Battel là một sĩ quan Wehrmacht, tức quân đội chính quy của Đức.

My Lan Pham

Vào tháng 7 năm 1942, lực lượng SS đã sẵn sàng “thanh lý” khu ổ chuột Do Thái. Những chiếc xe tải đang chờ để chở đàn ông, phụ nữ và trẻ em đến các trại tử thần. Nhưng họ gặp phải một chướng ngại mà không bao giờ ngờ tới: một luật sư quân đội 51 tuổi tên là Albert Battel.

Battel là một sĩ quan Wehrmacht, tức quân đội chính quy của Đức. Ông không phải kẻ nổi loạn hay một thanh niên bốc đồng. Ông là một người đàn ông trung niên từng hành nghề luật sư trước chiến tranh. Nhưng khi nhìn thấy đoàn xe SS lao về phía cây cầu bắc qua sông San , lối duy nhất dẫn vào khu ổ chuột ông quyết định rằng mình đã chứng kiến quá đủ.

Battel ra lệnh hạ thanh chắn cây cầu xuống. Khi viên chỉ huy SS dừng xe lại và yêu cầu được đi qua, Battel không hề nao núng. Ông nói rằng họ không được phép vào.

Viên sĩ quan SS chết lặng. Hắn đe dọa Battel sẽ phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng, nhưng Battel vẫn không lùi bước. Thay vào đó, ông đánh một quân bài có thể khiến mình bị xử bắn ngay tại chỗ. Ông quay sang binh lính của mình và đưa ra một mệnh lệnh lạnh người.

“Nếu chúng cố vượt qua cây cầu này, hãy nổ súng,” ông nói với các xạ thủ súng máy.

Đó là khoảnh khắc im lặng hoàn toàn và đầy kinh hoàng. Những người lính Đức giờ đây đang chĩa súng thẳng vào cảnh sát Đức. Viên chỉ huy SS nhận ra Battel hoàn toàn nghiêm túc nên cuối cùng đã chùn bước. Hắn ra lệnh cho đoàn xe quay đầu rời đi.

Nhưng Battel biết thời gian không còn nhiều. SS sẽ quay lại với thêm quân và mệnh lệnh cứng rắn hơn. Ông không lãng phí dù chỉ một giây. Ông đưa xe quân đội của mình chạy thẳng vào khu ổ chuột Do Thái.

Ông không đến đó để bắt người. Ông đến để cứu họ. Ông gõ cửa từng nhà và bảo những gia đình đang hoảng loạn hãy mang theo bất cứ thứ gì có thể. Dựa vào một kẽ hở đầy khôn khéo, ông tuyên bố những người này là “lao động thiết yếu” cho nỗ lực chiến tranh.

“Lên xe ngay! Nhanh lên!” ông thúc giục họ. Ông đã đưa được gần 100 gia đình lên xe. Sau đó ông chở họ ra khỏi khu ổ chuột và giấu họ trong doanh trại quân đội địa phương dưới sự bảo vệ của quân đội.

Tin tức về hành động chống đối này truyền thẳng đến cấp cao nhất. Heinrich Himmler, kẻ đứng đầu SS, vô cùng tức giận. Hắn đích thân xem xét vụ việc và ghi một dòng đen tối vào hồ sơ của Battel. Hắn hứa rằng ngay khi chiến tranh kết thúc, Battel sẽ bị bắt, bị khai trừ khỏi đảng và “xử lý thích đáng”.

Sau đó Battel bị buộc rời quân ngũ vì vấn đề tim mạch. Khi chiến tranh kết thúc, ông sống một cuộc đời lặng lẽ và bị lãng quên ở Tây Đức rồi qua đời năm 1952. Ông chưa bao giờ khoe khoang. Ông không viết sách. Ông chỉ quay lại làm luật sư.

Nhưng những gia đình mà ông cứu sống thì không bao giờ quên. Năm 1981, ông được Yad Vashem truy tặng danh hiệu Yad Vashem “Righteous Among the Nations” “Người công chính giữa các dân tộc”.

Trong một thế giới chìm trong bóng tối hoàn toàn, lương tâm chính là ánh sáng duy nhất còn lại. Chúng ta thường nói “Tôi chỉ làm theo mệnh lệnh” để biện minh cho sự im lặng của mình, nhưng Albert Battel đã chứng minh rằng ngay cả trong một hệ thống được xây dựng trên nỗi sợ hãi, con người vẫn luôn có quyền lựa chọn.

Làm điều đúng đắn hiếm khi dễ dàng, và thường rất nguy hiểm, nhưng đó cũng là điều duy nhất giữ cho chúng ta còn là con người. 


 

Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí, bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí…

Xuyên Sơn

 Nhiều bạn hỏi mình có thật là thời VNCH học sinh đi học miễn phí,

bệnh nhân đi bệnh viện miễn phí (và còn nhiều thứ miễn phí khác).

Theo tài liệu mình nghiên cứu thì:

– Sau chi phí cho quân lực và vũ khí (chiếm khoảng 90% tổng chi phí), Hoa Kỳ chú trọng vào việc viện trợ giáo dục, y tế, đường sá và nhà cửa thời VNCH vì lý do họ muốn thắng “hearts and minds” (tâm và trí) của người Việt và cả những người chống đối. Ngoài ra, nguồn viện trợ dân sự cho giáo dục và y tế đến từ rất nhiều cơ quan thiện nguyện không riêng gì ở Hoa Kỳ mà nhiều quốc gia khác.

– VNCH cũng cố gắng đẩy mạnh giáo dục và y tế cho người dân VNCH, ngoài những chi phí phải đối phó với những hậu quả của chiến tranh.

Đặc biệt là chi phí cho dân tản cư, dân bị pháo kích, bị mất nhà cửa,

dân bỏ ruộng vườn, đất đai chạy về thành phố hay những nơi an toàn hơn.

———————

Theo bố mình (người đã từng là viên chức hành chánh cao cấp) thời VNCH:

– Thời gian đầu, Hoa Kỳ và VNCH đẩy mạnh cả giáo dục, y tế, nhà cửa và cầu cống vì họ tin rằng nếu giáo dục tốt, sức khoẻ tốt và môi trường tốt thì đó là kết quả chứng minh cho “phía bên kia” thấy được thiện chí và sự tốt đẹp của phía VNCH.

– Thời gian sau, chi phí cho cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống) giảm sút vì Việt Cộng phá hoại nhiều quá (đấp mô, đặt mìn, phá cầu, phá đường rày tàu lửa…v.v..).

Tuy nhiên, vẫn duy trì ngân sách cho giáo dục, học đường và y tế.

Càng về sau, gánh nặng càng nặng vì chiến tranh leo thang, đồng tiền mất giá, dân di cư càng lúc càng đông và càng tạo gánh nặng rất lớn cho các thành phố trong khi nông thôn bị phía Việt Cộng o ép hoặc bị bỏ trống.

———————-

Đó là lý do tại sao 20 năm VNCH đã tạo ra những con người, tác phẩm, công trình và giáo dục mà cho đến ngày giờ này vẫn còn tiếp tục tồn tại và được nhớ tới.

Phía cộng sản thắng không phải họ thắng trên mặt trận vũ trang (đánh lén, du kích, chính quy) mà họ thắng trên mặt trận phá hoại. Chính họ đưa ra chính sách “lấy nông thôn bao vây thành thị”.

