Nguyễn Hưng Quốc – NGHĨ VỀ CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

Nguyễn Hưng Quốc

NGHĨ VỀ CÁC CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

1.

Ở Việt Nam gần đây có một số dấu hiệu mới khiến nhiều người lo ngại. Thứ nhất, Việt kiều về nước phải đăng ký tạm trú (như mấy chục năm trước!); thứ hai, chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có quyền tước chứng chỉ hành nghề của luật sư. Nhiều người nói đến sự củng cố của một nền công an trị.

2.

Chế độ độc tài nào cũng bắt đầu bằng một cuộc cách mạng và kết thúc bằng một cuộc cách mạng khác. Ở cuộc cách mạng đầu, họ có thể là anh hùng; ở cuộc cách mạng sau, họ là tội phạm, chỉ trừ một ngoại lệ: chính họ đứng ra khởi xướng cuộc cách mạng thứ hai để xóa bỏ các di sản của cuộc cách mạng thứ nhất.

3.

Các chế độ độc tài không cần gì ở người dân hơn là sự dửng dưng. Dửng dưng trước tội ác. Dửng dưng trước sự áp bức. Dửng dưng trước vận mệnh đất nước. Và dửng dưng trước cả sự khổ nhục của chính mình. Chính sự dửng dưng ấy là dưỡng khí và dưỡng chất cần thiết để duy trì và nuôi dưỡng độc tài.

4.

Tâm lý của phần lớn dân chúng là muốn được an toàn, và vì muốn được an toàn nên họ sợ đương đầu với chế độ độc tài, nhưng chính vì tránh né đương đầu như thế nên chế độ độc tài càng kéo dài và họ càng không được an toàn.

5.

Ma quỷ hiện hữu nhờ óc mê tín. Các tên độc tài tồn tại nhờ sự cuồng tín của con người. Mê hay cuồng đều loại trừ lý trí.

6.

Ở Việt Nam không có nhà độc tài. Chỉ có một bộ máy độc tài. 


 

Khi bạn chết đi.. – Tác giả: Thi Thien

  Chi Nguyen  – Những Câu Chuyện Thú Vị 

 Tác giả : Thi Thien

Đừng lo lắng về thân thể của bạn… người thân của bạn sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết tùy theo khả năng của họ. Họ sẽ cởi quần áo của bạn, tắm rửa, mặc quần áo cho bạn, đưa bạn ra khỏi nhà và đưa bạn đến địa chỉ mới.

Nhiều người sẽ đến dự đám tang của bạn để “nói lời tạm biệt”. Một số sẽ hủy bỏ các cam kết và thậm chí bỏ lỡ công việc để đến dự đám tang của bạn.

Đồ đạc của bạn, ngay cả những thứ bạn không muốn cho mượn, sẽ bị bán, cho đi hoặc đốt cháy.

Chìa khóa, dụng cụ, sách, giày, quần áo của bạn… Và hãy yên tâm rằng thế giới sẽ không dừng lại vì bạn. Nền kinh tế sẽ tiếp tục.

Trong công việc của bạn, bạn sẽ bị thay thế. Người có năng lực tương đương hoặc tốt hơn sẽ thay thế vị trí của bạn.

Tài sản của bạn sẽ thuộc về những người thừa kế của bạn…. Và đừng nghi ngờ rằng bạn sẽ tiếp tục bị trích dẫn, phán xét, chất vấn và chỉ trích vì những điều nhỏ nhặt và lớn lao mà bạn đã làm trong cuộc sống.

Những người chỉ biết đến bạn qua vẻ bề ngoài sẽ nói; Đàn ông hay đàn bà tội nghiệp!

Những người bạn chân thành của bạn sẽ khóc trong vài giờ hoặc vài ngày, nhưng sau đó họ sẽ trở lại cuộc sống vui vẻ và cười đùa bình thường.

Những con vật của bạn sẽ được cho đi và sẽ mất thời gian nhưng chúng sẽ quen với người chủ mới.

Những bức ảnh của bạn sẽ được treo trên tường hoặc lưu lại trên một món đồ nội thất trong một thời gian, nhưng sau đó có thể chúng sẽ được cất giữ ở đáy ngăn kéo. Và chúng ta sẽ chỉ sống trong ký ức của những người yêu thương chúng ta.

Người khác sẽ ngồi trên ghế của bạn và ăn tại bàn của bạn.

Nỗi đau sâu sắc trong ngôi nhà của bạn sẽ kéo dài một tuần, hai tuần, một tháng, hai tháng, một năm, hai năm… Rồi bạn sẽ được thêm vào những kỷ niệm và rồi, câu chuyện của bạn kết thúc.

Nó kết thúc ở giữa con người, nó kết thúc ở đây, nó kết thúc ở thế giới này.

Nhưng hãy bắt đầu câu chuyện của bạn trong thực tế mới… trong cuộc sống sau khi chết.

Cuộc sống của bạn, nơi bạn không thể di chuyển với những thứ từ đây bởi vì khi bạn rời đi, chúng đã mất đi giá trị mà chúng có.

Thân hình

Sắc đẹp

Vẻ bề ngoài

Họ

An ủi

Tín dụng

Tình trạng

Chức vụ

tài khoản ngân hàng

Trang chủ

Xe hơi

Nghề nghiệp

Tiêu đề

Bằng cấp

Huy chương

Cúp

Bạn

Địa điểm

Vợ chồng

Gia đình…

Trong cuộc sống mới, bạn sẽ chỉ cần tinh thần của mình. Và giá trị bạn tích lũy được ở đây sẽ là tài sản duy nhất bạn có ở đó.

Vận may đó là thứ duy nhất bạn mang theo bên mình và nó được tích lũy trong suốt thời gian bạn ở đây. Khi bạn sống một cuộc sống yêu thương người khác và hòa bình với hàng xóm, bạn đang tích lũy vận may tinh thần của mình.

Đó là lý do tại sao bạn nên cố gắng sống trọn vẹn và hạnh phúc khi còn ở đây vì :

“TỪ ĐÂY… BẠN SẼ KHÔNG LẤY NHỮNG GÌ BẠN CÓ MÀ CHỈ LẤY NHỮNG GÌ BẠN ĐÃ CHO “…

Tác giả : Thi Thien

———–

Ảnh ST. minh họa 


 

TOM BROWN – Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Tom Brown’s School Days là một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Anh Quốc.  Tác phẩm này sau đó được dựng thành phim và trở thành một bộ phim ăn khách.

Tom Brown là một cậu bé được nhiều người yêu mến, theo học tại một trường nội trú ở nước Anh.  Cậu sống với khoảng một chục học sinh khác trong một phòng ngủ của trường.  Bất cứ điều gì Tom nói hay làm đều có ảnh hưởng lớn đến những gì các học sinh khác nói hoặc làm.

 Một ngày nọ, có một học sinh mới đến nhập học.  Tối hôm đó, khi đến giờ đi ngủ, cậu bé mới ngây thơ quỳ xuống bên cạnh giường để đọc kinh cầu nguyện.

 Một vài học sinh khác bắt đầu cười khúc khích.  Một số khác cười lớn và chế giễu.  Thậm chí có một đứa còn ném chiếc giày vào cậu bé đang quỳ cầu nguyện.

