ĐI TRƯỚC NỖI SỢ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đang trên đường lên Giêrusalem, Người dẫn đầu các ông”.

“Thế gian trao cho con người sự an ổn; nhưng con người không được dựng nên cho sự an ổn, mà cho một điều cao cả hơn!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay mở ra một khung cảnh khác thường: trên đường lên Giêrusalem, Chúa Giêsu đi trước; các môn đệ theo sau, đầy kinh ngạc và sợ hãi. Không chỉ đi trước họ, Ngài còn ‘đi trước nỗi sợ’ của họ.

Với Marcô, “lên Giêrusalem” không chỉ là một chuyển động địa lý, nhưng là một nghịch lý thần học. Tin Mừng hôm qua vừa nhắc: ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống. Với Chúa Giêsu, đi lên lại là đi xuống: xuống tận khổ đau, bị trao nộp và chết trên thập giá. Khi các ông mơ những chỗ cao, Ngài tự nguyện bước xuống chỗ thấp, đáy của phận người. “Ảo tưởng lớn nhất của người lãnh đạo là nghĩ rằng mình có thể dẫn người khác ra khỏi sa mạc mà chưa từng đi qua nó!” – Henri Nouwen.

Trớ trêu thay, khi Thầy nói đến khổ nạn và chết chóc, trò lại nghĩ đến chức trọng quyền cao – Giacôbê và Gioan xin một chỗ bên hữu bên tả. Các môn đệ nghĩ vinh quang là ascendere – đi lên trên kẻ khác; Chúa Giêsu lại mặc khải một vinh quang descendere – đi xuống vì kẻ khác. Ngài không hứa cho họ một vị trí; nhưng mời họ cùng uống một chén. Theo Đức Kitô không phải là tìm một chỗ an toàn bên Ngài, nhưng trở nên cao cả khi dám đi xuống phục vụ tha nhân. Muốn bước vào Nước Trời mà vẫn cố giữ một chân trong logic của thế gian, con người sẽ không bao giờ hiểu được con đường của Đức Kitô. Chính nơi đó, Chúa Giêsu ‘đi trước nỗi sợ’ của các môn đệ.

Thánh Phêrô nhắc các tín hữu, họ đã được cứu chuộc “không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc”, nhưng “nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn” – bài đọc một. Nghĩa là, đời sống mới của người môn đệ không được đo bằng giá trị của những gì sở hữu hay leo tới, nhưng bằng tình yêu tự hiến. Vì thế, giữa một thế giới luôn muốn thống trị, Đức Kitô lại cứu độ bằng con đường tự hạ. Và chỉ những ai dám tự hạ để làm đầy tớ phục vụ mới biết thế nào là vinh quang của Hội Thánh, Giêrusalem mới: “Giêrusalem hỡi, nào tôn vinh Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Không chỉ dạy con người con đường đi xuống; chính Đức Kitô đã đi trọn con đường ấy. Ngài đi trước các môn đệ lên Giêrusalem cũng như đi trước nhân loại vào bóng tối của đau khổ, cô đơn và cái chết. Vì thế, thập giá không còn là nơi của thất bại, nhưng trở thành nơi vinh quang Thiên Chúa tỏ lộ. Có những nỗi sợ con người không thể tự mình bước qua; nhưng Đức Kitô đã đi vào đó trước chúng ta. Và nhiều khi, điều làm con người nên cao cả không phải là leo lên cao, nhưng là dám cúi xuống vì yêu thương. Vinh quang không nằm ở vương miện thống trị, nhưng khắc trên những vết sẹo phục vụ. “Ai cũng có thể trở nên cao cả, vì ai cũng có thể phục vụ!” – Martin Luther King Jr..

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con muốn được nâng lên hơn là cúi xuống, được cung phụng hơn là phục vụ, được biết đến hơn là quên mình; xin dạy con biết rằng: vinh quang thật luôn mang dáng dấp thập giá!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần VIII Thường Niên, Năm Chẵn

Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 10,32-45

32 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Người dẫn đầu các ông. Các ông kinh hoàng, còn những kẻ theo sau cũng sợ hãi. Người lại kéo riêng Nhóm Mười Hai ra, và bắt đầu nói với các ông về những điều sắp xảy đến cho mình : 33 “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người, và sẽ nộp Người cho dân ngoại. 34 Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại.”

35 Hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói : “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây.” 36 Người hỏi : “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì ?” 37 Các ông thưa : “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.” 38 Đức Giê-su bảo : “Các anh không biết các anh xin gì ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?” 39 Các ông đáp : “Thưa được.” Đức Giê-su bảo : “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống ; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. 40 Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

41 Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. 42 Đức Giê-su gọi các ông lại và nói : “Anh em biết : những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. 43 Nhưng giữa anh em thì không được như vậy : ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em ; 44 ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người. 45 Vì Con Người đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.”


 

Chuyện tuổi Xế Chiều – Truyen ngan HAY

AnhPhu VanLy is with Nhuan Le.

 nhìn hình ảnh của bà cụ này tự nhiên tôi nghĩ rồi mình cũng sẽ như thế trong 1 ngày rất gần đây

Chuyện tuổi Xế Chiều

Bình Yên LN

Bà cụ sống tầng dưới đột nhiên đến gõ cửa, bà hỏi tôi có muốn mua căn nhà của bà không ? Căn nhà rộng 132m vuông . Tôi có chút bất ngờ nên nói với bà : Bà ơi con đã có nhà rồi không cần mua thêm đâu. Bà cụ tiếp tục nói: Con à, nếu con đồng ý mua nhà của bà, bà sẽ không lấy của con đồng xu nào, nhưng con phải đồng ý với bà một điều kiện .

Nghe đến đây tôi sửng người. Sao trên đời lại có chuyện như thế này chứ? Nhưng thái độ của bà thật nghiêm túc, trong ánh mắt còn ẩn chứa một nỗi niềm nặng trĩu khó hiểu. Tôi cố nén sự nghi ngờ trong lòng và nói: Bà cứ nói đi, nếu có thể giúp con nhất định sẽ giúp. Bà ngước nhìn tôi chậm rãi nói : Sau này mỗi lần xuống, đi ngang cửa nhà bà cứ gõ cửa một cái, nếu bà trả lời con cứ yên tâm mà đi, nếu không nghe thấy tiếng bà con hãy làm ơn gọi điện cho các con của bà, nếu chúng nó cũng không về thì hãy làm ơn đưa bà đi tiếp chặng đường cuối cùng. Căn nhà này bà sẽ để lại cho con.

Những lời của bà khiến lòng tôi chùng xuống: Đây nào phải là một yêu cầu đơn giản mà là một sự phó thác sinh mệnh.

Trong lòng tôi rối bời không biết có nên đồng ý hay không, nhưng nhìn ánh mắt đầy mong đợi và tha thiết của bà tôi đã gật đầu chấp nhận. Tôi đỡ bà vào nhà để bà ngồi xuống và rót cho bà một ly nước nóng. Đôi tay bà run rẩy, nhìn dáng vẻ của bà lòng tôi thấy xót xa.

Qua câu chuyện bà kể, tôi biết bà nay đã 86 tuổi, cả bà và ông đều từng là giáo viên về hưu. Con trai lớn lập gia đình sống ở Canada, con gái lấy chồng ở Anh . Từ khi các con ra nước ngoài bà sống nương tựa vào ông, nhưng năm ngoái ông đã qua đời, giờ trong nhà chỉ còn lại mình bà, các con đã nhiều năm không về thăm nhà,nhà cũ ở quê cũng bán từ lâu… Giờ chỉ mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng này, giá như mà hồi đó chúng nó đừng giỏi giang như thế thì tốt biết mấy, nếu không ra nước ngoài ít ra chúng cũng còn nhớ đến căn nhà này, mỗi năm có thể gặp vài lần…  Nghe bà nói vậy, tôi nghe lòng trĩu nặng: Bà không phải đang trách các con, mà bà đang cảm thấy bất lực với tuổi già của mình , nhà có rộng đẹp cách mấy cũng không ấm áp bằng tình thâm.

