NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN

Người Giồng Trôm

 NHÀ THỜ TRUYỀN TIN – VIÊN NGỌC CÔNG GIÁO BỊ LÃNG QUÊN, BỊ CHIẾM DỤNG TRÊN ĐƯỜNG PHỔ QUANG, TÂN BÌNH, SÀI GÒN

Giữa dòng xe cộ hối hả của đường Phổ Quang, phường 2, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh ngày nay, có một góc khuất mà ít ai để ý: một ngôi thánh đường Công Giáo nhỏ bé, cổ kính, nằm lặng lẽ bên cạnh doanh trại quân đội (nay là Quân khu 7). Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngôi nhà thờ này bị chiếm dụng, đóng cửa kín mít, khuôn viên từng là nơi cầu nguyện thiêng liêng nay trở thành bãi đậu xe tải của ngành điện lực, cỏ dại mọc um tùm, tường vôi loang lổ, mái ngói phủ bụi thời gian. Nhiều người Sài Gòn sinh ra sau 1975, sống ngay quanh khu vực này, thậm chí đi qua hàng trăm lần, vẫn không biết đây là nhà thờ gì, thuộc Tin Lành hay Công Giáo. Tra Google Maps hay tìm kiếm trên mạng, kết quả gần như bằng không – như thể ngôi thánh đường này đã bị lịch sử xóa sổ khỏi ký ức tập thể.

Nhưng với những bậc tiền bối Bắc di cư năm 1954 còn sống sót quanh giáo xứ Tân Sa Châu, Bùi Phát (vùng Ông Tạ xưa), họ vẫn nhớ rõ như in: Đây chính là Nhà Thờ Truyền Tin – một trong những nhà thờ Công Giáo quan trọng nhất phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) thời chiến tranh. Tên gọi “Truyền Tin” lấy từ mầu nhiệm Lễ Truyền Tin (Annunciation) – ngày Sứ Thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria rằng Bà sẽ mang thai Con Thiên Chúa. Ngôi nhà thờ được xây dựng để dành riêng cho các linh mục tuyên úy dâng Thánh Lễ, chăm sóc đời sống thiêng liêng cho hàng ngàn quân nhân đóng quanh phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu (TTM), và các đơn vị binh chủng Truyền Tin, Không Quân, cùng gia đình họ ở khu gia binh gần đó.

Lịch sử xây dựng và những năm tháng huy hoàng

Ngôi nhà thờ được khởi công vào những năm đầu thập niên 1960, thuộc giáo khu Truyền Tin, giáo xứ Tân Sa Châu, dưới sự quản lý của Tổng Giáo phận Sài Gòn. Viên đá đầu tiên được đặt vào dịp Noel, ngày 23 tháng 12 năm 1961, và hoàn thành chỉ trong vòng chưa đầy một năm – ngày 13 tháng 8 năm 1962. Ban đầu, một số người gọi là “Nhà Thờ Không Quân” vì khu vực phi trường Tân Sơn Nhất lúc ấy chỉ có nhà thờ Công Giáo này phục vụ quân nhân. Sau đó đổi tên thành Nhà Thờ Truyền Tin vì nằm sát khu vực binh chủng Truyền Tin và cư xá gia binh Truyền Tin.

Người trực tiếp đảm trách và góp phần lớn vào việc xây dựng là Linh mục Phan Phát Huồn, dòng Chúa Cứu Thế (DCCT). Cha Huồn sinh ngày 5 tháng 10 năm 1926 tại họ đạo Thợ Đúc, giáo xứ Trường An, Hương Thủy, Huế. Năm mới 11 tuổi (1937), ngài đã vào tu tại Dòng Chúa Cứu Thế – một quyết định dấn thân sớm lạ thường. Khấn dòng năm 1948, thụ phong linh mục ngày 27 tháng 6 năm 1955. Từ năm 1957, cha được chọn tham gia ngành Tuyên Úy Công Giáo Quân Lực VNCH, với cấp bậc cao nhất là Trung tá Tuyên úy, Phó Giám đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo QLVNCH.

Không chỉ là linh mục tuyên úy, cha Huồn còn là một sử gia Công Giáo lỗi lạc. Tác phẩm đồ sộ nhất của ngài là bộ “Việt Nam Giáo Sử” (2 tập, xuất bản năm 1965 bởi Cứu Thế Tùng Thư tại Sài Gòn) – một công trình nghiên cứu công phu, chi tiết về lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam từ thời khai phá đến thế kỷ 20. Sau 1975, sách được tái bản tại Mỹ. Ngoài ra, cha còn làm Chủ bút Nguyệt san Tinh Thần, Giám đốc Chương trình Phát thanh Nha Tuyên Úy, mở trường Trung Tiểu học Tinh Thần, Trung Tiểu học Truyền Tin, Trung Tiểu học Lê Văn Duyệt… để chăm lo giáo dục cho con em quân nhân.

Thánh Lễ tại Nhà Thờ Truyền Tin thường diễn ra vào sáng Chúa Nhật, do các linh mục tuyên úy luân phiên chủ tế, nổi bật là cha Nguyễn Ái (người gốc Huế, cấp bậc trung úy, sau là trung tá). Cha Ái có người em là linh mục Nguyễn Ân (cấp bậc đại tá). Không khí thánh đường lúc ấy tràn đầy hy vọng, tiếng kinh nguyện hòa lẫn tiếng máy bay cất cánh từ Tân Sơn Nhất, tiếng cầu xin bình an giữa bom đạn chiến tranh.

Sau 1975: Bi kịch chiếm dụng và lãng quên

Ngày 30/4/1975, mọi thứ thay đổi. Như bao cơ sở tôn giáo, quân sự của chế độ cũ, Nhà Thờ Truyền Tin bị nhà nước tiếp nhận. Khuôn viên bị biến thành nhà kho chứa thiết bị, vật tư điện lực cao thế. Xe tải điện lực đậu kín sân, cổng khóa chặt, không còn tiếng chuông, không còn Thánh Lễ. Người coi sóc cuối cùng cũng đã qua đời. Hầu hết quân nhân, gia đình từng tham dự lễ ở đây nay đã cao niên, phần lớn định cư nước ngoài theo diện HO hoặc các chương trình khác.

Riêng cha Phan Phát Huồn, như bao tuyên úy và quân nhân khác, phải trải qua 13 năm tù cải tạo (1975–1988), từ Nam chí Bắc: Tam Hiệp, Thanh Phong, Nam Hà… Ngài được thả tự do năm 1988, định cư tại Hoa Kỳ năm 1992 theo diện HO. Tại Mỹ, cha tiếp tục sinh hoạt trong Dòng Chúa Cứu Thế hạt Long Beach, làm Đặc trách Nhà dòng, Chủ bút Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (tái bản sau khi bị đình bản tại Việt Nam), Giám đốc Chương trình Phát thanh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Linh hướng chương trình truyền hình Ánh Sáng Niềm Tin… Cha qua đời ngày 16 tháng 10 năm 2015 tại Mỹ, để lại di sản tinh thần lớn lao.

Gần 50 năm trôi qua: Di sản vẫn chưa được trả lại

Gần nửa thế kỷ, tài sản của Giáo Hội vẫn nằm trong tay nhà nước, chưa được trả lại để giáo dân tu sửa, biến nơi đây thành chốn thờ phượng. Khu vực Phổ Quang xưa kia có hai địa điểm tôn giáo phục vụ quân nhân VNCH: Nhà Thờ Truyền Tin và Chùa Phổ Quang. Chùa Phổ Quang đã được trả lại cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trùng tu khang trang, trở thành điểm hành hương đẹp đẽ. Còn Nhà Thờ Truyền Tin thì vẫn im lìm, hoang phế, như một vết thương chưa lành của lịch sử.

Nhà Thờ Truyền Tin không nằm trong danh sách thái “giao tặng” lại một số cơ sở tôn giáo cho Giáo phận Sài Gòn. Thiết nghĩ, Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn nên có những động thái cụ thể, khẩn thiết hơn: gửi văn bản chính thức, vận động, đối thoại để đòi lại ngôi thánh đường này. Kẻo để lâu, công trình sẽ hư hại hoàn toàn – mái sụp, tường đổ, và lặp lại bi kịch của không ít nhà thờ, cơ sở tôn giáo khác trong lịch sử đau thương sau 1975.

Đây không chỉ là một ngôi nhà thờ nhỏ trên đường Phổ Quang. Đây là di sản thiêng liêng, là ký ức của biết bao người đã từng quỳ gối cầu nguyện giữa khói lửa chiến tranh, là nơi cha Phan Phát Huồn – một linh mục, một sử gia, một tuyên úy – đã dâng hiến tuổi trẻ và cả cuộc đời cho đức tin và quê hương. Và quan trọng hơn, đây là lời nhắc nhở về công bằng, về quyền tự do tôn giáo, về việc trả lại những gì thuộc về Giáo Hội.

Lm. Anmai, CSsR

PS : Linh mục Phan Phát Huồn cũng chính là người sáng lập Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Xóm Mới.


