XIN CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC KHÓC…

Giáo Phận Bắc Ninh 

XIN CHO CHÚNG TÔI ĐƯỢC KHÓC…

Tôi ngồi một mình – giữa lòng nhà thờ.

2h chiều – không một bóng người.

Sự trầm mặc, đau thương phủ kín ngôi nhà thờ to lớn, trong những ngày đầy cơ cực.

Tiếng xe chuyển đồ, những lời mặc cả bán mua thi thoảng hắt vào qua ô cửa sổ. Như ngàn vạn sự giày xéo tan nát xứ Đạo này…

Năm  1883,  đức cha Antonio Colomer Lễ đứng giữa xứ Đạo này đọc vang sắc lệnh của Toà Thánh, thành lập Hạt đại diện Tông toà Bắc Đàng Ngoài (Giáo phận Bắc Ninh).

Năm đó, Toà Giám mục đặt ở Tử Nê.

Năm đó, tiểu chủng viện đặt ở Tử Nê.

Năm đó, đức cha Lễ nhận Tử Nê là quê hương thứ 2 tại Việt Nam…

Và cũng năm đó, chắc chắn tổ tiên chúng tôi dù có giàu trí tưởng tượng thế nào, cũng không tưởng tượng được rằng một ngày nào đó con cháu mình sẽ phải rời bỏ quê cha đất tổ để hi sinh vì lợi ích chung.

Chúng tôi đồng thuận với dự án. Ủng hộ sự phát triển cho đất nước trong kỷ nguyên vươn mình.

Nhưng…

Hỡi ôi, chữ nhưng đầy đau đớn…

Giữa những lúc khó khăn này. Chúng tôi lại chẳng được khóc cho những điều đang tới.

Đâu đó người ta từng nói: tiếng khóc là sự chống cự cuối cùng của con người khi đến tận cùng số phận.

Nhưng không ai (có quyền) được khóc.(!)

Phải gượng cười, phải bình thường như những ngày bình yên xưa cũ. Khi mà:

Đi long đong cả vài ngày ngoài đường chẳng thuê nổi một nhà tạm trú, vì giá nhà đã quá cao, từ 10-15tr/tháng mà một gia đình không thể gánh gồng được. Khi mà hỗ trợ thuê nhà là 1tr5/tháng/người. Một gia đình bình thường 2 vợ chồng và 2 con chỉ vỏn vẹn 6 triệu. Số tiền 4-9 triệu còn lại ai sẽ chịu?

Tái định cư vẫn chưa thành hình, mà lịch bàn giao nhà và bàn giao tái định cư thì đã sát gần. Chúng tôi mới chỉ thấy những cánh đồng lấp đầy bằng đất. Điện, đường, nước…những thứ cơ bản cho 1 khu tái định cư vẫn là cái gì đó mịt mù chưa rõ ràng, chưa định hình.(!?)

Số tiền đền bù cầm về, khi ra tái định cư, sau khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính để được cấp đất thì chẳng còn đáng bao nhiêu để xây dựng lại một ngôi nhà y như ngồi nhà cũ. Chưa một lần chúng tôi dám đòi hỏi đền bù cao hơn, chúng tôi chỉ cần sự công bằng.

Kế sinh nhai rồi sẽ ra sao?

Câu hỏi mông lung khó trả lời nhất.

Ruộng chẳng còn, đất thì chỉ đủ xây nhà, cái đơn giản nhất là trồng mớ rau bán qua ngày cũng không thể. Những ông bà, cô chú đã 40-50 tuổi không bằng cấp, không nghề nghiệp cụ thể rồi sẽ mất bao lâu để tìm, để học, và liệu có tìm có học được một nghề gì mới để tự nuôi sống chính mình?!.

Vậy mà lại chẳng được khóc.

Vì nếu khóc. Nước mắt đó ai lau?

Phải ra đi.

Phải thiệt thòi.

Phải xoay sở trong lúc tình người ít ỏi.

Tôi nhìn thấy 400 năm của xứ đạo này như chạy như 1 cuốn phim cực nhanh trong đầu. Thấy bao vất vả hi sinh của cha, ông đã qua để xây dựng mảnh đất này.

Kính lạy những bậc Cha, Ông đã xây dựng mảnh đất này. Xin thứ tha bao điều lỗi phạm nếu chúng con đã làm gì sai. Xin chuyển cầu cùng Chúa cho chúng con ơn sức mạnh để dân làng vượt qua được biến cố này cách bình an…

Tôi nhìn lên Thánh giá Chúa.

Trong im lặng, thầm cầu nguyện: Lạy Chúa, xưa trong vườn cây dầu. Trước khi bước vào cuộc thương khó. Chúa lo buồn đổ mồ hôi máu. Xin cho chúng con “được khóc” để nguôi ngoai trong lòng bao tủi hờn…

….Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ

  Nhưng cứu chúng con cho khỏi (mọi) sự dữ… Amen!

Người Tử Nê

#gpbacninh #sanbaygiabinh


 

Khi sự thật của người dân bị gọi là xuyên tạc..

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

Khi Hà Nội còn trong khói lửa, người dân không tiếc máu xương. Họ chiến đấu, họ hy sinh, họ bảo vệ từng con phố, từng góc nhà. Đảng gọi, họ đi. Không hỏi nhiều, không đòi hỏi gì.

Rồi đất nước thống nhất, họ trở về, cúi đầu lao động, đóng thuế, nuôi bộ máy. Cũng không hỏi nhiều, cũng không đòi hỏi gì.

Nhưng đến khi mảnh đất của họ lọt vào tầm ngắm quy hoạch, câu chuyện đổi chiều hoàn toàn. Họ không còn là nhân dân nữa. Họ trở thành đối tượng cưỡng chế, thành kẻ xuyên tạc, thành mối đe dọa an ninh trật tự.

Báo Công an Hà Nội viết rằng bên cạnh đa số người dân đồng thuận và chấp hành, vẫn còn một số cá nhân lợi dụng tình hình để xuyên tạc thông tin, kích động tâm lý bức xúc, kêu gọi căng băng rôn, tụ tập đông người, khiếu kiện vượt cấp.

Đọc đoạn đó, người ta cần hỏi thêm một câu: những người bị gọi là kích động bức xúc đó đang bức xúc về chuyện gì?

Họ đang bức xúc vì nhà của họ sắp bị giải tỏa. Vì đền bù không thỏa đáng. Vì sinh kế chưa được đảm bảo. Vì tương lai sau giải tỏa mù mịt không ai giải thích rõ ràng.

Đó không phải là bức xúc được kích động từ bên ngoài. Đó là bức xúc nảy sinh từ chính cuộc sống của họ, từ chính mảnh đất mà họ đang đứng trên đó.

Tuyên giáo chỉ đạo lên bài cảnh tỉnh bà con trước luận điệu xuyên tạc.

Nhưng cái gì là xuyên tạc ở đây? Người dân nói rằng đền bù quá thấp, đó là xuyên tạc hay là sự thật mà họ đang sống? Người dân nói rằng chưa biết sau giải tỏa sẽ ra sao, đó là kích động hay là nỗi lo chính đáng của bất kỳ ai mất đi chỗ ở và sinh kế?

Khi sự thật của người dân bị gọi là xuyên tạc, và nỗi lo của họ bị gọi là kích động, thì ngôn ngữ đang được dùng không phải để phản ánh thực tế mà để che giấu nó.

Có một vòng tròn rất buồn trong câu chuyện này.

Ngày xưa Đảng cần dân, dân hy sinh. Lớn lên Đảng cần tiền, dân đóng thuế. Bây giờ Đảng cần đất, dân phải nhường. Đổi lại, dân nhận được một khoản đền bù không đủ bắt đầu lại, một tương lai không ai đảm bảo, và thêm một danh hiệu mới: đối tượng chống phá.

Ngàn lần được gọi là nhân dân anh hùng, nhưng chỉ cần một lần cản trở quyền lợi của người nắm quyền, tất cả những danh hiệu đó tan biến.

Điều người dân đang nhận ra, có lẽ muộn hơn họ muốn, là giá trị của họ trong mắt bộ máy này được tính theo từng giai đoạn.

Khi cần người chiến đấu, họ là anh hùng. Khi cần người đóng thuế, họ là trụ cột. Khi cần đất để làm dự án, họ là chướng ngại vật cần được giải phóng mặt bằng.

Và khi họ dám hỏi tại sao, dám căng băng rôn đòi câu trả lời, dám không chịu im lặng trước cái tương lai mà người khác đã sắp xếp sẵn cho họ, họ trở thành đối tượng cần cảnh tỉnh, cần xử lý, cần đưa vào bài báo như một mối nguy.

Không có gì thay đổi nhanh hơn cách một chính quyền nhìn nhận người dân của mình, khi giữa hai bên xuất hiện một mảnh đất có giá trị.

