Duyên Kỳ Ngộ – Bài viết của Đặng Thái Sơn

Duyên Kỳ Ngộ

(Giữa thầy Phùng Văn Phụng và học trò Đặng Thái Sơn, K’75)

Bài viết của Đặng Thái Sơn

Lời phi lộ:

Lời phi lộ: Tình cờ đọc Bản Tin của Cựu Học sinh Trường Lương Văn Can số 19, Xuân Mậu Tuất, năm 2018, thấy bài viết “Duyên Kỳ Ngộ” của Đặng Thái Sơn.
Nhớ lại lúc về từ trại cải tạo đầu năm 1983, không có nghề gì để sống, đành phải đi bán vé số. Đến nhà người bạn thầu vé số, nhận 200 tờ, sáng sớm, đi qua quận 5 hy vọng sẽ không gặp người quen nhất là học trò cũ vì vốn mắc cở. Đi thật xa khỏi quận 8, vừa cầm xấp vé số ra bán thì gặp ngay Đặng Thái Sơn.

\Chuyện được kể như dưới đây.

 Phùng Văn Phụng

Cách nay khoảng trên 30 năm, thường ngày, tôi và một số anh em hành nghề phu xích lô, cứ mỗi sáng gặp nhau uống cà phê ở một quán vĩa hè bên quận 5. Xong chầu cà phê thì anh em tản lạc, rong ruổi khắp nẻo đường để kiếm cơm.

Vào một buổi sáng nọ, đang ngồi uống cà phê, tôi thấy một người quen quen từ xa đi tới, trong lòng ngạc nhiên, chẳng lẽ thầy Phụng đây sao? Định thần nhìn kỹ, đúng là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn công dân ở trường mình. Thầy đến trước mặt tôi, tay thọc vào túi quần móc ra xấp vé số, mời mua. Tôi bối rối, nhưng không dám gọi bằng thầy, sợ thầy ái ngại! Tôi nói lớn:“ Người bán vé số với dân đạp xích lô là anh em nhau cả, xin mời uống ly cà phê. Là dân lao động mời thật tình đừng ngại nha!…”

Thầy ngồi vào bàn, tôi mời thầy ly cà phê sữa nóng, cố ý để thầy tự nhiên. Sau vài ngụm cà phê, tôi nói: “Dạ thưa, thầy là thầy Phùng Văn Phụng, dạy môn Công dân, em là học trò của thầy đây. Em học chung lớp với Phùng Hoàng Kiệt, em của thầy…”

Lúc này thầy tỏ ra bối rối, ngại ngùng…Tôi nói lớn với anh em phu xe xích lô: “Đây là thầy dạy học của tôi, bây giờ bán vé số. Mời các anh em mua ủng hộ thầy tôi vài tờ cho vui!…” Thế là ai nấy xúm lại mua ủng hộ giúp thầy.

Sau này tôi có gặp bạn Trần Minh Tùng, học cùng lớp kể cho Tùng nghe. Tùng hiểu chuyện vì Tùng với thầy Phụng khá thân nhau. Tùng nói rằng thầy Phụng sau khi đi “học tập cải tạo” về, không có việc làm nên đi bán vé số. Mà phải bán ở địa phương khác, không dám bán ở quận 8, sợ gặp học trò cũ hoặc người quen ngại lắm.

Thời gian sau, tôi chuyển qua bán cà phê ở trước nhà trên đường Phạm Thế Hiển, hằng ngày lại thấy thầy Phụng đèo hai thùng nước ngọt trên chiếc xe đạp đi giao hàng tận nơi cho khách.

Rồi thầy định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình HO.

***

Lần đầu thầy về Việt Nam, tổ chức họp mặt giao lưu ở nhà hàng 241, gặp gỡ lại thầy cô và học trò năm xưa, trong đó có tôi. Đến lượt tôi kể thầy nghe giai đoạn bán vé số… Thầy đứng lên tỏ ra vui mừng khôn tả.!

–          Nhớ rồi, nhớ rồi!…

–          Thầy nói, chụp hình, chụp hình…

–          Thầy trò ôm nhau, mừng cuộc hạnh ngộ mà thầy cũng không ngờ trước! Thế là bao nhiêu ánh đèn loé sáng, ghi dấu kỷ niệm tình thầy trò. Rồi thầy hỏi thăm về cuộc sống của tôi, của bạn bè “phu xích lô” ngày xưa.

      

Trong buổi tiệc vui, thầy nói, nếu bây giờ đi bán vé số trở lại, vẫn dám làm, không ngại ngùng gì nữa, mà càng vui hơn…

Xin nói thêm rằng trước kia tôi cũng như thầy, làm phu xích lô hay bán vé số thì mắc cở lắm, sợ gặp người quen, bạn cũ. Đôi lúc thấy bạn hay người quen từ xa, vội kéo nón xuống tận mi mắt, cúi gầm mặt, để không ai phát hiện ra mình.!

Bây giờ nhìn lại mới thấy mọi việc cũng bình thường. Đôi lúc đạp xích lô rong ruổi trên từng nẻo đường, gặp lại bạn cũ mừng lắm vì lâu ngày không gặp rồi vào quán uống cà phê, hỏi thăm nhau.

– Có gặp thầy cô, bạn học cũ không mậy?

      Nhắc lại chuyện xưa, bây giờ mới kể, để cảm ơn người và tạ ơn Trời đã cho qua đi cái thời cơ cực và được tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Đặng Thái Sơn

Bài này đăng trong Bản Tin số 19, Xuận Mậu Tuất 2018 của Cựu Học Sinh Trường Lương Văn Can, Quận 8, Sài gòn.


 

TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN. – Cang Huynh

Cang Huynh

TIẾNG VỌNG CỦA THỜI GIAN.

*Normandy, Pháp. 1944 bị quân Nazi Đức chiếm đóng. Phong trào Kháng chiến Pháp hiện diện khắp nơi. Những kẻ cộng tác bị xử bắn, những kẻ phản bội bị treo cổ. Tình yêu là thứ xa xỉ. Tình yêu với kẻ thù là án tử.

