ĐỘC TÀI! (Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

Nguyen Thi Chau

ĐỘC TÀI!

(Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

KD: Để hiểu độc tài như thế nào, xin đọc bài viết rất sinh động này. Và xin đăng cái còm của mình (có bổ sung):

“Độc tài quá hoa tâm bệnh. Độc ác quá hoá cô độc. Sống giữa nhung lụa, phù hoa nhưng tâm hồn nghèo xác xơ cùng kiệt. Quyền lực đỉnh cao nhưng hạnh phúc tận vực sâu. Sống trong sự run sợ  của con người nhưng chết đi trong mừng rỡ của cộng đồng.

Và những kẻ độc tài có một điểm bản chất- ko bao giờ tin ai. Cực kỳ cô độc

Một sự Gieo- gặt sòng phẳng đích đáng!.

Title bài chủ Phây xin tạm đặt 

—————— 

Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình.

Khi ông đã thống trị Liên Xô một cách tuyệt đối – nắm trong tay quốc gia rộng lớn nhất thế giới, chỉ huy hàng triệu binh sĩ, định đoạt số phận của cả những dân tộc – ông vẫn đặt bên gối một khẩu súng lục đã lên đạn. Mỗi đêm, ông thay đổi phòng ngủ, không bao giờ nằm lại cùng một chiếc giường hai đêm liền. Ông từ chối đi lại trên cùng một con đường cũ. Ông không ngừng cải tạo các dinh thự, thêm những hành lang bí mật, những cánh cửa khóa layered, những lối thoát hiểm ngoằn ngoèo nhằm đánh lừa kẻ ám sát tiềm tàng.

Đó không phải là thói lập dị. Đó là bản năng sinh tồn của một người hiểu rõ hơn ai hết cách mà các nhà độc tài rời bỏ thế gian.

Vì Stalin đã trèo lên đỉnh quyền lực bằng cách khiến người khác chết trước mình.

Ông thấu suốt cơ chế của những vụ ám sát chính trị. Chính ông đã đạo diễn chúng. Ông đã chứng kiến đối thủ tan biến trong ngục tù, thấy đồng chí cũ bị bắn trong tầng hầm tối, ra lệnh những cuộc thanh trừng nuốt chửng hàng ngàn sinh mạng. Ông biết rằng những lưỡi dao ông đã phóng ra có thể bất cứ lúc nào quay ngược lại. Người trung thành hôm nay có thể đang mài dao ngày mai. Đồng minh đáng tin nhất cũng có thể hóa thành kẻ sát nhân.

Thế nên Stalin không tin ai. Và ông dựng nên cả cuộc đời mình trên nền tảng duy nhất ấy: sự nghi kỵ tuyệt đối.

Nỗi sợ ấy định hình lại mọi ngóc ngách trong cuộc sống ông. Một buổi sáng, nhân viên đến làm việc và bỗng thấy mình bị đuổi mà không một lời giải thích. Lính gác bị thay phiên liên tục để không ai kịp thuộc lòng nhịp sống của ông. Đội cận vệ thay đổi khuôn mặt thường xuyên đến mức sự quen thuộc trở thành điều xa xỉ.

Ngay cả các bác sĩ cũng run rẩy khi chữa trị cho ông – một chẩn đoán sai, một liều thuốc không hiệu nghiệm, và họ có thể bị kết tội là kẻ phá hoại hay gián điệp ngoại bang. Họ tiếp cận sức khỏe của Stalin như những người tháo ngòi nổ, tim đập trong lồng ngực.

Các cố vấn học được rằng sống sót nghĩa là cúi đầu và im lặng. Không đưa ra nhận định trung thực. Không báo tin xấu. Đặc biệt không được phản biện Tổng Bí thư. Họ chỉ nói những gì ông muốn nghe, gật đầu trước mọi lời ông phán, và thầm cầu mong được về nhà nguyên vẹn đêm ấy.

Vì vòng tròn thân cận của Stalin đều thấu một chân lý lạnh lẽo: gần quyền lực tức là gần tử thần.

Nhưng nỗi kinh hoàng không dừng lại bên trong tường thành Kremlin. Nó lan tỏa như ung thư, nhiễm độc toàn bộ cơ thể nhà nước Xô Viết.

Qua cuộc Đại Thanh trừng những năm 1930, chế độ Stalin hành quyết hàng trăm nghìn người, giam cầm và lưu đày hàng triệu linh hồn khác. Các tướng lĩnh từng dẫn quân chiến thắng bị bắn như phản tặc. Các bộ trưởng trung thành suốt mấy thập kỷ tan biến trong đêm. Nhà khoa học, nghệ sĩ, giáo viên, công nhân – bất kỳ ai cũng có thể bị bóng đêm nuốt chửng. Cảnh sát mật gõ cửa lúc nửa đêm, và con người bỗng hóa thành hư vô.

Trung thành không mua được sự an toàn. Năng lực đôi khi lại là lời mời gọi tử thần. Quá giỏi việc, bạn có thể bị coi là mối uy hiếp. Quá được lòng cấp dưới, bạn có thể bị nghi xây dựng phe cánh. Vị trí an toàn nhất là tầm thường và vô hình.

Cả nhà nước Xô Viết dần mang tâm lý của lãnh tụ: đa nghi, bí ẩn, tàn nhẫn. Sự thật trở thành lưỡi dao, nên người ta nói dối. Trung thực mời gọi roi vọt, nên mọi người giấu nhẹm vấn đề. Hệ thống lẽ ra kiến tạo thiên đường cộng sản lại dựng nên một cỗ máy khổng lồ chuyên ăn thịt chính con dân mình.

Stalin không tin ai vì ông tin rằng chẳng ai đáng tin. Và có lẽ ông đúng – bởi chính ông cũng chẳng đáng tin. Sao người khác lại khác được?

Sự mỉa mai thật nghiệt ngã: chính nỗi đa nghi ông tưởng sẽ che chở cho mình lại gây ra những thảm họa khôn lường.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, văn hóa sợ hãi của Stalin làm tê liệt mọi quyết sách của Liên Xô. Sĩ quan biết rõ điểm yếu quân sự nhưng không dám báo – báo tin xấu đồng nghĩa với viên đạn. Tình báo về cuộc xâm lược của Đức bị bỏ ngoài tai vì dám trái ý Stalin là tự sát. Báo cáo giả thay thế báo cáo thật, bởi sống sót nghĩa là nói những lời lãnh đạo muốn nghe.

Thế nên khi Đức Quốc xã tràn qua biên giới tháng 6 năm 1941, Hồng quân thảm khốc không chuẩn bị dù đã có vô số lời cảnh báo. Cuộc tấn công chớp nhoáng của Đức xé nát lực lượng Xô Viết. Hàng triệu binh sĩ ngã xuống, bị bắt hoặc bị bao vây chỉ trong vài tháng đầu. Thành phố sụp đổ. Cả quân đoàn tan rã như cát bụi.

Những cuộc thanh trừng đa nghi trước đó đã làm suy kiệt Hồng quân – Stalin hành quyết hoặc giam cầm nhiều tướng tài nhất vì sợ họ thành đối thủ. Giờ đây, văn hóa dối trá và sợ hãi khiến đất nước trần trụi trước lưỡi hái chiến tranh mà ai cũng thấy trước nhưng không ai dám chuẩn bị.

Cái giá phải trả thật kinh hoàng. Hơn 26 triệu công dân Xô Viết bỏ mạng trong cuộc chiến – cả quân nhân lẫn thường dân. Nhiều sinh mạng ấy có thể quy trực tiếp hoặc gián tiếp về những rối loạn do nỗi đa nghi của Stalin gây ra.

Song chiến thắng trước phát xít Đức chỉ khiến ông nghi ngờ thêm.

Những năm cuối đời, nỗi đa nghi quay ngược vào trong với cơn cuồng nộ mới. Ông tin rằng chính các bác sĩ – những người giữ mạng sống cho ông – đang âm mưu hại ông. “Âm mưu Bác sĩ” 1952-1953 chứng kiến hàng loạt y sĩ danh tiếng, nhiều người gốc Do Thái, bị bắt và buộc tội mưu sát lãnh đạo.

Đó là cơn điên rồ. Nhưng là cơn điên có gốc rễ – Stalin đã xây một hệ thống nơi lý thuyết âm mưu thành chính sách quốc gia, nơi đa nghi được thưởng, nơi nhìn kẻ thù khắp nơi được ca tụng là trí tuệ thay vì bệnh hoạn.

Stalin tự cách ly mình khỏi thực tại ngày một xa. Càng ít người được tiếp cận ông. Càng ít tiếng nói đến được tai ông. Vòng tròn tin tưởng – vốn đã nhỏ bé – co lại thành hư vô. Ông là người quyền lực nhất Liên Xô, cai trị một siêu cường trải dài từ Đông Âu đến Thái Bình Dương.

Và ông cô độc đến tận cùng đáy lòng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1953, Joseph Stalin bị đột quỵ nặng. Ông ngã quỵ trong dinh thự Kuntsevo, không thể cất tiếng kêu cứu.

Và đây là vòng tròn định mệnh của nỗi đa nghi: lính gác do dự hàng giờ không dám bước vào phòng.

Tại sao? Vì ông đã ra lệnh nghiêm cấm làm phiền. Vì bước vào mà không được phép – dù để cứu mạng – có thể lãnh án tử. Vì văn hóa kinh hoàng ông gieo rắc khiến người ta sợ cơn thịnh nộ của ông hơn là lo cho sinh mạng ông.

Nhà độc tài nằm trên sàn lạnh, nửa người tê liệt, không nói không động, trong khi cận vệ và nhân viên đứng ngoài cửa, run rẩy không dám hành động.

Khi bác sĩ cuối cùng được gọi đến và dám bước vào, Stalin đã nằm đó hàng giờ. Sự chậm trễ làm tình trạng ông tồi tệ hơn nhiều. Họ cố cứu chữa, nhưng tất cả đã quá muộn.

Joseph Stalin qua đời ngày 5 tháng 3 năm 1953, thọ 74 tuổi.

Khẩu súng dưới gối không cứu được ông. Những căn phòng luân phiên không cứu được ông. Biện pháp an ninh, thanh trừng, hành quyết, cả một đế chế kinh hoàng – chẳng gì cứu nổi ông.

Cuối cùng, chính nỗi đa nghi đã định nghĩa cả cuộc đời ông lại góp phần đưa ông đến cái chết. Nỗi sợ ông gieo vào lòng người khác khiến không ai dám kịp thời ra tay khi ông cần nhất.

