KHÔNG PHẢI LỐI VÀO, NHƯNG LÀ CỬA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi là cửa cho chiên ra vào!”.

Tại một triền đồi Palestine, nhóm du khách thấy một ràn chiên không có cửa thì thắc mắc. Người chăn chiên chỉ vào khoảng trống và nói: “Tôi là cửa. Chiều đến, tôi nằm ngay lối ấy; không con chiên nào ra, không con sói nào vào, trừ khi bước qua tôi”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không nói về một lối vào, nhưng về một con người; không phải một đường đi, nhưng là một tương quan: ‘không phải lối vào, nhưng là cửa’.

Chúa Giêsu không chỉ chỉ ra một lối vào, nhưng nhận mình là cửa – ego eimi hē thyra. Ở đây, đức tin không còn là tìm một con đường, nhưng là bước vào một sự hiệp thông. “Cửa” không chỉ để đi vào, nhưng là chính Ngài; không phải là một điểm dừng, nhưng là nơi sống còn, từ đó sự sống mở ra. Vì thế, không ai đi vào bằng một lối khác, nhưng per ipsum – qua chính Ngài; và chỉ khi bước qua Ngài, con người mới thực sự sống. “Thiên Chúa trước hết không phải là một ý niệm, nhưng là một thực tại lôi kéo chúng ta vào trong đó!” – Von Balthasar.

Nếu “cửa” không còn là một lối vào, thì “đi vào” không còn là một hành động; nhưng là một nhận ra: tiếng mục tử. Ở đây, vấn đề không phải là tìm đúng đường, nhưng là nhận ra đúng tiếng. Không phải mọi âm thanh đều dẫn đến sự sống; chỉ tiếng của mục tử mới mở ra lối vào sự sống. Vì thế, việc đi qua cửa bắt đầu từ một sự nhận ra, không phải từ chính mình; nhưng từ tiếng gọi, nơi ‘không phải lối vào, nhưng là cửa’. Giữa bao tiếng ồn của đời sống, không phải lúc nào con người cũng nghe ra tiếng đó.

Sự sống ấy làm nên những con người được biến đổi – những kẻ từng sợ hãi nay dám làm chứng, những cộng đoàn từng khép kín nay dám tuyên xưng – bài đọc một. Và vì thế, điều được hứa không phải là sự an toàn, nhưng là sự sống dồi dào – “Tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào” – một sức sống trào tràn từ chính Ngài, Đấng “chăm sóc linh hồn” – bài đọc hai. Những ai đi qua Ngài mà ra vào thì được no thoả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” – Thánh Vịnh đáp ca. Chính ở đây, con người nhận ra điều mình thiếu không phải là lối đi, nhưng là một nơi để thuộc về. Con người có thể đi rất xa mà vẫn không thực sự ở trong. “Hãy ở lại trong Ngài, và bạn sẽ được đổi mới!” – Augustinô.

Anh Chị em,

Sự sống mà cửa Giêsu dẫn vào chính là sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Vì thế, Đức Kitô là cửa không chỉ để con người đi qua, nhưng để đưa con người vào trong chính sự sống thần linh. Giữa những giới hạn rất thực, con người vẫn có thể hiện diện, mà không thực sự ở lại. Và chỉ khi được ở lại trong sự sống yêu thương này, con người mới thực sự sống – ngay trong những giới hạn. “Con người chỉ thực sự tìm thấy mình khi biết trao ban chính mình!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con lây lất như chiên không người chăn, cho con dám bước qua Ngài, để được sống sự sống Ngài trao!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH – CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH – NĂM A

Tôi là cửa cho chiên ra vào.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 10,1-10

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. 2 Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. 3 Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh ; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. 4 Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. 5 Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ.” 6 Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.

7 Vậy, Đức Giê-su lại nói : “Thật, tôi bảo thật các ông : Tôi là cửa cho chiên ra vào. 8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp ; nhưng chiên đã không nghe họ. 9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. 10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào.”


 

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Trọng kính Cộng đồng Dân Chúa,

 Trên chuyến bay kết thúc chuyến Tông Du Phi Châu trở về Vatican hôm 23/4/2026 sau 10 ngày rao giảng tin mừng sự sống cho riêng các cộng đoàn dân Chúa của mình cũng như “văn hóa hòa bình” cho chung anh chị em đồng loại của mình ở miền đất bần cùng khốn khổ nhất thế giới này, ĐTC Lêô XIV đã có cuộc họp báo với 70 nhân viên thuộc giới truyền thông được đi tháp tùng ngài. 

 Câu phỏng vấn đầu tiên về chiến tranh Trung Đông

 “Trong cuộc gặp vì hòa bình tại Bamenda, ở Camerun, Đức Thánh Cha đã mô tả một thế giới đảo lộn, nơi một nhóm nhỏ những bạo chúa có nguy cơ hủy diệt hành tinh. Ngài nói: Hòa bình không phải là điều phải phát minh ra nhưng là điều phải được đón nhận. Các cuộc đàm phán về xung đột tại Iran đang rơi vào hỗn loạn với những tác động nặng nề trên kinh tế toàn cầu. Ngài có mong muốn một sự thay đổi chế độ tại Iran không, khi mà cả xã hội dân sự lẫn sinh viên đã xuống đường trong những tháng gần đây và thế giới đang lo ngại về cuộc chạy đua hạt nhân? Ngài gửi lời kêu gọi nào đến Mỹ, Iran, Israel để thoát khỏi bế tắc và chấm dứt leo thang? NATO và châu Âu có nên tham gia nhiều hơn không?”

 ĐTC Lêô XIV đã trả lời về “một nền văn hóa hòa bình”:

 “Tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng cần phải cổ võ một thái độ mới và một nền văn hóa hòa bình. Rất nhiều lần, khi chúng ta đánh giá một số hoàn cảnh, phản ứng lập tức là phải can thiệp bằng bạo lực, bằng chiến tranh, bằng tấn công. Điều mà chúng ta đã thấy là rất nhiều người vô tội đã chết. Tôi vừa đọc lá thư của một số gia đình có con em đã chết trong ngày đầu tiên của cuộc tấn công. Và họ nói về việc giờ đây họ đã mất con mình, những bé trai, bé gái, những trẻ em đã chết trong cuộc tấn công đó. Vấn đề không phải là chế độ có thay đổi hay không thay đổi; vấn đề là làm thế nào để cổ võ những giá trị mà chúng ta tin tưởng mà không gây ra cái chết của biết bao người vô tội. Vấn đề Iran rõ ràng là rất phức tạp. Chính các cuộc thương thuyết đang diễn ra, một ngày Iran nói có và Mỹ nói không, rồi ngược lại, và chúng ta không biết sẽ đi về đâu. Tình trạng hỗn loạn này đã được tạo ra, gây nguy cấp cho kinh tế toàn cầu, nhưng rồi cũng có cả một dân chúng tại Iran là những người vô tội đang phải chịu đau khổ vì cuộc chiến này. Vì thế, về chuyện thay đổi chế độ hay không: không rõ hiện nay là chế độ nào đang tồn tại, sau những ngày đầu tiên của các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Thay vào đó, tôi muốn khích lệ việc tiếp tục đối thoại vì hòa bình, để các bên tìm cách dồn mọi nỗ lực nhằm cổ võ hòa bình, đẩy xa mối đe dọa chiến tranh và tôn trọng luật pháp quốc tế. Điều rất quan trọng là những người vô tội phải được bảo vệ, điều đã không xảy ra ở nhiều nơi. Tôi mang theo bên mình một tấm ảnh của một em bé Hồi giáo mà trong chuyến viếng thăm Libăng đã đứng đó chờ tôi với một tấm bảng ghi ‘Chào mừng Đức Giáo hoàng Lêô’, rồi trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, em đã bị giết. Có biết bao hoàn cảnh con người như thế và tôi nghĩ rằng chúng ta phải có khả năng suy nghĩ theo cách đó. Với tư cách là Giáo hội, tôi xin nói lại, với tư cách là mục tử, tôi không thể ủng hộ chiến tranh. Và tôi muốn khích lệ mọi người nỗ lực tìm kiếm những câu trả lời phát xuất từ một nền văn hóa hòa bình chứ không phải từ hận thù và chia rẽ.

 Câu phỏng vấn đầu tiên về việc Iran sát hại dân:

 “Thưa Đức Thánh Cha, trong chuyến đi này ngài đã nói về việc con người đang đói khát công lý. Chính sáng nay, đã có tin cho biết Iran đã xử tử thêm một thành viên đối lập, và điều này diễn ra trong khi chế độ đã công khai treo cổ nhiều người khác và sát hại hàng ngàn công dân của chính mình. Ngài có lên án những hành động này không? Ngài có sứ điệp nào dành cho chế độ Iran không?

 ĐTC Lêô XIV trả lời “Tôi lên án việc giết hại con người”:

 Tôi lên án mọi hành động bất công. Tôi lên án việc giết hại con người. Tôi lên án án tử hình. Tôi tin rằng sự sống con người phải được tôn trọng và sự sống của mọi người, từ lúc được thụ thai cho đến khi chết tự nhiên, phải được tôn trọng và bảo vệ. Vì thế, khi một chế độ, khi một quốc gia đưa ra những quyết định tước đoạt cách bất công mạng sống của những người khác, thì rõ ràng đó là điều phải bị lên án.” 

Vấn đề ở đây là vì thành phần lãnh đạo liên quan đến cuộc chiến Trung Đông tại bãi chiến trường Iran hiện nay đã sẵn máu “văn hóa chết chóc – culture of death” (ĐTC Gioan Phaolô II) và “văn hóa sa thải loại trừ – throw away culture” (ĐTC Phanxicô), nên họ không thể nào chấp nhận “một nền văn hóa hòa bình – culture of peace” (ĐTC Lêô XIV), phản ảnh “văn minh yêu thương – civilization of love” (ĐTC Phaolô VI), và vì thế họ không thể hay khó có thể ngồi lại với nhau, và cho dù có ngồi lại đàm phán với nhau chăng nữa cuối cùng họ vẫn chẳng giải quyết được gì, vẫn tiếp tục đánh nhau, bởi trước khi đàm phán họ đã hù dọa nhau đủ thứ và vẫn nhăm nhe tấn công nhau (như ở cuộc chiến Iran), chứ không tỏ ra thực sự thành tâm thiện chí giải quyết dứt khoát chiến tranh, hay vẫn cứ đánh nhau không chịu ngưng chiến để đàm phán (như ở cuộc chiến Ukraine). 

