Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta.- Truyen ngan HAY

Cang Huynh

 CÂU CHUYỆN CUỘC SỐNG.

Một người đàn ông gặp tai nạn xe hơi rất nghiêm trọng trên đường cao tốc và được đưa đến bệnh viện ở một thị trấn gần đó, vì vụ tai nạn xảy ra khá xa thành phố. Trong khi ở đó, anh ta gọi điện cho vợ cũ, người mà anh ta có mối quan hệ tồi tệ: anh ta liên tục kiện tụng cô ta ra tòa về quyền nuôi con trai, cố tình không trả một xu tiền cấp dưỡng nuôi con để ép cô ta nhượng bộ, và thẳng thắn mà nói, anh ta đã bỏ rơi cô ta.

Anh ta muốn được tự do và cặp kè với mọi phụ nữ anh ta gặp. Anh ta đang sống cuộc sống xa hoa ở biệt thự vùng quê, cho đến khi tai nạn xảy ra.

Và đó là lúc anh ta nhận ra mình không còn ai để nhờ vả. Cha mẹ anh ta đã già yếu và không thể giúp đỡ anh ta được gì; ngược lại, họ sẽ chỉ càng sợ hãi hơn. Bạn bè? Bạn bè nào chứ? Chỉ là những người quen biết và bạn nhậu, mỗi người đều bận rộn với việc riêng của mình. Tất nhiên, họ cũng chính là những người trước đây đã khuyên anh ta nên chấm dứt mối quan hệ với vợ cũ và cắt đứt nguồn tài chính của cô ta. Nhưng không ai trong số họ sẽ đi đến tận đó, đến một thị trấn hẻo lánh như vậy. Nếu anh ta ở trong một bệnh viện tốt ở thành phố thì có lẽ khác; nhưng ở một thị trấn nhỏ, không đời nào.

Toàn thân anh ta đau nhức khủng khiếp. Và anh ta vô cùng sợ hãi. Gọi điện cho các đối tác kinh doanh hay những cô gái anh ta đang hẹn hò đều vô ích, vì họ sẽ chỉ nói với anh ta câu kinh điển: “Cố lên! Mạnh mẽ lên! Mau chóng khỏe lại!”

Anh ta chắc chắn về điều đó như thể mình chắc chắn mình bị gãy hai chân. Và nỗi đau cũng tương tự.

Vì vậy, anh ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gọi cho vợ cũ: “Nina,” anh ta nói, “Anh bị tai nạn nặng. Anh đang ở bệnh viện này ở thị trấn kia. Anh chỉ gọi báo cho em biết phòng khi anh chết.” “Xin lỗi vì đã làm phiền. Gửi lời chào đến con trai nhỏ của em, Alex nhé.”

Và tất nhiên, Nina đã bỏ tất cả mọi việc và đến thăm anh ta. Cô ấy không đến ngay lập tức, vì chính anh ta đã lấy xe của cô ấy. Cô ấy phải đi xe buýt liên tỉnh trước rồi mới đi xe buýt địa phương, nhưng cuối cùng cô ấy cũng đến. Cô ấy mang đến cho anh mọi thứ anh cần và bắt đầu làm mọi cách để chuyển anh đến một bệnh viện trong thành phố.

Một người phụ nữ trung niên, mệt mỏi, thừa cân, không hề quyến rũ, tay xách những túi đồ mua sắm, và không biết vì sao, bên trong một trong những túi đó lại có một bát canh gà nóng hổi và vài viên thịt viên. Còn người đàn ông thì gần như kiệt sức, anh thậm chí không thể tự ăn…

Nhưng anh đã vượt qua được. Anh mất một thời gian để hồi phục, nhưng anh đã vượt qua, và ngày nay anh sống với Nina, bởi vì cô ấy đã trở thành người bạn thân thiết thực sự của anh. Người thân cận nhất và là thành viên gia đình thân thiết nhất của anh. Thân thiết nhất trong tất cả.

Cuối cùng anh cũng nhận ra khi nằm trên giường bệnh: rằng một số mối liên kết mạnh mẽ hơn bất kỳ điều phù phiếm nào khác trong cuộc sống này… Đó là những mối liên kết của tình yêu, của định mệnh và của chính cuộc sống.

Và mỗi chúng ta nên dừng lại và suy nghĩ: chúng ta sẽ gọi cho ai nếu có chuyện không may xảy ra với mình? Ai sẽ bắt xe buýt… với một bát súp trên tay? Ai sẽ ở đó để chăm sóc chúng ta và dọn dẹp mớ hỗn độn khi chúng ta thậm chí không thể tự di chuyển?

Có lẽ không ai cả. Có thể chỉ có một người, hoặc nhiều nhất là hai người… Nhưng chắc chắn đó sẽ là người thân trong gia đình chúng ta. Gia đình đích thực của chúng ta. Những người thân yêu của chúng ta, với tất cả những khuyết điểm và đức tính tốt đẹp của họ. Và chúng ta không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ được thô lỗ với những người đó, cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Và bản thân chúng ta cũng phải sẵn sàng lên xe buýt nếu có cơ hội… Hoặc xe buýt công cộng, với hộp đựng thức ăn trong túi.

Và với vài xu cuối cùng trong túi quần…

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

CÓ PHẢI LÀ BI QUAN KHI NÓI ĐẾN CÁI CHẾT LÚC TUỔI GIÀ?-  Norris Le LPN

Norris Le LPN

Một vài bạn FB có ý kiến cho rằng ai rồi cũng chết. Khi nào chết sẽ hay. Đâu cần chi phải bận lòng?

Thật tình, tôi không nghĩ thế. Vẫn biết ai rồi cũng chết, nhưng chết như thế nào ? Một chuyến đi chơi vài ngày cũng cần chuẩn bị chu đáo, hà huống gì một việc quan trọng của đời người như “cái chết” lại không cần chuẩn bị ? Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Lúc còn khỏe mạnh, mình tưởng như mọi việc sẽ xãy ra êm thắm, ngay cả cái chết, tắt thở là hết! Đơn giản vậy sao ? Tôi đã biết nhiều người lăn lộn, khổ sở trong thời gian cuối cùng của cuộc đời. Lúc cơ thể suy tàn, ngoài sự đau nhức, còn biết bao sự hành hạ về thể xác lẫn tinh thần…

Ỉa, đái trong quần lúc nào không biết. Ho, hen, khạc nhổ suốt ngày. Tất cả đều phải nhờ vào sự giúp đỡ, chăm sóc của người khác. Tính khí mỗi ngày càng khó khăn, bực dọc, cáu kỉnh, than phiền, trách móc. Ai dám chắc rằng mình sẽ không như thế? Ai mà chịu nổi? Ngay cả những người được thuê để chăm sóc người già nhiều khi cũng phải bỏ việc vì không chịu nổi cái khó tính của người già sắp chết, dù họ rất cần một việc làm để nuôi thân và gia đình. – Đó là một thực tế.

– – – Vậy thì mình phải tính cách nào để đối phó với thực tế đó?

Nếu là người có niềm tin tôn giáo, thì ngay từ lâu trước khi già yếu, đã phải thành tâm học đạo, chấp nhận sự quan phòng hay thử thách của Ơn Trên, chấp nhận Nghiệp báo, Nhân Quả, chẳng riêng của đời này hay của nhiều đời trước. Niềm tin vững chắc này sẽ giúp người tin đạo quyết tâm chịu đựng những khó khăn khi nó xãy đến. Tất nhiên Quả Lành cũng đến với những người được ra đi một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng. Từ niềm tin tôn giáo này, mình sẽ phải cố gắng thay đổi cách sống, làm điều thiện, tránh điều ác.

Bên cạnh đó, tài chánh cũng là một phương tiện cần thiết, giúp ích cho mình rất nhiều trong những lúc phải cần đến dịch vụ chăm sóc. Tiền nào, của đó. Thực tế bạn ơi! Ở đâu cũng thế. Trong lúc đang làm việc, mỗi tháng, hay mỗi kỳ lương, chịu khó để riêng một chút tiết kiệm cho quỹ tuổi già. Đừng mong đợi gì vào con cháu, vì chúng nó cũng phải lo cho bản thân và gia đình chúng nó, luôn cả tuổi già của chúng nó sau này!

Tất cả những chuẩn bị này thường nên chia sẻ với con cháu, mình muốn gì khi sắp nhắm mắt lìa đời, để tất cả người thân trong gia đình cùng hiểu, và sẽ không ai tranh cãi điều gì khi chuyện đó xãy ra. Một ông bạn già của tôi quyết định rút ống thở cho bà Mẹ già trên 100 tuổi để bà khỏi phải cứ nằm đó mà không còn biết gì, vì bộ não đã chết. Người em út nhào tới cào, xé , la hét, bảo anh “giết Mẹ”.

Việc tang lễ cũng thế. Việc này không phải chỉ làm hoàn toàn theo ý kiến của mình, mà đôi lúc cũng phải nghĩ tới tâm trạng của thân nhân, con cháu nữa. Nếu mình bảo: “tao chết thì cứ đem thiêu, rồi rãi tro xuống sông, xuống biển là xong, đừng lễ lạc gì hết! “ . Con cháu mình có đứa nào đành lòng như thế ? Chúng cũng muốn đội khăn tang cho Bố Mẹ, cũng muốn đọc kinh cầu siêu, cầu hồn, quỳ lạy tiễn đưa trong niềm thương nhớ, để nước mắt giúp xoa dịu niềm đau chia lìa, âm dương từ nay cách trở. Chỉ mong chúng hãy làm trong giản dị, trong phạm vi gia đình, hay bạn bè thân thuộc, không nên đình đám, phô trương, tiêu phí một cách vô ích, có thể trở thành gánh nặng cho con cháu sau này. Và nếu có thể, mình chuẩn bị trước một “quỹ tang chế” cho chính mình, thì sẽ nhẹ cho con cháu lắm.

Có thể bạn có cách chọn lựa khác. Mình chỉ nói lên ý nghĩ của mình, để, không những con chau biết, mà cũng để thân nhân, bè bạn xa gần cũng biết,- đây là ý nguyện của mình. Có gì thiếu sót trong tang lễ của mình thì xin thứ lỗi, vì đó là lỗi của mình, tại mình muốn thế, không phải của người ở lại.

Tuổi 80+ rồi. Trải qua bao gian khổ của tuổi thơ, trong thời chiến tranh ly loạn, tản cư, chạy giặc, đi lính, đi tù, vượt biên, tị nạn, làm lại cuộc đời …

Rồi, về hưu tại xứ sở tự do này đã non 20 năm, trong an bình, no ấm.

Mỗi ngày thức dậy, cảm tạ Ơn Trên, còn có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc uống khi đau yếu, còn lo lắng được cho chính mình, còn có bạn bè thương mến, hàng xóm tử tế, còn có vườn rau nho nhỏ để mỗi ngày ra vào chăm sóc , và đám con, cháu tốt lành, hiếu để … Lòng Tri Ân vô hạn !

Nhưng biết còn được bao lâu, và khi nào bác sĩ sẽ lắc đầu bảo rằng : “ NO MORE QUALITY OF LIFE” ?

Mình không bi quan đâu bạn. Người ta bỏ cả đời người để lo lắng, chuẩn bị cho những cái KHÔNG HỀ CHẮC CHẮN: của cải, tài sản, danh vọng, tiền bạc, sức khỏe, kể cả thân xác này.