 Đêm đó, Tom không ngủ được.  Cậu nằm thao thức, suy nghĩ về những gì đã xảy ra với người bạn mới.  Cậu cũng bắt đầu nghĩ đến mẹ mình và những lời kinh bà đã dạy cậu đọc mỗi tối trước khi đi ngủ – những lời kinh mà cậu đã không còn đọc kể từ ngày đến trường nội trú.

 Tối hôm sau, nhiều cậu bé trong ký túc xá háo hức chờ đợi để tiếp tục chế giễu cậu học sinh mới.  Nhưng khi đến giờ đi ngủ, một điều hoàn toàn bất ngờ đã xảy ra.  Khi cậu học sinh mới quỳ xuống để đọc kinh tối, Tom cũng quỳ xuống theo. 

Khi các học sinh khác trong ký túc xá nhìn thấy Tom quỳ gối cầu nguyện, họ đã không thực hiện kế hoạch của mình.

 Câu chuyện nhỏ đơn sơ ấy trong Tom Brown’s School Days minh họa một cách cảm động và sâu sắc điều mà Chúa Giêsu muốn nói trong bài Tin Mừng hôm nay:

 Những ai công khai tuyên bố rằng họ thuộc về Thầy, thì Thầy cũng sẽ làm như vậy cho họ trước mặt Cha Thầy.  Còn ai công khai chối bỏ Thầy, Thầy cũng sẽ chối bỏ người ấy trước mặt Cha Thầy ở trên trời.”

 Câu chuyện ấy cũng cho thấy một trong những lý do khiến Chúa Giêsu nói như vậy.  Đó là vì việc làm chứng hay không làm chứng cho Cha trên trời có thể ảnh hưởng sâu sắc đến những người chung quanh chúng ta.

 Hãy nghĩ đến một lĩnh vực mà điều này đặc biệt đúng, đó là gia đình.  Cách cha mẹ làm chứng hoặc không làm chứng cho Cha trên trời của mình có ảnh hưởng rất lớn đến con cái.

 Tỉ như, gương sáng của mẹ Tom và chứng tá đức tin của bà chính là yếu tố quyết định khiến Tom can đảm làm chứng cho đức tin của mình trước mặt bạn bè đồng trang lứa.

 Có người đã nói rằng mỗi Kitô hữu đều đứng trên một bục giảng nào đó và giảng một bài giảng nào đó hàng ngày.  Điều này đặc biệt đúng đối với cha mẹ trong gia đình.

 Vào tháng 4 năm 1987, tạp chí Catholic Digest đăng một bài phỏng vấn cặp vợ chồng vừa kỷ niệm 25 năm ngày cưới.

 Trong cuộc phỏng vấn, họ chia sẻ rằng từ đêm tân hôn cho đến nay, họ luôn cầu nguyện với nhau mỗi tối.

 Lúc đầu, họ chỉ đọc những kinh quen thuộc như Kinh Lạy Cha hoặc Kinh Kính Mừng.

 Dần dần, họ bắt đầu cùng nhau đọc Kinh Thánh và chia sẻ những suy nghĩ về những gì họ đã đọc.  Một cách khác mà họ cầu nguyện với nhau là cầu nguyện bộc phát từ tận đáy lòng.  Đôi khi họ cùng xin Chúa giúp đỡ giải quyết những khó khăn mà cả hai đang đương đầu.

 Đôi vợ chồng này nhìn nhận rằng cầu nguyện theo cách này thì không dễ dàng khi mới khởi sự.  Nhưng họ cũng thú nhận rằng những lời cầu nguyện chân thành phát xuất từ trái tim đã trở thành một nguồn ân sủng lớn lao cho họ.

 Nhận xét về điều này, người chồng nói: “Đôi khi tôi không cầu nguyện bộc phát về một điều gì đó bởi vì tôi không muốn nói điều ấy với vợ.”  Ông cho biết, sau cùng, ông đã vượt qua được sự ngần ngại đó khi nhận ra rằng việc này không chỉ thiếu thành thật với Rita mà còn thiếu thành thật với chính Thiên Chúa.

 Khi ông vượt qua được sự e dè ấy, hình thức cầu nguyện này đã giúp họ rất nhiều trong việc vượt qua những giai đoạn khó khăn, đặc biệt là trong bảy năm đầu của đời sống hôn nhân.

 Hai vợ chồng cho biết họ có ý tưởng cầu nguyện chung với nhau nhờ gương sáng của cha mẹ bà Rita.  Bà kể:

 Khi tôi còn nhỏ, trong gia đình tôi chúng tôi ít khi đóng cửa phòng.  Tôi thường nghe cha mẹ mình cầu nguyện vào ban đêm.  Đó là một âm thanh thật bình an và ấm áp.  Đôi khi cha mẹ mời chúng tôi vào phòng, và cả nhà cùng ngồi trên giường của họ.  Cha mẹ đọc từ cuốn Kinh Thánh và từ cuốn sách có tên là The Upper Room.”

 Đó chính là loại chứng tá mà Chúa Giêsu đang nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay, đặc biệt là trong gia đình.

 Có lẽ đó không phải là loại chứng tá mà chúng ta quen thực hành.

 Tuy nhiên, đó chính là loại chứng tá mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta thực hiện.

 Đó là loại chứng tá mà nếu chúng ta đem ra thực hành, nó có thể biến đổi các mối tương quan gia đình và cuộc sống của chúng ta một cách hết sức kỳ diệu.

 Vậy điều gì ngăn cản chúng ta làm chứng như thế? 

Chính Chúa Giêsu đã nhắc đến điều đó ba lần trong bài Tin Mừng: đó là sự sợ hãi.  Và đó là điều Chúa Giêsu nói với chúng ta hôm nay: “Đừng sợ.” 

Đây là sứ điệp chứa đựng trong bài đọc Cựu Ước hôm nay và đặc biệt trong bài Tin Mừng hôm nay. 

Đây là Tin Mừng mà Chúa Giêsu muốn chia sẻ với chúng ta hôm nay, cũng như Người đã chia sẻ với các môn đệ khi còn sống giữa họ.

 Đây là Tin Mừng có thể thay đổi không chỉ cuộc sống của những người thân yêu của chúng ta, mà còn cuộc sống của tất cả những người mà họ tiếp xúc. 

Chúng ta hãy kết thúc bằng lời cầu nguyện:

 Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, xin ban cho chúng con sự can đảm để làm chứng cho Ngài trong mọi lãnh vực của cuộc sống.   Xin giúp chúng con nhận ra rằng lĩnh vực quan trọng nhất để làm chứng chính là gia đình.  Nếu chúng con biết làm chứng trong gia đình mình, việc làm chứng trong những lãnh vực khác của cuộc sống sẽ tự nhiên được thực hiện.  Amen.

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

TRƯỚC KHI CON MỞ MIỆNG – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin”.

Một đứa trẻ tỉnh giấc giữa đêm vì cơn ác mộng. Chưa kịp gọi, nó đã thấy cha mình ngồi bên, tay đặt trên trán nó. Đứa bé ngạc nhiên: “Ba biết con sợ?”. Người cha mỉm cười: “Ba đã nghe tiếng con trở mình từ lâu!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay tiết lộ một nghịch lý: chúng ta không cầu nguyện để được Thiên Chúa lắng nghe; chúng ta cầu nguyện vì Cha đã nghe cả tiếng trở mình của chúng ta từ trước. Bởi lẽ, Cha đã biết, đã yêu và đã chờ đợi – ‘trước khi con mở miệng’.

