ĐÚNG ĐƯỜNG – Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

“Cứ đến!”.

“Người chọn nơi bắt đầu của một con đường cũng chọn luôn nơi nó dẫn đến!” – Harry Fosdick.

Kính thưa Anh Chị em,

Mỗi điểm đến đều khởi đi từ một con đường. Lời Chúa hôm nay mặc khải một điều: đến với Chúa Giêsu thôi chưa đủ; điều quyết định là đến ‘đúng đường’.

Matthêu không ngẫu nhiên đặt liền hai câu chuyện Phêrô đi trên mặt nước để đến với Chúa Giêsu và chuyện dân thành Ghenêxarét chạm vào tua áo Ngài. Hai cảnh quay, một mặc khải: đến với Chúa Giêsu có nhiều cách, nhưng chỉ một cách dẫn đến ơn cứu độ. Bản Hy Lạp viết erchomai – “đến”. Với Matthêu, erchomai không chỉ là một chuyển động của thân xác, mà còn là chuyển động đức tin: đến với Chúa theo cách Ngài mở ra. Đức tin không giữ con người khỏi mọi sóng gió; nhưng giữ con người ở lại trên con đường Chúa mở giữa sóng gió.

Phêrô là người đầu tiên bước vào con đường ấy. “Xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài!”. Chúa Giêsu đáp: “Cứ đến!”. Ông bước được không phải vì mặt biển hoá cứng, nhưng vì đã bước trên một lời mời. Chỉ đến khi rời mắt khỏi Đấng đã gọi mình để nhìn vào sóng gió, ông mới bắt đầu chìm. Điều đánh gục Phêrô không phải là biển cả, nhưng là rời khỏi con đường Chúa đã mở. Dân thành Ghenêxarét đến với Chúa Giêsu theo một cách khác. Họ chỉ xin được chạm vào tua áo Ngài. Matthêu kết luận: “Ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa”. Điều cứu họ không nằm ở tua áo, nhưng ở Đấng họ đã chạm đến.

Vậy mà không phải lời mời nào cũng đến từ Thiên Chúa. Giêrêmia kể về Khanangia, người hứa hẹn một lối giải thoát thật dễ tin: chiếc gông bằng gỗ sẽ được bẻ gãy; nhưng Thiên Chúa lại cho biết: gông gỗ sẽ nhường chỗ cho gông sắt – bài đọc một. Hoá ra, con đường không do Thiên Chúa mở ra chỉ làm chiếc ách nặng hơn. Thánh vịnh đáp ca, vì thế, không xin một lối thoát dễ dàng, nhưng xin chỉ cho một con đường: “Lạy Chúa, thánh chỉ Ngài, xin dạy cho con!”.

Với chúng ta, người ta hiếm khi lạc đường vì yếu đuối; nhưng thường vì tin nhầm một lối đi. Điều dễ tin chưa hẳn là điều dẫn đến sự sống. Có những lối đi không làm chúng ta xa Chúa ngay lập tức, nhưng từng bước làm chúng ta thôi bước theo Ngài. Đức tin đích thực không dừng lại ở việc tìm đến Chúa, mà là vững vàng tiến bước trên con đường Ngài thương mở lối. “Không có hai con đường, chỉ có một: con đường Thầy đã đi. Người môn đệ không thể tự mở cho mình một lối khác!” – Gioan Phaolô II.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mở đường cho con người đến với Thiên Chúa; chính Ngài là Đường: khởi đầu và điểm đến của hành trình cứu độ. Từ lời “Cứ đến!” trên mặt biển đến thập giá và vinh quang phục sinh, mọi nẻo đường đều quy về Ngài. Vì thế, nơi Đức Kitô, ‘đúng đường’ không còn là chọn đúng một lối đi, nhưng là gắn trọn đời mình với đúng một Đấng. “Đức tin không phải là bám vào một điều gì, nhưng là thuộc về Một Đấng!” – Hans Urs von Balthasar.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết từ bỏ những lối đi dễ dãi; tín thác con đường Chúa mở ra; và mỗi ngày chọn bước trên con đường Chúa Giêsu!”, Amen.

Lm. Minh Anh,  Tgp. Huế

***********

Thứ Hai Tuần XVIII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn 

https://l1nq.com/0rkcai7

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

22 Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. 23 Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. 24 Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. 25 Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. 26 Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. 27 Đức Giê-su liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” 28 Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” 29 Đức Giê-su bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. 30 Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” 31 Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Hỡi kẻ kém lòng tin! Sao lại hoài nghi?” 32 Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng. 33 Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!”

34 Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghen-nê-xa-rét. 35 Dân địa phương nhận ra Đức Giê-su, liền tung tin ra khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người. 36 Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo choàng của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được cứu chữa.


 

NỖI ĐAU TUỔI XẾ CHIỀU – (của Huy Phương)

Trần Đình Phong 

NỖI ĐAU TUỔI XẾ CHIỀU

(của Huy Phương, ảnh do AI tạo),

    Ở đây, chúng ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường…nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này. Và những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền.

Nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm !

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày.

Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu.

Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí.

Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc.

Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông.

Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác ! Nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường ! Và bây giờ đã có !

Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào ?!!!

        Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người ” đem cha bỏ chùa ” !

Cũng lại câu chuyện của một người già.

Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng.

Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà.

Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng.

Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ.

Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh.

Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp.

Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

     Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”.

Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam.

Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái.

Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi !

Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng.

Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi.

Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở Mỹ thì bao nhiêu thứ tốn kém !

– Còn có vợ chồng ông A ở California sang Mỹ hơn ba mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời.

Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá lớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn hơn chục nghìn dắt lưng, rồi về ở với một đứa, mà bà nghĩ là hợp ý.

Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón.

Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái đi làm về, mở cửa vào

nhà, thấy mẹ đang ngồi xem TV, nó hất hàm hỏi: -“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy ?” .

– Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:-“Bả đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu dính đầy quần !

Trên đây là những câu chuyện rất hiếm, ít khi xẩy ra, nhưng tôi cũng đem câu chuyện “ buồn “ này, về trang nhà để các Bạn cùng đọc và có những suy ngẫm, lo liệu để vào tuổi xế chiều, chúng ta không là gánh nặng cho con và khổ cho mình.


 

Chọi Chữ – Quý Thể

Chọi Chữ  –Quý Thể

Posted by GLN

Hồi lớp đệ thất (lớp sáu) học sinh chúng tôi có trò chơi lúc đầu gọi là trò làm tự điển, sau gọi là “chọi chữ”. Trò này lấy chữ mà chơi, ai nhiều chữ nấy thắng. Cách chơi khá đơn giản. Cứ đề ra chữ nào đó rồi đứa lấy giấy bút ra kê, xong đếm lại, ai nhiều hơn sẽ thắng. Ví dụ: Lấy chữ “cà”

  -Cà phê, cà ri, cà rà , cà rá, cà cuống, cà rốt, cà sa, cà rỡn, cà nhắt, cà khịa, cà mèn… cà riềng tỏi, cà kê dê ngỗng, cà lăm cà lặp, cà răng căng tai…

Tôi có thằng bạn tên Đạo, thằng này có biệt tài chọi chữ. Lần nào chơi nó cũng thắng, Nó có những từ rất đặc biệt, có khi người khác cãi, nó đem từ điển tới, ai cũng chịu. Nó có một chữ “cà” hết sức lạ lùng là “cà ràng”. Từ điển lớn và mới nhất mới thấy ghi từ này: Đó là thứ lò đất nung dùng trên ghe thuyền ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lò gồm ba ông táo nhỏ gắn trên cái đế bằng đất nung. Miền Nam có thành ngữ cà rang cà đụng. Thằng Đạo có vốn từ giàu chẳng ai bằng. Từ ngữ ba miền, mới cũ nó đều thông.

Trò chọi chữ khởi đi từ lớp tôi lan sang những lớp khác. Thế là mỗi lớp thành lập đội tuyển chọi chữ. Đội tuyển có ba thành viên. Năm ấy Đạo, Lê và tôi được cả lớp tín nhiệm cử đi thi đấu với lớp ngũ bốn, nghĩa là lớn hơn lớp tôi hai năm. Đây là cuộc thi không cân sức thế nhưng đội tuyển lớp tôi đã thắng.

Muốn chọi chữ giỏi phải có chữ nhiều. Có vốn từ phong phú, mà vốn từ chính là vốn sống. Chúng tôi những cậu bé mười tuổi vốn sống chưa đựng đầy chiếc túi nhỏ, lấy chữ đâu mà chọi. Hồi đó nhà tôi có quyển Từ điển tiếng Việt của Hội Khai Trí Tiến Đức. Quyển sách bọc bìa vải đen, khổ to và dày, ôm không nổi, làm sao học cho hết? Thằng Đạo bày : “tìm chữ lạ mà học” Ôi không biết bao nhiêu chữ nghĩa làm sao học. Tuy chỉ mới lớp sáu nhưng trình độ học sinh thời đó đã khá nên chúng tôi biết liệt kê theo cách các nhà làm từ điển, theo A,B,C…

Học sinh thời nào cũng có nhiều trò chơi, hầu hết những trò chơi đó đều bị thầy cô và nhà trường cấm. Tiếng trò chọi chữ là trò chơi trí tuệ, có lợi cho môn văn và nhất là lại có cái lợi thiết thực khi chơi trò này trong lớp bớt náo loạn ồn ào nên được nhà trường khuyến khích.

