TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC HẠNH PHÚC ..! Truyen ngan HAY

Chi NguyenNhững Câu Chuyện Thú Vị

– Nếu mày không bỏ thằng đó thì bước ra khỏi nhà ngay

– Con xin bố mẹ,bố mẹ bắt con gì cũng được nhưng đừng chia lìa chúng con,con yêu anh ấy

– Thằng nghèo kiết xác này liệu có nuôi nổi mày không? Mày quen sống trong nhung lụa rồi làm sao mà chịu khổ theo nó được?

– Bây giờ anh ấy nghèo nhưng không có nghĩa là cả đời anh ấy nghèo,rồi sẽ có ngày anh ấy có được 1 sự nghiệp rực rỡ,con tin vào năng lực của anh ấy

– Thế thì mày xách đồ theo nó luôn đi!

– Bố,mẹ!

– Xem như tao không có đứa con gái như mày

Cô lững thững xách va li ra khỏi nhà,đưa ánh mắt van nài nhìn bố mẹ lần cuối nhưng đáp lại ánh mắt của cô là sự lạnh lùng đến đáng sợ. Bố mẹ cô là vậy,họ đã nói là làm,họ không chấp nhận 1 chàng rể nghèo. Họ đã cố tình gán ghép cô với những anh chàng giàu có lắm tiền nhưng cô không yêu ai trong số họ.

Cô yêu anh,yêu từ cái tính thật thà chất phác tới sự chăm chỉ cần cù không biết ngại khổ. Nhưng bố mẹ cô không cần những điều đó,với họ,chàng rể môn đăng hộ đối mới là nhất. Cô cắn chặt môi nhìn căn nhà mình sinh ra và lớn lên cùng bố mẹ lần cuối rồi cùng anh bước đi.

Anh ở trong 1 khu trọ khá xa trung tâm thành phố. Đó là 1 phòng trọ nhỏ,tính ra còn chẳng to bằng phòng ăn nhà cô,nhưng có điều rất gọn gàng và ngăn nắp. Cô đặt va li xuống rồi xắn tay vào sắp xếp đồ đạc.

Ngày hôm sau,cô và anh rong ruổi trên chiếc xe máy cũ của anh. Cô cần tìm cho mình 1 công việc. Trước giờ cô chỉ lo ăn học,học đại học xong thì phụ giúp cho công ty của bố. Bây giờ,cô cần đi làm để cùng anh lo cho cuộc sống của cả 2.

Cô được nhận vào làm ở 1 shop thời trang. Sáng sáng,cô và anh dậy sớm,ăn sáng rồi anh đưa cô đi làm sau đó tới công ty. Chiều tan làm,anh đón cô rồi về nhà cùng nấu nướng ăn tối. Vốn sinh ra và lớn lên trong gia đình giàu có nên mới đầu cô hơi khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống mới,bố mẹ cô thi thoảng vẫn hay điện thoại kêu cô trở về nhưng cô cương quyết ở lại bên anh. Cô hạnh phúc khi ở bên anh,cuộc sống tuy vất vả nhưng luôn tràn ngập tiếng cười,niềm vui và hạnh phúc.

Anh luôn làm việc hết sức mình và không ngừng cố gắng,anh luôn muốn kiếm thật nhiều tiền để cô được sống trong sung sướng như trước kia. Dần dần,anh được cất nhắc lên những vị trí cao hơn,việc làm ăn liên tục phất lên như diều gặp gió. Sau 3 năm,anh tự mở cho mình 1 công ty và mua nhà ở trung tâm thành phố để sinh sống.

Anh không cho cô đi làm nữa,để cô ở nhà chăm lo cho gia đình và dành thời gian nghỉ ngơi thư giãn.

Thế nhưng,từ ngày có công ti riêng,anh bận rộn hơn rất nhiều,cả ngày có khi không về nhà cùng vợ ăn 1 bữa cơm. Anh liên tục nhận điện thoại và đi khỏi nhà bất cứ lúc nào. Anh đi sớm về khuya,thường xuyên về nhà trong trạng thái say xỉn. Anh quên ngày sinh nhật của vợ,quên ngày kỉ niệm của cả 2,dần dần cô có cảm giác căn nhà như cái nhà trọ để anh trú chân lúc nhát,còn nhà thật sự của anh có lẽ là công ty ,là nhà hàng,là khách sạn,là quán cà phê,là bàn nhậu,bàn tiếp khách… anh có mặt ở những chỗ đó nhiều hơn có mặt ở nhà. Căn nhà lúc nào cũng chỉ có 1 mình cô đi ra đi vào sớm trưa chiều tối. Cô nói với anh rằng cô rất cô đơn,cô muốn anh bớt công việc lại để dành thời gian cho cô,nhưng lúc nào anh cũng nói : “Anh muốn em có cuộc sống sung túc đầy đủ,anh không muốn em phải khổ,mà muốn vậy thì phải có tiền chứ,anh đi kiếm tiền chứ có làm gì có lỗi với em đâu”.

Ngày hôm đó là sinh nhật cô,anh hứa về sớm cùng cô ăn tối. Cô đợi anh,8h,9h,rồi 1h,2h,gọi điện thoại thì anh không nhắc máy,nhắn tin không trả lời. Tới 3h,anh trở về trong men say nồng nặc. Mở cửa cho anh vào,nước mắt cô chảy dài,bao kìm nén bỗng chốc vỡ òa:

– Anh đã hứa sẽ về sớm ăn tối với em kia mà? Đã bao lâu rồi mình không cùng ăn với nhau 1 bữa cơm anh biết không? Anh có biết em đã kì công chuẩn bị bao nhiêu món anh thích và chờ anh bao lâu không?

– Anh xin lỗi,có 1 bản hợp đồng đáng giá mấy tỉ cần ký gấp,sau đó anh cùng đối tác đi ăn

– Sao anh không nghe điện thoại?

– Điện thoại?…. Thôi chết anh đưa cho thư kí cầm rồi,anh có dặn trong lúc anh bàn chuyện với khách thì để chế độ im lặng

– Mấy bản hợp đồng đó quan trọng thế cơ à? Chậm 1 buổi tối thì sao chứ? Nó quan trọng hơn em nhiều phải không? – cô nói trong nước mắt

– Anh xin lỗi em,nhưng em nghĩ mà xem,bỏ lỡ bản hợp đồng đó anh sẽ mất mấy tỉ đó

– Tiền,tiền,lúc nào cũng tiền,bắt đầu từ bao giờ anh yêu tiền hơn vợ thế?

– Em nói gì lạ thế,anh yêu tiền hơn vợ lúc nào? Anh rất yêu em,nhưng tiền rất quan trọng,không có tiền làm sao có nhà sang cho em ở,xe đẹp cho em đi,quần áo trang sức hàng hiệu cho em?

