Hóa ra người nghèo không tham lam – Mai Phi Long/Người Việt (tổng hợp)

Ba’o Nguoi-Viet

October 13, 2026

Mai Phi Long/Người Việt (tổng hợp)

TOWNSEND, Washington (NV) – Có những người phải đến ngân hàng thực phẩm để xin từng bữa ăn, nhưng lại sợ mình nhận quá nhiều khiến người khác không còn phần.

Một quân nhân Mỹ đứng xếp hàng cùng những người trong cộng đồng quân đội để nhận thực phẩm miễn phí khi chính phủ liên bang đóng cửa hồi Tháng Mười, 2025. (Hình minh họa: Sandy Huffaker/AFP via Getty Images)

Câu chuyện của một tình nguyện viên ở tiểu bang Washington không chỉ làm thay đổi cách ông nhìn người nghèo, mà còn đặt ra câu hỏi lớn cho xã hội Mỹ: Vì sao chúng ta thường nghi ngờ những người cần giúp đỡ, và liệu chính sách an sinh có đang được xây dựng trên những định kiến sai lầm về họ?

Câu chuyện này do ký giả Maggie Penman tường thuật trên nhật báo The Washington Post hôm Thứ Ba, 6 Tháng Mười, thu hút hàng chục ngàn lượt thích và hơn 800 bình luận.

Một khám phá bất ngờ tại trung tâm phân phát thực phẩm từ thiện

Tháng Tư vừa qua, ông Michael Jensen bắt đầu công việc tình nguyện tại một ngân hàng thực phẩm ở thành phố Port Townsend, Washington, với một tâm trạng khá lo lắng khi hình dung việc mình sẽ thường xuyên phải từ chối những người xin thêm thức ăn.

Nhưng ông chứng kiến điều hoàn toàn ngược lại.

Nhiều người đến nhận thực phẩm không những không đòi thêm mà còn ngần ngại hỏi lại các tình nguyện viên liệu có đủ thức ăn cho những người đến sau hay không. Ông Jensen thật bất ngờ khi chứng kiến cảnh những người rõ ràng đang thiếu ăn, nhưng vẫn nghĩ đến những người khác.

Ông kể lại kinh nghiệm trên Reddit và thừa nhận rằng những suy nghĩ trước đây của mình thật sai lầm. Ông nhận được một bài học về sự khiêm nhường và niềm tin vào lòng tốt của con người.

Một người kể về mẹ mình, vốn sống trong hoàn cảnh khó khăn, thường phải đến ngân hàng thực phẩm nhận thức ăn. Nhưng mỗi lần mang một thùng về, bà chỉ giữ lại chưa đến một phần tư cho hai vợ chồng. Phần còn lại được chia thành những gói nhỏ mang đến cho những người cao niên khác không thể ra khỏi nhà.

Một người khác kể rằng khi đi quyên góp từ thiện, những người lái xe cũ kỹ thường đóng góp hào phóng, thậm chí còn xin lỗi vì không thể cho nhiều hơn.

Bài đăng của ông Jensen còn được khoảng $3,000 tiền quyên góp cho tổ chức cứu trợ địa phương, phần lớn từ những khoản đóng góp nhỏ.

Khoa học từng phát hiện người có ít vẫn sẵn lòng chia sẻ

Năm 2010, Giáo Sư Paul Piff, chuyên khoa Tâm Lý Học, cùng các đồng nghiệp tại đại học UC Berkeley, công bố nghiên cứu “Having Less, Giving More,” tạm dịch là “Có ít hơn, cho đi nhiều hơn.”

Qua bốn nghiên cứu, nhóm khoa học gia tìm hiểu mối quan hệ giữa địa vị kinh tế, xã hội, và lòng hào phóng. Họ nhận thấy rằng những người thuộc tầng lớp kinh tế thấp có xu hướng chia sẻ nhiều hơn.

Những thí nghiệm khác cũng ghi nhận người thuộc tầng lớp thấp thể hiện lòng từ thiện, sự tin tưởng, và tinh thần giúp đỡ cao hơn những người có địa vị cao.

Các tác giả cho rằng vì cuộc sống thiếu thốn khiến con người phải phụ thuộc nhiều hơn vào sự tương trợ, họ có thể phát triển lòng trắc ẩn và ý thức bình đẳng mạnh hơn.

Năm 2015, hai nhà nghiên cứu Stephane Cote và Julian House thuộc đại học University of Toronto, Canada, phối hợp với nhà xã hội học Robb Willer thuộc đại học Stanford University, thực hiện nghiên cứu nhằm tìm hiểu liệu khoảng cách giàu nghèo có ảnh hưởng đến lòng hào phóng của con người hay không.

Công trình này, công bố ngày 23 Tháng Mười Một, 2015, trên tạp chí khoa học Proceedings of the National Academy of Sciences (PNAS), phát hiện trong những môi trường có khoảng cách giàu nghèo lớn, người có thu nhập cao thường ít hào phóng hơn người có thu nhập thấp.

Nhưng tại những môi trường có mức độ bất bình đẳng thấp, kết quả không giống như vậy.

Điều này gợi ý rằng không chỉ số tiền một người sở hữu, mà cả môi trường kinh tế và cách xã hội phân chia của cải cũng có thể ảnh hưởng đến thái độ đối với người khác.

Tuy nhiên, khoa học không dừng lại ở đó.

Năm 2020, hai thí nghiệm tái lập không tìm thấy bằng chứng xác nhận kết quả ban đầu của Giáo Sư Piff. Đến năm 2025, một phân tích tổng hợp 471 nghiên cứu, với hơn 2.34 triệu người tham gia tại 60 xã hội, lại cho thấy người thuộc tầng lớp kinh tế cao có xu hướng thể hiện hành vi giúp đỡ nhỉnh hơn, nhưng mức chênh lệch rất nhỏ.

Những kết quả khác nhau này nhắc chúng ta một điều quan trọng: Không thể kết luận tất cả người nghèo đều hào phóng hơn người giàu. Nhưng cũng không có cơ sở để mặc nhiên xem người nghèo là tham lam, ích kỷ hoặc chỉ biết nhận mà không biết cho.

Vì sao người thiếu thốn vẫn nghĩ đến người khác?

Về mặt tâm lý, một người từng trải qua cảnh thiếu ăn có thể hiểu giá trị của một bữa ăn rõ hơn người chưa bao giờ phải lo lắng về chuyện đó.

Sự thiếu thốn có thể khiến con người trở nên lo lắng, nhưng cũng có thể giúp họ nhận ra nỗi khổ của những người cùng hoàn cảnh.

Còn một yếu tố khác: Sự tồn tại của cộng đồng.

Những gia đình thu nhập thấp thường phải dựa vào mạng lưới tương trợ. Hôm nay một người hàng xóm cho mượn ít tiền, ngày mai một gia đình khác giúp đưa người bệnh đến bệnh viện. Sự giúp đỡ không nhất thiết được tính toán thành tiền, mà dựa vào niềm tin rằng khi mình gặp hoạn nạn, sẽ có người giúp.

Tuy nhiên, không nên lãng mạn hóa sự nghèo khó. Thiếu tiền không tự động tạo ra lòng nhân ái. Nghèo đói kéo dài còn có thể gây căng thẳng, làm suy giảm sức khỏe, và làm con người kiệt quệ.

Bài học thứ nhất: Đừng xây dựng chính sách an sinh trên sự nghi ngờ

Tại Mỹ, mỗi khi tranh luận về trợ cấp thực phẩm SNAP (Food Stamps), bảo hiểm Medicaid, hoặc những chương trình hỗ trợ người có thu nhập thấp, câu hỏi về gian lận và lợi dụng trợ cấp thường được nhắc đến.

Việc kiểm soát gian lận là cần thiết, bởi vì tiền trợ cấp xuất phát từ ngân sách công và phải được sử dụng đúng mục đích.

Nhưng có sự khác biệt rất lớn giữa kiểm soát hợp lý và mặc nhiên nghi ngờ những người xin trợ giúp.

Một hệ thống an sinh tốt phải có khả năng phát hiện gian lận, nhưng đồng thời không biến mọi người nghèo thành đối tượng bị tình nghi.

Nhà nước phải ngăn chặn người không đủ điều kiện lấy tiền trợ cấp, nhưng cũng phải bảo đảm người đủ điều kiện không bị bỏ rơi vì những rào cản hành chính.