Kể từ đó… mỗi lần đi làm tôi đều ghé xuống gõ cửa nhà bà, chỉ khi nghe tiếng bà trả lời tôi mới yên tâm đi làm. Vào cuối tuần tôi tranh thủ ghé qua thăm bà, cùng bà trò chuyện, nấu ăn, giúp bà làm vài việc vặt… Mỗi lần như thế bà rất vui vẻ , có lẽ đó chính là cái cảm giác hạnh phúc và an toàn.

… Thấm thoát một năm đã trôi qua, tháng trước vào tuần cuối của tháng, tôi đi cộng tác đột xuất nên không kịp gõ cửa nhà bà … Một tuần sau khi  trở về, tôi vội vàng sang gõ cửa nhà bà , nhưng không nghe tiếng trả lời của bà . Linh tính chẳng lành, tôi báo cho ban quản lý và gọi điện cho cảnh sát.

Khi cảnh sát mở cửa , chúng tôi phát hiện bà đã nằm yên trên giường, mắt nhắm lại, bên cạnh là quyển album hình của hai ông bà thời trẻ và hình của các con khi còn bé , pháp y nói: Bà đã qua đời hai ngày trước vì bịnh tim.

Lòng tôi đau nhói… Chỉ mới trước ngày tôi đi công tác bà còn nói: Bên ngoài trời lạnh lắm, nhớ mang theo áo ấm con à ! Bà còn bảo cuối tuần qua bà có làm bánh nhân thịt, vì các con ngày còn bé rất thích … Nói xong bà quay lưng bước vào thang  máy, không ngờ đó là lần gặp cuối cùng… Bà ra đi lặng lẽ như thể thế giới này chưa bao giờ để ý đến sự tồn tại của bà.

Sau đó tôi gọi điện cho các con của bà, nhưng không ai về kịp. Trong đám tang chỉ có vài người đến tiễn đưa, dường như cả cuộc đời bà cứ cuốn trôi theo dòng thời gian không để lại dấu vết nào… nghĩ đến đây lòng tôi trĩu nặng, một người hiền từ như vậy tại sao cuối cùng lại ra đi trong cô đơn như vậy.

Sau khi lo liệu xong tang lễ, tôi đứng rất lâu trong ngôi nhà trống vắng của bà… nhớ lại những khoảng khắc trước kia… những lúc bà cô đơn và bất lực … Chợt tôi hiểu ra ý nghĩa lời nói của bà: Giá mà con cái của bà không giỏi giang đến thế thì tốt biết bao. Có lẽ bà chưa bao giờ mong con cái có những thành tựu lớn lao, chỉ hy vọng những ngày tháng tuổi già có người đến gõ cửa nhà bà, có người lắng nghe giọng nói của bà. 

Bà đã ra đi mang theo nỗi cô đơn và bất lực của mình. Điều duy nhất mà tôi cảm thấy an ủi là ít nhất trong một năm cuối đời, có người đồng hành cùng bà, khiến bà cảm thấy một chút hơi ấm, một ít quan tâm.

Gửi đến những người thân yêu: Hãy nhớ, hãy dành thời gian có thể để quan tâm đến cha mẹ già của mình, đến một ngày bạn nhận ra  cha mẹ là những người bạn dành ít thời gian nhất nhưng lại là những người yêu thương bạn vô điều kiện.

Cha mẹ còn, đời ta còn chốn quay về

Cha mẹ mất, đời ta chỉ còn đường để ra đi

 *Ghi lại từ bài đọc trên FB Phạm Tiến


 

NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…- Tuấn Khanh

Việt Luận – Viet’s Herald

 NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH: NGƯỜI TIẾT LỘ NHỮNG CHUYỆN ĐỘNG TRỜI…

Tuấn Khanh

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi.

Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi in tại Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao Động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Cuộc đời của nhà văn Trần Đĩnh, người cầm bút hơn 70 năm, bắt đầu với công việc ký giả cho tờ Sự Thật – một tờ báo chủ đích tuyên truyền do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Nhà văn Trần Đĩnh sinh năm 1930. Năm 16 tuổi ông tham gia Việt Minh theo lời kêu gọi yêu nước, chống Pháp. Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này – theo như ông tâm tình trên BBC – đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật của giới lãnh đạo cộng sản.

Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người được tin cậy để được trao nhiệm vụ chấp bút viết tiểu sử của ông Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận… nên những gì ông kể trong bản văn Đèn Cù, là có thể tin cậy được.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà bình do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev đưa ra, theo Trần Đĩnh, ông đã ủng hộ lập trường của Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị ghép vào tội “chống đảng”. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là Trần Châu, hay như những người khác như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu vong như Nguyễn Minh Cần…, nhưng ông bị đày đi cải tạo lao động. Sau đó, tuy ông được xét làm báo trở lại nhưng với điều kiện: Không được ký tên Trần Đĩnh, chỉ viết về nông nghiệp, và không được viết anh hùng, chiến sĩ thi đua và cấp ủy cao. Cuối cùng là không được ở gần thanh niên, bởi sẽ gây tiêm nhiễm tư tưởng phản động cho thế hệ trẻ. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ sách 600 trang của ông Trần Đĩnh đã tiết lộ nhiều chuyện “động trời”, trong đó, một trong những chuyện được nhiều người Việt trong và ngoài nước đọc qua, đã bàn tán không ngớt như chuyện ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh cải trang đến tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.” (trang 84).

Đã có lần trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là những điều ông kể có chứng cứ không, ông Trần Đĩnh đã bật cười nói “Nó là cuộc đời tôi, diễn ra chung quanh tôi. Rất nhiều người cùng thời với tôi chứng kiến nay đã chết, họ đã mang những chứng cứ đó xuồng mồ, nên tôi phải viết lại”.

Câu trả lời thú vị nhất của ông, là khi được hỏi ông viết cuốn hồi ký với nhiều chi tiết gây sốc này, với mục đích gì. “Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi”, nhà văn Trần Đĩnh nói. Ông mô tả rằng người ta làm và sống với những điều tự nhiên, như đau thì phải kêu, và thấy sự thật, phải kể lại. “Đến lúc tôi phải viết xuống vì không thể để ai bịa đặt hay muốn nói như thế nào cũng được”, nhà văn Trần Đĩnh nói.

Lúc sinh thời, trong thời gian sống và làm việc tự do ở Sài Gòn, nhà văn Trần Đĩnh còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, như Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Ngầm của Murakami Haruki.

Sau khi sách Đèn Cù trở thành một cú chấn động trong đời sống của người đọc sách, người quan tâm chính trị, báo chí nước ngoài gọi điện thăm hỏi rằng ông có bị khó dễ gì vì bộ sách này hay không, ông trả lời “Tôi đã đến tuổi không còn thấy điều gì làm khó được mình”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh 


 

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi – Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

Những đứa trẻ đi bộ trong bão bụi.

Năm 1936, giữa thời kỳ Đại Khủng Hoảng và cơn ác mộng Dust Bowl phủ lên miền Trung nước Mỹ, hàng ngàn trẻ em nông thôn tại tiểu bang Oklahoma vẫn ngày ngày lội gió bụi đến những trường học nhỏ giữa đồng hoang. Đó là thời kỳ mà đất đai nứt nẻ như da trâu mùa hạn, mùa màng chết khô, gia súc lăn ra chết bên hàng rào, còn nhiều gia đình thì sống lay lắt nhờ vài bao bột mì cứu trợ của chính phủ liên bang. Nhưng giữa cảnh khốn cùng ấy, người dân quê Oklahoma vẫn giữ một niềm tin gần như thiêng liêng: con chữ có thể cứu đời con cái họ khỏi cái nghèo truyền kiếp.