– Em không cần,không cần những thứ đó,em thà thuê cái nhà trọ nhỏ xíu để ở,đi làm cực nhọc từ sáng tới tối như trước kia nhưng hàng ngày được cùng anh ăn cơm với nhau,được anh đưa đi đón về,được cùng anh trò chuyện mỗi tối

– Anh không muốn em khổ như thế,anh muốn em sống trong sung túc như trước kia khi em còn ở với gia đình em

– Như thế em thấy rất vui,rất hạnh phúc chứ không hề khổ.Em bỏ nhà đi,cãi lại lời bố mẹ mà theo anh không phải vì mong muốn 1 ngày nào đó anh sẽ cho em cuộc sống như bố mẹ em cho em mà là vì em yêu anh và muốn cùng anh sống hạnh phúc,tiền không mua được hạnh phúc anh hiểu không?

Trút hết bao bức bối trong lòng,cô lao ra khỏi nhà với khuôn mặt ướt đẫm nước mắt,nhưng vừa ra khỏi cửa được vài bước chân bỗng chốc cô ngã quỵ xuống,ngất lịm. Nghe tiếng “uỵch” như thể có gì rớt xuống,anh vội chạy ra ngoài xem. Anh như tỉnh hết men say khi thấy cô nằm bất động dưới sàn,mặt tái xanh,tay chân lạnh ngắt. Anh vội đưa cô tới bệnh viện,cô nằm trong phòng cấp cứu suốt 3 tiếng đồng hồ bác sĩ mới hớt hải chạy ra. Anh vội níu tay bác sĩ lại hỏi:

– Bác sĩ,vợ tôi thế nào rồi?

– Anh làm chồng cái kiểu gì mà để bệnh tình của vợ ra tới nông nỗi này? Suy hô hấp nặng,đang rất nguy kịch

Nói rồi bác sĩ lại chạy vụt đi. Anh như chết lặng,vợ anh bị suy hô hấp ư? Lại còn nặng nữa? Cô bị bệnh này từ bao giờ anh hoàn toàn không hề hay biết. Lâu nay quá mải mê với ông việc mà anh đã không quan tâm tới sức khỏe của vợ mình mất rồi…

Vị bác sĩ trở lại cùng 3 4 vị bác sĩ nữa,ai nấy đều hớt hải,bất giác anh thấy sợ. Cảm giác tội lỗi lấn át tâm trí anh,hình như đã quá lâu rồi anh không còn đưa cô đi khám sức khỏe định kì,đi sớm về khuya anh cũng chẳng biết cô khỏe hay đang đau ốm,cũng lâu lắm rồi anh và cô không cùng ngồi trò chuyện,cùng ngồi ăn chung 1 bữa cơm. Đã quá lâu rồi anh để tiền thay mình lo cho vợ. Anh ôm đầu tự dằn vặt mình,anh chỉ mong vợ mình không sao,để anh có cơ hội bù đắp cho cô.

Thêm 3 tiếng nữa,các vị bác sĩ trở ra,nhưng ai nấy đều mặt buồn rười rượi. Anh chạy tới bên chỗ các bác sĩ nhưng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Anh lao vào phòng cấp cứu,cô nằm bất động,ống thở đã rút,máy điện tâm đồ hiện lên chỉ là 1 đường ngang lạnh lùng. Anh chạy tới nắm lấy bàn tay cô,lạnh ngắt như đá,khuôn mặt cô trắng nhợt,anh quỳ xuống bên cô mà khóc,là tại anh,tại anh không chăm sóc lo lắng cho cô để rồi chính anh trao tay vợ mình cho thần chết. Nếu như căn bệnh của cô được phát hiện và điều trị sớm thì cô sẽ không chết,chắc chắn thế,thế nhưng anh đã để cô chịu đựng quá nhiều,cả căn bệnh quái ác kia và cả những uất ức buồn tủi do anh mang lại. Quá muộn rồi,anh chẳng thể chuộc lại lỗi lầm được nữa.

Ngày hôm nay mưa phùn nhẹ,mây đen phủ đầy trời,anh đứng lặng nhìn trân trân vào tấm di hình của vợ trên tấm bia đá xám ngắt. Tim anh se lại,chắc có lẽ cả quãng đời còn lại anh sẽ chẳng thể thoát khỏi dằn vặt và đau thương.

Thế đấy,tiền không phải là tất cả,nó là 1 phần không thể thiếu của cuộc sống nhưng chẳng thể mang lại hạnh phúc toàn vẹn. Hạnh phúc thật sự phải do con người tự tay tạo nên bằng tình yêu và trái tim cũng ngập tràn yêu thương. Đừng để tiền làm bạn quên đi những giá trị đích thực của cuộc sống và rồi có ngày phải thấy hối tiếc.!

TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC HẠNH PHÚC ..!

Bài & ảnh sưu tầm


 

“TÔI TỪNG LÀ MỘT BÁC SĨ”.- Truyen ngan HAY

Cang Huynh

“TÔI TỪNG LÀ MỘT BÁC SĨ”.

Bác sĩ Álvaro Salguero nổi tiếng khắp San José, Costa Rica. Là một bác sĩ phẫu thuật danh tiếng, ông lái xe sang trọng, đeo đồng hồ đắt tiền và có trí thông minh sắc sảo. Ông giúp đỡ nhiều người, nhưng không quên thể hiện rõ ai mới là người nắm quyền. Một buổi chiều nọ, khi đang rời khỏi bệnh viện tư nhân nơi ông làm việc, ông gặp một người đàn ông bẩn thỉu, chân trần và lưng còng ngồi trên vỉa hè.

“Thưa ông,” người ăn xin nói, “ông có thể cho tôi chút gì ăn được không?”

Álvaro nhìn ông ta với vẻ khinh bỉ, không hề chậm lại.

“Kiếm việc làm đi, như mọi người khác.”

“Tôi bị ốm,” người đàn ông thì thầm đáp. “Tôi bị sốt mấy ngày rồi và hầu như không đi nổi.”

Vị bác sĩ im lặng vài giây.

“Đó không phải vấn đề của tôi. Đến Caja, bệnh viện công đi.”

Và ông bỏ đi.

Nhưng đêm đó, có điều gì đó làm ông băn khoăn. Ông mơ thấy mình nằm trên đường, đói khát, và mọi người cứ thế đi ngang qua mà không hề liếc nhìn.

Sáng hôm sau, anh quyết định mang cho người đàn ông một túi thức ăn. Không phải vì lòng tốt, mà để xoa dịu cảm giác tội lỗi của mình.

“Đây,” anh nói mà không nhìn người ăn xin. “Tôi không có thói quen làm điều này, nhưng…”

Người ăn xin run rẩy nhận lấy túi thức ăn và mỉm cười.

“Cảm ơn bác sĩ. Mong cuộc sống sẽ đền đáp bác sĩ gấp bội.”

“Làm sao anh biết tôi là bác sĩ?”

“Qua cách anh đi. Những người nghĩ mình là cứu tinh của thế giới luôn đi như vậy, đầu ngẩng cao hơn cả trái tim.”

Álvaro cảm thấy nhói lòng.

“Và anh biết gì về chuyện đó?”

