BỆNH VIỆN VÀ NGHĨA TRANG

Xuyên Sơn

BỆNH VIỆN VÀ NGHĨA TRANG

Chị thì thầm vào tai anh:

“Còn mấy hôm nữa là rằm tháng Giêng chắc mình phải về nhà chứ.”

Anh kéo chiếc mền mỏng lên ngang ngực, chiếc mền ngắn quá, lòi cả nửa ống chân ra ngoài. Anh nhìn chung quanh một vòng, ngượng ngùng co chân lại.

“Về sao được em, phải chờ chứ, còn nước còn tát, mấy hôm nay thằng bé cũng thấy khá hơn một chút.”

Hai vợ chồng đang nằm ngủ ngay trước cửa Bệnh Viện Ung Thư, con trai họ 12 tuổi kiếm được một chỗ nằm chung một giường với một đứa trẻ khác bên trong, (sau khi anh chị đưa cho y tá trực ở đó hai lần hai cái phong bì.)

Dưới gầm giường thì có bố mẹ của đứa bé kia rồi, không còn chỗ cho anh chị nữa.

Họ lên đây từ trước Tết, đợi mãi mới tới phiên con được khám.

Trong khi chờ thì cứ ngồi, nằm, ngay ở hành lang bệnh viện.

Anh chị không phải là cặp vợ chồng duy nhất ngủ ở ngoài này.

Số người chờ khám cho thân nhân hay chờ khám cho chính mình nhiều hơn số giường của bệnh viện có, nên người chờ đợi, ăn, ngủ, tràn lan ra tới hành lang.

Trời mưa lụt, nước tràn ngập cả trong phòng đợi, người ngồi, kẻ nằm trên những chiếc ghế nhựa trông thật thảm thương.

Ngày khô thì chiếu trải la liệt dưới đất.

Anh chị từ Hòa Bình mang con về Hà Nội chạy chữa, thằng bé 12 tuổi đang đi học bỗng ngã bệnh, chữa mãi Bác Sĩ tỉnh nhà không khỏi, thử máu, chụp hình mới biết là bị ung thư màng óc.

Chị lại thì thầm:

“Tết mình đã không có mặt ở nhà để cúng ông bà, thì Rằm cũng phải về cúng Phật chứ anh. Hay em ở lại với con, anh về mấy hôm đi.”

“Anh về cũng chẳng an tâm được.

Mấy hôm ngủ ngoài sương thấy em đã bắt đầu ho.Thôi, Trời Phật cũng thông cảm cho mình.”

Chị im lặng một lúc, lại ngập ngừng nói:

“Thôi anh cứ yên tâm về đi, còn bà nội thằng Tí ở nhà nữa, anh về đi kẻo mẹ trông, em biết là mẹ mong anh về lắm.”

Người chồng ngồi hẳn dậy, co hai chân lên vòng tay ôm qua đầu gối, thở dài.

“Ừ, chắc anh nên về, em nói đúng, bà nội thằng Tí đang mong tin lắm. Anh đã chia tiền ra từng gói nhỏ để em tiện chi tiêu. Tiền trả cho Bệnh Viện chữa trị, tiền đưa bác sĩ thì anh để riêng, tiền đưa y tá, tiền lao công anh cũng để riêng.”

Người vợ ngồi hẳn dậy, quấn lại cái chăn cho gọn, thu xếp mấy cái túi đựng cả một gia đình lưu động của mình.

Chị nhìn chung quanh một vùng bao quát, trong ánh nắng sớm mai yên tĩnh mọi người chưa thức dậy hết.

Họ nằm ngang, nằm dọc, hay xoay chân ngược chiều nhau.

Những bàn chân gầy gò, và những cái đầu xơ xác tóc, họ đang ngủ hay đã thức rồi mà vẫn còn nằm im lo lắng bất an.

Mặt trời sẽ lên, thêm một ngày chờ đợi, đến bao giờ mới tới phiên mình, hay phiên của người thân mình.

Số tiền mang trong túi, cài hai ba cái kim cho chặt, liệu có đủ trả tiền chạy chữa, tiền thuốc và tiền phong bì không?

Nói đến phong bì chị bỗng nhớ, hỏi anh:

“Tiền anh lo đủ rồi nhưng anh quên chưa mua phong bì cho em. Đưa thẳng tiền mặt ra ai đứng gần cũng nhìn thấy, không tiện đâu.”

Anh ngẩn người ra, ừ nhỉ mấy hôm nay bận quá, cứ lo chỗ ăn chỗ ngủ cho con bên trong bệnh viện, cho hai vợ chồng ngoài hành lang, anh quên hẳn việc phải mua sẵn một lố phong bì.

Anh nhìn trước nhìn sau thấy một xấp báo còn mới, ai đó vứt sang chỗ anh chị nằm.

Anh nhặt lên nói với chị:

“Báo còn mới, em cứ lấy con dao, rọc vuông vức rồi gói tiền vào đó cũng được. Nhưng phải nhớ để riêng vào túi trong, túi ngoài, kẻo nhầm của người này lại đưa cho người kia.”

Chị cười nhẹ:

“Anh đừng lo, tiền thì em cẩn thận lắm.”

Chị đón xấp báo còn mới trong tay anh, báo trong tay thì dĩ nhiên là chữ trước mắt, chị đọc qua một chút trước khi đi tìm dao rọc.

Sau mấy phút chị ngẩn người ra, để rơi tờ báo xuống lòng.

Anh thấy lạ hỏi:

“Tin gì vậy em?”

Chị không nói, đưa tờ báo cho anh.

Báo chí trong nước cho hay, chính quyền thành phố Hà Nội hôm 1/2 công bố quy hoạch được thủ tướng phê duyệt về xây nghĩa trang “phục vụ nhu cầu an táng cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước; các anh hùng, danh nhân của đất nước”.

Tin cho hay, nghĩa trang Yên Trung nằm dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội 40 cây số về phía Tây, giáp Vườn Quốc Gia Ba Vì; phía Đông giáp đồi núi và đường cao tốc Hòa Lạc-Hòa Bình; phía Nam giáp đồi núi và khu dân cư.

Tổng diện tích nghĩa trang là 120 hécta, gồm khu an táng 72 hécta, với 2,200 – 2,500 ngôi mộ, mỗi ngôi mộ có khuôn viên 25-35 mét vuông và khu đệm cây xanh cảnh quan trên 47 hécta, có sức chứa 5,000 người.

Nguồn vốn dự kiến hơn 1,430 tỷ đồng (hơn $63 triệu) sẽ lấy từ ngân sách nhà nước.

Thời gian thực hiện dự án khoảng 36 tháng.

Anh đọc tiếp ở một trang khác:

Vẫn theo các báo, với tổng diện tích 120 hectare, tương đương một phường lớn ở nội thành Hà Nội, dự án có vị trí ở huyện Thạch Thất, dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội 40 kilomet về phía tây.

Thông tin từ bản quy hoạch cho thấy sẽ có 105 hộ dân phải di dời để nhường chỗ cho dự án.

Anh đọc xong nhìn sang chị, thấy chị vẫn thẫn thờ nhìn mông lung ra một nơi xa lắc xa lơ nào đó.

Anh hỏi:

“Sao vậy em, nhà nước xây nghĩa trang thì dính dáng gì tới mình mà em buồn quá vậy?”

Chị quay lại nhìn chồng, hai mắt mở to:

“Sao mấy ông lớn không nghĩ đến việc xây thêm mấy cái bệnh viện cho người đau ốm, xây thêm trường học cho trẻ em? Họ bỏ ra tới 1,400 tỷ đồng để lo “chôn “ những người chưa chết.

Rồi lại thêm 105 gia đình phải mất nhà mất cửa cho họ thêm chỗ.

Anh nhìn đi, cả bao nhiêu năm nay bệnh nhân cũng như người thân của bệnh nhân nằm màn trời chiếu đất trước cửa bệnh viện. Trẻ con nghèo không đủ cơm đã đành ngay cả trường lớp cũng thiếu thốn…

Có ông lớn nào quan tâm tới không?”