Bài học thứ hai: Chính sách chống nghèo phải bảo vệ phẩm giá con người

Trong nhiều chương trình từ thiện, người nhận phải xếp hàng, trình bày hoàn cảnh, và đôi khi phải chứng minh mình đủ nghèo để được giúp đỡ.

Tất nhiên, tổ chức cứu trợ cần xác định đúng đối tượng. Nhưng điều đó không có nghĩa người xin trợ giúp phải đánh đổi lòng tự trọng.

Một người mẹ đơn thân cần thực phẩm cho con không nên bị xem là gánh nặng xã hội. Một người cao niên nhận trợ cấp sau nhiều thập niên làm việc không nên cảm thấy xấu hổ vì nghèo khó.

Khi người nghèo được đối xử với sự tôn trọng, họ không chỉ nhận được nguồn lực vật chất, mà còn giữ được niềm tin rằng mình vẫn là một thành viên có giá trị trong xã hội.

Bài học thứ ba: Từ thiện không thể thay thế trách nhiệm của nhà nước

Câu chuyện về người phụ nữ giữ lại chưa đến một phần tư số thực phẩm được cứu trợ rồi mang phần còn lại giúp những người cao niên khác thật cảm động.

Nhưng nếu suy nghĩ sâu hơn, chúng ta phải đặt câu hỏi: Tại sao một người đang thiếu ăn lại phải gánh thêm trách nhiệm chăm lo cho những người cũng đang thiếu ăn?

Một quốc gia có nền kinh tế lớn không thể chỉ trông chờ vào những người nghèo chia nhau từng thùng thực phẩm để giải quyết tình trạng đói nghèo.

Vai trò của chính phủ không chỉ là phân phát trợ cấp mà còn phải giải quyết những nguyên nhân đẩy người dân vào hoàn cảnh đó, ví dụ như vì sao tiền lương không theo kịp giá sinh hoạt, nhà ở quá đắt đỏ, chi phí y tế cao, và sự thiếu ổn định của việc làm.

Bài học thứ tư: Người nghèo cần có tiếng nói trong chính sách dành cho họ

Một chi tiết đáng chú ý trong bài báo là nhiều người làm tình nguyện tại các ngân hàng thực phẩm ở Jefferson County cũng chính là những người từng nhận thực phẩm cứu trợ.

Họ không chỉ là người thụ hưởng. Họ còn đóng góp công sức để giúp hệ thống hoạt động.

Điều này cho thấy một nguyên tắc quan trọng trong quản trị xã hội: Chính sách dành cho người nghèo cần được xây dựng với sự tham gia của chính người nghèo.

Không phải vì người nghèo luôn đúng, nhưng những người thường xuyên phải lựa chọn giữa tiền thuê nhà, tiền thuốc, và tiền mua thực phẩm hiểu rõ những trở ngại mà giới hoạch định chính sách có thể chưa từng trải qua.

Kết luận: Đừng nhầm sự nghèo khó với kém cỏi đạo đức

Câu chuyện của ông Jensen không nói rằng người nghèo tốt hơn người giàu nhưng chứng minh rằng lòng tốt không phải đặc quyền của bất cứ tầng lớp kinh tế nào.

Một chính phủ có trách nhiệm không nên xây dựng hệ thống an sinh trên giả định rằng người nghèo chỉ biết đòi hỏi, cũng không nên dựa vào lòng tốt của họ để trốn tránh nghĩa vụ bảo vệ những người yếu thế.

Xã hội cần luật lệ để ngăn chặn gian lận, nhưng cũng cần chính sách đủ nhân đạo để không trừng phạt những người thực sự khó khăn.

Sau cùng, điều đáng xấu hổ không phải là một người nghèo phải đến xin thực phẩm. Điều đáng suy nghĩ hơn là trong một xã hội giàu có, vẫn để người nghèo phải nhường cả phần ăn cần thiết của mình cho người nghèo khác thì có lẽ cần xét lại không chỉ lòng hào phóng của người dân, mà cả trách nhiệm của những người đang điều hành đất nước.

Điều đáng trân trọng trong câu chuyện của ông Jensen không phải là người nghèo tốt hơn người giàu, mà là sự thiếu thốn không làm mất đi phẩm giá và khả năng quan tâm đến người khác của họ. [đ.d.]


 

NGƯỜI BỊ ĐUỔI KHỎI TỔNG Y VIỆN CỘNG HOÀ NGÀY 30 THÁNG 04, 1975 ĐÃ QUA ĐỜI…

 
Nhân vật trong bức ảnh lịch sử ngày 30 Tháng Tư 1975 đã qua đời.
Tin từ Bình Phước cho hay, cựu Quân nhân VNCH Võ Phùng Dương đã qua đời do tuổi già sức yếu, một phần vì những di chứng chiến tranh đi kèm lao động nặng nhọc suốt một thời gian dài.
Ông Võ Phùng Dương là nhân vật trong bức ảnh lịch sử về người thương binh VNCH đang chữa trị ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, Sài Gòn, đã phải chống nạng và dìu đồng đội thương tật nặng hơn mình bước ra khỏi Tổng Y Viện Cộng Hoà sau khi VC tràn vào, đuổi hết mọi người ra ngoài, kể cả những người đang mổ giữa chừng.
Đôi mắt buồn và ngơ ngác trước sự thật quá phũ phàng của người quân nhân Võ Phùng Dương trong bức ảnh, được sử dụng nhiều trên các tờ báo nước ngoài về cuộc ngừng bắn vào buổi trưa ngày 30 Tháng Tư 1975. (Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên).
Thương phế binh Võ Phùng Dương, Số quân: 74/145 811, KBC: 3506, Tiểu Đoàn 52, Liên Đoàn 3, Biệt Động Quân, tạ thế vào 23g45, ngày 3 Tháng Ba 2023, (hưởng thọ 69 tuổi).
Linh cữu của ông được quàn tại nhà ở thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, Bình Phước – vốn là một miếng đất của Ông chủ vườn… đã thuê mướn ông từ giai đoạn “kinh tế mới”, thương tình cho… để cất nhà.
Từ năm 1979 ông sống ở đó, trồng rau nuôi gà để mưu sinh.
Trong một phóng sự đi tìm nhân vật chứng nhân lịch sử với bức ảnh nổi tiếng, chúng tôi đã tìm đến nhà Ông và thăm hỏi, chia sẻ và thương mến một Công dân VNCH không khuất phục thời thế và cuộc đời của mình.
(Sài Gòn trong tôi/ SGN/ Y Nguyên)
Lúc đó, nhắc về nguyên cớ của việc có bức hình này… Ông Dương kể với giọng buồn buồn: “Người chụp tấm hình đó, là bạn của chú, cũng bị đuổi từ Tổng Y Viện ra, ảnh tên Lài.
Sẵn tay đang cầm cái máy Kodak, ảnh kêu tên chú rồi chụp luôn.
Không ngờ tấm hình đó sống dai vậy” !
Ông Dương nói rằng giờ cũng không biết Lài ở đâu, còn sống hay đã chết với những ngày tháng cam go không thua gì như cuộc chiến, sau cái Tháng Tư đó”.
Sau năm 1975, khi có các phái đoàn quốc tế đến tìm hiểu cách ứng xử với các cựu quân nhân VNCH sau ngày 30 Tháng Tư 1975, nhiều nhân chứng có kể về việc họ bị đẩy ra khỏi giường bệnh, bị đuổi ra đường không có thuốc men chuẩn bị cho các ngày kế.
Nhưng không ai có mang giá trị lịch sử đầy sức nặng như ông Võ Phùng Dương, vì ông là người chứng kiến, là nạn nhân trực tiếp, và hình ảnh xuất hiện trên khắp thế giới.
Nhắc lại giờ phút đó, ông Võ Phùng Dương nói, suýt bật thành tiếng chửi thề:
“Họ nói giọng Bắc, kêu đ*t mẹ chúng mày, cút ra hết”.
Tất cả phải lặng lẽ kéo nhau ra bằng Cổng sau, vì phía quân Bắc Việt không muốn bị dân chúng nhìn thấy cảnh tàn nhẫn này.
Ông Võ Phùng Dương là Thương phế binh VNCH, nhưng chưa một lần ghé đến được Chương trình Tri ân TPB VNCH của các Cha Dòng Chúa Cứu Thế vì quá xa xôi và đi đứng bất tiện.
Ông nói mình chỉ muốn gặp anh em là chính, chứ đời sống thì có thể tự lo toan được.
Quà hỗ trợ, ông nói là để nhường cho anh em khó khăn hơn.
Sự ra đi của ông Dương cũng là điều buồn và tiếc nuối của những người có lòng với di sản VNCH và khát khao ghi lại những chứng tích lịch sử, mà chưa có cơ hội để thực hiện.
Y Nguyên
(Sài Gòn trong tôi/ SàiGònNhỏ)