“Đủ rồi. Tôi cũng từng là bác sĩ. Bác sĩ nội khoa. Tôi mất tất cả sau một bi kịch mà tôi không muốn nhớ lại. Đôi khi bạn nghĩ bằng cấp của mình là áo giáp. Nhưng hóa ra nó chỉ là một lớp ngụy trang mà cuộc sống có thể xé toạc chỉ trong một đêm tồi tệ.”

Lần đầu tiên, vị bác sĩ nhìn anh chăm chú. Khuôn mặt ông, dù hằn sâu những nếp nhăn, vẫn toát lên vẻ thông minh, kiên định.

“Ông từng là bác sĩ mà cuối cùng lại lang thang trên đường phố?”

“Vâng. Không phải lúc nào cũng chỉ dựa vào trí thông minh hay nỗ lực. Đôi khi, cuộc sống có những kế hoạch mà mình không hiểu. Điều đó đã xảy ra với tôi. Ngày mai nó cũng có thể xảy ra với anh. Và khi điều đó xảy ra, anh sẽ nhận ra rằng người ta không đánh giá anh dựa trên những gì anh biết, mà dựa trên những gì anh khoác lên mình khi tất cả những chiếc mặt nạ rơi xuống.”

Álvaro không nói gì. Anh để lại chiếc túi và bỏ đi.

Nhiều ngày trôi qua. Mỗi buổi chiều, anh đều mang thức ăn cho ông, đôi khi là quần áo. Họ bắt đầu nói chuyện nhiều hơn. Người ăn xin—tên là Rogelio—chia sẻ những câu chuyện y khoa mà chỉ một bác sĩ thực thụ mới biết.

Một ngày nọ, Rogelio không còn ở bên cạnh anh nữa.

Khi anh hỏi thăm xung quanh khu vực, một người bán trái cây nói với anh:

“Họ đưa ông ấy đi bằng xe cứu thương. Ông ấy bị nhiễm trùng rất nặng. Ông ấy đang nằm viện.”

Álvaro đến thăm ông. Ông tìm thấy Rogelio một mình trong phòng chung, sốt cao và yếu ớt.

“Tôi không nghĩ anh sẽ đến,” Rogelio nói với một nụ cười.

“Anh đã dạy tôi nhiều điều trong vài tuần qua hơn nhiều đồng nghiệp của tôi đã dạy trong nhiều năm.”

“Anh đã học được gì?”

“Rằng phẩm giá không phải lúc nào cũng đến từ chiếc áo khoác trắng. Rằng lòng bác ái thực sự không được ban phát từ trên cao. Và đôi khi, những người có ít nhất lại cho đi nhiều nhất.”

“Vậy thì tôi đã không lãng phí thời gian trên vỉa hè này,” Rogelio nói, nhắm mắt lại với một vẻ bình tĩnh kỳ lạ. “Dù sao thì tôi cũng đã đào tạo được một học trò cuối cùng.”

Rogelio qua đời vài ngày sau đó.

Álvaro đã lo liệu tang lễ cho ông. Và trên bia mộ của ông, ông đã khắc một câu nói sẽ theo ông suốt phần đời còn lại:

“Người đã nuôi dưỡng tâm hồn của một bác sĩ.”

Từ đó trở đi, bất cứ khi nào có ai đó đến gần ông trên đường phố để xin điều gì đó, Álvaro không còn vội vã bước đi nữa. Ông nhớ rằng có một ngày, không mặc áo khoác phòng thí nghiệm hay có chức danh gì, ông chỉ là một người ăn xin.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie. 


 

NGƯỜI ĐẠP XÍCH LÔ – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

NGƯỜI ĐẠP XÍCH LÔ.

Mình nhớ năm 1983, mình đi xích lô từ bến xe về nhà, qua vài câu trao đổi và nhìn gương mặt của bác xích lô, mình dè dặt hỏi:

-“Dạ cho con hỏi bác có phải cải tạo về?”.

Bác ngạc nhiên:

-“Sao cô biết”.

Mình trả lời:

-“Dạ tại con thấy bác giống ba con”.

Thật sự những ngày đó, người đi cải tạo về hầu như chọn chiếc xích lô hay xe đạp để làm kế sinh nhai. Nhìn họ, mình đều nhận ra điểm chung là nét nhẫn nhục, buồn buồn trên gương mặt và một điểm khiến họ khác với những người cùng hành nghề như mình là ăn nói nhỏ nhẹ và lịch sự ngay từ câu mời khách lên xe.

Còn có một điểm mà mình không thể diễn đạt nổi mà mình nghĩ đó là phong thái và cốt cách của người trí thức:

từ tốn, điềm tĩnh.

Họ cứ lẳng lặng đứng từ xa để ai đến hỏi thì đi chứ không bao giờ lao vào giành giật khách mỗi khi xe đến bến.

Khánh Đặng

ÔNG GIÀ ĐẠP XÍCH LÔ.

Đó là dịp tết năm 1995.

Lần đầu tiên tôi về thăm quê hương.

Người đàn ông đạp xích lô, gầy guộc và khắc khổ.

Nhìn ông già hơn tuổi.

Có lẽ cuộc sống đầy khó khăn, nên sự lo âu, buồn buồn, hiện rõ trên nét mặt của ông.

Lúc đó, cũng có dăm ba người mời tôi đi xe của họ.

Nhìn qua nhìn lại, tôi chọn đi xe của ông.

Tôi nghĩ, ông già yếu hơn mấy anh kia, nên có thể ông ít được khách mời ông đi.

Tôi muốn ông có thêm thu nhập, nên đồng ý lời mời của ông.

Hôm đó tôi bao xe đi nguyên ngày, đi vòng quanh Vũng Tàu,

ngắm lại phong cảnh quê hương, sau 5 năm xa cách.

Khi biết ý muốn của tôi, ông mừng vui lắm.

Nét mặt rạng rỡ hẵn ra.

Trước khi lên xe, tôi nghe mấy anh kia còn nói.

“Trúng mánh nhe ông già.

Gặp Việt kiều là ngon rồi.”

Ông đạp xe chở tôi đi.

Hai ông cháu nói chuyện rất thân thiện.

Qua câu chuyện, tôi biết ông đi tù cải tạo về.

Trãi qua bao tháng ngày cực khổ trong chốn lao tù, hình như sức lực của ông cũng hao mòn, yếu dần đi.

Cuộc sống vốn dĩ khó khăn, nay về nuôi thêm mẹ già,

nên càng khó khăn hơn. Khi biết tôi qua Mỹ theo diện HO, ông trầm ngâm:

– Bác giờ cũng đã già.

Với lại đang nuôi mẹ già.

Giờ bác đi cũng được.

Nhưng mẹ bác để cho ai coi đây.

Bao nhiêu năm đi tù xa cách mẹ già, giờ bỏ đi nữa thì mang tội bất hiếu.

Rồi bác nói không biết bây giờ qua Mỹ bác sẽ làm gì.

Bạn bè của bác đã đi gần hết.

Họ nói họ đi vì tương lai của con cháu. Chứ bác đâu còn gia đình gì đâu nữa mà đi.

Tôi hỏi bác vậy vợ con của bác đâu rồi. Bác im lặng một hồi.

