KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ DIỄN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”.

“Đừng cố tỏ ra là một vị thánh; hãy thành thật là một tội nhân!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những người sống cả đời để tỏ ra là một vị thánh; goá phụ trong Tin Mừng hôm nay thì khác. Dưới ánh mắt Chúa Giêsu, cô ‘không còn gì để diễn’.

Tin Mừng hôm nay mở ra như một sân khấu tôn giáo. Các kinh sư tìm danh dự; những người giàu tìm khoe khoang. Họ gây chú ý bằng những khoản dâng cúng lớn. Chúa Giêsu không quan sát số tiền hay vẻ bề ngoài; Ngài đọc điều ẩn phía sau. Trước Ngài, mọi vai diễn thánh thiện đều mờ nhạt, và sự thật tâm hồn được phơi bày. “Khiêm nhường là sống trong sự thật!” – Têrêxa Avila.

Một goá phụ xuất hiện. Cô không trình diễn lòng đạo đức. Chúa Giêsu nói cô đã “bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”. Bản Vulgata chỉ dùng một động từ rất đơn sơ: misit – “đã bỏ vào”. Nhưng dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, điều quyết định không phải là cái được bỏ vào, mà là cái không được bỏ vào: phần dư hay chính sự sống. Những người khác vẫn còn để giữ lại; cô thì không. Không còn khoảng cách nào giữa điều cô trao và chính con người cô. Trước mặt Thiên Chúa, cô ‘không còn gì để diễn’.

Điều đáng suy nghĩ là những vai diễn tôn giáo thường không khởi đi từ sự xấu xa, nhưng từ nỗi sợ. Sợ bị xem thường, sợ phải đối diện với sự nghèo nàn thật của bản thân. Vì thế, người ta dễ khoe mẽ, loè bằng cấp hay những biểu hiện đạo đức để che phủ những khoảng trống bên trong. Goá phụ này thì khác. Cô không còn gì để giữ ngoài niềm tín thác vào Chúa. Chính sự nghèo khó ấy làm nên tự do của cô, giải phóng cô khỏi nhu cầu phải chứng minh bất cứ điều gì với bất cứ ai.

Một trong những ngẫu tượng nguy hiểm nhất của đời sống thiêng liêng là mê chính mình; người ta dễ nói về mình hơn là nói về Chúa, tìm kiếm sự chú ý hơn là tìm vinh quang Ngài. Vì thế, Phaolô nhắn nhủ: “Hãy tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh!”. Chỉ khi thoát khỏi sức hút của cái tôi, người môn đệ mới có thể “tường thuật ơn cứu độ Ngài ban” – Thánh Vịnh đáp ca. Đó là những môn đệ trưởng thành không còn bận trình bày bản thân, nhưng bận rộn với sứ vụ “lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” – bài đọc một.

Anh Chị em,

Goá phụ hôm nay không chỉ là một tấm gương đạo đức; cô còn báo trước điều Đức Kitô sẽ thực hiện cách trọn vẹn. Cô dâng toàn bộ sự sống, Ngài trao chính sự sống; cô không còn gì để dâng, Ngài không còn gì để giữ. Trên đồi Sọ, mọi vinh quang bị tước bỏ, chỉ còn lại một tình yêu trao hiến đến cùng. Điều làm chúng ta sợ không phải là nghèo, nhưng là bị nhìn thấy đúng như mình là. Vậy mà chỉ khi không còn cố tỏ ra là một vị thánh, chúng ta mới dám nhìn nhận mình là một tội nhân ‘không còn gì để diễn’ trước Thiên Chúa. Và chính ở đó, ân sủng bắt đầu. “Ân sủng mặc lấy con người thật của chúng ta, chứ không phải con người chúng ta giả vờ là!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con thôi diễn, thôi chứng minh, thôi che giấu; để ân sủng Ngài tìm thấy con trong sự thật – một tội nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần IX Thường Niên, Năm Chẵn

Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 12,38-44

38 Khi ấy, trong lúc giảng dạy, Đức Giê-su nói với đám đông dân chúng rằng : “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. 39 Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. 40 Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.”

41 Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. 42 Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma. 43 Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói : “Thầy bảo thật anh em : bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. 44 Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; còn bà này đã túng thiếu, lại còn bỏ vào đó tất cả những gì bà có, tất cả những gì để nuôi thân.”


 

Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt…được tặng lại một căn nhà

Sự Thật Lề Đường (STLĐ)Hai Phan

 Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt (đang sống vô gia cư, phải ngủ trong tiệm), tặng bữa ăn miễn phí, vài tuần sau được tặng lại một căn nhà

Theo bản tin GMA và ABC News hôm 4/6/2026, bản tin của phóng viên Shafiq Najib, tựa đề “Vietnamese restaurant owner gave a free meal. Weeks later, her life changed” (Chủ nhà hàng người Việt tặng bữa ăn miễn phí; vài tuần sau, cuộc đời bà đã thay đổi).

Một cụ bà, chủ tiệm ăn người Việt 86 tuổi – người có lòng hào phóng từng lay động hàng triệu trái tim trên mạng – vừa nhận được món quà thay đổi cuộc đời mình, nhờ vào một chiến dịch gây quỹ lan truyền rộng rãi giúp bà có được một ngôi nhà mới.

Cụ bà Lieng Le, chủ quán Café Bích Nga ở Pinellas Park, tiểu bang Florida, đã trở thành hiện tượng mạng vào tháng 4/2026 vừa qua. Sự việc bắt đầu khi Julian Becerra, một nhà sáng tạo nội dung 24 tuổi, đăng tải video quay cảnh bà từ chối nhận tiền cho bữa ăn tại quán, dù anh là vị khách đầu tiên ghé đến sau nhiều giờ vắng vẻ.

Trong video, bà Lieng từ chối nhận tiền boa từ Becerra – người đã dành lời khen ngợi cho món ăn của bà.

“Sẽ thật tuyệt vời biết bao nếu quay lại đây sau một tuần nữa và thấy quán đông nghịt khách. Hãy cùng biến điều đó thành hiện thực nhé,” Becerra viết trong phần chú thích bài đăng.