TĂNG MINH PHỤNG: NHÂN TÀI CHẾT BỞI NHÂN TAI

Xuyên Sơn 

TĂNG MINH PHỤNG: NHÂN TÀI CHẾT BỞI NHÂN TAI

Một ngày đầu năm, tôi bước vào phòng bệnh viện chăm sóc người nhà. Vừa mới ngồi xuống giường thì một bà cụ tầm trạc hơn tám mươi ngồi ở giường đối diện phía trong nhìn tôi chằm chằm, đoạn bà buột miệng bằng một giọng quê Quảng Nam đã pha ít nhiều tiếng Sài gòn:

“Tao nhìn mày có gương mặt hao hao thằng Minh Phụng hồi trẻ, hè!”.

Tôi cứ tưởng bà bảo tôi giống nghệ sĩ Minh Phụng, nào ngờ bà chẹp miệng:

– Tội nghiệp thằng có tài mà vắn số,

nó chết oan thay cho mấy ổng…

– Ẹc ẹc (lúc này tôi đã mường tượng ra Minh Phụng nào  rồi)…

Hồi đó tôi có nghe đến vụ án Minh Phụng – Epco rúng động cả Việt Nam thời bấy giờ.

Báo chí còn thêu dệt nên một tay chơi Minh Phụng có tiếng khi sáng ăn sáng ở Singapore, chiều uống cà phê ở Hongkong đọc báo về bất động sản. Sau này trên đường run rủi, tình cờ tôi gặp nhiều người ngày trước mang ơn ông, những công nhân của ông,

tôi mới biết đó là những điều hoàn toàn bịa đặt.

– Tội nghiệp thằng nhỏ, từ một tay giao hàng dầu ăn đã thành một ông chủ lớn nhưng vẫn lễ phép với người lớn mỗi khi về nhà. Nhà nó ở ngay sau nhà tao, ở đường Hoàng Diệu 2 nè

– giọng bà lão chùng xuống

– hôm người ta bắn nó là đem đi chôn luôn, không ai được đến gần…

Vừa lúc đó, chị con gái út bà bước vào. Bà lại bảo

– Nè, Trinh..nhìn nó giống thằng Minh Phụng he!

Cô con gái nhìn một hồi, lắc đầu:

– Hông giống!

– Trời, cái thằng Minh Phụng ở gần nhà mình đó mậy!

– Ờ, vậy mà con tưởng Minh Phụng nghệ sĩ!

Hic, bị quê xệ lần 2

……

Sở dĩ cho đến bây giờ tôi mới nhắc lại vụ này vì còn phải tìm đọc nhiều tài liệu liên quan, càng đọc tôi càng ngậm ngùi cho một người tài hoa nhưng bạc mệnh.

Nhưng không, cho dù là Bill Gates đi chăng nữa thì ở cơ chế này cũng không thoát khỏi kết cục như Minh Phụng.

Lỗi của Minh Phụng là dám lớn, lớn hơn cái áo cơ chế, lớn hơn sự hiểu biết về kinh tế của các quan chức ở đất nước này

– nơi mà pháp luật chỉ mang tính hợp thức hóa cho mục đích của một số người mà thôi.

Đành rằng việc Minh Phụng mất khả năng chi trả bằng tiền mặt cho Ngân hàng do khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới năm 1997, nhưng việc cho vay và thế chấp tài sản tương ứng để được vay là hoàn toàn hợp pháp.

Nếu có sai, thì trách nhiệm phải thuộc về phía thẩm định tài sản do Ngân hàng trước khi cho vay, tại sao lại quy trách nhiệm cho người vay?

Hơn nữa với khối tài sản gồm có “169 biệt thự, nhà ở, văn phòng các loại. Hệ thống nhà xưởng, kho hàng tại các khu công nghiệp có 78 cái với tổng diện tích hơn 1,2 triệu m2.

Đất chuyên dùng hơn 2,6 triệu m2. Nhà đất của Minh Phụng và Liên Khui Thìn có mặt khắp nơi, từ TPHCM đến các tỉnh Lâm Đồng, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu…”

thì nếu như định đúng giá thị trường, Minh Phụng hoàn toàn thừa khả năng chi trả các khoản nợ đã vay sau khi phát mãi; bằng chứng là với tài sản gồm biệt thự, văn phòng, nhà xưởng tại khu vực TP Hồ Chí Minh, phần lớn giá bán thực tế đều cao hơn rất nhiều so với giá Tòa án định khi xét xử.

Riêng đối với các lô đất mà Minh Phụng đã lập các dự án tại khu vực Thủ Đức trước đây (nay thuộc quận 2), theo quy hoạch của TP Hồ Chí Minh, hầu hết số này nằm ở các vị trí rất đắc địa, lợi nhuận chắc chắn sẽ rất lớn.

Do vậy, có ngân hàng được Tòa án giao cho một số lô đất tại khu vực quận 2, chưa cần phải triển khai xây dựng dự án, cũng không cần đầu tư hạ tầng, qua phiên đấu giá một lô thôi đã thu đủ toàn bộ số nợ trên 15 triệu USD, ngoài ra đơn vị này còn dư ra được số tiền và tài sản trị giá cả chục triệu USD.

Thực tế khi xử lý tài sản thế chấp sau này cho thấy, các danh mục tài sản thế chấp là nhà xưởng, kho tàng tại các khu công nghiệp đều có giá khá cao, với thời gian thuê khoảng 40-50 năm, chỉ tính riêng tiền khai thác có ngân hàng đã thu được hàng trăm tỷ đồng.

Nhưng trong phiên xét xử, vị luật sư bào chữa cho bị cáo đã phải ngậm ngùi thốt lên:

“mỗi m2 đất được Tòa định giá bằng ba cây kem Tràng Tiền”!

…

Vậy thì mọi người có quyền đặt câu hỏi:

phải chăng Minh Phụng phải chết để không còn ai kiện cáo số tài sản trên, để nó được “toàn dân sở hữu”?

Mấy hôm trước, đọc thông tin về tập đoàn Quốc Cường Gia Lai, thú thật tôi không thích gì ông công tử này, cũng như bênh vực các cách thức làm ăn của họ, nhưng việc Nhà nước thu hồi phần BĐS đã bán cho họ thì một lần nữa cho thấy Nhà nước ta làm ăn theo kiểu ..con nít, thích bán là bán, thích lấy lại là lấy lại!

Mặc dầu trước đây họ có gian dối hay hối lộ để quan chức bán cho họ với giá rẻ mạt đi chăng nữa thì với quy luật thị trường, khi anh đồng ý bán thì không có quyền gì tố người khác lừa gạt,

có chăng là cái tội ngu và tham của cán bộ cần phải xử lý mà thôi!

Muốn xử lý doanh nghiệp trên thì Nhà nước chỉ có thể xử lý tội hối lộ (nếu có).

Chợt nhớ vụ bầu Kiên cũng vậy, trách nhiệm thuộc về Ngân hàng, họ có quyền thẩm định giá tài sản để cho vay hay không thì lại quy tội cho kẻ đi vay, ai ép anh?

Nếu muốn bắt thì căn cứ vào việc có thu hồi được nợ để buộc tội người ta, kiểu thiếu nợ thì ở tù chứ sao lại can tội chiếm đoạt tài sản?

Thế mới biết, kẻ cầm cương nảy mực còn không biết Pháp luật là gì, làm sao có thể hô hào người dân “sống và làm việc theo pháp luật”?

Suy cho cùng, Nhà nước ta chỉ thua lỗ khi làm ăn với nước ngoài thôi, còn làm ăn với dân thì đến bao giờ mới lỗ?

Luật hả?