Tôi quay lại, ngước mắt lên nhìn bác. Bác vẫn đạp xe, nhưng hình như bác buồn lắm.

Mắt bác đỏ hoe.

Như đoán được chuyện gì, tôi chỉ im lặng nhìn theo hướng phía trước.

Chừng 5 phút sau, bác mới nói được:

– Bác có 3 đứa con. Chúng nó đi vượt biên, khi bác còn ở trong tù.

– Giờ mấy anh chị đang ở nước nào hả bác.

Bác lại im lặng…một hồi…rồi nói tiếp.

– Chuyến đi đó mất tích luôn.

Không một ai có tin tức gì hết.

Tôi lặng điếng người.

Thật không ngờ, kiếp người sao khổ vậy trời.

Tôi cũng khổ nhiều, nhưng so với ông, nỗi khổ kia chẳng thấm vào đâu.

Lòng tôi cảm thấy thương bác nhiều hơn. Không biết là tình thương đồng loại, hay thương vì tội nghiệp cho những bất hạnh của ông.

– Vậy bác gái đâu rồi bác.

– Ngày xưa thời VNCH, một mình bác làm nuôi cả nhà.

Sau năm 1975 bác bị đi tù, bác gái phải tần tảo mà cũng không nuôi nổi mấy đứa con.

Rồi có người giúp đỡ…

Nói đến đó bác không nói nữa.

Tự nhiên tôi thấy mình hơi tàn nhẫn khi vô tình khơi lại vết thương đau của bác.

Bác chở tôi đi về từ theo đường bãi Dâu, bãi Dứa.

Con đường này, cách đây 20 năm, vẫn một bên là núi, một bên là vực sâu của biển.

Có đoạn lên dốc, có đoạn xuống dốc rất khó đi. Nhưng vì muốn tôi ngắm cảnh đẹp của đất trời, mênh mông của biển cả, bác chọn hướng đi này.

Những đoạn lên dốc, tôi nhảy xuống, vì sợ bác mệt đuối sức, nhưng ông nhất định không chịu.

Bác thấy chân tôi bị yếu đi cà quẹo, bác càng không để tôi bước xuống.

Chỗ nào bác đạp không nổi, bác nhảy xuống đẩy hay kéo xe.

Thật lòng những lúc đó, tôi cảm thấy khó chịu quá trời.

Thế rồi chuyện đời cũng lắm cái ngờ. Trong khi đang xuống dốc, chiếc xe chạy nhanh hơn, rồi nhanh hơn nữa, hơn nữa.

Tôi nghe bác hốt hoảng la lên.

– Chết rồi, thắng xe bị tuôn.

Xe càng chạy nhanh hơn.

Tôi quá sợ hãi.

Trong đầu lúc đó, tôi chỉ nghĩ mình sẽ bị lao xuống vực sâu.

Bác vội nhảy xuống, dùng hết sức lực kéo chiếc xe lại, nhưng chiếc xe chỉ khựng lại tí xíu rồi vẫn chạy nhanh.

Tôi nhắm mắt lại và nghĩ đến Gia đình. Cũng lúc đó, một tiếng đùng vang lên. Cả xe và tôi ngã nghiêng về vách núi và dừng lại.

Sau khi bình tĩnh trở lại, tôi thấy bác máu ra nhiều ở 2 bàn chân.

Vì khi bác cố gắng kéo chiếc xe lại.

Sức mạnh của chiếc xe đã kéo đôi chân của bác chà xát trên mặt đường,

và bây giờ nhìn vào đôi chân ấy, chỉ thấy toàn là máu.

Trong lúc xảy ra tình huống giữa chết và sống, bác lanh trí bẻ tay lái cho xe tông vào núi. Dù có bị gì đi nữa, còn hơn rơi xuống vực sâu.

Về đến nhà, bác không lấy tiền xe vì tai nạn xảy ra.

Bác tha thiết năn nỉ tôi đừng bắt đền cái máy chụp hình, vì bác không có tiền.

Thật sự lúc đó tôi thấy bác thật tội nghiệp và đáng thương.

Tôi nói bác đừng lo gì cả, rồi tôi tặng cho bác 100 đô.

Bác ngỡ ngàng nói đây là tờ 100 đô chứ không phải tờ 10 đô.

Tôi nói tôi biết.

Bác nói như vui mừng lắm.

– Con cho bác 2 chỉ vàng hả con.

Đáng lý ra tôi không nên kể chuyện tặng bác tiền. Nhưng tôi nghĩ, nếu như những ai trong trường hợp của tôi lúc đó, tôi tin cũng đều làm như vậy.

Trước khi chia tay, tôi đã ôm bác thật lâu.

Lúc đó tôi vẫn còn nhớ là có mùi

khen khét từ làn da cháy nắng của bác.

Sau này tôi có dịp về thăm quê hương và có hỏi thăm bác.

Người ta nói bác đã đi Mỹ theo diện HO rồi.

(sưu tầm)

Nguồn fb Cong Pham 


 

Đôi dòng về tạp chí Đại học – Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

06/08/2026

Đại học Huế được thành lập và khai giảng vào tháng 9, 1957. Việc thành lập đại học Huế là đáp ứng lại nguyện vọng của các nhân sĩ Huế muốn có một đại học riêng ở miền Trung. TT Ngô Đình Diệm đã nhận lời và mau chóng đáp ứng nguyện vọng ấy vào năm 1957.

Dưới mắt ông Ngô Đình Diệm, việc thành lập Đại học Huế ngay sát nách vùng ranh giới phân chia Nam Bắc qua con sông Bến Hải còn là một thách đố chính trị. Ông muốn chứng tỏ cho phía bên kia Bến Hải là:

Chúng tôi đang có mặt ở đây.

Đại học Huế vì thế sẽ là biểu tượng của miền Nam như một thể chế chính trị-văn hóa- độc lập và dân chủ.

Cái mặt ‘yếu’ của ông Ngô Đình Diệm là ông coi trường Võ Bị Sĩ quan Đà Lạt, Trường Quốc Gia Hành Chánh và trường Đại Học Huế là những con cưng của chế độ. Ông nhìn tương lai chế độ qua ba cách đào tạo đó. Trường Võ bị cung cấp những sĩ quan trẻ, có trình độ văn hóa đại học cho một quân đội hùng mạnh. Trường Hành Chánh đào tạo một lớp cán bộ quản lý, thay chế độ hành chánh phong kiến, quan liêu- một chế độ hành chánh hữu hiệu theo lối Mỹ và trường Đại Học Huế sẽ cung cấp những người trí thức xuất thân từ Huế về đủ các ngành như Đại học sư phạm, luật khoa, văn khoa và y khoa. Người ta thấy được rõ ràng cái điểm yếu của TT Ngô Đình Diệm với sự tự hào và niềm vui sướng rạng rỡ trên khuôn mặt tròn trĩnh của ông trong mỗi dịp chủ tọa lễ tốt nghiệp. Vì thế, ra Huế là ông rẽ sang Đại học xem ông cha Luận mần ăn thế nào.