 

SỐNG NHỮNG PHÚT CUỐI NGÀY TRONG TINH THẦN CÁNH CHUNG-Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

SỐNG NHỮNG PHÚT CUỐI NGÀY TRONG TINH THẦN CÁNH CHUNG

Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta một lời vừa ngắn gọn vừa đầy sức lay động: “Thời gian chẳng còn bao lâu” (1 Cr 7,29). Đó không phải là một lời làm ta hoảng sợ, nhưng là một tiếng chuông thức tỉnh. Cuộc đời này không kéo dài mãi. Lịch sử thế giới rồi cũng sẽ đi tới hồi viên mãn, khi Thiên Chúa hoàn tất mọi sự và quy tụ vạn vật trong Đức Kitô. Tuy nhiên, cũng chính Kinh Thánh lại dạy rằng: “Đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày” (2 Pr 3,8). Nghĩa là con người không thể dùng đồng hồ của mình để đo lường chương trình của Thiên Chúa. Ta không biết ngày tận thế đến khi nào. Ta cũng không biết giờ phút nào đời mình sẽ khép lại. Điều duy nhất ta biết chắc, đó là ngày ấy sẽ đến.

Chính vì thế, Hội Thánh thật khôn ngoan khi mỗi năm đều dành những tuần cuối năm phụng vụ, đặc biệt là tuần XXXIII Thường niên, để hướng lòng con cái mình về thực tại cánh chung. Đây là thời gian của tỉnh thức. Đây là thời gian của hồi tâm. Đây là thời gian để mỗi người tự hỏi: nếu hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi, tôi có sẵn sàng chưa? Nếu đêm nay Chúa gọi tôi ra khỏi thế gian này, lòng tôi sẽ thế nào? Bình an hay bối rối? Tín thác hay sợ hãi? Gần Chúa hay xa Chúa?

Nhiều người khi nghe nói đến ngày cùng tận thường nghĩ đến những biến động lớn lao của vũ trụ, những hình ảnh kinh hoàng, những biến cố chấn động. Nhưng thật ra, đối với mỗi người, ngày cánh chung gần gũi nhất không hẳn là ngày tận thế của toàn cầu, mà là giờ phút cuối cùng của chính đời mình. Thế giới có thể còn tiếp tục, nhưng đời tôi thì không kéo dài vô tận. Vì thế, vấn đề không phải là đoán khi nào tận thế xảy ra, nhưng là học cách sống sao cho mỗi ngày, nhất là mỗi buổi tối, đều trở thành một cuộc chuẩn bị âm thầm mà nghiêm túc cho cuộc gặp gỡ sau cùng với Chúa.

Cuối ngày là một khoảnh khắc rất đặc biệt. Sau bao bận rộn, tiếng động, công việc, lo toan, con người trở về với chính mình. Bóng chiều buông xuống như nhắc rằng một ngày đã qua và sẽ không bao giờ trở lại. Mỗi buổi chiều là một hình ảnh nhỏ của đời người. Sáng là tuổi trẻ, trưa là trưởng thành, chiều là tuổi xế bóng, và đêm là lúc mọi sự đi vào thinh lặng. Nếu biết sống giây phút cuối ngày với tâm tình đức tin, ta sẽ nhận ra rằng đó không chỉ là lúc nghỉ ngơi của thân xác, mà còn là giờ linh thiêng để dọn tâm hồn.

Có biết bao người sống rất kỹ cho ngày mai, nhưng lại quá hời hợt với phần rỗi đời đời. Người ta biết khóa cửa nhà trước khi ngủ, biết sạc điện thoại, chuẩn bị quần áo, lên kế hoạch công việc, nhưng nhiều khi lại quên dọn lòng mình trước mặt Chúa. Người ta sợ một đêm mất trộm, nhưng lại không sợ một linh hồn nguội lạnh. Người ta cẩn thận với sức khỏe thể lý, nhưng lại dễ dãi với đời sống thiêng liêng. Trong khi đó, có một sự thật không thể chối cãi: không ai biết mình còn thức dậy vào sáng hôm sau hay không. Nói điều ấy không phải để gieo buồn phiền, nhưng để giúp ta sống sâu hơn, thật hơn, và khôn ngoan hơn.

Những phút cuối ngày vì thế không nên bị bỏ trôi trong vô thức. Đó phải là lúc ta trở về trước mặt Chúa, lặng lẽ nhìn lại một ngày đã sống. Hôm nay tôi đã yêu thương thế nào? Tôi đã nói những lời nào làm người khác được nâng đỡ, và những lời nào làm người khác bị tổn thương? Tôi đã trung thành với bổn phận ra sao? Tôi đã sống gần Chúa hay để mình trôi dạt giữa quá nhiều bận tâm? Tôi có cố chấp, ghen ghét, kiêu ngạo, ích kỷ không? Tôi có bỏ lỡ những cơ hội làm điều tốt không? Một ngày qua đi không chỉ là thêm một ô trên tờ lịch bị xé bỏ. Một ngày qua đi là một phần đời không thể lấy lại. Mỗi buổi tối là lúc ta đặt phần đời vừa sống ấy vào tay Chúa.

Xét mình cuối ngày là một việc đạo đức rất đơn sơ nhưng vô cùng sâu sắc. Đó không phải là lúc tự dằn vặt mình, cũng không phải là lúc chỉ ngồi đếm lỗi để rồi thất vọng. Xét mình là đứng trong ánh sáng của Thiên Chúa mà nhìn lại chính mình. Trong ánh sáng ấy, ta thấy cả hai điều: tội lỗi của mình và lòng thương xót của Chúa. Ta thấy mình yếu đuối, nhưng cũng thấy Chúa vẫn kiên nhẫn đợi chờ. Ta thấy mình đã có lúc nguội lạnh, nhưng cũng thấy ơn Chúa vẫn âm thầm nâng đỡ mình suốt ngày qua. Người tín hữu chân thành không kết thúc ngày sống bằng mặc cảm, nhưng bằng sự khiêm nhường và tín thác. Họ biết nói với Chúa: “Lạy Chúa, hôm nay con còn thiếu sót nhiều, nhưng con xin trở về với Ngài. Xin tha thứ, thanh tẩy và gìn giữ con trong tình yêu của Chúa.”

Đẹp biết bao khi một Kitô hữu đi vào giấc ngủ với một linh hồn đã được hòa giải. Đẹp biết bao khi trước khi nhắm mắt, ta kịp nói một lời cảm ơn vì mọi ơn lành nhận được, một lời xin lỗi vì những vấp ngã, một lời phó thác cho đêm tối sắp đến. Đó là cách sống những phút cuối ngày trong tinh thần cánh chung. Không phải sống trong lo âu, nhưng trong tỉnh thức. Không phải trong ám ảnh, nhưng trong bình an. Không phải trong nỗi sợ bị phán xét, nhưng trong niềm hy vọng được gặp Đấng mình yêu mến.

Thật ra, ai sống tốt phút cuối ngày thì cũng sẽ sống tốt phút cuối đời. Người nào mỗi tối đều biết trở về với Chúa, người ấy sẽ không quá bỡ ngỡ khi một ngày nào đó phải trở về với Chúa mãi mãi. Người nào tập sống trong ánh sáng sự thật từng ngày, người ấy sẽ không quá hoảng hốt khi đứng trước ánh sáng vĩnh cửu. Cái chết, đối với người sống trong ân sủng, không còn chỉ là một kết thúc, nhưng là cuộc vượt qua. Không còn chỉ là mất mát, nhưng là cuộc gặp gỡ. Không còn chỉ là đóng lại một cánh cửa, nhưng là mở ra một quê hương.

Bởi vậy, những phút cuối ngày mang một giá trị thiêng liêng rất lớn. Đó là lúc ta học buông bỏ những gì không cần thiết. Một ngày sống qua đi cho ta thấy rõ hơn biết bao điều mình tưởng quan trọng thật ra rất chóng qua. Những bực bội, tranh chấp, tự ái, ganh đua, hơn thua… đến cuối ngày nhìn lại, nhiều khi chỉ là bụi nhỏ. Trước mặt Thiên Chúa, chỉ còn điều quan trọng nhất: tôi đã yêu mến Ngài và yêu thương anh em đến đâu. Càng gần đêm, tâm hồn càng được mời gọi sống đơn sơ hơn. Và chính trong sự đơn sơ ấy, ta chạm được điều cốt lõi của Tin Mừng.

Tuần XXXIII Thường niên và những ngày cuối năm phụng vụ vì thế không muốn làm ta sợ hãi về ngày tận thế, nhưng muốn dạy ta nghệ thuật sống mỗi ngày như một hồng ân và mỗi buổi tối như một cuộc chuẩn bị. Ai biết sống như thế sẽ không phung phí đời mình. Họ không trì hoãn việc hoán cải. Họ không nói: mai tôi sẽ cầu nguyện hơn, mai tôi sẽ tha thứ, mai tôi sẽ sửa mình, mai tôi sẽ sống tử tế hơn. Vì họ hiểu rằng đời người rất mong manh, và ơn gọi nên thánh luôn là chuyện của hôm nay. Chính hôm nay tôi phải yêu. Chính hôm nay tôi phải hoán cải. Chính hôm nay tôi phải làm hòa với Chúa. Chính tối nay tôi phải dọn lòng.

Có lẽ điều đáng sợ nhất không phải là tận thế đến bất ngờ, mà là lòng ta ngủ mê giữa khi Chúa đang đến gần. Có những người sống rất lâu nhưng không thực sự tỉnh thức. Có những người kéo dài năm tháng, nhưng tâm hồn thì nguội lạnh, trống rỗng, xa Chúa. Trái lại, có những người sống âm thầm, ngắn ngủi, nhưng từng ngày đều đầy ý nghĩa vì họ biết sống dưới ánh sáng vĩnh cửu. Điều làm nên giá trị của đời người không phải chỉ là sống bao nhiêu năm, nhưng là sống những năm tháng ấy như thế nào trước mặt Thiên Chúa.