Và không có gì làm người dân tỉnh ngộ nhanh hơn cái khoảnh khắc họ nhận ra rằng mọi lời ca ngợi, mọi danh hiệu, mọi khẩu hiệu về nhân dân là chủ nhân, đều có thể biến mất trong một buổi sáng khi đoàn cưỡng chế gõ cửa nhà họ.

Đảng cần tiền và lợi ích. Dân phải trả bằng mồ hôi, tài sản và đôi khi cả xương máu. Công thức đó chưa bao giờ thay đổi. Chỉ là không phải lúc nào nó cũng hiện ra rõ ràng đến vậy. 


 

Xuất khẩu lao động: Thành công kinh tế hay bằng chứng rõ ràng của sự thất bại trong nước?

Góc Nhìn Mới is with Anthony D. Nguyen.

Xuất khẩu lao động: Thành công kinh tế hay bằng chứng rõ ràng của sự thất bại trong nước?

Xuất khẩu lao động đã trở thành “cứu cánh” quen thuộc của hàng loạt nước đang phát triển. Hàng triệu người Việt cộng sản phải bỏ quê hương, xa vợ con để đi làm thuê ở Nhật, Hàn, Đài Loan hay Trung Đông.

Phía “tích cực” thì vẫn được ca ngợi như cũ: giảm áp lực thất nghiệp, mang về kiều hối, vài người về nước được tí vốn liếng với vài kỹ năng. Nghe thì hay ho.

Nhưng nhìn thẳng vào sự thật thì đau lòng hơn nhiều.

Thứ nhất, nếu trong nước lương cao, việc làm ổn, cơ hội thăng tiến rõ ràng, thì có bao nhiêu người chịu cảnh xa nhà mấy năm trời, làm những công việc chân tay vất vả, bị đối xử như lao động hạng hai ở nước ngoài? Việc hàng loạt người dân phải “bán sức” cho nước ngoài chính là minh chứng sống động cho sự chênh lệch thu nhập và chất lượng cuộc sống quá lớn.

Thứ hai, một nền kinh tế lành mạnh mà phải đẩy thế hệ trẻ khỏe mạnh, có học vấn ra nước ngoài hàng loạt để kiếm sống thì rõ ràng đang có vấn đề nghiêm trọng. Đây không phải là “thành công”, mà là lời cảnh báo đỏ về khả năng tạo việc làm chất lượng cao trong nước. Nhiều nước đang phát triển vẫn đang mắc kẹt trong cái vòng luẩn quẩn này.

Thứ ba, đừng có cố tình đánh đồng giữa “chủ động chọn cơ hội quốc tế” với “buộc phải đi vì ở nhà không còn đường nào khác”. Hầu hết lao động xuất khẩu là trường hợp thứ hai. Họ đi không phải vì quá ham muốn phiêu lưu, mà vì trong nước thiếu lựa chọn tử tế. Một đất nước thực sự phát triển phải tạo ra môi trường khiến người dân muốn ở lại, chứ không phải ép họ phải ra đi để culi.

Tóm lại, xuất khẩu lao động không phải là minh chứng cho sức mạnh kinh tế, mà phần lớn là triệu chứng của một nền kinh tế chưa đủ sức giữ chân người dân. Nó mang lại ngoại tệ, nhưng cũng đang làm hao mòn nguồn nhân lực trẻ, làm chậm quá trình công nghiệp hóa thực sự và duy trì tình trạng “lao động giá rẻ xuất khẩu”.

Mục tiêu dài hạn của một quốc gia có trách nhiệm không phải là cạnh tranh xem ai đưa được nhiều công dân ra nước ngoài hơn, mà là xây dựng một nền kinh tế đủ hấp dẫn để người dân không buộc phải ra đi mới sống nổi. Còn hiện tại, thì cứ tiếp tục tự vỗ vai “thành công” kiểu này, thì cũng chỉ là tự an ủi bản thân mà thôi.

#BBCTiengViet #viralreelschallenge #viralreels #NguyenVanDai #thoibaode #ToLam #phanvangiang #leminhhung #BacNinh #GiaBinh #viettan #datdenbu #Datduanphanlo #datduan 


 

Sáng nay ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.- Lâm Tây

Dương Văn Dương

Sáng nay tôi có mặt ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ rất sớm.

Điều đập vào mắt tôi không phải là những tòa nhà lớn hay những thiết bị y tế hiện đại, mà là dòng người đông đúc đang lặng lẽ xếp hàng từ sáng tinh mơ.

Có những người đeo trên vai chiếc ba lô đã cũ. Có người kéo theo vali, túi xách lỉnh kỉnh. Nhìn cách họ chuẩn bị hành lý, tôi đoán nhiều người đã đi từ các tỉnh rất xa, bắt xe xuyên đêm để kịp đến bệnh viện khi trời còn chưa sáng.

Trên những hàng ghế đá, dưới những gốc cây, ngoài hành lang bệnh viện… nhiều người nằm co ro chợp mắt. Có người già tóc đã bạc trắng. Có người là những bệnh nhân gầy gò vì bệnh tật. Có những người con, người vợ, người chồng đang túc trực bên người thân của mình.

Bữa sáng của họ đôi khi chỉ là một ổ bánh mì, một gói xôi, một ly nước lọc mang theo từ nhà.

Không ai than vãn.

Không ai kể khổ.

Họ chỉ ngồi đó, lặng lẽ chờ đến lượt khám bệnh.

Nhìn những gương mặt mệt mỏi, lo âu và đầy hy vọng ấy, tôi bỗng thấy lòng mình nặng trĩu.

Ngoài kia, trên mạng xã hội, người ta tranh cãi về những điều rất nhỏ. Người ta hơn thua nhau từng câu nói, từng món đồ, từng chút danh lợi.

Nhưng ở đây, trong khuôn viên bệnh viện này, tôi nhận ra rằng có những người sẵn sàng đánh đổi tất cả chỉ để mua thêm một cơ hội được khỏe mạnh.

Đối với họ, hạnh phúc không phải là xe đẹp hay nhà lớn.

Hạnh phúc đơn giản chỉ là kết quả xét nghiệm tốt hơn hôm qua.

Là bác sĩ nói bệnh có thể điều trị được.

Là người thân của mình vượt qua được cơn nguy kịch.

Là được trở về nhà bình an sau những ngày dài chiến đấu với bệnh tật.

Có lẽ bệnh viện là nơi người ta nhìn thấy rõ nhất sự mong manh của kiếp người.

Nơi mà khoảng cách giữa giàu và nghèo vẫn còn đó, nhưng nỗi đau thì giống nhau.

Nơi mà ai cũng mang trong mình một câu chuyện riêng, một nỗi lo riêng, một lời cầu nguyện riêng.

Rời bệnh viện, tôi mang theo rất nhiều suy nghĩ.

Tôi thấy biết ơn vì mình còn khỏe mạnh.

Biết ơn vì những người thân yêu vẫn còn ở bên cạnh.

Và biết ơn vì cuộc sống này, dù còn nhiều khó khăn, nhưng chúng ta vẫn còn cơ hội để sống, để yêu thương và để trở về nhà mỗi ngày.

Nếu hôm nay bạn đang khỏe mạnh, xin đừng xem đó là điều hiển nhiên.

Bởi ở đâu đó ngoài kia, có rất nhiều người đang dành tất cả tiền bạc, thời gian và hy vọng chỉ để đổi lấy điều mà chúng ta đang có mỗi ngày

Lâm Tây


 

Tại sao Mỹ không tài nào thắng trong chiến tranh ? (RFI)

 (RFI)

Iran – Mỹ lại oanh kích nhau tại Trung Đông ; Ukraina tìm chiến lược mới trong cuộc chiến chống Nga ; Nắng nóng : hiện tượng bình thường mới tại Pháp và châu Âu… là những chủ đề chính được các nhật báo Pháp quan tâm ngày 10/07/2026.

Đăng ngày: 10/07/2026 

Chiến đấu cơ F-16 Fighting Falcon của Không quân Mỹ hạ cánh xuống một căn cứ ở Trung Đông trong khuôn khổ Chiến dịch “Epic Fury” chống Iran, ngày 23/03/2026. via REUTERS – US AIR FORCE

Thu Hằng

Đối với tờ Le Monde, “những vụ tấn công cho thấy Iran nghi ngờ về thỏa thuận đình chiến, đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ”. Có thể chưa đến mức trở lại chiến tranh cường độ cao tại Iran, nhưng nguy cơ này không phải là không được cộng đồng quốc tế nghĩ đến. “Dù ông Trump thất vọng đến mấy, cũng không có phương án nào khác ngoài bản ghi nhớ hợp tác hấp dẫn hơn thỏa thuận này”, theo nhận định của Ali Vazez, giám đốc dự án Iran tại tổ chức International Crisis Group.