 Phải chăng chính vì các thẩm quyền chính trị hiện nay không thể hay khó có thể quay trở về với “một nền văn hóa hòa bình” như thế, mà chính Kitô hữu chúng ta cần phải bù đắp cho họ trong tinh thần “xây dựng hòa bình” với danh nghĩa là “con Thiên Chúa” (Mathêu 5:9), thành phần cũng cần phải thay máu hiếu chiến vẫn còn đang sôi sục trong bản thân chúng ta khi chúng ta cầu nguyện cho hòa bình, bằng máu “văn hóa hòa bình”, để nhờ đó LTXC là Đấng không loại trừ một ai sẽ làm chủ tâm trí của thành phần lãnh đạo chính trị liên quan đến các cuộc chiến lớn nhỏ, công khai hay âm thầm hoặc bị quên lãng hiện nay, khiến họ từ từ tiến đến chỗ biết trân quý và tôn trọng hơn bất cứ một tham vọng chính trị bất chính nào của họ, tất cả quyền lợi chính đáng, phẩm giá bất khả xâm phạm và sự sống do chính Thiên Chúa dựng nên của từng người cũng như của chung dân nước của mình cũng như của nhau, chúng ta hãy tiếp tục theo dõi hiện tình Thế giới Ngày nay ở đường kết nối tổng hợp sau đây:

Thế giới Ngày nay 24-26/4/2026 – Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

 Trân trọng, 

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

From: daminhmariacaotantinh & NguyenNThu


 

 SỐNG NIỀM VUI PHỤC SINH – Trầm Thiên Thu

  Trầm Thiên Thu

Tôi rất thích câu Kinh Thánh: “Khi Chúa Giêsu thấy Maria Mađalêna khóc ở cửa mộ thì Ngài hỏi: Này chị, sao chị khóc?” (Ga 20:15).  Lúc đó Ngài không hỏi một câu văn hoa bóng bẩy.  Ngài muốn biết lý do chúng ta lo âu, khóc lóc và phiền muộn khi niềm hy vọng tiềm ẩn trong mọi sự – nếu chúng ta lưu ý.

 Phục sinh mang ý nghĩa giải thoát, rất ý nghĩa đối với một người như tôi, vì tôi luôn cảm thấy buồn sầu và tiêu cực.  Mừng lễ Phục sinh là dịp để chúng ta nói: “Vâng, lạy Chúa Giêsu, con tin.”  Khi làm vậy, hãy nắm bắt niềm hy vọng có sẵn đó. 

  1. Tiến lên và chạm vào ngài

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và nói: “Sao anh em phiền muộn?  Sao anh em nghi ngờ?  Hãy sờ vào Thầy và xem đây, ma không có xương thịt như anh em thấy Thầy.”  Nếu tôi là một trong số họ, tôi không chỉ phiền muộn mà chắc rằng tôi sẽ không dám đến gần sờ thử.  Tôi nghi ngại.  Nhưng tôi tìm thấy sự an tâm trong sự bảo đảm của Chúa Giêsu rằng sự phục sinh của Ngài là thật.  Chúa Giêsu là thật, sự phục sinh là thật, do đó mà các lời hứa của Ngài là thật.  Nghĩa là chúng ta khả dĩ tin Ngài khi Ngài nói với chúng ta rằng Ngài sẽ ở với chúng ta đến tận thế (Mt 28:20). 

  1. Thiên Chúa tốt lành

Trước khi chịu chết, Chúa Giêsu nhắc lại rằng Ngài được sai đến nhân danh Chúa Cha.  Thật vậy, qua nhiều phép lạ, nhất là việc cho Ladarô sống lại, cho thấy tính tốt lành của Thiên Chúa: “Vì Cha yêu Con và cho Chúa Con thấy mọi sự Người làm, và Người sẽ cho Chúa Con thấy những việc vĩ đại hơn vậy, đến nỗi anh em có thể ngạc nhiên” (Ga 5:20). 

Chân phước Angela Foligna, thế kỷ 14, là người mẹ và người vợ, rồi là người viết xuất chúng về các điều thần bí, đã viết: “Bước đầu tiên mà linh hồn phải có khi đi vào con đường yêu thương là biết Thiên Chúa qua chân lý, nhờ đó mà muốn đạt tới Thiên Chúa…  Biết Chúa qua chân lý là biết Ngài như chính Ngài, hiểu sự xứng đáng của Ngài, vẻ đẹp của Ngài, sự ngọt ngào của Ngài, sự tuyệt luân của Ngài, sức mạnh của Ngài, sự tốt lành của Ngài, bản chất cực tốt lành của Ngài.”  Tôi nghĩ rằng tin Chúa tốt lành là điểm phục sinh.  Thiên Chúa có tốt lành không?  Có.  Chúng ta có thể nói vậy với niềm xác tín vào sự Phục sinh. 

  1. Phó thác

Hãy phó thác ý muốn và cuộc đời mình cho Chúa quan phòng.  Thánh Thomas Tiến sĩ viết: “Tính thánh thiện không gì hơn là quyết định dứt khoát, một hành động anh dũng của một linh hồn phó thác cho Thiên Chúa.  Nhờ ý muốn thẳng thắn mà chúng ta yêu mến Chúa, chạy về phía Chúa, đạt tới Ngài và sở hữu Ngài.”  Mỗi khi chúng ta nói với Chúa: “Hãy lấy điều đó khỏi con,” chúng ta đang sống niềm vui Phục sinh, vì chúng ta đang nhớ lời hứa của Chúa rằng Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta, Ngài không bỏ chúng ta, và dù chúng ta nghi ngờ thì Ngài vẫn thực sự đáng tin. 

  1. Loại bỏ sợ hãi

Trong trình thuật của thánh Mát-thêu, thiên thần Chúa hiện ra với Maria và một Maria khác ở nơi mộ trống, rồi nói với họ: “Đừng sợ, vì tôi biết các chị đang tìm Giêsu bị đóng đinh.  Ngài không còn ở đây.  Ngài đã sống lại như Ngài đã nói.”  Sau đó Chúa Giêsu gặp các chị và lặp lại: “Đừng sợ!” (Mt 28:10).  Có thể điều Chúa Giêsu nói ở đây là đừng sợ.  Loại bỏ sợ hãi là điều không dễ làm.  Nhưng nếu chúng ta có thể loại bỏ sợ hãi, dù loại bỏ dần dần, chúng ta sẽ tránh xa nỗi buồn thập giá và đến gần sự tuyệt vời của ngôi mộ trống.  Cố tu sĩ Thomas Merton, dòng Trap, viết: “Nỗi sợ hãi thu hẹp lối vào trái tim, co rút khả năng yêu thương và làm đóng băng khả năng trao tặng chính mình.” 

  1. Công khai

Mệnh lệnh của Chúa Giêsu là rao giảng công khai.  Cho dù bạn có thể giống như kẻ khờ dại, cứ nói với người ta rằng sự sống lại đã xảy ra thực sự.  Không nhất thiết chúng ta phải là người rao giảng Tin Mừng từ xa.  Chúng ta khả dĩ làm và nói mọi thứ, ngôn ngữ và hành động của chúng ta luôn trở lại với sự Phục sinh, truyền niềm hy vọng cho mọi người chúng ta gặp. 

  1. Khiêm nhường

Nếu Chúa Giêsu là Thiên Chúa, và chỉ có một Thiên Chúa, điều đó nghĩa là không ai trong chúng ta là Thiên Chúa.  Đó là sự thật quan trọng khác về sự sống lại: Thiên Chúa trở nên con người, con người không thể trở nên Thiên Chúa.  Tôi biết tôi thường lẫn lộn hai điều đó, nhất là khi tôi nói chuyện qua điện thoại với nhân viên bảo hiểm y tế, vì tôi cảm thấy mình có quyền hơn người đó.  Thánh nữ Catarina Siena viết: “Hãy nhỏ bé và khiêm nhường.  Hãy nhìn vào Thiên Chúa, Ngài tự hạ làm con người.  Đừng làm mình bất xứng với những gì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta.”  Với sự khiêm nhường, chúng ta sẽ có khả năng hơn nhờ sự Phục sinh.  Điều đó như sự bù đắp những gì chúng ta không thể có, nhưng Thiên Chúa khả dĩ cung cấp cho chúng ta nếu chúng ta tin vào ngôi mộ trống. 

  1. Hành trình Emmaus

Tôi luôn được đánh động bởi trình thuật của thánh Luca về hành trình Emmaus.  Hai môn đệ trên đường đi Emmaus, Chúa Giêsu đến gần và hỏi họ đang nói chuyện gì.  Một người nói: “Sao ông hỏi vậy?  Ông không nghe xôn xao chuyện gì ư?”  Và họ chợt nhận ra Ngài khi Ngài cùng ngồi ăn với họ. Nhưng ngay khi họ nhận ra Ngài thì Ngài biến đi.  Hằng ngày chúng ta có dịp đi Emmaus nếu chúng ta đồng ý với thánh Leo Cả: “Chia sẻ sự Phục sinh của Chúa Kitô là không bị ràng buộc bởi những gì tạm thời, nhưng chỉ ràng buộc bởi sự sống vĩnh hằng mà Ngài trao ban cho chúng ta… Sự Phục sinh đã khởi sự nơi Đức Kitô, và Ngài muốn dẫn chúng ta đến sự viên mãn của sự sống và sự chữa lành.” 

  1. Cầu nguyện liên lỉ

Trong trình thuật của thánh Luca, tôi thích câu: “Họ hỏi nhau: Lòng chúng ta không sốt sáng khi Ngài nói chuyện với chúng ta trên đường đi và giải nghĩa Kinh thánh cho chúng ta sao?” (Lc 24:32).  Hành trình tới Emmaus là lời cầu nguyện, các nhiệm vụ nhỏ mọn của chúng ta hằng ngày cũng là những lời cầu nguyện.  Thánh bổn mạng của tôi, Têrêsa Hài đồng, đã định nghĩa: “Lời cầu nguyện là điều bộc phát từ đáy lòng, là ánh mắt hướng về trời cao, là lời tạ ơn, là tình yêu giữa cơn thử thách và giữa niềm vui.”  Đó là cách cầu nguyện khi chúng ta sống niềm vui Phục sinh. 

  1. Nhận biết Chúa trong mọi sự

Nếu mùa Chay là sống tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa thì lễ Phục sinh là ca vang Alleluia với Ngài.  Và nếu 40 ngày bắt đầu bằng thứ tư lễ Tro là tách mình ra khỏi ai đó, nơi nào đó và thương mình hơn thì lễ Phục sinh là đón nhận mọi người, mọi nơi, mọi thứ gì thúc đẩy sự tốt lành, vẻ đẹp và tình yêu thương.  Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã viết: “Chúng ta có thể tìm thấy Chúa trong mọi sự.  Chúng ta có thể hiệp thông với Ngài trong mọi sự và qua mọi sự.”  Thiên Chúa hằng sống và hiện hữu khắp nơi.  Hãy sống niềm vui Phục sinh ở mọi nơi và mọi lúc.  Hãy cầm lấy, tạ ơn, bẻ ratrao cho người khác chính cuộc đời mình!