Một phụ nữ Pháp 19 tuổi tên là Colette L. làm việc trong một tiệm bánh mì. Mỗi sáng, cô ấy đi bộ qua một trạm kiểm soát Đức. Mỗi sáng, một người lính Đức 22 tuổi tên Hans W. nhìn cô ấy vượt qua. Mỗi sáng, đôi mắt của họ chạm nhau. Trong một giây. Sau đó họ nhìn đi chỗ khác.

Trong 6 tháng, họ đã không nói chuyện. Nó quá nguy hiểm. Anh ta là kẻ thù. Cô ấy là người bị chiếm đóng. Một cuộc trò chuyện duy nhất có thể khiến cả hai bị giết.

Rồi một ngày nào đó, Colette làm rơi cái giỏ của cô ấy. Hans đã nhặt nó lên. Ngón tay của họ chạm vào nhau. Colette thì thầm: “Merci”. “Hans thì thầm: “không có gì”. Đó là tất cả. Thế là đủ rồi. Vì gia đình anh ta sống gần biên giới Pháp – Đức nên anh nói được một ít tiếng Pháp.

Họ bắt đầu để lại những lá thư. Trong giỏ. Dưới một tảng đá. Trong một vết nứt trên tường tiệm bánh. Những dòng chữ đơn giản. “Anh đã thấy em hôm nay. Em trông thật đẹp”. “Tôi đã đếm từng giờ cho đến ngày mai.” “Bạn có tin vào Chúa không? Bây giờ tôi biết rồi. Bởi vì Ngài đã tạo ra bạn.”

Trong 4 tháng, các lá thư tiếp tục. Họ không bao giờ nói chuyện nữa. Họ không bao giờ chạm vào nhau lần nữa. Họ chỉ viết thôi.

Vào ngày 6 tháng 6 năm 1944 — D-Day — quân đồng minh đã đổ bộ thành công. Người Đức bắt đầu rút lui. Hans được lệnh rời khỏi ngôi làng. Anh ấy đã viết một lời nhắn cuối cùng. Anh ta để nó dưới tảng đá. Thư viết: “Tôi sẽ đi. Anh sẽ không bao giờ quên em. Anh sẽ tìm em sau chiến tranh. Chờ tôi nhé.”

Colette đã tìm thấy lá thư. Cô ấy bỏ nó vào túi. Cô ấy đi nhà thờ. Cô ấy đã cầu nguyện.

Quân Kháng chiến đã tìm thấy lá thư. Họ đã tìm thấy những lá thư khác. Họ đã tìm thấy Colette. Họ buộc tội cô ấy hợp tác. Họ nói: “Cô đã ngủ với kẻ thù. Cô đã cho anh ta thông tin. Cô là kẻ phản bội.”

Colette nói: “Tôi chưa bao giờ ngủ với anh ấy. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với anh ấy. Chúng tôi chỉ viết thư thôi. Chúng tôi chỉ yêu.”

Quân kháng chiến đã không tin cô ấy. Họ đã tổ chức một phiên tòa. Phiên tòa kéo dài 10 phút. Bản phán quyết: có tội. Bản án: cái chết.

Colette đã bị bắn vào ngày 17 tháng 8 năm 1944. Cô ấy mới 20 tuổi. Lời cuối cùng của cô ấy: “Tôi không phải là kẻ phản bội. Tôi là một người phụ nữ yêu một người đàn ông. Chỉ có vậy thôi.”

Hans không biết. Anh ta đang rút lui về phía Đức. Ba tuần sau, anh ta đã bị bắt bởi lực lượng Mỹ. Anh ta đã ở trong trại tù chiến tranh khi nghe tin tức. Anh ấy đã ngừng ăn. Anh ta đã ngừng nói. Anh ta chết vì “suy dinh dưỡng” – nhưng những tù nhân khác nói rằng anh ta chết vì một trái tim tan vỡ. Anh ấy 23 tuổi.

Năm 2019, một đội xây dựng ở Normandy đã phá hủy một bức tường cũ. Họ tìm thấy một cái lỗ trên tường. Bên trong cái lỗ là một cái hộp thiếc. Bên trong hộp có 47 lá thư. Thư của Colette gửi cho Hans. Thư của Hans gửi Colette. Chúng đã được mẹ của Colette giấu trong bức tường, người đã tìm thấy những lá thư sau khi Colette chết và không thể chịu đựng được việc đốt cháy chúng.

Các lá thư hiện đang ở trong một viện bảo tàng ở Caen. Chúng được trưng bày trong hộp thủy tinh. Du khách đọc chúng và khóc.

Câu hỏi mà giám đốc bảo tàng – một người phụ nữ tên là Tiến sĩ Marie-Claire B. — hỏi mỗi vị khách: “Nếu sinh ra ở các quốc gia khác nhau, họ đã kết hôn và sống hạnh phúc. Nhưng họ sinh năm 1944. Vì vậy họ đã chết. Có bao nhiêu người yêu khác đã bị sát hại trong lịch sử, và bao nhiêu lá thư vẫn còn giấu trong tường, đang chờ được tìm thấy?” .

Cang Huỳnh

lược dịch từ Échos du temps. 


 

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Trần Trân

 Đêm chồn dầu vượt biển

Vượt biển do nhà nước tổ chức và những cái chết tang thương

Những ngày qua thế giới đang xót thương cho 39 người xấu số trong một nỗ lực thoát nghèo với một cuộc đào thoát khỏi đất nước nhược tiểu. Thế giới cũng đang dồn sự căm phẫn lên lũ buôn người của đất nước Trung Cộng hiếu chiến. Đọc lại “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, tôi nhớ lại những cái chết tang thương giống như vậy trong cuộc vượt biển do nhà cầm quyền Việt Nam tổ chức dưới cái tên Đi Bán Chính Thức.

Đi Bán Chính Thức hay Phương Án II

Sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Cộng ngày càng tăng cao. Trung Cộng lên án Việt Nam đàn áp Hoa Kiều và muốn đem Hoa Kiều về nước. Trong khi đó, Trung ương Đảng CSVN coi người Hoa là đạo quân thứ V và muốn “tương kế, tựu kế” để trả họ về cố quốc.

