Ý Kiến quanh vụ ÔNG NGUYỄN THÀNH NAM bị bắt theo Điều 117 Bộ luật Hình sự-Trương Nhân Tuấn

Trương Nhân Tuấn


Ngày 7/7/2026, báo chí Việt Nam đưa tin ông Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” bị bắt, bị khởi tố

Ông Nguyễn Thành Nam là ai? Là một trong những người sáng lập và là cựu Tổng Giám đốc FPT, Phó Chủ tịch HĐQT trường Đại học FPT, tham gia giảng dạy bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại Viện Khoa học và Giáo dục Khai phóng (VinUniversity). Theo báo chí, ông Nam đã bị Công an thành phố Hà Nội khởi tố về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự của nước này.

Nguyên do là từ cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng”. Ông Nguyễn Thành Nam đã viết về ông Hồ Chí Minh với cách nhìn và ngôn ngữ “đời thường, hiện đại, phù hợp với giới trẻ”, khác với cách nhìn và ngôn ngữ nghiêm túc, ca ngợi, tô hồng như từ trước đến nay. Khi cuốn sách vừa ra mắt trong tháng 4/2026, nhiều ý kiến đã khen ngợi, trong đó có ông Nguyễn Quang Thiều nhà văn, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhận định rằng tác phẩm giúp người đọc tiếp cận hình ảnh Hồ Chí Minh một cách gần gũi hơn. Nhưng sau đó thì cuốn sách bị những người có quan điểm bảo thủ chỉ trích, lên án rằng sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, xúc phạm, bôi nhọ hình ảnh “lãnh tụ” Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo ĐCSVN. Nhiều tờ báo đã rút lại những bài viết khen ngợi. Cuốn sách bị thu hồi, NXB Hội Nhà Văn–nơi xuất bản cuốn sách, bị phạt 100 triệu đồng, buộc tiêu hủy toàn bộ sách đã in, bị đình chỉ hoạt động 2 tháng, Và nay thì ông Nguyễn Thành Nam chính thức bị bắt, bị khởi tố.

Điều đáng nói là ông Nguyễn Thành Nam từ trước đến giờ hoàn toàn không phải là một người bất đồng chính kiến mà là một người sinh ra, lớn lên, thành đạt và có cuộc sống khá là viên mãn trong chế độ XHCNVN, thậm chí còn giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh như vừa nêu ở trên.

*****

Với tư cách một người Việt nam luôn trăn trở với tình hình đất nước, tôi cho rằng việc buộc hành vi biên soạn, tàng trữ và phát tán tác phẩm “Chuyện với Thanh –Lời kể mới về ánh sáng” của Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự vào tội danh “Chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là một sự áp đặt khiên cưỡng, chưa đánh giá đúng bản chất hành vi và sự xung đột sâu sắc với các cam kết quốc tế về Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) mà Nhà nước Việt Nam đang xây dựng.

Tôi trân trọng đề xuất bốn (04) luận cứ nhằm làm rõ tính khách quan, khoa học và tinh thần xây dựng của các bị cáo:

  1. Bản chất của tác phẩm Chuyện với Thanh là “nghiên cứu khoa học lịch sử đa chiều”, không phải “xuyên tạc, chống phá”.

Cáo trạng buộc tác phẩm có nội dung bôi nhọ đời tư Chủ tịch Hồ Chí Minh và hạ thấp lịch sử cách mạng. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chính trị và sử học hiện đại, lịch sử không phải là một giáo điều bất biến, mà là một tiến trình liên tục được bổ sung bằng tư liệu và góc nhìn mới.

Về vấn đề đời tư lãnh tụ: Việc tiếp cận đời tư của các nhân vật lịch sử dưới góc nhìn nhân văn, đời thường – loại bỏ lớp sương mù huyền thoại (thánh hóa) của giai đoạn chiến tranh tuyên truyền – là xu thế tất yếu của thời đại hội nhập. Khái niệm cán bộ “agitprop” (xách động và tuyên truyền) hay việc sử dụng các bút danh như Trần Dân Tiên, T.Lan, CB… để tự thuật trong bối cảnh những năm 1940-1950 là những sự thật lịch sử đã được giải mật và thảo luận rộng rãi trên thế giới. Việc các bị cáo hệ thống hóa các dữ kiện này dưới hệ qui chiếu mới hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu học thuật, không chứa đựng động cơ bôi nhọ hay ác ý chính trị.

Về tính khách quan của lịch sử cách mạng: Tác phẩm chỉ ra những khoảng trống quyền lực (Power Vacuum) trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự thỏa hiệp chính trị tất yếu với Hoa quân Tưởng Giới Thạch để lập Chính phủ Liên hiệp năm 1946, hay vai trò quyết định của nguồn viện trợ quân sự từ Moscow và Bắc Kinh sau năm 1949. Đây là những sự thật địa chính trị phản ảnh tương quan lực lượng thời Chiến tranh Lạnh. Nếu không có đòn bẩy quân sự từ khối Cộng sản, một quốc gia chưa tự chế tạo được vũ khí như Việt Nam không thể giành chiến thắng trước các siêu cường cơ giới hóa. Khẳng định điều này là tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử, chứ không phải phủ nhận xương máu của cha ông.

  1. Tính chính danh của Đảng CSVN và Nhà nước hiện nay đến từ “hiệu năng đổi mới”, không phụ thuộc vào việc kể lể công lao quá khứ. Cơ quan công tố đang sử dụng “hệ qui chiếu thời cách mạng” để bảo vệ một tính chính thống lịch sử tuyệt đối. Lập luận này hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế phát triển của đất nước:

Tính chính danh tối cao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thế kỷ 21 không còn nằm ở vị thế “có công đánh Pháp đuổi Mỹ giành độc lập” của quá khứ năm 1945 hay 1975, mà đến từ chính sách Đổi mới (1986).

Bản chất của Đổi mới là việc Nhà nước dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, sửa chữa các sai lầm của giai đoạn trước, xây dựng lại nền kinh tế thị trường, thừa nhận quyền sở hữu tư nhân và mở cửa hội nhập, những điều mà cuộc cách mạng vô sản thời kỳ đầu từng tìm cách xóa bỏ.

Do đó, một tác phẩm đặt ra các câu hỏi phản biện về giai đoạn lịch sử cũ, mục tiêu hiển nhiên là thiết lập lại những thảo luận cay đắng của những lãnh đạo tiền bối trong lúc lúc họ băn khoăn đứng trước bản lề “đổi mới”: hội nhập để phát triển hay là cố thủ rồi sụp đổ. Sự thành công trong hội nhập đã giúp thể chế hiện nay đứng vững, bằng năng lực quản trị kinh tế và sự ổn định xã hội ở hiện tại, chớ không hề đến từ việc ca tụng những hình tượng vô tri trong lịch sử.

Việc kết tội các bị cáo bằng hệ tư tưởng cũ là sự thụt lùi so với chính tinh thần “đổi mới” của đất nước, đặc biệt, là một hành vi đi ngược lại tinh thần khai phóng để đưa “đất nước vươn mình” của ông Tô Lâm.

  1. Sự mâu thuẫn với Tinh thần Trọng luật (Rule of Law) trong thời kỳ đất nước hội nhập vào dòng chảy quốc tế.

Việt Nam hiện nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện với hơn 190 quốc gia, là thành viên của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các định chế luật pháp quốc tế. Điểm tựa chính thống pháp lý của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đến từ sự thừa nhận của luật pháp quốc tế toàn cầu.

Một trong những cột trụ của hội nhập quốc tế là Tinh thần Trọng luật (Rule of Law), đòi hỏi luật pháp phải rõ ràng, minh bạch và bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bao gồm quyền tự do nghiên cứu và tự do ngôn luận.

Việc áp dụng Điều 117 BLHS với những khái niệm định tính mơ hồ như “tuyên truyền thông tin nhằm chống Nhà nước” để hình sự hóa một công trình nghiên cứu sử học sẽ gửi đi một thông điệp tiêu cực tới cộng đồng quốc tế. Nó tạo ra một nghịch lý: Việt Nam muốn hội nhập toàn cầu về kinh tế, chấp nhận luật chơi chung về vật chất, nhưng lại dùng luật thời chiến để “treo cổ” tư duy lý luận. Sự thiếu đồng bộ này làm tổn hại đến uy tín quốc gia và tính chính danh pháp lý quốc tế mà Nhà nước đã dày công xây dựng.

  1. Hoàn toàn không có “Hậu quả nguy hại cho xã hội”

Để cấu thành tội phạm theo tinh thần của luật pháp tiến bộ, hành vi phải gây ra nguy cơ hoặc hậu quả nhãn tiền, nguy hại cho xã hội.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự là những trí thức, nhà khoa học hoạt động thuần túy trên giảng đường, bằng các trang sách. Tác phẩm của họ chỉ được lưu hành trong phạm vi hẹp của giới nghiên cứu và những người quan tâm đến lịch sử.

Tác phẩm không hề kêu gọi bạo loạn, không kích động lật đổ chính quyền, không phá hoại an ninh, trật tự công cộng. Một cuốn sách dày tính học thuật không thể lật đổ một chế độ có hệ thống luật pháp và quân đội vững mạnh. Việc hình sự hóa một cuộc thảo luận học thuật bằng án tù là một biện pháp không tương xứng (disproportionate), vi phạm nguyên tắc nhân văn của pháp luật.

