ĐOẠN TUỔI NGUY HIỂM NHẤT. (Bài viết dành riêng cho người độ tuổi 70 – 79)

(Bài viết dành riêng cho người độ tuổi 70 – 79)

Khi về già mọi người muốn có một cuộc sống khỏe mạnh. Họ nhận ra rằng ′′Sức khỏe là của cải”. Nhưng để có được trường thọ, trong 10 năm từ 70 đến 79 tuổi rất quan trọng! 

Học giả Israel đã phát hiện ra điều đó 

70 -79 tuổi là giai đoạn nguy hiểm. Trong giai đoạn này, nhiều cơ quan khác nhau của cơ thể giảm nhanh chóng. Đây là một thời kỳ thường xuyên mắc các bệnh lão khoa khác nhau, và thông thường dễ bị tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp và tiểu đường.

Sau khi bước vào độ tuổi 80, những căn bệnh trên sẽ giảm đi, sức khỏe tinh thần và thể chất có thể trở lại ở như độ 60 – 69 tuổi.

Có nghĩa là, tuổi từ 70 đến 79 tuổi được gọi là

 ′′nhóm tuổi nguy hiểm”. Việc chăm sóc sức khỏe 10 năm từ 70 đến 79 tuổi là rất quan trọng.

Dưới đây là một số bước đơn giản được gọi là ′′Làm mười điều mỗi ngày′′ Điều này sẽ giúp bạn vượt qua giai đoạn ′′nhóm tuổi nguy hiểm′′ của cuộc đời mình.

 1.Nước

Nước là ′′thức uống tốt nhất và rẻ nhất cho sức khỏe”. 3 thời điểm quan trọng với mỗi lần 1 ly nước:

 Cốc đầu tiên: Sau khi ra khỏi giường. Bạn có thể uống một ly nước trong một cái bụng rỗng. Ngay cả khi chúng ta không cảm thấy khát nước sau khi thức dậy, máu ở trạng thái bị đặc do thiếu nước. Do đó, sau khi ra khỏi giường, bạn phải từ từ bổ sung nước càng sớm càng tốt.

 Cốc thứ hai: Sau khi tập thể dục. Một bài tập thể dục phù hợp là một trong những nền tảng của trường thọ. Tuy nhiên, sau khi tập thể dục, đặc biệt chú ý cần phải bổ sung và thay thế nước. Điều này đực biệt khuyến khích đối với người già.

 Cốc thứ ba: Trước khi đi ngủ. Một cốc nước trước khi đi ngủ có thể làm giảm độ nhớt của máu một cách hiệu quả và làm chậm quá trình lão hóa. Giúp chống lại đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và các bệnh khác.

 2.Cháo

Trung Quốc Daily Online đã công bố một nghiên cứu 14 năm do Đại học Harvard thực hiện trên 100,000 người. Thấy rằng mỗi ngày một bát cháo ngũ cốc nguyên hạt khoảng 28 gram giảm 5% đến 9% tử vong và giảm cơ hội mắc bệnh tim mạch. Các loại ngũ cốc nguyên hạt như gạo lứt, ngô và tam giác mạch dường như đã tránh được tất cả các bệnh, đặc biệt là bệnh tim. 

  1. Một cốc sữa

Sữa được gọi là ′′huyết trắng ′′ và có trong cơ thể con người. Giá trị dinh dưỡng của nó được biết đến với rất nhiều canxi, chất béo và protein. Sữa và các sản phẩm từ sữa được khuyến nghị dùng hàng ngày là 300 gam. Khuyên nghị uống một hoặc hai bình sữa 200 ml hoặc gói sữa mỗi ngày. 

  1. Một quả trứng

Trứng có thể nói là loại thực phẩm thông dụng nhất của con người. Tỷ lệ hấp thụ protein trứng của cơ thể có thể cao hơn 98 %. 

  1. Một quả táo

Nghiên cứu hiện đại tin rằng táo có tác dụng hạ mỡ máu, giảm cân, ngăn ngừa ung thư, ngăn ngừa lão hóa, tăng cường trí nhớ, và làm cho da mịn màng và mềm mại. Lợi ích sức khỏe của táo màu khác nhau:

Táo đỏ có tác dụng hạ lipid máu và làm mềm mạch máu

Táo xanh có tác dụng dưỡng gan và giải độc, chống trầm cảm nên thích hợp hơn cho người trẻ.Táo vàng có tác dụng tốt trong việc bảo vệ thị giác. 

  1. Một củ hành

Hành có giá trị dinh dưỡng rất cao và có nhiều chức năng, bao gồm việc giúp hạ đường huyết, giảm mỡ máu, ngăn ngừa ung thư, bảo vệ tim mạch và các bệnh về não, và chống vi khuẩn, ngăn ngừa cảm cúm, bổ sung canxi và xương. Ăn hành tây ít nhất ba hoặc bốn lần một tuần. 

  1. Một miếng cá

Các nhà dinh dưỡng Trung Quốc đã cảnh báo rằng ăn “bốn chân” còn tệ hơn ăn “hai chân”, ăn “hai chân” còn tồi tệ hơn ăn “không có chân”.

′′Không có chân′′ chủ yếu đề cập đến cá và nhiều loại rau khác nhau. Các protein chứa trong cá dễ dàng được tiêu hóa và hấp thụ. Lượng axit béo không bão hòa trong chất béo, đặc biệt là axit béo đa năng, tương đối tốt cho cơ thế.

  1. Bước đi nhẹ nhàng

Đây có tác dụng chống lão hóa thần kỳ. Khi người cao tuổi đi bộ (khoảng 1 km hoặc ít hơn) đều đặn trong hơn 12 tuần, sẽ đạt được hiệu quả về dáng và vòng eo, và cơ thể trở nên dẻo dai và không dễ bị mệt mỏi. Ngoài ra, tập thể dục bằng cách đi bộ cũng có lợi cho việc chữa đau đầu, đau lưng, đau vai., và có thể thúc đẩy giấc ngủ.

 Các chuyên gia tin rằng đi bộ 30 phút mỗi ngày có thể thoát khỏi nguy hiểm của ′′bệnh người cao tuổi”. Những người đi 10,000 bước một ngày sẽ giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và mạch máu não. 

  1. Một sở thích

Có một sở thích, dù là trông hoa, nuôi chim, sưu tầm tem, câu cá, hay vẽ tranh, hát, chơi cờ, và du lịch, đều có thể giúp người già duy trì sự tiếp xúc rộng rãi với xã hội và thiên nhiên. Điều này làm mở rộng những thú vị của người già. Họ sẽ yêu và trân trọng cuộc sống. 

  1. Tâm trạng vui vẻ

Người già nên duy trì cảm xúc tốt vì những điều này cực kỳ quan trọng đối với sức khỏe của họ. Các bệnh mãn tính thường gặp ảnh hưởng đến người già có liên quan chặt chẽ đến những cảm xúc tiêu cực của người già: 

Nhiều bệnh nhân mắc bệnh tim, mạch vành, bị nhồi máu cơ tim do kích thích các cảm xúc bất lợi dẫn đến tử vong đột ngột; 

Tính nóng là điều ′′xấu′′ dẫn đến huyết áp cao. Trong trường hợp kéo dài và nghiêm trọng sẽ có thể gây ra đột quỵ, suy tim, tử vong đột ngột, 

Các cảm xúc tiêu cực như tức giận, lo lắng và đau buồn có thể khiến lượng đường huyết tăng lên, gây rối loạn chuyển hóa trong cơ thế. 

Điều này cho thấy tâm trạng tối quan trọng như thế nào! 

Sưu Tầm

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

*Chiếc máy bay vàng hay delay của người Mỹ nghèo… hôm nay đã chết*

*Chiếc máy bay vàng hay delay của người Mỹ nghèo… hôm nay đã chết*

Tôi từng đôi lần bay Spirit Airlines trong nước Mỹ.

Ai đi hãng này rồi đều biết cảm giác rất đặc biệt: mua được tấm vé rẻ đến mức không tin nổi, nhưng từ lúc ra sân bay cho tới khi máy bay chạm bánh xuống đất thì chỉ biết… cầu nguyện.

Cầu nguyện đừng delay. Cầu nguyện đừng đổi gate phút chót. Cầu nguyện đừng bị tính thêm một đống tiền hành lý.

Ghế chật, dịch vụ tối giản, tiếp viên lạnh như tiền, và cái màu vàng chói chang của chiếc máy bay nhìn xa đã thấy “tiết kiệm”.