Theo thỏa thuận khung, Iran nghiễm nhiên tự cho có quyền kiểm soát hoạt động ở eo biển Hormuz. Nhà nghiên cứu Hamidrea Azizi, Viện Stiftung Wissenschaft und Politik ở Berlin (Đức), viết trên mạng X : “Việc ký dự thảo thỏa thuận với Mỹ hay mong muốn cải thiện quan hệ với các nước Vùng Vịnh không nên được diễn giải là Iran “bật đèn xanh” cho tự do lưu thông ở eo biển, phương hại đến đòi hỏi của Iran được kiểm soát và giám sát tuyến hàng hải này”.

Căn cứ ở Vùng Vịnh, mắt xích yếu của Mỹ

Ba tầu dầu bị tấn công vì không tuân thủ đòi hỏi của Iran. Mỹ tấn công căn cứ của Cộng Hòa Hồi Giáo quanh eo biển Hormuz. Để đáp trả, Teheran oanh kích các căn cứ quân sự của Mỹ ở vùng Vịnh, đặc biệt ở Bahrain và Koweit. “Các căn cứ Mỹ ở Vùng Vịnh, một mắt xích ngày càng suy yếu trước Iran” là tiêu đề một bài nhận định của La Croix, dù những căn cứ này từng đóng vai trò răn đe và bảo vệ các đồng minh trong khu vực. Theo nhiều nguồn tin, các đợt không kích trước và sau lệnh ngừng bắn đã gây thiệt hại lớn, buộc quân đội Mỹ cân nhắc tái tổ chức lực lượng, giảm hiện diện tại Koweit và Ả Rập Xê Út, đồng thời chuyển một số cơ sở hoặc trung tâm chỉ huy đến các vị trí an toàn hơn, thậm chí sang Israel. Các nước Vùng Vịnh đang trở thành nạn nhân cho chính chiến lược đặt Mỹ vào trị trí trọng tâm trong chính sách an ninh của họ.

Vì sao Mỹ không tài nào thắng trong chiến tranh ?

Tổng thống Trump từng hứa sẽ lại giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh. Cuộc xung đột đầu tiên ông lãnh đạo,chống lại Iran càng làm tăng thêm danh sách dài các cuộc chiến tranh của Mỹ kết thúc trong bế tắc. Dù gây tổn thất đáng kể cho Iran, Washington không thể buộc Teheran đầu hàng, Mỹ chấp nhận ngừng bắn mà không đạt được mục tiêu chính trị rõ ràng. “Vì sao Mỹ không còn có thể thắng trong chiến tranh?” là câu hỏi của báo Le Figaro.

Theo các chuyên gia được Le Figaro trích dẫn, nguyên nhân thất bại không nằm ở năng lực quân sự, mà chủ yếu xuất phát từ chiến lược. Elliot Ackerman, cựu sĩ quan Thủy quân lục chiến Mỹ, cho rằng Washington thường nhầm lẫn giữa ưu thế quân sự và chiến lược. Một quân đội mạnh không bảo đảm chiến thắng nếu thiếu mục tiêu chính trị rõ ràng và kế hoạch dài hạn. Thậm chí, ông trích dẫn Tôn Tử, “chiến thuật không gắn với chiến lược sẽ dẫn đến thất bại”.

Theo ông, “các cuộc chiến ở Việt Nam, Irak, Afghanistan và Iran đều thất bại vì các nhà lãnh đạo chính trị của chúng ta nghĩ rằng họ quá mạnh đến nỗi không cần phải chiến đấu quyết liệt, rằng đối phương sẽ nhận ra sức mạnh của chúng ta và đơn giản là từ bỏ chiến đấu”. Đây là “Hội chứng Jupiter”, theo Bing West, cựu quan chức Lầu Năm Góc, có nghĩa là họ tin rằng ưu thế quân sự áp đảo sẽ tự động buộc đối phương khuất phục. Nhưng những cuộc chiến ở “Việt Nam, Afghanistan không phải thất bại trên chiến trường và là về chính trị”. Iran là ví dụ mới nhất về điểm này. Ackerman lưu ý “chế độ Iran đang tiến hành một cuộc chiến toàn diện bởi vì nếu thua, họ sẽ ngừng tồn tại”, trong khi đó, Mỹ chỉ tiến hành một cuộc chiến có giới hạn, khiến quyết tâm chính trị và quân sự không đủ để đạt được thắng lợi cuối cùng.

Cuối cùng, Le Figaro kết luận rằng những thất bại của Mỹ trong các cuộc xung đột hiện đại không phản ánh sự suy yếu về sức mạnh quân sự, mà bắt nguồn từ mục tiêu chính trị thiếu thực tế. Một số chuyên gia Mỹ cho rằng chính quyền hiện nay không thuyết phục và không huy động được người dân Mỹ ủng hộ mục tiêu chính trị đó, vì họ tự tin có quân đội xuất sắc, tổng thống dễ dàng ra lệnh can thiệp quân sự. Sự thiếu chuyên môn không bắt nguồn từ quân đội mà từ giới dân sự. Chính quyền Trump tự tin hiểu biết nhiều hơn giới chuyên gia, trong khi những người này có kiến ​​thức sâu rộng về ngoại giao, quan hệ quốc tế và trên hết là về lịch sử !


 

Quyền lực khuynh loát của ‘vua FIFA’ Gianni Infantino-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

July 8, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Hình ảnh đẹp của đội tuyển Mỹ bỗng bị vấy bẩn không phải bởi họ bị Bỉ đánh bại mà do sự kiện Trump-Infantino can thiệp luật chơi trên sân cỏ. Sự kiện càng ồn ào khi cầu thủ được “cứu,” Folarin Balogun, không thể giúp đội Mỹ lọt vào tứ kết. Điều khó có thể chấp nhận là chính Chủ Tịch FIFA Gianni Infantino là tâm điểm của toàn bộ bi kịch. Nhân vật này sẽ còn được nói đến kể cả khi World Cup 2026 kết thúc…

Chủ Tịch FIFA Gianni Infantino sánh bước cùng Tổng Thống Donald Trump tại John F. Kennedy Center, Tháng Mười Hai, 2025. (Hình minh họa: Kevin Dietsch/Getty Images)

Một chân dung thực

10 năm qua, giai đoạn cầm trịch của Infantino xảy ra vô số sóng gió với mức độ nghiêm trọng khác nhau, từ chuyện lao động nhập cư bị chèn ép khi xây dựng cơ sở hạ tầng cho World Cup 2022 tại Qatar, sự lố bịch khi trao “FIFA Hòa Bình” cho Trump, đến tổ chức một kỳ World Cup tại ba châu lục và sáu quốc gia vào năm 2030. Chưa kể chuyện giúp Saudi Arabia giành quyền đăng cai World Cup 2034.

Bất chấp tất cả, Infantino không chỉ trụ vững mà ngày càng củng cố quyền lực. Ông dễ dàng đè bẹp bất kỳ làn sóng chống đối nào trong nội bộ FIFA. Tháng Tư, khi tuyên bố tái tranh cử năm 2027, Infantino nhận được ủng hộ từ các liên đoàn túc cầu Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Họ hài lòng trước việc được chia chác từ nguồn doanh thu khổng lồ của FIFA.

Thời còn làm tổng thư ký UEFA, Infantino có vẻ ngoài khá vụng về, hiếm khi nở nụ cười, thường xuyên đưa ra nhận xét lãng xẹt trên sân khấu trong các buổi bốc thăm Champions League – như miêu tả của The New York Times. Một thập niên trước, khi loạt bê bối tham nhũng dẫn đến triều đại Sepp Blatter sụp đổ, chẳng ai nghĩ Infantino là người kế nhiệm chủ tịch FIFA. Những người từng làm việc với ông tại UEFA tỏ ra kinh ngạc trước tốc độ Infantino leo lên đỉnh cao quyền lực.

Còn được gọi là “Piccolo” (“Cậu Bé”), Gianni Infantino, đứa út trong gia đình có ba người con, sinh tại Thụy Sĩ năm 1970. Ông gặp vấn đề về sức khỏe từ khi mới chào đời. Nếu không được truyền máu cấp cứu hẳn đứa bé sơ sinh Infantino đã không qua khỏi. Bố mẹ Infantino là người Ý. Cha ông, Vincenzo, đến từ Calabria (Tây Nam nước Ý); còn mẹ ông, Maria, xuất thân từ Lombardy thuộc miền Bắc nước Ý, nơi có thủ phủ là Milan. Gia đình họ sống tại thị trấn Domodossola, dưới chân dãy Alps, trước khi dọn qua Thụy Sĩ.

Gia cảnh nghèo khó, ông Vincenzo kiếm sống bằng nghề trực tàu hỏa ca đêm. Những ngày nghỉ, Vincenzo cùng vợ kiếm thêm bằng cách bán báo và thuốc lá ở nhà ga. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Fribourg với bằng cử nhân luật, Infantino không bước vào nghề luật truyền thống mà chuyển sang lĩnh vực luật thể thao khi làm việc cho Trung Tâm Nghiên Cứu Thể Thao Quốc Tế (CIES). Sau hai năm làm việc tại CIES, năm 30 tuổi, Infantino xin vào bộ phận pháp lý UEFA. Vị thế Infantino tại UEFA thăng tiến mạnh dưới thời Chủ Tịch UEFA Michel Platini.