Cuộc đời Stalin chứng minh một chân lý sâu thẳm và đáng sợ: quyền lực tuyệt đối không xua tan nỗi sợ, nó chỉ nhân nó lên gấp bội.

Khi cai trị bằng kinh hoàng, bạn tạo ra một thế giới mà mọi người – kể cả chính mình – sống trong nỗi sợ triền miên. Khi trung thành bị ép buộc bằng bạo lực, bạn mãi mãi không thể tin nó chân thật. Khi đã loại trừ mọi mối đe dọa, bạn chỉ còn lại những kẻ che giấu sự thật vì trung thực đồng nghĩa với tử thần.

Stalin tưởng mình đang dựng nên pháo đài an toàn. Thực ra ông đã xây một nhà tù. Và ông là tù nhân chính – cô đơn nhất.

Ông thống trị một siêu cường vĩ đại. Ông chỉ huy đạo quân hùng mạnh. Ông nắm trong tay sinh mạng hàng trăm triệu người. Các quốc gia run sợ trước sức mạnh Xô Viết. Các nguyên thủ coi ông ngang hàng trên trường quốc tế.

Vậy mà mỗi đêm, ông ngủ như một kẻ bị truy nã. Thay giường liên tục. Vũ khí kề bên. Không tin ai. Sợ hãi mọi người.

Người gieo rắc kinh hoàng cho triệu triệu con người lại sống trong chính kinh hoàng ấy. Kiến trúc sư của nhà nước giám sát lại là kẻ bị giám sát chặt chẽ nhất. Nhà độc tài có quyền giết bất kỳ ai lại biết rằng bất kỳ ai cũng có thể muốn giết mình.

Đó là cái giá cuối cùng của bạo quyền. Không chỉ những gì nó gây ra cho nạn nhân – dù đã đủ kinh hoàng. Mà còn những gì nó làm tan nát tâm hồn chính kẻ bạo chúa.

Stalin dành những năm cuối đời trong cô lập, đa nghi và sợ hãi. Ông chết một mình trên sàn lạnh, bên ngoài là những con người quá kinh hoàng để cứu ông. Hệ thống kinh hoàng ông tạo dựng đã hoàn tất vòng tròn: nuốt chửng cả chính người sinh ra nó.

Quyền lực không có lòng tin chẳng phải sức mạnh. Đó chỉ là một xiềng xích vô hình mà không khẩu súng nào có thể bắn đứt.

Như Like Thần Chưởng

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Cát Lái, Rạch Chiếc, Gò Vấp, Hàng Xanh, Thanh Đa… là những địa danh quen thuộc ở Sài Gòn nhưng được cho là bị viết sai so với ban đầu.

Hàng Xanh

Là nút giao thông lớn ở cửa ngõ phía Đông của TP HCM, Hàng Xanh là địa danh rất quen thuộc với người Sài Gòn. Vùng Hàng Xanh, bao gồm một phần địa bàn các phường 24, 25 (quận Bình Thạnh), còn có chợ Hàng Xanh, ngã tư Hàng Xanh.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả Nguyễn Thanh Lợi (trong quyển Sài Gòn – Đất và Người) qua nhiều tài liệu cũ, địa danh này viết đúng phải là Hàng Sanh. Theo sách Đại Nam quốc âm tự vị của nhà ngôn ngữ học Huỳnh Tịnh Của, Sanh “là thứ cây lớn, nhánh có tua, về loại cây da, mà lá nhỏ”. Ngày trước, dọc theo hai bên đường nay là Bạch Đằng có 2 hàng cây sanh, dân thường gọi là Hàng Sanh. Nên có thể kết luận, Hàng Xanh do đọc chệch từ Hàng Sanh mà ra.

Cát Lái

Theo các nhà nghiên cứu, phải gọi là bến phà Các Lái thì mới đúng với nguồn gốc tên gọi ban đầu, còn tên gọi Cát Lái là vô nghĩa. Ảnh: H.C

 Hiện, tại TP HCM có các địa danh: ngã ba Cát Lái, phường Cát Lái, bến phà Cát Lái, sông Cát Lái… (quận 2) và rạch Cát Lái Lớn, rạch Cát Lái Bé (xã Lý Nhơn, huyện Nhà Bè). Theo các nhà nghiên cứu viết như thế là vô nghĩa.

Nguyên các vùng kể trên ngày xưa lái buôn tụ về buôn bán nên dân gian gọi là vùng của các lái. Trong dân gian vẫn còn lưu truyền những bài vè về các lái buôn ghe bầu từ miền Trung vào Gia Định với hai bài Vè Lái vô và Vè Lái ra. Vì vậy phải viết là Các Lái mới có nghĩa.

Gò Vấp

Là tên gọi của quận vùng ven tại TP HCM. Theo các nhà nghiên cứu, đúng ra phải là Gò Vắp vì đây vốn là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương gần đó.

Thanh Đa

Người Sài Gòn từ lâu đã quen với các địa danh như Kinh Thanh Đa, cư xá Thanh Đa, chợ Thanh Đa… ở phường 26 và 27 của quận Bình Thạnh. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, địa danh này có nguồn gốc từ tên gọi Thạnh Đa.

Thôn Thạnh Đa thuộc tổng Bình Trị (sau thuộc Bình Trị Thượng), huyện Bình Dương, có từ năm 1818. Trong sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Monographie de la provine de Gia Định (Chuyên khảo về Gia Định, xuất bản năm 1902 tại Sài Gòn) đều có ghi tên thôn Thạnh Đa. Về sau, do bỏ dấu khi in trên bản đồ thời Pháp, nên địa danh Thạnh Đa biến thành Thanh Đa như hiện nay.

Rạch Chiếc

Cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ phía Đông TP HCM. Ảnh: H.

Rạch Chiếc là con rạch nằm trên địa bàn phường Phước Bình (quận 9) nối sông Sài Gòn với sông Đồng Nai ở phía đông bằng tắt Đồng Nhiên, bắt đầu từ rạch Trao Trảo đến sông Sài Gòn, cắt ngang xa lộ Hà Nội, dài khoảng 6.000 m. Cầu Rạch Chiếc nổi tiếng với trận đánh giải phóng Sài Gòn hồi tháng 4/1975.

Theo các nhà nghiên cứu địa danh học, viết Rạch Chiếc là không đúng mà phải là Rạch Chiết, do xưa rạch này có nhiều cây chiết là “thứ cây mọc hoang, thấp nhỏ, lá lớn, hay mọc hai bên mé sông, thường ra lá non, mùi chát chát có thể ăn như rau”. Nếu viết là Rạch Chiếc thì không có ý nghĩa.

Chí Hòa và Kỳ Hòa

Ở TP HCM hiện tồn tại đồng thời hai địa danh được cho là giống nhau đó là Chí Hòa và Kỳ Hòa. Theo các nhà nghiên cứu, Chí Hòa nguyên là tên một làng ở Gia Định, đã được lấy để đặt cho một đại đồn của quân đội ta xây nên để chống Pháp. Khi quân Pháp dồn lực lượng tấn công, đại đồn Chí Hòa thất thủ.

Về địa điểm của đại đồn Chí Hòa, nhà văn Sơn Nam cho biết: “Tướng Tôn Thất Hiệp rồi tướng Nguyễn Tri Phương đều chọn lựa cuộc đất nằm trong địa phận làng Chí Hòa Phú Thọ dọc theo rạch Nhiêu Lộc, lấy con đường đi Tây Ninh (Cách Mạng Tháng Tám ngày nay) làm trung tâm để xây đồn lũy…”. Như vậy, Chí Hòa ban đầu là tên làng, mà hiện nay vẫn còn tên gọi như đình Chí Hòa, nhà thờ Chí Hòa… Về sau, Chí Hòa đã trở thành tên một cái đồn được xây dựng tại đó để chống Pháp…

Còn tên Kỳ Hòa xuất hiện vào thời điểm nào? Theo tác giả Trần Trọng Kim trong quyển Việt Nam Sử Lược, thì Kỳ Hòa là cách gọi của người Việt, Chí Hòa là cách gọi của người Pháp. Nhưng tác giả lại không nêu cứ liệu. Còn theo nhà văn Sơn Nam trong quyển Địa danh TP HCM thì Chí Hòa mới là âm gốc, Kỳ Hòa là cách gọi sai lạc vì ngày nay còn địa danh Chí Hòa và ở Nam Bộ không có địa danh mang yếu tố Kỳ ở trước.

Bên cạnh các địa danh xưa, nhiều tên đường tại TP HCM hiện cũng bị viết sai mà các nhà nghiên cứu, nhà văn như: Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa… đã đề cập đến, hoặc đã được nêu lên trong những công trình biên soạn về Sài Gòn – TP HCM mấy chục năm qua.

Chẳng hạn như đường Sương Nguyệt Ánh ở quận 1, đúng ra phải là Sương Nguyệt Anh. Tuy nhiên, bao lâu nay trên các biển hiệu cũng như trong giao dịch, làm việc, người ta vẫn ghi là “Ánh” thay vì “Anh”.

Nguyên ban đầu chỉ có hai chữ Nguyệt Anh (con gái thứ 5 của cụ Nguyễn Đình Chiểu có sắc đẹp và tài làm thơ) đến sau ngày chồng qua đời bà thêm chữ Sương tức “người đàn bà góa chồng” đứng trước để thành biệt hiệu Sương Nguyệt Anh. Bà làm chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn năm 1918 là tờ Nữ giới chung (tiếng chuông của giới nữ).

Đường Lương Nhữ Học nằm trên địa bàn quận 5, thuộc khu vực Chợ Lớn, TP HCM cũng được cho là bị viết sai. Tên chính xác của vị danh nhân này phải là Lương Như Hộc – là quan, danh sĩ thời hậu Lê. Ông cũng là người hai lần làm sứ giả sang Trung Quốc và có công truyền lại nghề khắc bản gỗ in cho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục (tỉnh Hải Dương ngày nay) khiến nghề in nơi đây trở nên phát triển. Chính vì vậy ông được tôn xưng là “ông tổ” nghề khắc ván in.

Đường Lương Nhữ Học ở quận 5, TP HCM được cho là đang viết sai. Ảnh: H.C

Một con đường khác cũng bị viết sai là Kha Vạn Cân. Kỹ sư Kha Vạng Cân, nguyên là Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn là một nhân sĩ trí thức nổi tiếng của miền Nam, từng tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Vậy mà không biết vì lý do gì khi đặt tên ông cho một con đường lớn ở quận Thủ Đức, người ta lại viết thành Kha Vạn Cân.

