ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

Linh Mục Mi Trầm

 ĐÃ ĐẾN LÚC TÔI PHẢI THỰC HIỆN “10 Điều Khuyên” cho người cao niên…

  1. Hãy vui với nguời khác, đừng tìm vui trong việc tích trữ của cải.
  2. Lập chuơng trình tiêu xài hết tiền của mà bạn để dành. Bạn xứng đáng tiêu pha nó trong mấy năm còn lại của đời nguời. Nếu đuợc, cứ đi du lịch. Để của lại cho con, chúng nó sẽ gấu ó nhau và nhiều chuyện rắc rối xảy ra sau khi bạn qua đời.
  3. Hãy sống với thực tại. Đừng sống cho quá khứ hay cho tương lai. Bạn có ngày hôm nay trong tay bạn. Ngày hôm qua thì đã qua, ngày mai thì chưa đến hoặc không bao giờ đến.
  4. Hãy vui với lũ cháu nội ngoại của bạn (nếu bạn có) nhưng đừng làm kẻ giữ trẻ trọn thời gian. Trách nhiệm nuôi dạy trẻ là của cha mẹ nó. Sau khi bạn đã nuôi con nên nguời rồi, bạn không còn trách nhiệm gì với bầy cháu của bạn. Đừng thấy áy náy khi từ chối giữ trẻ nếu bạn không thấy thích thú chăm sóc trẻ.
  5. Chấp nhận sự già yếu, đau nhức của tuổi già. Hãy vui với những gì mình còn làm được
  6. Vui với những gì bạn có. Đừng lao nhọc tìm những gì bạn không có. Đã trễ rồi, thời gian không còn nhiều nữa..
  7. Hãy vui cuộc đời với người phối ngẫu, con cháu, bạn bè.. Nguời khác yêu bạn, phải yêu chính bạn chớ không phải những gì bạn có. Ai yêu những gì bạn có chỉ gây khổ cho bạn mà thôi.
  8. Tha thứ cho mình và cho nguời. Chấp nhận sự tha thứ. Vui huởng sự bình an trong tâm hồn.
  9. Làm quen với sự chết. Nó sẽ xảy ra. Đừng sợ hãi. Nó là một phần của cuộc đời. Chết là bắt đầu một cuộc đời mới hơn, tốt đẹp hơn. Chuẩn bị một cuộc sống mới với Đấng Tạo Hóa.
  10. Hãy thuận hòa với Thuợng Đế vì bạn sẽ gặp, sẽ có sau khi bạn rời cõi trần gian này.

Theo Internet


 

Việt kiều Mỹ đòi lại nhà ở Sài Gòn: Bị ‘đánh úp’ trước ngày cưỡng chế

Ba’o Nguoi-Viet

January 21, 2026

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Sau 17 năm đi kiện đòi lại căn nhà mặt tiền ở Sài Gòn nhờ một người bạn đứng tên, khi chuẩn bị được nhận lại nhà, ông Việt kiều Mỹ bất ngờ bị “đánh úp” vào phút chót.

Theo báo VnExpress hôm 21 Tháng Giêng, Viện Kiểm Sát Tối Cao vừa chấp nhận đề nghị của bà Huỳnh Thị Minh Thư và ra quyết định kháng nghị bản án phúc thẩm của Tòa Án TP.HCM về việc tuyên buộc bà Lê Thị Vựng và các con (trong đó có bà Thư) giao trả lại căn biệt thự số 10A Cửu Long, phường 2, quận Tân Bình, nay là phường Tân Sơn Hòa, cho ông Huỳnh Larry Hưng, còn gọi là Huỳnh Hưng Lợi, 74 tuổi, Việt kiều Mỹ.

Ông Huỳnh Larry Hưng đứng trước căn biệt thự mua 20 năm trước, chờ cơ quan thi hành án cưỡng chế bàn giao cho mình, nhưng bất ngờ buổi làm việc bị tạm hoãn. (Hình: Hải Duyên/VnExpress)

Viện Kiểm Sát Tối Cao đề nghị Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Tối Cao hủy bản án của Tòa Án TP.HCM, giao hồ sơ cho Tòa Án Khu Vực 4 thụ lý xét xử lại.

Trong kháng nghị lần này, Viện Kiểm Sát Tối Cao tiếp tục xác định “tòa án cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hưng, buộc bị đơn phải giao trả nhà là có căn cứ,” song quá trình giải quyết vụ án “có vi phạm tố tụng.”

Cụ thể, “tòa án các cấp không đưa Ủy Ban Nhân Dân có thẩm quyền tham gia tố tụng về tranh chấp đất được công nhận chủ quyền; không xem xét yêu cầu của bị đơn về việc “tính công sức, bảo quản gìn giữ tài sản…”

“Tòa chưa làm rõ diện tích đất khuôn viên có nhiều thay đổi qua các thời kỳ, dẫn đến phán quyết thiếu cơ sở và khó thi hành án,” kháng nghị nêu.

Đây là lần thứ ba vụ án bị kháng nghị “đúng vào phút chót” khi Cơ Quan Thi Hành Án TP.HCM chuẩn bị cưỡng chế để bàn giao cho ông Huỳnh Larry Hưng căn biệt thự ước trị giá gần trăm tỷ đồng.

Như vậy, vụ án ông Hưng 17 năm mòn mỏi đòi nhà nhờ bạn thân đứng tên với sáu bản án sơ thẩm, phúc thẩm và hai quyết định giám đốc thẩm, có nguy cơ quay về vạch xuất phát, mặc cho các bản án trước đó đều xác định ông Hưng là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà và buộc bà Vựng, vợ của người đứng tên giúp (người này hiện đã chết) và các con phải trả lại.

Theo báo Pháp Luật TP.HCM, hồi năm 1995, khi còn đang định cư Mỹ, ông Hưng bỏ tiền mua căn nhà trên rồi nhờ một người bạn đứng tên và trông coi giùm. Đến khi ông trở về Việt Nam, muốn lấy lại nhà thì vợ của người bạn này (bà Vựng) từ chối trả nhà, thời điểm đó bạn ông đã qua đời.

Năm 2009, ông Hưng bắt đầu hành trình gian nan đi kiện để đòi nhà.

“Nhà đất này được mua bằng tiền mà tôi tích lũy được sau những năm tháng lao động chân tay với đủ nghề nơi xứ người, chỉ mong có được chốn an cư khi trở về Việt Nam dưỡng già. Tuy nhiên, gần 20 năm qua, tôi phải đi ở nhờ để theo đuổi vụ kiện đòi lại nhà mình. Nay đã 74 tuổi, sức yếu, tôi không biết còn sống được bao lâu, chỉ mong lúc nhắm mắt xuôi tay được ở trong căn nhà của mình,” ông Hưng nói.

Ông Hưng cũng cho hay, trong suốt quá trình giải quyết vụ án qua nhiều lần xét xử, bà Vựng và gia đình không đưa ra yêu cầu cụ thể nào về công sức đối với tài sản đứng tên giúp.

Hồi năm 2024, phán quyết của Tòa Án TP.HCM tuyên, tài sản thi hành án là toàn bộ căn nhà và đất tọa lạc tại 10A Cửu Long, nằm trên khu đất rộng 466.61 mét vuông. Tuy vậy, kết quả xác minh thực tế thì căn nhà và đất nêu trên rộng đến 716.6 mét vuông.

Quá trình giải quyết vụ án, gia đình bà Vựng không hợp tác cho tòa án vào đo vẽ, nên tòa phải sử dụng các bản vẽ do gia đình bà Vựng đã đo vẽ được kiểm tra nội nghiệp để giải quyết vụ án.

Ông Huỳnh Larry Hưng mất 17 năm đi kiện đòi nhà. (Hình: An Bình/Pháp Luật TP.HCM)

Hôm 18 Tháng Mười Hai, 2025, Cơ Quan Thi Hành Án Dân Sự TP.HCM đã lên kế hoạch cưỡng chế bàn giao căn nhà cho ông Hưng, song phải dừng vào phút chót để “xem xét yêu cầu kháng nghị của người liên quan.”

“Tôi kiệt sức vì phải theo đuổi vụ án suốt 17 năm qua. Nếu Tòa Án Tối Cao chấp nhận kháng nghị lần này, tôi có thể không chờ được đến ngày nhận lại ngôi nhà của mình nữa,” ông Hưng ngao ngán nói. (Tr.N) [kn]


 

Cha Tuyên úy Thủy quân Lục Chiến hy sinh tại chiến trường Việt Nam đang trên tiến trình tuyên thánh.

Nguyễn Lai is with Thái Lai Anna.