Khi triều đại Sepp Blatter rung lắc, Michel Platini là ứng viên số một chức chủ tịch FIFA. Tháng Chín, 2015, công tố viên Thụy Sĩ điều tra số tiền mờ ám 2 triệu franc Thụy Sĩ (khoảng $2.43 triệu) mà Platini nhận từ FIFA bốn năm trước. Tòa Thụy Sĩ sau đó xóa bỏ các cáo buộc, dù vậy, Ủy Ban Đạo Đức FIFA cấm Blatter lẫn Platini tham gia mọi hoạt động túc cầu trong vòng tám năm kể từ Tháng Mười Hai, 2015 (sau đó giảm còn sáu năm).

Khi Michel Platini “rớt đài,” sự nghiệp Infantino tưởng chừng tiêu tùng. Tuy nhiên, đó là cơ hội ngàn vàng. Infantino tuyên bố tranh cử chủ tịch FIFA. Nhiều người bất ngờ. Họ biết một Infantino “môi miếng” liếng thoắng chứ ít ai đánh giá cao ông. Nhiều người nghĩ ông chỉ là ứng viên tạm quyền trong thời gian chờ Platini minh oan bản thân.

Khi cuộc bầu cử đến gần, người ta bắt đầu thấy Infantino biến thành con người khác. Với phong cách chính trị gia chuyên nghiệp, ông đi khắp nơi, gặp gần như tất cả chủ tịch liên đoàn túc cầu có sức ảnh hưởng, nói về việc cải tổ FIFA. Ông hứa không chỉ “làm sạch” FIFA mà còn tăng khoản tiền phân bổ cho mỗi liên đoàn thành viên lên $5 triệu trong bốn năm tới.

FIFA bầu chủ tịch thông qua hình thức bỏ phiếu kín, theo nguyên tắc mỗi quốc gia một phiếu. Để vượt trội trong cuộc đua nhiều ứng viên, người thắng cuộc phải giành được hai phần ba số phiếu hợp lệ. Quy trình bỏ phiếu diễn ra nhiều vòng cho đến khi một ứng viên đạt được đa số phiếu theo quy định.

Ứng cử viên sáng giá nhất thời điểm đó là Sheikh Salman Bin Ebrahim Al Khalifa – thành viên hoàng gia Bahrain, chủ tịch Liên Đoàn Túc Cầu Châu Á (AFC), vốn được ủng hộ từ Châu Á và Châu Phi. Infantino và Al Khalifa bám đuổi sít sao trong vòng bỏ phiếu thứ nhất. Khi cuộc đua còn lại hai người, Liên Đoàn Túc Cầu Mỹ, thoạt đầu ủng hộ Hoàng Tử Ali bin Al-Hussein của Jordan, bất ngờ chuyển hướng ủng hộ Infantino ở vòng hai. Các liên đoàn Tây Bán Cầu theo chân Mỹ. Cuối cùng Infantino thắng với 115 phiếu.

Có thể đi tiếp sau 10 năm?

Tháng Hai, cột mốc 10 năm ngồi ghế “vua FIFA” của Gianni Infantino được đánh dấu bằng chiến dịch truyền thông rầm rộ. FIFA tung ra logo “Infantino 10,” cùng phim tài liệu 30 phút tôn vinh sự nghiệp Infantino do FIFA TV sản xuất.

Trong 10 năm, nhiều sóng gió xảy ra nhưng tất cả đều đến rồi đi. Infantino luôn bảo vệ thành công khung thành của mình. Mới nhậm chức chủ tịch FIFA (nhiệm kỳ một) chưa đầy một tháng, tên ông đã xuất hiện trong vụ rò rỉ tài liệu “Hồ sơ Panama” (Panama Papers), liên quan các hợp đồng bản quyền phát sóng mà ông từng ký với một công ty khi còn làm việc tại UEFA.

Vụ việc kéo dài đến tận năm 2023, cho đến khi tất cả cáo buộc bị… hủy. Tháng Mười Hai, 2025, tổ chức nhân quyền FairSquare chỉ trích Infantino “lạm quyền nghiêm trọng” trong bản kiến nghị tám trang gửi đến FIFA. Một lần nữa, Infantino không hề hấn. Không ít thành viên FIFA bênh vực ông, cho rằng, dù lạm quyền, Infantino vẫn là nhân tố mang lại nhiều thay đổi quan trọng cho làng túc cầu thế giới.

Quỹ phân bổ cho 211 liên đoàn thành viên đã tăng gấp tám trong 10 năm Infantino giữ chức chủ tịch, với $5.1 tỷ được đầu tư cho các dự án phát triển túc cầu toàn cầu. Năm 2016, FIFA ghi nhận mức doanh thu hàng năm đạt $502 triệu. FIFA dự kiến thu $9 tỷ chỉ riêng năm 2026 nhờ World Cup – mùa giải đầu tiên có sự tham gia 48 đội và được tổ chức tại ba quốc gia.

Kết hôn với một phụ nữ Lebanon, có bốn con, Infantino thông thạo bảy ngôn ngữ, trong đó có tiếng Arab, và mang ba quốc tịch (Thụy Sĩ, Ý và Lebanon). 10 năm qua, Infantino xây dựng hình ảnh không chỉ là người sống chết với sự phát triển túc cầu thế giới mà còn là một nhà ngoại giao túc cầu quốc tế ở đẳng cấp có một không hai. Ông “bay như chim,” có mặt tại các văn phòng FIFA ở New York, Miami và Zurich. Tại World Cup 2026, người ta thấy ông gần như luôn hiện diện trên khán đài.

Ông không chỉ có tài kiếm tiền cho FIFA, làm hài lòng các liên đoàn túc cầu quốc gia, mà còn nổi tiếng “khéo léo” với các nguyên thủ, từ Vladimir Putin đến Donald Trump. Không phải tự nhiên Infantino thuê văn phòng FIFA tại Trump Tower ở New York vào Tháng Bảy, 2025. Tháng Mười Hai cùng năm, tại trung tâm Kennedy ở Washington DC, Infantino trao cho Trump cái gọi là “FIFA Peace Prize.”

Trong thực tế, bản thân Infantino không khác mấy so với Trump. Ông thích khoe mẽ. Đội ngũ truyền thông FIFA được lệnh cập nhật tất cả những gì liên quan Infantino trên mạng xã hội. Bất kỳ tấm ảnh nào ông chụp với giới chính trị chóp bu phải được đăng tức thì. Mỗi khi Infantino dự khán một trận World Cup, ống kính FIFA phải chĩa vào ông ít nhất hai lần. Năm 2023, Infantino đòi cảnh sát New Zealand hộ tống và “hú còi” cho đoàn xe của mình. Yêu cầu lố bịch này bị từ chối. Tháng Tư, khi đến Vancouver (Canada) dự đại hội FIFA, Infantino cũng đòi “chế độ hộ tống cấp độ bốn,” tức cho phép vượt đèn đỏ và lập rào chặn đường. Một lần nữa, yêu cầu trên bị chủ nhà bác bỏ.

World Cup 2026, với Infantino, không hẳn là sự kiện thể thao thu hút sự chú ý số một hành tinh. Nó được xây dựng như một “di sản,” bổ sung cho bảng thành tích cá nhân của ông. Quan trọng nhất, nó là bệ phóng cho chiến dịch tranh cử 2027. Năm nay ông mới 56 tuổi. Tuy nhiên, chiến dịch tranh cử 2027 có thể bị ảnh hưởng bởi vết nhơ từ vụ Infantino chấp nhận yêu cầu Trump trong việc gỡ án thẻ đỏ cho cầu thủ Folarin Balogun. Phản ứng một số liên đoàn túc cầu thành viên, đặc biệt Liên Đoàn Túc Cầu Châu Âu (UEFA), là rất dữ dội.

Chủ tịch FIFA có nhiệm kỳ bốn năm. Theo điều lệ FIFA, một chủ tịch có thể giữ chức tối đa ba nhiệm kỳ, dù liên tiếp hay không. Với Gianni Infantino, ông được bầu lần đầu vào ngày 26 Tháng Hai, 2016; tái đắc cử năm 2019 và 2023; nhiệm kỳ hiện tại kết thúc năm 2027. Đáng lý đủ ba nhiệm kỳ thì phải ra đi nhưng Infantino tiếp tục tranh cử nhiệm kỳ 2027-2031 vì ông nói nhiệm kỳ một “coi như không tính” bởi lúc đó ông chỉ gánh vác nhiệm kỳ dang dở của Sepp Blatter.

Khó có thể hình dung Infantino thua trong chiến dịch tranh cử tới. Kỹ năng “dắt bóng” và luồn lách của ông, được tích lũy theo năm tháng, ngày càng thượng thừa. Lương của ông, tính tổng cộng (lương cơ bản, thưởng, phụ cấp), là khoảng $6 triệu. Vừa có tiền, có quyền, vừa quen biết rộng với gần như mọi nguyên thủ lẫn người nổi tiếng thế giới, ngai vàng FIFA là vị trí hấp dẫn số một hành tinh. Trong làng túc cầu, chủ tịch FIFA chẳng khác gì một kiểu “vua.” Trong lịch sử từ năm 1904 đến nay, chỉ mới có chín “vua FIFA.” Ít nhất bốn năm nữa người ta có thể vẫn tiếp tục thấy “vua Infantino” thống trị FIFA lẫn thế giới túc cầu. [kn]


 

Tuổi già được mất gì?

Khuong Nguyen

 Tuổi già được mất gì?

Nói về tuổi già người ta vẫn thường cho rằng tuổi già là “tuổi xế chiều,” chỉ toàn thấy mất mát. Nhưng đi hết một vòng đời ta mới thấy cái gì cũng như đồng tiền, phải có hai mặt. Già, là lúc ta mất nhiều, nhưng cũng được không ít.

Cái “mất” của tuổi già

Cái mất đầu tiên và rõ nhất là sức khỏe. Mắt mờ, chân chậm, đêm nằm nghe xương khớp kêu lục cục nhói đau khi trở mình. Những bậc thang ngày xưa có thể bước hai bậc một lúc, bây giờ phải vịn tay mới qua. Mất sức, kéo theo mất tự do. Muốn đi xa phải tính, muốn ăn ngon phải kiêng.

Cái mất thứ hai là vai trò trong gia đình. Ngày trước từng là cột trụ, lời nói có người nghe, đe có người sợ. Về già, con cháu lớn, chúng có thế giới riêng. Khi họp mặt gia đình, ý mình thành ý tham khảo. Từ “người quyết định” thành “người kể chuyện cũ, chuyện xưa” nghe cho vui thôi…

Cái mất thứ ba là bạn bè. Mỗi năm thưa dần một vài chỗ ngồi cà phê sáng. Đám tang nhiều hơn đám cưới. Điện thoại ít reo; danh bạ nhiều số không còn người nghe máy; “Điện thư” không có hồi âm hay bị gởi trả lại…

Cái mất sau cùng là thời gian. Biết chắc là quỹ thời gian không còn dài. Mỗi ngày qua đi mang theo một nỗi buồn man mác, không tên.  Mỗi tờ lịch xé đi là một lần thấy giật mình.

Cái “được” của tuổi già

Nhưng cũng chính ở tuổi già, ta “được” những thứ mà tuổi trẻ không có…  Chẳng  hạn:

Ta được thảnh thơi với chính mình; không còn phải gồng mình với ai. Ta chẳng cần phải “diễn.” Ta được sống thật, nói thật, làm thật.  Mệt thì nghỉ, không vui thì không làm, không gượng ép. Cái quyền “không diễn” ấy tuổi trẻ làm sao có được?

Sáng ra ta muốn dậy sớm ngắm bình minh vận động thể dục, phơi nắng; buổi chiều muốn ngủ vùi… chẳng ai phán xét.

Được hiểu mình. Lúc trẻ thì hay chạy đua theo thiên hạ; lúc già rồi mới biết mình thích chén trà ngon, thích bản nhạc xưa, thích ngồi yên không làm gì. Hiểu mình rồi, mới sống cho mình.

Được quyền nhớ và quyền quên. Nhớ chuyện năm 20 tuổi rõ như hôm qua, quên chuyện bực mình hôm kia. Nhớ dai kỷ niệm đẹp, quên nhanh hờn giận. Đó là món quà của trí nhớ già: Nó tự lọc.

Được nhìn đời bằng con mắt nhẹ nhàng, thông thoáng. Tranh hơn thua làm gì nữa, khi cuối cùng ai cũng về với đất. Thấy con cãi nhau, chỉ cười: “Ngày xưa Ba Mẹ cũng vậy.”  Thấy cháu vấp ngã, không hốt hoảng: “Đứng dậy, đi tiếp là được.”  Bình thản đó phải trả bằng cả đời mới mua nổi.

Được thương theo cách khác. Lúc trẻ thương bằng chiếm hữu, khi già thương bằng buông thả. Thương con là để nó bay, thương cháu là kể chuyện ngày xưa rồi lẳng lặng nhìn nó lớn. Không giữ, nên không mất.

Được – mất, suy cho cùng là một

Ngẫm cho kỹ, cái mất hôm nay là cái được hôm qua. Mất sức trẻ, được thời gian chiêm nghiệm. Mất vai trò cột trụ, được làm người quan sát. Mất bạn, được hiểu sự vô thường. Mất thời gian dài, được biết quý từng ngày ngắn.

Tuổi già như mùa đông. Cây rụng lá, trơ cành, trông như mất hết. Nhưng trong thân gỗ đang ủ nhựa cho mùa sau. Người già rụng đi ham muốn, rụng đi sân si, chỉ còn lõi người: Hiền, và thật.

Vậy nên, nếu phải chọn, người già đừng hỏi mình “Được gì? Mất gì?” Mà hãy hỏi: “Thứ mình mất, có đáng để đổi lấy thứ mình được hay không?”

Với nhiều người, câu trả lời là: “Đáng. Đáng lắm. Vì cuối cùng, được ‘bình yên’ trong lòng.  Đó là cái ‘được’ lớn nhất. Mà bình yên, trẻ mấy ai có.”

Tuổi già không phải đoạn kết buồn. Nó là chương cuối, viết chậm, chữ thưa, nhưng mỗi chữ đều rất đậm nét.

FB Phạm Quốc Hùng 


 

“Đừng”… và … “Nên”

Kimtrong Lam

“Đừng”… và … “Nên”

Đừng trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn

Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…Và…

người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

Đừng hứa khi đang… vui !

Đừng trả lời khi đang… nóng giận !

Đừng quyết định khi đang… buồn !

Đừng cười khi người khác… không vui !

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta

Trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi

(tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

 

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm

Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm

Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có……..

Trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng,

tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t ..

ngơ ngác với giờ.. phút ..

Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên

thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, 

 

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

Đừng lo lắng nhiều quá về con cái vì con cái có phần số của chúng

chúng sẽ tự tìm cách sống riêng.

 

Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ.

Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.

Nên bạn hãy sống cho vui vẻ.

Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

 

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và coi ai thành đạt hơn,

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.

Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.

Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thường xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

Và nhất là biết trân quý những điều tốt đẹp quanh mình và còn

BẠN BÈ … nữa.. Họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!!

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

( Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn)


 

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN.

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Sưu tầm


 

CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

 CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Bài st cũ đăng lại

Điều khiến ta kiệt sức nhất không phải đường xa diệu vợi, mà là sự phiền muộn trong lòng.

Điều khiến ta chán chường nhất không phải con đường phía trước khấp khuỷu, mà là mất đi sự tự tin.

Điều khiến ta đau khổ nhất không phải sự bất hạnh trong cuộc sống, mà là hy vọng sụp đổ.

Điều khiến ta tuyệt vọng nhất thường không phải sự thất bại, mà là linh hồn đã chết…

Cuộc đời cho ta một đôi chân, đi đến đâu đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc đời cho ta đôi tay, cầm cái gì, buông cái gì đó là là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta cái lưỡi, nói cái gì, nói lúc nào, lời hay ý đẹp hay thô tục khó nghe, đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta một trái tim, dùng nó để yêu thương ai, đó là ta quyết định, lựa chọn, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống “tình cờ” sắp xếp ta gặp ai đó trong cuộc đời. Đối xử với họ ra sao, thân thiết hay xa lánh, đó là cũng chính ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Đấng sinh thành chỉ cho ta sự khởi đầu, còn sống ra sao chẳng phải ai khác, chính là ta quyết định.

Tâm thế nào, sẽ tạo nên sắc màu cuộc  sống thế đấy!.

Cuộc sống thế nào, sẽ tạo ra quãng thời gian hưởng thụ cuộc đời như vậy!.

Đừng đổ lỗi cho cuộc sống, cho đấng sinh thành, cho số phận… Cuộc đời ta, chính là do ta tạo ra mà thôi!

Từ fb Vu Le


 

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Nguyen Thi Chau

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Khổng Tử đáp: “Không phải khi họ mất tiền. Cũng không phải khi họ mất địa vị.”

Tử Hạ hỏi: “Vậy là khi nào?”

Khổng Tử cầm một viên ngọc và thả xuống bùn. Ông hỏi: “Viên ngọc có vì nằm trong bùn mà thành đá không?”

Tử Hạ đáp: “Không. Nó vẫn là ngọc.”

Khổng Tử gật đầu: “Đúng vậy. Nghèo khó không làm con kém giá trị. Thất bại cũng không làm con tầm thường.”

Tử Hạ lại hỏi: “Vậy điều gì mới làm con người mất giá?”

Khổng Tử chậm rãi đáp: “Là khi vì tiền mà đánh mất lương tâm. Vì quyền mà đánh mất chính nghĩa. Vì lợi ích mà đánh mất chữ tín.”

Tử Hạ cúi đầu hành lễ.

Khổng Tử mỉm cười: “Giá trị của một con người không nằm ở những gì họ có. Mà nằm ở những điều họ nhất quyết không đánh đổi.”

Từ fb Narissa Loan


 

Sài Gòn: chiến tranh, hòa bình và ước mơ của tôi (BBC)

 (BBC)

Một người cha chở con trên xe máy tại Sài Gòn vào tháng 5 năm 1970

Tác giả, Bùi Văn Phú

Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Berkeley, California

4 tháng 7 2026

Chiều 29/4/1975, tôi rời quê hương bằng tàu. Sáng hôm sau, xe tăng, bộ đội cộng sản tiến vào Dinh Độc Lập, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng.

Năm sau, Sài Gòn chính thức đổi tên, mà như Phạm Duy viết trong ca khúc 1954, 1975, thành phố “phải mang tên xác người“, hay Nguyễn Đình Toàn viết “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên” trong Sài Gòn niềm nhớ không tên.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Thầy u tôi rời quê Nam Định di cư vào Nam sau Hiệp định Geneve 1954 và một năm sau tôi ra đời ở xứ Nghĩa Hòa, một xứ đạo tân lập trong khu vực Ngã ba Ông Tạ, nơi có mấy vạn người Công giáo Bắc di cư ở.

Nói tôi sinh ra ở Sài Gòn thì không đúng, vì giấy khai sinh ghi nơi sinh là xã Tân Sơn Hòa, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Nhưng Ngã ba Ông Tạ nằm sát bên thủ đô. Từ đây theo đường Phạm Hồng Thái nối dài tới Lê Văn Duyệt, tính ra từ Gia Định chỉ đi ba trăm mét, qua đường Bắc Hải là vào quận 3 của Sài Gòn. Sau năm 1975, khu vực Ngã ba Ông Tạ mới thuộc về Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày còn bé chẳng mấy khi được vào trung tâm thủ đô, chỉ nhớ có lần thầy tôi đưa các con đi chơi Sở thú, tức là Thảo Cầm Viên, xem voi ăn mía, khỉ ăn chuối. Có năm thầy đưa lên Bến Bạch Đằng xem bắn pháo bông dịp Quốc khánh 26 tháng 10, pháo nổ trên bầu trời tỏa hình Ngô tổng thống, hình khóm trúc.

Mấy lần ông chú dẫn đi xe ngựa, xe lam 3 bánh lên trung tâm thủ đô dự mít tinh kỷ niệm ngày Quốc hận 20/7 chia đôi đất nước hay tham gia biểu tình phản đối chính phủ quân phiệt.

Cấp 1 tôi học trường Nghĩa Hòa, cấp 2 trường Thánh Tâm ở Ngã ba Ông Tạ. Năm lớp 10 vào trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân, từ đó Sài Gòn trở nên thân quen. Là năm đầu tiên đi học trong thành phố, lại là năm chuyển tiếp không có thi tú tài nên nhiều hôm tôi đã trốn học đi chơi, không còn học giỏi như những năm ở trường Thánh Tâm mỗi tháng xếp hạng nhất, nhì hay ba về học lực và được lãnh bảng danh dự. Giờ tôi chỉ xếp hạng trung bình trong số 50 bạn học.

Tôi hay trốn học đi coi xi-nê ở rạp Cao Thắng, Nam Quang hay đạp xe quanh trung tâm thủ đô nên những con đường Nguyễn Huệ, Tự Do, Hàm Nghi, Cao Thắng, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tôn trở nên thân quen. Chợ Bến Thành, nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi. Tòa soạn Báo Tuổi Hoa trên đường Kỳ Đồng tôi hay vào đọc sách báo. Trước Bưu điện thành phố có xe bò bía, có mấy sạp bán tem thư mà tôi hay ghé mua phong bì khi có phát hành tem thư ngày đầu tiên. Qua đường Hai Bà Trưng, gần đến chợ Tân Định quẹo phải đường Trần Văn Thạch ghé tiệm tạp hóa của một ông gốc Hoa mua tem sưu tầm, là sở thích.

  Ở trung tâm thủ đô, tôi nhiều lần chứng kiến biểu tình của sinh viên học sinh quanh bùng binh Quách Thị Trang hay trước trụ sở quốc hội để phản đối chính sách của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống lại sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến.

Hết năm lớp 10, trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn chỉ dành cho nữ sinh nên tôi chuyển qua Nguyễn Bá Tòng Gia Định học lớp 11 và 12. Phạm Văn Thiêm là người bạn thật tốt học chung lớp 10, ngày nào cũng từ Hòa Hưng ghé qua nhà chở tôi đi học. Có những ngày sau giờ tan học chúng tôi đi vào trung tâm thủ đô qua Cầu Bông tràn ngập áo dài trắng tung bay của nữ sinh trường Lê Văn Duyệt.

Sài Gòn điêu tàn sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Cuối năm lớp 11, chiến tranh bùng nổ ở nhiều tỉnh. Mùa hè đỏ lửa 1972, một cựu học sinh Nguyễn Bá Tòng là Đại úy Không quân Trần Thế Vinh, người được vinh danh là anh hùng diệt xe tăng, đã hy sinh trong một phi vụ chiến đấu.

Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.

Không như Mậu Thân khi du kích đánh vào tỉnh thành, lần này bộ đội cộng sản đem xe tăng, đại pháo tấn công vào nhiều nơi từ Quảng Trị địa đầu giới tuyến, Kontum trên cao nguyên đất đỏ vào đến An Lộc không xa thủ đô.

Chính phủ ban hành lệnh đôn quân. Tôi đã bước vào tuổi lính, lo học, lo cho tương lai và có nhiều ưu tư về cuộc chiến. Nhiều buổi chiều vào quán cà phê nghe nhạc vừa lãng mạn, tình tứ vừa buồn lo cho quê hương, thân phận con người.

Theo em xuống phố trưa nay

Đang còn ngất ngất cơn say

Theo em bước xuống cơn đau

Bên ngoài nắng đã lên mau…

(Lê Uyên Phương)

Đêm mẹ ngồi cầu kinh

Tường trắng im lìm

Bom rung từng liếp cửa…

(Trịnh Công Sơn)

Thi đậu Tú tài I, tôi tiếp tục được hoãn dịch để học lớp 12. Trở lại trường mới biết bạn cùng lớp ai đã nhập ngũ. Học Anh văn với thầy Hoàng Định, thấy học trò lo lắng thầy trấn an: “Nixon đã đi Tầu, rồi sẽ đi Nga. Cuộc cờ đã ngã ngũ. Chiến tranh sẽ chấm dứt thôi.” Nhìn cây phượng nơi sân trường nở rộ hoa đỏ, thầy nói: “Năm nay phượng nở nhiều, các anh chị cũng sẽ thi đỗ nhiều để được học tiếp lên, có cơ hội góp phần xây dựng đất nước.” Hết niên học thầy được qua Mỹ tu nghiệp.

Gần nhà tôi có khu quân sự Mỹ trên đường Nguyễn Văn Thoại và quanh đó là những quán bar. Một chiều nghe tiếng nổ lớn, tôi chạy ra xem thấy xác người chết xám vì chất nổ TNT của Việt Cộng cài vào xe đạp. Một chị gần nhà, trên đường đi học về, đã chết hôm đó. Đêm đêm nghe bà mẹ khóc than thảm thiết: “Con ơi, ở đời măng khóc tre chứ ai ngờ mẹ lại phải khóc con.”

Ở trường tôi thích giờ giảng văn của thầy Trần Bằng Phong, phục khí phách Nguyễn Công Trứ có lúc làm quan và có lúc bị đày mà không nản chí. Với sự hướng dẫn của thầy, năm đó tôi làm bích báo cho lớp.

Trong giờ công dân giáo dục, thầy Nguyễn Văn Tiếu cho chúng tôi thảo luận về những vấn đề liên quan đến quốc gia. Tôi nêu chuyện tham nhũng, vì đọc báo có tin dân biểu đi công tác nước ngoài mang lậu nước hoa, mỹ phẩm, quần lót, lịch Playboy về bán; có dân biểu ăn cắp tượng cổ ở bảo tàng đem ra nước ngoài được báo chí đặt tên là “Dân biểu tượng Chàm”, nhưng sao không ai bị bắt giam. Thầy nói dân biểu nghị sĩ có quyền bất khả xâm phạm nên cảnh sát không thể bắt họ.

Tổng trưởng Kinh tế Phạm Kim Ngọc đưa ra chính sách thuế trị giá gia tăng bị phê phán, chế giễu là “Tổng Ngốc”. Có bạn bày tỏ sự căm ghét “Vua đi đêm Kissinger” vì Hòa đàm Ba Lê kéo dài nhiều năm mà hòa bình đâu chưa thấy. Những dân biểu Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức đòi Mỹ rút và Việt Nam Cộng hòa ngưng bắn, có bạn hỏi tại sao không đòi Cộng sản Bắc Việt thôi xâm lược miền Nam.

