kỳ không cần đến bộ binh và cuộc chiến sẽ kết thúc trong vòng vài tuần. Trong thực tế, Trung Đông đang chuẩn bị đối mặt một cuộc xung đột dữ dội hơn, với những hệ quả kinh tế có thể vô cùng tàn khốc.

“Sự ngờ vực sâu sắc giữa tất cả các bên khiến cho một lệnh ngừng bắn ngay lập tức trở thành điều gần như bất khả thi,” Giáo Sư Hamad Althunayyan (Đại học Kuwait) nhận định. Tại Yemen, lực lượng dân quân Houthi – đồng minh thân cận của Iran hiện kiểm soát phần lớn lãnh thổ Yemen – bắt đầu tham chiến khi bắn hỏa tiễn vào Israel ngày 28 Tháng Ba – cột mốc đúng một tháng từ ngày Mỹ-Israel mở chiến dịch tiêu diệt Iran. Trước đó một ngày, Iran cũng tấn công một căn cứ quân sự Mỹ ở Saudi Arabia, làm bị thương 10 binh sĩ Mỹ.

Một cách tổng quát, thùng đạn mà ông Trump (cùng Thủ Tướng Benjamin Netanyahu) mang đến Trung Đông tiếp tục nổ tung tóe một cách không thể kiểm soát, ngày càng lan rộng khi ảnh hưởng của nó tác động đến toàn bộ khu vực. UAE, nơi hứng những đòn tấn công dữ dội nhất bằng hỏa tiễn và máy bay không người lái từ Iran, không hề ảo tưởng về khả năng đạt được một giải pháp thương lượng với Tehran. UAE cho rằng trọng tâm không nên đặt vào việc đạt được một lệnh ngừng bắn mà phải hướng tới một “kết quả dứt khoát” nhằm giải quyết toàn bộ các mối đe dọa mà Iran gây ra cho khu vực, từ vấn đề nguyên tử, kho hỏa tiễn cho đến các lực lượng ủy nhiệm.

Cần nói rõ rằng không phải tất cả các quốc gia vùng Vịnh đều có cùng thái độ tương tự UAE. Ngoại Trưởng Badr Albusaidi của Oman nói rằng các cuộc tấn công của Iran vào những thành phố như Dubai, Manama, và Doha là “lựa chọn hợp lý duy nhất” nhằm đáp trả chiến dịch ném bom của Mỹ và Israel. Oman là quốc gia duy nhất trong sáu nền quân chủ vùng Vịnh từ chối ký vào bản tuyên bố chung được đưa ra ngày 25 Tháng Ba. Đó là văn bản lên án các cuộc tấn công do Iran và các lực lượng ủy nhiệm thực hiện.

Trong khi đó, Qatar, dù ký vào tuyên bố chung, lại sử dụng ngôn từ mang tính hòa giải. Ngày 24 Tháng Ba, ông Majed Al Ansari, cố vấn của thủ tướng Qatar, phát biểu rằng Iran vẫn sẽ là một láng giềng, và do đó cần phải tìm một phương thức để cùng tồn tại; chính vì thế, việc tìm kiếm một giải pháp thông qua thương lượng là điều vô cùng quan trọng.

Nói cách khác, “không nghi ngờ gì nữa, khu vực này đang bước vào một giai đoạn đầy bất định về tương lai của chính nó” – như nhận định của ông Mohammed Al Nuaimi, tổng giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu và Chiến Lược Emirates – “Quỹ đạo của diễn biến dường như đi theo một trong hai hướng: Hoặc là tiến tới leo thang quân sự mạnh hơn, hoặc tiếp tục các cuộc đàm phán đầy khó khăn nhưng có rất ít khả năng đạt được những kết quả như mong chờ.” [đ.d.]


 

Bốn “không” ở Singapore

 Bốn “không” ở Singapore

 Singapore là thành viên của Hiệp hội các nước ASEAN không chỉ được ca ngợi là quốc gia có nền kinh tế phát triển mà còn được đánh giá có một Chính phủ trong sạch. Singapore có bốn kinh nghiệm chống tham nhũng có hiệu quả.

Xin giới thiệu đến độc giả bốn kinh nghiệm của Singapore trong chống tham nhũng.

  1. Làm cho quan chức không dám tham nhũng

Ở Singapore khi một người được tuyển vào làm công chức, quan chức Chính phủ thì hằng tháng phải trích một phần tiền lương để gửi tiết kiệm. Thoạt đầu trích 5%, sau tăng dần. Người có chức vụ càng cao, thì phần trăm trích ra gửi tiết kiệm càng lớn, có thể lên tới vài chục phần trăm lương tháng. Số tiền này do Nhà nước quản lý. Bất kỳ công chức, quan chức nào phạm tội tham nhũng dù nhẹ ở mức xử phạt ra khỏi ngạch công chức thì toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm bị trưng thu.

      Quan chức càng to thì số tiền bị trưng thu càng lớn. Vì vậy, mỗi quan chức khi nảy ý định tham nhũng đều phải tính toán: Nếu tham nhũng, nhận hối lộ mấy trăm, thậm chí cả ngàn đô mà bị tịch thu hàng chục ngàn đô, bị sống trong hoàn cảnh không lương bổng cho đến lúc chết thì mất lại nhiều hơn được. Vì thế, đại đa số chọn giải pháp không tham nhũng; quan chức cấp càng cao, lương càng nhiều càng sợ không dám tham nhũng.

  1. Làm cho quan chức không thể tham nhũng.

Chính phủ Singapore quy định và thực hiện mỗi năm công chức, viên chức, quan chức phải khai  báo một lần với Nhà nước về tài sản của bản thân hoặc của vợ (chồng) bao gồm: Tiền thu nhập, tiền gửi tiết kiệm, tiền cổ phiếu, đồ trang sức, ô tô, nhà cửa… Những tài sản tăng lên phải khai rõ nguồn gốc, cái gì không rõ nguồn gốc có thể coi là tham ô, tham nhũng. Nhà nước còn quy định: Quan chức Chính phủ không được phép nợ nần; không được vay một khoản tiền lớn vượt quá tổng ba tháng lương.

    Singapore có thị trường mua bán cổ phiếu, nhưng quan chức Chính phủ muốn mua cổ phiếu phải được lãnh đạo cơ quan chủ quản đồng ý và chỉ được phép mua cổ phiếu của công ty trong nước. Với cổ phiếu của các công ty nước ngoài đang kinh doanh ở Singapore cũng được phép mua, nhưng với điều kiện các công ty đó không có quan hệ lợi ích với Chính phủ. Công chức và quan chức Chính phủ không được phép đến các sòng bạc, nhà chứa.

