Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa-Truyen ngan HAY

Mẹ Việt Con Mỹ: Giọt Lệ Trên Cánh Hoa

09/05/2026

Phương Hoa

TG Phương Hoa nhận giải Chung Kết TG-TP VVNM từ nhà thơ Du Tử Lê và  Chủ khảo Trương Ngọc Bảo Xuân 

Định cư tại Mỹ từ 1994, Phương Hoa vừa làm nail vừa học. Năm 2012, bà tốt nghiệp ngành dạy trẻ tại Chapman University khi đã 62 tuổi và trở thành bà giáo tại Marrysville, thành phố cổ vùng Bắc Calif. Với loạt bài về Vietnam Museum, “Bảo Tàng Cho Những Người Lính Bị Bỏ Quên,” tác giả đã nhận giải Chung Kết 2014, giải Trùng Quang 2018 và vẫn tiếp tục gắn bó với Viết Về Nước Mỹ. Góp vào loạt bài đón mừng ngày Lễ Mẹ, tác giả kể lại một câu chuyện về tình mẹ con với kết thúc có hậu. 

***

 (Viết theo lời kể của một người – Tên nhân vật và địa danh đã được thay đổi)

Cái tên Lũ như một lời nguyền định mệnh vận vào đời cô ngay từ lúc chào đời.  Vào một đêm tối trời năm ấy, Cao Bằng chìm trong thác lũ, mưa to, gió lớn, bão bùng, nước từ thác núi đổ xuống cuốn trôi tất cả sản nghiệp của cái bản làng vốn đã nghèo xơ xác. Vì hoảng sợ, người mẹ trẻ bỗng trở dạ sinh non. Xóm làng ngập trong biển nước, nhà nhà kêu cứu, người người khóc than.  Bà mẹ miền núi một mình sinh con, tự dùng miếng lạt tre cắt rốn cho bé gái. Và cái tên “bé Lũ” được đặt cho cô như để ghi dấu ngày cả xã bị thiên tai.

Lũ lớn lên giữa đại ngàn, mang vẻ đẹp thoát tục của đóa hoa lê rừng, nhưng tâm hồn lại chứa đựng cả một đại dương u uẩn và mầm mống nổi loạn. Hàng ngày sau giờ học chữ, Lũ mang gùi lên rẫy cuốc đất trồng khoai cùng cha mẹ, nhưng trong thâm tâm cô gái vùng cao luôn ước mơ về một chân trời xa lạ. Do đó về sau, cuộc đời cô là một chuỗi những chuyến thiên di đẫm máu và nước mắt. Cô nào biết, sẽ có ngày mình phải hát khúc biệt ly trong khoảng cách giữa đại ngàn trùng điệp núi non và vực thẳm từ xứ sở văn minh.

Năm ấy, theo tiếng gọi của tình yêu và giấc mơ về một vùng trời tự do, Lũ cùng người yêu, Mịch, chàng thanh niên đẹp trai học thức, ngoan cường trong bản con của Già Làng khả kính, dấn thân vào cuộc vượt biên đầy bão táp để đi tìm tự do nơi đất nước Thái Lan. Họ theo một nhóm người đi bộ xuyên qua những cánh rừng già thâm u, nơi mà lân tinh của cái chết luôn rập rình trong từng lùm cây, ngọn cỏ. Đêm ở rừng biên giới lạnh thấu xương, tiếng thú dữ gầm vang hòa cùng tiếng bước chân đạp trên lá khô xào xạc, khiến kẻ lữ hành phải lạnh cả sống lưng. Đôi bàn chân Lũ rướm máu, đôi vai gầy run rẩy dưới những cơn mưa rừng xối xả, cô nắm chặt tay Mịch và bước theo anh, để mặc cho đám vắt đói bám vào người hút máu. 

Qua bao gian truân, trải nhiều khiếp hãi, cuối cùng nhóm người từ Bắc Việt Nam cũng đến được đất tự do. Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã giáng một đòn chí mạng khi họ vừa chạm chân đến Thái Lan. Một tai nạn kinh hoàng trên cung đường tị nạn đã cướp đi sinh mạng của Mịch. Giữa lòng đất lạ, Lũ khuỵu xuống bên nấm mồ đất đỏ vừa đắp, tiếng gào khóc của cô tan loãng vào hư không. Người thanh niên duy nhất cô tin cậy đã vĩnh viễn nằm lại dưới tán rừng già, để lại một mình cô bơ vơ, tâm hồn vụn vỡ như mảnh gương tan.

Qua bao mùa xuân hạ vất vả khó khăn, bấy nhiêu lần nhìn trăng tròn rồi khuyết hồi họp đợi chờ, cuối cùng Lũ cũng đặt chân được đến Mỹ, định cư ở miền Bắc California. Với vốn tiếng Anh bằng không, Lũ như người mù đi trong ánh sáng. Cô chấp nhận làm công việc dọn dẹp lau chùi, do người nhà thờ giới thiệu, cho một gia đình giàu có gần bờ biển Berkeley.

Henry, người đàn ông Mỹ vừa ly dị vợ, mang vẻ ngoài lịch lãm nhưng ẩn chứa sự độc đoán. Sắc đẹp của bông hoa rừng núi đã lọt vào mắt xanh của người đàn ông này. Ông ta ép cô vào một mối quan hệ không hôn thú. Trong căn biệt thự lộng lẫy nhưng lạnh lẽo ấy, Lũ sống như một cái bóng, nhẫn nhục và câm lặng vì sự ngăn cách ngôn ngữ.

Hằng đêm, Lũ phải cắn răng chịu tủi nhục, bị hành hạ dục tình. Vì tuổi lớn ông ta luôn cần thuốc trợ lực nên việc ấy rất dẻo dai. Và Lũ bị bắt buộc đáp ứng, tuân theo những trò làm tình đầy quái đản không phải của con người, nếu không sẽ bị đánh đập. Cô luôn đuối sức gần như ngất đi sau mỗi cuộc truy hoan, nên thân thể cô ngày càng héo úa. Cộng với sự nhớ thương về Mịch, nhiều lần Lũ nghĩ quẩn, muốn bỏ cuộc đời.

Nhưng sau đó bé Kathy chào đời. Đứa trẻ là ánh sáng duy nhất, là sợi dây mỏng manh níu giữ cô với cuộc đời đầy ảm đạm. Một lần, nhân dịp đưa con đi dạo ngoài shopping mall, Lũ ghé vào một tiệm vàng người Việt. Với số tiền chắt chiu từ những giờ làm lụng vất vả, cô đặt làm hai sợi dây chuyền vàng 14 cara, mặt hình trái tim giống hệt nhau. Trên mặt mỗi trái tim ấy là dòng chữ khắc rất đẹp: “Kathy – Lũ”.

“Mẹ đeo một sợi, con đeo một sợi. Sau này dù có lạc mất nhau, nhìn thấy trái tim này, con sẽ biết mẹ vẫn luôn ở bên con”. Lũ thì thầm vào tai bé, dù nó chẳng hiểu một chữ tiếng Việt.

Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang, vì bi kịch xảy ra. Khi Kathy lên sáu, Henry chán chường vì sự im lặng chịu đựng và ngày càng tàn tạ của Lũ.  Ông ta đưa một người đàn bà Mỹ về nhà và nhẫn tâm đuổi cô ra khỏi cửa.  Cay đắng hơn, ông dùng quyền lực và tiền bạc để tước đoạt quyền nuôi con, dứt bé Kathy ra khỏi vòng tay mẹ.

Vì không biết tiếng Anh, Lũ không thể kêu cứu, không thể ra tòa. Cô chỉ biết hằng ngày sau khi đi làm về lại đến rình rập bên hàng rào sắt, với đôi mắt đỏ hoe nhìn qua khe lá để được thấy bóng dáng con thơ đang chạy nhảy hoặc ngồi xích đu trong sân.

Một chiều hoàng hôn tím ngắt, khi Lũ đang cố với tay gọi tên con qua kẽ hở, Henry bất ngờ lao ra. Trên tay ông ta là khẩu súng đen ngòm, họng súng lạnh lùng dí thẳng vào trán cô.

