MÙA GIẶT GIŨ – Giuse Ngô Văn Chữ, S.J

Giuse Ngô Văn Chữ, S.J 

Một mùa Chay tôi được mời đến giúp tĩnh tâm cho một giáo xứ ở vùng đất đỏ Tây nguyên.  Buổi sáng nọ cha xứ nhờ tôi vào buôn giải tội cho người Dân tộc.  Khi vào làng thì một số giáo dân người Dân tộc đã chờ sẵn ở nhà nguyện để đón nhận bí tích giải tội.  Mùa này là mùa thu hoạch điều nên một số đã đi làm rồi vì tôi vào hơi trễ.  Sau khi giải tội cho khoảng 60 người xong thì một anh giáo lý viên chở tôi vào các nhà có người bệnh để tiếp tục giải tội; xong anh chở tôi đến cuối làng để giải tội cho những người bệnh phong đang sống cách ly. 

Có sáu người Dân Tộc phong ở đó và chỉ có một người nói được tiếng Kinh bập bẹ, nên họ cứ dọn mình và xưng tội bằng tiếng địa phương, còn tôi cứ ban phép giải tội bằng tiếng Kinh.  Vì không thấy có cái ghế nào để ngồi nên tôi ngồi nơi thềm đất sát vách nhà và họ đến ngồi cạnh tôi để xưng tội.  Khi người phong cuối cùng đến đón nhận bí tích hòa giải thì anh ta dơ tay ra để bắt tay tôi. Nhìn đôi bàn tay của anh tròn nhẵn không còn một ngón tay làm tôi hơi ngần ngại một chút nhưng rồi cũng dơ tay ra bắt tay anh.  Khi nắm lấy tay anh thì tôi thấy có chất gì nhờn nhờn nơi tay mình và cảm thấy có mùi hôi.  Sau khi giải tội xong tôi hỏi nhỏ anh giáo lý viên và được biết những người Dân tộc này đang sống cách ly vì mang bệnh phong.  Tôi đã có kinh nghiệm làm việc với người bệnh phong một mùa hè ở Ấn Độ nên không lo lắm, chỉ cần có thuốc sát trùng để rửa sau khi tiếp cận với họ là được.  Nhưng trong buôn thì khó tìm được thuốc sát trùng để rửa.

 Khi anh giáo lý viên chở tôi trở lại nhà nguyện trong buôn, tôi nhờ anh kiếm tôi cục xà bông để rửa tay.  Anh đi hỏi từ nhà này qua nhà khác, và đến căn thứ tư mới tìm được ít xà bông giặt đồ để tôi rửa tay.  Cũng tốt thôi, vì xà bông giặt tẩy mạnh hơn xà bông thường, nhưng điều này cũng nói lên rằng trong buôn không có dùng xà bông rửa tay.  Và thật ra xà bông giặt đồ cũng chẳng mấy ai có ở trong buôn đâu.  Tiền mua đồ ăn còn không có thì lấy gì mua xà bông.  Tôi hỏi anh ở đây có xà bông tắm không thì anh cho biết là lâu lâu có người bỏ một ngàn mua một gói xà bông gội đầu để tắm.  Tôi hỏi anh lần cuối cùng anh dùng xà bông gội đầu thì anh chỉ cười trừ vì đã lâu lắm rồi anh chưa đụng đến xà bông.  Các phụ nữ lâu lâu mới ráng chắt chiu ít tiền để mua xà bông gội đầu, còn thông thường thì các cô dùng nước vo gạo để gội đầu và tắm.  Còn đàn ông thì vẫn theo chủ nghĩa “ở dơ sống lâu!”

 Đôi khi tôi gặp một số anh chị em thiện nguyện từ Sàigòn đến ủy lạo gạo mì và áo quần cho anh chị em Dân tộc, nhưng một vài người không hiểu nên than phiền là người Dân tộc không chịu giặt đồ.  Họ cứ mặc cho thật dơ xong thì vất, rồi lại đi xin đồ khác về mặc, nên phát áo quần hoài mà chẳng bao giờ đủ cả.  Hồi đầu nghe họ nói thì tôi cũng chỉ biết vậy thôi.  Dần dà tôi mới biết người Dân tộc nghèo quá, của ăn còn không đủ thì lấy gì mà mua thứ khác.  Nhà của người Dân tộc nhìn xuyên từ ngoài vào trong còn được vì không có tiền để sửa chữa lại, vậy thì đầu óc đâu để lo đến chuyện sạch sẽ và đẹp đẽ.  Nói họ không giặt giũ thì không đúng, vì họ cũng giặt đồ ở suối khi đi làm về, chẳng qua là không có xà bông mà thôi.  Vả lại toàn đường đất đỏ, nên dù có giặt xà bông tinh tuyền đi nữa thì chỉ qua một ngày là áo quần lại nhuốm màu đỏ của đất.

 Mùa Chay là mùa Giáo Hội nhắc nhở chúng ta giặt giũ và dọn vệ sinh, không phải áo quần hay thân xác bề ngoài, mà là dọn dẹp và giặt giũ tâm hồn để cùng chết với Chúa Kitô và cùng sống lại với Ngài.  Nếu thân thể tôi bị dơ thì tôi biết dùng xà bông để rửa cho sạch vết nhơ.  Còn tâm hồn tôi bị nhơ uế thì tôi cứ nại ra bao nhiêu lý do để từ từ rồi giải quyết, vì thế tâm hồn tôi cứ luôn bị dơ, không chừng tôi cũng đang theo chủ nghiã “ở dơ sống lâu!” chăng?  Hôm nay giáo hội tha thiết mời tôi chạy đến với Chúa, qua Giáo hội, để lãnh nhận bí tích hòa giải để được tẩy xóa những vết nhơ uế trong tâm hồn.

 Sáng hôm qua tôi vào dâng Lễ ở nhà tù, khi xong Lễ chuẩn bị đi về thì tôi đứng lại nói chuyện với một anh cảnh sát coi tù nhân.  Anh nói anh là người Công Giáo nhưng lâu rồi không còn tha thiết đến bí tích Hòa Giải.  Anh nghĩ rằng cứ đi xưng tội xong rồi cũng phạm lại những tội đó như cũ, nên anh không muốn đi xưng tội nữa!  Vì lý luận như thế nên anh nhìn những người tù nhân cũng giống như vậy.  Họ là những người gây tội, hết tội này rồi đến tội khác.  Họ vào tù ra khám như cơm bữa, mắc gì Giáo hội cứ cử người đến ban phát tình thương của Chúa cho họ!  Phải chăng lý luận của anh lính bị sót đi một điều chính yếu là lòng thương xót của Thiên Chúa đã làm cho Ngài chẳng bao giờ nhớ đến những tội lỗi của nhân loại, ngay cả tội giết chết Con Một của Ngài?  Như vậy phải chăng một đặc tính của Thiên Chúa là nhân đức hay quên!?!  Hay vì Thiên Chúa quá yêu con người nên tiếp tục kiên nhẫn chịu đựng sự bất trung của con người từng ngày một với hy vọng một giây phút nào đó kẻ tội nhân ăn năn thống hối quay về đón nhận Lòng Thương Xót Chúa qua bí tích Hòa Giải!?!

 Bí tích Hòa Giải đâu phải là chỗ để luận tội, nếu là chỗ luận tội hay phán xét thì đâu thể gọi là Bí tích.  Trọng tâm của Bí tích Hòa Giải không phải nằm ở chỗ tội lỗi của kẻ hối nhân, mà nhấn mạnh đến ân sủng và tình yêu mà Thiên Chúa ban tặng nhưng không.  Anh chị em thân mến, mùa Chay là mùa dọn lòng dọn trí, tin tưởng mở lòng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa để được biến đổi, đặc biệt qua bí tích làm hòa với Thiên Chúa, để rồi dẫn đến làm hòa với nhau.  Qua bí tích Hòa Giải, chiếc áo tâm hồn lại một lần nữa được rửa sạch nhờ Máu Con Chiên.