Luật Báo chí Singapore quy định những điều khoản nhằm chống tham nhũng trong lĩnh vực này. Theo đó, các nhà báo, ký giả muốn gửi bài viết của mình ra nước ngoài phải qua tổng biên tập xem xét. Khi được trả tiền nhuận bút, nhà báo đó phải báo cáo với cơ quan chức năng của Chính phủ trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được tiền, v.v…

  1. Làm cho quan chức không cần tham nhũng.

Singapore có chế độ trả lương chênh lệch khá cao giữa quan chức cấp cao với cấp thấp, với công chức và giữa công chức với nhân viên, công nhân. Thu nhập thấp nhất là người bảo mẫu mỗi tháng 400 đô la (Singapore). Nữ công nhân lắp ráp điện tử mỗi tháng từ 600 đến 900 đô la. Công chức cơ quan chính phủ tất cả đều tốt nghiệp đại học, lương khởi điểm khoảng 1.300 đô la. Cấp thứ trưởng lương tháng từ 10.000 đô la đến 20.000 đô la. Thủ tướng lương tháng hơn 40.000 đô la (thời điểm năm 2000). Với mức lương như vậy, quan chức đủ sống và chu cấp cho gia đình mà không cần tham nhũng. Hơn nữa cách trả lương như vậy công chức và quan chức Chính phủ luôn có sự so sánh: Mình được trả lương cao hơn người lao động bình thường rất nhiều. Nếu mình tham ô, tham nhũng nữa thì là kẻ vô đạo lý, mất hết liêm, sỉ. Sự so sánh và tự vấn đó đã làm cho quan chức tự tiêu hủy những tham vọng không trong sáng của mình.

  1. Làm cho quan chức không muốn tham nhũng

ở Singapore muốn tham nhũng một thứ gì đó, dù nhỏ cũng rất phiền hà. Ví dụ, khi khách nước ngoài đến Singapore, nếu họ muốn tặng các quan chức nước chủ nhà một món quà để cảm ơn về sự đón tiếp và thắt chặt mối quan hệ thì món quà đó phải mang ý nghĩa văn hóa với giá trị tiền không nhiều. Món quà nào có giá trị 100 đô la Singapore trở lên là họ từ chối hoặc phải xin phép lãnh đạo cơ quan, nếu đồng ý mới được nhận. Nhưng khi nhận rồi lại phải báo cáo với lãnh đạo cơ quan xem xét. Nếu món quà đó có giá trị tiền quá mức quy định và quan chức đó vẫn muốn nhận thì phải nộp tiền. Số tiền nộp thêm đưa vào tài khoản quỹ “nộp phạt” của Chính phủ.

Chuyện kể rằng, một phái đoàn quan chức của Chính phủ Singapore được cử sang một nước nọ để ký một hiệp định liên doanh sản xuất. Nhận thấy hiệp định này đem lại nhiều lợi ích cho mình, giới chức nước chủ nhà đã tặng những món quà lưu niệm có giá trị cao cho quan chức đoàn Singapore. Bởi sự quá nhiệt thành của chủ nhà, họ không sao từ chối được. Nhưng cứ nghĩ đến việc khi về nước lại mang quà biếu này đến cơ quan khai báo, phải mua lại và chuyển tiền vào tài khoản quỹ “nộp phạt” thì quả là phiền toái. Cả đoàn đều phải “đành lòng” viết thư cảm ơn và gửi lại quà ở sân bay trước khi trở về Singapore

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

“Đây là hình ảnh một vị vua trong những khoảnh khắc cuối đời.”

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

“Đây là hình ảnh một vị vua trong những khoảnh khắc cuối đời.”

Được chụp bởi Larry Pannell, bức ảnh mạnh mẽ này ghi lại hơi thở cuối cùng của một con sư tử—vua của thảo nguyên.

“Chúng tôi tìm thấy nó nằm trên cỏ, kiệt sức và không thể cử động. Chúng tôi chỉ cách nó không quá một mét khi nó chết dưới bóng cây. Tôi đánh rơi máy ảnh. Chúng tôi nhìn nhau, nhắm mắt lại… và chỉ đứng im lặng.

Nó đang vật lộn để thở, ngực nó chỉ thỉnh thoảng nhô lên. Một cơn co giật cuối cùng—và sau đó, im lặng. Vị vua đã ra đi.”

Cuộc sống ngắn ngủi. Quyền lực thì phù du. Vẻ đẹp thì phai tàn. Dù hùng mạnh đến đâu, tất cả các sinh vật sống một ngày nào đó cũng sẽ trở nên yếu đuối.

Vì vậy, hãy khiêm tốn, tử tế và hiện diện. Giúp đỡ người bệnh, chăm sóc người yếu đuối và đừng bao giờ quên: một ngày nào đó, tất cả chúng ta đều rời khỏi sân khấu cuộc đời.

Larry Pannell


 

Tâm là nguồn gốc của sự an vui và cũng là nguồn gốc của sự đau khổ.

Tuệ Ngữ

  1. Nếu bạn nhìn cuộc đời bằng đôi mắt phán xét, thế giới này sẽ chỉ toàn những người có khiếm khuyết.

– Nhìn bằng đôi mắt kiêu ngạo, thế giới này sẽ chỉ toàn những người thấp hèn và ngu ngốc.

– Nhìn bằng đôi mắt trí tuệ, bạn sẽ phát hiện ra rằng mỗi người bạn gặp phải, đều có những điểm đáng để bạn học hỏi và tôn trọng.

  1. Thuốc tốt trên đời này, mỗi một loại thuốc chỉ có thể chữa một loại bệnh; còn thuốc tốt của tâm linh, trí tuệ và từ bi thì có thể chữa trị tất cả mọi khổ đau.
  2. Con người vẫn hay than phiền không thể tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn, nhưng kỳ thực, trước giờ nó vẫn ở sâu trong lòng, bạn không cần phải tìm kiếm. Chỉ cần bạn có thể giữ tâm bất động, không “vì dục vọng mà cực khổ, bận rộn suốt cả ngày” thì tự nhiên sẽ cảm nhận được sự hiện hữu của nó.
  3. Khi trong lòng bạn ngập tràn sự yên vui, thì đi đến đâu cũng đều là hoan hỷ tự tại; khi trong tâm tràn đầy trí huệ thì một cành hoa, cọng cỏ cũng khiến bạn nhìn ra được chân lý.
  4. Thế giới mà bạn đang nhìn thấy, chỉ là phản ứng của nội tâm. Trong lúc tâm trạng cởi mở, nhìn thấy ai cũng là bạn bè thân thiết; còn khi đang buồn bực, đi đâu cũng chỉ thấy những khuôn mặt đáng ghét.
  5. Tâm là nguồn gốc của sự an vui và cũng là nguồn gốc của sự đau khổ. Thân – khẩu – ý do một cái tâm chứa đầy hận thù và tham vọng gây ra thì chỉ mang đến đau khổ; ngược lại, những hành động, suy nghĩ, lời nói mà xuất phát từ một cái tâm thiện lành thì điều mang lại chính là phúc lạc.