Gia đình Harper sống tại một nông trại nhỏ bên ngoài thành phố Enid. Mảnh đất vốn từng màu mỡ ấy giờ đây bị những cơn bão bụi biến thành một biển đất chết. Mỗi khi gió nổi lên, bụi đỏ cuồn cuộn như khói chiến tranh, phủ kín mái nhà, chuồng bò, hàng rào và cả bên trong căn bếp nghèo. Người ta kể rằng có những sáng ngủ dậy, lớp bụi dày đến nỗi bà Harper phải lấy xẻng nhỏ xúc đất ra khỏi nền nhà.

Ông Harper, cha của bọn trẻ, trước kia là nông dân trồng lúa mì. Nhưng sau nhiều mùa thất bát, ông phải đi tìm việc tạm bợ bằng nghề chở lúa thuê hoặc phụ hồ tại các thị trấn lân cận. Đồng lương ít ỏi chẳng đủ nuôi đàn con đông đúc. Bà Harper đành vá quần áo bằng bao bột mì cũ, tận dụng từng mảnh vải vụn để may áo cho con. Bữa ăn gia đình quanh quẩn chỉ có đậu, khoai tây và bánh bắp. Thịt là món xa xỉ hiếm hoi xuất hiện vài lần trong tháng.

Tuy vậy, mỗi buổi sáng trước khi mặt trời mọc, những đứa trẻ Harper vẫn chuẩn bị đến trường. Chúng đi bộ nhiều cây số qua các con đường đất phủ bụi mù. Đứa lớn dắt đứa nhỏ, tay ôm tập vở cũ đã sờn góc. Có đứa mang giày rách đế, có đứa chân trần vì cha mẹ không đủ tiền mua giày mới. Mùa đông Oklahoma lạnh buốt, gió thổi xuyên qua áo khoác mỏng. Nhưng chưa bao giờ cha mẹ chúng cho phép nghỉ học chỉ vì nghèo.

Những ngôi trường quê thời ấy phần lớn chỉ là trường một phòng học. Trong căn phòng gỗ nhỏ, học sinh từ lớp Một đến lớp Tám ngồi chung. Một chiếc lò sưởi bằng than đặt giữa lớp để chống rét mùa đông. Sách giáo khoa được truyền tay từ khóa này sang khóa khác đến mức gáy sách bung ra từng mảnh. Nhiều học sinh phải dùng chung bút chì vì gia đình không đủ tiền mua đồ dùng học tập.

Các giáo viên miền quê Oklahoma trong thời Dust Bowl không chỉ làm nghề dạy học. Họ còn là y tá, người phát chẩn và đôi khi là chỗ dựa tinh thần cho cả cộng đồng. Có cô giáo phải bỏ tiền túi mua bánh mì cho học sinh đói bụng. Có thầy giáo sau giờ học còn lái xe đi thăm những gia đình bị bệnh dịch hoặc mất mùa. Nhiều người vận động quyên góp quần áo cũ từ thị trấn để đem phát cho trẻ em nông thôn.

Thời kỳ Dust Bowl không phải chỉ là thiên tai đơn thuần. Đó là hậu quả của nhiều năm canh tác quá mức trên các đồng bằng miền Trung Hoa Kỳ. Khi hạn hán kéo dài kết hợp với gió mạnh, lớp đất mặt màu mỡ bị cuốn lên trời thành những cơn “bão đen” khổng lồ. Từ năm 1930 đến 1936, hàng triệu mẫu đất tại Oklahoma, Texas và Kansas bị phá hủy nghiêm trọng. Hàng trăm ngàn gia đình nông dân phải bỏ quê hương di cư sang California tìm kế sinh nhai.

Nhà văn John Steinbeck sau này đã mô tả thảm cảnh ấy trong cuốn The Grapes of Wrath, một tác phẩm nổi tiếng phản ánh đời sống khốn khổ của dân nghèo miền Dust Bowl. Nhưng đối với những đứa trẻ như nhà Harper, bi kịch ấy không nằm trong sách vở. Chúng sống giữa nó từng ngày, từng giờ.

Năm 1935, một trận bão bụi khổng lồ mang tên “Black Sunday” đã biến ban ngày thành đêm tối. Người dân kể rằng khi cơn bão kéo đến, họ không nhìn thấy bàn tay mình trước mặt. Trẻ em phải lấy khăn ướt che mũi để khỏi nghẹt thở. Bụi lọt vào phổi gây ra căn bệnh gọi là “dust pneumonia” khiến nhiều người tử vong. Những đứa trẻ nông thôn lớn lên giữa bụi đất và nỗi sợ mùa màng thất bại.

Dẫu vậy, trường học vẫn là nơi đem lại chút hy vọng hiếm hoi. Trong lớp học nhỏ ấy, bọn trẻ được học đọc, học viết, học địa lý và nghe kể về một thế giới rộng lớn bên ngoài cánh đồng khô cằn. Với nhiều phụ huynh, con đường học vấn là cơ hội duy nhất để con cái họ thoát khỏi kiếp bám đất mà vẫn nghèo.

Một học sinh cũ sau này nhớ lại: “Chúng tôi không biết mùa màng có sống nổi hay không, nhưng cha mẹ vẫn bắt chúng tôi đi học mỗi sáng. Họ tin rằng dù đất đai có chết, con chữ vẫn còn sống.”

Niềm tin ấy phản ánh tinh thần đặc biệt của tầng lớp nông dân Mỹ thời Đại Khủng Hoảng. Dù mất tiền bạc, mất mùa màng, họ vẫn không chịu đầu hàng số phận. Chính phủ của Tổng thống Franklin D. Roosevelt sau đó đã đưa ra chương trình New Deal nhằm cứu trợ nông dân, tạo việc làm và cải tổ kinh tế. Nhưng trước khi các chính sách ấy phát huy hiệu quả, nhiều gia đình đã phải tự chống chọi bằng nghị lực phi thường.

Điều đáng nói là những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 không hề xem mình là anh hùng. Chúng chỉ đơn giản làm điều phải làm: thức dậy, đi học và tiếp tục sống. Nhưng chính sự bình dị ấy mới là vẻ đẹp lớn nhất của thế hệ Dust Bowl. Không súng đạn, không chiến công, không huy chương, chỉ có đôi chân trẻ thơ lầm lũi bước qua đồng bụi để giữ lấy tương lai.

Ngày nay, nhiều trường học một phòng tại Oklahoma đã biến mất, nhường chỗ cho xa lộ và các thị trấn hiện đại. Nhưng những bức ảnh cũ còn lưu lại vẫn khiến hậu thế xúc động. Trong ảnh, lũ trẻ gầy gò đứng trước mái trường gỗ đơn sơ, áo quần vá chằng vá đụp nhưng ánh mắt vẫn sáng. Đó là ánh mắt của một thế hệ sinh ra giữa tai họa nhưng không chịu khuất phục.

Câu chuyện của những đứa trẻ trường quê Oklahoma năm 1936 nhắc hậu thế một bài học đơn giản mà sâu xa: nghèo đói có thể lấy mất tài sản, thiên tai có thể phá hủy ruộng đồng, nhưng tri thức và nghị lực vẫn là thứ giúp con người đứng dậy sau mọi biến động. Chính những bước chân bé nhỏ trên con đường bụi đỏ năm xưa đã góp phần dựng lại nước Mỹ sau thời Đại Khủng Hoảng.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Ngo Duc Chien

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HOANG DÃ

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện – người nhìn thấy “tư bản hoang dã” từ năm 1993

Có những trí thức càng đi trước thời đại thì lời nói của họ càng khiến hậu thế giật mình vì… quá đúng. Nguyễn Khắc Viện là một người như thế.

Trong phần bổ sung “Con đường đi tới tương lai” của cuốn Việt Nam, một thiên lịch sử viết năm 1993, ông từng cảnh báo Việt Nam sau Đổi Mới có nguy cơ xuất hiện một thứ “chủ nghĩa tư bản hoang dã”: đồng tiền lấn át đạo lý, bất bình đẳng xã hội gia tăng, tội phạm, ma túy, phá rừng, ô nhiễm môi trường và nguy hiểm nhất là sự cấu kết giữa quyền lực với lợi ích kinh tế kiểu “mafia”.