Spirit chưa bao giờ là hãng hàng không khiến người ta tự hào check-in, nhưng nó là hãng mà rất nhiều người Mỹ bình dân âm thầm biết ơn. Vì trong túi chỉ có vài chục đô, khi muốn đưa con đi chơi mùa hè mà không đủ tiền bay Delta, khi sinh viên cần một chuyến về thăm nhà, khi một gia đình lao động phải cân từng đồng trước kỳ nghỉ lễ… thì Spirit thường là cái tên cuối cùng còn hiện ra trên màn hình với mức giá “còn với tới được”.

Nói cách khác đó là chiếc máy bay của tầng lớp không dư dả nhưng vẫn cố giữ cho mình quyền được đi đâu đó.

Hôm nay chiếc máy bay vàng ấy đã chết!

Spirit Airlines ngừng toàn bộ hoạt động. 17.000 nhân viên bị đẩy vào cảnh mất việc hoặc treo việc vô thời hạn. Hàng ngàn hành khách đang mắc kẹt.

Bề ngoài đây là một tin doanh nghiệp phá sản, nhưng thật ra nó là một tín hiệu xã hội đáng sợ hơn nhiều.

Bởi Spirit không chết trong chân không. Nó chết đúng vào lúc giá nhiên liệu máy bay leo thang sau khi cuộc chiến Iran làm thị trường dầu toàn cầu chao đảo.

Với các hãng hàng không lớn, giá nhiên liệu tăng là một bài toán khó. Với Spirit, hãng sống bằng từng đồng vé rẻ mạt, đó là phát súng ân huệ.

Chi phí tăng nhưng họ không dám tăng vé, vì khách của Spirit là những người chỉ cần vé nhích thêm vài chục đô là sẽ thôi không đi nữa. Cho nên khi dầu tăng, điều bị bóp nghẹt đầu tiên không phải là kho dự trữ của tập đoàn lớn, mà là cơ hội di chuyển của người nghèo.

Người dân Mỹ không cần hiểu gì về eo biển Hormuz hay giá dầu Brent. Họ chỉ hiểu một điều rất cụ thể mùa hè này đổ xăng tốn hơn, đặt vé máy bay đắt hơn, và hãng bay rẻ nhất vừa biến mất.

Một cuộc chiến cách nửa vòng trái đất bỗng hiện hình ngay trong kế hoạch về thăm mẹ, chuyến đi Disney cho bọn trẻ, hay tấm vé đoàn tụ dịp Memorial Day.

Đó là lúc chiến tranh không còn nằm trên bản đồ Trung Đông nữa mà nằm trong ví tiền người Mỹ.

Người giàu vẫn còn Delta. Người trung lưu còn có United hay American. Nhưng với hàng triệu người sống paycheck to paycheck, Spirit là chiếc van xả áp cuối cùng của một nước Mỹ đang ngày càng đắt đỏ.

Khi chiếc van ấy biến mất, thông điệp tâm lý rất tàn nhẫn xuất hiện: ở nước Mỹ của những cuộc chiến mới, ngay cả quyền được bay giá rẻ cũng đang trở thành xa xỉ.

Điều nguy hiểm cho Donald Trump nằm chính ở đó.

Bởi Nhà Trắng có thể nói về chiến thắng quân sự, về sức mạnh quốc gia, về việc răn đe Iran.

Nhưng rất khó thuyết phục một bà mẹ lao động ở Ohio hay một sinh viên ở Texas rằng chiến tranh đang “được kiểm soát” khi họ vừa thấy vé máy bay đội giá và một hãng hàng không bình dân sụp đổ.

Những cuộc chiến luôn bắt đầu bằng tiếng nổ ở xa, nhưng sự ủng hộ dành cho chúng thường chết đi bằng những hóa đơn rất gần.

Spirit Airlines, chiếc máy bay vàng hay delay mà người Mỹ nghèo vẫn cắn răng bay, hôm nay đã trở thành một hóa đơn như thế.

Có thể đây chỉ là hãng hàng không đầu tiên ngã xuống.

Nhưng nó là lời nhắc rõ ràng rằng: quả bom đầu tiên từ chiến tranh Iran không rơi vào Tehran… mà rơi thẳng vào túi tiền dân Mỹ.


 

TRONG ĐƯỜNG – VẪN LẠC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?”.

“Kitô giáo không phải là một ý tưởng, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một con người!” – Joseph Ratzinger.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ nói về sự không biết của Tôma, nhưng hé lộ một nghịch lý: có thể ở rất gần mà vẫn không gặp gỡ; đã đúng đường mà vẫn đi tìm một con đường khác. ‘Trong Đường – vẫn lạc’.

Tôma không sai khi hỏi, nhưng sai ở cách nghĩ: ông vẫn tìm một con đường để đi, như một lộ trình cần xác định. Trong khi “đường” Gioan dùng – hodos – không chỉ là một hướng đi, nhưng là một cách hiện hữu, một tương quan sống động. Vì thế, vấn đề không phải là không biết phải đi đâu, nhưng là không nhận ra mình đang ở với ai; từ đó, con người có thể lạc ngay trên chính con đường mình đang đi. “Đức tin không phải là một ý kiến, nhưng là một sự gắn bó với Thiên Chúa!” – Romano Guardini.

Trong bối cảnh ấy, những gì Chúa Giêsu nói không chỉ là một câu trả lời, nhưng là một mặc khải: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”. Đường không còn là một lộ trình phải vạch ra, nhưng là một hiện diện để bước vào; sự thật không còn là điều phải nắm bắt, nhưng là một tương quan để ở lại; và sự sống không còn là một mục tiêu ở phía trước, nhưng là điều đang tuôn chảy từ chính Ngài. Thế nhưng, con người vẫn quen tìm những con đường khác: những lựa chọn, những bảo đảm, những câu trả lời có thể nắm chắc trong tay; và chính trong những tìm kiếm ấy, bạn và tôi có thể đang ở trong Đường ấy, mà vẫn đi tìm một con đường khác. ‘Trong Đường – vẫn lạc’.

“Ở trong Đường” không phải là một kinh nghiệm riêng lẻ. Chúa Giêsu nói thêm: “Ai tin vào Thầy” sẽ làm những việc Thầy làm, và còn làm những việc lớn hơn nữa. “Những việc” – erga – không phải là của con người, nhưng là của Thiên Chúa nơi cộng đoàn những kẻ tin. “Không ai có thể có Thiên Chúa làm Cha nếu không có Giáo Hội làm Mẹ!” – Henri de Lubac. Nơi đó, họ chọn phó tế và rao giảng Lời – bài đọc một. Và đức tin vì thế không dừng ở một tương quan riêng tư, nhưng trở thành một thân thể: những con người được gọi ra khỏi bóng tối – bài đọc hai, để cùng tham dự vào hành động của Ngài; một cộng đoàn sống niềm vui Tin Mừng trong tạ ơn và cầu nguyện: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, đường không còn là điều để tìm, nhưng là Đấng để ở trong. Vì thế, điều quyết định không còn là biết, nhưng là ở lại; không còn là làm, nhưng là thuộc về. Và chỉ trong Ngài, con người mới thôi lạc; giữa những chọn lựa chồng chéo của đời sống, không còn phải dò dẫm, nhưng được ở yên trong một tương quan; không còn đi tìm một con đường khác, nhưng được ở trong chính Đường. “Chúng ta không còn biết tình yêu là gì, nếu không còn biết Thiên Chúa là ai!” – Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, có lúc con tưởng mình biết đường, nhưng lòng vẫn chông chênh. Cho con ở lại trong Ngài, giữa bao ngả đường!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT V PHỤC SINH, NĂM A

Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 14,1-12

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. 2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. 3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. 4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?” 6 Đức Giê-su đáp : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. 7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”

8 Ông Phi-líp-phê nói : “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” 9 Đức Giê-su trả lời : “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’ ? 10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. 11 Anh em hãy tin Thầy : Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy ; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. 12 Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.”


 

 NGẪM… Từ 1865 Đến 1975

Xuyên Sơn

 NGẪM…

(Từ 1865 Đến 1975:)

Tấm hình bên trên là cảnh các sĩ quan và binh sĩ của miền Bắc, bên thắng cuộc, chào tạm biệt tướng Lee của miền Nam, sau khi ông ký văn bản đầu hàng tại Appromax Court House.  Hình ảnh của vị tướng miền Nam nhìn vẫn hiên ngang tuy là người thất thế.  Tất cả là vì ông và đoàn quân thất trận vẫn được đối xử một cách đầy tôn trọng.

Nước Mỹ còn rất “trẻ”, chưa đủ tuổi để được gọi với cái tên mỹ miều

“ngàn năm…”.