Đường phố Sài Gòn năm 1969

Đầu năm 1973, Hiệp định Ba Lê được ký kết. Tôi vui mừng vì chiến tranh chấm dứt, từ nay người Việt thôi bắn giết nhau.

Mang giầy vớ tốt mang khăn áo lành

Tôi chào đất nước tôi nay thái bình…

(Phạm Duy)

Sáng ngày hiệp định có hiệu lực, tôi và mấy bạn rủ nhau lên trung tâm thủ đô, vào một quán cà phê trên đường Nguyễn Du, nghe vang vang lời ca, như mơ ước đã có từ lâu:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường…

Khi đất nước tôi không còn giết nhau

Mọi người ra phố mời rao nụ cười

(Trịnh Công Sơn)

Để chào mừng chiến tranh chấm dứt, tôi vẽ mẫu làm hai cánh cổng sắt trước nhà, mỗi bên có dấu hiệu hòa bình ở giữa. Sau khi cổng hoàn tất, một hôm có cảnh sát đến nhà nói với thầy tôi đó là dấu hiệu phản chiến và yêu cầu gỡ bỏ. Tôi không đồng ý, chỉ cắt hai miếng thiếc che dấu hiệu, từ ngoài đường nhìn vào không còn trông thấy nữa. Ít lâu sau, kẻ trộm lấy mất một cánh cổng. Thầy tôi nghi cảnh sát đã lấy đi một cánh để nhà phải làm lại hai cánh mới. Tôi cũng nghĩ thế.

Bùi Văn Phú

Biểu tượng hòa bình vẫn còn trên cánh cổng khi tác giả trở lại ngôi nhà xưa vào năm 1997

Ở trường tôi hăng say sinh hoạt hiệu đoàn nên cuối niên học được hiệu trưởng Đinh Ngọc Lễ trao cho phần thưởng hạnh kiểm. Đến hè, tôi thi đậu Tú tài II.

Thi vào trường Kiến trúc, vì có hoa tay và thích vẽ, nhưng không đậu nên ghi danh vào trường Luật Sài Gòn là chính, Văn khoa là phụ.

Bạn cùng lớp 12 có Phạm Văn Thiêm, Trịnh Hoàng Long, Nguyễn Văn Lý cũng ghi danh học luật. Võ Quang Thịnh, quen thân từ những năm ở trường Thánh Tâm, học Petrus Ký, đậu hạng bình. Tú tài I bạn đậu ưu, xin đi du học không được, ghi danh vào khoa Hóa, Đại học Minh Đức. Nguyễn Công Bình nhà ở Tân Chí Linh, đậu bình cả hai kỳ thi Tú tài, gia đình có anh tử trận nên được chính phủ cấp học bổng du học Mỹ. Hoàng Đức Hòa ghi danh chứng chỉ MPC bên Đại học Khoa học.

Sinh viên trường Luật năm đầu đi học ở rạp Thống Nhất. Giáo sư Vũ Văn Mẫu dạy cổ luật, giáo sư Trần Văn Liêm, dân luật; giáo sư Nguyễn Cao Hách, kinh tế; giáo sư Lê Đình Chân, luật hiến pháp.

Chương trình học có 7 môn, cuối năm bốc thăm hai môn chính thi viết luận văn, còn các môn khác là các câu hỏi ngắn. Một trong hai môn thi chính năm đó là luật hiến pháp mà tôi rất thích nghe Giáo sư Lê Đình Chân, người giảng rất lôi cuốn về quyền của dân, về các tổ chức công quyền là hành pháp, quốc hội, tối cao pháp viện, giám sát viện.

Đề tài thi là về luật bầu cử năm 1971 yêu cầu một ứng cử viên phải có sự đề cử của 60 dân biểu, nghị sĩ quốc hội hay 120 nghị viên hội đồng tỉnh. Điều đó có vi hiến hay không? Tôi đưa ra lập luận là không vi hiến, dẫn chứng là ở Mỹ, Pháp các ứng cử viên tổng thống đều phải có các đảng đề cử mới được ra tranh cử. Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng hòa xác nhận sinh hoạt chính trị đa đảng và khuyến khích tiến tới lưỡng đảng thì việc ứng cử viên phải có sự đề cử là sinh hoạt dân chủ đa đảng. Đậu thi viết, tôi thi phần hai. Kết quả tôi hoàn tất chứng chỉ luật năm thứ nhất, được tiếp tục hoãn dịch để học năm thứ hai.

Nữ sinh Sài Gòn năm 1970 (trái) và năm 1972

Hiệp định Ba Lê đã không đem lại hòa bình vì vẫn còn súng nổ trên chiến trường. Chuẩn úy Nguyễn Đức Tuyển, trưởng lớp ở Thánh Tâm, bị phục kích chết, mẹ của bạn trở nên điên dại khi nhận xác con về. Duy Nam, giọng hát truyền cảm trong các buổi văn nghệ và là học trò của ca sĩ Duy Khánh, tử trận. Phạm Văn Thông học chung lớp ở Thánh Tâm, bút hiệu Mai Thông, tử nạn khi trực thăng rớt. Anh Lâm cùng xóm là sĩ quan chiến tranh chính trị tử trận. Chuẩn úy Lê Minh Châu học chung lớp 11 chết mất xác.

Vào đại học, tôi thường ở nhà ông bác ngoài đường Thánh Mẫu, gần nhà thờ Chí Hòa, Ngã ba Ông Tạ. Anh cả của bác là Thẩm phán Trần An Bài, ngoài việc tại tòa án anh còn dạy ở Học viện Cảnh sát Quốc gia, Đại học Vạn Hạnh và thường viết cho báo Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm. Sau luật 7/72 bóp nghẹt tự do báo chí, tờ Xây Dựng phải đóng cửa. Nhà anh có báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc hay bị Bộ Dân vận Chiêu hồi ra lệnh tịch thu sau khi phát hành. Gần anh, tôi được học thêm nhiều về hệ thống luật của Việt Nam Cộng hòa. Đầu năm 1974, anh trình luận án tiến sĩ luật, tiêu đề “Những bảo đảm của nghi can trong giai đoạn điều tra sơ vấn”.

 Khi ông Thiệu vận động quốc hội sửa hiến pháp, tăng nhiệm kỳ tổng thống lên 5 năm và cho ông quyền tái ứng cử sau khi nhiệm kỳ hai chấm dứt năm 1975, cho thấy ông muốn làm tổng thống suốt đời, nên tôi tham gia các hoạt động chống chính quyền độc tài vì tin rằng chỉ có dân chủ mới thắng được cộng sản.

Tôi và bạn Hoàng Đức Hòa bên Khoa học bàn với nhau là lên năm thứ hai hay thứ ba chúng tôi sẽ ra ứng cử ban đại diện sinh viên của khoa để hoạt động rộng hơn. Tôi thích làm báo nên sẽ tranh chức trưởng ban báo chí Luật khoa, dù biết là dấn thân hoạt động sẽ có nhiều nguy hiểm, như anh Lê Khắc Sinh Nhựt đã bị Việt Cộng ám sát chết ngay trong sân trường Luật.

Mấy năm trước, trong một buổi văn nghệ ở Văn khoa, anh Ngô Vương Toại đã bị cán bộ nội thành lên giựt mi-crô, nã đạn vào người và may thoát chết. Trong khuôn viên trường Luật thỉnh thoảng cũng có rải truyền đơn chống chính phủ. Sinh viên học sinh tranh đấu như Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi xuống đường biểu tình chống Thiệu, chống Mỹ bị bắt rồi được thả vì áp lực quốc tế can thiệp.

Hỏi ý anh Trần An Bài, anh nói muốn ứng cử vào ban đại diện sinh viên thì phải dứt khoát là người quốc gia, chống cộng và có một đảng ủng hộ ra tranh cử.

Tôi là người quốc gia, chống cộng nhưng không ủng hộ chính sách của ông Thiệu. Sinh hoạt chính trường miền Nam từ lâu đã có Đảng Đại Việt, có Quốc dân Đảng, Phong trào Quốc gia Cấp tiến, Lực lượng Đại Đoàn kết mà tôi biết. Những năm qua có Đảng Dân chủ do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lập ra. Trong bầu cử tổng thống 1971, liên danh Nguyễn Cao Kỳ bị loại và liên danh Dương Văn Minh rút lui để liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương độc diễn và thắng đến 94% cho thấy chủ trương độc tài của ông.

Một hôm trên báo Chính Luận có đăng quảng cáo của Đảng Quốc tiến mới được thành lập với người lãnh đạo là cựu Thượng nghị sĩ Trương Vĩnh Lễ, từng là ứng cử viên phó tổng thống của tướng Nguyễn Cao Kỳ, nên tôi muốn gia nhập đảng này.