Đường Trương Quốc Dung trên địa bàn quận Phú Nhuận cũng được đặt tên không chính xác vì đúng phải là Trương Quốc Dụng. Trong lịch sử Việt Nam không có vị danh nhân nào như tên con đường đang có. Chỉ có ông Trương Quốc Dụng, là nhà văn, nhà sử học, nhà thiên văn nổi tiếng của Việt Nam và là người có công chấn hưng lịch pháp thời nhà Nguyễn.

Theo Trung Sơn

From: taberd & NguyenNThu


 

Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Thoibao.deTam Truong Nguyen

 Mọi thấy cậu con trai của bà bộ trưởng bộ giáo dục có cái nét giống ông Tổng Bí thư Tô Lâm không ?

Lan Hue

 Tối qua xem bản tin VTV, tôi đã ngồi lặng đi rất lâu. Không phải vì bất ngờ, mà vì cái cảm giác bất lực quen thuộc ấy lại quay về.

Một cô gái 18 tuổi, vừa đứt lìa chân trên phố Nguyễn Huy Tự vào ngày 30/5/2025, đã chết sau một tuần trong bệnh viện. Cô chết ngay trước kỳ thi tốt nghiệp, cái tuổi mà đáng lẽ ra cô phải được bước vào phòng thi, chứ không phải nhà tang lễ.

Người cầm lái chiếc BMW X3 30H-369.09 đi ngược chiều, tông thẳng vào cô, tối qua được VTV và Công an Hà Nội xác nhận là ông Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

Và rồi câu chốt của bản tin: Ông Cương được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự vì “thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả và gia đình nạn nhân có đơn xin miễn”.

Tôi nghe xong, chỉ thấy tim mình thắt lại. Chúng ta đã từng tìm hiểu luật và luật pháp ghi rằng, trong một vụ tai nạn chết người do đi sai làn, khởi tố không phụ thuộc vào đơn bãi nại. Đơn bãi nại chỉ là tình tiết giảm nhẹ. Luật sư nào cũng nói vậy. Nhưng hóa ra, luật đó chỉ đúng khi người gây tai nạn là dân thường chăng?.

Còn khi người gây tai nạn là một nguyên Đại biểu Quốc hội, chồng của một người hiện đang giữ chức Bộ trưởng, thì luật lại có một lối rẽ khác: lối rẽ mang tên “miễn truy cứu”.

Tôi bất lực vì tôi nhớ lại hơn một năm qua, báo chí chỉ dám viết tắt “N.S.C.”, không dám đăng ảnh, không dám gọi tên. Tôi bất lực vì tôi thấy những bó hoa trắng người dân đặt ở gốc cây số 55 Nguyễn Huy Tự bị dọn sạch dưới sự giám sát của công an, phải có người đứng canh. Đến một nén nhang, một bông hoa tưởng niệm cho người đã khuất cũng không được yên.

Và tôi mất niềm tin, không phải vì một cá nhân được miễn tội, mà vì cách người ta hợp thức hóa sự miễn tội đó một cách trơn tru, đúng quy trình đến đáng sợ. Họ dùng chính những từ ngữ đẹp đẽ nhất của pháp luật – “thành khẩn”, “khắc phục”, “nhân đạo” – để bao bọc cho một sự thật trần trụi: một mạng người đã mất, nhưng người gây ra cái chết đó không phải chịu một ngày tù nào.

Tối qua, sau bản tin, tôi lướt Threads, thấy cả triệu bài viết. Không ai chửi bới vô cớ. Người ta chỉ hỏi một câu duy nhất: Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Câu trả lời ai cũng biết. Và chính vì ai cũng biết câu trả lời, nên niềm tin mới vỡ vụn.

Chúng ta không đòi hỏi gì ghê gớm. Chúng ta chỉ đòi hỏi công lý phải mù mắt như bức tượng của nó: không nhìn xem kẻ đứng trước vành móng ngựa là đại biểu hay dân thường. Nhưng tối qua, VTV đã cho chúng ta thấy, công lý ở đây có mắt, và nó nhìn rất rõ ai là ai.

Cô gái 18 tuổi ấy đã không có cơ hội đi thi. Còn chúng ta, những người ở lại, đang trượt dài trong một kỳ thi khác – kỳ thi về niềm tin. Và thật đau đớn, chúng ta đang rớt. 


 

Phụ nữ Việt trong ngành nail ở California và câu chuyện phía sau bàn làm móng

Ba’o Nguoi -Viet

August 18, 2026

SACRAMENTO, California (NV) – Cô Trish Nguyễn nhớ quãng thời gian làm móng tay và làm chân tại một tiệm nail ở Westminster, Orange County. Mùi acetone quanh bàn làm việc thường khiến cô chảy nước mắt, nước mũi như bị dị ứng. Đó là mở đầu bài viết “Module 4: Nail Salon Workers: Ethnic Labor Migration” của hai tác giả Tracy Lai và Kim Geron trên trang web Foundations and Futures mới đây.

Foundations and Futures là một cơ quan truyền thông đa dạng, thuộc Đại Học UCLA, chuyên viết về cuộc sống người gốc Châu Á-Thái Bình Dương ở Hoa Kỳ.

Người Việt chiếm tỉ lệ lớn trong lực lượng thợ nail tại California, một ngành tạo sinh kế cho nhiều gia đình di dân. (Hình minh họa: Storyblocks.com).

Theo bài báo, những người làm nail là một lực lượng lao động đông đảo, phần lớn là phụ nữ di dân, với những vấn đề kéo dài về tiền lương, sức khỏe tại nơi làm việc, và cách phân loại người lao động.

Từ sinh kế của người tị nạn đến một ngành dịch vụ phổ biến

Đầu thế kỷ 20, làm móng tại tiệm còn là dịch vụ xa xỉ, chủ yếu dành cho phụ nữ khá giả. Sang thập niên 1970, những dụng cụ mới giúp rút ngắn thời gian làm móng tay và chân, cùng lúc nhiều phụ nữ di dân và tị nạn gốc Á bước vào nghề. Trong số đó, phụ nữ Việt Nam giữ vai trò nổi bật, góp phần đưa nail từ một dịch vụ đắt tiền thành lựa chọn quen thuộc của cả tầng lớp trung lưu lẫn người có thu nhập thấp.

Dấu ấn ấy đặc biệt rõ tại California. Năm 2023, tiểu bang có 127,480 giấy phép hành nghề nail còn hiệu lực, trong khi dữ liệu doanh nghiệp năm 2021 ghi nhận 6,147 tiệm. Gần một nửa thợ nail ở California tập trung tại ba quận hạt Los Angeles, Orange, và San Diego. Riêng Orange County chiếm khoảng 17% lực lượng thợ và 11% số tiệm. Trong lực lượng này, phụ nữ chiếm đa số, phần lớn là người gốc Á Châu và sinh ra bên ngoài nước Mỹ, trong đó người gốc Việt chiếm tỉ lệ rất cao.

Ngành nail tại California chủ yếu gồm những cơ sở nhỏ. Khoảng 69% tiệm có dưới năm nhân viên và thêm 22% có từ năm đến chín người. Quy mô ấy cho thấy nghề nail gắn chặt với sinh kế của nhiều gia đình di dân, đồng thời cũng khiến các chủ tiệm phải xoay xở giữa tiền lương, chi phí bảo hiểm, yêu cầu an toàn, và áp lực cạnh tranh về giá.

Thu nhập vẫn là bài toán khó của thợ nail

Quy mô của ngành nail khá lớn, nhưng thu nhập của người thợ vẫn ở mức thấp. Theo Foundations and Futures, khoảng 78% thợ nail thuộc nhóm lao động lương thấp, được xác định là có thu nhập dưới 2/3 mức lương trung vị (median) của người làm việc toàn thời gian. Trong các ngành nghề nói chung, tỉ lệ này chỉ khoảng 33%. Tiền tip giữ vai trò đáng kể trong thu nhập của thợ, dù trên thực tế nhiều người vẫn có những ngày làm việc mà gần như không nhận được khoản này.

Áp lực thu nhập của thợ lại gắn với sức ép mà các tiệm nhỏ phải chịu. Việc tuân thủ các quy định về lao động, sức khỏe và an toàn có thể làm chi phí kinh doanh tăng, trong khi chủ tiệm vẫn phải cạnh tranh với những cơ sở giữ giá dịch vụ thấp hơn nhờ cắt giảm các khoản chi cần thiết. Chính mối quan hệ giữa giá dịch vụ, tiền công của thợ, và chi phí bảo đảm điều kiện làm việc khiến bài toán sinh kế trong ngành nail trở nên phức tạp hơn nhiều so với tên tuổi của một ngành nghề phổ biến và có giá dịch vụ phải chăng.

Hóa chất và sức khỏe của thợ nail

Mùi acetone mà cô Trish Nguyễn nhớ trong những ngày làm việc tại Westminster chỉ là một phần của môi trường nghề nghiệp trong tiệm nail. Foundations and Futures cho biết thợ thường phải ngồi nhiều giờ để mài, cắt, sơn, và đánh bóng móng trong những không gian thông gió kém, qua đó tiếp xúc thường xuyên với hóa chất. Cơ Quan Quản Lý An Toàn và Sức Khỏe Nghề Nghiệp (OSHA) cũng cảnh báo một số sản phẩm làm móng có chứa acetone, formaldehyde, và các hợp chất methacrylate. Việc tiếp xúc kéo dài có thể gây ngứa mắt, da, mũi và họng, đau đầu, hen suyễn cùng nhiều vấn đề sức khỏe khác.

Thợ nail thường làm việc nhiều giờ trong môi trường tiếp xúc với hóa chất, đặt ra những yêu cầu ngày càng rõ ràng hơn về an toàn sức khỏe và điều kiện lao động. (Hình minh họa: Storyblocks.com).

Một trở ngại khác nằm ở việc thông tin an toàn không phải lúc nào cũng đến được với người thợ bằng ngôn ngữ họ sử dụng thành thạo. Foundations and Futures cho biết nhiều người chưa được huấn luyện đầy đủ về cách ứng phó với hóa chất, trong khi tài liệu hướng dẫn an toàn có thể chưa được dịch sang ngôn ngữ chính của họ. Với một lực lượng lao động có tỉ lệ người sinh ngoài nước Mỹ rất cao, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tự bảo vệ trong công việc. California hiện có Chương Trình Công Nhận Tiệm Nail Lành Mạnh (Healthy Nail Salon Recognition Program – HNSR) do Cơ Quan Kiểm Soát Chất Độc Hại California (DTSC) phụ trách. Chương trình cho phép các địa phương công nhận những tiệm nail tự nguyện áp dụng các tiêu chuẩn nhằm giảm mức tiếp xúc với hóa chất và cải thiện điều kiện an toàn cho cả thợ lẫn khách hàng.