#GNsP – Đó là cha Vicent Capodanno, Hoa Kỳ. Cậu bé Capodanno sinh năm 1929 gần thành phố New York, trong một gia đình đạo hạnh. Là con út trong một gia đình mười anh chị em có gốc Ý di cư đến Hoa Kỳ. Cha mẹ cậu là dân lạo động. Hằng ngày phải thức khuya dậy sớm để nuôi bầy con đông đúc. Cha là thợ đóng tàu, mẹ buôn bán tạp hóa. Tuy nhiên sau một ngày lao động vất vả, cả gia đình quây quần đọc kinh tạ ơn Chúa.

Cha từng nói rằng, “gia đình chúng tôi  rất thân thiện, gần gũi, và yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Chúng tôi luôn làm việc chung với nhau. Bữa ăn tối là trọng tâm của gia đình tôi. Chúng tôi không bao giờ ăn cho đến khi mọi người ngồi vào bàn, ngay cả chú chó cũng quẩn quanh gần bàn!”

Ông James, người anh trai của cha vẫn còn sống và kể lại rằng, cha Vincent thưở bé “rất bình dị và bình thường, nhưng em có một niềm tin vững mạnh và lòng đạo đức tốt lành. Em luôn hăng say trong những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ, nhiệt tâm trong các công tác đoàn thể.”

Năm 1949, vào học kỳ I tại Đại học Fordham, chàng sinh viên trẻ Vicent Capodanno tâm sự với một người bạn thân rằng, chàng muốn trở thành một linh mục chứ không muốn làm bác sĩ, như chàng nghĩ trước đây.

Cùng năm đó, Capodanno xin vào dòng Truyền giáo Maryknoll, vì bị thu hút bởi sứ mệnh truyền bá Tin mừng cho những người đặc biệt nơi các vùng đất xa xôi. Khi trở thành tu sĩ Dòng Maryknoll, thầy Capodanno rất ngưỡng mộ Đức Giám mục Phanxicô Xavier Ford, vị Giám mục chết rũ tù Cộng sản tại Hoa Lục năm 1950, với khẩu hiệu Giám mục của ngài là “cùng chịu đau khổ với Chúa”. Người thứ hai mà thầy Capodanno ngưỡng mộ nữa là Đức Giám Mục Patrick Byrne, vị Giám mục bị Cộng sản Bắc Hàn bắt bỏ tù. Đức cha Patrick Byrne đã từng nói rằng “nếu tôi bị xử bắn, tôi sẽ vui chịu để thông hiệp với những thương đau của anh em tôi.”

Những lời ấy của vị Giám mục luôn ghi khắc trong tim thầy. Khi chịu chức linh mục, vào năm 1958 cha Capodanno đã tình nguyện xin đến phục vụ cho những người Hakka ở Đài Loan. Sau 7 năm làm việc ở Đài Loan, cha Capodanno được thuyên chuyển về trường trung học ở Hồng Kông. Cha không vui lắm trước sự hoán chuyển này! Vì là một nhà truyền giáo Maryknoll, cha thích đi ra truyền giáo hơn là ở một chỗ dạy học.

Sau đó cha Capodanno xin được làm cha Tuyên úy cho Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang tham chiến tại Việt Nam. Cha đã được Bề trên chấp thuận lời xin này vào năm 1965. Gần 1 năm sau, tức vào Tuần Thánh năm 1966 cha được gửi về Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 7, đóng ở phía Nam Đà Nẵng, một thành phố ở miền Đông Nam Việt Nam. Ngài là một Tuyên úy Công giáo duy nhất trong vùng, nên trách vụ của Ngài thật nặng nề.

Những người lính Thủy Quân Lục Chiến nhanh chóng đặt cho cha Capodanno biệt danh “kẻ phục dịch”, vì ngài chia sẻ mọi sự cho họ. Bất cứ khi nào họ cần tới cha, cha dường như đang ở đó – cầu nguyện với người bị thương, an ủi người đang hấp hối, và khuyến khích những người đi chiến đấu. Điều đáng trân quí nhất mà tất cả mọi người lính đều nhìn nhận cha Capodanno là một người trong số họ, cha không phải là kẻ xa lạ hay giai cấp, mặc dầu cha không bao giờ mang vũ khí, ngoại trừ khi có nghĩa vụ phải làm như vậy! Vũ khí của cha là tình yêu và tinh thần.

Cha Capodanno là người đồng hành với trung đoàn trên mọi chiến trường, liều mạng vì quân binh của mình. Trong một trận đánh bị Việt cộng tấn công bằng lựu đạn, khiến nhiều binh sĩ thương vong,  cha đã trực tiếp băng bó cho các binh sĩ. Lần khác cha đã cõng một người lính bị thương băng qua đám cháy để cứu sống anh. Trong các trận địa, cha làm người tải thương, cha cầu nguyện chúc lành, xức dầu bệnh nhân cho các binh sĩ trong cơn nguy tử… Cha chẳng màng tới sự an toàn cho sinh mạng mình, mặc dù cha đã từng thừa nhận mình cũng là người “rất sợ chết.” Cha Capodanno làm việc không ngưng nghỉ, mỗi ngày cha dâng lễ, ngồi tòa giải tội và luôn sẵn sàng để hướng dẫn tâm linh cho binh lính. Lúc rảnh rỗi cha thường đi bộ và lắng nghe những người lính tâm sự.

Thiếu tá Ray Harton nhớ lại một trong những cuộc gặp mặt đầu tiên của ông với cha Capadanno khi ông đang chuẩn bị cho một chiến dịch tấn công địch. “Cha ấy chỉ đi lướt qua và dừng lại một thoáng, nhưng ánh mắt của ngài như có một thần lực thu hút tôi… làm cho tâm hồn tôi dâng trào thổn thức!”

Vào sáng ngày 4 tháng 9 năm 1967, cha Capodanno tình nguyện đi tác chiến với đơn vị Thủy Quân Lục Chiến để giải cứu một đơn vị khác đang bị Việt Cộng tấn công ở Quế Sơn. Biết rằng đây là cuộc chiến đầy khốc nghiệt, ngài đã dành nhiều giờ trong đêm để cầu nguyện cho những người lính đã hy sinh và đang nguy tử. Không bao lâu sau máy bay chở cha Capadanno hạ cánh, đơn vị của cha bị một lực lượng gần hai ngàn quân Cộng Bắc Việt bao vây. Khi đội quân Thủy Lục Chiến của cha vượt qua đỉnh đồi, thì bị trọng pháo và đại liên bắn liên hồi… Người lính truyền tin vừa điện cho hay “Quân binh của chúng ta đang bị càn quét!”. Và rồi một tin nhắn khác “Có nhiều người bị thương và hấp hối…”

Nghe tin ấy cha Vincent quyết tâm đến với anh em binh lính của cha. Cha đã chạy như con thoi đến với các binh sĩ bị thương và ban bí tích cuối cùng cho những người hấp hối. Mặc dù bị bắn hai lần – một lần vào mặt và một lần vào tay phải – cha vẫn tiếp tục tìm kiếm người bị thương, nói với họ, “Chúa Giêsu nói: con hãy vững tin. Chúa là sự thật và là sự sống”.

Nhìn thấy một quân nhân khác bị thương, rên lên đau đớn, cha Capodanno đã quên thân mình chạy ùa đến với anh. Khi cha vừa quỳ xuống bên anh, một loạt liên thanh nổ rền giết chết cả hai người ngay lập tức. Vài giờ sau, một trong những người lính lấy xác cha Capodanno cho hay, khắp thân thể cha bị nát nhừ với 27 viên đạn, nhưng gương mặt “Cha như đang mỉm cười, và mắt cha khép lại như đang ngủ hay đang cầu nguyện.”

Cha Vincent Capodanno đã được Hoa Kỳ trao tặng Huân chương danh dự cao quí nhất của Quốc hội vì lòng dũng cảm của cha.

Tin tức về cái chết của cha Capodanno làm rung động toàn thể Thủy Quân Lục Chiến trên khắp miền Nam Việt Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn mà cha đã gây nhiều âm hưởng cho cuộc sống của anh em binh lính một cách sâu xa. Một năm sau, nhiều anh em Thủy quân Lục Chiến đã thốt lên “Cha Capadanno đã dâng hiến mạng sống của cha, không ai trên trần thế này có thể làm được gì nữa ngoại trừ Đức Kitô… Nhiều anh em Thủy quân lục chiến và binh lính đã trở lại đạo Công giáo nhờ tấm gương hy sinh của cha. Họ nói “đối với tôi, cha ấy là một vị thánh.”