Vì thế, khi chiều xuống, ta hãy coi đó như một lời mời của Chúa. Lời mời dừng lại. Lời mời nhìn lại. Lời mời quay về. Lời mời phó thác. Giữa bao xao động của cuộc sống, những phút cuối ngày có thể trở thành cuộc hẹn rất đẹp giữa linh hồn và Thiên Chúa. Ở đó, không cần những lời lẽ cầu kỳ. Chỉ cần một tâm hồn thật lòng. Chỉ cần một ánh nhìn hướng về Chúa. Chỉ cần một câu nguyện đơn sơ: “Lạy Chúa, nếu đêm nay là đêm cuối cùng của đời con, xin cho con được ở trong tình thương của Ngài.”

Sống như thế, ta sẽ không sợ ngày mai, cũng không sợ ngày cuối cùng. Vì người luôn trở về với Chúa vào mỗi cuối ngày thì thật ra đã bắt đầu sống đời đời ngay giữa cuộc đời này rồi. Mỗi đêm là một lần tập phó thác. Mỗi sáng thức dậy là một lần được ban thêm thời gian để yêu mến và sửa mình. Và đến khi tiếng gọi sau cùng vang lên, người tín hữu có thể thưa lên trong bình an: “Lạy Chúa, con đây.”

Xin cho những tuần cuối năm phụng vụ đánh thức nơi chúng ta một tâm hồn tỉnh thức. Xin cho mỗi buổi chiều không chỉ là lúc kết thúc công việc, mà còn là lúc bắt đầu một cuộc trở về nội tâm. Xin cho ta biết tận dụng những phút cuối ngày để dọn mình, để yêu thương hơn, để tha thứ hơn, để sống thật hơn, và để mỗi đêm đều là một bước chuẩn bị dịu dàng cho cuộc gặp gỡ vinh quang với Chúa, Đấng sẽ đến, chắc chắn sẽ đến, nhưng đến vào giờ ta không ngờ.

Lm. Anmai, CSsR


 

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm-Lê Diễn Đức

Nguyễn Kim Chi

Lê Diễn Đức

Chiến sự hôm nay cho thấy một bước ngoặt nguy hiểm: cuộc đối đầu không còn dừng ở các mục tiêu quân sự, mà đã chuyển sang đánh thẳng vào hạ tầng năng lượng – huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu.

Việc Israel tấn công vào mỏ khí South Pars của Iran và Iran lập tức đáp trả bằng các đòn đánh vào chuỗi cơ sở năng lượng tại Vùng Vịnh không chỉ là ăn miếng trả miếng, mà là sự chuyển pha sang một dạng chiến tranh mới – nơi mỗi đòn đánh đều mang tính hệ thống.

Bề ngoài, Israel vẫn là bên chiếm ưu thế rõ rệt. Khả năng tấn công chính xác, năng lực tình báo và kiểm soát không gian tác chiến giúp họ đánh trúng những mục tiêu có giá trị cao trong lòng Iran. Nhưng nếu chỉ nhìn vào các đòn đánh này để kết luận cục diện, thì sẽ bỏ qua phần quan trọng nhất của cuộc chiến: cách Iran “chơi game”.

Iran không cố thắng theo cách truyền thống. Họ hiểu rõ mình không thể cạnh tranh trực diện với Israel, càng không thể đối đầu đối xứng với Mỹ. Vì vậy, chiến lược của Tehran là chuyển cuộc chiến từ một ván cờ quân sự sang một trò chơi tiêu hao và phá vỡ hệ thống. Thay vì bảo vệ tuyệt đối lãnh thổ, Iran chấp nhận bị đánh, nhưng đổi lại họ mở rộng chiến trường ra toàn khu vực – nơi mà bất kỳ đòn tấn công nào cũng có thể gây chấn động dây chuyền.

Đòn phản công của Iran vào các cơ sở năng lượng ở Qatar, Saudi Arabia hay UAE là minh chứng rõ nhất. Đây không chỉ là hành động quân sự, mà là một tín hiệu: nếu Iran bị đẩy vào chân tường, họ sẵn sàng khiến cả hệ thống năng lượng toàn cầu rung chuyển. Nói cách khác, họ biến cuộc chiến thành một bài toán mà chi phí của việc đánh bại Iran có thể vượt xa lợi ích thu được.

Chính điểm này đã đặt Mỹ vào một tình thế cực kỳ khó xử. Về quân sự thuần túy, Mỹ có thể áp đảo Iran. Nhưng vấn đề không nằm ở việc “đánh thắng”, mà ở việc “kết thúc được chiến tranh”.

Nếu Washington lựa chọn leo thang, họ sẽ đối mặt với một kịch bản quen thuộc: chiến thắng nhanh về quân sự, nhưng sa lầy trong một không gian bất ổn kéo dài – nơi các lực lượng ủy nhiệm, xung đột cục bộ và phá hoại kinh tế liên tục bào mòn nguồn lực.

Bài học từ Chiến tranh Afghanistan vẫn còn rất mới. Mỹ đã lật đổ Taliban chỉ trong thời gian ngắn, nhưng phải mất hai thập kỷ để nhận ra rằng việc kiểm soát một xã hội phức tạp bằng sức mạnh quân sự là điều gần như bất khả thi.

Trước đó, Chiến tranh Iraq cũng cho thấy việc loại bỏ một chế độ không đồng nghĩa với việc xây dựng được một trật tự ổn định. Và Nội chiến Libya là ví dụ điển hình cho một khoảng trống quyền lực biến thành hỗn loạn kéo dài.

Iran thậm chí còn là một bài toán khó hơn. Đây không phải là một quốc gia dễ sụp đổ theo kiểu “cắt đầu là xong”. Họ có một hệ thống quyền lực đa tầng, một bản sắc quốc gia mạnh, và quan trọng hơn, một mạng lưới ảnh hưởng trải rộng khắp Trung Đông. Ngay cả trong kịch bản cực đoan nhất – Mỹ đánh bại chế độ hiện tại – thì việc “xóa sổ toàn bộ hệ thống” gần như là điều không tưởng. Những gì còn lại có thể là một Iran phân mảnh, bất ổn và thậm chí nguy hiểm hơn.

Vì vậy, nghịch lý của cuộc chiến này nằm ở chỗ: càng leo thang, Mỹ càng tiến gần đến một chiến thắng quân sự – nhưng lại xa dần một kết thúc chiến lược. Iran hiểu điều đó, và họ đang chơi đúng vào điểm yếu này. Họ không cần thắng nhanh; họ chỉ cần kéo dài, mở rộng và làm cho đối phương phải trả giá ngày càng đắt.

Nhìn từ góc độ này, có thể thấy cục diện hiện tại không phải là một cuộc chiến có bên thắng rõ ràng. Israel đang thắng trong từng trận đánh. Iran đang làm biến dạng toàn bộ cuộc chơi. Còn Mỹ, dù là siêu cường, lại bị đặt vào thế phải lựa chọn giữa hai con đường đều rủi ro: hoặc không hành động đủ mạnh để chấm dứt xung đột, hoặc hành động quá mạnh và tự đẩy mình vào một vòng xoáy sa lầy mới.

Và đó chính là điều khiến cuộc chiến này trở nên nguy hiểm: không phải vì nó chưa có người thắng, mà vì ngay cả người có thể thắng cũng không chắc sẽ thoát ra được.


 

TRAO SỰ SỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý”.

“Cuộc sống con người là một tiến trình liên lỉ làm quen với những điều không ngờ! Điều không ngờ cuối đời… là đau đớn, thở gấp và đợi chết! Nhưng ở bất cứ giai đoạn nào, một cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi biết ‘trao sự sống’ và cứu sống!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Khác với con người, Thiên Chúa không đi qua bất cứ giai đoạn nào: Ngài hằng hữu, hằng sống và đời đời. Lời Chúa hôm nay mặc khải một Thiên Chúa dịu dàng như mẹ, vững vàng như cha – Đấng ‘trao sự sống’ và cứu sống.

Isaia gợi lên hình ảnh một người mẹ không thể quên đứa con mình cưu mang: “Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca xác tín: “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu!”. Thế nhưng, giữa đời thường, không ít lần chúng ta chỉ muốn buông xuôi khi những nỗ lực không được ghi nhận, những hy sinh không ai hay biết, những cô đơn không gọi được tên. Vâng, con người có thể quên nhau, Thiên Chúa thì không. Ngài như một người mẹ đau đáu con mình – cụ thể, bền bỉ và không nguôi. Chính ký ức yêu thương ấy gìn giữ và nâng đỡ chúng ta từng ngày. “Tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn mọi sự lãng quên của con người!” – Henri Nouwen.

Với bài Tin Mừng, Chúa Giêsu khẳng định quyền năng ban sự sống của Ngài: “Người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý”; “Giờ đã đến – và chính là lúc này đây!”. Giờ của Ngài chính là ‘giờ sinh nở’ tử nạn và phục sinh; qua đó, Ngài ‘trao sự sống’ mới cho những ai tin. Vì thế, mọi môn đệ, trong mọi bậc sống, đều được mời gọi tiếp nối công việc của Ngài – ‘trao sự sống’ và cứu sống. Thánh Augustinô gọi đó là “cuộc trao đổi tuyệt vời”: chúng ta làm cho Ngài có thể chết; và Ngài làm cho chúng ta có thể sống!