Vài ngày sau, trong phần bình luận của một video tiếp theo về nhà hàng, Becerra chia sẻ rằng anh “vừa biết tin bà Lieng đã rơi vào cảnh vô gia cư suốt thời gian qua” và phải ngủ trên chiếc ghế xếp tại sảnh nhà hàng mỗi đêm sau khi làm việc vất vả cả ngày.

Becerra cho biết anh đã khởi xướng một chiến dịch gây quỹ “để giúp đỡ bà,” đồng thời kêu gọi mọi người cùng chia sẻ và quyên góp.

Theo Becerra, chỉ trong vòng 24 giờ, số tiền quyên góp đã đạt gần 127.000 USD. Vài tuần sau đó, con số này đã vượt mốc 200.000 USD.

Vào ngày 1 tháng 6/2026, với sự hỗ trợ từ các tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp địa phương, Becerra đã trao tận tay bà Lieng tấm séc chứa số tiền quyên góp, cùng một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi chỉ cách Café Bích Nga vài phút di chuyển.

Cũng trong ngày hôm đó, Becerra đã thông báo cột mốc đáng nhớ này qua một bài đăng đầy xúc động trên mạng xã hội.

“Cộng đồng mạng ơi, chúng ta đã làm được rồi,” anh viết trên Instagram. “4 tuần trước, tôi đăng bài về một người phụ nữ sống ngay trong quán cà phê của mình mà không có bất cứ tài sản nào. Còn hôm nay, bà đã có một mái nhà.”

“Cả thế giới đã chung tay quyên góp đủ số tiền để bà Lieng không bao giờ phải lo lắng về các hóa đơn chi phí trong suốt phần đời còn lại của mình,” anh chia sẻ thêm. Chia sẻ với ABC News về sự bất ngờ này, bà Lieng gửi lời cảm ơn đến những người đã ủng hộ và quyên góp cho mình; bà bày tỏ niềm hạnh phúc, nói rằng mình “vui, thực sự rất vui”.

Cụ bà Lieng kể với ABC News rằng bà đã không có nơi ở ổn định trong nhiều năm sau khi gặp khó khăn tài chính do đại dịch COVID-19, khiến bà chật vật xoay xở tiền thuê nhà và các nhu yếu phẩm khác.

“Không có tiền trả hóa đơn, không có tiền trả tiền thuê nhà… không có tiền,” bà nói. “Cũng không có tiền mua thức ăn nữa.”

Ông Becerra chia sẻ với ABC News rằng sau khi dành thời gian trò chuyện với bà Lieng, ông biết được bà làm việc hơn 90 giờ mỗi tuần và hiếm khi nghỉ ngơi, ngay cả khi gặp vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả bệnh viêm phổi.

Bất chấp mọi khó khăn đó, ông cho biết bà Lieng vẫn luôn chú tâm vào việc giúp đỡ người khác.

“Bà Lieng là kiểu người sẵn sàng nhường cả chiếc áo đang mặc trên người cho người khác nếu cần thiết,” ông nói. “Lý do câu chuyện của bà chạm đến trái tim mọi người là vì xét về mặt vật chất, bà Lieng chẳng có gì nhiều cả. Tuy nhiên, điều duy nhất bà sở hữu chính là nụ cười. Mỗi ngày trôi qua, bà đều cảm thấy biết ơn vì mình vẫn đang sống.”

Chủ quán ăn này cho biết bà đã di cư đến Hoa Kỳ sau Chiến tranh Việt Nam và điều hành quán Café Bích Nga từ năm 2009.

Khi được hỏi tại sao lại mời ông Becerra một bữa ăn miễn phí trong lần đầu gặp gỡ, bà Lieng đáp: “Tại sao lại không mang lại niềm vui chứ? Miễn là mọi người cảm thấy vui vẻ là được.”

Giờ đây khi đã ổn định cuộc sống tại ngôi nhà mới, bà Lieng cho biết bà vẫn vô cùng xúc động trước sự ủng hộ mà mình nhận được.

“Tôi xin cảm ơn tất cả mọi người,” bà nói. “Tôi xin cảm ơn.”

Đối với ông Becerra, câu chuyện này suy cho cùng là về lòng biết ơn.

“Mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn không có gì sai cả, nhưng điều đó không nên đánh đổi bằng sự hài lòng với những gì mình đang có ở hiện tại,” ông nói. “Tôi nghĩ đó mới chính là chìa khóa thực sự dẫn đến hạnh phúc.”

PHOTO: Cụ bà Liêng Lê và Becerra, người YouTuber phỏng vấn cụ bà. (Hình YouTube).

XEM TIẾP: https://vietbao.com/a325460/fl


 

Thánh Boniface (Bônifaciô), 672-754, Tử Đạo – Cha Vương

Mến chúc bạn và gia đình ngày thứ 6 đầu tháng zui zẻ, khoẻ mạnh, thật can đảm và mạnh mẽ trong đức tin-cậy-mến. Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Boniface (Bônifaciô), 672-754, Tử Đạo. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 5/6/2026.       (t5-25)

Thánh Boniface, vị tông đồ của người Ðức, là một đan sĩ người Anh thuộc Dòng Biển Ðức, đã hy sinh vinh dự khi được chọn làm đan viện trưởng để tận hiến cuộc đời trong việc hoán cải các sắc tộc ở Ðức. Ngài có hai đặc tính nổi bật: Kitô Giáo chính truyền và trung thành với đức giáo hoàng ở Rôma.

   Thánh Boniface, tên thật là Wilfrith, sinh ở Anh Quốc. Ngay khi còn nhỏ, hình ảnh cao quý của các đan sĩ truyền giáo đã in sâu trong tâm khảm của ngài, do đó, khi bảy tuổi ngài đã nài nỉ xin theo học trường dòng, dù rằng cha ngài mong muốn cho con một sự nghiệp ở ngoài đời.

   Lớn lên, ngài làm giám đốc một trường học ở Nursling, Winchester, tại đây ngài là người đầu tiên viết về văn phạm Latinh bằng tiếng Anh, cũng như sáng tác nhiều bài diễn giảng được nhiều người sao chép và phổ biến.