Anh nhìn vợ với cặp mắt thương hại, nói nhỏ:

“Thế bây giờ em định làm gì, em cầm biển ngữ đi biểu tình đòi nhà nước xây bệnh viện, trường học thay vì xây nghĩa trang cho các ông lớn hả. Em có muốn vào tù vì tội chống phá nhà nước, trong khi con em đang bị ung thư không?”

Chị nhìn anh một lúc, không trả lời.

Hai con mắt chị ánh lên một nét giận dữ, chị mở tung những cái giỏ ra tìm con dao, chị nín thở rọc tờ báo ra từng miếng nhỏ để làm những cái phong bì, chị dằn mạnh từng nhát dao đi qua những hàng chữ:

“nghĩa trang, “phục vụ nhu cầu an táng cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước”

“Nguồn vốn dự kiến hơn 1,430 tỷ đồng (hơn $63 triệu) sẽ lấy từ ngân sách nhà nước.”

“105 hộ dân phải di dời để nhường chỗ cho dự án.”

Chị cắt ngang, cắt dọc tờ báo tưởng như cắt đứt được những dự án làm chị uất ức.

Chị cắt được hơn mười cái phong bì, chia ra bốn túi khác nhau, cho bác sĩ,

y tá và lao công.

Chị biết, muốn cứu con chị thì không thể nào tránh né được cái khoản chi trả thêm này.

Chị nhìn anh đang thu xếp về nhà với mẹ để kịp cúng Rằm.

Thật ra chị biết, cúng Rằm chỉ là phụ, việc chính là anh về nhà chạy thêm tiền, số tiền anh chị đem theo được so với số tiền sẽ phải dùng tới cách xa nhau nhiều quá.

Nghĩ đến những món nợ sẽ phải trả, chị thấy như có một khối đá đè lên ngực.

Hai con mắt chị vẫn còn ánh lên những tia giận dữ, cái giận dữ của một người hoàn toàn bất lực trước một việc xấu mà sức mình không làm gì được.

Một khu nghĩa trang 5000 huyệt mộ. Quan chức cao cấp Đảng ở đâu mà nhiều thế?

Chắc chắn các đại gia sẽ có phần mộ ở đây.. Có khi cả ca sĩ nổi tiếng có tiền cũng dọn vào.

Chưa chắc các danh nhân và anh hùng tử sĩ đã có chỗ, vì phần đông gia đình họ nghèo và họ đã tắt tiếng nói (may ra có một tấm bia chung).

Chị kêu thầm trong ngực.

Nước mắt chị ứa ra.

Có ai trả lời cho chị không?

S.T.


 

Vance: Hạ giá dầu giờ là “mục tiêu số một” của cuộc chiến Iran

Ba’o Nguoi-Viet

August 14, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Phó Tổng Thống JD Vance nói trong cuộc phỏng vấn mới nhất với Fox News rằng mục tiêu số một hiện nay của Mỹ trong cuộc chiến Iran là giữ giá dầu và xăng thấp cho người Mỹ, mục tiêu thứ hai là bảo đảm Iran không có vũ khí hạt nhân, NBC News loan tin hôm Thứ Sáu, 14 Tháng Tám. 

Phát biểu này dường như hạ thấp kỳ vọng rằng eo biển Hormuz trở lại tình trạng trước chiến tranh. Ông Vance chỉ nói cần đưa eo biển trở lại trạng thái mà giá dầu và khí đốt ổn định, thay vì nhấn mạnh phải hoàn toàn mở và không thu phí như trước đây. 

Phó Tổng Thống JD Vance lên tiếng tại lễ tưởng niệm cố Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham hôm 28 Tháng Bảy. (Hình: Win McNamee/Getty Images)

Chính quyền Trump đồng thời chuẩn bị gia tăng áp lực kinh tế lên Iran. Bộ Trưởng Tài Chính Scott Bessent nói tuần tới Mỹ đưa ra những biện pháp cô lập kinh tế ở mức chưa từng thấy. 

Còn Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth nói Hải Quân Mỹ có thể duy trì phong tỏa các cảng Iran vô thời hạn, bằng cách luân chuyển tàu chiến. 

Chính sách gây áp lực mới tạo ra một nghịch lý rằng ngay sau khi Mỹ đe dọa phong tỏa Iran vô thời hạn, giá dầu tăng trở lại. Giá dầu Brent lên tới khoảng $88.50/thùng và WTI khoảng $82.81 trong phiên giao dịch sáng 14 Tháng Tám. 

Hiện tại, Iran vẫn sử dụng eo biển Hormuz như đòn bẩy thương lượng và đòi Mỹ dỡ trừng phạt, giải toả tài sản Iran bị đóng băng trước khi cho giao thông hàng hải trở lại bình thường. 

Tổng Thống Donald Trump đưa nước Mỹ vào cuộc chiến Iran ngày 28 Tháng Hai với lý do chủ chốt ban đầu được đưa ra là thay đổi chế độ. Nhưng khi không có bất kỳ cuộc cách mạng lật đổ chính quyền dù lãnh đạo tối cao của Iran bị giết chết trong các cuộc không kích, mục tiêu “chủ chốt” chuyển sang Iran không thể có vũ khí hạt nhân.

Hiện tại sau gần sáu tháng, Phó Tổng Thống JD Vance lại nói mục tiêu “số một” là giữ giá dầu và xăng thấp, còn vấn đề hạt nhân xuống hàng thứ hai.

Cuộc chiến Iran vì vậy đang có một dấu hiệu quen thuộc của những cuộc chiến mất phương hướng đó là mục tiêu thay đổi theo những hậu quả từ chính cuộc chiến tạo ra. (MPL)


 

NÂNG CON LÊN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Mở đường là Đức Kitô, rồi đến những kẻ thuộc về Người!”.

Khi linh cữu Lincoln được đưa từ Washington về Illinois, nó đi qua đại lộ Albany. Bên kia vỉa hè, một phụ nữ da đen nâng đứa con trai của cô lên cao nhất có thể qua đầu đám đông; cô hét lên, “Con yêu, mẹ nâng con lên. Nhìn kìa, ông ấy đã chết cho con!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Mừng kính Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, Mẹ Giáo Hội muốn nâng bạn và tôi lên cao nhất có thể để nói với mỗi chúng ta rằng: “Con yêu, nhìn kìa! Giêsu không chỉ đã chết cho con nhưng còn ‘nâng con lên’ như đã nâng Maria, Mẹ Ngài, cũng là mẹ của con!”.

Phaolô xác tín, “Mở đường là Đức Kitô, rồi đến những kẻ thuộc về Người!” – bài đọc hai. Maria thuộc về Chúa Kitô; và tuy là Thánh Mẫu, Mẹ còn là môn đệ và là ‘Ái Nữ’ đẹp lòng Con. Vì vậy, sau cuộc lữ hành dương thế, Mẹ được Thiên Chúa ôm trọn xác hồn đưa về trời. Là một trong những môn đệ đầu tiên dự phần chiến thắng phục sinh của Con, Maria được vinh thăng với Con; đó là điều phải lẽ.

Khải Huyền báo trước ngày vinh hiển của Mẹ, “Một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao!” – bài đọc một. Đavít cũng thấy trước, “Nữ hoàng bên hữu Thánh Vương, điểm trang lộng lẫy toàn vàng Ôphia!” – Thánh Vịnh đáp ca. “Nơi Nữ Hoàng Thiên Quốc, tạo thành tìm thấy đoá hoa rực rỡ nhất của mình!” – Fulton Sheen. Vì thế, với Magnificat, Mẹ hát mừng Thiên Chúa; qua đó, Mẹ không chỉ dâng vinh quang lớn nhất lên Ngài mà còn cho biết Mẹ là người mà “hết mọi đời” sẽ khen là “diễm phúc”; vì “Đấng Toàn Năng” đã làm trên Mẹ những điều kỳ vĩ.