W-2 hay 1099 ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người thợ nail

Một vấn đề quan trọng trong ngành nail là người thợ được xếp vào diện nhân viên (employee) hay nhân viên làm việc độc lập (independent contractor). Foundations and Futures cho biết gần 1/3 thợ nail tại California được xếp vào nhóm tự làm chủ, tức là “independent contractor,” cao gấp ba tỉ lệ của lao động trong các ngành khác. Cách phân loại này ảnh hưởng trực tiếp đến tiền lương và các quyền lợi đi kèm.

Theo luật Mỹ, nhân viên được trả lương và khai thuế dạng W-2, còn nhân viên làm việc độc lập được trả lương theo dạng 1099.

Nhân viên (W-2) được bảo vệ về lương tối thiểu, làm thêm giờ, nghỉ bệnh, giờ nghỉ, và bồi thường tai nạn lao động, trong khi nhà thầu độc lập (1099) có ít quyền lợi hơn.

Tại California, từ ngày 1 Tháng Giêng, 2025, cách xác định thợ nail là nhân viên hay nhà thầu độc lập được áp dụng chặt chẽ hơn. Theo Bộ Quan Hệ Lao Động California (DIR), người làm việc tại tiệm nail thường được xem là nhân viên. Chỉ khi chủ tiệm chứng minh người thợ thực sự làm việc độc lập và đáp ứng đủ ba điều kiện của bài kiểm tra ABC, người đó mới có thể được xếp là nhà thầu độc lập. Việc trả tiền theo mẫu 1099 hoặc gọi người thợ là “contractor” chưa đủ để xác định họ là nhà thầu độc lập.

Từ sức khỏe đến tổ chức lao động

Năm 2005, một nhân viên của Asian Health Services ở Oakland nhận thấy nhiều thợ nail Việt Nam có những vấn đề sức khỏe giống nhau. Từ đó, tổ chức này hỗ trợ thành lập Liên Minh Tiệm Nail Lành Mạnh California (California Healthy Nail Salon Collaborative – CHNSC), ban đầu tập trung vào vấn đề hóa chất an toàn và điều kiện làm việc, sau đó mở rộng sang vấn đề tiền lương và quyền lợi lao động.

Các chiến dịch tương tự sau đó lan tới New York, Boston, Seattle, và Minneapolis. Tại New York, giới vận động cho thợ nail góp phần thúc đẩy dự luật “Nail Salon Workers’ Bill of Rights” năm 2015, trong đó đưa ra mức lương hợp pháp, các biện pháp bảo vệ sức khỏe, đường dây báo vi phạm, và yêu cầu cung cấp phiên dịch nội dung kỳ thi cấp phép sang nhiều ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt.

Việc thực thi luật cũng tiếp tục được siết chặt. Năm 2024, Bộ Lao Động Mỹ (DOL) buộc chủ ba tiệm nail tại Rhode Island trả $753,500 tiền lương còn thiếu và bồi thường nhân viên, đồng thời chấm dứt hành vi trả đũa người lao động. Những diễn biến này cho thấy vấn đề bảo vệ thợ nail ngày nay bao gồm cả sức khỏe, tiền lương, địa vị việc làm, và quyền lên tiếng tại nơi làm việc.

Một tiệm nail lớn của người Việt ở Orange County (Hình minh họa: Facebook Kim Tran).

Một phần khác của câu chuyện nghề nail

Nghề nail từ lâu là một trong những dấu ấn kinh tế rõ rệt nhất của cộng đồng Việt tại Mỹ. Nghề này tạo sinh kế cho hàng chục ngàn gia đình, mở đường cho nhiều người từ thợ lên chủ và góp phần thay đổi một ngành dịch vụ. Các nghiên cứu lao động bổ sung cho phần ít xuất hiện trong câu chuyện ấy. Đó là mức lương thấp, phơi nhiễm hóa chất, sự phức tạp của W-2 và 1099, cùng khoảng cách giữa luật trên giấy và sự thực thi tại hàng ngàn tiệm nail nhỏ.

Với California, đặc biệt là Orange County, những vấn đề của ngành nail tồn tại ngay trong đời sống cộng đồng. Triển vọng duy trì hoạt động của các tiệm nail luôn gắn chặt với tiền lương, phúc lợi, điều kiện thông gió, mức độ an toàn của hóa chất, và việc xác định địa vị lao động của người thợ. Từ sinh kế của những gia đình tị nạn thuở ban đầu, nghề nail của người Việt ngày nay đã đi một chặng đường dài và tạo nên dấu ấn rõ nét trong đời sống kinh tế địa phương. Chặng đường phía trước sẽ được đo bằng phẩm chất việc làm, sức khỏe, và mức độ bảo đảm quyền lợi cho những người vẫn ngồi bên bàn nail mỗi ngày. (T.C.) [đ.d.]


 

SỰ NGÂY THƠ CỦA CON TIM-Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.

Thần học gia Karl Rahner đưa ra một nhận xét rất sâu sắc về đoạn văn trong Phúc Âm, nơi Chúa Giê-su bị đóng đinh và nói về những kẻ hành hình Ngài: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Rahner cho rằng họ biết chính xác mình đang làm gì.  Họ biết mình đang giết một người vô tội, rằng họ đang đổ máu người vô tội.  Vậy tại sao Chúa Giê-su lại nói như vậy?

 Sự ngây thơ của họ là gì?  Sự cả tin của họ là gì? 

Câu trả lời của Rahner: Họ không biết mình đang làm gì vì họ không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Và điều đó có thể dẫn đến sự ngây thơ trong tâm hồn.  Tại sao vậy?

 Có một nơi sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta, một nơi mà chúng ta hiếm khi ý thức được, nơi mỗi người được Chúa yêu thương vô điều kiện.  Những người đóng đinh Chúa Giê-su không biết mình đang làm gì vì họ không nhận thức được điều đó.  Đó là sự mù quáng, sự thiếu hiểu biết của họ.  Mặc dù bề ngoài có vẻ như vậy, nhưng họ không biết mình đang làm gì.

 Điều này cũng đúng với chúng ta.  Quá thường xuyên chúng ta đóng đinh người khác và chính mình vì sự thiếu hiểu biết này: chúng ta không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Hậu quả là, đôi khi chúng ta tàn nhẫn trong phán xét và dễ làm những điều làm tổn hại đến phẩm giá của mình.  Chúng ta đấu tranh để không trở thành một trong những kẻ hành quyết trên thập tự giá bởi vì, cuối cùng, chúng ta hành động vì thiếu hiểu biết.  Chúng ta không biết gì hơn, giống như sự ngây thơ của đứa trẻ tự làm tổn thương mình vì thiếu hiểu biết.

 Nhưng đây không phải là một nhận định mới.

 Thần học cổ điển đã phân biệt giữa sự ngu dốt có lỗi và sự ngu dốt không có lỗi.  Loại thứ hai, còn được gọi là sự ngu dốt không thể khắc phục, được xem là biện minh cho việc người ta không phạm tội và không chịu trách nhiệm.  Do đó, có quan điểm cho rằng bạn có thể làm những việc sai trái nhưng không phạm tội vì bạn hành động trong sự ngu dốt.  Điều này dựa trên niềm tin rằng bạn chỉ có thể hành động một cách đạo đức và có trách nhiệm nếu bạn thực sự biết mình đang làm gì.  Để phạm tội, bạn phải hành động một cách “có chủ ý.”  Tuy nhiên, đó là một điều kiện khá phức tạp.

 Nhìn vào thế giới ngày nay, tôi dám khẳng định rằng trong một số vấn đề đạo đức quan trọng, chúng ta đang hành động trong sự ngu dốt không thể cứu vãn.  Nói một cách đơn giản, chúng ta không biết điều gì tốt hơn.  Chỉ có kiểu ngu dốt đã cho phép những người chân thành đóng đinh Chúa Giê-su mới có thể giải thích tại sao chúng ta, những người tốt và chân thành, lại có thể mù quáng đến vậy, cả về mặt cộng đồng và cá nhân, đối với người nghèo, đối với những đòi hỏi về kinh tế và xã hội mà đức tin của chúng ta đặt ra.  Lý do thực sự khiến chúng ta có thể sống thoải mái trong khi khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng nới rộng không phải vì chúng ta xấu xa và vô lương tâm, mà đúng hơn, như Rahner nói, chúng ta không biết mình được yêu thương đến mức nào.

 Điều tương tự cũng đúng với thái độ của chúng ta đối với tình dục.  Chúng ta đã có thể coi thường tình dục, tách rời nó khỏi sự thiêng liêng của hôn nhân, và biến nó thành một phần mở rộng của việc hẹn hò (hoặc đơn giản là tình dục giải trí) chỉ vì một sự thiếu hiểu biết cố hữu nào đó.  Chúng ta không biết điều gì tốt hơn, không phải vì chúng ta thiếu lương tâm, mà vì chúng ta thiếu bất kỳ cảm nhận thực sự nào về tình yêu sâu sắc của Chúa và phẩm giá mà nó ban cho chúng ta. 

Giống như những kẻ hành quyết Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc trong việc hợp lý hóa, coi nhẹ và bù đắp chính vì chúng ta không biết mình đang làm gì.  Chúng ta không có nhận thức rõ ràng về tình yêu thương của Chúa dành cho mình.  Do đó, rất dễ đánh mất cái nhìn khách quan, cảm thấy bị loại trừ và làm những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ làm nếu nhận thức đầy đủ hơn về phẩm giá của mình.

 Chẳng có gì lạ khi chúng ta chấp nhận những điều kém cỏi hoặc bất cứ thứ gì hứa hẹn sự thoải mái và an toàn.  Chắc chắn Chúa Giê-su đang nhìn chúng ta và nói: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Nhưng liệu điều đó có đúng không?  Chúng ta có thể thực sự viện cớ thiếu hiểu biết và vô tội để nói rằng mình không biết gì hơn được không?

 Tôi nói có, không phải vì chúng ta ngu ngốc hay thiếu thông minh.  Đây là sự ngây thơ trong tâm hồn.  

Chúng ta vô tình không nhận thức được tình yêu thương vô bờ bến của Chúa dành cho chúng ta.