Vô Vi

Thân mến

TQĐ

From: Tu Phung


 

Bé gái 17 tuổi mất đi sinh mệnh vì bố có gia đình mới

Vạn Điều Hay

 Cha mẹ ly hôn nhưng người đau lòng nhất là những đứa con – bé gái 17 tuổi mất đi sinh mệnh vì bố có gia đình mới

Khi một cuộc hôn nhân đi đến hồi kết, các bậc cha mẹ thường xem đó như một lối thoát. Một quyết định dứt khoát để khép lại những mâu thuẫn kéo dài, để tìm lại sự bình yên cho riêng mình.

Nhưng với những đứa trẻ, ly hôn chưa bao giờ là sự giải thoát. Ngược lại, đó là khởi đầu của một nỗi buồn dài – một khoảng trống âm thầm lớn dần trong tim, nơi các em không thể gọi tên, cũng không biết phải chia sẻ cùng ai.

Xót xa bé gái 17 tuổi mất đi sinh mệnh vì bố có gia đình mới

Vừa qua, một câu chuyện đau lòng khiến nhiều người không khỏi nghẹn lại. Hình ảnh một người anh trai quỳ bên thi thể em gái, khóc đến kiệt quệ, vừa gạt nước mắt vừa nghẹn ngào trách Bố của mình em nói “Con không cần gì cả con chỉ cần em thôi. Bố cũng sai mà mẹ cũng sai, còn người đau lòng nhất chính là em”.

Em là Dương Thị Nhi, 17 tuổi, ngụ tại Cao Bằng. Những dòng thư em để lại khiến bất cứ ai đọc qua cũng phải lặng đi: “Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ nhiều, con thấy mệt mỏi quá, con không biết phải làm sao cả…”

Điều gì đã đẩy một cô bé còn chưa kịp trưởng thành đến lựa chọn kết thúc sinh mệnh của mình như vậy?

Trước đó, em cũng từng có một gia đình trọn vẹn như bao người khác có cha, có mẹ, có anh trai, có những tháng ngày bình yên tưởng chừng sẽ kéo dài mãi mãi. Nhưng hạnh phúc ấy tan vỡ quá nhanh khi cha mẹ quyết định mỗi người một lối đi.

Sau ly hôn, Bố của Nhi sống ngay đối diện ngôi nhà cũ, nhưng là trong một gia đình khác với người vợ mới và sự chăm sóc dành cho con riêng. Nỗi đau ấy không ồn ào, nhưng như một nhát dao âm thầm khắc sâu vào trái tim non nớt của em.

Mái ấm từng ấm áp bỗng trở nên lạnh lẽo, tiếng cười từng rộn ràng giờ chỉ còn lại những khoảng lặng kéo dài. Bởi có những khoảng cách không nằm ở địa lý, mà nằm ở tình cảm. Trong sự tuyệt vọng trầm cảm kéo dài, nỗi đau mà không ai thấu hiểu cuối cùng em chọn cách tự kết thúc sinh mệnh chính mình.

Trong bức thư tuyệt vọng gửi mẹ, em viết:

“Mẹ ơi, con xin lỗi mẹ nhiều… con thấy lạc lõng, bơ vơ… con chưa có ước mơ rõ ràng, cũng không biết phải đi theo con đường nào.

Chuyện gia đình mình thật sự khiến con buồn lắm… con không hiểu tại sao bố lại mong muốn được sự thông cảm của tụi con, trong khi chính bố đã nói những lời ruồng bỏ…

Nhiều lúc con ước là có ai hỏi con ổn không… nhưng mọi người chỉ bảo con ‘hãy mạnh mẽ’… con không biết phải bắt đầu từ đâu…”

Những dòng chữ ấy không chỉ là lời trăn trối, mà là một tiếng kêu cứu đã bị bỏ lỡ.

Em viết cho mẹ bằng tất cả yêu thương và day dứt. Nhưng khi nhắc đến cha, em chỉ để lại một câu ngắn ngủi: “Con sẽ hận bố nhiều lắm.”

Một câu nói ngắn, nhưng đủ để khắc sâu nỗi đau mà một đứa trẻ đã phải gánh chịu.

Có lẽ, sự ra đi của em sẽ khiến những người làm cha mẹ phải giật mình suy ngẫm. Nhưng đó là một cái giá quá đắt. Và hơn hết, đây là một lời cảnh tỉnh: trước khi quyết định ly hôn, hãy nhìn vào con nhìn vào những tổn thương mà các em có thể phải gánh chịu.

Trước khi ly hôn cha mẹ hãy quan tâm đến cảm xúc của con

Các nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng, những đứa trẻ lớn lên trong gia đình ly hôn có xu hướng gặp khó khăn trong việc xây dựng các mối quan hệ, khó thân thiết với người khác, dễ mất niềm tin vào hôn nhân và có tỷ lệ đổ vỡ cao hơn khi trưởng thành.

Một đứa trẻ có quyền được yêu thương trọn vẹn từ cả cha lẫn mẹ. Có quyền được lớn lên trong sự gắn kết của hai phía gia đình nội, ngoại. Nhưng chỉ vì ly hôn và đặc biệt là vì cách ứng xử chưa đúng đắn của người lớn các em có thể đánh mất hình tượng của một người cha, một người mẹ, thậm chí đánh mất luôn cảm giác thuộc về.

Nỗi đau ấy không dừng lại ở một cá nhân, mà còn lan rộng, để lại những rạn nứt khó hàn gắn trong cả hai phía gia đình.

Với con, ngôi nhà thân thuộc không còn nguyên vẹn, đồng nghĩa với việc cảm giác an toàn cũng không còn như trước. Nỗi buồn của trẻ không phải lúc nào cũng bật thành tiếng khóc. Nhiều khi, đó là nỗi niềm thầm lặng mà con mang theo mỗi ngày.

Có những đứa trẻ bắt đầu tự trách bản thân nghĩ rằng vì mình chưa đủ ngoan, chưa đủ tốt nên cha mẹ mới rời xa nhau. Sự dằn vặt ấy khiến trái tim non nớt trở nên nặng nề, làm con dần mất đi sự tự tin và khép mình lại với thế giới.

Có đứa trẻ cố tỏ ra mạnh mẽ, nhưng sâu thẳm bên trong là sự cô đơn và nỗi sợ rằng gia đình thứ từng được tin là mãi mãi có thể tan vỡ bất cứ lúc nào.

Đau đớn nhất, là khi các em bị mắc kẹt giữa hai bờ tình cảm. Con yêu cả cha lẫn mẹ, nhưng lại luôn lo sợ rằng sự gần gũi với người này sẽ làm tổn thương người kia. Một trái tim nhỏ bé, lại phải gánh trên mình một lựa chọn quá lớn.