Năm ba mươi tuổi, ngài được thụ phong linh mục và đi rao giảng ở Friesland (thuộc Hòa Lan bây giờ), nhưng không bao lâu ngài phải trở về Nursling vì cuộc chiến giữa vua ngoại giáo của Friesland và Charles Martel của Pháp.

Sau cái chết của đan viện trưởng, các đan sĩ ở Nursling tìm cách giữ chân ngài bằng cách bầu ngài làm đan viện trưởng, nhưng ngài đã từ chối để tận hiến cho công cuộc truyền giáo.

   Năm 718, ngài đến Rôma để gặp Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô II, là người sai ngài đi truyền giáo cho người Ðức ở Hesse và Bavaria. Ở Hesse, trước sự hiện diện của đám đông người ngoại giáo rất tin dị đoan, ngài đã chặt cây Sồi Thần Linh ở Geismar to lớn và già nua, được dân ngoại dâng cúng cho thần Thor. Người ta kể chỉ sau vài nhát rìu, cây sồi đã lung lay và sụp đổ, tách ra làm bốn cho thấy sự mục nát bên trong. Ðó là khởi đầu của một công cuộc truyền giáo rất thành công của Thánh Boniface và cũng là hạt giống đức tin cho một giáo hội đầy sinh lực ở Ðức, mà sau này Thánh Boniface được tấn phong làm giám mục ở đây. Ngài xin các Kitô Hữu ở Anh hỗ trợ công cuộc truyền giáo của ngài và họ đã đáp ứng với tài chánh, sách vở, vật liệu, và nhất là thường xuyên cung cấp các đan sĩ để giúp đỡ ngài trong việc giảng dạy.

   Thánh Boniface không chỉ hạn chế hoạt động ở nước Ðức. Ngài còn giúp hình thành sự tương giao giữa Ðức Giáo Hoàng và các vua ở Ý cũng như ở Pháp. Ngài thúc giục các thái tử kế vị vua Charles của Pháp triệu tập công đồng để cải tổ giáo hội trong các phần đất của họ, là nơi chức giám mục được bán cho những người trả giá cao nhất.

       Ngài không bao giờ quên sự thất bại ở Friesland, do đó khi về già, ngài từ chức giám mục và trở về hoạt động ở đây với sự thành công đáng kể.

Vào một ngày trong tháng Sáu năm 754, khi ngài đang chuẩn bị cho người Friesland chịu phép Thêm Sức thì tất cả bị tấn công và bị giết chết bởi các chiến sĩ ngoại giáo.

LỜI BÀN: Thánh Boniface xác nhận một quy tắc của Kitô Giáo: Theo Ðức Kitô là theo con đường thập giá. Ðối với Thánh Boniface, con đường đó không chỉ là sự đau khổ phần xác hay cái chết, mà cả sự đau khổ vì bị sỉ nhục, vô ơn trong việc cải tổ Giáo Hội. Vinh dự của truyền giáo là đem người ngoại giáo trở về với Giáo Hội. Nhưng dường như, việc chấn chỉnh đức tin ngay trong lòng Giáo Hội, là một việc rất cần thiết, thì ít người lại cho đó là một vinh dự.

LỜI TRÍCH: Chúng ta phải bền vững trong những gì là chân lý và chuẩn bị linh hồn cho những thử thách… Ðừng là những con chó không dám sủa hay im lặng nhìn xem, và cũng đừng là người tôi tớ trốn chạy trước đàn sói. —Thánh Boniface.  

(Nguồn: dòng tên VN-hạnh các thánh)

From: Do Dzung

*****************************

Theo Dấu Chân Ngài – Sáng tác: Sr Trinh Nguyên – Trình bày: Sr Hạ Phương


 

TẠI SAO NHÀ CỬA NGƯỜI VIỆT Ở MỸ LUÔN BỪA BỘN?

Nguyen Thi Chau

TẠI SAO NHÀ CỬA NGƯỜI VIỆT Ở MỸ LUÔN BỪA BỘN?

Nói ra có thể nhiều người tự ái.

Nhưng để ý kỹ sẽ thấy, rất nhiều gia đình người Việt ở Mỹ có một điểm chung:

Nhà không hẳn dơ.

Nhưng rất dễ… bừa bộn.

Garage chất đầy thùng carton.

Sân sau để đủ thứ đồ cũ.

Trong nhà thì góc nào cũng có đồ.

Tủ quần áo chật kín nhưng vẫn tiếp tục mua thêm.

Nhiều khi khách đến chơi, chủ nhà phải dọn trước vài tiếng mới dám mở cửa.

Vì sao vậy?

Không phải vì người Việt lười.

Mà vì người Việt quá giỏi tiết kiệm.

Thế hệ đầu sang Mỹ đa số đều từng trải qua những ngày khó khăn.

Họ quen với suy nghĩ:

“Cái này còn xài được.”

“Để đó mai mốt cần.”

“Lỡ bỏ rồi sau này phải mua lại thì phí.”

Thế là từ một cái ghế cũ.

Một cái nồi cũ.

Một cái máy in hư.

Một cái TV đời 2008.

Dần dần biến thành cả một kho chứa đồ.

Người Mỹ không dùng thì họ bỏ.

Người Việt không dùng thì… cất.

Người Mỹ thích không gian.

Người Việt thích dự phòng.

Khác biệt nằm ở tư duy sống.

Có người còn đùa:

Garage của người Mỹ để xe.

Garage của người Việt để tất cả những gì không biết bỏ ở đâu.

Nhưng nếu nhìn sâu hơn, đó cũng là dấu vết của một thế hệ từng đi lên từ hai bàn tay trắng.

Từng kiếm từng đồng.

Từng sợ thiếu thốn.

Nên rất khó vứt bỏ bất cứ thứ gì.

Nhiều người sống trong căn nhà cả triệu đô.

Nhưng vẫn giữ lại cái quạt mua từ 15 năm trước.

Không phải vì không có tiền.

Mà vì tiếc.

Đó vừa là ưu điểm.

Nhưng đôi khi cũng là gánh nặng.

Bởi càng nhiều đồ đạc, con người càng mất nhiều thời gian để quản lý chúng.