 Rất ít người trong chúng ta, ở bất kỳ cấp độ hiện sinh nào, từng nghe Chúa nói với mình: “Ta yêu con!”  Rất ít người trong chúng ta từng nghe và cảm nhận được những gì Chúa Giê-su hẳn đã cảm nhận khi chịu phép báp-têm, khi Ngài nghe Cha mình phán: “Con là con yêu dấu của Ta; Ta vui mừng vì con!”  Thật vậy, rất ít người trong chúng ta từng nghe một người khác, từ tâm hồn đến tâm hồn, nói với mình: “ Ta yêu con vô điều kiện! Ta vui mừng vì con!”  Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên khi, giống như những kẻ hành hình Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc, với lương tâm trong sáng, đôi khi lại mù quáng và không trung thực với chính mình?

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.  Sự phản bội chỉ có thể xảy ra nếu trước đó người ta đã nghe những lời: “Tôi yêu bạn.”  Những kẻ hành hình Chúa Giê-su đã hành động trong bóng tối xuất phát từ việc chưa bao giờ nghe thấy điều đó.  Tôi cho rằng điều tương tự cũng đúng với nhiều người trong chúng ta.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Ta sống ở đời này để làm gì? – Cha Vương

Mến chào ngày mới! Chúc Bạn và gia đình một ngày tốt lành trong tình yêu và sự quan phòng của Chúa. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới biến đổi chiến tranh thành yêu thương nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 17/08/2026.     (t3-21)

GIÁO LÝ: Ta sống ở đời này để làm gì? Ta sống ở đời này để nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, để làm việc lành theo ý Thiên Chúa, và để một ngày nào đó sẽ đạt tới quê Trời.

SUY NIỆM:  Được làm người có nghĩa là đến từ Thiên Chúa và đi về với Thiên Chúa. Nguồn gốc của con người đến từ cao xa hơn là từ cha mẹ họ, nghĩa là đến từ Thiên Chúa, nơi có chứa hạnh phúc của cả trời đất, nơi ta được chờ đón để hưởng hạnh phúc đời đời vô hạn định. Ta đang sống ở trần gian này. Đôi khi, ta thấy gần gũi với Đấng Tạo hóa, nhưng thường là chẳng thấy gì. Để dẫn ta vào đúng hướng tốt, Thiên Chúa đã sai con của Người là Chúa Giêsu để giải thoát ta khỏi tội, cứu ta khỏi mọi sự dữ và dẫn ta vào sự sống thật không sai lầm. Người “là Con Đường, là Sự Thật, là Sự Sống”. (Ga 14,6) (Youcat, số 1)

  Điều gì đang làm bạn không nhận biết và yêu mến Thiên Chúa? 

Có phải là bạn đang bị cuốn hút trong cơn lốc của văn minh, của tiền bạc, danh vọng và hưởng thụ. Bạn hãy nghĩ xem, nếu con người quá chú trọng đến nhu cầu thể xác mà quên đi đời sống tâm linh, thì họ đã tự tách ra khỏi quỹ đạo của Sự Sống, tự đánh mất chính mình. Họ chỉ là những thây ma không hồn, gieo tai hoạ và khổ đau cho nhau. Con người sẽ đối xử tàn bạo với nhau nếu con người chỉ coi mình thuần túy là loài vật mà chối bỏ niềm tin vào Trời, vào Thiên Chúa, vào Ðấng tạo thành. Thiết tưởng rằng bạn cũng cảm nhận được điều này trong cơn đại dịch COVID này…

LẮNG NGHE: Thiên Chúa muốn cho mọi người được ơn cứu rỗi và nhận biết sự thật (the truth) (1 Tm 2:4)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… Vì chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

THỰC HÀNH: Hãy dành một chút thời giờ để nhìn lại mục đích đời người là gì?

From: Do Dzung

*****

Hạt Bụi Đời Con….!


 

“TIẾNG ĐÀN VIOLIN TRONG MƯA”

Cang Huynh

“TIẾNG ĐÀN VIOLIN TRONG MƯA”

Jonas Kovač là một nghệ sĩ violin đường phố ở Praha. Anh chưa từng học ở nhạc viện hay chơi trên những sân khấu lớn; sân khấu của anh là Quảng trường Phố Cổ, mái nhà của anh là bầu trời, và khán giả của anh… bất cứ ai dừng lại để lắng nghe.

Cây violin cũ kỹ với lớp sơn đã sờn, anh thừa hưởng từ cha mình, một nhạc sĩ chưa bao giờ kiếm sống được bằng nghề này, nhưng người đã dạy anh một điều quý giá hơn bất kỳ tấm bằng nào: “Âm nhạc không cần phải hoàn hảo, nó cần phải chạm đến tâm hồn.”

Mỗi buổi chiều, Jonas chơi nhạc từ năm giờ cho đến khi đèn đường bật sáng. Mọi người đi ngang qua, đôi khi để lại vài đồng xu, đôi khi thậm chí không nhìn anh. Anh không phàn nàn; anh nói rằng âm nhạc, giống như mưa, không phải để đón nhận, mà để rơi xuống bất cứ nơi nào cần đến.

Một ngày thứ Năm mùa thu, khi anh đang chơi một bản adagio của Albinoni, bầu trời bắt đầu tối sầm. Sấm sét vang lên, và mưa bắt đầu trút xuống dữ dội. Du khách chạy tìm chỗ trú. Các tiểu thương đóng cửa hàng. Quảng trường gần như vắng tanh.

Nhưng Jonas… vẫn tiếp tục chơi.

Mưa làm ướt áo khoác của anh, dây đàn trở nên trơn trượt, nhưng tay anh không hề run. Anh nhắm mắt lại và để mỗi nốt nhạc trôi nổi trong không khí ẩm ướt.

Rồi một cô bé, không quá 10 tuổi, xuất hiện dưới chiếc dù màu đỏ. Cô bé dừng lại trước mặt anh và nhìn anh với vẻ say mê.

“Sao chú vẫn chơi khi trời mưa?” cô bé hỏi một cách ngây thơ.

Jonas mỉm cười.

“Vì có những bài hát không thể dừng lại… ngay cả khi không ai khác có thể nghe thấy chúng.”

Cô bé mở ba lô, lấy ra một đồng xu nhỏ và bỏ vào hộp đựng đàn, vốn đã đầy nước. Trước khi rời đi, cô bé nói:

“Mẹ cháu đang nằm viện. Mẹ thích chơi đàn violin. Cháu sẽ thu âm bài hát này cho mẹ nghe.”

Jonas gật đầu và đổi giai điệu. Anh đàn bản “Meditation” của Thaïs với sự cẩn trọng và dịu dàng mà anh đã không cảm nhận được trong nhiều năm. Trong lúc chơi nhạc, anh tưởng tượng ra người phụ nữ nằm trên giường bệnh, nghe nhạc con gái mang đến qua điện thoại.

Khi cô bé rời đi, Jonas đứng lặng một lúc. Cơn mưa làm anh ướt sũng, nhưng anh cảm thấy một hơi ấm khác lạ trong lồng ngực.

Tuần sau, anh quay lại quảng trường. Trong số những người dừng lại, anh nhận ra chiếc dù màu đỏ. Đó là cô bé, đi cùng một người phụ nữ ngồi xe lăn.

“Là ông ấy,” cô bé nói, chỉ vào Jonas. “Mẹ ơi, ông ấy là người đàn ông mà con kể cho mẹ.”

Đôi mắt người phụ nữ sáng lên.

“Cảm ơn cậu vì đã không dừng lại hôm đó,” bà nói, giọng nghẹn ngào. “Tôi đang phải trải qua hóa trị… và âm nhạc của cậu đã giúp tôi quên đi nỗi đau trong giây lát.”

Jonas cúi đầu, không biết nói gì. Và anh bắt đầu chơi nhạc cho họ nghe, chỉ dành riêng cho họ.

Từ ngày đó trở đi, cứ mỗi thứ Năm lúc năm giờ chiều, mẹ con họ lại xuất hiện ở quảng trường. Họ sẽ ngồi bên nhau, bất kể trời mưa hay nắng, và lắng nghe.

Theo thời gian, sức khỏe của người phụ nữ được cải thiện, và nhiều năm sau, khi cô gái, lúc này đã là một thiếu nữ, bắt đầu học violin, cô lại tìm Jonas để nhờ anh một điều duy nhất: dạy cô chơi như thể trời luôn mưa, ngay cả vào những ngày nắng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

NHỮNG NGHI NGỜ CỦA BÀ LÃO – Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Cách thức để triển nở đức tin là thực hành nó, đặc biệt trong việc yêu thương tha nhân.”

 Một bé gái 6 tuổi đến ăn tại nhà một người bạn.  Khi mọi người ngồi vào bàn, cô bé cúi đầu chờ đợi mọi người đọc kinh ăn cơm.  Chẳng thấy ai đọc kinh hết, cô bé thẹn thùng nói: “Cả nhà giống con chó nhà cháu quá, cứ ngồi xuống là ăn!”

Dân Do Thái cũng nghĩ như thế đối với đám dân ngoại.  Theo họ, dân ngoại xét về mặt thiêng liêng cũng giống như loài chó vì họ hoàn toàn thiếu nhạy cảm đối với Thiên Chúa.  Ðiều này dẫn chúng ta đến chủ điểm quan trọng của bài Phúc Âm hôm nay.

 Các học giả nhận xét là từ ngữ Hy Lạp mà Chúa Giêsu nói về “lũ chó” trong câu “không nên ném thức ăn cho lũ chó” là một hình thức giảm thiểu.  Nó ám chỉ lũ chó cưng nuôi trong nhà, chứ không phải những con chó rông ngoài đường.  Chúa Giêsu dùng từ ngữ ấy một cách thân ái.  Câu đáp lại của người phụ nữ cho thấy rõ điều ấy.  Có lẽ bà ta vừa mỉm cười vừa nói:

“Những lũ chó cũng được ăn vụn bánh rơi xuống nền nhà chứ!”

 Nói cách khác, bà ta đang nói với Chúa Giêsu: “Con biết Ngài hiện đang dành ưu tiên cho dân Israel, tuy nhiên trong khi Ngài thiết đãi họ, Ngài lại không thể đẩy cho con chút ít bánh vụn giống như đám nhóc quăng bánh xuống cho lũ chó cưng khi bố mẹ chúng không nhìn thấy sao?”

 Chúa Giêsu liền trả lời cho bà ta: “Bà là người phụ nữ giàu lòng tin!  Điều bà mong muốn sẽ được trao ban cho bà.”