Nhưng cái CHẾT là chắc chắn. Mình chỉ cố gắng một chút để chuẩn bị cho cái chắc chắn đó thôi, vì chắc chắn nó sẽ xãy đến với mình trong một ngày không xa.

Xin chúc bình an đến mọi nhà.

Norris Le LPN

Houston, TX 2 tháng Tư, 2022.

=== Đình kèm bài của một bác sĩ về giai đoạn cuối đời = = = =

TẠI SAO MỘT SỐ BÁC SĨ TỪ CHỐI ĐIỀU TRỊ CỨU SỐNG BẢN THÂN

(Nguồn: luomtrennet. )

Câu hỏi:

Tại sao một số bác sĩ từ chối phương pháp điều trị cứu sống cho bản thân, chẳng hạn như hóa trị, lọc máu, thông khí, phẫu thuật hoặc đặt ống ăn?

Trả lời bởi Maureen Boehm, cựu bác sĩ nội khoa:

” Tôi không thể nói thay cho tất cả các bác sĩ, nhưng tôi nghĩ rằng họ (các bác sĩ ) thường từ chối khi mục đích duy nhất của những phương pháp điều trị đó là kéo dài cuộc sống, chứ không phải chữa khỏi. Rõ ràng là khi một người gần chết, cuộc sống của họ là khủng khiếp , họ kiệt sức, ốm yếu , cơ thể của họ, đã từ lâu, không còn mang lại cho họ niềm vui nữa tuy nhiên, gia đình bệnh nhân thường yêu cầu chúng tôi làm mọi thứ.

Không muốn làm gia đình thất vọng, bệnh viện cho phép điều trị. Bác sĩ biết rằng sẽ không cứu được bệnh nhân mà còn khiến họ đau đớn và dẫn đến một loạt những phản ứng phụ khó chịu và mệt mỏi khác. Điều này, về cơ bản là điều trị để chết.

Là bác sĩ, chúng tôi thấy việc này xảy ra hàng ngày , nó cực kỳ vô nhân đạo. Bản thân tôi sẽ không cho phép bệnh nhân hóa trị hoặc lọc máu hoặc đặt máy thở, nếu không có hy vọng phục hồi.

Gia đình tôi biết điều này, tôi để lại di chúc thể hiện mong muốn của tôi nếu việc điều trị là vô ích.

Hãy để tôi kể chuyện này:

Tôi đã có một đồng nghiệp, anh ta là một chàng trai khá trẻ, ở độ tuổi 40, có con đang đi học. Anh được chẩn đoán mắc GBM, dạng u não nguy hiểm nhất và còn khoảng 4 tháng nếu không điều trị hoặc có thể lâu hơn một chút.

Khi được hỏi anh đang cân nhắc điều trị gì, anh suy nghĩ một lúc, rồi thì thầm : ” Đi biển ” .

Anh đưa gia đình đi du lịch châu Âu, anh chơi với con, trên bãi biển. Họ đi du lịch qua những nơi vui vẻ và thú vị. Anh ấy đã có những bữa ăn tuyệt vời, ấm áp cùng vợ con trong những quán cà phê nhỏ. Họ đã thử nhiều loại rượu vang hảo hạng và rất nhiều món ăn ngon. Họ giữ lại rất nhiều niềm vui và những kỷ niệm đẹp trong trái tim suốt chuyến đi đó. Khi bệnh tình trở nên nặng hơn, anh trở về Mỹ và vào bệnh viện , và anh ta chết ở nhà, được bao quanh bởi gia đình, vài tuần sau đó.

Tôi nghĩ anh ấy là người đàn ông rất khôn ngoan.

Anh ta đã thấy, giống như tôi, tất cả những người được trị liệu sẽ kéo dài cuộc sống của họ, chỉ trong một thời gian ngắn nhưng sẽ tàn phá gia đình của họ cả về mặt cảm xúc và tài chính. Những tháng cuối cùng của họ trên trái đất này được dành để phục hồi sau khi điều trị hoặc vượt qua cuộc phẫu thuật. Họ đã bỏ lỡ cơ hội của mình cho một sự ra đi yên bình, đáng yêu với những người thân yêu của họ, thay vào đó họ chờ vòng hóa trị tiếp theo, hoặc phẫu thuật hoặc lọc máu, v.v.

Tôi sẽ không bao giờ, cho phép điều đó xãy ra cho bản thân mình.

Khi thời gian của tôi kết thúc, tôi sẽ đi.

Với tất cả sự bình yên. /.


 

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

Xuyên Sơn

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT SỰ THẬT MẤT LÒNG:

NGUY CƠ MẤT NƯỚC ĐANG ĐẾN TỪ BỘ GIÁO DỤC XUỐNG CẤP, VONG THÂN, KHÔNG CHÍNH DANH, KHÔNG TRUNG THỰC, THIẾU TRI THỨC VÀ KHÔNG CÓ TẦNG LỚP TRÍ THỨC

“Trí thức là cục phân” ( Trích thư Lê Nin gửi Goocky, Mao Trạch Đông nhắc lại câu này ).

Mao Trạch Đông nói : “Súng bầu (đẻ) ra chính quyền”.

Mao phản lại Marx : ” Chính trị là thống soái”

Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Mạnh Hảo từ rừng vào Sài Gòn và ở hẳn thành phố này cho đến nay. Cuối năm 1975, qua anh Trịnh Công Sơn, anh Nguyễn Mộng Giác, bạn Bửu Chỉ và một số bạn bè khác như

họa sĩ, nhà văn Khánh Trường, họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, nhà văn Ngụy Ngữ, nhạc sĩ Trương Quốc Khánh… chúng tôi bắt đầu giao du với tầng lớp trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn cũ ( mặc dù phần lớn tầng lớp ưu tú nhất này của Việt Nam cộng hòa đã di tản, đã vượt biên hoặc còn trong trại tù cải tạo).

Các bạn kể trên nhiều người đã qua đại học, có người mới đậu tú tài ngang tôi hết cấp 3 ngoài Bắc, mà sao các bạn giỏi thế, uyên bác thế, lại biết Pháp ngữ, Anh ngữ.

Tôi có dẫn vài ba bạn ngoài Bắc vào đã học ở Liên Xô, có học vị phó tiến sĩ hẳn hoi, đến giao du với các bạn đồng lứa Sài Gòn được nền giáo dục VNCH đào tạo, thì than ôi chúng tôi quả là mới i tờ rít…

Trong khi chế độ mới ( CS) luôn vỗ ngực khoe khoang chế độ ta ưu việt nhất từ chính trị, văn hóa, kinh tế, giáo dục…

Trong lòng mình, tôi mặc cảm tự ti với các bạn Sài Gòn mà không dám nói ra vì xấu hổ.

Rằng thế hệ chúng tôi ngoài Bắc dốt hơn, được giáo dục sai lệch và sơ sài hơn các bạn được “chế độ Mỹ-ngụy” đào tạo….

Ai thắng ai không phải so về chém giết, súng đạn, mà phải so găng bằng tri thức, bằng học vấn…

May mà kho sách dịch Sài Gòn cũ đã dạy tôi thoát nạn mù tri thức,

cho tôi có đủ kiến thức có thể ngồi phản biện ngon ơ tất cả luận án tiến sĩ văn học, triết học, luật học, văn hóa học, sử học, mỹ học, ngôn ngữ học…

Nhắc lại điều này, lòng tôi cũng chẳng vui vẻ gì cho cam, nhưng trước sự thật, tôi không thể tảng lờ, câm miệng.

Nền giáo dục của Việt Nam cộng hòa trước 1975 nhân bản theo cách giáo dục của người Pháp, nên nó chính là nền giáo dục đúng nghĩa.

Còn nền giáo dục của “phe thắng trận” chúng ta là một nền giáo dục bị vong thân, nền giáo dục phục vụ chính trị, bị chính trị hóa.

Mà chính trị là gì, là thủ đoạn.

Còn GIÁO DỤC, VĂN HÓA VĂN NGHỆ… không lấy cái lợi, cái thủ đoạn làm mục đích, mà nó lấy CHÂN THIỆN MỸ LÀM MỤC ĐÍCH vậy.

Khẩu hiệu của Đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1930 và Đảng Lao Động Việt Nam từ năm 1951 vẫn cứ là “TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO ĐÀO TẬN GỐC TRỐC TẬN RỄ”

Chao ôi, từ cổ đại đến nay, có nhà nước nào, chế độ nào diệt trí thức hay không, hay chỉ có ĐẢNG TA mới dám làm như thế ?

Cho đến nay, chúng tôi chưa hề thấy ĐẢNG TA công khai thừa nhận

KHẨU HIỆU DIỆT TRÍ THỨC kia là ấu trĩ, là sai lầm tả khuynh, cứ “làm thinh Việt Minh đồng ý”.

Đã chủ trương diệt trí thức thì làm sao tạo ra xã hội có học vấn, có văn minh ?

Chẳng lẽ nền giáo dục của chúng ta chủ trương diệt trí thức chỉ tạo ra các thế hệ thiếu tri thức làm công cụ cho chính trị mà thôi hay sao?

Thời chúng tôi học cấp 3, có một thầy giáo dạy văn rất hay, lại đẹp trai, nho nhã có nhiều bạn nữ khá nhan sắc muốn chọn thầy làm chồng tương lai, mới điều tra lý lịch thầy, biết cha thầy là ông quan huyện, lại là trí thức học trường hậu bổ do Tây đào tạo, bèn giật thót người không dám tiến tới nữa; vì thầy là thành phần xấu, con ông quan huyện là xấu, bố lại là trí thức còn xấu nữa, than ôi !

Thời chúng tôi đi học, hầu hết bọn con địa chủ, con tư sản …đều học giỏi và đều không được đi đại học.

Con bần cố nông dù dốt đặc cán mai cũng được cử đi đại học bên Liên Xô, Đông Đức…

HỌC TÀI THI LÝ LỊCH là vậy đó..

Một chế độ diệt người giỏi từ trong trứng nước, ưu tiên người dốt,

DỐT NÁT MUÔN NĂM, HỒNG HƠN CHUYÊN MUÔN NĂM…

thì giáo dục ơi, ta chào mi, vì mi lấy cái dốt, cái ngu làm mục đích…

Sau năm 1954, trong khoa học xã hội nhân văn, các giáo sư giỏi nhất như Cao Xuân Huy, Trương Tửu – Nguyễn Bách Khoa, Trần Đức Thảo,

Đào Duy Anh…sau này là Cao Xuân Hạo…đều bị cấm lên bục giảng đại học, cho đi chăn bò hay ngồi dịch sách.

Từ đó, người giỏi bị loại ra ngoài cơ chế xã hội, tôn trọng người dốt nát ngu đần thì giáo dục ơi mi còn sinh ra làm gì nữa.

Do vậy, mấy chục năm qua hầu hết học vị tiến sĩ là học vị phong bì, hầu hết học hàm PGS, GS là học hàm phong bì…

Một xã hội mua bằng cấp, mua học vị học hàm, mua quan bán chức công khai như ngày nay, thì giáo dục ơi, coi như em đã chết, sự thật đã chết, chân lý đã chết…

Do nền giáo dục lấy bần cố nông làm gốc lâu dài quá nên dân tộc Việt Nam hôm nay hầu như không còn đời sống tinh thần mang tính chân thiện mỹ nữa, tất cả phải nói dối lẫn nhau để tồn tại…

Than ôi, họa mất nước ở đây chứ đâu.,.