Nhưng cách mà người Mỹ đối xử với nhau thời nội chiến nói lên rằng

“tuổi tác” của một quốc gia không quan trọng. 

Quan trọng là quốc gia đó được xây dựng trên nền tảng nào, cùng cách hành xử của con người ở quốc gia đó. Nội chiến Hoa Kỳ đã kết thúc cách đây 157 năm, nhưng cách bên thắng cuộc đối xử với bên thua cuộc sau chiến tranh cho thấy thời đó người Mỹ đã văn minh dường nào.

Còn ở một nơi khác, chiến tranh kết thúc chưa được 50 năm, nhưng cách bên thắng thế đối đãi với bên thất thế lại khiến tôi nghĩ cuộc chiến đó dường như đã xảy ra cách đây hơn ngàn năm.  Hành động nói lên tất cả.

Thay vì hành động theo cách của bậc quân tử thì họ lại dùng những lời sáo rỗng dối trá để tô vẽ tuyên truyền.

Tệ hơn nữa là nói một đường làm một nẻo.

Văn minh và KHÔNG văn minh, quân tử và KHÔNG quân tử, khác nhau xa quá!

Nguồn fb Bich Lieu Nguyen


 

THỨ GÌ THẬT SỰ LÀ CỦA CHÚNG TA?

  1. Ngày sinh – do người khác quyết định.
  2.  Tên gọi – do người khác đặt.
    3. Thu nhập – do người khác trả.
    4. Sự tôn trọng – do người khác dành cho.
    5. Lần tắm đầu tiên và cuối cùng – đều do người khác lo.
    6. Tài sản – rồi cũng để lại cho người khác.
    7. Tang lễ – người khác tổ chức.

Có một ngày nào đó, bạn thử ngồi xuống thật yên… và nhìn lại đời mình như: xem lại một thước phim.

Bạn sẽ thấy:

Mình sinh ra trong tiếng khóc, nhưng nụ cười đầu tiên lại là của người khác.

Mình lớn lên bằng cơm người nấu, áo người may, lời người dạy.

Đi làm, cũng là để đổi thời gian và sức lực lấy đồng tiền do người khác trả.

Ngay cả lúc mệt mỏi, yếu lòng… cũng chỉ mong có một ai đó hiểu mình.

Vậy mà lạ… ta vẫn cứ nghĩ mình “quan trọng lắm”.

Ta giận ai đó chỉ vì một câu nói.

Ta buồn cả ngày chỉ vì không được công nhận.

Ta hơn thua chỉ vì một chút sĩ diện.

Nhưng rồi bạn thử hỏi lại mình: Những điều đó… có thật sự đáng không?

Có những người từng rất quan trọng trong đời ta, mà giờ đây… cũng chỉ còn là một cái tên trong danh bạ không bao giờ gọi.

Có những thứ ta từng cố chấp giữ lấy, đến lúc mất đi rồi mới thấy… hóa ra cũng không làm mình chết được.

Cuộc đời này vốn dĩ rất đời thường.

Sáng thức dậy, có việc để làm. Tối trở về, có người để nhớ. Đã là một loại hạnh phúc rồi.

Nhưng con người lại hay tự làm khó mình.

Thay vì ăn một bữa cơm cho ngon, ta vừa ăn vừa nghĩ ai đó đang đánh giá mình ra sao.

Thay vì ngủ một giấc cho yên, ta lại ôm theo những chuyện không đáng… để rồi mệt mỏi.

Có khi hạnh phúc không nằm ở chỗ có thêm, mà nằm ở chỗ bớt lại.

Bớt so sánh.

Bớt hơn thua.

Bớt cái “tôi” lúc nào cũng muốn đúng.

Bạn biết không…Người ta nhớ về nhau, chưa bao giờ vì bạn giàu bao nhiêu, mà vì lúc họ cần… bạn đã đối xử với họ như thế nào.

Một lời nói nhẹ nhàng lúc người khác đang mệt, có khi đáng giá hơn cả một món quà lớn.

Một lần bạn chịu nhường, chịu im lặng, không phải vì bạn yếu…mà vì bạn đủ hiểu để không làm tổn thương thêm.

Đến cuối cùng, khi nhắm mắt lại, không ai mang theo được tiền bạc hay danh tiếng.

Chỉ có hai thứ còn lại: những người từng thật lòng thương mình…và cảm giác bình yên hay dằn vặt trong chính lòng mình.

Nên nếu hôm nay còn có thể, hãy sống chậm lại một chút

.Nói với ba mẹ một câu dịu dàng hơn.

Nhìn người bên cạnh bằng ánh mắt bao dung hơn.

Và với chính mình… cũng đừng khắt khe quá.

Đời này ngắn lắm. Ngắn đến mức nhiều khi chưa kịp hiểu nhau… đã lạc mất nhau rồi. Vậy mà con người vẫn sống với cái tôi quá lớn.

Hãy sống đơn giản hơn.

Yêu thương nhiê`u hơn.

Và bình yên với nhau hơn

Nên thôi, đừng cố hơn ai cả. Chỉ cần sống sao để tối về… thấy lòng mình không nặng, thấy mình vẫn còn biết thương người,

  From: luong bui  & KimBang Nguyen


 

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Trọng kính Cộng đồng Dân Chúa,

 Trên chuyến bay kết thúc chuyến Tông Du Phi Châu trở về Vatican hôm 23/4/2026 sau 10 ngày rao giảng tin mừng sự sống cho riêng các cộng đoàn dân Chúa của mình cũng như “văn hóa hòa bình” cho chung anh chị em đồng loại của mình ở miền đất bần cùng khốn khổ nhất thế giới này, ĐTC Lêô XIV đã có cuộc họp báo với 70 nhân viên thuộc giới truyền thông được đi tháp tùng ngài. 

 Câu phỏng vấn đầu tiên về chiến tranh Trung Đông

 “Trong cuộc gặp vì hòa bình tại Bamenda, ở Camerun, Đức Thánh Cha đã mô tả một thế giới đảo lộn, nơi một nhóm nhỏ những bạo chúa có nguy cơ hủy diệt hành tinh. Ngài nói: Hòa bình không phải là điều phải phát minh ra nhưng là điều phải được đón nhận. Các cuộc đàm phán về xung đột tại Iran đang rơi vào hỗn loạn với những tác động nặng nề trên kinh tế toàn cầu. Ngài có mong muốn một sự thay đổi chế độ tại Iran không, khi mà cả xã hội dân sự lẫn sinh viên đã xuống đường trong những tháng gần đây và thế giới đang lo ngại về cuộc chạy đua hạt nhân? Ngài gửi lời kêu gọi nào đến Mỹ, Iran, Israel để thoát khỏi bế tắc và chấm dứt leo thang? NATO và châu Âu có nên tham gia nhiều hơn không?”

 ĐTC Lêô XIV đã trả lời về “một nền văn hóa hòa bình”:

 “Tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng cần phải cổ võ một thái độ mới và một nền văn hóa hòa bình. Rất nhiều lần, khi chúng ta đánh giá một số hoàn cảnh, phản ứng lập tức là phải can thiệp bằng bạo lực, bằng chiến tranh, bằng tấn công. Điều mà chúng ta đã thấy là rất nhiều người vô tội đã chết. Tôi vừa đọc lá thư của một số gia đình có con em đã chết trong ngày đầu tiên của cuộc tấn công. Và họ nói về việc giờ đây họ đã mất con mình, những bé trai, bé gái, những trẻ em đã chết trong cuộc tấn công đó. Vấn đề không phải là chế độ có thay đổi hay không thay đổi; vấn đề là làm thế nào để cổ võ những giá trị mà chúng ta tin tưởng mà không gây ra cái chết của biết bao người vô tội. Vấn đề Iran rõ ràng là rất phức tạp. Chính các cuộc thương thuyết đang diễn ra, một ngày Iran nói có và Mỹ nói không, rồi ngược lại, và chúng ta không biết sẽ đi về đâu. Tình trạng hỗn loạn này đã được tạo ra, gây nguy cấp cho kinh tế toàn cầu, nhưng rồi cũng có cả một dân chúng tại Iran là những người vô tội đang phải chịu đau khổ vì cuộc chiến này. Vì thế, về chuyện thay đổi chế độ hay không: không rõ hiện nay là chế độ nào đang tồn tại, sau những ngày đầu tiên của các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Thay vào đó, tôi muốn khích lệ việc tiếp tục đối thoại vì hòa bình, để các bên tìm cách dồn mọi nỗ lực nhằm cổ võ hòa bình, đẩy xa mối đe dọa chiến tranh và tôn trọng luật pháp quốc tế. Điều rất quan trọng là những người vô tội phải được bảo vệ, điều đã không xảy ra ở nhiều nơi. Tôi mang theo bên mình một tấm ảnh của một em bé Hồi giáo mà trong chuyến viếng thăm Libăng đã đứng đó chờ tôi với một tấm bảng ghi ‘Chào mừng Đức Giáo hoàng Lêô’, rồi trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, em đã bị giết. Có biết bao hoàn cảnh con người như thế và tôi nghĩ rằng chúng ta phải có khả năng suy nghĩ theo cách đó. Với tư cách là Giáo hội, tôi xin nói lại, với tư cách là mục tử, tôi không thể ủng hộ chiến tranh. Và tôi muốn khích lệ mọi người nỗ lực tìm kiếm những câu trả lời phát xuất từ một nền văn hóa hòa bình chứ không phải từ hận thù và chia rẽ.