Ba mươi năm trước, khi xã hội còn ngập trong không khí lạc quan của mở cửa và tăng trưởng, rất ít người nói được điều ấy. Nhưng Nguyễn Khắc Viện đã nhìn thấy mặt trái của phát triển nếu kinh tế đi quá nhanh còn văn hóa, pháp luật và lương tri đi quá chậm.

Hôm nay nhìn lại, từ các đại án tham nhũng, thực phẩm giả, thuốc giả, hàng giả đến lợi ích nhóm và môi trường bị tàn phá, người ta mới thấy những cảnh báo năm ấy giống một dự cảm đáng sợ về hiện tại.

Ông đặc biệt chua chát trước kiểu quan chức biến chất: lúc đương quyền thì huênh hoang quyền lực, nhưng khi ra tòa lại khóc lóc, kêu bệnh tật, kể công trạng để xin giảm tội. Theo ông, ngoài việc lợi dụng chức quyền để kiếm chác, họ hầu như không để lại giá trị nào cho đất nước. Cái nghèo đáng sợ nhất không phải nghèo tiền bạc, mà là nghèo nhân cách và lòng tự trọng.

Nguyễn Khắc Viện không phản đối làm giàu. Ông chỉ phản đối kiểu giàu lên bằng sự tha hóa của quyền lực và sự xuống cấp của đạo lý xã hội. Ông cho rằng một xã hội lấy giàu-nghèo làm thước đo phẩm giá con người sẽ rất nguy hiểm. Giàu cá nhân, giàu dòng họ mà không giàu lòng yêu nước chín chắn thì không đáng để tôn vinh.

Sinh năm 1915 tại Hà Tĩnh trong gia đình Nho học, ông từng đỗ đầu ba bằng Tú tài tại Trường Bưởi, nay là Trường THPT Chu Văn An, rồi học y trước khi sang Pháp.

Năm 1942, ông mắc lao phổi nặng, trải qua nhiều cuộc đại phẫu, bị cắt bỏ một phần phổi và nhiều xương sườn. Từ cửa tử, ông tự nghiên cứu yoga, khí công và dưỡng sinh để cứu chính mình. Sau này, phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện được phổ biến rộng rãi và giúp nhiều người phục hồi sức khỏe.

Về nước năm 1963, ông hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghiên cứu xã hội; dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp, viết nhiều công trình về lịch sử, tâm lý trẻ em và văn hóa Việt Nam. Sau nghỉ hưu, ông càng viết mạnh mẽ hơn về giáo dục, dân chủ và phản biện xã hội.

Trong những năm 1980, nhiều ý kiến của ông từng bị xem là “lệch chuẩn”, “xét lại”. Ông phê phán bệnh giáo dục nhồi nhét, tâm lý sợ phản biện và thói phục tùng máy móc. Có thời gian bài viết của ông bị hạn chế phổ biến vì ông nói quá thẳng những điều xã hội không muốn nghe.

Nhưng ông không phải người chống đối cực đoan. Ông là mẫu trí thức yêu nước, muốn đất nước mạnh lên bằng sự tự soi lại chính mình. Điều khiến ông khó được chấp nhận là ông luôn đòi hỏi xã hội phải trung thực với sự thật.

Nhiều năm sau, những điều Nguyễn Khắc Viện cảnh báo về giáo dục, văn hóa và sự tha hóa quyền lực dần trở thành vấn đề ai cũng nhìn thấy. Có lẽ bi kịch lớn nhất của ông là nói quá sớm những điều mà nhiều năm sau xã hội mới chịu thừa nhận.

Ông mất năm 1997 tại Hà Nội, nhưng những điều ông để lại vẫn còn nguyên tính thời sự: một quốc gia muốn phát triển bền vững phải có đạo lý, phải biết kiểm soát quyền lực và phải biết lắng nghe những trí thức dám nói thật.

ST 


 

KHIÊM NHƯỜNG – NỀN TẢNG CỦA THÁNH THIỆN – Ed Broom, OMV  

 Ed Broom, OMV  

Sr. Têraêsa Mai Thị Thu Hường, OP chuyển ngữ

Để chúng ta thực sự lớn lên trong sự thánh thiện, nhân đức quan trọng nhất chúng ta cần phải có là đức ái – tình yêu đích thực với Thiên Chúa và với người lân cận.  Nhưng bên cạnh đức ái – nhân đức đối thần – chúng ta còn phải có nhân đức khiêm nhường.  Theo một nghĩa nào đó, đức ái và khiêm nhường là hai trụ cột hay đá tảng cho người thực sự muốn theo đuổi một cuộc sống thánh thiện đích thực.

Đối với thánh nữ tiến sĩ vĩ đại của Giáo hội, tiến sĩ cầu nguyện, thánh Teresa Avila, khiêm nhường đơn giản là SỰ THẬT.  Đó là chúng ta nhận thức được chúng ta thực sự là ai theo chiều kích thiêng liêng, trong cái nhìn của Chúa, chủ thể của tất cả sự thật trên trần gian này.  Thật sự, chúng ta có một phẩm giá rất cao cả, đó là chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được biến đổi thành biểu tượng của Thiên Chúa Ba Ngôi.  Định mệnh cuộc đời chúng ta không thể diễn tả bằng lời, đó là chúng ta được hiệp nhất với các thiên thần và các thánh trên trời để ca ngợi Thiên Chúa Ba Ngôi đến muôn đời.  Tuy nhiên, việc mang tội tổ tông, có những ham muốn thú vui trần tục, và là những tội nhân cho thấy bản chất dễ sa ngã của con người.

 Thật vậy, người khiêm tốn đích thực sẽ nhận ra một cách hết sức rõ ràng rằng tất cả những điều tốt lành họ đã làm và có khả năng để làm đều là do bởi quyền năng, ân sủng và sự tốt lành của Thiên Chúa trong cuộc đời họ.  Mặt khác, người khiêm nhường thừa nhận rằng, tất cả những thất bại của họ, đặc biệt là các tội lỗi luân lý, đều là bởi họ lạm dụng các khả năng Chúa đã ban cho họ. 

Quả thực khiêm nhường là nhân đức hết sức quan trọng, nên chúng ta cần gắng luyện tập nhân đức này trong đời sống của mình; chúng ta hãy cố gắng đạt được nó và để nó đâm rễ sâu tận tâm hồn chúng ta.  Cầu mong cho lời nói, hành động, việc làm và ý hướng của chúng ta luôn thấm nhuần và thẩm thấu tinh thần khiêm nhường đích thực. 

Mẹ Maria và Chúa Giêsu là mẫu gương cho chúng ta.  Quả thực, cả Mẹ Maria và Đức Giêsu là Đấng thánh thiện nhất, người đã từng sống trên hành tinh này, nhưng cũng là người khiêm nhường nhất.  Chỉ một lần duy nhất Chúa Giêsu mô tả những đặc tính của Trái tim Cực Thánh của Người, một trái tim hiền lành và khiêm nhường.  Ước chi, lời cầu nguyện vang vọng sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta là lời cầu nguyện của sự khiêm nhường cao cả của Trái Tim Chúa Giêsu: Lạy Chúa Giêsu, Trái tim hiền lành và khiêm nhường, xin làm cho trái tim của con trở nên giống trái tim của Chúa.