Cha Capodanno đã sống và chết như một vị tử đạo phục vụ cho những binh sĩ trong một cuộc chiến chính nghĩa. Qua cái chết, Cha Capodanno đã truyền cảm hứng về lòng quả cảm và hy vọng cho tha nhân. Nhiều người đã đến khấn xin ngài và đã nhận được những ơn chữa lành qua lời bầu cử của ngài. Trong số đó có một nữ tu Việt Nam được chữa lành khỏi bệnh ung thư. Một trường hợp khác là ông Ernest, một bác sĩ thú y Việt Nam đang thất vọng và muốn tự vẫn, tình cờ ông ta mở chiếc ví ra thấy một tờ giấy của mẹ ông viết lại lời cầu nguyện với cha Capadanno. Ông đã đọc những lời nguyện ấy và nhờ lời cầu nguyện của cha Capodanno, Ernest đã vượt qua được giờ phút khủng khoảng. Ông Ernest vẫn còn sống cho tới ngày nay. Một cậu bé khác bị ung thư máu đã được cha mình đưa đến mộ của cha Capodanno trên đảo State cầu nguyện xin ơn chữa lành và cậu bé đã được khỏi bệnh cách kỳ diệu đến các bác sĩ phải hết sức kinh ngạc.

Ngày 21 tháng 5 năm 2006, Đức Thánh Cha Benêdictô XVI đã tôn vinh cha Capodanno lên hàng “Tôi Tớ Chúa”. Và với ba trường hợp lành bệnh cách mầu nhiệm trên cùng những hy sinh trên chiến trường Việt Nam, cha đang được điều tra để tiến đến việc tuyên phong Hiển Thánh.

(NguồnTin Mừng cho Người Nghèo do LM Vũ Hoàng Trương biên soạn dựa trên bài viết của Thanh Quảng 2017)


 

Không nóng giận là phẩm chất của người đại trí tuệ – Thiên Cầm

Thiên Cầm

Chỉ những người có tu dưỡng mới có thể tiết chế được cảm xúc của bản thân, không hề nóng giận trước bất kể sự việc gì. Cũng bởi vì không nóng giận nên mọi việc người đó làm đều là lý tính, có thể tỉnh táo đánh giá tình hình và đưa ra phương án sáng suốt. Điều này phải là bậc đại trí tuệ mới có thể làm được.

Trong sách Trang Tử có kể câu chuyện ngụ ngôn sâu sắc như sau:

Tề Tuyên Vương sai Kỷ Sảnh nuôi một con gà chọi. Được mười hôm, vua hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được, gà hăng lắm, chưa thấy gà khác đã muốn chọi rồi.”

Cách mười hôm, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được. Gà còn hăng, mới thấy bóng gà khác đã muốn chọi rồi.”

Cách mười hôm, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Chưa được, gà còn hơi hăng, trông thấy gà khác đã muốn chọi rồi.”

Mười hôm sau, vua lại hỏi: “Gà đã đem chọi được chưa?”

Kỷ Sảnh thưa: “Được rồi. Gà bây giờ nghe thấy tiếng gà khác cũng không cho vào đầu. Trông thì tựa như gà gỗ, mà thực ra thì đủ các ngón hay. Gà khác coi thấy cũng đủ sợ, phải lùi chạy.”

Gà chọi nóng nảy, ham khiêu chiến sẽ thích gây gổ, đấu đá chẳng ngưng. Nhưng con gà chọi thiện chiến thực sự lại trông “tựa như gà gỗ” nhưng có thể trầm tĩnh thi triển “các ngón hay” của mình. Kỳ thực Trang Tử muốn thông qua câu chuyện ngụ ngôn này để nói lên một đạo lý rằng có thể tiết chế được cảm xúc của bản thân thì mới có thể làm việc lớn.

Gia Cát Lượng nói: “Lười nhác thì không thể tinh thâm, nóng nảy mạo hiểm thì không thể lý tính”. Khi lửa giận bốc lên sẽ che mờ lý trí của con người. Khi ấy con người thường sẽ mắc sai lầm mà chuốc lấy bại vong. Chỉ có buông bỏ tư tâm, trong lòng mới không bất bình oán hận, cơn nóng giận mới bị tiêu trừ từ trong trứng nước.

Có một câu chuyện về nhà Nho nổi tiếng Vương Dương Minh thế này. Vào năm Minh Chính Đức, Ninh Vương tạo phản, chỉ trong vòng một tháng Vương Dương Minh đã nhanh chóng bình định quân phiến loạn, giúp quốc gia tránh được tổn thất to lớn.

Nhưng ở triều đình, Vương Dương Minh bị kẻ khác sinh lòng đố kỵ, vu khống ông câu kết với Ninh Vương, vì việc chẳng thành, nên mới bán đứng Ninh Vương để bảo toàn tính mệnh. Chính Đức hoàng đế nghe theo lời dối trá của thuộc hạ, yêu cầu Vương Dương Minh thả Ninh Vương, định rằng sẽ thân chinh ngự giá.

Dẹp yên quân phản loạn là công lao lớn, nhưng Vương Dương Minh không những không được ghi nhận còn bị vu khống hãm hại. Đối mặt với tình cảnh này, Vương Dương Minh không hề nóng giận. Ông tới tìm Trương Vĩnh, giao phó toàn bộ công lao cho ông ta, để ông ta trừ bỏ đám hoạn quan kết bè kết đảng. Sau đó ông tự mình vào triều, bày tỏ tâm nguyện không tranh với đời, hoá giải đại hoạ một cách êm đẹp.

Vậy nên, khi bình phẩm về Vương Dương Minh, hậu thế mới có câu: “Vào lúc nguy cấp, vẫn dự liệu như thần, trí tuệ không hề lay chuyển.”

Có câu, “Nước sâu chảy chậm, người tôn quý ăn nói từ tốn”, người không nóng giận không phải kẻ đần mà là bậc đại trí giả. Một người khi không để tâm tới vật ngoại thân, được mất tuỳ duyên mới có thể giữ được sự an định trong nội tâm, không vui vì vật ngoại thân, không buồn vì được mất cá nhân của mình.

Thiên Cầm biên tập

From: Tu-Phung


 

Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ

Debora Viet Kieu

Khi Titanic chìm xuống lòng đại dương, trên con tàu ấy có mặt John Jacob Astor IV — một trong những người giàu nhất nước Mỹ thời bấy giờ. Khối tài sản trong ngân hàng của ông đủ để xây dựng tới 30 con tàu Titanic.

Thế nhưng, vào khoảnh khắc đối diện với cái chết, ông đã chọn điều mà mình tin là đúng đắn về mặt đạo đức: nhường chỗ trên thuyền cứu hộ cho hai đứa trẻ đang hoảng loạn.

Cũng trên chuyến tàu định mệnh ấy có Isidor Straus, đồng sở hữu chuỗi bách hóa lớn nhất nước Mỹ — Macy’s. Khi được mời lên thuyền cứu sinh, ông bình thản nói:

“Tôi sẽ không bao giờ lên thuyền khi vẫn còn phụ nữ và trẻ em trên tàu.”

Vợ ông, bà Ida Straus, cũng từ chối rời đi. Bà nhường chỗ của mình cho cô hầu gái mới, Ellen Bird, rồi lựa chọn ở lại bên chồng trong những giây phút cuối cùng.

Bà nói khẽ nhưng kiên định:

“Chúng ta đã sống bên nhau suốt bao năm. Nơi nào anh đi, em sẽ đi cùng.”

Những con người ấy — giàu có, quyền lực, có thể mua gần như mọi thứ — đã từ bỏ tài sản, thậm chí cả sinh mạng, để giữ trọn phẩm giá và nguyên tắc sống.

Chính lựa chọn đó đã khiến họ trở nên vĩ đại hơn mọi khối tài sản họ từng sở hữu.

Giữa ranh giới sinh – tử, đạo đức đã thắng nỗi sợ, và đó chính là biểu tượng cao đẹp nhất của văn minh và bản chất con người.


 

Ở tuổi 70, tôi không cầu sống lâu: chỉ âm thầm giữ 3 “ĐƯỜNG LUI” để thân tâm luôn an hòa

Những câu chuyện Nhân Văn

Ở tuổi 70, tôi không cầu sống lâu: chỉ âm thầm giữ 3 “ĐƯỜNG LUI” để thân tâm luôn an hòa

Cô bác, anh chị thân mến,

Già đi là lẽ thường. Nhưng sống sao cho nhẹ lòng, không làm phiền ai… thì tôi muốn chuẩn bị từ sớm. Bác sĩ Phương không sợ già, chỉ sợ lúc yếu lại khiến người thân lo lắng. Nên nhiều năm nay, tôi âm thầm chuẩn bị cho mình ba “đường lui”, để tuổi 70 được sống bình yên, tự chủ:

  1. Một thân thể đủ khỏe

Tôi không mong sống lâu, chỉ mong tự lo được cho mình. Ăn uống vừa phải, vận động đều, ngủ sớm… để mỗi ngày trôi qua vẫn thấy mình còn là chính mình. Một cơ thể khỏe là nền tảng để đi nhẹ nhàng qua tuổi già.