Có lẽ sau nhiều năm cày cuốc ở Mỹ, thứ chúng ta cần tích lũy không chỉ là tài sản.

Mà còn là khả năng buông bỏ những thứ không còn giá trị.

Để ngôi nhà rộng hơn.

Và cuộc sống cũng nhẹ nhàng hơn.

Bạn thấy sao?

Nhà người Việt ở Mỹ bừa bộn vì thói quen tiết kiệm hay vì một lý do nào khác? #gửiđồtừmỹvềvn #LouisVu #

Fb Tommy Voo


 

Làm điều đúng đắn thật sự rất khó – John McCain

My Lan Pham

 John McCain đã dùng hành động quyền lực chính trị cuối cùng của mình để phá vỡ chiến dịch kéo dài suốt bảy năm của chính đảng ông về việc bãi bỏ luật chăm sóc sức khỏe, khi ông bỏ lá phiếu phản đối bằng một cái lắc ngón tay cái xuống lúc 1 giờ 30 sáng chỉ hai tuần sau khi được chẩn đoán mắc ung thư não giai đoạn cuối, thời điểm mà gần như không ai còn có thể gây áp lực hay trừng phạt ông nữa.

Phòng họp chật kín người. Đó là một cuộc điểm danh bỏ phiếu hiếm hoi diễn ra lúc 1 giờ sáng. Lãnh đạo phe đa số Thượng viện Mitch McConnell đã sắp xếp cuộc bỏ phiếu vào giữa đêm vì ông tin mình đã có đủ số phiếu cần thiết. Bốn mươi chín nghị sĩ Cộng hòa sẽ bỏ phiếu thuận. Hai người, Lisa Murkowski và Susan Collins, đã công khai tuyên bố bỏ phiếu chống. Điều đó đồng nghĩa tất cả những nghị sĩ Cộng hòa còn lại đều phải đồng ý. McConnell tin rằng McCain cũng sẽ như vậy.

McCain đã bay từ Arizona trở lại Washington chỉ để tham gia cuộc bỏ phiếu này. Trên mắt trái của ông vẫn còn vết sẹo phẫu thuật mới sau khi các bác sĩ cắt bỏ khối u. Hai ngày trước đó, ông đã có bài phát biểu tại Thượng viện, kêu gọi quay trở lại tiến trình hợp tác lưỡng đảng. Nhưng không ai thực sự hiểu ông muốn ám chỉ điều gì.

Phó Tổng thống Mike Pence cũng có mặt trong phòng họp. Ông ở đó để phá vỡ thế hòa nếu kết quả là 50–50. Sự hiện diện của Pence cho thấy Nhà Trắng biết cuộc bỏ phiếu sẽ vô cùng sít sao. Pence đã tiến đến chỗ McCain tại sàn Thượng viện và nói chuyện với ông suốt hai mươi phút. Nội dung cuộc trò chuyện không được ghi lại. Sau này, nhiều thượng nghị sĩ cho biết Pence đang cố thuyết phục McCain bỏ phiếu thuận vào phút cuối.

McCain lắng nghe. Ông gật đầu. Nhưng không nói gì.

Người thư ký bắt đầu gọi tên bỏ phiếu. Khi đến tên McCain, ông bước lên phía trước phòng họp. Ông đứng trước bàn của thư ký. Cả khán phòng lặng đi. Máy quay truyền hình đang phát trực tiếp. McConnell dõi theo từ bàn làm việc của mình. Pence đứng cách đó chỉ vài mét.

McCain giơ tay phải lên. Ông giữ nguyên trong giây lát. Rồi từ từ hạ ngón tay cái xuống.

Cả phòng họp bùng nổ. Các nghị sĩ Dân chủ sửng sốt. Một số thượng nghị sĩ Cộng hòa cúi gằm mặt. McConnell đứng chết lặng tại bàn làm việc. Pence rời khỏi sàn họp mà không nói một lời.

Kết quả cuối cùng là 49–51. Dự luật bãi bỏ Obamacare thất bại. Bảy năm chiến lược lập pháp của Đảng Cộng hòa sụp đổ chỉ vì một cử chỉ của một người đàn ông đang hấp hối vào lúc một giờ ba mươi sáng.

Đêm đó, McCain không giải thích lá phiếu của mình với báo chí. Ông rời Thượng viện, bay trở về Arizona và tiếp tục điều trị ung thư. Mười ba tháng sau, ông qua đời.

Nhà Trắng không bao giờ nói chuyện với ông thêm lần nào nữa. Những người ủng hộ đảng của chính ông gọi ông là kẻ phản bội. Các bình luận viên bảo thủ, những người từng ca ngợi sự phục vụ quân đội của ông suốt hàng chục năm, quay lưng với ông chỉ sau một đêm. Ông không đáp trả bất kỳ điều gì.

Một phóng viên CNN đã chờ sẵn tại tòa nhà Russell khi McCain bước ra khỏi văn phòng của mình ngay trước nửa đêm để đi bộ sang Điện Capitol. Ông đang nói chuyện điện thoại. Phóng viên chỉ kịp nghe được một câu trước khi cửa thang máy đóng lại:

“Làm điều đúng đắn thật sự rất khó.”


 

CÂU CHUYỆN PHI THƯỜNG VỀ NHỮNG “KITÔ HỮU KAKURE KIRISHITAN TẠI NHẬT BẢN

Joseph Phạm Nguyên

CÂU CHUYỆN PHI THƯỜNG VỀ NHỮNG “KITÔ HỮU KAKURE KIRISHITAN TẠI NHẬT BẢN

Vào đầu những năm 1600, chính quyền Nhật Bản đã trục xuất toàn bộ các nhà truyền giáo Kitô giáo và phát động những cuộc bách hại tàn khốc. Các linh mục bị sát hại hoặc buộc phải rời đi, bỏ lại hàng ngàn người Nhật trở lại đạo trong sự cô lập hoàn toàn với Giáo hội.

Suốt hơn 250 năm, những tâm hồn trung kiên này — được biết đến với tên gọi “Kitô hữu ẩn danh” (Kakure Kirishitan) — đã sống trong thầm lặng. Họ không có linh mục, không có Thánh lễ công khai, không có các bí tích và cũng chẳng có Kinh Thánh. Thế nhưng, đức tin Công giáo của họ chưa bao giờ lụi tàn.

Họ truyền lại lời dạy của Chúa Kitô từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ bí mật rửa tội cho con cái mình. Và trong tĩnh lặng của mái nhà, họ bám chặt vào một sợi dây cứu sinh mạnh mẽ: Kinh Mân Côi.

Thay vì dùng chuỗi hạt, họ thắt những nút dây thừng đơn sơ để đọc Kinh Mân Côi mỗi ngày. Các Mầu nhiệm về cuộc đời Chúa Kitô trở thành sách giáo lý của họ. Những kinh Kính Mừng, kinh Lạy Cha trở thành lời cầu nguyện, niềm an ủi và là “Thánh lễ thầm lặng” của họ.

Chính nhờ Kinh Mân Côi, họ vẫn hiệp thông cùng Chúa Giêsu và Đức Mẹ ngay cả trong những thập kỷ đen tối nhất của cuộc bách hại.

Khi các nhà truyền giáo quay trở lại Nhật Bản vào giữa những năm 1800, họ đã vô cùng kinh ngạc khi thấy toàn bộ các cộng đồng vẫn gìn giữ vẹn toàn Đức tin Công giáo — tất cả là nhờ Kinh Mân Côi.

Bài học cho chúng ta hôm nay:

Câu chuyện phi thường này nhắc nhở chúng ta rằng Kinh Mân Côi không chỉ đơn thuần là một việc đạo đức. Đó là một vũ khí thiêng liêng, một trường học đức tin và là sợi xích ân sủng nâng đỡ chúng ta vượt qua những thử thách, cô độc và bất định của cuộc sống.

Trong một thế giới bận rộn và đôi khi đầy thách thức như hiện nay, nguyện xin gương sáng của các Kitô hữu ẩn danh truyền cảm hứng cho chúng ta biết siêng năng đọc Kinh Mân Côi với lòng mến yêu và trung thành sâu sắc hơn.

Theo dõi trang để đọc thêm nhiều bài viết từ Joseph Phạm Nguyên

Nguyện xin Thiên Chúa ban phước lành cho bạn!

#catholic #catholicfaith #FaithInAction #rosary #culture #christianity #GiaohoiConggiao #KinhManCoi #DucTin 


 

HOA QUẢ THỨ 11: Khiêm Nhu – Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình nhé. Hôm nay bạn ráng trở thành một người khiêm nhu đi, mình biết chắc những người chung quanh sẽ zui lắm đó.

Cha Vương

Thứ 6: 29/05/2026.   (n3-6-22)

TIN MỪNG: Lòng kính sợ ĐỨC CHÚA là trường dạy khôn ngoan, khiêm nhu là đường dẫn đến vinh dự. (CN 15:33)

HOA QUẢ THỨ 11: Khiêm Nhu— Trong tự điển tiếng Việt định nghĩa là: 

  1. tính khiêm tốn, tính nhún nhường, tính nhũn nhặn, 
  2. tính thùy mị, tính nhu mì, tính e lệ, 
  3. tính vừa phải, tính phải chăng, tính bình thường, tính giản dị. 

Nhưng theo ý nghĩa truyền thống và thần học, khiêm nhu mang tính yếu đuối, nhưng người khiêm nhu chiến thắng cơn tức giận của mình, biết kiềm chế, biết điều chỉnh và điều khiển năng lực để làm điều tốt hơn điều xấu.

SUY NIỆM: Bạn đang sống trong xã hội có những phần tử đề cao sự thành công của con người dựa trên bao nhiêu huy chương, bao nhiêu phần thưởng, bao nhiêu bằng cấp, bằng khen, bao nhiêu tài sản họ có. Họ rất hãnh diện và tự hào về sự thành công của họ. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì đó là mồ hôi nước mắt của họ, họ phải lao động hết sức vất vả mới có được như ngày hôm nay. Họ có đi ăn cướp ăn trộm của ai đâu. Vấn đề ở đây là một khi họ thần thánh hoá niềm tự hào, sự hãnh diện và những thành công của thì họ đã tự biến những gì rất bình thường trở thành bất bình thường. Họ trở thành người kiêu ngạo, tự cao, tự đắc qua cách ứng xử không tế nhị, không tôn trọng kẻ khác. Hay nói cách khác đi, họ coi trời bằng vung. Họ luôn tìm kiếm những sự chú ý cho riêng mình. Ngược lại trong xã hội ngày nay cũng không thiếu những người rất khiêm nhu và khiêm nhường. Họ biết kiềm chế, điều chỉnh, và điều khiển cảm xúc của họ. Họ phục vụ một cách tích cực, biết động viên và khuyến khích những người cùng làm việc chung với cả sự khiêm nhu và hết sức tế nhị. Họ không muốn người khác nói lời cảm ơn hoặc tìm kiếm lời khen ngợi của người khác. Họ làm việc tận tuỵ trong âm thầm vì yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân. Mẹ Thánh Teresa Calcutta nói: “Nếu bạn khiêm nhu, không có gì ảnh hưởng tới bạn, dù lời khen ngợi hoặc sự ghen ghét, vì bạn biết mình là ai”.  Ước mong bạn cảm nhận được tầm quan trọng của nhân đức khiêm nhu trong cuộc sống, biết dấn thân, quên mình, không đòi hỏi gì nơi người khác nhưng luôn biết cộng tác kết nối với tha nhân làm việc chỉ để cho danh Chúa được cả sáng mà thôi.

LẮNG NGHE: Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải  biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo. (Rm 12:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin biến đổi qua tim con để con biết những việc con phải làm, từ lúc khởi sự cho đến khi hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa chứ không bởi con.

THỰC HÀNH: Tập nhận biết tôi chẳng là gì trước mặt Chúa. Tôi chỉ là người quản lý của Chúa thôi.

From: Do Dzung

******************************

Tất Cả Là Hồng Ân || St Lm. Huy Hoàng || Tb Sr Hoàng Phương 

Diễn Giải Về Chủ Đề “Cùng Chúa Vượt Biển Đời” – Lm Gioan Baotixita Phương Đình Toại, MI – Phần 1/2 & Phần 2/2

https://www.youtube.com/live/5CFlI9kNbgw

Diễn Giải Về Chủ Đề “Cùng Chúa Vượt Biển Đời” – Lm Gioan Baotixita Phương Đình Toại, MI – Phần 1/2

https://www.youtube.com/live/dNdw6DCAk_U

Diễn Giải Về Chủ Đề “Cùng Chúa Vượt Biển Đời” – Lm Gioan Baotixita Phương Đình Toại, MI – Phần 2/2

Chuyện tuổi Xế Chiều – Truyen ngan HAY

AnhPhu VanLy is with Nhuan Le.

 nhìn hình ảnh của bà cụ này tự nhiên tôi nghĩ rồi mình cũng sẽ như thế trong 1 ngày rất gần đây

Chuyện tuổi Xế Chiều

Bình Yên LN

Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến gõ cửa, bà hỏi tôi có muốn mua căn nhà của bà không ? Căn nhà rộng 132m vuông . Tôi có chút bất ngờ nên nói với bà : Bà ơi con đã có nhà rồi không cần mua thêm đâu. Bà cụ tiếp tục nói: Con à, nếu con đồng ý mua nhà của bà, bà sẽ không lấy của con đồng xu nào, nhưng con phải đồng ý với bà một điều kiện .

Nghe đến đây tôi sửng người. Sao trên đời lại có chuyện như thế này chứ? Nhưng thái độ của bà thật nghiêm túc, trong ánh mắt còn ẩn chứa một nỗi niềm nặng trĩu khó hiểu. Tôi cố nén sự nghi ngờ trong lòng và nói: Bà cứ nói đi, nếu có thể giúp con nhất định sẽ giúp. Bà ngước nhìn tôi chậm rãi nói : Sau này mỗi lần xuống, đi ngang cửa nhà bà cứ gõ cửa một cái, nếu bà trả lời con cứ yên tâm mà đi, nếu không nghe thấy tiếng bà con hãy làm ơn gọi điện cho các con của bà, nếu chúng nó cũng không về thì hãy làm ơn đưa bà đi tiếp chặng đường cuối cùng. Căn nhà này bà sẽ để lại cho con.

Những lời của bà khiến lòng tôi chùng xuống: Đây nào phải là một yêu cầu đơn giản mà là một sự phó thác sinh mệnh.

Trong lòng tôi rối bời không biết có nên đồng ý hay không, nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi và tha thiết của bà tôi đã gật đầu chấp nhận. Tôi đỡ bà vào nhà để bà ngồi xuống và rót cho bà một ly nước nóng. Đôi tay bà run rẩy, nhìn dáng vẻ của bà lòng tôi thấy xót xa.

Qua câu chuyện bà kể, tôi biết bà nay đã 86 tuổi, cả bà và ông đều từng là giáo viên về hưu. Con trai lớn lập gia đình sống ở Canada, con gái lấy chồng ở Anh . Từ khi các con ra nước ngoài bà sống nương tựa vào ông, nhưng năm ngoái ông đã qua đời, giờ trong nhà chỉ còn lại mình bà, các con đã nhiều năm không về thăm nhà,nhà cũ ở quê cũng bán từ lâu… Giờ chỉ mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng này, giá như mà hồi đó chúng nó đừng giỏi giang như thế thì tốt biết mấy, nếu không ra nước ngoài ít ra chúng cũng còn nhớ đến căn nhà này, mỗi năm có thể gặp vài lần…  Nghe bà nói vậy, tôi nghe lòng trĩu nặng: Bà không phải đang trách các con, mà bà đang cảm thấy bất lực với tuổi già của mình , nhà có rộng đẹp cách mấy cũng không ấm áp bằng tình thâm.

Kể từ đó… mỗi lần đi làm tôi đều ghé xuống gõ cửa nhà bà, chỉ khi nghe tiếng bà trả lời tôi mới yên tâm đi làm. Vào cuối tuần tôi tranh thủ ghé qua thăm bà, cùng bà trò chuyện, nấu ăn, giúp bà làm vài việc vặt… Mỗi lần như thế bà rất vui vẻ , có lẽ đó chính là cái cảm giác hạnh phúc và an toàn.

… Thấm thoát một năm đã trôi qua, tháng trước vào tuần cuối của tháng, tôi đi cộng tác đột xuất nên không kịp gõ cửa nhà bà … Một tuần sau khi  trở về, tôi vội vàng sang gõ cửa nhà bà , nhưng không nghe tiếng trả lời của bà . Linh tính chẳng lành, tôi báo cho ban quản lý và gọi điện cho cảnh sát.

Khi cảnh sát mở cửa , chúng tôi phát hiện bà đã nằm yên trên giường, mắt nhắm lại, bên cạnh là quyển album hình của hai ông bà thời trẻ và hình của các con khi còn bé , pháp y nói: Bà đã qua đời hai ngày trước vì bịnh tim.

Lòng tôi đau nhói… Chỉ mới trước ngày tôi đi công tác bà còn nói: Bên ngoài trời lạnh lắm, nhớ mang theo áo ấm con à ! Bà còn bảo cuối tuần qua bà có làm bánh nhân thịt, vì các con ngày còn bé rất thích … Nói xong bà quay lưng bước vào thang  máy, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng… Bà ra đi lặng lẽ như thể thế giới này chưa bao giờ để ý đến sự tồn tại của bà.

Sau đó tôi gọi điện cho các con của bà, nhưng không ai về kịp. Trong đám tang chỉ có vài người đến tiễn đưa, dường như cả cuộc đời bà cứ cuốn trôi theo dòng thời gian không để lại dấu vết nào… nghĩ đến đây lòng tôi trĩu nặng, một người hiền từ như vậy tại sao cuối cùng lại ra đi trong cô đơn như vậy.

Sau khi lo liệu xong tang lễ, tôi đứng rất lâu trong ngôi nhà trống vắng của bà… nhớ lại những khoảng khắc trước kia… những lúc bà cô đơn và bất lực … Chợt tôi hiểu ra ý nghĩa lời nói của bà: Giá mà con cái của bà không giỏi giang đến thế thì tốt biết bao. Có lẽ bà chưa bao giờ mong con cái có những thành tựu lớn lao, chỉ hy vọng những ngày tháng tuổi già có người đến gõ cửa nhà bà, có người lắng nghe giọng nói của bà. 

