TÔI LÀ AI??

Vạch Lá Tìm Chim

TÔI LÀ AI??

Tôi sinh ra giữa lòng cộng sản. Tôi lớn lên giữa khô cằn sỏi đá Miền Trung. Quê tôi nằm bên trong Vĩ Tuyến (17), nhưng là cái nôi của cách mạng ngày xưa. Tôi không biết Mỹ, Nguỵ là gì? Cũng không biết Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là gì? Cũng chưa bao giờ biết sự phồn hoa của Đô Thành Sài Gòn một thời mà ông Lý Quang Diệu hằng mơ ước.

Tôi không học nhiều nhưng thời học sinh của tôi là cháu ngoan Bác Hồ là đoàn viên ưu tú dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Ngày xưa tập thơ gối đầu của tôi là “Theo Chân Bác”. Tôi vẫn cứ yêu đảng yêu bác cho đến chết nếu Facebook không du nhập vào Việt Nam. Tôi đã được mở rộng tầm mắt, rồi từ đó tôi biết những gì tôi học, những gì tôi bị nhét vào đầu là dối trá, dối trá một cách trơ trẽn.

Chỉ cần đặt một vài câu hỏi nhỏ thôi ví dụ như là: Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Tại sao con cháu của những vị tướng lừng danh như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Quốc Thước lại chọn Pháp, Mỹ để sống mà không phải là Việt Nam?

Tại sao Nguyễn Công Khế, Hồ Thị Thu Hồng một thời chửi Mỹ hay hơn hát rồi cuối cùng lại chọn Mỹ định cư?

Nhiều lắm, nhưng tại sao lắm không thể nào kể hết trong một Stt được. Câu cuối cùng tôi muốn hỏi hơn 90 triệu dân Việt Nam ai đã từng được cầm lá phiếu bầu lãnh đạo thể hiện quyền của một con người chưa?

Tôi lưu lạc khắp nơi để chỉ nói lên những điều mình thấy, viết những điều mình biết. Tôi đủ lớn và cũng đủ già để chịu trách nhiệm với những gì mình viết và nói ra không liên quan gì tới những người thân của tôi cả. Vì thế đừng chơi trò đe doạ và méc phụ huynh. Đời người một lần sống và một lần chết bình tĩnh “Đối Mặt” thôi!

 


 

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Ryan Phan – Chuyện tuổi Xế Chiều

Tuổi Già Của Người Việt Ở Mỹ: Cô Đơn Giữa Một Căn Nhà Đầy Đủ Tiện Nghi

Có một loại cô đơn rất đặc biệt, một loại cô đơn mà chỉ những người từng chứng kiến mới hiểu hết. Đó không phải là cái cô đơn của người thiếu thốn, đói khổ. Ngược lại là đằng khác. Đó là cái cô đơn của một cụ già ngồi giữa một căn nhà khang trang ở Mỹ, có máy sưởi mùa đông, máy lạnh mùa hè, tủ lạnh lúc nào cũng đầy ắp thức ăn, có tivi màn hình lớn, có mọi tiện nghi mà cả một đời ở quê nhà có nằm mơ cũng không thấy. Vậy mà trong ánh mắt của cụ, người ta vẫn đọc được một nỗi trống vắng mênh mông không gì lấp nổi.

Câu chuyện này lặp đi lặp lại trong biết bao gia đình người Việt trên đất Mỹ, quen thuộc đến mức gần như đã thành một khuôn mẫu. Những người con, sau bao năm vất vả, cuối cùng cũng ổn định, cũng mua được nhà, cũng có công có việc. Và điều đầu tiên nhiều người nghĩ đến là đón cha mẹ già từ Việt Nam sang, để phụng dưỡng, để báo hiếu, để cha mẹ được hưởng những năm cuối đời trong sung túc. Đó là một tấm lòng đẹp, một ý định hoàn toàn xuất phát từ tình thương. Không ai có thể trách được cái mong muốn ấy.

Nhưng rồi thực tế lại diễn ra theo một cách mà ít ai lường trước.

Buổi sáng, các con đi làm từ sớm, có khi trời còn chưa sáng hẳn. Các cháu thì lên xe bus đến trường, hoặc được chở đi từ tinh mơ. Và thế là căn nhà rộng rãi ấy, chỉ vài phút sau khi mặt trời lên, đã trở nên vắng lặng như tờ. Còn lại một mình cụ già, giữa bốn bức tường đầy đủ tiện nghi, với cả một ngày dài trước mặt không biết phải làm gì cho hết.

Cụ không lái xe được. Ở cái xứ mà không có xe thì gần như không có chân này, điều đó có nghĩa là cụ bị giam lỏng trong chính ngôi nhà của mình. Muốn ra ngoài đi dạo cũng khó, vì đường sá mênh mông, nhà nào biết nhà nấy, vỉa hè nhiều nơi còn chẳng có người đi bộ. Cụ không biết tiếng Anh, nên dù có ra ngoài, gặp người hàng xóm bản xứ cũng chỉ biết gật đầu cười trừ, không thể trò chuyện dù chỉ một câu. Cái tivi thì đầy những kênh mà cụ không hiểu người ta đang nói gì. Cái điện thoại thông minh con cái mua cho thì phức tạp quá, học mãi không thạo.

Và thế là những giờ đồng hồ cứ trôi qua trong im lặng. Cụ ngồi bên cửa sổ nhìn ra con đường vắng, đếm những chiếc xe thi thoảng chạy qua. Cụ đi từ phòng khách xuống bếp, rồi từ bếp lên phòng khách, lặp đi lặp lại. Cụ ngóng đồng hồ, đợi đến giờ con cháu về, bởi đó là khoảnh khắc duy nhất trong ngày căn nhà có tiếng người. Nhưng khi con cháu về đến nơi, sau một ngày làm việc mệt nhoài, ai cũng bơ phờ, cũng vội vàng với cơm nước, bài vở, rồi lại điện thoại, máy tính. Bữa cơm chung, nếu có, cũng trôi qua chóng vánh. Đôi khi cả ngày cụ chỉ nói được vài ba câu, và những câu ấy cũng chỉ là “con ăn cơm chưa”, “cháu đi học về rồi à”.

Điều nghịch lý đến quặn lòng là: khi còn ở Việt Nam, những cụ già ấy thường sống trong những căn nhà đơn sơ hơn nhiều, thiếu thốn tiện nghi hơn nhiều. Nhưng họ lại giàu có ở một thứ mà đồng tiền không mua được. Buổi sáng, mở cửa ra là gặp bà hàng xóm sang mượn củ hành, hỏi thăm đêm qua ngủ có ngon không. Ra đầu ngõ là gặp ông bạn già ngồi uống trà, bàn chuyện thời sự, kể lại những chuyện từ mấy chục năm trước mà cả hai đều đã nghe đến thuộc lòng nhưng vẫn cười vang. Chiều đến có người rủ đi bộ, đi chùa, đi lễ. Con cháu ở xa nhưng hàng xóm ở gần, và cái tình làng nghĩa xóm ấy đủ để lấp đầy những khoảng trống trong ngày. Ở quê nhà, dù nghèo hơn về vật chất, người già không bao giờ phải cô đơn.

Sang đến Mỹ, mọi thứ đảo ngược. Vật chất thì dư dả, nhưng cái tình người gần gũi kia thì biến mất. Xã hội Mỹ vận hành theo một nhịp điệu khác — mạnh mẽ, hiệu quả, nhưng cũng lạnh lùng và cô lập. Mỗi ngôi nhà là một ốc đảo riêng. Người ta có thể sống cạnh nhau nhiều năm mà không biết tên hàng xóm. Cái sự riêng tư được xem là văn minh ấy, đối với một người trẻ đi làm cả ngày thì không sao, nhưng đối với một cụ già chỉ ở nhà, nó trở thành một nhà tù êm ái, đầy đủ tiện nghi nhưng vẫn là một nhà tù.