 CÁC BƯỚC CHIẾN LƯỢC ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC NHÂN ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG TUYỆT VỜI 

  1. Trân trọng giá trị của khiêm nhường. Chúng ta không có thể đạt được bất cứ điều gì tốt đẹp trong cuộc sống nếu chúng ta không coi trọng những giá trị của nó.  Những kẻ keo kiệt thì tìm kiếm vàng; con tim rỗng tuếch thì thích được vinh danh; những kẻ theo chủ nghĩa khoái lạc thì đam mê nhục dục.  Tại sao?  Vì họ coi những điều tốt đẹp này là có giá trị, cho dẫu chúng là ngẫu tượng và mang giá trị sai lầm.  Chúng ta phải nhìn nhận và đánh giá sự khiêm nhường là sự quan trọng nhất trong lâu đài của sự thánh thiện và là nền tảng cho sự thánh thiện.  Nếu không thì cuộc sống theo đuổi sự thánh thiện của chúng ta sẽ bị xây trên cát và sụp đổ nhanh chóng. 
  2. Hành khất trước Thiên Chúa. Trong sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, thánh Augustine đã khẳng định rằng tất cả chúng ta đều là những kẻ hành khất trước mặt Chúa.  Chúng ta rất cần Chúa trong tất cả mọi sự; chúng ta lệ thuộc vào Ngài trong mọi việc.  Nhất là chúng ta cần Thiên Chúa để sống một đời sống nhân đức và từ bỏ tính kiêu ngạo – đối cực của sự khiêm nhường – dưới mọi dạng thức và mức độ.  Chúa Giêsu đã truyền cho chúng ta: “Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ cửa thì sẽ mở cho” (Mt 7,7). Lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào?  Lạy Chúa, xin ban cho con biết hiền lành và khiêm nhường trong lòng. 
  3. Dễ dàng trong việc linh hướng. Tất cả chúng ta đều có những góc khuất trong cuộc sống và đặc biệt là trong đời sống tâm linh.  Một vị linh hướng được đào tạo chuyên nghiệp sẽ giúp chúng ta rất nhiều trên hành trình tiến về thiên đàng. 
  4. Vâng phục trong việc linh hướng. Trong việc linh hướng, chúng ta phải khiêm nhường đủ để vâng phục vị Linh hướng, người thông ban ân sủng và chân lý của Thiên Chúa.  Không còn nghi ngờ gì nữa, một trong những dấu hiệu nổi bật về sự thánh thiện đích thực của thánh Faustina Kowalska là sự ngoan ngoãn và vâng phục của ngài trong việc linh hướng.  Nếu không có sự vâng phục thì thực sự không có sự tăng trưởng về đức khiêm nhường và sự thánh thiện cũng sẽ bị cản trở và bóp nghẹt.
  1. Chấp nhận sự sửa lỗi huynh đệ. Điều này thực sự nhức nhối, nhưng cần thiết cho sự trưởng thành thiêng liêng và sự trưởng thành trong sự khiêm nhường của chúng ta: chấp nhận sự sửa lỗi của huynh đệ.  Thông thường, do lòng kiêu hãnh bẩm sinh, khi ai đó chỉ ra điều chúng ta cần phải sửa chữa, chúng ta nổi giận, khước từ sự sửa chữa và đôi khi chúng ta phản ứng lại bằng sự tấn công trực diện để phòng thủ.  Một cách đơn giản chúng ta chống lại việc bị chỉ ra những thiếu sót của mình bởi vì lòng kiêu hãnh của chúng ta quá lớn.  Thánh Đa Minh Saviô đã kết bạn với một cậu bé khác trong Nhà nguyện của thánh Gioan Bosco.  Savio nài xin bạn của mình phải thẳng thắn và chỉ ra cho anh những lỗi của anh để anh có thể thăng tiến trong sự thánh thiện.  Trước khi lên 15 tuổi, Savio đã đạt được điều này và đã được phong thánh. 
  2. Chấp nhận sự sỉ nhục. Có lẽ việc sẵn sàng chấp nhận những sỉ nhục giáng xuống chúng ta khó hơn việc chấp nhận việc sửa lỗi huynh đệ.  Dù muốn hay không, chúng ta cũng sẽ phải đón lấy sự sỉ nhục.  Cơ hội ngàn vàng của chúng ta chính là lúc Thiên Chúa cho phép chúng ta bị hạ nhục.  Xu hướng tự nhiên của chúng ta là trả đũa.  Trong khi đó, phản ứng của các thánh khi bị sỉ nhục là im lặng, cầu nguyện cho người chống đối, và kết hợp với sự sỉ nhục của Chúa Giêsu mà Ngài đã trải qua trong cuộc khổ nạn cay đắng, tàn nhẫn và nhục nhã của Ngài.  Không có ân sủng của Thiên Chúa thì điều này là không thể, nhưng với Thiên Chúa thì tất cả đều có thể! 
  3. Bác ái và phục vụ. Đây là một bước xoay thú vị: lòng bác ái và sự phục vụ là đường dẫn đến sự khiêm nhường.  Thực ra, mỗi khi chúng ta tự hạ mình phục vụ người khác, thực hành bác ái và yêu thương người khác, chúng ta đồng thời sẽ lớn lên trong sự khiêm nhường.  Thật ra, khi chúng ta thực thi lòng bác ái – nghĩa là thực thi tình yêu siêu nhiên đối với Thiên Chúa và người thân cận – chúng ta sẽ lớn lên về tất cả các nhân đức khác, trong đó có đức khiêm nhường.
  1. Chiêm ngắm ba chiều kích của cuộc đời Chúa Giêsu biểu lộ lòng khiêm nhường tuyệt đối của ngài

Mầu Nhiệm Nhập Thể:  Việc Chúa Giêsu, Ngôi Hai trong Thiên Chúa Ba Ngôi, thực sự đã mặc lấy xác phàm và trở thành con người, là một bước nhảy vọt lớn lao của sự hèn hạ và khiêm nhường.  Thiên Chúa làm người để chúng ta có thể trở thành con cái Thiên Chúa. 

Cuộc Khổ Nạn:  Tất cả các yếu tố và chi tiết về Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô, là Chúa và Đấng Cứu Độ chúng ta, đều biểu lộ một sự khiêm nhường lạ lùng và đặc biệt.  Tuy nhiên, một cách đơn giản bạn có thể chiêm ngắm mầu nhiệm thứ ba mùa thương “Chúa Giêsu đội mão gai” của Kinh Mân Côi.  Những lời nhạo báng, mỉa mai và lăng mạ, bị bịt mắt, đánh đập, giật râu, bị khạc nhổ vào mặt, và quan trọng nhất là Ngài phải đội vòng gai nhọn sắc.  Đón nhật tất cả những điều này, tiên tri Isaia đã nói, Đức Giêsu như con chiên hiền lành, im lặng bị dẫn đến lò sát sinh.  Bằng việc suy niệm về Cuộc Khổ Nạn của Đức Giêsu Kitô, sự kiêu ngạo của chúng ta sẽ rơi xuống vực sâu. 

Chúa Giêsu trong Thánh lễ và hiện diện trong Bí tích Thánh Thể.  Rất nhiều người Công giáo thậm chí thờ ơ đối với việc tham dự Thánh lễ Chúa Nhật.  Nhiều người không biết quý trọng Thánh lễ.  Vẫn có những người tiếp nhận Chúa Giêsu trong tình trạng tội trọng và vì thế họ đóng đinh Chúa một lần nữa.  Nói chung, Chúa Giêsu hiện diện trong Nhà Tạm đã bị lãng quên, bị bỏ rơi, cô độc trên khắp thế giới.  Tất cả những điều trên là nguồn gốc những sỉ nhục nhức nhối và đau đớn của Chúa Giêsu, Chúa các Chúa, Vua các Vua, người yêu vĩ đại nhất của những người yêu. 

  1. Nhận thức về tội lỗi quá khứ và lòng thương xót của Chúa. Khi chúng ta bị cám dỗ được nâng cao trong sự kiêu ngạo của mình, việc nhớ lại nhiều lần chúng ta đã phạm tội xúc phạm đến Chúa Giêsu và sự xấu hổ đằng sau những hành động này.  Thật vậy, việc này có thể giúp chúng ta khiêm tốn nếu không muốn nói là rất khiêm tốn. 
  2. Mẹ Maria, mẫu gương thánh thiện và khiêm nhường.  Từ trước đến nay, trong số tất cả các tạo vật của Thiên Chúa, Mẹ Maria là người vĩ đại nhất.  Nhưng Mẹ cũng là người khiêm tốn nhất trong số những người phụ nữ.  Những lời thân thưa của Mẹ thể hiện sự khiêm nhường tuyệt vời nơi Mẹ: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa…  Linh hồn tôi vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi vì Ngài đã nhìn đến phận hèn của tôi tớ Ngài… Người bảo gì hãy làm theo….”  Những câu nói này của Mẹ Maria được ghi lại trong Kinh Thánh làm nổi bật sự thánh thiện của Đức Maria, đặc biệt là sự khiêm nhường của Mẹ. 