Nói thêm, Sau 1975, ông Trần Bạch Đằng (Trương Gia Triều), đã viết rằng VNCH “có hàng triệu đĩ điếm, ma cô và xì ke”.

Không may, những điều ông viết một cách phóng đại và vô trách nhiệm đã được nhiều cuốn sách hoặc tài liệu nói về Việt Nam của các tác giả tây phương đã dùng lại.

Ông Trần Bạch Đằng chưa bao giờ công nhận rằng VNCH đã cố gắng kiến tạo một xã hội nhân bản, khai phóng, đã đẩy mạnh giáo dục, sáng tạo và phát triển trí tuệ.

Cái gọi là “tệ nạn xã hội” mà ông phóng đại, tận cùng là hậu quả của cuộc chiến đẫm máu mà cộng sản cố tạo ra, cố duy trì.

Cuộc chiến đó đã khiến cho vô vàn những gia đình tan nát, con không cha, vợ không chồng, để rồi họ phải lâm vào cảnh “đĩ điếm và chích choát”.

Thật ra, giáo dục miễn phí và y tế miễn phí là “đơn vị đong đo” mang tính kinh tế.

Nói thẳng ra, một thứ “đong đo” hạn hẹp và thô bỉ.

Giá trị kiến tạo của một xã hội không nằm ở chỗ “miễn phí” mà ở chỗ họ muốn tạo ra cái đẹp, ngay cả trong thời chiến tranh đẫm máu.

Còn phía bên kia, “giết, giết nữa bàn tay không phút nghĩ”.

Đó nên là “đơn vị” để đánh giá.

—nguồn Hoang Ngoc  Dieu

====================

Cô giáo Việt Nam Cộng hòa và Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon.

Múa Voi

Trông kìa con voi, nó đứng rung rinh.

Nghiêng mình trông đám nhện đang vò tơ.

Anh chàng voi ta thích chí mê tơi (mê ly).

Bằng (Liền) mời anh khác từ xa vào chơi . . .

Kìa nhìn xem trên kia.

Có cái con chi to ghê.

Trông to lớn như.

Marines (Vietnam) Sep 8, 1965 – by Paul Schutzer.

Cựu Phó TT Nixon viếng thăm một lớp học ở miền Trung ngày 3-9-1965.

Ông làm Phó TT Mỹ 1953-1961 và Tổng Thống Mỹ 1969-1974.

Richard Nixon (1913-1994) là Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ và là vị TT duy nhất của nước Mỹ phải từ chức.

Richard Nixon visiting children in Vietnam, 1965. Photo by Paul Schutzer.

Nguồn fb Quan Nguyen Thanh

(Dân Saigon Xưa) 


 

HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG-Song Chi

Song Chi

 HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG

Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông, chợt nhớ lại khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức, Giáo sư, Tiến sĩ…mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có một GHPGVNTN tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài cái GHPGVN mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo “quốc doanh”.

Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.

Còn đối với tất cả những ai từng biết và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một thi sĩ…thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng mỗi một người như vậy ra đi, là mất luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.

Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật…Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương…Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên… Sẽ không có những tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định… Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói… Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v…Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.

Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách báo truyện nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím…chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch–ta, lý thuyết cách mạng nọ kia… Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông-Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua. 

Xã hội VN bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng; rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: thiếu sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính khai phóng…Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm. Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn, và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền, chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy tư, và lắng đọng? 


 

ĐẰNG SAU ĐÔI BÀN TAY TRẮNG CỦA MẸ TÔI LÀ CẢ MỘT KHO TÀNG – Lm. Anmai, CSsR 

Anmai CSsR 

Dự liệu là sẽ không viết gì trong ngày của Mẹ, nhưng …

Có những người ra đi khỏi cuộc đời này mà không để lại nhà cao cửa rộng, không để lại ruộng vườn mênh mông, không để lại sổ tiết kiệm, vàng bạc, của cải hay một gia sản vật chất nào đáng kể. Ngày họ nằm xuống, nhìn lại, dường như đôi bàn tay vẫn trắng. Trắng như lúc sinh ra. Trắng như một đời không tích góp được gì cho riêng mình. Trắng như thể cuộc đời chỉ là một cuộc đi qua âm thầm, lặng lẽ, không ồn ào, không danh phận, không có gì để người đời gọi là thành công.

Mẹ tôi cũng vậy.

Mẹ tôi không phải là người giàu có. Mẹ không có một cuộc đời dư dả để muốn gì được nấy, không có những năm tháng sung túc để con cái lớn lên trong nhung lụa, không có điều kiện để ban cho con cái mọi thứ theo kiểu người đời vẫn mơ ước. Mẹ chỉ đủ nuôi gia đình. Chữ “đủ” ấy nghe thì nhẹ, nhưng trong đời sống thật lại là cả một gánh nặng. Đủ cơm ăn mỗi ngày. Đủ áo mặc qua mùa. Đủ cho con đến trường. Đủ để gia đình không tan tác. Đủ để những đứa con có một mái nhà trở về. Đủ để giữa những tháng ngày chật vật, trong nhà vẫn còn một chút bình an, một chút tiếng cười, một chút hơi ấm, một chút niềm tin.

Cái “đủ” của Mẹ không phải tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng mồ hôi, bằng thức khuya dậy sớm, bằng những bữa ăn Mẹ nhường phần ngon cho con, bằng những lần Mẹ nói “Mẹ không đói” khi trong lòng chắc cũng cồn cào, bằng những khi Mẹ giấu nỗi lo sau một nụ cười hiền, bằng những lúc Mẹ xoay xở giữa thiếu trước hụt sau mà vẫn không để con cái thấy mình quá khổ. Có những hy sinh của Mẹ không bao giờ được kể thành lời. Có những giọt nước mắt của Mẹ không ai nhìn thấy. Có những đêm Mẹ trằn trọc, chỉ có Chúa biết. Có những vất vả của Mẹ lặng lẽ đến độ chính con cái nhiều khi cũng vô tâm không nhận ra.

Khi Mẹ nằm xuống, Mẹ còn đôi bàn tay trắng.

Nhưng càng nghĩ, tôi càng thấy: đôi bàn tay trắng ấy không hề nghèo. Đằng sau đôi bàn tay trắng ấy là cả một kho tàng cho gia đình chúng tôi. Một kho tàng không đếm được bằng tiền. Một kho tàng không đo được bằng đất đai. Một kho tàng không cất trong tủ, không gửi ở ngân hàng, không ghi trong giấy tờ sở hữu. Đó là kho tàng của tấm lòng. Kho tàng của đức tin. Kho tàng của nhân hậu. Kho tàng của sự hy sinh. Kho tàng của một đời biết sống cho người khác.

Đôi bàn tay trắng của Mẹ là đôi bàn tay đã bồng bế con từ những ngày thơ dại. Đôi bàn tay ấy đã nấu từng bữa cơm, vá từng manh áo, gom từng đồng bạc lẻ, xếp từng quyển vở cho con đến trường. Đôi bàn tay ấy đã chạm vào trán con khi con sốt, đã vỗ về khi con khóc, đã nâng đỡ khi con vấp ngã, đã chắp lại trong lời kinh mỗi tối để gửi gia đình cho Chúa. Đôi bàn tay ấy có thể không cầm vàng bạc, nhưng đã cầm cả tuổi thơ của con. Đôi bàn tay ấy có thể không ký những bản hợp đồng lớn, nhưng đã ký vào đời con một dấu ấn không bao giờ phai: dấu ấn của tình mẫu tử.

Đàng sau bàn tay trắng là tấm lòng.

Mẹ nghèo, nhưng lòng Mẹ không nghèo. Có những người giàu của cải nhưng trái tim chật hẹp. Có những người dư dả tiền bạc nhưng không dư được một chút cảm thông. Có những người có rất nhiều mà vẫn sợ mất, vẫn bo bo giữ lấy, vẫn không dám mở tay. Còn Mẹ, Mẹ không có nhiều, nhưng lòng Mẹ rộng. Mẹ không dư giả, nhưng Mẹ biết thương. Mẹ không quyền thế, nhưng Mẹ biết giúp. Mẹ không nói những lời lớn lao về bác ái, nhưng đời Mẹ là một bài học bác ái âm thầm.

Thời bao cấp, đời sống còn nhiều khó khăn. Bao gia đình từ nơi này nơi khác trở về Sài Gòn lập nghiệp, chật vật với cơm áo, với chỗ ở, với giấy tờ, với hộ khẩu, với đủ thứ thủ tục làm con người ta mệt mỏi và nhiều khi thấy bế tắc. Người lớn thì lo kiếm sống, còn trẻ con lại mắc kẹt vì không nhập học được. Một đứa trẻ không được đến trường đâu chỉ là chuyện thiếu một lớp học. Đó là cả một cánh cửa tương lai bị khép lại. Đó là nỗi lo của cha mẹ. Đó là sự thiệt thòi của một đời người nếu không có ai đưa tay giúp.

Vậy mà Mẹ đã không làm ngơ.

Mẹ không phải cán bộ lớn. Mẹ không có chức quyền. Mẹ không có tiền để giải quyết mọi chuyện. Mẹ chỉ có một tấm lòng. Và từ tấm lòng ấy, Mẹ đi tìm người có thể giúp. Mẹ nhờ chỗ này, hỏi chỗ kia, gõ cửa người này, năn nỉ người khác, kiên trì đến mức có lẽ nhiều người phải cảm động. Mẹ không làm việc ấy cho danh. Mẹ không ghi sổ công ơn. Mẹ không mong ai trả lại. Mẹ chỉ nghĩ đơn sơ: người ta khó, mình giúp được gì thì giúp; trẻ con cần đến trường, thì phải tìm cách cho chúng được đi học.

Nhờ những bước chân âm thầm ấy của Mẹ, có gia đình dần hội nhập được với cuộc sống mới. Nhờ những lời nhờ vả chân thành ấy của Mẹ, có đứa trẻ được vào lớp, được cầm sách, được mặc áo học trò, được có một tương lai sáng hơn. Có thể sau này những đứa trẻ ấy lớn lên, đi làm, lập gia đình, tản mác khắp nơi, không còn nhớ rõ ai đã giúp mình ngày xưa. Nhưng Chúa nhớ. Trời nhớ. Và gia đình chúng tôi nhớ. Nhớ rằng Mẹ đã từng nghèo mà không khép lòng. Nhớ rằng Mẹ đã từng khó mà không vô cảm. Nhớ rằng Mẹ đã từng thiếu mà vẫn biết cho đi.

Nghèo, nhưng tấm lòng thì bao la.

Cái bao la của lòng Mẹ không nằm ở những chuyện phi thường. Nó nằm trong những việc rất thường. Một lời hỏi han. Một bữa cơm chia thêm. Một lần đi nhờ giúp giấy tờ. Một lần đứng ra nói đỡ. Một lần âm thầm cầu nguyện cho người khác. Một lần không nỡ quay lưng trước nỗi khổ của ai đó. Tấm lòng của Mẹ giống như ngọn đèn nhỏ trong căn nhà nghèo. Ánh sáng không chói lòa, nhưng đủ làm ấm. Không rực rỡ như sân khấu, nhưng đủ để ai bước vào cũng thấy có tình người.

Đàng sau bàn tay trắng là đời sống đức tin.

Có lẽ đây mới là gia sản lớn nhất Mẹ để lại. Đức tin của Mẹ không phải là một lý thuyết. Đức tin của Mẹ không nằm trên môi miệng bằng những câu nói đạo đức cho hay. Đức tin của Mẹ được thắp lên trong đời sống thường ngày. Trong gian khó, Mẹ tin. Trong thiếu thốn, Mẹ cậy trông. Trong vất vả, Mẹ cầu nguyện. Trong lo âu, Mẹ phó thác. Trong những lúc không còn biết bám vào đâu, Mẹ bám vào Chúa. Mẹ sống đạo không ồn ào, nhưng bền bỉ. Không khoe khoang, nhưng sâu. Không lý luận nhiều, nhưng thật.

Đời sống đức tin ấy nuôi chúng tôi lớn lên. Có khi con cái chưa hiểu hết kinh nguyện, nhưng đã nhìn thấy Mẹ chắp tay. Có khi con cái chưa hiểu thần học là gì, nhưng đã cảm được lòng Mẹ tin vào Chúa. Có khi con cái chưa hiểu hết ý nghĩa của hy sinh, nhưng đã thấy Mẹ sống hy sinh mỗi ngày. Có khi con cái chưa biết thế nào là phó thác, nhưng đã nghe Mẹ nói: “Thôi, để Chúa lo.” Một câu đơn sơ thôi, nhưng chứa cả một linh đạo. Một câu nói bình dân thôi, nhưng có thể nâng đỡ cả một gia đình qua những ngày giông gió.

Đức tin của Mẹ không làm cho Mẹ tránh khỏi nghèo khó, nhưng giúp Mẹ không bị nghèo khó nuốt chửng. Đức tin của Mẹ không làm cho Mẹ hết lo âu, nhưng giúp Mẹ không tuyệt vọng. Đức tin của Mẹ không biến cuộc đời thành con đường bằng phẳng, nhưng giúp Mẹ bước qua sỏi đá với trái tim hiền lành. Đức tin ấy không chỉ giữ Mẹ, mà còn giữ cả gia đình. Nhờ đức tin của Mẹ, trong nhà có một trụ cột vô hình. Nhờ lời cầu nguyện của Mẹ, những đứa con được che chở nhiều hơn chúng tưởng. Nhờ nước mắt của Mẹ trước mặt Chúa, có lẽ nhiều tai ương đã đi qua mà chúng tôi không hay biết.

Người ta vẫn nói: “Con trai nhờ đức Mẹ.”

Tôi không biết phải giải thích thế nào cho hết. Nhưng hình như đúng là như vậy. Có những điều trong đời người con không tự mình làm nên. Có những ơn lành không phải do tài năng của con. Có những cánh cửa mở ra không phải vì con xứng đáng. Có những lần thoát nguy không phải vì con khôn ngoan. Có những phúc lành đi theo cuộc đời con như bóng mát âm thầm, mà càng lớn tuổi con càng hiểu: đó là nhờ đức của Mẹ, nhờ lời cầu nguyện của Mẹ, nhờ những việc lành Mẹ đã gieo, nhờ lòng nhân hậu Mẹ đã sống.

Mẹ có tấm lòng, và con trai của Mẹ được nhờ tấm lòng đó.