Ly hôn là điều không ai mong muốn, nhưng trong nhiều hoàn cảnh, lại là điều khó tránh.

Vì thế, nếu không muốn đi đến đổ vỡ, mỗi người khi bước vào hôn nhân cần đủ tỉnh táo, thận trọng và nghiêm túc trong việc lựa chọn bạn đời, hiểu rõ mục đích của sự gắn bó trước khi quyết định.

Còn nếu một ngày buộc phải ly hôn, xin hãy nghĩ cho con trước khi nghĩ cho mình. Hãy nghĩ đến những nỗi đau mà con có thể phải mang theo. Bởi người lớn có thể bắt đầu lại. Nhưng tuổi thơ của một đứa trẻ một khi đã rạn vỡ sẽ không bao giờ có thể trở lại vẹn nguyên như ban đầu.

vandieuhay.net

Ảnh: FB Những câu chuyện cuộc sống


 

CÁC ƠN ĐẠI XÁ TRONG TUẦN THÁNH  

Chiếu theo Tông Huấn Giáo Lý Ân Xá (Indulgentiarum Doctrina ) do Đức Thánh Cha Phaolo VI ban bố ngày 1 tháng 1 năm 1967 và Cẩm Nang Về Các Ân Xá (Enchiridion Indulgentiarum) ấn bản thứ tư năm 1999, các việc làm vào những dịp sau đây trong Tuần Thánh được hưởng nhận các ơn Đại Xá Hội Thánh rộng ban cho các tín hữu như sau :

– Tối Thứ Năm Tuần Thánh, sau Thánh Lễ Tiệc Ly, ai hát kinh Tantum Ergo (đây Nhiêm Tích Vô Cùng Cao Quý) hoặc Chầu Mình Thánh Chúa đủ 30 phút thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

“Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui feria V Hebdomadae Sanctae, si in sollemni repositione Ss.mi Sacramenti, post Missam in Cena Domini, strophas Tantum ergo pie recitaverit; Ss.mum Sacramentum visitaverit ad adorandum per dimidiam saltem horam”

 – Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ai tham dự nghi lễ Thờ lạy và hôn kính Thánh Giá thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

“Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui in sollemni actione liturgica feriae VI in Passione et Morte Domini adorationi Crucis pie interfuerit”

– Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, trong Đêm Vọng Phục Sinh, ai tuyên lại lời hứa khi Rửa Tội hoặc có thể thay bằng Tín Biểu các Tông Đồ, Kinh Tin Kính công đồng Nicea-Constantinople thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

 “Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui, in celebratione Vigiliae Paschalis …., vota baptismalia qualibet formula legitime adprobata renovaverit. …. symbolum Apostolorum vel symbolum Nicaenum-Constantinopolitanum pie recitaverit;

– Các ngày khác trong Tuần Thánh và các ngày khác quanh năm, ai viếng đủ 14 chặng Đàng Thánh Giá thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.

“Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui vel ipse pium exercitium Viae Crucis peregerit vel, dum illud a Summo Pontifice peragitur et ope instrumenti televisifici vel radiophonici propagatur, ei sese pie univerit”

 Các ơn Đại Xá ngày mỗi ngày được hưởng nhận 1 lần và có thể nhường cho các linh hồn.

Để lãnh nhận ơn Đại Xá cần giục lòng ăn năn, chê ghét, dốc lòng chừa mọi tội trọng, tội nhẹ đã phạm, dứt lòng quyến luyến tội lỗi và theo các điều kiện hưởng ơn Đại Xá thông thường :

– Xưng Tội

– Rước Lễ trong chính ngày hưởng ơn Đại xá

– Cầu theo ý Đức Giáo Hoàng : có thể cầu theo ý chỉ hoặc đọc thay bằng 1 Kinh Lạy Cha để hiệp ý cùng Đức Giáo Hoàng.

Xin Anh Chị Em loan báo rộng rãi điều này để Danh Chúa cả sáng và sinh ơn ích cho các linh hồn.

 From: ngocnga_1& NguyenNThu


 

QUYỀN NĂNG BIẾT CHỜ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói!”.

“Thiên Chúa đang chờ hình ảnh của Ngài, âm vang của Ngài, lời đáp của Ngài nơi chúng ta!” – Jürgen Moltmann.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa ngày lễ Truyền Tin cho thấy một nghịch lý: Thiên Chúa toàn năng, nhưng không áp đặt; Ngài đến, ngỏ lời, rồi chờ – chờ một lời “vâng” từ một thiếu nữ. Không phải vì bất lực, nhưng vì tôn trọng. Đó là một ‘quyền năng biết chờ’.

Điểm then chốt là lời đáp của Maria: “fiat mihi” – một tiếng “xin vâng” mở ra lịch sử cứu độ. Thiên Chúa không cần ai “xin vâng” để là Thiên Chúa; nhưng Ngài chờ “xin vâng” để cứu độ. Một “xin vâng” không chỉ là đáp lời, nhưng còn là “xin hãy xảy ra nơi tôi!”. Đây không phải là cam chịu, mà là một ưng thuận chủ động, mở lòng trọn vẹn cho Thiên Chúa hành động. Ngài không thiếu sức mạnh để làm, nhưng Ngài muốn có sự ưng thuận để biến đổi. Thiên Chúa không thiếu sức mạnh; Ngài chỉ từ chối cưỡng ép. “Chúa Kitô đứng trước cửa mỗi tâm hồn và chờ đợi, không cưỡng ép, nhưng mời gọi yêu thương!” – Gioan Phaolô II.

Vì thế, Truyền Tin không phải là mệnh lệnh, nhưng là đối thoại. Sứ thần loan báo, rồi dừng lại. Thiên Chúa nói vừa đủ – rồi im lặng. Chính trong khoảng lặng ấy, tự do con người được tôn trọng đến tận cùng. Thiên Chúa không chen vào quyết định của con người, dù biết con người có thể từ chối chính ơn cứu độ của mình. Một mạo hiểm của tình yêu! Một khoảng lặng đủ để cứu độ, hoặc để đánh mất. Cứu độ không khởi đi từ áp đặt, nhưng từ một khoảng lặng Thiên Chúa chủ ý để lại – ‘quyền năng biết chờ’.

Không chỉ chờ một lời; Đấng Toàn Năng còn nâng đỡ lời ấy bằng một dấu chỉ: “Kìa bà Elisabeth…”. Và như vậy, lời hứa thuở Isaia không còn xa – bài đọc một – nó đang thành hình nơi một cung lòng son sẻ. Từ đó, lịch sử đi vào một nhịp khác: “Này con đến để thực thi ý Ngài” – bài đọc hai. Và kìa, lời “xin vâng” của Mẹ hoà vào lời “xin vâng” của Con – “Lạy Thiên Chúa, con đến để thực thi ý Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca. Hai “lời đáp” chạm nhau – và quyền năng Thiên Chúa được khai mở nhờ chính sự đáp trả ấy.