“Cút đi, hoặc tôi sẽ bắn nát đầu cô!”  Tiếng thét của ông ta vang lên như sấm sét. “Từ bây giờ, nếu gặp cô ở đây lần nữa là tôi sẽ bắn!”

Lũ hoảng loạn bỏ chạy rớt cả dép, đôi chân trần đạp trên sỏi đá bên đường chảy máu, trái tim cô như bị xé toạc khi tiếng khóc xé lòng của Kathy vọng lại phía sau:

“Mommy! Mommy! Don’t go! I want mommy!” Mẹ ơi! Mẹ ơi! Đừng đi! Con muốn mẹ!

Dù trong sự sợ hãi tột cùng và nỗi nhớ thương con đến cháy cả tâm can, Lũ cũng quyết định rời bỏ California, trốn chạy sang Arizona theo lời khuyên của một người bạn mới quen vừa từ Cali dọn qua đó, để bảo toàn mạng sống, ôm theo lời thề sẽ có ngày trở lại tìm con.

Tại Arizona, Lũ tìm việc làm rồi lao vào học như một kẻ điên. Đêm về, cô thức trắng với những cuốn từ điển dày cộm, nước mắt rơi nhòe cả những trang sách y khoa.  Cô hiểu rằng, chỉ có tri thức và việc làm ổn định trong xã hội mới giúp cô cơ hội tìm lại con gái.

Mười bảy năm ròng rã, Lũ từ người đàn bà không biết một chữ tiếng Anh bẻ đôi đã trở thành một LVN (Y Tá Điều Dưỡng) làm việc tận tụy trong bệnh viện. Nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, hình bóng bé Kathy với sợi dây chuyền hình trái tim vẫn là một vết thương chưa bao giờ khép miệng. Mỗi khi thấy những người mẹ bế con trong bệnh viện, lòng cô lại quặn thắt.  

Cuối cùng, Lũ xin được việc làm tại bệnh viện Summit Medical Center Bắc Cali, và dọn về thành phố cũ, chấp nhận đối mặt với quá khứ đau thương để tìm lại máu mủ của mình. Lần mò đến nhà xưa, Lũ theo dõi nhiều ngày không thấy bóng dáng người chồng cũ độc ác ra vào, mà chủ nhân là những người lạ mặt. Thì ra ông ta đã đổi chỗ dời nhà, lòng cô đau như cắt, không biết tìm con nơi nào. Từ đó Lũ làm việc và sống vất vưởng như kẻ không hồn. 

Ba năm sau, trong một đêm trực khuya tại bệnh viện, sau nhiều ngày làm việc quá sức và nỗi nhớ con bào mòn sức lực, khi ra về Lũ ngất xỉu ngay tại hành lang. Khi tỉnh lại, ánh đèn trắng của phòng cấp cứu làm Lũ chói mắt nên vội nhắm lại ngay. Một bàn tay ấm áp đang nắm chặt lấy tay cô, và một giọng Mỹ run run cất lên:

“Bà ơi… bà tỉnh rồi sao?”

Lũ lờ mờ hé mắt và thấy một cô gái Mỹ trẻ tuổi, tóc vàng xinh đẹp trong chiếc áo blouse trắng tinh khôi đang ngồi nhìn cô với ánh mắt kinh ngạc đến khó tả, đôi môi thì run rẩy. Một người nam y tá trẻ bước vào hỏi: “Bác sĩ, nhịp tim bệnh nhân đã…”

Chưa nói hết câu, anh ta bỗng khựng lại, nhìn vào mặt người bác sĩ và kêu lên: “Chuyện gì đang xảy ra vậy, bác sĩ?

Lũ lật đật ngồi hẳn dậy, đôi mắt mờ đục bỗng sáng lên, nhìn chăm chăm vào người bác sĩ ngồi bên cạnh giường, tay còn đang nắm chặt tay cô. Trên khuôn mặt vô cùng xinh đẹp ấy có những giọt nước mắt đang lăn xuống, lấp lánh dưới ánh đèn. Lũ vội nhìn lên bảng tên trên áo vị bác sĩ: “Kathy Williams M.D. – Attending Physician”

 Lũ há hốc miệng, mắt trợn tròn, người run lẩy bẩy vội chỉ tay vào cái bảng tên, lắp bắp: “Ka…thy! Cô… là…Kathy?”

“Yes! Mẹ… ơi! Con là Kathy đây!” Kathy nói trong nghẹn ngào, xong thò tay vào trong cổ áo, lôi ra sợi dây chuyền mặt trái tim có khắc chữ, “Kathy – Lũ” và nói tiếp.  “Con nhận ra nó trên cổ mẹ khi kích tim làm cấp cứu cho mẹ. Con rất nhớ mẹ nên giữ kỹ sợi dây chuyền này đến tận bây giờ, vì con tin mẹ sẽ quay về tìm con… Con vẫn còn nhớ như in ngày bố chỉa súng đuổi mẹ đi.”

Lũ sững sờ không thốt nên lời. Cô ôm chầm lấy con gái, tiếng nấc nghẹn ngào vỡ òa giữa phòng cấp cứu yên tĩnh. Hai mảnh ghép của trái tim sau gần hai thập niên xa cách đã khớp lại hoàn hảo. Bác sĩ Kathy cũng bật khóc lớn trước sự ngỡ ngàng của người y tá, những giọt nước mắt nóng hổi rơi lên bàn tay gầy guộc của Lũ. Cô hít một hơi dài. Mùi hương tóc con, hơi ấm của con, những thứ Lũ đã hằng đêm mơ thấy suốt hai chục năm qua, giờ đây đà hiện hữu. Nỗi đau của rừng thiêng bão tố, họng súng lạnh lùng của Henry, sự thương nhớ Kathy, và những đêm trắng học hành vất vả… tất cả đều tan biến trong khoảnh khắc này.

Dưới ánh đèn neon sáng rực, hai trái tim yêu thương – mẹ hiền và con gái – đã chạm vào nhau, lấp lánh một tình yêu bất diệt. Lũ hiểu rằng, sau bao “trận lũ” của cuộc đời, cuối cùng cô cũng đã tìm thấy bến đỗ bình yên nhất: Đó chính là vòng tay của con gái Kathy…

 Phương Hoa


 

Ưu tiên số một của tôi là đến Nashville để xây nhà.

 My Lan Pham  

Ông ngã trong nhà vào một buổi sáng Chủ nhật, chỉ năm ngày sau sinh nhật lần thứ chín mươi lăm, khi đang chuẩn bị đi nhà thờ. Ông đập trán vào một cạnh sắc. Ông được đưa đến bệnh viện. Khi ra viện, ông có mười bốn mũi khâu phía trên mắt trái, một vết bầm tím đen lan khắp khuôn mặt, và một miếng băng trắng dán trên trán.

Đội ngũ của ông lặng lẽ hỏi liệu sự kiện ở Nashville có nên hoãn lại hay không.

Đây là điều Jimmy Carter đã nói:”Ưu tiên số một của tôi là đến Nashville để xây nhà.”

Tối hôm đó, đội chiếc mũ bóng chày Atlanta Braves và mang gương mặt bầm tím, băng bó của một người tuyệt đối không chịu ở nhà, ông đứng trên sân khấu tại nhà hát Ryman Auditorium trong tiếng reo hò của hàng trăm tình nguyện viên. Sáng hôm sau, ông đã có mặt tại công trường.

Ở tuổi chín mươi lăm. Tay cầm búa.

Đó không phải là màn trình diễn. Đó đơn giản chỉ là con người ông.

James Earl Carter Jr. sinh ngày 1 tháng 10 năm 1924 tại Plains, bang Georgia — một thị trấn có chưa đến bảy trăm dân. Gia đình ông không có điện hay nước máy cho đến khi ông bước vào tuổi thiếu niên. Cha ông là nông dân. Mẹ ông, bà Lillian, là một y tá, người đã gia nhập Peace Corps ở tuổi sáu mươi tám vì bà tin rằng mình vẫn còn có thể cống hiến thêm cho đời.

Ông sớm học được rằng sự phụng sự không phải là điều để nói.

Mà là điều để làm.

Ông phục vụ trong Hải quân. Ông phục vụ tại Thượng viện bang Georgia. Ông phục vụ với tư cách Thống đốc bang Georgia. Từ năm 1977 đến 1981, ông là Tổng thống thứ ba mươi chín của Hoa Kỳ.