Chúng ta thường nghĩ cầu nguyện là chuyển thông tin từ đất lên trời. Nhưng Chúa Giêsu cho biết, không có điều gì nơi chúng ta là “tin mới” đối với Thiên Chúa. Động từ Hy Lạp oiden – “đã biết và vẫn đang biết” – diễn tả một sự hiểu biết đi trước mọi lời thưa gửi. Vì thế, cầu nguyện không nhằm mở mắt Thiên Chúa, nhưng mở lòng người.

Vậy nếu Cha đã biết, tại sao còn phải cầu nguyện? Bởi lẽ, lời cầu nguyện không nhằm thay đổi Thiên Chúa, nhưng biến đổi con người. Mỗi lần thưa “Lạy Cha”, chúng ta học bước ra khỏi cái tôi tự trị; mỗi lần nói “Xin cho ý Cha thể hiện”, chúng ta học trao lại quyền định đoạt cho Cha. Cầu nguyện không phải là kéo Thiên Chúa vào chương trình của chúng ta, nhưng là để chúng ta được đưa vào chương trình của Ngài. Thế nhưng, chúng ta vẫn khó tin điều đó. Chúng ta sợ bị bỏ quên, nên cứ muốn nói nhiều, xin nhiều và tự xoay xở. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta bình an xác tín một sự thật: trước khi chúng ta biết mình cần gì, Cha trên trời đã biết.

Câu chuyện Cựu Ước hôm nay là một minh hoạ. Êlia là người đã để Thiên Chúa viết nên câu chuyện đời mình. Ông không sống theo dự tính riêng, nhưng theo ý định của Thiên Chúa; không nắm giữ, nhưng phó thác; không tìm vinh quang cho mình, nhưng làm rạng danh Ngài. Vì thế, ông bừng lên như ngọn lửa – bài đọc một. “Trước nhan thánh Chúa, người công chính hãy vui mừng!” – Thánh Vịnh đáp ca. Niềm vui chỉ nảy sinh nơi những ai không giằng co với Thiên Chúa, nhưng bình an ở trong tay Ngài. “Đừng để điều gì làm con xao xuyến, đừng để điều gì làm con sợ hãi. Mọi sự đều qua đi; chỉ mình Thiên Chúa là không đổi thay!” – Têrêxa Avila.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu là Người Con đã sống trọn vẹn trong niềm tín thác vào Chúa Cha. Từ sa mạc đến núi Sọ, Ngài không ngừng trao mình cho Cha, để rồi cuối cùng phó dâng linh hồn trong tay Cha. Đó cũng là con đường của người môn đệ: càng cầu nguyện, chúng ta càng học bớt đòi Thiên Chúa theo ý mình. Cầu nguyện không phải để Thiên Chúa làm điều chúng ta muốn, nhưng để chúng ta trở thành điều Thiên Chúa muốn – biết trao đời mình cho Đấng luôn đi bước trước. Bởi lẽ, ‘trước khi con mở miệng’, Cha đã ở đó.

“Lý do chúng ta cầu nguyện là để được nên một với Thiên Chúa, Đấng chúng ta cầu khẩn!” – Julian of Norwich.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trước khi con tìm Chúa, Chúa đã đi tìm con; trước khi con gọi Cha, Cha đã biết con; trước khi con cất tiếng, Cha đã ở đó. Cho con biết sống và cầu nguyện như một người con!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

********************************************

Lời Chúa Thứ Năm, Tuần XI Thường Niên, Năm Chẵn

Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế này.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 6,7-15

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.

9 “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :

‘Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
10triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
11Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày ;
12xin tha tội cho chúng con
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con ;
13xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.’

14 “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”


 

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Phong Thanh Nguyen is with Phong Nguyen.

Cái Xấu Của Một Ý Thức Hệ

Trước năm 1975, ở miền Nam có một câu nói dân gian nghe rất chua chát:

“Ai xấu quá thì bị nói: xấu như Việt cộng.”

Mới nghe tưởng là câu đùa ác miệng. Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chữ “xấu” ở đây không chỉ nằm ở khuôn mặt, dáng vẻ hay áo quần. Cái xấu đáng sợ hơn là **cái xấu của một lối sống**, một thứ văn hóa chính trị nghèo nàn, thô bạo, luôn dị ứng với sự thanh lịch, tử tế, văn minh và tự do.

Người miền Nam trước 1975 không hoàn hảo. Không xã hội nào hoàn hảo. Nhưng miền Nam có một nếp sống đô thị, một tinh thần cởi mở, một không gian văn hóa tương đối tự do. Người ta đọc sách, nghe nhạc, xem phim, mặc đẹp, nói chuyện lịch sự, tranh luận, yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp. Một cô gái có thể uốn tóc, sơn móng tay, mặc áo dài, dùng son phấn. Một người đàn ông có thể mặc vest, đeo kính, nói năng từ tốn, đọc sách Tây phương, nghe nhạc tiền chiến, bàn chuyện văn chương, triết học, chính trị.

Những điều đó vốn rất bình thường trong một xã hội văn minh. Nhưng dưới con mắt của người cộng sản, cái đẹp ấy lại trở thành “tiểu tư sản”, “ủy mị”, “đồi trụy”, “phản động”, “mất lập trường”. Họ không chỉ muốn chiếm chính quyền. Họ còn muốn chiếm luôn cách ăn mặc, cách nói năng, cách suy nghĩ, cách yêu cái đẹp của con người.

Sau tháng Tư năm 1975, cái xấu ấy không còn là lời đồn. Nó bước thẳng vào đời sống miền Nam bằng dép râu, nón cối, lý lịch, hộ khẩu, công an khu vực, tổ dân phố, kiểm điểm, học tập cải tạo và những buổi đấu tố tinh thần kéo dài từ nhà ra phố.

Những cô gái, những quý bà từng thanh lịch phải tự làm thẳng mái tóc uốn cong. Móng tay từng được chăm chút phải cắt ngắn. Sơn móng tay phải bôi đi. Son phấn phải giấu. Đồ trang sức, quần áo đẹp, sách vở, băng nhạc, tranh ảnh, tiểu thuyết — tất cả trở thành thứ có thể gây nguy hiểm cho chủ nhân.

Không ai ra lệnh bằng văn bản rằng người miền Nam phải xấu đi. Nhưng ai cũng hiểu: muốn sống yên, phải tự làm mình bớt nổi bật. Muốn khỏi bị soi, phải ăn mặc nghèo đi. Muốn khỏi bị nghi ngờ, phải nói ít đi. Muốn khỏi bị chụp mũ, phải giấu sách, giấu nhạc, giấu cả quá khứ.

Thế là những chiếc áo đẹp bị cất vào đáy tủ. Những cuốn sách bị đốt trước khi bị quy là “văn hóa đồi trụy”. Những bản nhạc bị im tiếng. Những câu nói lịch sự bị thay bằng khẩu hiệu. Những con người có giáo dục phải học cách cúi đầu trước những kẻ nhân danh “giai cấp” nhưng cư xử rất thiếu văn hóa.

Cái xấu của cộng sản không chỉ là nghèo. Nghèo chưa chắc xấu. Người nghèo vẫn có thể rất đẹp nếu biết trọng nhân phẩm, trọng lẽ phải, trọng tình nghĩa. Cái xấu của cộng sản nằm ở chỗ họ **biến cái nghèo thành tiêu chuẩn đạo đức**, biến sự thô kệch thành “lập trường”, biến sự ganh ghét cái đẹp thành “đấu tranh giai cấp”.

