Khi kền kền lượn lờ trên đầu Greenland

Ba’o Nguoi-Viet

July 9, 2026 FacebookXEmailPrint

Trúc Phương/Người Việt

Việc Tổng Thống Trump muốn thôn tính Greenland không phải là ý tưởng nhất thời. Kế hoạch đã được nhen nhóm từ thời nhiệm kỳ một của ông Trump. Năm 2018, ông Trump triệu tập cố vấn an ninh quốc gia John Bolton đến Phòng Bầu Dục và đề cập việc này. Nhắc lại chuyện trên, Fiona Hill, giám đốc cấp cao đặc trách Châu Âu và Nga thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia thời điểm trên, thuật rằng, những diễn biến liên quan “đều được thực hiện theo kiểu bí mật, lén lút” và “cảnh tượng đó chẳng khác nào lũ kền kền đang lượn lờ quanh một xác chết…”

Người dân cầm cờ Greenland và các biểu ngữ, tập trung bên ngoài Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ để phản đối ý định mua lại Greenland của Tổng Thống Donald Trump hôm 17 Tháng Giêng tại Nuuk, Greenland. (Hình: Sean Gallup/Getty Images)

Kền kền và Greenland

Hội Nghị Thượng Đỉnh NATO tại Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ) hoàn toàn đổ bể khi mọi nghị trình về an ninh bị lấn át bởi phát biểu của ông Trump ngày 7 Tháng Bảy rằng “Greenland nên do Mỹ kiểm soát chứ không phải Đan Mạch.” Một lần nữa, Greenland lại trở thành đề tài nóng hổi.

Phản ứng, giới lãnh đạo Châu Âu lên tiếng: “Hãy để yên vùng lãnh thổ thuộc Đan Mạch này.” Thủ Tướng Đan Mạch Mette Frederiksen nói, “chúng tôi sẵn sàng bảo vệ từng tấc đất của NATO, trong đó có lãnh thổ chính mình.” Thủ Tướng Na Uy Jonas Gahr Store bày tỏ: “Na Uy không tán thành những tuyên bố hay quan điểm kiểu đó. Chúng tôi ủng hộ Đan Mạch và ủng hộ sự ổn định tại Bắc Âu.” Và Thủ Tướng Iceland Kristrun Frostadottir phát biểu: “Greenland thuộc về người Greenland”…

“Dù bằng cách này hay cách khác, chúng tôi sẽ giành lấy nó (Greenland),” Trump tuyên bố trước phiên họp chung Quốc Hội vào năm 2025. Thế là, cư dân thủ phủ Nuuk tập trung trước Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ (được mở vào năm 2020, sau gần bảy thập niên Mỹ không có sự hiện diện ngoại giao nào tại nơi này). Họ đánh trống và hô vang tên gọi đất nước theo tiếng Inuit: Kalaallit Nunaat. “Đủ rồi đấy,” họ hét lên.

Đó là thời điểm một người Mỹ có mặt tại thủ phủ Nuuk của Greenland. Tự giới thiệu là đại sứ không chính thức, không đại diện cho chính phủ Mỹ mà là “đại diện cho tổng thống,” đương sự nói, “Tôi tên Chris Cox. Tôi đến từ Mỹ và tôi ở đây để kết thêm bạn bè. Chúng tôi không nhìn các bạn như cách con hổ nhìn con linh dương đâu.” Chris Cox là thành viên MAGA cộm cán, từng thành lập nhóm “Bikers for Trump” vào năm 2015 với nhiệm vụ bảo vệ an ninh tại các cuộc vận động tranh cử cũng như lễ nhậm chức đầu tiên của ông Trump.

Sau chuyến đi Greenland, Chris Cox trở về Washington, DC. Báo cáo với Tòa Bạch Ốc lẫn giới lập pháp Cộng Hòa, đương sự cho biết, Đan Mạch, quốc gia có chủ quyền với Greenland lẫn quần đảo Faroe, là “thế lực thực dân bất hợp pháp” đang gây ra vô số “hành động tàn bạo” nhằm vào người dân Greenland và “vũ khí hóa” việc tuyên truyền chống ông Trump nhằm kích động người dân quay lưng lại với Mỹ. Trong thời gian ở Nuuk, Cox lập danh sách những người Greenland ủng hộ ý tưởng sáp nhập lẫn “thành phần” phản đối. Ba tháng sau, ông Trump bổ nhiệm Chris Cox vào một hội đồng cố vấn thuộc Bộ Nội An.

Ai là người đầu tiên “xúi” Trump?

Không chỉ Chris Cox, còn có hai người Mỹ nữa điều hành các “chiến dịch gây ảnh hưởng” tại Greenland: Tom Dans – một tay đầu tư chứng khoán, và Drew Horn – cựu chỉ huy Lực Lượng Đặc Nhiệm Lục Quân từ lâu vốn thèm khát khai thác đất hiếm tại Greenland. Cả hai đều từng phục vụ trong chính quyền Trump 1.0. Ông Dans làm việc tại Bộ Tài Chính, còn ông Horn làm ở Văn Phòng Phó Tổng Thống, Văn Phòng Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia, Bộ Năng Lượng và Bộ Quốc Phòng.

Như nói ở trên, ông Trump quan tâm Greenland từ cuối năm 2018. Một hôm, như được thuật từ bài báo New Yorker ngày 22 Tháng Sáu, ông triệu tập cố vấn an ninh quốc gia John Bolton vào Phòng Bầu Dục và nói, một người bạn lâu năm của ông, Ronald Lauder, “gợi ý” rằng Mỹ nên mua hòn đảo này. “Ông nghĩ sao?” ông Trump hỏi. Ông John Bolton trả lời rằng ông cần thời gian. Sau đó, ông Bolton cho triệu tập bà Fiona Hill, lúc đó là giám đốc cấp cao đặc trách Châu Âu và Nga thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.

Khi vào văn phòng ông Bolton, bà Hill thấy sếp Bolton mặt mày tái nhợt, đang ngồi cùng một đô đốc tuần duyên. Ông Bolton nói với hai người: “Nghe này, chúng ta phải ngăn chặn vụ này trước khi ông ấy (Trump) tuyên bố ỏm tỏi Mỹ sẽ mua Greenland.” Bolton dặn, đừng để bất kỳ ai biết chuyện, ngay cả “trong nội bộ các ban chuyên trách của chúng tôi,” Fiona Hill kể. Ông Bolton yêu cầu bà Hill âm thầm soạn bản ghi nhớ đề xuất phương án thay thế.

Khi rà soát toàn bộ vấn đề lẫn lịch sử Greenland, Fiona Hill nhận thấy, theo hiệp ước ký với Đan Mạch năm 1951, Mỹ trong thực tế đã nắm quyền kiểm soát quân sự đối với Greenland. Mỹ từng chịu trách nhiệm phòng thủ Greenland thời Đệ Nhị Thế Chiến và duy trì quyền tiếp cận quân sự thông qua các cuộc đàm phán giúp Đan Mạch trở thành thành viên sáng lập NATO.

Dù hiện chỉ có một căn cứ (Căn Cứ Không Gian Pituffik, với nhiệm vụ theo dõi hỏa tiễn đạn đạo từ Nga), Mỹ có thể mở rộng sự hiện diện tại Greenland bất cứ lúc nào và theo bất kỳ cách nào. Fiona Hill và một chuyên gia Bắc Cực thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cuối cùng hoàn thành bản ghi nhớ, trình bày các phương án khả thi. Nội dung chính là tháo gỡ vấn đề nhằm xua tan ý tưởng thôn tính Greenland bằng vũ lực hoặc sức ép chính trị.

Một lần, khi gặp đại sứ Đan Mạch cùng một số quan chức nước này, bà Fiona Hill “cố ra tín hiệu cảnh báo bằng cử động mắt và ngôn ngữ cơ thể khác thường, nhằm ám chỉ sắp có chuyện lớn xảy ra,” như lời bà kể. Tuy nhiên, phía Đan Mạch không bắt được tín hiệu cảnh báo trên. Tháng Bảy, 2019, bà Hill kết thúc nhiệm kỳ. Đó là thời điểm ông Trump công khai đòi thôn tín Greenland. Tháng Tám, 2019, tờ Wall Street Journal tung ra quả bom: Trump “rất quan tâm” việc mua Greenland.

Bài báo khiến Đan Mạch sửng sốt. John Bolton cũng sốc. Trước đó vài tuần, tương tự bà Fiona Hill, ông Bolton cũng kín đáo phát tín hiệu cảnh báo cho Đan Mạch. Vụ việc giờ đây không còn nghi ngờ bị rò rỉ từ Hội Đồng An Ninh Quốc Gia mà từ chính ông Trump. Tại vài bữa tiệc ở Mar-a-Lago, ông Trump hí hửng hỏi, “quý vị nghĩ sao nếu chúng ta mua Greenland?”

Đầu năm 2020, ông Trump tăng tốc. Ủy Ban Điều Phối Chính Sách Greenland (Greenland Policy Coordination Committee – Greenland P.C.C.) được thành lập. Đan Mạch hoàn toàn không hay biết về sự tồn tại ủy ban này. Kế hoạch của nhóm Greenland P.C.C., đầu tiên, là thực hiện chiến dịch “lấy long,” đưa ra những hứa hẹn về đầu tư kinh doanh, cơ hội giáo dục và viện trợ phát triển. Để dọn “sân bãi” cho âm mưu “nuốt xác” Greenland, Mỹ mở lại lãnh sự quán tại Nuuk vốn đóng cửa từ năm 1953. Mọi việc đang chạy trơn tru thì ông Trump thất cử trong cuộc bầu cử 2020.

“Sớm thôi”

Khi ông Trump chuẩn bị tranh cử lần ba, ông Tom Dans – có chân trong tổ chức cánh hữu Heritage Foundation, nơi soạn cẩm nang “trị quốc” Project 2025 – bắt đầu móc nối một người Greenland tên Jorgen Boassen. Nhân vật này không phải là chính trị gia hay tỷ phú gì cả. Ông ta chỉ là một anh… thợ hồ và là kẻ hâm mộ Trump một cách tuyệt đối. Năm 2024, Tom Dans mời Boassen sang Mỹ. Họ dành một tuần đi vận động tranh cử cho ông Trump ở Pittsburgh, sau đó đến West Palm Beach để cùng thức đêm theo dõi kết quả bầu cử. Tại đó, ông Boassen gặp các thượng nghị sĩ Cộng Hòa, giới tỷ phú và nhiều nhân vật chủ chốt của MAGA.

Đầu Tháng Giêng, 2025, nhà hoạt động cánh hữu Charlie Kirk nhờ ông Boassen sắp xếp một chuyến “tìm hiểu thực tế” tại Nuuk. Vài ngày sau, chiếc Boeing 757 của gia đình ông Trump hạ cánh xuống đường băng mới tinh tại thủ phủ Greenland. Ông Boassen ra phi trường đón. Trở về Mỹ, Charlie Kirk kể lại chuyến đi vài giờ đồng hồ với việc “khám phá nhiều điều mới lạ.”

Ông Kirk kể: “Có những con gấu Bắc Cực đi lại quanh Nuuk.” Thực tế chẳng có con gấu trắng to xác nào đi lại quanh Nuuk cả. Kirk nói đến việc gặp một đứa con nít và cậu bé kể về “những viên hồng ngọc to bằng quả bóng chày,” rằng “cậu bé bảo: ‘Người Đan Mạch không cho phép chúng tôi khai thác hồng ngọc, vàng, lithium hay khí đốt gì hết”…, “cậu bé còn nói: ‘Đã đến lúc phải nổi dậy chống lại người Đan Mạch.’”