Sài Gòn ngày 19-8-2021

T.M.H.

Nguồn fb Trần Mạnh Hảo


 

THƯƠNG YÊU LÀ TRUNG THÀNH- Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

 Tình yêu vô hình, không nhìn thấy.  Nhưng tình yêu lại hiện hữu trong những gì hữu hình.  Gạt bỏ những gì hữu hình thì tình yêu cũng không còn chỗ đứng.  Tôi không thể yêu bông hoa nếu không có bông hoa.  Nhớ người nào là đã gặp người đó.  Thương là thương ai.  Vì thế, tình yêu là tổng hợp của cả tinh thần và thể xác.

 Yêu bằng ý nghĩ mà thôi là tình yêu không có thật.  Không ai có thể chỉ yêu bằng tư tưởng và cũng không ai cần tình yêu chỉ bằng câu ca dao.  Chúa Kitô cũng chối từ thứ tình yêu ấy: “Ðừng yêu Ta bằng lời” (Mt 7,21).  Ðã yêu là có rung động của con tim, có bâng khuâng của toàn vẹn con người, có tình cảm cao thượng của hy sinh.  Ðấy là tình yêu một lần Chúa đã nói: “Ta sẵn lòng chết vì chiên của Ta” (Gn 10,12).  Có thổn thức của xác thân dạt dào, Chúa cũng cảm thấy tâm hồn chất ngất buồn thương (Mt 26,38).  Và, trong cái rung động của toàn vẹn con người ấy cũng có thao thức đòi đáp trả: “Con có yêu Ta không?”  Chúa đã không hỏi Phêrô một nhưng đến ba lần (Gn 21,15-17).  Tất cả xúc cảm đó làm nên cung điệu yêu đương của đời người.

 Bông hoa đang khoe sắc ngoài kia nên tôi mới yêu được.  Như thế, làm sao tôi có thể chỉ yêu tinh thần của bông hoa mà lại không có xác thân?  Có con tim nên tôi mới biết thương mến.  Bởi đó, làm sao tôi có thể chỉ yêu bằng tinh thần thôi mà lại không có rung cảm của môi, mắt?  Yêu là có cả hai; linh hồn và thân xác.  Chỉ yêu bằng thân xác là tình yêu tật nguyền.  Chỉ yêu bằng tinh thần là tình yêu đánh lừa.  Cái dạt dào của thân xác là một yếu tố sáng tạo.  Sáng tạo ấy đưa đến nhiều chân trời tươi đẹp.  Khả năng rạo rực của con tim là ngôn ngữ của yêu thương.  Ánh nhìn.  Một khuôn mặt xinh.  Ngôn ngữ của thân xác là ngôn ngữ tuyệt vời của tình yêu, nó là dòng suối tươi mát cho cánh đồng.  Gạt bỏ dòng suối đó cỏ cây sẽ héo úa.

 Thân xác là ngôn ngữ của tình yêu nhưng không là tất cả tình yêu.

 Nó chỉ là một nốt nhạc mà thôi.  Nếu chỉ dùng một ngôn ngữ đó cho một hòa âm thì cung đàn không còn là cung điệu hòa hợp nữa, nó chỉ là tiếng re ré của một đơn điệu nhạt thếch.  Dòng suối phải được chảy theo nhánh nhỏ tưới cho cánh đồng.  Nếu suối tụ lại thì tình yêu sẽ chết vì dòng suối thay vì tưới mát sẽ làm lụt lội dâng đầy bùn phù sa.

 Không có gì buồn tẻ bằng bức họa chỉ có một mầu.  Ðấy không phải là tác phẩm nghệ thuật và tác giả không là nghệ sĩ.

 Thân xác là ngôn ngữ diễn tả và tiếp nhận tình yêu.  Nhưng một đốm lửa thì là ánh đèn cần thiết cho đêm đen, nếu cả đêm đen là lửa thì đấy không còn là đèn nữa mà là hỏa ngục bừng bừng.  Những ánh mắt, mùi thơm của hương tóc cũng vậy.

 Qua đối tượng hữu hình, tình yêu như cánh vườn mở ngõ, mời vào.  Tuy nhiên, lý trí thẩm định, hướng dẫn và ban tặng cho tình yêu giá trị.  Trí tuệ con người có lúc bừng sáng, trong như hạt nước mưa, nhưng cũng không vắng những ngày đục mù sương.  Rung cảm của thân xác có những lúc rì rào như lúa chiều gợn sóng, ên đềm.  Có ngày nức nở níu kéo, ì ầm sóng vỗ.  Vì tội lỗi nên bản đàn đã lệch cung, sai giọng.  Ði tìm một trật tự để nối chắp lại, gạn lọc, để so cho bằng, để giữ đúng nhịp là một vất vả gian truân.  Dù cố gắng đến đâu người nghệ sĩ cũng có lúc vẩy sai nét mực, tô đậm một mầu.

 Trung thành là mọi người phải đi con đường của mình.  Khi nói mọi người phải đi con đường của mình, không có nghĩa là họ không nhìn thấy những lối rẽ ngang.  Kẻ cho thập giá như lời mời gọi, chẳng có nghĩa là họ không nghe thấy tiếng gọi của một giọng nói dịu dàng bên nương dâu, bờ trúc.  Kẻ nhìn thập giá như trời cao để bước tới không có nghĩa là họ không thấy bờ tóc bay như một ngôn ngữ rất nôn nao.  Trong hôn nhân có ai tuyệt đối thương yêu bạn đời của mình đến nỗi không bao giờ có một ngăn nhỏ nghĩ đến những bóng hình lãng mạn khác?

 Lối rẽ bên đường đi có làm tôi âu lo.  Ðôi lúc tình cảm dịu dàng có làm tôi bâng khuâng.  Nhưng không vì thế mà lý tưởng của tôi hao mòn.  Lối rẽ bên đường, tình cảm dịu dàng ấy làm tăng khả năng tự do lựa chọn của người trong cuộc.  Nếu không có những ngã rẽ, những ánh nhìn khác thì tình yêu trong hôn nhân cũng như lý tưởng của người tu sĩ không còn cố gắng nữa, vì còn gì lựa chọn nữa để mà tiếp tục chọn lựa.  Có những ngã rẽ nên tôi phải dừng lại hỏi lòng mình, tôi phải cố gắng giữ gìn con đường của tôi, tôi phải phấn đấu trung thành.  Lúc hỏi lại lòng, lúc phấn đấu là lúc tình yêu dành cho người yêu, dành cho lý tưởng sâu đậm hơn.

 Người bạn đời trong hôn nhân là những con đường của nhau đi.  Nếu người bạn đời hoàn hảo thì con đường hoàn hảo.  Chẳng ai muốn rẽ sang một lối mòn nếu con đường đang đi đẹp ngát hương về lối mộng.  Nhưng vì tội lỗi nên người yêu không hoàn hảo, rồi, do vậy, đường đi của họ có gai.  Ðây là lý do không trung thành.  Nếu người tu sĩ bước trên đường lý tưởng toàn những ngọt ngào thì làm gì có lỗi lời thề.  Nhưng thập giá là lý tưởng chỉ đủ hé ánh sáng cho họ bước và giữ lại bóng tối để họ phải tin.  Trầm luân và vinh quang của họ nằm ở đó.

 Người yêu tôi không hoàn hảo nên đường tôi đi gập ghềnh.  Có thể vì đường đi gập ghềnh, không toại nguyện, tôi cắt bỏ lời cam kết để đi tìm một con đường hạnh phúc khác hoàn hảo hơn?  Nếu tôi hủy bỏ lời thủy chung để tìm một người có khả năng làm tôi thỏa mãn thì tôi trả lời làm sao cho vấn nạn: Tôi không hoàn hảo.  Chính tôi cũng không là con đường thẳng cho tôi đi.  Tôi không thỏa mãn được tôi.  Tôi muốn giàu mà thực tại tôi cứ nghèo.  Tôi muốn có nhan sắc mà thực tại tôi cứ tầm thường.  Tôi muốn người khác phải để ý đến tôi mà thực tại tôi cứ khổ sở vì thương nhớ người ta.  Khi chính tôi không thỏa mãn tôi được thì tôi có thể từ giã mình để đi tìm cái tôi khác được không?  Tôi có thể xây dựng cho đời tôi thêm phong phú chứ không chối từ được chính mình.

 Không chối từ được chính mình thì làm sao có thể biện minh vì bất toàn của người bạn đời mà đi tìm người yêu mới?  Mỗi người có một khả năng khác biệt, khi nào thì tôi có thể đi tìm được có tất cả khả năng để thỏa mãn tôi hoàn toàn?

 Kiếm tìm là tự thú rõ ràng tôi là người thiếu thốn, vì nếu hoàn hảo thì làm gì phải cậy nhờ đến ai.  Mà tôi có khuyết điểm thì tôi cũng chẳng thể đem hạnh phúc vô bờ cho người tôi đang sống.  Tôi cũng là nguyên nhân khổ đau, là gai nhọn trên đường đi của người yêu tôi.

 Hạnh phúc hệ tại luôn luôn được thỏa mãn hay là cố gắng làm thỏa mãn người?

 Cuộc sống chỉ là tương đối.  Tôi không thể làm người bạn đời trọn vẹn hạnh phúc.  Người bạn đời cũng chẳng thể cho tôi mọi ước mơ.  Vì cả hai đều yếu đuối và mắc nhiều lỗi lầm, cả hai không là thiên thần mà là người.  Là người nên tôi không thể làm thỏa mãn người được.  Không làm thỏa mãn người được cũng có nghĩa là người cũng chẳng thể làm thỏa mãn được tôi.  Như thế, hạnh phúc là cùng nhau lắng nghe tiếng hót của con họa mi.  Cùng chịu gió lạnh của mưa.  Chịu khổ của bão.  Hạnh phúc trong hôn nhân là cùng nhau góp một ước mơ.  Cùng nhau gánh nỗi đau của đời.

 Cái chua của chanh, cái ngọt của đường làm nên ly nước mát chứ không riêng có đường, không hẳn chỉ là chanh.

** *

Chúa biết rằng cứ để con trong thế gian thì tốt cho con hơn là đem con khỏi thế gian.  Chúa chỉ xin Chúa Cha đừng để con thuộc về thế gian mà thôi.

 Lạy Chúa, nếu vậy, con không xin Chúa cắt mọi ngã rẽ trên đường con đi.  Vì như thế, con đường của con sẽ nhạt nhẽo.  Con cũng không xin cho con trở thành vô cảm trước những vẻ đẹp mà Chúa đã tạo dựng.  Con chỉ xin ơn can đảm để ngắm bông hoa trên đồi nhưng thương bông hoa trong vườn.  Con không sợ hãi những giọt chanh chua vì con biết Chúa cũng cho con những muỗng đường.  Con chỉ xin được khôn ngoan để biết hòa hợp sao cho đúng hương vị ly nước mát mà Chúa đã ban tặng con trong trưa hè oi nóng.

** *

Phêrô ra sức rủa mình mà thề: “Tôi không hề biết người các ông nói đó là ai” (Mc 14,71).  Như thế, tình yêu của Phêrô là tình phản bội.

 Chúa quay lại nhìn Phêrô, và Phêrô nhớ lại lời Chúa khi Ngài bảo ông: “Hôm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối Ta ba lần.  Và ra ngoài, ông khóc lóc thảm thiết” (Lc 22,61-62).  Như thế, lỗi lời thề lại trở nên yêu thương sâu đậm.  Lỗi lời thề lại trở nên trung thành, gắn bó thiết tha.