 Chiếc áo của bạn và của tôi đang mặc là màu gì?

 Giuse Ngô Văn Chữ, S.J

 From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

VỰC BẤT XỨNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!”.

“Khiêm tốn là sợi dây liên kết con người với Chúa, là cây cầu bắc qua mọi vùng vịnh, đưa bạn vượt mọi thung lũng hiểm nguy! Chúa không cần những con người vĩ đại, Chúa cần những con người dám chứng tỏ sự vĩ đại của Ngài. Vì thế, lời cầu mạnh nhất của linh hồn là lời cầu nguyện khởi đi từ vực bất xứng của nó!” – A. Simpson.

Kính thưa Anh Chị em,

Cao trào của Lời Chúa hôm nay là hình ảnh trơ trọi của ‘một vai phụ’ trong dụ ngôn – người thu thuế! Và rất có thể, đó cũng là hình ảnh của bạn và tôi trước mặt Thiên Chúa. Anh đã dâng một lời cầu nguyện khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của linh hồn!

Với những gì người thu thuế bộc lộ, Chúa Giêsu mách cho chúng ta điều Thiên Chúa yêu thích nơi con người – “tình yêu và chỉ tình yêu” – mà không cần bất cứ điều gì khác! Thiên Chúa thấu suốt lòng dạ con người, “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca cũng chỉ lặp lại ngần ấy!

Vậy mà người biệt phái đã dâng Chúa một điều gì đó hoàn toàn khác! Lời cầu của ông khởi đi từ ‘vực kiêu hãnh’ khi ông coi Ngài như ‘Con nợ’; tệ hơn, coi ‘kỳ tích’ của mình là chiến công. Ông không phải là người xấu; nhưng lòng kiêu hãnh đã khiến ông mù loà đến độ xúc phạm tình yêu; ông sống tôn giáo ở ‘mức tối thiểu trần!’. Lời cầu của ông là ‘vô trùng’ khi ông quên Ngài chỉ muốn “tình yêu và chỉ tình yêu!”. “Thiên Chúa ghét lời cầu nguyện của kẻ tự mãn!” – Gioan Kim Khẩu.

Người thu thuế cũng lên đền thờ cầu nguyện! ‘Vai phụ’ này “khi ra về thì được nên công chính”. Không phải vì anh đã làm những điều đúng đắn, nhưng vì đã khiêm nhường nhận ra tội mình. Lời cầu của anh khởi đi từ ‘vực bất xứng’ trước Đấng Toàn Năng để rồi, dốc chút tàn hơi, anh chỉ đủ sức đấm ngực thều thào, “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!”. Lạ thay, chính lời thú nhận tội lỗi ấy lại làm Chúa đẹp lòng! “Một tiếng kêu xin lòng thương xót có sức mạnh hơn ngàn lời biện minh!” – Bernard Clairvaux.

“Nơi nào có quá nhiều cái “tôi”, nơi đó rất ít Chúa. Ở nước tôi, người ta gọi những người này là “Tôi, chính tôi và tôi” – tên của những người đó. Người ta từng nói về một linh mục tự cho mình là trung tâm và thường bông đùa rằng: ‘Mỗi khi xông hương, ngài xông ngược – xông chính mình!’” – Phanxicô.

Anh Chị em,

“Ta muốn tình yêu, chứ không cần hy lễ!”. Với Chúa Giêsu, mọi sự đều thuộc về Cha, Cha cần gì lễ dâng của ai; vì thế, Chúa Con đã dâng hết cho Cha trên thập giá! Chúa Cha cần tình yêu từ trái tim mỗi người. Đừng quên, “Lời cầu mạnh nhất là lời cầu khởi đi từ ‘vực bất xứng’ của nó!”. Chính ở đó, kinh nguyện của chúng ta mới có sức mạnh! Mùa Chay, mùa chìm vào ‘vực bất xứng’ để chỉ biết khấn xin lòng Chúa xót thương! “Không có vực sâu tội lỗi nào mà lòng thương xót Thiên Chúa không thể chạm tới!” – Gioan Phaolô II.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘xông hương ngược!’. Chúa không cần sự vĩ đại của con; Chúa chỉ cần con dám nhìn thấy lũng bất xứng của mình, để lòng thương xót Ngài được hiển lộ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

******************************

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần III Mùa Chay

Người thu thuế khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính, còn người Pha-ri-sêu thì không.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 18,9-14

9 Khi ấy, Đức Giê-su kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác : 10 “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. 11 Người Pha-ri-sêu đứng thẳng, nguyện thầm rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác : tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. 12 Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.’ 13 Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng : ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.’ 14 Tôi nói cho các ông biết : người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi ; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”


 

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

Công Giáo Rôma – Patrick Hayashi

MỖI NGƯỜI NÊN ĐỌC MỘT LẦN BÀI VIẾT NÀY

  1. Bước qua tuổi già, đừng ảo tưởng mình còn khỏe như xưa

Thanh xuân là thời mạnh mẽ.

Tuổi già là thời biết điều.

Địa vị chỉ là quá khứ, danh tiếng chỉ còn trong ký ức.

Chỉ có sức khỏe là thứ duy nhất còn lại bên mình.

Giữ được nó ngày nào, là phúc ngày đó.

  1. Đến tuổi già, sống cho mình – vui đâu ở đó, thích gì làm nấy

Đã đi gần hết đời người rồi,

đừng sống theo ý người khác nữa.

Thích ăn thì ăn.

Thích ngủ thì ngủ.

Thích đi đâu thì cứ đi.

Đời còn bao lâu mà giữ khư khư lòng mình trong sự gượng ép.

  1. Chỉ nên sống gần con, không sống chung với con – đây không ích kỷ mà là khôn ngoan

Ở chung dễ sinh va chạm.

Ở gần để thương nhau dài lâu.

Con thiếu tiền thì giúp ( Nếu mình có )

Nhưng đừng dọn vào sống để rồi một ngày mình trở thành người ở trọ trong chính ngôi nhà của con.

Gặp nhau cuối tuần là đủ ấm áp rồi.

  1. Khi già hơn nữa, nếu còn người bạn đời chăm sóc cho nhau là tốt, còn không hãy chọn một nơi mình được chăm sóc tử tế

Không cần sang trọng.

Chỉ cần sạch sẽ, yên tĩnh, có người chăm, có người trò chuyện.

Có tiền thì chọn chỗ tốt.

Ít tiền thì ở chỗ vừa sức.

Quan trọng là sống nhẹ lòng – không làm ai mệt vì mình.

  1. Chuyện “ngày xưa” – hãy kể với người cùng tuổi.

Chuyện “ngày mai” – hãy nói với bọn trẻ.

Tụi nhỏ không hiểu chuyện năm 1989 về trước đâu.

Chúng sống bằng hiện tại.

Hãy giữ chuyện cũ để kể với bạn đồng niên – những người hiểu từng nỗi niềm mình.

Đó là cách giữ ký ức, giữ tình thân, giữ chính mình.

  1. Đừng chờ đủ điều kiện – tuổi già hãy đi thăm những nơi chưa từng đi

Một chuyến xe bus.

Một chuyến tàu ngắn.

Một con đường xưa.

Một miền đất mới.

Càng gần cuối đời càng phải sống cho trọn ước mơ tuổi trẻ.

  1. Rũ bỏ quan niệm cũ: tuổi già không phải tu hành khổ hạnh

Đừng tiếc với bản thân.