Họ không nâng người nghèo lên cho đẹp hơn, văn minh hơn, tự do hơn. Họ kéo người khác xuống cho giống cái khuôn nghèo nàn của họ. Ai thanh lịch quá thì bị nghi. Ai học nhiều quá thì bị soi. Ai nói năng mạch lạc quá thì bị ghét. Ai có phong thái đàng hoàng quá thì bị xem là “không giống quần chúng”.

Trong trại cải tạo, nhiều người kể lại rằng những sĩ quan VNCH nào trắng trẻo, trí thức, đeo kính, ăn nói nhã nhặn, có vẻ học thức, thường bị “chiếu cố” nhiều hơn. Vì trong mắt kẻ cai trị bằng hận thù, sự lịch lãm của người tù cũng là một lời tố cáo. Nó làm lộ ra khoảng cách giữa một bên là văn hóa và một bên là bạo lực nhân danh cách mạng.

Cái đẹp làm họ khó chịu.

Cái lịch sự làm họ bất an.

Cái trí thức làm họ nghi ngờ.

Cái tự do làm họ sợ hãi.

Cái sang trọng làm họ căm ghét.

Bởi vì một chế độ được xây trên kiểm soát luôn sợ những con người có nội lực. Người có văn hóa thì khó bị nhồi sọ. Người có nhân phẩm thì khó bị khuất phục. Người biết yêu cái đẹp thì khó chấp nhận sự thô bỉ. Người biết sự thật thì khó cúi đầu trước tuyên truyền.

Vì vậy, trong xã hội cộng sản, “xấu” dần dần trở thành một thứ tiêu chuẩn ngầm.

Không ai viết thành nghị quyết: phải xấu mới là phe ta.

Không ai ban hành nghị định: phải thô kệch mới dễ thăng tiến.

Không ai công khai tuyên bố: ai đẹp, ai sang, ai lịch sự thì khó được tin dùng.

Nhưng trong thực tế, người ta hiểu rất nhanh.

Muốn tiến thân trong guồng máy ấy, nhiều khi không cần tài năng lớn, không cần nhân cách lớn, không cần tư tưởng lớn. Chỉ cần biết cúi đúng chỗ, nói đúng khẩu hiệu, ghét đúng đối tượng, im đúng lúc và tỏ ra đủ “lập trường”. Còn nếu đẹp quá, văn minh quá, độc lập quá, lịch sự quá, có tri thức quá, thì tự nhiên trở thành cái gai.

Nhìn vào chính trường cộng sản cũng thấy một điều lạ: người có phong thái sáng sủa, có khả năng nói chuyện mạch lạc, có vẻ văn minh, thường rất khó sống lâu trong guồng máy. Họ hoặc phải tự làm mình xấu đi, hoặc bị đẩy ra ngoài. Còn những khuôn mặt càng khô cứng, càng giáo điều, càng vô cảm, càng nói như đọc văn bản, càng dễ được xem là “an toàn”.

Đó không phải chuyện ngoại hình đơn giản. Đó là chuyện **khí chất của một hệ thống**.

Một hệ thống đẹp sẽ sinh ra con người biết tôn trọng cái đẹp.

Một hệ thống tự do sẽ không sợ người dân ăn mặc đẹp, đọc sách hay, nói chuyện lịch sự.

Một hệ thống văn minh sẽ không xem son phấn, sách vở, âm nhạc, nghệ thuật là kẻ thù.

Một hệ thống tự tin sẽ không cần bắt người dân phải giống nhau từ quần áo đến suy nghĩ.

Chỉ có một hệ thống mặc cảm mới ghét cái đẹp.

Chỉ có một hệ thống dối trá mới sợ sự thật.

Chỉ có một hệ thống thấp kém mới muốn kéo mọi người xuống thấp.

Chỉ có một hệ thống cai trị bằng hận thù mới xem văn minh là nguy hiểm.

Cho nên chữ “xấu” ở đây phải hiểu cho đúng.

Không phải ai nghèo cũng xấu.

Không phải ai mặc áo bà ba cũng xấu.

Không phải ai xuất thân từ nông thôn cũng xấu.

Không phải ngoại hình quyết định nhân phẩm con người.

Cái xấu cần nói đến là cái xấu của một thứ quyền lực đã làm cho con người phải che giấu vẻ đẹp của mình để được sống yên. Cái xấu của một chế độ khiến người dân phải đốt sách, giấu nhạc, cất áo đẹp, bôi son đi, cắt tóc ngắn lại, đổi giọng nói, đổi cách sống, đổi cả con người thật của mình.

Đó là cái xấu của sự sợ hãi.

Cái xấu của ganh ghét.

Cái xấu của kiểm soát.

Cái xấu của tuyên truyền.

Cái xấu của một nền chính trị không dung nổi sự thanh lịch.

Và bi kịch lớn nhất là: sau nhiều chục năm, cái xấu ấy vẫn chưa biến mất. Nó chỉ thay áo. Ngày xưa là dép râu, nón cối, biên bản, loa phường. Hôm nay là dư luận viên, an ninh mạng, truyền thông định hướng, hội đồng đấu tố trên mạng xã hội. Hình thức có thể khác, nhưng bản chất vẫn là một: ghét người tự do, sợ người có tri thức, dị ứng với tiếng nói độc lập và luôn tìm cách bôi xấu những gì mình không kiểm soát được.

Nếu bạn là một người đàn ông có phong thái đàng hoàng, ăn nói từ tốn, biết suy nghĩ độc lập, có tri thức lịch sử khách quan, không quen cúi đầu trước điều sai; hoặc nếu bạn là một người phụ nữ có vẻ đẹp, có khí chất, có giáo dục, có lòng tự trọng và không chấp nhận sống bằng khẩu hiệu — thì có lẽ bạn thật sự “không đủ điều kiện” để tiến thân trong guồng máy ấy.

Bạn có thể chạy xe ôm.

Bạn có thể bán cà phê.

Bạn có thể làm móng tay.

Bạn có thể cắt tóc, buôn bán nhỏ, lao động bình thường.

Thu nhập có thể không cao. Đời sống có thể vất vả. Nhưng ít nhất bạn còn giữ được một thứ mà nhiều kẻ trong guồng máy đã đánh mất: **nhân phẩm**.

Vì sau cùng, cái đẹp thật sự không nằm ở khuôn mặt. Nó nằm ở cách một con người sống, nói, nghĩ và đối xử với sự thật.

Còn cái xấu thật sự cũng không nằm ở làn da, mái tóc hay áo quần. Nó nằm ở một tâm hồn căm ghét tự do, một bộ máy sợ văn minh, và một ý thức hệ muốn biến cả xã hội thành một hàng người cúi đầu giống nhau.

Cái xấu ấy mới là cái xấu đáng sợ nhất.


 

Mất một người thân không chỉ là nói lời tạm biệt…- TG Văn Chương

Bình Yên LNChuyện tuổi Xế Chiều 

Mất một người thân không chỉ là nói lời tạm biệt…

Mà là học cách sống tiếp khi không còn họ bên cạnh.

Là nhìn vào chỗ trống mà họ từng ngồi, từng cười, và cảm thấy tim mình hụt đi một mảnh.

Nỗi đau mất mát không có thời hạn.

Không có ngày nào đó mà bạn bỗng dưng “hết buồn”.