** *

Trung thành là cố gắng gìn giữ mối giây liên hệ, là không cắt đứt.  Nhưng nếu làm đứt mà tha thiết nối chắp lại thì đấy mới càng chứng tỏ ý nghĩa sâu xa của trung thành.  Nếu không gặp thử thách thì sao quả quyết được là không bao giờ vấp ngã?  Nếu tôi không dám chắc tôi không bao giờ vấp ngã thì tôi làm gì có quyền bắt kẻ khác hoàn hảo?

 Trung thành không hẳn chỉ có nghĩa là không bao giờ lỗi phạm, mà là từ lỗi phạm, tôi trở về với người tôi yêu, với kẻ yêu tôi.

** *

Có hai thứ trung thành.  Trung thành bằng tình yêu và trung thành bằng sợ hãi.  Trung thành trong hôn nhân, trung thành của đời tu cũng vậy.

 Sợ hãi cũng có trung thành, nhưng trong trung thành có mầm phản loạn, vì trung thành của sợ hãi là nô lệ.  Kẻ đòi buộc trung thành bằng sự sợ hãi thì trả thù kẻ bội phản.  Người lấy tình yêu làm sợi giây trung thành thì tha thứ cho kẻ phản bội.  Chúa Kitô đã chọn con đường thứ hai.

 Lm. Nguyễn Tầm Thường, SJ  

(Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc)

 From: Langthangchieutim


 

ĐỘC TÀI! (Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

Nguyen Thi Chau

ĐỘC TÀI!

(Tác giả: Như Like Thần Chưởng- )

KD: Để hiểu độc tài như thế nào, xin đọc bài viết rất sinh động này. Và xin đăng cái còm của mình (có bổ sung):

“Độc tài quá hoa tâm bệnh. Độc ác quá hoá cô độc. Sống giữa nhung lụa, phù hoa nhưng tâm hồn nghèo xác xơ cùng kiệt. Quyền lực đỉnh cao nhưng hạnh phúc tận vực sâu. Sống trong sự run sợ  của con người nhưng chết đi trong mừng rỡ của cộng đồng.

Và những kẻ độc tài có một điểm bản chất- ko bao giờ tin ai. Cực kỳ cô độc

Một sự Gieo- gặt sòng phẳng đích đáng!.

Title bài chủ Phây xin tạm đặt 

—————— 

Joseph Stalin không ngủ như một con người tin tưởng vào quyền lực của mình.

Khi ông đã thống trị Liên Xô một cách tuyệt đối – nắm trong tay quốc gia rộng lớn nhất thế giới, chỉ huy hàng triệu binh sĩ, định đoạt số phận của cả những dân tộc – ông vẫn đặt bên gối một khẩu súng lục đã lên đạn. Mỗi đêm, ông thay đổi phòng ngủ, không bao giờ nằm lại cùng một chiếc giường hai đêm liền. Ông từ chối đi lại trên cùng một con đường cũ. Ông không ngừng cải tạo các dinh thự, thêm những hành lang bí mật, những cánh cửa khóa layered, những lối thoát hiểm ngoằn ngoèo nhằm đánh lừa kẻ ám sát tiềm tàng.

Đó không phải là thói lập dị. Đó là bản năng sinh tồn của một người hiểu rõ hơn ai hết cách mà các nhà độc tài rời bỏ thế gian.

Vì Stalin đã trèo lên đỉnh quyền lực bằng cách khiến người khác chết trước mình.

Ông thấu suốt cơ chế của những vụ ám sát chính trị. Chính ông đã đạo diễn chúng. Ông đã chứng kiến đối thủ tan biến trong ngục tù, thấy đồng chí cũ bị bắn trong tầng hầm tối, ra lệnh những cuộc thanh trừng nuốt chửng hàng ngàn sinh mạng. Ông biết rằng những lưỡi dao ông đã phóng ra có thể bất cứ lúc nào quay ngược lại. Người trung thành hôm nay có thể đang mài dao ngày mai. Đồng minh đáng tin nhất cũng có thể hóa thành kẻ sát nhân.

Thế nên Stalin không tin ai. Và ông dựng nên cả cuộc đời mình trên nền tảng duy nhất ấy: sự nghi kỵ tuyệt đối.

Nỗi sợ ấy định hình lại mọi ngóc ngách trong cuộc sống ông. Một buổi sáng, nhân viên đến làm việc và bỗng thấy mình bị đuổi mà không một lời giải thích. Lính gác bị thay phiên liên tục để không ai kịp thuộc lòng nhịp sống của ông. Đội cận vệ thay đổi khuôn mặt thường xuyên đến mức sự quen thuộc trở thành điều xa xỉ.

Ngay cả các bác sĩ cũng run rẩy khi chữa trị cho ông – một chẩn đoán sai, một liều thuốc không hiệu nghiệm, và họ có thể bị kết tội là kẻ phá hoại hay gián điệp ngoại bang. Họ tiếp cận sức khỏe của Stalin như những người tháo ngòi nổ, tim đập trong lồng ngực.

Các cố vấn học được rằng sống sót nghĩa là cúi đầu và im lặng. Không đưa ra nhận định trung thực. Không báo tin xấu. Đặc biệt không được phản biện Tổng Bí thư. Họ chỉ nói những gì ông muốn nghe, gật đầu trước mọi lời ông phán, và thầm cầu mong được về nhà nguyên vẹn đêm ấy.

Vì vòng tròn thân cận của Stalin đều thấu một chân lý lạnh lẽo: gần quyền lực tức là gần tử thần.

Nhưng nỗi kinh hoàng không dừng lại bên trong tường thành Kremlin. Nó lan tỏa như ung thư, nhiễm độc toàn bộ cơ thể nhà nước Xô Viết.

Qua cuộc Đại Thanh trừng những năm 1930, chế độ Stalin hành quyết hàng trăm nghìn người, giam cầm và lưu đày hàng triệu linh hồn khác. Các tướng lĩnh từng dẫn quân chiến thắng bị bắn như phản tặc. Các bộ trưởng trung thành suốt mấy thập kỷ tan biến trong đêm. Nhà khoa học, nghệ sĩ, giáo viên, công nhân – bất kỳ ai cũng có thể bị bóng đêm nuốt chửng. Cảnh sát mật gõ cửa lúc nửa đêm, và con người bỗng hóa thành hư vô.

Trung thành không mua được sự an toàn. Năng lực đôi khi lại là lời mời gọi tử thần. Quá giỏi việc, bạn có thể bị coi là mối uy hiếp. Quá được lòng cấp dưới, bạn có thể bị nghi xây dựng phe cánh. Vị trí an toàn nhất là tầm thường và vô hình.

Cả nhà nước Xô Viết dần mang tâm lý của lãnh tụ: đa nghi, bí ẩn, tàn nhẫn. Sự thật trở thành lưỡi dao, nên người ta nói dối. Trung thực mời gọi roi vọt, nên mọi người giấu nhẹm vấn đề. Hệ thống lẽ ra kiến tạo thiên đường cộng sản lại dựng nên một cỗ máy khổng lồ chuyên ăn thịt chính con dân mình.

Stalin không tin ai vì ông tin rằng chẳng ai đáng tin. Và có lẽ ông đúng – bởi chính ông cũng chẳng đáng tin. Sao người khác lại khác được?

Sự mỉa mai thật nghiệt ngã: chính nỗi đa nghi ông tưởng sẽ che chở cho mình lại gây ra những thảm họa khôn lường.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, văn hóa sợ hãi của Stalin làm tê liệt mọi quyết sách của Liên Xô. Sĩ quan biết rõ điểm yếu quân sự nhưng không dám báo – báo tin xấu đồng nghĩa với viên đạn. Tình báo về cuộc xâm lược của Đức bị bỏ ngoài tai vì dám trái ý Stalin là tự sát. Báo cáo giả thay thế báo cáo thật, bởi sống sót nghĩa là nói những lời lãnh đạo muốn nghe.

Thế nên khi Đức Quốc xã tràn qua biên giới tháng 6 năm 1941, Hồng quân thảm khốc không chuẩn bị dù đã có vô số lời cảnh báo. Cuộc tấn công chớp nhoáng của Đức xé nát lực lượng Xô Viết. Hàng triệu binh sĩ ngã xuống, bị bắt hoặc bị bao vây chỉ trong vài tháng đầu. Thành phố sụp đổ. Cả quân đoàn tan rã như cát bụi.

Những cuộc thanh trừng đa nghi trước đó đã làm suy kiệt Hồng quân – Stalin hành quyết hoặc giam cầm nhiều tướng tài nhất vì sợ họ thành đối thủ. Giờ đây, văn hóa dối trá và sợ hãi khiến đất nước trần trụi trước lưỡi hái chiến tranh mà ai cũng thấy trước nhưng không ai dám chuẩn bị.

Cái giá phải trả thật kinh hoàng. Hơn 26 triệu công dân Xô Viết bỏ mạng trong cuộc chiến – cả quân nhân lẫn thường dân. Nhiều sinh mạng ấy có thể quy trực tiếp hoặc gián tiếp về những rối loạn do nỗi đa nghi của Stalin gây ra.

Song chiến thắng trước phát xít Đức chỉ khiến ông nghi ngờ thêm.

Những năm cuối đời, nỗi đa nghi quay ngược vào trong với cơn cuồng nộ mới. Ông tin rằng chính các bác sĩ – những người giữ mạng sống cho ông – đang âm mưu hại ông. “Âm mưu Bác sĩ” 1952-1953 chứng kiến hàng loạt y sĩ danh tiếng, nhiều người gốc Do Thái, bị bắt và buộc tội mưu sát lãnh đạo.

Đó là cơn điên rồ. Nhưng là cơn điên có gốc rễ – Stalin đã xây một hệ thống nơi lý thuyết âm mưu thành chính sách quốc gia, nơi đa nghi được thưởng, nơi nhìn kẻ thù khắp nơi được ca tụng là trí tuệ thay vì bệnh hoạn.

Stalin tự cách ly mình khỏi thực tại ngày một xa. Càng ít người được tiếp cận ông. Càng ít tiếng nói đến được tai ông. Vòng tròn tin tưởng – vốn đã nhỏ bé – co lại thành hư vô. Ông là người quyền lực nhất Liên Xô, cai trị một siêu cường trải dài từ Đông Âu đến Thái Bình Dương.

Và ông cô độc đến tận cùng đáy lòng.

Ngày 1 tháng 3 năm 1953, Joseph Stalin bị đột quỵ nặng. Ông ngã quỵ trong dinh thự Kuntsevo, không thể cất tiếng kêu cứu.

Và đây là vòng tròn định mệnh của nỗi đa nghi: lính gác do dự hàng giờ không dám bước vào phòng.

Tại sao? Vì ông đã ra lệnh nghiêm cấm làm phiền. Vì bước vào mà không được phép – dù để cứu mạng – có thể lãnh án tử. Vì văn hóa kinh hoàng ông gieo rắc khiến người ta sợ cơn thịnh nộ của ông hơn là lo cho sinh mạng ông.

Nhà độc tài nằm trên sàn lạnh, nửa người tê liệt, không nói không động, trong khi cận vệ và nhân viên đứng ngoài cửa, run rẩy không dám hành động.