 Thật đẹp biết bao nếu Chúa Giêsu cũng nói như thế về anh chị em.

 Ðiều này gợi lên một vấn nạn: Tại sao một số người có đức tin mạnh mẽ trong khi số khác đức tin lại yếu kém?  Tại sao lại thấy đó là điều khó khăn?  Và điều đó dẫn đến một vấn nạn còn khó khăn hơn: Nếu đức tin của chúng ta yếu kém thì liệu chúng ta có thể làm gì để củng cố?  Chúng ta hãy xét vắn tắt từng vấn nạn nêu trên.

 Trước hết, tại sao có những người đức tin yếu kém và có những người đức tin mạnh mẽ?  Ðiều này cũng giống hệt như việc hỏi tại sao có người yếu nhược còn có người lại khỏe mạnh?

 Một số người có sức khỏe yếu kém là do cha mẹ họ.  Họ thừa hưởng một thân xác eo sèo.  Nhưng cũng có những người sức khỏe yếu kém vì họ chẳng biết chăm sóc sức khỏe cho chính mình.

 Ðiều đúng cho sức khỏe thể lý thế nào thì cũng đúng cho sức khỏe tâm linh đức tin của chúng ta như thế.  Một số người có đức tin yếu kém là do cha mẹ họ.  Sức khỏe tâm linh được di truyền cũng tương tự như sức khỏe thể lý.  Nếu bố mẹ lạnh nhạt với đức tin của mình thì điều này cũng thường tác động lên đám con cái họ.  Mặt khác, đức tin của chúng ta yếu kém cũng có thể là do chúng ta không chăm sóc nó.

 Ðiều này dẫn chúng ta đến vấn nạn thứ hai.  Nếu đức tin chúng ta yếu kém bất kể vì lý do gì, chúng ta có thể làm gì để củng cố nó lại?  Ðức tin có thể được so sánh với một bắp thịt.  Nếu chúng ta không chịu luyện tập, bắp thịt ấy sẽ từ từ yếu đi.  Mặt khác, các bạn càng luyện tập, bắp thịt ấy càng mạnh mẽ lên.  Đức tin của chúng ta tương tự như thế.  Nó cũng cần phải được tập luyện.

 Có nhiều phương cách luyện tập đức tin.  Chúng ta có thể học hỏi và bàn luận về Phúc Âm như hiện chúng ta đang làm.  Chúng ta có thể tham dự thánh lễ mà ít phút nữa chúng ta sẽ cử hành một cách chăm chú hơn.  Chúng ta có thể tập cầu nguyện mỗi ngày để việc cầu nguyện trở thành thói quen.

 Tuy nhiên, còn một phương cách luyện tập đức tin chúng ta xem ra cực kỳ hữu hiệu.  Cách này đáng được lưu tâm đặc biệt.  Dostoevski có bàn đến nó trong tác phẩm của ông nhan đề: “Anh em nhà Karamazốp” (The Brothers Karamazov).  Trong tác phẩm này, tác giả đề cập đến một bà lão nọ.  Sức khoẻ thiêng liêng của bà đã suy thoái mau chóng theo sức khỏe thể lý.  Ngày nọ bà ta bàn luận vấn đề của mình với vị linh mục già tên là Zossima.  Bà kể cho cha nghe về đức tin yếu kém của bà và những nỗi ngờ vực vừa phát sinh, chẳng hạn như: Thiên Chúa có thực sự quan tâm đến vạn vật không?  Có đời sống sau lúc chết không? 

Linh mục Zossima thông cảm lắng nghe bà và nói: “Chẳng có cách nào minh chứng rõ ràng những điều này, nhưng bà vẫn có thể tin tưởng những điều ấy vững chắc hơn.”  Bà ta ngạc nhiên: “Bằng cách nào?”  Vị linh mục già đáp: “Bằng tình yêu.  Hãy cố gắng yêu láng giềng của bà thật tình.  Càng yêu thương, bà sẽ càng chắc chắn hơn về sự hiện hữu của Chúa và đời sống tương lai sau khi chết.  Càng yêu mến, đức tin bà sẽ càng lớn lên và các nỗi ngờ vực sẽ tiêu tan.  Ðây là điều chắc chắn từng được thử nghiệm và nó đã có kết quả.”

 Linh mục Zossima nói thật chí lý.  Người cho ta thấy điểm quan trọng là: tình yêu và đức tin đi đôi với nhau không khác gì hai đường rầy xe lửa.  Tìm được cái này tức là tìm thấy cái kia.  Ðức tin và tình yêu liên kết với nhau như xác với hồn.  Albert Schweitzer, vị bác sĩ thừa sai vĩ đại, cũng có cùng quan điểm như trên trong cuốn sách của ông có nhan đề Reverence For Life (Kính trọng cuộc sống).  Ông bàn đến một vài điều đem lại kết quả này như sau:

 “Bạn có muốn tin vào Chúa Giêsu không?  Bạn có thực sự muốn tin Người không?  Như thế bạn phải làm một điều gì đó cho Người.  Trong thời buổi đầy ngờ vực này thì không có cách nào khác đâu.  Nếu vì Người mà các bạn cho kẻ khác cái gì đó để ăn, để uống hoặc để mặc, những nghĩa cử này Chúa Giêsu đã hứa chúc phúc như là làm cho chính Người, thì lúc đó các bạn sẽ thấy rằng mình đã thực sự làm điều ấy cho Người.  Chúa Giêsu sẽ mặc khải chính Người cho các bạn như thể Người vẫn còn sống.”

 Và điều này dẫn chúng ta trở lại với người phụ nữ trong bài Phúc Âm.  Bà đến với Chúa Giêsu là vì kẻ khác, chớ không vì chính bà, Bà đã đến vì tình yêu, đã đến với tư cách một người mẹ đầy lòng yêu thương, tin tưởng.

 Tôi xin nêu lên một gợi ý.  Tôi tin rằng mỗi bài Phúc Âm khi được đọc trong thánh lễ đều mang theo một ân sủng đặc biệt.  Nếu các bạn là một bậc cha mẹ cảm thấy cần củng cố đức tin của mình, thì hãy bắt chước người phụ nữ trên.  Ngay tuần này, các bạn hãy bắt đầu đến với Chúa Giêsu mỗi ngày đều đặn để kêu cầu Người chúc phúc cho con cái các bạn.  Nếu các bạn là một thanh niên cảm thấy cần củng cố đức tin của mình thì hãy làm điều Dostoevski và Schweitzer đã nói.  Hãy bắt đầu cư xử một cách yêu thương đối với bố mẹ và anh chị em của mình.

 Và tôi xin chia sẻ thêm một tư tưởng nữa về vấn đề đức tin.  Bất cứ ai dù khỏe mạnh đến đâu cũng phải trải qua những khó chịu bởi vì cuộc sống con người vốn là như thế.  Chẳng hạn, vào ngày buồn sầu trong cuộc sống khi gặp phải cảm nghiệm chua chát, chúng ta thường gây gỗ với mọi người và mọi vật, chúng ta nguyền rủa kẻ thù và than phiền về bạn bè của mình.  Còn vào ngày hưng phấn trong cuộc sống.  Khi chúng ta cảm nghiệm được điều gì hoan hỉ, tự dưng chúng ta cảm thấy yêu mến mọi người và mọi sự.  Chúng ta tha thứ cho kẻ thù và thích tỏ tình thân thiện với bè bạn.

 Ðức tin cũng rất giống như thế.  Có ngày rất tươi sáng và rất phấn khích, có ngày ảm đạm, sầu thảm.  Khi gặp phải một ngày “tồi tệ” của đức tin, các bạn hãy ghi nhớ câu chuyện có thực sau đây.  Nó sẽ giúp bạn chịu đựng ngày ấy và giữ vững niềm tin của mình.

 Sau thế chiến thứ hai ít lâu, có một số công nhân lo dọn dẹp sạch sẽ tàn tích của một ngôi nhà bị bom ở Cologne (nước Ðức).  Họ thấy trên một bức tường nhỏ trong nhà, có một bản ghi chú đầy cảm động, hình như một người Do Thái trên đường trốn bọn Quốc Xã đã viết lên đó.  Anh ta dùng tầng hầm của căn nhà để trốn bọn Quốc Xã.  Sau đây là bản ghi chú đó:

 Tôi tin vào mặt trời ngay cả lúc nó không chiếu sáng.
Tôi tin vào tình yêu ngay cả lúc tôi không cảm thấy nó.
Tôi tin vào Thiên Chúa ngay cả khi Người yên lặng”…

 Lm. Mark Link, S.J.

  From: Langthangchieutim

BỆNH VIỆN VÀ NGHĨA TRANG

Xuyên Sơn

BỆNH VIỆN VÀ NGHĨA TRANG

Chị thì thầm vào tai anh:

“Còn mấy hôm nữa là rằm tháng Giêng chắc mình phải về nhà chứ.”

Anh kéo chiếc mền mỏng lên ngang ngực, chiếc mền ngắn quá, lòi cả nửa ống chân ra ngoài. Anh nhìn chung quanh một vòng, ngượng ngùng co chân lại.

“Về sao được em, phải chờ chứ, còn nước còn tát, mấy hôm nay thằng bé cũng thấy khá hơn một chút.”

Hai vợ chồng đang nằm ngủ ngay trước cửa Bệnh Viện Ung Thư, con trai họ 12 tuổi kiếm được một chỗ nằm chung một giường với một đứa trẻ khác bên trong, (sau khi anh chị đưa cho y tá trực ở đó hai lần hai cái phong bì.)

Dưới gầm giường thì có bố mẹ của đứa bé kia rồi, không còn chỗ cho anh chị nữa.

Họ lên đây từ trước Tết, đợi mãi mới tới phiên con được khám.

Trong khi chờ thì cứ ngồi, nằm, ngay ở hành lang bệnh viện.

Anh chị không phải là cặp vợ chồng duy nhất ngủ ở ngoài này.

Số người chờ khám cho thân nhân hay chờ khám cho chính mình nhiều hơn số giường của bệnh viện có, nên người chờ đợi, ăn, ngủ, tràn lan ra tới hành lang.

Trời mưa lụt, nước tràn ngập cả trong phòng đợi, người ngồi, kẻ nằm trên những chiếc ghế nhựa trông thật thảm thương.

Ngày khô thì chiếu trải la liệt dưới đất.

Anh chị từ Hòa Bình mang con về Hà Nội chạy chữa, thằng bé 12 tuổi đang đi học bỗng ngã bệnh, chữa mãi Bác Sĩ tỉnh nhà không khỏi, thử máu, chụp hình mới biết là bị ung thư màng óc.