Thường vào cuối tháng năm đầu tháng sáu, khi kỳ thi đệ nhị tam cá nguyệt (học kỳ 2) đã xong, không khí học tập có phần uể oải, lơ là, thầy cô cũng nới tay, đó là lúc trò chọi chữ nở rộ. Chiều hôm ấy học sinh tổ chức cuộc thi chung kết chọi chữ giữa lớp Thất Ba đấu với Ngũ bốn. Chữ bốc thăm đem ra chọi là chữ “Ăn”, một chữ rất giàu có của tiếng Việt:

       -Ăn thề, ăn vạ, ăn gian, ăn mày, ăn xin, ăn hiếp, ăn sương… ăn xổi ở thì, ăn tươi nuốt sống, ăn vóc học hay, ăn mặn nói ngay, ăn xem nồi, ăn không ngồi rồi, ăn nên làm ra…

Đội thất ba thắng đội ngũ bốn nhờ có ba chữ ăn thuộc loại quái chiêu : Ăn ong (đi tìm mật ong), ăn đàng sóng nói đàng gió (nói năng ngang ngược), Ăn lông ở lỗ. Công đầu thuộc về thằng Đạo. Chữ nó nhiều vô số.

Tôi đinh ninh sau này thằng Đạo thế nào cũng làm nghề nghiệp gì liên quan đến chữ nghĩa. Nó sẽ thành nhà soạn từ điển. Tôi tin từ điển hắn soạn ra chẳng thiếu chữ nào. Thằng Đạo làm luận hay lắm. Bài hắn kỳ nào cũng được thầy đọc cho cả lớp nghe. Hắn còn giỏi văn nghệ, làm thơ, viết báo tường. Hắn là một học sinh kiểu mẫu mà thầy cô lấy ra làm gương cho chúng tôi noi theo.

“Xã hội” học trò chỉ có hai “giai cấp” học giỏi, học dở. Hai nhóm này chẳng cố định và cũng chẳng thấy có đấu tranh gì gay gắt cả. Tháng này học nhiều, đứng cao, tháng sau lười biếng rơi xuống cuối sổ trở thành nhà lực sĩ đội trên đầu bốn mươi bạn đồng lớp, thế là chuyển từ giai cấp này sang giai cấp kia.

Học xong ra đời chẳng thế. Cuộc đời tàn nhẫn hơn. Với sự có mặt của gia thế nó đóng đinh số phận con người vào một vị trí nhất định và trừ khi có phép lạ mới nhảy từ cấp dưới lên cấp trên. Thế nhưng rủi ro sơ sảy, chỉ trong chốc lát rơi tới đáy lầm than!.

Ra đời mỗi học sinh một hoàn cảnh. Có kẻ học rất giỏi  lại chẳng ra gì. Có đứa học dốt kiếm được chỗ đứng trên cao. Tôi thuộc hạng này. Thuở còn đi học tôi học hành tầm thường thế nhưng khi vào đời lại làm vị quan toà xét xử và định đoạt số phận kẻ khác.

Có lần xử án, cảnh sát lôi từ xe bít bùng xuống một người đàn ông đẩy hắn tới trước vành móng ngựa. Tôi ra lệnh mở còng. Trông hắn rách rưới thiểu não, tồi tệ. Hắn bị đưa ra toà về tội trộm. Một tên trộm hạng bét, tầm thường. Tôi bảo hắn khai tên họ, tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ ở. Khi hắn ngẫng đầu lên tôi đã ngờ ngợ, nhưng chưa tin vào mắt mình. Tại sao trông hắn giống như thằng Đạo, vua chọi chữ cách đây hai mươi năm thời chúng tôi còn là học sinh ngồi chung bàn? Tuy giờ đây cuộc sống nhọc nhằn đã khiến cho hắn già cả tiều tuỵ. Tôi tự nhủ: Lẽ nào người ấy là thằng Đạo, thằng học trò thông minh học giỏi, hạnh kiểm tốt, đầy tài năng lại chịu cảnh khốn cùng đến nỗi di vào ngõ cụt như thế này? Tôi nhận ra hắn nhưng hắn vẫn chưa ngước lên nhìn tôi. Cũng khó mà nhìn ra tôi. Ngày trước tôi là cậu học sinh ốm o và nhỏ nhất lớp song giờ đây tôi đã trở thành vị quan toà phương phi bệ vệ, mặc áo choàng đen ngồi trên chiếc ghế uy nghi. Chung quanh tôi là một quang cảnh đầy sự tôn kính và đang làm cái công việc định đoạt cho số phận con người nhỏ nhoi hèn mọn đang đứng trong vành móng ngựa dưới kia. Tôi hỏi:

 -Tên họ?

Hắn ngẫng lên nhìn tôi. Hình như hắn cũng có tâm trạng như tôi, nghĩa là lẽ nào thằng bạn ngày xưa lại là người xét xử hắn. Hắn cúi xuống, không trả lời. Tôi giục:

      -Họ và tên, khai đi!

Và hắn ngước nhìn lên một lần nữa. Bây giờ chẳng còn nghi ngờ gì. Chúng tôi đã nhận ra nhau trong một tình cảnh cực kỳ oái oăm và khó xử cho cả hai. Tôi đùa:

      -Này “vua chọi chữ”…

Hắn hỏi:

    -Cái gì? Nhái bén chàng hiu (Biệt hiệu của tôi thời học sinh)?

Tôi nói:

      -Có một chữ rất dễ…

Hắn hỏi:

      -Chữ gì?

      -Tên họ của mình…

Hắn buồn bã lắc đầu. Hình như hắn không muốn đem cái chữ “đạo” ra chọi với cuộc đời, với hoàn cảnh éo le bây giờ. Hắn muốn giữ cái tên tuổi tốt đẹp đó cho quãng đời học sinh tuyệt vời ngày trước mà thôi. Tôi cố ép hắn:

      -Này vua chọi chữ đừng có giấu nữa. Lấy chữ Đạo ra chọi nhé – và rồi tôi ứng khẩu đọc một lô – đạo diễn, đạo sĩ, đạo đức, đạo hạnh, đạo đồng, đạo mạo…

Hắn nói:

   -Thiếu hai chữ.

      -Hai chữ gì?

Hắn cười:

      -Đạo chích, đạo tặc! (trộm cắp)

Hắn không xin giảm án. Hắn không chịu nhún mình. Hắn vẫn giữ được tính cách cao ngạo dễ thương thời còn đi học. Hắn lãnh án. Đưa hai tay ra cho người ta còng, bước ra, vừa đi vừa cười./.

Quý Thể

https://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2014/05/choi-chu-quy-the.html


 

Từ bỏ tất cả để bắt đầu lại từ con số 0.-Với Albert Schweitzer (1875 – 1965)

 Dấu Ấn Thời Đại 

Bác sĩ Albert Schweitzer: Từ bỏ địa vị— Học lại y khoa sang châu Phi cứu chữa hàng vạn dân nghèo

Bạn sẽ làm gì khi đang ở đỉnh cao của danh vọng, tiền tài và sự ngưỡng mộ ở tuổi 30?

Với Albert Schweitzer (1875 – 1965), câu trả lời là: Từ bỏ tất cả để bắt đầu lại từ con số 0.

Đầu thế kỷ 20, Schweitzer là một thiên tài lừng danh khắp châu Âu. Ông sở hữu 2 tấm bằng Tiến sĩ (Triết học và Thần học), là Giáo sư Đại học danh tiếng và là một nghệ sĩ đại phong cầm (organ) thiên tài có tương lai nhung lụa đón chờ

Nhưng ở tuổi 30, sau khi đọc được lời kêu gọi cứu trợ y tế cho người nghèo tại châu Phi, ông đã đưa ra một quyết định khiến tất cả người thân, bạn bè bấy giờ đều cho là “điên rồ”: Từ bỏ địa vị để đi học lại ngành Y.

7 năm ròng rã trên ghế nhà trường y khoa, ở cái tuổi mà người khác đã ổn định sự nghiệp, ông miệt mài học cách cầm dao mổ, cách chẩn đoán bệnh. Để rồi ở tuổi 38, vị Tiến sĩ ngày nào đã cùng vợ xách vali lên tàu, dấn thân vào chốn rừng thiêng nước độc Lambaréné (Gabon, châu Phi)

Những ngày đầu đặt chân đến vùng đất nghèo khổ ấy, không có bệnh viện, không có kinh phí hỗ trợ, Schweitzer đã:

Tự tay dọn dẹp, cải tạo một chuồng gà cũ để làm phòng khám đầu tiên.

Dùng số tiền tích góp từ các buổi biểu diễn âm nhạc ở châu Âu để tự mua thuốc men, thiết bị.