  1. Một khoản riêng để phòng thân

Tôi không dư dả, nhưng luôn cố gắng dành một khoản tiền riêng – không nhiều nhưng đủ để không bối rối khi đau ốm hay có việc đột xuất. Có tiền phòng thân giúp tâm vững, không phụ thuộc con cháu, không lo lắng khi gặp chuyện bất ngờ.

  1. Một người bên cạnh để nương nhau qua ngày

Tôi vẫn hay nói với chồng: “Hai người già ở với nhau, quan trọng nhất là không làm khổ nhau.” Ở tuổi này, chẳng cần gì lớn lao, chỉ cần có người cùng ăn bữa cơm, cùng nhắc chuyện xưa mà thấy nhẹ lòng. Bạn đời không phải chỗ dựa duy nhất, nhưng là bến đỗ tinh thần cuối cùng.

Cô bác, anh chị à, ba đường lui không phải để trốn tránh tuổi già, mà để đi vào nó nhẹ nhàng, tự chủ, và biết ơn. Tôi không mong sống lâu, chỉ mong sống vui, sống sao cho người bên mình thấy dễ chịu, người nhớ về mình không tiếc nuối.

Cô bác anh chị có đồng tình với tôi không?

TTƯT, Bác sĩ Lê Phương

 


 

Triết gia Nga khuyên Putin hãy quăng bỏ luật quốc tế như ý Trump

Hai Phan

Triết gia Nga khuyên Putin hãy quăng bỏ luật quốc tế như ý Trump: chia 3 thế giới, sẵn sàng bom nguyên tử, đưa xe tăng Nga chiếm thêm 7 nước Armenia, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan và Kyrgyzstan bên cạnh Ukraine.

Theo tin từ báo The Daily Express: Nga được khuyên “hãy quăng bỏ luật pháp quốc tế” và hãy tuyên bố chủ quyền đối với những vùng đất mới trong kế hoạch bành trướng mới. Bài viết của hai phóng viên Will Stewart, John O’Sullivan.

Đồng minh trí thức khét tiếng nhất của Vladimir Putin đã công khai tuyên bố Nga nên xâm lược thêm bảy quốc gia có chủ quyền khác ngoài Ukraine.

Alexander Dugin – nhà tư tưởng cực đoan thường được gọi là “bộ não của Putin” – lập luận rằng Điện Kremlin phải tận dụng tham vọng của Donald Trump đối với Greenland làm lý do để tạo ra một đế chế Nga mở rộng rộng lớn.

Nhà triết học này đã thúc giục Moscow xây dựng lại phần lớn Liên Xô cũ và cố tình từ bỏ các chuẩn mực pháp lý toàn cầu trong quá trình đó. Dugin thậm chí còn ám chỉ sẵn sàng sử dụng vũ lực hạt nhân để đạt được mục tiêu của Nga. Điều này diễn ra sau khi một người đọc khẩu hình tiết lộ lời hứa 3 từ đáng sợ mà Donald Trump đã thì thầm vào tai Vladimir Putin.

“Nga buộc phải làm điều gì đó khủng khiếp để khôi phục uy tín của mình,” Dugin viết trên X.

“Thật đáng buồn khi chúng ta phải sử dụng những lập luận như vậy. Nhưng chúng ta không có lựa chọn nào khác. Chỉ có sự tàn bạo, vũ lực, sự hủy diệt hàng loạt và sự tàn ác mới có ý nghĩa trong thế giới kiểu Trump.”

Theo những gì ông mô tả là một trật tự toàn cầu mới do Trump dẫn dắt, Dugin nói rằng các sư đoàn thiết giáp của Nga nên tiến vào Armenia, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan và Kyrgyzstan – các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ hiện là các quốc gia độc lập. Ông tuyên bố việc sáp nhập các quốc gia này sẽ giúp Nga có thêm 27% lãnh thổ so với toàn bộ Liên minh châu Âu, đồng thời đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ.

Dugin tuyên bố: “Trong tình huống này, chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố Nga là một đế chế [và] vứt bỏ luật pháp quốc tế. Bây giờ tất cả những gì còn lại là thừa nhận [thực tế mới] và bắt đầu hành động – tôi sẽ nói, giống như Trump, bởi vì chúng ta không có lựa chọn nào khác.

“Vì vậy, ông ấy nói, ‘Đây là lãnh thổ của tôi, nó sẽ thuộc về Mỹ’. Và chúng ta nói, ‘Đây là lãnh thổ của chúng ta; nó sẽ thuộc về Nga, Á-Âu’. Ông ấy nói, ‘Chúng ta đang khẳng định sự thống trị ở Tây bán cầu’. Chúng ta nên nói, ‘Và chúng ta, cùng với Trung Quốc và Ấn Độ, chẳng hạn, tuyên bố sự thống trị của chúng ta đối với Đông bán cầu’.

“Vì vậy, phương Tây dành cho người phương Tây, và phương Đông dành cho người phương Đông.” Và đó là tất cả.”

Nhà lý luận theo chủ nghĩa dân tộc – từ lâu được coi là kiến ​​trúc sư tinh thần cho thế giới quan địa chính trị cực đoan của Putin – khẳng định Nga phải trở thành một cực quyền lực thống trị trong hệ thống toàn cầu đang bị chia rẽ.

“Mục tiêu của chúng ta là tồn tại, trở thành trung tâm quyền lực quan trọng nhất trong thế giới ba cực này – chủ quyền, tự do, độc lập và rộng lớn,” ông nói với nhà báo Mikhail Kuznetsov.

“Và bất kỳ lãnh thổ nào chúng ta không kiểm soát sẽ không giữ được vị thế trung lập, chúng sẽ không trở thành những Thụy Sĩ yên bình, ngọt ngào. Chúng sẽ trở thành tiền đồn của các cực khác, và trước hết là của cực gây xung đột nhất – Hoa Kỳ.

“Vì vậy, chúng ta không thể chấp nhận sự tồn tại của một Armenia có chủ quyền, hay một Georgia có chủ quyền, hay một Azerbaijan có chủ quyền, một Kazakhstan có chủ quyền, một Uzbekistan, Tajikistan, hay Kyrgyzstan có chủ quyền.

“Không có gì có chủ quyền có thể tồn tại trong mô hình mới này. Hoặc chúng sẽ nằm dưới sự kiểm soát của chúng ta, trong phe của chúng ta, là một phần của Liên minh thống nhất của chúng ta, hoặc chúng sẽ trở thành chỗ đứng cho phương Tây.

“Liên minh châu Âu, hoặc Mỹ, hoặc, trong một số trường hợp nhất định, Trung Quốc.”

Những bình luận của Dugin được đưa ra khi Putin tiếp tục cuộc xâm lược Ukraine trong khi bác bỏ các nỗ lực hòa bình do Mỹ hậu thuẫn. Chúng cũng xuất hiện giữa lúc Nga ngày càng mất ảnh hưởng ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của mình, với các đồng minh cũ như Syria, Venezuela và ngày càng cả Iran đang dần xa rời.

Ông đã kêu gọi Putin chính thức tuyên bố “Học thuyết Monroe Á-Âu – ‘Á-Âu cho người Á-Âu'” và cảnh báo chống lại việc phản đối Trump bằng luật pháp quốc tế.

Thay vào đó, nhà lãnh đạo Kremlin phải “tham gia vào việc phân chia lại thế giới này”. Dugin hình dung một tương lai bị chi phối bởi ba cường quốc toàn cầu: Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ.

“Nhân tiện, số phận của châu Âu hoàn toàn không thể đoán trước được, bởi vì cuộc chiến tiếp theo sẽ là giữa Mỹ và NATO, tức là về Greenland. Ít nhất, đó là điều mà Liên minh châu Âu muốn,” ông tuyên bố.

Dugin hiện đang lãnh đạo Trường Chính trị Cao cấp Ilyin (Ilyin Higher Political School) và Phong trào Á-Âu Quốc tế (International Eurasian Movement). Vào tháng 8 năm 2022, con gái ông, Darya Dugina, 29 tuổi – một nhân vật truyền thông nổi bật ủng hộ Kremlin – đã thiệt mạng trong một vụ đánh bom xe gần Moscow, một vụ tấn công mà các quan chức Nga đổ lỗi cho các đặc vụ Ukraine.

Các nhà điều tra tin rằng chính Dugin có thể là mục tiêu được nhắm đến.

XEN XEM: https://vietbao.com/a324292/t


 

 CÓ ĐẠO & VÔ THẦN

Linh Mục Mi Trầm

Trong căn phòng của một bệnh viện, hai người đàn ông, một người Công giáo và một người vô thần đều bị bệnh như nhau. Thậm chí người có Đạo còn bị đau đớn và trầm trọng hơn cả người vô thần.

Ngày ngày nằm trên giường bệnh, người vô thần thường hay than thân trách phận, quằn quại đau đớn, cáu gắt tiêu cực và nguyền rủa cuộc đời.

Trái lại, người có Đạo thường nén cơn đau và không hề kêu ca gì cả. Thậm chí trên môi nhiều lúc còn nở nụ cười mãn nguyện trìu mến. Nhiều khi đau quá, thì ông lại tập trung tư tưởng cao cầu nguyện và xin Chúa giúp sức.

Người vô thần lấy làm lạ hỏi: “Tại sao ông có thể chịu được những cơn đau dữ dội như vậy? Bí quyết nào giúp ông có tinh thần lạc quan như vậy”?

Người có Đạo trả lời: “Ông bạn à! Tôi chẳng có bí quyết gì cả. Tôi chịu đựng được cơn đau cách vui vẻ vì tôi luôn ý thức rằng, Chúa luôn chăm sóc tôi từng giây từng phút. Một sợi tóc trên đầu của tôi, Chúa cũng đếm cả rồi. Tôi vinh dự được Chúa gửi Thánh giá Chúa cho tôi qua cơn bệnh này, để tôi được thông phần vào cuộc khổ nạn và Phục sinh của Người. Nên tôi luôn lạc quan tín thác vào Chúa. Mỗi lần nghĩ đến Chúa chịu treo đau đớn trên Thánh giá, là tôi lại có sức mạnh nội tâm chịu đựng cơn đau”.

“Hơn nữa, ai cũng phải trải qua quá trình Sinh-Lão-Bệnh-Tử. Khi ta chấp nhận quy luật như vậy, ta sẽ thấy tâm hồn thanh thản dễ chịu hơn”.

Dù sống hay chết thì tôi cũng vui vẻ chấp nhận. Sống tôi cũng ở bên Chúa, và có bị chết tôi cũng ở bên Chúa. Chết tôi sẽ được ở bên Chúa đời đời.

Rồi ông bạn vô thần đã rất ngạc nhiên khi nghe nói như vậy.

Và ông muốn tìm hiểu về Chúa. Và hai ông đã đàm đạo tâm sự với nhau cách thân mật từ ngày đó.

Đứng trước một căn bệnh như nhau, đau đớn như nhau, nhưng đã tạo nên hai tâm hồn lạc quan và bi quan hoàn toàn khác nhau. Vì một người tâm hồn có Chúa và một người thì không.

ĐÓ CHÍNH LÀ SỰ KHÁC NHAU GIỮA NGƯỜI CÓ ĐẠO VÀ NGƯỜI KHÔNG CÓ ĐẠO.

Theo Internet


 

TỪ CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ VENEZUELA NHÌN LẠI LÝ DO THẤT BẠI CỦA NỀN DÂN CHỦ IRAQ VÀ BÀI HỌC NÀO CHO NGƯỜI VIỆT QUAN TÂM- Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Giới thiệu: Trong bài “Số Phận Nicolas Maduro và Viễn Ảnh Venezuela” đăng trên Facebook hôm 4 tháng 1, người viết có lưu ý ở phần cuối bài: “Tuy nhiên có vài điểm khác quan trọng giữa ba nước [Grenada, Panama, Venezuela] cần lưu ý: (1) dân số và (2) diện tích lãnh thổ và (3) quân đội. Dân số Grenada vào năm 1983 chỉ vỏn vẹn 94,948 người với diện tích 344.5 kilomet vuông. Dân số Panama năm 1990 chỉ 2.4 triệu người với diện tích 74,340 kilomet vuông. Trong khi đó, theo WorldOMeter, dân số Venezuela năm 2025 là 28,516,896. Diện tích của Venezuela là 912,050 kilomet vuông. Theo Giáo sư John Polga-Hecimovich, một học giả về Venezuela tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy): “Venezuela cũng sở hữu một trong những đội quân thường trực lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Trên tất cả các binh chủng, Venezuela có khoảng 150.000 binh sĩ trong lực lượng vũ trang.” (Simon Romero, How Could Venezuela’s Military Respond to U.S. Threats? Here’s What to Know. The New York Times, Nov. 5, 2025 Updated Dec. 18, 2025).

Hugo Chavez cho tới Maduro  gầy dựng và nuôi dưỡng một tầng lớp tướng lãnh và viên chức chính phủ trung thành vì quyền lợi như tướng Vladimir Padrino López, Bộ trưởng Quốc Phòng. Đó là chưa kể một số ít người nhưng có ảnh hưởng về đường lối “xã hội chủ nghĩa” (Bolivarian Socialism) của Hugo Chavez. 

Hai “ngư ông” Trung Cộng và Nga đang chờ những mâu thuẫn chính trị, kinh tế và quyền lợi cá nhân tại Venezuela dẫn tới bạo động và khi đó quốc gia này sẽ trở thành một dạng “xung đột Ủy Nhiệm” (Proxy War) như đã từng diễn ra tại Syria.

Nhưng những người quyết định vận mệnh của Venezuela không phải là Mỹ, Trung Cộng hay Nga mà chính là người dân Venezuela. Nếu biết nắm bắt cơ hội, Venezuela có thể sẽ trở thành một cường quốc Châu Mỹ Latin, và nếu thất bại Venezuela có thể trở thành gần như  một Iraq khác.

Bài viết dưới đây phân tích sự thất bại của nền dân chủ Iraq sau hiến pháp 2005 và là bài học cho người Việt quan tâm đến vận nước.

——–

Không tính khoảng 4,500 quân đội các cấp và viên chức Mỹ hy sinh trong chiến tranh Iraq,  theo nghiên cứu của nhà khoa học chính trị và đồng sáng lập dự án “Chi phí chiến tranh” Neta Crawford, thuộc Đại học Oxford, tính toán tổng chi phí của cuộc chiến ở Iraq và Syria, dự kiến sẽ vượt 2,89 nghìn tỷ đô la. Con số ngân sách này bao gồm chi phí tính đến thời điểm hiện tại, ước tính khoảng 1,79 nghìn tỷ đô la, và chi phí chăm sóc cựu chiến binh đến năm 2050. (Neta Crawford, The Watson School of International Studies, March 15, 2023)

Mặc dù với sự hy sinh nhân sự to lớn và kinh phí khổng lồ, nền dân chủ tại Iraq vẫn còn phải đối diện với nhiều thách thức. Trong các nước láng giềng, vì địa lý chính trị, Iran tìm đủ mọi cách để gây ảnh hưởng các phe phái quân phiệt và đảng phái chính trị tại Iraq, cánh Hồi Giáo khủng bố ISIS (Islamic State of Iraq and Syria) vẫn tiếp tục gây tai họa, các thế lực chính trị nặng đầu óc địa phương trên khắp nước vẫn còn tranh chấp, các tông phái Hồi Giáo vẫn tranh giành quyền lực và tình trạng tham nhũng trầm trọng. Nói chung, so với 21 năm trước, Iraq có một vài tiến bộ nhưng nền dân chủ vẫn chưa trưởng thành.

Mustafa Al-Kadhimi, cựu Thủ tướng Iraq  2020–2022, trong bài viết “Nền Dân Chủ Ở Iraq: Một Vỏ Bọc Cho Tham Nhũng Và Vi Phạm Nhân Quyền” đăng trên diễn đàn của Trung tâm Quan hệ Quốc tế và Phát triển Bền (CIRSD) ngày 29.04.2025: “Để bảo vệ quyền và tự do của người dân, chính phủ Iraq phải thực sự là một nền dân chủ. Việc thực hiện các nguyên tắc bình đẳng, minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ giúp chính phủ xây dựng lòng tin và giành được sự tín nhiệm của người dân Iraq cũng như thể hiện ý chí dân chủ của họ. Đáng buồn thay, trong nhiều thập kỷ qua, người dân Iraq đã phải chịu đựng sự thất vọng do việc không tuân thủ những nguyên tắc này.”

Sự thất bại của nền dân chủ Iraq là một nghiên cứu tình huống (case study) rất quan trọng cho người Việt quan tâm đến tương lai dân chủ Việt Nam.

Trở lại một chút với cuộc Chiến tranh Iraq (Iraq War) 2003.

Ngày 19 tháng 3, 2003, cuộc chiến Iraq do TT George W. Bush phát động bằng cuộc hành quân mang tên Operation Iraqi Freedom với mục đích lật đổ chế độ Saddam Hussein chính thức bắt đầu. Saddam Hussein  bị bắt ngày 13 tháng 12 cùng năm và ngày 5 tháng 11, 2006 bị xử treo cổ. 

Chế độ cộng hòa được thiết lập với hiến pháp 2005.

Theo John McGarry, giáo sư Chính trị học tại Queen’s University, Canada, hiến pháp cộng hòa Iraq “phản ảnh hình thức tự do qua hợp tác của các cộng đồng Iraq”. Giáo sư John McGarry và người cộng tác Brendan O’Leary trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Luật Hiến Pháp Quốc Tế ( International Journal of Constitutional Law) tháng 7, 2007 đồng ý với phương thức xây dựng nền dân chủ dựa trên hiến pháp Iraq 2005.

Nhưng hiến pháp dù hoàn hảo bao nhiêu cũng chỉ là một khung sườn, một mô thức, một văn bản chứ không phải là một nền dân chủ. Nền dân chủ của một quốc gia bao gồm nhiều lãnh vực không chỉ chính trị, kinh tế mà còn văn hóa, xã hội phải được thực thi từ chính con người trong giai đoạn chuyển tiếp đầy khó khăn từ chiến tranh sang hòa bình, từ độc tài sang dân chủ.

Như giáo sư John McGarry cảnh báo, thất bại của “hợp tác” sẽ dẫn đến nội chiến và tạo cơ hội cho nước ngoài can thiệp. Thực tế chứng minh lời cảnh báo của ông là đúng khi bạo động vẫn tiếp tục diễn ra và ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Iran tại Iraq.

Sự ra đời của tổ chức khủng bố  Nhà Nước Hồi Giáo Iraq (The Islamic State of Iraq, ISI) năm 2006 đã biến xung đột nội bộ Iraq thành một loại chiến tranh ủy nhiệm (proxy war) giữa các bên có quyền lợi trong vùng.

Năm 2005, khi hiến pháp Iraq còn trong vòng thảo luận, người viết, trong một tiểu luận đăng trên talawas cho rằng yếu tố quyết định trong giai đoạn chuyển tiếp tại Iraq tùy thuộc vào người dân Iraq, trong đó bao gồm cấp lãnh đạo, có đủ khôn ngoan, nhìn ra khỏi những hàng rào đang làm cách ngăn họ hay không.

Đoạn sau đây trích từ bài viết trên talawas 21 năm trước và trích đăng lại nhiều lần với nhiều tựa bài khác nhau trên Facebook:

“Vai trò của các cường quốc trong đời sống chính trị của các quốc gia nhược tiểu thời nào cũng thế. Những ai theo dõi cuộc tranh chấp Iraq đều biết rằng sự quyết tâm của các chính phủ Mỹ, Anh, Nhật để lật đổ Saddam Hussein bằng võ lực và sự chống đối phương pháp đó của Pháp, Anh, Nga, Trung Quốc, nói cho cùng, cũng chỉ vì quyền lợi của quốc gia họ.

Chính phủ Mỹ chẳng căm thù gì Saddam Hussein và chính phủ Pháp, Nga cũng chẳng thương xót gì cho số phận hẩm hiu của ông ta. Tấm hình cụt hai tay trong thân hình lở loét của em bé Ali, nạn nhân của cuộc chiến, chắc chắn không treo trong phòng phác thảo chiến lược quân sự của Ngũ giác Đài và cũng chẳng bao giờ làm động lòng trắc ẩn của Putin hay Chirac khi họ nghĩ đến những mỏ dầu ở Iraq sắp rơi vào tay Mỹ.

Tôi cũng không nghĩ người chăn cừu trên cánh đồng cỏ Iraq có khả năng thay đổi chính sách đối ngoại của Mỹ hay Anh, nhưng đồng thời tương lai của Iraq không hẳn nằm trong bàn tay quyết định của Anh hay Mỹ. Tương lai của Iraq tùy thuộc vào lòng yêu nước của nhân dân Iraq và sự khôn ngoan của các nhà lãnh đạo chính phủ dân cử Iraq sắp được bầu ra.

Nhân đạo nhiều khi chỉ là những gì anh cho tôi trong lúc tôi đang cần, còn tại sao anh cho, anh nhân danh ai, Phật, Chúa, Allah, xăng, dầu,… không phải là quan tâm của tôi, ít ra trong lúc này.  Ngày nào quyền lợi của anh và tôi tương hợp, chúng ta là bạn, nếu không sẽ chia tay nhau và có thể trở thành đối nghịch.

Tôi hy vọng các nhà lãnh đạo của nước Iraq Mới sẽ vận dụng một cách hữu hiệu chính sách của các cường quốc vào công cuộc phục hưng và phát triển đất nước họ, tuy không được như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore trước đây, thì ít ra cũng gần với Ai Cập, Jordan, Pakistan, Thổ Nhĩ Kì trong thế giới Hồi giáo hiện nay.

Như một người đến từ một nước chiến tranh và nghèo khó, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến cơ hội hiện đang có cho người dân Afghanistan, Iraq sau nhiều năm chịu đựng dưới các chế độ độc tài hà khắc.”

Lý luận trên được người viết đưa ra từ 21 năm trước. Hôm nay nếu cần phải viết lại chắc cũng không thêm bớt điểm nào bởi vì không ai trách nhiệm cho sự thịnh suy của một dân tộc ngoài chính dân tộc đó.

Như chúng ta đều thấy, cơ hội đã đến nhưng nền Cộng Hòa Iraq thất bại.  Lý do trước hết vẫn là do con người của chính quốc gia vừa thoát nạn độc tài.

Thành phần lãnh đạo Iraq từ cấp trung ương không biết nắm bắt cơ hội quốc tế vàng son vừa được đem lại phối hợp với nguồn tài nguyên phong phú vốn có để xây dựng một quốc gia mới cường thịnh cho mình và cho các thế hệ Iraq mai sau. Dự trữ dầu hỏa của Iraq lớn vào hàng thứ năm trên thế giới nhưng bài học làm giàu của Nhật Bản, Tây Đức không phải là sách gối đầu giường của những lãnh đạo Iraq sau chiến tranh.

Dù là nơi phát xuất của nền văn minh Mesopotamia với tám ngàn năm lịch sử, nhưng đúng như Loren Thompson viết trên Tạp Chí Forbes, một trong những lý do Cộng Hòa Iraq thất bại vì Iraq không có bản sắc dân tộc (national identity) riêng cho mình mà chỉ là những tập thể ô hợp do các cường quốc Châu Âu tạo ra như kết quả sự tan rã của Đế Quốc Ottoman. Người theo giáo phái Shiite  không muốn để bị cai trị bởi người theo giáo phái Sunni. Người gốc Kurds không muốn bị cai trị bởi người Á Rập.

Một quốc gia không thể vươn lên nếu không có đặc tính chung làm nên quốc gia đó.

Nền dân chủ tại Cộng Hòa Iraq sau hiến pháp 2005 đã và đang chịu đựng sự phân hóa trầm trọng. Những vụ đặt bom giết người hàng loạt không phân biệt phụ nữ hay trẻ em của tổ chức cuồng tín ISI, mâu thuẫn giữa các phần tử cơ hội, tranh giành quyền lực trong chính quyền, phân hóa sâu sắc giữa các sắc dân đã và đang làm phân liệt Iraq.

Thời gian tới, với sự can thiệp của Iran vào nội bộ chính trị Iraq qua ngã tông phái Hồi Giáo Shia chiếm đa số tại Iraq sẽ làm sự phân hóa đang có trầm trọng và đẫm máu hơn.

Ngoài ra,  hai “ngư ông” Nga và Trung Cộng đồng minh của Iran đang ngồi chờ trục lợi sẽ có cơ hội bán vũ khí, khai thác các mâu thuẫn Trung Đông tương tự như chính sách của Liên Sô sau Chiến Tranh Sáu Ngày (Six-Day War) giữa Do Thái và ba nước Ai Cập, Jordan và Syria 1967.

Trung Cộng tố cáo Hoa Kỳ theo đuổi chủ nghĩa  can thiệp và sẽ dẫn tới “những hậu quả trầm trọng cho hòa bình và ổn định của khu vực”.

Thất bại của Iraq có gợi lên những điều gì cho viễn ảnh Việt Nam không?

Có và có rất nhiều.

Việt Nam sớm hay muộn cũng sẽ có dân chủ và sự sống còn của nền dân chủ Việt Nam sẽ đặt trên vai những người Việt có ý thức và quan tâm đến tiền đồ đất nước.

Iraq không thiếu tài nguyên hay tiền bạc mà thiếu con người.

Chỉ riêng trong hơn mười năm từ cuối năm 2003 đến 2014, không tính chi phí quân sự, Hoa Kỳ đã viện trợ phi quân sự tổng cộng lên tới 90 tỉ Mỹ kim để tái thiết Iraq. Kết quả thu lại được quá khiêm nhượng so với khoản viện trợ nước Mỹ đã đổ ra. Nguyên nhân để đổ thừa thì vô số. Chỉ riêng tệ nạn tham nhũng, năm 2018, theo Transparency International, Iraq thuộc vào nhóm cuối bảng, hạng 168 trong 180 nước được điều tra.

Sự tan rã của phong trào CS thế giới cho thấy cách mạng dân chủ diễn ra trong bốn dạng:

(1) Không đổ máu như Baltics, Hungary, Ba Lan.

(2) Đổ máu như Romania.

(3) Có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Ethiopia.

(4) Không có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Mông Cổ.

Cách mạng dân chủ tại Việt Nam sẽ đến bằng một trong bốn hình thức vừa nêu. Nhưng dù đến cách nào đi nữa, thực tế Iraq gợi ý cho những người Việt trong vai trò lãnh đạo một nước dân chủ còn non trẻ và những người Việt quan tâm trong cũng như ngoài nước những điểm cần phải học:

(1) Đặt quyền lợi đất nước trên quyền lợi đảng phái và tôn giáo.

(2) Lấy trong sạch và đạo đức làm tiêu chí lãnh đạo.

(3) Vận dụng, nhưng không lệ thuộc,  ngoại lực có lợi cho kế hoạch phục hưng, hiện đại hóa và chiến lược hóa đất nước.

(4) Đừng bao giờ tin nhưng khéo léo bang giao với Trung Cộng khi nội lực dân tộc chưa hoàn toàn hồi phục và đất nước chưa được hiện đại hóa.

Trần Trung Đạo

 


 

Hoàng Thị Hồng Thái bị bắt- Khi nỗi sợ hãi trở thành chính sách

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Đàn Chim Việt

09/01/2026

 

Hai ngày trước, trên mạng xã hội đã râm ran tin Hoàng Thị Hồng Thái bị bắt. Phải đến hôm qua, khi báo chí chính thống đồng loạt đưa tin, người ta mới biết: tin đồn ấy không còn là tin đồn.

Tôi mới theo dõi cô Hồng Thái Hoàng chưa lâu, nhưng chừng ấy thời gian cũng đủ để nhận ra một điều: các bài viết của cô có nền tảng hiểu biết rõ ràng, lập luận mạch lạc, giọng điệu ôn hòa và nhất quán theo tinh thần khai dân trí. Không hô hào, không kích động, không cảm tính. Chỉ có luật pháp, lý lẽ và trách nhiệm công dân.

Tết sắp đến. Trong khi người ta lo sắm sửa, đoàn viên, thì một người mẹ bị còng tay. Đau lòng hơn cả là phía sau cánh cửa trại giam ấy là bốn đứa trẻ còn thơ dại, nay bỗng chốc bơ vơ, thiếu vắng cả cha lẫn mẹ. Có một cháu còn mang chứng tự kỷ, điều mà bất kỳ xã hội tử tế nào cũng phải hiểu đó là nỗi mong manh cần được chở che, không phải là “tài sản thế chấp” cho những màn thị uy quyền lực.

Những ai từng đọc Hồng Thái Hoàng đều thấy rõ: cô phản biện trên nền tảng pháp luật. Góp ý chính sách cũng bằng ngôn ngữ của luật pháp. Chỉ ra sai sót cũng bằng lý lẽ, không bằng thóa mạ. Đó là kiểu phản biện mà bất kỳ nhà nước tự tin nào cũng nên trân trọng. Bởi phản biện không phải để lật đổ, mà để sửa sai; không phải để phá hoại, mà để tránh cho xã hội đi vào ngõ cụt.

Thế nhưng, thay vì đối thoại, người ta chọn cách bắt giữ. Thay vì tranh luận, người ta dùng đến quyền lực cưỡng chế. Điều đó nói lên điều gì? Rằng vấn đề không nằm ở lời nói của Hồng Thái Hoàng, mà nằm ở mức độ chịu đựng sự thật của những kẻ đang nắm quyền.

Đáng buồn hơn là sau khi một người phụ nữ bị bắt, thay vì tranh luận vào nội dung tư tưởng, một đội ngũ quen mặt trên không gian mạng lại lao vào “đánh hội đồng” bằng con đường bẩn thỉu nhất: bới móc đời tư, xúc phạm nhân phẩm, hạ nhục người khác để né tránh việc phải đối diện với lý lẽ. Đó là kiểu “bỏ bóng đá người” rất quen, rất hèn, và rất đê tiện. Khi không thể phản biện bằng trí tuệ, người ta sẽ dùng đến bùn.

Xin nhắc thẳng: mọi bình luận xúc phạm, cực đoan, mang tính hạ nhục cá nhân đều không giúp xã hội tốt lên, mà chỉ phơi bày sự nghèo nàn của chính người viết. Những bình luận như thế, nếu xuất hiện ở đây, sẽ bị xóa và bị chặn. Văn minh không phải là món đồ trang trí, mà là giới hạn tối thiểu của một cộng đồng biết suy nghĩ.

Có một câu rất đáng để nhớ: một xã hội không sợ sai lầm, nhưng sẽ sụp đổ khi sợ sự thật. Một xã hội muốn “vươn mình” thì không thể run rẩy trước những tiếng nói phản biện ôn hòa. Càng không thể coi việc khai dân trí là mối đe dọa. Bởi chỉ những chính quyền yếu kém mới cần đến sự u mê của người dân để tồn tại.

Người ta nói nhiều về những khẩu hiệu đẹp đẽ, nhưng cách đối xử với Hồng Thái Hoàng và tệ hơn, với các con của cô lại đi theo hướng hoàn toàn ngược lại. Khi một người mẹ bị bắt vì những bài viết có tính xây dựng, thì đó không phải là sức mạnh của nhà nước, mà là biểu hiện của nỗi sợ. Khi những đứa trẻ vô tội phải gánh hậu quả, thì đó không phải là kỷ cương, mà là sự vô nhân tính được khoác áo pháp lý.

Những bài viết của Hồng Thái Hoàng, với tôi, không chống lại ai cả. Thứ cô chống lại là sự tù túng trong tư duy, là nghèo nàn trong nhận thức, là bất công được che chắn bằng quyền lực. Và đáng lẽ, những tiếng nói như thế phải được lắng nghe, tranh luận và phản biện công khai chứ không phải bị trấn áp trong im lặng.

Cầu mong cô Hồng Thái Hoàng đủ sức mạnh để vượt qua giai đoạn nghiệt ngã này. Cầu mong các con của cô được chở che, được yêu thương, và không phải trả giá cho những điều mà các cháu không hề gây ra.

Bởi cuối cùng, lịch sử không hỏi ai đã bắt được bao nhiêu người, mà chỉ hỏi: ai đã làm cho xã hội này sáng lên thêm một chút và ai đã cố tình dập tắt ánh sáng ấy.

Tran Nam Anh (Facebook)


 

TÌNH YÊU KHÔNG CHẾT

Một tác giả nọ đã ghi lại bài học của mẹ mình như sau:

Ông ngoại tôi là một Mục sư vào đầu thế kỷ XX. Khi có một người trong cộng đồng qua đời, người ta thường đem khăn liệm và mang quan tài đến và đặt trong phòng khách của vị mục sư. Năm đó mẹ tôi lên tám tuổi, lần đầu tiên chứng kiến cảnh tượng đó mẹ tôi rất sợ hãi.

Ngày nọ ông ngoại cầm tay mẹ tôi đặt vào tường và hỏi mẹ tôi cảm thấy như thế nào? Mẹ tôi trả lời nó cứng và lạnh. Sau đó ông ngoại dẫn mẹ tôi đến cạnh quan tài của người tín hữu tên là Smick đang nằm trong phòng khách, ông nói với mẹ tôi: “Ba xin con làm một điều vô cùng khó khăn, nếu con làm được điều đó con sẽ không bao giờ biết sợ chết nữa. Ba muốn nói con đặt tay trên mặt ông Smick”.

Vì thương và tin tưởng ông ngoại, nên mẹ tôi đã làm theo điều ông ngoại xin. Mẹ tôi đưa tay sờ vào mặt người chết. Ông ngoại tôi hỏi: Con thấy thế nào? Mẹ tôi đáp: Lạnh như tường vậy. Ông ngoại tôi liền giải thích: Tốt lắm, đãy là ngôi nhà cũ của ông Smich, ông Smich đã ra đi và chúng ta không có lý do gì đẻ sợ ngôi nhà của ông cả.