Niềm tự hào và hoài bão của ông Diệm sau này cả ba đều đạt được như ý nguyện của ông.

Nhưng theo tôi, hơn hết tất cả Đại học Huế đáp ứng khát vọng sâu xa và thầm kín của người dân miền Trung- một phần đất với những người con dân Huế cần cù- hiếu học- và cũng đầy mặc cảm đủ loại với niềm tự hào của ít lắm 100 năm triều Nguyễn.

Mặc cảm ấy đã bị dầy xéo bằng nhiếu cách, nhưng nhục nhã nhất vẫn là việc bôi nhọ Nguyễn Ánh Gia Long.

Về đại học Huế, có lẽ xin mời mọi người đọc bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Trường: Huế -Viện Đại Học, Cha Luận và chúng tôi… trên Khoahoc.net. Một bài viết của một người dân xứ Nam Kỳ, nhận làm con của xứ Huế với những phân tích trung thực với đầy lòng tự hào và cảm mến cha Luận, đại học Huế người dân xứ Huế..rồi cuối cùng cũng đành bỏ Huế mà đi..như chính người dân Huế.
Viện trưởng lúc bấy giờ là một ông linh mục- một sự chọn lựa éo le, khó xử cho dân Huế vốn đa phần theo Phật giáo-.

Tuy nhiên, vị viện trưởng này đã làm chuyện mà giả sử vào tay người khác- một thứ viện trưởng công chức- thì vị tất đã được như vậy.

Khả năng chính của cha Luận là thu hút được nhân tài từ nhiều nguồn, nhiều phia, từ trong nước đến ngoại quốc về giúp giảng dạy ở đại học Huế.

Cha Cao Văn Luận đã sống trải qua những thời vinh quang và thử thách và cuối cùng cũng  đành bỏ ra đi.. Trách ai bây giờ. Và trách để làm gì.

Ông là người ngay từ trước khi đại học Huế được thành lập đã có kế hoạch trồng người bằng cách gửi các sinh viên ưu tú đi du học. Nay là lúc ông kéo về đoàn tụ dưới mái trường đại học Huế.

Việc thiết lập đại học Huế, tuy vậy, đã bị các thành phần trí thức giảng dậy ở Sài Gòn phản đối dữ dội, chê bai đủ thứ..Đặc biệt là trường Y Khoa Saigon.. Vì họ cho rằng Huế không có đủ khả năng chuyên môn, giáo sư không đủ học vị và nhất là giảng dạy bằng tiếng Việt..

Trong tất cả sự phản đối ấy đều đúng hết chứ không phải sai, nhưng người ta vẫn còn có thể cho thấy lé loi đằng sau các phản đối ấy sự hẹp hòi, sự đố kỵ và sự khinh miệt.

Nhưng giáo dục là đường dài, liệu cơm gắm mắm, có ai hoàn hảo từ lúc khởi đầu. Tự nó đại học Huế được chứng minh cho thấy sau này nó phát triển và trưởng thành về mọi mặt.

Trong số những  người từ Sài gòn ra giảng dậy lúc bấy giờ chính thức tại Huế chỉ có hai người. Nguyễn Văn Trung phụ trách môn Triết. Và Nguyễn Văn Trường, dạy toán. Họ đều là những người trẻ thiếu đủ mọi thứ kinh nghiệm mà học vị cũng như khả năng chuyên môn chẳng có thể so sánh với ai, trừ so sánh với chính họ.

Và cứ như thế mà họ lớn lên cùng với đại học Huế.

Sau đó, theo lời giáo sư Trung cho biết, ông đã đề nghị cha Luận cho xuất bản tờ Đại Học- một tờ tập san duy nhất mà ngay ở Sài Gòn cũng chưa có được-.
Cha Luận đồng ý ngay. Khoán trắng theo nghĩa muốn làm gì thì làm, miễn là đem lại lợi ích và danh thơm cho đại học Huế. Và thế là tờ Đại Học ra đời, xuất bản hàng tháng. Tờ báo Đại Học Huế có thể nói mang tầm vóc đại Học Huế trang trải ra khắp nơi.

Chữ Đại học ở đây không mang ý nghĩa một tập san chuyên môn của một chuyên khoa đại học. Nó chỉ có ý nghĩa là một tập san do một viện đại học xuất bản và trong đó có đủ mọi lãnh vực. Nó đã gây được sự chú ý và tiếng vang và chỉ vài tháng sau thì đã có đủ số độc giả để tự túc về tái chánh..Sau này, ông đại sứ Ngô Đình Luyện đã tặng Đai học Huế một máy in và từ đó không còn phải in ở nhà in Nam Sơn Sài gòn nữa.

Tôi đã đọc tỉ mỉ danh sách các vị độc giả ở Huế mua báo dài hạn. Một lần cám ơn các độc giả ấy mà không tiện nêu ra danh tánh ở đây
Mục đích của tờ Đại Học là một sứ mệnh văn hóa.

Tờ Đại Học muốn chứng tỏ cho mọi người thấy đại học không phải là một môi trường khép kín. Tự trị đại học không có nghĩa đóng cửa. Nhưng tự trị về mặt quản lý còn những mặt khác mở tung cửa ra cho mọi thành phần. Đại học là môi trường thuận tiện cho mọi khuynh hướng, mọi ý kiến, mọi quan điểm có quyền phát biểu trình bầy và bảo vệ quan điểm của mình.

Đó là một nền văn hóa mang tính đại chúng!!

Và để thực hiện được điều ấy tờ Đại học cổ súy việc dùng tiếng Việt trong việc giảng dạy bất kể những khó khăn ban đầu về danh từ.

Tờ Đại học ra đời là nhằm đạt các mục tiêu vừa nêu trên.. Trong suốt  6 năm trời, tờ Đại học đã đồng hành và phát triển cùng với sự phát triển của đại học. Tờ báo với số báo đầu tiên, tháng 2-1958 và chấm dứt khi chế độ đệ nhất cộng hòa miền Nam sụp đổ sau vài tháng.

Có tất cả hơn 300 bài viết nghiên cứu về triết học, sử học, địa lý, luật học, ngôn ngữ học, ngữ pháp học, văn học và cả  ngành y khoa.. trong khoảng 4000 trang tài liệu.

Số phận của nó liên quan đến số phận chính trị miền Nam những năm đó..Thật rất tiếc sứ mệnh văn hóa đã bị đánh đồng với số phận chính trị.

Trong suốt những năm tháng ấy, có hai đời chủ bút. Từ 1958 đến 1962 do gs Nguyễn Văn Trung chủ trương. Vì những lý do chính trị, gs Nguyễn Văn Trung bắt buộc phải rời bỏ Huế vào Sài gòn dạy Văn Khoa Sài Gòn theo lệnh của Bộ trưởng giáo dục Sài Gòn. Sau đó được giáo sư Trần Văn Toàn tiếp tục công việc cho đến lúc tình hình chính trị miền Trung sôi động, bất ổn vào tháng sáu, năm 1964..

Tờ báo tự đóng cửa một cách thầm lặng, không một lời chia tay độc giả. Như một sản phẩm dư thừa của nền đệ nhất cộng hòa.