Bà đã ra đi mang theo nỗi cô đơn và bất lực của mình. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy an ủi là ít nhất trong một năm cuối đời, có người đồng hành cùng bà, khiến bà cảm thấy một chút hơi ấm, một ít quan tâm.

Gửi đến những người thân yêu: Hãy nhớ, hãy dành thời gian có thể để quan tâm đến cha mẹ già của mình, đến một ngày bạn nhận ra  cha mẹ là những người bạn dành ít thời gian nhất nhưng lại là những người yêu thương bạn vô điều kiện.

Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về

Cha mẹ mất, đời ta chỉ còn đường để ra đi

 *Ghi lại từ bài đọc trên FB Phạm Tiến


 

NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…- Tuấn Khanh

Việt Luận – Viet’s Herald

 NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…

Tuấn Khanh

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi.

Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi in tại Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao Động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Cuộc đời của nhà văn Trần Đĩnh, người cầm bút hơn 70 năm, bắt đầu với công việc ký giả cho tờ Sự Thật – một tờ báo chủ đích tuyên truyền do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Nhà văn Trần Đĩnh sinh năm 1930. Năm 16 tuổi ông tham gia Việt Minh theo lời kêu gọi yêu nước, chống Pháp. Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này – theo như ông tâm tình trên BBC – đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật của giới lãnh đạo cộng sản.

Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người được tin cậy để được trao nhiệm vụ chấp bút viết tiểu sử của ông Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận… nên những gì ông kể trong bản văn Đèn Cù, là có thể tin cậy được.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà bình do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev đưa ra, theo Trần Đĩnh, ông đã ủng hộ lập trường của Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị ghép vào tội “chống đảng”. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là Trần Châu, hay như những người khác như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu vong như Nguyễn Minh Cần…, nhưng ông bị đày đi cải tạo lao động. Sau đó, tuy ông được xét làm báo trở lại nhưng với điều kiện: Không được ký tên Trần Đĩnh, chỉ viết về nông nghiệp, và không được viết anh hùng, chiến sĩ thi đua và cấp ủy cao. Cuối cùng là không được ở gần thanh niên, bởi sẽ gây tiêm nhiễm tư tưởng phản động cho thế hệ trẻ. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ sách 600 trang của ông Trần Đĩnh đã tiết lộ nhiều chuyện “động trời”, trong đó, một trong những chuyện được nhiều người Việt trong và ngoài nước đọc qua, đã bàn tán không ngớt như chuyện ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh cải trang đến tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.” (trang 84).

Đã có lần trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là những điều ông kể có chứng cứ không, ông Trần Đĩnh đã bật cười nói “Nó là cuộc đời tôi, diễn ra chung quanh tôi. Rất nhiều người cùng thời với tôi chứng kiến nay đã chết, họ đã mang những chứng cứ đó xuồng mồ, nên tôi phải viết lại”.

Câu trả lời thú vị nhất của ông, là khi được hỏi ông viết cuốn hồi ký với nhiều chi tiết gây sốc này, với mục đích gì. “Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi”, nhà văn Trần Đĩnh nói. Ông mô tả rằng người ta làm và sống với những điều tự nhiên, như đau thì phải kêu, và thấy sự thật, phải kể lại. “Đến lúc tôi phải viết xuống vì không thể để ai bịa đặt hay muốn nói như thế nào cũng được”, nhà văn Trần Đĩnh nói.

Lúc sinh thời, trong thời gian sống và làm việc tự do ở Sài Gòn, nhà văn Trần Đĩnh còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, như Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Ngầm của Murakami Haruki.

Sau khi sách Đèn Cù trở thành một cú chấn động trong đời sống của người đọc sách, người quan tâm chính trị, báo chí nước ngoài gọi điện thăm hỏi rằng ông có bị khó dễ gì vì bộ sách này hay không, ông trả lời “Tôi đã đến tuổi không còn thấy điều gì làm khó được mình”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh 


 

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi.

Năm 1936, giữa thời kỳ Đại Khủng Hoảng và cơn ác mộng Dust Bowl phủ lên miền Trung nước Mỹ, hàng ngàn trẻ em nông thôn tại tiểu bang Oklahoma vẫn ngày ngày lội gió bụi đến những trường học nhỏ giữa đồng hoang. Đó là thời kỳ mà đất đai nứt nẻ như da trâu mùa hạn, mùa màng chết khô, gia súc lăn ra chết bên hàng rào, còn nhiều gia đình thì sống lay lắt nhờ vài bao bột mì cứu trợ của chính phủ liên bang. Nhưng giữa cảnh khốn cùng ấy, người dân quê Oklahoma vẫn giữ một niềm tin gần như thiêng liêng: con chữ có thể cứu đời con cái họ khỏi cái nghèo truyền kiếp.

Gia đình Harper sống tại một nông trại nhỏ bên ngoài thành phố Enid. Mảnh đất vốn từng màu mỡ ấy giờ đây bị những cơn bão bụi biến thành một biển đất chết. Mỗi khi gió nổi lên, bụi đỏ cuồn cuộn như khói chiến tranh, phủ kín mái nhà, chuồng bò, hàng rào và cả bên trong căn bếp nghèo. Người ta kể rằng có những sáng ngủ dậy, lớp bụi dày đến nỗi bà Harper phải lấy xẻng nhỏ xúc đất ra khỏi nền nhà.

Ông Harper, cha của bọn trẻ, trước kia là nông dân trồng lúa mì. Nhưng sau nhiều mùa thất bát, ông phải đi tìm việc tạm bợ bằng nghề chở lúa thuê hoặc phụ hồ tại các thị trấn lân cận. Đồng lương ít ỏi chẳng đủ nuôi đàn con đông đúc. Bà Harper đành vá quần áo bằng bao bột mì cũ, tận dụng từng mảnh vải vụn để may áo cho con. Bữa ăn gia đình quanh quẩn chỉ có đậu, khoai tây và bánh bắp. Thịt là món xa xỉ hiếm hoi xuất hiện vài lần trong tháng.