Đối mặt với hàng loạt căn bệnh t/ử thần bủa vây người dân bản địa như sốt rét, bệnh phong, bệnh ngủ, kiết lỵ…

Suốt hơn 50 năm cống hiến, từ một “phòng khám chuồng gà”, ông đã biến nơi đây thành một quần thể bệnh viện quy mô, cứu sống và chữa trị cho hàng vạn người dân nghèo. Khi được trao giải Nobel Hòa bình năm 1952, ông đã dùng toàn bộ số tiền thưởng 33.000 USD để xây dựng khu điều trị riêng cho các bệnh nhân phong.

Vị bác sĩ vĩ đại ấy qua đời năm 1965 và nằm lại ngay bên cạnh những bệnh nhân mà ông yêu thương giữa rừng già châu Phi. Ông để lại cho thế giới một bài học bất tử về lòng nhân ái và tình yêu thương không biên giới.

Con người chúng ta đôi khi quá bận rộn để tích lũy cho bản thân, nhưng câu chuyện của Albert Schweitzer nhắc nhở ta rằng: Giá trị đích thực của cuộc sống nằm ở sự phụng sự và sẻ chia.

“Ví dụ không phải là cách tốt nhất để gây ảnh hưởng lên người khác. Đó là cách duy nhất.” — Albert Schweitzer

#AlbertSchweitzer #Yduc #LongNhanAi #TruyenCamHung

#BaiHocCuocSong #NguoiTotViecTot


 

PHÉP LẠ HÓA BÁNH RA NHIỀU NHỜ TIN VÀ NHỜ ĐỨC ÁI – Lm. Jos Tạ Duy Tuyền 

 Lm. Jos Tạ Duy Tuyền 

Có ai đó nói rằng: Tôi có một quả táo, chia cho bạn một nửa, đó là tình bạn.  Khi tôi có một quả táo, tôi cắn một miếng rồi đưa cho bạn, đó là tình yêu.  Khi tôi không cắn miếng nào, đưa hết cho bạn, đó là tình thân.  Cuối cùng là khi tôi cố tình giấu quả táo đi, không cho bạn biết hoặc phũ phàng nói rằng tôi cũng đói và đó là thực tế xã hội.

Xã hội con người chính là vậy.  “Lúc gian nan mới hiểu được lòng người!”  Con người chỉ khi thất bại, túng quẫn hay sa sút tinh thần một lần mới biết và hiểu được ai là người chân thành dành sự quan tâm cho chúng ta. 

Nhưng có một Đấng không bao giờ bỏ rơi ta như lời Người nói: “Người phụ nữ nào có thể quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương xót con ruột mình đã sinh ra?  Cho dù họ có quên nữa, Ta sẽ không quên ngươi bao giờ” (Isaia 49:15).  Đó chính là Thiên Chúa.  Đấng mà Thánh Gioan định nghĩa rằng: Thiên Chúa là tình yêu.  Tình yêu Ngài bền vững qua muôn thế hệ.  Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, Ngài vẫn luôn trung thành với tình yêu của Ngài. 

 Đây cũng là tình yêu của những người tin vào Thiên Chúa.  Nhờ tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa mà họ sống đức ái triệt để trong cả những hoàn cảnh khó khăn nhất như bà góa thành Xarepta.  Vào thời tiên tri Êlia, có một đợt hạn hán kéo dài dẫn đến lương thực và nguồn nước đều cạn kiệt.  Thiên Chúa truyền lệnh cho tiên tri Êlia đến Xarépta, thuộc vùng Si-đôn.  Tại đây, ông gặp một bà góa đang nhặt củi.  Ông xin bà cho ông một chút nước uống và một miếng bánh.  Bà góa trả lời rằng bà chỉ còn một nắm bột và một ít dầu, đủ để làm một chiếc bánh nhỏ cho bà và con trai trước khi họ chết đói. 

Ê-li-a nói với bà rằng nếu bà làm theo lời ông, thì hũ bột sẽ không bao giờ cạn và vò dầu sẽ không bao giờ vơi cho đến ngày Chúa cho mưa xuống trên đất.  Bà góa đã tin tưởng và làm theo lời Ê-li-a.  Kết quả là hũ bột và vò dầu thực sự không bao giờ cạn, và bà cùng con trai và tiên tri Ê-li-a đã có đủ lương thực trong suốt thời gian hạn hán .

 Kinh Thánh Chúa Nhật 17 Năm B kể lại sự kiện khi đám đông say mê nghe Chúa giảng đến quên cả thời gian.  Hàng ngàn người vẫn ở nơi hoang vắng và không có đủ thức ăn.  Chính trong sự bế tắc của con người ta lại thấy Thiên Chúa mở cánh cửa mới cho dân của Người. 

 Cả hai phép lạ này đều xảy ra trong hoàn cảnh mà con người đều bất lực trước khó khăn vì hạn hán kéo dài hay vì ở nơi hoang vắng.  Cả hai phép lạ đều được thực hiện trong sự tin tưởng và vâng phục Thiên Chúa.   Bà góa đã vâng lời tiên tri Ê-li-a khi dám cho đi cả phần lương thực còn lại trong nhà.   Các môn đệ của Chúa Giê-su đã vâng lời Thầy khi đi gom 5 chiếc bánh và hai con cá, rồi chia đám đông ngồi từng nhóm, dẫn đến phép lạ hóa bánh ra nhiều. 

Thực vậy, sau khi đón nhận 5 chiếc bánh và 2 con cá từ lòng quảng đại của một em bé.  Chúa Giêsu đã có thể nhân rộng ra thành hàng trăm, hàng ngàn tấm bánh.  Với quyền năng của một vì Thiên Chúa có thể tạo dựng mọi sự từ hư vô.  Ngài có thể làm tất cả nhưng Thiên Chúa lại muốn hành động ngang qua con người.  Bởi vì con người là họa ảnh của Thiên Chúa.  Ngài muốn con người tiếp tục thay Ngài gieo yêu thương vào trong thế gian.  Hay nói cách khác, con người được tạo dựng để yêu thương.  Do đó, ai không yêu thương là vong thân, là đang chết dần trong ích kỷ và cô đơn.  Người ta sống để yêu, mà không còn khả năng yêu thương, tức là con người đã mất giá trị đích thực của đời người. 

 Có lẽ nhân loại hôm nay không chết đói cho bằng chết vì thiếu tình thương.  Những người đang chờ chết cũng là những người đang chờ từng nghĩa cử yêu thương, san sẻ của đồng loại.  Con người cần cơm bánh để sống.  Nhưng con người lại rất cần tình thương để tồn tại.  Thật là một bất hạnh cho con người, nếu hai chữ tình yêu không còn có ở trên đời.  Và cũng thật bất hạnh cho những ai không có ai đó để thương, để nhớ.  Tình yêu là lẽ sống còn của con người.  Con người không có tình yêu sẽ đầy đọa mình và làm khổ anh em.

         Lời Chúa hôm nay dường như đang chất vấn bạn và tôi về những thiếu sót của chúng ta trước sự khốn cùng của tha nhân.  Chúng ta hãy hành động yêu thương trong tư cách là môn đệ Chúa Giê-su, để bánh và cá tiếp tục được nhân rộng đến cho mọi người, để tình yêu đem lại hạnh phúc cho con người hôm nay.

 Xin Chúa ban thêm đức tin và lòng quảng đại để vì Chúa chúng ta yêu thương, chia sẻ và dấn thân lan tỏa tình yêu Chúa đến cho mọi người. Amen

 Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

From: Langthangchieutim


 

NỢ ÂN TÌNH – Tg Phạm Nhật Minh 

 Tg Phạm Nhật Minh 

NỢ ÂN TÌNH LÀ MÓN NỢ KHÓ TRẢ NHẤT ĐỜI NGƯỜI

Có những món nợ cầm giấy tờ đi trả là xong. Có những món nợ chỉ cần đủ tiền thì mọi chuyện khép lại rất nhanh. Người ta vay nhau vài triệu, vài trăm triệu, thậm chí cả một gia tài rồi cũng có ngày thanh toán sạch sẽ. Riêng nợ ân tình thì khác. Càng sống lâu càng thấy nặng lòng. Càng đi nhiều càng hiểu thứ khó trả nhất trên đời chưa bao giờ là tiền bạc, mà là cái nghĩa người khác dành cho mình lúc sa cơ.

Đời người ai cũng từng có lúc khó khăn. Có người khổ vì tiền. Có người khổ vì tình. Có người bên ngoài cười nói bình thường nhưng bên trong nát vụn tới mức chỉ muốn buông xuôi tất cả. Những lúc như thế, thứ cứu một con người nhiều khi không phải vật chất lớn lao, mà chỉ là một bàn tay chìa ra đúng lúc. Một câu nói tử tế. Một ánh mắt tin tưởng. Một người chịu ngồi nghe mình nói hết nỗi lòng giữa lúc ai cũng quay lưng.

Chính những thứ tưởng nhỏ bé ấy lại theo con người ta suốt cả cuộc đời.

Người từng trải thường sống nặng tình hơn nặng tiền. Vì họ hiểu cảm giác lúc bản thân rơi xuống đáy mà vẫn còn người đứng cạnh quý giá tới mức nào. Có những năm tháng đi hết túi vẫn chưa đáng sợ bằng đi hết niềm tin. Có những giai đoạn chỉ cần một người bỏ mặc thôi cũng đủ khiến lòng mình lạnh ngắt. Nên ai từng giúp mình giữa lúc tăm tối, mình nhớ rất lâu. Không cần họ nhắc. Không cần họ đòi. Trong lòng tự khắc ghi.

Nhiều người trẻ nghĩ rằng chỉ cần mang quà cáp tới biếu, gửi chút tiền gọi là đáp lễ thì xem như tròn nghĩa. Không đơn giản như vậy. Ân tình chưa bao giờ đo bằng giá trị món quà. Có người cho mình cả tuổi trẻ để nuôi mình khôn lớn. Có người hy sinh giấc ngủ, sức khỏe, công việc chỉ để mình có chỗ dựa lúc khó khăn. Những thứ ấy lấy gì cân cho đủ.

Cha mẹ là món nợ ân tình lớn nhất đời người. Lúc còn nhỏ, mình đau một chút thì cha mẹ lo đứng lo ngồi. Mình thiếu ăn thiếu mặc một ngày, cha mẹ mất ngủ cả đêm. Có những người cha đi làm quần quật ngoài trời nắng chang chang, lưng áo ướt đẫm mồ hôi vẫn không dám mua cho mình bộ đồ mới. Có những người mẹ ăn uống dè sẻn từng đồng nhưng sẵn sàng vét sạch tiền trong túi để con có bữa cơm ngon. Họ sống cả đời vì con cái nhưng chưa từng tính toán công lao.

Đến lúc con trưởng thành, kiếm được tiền, nhiều người nghĩ đưa tiền về hàng tháng là đủ. Nhưng thứ cha mẹ cần nhiều khi chỉ là một cuộc gọi hỏi han, một bữa cơm đông đủ, một ngày con cái về nhà ngồi nói chuyện tử tế. Tiền bạc giúp cuộc sống dễ thở hơn, nhưng không khỏa lấp được cảm giác cô đơn trong lòng những người già chỉ mong con cháu quan tâm thật lòng.

Có những người khi cha mẹ còn sống thì vô tâm. Lúc mất rồi mới bật khóc, mới thấy lòng trống rỗng, mới muốn báo hiếu nhưng không còn cơ hội. Đó là món nợ day dứt nhất. Muốn trả cũng không biết trả cho ai.

Tình nghĩa vợ chồng cũng là món nợ khó cân đo. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy cưới nhau về sống chung một nhà. Nhưng chỉ người trong cuộc mới hiểu để đồng hành với nhau qua năm tháng không hề dễ. Một người chấp nhận ở cạnh mình lúc tay trắng, chịu cùng mình đi qua nghèo khó, chịu nhẫn nhịn tính xấu, chịu gánh vác lúc mình thất bại, người ấy đáng quý vô cùng. Có những người đàn ông lúc chưa có gì thì vợ ở cạnh động viên từng chút. Tới lúc khá giả hơn lại thay lòng. Có những người phụ nữ từng cùng chồng vượt qua những ngày cơ cực nhưng rồi lại bị bỏ quên khi cuộc sống tốt hơn.

Con người ta nhiều khi bạc với người từng cùng mình chịu khổ, nhưng lại hết lòng với những mối quan hệ hào nhoáng ngoài xã hội. Đó là điều đau nhất.

Tình bạn cũng vậy. Lúc vui vẻ thì quanh mình rất đông người. Lúc có tiền, có địa vị, đi đâu cũng có kẻ cười nói thân thiết. Nhưng tới khi thất bại mới biết ai thật lòng. Người dám ở cạnh mình lúc trắng tay mới là người đáng trân trọng. Có những người bạn nhiều năm không gặp, nhưng chỉ cần mình xảy ra chuyện, họ sẵn sàng có mặt. Có người chẳng khá giả gì nhưng vẫn cố giúp mình một khoản lúc túng quẫn. Khoản tiền ấy chưa chắc lớn, nhưng cái tình nằm phía sau mới đáng quý.

Người từng nghèo mới hiểu bát cơm lúc đói ngon tới mức nào. Người từng cô độc mới hiểu một câu động viên đúng lúc ấm lòng ra sao. Nên càng va chạm, con người càng sống chậm lại. Không còn nhìn mọi thứ bằng giá trị vật chất nữa. Họ nhìn bằng lòng người.

Đời này đáng sợ nhất không phải mang nợ tiền, mà là nợ một người đã từng tốt với mình. Tiền còn có giá rõ ràng. Ân tình thì không có con số cụ thể. Có những việc giúp xong là quên, nhưng người được giúp nhớ cả đời. Có những người chỉ vô tình cứu mình một lần nhưng lại thay đổi cả quãng đời phía sau của mình.

Có người từng nói, lúc nghèo khổ mà gặp được người thật lòng giúp đỡ, cảm giác ấy nhớ tới già cũng chưa quên được. Vì khi con người rơi xuống thấp nhất, họ mới thấy rõ ai thật tâm, ai giả tạo. Người đứng cạnh mình lúc huy hoàng chưa chắc quý bằng người ngồi cạnh mình lúc thất bại.

Cuộc sống bây giờ khiến nhiều người sống thực dụng hơn. Quan hệ cũng tính toán hơn. Người ta sợ thiệt, sợ cho đi, sợ sống quá chân thành. Có người giúp ai cũng cân nhắc xem sau này nhận lại được gì. Có người đối tốt với người khác chỉ vì lợi ích. Nên giữa một xã hội nhiều toan tính, gặp được người sống có tình có nghĩa càng hiếm.

Càng lớn càng hiểu, giàu nghèo chưa nói lên giá trị một con người. Thứ đáng quý nhất nằm ở cách họ đối đãi với người từng giúp mình. Có những người thành công rồi quay lưng với ân nhân. Có những người khá giả hơn một chút liền xem thường bạn cũ. Nhưng cũng có người dù đi tới đâu vẫn nhớ người từng nâng đỡ mình những ngày gian khó. Người như thế thường sống bền, sống lâu trong lòng người khác.

Con người sống hơn nhau ở chữ nghĩa. Một người biết nhớ ơn, đi tới đâu cũng được quý trọng. Một người vô ơn, giàu cỡ nào lòng người khác cũng lạnh nhạt. Vì tiền bạc kiếm lại được, còn nhân cách mất rồi rất khó lấy lại.

Nhiều lúc nghĩ cũng buồn. Có những người sống tử tế cả đời nhưng lại gặp toàn bạc bẽo. Giúp người lúc khó khăn, tới khi mình sa cơ thì chẳng ai nhớ tới. Nhưng người sống sâu sắc thường không than trách nhiều. Họ hiểu giúp người là do cái tâm của mình. Chỉ cần bản thân sống không thẹn lòng là được.

Đời người ngắn ngủi lắm. Nay còn gặp nhau, mai chưa chắc còn cơ hội. Có người sáng còn nói cười, chiều đã rời xa mãi mãi. Nên ai còn cha mẹ thì cố dành thời gian nhiều hơn một chút. Ai còn ân nhân bên đời thì cố đối đãi tử tế hơn một chút. Đừng để tới lúc không còn gặp được nữa mới ôm tiếc nuối.

Tiền nợ còn có thể trả dần theo năm tháng. Ân tình nhiều khi mang theo tới hết đời vẫn chưa trả đủ. Vì thứ người khác cho mình đâu chỉ là sự giúp đỡ. Trong đó còn có lòng thương, sự tin tưởng, sự bao dung và cả chân thành.

Có những người bước qua đời mình như cơn gió. Nhưng cũng có những người chỉ cần xuất hiện một lần thôi cũng đủ khiến mình nhớ mãi. Không phải vì họ giàu có hay tài giỏi. Chỉ vì lúc cả thế giới quay lưng, họ vẫn chọn đứng về phía mình.

Người từng đi qua đủ thăng trầm thường sống chậm hơn, trầm hơn, ít khoe khoang hơn. Vì họ hiểu cuộc đời này thứ quý nhất không nằm trong tài khoản, cũng không nằm ở danh tiếng ngoài xã hội. Thứ đáng quý nằm ở những người thật lòng bên cạnh mình lúc khốn khó.

Nợ tiền còn có ngày trả hết.

Nợ ân tình nhiều khi mang theo cả đời vẫn thấy chưa đủ.

Tg Phạm Nhật Minh 

Ngày 26/05/2026 

From: luong bui & KimBằngNguyễn 


 

ĐỪNG LÀM BUỒN LÒNG NGƯỜI TRANH ĐẤU VÌ CHÚNG TA

 Manh Dang is with Gia-quoc Nguyen

ĐỪNG LÀM BUỒN LÒNG NGƯỜI TRANH ĐẤU VÌ CHÚNG TA

——-///——-

Đặng Đình Mạnh

Việt Báo, ngày 24/07/2026

Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.

Mỗi nơi tôi đến làm việc đều có cộng đồng người Việt, các tổ chức hoạt động theo mục tiêu, tôn chỉ hướng về quốc nội. Nhờ vậy mà tôi biết rất nhiều người, nhiều tổ chức đang công khai, hoặc âm thầm dấn thân cho mục tiêu dân chủ hóa Việt Nam. Điều khiến tôi chú ý là tuyệt đại đa số những người ấy đều đã có cuộc sống ổn định. Họ có nghề nghiệp, có gia đình, có cơ ngơi và một tương lai khá vững vàng trên đất nước Hoa Kỳ.

Tò mò, tôi hỏi họ “Nếu một ngày Việt Nam thay đổi, các anh chị có trở về quê hương sinh sống không?”. Hỏi nhiều lần và ở nhiều nơi, nhưng hầu như câu trả lời đều chỉ có một: “Không anh!”.

Điều đó không làm tôi ngạc nhiên.

Sau nhiều chục năm định cư, nước Mỹ đã trở thành quê hương thứ hai của họ. Con cái họ sinh ra, lớn lên, học hành và lập nghiệp tại đây. Cuộc sống của họ đã gắn chặt với xã hội Hoa Kỳ. Nếu đặt lên bàn cân giữa điều kiện sống, hệ thống pháp luật, cơ hội phát triển và mức độ bảo đảm phẩm giá con người thì rất ít người có lý do để từ bỏ tất cả để quay về sinh sống tại Việt Nam, cho dù xã hội Việt Nam có thay đổi như thế nào.

Đó chính điều khiến tôi suy nghĩ và trân trọng họ.

Nếu họ không có ý định trở về quê hương, nếu họ không mong đợi lợi ích tại Việt Nam sau khi đất nước chuyển đổi dân chủ hóa thành công, vậy thì điều gì khiến họ vẫn kiên trì dành hàng chục năm trời để tranh đấu?

Họ bỏ tiền túi tổ chức hội họp. Họ dành thời gian vận động chính giới. Họ viết bài, làm truyền thông. Họ xuống đường. Họ tổ chức gây quỹ. Họ hỗ trợ gia đình tù nhân lương tâm. Họ tiếp xúc các tổ chức nhân quyền quốc tế. Họ tham dự các phiên điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ. Họ chịu đựng những cuộc tấn công mạt sát trên mạng, những lời vu khống, thậm chí nhiều người còn bị đe dọa đến thân nhân còn ở trong nước, kể cả mất cơ hội về thăm quê hương, người thân.

Đổi lại, họ nhận được điều gì? Nếu không muốn nói hầu như không có gì cho bản thân.

Nếu nhìn hoàn toàn bằng lăng kính lợi ích vật chất thì thật khó giải thích. Tôi chỉ có thể lý giải bằng một điều rằng họ không có món nợ pháp lý, cũng không có món nợ kinh tế. Họ chỉ có món nợ quê hương, một món nợ tinh thần về nơi họ sinh ra. Có thể là nơi cha mẹ họ nằm xuống, là nơi có nấm mồ tổ tiên, là nơi để lại di sản tiếng Việt…

Và trên tất cả, là nơi hàng trăm triệu đồng bào của họ vẫn đang sống mà chưa được hưởng những quyền tự do căn bản, phẩm giá như chính họ đang được hưởng tại Hoa Kỳ.

Có lẽ vì thế mà họ không đấu tranh để đòi lợi ích cho bản thân sau này. Họ đấu tranh để đồng bào mình còn ở lại trong nước có thể được sống đúng với phẩm giá con người.

Vậy thôi.

Đó mới là điều cần nói về các cá nhân, tổ chức của đồng bào tại hải ngoại.

Những ngày gần đây, tôi rất buồn và ngạc nhiên khi nghe những lời nhận xét rất nặng nề, rằng “phần lớn” các tổ chức chống Cộng tại hải ngoại chỉ là giả danh để trục lợi. Rằng nhiều người là đặc tình của chế độ Cộng sản.

Không ai phủ nhận rằng trong bất kỳ cộng đồng nào cũng tồn tại hiện tượng “vàng thau lẫn lộn”. Trong giới doanh nhân có người làm ăn chân chính và cũng có người lừa đảo. Trong giới luật sư có người bảo vệ công lý và cũng có người vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Trong tổ chức từ thiện có nơi minh bạch và cũng có nơi lợi dụng lòng tốt của người khác.

Thế nên, công cuộc đấu tranh cho dân chủ hóa Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.

Có những tổ chức hoạt động thiếu hiệu quả. Hoặc, thay vì bảo vệ cộng đồng, hướng về quốc nội lại quay ra chống nhau. Có những cá nhân lợi dụng danh nghĩa đấu tranh để đánh bóng tên tuổi hoặc gây quỹ không minh bạch. Thậm chí, cũng có thể có những trường hợp làm đặc tình cho chế độ Cộng Sản.

Đó là sự thật.

Nhưng số đó là bao nhiêu? Đã có những cuộc điều tra, hoặc thống kê chính thức nào để có thể kết luận rằng “phần lớn”, nếu không phải chỉ là sự võ đoán phiến diện! Là người hiểu biết, có tiếng nói thì lại càng phải cẩn trọng ngôn từ như vậy khi phủ nhận nhau.

Hơn thế nữa, cách kết luận ấy còn vô tình phủ nhận công sức của biết bao thế hệ người Việt hải ngoại.

Nếu không có họ, liệu vấn đề nhân quyền Việt Nam có được duy trì liên tục trong chương trình nghị sự của nhiều quốc gia dân chủ suốt nhiều thập niên?

Nếu không có họ, liệu các tổ chức quốc tế có nhận được lượng thông tin đồ sộ về tình trạng đàn áp trong nước?

Nếu không có họ, liệu nhiều tù nhân lương tâm có nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế?

Nếu không có họ, liệu nhiều chiến dịch vận động tại Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội châu Âu hay các diễn đàn quốc tế có thể diễn ra?

Bản thân tôi và nhiều người khác đang được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ cũng không thể nói rằng là nhờ chính phủ Hoa Kỳ là đủ, vì nếu không có sự tranh đấu bền bỉ, hiệu quả của bao thế hệ người Việt đến đây trước chúng tôi, thì cũng chưa hẳn sẽ có chính sách mà ngày nay chúng tôi đang được hưởng.

Tôi nghĩ, chúng ta có thể tranh luận về hiệu quả. Có thể góp ý về phương pháp. Có thể phê bình một tổ chức cụ thể. Nhưng không thể phủ nhận toàn bộ theo cách chụp mũ “phần lớn”.

Vì khi đó, nó không còn là phản biện mà là phủ định sạch trơn.

Thực tế, phần lớn những người tôi từng gặp không hề giàu lên nhờ hoạt động đấu tranh. Ngược lại. Họ mất nhiều hơn được. Mất thời gian, tiền bạc, công sức, những ngày cuối tuần bên gia đình. Có người còn mất cả sự an toàn của thân nhân còn sinh sống tại Việt Nam.

Điều đáng tiếc là lời quy kết vô căn cứ không chỉ làm tổn thương những người đang dấn thân, nó còn tạo ra sự hoài nghi trong cộng đồng. Làm người thiện chí nản lòng, nhất là làm cho người trẻ, thế hệ kế thừa cuộc đấu tranh suy giảm niềm tin.

Và cuối cùng, người được hưởng lợi nhiều nhất lại chính là những thế lực luôn mong phong trào dân chủ bị chia rẽ và tự phủ nhận lẫn nhau.

Nhìn lại, hơn 2 năm qua, tôi được đi nhiều, gặp gỡ nhiều cá nhân và tổ chức, nhưng vẫn chưa tự tin rằng mình hiểu biết hết về cộng đồng người Việt hải ngoại, điều tôi thấy có thể chỉ mới là lớp váng nổi trên bề mặt mà thôi. Nhưng khi tận mắt thấy những đội ngũ hoạt động bất vụ lợi bằng tiền bạc, thời gian, công sức của chính họ cho mục tiêu dân chủ hóa đất nước, tôi lạc quan tin rằng tiền đồ dân tộc mình còn sáng sủa lắm.

Thế nên. Tôi biết ơn các cá nhân, tổ chức cộng đồng người Việt hải ngoại, nhờ họ, mà tôi tìm lại được các giá trị mà chế độ Cộng Sản trong nước đã phá hủy, hoặc làm cho phôi pha dần. Nhờ họ, mà tôi tin rằng công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước sẽ thành công.

Hoa Thịnh Đốn, ngày 24 Tháng Bảy 2026

——-///——-

@highlight

*Tranh minh họa bài viết của họa sĩ Đinh Trường Chinh và ảnh chụp kỷ niệm với nhạc sĩ Nam Lộc, người được vinh danh nhân kỷ niệm 75 năm ra đời Công ước Người Tỵ nạn tại Thượng viện Hoa Kỳ


 

Đảng Tân Đại Việt tổ chức Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 36 Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy

 Viet Ba’o

30/07/2026

Thanh Huy

Nghi thức chào cờ từ phải: Ông Hoàng Đình Khuê, Nhà Giáo, Nhà văn Trần Phong Vũ, Nhà văn Nguyễn Quang, TS. Mai Thanh truyết, Ông Phan Thanh Châu và Bà Nguyễn Thế Thủy

 Westminster, Nam California  (Thanh Huy) – Tại Hội trường VietlifeTV thành phố Westminster vào lúc 1 giờ chiều Chủ Nhật ngày 26 tháng 7 năm 2026, Đảng Tân Đại Việt đã long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm lần Thứ 36 Cố  Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy,  Đảng Trưởng Đảng Tân Đại Việt.

 Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời vào ngày 28 tháng 7, 1990 trên bước đường hoạt động tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự. Từ đó đến nay đã trải qua 36 năm, cứ đến độ hè về vào cuối tháng bảy hàng năm Đảng Tân Đại Việt đều long trọng tổ chức lễ tưởng niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. Chính sự kiện này cho thấy hậu thế không bao giờ quên một nhân vật đặc biệt trong lịch sử VN.

 Tham dự lễ tưởng niệm, ngoài một số các Đảng viên Tân Đại Việt, Liên Minh Dân Chủ, còn có quý vị quan khách như: Nhà Văn Nguyễn Quang, Nhà Giáo, Nhà Văn Trần Phong Vũ, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, Ông Phan Thanh Châu Đại Diện Việt Nam Quốc Dân Đảng, Kỹ Sư Phạm Ngọc Lân, Bà Nguyễn Thế Thủy, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Westminster, Nhà Văn Việt Hải và phái đoàn Nhân Văn Nghệ Thuật-Tiếng Thời Gian, Bình Luận Gia Nguyễn Kim Bình, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Nam California, Kỹ Sư Cao Thái Hải, Cô Annie Wright (con gái Giáo Sư Nguyễn Văn Bông) một số quý vị nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông và đồng hương tham dự.

 Điều hợp chương trình buổi lễ do MC: Thụy Lan, mở đầu MC Thụy Lan cho biết lý do và thông qua chương trình. Sau đó nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm.

Quang cảnh lễ tưởng niệm

Tiếp theo ông Hoàng Đình Khuê  Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt lên tuyên bố lý do buổi lễ, Ông nói: “Thay mặt cho Ban tổ chức TĐV, chúng tôi xin Chào mừng và Cảm tạ sự hiện diện của Quý vị trong Buổi Lễ Tưởng Niệm Lần thứ 36 Cố GS Nguyễn Ngọc Huy. Điều này nói lên lòng ưu ái và mối thiện cảm của Quý vị với GS Nguyễn Ngọc Huy và Đảng Tân Đại Việt.

MC. Thụy Lan điều hợp chương trình

Hôm nay chúng tôi không nói gì về Tiểu sử, Văn bằng và Di sản cũng như Sự nghiệp của GS Huy. Chúng tôi sẽ tiết lộ những điều ít biết về cuộc đời của GS:

1- Cơ duyên học chữ Hán:

GS Huy quê ở Tân Uyên/ Biên Hòa trong một gia đình 10 ACE, GS Huy thứ 9 và cô Út Uyên thứ 10. Không may trong gia đình có cái “huông” hễ sanh con trai là chết yểu gọi là giờ “SÁT” chẳng hạn như anh Hai, anh Tư, anh Bảy, anh Tám đều chết; còn chị Ba, chị Tư, chị Sáu còn sống. Cho nên khi sinh ra GS Huy là con Trai thứ 9 thì gia đình rất lo sợ mới đi chùa, cầu khẩn Thầy chùa, Thầy pháp thì được mách là phải đổi ra người Nữ để tránh tai mắt Thần Thánh.

Theo tục lệ và mê tín dị đoan của người xưa thì trường hợp này gọi là “Xấu Hài”. Những người sinh ra giờ Sát rất khó nuôi. Theo truyền miệng đứa trẻ từ lúc sinh ra đến 12 tuổi phải có Cô Mụ đỡ đầu cho đến khi 13 tuổi thì coi như qua được cõi Chết. Cho nên để dối gạt Thần Linh, người Nam phải sống theo lối người Nữ, nghĩa là phải mang tên Nữ, mặc quần áo như Nữ, xỏ lỗ tai, mang kiểng ở cổ chân và nhất là đem bán cho gia đình khác nuôi.

Do đó gia đình mới gởi cho Dì Sáu nuôi.

Gia đình bên Ngoại sống ở làng Tân Hòa, Tân Khánh/ Biên Hòa. Hai làng này nổi tiếng giỏi Võ. Có một dạo người Pháp cấm hai làng này không được dạy Võ. GS Huy sống với gia đình Dì Sáu và học hành rất chăm chỉ.

Ông Ngoại của GS Huy là cụ Trần Văn Thỉnh, biệt danh là Trần Minh Đức, một nhà Nho nổi tiếng và cũng là nhà Nho cuối cùng của miền Nam. Lúc bấy giờ GS Huy mới 9 tuổi, lúc rảnh rỗi GS Huy thường đứng bên ngoài nghe ông Ngoại dạy chữ Nho. Nhận thấy cháu ngoại hiếu học và thông minh, nên ông Ngoại truyền hết kho chữ Nho cho cháu ngoại.

Sau này GS Huy có biệt hiệu “ông Đồ mặc âu phục.”

Lý do tôi biết được bí mật này là nhân dịp đi công tác ở Sydney-New South Wales/Úc Châu gặp được GS Liêng Khắc Văn là anh em bạn Dì với GS Huy cho biết; một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng Sydney và cũng là cựu hoc sinh Petrus Ký, bạn với GS Dương Ngọc Sum. 

2- Học giả với viễn kiến sâu sắc:

Mặc dù GS Huy là một chính trị gia với bằng cấp Tiến sĩ Chính Trị Học với một di sản Văn hóa gồm nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và Hán văn, nhưng người đời khâm phục và ngưỡng mộ sự hiểu biết thời sự quốc tế, nhất là viễn kiến uyên bác và đa diện của GS Huy:

  1. a) Trong cuộc chiến Việt Nam, ai đã gây ra sự kiện 30/04/1975?

Phần lớn các Sử gia, các nhà bình luận chính trị đều đổ trách nhiệm cho nhau đã làm mất miền Nam. Nhưng GS Huy đã thấy rõ nguyên nhân chính đã xảy ra biến cố 30/04/1975.

Theo GS Huy nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ miền Nam kể sau vụ Tết Mậu Thân.

Ông Hoàng Đình Khuê, Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt chào mừng và cảm ơn quan khách và đồng hương tham dự

Thế lực đứng sau kế hoạch bỏ miền Nam là do hai sắc tộc mạnh nhất, đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan và sắc tộc Do Thái. Trong giai đoạn này thì sắc tộc Do Thái là thủ phạm. Họ chủ trương nắm giữ các cơ quan trong chính phủ từ Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp, nhất là Truyền thông đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.

Những tiết lộ tế nhị của GS Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao Văn Luận nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử, ông cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam.

  1. b) Ai đã làm sụp đổ bức tường Bá Linh (9/11/1989) và tan rã Liên Xô (21/12/1991)?

Câu hỏi lịch sử này đã gây tranh cãi mấy chục năm qua và có nhiều câu trả lời chủ quan khác nhau tùy theo hoàn cảnh, trình độ và đề cao tinh thần Dân tộc.

– Phía Ba Lan cho là nhờ hai công dân Ba Lan là Lãnh tụ Nghiệp đoàn Walesa và Đức Giáo Hoàng John Paul II.

– Phía Hung Gia Lợi cho rằng nhờ cựu Thủ tướng Nemeth đã mở đường biên giới Áo-Hung.

 – Phía Đông Đức cho rằng nhờ lực lượng cải cách của Đảng cộng sản Đông Đức đã thành công lật đổ nhà độc tài Honecker …

– Phía Tây Đức cho rằng nhờ chánh sách hòa dịu của cựu Thủ tướng Brandt đã thay đổi chế độ công sản …

– Phía Liên Xô thì cho rằng chính TBT Gorbachev với chánh sách cởi mở nên xảy ra tình trạng mất kiểm soát. 

Nhưng theo GS Huy cho rằng nhờ cố Tổng thống Reagan hành xử cứng rắn với Liên Xô. Ông khích tướng kêu gọi Gorbachev mở cửa và làm sụp đổ bức tường này. GS Huy đã tiên đoán rất sớm và trình bày cặn kẻ trong tác phẩm “Perestroika” (viết bằng Anh ngữ), dày 420 trang với 200 lần dẫn chứng tài liệu) và “Glasnost”.Ông cho rằng bắt buộc ông Gorbachev phải cởi mở chánh sách để đối đầu với Hoa Kỳ của Tổng thống Reagan đang trên đà leo thang với phòng thủ chống hỏa tiễn SDI (Strategic Defense Initiative)

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết phát biểu  

  1. c) Biến cố Anh quốc trao trả Hồng Kông cho Trung quốc năm 1997.Từ đó GS Huy đã tiên đoán Dân Hồng Kông sẽ biểu tình chống đối giống như Truyện Tây Du Ký khi Bà La Sát nuốt Tôn Hành Giả vào bụng (Tôn Ngộ Không) khi Tôn Hành Giả hóa ra con bồ hóng trong chén trà, Tôn Hành Giả dùng thiết bản quậy lục phủ ngũ tạng, bà La Sát đau quá phải chịu thua.