 Therese Borchard

Trầm Thiên Thu

 (chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Người Việt rất hay buồn. Họ buồn đủ chuyện, đủ thứ, đủ cách, đủ kiểu, đủ loại và buồn dài dài: buồn chồng, buồn vợ, buồn con, buồn chuyện gia đình, buồn chuyện nước non, buồn chuyện tình duyên, buồn trong kỷ niệm, buồn tình đời, buồn nhân tình thế thái, buồn thế sự đảo điên, buồn tàn thu, buồn tàn canh gió lạnh … 

Đó là chưa kể những nỗi buồn, buồn lãng xẹt: buồn trông con nhện giăng tơ, buồn trông cửa bể chiều hôm, buồn trông nội cỏ rầu rầu, buồn trông con nước mới sa … 

Lúc nào và ở đâu dân Việt cũng đều có thể buồn được cả (ngoại ô buồn, thành phố buồn, đô thị buồn) và họ luôn luôn buồn quá mạng, buồn thê thảm, buồn dữ dội, buồn da diết, buồn thảm thiết, buồn tê tái, buồn miên man, buồn mênh mông, buồn man mác, buồn nát tâm tư, buồn rười rượi, buồn nẫu ruột, buồn muốn chết, buồn muốn khóc, buồn thấy mẹ, buồn tận mạng, buồn quá xá, buồn quá trời, buồn thỉu buồn thiu, buồn hết biết luôn … 

Nói tóm lại là người Việt buồn muôn thuở, buồn quanh năm, buồn suốt tháng, bất kể ngày đêm: ngày buồn tênh, đêm buồn tỉnh lẻ, khuya phố thị buồn, chiều chủ nhật buồn … Toàn là những nỗi buồn ngang, buồn bất chợt, buồn vô cớ, buồn vào hồn không tên, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn nhưng họ đều buồn thiệt và buồn lắm lận. 

Chỉ có nỗi buồn về mùa màng thời tiết thì dân Việt mới nêu rõ nguyên do và ghi khá rõ – từ lâu – qua những câu lục bát truyền thống rất nhịp nhàng, và khá điệu đàng: 

Buồn về một nỗi tháng giêng

Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài

Buồn về một nỗi tháng hai

Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta

Buồn về một nỗi tháng ba

Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ

Buồn về một nỗi tháng tư

Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn

Buồn về một nỗi tháng năm

Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu 

 Riêng tôi thì vì đã quá già (có ngủ nghê gì được mấy đâu) nên đêm dài lắm. Nghe tiếng “gà gáy, chim kêu” còn mừng là đằng khác. Bởi thế, tôi chả hề phiền hà gì “về nỗi tháng năm”. Có buồn chăng – chả qua – chỉ vì chút dư âm của tháng tư (thôi) nhưng cứ buồn hoài và buồn lắm. 

Ngoài chút phiền lòng vì “nắng lửa, lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn”, tôi còn buồn lòng không ít vì cả nước chợt ồn ào và náo nhiệt một cách giả tạo và gượng gạo. Khắp nơi bỗng đều đỏ rực một mầu, ngó mà ớn chè đậu: 

– Rực rỡ cờ hoa chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam

– Họp mặt kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

– Treo cờ và khẩu hiệu tuyên truyền kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Giao lưu văn nghệ chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Triển lãm ảnh kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam

– Sôi nổi hoạt động chào mừng Kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước 

Thiên hạ, xem ra, không được “sôi nổi” gì cho lắm: 

– Thái Hạo: “Anh em trong nhà, đánh nhau một trận, năm mươi năm sau’ còn ăn mừng chiến thắng. Đó là tiểu khí của người nhỏ nhen”. 

– Nguyên Tống: “Cùng là anh em nòi giống Việt, đánh nhau đến tan cửa nát nhà rồi ăn mừng mãi cái ngày đó thì làm sao mà hoà giải dân tộc được?!” 

– Nguyễn Hữu Vinh: “Quan sát hiện tượng này, người ta có cảm giác rằng đảng giống như một con nghiện. Nhân tố gây nghiện ở đây là bạo lực, là hình ảnh của sự tàn bạo, sự giết chóc để thỏa mãn bản chất bạo lực của Đảng, của Giai cấp vô sản chuyên nghề lật đổ và cướp từ chính quyền cho đến lợi ích, tài sản.” 

– Nguyễn Thông: “Kiểu kỷ niệm, diễu hành, phô trương như thế này, xưa chỉ thấy ở đám phát xít Đức, về sau rõ nhất ở Triều Tiên … Hãy sống với thế giới văn minh chứ đừng mãi man rợ cờ phướn như thế.” 

– Phạm Quang Trung: “Anh em đánh nhau một trận rồi thôi, cười khì…đàng này đã 50 năm rồi mà vẫn tiệc tùng ăn mừng chiến thắng! Vậy là sao ta!?” 

Câu hỏi thượng dẫn khiến tôi nhớ đến chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii của TT Nhật bản Shinzo Abe, và bài diễn văn ông đọc vào ngày hôm sau (26 tháng 12 năm 2016) tại Trân Châu Cảng. Xin trích dẫn đôi đoạn, theo bản văn của dịch giả Nguyễn Quốc Vương: 

“Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm. Nơi đang khắc tên những người lính đã mất… Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng. 

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt. Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành… 

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh. 

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại. Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành. 

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mỹ và quốc dân Mỹ. Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai… 

Và rồi nước Mỹ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mỹ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh. 

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi. Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên… 

Đã 75 năm sau trận ‘Trân Châu cảng’. Nhật Bản và nước Mỹ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử… Thứ gắn kết chúng ta chính là ‘sức mạnh của hòa giải’, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.” 

Người Nhật và người Mỹ không đợi đến ngày nay mới quyết định ‘bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn’. Ngay sau khi Thế Chiến Thứ II vừa chấm dứt, họ (kẻ thắng/người thua) đã nắm tay nhau để tạo nên “sức mạnh của tinh thần hòa giải” và sự “khoan dung” gần trăm năm nay. 

Chiến tranh VN cũng đã chấm dứt 50 năm (rồi) nhưng không biết đến bao giờ thì Bên Thắng Cuộc ở đất nước này mới thôi việc đình đám/cờ xí/tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, thôi kỳ thị, và thôi kích động hận thù để hòa giải và hòa hợp với Bên Bại Cuộc? 

Nhân Tuấn Trương trả lời: “Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT). Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh”. 

Nghe thế có buồn không? 

Buồn chớ và buồn lắm! Buồn muốn khóc luôn, buồn như chưa bao giờ buồn thế, buồn như không còn ai có thể buồn hơn được nữa. Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.

Tưởng năng Tiến / STTD

From: My Tran


 

Việt Nam chịu tác động giá nặng nề nhất ở Đông Nam Á

Theo báo Nikei Á Châu

thay thế

Người mua sắm đang xem hàng tại một siêu thị ở Bangkok vào ngày 22 tháng 4. Một nhà phân tích cảnh báo về giá thực phẩm tăng cao trong khu vực do chi phí năng lượng tăng cao ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. (Ảnh của Ken Kobayashi)

Sự phụ thuộc của Đông Nam Á vào dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ tinh chế

SINGAPORE — Lạm phát tiêu dùng đang gia tăng trên khắp Đông Nam Á, do sự gián đoạn nguồn cung dầu mỏ gây ra bởi cuộc chiến Mỹ-Iran, với các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu từ Trung Đông như Việt Nam và Philippines chứng kiến ​​mức tăng giá mạnh nhất trong nhiều năm vào tháng 3.

Kể từ khi việc vận chuyển dầu thô qua eo biển Hormuz bắt đầu bị hạn chế vào tháng 3, nền kinh tế toàn cầu đã phải đối mặt với giá nhiên liệu tăng cao và tình trạng thiếu hụt các nguyên liệu đầu vào công nghiệp quan trọng như naphtha.

Darren Tay, người đứng đầu bộ phận rủi ro quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại BMI, nói với Nikkei Asia,  “Do tác động lạm phát được phân bổ rộng rãi hơn trên toàn bộ nền kinh tế công nghiệp của Đông Nam Á” chính điều này làm cho tác động trở nên nặng nề hơn so với các nền kinh tể ở Châu Âu.

Ông lưu ý rằng điều này khác với xu hướng ở châu Âu, nơi cú sốc chủ yếu được truyền tải thông qua giá khí đốt tự nhiên và hóa đơn tiền điện của các hộ gia đình.

thay thế

Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo số liệu chính thức, chỉ số giá tiêu dùng của nước này đã tăng 4,65% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 3, đạt mức cao nhất trong 5 năm.

BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN VÀ PHÉP THỬ Ý THỨC HỆ: KHI “GIẢI PHÓNG” LÀ MỘT LỜI NGUYỀN

Nhật Ký Yêu Nước

BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN VÀ PHÉP THỬ Ý THỨC HỆ: KHI “GIẢI PHÓNG” LÀ MỘT LỜI NGUYỀN

Lịch sử loài người hiếm khi cung cấp một phòng thí nghiệm hoàn hảo để thử nghiệm các học thuyết chính trị như bán đảo Triều Tiên sau năm 1945. Cùng một dân tộc, cùng một dòng máu, cùng một nền văn hóa ngàn năm, nhưng bị xẻ làm đôi chỉ vì một đường kẻ vô tri trên bản đồ — vĩ tuyến 38. Bảy mươi năm sau, đường kẻ ấy không chỉ phân chia lãnh thổ, mà nó phân chia giữa thiên đàng và địa ngục, giữa ánh sáng văn minh và bóng tối của thời trung cổ hoang dã.

Một Dân Tộc, Hai Số Phận: Vở Kịch Hài Hước Của Ý Thức Hệ

Cả Bắc Triều Tiên và Nam Hàn đều khởi đầu từ đống tro tàn của chiến tranh, với xuất phát điểm nghèo khó như nhau. Nhưng “phép màu” đã xảy ra nhờ vào sự lựa chọn ý thức hệ.

Tại Nam Hàn: Họ chọn con đường “tư bản giãy chết”. Và kết quả thật thảm hại! Họ bị buộc phải sống trong một xã hội tự do dân chủ, văn minh và giàu có đến mức… phát ngấy. Chẳng có gì vui vẻ khi chỉ sau 40 năm, họ bị biến thành một con rồng châu Á, sở hữu các tập đoàn toàn cầu như Samsung, Hyundai, làm chủ công nghệ cao và có mức thu nhập bình quân đầu người cao gấp 10 lần người Việt Nam. Thật là một cuộc sống “mất gốc” nhạt nhẽo!

Trong khi đó, tại Bắc Triều Tiên: Họ chọn con đường “thiên đường cộng sản” rực rỡ. Tại đây, người dân được tận hưởng sự bình đẳng tuyệt đối trong nghèo nàn và lạc hậu. Họ được giải thoát khỏi gánh nặng của tự do ngôn luận, tự do đi lại và ngay cả tự do… ăn no. Mỗi ngày, họ được đắm mình trong ánh hào quang của vị “Lãnh tụ kính yêu”, người luôn lo lắng cho họ đến mức phải bắn tên lửa ra biển để… dọa cá, trong khi người dân lặng lẽ gặm rễ cây để sinh tồn. Đó mới chính là đỉnh cao của sự “bền vững”!

Sự mỉa mai nằm ở chỗ, cộng sản Bắc Hàn luôn rêu rao về việc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi ách kìm kẹp của đế quốc Mỹ. Nhìn vào sự đối lập này, người ta chỉ biết cười ra nước mắt cho cái định nghĩa “giải phóng” của họ. Nó giống như một người sống trong hang động cầm đuốc muốn “giải phóng” một người đang sống trong căn hộ thông minh có điện lưới quốc gia.

Ẩn Số 30-4 Và Cú Lừa Của Lịch Sử Việt Nam

Nhìn sang Việt Nam, nỗi đau 30-4-1975 lại càng nhói lên sắc lạnh. Chúng ta cũng có một kịch bản tương tự: Cộng sản miền Bắc xua quân “giải phóng” miền Nam khỏi đế quốc Mỹ và chính phủ “bù nhìn”. Sự khác biệt duy nhất là Việt Nam không có một phòng tuyến vĩ tuyến 17 vững chắc như vĩ tuyến 38 của Triều Tiên. Chúng ta đã “thắng” cuộc chiến, để rồi… thua trong hòa bình.

Hậu quả của chiến thắng ấy là gì? Là ngày nay, hàng triệu người Việt Nam phải ngậm ngùi xếp hàng xin visa đi xuất khẩu lao động, làm cu li, làm nô công cho chính người Nam Hàn — những người suýt chút nữa cũng bị “giải phóng” giống như chúng ta. Là những người con gái Việt Nam xinh đẹp phải ngậm đắng nuốt cay sang lấy chồng Nam Hàn, mong đổi đời, mong thoát khỏi cái nghèo đói của “quê hương anh hùng”.

Giả Thuyết Chấn Động: Nếu Bắc Hàn Giải Phóng Nam Hàn Thành Công?

Hãy tưởng tượng một kịch bản chấn động: Nếu năm 1950, quân cộng sản Bắc Hàn đánh đuổi được quân Đồng Minh xuống biển, và ngày hôm nay toàn bộ bán đảo Triều Tiên là một quốc gia cộng sản dưới sự lãnh đạo của gia tộc Kim.

Nếu điều đó xảy ra, lịch sử sẽ được viết lại theo một cách đầy châm biếm:

Lao Động Xuất Khẩu: Sẽ không có chuyện hàng vạn người Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc. Ngược lại, chính người dân Nam Hàn — sau khi được “giải phóng” thành công — sẽ phải xếp hàng nườm nượp tại Đại sứ quán Việt Nam ở Bình Nhưỡng để xin visa đi… xuất khẩu lao động tại Việt Nam. Họ sẽ đến Bình Dương, Đồng Nai để làm công nhân may mặc, giày da với mức lương chết đói, trong khi quê hương họ đang say sưa với các thành tựu… sản xuất máy cày chạy bằng than đá.

Lấy Chồng Nước Ngoài: Sẽ không có những câu chuyện buồn về cô dâu Việt lấy chồng Hàn. Thay vào đó, những chàng trai Việt Nam — nhờ lợi thế kinh tế gấp 10 lần — sẽ là đối tượng săn đón của các cô gái Nam Hàn. Họ sẽ mơ ước được gả về một vùng quê nghèo ở Đồng bằng sông Cửu Long để được… ăn cơm no ba bữa và thoát khỏi sự kiểm soát gắt gao của tổ dân phố tại Seoul.

May Mắn Thay Cho Hàn Quốc, Và Đau Đớn Thay Cho Việt Nam

Sự đối lập giữa Bắc và Nam Triều Tiên là một bản án đanh thép, không thể chối cãi dành cho ý thức hệ cộng sản. Cùng một dân tộc, ý thức hệ tư bản đã tạo nên một kỳ tích, còn ý thức hệ cộng sản đã tạo nên một thảm kịch.

Nhờ sự kiên cường của quân đội Nam Hàn và sự hỗ trợ kịp thời của Đồng Minh, họ đã giữ vững được tiền đồn tự do dân chủ tại vĩ tuyến 38. Nhờ không bị “giải phóng”, họ đã không phải trải qua những năm tháng bao cấp đói nghèo, không phải đi “học tập cải tạo”, và quan trọng nhất là không phải biến thành một quốc gia xuất khẩu nô công như Việt Nam.

Nhìn ngày 30-4, người Việt Nam chỉ có thể cay đắng nhận ra một điều: Chúng ta đã thua một cuộc chiến với quân cộng sản để rồi ngày nay dân tộc ta phải cúi đầu làm chư hầu lao động cho chính những kẻ mà chúng ta từng suýt chút nữa đã… vượt xa về kinh tế. Đó chính là bi kịch lớn nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại, một cú lừa của ý thức hệ mà chúng ta vẫn đang phải trả giá mỗi ngày.


 

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo –  Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo

 Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (Mt 11:29)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Trong bảy mối tội đầu thì

 1)Thứ nhất là khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29).

Trong một thế giới đề cao “cái tôi” và cách sống đầy ích kỷ như ngày nay, sống khiêm nhường là một thách đố lớn. Thế nên, chúng ta lại càng phải cố gắng tập sống khiêm nhường. Càng khó càng phải cố. Hãy bắt chước tác giả Thánh Vịnh mà luôn tự nhủ:

 Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi!

Đường cao vọng, chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu

Hồn con, con vẫn trước sau

Giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. (Tv 131:1-2) 

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chúng con có thể sống khiêm nhường theo đúng Thánh ý của Chúa. 

2-“Hãy học cùng ta vì Ta khiêm nhường” 

Đức khiêm nhường là gì? Thưa là nhân đức nền tảng của đời sống đạo đức. Nhờ khiêm nhường, người môn đệ của Chúa có thể dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa và gặp được Ngài trong cuộc đời của mình. Nhờ khiêm nhường mà chúng ta thấy cuộc đời của mình vui tươi, hạnh phúc.

 Chuyện kể:

 Đầu tháng bảy năm 1870, một phái đoàn người Pháp đến chầu Đức giáo hoàng Piô IX tại Roma. Sau khi trưởng phái đoàn đã đọc bài chào mừng, Đức giáo hoàng đã nói chuyện thân mật với từng người và ai nấy đều xin ơn nọ ơn kia. Nhưng khi nhìn thấy một thanh niên có vẻ khô khan lạnh nhạt, Đức giáo hoàng đã hiền từ hỏi:

– Còn con, con không xin ơn gì sao?

Chàng thanh niên lạnh lùng đáp:

– Thưa không.

Đức giáo hoàng hỏi thêm:

– Cha con còn sống không?

Chàng thanh niên lửng khửng đáp:

– Thưa còn.

Đức giáo hoàng lại hỏi:

– Còn mẹ con thì sao?

Chàng thanh niên chậm chạp lí nhì đáp lại

– Mẹ con chết lâu rồi.

Bấy giờ Đức giáo hoàng cầm tay anh thanh niên mà nói với giọng cảm động rằng:

– Con không xin ơn gì với cha; còn cha, cha xin con một điều, là con hãy cùng cha quì gối xuống đất, đọc một kinh lạy cha, một kinh kính mừng, một kinh sáng danh, cầu nguyện cho mẹ con được lên thiên đàng, và khi được hưởng mặt Chúa. Mẹ con sẽ xin cùng Chúa cho con được sốt sắng giữ đạo để sau này con cũng được lên thiên đàng với mẹ con. Nói xong Đức giáo hoàng quỳ xuống đất, hai tay chắp trước ngực, mắt nhìn lên trời, đọc kinh rất sốt sắng, làm cho chàng thanh niên phát cảm động phải khóc nức nở. 

Đức Giáo Hoàng quì xuống trước mặt mọi người. Ngài có làm gì lạ lùng không. Không. Ngài chỉ cùng đọc với mọi người những lời kinh đơn sơ nhất”.

Chúng ta hãy nhìn vào đó mà bắt chước để cuộc sống của mỗi người chúng ta xứng đáng với Chúa hơn. Amen.

 3-Kiêu ngạo là gì? 5 dấu hiệu giúp bạn nhận biết người kiêu ngạo.

 Kiêu ngạo khác với khiêm nhường vì người kiêu ngạo:

 a)Luôn khẳng định mình đúng

Kiêu ngạo là gì? Một dấu hiệu dễ thấy nhất của sự kiêu ngạo đó là luôn cho rằng mình đúng trong mọi trường hợp bất kể đúng sai và chẳng bao giờ tiếp thu lời khuyên, ý kiến của người khác.

 b)Luôn xem mình là trung tâm

Những người kiêu ngạo luôn cho rằng bản thân mình là trung tâm của mọi người. Khi người kiêu ngạo đạt được một thành công nào đó, họ thích khoe khoang về những thành công của mình hơn là cảm ơn sự giúp đỡ của người khác. 

c)Luôn coi thường những người xung quanh

Tính kiêu ngạo sẽ làm bạn luôn coi thường những người xung quanh. Họ luôn cho rằng mình giỏi hơn người khác. Họ thường xem thường đồng nghiệp và có thái độ khó chịu, chê bai người xung quanh. 

d)Không biết lắng nghe

Những người kiêu căng sẽ không bao giờ dành thời gian để lắng nghe và chia sẻ với những người xung quanh. 

e)Không muốn nhận lỗi và thay đổi

Đây là một điều tồi tệ mà những người kiêu căng thường mắc phải. Nhận lỗi và thay đổi là một việc làm rất khó khăn đối với họ. Họ là người luôn đỗ lỗi cho người khác. 

Kiểu người này có cái tôi rất cao, vì thế họ sẽ không bao giờ chấp nhận được việc bị người khác phê bình và dùng mọi lý lẽ để biện hộ cho những sai lầm và rắc rối mà mình đã gây ra. 

Thái độ kiêu ngạo làm cho mọi người sẽ dần dần xa lánh họ, họ sẽ là người rất cô đơn vì không có ai là bạn, không có ai dám tiếp xúc, nói chuyện với họ. 

4-Nguyên nhân kiêu ngạo.

 Thông thường những ai nếu thành công đôi chút như làm ăn khá giả, trả hết nợ nầng xe cộ, nhà cửa, có mức sống cao, dễ bắt đầu sự kiêu ngạo. Chỉ một mình ta là người giỏi hơn hết mọi người khác. Nếu có ai chạm tự ái họ, họ sẽ nỗi “khùng” lên, nặng lời, mắng chửi người khác không còn nể mặt, e dè. 

Bản chất kiêu ngạo của con người là do tổ tiên chúng ta, ông Adam và Eve truyền lại, đã không tuân lệnh Thiên Chúa, đã ăn trái cấm ở vườn điạ đàng, cũng như xây tháp Ba-ben để lên tận trời cao. 

Nếu con người không học tập, suy nghiệm, cầu nguyện, nhờ ơn trên giúp sức khó từ bỏ được tính kiêu ngạo.

 5-Hiện tượng kiêu ngạo: 

*Trong gia đình nếu gặp phải người kiêu ngạo, gia trưởng, bắt mọi người trong gia đình phải làm theo ý mình, không được trái ý, thì vợ con sẽ sống rất khổ sở vì không được tự do. Người kiêu ngạo thường hay lãi nhãi, la lối, cự nự, nếu có ai trong gia đình làm trái ý mình; đôi khi dùng cả bạo lực để khống chế người khác. Do đó, họ thường chịu cảnh cô đơn, hiu quạnh, vì không ai muốn nói chuyện, đến gần. 

* Anh Nguyễn luôn chỉ trích người khác, người nào càng nổi tiếng trong cộng đồng là thế nào anh cũng chỉ trích nói xấu. 

Một lần tôi nói: “Anh A. siêng năng, viết sách hay, súc tích”.

Anh Nguyễn trả lời liền: “Cái thằng A. lăng xăng, lúc nào cũng vội vã. Có gì mà hay đâu”.

 Tôi nói: “Anh H. chịu khó sinh hoạt nổi tiếng trong cộng đồng”.

Anh Nguyễn trả lời ngay: “Cái thằng bợ đỡ, mặt mập, bịnh hậu…” 

Khi nhắc đến bất cứ ai thì anh Nguyễn cũng có câu nói dè biểu, chê bai, nói ra ngay những khuyết điểm của người đó. Đó là cái tật của anh Nguyễn.

 *Anh Trần đã có nhà. Có hai chiếc xe. Nên anh rất tự cao tự đại. Anh cho mình hơn người, không ai bằng anh. Anh có nghề nghiệp vững chắc, có tiền. Anh chỉ chiếc xe BMW và nói với tôi dẫn tôi đến bên xe của anh và nói: “Chú xem xe mới đẹp không? mới mua đó.”

 Anh chồng lúc nào cũng cho rằng mình đúng, vợ không được cãi. “Tao là nhất nhà rồi vì tao có tiền, tao có xe, tao có nhà đã trả hết, tao qua Mỹ chỉ cần 30 năm, tao đã thành công”.

 *Trong môt quốc gia nếu nhà cầm quyền kiêu ngạo, quá khích, khư khư giữ quan điểm của mình, không biết lắng nghe người khác. 

Hậu quả của “kiêu ngạo cộng sản” là sau khi chiếm được miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975, cộng sản Việt Nam đã cắt đứt liên lạc ngoại giao với các nước Tây Phương, áp dụng chính sách tự cung tự cấp, chỉ dựa vào sự viện trợ của Liên sô mà thôi.

 Trong nước, cộng sản đã tịch thu tài sản của các nhà tư bản miền Nam, đầy họ đi vùng kinh tế mới, thành lập các hợp tác xã, đã làm cho toàn thể đất nước Việt Nam đi vào con đường đói kém, sản xuất ngưng trệ, kinh tế suy sụp, xã hội hỗn loạn. Nếu không có thay đổi từ năm 1986 trở về nền kinh tế tự do, (mà miền Nam đã áp dụng từ lâu), thì tình trạng đói kém, rối loạn xã hội không biết sẽ xảy ra như thế nào nữa. Nền kinh tế đang phát triển bị đẩy lùi hàng chục năm cho đến ngày nay (2020) vẫn còn thua kém so với các nước Đông Nam Á khác. Cũng vì kiêu ngạo không thèm thấy cái hay của Việt Nam Cộng Hòa đem ra áp dụng, mà phá bỏ tất cả, hậu quả giáo dục chậm tiến, văn hóa xã hội suy đồi, chính trị độc quyền, độc tài, không tôn trọng ý kiến khác biệt, nhân quyền không có. 

Kết: Bịnh kiêu ngạo làm cho gia đình rối loạn, nghi kỵ lẫn nhau, ganh ghét nhau, xung đột nhau, không có hạnh phúc, bình an. 

Bịnh kiêu ngạo làm cho nhà cầm quyền tưởng mình là “thánh”, là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, không bao giờ chấp nhận sai lầm, khiến cho toàn thể dân tộc chịu điêu đứng vì quyết định sai lầm của mình. Ai dám nói ngược với ý của nhà cầm quyền thì bị chụp mũ phản động, “thế lực thù địch”, tìm cách bỏ tù dài hạn. 

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

Ngày 29- 06-2020


 

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Make Christianity Great As Always

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Tội kiêu ngạo không bắt đầu từ diễn đàn, ngai vàng hay quyền lực chính trị. Nó bắt đầu rất sớm, rất âm thầm, trong một khu vườn. Hội Thánh gọi nó là một trong các mối tội đầu, vì từ đó nhiều tội khác sinh ra. Nói ngắn gọn, kiêu ngạo là lúc con người không còn muốn ở đúng vị trí của mình nữa.

Trong Sáng Thế 3, con rắn gợi lên một tham vọng lớn: “các ngươi sẽ nên như thần.” Đó là gốc của kiêu ngạo. Con người không còn muốn đón nhận điều thiện từ Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình nắm quyền quyết định thiện ác. Vấn đề từ đầu không chỉ là bất tuân, mà là muốn lấy thứ không thuộc về mình.

Đến Sáng Thế 11, câu chuyện tháp Babel cho thấy kiêu ngạo không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà là của cả một nền văn minh: “Ta hãy xây cho mình một thành và một tháp chọc trời, để làm cho danh ta lẫy lừng.” Con người không còn xây để phụng sự sự sống, nhưng để làm lớn tên mình. Khi một đám đông cùng tin rằng mình có thể tự dựng trời đất mới bằng sức riêng, Babel lại bắt đầu.

Trong 1 Samuel 8, dân Israel xin một vị vua “như các dân khác.” Ở đây xuất hiện một dạng kiêu ngạo khác: ảo tưởng chính trị. Con người bắt đầu tin rằng trật tự, an ninh và tương lai sẽ được cứu bởi quyền lực hữu hình chứ không bởi Thiên Chúa. Từ lúc đó, chính trị rất dễ bị đẩy lên thành một thứ cứu thế.

Các ngôn sứ nói rõ điều này. Isaia 5 lên án những kẻ “gọi ác là thiện, gọi thiện là ác” và những kẻ “khôn trong mắt mình.” Khi con người tôn mình lên, họ sẽ sửa luôn cả ngôn ngữ luân lý. Điều xấu không còn bị gọi là xấu, nhưng được bọc bằng những chữ dễ nghe hơn: cần thiết, thực tế, tiến bộ, đại cuộc.

Trong Isaia 14 và Êdêkien 28, quyền lực không chỉ muốn cai trị, mà còn muốn được nhìn như bất khả sai lầm, như thể chính mình là thần. Và trong Đaniel 3, điều đó đạt đỉnh điểm: Nabucôđônôsor dựng tượng vàng và buộc mọi người phải sấp mình thờ lạy. Quyền lực trần gian không còn bằng lòng với việc cai trị xã hội; nó muốn lấy luôn sự quy phục của lương tâm. Ba thiếu niên chấp nhận vào lò lửa chứ không quỳ trước ngẫu tượng. Đó là bài học lớn: người tín hữu không chống mọi chính quyền trong mọi sự, nhưng phải từ chối ngay khi quyền lực đòi lấy chỗ của Thiên Chúa.

Sang Tân Ước, kiêu ngạo trở nên tinh vi hơn. Trong Gioan 11, Caipha nói: “thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị diệt.” Câu ấy nghe rất thực tế, nhưng ẩn bên dưới là một lối nghĩ rất nguy hiểm: làm điều sai hôm nay để giữ một điều tốt nào đó ngày mai. Thánh Phaolô trong Rôma 3,8 bác bỏ thẳng kiểu lập luận này: không thể “làm điều ác để điều thiện xảy ra.” Ở đây, kiêu ngạo mang bộ mặt của sự khôn ngoan và của “đại cuộc.”

Đến Luca 18, Đức Giêsu kể dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Kiêu ngạo lúc này không dựng tượng, không mặc áo vua, không xưng mình là thần. Nó vào tận đền thờ và cầu nguyện: “Con không như những kẻ khác.” Đây là kiêu ngạo tôn giáo, và có lẽ là dạng khó thấy nhất. Nó không cần làm điều xấu lộ liễu; nó chỉ cần lấy điều tốt của mình làm cớ để khinh người khác.

Toàn bộ dòng chảy ấy được đảo ngược nơi Đức Kitô trong Philípphê 2. Người không nắm lấy vinh quang cho mình, nhưng tự hạ, mặc lấy thân nô lệ và vâng phục cho đến chết. Ở Ađam, con người muốn vươn lên để bằng Thiên Chúa. Ở Đức Kitô, Con Thiên Chúa lại hạ xuống để cứu con người. Một bên là nắm lấy; một bên là trao ban.

Nhìn vào thế giới hôm nay, ta không khó để nhận ra những điều ấy vẫn còn nguyên. Khi người ta gọi ác là thiện, Isaia đang bị lặp lại. Khi người ta biện minh cho điều sai hôm nay vì tương lai, Caipha đang bị lặp lại. Khi người ta tin rằng quốc gia, ý thức hệ, thị trường, công nghệ hay chiến thắng chính trị có thể cứu lịch sử, ảo tưởng của 1 Samuel 8 và Babylon đang quay lại. Và khi quyền lực không muốn bị phán xét bởi một chuẩn mực cao hơn chính nó, đó là dấu hiệu của một thứ kiêu ngạo muốn tự mình làm luật.

Ta cũng đã thấy những biểu hiện như thế trong đời sống hiện nay: có những nhà lãnh đạo muốn tiếng nói luân lý im đi trước quyền lực; có những người sử dụng biểu tượng tôn giáo để làm lớn bản thân; có những cộng sự và người ủng hộ biện minh mọi sự bằng những câu như: “đó chỉ là chiến lược”, “đó chỉ là trò đùa”, “đó là điều cần thiết cho tương lai.” Nhưng tội kiêu ngạo hiếm khi tự xưng tên. Nó thường đến với bộ mặt của lý do tốt, của hiệu quả, của đại cuộc, của sự sáng suốt.