Đừng nghĩ già rồi là hết.

Cần ăn ngon thì ăn.

Cần mặc đẹp thì mặc.

Cần nghỉ thì nghỉ.

Cần chơi thì chơi.

Hưởng thụ không phải xa xỉ – nó là phần thưởng cho cả đời vất vả.

  1. Đã về hưu – đừng đến nơi làm việc cũ nếu không được mời

Họ đang sống cuộc sống của họ.

Đừng khiến mình trở thành “người lạ trong kỷ niệm của chính mình”.

Giữ ký ức đẹp – đừng níu lại quá khứ.

  1. Muốn tuổi già vui – phải hiểu ba điều này:
  • Hạnh phúc do mình tạo ra, không ai mang đến.
  • Tiền không phải tất cả – nhưng không có tiền thì cực khổ.
  • Con cái thương mình có giới hạn – đừng chờ đợi quá mức.

Khi mình không trông mong ai, mình sống thanh thản nhất.

  1. Và hãy nhớ 3 QUÊN – 4 CẦN – 5 TRÁNH – 6 BÁC SĨ ĐỜI NGƯỜI

3 QUÊN

  • Quên tuổi tác.
  • Quên bệnh tật.
  • Quên thù hận, quên những điều gì, những người làm mình không vui

4 CẦN

  • Một mái nhà riêng.
  • Một khoản tiết kiệm.
  • Một gia đình kết nối.
  • Một vài người bạn tri kỷ.

5 TRÁNH

  • Tránh ở chung với con cái.
  • Tránh nhận trông cháu dài hạn.
  • Tránh can thiệp vào đời sống của con.
  • Tránh bán nhà khi chưa thật cần.
  • Tránh tiêu tiền phụ thuộc.

6 BÁC SĨ TỐT NHẤT

Ánh nắng – Giấc ngủ – Thể dục – Ăn uống điều độ – Tự tin – Bạn bè.

Tuổi già không chờ mình sẵn sàng.

Nó đến như một buổi chiều.

Chậm, nhưng chắc.

Và chỉ những ai biết chuẩn bị từ bây giờ mới có thể sống nửa đời còn lại thanh thản – tự do – không ân hận.

Nếu bạn đọc đến đây, hãy chia sẻ bài viết này.

Để nhắc ai đó đang đi vào tuổi trung niên rằng:

Tuổi già không tự nhiên bình yên — nó được chuẩn bị từ hôm nay

(Sưu tầm)


 

 ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Anmai CSsR

ĐỨC HỒNG Y PIETRO PAROLIN CẢNH BÁO NGUY CƠ CHIẾN TRANH PHÒNG NGỪA

Trả lời phỏng vấn dành riêng cho Vatican News về tình hình căng thẳng tại Trung Đông, Đức Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin đã lên tiếng mạnh mẽ cảnh báo về sự trỗi dậy nguy hiểm của một xu hướng mới trong địa chính trị: việc sử dụng sức mạnh để giải quyết các vấn đề quốc tế.

Với nỗi đau sâu sắc, Đức Hồng y bày tỏ sự xót xa khi chứng kiến các dân tộc Trung Đông – trong đó có những cộng đồng Kitô giáo vốn đã chịu nhiều thử thách – một lần nữa bị đẩy vào vòng xoáy chiến tranh. Về các cuộc tấn công gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran, Đức Hồng y nhấn mạnh rằng hòa bình và an ninh chỉ có thể được xây dựng và duy trì bền vững thông qua các nỗ lực ngoại giao chân chính, đặc biệt là ngoại giao đa phương trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế. Chỉ trong môi trường ấy, các quốc gia mới có thể giải quyết tranh chấp một cách phi bạo lực, công bằng và nhân văn.

Theo Đức Hồng y, việc xác định nguyên nhân của chiến tranh và phân định đúng sai giữa các bên là điều vô cùng phức tạp. Tuy nhiên, một sự thật không thể chối cãi là bom đạn luôn mang theo những hậu quả khôn lường: vô số nạn nhân vô tội, sự hủy diệt không thể phục hồi và nỗi đau tàn phá nặng nề đối với dân thường. “Vì lẽ đó, Tòa Thánh một lần nữa nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng mọi công cụ ngoại giao để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia”, Đức Hồng y Parolin khẳng định.

Khi được hỏi về lý do “chiến tranh phòng ngừa” mà Mỹ và Israel đưa ra – nhằm ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân – Đức Hồng y nhắc nhở rằng, theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc, việc sử dụng vũ lực chỉ được xem là biện pháp cuối cùng và cực kỳ nguy hiểm, sau khi mọi kênh chính trị và đối thoại ngoại giao đã thực sự thất bại. Ngài cảnh báo: nếu các quốc gia tự cho mình quyền phát động “chiến tranh phòng ngừa” chỉ dựa trên tiêu chí chủ quan riêng, thì toàn thế giới sẽ đối mặt với nguy cơ bị chìm trong biển lửa.

Sự xói mòn nghiêm trọng của luật pháp quốc tế đang diễn ra ở mức độ báo động: công lý bị sức mạnh thay thế, sức mạnh của luật pháp nhường chỗ cho “luật của kẻ mạnh”, và quan niệm sai lầm rằng hòa bình chỉ có thể đạt được sau khi kẻ thù bị tiêu diệt hoàn toàn. “Tòa Thánh một lần nữa mạnh mẽ lên án mọi hình thức lôi kéo dân thường và các cơ sở dân sự – như nhà ở, trường học, bệnh viện và nơi thờ tự – vào các hoạt động quân sự, đồng thời kêu gọi tất cả các bên liên quan phải tuyệt đối tôn trọng nguyên tắc bất khả xâm phạm của phẩm giá con người và tính thiêng liêng của sự sống”, Đức Hồng y Parolin nhấn mạnh.

Thông qua bài phỏng vấn, Đức Hồng y Quốc vụ khanh đã gửi đi một thông điệp rõ ràng và cấp thiết: chỉ có ngoại giao, đối thoại và sự tôn trọng luật pháp quốc tế mới có thể cứu vãn hòa bình. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến sự suy giảm đáng lo ngại của trật tự đa phương, lời nhắc nhở từ Tòa Thánh không chỉ là tiếng nói đạo đức mà còn là lời cảnh tỉnh sâu sắc dành cho các nhà lãnh đạo quốc tế.

Lm. Anmai, CSsR tổng hợp


 

CÓ MỘT THỨ MÙ RẤT ĐÁNG SỢ- Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gio-an (Ga 9,1-37) Chúa nhật IV mùa Chay)

Sứ điệp: Đừng để cho lòng trí lâm vào cảnh mù quáng do dục vọng gây nên, xô đẩy chúng ta vào con đường tội lỗi và phải hư mất đời đời.

***

Những người lâm cảnh mù lòa, suốt đời phải sống trong tăm tối là nỗi bất hạnh lớn nhất trong đời.

Vì thế, Chúa Giê-su dành cho họ một tình thương đặc biệt và đã cứu chữa nhiều người bị khiếm thị từ lúc mới sinh. Trích đoạn Tin mừng hôm nay mô tả lại một trong những lần Chúa xót thương cứu chữa những người mù lòa đáng thương như thế.

Điều đáng mừng là những người khiếm thị đều là người tốt lành trong xã hội; họ không xúc phạm đến ai và dường như không bao giờ gây ra tội ác.

Trong khi đó, nhiều người có đôi mắt tinh tường sáng tỏ, nhưng lại bị mù quáng nặng nề nên đã gây ra nhiều lỗi lầm, nhiều tội ác trong xã hội. Hầu hết những người gây ra các cuộc chiến tranh đau thương tang tóc trên thế giới là những người mù quáng.