Khi bác sĩ cuối cùng được gọi đến và dám bước vào, Stalin đã nằm đó hàng giờ. Sự chậm trễ làm tình trạng ông tồi tệ hơn nhiều. Họ cố cứu chữa, nhưng tất cả đã quá muộn.

Joseph Stalin qua đời ngày 5 tháng 3 năm 1953, thọ 74 tuổi.

Khẩu súng dưới gối không cứu được ông. Những căn phòng luân phiên không cứu được ông. Biện pháp an ninh, thanh trừng, hành quyết, cả một đế chế kinh hoàng – chẳng gì cứu nổi ông.

Cuối cùng, chính nỗi đa nghi đã định nghĩa cả cuộc đời ông lại góp phần đưa ông đến cái chết. Nỗi sợ ông gieo vào lòng người khác khiến không ai dám kịp thời ra tay khi ông cần nhất.

Cuộc đời Stalin chứng minh một chân lý sâu thẳm và đáng sợ: quyền lực tuyệt đối không xua tan nỗi sợ, nó chỉ nhân nó lên gấp bội.

Khi cai trị bằng kinh hoàng, bạn tạo ra một thế giới mà mọi người – kể cả chính mình – sống trong nỗi sợ triền miên. Khi trung thành bị ép buộc bằng bạo lực, bạn mãi mãi không thể tin nó chân thật. Khi đã loại trừ mọi mối đe dọa, bạn chỉ còn lại những kẻ che giấu sự thật vì trung thực đồng nghĩa với tử thần.

Stalin tưởng mình đang dựng nên pháo đài an toàn. Thực ra ông đã xây một nhà tù. Và ông là tù nhân chính – cô đơn nhất.

Ông thống trị một siêu cường vĩ đại. Ông chỉ huy đạo quân hùng mạnh. Ông nắm trong tay sinh mạng hàng trăm triệu người. Các quốc gia run sợ trước sức mạnh Xô Viết. Các nguyên thủ coi ông ngang hàng trên trường quốc tế.

Vậy mà mỗi đêm, ông ngủ như một kẻ bị truy nã. Thay giường liên tục. Vũ khí kề bên. Không tin ai. Sợ hãi mọi người.

Người gieo rắc kinh hoàng cho triệu triệu con người lại sống trong chính kinh hoàng ấy. Kiến trúc sư của nhà nước giám sát lại là kẻ bị giám sát chặt chẽ nhất. Nhà độc tài có quyền giết bất kỳ ai lại biết rằng bất kỳ ai cũng có thể muốn giết mình.

Đó là cái giá cuối cùng của bạo quyền. Không chỉ những gì nó gây ra cho nạn nhân – dù đã đủ kinh hoàng. Mà còn những gì nó làm tan nát tâm hồn chính kẻ bạo chúa.

Stalin dành những năm cuối đời trong cô lập, đa nghi và sợ hãi. Ông chết một mình trên sàn lạnh, bên ngoài là những con người quá kinh hoàng để cứu ông. Hệ thống kinh hoàng ông tạo dựng đã hoàn tất vòng tròn: nuốt chửng cả chính người sinh ra nó.

Quyền lực không có lòng tin chẳng phải sức mạnh. Đó chỉ là một xiềng xích vô hình mà không khẩu súng nào có thể bắn đứt.

Như Like Thần Chưởng

Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Thoibao.deTam Truong Nguyen

 Mọi thấy cậu con trai của bà bộ trưởng bộ giáo dục có cái nét giống ông Tổng Bí thư Tô Lâm không ?

Lan Hue

 Tối qua xem bản tin VTV, tôi đã ngồi lặng đi rất lâu. Không phải vì bất ngờ, mà vì cái cảm giác bất lực quen thuộc ấy lại quay về.

Một cô gái 18 tuổi, vừa đứt lìa chân trên phố Nguyễn Huy Tự vào ngày 30/5/2025, đã chết sau một tuần trong bệnh viện. Cô chết ngay trước kỳ thi tốt nghiệp, cái tuổi mà đáng lẽ ra cô phải được bước vào phòng thi, chứ không phải nhà tang lễ.

Người cầm lái chiếc BMW X3 30H-369.09 đi ngược chiều, tông thẳng vào cô, tối qua được VTV và Công an Hà Nội xác nhận là ông Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

Và rồi câu chốt của bản tin: Ông Cương được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự vì “thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả và gia đình nạn nhân có đơn xin miễn”.

Tôi nghe xong, chỉ thấy tim mình thắt lại. Chúng ta đã từng tìm hiểu luật và luật pháp ghi rằng, trong một vụ tai nạn chết người do đi sai làn, khởi tố không phụ thuộc vào đơn bãi nại. Đơn bãi nại chỉ là tình tiết giảm nhẹ. Luật sư nào cũng nói vậy. Nhưng hóa ra, luật đó chỉ đúng khi người gây tai nạn là dân thường chăng?.

Còn khi người gây tai nạn là một nguyên Đại biểu Quốc hội, chồng của một người hiện đang giữ chức Bộ trưởng, thì luật lại có một lối rẽ khác: lối rẽ mang tên “miễn truy cứu”.

Tôi bất lực vì tôi nhớ lại hơn một năm qua, báo chí chỉ dám viết tắt “N.S.C.”, không dám đăng ảnh, không dám gọi tên. Tôi bất lực vì tôi thấy những bó hoa trắng người dân đặt ở gốc cây số 55 Nguyễn Huy Tự bị dọn sạch dưới sự giám sát của công an, phải có người đứng canh. Đến một nén nhang, một bông hoa tưởng niệm cho người đã khuất cũng không được yên.

Và tôi mất niềm tin, không phải vì một cá nhân được miễn tội, mà vì cách người ta hợp thức hóa sự miễn tội đó một cách trơn tru, đúng quy trình đến đáng sợ. Họ dùng chính những từ ngữ đẹp đẽ nhất của pháp luật – “thành khẩn”, “khắc phục”, “nhân đạo” – để bao bọc cho một sự thật trần trụi: một mạng người đã mất, nhưng người gây ra cái chết đó không phải chịu một ngày tù nào.

Tối qua, sau bản tin, tôi lướt Threads, thấy cả triệu bài viết. Không ai chửi bới vô cớ. Người ta chỉ hỏi một câu duy nhất: Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Câu trả lời ai cũng biết. Và chính vì ai cũng biết câu trả lời, nên niềm tin mới vỡ vụn.

Chúng ta không đòi hỏi gì ghê gớm. Chúng ta chỉ đòi hỏi công lý phải mù mắt như bức tượng của nó: không nhìn xem kẻ đứng trước vành móng ngựa là đại biểu hay dân thường. Nhưng tối qua, VTV đã cho chúng ta thấy, công lý ở đây có mắt, và nó nhìn rất rõ ai là ai.

Cô gái 18 tuổi ấy đã không có cơ hội đi thi. Còn chúng ta, những người ở lại, đang trượt dài trong một kỳ thi khác – kỳ thi về niềm tin. Và thật đau đớn, chúng ta đang rớt. 


 

SỰ NGÂY THƠ CỦA CON TIM-Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.

Thần học gia Karl Rahner đưa ra một nhận xét rất sâu sắc về đoạn văn trong Phúc Âm, nơi Chúa Giê-su bị đóng đinh và nói về những kẻ hành hình Ngài: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Rahner cho rằng họ biết chính xác mình đang làm gì.  Họ biết mình đang giết một người vô tội, rằng họ đang đổ máu người vô tội.  Vậy tại sao Chúa Giê-su lại nói như vậy?

 Sự ngây thơ của họ là gì?  Sự cả tin của họ là gì? 

Câu trả lời của Rahner: Họ không biết mình đang làm gì vì họ không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Và điều đó có thể dẫn đến sự ngây thơ trong tâm hồn.  Tại sao vậy?

 Có một nơi sâu thẳm bên trong mỗi chúng ta, một nơi mà chúng ta hiếm khi ý thức được, nơi mỗi người được Chúa yêu thương vô điều kiện.  Những người đóng đinh Chúa Giê-su không biết mình đang làm gì vì họ không nhận thức được điều đó.  Đó là sự mù quáng, sự thiếu hiểu biết của họ.  Mặc dù bề ngoài có vẻ như vậy, nhưng họ không biết mình đang làm gì.

 Điều này cũng đúng với chúng ta.  Quá thường xuyên chúng ta đóng đinh người khác và chính mình vì sự thiếu hiểu biết này: chúng ta không biết mình được yêu thương nhiều đến mức nào.  Hậu quả là, đôi khi chúng ta tàn nhẫn trong phán xét và dễ làm những điều làm tổn hại đến phẩm giá của mình.  Chúng ta đấu tranh để không trở thành một trong những kẻ hành quyết trên thập tự giá bởi vì, cuối cùng, chúng ta hành động vì thiếu hiểu biết.  Chúng ta không biết gì hơn, giống như sự ngây thơ của đứa trẻ tự làm tổn thương mình vì thiếu hiểu biết.

 Nhưng đây không phải là một nhận định mới.

 Thần học cổ điển đã phân biệt giữa sự ngu dốt có lỗi và sự ngu dốt không có lỗi.  Loại thứ hai, còn được gọi là sự ngu dốt không thể khắc phục, được xem là biện minh cho việc người ta không phạm tội và không chịu trách nhiệm.  Do đó, có quan điểm cho rằng bạn có thể làm những việc sai trái nhưng không phạm tội vì bạn hành động trong sự ngu dốt.  Điều này dựa trên niềm tin rằng bạn chỉ có thể hành động một cách đạo đức và có trách nhiệm nếu bạn thực sự biết mình đang làm gì.  Để phạm tội, bạn phải hành động một cách “có chủ ý.”  Tuy nhiên, đó là một điều kiện khá phức tạp.

 Nhìn vào thế giới ngày nay, tôi dám khẳng định rằng trong một số vấn đề đạo đức quan trọng, chúng ta đang hành động trong sự ngu dốt không thể cứu vãn.  Nói một cách đơn giản, chúng ta không biết điều gì tốt hơn.  Chỉ có kiểu ngu dốt đã cho phép những người chân thành đóng đinh Chúa Giê-su mới có thể giải thích tại sao chúng ta, những người tốt và chân thành, lại có thể mù quáng đến vậy, cả về mặt cộng đồng và cá nhân, đối với người nghèo, đối với những đòi hỏi về kinh tế và xã hội mà đức tin của chúng ta đặt ra.  Lý do thực sự khiến chúng ta có thể sống thoải mái trong khi khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng nới rộng không phải vì chúng ta xấu xa và vô lương tâm, mà đúng hơn, như Rahner nói, chúng ta không biết mình được yêu thương đến mức nào.

 Điều tương tự cũng đúng với thái độ của chúng ta đối với tình dục.  Chúng ta đã có thể coi thường tình dục, tách rời nó khỏi sự thiêng liêng của hôn nhân, và biến nó thành một phần mở rộng của việc hẹn hò (hoặc đơn giản là tình dục giải trí) chỉ vì một sự thiếu hiểu biết cố hữu nào đó.  Chúng ta không biết điều gì tốt hơn, không phải vì chúng ta thiếu lương tâm, mà vì chúng ta thiếu bất kỳ cảm nhận thực sự nào về tình yêu sâu sắc của Chúa và phẩm giá mà nó ban cho chúng ta. 