Với chúng ta, có lẽ đã quá quen với Magnificat, nên không còn để ý đến ý nghĩa của nó. “Ngợi khen” nghĩa đen là “phóng to”, “làm cho lớn”. Maria đã “làm cho Thiên Chúa lớn” và Ngài phải lớn hơn! Còn chúng ta, chúng ta thường làm cho Ngài nhỏ lại; bởi lẽ, chúng ta dễ để mình choáng ngợp bởi những khó khăn và cho phép mình bị hấp dẫn bởi bao nỗi sợ! “Khi sợ hãi khiến Thiên Chúa trở nên nhỏ bé, ngợi khen sẽ làm Ngài lớn lên một lần nữa trong trái tim ta!” – Edward Sri.

Anh Chị em,

Như vậy, lễ Đức Maria Hồn Xác Lên Trời là khúc khải hoàn của Mẹ, nhưng cũng là lời triệu báo khúc vĩnh thắng của những đứa con. Mẹ đi trước, bước theo Chúa Kitô – Đấng mở đường – để trở nên dấu chỉ chắc chắn cho đoàn con lữ thứ. Từ đích đến vinh quang, Mẹ ngoái nhìn, chờ đón và khích lệ chúng ta tiến bước; để rồi, trong niềm hy vọng chứa chan, ai nấy đều có thể thốt lên: “Chúa sẽ ‘nâng con lên’ như đã nâng Mẹ của con lên tận cung lòng Ngài!”.

Chiêm ngắm vinh quang của Mẹ, chúng ta không nhìn vào một biến cố đã khép lại, nhưng nhìn thấy trước tương lai: tương lai mà “Giáo Hội chiêm ngắm trước chính ngày về nhà của mình!” – Scott Hahn. Mẹ trở nên bảo chứng rằng, hành trình đức tin này với tất cả gian nan và hy sinh, sẽ dẫn đến một nơi chốn thật sự: vòng tay Cha, bên cạnh Chúa Con trong ánh sáng Chúa Thánh Thần.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi sức con kiệt, xin ‘nâng con lên’ bằng chính vòng tay đã ôm Mẹ của con vào thiên cung của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

LỜI CHÚA ĐỨC MẸ LÊN TRỜI, 15/8 THỨ BẢY TUẦN XIX TN: 

https://ourl.in/@hvju

 Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả. Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 1,39-56

39 Hồi ấy, bà Ma-ri-a lên đường, vội vã đi đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. 40 Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào bà Ê-li-sa-bét. 41 Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy Thánh Thần. 42 Bà Ê-li-sa-bét kêu lớn tiếng và nói rằng : “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. 43 Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? 44 Quả thật, này tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vì vui sướng. 45 Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

46 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói :

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,
47thần trí tôi hớn hở vui mừng
vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
48Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới ;
từ nay, hết mọi đời
sẽ khen tôi diễm phúc.
49Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
biết bao điều cao cả,
danh Người thật chí thánh chí tôn !
50Đời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
51Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
52Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
53Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
54Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
55như đã hứa cùng cha ông chúng ta,
vì Người nhớ lại lòng thương xót
dành cho tổ phụ Áp-ra-ham
và cho con cháu đến muôn đời.”

56 Bà Ma-ri-a ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà.


 

Mừng kính Thánh Mác-xi-mi-li-a-nô Ma-ri-a Kôn-bê, linh mục, tử đạo (14/08 ) – Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay 14/08 Giáo Hội mừng kính Thánh Mác-xi-mi-li-a-nô Ma-ri-a Kôn-bê, linh mục, tử đạo (Maximilian Mary Kolbe) (1894-1941). Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Nhớ câu nguyện cho nhau và thể giới được bình an trong tay Ba Đứng  nhé

Cha Vương

Th 6: 14/8/2026.        (t5-25)

Thánh Mác-xi-mi-li-a-nô chào đời vào ngày 7 thánh giêng năm 1894, tại Zund-Wola, thuộc nước Balan. Bố mẹ đặt tên là Raymond. Năm 1907, thánh nhân nhập dòng Phan sinh và lấy tên là tu huynh Maximilian. Ngài được gởi sang Rôma để học triết học và thần học. Kolbe thụ phong linh mục vào năm 1918. Sau khi trở về Ba lan, Ngài thành lập đội Đạo binh Đức Mẹ vô nhiễm. Năm 1927, Kolbe thành lập hội ”Thành Phố Đức Mẹ vô nhiễm”.  Hội này phát triển và lan rộng tại Ba Lan và nhiều nước khác.

  Trở về Ba Lan năm 1936, cha phải chịu nhiều cuộc bách hại của Gestapo (mật thám Đức Quốc xã). Ngày 17 tháng 2 năm 1941, Maximiline bị bắt và giam vào trại Auschwitz, với số hiệu tù nhân: 16670.

  Vào ngày 31 tháng Bảy 1941, có một tù nhân trốn thoát. Sĩ quan chỉ huy trại bắt 10 người khác phải chết thay. Hắn khoái trá bước dọc theo dãy tù nhân đang run sợ chờ đợi sự chỉ định của hắn như tiếng gọi của tử thần. “Tên này.” “Tên kia.” Có những tiếng thở phào thoát nạn. Cũng có tiếng nức nở tuyệt vọng. Trong khi 10 người xấu số lê bước về hầm bỏ đói, bỗng dưng tù nhân số 16670 bước ra khỏi hàng. “Tôi muốn thế chỗ cho ông kia. Ông ấy có gia đình, vợ con. “Cả một sự im lặng nặng nề. Tên chỉ huy sững sờ, đây là lần đầu tiên trong đời hắn phải đối diện với một sự can đảm khôn cùng. “Mày là ai?” “Là một linh mục.” Không cần xưng danh tính cũng không cần nêu công trạng. Và Cha Kolbe được thế chỗ cho Trung Sĩ Francis Gajowniczek.

      Trong “hầm tử thần” tất cả bị lột trần truồng và bị bỏ đói để chết dần mòn trong tăm tối. Nhưng thay vì tiếng rên xiết, người ta nghe các tù nhân hát thánh ca. Vào ngày áp lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (14 tháng 8 năm 1941) chỉ còn bốn tù nhân sống sót. Tên cai tù chấm dứt cuộc đời Cha Kolbe bằng một mũi thuốc độc chích vào cánh tay. Sau đó thân xác của ngài bị thiêu đốt cũng như những tù nhân khác. Đức Thánh Cha Phaolô VI phong chân phước cho Ngài vào năm 1971. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh vào năm 1982. Mời bạn hãy noi gương thánh nhân qua việc suy gẫm những câu nói của ngài và can đảm làm một việc bác ái nho nhỏ hôm nay nhé.

(1) Thiên Chúa cho phép mọi việc xảy ra để nhắm đến một phúc lành lớn hơn.

(2) Chúng ta hãy để Mẹ hướng dẫn, hãy đưa tay cho Mẹ dắt dìu, hãy sống yên hàn dưới sự dẫn dắt của Mẹ; chính Mẹ sẽ chăm sóc và tiên liệu mọi sự cho chúng ta, sẽ mau mắn cứu giúp, đáp ứng những nhu cầu hồn xác, đẩy lùi những khó khăn phiền toái cho chúng ta.

(3) Chính sự vâng phục, và chỉ có sự vâng phục mà thôi, mới cho ta biết chắc ý muốn của Thiên Chúa. 

(4) Chừng nào chúng ta phải hy sinh ý riêng, chừng đó lòng yêu mến đó được thể hiện rõ ràng hơn cả. 

(5) Bạn đừng e sợ rằng: bạn dành cho Mẹ Maria quá nhiều tình yêu. Liệu tình yêu của bạn có hơn tình yêu Chúa Giêsu dành cho Mẹ.

❦  Câu nào đánh động bạn nhất? 

From: Do Dzung

*****

Con Chúa Hy Sinh – Hiệp Lễ  

Tôn giáo là thứ ngăn người nghèo giết người giàu-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Ba’o Dan chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

31/07/2026

Đó là một câu nói thường được gán cho Napoléon Bonaparte. Dù câu nói ấy có thực sự là của ông hay không thì ý tưởng phía sau vẫn rất đáng suy ngẫm.