Hãy điền vào chỗ trống …. những câu thích hợp! Dễ thôi mà…

Tác giả: Nhật Huỳnh 


 

Tự giải thoát hay là ảo giác, ảo tưởng và ảo vọng

Bài của Gemini AI

Ảo tưởng mình có thể tự giải thoát  bằng cách buông bỏ hết, thực ra, đó là tính cách kiêu ngạo ẩn danh khi “cái tôi” khinh chê, đi trốn và tự tách ra khỏi xã hội

Sự tự tôn vinh bản thân giống như một làn mây mù: nó tạo ra ảo ảnh rằng ta đang ở trên đỉnh núi, nhưng thực chất chỉ đang làm ta mất phương hướng trong thung lũng. Ranh giới giữa sự vĩ đại thật sự và sự ảo tưởng chính là lòng khiêm nhường.

 

Chỉ khi biết hạ mình xuống, nhìn nhận sự yếu đuối của bản thân để đón nhận Ơn Cứu Chuộc và mở lòng kết nối bình đẳng với mọi người, con người mới tìm lại được sự minh triết trong tâm trí, sự bình an trong tâm hồn và niềm vui sống giữa cộng đồng.

Như lời mời gọi của Đức Kitô : “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”.

 

Trong hành trình định hình bản thân, ranh giới giữa lòng tự trọng lành mạnh và sự tự tôn vinh thái quá (kiêu ngạo, tự đôn mình lên cao) thường rất mong manh. Khi một cá nhân tự đặt mình lên vị trí cao hơn người khác—dù về trí tuệ, đạo đức hay địa vị—họ vô tình rơi vào một cạm bẫy tâm lý nguy hại. Sự tự tôn vinh bản thân không mang lại tầm vóc thực sự; trái lại, nó tạo ra những ảo tưởng sai lệch, dẫn đến sự mơ hồ trong tư duy và cuối cùng đẩy con người ta rời xa, xa lánh khỏi các hoạt động xã hội.

1. Ảo Tưởng Tự Tạo Và Sự Mất Kết Nối Với Thực Tai

Tự tôn vinh bản thân sinh ra từ mong muốn khẳng định giá trị, nhưng khi vượt quá giới hạn, nó trở thành một cơ chế phòng vệ lệch Lạc. Người sống trong sự tự tôn vinh bắt đầu xây dựng một ảo tưởng về sự ưu việt: họ tin rằng mình đặc biệt hơn, sáng suốt hơn hoặc phải gánh vác những sứ mệnh mà người thường không hiểu nổi.

Can meditation Give you Superpowers: Harnessing the Power of ...

Ảo tưởng này bóp méo nhận thức của họ về thực tế. Họ từ chối tiếp nhận các phản hồi mang tính xây dựng vì coi đó là sự xúc phạm; họ phủ nhận những sai sót của bản thân để bảo vệ bức tượng đài hoàn hảo tự dựng lên. Khi không còn nhìn nhận bản thân và thế giới bằng sự khách quan, con người ta dần sống trong một “tháp ngà” khái niệm, nơi sự thật bị thay thế bởi những suy tưởng tự thổi phồng.

2. Sự Mơ Hồ Và Căng Thẳng Trong Nội Tâm

Sống sau một lớp vỏ kiêu ngạo luôn đi kèm với một cái giá rất đắt về tâm lý. Sự tự tôn vinh tạo ra xung đột gay gắt giữa bản chất thật (với đầy đủ sự tổn thương, giới hạn của một con người) và hình mẫu ảo tưởng mà họ phải cố gồng gánh.

Chính khoảng cách này gieo rắc sự mơ hồ và hoang mang trong tâm trí:

  • Họ luôn lo sợ bị bóc trần hoặc bị đánh giá không đúng với “tầm vóc” họ tự nhận.

  • Sự mơ hồ khiến họ khó phân biệt đâu là tình cảm chân thành, đâu là sự vuốt ve ego (cái tôi).

  • Nhận thức bị mất gốc (unrounded) khiến họ dễ rơi vào trạng thái hoài nghi, mất phương hướng và hoang tưởng rằng thế giới xung quanh không đủ thấu hiểu hoặc đang chống lại mình.

3. Sự Xa Lánh Xã Hội: Từ “Độc Hành” Đến Cô Lập

Hệ quả tàn nhẫn nhất của sự tự tôn vinh bản thân chính là sự rút lui và rời xa các hoạt động xã hội. Khi một người tự coi mình ở một tầng bậc khác, họ bắt đầu nhìn nhận các mối quan hệ xã hội thông thường là “tầm thường” hoặc “tốn thời gian”.

Sự xa lánh này diễn ra qua hai cấp độ:

  • Chủ động rút lui: Họ từ bỏ các sinh hoạt cộng đồng, tránh né việc giao lưu với bạn bè hay đồng nghiệp vì cho rằng không ai cùng “tầng tần số” với mình. Họ nhầm lẫn sự cô lập này với sự tĩnh lặng của bậc hiền triết, nhưng thực chất đó là sự trốn chạy thực tại.

MINSHUKU KINJO - Reviews (Zamami-son, Japan - Okinawa Prefecture)

  • Bị xã hội đẩy ra: Mối quan hệ con người bền vững dựa trên sự bình đẳng và lắng nghe. Sự coi thường, trịch thượng xuất phát từ kẻ tự tôn vinh sẽ dần đẩy những người xung quanh ra xa. Không ai muốn ở cạnh một người luôn tìm cách dìm người khác xuống để nâng mình lên.

Cuối cùng, sự “độc hành” mà họ tự hào lại trở thành một nhà tù cô đơn, nơi họ tự giam mình trong sự ruồng bỏ xã hội và mất đi nguồn nâng đỡ tinh thần từ cộng đồng.

Kết luận:

Đạo Công Giáo đặt căn bản trên lòng tin vào ơn cứu độ đến từ Thiên Chúa độc nhất, toàn năng, nhân từ chứ không phải từ bất cứ một thế lực, nhân lực, thần lực nào khác.

Vũ trụ lớn đến mức không tưởng

Chúng ta đang sống trên hành tinh này. Thoạt nhìn, Trái Đất có vẻ bao la và vô tận. Ngay cả khi bạn dành cả đời để khám phá, cũng không thể đi hết mọi ngóc ngách của nó. Nhưng so với toàn bộ vũ trụ, hành tinh của chúng ta thực sự nhỏ bé đến mức nào?

 Trước hết, hãy nhìn vào Mặt Trăng. Bạn có thể quen thuộc với nó, nhưng khoảng cách thực tế không như nhiều người tưởng tượng. Mặt Trăng cách chúng ta khoảng 384.400 km. Để dễ hình dung, khoảng không gian giữa Trái Đất và Mặt Trăng đủ chỗ để xếp khoảng 30 quả Trái Đất liên tiếp. Đó cũng là lý do một tên lửa mất khoảng ba ngày mới tới được đó, xa hơn nhiều so với cảm nhận thông thường của chúng ta.

Nếu bạn lái chiếc xe Công thức 1 nhanh nhất với tốc độ tối đa 378 km/h, bạn sẽ mất hơn 42 ngày để đến Mặt Trăng. Và đó mới chỉ là vệ tinh gần nhất của chúng ta. Sao Hỏa – hành tinh đỏ – trung bình cách xa tới 225 triệu km, gấp khoảng 585 lần khoảng cách tới Mặt Trăng. Việc đưa con người lên sao Hỏa vì thế không hề đơn giản.

Ngày nào đó, khi có người đặt chân lên hành tinh này lần đầu tiên, họ sẽ nhìn lên bầu trời và thấy Trái Đất chỉ là một chấm nhỏ, giống như bức ảnh năm 2014 được tàu thám hiểm Curiosity chụp từ sao Hỏa. Mỗi tin nhắn gửi về Trái Đất sẽ mất từ 3 đến 21 phút mới tới nơi, tùy theo vị trí quỹ đạo của hai hành tinh lúc đó, chậm hơn rất nhiều so với độ trễ chỉ 1,3 giây giữa Trái Đất và Mặt Trăng.

Xa hơn nữa là tàu vũ trụ Voyager 1. Vào thời điểm được nhắc đến, nó đã cách Trái Đất khoảng 164,7 đơn vị thiên văn. Một đơn vị thiên văn là khoảng cách trung bình giữa Mặt Trời và Trái Đất, nghĩa là Voyager 1 lúc đó đã xa hơn Mặt Trời khoảng 165 lần, tương đương khoảng 24,6 tỷ km – trở thành vật thể nhân tạo xa nhất từng được con người chế tạo.