Tháng Hai, 2025, Dân Biểu Earl L. “Buddy” Carter (Cộng Hòa-Georgia) đệ trình dự luật bày tỏ mong muốn ông Trump thôn tính và đổi tên Greenland thành “Red, White, and Blueland.” Ngày 3 Tháng Giêng, 2026, sau khi Mỹ đột nhập Caracas và bắt cóc ông Nicolas Maduro – tổng thống Venezuela, bà Katie Miller, vợ ông Stephen Miller (cố vấn an ninh nội địa của Tổng Thống Trump), đăng trên X (Twitter) bản đồ Greenland phủ cờ Mỹ kèm chú thích “SỚM THÔI” (“SOON”). Hôm sau, ông Trump nói, “chúng ta thực sự cần Greenland, chắc chắn là vậy.”

“Sớm thôi” bây giờ lại được nhắc đến. Vấn đề thật ra không liên quan nhiều đến an ninh nước Mỹ. Chủ yếu là do khu vực Greenland tan băng nên việc khai thác khoáng sản trở nên dễ dàng và ông Trump muốn kiếm tiền từ đó. Thomas Crosbie, phó giáo sư chuyên ngành tác chiến quân sự thuộc Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Đan Mạch, nhận định rằng việc Mỹ tiếp quản Greenland không giúp cải thiện chiến lược an ninh hiện tại của Washington. Nói với AP, Giáo Sư Crosbie nhận định: “Mỹ chẳng có thêm lợi thế nào nếu cờ Mỹ tung bay tại Nuuk. Họ không thu được lợi ích gì cả vì họ vốn tận hưởng mọi lợi thế mà họ muốn rồi.”

Cần nhắc lại, năm 2025, Quốc Hội Đan Mạch thông qua dự luật cho phép đặt căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ họ. Động thái này mở rộng phạm vi một thỏa thuận quân sự trước đó – ký vào năm 2023 với chính quyền Biden – vốn cho phép quân đội Mỹ tiếp cận rộng rãi các căn cứ Không Quân của Đan Mạch. Tuy nhiên, Hè 2025, ngoại trưởng Đan Mạch là Lars Lokke Rasmussen dọa, họ có 

quyền chấm dứt thỏa thuận nếu Mỹ tìm cách sáp nhập toàn bộ hoặc một phần Greenland.

Dù thế nào, số phận Greenland cũng rất mong manh. Vấn đề của “sớm thôi” bây giờ là “chừng nào.” Đó là điều mà gần như toàn bộ Châu Âu đang vô cùng lo lắng. [dt]


 

Quyền lực khuynh loát của ‘vua FIFA’ Gianni Infantino-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

July 8, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Hình ảnh đẹp của đội tuyển Mỹ bỗng bị vấy bẩn không phải bởi họ bị Bỉ đánh bại mà do sự kiện Trump-Infantino can thiệp luật chơi trên sân cỏ. Sự kiện càng ồn ào khi cầu thủ được “cứu,” Folarin Balogun, không thể giúp đội Mỹ lọt vào tứ kết. Điều khó có thể chấp nhận là chính Chủ Tịch FIFA Gianni Infantino là tâm điểm của toàn bộ bi kịch. Nhân vật này sẽ còn được nói đến kể cả khi World Cup 2026 kết thúc…

Chủ Tịch FIFA Gianni Infantino sánh bước cùng Tổng Thống Donald Trump tại John F. Kennedy Center, Tháng Mười Hai, 2025. (Hình minh họa: Kevin Dietsch/Getty Images)

Một chân dung thực

10 năm qua, giai đoạn cầm trịch của Infantino xảy ra vô số sóng gió với mức độ nghiêm trọng khác nhau, từ chuyện lao động nhập cư bị chèn ép khi xây dựng cơ sở hạ tầng cho World Cup 2022 tại Qatar, sự lố bịch khi trao “FIFA Hòa Bình” cho Trump, đến tổ chức một kỳ World Cup tại ba châu lục và sáu quốc gia vào năm 2030. Chưa kể chuyện giúp Saudi Arabia giành quyền đăng cai World Cup 2034.

Bất chấp tất cả, Infantino không chỉ trụ vững mà ngày càng củng cố quyền lực. Ông dễ dàng đè bẹp bất kỳ làn sóng chống đối nào trong nội bộ FIFA. Tháng Tư, khi tuyên bố tái tranh cử năm 2027, Infantino nhận được ủng hộ từ các liên đoàn túc cầu Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Họ hài lòng trước việc được chia chác từ nguồn doanh thu khổng lồ của FIFA.

Thời còn làm tổng thư ký UEFA, Infantino có vẻ ngoài khá vụng về, hiếm khi nở nụ cười, thường xuyên đưa ra nhận xét lãng xẹt trên sân khấu trong các buổi bốc thăm Champions League – như miêu tả của The New York Times. Một thập niên trước, khi loạt bê bối tham nhũng dẫn đến triều đại Sepp Blatter sụp đổ, chẳng ai nghĩ Infantino là người kế nhiệm chủ tịch FIFA. Những người từng làm việc với ông tại UEFA tỏ ra kinh ngạc trước tốc độ Infantino leo lên đỉnh cao quyền lực.

Còn được gọi là “Piccolo” (“Cậu Bé”), Gianni Infantino, đứa út trong gia đình có ba người con, sinh tại Thụy Sĩ năm 1970. Ông gặp vấn đề về sức khỏe từ khi mới chào đời. Nếu không được truyền máu cấp cứu hẳn đứa bé sơ sinh Infantino đã không qua khỏi. Bố mẹ Infantino là người Ý. Cha ông, Vincenzo, đến từ Calabria (Tây Nam nước Ý); còn mẹ ông, Maria, xuất thân từ Lombardy thuộc miền Bắc nước Ý, nơi có thủ phủ là Milan. Gia đình họ sống tại thị trấn Domodossola, dưới chân dãy Alps, trước khi dọn qua Thụy Sĩ.

Gia cảnh nghèo khó, ông Vincenzo kiếm sống bằng nghề trực tàu hỏa ca đêm. Những ngày nghỉ, Vincenzo cùng vợ kiếm thêm bằng cách bán báo và thuốc lá ở nhà ga. Sau khi tốt nghiệp Đại Học Fribourg với bằng cử nhân luật, Infantino không bước vào nghề luật truyền thống mà chuyển sang lĩnh vực luật thể thao khi làm việc cho Trung Tâm Nghiên Cứu Thể Thao Quốc Tế (CIES). Sau hai năm làm việc tại CIES, năm 30 tuổi, Infantino xin vào bộ phận pháp lý UEFA. Vị thế Infantino tại UEFA thăng tiến mạnh dưới thời Chủ Tịch UEFA Michel Platini.

Khi triều đại Sepp Blatter rung lắc, Michel Platini là ứng viên số một chức chủ tịch FIFA. Tháng Chín, 2015, công tố viên Thụy Sĩ điều tra số tiền mờ ám 2 triệu franc Thụy Sĩ (khoảng $2.43 triệu) mà Platini nhận từ FIFA bốn năm trước. Tòa Thụy Sĩ sau đó xóa bỏ các cáo buộc, dù vậy, Ủy Ban Đạo Đức FIFA cấm Blatter lẫn Platini tham gia mọi hoạt động túc cầu trong vòng tám năm kể từ Tháng Mười Hai, 2015 (sau đó giảm còn sáu năm).

Khi Michel Platini “rớt đài,” sự nghiệp Infantino tưởng chừng tiêu tùng. Tuy nhiên, đó là cơ hội ngàn vàng. Infantino tuyên bố tranh cử chủ tịch FIFA. Nhiều người bất ngờ. Họ biết một Infantino “môi miếng” liếng thoắng chứ ít ai đánh giá cao ông. Nhiều người nghĩ ông chỉ là ứng viên tạm quyền trong thời gian chờ Platini minh oan bản thân.

Khi cuộc bầu cử đến gần, người ta bắt đầu thấy Infantino biến thành con người khác. Với phong cách chính trị gia chuyên nghiệp, ông đi khắp nơi, gặp gần như tất cả chủ tịch liên đoàn túc cầu có sức ảnh hưởng, nói về việc cải tổ FIFA. Ông hứa không chỉ “làm sạch” FIFA mà còn tăng khoản tiền phân bổ cho mỗi liên đoàn thành viên lên $5 triệu trong bốn năm tới.

FIFA bầu chủ tịch thông qua hình thức bỏ phiếu kín, theo nguyên tắc mỗi quốc gia một phiếu. Để vượt trội trong cuộc đua nhiều ứng viên, người thắng cuộc phải giành được hai phần ba số phiếu hợp lệ. Quy trình bỏ phiếu diễn ra nhiều vòng cho đến khi một ứng viên đạt được đa số phiếu theo quy định.

Ứng cử viên sáng giá nhất thời điểm đó là Sheikh Salman Bin Ebrahim Al Khalifa – thành viên hoàng gia Bahrain, chủ tịch Liên Đoàn Túc Cầu Châu Á (AFC), vốn được ủng hộ từ Châu Á và Châu Phi. Infantino và Al Khalifa bám đuổi sít sao trong vòng bỏ phiếu thứ nhất. Khi cuộc đua còn lại hai người, Liên Đoàn Túc Cầu Mỹ, thoạt đầu ủng hộ Hoàng Tử Ali bin Al-Hussein của Jordan, bất ngờ chuyển hướng ủng hộ Infantino ở vòng hai. Các liên đoàn Tây Bán Cầu theo chân Mỹ. Cuối cùng Infantino thắng với 115 phiếu.

Có thể đi tiếp sau 10 năm?

Tháng Hai, cột mốc 10 năm ngồi ghế “vua FIFA” của Gianni Infantino được đánh dấu bằng chiến dịch truyền thông rầm rộ. FIFA tung ra logo “Infantino 10,” cùng phim tài liệu 30 phút tôn vinh sự nghiệp Infantino do FIFA TV sản xuất.

Trong 10 năm, nhiều sóng gió xảy ra nhưng tất cả đều đến rồi đi. Infantino luôn bảo vệ thành công khung thành của mình. Mới nhậm chức chủ tịch FIFA (nhiệm kỳ một) chưa đầy một tháng, tên ông đã xuất hiện trong vụ rò rỉ tài liệu “Hồ sơ Panama” (Panama Papers), liên quan các hợp đồng bản quyền phát sóng mà ông từng ký với một công ty khi còn làm việc tại UEFA.

Vụ việc kéo dài đến tận năm 2023, cho đến khi tất cả cáo buộc bị… hủy. Tháng Mười Hai, 2025, tổ chức nhân quyền FairSquare chỉ trích Infantino “lạm quyền nghiêm trọng” trong bản kiến nghị tám trang gửi đến FIFA. Một lần nữa, Infantino không hề hấn. Không ít thành viên FIFA bênh vực ông, cho rằng, dù lạm quyền, Infantino vẫn là nhân tố mang lại nhiều thay đổi quan trọng cho làng túc cầu thế giới.

Quỹ phân bổ cho 211 liên đoàn thành viên đã tăng gấp tám trong 10 năm Infantino giữ chức chủ tịch, với $5.1 tỷ được đầu tư cho các dự án phát triển túc cầu toàn cầu. Năm 2016, FIFA ghi nhận mức doanh thu hàng năm đạt $502 triệu. FIFA dự kiến thu $9 tỷ chỉ riêng năm 2026 nhờ World Cup – mùa giải đầu tiên có sự tham gia 48 đội và được tổ chức tại ba quốc gia.

Kết hôn với một phụ nữ Lebanon, có bốn con, Infantino thông thạo bảy ngôn ngữ, trong đó có tiếng Arab, và mang ba quốc tịch (Thụy Sĩ, Ý và Lebanon). 10 năm qua, Infantino xây dựng hình ảnh không chỉ là người sống chết với sự phát triển túc cầu thế giới mà còn là một nhà ngoại giao túc cầu quốc tế ở đẳng cấp có một không hai. Ông “bay như chim,” có mặt tại các văn phòng FIFA ở New York, Miami và Zurich. Tại World Cup 2026, người ta thấy ông gần như luôn hiện diện trên khán đài.

