Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì?- Cha Vương

Xin Chúa ban muôn phúc lành xuống trên bạn và gia đình để bạn luôn ao ước những gì thuộc về Chúa. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé?

Cha Vương

Thứ 3: 14/04/2026.  (n26-22)

GIÁO LÝ: Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì? Nghĩa là Chúa Giêsu, một người trong chúng ta đã về lại nhà với Thiên Chúa Cha và ở lại đó muôn đời. Nhờ Chúa Giêsu mà Thiên Chúa ở gần loài người chúng ta trong cách thức loài người. Và trong Phúc Âm Gioan, Chúa Giêsu đã nói: “Khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” (Ga 12, 32). (YouCat, số 109)

SUY NIỆM: Trong Tân ước, việc Chúa về trời chấm dứt giai đoạn bốn mươi ngày được đánh dấu bằng việc Đấng đã sống lại ở gần gũi với các môn đệ. Cuối giai đoạn này Chúa Giêsu đi vào trong oai nghi của Thiên Chúa với toàn bộ nhân tính của mình. Kinh Thánh thuật lại bằng những hình ảnh tượng trưng có “mây”, có “trời”. Như Đức Bênêđictô XVI nói: “Con người có được chỗ trong Thiên Chúa”. Chúa Giêsu Kitô bây giờ ở với Chúa Cha, từ đó một ngày kia Người đến “phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Chúa Giêsu về trời có nghĩa là Chúa Giêsu không còn là hữu hình ở dưới đất, nhưng lại vẫn luôn có mặt dưới đất. (YouCat, số  109 t.t.)

LẮNG NGHE: Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời. (Cv 1,11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa dạy con: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:1-3) Xin đừng để những bận tâm thế tục làm con xao xuyến và lo âu nhưng giúp con biết can đảm sống đức tin, chấp nhận hy sinh, dám sống yêu thương và chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con có được chỗ ở trong Thiên Chúa. 

THỰC HÀNH: Môi trường gia đình là trường học dạy về đức tin và yêu thương, đó cũng là nơi mà tiền bạc không quí bằng tình yêu. Hôm nay mời bạn hãy trở thành một chứng tá cho đức tin, cho tình yêu xả kỷ của mình ngay trong gia đình bằng những hy sinh nho nhỏ, rộng lượng chia sẻ, và xây dựng một mái ấm hạnh phúc trong Chúa Ki-tô phục sinh nhé.

From: Do Dzung

*****************************

Hy Lễ Cuối Cùng – Nguyễn Hồng Ân

Tại sao Hungary và Ba Lan?- Nguyễn Thọ

Ba’o Tieng Dan

14/04/2026

Nguyễn Thọ

Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba Lan là thành việc Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2] . Từ tháng Ba 1973 bên cạnh Ba Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS [3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.

Ai có thể tưởng tượng rằng trước tháng tư 1975, máy bay TU-154 của hãng hàng không MALEV hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đỗ bên cạnh các máy bay của Air America hay Air Vietnam, rằng đã có người Sài Gòn được các cô tiếp viên Hungary mời uống đồ giải khát? Ông bán phở ở gần khách sạn Catinat (Đường Nguyễn Huệ) đâu có biết rằng bà đầm hay ghé ăn phở lại là cô sĩ quan cộng sản Malgorzata từ thành Varsovie xa lạ.

Cả hai hiệp định hòa bình đều ra đời trong chiến tranh lạnh nên các thành viên ủy ban giám sát phải cùng được các chấp nhận. Năm 1954, Canada là nước tư bản được tất cả Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận. Ấn Đô là nước trung lập thì đương nhiên. (Lúc đầu họ trung lập thật sự, nhưng sau vụ Tây Tạng 1959, Việt Nam đứng về phía Trung Quốc nên tình bạn giữa Nehru – Hồ Chí Minh sứt mẻ). Ba Lan là nước XHCN được Mỹ và Pháp chấp nhận đại diện cho phe cộng sản.

Năm 1973 Ủy ban giám sát hiệp định hòa bình Paris bao gồm Canada, Indonesia, Hungary và Ba Lan. Về sau Canada rút lui và Iran được chọn thay thế, vì lúc đó chính quyền của vua Palevi là đệ từ ruột của Mỹ.

Sự hiện diện của các phái bộ Hungary và Ba Lan trong chiến tranh Việt Nam, cũng như sự đóng góp của họ vào diễn biến của cuộc chiến là một trong những góc khuất lịch sử mà tôi sẽ viết khi có dịp.

Vậy tại sao Mỹ lại chấp nhận hai nước XHCN này trong các ủy ban quốc tế về Việt Nam?

Đó chính là sự khác biệt trong chế độ chuyên chính vô sản mà đảng cầm quyền ở hai nước này thực thi. Phương Tây cho rằng hai nước này cởi mở hơn các nước XHCN khác. Ba Lan là nước XHCN duy nhất mà 80% nông dân không vào hợp tác xã. Nông nghiệp cá thể đã giúp nông dân Ba Lan giữ được tiếng nói của mình và đó cũng là đất sống cho giáo hội thiên chúa độc lập. Việc tổng giám mục Karol Wojtyla xứ Krakow được bầu làm giáo hoàng Johannes Paul II vào tháng 10.1978 cho thấy sức mạnh của giáo hội Ba Lan trong lòng nhà nước XHCN, sát biên giới Liên Xô.

Ở Hungary thì khác, 85% nông dân phải vào Hợp tác xã, nhưng ở đó vai trò của nông nghiệp được nhà nước coi trọng. Nhà nước đầu tư ồ ạt vào HTX giúp cho nông nghiệp Hungary phát triển rất tốt, xuất khẩu sang phương tây thu ngoại tệ. Cuộc sống ổn định khiến cho sự phản đối hợp tác hóa ở Hungary không hề gay gắt như ở Ba Lan.

Ở Ba Lan 100% giáo dân theo đạo thiên chúa (Catholic được coi là quốc đạo). Ở Hungary ngược lại có nhiều dòng đạo: Catholic, Evangelian, Lutherian. Do đó sự khống chế của nhà nước với các giáo hội này mạnh hơn nhiều. Vụ bắt giam và xử án Giáo chủ József Mindszenty năm 1948 là một ví dụ.

Cuộc nổi dậy 1956 (khởi xướng bởi những người cộng sản Hungarry dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Nagy Emre) đã thay đổi cách cư xử của nhà nước với các tôn giáo. Tổng bí thư đảng Công nhân XHCN Hungary Janos Kadar sau này đã đưa ra “Kádárismus“ và “Chung sống hòa bình” với nhiều thành phần trong xã hội. Từ 1964 Vatikan và Budapest đã nói chuyện với nhau.

Hè 1986, nhân đi công tác ở đài truyền hình Tiệp Khắc, tôi sang Hungary thăm anh Luat Nghiem Nguyen đang làm nghiên cứu sinh y khoa tại đại học Semelweis. Đã chứng kiến CNXH ở Đông Đức và Tiệp Khắc, hai nước phát triển nhất ở Đông Âu, khi sang đến Budapest, tôi nhận ra một không khí khác. Hàng hóa phương tây có mặt trong nhiều cửa hàng, tuy giá cao nhưng không bắt buộc phải mua bằng ngoại tệ mạnh trong các cửa hàng Intershop như Đông Đức. Từ các quảng cáo ngoài đường đến âm nhạc, tin tức trên đài đều có gì đó mới lạ với tôi. Đó có lẽ sự tác động của giòng ngoại tệ và văn hóa từ 10 triệu người Hung ở nước ngoài đổ vào cho 10 triệu người trong nước. Những kiều dân như George Soros đã gửi nhiều học bổng về nước. Năm 1971, chàng đảng viên Miklos Nemeth được học bổng tu nghiệp về kinh tế ở Harvard để rồi 1988, khi lên thủ tướng ông đã tận dụng hiểu biết và các mối quan hệ để tiến hành cải cách kinh tế.

Hồ Balaton của Hungary luôn là chỗ đến ưa thích của du khách từ Tây Đức cũng như Đông Đức. Không ít các cuộc hội ngộ gia đình hoặc giúp đỡ vượt biên từng xảy ra bên hồ này.

Những khác biệt trên đây so với các nước XHCN Đông Âu khác không chỉ phản ánh sự khai phóng trong xã hội, mà còn là cách nhìn nhận thực tế khách quan của các đảng cầm quyền ở hai nước này. Họ không thể mạnh tay hơn trước một cán cân lực lượng như vậy, nếu không muốn đổ bể.

Và chính các nền tảng xã hội, những dòng thông thương về tư tưởng và tài chính đó đã giúp đẩy mạnh thay đổi nhận thức trong các đảng cầm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1973 Ba-lan đã hợp tác với hãng Fiat để sản xuất xe ô-tô Fiat Polska. Không ở nước Đông Âu nào mà công dân mỗi năm được phép đi sang phương Tây ba lần thăm thân như ở Hungary. Từ đó người ta thấy rằng việc cả hai nước đi đầu trong việc chuyển đổi thể chế ở Đông Âu vào cuối năm 1989 là điều tất yếu. Cả người dân và các nhà lãnh đạo cộng sản ở đây đã nhìn ra sự cần thiết của cải cách, sự vô nghĩa của đàn áp, bạo lực để rồi cả hai bên ngồi vào những hội nghị bàn tròn, mở đầu cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Bức tường Berlin bị phá bỏ đêm 09.11.1989 chính là dưới tác động của các chuyển biến ở Ba Lan và Hungary.

Một yếu tố phải nói đến là tinh thần dân tộc. Nhân dân và lãnh đạo cả hai nước này đều muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của Liên Xô. Trong những biện pháp cứng rắn mà tướng Jaruzelsky áp dụng với công đoàn Đoàn kết của Lech Walesa có những toan tính làm sao đừng để Liên Xô đưa quân vào nước mình. Sau khi thay đổi chế độ, hai ông đã giãi bày với nhau.

Chủ nghĩa dân tộc luôn là con dao hai lưỡi. Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Hungary (đảng FIDESZ của Orban) và ở Ba Lan (đảng PIS của anh em nhà Kaczyński) đều biết tận dụng tâm lý dân tộc chủ nghĩa một cách khôn khéo để tấn công vào nền dân chủ. Khi đã kích động đa số dân chúng, họ thường áp đảo trong quốc hội và thay đổi hiến pháp, phá bỏ mọi nguyên tắc phân chia và kiểm soát quyền lực như chúng ta đã chứng kiến.

Vấn đề là lòng yêu nước có thể lúc nào đó bị lợi dụng, nhưng ý chí dân chủ, hàm lượng tri thức và văn hóa phản biện trong xã hội đã không cho phép ngu dân thành công. Kết quả của hai cuộc bầu cử ở loại bỏ đảng PIS ở Ba Lan và loại bỏ FIDESZ ở Hungary đều có nguồn gốc chung như vậy.

Việc Peter Magyar đạt hơn 2/3 số ghế quốc hội thể hiện ý chí của người dân, phải bằng mọi cách khôi phục lại hiến pháp dân chủ đã bị Orban làm méo mó. Rất nhiều người Hungary sống ở các nước EU đã quay về đăng ký bầu cử ở quê nhà.

Tất nhiên cả Ba Lan và Hungary đều sẽ còn trải qua nhiều khó khăn để bảo vệ được nền dân chủ. Mọi việc không hề đơn giản. Những người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc cực đoan không bao giờ chịu thua. Đã thế lại luôn có những kẻ từ bên ngoài như Le Pen, Putin, hay Trump hà hơi, cổ vũ.

Chẳng có gì tự nhiên đến cả, tự do lại càng không.

Nhưng tôi đã hiểu, không phải đương nhiên mà những binh sĩ người Ba Lan và Hungary lại có mặt ở Sài Gòn trước 30.04.1975.

_____

[1] Chương 3, Hồi ký “Xuyên qua mọi chiến tuyến” Tho-nx.github.io

[2] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Geneve 1954 (International Commission of Suppervising ICS) bao gồm Canada, Ấn Độ và Ba Lan

[3] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonesia. Sau này Iran thay Canada.


 

CÁI CHẾT ĐỘT NGỘT

Kim Ha

CN 8703: CÁI CHẾT ĐỘT NGỘT (1)

Sáng hôm nay, có hai người bạn báo tin cho tôi về cái chết của chị Maria Thoa. Tôi giật mình vì không ngờ chị Thoa đã qua đời. Tôi bèn lên mạng email báo tin cho mọi người trong Huynh Đoàn.

Thật sự không ai có thể ngờ được là chị Thoa ra đi nhanh chóng như thế. Tôi xin tổng hợp nguồn tin do 3 người kể lại:

Tối Thứ Năm 9/4 vừa qua, chị Thoa đi đến nhà thờ nghe cha Hy giảng phòng. Vì bãi đậu xe có quá nhiều xe nên cô bạn phải lái xe đi đậu xe xa hơn ngày thường. Sau đó, chị Thoa kể với một người bạn trong Huynh Đoàn vào ngày Thứ Sáu là vì chị phải đi bộ xa nên rất mệt. Thế rồi chị bịnh cả 3 ngày sau đó.

Tin cuối cùng là chị chết khoảng 11:30 g tối ngày Chúa Nhật Kính Lòng Chúa Thương Xót, ngày 12/4/2026. Văn phòng Pháp Y khám nghiệm tử thi của chị và theo dõi điện thoại cầm tay của chị. Họ khám phá ra rằng lúc 11:30 giờ khuya 12/4/2026 thì chị còn nghe một đài radio Công Giáo online.

Có thể chị đã chết vào lúc 11:30g đêm 12 tháng 4 năm 2026 vì bị máu nhồi cơ tim. Dù sao cũng chưa có tin tức chính xác.

Chị Thoa là người quảng đại trong việc tông đồ và bác ái. Chị cũng ở trong hội đoàn Legio Maria nên ai ai cũng thương mến chị. Chị luôn xướng kinh trong Zoom của Huynh Đoàn Đa Minh. Tính tình chị hiền hoà. Chị ngoan đạo và sốt sắng cầu nguyện.

Điều đặc biệt và hạnh phúc nhất là chị chết vào đúng ngày Đại Lễ Kính Lòng Chúa Thương Xót, sau khi chị được nhận lãnh Ơn Toàn Xá của Chúa Lòng Thương Xót ban cho.

“Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình,

bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ.” (Is 38, 12)

Giờ đây chắc chị đã gặp Chúa và Thánh Gia trên Thiên Đàng. Chị đã gặp lại chồng, cha mẹ và anh chị em trong gia đình.

Tôi nghĩ chị được ơn chết lành và chết nhanh chóng mà không phải nằm trên giường trong nhiều năm tháng.

Chị hạnh phúc vì được chết trong mùa Phục Sinh, trong ngày Đại Lễ Lòng Chúa Thương Xót.

Chị Thoa ơi, xin chị nghỉ yên bên Chúa! Xin chị cầu bầu cho gia đình của chúng em nhé! RIP.

Xin cả nhà đọc cảm nghiệm của chị mà tôi đã viết vào ngày 30/11/2021, cách đây 4 năm rưỡi. Đó là cảm nghiệm 5050 dưới đây:

Kim Hà,

13/4/2026

Hình: Kim Hà thăm chị Thoa Nguyễn trong bịnh viện


 

ĐỪNG KEO KIỆT VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ.  Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng.  Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

 Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc.  Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên.  Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn.  Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ.  Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em.  Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt.  Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người.  Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa.  Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

 Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào.  Đừng có mềm yếu, như vậy là sai.  Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!”  Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ. 

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa.  Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn.  Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1) 

Điều gì đang kìm hãm chúng ta?  Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài? 

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý.  Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng.  Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu. 

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa.  Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình! 

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ.  Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

 Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người.  Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

 Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa.  Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng.  Chúng ta không phải là người giữ cổng.  Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình.  Đó là một sai lầm. 

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ – dĩ nhiên là với ý tốt – thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài.  Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm đi.  Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta.  Ta muốn họ đến.” 

Mọi chuyện vẫn không thay đổi.  Theo năm tháng, chúng ta – những người đầy thiện chí – vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn.  Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được.  Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng. 

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

 Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế? 

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy. 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Mỹ chuẩn bị xét hoàn thuế do tổng thống Trump áp đặt (RFI)

 (RFI)

Ngày 10/04/2026, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ (CBP) thông báo bắt đầu chấp nhận đơn đề nghị hoàn trả thuế kể từ ngày 20/04. Đây là giai đoạn 1 trong tiến trình hoàn trả thuế mà các nhà nhập khẩu Mỹ đã phải thanh toán theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) do chính quyền của tổng thống Trump áp đặt. Vào tháng 02/2026, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã phán quyết rằng Donald Trump không có thẩm quyền áp đặt thuế quan theo IEEPA.

Đăng ngày: 12/04/2026  

 Kiểm tra đồng đô la Mỹ tại một ngân hàng ở Hà Nội, Việt Nam. Ảnh chụp ngày 12/08/2015 REUTERS/Kham

Thu Hằng

Theo trang NHK của Nhật Bản, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ cho biết họ sẽ đơn giản hóa quy trình hoàn trả vì dự đoán sẽ tiếp nhận một số lượng lớn đơn. Trong giai đoạn 1, cơ quan này sẽ chỉ xử lý hồ sơ liên quan đến một số lô hàng chưa được thông quan và những lô hàng mới được thông quan trong vòng 80 ngày trở lại đây. “Các trường hợp [nhập khẩu] phức tạp hơn” sẽ được xử lý trong các giai đoạn sau.

Theo ước tính, đến ngày 04/03, khoảng 166 tỷ đô la tiền thuế nhập khẩu đã được chính quyền Trump thu theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA).

Vào tháng Hai, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã phán quyết rằng tổng thống Donald Trump không có thẩm quyền áp đặt thuế quan theo IEEPA. Một tháng sau, Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ đã ra lệnh cho chính quyền bồi hoàn cho các nhà nhập khẩu số tiền thuế quan này.

Để đáp trả phán quyết của Tòa án Tối cao, chính quyền đã áp thuế 10% trong 150 ngày đối với nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản, dựa trên một đạo luật riêng.


 

Ta chẳng biết ngày mai còn hay mất

Ơn gọi Dòng Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Ta chẳng biết ngày mai còn hay mất

Hà cớ chi phải tất bật bon chen

Phải tranh đua với cuộc sống sang hèn

Hãy thong thả sống bình yên đơn giản

Trần gian này được xem là cõi tạm

Đến rong chơi ngày tháng lại rời xa

Tại sao không chọn lương thiện hiền hòa

Sống vui vẻ chân thong dong nhẹ bước

Giàu hay nghèo miễn đủ ăn là được

Nhà nhỏ to cứ hạnh phúc đủ rồi

Sau cánh cửa biết hạ bỏ cái tôi

Bớt sân si với những người thân thuộc

Ở ngoài kia khiến thân tâm mệt nhọc

Bởi thói đời đen trắng bạc như vôi

Tại sao không chọn lựa lấy nụ cười

Vui ấm áp sau ngày dài vất vả

Có gia đình ta còn có tất cả

Mất đi rồi của cải ý nghĩa chi

Nghĩ thử xem hơn thua ích lợi gì

Hay chỉ khiến thâm tình thêm xa cách

Nếu có thể bớt buông lời oán trách

Chọn bao dung biết thấu hiểu thứ tha.


 

Một trăm năm nữa, thế giới này chẳng còn ai nhớ đến bạn hay tôi

Lan Lê –  Những Câu Chuyện Thú Vị

Vào  một ngày mùa đông của 100 năm sau, không ai trong chúng ta còn ở đây nữa. Mọi tiền tài của cải mà ta tích góp, đã thuộc về người khác. Câu chuyện năm đó cũng không còn ai hiểu được…

  Con cháu bạn cũng chỉ nhìn bạn qua bức ảnh.

Những người từng thương nhau cũng chỉ còn lại trong ký ức…

Còn gi sót lại ? Không gì cả…

Một trăm năm nữa, thế giới này chẳng còn ai nhớ đến bạn hay tôi.

Một đoạn tâm sự của Lưu Diệc Phi:

Nếu bạn thấy mệt mỏi, hãy nghỉ ngơi một chút.

Nếu bạn thấy không vui, hãy lặng lẽ đứng một góc khóc một lát.

Nếu bạn cảm thấy bị tổn thương, hãy ôm lấy chính mình.

Dù thế nào đi nữa, xin đừng làm khó bản thân.