Tàu được phóng năm 1977 với nhiệm vụ ban đầu là khám phá các hành tinh bên ngoài hệ Mặt Trời. Hiện nay, nó đã bước vào không gian giữa các vì sao, vùng nằm ngoài tầm ảnh hưởng trực tiếp của Mặt Trời và vẫn tiếp tục gửi về những dữ liệu quý giá với tư cách là tàu thăm dò đầu tiên tiếp cận khu vực này.

Voyager 1 còn mang theo Đĩa Vàng – một bản ghi chứa âm thanh, nhạc và hình ảnh về Trái Đất, dành cho bất kỳ dạng sống ngoài hành tinh hoặc nền văn minh tương lai nào có thể tìm thấy nó. Đĩa gồm 48 hình ảnh (Trái Đất, con người, các khái niệm khoa học và thiên văn), âm thanh của động vật, con người, công nghệ, lời chào bằng 55 ngôn ngữ khác nhau, cùng 27 bản nhạc từ nhiều quốc gia nhằm thể hiện sự đa dạng của hành tinh chúng ta.

Tàu vẫn đang bay với tốc độ khoảng 61.200 km/h. Dù đã di chuyển không ngừng trong nhiều thập kỷ, nó vẫn còn nằm trong hệ Mặt Trời vì chưa vượt qua đám mây Oort. Voyager 1 sẽ mất khoảng 300 năm nữa mới đến được vùng này, và cần thêm khoảng 30.000 năm để hoàn toàn vượt qua – khoảng thời gian tương đương với thời điểm loài người Neanderthal tuyệt chủng.

Khi rời khỏi hệ Mặt Trời, chúng ta chuyển sang dùng đơn vị năm ánh sáng – khoảng cách ánh sáng đi được trong một năm, tương đương khoảng 9,5 nghìn tỷ km. Hệ Mặt Trời của chúng ta, tính đến hết đám mây Oort, có kích thước khoảng 1,6 năm ánh sáng. Ngôi sao gần Mặt Trời nhất là Proxima Centauri, cách khoảng 4,25 năm ánh sáng. Voyager 1 sẽ mất khoảng 75.000 năm mới tới được đó. Còn nếu đi bằng xe Công thức 1 với tốc độ 378 km/h, bạn sẽ cần khoảng 12 triệu năm.

Ở khoảng cách 125 năm ánh sáng, một nền văn minh ngoài hành tinh đủ tiên tiến có thể bắt được các chương trình phát thanh và truyền hình cũ của chúng ta nếu họ có máy thu đủ nhạy. Xa hơn khoảng cách đó, tín hiệu của chúng ta gần như không còn cơ hội được nghe thấy.

Khi phóng tầm nhìn ra xa hơn, chúng ta thấy Dải Ngân Hà – thiên hà của mình. Vùng 125 năm ánh sáng mà sóng điện từ của chúng ta bao phủ chỉ là một vòng tròn nhỏ bé trong thiên hà rộng khoảng 100.000 năm ánh sáng. Dải Ngân Hà chứa khoảng 250 tỷ ngôi sao, và số lượng hành tinh còn lớn hơn, vì hầu hết các ngôi sao đều có ít nhất một hành tinh quay quanh.

Cho đến những năm 1920, người ta vẫn nghĩ rằng tất cả các ngôi sao trong vũ trụ đều nằm trong Ngân Hà. Sau “Cuộc tranh luận lớn”, khoa học xác định rằng Ngân Hà chỉ là một trong vô số thiên hà. Chúng ta thuộc Nhóm Địa phương, tập hợp khoảng 100 thiên hà với đường kính khoảng 10 triệu năm ánh sáng.

Nhóm Địa phương lại nằm trong Siêu cụm Xử Nữ, chứa khoảng 100 nhóm và cụm thiên hà, với đường kính khoảng 110 triệu năm ánh sáng. Thiên hà thống trị của siêu cụm này là Cụm Xử Nữ, khiến chúng ta càng trở nên nhỏ bé hơn.

Siêu cụm Xử Nữ chỉ là một phần của Siêu cụm Laniakea – cấu trúc chứa khoảng 100.000 thiên hà và có đường kính khoảng 520 triệu năm ánh sáng. Xa hơn nữa là Phức hợp Siêu cụm Pisces-Cetus, một sợi thiên hà khổng lồ trải dài khoảng một tỷ năm ánh sáng, gồm khoảng 60 siêu cụm và là một trong những cấu trúc lớn nhất từng được quan sát.

Theo tính toán của một nhóm nhà khoa học tại Đại học Oxford, vũ trụ có thể lớn hơn ít nhất 250 lần so với vũ trụ quan sát được, tương đương khoảng 7 nghìn tỷ năm ánh sáng. Theo thuyết lạm phát của Alan Guth, con số này còn có thể lên tới 100.000 nghìn tỷ lần. Để dễ hình dung: nếu vũ trụ quan sát được chỉ bằng một đồng xu euro, thì toàn bộ vũ trụ sẽ lớn đến mức bao phủ một không gian dài khoảng 250.000 năm ánh sáng – gấp hơn hai lần đường kính Dải Ngân Hà.

Cuối cùng, chúng ta đến với vũ trụ quan sát được, phần vũ trụ mà ánh sáng đã có đủ thời gian để tới được Trái Đất. Phức hợp Siêu cụm Pisces-Cetus chỉ là một phần rất nhỏ trong đó. Vũ trụ quan sát được có đường kính khoảng 93 tỷ năm ánh sáng, chứa khoảng 2 nghìn tỷ thiên hà và khoảng 10²⁴ ngôi sao – nhiều hơn số hạt cát trên toàn Trái Đất, và rất có thể chứa nhiều hành tinh giống Trái Đất hơn nữa.

Đây chỉ là phần chúng ta có thể nhìn thấy. Ánh sáng từ những vùng xa hơn vẫn chưa kịp đến. Vũ trụ thực sự được cho là lớn hơn rất nhiều, nhưng chúng ta chưa biết chính xác bao nhiêu.

Do sự giãn nở ngày càng nhanh của vũ trụ, có những vùng không gian đang rời xa chúng ta nhanh hơn tốc độ ánh sáng. Đó là chân trời sự kiện vũ trụ – giới hạn tự nhiên của những gì chúng ta có thể quan sát. Ngay cả khi nhân loại tồn tại mãi mãi, vẫn sẽ có vô số nơi chúng ta không bao giờ nhìn thấy hay biết đến.

Nhìn vào con số ấy, người ta không khỏi nhớ đến lời Đức Thích Ca Mâu Ni từng nói trong kinh điển Đại thừa: trong một hạt cát đã hàm chứa cả tam thiên đại thiên thế giới – nghĩa là hàng tỷ thế giới với sắc thân, chúng sinh và cảnh giới tương tự như nhân loại chúng ta. Với con mắt của Như Lai, mọi sự đều thấu tỏ; còn chúng ta, với đôi mắt trần thịt hữu hạn không thể nào tưởng tượng nổi hình ảnh một vị Phật đang nhìn thấy toàn bộ vũ trụ ấy cùng một lúc.

Ngay cả Albert Einstein, người đã dành cả đời để nghiên cứu cấu trúc và quy luật của vũ trụ cuối cùng cũng phải thừa nhận sự huyền bí bất khả tri ấy. Ông từng viết:

“Trải nghiệm đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể có là cái huyền bí. Đó là nguồn gốc của mọi nghệ thuật và khoa học chân chính… Cảm nhận được rằng đằng sau mọi thứ có thể trải nghiệm còn có điều gì đó mà trí tuệ chúng ta không thể thấu triệt, vẻ đẹp và sự cao cả chỉ chạm đến chúng ta một cách gián tiếp – đó chính là tính chất tôn giáo. Theo nghĩa này, và chỉ theo nghĩa này, tôi là một người sùng đạo sâu sắc.”

Einstein không tin vào một vị thần nhân cách can thiệp vào số phận con người. Ông tin vào “Thượng đế của Spinoza”, sự hài hòa trật tự của chính vũ trụ. Ông gọi cảm xúc ấy là tôn giáo vũ trụ: lòng kính sợ và ngưỡng mộ trước sự rộng lớn, tinh xảo và bí ẩn của cái toàn thể mà khoa học chỉ mới hé mở được một phần rất nhỏ.