Ông không chỉ có tài kiếm tiền cho FIFA, làm hài lòng các liên đoàn túc cầu quốc gia, mà còn nổi tiếng “khéo léo” với các nguyên thủ, từ Vladimir Putin đến Donald Trump. Không phải tự nhiên Infantino thuê văn phòng FIFA tại Trump Tower ở New York vào Tháng Bảy, 2025. Tháng Mười Hai cùng năm, tại trung tâm Kennedy ở Washington DC, Infantino trao cho Trump cái gọi là “FIFA Peace Prize.”

Trong thực tế, bản thân Infantino không khác mấy so với Trump. Ông thích khoe mẽ. Đội ngũ truyền thông FIFA được lệnh cập nhật tất cả những gì liên quan Infantino trên mạng xã hội. Bất kỳ tấm ảnh nào ông chụp với giới chính trị chóp bu phải được đăng tức thì. Mỗi khi Infantino dự khán một trận World Cup, ống kính FIFA phải chĩa vào ông ít nhất hai lần. Năm 2023, Infantino đòi cảnh sát New Zealand hộ tống và “hú còi” cho đoàn xe của mình. Yêu cầu lố bịch này bị từ chối. Tháng Tư, khi đến Vancouver (Canada) dự đại hội FIFA, Infantino cũng đòi “chế độ hộ tống cấp độ bốn,” tức cho phép vượt đèn đỏ và lập rào chặn đường. Một lần nữa, yêu cầu trên bị chủ nhà bác bỏ.

World Cup 2026, với Infantino, không hẳn là sự kiện thể thao thu hút sự chú ý số một hành tinh. Nó được xây dựng như một “di sản,” bổ sung cho bảng thành tích cá nhân của ông. Quan trọng nhất, nó là bệ phóng cho chiến dịch tranh cử 2027. Năm nay ông mới 56 tuổi. Tuy nhiên, chiến dịch tranh cử 2027 có thể bị ảnh hưởng bởi vết nhơ từ vụ Infantino chấp nhận yêu cầu Trump trong việc gỡ án thẻ đỏ cho cầu thủ Folarin Balogun. Phản ứng một số liên đoàn túc cầu thành viên, đặc biệt Liên Đoàn Túc Cầu Châu Âu (UEFA), là rất dữ dội.

Chủ tịch FIFA có nhiệm kỳ bốn năm. Theo điều lệ FIFA, một chủ tịch có thể giữ chức tối đa ba nhiệm kỳ, dù liên tiếp hay không. Với Gianni Infantino, ông được bầu lần đầu vào ngày 26 Tháng Hai, 2016; tái đắc cử năm 2019 và 2023; nhiệm kỳ hiện tại kết thúc năm 2027. Đáng lý đủ ba nhiệm kỳ thì phải ra đi nhưng Infantino tiếp tục tranh cử nhiệm kỳ 2027-2031 vì ông nói nhiệm kỳ một “coi như không tính” bởi lúc đó ông chỉ gánh vác nhiệm kỳ dang dở của Sepp Blatter.

Khó có thể hình dung Infantino thua trong chiến dịch tranh cử tới. Kỹ năng “dắt bóng” và luồn lách của ông, được tích lũy theo năm tháng, ngày càng thượng thừa. Lương của ông, tính tổng cộng (lương cơ bản, thưởng, phụ cấp), là khoảng $6 triệu. Vừa có tiền, có quyền, vừa quen biết rộng với gần như mọi nguyên thủ lẫn người nổi tiếng thế giới, ngai vàng FIFA là vị trí hấp dẫn số một hành tinh. Trong làng túc cầu, chủ tịch FIFA chẳng khác gì một kiểu “vua.” Trong lịch sử từ năm 1904 đến nay, chỉ mới có chín “vua FIFA.” Ít nhất bốn năm nữa người ta có thể vẫn tiếp tục thấy “vua Infantino” thống trị FIFA lẫn thế giới túc cầu. [kn]


 

Tuổi già được mất gì?

Khuong Nguyen

 Tuổi già được mất gì?

Nói về tuổi già người ta vẫn thường cho rằng tuổi già là “tuổi xế chiều,” chỉ toàn thấy mất mát. Nhưng đi hết một vòng đời ta mới thấy cái gì cũng như đồng tiền, phải có hai mặt. Già, là lúc ta mất nhiều, nhưng cũng được không ít.

Cái “mất” của tuổi già

Cái mất đầu tiên và rõ nhất là sức khỏe. Mắt mờ, chân chậm, đêm nằm nghe xương khớp kêu lục cục nhói đau khi trở mình. Những bậc thang ngày xưa có thể bước hai bậc một lúc, bây giờ phải vịn tay mới qua. Mất sức, kéo theo mất tự do. Muốn đi xa phải tính, muốn ăn ngon phải kiêng.

Cái mất thứ hai là vai trò trong gia đình. Ngày trước từng là cột trụ, lời nói có người nghe, đe có người sợ. Về già, con cháu lớn, chúng có thế giới riêng. Khi họp mặt gia đình, ý mình thành ý tham khảo. Từ “người quyết định” thành “người kể chuyện cũ, chuyện xưa” nghe cho vui thôi…

Cái mất thứ ba là bạn bè. Mỗi năm thưa dần một vài chỗ ngồi cà phê sáng. Đám tang nhiều hơn đám cưới. Điện thoại ít reo; danh bạ nhiều số không còn người nghe máy; “Điện thư” không có hồi âm hay bị gởi trả lại…

Cái mất sau cùng là thời gian. Biết chắc là quỹ thời gian không còn dài. Mỗi ngày qua đi mang theo một nỗi buồn man mác, không tên.  Mỗi tờ lịch xé đi là một lần thấy giật mình.

Cái “được” của tuổi già

Nhưng cũng chính ở tuổi già, ta “được” những thứ mà tuổi trẻ không có…  Chẳng  hạn:

Ta được thảnh thơi với chính mình; không còn phải gồng mình với ai. Ta chẳng cần phải “diễn.” Ta được sống thật, nói thật, làm thật.  Mệt thì nghỉ, không vui thì không làm, không gượng ép. Cái quyền “không diễn” ấy tuổi trẻ làm sao có được?

Sáng ra ta muốn dậy sớm ngắm bình minh vận động thể dục, phơi nắng; buổi chiều muốn ngủ vùi… chẳng ai phán xét.

Được hiểu mình. Lúc trẻ thì hay chạy đua theo thiên hạ; lúc già rồi mới biết mình thích chén trà ngon, thích bản nhạc xưa, thích ngồi yên không làm gì. Hiểu mình rồi, mới sống cho mình.

Được quyền nhớ và quyền quên. Nhớ chuyện năm 20 tuổi rõ như hôm qua, quên chuyện bực mình hôm kia. Nhớ dai kỷ niệm đẹp, quên nhanh hờn giận. Đó là món quà của trí nhớ già: Nó tự lọc.

Được nhìn đời bằng con mắt nhẹ nhàng, thông thoáng. Tranh hơn thua làm gì nữa, khi cuối cùng ai cũng về với đất. Thấy con cãi nhau, chỉ cười: “Ngày xưa Ba Mẹ cũng vậy.”  Thấy cháu vấp ngã, không hốt hoảng: “Đứng dậy, đi tiếp là được.”  Bình thản đó phải trả bằng cả đời mới mua nổi.

Được thương theo cách khác. Lúc trẻ thương bằng chiếm hữu, khi già thương bằng buông thả. Thương con là để nó bay, thương cháu là kể chuyện ngày xưa rồi lẳng lặng nhìn nó lớn. Không giữ, nên không mất.

Được – mất, suy cho cùng là một

Ngẫm cho kỹ, cái mất hôm nay là cái được hôm qua. Mất sức trẻ, được thời gian chiêm nghiệm. Mất vai trò cột trụ, được làm người quan sát. Mất bạn, được hiểu sự vô thường. Mất thời gian dài, được biết quý từng ngày ngắn.

Tuổi già như mùa đông. Cây rụng lá, trơ cành, trông như mất hết. Nhưng trong thân gỗ đang ủ nhựa cho mùa sau. Người già rụng đi ham muốn, rụng đi sân si, chỉ còn lõi người: Hiền, và thật.

Vậy nên, nếu phải chọn, người già đừng hỏi mình “Được gì? Mất gì?” Mà hãy hỏi: “Thứ mình mất, có đáng để đổi lấy thứ mình được hay không?”

Với nhiều người, câu trả lời là: “Đáng. Đáng lắm. Vì cuối cùng, được ‘bình yên’ trong lòng.  Đó là cái ‘được’ lớn nhất. Mà bình yên, trẻ mấy ai có.”

Tuổi già không phải đoạn kết buồn. Nó là chương cuối, viết chậm, chữ thưa, nhưng mỗi chữ đều rất đậm nét.

FB Phạm Quốc Hùng 


 

“Đừng”… và … “Nên”

Kimtrong Lam

“Đừng”… và … “Nên”

Đừng trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn

Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…Và…

người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

Đừng hứa khi đang… vui !

Đừng trả lời khi đang… nóng giận !

Đừng quyết định khi đang… buồn !

Đừng cười khi người khác… không vui !

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta

Trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi

(tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

 

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm

Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm

Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có……..

Trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng,

tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t ..

ngơ ngác với giờ.. phút ..

Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên

thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, 

 

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

Đừng lo lắng nhiều quá về con cái vì con cái có phần số của chúng

chúng sẽ tự tìm cách sống riêng.

 

Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ.

Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.

Nên bạn hãy sống cho vui vẻ.

Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

 

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và coi ai thành đạt hơn,

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.

Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.

Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thường xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

Và nhất là biết trân quý những điều tốt đẹp quanh mình và còn

BẠN BÈ … nữa.. Họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!!

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

( Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn)


 

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN.

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Sưu tầm


 

CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

 CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Bài st cũ đăng lại

Điều khiến ta kiệt sức nhất không phải đường xa diệu vợi, mà là sự phiền muộn trong lòng.

Điều khiến ta chán chường nhất không phải con đường phía trước khấp khuỷu, mà là mất đi sự tự tin.

Điều khiến ta đau khổ nhất không phải sự bất hạnh trong cuộc sống, mà là hy vọng sụp đổ.

Điều khiến ta tuyệt vọng nhất thường không phải sự thất bại, mà là linh hồn đã chết…

Cuộc đời cho ta một đôi chân, đi đến đâu đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc đời cho ta đôi tay, cầm cái gì, buông cái gì đó là là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta cái lưỡi, nói cái gì, nói lúc nào, lời hay ý đẹp hay thô tục khó nghe, đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta một trái tim, dùng nó để yêu thương ai, đó là ta quyết định, lựa chọn, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống “tình cờ” sắp xếp ta gặp ai đó trong cuộc đời. Đối xử với họ ra sao, thân thiết hay xa lánh, đó là cũng chính ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Đấng sinh thành chỉ cho ta sự khởi đầu, còn sống ra sao chẳng phải ai khác, chính là ta quyết định.

Tâm thế nào, sẽ tạo nên sắc màu cuộc  sống thế đấy!.

Cuộc sống thế nào, sẽ tạo ra quãng thời gian hưởng thụ cuộc đời như vậy!.

Đừng đổ lỗi cho cuộc sống, cho đấng sinh thành, cho số phận… Cuộc đời ta, chính là do ta tạo ra mà thôi!

Từ fb Vu Le


 

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Nguyen Thi Chau

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Khổng Tử đáp: “Không phải khi họ mất tiền. Cũng không phải khi họ mất địa vị.”

Tử Hạ hỏi: “Vậy là khi nào?”

Khổng Tử cầm một viên ngọc và thả xuống bùn. Ông hỏi: “Viên ngọc có vì nằm trong bùn mà thành đá không?”

Tử Hạ đáp: “Không. Nó vẫn là ngọc.”

Khổng Tử gật đầu: “Đúng vậy. Nghèo khó không làm con kém giá trị. Thất bại cũng không làm con tầm thường.”

Tử Hạ lại hỏi: “Vậy điều gì mới làm con người mất giá?”