Dù vậy, người Kitô hữu cũng phải cẩn thận với chính mình. Phản ứng trước kiêu ngạo của thế gian không thể là một thứ kiêu ngạo ngược: “Họ sai, còn tôi thì sáng suốt.” Dụ ngôn người Pharisêu nhắc ta rằng người lên án kiêu ngạo cũng có thể sa vào kiêu ngạo. Bài học của Thánh Kinh không chỉ để ta chỉ mặt người khác, mà để ta xét lại chính lòng mình.

Và chính ở đây, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta hình ảnh Đức Thánh Cha. Không phải như một đối thủ chính trị của các nguyên thủ quốc gia, nhưng như một dấu chỉ rằng không hoàng đế nào là Thiên Chúa, không quốc gia nào là Nước Trời, không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Độ. Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Đừng sợ.” Đó là lời mời mở cửa cho Đức Kitô và từ chối mọi ngẫu tượng của thời đại. Còn lời “Tôi không sợ” của Đức Leo XIV lại vang lên như chứng tá của một mục tử không chấp nhận để quyền lực trần gian dạy Hội Thánh phải nói gì.

Nói cho cùng, kiêu ngạo là con người muốn cao đến nỗi không còn quỳ được nữa. Còn Tin Mừng thì dạy điều ngược lại: chỉ ai biết quỳ trước Thiên Chúa mới có thể đứng thẳng trước các ngẫu tượng của thế gian. Và vì thế, hai lời ấy vẫn gặp nhau ở một điểm: đừng sợ!

Make Christianity Great As Always


 

NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Người Việt Cao Niên USA

NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Nhật Bản từ lâu được xem là một trong những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới.

Đó là nơi có hệ thống y tế tiên tiến, tuổi thọ thuộc nhóm cao nhất toàn cầu, hạ tầng hiện đại và mức sống đáng mơ ước.

Tuy nhiên, đằng sau sự văn minh và sung túc ấy, Nhật Bản đang đối diện với một vấn đề xã hội rất đáng suy ngẫm:

sự cô đơn ở người cao tuổi.

Một trong những biểu hiện đau lòng nhất của thực trạng này là khái niệm “Kodokushi” – thường được hiểu là “cái chết cô đơn.”

Đây là tình huống một người, thường là người lớn tuổi, qua đời trong nhà riêng mà không có ai hay biết. Có trường hợp phải nhiều ngày, thậm chí 1–2 tuần sau, họ mới được phát hiện.

Điều khiến nhiều người bàng hoàng không phải chỉ là cái chết,

mà là sự thật rằng một con người có thể rời khỏi cuộc đời này trong lặng lẽ đến mức không ai nhận ra ngay.

Bức tranh già hóa dân số tại Nhật Bản

Nhật Bản hiện là một trong những xã hội già hóa nhanh nhất thế giới.

Tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm phần rất lớn trong cơ cấu dân số. Điều này đồng nghĩa với việc số người bước vào tuổi hưu, tuổi cần được quan tâm, chăm sóc và đồng hành đang ngày một tăng.

Song song với đó là nhiều thay đổi lớn trong cấu trúc gia đình và xã hội:

  • Quy mô gia đình nhỏ dần
  • Nhiều thế hệ không còn sống chung như trước
  • Con cháu học tập, làm việc xa nhà
  • Nhịp sống hiện đại khiến các mối liên kết gia đình lỏng hơn
  • Số người cao tuổi sống một mình ngày càng nhiều

Khi tuổi thọ tăng lên nhưng sự kết nối giữa con người với con người lại giảm đi,

xã hội bắt đầu xuất hiện một nghịch lý:

sống lâu hơn, nhưng không chắc sống ấm áp hơn.

Vấn đề không chỉ nằm ở vật chất

Khi nhắc đến tuổi già, nhiều người thường nghĩ trước hết đến tiền bạc, nhà cửa, bảo hiểm hay chi phí y tế.

Đó đều là những yếu tố quan trọng.

Nhưng thực tế từ Nhật Bản cho thấy:

một cuộc sống đủ đầy về vật chất vẫn chưa chắc bảo vệ được con người khỏi nỗi cô đơn.

Người cao tuổi có thể có nơi ở an toàn.

Có thể có lương hưu.

Có thể được chăm sóc y tế tốt.

Nhưng nếu thiếu đi sự hỏi han, thiếu những cuộc trò chuyện, thiếu cảm giác mình vẫn còn được nhớ đến, được cần đến, thì tuổi già vẫn có thể trở nên rất trống vắng.

Nói cách khác, điều khiến con người tổn thương ở cuối đời không chỉ là bệnh tật,

mà còn là cảm giác mình dần biến mất khỏi nhịp sống của những người xung quanh.

Một lời cảnh tỉnh cho nhiều quốc gia, nhiều gia đình

Câu chuyện của Nhật Bản không nên được xem là chuyện riêng của Nhật Bản.

Đó là một tín hiệu cảnh báo cho mọi xã hội đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, trong đó có rất nhiều cộng đồng Á Châu và gia đình người Việt ở khắp nơi trên thế giới.

Khi con cái bận rộn với công việc, khi cuộc sống ngày càng áp lực, khi khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng rõ hơn, thì người lớn tuổi rất dễ rơi vào trạng thái bị bỏ quên, dù không ai thật sự cố ý bỏ quên họ.

Sự cô đơn của tuổi già thường không đến một cách ồn ào.

Nó đến rất âm thầm:

  • một bữa cơm ăn một mình
  • một ngày không có ai gọi điện
  • một tuần không có ai ghé thăm
  • một nỗi buồn không biết chia sẻ cùng ai
  • một căn nhà im lặng quá lâu

Và đôi khi, những điều âm thầm ấy mới là thứ bào mòn tinh thần con người nhiều nhất.

Điều người lớn tuổi thật sự cần

Người lớn tuổi cần thuốc men, cần chăm sóc sức khỏe, cần chuẩn bị tài chính.

Nhưng bên cạnh đó, họ còn cần những điều rất giản dị:

  • Một cuộc gọi hỏi thăm
  • Một bữa cơm có người ngồi cùng
  • Một lời lắng nghe thật lòng
  • Một cảm giác rằng mình vẫn thuộc về gia đình này
  • Một sự hiện diện đủ ấm để họ biết rằng họ không bị bỏ lại phía sau

Nhiều khi, thứ quý nhất với một người lớn tuổi không phải là món quà lớn, mà là sự hiện diện đều đặn của tình thân.


 

Hạnh phúc là gì?

Việt Báo Daily News

 “Hạnh phúc như đôi chim uyên, tung bay ngập trời nắng ấm.

Hạnh phúc như sương ban mai, long lanh đậu cành lá thắm.

Tình yêu một thoáng lên ngôi, nhẹ nhàng như áng mây trôi.

Dịu dàng như ánh trăng soi, êm êm thương yêu dâng trong hồn tôi ….”

Đây là ca từ của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 diễn về hạnh phúc và đó là lý do ông lấy ca khúc này là “Cô Đơn,” vì hạnh phúc kiểu này là tiểu thuyết lãng mạn. Có thể có, nhưng mờ. Có thể xuất hiện, nhưng khoảng khắc.

Hạnh phúc? Câu hỏi đã hỏi từ thời Aristotle cho đến nay: TikTok, từ triết học cổ Hy Lạp cho đến các hội nhóm tâm lý học trên Facebook, và câu hỏi này nghe đơn giản, nhưng nếu đơn giản thật, thì tại sao hàng triệu cuốn sách về chủ đề này vẫn bán chạy mỗi năm, tại sao các chuyên gia tư vấn hạnh phúc vẫn kiếm được tiền, tại sao người ta vẫn cứ nhìn nhau hỏi “sao mày trông buồn vậy” vào đúng cái ngày họ vừa đạt được thứ họ tưởng sẽ làm mình hạnh phúc? Và cũng tại sao tồi lại viết bài này?

Câu trả lời ngắn gọn là: người ta sai về hạnh phúc không phải vì họ kém kiến thức và nhạy cảm, mà vì họ đang cầm bản đồ của một vùng đất hoàn toàn khác.

Lý Thuyết Và Cái Bẫy

Lý thuyết về hạnh phúc, từ Aristotle với khái niệm eudaimonia (nội tâm an lạc) cho đến Csikszentmihalyi với flow (sống như dòng chảy), đều có một điểm chung: chúng đúng trong phòng học và trơn tuột trong đời thực như bánh xà phòng ướt.

Aristotle nói hạnh phúc là sống đúng với bản chất con người, là phát huy hết tiềm năng của mình. Nghe hay lắm. Nhưng thử nói điều đó với một người đàn ông Việt năm mươi tuổi ở Bolsa, ngày nào cũng dậy lúc bốn giờ sáng để mở tiệm phở, tay tê cứng vì lạnh, không còn biết tiềm năng của mình là gì nữa ngoài việc nấu nước dùng cho đúng vị. Ông ta sẽ nhìn bạn với ánh mắt của người đang cố nhịn cười trước một câu chuyện nghe nghiêm túc.

Csikszentmihalyi thì bảo hạnh phúc là trạng thái ‘flow’ (hòa nhập vào), khi kỹ năng và thách thức cân bằng nhau hoàn hảo, khi bạn đắm chìm hoàn toàn vào công việc đến mức quên cả thời gian. Điều đó cũng đúng. Nhưng vấn đề là đa số người không được chọn công việc của mình theo tiêu chí ‘flow’. Họ chọn theo tiêu chí: cái này có đủ tiền không, có visa không, có bảo hiểm y tế không.

Lý thuyết về hạnh phúc thường được viết bởi những người có đủ thời gian và điều kiện để nghĩ về hạnh phúc. Đó đã là một thiên kiến lớn ngay từ đầu.

Người Ta Lầm Chỗ Nào

Sai lầm phổ biến nhất không phải là người ta không biết hạnh phúc là gì. Mà họ biết rất rõ hạnh phúc là gì, nhưng cái họ biết là hạnh phúc của người khác, không phải của chính mình.

Một cô gái lớn lên ở Hà Nội trong thập niên 1990, nhìn nhà hàng xóm mua được cái tivi màu đầu tiên trong xóm, nghĩ rằng hạnh phúc là có tivi màu. Lớn thêm một chút, nhìn bạn cùng lớp lấy được chồng công chức nhà nước, nghĩ rằng hạnh phúc là lấy được chồng ổn định. Rồi sang tuổi ba mươi, nhìn chị họ đi Mỹ diện H4, nghĩ rằng hạnh phúc là xuất ngoại. Cứ thế, cả cuộc đời cô chạy theo định nghĩa hạnh phúc của người đứng ngay trước mình trong hàng, như một cuộc đua mà vạch đích cứ dời đi mỗi khi cô sắp tới nơi.