Thôi thì nó cũng đã làm tròn nhiệm vụ, là tiếng nói của một thời kỳ của một miền Nam thân yêu.

Ngày hôm nay, thay mặt giáo sư Nguyễn Văn Trung vì lý do sức khỏe đã mong tôi tôi đứng ra phục hoạt lại các số báo đại học cũ nay đang rơi vào tình trạng có nguy cơ mục nát, mối mọt sau hơn nửa thế kỷ. Nói đúng ra vừa tròn 56 năm kể từ số đầu tiên. Nhiều trang báo nay phải chụp lại bằng tay từng trang một vì tình trạng mục nát của nó. Nếu cứ để tình trạng này trong một thời gian nửa có nguy cơ tiêu tán hết.

Nghĩ tới những trang báo Nam Phong, Tập san sử địa, Tri Tân, BAVH và Phong Hóa đã được phục hoạt mà tôi làm công việc này.

Tôi cũng nghĩ tới số phận những đứa con rơi như Đông Dương tạp Chí không người trách nhiệm, không có con cháu, không hậu duệ, không cơ quan tài trợ mà ngày nay chúng ta không được cái may mắn tìm đọc học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Đọc Phạm Quỳnh mà không đọc Nguyễn Văn Vĩnh là thiếu một nửa.

Và trong nay mai, sẽ có cuộc Hội Thảo Văn Học miền Nam tại Nam Cali, người ta sẽ nói gì về Huế nếu thiếu cái mảng văn học của tạp chí Đại Học. Sẽ lại xảy ra cái nạn con yêu, con rơi, con ghét..Hy vọng Huế không rơi vào số phận văn hóa miệt vườn trước đây.

Nhưng muốn được người ta nói đến thì phải có hàng. Ít là như vậy.

Tôi nghĩ đây chẳng những là một gia tài của viện Đại hoc Huế, của người dân xứ Huế mà còn là một di sản tinh thần, vốn văn hóa của cả miền Nam thần yêu của chúng ta. Tôi cũng nghĩ đây là dịp để các cựu sinh viên đại học Huế đủ các phân khoa tìm về kỷ niệm thời đi học của mình qua tờ Đại Học và để tạo dịp ngồi lại với nhau

Nó không là của ai cả. Nó là của cả miền Nam!!

Thay mặt giáo sư Nguyễn Văn Trung, giáo sư Trần Văn Toàn, tôi làm công việc này.

Và một cách nào đó, tưởng niệm và tri ân cha viện trưởng Cao Văn Luận.

Tôi vẫn tự hỏi, nếu không có cha Luận thì viện đại học Huế sẽ như thế nào. Lớp bụi thời gian, lịch sử Huế với nhiều biến động nay đã phải là lúc người ta cần ngồi lại với nhau để nhìn nhận ra chính mình.

Cũng nhân tiện đây, tôi xin nêu tên một số tác giả đã cộng tác với tờ Đai Học mà nay hầu hết đã qua đời..như giáo sư Nguyễn Phương, giáo sư Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa), gs Hoàng Xuân Hãn, gs Bửu Hội, gs Bửu Kế, Olov R.T Janse, gsNguyễn Khắc Hoạch, gsLê Tôn Nghiêm, gs Cung Giữ Nguyên, bs Lê Khắc Quyến và Dương Đăng Bảng,gs Nguyễn Toại, R.P Rietsch ,gs Lê Ngọc Trụ,  linh mục Lê Văn Lý, linh mục Cao Văn Luận, bsNguyễn Văn Thọ, gsNguyễn Đăng Thục, ls Lê Tài Triển, gs Bùi Quang Tung, gs Nguyễn Bạt Tụy, lm Thanh Lãng, giáo sư Nguyễn Nam Châu, lm Nguyễn Văn Thích, lm Đỗ Minh Vọng, giáo sư dược khoa Đặng Vũ Biền, học giả Trương văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, giáo sư Trần Thái Đỉnh, giáo sư P. Đỗ Đình, giáo sư Bửu Dưỡng, lm Nguyễn Huy Lịch, giáo sư Phạm Việt Tuyền..

Còn một số các vị giáo sư khác cộng tác mà chúng tôi không được biết sự sống chết hiện nay như thế nào nên không tiện nêu tên.

Và cũng nhân tiện đây tri ân những vị có thể đang còn tại thế gian này như Bác sĩ Nguyễn Văn Ái, giáo sư Tôn Thất Hanh, Donoghue, giáo sư Huỳnh Văn Lang, gs Trương Bửu Lâm, giáo sư Lê Tuyên, giáo sư Vũ Quốc Thúc, giáo sư Lý Chánh Trung, giáo sư Trần Văn Toàn và cuối cùng là giáo sư Nguyễn Văn Trường.

Chúng tôi sẽ nhân một cơ hội thuận tiện và thực tế sau khi biên soạn và thuê tiệm in phục hoạt lại các trang báo cũ, tôi đã mau chóng đưa lên mạng dcvonline.net để bất cứ ai muốn tim đọc, in chép, nghiên cứu, sao chụp đều có thể dễ dáng truy cập..

Người trách nhiệm phục hoạt tờ Đại Học.


 

BÀI THI CỦA BÀ GIÁO O’NEILL-Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Các Kitô hữu có bổn phận giúp đỡ anh chị em mình làm điều thiện.”

 Một phụ nữ làm việc ở nhà hàng tiếng tăm nọ từng tuyên bố không theo tôn giáo nào cả, bà nói với một vị linh mục: “Thưa cha, tôi không muốn làm cha thất vọng, nhưng trong số kẻ bê bối nhất tôi từng gặp trong nghề nghiệp của tôi lại có những Kitô hữu rất siêng năng đi nhà thờ.”

Linh mục đáp lại: “Ðúng vậy, trong số các Kitô hữu, không may vẫn có những người tồi tệ, không khác gì trong số những người ngoài cũng có những người tồi tệ như vậy.”

 Người phụ nữ đáp lời: “Thưa cha, thế thì không phải các Kitô hữu vẫn được xem là đặc biệt hơn sao?”

 Vị linh mục buồn bã nhìn bà ta nói: “Ðúng thế, đúng thế, họ được xem là phải sống tốt hơn!”

 Cuộc đàm thoại trên hẳn khiến anh chị em ngạc nhiên.  Các Kitô hữu thường xuyên đi nhà thờ hẳn khác hơn những kẻ không đi nhà thờ chứ?  Chúng ta hãy xem xét ba trường hợp sau:

 Một người bán vé xe đưa đón ở phi trường nói với một ông bố: “Thưa ông, con trai ông có vẻ trẻ hơn tuổi của nó: ông nên mua nửa vé thôi.  Nếu tài xế có hỏi, ông cứ nói là thằng bé dưới 12 tuổi.  Như thế ông sẽ đỡ tốn vài đola!”  Giả sử anh chị em là ông bố ấy, anh chị em sẽ trả lời người bán vé thế nào? 