Từ đó mẹ tôi không còn biết sợ người chết nữa! Tám giờ đồng hồ trước khi mẹ tôi qua đời, mẹ tôi đã yêu cầu chúng tôi làm một điều khác thường, thấy chúng tôi đang khóc sướt mướt, mẹ tôi nói đừng đặt hoa trên mộ của mẹ vì mẹ không có ở đó đâu, khi mẹ từ bỏ thân xác này, mẹ sẽ bay đi Âu Châu, cha chúng con chưa bao giờ đưa mẹ đến đó.

Nghe thế chúng tôi bật cười và suốt trong đêm hôm đó, không ai trong chúng tôi khóc nữa. Khi chúng tôi đến hôn từ biệt và chúc mẹ ngủ ngon. Mẹ tôi nói: gặp lại các con sáng mai. Thế nhưng đúng sáu giờ mười lăm phút sáng hôm sau, mẹ tôi đã vĩnh viễn ra đi. Hai ngày sau chúng tôi dọn dẹp lại căn phòng của mẹ, trong nhiều mảnh giấy để lại, có một bài thơ không rõ do mẹ tôi sáng tác hay của một tác giả nào đó. Sau đây là nội dung của bài thơ:

“Khi tôi chết, xin hãy để lại cho con cái tôi những gì còn lại của tôi. Nếu bạn cần khóc thì hãy khóc cho những người anh em đang đi bên cạnh bạn. Xin bạn hãy quàng tay qua mọi người, hãy cho họ những gì bạn muốn cho tôi. Tôi muốn để lại cho bạn một cái gì đó, một cái gì đó khác với lời nói hay âm thanh, bạn hãy tìm gặp tôi trong những người tôi đã biết và yêu thương. Và nếu bạn không thể sống mà không có tôi thì xin bạn hãy để cho tôi được sống trong ánh mắt, trong tâm trí và trong những hành động tử tế của bạn. Bạn có thể yêu thương tôi nhiều nhất bằng cách bàn tay nắm lấy những bàn tay và cho con cái được trở nên những con người tự do. Tình yêu không chết chỉ có con người mới chết thôi, vậy thì tất cả những gì còn lại của tôi là tình yêu, xin hãy trao ban.”

***

Khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cách đặc biệt cho những người quá cố. Người chết nào dường như cũng có một cái gì để trăn trối cho những người còn sống, người chết nào dường như cũng tiếp tục sống bên cạnh người còn sống. Hẳn đó cũng là cảm nhận của mỗi người chúng ta. Sau đó, bên cạnh chúng ta những người thân thương ruột thịt của chúng ta vẫn tiếp tục hiện diện và theo dõi

từng bước của chúng ta.

Giáo Hội nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện đó và mời gọi chúng ta cầu nguyện cho người quá cố. Có những lời cầu nguyện qua những bài Thánh ca, những kinh quen thuộc đã đành, nhưng quan trọng hơn, ý nghĩa hơn hẳn phải là những hành động yêu thương mà chúng ta cố gắng thực thi mỗi ngày, đó là sự tưởng nhớ và chân thành nhất mà chúng ta dành cho người quá cố vậy.

***

Lạy Chúa, xin đón nhận những cố gắng sống yêu thương của chúng con như của lễ dâng lên Chúa để cầu nguyện cho những người thân thương đã qua đời của chúng con. Amen.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

SỰ THINH LẶNG CỦA Ý THỨC VÀ CỦA CÕI LÒNG- Michel Hubaut

Michel Hubaut

Trước hết, chính trên bình diện đối thoại nội tâm với chính mình mà con người cố gắng đọc và hiểu lịch sử quá khứ, hiện tại và tương lai của mình, cố gắng phân tích những thất bại và thành công, những ước mơ và thất vọng; những niềm vui nỗi buồn.  Tóm lại, cố gắng thống nhất đời sống mình trong thời gian, nếu mình không muốn biến thành một nút chai trôi dạt theo các lớp sóng liên hồi của thời gian đi qua.

Trong sự thinh lặng của ý thức, vang lên một cuộc tranh chấp giữa nhiều tiếng nói, qua đó sẽ xuất phát sự chọn lựa, các quyết định của mình.  Nơi ưu tuyển để thực thi tự do.  Sự tranh chấp giữa cái tốt nhiều, và cái tốt ít trong chính mình, giữa những giá trị mà mình chọn lựa hay từ chối.  Đây là lúc mà mình cố gắng tìm hiểu bí mật về mình, về căn tính đích thực và về vận mệnh của mình.

Ai lẩn tránh vùng thinh lặng này, người ấy đánh mất toàn bộ cuộc sống ý thức và chỉ còn phản ứng một cách hời hợt bằng cảm tính, bằng những cảm xúc ngoài da.  Người ấy chiều theo khẩu hiệu, thời trang và dư luận.  Không có nhân vị thực sự nếu không có sự tranh luận nội tâm trong thinh lặng của ý thức.

Thật hoàn toàn giả tạo nếu ta muốn xác định ranh giới  giữa sự thinh lặng của giác quan, sự thinh lặng tâm lý, sự thinh lặng của ý thức với sự thinh lặng của cõi lòng.  Những tác động qua lại giữa các bình diện ấy thì thật nhiều.  Hiểu như thế, thì cuộc đối thoại của con người với ý thức mình dù cần thiết và cảm động đến đâu, cũng không thể đồng hóa với sự thinh lặng của ‘cõi lòng.’

Chúng ta, nhất là những người phương tây, có khuynh hướng đối lập lòng với trí.  Trí là lãnh vực của đầu óc, của suy tư, của hiểu biết, của lý luận, của đúng sai.  Và lòng là trung tâm của tình cảm.

Thế nhưng ‘lòng’ trong truyền thống Kinh Thánh truyền thống Kitô Do Thái Giáo, và đặc biệt là trong truyền thống tâm linh ở Phương Đông, không chỉ hạn hẹp trong lãnh vực tình cảm mà thôi.

Trong Kinh Thánh, ‘lòng’ là trung tâm của sự sống con người.  Đấy là nơi mà đôi khi ta gọi là ‘tâm hồn’ ‘chiều sâu của con người mình.’  Nơi ưu tuyển để hội nhập, nơi cắm rễ; qui tụ; hòa hợp mọi khả năng con người, mọi biểu hiện của sự sống và mọi chức năng của thân thể.

Trên hết, ‘lòng’ là nơi mỗi một chúng ta ở gần Thiên Chúa, có thể liên lạc với Đấng cội nguồn Sự Sống.  Nó là cánh đồng mà Chúa Giêsu đã nói đến nơi ấy chứa đựng kho tàng Nước Trời (Mt 13, 44).

“Thật vậy, cõi lòng là chủ và vua của toàn bộ của các cơ quan trong thân thể, và khi ân sủng chiếm lấy đồng cỏ của cõi lòng, nó sẽ ngự trị trong mọi chi thể và mọi suy nghĩ, vì đấy là sự hiểu biết đích thực…” (Thánh Macaire, bài giảng XV, 20).

Và suốt lịch sử các tôn giáo, bao nhiêu người nam, nữ đã đi vào thinh lặng của ‘cõi lòng,’ đỉnh cao của con người mình, nơi đấy họ cảm nhận được một chiều kích mới của bản thân và của thế giới.  Sự thinh lặng đã đưa họ vào một ‘vũ trụ’ mà họ không tạo ra nhưng đã hiện diện trong họ, như là bị chôn vùi.  Rồi một hôm, họ bỗng ý thức được.

‘Cõi lòng’ hay tâm hồn có lẽ là ân huệ cao cả nhất, tốt đẹp nhất, và ẩn kín nhất mà Đấng Tác Tạo đã ban cho loài thọ tạo.

Như vậy, mọi người dù hữu thần hay vô thần, đều có ‘khả năng nội tâm’ này, và có thể thiết lập tương giao với Thiên Chúa, vì Người đã đặt vào đấy hơi thở của chính Người.

Trong sự thinh lặng của tâm hồn không phải con người đi bước trước, nhưng chính là Thiên Chúa, nhờ “Thần Khí Người kết hợp với lòng trí chúng ta.”  Con người không còn độc thoại với chính mình nhưng có thể lắng nghe Lời của Thiên Chúa.  Lời không thể nào diễn đạt bằng tiếng nói, tựa như tiếng reo của một dòng suối.  Ở đấy, giống như nhựa cây vươn lên và nuôi sống cây trong thinh lặng, Thần Khí Tác Tạo chạm lấy ‘cõi lòng’ của tạo vật bằng những can thiệp thật khẽ, mà chỉ có con người thinh lặng mới cảm nhận được.

 Michel Hubaut
Trích trong tập sách NHỮNG NẺO ĐƯỜNG THINH LẶNG

From: Langthangchieutim