Đừng tự làm khổ mình đến sinh bệnh, càng đừng dồn ép bản thân đến bước đường cùng. Đời người ngắn ngủi lắm, ngoài chuyện sống chết, tất cả những điều khác đều không đáng để bận lòng.

Không vui thì hãy cứ để cảm xúc bộc lộ ra ngoài. Không thích nhìn sắc mặt ai thì đừng nhìn. Không muốn trả lời tin nhắn thì cứ mặc kệ.

Tại sao cứ phải gồng mình chịu đựng, tự làm khó chính mình?

Một trăm năm nữa, thế giới này chẳng còn ai nhớ đến bạn hay tôi, tất cả sẽ như một cơn gió thoảng qua, không để lại dấu vết gì.

Vậy thì hà tất gì phải sống trong ấm ức, để bản thân phải khổ sở từng ngày./


 

Thắng – Thua?

  Thắng Thua?

 Tranh cãi với bất kỳ ai, bạn cũng sẽ bị thua lỗ thôi!

– Tranh cãi với khách hàng?  

 Bạn thắng rồi, Khách mất đi.

 – Tranh cãi với đồng nghiệp?  

Bạn thắng rồi, Đoàn đội tiêu tan.
 

– Tranh cãi với người nhà?      

Bạn thắng rồi, Tình thân biến mất.


– Tranh cãi với bạn hữu?        

Bạn thắng rồi, Bạn hữu dần xa.


– Tranh cãi với vợ / chồng?      

Bạn thắng rồi, Tình cảm nhạt phai.

+ Tranh cãi với bất kỳ ai.    

 Bạn thắng rồi thì sao???

Thắng có nghĩa là bạn THUA???

 *****

Khổng tử dậy học trò: 3 x 8= 23, vì sao?

 Nhan Uyên ham học hỏi, tính tình tốt bụng, là một đệ tử đắc ý của Khổng Tử.

Một ngày nọ, trên đường đi làm việc, Nhan Uyên thấy một đám đông ồn ào trước cửa tiệm vải. Anh bước đến hỏi mới biết là đang có tranh chấp giữa người mua và người bán vải.

 Chỉ nghe người mua hét lớn: “Ba nhân tám là 23, sao ông cứ đòi ta 24 đồng?”

Nhan Uyên đến trước mặt người mua, lễ phép nói: “Vị đại ca này, ba nhân tám là 24, sao có thể là 23 được? Anh tính sai rồi, không nên cãi lộn ầm ĩ nữa”.

Người mua không phục, chỉ thẳng mặt Nhan Uyên nói:“Ai cần ngươi phân xử hay sao? Ngươi biết tính toán sao? Muốn phân xử chỉ có cách tìm Khổng phu tử, đúng hay sai hãy để ông ấy định đoạt! Đi, ta hãy tìm ông ấy để phân xử!”

Nhan Uyên đáp: “Được. Nếu Khổng phu tử nói anh sai, vậy xử lý sao?”

Người mua nói: “Nếu ta sai, hãy lấy đầu ta. Nhà ngươi sai thì sao?”

Nhan Uyên trả lời: “Nếu tôi sai, tôi sẽ từ quan”. Hai người đánh cuộc với nhau như thế, cũng đã tìm gặp được Khổng Tử.

 Khổng Tử và Nhan Uyên

 Khổng Tử hỏi rõ tình huống, rồi quay sang Nhan Uyên cười nói: “Ba nhân tám là 23 đó! Nhan Uyên, con thua rồi, lấy mũ quan xuống đem cho người ta đi!”

Nhan Uyên trước giờ chưa bao giờ cãi lại sư phụ. Nghe Khổng Tử nói mình sai, anh đành tháo mũ xuống giao cho người mua kia nhưng trong lòng không phục. Người mua nhận mũ, đắc ý rời đi.

 Nhan Uyên cho rằng Khổng Tử già rồi đâm ra hồ đồ, liền không muốn ở lại học tập Khổng Tử nữa. Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay lại lấy cớ nhà có việc muốn xin nghỉ học… Khổng Tử rất rõ tâm tư Nhan Uyên, nhưng không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý.

 Trước khi đi, Nhan Uyên quay lại cáo biệt Khổng Tử. Khổng Tử muốn Nhan Uyên trở về nhà bình an, cũng dặn dò hai câu: 

 “Ngàn năm cổ thụ không náu thân, sát nhân không rõ chớ động thủ”.

Nhan Uyên đáp lại một câu: “Con xin ghi nhớ”, rồi rời đi.

 Trên đường về, gió thổi mây dâng, sấm rung chớp giật, trời muốn đổ mưa to. Nhan Uyên tiến đến một cây đại thụ mục rỗng bên ven đường, muốn tránh mưa. Anh đột nhiên nhớ lại lời Khổng Tử đã nói: “Ngàn năm cổ thụ không náu thân”

Nghĩ thầm, sư đồ nhất tràng, anh nghe theo lời sư phụ, tránh xa khỏi cái cây rỗng. Vừa rời đi không xa thì nghe một tiếng sấm, sét đã đánh tan cây cổ thụ kia. Nhan Uyên kinh ngạc: “Câu đầu sư phụ nói đã ứng nghiệm sao! Chẳng lẽ ta còn có thể sát nhân ư?”

 Khi về tới nhà thì trời cũng đã khuya. Không muốn kinh động người nhà, Nhan Uyên dùng bảo kiếm mang theo bên người để đẩy chốt cửa phòng nơi thê tử của anh đang ngủ.

Đến bên giường, sờ lại thấy hai người nằm hai bên giường. Nhan Uyên vô cùng tức giận, giơ kiếm định chém, lại nghĩ đến câu nói thứ hai của Khổng Tử: “Sát nhân không rõ chớ động thủ”, bèn đốt đèn lên xem, hóa ra một người là thê tử, người kia là muội muội của anh.

 Ngày hôm sau, Nhan Uyên quay trở lại, thấy Khổng Tử liền quỳ xuống nói: “Sư phụ, hai câu người nói đã cứu ba người là con, vợ con và muội muội của con đó! Sao người lại biết trước chuyện sẽ xảy ra vậy?”

Nhan Uyên cảm thấy kính phục thầy sâu sắc, cũng đã biết được ẩn ý của Khổng Tử. Khổng Tử đỡ Nhan Uyên dậy và nói: “Ngày hôm qua thời tiết khô nóng, đoán chừng sẽ có cơn dông, nên ta nhắc nhở con: “ngàn năm cổ thụ không ai náu thân”, con lại mang khí bực trong người, trên thân đeo bảo kiếm, cho nên ta khuyên con “sát nhân không rõ chớ động thủ”!”

Nhan Uyên vừa vái lạy vừa nói: “Sư phụ liệu sự như thần, đệ tử mười phần kính nể!”

 Khổng Tử lại nói tiếp: “Ta biết rõ con xin phép về nhà nghỉ là mượn cớ, thật ra cho rằng ta đã già nên hồ đồ rồi, không muốn học ta nữa. Con nghĩ xem, ta nói 3 nhân 8 bằng 23 là đúng, con thua, bất quá là thua cái mũ quan kia, nếu ta nói 3 nhân 8 bằng 24 mới đúng, người mua bán kia thua, đây là một mạng người đó! Vậy con nói xem, chức vị quan trọng hay mạng người quan trọng hơn?

 Nhan Uyên bỗng giật mình tỉnh ngộ, quỳ gối trước mặt Khổng Tử mà thưa: “Sư phụ trọng đại nghĩa coi nhẹ tiểu tiết, đệ tử còn tưởng rằng Sư phụ vì lớn tuổi mà thiếu minh mẫn, đệ tử hổ thẹn vạn phần!”

Từ đó về sau, bất luận Khổng Tử đi đến đâu, Nhan Uyên theo đến đó không rời sư phụ…

 Câu chuyện này gợi cho tôi nhớ tới ca từ trong một bài hát tuyệt vời của Khắc Lý Lâm: 

   “Nếu như mất đi bạn, được cả thế giới cũng để làm gì?”

– Tranh cãi với khách hàng. Bạn thắng rồi. Khách mất đi.

– Tranh cãi với đồng nghiệp. Bạn thắng rồi. Đoàn đội tiêu tan.
– Tranh cãi với người nhà. Bạn thắng rồi. Tình thân biến mất.
– Tranh cãi với bạn hữu. Bạn thắng rồi. Bạn hữu dần xa.
– Tranh cãi với vợ / chồng. Bạn thắng rồi. Tình cảm nhạt phai.
– Tranh cãi với bất kỳ ai. Bạn thắng rồi thì sao??? Thắng có nghĩa là bạn THUA???

 Hãy tranh cãi, tranh đấu với chính bản thân. Nếu tự thắng Bản thân sẽ trở thành người: Từ Bi, Khiêm Tốn, Bao Dung, Độ Lượng… thì lúc đó bạn mới thật sự THẮNG”.

From: TU PHUNG 


 

Có một điều lạ lắm…

Gieo Mầm Ơn Gọi

Có một điều lạ lắm…

Người càng mạnh mẽ, lại càng dịu dàng.

Người càng thông minh, lại càng ít nói.

Bởi vì họ đã đi qua đủ nhiều để hiểu rằng: không phải lúc nào lớn tiếng cũng là chiến thắng, và không phải mọi điều đều cần phải chứng minh.

Người mạnh mẽ thật sự không cần gồng mình.

Họ không dùng sự cứng rắn để che đi yếu đuối, cũng không dùng lời nói để áp đảo người khác.

Họ chọn dịu dàng – không phải vì họ yếu, mà vì họ đủ vững để không làm tổn thương ai, kể cả khi bản thân có thể.

Còn người thông minh, họ biết lắng nghe.

Họ hiểu rằng mỗi lời nói ra đều mang một sức nặng, nên không dễ dàng phung phí.

Họ không cần nói nhiều để thể hiện mình biết, vì chính cách họ sống đã là câu trả lời rõ ràng nhất.

Thế nên, nếu một ngày bạn gặp một người vừa nhẹ nhàng vừa trầm lặng, đừng vội nghĩ họ yếu đuối hay lạnh lùng.

Có thể… họ đã từng rất đau, rất cố gắng, và rất trưởng thành để trở nên bình yên như hôm nay.

Và cũng có thể, họ đang mạnh mẽ theo một cách mà không phải ai cũng nhìn thấy.

St


 

Nguyễn Hưng Quốc -TỰ DO

Nguyễn Hưng Quốc

 TỰ DO

Muốn được tự do, người ta cần phải, thứ nhất, biết yêu quý tự do của mình, sẵn sàng bảo vệ nó, đồng thời phải biết cả những giới hạn của quyền tự do mà mình có. Thứ hai, biết tôn trọng tự do của người khác, sẵn sàng tranh đấu cho tự do của người khác đồng thời, cũng sẵn sàng tranh đấu nếu người khác vượt quá giới hạn, lấn sang không gian tự do của mình hoặc của những người chung quanh.

Tự do không được cho không, đã đành. Tự do còn là một văn hoá: người ta cần được giáo dục và rèn luyện để biết cách sống như một người tự do. Thiếu cái văn hoá ấy, tự do sẽ biến thành hỗn loạn ngay. Đó là một trong những điều tôi nghĩ là đáng lo nhất cho tiền đồ tự do và dân chủ ở Việt Nam.

Phần tôi, may mắn sinh sống trong một quốc gia tự do, tôi muốn tận dụng sự tự do ấy trong công việc viết lách. Viết không phải chỉ để tôn vinh sự tự do của mình mà còn góp phần tranh đấu cho tự do của người khác, kém may mắn hơn, sống trong một nước độc tài. Công việc viết lách như vậy không làm chính quyền hài lòng. Hậu quả là tôi bị cấm nhập cảnh. Nhưng tôi vẫn tiếp tục làm một ngòi bút tự do.


 

Những người không thể đụng tới – Vũ Văn An

Vũ Văn An

31/Mar/2026

Randall Smith, trong bản tin Thứ Ba, ngày 31 tháng 3 năm 2026 của tạp chí The Catholic Thing, nhận định rằng: Chúng ta tự hào rằng ở Mỹ không có “hệ thống đẳng cấp”, với các đẳng cấp cao hơn và thấp hơn, và những người ở tầng dưới cùng được gọi là “những người không thể đụng tới [untouchable]”. Tuy nhiên, đôi khi tôi tự hỏi liệu chúng ta có điều gì tương tự trong cách chúng ta phân biệt “giới tinh hoa” với “những người bị khinh miệt” hay không. Còn về “những người không thể đụng tới”, hãy thử đến một cuộc mít tinh “Không phải là Vua” và nói, “Tôi thích một số điều Trump làm”, và bạn sẽ nhanh chóng hiểu cảm giác của những người bị bệnh phong vào thời Chúa Giê-su.

Mỗi phe trong sự chia rẽ chính trị đều tạo ra “kẻ thù” mà họ căm ghét. Nhưng một nhóm người thực sự trở thành “những người không thể đụng tới” trong xã hội chúng ta chính là những người già yếu đuối. Thay vì tôn trọng người già, xu hướng của chúng ta là nhốt họ vào các viện dưỡng lão để giữ họ khuất mắt và khỏi tâm trí.

Xin đừng hiểu lầm tôi. Nhiều người sống trong các “nhà dưỡng lão” hoặc “cơ sở hỗ trợ sinh hoạt” được đưa đến đó vì lòng yêu thương và sự quan tâm dành cho họ, bởi vì họ không còn có thể sống một mình và cần sự chăm sóc y tế bổ sung mà các cơ sở này có thể cung cấp. Nhưng thực tế này vẫn đặt ra một số câu hỏi.

Tại sao rất nhiều người già của chúng ta lại sống một mình? Liệu chúng ta đã coi trọng “sự độc lập” theo những cách không có lợi cho sức khỏe và sự phát triển của con người khi về già? Tại sao lại nhốt người già trong các cơ sở riêng biệt thay vì cố gắng hòa nhập họ vào xã hội theo một cách mới, năng động hơn? Và cuối cùng, tại sao rất nhiều cơ sở dành cho người già lại tồi tệ đến vậy? Hiếm khi chúng tốt.

Một bài học mà bất cứ ai từng chăm sóc cha mẹ già cần được chăm sóc đặc biệt đều sớm nhận ra là thực sự không có câu trả lời tốt cho thách thức này. Tất cả những người tôi hỏi, “Bạn đã tìm ra cách nào tốt hơn chưa?” đều trả lời dứt khoát: “Không, tất cả đều tồi tệ.” Bài học thứ hai là đừng già và nghèo ở Mỹ. Một căn phòng nhỏ với sự chăm sóc tầm thường có thể tốn từ 8,000 đến 8,500 đô la mỗi tháng, và thường là còn hơn thế nữa. Vì vậy, nếu bạn không có từ 100,000 đến 150,000 đô la mỗi năm để chi cho nhà ở và ăn uống, và duy trì mức chi tiêu đó trong mười hoặc mười hai năm, bạn có thể thấy mình rơi vào hoàn cảnh rất khó chịu, thế giới thu hẹp lại trong một căn phòng nhỏ với một chiếc tivi.

Ngay cả những nơi đắt tiền và đẹp hơn cũng mang cảm giác như một con tàu du lịch. Cuộc sống ở đó có thể dễ chịu, nhưng người ta cũng cảm nhận được sự vô nghĩa – cảm giác đối diện với cái chết của chính mình trong khi chứng kiến những hành khách khác trên tàu lần lượt chết đi. Cư dân cảm thấy mình bị xã hội gạt sang một bên, không còn cần thiết nữa (hoặc đó là điều chúng ta lầm tưởng).

Bức tranh “Ông già đau khổ” (“Ở cổng cõi vĩnh hằng”) của Vincent van Gogh, năm 1890 [Bảo tàng Kröller-Müller, Otterlo, Hà Lan]

Cá nhân tôi chưa bao giờ hiểu tại sao chúng ta lại có một xã hội gồm những người già, những người đầy ắp những câu chuyện về cuộc sống và sự khôn ngoan của tuổi già, một mặt, và những nhóm thanh thiếu niên, mặt khác, cần một người khôn ngoan để trò chuyện và lắng nghe họ. Vì một lý do kỳ lạ nào đó, chúng ta không thể tìm ra cách để kết hợp họ lại với nhau.

Thay vào đó, chúng ta làm mọi thứ có thể để tách biệt họ càng xa càng tốt. Chúng ta không xây trường trung học hay đại học cạnh các trung tâm chăm sóc người cao tuổi, có lẽ vì chúng ta biết rằng thanh thiếu niên trong những trường đó sẽ không tôn trọng người già. Chúng ta cũng không xây các trung tâm chăm sóc người cao tuổi cạnh chuồng khỉ đột.

Nhưng nếu như, thay vì chạy theo xu hướng văn hóa, chúng ta nghiêm túc lắng nghe lời Chúa thì sao? Lê-vi 9:32 chép rằng: “Ngươi phải đứng dậy trước người tóc bạc và kính trọng người già, và ngươi phải kính sợ Đức Chúa Trời ngươi.” Đoạn Kinh Thánh này từ lâu đã được hiểu là cho thấy sự kính trọng người lớn tuổi có liên hệ trực tiếp với sự tôn kính Đức Chúa Trời.

Người ta cũng có thể rút ra kết luận này từ điều răn thứ nhất trên “bảng thứ hai” của Mười Điều Răn tương ứng với sự kính trọng Đức Chúa Trời trên “bảng thứ nhất”: đó là điều răn “Hãy tôn kính [honoring] cha mẹ ngươi.” 1 Ti-mô-thê 5:1-2 khuyên chúng ta hãy đối xử với những người đàn ông lớn tuổi như cha mình và những người phụ nữ lớn tuổi như mẹ mình, nhắc nhở chúng ta đừng nói lời cay nghiệt với họ.

Kỹ thuật mang lại một số hy vọng. Xe tự lái có thể giúp đỡ những người lớn tuổi không còn khả năng hoặc không nên lái xe. Ở Mỹ, việc không thể tự lái xe giống như việc trở lại làm trẻ con, luôn phải hỏi: “Chú/Bố/Mẹ có thể chở con đi đâu đó được không?” Một người đàn ông tôi quen biết đã có thể cấu hình lại chiếc Tesla của mình để ông ấy có thể ngồi vào trong khi chiếc xe đưa xe lăn của ông ấy vào và gấp gọn lại ở phía sau.

Tại sao kỹ thuật đó lại không được phổ biến rộng rãi? Ông ấy hẳn đã phải tự mình phát minh ra nó. Việc chúng ta không dành nhiều tâm huyết sáng tạo cho những tiến bộ kỹ thuật khác để giúp đỡ người cao tuổi đáp ứng những nhu cầu cơ bản như đi lại, ăn uống và vệ sinh cá nhân cho thấy một xã hội mà người cao tuổi vẫn bị lãng quên và hầu như không được chăm sóc.

Nhưng chỉ kỹ thuật thôi là chưa đủ. Những phát triển hữu ích sẽ không xảy ra hoặc không trở nên phổ biến nếu thiếu đi sự tôn trọng và quan tâm mà Chúa đang kêu gọi chúng ta trong Kinh Thánh. Chúng ta cần thiết kế nhiều khu phố đa chức năng, thân thiện với người đi bộ hơn và thực hiện nhiều biện pháp khác. Cần làm tốt hơn việc cho người già tiếp xúc với trẻ em, dạy chúng biết tôn trọng người lớn tuổi.

Nếu chúng ta không làm nhiều hơn để thể hiện sự tôn trọng đối với người lớn tuổi, giới trẻ sẽ tiếp tục sợ hãi tuổi già, và nhiều người, khi về già, sẽ chọn cách tự tử.

Phải thừa nhận rằng, không thể tránh khỏi thực tế khắc nghiệt là đối mặt với cái chết không dễ dàng. Đó là thập giá mà chúng ta phải gánh trước khi phục sinh. Nhưng niềm hy vọng Phục Sinh mà Giáo Hội dựa trên đó là Chúa Kitô đã một lần và mãi mãi chiến thắng cái chết và mở ra một cuộc sống mới trong sự hiệp nhất với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Tuy nhiên, ngay cả Chúa Kitô cũng cần sự giúp đỡ để vác thập giá của Người. Vì vậy, có lẽ sẽ hữu ích nếu chúng ta nghĩ về mình như Simon xứ Cyrene. Chúng ta giúp người lớn tuổi vác thập giá của họ, và họ và chúng ta cùng nhau an ủi nhau trên con đường đó rằng tình yêu của Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta và có thể vượt qua cả cái chết.

https://vietcatholic.net/News/Html/301043.htm