GS Huy mất năm 1990, Hồng Kong được trả cho Trung Quốc ngày 1/7/1997, 7 năm sau khi GS qua đời nhưng viễn kiến về chính trị của ông rất nhậy bén trước nhiều thập niên:dân chúng Hồng Kông sẽ biểu tình đòi Dân chủ.

Sau đó Phong trào Dân chủ Hong Kong biểu tình qua cuộc Cách Mạng Dù năm 2014. Thành phần học sinh đã tham gia tranh đấu. Một học sinh tên Joshua Wong (Hoàng Chí Phong) và cô sinh viên Alex Chao (Chu Đình) trong vai trò thủ lãnh đã thành công huy động thành phần sinh viên, học sinh lên tới hàng trăm ngàn người.

Đến ngày 9 tháng 6 năm 2019, hơn 1 triệu người Hong Kong lại xuống đường với những cánh Dù vàng. Joshua Wong vẫn còn trong tù. 

  1. d)  Những lá thơ của các vị Tổng Thống Hoa Kỳ vinh danh GS Huy:

1) Sau khi GS Huy qua đời, biết bao nhiêu các nhà lãnh đạo trong chính quyền Mỹ, các nhân vật nổi tiếng như các chính trị gia, học giả, nhân sĩ …, trong đó có Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush Cha đã gởi một lá thơ chia buồn cho Ái nữ của GS Huy và lên tiếng ca ngợi:

“GS Nguyễn Ngọc Huy là một nhân vật tận tụy cho dân tộc Việt Nam và dân tộc Mỹ với tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau”. 

Những chuyện kể của Ông Hoàng Đình Khuê còn nhiều vấn đề chưa được tiết lộ (Rất tiếc trong phạm vi bản tin chúng tôi không thể tường thuật hết được). 

Tiếp theo là phần phát biểu của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết về những kỷ niệm với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy khi ông còn là một sinh viên tại Pháp. TS.Mai Thanh Truyết cho biết, GS. Nguyễn Ngọc Huy có cuộc sống thật giản dị, lúc nào cũng hòa mình vào những điều kiện đơn giản nhất trên bước đường hoạt động của ông, bình dị với mọi người, nhất là những anh chị em sinh viên đang du học tại Pháp thời bấy giờ. TS. Mai Thanh Truyết có rất nhiều tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua các loạt bài khá dài, nhất là những kỷ niệm về Hòa Đàm Paris, hy vọng trong những ngày sắp tới sẽ được TS. Mai Thanh Truyết phổ biến trên các hệ thống truyền thông để đồng hương có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn. 

Sau đó Giáo Sư Trần Phong Vũ lên phát biểu về cuộc đời và sự nghiệp chính trị của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. 

Tiếp theo, Minh Phượng lên có lời phát biểu về Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, trong những lời phát biểu mọi người đều ca ngợi tinh thần quốc gia, dân tộc và sự hy sinh cao cả của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho một Việt Nam có tự do, dân chủ và phú cường.

 Sau những lời phát biểu, Ban Hợp Ca lên hát bản “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” (Đảng Ca của Đảng Tân Đại Việt.)

 Tiếp theo ban tổ chức mời quý vị lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt, Liên Minh dân Chủ Việt Nam, quý vị quan khách, quý vị thân hào nhân sĩ lên trước bàn thờ có chân dung Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy làm lễ niệm hương.

 Sau lễ niệm hương, Kiều My và Ngọc Quỳnh lên song ca bản “Dân Tộc Sinh Tồn”.

 Kết thúc chương trình với phần hội luận về đề tài: “Chủ Nghĩa Dân Tộc trong chiều hướng toàn cầu hóa” dưới sự chủ tọa của Ông Hoàng Đình Khuê, Nguyễn Kim Bình và Minh Phượng.

 Buổi lễ bế mạc vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày.


 

Mười Điều Tâm Niệm

1) Nghĩ đến thân thể đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì tham dục dễ sanh .

2) Ở đời đừng cầu không khó khăn hoạn nạn, vì không khó khăn hoạn nạn thì kiêu sa nổi dậy.

3) Tự xét tâm tính đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

4)  Xây dựng đạo hạnh đừng mong không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.

5) Việc làm đừng mong dễ thành, vì dễ thành thì lòng khinh thường ngạo mạn.

6) Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

7) Với người đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.

8) Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cẩu đền đáp là có ý mưu đồ.

9) Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.

10) Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.

     S.T.


 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ — Lm Anmai CSsR 

Anmai CSsR 

CUỘC SỐNG KHÔNG CẦN QUÁ ĐẦY, CHỈ CẦN ĐỦ.

Có một ảo tưởng rất phổ biến trong đời sống này: càng nhiều thì càng tốt. Nhiều tiền hơn, nhiều mối quan hệ hơn, nhiều thành tựu hơn, nhiều lời khen hơn. Người ta chạy, và chạy mãi, như thể nếu dừng lại một chút thôi thì sẽ bị bỏ lại phía sau, như thể cuộc đời là một cuộc đua không có vạch đích.

Nhưng rồi, đến một lúc nào đó, khi lòng đã mỏi, khi đôi vai đã nặng, người ta mới chợt nhận ra một điều giản dị đến đau lòng:

cuộc sống không cần quá đầy, chỉ cần đủ. “Đủ” là một từ rất nhỏ, nhưng lại là một đỉnh cao mà nhiều người không chạm tới.

Đủ không phải là ít. Đủ là khi bạn không còn bị đói khát bởi những thứ bên ngoài. Đủ là khi bạn có thể ngồi xuống, nhìn lại, và nói với chính mình: “Thế này… là được rồi.”

Có người có cả một căn nhà lớn, nhưng không có một góc nào để thật sự nghỉ ngơi.

Có người có hàng trăm mối quan hệ, nhưng không có nổi một người để gọi lúc nửa đêm.

Có người có rất nhiều tiền, nhưng không có một bữa ăn nào thật sự ngon miệng.

Vì họ không sống trong “đủ”, họ sống trong “chưa đủ”. Mà “chưa đủ” thì không có điểm dừng. Một bữa cơm đơn sơ, nếu ăn trong bình an, sẽ no lâu hơn một bàn tiệc thịnh soạn trong lo âu.

Một căn phòng nhỏ, nếu có tiếng cười, sẽ ấm hơn một biệt thự lạnh lẽo.

Một ngày sống chậm, sống sâu, sẽ đáng giá hơn cả trăm ngày vội vã mà rỗng không.

Đời sống không cần phải đầy tràn, chỉ cần vừa vặn với tâm hồn mình.

Rồi đến lòng người.

Người ta thường tự hào về một trái tim “rộng lớn”. Nhưng nhiều khi, cái gọi là rộng ấy lại chỉ là một sự dễ dãi, một sự mở cửa không chọn lọc, để rồi cuối cùng chính mình là người bị tổn thương. Lòng người không cần quá rộng, chỉ cần thật.

“Thật” không phải là nói hết, cũng không phải là cho hết.

“Thật” là khi bạn không giả vờ yêu thương.

“Thật” là khi bạn không mỉm cười chỉ vì lịch sự mà trong lòng lại lạnh tanh.

“Thật” là khi bạn dám im lặng trước những điều không thuộc về mình, và dám nói khi điều đó là cần thiết.

Một trái tim thật có thể không ôm được nhiều người, nhưng những ai ở lại sẽ là những người thật sự được yêu. Một sự quan tâm thật có thể không phô trương, nhưng lại bền bỉ và sâu sắc.

Một lời nói thật có thể không dễ nghe, nhưng lại cứu được một đời người khỏi ảo tưởng. Có những người sống cả đời để làm vừa lòng thiên hạ, để rồi cuối cùng đánh mất chính mình.

Có những người nói chuyện rất hay, rất khéo, nhưng khi cần thì không thấy đâu.

Có những mối quan hệ tưởng như rất rộng, nhưng lại rỗng.

Thà ít mà thật, còn hơn nhiều mà giả.

Thà sâu mà hẹp, còn hơn rộng mà nông.

Một trái tim thật, dù nhỏ, vẫn đủ để giữ ấm một cuộc đời.

Và rồi, chuyện của một đời người. Người ta sợ già, sợ chết, sợ thời gian trôi qua. Ai cũng muốn sống lâu, sống dài, sống thêm. Nhưng ít ai tự hỏi: “Mình đang sống như thế nào trong những ngày đã có?”

Một đời người không cần quá dài, chỉ cần sống trọn vẹn từng ngày.

“Trọn vẹn” không phải là làm được nhiều việc, mà là có mặt trong từng việc mình làm.

Ăn thì biết mình đang ăn.

Nói thì biết mình đang nói.

Yêu thì biết mình đang yêu.

Sống thì biết mình đang sống.

Có những người sống đến tám mươi năm, nhưng phần lớn thời gian là lo lắng, tiếc nuối và chờ đợi. Có những người chỉ sống vài chục năm, nhưng từng ngày của họ đều có ý nghĩa, có tình yêu, có sự dâng hiến. Chiều dài của đời người không nằm ở số năm, mà nằm ở độ sâu của từng khoảnh khắc.

Một cái nắm tay đúng lúc có thể quý hơn cả ngàn lời nói muộn màng. Một lần tha thứ có thể nhẹ hơn cả một đời ôm hận. Một ngày sống tử tế có thể đáng giá hơn cả một tháng sống hời hợt.