 Rồi một trường hợp khác.  Một bà mẹ bắt gặp đứa con gái 5 tuổi của mình cầm một cây kẹo mà nó ăn cắp sau khi từ siêu thị đi ra.  Giả sử anh chị em là bà mẹ ấy, anh chị em sẽ làm gì?

 Và đây trường hợp sau cùng.  Giả sử bạn nghe đứa bạn thân nhất của con bạn nói với nó: “Nếu mày cần hỏi bất cứ câu gì trong kỳ thi toán, mày cứ ra dấu cho tao.”  Ðặt trường hợp thằng bé ấy là con của anh chị em, thì anh chị em sẽ cứ tiếp tục đọc báo hay sẽ đặt báo xuống và nói chuyện với cả hai cậu bé?

 Tôi không biết anh chị em sẽ xử lý thế nào trong những trường hợp như thế, nhưng tôi biết rõ Chúa Giêsu sẽ xử lý thế nào.  Câu trả lời ấy được tìm thấy trong các bài đọc hôm nay.  Cả ba bài đều tập trung vào bổn phận hỗ tương của người Kitô hữu phải có đối với nhau.  Các Kitô hữu không chỉ phải làm điều thiện mà còn phải giúp đỡ kẻ khác làm điều thiện nữa.  Chúa Giêsu bảo các môn đệ: “Các con là muối đất… các con là ánh sáng thế gian…  Ánh sáng các con phải chiếu tỏa trước mặt thiên hạ” (Mt 5 : 13-16).

 Chúng ta hãy trở lại với ba trường hợp trên.  Câu trả lời của người Kitô hữu đối với từng trường hợp trên như thế nào?  Một kẻ theo Chúa Giêsu sẽ nói gì với người bán vé xe là kẻ đã nói với ông bố nọ: “Ông cứ nói với tài xế xe là thằng bé con ông dưới 12 tuổi?”  Trường hợp này thực sự đã xảy ra ở Chicago.  Ông bố ấy đã trả lời làm sao?  Ông ta bảo với người bán “Tôi rất trân trọng hảo ý của ông, nhưng tôi muốn con tôi thành thật dù điều đó gây bất lợi cho nó.”  Còn bà mẹ bắt gặp đứa con gái của mình ăn cắp cây kẹo đã xử lý như thế nào?  Ðây cũng là một câu chuyện có thực đã xảy ra.  Tác giả bài viết trong tờ báo Dallas Morning News (Tin tức Dallas buổi sáng) khi thuật lại câu chuyện trên đã nói rằng bà mẹ nọ đã bảo đứa bé trả lại cây kẹo cho vị quản đốc, và ông này nói: “Ôi đừng lo gì chuyện đó.  Nó có đáng gì đâu.  Mỗi ngày, đám nhân viên của tôi ăn cắp nhiều hơn thế nhiều!”

 Như tác giả bài viết kể lại, đây thực là một câu trả lời khó tin nổi.  Viên quản đốc đã gây cho cháu bé ấn tượng ăn cắp không quan trọng gì nếu chỉ là vật nhỏ mọn.  Thực sự dù là ăn cắp vật lớn hay nhỏ thế nào đi nữa thì ăn cắp vẫn luôn là điều xấu.

 Và cuối cùng hãy xét đến trường hợp thằng bạn của đứa con trai chúng ta đồng ý gian lận để giúp đỡ con mình trong bài thi toán.  Jerome Weidman, tác giả cuốn “Hand of the Hunter” (Tay người thợ săn) khi còn bé đã từng can dự vào một trường hợp như trên.  Ông kể lại cách đây 30 năm, ông vào học ở một trường công Nữu Ước.  Bà giáo dạy toán lớp ba của ông tên là bà O’ Neill.  Ngày nọ bà ra cho lớp một bài thi.  Khi chấm bài bà nhận ra 12 cậu trai đã trả lời sai một cách giống y như nhau đối với cùng một câu hỏi.  Qua ngày sau, bà yêu cầu 12 cậu bé ấy ở lại lớp sau khi tan học.  Sau đó, không hề kết tội đứa nào, bà chỉ viết lên trên bảng câu này: “Tính chân thực của một người được thể hiện trong những điều mà kẻ ấy sẽ làm dù biết rằng không bị ai bắt gặp.”  Ðoạn bà ghi tên tác giả câu nói trên: Thomas Babington Macaulay.  Weidman viết: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ có một đứa trong số đó là chính tôi, có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 Như thế chúng ta đã thấy ba mẫu người Kitô giáo xử lý như thế nào trong ba trường hợp khác nhau trên.  Ba Kitô hữu này đã lưu tâm đến lời giáo huấn của Chúa Giêsu dạy phải giúp đỡ anh chị em sống cuộc sống Kitô hữu.  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp nhận lời Chúa Phán với Êdekien trong bài đọc thứ nhất hôm nay: “Nếu… ngươi không răn dạy kẻ xấu thay đổi cách ăn ở của nó thì Ta sẽ qui trách nhiệm cho ngươi.”  Ba Kitô hữu này đã nghiêm chỉnh chấp hành lời thánh Phaolô gởi tín hữu Roma trong bài đọc thứ hai hôm nay: “Nếu anh em yêu mến kẻ nào, anh em sẽ không bao giờ làm hại kẻ ấy.”  Và cuối cùng, ba Kitô hữu nầy cũng đã nghiêm chỉnh tuân theo lời Chúa Giêsu trong phúc âm hôm nay: “Nếu anh em ngươi phạm lỗi với ngươi, hãy đến gặp nó và chỉ cho nó biết lỗi lầm của nó.  Tuy nhiên phải làm điều ấy một cách âm thầm giữa ngươi và nó thôi.” 

Như thế ba Kitô hữu nêu trên đã gây ấn tượng như thế nào cho những người nghe họ nói?  Tôi xin được lập lại điều Jerome Weidman đã nói: “Tôi không rõ về 11 cậu kia ra sao, chỉ biết một đứa trong số đó là chính tôi, thì tôi có thể nói rằng: Ðây là bài học đơn sơ nhưng quan trọng nhất trong đời tôi.”

 Edmund Burke nói: “Chỉ cần những người tốt cứ giữ yên lặng, là điều xấu sẽ phát triển ngay.”

 Trong những trường hợp trên, ba Kitô hữu nọ đã không giữ yên lặng.  Họ mời gọi chúng ta noi gương họ.

 Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

 Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con ghi lòng tạc dạ những lời Chúa kêu gọi chúng con đi theo làm môn đệ Ngài:
Các con là muối đất, nếu muối nhạt đi thì lấy gì ướp nó mặn lại được.  Nó chẳng còn ích gì chỉ đáng quẳng ra ngoài cho người ta chà đạp lên đó.  Các con là ánh sáng thế gian, một thành xây trên núi không thể giấu được.  Không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, nhưng đặt nó trên giá đèn để soi cho mọi người trong nhà.  Cũng thế, ánh sáng các con phải toả chiếu trước mặt mọi người để họ trông thấy việc các con làm mà ngợi khen Cha các con, là Ðấng ngự trên trời” (Mt 5: 13-16).