Rồi ông rời Nhà Trắng.

Và ông vẫn tiếp tục cống hiến.

Tháng 9 năm 1984, chỉ ba năm sau khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống Jimmy Carter cầm lấy một chiếc búa và tham gia tình nguyện cùng Habitat for Humanity. Khi đó ông năm mươi chín tuổi và nghĩ rằng có lẽ đó chỉ là một lần duy nhất.

Nhưng không phải vậy.

Cũng trong năm ấy, ông và Rosalynn đang đi bộ ở thành phố New York thì nhìn thấy một công trình của Habitat với rất ít tình nguyện viên. Họ bước tới. Họ tham gia làm việc. Họ đưa thêm nhiều người khác đến cùng. Họ giúp cải tạo một tòa nhà bỏ hoang thành mái ấm cho mười chín gia đình.

Và họ không bao giờ dừng lại.

Trong suốt ba mươi lăm năm tiếp theo, Jimmy và Rosalynn Carter luôn xuất hiện. Năm nào cũng vậy. Dù mưa hay nắng. Dù khỏe mạnh hay đau đớn. Hết quốc gia này đến quốc gia khác. Hết mái nhà này đến mái nhà khác.

Rồi tháng 8 năm 2015 đến.

Khi ấy Carter đã chín mươi tuổi, các bác sĩ phát hiện một khối u trong gan ông. Sau phẫu thuật, họ xác định đó là ung thư hắc tố di căn dạng ung thư da nguy hiểm nhất. Các xét nghiệm cho thấy nó đã lan tới bốn vị trí khác nhau trong não. Nếu không điều trị, các bác sĩ nói rằng ông có lẽ chỉ còn sống chưa đầy sáu tháng.

Ông bước lên trong một cuộc họp báo, mỉm cười và nói với cả thế giới:

“Tôi đã có một cuộc đời tuyệt vời. Tôi sẵn sàng cho bất cứ điều gì xảy đến.”

Các bác sĩ điều trị cho ông bằng một loại thuốc miễn dịch tiên tiến vừa được FDA phê duyệt một năm trước đó. Kết hợp với xạ trị nhắm trúng đích vào các khối u trong não, điều đó đã tạo nên một kết quả đáng kinh ngạc.

Nó có hiệu quả.

Đến cuối năm 2015, chỉ vài tháng sau chẩn đoán, Jimmy Carter được xác nhận đã sạch ung thư.

Ông quay lại xây nhà.

Năm 2019, ông bị ngã và chấn thương hông. Ông hồi phục. Rồi lại quay về xây nhà. Sau đó là buổi sáng Chủ nhật ấy, năm ngày sau sinh nhật lần thứ chín mươi lăm — mười bốn mũi khâu, gương mặt bầm tím, chiếc mũ bóng chày, sân khấu Ryman Auditorium, và công trường xây dựng ngay sáng hôm sau.

Trong hơn bốn mươi năm, Jimmy và Rosalynn Carter đã giúp xây dựng, cải tạo và sửa chữa hơn bốn nghìn bốn trăm ngôi nhà trên khắp thế giới — làm việc cùng hơn một trăm nghìn tình nguyện viên. Những gia đình từng không có gì giờ đã có một nền móng vững chắc dưới chân mình. Một nơi thực sự thuộc về họ.

Bởi vì một người từng có tất cả vẫn luôn chọn xuất hiện vì người khác.

Jimmy Carter qua đời ngày 29 tháng 12 năm 2024 tại nhà riêng ở Plains, Georgia, trong vòng tay gia đình.

Ông thọ một trăm tuổi vị tổng thống sống lâu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Ông không hoàn hảo. Không ai hoàn hảo cả. Nhưng suốt bốn thập kỷ sau khi rời khỏi cương vị quyền lực nhất thế giới, ông chưa bao giờ ngừng cầm lấy chiếc búa để giúp những người cần một mái nhà.

Khi ngã xuống, ông đứng dậy. Khi bệnh tật ập đến, ông chữa trị, hồi phục và quay lại làm việc. Khi cơ thể nói hãy dừng lại, ông nói với nó rằng mình còn có nơi cần đến.

Một số người nói về niềm tin của mình.

Còn Jimmy Carter thì xây dựng nó bằng chính đôi tay mình. 


 

HOA QUẢ THỨ 11: Khiêm Nhu – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay bạn ráng trở thành một người khiêm nhu đi, mình biết chắc những người chung quanh sẽ zui lắm đó.

Cha Vương

Thứ 6: 29/05/2026.   (n3-6-22)

TIN MỪNG: Lòng kính sợ ĐỨC CHÚA là trường dạy khôn ngoan, khiêm nhu là đường dẫn đến vinh dự. (CN 15:33)

HOA QUẢ THỨ 11: Khiêm Nhu— Trong tự điển tiếng Việt định nghĩa là: 

  1. tính khiêm tốn, tính nhún nhường, tính nhũn nhặn, 
  2. tính thùy mị, tính nhu mì, tính e lệ, 
  3. tính vừa phải, tính phải chăng, tính bình thường, tính giản dị. 

Nhưng theo ý nghĩa truyền thống và thần học, khiêm nhu mang tính yếu đuối, nhưng người khiêm nhu chiến thắng cơn tức giận của mình, biết kiềm chế, biết điều chỉnh và điều khiển năng lực để làm điều tốt hơn điều xấu.

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong xã hội có những phần tử đề cao sự thành công của con người dựa trên bao nhiêu huy chương, bao nhiêu phần thưởng, bao nhiêu bằng cấp, bằng khen, bao nhiêu tài sản họ có. Họ rất hãnh diện và tự hào về sự thành công của họ. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì đó là mồ hôi nước mắt của họ, họ phải lao động hết sức vất vả mới có được như ngày hôm nay. Họ có đi ăn cướp ăn trộm của ai đâu. Vấn đề ở đây là một khi họ thần thánh hoá niềm tự hào, sự hãnh diện và những thành công của thì họ đã tự biến những gì rất bình thường trở thành bất bình thường. Họ trở thành người kiêu ngạo, tự cao, tự đắc qua cách ứng xử không tế nhị, không tôn trọng kẻ khác. Hay nói cách khác đi, họ coi trời bằng vung. Họ luôn tìm kiếm những sự chú ý cho riêng mình. Ngược lại trong xã hội ngày nay cũng không thiếu những người rất khiêm nhu và khiêm nhường. Họ biết kiềm chế, điều chỉnh, và điều khiển cảm xúc của họ. Họ phục vụ một cách tích cực, biết động viên và khuyến khích những người cùng làm việc chung với cả sự khiêm nhu và hết sức tế nhị. Họ không muốn người khác nói lời cảm ơn hoặc tìm kiếm lời khen ngợi của người khác. Họ làm việc tận tuỵ trong âm thầm vì yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân. Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói: “Nếu bạn khiêm nhu, không có gì ảnh hưởng tới bạn, dù lời khen ngợi hoặc sự ghen ghét, vì bạn biết mình là ai”.  Ước mong bạn cảm nhận được tầm quan trọng của nhân đức khiêm nhu trong cuộc sống, biết dấn thân, quên mình, không đòi hỏi gì nơi người khác nhưng luôn biết cộng tác kết nối với tha nhân làm việc chỉ để cho danh Chúa được cả sáng mà thôi.

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải  biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin biến đổi qua tim con để con biết những việc con phải làm, từ lúc khởi sự cho đến khi hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa chứ không bởi con.

THỰC HÀNH: Tập nhận biết tôi chẳng là gì trước mặt Chúa. Tôi chỉ là người quản lý của Chúa thôi.