Câu ấy càng nghĩ càng thấm. Một người mẹ sống hiền lành, nhân hậu, quảng đại, đạo đức, thì không chỉ đời mẹ được Chúa thương, mà con cái cũng được hưởng phúc. Phúc ấy không phải lúc nào cũng là tiền bạc. Phúc ấy có khi là gặp người tốt đúng lúc. Phúc ấy có khi là được nâng đỡ khi yếu đuối. Phúc ấy có khi là được tha thứ khi lầm lỗi. Phúc ấy có khi là giữa cơn khốn khó vẫn tìm được lối ra. Phúc ấy có khi là trái tim con cái dù đi xa vẫn còn biết đường quay về với Chúa.

Có lẽ trong kho tàng Mẹ để lại, quý nhất là Mẹ đã dạy con cái biết cho đi.

Mẹ không giảng nhiều về lòng quảng đại, nhưng Mẹ sống quảng đại. Mẹ không viết sách về bác ái, nhưng đời Mẹ là một trang sách mở. Mẹ không nói những bài diễn văn về phục vụ, nhưng Mẹ đã phục vụ bằng đôi chân đi tìm người giúp, bằng đôi tay làm việc, bằng miệng nói lời bênh vực, bằng trái tim chạnh thương trước khổ đau của người khác. Con cái nhìn Mẹ mà học. Có thể học chậm, học vụng, học chưa trọn, nhưng hạt giống đã rơi vào lòng.

Và rồi lạ lắm: khi có, các con của Mẹ lại cứ cho đi. Cho đi rồi lại được nhận lãnh. Cho đi tưởng là mất, mà hóa ra lại được thêm. Cho đi một chút tình, nhận lại nhiều bình an. Cho đi một chút thời giờ, nhận lại nhiều ý nghĩa. Cho đi một chút công sức, nhận lại nhiều niềm vui. Cho đi một chút của cải, nhận lại cảm giác lòng mình không bị tiền bạc làm chủ. Cho đi không phải để được trả lại, nhưng càng cho đi càng thấy đời mình được Chúa lấp đầy.

Đó cũng là bài học của Tin Mừng. Hạt lúa mì phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai biết trao ban thì lại tìm thấy sự sống thật. Mẹ tôi có thể không diễn tả được bằng những ngôn từ thần học, nhưng Mẹ đã sống điều ấy rất tự nhiên. Mẹ như hạt lúa âm thầm. Mẹ mục nát trong hy sinh. Mẹ tiêu hao trong phục vụ. Mẹ nhỏ bé trong mắt đời. Nhưng từ đời Mẹ, những bông hạt mọc lên: con cái được lớn khôn, gia đình được gìn giữ, người nghèo được giúp đỡ, trẻ em được đến trường, niềm tin được trao truyền, lòng nhân hậu được nối tiếp.

Nói về Mẹ, viết về Mẹ, làm sao nói hết, viết hết?

Với một kẻ phàm phu tục tử như tôi, ngôn từ nhiều khi trở nên bất lực. Có những điều càng sâu càng khó nói. Có những yêu thương càng lớn càng không thể diễn tả trọn. Có những hy sinh khi còn sống ta không thấy hết, đến khi người khuất rồi mới giật mình nhận ra. Ngày xưa, có thể ta quen với sự hiện diện của Mẹ đến mức tưởng đó là điều tự nhiên. Tự nhiên là có cơm. Tự nhiên là có nhà. Tự nhiên là có người lo. Tự nhiên là có người đợi. Tự nhiên là có người cầu nguyện. Tự nhiên là có người nhớ từng đứa con. Nhưng đến khi Mẹ không còn nữa, ta mới hiểu: không có gì là tự nhiên cả. Tất cả đều là tình thương. Tất cả đều là hy sinh. Tất cả đều là ân huệ.

Có những ngày muốn gọi một tiếng “Mẹ ơi” mà không còn nghe tiếng Mẹ trả lời. Có những lúc gặp chuyện vui, muốn kể cho Mẹ nghe, nhưng chỉ còn biết thầm thĩ trong lòng. Có những khi mệt mỏi, muốn trở về bên Mẹ như ngày xưa, nhưng căn nhà đã thiếu bóng dáng ấy. Có những bữa cơm, nhìn một món ăn quen, tự nhiên nhớ bàn tay Mẹ. Có những buổi chiều, nghe tiếng chuông nhà thờ, tự nhiên nhớ dáng Mẹ cầu kinh. Có những đêm, lòng trống vắng, tự nhiên thấy đời mình nghèo đi vì mất một người không ai thay thế được.

Nhưng đức tin dạy tôi rằng Mẹ không mất. Mẹ chỉ đi trước. Mẹ đã trở về với Chúa, Đấng mà Mẹ tin tưởng suốt đời. Đôi bàn tay trắng của Mẹ ngày xưa, giờ đây tôi tin đã được Chúa đón nhận. Bàn tay ấy trắng vì không giữ gì cho riêng mình. Bàn tay ấy trắng vì đã cho đi quá nhiều. Bàn tay ấy trắng vì đã dâng hết một đời. Và trước mặt Chúa, đôi bàn tay trắng ấy không trống rỗng. Nó đầy những việc lành. Đầy những lời cầu nguyện. Đầy những hy sinh. Đầy những giọt nước mắt. Đầy những dấu vết của tình yêu.

Người đời có thể hỏi: Mẹ để lại gì?

Tôi xin thưa: Mẹ để lại cả một bầu trời.

Mẹ để lại cho chúng tôi ký ức về một mái nhà nghèo mà ấm. Mẹ để lại một nếp sống biết tin Chúa. Mẹ để lại bài học rằng con người sống không chỉ để có, mà còn để thương. Mẹ để lại cho chúng tôi niềm xác tín rằng nghèo không đáng sợ bằng hẹp lòng, thiếu tiền không đáng sợ bằng thiếu nhân hậu, bàn tay trắng không đáng sợ bằng trái tim trống rỗng. Mẹ để lại một thứ gia tài mà càng chia ra càng lớn, càng sống theo càng sinh hoa trái, càng nhớ lại càng thấy biết ơn.

Mẹ không giàu, nhưng Mẹ làm cho đời con cái giàu lên.

Giàu vì biết thương người. Giàu vì còn biết cầu nguyện. Giàu vì biết cúi xuống. Giàu vì biết cảm ơn. Giàu vì biết rằng mọi sự mình có đều là ơn Chúa. Giàu vì hiểu rằng đời người cuối cùng không được đo bằng những gì ta nắm giữ, mà bằng những gì ta trao đi. Giàu vì trong tim vẫn còn hình bóng Mẹ như một ngọn đèn không tắt.

Con cảm ơn Mẹ.

Cảm ơn Mẹ vì đã sinh con ra trong cuộc đời này. Cảm ơn Mẹ vì đã cho con một mái nhà. Cảm ơn Mẹ vì đã nuôi con bằng cơm gạo và bằng nước mắt. Cảm ơn Mẹ vì đã dạy con biết Chúa, dù có khi con chưa sống xứng đáng. Cảm ơn Mẹ vì đã gieo vào đời con hạt giống nhân hậu. Cảm ơn Mẹ vì những lần Mẹ âm thầm chịu đựng mà con không biết. Cảm ơn Mẹ vì những lời kinh Mẹ đọc cho con. Cảm ơn Mẹ vì những hy sinh không tên, những lo toan không kể, những đau khổ không than, những yêu thương không điều kiện.

Và trên hết, con tạ ơn Chúa.

Tạ ơn Chúa vì trong đời con có Mẹ. Tạ ơn Chúa vì Người đã ban cho con một người Mẹ không giàu của cải nhưng giàu đức tin. Không nhiều tiền bạc nhưng nhiều lòng thương. Không quyền lực nhưng đầy nhân hậu. Không để lại gia sản trần gian nhưng để lại gia tài thiêng liêng. Tạ ơn Chúa vì qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là tình yêu. Qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là hy sinh. Qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là sống đạo giữa đời thường. Qua Mẹ, con hiểu rằng có những đôi bàn tay trắng lại là đôi bàn tay giàu nhất trước mặt Thiên Chúa.

Mẹ ơi, đời con có thể đi nhiều nơi, gặp nhiều người, trải qua nhiều biến cố, nhưng có một nơi con không bao giờ rời xa được: đó là lòng Mẹ. Có một món nợ con không bao giờ trả hết: đó là công ơn Mẹ. Có một lời con không bao giờ nói cho đủ: đó là lời cảm ơn Mẹ. Có một tình thương con không bao giờ hiểu hết: đó là tình Mẹ dành cho con.

Cha mẹ là trời cao biển lớn bao la.

Con chỉ là một phận người nhỏ bé đứng trước trời cao biển lớn ấy. Càng đứng lâu càng thấy mình nhỏ. Càng nghĩ nhiều càng thấy mình nợ. Càng nhớ Mẹ càng thấy lòng mềm lại. Và trong sự mềm lại ấy, con chỉ biết cúi đầu, chắp tay, thưa với Chúa:

Lạy Chúa, xin thương đón nhận Mẹ con vào lòng thương xót của Chúa. Nếu đời Mẹ còn điều gì thiếu sót, xin Chúa lấy tình yêu mà bù đắp. Nếu đời Mẹ còn vết thương nào, xin Chúa chữa lành. Nếu đời Mẹ còn giọt nước mắt nào chưa khô, xin Chúa lau sạch. Xin cho những hy sinh âm thầm của Mẹ được nở hoa trong Nước Trời. Xin cho những việc lành Mẹ đã gieo tiếp tục sinh trái trong đời con cháu. Xin cho chúng con biết sống sao cho xứng với gia tài Mẹ để lại: gia tài của đức tin, của lòng nhân hậu, của sự quảng đại, của đôi bàn tay biết mở ra.

Và xin cho con, mỗi khi nhớ đến đôi bàn tay trắng của Mẹ, đừng chỉ buồn vì Mẹ không còn, nhưng biết sống tốt hơn, thương nhiều hơn, cho đi nhiều hơn, cầu nguyện nhiều hơn, để một ngày kia, khi con cũng phải nằm xuống với đôi bàn tay trắng, con được hy vọng mang theo một chút gì đó giống Mẹ: một tấm lòng đã biết yêu thương.

Lm. Anmai, CSsR 


 

Nên nói hay không?

Kimtrong Lam

Nên nói hay không?

Thời Hi Lạp cổ đại, Socrates là một nhân vật nổi tiếng về sự thông thái và rất được kính trọng. Một ngày kia, một người quen của nhà triết học gặp ông và nói:

– Ngài có biết tôi vừa nghe được chuyện gì về bạn của ngài không?

– Hãy đợi một chút – Socrates đáp.

– Trước khi nói với tôi về chuyện đó, tôi muốn ông cùng tôi thử nghiệm chuyện này. Đây được gọi là bài thử nghiệm sàng lọc ba bước.

– Thử nghiệm sàng lọc?

– Đúng – Socrates tiếp tục

– Bước đầu tiên là sự thật. Ông có thể đoán chắc rằng những gì ông nói ra hoàn toàn là sự thật?

– Không – người đàn ông đáp,

– Thật ra tôi chỉ được nghe…

– Được rồi – Socrates nói

– Vậy bây giờ qua bước thứ hai nhé, sàng lọc về lòng tốt. Những điều ông sắp nói về bạn tôi là điều tốt chứ?

– Không, mà ngược lại…

Socrates tiếp tục:

– Như vậy ông dự định nói một điều không tốt về bạn tôi, nhưng ông lại không chắc rằng điều đó có phải là sự thật hay không. Bây giờ là bước cuối cùng: sự hữu ích. Những gì ông sắp nói về người bạn của tôi có mang lại lợi ích gì không?

– Không, thật sự là không.

– Vậy thì …- Socrates kết luận

– Những gì ông muốn nói với tôi không phải là sự thật, không là điều tốt và cũng không có ích gì, vậy thì tại sao ông lại muốn nói ra?

 

SUỐT ĐỜI GẶP MAY!

Xuyên Sơn

 SUỐT ĐỜI GẶP MAY!

  Buổi sáng đi làm, Chị nhìn thấy bánh trước của chiếc xe máy bị xẹp hoàn toàn, Chị nghĩ: “May quá, nếu xe xẹp lốp trên đường cao tốc thì không biết hậu quả sẽ ra sao”.

 Vì phải dắt xe đi thay săm nên chị đến công ty trễ mất 15 phút.

Bà phó phòng nói rằng Giám đốc cho gọi Chị.

Chị nghĩ:

 “Nếu giám đốc khiển trách về việc đi làm trễ thì mình sẽ thành khẩn xin lỗi chứ không thanh minh”.

 Nhưng không có một lời khiển trách nào cả.

Sếp gặp Chị để mong Chị thông cảm rằng, lẽ ra hôm nay Chị phải nhận được quyết định tăng lương, vì đã đến hạn, nhưng vì mục tiêu chống lạm phát nên chính phủ đã cắt giảm nhiều hạng mục đầu tư công, trong đó có một dự án của công ty.

Do vậy, tình hình tài chính của công ty có gặp khó khăn nên Chị và một số người đáng lẽ được tăng lương đợt này nhưng phải lùi lại một thời gian và sẽ được đền bù vào kỳ tăng lương sau.

 Chị về phòng làm việc với một niềm vui nho nhỏ:

“Vẫn là may. Nhà nước cắt giảm đầu tư công hàng chục nghìn tỷ đồng,

nhiều doanh nghiệp lao đao, phải giảm lương của cán bộ công nhân viên, thậm chí có đơn vị phải cắt giảm nhân lực.

Mình không bị giảm lương, lại còn được đền bù vào kỳ tăng lương sau, thế là may.

Cái may thứ hai là mình được làm việc với một ông Giám đốc tài ba và rất tử tế”.

 Buổi chiều, Chị mua hải sản, làm một bữa cơm thịnh soạn để cả nhà ăn mừng ba cái may trong ngày của Chị.

  Ngày hôm sau, trên đường đi làm về, Chồng chị bị một gã ngổ ngáo chạy xe đánh võng va vào xe của anh ấy, khiến chồng chị bị tai nạn, xây xát ở chân và tay.

Khi nghe chồng kể chuyện này,

Chị nghĩ:

“Thế là quá may, bị tai nạn giao thông mà chỉ xây xát nhẹ chứ không phải vào viện”.

Và chị lại làm một bữa để ăn mừng cái may của gia đình mình.

 Chị xin nghỉ việc ở công ty, ra lập doanh nghiệp riêng.

Thương trường như chiến trường.

Ban đầu vất vả lắm.

Ngược xuôi chèo lái con thuyền công ty. Nhưng chị luôn giữ một tâm thái lạc quan tích cực như vậy.

Ở đâu và bao giờ, nụ cười cũng luôn nở trên môi chị và nhờ thế, trong giao tiếp chị luôn chiếm được cảm tình của người khác và chị làm việc gì cũng hanh thông.

Dần dà, công ty làm ăn khấm khá.

Chị có dư của ăn của để.

  Bữa chị mua căn biệt thự, nhờ người bạn làm nghề điện nước đến lắp đặt toàn bộ hệ thống chiếu sáng trong và ngoài nhà.

Chẳng ngờ, người bạn sinh lòng tham, lắp cho chị toàn bóng đèn hàng chợ nhưng tính với chị giá trên trời.

Được dăm bữa, bóng đèn dở chứng, cái sáng cái tối.

Ánh sáng chuyển màu, cái màu trắng cái màu vàng.

Chị gọi ông bạn vàng kia thì mất hút.

Chị chẳng lấy làm buồn.

Chị bảo:

Cũng may không mua đèn của hắn để lắp cho showroom mà chị sắp khai trương. May mà có cậu em Thần Đèn tình cờ xuất hiện và thiết kế lại toàn bộ ánh sáng cho nhà chị.

Nhà chị đẹp hơn, lung linh hơn rồi”.

  Đến một ngày, Chị phát hiện chồng có bồ.

Anh chị chia tay.

Chị nói với anh lúc đứng ở cổng tòa: “Thôi vậy cũng may. May mà biết sớm để rồi kết thúc sớm. May mà con mình cũng đã đủ lớn để hiểu chuyện của bố mẹ nó và không oán trách ai cả”.

  Như thế đó, chị là một người suốt đời gặp may.

Đó không chỉ là một lối tư duy tích cực mà còn là một lối sống lạc quan và nhờ lối sống này mà những người sống quanh chị không bao giờ phải nghe tiếng thở dài.

 Giờ đây tuy đã gần 50 tuổi rồi nhưng trông chị vẫn trẻ trung như tuổi 30.

  Một lối sống lạc quan và tích cực là cái mà chúng ta hoàn toàn có thể tự tạo ra được.

Và đó còn là sự biểu hiện của một con người có trí tuệ và đạo đức.

  Và chỉ những ai làm được điều đó thì mới xứng đáng để được hưởng bình an và hạnh phúc trong cuộc sống.

  NGƯỜI HẠNH PHÚC KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG TRONG HOÀN CẢNH THUẬN LỢI MÀ LÀ NGƯỜI CÓ THÁI ĐỘ TÍCH CỰC TRONG BẤT KỲ HOÀN CẢNH NÀO.

(sưu tầm)


 

ĐÃ TÌM RA CÔNG THỨC CHUNG- Chìa khóa cho mọi hạnh phúc

Nguyen Thi Chau

ĐÃ TÌM RA CÔNG THỨC CHUNG

Lý giải vì sao người Bắc Âu không màng “nhà lầu, xe hơi'” nhưng vẫn hạnh phúc!

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.

Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều” – đó là quan niệm của người Bắc Âu.

Đan Mạch – Thiên đường cho người dân và doanh nghiệp.

Thụy Điển – Thành công mỹ mãn với chế độ người lao động chỉ làm 6giờ/ngày.

Hoặc

Phần Lan – Nền giáo dục “không giống ai”, cấm thi cử, bài tập nhưng học sinh vẫn giỏi giang…

Điểm chung của các quốc gia này là gì?

Đó là tất cả đều đến từ một cùng khu vực trên thế giới – Bắc Âu.

Từ xa xưa, nơi đây là chỗ ở của những kẻ chinh phục vĩ đại mang tên Viking.Trải qua thời kỳ chiến tranh loạn lạc với vai trò những đất nước trung lập, giờ đây các quốc gia Bắc Âu đang có những chuẩn mực khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ:

*Tăng trưởng kinh tế cao,

*Chỉ số phát triển con người cao,

*Người dân hạnh phúc nhất nhì thế giới…

Vậy, những xứ “thiên đường” ấy đã làm cách nào để vươn đến như ngày nay?

Tất cả nằm ở cách sống của con người nơi đây! Hãy thử tìm hiểu.

Không cần nhà lầu, xe hơi, tiền bạc chất đống… mà vẫn hạnh phúc. Người Bắc Âu sống tự nhiên, đơn giản mà hạnh phúc.

Nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu:

Không hề có nhà cao tầng, người dân ăn mặc rất mộc mạc, đi những chiếc xe cũ kỹ

Và ăn những món ăn đơn giản.

Sau 7 giờ tối, gần như trên đường rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa” vào ban đêm, không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích sự thỏa mãn tiêu cực của con người.

Có một cụm từ mà người Bắc Âu hay nhắc đến là:

“Chất lượng cuộc sống”.

Đất nước Thụy điển thì có câu châm ngôn:

“Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của bạn”.

Nếu có ai hỏi một người Bắc Âu xem giữa 2 sự lựa chọn:

Cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng.

So với cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái thì chọn phương án nào, anh ta có lẽ sẽ thiên về phương án thứ hai.

Bởi lẽ, thứ mà người Bắc Âu muốn chính là “Phẩm Chất”,

chứ không phải là “Vật Chất” trong cuộc sống.

“Nhanh một chút”,

“nhanh một chút!”.

Không, người Bắc Âu không làm vậy. Họ lựa chọn sống:

“Chậm Một Chút!”,

nhưng vẫn có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ cách sống này.

Những con người

“Biết Sống” nhất thế giới của vùng Bắc Âu này, bí quyết ở sự:

“Đơn Giản”

Bắc Âu nằm ở vùng khí hậu khắc nghiệt nhất của thế giới.

Môi trường thiên nhiên hà khắc ở đây đã khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở xứ này.

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.

Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều”

Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để nhận ra, nếu bạn chịu khó để ý một chút.

Ví dụ

Trong cách ăn mặc, không cần phải diêm dúa, bạn sẽ thấy những người phụ nữ 70-80 tuổi Bắc Âu thường mặc áo khoác vàng nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu.

Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.

Nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì không cần phải tiệc tùng cầu kỳ, những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt thơm tho đến cho em bé sử dụng.

Điều này đã trở thành một truyền thồng tốt đẹp lâu đời của con người xứ Bắc Âu.

  • Bắc Âu không cần những đại lộ to rộng

Những con đường ở các quốc gia Bắc Âu thường hẹp hơn đường ở các quốc gia phát triển khác, phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.

  • Không cần phải khoe của

Người dân nơi đây không cần những siêu xe, mà chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Thậm chí, rất nhiều người trong số họ đạp xe đạp đi làm.

Bảo vệ môi trường đối với người Bắc Âu đã không còn là một cụm từ theo “mốt” mà là một sự “cao thượng”, một việc tất nhiên cần làm.

Để hưởng đặc quyền hạnh phúc, họ đã làm việc năng suất nhất nhì thế giới như thế này đây!

Công việc chính thức của một người Bắc Âu khá nhẹ nhàng, ‘ngắn gọn’ .

Về thời gian làm việc.

Trong thời gian rảnh, dù có thể chọn làm thêm việc khác để kiếm thêm thu nhập, nhưng họ lại không làm vậy.

Người Bắc Âu chọn thưởng thức tách cà phê cùng bạn bè hoặc đơn giản là ngồi đọc sách.

Đến đây, đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê.

Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng một cuộc sống an nhàn như trên chính là do chính thái độ nghiêm túc, hiệu suất rất cao mà họ đạt được khi làm việc.

“Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích gì, công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó” – đây là quan niệm của người Bắc Âu.

Vì thế, công việc đối với họ không phải là một sự: “đau khổ, giày vò”.