Có một câu ngạn ngữ của người châu Phi mà mình rất tâm đắc: nuôi một đứa trẻ cần cả một ngôi làng. Nhưng ít ai nói đến vế còn lại, cái vế cũng đúng không kém: chăm sóc một người già cũng cần cả một ngôi làng. Con người, dù ở tuổi nào, cũng cần một cộng đồng xung quanh mình — cần những gương mặt quen thuộc, những câu chuyện được sẻ chia, cái cảm giác mình thuộc về một nơi nào đó, mình vẫn còn ý nghĩa với ai đó. Sự phụng dưỡng đầy đủ về vật chất, dù quý giá, cũng không thể thay thế được cái nhu cầu sâu xa ấy. Một người già không chỉ cần được cho ăn, được ở trong ấm áp. Họ cần được trò chuyện, được lắng nghe, được cảm thấy mình vẫn còn là một phần của cuộc sống, chứ không phải một món đồ quý được cất kỹ trong một căn phòng đẹp.

Và đây chính là bi kịch âm thầm của lòng hiếu thảo thời hiện đại. Những người con không hề thiếu tình thương. Họ đón cha mẹ sang chính vì thương. Họ làm việc quần quật cũng một phần vì muốn lo cho cha mẹ một cuộc sống tốt hơn. Nhưng cái guồng quay của cuộc sống ở Mỹ khắc nghiệt đến mức cuốn phăng đi thứ mà cha mẹ họ cần nhất: thời gian, và sự hiện diện. Người ta có thể mua cho cha mẹ một căn nhà đẹp, nhưng không mua được cho họ một người bạn già để trò chuyện. Người ta có thể trả tiền cho mọi tiện nghi, nhưng không thể trả tiền để mua lại cái tình làng nghĩa xóm đã bỏ lại ở quê nhà. Lòng hiếu thảo, trong hoàn cảnh ấy, trở thành một điều gì đó vừa đẹp đẽ vừa bất lực.

Đó cũng là lý do vì sao không ít cụ già, sau vài năm sống ở Mỹ trong đầy đủ tiện nghi, cuối cùng lại xin được về Việt Nam. Về để sống những năm tháng cuối đời trong một căn nhà giản dị hơn, thiếu thốn hơn, nhưng có tiếng người, có hàng xóm, có những buổi chiều ngồi trước hiên nhà nhìn người qua lại. Với nhiều người, cái quyết định rời bỏ sự sung túc để về với sự gần gũi ấy không phải là một sự lựa chọn khó khăn. Bởi ở cái tuổi gần đất xa trời, người ta hiểu rõ hơn ai hết rằng thứ quý giá nhất không phải là tiện nghi, mà là được sống giữa tình người, được chết ở một nơi mình thuộc về.

Viết những dòng này, mình không có ý trách cứ ai cả. Không trách những người con, bởi họ đã làm điều tốt nhất mà hoàn cảnh cho phép. Cũng không trách nước Mỹ, bởi mỗi xã hội có một cách vận hành riêng. Mình chỉ mong, những ai đang có cha mẹ già sống cùng trên đất khách, hãy thử một lần đặt mình vào vị trí của các cụ. Thử tưởng tượng một ngày dài của mình sẽ ra sao nếu không thể ra khỏi nhà, không nói được với ai một câu trọn vẹn, chỉ ngồi đợi từ sáng đến tối để nghe một tiếng người thân thuộc. Và rồi, biết đâu, giữa cái guồng quay bận rộn kia, ta sẽ cố dành ra thêm vài phút mỗi ngày để ngồi xuống bên cha, bên mẹ, hỏi han vài câu, kể cho các cụ nghe một chuyện nhỏ trong ngày. Đôi khi, món quà lớn nhất mà một người già cần không phải là một căn nhà đầy tiện nghi, mà chỉ đơn giản là vài phút được thấy mình vẫn còn quan trọng với những người mình thương yêu.

Còn bạn, lần gần nhất bạn ngồi xuống trò chuyện thật lâu với cha mẹ hoặc ông bà của mình, không vội vàng, không điện thoại, là khi nào?

Ryan Phan –— in Atlanta, GA.


 

CHÍN MƯƠI CHÍN , VẪN THIẾU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc”.

Một bà mẹ đông con được hỏi: “Trong các con, bà thương đứa nào?”. Bà đáp: “Đứa đau yếu, cho đến khi nó khoẻ; đứa đi xa, cho đến khi nó về; đứa bé nhất, cho đến khi nó lớn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

 

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: trọn vẹn không phải là có thật nhiều, nhưng là không để thiếu một ai. Trái tim người mẹ khác nào trái tim Thiên Chúa: ‘chín mươi chín – vẫn thiếu!’.

Các môn đệ hỏi, “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”. Chúa Giêsu không nêu tên ai; Ngài đặt một em bé giữa họ. Bản Hy Lạp viết mikrōn – “bé nhỏ”: không chỉ người nhỏ tuổi, nhưng còn là người không địa vị, dễ bị coi thường. Và Ngài cảnh báo, “Chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này!”. Trước mặt người đời, họ có thể là phần không đáng kể; nhưng với Thiên Chúa, thiếu họ là thiếu tất cả. “Không có những con người tầm thường. Bạn chưa bao giờ trò chuyện với một kẻ chỉ là phàm nhân!” – C. S. Lewis.

Để hiểu “thiếu họ”, Chúa Giêsu kể dụ ngôn chiên lạc. Các ông bận xếp hạng; Ngài bận đếm người. Họ hỏi ai đứng trên ai; Ngài nhìn đàn chiên: vắng một con – người chăn chiên lên đường. Khi tìm được, ông “vui mừng vì con chiên đó”; không vì yêu chín mươi chín con ít hơn, nhưng vì niềm vui một con được tìm lại lớn hơn sự yên lòng với những con an toàn. Thiên Chúa không bằng lòng với một đoàn chiên gần đủ; trái tim Ngài chỉ đủ vui khi không còn thiếu một ai.

 Nhưng phía sau niềm vui ấy luôn có một trái tim dám đau. Êzêkiel đã mang nỗi đau của Thiên Chúa trước sự phản nghịch của dân. Ngài sai ông đến với họ bằng Lời ông phải nuốt. Đó là “những khúc ai ca, những lời than vãn và những câu nguyền rủa”; nhưng vào miệng ông, cuộn sách ấy lại hoá ngọt – bài đọc một. “Lạy Chúa, con cảm thấy lời Ngài đã hứa ngọt ngào hơn mật ong trong miệng!” – Thánh Vịnh đáp ca. Lời Chúa ngọt không vì che khuất nỗi đau, nhưng vì giữa nỗi đau, Lời ấy không cho phép ai thôi kiếm tìm.

 Chúng ta rất giỏi biến một người thành con số có thể bỏ qua. Chín mươi chín là lý do đủ đẹp để quên chiếc ghế trống. Nhưng Thiên Chúa không xướng tên người có mặt; Ngài đọc tên người vắng. Nơi chúng ta chỉ thấy sự khiếm diện, Ngài vẫn nghe một cái tên đang ơi ới gọi mình. “Đừng bận tâm đến những con số. Hãy giúp từng người một và luôn bắt đầu với người gần bạn nhất!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Anh Chị em,

Suốt một đời, Thiên Chúa không ngừng đi tìm con người. Từ buổi đầu, Ngài đã gọi, “Ađam, ngươi đang ở đâu?”; rồi sai Con Một vào trần gian, xuống mọi ngả đường, đến với ai bị bỏ lại và kịp tìm anh trộm lành. Rạng sáng Phục Sinh, Đức Kitô hỏi Maria Mađalêna, “Bà tìm ai?”. Đấng đã tìm thấy cô nay gọi tên để cô nhận ra: chính Ngài là Đấng cô kiếm tìm. Bởi ‘chín mươi chín – vẫn thiếu’ không chỉ là nỗi thao thức của Thiên Chúa mà còn là khoảng trống của con người – cho đến khi gặp Đức Kitô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết ở bên người bệnh, đợi họ bình phục; tìm người lạc, đợi họ trở về; và chở che người bé nhỏ, đợi họ lớn lên trong Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XIX Thường Niên, Năm Chẵn:

https://ourl.in/@qqtq

Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 17,1-9

1 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo. Người đưa các ông đi riêng với mình lên một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ thấy một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”


 

Nỗi sợ – vũ khí của độc tài, cũng là kẻ thù của độc tài

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

07/08/2026

Người ta thường nói rằng NỖI SỢ LÀ NỀN TẢNG CỦA MỌI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI. Chính nỗi sợ khiến người dân im lặng, khiến đối lập tê liệt và giúp nhà độc tài duy trì quyền lực trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Điều đó đúng. Nhưng lịch sử còn kể một câu chuyện khác, ít người để ý hơn: cũng chính nỗi sợ ấy, lại trở thành nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chính nhà độc tài.

Cách mạng Pháp năm 1789 là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại. Từ đống tro tàn của chế độ quân chủ chuyên chế, nước Pháp đã khai sinh những tư tưởng làm thay đổi thế giới: quyền con người, chủ quyền của nhân dân, bình đẳng trước pháp luật và khát vọng tự do. Khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã vượt ra khỏi biên giới nước Pháp để trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều cuộc cải cách và cách mạng trong hơn hai thế kỷ sau đó.

Nhưng cũng như nhiều cuộc cách mạng khác, Cách mạng Pháp không chỉ có ánh sáng mà còn có những bóng tối. Một trong những chương đen tối nhất của nó là thời kỳ Khủng bố (La Terreur), nó cũng cho chúng ta thấy rằng một cuộc cách mạng, dù bắt đầu bằng những lý tưởng cao đẹp, vẫn có thể đi đến cực đoan nếu quyền lực không còn được kiểm soát.

Không ai tượng trưng rõ hơn cho nghịch lý ấy bằng Maximilien Robespierre.

Ban đầu, Robespierre được xem là một trong những nhà cách mạng trong sạch và có nguyên tắc nhất. Ông phản đối đặc quyền quý tộc, bảo vệ nền cộng hòa và luôn nói đến “đức hạnh” như nền tảng của chính trị. Trong mắt nhiều người đương thời, ông là “Người không thể mua chuộc” (L’Incorruptible).

Nhưng khi nước Pháp phải đối mặt với chiến tranh bên ngoài và nổi dậy trong nước, Robespierre ngày càng tin rằng muốn cứu cách mạng thì phải tiêu diệt tất cả những ai có thể đe dọa cách mạng. Theo ông, khủng bố chỉ là công lý được thực hiện nhanh chóng và nghiêm khắc để bảo vệ nền cộng hòa.

Từ tư tưởng ấy, nước Pháp bước vào thời kỳ mà lịch sử gọi là Thời kỳ Khủng bố .

Tháng 9 năm 1793, Quốc ước(Convention Nationale : Cơ quan quyền lực tối cao của CM) thông qua Luật Nghi ngờ (Loi des suspects). Đạo luật này cho phép bắt giữ bất kỳ ai bị coi là “đáng nghi”. Khái niệm “đáng nghi” rất mơ hồ. Chỉ cần bị cho là không đủ nhiệt thành với cách mạng, có quan hệ với quý tộc hoặc bị hàng xóm tố cáo cũng có thể bị bắt.

Hàng chục nghìn người bị giam giữ. Hàng nghìn người bị đưa lên máy chém.

Ban đầu, mục tiêu của các cuộc thanh trừng là những người trung thành với chế độ quân chủ. Nhưng rất nhanh sau đó, lưỡi dao của chiếc máy chém bắt đầu quay sang chính những người cách mạng.

Nhóm Hébert bị xử tử. Rồi đến Georges Danton, một trong những người có công lớn nhất với Cách mạng Pháp. Danton từng là đồng chí thân cận của Robespierre, nhưng vì kêu gọi chấm dứt các cuộc hành quyết nên bị kết tội phản bội. Ông bị xử chém ngày 5 tháng 4 năm 1794.

Cùng ngày hôm đó, Camille Desmoulins cũng bước lên đoạn đầu đài. Desmoulins không chỉ là đồng chí mà còn là người bạn từ thuở thiếu thời của Robespierre. Tình bạn nhiều năm không đủ để cứu ông khỏi bản án tử hình.

Máy chém không còn phân biệt bạn hay thù. Mỗi bản án đều được tuyên nhân danh nhân dân.

Mỗi cuộc hành quyết đều được giải thích là để cứu cách mạng.

Đó là nghịch lý bi thảm của mọi cuộc thanh trừng chính trị: người ta nhân danh một lý tưởng để loại bỏ những người từng cùng mình xây dựng chính lý tưởng ấy.

Trong Quốc ước, bầu không khí ngày càng nặng nề. Nhiều đại biểu hiểu rằng không còn ai thực sự an toàn, nhưng hầu như không ai dám phản đối. Mỗi lần một đồng nghiệp bị bắt, những người còn lại lại im lặng. Không phải vì họ đồng tình, mà vì họ sợ mình sẽ là người tiếp theo. Nỗi sợ trở thành nền tảng của quyền lực.

Tháng 6 năm 1794, Quốc ước thông qua Luật 22 Prairial, đạo luật còn khắc nghiệt hơn tất cả những gì đã có trước đó. Quyền bào chữa gần như bị xóa bỏ. Tòa án Cách mạng chỉ còn hai khả năng: tha bổng hoặc tử hình. Số vụ xử chém tăng lên với tốc độ chưa từng có. Các nhà sử học gọi những tuần cuối cùng ấy là Đại Khủng bố (Grande Terreur).

Rồi Robespierre phạm phải sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của mình.

Ngày 26 tháng 7 năm 1794, ông đọc một bài diễn văn dài trước Quốc ước. ÔNG TUYÊN BỐ RẰNG NGAY TRONG QUỐC ƯỚC Và CÁC ỦY BAN VẪN CÒN NHỮNG KẺ PHẢN BỘI. NHƯNG ÔNG KHÔNG NÊU TÊN. Có lẽ Robespierre nghĩ rằng sự mập mờ ấy sẽ khiến mọi người sợ hãi hơn. Ông đã đúng. Nhưng không theo cách ông mong muốn.

Nếu trước đó mỗi đại biểu chỉ lo cho số phận của người khác, thì sau bài diễn văn ấy, tất cả đều tự hỏi: “Liệu ngày mai đến lượt mình không?”

Đó chính là khoảnh khắc quyền lực của Robespierre bắt đầu tan vỡ.

Cho đến lúc ấy, nỗi sợ khiến mọi người chia rẽ. Ai cũng cúi đầu để tự cứu mình.

Nhưng khi tất cả đều tin rằng mình có thể trở thành nạn nhân tiếp theo, nỗi sợ ấy lại tạo ra điều ngược lại: nó buộc họ đoàn kết với nhau.

Ngay ngày hôm sau, 27 tháng 7 năm 1794, Robespierre bước vào Quốc ước như mọi ngày.

Ông không ngờ rằng cán cân đã đổi chiều. Những đại biểu vốn im lặng lại ngắt lời ông liên tục. Tiếng hô “Đả đảo tên bạo chúa!” vang lên trong nghị trường. Quốc ước biểu quyết bắt giữ Robespierre, em trai ông(Augustin), Saint-Just, Couthon và các cộng sự thân cận.

Chỉ trong vài giờ, người đàn ông quyền lực nhất nước Pháp trở thành tù nhân.

Nhưng đêm hôm đó, chính quyền thành phố Paris đứng về phía Robespierre. Họ đưa ông đến Tòa thị chính và kêu gọi lực lượng vũ trang của Paris chống lại lệnh bắt giữ do Quốc ước ban hành. Tuy nhiên, Robespierre lại chần chừ, không phát động cuộc nổi dậy. Chỉ vài giờ sau, các lực lượng trung thành với Quốc ước tràn vào Tòa thị chính và bắt giữ ông.

Ngày 28 tháng 7 năm 1794, Robespierre cùng 21 cộng sự bị đưa lên máy chém. Chiếc máy chém mà ông từng coi là công cụ bảo vệ cách mạng, bảo vệ ông cuối cùng đã lấy chính mạng sống của ông. Thời kỳ Khủng bố kết thúc.

Cái hay nhất mà tôi thấy trong câu chuyện này không phải là cái chết của Robespierre, mà là cơ chế dẫn đến sự sụp đổ của ông.

Ông không bị đánh bại bởi quân đội nước ngoài, không bị lật đổ bởi một cuộc nổi dậy của quần chúng, ông bị lật đổ bởi chính những người đã từng ủng hộ mình.

Ban đầu, họ chấp nhận im lặng vì nghĩ rằng sự phục tùng sẽ giúp mình sống sót. Nhưng khi cuộc thanh trừng mở rộng đến mức không còn ai chắc chắn về số phận của mình, họ hiểu rằng im lặng không còn là sự lựa chọn an toàn nữa.

Đó là nghịch lý của quyền lực dựa trên nỗi sợ.

Khi chỉ một nhóm người sợ hãi, chế độ vẫn có thể đứng vững. Nhưng khi tất cả đều sợ, kể cả những người trung thành nhất, thì chính nỗi sợ ấy sẽ phá hủy nền tảng của quyền lực.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên vẹn. Mỗi thời đại có hoàn cảnh riêng, mỗi quốc gia có con đường riêng. Nhưng những quy luật về tâm lý quyền lực và bản năng sinh tồn của con người thường có sức sống rất dài.

Mỗi khi khái niệm “kẻ thù” ngày càng được mở rộng, mỗi khi các cuộc thanh trừng không còn dừng ở đối lập mà bắt đầu lan sang chính những người trong hàng ngũ của mình, thì một câu hỏi sẽ âm thầm xuất hiện trong đầu tất cả những người còn lại: “LIỆU NGÀY MAI CÓ ĐẾN LƯỢT MÌNH KHÔNG?”

Và khi câu hỏi ấy trở thành nỗi ám ảnh chung, sự trung thành sẽ dần nhường chỗ cho bản năng tự vệ.

Trong nhiều chế độ độc tài, người ta thường thấy một vòng xoáy đầy nghịch lý, có thể dẫn chính người cầm quyền đến chỗ sụp đổ.

Để duy trì quyền lực, nhà độc tài luôn tìm cách loại bỏ mọi đối thủ và mọi mầm mống có thể đe dọa mình. Không làm như vậy, họ lo sợ sẽ bị lật đổ. Nhưng càng thanh trừng, họ lại càng khó xác định đâu là kẻ thù thực sự. Bởi trong một bầu không khí ngờ vực, bất kỳ ai cũng có thể bị coi là đối thủ tiềm tàng: đối lập, đồng minh, cộng sự, thậm chí cả những người từng trung thành nhất.

Vì thế, các cuộc thanh trừng có xu hướng ngày càng mở rộng. Khi mọi người đều tin rằng lòng trung thành không còn bảo đảm cho sự an toàn của mình, bản năng tự vệ sẽ thay thế lòng trung thành.

Đó chính là điều đã xảy ra với Robespierre. Chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi bốn giờ, người đang ở trên đỉnh cao quyền lực đã trở thành nạn nhân của chính cơ chế mà ông tạo ra.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên xi, nhưng những quy luật của quyền lực thì thường có những nét tương đồng. Người tiếp theo sẽ là ai? Putin, Kim Jong-un, Tập Cận Bình, hay một nhà lãnh đạo nào khác mà hôm nay vẫn đang nắm quyền tuyệt đối? Không ai có thể biết trước. Chỉ có thời gian mới đưa ra câu trả lời.

BẤT KỲ QUYỀN LỰC NÀO ĐƯỢC XÂY DỰNG CHỦ YẾU TRÊN NỖI SỢ ĐỀU MANG TRONG MÌNH NHỮNG MẦM MỐNG TỰ HỦY CỦA NÓ.

Những gì đã xảy ra trong Cách mạng Pháp – nhân danh cách mạng để đàn áp, để thanh trừng, để loại bỏ những người bị coi là “kẻ thù của cách mạng”… – đáng tiếc không chỉ là câu chuyện của nước Pháp. Điều làm tôi suy nghĩ không phải là bản thân những cuộc thanh trừng ấy, mà là khoảng cách về thời gian. Người Pháp đã trải qua giai đoạn đó từ cuối thế kỷ XVIII. Thế nhưng, hơn hai thế kỷ sau, ở một số quốc gia đi sau, người ta vẫn bắt gặp gần như cùng một cơ chế vận hành của quyền lực, chỉ khác ở tên gọi và hình thức.

Đó không chỉ là một sự tương đồng của lịch sử. Đó còn là thước đo cho thấy khoảng cách về trình độ phát triển chính trị giữa các quốc gia đôi khi không chỉ tính bằng vài chục năm, mà bằng cả vài thế kỷ.

Vậy mà vẫn dám nói « kỷ nguyên vươn mình”.


 

TIN VÀ KHÔNG TIN

Chuyện tuổi Xế Chiều  – Công Tú Nguyễn

Một người đàn ông đi vào tiệm hớt tóc quen thuộc để cắt tóc và cạo râu như thường lệ. Ông ta bắt đầu buôn chuyện với người thợ phục vụ cho mình. Họ nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi vô tình họ đụng đến đề tài Chúa trời.

Người thợ cắt tóc nói: “Tôi chẳng tin trên đời này có Thượng Đế như ông đã nói”.

Người khách: “Sao ông lại nói thế?”.

“Chuyện đó cũng dễ thôi, chỉ cần ông bước ra đường là thấy ngay trên đời này chẳng có Chúa trời gì ráo. Nếu thực sự Ngài có tồn tại thì tại sao trên đời này lại có nhiều người bệnh tật như vậy? Sao còn rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi. Nếu có Chúa, trên đời này sẽ chẳng có đau khổ. Tôi không thể nghĩ nỗi là Chúa nào lại chấp nhận nhìn những cảnh đó xảy ra”.

Người khách lặng im suy nghĩ nhưng rồi ông không nói gì vì không muốn câu chuyện trở thành cuộc khẩu chiến. Người thợ cắt tóc làm xong công việc của mình và vị khách hàng bước ra khỏi tiệm. Vừa ra ngoài ông liền nhìn thấy một người đàn ông trên đường tóc tai râu ria bù xù (như thể đã lâu lắm rồi ông ta không cắt tóc cạo râu vậy, trông rất bê bối).

Người khách liền quay lại cửa tiệm và nói với người thợ cắt tóc:

“Ông biết gì không? Trên đời này làm gì có thợ cắt tóc”.

“Sao lại không? Tôi đang ở đây và tôi là thợ cắt tóc”.

“Không hề”, vị khách trả lời: “Nếu có thợ cắt tóc thì sao vẫn còn những người tóc tai, râu ria bù xù như người đàn ông đang đi trên đường kia?”.

“À, thợ cắt tóc thì có chứ, chỉ tại những người kia không chịu đến tiệm cắt tóc mà thôi”.

“Chính xác!”. Vị khách như chỉ đợi câu nói đó.

“Đó là điều mà tôi muốn nói. Thượng Đế có tồn tại, chỉ là người ta không tin và không tìm đến Ngài mà thôi. Đó là lý do vì sao trên đời này lại có nhiều khổ đau đến như vậy”.

St


 

Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Van NguyenSự Thật Lề Đường (STLĐ) 

Bình luận xã hội: Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Bất bình đẳng giàu–nghèo không còn là một hiện tượng kinh tế đơn thuần. Nó đã trở thành vết nứt xã hội lớn nhất của thế kỷ 21, một đường ranh chia con người thành hai thế giới sống song song nhưng hoàn toàn khác biệt.

Trong những thập niên trước, người ta tin rằng tăng trưởng kinh tế sẽ tự động mang lại thịnh vượng cho tất cả. Nhưng thực tế phũ phàng hơn nhiều: tài sản không chảy xuống đáy, mà chảy ngược lên đỉnh. Và càng ngày, tốc độ chảy càng nhanh.

  1. Thế giới của 1% và thế giới của 99%

Ngày nay, theo dữ liệu từ World Inequality Database, top 1% dân số thế giới nắm gần 40% tài sản toàn cầu, trong khi 50% dân nghèo nhất chỉ sở hữu khoảng 2%.

Không cần những con số giật gân để thấy sự thật: tài sản đang tập trung vào một nhóm cực nhỏ, còn phần lớn nhân loại sống trong tình trạng bấp bênh.

Điều đáng nói là:

  • Nhóm giàu nhất không chỉ giàu hơn – họ giàu nhanh hơn.
  • Nhóm nghèo không chỉ nghèo – họ nghèo lâu hơn.

Khoảng cách không còn là một đường cong, mà là một vực sâu.

  1. Xã hội phân tầng: giàu sống trong tương lai, nghèo sống trong quá khứ

Nhóm giàu nhất sống trong một thế giới nơi công nghệ, y tế, giáo dục, và cơ hội mở ra như cánh cửa tự động.

Nhóm nghèo sống trong một thế giới nơi mọi thứ đều là rào cản:

  • Giá nhà vượt xa thu nhập
  • Y tế trở thành xa xỉ
  • Giáo dục chất lượng cao chỉ dành cho người có điều kiện
  • Việc làm bấp bênh, lương không theo kịp chi phí sống

Hai thế giới này không còn gặp nhau.

Họ chỉ nhìn thấy nhau qua những con số thống kê lạnh lùng.

  1. Nguyên nhân: hệ thống được thiết kế để tài sản chảy lên

Các nhà xã hội học Ý từ thập niên 1980 đã cảnh báo:

Khi chính sách ưu ái vốn hơn lao động, bất bình đẳng sẽ tăng không thể đảo ngược.

Ngày nay, điều đó đã thành hiện thực:

  • Toàn cầu hóa giúp tập đoàn đa quốc gia hưởng lợi, không phải người lao động.
  • Công nghệ tạo ra siêu lợi nhuận cho một nhóm nhỏ sở hữu trí tuệ và cổ phần.
  • Thuế giảm cho người giàu, tăng cho tầng lớp trung lưu.
  • Công đoàn suy yếu, lương không theo kịp năng suất.

Kết quả: tài sản chảy lên đỉnh kim tự tháp và không quay lại đáy.

  1. Hệ quả xã hội: bất mãn, cực đoan, và mất niềm tin

Khi người nghèo cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau, xã hội bắt đầu rung chuyển:

  • Niềm tin vào chính phủ giảm
  • Chủ nghĩa dân túy tăng
  • Xung đột giai cấp trở nên rõ rệt
  • Giới trẻ mất niềm tin vào tương lai
  • Bạo lực và tội phạm tăng theo tỷ lệ nghèo

Một xã hội mà đa số cảm thấy không có lối thoát là một xã hội dễ tổn thương.

  1. Kết luận: Bất bình đẳng không phải số phận – nó là lựa chọn chính sách

Khoảng cách giàu–nghèo không phải là điều tự nhiên.

Nó là kết quả của những quyết định chính trị, kinh tế, và xã hội trong suốt 40 năm qua.

Và nếu những quyết định đó không thay đổi, bất bình đẳng sẽ không chỉ là vấn đề kinh tế – nó sẽ trở thành ngòi nổ của bất ổn xã hội toàn cầu. 


 

HÃY NHÌN LẠI BẦU TRỜI – Lm. Mark Link, S.J.

 Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Nếu chúng ta cảm thấy khó sống phúc âm, có lẽ do chúng ta không còn nhìn đến Chúa Giêsu.”

 Có một ông nọ nói: “Tôi cứ nghĩ là càng về già tôi sẽ càng ít bị cám dỗ, nhưng thực tế tôi lại bị cám dỗ nhiều hơn.”  Có một phụ nữ kia nói: “Tôi cứ ngỡ là khi các cháu bé lớn lên tôi sẽ kiên nhẫn hơn, thế mà ngược lại tôi thấy mình nóng tính hơn trước.”  Một thiếu niên nói: “Trước đây tôi cứ nghĩ vâng phục luật Chúa là dễ dàng.  Bây giờ thì tôi lại thấy càng ngày càng khó.”

 Bạn có lời nói nào tương tự như vậy không?  Bạn có thấy bị cám dỗ thường xuyên không?  Bạn có thấy mất kiên nhẫn với những người thân yêu không?  Bạn có cảm thấy ngày càng khó vâng theo luật Chúa không?  Nếu có, thì bài Phúc Âm hôm nay chắc chắn là một sứ điệp quan trọng đối với bạn.

Câu chuyện trên đây minh họa điều đó.  Nó giống hệt câu chuyện trong Phúc Âm hôm nay. 

Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ.  Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm.  Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời.  Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm.  Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.

 Thấy thế, một thuỷ thủ già liền la to lên với cậu: “Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi!  Nhìn lên lại bầu trời đi!”  Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.  Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phêrô trong Phúc âm hôm nay.  Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phêrô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.

 Và điều này thường xảy ra cho bạn cũng như cho tôi.  Lúc đầu chúng ta khởi sự cuộc sống thật tốt đẹp, đôi mắt đăm đăm nhìn vào Chúa Giêsu, nhưng rồi một điều gì đó xảy đến khiến chúng ta rời xa mắt Người.  Chúng ta không còn nhìn vào Chúa Giêsu nữa; thế là chúng ta bị mất thăng bằng, chúng ta bắt đầu chìm xuống.  Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể.

 Trong cuốn sách tựa đề “The Taste of New Wine” (Hương rượu mới), Keith Miller có mô tả một biến cố thay đổi cuộc đời ông.  Biến cố này xảy ra vào mùa hè ngay sau năm thứ nhất đại học của ông.  Ðêm hôm ấy, Keith bị thương nặng vì một tai nạn xe hơi.  Anh nằm sõng soài bên vệ đường suốt một tiếng rưỡi chờ xe cứu thương.  Khi tâm trí hoàn toàn tỉnh táo, anh bắt đầu cầu nguyện.  Ðang khi nằm đó cầu nguyện trong bóng đêm, một cảm giác an bình xâm chiếm con người anh.  Keith viết: “Tôi nghĩ thật xấu hổ biết bao khi khám phá ra quá trễ trong cuộc đời có loại an bình thực sự như thế.  Lần đầu tiên, tôi không biết sợ chết.”  Keith cho biết, lúc đó anh nhận thức được rằng dầu có chết anh cũng sẽ chết trong khi biết mình đã được tiếp xúc với một điều gì đó thân mật và có thực.  Dù điều ấy là gì đi nữa, điều quan trọng là mãi cho đến bây giờ anh mới khám phá ra điều ấy trong cuộc sống của mình.

 Thế rồi Keith đã thoát được tai nạn đó và bình phục trở lại.  Anh trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch hội huynh đệ của lớp đại học năm thứ hai.  Chẳng bao lâu anh lại bị khích động bởi đời sống hào nhoáng ở đại học.  Nghĩa là, Keith đã quay mặt khỏi Chúa Giêsu, Ðấng mà anh đã từng gặp bên vệ đường.

 Sau khi tốt nghiệp, Keith lập gia đình và làm việc cho một hãng xăng dầu ở Texas.  Nhưng anh đã không được hạnh phúc như anh từng mơ ước.  Một hôm, Keith buồn quá, anh chui vào chiếc xe hơi của công ty rồi vọt đi.  Chạy được một lúc anh cho xe chạy lên vệ đường, tắt máy rồi ngồi thừ ra đó.  Trước đây, Keith luôn luôn tin tưởng rằng luôn luôn có lối thoát cho buồn sầu, chẳng hạn uống vài ly Martini và ngủ một giấc thật say là có thể khởi sự lại vào sáng sớm hôm sau.  Thế nhưng hiện giờ không còn có sáng hôm sau nữa.  Anh ta đã đến bên bờ vực thẳm rồi.  Anh nhìn lên trời cao và la to lên với Chúa: “Nếu Chúa muốn điều gì nơi con thì Ngài hãy lấy đi, con thực tình muốn như thế!”

 Câu chuyện trên xảy ra cách đây đã nhiều năm.  Tuy nhiên điều xảy ra trong đời Keith vào ngày đó đã không bao giờ rời anh ta nữa.  Hôm đó, không có những tiếng nói mầu nhiệm.  Hôm đó Keith chỉ nhận ra những điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.  Chúa không cần tiền bạc, thời giờ của chúng ta.  Người chỉ cần ý muốn của chúng ta và nếu chúng ta dâng cho Người ý muốn này, Người sẽ chỉ cho chúng ta cuộc sống mà từ trước đến giờ chưa bao giờ chúng ta thấy, và có thể nói đây là một cuộc tái sinh thực sự.

 Một lần nữa, Keith lại hướng đôi mắt nhìn vào Chúa Giêsu, và ngay lúc đó, anh lại tìm được sự bình an thâm sâu mà nhiều năm trước đây anh đã khám phá ra trong lúc nằm sõng soài bên vệ đường.

 Tất cả chúng ta đều đã từng có những cảm nghiệm giống như Keith.  Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện quyền năng của Chúa Giêsu.  Tuy nhiên, giống như Keith, chúng ta đã rời mắt mình khỏi Chúa Giêsu, đã bỏ Người để đi tìm những sự vật khác.  Và cũng như Keith chúng ta đã bị mất thăng bằng.

 Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy thẳng thắn nhìn vào cuộc sống của mình.  Nếu chúng ta không cảm nhận được sự bình an là niềm vui thiêng liêng mà ta đã từng cảm nhận, thì chắc hẳn là vì chúng ta đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu.  Nếu chúng ta đang sắp bị bão tố cuộc đời nuốt trửng, thì có lẽ là vì chúng ta đã rời mắt đi xa Chúa Giêsu.  Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta quay mắt trở lại nhìn vào Chúa Giêsu.  Bài Phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta cùng nói với Thánh Phêrô: “Lạy Chúa, xin cứu vớt con!”  Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi của Phúc âm thì tôi có thể dám chắc với các bạn rằng chúng ta sẽ cảm nghiệm được giống như Thánh Phêrô, chúng ta sẽ cảm nhận được bàn tay Chúa Giêsu giơ ra biểu lộ tình yêu đối với chúng ta.

 Chúng ta không thể cảm nhận điều ấy ngay lập tức và một cách nhiệm mầu, tuy nhiên chúng ta cứ tiếp tục kêu cầu chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm điều ấy, để rồi chúng ta sẽ nói như Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, Ngài thực sự là Con Thiên Chúa.”

 Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

 Lạy Chúa, Keith Miller đã gặp được Chúa lúc nằm sõng soài bên vệ đường trong một tai nạn xe hơi.
Ngôn sứ Êlia đã gặp được Ngài trong tiếng thì thầm nơi cửa hang.
Thánh Phaolô đã gặp được Ngài trong chớp sáng trên đường đi Ðamas.
Và Thánh Phêrô đã gặp được Ngài giữa cơn bão biển.
Xin hãy giúp chúng con gặp lại Ngài,
Xin hãy giúp chúng con biết chạy đến với Ngài.
Xin hãy giúp chúng con lại cảm nghiệm được sự hiện diện cứu độ của Ngài trong cuộc sống chúng con.  Amen!

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Tôi sẽ sử dụng thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa?- Cha Vương

Chúc một ngày với đầy sự quyết tâm theo Chúa, 10 núi cũng trèo, 100 sông cũng lội, ngàn đèo cũng bay, thập giá nào cũng vác.

Xin một lời cầu nguyện “thượng lộ bình an” đến những ai đi hành hương Đại Hội Thánh Mẫu Missouri năm nay. Không quên cho nhau và cả thế giới bình an trong tay Ba Đứng Amen 

Cha Vương

Thứ 4: 05/08/2026.     (t4-21)

GIÁO LÝ:  “Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỉ!” (Tv 105,3)…Thiên Chúa vẫn không ngừng kêu gọi mọi người tìm kiếm Ngài để họ được sống và đạt được hạnh phúc. Nhưng việc tìm kiếm này đòi hỏi con người phải có nỗ lực của trí tuệ, sự ngay thẳng của ý chí, “một tấm lòng thành”,… (SGLHTCG, số 30) Tôi sẽ sử dụng thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa?

SUY NIỆM: Trí tuệ, trái tim và ý chí của bạn phải là bản đồ, là năng lực và là phương tiện mà bạn cần phải sử dụng trên hành trình hướng về Chúa. “Đến với Chúa” phải là mục đích của tất cả suy nghĩ, cảm xúc và ước muốn hằng ngày của bạn. Bạn sẽ sử dụng trí khôn và thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa và để đưa bạn đến Chúa hôm nay?

LẮNG NGHE: Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. (Mt 22:37-38)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa, Chúa vĩ đại và rất đáng ca tụng: quyền năng của Chúa cao cả và sự khôn ngoan của Chúa thật khôn lường. Và con người, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, con người trong thân phận phải chết, mang nơi mình chứng tích của tội lỗi mình và chứng tích việc Chúa chống lại kẻ kiêu căng: vậy mà con người như vậy, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, muốn ca tụng Chúa. Chính Chúa thúc giục để con người vui thích ca tụng Chúa, bởi vì Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con không yên nghỉ cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa.” (Thánh Augustinô)

THỰC HÀNH: Quyết tâm từ bỏ những điều xấu xa, tội lỗi, vô giá trị đang làm bạn xa lìa Chúa.

From: Do Dzung

*****

CON ĐI TÌM CHÚA – Thiên Khuê – Đăng Khoa – Ca Đoàn Mông Triệu

Người Việt hung dữ

Thuy Mavronicles

Người Việt hung dữ

Mình kể cho nghe, số là hôm nay mình đi bác sĩ. Khi bước vào van pho`ng bác sĩ, mình thấy có một chú lớn tuổi đã ngồi đợi, khi ghi tên thì mình thấy cái hẹn của chú @1 pm, hẹn của mình 12:45 pm. Mình vừa ghi xong thì thấy 1 cô bé chạy vô ( không ghi tên) & có anh chàng ở bên trong mở cửa kêu vô ( không phải nhân viên phòng mạch). Mình vừa ngồi xuống chưa được 2’, chú ấy đứng phắt dậy lớn tiếng, rồi cầm cái danh sách chỉ vào tên mình mà hét tại sao tui vô trước mà lại kêu người này. Chú ấy quên rằng, hẹn của chú là 1 pm, chú vô trước là quyền của chú, trong khi quá giờ hẹn của mình mà mình vẫn còn ngồi đó.

Nhân viên vp phải ra chỉ cho chú biết, thế là chú ấy bẽn lẽn quay về ghế ngồi, tuy mặt vẫn còn hầm hầm.

Khi mình được gọi vào trong thì thấy cặp bạn trẻ đó đang ngồi chờ để thử máu ở phòng ngoài, chẳng liên can gì tới chuyện gặp bác sĩ.

Sao lại có người hồ đồ như vậy ta, mà chú lại là người lớn tuổi mới là cái đáng nói! …

Go’p Y’:

Xứ Mù Sương

Thường thì lớn tuổi hay đổi tính đổi nết , nóng nảy , nói nhiều, hay cằn nhằn… Phần ảnh hưởng xã hội hỗn tạp nơi ở trước khi đến Mỹ . Anh đọc và anh cầu xin sao cho mình bớt nóng nảy bớt khó ưa … hihi

V Phung Phung 

Tạ ơn Chúa vì đã gặp người hồ đồ, nóng nảy, nhờ đó, ta học được sự nhẫn nại, khoan dung, và học không giận hờn ai cả, để ta vui vẻ, ngủ ngon. Thương người nóng nãy vì họ đang bị bịnh, bịnh thể xác và bịnh tâm hồn (tinh thần). Đúng không?

Nhu Suong Suzanne Duong 

Nghe chị kể làm em nhớ lại chuyện xưa khi làm ở văn phòng bs. Có chú kia cũng vì tính nóng vội và quá ư là xấc xược (cũng là người VN), đứng lên và tới counter chửi thẳng vào các cô front desk là sao không kêu tên tôi và tôi đã đến và đã đợi lâu rồi….rốt cuộc biết ra he không ghi tên sign-in làm sao ai biết mà kêu?!

Trời ơi, khổ quá hé chị; nếu ai cũng biết sống “ tử tế” với mọi người chung quanh 1 chút thì sẽ không có 2 chữ “ giá như”.

Buồn…vẫn buồn cho “ đời”.

Chúc chị luôn thật nhiều sức khỏe và mãi luôn hạnh phúc bên các cháu xinh đẹp


 

YÊU THƯƠNG THUỐC TIÊN CHỮA BỆNH – MD Đức Tâm 

MD Đức Tâm 

Có thể bạn chưa tin nhưng nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy điều mà tế bào ung thư sợ nhất không phải là hóa trị hay bất kỳ loại thuốc trị ung thư nào.

Sau khoảng thời gian tiếp xúc với nhiều bệnh nhân từ nhiều quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ David Hawkins – một bác sĩ rất nổi tiếng tại Mỹ cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không xuất hiện chữ “yêu”, thay vào đó là “khổ, hận, phiền muộn”.

Điều này có thể khiến nhiều người trong chúng ta không tin nhưng đây là kết luận hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học. Sau 20 năm nghiên cứu về cơ và vận động học, tiến sĩ Hawkins đã phát hiện ra “ý nghĩa của thang bậc chỉ số rung động trong cơ thể con người từ 1 đến 1000”. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói. Theo đó, những người có suy nghĩ tiêu cực thường rất hay bị bệnh. Đó là những người có chỉ số rung động dưới 200.

Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn.

Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người. TS Hawkins đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau.

Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có:

– quan tâm đến người khác,

– giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện,

– bao dung, độ lượng, v.v.

Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400 – 500.

– Mặt khác, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp.

Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.

Lý giải cho điều này, tiến sĩ Hawkin cho biết những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.

Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Tiến sĩ Hawkin cho biết trong cuộc đời của mình, ông chưa gặp ai có tần số rung động đạt ở mức cao nhất, 1000. Những người mà ông ấn tượng nhất cũng chỉ đạt mức 700. Năng lượng trong cơ thể họ rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh.

Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Teresa lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.

Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn.

Còn với người có suy nghĩ tiêu cực,không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.

Một trường hợp cụ thể nhất về tác động của tình yêu với các tế bào ung thư chính là nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản. Khi bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn.

Cuối cùng, ông quyết định thay đổi tâm trạng và chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.

Kết quả hết sức bất ngờ và nằm ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản.

Đây chính là bản chất của cuộc sống Thương Yêu

Các nhà khoa học cho biết, căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ “yêu thương và được thương yêu”.

MD Đức Tâm


 

NỖI ĐAU TUỔI XẾ CHIỀU – (của Huy Phương)

Trần Đình Phong 

NỖI ĐAU TUỔI XẾ CHIỀU

(của Huy Phương, ảnh do AI tạo),

    Ở đây, chúng ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường…nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này. Và những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền.

Nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm !

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày.

Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu.

Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí.

Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc.

Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông.

Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác ! Nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường ! Và bây giờ đã có !

Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào ?!!!

        Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người ” đem cha bỏ chùa ” !

Cũng lại câu chuyện của một người già.

Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng.

Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà.

Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng.

Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ.

Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh.

Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp.

Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

     Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”.

Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam.

Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái.

Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi !

Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng.

Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi.

Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở Mỹ thì bao nhiêu thứ tốn kém !

– Còn có vợ chồng ông A ở California sang Mỹ hơn ba mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời.

Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá lớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn hơn chục nghìn dắt lưng, rồi về ở với một đứa, mà bà nghĩ là hợp ý.

Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón.

Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái đi làm về, mở cửa vào

nhà, thấy mẹ đang ngồi xem TV, nó hất hàm hỏi: -“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy ?” .

– Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:-“Bả đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu dính đầy quần !

Trên đây là những câu chuyện rất hiếm, ít khi xẩy ra, nhưng tôi cũng đem câu chuyện “ buồn “ này, về trang nhà để các Bạn cùng đọc và có những suy ngẫm, lo liệu để vào tuổi xế chiều, chúng ta không là gánh nặng cho con và khổ cho mình.


 

Chọi Chữ – Quý Thể

Chọi Chữ  –Quý Thể

Posted by GLN

Hồi lớp đệ thất (lớp sáu) học sinh chúng tôi có trò chơi lúc đầu gọi là trò làm tự điển, sau gọi là “chọi chữ”. Trò này lấy chữ mà chơi, ai nhiều chữ nấy thắng. Cách chơi khá đơn giản. Cứ đề ra chữ nào đó rồi đứa lấy giấy bút ra kê, xong đếm lại, ai nhiều hơn sẽ thắng. Ví dụ: Lấy chữ “cà”

  -Cà phê, cà ri, cà rà , cà rá, cà cuống, cà rốt, cà sa, cà rỡn, cà nhắt, cà khịa, cà mèn… cà riềng tỏi, cà kê dê ngỗng, cà lăm cà lặp, cà răng căng tai…

Tôi có thằng bạn tên Đạo, thằng này có biệt tài chọi chữ. Lần nào chơi nó cũng thắng, Nó có những từ rất đặc biệt, có khi người khác cãi, nó đem từ điển tới, ai cũng chịu. Nó có một chữ “cà” hết sức lạ lùng là “cà ràng”. Từ điển lớn và mới nhất mới thấy ghi từ này: Đó là thứ lò đất nung dùng trên ghe thuyền ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lò gồm ba ông táo nhỏ gắn trên cái đế bằng đất nung. Miền Nam có thành ngữ cà rang cà đụng. Thằng Đạo có vốn từ giàu chẳng ai bằng. Từ ngữ ba miền, mới cũ nó đều thông.

Trò chọi chữ khởi đi từ lớp tôi lan sang những lớp khác. Thế là mỗi lớp thành lập đội tuyển chọi chữ. Đội tuyển có ba thành viên. Năm ấy Đạo, Lê và tôi được cả lớp tín nhiệm cử đi thi đấu với lớp ngũ bốn, nghĩa là lớn hơn lớp tôi hai năm. Đây là cuộc thi không cân sức thế nhưng đội tuyển lớp tôi đã thắng.

Muốn chọi chữ giỏi phải có chữ nhiều. Có vốn từ phong phú, mà vốn từ chính là vốn sống. Chúng tôi những cậu bé mười tuổi vốn sống chưa đựng đầy chiếc túi nhỏ, lấy chữ đâu mà chọi. Hồi đó nhà tôi có quyển Từ điển tiếng Việt của Hội Khai Trí Tiến Đức. Quyển sách bọc bìa vải đen, khổ to và dày, ôm không nổi, làm sao học cho hết? Thằng Đạo bày : “tìm chữ lạ mà học” Ôi không biết bao nhiêu chữ nghĩa làm sao học. Tuy chỉ mới lớp sáu nhưng trình độ học sinh thời đó đã khá nên chúng tôi biết liệt kê theo cách các nhà làm từ điển, theo A,B,C…

Học sinh thời nào cũng có nhiều trò chơi, hầu hết những trò chơi đó đều bị thầy cô và nhà trường cấm. Tiếng trò chọi chữ là trò chơi trí tuệ, có lợi cho môn văn và nhất là lại có cái lợi thiết thực khi chơi trò này trong lớp bớt náo loạn ồn ào nên được nhà trường khuyến khích.

Thường vào cuối tháng năm đầu tháng sáu, khi kỳ thi đệ nhị tam cá nguyệt (học kỳ 2) đã xong, không khí học tập có phần uể oải, lơ là, thầy cô cũng nới tay, đó là lúc trò chọi chữ nở rộ. Chiều hôm ấy học sinh tổ chức cuộc thi chung kết chọi chữ giữa lớp Thất Ba đấu với Ngũ bốn. Chữ bốc thăm đem ra chọi là chữ “Ăn”, một chữ rất giàu có của tiếng Việt:

       -Ăn thề, ăn vạ, ăn gian, ăn mày, ăn xin, ăn hiếp, ăn sương… ăn xổi ở thì, ăn tươi nuốt sống, ăn vóc học hay, ăn mặn nói ngay, ăn xem nồi, ăn không ngồi rồi, ăn nên làm ra…

Đội thất ba thắng đội ngũ bốn nhờ có ba chữ ăn thuộc loại quái chiêu : Ăn ong (đi tìm mật ong), ăn đàng sóng nói đàng gió (nói năng ngang ngược), Ăn lông ở lỗ. Công đầu thuộc về thằng Đạo. Chữ nó nhiều vô số.

Tôi đinh ninh sau này thằng Đạo thế nào cũng làm nghề nghiệp gì liên quan đến chữ nghĩa. Nó sẽ thành nhà soạn từ điển. Tôi tin từ điển hắn soạn ra chẳng thiếu chữ nào. Thằng Đạo làm luận hay lắm. Bài hắn kỳ nào cũng được thầy đọc cho cả lớp nghe. Hắn còn giỏi văn nghệ, làm thơ, viết báo tường. Hắn là một học sinh kiểu mẫu mà thầy cô lấy ra làm gương cho chúng tôi noi theo.

“Xã hội” học trò chỉ có hai “giai cấp” học giỏi, học dở. Hai nhóm này chẳng cố định và cũng chẳng thấy có đấu tranh gì gay gắt cả. Tháng này học nhiều, đứng cao, tháng sau lười biếng rơi xuống cuối sổ trở thành nhà lực sĩ đội trên đầu bốn mươi bạn đồng lớp, thế là chuyển từ giai cấp này sang giai cấp kia.

Học xong ra đời chẳng thế. Cuộc đời tàn nhẫn hơn. Với sự có mặt của gia thế nó đóng đinh số phận con người vào một vị trí nhất định và trừ khi có phép lạ mới nhảy từ cấp dưới lên cấp trên. Thế nhưng rủi ro sơ sảy, chỉ trong chốc lát rơi tới đáy lầm than!.

Ra đời mỗi học sinh một hoàn cảnh. Có kẻ học rất giỏi  lại chẳng ra gì. Có đứa học dốt kiếm được chỗ đứng trên cao. Tôi thuộc hạng này. Thuở còn đi học tôi học hành tầm thường thế nhưng khi vào đời lại làm vị quan toà xét xử và định đoạt số phận kẻ khác.

Có lần xử án, cảnh sát lôi từ xe bít bùng xuống một người đàn ông đẩy hắn tới trước vành móng ngựa. Tôi ra lệnh mở còng. Trông hắn rách rưới thiểu não, tồi tệ. Hắn bị đưa ra toà về tội trộm. Một tên trộm hạng bét, tầm thường. Tôi bảo hắn khai tên họ, tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ ở. Khi hắn ngẫng đầu lên tôi đã ngờ ngợ, nhưng chưa tin vào mắt mình. Tại sao trông hắn giống như thằng Đạo, vua chọi chữ cách đây hai mươi năm thời chúng tôi còn là học sinh ngồi chung bàn? Tuy giờ đây cuộc sống nhọc nhằn đã khiến cho hắn già cả tiều tuỵ. Tôi tự nhủ: Lẽ nào người ấy là thằng Đạo, thằng học trò thông minh học giỏi, hạnh kiểm tốt, đầy tài năng lại chịu cảnh khốn cùng đến nỗi di vào ngõ cụt như thế này? Tôi nhận ra hắn nhưng hắn vẫn chưa ngước lên nhìn tôi. Cũng khó mà nhìn ra tôi. Ngày trước tôi là cậu học sinh ốm o và nhỏ nhất lớp song giờ đây tôi đã trở thành vị quan toà phương phi bệ vệ, mặc áo choàng đen ngồi trên chiếc ghế uy nghi. Chung quanh tôi là một quang cảnh đầy sự tôn kính và đang làm cái công việc định đoạt cho số phận con người nhỏ nhoi hèn mọn đang đứng trong vành móng ngựa dưới kia. Tôi hỏi:

 -Tên họ?

Hắn ngẫng lên nhìn tôi. Hình như hắn cũng có tâm trạng như tôi, nghĩa là lẽ nào thằng bạn ngày xưa lại là người xét xử hắn. Hắn cúi xuống, không trả lời. Tôi giục:

      -Họ và tên, khai đi!

Và hắn ngước nhìn lên một lần nữa. Bây giờ chẳng còn nghi ngờ gì. Chúng tôi đã nhận ra nhau trong một tình cảnh cực kỳ oái oăm và khó xử cho cả hai. Tôi đùa:

      -Này “vua chọi chữ”…

Hắn hỏi:

    -Cái gì? Nhái bén chàng hiu (Biệt hiệu của tôi thời học sinh)?

Tôi nói:

      -Có một chữ rất dễ…

Hắn hỏi:

      -Chữ gì?

      -Tên họ của mình…

Hắn buồn bã lắc đầu. Hình như hắn không muốn đem cái chữ “đạo” ra chọi với cuộc đời, với hoàn cảnh éo le bây giờ. Hắn muốn giữ cái tên tuổi tốt đẹp đó cho quãng đời học sinh tuyệt vời ngày trước mà thôi. Tôi cố ép hắn:

      -Này vua chọi chữ đừng có giấu nữa. Lấy chữ Đạo ra chọi nhé – và rồi tôi ứng khẩu đọc một lô – đạo diễn, đạo sĩ, đạo đức, đạo hạnh, đạo đồng, đạo mạo…

Hắn nói:

   -Thiếu hai chữ.

      -Hai chữ gì?

Hắn cười:

      -Đạo chích, đạo tặc! (trộm cắp)

Hắn không xin giảm án. Hắn không chịu nhún mình. Hắn vẫn giữ được tính cách cao ngạo dễ thương thời còn đi học. Hắn lãnh án. Đưa hai tay ra cho người ta còng, bước ra, vừa đi vừa cười./.

Quý Thể

https://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2014/05/choi-chu-quy-the.html