From: Do Dzung

******************************

Tất Cả Là Hồng Ân || St Lm. Huy Hoàng || Tb Sr Hoàng Phương 

Diễn Giải Về Chủ Đề “Cùng Chúa Vượt Biển Đời” – Lm Gioan Baotixita Phương Đình Toại, MI – Phần 1/2 & Phần 2/2

https://www.youtube.com/live/5CFlI9kNbgw

Diễn Giải Về Chủ Đề “Cùng Chúa Vượt Biển Đời” – Lm Gioan Baotixita Phương Đình Toại, MI – Phần 1/2

https://www.youtube.com/live/dNdw6DCAk_U

Diễn Giải Về Chủ Đề “Cùng Chúa Vượt Biển Đời” – Lm Gioan Baotixita Phương Đình Toại, MI – Phần 2/2

Chuyện tuổi Xế Chiều – Truyen ngan HAY

AnhPhu VanLy is with Nhuan Le.

 nhìn hình ảnh của bà cụ này tự nhiên tôi nghĩ rồi mình cũng sẽ như thế trong 1 ngày rất gần đây

Chuyện tuổi Xế Chiều

Bình Yên LN

Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến gõ cửa, bà hỏi tôi có muốn mua căn nhà của bà không ? Căn nhà rộng 132m vuông . Tôi có chút bất ngờ nên nói với bà : Bà ơi con đã có nhà rồi không cần mua thêm đâu. Bà cụ tiếp tục nói: Con à, nếu con đồng ý mua nhà của bà, bà sẽ không lấy của con đồng xu nào, nhưng con phải đồng ý với bà một điều kiện .

Nghe đến đây tôi sửng người. Sao trên đời lại có chuyện như thế này chứ? Nhưng thái độ của bà thật nghiêm túc, trong ánh mắt còn ẩn chứa một nỗi niềm nặng trĩu khó hiểu. Tôi cố nén sự nghi ngờ trong lòng và nói: Bà cứ nói đi, nếu có thể giúp con nhất định sẽ giúp. Bà ngước nhìn tôi chậm rãi nói : Sau này mỗi lần xuống, đi ngang cửa nhà bà cứ gõ cửa một cái, nếu bà trả lời con cứ yên tâm mà đi, nếu không nghe thấy tiếng bà con hãy làm ơn gọi điện cho các con của bà, nếu chúng nó cũng không về thì hãy làm ơn đưa bà đi tiếp chặng đường cuối cùng. Căn nhà này bà sẽ để lại cho con.

Những lời của bà khiến lòng tôi chùng xuống: Đây nào phải là một yêu cầu đơn giản mà là một sự phó thác sinh mệnh.

Trong lòng tôi rối bời không biết có nên đồng ý hay không, nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi và tha thiết của bà tôi đã gật đầu chấp nhận. Tôi đỡ bà vào nhà để bà ngồi xuống và rót cho bà một ly nước nóng. Đôi tay bà run rẩy, nhìn dáng vẻ của bà lòng tôi thấy xót xa.

Qua câu chuyện bà kể, tôi biết bà nay đã 86 tuổi, cả bà và ông đều từng là giáo viên về hưu. Con trai lớn lập gia đình sống ở Canada, con gái lấy chồng ở Anh . Từ khi các con ra nước ngoài bà sống nương tựa vào ông, nhưng năm ngoái ông đã qua đời, giờ trong nhà chỉ còn lại mình bà, các con đã nhiều năm không về thăm nhà,nhà cũ ở quê cũng bán từ lâu… Giờ chỉ mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng này, giá như mà hồi đó chúng nó đừng giỏi giang như thế thì tốt biết mấy, nếu không ra nước ngoài ít ra chúng cũng còn nhớ đến căn nhà này, mỗi năm có thể gặp vài lần…  Nghe bà nói vậy, tôi nghe lòng trĩu nặng: Bà không phải đang trách các con, mà bà đang cảm thấy bất lực với tuổi già của mình , nhà có rộng đẹp cách mấy cũng không ấm áp bằng tình thâm.

Kể từ đó… mỗi lần đi làm tôi đều ghé xuống gõ cửa nhà bà, chỉ khi nghe tiếng bà trả lời tôi mới yên tâm đi làm. Vào cuối tuần tôi tranh thủ ghé qua thăm bà, cùng bà trò chuyện, nấu ăn, giúp bà làm vài việc vặt… Mỗi lần như thế bà rất vui vẻ , có lẽ đó chính là cái cảm giác hạnh phúc và an toàn.

… Thấm thoát một năm đã trôi qua, tháng trước vào tuần cuối của tháng, tôi đi cộng tác đột xuất nên không kịp gõ cửa nhà bà … Một tuần sau khi  trở về, tôi vội vàng sang gõ cửa nhà bà , nhưng không nghe tiếng trả lời của bà . Linh tính chẳng lành, tôi báo cho ban quản lý và gọi điện cho cảnh sát.

Khi cảnh sát mở cửa , chúng tôi phát hiện bà đã nằm yên trên giường, mắt nhắm lại, bên cạnh là quyển album hình của hai ông bà thời trẻ và hình của các con khi còn bé , pháp y nói: Bà đã qua đời hai ngày trước vì bịnh tim.

Lòng tôi đau nhói… Chỉ mới trước ngày tôi đi công tác bà còn nói: Bên ngoài trời lạnh lắm, nhớ mang theo áo ấm con à ! Bà còn bảo cuối tuần qua bà có làm bánh nhân thịt, vì các con ngày còn bé rất thích … Nói xong bà quay lưng bước vào thang  máy, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng… Bà ra đi lặng lẽ như thể thế giới này chưa bao giờ để ý đến sự tồn tại của bà.

Sau đó tôi gọi điện cho các con của bà, nhưng không ai về kịp. Trong đám tang chỉ có vài người đến tiễn đưa, dường như cả cuộc đời bà cứ cuốn trôi theo dòng thời gian không để lại dấu vết nào… nghĩ đến đây lòng tôi trĩu nặng, một người hiền từ như vậy tại sao cuối cùng lại ra đi trong cô đơn như vậy.

Sau khi lo liệu xong tang lễ, tôi đứng rất lâu trong ngôi nhà trống vắng của bà… nhớ lại những khoảng khắc trước kia… những lúc bà cô đơn và bất lực … Chợt tôi hiểu ra ý nghĩa lời nói của bà: Giá mà con cái của bà không giỏi giang đến thế thì tốt biết bao. Có lẽ bà chưa bao giờ mong con cái có những thành tựu lớn lao, chỉ hy vọng những ngày tháng tuổi già có người đến gõ cửa nhà bà, có người lắng nghe giọng nói của bà. 

Bà đã ra đi mang theo nỗi cô đơn và bất lực của mình. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy an ủi là ít nhất trong một năm cuối đời, có người đồng hành cùng bà, khiến bà cảm thấy một chút hơi ấm, một ít quan tâm.

Gửi đến những người thân yêu: Hãy nhớ, hãy dành thời gian có thể để quan tâm đến cha mẹ già của mình, đến một ngày bạn nhận ra  cha mẹ là những người bạn dành ít thời gian nhất nhưng lại là những người yêu thương bạn vô điều kiện.

Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về

Cha mẹ mất, đời ta chỉ còn đường để ra đi

 *Ghi lại từ bài đọc trên FB Phạm Tiến


 

NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…- Tuấn Khanh

Việt Luận – Viet’s Herald

 NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…

Tuấn Khanh

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi.

Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi in tại Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao Động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Cuộc đời của nhà văn Trần Đĩnh, người cầm bút hơn 70 năm, bắt đầu với công việc ký giả cho tờ Sự Thật – một tờ báo chủ đích tuyên truyền do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Nhà văn Trần Đĩnh sinh năm 1930. Năm 16 tuổi ông tham gia Việt Minh theo lời kêu gọi yêu nước, chống Pháp. Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này – theo như ông tâm tình trên BBC – đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật của giới lãnh đạo cộng sản.

Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người được tin cậy để được trao nhiệm vụ chấp bút viết tiểu sử của ông Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận… nên những gì ông kể trong bản văn Đèn Cù, là có thể tin cậy được.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà bình do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev đưa ra, theo Trần Đĩnh, ông đã ủng hộ lập trường của Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị ghép vào tội “chống đảng”. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là Trần Châu, hay như những người khác như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu vong như Nguyễn Minh Cần…, nhưng ông bị đày đi cải tạo lao động. Sau đó, tuy ông được xét làm báo trở lại nhưng với điều kiện: Không được ký tên Trần Đĩnh, chỉ viết về nông nghiệp, và không được viết anh hùng, chiến sĩ thi đua và cấp ủy cao. Cuối cùng là không được ở gần thanh niên, bởi sẽ gây tiêm nhiễm tư tưởng phản động cho thế hệ trẻ. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ sách 600 trang của ông Trần Đĩnh đã tiết lộ nhiều chuyện “động trời”, trong đó, một trong những chuyện được nhiều người Việt trong và ngoài nước đọc qua, đã bàn tán không ngớt như chuyện ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh cải trang đến tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.” (trang 84).