Anh Chị em,

“Này con đến để thực thi ý Ngài!”. Suốt cuộc đời, Chúa Giêsu chỉ chờ để thi hành ý Cha; Ngài không đi trước giờ của Cha, nhưng ở lại trong lời “xin vâng” đó qua từng khoảnh khắc. Và cũng trong cuộc đời ấy, Ngài chờ những người tội lỗi trở về: chờ ánh mắt của người phụ nữ tội lỗi, chờ lời thú nhận của người thu thuế, chờ tiếng kêu muộn màng của anh trộm lành. Ngài không ép buộc, không đóng cửa; nhưng kiên nhẫn đứng đó. Và Ngài chờ bạn, chờ tôi, chờ từng ngày trong từng chọn lựa lớn nhỏ. Con Thiên Chúa thi hành ý Cha bằng ‘quyền năng biết chờ’ – và chờ cho đến hết đời. “Chúa không vội vàng với trái tim con người; Ngài đồng hành, ngay cả đến tận cùng sự kháng cự của nó!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thường nôn nóng, xin kéo con lại; con thường đi trước ý Chúa, xin dạy con biết chờ; con thường ngại dấn thân, giúp con dám thưa ‘xin vâng!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************************

LỜI CHÚA LỄ TRUYỀN TIN, 25/3

Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 1,26-38

26 Khi ấy, bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói : “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa. 31 Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.”

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?”

35 Sứ thần đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ toả bóng trên bà ; vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, 37 vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.”

38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói với sứ thần : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi. 


 

HÃY GIÀ ĐI MỘT CÁCH THANH THẢN – Lm. Anmai, CSsR

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

Lm. Anmai, CSsR

Thời gian trôi đi âm thầm nhưng tàn nhẫn, nó không bao giờ báo trước cho ta biết khi nào thì tuổi già thực sự ập đến, nó không nằm ở con số ghi trên giấy tờ hay số nến cắm trên chiếc bánh sinh nhật, mà nó đến trong một khoảnh khắc bất chợt khi ta nhận ra sự thay đổi trong chính tâm hồn mình.

Nếu như thuở đôi mươi, người ta sợ cái nghèo, sợ sự thiếu thốn vật chất, và khi bước sang tuổi trung niên, người ta bắt đầu lo âu về những biến cố bệnh tật, thì khi đã bước sang dốc bên kia của cuộc đời, nỗi sợ lớn nhất, ám ảnh nhất lại mang một cái tên rất nhẹ nhưng nặng trĩu lòng người: Sự cô độc.

Thế nhưng, nếu nhìn sâu vào bản chất của kiếp nhân sinh, ta sẽ thấy một nghịch lý đầy tính triết học rằng cô đơn không phải là bi kịch của tuổi già, mà đó là một sự thật hiển nhiên, là bài học cuối cùng mà bất cứ ai, dù sang hay hèn, đều phải học cách đón nhận để tìm thấy sự thanh thản thực sự.

Có một chân lý mà khi còn trẻ ta thường nghe với vẻ hồ nghi hoặc chạnh lòng, nhưng khi tóc đã pha sương mới thấy nó đúng đến đau lòng, đó là việc con cái thực ra không bao giờ hoàn toàn thuộc về cha mẹ. Ngày xưa, ta ngây thơ nghĩ rằng nuôi con là để dưỡng già, là để có người hủ hỉ sớm hôm, nhưng quy luật của dòng đời lại chảy xuôi chứ không bao giờ chảy ngược. Những đứa trẻ ta từng ẵm bồng, từng dành cả thanh xuân để lo toan, giờ đây chúng đã có bầu trời riêng của chúng, chúng có những áp lực của thời đại mới, có gánh nặng cơm áo gạo tiền và những trách nhiệm riêng với gia đình nhỏ của chúng. Người già thường sống bằng ký ức, bằng những hoài niệm về những bữa cơm đông đủ tiếng cười, trong khi người trẻ lại phải sống bằng thực tại khốc liệt, bằng những cuộc họp triền miên và những chuyến đi xa nhà. Sự lệch pha ấy khiến khoảng cách giữa hai thế hệ ngày càng lớn, không phải vì con cái vô tâm hay bất hiếu, mà đơn giản vì chúng quá bận rộn để có thể thường xuyên ngoảnh đầu nhìn lại. Nếu ta cứ mãi đau đáu chờ đợi một cuộc điện thoại, khắc khoải mong ngóng tiếng xe dừng trước ngõ, thì chính ta đang tự giam cầm mình trong nỗi buồn tủi không lối thoát. Thời đại này, mỗi đứa con là một cánh chim bay đi tìm phương trời lạ, sự sum vầy là điều quý giá nhưng hiếm hoi, và việc chấp nhận sự xa cách ấy chính là bước đầu tiên để cởi trói cho tâm hồn mình.

Bi kịch lớn nhất của những năm tháng xế chiều không nằm ở việc ta sống một mình, mà nằm ở chỗ ta đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào người khác, kể cả đó là ruột thịt. Khi ta đặt hạnh phúc của mình vào tay con cái, ta vô tình trở thành gánh nặng tâm lý cho chúng và trở thành nạn nhân của chính sự chờ đợi. Phẩm giá của tuổi già, suy cho cùng, nằm trọn vẹn ở hai chữ “Tự Lực”. Một tuổi già hạnh phúc không được đo đếm bằng số lượng con cháu vây quanh, mà được đo bằng khả năng tự chủ của chính bản thân người đó. Đó là khi ta còn đủ sức khỏe để tự đi lại mà không cần ai dìu đỡ, còn đủ sự minh mẫn để tự quyết định cuộc sống của mình, còn đủ tiền bạc tích lũy để không phải ngửa tay xin xỏ hay nhìn sắc mặt người khác mà sống, và quan trọng hơn cả là còn đủ những niềm vui, sở thích riêng để lấp đầy những khoảng trống thời gian. Khi ta tự đứng vững trên đôi chân mình, tự lo liệu được cho bản thân, ta mới có được sự tôn trọng và một phong thái ung dung tự tại.

Đừng biến mình thành cây tầm gửi sống bám vào cây sồi già, hãy biến mình thành một cây cổ thụ, dẫu đơn độc nhưng thâm trầm và vững chãi giữa trời đất.