 Câu phỏng vấn đầu tiên về việc Iran sát hại dân:

 “Thưa Đức Thánh Cha, trong chuyến đi này ngài đã nói về việc con người đang đói khát công lý. Chính sáng nay, đã có tin cho biết Iran đã xử tử thêm một thành viên đối lập, và điều này diễn ra trong khi chế độ đã công khai treo cổ nhiều người khác và sát hại hàng ngàn công dân của chính mình. Ngài có lên án những hành động này không? Ngài có sứ điệp nào dành cho chế độ Iran không?

 ĐTC Lêô XIV trả lời “Tôi lên án việc giết hại con người”:

 Tôi lên án mọi hành động bất công. Tôi lên án việc giết hại con người. Tôi lên án án tử hình. Tôi tin rằng sự sống con người phải được tôn trọng và sự sống của mọi người, từ lúc được thụ thai cho đến khi chết tự nhiên, phải được tôn trọng và bảo vệ. Vì thế, khi một chế độ, khi một quốc gia đưa ra những quyết định tước đoạt cách bất công mạng sống của những người khác, thì rõ ràng đó là điều phải bị lên án.” 

Vấn đề ở đây là vì thành phần lãnh đạo liên quan đến cuộc chiến Trung Đông tại bãi chiến trường Iran hiện nay đã sẵn máu “văn hóa chết chóc – culture of death” (ĐTC Gioan Phaolô II) và “văn hóa sa thải loại trừ – throw away culture” (ĐTC Phanxicô), nên họ không thể nào chấp nhận “một nền văn hóa hòa bình – culture of peace” (ĐTC Lêô XIV), phản ảnh “văn minh yêu thương – civilization of love” (ĐTC Phaolô VI), và vì thế họ không thể hay khó có thể ngồi lại với nhau, và cho dù có ngồi lại đàm phán với nhau chăng nữa cuối cùng họ vẫn chẳng giải quyết được gì, vẫn tiếp tục đánh nhau, bởi trước khi đàm phán họ đã hù dọa nhau đủ thứ và vẫn nhăm nhe tấn công nhau (như ở cuộc chiến Iran), chứ không tỏ ra thực sự thành tâm thiện chí giải quyết dứt khoát chiến tranh, hay vẫn cứ đánh nhau không chịu ngưng chiến để đàm phán (như ở cuộc chiến Ukraine). 

 Phải chăng chính vì các thẩm quyền chính trị hiện nay không thể hay khó có thể quay trở về với “một nền văn hóa hòa bình” như thế, mà chính Kitô hữu chúng ta cần phải bù đắp cho họ trong tinh thần “xây dựng hòa bình” với danh nghĩa là “con Thiên Chúa” (Mathêu 5:9), thành phần cũng cần phải thay máu hiếu chiến vẫn còn đang sôi sục trong bản thân chúng ta khi chúng ta cầu nguyện cho hòa bình, bằng máu “văn hóa hòa bình”, để nhờ đó LTXC là Đấng không loại trừ một ai sẽ làm chủ tâm trí của thành phần lãnh đạo chính trị liên quan đến các cuộc chiến lớn nhỏ, công khai hay âm thầm hoặc bị quên lãng hiện nay, khiến họ từ từ tiến đến chỗ biết trân quý và tôn trọng hơn bất cứ một tham vọng chính trị bất chính nào của họ, tất cả quyền lợi chính đáng, phẩm giá bất khả xâm phạm và sự sống do chính Thiên Chúa dựng nên của từng người cũng như của chung dân nước của mình cũng như của nhau, chúng ta hãy tiếp tục theo dõi hiện tình Thế giới Ngày nay ở đường kết nối tổng hợp sau đây:

Thế giới Ngày nay 24-26/4/2026 – Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

 Trân trọng, 

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

From: daminhmariacaotantinh & NguyenNThu


 

 SỐNG NIỀM VUI PHỤC SINH – Trầm Thiên Thu

  Trầm Thiên Thu

Tôi rất thích câu Kinh Thánh: “Khi Chúa Giêsu thấy Maria Mađalêna khóc ở cửa mộ thì Ngài hỏi: Này chị, sao chị khóc?” (Ga 20:15).  Lúc đó Ngài không hỏi một câu văn hoa bóng bẩy.  Ngài muốn biết lý do chúng ta lo âu, khóc lóc và phiền muộn khi niềm hy vọng tiềm ẩn trong mọi sự – nếu chúng ta lưu ý.

 Phục sinh mang ý nghĩa giải thoát, rất ý nghĩa đối với một người như tôi, vì tôi luôn cảm thấy buồn sầu và tiêu cực.  Mừng lễ Phục sinh là dịp để chúng ta nói: “Vâng, lạy Chúa Giêsu, con tin.”  Khi làm vậy, hãy nắm bắt niềm hy vọng có sẵn đó. 

  1. Tiến lên và chạm vào ngài

Sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và nói: “Sao anh em phiền muộn?  Sao anh em nghi ngờ?  Hãy sờ vào Thầy và xem đây, ma không có xương thịt như anh em thấy Thầy.”  Nếu tôi là một trong số họ, tôi không chỉ phiền muộn mà chắc rằng tôi sẽ không dám đến gần sờ thử.  Tôi nghi ngại.  Nhưng tôi tìm thấy sự an tâm trong sự bảo đảm của Chúa Giêsu rằng sự phục sinh của Ngài là thật.  Chúa Giêsu là thật, sự phục sinh là thật, do đó mà các lời hứa của Ngài là thật.  Nghĩa là chúng ta khả dĩ tin Ngài khi Ngài nói với chúng ta rằng Ngài sẽ ở với chúng ta đến tận thế (Mt 28:20). 

  1. Thiên Chúa tốt lành

Trước khi chịu chết, Chúa Giêsu nhắc lại rằng Ngài được sai đến nhân danh Chúa Cha.  Thật vậy, qua nhiều phép lạ, nhất là việc cho Ladarô sống lại, cho thấy tính tốt lành của Thiên Chúa: “Vì Cha yêu Con và cho Chúa Con thấy mọi sự Người làm, và Người sẽ cho Chúa Con thấy những việc vĩ đại hơn vậy, đến nỗi anh em có thể ngạc nhiên” (Ga 5:20). 

Chân phước Angela Foligna, thế kỷ 14, là người mẹ và người vợ, rồi là người viết xuất chúng về các điều thần bí, đã viết: “Bước đầu tiên mà linh hồn phải có khi đi vào con đường yêu thương là biết Thiên Chúa qua chân lý, nhờ đó mà muốn đạt tới Thiên Chúa…  Biết Chúa qua chân lý là biết Ngài như chính Ngài, hiểu sự xứng đáng của Ngài, vẻ đẹp của Ngài, sự ngọt ngào của Ngài, sự tuyệt luân của Ngài, sức mạnh của Ngài, sự tốt lành của Ngài, bản chất cực tốt lành của Ngài.”  Tôi nghĩ rằng tin Chúa tốt lành là điểm phục sinh.  Thiên Chúa có tốt lành không?  Có.  Chúng ta có thể nói vậy với niềm xác tín vào sự Phục sinh. 

  1. Phó thác

Hãy phó thác ý muốn và cuộc đời mình cho Chúa quan phòng.  Thánh Thomas Tiến sĩ viết: “Tính thánh thiện không gì hơn là quyết định dứt khoát, một hành động anh dũng của một linh hồn phó thác cho Thiên Chúa.  Nhờ ý muốn thẳng thắn mà chúng ta yêu mến Chúa, chạy về phía Chúa, đạt tới Ngài và sở hữu Ngài.”  Mỗi khi chúng ta nói với Chúa: “Hãy lấy điều đó khỏi con,” chúng ta đang sống niềm vui Phục sinh, vì chúng ta đang nhớ lời hứa của Chúa rằng Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta, Ngài không bỏ chúng ta, và dù chúng ta nghi ngờ thì Ngài vẫn thực sự đáng tin. 