Kết luận:

Nếu chúng ta muốn có một xã hội “tự lực tự cường”, chúng ta cần những trí thức dám tư duy phản biện. Nếu chúng ta muốn có một nhà nước trọng luật thực sự để ngẩng cao đầu hội nhập với thế giới, chúng ta không thể sợ hãi trước những góc nhìn lịch sử khác biệt.

Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các cộng sự không chống lại Nhà nước; họ chỉ đang thực hiện quyền và nghĩa vụ của một người trí thức: dùng hệ qui chiếu của thời đại mới để soi rọi lại quá khứ, giúp quốc gia hiểu rõ hơn về chính mình để bước tiếp.

Nhưng những luận cứ trên tôi hy vọng các cơ quan hành pháp và tư pháp Việt Nam sẽ áp dụng tinh thần thượng tôn pháp luật, đình chỉ vụ án, trả tự do cho Giáo sư Nguyễn Thành Nam và các nhân sự liên quan, khép lại một vụ việc đáng tiếc để bảo vệ uy tín hội nhập của nước nhà.

Trương Nhân Tuấn


 

Nhật Bản và Việt Nam…- Thái Hạo

Thái Hạo

Cách đây mấy ngày, thấy có tờ báo đăng tin hai thanh niên Nhật Bản bị bắt vì tội… dùng đũa cá nhân để gắp gừng trong chiếc lọ đựng gia vị trên bàn ăn của một nhà hàng, rồi quay clip và post lên mạng xã hội. Chủ quán báo cảnh sát, vì hành động “mất vệ sinh” này làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ! Thôi, chắc không cần bình luận nữa về sự nghiêm ngặt của luật pháp xứ ấy.

Tình cờ là cũng hôm trước, tôi có mấy người bạn ghé chơi, trong đó có 2 người mới từ Nhật về nước. Một ông nói, đi 7 năm, về Việt Nam hai tháng rồi nhưng vẫn bị “sốc nhiệt”. Tôi hỏi vì sao bên đó đang làm ăn ngon lành thế mà lại về làm gì.

– Bị đuổi về. Vi phạm pháp luật.

Anh ta kể rằng, buôn xe hơi , mua phải một chiếc xe ăn cắp, bị bắt và giam 15 ngày, sau khi điều tra, kết luận đúng là mua nhầm chứ không phải tự mình ăn cắp, thì được thả nhưng trục xuất luôn.

Lạ là, dù bị bắt tạm giam, nhưng việc đầu tiên là cảnh sát hỏi về thực đơn và thói quen ăn uống của mình, thích ăn những món gì, khẩu vị ra sao…, có nhu cầu gì thay đổi về đồ ăn thì cứ “yêu cầu”, họ phải đáp ứng hết. Bị giam nhưng nhiều lúc quên mất là mình đang phạm tội, vì nào là kêu bật điều hòa, tăng nhiệt độ, giảm nhiệt độ, rồi nói đi mua thứ này, đi lấy thứ kia…, cảnh sát chỉ việc “ngoan ngoãn” làm theo yêu cầu. Không bao giờ có chuyện to tiếng hay tỏ thái độ bất lịch sự với mình, chỉ một lòng cúc cung “phục vụ”.

“Hết 15 ngày sau khi đã có kết luận thì được thả, về toà Đại sứ đang chuẩn bị lên đường hồi hương theo lệnh của chính quyền Nhật thì có người của sở cảnh sát tới, mang theo một chiếc áo. Chiếc áo này tôi bỏ quên ở chỗ giam giữ. Mà thực ra cũng chẳng phải bỏ quên, áo rẻ tiền, lại cũ rồi, vứt đi chứ lấy làm gì. Nhưng họ phái 3 cảnh sát mang tới tận nơi, hỏi có phải áo của anh không, giao lại đường hoàng rồi mới đi”.

Ở Nhật, nếu vì lý do nào đó mà anh “ngủ bờ ngủ bụi” thì sẽ có cảnh sát đứng canh cho ngủ, không để ai làm phiền, khi nào anh tỉnh dậy họ có làm gì mới làm, tuyệt đối không quấy rầy giấc ngủ của anh, chỉ tận tụy đứng đó, giữ đồ và “canh giấc ngủ” cho anh!

Ông bạn này còn kể, có một ông già độc thân, cứ thi thoảng lại ăn trộm ít trái cây trong vườn nhà hàng xóm, để được đi tù! Thế là cứ ra tù là lại liền ăn trộm, vì ở trong tù sướng hơn ở ngoài nhiều. Trong đó, được chăm sóc tận tình và đối xử tử tế. Ở Nhật, cảnh sát và người nhà nước đúng nghĩa là “đầy tớ” luôn. Thử vi phạm giao thông mà xem, cứ ngồi trong xe bật điều hòa mát, họ tới ăn nói lễ phép, chỉ thiếu khúm núm xin được kiểm tra nữa thôi. Không bao giờ có chuyện hách dịch kiểu như ở Việt Nam, chứ đừng nói chuyện vòi tiền…

Anh ta nói, ở Nhật đúng là có hơi “phát xít” thật, vì quy tắc rất nghiêm, cái gì cũng phải nhất nhất tuân thủ, nhưng quyền con người cao lắm, không ai được nhân danh nhà nước để xúc phạm hay đối xử thô bạo với anh, dù anh có phạm tội gì đi chăng nữa.

Còn một chuyện lạ đời này nữa: Ví dụ, người dân trồng vài cây trái trong vườn nhưng chính yếu để cho đẹp chứ rất ít khi ăn, thường để rụng đầy gốc, rồi ra siêu thị mua về dùng. Lý do là cây trái tự mình trồng thật đấy, nhưng vẫn không “chắc ăn”, cứ ra cửa hàng hay siêu thị mua về, ăn nếu lỡ có vấn đề gì thì có chỗ mà bắt đền. Thực phẩm trên thị trường Nhật gần như tuyệt đối an toàn, và nếu có nơi nào bán đồ mà ăn vào “có vấn đề gì” thì chỗ đó chỉ có điêu đứng. Oái oăm thay, ở ta mà muốn bán được hàng thì phải kèm theo câu “nhà làm”…

Những chuyện lan man không đầu không đuôi như thế nhưng cứ làm hiện dần lên hình ảnh của hai đất nước, như thuộc về hai cõi khác nhau. Đến bao giờ chúng ta mới có được một xã hội vừa nghiêm khắc nhưng lại cũng rất tự do và nhân văn, không còn coi “Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay”* mà vụ án cô giáo Dung vừa minh họa một cách hùng hồn?

Ông bạn bảo, 200 năm nữa, may ra…

Thái Hạo

*****

Lời thơ cô giáo Trần Thị Lam:

“Đất nước mình lạ quá phải không anh

Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ

Những dự án và tượng đài nghìn tỉ

Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…”


 

Tha thứ cho người khác không phải là xóa bỏ quá khứ của họ

Học viện Wecap

  Nelson Mandela (1918–2013) là lãnh tụ chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. Ông bị chính quyền da trắng giam cầm suốt 27 năm, trong đó phần lớn thời gian là ở nhà tù khắc nghiệt trên đảo Robben. Ông phải làm công việc khổ sai đập đá hằng ngày, bị đối xử bất công và chịu sự giám sát chặt chẽ của những viên cai ngục da trắng hung dữ.

Trong số các cai ngục có Christo Brand – một thanh niên da trắng được giáo dục để coi người da đen là kẻ thù. Nhưng thay vì đáp lại bằng sự căm hờn, Mandela đã chọn cách đối xử với Brand bằng một lòng trắc ẩn sâu sắc. Ông không xem Brand là kẻ thù, mà xem anh là một con người đang bị vơ vét bởi tư tưởng phân biệt chủng tộc. Ông trò chuyện, hỏi thăm gia đình Brand, chia sẻ những bài học cuộc sống một cách chân thành.

Sự tử tế và nội lực tĩnh lặng của Mandela đã hoàn toàn chuyển hóa Christo Brand. Từ một kẻ coi ngục lạnh lùng, Brand trở thành người bạn thân thiết, lén mang sách báo và giúp đỡ Mandela trong những ngày tháng tăm tối nhất.

Vào ngày 11 tháng 2 năm 1990, khi bước qua cổng tù để trở thành Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, Mandela đã phát biểu một câu triết lý bất hủ: “Khi tôi bước ra khỏi cánh cổng tù để đi đến sự tự do, tôi biết rằng nếu mình không để lại sự đố kỵ và lòng hận thù ở lại phía sau, thì tôi vẫn đang ở trong tù.”

Trong cuộc sống, khi bị ai đó đối xử bất công, lừa dối hay xúc phạm, chúng ta thường ôm giữ sự oán hận trong lòng. Chúng ta nghĩ rằng giận dữ là cách để trả đũa kẻ thù, nhưng thực chất, sự oán hận giống như việc ta tự uống độc dược rồi chờ đợi người khác chết. Tỉnh thức là khi bạn dũng cảm buông bỏ sự oán hận. Tha thứ cho người khác không phải là xóa bỏ quá khứ của họ, mà là cởi trói cho chính tâm hồn bạn, để bạn bước tiếp vào tương lai với một tâm thế tự do.

HỌC VIỆN WECAP | Hiểu mình – Sửa mình để bình an và hạnh phúc

#wecap #chuyenhoatamthuc


 

THÁNH MARIA MADALENA – Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

 Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

Các giáo phụ đã tranh luận và các nhà chú giải vẫn còn tìm hiểu xem Giáo hội có kính nhớ ba thánh nữ dưới cùng một danh xưng Maria Madalena hay không.
Người thứ nhất là một người nữ tội lỗi.  Khi Chúa Giêsu vào nhà ông biệt phái Simon, một tội nhân vô danh đã được ơn tha tội, nhờ tình yêu bà bày tỏ trong việc xức dầu thơm vào chân Chúa rồi lấy tóc mà lau (Lc 7, 36-39). 