Và rồi, cuộc đời sẽ dạy ta bài học khắc nghiệt nhưng cũng đầy vị tha nhất: Học cách làm bạn với nỗi cô đơn. Hãy tập quen với việc ăn cơm một mình mà không thấy tủi thân, đi chợ một mình mà vẫn thấy vui vẻ lựa chọn từng mớ rau con cá, đi khám bệnh một mình mà vẫn bình tĩnh kiên cường, hay lặng lẽ ngắm hoàng hôn mà không cần ai phải trầm trồ cùng. Khi ta có thể làm tất cả những điều đó một mình, ta sẽ nhận ra cô đơn không phải là kẻ thù, mà là một người thầy, một người bạn đồng hành trung thành nhất.

Cuộc đời này thực chất là một hành trình độc đạo, cha mẹ đã rời bỏ ta đi trước, bạn đời rồi cũng có thể lỡ bước sang ngang hoặc đi về cõi vĩnh hằng, con cái thì bận rộn với guồng quay riêng, chỉ có chính bản thân ta là người duy nhất đi cùng ta từ khi sinh ra cho đến hơi thở cuối cùng. Khi không còn mong cầu ai phải hiểu thấu nỗi lòng mình, không còn khát khao ai phải ở bên cạnh để xua tan sự trống trải, lúc ấy tâm ta mới thực sự an nhiên. Sự cô đơn lúc này chuyển hóa thành sự tĩnh tại, một trạng thái thiền định giữa đời thường mà chỉ những người đã đi qua đủ bão giông mới thấu cảm được.

Hạnh phúc ở tuổi xế chiều, do đó, cần được định nghĩa lại một cách giản đơn nhưng sâu sắc hơn. Đó không phải là nhà cao cửa rộng, không phải là con đàn cháu đống ồn ào, mà là sự bình yên trong tâm hồn và sự tự do trong nếp sống. Hãy giữ cho mình một chút tiền phòng thân để an tâm, giữ gìn sức khỏe như báu vật vì đó là vốn liếng cuối cùng, giữ lại vài người bạn tri kỷ để đôi khi cùng nhau uống chén trà đàm đạo chuyện nhân tình thế thái. Đừng oán trách sự lạnh nhạt của thế gian, đừng kể lể nỗi khổ đau bệnh tật với bất kỳ ai, bởi ai cũng có nỗi khổ riêng của họ.

Thay vì ngồi ủ rũ chờ đợi sự quan tâm ban phát, hãy tự tạo niềm vui cho mình bằng việc trồng một cái cây, đọc một cuốn sách, hay đơn giản là tận hưởng bầu không khí trong lành của buổi sớm mai. Khi cha mẹ còn sống, ta còn nơi để trở về, còn gốc rễ để bấu víu; nhưng khi cha mẹ khuất núi, ta chỉ còn lại đích đến phía trước để bước tới. Chặng đường cuối cùng này, hãy đi thật chậm rãi, nhẹ nhàng, không vướng bận, không oán hờn. Hãy yêu thương lấy chính bản thân mình, trân trọng từng ngày được sống, và biến tuổi già trở thành những tháng ngày thanh cao, rực rỡ và kiêu hãnh nhất của một kiếp người, để khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể mỉm cười rằng mình đã sống trọn vẹn và già đi một cách thật thanh thản.

Lm. Anmai, CSsR


 

Chúng ta đến cuộc đời này…

Trầm Mặc Huơng Lai

 Chúng ta đến cuộc đời này.. thật ra chỉ ghé qua một đoạn rồi cũng rời đi.

Vậy mà nhiều khi, mình sống như thể sẽ ở đây mãi.

Hơn thua một câu nói, thắng thua một chuyện nhỏ, giữ trong lòng một nỗi giận thật lâu.. để rồi người đau khổ lại là chính mình.   

Chúng ta đến cuộc đời này, thật ra chỉ là người lữ khách.

Ở lại một quãng, học vài bài học, gặp vài con người, mang vài niềm vui nỗi buồn… rồi cũng đến ngày phải rời đi với hai bàn tay trắng. Không ai có thể giữ mãi cho mình một điều gì, kể cả tuổi trẻ, sức khỏe, hay những người mình thương nhất.

Vậy mà nhiều khi, ta lại sống như thể mình sẽ ở đây mãi mãi.

Ta chấp nhặt một lời nói vô tình.

Ta nặng lòng vì một ánh nhìn, một sự hiểu lầm, một lần không được như ý.

Ta cố chứng minh mình đúng, cố giành phần hơn, cố giữ lấy tự ái của mình, mà quên mất rằng lòng bình an còn quý hơn rất nhiều một chiến thắng nhỏ nhoi.

Có những điều lúc xảy ra ta thấy lớn lắm, đau lắm, không thể bỏ qua.

Nhưng vài tháng sau nhìn lại, nó nhỏ như hạt bụi.

Vài năm sau nhớ lại, ta thậm chí không còn nhớ rõ mình đã từng giận đến mức nào.

Chỉ tiếc là trong quãng thời gian chấp giữ ấy, ta đã tự làm mỏi lòng mình, tự làm trái tim mình nặng xuống, tự đánh mất biết bao dịu dàng đáng lẽ mình có thể dành cho nhau.

Đời người ngắn lắm.

Ngắn đến mức một cái ngoảnh mặt có thể thành lần cuối.

Một câu chưa kịp nói có thể mãi mãi không còn cơ hội để nói.

Một người hôm nay còn bên cạnh, ngày mai có thể chỉ còn là kỷ niệm.

Nên có những điều, nếu bỏ qua được thì hãy bỏ qua.

Có những chuyện, nếu nhẹ đi được thì hãy học cách nhẹ đi.

Không phải vì mình yếu đuối, mà vì mình hiểu điều gì thật sự đáng để giữ trong tim.

Người khôn ngoan không phải là người luôn thắng trong mọi cuộc tranh luận,

mà là người biết điều gì cần giữ, điều gì cần buông.

Biết khi nào nên im lặng để giữ lấy bình an.

Biết khi nào nên mỉm cười cho qua để lòng mình được nhẹ.

Biết khi nào nên tha thứ, không phải vì người kia xứng đáng, mà vì chính mình xứng đáng được bình yên.

Giận dữ giống như cầm than nóng ném người khác, trước khi làm bỏng ai, bàn tay mình đã bỏng trước.

Oán trách giống như tự nhốt mình trong một căn phòng tối,người kia chưa chắc bận tâm, nhưng mình thì cứ mãi ngột ngạt không lối ra.

Có những nỗi buồn không cần nuôi lớn.

Có những vết thương không cần chạm lại mỗi ngày.

Buông bớt một chút, lòng sẽ nhẹ hơn một chút.

Sống ở đời, điều đáng quý không phải là hơn được bao nhiêu người,mà là giữ được bao nhiêu yêu thương, bao nhiêu tử tế, bao nhiêu bình an trong tâm hồn.

Đến cuối cùng, người hạnh phúc không phải là người có lý trong mọi chuyện,

mà là người biết sống hiền hòa, biết yêu thương, biết trân trọng những gì mình đang có khi còn có thể.