Nguyên nhân gây bệnh mù quáng

Có rất nhiều nguyên nhân làm cho con người trở nên mù quáng; chúng ta thử điểm qua một vài điểm chính như sau:

Mù quáng vì tham lam

Sách Các Vua chương 21 thuật lại câu chuyện hoàng hậu I-dơ-ven, vợ vua A-kháp, vì tham lam muốn chiếm đoạt vườn nho của ông lão nghèo Na-vốt, nên đã dựng lên một vụ án, quy kết Na-vốt tội nguyền rủa Thiên Chúa và nguyền rủa đức vua, rồi tuyên án ông phải bị ném đá chết. Lòng tham lam đã làm cho hoàng hậu I-dơ-ven ra mù quáng đến độ đang tâm giết hại một ông lão nghèo vô tội để chiếm đoạt vườn nho của ông ta.

Mù quáng vì ghen tị

Sách Sa-mu-en ghi lại rằng vua Sa-un rất yêu thương Đa-vít, nhưng khi Đa-vít chém đầu tên tướng giặc khổng lồ Gô-li-át để cứu nguy cho quân dân Ít-ra-en và quay về trong vinh quang, “thì phụ nữ từ hết mọi thành của Ít-ra-en kéo ra, ca hát múa nhảy, đón vua Sa-un, với trống con, với tiếng reo mừng và tiếng não bạt. Họ vui đùa ca hát rằng: “Vua Sa-un hạ được hàng ngàn, còn Đa-vít hàng vạn”. Khi nghe lời đó, vua Sa-un uất lên vì ghen tị. Lòng ghen tị làm cho vua đâm ra mù quáng, đổi lòng yêu thương ra thù ghét và truy lùng Đa-vít tận thâm sơn cùng cốc, quyết giết cho bằng được vị anh hùng kiệt xuất nầy (Samuen I, chương 18).

Mù quáng vì dục tình

Về sau, khi vua Sa-un qua đời, Đa-vít được lên làm vua. Đa-vít lại đâm ra mê đắm sắc đẹp của bà Bát-sê-va. Dục vọng đã làm cho vua mù quáng đến độ lập mưu giết chồng bà là Uria để chính thức cưới bà nầy làm vợ (Samuen II, chương 11).

Nói tóm lại, tâm trí con người rất dễ trở nên mù quáng do tình dục, do lòng tham lam, kiêu căng, ghen tị… khiến người ta lún sâu vào vũng lầy tội ác lúc nào không hay.

Chứng mù quáng nầy tai hại gấp ngàn lần mù loà đôi mắt thể xác.

Điều đáng tiếc là ai trong chúng ta cũng có thể lâm vào tình trạng mù quáng về một phương diện nào đó, vào lúc nào đó trong đời. Vì thế, chúng ta cần tỉnh táo và thường xuyên soi xét nội tâm, không để cho dục vọng và những xu hướng xấu xa làm mờ ám lương tri, xô đẩy chúng ta lao vào tội lỗi và thói hư.

Lạy Chúa Giê-su là ánh sáng cho trần gian, Xin chiếu dọi ánh sáng Chúa vào tâm trí chúng con, cứu chúng con khỏi bị mù quáng do dục vọng gây nên, để chúng con khỏi gây ra tội lỗi, khỏi hư mất đời đời nhưng được cứu độ và được sống, sống có nhân cách cao đẹp ở đời nầy và sống viên mãn trong thế giới hồng phúc mai sau. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 *****************************

Tin mừng Gioan (Ga 9, 1-37)

Khi ấy, Chúa Giêsu đi qua, thấy một người mù từ khi mới sinh. Người nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, rồi xoa bùn trên mắt người ấy, và bảo: “Anh hãy đến hồ Silôe mà rửa” (chữ Silôe có nghĩa là được sai)”. Anh ta ra đi và rửa, rồi trở lại thì trông thấy được.

Những người láng giềng và kẻ xưa kia từng thấy anh ta ăn xin đều nói: “Đó chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin sao?” Có kẻ nói: “Đúng hắn”. Lại có người bảo: “Không phải, nhưng là một người giống hắn”. Còn anh ta thì nói: “Chính tôi đây”.

Họ liền dẫn người trước kia bị mù đến với những người biệt phái, lý do tại Chúa Giêsu hoà bùn và chữa mắt cho anh ta lại nhằm ngày Sabbat. Các người biệt phái cũng hỏi anh ta do đâu được sáng mắt. Anh đáp: “Ngài đã xoa bùn vào mắt tôi, tôi đi rửa và tôi được sáng mắt”. Mấy người biệt phái nói: “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat”. Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.

Chúa Giêsu hay tin họ đuổi anh ra ngoài, nên khi gặp anh, Người liền bảo: “Anh có tin Con Thiên Chúa không?” Anh thưa: “Thưa Ngài, nhưng Người là ai để tôi tin Người?” Chúa Giêsu đáp: “Anh đang nhìn thấy Người và chính Người đang nói với anh”. Anh ta liền nói: “Lạy Ngài, tôi tin”, và anh ta sấp mình thờ lạy Người

From: NguyenNThu


 

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Xuyên Sơn

Bài hay, mời đọc và SUY NGẪM

SỐNG LÂU HAY SỐNG SÂU ?

Một ước vọng của nhiều người là được sống lâu, sống thọ.

Tôi cũng từng như vậy.

Cho đến một ngày, tôi tận mắt chứng kiến những năm tháng cuối đời của người bạn thân của cha tôi, một nghệ sĩ nhiếp ảnh khá nổi tiếng.

Ông từng đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế, có người vợ xinh đẹp, hết lòng yêu thương chồng, năm con đều thành đạt, giỏi giang. Nhiều người xem ông như hiện thân của sự sung sướng, hạnh phúc đủ đầy.

Tôi được ông coi như con.

Một lần hai bác cháu ngồi thưởng trà, tôi bảo:

“Trong mắt con, bác là người hạnh phúc nhất trần gian”.

Bác nhìn tôi hiền từ, bảo:

“Khi nào nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ con ạ”.

75 tuổi, bác bị tai biến mạch máu não. Gia đình đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời nên qua khỏi nhưng bị di chứng liệt nửa người, nói ngọng.

Con cái thành đạt, bận rộn nên việc chăm sóc trông cậy cả vào bác gái.

Tuổi cao, mắt kém, tối nọ, vợ bác bị vấp ngã cầu thang, gẫy xương hông.

Thế là hai bác cùng nằm liệt một chỗ.

Con bác phải thuê người giúp việc. Nhưng chăm sóc hai người già bị liệt quá cực nhọc nên chẳng ai làm được lâu.

Cứ tuyển người được vài hôm họ lại nghỉ.

Bí quá, các con gửi hai bác vào một trung tâm dưỡng lão tư nhân.

Thương bác, gần như tuần nào tôi cũng vào thăm.

Bác cháu chuyện trò rất vui.

Tuần nào tôi bận quá không vào là bác điện thoại kêu nhớ.

Thời gian đầu, các anh chị con bác còn luân phiên hàng tuần vào thăm bố mẹ. Nhưng rồi những cuộc thăm viếng thưa dần, sau này tính bằng mỗi tháng – ngày nộp tiền cho trung tâm.

Tôi vẫn dành thời gian vào thăm bác. Vẫn gắng kể những câu chuyện vui cho bác nghe.

Nhưng bác thì ít nói, ít cười dần.

Đôi mắt ngày càng u uẩn.

Nhiều lần bác nhìn tôi, ánh mắt vô hồn. Tôi biết bác bị trầm cảm nặng.

Mà ở trung tâm dưỡng lão này, chẳng riêng gì bác bị.