Sống trọn vẹn là khi tối đến, bạn không phải tự hỏi:

“Hôm nay mình đã sống chưa?”

Cuối cùng, tất cả lại quay về những điều rất đơn giản:

Không cần quá nhiều, chỉ cần đủ để bình an. Không cần quá rộng, chỉ cần thật để không cô đơn.

Không cần quá dài, chỉ cần sâu để không uổng phí. Cuộc đời, xét cho cùng, không phải là một bài toán để tối đa hóa, mà là một hành trình để hiểu thế nào là vừa vặn.

Và có lẽ, hạnh phúc không nằm ở chỗ bạn có bao nhiêu,

mà nằm ở chỗ bạn biết dừng lại ở đâu —

để mỉm cười và nói:

“Vậy là đủ.”

Lm. Anmai, CSsR 


 

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook

Những nguyên tắc khi sử dụng Facebook.

  1. Facebook là không gian riêng của mỗi người.

Khi bạn truy cập vào Facebook của một người khác, bạn không phải đang ở trong nhà của mình mà là “vào nhà” của người khác.

Vì vậy, việc tôn trọng các quy tắc trong không gian ấy là rất quan trọng.

Nhận định về hành vi và ứng xử trên Facebook.

  1. Các vấn đề cần chú ý khi tương tác trên Facebook.

Trên Facebook, mỗi người đều có quyền bày tỏ ý kiến, chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ cá nhân.

Tuy nhiên, việc thể hiện quan điểm cần phải phù hợp và tôn trọng người khác, vì nó sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ cũng như bầu không khí chung.

Tại sao ta phải làm vậy?

  1. Tôn trọng ý kiến của người khác giúp xây dựng một cộng đồng lành mạnh.

Không gian mạng là nơi mà mỗi cá nhân có thể tự do thể hiện bản thân. Việc tuân thủ các nguyên tắc ứng xử giúp bảo vệ không gian ấy khỏi những tranh cãi vô nghĩa, đồng thời duy trì sự văn minh, tôn trọng trong mọi tương tác.

7 Nguyên tắc sử dụng Facebook.

  1. KHÔNG tranh cãi nếu không cùng quan điểm.

Lý do: Facebook không phải là nơi để tranh cãi, mà là nơi chia sẻ và kết nối.

Nếu không đồng tình với quan điểm của người khác, bạn có thể giữ im lặng hoặc chỉ bình luận khi được yêu cầu.

  1. KHÔNG tự động tư vấn khi chưa được yêu cầu

Lý do: Mỗi người có quyền lựa chọn chia sẻ hoặc không chia sẻ vấn đề cá nhân. Việc tự ý can thiệp, tư vấn mà không được yêu cầu có thể gây khó chịu và xâm phạm quyền riêng tư của người khác.

  1. Khen ngợi để vui, tránh chê bai.

Lý do Mỗi người đều có những cảm xúc và giá trị riêng. Khi bạn khen ngợi ai đó, bạn giúp tạo ra bầu không khí tích cực, trong khi lời chỉ trích có thể làm người khác buồn và khiến bạn trở nên vô duyên.

  1. Đừng phát biểu khi không biết rõ vấn đề.

Lý do: Việc phát biểu mà không hiểu biết có thể làm bạn trở nên thiếu hiểu biết và làm mất đi giá trị của cuộc trò chuyện.

  1. Đọc kỹ Status trước khi comment.

Lý do: Đọc kỹ thông tin trước khi bình luận giúp tránh những hiểu lầm và thể hiện sự tôn trọng đối với người chia sẻ nội dung đó.

  1. KHÔNG gây lộn trong nhà người khác

Lý do: Một cuộc tranh cãi không cần thiết sẽ làm không khí trở nên căng thẳng, không chỉ ảnh hưởng đến người khác mà còn có thể làm bạn mất đi sự tôn trọng từ cộng đồng.

  1. Tôn trọng quan điểm của chủ nhà.

Lý do: Khi ai đó chia sẻ quan điểm, nếu không được yêu cầu, bạn nên tôn trọng và không cần phải phô trương ý kiến của mình. Điều này thể hiện sự chín chắn và tôn trọng người khác.

Tóm tắt: “Biết điều” quan trọng hơn “biết nhiều”**

  1. Tầm quan trọng của sự tinh tế trong giao tiếp.

Không cần phải luôn tỏ ra là người hiểu biết, quan trọng là biết khi nào nên nói và khi nào nên im lặng, để thể hiện sự tôn trọng và xây dựng một cộng đồng Facebook lành mạnh.

Người có học và cư xử văn minh đều phải biết những quy tắc nầy.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Hạnh phúc và Niềm vui có giống nhau hông?

Anfu Tran  is  feeling blessed.

Em hỏi: “Anh nè! Hạnh phúc và Niềm vui có giống nhau hông? Em thấy nó lẫn lộn sao ấy”

Em mến!

Trong đời sống hằng ngày, nhiều người thường dùng hai từ hạnh phúc và niềm vui như thể chúng đồng nghĩa với nhau. Nhưng thực ra, chúng diễn tả hai chiều kích rất khác nhau của đời sống con người. Hạnh phúc thường được sinh ra từ những hoàn cảnh thuận lợi; còn niềm vui phát xuất từ một tâm hồn đã gặp gỡ chân lý, tình yêu và chính Thiên Chúa.

Hạnh phúc thường gắn liền với những gì xảy ra bên ngoài. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc khi sức khỏe tốt, gia đình bình an, công việc thuận lợi, ước mơ thành hiện thực hay những điều mong đợi được đáp ứng. Tất cả đều là những hồng ân đáng trân quý và cần được đón nhận với lòng biết ơn. Tuy nhiên, vì lệ thuộc nhiều vào hoàn cảnh, hạnh phúc cũng dễ đến rồi dễ đi khi cuộc sống thay đổi.

Niềm vui thì khác. Niềm vui đi sâu vào tận cõi lòng con người. Đó không phải là sự vắng bóng của đau khổ, nhưng là sự hiện diện của ý nghĩa. Niềm vui vẫn có thể tồn tại giữa những giọt nước mắt, vì nó không được xây dựng trên điều ta sở hữu, nhưng trên Đấng ta tín thác. Một người mẹ tận tụy chăm sóc đứa con đau yếu, một linh mục trung thành phục vụ giữa muôn thử thách, hay một người môn đệ kiên vững vác thập giá theo Đức Kitô có thể không luôn cảm thấy hạnh phúc, nhưng vẫn sống trong một niềm vui sâu thẳm mà thế gian không thể lấy đi.

Đức tin Kitô giáo mặc khải rằng niềm vui đích thực là một trong những hoa trái của Chúa Thánh Thần (Gl 5:22). Niềm vui ấy phát sinh từ sự kết hiệp với Đức Kitô, Đấng được ngôn sứ Isaia gọi là “người tôi tớ đau khổ” (Is 53:3), nhưng cũng chính là Đấng luôn sống trong niềm vui trọn vẹn vì hoàn toàn ở trong tình yêu của Chúa Cha. Bởi thế, Người đã nói: “Thầy nói những điều ấy để niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15:11). Đức Giêsu không hứa ban một cuộc đời không có thử thách, nhưng Người hứa ban một niềm vui mà không ai có thể cướp mất (Ga 16:22).

Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy rằng khát vọng được hạnh phúc đã được Thiên Chúa đặt vào trong trái tim mỗi con người. Tuy nhiên, khát vọng ấy chỉ được viên mãn nơi chính Thiên Chúa (GLHTCG 1718–1729). Vì thế, hạnh phúc trần thế chỉ là dấu chỉ, chứ không phải đích điểm. Nó hướng lòng con người về niềm vui vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta để được hưởng.

Em thân mến,

Trong một thế giới không ngừng tìm kiếm sự tiện nghi, thành công và khoái lạc, người Kitô hữu được mời gọi hướng đến điều cao cả hơn. Hạnh phúc là người bạn đồng hành đáng quý trên hành trình cuộc sống; nhưng niềm vui mới là người bạn trung tín, luôn ở lại trong cả những ngày nắng đẹp lẫn những đêm tối của thập giá. Hạnh phúc có thể làm bừng sáng một khoảnh khắc; còn niềm vui có thể biến đổi cả một đời người. Hạnh phúc tùy thuộc vào những gì xảy đến với chúng ta; còn niềm vui tùy thuộc vào Đấng đang sống trong chúng ta.

Ước gì chúng ta đừng chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm một hạnh phúc mong manh theo hoàn cảnh, nhưng luôn khao khát niềm vui bền vững được sinh ra từ việc ở lại trong Đức Kitô, sống theo chân lý của Người và yêu thương như Người đã yêu. Bởi khi Đức Kitô trở thành trung tâm của cuộc đời, ngay cả thập giá cũng không còn là dấu chấm hết, nhưng trở thành con đường dẫn đưa chúng ta đến niềm vui mà không ai có thể lấy mất. Bình an em hỉ!

#nguoitheodoi #tamlinh #giftideas #conggiao

Người ráp chữ.