Cuộc “trao đổi” ấy không dừng ở mầu nhiệm, nhưng chảy vào đời sống – nhận sự sống từ Ngài – chúng ta được mời gọi trao lại sự sống ấy cho anh chị em mình. “Giờ đây, Chúa Kitô không còn thân xác nào khác ngoài thân xác của bạn!” – Têrêxa Avila.

Anh Chị em,

Mọi sự sống phát xuất từ Chúa Cha được trao ban nơi Chúa Con – Đấng hiến mình đến cùng. Trên thập giá, thân xác Ngài bị bẻ ra, máu Ngài đổ ra, để con người được sống. Và hôm nay, nơi Thánh Thể, Ngài vẫn tiếp tục trao ban – lặng lẽ, khiêm hạ, nhưng trọn vẹn. Cảm nghiệm tình yêu của Đấng hiến dâng mạng sống, chúng ta không được phép sống tầm thường. Hãy thôi sống lây lất, tiếc nuối ‘thuở lang thang’, thôi ‘sống qua ngày đợi qua đời’; nhưng tuỳ sức mình, chúng ta nỗ lực tái tạo tình yêu, niềm vui và bình an cho mình, cho người khác! Được như thế, bạn và tôi đang cùng Chúa ‘trao sự sống’ và cứu sống thế giới vậy! “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống trọn vẹn!” – Irênê.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dẫu là ai, sống đến mấy mươi, rồi con cũng chỉ thở gấp và đợi chết – cho con luôn là một ‘khí cụ’ trong tay Chúa để tiếp tục trao, tiếp tục cứu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần IV Mùa Chay

Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 5,17-30

17 Khi ấy, sau khi chữa lành một người bệnh trong ngày sa-bát, Đức Giê-su tuyên bố với người Do-thái rằng : “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc.” 18 Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa.

19 Đức Giê-su lên tiếng nói với họ rằng : “Thật, tôi bảo thật các ông : người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm ; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. 20 Quả thật, Chúa Cha yêu người Con và cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc. 21 Chúa Cha làm cho kẻ chết trỗi dậy và ban sự sống cho họ thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý. 22 Quả thật, Chúa Cha không xét xử một ai, nhưng đã ban cho người Con mọi quyền xét xử, 23 để ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Đấng đã sai người Con. 24 Thật, tôi bảo thật các ông : ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống.

25 “Thật, tôi bảo thật các ông : giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa ; ai nghe thì sẽ được sống. 26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy, 27 lại ban cho người Con được quyền xét xử, vì người Con là Con Người. 28 Các ông chớ ngạc nhiên về điều này, vì giờ đã đến, giờ mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng người Con 29 và sẽ ra khỏi đó : ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống ; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án.

30 “Tôi không thể tự ý mình làm gì. Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi.”


 

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Cuộc chạy đua tái vũ trang: Thực tế của các con số và sự cấp bách của hòa bình

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, trong một cuộc phỏng vấn với tờ Daily Mail, cựu Phó Tư lệnh NATO, Tướng Sir Richard Shirreff, tuyên bố rằng chỉ trong 100 giờ – tức chưa đầy năm ngày – Tổng thống Nga Vladimir Putin có thể phá hủy châu Âu. Nhưng bỏ qua mọi cân nhắc luân lý, liệu có thật sự có thể tiêu diệt hoàn toàn đối phương bằng chiến tranh thông thường mà không sử dụng vũ khí hạt nhân – điều chắc chắn sẽ dẫn đến một thảm họa hạt nhân toàn cầu?

Nhận định của Shirreff, ít nhất cũng đáng nghi ngờ, và thực tế đang diễn ra trên chiến trường – cũng như trong nhiều cuộc chiến khác – cho thấy tình hình phức tạp hơn nhiều.

Các báo cáo về máy bay không người lái

Trong cùng những tuần khi các cảnh báo được đưa ra trong giới quân sự NATO về sức mạnh quân sự của Nga, nhiều báo cáo xuất hiện về các máy bay không người lái bay trên bầu trời châu Âu.

  • Ngày 9/9, máy bay chiến đấu phải cất cánh tại Ba Lan và nhiều sân bay bị đóng cửa.
  • Ngày 22/9, tình trạng tương tự xảy ra ở Copenhagen và Oslo.
  • Đầu tháng 10, Munich phải dừng giao thông hàng không.
  • Cuối tháng 10 và đầu tháng 11, đến lượt các sân bay Berlin và Bremen.
  • Ngày 7/11 tại Bỉ.
  • Và cuối cùng ngày 4/12, gần căn cứ tàu ngầm hạt nhân Brest (Pháp).

Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sau đó không có xác nhận chính thức về nguồn gốc của các máy bay không người lái (ban đầu có nghi ngờ từ Nga) cũng như mức độ nguy hiểm của chúng.

Chẳng hạn, theo báo cáo của Cơ quan Kiểm soát Không lưu Đức (DFS), chỉ riêng trong năm 2025 tại Đức đã có 225 lần gián đoạn chuyến bay do drone. Vì vậy, có thể đặt câu hỏi: liệu những cảnh báo ấy có bị thổi phồng hay không?

Luật ngân sách và việc tái vũ trang

Trong cùng thời gian đó, các nước Liên minh châu Âu cũng đang thông qua luật ngân sách, với yêu cầu tăng đáng kể chi tiêu quân sự.

Các quốc gia Eurozone phải trình Kế hoạch Ngân sách Dự thảo cho Ủy ban châu Âu trước ngày 15 tháng 10, sau đó được thảo luận và phê chuẩn tại các quốc hội trước cuối năm.

Chi tiêu quân sự toàn cầu tăng liên tục trong những năm gần đây:

  • +9,4% chỉ riêng năm 2024, theo Niên giám SIPRI 2025: Vũ khí, Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế.

NATO – theo thỏa thuận tại Hội nghị Thượng đỉnh La Haye tháng 6 – đặt mục tiêu:

  • 5% GDP cho quốc phòng vào năm 2035
  • 3,5% cho vũ khí
  • 1,5% cho an ninh mở rộng

Tuy nhiên, quyết định chiến lược tái vũ trang sẽ tất yếu kéo theo việc chuyển nguồn lực khỏi:

  • chính sách xã hội
  • y tế
  • giáo dục
  • việc làm
  • bảo vệ môi trường

Tháng 3 năm 2025, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, nhận định:

“Chính sách của Tòa Thánh từ Thế chiến thứ nhất luôn là thúc đẩy giải trừ quân bị chung và có kiểm soát trên bình diện quốc tế. Vì thế chúng ta không thể vui mừng trước hướng đi hiện nay.”

Những tình huống bị cảm nhận như mối nguy nghiêm trọng có thể khiến dư luận dễ dàng chấp nhận cuộc chạy đua tái vũ trang. Việc nhấn mạnh nguy cơ Nga xâm lược châu Âu – ngoài cuộc chiến ở Ukraine – cũng có thể thu hẹp không gian tranh luận phê phán, đúng vào lúc các ngân sách quốc gia đang được thông qua.

Cuộc chạy đua vũ trang trong lịch sử

Lịch sử cho thấy chi tiêu quân sự thường được coi là cần thiết theo chu kỳ.

Sau Thế chiến II, với 60 triệu người chết và sự khởi đầu của Chiến tranh Lạnh, việc tái vũ trang được xem là điều kiện sống còn.

Học thuyết răn đe hạt nhân và thế cân bằng giữa các khối khiến việc tăng chi tiêu quân sự gần như trở thành bắt buộc.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, tình hình thay đổi:

  • chi tiêu quân sự giảm hoặc ổn định
  • quân đội mở rộng nhiệm vụ sang
  • gìn giữ hòa bình
  • can thiệp nhân đạo
  • quản lý khủng hoảng khu vực

Nhưng ngày nay, chiến tranh lại quay trở lại trong đời sống quốc tế:

  • xung đột cường độ cao
  • cạnh tranh giữa các cường quốc
  • suy giảm tôn trọng luật pháp quốc tế

Một số hiệp ước kiểm soát vũ khí cũng không còn được gia hạn.

Ví dụ mới nhất là Hiệp ước New START, hết hạn ngày 5/2/2026, vốn nhằm giảm và giới hạn vũ khí hạt nhân giữa Mỹ và Nga.

So sánh các con số

Ước tính năm 2025 cho thấy:

NATO

  • GDP: 57.000 tỷ USD
  • Chi tiêu quân sự: 1.495 tỷ USD (2,62% GDP)

Trong đó:

  • Mỹ:
  • GDP: 30.620 tỷ USD
  • quân sự: 921 tỷ USD (3,01%)
  • Các nước NATO khác:
  • GDP: 26.380 tỷ USD
  • quân sự: 574 tỷ USD (2,18%)

Nga

  • GDP: 2.540 tỷ USD
  • quân sự: 187 tỷ USD (7,4%)

Trung Quốc

  • GDP: 19.398 tỷ USD
  • quân sự: 314 tỷ USD (1,62%)

Những con số này cho thấy sự bất cân xứng lớn giữa nguồn lực NATO và Nga.

Vì thế câu hỏi đặt ra:

Liệu cách chúng ta phản ứng với các mối đe dọa hiện nay có thực sự làm giảm chúng, hay lại càng làm chúng gia tăng?

Ngành công nghiệp vũ khí

Chỉ cần tăng 1% GDP cho quốc phòng tương đương khoảng 600 tỷ USD mỗi năm.

Cổ phiếu ngành vũ khí cũng tăng mạnh:

  • Europe Stoxx Aerospace & Defence: +28,97%
  • S&P Aerospace & Defense (Mỹ): +73,45%

Nhưng cuộc chạy đua vũ trang cũng mang theo:

  • chi phí chính trị
  • gánh nặng kinh tế
  • nợ công
  • hạn chế tự chủ của các quốc gia

Lời Đức Thánh Cha về giải trừ quân bị

Trong Sứ điệp Ngày Hòa bình Thế giới 2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV viết:

“Những lời kêu gọi gia tăng chi tiêu quân sự thường được trình bày như một phản ứng hợp lý trước các mối đe dọa bên ngoài. Nhưng ý tưởng về sức mạnh răn đe quân sự – đặc biệt là răn đe hạt nhân – dựa trên một quan niệm phi lý về quan hệ giữa các quốc gia: không dựa trên luật pháp, công lý và niềm tin, mà trên nỗi sợ và sự thống trị bằng vũ lực.”

Chi tiêu quân sự toàn cầu đã đạt 2.718 tỷ USD, tương đương 2,5% GDP toàn cầu.

Theo Đức Thánh Cha, ngày nay còn xuất hiện cả:

  • chiến dịch truyền thông
  • chương trình giáo dục

nhằm nuôi dưỡng cảm giác đe dọa, và hứa hẹn rằng an ninh chỉ có thể đạt được bằng vũ trang.

Ngài nhấn mạnh:

An ninh ngày nay không thể chỉ được hiểu qua sức mạnh quân sự. Giải trừ quân bị – về văn hóa, chính trị và tinh thần – phải được coi là một con đường nghiêm túc.

Nguy cơ tận thế hạt nhân

Thế giới hiện có khoảng 12.000 đầu đạn hạt nhân:

  • Nga: 5.459 (1.718 sẵn sàng phóng)
  • Mỹ: 5.177 (khoảng 1.700 sẵn sàng)

Sức mạnh của chúng đủ để hủy diệt nền văn minh nhân loại hàng trăm lần.

Chỉ 50 đầu đạn cũng đủ gây thảm họa toàn cầu.

Học thuyết hủy diệt lẫn nhau (MAD) cho thấy:

  • không bên nào có thể thắng
  • bên tấn công trước cũng sẽ bị hủy diệt bởi đòn đáp trả.

Con đường duy nhất

Chiến tranh hiện đại – với công nghệ và trí tuệ nhân tạo – có sức tàn phá khổng lồ và kéo dài vô tận.

Vì thế giải pháp duy nhất, như Huấn quyền của các Giáo hoàng nhắc nhở, là:

  • ngoại giao
  • đối thoại
  • đàm phán
  • giải trừ quân bị

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắc lại lời Chúa Giêsu với thánh Phêrô trong vườn Cây Dầu:

“Hãy xỏ gươm vào vỏ.”

Ngài nói:

“Đó là lời gửi đến những người quyền lực trên thế giới: hãy can đảm giải trừ vũ khí! Nhưng đồng thời cũng là lời mời gọi mỗi người chúng ta giải trừ chính trái tim mình, bởi vì nếu chúng ta không có bình an trong lòng, chúng ta không thể trao ban bình an cho người khác.”

Và cũng là lời mời gọi:

hãy nhìn thế giới từ vị trí thấp hơn — từ đôi mắt của những người đang đau khổ, chứ không phải từ vị trí của kẻ quyền lực.

Andrea Tornielli

Nguồn: Vatican News


 

MÙA GIẶT GIŨ – Giuse Ngô Văn Chữ, S.J

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J 

Một mùa Chay tôi được mời đến giúp tĩnh tâm cho một giáo xứ ở vùng đất đỏ Tây nguyên.  Buổi sáng nọ cha xứ nhờ tôi vào buôn giải tội cho người Dân tộc.  Khi vào làng thì một số giáo dân người Dân tộc đã chờ sẵn ở nhà nguyện để đón nhận bí tích giải tội.  Mùa này là mùa thu hoạch điều nên một số đã đi làm rồi vì tôi vào hơi trễ.  Sau khi giải tội cho khoảng 60 người xong thì một anh giáo lý viên chở tôi vào các nhà có người bệnh để tiếp tục giải tội; xong anh chở tôi đến cuối làng để giải tội cho những người bệnh phong đang sống cách ly. 

Có sáu người Dân Tộc phong ở đó và chỉ có một người nói được tiếng Kinh bập bẹ, nên họ cứ dọn mình và xưng tội bằng tiếng địa phương, còn tôi cứ ban phép giải tội bằng tiếng Kinh.  Vì không thấy có cái ghế nào để ngồi nên tôi ngồi nơi thềm đất sát vách nhà và họ đến ngồi cạnh tôi để xưng tội.  Khi người phong cuối cùng đến đón nhận bí tích hòa giải thì anh ta dơ tay ra để bắt tay tôi. Nhìn đôi bàn tay của anh tròn nhẵn không còn một ngón tay làm tôi hơi ngần ngại một chút nhưng rồi cũng dơ tay ra bắt tay anh.  Khi nắm lấy tay anh thì tôi thấy có chất gì nhờn nhờn nơi tay mình và cảm thấy có mùi hôi.  Sau khi giải tội xong tôi hỏi nhỏ anh giáo lý viên và được biết những người Dân tộc này đang sống cách ly vì mang bệnh phong.  Tôi đã có kinh nghiệm làm việc với người bệnh phong một mùa hè ở Ấn Độ nên không lo lắm, chỉ cần có thuốc sát trùng để rửa sau khi tiếp cận với họ là được.  Nhưng trong buôn thì khó tìm được thuốc sát trùng để rửa.

 Khi anh giáo lý viên chở tôi trở lại nhà nguyện trong buôn, tôi nhờ anh kiếm tôi cục xà bông để rửa tay.  Anh đi hỏi từ nhà này qua nhà khác, và đến căn thứ tư mới tìm được ít xà bông giặt đồ để tôi rửa tay.  Cũng tốt thôi, vì xà bông giặt tẩy mạnh hơn xà bông thường, nhưng điều này cũng nói lên rằng trong buôn không có dùng xà bông rửa tay.  Và thật ra xà bông giặt đồ cũng chẳng mấy ai có ở trong buôn đâu.  Tiền mua đồ ăn còn không có thì lấy gì mua xà bông.  Tôi hỏi anh ở đây có xà bông tắm không thì anh cho biết là lâu lâu có người bỏ một ngàn mua một gói xà bông gội đầu để tắm.  Tôi hỏi anh lần cuối cùng anh dùng xà bông gội đầu thì anh chỉ cười trừ vì đã lâu lắm rồi anh chưa đụng đến xà bông.  Các phụ nữ lâu lâu mới ráng chắt chiu ít tiền để mua xà bông gội đầu, còn thông thường thì các cô dùng nước vo gạo để gội đầu và tắm.  Còn đàn ông thì vẫn theo chủ nghĩa “ở dơ sống lâu!”

 Đôi khi tôi gặp một số anh chị em thiện nguyện từ Sàigòn đến ủy lạo gạo mì và áo quần cho anh chị em Dân tộc, nhưng một vài người không hiểu nên than phiền là người Dân tộc không chịu giặt đồ.  Họ cứ mặc cho thật dơ xong thì vất, rồi lại đi xin đồ khác về mặc, nên phát áo quần hoài mà chẳng bao giờ đủ cả.  Hồi đầu nghe họ nói thì tôi cũng chỉ biết vậy thôi.  Dần dà tôi mới biết người Dân tộc nghèo quá, của ăn còn không đủ thì lấy gì mà mua thứ khác.  Nhà của người Dân tộc nhìn xuyên từ ngoài vào trong còn được vì không có tiền để sửa chữa lại, vậy thì đầu óc đâu để lo đến chuyện sạch sẽ và đẹp đẽ.  Nói họ không giặt giũ thì không đúng, vì họ cũng giặt đồ ở suối khi đi làm về, chẳng qua là không có xà bông mà thôi.  Vả lại toàn đường đất đỏ, nên dù có giặt xà bông tinh tuyền đi nữa thì chỉ qua một ngày là áo quần lại nhuốm màu đỏ của đất.

 Mùa Chay là mùa Giáo Hội nhắc nhở chúng ta giặt giũ và dọn vệ sinh, không phải áo quần hay thân xác bề ngoài, mà là dọn dẹp và giặt giũ tâm hồn để cùng chết với Chúa Kitô và cùng sống lại với Ngài.  Nếu thân thể tôi bị dơ thì tôi biết dùng xà bông để rửa cho sạch vết nhơ.  Còn tâm hồn tôi bị nhơ uế thì tôi cứ nại ra bao nhiêu lý do để từ từ rồi giải quyết, vì thế tâm hồn tôi cứ luôn bị dơ, không chừng tôi cũng đang theo chủ nghiã “ở dơ sống lâu!” chăng?  Hôm nay giáo hội tha thiết mời tôi chạy đến với Chúa, qua Giáo hội, để lãnh nhận bí tích hòa giải để được tẩy xóa những vết nhơ uế trong tâm hồn.

 Sáng hôm qua tôi vào dâng Lễ ở nhà tù, khi xong Lễ chuẩn bị đi về thì tôi đứng lại nói chuyện với một anh cảnh sát coi tù nhân.  Anh nói anh là người Công Giáo nhưng lâu rồi không còn tha thiết đến bí tích Hòa Giải.  Anh nghĩ rằng cứ đi xưng tội xong rồi cũng phạm lại những tội đó như cũ, nên anh không muốn đi xưng tội nữa!  Vì lý luận như thế nên anh nhìn những người tù nhân cũng giống như vậy.  Họ là những người gây tội, hết tội này rồi đến tội khác.  Họ vào tù ra khám như cơm bữa, mắc gì Giáo hội cứ cử người đến ban phát tình thương của Chúa cho họ!  Phải chăng lý luận của anh lính bị sót đi một điều chính yếu là lòng thương xót của Thiên Chúa đã làm cho Ngài chẳng bao giờ nhớ đến những tội lỗi của nhân loại, ngay cả tội giết chết Con Một của Ngài?  Như vậy phải chăng một đặc tính của Thiên Chúa là nhân đức hay quên!?!  Hay vì Thiên Chúa quá yêu con người nên tiếp tục kiên nhẫn chịu đựng sự bất trung của con người từng ngày một với hy vọng một giây phút nào đó kẻ tội nhân ăn năn thống hối quay về đón nhận Lòng Thương Xót Chúa qua bí tích Hòa Giải!?!

 Bí tích Hòa Giải đâu phải là chỗ để luận tội, nếu là chỗ luận tội hay phán xét thì đâu thể gọi là Bí tích.  Trọng tâm của Bí tích Hòa Giải không phải nằm ở chỗ tội lỗi của kẻ hối nhân, mà nhấn mạnh đến ân sủng và tình yêu mà Thiên Chúa ban tặng nhưng không.  Anh chị em thân mến, mùa Chay là mùa dọn lòng dọn trí, tin tưởng mở lòng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa để được biến đổi, đặc biệt qua bí tích làm hòa với Thiên Chúa, để rồi dẫn đến làm hòa với nhau.  Qua bí tích Hòa Giải, chiếc áo tâm hồn lại một lần nữa được rửa sạch nhờ Máu Con Chiên.

 Chiếc áo của bạn và của tôi đang mặc là màu gì?

 Giuse Ngô Văn Chữ, S.J

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

VỰC BẤT XỨNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!”.

“Khiêm tốn là sợi dây liên kết con người với Chúa, là cây cầu bắc qua mọi vùng vịnh, đưa bạn vượt mọi thung lũng hiểm nguy! Chúa không cần những con người vĩ đại, Chúa cần những con người dám chứng tỏ sự vĩ đại của Ngài. Vì thế, lời cầu mạnh nhất của linh hồn là lời cầu nguyện khởi đi từ vực bất xứng của nó!” – A. Simpson.

Kính thưa Anh Chị em,

Cao trào của Lời Chúa hôm nay là hình ảnh trơ trọi của ‘một vai phụ’ trong dụ ngôn – người thu thuế! Và rất có thể, đó cũng là hình ảnh của bạn và tôi trước mặt Thiên Chúa. Anh đã dâng một lời cầu nguyện khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của linh hồn!

Với những gì người thu thuế bộc lộ, Chúa Giêsu mách cho chúng ta điều Thiên Chúa yêu thích nơi con người – “tình yêu và chỉ tình yêu” – mà không cần bất cứ điều gì khác! Thiên Chúa thấu suốt lòng dạ con người, “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca cũng chỉ lặp lại ngần ấy!

Vậy mà người biệt phái đã dâng Chúa một điều gì đó hoàn toàn khác! Lời cầu của ông khởi đi từ ‘vực kiêu hãnh’ khi ông coi Ngài như ‘Con nợ’; tệ hơn, coi ‘kỳ tích’ của mình là chiến công. Ông không phải là người xấu; nhưng lòng kiêu hãnh đã khiến ông mù loà đến độ xúc phạm tình yêu; ông sống tôn giáo ở ‘mức tối thiểu trần!’. Lời cầu của ông là ‘vô trùng’ khi ông quên Ngài chỉ muốn “tình yêu và chỉ tình yêu!”. “Thiên Chúa ghét lời cầu nguyện của kẻ tự mãn!” – Gioan Kim Khẩu.

Người thu thuế cũng lên đền thờ cầu nguyện! ‘Vai phụ’ này “khi ra về thì được nên công chính”. Không phải vì anh đã làm những điều đúng đắn, nhưng vì đã khiêm nhường nhận ra tội mình. Lời cầu của anh khởi đi từ ‘vực bất xứng’ trước Đấng Toàn Năng để rồi, dốc chút tàn hơi, anh chỉ đủ sức đấm ngực thều thào, “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”. Lạ thay, chính lời thú nhận tội lỗi ấy lại làm Chúa đẹp lòng! “Một tiếng kêu xin lòng thương xót có sức mạnh hơn ngàn lời biện minh!” – Bernard Clairvaux.

“Nơi nào có quá nhiều cái “tôi”, nơi đó rất ít Chúa. Ở nước tôi, người ta gọi những người này là “Tôi, chính tôi và tôi” – tên của những người đó. Người ta từng nói về một linh mục tự cho mình là trung tâm và thường bông đùa rằng: ‘Mỗi khi xông hương, ngài xông ngược – xông chính mình!’” – Phanxicô.

Anh Chị em,

“Ta muốn tình yêu, chứ không cần hy lễ!”. Với Chúa Giêsu, mọi sự đều thuộc về Cha, Cha cần gì lễ dâng của ai; vì thế, Chúa Con đã dâng hết cho Cha trên thập giá! Chúa Cha cần tình yêu từ trái tim mỗi người. Đừng quên, “Lời cầu mạnh nhất là lời cầu khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của nó!”. Chính ở đó, kinh nguyện của chúng ta mới có sức mạnh! Mùa Chay, mùa chìm vào ‘vực bất xứng’ để chỉ biết khấn xin lòng Chúa xót thương! “Không có vực sâu tội lỗi nào mà lòng thương xót Thiên Chúa không thể chạm tới!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘xông hương ngược!’. Chúa không cần sự vĩ đại của con; Chúa chỉ cần con dám nhìn thấy lũng bất xứng của mình, để lòng thương xót Ngài được hiển lộ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần III Mùa Chay

Người thu thuế khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính, còn người Pha-ri-sêu thì không.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 18,9-14

9 Khi ấy, Đức Giê-su kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác : 10 “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. 11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. 12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.’ 13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.’ 14 Tôi nói cho các ông biết : người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”


 

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

Công Giáo Rôma – Patrick Hayashi

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

  1. Bước qua tuổi già, đừng ảo tưởng mình còn khỏe như xưa

Thanh xuân là thời mạnh mẽ.

Tuổi già là thời biết điều.

Địa vị chỉ là quá khứ, danh tiếng chỉ còn trong ký ức.

Chỉ có sức khỏe là thứ duy nhất còn lại bên mình.

Giữ được nó ngày nào, là phúc ngày đó.

  1. Đến tuổi già, sống cho mình – vui đâu ở đó, thích gì làm nấy

Đã đi gần hết đời người rồi,

đừng sống theo ý người khác nữa.

Thích ăn thì ăn.

Thích ngủ thì ngủ.

Thích đi đâu thì cứ đi.

Đời còn bao lâu mà giữ khư khư lòng mình trong sự gượng ép.

  1. Chỉ nên sống gần con, không sống chung với con – đây không ích kỷ mà là khôn ngoan

Ở chung dễ sinh va chạm.

Ở gần để thương nhau dài lâu.

Con thiếu tiền thì giúp ( Nếu mình có )

Nhưng đừng dọn vào sống để rồi một ngày mình trở thành người ở trọ trong chính ngôi nhà của con.

Gặp nhau cuối tuần là đủ ấm áp rồi.

  1. Khi già hơn nữa, nếu còn người bạn đời chăm sóc cho nhau là tốt, còn không hãy chọn một nơi mình được chăm sóc tử tế

Không cần sang trọng.

Chỉ cần sạch sẽ, yên tĩnh, có người chăm, có người trò chuyện.

Có tiền thì chọn chỗ tốt.

Ít tiền thì ở chỗ vừa sức.

Quan trọng là sống nhẹ lòng – không làm ai mệt vì mình.

  1. Chuyện “ngày xưa” – hãy kể với người cùng tuổi.

Chuyện “ngày mai” – hãy nói với bọn trẻ.

Tụi nhỏ không hiểu chuyện năm 1989 về trước đâu.

Chúng sống bằng hiện tại.

Hãy giữ chuyện cũ để kể với bạn đồng niên – những người hiểu từng nỗi niềm mình.

Đó là cách giữ ký ức, giữ tình thân, giữ chính mình.

  1. Đừng chờ đủ điều kiện – tuổi già hãy đi thăm những nơi chưa từng đi

Một chuyến xe bus.

Một chuyến tàu ngắn.

Một con đường xưa.

Một miền đất mới.

Càng gần cuối đời càng phải sống cho trọn ước mơ tuổi trẻ.

  1. Rũ bỏ quan niệm cũ: tuổi già không phải tu hành khổ hạnh

Đừng tiếc với bản thân.

Đừng nghĩ già rồi là hết.

Cần ăn ngon thì ăn.

Cần mặc đẹp thì mặc.

Cần nghỉ thì nghỉ.

Cần chơi thì chơi.

Hưởng thụ không phải xa xỉ – nó là phần thưởng cho cả đời vất vả.

  1. Đã về hưu – đừng đến nơi làm việc cũ nếu không được mời

Họ đang sống cuộc sống của họ.

Đừng khiến mình trở thành “người lạ trong kỷ niệm của chính mình”.

Giữ ký ức đẹp – đừng níu lại quá khứ.

  1. Muốn tuổi già vui – phải hiểu ba điều này:
  • Hạnh phúc do mình tạo ra, không ai mang đến.
  • Tiền không phải tất cả – nhưng không có tiền thì cực khổ.
  • Con cái thương mình có giới hạn – đừng chờ đợi quá mức.

Khi mình không trông mong ai, mình sống thanh thản nhất.

  1. Và hãy nhớ 3 QUÊN – 4 CẦN – 5 TRÁNH – 6 BÁC SĨ ĐỜI NGƯỜI

3 QUÊN

  • Quên tuổi tác.
  • Quên bệnh tật.
  • Quên thù hận, quên những điều gì, những người làm mình không vui

4 CẦN

  • Một mái nhà riêng.
  • Một khoản tiết kiệm.
  • Một gia đình kết nối.
  • Một vài người bạn tri kỷ.

5 TRÁNH

  • Tránh ở chung với con cái.
  • Tránh nhận trông cháu dài hạn.
  • Tránh can thiệp vào đời sống của con.
  • Tránh bán nhà khi chưa thật cần.
  • Tránh tiêu tiền phụ thuộc.

6 BÁC SĨ TỐT NHẤT

Ánh nắng – Giấc ngủ – Thể dục – Ăn uống điều độ – Tự tin – Bạn bè.

Tuổi già không chờ mình sẵn sàng.

Nó đến như một buổi chiều.

Chậm, nhưng chắc.

Và chỉ những ai biết chuẩn bị từ bây giờ mới có thể sống nửa đời còn lại thanh thản – tự do – không ân hận.

Nếu bạn đọc đến đây, hãy chia sẻ bài viết này.

Để nhắc ai đó đang đi vào tuổi trung niên rằng:

Tuổi già không tự nhiên bình yên — nó được chuẩn bị từ hôm nay

(Sưu tầm)


 

 ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Anmai CSsR

ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Trả lời phỏng vấn dành riêng cho Vatican News về tình hình căng thẳng tại Trung Đông, Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin đã lên tiếng mạnh mẽ cảnh báo về sự trỗi dậy nguy hiểm của một xu hướng mới trong địa chính trị: việc sử dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề quốc tế.

Với nỗi đau sâu sắc, Đức Hồng y bày tỏ sự xót xa khi chứng kiến các dân tộc Trung Đông – trong đó có những cộng đồng Kitô giáo vốn đã chịu nhiều thử thách – một lần nữa bị đẩy vào vòng xoáy chiến tranh. Về các cuộc tấn công gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran, Đức Hồng y nhấn mạnh rằng hòa bình và an ninh chỉ có thể được xây dựng và duy trì bền vững thông qua các nỗ lực ngoại giao chân chính, đặc biệt là ngoại giao đa phương trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế. Chỉ trong môi trường ấy, các quốc gia mới có thể giải quyết tranh chấp một cách phi bạo lực, công bằng và nhân văn.

Theo Đức Hồng y, việc xác định nguyên nhân của chiến tranh và phân định đúng sai giữa các bên là điều vô cùng phức tạp. Tuy nhiên, một sự thật không thể chối cãi là bom đạn luôn mang theo những hậu quả khôn lường: vô số nạn nhân vô tội, sự hủy diệt không thể phục hồi và nỗi đau tàn phá nặng nề đối với dân thường. “Vì lẽ đó, Tòa Thánh một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng mọi công cụ ngoại giao để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia”, Đức Hồng y Parolin khẳng định.

Khi được hỏi về lý do “chiến tranh phòng ngừa” mà Mỹ và Israel đưa ra – nhằm ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân – Đức Hồng y nhắc nhở rằng, theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc, việc sử dụng vũ lực chỉ được xem là biện pháp cuối cùng và cực kỳ nguy hiểm, sau khi mọi kênh chính trị và đối thoại ngoại giao đã thực sự thất bại. Ngài cảnh báo: nếu các quốc gia tự cho mình quyền phát động “chiến tranh phòng ngừa” chỉ dựa trên tiêu chí chủ quan riêng, thì toàn thế giới sẽ đối mặt với nguy cơ bị chìm trong biển lửa.

Sự xói mòn nghiêm trọng của luật pháp quốc tế đang diễn ra ở mức độ báo động: công lý bị sức mạnh thay thế, sức mạnh của luật pháp nhường chỗ cho “luật của kẻ mạnh”, và quan niệm sai lầm rằng hòa bình chỉ có thể đạt được sau khi kẻ thù bị tiêu diệt hoàn toàn. “Tòa Thánh một lần nữa mạnh mẽ lên án mọi hình thức lôi kéo dân thường và các cơ sở dân sự – như nhà ở, trường học, bệnh viện và nơi thờ tự – vào các hoạt động quân sự, đồng thời kêu gọi tất cả các bên liên quan phải tuyệt đối tôn trọng nguyên tắc bất khả xâm phạm của phẩm giá con người và tính thiêng liêng của sự sống”, Đức Hồng y Parolin nhấn mạnh.

Thông qua bài phỏng vấn, Đức Hồng y Quốc vụ khanh đã gửi đi một thông điệp rõ ràng và cấp thiết: chỉ có ngoại giao, đối thoại và sự tôn trọng luật pháp quốc tế mới có thể cứu vãn hòa bình. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến sự suy giảm đáng lo ngại của trật tự đa phương, lời nhắc nhở từ Tòa Thánh không chỉ là tiếng nói đạo đức mà còn là lời cảnh tỉnh sâu sắc dành cho các nhà lãnh đạo quốc tế.

Lm. Anmai, CSsR tổng hợp


 

CÓ MỘT THỨ MÙ RẤT ĐÁNG SỢ- Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gio-an (Ga 9,1-37) Chúa nhật IV mùa Chay)

Sứ điệp: Đừng để cho lòng trí lâm vào cảnh mù quáng do dục vọng gây nên, xô đẩy chúng ta vào con đường tội lỗi và phải hư mất đời đời.

***

Những người lâm cảnh mù lòa, suốt đời phải sống trong tăm tối là nỗi bất hạnh lớn nhất trong đời.

Vì thế, Chúa Giê-su dành cho họ một tình thương đặc biệt và đã cứu chữa nhiều người bị khiếm thị từ lúc mới sinh. Trích đoạn Tin mừng hôm nay mô tả lại một trong những lần Chúa xót thương cứu chữa những người mù lòa đáng thương như thế.

Điều đáng mừng là những người khiếm thị đều là người tốt lành trong xã hội; họ không xúc phạm đến ai và dường như không bao giờ gây ra tội ác.

Trong khi đó, nhiều người có đôi mắt tinh tường sáng tỏ, nhưng lại bị mù quáng nặng nề nên đã gây ra nhiều lỗi lầm, nhiều tội ác trong xã hội. Hầu hết những người gây ra các cuộc chiến tranh đau thương tang tóc trên thế giới là những người mù quáng.

Nguyên nhân gây bệnh mù quáng

Có rất nhiều nguyên nhân làm cho con người trở nên mù quáng; chúng ta thử điểm qua một vài điểm chính như sau:

Mù quáng vì tham lam

Sách Các Vua chương 21 thuật lại câu chuyện hoàng hậu I-dơ-ven, vợ vua A-kháp, vì tham lam muốn chiếm đoạt vườn nho của ông lão nghèo Na-vốt, nên đã dựng lên một vụ án, quy kết Na-vốt tội nguyền rủa Thiên Chúa và nguyền rủa đức vua, rồi tuyên án ông phải bị ném đá chết. Lòng tham lam đã làm cho hoàng hậu I-dơ-ven ra mù quáng đến độ đang tâm giết hại một ông lão nghèo vô tội để chiếm đoạt vườn nho của ông ta.

Mù quáng vì ghen tị

Sách Sa-mu-en ghi lại rằng vua Sa-un rất yêu thương Đa-vít, nhưng khi Đa-vít chém đầu tên tướng giặc khổng lồ Gô-li-át để cứu nguy cho quân dân Ít-ra-en và quay về trong vinh quang, “thì phụ nữ từ hết mọi thành của Ít-ra-en kéo ra, ca hát múa nhảy, đón vua Sa-un, với trống con, với tiếng reo mừng và tiếng não bạt. Họ vui đùa ca hát rằng: “Vua Sa-un hạ được hàng ngàn, còn Đa-vít hàng vạn”. Khi nghe lời đó, vua Sa-un uất lên vì ghen tị. Lòng ghen tị làm cho vua đâm ra mù quáng, đổi lòng yêu thương ra thù ghét và truy lùng Đa-vít tận thâm sơn cùng cốc, quyết giết cho bằng được vị anh hùng kiệt xuất nầy (Samuen I, chương 18).

Mù quáng vì dục tình

Về sau, khi vua Sa-un qua đời, Đa-vít được lên làm vua. Đa-vít lại đâm ra mê đắm sắc đẹp của bà Bát-sê-va. Dục vọng đã làm cho vua mù quáng đến độ lập mưu giết chồng bà là Uria để chính thức cưới bà nầy làm vợ (Samuen II, chương 11).

Nói tóm lại, tâm trí con người rất dễ trở nên mù quáng do tình dục, do lòng tham lam, kiêu căng, ghen tị… khiến người ta lún sâu vào vũng lầy tội ác lúc nào không hay.

Chứng mù quáng nầy tai hại gấp ngàn lần mù loà đôi mắt thể xác.

Điều đáng tiếc là ai trong chúng ta cũng có thể lâm vào tình trạng mù quáng về một phương diện nào đó, vào lúc nào đó trong đời. Vì thế, chúng ta cần tỉnh táo và thường xuyên soi xét nội tâm, không để cho dục vọng và những xu hướng xấu xa làm mờ ám lương tri, xô đẩy chúng ta lao vào tội lỗi và thói hư.

Lạy Chúa Giê-su là ánh sáng cho trần gian, Xin chiếu dọi ánh sáng Chúa vào tâm trí chúng con, cứu chúng con khỏi bị mù quáng do dục vọng gây nên, để chúng con khỏi gây ra tội lỗi, khỏi hư mất đời đời nhưng được cứu độ và được sống, sống có nhân cách cao đẹp ở đời nầy và sống viên mãn trong thế giới hồng phúc mai sau. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 *****************************

Tin mừng Gioan (Ga 9, 1-37)

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa” (chữ Silôe có nghĩa là được sai)”. Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Đúng hắn”. Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”.

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người

From: NguyenNThu


 

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Xuyên Sơn

Bài hay, mời đọc và SUY NGẪM

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Một ước vọng của nhiều người là được sống lâu, sống thọ.

Tôi cũng từng như vậy.

Cho đến một ngày, tôi tận mắt chứng kiến những năm tháng cuối đời của người bạn thân của cha tôi, một nghệ sĩ nhiếp ảnh khá nổi tiếng.

Ông từng đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế, có người vợ xinh đẹp, hết lòng yêu thương chồng, năm con đều thành đạt, giỏi giang. Nhiều người xem ông như hiện thân của sự sung sướng, hạnh phúc đủ đầy.

Tôi được ông coi như con.

Một lần hai bác cháu ngồi thưởng trà, tôi bảo:

“Trong mắt con, bác là người hạnh phúc nhất trần gian”.

Bác nhìn tôi hiền từ, bảo:

“Khi nào nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ con ạ”.

75 tuổi, bác bị tai biến mạch máu não. Gia đình đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời nên qua khỏi nhưng bị di chứng liệt nửa người, nói ngọng.

Con cái thành đạt, bận rộn nên việc chăm sóc trông cậy cả vào bác gái.

Tuổi cao, mắt kém, tối nọ, vợ bác bị vấp ngã cầu thang, gẫy xương hông.

Thế là hai bác cùng nằm liệt một chỗ.

Con bác phải thuê người giúp việc. Nhưng chăm sóc hai người già bị liệt quá cực nhọc nên chẳng ai làm được lâu.

Cứ tuyển người được vài hôm họ lại nghỉ.

Bí quá, các con gửi hai bác vào một trung tâm dưỡng lão tư nhân.

Thương bác, gần như tuần nào tôi cũng vào thăm.

Bác cháu chuyện trò rất vui.

Tuần nào tôi bận quá không vào là bác điện thoại kêu nhớ.

Thời gian đầu, các anh chị con bác còn luân phiên hàng tuần vào thăm bố mẹ. Nhưng rồi những cuộc thăm viếng thưa dần, sau này tính bằng mỗi tháng – ngày nộp tiền cho trung tâm.

Tôi vẫn dành thời gian vào thăm bác. Vẫn gắng kể những câu chuyện vui cho bác nghe.

Nhưng bác thì ít nói, ít cười dần.

Đôi mắt ngày càng u uẩn.

Nhiều lần bác nhìn tôi, ánh mắt vô hồn. Tôi biết bác bị trầm cảm nặng.

Mà ở trung tâm dưỡng lão này, chẳng riêng gì bác bị.

Nhiều người vào đây thời gian đầu hoạt bát, vui vẻ, nói cười rổn rảng.

Về sau, tiếng nói, tiếng cười tắt dần rồi im bặt.

Có những lần, nhìn mắt ai cũng đờ dại khiến tôi có cảm giác họ là bệnh nhân tâm thần.

Người già rất cần tình thương, nhất là sự quan tâm của con cháu. Nhưng con cháu còn mải mê trong vòng quay cơm áo, gạo tiền,

đâu có nhiều thời gian cho cha mẹ già.

Hơn bốn năm trong trung tâm dưỡng lão, bác mất vào một đêm giông gió. Chẳng ai biết bác mất giờ nào.

Bảy giờ sáng hôm sau, cô nhân viên vào phòng thấy người bác đã cứng.

Mắt vẫn mở.

Con cháu đưa thi hài bác về quê mai táng.

Khách từ khắp các tỉnh thành về viếng nườm nượp, đủ các thành phần, đủ các tầng lớp. 

Con đường vào làng tắc nghẽn ô tô. Vòng hoa rợp ngõ.

Cả làng, cả xã trầm trồ trước đám tang hoành tráng nhất trong lịch sử làng rồi báo chí đăng tin ngưởng mộ.

Ai cũng khen bác sướng nhất làng, nhất huyện.

Họ bảo:

“Sống sướng, chết cũng sướng.

Bõ một kiếp người”, nào có mấy ai biết được bốn năm qua bác “sống hay là bác tồn tại” ra sao…!!!

Riêng tôi, lúc đứng trước linh cữu, nhìn di ảnh bác cười hiền hậu, tai tôi vẳng tiếng của bác “lúc nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ”.

Trong tôi chợt vọng lên câu hỏi:

Sống thọ hay sống sướng có thực sự là giá trị lớn nhất của đời người?

Cho đến một ngày kia, chứng kiến cái chết của người em thân thiết, tôi mới tìm được câu trả lời.

Em tên Vinh, kỹ sư tin học cho một tập đoàn viễn thông quốc tế tại Việt Nam. Lớp bảy, em bị bệnh thấp khớp chạy vào tim.

Tìm hiểu về bệnh, em biết, sự sống của mình có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào.

Mặc dầu vậy, Vinh không hề sợ hãi, lúc nào cũng tràn đầy năng lượng tích cực, yêu đời.

Hàng tuần, từ thứ hai đến thứ sáu, em làm việc cho tập đoàn.

Thứ bảy, chúa nhật, em dành toàn bộ thời gian cho hoạt động thiện nguyện. Khi thì phóng xe máy về quê hướng dẫn nông dân cách trồng trọt, chăm sóc rau củ sạch, lúc phóng lên miền núi dạy cho trẻ em dân tộc con chữ, vận động mọi người quyên góp xây trường cho các em.

Tôi có cảm giác, bao nhiêu năng lượng em dành tặng hết cho mọi người.

Một lần, tôi hỏi:

“Vinh có sợ chết không?”.

Em cười bảo:

“Không”. Em thấy cái chết không hề đáng sợ. Nếu “nghiệp” mình phải chết thì xin thêm một phút cũng không được. Vì thế, buồn lo làm gì cho sầu khổ.

Đời cho em bao nhiêu ngày thì em vui tươi và yêu thương hết thảy.

Khi chết, thân thể sẽ về với cát bụi, chỉ những gì ta đã làm sẽ còn với bạn bè, mọi người, gia đình, thiên nhiên và vũ trụ.

Vinh mất trong chuyến đi thiện nguyện xây trường cho trẻ em Sơn La ở tuổi 32, vì bệnh tim.

Hơn 2.000 người đã đến viếng em.

Tôi vẫn “thấy” Vinh ở khắp nơi, trong những thanh niên đến với những bản làng xa xôi để thực hiện những chương trình từ thiện với mong muốn giảm bớt sự thiếu thốn, nghèo khổ của bà con.

Tôi “thấy” Vinh trong hình dáng các y bác sĩ ngày đêm căng mình trên tuyến đầu chống dịch để đem lại sự sống cho bao người.

Những người tận hiến cho đời như Vinh giúp tôi thấm thía lời nói của cố Hòa thượng Thích Phổ Tuệ:

“Sống được bao nhiêu năm không phải thước đo giá trị của đời người.

Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho đời, cho đạo”.

Thước đo của đời người không phải thời gian sống mà là sự cống hiến.

Dâng tặng cho mọi người trí tuệ và tình yêu thương, đưa ra sáng kiến, phát minh, phát triển khoa học, giáo dục, tạo ra năng suất và sản phẩm, nếu bạn có năng lực.

Và nếu không có gì để cho đi thì bạn vẫn còn có sự chân thành, trung thực, ân cần, thiện chí, nụ cười hay lời nói tử tế để làm ai đó cảm thấy tốt hơn.

Bởi, thế giới này luôn không đủ.

(sưu tầm)