Giống như những kẻ hành quyết Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc trong việc hợp lý hóa, coi nhẹ và bù đắp chính vì chúng ta không biết mình đang làm gì.  Chúng ta không có nhận thức rõ ràng về tình yêu thương của Chúa dành cho mình.  Do đó, rất dễ đánh mất cái nhìn khách quan, cảm thấy bị loại trừ và làm những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ làm nếu nhận thức đầy đủ hơn về phẩm giá của mình.

 Chẳng có gì lạ khi chúng ta chấp nhận những điều kém cỏi hoặc bất cứ thứ gì hứa hẹn sự thoải mái và an toàn.  Chắc chắn Chúa Giê-su đang nhìn chúng ta và nói: “ Xin Cha tha thứ cho họ, vì họ không biết mình đang làm gì!”

 Nhưng liệu điều đó có đúng không?  Chúng ta có thể thực sự viện cớ thiếu hiểu biết và vô tội để nói rằng mình không biết gì hơn được không?

 Tôi nói có, không phải vì chúng ta ngu ngốc hay thiếu thông minh.  Đây là sự ngây thơ trong tâm hồn.  

Chúng ta vô tình không nhận thức được tình yêu thương vô bờ bến của Chúa dành cho chúng ta.

 Rất ít người trong chúng ta, ở bất kỳ cấp độ hiện sinh nào, từng nghe Chúa nói với mình: “Ta yêu con!”  Rất ít người trong chúng ta từng nghe và cảm nhận được những gì Chúa Giê-su hẳn đã cảm nhận khi chịu phép báp-têm, khi Ngài nghe Cha mình phán: “Con là con yêu dấu của Ta; Ta vui mừng vì con!”  Thật vậy, rất ít người trong chúng ta từng nghe một người khác, từ tâm hồn đến tâm hồn, nói với mình: “ Ta yêu con vô điều kiện! Ta vui mừng vì con!”  Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên khi, giống như những kẻ hành hình Chúa Giê-su, chúng ta có khả năng đáng kinh ngạc, với lương tâm trong sáng, đôi khi lại mù quáng và không trung thực với chính mình?

 Bóng tối chỉ trở nên xấu xa khi có ánh sáng.  Tội lỗi chỉ có thể xảy ra nếu trước đó đã có tình yêu.  Sự phản bội chỉ có thể xảy ra nếu trước đó người ta đã nghe những lời: “Tôi yêu bạn.”  Những kẻ hành hình Chúa Giê-su đã hành động trong bóng tối xuất phát từ việc chưa bao giờ nghe thấy điều đó.  Tôi cho rằng điều tương tự cũng đúng với nhiều người trong chúng ta.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Ta sống ở đời này để làm gì? – Cha Vương

Mến chào ngày mới! Chúc Bạn và gia đình một ngày tốt lành trong tình yêu và sự quan phòng của Chúa. Luôn cầu nguyện cho nhau và thế giới biến đổi chiến tranh thành yêu thương nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 17/08/2026.     (t3-21)

GIÁO LÝ: Ta sống ở đời này để làm gì? Ta sống ở đời này để nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, để làm việc lành theo ý Thiên Chúa, và để một ngày nào đó sẽ đạt tới quê Trời.

SUY NIỆM:  Được làm người có nghĩa là đến từ Thiên Chúa và đi về với Thiên Chúa. Nguồn gốc của con người đến từ cao xa hơn là từ cha mẹ họ, nghĩa là đến từ Thiên Chúa, nơi có chứa hạnh phúc của cả trời đất, nơi ta được chờ đón để hưởng hạnh phúc đời đời vô hạn định. Ta đang sống ở trần gian này. Đôi khi, ta thấy gần gũi với Đấng Tạo hóa, nhưng thường là chẳng thấy gì. Để dẫn ta vào đúng hướng tốt, Thiên Chúa đã sai con của Người là Chúa Giêsu để giải thoát ta khỏi tội, cứu ta khỏi mọi sự dữ và dẫn ta vào sự sống thật không sai lầm. Người “là Con Đường, là Sự Thật, là Sự Sống”. (Ga 14,6) (Youcat, số 1)

  Điều gì đang làm bạn không nhận biết và yêu mến Thiên Chúa? 

Có phải là bạn đang bị cuốn hút trong cơn lốc của văn minh, của tiền bạc, danh vọng và hưởng thụ. Bạn hãy nghĩ xem, nếu con người quá chú trọng đến nhu cầu thể xác mà quên đi đời sống tâm linh, thì họ đã tự tách ra khỏi quỹ đạo của Sự Sống, tự đánh mất chính mình. Họ chỉ là những thây ma không hồn, gieo tai hoạ và khổ đau cho nhau. Con người sẽ đối xử tàn bạo với nhau nếu con người chỉ coi mình thuần túy là loài vật mà chối bỏ niềm tin vào Trời, vào Thiên Chúa, vào Ðấng tạo thành. Thiết tưởng rằng bạn cũng cảm nhận được điều này trong cơn đại dịch COVID này…

LẮNG NGHE: Thiên Chúa muốn cho mọi người được ơn cứu rỗi và nhận biết sự thật (the truth) (1 Tm 2:4)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… Vì chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

THỰC HÀNH: Hãy dành một chút thời giờ để nhìn lại mục đích đời người là gì?

From: Do Dzung

*****

Hạt Bụi Đời Con….!


 

“TIẾNG ĐÀN VIOLIN TRONG MƯA”

Cang Huynh

“TIẾNG ĐÀN VIOLIN TRONG MƯA”

Jonas Kovač là một nghệ sĩ violin đường phố ở Praha. Anh chưa từng học ở nhạc viện hay chơi trên những sân khấu lớn; sân khấu của anh là Quảng trường Phố Cổ, mái nhà của anh là bầu trời, và khán giả của anh… bất cứ ai dừng lại để lắng nghe.

Cây violin cũ kỹ với lớp sơn đã sờn, anh thừa hưởng từ cha mình, một nhạc sĩ chưa bao giờ kiếm sống được bằng nghề này, nhưng người đã dạy anh một điều quý giá hơn bất kỳ tấm bằng nào: “Âm nhạc không cần phải hoàn hảo, nó cần phải chạm đến tâm hồn.”

Mỗi buổi chiều, Jonas chơi nhạc từ năm giờ cho đến khi đèn đường bật sáng. Mọi người đi ngang qua, đôi khi để lại vài đồng xu, đôi khi thậm chí không nhìn anh. Anh không phàn nàn; anh nói rằng âm nhạc, giống như mưa, không phải để đón nhận, mà để rơi xuống bất cứ nơi nào cần đến.

Một ngày thứ Năm mùa thu, khi anh đang chơi một bản adagio của Albinoni, bầu trời bắt đầu tối sầm. Sấm sét vang lên, và mưa bắt đầu trút xuống dữ dội. Du khách chạy tìm chỗ trú. Các tiểu thương đóng cửa hàng. Quảng trường gần như vắng tanh.

Nhưng Jonas… vẫn tiếp tục chơi.

Mưa làm ướt áo khoác của anh, dây đàn trở nên trơn trượt, nhưng tay anh không hề run. Anh nhắm mắt lại và để mỗi nốt nhạc trôi nổi trong không khí ẩm ướt.

Rồi một cô bé, không quá 10 tuổi, xuất hiện dưới chiếc dù màu đỏ. Cô bé dừng lại trước mặt anh và nhìn anh với vẻ say mê.

“Sao chú vẫn chơi khi trời mưa?” cô bé hỏi một cách ngây thơ.

Jonas mỉm cười.

“Vì có những bài hát không thể dừng lại… ngay cả khi không ai khác có thể nghe thấy chúng.”

Cô bé mở ba lô, lấy ra một đồng xu nhỏ và bỏ vào hộp đựng đàn, vốn đã đầy nước. Trước khi rời đi, cô bé nói:

“Mẹ cháu đang nằm viện. Mẹ thích chơi đàn violin. Cháu sẽ thu âm bài hát này cho mẹ nghe.”

Jonas gật đầu và đổi giai điệu. Anh đàn bản “Meditation” của Thaïs với sự cẩn trọng và dịu dàng mà anh đã không cảm nhận được trong nhiều năm. Trong lúc chơi nhạc, anh tưởng tượng ra người phụ nữ nằm trên giường bệnh, nghe nhạc con gái mang đến qua điện thoại.

Khi cô bé rời đi, Jonas đứng lặng một lúc. Cơn mưa làm anh ướt sũng, nhưng anh cảm thấy một hơi ấm khác lạ trong lồng ngực.

Tuần sau, anh quay lại quảng trường. Trong số những người dừng lại, anh nhận ra chiếc dù màu đỏ. Đó là cô bé, đi cùng một người phụ nữ ngồi xe lăn.

“Là ông ấy,” cô bé nói, chỉ vào Jonas. “Mẹ ơi, ông ấy là người đàn ông mà con kể cho mẹ.”

Đôi mắt người phụ nữ sáng lên.

“Cảm ơn cậu vì đã không dừng lại hôm đó,” bà nói, giọng nghẹn ngào. “Tôi đang phải trải qua hóa trị… và âm nhạc của cậu đã giúp tôi quên đi nỗi đau trong giây lát.”

Jonas cúi đầu, không biết nói gì. Và anh bắt đầu chơi nhạc cho họ nghe, chỉ dành riêng cho họ.

Từ ngày đó trở đi, cứ mỗi thứ Năm lúc năm giờ chiều, mẹ con họ lại xuất hiện ở quảng trường. Họ sẽ ngồi bên nhau, bất kể trời mưa hay nắng, và lắng nghe.

Theo thời gian, sức khỏe của người phụ nữ được cải thiện, và nhiều năm sau, khi cô gái, lúc này đã là một thiếu nữ, bắt đầu học violin, cô lại tìm Jonas để nhờ anh một điều duy nhất: dạy cô chơi như thể trời luôn mưa, ngay cả vào những ngày nắng.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire. 


 

NHỮNG NGHI NGỜ CỦA BÀ LÃO – Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Cách thức để triển nở đức tin là thực hành nó, đặc biệt trong việc yêu thương tha nhân.”

 Một bé gái 6 tuổi đến ăn tại nhà một người bạn.  Khi mọi người ngồi vào bàn, cô bé cúi đầu chờ đợi mọi người đọc kinh ăn cơm.  Chẳng thấy ai đọc kinh hết, cô bé thẹn thùng nói: “Cả nhà giống con chó nhà cháu quá, cứ ngồi xuống là ăn!”

Dân Do Thái cũng nghĩ như thế đối với đám dân ngoại.  Theo họ, dân ngoại xét về mặt thiêng liêng cũng giống như loài chó vì họ hoàn toàn thiếu nhạy cảm đối với Thiên Chúa.  Ðiều này dẫn chúng ta đến chủ điểm quan trọng của bài Phúc Âm hôm nay.

 Các học giả nhận xét là từ ngữ Hy Lạp mà Chúa Giêsu nói về “lũ chó” trong câu “không nên ném thức ăn cho lũ chó” là một hình thức giảm thiểu.  Nó ám chỉ lũ chó cưng nuôi trong nhà, chứ không phải những con chó rông ngoài đường.  Chúa Giêsu dùng từ ngữ ấy một cách thân ái.  Câu đáp lại của người phụ nữ cho thấy rõ điều ấy.  Có lẽ bà ta vừa mỉm cười vừa nói:

“Những lũ chó cũng được ăn vụn bánh rơi xuống nền nhà chứ!”