Chị lại thì thầm:

“Tết mình đã không có mặt ở nhà để cúng ông bà, thì Rằm cũng phải về cúng Phật chứ anh. Hay em ở lại với con, anh về mấy hôm đi.”

“Anh về cũng chẳng an tâm được.

Mấy hôm ngủ ngoài sương thấy em đã bắt đầu ho.Thôi, Trời Phật cũng thông cảm cho mình.”

Chị im lặng một lúc, lại ngập ngừng nói:

“Thôi anh cứ yên tâm về đi, còn bà nội thằng Tí ở nhà nữa, anh về đi kẻo mẹ trông, em biết là mẹ mong anh về lắm.”

Người chồng ngồi hẳn dậy, co hai chân lên vòng tay ôm qua đầu gối, thở dài.

“Ừ, chắc anh nên về, em nói đúng, bà nội thằng Tí đang mong tin lắm. Anh đã chia tiền ra từng gói nhỏ để em tiện chi tiêu. Tiền trả cho Bệnh Viện chữa trị, tiền đưa bác sĩ thì anh để riêng, tiền đưa y tá, tiền lao công anh cũng để riêng.”

Người vợ ngồi hẳn dậy, quấn lại cái chăn cho gọn, thu xếp mấy cái túi đựng cả một gia đình lưu động của mình.

Chị nhìn chung quanh một vùng bao quát, trong ánh nắng sớm mai yên tĩnh mọi người chưa thức dậy hết.

Họ nằm ngang, nằm dọc, hay xoay chân ngược chiều nhau.

Những bàn chân gầy gò, và những cái đầu xơ xác tóc, họ đang ngủ hay đã thức rồi mà vẫn còn nằm im lo lắng bất an.

Mặt trời sẽ lên, thêm một ngày chờ đợi, đến bao giờ mới tới phiên mình, hay phiên của người thân mình.

Số tiền mang trong túi, cài hai ba cái kim cho chặt, liệu có đủ trả tiền chạy chữa, tiền thuốc và tiền phong bì không?

Nói đến phong bì chị bỗng nhớ, hỏi anh:

“Tiền anh lo đủ rồi nhưng anh quên chưa mua phong bì cho em. Đưa thẳng tiền mặt ra ai đứng gần cũng nhìn thấy, không tiện đâu.”

Anh ngẩn người ra, ừ nhỉ mấy hôm nay bận quá, cứ lo chỗ ăn chỗ ngủ cho con bên trong bệnh viện, cho hai vợ chồng ngoài hành lang, anh quên hẳn việc phải mua sẵn một lố phong bì.

Anh nhìn trước nhìn sau thấy một xấp báo còn mới, ai đó vứt sang chỗ anh chị nằm.

Anh nhặt lên nói với chị:

“Báo còn mới, em cứ lấy con dao, rọc vuông vức rồi gói tiền vào đó cũng được. Nhưng phải nhớ để riêng vào túi trong, túi ngoài, kẻo nhầm của người này lại đưa cho người kia.”

Chị cười nhẹ:

“Anh đừng lo, tiền thì em cẩn thận lắm.”

Chị đón xấp báo còn mới trong tay anh, báo trong tay thì dĩ nhiên là chữ trước mắt, chị đọc qua một chút trước khi đi tìm dao rọc.

Sau mấy phút chị ngẩn người ra, để rơi tờ báo xuống lòng.

Anh thấy lạ hỏi:

“Tin gì vậy em?”

Chị không nói, đưa tờ báo cho anh.

Báo chí trong nước cho hay, chính quyền thành phố Hà Nội hôm 1/2 công bố quy hoạch được thủ tướng phê duyệt về xây nghĩa trang “phục vụ nhu cầu an táng cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước; các anh hùng, danh nhân của đất nước”.

Tin cho hay, nghĩa trang Yên Trung nằm dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội 40 cây số về phía Tây, giáp Vườn Quốc Gia Ba Vì; phía Đông giáp đồi núi và đường cao tốc Hòa Lạc-Hòa Bình; phía Nam giáp đồi núi và khu dân cư.

Tổng diện tích nghĩa trang là 120 hécta, gồm khu an táng 72 hécta, với 2,200 – 2,500 ngôi mộ, mỗi ngôi mộ có khuôn viên 25-35 mét vuông và khu đệm cây xanh cảnh quan trên 47 hécta, có sức chứa 5,000 người.

Nguồn vốn dự kiến hơn 1,430 tỷ đồng (hơn $63 triệu) sẽ lấy từ ngân sách nhà nước.

Thời gian thực hiện dự án khoảng 36 tháng.

Anh đọc tiếp ở một trang khác:

Vẫn theo các báo, với tổng diện tích 120 hectare, tương đương một phường lớn ở nội thành Hà Nội, dự án có vị trí ở huyện Thạch Thất, dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội 40 kilomet về phía tây.

Thông tin từ bản quy hoạch cho thấy sẽ có 105 hộ dân phải di dời để nhường chỗ cho dự án.

Anh đọc xong nhìn sang chị, thấy chị vẫn thẫn thờ nhìn mông lung ra một nơi xa lắc xa lơ nào đó.

Anh hỏi:

“Sao vậy em, nhà nước xây nghĩa trang thì dính dáng gì tới mình mà em buồn quá vậy?”

Chị quay lại nhìn chồng, hai mắt mở to:

“Sao mấy ông lớn không nghĩ đến việc xây thêm mấy cái bệnh viện cho người đau ốm, xây thêm trường học cho trẻ em? Họ bỏ ra tới 1,400 tỷ đồng để lo “chôn “ những người chưa chết.

Rồi lại thêm 105 gia đình phải mất nhà mất cửa cho họ thêm chỗ.

Anh nhìn đi, cả bao nhiêu năm nay bệnh nhân cũng như người thân của bệnh nhân nằm màn trời chiếu đất trước cửa bệnh viện. Trẻ con nghèo không đủ cơm đã đành ngay cả trường lớp cũng thiếu thốn…

Có ông lớn nào quan tâm tới không?”

Anh nhìn vợ với cặp mắt thương hại, nói nhỏ:

“Thế bây giờ em định làm gì, em cầm biển ngữ đi biểu tình đòi nhà nước xây bệnh viện, trường học thay vì xây nghĩa trang cho các ông lớn hả. Em có muốn vào tù vì tội chống phá nhà nước, trong khi con em đang bị ung thư không?”

Chị nhìn anh một lúc, không trả lời.

Hai con mắt chị ánh lên một nét giận dữ, chị mở tung những cái giỏ ra tìm con dao, chị nín thở rọc tờ báo ra từng miếng nhỏ để làm những cái phong bì, chị dằn mạnh từng nhát dao đi qua những hàng chữ:

“nghĩa trang, “phục vụ nhu cầu an táng cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước”

“Nguồn vốn dự kiến hơn 1,430 tỷ đồng (hơn $63 triệu) sẽ lấy từ ngân sách nhà nước.”

“105 hộ dân phải di dời để nhường chỗ cho dự án.”

Chị cắt ngang, cắt dọc tờ báo tưởng như cắt đứt được những dự án làm chị uất ức.

Chị cắt được hơn mười cái phong bì, chia ra bốn túi khác nhau, cho bác sĩ,

y tá và lao công.

Chị biết, muốn cứu con chị thì không thể nào tránh né được cái khoản chi trả thêm này.

Chị nhìn anh đang thu xếp về nhà với mẹ để kịp cúng Rằm.

Thật ra chị biết, cúng Rằm chỉ là phụ, việc chính là anh về nhà chạy thêm tiền, số tiền anh chị đem theo được so với số tiền sẽ phải dùng tới cách xa nhau nhiều quá.

Nghĩ đến những món nợ sẽ phải trả, chị thấy như có một khối đá đè lên ngực.

Hai con mắt chị vẫn còn ánh lên những tia giận dữ, cái giận dữ của một người hoàn toàn bất lực trước một việc xấu mà sức mình không làm gì được.

Một khu nghĩa trang 5000 huyệt mộ. Quan chức cao cấp Đảng ở đâu mà nhiều thế?

Chắc chắn các đại gia sẽ có phần mộ ở đây.. Có khi cả ca sĩ nổi tiếng có tiền cũng dọn vào.

Chưa chắc các danh nhân và anh hùng tử sĩ đã có chỗ, vì phần đông gia đình họ nghèo và họ đã tắt tiếng nói (may ra có một tấm bia chung).

Chị kêu thầm trong ngực.

Nước mắt chị ứa ra.

Có ai trả lời cho chị không?

S.T.


 

Vance: Hạ giá dầu giờ là “mục tiêu số một” của cuộc chiến Iran

Ba’o Nguoi-Viet

August 14, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Phó Tổng Thống JD Vance nói trong cuộc phỏng vấn mới nhất với Fox News rằng mục tiêu số một hiện nay của Mỹ trong cuộc chiến Iran là giữ giá dầu và xăng thấp cho người Mỹ, mục tiêu thứ hai là bảo đảm Iran không có vũ khí hạt nhân, NBC News loan tin hôm Thứ Sáu, 14 Tháng Tám. 

Phát biểu này dường như hạ thấp kỳ vọng rằng eo biển Hormuz trở lại tình trạng trước chiến tranh. Ông Vance chỉ nói cần đưa eo biển trở lại trạng thái mà giá dầu và khí đốt ổn định, thay vì nhấn mạnh phải hoàn toàn mở và không thu phí như trước đây. 

Phó Tổng Thống JD Vance lên tiếng tại lễ tưởng niệm cố Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham hôm 28 Tháng Bảy. (Hình: Win McNamee/Getty Images)

Chính quyền Trump đồng thời chuẩn bị gia tăng áp lực kinh tế lên Iran. Bộ Trưởng Tài Chính Scott Bessent nói tuần tới Mỹ đưa ra những biện pháp cô lập kinh tế ở mức chưa từng thấy. 

Còn Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth nói Hải Quân Mỹ có thể duy trì phong tỏa các cảng Iran vô thời hạn, bằng cách luân chuyển tàu chiến. 

Chính sách gây áp lực mới tạo ra một nghịch lý rằng ngay sau khi Mỹ đe dọa phong tỏa Iran vô thời hạn, giá dầu tăng trở lại. Giá dầu Brent lên tới khoảng $88.50/thùng và WTI khoảng $82.81 trong phiên giao dịch sáng 14 Tháng Tám. 