Họ đơn giản là làm hết sức và rất tốt công việc mình thực sự yêu, được trả lương rất cao và từ đó sống hạnh phúc.

Để nâng cao hiệu suất, người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo và rút ngắn thời gian làm việc.

Nghe giống như đặc điểm của những kẻ: ‘lười nhưng thiên tài’

mà Bill Gates phải cất công tìm kiếm về cho Microsoft.

Đúng!

Và đây là điều mà mọi người dân Bắc Âu đều thấm nhuần chứ không chỉ một vài kẻ ‘lười nhưng thiên tài’ nào đó.

Từ đó, họ sẽ có nhiều thời gian hơn cho nghỉ ngơi hay cho gia đình.

Và chìa khóa tận cùng cho mọi hạnh phúc ở Bắc Âu là 2 chữ:

“Gia Đình”

Trong cuộc sống của người Bắc Âu, gia đình rất quan trọng. Chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là một gia đình Bắc Âu sẽ cùng nhau tận hưởng những ngày vui đùa,

cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…

Trong gia đình, người chồng sẽ sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con. Điều đầu tiên sau khi tan làm trở về nhà mà họ làm là trò chuyện, vui đùa, nấu ăn cùng vợ, con mình.

Cho dù ai đó có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình mình.

Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì như vậy thì buổi sáng vẫn còn người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như thế, người chồng sẽ chỉ bị mất khoảng 1 tiếng đồng hồ không thể cùng ăn sáng với gia đình. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông bố có thêm thời gian vào buổi tối ăn tối cùng gia đình mình.

Fb Viet Vo


 

Nhận được chưa chắc là phúc, mất đi cũng chưa hẳn là họa

Những Câu Chuyện Thú Vị  – Chi Nguyen

 Đôi đũa không múc được canh, cái thìa cũng chẳng gắp được mì. Là của bạn thì không cần tranh giành, không phải của bạn cũng chẳng cần gắng sức.

Có những việc bạn làm không thành, rất có thể là trời cao đang âm thầm bảo vệ bạn. Ví như xe hỏng bạn đến muộn, bạn lỡ hẹn, mất điện… đừng than vãn, cũng đừng nóng giận, mọi thứ đều có thể là sự an bài tốt nhất.

Vạn sự vạn vật trên đời này đến và đi đều có định số. Nhận được chưa chắc là phúc, mất đi cũng chưa hẳn là họa. Đời người chúng ta, mỗi người đều có bến đò, cũng đều có con thuyền trở về của riêng mình. Vậy nên hãy luôn tin rằng, mọi sự an bài của thế gian đều có đạo lý riêng. Mất ở đông ắt nhận lại ở tây, chúng ta chỉ cần làm theo tiếng gọi của bản thân, làm một người lương thiện và ấm áp.

Thực ra, chúng ta đến thế giới này chỉ có một lần duy nhất. Trăm năm sau, không còn tôi, cũng chẳng còn bạn. Chúng ta nỗ lực cả đời cũng không mang theo được một viên gạch ngói nào; chúng ta chấp niệm một kiếp cũng không mang đi được một tơ một hào yêu hận tình thù. Đời người ngắn ngủi lắm, vậy nên hãy ăn món cơm bạn muốn ăn, gặp người bạn muốn gặp, ngắm phong cảnh bạn yêu thích và làm những việc bạn đam mê. Hãy tránh xa những người, những việc làm hao mòn năng lượng của bạn.

Một người khó chiều lòng trăm người, một bức tường khó ngăn gió tám phương. Trên đời này, dù bạn sống thế nào cũng sẽ có người bình phẩm dài ngắn; dù bạn làm thế nào cũng có người khoa tay múa chân; dù bạn làm tốt đến đâu cũng có người nói bạn không ra gì. Vậy nên không cầu vạn sự như ý, chỉ cầu không thẹn với lòng, làm tốt chính mình là đủ.

Thế giới này vốn dĩ không hoàn hảo, vậy nên hãy học cách chấp nhận và thấu hiểu. Hạ thấp kỳ vọng của bản thân, đòi hỏi nhiều ở mình hơn, bớt mong cầu ở người khác. Người ta không đặt bạn vào trong mắt, hà tất phải đặt họ vào trong tâm. Người ta chẳng để ý đến bạn, bạn việc gì phải khổ sở một lòng một dạ với họ.

Tình cảm cũng vậy, tình bạn cũng thế. Xưa nay chưa từng có chuyện một người cứ mãi nhẫn nhịn, cam chịu mà duy trì được, đó phải là sự trân trọng đến từ cả hai phía. Đối với người, bạn có thể bao dung nhưng không thể dung túng; đối với tình cảm, bạn có thể chuyên nhất nhưng không thể si mê. Nếu không được coi trọng, bạn phải học cách quay lưng; nếu không được trân quý, bạn phải biết cách buông tay.

Vậy nên, mặc kệ là ai sau lưng bình phẩm về bạn thế nào, bạn đều hãy cứ xem như không. Bạn chỉ cần quan tâm đến hiện tại và tương lai của chính mình là đủ. Phàm là những mối quan hệ khiến bạn cảm thấy quá mệt mỏi, hãy cứ trực tiếp kết thúc nó đi, đừng tự làm khó bản thân.

Vậy nên, nhất định phải ghi nhớ: phàm những gì ta mất đi, đều không phải là những thứ thực sự thuộc về ta; phàm những gì ta mong cầu, đều là những thứ đang trói buộc ta. Vạn vật đều là để ta dùng, chứ không thuộc sở hữu của ta. Người quân tử sai khiến vật, chứ không để vật sai khiến mình. Đạo lớn rất đơn giản: không ham muốn ắt sẽ kiên cường, thuận theo tự nhiên thì không gì là không làm được..!!!

Bài sưu tầm

– Ảnh minh hoạ 


 

Ngẫm Nghĩ về Cuộc Đời

Ngẫm Nghĩ về Cuộc Đời

 Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn. Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc… Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm… Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học… Và… người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm. Đừng hứa khi đang… vui! Đừng trả lời khi đang nóng giận! Đừng quyết đinh khi đang… buồn! Đừng cười khi người khác… không vui! Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ. Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe.

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi. Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta. Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người). Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức. (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t… ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm!) Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu.

Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám. Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu. Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng. Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.  

Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa.

Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)? Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi. Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng. Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ…

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn… Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày. Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”. Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết.

Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ. Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe. Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn Bạn bè nữa… họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình…

Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

Sưu Tầm

LÝ QUANG DIỆU…

8 SÀI GÒN 

LÝ QUANG DIỆU…

Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu)  biến đảo cá đầm lầy thành nền kinh tế thứ nhất ASEAN trong 31 năm

Lee Kuan Yew (李光耀, 1923-2015) sinh ngày 16/9/1923 tại Singapore, gia đình gốc Khách Gia (Hakka) từ tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Cha là người buôn bán nhỏ, gia đình thường xuyên thiếu tiền.

Lee học Raffles Institution xuất sắc, nhận học bổng Cambridge học Luật năm 1946 sau Thế Chiến II. Tốt nghiệp double first class honours  danh hiệu cao nhất Cambridge.

### Singapore trước Lee  đảo cá đầm lầy

1959, khi Lee 35 tuổi nhận chức Thủ tướng đầu tiên của Singapore dưới quyền tự trị Anh:

* Singapore là thuộc địa Anh với 1.6 triệu dân, chia 4 dân tộc thù ghét nhau (Hoa, Mã, Ấn, Anh)

* Diện tích chỉ 581 km²  không tài nguyên, không nông sản, không ngay cả nước uống (phải mua từ Malaysia)

* Tỉ lệ thất nghiệp 20%, GDP đầu người 400 USD/năm (gần Việt Nam thời đó)

* 80% dân sống trong nhà ổ chuột ven sông

* Nội chiến giữa các nhóm Cộng sản và phe ủng hộ Anh

### 1965  bị “đuổi” khỏi Liên bang Mã Lai

Năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Mã Lai với hy vọng kinh tế. Nhưng Thủ tướng Tunku Abdul Rahman không chịu nổi:

* Kinh tế Singapore (đa số người Hoa) vượt kinh tế Mã Lai (đa số Hồi giáo)

* Lee Kuan Yew công khai phê bình chính sách đặc quyền cho người Mã

9/8/1965, Tunku ra đơn phương quyết định: tống Singapore ra khỏi Liên bang. Singapore trở thành QUỐC GIA ĐỘC LẬP  không tự nguyện.

Lee Kuan Yew ra TV truyền hình quốc gia, khóc trên TV  lần duy nhất trong đời:

> “Đối với tôi, đây là khoảnh khắc đau khổ. Cả đời tôi tin tưởng việc Mã Lai và Singapore là một… Bây giờ chúng ta phải đi một mình.”

Singapore một mình, không quân đội, không nước, không tài nguyên. Cả thế giới dự đoán: trong 5 năm sẽ rơi vào tay Cộng sản hoặc bị Indonesia/Malaysia nuốt.

### 31 năm cải cách thần kỳ

1959-1990, Lee làm Thủ tướng 31 NĂM liên tục  kỷ lục dài nhất của một thủ tướng dân chủ trong thời hiện đại.

Chiến lược “First-World Oasis”:

  1. Chống tham nhũng tuyệt đối: Lee thành lập CPIB (Cơ quan Điều tra Tham nhũng) năm 1952, không chừa ai. Ông xử bộ trưởng Bộ Phát triển nội thành Wee Toon Boon đi tù 4 năm vì nhận quà bằng nhà. Singapore từ tham nhũng cao nhất ASEAN trở thành #5 trong sạch nhất thế giới (2024).
  2. Nhà ở công cộng: chương trình HDB (Housing Development Board)  xây căn hộ giá rẻ cho dân nghèo. 80% dân Singapore ngày nay sống trong HDB, sở hữu nhà.
  3. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính: vượt qua phản đối từ phe người Hoa, Lee áp đặt tiếng Anh làm ngôn ngữ giáo dục. Ông tin: tiếng Anh là chìa khóa vào kinh tế toàn cầu.
  4. Mời các tập đoàn đa quốc gia: Singapore giảm thuế + xây khu công nghiệp Jurong + đảm bảo không đình công. Texas Instruments, Hewlett-Packard, ExxonMobil đặt trụ sở khu vực ở Singapore.
  5. Cảnh sát dùng roi mây: hình phạt thân thể nghiêm khắc cho tội nhỏ  vẽ bậy xử 3 roi + tù. Singapore an toàn nhất thế giới.

### Kết quả 1990  “From Third World to First”

Khi Lee từ chức năm 1990 (vẫn giữ chức Bộ trưởng Cao cấp đến 2011):

* GDP đầu người: 400 USD → 12.000 USD (tăng 30 lần)

* Hiện 2024: GDP đầu người 84.000 USD/năm  #7 thế giới, vượt Mỹ

* Sân bay Changi xếp hạng #1 thế giới mỗi năm (Skytrax)

* Cảng Singapore = cảng container lớn thứ 2 thế giới

* Tuổi thọ trung bình: 84 tuổi (cao thứ 4 thế giới)

H

* 0 người vô gia cư chính thức

Cuốn sách của ông “From Third World to First” (2000) bán hàng triệu bản, trở thành sách giáo khoa cho lãnh đạo Đông Nam Á.

### Lee Kuan Yew nói về Việt Nam

Ông nhiều lần khen ngợi và phê bình Việt Nam. Năm 2007: “Việt Nam có tiềm năng lớn. Nhưng tham nhũng + bộ máy chậm chạp đang cản trở. Nếu Việt Nam giải quyết được, sẽ vượt Singapore trong 1 thế hệ.”

### Cái ch*t

23/3/2015, Lee Kuan Yew qua đời ở 91 tuổi vì viêm phổi. 1.4 triệu người Singapore đứng đường viếng tang lễ  40% dân số.

Tang lễ Tổng thống Mỹ Obama đến viếng. Trên thế giới, ông được coi là kiến trúc sư của một quốc gia mà Henry Kissinger viết: “Không ai khác trong thế kỷ 20 đã tạo ra một quốc gia từ con số không như Lee Kuan Yew.”

Singapore  đảo nhỏ không tài nguyên  giờ là gia đình của 6 triệu người giàu, vì 1 người đàn ông tin rằng không có lý do gì để chấp nhận thua kém.

HALAB CREATIVE


 

Các mối phúc là những mối nào?-Cha Vương

Một ngày tràn đầy hạnh phúc trong Chúa, trong mọi hoàn cảnh nhé. Nhớ nhau trong lời nguyền cầu và cả thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 2: 4/5/2026.       (n6-24)

GIÁO LÝ: Các mối phúc là những mối nào? Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ. Phúc cho ai sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được đất làm gia nghiệp. Phúc cho ai đói khát sự công chính, vì họ sẽ được thoả lòng. Phúc cho ai xót thương, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho ai có tâm hồn trong trắng, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Phúc cho ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế (Mt 5, 3-12). Tại sao các mối phúc lại quan trọng? Những người mong mỏi Nước Trời phải tìm đến bảng liệt kê những ưu tiên trên của Chúa Giêsu thì sẽ biết. (YouCat, số 283 & 284)

SUY NIỆM: Từ Abraham, Thiên Chúa đã hứa với dân Người. Chúa Giêsu đã lặp lại, cho lời hứa một giá trị vĩnh cửu và coi đó là chương trình của Người: Con Thiên Chúa làm người nghèo để chia sẻ sự nghèo khó của ta, Người vui với những kẻ vui, khóc với những kẻ khóc (Rm 12,16); Người không cần đến bạo lực, trái lại, Người giơ má bên kia (Mt 5,39); Người thương xót, tạo nên hòa bình, và chỉ cho thấy con đường chắc chắn dẫn đưa về trời. (YouCat, số 283, 284 t.t.)

❦ Muốn tất cả những gì Chúa muốn, và muốn như thế luôn luôn trong mọi hoàn cảnh và không ngập ngừng, đó là Nước Trời đang ở trong ta vậy. (François Fénelon)

LẮNG NGHE: Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. (Rm 12:12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, tim con đang lấp đầy những ham muốn vật chất, những ích kỷ nhỏ nhen, những hận thù ghen ghét, xin Chúa hãy đến và đổi mới tim con bằng lòng khiêm nhường nghèo khó, bằng lòng bác ái vị tha và một tình yêu chân thật để con được sống hạnh phúc sung mãn tràn đầy trong Chúa.

THỰC HÀNH: Cố gắng sống một mối phúc thật hôm nay nhé.

From: Do Dzung

*******************************************

Tám Mối Phúc Thật – Nguyễn Hồng Ân | Sáng tác Lm. Gió Xuân