Thêm vào đó, chính sách cải tạo công thương nghiệp đã đẩy người Hoa Chợ Lớn đi đến chỗ khánh kiệt và họ quyết định vượt biên thay vì về với Trung Cộng mà với họ không khác gì xuống địa ngục. Người Hoa ra đi ngày càng nhiều, chết trên biển cả rất nhiều, Việt Nam bị thế giới lên án. Để đối phó, Việt Nam tổ chức cho họ ra đi bán chính thức, người CS gọi là Phương Án II, ban đầu xem ra là một chủ trương thiện chí.

Phương án II là kế hoạch tuyệt mật, phổ biến miệng, chỉ có bí thư, chủ tịch và giám đốc CA thành phố HCM biết, sau kế hoạch này được thực hiện ở các tỉnh thành phía Nam. Đó là chủ trương “đưa đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng ở đây là hàng triệu người Hoa chủ yếu sống ở Chợ Lớn. Theo đó, công an thu 8-10 lạng vàng cho một đầu người, rồi dùng tiền để mua tàu hay đóng tàu, tổ chức bến bãi rồi đẩy họ ra biển với cam kết không bắt tàu trong lãnh thổ Việt Nam.

Mặt trái của Phương Án II

Khi những thuyền nhân đã đến các trại tỵ nạn an toàn thì Phương Án II không còn giấu được thế giới. Thủ tướng buộc cho dừng vào tháng 12/1978 rồi phải dời sang tháng 5/1979 do số tàu đã đóng cả trăm chiếc từ vàng thu của các thuyền nhân.

Phương Án II bắt đầu biến tướng. Người Việt với giấy tờ của người Hoa ra đi rất nhiều. Các tỉnh không có bờ biển cũng xin được làm Phương Án II. Thấy Phương Án II ngoài tầm kiểm soát, 20/03/1981 ông Trường Chinh (Chủ tịch nước) đã cho lập Ban Kiểm Tra 69 với mục đích chính là kiểm tra việc thu vàng.

Kết quả điều tra của Ban 69 khác xa với báo cáo của Bộ Nội Vụ cho thấy, Phương Án II đã làm hư hỏng công an CS nhanh chóng. Theo Ban 69, từ tháng 8/78 đến tháng 6/79 có 533 thuyền ra đi mang theo 134.322 người, thu được 16.181 kg vàng (16 tấn!) chưa kể ngoại tệ, nhà cửa được đóng thay cho vàng. Có 105 sĩ quan CA bị kỷ luật. Tất cả các tỉnh đều mắc tội gian lận và lập quỹ đen. Nghiêm trọng nhất phải kể đến tỉnh Minh Hải, giấu 48.195 lượng vàng, Cửu Long giấu 27.000 lượng, Nghĩa Bình giấu 27.000 lượng, Phú Khánh 10.987 lượng…

Công an các tỉnh thu vàng nhưng bội tín làm nhiều người mất cả vàng và cả nhà khi theo đuổi Phương Án II, số người lên đến 18.435 người. Phương Án II chỉ thực sự phá sản khi công an giao cho các thuyền nhân những con tàu không an toàn và nhét vào đó số lượng vượt quá tải trọng của con tàu. Tàu chìm ngay khi vừa rời bến làm hàng trăm người chết. Đắm tàu Cát Lái là một trường hợp tiêu biểu của một kiểu buôn người có giấy phép.

Tang thương Cát Lái

Một ngày thứ Bảy giữa năm 1979, cảng Cát Lái bất thường với hàng trăm công an canh gác nhiều vòng, trong và ngoài cảng. Bên trong, một con tàu dài 30m, rộng 10m, 3 tầng, sáng bóng vẫn còn mùi sơn mới. Tàu này nguyên thủy là một chiếc tàu kéo với khoang chứa đá để giữ thăng bằng được thay bằng khoang chứa nước. Cấu trúc các khoang được thay đổi để chứa được nhiều người nhất có thể được. Máy được thay mới để tăng sức kéo. Người đóng tàu dường như chỉ quan tâm đến khả năng nhét đủ số người chứ không tính toán khoa học về tải trọng của tàu và sự cân bằng khi hoạt động.

Đúng giờ hẹn, đám đông đã nằm suốt đêm tại cảng bắt đầu sốt ruột và tiến về con tàu. Người trưởng tàu bắt loa điểm danh, chỉ chờ như vậy đám đông lũ lượt nhanh chóng tràn xuống tàu. Với khoảng 280 người, con tàu ngay lập tức mất ổn định. Những thuyền nhân ngồi khoang dưới không chịu nổi nóng bức, khó thở đã leo lên trên mui ngồi làm cho con tàu thêm chao đảo. Tất cả những người trên thuyền, kể cả thuyền trưởng do không có kinh nghiệm sông nước, nên bắt đầu hoảng loạn, tìm đường thoát ra khỏi tàu. Con tàu chúi mũi xuống và từ từ cắm sâu vào trong bùn ở đáy sông. Những người ở tầng 1 và 2 không có đường thoát. Tiếng thét gào trên thuyền và tiếng kêu cứu bất lực trên bờ tạo nên một âm thanh thê lương bao trùm một vùng quê yên bình, để rồi thoáng chốc chỉ còn lại những tiếng khóc nấc nho nhỏ của những cư dân sống rải rác trên bờ sông Cát Lái. Hết rồi! Chết hết cả rồi!

Nhà cầm quyền lúc đó đã cho điều hai cần cẩu 60 tấn từ Vũng Tàu vào. Sau hai ngày di chuyển và ba ngày vật lộn, cần cẩu đã kéo con tàu xấu số lên khỏi mặt nước và cũng từ đây người ta biết chính xác có 227 người chết và hơn 40 người trở về từ cõi chết nhưng tất cả như những người mất trí trước thảm kịch gia đình. Xác chết nối tiếp xác chết, dãy hòm gom vội khắp nơi cùng mùi tử thi khiến người ta phải thốt lên: Ai đã đem một Tết Mậu Thân nữa đến với người dân Sài Gòn hiền hòa?

Những người khâm liệm kể rằng trong số xác được vớt lên, người ta thấy có 4 người mẹ ôm chặt con mình trong lòng như những nỗ lực cuối cùng với hy vọng giữ được đứa con thơ để hai mẹ con cùng nhau đoàn tụ ở bên kia thế giới. Trân trọng tình mẫu tử thiêng liêng, những người khâm liệm đã để cho hai mẹ con yên nghĩ cùng nhau trong một cỗ quan tài khô lạnh. Tất cả những người xấu số đã được an táng tại một khu đất cách cầu Giồng Ông Tố 500m.