 Nói cách khác, bà ta đang nói với Chúa Giêsu: “Con biết Ngài hiện đang dành ưu tiên cho dân Israel, tuy nhiên trong khi Ngài thiết đãi họ, Ngài lại không thể đẩy cho con chút ít bánh vụn giống như đám nhóc quăng bánh xuống cho lũ chó cưng khi bố mẹ chúng không nhìn thấy sao?”

 Chúa Giêsu liền trả lời cho bà ta: “Bà là người phụ nữ giàu lòng tin!  Điều bà mong muốn sẽ được trao ban cho bà.”

 Thật đẹp biết bao nếu Chúa Giêsu cũng nói như thế về anh chị em.

 Ðiều này gợi lên một vấn nạn: Tại sao một số người có đức tin mạnh mẽ trong khi số khác đức tin lại yếu kém?  Tại sao lại thấy đó là điều khó khăn?  Và điều đó dẫn đến một vấn nạn còn khó khăn hơn: Nếu đức tin của chúng ta yếu kém thì liệu chúng ta có thể làm gì để củng cố?  Chúng ta hãy xét vắn tắt từng vấn nạn nêu trên.

 Trước hết, tại sao có những người đức tin yếu kém và có những người đức tin mạnh mẽ?  Ðiều này cũng giống hệt như việc hỏi tại sao có người yếu nhược còn có người lại khỏe mạnh?

 Một số người có sức khỏe yếu kém là do cha mẹ họ.  Họ thừa hưởng một thân xác eo sèo.  Nhưng cũng có những người sức khỏe yếu kém vì họ chẳng biết chăm sóc sức khỏe cho chính mình.

 Ðiều đúng cho sức khỏe thể lý thế nào thì cũng đúng cho sức khỏe tâm linh đức tin của chúng ta như thế.  Một số người có đức tin yếu kém là do cha mẹ họ.  Sức khỏe tâm linh được di truyền cũng tương tự như sức khỏe thể lý.  Nếu bố mẹ lạnh nhạt với đức tin của mình thì điều này cũng thường tác động lên đám con cái họ.  Mặt khác, đức tin của chúng ta yếu kém cũng có thể là do chúng ta không chăm sóc nó.

 Ðiều này dẫn chúng ta đến vấn nạn thứ hai.  Nếu đức tin chúng ta yếu kém bất kể vì lý do gì, chúng ta có thể làm gì để củng cố nó lại?  Ðức tin có thể được so sánh với một bắp thịt.  Nếu chúng ta không chịu luyện tập, bắp thịt ấy sẽ từ từ yếu đi.  Mặt khác, các bạn càng luyện tập, bắp thịt ấy càng mạnh mẽ lên.  Đức tin của chúng ta tương tự như thế.  Nó cũng cần phải được tập luyện.

 Có nhiều phương cách luyện tập đức tin.  Chúng ta có thể học hỏi và bàn luận về Phúc Âm như hiện chúng ta đang làm.  Chúng ta có thể tham dự thánh lễ mà ít phút nữa chúng ta sẽ cử hành một cách chăm chú hơn.  Chúng ta có thể tập cầu nguyện mỗi ngày để việc cầu nguyện trở thành thói quen.

 Tuy nhiên, còn một phương cách luyện tập đức tin chúng ta xem ra cực kỳ hữu hiệu.  Cách này đáng được lưu tâm đặc biệt.  Dostoevski có bàn đến nó trong tác phẩm của ông nhan đề: “Anh em nhà Karamazốp” (The Brothers Karamazov).  Trong tác phẩm này, tác giả đề cập đến một bà lão nọ.  Sức khoẻ thiêng liêng của bà đã suy thoái mau chóng theo sức khỏe thể lý.  Ngày nọ bà ta bàn luận vấn đề của mình với vị linh mục già tên là Zossima.  Bà kể cho cha nghe về đức tin yếu kém của bà và những nỗi ngờ vực vừa phát sinh, chẳng hạn như: Thiên Chúa có thực sự quan tâm đến vạn vật không?  Có đời sống sau lúc chết không? 

Linh mục Zossima thông cảm lắng nghe bà và nói: “Chẳng có cách nào minh chứng rõ ràng những điều này, nhưng bà vẫn có thể tin tưởng những điều ấy vững chắc hơn.”  Bà ta ngạc nhiên: “Bằng cách nào?”  Vị linh mục già đáp: “Bằng tình yêu.  Hãy cố gắng yêu láng giềng của bà thật tình.  Càng yêu thương, bà sẽ càng chắc chắn hơn về sự hiện hữu của Chúa và đời sống tương lai sau khi chết.  Càng yêu mến, đức tin bà sẽ càng lớn lên và các nỗi ngờ vực sẽ tiêu tan.  Ðây là điều chắc chắn từng được thử nghiệm và nó đã có kết quả.”

 Linh mục Zossima nói thật chí lý.  Người cho ta thấy điểm quan trọng là: tình yêu và đức tin đi đôi với nhau không khác gì hai đường rầy xe lửa.  Tìm được cái này tức là tìm thấy cái kia.  Ðức tin và tình yêu liên kết với nhau như xác với hồn.  Albert Schweitzer, vị bác sĩ thừa sai vĩ đại, cũng có cùng quan điểm như trên trong cuốn sách của ông có nhan đề Reverence For Life (Kính trọng cuộc sống).  Ông bàn đến một vài điều đem lại kết quả này như sau:

 “Bạn có muốn tin vào Chúa Giêsu không?  Bạn có thực sự muốn tin Người không?  Như thế bạn phải làm một điều gì đó cho Người.  Trong thời buổi đầy ngờ vực này thì không có cách nào khác đâu.  Nếu vì Người mà các bạn cho kẻ khác cái gì đó để ăn, để uống hoặc để mặc, những nghĩa cử này Chúa Giêsu đã hứa chúc phúc như là làm cho chính Người, thì lúc đó các bạn sẽ thấy rằng mình đã thực sự làm điều ấy cho Người.  Chúa Giêsu sẽ mặc khải chính Người cho các bạn như thể Người vẫn còn sống.”

 Và điều này dẫn chúng ta trở lại với người phụ nữ trong bài Phúc Âm.  Bà đến với Chúa Giêsu là vì kẻ khác, chớ không vì chính bà, Bà đã đến vì tình yêu, đã đến với tư cách một người mẹ đầy lòng yêu thương, tin tưởng.

 Tôi xin nêu lên một gợi ý.  Tôi tin rằng mỗi bài Phúc Âm khi được đọc trong thánh lễ đều mang theo một ân sủng đặc biệt.  Nếu các bạn là một bậc cha mẹ cảm thấy cần củng cố đức tin của mình, thì hãy bắt chước người phụ nữ trên.  Ngay tuần này, các bạn hãy bắt đầu đến với Chúa Giêsu mỗi ngày đều đặn để kêu cầu Người chúc phúc cho con cái các bạn.  Nếu các bạn là một thanh niên cảm thấy cần củng cố đức tin của mình thì hãy làm điều Dostoevski và Schweitzer đã nói.  Hãy bắt đầu cư xử một cách yêu thương đối với bố mẹ và anh chị em của mình.

 Và tôi xin chia sẻ thêm một tư tưởng nữa về vấn đề đức tin.  Bất cứ ai dù khỏe mạnh đến đâu cũng phải trải qua những khó chịu bởi vì cuộc sống con người vốn là như thế.  Chẳng hạn, vào ngày buồn sầu trong cuộc sống khi gặp phải cảm nghiệm chua chát, chúng ta thường gây gỗ với mọi người và mọi vật, chúng ta nguyền rủa kẻ thù và than phiền về bạn bè của mình.  Còn vào ngày hưng phấn trong cuộc sống.  Khi chúng ta cảm nghiệm được điều gì hoan hỉ, tự dưng chúng ta cảm thấy yêu mến mọi người và mọi sự.  Chúng ta tha thứ cho kẻ thù và thích tỏ tình thân thiện với bè bạn.

 Ðức tin cũng rất giống như thế.  Có ngày rất tươi sáng và rất phấn khích, có ngày ảm đạm, sầu thảm.  Khi gặp phải một ngày “tồi tệ” của đức tin, các bạn hãy ghi nhớ câu chuyện có thực sau đây.  Nó sẽ giúp bạn chịu đựng ngày ấy và giữ vững niềm tin của mình.

 Sau thế chiến thứ hai ít lâu, có một số công nhân lo dọn dẹp sạch sẽ tàn tích của một ngôi nhà bị bom ở Cologne (nước Ðức).  Họ thấy trên một bức tường nhỏ trong nhà, có một bản ghi chú đầy cảm động, hình như một người Do Thái trên đường trốn bọn Quốc Xã đã viết lên đó.  Anh ta dùng tầng hầm của căn nhà để trốn bọn Quốc Xã.  Sau đây là bản ghi chú đó:

 Tôi tin vào mặt trời ngay cả lúc nó không chiếu sáng.
Tôi tin vào tình yêu ngay cả lúc tôi không cảm thấy nó.
Tôi tin vào Thiên Chúa ngay cả khi Người yên lặng”…

 Lm. Mark Link, S.J.

  From: Langthangchieutim

BỆNH VIỆN VÀ NGHĨA TRANG

Xuyên Sơn

BỆNH VIỆN VÀ NGHĨA TRANG

Chị thì thầm vào tai anh:

“Còn mấy hôm nữa là rằm tháng Giêng chắc mình phải về nhà chứ.”

Anh kéo chiếc mền mỏng lên ngang ngực, chiếc mền ngắn quá, lòi cả nửa ống chân ra ngoài. Anh nhìn chung quanh một vòng, ngượng ngùng co chân lại.

“Về sao được em, phải chờ chứ, còn nước còn tát, mấy hôm nay thằng bé cũng thấy khá hơn một chút.”

Hai vợ chồng đang nằm ngủ ngay trước cửa Bệnh Viện Ung Thư, con trai họ 12 tuổi kiếm được một chỗ nằm chung một giường với một đứa trẻ khác bên trong, (sau khi anh chị đưa cho y tá trực ở đó hai lần hai cái phong bì.)

Dưới gầm giường thì có bố mẹ của đứa bé kia rồi, không còn chỗ cho anh chị nữa.

Họ lên đây từ trước Tết, đợi mãi mới tới phiên con được khám.

Trong khi chờ thì cứ ngồi, nằm, ngay ở hành lang bệnh viện.

Anh chị không phải là cặp vợ chồng duy nhất ngủ ở ngoài này.

Số người chờ khám cho thân nhân hay chờ khám cho chính mình nhiều hơn số giường của bệnh viện có, nên người chờ đợi, ăn, ngủ, tràn lan ra tới hành lang.

Trời mưa lụt, nước tràn ngập cả trong phòng đợi, người ngồi, kẻ nằm trên những chiếc ghế nhựa trông thật thảm thương.

Ngày khô thì chiếu trải la liệt dưới đất.

Anh chị từ Hòa Bình mang con về Hà Nội chạy chữa, thằng bé 12 tuổi đang đi học bỗng ngã bệnh, chữa mãi Bác Sĩ tỉnh nhà không khỏi, thử máu, chụp hình mới biết là bị ung thư màng óc.

Chị lại thì thầm:

“Tết mình đã không có mặt ở nhà để cúng ông bà, thì Rằm cũng phải về cúng Phật chứ anh. Hay em ở lại với con, anh về mấy hôm đi.”

“Anh về cũng chẳng an tâm được.