Một người hiểu quyền lực sẽ biết rằng không thể cai trị hàng triệu con người mãi bằng súng đạn. Quân đội rất tốn kém, cảnh sát cũng có giới hạn, nhà tù không thể nhốt hết mọi người. Muốn một chế độ tồn tại lâu dài thì cách hiệu quả nhất là khiến người dân tự kiểm soát chính mình.

Khi người ta tin rằng số phận của mình là do trời định, rằng đau khổ là điều phải chấp nhận, rằng chỉ cần ngoan ngoãn rồi một ngày nào đó sẽ được đền bù, thì họ sẽ ít đặt câu hỏi hơn.

Khi sự phục tùng được coi là một đức hạnh, còn sự chất vấn bị coi là sai trái, thì không cần nhiều binh lính nữa. Bởi vì hình thức kiểm soát mạnh nhất không đến từ bên ngoài mà đến từ bên trong mỗi con người.

Từ hàng nghìn năm nay, rất nhiều nhà cầm quyền đã sử dụng cùng một công thức: hãy chịu đựng, hãy vâng dạ, phục tùng, hãy chờ đợi. Chỉ khác nhau ở chỗ, có thời người ta hứa hẹn thiên đường sau khi chết, có thời người ta hứa hẹn một thiên đường ngay trên mặt đất.

Điều đáng suy ngẫm là nhiều chế độ chính trị cũng học đúng công thức ấy. Nếu ngày xưa người ta dùng tôn giáo để hứa hẹn thiên đường sau khi chết, thì ngày nay có nơi lại dùng những khẩu hiệu và những lời hứa về một “thiên đường xã hội chủ nghĩa” trong tương lai. Mục đích không phải là để người dân nhìn vào hiện tại, mà là luôn hướng mắt về một ngày mai tốt đẹp. Khi người dân còn mải chờ đợi thiên đường ở phía trước, họ sẽ ít đặt câu hỏi về những gì đang diễn ra hôm nay, và những người đang nắm quyền vẫn có thể tiếp tục hưởng đặc quyền của mình.

Đó là lúc hệ thống vận hành trơn tru nhất. Không cần dùng roi vọt quá nhiều nếu con người tự nhắc nhau phải im lặng. Không cần theo dõi từng người nếu ai cũng sợ bị coi là “khác biệt”. Không cần cấm đoán quá nhiều nếu chính xã hội sẽ gây áp lực lên những người dám đặt câu hỏi.

Đó là mức độ kiểm soát cao nhất: khi sự phục tùng được coi là lựa chọn tự nguyện.

Theo thông tin được lan truyền về hội nghị ngày 29/7, có phát biểu nhắc đến mục tiêu Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phát triển ở trình độ cao vào năm 2130. Đúng là một cái bánh ngon choét.

Nhưng một xã hội muốn phát triển thì điều quan trọng nhất không phải là những lời hứa cho một trăm năm sau. Điều người dân quan tâm là hôm nay họ có được sống tốt hơn không, có được nói lên ý kiến của mình không, có được pháp luật bảo vệ công bằng không, con cái họ có cơ hội vươn lên bằng năng lực hay không…

Một tương lai tốt đẹp không thể chỉ được xây bằng những khẩu hiệu. Nó phải được xây bằng những việc làm mà người dân có thể nhìn thấy, kiểm chứng và cảm nhận ngay trong cuộc sống hằng ngày.

Bởi vậy, trước bất kỳ lời hứa nào về một thiên đường ở rất xa, có lẽ mỗi người đều nên tự hỏi một câu rất đơn giản: Nếu cái bánh ngon đến thế, tại sao nó luôn được hẹn vào một ngày mà không ai trong chúng ta còn sống để nếm thử?

Một chính quyền không thể được đánh giá bằng những thiên đường hứa hẹn cho năm 2130. Nó phải được đánh giá bằng cuộc sống của người dân hôm nay.

Và chừng nào mỗi người còn chỉ lo cuộc mưu sinh của riêng mình mà không dám nhìn vào toàn bộ hệ thống, chừng đó hệ thống vẫn sẽ vận hành như cũ.

Đúng là: “Tôn giáo là thứ ngăn người nghèo giết người giàu.”

Nhưng người nghèo lại không biết điều đó. Ngược lại người giầu lại luôn áp dụng điều đó.


 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi.

Không phải vì họ luôn đúng.

Mà vì họ đã đi qua quá nhiều điều để hiểu rằng không phải chuyện gì cũng đáng để thắng thua.

Họ là thế hệ lớn lên trong một thế giới không có Internet, không có điện thoại thông minh, không có Google để tìm câu trả lời chỉ trong vài giây. Họ học cách sống bằng trải nghiệm, bằng những lần vấp ngã và bằng chính đôi tay của mình.

Khi một món đồ hỏng hóc, họ không vội thay mới. Họ tìm cách sửa chữa. Khi gặp khó khăn, họ không đăng trạng thái lên mạng xã hội. Họ lặng lẽ tìm cách vượt qua.

Họ thuộc về một thế hệ mà trẻ con có thể chạy chân trần ngoài đồng, leo cây, tắm mưa, ngã trầy đầu gối rồi đứng dậy như chưa có chuyện gì xảy ra.

Họ uống nước từ vòi, ăn những bữa cơm đạm bạc, mặc lại quần áo của anh chị và coi đó là điều bình thường. Họ lớn lên trong những năm tháng mà vật chất còn thiếu thốn nhưng tình người lại rất đầy.

Đó là thế hệ biết quý từng hạt gạo trên mâm cơm vì đã từng trải qua những ngày khó khăn. Biết trân trọng đồng tiền vì đã từng lao động từ rất sớm. Biết giữ gìn một món đồ trong nhiều năm vì hiểu giá trị của sự tích góp.

Họ là những người đã chứng kiến thế giới thay đổi với tốc độ chóng mặt.

Từ chiếc radio chạy pin đến điện thoại thông minh. Từ những lá thư viết tay đến các cuộc gọi video xuyên lục địa. Từ những con đường đất đỏ đến các tuyến cao tốc hiện đại. Họ đã sống trong hai thế giới khác nhau: một thế giới hoàn toàn không có công nghệ và một thế giới công nghệ hiện diện trong từng hơi thở của cuộc sống.

Điều đáng khâm phục là họ không chỉ tồn tại giữa những thay đổi ấy.

Họ thích nghi.

Họ học hỏi.

Họ tiếp tục bước đi.

Có thể họ không sử dụng điện thoại nhanh bằng con cháu.

Có thể họ nhắn tin chậm hơn.

Có thể đôi lúc họ bấm nhầm nút hay gửi nhầm tin nhắn.

Nhưng đằng sau những điều ấy là cả một cuộc đời đầy trải nghiệm mà không một công cụ tìm kiếm nào có thể thay thế.

Họ biết thế nào là mất mát.

Biết thế nào là hy sinh.

Biết thế nào là gánh vác gia đình trong những năm tháng khó khăn nhất.

Họ đã nuôi con bằng những đồng lương ít ỏi.

Đã thức trắng đêm vì bệnh tật của con cái.

Đã từ bỏ nhiều ước mơ riêng để đổi lấy tương lai cho những người mình yêu thương.

Có một điều rất thú vị.

Người trẻ thường tự hào vì biết nhiều thứ.

Nhưng người lớn tuổi thường im lặng vì đã hiểu nhiều điều.

Họ hiểu rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng công bằng. Rằng có những chuyện phải học cách chấp nhận. Rằng tha thứ đôi khi mang lại bình yên hơn chiến thắng.

Và rằng thời gian là người thầy nghiêm khắc nhất nhưng cũng công bằng nhất.

Tuổi sáu mươi không chỉ là một con số.

Đó là hàng chục nghìn ngày đã sống.

Là vô số lần đứng lên sau thất bại.

Là những nỗi đau không kể hết bằng lời.

Là những bài học được đánh đổi bằng cả tuổi trẻ.