Cuối cùng, một trong những cách hữu hiệu nhất giúp chúng ta có thể lớn lên trong sự khiêm nhường đó là rước Chúa Giêsu Thánh Thể với sự chuẩn bị tốt nhất.  Khi đón nhận Chúa Thánh Thể, với lòng nhiệt tình và đức tin mạnh mẽ, chúng ta hãy cầu xin Ngài ban cho chúng ta trái tim của Ngài: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin hãy làm cho trái tim con giống trái tim Chúa.”  Đây thực sự là lối tắt dẫn đến sự thánh thiện và lòng khiêm nhường sâu sắc của tâm hồn. 

Ed Broom, OMV – 

Sr. Têraêsa Mai Thị Thu Hường, OP chuyển ngữ
Nguồn: catholicexchange


 

Ý NGHĨA CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI – Dược sĩ Thoa 

Dược sĩ Thoa 

 Ý NGHĨA CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI

Có một giai đoạn trong đời, con người ta bắt đầu sống chậm lại…

Và tự hỏi:

“Mình sống đến giờ để làm gì?”

Hồi trẻ, đa số chúng ta thường chỉ nghĩ:

  • làm sao kiếm được nhiều tiền hơn
  • mua được nhà
  • lo cho con cái
  • có cuộc sống ổn định

Ngày nào cũng quay cuồng với cơm áo gạo tiền.

Sáng mở mắt lo công việc.

Tối mệt quá ngủ thiếp đi.

Rồi tháng này qua tháng khác.

Cho đến một ngày:

Cơ thể bắt đầu đau.

Ngủ không ngon.

Huyết áp tăng.

Đường huyết tăng.

Mỡ máu cao.

Bạn bè bắt đầu có người nằm viện.

Có người đột quỵ.

Có người ung thư.

Có người vừa mới còn nói chuyện hôm trước… hôm sau đã không còn nữa.

Lúc đó con người mới giật mình:

Hóa ra cuộc đời không dài như mình nghĩ.

Và cũng từ đó, nhiều cô chú anh chị bắt đầu nhận ra:

Sống không chỉ là tồn tại.

Nếu chỉ sống để ăn, để kiếm tiền rồi cuối cùng kiệt sức, bệnh tật, gia đình căng thẳng…

Thì nhiều khi đến cuối đời vẫn thấy trống rỗng.

Dược sĩ Thoa gặp nhiều người rất giàu.

Nhà đẹp.

Xe đẹp.

Ra ngoài ai cũng nể.

Nhưng đêm về mất ngủ nhiều năm.

Ăn uống kiêng đủ thứ.

Tinh thần lúc nào cũng áp lực.

Con cái xa cách.

Gia đình không hạnh phúc.

Nhưng cũng có những cô chú:

Sống rất giản dị thôi.

Không quá giàu.

Nhưng khỏe mạnh.

Ngủ ngon.

Gia đình yên ấm.

Con cái hiếu thảo.

Ra đường ai cũng quý.

Đến lúc đó mới hiểu:

Một đời người thành công không phải chỉ đo bằng tiền.

Mà còn đo bằng:

  • mình sống có bình an không
  • khỏe mạnh không
  • người thương không
  • có ai nhớ tới mình bằng sự tử tế không

Có người cả đời chỉ chăm chăm kiếm tiền…

Nhưng quên mất cha mẹ đang già đi từng ngày.

Đến lúc cha mẹ bệnh mới hối hận:

“Ngày xưa giá như mình dành thời gian nhiều hơn.”

Có người trẻ khỏe không chịu chăm cơ thể.

Thức khuya.

Ăn uống thất thường.

Stress kéo dài.

Cho rằng sức khỏe là chuyện của tương lai.

Đến khi bệnh rồi mới bắt đầu cuống cuồng tìm mọi cách chữa trị.

Cho nên càng lớn Dược sĩ Thoa càng thấy:

Ý nghĩa thật sự của một đời người…

Có lẽ không phải là mình sở hữu bao nhiêu.

Mà là:

Mình đã sống thế nào.

Mình có tử tế với cha mẹ không.

Có chăm lo cho sức khỏe không.

Có sống đàng hoàng với gia đình không.

Có để lại điều gì tốt đẹp cho con cái không.

Nhiều cha mẹ cứ hỏi:

“Để lại gì cho con mới là quý?”

Thật ra thứ con cái nhìn nhiều nhất không phải tài sản…

Mà là cách cha mẹ sống.

Nếu cha mẹ:

  • sống tử tế
  • biết yêu thương
  • biết cố gắng
  • biết vượt khó
  • biết giữ sức khỏe
  • biết đối nhân xử thế

…thì đó đã là món tài sản rất lớn cho con rồi.

Vì trẻ con không học bằng tai.

Mà học bằng mắt.

Cuộc đời cuối cùng rồi ai cũng già đi.

Tiền nhiều tới đâu cũng không mang theo được.

Nhưng:

Một người sống tử tế…

Một người biết yêu thương…

Một người biết giúp đỡ người khác…

Một người để lại sự bình an cho gia đình…

…thì khi nhìn lại, cuộc đời đó đã rất có ý nghĩa rồi.

Có khi đến một độ tuổi nào đó…

Con người ta mới nhận ra:

Cha mẹ già đi nhanh hơn mình nghĩ.

Sức khỏe mất đi nhanh hơn mình tưởng.

Và thời gian để yêu thương cũng không còn nhiều như trước.

Nếu bài viết này khiến cô chú anh chị suy nghĩ về cuộc đời mình…

Hãy chia sẻ để người thân mình đọc được khi vẫn còn kịp.

Đọc xong bài này, điều cô chú anh chị thấy “đáng giá nhất” ở tuổi hiện tại là gì?

  • Sức khỏe
  • Gia đình
  • Bình an
  • Nội lực
  • Tiền bạc
  • Hay một điều khác?

Một câu trả lời của cô chú có thể khiến rất nhiều người khác thức tỉnh.

Dược sĩ Thoa

#BữaThôTáiSinh #DsThoaĐồngHành #ĂnĐúngSốngKhỏe 


 

VINH QUANG MANG DẤU ĐINH – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh Con Cha!”.

“Không vị thánh nào chọn đau khổ; họ chọn ý muốn của Thiên Chúa, cho dù điều đó có nghĩa là đau khổ!” – Oswald Chambers.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Chúa Giêsu không chọn đau khổ, Ngài chọn ý muốn của Cha. Và từ đó, thập giá trở thành ‘vinh quang mang dấu đinh’.

Với Gioan, Chúa Giêsu không bao giờ gọi thập giá là thất bại; ngược lại, Ngài gọi đó là “giờ tôn vinh”. Doxa – “vinh quang” trong tiếng Hy Lạp – nơi Gioan không diễn tả quyền lực hay chiến thắng theo kiểu thế gian, nhưng là lúc tình yêu Thiên Chúa được tỏ bày trọn vẹn nhất. Vì thế, chính khi bị treo lên thập giá, Chúa Giêsu mới thật sự được “nâng lên”; và chính từ những dấu đinh ấy, vinh quang Thiên Chúa bắt đầu chiếu sáng. Với Hans Urs von Balthasar, chính nơi sự tự huỷ và vâng phục đến cùng của Đức Kitô mà vinh quang Thiên Chúa được mặc khải trọn vẹn nhất.