Khổng Tử chậm rãi đáp: “Là khi vì tiền mà đánh mất lương tâm. Vì quyền mà đánh mất chính nghĩa. Vì lợi ích mà đánh mất chữ tín.”

Tử Hạ cúi đầu hành lễ.

Khổng Tử mỉm cười: “Giá trị của một con người không nằm ở những gì họ có. Mà nằm ở những điều họ nhất quyết không đánh đổi.”

Từ fb Narissa Loan


 

Sài Gòn: chiến tranh, hòa bình và ước mơ của tôi (BBC)

 (BBC)

Một người cha chở con trên xe máy tại Sài Gòn vào tháng 5 năm 1970

Tác giả, Bùi Văn Phú

Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Berkeley, California

4 tháng 7 2026

Chiều 29/4/1975, tôi rời quê hương bằng tàu. Sáng hôm sau, xe tăng, bộ đội cộng sản tiến vào Dinh Độc Lập, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng.

Năm sau, Sài Gòn chính thức đổi tên, mà như Phạm Duy viết trong ca khúc 1954, 1975, thành phố “phải mang tên xác người“, hay Nguyễn Đình Toàn viết “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên” trong Sài Gòn niềm nhớ không tên.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Thầy u tôi rời quê Nam Định di cư vào Nam sau Hiệp định Geneve 1954 và một năm sau tôi ra đời ở xứ Nghĩa Hòa, một xứ đạo tân lập trong khu vực Ngã ba Ông Tạ, nơi có mấy vạn người Công giáo Bắc di cư ở.

Nói tôi sinh ra ở Sài Gòn thì không đúng, vì giấy khai sinh ghi nơi sinh là xã Tân Sơn Hòa, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Nhưng Ngã ba Ông Tạ nằm sát bên thủ đô. Từ đây theo đường Phạm Hồng Thái nối dài tới Lê Văn Duyệt, tính ra từ Gia Định chỉ đi ba trăm mét, qua đường Bắc Hải là vào quận 3 của Sài Gòn. Sau năm 1975, khu vực Ngã ba Ông Tạ mới thuộc về Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày còn bé chẳng mấy khi được vào trung tâm thủ đô, chỉ nhớ có lần thầy tôi đưa các con đi chơi Sở thú, tức là Thảo Cầm Viên, xem voi ăn mía, khỉ ăn chuối. Có năm thầy đưa lên Bến Bạch Đằng xem bắn pháo bông dịp Quốc khánh 26 tháng 10, pháo nổ trên bầu trời tỏa hình Ngô tổng thống, hình khóm trúc.

Mấy lần ông chú dẫn đi xe ngựa, xe lam 3 bánh lên trung tâm thủ đô dự mít tinh kỷ niệm ngày Quốc hận 20/7 chia đôi đất nước hay tham gia biểu tình phản đối chính phủ quân phiệt.

Cấp 1 tôi học trường Nghĩa Hòa, cấp 2 trường Thánh Tâm ở Ngã ba Ông Tạ. Năm lớp 10 vào trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân, từ đó Sài Gòn trở nên thân quen. Là năm đầu tiên đi học trong thành phố, lại là năm chuyển tiếp không có thi tú tài nên nhiều hôm tôi đã trốn học đi chơi, không còn học giỏi như những năm ở trường Thánh Tâm mỗi tháng xếp hạng nhất, nhì hay ba về học lực và được lãnh bảng danh dự. Giờ tôi chỉ xếp hạng trung bình trong số 50 bạn học.

Tôi hay trốn học đi coi xi-nê ở rạp Cao Thắng, Nam Quang hay đạp xe quanh trung tâm thủ đô nên những con đường Nguyễn Huệ, Tự Do, Hàm Nghi, Cao Thắng, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tôn trở nên thân quen. Chợ Bến Thành, nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi. Tòa soạn Báo Tuổi Hoa trên đường Kỳ Đồng tôi hay vào đọc sách báo. Trước Bưu điện thành phố có xe bò bía, có mấy sạp bán tem thư mà tôi hay ghé mua phong bì khi có phát hành tem thư ngày đầu tiên. Qua đường Hai Bà Trưng, gần đến chợ Tân Định quẹo phải đường Trần Văn Thạch ghé tiệm tạp hóa của một ông gốc Hoa mua tem sưu tầm, là sở thích.

  Ở trung tâm thủ đô, tôi nhiều lần chứng kiến biểu tình của sinh viên học sinh quanh bùng binh Quách Thị Trang hay trước trụ sở quốc hội để phản đối chính sách của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống lại sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến.

Hết năm lớp 10, trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn chỉ dành cho nữ sinh nên tôi chuyển qua Nguyễn Bá Tòng Gia Định học lớp 11 và 12. Phạm Văn Thiêm là người bạn thật tốt học chung lớp 10, ngày nào cũng từ Hòa Hưng ghé qua nhà chở tôi đi học. Có những ngày sau giờ tan học chúng tôi đi vào trung tâm thủ đô qua Cầu Bông tràn ngập áo dài trắng tung bay của nữ sinh trường Lê Văn Duyệt.

Sài Gòn điêu tàn sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Cuối năm lớp 11, chiến tranh bùng nổ ở nhiều tỉnh. Mùa hè đỏ lửa 1972, một cựu học sinh Nguyễn Bá Tòng là Đại úy Không quân Trần Thế Vinh, người được vinh danh là anh hùng diệt xe tăng, đã hy sinh trong một phi vụ chiến đấu.

Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.

Không như Mậu Thân khi du kích đánh vào tỉnh thành, lần này bộ đội cộng sản đem xe tăng, đại pháo tấn công vào nhiều nơi từ Quảng Trị địa đầu giới tuyến, Kontum trên cao nguyên đất đỏ vào đến An Lộc không xa thủ đô.

Chính phủ ban hành lệnh đôn quân. Tôi đã bước vào tuổi lính, lo học, lo cho tương lai và có nhiều ưu tư về cuộc chiến. Nhiều buổi chiều vào quán cà phê nghe nhạc vừa lãng mạn, tình tứ vừa buồn lo cho quê hương, thân phận con người.

Theo em xuống phố trưa nay

Đang còn ngất ngất cơn say

Theo em bước xuống cơn đau

Bên ngoài nắng đã lên mau…

(Lê Uyên Phương)

Đêm mẹ ngồi cầu kinh

Tường trắng im lìm

Bom rung từng liếp cửa…

(Trịnh Công Sơn)

Thi đậu Tú tài I, tôi tiếp tục được hoãn dịch để học lớp 12. Trở lại trường mới biết bạn cùng lớp ai đã nhập ngũ. Học Anh văn với thầy Hoàng Định, thấy học trò lo lắng thầy trấn an: “Nixon đã đi Tầu, rồi sẽ đi Nga. Cuộc cờ đã ngã ngũ. Chiến tranh sẽ chấm dứt thôi.” Nhìn cây phượng nơi sân trường nở rộ hoa đỏ, thầy nói: “Năm nay phượng nở nhiều, các anh chị cũng sẽ thi đỗ nhiều để được học tiếp lên, có cơ hội góp phần xây dựng đất nước.” Hết niên học thầy được qua Mỹ tu nghiệp.

Gần nhà tôi có khu quân sự Mỹ trên đường Nguyễn Văn Thoại và quanh đó là những quán bar. Một chiều nghe tiếng nổ lớn, tôi chạy ra xem thấy xác người chết xám vì chất nổ TNT của Việt Cộng cài vào xe đạp. Một chị gần nhà, trên đường đi học về, đã chết hôm đó. Đêm đêm nghe bà mẹ khóc than thảm thiết: “Con ơi, ở đời măng khóc tre chứ ai ngờ mẹ lại phải khóc con.”

Ở trường tôi thích giờ giảng văn của thầy Trần Bằng Phong, phục khí phách Nguyễn Công Trứ có lúc làm quan và có lúc bị đày mà không nản chí. Với sự hướng dẫn của thầy, năm đó tôi làm bích báo cho lớp.

Trong giờ công dân giáo dục, thầy Nguyễn Văn Tiếu cho chúng tôi thảo luận về những vấn đề liên quan đến quốc gia. Tôi nêu chuyện tham nhũng, vì đọc báo có tin dân biểu đi công tác nước ngoài mang lậu nước hoa, mỹ phẩm, quần lót, lịch Playboy về bán; có dân biểu ăn cắp tượng cổ ở bảo tàng đem ra nước ngoài được báo chí đặt tên là “Dân biểu tượng Chàm”, nhưng sao không ai bị bắt giam. Thầy nói dân biểu nghị sĩ có quyền bất khả xâm phạm nên cảnh sát không thể bắt họ.

Tổng trưởng Kinh tế Phạm Kim Ngọc đưa ra chính sách thuế trị giá gia tăng bị phê phán, chế giễu là “Tổng Ngốc”. Có bạn bày tỏ sự căm ghét “Vua đi đêm Kissinger” vì Hòa đàm Ba Lê kéo dài nhiều năm mà hòa bình đâu chưa thấy. Những dân biểu Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức đòi Mỹ rút và Việt Nam Cộng hòa ngưng bắn, có bạn hỏi tại sao không đòi Cộng sản Bắc Việt thôi xâm lược miền Nam.

Đường phố Sài Gòn năm 1969

Đầu năm 1973, Hiệp định Ba Lê được ký kết. Tôi vui mừng vì chiến tranh chấm dứt, từ nay người Việt thôi bắn giết nhau.

Mang giầy vớ tốt mang khăn áo lành

Tôi chào đất nước tôi nay thái bình…

(Phạm Duy)

Sáng ngày hiệp định có hiệu lực, tôi và mấy bạn rủ nhau lên trung tâm thủ đô, vào một quán cà phê trên đường Nguyễn Du, nghe vang vang lời ca, như mơ ước đã có từ lâu:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường…

Khi đất nước tôi không còn giết nhau

Mọi người ra phố mời rao nụ cười

(Trịnh Công Sơn)

Để chào mừng chiến tranh chấm dứt, tôi vẽ mẫu làm hai cánh cổng sắt trước nhà, mỗi bên có dấu hiệu hòa bình ở giữa. Sau khi cổng hoàn tất, một hôm có cảnh sát đến nhà nói với thầy tôi đó là dấu hiệu phản chiến và yêu cầu gỡ bỏ. Tôi không đồng ý, chỉ cắt hai miếng thiếc che dấu hiệu, từ ngoài đường nhìn vào không còn trông thấy nữa. Ít lâu sau, kẻ trộm lấy mất một cánh cổng. Thầy tôi nghi cảnh sát đã lấy đi một cánh để nhà phải làm lại hai cánh mới. Tôi cũng nghĩ thế.

Bùi Văn Phú

Biểu tượng hòa bình vẫn còn trên cánh cổng khi tác giả trở lại ngôi nhà xưa vào năm 1997

Ở trường tôi hăng say sinh hoạt hiệu đoàn nên cuối niên học được hiệu trưởng Đinh Ngọc Lễ trao cho phần thưởng hạnh kiểm. Đến hè, tôi thi đậu Tú tài II.

Thi vào trường Kiến trúc, vì có hoa tay và thích vẽ, nhưng không đậu nên ghi danh vào trường Luật Sài Gòn là chính, Văn khoa là phụ.

Bạn cùng lớp 12 có Phạm Văn Thiêm, Trịnh Hoàng Long, Nguyễn Văn Lý cũng ghi danh học luật. Võ Quang Thịnh, quen thân từ những năm ở trường Thánh Tâm, học Petrus Ký, đậu hạng bình. Tú tài I bạn đậu ưu, xin đi du học không được, ghi danh vào khoa Hóa, Đại học Minh Đức. Nguyễn Công Bình nhà ở Tân Chí Linh, đậu bình cả hai kỳ thi Tú tài, gia đình có anh tử trận nên được chính phủ cấp học bổng du học Mỹ. Hoàng Đức Hòa ghi danh chứng chỉ MPC bên Đại học Khoa học.

Sinh viên trường Luật năm đầu đi học ở rạp Thống Nhất. Giáo sư Vũ Văn Mẫu dạy cổ luật, giáo sư Trần Văn Liêm, dân luật; giáo sư Nguyễn Cao Hách, kinh tế; giáo sư Lê Đình Chân, luật hiến pháp.

Chương trình học có 7 môn, cuối năm bốc thăm hai môn chính thi viết luận văn, còn các môn khác là các câu hỏi ngắn. Một trong hai môn thi chính năm đó là luật hiến pháp mà tôi rất thích nghe Giáo sư Lê Đình Chân, người giảng rất lôi cuốn về quyền của dân, về các tổ chức công quyền là hành pháp, quốc hội, tối cao pháp viện, giám sát viện.

Đề tài thi là về luật bầu cử năm 1971 yêu cầu một ứng cử viên phải có sự đề cử của 60 dân biểu, nghị sĩ quốc hội hay 120 nghị viên hội đồng tỉnh. Điều đó có vi hiến hay không? Tôi đưa ra lập luận là không vi hiến, dẫn chứng là ở Mỹ, Pháp các ứng cử viên tổng thống đều phải có các đảng đề cử mới được ra tranh cử. Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng hòa xác nhận sinh hoạt chính trị đa đảng và khuyến khích tiến tới lưỡng đảng thì việc ứng cử viên phải có sự đề cử là sinh hoạt dân chủ đa đảng. Đậu thi viết, tôi thi phần hai. Kết quả tôi hoàn tất chứng chỉ luật năm thứ nhất, được tiếp tục hoãn dịch để học năm thứ hai.

Nữ sinh Sài Gòn năm 1970 (trái) và năm 1972

Hiệp định Ba Lê đã không đem lại hòa bình vì vẫn còn súng nổ trên chiến trường. Chuẩn úy Nguyễn Đức Tuyển, trưởng lớp ở Thánh Tâm, bị phục kích chết, mẹ của bạn trở nên điên dại khi nhận xác con về. Duy Nam, giọng hát truyền cảm trong các buổi văn nghệ và là học trò của ca sĩ Duy Khánh, tử trận. Phạm Văn Thông học chung lớp ở Thánh Tâm, bút hiệu Mai Thông, tử nạn khi trực thăng rớt. Anh Lâm cùng xóm là sĩ quan chiến tranh chính trị tử trận. Chuẩn úy Lê Minh Châu học chung lớp 11 chết mất xác.

Vào đại học, tôi thường ở nhà ông bác ngoài đường Thánh Mẫu, gần nhà thờ Chí Hòa, Ngã ba Ông Tạ. Anh cả của bác là Thẩm phán Trần An Bài, ngoài việc tại tòa án anh còn dạy ở Học viện Cảnh sát Quốc gia, Đại học Vạn Hạnh và thường viết cho báo Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm. Sau luật 7/72 bóp nghẹt tự do báo chí, tờ Xây Dựng phải đóng cửa. Nhà anh có báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc hay bị Bộ Dân vận Chiêu hồi ra lệnh tịch thu sau khi phát hành. Gần anh, tôi được học thêm nhiều về hệ thống luật của Việt Nam Cộng hòa. Đầu năm 1974, anh trình luận án tiến sĩ luật, tiêu đề “Những bảo đảm của nghi can trong giai đoạn điều tra sơ vấn”.

 Khi ông Thiệu vận động quốc hội sửa hiến pháp, tăng nhiệm kỳ tổng thống lên 5 năm và cho ông quyền tái ứng cử sau khi nhiệm kỳ hai chấm dứt năm 1975, cho thấy ông muốn làm tổng thống suốt đời, nên tôi tham gia các hoạt động chống chính quyền độc tài vì tin rằng chỉ có dân chủ mới thắng được cộng sản.

Tôi và bạn Hoàng Đức Hòa bên Khoa học bàn với nhau là lên năm thứ hai hay thứ ba chúng tôi sẽ ra ứng cử ban đại diện sinh viên của khoa để hoạt động rộng hơn. Tôi thích làm báo nên sẽ tranh chức trưởng ban báo chí Luật khoa, dù biết là dấn thân hoạt động sẽ có nhiều nguy hiểm, như anh Lê Khắc Sinh Nhựt đã bị Việt Cộng ám sát chết ngay trong sân trường Luật.

Mấy năm trước, trong một buổi văn nghệ ở Văn khoa, anh Ngô Vương Toại đã bị cán bộ nội thành lên giựt mi-crô, nã đạn vào người và may thoát chết. Trong khuôn viên trường Luật thỉnh thoảng cũng có rải truyền đơn chống chính phủ. Sinh viên học sinh tranh đấu như Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi xuống đường biểu tình chống Thiệu, chống Mỹ bị bắt rồi được thả vì áp lực quốc tế can thiệp.

Hỏi ý anh Trần An Bài, anh nói muốn ứng cử vào ban đại diện sinh viên thì phải dứt khoát là người quốc gia, chống cộng và có một đảng ủng hộ ra tranh cử.

Tôi là người quốc gia, chống cộng nhưng không ủng hộ chính sách của ông Thiệu. Sinh hoạt chính trường miền Nam từ lâu đã có Đảng Đại Việt, có Quốc dân Đảng, Phong trào Quốc gia Cấp tiến, Lực lượng Đại Đoàn kết mà tôi biết. Những năm qua có Đảng Dân chủ do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lập ra. Trong bầu cử tổng thống 1971, liên danh Nguyễn Cao Kỳ bị loại và liên danh Dương Văn Minh rút lui để liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương độc diễn và thắng đến 94% cho thấy chủ trương độc tài của ông.

Một hôm trên báo Chính Luận có đăng quảng cáo của Đảng Quốc tiến mới được thành lập với người lãnh đạo là cựu Thượng nghị sĩ Trương Vĩnh Lễ, từng là ứng cử viên phó tổng thống của tướng Nguyễn Cao Kỳ, nên tôi muốn gia nhập đảng này.

Bùi Văn Phú

Thẩm phán Trần An Bài bảo vệ luận án tiến sĩ luật tại Đại học Luật khoa Sài Gòn năm 1974. Tác giả bên bìa phải

Đầu năm 1975, tôi và Hòa đến một căn nhà bên hông Đại học Vạn Hạnh, gặp ông Ngọc, tổng thư ký Đảng Quốc tiến. Sau khi giới thiệu về mình và trò chuyện với ông về những vấn đề liên quan đến hiện tình đất nước, ông Ngọc cho biết chủ trương của đảng là đối lập với Đảng Dân chủ của ông Thiệu. Muốn vào đảng, mỗi người chúng tôi cần hai người giới thiệu. Tôi sẽ nhờ Thẩm phán Trần An Bài và Nghị viên Nguyễn Duy Bảo, người mà tôi từng tham gia vận động bầu cử cho, giới thiệu và tôi sẽ ra tranh cử vào ban đại diện sinh viên trường Luật.

Tại địa phương, tôi tham dự nhiều buổi thảo luận của Linh mục Trần Hữu Thanh về chính sách hay các dự luật tại quốc hội, làm sao vận động ủng hộ hay ngăn cản không cho thông qua. Cha Thanh đặt bản doanh của Phong trào Nhân dân chống tham nhũng tại xứ Tân Chí Linh nên khu Ông Tạ thường có biểu tình chống chính phủ. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ, tấm khiên, ba ton tới bao vây, bắn lựu đạn cay để giải tán.

Bạn bè tụ họp ở nhà Võ Quang Thịnh sau nhà dòng Mai Khôi đàn hát và đọc “Bản Cáo trạng số 1” của Phong trào vào băng cát-sét để lưu lại vì các báo đăng cáo trạng đã bị tịch thu.

Gần nhà có anh Nguyễn Tiến, tốt nghiệp văn khoa, tham gia chính trường, đắc cử nghị viên hội đồng xã Tân Sơn Hòa. Tiếp xúc với anh, tôi hiểu hơn về khu vực nơi mình sống tinh thần chống cộng cao, nhưng cũng có bạn trẻ ngả theo “cách mạng” vì cạnh bên là khu dệt Quảng Nam có nhiều người theo “Mặt trận”. Anh cho biết sự việc tôi gắn dấu hiệu hòa bình trên cổng và tham gia phong trào chống tham nhũng khiến có người nghi ngờ tôi theo cách mạng.

Cựu học sinh Thánh Tâm cũng đã có những buổi họp mặt tại trường, do anh Phạm Văn Sơn, sinh viên năm thứ ba khoa học đứng ra tổ chức. Chúng tôi thảo luận về hướng đi cho thanh niên sinh viên trong tình hình hiện tại, phải vững tinh thần quốc gia, không nghe tuyên truyền của cộng sản kêu gọi xuống đường, bãi khóa.

Năm 1974, trường Thánh Tâm đã bị “cách mạng” chiếm đóng cả tuần. Ban đêm, từ nóc trên tầng bốn họ cho phát thanh những bài viết chống chính phủ mà từ nhà tôi nghe rõ. Mấy lần cảnh sát tiến vào trường thì bàn ghế từ lầu cao được ném xuống, nên phải rút lui. Cho đến khi Chuẩn tướng Trang Sĩ Tấn xuống chỉ huy cả trăm cảnh sát tiến vào mới bắt được mấy thanh niên thiếu nữ theo Việt Cộng.

Hiệu trưởng trường Thánh Tâm là sư huynh Nguyễn Văn Ngươn, em của Thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Thượng nghị viện, nên ngôi trường đã trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị cho khu vực Ông Tạ, từ vận động bầu cử đến đấu tranh.

Đầu năm 1975, cộng sản tấn công chiếm Phước Long, rồi Ban Mê Thuột. Như vết dầu loang, các tỉnh phía bắc dần dần bị mất kiểm soát. Dân miền Trung di tản vào Sài Gòn trong khi người thủ đô tìm cách rời nước ra đi.

Tướng Dương Văn Minh kêu gọi các bên ngưng bắn để hòa giải dân tộc. Tôi đã có bài viết trên báo Tiền Tuyến của quân đội vào đầu tháng Tư phản bác lại, vì theo tinh thần Hiệp định Ba Lê, bên gây chiến là bộ đội cộng sản, yêu cầu họ rút về miền Bắc thì mới có thể nói chuyện hòa giải, hòa hợp.

bùi văn phú

Sinh viên biểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân tị nạn, Sproul Plaza, U.C. Berkeley 1979

Sáng 29/4/1975, sau khi nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên đài phát thanh yêu cầu người Mỹ rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, anh Bài quyết định đưa gia đình và các em ra đi, có tôi đi theo. Hai bác ở lại coi nhà vì có mấy người bà con từ Biên Hòa chạy đến tạm trú.

Qua các trại tị nạn ở Subic Bay, Philippines; Guam và Camp Pendleton ở miền nam California, tôi có tìm kiếm bạn học cũ nhưng không ai đi thoát được. Nhiều lúc tôi tự hỏi đất nước đã hết chiến tranh, sao tôi không ở lại để theo đuổi ước mơ và góp tay xây dựng đất nước!

Mùa thu 1977, tôi được nhận vào Đại học U.C. Berkeley, nổi tiếng chống chiến tranh Việt Nam. Hoạt động trong trường của thành phần ủng hộ Hà Nội vẫn còn, qua những buổi chiếu phim “79 Mùa xuân của Bác Hồ”, “Chiến thắng năm Mão”, sau đó đã bị người Việt tị nạn từ Oakland, San Francisco, San Jose kéo lên dẹp tan.

Cùng các bạn mới quen trong trường, chúng tôi thấy cần lập hội để giúp đỡ nhau và nêu cao tinh thần quốc gia của sinh viên tị nạn. Một số anh em họp bàn, soạn thảo nội quy và ngày 20/1/1979 tại ký túc xá Spens Black Hall, với 50 sinh viên Việt có mặt, nội qui hội được biểu quyết chấp thuận. Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học U.C. Berkeley chính thức được thành lập với mục đích giúp nhau học tập, bảo tồn phát huy văn hóa Việt và tương trợ lẫn nhau.

Cơ hội ứng cử ban đại diện sinh viên đến với tôi, không ở trường Luật Sài Gòn mà tại một đại học danh tiếng, chiếc nôi của phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Tôi ra tranh chức trưởng ban văn hóa, phụ trách báo chí và văn nghệ, vì hợp với khả năng và sở thích. Ban chấp hành đầu tiên được bầu ra và tôi làm trưởng Ban Văn hóa.

Bản tin chính thức của hội phát hành số đầu tiên vào đúng dịp Tết Kỷ Mùi 1979. Ban chấp hành bắt tay ngay vào việc tổ chức pic-nic, thể thao, họp mặt ca hát, tưởng niệm 30/4, cứu giúp thuyền nhân, phát hành đặc san. Nội san Nối Vòng Tay ra đời. Tôi lại ôm đàn ghi ta, xướng lên những bài hát cộng đồng. Sân trường Đại học U.C. Berkeley vang những lời ca:

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

(Nguyễn Đức Quang)

Rừng núi giang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

(Trịnh Công Sơn)

Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời

Việt Nam hai câu nói bên vành nôi

(Phạm Duy)

Bùi Văn Phú

Đại hội thể thao văn nghệ liên trường Bắc California tổ chức tại U.C. Berkeley năm 1988

Hai mươi năm sau, tôi trở về thành phố thân yêu cũ và không thấy đường phố nhà cửa có thay đổi nhiều, chỉ cũ đi và phai bạc mầu. Khu nhà tôi lúc bấy giờ nhiều người bán hàng bên lề. Nhưng tên đường giờ đã khác: Cách Mạng Tháng 8, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Đồng Khởi hay Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Bành Văn Trân là những ai, nghe xa lạ quá.

Trường cũ cũng đã đổi tên. Nghĩa Hòa thành Chi Lăng, Thánh Tâm là Tân Bình, Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn thành Bùi Thị Xuân, Nguyễn Bá Tòng Gia Định thành Hoàng Hoa Thám và Đại học Luật khoa không còn mà trở thành Đại học Kinh tế. Bạn cũ nói kinh tế xã hội chủ nghĩa không ứng dụng gì được nên bỏ học ra đời chạy tắc xi hay làm nghề tự do.

Năm mươi năm qua, tôi theo dõi sinh hoạt chính trị và nhân quyền quê nhà. Năm mươi năm Sài Gòn đổi tên, Thành phố Hồ Chí đã mở rộng ra đến vùng biển, phường Sài Gòn giờ có nhiều nhà cao tầng, nhiều xe hơi trên phố, nhưng ở mặt khác của cuộc sống, đến nay câu đồng dao mà người Sài Gòn từ lâu truyền khẩu cho nhau vẫn còn là hiện thực: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California

 

Sài Gòn hay Thành phố Hồ Chí Minh: Thế hệ trẻ sử dụng tên nào? (BBC)

BBC

Người dân đi xem lễ diễu binh dịp 30/4/2025 tại TP HCM

3 tháng 7 – 2026

Sinh ra ở các thập niên sau ngày Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều người thuộc “thế hệ 9x-2k” (chỉ những người sinh trong khoảng thời gian 1990-2009) không trải qua thời khắc lịch sử ấy, mà chỉ biết tên gọi mới đã trở thành điều hiển nhiên.

Với họ, hai cái tên “Sài Gòn” và “Thành phố Hồ Chí Minh” không phải là một sự lựa chọn đối lập, mà là “hai lớp nghĩa cùng tồn tại”.

Dù có cách diễn đạt khác nhau, những người trẻ mà BBC News Tiếng Việt phỏng vấn đều nhìn nhận “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên gọi chính thức của thành phố, thường được sử dụng trong các giấy tờ thủ tục hành chính, trong khi “Sài Gòn” vẫn là cái tên hiện diện trong đời sống thường ngày.

‘Sài Gòn phóng khoáng, nghĩa tình, cởi mở và bao dung

Sinh năm 1996 và lớn lên tại TP HCM, rapper có nghệ danh là Christian Cang cho biết anh hiểu rằng sau năm 1975, Sài Gòn được đổi tên thành TP HCM theo quyết định của nhà nước.

Tuy nhiên, trong đời sống thường ngày, anh vẫn quen gọi nơi mình sống là “Sài Gòn” vì “tự nhiên, ngắn gọn và gần gũi”.

“Mình lớn lên nghe mọi người xung quanh gọi như vậy, nên thành thói quen,” Christian Cang nói với BBC News Tiếng Việt.

Theo nam rapper này, “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên hành chính chính thức, còn “Sài Gòn” gợi lên hình ảnh về văn hóa, con người, nhịp sống và ký ức của nhiều thế hệ.

Anh cho rằng chính giá trị văn hóa đó khiến cái tên “Sài Gòn” vẫn xuất hiện phổ biến trong tên các nhà hàng, quán cà phê, doanh nghiệp tư nhân và thương hiệu địa phương, như Bia Sài Gòn, Saigontourist, hay các khách sạn như Rex Hotel Saigon, Hotel Continental Saigon… 

“Nếu làm nhạc, có lẽ mình sẽ dùng tên ‘Sài Gòn’. Trong âm nhạc, mình ưu tiên cảm xúc và hình ảnh. ‘Sài Gòn’ nghe gần gũi, giàu chất thơ và hợp với màu sắc mình đang theo đuổi,” Christian Cang nói.

Tuy vậy, anh nhấn mạnh rằng điều quan trọng với bản thân không nằm ở tên gọi, mà ở tình yêu dành cho con người và nơi mình đang sống.

“Nếu dùng vài từ để mô tả ‘người Sài Gòn’, mình sẽ chọn: phóng khoáng, nhiệt tình, nghĩa tình, cởi mở, chịu khó và bao dung. Mình tin những điều đó góp phần tạo nên một thành phố mà ai đến cũng có cơ hội bắt đầu lại,” Christian Cang chia sẻ.

Khi được hỏi về “chất Sài Gòn”, Christian Cang cho rằng điều nổi bật của thành phố là sự đa dạng, nơi người từ nhiều miền đất khác nhau cùng đến sinh sống và lập nghiệp.

“Chính điều đó làm mình học được cách tôn trọng sự khác biệt và dễ hòa nhập với mọi người. Nếu có điều gì mang màu sắc ‘Sài Gòn’ trong mình thì chắc là sự cởi mở, thích kết nối và khá thoải mái trong cách sống,” nam rapper cho biết.

Là một nghệ sĩ, anh nói rằng điều mình muốn mang vào âm nhạc không chỉ là “chất của Sài Gòn”, mà còn là tinh thần yêu thương và hy vọng.

“Dù đến từ đâu, mình nghĩ điều kết nối chúng ta vẫn là cách đối xử với nhau và sống có ích cho cộng đồng,” nghệ sĩ này nhấn mạnh.

Phố đi bộ Nguyễn Huệ là một điểm đến quen thuộc của giới trẻ tại TP HCM

‘Sài Gòn cho đời thường, TP HCM cho giấy tờ thủ tục’

Nếu Christian Cang xem “Sài Gòn” là cái tên của cảm xúc, thì với Hồng Hoa, 20 tuổi, sinh viên năm hai tại một trường đại học ở TP HCM, “Sài Gòn” và “TP HCM” đơn giản là hai cách gọi dành cho hai hoàn cảnh khác nhau.

“TP HCM là tên hành chính, chính thức được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ và các hoạt động của nhà nước. Còn ‘Sài Gòn’ mang ý nghĩa gần gũi, gợi nhớ về lịch sử, văn hóa và nhịp sống rất đặc trưng của thành phố,” Hoa nói.

Bởi vậy, trong những cuộc trò chuyện với gia đình hay bạn bè, cô gọi nơi mình lớn lên là “Sài Gòn”. “Nghe tự nhiên và ngắn gọn hơn.

“Nhưng khi làm việc, học tập hoặc trong các tình huống trang trọng thì mình sẽ dùng TP HCM vì đó là tên chính thức,” nữ sinh viên giải thích.

Theo Hoa, việc cái tên “Sài Gòn” vẫn xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, trong thơ ca, âm nhạc hay trên những thương hiệu là điều không khó lý giải.

“Cái tên Sài Gòn đã gắn bó với rất nhiều thế hệ nên mang giá trị lịch sử và cảm xúc rất lớn. Trong thơ ca, âm nhạc hay thương hiệu, tên này tạo cảm giác thân quen, dễ nhớ và cũng thể hiện bản sắc riêng của thành phố. Vì vậy, dù tên chính thức là TP HCM, ‘Sài Gòn’ vẫn được sử dụng rất phổ biến trong đời sống và văn hóa,” cô chia sẻ.

Sinh ra và lớn lên giữa nhịp sống hối hả của thành phố, Hoa cảm thấy bản thân chịu ảnh hưởng bởi chính môi trường ấy.

“Mình quen với nhịp sống nhanh, thích nghi khá nhanh với môi trường mới và cởi mở trong giao tiếp,” cô nói.

Khi được hỏi về điều gì làm nên hình ảnh “người Sài Gòn”, nữ sinh viên trả lời: “Mình cũng thấy người Sài Gòn thường có thói quen giúp đỡ người khác, khá thoải mái và dễ kết bạn.”

Tuy vậy, Hoa cũng không muốn cảm nhận của mình trở thành khuôn mẫu cho người khác.

“Đó chỉ là cảm nhận cá nhân. Mỗi người đều có tính cách riêng, không thể nói tất cả người ở cùng một địa phương thì đều giống nhau. Khi lên đại học, được gặp bạn bè từ nhiều vùng miền khác nhau, mình nghĩ ai cũng có tình yêu với quê hương và đều cố gắng học tập, làm việc để phát triển bản thân.”

Với nhiều người trẻ, xin ba mẹ ‘lên Sài Gòn chơi’ là tới Quận 1, nơi có những tòa nhà cao tầng, nhà thờ Đức Bà…

‘Sài Gòn thân thiện, hào sảng’

Với Huỳnh Phối Trân, một người gốc Hoa sinh năm 1990, tên gọi “Sài Gòn” chưa bao giờ biến mất khỏi cuộc sống thường ngày.

“Mình vẫn dùng tên Sài Gòn với bạn bè, đồng nghiệp vì ngắn gọn và tự nhiên. Còn khi nói tiếng Hoa với ba mẹ, họ hàng thì gọi là ‘Sáy Cung’ (西贡, Tây Cống), tức Sài Gòn,” cô chia sẻ.

Ngay cả khi chuyển ra Hà Nội sinh sống và làm việc suốt 5 năm qua, Trân cho biết những người xung quanh vẫn thường hỏi: “Trân ở Sài Gòn ra hả?” thay vì “ở TP HCM”.

Theo cô, “Sài Gòn” không đơn thuần là một địa danh mà còn gợi lên cả một lối sống và những ký ức tuổi thơ.

“Hồi nhỏ, mỗi lần xin ba mẹ ‘lên Sài Gòn chơi’ là mình nghĩ đến Quận 1, đến những tòa nhà cao tầng, nhà thờ Đức Bà, những con đường đông đúc và nhộn nhịp. Trong suy nghĩ của mình khi đó, ‘lên Sài Gòn’ có nghĩa là đi đến nơi sầm uất, hiện đại và ‘style’ [phong cách] hơn những khu vực khác.”

Cái tên ấy, theo Phối Trân, cũng gắn với nhiều dấu ấn văn hóa và ẩm thực.

Cà phê Sài Gòn, ốc Sài Gòn… nghe là biết một phong vị rất riêng. Chẳng hạn như ốc ở Sài Gòn có rất nhiều cách chế biến với đủ hương vị khác nhau, còn ở Hà Nội mình thường thấy biển hiệu ‘ốc Hải Phòng’ hơn là ‘ốc Hà Nội’.”

Sống ở Hà Nội nhiều năm cũng khiến cô nhận ra sức hút mà cái tên “Sài Gòn” vẫn mang trong mắt nhiều người.

“Nhiều đồng nghiệp từng nói với mình rằng họ muốn chuyển vào Sài Gòn sống vì cảm thấy ở đó dễ sống hơn, các ngành dịch vụ, chẳng hạn ăn uống, phục vụ tốt hơn…

“Họ cũng hay bảo người Sài Gòn thân thiện, năng động và hào sảng. Cá nhân mình cũng có cảm nhận như vậy,” cô nói.

Đối với Phối Trân, “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên gọi chính thức trên giấy tờ, còn “Sài Gòn” vẫn là cái tên của những ký ức, của nếp sinh hoạt thường ngày và của một bản sắc mà cô tin rằng nhiều người vẫn cảm nhận được, dù thành phố đã mang tên mới gần nửa thế kỷ.

Một quán ốc tại TP HCM

‘Sài Gòn ấm áp, hiếu khách’

Là con của một gia đình người Việt gốc Sài Gòn nhưng sinh ra và lớn lên ở Pháp, Ava Trần mang trong mình một mối gắn bó khá đặc biệt với thành phố này.

Cô gái sinh năm 1996 đã chuyển về Việt Nam sinh sống khoảng 5 năm gần đây, sau nhiều năm qua lại giữa Pháp và quê hương của cha mẹ.

Ava thừa nhận cô không biết chính xác Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh từ khi nào, chỉ đoán rằng việc này diễn ra sau năm 1975. Cô cũng tự hỏi liệu cái tên “Sài Gòn” có phải do người Pháp đặt từ thời Pháp thuộc hay không, dù chưa có dịp tìm hiểu kỹ.

Trong cảm nhận của Ava, “Sài Gòn” là tên gọi nguyên thủy của thành phố, còn “Thành phố Hồ Chí Minh” là cái tên gắn với một giai đoạn lịch sử mới sau khi chiến tranh kết thúc.

Một điều khiến cô thích thú là cho đến thời điểm được BBC đặt câu hỏi, cô mới nhận ra chính bản thân mình cũng vô thức sử dụng hai tên gọi tùy theo ngôn ngữ. Khi nói tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, cô thường dùng “Hô Chi Minh-Ville”, “Ho Chi Minh City”. Nhưng mỗi khi chuyển sang tiếng Việt, cái tên bật ra một cách tự nhiên lại là “Sài Gòn”.

Theo Ava, sự hiện diện bền bỉ của cái tên “Sài Gòn” trong đời sống có lẽ bắt nguồn từ việc nhiều người vẫn xem đó là tên gốc của thành phố, một cái tên gắn với ký ức và cảm giác chân thực. Cô cũng nói rằng mình thích âm điệu của từ “Sài Gòn” hơn và tin rằng đó cũng là một phần lý do khiến nhiều người vẫn quen sử dụng tên gọi này.

Ở Pháp, Ava cho biết người trẻ ngày nay thường gọi thành phố là “Hô Chi Minh-Ville”, “Ho Chi Minh City”, trong khi những người lớn tuổi từng sống qua thời kỳ Chiến tranh Việt Nam vẫn gọi là “Saïgon”, với cách phát âm theo tiếng Pháp.

Từ nhỏ, Ava đã nhiều lần theo gia đình về thăm thành phố, nơi họ vẫn còn ngôi nhà cũ và nhiều người thân sinh sống. Những chuyến trở về ấy cũng định hình cái nhìn của cô về con người nơi đây.

“Với tôi, người Sài Gòn ấm áp và hiếu khách. Họ lúc nào cũng mang lại cảm giác tích cực, thoải mái,” cô nói.


 

Ở HIỀN GẶP LÀNH – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Cha ông ta vẫn thường dạy con cái: “Ở hiền gặp lành.”  Người ăn ở hiền lành, người sống có nhân, có nghĩa ắt trời sẽ ban cho nhiều phúc lộc dư tràn.  Ngược lại, nếu sống ác nhân ác đức, trời sẽ quả báo những tai họa khó lường.

Thế nhưng, hiền lành có phải là “tĩnh tọa như Bụt?”  Ai muốn làm gì thì làm hay không?  Thưa không, mà hiền lành ở đây là biết sống đúng với vị trí của mình.  Là biết sống đúng với phẩm giá của mình.  Là biết tôn trọng phẩm giá của mình.  Một con người có phẩm giá cao đẹp là một con người có lý trí đủ để suy biết điều hay lẽ phải, có ý chí vững mạnh để không bị sự gian ác làm hại bản thân và tha nhân, có sự chọn lựa đúng đắn và chuẩn mực về cái hay, cái đẹp, cái phải, cái trái.  Là người phải biết phân biệt phải quấy.  Biết nói không với điều ác.  Không thỏa hiệp với gian tà.  Vì “im lặng là đồng lõa” và hùa theo là “đồng phạm.”  Người không có trí khôn, làm theo lời người khác thì không có tội, nhưng người hiền lành không thể làm chuyện ác, chuyện lừa dối để rồi đổ lỗi cho hoàn cảnh.  Nếu đổ lỗi cho hoàn cảnh thì trên đời này ai phạm tội cũng vì hoàn cảnh mà ra.  “Túng quá hóa liều,” “Nóng mất khôn,” “Tức nước vỡ bờ.”  Trong một phân tích về lý do phạm tội của các tù nhân thì có 80% tội nhân cho rằng mình phạm tội là do hoàn cảnh.  Như vậy, sự hiền lành là một thái độ sống dung hoà với mọi người.  Sự hiền lành sẽ giúp cho con người hành xử theo tình, theo lý và theo lẽ phải nhưng với một thái độ ôn hòa với đầy lòng bác ái bao dung.

 Hôm nay Chúa nói: “hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Sự hiền lành của Chúa không phải là đi tìm sự thỏa hiệp với thế gian.  Chúa không im lặng trước sự dữ.  Chúa đã từng lên án gắt gao thói giả hình và gian tà của những kẻ biệt phái.  Chúa đã từng xua đuổi con buôn ra khỏi đền thờ.  Chính vì những điều Chúa làm, những lời Chúa nói đã ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo, đến địa vị, chỗ đứng của các người biệt phái mà người ta tìm cách giết Chúa.  Sự hiền lành của Chúa là vì công lý mà chịu nhiều thiệt thòi không kháng cự.  Vì dám nói sự thật mà phải chết nhục nhã trên cây thập giá, nhưng Ngài không oán hận, và còn xin cùng Chúa Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.  Chúa đấu tranh nhưng bất bạo động, vì “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm,” “oán báo oán, oán chập chùng” và còn tha thứ cho sự xúc phạm của tha nhân không chỉ “7 lần mà là 70 lần bảy.”

 Trong tám mối phúc, Chúa đã chúc phúc những cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.  Như thế hiền lành ở đây là sống thật và làm chứng cho sự thật.  Không nhượng bộ, không thỏa hiệp với dối gian.  Cho dù vì lẽ công chính mà mình bị bách hại, bị thiệt thòi vẫn chấp nhận, vì phần thưởng của chúng ta là Nước trời.

 Sự hiền lành của Chúa còn hệ tại ở sự cảm thông với lỗi lầm của người khác.  Không thành kiến đối với những người bị xã hội ruồng bỏ.  Ngài yêu thương họ.  Ngài đến để đối thoại với họ.  Ngài mở cho họ một con đường mới.  Ngài giúp họ làm lại cuộc đời như Madalena, như Giakêu, hay như người thiếu phụ bên bờ giếng Giacóp.

 Sự hiền lành thường đi song song với khiêm tốn.  Hiền lành để tha nhân dễ gần chúng ta và khiêm tốn để ta dễ hòa đồng với tha nhân.  Tuy hai nhưng là một mục đích.  Tạo cơ hội cho chúng ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.  Kẻ kiêu căng thường phân loại để chơi.  Người khiêm nhường thì đối xử mọi người như nhau.  Người hiền lành ai cũng muốn tới gần.  Kẻ gian ác ai cũng chạy xa.  Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường nên ai cũng có thể tiếp xúc với Ngài, và Ngài cũng có thể gặp gỡ trao đổi với mọi người.  Từ em bé đến người già.  Từ người giầu có đến kẻ hèn.  Từ người công chính đến tội lỗi.

 Xin Chúa giúp chúng ta biết học nơi trái tim yêu thương của Chúa: “sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Ngài không ở trên cao nhưng tự hạ mặc lấy thân phận con người.  Ngài còn dạy chúng ta bài học khiêm tốn khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ.  Một cử chỉ khiêm tốn đến nỗi Phêrô đã bộc trực thốt lên: “Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con sao?”  Đó là một sự tự hạ không ủy mị hay luồn cúi mà là bài giáo huấn sống động về tinh thần hy sinh phục vụ lẫn nhau.  Ngài đã dạy chúng ta hãy sống đúng với thân phận con người là lệ thuộc vào Chúa.  Ngài đã dạy chúng ta hãy hạ mình để sống hòa hợp với tha nhân.  Đừng tự cao tự đại để gạt Thiên Chúa ra bên ngoài như Adam – Evà năm xưa chỉ dẫn tới diệt vong.  Đừng tự cao tự đại đến nỗi đè bẹp người khác để mình được tôn vinh.  Đừng khinh bỉ người tội lỗi, bất hạnh nhưng yêu thương và tôn trọng họ.  Và trên hết, hãy mang lấy tâm hồn trẻ thơ để luôn đơn sơ và bé nhỏ trước mặt Chúa, trước mặt tha nhân.  Vì sự đơn sơ và bé nhỏ là dấu chỉ đặc thù của sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.  Đây cũng là phương thế để chúng ta đón nhận mạc khải Nước Trời và đón nhận tình thương của Chúa tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta.  Amen.

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

From: Langthangchieutim


 

Mỹ và Mình

Mỹ và Mình

Ở Mỹ được hơn 30 năm tôi thấy một số khác biệt giữa người Mỹ và người Việt mình (chỉ nói về phần đông chứ không phải là tất cả đâu nhen). Tôi nghĩ còn rất nhiều khác biệt nữa mời các bạn góp ý thêm nha.