Tuy vậy, mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, những đứa trẻ Harper vẫn chuẩn bị đến trường. Chúng đi bộ nhiều cây số qua các con đường đất phủ bụi mù. Đứa lớn dắt đứa nhỏ, tay ôm tập vở cũ đã sờn góc. Có đứa mang giày rách đế, có đứa chân trần vì cha mẹ không đủ tiền mua giày mới. Mùa đông Oklahoma lạnh buốt, gió thổi xuyên qua áo khoác mỏng. Nhưng chưa bao giờ cha mẹ chúng cho phép nghỉ học chỉ vì nghèo.

Những ngôi trường quê thời ấy phần lớn chỉ là trường một phòng học. Trong căn phòng gỗ nhỏ, học sinh từ lớp Một đến lớp Tám ngồi chung. Một chiếc lò sưởi bằng than đặt giữa lớp để chống rét mùa đông. Sách giáo khoa được truyền tay từ khóa này sang khóa khác đến mức gáy sách bung ra từng mảnh. Nhiều học sinh phải dùng chung bút chì vì gia đình không đủ tiền mua đồ dùng học tập.

Các giáo viên miền quê Oklahoma trong thời Dust Bowl không chỉ làm nghề dạy học. Họ còn là y tá, người phát chẩn và đôi khi là chỗ dựa tinh thần cho cả cộng đồng. Có cô giáo phải bỏ tiền túi mua bánh mì cho học sinh đói bụng. Có thầy giáo sau giờ học còn lái xe đi thăm những gia đình bị bệnh dịch hoặc mất mùa. Nhiều người vận động quyên góp quần áo cũ từ thị trấn để đem phát cho trẻ em nông thôn.

Thời kỳ Dust Bowl không phải chỉ là thiên tai đơn thuần. Đó là hậu quả của nhiều năm canh tác quá mức trên các đồng bằng miền Trung Hoa Kỳ. Khi hạn hán kéo dài kết hợp với gió mạnh, lớp đất mặt màu mỡ bị cuốn lên trời thành những cơn “bão đen” khổng lồ. Từ năm 1930 đến 1936, hàng triệu mẫu đất tại Oklahoma, Texas và Kansas bị phá hủy nghiêm trọng. Hàng trăm ngàn gia đình nông dân phải bỏ quê hương di cư sang California tìm kế sinh nhai.

Nhà văn John Steinbeck sau này đã mô tả thảm cảnh ấy trong cuốn The Grapes of Wrath, một tác phẩm nổi tiếng phản ánh đời sống khốn khổ của dân nghèo miền Dust Bowl. Nhưng đối với những đứa trẻ như nhà Harper, bi kịch ấy không nằm trong sách vở. Chúng sống giữa nó từng ngày, từng giờ.

Năm 1935, một trận bão bụi khổng lồ mang tên “Black Sunday” đã biến ban ngày thành đêm tối. Người dân kể rằng khi cơn bão kéo đến, họ không nhìn thấy bàn tay mình trước mặt. Trẻ em phải lấy khăn ướt che mũi để khỏi nghẹt thở. Bụi lọt vào phổi gây ra căn bệnh gọi là “dust pneumonia” khiến nhiều người tử vong. Những đứa trẻ nông thôn lớn lên giữa bụi đất và nỗi sợ mùa màng thất bại.

Dẫu vậy, trường học vẫn là nơi đem lại chút hy vọng hiếm hoi. Trong lớp học nhỏ ấy, bọn trẻ được học đọc, học viết, học địa lý và nghe kể về một thế giới rộng lớn bên ngoài cánh đồng khô cằn. Với nhiều phụ huynh, con đường học vấn là cơ hội duy nhất để con cái họ thoát khỏi kiếp bám đất mà vẫn nghèo.

Một học sinh cũ sau này nhớ lại: “Chúng tôi không biết mùa màng có sống nổi hay không, nhưng cha mẹ vẫn bắt chúng tôi đi học mỗi sáng. Họ tin rằng dù đất đai có chết, con chữ vẫn còn sống.”

Niềm tin ấy phản ánh tinh thần đặc biệt của tầng lớp nông dân Mỹ thời Đại Khủng Hoảng. Dù mất tiền bạc, mất mùa màng, họ vẫn không chịu đầu hàng số phận. Chính phủ của Tổng thống Franklin D. Roosevelt sau đó đã đưa ra chương trình New Deal nhằm cứu trợ nông dân, tạo việc làm và cải tổ kinh tế. Nhưng trước khi các chính sách ấy phát huy hiệu quả, nhiều gia đình đã phải tự chống chọi bằng nghị lực phi thường.

Điều đáng nói là những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 không hề xem mình là anh hùng. Chúng chỉ đơn giản làm điều phải làm: thức dậy, đi học và tiếp tục sống. Nhưng chính sự bình dị ấy mới là vẻ đẹp lớn nhất của thế hệ Dust Bowl. Không súng đạn, không chiến công, không huy chương, chỉ có đôi chân trẻ thơ lầm lũi bước qua đồng bụi để giữ lấy tương lai.

Ngày nay, nhiều trường học một phòng tại Oklahoma đã biến mất, nhường chỗ cho xa lộ và các thị trấn hiện đại. Nhưng những bức ảnh cũ còn lưu lại vẫn khiến hậu thế xúc động. Trong ảnh, lũ trẻ gầy gò đứng trước mái trường gỗ đơn sơ, áo quần vá chằng vá đụp nhưng ánh mắt vẫn sáng. Đó là ánh mắt của một thế hệ sinh ra giữa tai họa nhưng không chịu khuất phục.

Câu chuyện của những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 nhắc hậu thế một bài học đơn giản mà sâu xa: nghèo đói có thể lấy mất tài sản, thiên tai có thể phá hủy ruộng đồng, nhưng tri thức và nghị lực vẫn là thứ giúp con người đứng dậy sau mọi biến động. Chính những bước chân bé nhỏ trên con đường bụi đỏ năm xưa đã góp phần dựng lại nước Mỹ sau thời Đại Khủng Hoảng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.