Thế nhưng, thế gian luôn sợ một thứ ‘vinh quang mang dấu đinh’. Con người thích một Thiên Chúa chiến thắng hơn là một Thiên Chúa chịu chết; thích ánh hào quang hơn những vết thương. Vì thế, thập giá vẫn là điều xúc phạm với lý trí và khó chấp nhận với lòng người. Nhưng chính nơi bị lột trần mọi quyền lực, thập giá mặc khải khuôn mặt thật của Thiên Chúa: không thống trị bằng sức mạnh, nhưng cứu độ bằng tình yêu. Vinh quang không có dấu đinh chỉ là thứ trang sức rẻ tiền của thế gian! Có lẽ vì thế, chỉ ai dám yêu đến đau mới bắt đầu hiểu thế nào là vinh quang của thập giá.

Phaolô đã hiểu thứ ‘vinh quang mang dấu đinh’ đó khi ông để mình “bị Thần Khí trói buộc” mà tiến về Giêrusalem – bài đọc một. Ông biết xiềng xích và gian truân đang chờ mình, nhưng vẫn bước đi. Bởi lẽ, với Phaolô, điều quan trọng không còn là bảo vệ bản thân, nhưng là hoàn tất ý muốn của Thiên Chúa. Hành trình của người môn đệ chưa bao giờ là một cuộc dạo chơi trong vinh quang trần thế, nhưng là sự can đảm bước vào bóng tối để làm chứng cho Ánh Sáng. Vì thế, đệ tử của một Thiên Chúa chịu đóng đinh không thể đi tìm một ngai vàng để trị vì. Và khi một con người dám yêu Chúa lớn hơn sự an toàn của mình, thập giá bắt đầu trở thành lời ca tụng. Có lẽ vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới có thể reo lên, “Vương quốc trần gian, nào hát khen Thượng Đế!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô hiểu rằng, giờ tôn vinh Chúa Cha không phải là lúc Ngài thoát khỏi thập giá, nhưng là lúc Ngài yêu và vâng phục đến cùng trên thập giá. Vì thế, nơi Ngài, đau khổ không còn là nơi Thiên Chúa vắng mặt, nhưng là nơi tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ mạnh mẽ nhất. Và có lẽ, mỗi khi chúng ta dám chọn ý Chúa hơn ý mình, dám yêu hơn giữ mình an toàn, đời chúng ta cũng bắt đầu mang lấy một ‘vinh quang mang dấu đinh’. Thà mang vết sẹo cùng Đức Kitô, còn hơn mang vương miện cùng thế gian! “Chiều xuống của đời người, chúng ta sẽ bị xét xử chỉ bởi tình yêu!” – Gioan Thánh Giá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cứu con khỏi thứ vinh quang giá rẻ; dạy con yêu đến quên mình; và cho thập giá đời con cũng biết trổ sinh vinh quang Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần VII Phục Sinh

Lạy Cha, xin Cha tôn vinh Con Cha.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 17,1-11a

1 Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha, giờ đã đến ! Xin Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha. 2 Thật vậy, Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người. 3 Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô.

4 “Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm. 5 Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha : xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian. 6 Những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban cho con, con đã cho họ biết danh Cha. Họ thuộc về Cha, Cha đã ban họ cho con, và họ đã tuân giữ lời Cha. 7 Giờ đây, họ biết rằng tất cả những gì Cha ban cho con đều do bởi Cha, 8 vì con đã ban cho họ lời mà Cha đã ban cho con ; họ đã nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin là Cha đã sai con.

9 “Con cầu nguyện cho họ. Con không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con, bởi vì họ thuộc về Cha. 10 Tất cả những gì con có đều là của Cha, tất cả những gì Cha có đều là của con ; và con được tôn vinh nơi họ. 11a Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian ; phần con, con đến cùng Cha.”


 

Người ta có trách nhiệm về mọi việc mình làm không?- Cha Vương

Chúc bình an nhé, xin Chúa chúc lành và gìn giữ bạn luôn mãi nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 18/5/2026  (t3-21-24)

GIÁO LÝ: Người ta có trách nhiệm về mọi việc mình làm không?

Người ta có trách nhiệm về mọi việc mình làm khi người ta có ý thức, có tự do và có ý muốn. (YouCat, số 288)

SUY NIỆM: –Người ta không thể (hoàn toàn) quy trách nhiệm về hành vi của một người nếu họ bị bó buộc làm, vì sợ, vì không biết, vì ma túy, hoặc do thói quen xấu. Càng biết việc tốt, càng tập luyện để hoàn thành việc tốt, người ta càng tránh xa không làm nô lệ của tội lỗi (Rm 6,17; 1Cr 7,22). Thiên Chúa mơ ước những người tự do cảm thấy mình có trách nhiệm về mình, về người thân cận mình và về cả trái đất. Nhưng tất cả lòng thương xót Chúa cũng quan tâm tới những người bị lệ thuộc, hàng ngày người đề nghị với họ tự giải thoát mình và bước đi tới tự do. (YouCat, số  t.t.)

❦ Con đường dẫn tới mục đích, bắt đầu khi bạn đảm nhận trách nhiệm hoàn toàn về các hành vi của bạn. (Dante Alighieri, 1265-1321, triết gia, thi sĩ Ý)

LẮNG NGHE: Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ. (Dt 4:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong đời sống có những lần con đã bỏ chạy và trốn tránh trách nhiệm với nhau để cứu thân mình, xin giúp con biết ý thức những việc con làm mà đảm nhận trách nhiệm hoàn toàn về các hành vi của con.

THỰC HÀNH: Tích cực hơn về việc chia sẻ trách nhiệm hằng ngày với nhau trong gia đình bạn.

From: Do Dzung

**************************************

TỰ TÌNH – NGUYỄN HỒNG ÂN – Sáng tác: Sr. M. Tigon 

THIÊN CHÚA LUÔN LÀ NGƯỜI LẠ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói!” – bài đọc một.

“Đức tin là tác động của Thiên Chúa, soi sáng tâm trí và niêm phong trái tim! Con đường phía trước luôn bất ngờ. Nó là quà tặng đơn thuần của Ngài!” – Jacobus Arminius.

Kính thưa Anh Chị em,

Nếu con đường đức tin luôn bất ngờ, thì có lẽ bởi Thiên Chúa không bao giờ là Đấng con người có thể hiểu hết. Càng bước theo Ngài, chúng ta càng nhận ra: ‘Thiên Chúa luôn là người lạ’.

Thực trạng đức tin của các tín hữu Êphêsô thật đáng suy nghĩ: họ tin Chúa, nhưng không biết Chúa Thánh Thần. Thật ra, điều ấy cũng có thể là thực trạng của nhiều người. Chúng ta biết nhiều điều về Chúa, nhưng chưa chắc đã thật sự để Ngài dẫn đi. Có lẽ vì “pneuma” – Thần Khí – cũng có nghĩa là gió; mà gió thì không ai giữ, càng không ai điều khiển được. Thiên Chúa luôn lớn hơn điều con người tưởng mình đã biết về Ngài.

Với bài Tin Mừng, các môn đệ tưởng mình đã hiểu Chúa Giêsu. “Giờ đây, chúng con nhận ra là Thầy biết hết mọi sự… chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến!” – một tuyên bố tự tin, nhưng cũng non trẻ. Chúa Giêsu phá vỡ ảo tưởng ấy: “Anh em sẽ bị phân tán mỗi người một ngả!”. Đó luôn là nghịch lý của đời sống đức tin: càng tưởng đã nắm được Thiên Chúa, con người càng đánh mất Ngài. Karl Rahner từng nói, “Thiên Chúa không phải là một đối tượng để sở hữu, nhưng là một mầu nhiệm để con người mãi mãi bước vào!”. Vì thế, ‘Thiên Chúa luôn là người lạ’: càng đến gần, Ngài càng mở ra những chiều sâu chưa ai chạm tới. Đóng khung Thiên Chúa vào lý thuyết là cách nhanh nhất để khai tử mầu nhiệm!