Nhiều người vào đây thời gian đầu hoạt bát, vui vẻ, nói cười rổn rảng.

Về sau, tiếng nói, tiếng cười tắt dần rồi im bặt.

Có những lần, nhìn mắt ai cũng đờ dại khiến tôi có cảm giác họ là bệnh nhân tâm thần.

Người già rất cần tình thương, nhất là sự quan tâm của con cháu. Nhưng con cháu còn mải mê trong vòng quay cơm áo, gạo tiền,

đâu có nhiều thời gian cho cha mẹ già.

Hơn bốn năm trong trung tâm dưỡng lão, bác mất vào một đêm giông gió. Chẳng ai biết bác mất giờ nào.

Bảy giờ sáng hôm sau, cô nhân viên vào phòng thấy người bác đã cứng.

Mắt vẫn mở.

Con cháu đưa thi hài bác về quê mai táng.

Khách từ khắp các tỉnh thành về viếng nườm nượp, đủ các thành phần, đủ các tầng lớp. 

Con đường vào làng tắc nghẽn ô tô. Vòng hoa rợp ngõ.

Cả làng, cả xã trầm trồ trước đám tang hoành tráng nhất trong lịch sử làng rồi báo chí đăng tin ngưởng mộ.

Ai cũng khen bác sướng nhất làng, nhất huyện.

Họ bảo:

“Sống sướng, chết cũng sướng.

Bõ một kiếp người”, nào có mấy ai biết được bốn năm qua bác “sống hay là bác tồn tại” ra sao…!!!

Riêng tôi, lúc đứng trước linh cữu, nhìn di ảnh bác cười hiền hậu, tai tôi vẳng tiếng của bác “lúc nhắm mắt xuôi tay mới biết mình sướng hay khổ”.

Trong tôi chợt vọng lên câu hỏi:

Sống thọ hay sống sướng có thực sự là giá trị lớn nhất của đời người?

Cho đến một ngày kia, chứng kiến cái chết của người em thân thiết, tôi mới tìm được câu trả lời.

Em tên Vinh, kỹ sư tin học cho một tập đoàn viễn thông quốc tế tại Việt Nam. Lớp bảy, em bị bệnh thấp khớp chạy vào tim.

Tìm hiểu về bệnh, em biết, sự sống của mình có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào.

Mặc dầu vậy, Vinh không hề sợ hãi, lúc nào cũng tràn đầy năng lượng tích cực, yêu đời.

Hàng tuần, từ thứ hai đến thứ sáu, em làm việc cho tập đoàn.

Thứ bảy, chúa nhật, em dành toàn bộ thời gian cho hoạt động thiện nguyện. Khi thì phóng xe máy về quê hướng dẫn nông dân cách trồng trọt, chăm sóc rau củ sạch, lúc phóng lên miền núi dạy cho trẻ em dân tộc con chữ, vận động mọi người quyên góp xây trường cho các em.

Tôi có cảm giác, bao nhiêu năng lượng em dành tặng hết cho mọi người.

Một lần, tôi hỏi:

“Vinh có sợ chết không?”.

Em cười bảo:

“Không”. Em thấy cái chết không hề đáng sợ. Nếu “nghiệp” mình phải chết thì xin thêm một phút cũng không được. Vì thế, buồn lo làm gì cho sầu khổ.

Đời cho em bao nhiêu ngày thì em vui tươi và yêu thương hết thảy.

Khi chết, thân thể sẽ về với cát bụi, chỉ những gì ta đã làm sẽ còn với bạn bè, mọi người, gia đình, thiên nhiên và vũ trụ.

Vinh mất trong chuyến đi thiện nguyện xây trường cho trẻ em Sơn La ở tuổi 32, vì bệnh tim.

Hơn 2.000 người đã đến viếng em.

Tôi vẫn “thấy” Vinh ở khắp nơi, trong những thanh niên đến với những bản làng xa xôi để thực hiện những chương trình từ thiện với mong muốn giảm bớt sự thiếu thốn, nghèo khổ của bà con.

Tôi “thấy” Vinh trong hình dáng các y bác sĩ ngày đêm căng mình trên tuyến đầu chống dịch để đem lại sự sống cho bao người.

Những người tận hiến cho đời như Vinh giúp tôi thấm thía lời nói của cố Hòa thượng Thích Phổ Tuệ:

“Sống được bao nhiêu năm không phải thước đo giá trị của đời người.

Vấn đề là sống để thực hiện sứ mệnh gì, mang lại lợi ích gì cho đời, cho đạo”.

Thước đo của đời người không phải thời gian sống mà là sự cống hiến.

Dâng tặng cho mọi người trí tuệ và tình yêu thương, đưa ra sáng kiến, phát minh, phát triển khoa học, giáo dục, tạo ra năng suất và sản phẩm, nếu bạn có năng lực.

Và nếu không có gì để cho đi thì bạn vẫn còn có sự chân thành, trung thực, ân cần, thiện chí, nụ cười hay lời nói tử tế để làm ai đó cảm thấy tốt hơn.

Bởi, thế giới này luôn không đủ.

(sưu tầm)


 

Jim Caviezel vào vai Chúa Giê-su trong phim “Sự Khổ Nạn của Chúa Kitô,”

Tony Nguyễn

Khi Mel Gibson lần đầu tiên đề nghị Jim Caviezel vào vai Chúa Giê-su trong phim “Sự Khổ Nạn của Chúa Kitô,” ông đã hoàn toàn thẳng thắn với anh.

“Anh cần hiểu điều này,” Gibson nói với anh. “Bộ phim này sẽ vô cùng khó khăn. Nó thậm chí có thể khiến anh mất đi sự nghiệp ở Hollywood.”

Vai diễn này rất quyền lực, nhưng cũng gây tranh cãi và đầy rủi ro. Caviezel xin một ngày để suy nghĩ.

Khi trở lại, câu trả lời của anh rất đơn giản.

“Tôi tin rằng chúng ta phải làm điều đó – ngay cả khi nó sẽ khó khăn.”

Rồi anh ấy nói thêm điều mà anh vừa nhận ra.

“Tên viết tắt của tôi là J.C… và tôi 33 tuổi.”

Mel Gibson nhìn anh và đáp lại, nửa đùa nửa thật nhưng rõ ràng là bị ấn tượng bởi sự trùng hợp:

“Anh bắt đầu làm tôi sợ đấy.”

Việc quay phim hóa ra lại căng thẳng đúng như Gibson đã cảnh báo.

Để vào vai Chúa Giê-su, Jim Caviezel đã giảm khoảng 20 kg. Trong một cảnh quay, anh vô tình bị roi quất hai lần, để lại một vết sẹo dài hơn 9 cm trên lưng. Trong lúc vác thập tự giá khi quay phim, anh ấy bị trật khớp vai. Việc phải đứng gần như khỏa thân trên thập tự giá trong nhiều giờ liền giữa thời tiết giá rét đã dẫn đến viêm phổi và hạ thân nhiệt.

Có lúc trong quá trình sản xuất, anh ấy thậm chí còn bị sét đánh.

Chỉ riêng cảnh đóng đinh trên thập tự giá đã cần đến năm tuần để quay trong tổng thời gian sản xuất hai tháng của bộ phim.

Mặc dù phải chịu đựng nhiều về thể chất, Caviezel sau đó đã giải thích điều gì đã thúc đẩy anh ấy nhất.

“Tôi không muốn mọi người nhìn thấy tôi. Tôi muốn họ nhìn thấy Chúa Giê-su. Và thông qua đó, nhiều người sẽ tìm thấy đức tin.”

Đối với nhiều thành viên trong đoàn làm phim, trải nghiệm này đã để lại ấn tượng sâu sắc.

Pedro Sarubbi, diễn viên đóng vai Barabbas, nhớ lại một khoảnh khắc khi Caviezel nhìn thẳng vào mắt anh trong một cảnh quay. Anh nói rằng cảm giác không giống như đang nhìn một diễn viên khác, mà là nhìn thấy một điều gì đó vĩ đại hơn nhiều. Trong ánh mắt của Caviezel, anh nói, không có sự giận dữ hay oán hận — chỉ có lòng thương xót và tình yêu thương.

Luca Lionello, người đóng vai Judas, bắt đầu quay phim với tư cách là một người vô thần. Sau trải nghiệm này, cuộc đời anh đã thay đổi đáng kể. Theo thời gian, ông đã đón nhận Kitô giáo, công khai nói về sự cải đạo của mình và cho con cái được rửa tội.

Một số thành viên đoàn làm phim sau đó chia sẻ rằng việc làm phim đã ảnh hưởng sâu sắc đến họ, thậm chí cả về mặt tâm linh.

Bản thân bộ phim đã trở thành một hiện tượng độc đáo trong điện ảnh.

Mel Gibson quyết định tự mình tài trợ cho bộ phim, đầu tư khoảng 30 triệu đô la sau khi một số hãng phim từ chối hỗ trợ dự án. Đó là một rủi ro lớn.

Nhưng bộ phim đã vượt quá mọi kỳ vọng.

Nó thu về khoảng 370 triệu đô la ở Hoa Kỳ và hơn 600 triệu đô la trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, nhiều người tin rằng tác động thực sự của bộ phim không phải là về mặt tài chính.

Mà là về mặt tâm linh.

Đối với hàng triệu khán giả trên khắp thế giới, “Sự khổ nạn của Chúa Kitô” đã thu hút sự chú ý trở lại đối với câu chuyện về sự hy sinh của Chúa Kitô.

Trong những năm qua, Jim Caviezel vẫn tiếp tục nói chuyện cởi mở về đức tin của mình và về ý nghĩa của vai diễn đó trong cuộc đời anh – ngay cả trong một môi trường như Hollywood, nơi điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Đối với anh, bộ phim chưa bao giờ chỉ là một công việc khác.

Nó là một lời chứng.


 

đến một lúc nào đó, vai trò đổi chỗ- Tg văn chương

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân

 Bức ảnh này nhắc ta về một vòng quay rất sâu trong đời người: đến một lúc nào đó, vai trò đổi chỗ.

Những người từng bế ta trên tay, giờ cần ta đỡ từng bước.

Nếu phải cho bạn một lời khuyên, thì là thế này: đừng xem giai đoạn ấy như một gánh nặng.

Hãy xem đó là cơ hội lớn nhất để nói lời cảm ơn — bằng hành động.

Kiên nhẫn như một cách trả ơn… Sẽ có ngày cha mẹ hỏi lại những điều rất đơn giản.

Kể lại một câu chuyện bạn đã nghe hàng chục lần.

Có khi quên trước, quên sau.

Những lúc ấy, hãy nhớ:đã từng có thời bạn không tự ăn được, không tự đi được, không tự hiểu được thế giới này.

Và họ đã kiên nhẫn với bạn — từng chút một.

Giờ đây, họ cần sự kiên nhẫn ấy từ bạn.

Lắng nghe bằng sự dịu dàng không chỉ là cho họ —

mà còn là cách bạn gìn giữ chính câu chuyện đời mình.

Giữ phẩm giá trong việc chăm sóc…

Chăm sóc cha mẹ không phải để người khác khen bạn là “đứa con tốt”.

Người ta bận rộn với cuộc sống của họ, hiếm ai nhìn kỹ những hy sinh thầm lặng của bạn.

Điều quan trọng là bạn hành xử đúng với giá trị của mình.

Ngay cả khi mệt.

Ngay cả khi lặp lại.

Ngay cả khi không ai chứng kiến.

Phẩm giá không phải thứ ta đòi hỏi ở người khác.

Đó là thứ ta giữ được khi vẫn làm điều đúng, dù hoàn cảnh có khiến ta nản lòng.

Một sự tôn trọng vượt lên mọi điều…

Hãy thành thật với cảm xúc của mình.

Hãy thể hiện tình thương khi còn có thể.

Đừng để cái tôi hay nhịp sống vội vàng của thế giới làm bạn đánh mất cơ hội trở thành nơi nương tựa — như họ đã từng là nơi nương tựa cho bạn.

Bởi đến cuối cùng, điều quý giá nhất không phải là bạn đã thành công bao nhiêu, mà là khi nhìn lại, bạn có thể nói với lòng mình:

“Mình đã ở đó khi họ cần.”

Tg văn chương


 

CSVN chi tiền cho cán bộ ‘nghỉ hưu trước tuổi’ để sáp nhập tỉnh, giờ ‘đánh tiếng’ thu hồi

Ba’o Nguoi-Viet

March 9, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Cựu cán bộ, công chức, viên chức sẽ bị thu hồi tiền bồi thường “nghỉ hưu trước tuổi” nếu bị cáo buộc “tinh giản biên chế,” nhất là thời điểm sáp nhập tỉnh thành ở Việt Nam “không đúng quy định.”

Theo báo Người Lao Động tối 8 Tháng Ba, trong trường hợp việc “tinh giản biên chế” được xác định là “không đúng quy định,” cơ quan hữu trách sẽ tiến hành “thu hồi các khoản kinh phí đã chi trả sai để nộp lại ngân sách nhà nước.”

Các cựu cán bộ, công chức đã nhận tiền “nghỉ hưu trước tuổi” sắp bị thu hồi lại số tiền đã nhận nếu bị cáo buộc “sai quy định pháp luật.” (Hình: Mai Chi/Người Lao Động)

 Cụ thể, người đứng đầu cơ quan phải “lập tức thông báo” cho cơ quan bảo hiểm xã hội để dừng chi trả lương hưu và các chế độ liên quan, đồng thời trực tiếp thu hồi các khoản tiền chính sách “đã cấp sai” và hoàn trả các chi phí phát sinh như tiền lương hưu hay thẻ bảo hiểm y tế cho quỹ bảo hiểm. Song song đó, tiến hành xem xét kỷ luật các cá nhân liên quan và chịu trách nhiệm pháp lý đối với sai phạm của đơn vị mình.

Ngoài ra, về mặt nhân sự, những cán bộ đã “nghỉ hưu trước tuổi,” nêu trên sẽ được bố trí cho trở lại làm việc.

Trước đó, vào năm 2025, trong công cuộc “tinh gọn bộ máy” khi sáp nhập tỉnh thành ở Việt Nam do ông Tô Lâm, tổng bí thư CSVN, khởi xướng, theo thống kê chưa đầy đủ, chính quyền CSVN đã dự tính chi 170,000 tỷ đồng (gần $6.47 tỷ) nhằm giải quyết chế độ cho hơn 100,000 người bị ảnh hưởng.

Giới lãnh đạo chính quyền CSVN giải thích, phải “sắp xếp lại giang sơn” (thu nhỏ bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, sáp nhập các đơn vị hành chính) vì “cần tiết kiệm chi tiêu cho hệ thống công quyền, dồn nội lực phát triển kinh tế-xã hội.”

Theo các số liệu đã được công bố, có hơn 43,000 cán bộ, công chức trong hệ thống công quyền đã  được lãnh tiền chế độ theo “Nghị Định 178” và “Nghị Định 154” khi bị xếp vào loại “dôi dư” hoặc tự nguyện rút lui.