Điều này không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam hay với phụ nữ. Nhưng nó xảy ra theo những cách rất đặc thù tùy theo giới tính, tùy theo văn hóa, tùy theo việc người ta đang sống ở đâu trên bản đồ.

Xem tiếp: ihttps://vietbao.com/a325024/hanh-phuc-tuy-lam-dung-lan


 

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Make Christianity Great As Always

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Tội kiêu ngạo không bắt đầu từ diễn đàn, ngai vàng hay quyền lực chính trị. Nó bắt đầu rất sớm, rất âm thầm, trong một khu vườn. Hội Thánh gọi nó là một trong các mối tội đầu, vì từ đó nhiều tội khác sinh ra. Nói ngắn gọn, kiêu ngạo là lúc con người không còn muốn ở đúng vị trí của mình nữa.

Trong Sáng Thế 3, con rắn gợi lên một tham vọng lớn: “các ngươi sẽ nên như thần.” Đó là gốc của kiêu ngạo. Con người không còn muốn đón nhận điều thiện từ Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình nắm quyền quyết định thiện ác. Vấn đề từ đầu không chỉ là bất tuân, mà là muốn lấy thứ không thuộc về mình.

Đến Sáng Thế 11, câu chuyện tháp Babel cho thấy kiêu ngạo không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà là của cả một nền văn minh: “Ta hãy xây cho mình một thành và một tháp chọc trời, để làm cho danh ta lẫy lừng.” Con người không còn xây để phụng sự sự sống, nhưng để làm lớn tên mình. Khi một đám đông cùng tin rằng mình có thể tự dựng trời đất mới bằng sức riêng, Babel lại bắt đầu.

Trong 1 Samuel 8, dân Israel xin một vị vua “như các dân khác.” Ở đây xuất hiện một dạng kiêu ngạo khác: ảo tưởng chính trị. Con người bắt đầu tin rằng trật tự, an ninh và tương lai sẽ được cứu bởi quyền lực hữu hình chứ không bởi Thiên Chúa. Từ lúc đó, chính trị rất dễ bị đẩy lên thành một thứ cứu thế.

Các ngôn sứ nói rõ điều này. Isaia 5 lên án những kẻ “gọi ác là thiện, gọi thiện là ác” và những kẻ “khôn trong mắt mình.” Khi con người tôn mình lên, họ sẽ sửa luôn cả ngôn ngữ luân lý. Điều xấu không còn bị gọi là xấu, nhưng được bọc bằng những chữ dễ nghe hơn: cần thiết, thực tế, tiến bộ, đại cuộc.

Trong Isaia 14 và Êdêkien 28, quyền lực không chỉ muốn cai trị, mà còn muốn được nhìn như bất khả sai lầm, như thể chính mình là thần. Và trong Đaniel 3, điều đó đạt đỉnh điểm: Nabucôđônôsor dựng tượng vàng và buộc mọi người phải sấp mình thờ lạy. Quyền lực trần gian không còn bằng lòng với việc cai trị xã hội; nó muốn lấy luôn sự quy phục của lương tâm. Ba thiếu niên chấp nhận vào lò lửa chứ không quỳ trước ngẫu tượng. Đó là bài học lớn: người tín hữu không chống mọi chính quyền trong mọi sự, nhưng phải từ chối ngay khi quyền lực đòi lấy chỗ của Thiên Chúa.

Sang Tân Ước, kiêu ngạo trở nên tinh vi hơn. Trong Gioan 11, Caipha nói: “thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị diệt.” Câu ấy nghe rất thực tế, nhưng ẩn bên dưới là một lối nghĩ rất nguy hiểm: làm điều sai hôm nay để giữ một điều tốt nào đó ngày mai. Thánh Phaolô trong Rôma 3,8 bác bỏ thẳng kiểu lập luận này: không thể “làm điều ác để điều thiện xảy ra.” Ở đây, kiêu ngạo mang bộ mặt của sự khôn ngoan và của “đại cuộc.”

Đến Luca 18, Đức Giêsu kể dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Kiêu ngạo lúc này không dựng tượng, không mặc áo vua, không xưng mình là thần. Nó vào tận đền thờ và cầu nguyện: “Con không như những kẻ khác.” Đây là kiêu ngạo tôn giáo, và có lẽ là dạng khó thấy nhất. Nó không cần làm điều xấu lộ liễu; nó chỉ cần lấy điều tốt của mình làm cớ để khinh người khác.

Toàn bộ dòng chảy ấy được đảo ngược nơi Đức Kitô trong Philípphê 2. Người không nắm lấy vinh quang cho mình, nhưng tự hạ, mặc lấy thân nô lệ và vâng phục cho đến chết. Ở Ađam, con người muốn vươn lên để bằng Thiên Chúa. Ở Đức Kitô, Con Thiên Chúa lại hạ xuống để cứu con người. Một bên là nắm lấy; một bên là trao ban.

Nhìn vào thế giới hôm nay, ta không khó để nhận ra những điều ấy vẫn còn nguyên. Khi người ta gọi ác là thiện, Isaia đang bị lặp lại. Khi người ta biện minh cho điều sai hôm nay vì tương lai, Caipha đang bị lặp lại. Khi người ta tin rằng quốc gia, ý thức hệ, thị trường, công nghệ hay chiến thắng chính trị có thể cứu lịch sử, ảo tưởng của 1 Samuel 8 và Babylon đang quay lại. Và khi quyền lực không muốn bị phán xét bởi một chuẩn mực cao hơn chính nó, đó là dấu hiệu của một thứ kiêu ngạo muốn tự mình làm luật.

Ta cũng đã thấy những biểu hiện như thế trong đời sống hiện nay: có những nhà lãnh đạo muốn tiếng nói luân lý im đi trước quyền lực; có những người sử dụng biểu tượng tôn giáo để làm lớn bản thân; có những cộng sự và người ủng hộ biện minh mọi sự bằng những câu như: “đó chỉ là chiến lược”, “đó chỉ là trò đùa”, “đó là điều cần thiết cho tương lai.” Nhưng tội kiêu ngạo hiếm khi tự xưng tên. Nó thường đến với bộ mặt của lý do tốt, của hiệu quả, của đại cuộc, của sự sáng suốt.

Dù vậy, người Kitô hữu cũng phải cẩn thận với chính mình. Phản ứng trước kiêu ngạo của thế gian không thể là một thứ kiêu ngạo ngược: “Họ sai, còn tôi thì sáng suốt.” Dụ ngôn người Pharisêu nhắc ta rằng người lên án kiêu ngạo cũng có thể sa vào kiêu ngạo. Bài học của Thánh Kinh không chỉ để ta chỉ mặt người khác, mà để ta xét lại chính lòng mình.

Và chính ở đây, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta hình ảnh Đức Thánh Cha. Không phải như một đối thủ chính trị của các nguyên thủ quốc gia, nhưng như một dấu chỉ rằng không hoàng đế nào là Thiên Chúa, không quốc gia nào là Nước Trời, không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Độ. Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Đừng sợ.” Đó là lời mời mở cửa cho Đức Kitô và từ chối mọi ngẫu tượng của thời đại. Còn lời “Tôi không sợ” của Đức Leo XIV lại vang lên như chứng tá của một mục tử không chấp nhận để quyền lực trần gian dạy Hội Thánh phải nói gì.

Nói cho cùng, kiêu ngạo là con người muốn cao đến nỗi không còn quỳ được nữa. Còn Tin Mừng thì dạy điều ngược lại: chỉ ai biết quỳ trước Thiên Chúa mới có thể đứng thẳng trước các ngẫu tượng của thế gian. Và vì thế, hai lời ấy vẫn gặp nhau ở một điểm: đừng sợ!

Make Christianity Great As Always

#MCGAA


 

Bức họa AI lộng ngôn của Trump gợi nhớ chuyện vua Babylon ‘ăn cỏ như bò’ trong Kinh Thánh

Ba’o Nguoi-Viet

April 14, 202

Mai Phi Long/Người Việt

LOS ANGELES, California (NV) – Trong chiều dài lịch sử của nhân loại, bóng ma của sự kiêu ngạo của bất kỳ bậc quân vương nào luôn là khởi đầu cho những sự sụp đổ kinh hoàng nhất. Sách Daniel trong Kinh Thánh ghi lại một trong những bài học đắt giá nhất về vương quyền và sự cao ngạo của con người qua câu chuyện về Vua Nebuchadnezzar của Đế Chế Babylon cổ đại.

Nebuchadnezzar, vị vua hùng mạnh bậc nhất thời cổ đại ở Trung Cận Đông, nhận được một điềm báo trong giấc mơ về một cái cây “cao đến tận trời” bị đốn hạ. Nhà tiên tri Daniel giải mã và cảnh báo vị vua này rằng, nếu không biết hối cải và thực hành sự khiêm nhường, ông sẽ bị tước mất vương quyền. 

Tổng Thống Donald Trump và bức ảnh khắc họa ông trong hình ảnh Chúa Giêsu do trí khôn nhân tạo (AI) chế ra. (Hình: Mandel Ngan/AFP via Getty Images)

Một năm sau, khi đang đứng trên nóc cung điện nhà vua dõng dạc tuyên bố: “Chẳng phải đây là Babylon vĩ đại mà chính ta đã xây dựng bằng sức mạnh quyền năng của ta để làm nơi cư ngụ cho vương triều và để hiển thị vinh quang rực rỡ của ta sao?” Đúng lúc đó, một tiếng phán từ trời vang xuống nhắc lại lời tiên tri. 

Và ngay lập tức, quyền năng của vị vua này bị tước bỏ, tâm trí ông trở nên điên loạn, và ông bị xua đuổi khỏi xã hội loài người để sống cảnh “ăn cỏ như bò,” sương đêm thấm ướt thân thể suốt bảy mùa, cho đến khi ông học được cách cúi đầu trước Đấng Tối Cao.

Hàng ngàn năm sau, tại trung tâm quyền lực của thế giới hiện đại vào thập niên 2020, một kịch bản về sự cao ngạo tương tự đang được viết tiếp bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và những dòng trạng thái trên mạng xã hội. 

Việc Tổng Thống Donald Trump tự khắc họa mình trong hình ảnh giống Chúa Giêsu chữa lành người bệnh, ngay sau khi công kích Đức Giáo Hoàng Leo XIV, không chỉ là một hành động lộng ngôn chính trị mà còn là một sự báng bổ đức tin sâu sắc, phơi bày sự hoang tưởng của một cá nhân đang lầm tưởng mình là “đấng cứu thế” thời kỹ thuật số (digital).

Xin được xác định rằng đây không phải là một bài viết biện minh cho quan điểm “thần quyền” nhưng là cái nhìn khách quan vào thế giới của những “con chiên” luôn tự nhận là duy tâm nhưng sẵn sàng tôn vinh một “tạo vật” dám báng bổ Đấng mà mình tôn thờ.