Đàng khác, cũng chính việc Thánh sử Luca (Lc 7, 43-48) đã nói đến Maria Madalêna được Chúa Giêsu trừ quỷ cho.  Thánh nữ là một trong số phụ nữ đã theo Chúa trong các cuộc hành trình của Người.  Hiện diện trên đồi Calvê, ngài cũng thuộc số các bà đem dầu thơm đến mồ xức xác Chúa.  Ngài là người đầu tiên báo tin cho các môn đệ biết ngôi mộ trống.  Trở lại mộ ngay sau đó, ngài đã thấy và nói chuyện với các thiên thần.  Sau cùng, ngài đã nhận ra Đấng Phục Sinh mà thoạt đầu ngài tưởng là một bác làm vườn (Ga 20, 1-18). 

Maria Bêtania, là chị em của Matta và Lazarô đã ngồi dưới chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người, trong khi Matta bận rộn chuẩn bị bữa ăn.  Thế mà ngài là người đã chọn phần tốt nhất, phần chiêm niệm (Lc 10,38-42).  Khi Chúa Giêsu đến cứu sống Lazarô, thánh nữ vẫn giữ một phần tương tự.  Ngài ngồi tại nhà cho tới khi Matta kêu ngài tới gặp “Thầy.”  Ít ngày sau, ngài đã xức dầu Chúa Giêsu (Mt 26,6-13). 

Mặc dầu các sách Tin Mừng không bảo đảm đồng nhất ba khuôn mặt này thành một người và ý kiến các Giáo phụ còn trái nghịch, nhưng Giáo hội Tây phương từ thế kỷ thứ VI đã đồng hóa thành một người.  Sự đồng hóa này được diễn tả trong phụng vụ.

 Với sự đồng hóa ấy, lòng đạo đức thường diễn tả thánh Maria Madalena như một phụ nữ có mái tóc dài, được Chúa Giêsu tha thứ, nao nức đón nghe Lời Người.  Bà đã được chứng kiến Lazarô sống lại.  Tiên cảm về thảm kịch khổ nạn, bà đã đổ dầu thơm quý giá lên chân Chúa Giêsu như một cuộc xức dầu cao cả.  Hiện diện dưới chân thánh giá, bà sẽ được Chúa Giêsu thân ái gọi tên “Maria” vào buổi sáng Phục Sinh.

Sau đó, người ta không nghe nói gì về Maria Madalena nữa.  Theo truyền thuyết, ngài đã từ trần và được mai táng ở Êphêsô.  Năm 889, Hoàng đế Lêô VI đã chuyển thi hài thánh nữ về một tu viện ở Constantinople. 

Lm. Phaolô Phạm Quốc Tuý 

From: Langthangchieutim


 

CÂU CHUYỆN ĐẠI DƯƠNG TRONG LÒNG CON ỐC NHỎ – Trần Khắc Trường

HQ LuuBẢO TỒN TIẾNG VIỆT

 Trần Khắc Trường

Tối nay, vợ chồng tôi cụ bị đồ đạc vào bịnh viện thăm con gái sắp sanh. Ngồi phía trước phòng cấp cứu, tôi thấy một người đàn ông đã ngoài 50 tuổi với vẻ mặt khắc khổ, lo lắng và luôn thấp thỏm nhìn vào trong.

Tôi đến gần ông bắt chuyện:

– Anh chờ người nhà sanh à? vào phòng lâu chưa anh?”

Người đàn ông ấy trả lời:

– Dạ, con gái tôi vào cũng được 6 tiếng đồng hồ rồi, nhưng chưa thấy bác sĩ thông báo gì?”

Tự nhiên trái tim tôi thắt lại, cũng chẳng hiểu lý do gì, có lẽ vì bất ngờ, khi thấy hình ảnh một người cha đưa con mình đi sinh.

Tôi lại tò mò và hỏi:

– Người nhà không có ai là phụ nữ hả anh? Vì anh là đàn ông, chăm con gái sinh rất bất tiện.

Người đàn ông ấy cúi đầu xuống thấp một chút, và giọng cũng nhỏ đi:

– Mẹ nó chẳng may mất sớm, chị gái nó lại có chồng phương xa, tôi một mình nuôi con nên nhà cũng neo đơn.

Tôi lại buột miệng hỏi:

– Vậy cha đứa bé đâu anh?

Anh mỉm cười nhẹ, trên gương mặt đầy nếp nhăn và nhân từ của một người cha, rồi nói:

– Con gái tôi nhẹ dạ, chồng nó bỏ đi mất biệt, khi hay tin con tôi có thai!

Người đàn ông nói tiếp:

– Nghe đâu thằng chồng nó đã có người phụ nữ khác, con gái tôi dại khờ nên đành chịu, nhiều lần nó đòi chết, tôi khuyên nhủ nó và nói nó cố gắng sinh con, tôi sẽ ráng làm để nuôi mẹ con nó.

Tự nhiên khoé mắt tôi cay cay, không cầm được lòng, tôi hỏi anh tiếp:

– Anh làm nghề gì? Rồi sinh sống ở đâu?

Anh trả lời:

– Dạ, tôi làm bốc xếp ở Cảng Sài Gòn, thời gian rảnh chạy xe ôm kiếm thêm, nhà ở quận 4, con gái tôi làm công nhân xí nghiệp may.

Tôi im lặng vài phút, nhìn vào giỏ đồ bên dưới chân của anh, nó nhỏ gọn lắm, rồi quay sang nhìn cái vali cụ bị đồ đạc cho con gái mình, tự nhiên tôi xót xa và thương quá.

Rồi bác sĩ kêu tên con gái tôi, vợ chồng tôi vội chạy lại, mới hay thằng cháu tôi nó vẫn chưa chịu ra đời và bác sĩ lại cho về nhà.

Tôi chào tạm biệt anh, cũng chẳng kịp có món quà nào cho con gái và cháu của anh, tôi chỉ vội lấy trong vali con gái mình vài món đồ, nghĩ sẽ cần cho con gái anh và một ít quà nhỏ, cuộn vào túi đồ, để anh có chi phí trang trải cho những ngày ở bịnh viện.

Anh từ chối không nhận, tôi thuyết phục anh không được.

Đến khi tôi cầm cái túi lại và nói:

– Thứ nhất, đây là món quà tôi tặng cho con gái và cháu của anh, nó không phải món quà của anh, vì thế anh đừng vì lòng tự trọng mà không nhận cho con cháu mình. Thứ hai, tôi cảm ơn anh đã cho tôi thấy được tình cảm và sự bao dung của người cha, và cảm ơn anh vì đã là người tử tế trong cuộc đời này. Nếu anh không nhận thì xem như anh phụ lòng tôi.

Nói xong, tôi quay lưng bước đi, anh vội kêu tôi lại và nói:

– Dạ, tôi cảm ơn anh, anh cho tôi thông tin, sau này tôi nói con gái tôi đi làm, trả ơn lại cho anh.

Tôi cười và trả lời:

– Sẽ có cuộc đời trả lại cho tôi sau, còn bây giờ thì anh nhận món quà này và cầu chúc cho hai mẹ con cháu ấy được mẹ tròn con vuông, chúc anh luôn khoẻ mạnh, để che chở cho cuộc đời của con và cháu mình.

Rồi bước lên xe ra về, chẳng biết bao giờ đủ duyên gặp lại người đàn ông ấy, nhưng tôi biết mình đã đủ duyên để thấy được một bức tranh đẹp trong cuộc sống này.

Chúng ta vẫn thỉnh thoảng nghe câu nói “Cha không hoàn hảo nhưng luôn yêu thương con theo cách hoàn hảo nhất!” Và có một nghịch lý, chúng ta rất dễ nói lời yêu thương ai đó, ngoại trừ cha của mình.

Thiết nghĩ cô gái trong phòng sinh ấy, dù có đang trải qua những tổn thương đau lòng, khi đối diện với những cơn đau thập tử nhất sinh, vì phải một mình vượt cạn và thiếu vắng bóng dáng của người cha đứa bé. Nhưng điều đó có xá chi, khi bên cạnh cô gái ấy, giờ đây chính là tình yêu thương vô bờ bến của người cha vĩ đại trong cuộc đời mình.

Có một tình thương chẳng bao giờ nói mãi mãi, nhưng nó luôn tồn tại từ khi chúng ta sinh ra, đến khi lìa xa cõi đời, chính là tình mẫu tử và phụ tử của cha mẹ dành cho chính mình.

Ngồi trên xe viết lại khoảnh khắc đẹp của tình phụ tử này, trên đường từ bịnh viện về nhà.

Tôi lại thấy tối nay Sài Gòn đẹp thật.

Trần Khắc Trường


 

ICE bắt giữ luật sư nhân quyền Trung Quốc có hồ sơ tị nạn ở Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

LANCASTER, Pennsylvania (NV) – Luật sư nhân quyền người Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình (Wu Shaoping) đã bị Cảnh Sát Di Trú (ICE) bắt giữ hôm Thứ Tư, 15 Tháng Bảy, tại thị trấn Mount Holly Springs thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania, trong lúc ông đang đi giao hàng cho Amazon.

Theo The New York Times (NYT) và The Guardian loan tin, luật sư Ngô Thiệu Bình đã đến Mỹ bằng thị thực du lịch năm 2019 và đã nộp đơn xin tị nạn chính trị (asylum) vào năm 2020.