Có hôm bạn thấy mình ổn, đi làm, cười nói như thường.

Nhưng rồi có hôm, chỉ cần một câu hát, một mùi hương quen, hay ánh sáng ban chiều giống như hôm ấy… là bạn lại vỡ òa.

Và chuyện đó hoàn toàn bình thường.

Bạn không yếu đuối – bạn chỉ đang thương thật lòng.

Tình yêu bạn đã trao cho họ – và những gì họ từng dành cho bạn – không biến mất khi họ ra đi.

Nó vẫn còn ở đó, chỉ là đổi hình dạng thôi.

Thành một ký ức khiến bạn cười vu vơ.

Thành một giấc mơ khiến bạn thức dậy rồi nghẹn ngào.

Thành một giọt nước mắt không cần lý do.

Có thể bạn sẽ thấy áy náy khi mình vui, khi mình vẫn sống tiếp, khi mình bắt đầu lại điều gì đó mới.

Nhưng sống không có nghĩa là quên.

Sống – chính là một cách để biết ơn.

Là tiếp tục bước đi, mang theo tình thương họ để lại trong tim bạn.

Hãy cứ nhớ họ.

Cứ nói về họ nếu bạn muốn.

Cứ khóc khi thấy lòng mình đau.

Nhưng cũng hãy cho phép mình được bình yên lại – từng chút một.

Vì dù câu chuyện giữa bạn và họ không còn như xưa, nhưng nó chưa bao giờ thực sự kết thúc.

Bạn vẫn đang viết tiếp, mỗi ngày.

Hãy sống sao cho, nếu họ đang dõi theo ở đâu đó – họ sẽ mỉm cười và tự hào vì bạn đã mạnh mẽ đến thế.

Và nếu một ngày nào đó bạn thấy không thể gượng dậy nổi,

hãy ngẩng đầu lên.

Vì ngay giữa những ngày buồn nhất… vẫn có ánh sáng.

TG Văn Chương


 

MỘT TIẾNG “CON” BỊ CHÔN VÙI DƯỚI BÓNG TƯỢNG ĐÀI

 Phong Thanh Nguyen 

**MỘT TIẾNG “CON” BỊ CHÔN VÙI DƯỚI BÓNG TƯỢNG ĐÀI**

Con ruột của người được gọi là “cha già dân tộc” vừa qua đời ở tuổi 70. Nhưng điều trớ trêu và cay đắng nhất là: cả một đời người ấy, điều ông mong mỏi không phải vinh hoa, chức quyền, tiền bạc hay quân hàm. Điều ông mong chỉ là một sự thật rất nhỏ, rất người, rất căn bản: được gọi đúng một tiếng — **con**.

Theo câu chuyện đã được nhiều nguồn ngoài luồng nhắc lại trong nhiều năm, ông Nguyễn Tất Trung được cho là con của Hồ Chí Minh và bà Nông Thị Xuân, một phụ nữ trẻ người miền núi, từng được đưa về phục vụ trong hệ thống quanh Phủ Chủ tịch. Nếu câu chuyện ấy là sự thật, thì đây không chỉ là một chuyện tình bị giấu kín. Đây là bi kịch của một con người bị xóa tên khỏi lịch sử để bảo vệ một huyền thoại chính trị.

Một người mẹ trẻ, mới ngoài hai mươi tuổi, bước vào vòng xoáy quyền lực mà mình không có khả năng tự vệ. Một đứa trẻ sinh ra không được sống như một đứa trẻ bình thường. Một thân phận bị đổi tên, gửi đi, che giấu, né tránh, như thể sự tồn tại của nó là một lỗi kỹ thuật trong bản tuyên truyền về “lãnh tụ đạo đức sáng ngời”.

Cay đắng nằm ở chỗ đó.

Người ta có thể dựng tượng, viết sách, treo khẩu hiệu, bắt học sinh học thuộc từng lời dạy. Người ta có thể gọi một lãnh tụ là “cha già dân tộc” suốt mấy thế hệ. Nhưng nếu ngay cả một đứa con ruột — máu mủ của chính mình — cũng không được công khai thừa nhận, thì chữ “cha” ấy còn lại bao nhiêu phần sự thật?

Làm cha không phải là đứng trên lễ đài để nhận hoa.

Làm cha không phải là để hàng triệu người gọi mình bằng danh xưng thiêng liêng.

Làm cha trước hết là dám nhận trách nhiệm với sinh mạng do chính mình tạo ra.

Một người đàn ông bình thường, dù nghèo, dù thất học, dù không có quyền lực, vẫn biết rằng đứa con cần một danh phận. Nó cần biết mình từ đâu đến. Nó cần một người cha không quay mặt đi khi sự thật trở nên bất tiện.

Nhưng trong một chế độ toàn trị, sự thật không được đối xử như sự thật. Sự thật bị đo bằng lợi ích chính trị. Con người bị đo bằng giá trị tuyên truyền. Một người mẹ có thể bị xóa khỏi ký ức công cộng. Một đứa con có thể bị biến thành cái bóng. Một đời người có thể bị đặt sau nhu cầu giữ cho tượng đài luôn trắng sạch, luôn “vĩ đại”, luôn không tì vết.

Đó là bi kịch lớn hơn cả bi kịch gia đình. Đó là bi kịch của một xã hội bị buộc phải yêu một hình tượng hơn yêu con người thật. Người ta không được phép nhìn lãnh tụ như một con người có dục vọng, sai lầm, trách nhiệm và hệ quả. Người ta phải nhìn ông như một thánh nhân thế tục. Và để bảo vệ thứ “thánh nhân” ấy, người thật phải biến mất.

Bà Nông Thị Xuân, nếu đúng như các lời kể, không chỉ là một phụ nữ bị phụ bạc. Bà là biểu tượng cho những thân phận nhỏ bé bị nghiền nát dưới bánh xe quyền lực. Bà không có diễn đàn để tự biện hộ. Không có báo chí độc lập để đặt câu hỏi. Không có tòa án công minh để bảo vệ. Không có lịch sử chính thức để ghi nhận. Bà chỉ còn lại trong những lời kể rời rạc, trong những ký ức bị truy đuổi, trong những câu chuyện bị xem là “nhạy cảm”.

Còn Nguyễn Tất Trung, nếu đúng là người con bị che giấu ấy, thì số phận của ông là một bản cáo trạng lặng lẽ. Ông không cần ngai vàng. Không cần đặc quyền. Không cần được đưa vào sách giáo khoa. Ông chỉ cần điều mà bất cứ đứa trẻ nào sinh ra trên đời cũng có quyền được biết: **tôi là con của ai?**

Một đời người đi qua, cuối cùng vẫn chỉ còn một câu hỏi: tại sao sự thật đơn giản ấy lại đáng sợ đến vậy?

Nếu Hồ Chí Minh thật sự là “cha già dân tộc”, thì tại sao một người con lại phải sống trong bóng tối? Nếu ông là biểu tượng đạo đức tuyệt đối, thì tại sao lịch sử lại phải bị khóa miệng trước những câu hỏi về đời tư, trách nhiệm và nhân phẩm? Nếu chế độ tin vào sự trong sạch của lãnh tụ, tại sao không mở hồ sơ, công khai tài liệu, cho hậu thế đối diện với sự thật?

Vì sự thật, một khi được nói ra, có thể làm nứt tượng đài.

Mà tượng đài trong chế độ toàn trị không được xây bằng đá. Nó được xây bằng kiểm duyệt, sợ hãi, im lặng và những câu chuyện bị cấm kể. Nó đứng được không phải vì nó vững chắc, mà vì người ta bị bắt phải quỳ xuống nhìn lên.

Cái chết của một người đàn ông 71 tuổi, vì vậy, không chỉ là sự khép lại của một đời người. Nó mở lại một câu hỏi lớn hơn: một dân tộc có thể trưởng thành không, nếu lịch sử của nó vẫn bị viết bằng những khoảng trắng bắt buộc?

Không ai đòi lịch sử phải hoàn hảo. Không lãnh tụ nào là thiên thần. Nhưng một xã hội văn minh phải có can đảm gọi sự thật bằng đúng tên của nó. Sai thì nói sai. Có thì nói có. Con thì phải được gọi là con. Người mẹ thì phải được trả lại nhân phẩm. Người chết thì phải được trả lại tiếng nói. Và dân tộc thì phải được trả lại quyền biết sự thật.

Bởi một dân tộc không thể sống mãi bằng huyền thoại.

Một thế hệ không thể trưởng thành bằng sự che giấu.

Và một tượng đài, dù được sơn son thếp vàng đến đâu, cũng không thể thay thế cho lương tâm.

Câu hỏi cuối cùng vẫn còn đó, lạnh và đau:

**Một người được gọi là “cha già dân tộc” mà ngay cả con ruột còn không dám nhận, thì dân tộc ấy đã được thương bằng tình thương nào — hay chỉ được dùng như phông nền cho một huyền thoại chính trị?**


 

Cậu đã cứu 18 người khỏi đống đổ nát… rồi dành những hơi sức cuối cùng để cứu thêm một người nữa.

Animal Stories 

Cậu đã cứu 18 người khỏi đống đổ nát… rồi dành những hơi sức cuối cùng để cứu thêm một người nữa.

Đó là Atlas.

Một chú Golden Retriever làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn.

Nhưng đến những giờ phút cuối cùng…

Atlas không còn đơn thuần là đang tìm kiếm.

Cậu đang chiến đấu.

Chiến đấu với những khối bê tông khổng lồ.

Với sự kiệt sức.

Với chính cơ thể đã vượt quá giới hạn.

Bởi vì đâu đó dưới hàng nghìn tấn đổ nát…

Atlas tin rằng vẫn còn một người đang sống.

Và cậu nhất quyết không bỏ cuộc.

Sau trận động đất kinh hoàng xảy ra ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, đội cứu hộ từ nhiều quốc gia đã nhanh chóng có mặt.

Trong số đó có lính cứu hỏa Lukas Hartmann cùng người đồng đội bốn chân mang tên Atlas.

Atlas không phải chú chó nhanh nhất.

Cũng không phải khỏe nhất.

Nhưng ai từng làm việc với cậu đều biết một điều:

Một khi Atlas tin rằng còn người sống… sẽ không gì khiến cậu từ bỏ.

Chỉ trong vòng 20 phút đầu tiên tại hiện trường, Atlas phát hiện một cậu bé tuổi teen còn mắc kẹt.

Cậu bé được cứu sống.

Sau đó là một người mẹ và con gái nhỏ.

Rồi một cụ ông.

Hai công nhân xây dựng.

Hết người này đến người khác…

Atlas liên tục dẫn đội cứu hộ đến những khoảng không nhỏ bé giữa biển bê tông.

Đến cuối ngày đầu tiên, cậu đã giúp tìm thấy 12 người còn sống.

Sáng hôm sau, thêm 4 người nữa.

Rồi 17.

Rồi 18.

Tin tức về chú chó cứu hộ phi thường nhanh chóng lan rộng.

Nhưng Atlas vẫn chưa dừng lại.

Ở một góc nguy hiểm của tòa nhà sụp đổ, cậu liên tục sủa, cào bới rồi nhất quyết không chịu rời đi.

Máy quét nhiệt không phát hiện gì.

Thiết bị thu âm cũng chỉ là im lặng.

Nhiều người đề nghị chuyển sang khu vực khác.

Chỉ riêng Lukas lắc đầu.

“Nếu Atlas nói còn người ở đó…

thì chắc chắn còn người.”

Đội cứu hộ tiếp tục đào.

Hàng giờ trôi qua.

Cho đến khi…

Ba tiếng gõ yếu ớt vang lên từ sâu bên dưới.

Một người phụ nữ vẫn còn sống.

Mọi người lập tức tăng tốc đào bới.

Còn Atlas?

Cậu không chịu nghỉ.

Không ăn.

Không uống.

Dù được kéo đi nhiều lần, cậu vẫn quay lại đúng vị trí ấy.

Như thể muốn chắc chắn rằng người bên dưới sẽ được đưa ra an toàn.

Đến khoảng 4 giờ sáng…

Atlas bất ngờ gục xuống.

Các bác sĩ thú y xác định cậu bị kiệt sức nghiêm trọng, mất nước và gặp biến chứng nội tạng do làm việc quá sức.

Trong khi đội cứu hộ vẫn tiếp tục giải cứu người phụ nữ, Lukas quỳ xuống bên Atlas và khẽ nói:

“Con đã tìm thấy họ rồi.

Mười tám người…

và cả người thứ mười chín nữa.”

Vài giờ sau, người phụ nữ cuối cùng cũng được đưa ra ngoài.

Còn sống.

Việc đầu tiên Lukas làm là mang tin vui đến cho Atlas.

“Con làm được rồi.

Cô ấy an toàn rồi.”

Những người có mặt kể lại rằng…

chiếc đuôi của Atlas khẽ đập xuống mặt đất hai lần.

Như thể cậu đã hiểu.

Chiều hôm ấy, Atlas lặng lẽ ra đi trong vòng tay của cả đội cứu hộ.

Nhưng câu chuyện về cậu thì vẫn còn ở lại.

Những người sống sót vẫn trở về nơi dựng tượng Atlas mỗi năm.

Có người mang theo hoa.

Có người mang theo ảnh gia đình.

Có người dắt theo những đứa trẻ mà họ từng nghĩ sẽ không bao giờ còn được gặp lại.

Bởi một chú chó Golden Retriever…

đã từ chối bỏ đi khi vẫn còn một người cần được cứu.

#AnimalStories – #RescueDog – #HeroDog – #SearchAndRescue – #GoldenRetriever – #DogHero – #InspiringStory – #Heartwarming#NeverGiveUp – #HopeLives – #DogLover – #FeelGoodStory-RescueMission – #LoyalCompanion – #TrueHero 


 

MẸ TERESA: Nữ tu sĩ vĩ đại nuôi dưỡng hàng triệu trẻ em mồ côi và những người bần cùng nhất xã hội

Khám Phá Tri Thức

 MẸ TERESA: Nữ tu sĩ vĩ đại nuôi dưỡng hàng triệu trẻ em mồ côi và những người bần cùng nhất xã hội

Có những cuộc đời sinh ra để định nghĩa lại hai từ “Tình yêu”. Mẹ Teresa chính là một biểu tượng vĩ đại như thế. Cả cuộc đời bà là một hành trình không mệt mỏi vì những con người bần cùng nhất thế giới.

Ước mơ tuổi thơ

Mẹ Teresa sinh ngày 26/08/1910 tại Skopje (nay là thủ đô của Bắc Macedonia), trong một gia đình gốc Albania sùng đạo. Năm 12 tuổi, cô bé Agnes (tên khai sinh của bà) đã nuôi dưỡng ước mơ trở thành một nữ tu truyền giáo. Đến năm 18 tuổi, bà chính thức rời bỏ quê hương, chọn cuộc sống thanh bần để dấn thân vào hành trình bác ái.

Người mẹ của những mảnh đời bị bỏ rơi

Suốt hơn nửa thế kỷ phục vụ tại Ấn Độ và toàn cầu, bà và Dòng Thừa sai Bác ái đã dang tay nuôi sống hàng triệu trẻ em mồ côi, khuyết tật và chữa trị cho những bệnh nhân phong cùi, HIV/AIDS bị xã hội ruồng bỏ. Với bà, mỗi đứa trẻ đều xứng đáng được yêu thương và có một mái nhà.

Giải Nobel Hòa bình và chiếc áo Sari 1 Đô-la

Năm 1979, Mẹ Teresa được trao giải Nobel Hòa bình ở tuổi 69. Xuất hiện trước các nguyên thủ quốc gia, bà vẫn mặc chiếc áo sari vải thô giá 1 USD và đi đôi dép sờn cũ. Bà từ chối bữa tiệc chiêu đãi hoàng gia trang trọng, yêu cầu quyên góp toàn bộ chi phí và tiền thưởng (192.000 USD) để xây nhà tình thương cho người nghèo.

Bất tử với danh hiệu Cao quý

Mẹ Teresa trút hơi thở cuối cùng vào năm 1997, hưởng thọ 87 tuổi. Để vinh danh những phép lạ và cuộc đời thánh thiện của bà, năm 2016, Tòa thánh Vatican đã chính thức tổ chức đại lễ phong Thánh, tôn vinh bà là Thánh Teresa thành Calcutta.

 “Nếu bạn không thể nuôi sống một trăm người, thì hãy chỉ nuôi sống một người thôi.” — Câu nói kinh điển của Mẹ vẫn luôn là kim chỉ nam nhắc nhở chúng ta về lòng trắc ẩn trong cuộc sống hiện đại.

Hãy cùng chia sẻ câu chuyện này để lan tỏa những giá trị tốt đẹp của tình yêu thương không biên giới! 


 

Cuối cùng rồi ai cũng phải chết – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Vậy mà chỉ những người lớn tuổi mới để ý tới cái chết chứ những người dưới 50 tuổi ít có ai để ý tới cái chết vì cảm thấy nó, cái chết, còn lâu lắm mới tới. Thật ra cái chết xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, và bất cứ tuổi nào.

Dĩ nhiên người già thì thời gian đến gần cái chết rõ ràng hơn, ngắn hơn, gần hơn.

Trước cái chết, ai cũng lo sợ, nhưng làm sao, cách nào bình tĩnh được trước cái chết.

Làm thế nào cuộc sống có ý nghĩa và có hạnh phúc? 

*1)Đặt ra công việc để làm. Đặt cho mình mục đích sống. Sống để làm gì? Có phải mục đích sống của mình chỉ là để kiếm thật nhiều tiền không? Dĩ nhiên phải làm việc để có tiền mà sống, nhưng chỉ duy nhất để kiếm tiền không mà thôi là chưa đủ. Cần xem làm việc là một niềm vui. Còn hơi thở, còn sức khỏe là còn phải làm việc. Dĩ nhiên mình làm việc nào mình thấy thích.

Về hưu rồi, tôi đặt ra công việc để làm, dĩ nhiên là công việc không kiếm được tiền. Viết bài, gởi gấm tâm tư tình cảm cho bạn bè, cho thế hệ sau. Đọc tin tức, gởi E.mail cho bạn bè. Thành lập, chủ biên: website keditim.net. Mỗi ngày đều có bài vở hay và hữu ích cho website này (mời các bạn vào đọc). 

*2)Giữ gìn sức khỏe: Lee Kim Hee (1) chủ tịch tập đoàn Samsung đã nhắc nhở chúng ta là cần phải tập thể dục thường xuyên để giữ cho thân thể khỏe mạnh. Dầu giàu có cỡ nào con người “không thể vượt qua cơn bạo bệnh và phải chịu kết thúc thất bại”vì khi bệnh tật đến không chừa một ai.

+Steve Jobs (2) chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple qua đời ở tuổi 56 (sinh 24-02-1955 mất 5-10-2011) vì ung thư tuyến tụy tạng. Ông nhắc nhở chúng ta rằng “cái giường bệnh” là đắc giá nhất.

+Bác sĩ Richard Teo (1972-2012) (3) bác sĩ thẩm mỹ, triệu phú ở Singapore qua đời ở tuổi 40 vì ung thư phổi.

Ông viết: “Nhưng trớ trêu là mọi thứ mà tôi có – thành công, cúp chiến thắng, những chiếc xe, ngôi nhà – là do tôi đã mua chúng để mang về niềm hạnh phúc. Nhưng giờ đây tôi chẳng mỉm cười được nữa. Nghĩ về việc sở hữu của cải, tôi chẳng có một chút niềm vui nào. Các bạn ạ, tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari vào giấc ngủ. Nó chẳng khiến tôi thoải mái hơn trong những ngày tháng cuối cùng. 

Vậy điều gì đã và sẽ làm tôi hạnh phúc ở khoảng thời gian này? Đó là thời gian với mọi người – những người tôi yêu, bạn bè, những ai thật lòng lo cho mình, cùng khóc cùng cười, cùng đau khổ và chấp nhận mọi chuyện. Điều ấy đem lại cho tôi niềm hạnh phúc”. (1) 

*3)Làm thế nào để sống vui vẻ và hạnh phúc. 

Hạnh phúc của con người là một hành trình chứ không phải là đã đạt mục đích.

Như vậy, hạnh phúc đơn giản chỉ là một cảm giác. Hạnh phúc không hiện hữu trong bóng hình quá khứ hay niềm mong mỏi nơi tương lại, hạnh phúc là hạnh phúc trong thực tại nếu bạn biết nắm bắt nó.

Vậy bí quyết của hạnh phúc là: sống trong phút hiện tại, biết yêu thương và tha thứ.

 Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất.

Trong trại tù tôi bị bỏ đói triền miên từ năm này sang năm khác, chỉ được ăn bo bo, bắp trái, ăn rau rừng đỡ đói. Khi Tết nguyên đán, trại tù phát cơm trắng. Lúc đó, ăn cơm trắng với muối tưởng chừng như ăn cơm với đường. Hạnh phúc ngay lúc đó.

 * a)Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc (Biết đủ thì đủ, đợi đủ bao giờ đủ) trong bài thơ Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ.

 Con người thường tham lam, không bao giờ biết đủ. Khi làm ăn phát đạt, kiếm được nhiều tiền ai ai cũng muốn kiếm thêm nhiều hơn nữa chứ đâu biết dừng lại.

Sự giàu có, tiền bạc không biết bao nhiêu là đủ. Cái khó là biết dừng lại, biết đủ.

Đặc biệt ở nước Mỹ có người Amish, họ sống biệt lập ở tiểu bang Ohio, Pennsylvania và cũng có một số ở Canada nữa. Họ không xài điện thoại cầm tay, không dùng xe hơi (ô tô), TV các loại máy móc, bài trừ sự ly dị… họ bài trừ lối sống hiện đại ở nước Mỹ.

 Người Amish sống đơn giản không có những nhu cầu hiện đại như chúng ta.

Như vậy,  

*b) Cách sống khác nhau, kết quả khác nhau

Nếu cuộc sống của bạn lấy tiền làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất khổ cực.

Nếu cuộc sống của bạn lấy phụ nữ làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất mệt mỏi.

Nếu cuộc sống của bạn lấy ái tình làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất đau thương.

Nếu cuộc sống của bạn lấy leo cao làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất phiền muộn.

Nếu cuộc sống của bạn lấy khoan dung làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất hạnh phúc.

Nếu cuộc sống của bạn lấy tri túc làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất vui vẻ.

Nếu cuộc sống của bạn lấy cảm ơn làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất thiện lương.

Người đi tìm sự khiếm khuyết của mình mới có được sự hài lòng.

Người nhận biết hạnh phúc mới có được hạnh phúc.

 Kết: Vui để đợi chết

 Trước khi chết thường chịu cảnh bịnh hoạn, đau đớn, buồn khổ, cô đơn. Làm sao trong tâm hồn mình có “Vui để đợi chết”.

Lúc cuối đời nếu tâm hồn mình thanh thản, bình an thì sự bình an đó kéo theo cho đến lúc lâm chung, còn ngược lại nếu ta chứa đựng nhiều uẩn khúc đau thương, uất hận; sự buồn sầu này sẽ kéo dài theo lúc chết.

Cho nên làm sao vui để được chết đó là điều rất khó, khó nhưng không phải không làm được?

 Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy

Cho con còn ngày nữa để yêu thương.

 Xem thêm:

(1) Thư từ Chủ tịch Lee Kun-hee

(2) Steve Jobs chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple

(3) Bác sĩ Richard Teo (1972-2012)(3) bác sĩ thẩm mỹ, Lời trăn trối của bác sĩ triêu phú mắc bệnh ung thư

Xem: Tưởng niệm 4 năm Bác Sĩ Richard Teo

Phùng Văn Phụng

Ngày 02-11-2020

(Lễ cầu hồn) 

Tri’ch sa’ch “CHO TRON DUONG TRAN” – Tác giả: Phùng Văn Phụng

https://keditim.net/wp-content/uploads/2026/05/CHO-TRON-DUONG-TRAN-cuon-2-313-trang.pdf


 

PHÉP THỬ CỦA SOCRATES: SỰ THẬT – THIỆN Ý – LỢI ÍCH

Dong Menthanhgianhatrang

Thứ bảy – 22/02/2025 

Tương truyền vào thời Hy Lạp cổ đại, một bữa nọ có người tới gặp nhà hiền triết vĩ đại Socrates và bảo: “Ngài có biết tôi mới nghe được một chuyện rất xấu về người bạn của ngài không?”. Sau một thoáng trầm ngâm, Socrates từ tốn đáp: “Trước khi nghe ngài kể, tôi muốn ngài tham dự một phép thử nhỏ mà tôi gọi là phép thử lọc ba lớp”. “Lọc ba lớp” – Người muốn báo tin hỏi lại.

“Đúng thế” – Socrates trả lời  – “Tôi cho rằng sẽ là một ý tưởng hay nếu trước khi ngài kể điều đó về bạn tôi, ngài vui lòng dành chút thời gian để lọc lựa những gì ngài định nói. Tôi gọi đó là phép thử lọc ba lớp.

Lớp thứ nhất lọc tìm SỰ THẬT. Ngài có tin tuyệt đối rằng những điều ngài định kể cho tôi nghe là sự thật không? “Không, thực ra tôi chỉ nghe người ta kể lại thôi…”. – Rõ rồi. Chính vì thế ngài không thể biết những điều ngài định nói có phải là sự thật hay không? Socrates nói:

“Nào, bây giờ chúng ta qua lớp lọc thứ 2, được dùng để kiểm tra thiện ý. Ngài có khẳng định rằng ngài hoàn toàn xuất phát từ THIỆN Ý khi định kể cho tôi nghe những chuyện xấu của bạn tôi?”. – “Không, ngược lại”. Vị khách của Socrates trả lời. “Thế nên những chuyện xấu của bạn tôi có thật hay không còn là câu hỏi”, nhà hiền triết Hy Lạp ngắt lời – “Xin ngài chớ vội buồn” – Socrates tiếp lời –

Có thể ngài sẽ qua được lớp lọc còn lại. Xin ngài cho biết: chuyện mà ngài sắp kể đây CÓ ÍCH cho tôi không?”. Người kia đáp: “Không”.

Socrates nhìn vào mắt của vị khách và nói: “Nếu câu chuyện ngài định kể cho tôi nghe chưa chắc đã là sự thật và cũng không xuất phát từ thiện ý và chẳng có lợi cho tôi, thì ngài định kể làm gì, và liệu tôi sẽ nghe và tin ngài chăng?”.


 

ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA BẮT ĐẦU KHI MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN DÁM LÊN TIẾNG DÙ ĐÃ RỜI KHỎI QUÊ HƯƠNG

Chân Trời Mới Media

ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA BẮT ĐẦU KHI MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN DÁM LÊN TIẾNG DÙ ĐÃ RỜI KHỎI QUÊ HƯƠNG

Một nhà nước có thể kiểm soát lãnh thổ của mình bằng luật pháp. Nhưng khi một công dân đã ra nước ngoài mà vẫn cảm thấy sợ hãi vì những gì mình nói, đó là lúc xuất hiện câu hỏi về hiện tượng được nhiều tổ chức quốc tế gọi là “đàn áp xuyên quốc gia”.

Trong nhiều năm qua, các tổ chức như Freedom House và Human Rights Watch đã ghi nhận những trường hợp người Việt ở nước ngoài cho rằng họ bị theo dõi, bị đe dọa trực tuyến hoặc lo ngại người thân trong nước gặp áp lực sau khi họ tham gia các hoạt động nhân quyền, báo chí hay chính trị. Một trong những trường hợp được quốc tế chú ý là vụ bắt giữ và kết án vắng mặt nhà báo độc lập Lê Trung Khoa và luật sư Nguyễn Văn Đài tại Việt Nam, trong khi cả hai đang sinh sống ở Đức. Những vụ việc như vậy được một số tổ chức nhân quyền viện dẫn như ví dụ cho thấy sự mở rộng phạm vi xử lý đối với những tiếng nói đối lập bên ngoài lãnh thổ quốc gia.

Điều đáng lo ngại không phải là sự bất đồng chính kiến, mà là khả năng nỗi sợ trở thành công cụ quản lý xã hội. Khi một người không dám viết, không dám phát biểu, không dám tham gia hoạt động công cộng vì lo cho gia đình còn ở quê nhà, thì quyền tự do biểu đạt đã bị thu hẹp, dù không cần đến một bản án hay một song sắt nhà tù.

Một quốc gia mạnh không cần theo đuổi công dân bằng nỗi sợ. Một quốc gia văn minh phải chứng minh sức mạnh bằng pháp quyền, bằng đối thoại và bằng khả năng chấp nhận những tiếng nói khác biệt. Khi công dân được quyền bất đồng mà không phải lo lắng cho sự an toàn của bản thân và gia đình, đó mới là thước đo thực sự của một xã hội tự do.

#DanApXuyenQuocGia #TuDoNgonLuan #NhanQuyen #PhapQuyen #Chantroimoi