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

HẬU QUẢ CỦA LÒNG THAM VÀ SỰ KIÊU NGẠO!

Tran Quang

HẬU QUẢ CỦA LÒNG THAM VÀ SỰ KIÊU NGẠO!

Manisha-chan được moi lên từ đống đổ nát của trận lũ khủng khiếp do băng vỡ tại Nepal sau 60 giờ kể từ khi thảm họa xảy ra. Đó là một điều kỳ diệu, nhưng cũng thể hiện những đổ vỡ ở tận bên trong thẳm sâu của tâm hồn người dân nơi đây, chỉ khi bạn nhìn vào ánh mắt trong veo của cô bé giữa bùn lầy. Các nền văn hóa và kinh tế ở vùng núi cao, ví dụ như thuộc dãy Alps của Châu Âu, ven dãy Himalayas, vùng cao nguyên Andes… đang gánh chịu nhiều hậu quả lớn lao, cả về mặt thảm họa lẫn tình trạng cạn kiệt nguồn nước từ hiện tượng băng tan.

Thiên nhiên đã mất hàng trăm nghìn đến hàng triệu năm để thiết lập các chu trình luân chuyển của nước cân bằng, mà loài người được hưởng lợi và phát triển nền văn minh của mình dễ dàng trong vài trăm năm qua.

Nhưng với lòng tham và sự kiêu ngạo, chính con người đã phá vỡ chu trình thủy văn đó. Họ xả thải, nâng nền nhiệt trung bình toàn cầu lên những mức sốt nóng hơn. Họ phá rừng, triệt tiêu lực cản dòng lũ, cũng như khả năng thẩm thấu và bơm nước vào bầu trời từ lớp thực bì rừng nguyên sinh. Họ chặn dòng nước bằng các thủy điện khổng lồ, chỉnh dòng, đào sông, lấp biển, mừng rỡ ra mặt vì những thành tựu ấy. Họ tự úp lên đầu mình những lớp khí nhà kính đến từ nền công nghiệp sản xuất hàng hóa xa xỉ và lối sống tiêu thụ hàng loạt, gây ra các đợt hầm nóng từ vòm nhiệt.

Thế rồi, các sông băng vĩ đại trên vùng núi cao có từ hàng nghìn năm trước cũng phải buông mình chịu thua trước nền nhiệt ngày càng tăng cao. Mùa đông tuyết rơi cũng giảm đi nhiều hơn trước. Mạch dẫn của chu trình nước từ trời kết thành băng tuyết không còn như xưa nữa. Băng vĩnh cửu đang không còn có thể tồn tại mãi mãi được nữa. Chúng bị đứt gãy, rạn nứt, bị đục rỗng ruột vì nước ấm, rồi sụp đổ bất ngờ. Các trận mưa ở cả vùng cực và vành đai ôn đới cận cực cũng nhiều hơn trước.

Bầu khí quyển ấm hơn nên tích nhiều hơi ẩm hơn trước, đưa nhiệt ẩm đi xa hơn về hai cực. Đó là điều đương nhiên, vì nền nhiệt càng ấm trên một hành tinh nước sẽ đưa đến tình trạng ẩm và nóng hầm kéo dài và lan xa hơn bình thường. Không chỉ khu vực nhiệt đới phải đối mặt với những trận mưa xối xả, mà ngay cả những nơi như Châu Âu, Nga, Hoa Kỳ, Canada… đã bắt đầu chứng kiến lượng mưa đột biến. Thiên nhiên đang lập lại thế cân bằng mới về nước, thay thế các chu trình ngày xưa bằng một thời kỳ mới, nơi băng giá, mực nước biển, lượng mưa thủy văn, phạm vi tác động trên các vĩ độ và độ cao địa hình hoàn toàn khác trước.

Nhưng loài người không hiểu điều đó. Người ta gọi đó là sự hỗn loạn của thời tiết và khí hậu “biến đổi”. Chỉ những nhà khoa học về khí tượng và môi trường như chúng tôi mới hiểu được nguyên nhân từ đâu và có tầm nhìn lớn về toàn cảnh vấn đề, cũng như điều cuối cùng mà chủng loài người sẽ gánh chịu.

Trời đất này sao không biến đổi được, khi mà lòng người và tâm địa con người đã biến đổi trước từ rất lâu. Những gì đang xảy ra trên thế giới này đều là phản ánh chính xác từ trong lòng con người mà ra, từ mánh mung chứng khoán, tham vọng chinh phục vũ trụ, các siêu đô thị chọc trời, tỷ phú nghìn tỷ đô la, cho đến những bãi rác khổng lồ, các chuyến bay bị rung lắc vì nhiễu động khí quyển, các cuộc chiến tranh, rừng cháy, nóc nhà thế giới Himalaya bắt đầu rung chuyển, lũ quét lịch sử, mưa bão lũ dồn dập.

Thiên nhiên luôn biết phản ứng và cân bằng cho đúng và phù hợp với những thứ loài người đang tạo ra, như một quy luật của TẠO NHÂN và TRẢ NGHIỆP. Và đó là một quy luật CÔNG BẰNG đối với những gì con người đã gây ra cho hành tinh Trái Đất – cái nôi duy nhất sinh ra giống loài “thông minh và khôn lỏi đột biến” này.

Vâng, đối với Trái Đất và hệ sinh thái sự sống của nó – bao gồm chu trình luân chuyển của Nước, đây là sự công bằng và là chu trình tái thiết lập các điều kiện sống cân bằng mới. Nhưng khi nhìn sâu vào từ quốc gia, dân tộc, vùng dân cư sinh sống, điều bất công đang nổi lên rõ mồn một.

Nepal là một đất nước chỉ đóng góp khoảng 0,1% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu, vì là một trong những quốc gia kém phát triển nhất thế giới, với khoảng một phần tư dân số sống dưới mức nghèo khổ. Gần 46% diện tích đất nước Nepal được rừng che phủ. Khoảng 94% công suất điện lắp đặt của Nepal đến từ thủy điện, chứ không phải nhiệt điện than đá. Nepal có tiềm năng đáng kể trong việc khai thác thủy điện, với công suất khả thi thương mại ước tính 42.000 MW.

Nepal và Ấn Độ đã ký các hiệp định thương mại và đầu tư vào năm 2014 nhằm gia tăng tiềm năng thủy điện của Nepal, nhưng bất ổn chính trị và môi trường kinh doanh khó khăn đã cản trở đầu tư nước ngoài. Nepal phụ thuộc nặng nề vào kiều hối, lên tới khoảng 30% GDP. Nông nghiệp là trụ cột của nền kinh tế, tạo sinh kế cho gần hai phần ba dân số nhưng chỉ chiếm một phần ba GDP. Hoạt động công nghiệp chủ yếu liên quan đến chế biến nông sản, bao gồm các loại đậu, đay, mía, thuốc lá và ngũ cốc.

Một phần nền kinh tế nhỏ bé của Nepal cũng đến từ nguồn khách du lịch leo núi chinh phục đỉnh Everest theo các Shepa địa phương dