Ơn Người –  Sapy Nguyễn Văn Hưởng

Sapy Nguyễn Văn Hưởng

Tác giả là cư dân San Diego, đã hai lần thắng giải Viết Về Nước Mỹ. Năm 2001, với bài “Hoa Ve Chai”, ông nhận giải danh dự. Ba năm sau, với bài viết “Giọt Nước Mắt,” kể về Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại tiểu bang New Jersey do một kiến trúc sư Việt Nam vẽ kiểu, ông nhận giải chung kết Viết Về Nước Mỹ 2004. Ông tiếp tục viết bài và tham gia sinh hoạt giải thưởng VVNM hàng năm. Mùa lễ Tạ Ơn năm nay, tác giả gửi đến Viết Về Nước Mỹ một loạt 5 bài bút ký thấm đậm tình người từ trong gia đình đến những người thân quen của mình. Sau đây là bài thứ nhất “Ơn Người”.

 ***

 Thật khó ngờ rằng, bước vào tuổi nghỉ hưu, tôi vẫn còn dịp lo liệu cho tuổi già của bố mẹ. Chính trong những ngày ấy, tôi bắt đầu nghĩ về tuổi già, không của ai khác mà của chính mình. Khi va chạm với thực tế, tôi thấy hình bóng tương lai của mình trong từng chi tiết nhỏ: nào khó khăn lúc bước vào trong xe, nào không thể tự mặc cho mình manh quần tấm áo.

Tôi là con cả trong một gia tộc đông anh em. Dù đã sống trên đất Mỹ lâu hơn khoảng gần ba mươi năm so với thời gian tôi từng sinh sống ở quê nhà, tôi vẫn giữ lối nghĩ của người Việt: phận làm con là phải chăm sóc cha mẹ lúc xế chiều, như một phần máu thịt, chẳng cần ai nhắc. Có lúc đứng một mình, tôi tự hỏi rằng đã sẵn sàng cho vai trò đó đến đâu, và câu trả lời luôn dẫn tôi về với trách nhiệm không thể thoái thác. Dẫu tôi có đến bảy đứa em và mấy chục đứa cháu, tôi vẫn coi phần chính của bổn phận ấy thuộc về mình.

Cũng như nhiều người Việt ở nơi đây, bố mẹ tôi thường bóng gió nhắc về nỗi sợ bị đưa vào “nhà già”. Tôi hiểu sự ám ảnh ấy: phần đông người lớn tuổi gốc Việt không quen tiếng Anh, ít hợp với thức ăn bản xứ, và hơn hết họ mong được dưỡng bệnh tại nhà, nằm trên chiếc giường quen thuộc giữa hơi ấm con cháu.

Tôi vẫn thắc mắc tại sao người Việt gọi nursing home là “nhà già” hay “viện dưỡng lão”, hai cách gọi nghe quen mà chua chát, như chứa một nỗi buồn, một hàm ý bị bỏ rơi. Có lẽ trong ký ức nhiều người, nơi ấy không gắn với hình ảnh yêu thương mà chỉ là trạm dừng cuối đời: vắng con cháu, vắng tiếng cười thân quen. Nghe bố mẹ nói đến điều đó, lòng tôi xót xa, vừa muốn tìm cách giữ ông bà ở nhà, vừa lo rằng đôi khi người nhà cũng bất lực trước những nhu cầu chăm sóc chuyên môn. Tôi hiểu rằng điều bố mẹ cần không chỉ là chỗ ở, mà là phẩm giá, là kỷ niệm và những gì thân thuộc thường dùng.

Thật ra, ở Mỹ nursing home không chỉ dành cho người già, mà cho bất kỳ ai cần chăm sóc y tế dài hạn, đó là một phần trong hệ thống chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp. Tuy nhiên khác biệt văn hóa và quan niệm về sống chết khiến nhiều người Việt giữ khoảng cách với nơi ấy. Vì vậy, tôi xin gọi đúng tên: nursing home.

Mỗi lần nghĩ đến tuổi già của bố mẹ, tôi lại nhớ đến Dick, người bạn Mỹ gốc Mexico từng làm chung hãng với tôi. Dick thường kể về mẹ già của anh: bà không thể tự lo suốt hơn mười năm cuối đời. Thay vì đưa bà vào nursing home, các anh chị em quyết định thuê hai phụ nữ người Mễ thay phiên nhau đến nhà chăm sóc cho bà cả ngày lẫn đêm. Con cái, cháu chắt ai rảnh thì ghé thăm, ai nấy đều yên tâm vì bà luôn có người kề cận. Nghe Dick kể, trong tôi hiện lên hình ảnh những bàn tay quen thuộc chăm sóc, tiếng Tây Ban Nha thì thầm và mùi bột ngô trên bếp, một khung cảnh ấm áp khác hẳn với chiếc giường lạnh lẽo cô đơn nơi nursing home.

Từ chuyện của Dick, tôi thầm nghĩ: nếu đến lúc bố mẹ tôi cần, tôi cũng sẽ làm như vậy. Tôi tự hứa với lòng: tôi sẽ cố gắng giữ bố mẹ ở nhà, dù phải sắp xếp lại cuộc sống hay nhờ đến sự giúp đỡ chuyên môn, để ông bà được quanh quẩn bên gia đình, bên cạnh những gì thân thuộc nhất.

*

Và rồi, ngày ấy cũng đến. Sau buổi tiệc mừng thượng thọ, bố tôi bỗng lên cơn đau tim, phải đưa vào cấp cứu. Gần hai tuần sau, từ phòng hồi sức ông được chuyển sang nursing home để phục hồi chức năng. Sau hơn ba tháng, tuy đã đi lại được, nhưng trí nhớ suy giảm rõ rệt và ông không còn tự lo vệ sinh cá nhân được.

May thay, mẹ tôi vẫn khỏe, cố gắng chăm sóc chồng. Nhưng ai cũng hiểu bà không thể gồng gánh mãi một mình. Suốt ba tháng luân phiên vào nursing home chăm bố, anh em con cháu ai nấy đều thấm mệt. Khi bố được cho về nhà, mọi người đồng thuận phải tìm người giúp việc toàn thời gian.

Tôi đứng ra đăng báo tìm người, nhưng quyền quyết định hoàn toàn thuộc về mẹ tôi. Sau vài lần thay người, cuối cùng mẹ tôi mướn được một chị tên Trần Thị Ái Hoa. Chị không chỉ có cái tên đẹp, mà còn là người đoan trang, khuôn mặt sáng, giọng nói nhẹ nhàng, chừng mực. Sau này tôi mới biết chồng đầu của chị từng là bác sĩ quân y trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tử trận không lâu sau biến cố 1963. Từ đó đời chị gập ghềnh, nhưng vẫn giữ phẩm hạnh và lòng kiên nhẫn đáng quý.

Lần đầu gặp chị, tôi thấy tóc chị còn đen nhánh, áo quần tươm tất, cử chỉ nghiêm trang; nhưng chỉ hơn một tháng sau, tôi sững sờ khi thấy tóc chị bạc trắng như sương. Lúc ấy chị mới thú thật: chị đã gần bảy mươi. Khi đến xin việc, sợ bị chê già, chị đã nhuộm tóc và khai ít tuổi hơn. Chị còn giấu việc mình theo đạo Công giáo, e ngại bố mẹ tôi, vốn theo tín ngưỡng khác, có thể ngại ngùng.

Dần dà, tôi hiểu thêm hoàn cảnh chị. Chị sang Mỹ theo diện du lịch, làm đủ nghề: trông nhà, nấu bếp, chăm người già, từng đi qua nhiều thành phố và nhiều tiểu bang; có nơi không hợp, có nơi bị đối xử tệ. Về đến San Diego, chị nương nhờ người anh họ, rồi đọc tin tìm người của gia đình tôi và đến xin việc. Mẹ tôi nhận ngay, chị mừng đến rơi nước mắt.

Ngay lần gặp đầu, tôi có một linh cảm khó tả: nếu chị Hoa về sống với bố mẹ tôi, đó sẽ là sự kết hợp tốt đẹp. Một người cần một mái ấm, một gia đình cần một tấm lòng. Chị cần chốn nương thân, một căn phòng riêng và góc yên bình để an trú tuổi già. Căn hộ của bố mẹ tôi dư ra đúng một phòng ngủ có nhà tắm riêng. Chị là người ngoan đạo, lại cách thánh đường có lễ tiếng Việt vài trăm thước, vừa đủ để chị thong thả đi bộ đến dự lễ sớm chiều.

Gia đình chúng tôi cần một người luôn túc trực trong nhà, không chỉ chăm sóc bố mà còn đỡ đần mẹ trong bếp núc, dọn dẹp. Ngay từ những ngày đầu, chị xin phép được gọi bố mẹ tôi là Bố và Mẹ, và xin được coi như con trong nhà. Tôi nghe chị gọi hai tiếng ấy, không khách sáo, không gượng gạo, chỉ thấy thân thuộc, tự nhiên và đầy tình cảm.

Việc khó khăn và tế nhị nhất là chuyện vệ sinh cá nhân; đó là điều rất nhạy cảm mà ít ai chịu làm nếu không thật lòng thương. Thời gian trôi, sức khỏe bố dần khá hơn: ông ăn uống được, đi lại quanh nhà, nhưng vẫn phải mang tã và chưa thể tự lo vệ sinh. Thấy chồng khỏe lên, mẹ tôi bắt đầu có ý định giảm bớt tiền công cho chị. Một chiều, vợ tôi tìm chị để nói riêng:

– Chị đừng lo. Mẹ trả bao nhiêu, chị cứ nhận. Phần còn lại, các em sẽ bù riêng cho chị.

Nói những lời ấy, lòng tôi vui vì chị sẽ không phải lo lắng chuyện tiền bạc trong những ngày tuổi già.

*

Khi quyết định sang Mỹ, chị Hoa để lại sau lưng một gánh lo không nhỏ: người mẹ già ngoài chín mươi và cô con gái sống đơn độc, chật vật nuôi hai đứa con dù chúng đã quá tuổi trưởng thành. Cũng như nhiều gia đình Việt có thân nhân ở xứ người, người nhà ít khi hỏi han chị sống ra sao, làm nghề gì, họ mặc nhiên nghĩ rằng ở bển thì dễ kiếm tiền, như nhặt lá mùa thu.

Mỗi lá thư nhà gửi sang thường kèm theo một danh sách: lúc xin thuốc bổ, lúc nhờ mua điện thoại, máy đo huyết áp, áo ấm, đồng hồ… Có khi chẳng xin gì, chỉ vỏn vẹn mấy chữ: “Ở đây khổ quá, má à!” Chị làm được bao nhiêu đều chắt chiu gửi về: phần cho mẹ, phần cho con và hai đứa cháu ngoại. Ngoài ra, chị còn đóng góp cho giáo hội Việt Nam, cho giáo xứ quê nhà, nơi in đậm dấu chân tuổi thơ và biết bao kỷ niệm. Mỗi khi quê nhà gặp thiên tai, lũ lụt, chị lại nhờ người quen quyên góp, gửi về cho bà con khốn khó. Nghe những việc chị làm, tôi cảm nhận một tấm lòng luôn hướng về nguồn cội. Trong những món quà gửi về có cả nỗi nhớ, cả niềm hy vọng chị muốn giữ cho gia đình mình.

Nhắc đến quê, mắt chị thường đỏ hoe. Có khi đang kể, chị bỗng lặng thinh, đưa tay quệt vội giọt nước mắt. Tôi hiểu đó không chỉ là nỗi nhớ mà còn là nỗi xót xa cho những thân phận gần gũi mà chị không thể ở bên. Một chiều cuối tuần, tôi đưa cả nhà đi dạo công viên Balboa. Trong nắng nhạt, gió nhẹ, hoa nở rực bên lối đi, thấy chị đứng lặng, quay mặt lau nước mắt, vợ tôi hỏi:

– Sao chị khóc?

Chị nhỏ nhẹ:

– Trời ơi, xứ người ta đẹp quá. Không biết chừng nào nước mình mới được như vầy?

Câu nói như một tiếng thở dài. Từ đó, tôi hiểu vì sao, dù sống trong căn phòng nhỏ nơi đất khách, với công việc chẳng nhẹ nhàng gì, chị vẫn chan chứa tình thương và hy vọng. Những khoảnh khắc ấy khiến tôi thấy mình có một trách nhiệm mới: chăm sóc chị như người nhà, vì chị đã chọn gắn bó cuộc đời mình với gia đình chúng tôi.

Thay vì nhắc chị phải thương yêu và chăm sóc bố mẹ tôi, chính tôi mới cần học cách thương và lo cho chị. Vợ chồng tôi đối đãi với chị bằng tất cả lòng tin, không dè dặt, không toan tính. Nhiều buổi trưa chiều đi dạo, tôi thấy chị lặng lẽ đi sau, mắt không rời bố mẹ tôi, như sợ ông bà trượt chân, sẵn sàng đưa tay ra đỡ. Chị ít nói, nhưng trong lòng chị, ông bà đã thành cha mẹ ruột tự thuở nào.

*

Ông Minh, anh bạn thân, thấy vợ chồng tôi tất bật lo cho bố mẹ, có lần khuyên:

– Ông bà có tám người con. Trừ một người ở xa, còn lại bảy đứa đều gần. Sao chú thím không chia nhau, mỗi người phụ trách một ngày? Vừa công bằng, vừa giúp chú thím đỡ vất vả.

Tôi chỉ cười:

– Tụi em nghỉ hưu rồi, thời gian rảnh rỗi nhiều hơn. Mấy đứa em còn bận con cái, cơm áo, công việc, lo cho nhà mình chưa xuể, làm sao ngồi cả buổi ở nursing home trông bố em được.

Nói vậy cho xuôi chuyện, chứ tôi nghĩ khác. Chăm sóc cha mẹ không phải là chuyện chia phần cho công bằng, càng không thể tính thiệt hơn. Đó là việc của trái tim, của tình cảm chảy từ huyết quản, chẳng thể đo đếm bằng giờ giấc hay công sức. Tôi không đòi hỏi gì ở các em, cũng không trách ai, mỗi người có hoàn cảnh và nhịp sống riêng mà người ngoài khó hiểu hết. Tôi chỉ âm thầm làm phần mình, tận hưởng những ngày còn được nhìn thấy ông bà khi tuổi đã xế chiều. Với tôi đó là một ân phước không thể tính toán, so bì được.

*

Một lần, khi tôi đang ghé thăm một người bạn, ở cách nhà bố mẹ vài dặm, điện thoại reo dồn dập. Vừa áp máy vào tai, đã nghe giọng vợ tôi hốt hoảng:

– Anh ơi, bố trốn khỏi nhà hơn mười lăm phút rồi!

Tôi như chết lặng, lao ra xe phóng ngay về. Vừa tới nơi, thấy chị Hoa đứng thẫn thờ ở cửa, mặt tái nhợt. Nhận ra tôi, chị òa lên khóc:

– Thấy bố ngủ say, chị tranh thủ giặt đồ. Ai ngờ chỉ mới vài phút là ông mở cửa lẻn đi mất…

Mẹ tôi run run nói: 

– Mẹ với chị Hoa và mấy người hàng xóm tìm khắp nơi mà không thấy…

Tôi đưa mẹ và chị Hoa lên xe, bắt đầu tìm kiếm. Tôi lái, mẹ nhìn bên trái, chị Hoa nhìn bên phải. Xe chạy hết con dốc này sang con đường kia, vòng quanh khu xóm. Mẹ không ngừng nhắc:

– Hồi sáng bố đi dọc khúc này… Hôm qua thì ghé coi mấy bụi hồng chỗ kia…

Chạy theo hướng mẹ chỉ đến mấy lần vẫn không thấy. Lo lắng cứ quấn chặt đầu óc, mọi thứ xung quanh chợt lặng thinh.

Lòng tôi nóng như lửa đốt. Đây là lần đầu tiên tôi gặp cảnh như vậy: một cụ già lẫn trí nhớ, lang thang ngoài đường, không biết mình là ai, chẳng biết đi về đâu. Tôi quay sang hỏi mẹ:

– Hay mình về nhà, gọi 911 đi mẹ?

Mẹ gật đầu. Về đến nhà, tôi gọi liền tức khắc. Nghe tôi trình bày, tổng đài viên trả lời ngay rằng họ sẽ cử người hỗ trợ. Độ mười phút sau, ba xe cảnh sát hú còi tới. Sau khi hỏi kỹ lưỡng nào: tên, tuổi, đặc điểm nhận dạng, quần áo ông mặc khi rời nhà, họ tỏa ra khắp khu vực, kiểm tra từng ngõ ngách, gõ cửa hàng xóm. Mọi hành động nhanh nhẹn, chuyên nghiệp.

Chị Hoa đứng ngồi không yên, hết nhìn đồng hồ lại liếc ra cửa. Mỗi lần có tiếng động lạ hay dáng người lướt qua, chị khựng lại rồi thở dài. Lâu lâu chị nhìn vợ chồng tôi, lẩm bẩm:

– Bố đi đúng một tiếng mười lăm phút rồi đó cậu mợ ơi…

Rồi chị bước vào phòng, quỳ trước tượng Đức Mẹ Maria, chắp tay khấn nguyện. Khi trở ra, chị ngồi xuống bên mẹ tôi, vòng tay ôm bà:

– Sao bố đi lâu quá vậy mẹ ơi… Không biết có khát không, có ai cho uống nước không? Hay là… bố đang ngồi hoặc nằm đâu đó, không ai hay biết?

Chị lại khẩn khoản:

– Cậu chở chị đi tìm bố nữa. Chị nhớ rõ mấy đoạn đường bố thích đi lắm… luôn cả mấy nhánh hoa ven đường…

Tôi gật đầu, cùng chị lên đường thêm một lần, nhưng suốt chặng quẩn quanh khu phố vẫn không thấy bóng dáng bố tôi. Mỗi phút trôi qua như kéo dài vô tận; tôi chỉ mong thấy bóng dáng quen thuộc đang lầm lũi bước trên đường.

*

Sau hơn cả giờ tìm khắp khu phố mà vẫn không thấy bóng dáng bố, hai nhân viên cảnh sát quay trở lại. Một người đẩy cánh cửa lưới bước nhanh vào nhà, người kia theo sau dắt một con chó nghiệp vụ cao lớn, lông xám, đôi mắt sáng rực. Vừa thấy tôi đến, viên cảnh sát nói ngay:

– Thưa ông, vẫn chưa tìm thấy ông cụ. Giờ chúng tôi sẽ dùng chó nghiệp vụ. Xin ông lấy ra mấy món đồ của ông cụ thường dùng, như quần áo, khăn hoặc bất cứ thứ gì có mùi quen thuộc.

Tôi vừa dịch lại xong, chị Hoa tức tốc bước vội vào phòng. Chỉ lát sau chị trở ra, tay ôm chiếc áo len và cái quần ngủ cũ của bố, run run chìa ra:

– Đây… áo bố mặc hôm qua… quần này sáng nay chị mới thay cho bố…

Giọng chị nghèn nghẹn, tay nắm chặt mớ quần áo như ôm vật quý giá. Một viên cảnh sát nhận lấy chiếc áo, cúi xuống đưa sát mũi con chó; con vật rít khẽ, vểnh tai rồi bắt đầu đánh hơi quanh phòng.

Viên cảnh sát trấn an:

– Chúng tôi đang cho chó bắt mùi. Giờ chỉ còn trông vào nó dẫn đường.

Chị Hoa nép sang một bên, hai tay đan chặt. Trước khi rời đi, viên cảnh sát còn nói thêm:

– Nếu chó nghiệp vụ không tìm được, chúng tôi sẽ xin trực thăng hỗ trợ.

Tôi lặng người. Trước mắt tôi, hai viên cảnh sát Mỹ, một con chó nghiệp vụ, một người phụ nữ Việt tóc pha sương, và cả căn nhà đang nín thở trong lo âu. Tất cả vì một ông cụ gốc Việt, đã già, đã lẫn, đang đi lạc giữa một thành phố rộng lớn. Tôi dõi theo bóng họ khuất dần ngoài ngõ, cổ họng nghẹn lại. Không ngờ để tìm một người già lại quan trọng đến như vậy. Lòng tôi dâng lên một niềm biết ơn sâu sắc đối với những con người đang đứng trước mặt tôi. Tôi thấy mình mang một món nợ ân tình quá lớn với đất nước này.

Cánh cửa khép lại; căn nhà yên ắng nhưng không bình yên, mà là thứ lặng ngắt căng thẳng. Chị Hoa đi ra đi vào, mắt không rời chiếc đồng hồ treo tường; mỗi tiếng “tích tắc” như đè nặng lên từng phút chờ đợi. Chốc chốc chị khựng giữa phòng, môi mấp máy lời cầu nguyện.

Bất chợt, điện thoại tôi rung. Là cảnh sát, giọng ông ta reo vui:

– Chúng tôi đã tìm thấy ông cụ. Con chó đã lần ra dấu, cách nhà hơn ba dặm. Ông cụ lang thang một mình, không hề hấn gì. Chúng tôi sẽ đưa ông về trong vòng mười phút.

Tôi buông điện thoại, nghẹn giọng báo tin. Cả nhà như vỡ òa. Mẹ chắp tay ngước lên trần, lẩm bẩm tạ ơn. Chị Hoa vội chạy vào phòng, quỳ rạp xuống sàn; tượng Đức Mẹ trong ánh sáng lờ mờ như đang lắng nghe tiếng khấn của một đứa con đầy niềm tin.

Chẳng bao lâu sau, viên cảnh sát trẻ dìu bố tôi vào hành lang. Dáng ông lom khom, bước chậm nhưng tỉnh táo. Vừa thấy ông, chị Hoa lao ra, quỳ sụp trước viên cảnh sát, chắp tay lạy lia lịa:

– Con cám ơn ông cảnh sát. Con cám ơn ông đã cứu bố con.

Viên cảnh sát hơi khựng, nhìn ngơ ngác; tôi bước tới giải thích:

– Xin lỗi anh, đây là cách người Việt tạ ơn người giúp đỡ. Chị xúc động quá.

Anh gật đầu, mỉm cười, dìu bố tôi đến ghế salon. Bố vừa đặt người xuống, chị Hoa ngồi bệt dưới chân, bóp nhẹ đũng quần ông rồi lo lắng hỏi:

– Bố đi gần ba tiếng đồng hồ mà không có đái sao bố?

Tôi chết lặng. Từng cử chỉ của chị, từ quỳ tạ ơn cảnh sát đến chăm sóc tỉ mỉ cho bố, khiến tôi không nói nên lời. Trong khoảnh khắc đó, lòng tôi vừa trào dâng sự biết ơn vừa chua xót vì nhận ra có những việc người khác đang làm thay cho mình. Chị Hoa đã làm tất cả những việc lẽ ra một người con trưởng phải làm: chờ đợi, tìm kiếm, cầu nguyện, chăm sóc từng ly từng tí.

Vợ chồng tôi nhiều lần bàn bạc: phải làm gì để đền đáp tấm lòng chị. Có nên tăng lương? Nhưng rồi tự hỏi tiền bạc có phải điều thiết thực nhất cho chị? Tôi hiểu lẽ sống của chị là vì người khác; bao nhiêu công khó chị đều gửi về quê, phần cho mẹ già, phần cho con và hai đứa cháu ngoại. Cuối cùng, chúng tôi quyết định một phương án thực tế và lâu dài: giữ lại phần tiền công trả thêm mỗi tháng cho chị, tính luôn từ đầu năm, để trao lại vào ngày chị không còn làm cho bố tôi nữa.

Hôm ấy, vợ tôi nhẹ nhàng nói:

– Chị an tâm, khi nào chị nghỉ hẳn, tụi em sẽ đưa lại đầy đủ. Không phải để ép chị làm mãi; nghỉ lúc nào là quyền của chị. Tụi em chỉ mong chị yên tâm mà lo cho bố.

Chị Hoa ngơ ngác, mắt chớp nhanh:

– Sao cô chú lại cho chị nhiều thế?

Tôi chỉ mỉm cười. Thành thật mà nói, đó là tất cả những gì vợ chồng tôi có thể làm để bày tỏ lòng biết ơn, một sự đáp đền giản dị cho tấm lòng chị đã trao cho gia đình chúng tôi.

*

Rồi cũng đến ngày không ai mong muốn. Một buổi sáng như mọi khi, cả nhà ngồi ăn thì bố tôi bỗng đổ gục xuống bàn, đột quỵ. Mẹ tôi hốt hoảng gọi cấp cứu; xe đến rất nhanh, đưa ông vào bệnh viện. Tôi cũng chỉ biết đứng lặng yên nhìn cha mình nằm bất động, thoi thóp trên giường với dây nhợ giăng khắp thân người. Nhờ có chị, những ngày cuối đời của bố, con cháu đỡ vất vả nhiều. Không ai phải bỏ việc hay đảo lộn cuộc sống để túc trực liên tục bên giường bệnh. Khi có người nhà ở cạnh, chị nhẹ nhàng rút lui; khi vắng, chị lại ngồi kề bên ông, canh từng giấc ngủ, lau mặt, vuốt trán, trò chuyện vu vơ như đang nói với một người còn nghe, còn hiểu. Những cử chỉ ấy giản dị nhưng ấm áp hơn mọi lời an ủi.

Ngày bố tôi ra đi, giữa những người khóc tiễn đưa có lẽ chị Hoa khóc nhiều nhất, không phải vì bổn phận, mà vì tình thương âm thầm tích tụ qua từng bữa cơm, từng lần thay áo, tắm rửa, từng ngày sống bên ông như người thân ruột thịt. Nhìn chị ôm lấy bàn tay bố khi ông rời đi, tôi nhận ra tình thương không đo được bằng lời, chỉ bằng những hành động thầm lặng mà người ở lại sẽ nhớ mãi.

Từ dạo ấy, vợ chồng tôi không còn coi chị là người giúp việc nữa, mà xem chị như một người chị trong nhà. Phần tiền lương tăng, chị vẫn gửi lại, chân tình nói:

– Cô chú mà không thương giữ giúp chị, thì biết đưa cho ai?

Tôi cũng xin nói rõ rằng mọi chi phí chăm sóc bố mẹ đều có sự góp sức của từng đứa em trong gia đình. Nhờ vậy, tình nghĩa anh em vẫn bền chặt, và trong nỗi mất mát, chúng tôi tìm thấy nhau nhiều hơn.

Sapy Nguyễn Văn Hưởng

From: Phi Phuong Nguyen

Đời nào trị thủy lỏng lẻo, đời ấy mất nước

Hong Thai Hoang added a photo to the album: CHÍNH TRỊ KHAI PHÓNG 

Trong lịch sử Á Đông, không có tai họa nào mà vua chúa sợ hãi hơn nước lũ.

Không phải vì nước mạnh, mà vì nước vô tình.

Một con đê vỡ không chỉ cuốn trôi ruộng vườn mà còn cuốn trôi luôn cả thiên mệnh của một triều đại.

Vì vậy mà cổ nhân dạy:

“Trị thủy là gốc của trị quốc.”

Ai trị được nước thì trị được dân.

Ai không trị được nước thì sớm muộn cũng mất lòng dân

Câu chuyện Đại Vũ trị thủy – ba lần đi ngang nhà mà không dám bước vào – không phải chỉ là truyền thuyết.

Nó là tuyên ngôn chính trị đầu tiên của nhân loại:

Trị thủy phải đặt dân lên trước bản thân.

Trị thủy là trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo.

Ở Trung Hoa và Đại Việt, bất kỳ triều đại nào cũng xem việc chống lũ là chuyện của vua, không phải chuyện của trời, càng không phải chuyện của dân.

Đời nào trị thủy lỏng lẻo, đời ấy mất nước.

Lịch sử ghi đầy:

Nhà Tống suy yếu vì vỡ đê sông Hoài.

Nhà Minh nổi loạn vì Hoàng Hà dâng cuốn nửa triệu dân, quan lại giấu số liệu.

Nhà Lê lập chức “Hà Đê Sứ”, ai để vỡ đê thì tru di tam tộc.

Nhà Nguyễn đặt “Nha đê chính”, quan địa phương phải canh đê 24/24 vào mùa mưa.

Quan lại ngày xưa hiểu rằng:

Nước lên mà dân chết, đó là lỗi của quan – không phải lỗi của trời.

Không một triều đại nào dám đổ cho dân “không kịp ứng phó”, hoặc bảo rằng “thiên tai bất khả kháng”.

Vì đối với người xưa, thiên tai chỉ là phép thử, còn thất trách mới là tội lỗi.

Nhà Trần để lại một câu chuyện đẹp:

Khi nước sông Hồng dâng cao, Hưng Đạo Vương từng đích thân ra đắp đê.

Lệnh là:

“Thà hư của, không được để dân tử thương.”

Cổ nhân không có vệ tinh, không có radar, không có công nghệ, nhưng họ có một thứ duy nhất mà chúng ta ngày nay lại đang thiếu: văn hóa báo trước.

Họ lập trống báo lũ, sứ giả chạy ngựa, từng làng có người túc trực để truyền hiệu lệnh.

Không hề có chuyện: “đã báo mà xã không nhận được”, “đã gửi Zalo mà ai đó không xem”, “nước lên quá nhanh”.

Nếu dân không kịp chạy, thì quan không còn lý do để tồn tại.

Cổ nhân hiểu rằng: nước giống như dân – vừa tạo ra phồn thịnh, vừa có thể cuốn trôi cả một triều đại.

Tư Mã Quang viết:

“Lũ lớn mà dân không chết là do đức của vua.

Lũ nhỏ mà dân vẫn chết là lỗi của quan.”

Ở đây, nước chỉ là hình ảnh.

Cái mà các triết gia châu Á muốn nói chính là:

Quản trị tốt thì thiên tai thành thử thách.

Quản trị kém thì thử thách thành thảm họa.

Và cội nguồn của quản trị tốt không phải là xây thêm đê, thêm trạm – mà là minh bạch, cảnh báo, trách nhiệm cá nhân.

Đừng chờ nước dâng mới thông báo.

Đừng để dân chết rồi mới họp.

Đừng lấy thiên tai để che thiên chức.

Hôm nay: Nước có thể không khác xưa, nhưng cách đối xử với nước đã khác

‘Thời cổ đại, quan chống lũ để giữ nước.

Ngày nay, có khi người ta chống lũ bằng cách… giải thích.

Khi nước cuốn trôi nhà cửa, ruộng vườn, khi hàng trăm hộ dân ngập sâu, lý do thường được nghe nhất lại là:

“Mưa lớn bất thường”

“Nước lên quá nhanh”

“Xã không kịp nhận thông báo”

“Đã báo qua Zalo”

Những câu nói ấy, nếu trở về 500 năm trước, chắc chắn là tội lớn của quan trông đê.

Vì với cổ nhân:

Trị thủy không chỉ là chống lũ – mà là giữ đạo làm quan.

Không canh nước, không cảnh báo, không chịu trách nhiệm thì dù đê có cao đến đâu cũng vô nghĩa.

Điều cổ nhân để lại cho chúng ta hôm nay

Lịch sử không yêu cầu chúng ta phải đắp đê bằng tay hay chạy ngựa báo tin.

Nhưng lịch sử yêu cầu chúng ta phải giữ lấy tinh thần trị thủy:

Minh bạch thông tin là đạo đức trị quốc.

Không có minh bạch, thiên tai nào cũng biến thành thảm họa.

Cảnh báo sớm là quyền của dân.

Dân cần thời gian để chạy – đó là điều cổ nhân đã biết cách đây 2.000 năm.

Trách nhiệm là ngưỡng cuối của quyền lực.

Không ai có thể đứng trên thiên tai để đứng ngoài trách nhiệm.

Thiên tai không đáng sợ bằng sự vô trách nhiệm.

Cổ nhân từng nói:

“Nước vô tình, quan không được vô tâm.”

Một quốc gia có thể chịu nhiều đau thương.

Nhưng quốc gia ấy sẽ không bao giờ sụp đổ vì thiên tai.

Quốc gia chỉ suy tàn khi:

nỗi đau của dân bị xem như chuyện nhỏ,

sinh mạng con người bị lẫn vào số liệu,

và thiên tai trở thành lý do để né tránh trách nhiệm.

Cổ nhân để lại cho chúng ta một bài học giản dị mà thấm thía:

“Giữ đê là giữ dân. Giữ dân là giữ nước.”

Hong Thai Hoang

Bài viết được thực hiện suốt 4 tiếng khi cơ thể gần như mệt lả – nếu bạn muốn copy – hãy ghi nguồn.


 

Vui để đợi chết – Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

 Theo giai thoại của người Trung Hoa thì ngày xưa có một người tên là Vinh Khải Kỳ tỏ ra là một bậc tiên ông đạo cốt, mình mặc áo lông cừu, lưng thắt dây, ngày ngày giao du ở sơn thủy, vui thú cầm ca, chậm rãi rảo bước, tay đánh đàn, miệng ca hát không ngừng. Một hôm đức Khổng Tử đi dạo gặp Vinh Khải Kỳ, ngài mới hỏi ông: “ Tiên sinh làm thế nào mà thường vui vẻ, ca hát như thế?”.

 Khải Kỳ thưa: “ Trời sanh muôn vật, loài người cao quý nhất. Ta đã được làm người, đó là điều đáng vui. Người ta sinh ra có người đui què, có người non yếu… mà ta thì khỏe mạnh sống lâu, thế là hai điều đáng vui. Còn cái nghèo là sự thường của thế gian, cái chết là hết sự đời. Ta nay biết vui với cảnh đời để đợi cái chết thì còn gì lo buồn nữa.?”

 Lạc quan, vui sống là đức tính cơ bản nhất của người Kitô. Người Kitô nhận ra phẩm giá cao cả của mình và tiếp nhận mọi sự xảy đến như một hồng ân của Chúa. Cây cỏ đồng nội, muôn thú trên rừng không nhọc công tích trữ mà còn được Chúa che chở nuôi nấng, huống chi con người là hình ảnh của Người… Mỗi ngày có niềm vui, nỗi khổ của nó. Hãy quẳng gánh lo đi và vui sống từng phút giây như một ân ban của Chúa, đó là bí quyết để giúp ta được hạnh phúc ở đời này.

 Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài.

(VietCatholic News Nov 2004)

ĐỪNG ĐÁNH MẤT PHẨM CHẤT CAO ĐẸP CỦA MÌNH – Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

(Suy niệm Chúa nhật I mùa Vọng năm A)

 Sứ điệp: Luôn tỉnh táo và canh phòng đừng để những đam mê thế tục cướp mất phẩm chất cao đẹp của mình.

***

Con người có giá trị rất cao

 Cách đây vài ba trăm năm việc buôn bán nô lệ xảy ra khá phổ biến tại Mỹ. Những người nô lệ bị xem như súc vật, như một thứ hàng hóa có thể mua đi bán lại dễ dàng. Họ không được xem như con người có danh dự hay phẩm giá. 

Và hôm nay, trong thời đại văn minh nầy, cũng còn đó những người bị mua đi bán lại và thậm chí có người tự bán thân mình để sắm nhà lầu xe hơi. Như vậy, còn đâu phẩm giá con người? 

Trong khi đó, Hội thánh dạy chúng ta biết rằng Ki-tô hữu là người có phẩm giá cao và rất đáng trân trọng. Thánh Lê-ô Cả giáo hoàng dạy như sau:  

 “Hỡi các Ki-tô hữu, hãy ý thức về phẩm giá của bạn. Giờ đây bạn đã được thông phần bản tính Thiên Chúa… Bạn hãy nhớ Chúa Giê-su là Đầu của bạn và bạn là chi thể của Ngài. Hãy nhớ rằng bạn đã được cứu thoát khỏi quyền lực tối tăm, đã được đưa vào trong ánh sáng và Nước Thiên Chúa.

 Nhờ Bí tích Thánh Tẩy, bạn đã trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần (…..) được cứu chuộc bằng Máu Đức Ki-tô. ”

Ngoài ra, thánh Athanasiô và một số các giáo phụ khác đã mạnh mẽ khẳng định rằng: “Con Thiên Chúa nhập thể làm người để con người được trở nên Thiên Chúa” (GLHTCG 460). 

Chỉ có tội lỗi mới có thể huỷ hoại giá trị con người 

Dù có bị lũ lụt cuốn trôi hết sản nghiệp, dù có làm ăn thua lỗ, trở thành người trắng tay… thì phẩm chất con người vẫn còn nguyên vẹn.

Dù có bị mất mát tay chân vì tai nạn hay bệnh tật, thì danh giá người ta vẫn không vì thế mà bị sứt mẻ, hao mòn…Chỉ có tội lỗi và chỉ có tội lỗi mà thôi mới có thể huỷ hoại danh giá, cướp mất phẩm chất cao đẹp của con người.

 Xét về mặt tâm linh, khi phạm tội trọng, chúng ta bị cắt lìa khỏi Chúa Giê-su như cành nho lìa khỏi thân nho, như bàn tay bị cắt lìa cơ thể… Khi ấy chúng ta không còn là chi thể của Chúa Giê-su, không còn là đền thờ của Ba Ngôi Thiên Chúa, mà chỉ còn là một chi thể chết, một cành héo khô. 

Hãy tỉnh thức, đừng đánh mất giá trị cao quý của mình

Bước vào mùa Vọng, Lời Chúa kêu mời chúng ta hãy tỉnh táo nhận ra giá trị cao quý của mình để bảo toàn nó bằng mọi giá. 

Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su dạy chúng ta hãy làm như người chủ khôn ngoan, canh chừng cẩn mật, không để cho kẻ trộm đào ngạch khoét vách nhà mình, lấy đi kho báu của mình, cướp mất phẩm giá cao quý của mình.

 Trong bài trích thư gửi tín hữu Rô-ma được chọn đọc hôm nay, thánh Phao-lô cũng thức tỉnh chúng ta đừng mê ngủ, đừng để những đam mê thế tục cướp mất phẩm chất cao đẹp của mình: “Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng” (Rm 13,12-14). 

Lạy Chúa Giê-su,

Vì yêu quý mỗi người chúng con, Chúa sẵn sàng hiến dâng mạng sống để cứu chuộc chúng con và nâng chúng con lên hàng con cái quý yêu của Chúa. Xin cho chúng con luôn trân trọng phẩm giá cao đẹp của mình và quyết tâm bảo vệ phẩm chất nầy bằng mọi giá. Amen. 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

From: ngocnga_12- NguyenNThu


 

Trump có cớ để siết chặt chính sách nhập cư

Ba’o Nguoi-Viet

November 28, 2025

Hiếu Chân/Người Việt

Vụ phục kích hai người lính Vệ Binh Quốc Gia (VBQG) ở thủ đô Washington DC là cái cớ hoàn hảo để chính quyền Trump đẩy mạnh việc siết chặt chính sách di trú, đặt ra nhiều hệ luỵ xấu cho các cộng đồng di dân ở Hoa Kỳ.

Những bó hoa để tại nơi hai binh sĩ Vệ Binh Quốc Gia bị một người Afghanistan từng làm việc với CIA bắn, trong đó có một người qua đời, gần trạm Farragut West Metro Station ở Washington DC hôm Thứ Sáu, 28 Tháng Mười Một. (Hình minh họa: Brendan Smialowski/AFP via Getty Images)

Đảo ngược chính sách di trú

Tổng Thống Donald Trump hết sức tức giận sau vụ hai binh sĩ VBQG West Virginia, Sarah Beckstrom 20 tuổi, và Andrew Wolfe 24 tuổi, bị phục kích chỉ cách Toà Bạch Ốc vài dãy phố. Cô Beckstrom qua đời vì vết thương quá nặng trong khi anh Wolfe đang rất nguy kịch.

Hung thủ được xác định là một người tị nạn từ Afghanistan, 29 tuổi. Ngay lập tức, trong một bài diễn văn ở Mar-a-Lago, nơi tổng thống đón Lễ Tạ Ơn cùng gia đình, ông Trump tuyên bố “chúng ta phải xem xét lại mọi người lạ đã vào nước này từ Afghanistan.”

Theo chỉ thị của ông, Sở Di Trú và Nhập Tịch (USCIS) sau đó thông báo tạm thời đình chỉ toàn bộ việc xem xét hồ sơ di trú của người Afghanistan, từ tị nạn, thị thực di dân, và không di dân đến việc cấp thẻ thường trú nhân (thẻ xanh). Trước đó, cơ quan này đã có kế hoạch xem xét lại trường hợp tất cả những người tị nạn được định cư thời chính quyền Biden, đóng băng việc cấp thẻ xanh cho họ, theo hãng tin Bloomberg.

Trong một loạt bài đăng trên Truth Social hai ngày qua, ông Trump thông báo điều động thêm 500 VBQG đến thủ đô, đổ lỗi cho chính quyền tiền nhiệm Joe Biden tiếp nhận người tị nạn từ Afghanistan, đảo ngược chính sách di trú hiện hành, đe dọa tước quốc tịch Mỹ của những người nhập cư “đang xói mòn sự thanh bình của nước Mỹ.” Ông đồng thời dọa sẽ cắt hết phúc lợi liên bang, trợ cấp liên bang của những người chưa phải là công dân và trục xuất tất cả những người nước ngoài tỏ ra “không phù hợp với văn minh Phương Tây!”

“Tôi sẽ tạm dừng vĩnh viễn việc di cư từ tất cả các nước Thế Giới Thứ Ba để cho phép khôi phục hoàn toàn hệ thống của Mỹ, chấm dứt hàng triệu trường hợp tiếp nhận bất hợp pháp của Biden, kể cả những trường hợp được ký bằng bút ‘tự động’ của Biden Ngủ Gục và trục xuất tất cả những ai không mang lại lợi ích cho nước Mỹ,” ông Trump viết trên mạng xã hội trước khi đăng bài đe doạ bãi bỏ toàn bộ các sắc lệnh hành pháp đã được Tổng Thống Joe Biden ban hành trước đây, viện cớ những sắc lệnh đó được ký tự động bằng bút “tự động.”

Những lời đe dọa này báo hiệu một bước leo thang mới trong chính sách nhập cư của chính quyền Trump. Ngay sau khi nhậm chức hồi Tháng Giêng, ông Trump đã đẩy mạnh việc truy tìm, bắt giam và trục xuất những di dân ở Mỹ không giấy tờ, ngăn chặn làn sóng vượt biên vào Mỹ bất hợp pháp, và bãi bỏ quy chế định cư tạm thời cho hàng trăm ngàn người từ các quốc gia bất ổn.

Tại sao Afghanistan?

Dù ai cũng đau xót trước cái chết vô cớ của người nữ VBQG mới 20 tuổi Sarah Beckstrom, dù ai cũng căm giận với hung thủ Rahmatullah Lakanwal, nhưng việc sử dụng vụ sát nhân làm cái cớ để trừng phạt cả một cộng đồng người Afghanistan là không hợp lẽ.

Khi rút quân khỏi Afghanistan hồi Tháng Tám, 2021, chính phủ Mỹ thời Biden mở chiến dịch “Operation Allies Welcome” (OAW), đưa sang Mỹ hàng ngàn người Afghanistan từng cộng tác với quân đội Mỹ trong thời gian chiến tranh chống khủng bố, lo sợ bị Taliban trả thù sau khi tổ chức khủng bố này chiếm được quyền kiểm soát Afghanistan. Chiến dịch này có phần giống với các chương trình tiếp nhận người Việt tị nạn Cộng Sản và tái định cư các sĩ quan VNCH sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975.

Hãng tin Reuters ghi nhận có 70,000 người Afghanistan được tiếp nhận theo chương trình OAW trong khi hãng tin Bloomberg nói có hơn 190,000 người Afghanistan được Mỹ tiếp nhận từ năm 2021. Còn theo tổ chức nghiên cứu Migration Policy Institute, đến năm 2022, có khoảng 200,000 di dân Afghanistan ở Mỹ, tập trung ở khu vực thủ đô Washington và tiểu bang California. Hầu hết những người này được ở Mỹ theo diện “Bảo Hộ Tạm Thời” (Temporary Protected Status for Afghanistan – TPS), một quy chế đã bị Bộ Trưởng Bộ Nội An (DHS) Kristi Noem bãi bỏ từ ngày 14 Tháng Bảy vì cho rằng ở Afghanistan tình hình an ninh đã được cải thiện, kinh tế ổn định để người di cư có thể quay về.

Hung thủ Rahmatullah Lakanwal là một trong những người Afghanistan được vào Mỹ năm 2021 theo chương trình OAW nêu trên. Theo giám đốc CIA, nghi can Lakanwal từng là thành viên đơn vị “Zero Unit,” được CIA thành lập, huấn luyện và bố trí hoạt động bí mật ở tỉnh Kandahar ở Afghanistan. Sau năm 2021, Lakanwal được sang Mỹ, tạm cư ở tiểu bang Washington cùng vợ và năm người con. Cuối năm 2024, anh ta nộp hồ sơ xin tị nạn (asylum), được Bộ Nội An thẩm vấn, được chấp thuận và được cấp quy chế tị nạn vào ngày 23 Tháng Tư, ba tháng sau ngày ông Trump nhậm chức. Vẫn chưa rõ Lakanwal có động cơ gì khi lái xe xuyên qua nước Mỹ đến thủ đô Washington DC phục kích các binh sĩ VBQG đang tuần tra gần Tòa Bạch Ốc. Hành động của Lakanwal thật ghê tởm, anh ta sẽ phải trả cái giá đắt nhất, có thể phải lãnh án tử hình.

Nhưng không thể vì tội lỗi của một cá nhân để trừng phạt cả một cộng đồng. “Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi,” lập luận của ông Trump rằng ngay cả những người nhập cư vào Mỹ một cách hợp pháp cũng đặt ra mối đe dọa an ninh cho người Mỹ để rồi ông ra lệnh xem xét lại toàn bộ chính sách nhập cư có điều gì đó phi lý không chấp nhận được. Nên để ý ông Trump đã phớt lờ chuyện hung thủ vào nước Mỹ một cách chính thức, được Bộ Nội An cấp quy chế tị nạn đúng luật, mà chỉ tập trung đổ lỗi cho chính quyền Biden tiền nhiệm.

Bước chuyển của chính sách di trú Mỹ

Và không chỉ dừng ở người Afghanistan, ông Trump mở rộng sang “tạm dừng vĩnh viễn việc di cư từ tất cả các nước Thế Giới Thứ Ba” (Third World Countries). Khi được hỏi “Thế Giới Thứ Ba” là những nước nào thì Bộ Nội An đưa ra danh sách 19 nước đã bị hạn chế nhập cảnh vào Mỹ theo một sắc lệnh của ông Trump hồi Tháng Sáu. Bộ Nội An xác nhận cơ quan này đang xem xét toàn bộ các hồ sơ xin tị nạn từ 19 quốc gia này đã được chấp nhận, thậm chí đã được cấp quy chế thường trú nhân (thẻ xanh), dưới thời chính quyền Joe Biden. Vụ sát hại các VBQG hôm Thứ Tư, 26 Tháng Mười Một, làm cho công việc xem xét lại đó càng trở nên cấp bách hơn nữa.

Những quốc gia này là Afghanistan, Miến Điện, Chad, Congo, Equatorial Guinea, Eritrea, Haiti, Iran, Libya, Somalia, Sudan, Yemen, Burundi, Cuba, Lào, Sierra Leone, Togo, Turkmenistan, và Venezuela. Đây phần lớn là những nước độc tài chuyên chế, đang có chiến tranh, bất ổn chính trị, kinh tế kiệt quệ, không bảo đảm quyền sống tối thiểu của người dân. Cánh cửa vào Mỹ đã đóng với hàng triệu công dân các nước này.

Phản ứng quá đáng của ông Trump sau vụ giết hại VBQG cho thấy người nhập cư vẫn là vấn đề trung tâm trong sinh hoạt chính trị nước Mỹ trước cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2026. Biến người nhập cư thành vật tế thần giúp chính quyền Trump hướng sự chú ý của công luận ra khỏi những đề tài gay gắt như vật giá leo thang, bảo hiểm y tế đắt đỏ, thậm chí vụ hồ sơ của tỷ phú ấu dâm Jeffrey Epstein đang gây chia rẽ trầm trọng trong hàng ngũ MAGA. Nó chuyển trọng tâm chính sách di trú của chính quyền Trump từ chỗ truy lùng, bắt giam, và trục xuất những di dân vi phạm pháp luật, rồi đến những di dân không vi phạm pháp luật nhưng sống ở Mỹ không có giấy tờ, chuyển sang nhắm vào những người tị nạn, di dân vào Mỹ hợp pháp, thậm chí đã có thẻ xanh hoặc đã nhập tịch Mỹ.

Ông Trump và đảng Cộng Hòa cũng hy vọng với chính sách di trú cứng rắn nhất, họ có thể tiếp tục thuyết phục cử tri rằng, mọi người nhập cư, dù hợp pháp hay bất hợp pháp, đều là mối đe dọa an ninh cho nước Mỹ, cho người Mỹ, và từ đó họ hy vọng sẽ giành được lá phiếu trong kỳ bầu cử sắp tới.

Sự dịch chuyển chính sách này là rất đáng lo ngại, không chỉ cho công dân của 19 quốc gia nêu trên mà cho các cộng đồng nhập cư ở Mỹ nói chung.

Trở ngại pháp lý

Chưa rõ ông Trump và chính quyền của ông có đủ thẩm quyền để ban hành và thực thi một chính sách di trú khắc nghiệt và rộng rãi như vậy hay không bởi vì thẩm quyền hoạch định chính sách di trú thuộc về Quốc Hội. Những biện pháp mới mà ông Trump chỉ đạo thực hiện có nguy cơ sẽ bị Quốc Hội bác bỏ, bị toà án liên bang ngăn chặn, và chắc chắn sẽ bị dẹp nếu tổng thống kế nhiệm vào năm 2028 là người của đảng đối lập.

Cộng đồng quốc tế khá bất ngờ với những tuyên bố chính sách mới của ông Trump. Bà Jasmin Lilian Diab, giám đốc Viện Nghiên Cứu Di Trú đại học Lebanese American University của Mỹ ở Lebanon, nói quyết định “ngừng xem xét việc di cư của hàng ngàn người tị nạn có thể phá hủy các gia đình, các cộng đồng địa phương, và xói mòn tính chất toàn vẹn của hệ thống di trú. “Trong khi sự kiện gần đây là rất bi thảm, việc dùng một sự kiện cá biệt để biện hộ cho chính sách đóng băng di trú hàng loạt không thích hợp với các bằng chứng cho thấy không có mối liên hệ giữa dòng người di cư và sự gia tăng tội phạm,” bà Dian nói với hãng tin Reuters. Rất nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tỉ lệ phạm tội do người nhập cư gây ra luôn thấp hơn rất nhiều so với người bản địa, kể cả ở Hoa Kỳ.

Ông Farhan Haq, phát ngôn viên của tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, kêu gọi chính phủ Mỹ tiếp tục tiếp nhận người người di cư và tị nạn, tuân thủ các cam kết của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Người Di Cư năm 1951, 1953, và 1967 mà Quốc Hội Mỹ đã phê chuẩn. “Người di cư phải được bảo vệ theo luật pháp quốc tế và phải được xem xét theo pháp luật,” ông Jeremy Laurence, phát ngôn viên cơ quan nhân quyền Liên Hiệp Quốc, nói với báo chí tại Geneva, Thụy Sĩ, theo Reuters. [đ.d.]


 

TỪ BAO GIỜ LỜI THAN CỦA NẠN NHÂN BÃO LŨ LẠI BỊ COI LÀ “VÔ CẢM” VÀ “CHỐNG PHÁ”?

 Nhut Nguyen is with Hoa Pham 

 WeHear

 Trong thông báo mới nhất, Công an tỉnh Khánh Hòa đã liệt kê hàng loạt thành tích: 100% quân số, hàng trăm đợt ứng cứu, ưu tiên người già trẻ em… để rồi từ đó kết luận rằng những ai đang “chê trách, công kích” công tác cứu hộ là những kẻ “vô cảm”, “phủ nhận nỗ lực” và thậm chí quy chụp là “chống phá”.

Có một sự đánh tráo khái niệm đầy nguy hiểm và thiếu nhân văn ở đây cần được làm rõ.

  1. Nỗ lực là trách nhiệm, không phải là “tấm khiên miễn trừ trách nhiệm”: Người dân họ ghi nhận sự vất vả của các chiến sĩ dầm mình trong mưa lũ. Nhưng xin đừng quên, đó là nghĩa vụ. Người dân đóng thuế để nuôi bộ máy công quyền, mua sắm trang thiết bị, tàu bè, áo phao… chính là để dùng cho những lúc như thế này. Khi một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không tốt, khách hàng có quyền phàn nàn. Nhà nước là bộ máy phục vụ nhân dân, khi công tác cứu hộ còn sai sót, chậm trễ, hay phân bổ chưa đều (mà thực tế bão lũ luôn có sai sót), thì người dân – những người trực tiếp chịu hậu quả – có quyền lên tiếng. Lấy sự vất vả của lực lượng chức năng ra để làm cái cớ cấm cản người dân kêu ca là một tư duy “kể công” lạc hậu và là thái độ của ông chủ nhân dân chứ chẳng phải là đầy tớ nhân dân.
  2. Ai mới là người “vô cảm”? CA tỉnh Khánh Hòa gọi những người chê trách, bất bình với sự ứng phó chậm trễ của chính quyền là “vô cảm”.? Hãy nhìn lại thực tế: Đó là những người dân có thể đang nhìn tài sản cả đời trôi theo dòng nước, con cái họ đang đói, hoặc họ chứng kiến sự bất cập trong phân phối cứu trợ. Họ lên tiếng vì xót xa, vì bức xúc. Đó là cảm xúc thật của con người. Ngược lại, ngồi trong trụ sở khô ráo, soạn thảo văn bản đe dọa “xử lý hình sự” những tiếng kêu cứu, than vãn của đồng bào mình giữa lúc dầu sôi lửa bỏng – đó mới chính là sự vô cảm đáng sợ nhất. Sự vô cảm mang màu sắc quyền lực.
  3. Đòi hỏi “kiểm chứng” giữa dòng nước lũ? Cơ quan chức năng phạt người dân vì “chưa kiểm chứng thông tin”. Trong bão lũ, thông tin bị chia cắt và người dân không có nghiệp vụ báo chí hay công cụ rà soát. Họ thấy nước lên thì họ nói nước lên, họ thấy chưa có mì tôm thì họ nói chưa có. Họ thấy người chết trôi nhiều thì họ nói nhiều. Họn phải bỏ qua người chết để hỗ trợ người sống thì họ phản ánh thực tế đó. Đòi hỏi một người dân đang hoảng loạn phải phát ngôn “chuẩn chỉnh”, “đúng quy trình”, “đã kiểm chứng” như một bản tin thời sự là một yêu cầu phi thực tế và áp đặt. Thay vì đi bịt miệng và phạt vạ những người đang đưa tin (dù có thể chưa chính xác hoàn toàn do góc nhìn cá nhân), chính quyền nên tập trung vào việc minh bạch thông tin và cứu trợ nhanh hơn. Khi cái bụng dân đã no, khi dân đã an toàn, tự khắc những lời “chê trách” sẽ biến mất.

Uy tín của chính quyền, của công an được xây dựng bằng sự hài lòng và an toàn của nhân dân, không phải bằng những biên bản phạt hay những lời đe dọa bỏ tù. Hãy để người dân được nói. Một xã hội mà người dân không dám than khổ khi gặp nạn vì sợ bị quy là “chống phá” để rồi sống vô cảm, thờ ơ thì đó là một thảm họa còn đáng sợ hơn cả bão lũ.

Mẹ Nấm – NNNQ


 

 Lũ lụt kinh hoàng, sự thật hé lộ và lương tâm tối thiểu…

Văn Hóa Việt

Sáng nay, 25/11, báo Pháp Luật TP.HCM có bài “Phú Yên cũ bị “dìm” trong lũ dữ, trách nhiệm nằm ở đâu?”. Một thái độ hành nghề đáng trân trọng, đáp ứng được chờ mong của đại bộ phận công chúng lúc này.

Tuy chưa tìm được câu trả lời rành mạch, nhưng Nhóm PV cũng ghi lại sự thừa nhận của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Tạ Anh Tuấn về hệ thống thủy điện đầu nguồn đã xả lũ kinh hoàng xuống hạ du: “Nói thật các hồ này không có khả năng chống lũ. Chúng tôi sẽ kiến nghị với Thủ tướng về quy trình vận hành hồ chứa trên sông Ba, vì dung tích phòng lũ của nó nhỏ so với lượng nước về. Hay nói một cách chính xác hơn là khả năng chống lũ rất thấp”.

Vậy, có thể thấy, những luận cứ khoa học để triển khai dự án thủy điện Sông Ba Hạ nhằm điều tiết lũ, đã không được tính toán một cách đầy đủ. Thủy điện chỉ biết hút nước vào mùa khô để kiếm tiền và xả lũ vào mùa mưa để giữ tiền cho riêng họ, còn mọi diễn biến khôn lường khác lại tùy thuộc may rủi số phận thường dân hẩm hiu.

Trận lũ lụt tàn khốc vừa qua, tỉnh Đắk Lắk đã thống kê: 63 người chết và 8 người mất tích, hơn 150.000 ngôi nhà bị ngập sâu trong nước, trong số đó hơn 120 ngôi nhà bị sập, hư hỏng hoàn toàn. 

Nhà văn Nguyễn Khắc Phê (em trai của học giả Nguyễn Khắc Viện) đang sinh sống tại Huế, bày tỏ: “Có thể nói hầu như toàn bộ các vụ thiên tai có nguyên nhân chính là nhân tai. Những người điều hành thủy điện Sông Ba Hạ, liệu có còn chút lương tâm tối thiểu, để đem lợi nhuận đền bù cho bà con Phú Yên không?”.

Nguồn: Nguyễn Thiếu Nhơn


 

Ngẫm Nghĩ về Cuộc Đời

Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn. Người tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc… Người xấu cho bạn Kinh Nghiệm… Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học… Và… người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm. Đừng hứa khi đang… vui! Đừng trả lời khi đang nóng giận! Đừng quyết đinh khi đang… buồn! Đừng cười khi người khác… không vui! Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ. Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe.

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi. Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta. Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người). Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức. (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t… ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm!) Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu.

Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám. Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu. Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng. Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn. Các con vô tình thì có thể sẽ tranh giành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của bạn.

Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa.

Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)? Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi. Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. 

Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng. Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ…

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn… Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày. Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”. Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết.

Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ. Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe. Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn Bạn bè nữa… họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình…

Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

Sưu Tầm


 

Người Một Chợ Hai Quê – Hải Huỳnh

Hai Huynh

Người Một Chợ Hai Quê

Trở về Virginia vào những ngày cuối thu, lòng tôi chợt lắng lại trước cảnh vật buồn bã. Lá vàng đã rụng gần hết, phủ kín lối đi, và những hàng cây trụi cành như đang đón đợi gió Đông. Gió lạnh và những cơn mưa se sắt đã chuyển mùa, mang đến một nỗi buồn man mác, không tên.

Có lẽ, đó là nỗi buồn của người “một chợ hai quê” cứ mãi lững lờ theo dòng đời. Về đây đã một tuần, nhưng giấc ngủ vẫn chưa quen, vẫn chập chờn nhớ về quê hương, nhớ về Sài Gòn.

Tôi đã sống ở xứ Mỹ này suốt 50 năm, gắn bó với từng con đường, bờ cây ngọn cỏ. Ngày xưa, khi còn làm việc, tôi vẫn mơ ước về hưu sẽ trở lại quê hương sống trọn phần đời còn lại. Ý định ấy đã được thực hiện, tôi đã về và sống thử trước khi quyết định hẳn.

Thế nhưng, thời gian sống nơi đó lại khiến tôi nhớ về xứ Mỹ, nơi đã cưu mang, đã cho tôi cơ hội làm việc và gắn liền với 50 năm cuộc đời. Tình quê hương cũng nặng, nhưng tình tri ân và kỷ niệm nơi đây cũng sâu đậm, khiến tôi đứng trước ngã ba đường mà không có giải pháp nào cho lòng được ổn thỏa. Thôi đành chấp nhận: khi nào nhớ thì đi rồi về.

Tôi vẫn biết rằng quỹ thời gian còn lại rất ít. May mắn thay, mọi nghĩa vụ và bổn phận đã hoàn thành. Con cái đều thành đạt, sống tốt, không còn gì phải lo lắng. Gia đình chị và các em cũng đang có một cuộc sống đầy đủ, an lành.

Nhân dịp Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) hôm nay, tôi xin viết những dòng chữ này như lời tri ân từ đáy lòng.

  1. Tạ Ơn Cha Mẹ

Xin tạ ơn Ba Mẹ đã nuôi dưỡng và cho con hình hài này. Điều tiếc nuối lớn nhất là khi có nhiều thời gian rảnh rỗi thì Cha Mẹ không còn nữa. Tuy nhiên, con xin được an ủi khi biết rằng Cha Mẹ đều mất ở tuổi già, bình yên sau giấc ngủ. Lúc sinh thời, Cha Mẹ đã được sống trong tình yêu thương và sự chăm sóc chu toàn của các con, từ miếng ăn giấc ngủ.

Trong đó, con xin được đặc biệt tri ân anh chị Hai và các em: Hùng, Dung, Tài, Ngọc, Phúc, Liễu. Mỗi người con, con dâu, con rể đều có bổn phận và đóng góp như nhau. Nhưng công lao của người chăm sóc hằng ngày mới là to lớn hơn cả, vì việc săn sóc người già đòi hỏi sự kiên nhẫn và tình yêu thương vô bờ bến.

Tạ ơn các anh chị em đã hoàn thành tròn vẹn bổn phận làm con, làm dâu, làm rể, và luôn giữ gìn truyền thống tốt đẹp: yêu thương, đùm bọc lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh, đúng như lời giáo huấn của Ba Mẹ lúc sinh thời.

  1. Cảm Ơn Người Bạn Đời

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Bà Tư – người vợ hiền lành, người đã đồng hành cùng tôi suốt hành trình dài. Từ khi khập khiễng bước chân đầu tiên đến xứ Mỹ, Bà Tư đã luôn chia sẻ mọi buồn vui, cùng tôi xây đắp mái ấm gia đình nhỏ bé và hoàn thành mọi bổn phận của cuộc đời.

Xin cảm ơn mọi người !

Happy Thanksgiving

Hải Huỳnh


 

Xả lũ đúng quy trình, chỉ có người dân là chạy không kịp.

Thao Teresa

 Bây giờ lại “trổ tài” Tiếng Việt để phân tích câu chữ.

Xả lũ đúng quy trình, chỉ có người dân là chạy không kịp.

Như vậy nghĩa là:

* Ông xả mà ông không thông báo thì người dân mới không biết nên chạy không kịp, bất ngờ quá mà.

Mình hỏi rất nhiều người thì đa số họ nói là không có thấy thông báo gì hết.

Một số thì nói là có thấy tin qua mạng xã hội.

Như vậy thì chỉ có người trẻ hay lên mạng thì biết thôi chứ người già không biết. Trong khi đó mấy bệnh nhân của mình nói thì người trẻ vào SG hết rồi nên ở nhà chỉ còn con nít và người già, chạy kiểu gì? Lấy thông tin kiểu gì trong khi trẻ em cũng bị cha mẹ cấm dùng điện thoại.

Nếu như trưởng thôn vác loa đi báo trước hoặc thông báo bằng hệ thống loa công cộng dạng người ta gọi là “loa phường” thì mình đảm bảo 100% dân đều biết.

Hồi tối mình thấy cái clip nửa đêm nước ào vào nhà, mới xem đoạn đầu rồi khám bệnh xong lúc sau mở nó mất tiêu. Ông hàng xóm qua đập cửa như cháy nhà nên nhà cô này mới vội vàng dậy.

Và như vậy, cụm từ “chạy không kịp” nghĩa là người dân bị bất ngờ. Lũ xả ầm ầm thế kia mà dân bị bất ngờ, không ch ết mới là lạ.

* Chứ nếu ông thông báo mà dân không chạy thì khác. Nếu họ biết mà họ không chạy thì là họ đã có sự chuẩn bị, nếu có sự chuẩn bị thì mọi sự không tới nỗi tồi tệ như vậy.

Cái gì mất có thể làm lại nhưng cái mạng thì không thể lấy lại được cho nên chắc là không ai liều cỡ đó.

Trong thế giới loài người chỉ có cái mạng người là không thể lấy tiền bạc gì ra so sánh được cho nên nếu không bị bất ngờ thì không ai lại liều mạng mình giữa dòng lũ dữ thế kia nếu dự báo chính xác hoặc tương đối chính xác mực nước sẽ bị ngập.

Không ở vùng lũ, không bị thiệt hại gì mà mình còn tức nữa mà nói gì dân vùng đó khi họ mất sạch sành sanh cả người và tài sản?

Rồi đây lại có những đứa trẻ không cha, những người vợ không chông hoặc hồng không vợ, cha mẹ không con hoặc ngược lại.

Nỗi đau mất người thân mình đã trải qua, nó khủng khiếp lắm, mất tiền, mất tài sản không là cái gì cả so với cái nỗi đau mất đi người ruột thịt của mình.

Rồi người ta nói “ai cũng đúng” vậy không lẽ dân sai? Sai khi không có phép thần thông biến hóa để chạy khi lũ về quá nhanh?

Hơn 100 mạng người chết tức tưởi, chết mà chưa biết tại sao mình chết, có đủ đau lòng chưa hỡi trời cao xanh?

Nguồn bài biết : https://www.facebook.com/share/p/16CKEBHAEp/?mibextid=wwXIfr


 

 Hai người đàn ông lao vào lũ dữ cứu con bò và đám tang không kèn trống

Nguyen Ngoc Anh

 Hai người đàn ông lao vào lũ dữ cứu con bò và đám tang không kèn trống

Nhà của cụ Trần Thị Sương (83 tuổi) ở thôn Phong Niên, xã Tuy An Bắc, tỉnh Đắk Lắk (Phú Yên cũ) nằm heo hút nơi chân núi, cách xa khu dân cư, đường vào nhà dốc và lầy lội. Bao năm nay, cuộc sống gia đình vốn thiếu trước hụt sau, chỉ sống dựa vào vài sào sắn và hai con bò nuôi bán lấy tiền.

Trong căn nhà cấp 4 xiêu vẹo ấy có đến 7 người cùng sinh sống: Cụ Sương, vợ chồng người con trai lớn Trần Thương (56 tuổi), vợ chồng người con trai út Trần Ngọc Nhẫn (42 tuổi) và hai cháu nhỏ đang tuổi đi học.

Tài sản chẳng có gì đáng giá ngoài hai con bò, cũng là “cần câu cơm” duy nhất của đại gia đình.

Những năm trước, khi lũ về, gia đình bà Sương vẫn cố chống chọi vượt qua. Người trong vùng hay nói đùa “chịu cực riết rồi quen”. Thế nhưng năm nay lũ không đến rồi đi như mọi năm.

Nước dâng nhanh và mạnh đến mức chỉ vài tiếng đã nuốt trọn căn nhà của họ. Nóc nhà cũng không còn là điểm trú ẩn an toàn.

Trong chiều 19/11, nước đổ về cuồn cuộn, mưa xối xả. Anh Thương và anh Nhẫn dìu mẹ già cùng vợ con chạy lên chân núi. Dù núi cũng sạt lở từng mảng, nhưng dưới nhà thì không có chỗ trú.

Khi mẹ và vợ con đã được đưa đến điểm cao hơn, hai người đàn ông đau xót nhìn căn nhà của mình đang chìm dần. Giữa dòng nước đục ngầu, họ thấy hai con bò – tài sản lớn nhất, cũng là kế sinh nhai của cả gia đình – đang bị dòng nước nuốt chửng.

Dẫu biết rằng “còn người còn của”, nhưng với những gia đình nghèo như họ, bò không chỉ là của cải, mà còn là cả tương lai 7 miệng ăn. Nếu bò chết, coi như họ trắng tay sau lũ.

Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, hai người đàn ông trụ cột gia đình quyết định lao vào dòng nước xiết, tháo dây cho bò tự tìm đường chạy. Dù biết đó là việc nguy hiểm, nhưng trong tình cảnh ấy, họ chỉ nghĩ phải giữ lại tài sản cuối cùng của gia đình.

Thế nhưng, cơn lũ dữ đâu chừa một ai. Khi vừa tiếp cận được hai con bò, dòng nước đổ như thác đã cuốn cả hai người đàn ông đi trước mắt vợ con họ. Lực bất tòng tâm, những người còn lại chỉ có thể gào khóc trong tuyệt vọng khi nhìn hai người đàn ông bị dòng nước hung hãn cuốn trôi.

Theo: Dân trí

#lulut #mientrung


 

Vì bình yên – thật ra – là món quà mà không phải ai ngày hôm nay cũng có.

 Thư Lê

 Sáng nay mở mắt ra, nếu ta còn nghe tiếng người thân trong nhà, còn thấy bếp lửa ấm, còn có bữa cơm nóng đặt trước mặt…

Thì ta đã may mắn hơn biết bao sinh mạng đang run rẩy giữa biển nước miền Trung.

Nếu tối về còn có ánh đèn, có chiếc chăn khô để trùm lên người, có chiếc điện thoại vẫn bắt được sóng để gọi cho người mình thương…

Thì đó là hạnh phúc mà không phải ai lúc này cũng có được.

Ngoài kia, mưa vẫn trút xuống không ngừng.

Nước lũ cuộn lên như muốn nuốt trọn tất cả – nhà cửa, ruộng vườn, kỷ niệm và cả hy vọng của bao gia đình.

Có những em bé ôm nhau co ro trên nóc nhà, có những người mẹ chỉ cần nghe một cuộc gọi an toàn của con cũng đủ rơi nước mắt.

Giữa dòng nước lạnh cắt da ấy, con người vẫn vịn vào nhau mà sống.

Những bàn tay run rẩy chìa ra để cứu nhau.

Những tiếng kêu cứu vọng trong đêm tối nghe đến nhói lòng…

Chỉ cần một người buông xuôi, một tia hy vọng sẽ tắt, và một mạng sống có thể bị dòng nước cuốn đi trong khoảnh khắc.

Trong phút giây này…

Xin chúng ta đừng than phiền những điều vụn vặt.

Đừng so đo hơn thua, đừng chấp nhặt những chuyện nhỏ nhoi.

Chỉ cần còn được sống, còn được ăn no, còn có mái nhà trú mưa trú nắng – đã là phước phần lớn lao.

Cầu mong miền Trung bình an.

Cầu cho những người đang oằn mình trong nước lũ được trở về với đất lành, mái ấm và những vòng tay thương yêu.

Và cầu mong mỗi chúng ta, từ hôm nay, biết trân trọng từng hơi thở, từng bữa cơm, từng buổi sáng bình yên…

Vì bình yên – thật ra – là món quà mà không phải ai ngày hôm nay cũng có.

#lulut2025 – #songtot – #chiase – #Trantrongvabieton