Hiện tại, Iran vẫn sử dụng eo biển Hormuz như đòn bẩy thương lượng và đòi Mỹ dỡ trừng phạt, giải toả tài sản Iran bị đóng băng trước khi cho giao thông hàng hải trở lại bình thường. 

Tổng Thống Donald Trump đưa nước Mỹ vào cuộc chiến Iran ngày 28 Tháng Hai với lý do chủ chốt ban đầu được đưa ra là thay đổi chế độ. Nhưng khi không có bất kỳ cuộc cách mạng lật đổ chính quyền dù lãnh đạo tối cao của Iran bị giết chết trong các cuộc không kích, mục tiêu “chủ chốt” chuyển sang Iran không thể có vũ khí hạt nhân.

Hiện tại sau gần sáu tháng, Phó Tổng Thống JD Vance lại nói mục tiêu “số một” là giữ giá dầu và xăng thấp, còn vấn đề hạt nhân xuống hàng thứ hai.

Cuộc chiến Iran vì vậy đang có một dấu hiệu quen thuộc của những cuộc chiến mất phương hướng đó là mục tiêu thay đổi theo những hậu quả từ chính cuộc chiến tạo ra. (MPL)


 

Tôn giáo là thứ ngăn người nghèo giết người giàu-Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Ba’o Dan chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

31/07/2026

Đó là một câu nói thường được gán cho Napoléon Bonaparte. Dù câu nói ấy có thực sự là của ông hay không thì ý tưởng phía sau vẫn rất đáng suy ngẫm.

Một người hiểu quyền lực sẽ biết rằng không thể cai trị hàng triệu con người mãi bằng súng đạn. Quân đội rất tốn kém, cảnh sát cũng có giới hạn, nhà tù không thể nhốt hết mọi người. Muốn một chế độ tồn tại lâu dài thì cách hiệu quả nhất là khiến người dân tự kiểm soát chính mình.

Khi người ta tin rằng số phận của mình là do trời định, rằng đau khổ là điều phải chấp nhận, rằng chỉ cần ngoan ngoãn rồi một ngày nào đó sẽ được đền bù, thì họ sẽ ít đặt câu hỏi hơn.

Khi sự phục tùng được coi là một đức hạnh, còn sự chất vấn bị coi là sai trái, thì không cần nhiều binh lính nữa. Bởi vì hình thức kiểm soát mạnh nhất không đến từ bên ngoài mà đến từ bên trong mỗi con người.

Từ hàng nghìn năm nay, rất nhiều nhà cầm quyền đã sử dụng cùng một công thức: hãy chịu đựng, hãy vâng dạ, phục tùng, hãy chờ đợi. Chỉ khác nhau ở chỗ, có thời người ta hứa hẹn thiên đường sau khi chết, có thời người ta hứa hẹn một thiên đường ngay trên mặt đất.

Điều đáng suy ngẫm là nhiều chế độ chính trị cũng học đúng công thức ấy. Nếu ngày xưa người ta dùng tôn giáo để hứa hẹn thiên đường sau khi chết, thì ngày nay có nơi lại dùng những khẩu hiệu và những lời hứa về một “thiên đường xã hội chủ nghĩa” trong tương lai. Mục đích không phải là để người dân nhìn vào hiện tại, mà là luôn hướng mắt về một ngày mai tốt đẹp. Khi người dân còn mải chờ đợi thiên đường ở phía trước, họ sẽ ít đặt câu hỏi về những gì đang diễn ra hôm nay, và những người đang nắm quyền vẫn có thể tiếp tục hưởng đặc quyền của mình.

Đó là lúc hệ thống vận hành trơn tru nhất. Không cần dùng roi vọt quá nhiều nếu con người tự nhắc nhau phải im lặng. Không cần theo dõi từng người nếu ai cũng sợ bị coi là “khác biệt”. Không cần cấm đoán quá nhiều nếu chính xã hội sẽ gây áp lực lên những người dám đặt câu hỏi.

Đó là mức độ kiểm soát cao nhất: khi sự phục tùng được coi là lựa chọn tự nguyện.

Theo thông tin được lan truyền về hội nghị ngày 29/7, có phát biểu nhắc đến mục tiêu Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phát triển ở trình độ cao vào năm 2130. Đúng là một cái bánh ngon choét.

Nhưng một xã hội muốn phát triển thì điều quan trọng nhất không phải là những lời hứa cho một trăm năm sau. Điều người dân quan tâm là hôm nay họ có được sống tốt hơn không, có được nói lên ý kiến của mình không, có được pháp luật bảo vệ công bằng không, con cái họ có cơ hội vươn lên bằng năng lực hay không…

Một tương lai tốt đẹp không thể chỉ được xây bằng những khẩu hiệu. Nó phải được xây bằng những việc làm mà người dân có thể nhìn thấy, kiểm chứng và cảm nhận ngay trong cuộc sống hằng ngày.

Bởi vậy, trước bất kỳ lời hứa nào về một thiên đường ở rất xa, có lẽ mỗi người đều nên tự hỏi một câu rất đơn giản: Nếu cái bánh ngon đến thế, tại sao nó luôn được hẹn vào một ngày mà không ai trong chúng ta còn sống để nếm thử?

Một chính quyền không thể được đánh giá bằng những thiên đường hứa hẹn cho năm 2130. Nó phải được đánh giá bằng cuộc sống của người dân hôm nay.

Và chừng nào mỗi người còn chỉ lo cuộc mưu sinh của riêng mình mà không dám nhìn vào toàn bộ hệ thống, chừng đó hệ thống vẫn sẽ vận hành như cũ.

Đúng là: “Tôn giáo là thứ ngăn người nghèo giết người giàu.”

Nhưng người nghèo lại không biết điều đó. Ngược lại người giầu lại luôn áp dụng điều đó.


 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều 

Đừng tranh cãi với những người đã bước qua tuổi sáu mươi.

Không phải vì họ luôn đúng.

Mà vì họ đã đi qua quá nhiều điều để hiểu rằng không phải chuyện gì cũng đáng để thắng thua.

Họ là thế hệ lớn lên trong một thế giới không có Internet, không có điện thoại thông minh, không có Google để tìm câu trả lời chỉ trong vài giây. Họ học cách sống bằng trải nghiệm, bằng những lần vấp ngã và bằng chính đôi tay của mình.

Khi một món đồ hỏng hóc, họ không vội thay mới. Họ tìm cách sửa chữa. Khi gặp khó khăn, họ không đăng trạng thái lên mạng xã hội. Họ lặng lẽ tìm cách vượt qua.

Họ thuộc về một thế hệ mà trẻ con có thể chạy chân trần ngoài đồng, leo cây, tắm mưa, ngã trầy đầu gối rồi đứng dậy như chưa có chuyện gì xảy ra.

Họ uống nước từ vòi, ăn những bữa cơm đạm bạc, mặc lại quần áo của anh chị và coi đó là điều bình thường. Họ lớn lên trong những năm tháng mà vật chất còn thiếu thốn nhưng tình người lại rất đầy.

Đó là thế hệ biết quý từng hạt gạo trên mâm cơm vì đã từng trải qua những ngày khó khăn. Biết trân trọng đồng tiền vì đã từng lao động từ rất sớm. Biết giữ gìn một món đồ trong nhiều năm vì hiểu giá trị của sự tích góp.

Họ là những người đã chứng kiến thế giới thay đổi với tốc độ chóng mặt.

Từ chiếc radio chạy pin đến điện thoại thông minh. Từ những lá thư viết tay đến các cuộc gọi video xuyên lục địa. Từ những con đường đất đỏ đến các tuyến cao tốc hiện đại. Họ đã sống trong hai thế giới khác nhau: một thế giới hoàn toàn không có công nghệ và một thế giới công nghệ hiện diện trong từng hơi thở của cuộc sống.

Điều đáng khâm phục là họ không chỉ tồn tại giữa những thay đổi ấy.

Họ thích nghi.

Họ học hỏi.

Họ tiếp tục bước đi.

Có thể họ không sử dụng điện thoại nhanh bằng con cháu.

Có thể họ nhắn tin chậm hơn.

Có thể đôi lúc họ bấm nhầm nút hay gửi nhầm tin nhắn.

Nhưng đằng sau những điều ấy là cả một cuộc đời đầy trải nghiệm mà không một công cụ tìm kiếm nào có thể thay thế.

Họ biết thế nào là mất mát.

Biết thế nào là hy sinh.

Biết thế nào là gánh vác gia đình trong những năm tháng khó khăn nhất.

Họ đã nuôi con bằng những đồng lương ít ỏi.

Đã thức trắng đêm vì bệnh tật của con cái.

Đã từ bỏ nhiều ước mơ riêng để đổi lấy tương lai cho những người mình yêu thương.

Có một điều rất thú vị.

Người trẻ thường tự hào vì biết nhiều thứ.

Nhưng người lớn tuổi thường im lặng vì đã hiểu nhiều điều.

Họ hiểu rằng cuộc đời không phải lúc nào cũng công bằng. Rằng có những chuyện phải học cách chấp nhận. Rằng tha thứ đôi khi mang lại bình yên hơn chiến thắng.

Và rằng thời gian là người thầy nghiêm khắc nhất nhưng cũng công bằng nhất.

Tuổi sáu mươi không chỉ là một con số.

Đó là hàng chục nghìn ngày đã sống.

Là vô số lần đứng lên sau thất bại.

Là những nỗi đau không kể hết bằng lời.

Là những bài học được đánh đổi bằng cả tuổi trẻ.

Vì thế, nếu có thể, hãy dành cho những người lớn tuổi thêm một chút kiên nhẫn.

Một chút lắng nghe.

Một chút tôn trọng.

Bởi họ không chỉ là những người đã già đi.

Họ là những cuốn sách sống.

Là những chứng nhân của thời gian.

Là những con người đã đi qua những mùa giông bão nhất của cuộc đời để hôm nay có thể ngồi đó, mỉm cười kể cho chúng ta nghe một câu chuyện tưởng như rất bình thường nhưng chứa đựng cả một đời người phía sau.

Rồi một ngày nào đó, khi tóc chúng ta cũng bạc đi, khi bước chân cũng chậm lại, có lẽ chúng ta sẽ hiểu rằng điều đáng quý nhất không phải là sống bao nhiêu năm.

Mà là đã sống như thế nào trong những năm tháng ấy.

Và những người trên sáu mươi hôm nay chính là minh chứng đẹp nhất cho sức mạnh của sự bền bỉ, lòng kiên cường và phẩm giá của con người.

Nguồn : NguoiCaoTuoi – Dulichvanhoa

Sưu tầm.