Phương Án II không chỉ có một Cát Lái bi thảm. Theo báo cáo của Ban 69, chỉ trong vòng 1 năm có 9 tàu chìm làm chết 902 người khi những con tàu này chưa ra khỏi phao số 0. Thử điểm lại vài trường hợp đau lòng: Bến Tre có 1 tàu chìm với 54 người chết, Long An có 1 tàu chìm với người 38 chết, Nghĩa Bình 1 tàu chìm với 78 người chết nhưng khủng khiếp nhất là Tiền Giang có 3 tàu chìm với 504 người chết.

Những sự kiện của hơn 40 năm về trước đã dự báo chính xác một bức tranh đen tối cho một Việt Nam ngày nay.

Trích Bên Thắng Cuộc

-Huy Đức


 

NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA…

Bang Uong

Luong Vu

 NHÀ VUA ANH CÔNG KHAI NHẮC NHỞ CÁC NGHỊ SỸ ĐẢNG CỘNG HÒA..

Vua Charles công khai “chỉnh đốn” các Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa bằng cách nhắc nhở họ về bổn phận thực thi cơ chế kiểm soát và cân bằng quyền lực đối với ông Trump – ngay trước mặt họ – trong bài phát biểu mang tính lịch sử trước Quốc hội!

Trong bài phát biểu trước phiên họp chung của Quốc hội, Vua Charles III đã nhấn mạnh những cội rễ lịch sử sâu sắc gắn kết nền dân chủ Anh và Mỹ; ông lưu ý rằng Magna Carta – văn kiện cổ xưa có chức năng giới hạn quyền lực hoàng gia – đã được viện dẫn trong ít nhất 160 vụ án tại Tòa án Tối cao kể từ năm 1789.

Ông chỉ ra rằng Magna Carta, ra đời từ năm 1215, chính là nền tảng cho nguyên tắc khẳng định: quyền hành pháp phải có giới hạn, người dân được hưởng các quyền lợi, và nguyên thủ quốc gia cũng phải tuân thủ pháp luật.

Câu nói này đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt từ các nhà lập pháp, khiến tất cả phải đứng dậy vỗ tay tán thưởng.

Thông điệp được gửi gắm là vô cùng rõ ràng: không một ai – ngay cả một vị vua, và chắc chắn là cả một vị tổng thống – được phép đứng trên pháp luật hay Hiến pháp.

Trong bối cảnh ông Donald Trump liên tục thách thức các giới hạn của quyền hành pháp và công kích những thể chế vốn được thiết lập để kiểm soát quyền lực của ông, lời nhắc nhở từ Vua Charles càng trở nên đầy trọng lượng và ý nghĩa.

Đó là một sự tương phản đầy mạnh mẽ: trong khi ông Trump liên tục công kích các thẩm phán, giới truyền thông và bất kỳ ai dám tìm cách kiềm chế ông, thì vị quân vương nước Anh lại đứng trước Quốc hội để tôn vinh chính những giá trị cốt lõi của trách nhiệm giải trình và một chính quyền có giới hạn quyền lực. Dân chủ – một giá trị mà ngay cả một vị vua thực thụ cũng biết trân trọng.

Nếu bạn tán đồng lời nhắc nhở đầy tinh tế nhưng cũng vô cùng dứt khoát của Vua Charles về việc không ai được đứng trên pháp luật, xin hãy nhấn “Thích” và chia sẻ bài viết này.


 

MẤT TÔI – ĐƯỢC TÔI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em!”.

“Cho tôi một trăm người yêu mến Thiên Chúa hết lòng và không sợ gì ngoài tội lỗi, tôi sẽ đem cả thế giới về cho Chúa Kitô!” – John Wesley.

Kính thưa Anh Chị em,

Để đem cả thế giới về cho Chúa Kitô, con người trước hết phải biết quên mình. Lời Chúa hôm nay hé mở một nghịch lý lạ lùng: chính lúc ‘mất tôi’, chúng ta lại ‘được tôi’ cách sâu xa nhất. Chỉ lúc đó, chúng ta mới thật sự biết yêu như Ngài yêu và có sức biến đổi lòng người.

Nếu áp dụng lời Chúa Giêsu hôm nay, một câu hỏi có thể nảy sinh: vậy tình yêu có thể truyền dạy được sao? Đức Bênêđictô XVI giải thích: Thiên Chúa không đòi một cảm xúc mà chúng ta không thể tạo ra. Tình yêu Kitô giáo không chỉ là cảm xúc, nhưng còn là chọn lựa của ý chí. Chính khi ý chí con người dần trùng khớp với ý chí Chúa Kitô, chúng ta mới bắt đầu biết yêu như Ngài yêu; và cũng chính lúc đó, chúng ta bắt đầu ‘mất tôi – được tôi’. “Con người không thể gặp lại chính mình cách trọn vẹn nếu không chân thành hiến trao chính mình!” – Gioan Phaolô II.

Vì thế, giới răn yêu thương của Gioan không còn là chuyện “thích hay không thích”, nhưng là để con tim được biến đổi. Khi yêu như Chúa Kitô yêu, con người không đánh mất tự do; trái lại, tự do đạt tới sự viên mãn, vì ý muốn của chúng ta bắt đầu cùng nhịp với ý muốn của Thiên Chúa. Và một khi không còn bị cái tôi khép kín điều khiển, chúng ta mới có thể yêu mà không tính toán, không phân biệt và không sợ mất mát. Chính vì thế, một trăm con người yêu mến Thiên Chúa hết lòng và không sợ gì ngoài tội lỗi có thể biến đổi cả thế giới. Khi không còn sống cho chính mình nữa, tình yêu của họ bắt đầu tạo nên một khác biệt. Và cũng chính lúc ‘mất tôi’, họ lại ‘được tôi’ cách sâu xa nhất.