Đã có lần trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là những điều ông kể có chứng cứ không, ông Trần Đĩnh đã bật cười nói “Nó là cuộc đời tôi, diễn ra chung quanh tôi. Rất nhiều người cùng thời với tôi chứng kiến nay đã chết, họ đã mang những chứng cứ đó xuồng mồ, nên tôi phải viết lại”.

Câu trả lời thú vị nhất của ông, là khi được hỏi ông viết cuốn hồi ký với nhiều chi tiết gây sốc này, với mục đích gì. “Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi”, nhà văn Trần Đĩnh nói. Ông mô tả rằng người ta làm và sống với những điều tự nhiên, như đau thì phải kêu, và thấy sự thật, phải kể lại. “Đến lúc tôi phải viết xuống vì không thể để ai bịa đặt hay muốn nói như thế nào cũng được”, nhà văn Trần Đĩnh nói.

Lúc sinh thời, trong thời gian sống và làm việc tự do ở Sài Gòn, nhà văn Trần Đĩnh còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, như Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Ngầm của Murakami Haruki.

Sau khi sách Đèn Cù trở thành một cú chấn động trong đời sống của người đọc sách, người quan tâm chính trị, báo chí nước ngoài gọi điện thăm hỏi rằng ông có bị khó dễ gì vì bộ sách này hay không, ông trả lời “Tôi đã đến tuổi không còn thấy điều gì làm khó được mình”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh 


 

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi.

Năm 1936, giữa thời kỳ Đại Khủng Hoảng và cơn ác mộng Dust Bowl phủ lên miền Trung nước Mỹ, hàng ngàn trẻ em nông thôn tại tiểu bang Oklahoma vẫn ngày ngày lội gió bụi đến những trường học nhỏ giữa đồng hoang. Đó là thời kỳ mà đất đai nứt nẻ như da trâu mùa hạn, mùa màng chết khô, gia súc lăn ra chết bên hàng rào, còn nhiều gia đình thì sống lay lắt nhờ vài bao bột mì cứu trợ của chính phủ liên bang. Nhưng giữa cảnh khốn cùng ấy, người dân quê Oklahoma vẫn giữ một niềm tin gần như thiêng liêng: con chữ có thể cứu đời con cái họ khỏi cái nghèo truyền kiếp.

Gia đình Harper sống tại một nông trại nhỏ bên ngoài thành phố Enid. Mảnh đất vốn từng màu mỡ ấy giờ đây bị những cơn bão bụi biến thành một biển đất chết. Mỗi khi gió nổi lên, bụi đỏ cuồn cuộn như khói chiến tranh, phủ kín mái nhà, chuồng bò, hàng rào và cả bên trong căn bếp nghèo. Người ta kể rằng có những sáng ngủ dậy, lớp bụi dày đến nỗi bà Harper phải lấy xẻng nhỏ xúc đất ra khỏi nền nhà.

Ông Harper, cha của bọn trẻ, trước kia là nông dân trồng lúa mì. Nhưng sau nhiều mùa thất bát, ông phải đi tìm việc tạm bợ bằng nghề chở lúa thuê hoặc phụ hồ tại các thị trấn lân cận. Đồng lương ít ỏi chẳng đủ nuôi đàn con đông đúc. Bà Harper đành vá quần áo bằng bao bột mì cũ, tận dụng từng mảnh vải vụn để may áo cho con. Bữa ăn gia đình quanh quẩn chỉ có đậu, khoai tây và bánh bắp. Thịt là món xa xỉ hiếm hoi xuất hiện vài lần trong tháng.

Tuy vậy, mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, những đứa trẻ Harper vẫn chuẩn bị đến trường. Chúng đi bộ nhiều cây số qua các con đường đất phủ bụi mù. Đứa lớn dắt đứa nhỏ, tay ôm tập vở cũ đã sờn góc. Có đứa mang giày rách đế, có đứa chân trần vì cha mẹ không đủ tiền mua giày mới. Mùa đông Oklahoma lạnh buốt, gió thổi xuyên qua áo khoác mỏng. Nhưng chưa bao giờ cha mẹ chúng cho phép nghỉ học chỉ vì nghèo.

Những ngôi trường quê thời ấy phần lớn chỉ là trường một phòng học. Trong căn phòng gỗ nhỏ, học sinh từ lớp Một đến lớp Tám ngồi chung. Một chiếc lò sưởi bằng than đặt giữa lớp để chống rét mùa đông. Sách giáo khoa được truyền tay từ khóa này sang khóa khác đến mức gáy sách bung ra từng mảnh. Nhiều học sinh phải dùng chung bút chì vì gia đình không đủ tiền mua đồ dùng học tập.

Các giáo viên miền quê Oklahoma trong thời Dust Bowl không chỉ làm nghề dạy học. Họ còn là y tá, người phát chẩn và đôi khi là chỗ dựa tinh thần cho cả cộng đồng. Có cô giáo phải bỏ tiền túi mua bánh mì cho học sinh đói bụng. Có thầy giáo sau giờ học còn lái xe đi thăm những gia đình bị bệnh dịch hoặc mất mùa. Nhiều người vận động quyên góp quần áo cũ từ thị trấn để đem phát cho trẻ em nông thôn.

Thời kỳ Dust Bowl không phải chỉ là thiên tai đơn thuần. Đó là hậu quả của nhiều năm canh tác quá mức trên các đồng bằng miền Trung Hoa Kỳ. Khi hạn hán kéo dài kết hợp với gió mạnh, lớp đất mặt màu mỡ bị cuốn lên trời thành những cơn “bão đen” khổng lồ. Từ năm 1930 đến 1936, hàng triệu mẫu đất tại Oklahoma, Texas và Kansas bị phá hủy nghiêm trọng. Hàng trăm ngàn gia đình nông dân phải bỏ quê hương di cư sang California tìm kế sinh nhai.

Nhà văn John Steinbeck sau này đã mô tả thảm cảnh ấy trong cuốn The Grapes of Wrath, một tác phẩm nổi tiếng phản ánh đời sống khốn khổ của dân nghèo miền Dust Bowl. Nhưng đối với những đứa trẻ như nhà Harper, bi kịch ấy không nằm trong sách vở. Chúng sống giữa nó từng ngày, từng giờ.

Năm 1935, một trận bão bụi khổng lồ mang tên “Black Sunday” đã biến ban ngày thành đêm tối. Người dân kể rằng khi cơn bão kéo đến, họ không nhìn thấy bàn tay mình trước mặt. Trẻ em phải lấy khăn ướt che mũi để khỏi nghẹt thở. Bụi lọt vào phổi gây ra căn bệnh gọi là “dust pneumonia” khiến nhiều người tử vong. Những đứa trẻ nông thôn lớn lên giữa bụi đất và nỗi sợ mùa màng thất bại.

Dẫu vậy, trường học vẫn là nơi đem lại chút hy vọng hiếm hoi. Trong lớp học nhỏ ấy, bọn trẻ được học đọc, học viết, học địa lý và nghe kể về một thế giới rộng lớn bên ngoài cánh đồng khô cằn. Với nhiều phụ huynh, con đường học vấn là cơ hội duy nhất để con cái họ thoát khỏi kiếp bám đất mà vẫn nghèo.

Một học sinh cũ sau này nhớ lại: “Chúng tôi không biết mùa màng có sống nổi hay không, nhưng cha mẹ vẫn bắt chúng tôi đi học mỗi sáng. Họ tin rằng dù đất đai có chết, con chữ vẫn còn sống.”

Niềm tin ấy phản ánh tinh thần đặc biệt của tầng lớp nông dân Mỹ thời Đại Khủng Hoảng. Dù mất tiền bạc, mất mùa màng, họ vẫn không chịu đầu hàng số phận. Chính phủ của Tổng thống Franklin D. Roosevelt sau đó đã đưa ra chương trình New Deal nhằm cứu trợ nông dân, tạo việc làm và cải tổ kinh tế. Nhưng trước khi các chính sách ấy phát huy hiệu quả, nhiều gia đình đã phải tự chống chọi bằng nghị lực phi thường.