Luật sư nhân quyền Trung Quốc Ngô Thiệu Bình. (Hình: Trang X của Human Right Watch)

Ở Mỹ, ông Bình làm công việc giao hàng cho Amazon trong khi vẫn tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng đấu tranh cho nhân quyền tại Trung Quốc – một cộng đồng đang gặp nhiều khó khăn, áp lực, theo The Guardian.

Hôm Thứ Tư tuần trước, trong lúc đang trên đường làm công việc của một người giao hàng theo hợp đồng cho Amazon, ông Bình đã bị các cảnh sát chặn lại tại một ngã tư ở thành phố Mount Holly Springs, thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania.

Theo luật sư của ông Bình là ông John Visher, các cảnh sát đã yêu cầu ông Bình trình giấy chứng minh quốc tịch Mỹ. Ông Bình đã đưa ra bằng chứng về hồ sơ xin tị nạn chính trị đang chờ xét duyệt của ông, cùng với giấy phép lao động (working permit) và giải thích ông đã nhập cảnh vào Mỹ một cách hợp pháp.

Sau đó, cảnh sát đã báo cho cơ quan di trú. Ông Bình bị bắt giữ và bị chuyển đến trung tâm giam giữ người nhập cư ở Pennsylvania. Ông có thể sẽ ra hầu tòa di trú vào ngày 27 Tháng Bảy.

Vợ của ông, bà Tào Lưu Lệ (Caoliu Li,) cho biết chồng bà đã bị cơ quan an ninh Trung Quốc thẩm vấn và sách nhiễu trong nhiều năm, nhưng ông vẫn kiên định với sự nghiệp đấu tranh cho quyền lợi của người dân Trung Quốc.

“Suốt thời gian qua, ông ấy luôn chú trọng đến những bất công tại Trung Quốc và tìm cách thay đổi chúng,” bà Lệ chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với NYT từ Lancaster, tiểu bang Pennsylvania, nơi vợ chồng ông bà đang sống cùng cô con gái 17 tuổi.

Bà Lauren Bis, phát ngôn viên của Bộ Nội An, cho biết ông Bình không có tư cách pháp lý hợp lệ và đã ở lại quá hạn thị thực (visa) sáu năm. Bà khẳng định ông sẽ được hưởng đầy đủ quy trình pháp lý theo quy định.

Theo luật sư Visher, do ông Bình đã nộp đơn xin tị nạn trước khi thị thực du lịch hết hạn, do đó ông được bảo vệ khỏi việc bị trục xuất và được phép ở lại trong thời gian chờ xét duyệt hồ sơ.

Cũng theo NYT, hành trình đến Hoa Kỳ của ông Ngô Thiệu Bình bắt đầu từ năm 2019. Khi đó, ông tham dự một cuộc gặp gỡ giữa các luật sư và nhà hoạt động nổi tiếng của Trung Quốc để bàn về phong trào nhân quyền đang bị đàn áp. Chỉ vài ngày sau, chính quyền Trung Quốc bắt giữ những người tham dự cuộc gặp đó, và hai trong số họ hiện đang thụ án tù dài hạn. Ông Bình đã bỏ trốn và nộp đơn xin tị nạn tại Hoa Kỳ vào năm 2020. Hồ sơ đang chờ thụ lý.

Trước khi rời Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình từng làm luật sư thương mại tại Thượng Hải và gia nhập phong trào những người bảo vệ nhân quyền sau khi Bắc Kinh, dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình, phát động cuộc đàn áp luật sư nhân quyền lớn nhất trong nhiều thập niên.

Ông nhận các vụ án đặc biệt về chính trị, đại diện cho một nhà hoạt động chống tham nhũng, một nhà bảo vệ nhân quyền khác, và các học viên Pháp Luân Công, một phong trào tâm linh bị cấm ở Trung Quốc.

Ông Châu Phong Tỏa (Fengsuo Zhou), giám đốc điều hành tổ chức nhân quyền cho Trung Quốc có trụ sở tại New York, cho biết ông Bình đã bào chữa cho những bị cáo mà hầu hết luật sư khác đều né tránh.

Vụ bắt giữ luật sư nhân quyền Ngô Thiệu Bình đã thu hút sự chú ý của các nhà vận động nhân quyền quốc tế. Ông Bob Fu, một nhà hoạt động nhân quyền Cơ Đốc Giáo, đã công khai bày tỏ rằng ông tin các nhân viên ICE đã hành động sai khi bắt giữ ông Bình, người mà ông mô tả là một người bảo vệ tự do tôn giáo tận tụy và có tình trạng cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Những người ủng hộ cho biết họ đang nỗ lực vận động sự hỗ trợ pháp lý và công luận cho ông Ngô Thiệu Bình trước phiên điều trần ngày 27 Tháng Bảy, với hy vọng tránh để ông bị cưỡng bức trả về Trung Quốc. (KL) [kn]


 

HƠN CẢ MÁU- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: ‘Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi!’”.

Sự trọn lành không hệ tại những thị kiến hay xuất thần, nhưng ở chỗ ý muốn chúng ta hoàn toàn phù hợp với ý muốn Thiên Chúa!” – Têrêxa Avila.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta nhận nhau vì cùng một dòng máu. Lời Chúa hôm nay hé mở một điều ‘hơn cả máu’. Chúa Giêsu hướng về các môn đệ và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi!” – những người làm theo ý muốn Chúa Cha.

Sau câu hỏi: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?”, Chúa Giêsu giơ tay chỉ những kẻ Ngài chọn. Bản Hy Lạp viết ekteinas – không chỉ là một động tác chỉ trỏ hay đưa tay, nhưng là vươn ra, duỗi ra. Động từ này gợi lên hình ảnh một vòng tay mở rộng. Chỉ một động từ cũng đã hàm chứa cả một ý định cứu độ phổ quát.

“Vòng tay vươn ra!”. Phải chăng Matthêu muốn nói rằng gia đình mới của Thiên Chúa được khai sinh ‘bằng một cử chỉ’ trước khi được định nghĩa bằng lời? Bởi nhiều khi, một vòng tay có thể nói nhiều hơn cả một bài diễn văn. Không chỉ công bố một chân lý mới, Chúa Giêsu còn biểu lộ chân lý ấy bằng một hành động. Gia đình Thiên Chúa không khởi đầu từ một định nghĩa, nhưng từ một vòng tay. “Trong các Tin Mừng, cộng đoàn của Đức Giêsu mang hình thức một gia đình hiếu khách, chứ không phải một nhóm khép kín và loại trừ!” – Phanxicô.

Nhưng ý muốn của Chúa Cha là gì? Không chỉ là một mệnh lệnh phải thi hành, nhưng là một lời mời gọi mang lấy chính trái tim của Thiên Chúa. Ngôn sứ Mikha mặc khải một Thiên Chúa không thích kết án, nhưng vui thích xót thương; không giữ mãi cơn giận, nhưng ném mọi lỗi lầm xuống đáy biển – bài đọc một. Vì thế, Hội Thánh cất lên lời Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa!”. Người thuộc về gia đình Thiên Chúa không chỉ làm điều Chúa muốn, mà còn học yêu như Ngài yêu, tha thứ như Ngài tha thứ, xót thương như Ngài xót thương và luôn mở ra cho người khác một cơ hội để bắt đầu lại.

Vậy mỗi ngày, chúng ta chọn sẽ để ai định hình trái tim mình? Khư khư giữ ý riêng, chúng ta vẫn đứng ngoài vòng tay của Chúa. Chỉ khi biết nhường chỗ cho thánh ý Ngài, chúng ta không chỉ đổi một quyết định, mà đang đổi cả căn tính mình thuộc về. “Thánh thiện hệ tại việc mỉm cười đón nhận và làm theo thánh ý Thiên Chúa!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Anh Chị em,

Cử chỉ nhỏ bé trong căn nhà năm xưa chỉ là khởi đầu. Trên đồi Canvê, cánh tay vươn ra ấy sẽ mở rộng đến tận cùng. Đức Kitô dang tay không còn để chỉ về một nhóm môn đệ, nhưng để quy tụ toàn thể nhân loại vào gia đình Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ nay, tình thân ấy không còn được xác định bởi huyết thống, dân tộc, biên giới hay màu da, nhưng bởi những con người cùng mang lấy trái tim của Chúa Cha. Chính nơi thập giá, chúng ta hiểu thế nào là điều ‘hơn cả máu’: sống tình yêu tự hiến của Đức Kitô!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho thánh ý Chúa luôn định hình trái tim con; để càng thuộc về Chúa, con càng thuộc về những người Ngài trao cho con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế


 

Thời Trung Cổ có thể dạy chúng ta điều gì về cách phòng tránh kiệt sức? (BBC)

(BBC)

19 tháng 7 2026

Căng thẳng và kiệt quệ về tinh thần không phải là hiện tượng mới.

Từ thời Trung Cổ, con người đã phải đối mặt với những vấn đề tương tự.

Và theo một số học giả, những lời khuyên của thời kỳ này về cách vượt qua tình trạng kiệt sức vẫn còn giá trị đáng ngạc nhiên cho đến ngày nay.

Nhà tu hành John Cassian mô tả các triệu chứng của tình trạng này gần như không thay đổi theo thời gian: mệt mỏi, tuyệt vọng, chỉ muốn rời bỏ công việc, đầu óc mơ hồ và mất tập trung.