Vì thế, nếu có thể, hãy dành cho những người lớn tuổi thêm một chút kiên nhẫn.

Một chút lắng nghe.

Một chút tôn trọng.

Bởi họ không chỉ là những người đã già đi.

Họ là những cuốn sách sống.

Là những chứng nhân của thời gian.

Là những con người đã đi qua những mùa giông bão nhất của cuộc đời để hôm nay có thể ngồi đó, mỉm cười kể cho chúng ta nghe một câu chuyện tưởng như rất bình thường nhưng chứa đựng cả một đời người phía sau.

Rồi một ngày nào đó, khi tóc chúng ta cũng bạc đi, khi bước chân cũng chậm lại, có lẽ chúng ta sẽ hiểu rằng điều đáng quý nhất không phải là sống bao nhiêu năm.

Mà là đã sống như thế nào trong những năm tháng ấy.

Và những người trên sáu mươi hôm nay chính là minh chứng đẹp nhất cho sức mạnh của sự bền bỉ, lòng kiên cường và phẩm giá của con người.

Nguồn : NguoiCaoTuoi – Dulichvanhoa

Sưu tầm.


 

ĐÂU MỚI LÀ GIA TÀI THẬT SỰ …?

Những Câu Chuyện Thú VịDuc Minh Danh

 ĐÂU MỚI LÀ GIA TÀI THẬT SỰ …?

Nhìn xuống huyệt đất sâu kia: chum vẫn còn nguyên, vàng bạc vẫn nằm đó, đồng tiền vẫn sáng lấp lánh dưới lớp bụi thời gian. Chỉ có con người là nằm im, hóa thành xương trắng.

Tiền vẫn là tiền. Vàng vẫn là vàng. Chum vẫn là chum.

Còn người thì thành cát bụi.

Mang theo được không? Không.

Tiêu được không? Cũng không.

Cả đời lo gom góp, chắt chiu, cất vào chum, chôn xuống đất. Đến lúc nhắm mắt xuôi tay, thứ nằm cạnh mình chỉ là những vật vô tri. Chúng không khóc, không thương, không nhớ.

Vậy nên, khi còn thở được, đừng chỉ sống để tích lũy. Sống để cảm nhận. Sống để yêu thương. Sống để làm điều tử tế.

Vì cuối cùng, thứ ở lại không phải là vàng trong chum…

Mà là hơi ấm trong tim người khác khi họ nhắc về mình.

Tiền bạc có thể nằm lại trong đất.

Nhưng nhân nghĩa, nếu gieo đủ sâu, sẽ nở hoa trong lòng người sống.

Thế mới là “gia tài” thật sự.

Sưu tầm


 

TÔI LÀ AI??

Vạch Lá Tìm Chim

TÔI LÀ AI??

Tôi sinh ra giữa lòng cộng sản. Tôi lớn lên giữa khô cằn sỏi đá Miền Trung. Quê tôi nằm bên trong Vĩ Tuyến (17), nhưng là cái nôi của cách mạng ngày xưa. Tôi không biết Mỹ, Nguỵ là gì? Cũng không biết Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là gì? Cũng chưa bao giờ biết sự phồn hoa của Đô Thành Sài Gòn một thời mà ông Lý Quang Diệu hằng mơ ước.

Tôi không học nhiều nhưng thời học sinh của tôi là cháu ngoan Bác Hồ là đoàn viên ưu tú dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Ngày xưa tập thơ gối đầu của tôi là “Theo Chân Bác”. Tôi vẫn cứ yêu đảng yêu bác cho đến chết nếu Facebook không du nhập vào Việt Nam. Tôi đã được mở rộng tầm mắt, rồi từ đó tôi biết những gì tôi học, những gì tôi bị nhét vào đầu là dối trá, dối trá một cách trơ trẽn.

Chỉ cần đặt một vài câu hỏi nhỏ thôi ví dụ như là: Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Tại sao con cháu của những vị tướng lừng danh như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Quốc Thước lại chọn Pháp, Mỹ để sống mà không phải là Việt Nam?

Tại sao Nguyễn Công Khế, Hồ Thị Thu Hồng một thời chửi Mỹ hay hơn hát rồi cuối cùng lại chọn Mỹ định cư?

Nhiều lắm, nhưng tại sao lắm không thể nào kể hết trong một Stt được. Câu cuối cùng tôi muốn hỏi hơn 90 triệu dân Việt Nam ai đã từng được cầm lá phiếu bầu lãnh đạo thể hiện quyền của một con người chưa?

Tôi lưu lạc khắp nơi để chỉ nói lên những điều mình thấy, viết những điều mình biết. Tôi đủ lớn và cũng đủ già để chịu trách nhiệm với những gì mình viết và nói ra không liên quan gì tới những người thân của tôi cả. Vì thế đừng chơi trò đe doạ và méc phụ huynh. Đời người một lần sống và một lần chết bình tĩnh “Đối Mặt” thôi!

 


 

Nỗi sợ – vũ khí của độc tài, cũng là kẻ thù của độc tài

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

07/08/2026

Người ta thường nói rằng NỖI SỢ LÀ NỀN TẢNG CỦA MỌI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI. Chính nỗi sợ khiến người dân im lặng, khiến đối lập tê liệt và giúp nhà độc tài duy trì quyền lực trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Điều đó đúng. Nhưng lịch sử còn kể một câu chuyện khác, ít người để ý hơn: cũng chính nỗi sợ ấy, lại trở thành nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chính nhà độc tài.

Cách mạng Pháp năm 1789 là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại. Từ đống tro tàn của chế độ quân chủ chuyên chế, nước Pháp đã khai sinh những tư tưởng làm thay đổi thế giới: quyền con người, chủ quyền của nhân dân, bình đẳng trước pháp luật và khát vọng tự do. Khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã vượt ra khỏi biên giới nước Pháp để trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều cuộc cải cách và cách mạng trong hơn hai thế kỷ sau đó.

Nhưng cũng như nhiều cuộc cách mạng khác, Cách mạng Pháp không chỉ có ánh sáng mà còn có những bóng tối. Một trong những chương đen tối nhất của nó là thời kỳ Khủng bố (La Terreur), nó cũng cho chúng ta thấy rằng một cuộc cách mạng, dù bắt đầu bằng những lý tưởng cao đẹp, vẫn có thể đi đến cực đoan nếu quyền lực không còn được kiểm soát.

Không ai tượng trưng rõ hơn cho nghịch lý ấy bằng Maximilien Robespierre.

Ban đầu, Robespierre được xem là một trong những nhà cách mạng trong sạch và có nguyên tắc nhất. Ông phản đối đặc quyền quý tộc, bảo vệ nền cộng hòa và luôn nói đến “đức hạnh” như nền tảng của chính trị. Trong mắt nhiều người đương thời, ông là “Người không thể mua chuộc” (L’Incorruptible).

Nhưng khi nước Pháp phải đối mặt với chiến tranh bên ngoài và nổi dậy trong nước, Robespierre ngày càng tin rằng muốn cứu cách mạng thì phải tiêu diệt tất cả những ai có thể đe dọa cách mạng. Theo ông, khủng bố chỉ là công lý được thực hiện nhanh chóng và nghiêm khắc để bảo vệ nền cộng hòa.

Từ tư tưởng ấy, nước Pháp bước vào thời kỳ mà lịch sử gọi là Thời kỳ Khủng bố .

Tháng 9 năm 1793, Quốc ước(Convention Nationale : Cơ quan quyền lực tối cao của CM) thông qua Luật Nghi ngờ (Loi des suspects). Đạo luật này cho phép bắt giữ bất kỳ ai bị coi là “đáng nghi”. Khái niệm “đáng nghi” rất mơ hồ. Chỉ cần bị cho là không đủ nhiệt thành với cách mạng, có quan hệ với quý tộc hoặc bị hàng xóm tố cáo cũng có thể bị bắt.

Hàng chục nghìn người bị giam giữ. Hàng nghìn người bị đưa lên máy chém.