Mỗi người trong số hơn 43,000 người nêu trên được nhận hai khoản tiền. Một là trợ cấp cơ bản (ba tháng lương hiện hưởng), hai là trợ cấp thâm niên (tích của một tháng rưỡi lương hiện hưởng nhân với tổng số năm làm việc). Nếu tự nguyện rút lui trong vòng mười năm trước khi chạm ngưỡng nghỉ hưu, đương sự vừa được nhận lương hưu ngay lập tức, vừa được nhận ba khoản trợ cấp cùng một lúc là trợ cấp nghỉ sớm (tích của lương hiện hưởng/tháng nhân với tổng số tháng nghỉ sớm), bù lỗ số năm nghỉ sớm (tích của lương hiện hưởng/tháng nhân 2, 3, 4, hoặc năm lần, phụ thuộc vào việc nghỉ sớm bao nhiêu năm) và trợ cấp thâm niên (tích của năm tháng lương hiện hưởng/tháng cho 20 năm đầu, từ năm thứ 21 trở đi, mỗi năm được cho thêm nửa tháng thu nhập thực tế).

Ông Tô Lâm, tổng bí thư CSVN, kiểm tra hoạt động chính quyền địa phương hai cấp tại xã Phúc Thịnh, Hà Nội, hồi Tháng Bảy, 2025, sau khi ra lệnh sáp nhập lại tỉnh thành ở Việt Nam. (Hình: Hà Nội Mới)

Với chính sách như trên, hơn 25,000/43,000 thành viên trong hệ thống công quyền “dôi dư” hoặc tự nguyện nghỉ hưu, mỗi người nhận được hàng tỷ đồng trợ cấp được rút ra từ công quỹ.

Điều đáng nói là trước đó, nhiều người dân đã bày tỏ sự phản đối với chính sách nêu trên và không ít người đã bị khởi tố hay phạt tiền do bị cáo buộc “chống đối.”

Phản ảnh trên mạng xã hội về sự việc trên, danh khoản “Phạm Tuân” nhắc lại: “Dân góp ý thành chống phá, nhờ sai thiệt hại ai gánh chịu?”

Trong khi đó, danh khoản “Tri Huynh Minh” ngao ngán: “Sáng đúng chiều sai, trưa mai lại đúng.” (Tr.N)


 

SUY NIỆM VỀ CÁI CHẾT-Elisabeth Nguyễn

Elisabeth Nguyễn

Hãy nhớ rằng, cái chết không trì hoãn đâu và ngày hẹn của âm phủ, con nào có biết Hc 14,12)

 Không ai trong chúng ta biết được ngày chết và cái chết của mình như thế nào. Mỗi ngày sống của chúng ta là mỗi ngày đi dần đến cái chết, nhưng phần đông không ai nghĩ đến chúng cả.

 Con đừng sợ án chết. Hãy nhớ rằng: có những kẻ đã đi trước con, và sẽ có những người theo sau (Hc 41 3).

Sự chết dạy chúng ta sống như thế nào?

Trong đời sống, chúng ta nên thỉnh thoảng suy niệm về cái chết.

Một nhà tu đức khi suy niệm về cái chết đã thốt lên “cái chết của người già ở trước mặt, cái chết của người trẻ ở sau lưng

Niềm tin Kitô giáo giúp chúng ta tránh đam mê những hạnh phúc giả tạo ở đời này và thúc đẩy chúng ta hãy can đảm chịu đựng những đau khổ để kết hợp đau khổ với Đấng Kitô, và biết đến ích lợi của cuộc đời, phải đi qua đau khổ để vào vinh quang với Ngài.

Nếu có lúc con đau khổ xao xuyến, xin nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu, Chúa đã buồn muốn chết được. Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây con, xin nhắc con nhớ rằng: Trên Thập Giá, Chúa đã thốt lên: sao Cha bỏ con (Lời nguyện. Rabouni)

Suy nghĩ về cái chết không có nghĩa chúng ta phải buồn rầu, sợ hãi, hoặc ngã lòng.

Trái lại, khi suy niệm về cái chết, chúng ta sẽ sống một cách hiểu biết hơn về cuộc đời và từ bi nhân ái hơn, vì đó chính là luật của Tạo Hóa.

Như cành lá trên cây rậm rạp; lá rụng xuống lá lại mọc ra, thì các thế hệ người phàm cũng vậy: lớp kết thúc, lớp lại sinh ra (Huấn ca 14,18)

Mỗi khi gặp chuyện bực mình khó chịu mà gây gỗ, cãi nhau hay nóng giận với người khác thì được ích lợi gì?

Đau khổ, bệnh nạn thì nghĩ rằng đời sống rất ngắn, ai cũng sẽ chết. Đó là điều Đức Chúa quyết định cho hết mọi người phàm. Tại sao cưỡng lại điều Đấng Tối Cao đã muốn?

Dù người ta sống được mười năm, trăm năm, hay cả ngàn đi nữa, thì trong âm phủ, chẳng ai trách móc đâu (Hc 41, 4).

Vậy lo lắng, buồn rầu hoàn toàn không được gì mà sinh ra bất an trong tâm hồn.

Là Kitô hữu, hằng ngày cầu nguyện với Lời Chúa, giúp ta biết suy nghĩ sâu xa về sự sống, sự chết theo lời dạy của Chúa và Giáo Hội.

Hãy phó thác và tin tưởng trong tay Ngài. Tất cả đều là hồng ân Ngài ban.

Hãy thinh lặng lắng nghe tiếng nội tâm, để Chúa Thánh Thần hướng dẫn ta ý thức và tự kiểm soát lấy mình, không để những suy nghĩ lệch lạc lôi cuốn, ta sẽ cư xử với mọi người hòa ái hơn.

Điều này luôn luôn không phải dễ làm, nhưng khi ta cầu nguyện, suy niệm về cái chết, Chúa sẽ nhắc nhở mình về sự mong manh và ngắn ngủi của cuộc đời, ta sẽ tự chế và ăn nói với sự dịu dàng hơn, sẽ biết sống đẹp lòng Chúa hơn.

Chúng ta biết khi chết là lúc chúng ta về với Chúa và sẽ được sống lại với Ngài trong vinh quang thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhân cái chết hơn.

Cái chết luôn bình đẳng cho tất cả mọi người, cho nên ta hãy chọn cách tốt nhất là sống theo Lời Chúa dạy, sống tỉnh thức, sống ý thức, sống yêu thương từng giây phút với hết sức lực, hết trí khôn của mình.

Hơn nữa, dù có lo hay không lo, tất cả chúng ta đều sẽ già và chết. Ta sẽ nhẫn nại hơn, sẽ bao dung hơn, tử tế hơn , dịu dàng hơn, dẽ dàng tha thứ hơn đối với bản thân ta và đối với người khác.

Cuộc đời thật sự hạnh phúc và có ý nghĩa hơn. Lòng thương yêu từ con tim nhân ái sẽ đâm chồi nở hoa, và khi cái chết đến chúng ta sẽ không có gì ân hận.

Lạy Chúa, xin Chúa cho con được chết một cách an bình, đừng đau đớn lâu ngày, nhưng Chúa cho con chết như thế nào tùy ý Chúa. Amen.

Elisabeth Nguyễn

From:   Ngoc Bich  & KimBang Nguyen


 

NGÀI KHÁT – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Cho tôi xin chút nước!”.

“Ngài bắt đầu bằng cơn khát để khơi dậy khát khao; Ngài xin điều chính Ngài sẽ ban!” – Gioan Kim Khẩu.

Kính thưa Anh Chị em,

Bối cảnh Tin Mừng hôm nay là giữa trưa của một ngày chói chang – giờ thứ sáu. Bên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu Kitô ngỏ lời xin chút nước với một phụ nữ ngoại giáo. Một lời xin rất người; nhưng từ cơn khát ấy, Ngài khơi dậy cơn khát nơi lòng người, xin chính điều Ngài sẽ ban. Một mầu nhiệm sâu xa dần lộ ra – ‘Ngài khát!’.