Khi khoa học càng đẩy xa biên giới của tri thức, con người càng nhận ra rằng mình đang đứng trước một thực tại vượt xa mọi khả năng tưởng tượng. Và chính lúc ấy, lời dạy của Đức Phật về hạt cát chứa cả tam thiên đại thiên thế giới không còn là ẩn dụ xa vời, mà trở thành một sự thật đang dần được khoa học hiện đại xác nhận theo cách của riêng nó.

Chúng ta không biết chính xác những gì nằm ngoài tầm với của mình lớn đến mức nào. Điều duy nhất chúng ta chắc chắn là nó lớn hơn chúng ta rất, rất nhiều – lớn đến mức chỉ có con mắt của bậc giác ngộ mới có thể nhìn thấy trọn vẹn.

Mỹ Mỹ biên tập

From: MY LOAN & NguyenNThu


 

Giải Nobel hòa bình thảm hại năm 1973

Dưới đây là bài luận chi tiết  về thảm họa lịch sử của Giải Nobel Hòa bình năm 1973 và cú sốc địa chính trị hai năm sau đó khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ vào năm 1975- Bài do AI Gemini viết:

Khi Biểu Tượng Hòa Bình Che Lấp Thực Tại Lịch Sử: Thảm Họa Nobel Hòa Bình 1973 và Sự Cố Năm 1975

Chân dung những cá nhân từng đạt giải Nobel Hòa bình, trong đó có ông Kissinger (hàng trên cùng, thứ hai từ trái sang), được trưng bày tại Viện Nobel Na Uy ở Oslo. Ảnh: Reuters.

Chân dung những cá nhân từng đạt giải Nobel Hòa bình, trong đó có ông Kissinger (hàng trên, thứ hai từ trái sang), được trưng bày tại Viện Nobel Na Uy ở Oslo. Ảnh: Reuters.

Trong lịch sử hơn 120 năm của Giải Nobel Hòa bình, Ủy ban Nobel Na Uy ở Oslo từng đưa ra nhiều quyết định gây tranh cãi. Tuy nhiên, không có sự kiện nào bộc lộ sự sai lầm thảm hại giữa kịch bản ngoại giao trên giấy tờ và thực tại tàn khốc trên chiến trường rõ ràng như quyết định trao giải năm 1973 cho cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger và nhà ngoại giao Bắc Việt Lê Đức Thọ.

Diễn biến lịch sử hai năm sau đó — khi quân đội Bắc Việt tràn vào Sài Gòn, xóa bỏ hoàn toàn Việt Nam Cộng hòa vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 — không chỉ làm sụp đổ Hiệp định Paris mà còn giáng một đòn chí mạng vào uy tín của tổ chức trao giải tại Oslo.

 Hiệp Định Paris 1973: Tấm Màn Ngoại Giao Cho Một Lối Thoát

Tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Ngay lập tức, Ủy ban Nobel tại Oslo đã vội vã vinh danh Henry Kissinger và Lê Đức Thọ vì đã “thương lượng thành công một thỏa thuận hòa bình”.

Tuy nhiên, giới quan sát và các nhà phân tích địa chính trị sắc bén thời đó đã sớm nhận ra bản chất thực sự của thỏa thuận này:

  • Chiến lược “Khoảng cách Thích hợp” (Decent Interval): Đối với Washington, Hiệp định Paris thực chất là một chiến thuật rút quân trong danh dự cho nước Mỹ. Mục tiêu chính là đưa tù binh Mỹ về nước và rút toàn bộ bộ binh Mỹ ra khỏi chiến trường, tạo ra một “khoảng thời gian chấp nhận được” trước khi tình hình Miền Nam tự biến động.

  • Sự gạt bỏ bên liên quan trực tiếp: Hiệp định được đàm phán chủ yếu giữa hai thế lực lớn, đặt chính quyền và quân dân Việt Nam Cộng hòa vào thế đã rồi. Việc cho phép hàng trăm ngàn quân chủ lực Bắc Việt tiếp tục ở lại lãnh thổ Miền Nam sau khi Mỹ rút đi đã tạo ra một sự mất cân bằng quân sự chí mạng.

Saigon in Vietnam on April 30, 1975 - North Vietnamese tanks entered ...

2. Lời Thú Nhận Sự Thật Từ Chính Những Người Trong Cuộc

Sự phi lý của giải thưởng lớn đến mức chính các nhân vật chính cũng không thể che đậy:

  • Lê Đức Thọ từ chối nhận giải: Ông trở thành người đầu tiên trong lịch sử tuyên bố thẳng thắn từ chối Giải Nobel Hòa bình. Ông thẳng thắn chỉ ra rằng hòa bình thực sự chưa hề lặp lại ở Việt Nam và các bên vẫn đang vi phạm thỏa thuận. Thực tế, phía Bắc Việt xem khoảng thời gian này là cơ hội vàng để củng cố tuyến đường tiếp vận Trường Sơn và chuẩn bị cho trận chiến quyết định.

  • Henry Kissinger muốn trả lại huy chương: Sau khi Sài Gòn thất thủ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, Kissinger đã gửi điện văn đề nghị trả lại tấm huy chương và tiền thưởng Nobel, thừa nhận rằng Hiệp định Paris đã thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên, Ủy ban Nobel đã từ chối nhận lại vì quy chế tổ chức không cho phép tước hay hủy giải thưởng.

  • Làn sóng phản đối nội bộ: Lần đầu tiên trong lịch sử Nobel, hai thành viên trong chính Ủy ban Nobel Na Uy đã từ chức để phản đối quyết định này. Báo chí quốc tế lúc bấy giờ cay đắng gọi đây là “Giải thưởng Chiến tranh” (The War Prize).

3. Sự Sụp Đổ Năm 1975 và Bài Học Về Niềm Tin

Chỉ hai năm sau khi Ủy ban Oslo ăn mừng “hòa bình”, các đoàn xe tăng Bắc Việt húc văng cổng Dinh Độc Lập vào mùa xuân năm 1975, chính thức chấm dứt sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa. Sự kiện này mang lại những bài học đắt giá:

  1. Rủi ro của việc vội vã vinh danh “Ý định”: Việc trao giải thưởng dựa trên những lời hứa ngoại giao thay vì kết quả thực chứng bền vững trên thực địa là sai lầm chết người.

  2. Sự mù kìm của các tổ chức quốc tế: Khi các tổ chức quốc tế ưu tiên các kịch bản ngoại giao đẹp mắt mà phớt lờ ý đồ chiến lược thực sự và cán cân lực lượng thực tế, họ tự biến mình thành công cụ hợp thức hóa cho một cuộc can thiệp hoặc chiếm đóng tiếp theo.

  3. Xói mòn niềm tin công chúng: Khi một tổ chức nhân danh hòa bình lại trao thưởng cho một thỏa thuận dẫn đến sự sụp đổ của cả một quốc gia và thảm cảnh hàng triệu người phải bỏ nước ra đi (làn sóng người vượt biển – Boat People), niềm tin của công chúng vào tính trung lập và sắc bén của tổ chức đó sẽ bị tổn thương vĩnh viễn.

Kết Luận

Sự kiện năm 1975 là minh chứng lịch sử đắt giá nhất cho thấy: Mọi tờ giấy cam kết ngoại giao hay giải thưởng danh giá đều trở nên vô nghĩa nếu nó thoát thoát khỏi logic thực tế và bản chất của quyền lực.

Thảm họa Nobel Hòa bình năm 1973 không chỉ là một vết đen trong hồ sơ của Ủy ban Oslo, mà còn là lời nhắc nhở vĩnh viễn cho nhân loại rằng: Hòa bình thực sự không thể được xây dựng bằng sự ngụy biện ngoại giao hay những ảo tưởng trên giấy tờ.

TẠI SAO CÓ NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN, CÓ NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH?

 

Tôi 71 tuổi, gặp nhiều bạn già lắm rồi.

Có bác 75 tuổi, ai gặp cũng quý. Bác nói nhỏ nhẹ, hay cười, con cháu quây quần, hàng xóm nhờ gì cũng giúp. Ở gần bác thấy ấm.

Cũng có bác 75 tuổi, ai gặp cũng sợ. Bác hay xét nét, hay kể công, hay giận, con cháu đến thăm một chút rồi về vội. Ở gần bác thấy mệt.

Cùng một tuổi 75, cùng một thời chiến tranh đi qua, tại sao lại khác nhau đến vậy?

Tôi nghiệm ra, không phải do tuổi. Mà do 4 thứ người ta ôm trong lòng suốt 20 năm qua.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI ĐÃ HỌC ĐƯỢC CHỮ BUÔNG. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI CÒN ÔM CHỮ GIỮ.

Nhà tâm lý học Carl Jung nói: “Tôi không phải là những gì đã xảy ra với tôi. Tôi là những gì tôi chọn trở thành.”

Người khó tính là người 60 tuổi vẫn còn giữ trong lòng chuyện 30 năm trước: Anh kia nợ tôi 2 chỉ vàng chưa trả. Chị dâu nói xấu tôi năm 1985. Con dâu cãi tôi một câu năm 2010. Họ giữ hết. Mỗi ngày họ nhai lại một lần. Lâu ngày, mặt họ hằn lên sự giận dữ.

Người hiền là người đã buông được. Không phải vì họ quên, mà vì họ hiểu: Giữ giận là uống thuốc độc làm mình mau chết.Buông không phải là thua, buông là để tay mình rảnh mà ôm cháu.

Hiền hay khó tính, là do mình chọn ôm hay chọn buông.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI CÒN BIẾT TÒ MÒ. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI ĐÃ ĐÓNG CỬA LẠI.

Tôi để ý, bác nào 70 tuổi mà vẫn ham học cái mới: học bấm điện thoại, học trồng một loại rau mới, học nghe một bài nhạc của cháu, hỏi cháu “cái này là gì vậy?” – thì bác đó rất hiền và trẻ.

Vì não của bác đó còn mở. Bác đó biết mình còn nhiều thứ chưa biết, nên bác khiêm tốn.

Bác nào 70 tuổi mà nói “Tao sống 70 năm rồi, cái gì tao chẳng biết. Chúng mày biết gì mà nói” – thì bác đó sẽ rất khó tính. Vì bác đã đóng sập cửa lại rồi. Không ai nói được bác nữa. Bác cô đơn trong chính cái biết của mình.

Tâm lý học gọi là “Tư duy phát triển” và “Tư duy đóng kín”. Người hiền luôn nghĩ mình còn phải học. Người khó tính luôn nghĩ mình phải dạy người khác.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI CÒN CÓ VIỆC ĐỂ LÀM. NGƯỜI KHÓ TÍNH LÀ NGƯỜI THẤY MÌNH HẾT GIÁ TRỊ.

Đây là điều đau nhất.

Một bác trai 62 tuổi về hưu. Trước đây bác là trưởng phòng, ai cũng chào. Nay về nhà, không ai chào nữa. Bác thấy mình vô dụng. Bác bèn đi quản con, quản cháu, xét nét từng bữa cơm, từng cái chổi quét nhà. Bác khó tính không phải vì bác xấu, mà vì bác sợ mình không còn giá trị.

Ngược lại, bác nào về hưu mà tìm được một việc mới: nuôi 5 con gà, trồng giàn mướp, sáng đi bộ với mấy ông bạn, chiều viết vài dòng, tối gọi điện cho con… Bác đó bận rộn với niềm vui của mình, nên bác không có thời gian để khó tính với ai cả.

Muốn hiền, phải có một việc nhỏ để làm mỗi ngày, và thấy việc đó có ích.

  1. NGƯỜI CÀNG GIÀ CÀNG HIỀN LÀ NGƯỜI ĐÃ CHỊU THIỆT NHIỀU RỒI, NÊN HIỂU RA RẰNG HƠN THUA LÀ VÔ NGHĨA.

Lúc 40 tuổi, ta hơn thua nhau từng lời nói.

Lúc 50 tuổi, ta hơn thua nhau tiền nhiều tiền ít.

Lúc 60 tuổi, ta hơn thua nhau con mình giỏi hơn con người ta không.

Đến 70 tuổi, đi qua một đám tang người bạn, đi qua một lần nằm viện, ta mới hiểu: Hơn thua là vô nghĩa hết.

Người hiền là người đã hiểu ra điều đó sớm hơn. Nên họ nhường. Họ nói lời dịu dàng. Họ không chấp.

Người khó tính là người đến 70 vẫn còn muốn thắng. Muốn con phải nghe mình, muốn cháu phải theo ý mình, muốn hàng xóm phải nể mình. Càng muốn thắng, càng cô đơn.

Cho nên, tôi nghiệm ra một câu để tự răn mình mỗi sáng:

Càng già, không phải là để khó tính hơn. Càng già, là để hiền hơn.

Hiền không phải là nhu nhược. Hiền là trí tuệ. Vì chỉ người trí tuệ mới hiểu: Cuộc đời này ngắn lắm, giận nhau làm gì, khó nhau làm gì, để thời gian mà thương nhau.

Bạn 60 tuổi, 70 tuổi ơi, hôm nay bạn chọn hiền hay chọn khó tính?

#TuoiGia #HienLanh #BaiHocCuocSong— ở Shakopee.


 

MỘT VÒNG ĐỜI – MỘT LẦN TỈNH THỨC

My Lan Pham 

MỘT VÒNG ĐỜI – MỘT LẦN TỈNH THỨC

Lương y Ngô Đức Vượng

Tôi đã nhìn bức ảnh này rất lâu…

Một hạt giống rơi xuống đất.

Nảy mầm. Lớn lên. Trưởng thành.

Con người cũng vậy.

Ta sinh ra, tập đi, lớn lên…

Rồi bắt đầu chạy.

Chạy theo việc học.

Chạy theo công việc.

Chạy theo tiền bạc.

Chạy theo danh vọng.

Chạy theo những điều mà ta nghĩ rằng: có được rồi mình sẽ hạnh phúc.

Nhưng càng chạy, thời gian càng trôi.

Một ngày ngoảnh lại, cha mẹ đã già.

Con cái đã lớn.

Mái tóc mình cũng bắt đầu bạc.

Và rồi ta chợt hiểu:

Cuộc đời không dài như ta từng nghĩ.

Ngày còn nhỏ, một năm tưởng như vô tận.

Đến tuổi trưởng thành, mười năm đôi khi chỉ như một cái chớp mắt.

Sinh ra.

Lớn lên.

Mưu sinh.

Lập gia đình.

Nuôi con.

Già đi…

Rồi một ngày, thân này cũng trở về với đất.

Cả một đời tranh hơn thua, cuối cùng mang theo được gì?

Tiền bạc – để lại.

Nhà cửa – để lại.

Danh vọng – để lại.

Những điều từng khiến ta giận dữ, hơn thua, mất ăn mất ngủ… rồi cũng để lại.

Chỉ có những gì ta đã sống, đã yêu thương, đã cho đi và đã gieo là để lại dấu ấn trong cuộc đời này.

Vậy nên…

Khi cha mẹ còn bên cạnh, hãy dành thời gian cho cha mẹ.

Khi vợ chồng còn ngồi chung một mâm cơm, hãy biết trân trọng nhau.

Khi con còn muốn nắm tay mình, hãy đặt điện thoại xuống và nắm lấy bàn tay ấy.

Khi cơ thể còn khỏe mạnh, hãy biết chăm sóc nó.

Khi còn có thể nói lời yêu thương, xin đừng chờ đến ngày chỉ còn đứng trước một di ảnh mới nói hai chữ: “Giá như…”

Đời người ngắn lắm.

Đừng dành cả cuộc đời để chạy đi tìm hạnh phúc, rồi đến cuối con đường mới nhận ra:

Hạnh phúc từng ở ngay bên cạnh mình.

Một bữa cơm đủ người.

Một mái nhà bình an.

Cha mẹ còn khỏe.

Con cái còn cười.

Thân còn khỏe mạnh.

Tâm còn biết yêu thương.

Ấy đã là phước.

Cuộc đời là một vòng tròn.

Ta đến với hai bàn tay trắng, rồi cũng trở về với hai bàn tay trắng.

Vì vậy, khi còn được sống…

Hãy sống cho tử tế.

Hãy thương khi còn có thể thương.

Hãy biết ơn khi còn có thể biết ơn.

Và hãy tỉnh thức, trước khi thời gian đánh thức chúng ta bằng hai chữ: QUÁ MUỘN.


 

SAU TUỔI 60 CÓ MỘT KIỂU “GIÀU CÓ”  MÀ TIỀN NHIỀU CHƯA CHẮC MUA ĐƯỢC

Ds Lê Tiện

Sau tuổi 60:

Có người tài khoản rất nhiều tiền…

nhưng bước đi phải có người dìu.

Có người nhà rất rộng…

nhưng đêm nằm mãi không ngủ được.

Có người con cháu thành đạt…

nhưng trong lòng lúc nào cũng nặng trĩu.

Và cũng có những cô bác cuộc sống rất giản dị…

Nhưng sáng tự mình thức dậy.

Tự đi bộ.

Tự ăn uống.

Tự chăm sóc bản thân.

Tối ngủ một giấc tương đối yên.

Gặp con cháu còn cười vui.

Theo DS. Lê Tiện, đó mới là một kiểu “giàu có” rất đáng quý của tuổi già.

  1. GIÀU SỨC KHỎE: MUỐN ĐI ĐÂU VẪN TỰ ĐI ĐƯỢC

Sau tuổi 60, đôi chân khỏe đôi khi quý hơn một chiếc xe đẹp.

Vì xe có thể mua.

Nhưng khả năng tự đứng lên khỏi ghế, tự bước lên cầu thang, tự đi chợ, tự tắm rửa…

Nếu đã mất đi, muốn lấy lại không hề dễ.

Cô bác đừng chỉ hỏi:

“Cholesterol của tôi bao nhiêu?”

Hãy hỏi thêm:

“Cơ chân của tôi còn khỏe không?”

“Tôi có đứng lên ngồi xuống dễ dàng không?”

“Tôi có đi bộ 20–30 phút mà không quá mệt không?”

Tuổi già giữ được khả năng tự lập là một tài sản rất lớn.

  1. GIÀU MỘT GIẤC NGỦ YÊN

Có những người cả đời kiếm tiền.

Đến khi có tiền rồi lại chỉ mong một điều rất đơn giản:

Đặt lưng xuống là ngủ được.

Không trằn trọc tới nửa đêm.

Không 2–3 giờ sáng thức giấc rồi nhìn trần nhà.

Không sáng dậy với cái đầu nặng trĩu.

Một giấc ngủ ngon không chỉ giúp cô bác dễ chịu hơn.

Nó còn liên quan đến trí nhớ, tâm trạng, huyết áp, chuyển hóa và sức khỏe tim mạch.

Sau tuổi 60, ngủ được tương đối yên đã là một loại phúc.

  1. GIÀU KHẢ NĂNG TỰ CHĂM SÓC MÌNH

Có thể tự ăn.

Tự tắm.

Tự mặc quần áo.

Tự đi vệ sinh.

Tự nhớ lịch thuốc.

Tự quyết định những việc quan trọng của đời mình.

Những việc khi trẻ ta thấy quá bình thường…

Đến một ngày mới hiểu:

Đó chính là tự do.

Vì vậy, đừng đợi đến lúc yếu mới nghĩ đến chuyện giữ cơ, giữ xương, giữ thăng bằng và giữ trí nhớ.

Hãy bắt đầu khi mình vẫn còn khỏe.

  1. GIÀU NHỮNG MỐI QUAN HỆ ẤM ÁP

Sau tuổi 60, cô bác không cần quá nhiều người bên cạnh.

Chỉ cần vài người thật lòng.

Một người có thể ngồi ăn cùng mình.

Một người để gọi điện khi buồn.

Một người sẵn sàng hỏi:

“Hôm nay mình có khỏe không?”

Tiền có thể thuê người chăm sóc.

Nhưng tiền không dễ mua được sự quan tâm thật lòng.

Vì thế, khi còn có thể…

Hãy đối xử tử tế với bạn đời.

Gần gũi với con cháu.

Giữ vài người bạn cũ.

Và đừng vì một chuyện nhỏ mà đánh mất một mối quan hệ đã đi cùng mình hàng chục năm.

  1. GIÀU MỘT CÁI TÂM NHẸ

Đây có lẽ là kiểu giàu khó nhất.

Có nhà đẹp mà lòng bất an thì vẫn mệt.

Có tiền nhiều mà ngày nào cũng so đo, giận dữ, tiếc nuối thì vẫn khổ.

Càng lớn tuổi, DS. Lê Tiện càng thấy:

Có những chuyện thắng cũng chẳng để làm gì.

Một lời nói cũ.

Một người từng làm mình phật ý.

Một chuyện xảy ra từ mười năm trước.

Nếu giữ mãi trong lòng…

Người mệt nhất vẫn là mình.

Tuổi già đẹp nhất không phải là không có chuyện buồn.

Mà là mình đã học được cách:

Chuyện đáng nhớ thì giữ.

Chuyện không đáng thì buông.

SAU TUỔI 60, “GIÀU” KHÔNG CHỈ NẰM TRONG TÀI KHOẢN

Mà còn là:

Chân còn khỏe để đi.

Tay còn khỏe để làm.

Đầu óc còn minh mẫn để tự quyết.

Đêm còn ngủ được.

Nhà còn tiếng người thân.

Và lòng mình còn đủ nhẹ để mỉm cười.

Nếu cô bác đang có phần lớn những điều này…

Xin đừng coi đó là chuyện bình thường.

Đó là một gia tài.

Và quan trọng hơn:

Gia tài này phải được chăm sóc mỗi ngày.

Ăn uống điều độ một chút.

Tập cơ mỗi ngày một chút.

Đi bộ vừa sức một chút.

Ngủ sớm hơn một chút.

Bớt giận một chút.

Thương mình nhiều hơn một chút.

Có thể cô bác không trở thành người giàu nhất.

Nhưng hoàn toàn có thể trở thành một người giàu sức khỏe, giàu bình an và giàu những năm tháng đáng sống.

Nếu thấy bài viết này đáng để nhắc mình, cô bác hãy lưu lại.

Và thử tự hỏi một câu:

“Ở tuổi của mình hôm nay, tôi đang giàu nhất ở điều gì?”


 

TRĂM NGHÌN NHÁNH KHỔ!

Phan Thế Nghĩa

Sau 1975, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng.

Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng?

Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

 Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,… Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược.

 Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế… Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời…”.

Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 1975, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

 Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn – Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết.

  Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.

 Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt.

Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.

  Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc.

 Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5- 7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ… bãi gửi xe.

 Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em…

 Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả? Những năm sau 1975, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la,…

Năm 1978, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, qúy phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C. V. Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

  Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu – Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

 Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 1975 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

  Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…

  Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?

  Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.

  Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

 Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì.

 Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

  Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo.

 Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.

  Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong… Thánh.

  Tháng tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

 Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm.

 Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 1975 là như thế đó, lòng dạ nào yên?

  Năm 1975 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi?

  Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…”.

Vũ Thế Thành


 

ÔNG TRUMP NỒNG HẬU ĐÓN ÔNG TẬP: ĐÌNH CHIẾN THƯƠNG MẠI, AI, QUỐC YẾN XA HOA VÀ GÌ NỮA?

BBC News Tiếng Việt

 ÔNG TRUMP NỒNG HẬU ĐÓN ÔNG TẬP: ĐÌNH CHIẾN THƯƠNG MẠI, AI, QUỐC YẾN XA HOA VÀ GÌ NỮA?

Khi chuyên cơ chở Chủ tịch Tập Cận Bình và phu nhân đáp xuống sân bay tại Căn cứ liên hợp Andrews ở bang Maryland vào hôm 23/9, đích thân Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ra tận chân cầu thang đón, một nghi thức ngoại giao hiếm hoi, cho thấy nhà lãnh đạo Trung Quốc được đặc biệt trọng thị.

Chuyến thăm mang ý nghĩa trọng đại này là chuyến đi đầu tiên của ông Tập tới Washington kể từ năm 2015.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, ông Trump đã khoản đãi quốc yến mời ông Tập, hai bên dự kiến sẽ có các cuộc họp kín, và nhiều nội dung thảo luận, từ trí tuệ nhân tạo (AI), vấn đề Iran, Đài Loan cho đến việc gia hạn thỏa thuận đình chiến thương mại.

#BBCNewsTiengViet #DonaldTrump #TapCanBinh #quanheMy_Trung