Ban đầu, mục tiêu của các cuộc thanh trừng là những người trung thành với chế độ quân chủ. Nhưng rất nhanh sau đó, lưỡi dao của chiếc máy chém bắt đầu quay sang chính những người cách mạng.

Nhóm Hébert bị xử tử. Rồi đến Georges Danton, một trong những người có công lớn nhất với Cách mạng Pháp. Danton từng là đồng chí thân cận của Robespierre, nhưng vì kêu gọi chấm dứt các cuộc hành quyết nên bị kết tội phản bội. Ông bị xử chém ngày 5 tháng 4 năm 1794.

Cùng ngày hôm đó, Camille Desmoulins cũng bước lên đoạn đầu đài. Desmoulins không chỉ là đồng chí mà còn là người bạn từ thuở thiếu thời của Robespierre. Tình bạn nhiều năm không đủ để cứu ông khỏi bản án tử hình.

Máy chém không còn phân biệt bạn hay thù. Mỗi bản án đều được tuyên nhân danh nhân dân.

Mỗi cuộc hành quyết đều được giải thích là để cứu cách mạng.

Đó là nghịch lý bi thảm của mọi cuộc thanh trừng chính trị: người ta nhân danh một lý tưởng để loại bỏ những người từng cùng mình xây dựng chính lý tưởng ấy.

Trong Quốc ước, bầu không khí ngày càng nặng nề. Nhiều đại biểu hiểu rằng không còn ai thực sự an toàn, nhưng hầu như không ai dám phản đối. Mỗi lần một đồng nghiệp bị bắt, những người còn lại lại im lặng. Không phải vì họ đồng tình, mà vì họ sợ mình sẽ là người tiếp theo. Nỗi sợ trở thành nền tảng của quyền lực.

Tháng 6 năm 1794, Quốc ước thông qua Luật 22 Prairial, đạo luật còn khắc nghiệt hơn tất cả những gì đã có trước đó. Quyền bào chữa gần như bị xóa bỏ. Tòa án Cách mạng chỉ còn hai khả năng: tha bổng hoặc tử hình. Số vụ xử chém tăng lên với tốc độ chưa từng có. Các nhà sử học gọi những tuần cuối cùng ấy là Đại Khủng bố (Grande Terreur).

Rồi Robespierre phạm phải sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của mình.

Ngày 26 tháng 7 năm 1794, ông đọc một bài diễn văn dài trước Quốc ước. ÔNG TUYÊN BỐ RẰNG NGAY TRONG QUỐC ƯỚC Và CÁC ỦY BAN VẪN CÒN NHỮNG KẺ PHẢN BỘI. NHƯNG ÔNG KHÔNG NÊU TÊN. Có lẽ Robespierre nghĩ rằng sự mập mờ ấy sẽ khiến mọi người sợ hãi hơn. Ông đã đúng. Nhưng không theo cách ông mong muốn.

Nếu trước đó mỗi đại biểu chỉ lo cho số phận của người khác, thì sau bài diễn văn ấy, tất cả đều tự hỏi: “Liệu ngày mai đến lượt mình không?”

Đó chính là khoảnh khắc quyền lực của Robespierre bắt đầu tan vỡ.

Cho đến lúc ấy, nỗi sợ khiến mọi người chia rẽ. Ai cũng cúi đầu để tự cứu mình.

Nhưng khi tất cả đều tin rằng mình có thể trở thành nạn nhân tiếp theo, nỗi sợ ấy lại tạo ra điều ngược lại: nó buộc họ đoàn kết với nhau.

Ngay ngày hôm sau, 27 tháng 7 năm 1794, Robespierre bước vào Quốc ước như mọi ngày.

Ông không ngờ rằng cán cân đã đổi chiều. Những đại biểu vốn im lặng lại ngắt lời ông liên tục. Tiếng hô “Đả đảo tên bạo chúa!” vang lên trong nghị trường. Quốc ước biểu quyết bắt giữ Robespierre, em trai ông(Augustin), Saint-Just, Couthon và các cộng sự thân cận.

Chỉ trong vài giờ, người đàn ông quyền lực nhất nước Pháp trở thành tù nhân.

Nhưng đêm hôm đó, chính quyền thành phố Paris đứng về phía Robespierre. Họ đưa ông đến Tòa thị chính và kêu gọi lực lượng vũ trang của Paris chống lại lệnh bắt giữ do Quốc ước ban hành. Tuy nhiên, Robespierre lại chần chừ, không phát động cuộc nổi dậy. Chỉ vài giờ sau, các lực lượng trung thành với Quốc ước tràn vào Tòa thị chính và bắt giữ ông.

Ngày 28 tháng 7 năm 1794, Robespierre cùng 21 cộng sự bị đưa lên máy chém. Chiếc máy chém mà ông từng coi là công cụ bảo vệ cách mạng, bảo vệ ông cuối cùng đã lấy chính mạng sống của ông. Thời kỳ Khủng bố kết thúc.

Cái hay nhất mà tôi thấy trong câu chuyện này không phải là cái chết của Robespierre, mà là cơ chế dẫn đến sự sụp đổ của ông.

Ông không bị đánh bại bởi quân đội nước ngoài, không bị lật đổ bởi một cuộc nổi dậy của quần chúng, ông bị lật đổ bởi chính những người đã từng ủng hộ mình.

Ban đầu, họ chấp nhận im lặng vì nghĩ rằng sự phục tùng sẽ giúp mình sống sót. Nhưng khi cuộc thanh trừng mở rộng đến mức không còn ai chắc chắn về số phận của mình, họ hiểu rằng im lặng không còn là sự lựa chọn an toàn nữa.

Đó là nghịch lý của quyền lực dựa trên nỗi sợ.

Khi chỉ một nhóm người sợ hãi, chế độ vẫn có thể đứng vững. Nhưng khi tất cả đều sợ, kể cả những người trung thành nhất, thì chính nỗi sợ ấy sẽ phá hủy nền tảng của quyền lực.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên vẹn. Mỗi thời đại có hoàn cảnh riêng, mỗi quốc gia có con đường riêng. Nhưng những quy luật về tâm lý quyền lực và bản năng sinh tồn của con người thường có sức sống rất dài.

Mỗi khi khái niệm “kẻ thù” ngày càng được mở rộng, mỗi khi các cuộc thanh trừng không còn dừng ở đối lập mà bắt đầu lan sang chính những người trong hàng ngũ của mình, thì một câu hỏi sẽ âm thầm xuất hiện trong đầu tất cả những người còn lại: “LIỆU NGÀY MAI CÓ ĐẾN LƯỢT MÌNH KHÔNG?”

Và khi câu hỏi ấy trở thành nỗi ám ảnh chung, sự trung thành sẽ dần nhường chỗ cho bản năng tự vệ.

Trong nhiều chế độ độc tài, người ta thường thấy một vòng xoáy đầy nghịch lý, có thể dẫn chính người cầm quyền đến chỗ sụp đổ.

Để duy trì quyền lực, nhà độc tài luôn tìm cách loại bỏ mọi đối thủ và mọi mầm mống có thể đe dọa mình. Không làm như vậy, họ lo sợ sẽ bị lật đổ. Nhưng càng thanh trừng, họ lại càng khó xác định đâu là kẻ thù thực sự. Bởi trong một bầu không khí ngờ vực, bất kỳ ai cũng có thể bị coi là đối thủ tiềm tàng: đối lập, đồng minh, cộng sự, thậm chí cả những người từng trung thành nhất.

Vì thế, các cuộc thanh trừng có xu hướng ngày càng mở rộng. Khi mọi người đều tin rằng lòng trung thành không còn bảo đảm cho sự an toàn của mình, bản năng tự vệ sẽ thay thế lòng trung thành.

Đó chính là điều đã xảy ra với Robespierre. Chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi bốn giờ, người đang ở trên đỉnh cao quyền lực đã trở thành nạn nhân của chính cơ chế mà ông tạo ra.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên xi, nhưng những quy luật của quyền lực thì thường có những nét tương đồng. Người tiếp theo sẽ là ai? Putin, Kim Jong-un, Tập Cận Bình, hay một nhà lãnh đạo nào khác mà hôm nay vẫn đang nắm quyền tuyệt đối? Không ai có thể biết trước. Chỉ có thời gian mới đưa ra câu trả lời.