Điều đáng nói là những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 không hề xem mình là anh hùng. Chúng chỉ đơn giản làm điều phải làm: thức dậy, đi học và tiếp tục sống. Nhưng chính sự bình dị ấy mới là vẻ đẹp lớn nhất của thế hệ Dust Bowl. Không súng đạn, không chiến công, không huy chương, chỉ có đôi chân trẻ thơ lầm lũi bước qua đồng bụi để giữ lấy tương lai.

Ngày nay, nhiều trường học một phòng tại Oklahoma đã biến mất, nhường chỗ cho xa lộ và các thị trấn hiện đại. Nhưng những bức ảnh cũ còn lưu lại vẫn khiến hậu thế xúc động. Trong ảnh, lũ trẻ gầy gò đứng trước mái trường gỗ đơn sơ, áo quần vá chằng vá đụp nhưng ánh mắt vẫn sáng. Đó là ánh mắt của một thế hệ sinh ra giữa tai họa nhưng không chịu khuất phục.

Câu chuyện của những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 nhắc hậu thế một bài học đơn giản mà sâu xa: nghèo đói có thể lấy mất tài sản, thiên tai có thể phá hủy ruộng đồng, nhưng tri thức và nghị lực vẫn là thứ giúp con người đứng dậy sau mọi biến động. Chính những bước chân bé nhỏ trên con đường bụi đỏ năm xưa đã góp phần dựng lại nước Mỹ sau thời Đại Khủng Hoảng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Ngo Duc Chien

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – người nhìn thấy “tư bản hoang dã” từ năm 1993

Có những trí thức càng đi trước thời đại thì lời nói của họ càng khiến hậu thế giật mình vì… quá đúng. Nguyễn Khắc Viện là một người như thế.

Trong phần bổ sung “Con đường đi tới tương lai” của cuốn Việt Nam, một thiên lịch sử viết năm 1993, ông từng cảnh báo Việt Nam sau Đổi Mới có nguy cơ xuất hiện một thứ “chủ nghĩa tư bản hoang dã”: đồng tiền lấn át đạo lý, bất bình đẳng xã hội gia tăng, tội phạm, ma túy, phá rừng, ô nhiễm môi trường và nguy hiểm nhất là sự cấu kết giữa quyền lực với lợi ích kinh tế kiểu “mafia”.

Ba mươi năm trước, khi xã hội còn ngập trong không khí lạc quan của mở cửa và tăng trưởng, rất ít người nói được điều ấy. Nhưng Nguyễn Khắc Viện đã nhìn thấy mặt trái của phát triển nếu kinh tế đi quá nhanh còn văn hóa, pháp luật và lương tri đi quá chậm.

Hôm nay nhìn lại, từ các đại án tham nhũng, thực phẩm giả, thuốc giả, hàng giả đến lợi ích nhóm và môi trường bị tàn phá, người ta mới thấy những cảnh báo năm ấy giống một dự cảm đáng sợ về hiện tại.

Ông đặc biệt chua chát trước kiểu quan chức biến chất: lúc đương quyền thì huênh hoang quyền lực, nhưng khi ra tòa lại khóc lóc, kêu bệnh tật, kể công trạng để xin giảm tội. Theo ông, ngoài việc lợi dụng chức quyền để kiếm chác, họ hầu như không để lại giá trị nào cho đất nước. Cái nghèo đáng sợ nhất không phải nghèo tiền bạc, mà là nghèo nhân cách và lòng tự trọng.

Nguyễn Khắc Viện không phản đối làm giàu. Ông chỉ phản đối kiểu giàu lên bằng sự tha hóa của quyền lực và sự xuống cấp của đạo lý xã hội. Ông cho rằng một xã hội lấy giàu-nghèo làm thước đo phẩm giá con người sẽ rất nguy hiểm. Giàu cá nhân, giàu dòng họ mà không giàu lòng yêu nước chín chắn thì không đáng để tôn vinh.

Sinh năm 1915 tại Hà Tĩnh trong gia đình Nho học, ông từng đỗ đầu ba bằng Tú tài tại Trường Bưởi, nay là Trường THPT Chu Văn An, rồi học y trước khi sang Pháp.

Năm 1942, ông mắc lao phổi nặng, trải qua nhiều cuộc đại phẫu, bị cắt bỏ một phần phổi và nhiều xương sườn. Từ cửa tử, ông tự nghiên cứu yoga, khí công và dưỡng sinh để cứu chính mình. Sau này, phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện được phổ biến rộng rãi và giúp nhiều người phục hồi sức khỏe.

Về nước năm 1963, ông hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghiên cứu xã hội; dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp, viết nhiều công trình về lịch sử, tâm lý trẻ em và văn hóa Việt Nam. Sau nghỉ hưu, ông càng viết mạnh mẽ hơn về giáo dục, dân chủ và phản biện xã hội.

Trong những năm 1980, nhiều ý kiến của ông từng bị xem là “lệch chuẩn”, “xét lại”. Ông phê phán bệnh giáo dục nhồi nhét, tâm lý sợ phản biện và thói phục tùng máy móc. Có thời gian bài viết của ông bị hạn chế phổ biến vì ông nói quá thẳng những điều xã hội không muốn nghe.

Nhưng ông không phải người chống đối cực đoan. Ông là mẫu trí thức yêu nước, muốn đất nước mạnh lên bằng sự tự soi lại chính mình. Điều khiến ông khó được chấp nhận là ông luôn đòi hỏi xã hội phải trung thực với sự thật.

Nhiều năm sau, những điều Nguyễn Khắc Viện cảnh báo về giáo dục, văn hóa và sự tha hóa quyền lực dần trở thành vấn đề ai cũng nhìn thấy. Có lẽ bi kịch lớn nhất của ông là nói quá sớm những điều mà nhiều năm sau xã hội mới chịu thừa nhận.

Ông mất năm 1997 tại Hà Nội, nhưng những điều ông để lại vẫn còn nguyên tính thời sự: một quốc gia muốn phát triển bền vững phải có đạo lý, phải biết kiểm soát quyền lực và phải biết lắng nghe những trí thức dám nói thật.

ST 


 

KHIÊM NHƯỜNG – NỀN TẢNG CỦA THÁNH THIỆN – Ed Broom, OMV  

 Ed Broom, OMV  

Sr. Têraêsa Mai Thị Thu Hường, OP chuyển ngữ

Để chúng ta thực sự lớn lên trong sự thánh thiện, nhân đức quan trọng nhất chúng ta cần phải có là đức ái – tình yêu đích thực với Thiên Chúa và với người lân cận.  Nhưng bên cạnh đức ái – nhân đức đối thần – chúng ta còn phải có nhân đức khiêm nhường.  Theo một nghĩa nào đó, đức ái và khiêm nhường là hai trụ cột hay đá tảng cho người thực sự muốn theo đuổi một cuộc sống thánh thiện đích thực.

Đối với thánh nữ tiến sĩ vĩ đại của Giáo hội, tiến sĩ cầu nguyện, thánh Teresa Avila, khiêm nhường đơn giản là SỰ THẬT.  Đó là chúng ta nhận thức được chúng ta thực sự là ai theo chiều kích thiêng liêng, trong cái nhìn của Chúa, chủ thể của tất cả sự thật trên trần gian này.  Thật sự, chúng ta có một phẩm giá rất cao cả, đó là chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được biến đổi thành biểu tượng của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Định mệnh cuộc đời chúng ta không thể diễn tả bằng lời, đó là chúng ta được hiệp nhất với các thiên thần và các thánh trên trời để ca ngợi Thiên Chúa Ba Ngôi đến muôn đời.  Tuy nhiên, việc mang tội tổ tông, có những ham muốn thú vui trần tục, và là những tội nhân cho thấy bản chất dễ sa ngã của con người.

 Thật vậy, người khiêm tốn đích thực sẽ nhận ra một cách hết sức rõ ràng rằng tất cả những điều tốt lành họ đã làm và có khả năng để làm đều là do bởi quyền năng, ân sủng và sự tốt lành của Thiên Chúa trong cuộc đời họ.  Mặt khác, người khiêm nhường thừa nhận rằng, tất cả những thất bại của họ, đặc biệt là các tội lỗi luân lý, đều là bởi họ lạm dụng các khả năng Chúa đã ban cho họ. 

Quả thực khiêm nhường là nhân đức hết sức quan trọng, nên chúng ta cần gắng luyện tập nhân đức này trong đời sống của mình; chúng ta hãy cố gắng đạt được nó và để nó đâm rễ sâu tận tâm hồn chúng ta.  Cầu mong cho lời nói, hành động, việc làm và ý hướng của chúng ta luôn thấm nhuần và thẩm thấu tinh thần khiêm nhường đích thực. 

Mẹ Maria và Chúa Giêsu là mẫu gương cho chúng ta.  Quả thực, cả Mẹ Maria và Đức Giêsu là Đấng thánh thiện nhất, người đã từng sống trên hành tinh này, nhưng cũng là người khiêm nhường nhất.  Chỉ một lần duy nhất Chúa Giêsu mô tả những đặc tính của Trái tim Cực Thánh của Người, một trái tim hiền lành và khiêm nhường.  Ước chi, lời cầu nguyện vang vọng sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta là lời cầu nguyện của sự khiêm nhường cao cả của Trái Tim Chúa Giêsu: Lạy Chúa Giêsu, Trái tim hiền lành và khiêm nhường, xin làm cho trái tim của con trở nên giống trái tim của Chúa.

 CÁC BƯỚC CHIẾN LƯỢC ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC NHÂN ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG TUYỆT VỜI 

  1. Trân trọng giá trị của khiêm nhường. Chúng ta không có thể đạt được bất cứ điều gì tốt đẹp trong cuộc sống nếu chúng ta không coi trọng những giá trị của nó.  Những kẻ keo kiệt thì tìm kiếm vàng; con tim rỗng tuếch thì thích được vinh danh; những kẻ theo chủ nghĩa khoái lạc thì đam mê nhục dục.  Tại sao?  Vì họ coi những điều tốt đẹp này là có giá trị, cho dẫu chúng là ngẫu tượng và mang giá trị sai lầm.  Chúng ta phải nhìn nhận và đánh giá sự khiêm nhường là sự quan trọng nhất trong lâu đài của sự thánh thiện và là nền tảng cho sự thánh thiện.  Nếu không thì cuộc sống theo đuổi sự thánh thiện của chúng ta sẽ bị xây trên cát và sụp đổ nhanh chóng. 
  2. Hành khất trước Thiên Chúa. Trong sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, thánh Augustine đã khẳng định rằng tất cả chúng ta đều là những kẻ hành khất trước mặt Chúa.  Chúng ta rất cần Chúa trong tất cả mọi sự; chúng ta lệ thuộc vào Ngài trong mọi việc.  Nhất là chúng ta cần Thiên Chúa để sống một đời sống nhân đức và từ bỏ tính kiêu ngạo – đối cực của sự khiêm nhường – dưới mọi dạng thức và mức độ.  Chúa Giêsu đã truyền cho chúng ta: “Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ cửa thì sẽ mở cho” (Mt 7,7). Lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào?  Lạy Chúa, xin ban cho con biết hiền lành và khiêm nhường trong lòng. 
  3. Dễ dàng trong việc linh hướng. Tất cả chúng ta đều có những góc khuất trong cuộc sống và đặc biệt là trong đời sống tâm linh.  Một vị linh hướng được đào tạo chuyên nghiệp sẽ giúp chúng ta rất nhiều trên hành trình tiến về thiên đàng. 
  4. Vâng phục trong việc linh hướng. Trong việc linh hướng, chúng ta phải khiêm nhường đủ để vâng phục vị Linh hướng, người thông ban ân sủng và chân lý của Thiên Chúa.  Không còn nghi ngờ gì nữa, một trong những dấu hiệu nổi bật về sự thánh thiện đích thực của thánh Faustina Kowalska là sự ngoan ngoãn và vâng phục của ngài trong việc linh hướng.  Nếu không có sự vâng phục thì thực sự không có sự tăng trưởng về đức khiêm nhường và sự thánh thiện cũng sẽ bị cản trở và bóp nghẹt.
  1. Chấp nhận sự sửa lỗi huynh đệ. Điều này thực sự nhức nhối, nhưng cần thiết cho sự trưởng thành thiêng liêng và sự trưởng thành trong sự khiêm nhường của chúng ta: chấp nhận sự sửa lỗi của huynh đệ.  Thông thường, do lòng kiêu hãnh bẩm sinh, khi ai đó chỉ ra điều chúng ta cần phải sửa chữa, chúng ta nổi giận, khước từ sự sửa chữa và đôi khi chúng ta phản ứng lại bằng sự tấn công trực diện để phòng thủ.  Một cách đơn giản chúng ta chống lại việc bị chỉ ra những thiếu sót của mình bởi vì lòng kiêu hãnh của chúng ta quá lớn.  Thánh Đa Minh Saviô đã kết bạn với một cậu bé khác trong Nhà nguyện của thánh Gioan Bosco.  Savio nài xin bạn của mình phải thẳng thắn và chỉ ra cho anh những lỗi của anh để anh có thể thăng tiến trong sự thánh thiện.  Trước khi lên 15 tuổi, Savio đã đạt được điều này và đã được phong thánh. 
  2. Chấp nhận sự sỉ nhục. Có lẽ việc sẵn sàng chấp nhận những sỉ nhục giáng xuống chúng ta khó hơn việc chấp nhận việc sửa lỗi huynh đệ.  Dù muốn hay không, chúng ta cũng sẽ phải đón lấy sự sỉ nhục.  Cơ hội ngàn vàng của chúng ta chính là lúc Thiên Chúa cho phép chúng ta bị hạ nhục.  Xu hướng tự nhiên của chúng ta là trả đũa.  Trong khi đó, phản ứng của các thánh khi bị sỉ nhục là im lặng, cầu nguyện cho người chống đối, và kết hợp với sự sỉ nhục của Chúa Giêsu mà Ngài đã trải qua trong cuộc khổ nạn cay đắng, tàn nhẫn và nhục nhã của Ngài.  Không có ân sủng của Thiên Chúa thì điều này là không thể, nhưng với Thiên Chúa thì tất cả đều có thể! 
  3. Bác ái và phục vụ. Đây là một bước xoay thú vị: lòng bác ái và sự phục vụ là đường dẫn đến sự khiêm nhường.  Thực ra, mỗi khi chúng ta tự hạ mình phục vụ người khác, thực hành bác ái và yêu thương người khác, chúng ta đồng thời sẽ lớn lên trong sự khiêm nhường.  Thật ra, khi chúng ta thực thi lòng bác ái – nghĩa là thực thi tình yêu siêu nhiên đối với Thiên Chúa và người thân cận – chúng ta sẽ lớn lên về tất cả các nhân đức khác, trong đó có đức khiêm nhường.
  1. Chiêm ngắm ba chiều kích của cuộc đời Chúa Giêsu biểu lộ lòng khiêm nhường tuyệt đối của ngài

Mầu Nhiệm Nhập Thể:  Việc Chúa Giêsu, Ngôi Hai trong Thiên Chúa Ba Ngôi, thực sự đã mặc lấy xác phàm và trở thành con người, là một bước nhảy vọt lớn lao của sự hèn hạ và khiêm nhường.  Thiên Chúa làm người để chúng ta có thể trở thành con cái Thiên Chúa. 

Cuộc Khổ Nạn:  Tất cả các yếu tố và chi tiết về Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô, là Chúa và Đấng Cứu Độ chúng ta, đều biểu lộ một sự khiêm nhường lạ lùng và đặc biệt.  Tuy nhiên, một cách đơn giản bạn có thể chiêm ngắm mầu nhiệm thứ ba mùa thương “Chúa Giêsu đội mão gai” của Kinh Mân Côi.  Những lời nhạo báng, mỉa mai và lăng mạ, bị bịt mắt, đánh đập, giật râu, bị khạc nhổ vào mặt, và quan trọng nhất là Ngài phải đội vòng gai nhọn sắc.  Đón nhật tất cả những điều này, tiên tri Isaia đã nói, Đức Giêsu như con chiên hiền lành, im lặng bị dẫn đến lò sát sinh.  Bằng việc suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô, sự kiêu ngạo của chúng ta sẽ rơi xuống vực sâu. 