Ông gọi đó là “một dạng rối loạn vô lý của tâm trí”, khiến nhiều người cảm thấy mình vô dụng, lười biếng và chỉ mong được ngủ để trốn tránh thực tại.

Nếu từng trải qua tình trạng kiệt sức hay trầm cảm, nhiều người ngày nay có thể nhận ra những cảm giác này và cho rằng chúng là hệ quả của cuộc sống hiện đại.

Tuy nhiên, Cassian đã viết về chúng từ thế kỷ thứ 5, và đối tượng của ông không phải các nhân viên văn phòng hay doanh nhân, mà là những tín đồ Cơ đốc giáo thời kỳ đầu kiệt quệ sau quá trình tu tập tâm linh.

Liệu những ghi chép cổ xưa đó có thể giúp giải thích tình trạng kiệt sức của con người hiện đại, thậm chí gợi ý cách vượt qua nó?

Đó là lập luận của nhà sử học Peter Jones trong cuốn sách mới Self-Help from the Middle Ages: A Journey into the Medieval Mind (Tạm dịch: Tự giúp mình thời Trung Cổ: Hành trình khám phá tư duy Trung Cổ).

Cuốn sách cho thấy cách những người mà tác giả gọi là “các linh mục trị liệu” đã hướng dẫn các giáo dân của họ vượt qua những khủng hoảng tinh thần

Vào thế kỷ thứ 5, John Cassian là một trong những nhà tư tưởng Kitô giáo đầu tiên được gọi là “linh mục trị liệu”

Nghiên cứu của Peter Jones cho thấy cảm giác kiệt sức đã xuất hiện rất phổ biến trong suốt chiều dài lịch sử.

Theo ông, việc nhận ra rằng con người ở mọi thời đại đều từng trải qua những giai đoạn u ám như vậy có thể mang lại sự an ủi cho những ai đang vật lộn với khủng hoảng tinh thần.

“Có rất nhiều điều thông thái trong thời Trung Cổ,” ông Jones nói.

Ông cho rằng, cũng giống như những năm gần đây nhiều cuốn sách khai thác triết học Khắc kỷ của thời cổ đại để giúp con người đối phó với cuộc sống hiện đại, có lẽ đã đến lúc mọi người nên tìm đến những bản thảo thời Trung Cổ để học hỏi.

Lạc giữa Siberia

Ý tưởng viết cuốn sách đến với Jones sau khi chính ông trải qua một giai đoạn khủng hoảng mà ông gọi là “mùa đông lạnh giá nhất trong cuộc đời”.

Vì một quyết định mà đến nay ông vẫn khó lý giải, Jones nhận lời làm Chủ nhiệm khoa Lịch sử tại Đại học Tyumen ở vùng Siberia (Nga).

Mùa đông ở đây khắc nghiệt đến mức chỉ sau khoảng 20 phút ở ngoài trời, ông đã mất hoàn toàn cảm giác ở hai chân.

Bên cạnh rào cản ngôn ngữ, ông còn luôn nhớ gia đình ở Dublin.

“Tôi lẽ ra phải nghiên cứu, chuẩn bị bài giảng và tiếp tục cuộc sống của mình,” ông viết.

“Nhưng tôi không thể ép bản thân làm bất cứ việc gì.”

Ngày nay, từ “sloth” [con lười] thường được hiểu là lười biếng hay chây lười.

Tuy nhiên, theo ông Jones, các tác giả thời Trung Cổ nhìn nhận trạng thái này theo cách khác: họ cho rằng đằng sau sự uể oải là một khoảng trống và nỗi đau về mặt tinh thần, chứ không đơn thuần là sự lười nhác.

Trong quá trình xây dựng khóa học về Bảy tội lỗi của con người, ông Jones nhận ra những mô tả của các tác giả Trung Cổ phản chiếu chính trải nghiệm của mình.

“Bạn sẽ thấy họ đã trải qua đúng những gì chúng ta đang trải qua,” ông nói.

“Những cảm xúc ấy chưa bao giờ thay đổi, và con người ở mọi thời đại đều phải đối mặt với những cuộc khủng hoảng tương tự.”

“Acedia”, hay sự lười biếng, là một trong Bảy Tội Lỗi Chết Người – khuôn khổ thời trung cổ để hiểu về bản chất con người

Theo Peter Jones, Bảy tội lỗi của con người không xuất hiện trong Kinh Thánh mà được hình thành bởi các nhà tư tưởng Cơ đốc giáo thời kỳ đầu, trong đó có John Cassian.

Sau này, Giáo hoàng Gregory I (Gregory Đại đế) đã hệ thống hóa và hoàn thiện khái niệm này.

Trong cuốn sách của mình, ông Jones viết rằng Gregory cho rằng Bảy tội lỗi của con người là “công cụ hoàn hảo để lập bản đồ những rối loạn của tâm trí”.

Hệ thống này giúp con người nhận diện và sắp xếp các suy nghĩ, cảm xúc tiêu cực, gồm bảy trạng thái: kiêu ngạo, đố kỵ, giận dữ, lười nhác, tham lam, háu ăn và dục vọng.

Đến thế kỷ 13, nhiều cẩm nang đã được biên soạn để hướng dẫn các linh mục cách giúp tín đồ vượt qua những vấn đề này trong quá trình xưng tội.

“Khi đọc những tài liệu ấy, bạn sẽ thấy chúng khá giống với liệu pháp tâm lý ngày nay,” ông Jones nói.

Thay vì chỉ trích hay lên án, các linh mục khuyến khích những cuộc trò chuyện sâu sắc, đặt nhiều câu hỏi để hiểu rõ nguyên nhân của những khủng hoảng tinh thần.

Acedia – khoảng trống của tâm hồn

Trong Bảy tội lỗi của con người, Jones cho rằng “sloth” (thường được dịch là lười nhác) phản ánh đúng nhất trạng thái ông từng trải qua ở Siberia.

Ngày nay, từ này thường được hiểu là sự lười biếng có chủ ý.

Tuy nhiên, các tác giả thời Trung Cổ lại nhìn nhận nó theo nghĩa sâu sắc hơn.

Họ gọi trạng thái đó là acedia – một khái niệm chỉ sự thiếu vắng tình yêu, sự tê liệt trong khả năng quan tâm và một khoảng trống của tâm hồn.

Jones viết rằng acedia là trạng thái “khi những điều từng khiến bạn vui vẻ và hứng khởi giờ đây chỉ còn lại sự lạnh nhạt và thờ ơ.”

Theo ông, cách hiểu này gần với khái niệm kiệt sức hoặc trầm cảm trong tâm lý học hiện đại hơn là sự lười biếng đơn thuần.

Một bản khắc năm 1612 mô tả tật lười biếng (acedia) – theo các nhà tư tưởng thời trung cổ, đây là một chứng bệnh có thể chữa được

Peter Jones cho biết ông đặc biệt đồng cảm với một văn bản từ thế kỷ 13, được lưu giữ tại Thư viện Trinity College Dublin và có ký hiệu MS 306.

Tác giả của bản thảo mô tả trạng thái acedia như “đứng giữa một dòng sông chảy xiết, đối mặt với dòng nước cuồn cuộn đập vào chân nhưng không còn đủ sức để bước tiếp.”

Theo ông Jones, hình ảnh đó diễn tả chính xác cảm giác trì trệ, bất lực và không còn động lực mà ông từng trải qua trong mùa đông ở Siberia.

Ông cũng tìm thấy sự đồng cảm trong các tác phẩm của “Archpoet” – bút danh của một tác giả vô danh người Đức sống vào thế kỷ 12.

Những bài thơ của Archpoet kể về nỗi chán chường khi làm công việc hành chính, với những lời than phiền mà ông Jones cho rằng nhiều nhân viên văn phòng ngày nay có thể thấy quen thuộc.

“Ông ấy viết về việc phải làm việc không ngừng nghỉ trong một công việc vô nghĩa, tầm thường, nơi bạn cống hiến tất cả nhưng cuối cùng lại kiệt sức vì phải gồng gánh quá nhiều,” ông Jones nói.

Theo ông Jones, những lời tâm sự cách đây gần 900 năm cho thấy cảm giác quá tải trong công việc và kiệt sức tinh thần không phải là sản phẩm của xã hội hiện đại, mà đã là một phần trong trải nghiệm của con người từ nhiều thế kỷ trước.

Peter Jones không phải là nhà sử học duy nhất nhận thấy những điểm tương đồng giữa các vấn đề tinh thần thời Trung Cổ và con người hiện đại.

Trong cuốn sách Exhausted (Kiệt sức), nhà sử học văn hóa kiêm chuyên gia cố vấn phát triển năng lực lãnh đạo Anna Katharina Schaffner cho rằng acedia – trạng thái suy kiệt tinh thần được các tín đồ Cơ đốc giáo thời Trung Cổ mô tả – có nhiều điểm tương đồng với hội chứng kiệt sức ngày nay.

Theo bà, những người mắc acedia cũng có các biểu hiện quen thuộc với xã hội hiện đại, như ăn uống để giải tỏa cảm xúc, tìm đến những hoạt động giải trí vô bổ hoặc gây xao nhãng thay vì tập trung vào công việc hay những việc có ý nghĩa.

Những triệu chứng này rất gần với cách kiệt sức được mô tả trong tâm lý học hiện đại.

Bà Schaffner cho rằng đây là một vòng luẩn quẩn điển hình.

“Bệnh nhân mắc acedia ngày càng mất khả năng suy ngẫm và hướng đến những giá trị tinh thần, trong khi những cách họ chọn để lấy lại năng lượng lại chỉ khiến tình trạng trở nên tồi tệ hơn,” bà viết.

“Theo nghĩa đó, họ chẳng khác gì chúng ta – những người của thế kỷ 21 đang kiệt sức vì công việc, tìm đến đủ loại hoạt động đánh lạc hướng không hiệu quả để trốn tránh cảm giác mệt mỏi.”

Cánh đồng đầy gai và những ngọn núi cao

Vậy những người thời Trung Cổ đã khuyên gì để vượt qua tình trạng này?

Tác giả bản thảo MS 306 không đưa ra lời khuyên trực tiếp mà mượn một hình ảnh trong Kinh Thánh:

“Dù muốn hay không, người Jebusite vẫn sống trong biên giới của bạn. Bạn có thể khuất phục họ, nhưng không thể tiêu diệt họ.”

Theo Peter Jones, người Jebusite là một bộ tộc cổ từng chiếm giữ Jerusalem và rất khó bị đánh đuổi.

Bằng cách này, tác giả đang khuyên người đang chán nản hãy học cách sống chung với cảm xúc của mình, mà không cần chống lại chúng.

Luận thuyết về các đức tính và thói xấu của William Peraldus khuyên những người bị kiệt sức về tinh thần nên tìm kiếm một mục đích cao cả hơn

Cuốn Treatise on the Virtues and Vices (Luận về các đức hạnh và thói xấu) của William Peraldus cũng đưa ra lời khuyên theo hướng tương tự.

Theo ông Peter Jones, Peraldus viết:

“Hãy nhớ rằng cánh đồng đầy gai góc rồi một ngày cũng sẽ đơm hoa kết trái.”

Ông dùng hình ảnh này để nhắc rằng những giai đoạn khó khăn không kéo dài mãi và vẫn có thể mang lại điều tốt đẹp trong tương lai.

Để thay đổi cách nhìn nhận cuộc sống, Peraldus khuyên mỗi người nên tìm cho mình một “ngọn núi vững chãi” – tức một mục đích sống hoặc một điều có ý nghĩa đủ lớn để giúp họ vượt qua nghịch cảnh.

“Bạn cần điểm tựa và sức mạnh từ một người mình yêu thương hoặc từ một điều mình thực sự yêu quý để vượt qua giai đoạn khó khăn,” Jones giải thích.

“Nếu bạn vẫn giữ được niềm tin vào những điều mình yêu quý, thì cuối cùng chúng cũng sẽ quay trở lại với bạn.”

Peter Jones thừa nhận rằng khi diễn giải những tư tưởng này bằng ngôn ngữ hiện đại, chúng có thể nghe khá sáo rỗng nếu tách khỏi bối cảnh và chiều sâu của các văn bản gốc.

Tuy nhiên, theo ông, những lời khuyên của các tác giả thời Trung Cổ lại đáng kinh ngạc vì rất giống với nhiều phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại dành cho người kiệt sức hoặc gặp khó khăn về cảm xúc.

Ví dụ, Liệu pháp Chấp nhận và Cam kết (Acceptance and Commitment Therapy – ACT) khuyến khích con người thừa nhận và chấp nhận cảm xúc của mình thay vì cố gắng loại bỏ hay kiểm soát chúng.

Bên cạnh việc học cách sống cùng những cảm xúc ấy, ACT còn khuyên mỗi người xác định những giá trị cốt lõi của bản thân và từng bước hành động phù hợp với các giá trị đó.

Theo Jones, nếu thêm vào những hình ảnh ẩn dụ thời Trung Cổ như “cánh đồng đầy gai” hay “ngọn núi vững chãi”, thì triết lý của ACT ngày nay gần như tương đồng với lời khuyên mà William Peraldus đã đưa ra cách đây khoảng 800 năm.

Quan trọng hơn cả, các nhà tư tưởng thời Trung Cổ nhắc chúng ta rằng biết tha thứ cho bản thân có thể là một sức mạnh lớn – điều cũng là một chủ đề xuyên suốt trong nhiều phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại.

Trong các bản thảo của mình, Cassian đã đề cập đến các triệu chứng mệt mỏi, tuyệt vọng, suy giảm trí nhớ và khao khát “sự an ủi của giấc ngủ”

Jones dẫn lại những trước tác từ thế kỷ 12 của Bernard of Clairvaux – một trong những người đồng sáng lập Knights Templar.

“Ông ví việc sống một cuộc đời tốt đẹp giống như chạy trên một địa hình gồ ghề, và nói rằng bất kỳ ai chạy đủ xa rồi cũng sẽ có lúc vấp ngã hoặc khuỵu xuống,” Jones giải thích.

“Ai trong chúng ta rồi cũng sẽ có những khoảnh khắc hoàn toàn mất phương hướng.”

Theo Jones, chỉ cần nhận ra rằng mình không đơn độc trong những đau khổ đang trải qua cũng đã là một nguồn an ủi lớn.

Dù bạn đang phải chịu đựng điều gì, con người đã cảm thấy như vậy suốt hàng nghìn năm qua.

“Thật an ủi khi nhận ra rằng trong suốt chiều dài lịch sử, đã có biết bao người cũng từng trải qua những điều như mình,” ông nói.

*****

David Robson là một nhà báo khoa học từng đoạt nhiều giải thưởng và là tác giả. Cuốn sách mới nhất của ông, The Laws of Connection: 13 Social Strategies That Will Transform Your Life (tạm dịch: Những Quy Luật Của Sự Kết Nối: 13 Chiến Lược Xây Dựng Quan Hệ Có Thể Thay Đổi Cuộc Sống Của Bạn), được xuất bản tại Anh bởi Canongate Books và tại Mỹ, Canada bởi Pegasus Books vào tháng 6/2024.

Ông sử dụng tài khoản @davidarobson trên Instagram và Threads, đồng thời viết bản tin 60-Second Psychology trên Substack.


 

 DÙ THẾ NÀO CŨNG ĐI NHÀ THỜ

Xuyên Sơn

 DÙ THẾ NÀO CŨNG ĐI NHÀ THỜ

Nếu bạn quan hệ tình dục trước khi kết hôn, dù sao cũng đến nhà thờ.

Nếu bạn là một kẻ nghiện đang cố gắng đánh bại cơn nghiện, dù sao cũng đến nhà thờ.

Nếu bạn say xỉn suốt đêm hôm trước, dù sao cũng đến nhà thờ. Nếu bạn không chắc bạn thích giới tính nào hơn, dù sao đi nữa hãy đến nhà thờ.

Nếu bạn không bỏ được thói quen kinh tởm đó, hãy đến nhà thờ.

NHÀ THỜ cũng là một BỆNH VIỆN cho những người HỎNG, LẠC LẠC, TRỐNG RỐI, RỐI RỐI, HOAN HỶ và BỊ TỪ CHỐI.

Mỗi tội đồ đều có tương lai, và mỗi vị thánh đều có quá khứ.

Làm thế nào chúng ta có thể phá vỡ chuỗi nghiện ngập và ràng buộc?

*Bằng lời cầu nguyện…

Không có một người nào trong 4 bức tường của nhà thờ mà không có điều họ ghét hoặc hối tiếc về quá khứ của họ.

Tất cả chúng ta đều mắc sai lầm và sẽ tiếp tục, NHƯNG Ân sủng của Ngài là đủ.

Có những điều tôi không bao giờ muốn thừa nhận to tiếng về bản thân mình, nhưng Chúa biết.

Và dù sao Ngài cũng yêu tôi.

Ăn năn không phải là khi bạn khóc, mà là khi bạn thay đổi.

Cho nên dù bạn đã làm gì, dù bạn đang làm gì, bất cứ điều gì bạn sẽ làm…

nó có thể thay đổi cuộc sống của bạn nếu…

DÙ THẾ NÀO BẠN CŨNG ĐẾN NHÀ THỜ.

Tác giả: K Forsyth


 

GẦN QUÁ HOÁ XA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hỡi Capharnaum, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư?”.

“Thế giới sẽ không chết vì thiếu những điều kỳ diệu, nhưng vì thiếu sự kinh ngạc!” – G. K. Chesterton.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, khi điều kỳ diệu không còn làm con người kinh ngạc, ân sủng có thể ở ngay trước mắt mà lòng vẫn ở rất xa – ‘gần quá hoá xa’.

Corozain, Bethsaiđa và Capharnaum đã chứng kiến bao việc kỳ diệu Chúa Giêsu làm, nhưng lòng họ vẫn không đổi. Điều xảy ra quanh họ đã không xảy ra trong họ: phép lạ chỉ gây kinh ngạc, nhưng không đưa đến hoán cải. Tyrô và Siđôn từng bị các ngôn sứ lên án như biểu tượng của kiêu căng và xa cách Thiên Chúa; thế mà Chúa Giêsu lại nói, nếu những phép lạ ấy được thực hiện ở đó, “họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối từ lâu rồi”. Một nghịch lý đau đớn: những kẻ bị coi là ở xa đã có thể đến gần; những người tưởng mình ở gần lại ngày một xa. “Chúng ta đã có trải nghiệm, nhưng bỏ lỡ ý nghĩa!” – T. S. Eliot.

Capharnaum còn gần Chúa Giêsu hơn; thành này được gọi là “thành của Ngài”. Vì thế, lời cảnh báo cũng nghiêm khắc hơn: “Ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ!”. Bi kịch của Capharnaum là dấu vết của Chúa Giêsu có khắp thành, lại không in sâu trong lòng người. Họ đã biến sự hiện diện thành quen thuộc, ân huệ thành điều đương nhiên – ở rất gần Chúa mà lòng ngày một xa.