BẤT KỲ QUYỀN LỰC NÀO ĐƯỢC XÂY DỰNG CHỦ YẾU TRÊN NỖI SỢ ĐỀU MANG TRONG MÌNH NHỮNG MẦM MỐNG TỰ HỦY CỦA NÓ.

Những gì đã xảy ra trong Cách mạng Pháp – nhân danh cách mạng để đàn áp, để thanh trừng, để loại bỏ những người bị coi là “kẻ thù của cách mạng”… – đáng tiếc không chỉ là câu chuyện của nước Pháp. Điều làm tôi suy nghĩ không phải là bản thân những cuộc thanh trừng ấy, mà là khoảng cách về thời gian. Người Pháp đã trải qua giai đoạn đó từ cuối thế kỷ XVIII. Thế nhưng, hơn hai thế kỷ sau, ở một số quốc gia đi sau, người ta vẫn bắt gặp gần như cùng một cơ chế vận hành của quyền lực, chỉ khác ở tên gọi và hình thức.

Đó không chỉ là một sự tương đồng của lịch sử. Đó còn là thước đo cho thấy khoảng cách về trình độ phát triển chính trị giữa các quốc gia đôi khi không chỉ tính bằng vài chục năm, mà bằng cả vài thế kỷ.

Vậy mà vẫn dám nói « kỷ nguyên vươn mình”.


 

TIN VÀ KHÔNG TIN

Chuyện tuổi Xế Chiều  – Công Tú Nguyễn

Một người đàn ông đi vào tiệm hớt tóc quen thuộc để cắt tóc và cạo râu như thường lệ. Ông ta bắt đầu buôn chuyện với người thợ phục vụ cho mình. Họ nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi vô tình họ đụng đến đề tài Chúa trời.

Người thợ cắt tóc nói: “Tôi chẳng tin trên đời này có Thượng Đế như ông đã nói”.

Người khách: “Sao ông lại nói thế?”.

“Chuyện đó cũng dễ thôi, chỉ cần ông bước ra đường là thấy ngay trên đời này chẳng có Chúa trời gì ráo. Nếu thực sự Ngài có tồn tại thì tại sao trên đời này lại có nhiều người bệnh tật như vậy? Sao còn rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi. Nếu có Chúa, trên đời này sẽ chẳng có đau khổ. Tôi không thể nghĩ nỗi là Chúa nào lại chấp nhận nhìn những cảnh đó xảy ra”.

Người khách lặng im suy nghĩ nhưng rồi ông không nói gì vì không muốn câu chuyện trở thành cuộc khẩu chiến. Người thợ cắt tóc làm xong công việc của mình và vị khách hàng bước ra khỏi tiệm. Vừa ra ngoài ông liền nhìn thấy một người đàn ông trên đường tóc tai râu ria bù xù (như thể đã lâu lắm rồi ông ta không cắt tóc cạo râu vậy, trông rất bê bối).

Người khách liền quay lại cửa tiệm và nói với người thợ cắt tóc:

“Ông biết gì không? Trên đời này làm gì có thợ cắt tóc”.

“Sao lại không? Tôi đang ở đây và tôi là thợ cắt tóc”.

“Không hề”, vị khách trả lời: “Nếu có thợ cắt tóc thì sao vẫn còn những người tóc tai, râu ria bù xù như người đàn ông đang đi trên đường kia?”.

“À, thợ cắt tóc thì có chứ, chỉ tại những người kia không chịu đến tiệm cắt tóc mà thôi”.

“Chính xác!”. Vị khách như chỉ đợi câu nói đó.

“Đó là điều mà tôi muốn nói. Thượng Đế có tồn tại, chỉ là người ta không tin và không tìm đến Ngài mà thôi. Đó là lý do vì sao trên đời này lại có nhiều khổ đau đến như vậy”.

St


 

Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Van NguyenSự Thật Lề Đường (STLĐ) 

Bình luận xã hội: Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Bất bình đẳng giàu–nghèo không còn là một hiện tượng kinh tế đơn thuần. Nó đã trở thành vết nứt xã hội lớn nhất của thế kỷ 21, một đường ranh chia con người thành hai thế giới sống song song nhưng hoàn toàn khác biệt.

Trong những thập niên trước, người ta tin rằng tăng trưởng kinh tế sẽ tự động mang lại thịnh vượng cho tất cả. Nhưng thực tế phũ phàng hơn nhiều: tài sản không chảy xuống đáy, mà chảy ngược lên đỉnh. Và càng ngày, tốc độ chảy càng nhanh.

  1. Thế giới của 1% và thế giới của 99%

Ngày nay, theo dữ liệu từ World Inequality Database, top 1% dân số thế giới nắm gần 40% tài sản toàn cầu, trong khi 50% dân nghèo nhất chỉ sở hữu khoảng 2%.

Không cần những con số giật gân để thấy sự thật: tài sản đang tập trung vào một nhóm cực nhỏ, còn phần lớn nhân loại sống trong tình trạng bấp bênh.

Điều đáng nói là:

  • Nhóm giàu nhất không chỉ giàu hơn – họ giàu nhanh hơn.
  • Nhóm nghèo không chỉ nghèo – họ nghèo lâu hơn.

Khoảng cách không còn là một đường cong, mà là một vực sâu.

  1. Xã hội phân tầng: giàu sống trong tương lai, nghèo sống trong quá khứ

Nhóm giàu nhất sống trong một thế giới nơi công nghệ, y tế, giáo dục, và cơ hội mở ra như cánh cửa tự động.

Nhóm nghèo sống trong một thế giới nơi mọi thứ đều là rào cản:

  • Giá nhà vượt xa thu nhập
  • Y tế trở thành xa xỉ
  • Giáo dục chất lượng cao chỉ dành cho người có điều kiện
  • Việc làm bấp bênh, lương không theo kịp chi phí sống

Hai thế giới này không còn gặp nhau.

Họ chỉ nhìn thấy nhau qua những con số thống kê lạnh lùng.

  1. Nguyên nhân: hệ thống được thiết kế để tài sản chảy lên

Các nhà xã hội học Ý từ thập niên 1980 đã cảnh báo:

Khi chính sách ưu ái vốn hơn lao động, bất bình đẳng sẽ tăng không thể đảo ngược.

Ngày nay, điều đó đã thành hiện thực:

  • Toàn cầu hóa giúp tập đoàn đa quốc gia hưởng lợi, không phải người lao động.
  • Công nghệ tạo ra siêu lợi nhuận cho một nhóm nhỏ sở hữu trí tuệ và cổ phần.
  • Thuế giảm cho người giàu, tăng cho tầng lớp trung lưu.
  • Công đoàn suy yếu, lương không theo kịp năng suất.

Kết quả: tài sản chảy lên đỉnh kim tự tháp và không quay lại đáy.

  1. Hệ quả xã hội: bất mãn, cực đoan, và mất niềm tin

Khi người nghèo cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau, xã hội bắt đầu rung chuyển:

  • Niềm tin vào chính phủ giảm
  • Chủ nghĩa dân túy tăng
  • Xung đột giai cấp trở nên rõ rệt
  • Giới trẻ mất niềm tin vào tương lai
  • Bạo lực và tội phạm tăng theo tỷ lệ nghèo

Một xã hội mà đa số cảm thấy không có lối thoát là một xã hội dễ tổn thương.

  1. Kết luận: Bất bình đẳng không phải số phận – nó là lựa chọn chính sách

Khoảng cách giàu–nghèo không phải là điều tự nhiên.

Nó là kết quả của những quyết định chính trị, kinh tế, và xã hội trong suốt 40 năm qua.

Và nếu những quyết định đó không thay đổi, bất bình đẳng sẽ không chỉ là vấn đề kinh tế – nó sẽ trở thành ngòi nổ của bất ổn xã hội toàn cầu. 