Chúa Giêsu trong Thánh lễ và hiện diện trong Bí tích Thánh Thể.  Rất nhiều người Công giáo thậm chí thờ ơ đối với việc tham dự Thánh lễ Chúa Nhật.  Nhiều người không biết quý trọng Thánh lễ.  Vẫn có những người tiếp nhận Chúa Giêsu trong tình trạng tội trọng và vì thế họ đóng đinh Chúa một lần nữa.  Nói chung, Chúa Giêsu hiện diện trong Nhà Tạm đã bị lãng quên, bị bỏ rơi, cô độc trên khắp thế giới.  Tất cả những điều trên là nguồn gốc những sỉ nhục nhức nhối và đau đớn của Chúa Giêsu, Chúa các Chúa, Vua các Vua, người yêu vĩ đại nhất của những người yêu. 

  1. Nhận thức về tội lỗi quá khứ và lòng thương xót của Chúa. Khi chúng ta bị cám dỗ được nâng cao trong sự kiêu ngạo của mình, việc nhớ lại nhiều lần chúng ta đã phạm tội xúc phạm đến Chúa Giêsu và sự xấu hổ đằng sau những hành động này.  Thật vậy, việc này có thể giúp chúng ta khiêm tốn nếu không muốn nói là rất khiêm tốn. 
  2. Mẹ Maria, mẫu gương thánh thiện và khiêm nhường.  Từ trước đến nay, trong số tất cả các tạo vật của Thiên Chúa, Mẹ Maria là người vĩ đại nhất.  Nhưng Mẹ cũng là người khiêm tốn nhất trong số những người phụ nữ.  Những lời thân thưa của Mẹ thể hiện sự khiêm nhường tuyệt vời nơi Mẹ: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa…  Linh hồn tôi vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi vì Ngài đã nhìn đến phận hèn của tôi tớ Ngài… Người bảo gì hãy làm theo….”  Những câu nói này của Mẹ Maria được ghi lại trong Kinh Thánh làm nổi bật sự thánh thiện của Đức Maria, đặc biệt là sự khiêm nhường của Mẹ. 

Cuối cùng, một trong những cách hữu hiệu nhất giúp chúng ta có thể lớn lên trong sự khiêm nhường đó là rước Chúa Giêsu Thánh Thể với sự chuẩn bị tốt nhất.  Khi đón nhận Chúa Thánh Thể, với lòng nhiệt tình và đức tin mạnh mẽ, chúng ta hãy cầu xin Ngài ban cho chúng ta trái tim của Ngài: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin hãy làm cho trái tim con giống trái tim Chúa.”  Đây thực sự là lối tắt dẫn đến sự thánh thiện và lòng khiêm nhường sâu sắc của tâm hồn. 

Ed Broom, OMV – 

Sr. Têraêsa Mai Thị Thu Hường, OP chuyển ngữ
Nguồn: catholicexchange


 

Ý NGHĨA CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI – Dược sĩ Thoa 

Dược sĩ Thoa 

 Ý NGHĨA CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI

Có một giai đoạn trong đời, con người ta bắt đầu sống chậm lại…

Và tự hỏi:

“Mình sống đến giờ để làm gì?”

Hồi trẻ, đa số chúng ta thường chỉ nghĩ:

  • làm sao kiếm được nhiều tiền hơn
  • mua được nhà
  • lo cho con cái
  • có cuộc sống ổn định

Ngày nào cũng quay cuồng với cơm áo gạo tiền.

Sáng mở mắt lo công việc.

Tối mệt quá ngủ thiếp đi.

Rồi tháng này qua tháng khác.

Cho đến một ngày:

Cơ thể bắt đầu đau.

Ngủ không ngon.

Huyết áp tăng.

Đường huyết tăng.

Mỡ máu cao.

Bạn bè bắt đầu có người nằm viện.

Có người đột quỵ.

Có người ung thư.

Có người vừa mới còn nói chuyện hôm trước… hôm sau đã không còn nữa.

Lúc đó con người mới giật mình:

Hóa ra cuộc đời không dài như mình nghĩ.

Và cũng từ đó, nhiều cô chú anh chị bắt đầu nhận ra:

Sống không chỉ là tồn tại.

Nếu chỉ sống để ăn, để kiếm tiền rồi cuối cùng kiệt sức, bệnh tật, gia đình căng thẳng…

Thì nhiều khi đến cuối đời vẫn thấy trống rỗng.

Dược sĩ Thoa gặp nhiều người rất giàu.

Nhà đẹp.

Xe đẹp.

Ra ngoài ai cũng nể.

Nhưng đêm về mất ngủ nhiều năm.

Ăn uống kiêng đủ thứ.

Tinh thần lúc nào cũng áp lực.

Con cái xa cách.

Gia đình không hạnh phúc.

Nhưng cũng có những cô chú:

Sống rất giản dị thôi.

Không quá giàu.

Nhưng khỏe mạnh.

Ngủ ngon.

Gia đình yên ấm.

Con cái hiếu thảo.

Ra đường ai cũng quý.

Đến lúc đó mới hiểu:

Một đời người thành công không phải chỉ đo bằng tiền.

Mà còn đo bằng:

  • mình sống có bình an không
  • khỏe mạnh không
  • người thương không
  • có ai nhớ tới mình bằng sự tử tế không

Có người cả đời chỉ chăm chăm kiếm tiền…

Nhưng quên mất cha mẹ đang già đi từng ngày.

Đến lúc cha mẹ bệnh mới hối hận:

“Ngày xưa giá như mình dành thời gian nhiều hơn.”

Có người trẻ khỏe không chịu chăm cơ thể.

Thức khuya.

Ăn uống thất thường.

Stress kéo dài.

Cho rằng sức khỏe là chuyện của tương lai.

Đến khi bệnh rồi mới bắt đầu cuống cuồng tìm mọi cách chữa trị.

Cho nên càng lớn Dược sĩ Thoa càng thấy:

Ý nghĩa thật sự của một đời người…

Có lẽ không phải là mình sở hữu bao nhiêu.

Mà là:

Mình đã sống thế nào.

Mình có tử tế với cha mẹ không.

Có chăm lo cho sức khỏe không.

Có sống đàng hoàng với gia đình không.

Có để lại điều gì tốt đẹp cho con cái không.

Nhiều cha mẹ cứ hỏi:

“Để lại gì cho con mới là quý?”

Thật ra thứ con cái nhìn nhiều nhất không phải tài sản…

Mà là cách cha mẹ sống.

Nếu cha mẹ:

  • sống tử tế
  • biết yêu thương
  • biết cố gắng
  • biết vượt khó
  • biết giữ sức khỏe
  • biết đối nhân xử thế

…thì đó đã là món tài sản rất lớn cho con rồi.

Vì trẻ con không học bằng tai.

Mà học bằng mắt.

Cuộc đời cuối cùng rồi ai cũng già đi.

Tiền nhiều tới đâu cũng không mang theo được.

Nhưng:

Một người sống tử tế…

Một người biết yêu thương…

Một người biết giúp đỡ người khác…

Một người để lại sự bình an cho gia đình…

…thì khi nhìn lại, cuộc đời đó đã rất có ý nghĩa rồi.

Có khi đến một độ tuổi nào đó…

Con người ta mới nhận ra:

Cha mẹ già đi nhanh hơn mình nghĩ.

Sức khỏe mất đi nhanh hơn mình tưởng.

Và thời gian để yêu thương cũng không còn nhiều như trước.

Nếu bài viết này khiến cô chú anh chị suy nghĩ về cuộc đời mình…

Hãy chia sẻ để người thân mình đọc được khi vẫn còn kịp.

Đọc xong bài này, điều cô chú anh chị thấy “đáng giá nhất” ở tuổi hiện tại là gì?

  • Sức khỏe
  • Gia đình
  • Bình an
  • Nội lực
  • Tiền bạc
  • Hay một điều khác?

Một câu trả lời của cô chú có thể khiến rất nhiều người khác thức tỉnh.

Dược sĩ Thoa

#BữaThôTáiSinh #DsThoaĐồngHành #ĂnĐúngSốngKhỏe