Phỉ báng Vatican: Áp dụng tình thương bị coi là nhu nhược

Sự việc bùng nổ khi Tổng Thống Donald Trump công khai đả kích Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị chủ chăn người Mỹ đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo, dẫn dắt 1.4 tỷ tín đồ trên thế giới. Ông Trump gọi người đứng đầu giáo hội là “nhu nhược trước tội ác” và “tồi tệ cho chính sách đối ngoại.” Nguyên nhân của sự giận dữ này đến từ việc vị giáo hoàng kiên quyết phản đối cuộc chiến mà Mỹ và Israel khởi xướng nhằm vào Iran và lên án sự bạo lực “phi lý và vô nhân đạo.”

Đây là một sự tấn công không chỉ quá đáng mà còn mang đầy tính ngụy biện. Tổng Thống Trump dùng lăng kính của sức mạnh thế quyền với binh lực và địa chính trị để phán xét một sứ mạng tâm linh. Ông cáo buộc nhà lãnh đạo Công Giáo ủng hộ tội ác và để Iran có vũ khí nguyên tử, trong khi thực tế, Đức Giáo Hoàng Leo XIV chỉ đang thực hiện nghĩa vụ cao cả nhất của ngài là rao giảng hòa bình theo đúng tinh thần Phúc Âm.

Không cần phải tỉnh táo mới nhận ra được rằng Vatican không hề sở hữu bất kỳ sư đoàn quân đội thiện chiến hay phi đoàn chiến đấu cơ siêu thanh, cũng như hạm đội hàng không mẫu hạm nào cả. Vũ khí duy nhất mà Đức Giáo Hoàng Leo XIV có là tình thương, sự cầu nguyện, và lời Chúa trong Phúc Âm. 

Khi Tổng Thống Trump ngạo nghễ tuyên bố rằng nếu ông không ở trong Tòa Bạch Ốc thì Đức Giáo Hoàng Leo XIV không được ngự trị ở Vatican, ông đang bộc lộ một tư duy tự mãn với quyền lực cực đoan, coi cả thể chế tôn giáo lâu đời nhất thế giới như một thứ “vật tế thần” cho chính trị. Cần phải ghi nhớ rằng đối với Giáo Hội Công Giáo, việc bầu chọn được một vị giáo hoàng đều nhờ những bí tích và ân sủng của Thiên Chúa.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV đáp trả một cách đầy điềm tĩnh nhưng kiên quyết rằng ông “không sợ hãi chính quyền Trump” và sẽ không ngừng loan báo thông điệp hòa bình. Phản đối chiến tranh là nghĩa vụ của con người, huống hồ là một giáo hoàng, người được gọi là “Tôi tớ của các tôi tớ Chúa.”

Trò hề biện minh “bác sĩ” và sự xói mòn chân lý

Đỉnh điểm của sự phạm thượng diễn ra vào tối Chủ Nhật, 12 Tháng Tư, đúng vào ngày lễ Phục Sinh của Chính Thống Giáo. Tổng Thống Trump tung lên mạng Truth Social của ông một bức ảnh AI khắc họa cảnh ông mặc áo choàng trắng và khăn quàng đỏ, một tay phát ra hào quang rực rỡ, tay kia đặt lên trán một người đàn ông nằm trên giường bệnh trong bệnh viện. Bối cảnh xung quanh là Tượng Nữ Thần Tự Do, các chiến đấu cơ, và những hình thù kỳ dị trong mây nhìn xuống.

Khi vấp phải làn sóng chỉ trích gay gắt, tổng thống Mỹ đưa ra một lời giải thích mang tính quanh co hèn nhát rằng đó chỉ là hình ảnh ông trong vai một “bác sĩ” giúp mọi người khỏe lại. Một sự ngụy biện dối trá trắng trợn. 

Bất kỳ ai có kiến thức cơ bản về hội họa tôn giáo đều thấy rõ bức ảnh này sao chép y hệt các điển tích về Chúa Giêsu chữa lành người mù và người đau yếu. Việc lồng ghép hình ảnh cá nhân vào một biểu tượng thánh thiêng nhất của Công Giáo rồi sau đó chối quanh co là một hành vi thiếu trung thực, phơi bày bản chất của một chính trị gia đang cố gắng thao túng đức tin của cử tri để đánh bóng cái tôi cá nhân.

Tiếng nói của sự tỉnh thức

Hành động này của ông Trump không chỉ khiến đối thủ chính trị phẫn nộ mà còn tạo ra một cơn địa chấn trong lòng giới bảo thủ tôn giáo, những người vốn là điểm tựa vững chắc nhất cho chiến thắng tranh cử của ông vào năm 2024. Lần này, sự im lặng không còn là vàng. Những nhân vật bảo thủ nổi tiếng đã phải lên tiếng bằng những ngôn từ nặng nề nhất như:

-Bà Megan Basham (Daily Wire): Cây viết Tin Lành bảo thủ nổi tiếng gọi đây là “sự báng bổ đầy phạm thượng ” (OUTRAGEOUS blasphemy). Bà yêu cầu ông phải cầu xin sự tha thứ từ Thiên Chúa ngay lập tức.

-Tác giả bảo thủ Rod Dreher khẳng định không còn nghi ngờ gì nữa, hành động của tổng thống Mỹ phơi bày tinh thần của kẻ phản Chúa” (radiating the spirit of Antichrist).

-Nhà hoạt động bảo thủ Riley Gaines, người thường xuyên được ông Trump khen ngợi, phải đặt câu hỏi: “Nghiêm túc mà nói, tôi không thể hiểu tại sao ông ấy lại đăng cái này… Thiên Chúa không để bị nhạo báng như thế.” Cô nhấn mạnh rằng một chút khiêm nhường sẽ giúp ích cho ông Trump vào lúc này.

-Mục sư Douglas Wilson, người đồng sáng lập giáo phái Calvin mà Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth là tín đồ, gọi bức ảnh là “báng bổ” và bày tỏ sự khó chịu trước việc ông Trump được tôn sùng như một “vị thánh của công chúng” (civic holy man) thông qua các nghi thức đặt tay cầu nguyện.

-Ông John Yep, nhà lãnh đạo tổ chức Catholics for Catholics, bày tỏ sự bàng hoàng và buồn bã khi chứng kiến vị tổng thống mà người Công Giáo bỏ phiếu bầu vang dội lại đối xử với đức tin thiêng liêng bằng sự thiếu tôn trọng đến vậy.

Sự thật là, mặc dù ông Trump nhận được 69% sự ủng hộ từ giới Tin Lành da trắng và 53% từ người Công Giáo, nhưng dữ liệu từ Pew Research cho thấy niềm tin vào đạo đức của ông đang ở mức thấp báo động khi chỉ có 40% người Tin Lành và 34% người Công Giáo tin rằng ông hành động có đạo đức khi tại chức. 

Việc nhắm mắt làm ngơ trước sự phạm thượng của một lãnh đạo chính trị chỉ vì những lợi ích trần thế là một sự ấu trĩ và mù quáng tâm linh đáng sợ. Những ai nhân danh tôn giáo nhưng lại chấp nhận kẻ tự phong mình là Chúa thực chất đang phản bội lại chính những lời dạy căn bản nhất của Kinh Thánh.

Thân phận bụi tro trước cuồng nộ thiên nhiên

Để hiểu rõ sự điên rồ của lòng kiêu ngạo, hãy nhìn vào thân phận con người trước sức mạnh của thiên nhiên. Dù nhân loại có tự hào về sức mạnh nguyên tử với hàng ngàn giàn hỏa tiễn trị giá hàng tỷ đô la, chúng ta vẫn vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên. Trước một cơn siêu bão san phẳng các thành phố, một trận động đất làm rung chuyển địa cầu, hay một loại virus vô hình làm cả thế giới tê liệt, mọi quyền lực của Tòa Bạch Ốc hay Ngũ Giác Đài đều trở nên bất lực.

Trước thiên tai, ngay cả những người vô thần cũng phải cúi đầu nhận ra giới hạn của con người. Trong những giây phút sinh tử giữa bão tố hay dịch bệnh, phản xạ tự nhiên của con người là tìm một sự cứu rỗi vượt ra ngoài khả năng của bản thân. 

Đó là khoảnh khắc của sự thật, nơi mọi mặt nạ của quyền lực đều rơi xuống. Vậy thì, chỉ có những kẻ hoang tưởng hoặc mắc bệnh tâm thần chính trị mới dám ngạo nghễ tự họa mình trong hình hài của Đấng Tạo Hóa. 

Sự bất đối xứng giữa một thực thể bằng xương bằng thịt, sinh ra từ bụi đất và sẽ trở về với bụi đất, với Đấng Vĩnh Hằng là một sự xúc phạm đến trí tuệ của toàn nhân loại. Việc ông Trump để các cố vấn như bà Paula White so sánh ông với Chúa Giêsu bị phản bội là một trò hề lố lăng, phơi bày sự thiếu thốn nghiêm trọng về lòng khiêm nhường.

Bài học Babylon và sự phán xét

Bài viết này không phải để đánh tiếng kêu gọi quy phục tôn giáo mà là lời vạch trần sự nguỵ biện nhân danh tôn giáo nhưng không thực hành lời dạy về sự khiêm tốn. Sự mù quáng ủng hộ một cá nhân lộng ngôn, coi thường giáo tông và tự phong mình là Chúa là dấu hiệu của một sự suy đồi văn hóa và tâm linh sâu sắc.

Lịch sử Babylon trong Kinh Thánh dạy rằng, khi một vị vua bắt đầu tin vào hào quang tự tạo của chính mình, đó cũng là lúc ông bắt đầu con đường dẫn đến đồng cỏ của sự hạ nhục. 

Tổng Thống Donald Trump, với những bức ảnh AI đầy hào quang giả tạo, đang bước đi trên chính con đường đó. Sự phán xét của lịch sử thường không nằm ở những chiến thắng bầu cử nhất thời nhưng nằm ở thái độ khiêm nhu của một nhà lãnh đạo giữ lại được trước những giá trị vĩnh cửu.

Nếu ông Trump và những người ủng hộ ông không sớm tỉnh thức khỏi cơn mê hoảng tưởng này, thì “bài học Nebuchadnezzar” không chỉ là một câu chuyện trong Kinh Thánh cổ xưa. Đó sẽ là bản án thực tại cho bất kỳ kẻ nào dám dùng quyền lực trần thế để thách thức sự thiêng liêng trong đức tin của nhân loại. Hãy nhớ rằng, dù có là tổng thống của một siêu cường, con người vẫn chỉ là những lữ khách tạm bợ trên thế gian này. 

Kẻ nào tự nâng mình lên quá cao sẽ bị hạ xuống thấp nhất, đó là quy luật bất biến của cả thần đạo lẫn nhân đạo. [đ.d.]