 

HÃY NHÌN LẠI BẦU TRỜI – Lm. Mark Link, S.J.

 Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Nếu chúng ta cảm thấy khó sống phúc âm, có lẽ do chúng ta không còn nhìn đến Chúa Giêsu.”

 Có một ông nọ nói: “Tôi cứ nghĩ là càng về già tôi sẽ càng ít bị cám dỗ, nhưng thực tế tôi lại bị cám dỗ nhiều hơn.”  Có một phụ nữ kia nói: “Tôi cứ ngỡ là khi các cháu bé lớn lên tôi sẽ kiên nhẫn hơn, thế mà ngược lại tôi thấy mình nóng tính hơn trước.”  Một thiếu niên nói: “Trước đây tôi cứ nghĩ vâng phục luật Chúa là dễ dàng.  Bây giờ thì tôi lại thấy càng ngày càng khó.”

 Bạn có lời nói nào tương tự như vậy không?  Bạn có thấy bị cám dỗ thường xuyên không?  Bạn có thấy mất kiên nhẫn với những người thân yêu không?  Bạn có cảm thấy ngày càng khó vâng theo luật Chúa không?  Nếu có, thì bài Phúc Âm hôm nay chắc chắn là một sứ điệp quan trọng đối với bạn.

Câu chuyện trên đây minh họa điều đó.  Nó giống hệt câu chuyện trong Phúc Âm hôm nay. 

Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ.  Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm.  Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời.  Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm.  Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.

 Thấy thế, một thuỷ thủ già liền la to lên với cậu: “Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi!  Nhìn lên lại bầu trời đi!”  Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.  Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phêrô trong Phúc âm hôm nay.  Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phêrô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.

 Và điều này thường xảy ra cho bạn cũng như cho tôi.  Lúc đầu chúng ta khởi sự cuộc sống thật tốt đẹp, đôi mắt đăm đăm nhìn vào Chúa Giêsu, nhưng rồi một điều gì đó xảy đến khiến chúng ta rời xa mắt Người.  Chúng ta không còn nhìn vào Chúa Giêsu nữa; thế là chúng ta bị mất thăng bằng, chúng ta bắt đầu chìm xuống.  Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể.

 Trong cuốn sách tựa đề “The Taste of New Wine” (Hương rượu mới), Keith Miller có mô tả một biến cố thay đổi cuộc đời ông.  Biến cố này xảy ra vào mùa hè ngay sau năm thứ nhất đại học của ông.  Ðêm hôm ấy, Keith bị thương nặng vì một tai nạn xe hơi.  Anh nằm sõng soài bên vệ đường suốt một tiếng rưỡi chờ xe cứu thương.  Khi tâm trí hoàn toàn tỉnh táo, anh bắt đầu cầu nguyện.  Ðang khi nằm đó cầu nguyện trong bóng đêm, một cảm giác an bình xâm chiếm con người anh.  Keith viết: “Tôi nghĩ thật xấu hổ biết bao khi khám phá ra quá trễ trong cuộc đời có loại an bình thực sự như thế.  Lần đầu tiên, tôi không biết sợ chết.”  Keith cho biết, lúc đó anh nhận thức được rằng dầu có chết anh cũng sẽ chết trong khi biết mình đã được tiếp xúc với một điều gì đó thân mật và có thực.  Dù điều ấy là gì đi nữa, điều quan trọng là mãi cho đến bây giờ anh mới khám phá ra điều ấy trong cuộc sống của mình.

 Thế rồi Keith đã thoát được tai nạn đó và bình phục trở lại.  Anh trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch hội huynh đệ của lớp đại học năm thứ hai.  Chẳng bao lâu anh lại bị khích động bởi đời sống hào nhoáng ở đại học.  Nghĩa là, Keith đã quay mặt khỏi Chúa Giêsu, Ðấng mà anh đã từng gặp bên vệ đường.

 Sau khi tốt nghiệp, Keith lập gia đình và làm việc cho một hãng xăng dầu ở Texas.  Nhưng anh đã không được hạnh phúc như anh từng mơ ước.  Một hôm, Keith buồn quá, anh chui vào chiếc xe hơi của công ty rồi vọt đi.  Chạy được một lúc anh cho xe chạy lên vệ đường, tắt máy rồi ngồi thừ ra đó.  Trước đây, Keith luôn luôn tin tưởng rằng luôn luôn có lối thoát cho buồn sầu, chẳng hạn uống vài ly Martini và ngủ một giấc thật say là có thể khởi sự lại vào sáng sớm hôm sau.  Thế nhưng hiện giờ không còn có sáng hôm sau nữa.  Anh ta đã đến bên bờ vực thẳm rồi.  Anh nhìn lên trời cao và la to lên với Chúa: “Nếu Chúa muốn điều gì nơi con thì Ngài hãy lấy đi, con thực tình muốn như thế!”

 Câu chuyện trên xảy ra cách đây đã nhiều năm.  Tuy nhiên điều xảy ra trong đời Keith vào ngày đó đã không bao giờ rời anh ta nữa.  Hôm đó, không có những tiếng nói mầu nhiệm.  Hôm đó Keith chỉ nhận ra những điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.  Chúa không cần tiền bạc, thời giờ của chúng ta.  Người chỉ cần ý muốn của chúng ta và nếu chúng ta dâng cho Người ý muốn này, Người sẽ chỉ cho chúng ta cuộc sống mà từ trước đến giờ chưa bao giờ chúng ta thấy, và có thể nói đây là một cuộc tái sinh thực sự.

 Một lần nữa, Keith lại hướng đôi mắt nhìn vào Chúa Giêsu, và ngay lúc đó, anh lại tìm được sự bình an thâm sâu mà nhiều năm trước đây anh đã khám phá ra trong lúc nằm sõng soài bên vệ đường.

 Tất cả chúng ta đều đã từng có những cảm nghiệm giống như Keith.  Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện quyền năng của Chúa Giêsu.  Tuy nhiên, giống như Keith, chúng ta đã rời mắt mình khỏi Chúa Giêsu, đã bỏ Người để đi tìm những sự vật khác.  Và cũng như Keith chúng ta đã bị mất thăng bằng.

 Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy thẳng thắn nhìn vào cuộc sống của mình.  Nếu chúng ta không cảm nhận được sự bình an là niềm vui thiêng liêng mà ta đã từng cảm nhận, thì chắc hẳn là vì chúng ta đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu.  Nếu chúng ta đang sắp bị bão tố cuộc đời nuốt trửng, thì có lẽ là vì chúng ta đã rời mắt đi xa Chúa Giêsu.  Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta quay mắt trở lại nhìn vào Chúa Giêsu.  Bài Phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta cùng nói với Thánh Phêrô: “Lạy Chúa, xin cứu vớt con!”  Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi của Phúc âm thì tôi có thể dám chắc với các bạn rằng chúng ta sẽ cảm nghiệm được giống như Thánh Phêrô, chúng ta sẽ cảm nhận được bàn tay Chúa Giêsu giơ ra biểu lộ tình yêu đối với chúng ta.

 Chúng ta không thể cảm nhận điều ấy ngay lập tức và một cách nhiệm mầu, tuy nhiên chúng ta cứ tiếp tục kêu cầu chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm điều ấy, để rồi chúng ta sẽ nói như Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, Ngài thực sự là Con Thiên Chúa.”

 Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

 Lạy Chúa, Keith Miller đã gặp được Chúa lúc nằm sõng soài bên vệ đường trong một tai nạn xe hơi.
Ngôn sứ Êlia đã gặp được Ngài trong tiếng thì thầm nơi cửa hang.
Thánh Phaolô đã gặp được Ngài trong chớp sáng trên đường đi Ðamas.
Và Thánh Phêrô đã gặp được Ngài giữa cơn bão biển.
Xin hãy giúp chúng con gặp lại Ngài,
Xin hãy giúp chúng con biết chạy đến với Ngài.
Xin hãy giúp chúng con lại cảm nghiệm được sự hiện diện cứu độ của Ngài trong cuộc sống chúng con.  Amen!

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim