CÓ ĐẠO & VÔ THẦN

Linh Mục Mi Trầm

Trong căn phòng của một bệnh viện, hai người đàn ông, một người Công giáo và một người vô thần đều bị bệnh như nhau. Thậm chí người có Đạo còn bị đau đớn và trầm trọng hơn cả người vô thần.

Ngày ngày nằm trên giường bệnh, người vô thần thường hay than thân trách phận, quằn quại đau đớn, cáu gắt tiêu cực và nguyền rủa cuộc đời.

Trái lại, người có Đạo thường nén cơn đau và không hề kêu ca gì cả. Thậm chí trên môi nhiều lúc còn nở nụ cười mãn nguyện trìu mến. Nhiều khi đau quá, thì ông lại tập trung tư tưởng cao cầu nguyện và xin Chúa giúp sức.

Người vô thần lấy làm lạ hỏi: “Tại sao ông có thể chịu được những cơn đau dữ dội như vậy? Bí quyết nào giúp ông có tinh thần lạc quan như vậy”?

Người có Đạo trả lời: “Ông bạn à! Tôi chẳng có bí quyết gì cả. Tôi chịu đựng được cơn đau cách vui vẻ vì tôi luôn ý thức rằng, Chúa luôn chăm sóc tôi từng giây từng phút. Một sợi tóc trên đầu của tôi, Chúa cũng đếm cả rồi. Tôi vinh dự được Chúa gửi Thánh giá Chúa cho tôi qua cơn bệnh này, để tôi được thông phần vào cuộc khổ nạn và Phục sinh của Người. Nên tôi luôn lạc quan tín thác vào Chúa. Mỗi lần nghĩ đến Chúa chịu treo đau đớn trên Thánh giá, là tôi lại có sức mạnh nội tâm chịu đựng cơn đau”.

“Hơn nữa, ai cũng phải trải qua quá trình Sinh-Lão-Bệnh-Tử. Khi ta chấp nhận quy luật như vậy, ta sẽ thấy tâm hồn thanh thản dễ chịu hơn”.

Dù sống hay chết thì tôi cũng vui vẻ chấp nhận. Sống tôi cũng ở bên Chúa, và có bị chết tôi cũng ở bên Chúa. Chết tôi sẽ được ở bên Chúa đời đời.

Rồi ông bạn vô thần đã rất ngạc nhiên khi nghe nói như vậy.

Và ông muốn tìm hiểu về Chúa. Và hai ông đã đàm đạo tâm sự với nhau cách thân mật từ ngày đó.

Đứng trước một căn bệnh như nhau, đau đớn như nhau, nhưng đã tạo nên hai tâm hồn lạc quan và bi quan hoàn toàn khác nhau. Vì một người tâm hồn có Chúa và một người thì không.

ĐÓ CHÍNH LÀ SỰ KHÁC NHAU GIỮA NGƯỜI CÓ ĐẠO VÀ NGƯỜI KHÔNG CÓ ĐẠO.

Theo Internet


 

TỪ CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ VENEZUELA NHÌN LẠI LÝ DO THẤT BẠI CỦA NỀN DÂN CHỦ IRAQ VÀ BÀI HỌC NÀO CHO NGƯỜI VIỆT QUAN TÂM- Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Giới thiệu: Trong bài “Số Phận Nicolas Maduro và Viễn Ảnh Venezuela” đăng trên Facebook hôm 4 tháng 1, người viết có lưu ý ở phần cuối bài: “Tuy nhiên có vài điểm khác quan trọng giữa ba nước [Grenada, Panama, Venezuela] cần lưu ý: (1) dân số và (2) diện tích lãnh thổ và (3) quân đội. Dân số Grenada vào năm 1983 chỉ vỏn vẹn 94,948 người với diện tích 344.5 kilomet vuông. Dân số Panama năm 1990 chỉ 2.4 triệu người với diện tích 74,340 kilomet vuông. Trong khi đó, theo WorldOMeter, dân số Venezuela năm 2025 là 28,516,896. Diện tích của Venezuela là 912,050 kilomet vuông. Theo Giáo sư John Polga-Hecimovich, một học giả về Venezuela tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy): “Venezuela cũng sở hữu một trong những đội quân thường trực lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Trên tất cả các binh chủng, Venezuela có khoảng 150.000 binh sĩ trong lực lượng vũ trang.” (Simon Romero, How Could Venezuela’s Military Respond to U.S. Threats? Here’s What to Know. The New York Times, Nov. 5, 2025 Updated Dec. 18, 2025).

Hugo Chavez cho tới Maduro  gầy dựng và nuôi dưỡng một tầng lớp tướng lãnh và viên chức chính phủ trung thành vì quyền lợi như tướng Vladimir Padrino López, Bộ trưởng Quốc Phòng. Đó là chưa kể một số ít người nhưng có ảnh hưởng về đường lối “xã hội chủ nghĩa” (Bolivarian Socialism) của Hugo Chavez. 

Hai “ngư ông” Trung Cộng và Nga đang chờ những mâu thuẫn chính trị, kinh tế và quyền lợi cá nhân tại Venezuela dẫn tới bạo động và khi đó quốc gia này sẽ trở thành một dạng “xung đột Ủy Nhiệm” (Proxy War) như đã từng diễn ra tại Syria.

Nhưng những người quyết định vận mệnh của Venezuela không phải là Mỹ, Trung Cộng hay Nga mà chính là người dân Venezuela. Nếu biết nắm bắt cơ hội, Venezuela có thể sẽ trở thành một cường quốc Châu Mỹ Latin, và nếu thất bại Venezuela có thể trở thành gần như  một Iraq khác.

Bài viết dưới đây phân tích sự thất bại của nền dân chủ Iraq sau hiến pháp 2005 và là bài học cho người Việt quan tâm đến vận nước.

——–

Không tính khoảng 4,500 quân đội các cấp và viên chức Mỹ hy sinh trong chiến tranh Iraq,  theo nghiên cứu của nhà khoa học chính trị và đồng sáng lập dự án “Chi phí chiến tranh” Neta Crawford, thuộc Đại học Oxford, tính toán tổng chi phí của cuộc chiến ở Iraq và Syria, dự kiến sẽ vượt 2,89 nghìn tỷ đô la. Con số ngân sách này bao gồm chi phí tính đến thời điểm hiện tại, ước tính khoảng 1,79 nghìn tỷ đô la, và chi phí chăm sóc cựu chiến binh đến năm 2050. (Neta Crawford, The Watson School of International Studies, March 15, 2023)

Mặc dù với sự hy sinh nhân sự to lớn và kinh phí khổng lồ, nền dân chủ tại Iraq vẫn còn phải đối diện với nhiều thách thức. Trong các nước láng giềng, vì địa lý chính trị, Iran tìm đủ mọi cách để gây ảnh hưởng các phe phái quân phiệt và đảng phái chính trị tại Iraq, cánh Hồi Giáo khủng bố ISIS (Islamic State of Iraq and Syria) vẫn tiếp tục gây tai họa, các thế lực chính trị nặng đầu óc địa phương trên khắp nước vẫn còn tranh chấp, các tông phái Hồi Giáo vẫn tranh giành quyền lực và tình trạng tham nhũng trầm trọng. Nói chung, so với 21 năm trước, Iraq có một vài tiến bộ nhưng nền dân chủ vẫn chưa trưởng thành.

Mustafa Al-Kadhimi, cựu Thủ tướng Iraq  2020–2022, trong bài viết “Nền Dân Chủ Ở Iraq: Một Vỏ Bọc Cho Tham Nhũng Và Vi Phạm Nhân Quyền” đăng trên diễn đàn của Trung tâm Quan hệ Quốc tế và Phát triển Bền (CIRSD) ngày 29.04.2025: “Để bảo vệ quyền và tự do của người dân, chính phủ Iraq phải thực sự là một nền dân chủ. Việc thực hiện các nguyên tắc bình đẳng, minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ giúp chính phủ xây dựng lòng tin và giành được sự tín nhiệm của người dân Iraq cũng như thể hiện ý chí dân chủ của họ. Đáng buồn thay, trong nhiều thập kỷ qua, người dân Iraq đã phải chịu đựng sự thất vọng do việc không tuân thủ những nguyên tắc này.”

Sự thất bại của nền dân chủ Iraq là một nghiên cứu tình huống (case study) rất quan trọng cho người Việt quan tâm đến tương lai dân chủ Việt Nam.

Trở lại một chút với cuộc Chiến tranh Iraq (Iraq War) 2003.

Ngày 19 tháng 3, 2003, cuộc chiến Iraq do TT George W. Bush phát động bằng cuộc hành quân mang tên Operation Iraqi Freedom với mục đích lật đổ chế độ Saddam Hussein chính thức bắt đầu. Saddam Hussein  bị bắt ngày 13 tháng 12 cùng năm và ngày 5 tháng 11, 2006 bị xử treo cổ. 

Chế độ cộng hòa được thiết lập với hiến pháp 2005.

Theo John McGarry, giáo sư Chính trị học tại Queen’s University, Canada, hiến pháp cộng hòa Iraq “phản ảnh hình thức tự do qua hợp tác của các cộng đồng Iraq”. Giáo sư John McGarry và người cộng tác Brendan O’Leary trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Luật Hiến Pháp Quốc Tế ( International Journal of Constitutional Law) tháng 7, 2007 đồng ý với phương thức xây dựng nền dân chủ dựa trên hiến pháp Iraq 2005.

Nhưng hiến pháp dù hoàn hảo bao nhiêu cũng chỉ là một khung sườn, một mô thức, một văn bản chứ không phải là một nền dân chủ. Nền dân chủ của một quốc gia bao gồm nhiều lãnh vực không chỉ chính trị, kinh tế mà còn văn hóa, xã hội phải được thực thi từ chính con người trong giai đoạn chuyển tiếp đầy khó khăn từ chiến tranh sang hòa bình, từ độc tài sang dân chủ.

Như giáo sư John McGarry cảnh báo, thất bại của “hợp tác” sẽ dẫn đến nội chiến và tạo cơ hội cho nước ngoài can thiệp. Thực tế chứng minh lời cảnh báo của ông là đúng khi bạo động vẫn tiếp tục diễn ra và ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Iran tại Iraq.

Sự ra đời của tổ chức khủng bố  Nhà Nước Hồi Giáo Iraq (The Islamic State of Iraq, ISI) năm 2006 đã biến xung đột nội bộ Iraq thành một loại chiến tranh ủy nhiệm (proxy war) giữa các bên có quyền lợi trong vùng.

Năm 2005, khi hiến pháp Iraq còn trong vòng thảo luận, người viết, trong một tiểu luận đăng trên talawas cho rằng yếu tố quyết định trong giai đoạn chuyển tiếp tại Iraq tùy thuộc vào người dân Iraq, trong đó bao gồm cấp lãnh đạo, có đủ khôn ngoan, nhìn ra khỏi những hàng rào đang làm cách ngăn họ hay không.

Đoạn sau đây trích từ bài viết trên talawas 21 năm trước và trích đăng lại nhiều lần với nhiều tựa bài khác nhau trên Facebook:

“Vai trò của các cường quốc trong đời sống chính trị của các quốc gia nhược tiểu thời nào cũng thế. Những ai theo dõi cuộc tranh chấp Iraq đều biết rằng sự quyết tâm của các chính phủ Mỹ, Anh, Nhật để lật đổ Saddam Hussein bằng võ lực và sự chống đối phương pháp đó của Pháp, Anh, Nga, Trung Quốc, nói cho cùng, cũng chỉ vì quyền lợi của quốc gia họ.

Chính phủ Mỹ chẳng căm thù gì Saddam Hussein và chính phủ Pháp, Nga cũng chẳng thương xót gì cho số phận hẩm hiu của ông ta. Tấm hình cụt hai tay trong thân hình lở loét của em bé Ali, nạn nhân của cuộc chiến, chắc chắn không treo trong phòng phác thảo chiến lược quân sự của Ngũ giác Đài và cũng chẳng bao giờ làm động lòng trắc ẩn của Putin hay Chirac khi họ nghĩ đến những mỏ dầu ở Iraq sắp rơi vào tay Mỹ.

Tôi cũng không nghĩ người chăn cừu trên cánh đồng cỏ Iraq có khả năng thay đổi chính sách đối ngoại của Mỹ hay Anh, nhưng đồng thời tương lai của Iraq không hẳn nằm trong bàn tay quyết định của Anh hay Mỹ. Tương lai của Iraq tùy thuộc vào lòng yêu nước của nhân dân Iraq và sự khôn ngoan của các nhà lãnh đạo chính phủ dân cử Iraq sắp được bầu ra.

Nhân đạo nhiều khi chỉ là những gì anh cho tôi trong lúc tôi đang cần, còn tại sao anh cho, anh nhân danh ai, Phật, Chúa, Allah, xăng, dầu,… không phải là quan tâm của tôi, ít ra trong lúc này.  Ngày nào quyền lợi của anh và tôi tương hợp, chúng ta là bạn, nếu không sẽ chia tay nhau và có thể trở thành đối nghịch.

Tôi hy vọng các nhà lãnh đạo của nước Iraq Mới sẽ vận dụng một cách hữu hiệu chính sách của các cường quốc vào công cuộc phục hưng và phát triển đất nước họ, tuy không được như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore trước đây, thì ít ra cũng gần với Ai Cập, Jordan, Pakistan, Thổ Nhĩ Kì trong thế giới Hồi giáo hiện nay.

Như một người đến từ một nước chiến tranh và nghèo khó, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến cơ hội hiện đang có cho người dân Afghanistan, Iraq sau nhiều năm chịu đựng dưới các chế độ độc tài hà khắc.”

Lý luận trên được người viết đưa ra từ 21 năm trước. Hôm nay nếu cần phải viết lại chắc cũng không thêm bớt điểm nào bởi vì không ai trách nhiệm cho sự thịnh suy của một dân tộc ngoài chính dân tộc đó.

Như chúng ta đều thấy, cơ hội đã đến nhưng nền Cộng Hòa Iraq thất bại.  Lý do trước hết vẫn là do con người của chính quốc gia vừa thoát nạn độc tài.

Thành phần lãnh đạo Iraq từ cấp trung ương không biết nắm bắt cơ hội quốc tế vàng son vừa được đem lại phối hợp với nguồn tài nguyên phong phú vốn có để xây dựng một quốc gia mới cường thịnh cho mình và cho các thế hệ Iraq mai sau. Dự trữ dầu hỏa của Iraq lớn vào hàng thứ năm trên thế giới nhưng bài học làm giàu của Nhật Bản, Tây Đức không phải là sách gối đầu giường của những lãnh đạo Iraq sau chiến tranh.

Dù là nơi phát xuất của nền văn minh Mesopotamia với tám ngàn năm lịch sử, nhưng đúng như Loren Thompson viết trên Tạp Chí Forbes, một trong những lý do Cộng Hòa Iraq thất bại vì Iraq không có bản sắc dân tộc (national identity) riêng cho mình mà chỉ là những tập thể ô hợp do các cường quốc Châu Âu tạo ra như kết quả sự tan rã của Đế Quốc Ottoman. Người theo giáo phái Shiite  không muốn để bị cai trị bởi người theo giáo phái Sunni. Người gốc Kurds không muốn bị cai trị bởi người Á Rập.

Một quốc gia không thể vươn lên nếu không có đặc tính chung làm nên quốc gia đó.

Nền dân chủ tại Cộng Hòa Iraq sau hiến pháp 2005 đã và đang chịu đựng sự phân hóa trầm trọng. Những vụ đặt bom giết người hàng loạt không phân biệt phụ nữ hay trẻ em của tổ chức cuồng tín ISI, mâu thuẫn giữa các phần tử cơ hội, tranh giành quyền lực trong chính quyền, phân hóa sâu sắc giữa các sắc dân đã và đang làm phân liệt Iraq.

Thời gian tới, với sự can thiệp của Iran vào nội bộ chính trị Iraq qua ngã tông phái Hồi Giáo Shia chiếm đa số tại Iraq sẽ làm sự phân hóa đang có trầm trọng và đẫm máu hơn.

Ngoài ra,  hai “ngư ông” Nga và Trung Cộng đồng minh của Iran đang ngồi chờ trục lợi sẽ có cơ hội bán vũ khí, khai thác các mâu thuẫn Trung Đông tương tự như chính sách của Liên Sô sau Chiến Tranh Sáu Ngày (Six-Day War) giữa Do Thái và ba nước Ai Cập, Jordan và Syria 1967.

Trung Cộng tố cáo Hoa Kỳ theo đuổi chủ nghĩa  can thiệp và sẽ dẫn tới “những hậu quả trầm trọng cho hòa bình và ổn định của khu vực”.

Thất bại của Iraq có gợi lên những điều gì cho viễn ảnh Việt Nam không?

Có và có rất nhiều.

Việt Nam sớm hay muộn cũng sẽ có dân chủ và sự sống còn của nền dân chủ Việt Nam sẽ đặt trên vai những người Việt có ý thức và quan tâm đến tiền đồ đất nước.

Iraq không thiếu tài nguyên hay tiền bạc mà thiếu con người.

Chỉ riêng trong hơn mười năm từ cuối năm 2003 đến 2014, không tính chi phí quân sự, Hoa Kỳ đã viện trợ phi quân sự tổng cộng lên tới 90 tỉ Mỹ kim để tái thiết Iraq. Kết quả thu lại được quá khiêm nhượng so với khoản viện trợ nước Mỹ đã đổ ra. Nguyên nhân để đổ thừa thì vô số. Chỉ riêng tệ nạn tham nhũng, năm 2018, theo Transparency International, Iraq thuộc vào nhóm cuối bảng, hạng 168 trong 180 nước được điều tra.

Sự tan rã của phong trào CS thế giới cho thấy cách mạng dân chủ diễn ra trong bốn dạng:

(1) Không đổ máu như Baltics, Hungary, Ba Lan.

(2) Đổ máu như Romania.

(3) Có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Ethiopia.

(4) Không có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Mông Cổ.

Cách mạng dân chủ tại Việt Nam sẽ đến bằng một trong bốn hình thức vừa nêu. Nhưng dù đến cách nào đi nữa, thực tế Iraq gợi ý cho những người Việt trong vai trò lãnh đạo một nước dân chủ còn non trẻ và những người Việt quan tâm trong cũng như ngoài nước những điểm cần phải học:

(1) Đặt quyền lợi đất nước trên quyền lợi đảng phái và tôn giáo.

(2) Lấy trong sạch và đạo đức làm tiêu chí lãnh đạo.

(3) Vận dụng, nhưng không lệ thuộc,  ngoại lực có lợi cho kế hoạch phục hưng, hiện đại hóa và chiến lược hóa đất nước.

(4) Đừng bao giờ tin nhưng khéo léo bang giao với Trung Cộng khi nội lực dân tộc chưa hoàn toàn hồi phục và đất nước chưa được hiện đại hóa.

Trần Trung Đạo

 


 

Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.

Đó là năm 1942.

Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.

Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng.

Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.

“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.”

Thức ăn cạn dần.

Thuốc men không còn.

Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.

Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống?

Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.

Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.

Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp.

Các cố vấn nói với ông:

“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.”

Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:

“Bao nhiêu đứa trẻ?”

“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.”

Một khoảng lặng.

Rồi ông nói:

“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.

Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.”

Họ cảnh báo:

“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”

“Ta sẽ chịu.”

Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:

“Các con được chào đón ở đây.”

Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.

Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng.

Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.

Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời:

“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.

Các con là con của ta.

Ta là Bapu của các con ,là cha của các con.”

Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.

Ông xây dựng một mái nhà.

Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:

giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới.

“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.

“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.”

Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.

Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình.

Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.

Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết.

Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.

Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước.

Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.

Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời.

Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói:

“Từ nay, các con là con của ta.”

ST.

Nguồn từ báo Ba Lan (theo Tôn Vân Anh)
Fb Trần Quốc Quân


 

Hoàng Thị Hồng Thái bị bắt- Khi nỗi sợ hãi trở thành chính sách

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Đàn Chim Việt

09/01/2026

 

Hai ngày trước, trên mạng xã hội đã râm ran tin Hoàng Thị Hồng Thái bị bắt. Phải đến hôm qua, khi báo chí chính thống đồng loạt đưa tin, người ta mới biết: tin đồn ấy không còn là tin đồn.

Tôi mới theo dõi cô Hồng Thái Hoàng chưa lâu, nhưng chừng ấy thời gian cũng đủ để nhận ra một điều: các bài viết của cô có nền tảng hiểu biết rõ ràng, lập luận mạch lạc, giọng điệu ôn hòa và nhất quán theo tinh thần khai dân trí. Không hô hào, không kích động, không cảm tính. Chỉ có luật pháp, lý lẽ và trách nhiệm công dân.

Tết sắp đến. Trong khi người ta lo sắm sửa, đoàn viên, thì một người mẹ bị còng tay. Đau lòng hơn cả là phía sau cánh cửa trại giam ấy là bốn đứa trẻ còn thơ dại, nay bỗng chốc bơ vơ, thiếu vắng cả cha lẫn mẹ. Có một cháu còn mang chứng tự kỷ, điều mà bất kỳ xã hội tử tế nào cũng phải hiểu đó là nỗi mong manh cần được chở che, không phải là “tài sản thế chấp” cho những màn thị uy quyền lực.

Những ai từng đọc Hồng Thái Hoàng đều thấy rõ: cô phản biện trên nền tảng pháp luật. Góp ý chính sách cũng bằng ngôn ngữ của luật pháp. Chỉ ra sai sót cũng bằng lý lẽ, không bằng thóa mạ. Đó là kiểu phản biện mà bất kỳ nhà nước tự tin nào cũng nên trân trọng. Bởi phản biện không phải để lật đổ, mà để sửa sai; không phải để phá hoại, mà để tránh cho xã hội đi vào ngõ cụt.

Thế nhưng, thay vì đối thoại, người ta chọn cách bắt giữ. Thay vì tranh luận, người ta dùng đến quyền lực cưỡng chế. Điều đó nói lên điều gì? Rằng vấn đề không nằm ở lời nói của Hồng Thái Hoàng, mà nằm ở mức độ chịu đựng sự thật của những kẻ đang nắm quyền.

Đáng buồn hơn là sau khi một người phụ nữ bị bắt, thay vì tranh luận vào nội dung tư tưởng, một đội ngũ quen mặt trên không gian mạng lại lao vào “đánh hội đồng” bằng con đường bẩn thỉu nhất: bới móc đời tư, xúc phạm nhân phẩm, hạ nhục người khác để né tránh việc phải đối diện với lý lẽ. Đó là kiểu “bỏ bóng đá người” rất quen, rất hèn, và rất đê tiện. Khi không thể phản biện bằng trí tuệ, người ta sẽ dùng đến bùn.

Xin nhắc thẳng: mọi bình luận xúc phạm, cực đoan, mang tính hạ nhục cá nhân đều không giúp xã hội tốt lên, mà chỉ phơi bày sự nghèo nàn của chính người viết. Những bình luận như thế, nếu xuất hiện ở đây, sẽ bị xóa và bị chặn. Văn minh không phải là món đồ trang trí, mà là giới hạn tối thiểu của một cộng đồng biết suy nghĩ.

Có một câu rất đáng để nhớ: một xã hội không sợ sai lầm, nhưng sẽ sụp đổ khi sợ sự thật. Một xã hội muốn “vươn mình” thì không thể run rẩy trước những tiếng nói phản biện ôn hòa. Càng không thể coi việc khai dân trí là mối đe dọa. Bởi chỉ những chính quyền yếu kém mới cần đến sự u mê của người dân để tồn tại.

Người ta nói nhiều về những khẩu hiệu đẹp đẽ, nhưng cách đối xử với Hồng Thái Hoàng và tệ hơn, với các con của cô lại đi theo hướng hoàn toàn ngược lại. Khi một người mẹ bị bắt vì những bài viết có tính xây dựng, thì đó không phải là sức mạnh của nhà nước, mà là biểu hiện của nỗi sợ. Khi những đứa trẻ vô tội phải gánh hậu quả, thì đó không phải là kỷ cương, mà là sự vô nhân tính được khoác áo pháp lý.

Những bài viết của Hồng Thái Hoàng, với tôi, không chống lại ai cả. Thứ cô chống lại là sự tù túng trong tư duy, là nghèo nàn trong nhận thức, là bất công được che chắn bằng quyền lực. Và đáng lẽ, những tiếng nói như thế phải được lắng nghe, tranh luận và phản biện công khai chứ không phải bị trấn áp trong im lặng.

Cầu mong cô Hồng Thái Hoàng đủ sức mạnh để vượt qua giai đoạn nghiệt ngã này. Cầu mong các con của cô được chở che, được yêu thương, và không phải trả giá cho những điều mà các cháu không hề gây ra.

Bởi cuối cùng, lịch sử không hỏi ai đã bắt được bao nhiêu người, mà chỉ hỏi: ai đã làm cho xã hội này sáng lên thêm một chút và ai đã cố tình dập tắt ánh sáng ấy.

Tran Nam Anh (Facebook)


 

TÌNH YÊU KHÔNG CHẾT

Một tác giả nọ đã ghi lại bài học của mẹ mình như sau:

Ông ngoại tôi là một Mục sư vào đầu thế kỷ XX. Khi có một người trong cộng đồng qua đời, người ta thường đem khăn liệm và mang quan tài đến và đặt trong phòng khách của vị mục sư. Năm đó mẹ tôi lên tám tuổi, lần đầu tiên chứng kiến cảnh tượng đó mẹ tôi rất sợ hãi.

Ngày nọ ông ngoại cầm tay mẹ tôi đặt vào tường và hỏi mẹ tôi cảm thấy như thế nào? Mẹ tôi trả lời nó cứng và lạnh. Sau đó ông ngoại dẫn mẹ tôi đến cạnh quan tài của người tín hữu tên là Smick đang nằm trong phòng khách, ông nói với mẹ tôi: “Ba xin con làm một điều vô cùng khó khăn, nếu con làm được điều đó con sẽ không bao giờ biết sợ chết nữa. Ba muốn nói con đặt tay trên mặt ông Smick”.

Vì thương và tin tưởng ông ngoại, nên mẹ tôi đã làm theo điều ông ngoại xin. Mẹ tôi đưa tay sờ vào mặt người chết. Ông ngoại tôi hỏi: Con thấy thế nào? Mẹ tôi đáp: Lạnh như tường vậy. Ông ngoại tôi liền giải thích: Tốt lắm, đãy là ngôi nhà cũ của ông Smich, ông Smich đã ra đi và chúng ta không có lý do gì đẻ sợ ngôi nhà của ông cả.

Từ đó mẹ tôi không còn biết sợ người chết nữa! Tám giờ đồng hồ trước khi mẹ tôi qua đời, mẹ tôi đã yêu cầu chúng tôi làm một điều khác thường, thấy chúng tôi đang khóc sướt mướt, mẹ tôi nói đừng đặt hoa trên mộ của mẹ vì mẹ không có ở đó đâu, khi mẹ từ bỏ thân xác này, mẹ sẽ bay đi Âu Châu, cha chúng con chưa bao giờ đưa mẹ đến đó.

Nghe thế chúng tôi bật cười và suốt trong đêm hôm đó, không ai trong chúng tôi khóc nữa. Khi chúng tôi đến hôn từ biệt và chúc mẹ ngủ ngon. Mẹ tôi nói: gặp lại các con sáng mai. Thế nhưng đúng sáu giờ mười lăm phút sáng hôm sau, mẹ tôi đã vĩnh viễn ra đi. Hai ngày sau chúng tôi dọn dẹp lại căn phòng của mẹ, trong nhiều mảnh giấy để lại, có một bài thơ không rõ do mẹ tôi sáng tác hay của một tác giả nào đó. Sau đây là nội dung của bài thơ:

“Khi tôi chết, xin hãy để lại cho con cái tôi những gì còn lại của tôi. Nếu bạn cần khóc thì hãy khóc cho những người anh em đang đi bên cạnh bạn. Xin bạn hãy quàng tay qua mọi người, hãy cho họ những gì bạn muốn cho tôi. Tôi muốn để lại cho bạn một cái gì đó, một cái gì đó khác với lời nói hay âm thanh, bạn hãy tìm gặp tôi trong những người tôi đã biết và yêu thương. Và nếu bạn không thể sống mà không có tôi thì xin bạn hãy để cho tôi được sống trong ánh mắt, trong tâm trí và trong những hành động tử tế của bạn. Bạn có thể yêu thương tôi nhiều nhất bằng cách bàn tay nắm lấy những bàn tay và cho con cái được trở nên những con người tự do. Tình yêu không chết chỉ có con người mới chết thôi, vậy thì tất cả những gì còn lại của tôi là tình yêu, xin hãy trao ban.”

***

Khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cách đặc biệt cho những người quá cố. Người chết nào dường như cũng có một cái gì để trăn trối cho những người còn sống, người chết nào dường như cũng tiếp tục sống bên cạnh người còn sống. Hẳn đó cũng là cảm nhận của mỗi người chúng ta. Sau đó, bên cạnh chúng ta những người thân thương ruột thịt của chúng ta vẫn tiếp tục hiện diện và theo dõi

từng bước của chúng ta.

Giáo Hội nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện đó và mời gọi chúng ta cầu nguyện cho người quá cố. Có những lời cầu nguyện qua những bài Thánh ca, những kinh quen thuộc đã đành, nhưng quan trọng hơn, ý nghĩa hơn hẳn phải là những hành động yêu thương mà chúng ta cố gắng thực thi mỗi ngày, đó là sự tưởng nhớ và chân thành nhất mà chúng ta dành cho người quá cố vậy.

***

Lạy Chúa, xin đón nhận những cố gắng sống yêu thương của chúng con như của lễ dâng lên Chúa để cầu nguyện cho những người thân thương đã qua đời của chúng con. Amen.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

KHOẢNG TRỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng”.

“Tĩnh lặng không phải là sự vắng mặt của một điều gì, nhưng là sự hiện diện của mọi sự!” – Gordon Hempton.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay soi rọi trực giác của Hempton. Trời còn tối, Chúa Giêsu đi ra một nơi hoang vắng; nói cách khác, Ngài ra một “khoảng trống”. Nhưng ‘khoảng trống’ ấy không hề trống; nó là không gian của hiện diện – một sự hiện diện của “ở lại, lắng nghe và sai đi”.

Chúa Giêsu không tìm sự tách biệt để nuôi dưỡng một đời sống khép kín, Ngài đi vào ‘khoảng trống’ để giữ cho mối tương quan với Cha luôn thiết thân, không bị phủ che bởi tiếng vỗ tay, đòi hỏi và kỳ vọng của đám đông. Chính trong sự hiện diện ấy, căn tính và sứ mạng của Ngài được nguyên tuyền – biết mình từ đâu đến, đang sống cho ai, và sẽ trao ban đời mình theo cách nào. Rõ ràng, hoang vắng là nơi “tái lập trung tâm!”. Thiếu trung tâm, việc tốt trở thành gánh nặng, nhiệt thành trở nên hao mòn, và đời sống mất phương hướng. Vì thế, Tin Mừng đặt việc Chúa Giêsu đi cầu nguyện lên đầu ngày trước khi Ngài bước vào nhịp khốc liệt của sứ vụ. Ở đó, Ngài không chỉ tìm sự yên tĩnh, nhưng ở trong “một sự hiện diện nuôi sống mọi chọn lựa!”. “Hãy để con dành thời gian với Đấng tạo thành thế gian trước khi con sống với thế gian!” – A. W. Tozer.

Với chúng ta, ranh giới giữa cô đơn và tĩnh lặng rất mong manh. Cô đơn là ‘khoảng trống’ không có người thứ hai; nó gặm mòn từ bên trong, khiến chúng ta tìm mọi cách tự lấp đầy. Tĩnh lặng, trái lại, là một ‘khoảng trống’ “có Đấng đang chờ”; không làm con người khép lại, nhưng mở ra cho một sự “hiện diện thần thánh”. “Tĩnh lặng là tốt, nhưng bạn cần ‘Ai đó’ nói rằng tĩnh lặng là tốt!” – Honoré Balzac. Cùng là trống, nhưng một bên là ‘thiếu vắng’, bên kia là ‘được chiếm ngự’. Vì thế, nếu không được neo vào Thiên Chúa, “tĩnh lặng” dễ trượt thành một hình thức cô lập tinh vi. “Bạn không thể cô đơn nếu bạn thích người mà bạn đang ở bên!” – Wayne Dyer.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu là khuôn mẫu cho đời sống chúng ta. Ngài không sở hữu ‘khoảng trống’, nhưng cư ngụ trong đó với Cha. Từ sự hiện diện ấy, Ngài bước ra cho con người với một tự do không lệch hướng, một lòng thương xót không phân mảnh, và một tiếng nói không run sợ. ‘Khoảng trống’ không làm Ngài nhỏ lại; nhưng làm Ngài tập trung và trao hiến hơn. Bạn và tôi được mời gọi học lấy nhịp sống ấy. Không phải để tìm cảm giác an toàn, nhưng để đời sống được thả neo trong điều cốt yếu; không để rút khỏi bổn phận, nhưng để bước vào nó với một trái tim đặt đúng hướng. Như vậy, ai dám dành chỗ cho sự hiện diện của Thiên Chúa, ‘khoảng trống’ không còn là thiếu vắng, mà là nguồn mạch âm thầm “nuôi dưỡng mọi chọn lựa!”. “Việc thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa làm ta mạnh mẽ trong hy vọng; và hy vọng ấy lớn lên theo mức ta hiểu biết Ngài!” – Brother Lawrence.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con yêu mến những ‘khoảng trống’ của ngày sống; ở đó, Ngài lấp đầy. Để tĩnh lặng trở thành sự hiện diện, và mọi chọn lựa của con được sinh ra từ đó!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần I Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 1,29-39

29 Khi ấy, vừa ra khỏi hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su đi đến nhà hai ông Si-môn và An-rê. Có ông Gia-cô-bê và ông Gio-an cùng đi theo. 30 Lúc đó, bà mẹ vợ ông Si-môn đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Lập tức họ nói cho Người về tình trạng của bà. 31 Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy ; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.

32 Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người. 33 Cả thành xúm lại trước cửa. 34 Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai.

35 Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. 36 Ông Si-môn và các bạn kéo nhau đi tìm kiếm. 37 Khi gặp Người, các ông thưa : “Mọi người đang tìm Thầy !” 38 Người bảo các ông : “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” 39 Rồi Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ.


 

SỰ THINH LẶNG CỦA Ý THỨC VÀ CỦA CÕI LÒNG- Michel Hubaut

Michel Hubaut

Trước hết, chính trên bình diện đối thoại nội tâm với chính mình mà con người cố gắng đọc và hiểu lịch sử quá khứ, hiện tại và tương lai của mình, cố gắng phân tích những thất bại và thành công, những ước mơ và thất vọng; những niềm vui nỗi buồn.  Tóm lại, cố gắng thống nhất đời sống mình trong thời gian, nếu mình không muốn biến thành một nút chai trôi dạt theo các lớp sóng liên hồi của thời gian đi qua.

Trong sự thinh lặng của ý thức, vang lên một cuộc tranh chấp giữa nhiều tiếng nói, qua đó sẽ xuất phát sự chọn lựa, các quyết định của mình.  Nơi ưu tuyển để thực thi tự do.  Sự tranh chấp giữa cái tốt nhiều, và cái tốt ít trong chính mình, giữa những giá trị mà mình chọn lựa hay từ chối.  Đây là lúc mà mình cố gắng tìm hiểu bí mật về mình, về căn tính đích thực và về vận mệnh của mình.

Ai lẩn tránh vùng thinh lặng này, người ấy đánh mất toàn bộ cuộc sống ý thức và chỉ còn phản ứng một cách hời hợt bằng cảm tính, bằng những cảm xúc ngoài da.  Người ấy chiều theo khẩu hiệu, thời trang và dư luận.  Không có nhân vị thực sự nếu không có sự tranh luận nội tâm trong thinh lặng của ý thức.

Thật hoàn toàn giả tạo nếu ta muốn xác định ranh giới  giữa sự thinh lặng của giác quan, sự thinh lặng tâm lý, sự thinh lặng của ý thức với sự thinh lặng của cõi lòng.  Những tác động qua lại giữa các bình diện ấy thì thật nhiều.  Hiểu như thế, thì cuộc đối thoại của con người với ý thức mình dù cần thiết và cảm động đến đâu, cũng không thể đồng hóa với sự thinh lặng của ‘cõi lòng.’

Chúng ta, nhất là những người phương tây, có khuynh hướng đối lập lòng với trí.  Trí là lãnh vực của đầu óc, của suy tư, của hiểu biết, của lý luận, của đúng sai.  Và lòng là trung tâm của tình cảm.

Thế nhưng ‘lòng’ trong truyền thống Kinh Thánh truyền thống Kitô Do Thái Giáo, và đặc biệt là trong truyền thống tâm linh ở Phương Đông, không chỉ hạn hẹp trong lãnh vực tình cảm mà thôi.

Trong Kinh Thánh, ‘lòng’ là trung tâm của sự sống con người.  Đấy là nơi mà đôi khi ta gọi là ‘tâm hồn’ ‘chiều sâu của con người mình.’  Nơi ưu tuyển để hội nhập, nơi cắm rễ; qui tụ; hòa hợp mọi khả năng con người, mọi biểu hiện của sự sống và mọi chức năng của thân thể.

Trên hết, ‘lòng’ là nơi mỗi một chúng ta ở gần Thiên Chúa, có thể liên lạc với Đấng cội nguồn Sự Sống.  Nó là cánh đồng mà Chúa Giêsu đã nói đến nơi ấy chứa đựng kho tàng Nước Trời (Mt 13, 44).

“Thật vậy, cõi lòng là chủ và vua của toàn bộ của các cơ quan trong thân thể, và khi ân sủng chiếm lấy đồng cỏ của cõi lòng, nó sẽ ngự trị trong mọi chi thể và mọi suy nghĩ, vì đấy là sự hiểu biết đích thực…” (Thánh Macaire, bài giảng XV, 20).

Và suốt lịch sử các tôn giáo, bao nhiêu người nam, nữ đã đi vào thinh lặng của ‘cõi lòng,’ đỉnh cao của con người mình, nơi đấy họ cảm nhận được một chiều kích mới của bản thân và của thế giới.  Sự thinh lặng đã đưa họ vào một ‘vũ trụ’ mà họ không tạo ra nhưng đã hiện diện trong họ, như là bị chôn vùi.  Rồi một hôm, họ bỗng ý thức được.

‘Cõi lòng’ hay tâm hồn có lẽ là ân huệ cao cả nhất, tốt đẹp nhất, và ẩn kín nhất mà Đấng Tác Tạo đã ban cho loài thọ tạo.

Như vậy, mọi người dù hữu thần hay vô thần, đều có ‘khả năng nội tâm’ này, và có thể thiết lập tương giao với Thiên Chúa, vì Người đã đặt vào đấy hơi thở của chính Người.

Trong sự thinh lặng của tâm hồn không phải con người đi bước trước, nhưng chính là Thiên Chúa, nhờ “Thần Khí Người kết hợp với lòng trí chúng ta.”  Con người không còn độc thoại với chính mình nhưng có thể lắng nghe Lời của Thiên Chúa.  Lời không thể nào diễn đạt bằng tiếng nói, tựa như tiếng reo của một dòng suối.  Ở đấy, giống như nhựa cây vươn lên và nuôi sống cây trong thinh lặng, Thần Khí Tác Tạo chạm lấy ‘cõi lòng’ của tạo vật bằng những can thiệp thật khẽ, mà chỉ có con người thinh lặng mới cảm nhận được.

 Michel Hubaut
Trích trong tập sách NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THINH LẶNG

From: Langthangchieutim


 

Cuối Năm Ngẫm Lại Chuyện Đời…

Cuộc sống vội vã, kiếp người bé nhỏ, ngoảnh đầu lại đã hơn nửa đời người. Thời gian trôi nhanh như bóng cây lướt ngoài cửa sổ. Hôm qua còn vui vầy cùng bè bạn mà hôm nay đã đôi ngả lìa tan. Người cũ lâu không gặp, chuyện cũ lâu không bàn. Chớp mắt một cái, nhìn quanh mình chẳng còn lại mấy ai. Thời gian không đợi một ai, một sớm soi gương thấy tóc Ta điểm bạc, hồng trần có khác nào cõi mộng vậy thôi

Đôi khi buồn phiền?
Hãy nghĩ cuộc sống là phép trừ, gặp một lần bớt một lần, còn có gì phải khổ não đây. Không quên ơn người giúp mình, không trách móc người xử tệ với mình, không giữ mãi trong lòng hận thù người khác, tự khắc Ta sẽ thấy cuộc đời sao mà an nhiên, bình lặng đến vậy!
Khi gặp phải chuyện đau buồn, không như ý, hãy nghĩ rằng cuộc sống chính là một lần phải vượt qua. Kiếp người khi đến tay không, ra đi cũng tay không, không mang đến hạt cát mà cũng không mang đi một áng mây nào.


Khi ta bất mãn?
Hãy nghĩ đến những người nghèo khổ, kém may mắn hơn Ta, biết đủ mới là hạnh phúc. So với người bệnh, hạnh phúc của ta là sống khỏe mạnh. So với người đã khuất, hạnh phúc của Ta là còn sống. Người ta muốn sống tốt thì tâm phải đơn giản, phải bớt tranh giành một chút.


☘ Khi ta cảm thấy không vui?
Hãy tự hỏi rằng mình còn lại bao nhiêu ngày để có thể dằn vặt. Nghĩ kỹ rồi, Ta sẽ không buồn nữa. Khi Ta tức giận hãy nghĩ rằng liệu có cần phải khổ tâm vì một người không đáng, tại sao Ta lại để người đó làm chủ trong tâm hồn mình. Ta hãy quên đi cứ ăn ngon, ngủ ngon, chăm sóc tốt, biết cách tiêu tiền là được rồi.


☘ Khi ta muốn so đo tính toán?
Hãy nhớ lại rằng con người đến thế gian này là tay không, hà cớ gì phải tính toán thiệt hơn, tại sao không chịu nhường một bước ? 
Nói nhiều sẽ làm tổn thương người khác, so đo nhiều lại tổn hại tinh thần, vừa hại người lại hại mình, kết quả là hao tâm tổn sức. Một đời người thực ra chỉ cần không làm chuyện phải hổ thẹn với lương tâm, tự tại an nhàn đã là quý lắm rồi !
– Hãy sống sao cho thật vui vẻ. Có cơm để ăn, có quần áo để mặc, có núi để leo, có biển để ngắm, có internet để vào, có xe để đi, có việc để làm, có thêm người bạn đời cùng chung suy nghĩ nữa là … tuyệt vời !
Sống an nhiên vui vẻ mới là tốt nhất, chẳng việc gì phải để ý đến tiền ít tiền nhiều. Sau này già rồi, chết đi ai còn để ý Ta là ăn mày hay là người giàu có? Ai cũng có phiền muộn, hàng ngày đều có buồn phiền, quan trọng nhất là Ta không để ý đến nó, sống vui vẻ thì buồn phiền sẽ tự nhiên tan mất. Phiền não ngày ngày đều có nhưng nếu không tự tay nhặt lên thì người ta đâu phải u sầu nhiều đến vậy?


Tài sản quý giá nhất là: Sức khỏe & Trí Tuệ
Khi sinh mệnh của con người chấm dứt, đến lúc sự sống không thể cứu vãn được nữa thì tiền tài là gì, danh vọng là chi, thảy đều vô nghĩa.
Truy cầu giàu có khiến người tham lam, biến thành ác quỷ. Trong mắt người sắp từ giã cõi đời, những gì gọi là danh phận, địa vị, tiền bạc đều chỉ là vô giá trị mà thôi.  Sức khỏe là số một, không có sức khỏe thì danh tiếng, địa vị, sỉ diện, xa hoa, xe sang, nhà cao cửa rộng… thảy đều là mây bay, gió cuốn, mong manh, hư ảo cả.
Hãy luôn nhớ rằng : chiếc điện thoại thông minh cao cấp, 70% chức năng là không hề dùng tới. Một chiếc xe sang, 70% tốc độ là thừa. Một ngôi biệt thự nguy nga, 70% diện tích là bỏ trống. Hàng loạt chuyện đời, 70% là vô vị, hư không. Một đời nỗ lực kiếm tiền, 70% là để lại cho người khác tiêu. Hãy sống thật đơn giản, tận hưởng cuộc đời, giữ lấy 30% những gì vốn thuộc về mình mới mong thực sự có được hạnh phúc.


❤ Đời người lại như một hiệp đấu. Nửa trước là học hành, quyền lực, chức tước, thành tích, tăng lương, tăng chức. Còn nửa sau là huyết áp, mỡ máu, tiểu đường, ung thư, cô đơn, sầu não. Nửa hiệp đầu là phấn đấu hết mình, nửa hiệp sau là chấp nhận, buông xuôi. Nghĩ lại đi, Cớ sao kiếp người mỏi mệt lắm vậy?

From: Phong Duong


 

BAO GIỜ TỚI VIỆT NAM? – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Xin trả lời trước khi viết tiếp là chẳng bao giờ tới cả nếu những người Việt quan tâm vẫn thích “ăn hàm thụ”.

Người viết không nghĩ ra thuật ngữ “ăn hàm thụ” này mà chỉ nghe một nhà văn kể lại cách đây ba hôm.  Anh kể trong thời gian ở tù CS ngoài Bắc, đói quá, mà con người ở đâu cũng vậy thiếu gì thường hay nghĩ và nói tới cái đó. Các anh tối ngủ hay nói chuyện nấu những món ăn ngon. Có anh diễn tả cách nấu những món ăn hấp dẫn không thua gì các chương trình thi nấu ăn nổi tiếng trên TV bây giờ.  Các anh nói chẳng qua để vơi cơn đói.  Nói cho đã rồi ngủ với cái bao tử trống, trong chiếc mền rách, dưới mái lán mong manh và bên ngoài là cơn mưa không biết bao giờ dứt. Các anh có lý do để “ăn hàm thụ”. Đó là chuyện các anh nói chơi ở trong tù.

Nhưng tại Việt Nam ngày nay cũng có những người biết nấu ăn, có thịt cá, có mắm muối, có hành ngò, có củi lửa, nhất là có những đầu bếp đã phải dành nhiều năm học nghề nấu trong nhiều trại tù CS, lại không muốn nấu để ăn mà chỉ thích “ăn hàm thụ”.

Những người thích ”ăn hàm thụ” nghĩ rằng sau khi thanh toán xong Venezuela, Cuba, Mỹ sẽ hướng mục tiêu sang Á Châu để thanh toán chế độ CS tại Việt Nam, hạ gục Trung Cộng mở ra một kỷ nguyên mới tự do, dân chủ cho nhân loại toàn cầu “dưới ngọn cờ vẻ vang của Mỹ”.

Người viết không dám nói họ đang giúp cho đảng CS ru ngủ người dân trong giấc mộng hão huyền. Có thể họ thật sự thích “ăn hàm thụ” những món mà họ không dám tự nấu. Việc không tự nấu chưa hẳn là sai. Dưới xã hội CS ai dám nói là không sợ. Nhưng trong lúc “ăn hàm thụ” là quyền tưởng tượng của mỗi người, truyền bá chủ trương “ăn hàm thụ” là không đúng vì họ cố tình bỏ viên thuốc độc vào nhận thức của người khác qua những lời rao giảng.

Lấy món ăn “Độc lập, tự do, hạnh phúc” ra làm ví dụ. Thật ra ba nguyên tắc này cũng chỉ ăn cắp tư tưởng chỉ đạo Tam Dân (Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc) của Tôn Dật Tiên cuối thế kỷ 19 chứ chẳng phải sáng tạo nào của đảng CSVN. Tài liệu Trung Hoa Quốc Dân Đảng viết: “Năm 1897, khi Tôn Trung Sơn đang ở Luân Đôn vận động ủng hộ cách mạng, ông thường xuyên đến Thư viện Bảo tàng Anh, nghiên cứu sâu rộng và am hiểu hệ thống chính trị cũng như tổ chức xã hội của nhiều quốc gia châu Âu. Ông kết luận rằng không một cuộc cách mạng nào có thể thành công nếu không giải quyết được những vấn đề mà người dân phải đối mặt trong xã hội, và dựa trên nghiên cứu này, ông đã xây dựng triết lý về Nguyên tắc vì sinh kế của nhân dân. Điều này đã đặt nền móng cho Ba nguyên tắc vì nhân dân, mà ông chính thức công bố khi thành lập Liên minh các quốc gia thống nhất năm 1905.” (An Introduction of the Kuomintang, Official Website of KMT, Taiwan)

Từ 1945 đến nay dân tộc Việt Nam chỉ nghe, đọc chứ chưa sờ mó, chưa nếm mùi “Độc lập, tự do, hạnh phúc” thơm tho, mặn mà như thế nào. Trong lúc tại Trung Quốc và sau này là Đài Loan, chủ nghĩa Tam Dân thực sự làm tôn chỉ để hướng tới, tại Việt Nam “Độc lập, tự do, hạnh phúc” chỉ là “món ăn hàm thụ”. Nếu không tin, quý vị thích “ăn hàm thụ” ráng đi tìm những “chiến sĩ lão thành” còn sống sót, chắc không nhiều, trong cuộc chiến chống Pháp để nghe họ kể lại tâm huyết một thời thanh niên của họ. Họ chiến đấu chỉ vì “Độc lập, tự do, hạnh phúc”.  Nhiều trong số họ chết trong cuộc chiến chống thực dân là những người hy sinh cho độc lập, tự do đúng nghĩa. Tuyệt đại đa số, nếu không muốn nói rằng tất cả, đều tin như thế. Hôm nay, nếu còn sống, họ sẽ nhận ra, họ đã dành suốt một đời chiến đấu cho mục đích của chủ nghĩa CS chứ không phải vì “Độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân tộc Việt Nam. 

Những người thích ”ăn hàm thụ” phải hiểu rằng loại bỏ một cá nhân độc tài không khó nhưng thay đổi một bộ máy như đảng CSVN đã và đang chạy từ trung ương đến tận từng làng xã suốt 81 năm, tính từ  1945, là một công việc dời non lấp bể. Việt Nam không nằm trong tay một hay vài cá nhân mà bị cai trị bởi một đảng độc tài toàn diện, không có một kẽ hở nào dành cho sự đóng góp đi ngược với đường lối đảng.

Dưới sự lãnh đạo tập thể của đảng, một vài cá nhân chỉ mang tính đại diện. Thế hệ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập ra đi có thế hệ Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh tiếp nối.  Thế hệ Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh ra đi có thế hệ Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh tiếp nối và cứ thế cho tới Nguyễn Phú Trọng, Tô Lâm. Gần một thế kỷ trôi qua, bao nhiêu triệu người Việt sinh ra, lớn lên và chết trong chiến tranh, nghèo khó vật chất lẫn tinh thần nhưng cơ cấu, hệ thống, thể chế CS còn nguyên vẹn và vẫn chạy đều.

Phần lớn các chế độ độc tài quân sự, dù cá nhân hay phe nhóm, hình thành do kết quả của các cuộc đảo chính, lật đổ các chính phủ tiền nhiệm, nhiều khi cũng rất độc tài. Cơ hội đã đưa một số sĩ quan từ vị trí của những người lính trở thành những nhà chính trị. Ngoài lòng tham quyền lực và địa vị, họ không sở hữu một vốn liếng chính trị và không chuẩn bị đầy đủ để lãnh đạo quốc gia. Tham vọng quyền lực của họ chỉ là tham vọng cá nhân, phe nhóm. Các nước Venezuela, Panama, Grenada ở Nam Mỹ hay Libya, Tunisia, Ai Cập ở Bắc Phi cũng không trải qua cuộc chiến tranh ý thức hệ tàn khốc như Việt Nam.

Chế độ CS thì khác. Cơ chế chính trị CS giống như một động cơ có đủ các bộ phận và chức năng để bảo đảm sự hoạt động của nó. Cứ thế, chỉ cần đủ xăng, đủ dầu, đủ nhớt là máy chạy.  Các thế hệ CS cai trị Việt Nam giống như những người được thừa hưởng đất hương hỏa của ông bà để lại, ngoại trừ làm hề và làm biếng, họ không làm gì cả, chỉ sống và thu hoạch hoa màu. Họ có thể tranh chấp nhau, phê bình nhau, hạ bệ, thanh trừng và bỏ tù nhau nhưng giữa họ vẫn có một mẫu số chung căn bản đã đồng thuận từ khi đưa tay tuyên thệ và một quyền phải được bảo vệ bằng mọi giá, đó là quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Những bộ phận chính giúp bộ máy chạy từ đời này qua đời nọ gồm (1) lý luận, (2) tuyên truyền, (3) khủng bố, và sau này thêm (4) chia chác.

Về lý luận, tư tưởng.  Sau 1990, ở Châu Âu, nhân loại đã bừng tỉnh, các nhà sử học, các nhà thống kê có cơ hội đánh giá những thiệt hại của nền văn minh con người do ý thức hệ Cộng Sản gây ra. Các sử gia cũng chứng minh rằng chuyện giết người không gớm tay của các lãnh tụ Cộng Sản chẳng phải là tình cờ hay ngẫu nhiên, cũng chẳng phải phát xuất từ bản chất hung ác của Stalin hay Mao mà là một đặc điểm mang tính triết học trong hệ tư tưởng Cộng Sản.  Tư tưởng và lý luận CS giúp cho họ ăn ngon và ngủ yên mà không cảm thấy lương tâm cắn rứt sau khi giết người tập thể. 

Về tuyên truyền. Sử gia Richard Overy trong tác phẩm “The Dictators: Hitler’s Germany and Stalin’s Russia” đối chiếu tâm lý người dân Đức thời Hitler và Liên Xô thời Stalin, cho thấy Hitler được dân chúng Đức ủng hộ cao nhất khi Đức chiếm Paris và Stalin được dân chúng Liên Xô ca ngợi nhiều nhất trong thời kỳ Khủng Bố Đỏ (Red Terror) 1936-1937. Khi Stalin chết, hàng triệu dân Liên Xô than khóc tiễn đưa. Theo ghi nhận của tổ chức Sahistory và South African History Online “Khoảng hai ngàn người đã thiệt mạng do bị giẫm đạp trong lễ tang.” Hitler và Stalin là hai tai họa của nhân loại nhưng là “anh hùng” trong nhận thức của người dân dễ bị lung lạc và vận dụng thời đó.

Về khủng bố. Trong thời gian qua, có người kêu gọi đảng CSVN đổi lại danh xưng cũ là đảng Lao động Việt Nam hay đặt một tên nào khác cho dễ nghe hơn là giữ tên CS đã bị văn minh nhân loại đào thải.  Dù biết đó chỉ là bình mới rượu cũ nhưng đảng không làm.  Lý do? “Cộng sản” không chỉ là danh từ mà còn là động từ. Nó hàm chứa các đặc điểm của một cơ chế tàn bạo về hình thức lẫn nội dung, về lý luận lẫn thực tế. Giới cai trị không dại gì thay tên đổi họ vì biết rằng chỉ hai chữ “Cộng sản” thôi đủ làm người dân mất ăn mất ngủ. Hai chữ “Cộng sản” là ngọn roi thép kinh người, một mối lo sợ ám ảnh thường trực trong tâm trí người dân Việt. Do đó, việc duy trì tên đảng CSVN là cách để cảnh cáo nhân dân Việt Nam rằng nhà tù vẫn còn đó, súng đạn cũng còn đó, các biện pháp trừng phạt không thương xót, những cách trả thù ghê rợn vẫn còn đó.

Về quyền lợi phe nhóm. Vai trò của đảng ngày nay không còn trong lý thuyết mà cụ thể dần, không còn chỉ đại diện cho ý thức hệ, cho quan điểm chính trị mà còn đại diện sự giàu sang phú quý mà họ đang hưởng thụ, cho nhà cao cửa rộng mà họ đang sở hữu. Nhìn cách chia chác quyền lợi từ trung ương tới địa phương, từ vùng miền tới từng tỉnh như Hưng Yên, Nghệ An, Hà Tĩnh v.v… để thấy chế độ CS không chỉ tàn phá  tài nguyên của đất nước mà còn chia rẻ dân tộc như thế nào.

Mỹ sẽ cứu Việt Nam?

Có thể. Nhưng cứu Việt Nam là cứu đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải cứu dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách CS. Sở trường của Mỹ không chỉ lật đổ mà còn nuôi dưỡng các chế độ độc tài. Trường hợp Pinochet của Chile, Noriega của Panama, Somoza của Nicaragua, Marcos của Phi Luật Tân là vài thí dụ điển hình.

Trước khi góp phần treo cổ Saddam Hussein, Mỹ đã từng nuôi dưỡng chế độ độc tài của ông ta để làm đối lực với Iran và hợp tác khai thác dầu hỏa với chế độ độc tài này. Mỹ biết Iraq dùng vũ khí hóa học trong chiến tranh chống Iran và tàn sát thường dân Kurds nhưng im lặng. Hai chục năm sau, Mỹ xua quân lật đổ Saddam Hussein cũng không phải vì lòng thương xót số phận đau thương của người dân Iraq mà chỉ vì quyền lợi của Mỹ.

Tổng thống Jimmy Carter được ca ngợi là vị tổng thống nhân từ nhất của Mỹ. Không sai. Nhưng trong buổi đón tiếp Nicolae Ceausescu tại Vườn Hoa Hồng  ngày 12 tháng 4, 1978 ông đã ca ngợi Ceausescu như “một lãnh tụ vĩ đại”. TT Richard Nixon trước đó cũng vậy.  TT Nixon ban cho chế độ độc tài này đặc quyền Tối Huệ Quốc (Most-Favored-Nation) và kêu gọi các ngân hàng Mỹ cho Romania vay với điều kiện rộng rãi. Số tiền nhiều tỉ đô la các ngân hàng Mỹ cho Romania vay lãng phí do quản trị kém và rơi vào tay tham nhũng. Khi nợ đến kỳ trả Ceausescu không đủ tiền nên đã áp dụng một chính sách tem phiếu vô cùng hà khắc trên đời sống của người dân Romania. Mặc dù hai tổ chức Amnesty International và Helsinki Watch công bố những vi phạm nhân quyền trầm trọng tại Romania, Nicolae Ceausescu vẫn được các chính phủ Mỹ từ Richard Nixon đến Jimmy Carter tiếp đón một cách trang trọng qua ba lần viếng thăm Mỹ vào những năm 1970, 1973 và 1978. Sau khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, các tổ chức nhân quyền khám phá khoảng nửa triệu trẻ em thiếu dinh dưỡng bị đối xử một cách bất nhân trong các trại mồ côi do chính sách cưỡng bách sinh đẻ gây ra. Mỹ biết rõ thực trạng đau lòng của đời sống người dân và sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Romania nhưng không đặt ưu tiên. Lý do, Ceausescu phục vụ cho quyền lợi của Mỹ ở Đông Âu và là con cờ cần thiết của Mỹ để đối đầu với Liên Xô.

Tiếng kêu trầm thống của nhân dân Tây Tạng cất lên từ hơn nửa thế kỷ qua nhưng ngoại trừ đôi lời an ủi và dăm ba lần tiếp xúc không chính thức, không một áp lực quốc tế nào cứng rắn đủ để buộc Trung Cộng ngồi vào bàn đàm phán. Tại sao? Tây Tạng nghèo khó và chẳng có tài nguyên nào để thu hút các đại công ty tư bản Mỹ.

Trong ba ngày qua, CSVN không cất cao cùng một giọng phản đối mạnh mẽ như Nga, TC, Iran, Cuba để kết án Mỹ chẳng phải vì chính sách ngoại giao “cây tre” hay “cây sậy” gì mà là để lấy lòng Mỹ. Nhìn về viễn ảnh tranh chấp ngày càng căng thẳng giữa Mỹ-Nhật và khối TC-Nga, CSVN biết nếu rơi vào  thế phải chọn họ sẽ chọn đóng vai trò của một Romania trước 1989 hơn là một Cu Ba sau 2025. 

Về phía Mỹ, họ chẳng dại gì bỏ công sức và có thể cả xương máu để can thiệp vào nội tình Việt Nam. Mỹ chỉ cần CSVN  biết nghe là đủ. Mỹ, ngoài ra, không muốn động tới Việt Nam vì cuộc chiến Việt Nam cho đến nay vẫn còn là mối ám ảnh hãi hùng trong tâm lý người dân Mỹ. TT Ronald Reagan nhắc lại lý do khi can thiệp quân sự vào Grenada ông phải thực hiện hết sức bí mật chỉ vì lúc đó tâm lý người dân Mỹ còn bị ám ảnh bởi “Hậu Hội chứng Việt Nam” (Post-Vietnam syndrome), tức tâm lý do dự và chống đối của dân Mỹ khi chính phủ Mỹ can thiệp quân sự vào một nước khác.  Phải nhiều thế kỷ nữa Hội chứng Việt Nam (Vietnam syndrome) mới hy vọng bớt ám ảnh. (Ronald Reagan, “An American Life”, page 451)

Trong bang giao chính trị thế giới, bạn hay thù nhiều khi chỉ là cách gọi, nhưng cơ hội lại là điều có thật. Các cường quốc tranh giành nhau, chém giết nhau từ Nam Mỹ đến Trung Đông, dù che đậy dưới khẩu hiệu gì, thực chất cũng chỉ vì tài nguyên và an ninh, nhưng đó cũng là cơ hội cho các dân tộc bị trị dưới ách độc tài vận dụng.

Trong bang giao quốc tế sự tương hợp giữa quyền lợi của một dân tộc và quyền lợi của cường quốc vô cùng quan trọng. Một danh sách dài những quốc gia trở nên dân chủ và thịnh vượng nhờ tương hợp  với Mỹ như Nhật Bản, Nam Hàn, Jordan, Columbia và phần lớn Tây Âu.

Tại buổi hội thảo đánh dấu 70 năm Kế Hoạch Marshall ngày 3 tháng 4, 2018, sử gia kiêm chiến lược gia đồng thời cũng là Phụ tá Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ A. Wess Mitchell phát biểu: “Hoa Kỳ có nhiều lựa chọn về cách ứng phó với tình cảnh khó khăn của châu Âu. Nhưng thay vì trừng phạt kẻ thù hay rút lui khỏi các vấn đề của châu Âu như chúng ta đã làm sau năm 1918, các nhà lãnh đạo Mỹ đã chọn ở lại châu Âu và sử dụng nguồn lực quốc gia khổng lồ của mình để nuôi dưỡng và xây dựng lại các xã hội tan vỡ của châu Âu. Như Ngoại trưởng Marshall đã nói vào năm 1947, Hoa Kỳ sẽ ‘làm bất cứ điều gì có thể để hỗ trợ khôi phục  kinh tế bình thường trên thế giới, nếu không sẽ không thể có sự ổn định chính trị hay hòa bình được bảo đảm’.Trong những năm tiếp theo, Hoa Kỳ đã viện trợ hơn 13 tỷ đô la cho các quốc gia châu Âu, tương đương hơn 110 tỷ đô la ngày nay. Tiền chỉ là một phần của khoản đầu tư này. Chúng ta đã xây dựng các căn cứ quân sự thường trực của Hoa Kỳ để gìn giữ hòa bình trong tương lai. Và chúng ta đã xây dựng các thể chế mới, cùng với các đồng minh châu Âu, chúng ta đã thành lập NATO và giúp đỡ việc thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu, sau này trở thành Liên minh châu Âu.” (Assistant Secretary for European and Eurasian Affairs A. Wess Mitchell speaks at the U.S. Diplomacy Center event “Perspectives on the Marshall Plan” on April 3, 2018, in Washington, DC.)

Hẳn nhiên Mỹ cũng lợi rất nhiều qua Kế Hoạch Marshall nhưng quyền lợi của Mỹ tương hợp với quyền lợi của các nước Tây Âu để ngày nay có một Tây Âu dân chủ và thịnh vượng.

Khác với mục đích của các cường quốc, cuộc đấu tranh của người Việt là cuộc đấu tranh cho quyền được sống trong một xã hội tự do, dân chủ và thăng tiến. Người Việt quan tâm hãy tận dụng mọi cơ hội để đạt các mục đích đó. Không một Mỹ, Nhật nào ủng hộ nếu không có một đối lực dù nhỏ trước đảng CS.  Một trong những lý do Đồng Minh không giải phóng Tây Ban Nha khỏi ách độc tài Francisco Franco (1892-1975) cuối Thế Chiến Thứ Hai bởi vì tại Tây Ban Nha lúc đó không có một phong trào dân chủ nào tương đối mạnh hay một chính phủ lưu vong có uy tín để lèo lái Tây Ban Nha sau Franco. Anh và Pháp thắng trận nhưng nền kinh tế gần như phá sản.

Những ai quan tâm đến vận nước Việt Nam thay vì nói theo ý đảng hay ngồi chờ một người nào đó anh minh, sáng suốt cỡ “bậc chí thánh” trong truyện ngắn Linh Nghiệm của Trần Huy Quang đến soi lối dẫn đường, nên gióng lên tiếng nói thay cho những người đang khốn khổ trong tù và đang chịu đựng ngoài tù.

Bớt rao giảng những chuyện xa vời. Người Việt không quan tâm hỏa tinh (Mars) hay mộc tinh (Jupiter) có nước ngọt hay không nhưng quan tâm đồng bào các vùng bị lũ lụt ở Khánh Hòa, Gia Lai, Lâm Đồng hôm nay có đủ nước ngọt uống chưa.

Dân chủ không phải là khái niệm trong sách vở hay lý thuyết mà là quyền có thể sờ mó, nắm bắt được như hạt gạo, chén cơm, ổ bánh mì, công ăn việc làm, lá phiếu bầu của con người đang sống hôm nay. Tuổi trẻ Nepal đã đứng lên.  Tuổi trẻ Bangladesh đã đứng lên. Tuổi trẻ Iran đang đứng lên. Tuổi trẻ Cuba sẽ sớm đứng lên. Tuổi trẻ Việt Nam cũng thế, có thể còn khá lâu, nhưng chỉ tự đứng lên trước mới thay đổi được vận mệnh của chính mình.

Trần Trung Đạo


 

GỬI NHAU MỘT NỤ CƯỜI

Xuyên Sơn

Tô Đông Pha là một thi hào hàng đầu Trung Hoa đời nhà Tống.

Ông có một địch thủ mà cũng là bạn tâm giao là tể tướng Vương An Thạch, một chính khách lỗi lạc.

Có một giai thoại văn chương giữa hai người, nhưng câu chuyện có nhiều dị bản, tôi chọn mẩu chuyện đơn giản nhất trong số đó.

Ngày kia, Tô Đông Pha đến thăm bạn và tình cờ đọc được hai câu thơ của Vương An Thạch:

Minh nguyệt sơn đầu khiếu,

hoàng khuyển ngoạ hoa tâm

(trăng sáng hót trên đầu núi,

con chó vàng nằm ngủ trong đóa hoa ).

Tô Đông Pha bật cười.

Ý tứ ngớ ngẩn đến thế thì thôi.

Ánh trăng làm sao mà hót như chim, đóa hoa nào đủ to để con chó có thể nằm trong đó !

Trong chỗ thân tình, họ Tô cầm bút sửa ngay hai chữ trong bài thơ của bạn:

Minh nguyệt sơn dầu CHIẾU

Hoàng khuyển ngoạ hoa ÂM

(Trăng sáng soi trên đầu núi

Con chó vàng nằm dưới bóng một cội hoa)

Chuyện kể rằng họ Vương khi nhìn thấy hai chữ sửa của bạn thì chỉ mỉm cười.

Nhiều năm sau, trên bước đường lưu đày biếm trích, phải đi qua bao nhiêu miền đất xa lạ, Tô Đông Pha có dịp biết được một loại sâu tên Hoàng Khuyển và một giống chim tên Minh Nguyệt.

Ông bàng hoàng nhớ lại chuyện mình sửa thơ bạn và nụ cười thâm trầm của ông bạn họ Vương.

Họ Tô vò tóc.

Trời ạ, mình đã đem cái không biết mà sửa cái biết của người ta.

“Con chim minh nguyệt hót trên đầu núi, con sâu hoàng khuyển nằm trong lòng một đóa hoa” là chuẩn quá rồi.

Rõ bố khỉ, trách sao hồi ấy ông bạn chỉ cười, nụ cười kiểu chửi bố người ta có con dốt.

Nhưng rồi với hào khí một kẻ sĩ,

Tô Đông Pha viết thư xin lỗi bạn.

Ông họ Vương lại cười, nụ cười của chục năm về trước.

Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó câu này:

Lời chê hay tiếng khen không đáng lưu tâm bằng kẻ đã khen chê.

Họ là ai và mục đích là gì.

Phật dạy nhất thiết giai không, tôi tin tuyệt đối, nhưng lòng phàm vẫn cứ sợ nụ cười của Vương An Thạch.

Tôi cứ sợ có một ngày tôi lỡ dại đem cái dốt của mình mà phê phán ai đó khi họ chỉ lặng lẽ mỉm cười, dù là để cảm thông hay tha thứ.

Quyển từ điển Pāli mới ra, chưa kịp được ghi nhận, đã có ngay một đám cư sĩ và nhà sư nhanh nhẩu bắt chước cái lỗi của Tô Đông Pha.

Thôi thì quà xuân chỉ là một nụ cười gửi nhau.

Nụ cười của họ Vương ngày ấy !

Toại Khanh


 

NGƯỜI NGHÈO NHẤT LẠI LÀ NGƯỜI CHO ĐI NHIỀU NHẤT

Bà goá nghèo sống ở cuối xóm, trong căn nhà lợp tôn cũ mỗi khi mưa xuống lại kêu lộp bộp như tiếng thở dài kéo dài cả đêm. Người ta quen gọi bà là bà Tư goá, không phải vì thân, mà vì chẳng ai nhớ nổi tên thật của bà nữa.

Chồng bà mất sớm trong một lần đi phụ hồ xa nhà. Hôm nhận tin, bà không khóc. Chỉ lặng lẽ ngồi bên bếp tro nguội, tay bóp chặt tờ giấy báo tử đến nhàu nát. Từ hôm đó, bà sống cùng cái nghèo và sự im lặng.

Ban ngày, bà nhặt ve chai, ai thuê gì làm nấy. Ban tối, bà ra sau nhà thờ quét lá, lau ghế, việc không ai giao nhưng bà cứ làm. Có người bảo:

– Bà làm vậy có được trả công đâu?

Bà cười, nụ cười hiền đến lạ:

– Không sao, Chúa trả.

Một lần, giáo xứ quyên góp giúp người nghèo. Ai cũng mang đến phong bì dày. Đến lượt bà, bà đặt lên bàn hai đồng tiền lẻ, gói cẩn thận trong mảnh giấy báo. Có người ái ngại, có người quay đi. Bà cúi đầu rất thấp, như sợ hai đồng tiền ấy làm phiền người khác.

Tối đó, bà ngồi một mình trong nhà thờ tối om. Bà thì thầm:

– Con không có gì nhiều, nhưng con cho hết những gì con có hôm nay.

Ít lâu sau, bà đổ bệnh nặng. Khi cha xứ đến thăm, bà xin lỗi vì không còn sức quét sân nhà thờ nữa. Cha nắm tay bà, nghẹn ngào:

– Bà đã làm nhiều hơn những gì người ta nhìn thấy rồi.

Ngày bà mất, trời mưa rất to. Nhưng sáng hôm sau, sân nhà thờ sạch lạ thường, không một chiếc lá rơi. Người ta bảo nhau: có những con người nghèo đến mức chẳng có gì để lại, ngoài một đời yêu thương đủ làm sáng cả một nơi.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

MẸ – NGƯỜI ĐÀN BÀ BỒ NÔNG

Những Câu Chuyện Thú VịChi Nguyen

Người ta kể rằng, có một loài chim tên là bồ nông.

Khi không tìm được thức ăn cho con, nó không bỏ đi. Không bay đi tìm cuộc sống khác, cũng chẳng quay lưng bỏ mặc. Nó quay về tổ, dùng chính chiếc mỏ của mình rạch vào ngực, để máu và thịt mình nhỏ ra — làm thức ăn cho đàn con non đang run rẩy trong tổ.

Nó chết dần…

Nhưng dòng máu ấy, chút thịt ấy, đủ nuôi con thêm vài tuần, đủ để chúng mạnh lên, mọc cánh, và tự bay vào đời.

Tôi đã đọc câu chuyện ấy từ lâu.

Nhưng càng lớn, càng va vấp, tôi càng thấy… mẹ cũng chính là người đàn bà bồ nông ấy.

Mẹ không xé ngực mình ra thật, nhưng mỗi ngày mẹ vẫn xé một chút thanh xuân, xé những giấc ngủ, xé sức khỏe, xé cả ước mơ — để nuôi con trưởng thành.

Mẹ nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn vui, nhịn cả những thứ nhỏ nhặt mà mẹ từng thích, chỉ để con có thêm một chút cơ hội, thêm một niềm vui nhỏ bé.

Mẹ không bao giờ nói ra, cũng chẳng cần ai biết ơn.

Nhưng trong từng nếp nhăn trên gương mặt, trong từng vết chai sạn nơi bàn tay, trong từng lần ho khẽ… đều có dấu vết của những năm tháng mẹ đã xé chính mình ra để nuôi con lớn.

Con lớn lên, con đi xa, và đôi khi, con quên mất.

Con bận rộn với cuộc sống, với công việc, với những mối quan hệ mới.

Con ít gọi điện hơn, ít về nhà hơn.

Con nghĩ mẹ hiểu, nghĩ mẹ sẽ chẳng sao đâu.

Nhưng mẹ vẫn ngồi đó — trong căn nhà nhỏ, với chiếc ghế quen, cái nhìn xa xăm qua khung cửa, lặng lẽ đợi tiếng chân con.

Không ai thấy những vết thương không máu mẹ để lại trong lòng mình, những vết thương không rớm đỏ, nhưng cứ nhói lên mỗi khi con buồn, con mệt, con tổn thương.

Mẹ biết. Và mẹ chọn lặng lẽ chịu đựng.

Đôi khi, mẹ còn lặng lẽ chết đi một chút, chỉ để con được sống thêm một chút yên bình.

Người ta nói, trái tim mẹ là món ăn không bao giờ cạn.

Con càng lớn, mẹ càng nhỏ dần.

Con càng bay xa, bóng mẹ càng gầy.

Con càng trưởng thành, mẹ càng thu mình lại, chỉ đứng đó, dõi theo…

Tự hào. Nhưng cũng nghẹn ngào.

Bởi có một điều không bao giờ thay đổi –

Mẹ luôn sẵn sàng hy sinh cả cuộc đời, miễn con được hạnh phúc.

Nếu hôm nay bạn vẫn còn mẹ, xin đừng đợi đến lúc “đủ đầy” mới về.

Đừng đợi có tiền mới mua quà.

Đừng đợi đến khi mẹ không còn nghe rõ mới nói “Con thương mẹ”.

Đừng đợi đến khi đôi bàn tay ấy run run, chẳng còn đủ sức nấu bữa cơm quen thuộc, đến khi dáng người ấy lụi dần giữa những cơn gió già nua… mới vội vã tìm về.

Vì tình mẹ là như thế —

Có thể chết dần, miễn là con còn sống, con còn bình yên.

Nhưng xin đừng để mẹ phải chết trong lặng lẽ.

Đừng để mẹ phải đi qua những năm tháng cuối đời trong cô đơn.

Hãy ôm mẹ. Dù chỉ một lần thật chặt.

Hãy gọi điện cho mẹ, chỉ để nói “Con nhớ mẹ”.

Hãy về nhà, chỉ để ngồi ăn cùng mẹ một bữa cơm đơn giản.

Hãy để mẹ thấy, những hy sinh của mẹ vẫn còn ý nghĩa — không phải vì con thành công, mà vì con vẫn nhớ, vẫn thương, vẫn quay về.

Vì cuối cùng…Mẹ không cần gì ngoài sự bình yên trong lòng con. Và đôi khi, chỉ một cái ôm thôi, cũng đủ để mẹ sống thêm một đời nữa.

Bài và ảnh — Thảo Hita – Sưu tầm