Isaia cũng nói về một thành – một Giêrusalem run sợ trước quân thù, nhưng Thiên Chúa bảo: “Nếu các ngươi không vững tin, các ngươi sẽ không đứng vững!” – bài đọc một. Trong nguyên ngữ Hípri, “vững tin” và “đứng vững” cùng thuộc một gốc từ với tiếng Amen: chỉ ai tựa vào sự vững chắc của Thiên Chúa mới thật sự đứng vững. Chính niềm tin ấy làm sáng lên lời Thánh Vịnh đáp ca: “Thiên Chúa củng cố thành đô đến muôn đời muôn thuở!”. Lạ thay, một thành bị đe doạ vẫn có thể đứng vững nhờ tín thác vào Chúa; còn “thành của Ngài” lại có thể “nhào xuống” vì ở gần Chúa mà không để Ngài biến đổi.

Cũng thế, với chúng ta. Có khi khoảng cách với Chúa không bắt đầu bằng một lần quay lưng, nhưng bằng những lần trì hoãn rất nhỏ: một điều biết phải đổi mà cứ lần lữa đến ngày mai; một tiếng gọi đã nghe nhưng không đáp; một ân huệ đã nhận mà không còn biết tạ ơn. Lòng người xa dần không vì Chúa rời đi, nhưng vì con người không còn bước về phía Ngài. “Đó là cát lún: cát lún của một cuộc sống tầm thường. Hãy bắt đầu bước đi, bởi chính Chúa thúc đẩy bạn bước đi!” – Phanxicô.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ đến gần; Ngài còn mang lấy mọi khoảng cách con người đã tạo ra trước Thiên Chúa. Trên thập giá, Đấng ở gần Chúa Cha nhất đã đi vào tận miền xa nhất của phận người, để không ai còn quá xa mà không thể trở về. Vì thế, hoán cải không phải là cố vượt một khoảng cách để tìm Chúa, nhưng là mở lòng cho Đấng đã đến gần, và để sự hiện diện của Ngài biến đổi mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết đáp lại điều đã nghe, đổi thay điều được mời gọi; và mỗi ngày tìm về Chúa chứ không xa rời Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XV Thường Niên, Năm Chẵn: 

Đến ngày phán xét, thành Tia, thành Xi-đôn và đất Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.      Mt 11,20-24

20 Khi ấy, Đức Giê-su bắt đầu quở trách các thành đã chứng kiến phần lớn các phép lạ Người làm mà không sám hối. Người nói :

21 “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din ! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa ! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối từ lâu rồi. 22 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay : đến ngày phán xét, thành Tia và thành Xi-đôn còn được xử khoan hồng hơn các ngươi. 23 Còn ngươi nữa, hỡi Ca-phác-na-um, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư ? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ ! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi ngươi mà được làm tại Xơ-đôm, thì thành ấy đã tồn tại cho đến ngày nay. 24 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay : đến ngày phán xét, đất Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.”


 

Đất khổ rồi!!!- Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục 

13/07/2026

Sau những trận bão, trận lụt triền miên cuốn trôi cả nhà cửa, ruộng vườn có khi chỉ trong chớp mắt. Nó như một trận  hồng thủy của ngày tận thế!!

Không ai ngờ và tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra cho con người.

Nhất là trái đất đã cướp đi hàng trăm sinh mạng con người, cuốn họ trôi đi hàng trăm cây số mà đôi khi không còn tìm thấy xác nữa.

Thiên nhiên đã thật sự làm khó con người và trái đất đã gửi đi lời cầu cứu mà tương lai đôi khi chỉ còn là giấc mơ.

Nhất là các vùng Tây nguyên mất rừng, mất đất, mất làng như đụng vào chính trái tim của trái đất.

Ngoài cái thiên tai, còn cái nhân tai mà nếu con người biết tôn trọng những điều đang có thì còn có hy vọng những điều tốt đẹp hơn.

Quả đúng, nay là mảnh đất khổ, mảnh đất bị nguyền rủa.

Mảnh đất ấy nay nó sẽ kéo theo cái nghèo không chóng thì chày cũng xảy đến cho con người không chỉ bằng những thống kê, những con số. Nhưng là cái nghèo trên thục địa mà con người có thể sờ thấy, hoặc cảm nghiệm được qua những bữa ăn mà chính thức có khi cả năm không hề được đụng tới miếng thịt, họa huần được it cá khô, phần còn lại chỉ là hoặc là lá đu đủ hoặc hoa đu đủ đắng ngắt trên các miền đất khô cằn của cao nguyên đá.

Chưa kể khi ốm đau bệnh tật hoặc khi mang thai sinh đẻ, đẻ xong không có sữa cho con bú..Đôi khi phải dùng nước vo gạo thay cho sữa mẹ.

Vì thế tuổi thọ các người vùng cao  như  Mèo Vạc, Đèo Mã Pì Lèng thường chỉ  sống đến 50, 60 là cùng. Tôi đã thấy những ông bố  dượng mới 29 tuổi. Đứa con gái đã mất bố ruột nó hồi nó mới được 8 tuổi. Mẹ nó đi bước nữa lấy tên bố dượng nhỏ hơn bà 5 tuổi. Nay con gái ruột của bà đã 15-16 chỉ ít tuổi hơn tên bố dượng mười mấy tuổi.

Nói dại, thằng bố dượng nếu tham lam, nó có thể lấy cả mẹ lẫn con cũng được

Vì thế, con gái vùng cao như gái M’ong sớm rõ thân phận mình thường lấy chồng sớm, tuổi từ 14,15,16 mà ngực mới nhú chúm chím như quả cau..

Chúng có tên tuổi hăn hoi như em Lầu Thị Xí, 19 tuổi. Em Hà Thị Mai 18 tuổi. Rồi những em tên Láy, tên Mừng.

Đến tuổi 17, 18 được coi như tuổi dạy thì, đủ lông, đủ cánh thì tiếc thay các cô gái lo sợ, được coi như gái già, gái ế.

Lo cho tương lai mình vốn đen tối, không có tương lai. Các em đều ấp ủ mong muốn được lấy chồng người Kinh như thoát cảnh nghèo và những tù túng của của miền đất khổ.

Nhưng từ mảnh đất khổ ấy tưởng chừng mọi hy vọng chỉ là nỗi tuyệt vọng đến cho con người..

Không, trong đêm tối của trái đất, nó le lói cái mà hiếm hoi và mong đợi, người ta gọi là: Tình người. Nó xuất hiện như thể trong một đêm muộn trong sự chờ đợi như thể trái đất biết nghe những câu chuyện huyền thoại.

Trong đó, có rất nhiều người có một tấm lòng đã dấn thân, đã lặn suối, leo đèo, đã đơn độc đi tới các vùng xa xôi, hẻo lánh để  thồ những kiện hàng như một hai bao xi măng, bao cát mà đôi khi phải có một người chạy theo sau để đẩy xe. Tiền bạc do những” You Tube”kêu gọi giúp đỡ bằng nhiều cách như kêu gọi những con người từ những vùng đất xa xôi nửa vòng trái đất, những người Việt ở Mỹ, Úc Đại Lợi, Canada, Pháp vv. mà số tiền từ vài trăm, có khi vài ngàn mỹ kim chung tay gửi tiền cho những bà con nghèo.

Nhất là các vùng xa, vùng sâu trên Tây nguyên, nơi có nhiều sắc dân, nhất là những người Gia-Rai, người M’môn, người Tày.. vv.

Đó là những sự giúp đỡ do những tấm lòng vô lượng, vì người mà không vì mình.

Xin ghi lại ở đây những câu truyện được kể của họ một cách nào đó không phê phán, cũng không biện hộ.

Đến có thể nói, xã hội này tồn tại được do những người bình thường, vô danh biết làm những điều phi thường của những người mà hành trang mang theo họ chỉ có một tấm lòng.

Sau đây, xin giới thiệu những sứ giả của tình thương đến để sưởi ấm những con người bất hạnh từ nhiều góc độ:

-Người đặc biệt. Viết Thành. Anh đi thăm những trường hợp những gia đình có những hoàn cảnh khó khăn, éo le , bất hạnh cần được giúp đỡ.

-A Tu, Gái Bản giúp đỡ những trường hợp neo đơn mà tiền viện phí như mổ xẻ lên đến 100-200 triệu.

Chưa kể  tiền xây dựng cầu đường qua các dòng suối mà tốn phí có thể lên đến 500 triệu tiền vật liệu. Còn công bốc vác, chuyên chở bằng tay, xe thồ do dân bản địa chia nhau luân phiên làm.

Theo tôi, những công trình xây cất cầu đường phải do trách nhiệm của các cơ quan công quyền của nhà nước đảm nhiệm hà cớ gì bắt dân đen gánh vác..

-Nguyễn Tất Thắng. Anh lo xây những căn nhà mà chi phí ở mức tối thiểu  khoảng 70 triệu, lo tổ chức những bữa ăn cho dân chúng vùng cao, dạy nếp sống văn minh như cách dùng bát, đũa thay vì ăn bốc, như phân phối cho mỗi nhà bát đĩa, đũa ăn..

-Gà lang thang là một thanh nhiên nhiệt tình và năng động, đáng trân trọng. Anh sửa lại đường lên núi cho bằng phẳng hơn, đem nước từ thượng nguồn về cho dân làng.- có nước là có đời sống, có chăn nuôi, trồng trọt, có thêm rau tươi, củ quả, có chăn nuôi như gà, vịt, lợn dê để dân tự làm ăn sinh sống.

Đã thế, anh còn cung cấp đày đủ các  vật dụng cần thiết như chăn màn, võng, vật dụng hằng ngày như dao, kéo, xẻng, cuốc, nồi niêu, chảo, bát đĩa, nước mắm, gạo thóc, mì gói.

Ngạc nhiên hơn nữa, anh còn cung cấp băng vệ sinh, quần đùi cho phụ nữ, thuốc cảm sốt, dầu gió xanh vv

Gà lang thang làm việc có nguyên tắc, thu nhận được bao nhiêu tiền, chi bao nhiêu đều công khai tuyên bố nên được lòng tin của những nhà hảo tâm.

Tôi cầu mong cho anh đủ sức khỏe để tiếp tục các công trình cải tiến đời sống các dân tộc vùng cao.

-Thày Giáo Đồng ở miệt Bình Dương, xây các căn nhà tình thương cho đồng bào miền tây, thoát cảnh những túp lều để che mưa, che nắng.

-L.M Nguyễn Sang. Đây là cả một tập đoàn hàng trăm nhân viên xây dựng những quán ăn 2000/đồng/một bữa (2000 đồng chỉ đủ mua một cây kem) cho những đồng bào nghèo như già yếu, khuyết tật, dân bán vé số những bữa cơm có thịt, cá, rau đủ chất bổ dưỡng. Chưa kể, những xuất học bổng cho học sinh nghèo đủ trang trải học phí cho rất nhiều khu vực..

Và tôi nghĩ rằng, càng có nhiều cá nhân, tổ chức làm từ thiện là một hình thức gián tiếp tố cáo chế độ bất nhân, tham nhũng cả ngàn tỷ bạc, làm hại dân, hại nước. Khi ra tòa chúng vẫn khóc lóc xin giảm tội.Nngười nghèo thì mãi nghèo, người giàu thì giàu thêm.

Có lẽ, cần mang ra pháp trường bắn một vài tên tham nhũng gộc để làm gương nhù thời ông Nguyễn Cao Kỳ bắn Tạ Vinh.

Mặt trái của xã hội của mảnh đất đáng nguyền rủa là sự cực kỳ xa hoa, khoe khoang, phung phí của những kẻ giàu có sống trên xác chết người nghèo.

Tôi đã từng chứng kiến đám cưới con gái một doanh nhân giàu có. Khách mời là những người mẫu, hoa hậu, tài tử, nghệ sĩ, những người ăn mặc thanh lịch, đi trên những chiếc xe bóng lộn đủ nhãn hiệu mà chính tôi không rành, có tài xế riêng lái, tiệc cưới đặt trên lên lầu hai của nhà hàng, có cầu thang máy bằng kính nhìn ra bên ngoài..

Tôi cảm nhận sự nhờm tởm và khinh bỉ. Họ có tiền t, nhưng tiền ấy ở đâu ra? nhưng đóng góp cho xã hội là bao nhiêu?

Tôi hỏi là hỏi vậy mà không chờ đợi một câu trả lời.

Chưa kể chúng khoe của những biệt thự mà các đồ dùng trong nhà đều lát vàng như các cung điện, phủ chúa thời xa xưa.

Nay, tôi xin trở về một vài câu truyện điển hình, đọc mà thương cảm và mong được chia xẻ.

Câu truyện thứ nhất: Cánh cửa mở ra tương lai: Chị Vy và anh thiếu niên tên Chiến

Thế giới này sở dĩ tồn tại được đôi khi chỉ vì có những người làm được những điều phi thường mà tự bản chất, họ là những người tử tế, có một tấm lòng.

Câu truyện kể rằng chị Vy có chồng và sinh hạ được một đứa con. Chẳng may đứa con chị ra đời bẩm sinh bị bệnh bại não. Cháu sống như thể một loài thực vật. Chúng ta thử đặt mình vào trường hợp chị Vy để cảm thông được đứa bé sống mà như thể chết. Phần chị Vy, thương con mà sống như thể héo hon, sống mà như thể đã chết trong tâm hồn. May mắn thay, đứa thứ hai chào đời trong một thân thể lành mạnh như một bù trừ cho số mệnh.

Rồi do sự giới thiệu, chị Vy được biết có một đứa trẻ tên Chhiến. Chiến hai chân bị tê liệt nên phải di chuyển bằng cả hai tay như thể phải bò rất là khó khăn. Chị Vy nhận chăm sóc và chữa trị cho Chiến mặc dầu chồng chị phản đối.

Chị Vy đã gửi Chiến sang Úc do một bác sĩ người Việt làm phẫu thật chỉnh hình.. Sau một thời gian kéo dài trong suốt 6 năm với 4 lần phẫu thuật,trong đó  hai lần phẫu thuật tại Úc, hai lần tại Việt Nam. Biết bao công sức, biết bao tiền bạc bỏ ra trong chờ đợi, lo âu!!

May mắn thay và mừng thay, nay Chiến đã tự đi bằng chính đôi chân của mình như một thanh niên bình thường.

Điều đặc biệt hơn cả là Chiến đã tự nguyện xin được nhận chị Vy làm mẹ và hứa sau này sẽ học ngành y để trả ơn mẹ.

Còn gì hạnh phúc hơn cho Chiến nếu không có mẹ đỡ đầu thì cuộc đời Chiến sẽ ra sao?

Phần Vy, mất một đứa con nay bù lại một đứa khác. Hạnh phúc và an ủi biết bao!!!!

Phần hai. Mái ấm gia đình với soeur Kim Chi với 200 trẻ côi ở Gia Lai.

Soeur Kim Chi chọn con đường tu trì, giữ khiết tịnh thay vì một mái ấm gia đình với một vài người con. Nay thì một lúc đến 200 cháu mà cuộc đời chúng là những mảnh vụn mà mỗi cháu là một một câu chuyện kể không cháu nào giống cháu nào. Đứa thì bố say rượu, đánh đập mẹ rồi bỏ đi. Mẹ không cưu mang nổi con lén lút vửt vào cổng nhà dòng. Đứa khác, bố mẹ đều qua đời đành nương nhờ nhà dòng nuôi dùm..

Lịch sử 200 cháu là lịch sử một bi kịch cuộc đời, một số phận bất hạnh dành cho các cháu..

Nay nhìn các bé quấn quít lấy Dì Kim Chi  như một người mẹ và có một tổ ấm gia đình. Các cháu được thuê thày về dạy dỗ, được ăn học. Các cháu phải tập làm một số công việc để sau này nên người mà tương lai tùy thuộc vào chính các cháu mới đẹp làm sao!!

Phần Ba. Thày Nguyễn Văn Diện với căn nhà mơ ước, tràn đầy ánh sáng.

Thầy Nguyễn Văn Diện với tiền trợ cấp chính phủ là 400 triệu khi về hưu, các con đều trưởng thành, có nghề riêng, không vướng bận. Thầy bán đi một  phần mảnh đất hưong hỏa là một tỉ hai.

Cộng chung là một tỷ sáu.

Thay vì cất một tỉ sáu để hưởng thụ một mình cũng là lẽ thường tình.

Thày nghĩ đến số phận những đứa trẻ nghèo mà theo thầy, nghèo không phải là cái tội. Mà nhìn những đứa trẻ ấy như thể cũng là một con người. Không phân tích, không phán đoán đúng sai.

Chính vì thế, thày Nguyễn Văn Diện đã dùng số tiền ấy xây cất hai dãy nhà, một bên dùng cho phái nữ, một bên kia cho phái nam cộng chung tất cả gồm 40 phòng, có giường tủ, bàn học, nhà vệ sinh ngăn nắp  sạch sẽ và tiện nghi.

Các cháu được ở trong những phòng ốc, đầy đủ tiện nghi, có phòng tắm riêng, mỗi ngày có xe chở đi học.

Đến bữa ăn, các cháu chia nhau dọn những bữa ăn có đầy đủ rau cỏ, thịt cá, đầy chất bổ dưỡng.

Hình ảnh một cháu gái đã ở lâu trong nhà bế ẵm một bé gái khác mới vào mới đẹp làm sao!!

Nhìn các cháu, người ta nhận ra chúng có một tương lai cho đến tuổi 18 đã có một căn bản học vấn để vào đời.

Phần thày Diện, không mong chờ một đáp trả nào trong tương lai.

Có một em vừa điếc, vừa câm, thày quyết định  gửi em đi học nghề may để sau nay, em cũng có thể tự kiếm sống.

Có một em khác tật nguyền, cũng phải dùng đôi tay, bò lê dưới đất..như cháu Chiến..

Thày tự hứa với lòng mình là sẽ đưa em đi chữa trị để em cũng có thể đi bằng đôi chân như các đứa trẻ khác.

Tôi giới thiệu ba cảnh đời, ba nhân vật, ba hoàn cảnh khác nhau như một bức tranh tiêu biểu của một thế giới còn nhiều điều bất cập.

Mặc dầu thế giới còn khổ đau, hố phân chia giàu nghèo càng ngày càng cách biệt xa vời. Xã hội còn rất nhiều bất công, tôi mong dợi thực hiện một xã hội công bằng hơn là một xã hội có lòng từ bi, bác ái.

Và hơn bao giờ hết, tôi mong đợi có một ngày nào và đến bao giờ, tôi có thể hãnh diện bỏ cái tiêu đề: Mảnh đất khổ!! Vì đất nước này vẫn cần một trái tim.