Nếu một mai phải rời cuộc đời này,điều khiến ta thanh thản chắc không phải là mình đã từng thắng ai, hơn ai, hay làm ai phải im lặng.

Điều khiến ta nhẹ lòng hơn, có lẽ là:mình đã sống đủ chân thành,đã yêu thương đủ nhiều,đã học cách bao dung,và đã không để những chuyện nhỏ nhặt làm hao mòn một đời vốn rất ngắn.

Nên thôi, nếu hôm nay còn đang giận, hãy tập buông bớt.

Nếu còn đang chấp, hãy tập nhẹ lòng.

Nếu còn đang giữ trong tim một điều làm mình mệt mỏi, hãy thử thở sâu và tự nhắc mình:

“Mình đến cuộc đời này không phải để ôm mãi những điều làm lòng mình nặng trĩu, mà để học yêu thương, học bình an, rồi thanh thản mà đi qua.”

Lm. ANmai, CSsR

 


 

NƠI TĨNH LẶNG – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

 Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Nhiều người trong chúng ta cần có thêm thinh lặng trong cuộc sống.  Tôi nói điều này một cách dè dặt, bởi vì vị trí của thinh lặng trong đời ta không phải là điều dễ xác định.

 Tĩnh lặng là một thực tại phức tạp; đôi khi chúng ta sợ nó và tìm cách tránh né, nhưng cũng có lúc, khi mệt mỏi và bị kích thích quá mức, chúng ta lại tha thiết khao khát nó.

 Nhìn chung, chúng ta có quá ít thinh lặng trong đời mình.  Công việc, điện thoại di động, các cuộc trò chuyện, giải trí, tin tức, những xao lãng và đủ loại bận tâm khác lấp đầy từng phút giây tỉnh thức.

 Chúng ta đã quá quen với việc được kích thích bởi lời nói, thông tin và sự phân tâm, đến mức thường cảm thấy lạc lõng và bồn chồn khi ở một mình, không có ai để nói chuyện, không có gì để xem, không có gì để đọc hay làm để chiếm lấy sự chú ý của mình.

 Tuy nhiên, không phải tất cả điều này đều xấu.  Trước đây, các tác giả viết về tâm linh thường quá phiến diện trong việc ca ngợi đức tính của sự thinh lặng.  Họ có xu hướng tạo ấn tượng quá đơn giản rằng Thượng đế và chiều sâu tâm linh chỉ được tìm thấy trong sự thinh lặng, như thể những đức tính của công việc thường nhật, trò chuyện, lễ hội, gia đình và cộng đồng đều kém quan trọng hơn về mặt tâm linh.

 Khi nói về không gian thinh lặng, các tín ngưỡng tâm linh xưa kia thường trừng phạt người hướng ngoại và quá dễ dãi với người hướng nội.  Nói tóm lại, họ đã không xem xét đầy đủ rằng tất cả chúng ta, cả người hướng ngoại và hướng nội, đều cần đến liệu pháp của đời sống xã hội.  Trong khi chúng ta cần sự thinh lặng để có chiều sâu, chúng ta lại cần sự tương tác với người khác để ổn định tâm trí và giữ gìn sự tỉnh táo.  Một số quá trình tự khám phá bản thân chỉ có thể thực hiện trong thinh lặng, nhưng một số khía cạnh khác của sự tỉnh táo lại phụ thuộc vào sự tương tác với người khác.  Sự thinh lặng cũng có thể là một lối thoát, một sự né tránh quá trình thanh lọc khắc nghiệt thường chỉ có thể xảy ra thông qua thử thách của việc tương tác trong gia đình và cộng đoàn.

 Hơn nữa, thinh lặng không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất để đối diện với những nỗi đau hay ám ảnh trong lòng.  Xét cho cùng, đó có thể là một dạng tập trung quá mức vào chính mình.  Đôi khi, khi một nỗi đau đang đe dọa sự quân bình nội tâm, điều tốt nhất ta có thể làm không phải là vào nhà nguyện, nhưng là đến rạp hát hoặc dùng bữa với một người bạn.  Sự chuyên tâm vào công việc hay một hình thức giải trí lành mạnh đôi khi lại chính là người bạn cần thiết khi con tim ta đang ngột ngạt.

 Có một câu chuyện về triết gia nổi tiếng Hegel.  Ngay sau khi hoàn tất công trình đồ sộ của mình về hiện tượng học của lịch sử, ông nhận ra rằng mình đang bên bờ suy sụp vì cường độ tập trung kéo dài quá lâu.  Ông đã làm gì để thoát khỏi tình trạng ấy?  Đi tĩnh tâm trong thinh lặng ư?  Không.  Ông đi xem nhạc kịch mỗi tối, dùng bữa hằng ngày với bạn bè, và tìm đến đủ mọi hình thức giải trí cho đến khi, sau một thời gian, sự siết chặt nghẹt thở của thế giới nội tâm dần buông lỏng và ánh nắng cùng sự tươi mới của đời sống thường ngày lại bừng lên.  Đôi khi, chính sự xao lãng – chứ không phải thinh lặng – mới là phương thuốc tốt nhất cho chúng ta, kể cả trên bình diện thiêng liêng.

 Dẫu vậy, thinh lặng vẫn là điều cần thiết.  Những gì các bậc thầy linh đạo qua mọi thời đại muốn dạy về điều này có thể được tóm gọn trong một câu của Meister Eckhart: Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.

 Thực chất, Eckhart muốn nói rằng thinh lặng là một lối vào đặc biệt của cõi thần linh.  Bên trong mỗi chúng ta có một khoảng thinh lặng mênh mông đang mời gọi ta bước vào, và có thể giúp ta học ngôn ngữ của trời cao.  Điều đó có nghĩa là gì?

 Thinh lặng là một ngôn ngữ sâu xa hơn, bao quát hơn, thấu hiểu hơn, giàu lòng trắc ẩn hơn và vĩnh cửu hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác.  Trên thiên đàng, dường như sẽ không còn ngôn ngữ, không còn lời nói.  Thinh lặng sẽ cất tiếng.  Chúng ta sẽ hiểu nhau cách trọn vẹn, thân mật và hân hoan, và nâng đỡ nhau trong tĩnh lặng.  Trớ trêu thay, dù rất quan trọng, lời nói cũng là một phần lý do khiến chúng ta chưa thể làm được điều ấy ngay bây giờ.  Lời nói có thể hiệp nhất, nhưng cũng có thể chia rẽ.  Trong tĩnh lặng, có một sự kết nối sâu xa hơn.

 Những người yêu nhau đã biết điều này, cũng như các tín hữu Quaker với phụng vụ cố gắng phản chiếu sự thinh lặng của thiên đàng, và như những ai thực hành cầu nguyện chiêm niệm.  Thánh Gioan Thánh Giá diễn tả điều ấy bằng một câu đầy ẩn ý: “Hãy học để hiểu nhiều hơn bằng cách không hiểu, hơn là bằng cách hiểu.”