Thật ra, điều đáng sợ nhất không phải là không biết Thiên Chúa, nhưng là tưởng mình đã biết Ngài quá rõ. Một đức tin không còn ngạc nhiên rất dễ trở thành một đức tin đang chết. Giáo đoàn Êphêsô không biết Chúa Thánh Thần; các môn đệ lại quá tự tin về Thầy. Một bên thiếu, một bên tưởng đã đủ; nhưng cả hai đều cần được dẫn vào một cuộc gặp gỡ sâu hơn. Đó là cách Thiên Chúa hành động: phá vỡ những hình ảnh cũ về chính Ngài để kéo con người ra khỏi một đức tin quen thuộc, an toàn và khép kín. “Mỗi lần tôi nghĩ mình đã hiểu Thiên Chúa, đó thường là lúc tôi bắt đầu đánh mất Ngài!” – Meister Eckhart.

Anh Chị em,

Với Đức Kitô, Chúa Cha không bao giờ là “người lạ”, vì giữa Ngài với Cha luôn có một sự hiệp thông trọn vẹn của tình yêu, ngay cả trong bóng tối thập giá. Chính nơi tưởng như bị bỏ rơi nhất, Ngài vẫn thưa, “Con phó linh hồn con trong tay Cha!”. Còn với chúng ta, ‘Thiên Chúa luôn là người lạ’, bởi chúng ta quên rằng, đức tin không phải là chiếm hữu Thiên Chúa, nhưng là để Ngài dẫn mình đi vào những điều luôn lớn hơn mình. Đức Giêsu không cần chúng ta thấu suốt Ngài, nhưng cần chúng ta bước theo Ngài. Bởi lẽ, một đức tin an toàn thường là một đức tin đang hấp hối. Søren Kierkegaard từng bông đùa: đức tin nhìn thấy rõ nhất trong bóng tối!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để đức tin con trở nên cũ kỹ; đừng để trái tim con thôi ngỡ ngàng; và đừng để con sợ những bất ngờ của Chúa Thánh Thần!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần VII Phục Sinh

Can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 16,29-33

29 Khi ấy, các môn đệ thưa với Đức Giê-su rằng : “Bây giờ Thầy nói rõ, chứ không còn dùng dụ ngôn nào nữa. 30 Giờ đây, chúng con nhận ra là Thầy biết hết mọi sự, và Thầy không cần phải có ai hỏi Thầy. Vì thế, chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến.” 31 Đức Giê-su đáp : “Bây giờ anh em tin à ? 32 Này đến giờ -và giờ ấy đã đến rồi- anh em sẽ bị phân tán mỗi người một ngả và để Thầy cô độc một mình. Nhưng Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy. 33 Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian.” 


 

 Đức Thánh Cha Lêô XIV: Đừng để AI làm lu mờ tiếng nói và phẩm giá con người

Tin Mừng Cho Người Nghèo

 Đức Thánh Cha Lêô XIV: Đừng để AI làm lu mờ tiếng nói và phẩm giá con người

Nhân Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội của Giáo Hội Công Giáo, Đức Thánh Cha Lêô XIV kêu gọi nhân loại đừng bao giờ để công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), che khuất, khai thác hay bóp nghẹt tiếng nói, nhu cầu, tri thức, tài năng, sự sáng tạo và khả năng tư duy phản biện của con người.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng câu hỏi thật sự không phải là “máy móc có thể hay sẽ làm được gì”, nhưng là “chúng ta có thể và sẽ đạt được điều gì khi trưởng thành hơn trong nhân tính và tri thức nhờ sử dụng khôn ngoan những công cụ mạnh mẽ đang phục vụ chúng ta.”

Ngài cảnh báo về nguy cơ để công nghệ lấn át khả năng sáng tạo, trí tưởng tượng và trí tuệ của con người. Theo Đức Thánh Cha, nếu điều đó xảy ra, “chúng ta sẽ chôn vùi những nén bạc Thiên Chúa đã ban để giúp mình trưởng thành trong tương quan với Chúa và với tha nhân. Điều đó cũng có nghĩa là che giấu khuôn mặt và làm im lặng tiếng nói của chính mình.”

Đức Thánh Cha đặc biệt lưu ý rằng các thuật toán mạng xã hội vốn được thiết kế để tối đa hóa sự tương tác có thể nhốt con người trong những “bong bóng” của sự đồng thuận dễ dãi và cơn giận dữ tập thể. Điều này làm suy yếu khả năng lắng nghe và suy nghĩ cách phản biện, đồng thời gia tăng sự phân cực trong xã hội.

Ngài cũng cảnh báo về việc quá ngây thơ và thiếu phê phán khi đặt niềm tin tuyệt đối vào AI như một “người bạn toàn tri”, một “kho lưu trữ mọi ký ức” hay một “nhà tiên tri cho mọi lời khuyên”. Theo Đức Thánh Cha, điều đó có thể khiến con người ngày càng đánh mất khả năng hiểu đúng ý nghĩa của sự vật cũng như khả năng suy nghĩ phân tích và sáng tạo.

Đức Thánh Cha khẳng định rằng thách đố lớn nhất hiện nay “không phải là vấn đề công nghệ, mà là vấn đề nhân học”. Bảo vệ khuôn mặt và tiếng nói con người cuối cùng chính là bảo vệ chính chúng ta.

Tuy nhiên, ngài cũng nhìn nhận nhân loại có thể đón nhận những cơ hội mà công nghệ kỹ thuật số và AI mang lại “với lòng can đảm, quyết tâm và sự phân định”, miễn là không che giấu hay phớt lờ những vấn đề, nguy cơ và hệ lụy mà chúng có thể gây ra.

Theo Đức Thánh Cha, cốt lõi của vấn đề nằm ở cám dỗ của con người muốn thụ động hưởng lợi từ tri thức mà không thực sự tham gia vào tiến trình công nghệ, không chịu nghiên cứu, cũng không ý thức trách nhiệm đối với việc sử dụng những công cụ ấy.

Catholic News Service 


 

KHÔNG AI NGHÈO 3 HỌ, KHÔNG AI KHÓ 3 ĐỜI!!!

Xuyên Sơn

 KHÔNG AI NGHÈO 3 HỌ, KHÔNG AI KHÓ 3 ĐỜI!!!

Nếu bạn nợ ngân hàng 1 tỉ thì bạn sợ ngân hàng.

Nhưng nếu bạn nợ ngân hàng 10 tỉ thì ngân hàng sẽ phải sợ bạn.

Bán thân 1 đêm vài trăm nghìn, người ta gọi bạn là gái gọi là cave, nhưng bán thân 1 đêm vài nghìn đô, người ta gọi bạn là kiều nữ.

Bạn bán đất được 1-2 nền người ta gọi bạn là cò đất, còn nếu bạn bán hơn trăm lô, người ta gọi bạn là doanh nhân, đại gia bất động sản.

Nếu bạn quảng cáo bán hàng online thì bị người ta ghét, xem thường và đôi lúc xem bạn là kẻ lừa đảo nhưng khi bạn bán được 100 đơn hàng/ngày thì người ta lại ngưỡng mộ và gọi bạn là nhà phân phối.

Bạn làm mướn 200k/ngày, chơi bài thua vài trăm ngàn thì bị người ta nói là nghèo mà bày đặt cờ bạc, nhưng bạn làm 20 triệu/ngày, chơi thua vài triệu đồng, người ta nói bạn là chơi giải trí cho vui.

Lúc chưa thành công hay không có tiền trong tay, bạn nói cả ngày thì bị xem là chém gió, nghèo mà bày đặt lý lẽ.

Đến lúc thành công, có tiền bạc trong tay rồi thì 1 câu nói của bạn cũng là triết lý, dù bạn có nói sai thì người nghe cũng khăng khăng cho là đúng.

Khi bạn giàu có cho dù họ hàng đại bác bắn không tới cũng qua nhận người thân, đi tới đâu cũng được hoan nghênh chào đón.

Nhưng khi bạn nghèo khó dù có ruột thịt thế nào họ cũng xem bạn như người xa lạ.

Trong đời phải có nghèo một lần và giàu một lần mới biết ai là bạn ai là bè.

Ở đời nhiều cái lắm cái ngược.

-(st)-