  1. Loại bỏ sợ hãi

Trong trình thuật của thánh Mát-thêu, thiên thần Chúa hiện ra với Maria và một Maria khác ở nơi mộ trống, rồi nói với họ: “Đừng sợ, vì tôi biết các chị đang tìm Giêsu bị đóng đinh.  Ngài không còn ở đây.  Ngài đã sống lại như Ngài đã nói.”  Sau đó Chúa Giêsu gặp các chị và lặp lại: “Đừng sợ!” (Mt 28:10).  Có thể điều Chúa Giêsu nói ở đây là đừng sợ.  Loại bỏ sợ hãi là điều không dễ làm.  Nhưng nếu chúng ta có thể loại bỏ sợ hãi, dù loại bỏ dần dần, chúng ta sẽ tránh xa nỗi buồn thập giá và đến gần sự tuyệt vời của ngôi mộ trống.  Cố tu sĩ Thomas Merton, dòng Trap, viết: “Nỗi sợ hãi thu hẹp lối vào trái tim, co rút khả năng yêu thương và làm đóng băng khả năng trao tặng chính mình.” 

  1. Công khai

Mệnh lệnh của Chúa Giêsu là rao giảng công khai.  Cho dù bạn có thể giống như kẻ khờ dại, cứ nói với người ta rằng sự sống lại đã xảy ra thực sự.  Không nhất thiết chúng ta phải là người rao giảng Tin Mừng từ xa.  Chúng ta khả dĩ làm và nói mọi thứ, ngôn ngữ và hành động của chúng ta luôn trở lại với sự Phục sinh, truyền niềm hy vọng cho mọi người chúng ta gặp. 

  1. Khiêm nhường

Nếu Chúa Giêsu là Thiên Chúa, và chỉ có một Thiên Chúa, điều đó nghĩa là không ai trong chúng ta là Thiên Chúa.  Đó là sự thật quan trọng khác về sự sống lại: Thiên Chúa trở nên con người, con người không thể trở nên Thiên Chúa.  Tôi biết tôi thường lẫn lộn hai điều đó, nhất là khi tôi nói chuyện qua điện thoại với nhân viên bảo hiểm y tế, vì tôi cảm thấy mình có quyền hơn người đó.  Thánh nữ Catarina Siena viết: “Hãy nhỏ bé và khiêm nhường.  Hãy nhìn vào Thiên Chúa, Ngài tự hạ làm con người.  Đừng làm mình bất xứng với những gì Thiên Chúa đã làm cho chúng ta.”  Với sự khiêm nhường, chúng ta sẽ có khả năng hơn nhờ sự Phục sinh.  Điều đó như sự bù đắp những gì chúng ta không thể có, nhưng Thiên Chúa khả dĩ cung cấp cho chúng ta nếu chúng ta tin vào ngôi mộ trống. 

  1. Hành trình Emmaus

Tôi luôn được đánh động bởi trình thuật của thánh Luca về hành trình Emmaus.  Hai môn đệ trên đường đi Emmaus, Chúa Giêsu đến gần và hỏi họ đang nói chuyện gì.  Một người nói: “Sao ông hỏi vậy?  Ông không nghe xôn xao chuyện gì ư?”  Và họ chợt nhận ra Ngài khi Ngài cùng ngồi ăn với họ. Nhưng ngay khi họ nhận ra Ngài thì Ngài biến đi.  Hằng ngày chúng ta có dịp đi Emmaus nếu chúng ta đồng ý với thánh Leo Cả: “Chia sẻ sự Phục sinh của Chúa Kitô là không bị ràng buộc bởi những gì tạm thời, nhưng chỉ ràng buộc bởi sự sống vĩnh hằng mà Ngài trao ban cho chúng ta… Sự Phục sinh đã khởi sự nơi Đức Kitô, và Ngài muốn dẫn chúng ta đến sự viên mãn của sự sống và sự chữa lành.” 

  1. Cầu nguyện liên lỉ

Trong trình thuật của thánh Luca, tôi thích câu: “Họ hỏi nhau: Lòng chúng ta không sốt sáng khi Ngài nói chuyện với chúng ta trên đường đi và giải nghĩa Kinh thánh cho chúng ta sao?” (Lc 24:32).  Hành trình tới Emmaus là lời cầu nguyện, các nhiệm vụ nhỏ mọn của chúng ta hằng ngày cũng là những lời cầu nguyện.  Thánh bổn mạng của tôi, Têrêsa Hài đồng, đã định nghĩa: “Lời cầu nguyện là điều bộc phát từ đáy lòng, là ánh mắt hướng về trời cao, là lời tạ ơn, là tình yêu giữa cơn thử thách và giữa niềm vui.”  Đó là cách cầu nguyện khi chúng ta sống niềm vui Phục sinh. 

  1. Nhận biết Chúa trong mọi sự

Nếu mùa Chay là sống tĩnh lặng để lắng nghe tiếng Chúa thì lễ Phục sinh là ca vang Alleluia với Ngài.  Và nếu 40 ngày bắt đầu bằng thứ tư lễ Tro là tách mình ra khỏi ai đó, nơi nào đó và thương mình hơn thì lễ Phục sinh là đón nhận mọi người, mọi nơi, mọi thứ gì thúc đẩy sự tốt lành, vẻ đẹp và tình yêu thương.  Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã viết: “Chúng ta có thể tìm thấy Chúa trong mọi sự.  Chúng ta có thể hiệp thông với Ngài trong mọi sự và qua mọi sự.”  Thiên Chúa hằng sống và hiện hữu khắp nơi.  Hãy sống niềm vui Phục sinh ở mọi nơi và mọi lúc.  Hãy cầm lấy, tạ ơn, bẻ ratrao cho người khác chính cuộc đời mình!

 Therese Borchard

Trầm Thiên Thu

 (chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

TÁM MƯƠI TƯ NĂM MỘT KIẾP NGƯỜI

Peter Nguyen

TÁM MƯƠI TƯ NĂM MỘT KIẾP NGƯỜI

Tám mươi tư tuổi cuộc đời

Chút tâm tình gởi mấy lời mai sau

Trải qua bao cuộc bể dâu

Tù đày khắc nghiệt, thẳm sâu nghĩa tình.

Bước đầu nếm chén nhục vinh

Tám năm miền Bắc, thân hình héo hon

Chúa thương phù hộ vuông tròn

Vượt qua cửa tử, vẫn còn hôm nay.

Bước hai tìm thấy ơn dày

Tìm về cửa đạo, từ đây an hòa

Bình Triệu khấn Đức Mẹ ta

Kỳ Đồng thanh tẩy, lệ nhòa niềm tin.

Bước ba gác lại nỗi riêng

Rời xa xứ sở, theo tiếng gọi xa

Abraham – thuở quê nhà

Hobby đáp cánh, trời hoa xứ người.

Thánh Kinh sớm tối mỉm cười

Tân Tòng dìu dắt, giúp người bền tâm

Thời gian tựa bóng quan âm

Sống theo từng nhật, chẳng lầm từng niên.

Đời là cõi tạm hư huyền

Chết rồi ai nhớ, ai phiền chi ta?

Nhưng lòng vẫn cứ bao la

Yêu người chỉ trích, thứ tha lỗi lầm.

Cầu cho hậu thế tri âm

Gặp nhau ngày cuối, nảy mầm hy vọng

Yêu thương như biển mênh mông

Một đời trọn vẹn, ấm nồng nghĩa nhân.

Chúc mừng, chúc mừng!

Peter Nguyen


 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Người Việt rất hay buồn. Họ buồn đủ chuyện, đủ thứ, đủ cách, đủ kiểu, đủ loại và buồn dài dài: buồn chồng, buồn vợ, buồn con, buồn chuyện gia đình, buồn chuyện nước non, buồn chuyện tình duyên, buồn trong kỷ niệm, buồn tình đời, buồn nhân tình thế thái, buồn thế sự đảo điên, buồn tàn thu, buồn tàn canh gió lạnh … 

Đó là chưa kể những nỗi buồn, buồn lãng xẹt: buồn trông con nhện giăng tơ, buồn trông cửa bể chiều hôm, buồn trông nội cỏ rầu rầu, buồn trông con nước mới sa … 

Lúc nào và ở đâu dân Việt cũng đều có thể buồn được cả (ngoại ô buồn, thành phố buồn, đô thị buồn) và họ luôn luôn buồn quá mạng, buồn thê thảm, buồn dữ dội, buồn da diết, buồn thảm thiết, buồn tê tái, buồn miên man, buồn mênh mông, buồn man mác, buồn nát tâm tư, buồn rười rượi, buồn nẫu ruột, buồn muốn chết, buồn muốn khóc, buồn thấy mẹ, buồn tận mạng, buồn quá xá, buồn quá trời, buồn thỉu buồn thiu, buồn hết biết luôn … 

Nói tóm lại là người Việt buồn muôn thuở, buồn quanh năm, buồn suốt tháng, bất kể ngày đêm: ngày buồn tênh, đêm buồn tỉnh lẻ, khuya phố thị buồn, chiều chủ nhật buồn … Toàn là những nỗi buồn ngang, buồn bất chợt, buồn vô cớ, buồn vào hồn không tên, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn nhưng họ đều buồn thiệt và buồn lắm lận. 

Chỉ có nỗi buồn về mùa màng thời tiết thì dân Việt mới nêu rõ nguyên do và ghi khá rõ – từ lâu – qua những câu lục bát truyền thống rất nhịp nhàng, và khá điệu đàng: 

Buồn về một nỗi tháng giêng

Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài

Buồn về một nỗi tháng hai

Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta

Buồn về một nỗi tháng ba

Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ

Buồn về một nỗi tháng tư

Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn

Buồn về một nỗi tháng năm

Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu 

 Riêng tôi thì vì đã quá già (có ngủ nghê gì được mấy đâu) nên đêm dài lắm. Nghe tiếng “gà gáy, chim kêu” còn mừng là đằng khác. Bởi thế, tôi chả hề phiền hà gì “về nỗi tháng năm”. Có buồn chăng – chả qua – chỉ vì chút dư âm của tháng tư (thôi) nhưng cứ buồn hoài và buồn lắm. 

Ngoài chút phiền lòng vì “nắng lửa, lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn”, tôi còn buồn lòng không ít vì cả nước chợt ồn ào và náo nhiệt một cách giả tạo và gượng gạo. Khắp nơi bỗng đều đỏ rực một mầu, ngó mà ớn chè đậu: 

– Rực rỡ cờ hoa chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam

– Họp mặt kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

– Treo cờ và khẩu hiệu tuyên truyền kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Giao lưu văn nghệ chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Triển lãm ảnh kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam

– Sôi nổi hoạt động chào mừng Kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước 

Thiên hạ, xem ra, không được “sôi nổi” gì cho lắm: 

– Thái Hạo: “Anh em trong nhà, đánh nhau một trận, năm mươi năm sau’ còn ăn mừng chiến thắng. Đó là tiểu khí của người nhỏ nhen”. 

– Nguyên Tống: “Cùng là anh em nòi giống Việt, đánh nhau đến tan cửa nát nhà rồi ăn mừng mãi cái ngày đó thì làm sao mà hoà giải dân tộc được?!” 

– Nguyễn Hữu Vinh: “Quan sát hiện tượng này, người ta có cảm giác rằng đảng giống như một con nghiện. Nhân tố gây nghiện ở đây là bạo lực, là hình ảnh của sự tàn bạo, sự giết chóc để thỏa mãn bản chất bạo lực của Đảng, của Giai cấp vô sản chuyên nghề lật đổ và cướp từ chính quyền cho đến lợi ích, tài sản.” 

– Nguyễn Thông: “Kiểu kỷ niệm, diễu hành, phô trương như thế này, xưa chỉ thấy ở đám phát xít Đức, về sau rõ nhất ở Triều Tiên … Hãy sống với thế giới văn minh chứ đừng mãi man rợ cờ phướn như thế.” 

– Phạm Quang Trung: “Anh em đánh nhau một trận rồi thôi, cười khì…đàng này đã 50 năm rồi mà vẫn tiệc tùng ăn mừng chiến thắng! Vậy là sao ta!?” 

Câu hỏi thượng dẫn khiến tôi nhớ đến chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii của TT Nhật bản Shinzo Abe, và bài diễn văn ông đọc vào ngày hôm sau (26 tháng 12 năm 2016) tại Trân Châu Cảng. Xin trích dẫn đôi đoạn, theo bản văn của dịch giả Nguyễn Quốc Vương: 

“Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm. Nơi đang khắc tên những người lính đã mất… Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng. 

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt. Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành… 

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh. 

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại. Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành. 

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mỹ và quốc dân Mỹ. Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai… 

Và rồi nước Mỹ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mỹ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh. 

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi. Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên… 

Đã 75 năm sau trận ‘Trân Châu cảng’. Nhật Bản và nước Mỹ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử… Thứ gắn kết chúng ta chính là ‘sức mạnh của hòa giải’, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.” 

Người Nhật và người Mỹ không đợi đến ngày nay mới quyết định ‘bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn’. Ngay sau khi Thế Chiến Thứ II vừa chấm dứt, họ (kẻ thắng/người thua) đã nắm tay nhau để tạo nên “sức mạnh của tinh thần hòa giải” và sự “khoan dung” gần trăm năm nay. 

Chiến tranh VN cũng đã chấm dứt 50 năm (rồi) nhưng không biết đến bao giờ thì Bên Thắng Cuộc ở đất nước này mới thôi việc đình đám/cờ xí/tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, thôi kỳ thị, và thôi kích động hận thù để hòa giải và hòa hợp với Bên Bại Cuộc? 

Nhân Tuấn Trương trả lời: “Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT). Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh”. 

Nghe thế có buồn không? 

Buồn chớ và buồn lắm! Buồn muốn khóc luôn, buồn như chưa bao giờ buồn thế, buồn như không còn ai có thể buồn hơn được nữa. Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.

Tưởng năng Tiến / STTD

From: My Tran


 

Việt Nam chịu tác động giá nặng nề nhất ở Đông Nam Á

Theo báo Nikei Á Châu

thay thế

Người mua sắm đang xem hàng tại một siêu thị ở Bangkok vào ngày 22 tháng 4. Một nhà phân tích cảnh báo về giá thực phẩm tăng cao trong khu vực do chi phí năng lượng tăng cao ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. (Ảnh của Ken Kobayashi)

Sự phụ thuộc của Đông Nam Á vào dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ tinh chế

SINGAPORE — Lạm phát tiêu dùng đang gia tăng trên khắp Đông Nam Á, do sự gián đoạn nguồn cung dầu mỏ gây ra bởi cuộc chiến Mỹ-Iran, với các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu từ Trung Đông như Việt Nam và Philippines chứng kiến ​​mức tăng giá mạnh nhất trong nhiều năm vào tháng 3.

Kể từ khi việc vận chuyển dầu thô qua eo biển Hormuz bắt đầu bị hạn chế vào tháng 3, nền kinh tế toàn cầu đã phải đối mặt với giá nhiên liệu tăng cao và tình trạng thiếu hụt các nguyên liệu đầu vào công nghiệp quan trọng như naphtha.

Darren Tay, người đứng đầu bộ phận rủi ro quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại BMI, nói với Nikkei Asia,  “Do tác động lạm phát được phân bổ rộng rãi hơn trên toàn bộ nền kinh tế công nghiệp của Đông Nam Á” chính điều này làm cho tác động trở nên nặng nề hơn so với các nền kinh tể ở Châu Âu.

Ông lưu ý rằng điều này khác với xu hướng ở châu Âu, nơi cú sốc chủ yếu được truyền tải thông qua giá khí đốt tự nhiên và hóa đơn tiền điện của các hộ gia đình.

thay thế

Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo số liệu chính thức, chỉ số giá tiêu dùng của nước này đã tăng 4,65% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 3, đạt mức cao nhất trong 5 năm.

BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN VÀ PHÉP THỬ Ý THỨC HỆ: KHI “GIẢI PHÓNG” LÀ MỘT LỜI NGUYỀN

Nhật Ký Yêu Nước

BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN VÀ PHÉP THỬ Ý THỨC HỆ: KHI “GIẢI PHÓNG” LÀ MỘT LỜI NGUYỀN

Lịch sử loài người hiếm khi cung cấp một phòng thí nghiệm hoàn hảo để thử nghiệm các học thuyết chính trị như bán đảo Triều Tiên sau năm 1945. Cùng một dân tộc, cùng một dòng máu, cùng một nền văn hóa ngàn năm, nhưng bị xẻ làm đôi chỉ vì một đường kẻ vô tri trên bản đồ — vĩ tuyến 38. Bảy mươi năm sau, đường kẻ ấy không chỉ phân chia lãnh thổ, mà nó phân chia giữa thiên đàng và địa ngục, giữa ánh sáng văn minh và bóng tối của thời trung cổ hoang dã.

Một Dân Tộc, Hai Số Phận: Vở Kịch Hài Hước Của Ý Thức Hệ

Cả Bắc Triều Tiên và Nam Hàn đều khởi đầu từ đống tro tàn của chiến tranh, với xuất phát điểm nghèo khó như nhau. Nhưng “phép màu” đã xảy ra nhờ vào sự lựa chọn ý thức hệ.

Tại Nam Hàn: Họ chọn con đường “tư bản giãy chết”. Và kết quả thật thảm hại! Họ bị buộc phải sống trong một xã hội tự do dân chủ, văn minh và giàu có đến mức… phát ngấy. Chẳng có gì vui vẻ khi chỉ sau 40 năm, họ bị biến thành một con rồng châu Á, sở hữu các tập đoàn toàn cầu như Samsung, Hyundai, làm chủ công nghệ cao và có mức thu nhập bình quân đầu người cao gấp 10 lần người Việt Nam. Thật là một cuộc sống “mất gốc” nhạt nhẽo!

Trong khi đó, tại Bắc Triều Tiên: Họ chọn con đường “thiên đường cộng sản” rực rỡ. Tại đây, người dân được tận hưởng sự bình đẳng tuyệt đối trong nghèo nàn và lạc hậu. Họ được giải thoát khỏi gánh nặng của tự do ngôn luận, tự do đi lại và ngay cả tự do… ăn no. Mỗi ngày, họ được đắm mình trong ánh hào quang của vị “Lãnh tụ kính yêu”, người luôn lo lắng cho họ đến mức phải bắn tên lửa ra biển để… dọa cá, trong khi người dân lặng lẽ gặm rễ cây để sinh tồn. Đó mới chính là đỉnh cao của sự “bền vững”!

Sự mỉa mai nằm ở chỗ, cộng sản Bắc Hàn luôn rêu rao về việc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi ách kìm kẹp của đế quốc Mỹ. Nhìn vào sự đối lập này, người ta chỉ biết cười ra nước mắt cho cái định nghĩa “giải phóng” của họ. Nó giống như một người sống trong hang động cầm đuốc muốn “giải phóng” một người đang sống trong căn hộ thông minh có điện lưới quốc gia.

Ẩn Số 30-4 Và Cú Lừa Của Lịch Sử Việt Nam

Nhìn sang Việt Nam, nỗi đau 30-4-1975 lại càng nhói lên sắc lạnh. Chúng ta cũng có một kịch bản tương tự: Cộng sản miền Bắc xua quân “giải phóng” miền Nam khỏi đế quốc Mỹ và chính phủ “bù nhìn”. Sự khác biệt duy nhất là Việt Nam không có một phòng tuyến vĩ tuyến 17 vững chắc như vĩ tuyến 38 của Triều Tiên. Chúng ta đã “thắng” cuộc chiến, để rồi… thua trong hòa bình.

Hậu quả của chiến thắng ấy là gì? Là ngày nay, hàng triệu người Việt Nam phải ngậm ngùi xếp hàng xin visa đi xuất khẩu lao động, làm cu li, làm nô công cho chính người Nam Hàn — những người suýt chút nữa cũng bị “giải phóng” giống như chúng ta. Là những người con gái Việt Nam xinh đẹp phải ngậm đắng nuốt cay sang lấy chồng Nam Hàn, mong đổi đời, mong thoát khỏi cái nghèo đói của “quê hương anh hùng”.

Giả Thuyết Chấn Động: Nếu Bắc Hàn Giải Phóng Nam Hàn Thành Công?

Hãy tưởng tượng một kịch bản chấn động: Nếu năm 1950, quân cộng sản Bắc Hàn đánh đuổi được quân Đồng Minh xuống biển, và ngày hôm nay toàn bộ bán đảo Triều Tiên là một quốc gia cộng sản dưới sự lãnh đạo của gia tộc Kim.

Nếu điều đó xảy ra, lịch sử sẽ được viết lại theo một cách đầy châm biếm:

Lao Động Xuất Khẩu: Sẽ không có chuyện hàng vạn người Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc. Ngược lại, chính người dân Nam Hàn — sau khi được “giải phóng” thành công — sẽ phải xếp hàng nườm nượp tại Đại sứ quán Việt Nam ở Bình Nhưỡng để xin visa đi… xuất khẩu lao động tại Việt Nam. Họ sẽ đến Bình Dương, Đồng Nai để làm công nhân may mặc, giày da với mức lương chết đói, trong khi quê hương họ đang say sưa với các thành tựu… sản xuất máy cày chạy bằng than đá.

Lấy Chồng Nước Ngoài: Sẽ không có những câu chuyện buồn về cô dâu Việt lấy chồng Hàn. Thay vào đó, những chàng trai Việt Nam — nhờ lợi thế kinh tế gấp 10 lần — sẽ là đối tượng săn đón của các cô gái Nam Hàn. Họ sẽ mơ ước được gả về một vùng quê nghèo ở Đồng bằng sông Cửu Long để được… ăn cơm no ba bữa và thoát khỏi sự kiểm soát gắt gao của tổ dân phố tại Seoul.

May Mắn Thay Cho Hàn Quốc, Và Đau Đớn Thay Cho Việt Nam

Sự đối lập giữa Bắc và Nam Triều Tiên là một bản án đanh thép, không thể chối cãi dành cho ý thức hệ cộng sản. Cùng một dân tộc, ý thức hệ tư bản đã tạo nên một kỳ tích, còn ý thức hệ cộng sản đã tạo nên một thảm kịch.

Nhờ sự kiên cường của quân đội Nam Hàn và sự hỗ trợ kịp thời của Đồng Minh, họ đã giữ vững được tiền đồn tự do dân chủ tại vĩ tuyến 38. Nhờ không bị “giải phóng”, họ đã không phải trải qua những năm tháng bao cấp đói nghèo, không phải đi “học tập cải tạo”, và quan trọng nhất là không phải biến thành một quốc gia xuất khẩu nô công như Việt Nam.

Nhìn ngày 30-4, người Việt Nam chỉ có thể cay đắng nhận ra một điều: Chúng ta đã thua một cuộc chiến với quân cộng sản để rồi ngày nay dân tộc ta phải cúi đầu làm chư hầu lao động cho chính những kẻ mà chúng ta từng suýt chút nữa đã… vượt xa về kinh tế. Đó chính là bi kịch lớn nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại, một cú lừa của ý thức hệ mà chúng ta vẫn đang phải trả giá mỗi ngày.


 

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo –  Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo

 Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (Mt 11:29)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Trong bảy mối tội đầu thì

 1)Thứ nhất là khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29).

Trong một thế giới đề cao “cái tôi” và cách sống đầy ích kỷ như ngày nay, sống khiêm nhường là một thách đố lớn. Thế nên, chúng ta lại càng phải cố gắng tập sống khiêm nhường. Càng khó càng phải cố. Hãy bắt chước tác giả Thánh Vịnh mà luôn tự nhủ:

 Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi!

Đường cao vọng, chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu

Hồn con, con vẫn trước sau

Giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. (Tv 131:1-2) 

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chúng con có thể sống khiêm nhường theo đúng Thánh ý của Chúa. 

2-“Hãy học cùng ta vì Ta khiêm nhường” 

Đức khiêm nhường là gì? Thưa là nhân đức nền tảng của đời sống đạo đức. Nhờ khiêm nhường, người môn đệ của Chúa có thể dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa và gặp được Ngài trong cuộc đời của mình. Nhờ khiêm nhường mà chúng ta thấy cuộc đời của mình vui tươi, hạnh phúc.

 Chuyện kể:

 Đầu tháng bảy năm 1870, một phái đoàn người Pháp đến chầu Đức giáo hoàng Piô IX tại Roma. Sau khi trưởng phái đoàn đã đọc bài chào mừng, Đức giáo hoàng đã nói chuyện thân mật với từng người và ai nấy đều xin ơn nọ ơn kia. Nhưng khi nhìn thấy một thanh niên có vẻ khô khan lạnh nhạt, Đức giáo hoàng đã hiền từ hỏi:

– Còn con, con không xin ơn gì sao?

Chàng thanh niên lạnh lùng đáp:

– Thưa không.

Đức giáo hoàng hỏi thêm:

– Cha con còn sống không?

Chàng thanh niên lửng khửng đáp:

– Thưa còn.

Đức giáo hoàng lại hỏi:

– Còn mẹ con thì sao?

Chàng thanh niên chậm chạp lí nhì đáp lại

– Mẹ con chết lâu rồi.

Bấy giờ Đức giáo hoàng cầm tay anh thanh niên mà nói với giọng cảm động rằng:

– Con không xin ơn gì với cha; còn cha, cha xin con một điều, là con hãy cùng cha quì gối xuống đất, đọc một kinh lạy cha, một kinh kính mừng, một kinh sáng danh, cầu nguyện cho mẹ con được lên thiên đàng, và khi được hưởng mặt Chúa. Mẹ con sẽ xin cùng Chúa cho con được sốt sắng giữ đạo để sau này con cũng được lên thiên đàng với mẹ con. Nói xong Đức giáo hoàng quỳ xuống đất, hai tay chắp trước ngực, mắt nhìn lên trời, đọc kinh rất sốt sắng, làm cho chàng thanh niên phát cảm động phải khóc nức nở. 

Đức Giáo Hoàng quì xuống trước mặt mọi người. Ngài có làm gì lạ lùng không. Không. Ngài chỉ cùng đọc với mọi người những lời kinh đơn sơ nhất”.

Chúng ta hãy nhìn vào đó mà bắt chước để cuộc sống của mỗi người chúng ta xứng đáng với Chúa hơn. Amen.

 3-Kiêu ngạo là gì? 5 dấu hiệu giúp bạn nhận biết người kiêu ngạo.

 Kiêu ngạo khác với khiêm nhường vì người kiêu ngạo:

 a)Luôn khẳng định mình đúng

Kiêu ngạo là gì? Một dấu hiệu dễ thấy nhất của sự kiêu ngạo đó là luôn cho rằng mình đúng trong mọi trường hợp bất kể đúng sai và chẳng bao giờ tiếp thu lời khuyên, ý kiến của người khác.

 b)Luôn xem mình là trung tâm

Những người kiêu ngạo luôn cho rằng bản thân mình là trung tâm của mọi người. Khi người kiêu ngạo đạt được một thành công nào đó, họ thích khoe khoang về những thành công của mình hơn là cảm ơn sự giúp đỡ của người khác. 

c)Luôn coi thường những người xung quanh

Tính kiêu ngạo sẽ làm bạn luôn coi thường những người xung quanh. Họ luôn cho rằng mình giỏi hơn người khác. Họ thường xem thường đồng nghiệp và có thái độ khó chịu, chê bai người xung quanh. 

d)Không biết lắng nghe

Những người kiêu căng sẽ không bao giờ dành thời gian để lắng nghe và chia sẻ với những người xung quanh. 

e)Không muốn nhận lỗi và thay đổi

Đây là một điều tồi tệ mà những người kiêu căng thường mắc phải. Nhận lỗi và thay đổi là một việc làm rất khó khăn đối với họ. Họ là người luôn đỗ lỗi cho người khác. 

Kiểu người này có cái tôi rất cao, vì thế họ sẽ không bao giờ chấp nhận được việc bị người khác phê bình và dùng mọi lý lẽ để biện hộ cho những sai lầm và rắc rối mà mình đã gây ra. 

Thái độ kiêu ngạo làm cho mọi người sẽ dần dần xa lánh họ, họ sẽ là người rất cô đơn vì không có ai là bạn, không có ai dám tiếp xúc, nói chuyện với họ. 

4-Nguyên nhân kiêu ngạo.

 Thông thường những ai nếu thành công đôi chút như làm ăn khá giả, trả hết nợ nầng xe cộ, nhà cửa, có mức sống cao, dễ bắt đầu sự kiêu ngạo. Chỉ một mình ta là người giỏi hơn hết mọi người khác. Nếu có ai chạm tự ái họ, họ sẽ nỗi “khùng” lên, nặng lời, mắng chửi người khác không còn nể mặt, e dè. 

Bản chất kiêu ngạo của con người là do tổ tiên chúng ta, ông Adam và Eve truyền lại, đã không tuân lệnh Thiên Chúa, đã ăn trái cấm ở vườn điạ đàng, cũng như xây tháp Ba-ben để lên tận trời cao. 

Nếu con người không học tập, suy nghiệm, cầu nguyện, nhờ ơn trên giúp sức khó từ bỏ được tính kiêu ngạo.

 5-Hiện tượng kiêu ngạo: 

*Trong gia đình nếu gặp phải người kiêu ngạo, gia trưởng, bắt mọi người trong gia đình phải làm theo ý mình, không được trái ý, thì vợ con sẽ sống rất khổ sở vì không được tự do. Người kiêu ngạo thường hay lãi nhãi, la lối, cự nự, nếu có ai trong gia đình làm trái ý mình; đôi khi dùng cả bạo lực để khống chế người khác. Do đó, họ thường chịu cảnh cô đơn, hiu quạnh, vì không ai muốn nói chuyện, đến gần. 

* Anh Nguyễn luôn chỉ trích người khác, người nào càng nổi tiếng trong cộng đồng là thế nào anh cũng chỉ trích nói xấu. 

Một lần tôi nói: “Anh A. siêng năng, viết sách hay, súc tích”.

Anh Nguyễn trả lời liền: “Cái thằng A. lăng xăng, lúc nào cũng vội vã. Có gì mà hay đâu”.

 Tôi nói: “Anh H. chịu khó sinh hoạt nổi tiếng trong cộng đồng”.

Anh Nguyễn trả lời ngay: “Cái thằng bợ đỡ, mặt mập, bịnh hậu…” 

Khi nhắc đến bất cứ ai thì anh Nguyễn cũng có câu nói dè biểu, chê bai, nói ra ngay những khuyết điểm của người đó. Đó là cái tật của anh Nguyễn.

 *Anh Trần đã có nhà. Có hai chiếc xe. Nên anh rất tự cao tự đại. Anh cho mình hơn người, không ai bằng anh. Anh có nghề nghiệp vững chắc, có tiền. Anh chỉ chiếc xe BMW và nói với tôi dẫn tôi đến bên xe của anh và nói: “Chú xem xe mới đẹp không? mới mua đó.”

 Anh chồng lúc nào cũng cho rằng mình đúng, vợ không được cãi. “Tao là nhất nhà rồi vì tao có tiền, tao có xe, tao có nhà đã trả hết, tao qua Mỹ chỉ cần 30 năm, tao đã thành công”.

 *Trong môt quốc gia nếu nhà cầm quyền kiêu ngạo, quá khích, khư khư giữ quan điểm của mình, không biết lắng nghe người khác. 

Hậu quả của “kiêu ngạo cộng sản” là sau khi chiếm được miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975, cộng sản Việt Nam đã cắt đứt liên lạc ngoại giao với các nước Tây Phương, áp dụng chính sách tự cung tự cấp, chỉ dựa vào sự viện trợ của Liên sô mà thôi.

 Trong nước, cộng sản đã tịch thu tài sản của các nhà tư bản miền Nam, đầy họ đi vùng kinh tế mới, thành lập các hợp tác xã, đã làm cho toàn thể đất nước Việt Nam đi vào con đường đói kém, sản xuất ngưng trệ, kinh tế suy sụp, xã hội hỗn loạn. Nếu không có thay đổi từ năm 1986 trở về nền kinh tế tự do, (mà miền Nam đã áp dụng từ lâu), thì tình trạng đói kém, rối loạn xã hội không biết sẽ xảy ra như thế nào nữa. Nền kinh tế đang phát triển bị đẩy lùi hàng chục năm cho đến ngày nay (2020) vẫn còn thua kém so với các nước Đông Nam Á khác. Cũng vì kiêu ngạo không thèm thấy cái hay của Việt Nam Cộng Hòa đem ra áp dụng, mà phá bỏ tất cả, hậu quả giáo dục chậm tiến, văn hóa xã hội suy đồi, chính trị độc quyền, độc tài, không tôn trọng ý kiến khác biệt, nhân quyền không có. 

Kết: Bịnh kiêu ngạo làm cho gia đình rối loạn, nghi kỵ lẫn nhau, ganh ghét nhau, xung đột nhau, không có hạnh phúc, bình an. 

Bịnh kiêu ngạo làm cho nhà cầm quyền tưởng mình là “thánh”, là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, không bao giờ chấp nhận sai lầm, khiến cho toàn thể dân tộc chịu điêu đứng vì quyết định sai lầm của mình. Ai dám nói ngược với ý của nhà cầm quyền thì bị chụp mũ phản động, “thế lực thù địch”, tìm cách bỏ tù dài hạn. 

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

Ngày 29- 06-2020