Bùi Văn Phú

Thẩm phán Trần An Bài bảo vệ luận án tiến sĩ luật tại Đại học Luật khoa Sài Gòn năm 1974. Tác giả bên bìa phải

Đầu năm 1975, tôi và Hòa đến một căn nhà bên hông Đại học Vạn Hạnh, gặp ông Ngọc, tổng thư ký Đảng Quốc tiến. Sau khi giới thiệu về mình và trò chuyện với ông về những vấn đề liên quan đến hiện tình đất nước, ông Ngọc cho biết chủ trương của đảng là đối lập với Đảng Dân chủ của ông Thiệu. Muốn vào đảng, mỗi người chúng tôi cần hai người giới thiệu. Tôi sẽ nhờ Thẩm phán Trần An Bài và Nghị viên Nguyễn Duy Bảo, người mà tôi từng tham gia vận động bầu cử cho, giới thiệu và tôi sẽ ra tranh cử vào ban đại diện sinh viên trường Luật.

Tại địa phương, tôi tham dự nhiều buổi thảo luận của Linh mục Trần Hữu Thanh về chính sách hay các dự luật tại quốc hội, làm sao vận động ủng hộ hay ngăn cản không cho thông qua. Cha Thanh đặt bản doanh của Phong trào Nhân dân chống tham nhũng tại xứ Tân Chí Linh nên khu Ông Tạ thường có biểu tình chống chính phủ. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ, tấm khiên, ba ton tới bao vây, bắn lựu đạn cay để giải tán.

Bạn bè tụ họp ở nhà Võ Quang Thịnh sau nhà dòng Mai Khôi đàn hát và đọc “Bản Cáo trạng số 1” của Phong trào vào băng cát-sét để lưu lại vì các báo đăng cáo trạng đã bị tịch thu.

Gần nhà có anh Nguyễn Tiến, tốt nghiệp văn khoa, tham gia chính trường, đắc cử nghị viên hội đồng xã Tân Sơn Hòa. Tiếp xúc với anh, tôi hiểu hơn về khu vực nơi mình sống tinh thần chống cộng cao, nhưng cũng có bạn trẻ ngả theo “cách mạng” vì cạnh bên là khu dệt Quảng Nam có nhiều người theo “Mặt trận”. Anh cho biết sự việc tôi gắn dấu hiệu hòa bình trên cổng và tham gia phong trào chống tham nhũng khiến có người nghi ngờ tôi theo cách mạng.

Cựu học sinh Thánh Tâm cũng đã có những buổi họp mặt tại trường, do anh Phạm Văn Sơn, sinh viên năm thứ ba khoa học đứng ra tổ chức. Chúng tôi thảo luận về hướng đi cho thanh niên sinh viên trong tình hình hiện tại, phải vững tinh thần quốc gia, không nghe tuyên truyền của cộng sản kêu gọi xuống đường, bãi khóa.

Năm 1974, trường Thánh Tâm đã bị “cách mạng” chiếm đóng cả tuần. Ban đêm, từ nóc trên tầng bốn họ cho phát thanh những bài viết chống chính phủ mà từ nhà tôi nghe rõ. Mấy lần cảnh sát tiến vào trường thì bàn ghế từ lầu cao được ném xuống, nên phải rút lui. Cho đến khi Chuẩn tướng Trang Sĩ Tấn xuống chỉ huy cả trăm cảnh sát tiến vào mới bắt được mấy thanh niên thiếu nữ theo Việt Cộng.

Hiệu trưởng trường Thánh Tâm là sư huynh Nguyễn Văn Ngươn, em của Thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Thượng nghị viện, nên ngôi trường đã trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị cho khu vực Ông Tạ, từ vận động bầu cử đến đấu tranh.

Đầu năm 1975, cộng sản tấn công chiếm Phước Long, rồi Ban Mê Thuột. Như vết dầu loang, các tỉnh phía bắc dần dần bị mất kiểm soát. Dân miền Trung di tản vào Sài Gòn trong khi người thủ đô tìm cách rời nước ra đi.

Tướng Dương Văn Minh kêu gọi các bên ngưng bắn để hòa giải dân tộc. Tôi đã có bài viết trên báo Tiền Tuyến của quân đội vào đầu tháng Tư phản bác lại, vì theo tinh thần Hiệp định Ba Lê, bên gây chiến là bộ đội cộng sản, yêu cầu họ rút về miền Bắc thì mới có thể nói chuyện hòa giải, hòa hợp.

bùi văn phú

Sinh viên biểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân tị nạn, Sproul Plaza, U.C. Berkeley 1979

Sáng 29/4/1975, sau khi nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên đài phát thanh yêu cầu người Mỹ rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, anh Bài quyết định đưa gia đình và các em ra đi, có tôi đi theo. Hai bác ở lại coi nhà vì có mấy người bà con từ Biên Hòa chạy đến tạm trú.

Qua các trại tị nạn ở Subic Bay, Philippines; Guam và Camp Pendleton ở miền nam California, tôi có tìm kiếm bạn học cũ nhưng không ai đi thoát được. Nhiều lúc tôi tự hỏi đất nước đã hết chiến tranh, sao tôi không ở lại để theo đuổi ước mơ và góp tay xây dựng đất nước!

Mùa thu 1977, tôi được nhận vào Đại học U.C. Berkeley, nổi tiếng chống chiến tranh Việt Nam. Hoạt động trong trường của thành phần ủng hộ Hà Nội vẫn còn, qua những buổi chiếu phim “79 Mùa xuân của Bác Hồ”, “Chiến thắng năm Mão”, sau đó đã bị người Việt tị nạn từ Oakland, San Francisco, San Jose kéo lên dẹp tan.

Cùng các bạn mới quen trong trường, chúng tôi thấy cần lập hội để giúp đỡ nhau và nêu cao tinh thần quốc gia của sinh viên tị nạn. Một số anh em họp bàn, soạn thảo nội quy và ngày 20/1/1979 tại ký túc xá Spens Black Hall, với 50 sinh viên Việt có mặt, nội qui hội được biểu quyết chấp thuận. Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học U.C. Berkeley chính thức được thành lập với mục đích giúp nhau học tập, bảo tồn phát huy văn hóa Việt và tương trợ lẫn nhau.

Cơ hội ứng cử ban đại diện sinh viên đến với tôi, không ở trường Luật Sài Gòn mà tại một đại học danh tiếng, chiếc nôi của phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Tôi ra tranh chức trưởng ban văn hóa, phụ trách báo chí và văn nghệ, vì hợp với khả năng và sở thích. Ban chấp hành đầu tiên được bầu ra và tôi làm trưởng Ban Văn hóa.

Bản tin chính thức của hội phát hành số đầu tiên vào đúng dịp Tết Kỷ Mùi 1979. Ban chấp hành bắt tay ngay vào việc tổ chức pic-nic, thể thao, họp mặt ca hát, tưởng niệm 30/4, cứu giúp thuyền nhân, phát hành đặc san. Nội san Nối Vòng Tay ra đời. Tôi lại ôm đàn ghi ta, xướng lên những bài hát cộng đồng. Sân trường Đại học U.C. Berkeley vang những lời ca:

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

(Nguyễn Đức Quang)

Rừng núi giang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

(Trịnh Công Sơn)

Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời

Việt Nam hai câu nói bên vành nôi

(Phạm Duy)

Bùi Văn Phú

Đại hội thể thao văn nghệ liên trường Bắc California tổ chức tại U.C. Berkeley năm 1988

Hai mươi năm sau, tôi trở về thành phố thân yêu cũ và không thấy đường phố nhà cửa có thay đổi nhiều, chỉ cũ đi và phai bạc mầu. Khu nhà tôi lúc bấy giờ nhiều người bán hàng bên lề. Nhưng tên đường giờ đã khác: Cách Mạng Tháng 8, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Đồng Khởi hay Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Bành Văn Trân là những ai, nghe xa lạ quá.

Trường cũ cũng đã đổi tên. Nghĩa Hòa thành Chi Lăng, Thánh Tâm là Tân Bình, Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn thành Bùi Thị Xuân, Nguyễn Bá Tòng Gia Định thành Hoàng Hoa Thám và Đại học Luật khoa không còn mà trở thành Đại học Kinh tế. Bạn cũ nói kinh tế xã hội chủ nghĩa không ứng dụng gì được nên bỏ học ra đời chạy tắc xi hay làm nghề tự do.

Năm mươi năm qua, tôi theo dõi sinh hoạt chính trị và nhân quyền quê nhà. Năm mươi năm Sài Gòn đổi tên, Thành phố Hồ Chí đã mở rộng ra đến vùng biển, phường Sài Gòn giờ có nhiều nhà cao tầng, nhiều xe hơi trên phố, nhưng ở mặt khác của cuộc sống, đến nay câu đồng dao mà người Sài Gòn từ lâu truyền khẩu cho nhau vẫn còn là hiện thực: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California