Mấy hôm ngủ ngoài sương thấy em đã bắt đầu ho.Thôi, Trời Phật cũng thông cảm cho mình.”

Chị im lặng một lúc, lại ngập ngừng nói:

“Thôi anh cứ yên tâm về đi, còn bà nội thằng Tí ở nhà nữa, anh về đi kẻo mẹ trông, em biết là mẹ mong anh về lắm.”

Người chồng ngồi hẳn dậy, co hai chân lên vòng tay ôm qua đầu gối, thở dài.

“Ừ, chắc anh nên về, em nói đúng, bà nội thằng Tí đang mong tin lắm. Anh đã chia tiền ra từng gói nhỏ để em tiện chi tiêu. Tiền trả cho Bệnh Viện chữa trị, tiền đưa bác sĩ thì anh để riêng, tiền đưa y tá, tiền lao công anh cũng để riêng.”

Người vợ ngồi hẳn dậy, quấn lại cái chăn cho gọn, thu xếp mấy cái túi đựng cả một gia đình lưu động của mình.

Chị nhìn chung quanh một vùng bao quát, trong ánh nắng sớm mai yên tĩnh mọi người chưa thức dậy hết.

Họ nằm ngang, nằm dọc, hay xoay chân ngược chiều nhau.

Những bàn chân gầy gò, và những cái đầu xơ xác tóc, họ đang ngủ hay đã thức rồi mà vẫn còn nằm im lo lắng bất an.

Mặt trời sẽ lên, thêm một ngày chờ đợi, đến bao giờ mới tới phiên mình, hay phiên của người thân mình.

Số tiền mang trong túi, cài hai ba cái kim cho chặt, liệu có đủ trả tiền chạy chữa, tiền thuốc và tiền phong bì không?

Nói đến phong bì chị bỗng nhớ, hỏi anh:

“Tiền anh lo đủ rồi nhưng anh quên chưa mua phong bì cho em. Đưa thẳng tiền mặt ra ai đứng gần cũng nhìn thấy, không tiện đâu.”

Anh ngẩn người ra, ừ nhỉ mấy hôm nay bận quá, cứ lo chỗ ăn chỗ ngủ cho con bên trong bệnh viện, cho hai vợ chồng ngoài hành lang, anh quên hẳn việc phải mua sẵn một lố phong bì.

Anh nhìn trước nhìn sau thấy một xấp báo còn mới, ai đó vứt sang chỗ anh chị nằm.

Anh nhặt lên nói với chị:

“Báo còn mới, em cứ lấy con dao, rọc vuông vức rồi gói tiền vào đó cũng được. Nhưng phải nhớ để riêng vào túi trong, túi ngoài, kẻo nhầm của người này lại đưa cho người kia.”

Chị cười nhẹ:

“Anh đừng lo, tiền thì em cẩn thận lắm.”

Chị đón xấp báo còn mới trong tay anh, báo trong tay thì dĩ nhiên là chữ trước mắt, chị đọc qua một chút trước khi đi tìm dao rọc.

Sau mấy phút chị ngẩn người ra, để rơi tờ báo xuống lòng.

Anh thấy lạ hỏi:

“Tin gì vậy em?”

Chị không nói, đưa tờ báo cho anh.

Báo chí trong nước cho hay, chính quyền thành phố Hà Nội hôm 1/2 công bố quy hoạch được thủ tướng phê duyệt về xây nghĩa trang “phục vụ nhu cầu an táng cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước; các anh hùng, danh nhân của đất nước”.

Tin cho hay, nghĩa trang Yên Trung nằm dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội 40 cây số về phía Tây, giáp Vườn Quốc Gia Ba Vì; phía Đông giáp đồi núi và đường cao tốc Hòa Lạc-Hòa Bình; phía Nam giáp đồi núi và khu dân cư.

Tổng diện tích nghĩa trang là 120 hécta, gồm khu an táng 72 hécta, với 2,200 – 2,500 ngôi mộ, mỗi ngôi mộ có khuôn viên 25-35 mét vuông và khu đệm cây xanh cảnh quan trên 47 hécta, có sức chứa 5,000 người.

Nguồn vốn dự kiến hơn 1,430 tỷ đồng (hơn $63 triệu) sẽ lấy từ ngân sách nhà nước.

Thời gian thực hiện dự án khoảng 36 tháng.

Anh đọc tiếp ở một trang khác:

Vẫn theo các báo, với tổng diện tích 120 hectare, tương đương một phường lớn ở nội thành Hà Nội, dự án có vị trí ở huyện Thạch Thất, dưới chân núi Ba Vì, cách trung tâm Hà Nội 40 kilomet về phía tây.

Thông tin từ bản quy hoạch cho thấy sẽ có 105 hộ dân phải di dời để nhường chỗ cho dự án.

Anh đọc xong nhìn sang chị, thấy chị vẫn thẫn thờ nhìn mông lung ra một nơi xa lắc xa lơ nào đó.

Anh hỏi:

“Sao vậy em, nhà nước xây nghĩa trang thì dính dáng gì tới mình mà em buồn quá vậy?”

Chị quay lại nhìn chồng, hai mắt mở to:

“Sao mấy ông lớn không nghĩ đến việc xây thêm mấy cái bệnh viện cho người đau ốm, xây thêm trường học cho trẻ em? Họ bỏ ra tới 1,400 tỷ đồng để lo “chôn “ những người chưa chết.

Rồi lại thêm 105 gia đình phải mất nhà mất cửa cho họ thêm chỗ.

Anh nhìn đi, cả bao nhiêu năm nay bệnh nhân cũng như người thân của bệnh nhân nằm màn trời chiếu đất trước cửa bệnh viện. Trẻ con nghèo không đủ cơm đã đành ngay cả trường lớp cũng thiếu thốn…

Có ông lớn nào quan tâm tới không?”

Anh nhìn vợ với cặp mắt thương hại, nói nhỏ:

“Thế bây giờ em định làm gì, em cầm biển ngữ đi biểu tình đòi nhà nước xây bệnh viện, trường học thay vì xây nghĩa trang cho các ông lớn hả. Em có muốn vào tù vì tội chống phá nhà nước, trong khi con em đang bị ung thư không?”

Chị nhìn anh một lúc, không trả lời.

Hai con mắt chị ánh lên một nét giận dữ, chị mở tung những cái giỏ ra tìm con dao, chị nín thở rọc tờ báo ra từng miếng nhỏ để làm những cái phong bì, chị dằn mạnh từng nhát dao đi qua những hàng chữ:

“nghĩa trang, “phục vụ nhu cầu an táng cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước”

“Nguồn vốn dự kiến hơn 1,430 tỷ đồng (hơn $63 triệu) sẽ lấy từ ngân sách nhà nước.”

“105 hộ dân phải di dời để nhường chỗ cho dự án.”

Chị cắt ngang, cắt dọc tờ báo tưởng như cắt đứt được những dự án làm chị uất ức.

Chị cắt được hơn mười cái phong bì, chia ra bốn túi khác nhau, cho bác sĩ,

y tá và lao công.

Chị biết, muốn cứu con chị thì không thể nào tránh né được cái khoản chi trả thêm này.

Chị nhìn anh đang thu xếp về nhà với mẹ để kịp cúng Rằm.

Thật ra chị biết, cúng Rằm chỉ là phụ, việc chính là anh về nhà chạy thêm tiền, số tiền anh chị đem theo được so với số tiền sẽ phải dùng tới cách xa nhau nhiều quá.

Nghĩ đến những món nợ sẽ phải trả, chị thấy như có một khối đá đè lên ngực.

Hai con mắt chị vẫn còn ánh lên những tia giận dữ, cái giận dữ của một người hoàn toàn bất lực trước một việc xấu mà sức mình không làm gì được.

Một khu nghĩa trang 5000 huyệt mộ. Quan chức cao cấp Đảng ở đâu mà nhiều thế?

Chắc chắn các đại gia sẽ có phần mộ ở đây.. Có khi cả ca sĩ nổi tiếng có tiền cũng dọn vào.

Chưa chắc các danh nhân và anh hùng tử sĩ đã có chỗ, vì phần đông gia đình họ nghèo và họ đã tắt tiếng nói (may ra có một tấm bia chung).

Chị kêu thầm trong ngực.

Nước mắt chị ứa ra.

Có ai trả lời cho chị không?

S.T.


 

Vance: Hạ giá dầu giờ là “mục tiêu số một” của cuộc chiến Iran

Ba’o Nguoi-Viet

August 14, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Phó Tổng Thống JD Vance nói trong cuộc phỏng vấn mới nhất với Fox News rằng mục tiêu số một hiện nay của Mỹ trong cuộc chiến Iran là giữ giá dầu và xăng thấp cho người Mỹ, mục tiêu thứ hai là bảo đảm Iran không có vũ khí hạt nhân, NBC News loan tin hôm Thứ Sáu, 14 Tháng Tám. 

Phát biểu này dường như hạ thấp kỳ vọng rằng eo biển Hormuz trở lại tình trạng trước chiến tranh. Ông Vance chỉ nói cần đưa eo biển trở lại trạng thái mà giá dầu và khí đốt ổn định, thay vì nhấn mạnh phải hoàn toàn mở và không thu phí như trước đây. 

Phó Tổng Thống JD Vance lên tiếng tại lễ tưởng niệm cố Thượng Nghị Sĩ Lindsey Graham hôm 28 Tháng Bảy. (Hình: Win McNamee/Getty Images)

Chính quyền Trump đồng thời chuẩn bị gia tăng áp lực kinh tế lên Iran. Bộ Trưởng Tài Chính Scott Bessent nói tuần tới Mỹ đưa ra những biện pháp cô lập kinh tế ở mức chưa từng thấy. 

Còn Bộ Trưởng Quốc Phòng Pete Hegseth nói Hải Quân Mỹ có thể duy trì phong tỏa các cảng Iran vô thời hạn, bằng cách luân chuyển tàu chiến. 

Chính sách gây áp lực mới tạo ra một nghịch lý rằng ngay sau khi Mỹ đe dọa phong tỏa Iran vô thời hạn, giá dầu tăng trở lại. Giá dầu Brent lên tới khoảng $88.50/thùng và WTI khoảng $82.81 trong phiên giao dịch sáng 14 Tháng Tám. 

Hiện tại, Iran vẫn sử dụng eo biển Hormuz như đòn bẩy thương lượng và đòi Mỹ dỡ trừng phạt, giải toả tài sản Iran bị đóng băng trước khi cho giao thông hàng hải trở lại bình thường. 

Tổng Thống Donald Trump đưa nước Mỹ vào cuộc chiến Iran ngày 28 Tháng Hai với lý do chủ chốt ban đầu được đưa ra là thay đổi chế độ. Nhưng khi không có bất kỳ cuộc cách mạng lật đổ chính quyền dù lãnh đạo tối cao của Iran bị giết chết trong các cuộc không kích, mục tiêu “chủ chốt” chuyển sang Iran không thể có vũ khí hạt nhân.

Hiện tại sau gần sáu tháng, Phó Tổng Thống JD Vance lại nói mục tiêu “số một” là giữ giá dầu và xăng thấp, còn vấn đề hạt nhân xuống hàng thứ hai.

Cuộc chiến Iran vì vậy đang có một dấu hiệu quen thuộc của những cuộc chiến mất phương hướng đó là mục tiêu thay đổi theo những hậu quả từ chính cuộc chiến tạo ra. (MPL)