 Thinh lặng có thể nói lớn hơn và sâu hơn lời nói.  Chúng ta đã trải nghiệm điều này theo nhiều cách khác nhau: khi bị ngăn cách bởi khoảng cách hay cái chết với những người thân yêu, chúng ta vẫn có thể ở với họ trong thinh lặng; khi bị chia rẽ với những người thiện chí vì hiểu lầm, thinh lặng có thể là nơi chúng ta lại có thể ở cùng nhau; khi đứng bất lực trước nỗi đau của người khác, thinh lặng có thể là cách diễn tả sự cảm thông tốt nhất; và khi chúng ta phạm lỗi và không còn lời nào có thể khôi phục sự nguyên vẹn trước đây, thì trong thinh lặng, một Lời sâu xa hơn có thể vang lên, cho ta biết rằng rốt cuộc mọi sự sẽ ổn thỏa, và mọi cách thế hiện hữu sẽ được ổn thỏa.

 Không gì giống ngôn ngữ của Thiên Chúa cho bằng thinh lặng.  Đó là ngôn ngữ của thiên đàng, đã sẵn ở sâu thẳm trong ta, đang mời gọi ta bước vào sự thân mật sâu xa hơn với mọi sự – ngay cả khi chúng ta vẫn cần đến “liệu pháp” của đời sống công khai.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm-Lê Diễn Đức

Nguyễn Kim Chi

Lê Diễn Đức

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm: cuộc đối đầu không còn dừng ở các mục tiêu quân sự, mà đã chuyển sang đánh thẳng vào hạ tầng năng lượng – huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu.

Việc Israel tấn công vào mỏ khí South Pars của Iran và Iran lập tức đáp trả bằng các đòn đánh vào chuỗi cơ sở năng lượng tại Vùng Vịnh không chỉ là ăn miếng trả miếng, mà là sự chuyển pha sang một dạng chiến tranh mới – nơi mỗi đòn đánh đều mang tính hệ thống.

Bề ngoài, Israel vẫn là bên chiếm ưu thế rõ rệt. Khả năng tấn công chính xác, năng lực tình báo và kiểm soát không gian tác chiến giúp họ đánh trúng những mục tiêu có giá trị cao trong lòng Iran. Nhưng nếu chỉ nhìn vào các đòn đánh này để kết luận cục diện, thì sẽ bỏ qua phần quan trọng nhất của cuộc chiến: cách Iran “chơi game”.

Iran không cố thắng theo cách truyền thống. Họ hiểu rõ mình không thể cạnh tranh trực diện với Israel, càng không thể đối đầu đối xứng với Mỹ. Vì vậy, chiến lược của Tehran là chuyển cuộc chiến từ một ván cờ quân sự sang một trò chơi tiêu hao và phá vỡ hệ thống. Thay vì bảo vệ tuyệt đối lãnh thổ, Iran chấp nhận bị đánh, nhưng đổi lại họ mở rộng chiến trường ra toàn khu vực – nơi mà bất kỳ đòn tấn công nào cũng có thể gây chấn động dây chuyền.

Đòn phản công của Iran vào các cơ sở năng lượng ở Qatar, Saudi Arabia hay UAE là minh chứng rõ nhất. Đây không chỉ là hành động quân sự, mà là một tín hiệu: nếu Iran bị đẩy vào chân tường, họ sẵn sàng khiến cả hệ thống năng lượng toàn cầu rung chuyển. Nói cách khác, họ biến cuộc chiến thành một bài toán mà chi phí của việc đánh bại Iran có thể vượt xa lợi ích thu được.

Chính điểm này đã đặt Mỹ vào một tình thế cực kỳ khó xử. Về quân sự thuần túy, Mỹ có thể áp đảo Iran. Nhưng vấn đề không nằm ở việc “đánh thắng”, mà ở việc “kết thúc được chiến tranh”.

Nếu Washington lựa chọn leo thang, họ sẽ đối mặt với một kịch bản quen thuộc: chiến thắng nhanh về quân sự, nhưng sa lầy trong một không gian bất ổn kéo dài – nơi các lực lượng ủy nhiệm, xung đột cục bộ và phá hoại kinh tế liên tục bào mòn nguồn lực.

Bài học từ Chiến tranh Afghanistan vẫn còn rất mới. Mỹ đã lật đổ Taliban chỉ trong thời gian ngắn, nhưng phải mất hai thập kỷ để nhận ra rằng việc kiểm soát một xã hội phức tạp bằng sức mạnh quân sự là điều gần như bất khả thi.

Trước đó, Chiến tranh Iraq cũng cho thấy việc loại bỏ một chế độ không đồng nghĩa với việc xây dựng được một trật tự ổn định. Và Nội chiến Libya là ví dụ điển hình cho một khoảng trống quyền lực biến thành hỗn loạn kéo dài.

Iran thậm chí còn là một bài toán khó hơn. Đây không phải là một quốc gia dễ sụp đổ theo kiểu “cắt đầu là xong”. Họ có một hệ thống quyền lực đa tầng, một bản sắc quốc gia mạnh, và quan trọng hơn, một mạng lưới ảnh hưởng trải rộng khắp Trung Đông. Ngay cả trong kịch bản cực đoan nhất – Mỹ đánh bại chế độ hiện tại – thì việc “xóa sổ toàn bộ hệ thống” gần như là điều không tưởng. Những gì còn lại có thể là một Iran phân mảnh, bất ổn và thậm chí nguy hiểm hơn.

Vì vậy, nghịch lý của cuộc chiến này nằm ở chỗ: càng leo thang, Mỹ càng tiến gần đến một chiến thắng quân sự – nhưng lại xa dần một kết thúc chiến lược. Iran hiểu điều đó, và họ đang chơi đúng vào điểm yếu này. Họ không cần thắng nhanh; họ chỉ cần kéo dài, mở rộng và làm cho đối phương phải trả giá ngày càng đắt.

Nhìn từ góc độ này, có thể thấy cục diện hiện tại không phải là một cuộc chiến có bên thắng rõ ràng. Israel đang thắng trong từng trận đánh. Iran đang làm biến dạng toàn bộ cuộc chơi. Còn Mỹ, dù là siêu cường, lại bị đặt vào thế phải lựa chọn giữa hai con đường đều rủi ro: hoặc không hành động đủ mạnh để chấm dứt xung đột, hoặc hành động quá mạnh và tự đẩy mình vào một vòng xoáy sa lầy mới.

Và đó chính là điều khiến cuộc chiến này trở nên nguy hiểm: không phải vì nó chưa có người thắng, mà vì ngay cả người có thể thắng cũng không chắc sẽ thoát ra được.