Người phụ nữ ấy đến giếng giữa trưa, có lẽ để tránh ánh mắt và lời xì xào của làng xóm. Nhưng chính lúc cô muốn ẩn mình, Đấng ngồi bên giếng lại mở lời và bắt đầu mở ra một cuộc gặp gỡ. Điều lạ không phải là người phụ nữ cần nước, khát nước, mà là Thiên Chúa khát con người. Đấng ban nước hằng sống lại bắt đầu bằng một cơn khát. Ngài xin một ngụm nước, nhưng thật ra đang mở một nguồn nước; Ngài chạm đến nỗi khát sâu hơn trong lòng con người: khát được nhìn nhận, khát được tha thứ, khát được sống lại từ những đổ vỡ của đời mình. “Cơn khát thể lý của Ngài bày tỏ cơn khát thần linh: Thiên Chúa khát linh hồn con người!” – Augustinô.

Rồi từng lớp đời của người phụ nữ được mở ra, không phải để kết án nhưng để được chữa lành. Khi sự thật được đặt dưới ánh sáng, điều kỳ lạ xảy ra: cô không còn chạy trốn; cô để lại vò nước, chạy vào thành và nói với mọi người “Đến mà xem!”. Một chuyển động rất lạ – từ người đi lấy nước, cô trở thành người mang nước cho người khác. Cô đến trong cô đơn, nhưng trở về với một sứ mạng. Một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô đã đổi hướng cả cuộc đời. Cô bỏ lại chiếc vò, trở thành “người môn đệ thừa sai” – vì đã gặp chính Nguồn.

Hôm nay, không chỉ nghe câu chuyện của một phụ nữ, chúng ta còn nghe câu chuyện của đời mình. Mỗi người đều mang trong lòng một cơn khát: khát ý nghĩa, khát được yêu, khát vĩnh cửu, khát một nguồn nước không cạn. Và từ nơi sâu thẳm ấy, một lời vẫn đang vang lên: ‘Ngài khát!’ – khát gặp chúng ta, khát ở lại trong chúng ta, khát dẫn chúng ta đến nguồn nước hằng sống – chính Ngài. “Bên trong mỗi người luôn tồn tại một lỗ hổng hình Chúa!” – Blaise Pascal.

Anh Chị em,

“Cho tôi xin chút nước!” – đó không chỉ là cơn khát của một thân xác dưới nắng trưa. Cơn khát ấy đã vang lên mãi, và sẽ vang lên lần nữa vào giờ thứ sáu của Tuần Thánh, khi Con Thiên Chúa bị treo trên thập giá; Ngài sẽ thốt lên: “Ta khát!”. Khi ấy, giếng đã trở thành cây thập giá, và từ cạnh sườn bị đâm thâu, nước hằng sống tuôn trào cho thế gian. Từ cơn khát của Ngài, sự sống mới cho nhân loại được mở ra. Vì thế, Tin Mừng hôm nay mời chúng ta dừng lại, thôi chạy theo những cơn khát chóng qua của đời mình, để bắt đầu khát chính Đấng đang khát chúng ta! Và câu hỏi cuối cùng còn lại cho mỗi người là: Ngài khát chúng ta; còn chúng ta, chúng ta khát ai? “Ta khát phần rỗi các linh hồn!” – Faustina.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con hiểu được cơn khát của Ngài; để con thôi chạy theo những cơn khát của đời; và bắt đầu khát Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

******************************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT III MÙA CHAY, NĂM A

Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.    Ga 4, 5-42

5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 16 Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo : “Chị nói : ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” 19 Người phụ nữ nói với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ … 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”

27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?” 28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.

31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.” 32 Người nói với các ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” 33 Các môn đệ mới hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?” 34 Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ “kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”

39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”


 

 Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn…

Tina Nguyen

 Rất nhiều người nói rằng sống ở Việt Nam thoải mái hơn. Nhịp sống dễ thở hơn. Không phải cày hai ba việc như ở Mỹ. Không phải cuối tuần lo nấu ăn cho cả tuần. Không phải tự mình gánh hết mọi chi phí, từ bảo hiểm đến thuế má.

Nếu tin rằng ở Việt Nam “sướng hơn” như vậy, thì tại sao mỗi lần nhắc đến “Việt kiều Mỹ” lại mặc định đó là người phải giàu, phải rộng rãi, phải chi trả?

Việt kiều, về bản chất, chỉ là người Việt sống và làm việc ở nước ngoài. Việt kiều Mỹ, Việt kiều Lào, Việt kiều Campuchia, Việt kiều Trung Quốc… đều là Việt kiều. Nhưng rất lạ, dường như chỉ có “Việt kiều Mỹ” mới bị đặt vào một khung kỳ vọng tài chính cao hơn.

Cũng là rời quê hương.

Cũng là sống xa gia đình.

Cũng là tự bươn chải nơi đất khách.

Vậy tại sao danh xưng giống nhau nhưng mức độ “phải cho” lại khác nhau?

Có phải vì hai chữ “Mỹ” gợi lên hình ảnh giàu có, nên tự động nâng chuẩn đòi hỏi? Và nếu vậy, đó là suy nghĩ dựa trên thực tế, hay dựa trên tưởng tượng?

Sự thật là, sống ở Mỹ không đồng nghĩa với giàu có. Ở đó, thu nhập đi kèm với chi phí rất cao. Tiền nhà, tiền xe, bảo hiểm, thuế, sinh hoạt, tất cả đều tính bằng đô và đều phải trả đúng hạn. Không ai được miễn trừ vì mình là người nhập cư.

Việt kiều Mỹ cũng đi làm thuê, cũng lao động như bao người. Có người làm hãng, có người làm nail, có người làm nhà hàng, có người làm kỹ thuật. Họ có thể kiếm được nhiều hơn mức trung bình ở Việt Nam, nhưng đồng thời cũng phải chi trả nhiều hơn rất nhiều.

Quan trọng hơn, họ đánh đổi bằng khoảng cách.

Khoảng cách với gia đình.

Khoảng cách với ngôn ngữ quen thuộc.

Khoảng cách với những mối quan hệ tự nhiên và ấm áp ở quê nhà.

Trong khi đó, người ở trong nước, dù thu nhập thế nào, vẫn có lợi thế về sự gần gũi, về mạng lưới tình thân, về chỗ dựa tinh thần.

Vậy thì việc mặc định rằng “Việt kiều Mỹ phải sộp hơn” thực chất dựa trên cơ sở nào? Chỉ vì đồng tiền họ kiếm được mang mệnh giá khác?

Nếu thật sự tin rằng sống ở Việt Nam thoải mái và nhẹ nhàng hơn, thì logic sẽ là: mỗi người chọn môi trường phù hợp với mình và tự chịu trách nhiệm cho lựa chọn đó. Không có lý do gì để xem người ở xa là nguồn lực tài chính đương nhiên.

Việt kiều gửi tiền về là tình cảm, không phải nghĩa vụ.

Không gửi cũng không phải sai.

Một xã hội văn minh không đo giá trị con người bằng quốc gia họ đang sống, càng không đo bằng số tiền họ có thể cho.

Danh xưng “Việt kiều” không nên trở thành một mức thuế cảm xúc.

Ai cũng phải lao động để có thu nhập. Ai cũng đánh đổi một phần cuộc sống của mình cho sự lựa chọn đó. Sự khác biệt chỉ là họ đang sống ở đâu, không phải họ có trách nhiệm gánh thêm kỳ vọng cho người khác.

Tôn trọng lựa chọn của nhau, và tôn trọng giá trị lao động của nhau, có lẽ là cách ứng xử hợp lý nhất