Đó cũng là điều đã xảy ra với Hội Thánh sơ khai. Các tông đồ và kỳ mục đã dám “mất” đi những bảo đảm quen thuộc để đón nhận những anh em dân ngoại vào cùng một đức tin. Họ không đặt thêm gánh nặng nào khác ngoài “những điều cần thiết” – bài đọc một. Đó là dấu của một cộng đoàn không còn sống theo ý riêng, nhưng theo ý muốn của Chúa Thánh Thần. Và chính khi dám ‘mất tôi’, Hội Thánh sơ khai lại ‘được tôi’, để rồi có thể reo lên: “Lạy Thiên Chúa, trước mặt chư dân, con dâng lời cảm tạ!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã sống nghịch lý ấy cách trọn vẹn nhất. Trên thập giá, Ngài đã “mất” tất cả: bị khước từ, bị trao nộp và hiến dâng đến giọt máu cuối cùng; một cuộc kenosis – tự huỷ hoàn toàn vì yêu. Nhưng cũng chính lúc mất đến tận cùng, Ngài lại được tôn vinh; vì thập giá trở thành vinh quang, phục sinh trở thành khải hoàn và muôn dân trở thành gia nghiệp. Bởi thế, ai dám mất mình trong tình yêu của Đức Kitô sẽ không đánh mất cuộc đời, nhưng gặp lại chính mình trong Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết ‘mất tôi’ để ‘được tôi’; dám yêu mà không tính toán; dám hiến trao mà không giữ lại chính mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần V Phục Sinh

Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 15,12-17

12 Khi ấy, đến giờ lìa bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. 14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. 15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

16 “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. 17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”


 

Ngẫm Nghĩ về Cuộc Đời

Ngẫm Nghĩ về Cuộc Đời

 Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn. Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc… Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm… Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học… Và… người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm. Đừng hứa khi đang… vui! Đừng trả lời khi đang nóng giận! Đừng quyết đinh khi đang… buồn! Đừng cười khi người khác… không vui! Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ. Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe.

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi. Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta. Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người). Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức. (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t… ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm!) Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu.

Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám. Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu. Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng. Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.  

Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa.

Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)? Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi. Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng. Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ…

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn… Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày. Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”. Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết.

Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ. Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe. Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn Bạn bè nữa… họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình…

Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

Sưu Tầm

LÝ QUANG DIỆU…

8 SÀI GÒN 

LÝ QUANG DIỆU…

Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu)  biến đảo cá đầm lầy thành nền kinh tế thứ nhất ASEAN trong 31 năm

Lee Kuan Yew (李光耀, 1923-2015) sinh ngày 16/9/1923 tại Singapore, gia đình gốc Khách Gia (Hakka) từ tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Cha là người buôn bán nhỏ, gia đình thường xuyên thiếu tiền.

Lee học Raffles Institution xuất sắc, nhận học bổng Cambridge học Luật năm 1946 sau Thế Chiến II. Tốt nghiệp double first class honours  danh hiệu cao nhất Cambridge.

### Singapore trước Lee  đảo cá đầm lầy

1959, khi Lee 35 tuổi nhận chức Thủ tướng đầu tiên của Singapore dưới quyền tự trị Anh:

* Singapore là thuộc địa Anh với 1.6 triệu dân, chia 4 dân tộc thù ghét nhau (Hoa, Mã, Ấn, Anh)

* Diện tích chỉ 581 km²  không tài nguyên, không nông sản, không ngay cả nước uống (phải mua từ Malaysia)

* Tỉ lệ thất nghiệp 20%, GDP đầu người 400 USD/năm (gần Việt Nam thời đó)

* 80% dân sống trong nhà ổ chuột ven sông

* Nội chiến giữa các nhóm Cộng sản và phe ủng hộ Anh

### 1965  bị “đuổi” khỏi Liên bang Mã Lai

Năm 1963, Singapore gia nhập Liên bang Mã Lai với hy vọng kinh tế. Nhưng Thủ tướng Tunku Abdul Rahman không chịu nổi:

* Kinh tế Singapore (đa số người Hoa) vượt kinh tế Mã Lai (đa số Hồi giáo)

* Lee Kuan Yew công khai phê bình chính sách đặc quyền cho người Mã

9/8/1965, Tunku ra đơn phương quyết định: tống Singapore ra khỏi Liên bang. Singapore trở thành QUỐC GIA ĐỘC LẬP  không tự nguyện.

Lee Kuan Yew ra TV truyền hình quốc gia, khóc trên TV  lần duy nhất trong đời:

> “Đối với tôi, đây là khoảnh khắc đau khổ. Cả đời tôi tin tưởng việc Mã Lai và Singapore là một… Bây giờ chúng ta phải đi một mình.”

Singapore một mình, không quân đội, không nước, không tài nguyên. Cả thế giới dự đoán: trong 5 năm sẽ rơi vào tay Cộng sản hoặc bị Indonesia/Malaysia nuốt.

### 31 năm cải cách thần kỳ

1959-1990, Lee làm Thủ tướng 31 NĂM liên tục  kỷ lục dài nhất của một thủ tướng dân chủ trong thời hiện đại.

Chiến lược “First-World Oasis”:

  1. Chống tham nhũng tuyệt đối: Lee thành lập CPIB (Cơ quan Điều tra Tham nhũng) năm 1952, không chừa ai. Ông xử bộ trưởng Bộ Phát triển nội thành Wee Toon Boon đi tù 4 năm vì nhận quà bằng nhà. Singapore từ tham nhũng cao nhất ASEAN trở thành #5 trong sạch nhất thế giới (2024).
  2. Nhà ở công cộng: chương trình HDB (Housing Development Board)  xây căn hộ giá rẻ cho dân nghèo. 80% dân Singapore ngày nay sống trong HDB, sở hữu nhà.
  3. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính: vượt qua phản đối từ phe người Hoa, Lee áp đặt tiếng Anh làm ngôn ngữ giáo dục. Ông tin: tiếng Anh là chìa khóa vào kinh tế toàn cầu.
  4. Mời các tập đoàn đa quốc gia: Singapore giảm thuế + xây khu công nghiệp Jurong + đảm bảo không đình công. Texas Instruments, Hewlett-Packard, ExxonMobil đặt trụ sở khu vực ở Singapore.
  5. Cảnh sát dùng roi mây: hình phạt thân thể nghiêm khắc cho tội nhỏ  vẽ bậy xử 3 roi + tù. Singapore an toàn nhất thế giới.

### Kết quả 1990  “From Third World to First”

Khi Lee từ chức năm 1990 (vẫn giữ chức Bộ trưởng Cao cấp đến 2011):

* GDP đầu người: 400 USD → 12.000 USD (tăng 30 lần)

* Hiện 2024: GDP đầu người 84.000 USD/năm  #7 thế giới, vượt Mỹ

* Sân bay Changi xếp hạng #1 thế giới mỗi năm (Skytrax)

* Cảng Singapore = cảng container lớn thứ 2 thế giới

* Tuổi thọ trung bình: 84 tuổi (cao thứ 4 thế giới)

H

* 0 người vô gia cư chính thức

Cuốn sách của ông “From Third World to First” (2000) bán hàng triệu bản, trở thành sách giáo khoa cho lãnh đạo Đông Nam Á.

### Lee Kuan Yew nói về Việt Nam

Ông nhiều lần khen ngợi và phê bình Việt Nam. Năm 2007: “Việt Nam có tiềm năng lớn. Nhưng tham nhũng + bộ máy chậm chạp đang cản trở. Nếu Việt Nam giải quyết được, sẽ vượt Singapore trong 1 thế hệ.”

### Cái ch*t

23/3/2015, Lee Kuan Yew qua đời ở 91 tuổi vì viêm phổi. 1.4 triệu người Singapore đứng đường viếng tang lễ  40% dân số.

Tang lễ Tổng thống Mỹ Obama đến viếng. Trên thế giới, ông được coi là kiến trúc sư của một quốc gia mà Henry Kissinger viết: “Không ai khác trong thế kỷ 20 đã tạo ra một quốc gia từ con số không như Lee Kuan Yew.”

Singapore  đảo nhỏ không tài nguyên  giờ là gia đình của 6 triệu người giàu, vì 1 người đàn ông tin rằng không có lý do gì để chấp nhận thua kém.

HALAB CREATIVE


 

Các mối phúc là những mối nào?-Cha Vương

Một ngày tràn đầy hạnh phúc trong Chúa, trong mọi hoàn cảnh nhé. Nhớ nhau trong lời nguyền cầu và cả thế giới nhé

Cha Vương

Thứ 2: 4/5/2026.       (n6-24)

GIÁO LÝ: Các mối phúc là những mối nào? Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ. Phúc cho ai sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho ai hiền lành, vì họ sẽ được đất làm gia nghiệp. Phúc cho ai đói khát sự công chính, vì họ sẽ được thoả lòng. Phúc cho ai xót thương, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho ai có tâm hồn trong trắng, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Phúc cho ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế (Mt 5, 3-12). Tại sao các mối phúc lại quan trọng? Những người mong mỏi Nước Trời phải tìm đến bảng liệt kê những ưu tiên trên của Chúa Giêsu thì sẽ biết. (YouCat, số 283 & 284)

SUY NIỆM: Từ Abraham, Thiên Chúa đã hứa với dân Người. Chúa Giêsu đã lặp lại, cho lời hứa một giá trị vĩnh cửu và coi đó là chương trình của Người: Con Thiên Chúa làm người nghèo để chia sẻ sự nghèo khó của ta, Người vui với những kẻ vui, khóc với những kẻ khóc (Rm 12,16); Người không cần đến bạo lực, trái lại, Người giơ má bên kia (Mt 5,39); Người thương xót, tạo nên hòa bình, và chỉ cho thấy con đường chắc chắn dẫn đưa về trời. (YouCat, số 283, 284 t.t.)

❦ Muốn tất cả những gì Chúa muốn, và muốn như thế luôn luôn trong mọi hoàn cảnh và không ngập ngừng, đó là Nước Trời đang ở trong ta vậy. (François Fénelon)

LẮNG NGHE: Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. (Rm 12:12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, tim con đang lấp đầy những ham muốn vật chất, những ích kỷ nhỏ nhen, những hận thù ghen ghét, xin Chúa hãy đến và đổi mới tim con bằng lòng khiêm nhường nghèo khó, bằng lòng bác ái vị tha và một tình yêu chân thật để con được sống hạnh phúc sung mãn tràn đầy trong Chúa.

THỰC HÀNH: Cố gắng sống một mối phúc thật hôm nay nhé.

From: Do Dzung

*******************************************

Tám Mối Phúc Thật – Nguyễn Hồng Ân | Sáng tác Lm. Gió Xuân

 NGẪM… Từ 1865 Đến 1975

Xuyên Sơn

 NGẪM…

(Từ 1865 Đến 1975:)

Tấm hình bên trên là cảnh các sĩ quan và binh sĩ của miền Bắc, bên thắng cuộc, chào tạm biệt tướng Lee của miền Nam, sau khi ông ký văn bản đầu hàng tại Appromax Court House.  Hình ảnh của vị tướng miền Nam nhìn vẫn hiên ngang tuy là người thất thế.  Tất cả là vì ông và đoàn quân thất trận vẫn được đối xử một cách đầy tôn trọng.

Nước Mỹ còn rất “trẻ”, chưa đủ tuổi để được gọi với cái tên mỹ miều

“ngàn năm…”.

Nhưng cách mà người Mỹ đối xử với nhau thời nội chiến nói lên rằng

“tuổi tác” của một quốc gia không quan trọng. 

Quan trọng là quốc gia đó được xây dựng trên nền tảng nào, cùng cách hành xử của con người ở quốc gia đó. Nội chiến Hoa Kỳ đã kết thúc cách đây 157 năm, nhưng cách bên thắng cuộc đối xử với bên thua cuộc sau chiến tranh cho thấy thời đó người Mỹ đã văn minh dường nào.

Còn ở một nơi khác, chiến tranh kết thúc chưa được 50 năm, nhưng cách bên thắng thế đối đãi với bên thất thế lại khiến tôi nghĩ cuộc chiến đó dường như đã xảy ra cách đây hơn ngàn năm.  Hành động nói lên tất cả.

Thay vì hành động theo cách của bậc quân tử thì họ lại dùng những lời sáo rỗng dối trá để tô vẽ tuyên truyền.

Tệ hơn nữa là nói một đường làm một nẻo.

Văn minh và KHÔNG văn minh, quân tử và KHÔNG quân tử, khác nhau xa quá!

Nguồn fb Bich Lieu Nguyen


 

THỨ GÌ THẬT SỰ LÀ CỦA CHÚNG TA?

  1. Ngày sinh – do người khác quyết định.
  2.  Tên gọi – do người khác đặt.
    3. Thu nhập – do người khác trả.
    4. Sự tôn trọng – do người khác dành cho.
    5. Lần tắm đầu tiên và cuối cùng – đều do người khác lo.
    6. Tài sản – rồi cũng để lại cho người khác.
    7. Tang lễ – người khác tổ chức.

Có một ngày nào đó, bạn thử ngồi xuống thật yên… và nhìn lại đời mình như: xem lại một thước phim.

Bạn sẽ thấy:

Mình sinh ra trong tiếng khóc, nhưng nụ cười đầu tiên lại là của người khác.

Mình lớn lên bằng cơm người nấu, áo người may, lời người dạy.

Đi làm, cũng là để đổi thời gian và sức lực lấy đồng tiền do người khác trả.

Ngay cả lúc mệt mỏi, yếu lòng… cũng chỉ mong có một ai đó hiểu mình.

Vậy mà lạ… ta vẫn cứ nghĩ mình “quan trọng lắm”.

Ta giận ai đó chỉ vì một câu nói.

Ta buồn cả ngày chỉ vì không được công nhận.

Ta hơn thua chỉ vì một chút sĩ diện.

Nhưng rồi bạn thử hỏi lại mình: Những điều đó… có thật sự đáng không?

Có những người từng rất quan trọng trong đời ta, mà giờ đây… cũng chỉ còn là một cái tên trong danh bạ không bao giờ gọi.

Có những thứ ta từng cố chấp giữ lấy, đến lúc mất đi rồi mới thấy… hóa ra cũng không làm mình chết được.

Cuộc đời này vốn dĩ rất đời thường.

Sáng thức dậy, có việc để làm. Tối trở về, có người để nhớ. Đã là một loại hạnh phúc rồi.

Nhưng con người lại hay tự làm khó mình.

Thay vì ăn một bữa cơm cho ngon, ta vừa ăn vừa nghĩ ai đó đang đánh giá mình ra sao.

Thay vì ngủ một giấc cho yên, ta lại ôm theo những chuyện không đáng… để rồi mệt mỏi.

Có khi hạnh phúc không nằm ở chỗ có thêm, mà nằm ở chỗ bớt lại.

Bớt so sánh.

Bớt hơn thua.

Bớt cái “tôi” lúc nào cũng muốn đúng.

Bạn biết không…Người ta nhớ về nhau, chưa bao giờ vì bạn giàu bao nhiêu, mà vì lúc họ cần… bạn đã đối xử với họ như thế nào.

Một lời nói nhẹ nhàng lúc người khác đang mệt, có khi đáng giá hơn cả một món quà lớn.

Một lần bạn chịu nhường, chịu im lặng, không phải vì bạn yếu…mà vì bạn đủ hiểu để không làm tổn thương thêm.

Đến cuối cùng, khi nhắm mắt lại, không ai mang theo được tiền bạc hay danh tiếng.

Chỉ có hai thứ còn lại: những người từng thật lòng thương mình…và cảm giác bình yên hay dằn vặt trong chính lòng mình.

Nên nếu hôm nay còn có thể, hãy sống chậm lại một chút

.Nói với ba mẹ một câu dịu dàng hơn.

Nhìn người bên cạnh bằng ánh mắt bao dung hơn.

Và với chính mình… cũng đừng khắt khe quá.

Đời này ngắn lắm. Ngắn đến mức nhiều khi chưa kịp hiểu nhau… đã lạc mất nhau rồi. Vậy mà con người vẫn sống với cái tôi quá lớn.

Hãy sống đơn giản hơn.

Yêu thương nhiê`u hơn.

Và bình yên với nhau hơn

Nên thôi, đừng cố hơn ai cả. Chỉ cần sống sao để tối về… thấy lòng mình không nặng, thấy mình vẫn còn biết thương người,

  From: luong bui  & KimBang Nguyen


 

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

Trọng kính Cộng đồng Dân Chúa,

 Trên chuyến bay kết thúc chuyến Tông Du Phi Châu trở về Vatican hôm 23/4/2026 sau 10 ngày rao giảng tin mừng sự sống cho riêng các cộng đoàn dân Chúa của mình cũng như “văn hóa hòa bình” cho chung anh chị em đồng loại của mình ở miền đất bần cùng khốn khổ nhất thế giới này, ĐTC Lêô XIV đã có cuộc họp báo với 70 nhân viên thuộc giới truyền thông được đi tháp tùng ngài. 

 Câu phỏng vấn đầu tiên về chiến tranh Trung Đông

 “Trong cuộc gặp vì hòa bình tại Bamenda, ở Camerun, Đức Thánh Cha đã mô tả một thế giới đảo lộn, nơi một nhóm nhỏ những bạo chúa có nguy cơ hủy diệt hành tinh. Ngài nói: Hòa bình không phải là điều phải phát minh ra nhưng là điều phải được đón nhận. Các cuộc đàm phán về xung đột tại Iran đang rơi vào hỗn loạn với những tác động nặng nề trên kinh tế toàn cầu. Ngài có mong muốn một sự thay đổi chế độ tại Iran không, khi mà cả xã hội dân sự lẫn sinh viên đã xuống đường trong những tháng gần đây và thế giới đang lo ngại về cuộc chạy đua hạt nhân? Ngài gửi lời kêu gọi nào đến Mỹ, Iran, Israel để thoát khỏi bế tắc và chấm dứt leo thang? NATO và châu Âu có nên tham gia nhiều hơn không?”

 ĐTC Lêô XIV đã trả lời về “một nền văn hóa hòa bình”:

 “Tôi muốn bắt đầu bằng cách nói rằng cần phải cổ võ một thái độ mới và một nền văn hóa hòa bình. Rất nhiều lần, khi chúng ta đánh giá một số hoàn cảnh, phản ứng lập tức là phải can thiệp bằng bạo lực, bằng chiến tranh, bằng tấn công. Điều mà chúng ta đã thấy là rất nhiều người vô tội đã chết. Tôi vừa đọc lá thư của một số gia đình có con em đã chết trong ngày đầu tiên của cuộc tấn công. Và họ nói về việc giờ đây họ đã mất con mình, những bé trai, bé gái, những trẻ em đã chết trong cuộc tấn công đó. Vấn đề không phải là chế độ có thay đổi hay không thay đổi; vấn đề là làm thế nào để cổ võ những giá trị mà chúng ta tin tưởng mà không gây ra cái chết của biết bao người vô tội. Vấn đề Iran rõ ràng là rất phức tạp. Chính các cuộc thương thuyết đang diễn ra, một ngày Iran nói có và Mỹ nói không, rồi ngược lại, và chúng ta không biết sẽ đi về đâu. Tình trạng hỗn loạn này đã được tạo ra, gây nguy cấp cho kinh tế toàn cầu, nhưng rồi cũng có cả một dân chúng tại Iran là những người vô tội đang phải chịu đau khổ vì cuộc chiến này. Vì thế, về chuyện thay đổi chế độ hay không: không rõ hiện nay là chế độ nào đang tồn tại, sau những ngày đầu tiên của các cuộc tấn công của Israel và Mỹ vào Iran. Thay vào đó, tôi muốn khích lệ việc tiếp tục đối thoại vì hòa bình, để các bên tìm cách dồn mọi nỗ lực nhằm cổ võ hòa bình, đẩy xa mối đe dọa chiến tranh và tôn trọng luật pháp quốc tế. Điều rất quan trọng là những người vô tội phải được bảo vệ, điều đã không xảy ra ở nhiều nơi. Tôi mang theo bên mình một tấm ảnh của một em bé Hồi giáo mà trong chuyến viếng thăm Libăng đã đứng đó chờ tôi với một tấm bảng ghi ‘Chào mừng Đức Giáo hoàng Lêô’, rồi trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, em đã bị giết. Có biết bao hoàn cảnh con người như thế và tôi nghĩ rằng chúng ta phải có khả năng suy nghĩ theo cách đó. Với tư cách là Giáo hội, tôi xin nói lại, với tư cách là mục tử, tôi không thể ủng hộ chiến tranh. Và tôi muốn khích lệ mọi người nỗ lực tìm kiếm những câu trả lời phát xuất từ một nền văn hóa hòa bình chứ không phải từ hận thù và chia rẽ.

 Câu phỏng vấn đầu tiên về việc Iran sát hại dân:

 “Thưa Đức Thánh Cha, trong chuyến đi này ngài đã nói về việc con người đang đói khát công lý. Chính sáng nay, đã có tin cho biết Iran đã xử tử thêm một thành viên đối lập, và điều này diễn ra trong khi chế độ đã công khai treo cổ nhiều người khác và sát hại hàng ngàn công dân của chính mình. Ngài có lên án những hành động này không? Ngài có sứ điệp nào dành cho chế độ Iran không?

 ĐTC Lêô XIV trả lời “Tôi lên án việc giết hại con người”:

 Tôi lên án mọi hành động bất công. Tôi lên án việc giết hại con người. Tôi lên án án tử hình. Tôi tin rằng sự sống con người phải được tôn trọng và sự sống của mọi người, từ lúc được thụ thai cho đến khi chết tự nhiên, phải được tôn trọng và bảo vệ. Vì thế, khi một chế độ, khi một quốc gia đưa ra những quyết định tước đoạt cách bất công mạng sống của những người khác, thì rõ ràng đó là điều phải bị lên án.” 

Vấn đề ở đây là vì thành phần lãnh đạo liên quan đến cuộc chiến Trung Đông tại bãi chiến trường Iran hiện nay đã sẵn máu “văn hóa chết chóc – culture of death” (ĐTC Gioan Phaolô II) và “văn hóa sa thải loại trừ – throw away culture” (ĐTC Phanxicô), nên họ không thể nào chấp nhận “một nền văn hóa hòa bình – culture of peace” (ĐTC Lêô XIV), phản ảnh “văn minh yêu thương – civilization of love” (ĐTC Phaolô VI), và vì thế họ không thể hay khó có thể ngồi lại với nhau, và cho dù có ngồi lại đàm phán với nhau chăng nữa cuối cùng họ vẫn chẳng giải quyết được gì, vẫn tiếp tục đánh nhau, bởi trước khi đàm phán họ đã hù dọa nhau đủ thứ và vẫn nhăm nhe tấn công nhau (như ở cuộc chiến Iran), chứ không tỏ ra thực sự thành tâm thiện chí giải quyết dứt khoát chiến tranh, hay vẫn cứ đánh nhau không chịu ngưng chiến để đàm phán (như ở cuộc chiến Ukraine). 

 Phải chăng chính vì các thẩm quyền chính trị hiện nay không thể hay khó có thể quay trở về với “một nền văn hóa hòa bình” như thế, mà chính Kitô hữu chúng ta cần phải bù đắp cho họ trong tinh thần “xây dựng hòa bình” với danh nghĩa là “con Thiên Chúa” (Mathêu 5:9), thành phần cũng cần phải thay máu hiếu chiến vẫn còn đang sôi sục trong bản thân chúng ta khi chúng ta cầu nguyện cho hòa bình, bằng máu “văn hóa hòa bình”, để nhờ đó LTXC là Đấng không loại trừ một ai sẽ làm chủ tâm trí của thành phần lãnh đạo chính trị liên quan đến các cuộc chiến lớn nhỏ, công khai hay âm thầm hoặc bị quên lãng hiện nay, khiến họ từ từ tiến đến chỗ biết trân quý và tôn trọng hơn bất cứ một tham vọng chính trị bất chính nào của họ, tất cả quyền lợi chính đáng, phẩm giá bất khả xâm phạm và sự sống do chính Thiên Chúa dựng nên của từng người cũng như của chung dân nước của mình cũng như của nhau, chúng ta hãy tiếp tục theo dõi hiện tình Thế giới Ngày nay ở đường kết nối tổng hợp sau đây:

Thế giới Ngày nay 24-26/4/2026 – Chỉ khi nào con người chấp nhận “văn minh hòa bình” họ mới có thể đàm phán và giải quyết chiến tranh

 Trân trọng, 

TĐCTT Đaminh Maria cao tấn tĩnh

From: daminhmariacaotantinh & NguyenNThu