  1. Mỹ làm việc thiện vì lòng hảo tâm. Mình làm việc thiện để “mua phước” cho bản thân và gia đình.
  2. Mỹ làm sếp không lên mặt. Mình làm lớn là làm lối.
  3. Sếp Mỹ không cần kêu họ bằng chức vị. Sếp Mình sẽ tức giận nếu không được thưa gởi kính trọng.
  4. Ngày lễ Giáng sinh sếp Mỹ mua quà nhỏ tặng công nhân cảm ơn. Còn Mình thì mua quà lớn tặng Sếp để lấy lòng.
  5. Mỹ tổ chức đám cưới không tính toán lời lỗ. Mình thì trời mưa vào ngày tiệc cưới là méo mặt vì ít người đi dự sẽ lỗ nặng.
  6. Mỹ tổ chức sinh nhật cho con chỉ có con và bạn bè của con. Mình tổ chức sinh nhật cho con mà khách mời toàn là bạn bè của cha mẹ.
  7. Mỹ đi đúng giờ. Mình chuyên xài giờ cao su.
  8. Mỹ bảo vệ động vật hoang dã. Mình mà gặp là bắt về làm thịt ngay.
  9. Mỹ dạy con vừa học vừa làm. Mình cưng con bắt chỉ chuyên tâm vào học.
  10. Mỹ cho con tự do tranh luận với cha mẹ. Mình bắt con phải tuân lời, con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
  11. Mỹ dám hỏi dám nói. Mình không dám hỏi mà dám nói lén, nói xấu sau lưng.
  12. Mỹ cầm dao cắt từ ngoài vào trong. Mình cắt từ trong ra ngoài.
  13. Mỹ dùng máy rửa chén để rửa chén dĩa. Mình dùng máy rửa chén để úp chén dĩa cho ráo sau khi rửa bằng tay.
  14. Mỹ biết bơi nhưng không dạy nếu không được đào tạo để huấn luyện. Mình thì chỉ cần biết bơi sơ sơ là làm thầy dạy lại cho người khác.
  15. Mỹ không xoa đầu hay nựng nịu con nít. Mình thì ngược lại.
  16. Mỹ tiêu tiền phung phí nên phải bỏ tiền thuê người quản lý tiền bạc và tiêu pha. Mình thì biết tiết kiệm nên chẳng cần phí tiền thuê người lo việc vô duyên này.
  17. Mỹ để y tá lo cho thân nhân khi nhập viện. Mình thì vào ở chung với thân nhân để tự tay săn sóc.
  18. Nhà thương Mỹ rất tôn trọng và yêu thương bệnh nhân bất kể giàu nghèo. Nhà thương Mình thì coi bệnh nhân nghèo như con …ghẻ và thương túi tiền của bệnh nhân giàu.
  19. Đến nhà thương Mỹ mà lơ ngơ là có người hỏi han và nhiệt tình giúp đỡ dẫn đường tới tận nơi. Còn đến nhà thương Mình mà lơ ngơ là có cả đám “cò” tới bắt mánh làm tiền.
  20. Về già Mỹ dắt chó đi dạo. Mình thì về già dắt cháu đi dạo. (Đúng với tui ghê)
  21. Người Mỹ rất thích nhìn vào mắt của người đối thoại. Người Việt thì quan niệm nhìn thẳng vào mắt người đối thoại là thất kính hoặc không lịch sự.
  22. Người Mỹ mà bấm còi xe là mắng xe khác đi ẩu không đúng luật. Còn người Mình bấm còi xe là xin đường.
  23. Người Mỹ lái xe tốc độ nhanh thì chạy lane trái. Thấy có người chạy sau nhanh hơn thì tự sang qua lane phải để nhường đường. Người Mình thì hay lạng lách tranh đường.
  24. Người Mỹ chạy xe hơi thấy xe 2 bánh hoặc người đi bộ là lách tránh xa. Người Mình thì mặc bây bây lo tránh, lỡ va quẹt gây tai nạn thì cán chết luôn.
  25. Mỹ già nhiều tiền là cho từ thiện, VN mình già nhiều tiền cho con cháu.
  26. Mỹ thấy ai bị tai nạn ngoài đường thì nhào vô giúp, VN mình thấy ai bị nạn phần nhiều tránh xa để khỏi bị đổ thừa…….
  27. Mỹ bỏ rác vô túi quần đem về, mình thì cứ bỏ ngay tại chổ.
  28. Mỹ lái xe có trật tự, mình mua hết Orange County California nên mình muốn lái xe sao cũng được (ở OrangeCounty).
  29. Mỹ đi đám cưới là để chung vui, quà tặng tượng trưng. Mình đi đám cưới là phải tính toán sao cho coi được, nhất là bố mẹ đã đi đám con  mình, nay vừa mừng vừa trả nợ

32.Mỹ trong những ngày nghỉ ngoài đường vắng hơn, mình thì ngược lại !

33.Mỹ không hỏi tuổi hỏi lương. Mình thì hỏi tuổi để dễ xưng hô và sau đó hỏi lương bao nhiêu. Thiệt ngại quá xá.

  1. Ở Mỹ người dân nói xấu, chưởi Tổng thống không sao. Ở VN nói xấu, bắt chước lãnh đạo là đi ủ tờ.
  2. Mỹ không hỏi những câu hỏi personal question. VN mình hỏi tới bến luôn. Hu hu
  3. Mỹ chơi súng, Việt chơi dao!

37.Quân đội Mỹ chỉ chào nhau khi còn trong giờ làm việc, VN thấy sếp ở đâu cũng phải đứng dậy chào

  1. Mỹ: Cha mẹ tới thăm con cái thi ra hotel ngủ.. 

Việt: Cha Mẹ ở với Con Cái.

  1. Mỹ:  Tiền Vợ, vợ xài… Tiền Chồng, Chồng xài

Việt:  Tiền Vợ là của Vợ, Tiền Chồng cũng là tiền của Vợ

Jonathan Vu Nguyễn


 

Chuyện của Thanh – Chuyện của Descartes

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

24/06/2026

Yêu bác lòng ta trong sáng hơn?(Francais dans commentaire)

Gần đây tôi lại rất quan tâm đến hiện tượng cuồng tín và sự xơ cứng trong tư duy của con người, đặc biệt là của người Việt chúng ta. Vì vậy hôm nay tôi mạo muội nói đến một khía cạnh trong tư tưởng của Descartes mà theo tôi vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

Mong các bạn đọc và suy ngẫm. Tin hay không tin là quyền của mỗi người. Nhưng cũng nên nhớ rằng René Descartes không chỉ là cha đẻ của triết học hiện đại. Ông còn là nhà toán học thiên tài, người để lại cho chúng ta hệ tọa độ Descartes, hình học giải tích mà học sinh khắp thế giới vẫn phải học đến ngày nay. Khi ông bắt đầu dạy nhân loại cách hoài nghi và tự tư duy, thì Marx và Lenin còn ở rất xa trong tương lai. Thành thử, xét theo gia phả tư tưởng, họ cũng chỉ là những hậu duệ sinh sau đẻ muộn. Vậy nên đừng vội phán quyết trước khi nghe xem ông già ấy đang nói gì. Ông đã sống cách đây gần bốn thế kỷ, nhưng đôi khi lại hiện đại hơn không ít người đang sống ở thế kỷ XXI.

Thế kỷ XVII là một thời kỳ cách mạng về tư tưởng. Nhưng cuộc cách mạng ấy lại bắt nguồn từ những tiến bộ khoa học. Những khám phá liên tiếp xuất hiện, làm lung lay nhiều chân lý vốn được xem là bất biến từ hàng nghìn năm trước.

Chẳng hạn, từ thời cổ đại, người ta tin theo hệ thống của Ptolemy rằng Trái Đất nằm bất động ở trung tâm vũ trụ và Mặt Trời quay quanh Trái Đất. Nhưng các công trình của Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei và Johannes Kepler đã chứng minh điều ngược lại: chính Trái Đất quay quanh Mặt Trời.

Từ thời Aristotle, người ta cũng tin rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Nhưng các thí nghiệm của Galileo cho thấy tốc độ rơi không phụ thuộc vào trọng lượng của vật như người ta từng nghĩ…

Chính vì đã chứng kiến những “chân lý vĩnh cửu” lần lượt sụp đổ như vậy mà René Descartes đi đến một kết luận: không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì nó được truyền lại từ truyền thống hay được khẳng định bởi kẻ cầm quyền. Mọi khẳng định đều phải được lý trí xem xét và kiểm chứng.

Trước sự đảo lộn ấy, Descartes đặt ra một câu hỏi căn bản: làm thế nào để phân biệt đâu là sự thật, đâu là sai lầm?

Câu trả lời của ông thật táo bạo: hãy bắt đầu bằng sự nghi ngờ.

Descartes quyết định nghi ngờ tất cả: những điều được truyền lại từ truyền thống, những gì các bậc quyền uy khẳng định, những điều sách vở viết ra, thậm chí cả những gì giác quan của chính mình cảm nhận được, bởi giác quan đôi khi cũng đánh lừa con người.

Ông đẩy sự nghi ngờ đi đến tận cùng. Nhưng rồi, giữa biển nghi ngờ ấy, ông phát hiện ra một chân lý không thể phủ nhận. Nếu tôi đang nghi ngờ, tức là tôi đang suy nghĩ. Và nếu tôi đang suy nghĩ, thì chắc chắn tôi đang tồn tại. Từ đó ra đời câu nói nổi tiếng: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại.”

Câu nói này không chỉ khẳng định sự tồn tại của con người. Nó còn khẳng định rằng tư duy của chính chủ thể là điểm xuất phát đầu tiên của mọi tri thức chắc chắn.

Mặc dù vẫn tin vào Chúa, Descartes đề cao vai trò của lý trí cá nhân trong việc tìm kiếm chân lý. Theo ông, con người không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì truyền thống hay kẻ cầm quyền khẳng định như vậy.

Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị.

Khi quan sát một số hiện tượng tranh luận chính trị ngày nay ở Việt Nam, người ta có cảm giác rằng rất đông người đang đi theo con đường hoàn toàn ngược lại với Descartes. Một điều được xem là đúng vì nó được phát ra từ một nguồn có thẩm quyền. Sự nghi ngờ bị xem là lệch lạc. Câu hỏi bị xem là nguy hiểm. Tư duy độc lập trở thành điều đáng ngờ.

Nhưng Descartes dạy chúng ta điều ngược lại: nghi ngờ không phải là điểm yếu. Nghi ngờ là khởi đầu của tư duy.

Người biết nghi ngờ có thể sai, nhưng vẫn còn cơ hội tìm ra sự thật. Người không bao giờ nghi ngờ rất dễ biến niềm tin của mình thành giáo điều và nhầm lẫn giữa lòng trung thành với một học thuyết và việc đi tìm chân lý.

Có lẽ bài học lớn nhất mà Descartes để lại cho nhân loại là:

Trước khi tin, hãy suy nghĩ. Trước khi đi theo đám đông, hãy tự mình kiểm chứng.

“Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”, thì đối cực của nó có thể là: “Tôi chỉ lặp lại, nên tôi không còn tư duy.”.

Mà đã không còn tư duy thì chắc vẫn tồn tại. Nhưng tồn tại như con người hay tồn tại như CON BÒ NHAI LẠI thì đó lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

Descartes không bảo chúng ta phải tin ông. Ngược lại, ông khuyên chúng ta hãy nghi ngờ, kiểm chứng và tự suy nghĩ.

Đó có lẽ là điểm khác biệt giữa người tư duy và người cuồng tín. Người tư duy có thể thay đổi ý kiến khi đối diện với sự thật. Người cuồng tín thì bắt sự thật phải phục tùng ý kiến của mình.

Những ồn ào gần đây quanh Nỗi buồn chiến tranh hay Chuyện với Thanh cho thấy một nghịch lý thú vị: nhiều người khẳng định mình yêu sự thật, nhưng lại coi những điều được nghe kể là những chân lý hiển nhiên. Vì thế, thay vì tranh luận về các lập luận hay sự kiện được nêu ra, họ lập tức phẫn nộ, lên án và chụp mũ, chửi bới bất cứ ai dám kể một câu chuyện khác đi. Trong khi đó, toàn bộ triết học của Descartes lại bắt đầu bằng một hành động rất đơn giản: dám nghi ngờ.

Vì thế, dù là cuồng cộng sản, cuồng bác, cuồng Putin, cuồng Trump hay cuồng bất kỳ thần tượng nào khác, họ đều có một điểm chung: họ yêu niềm tin của mình hơn sự thật.

Còn Descartes thì đề nghị điều ngược lại: Trước khi tin, hãy suy nghĩ.

Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng xem ra lời khuyên ấy vẫn còn quá khó đối với không ít người.

Một thời, nhiều người trong chúng tôi đã thuộc lòng những câu thơ của Tố Hữu:

“Yêu bác, lòng ta trong sáng hơn,

Xin nguyện cùng người vươn tới mãi

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.”

Đó là những câu thơ « đẹp » trong bối cảnh lịch sử của nó. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa đen, thì việc yêu một con người đến mức xem người ấy là nguồn gốc của sự trong sáng đạo đức và chân lý lại chính là điều mà Descartes sẽ cảnh báo. Bởi TỪ ẤY, ta không còn tự hỏi mình đúng hay sai nữa, mà chỉ tự hỏi mình đã đủ trung thành hay chưa.

Vậy có thơ rằng:

Yêu bác thì nên suy nghĩ hơn,

Xin nguyện cùng người không ngố mãi,

Có thế đời ta mới tốt hơn.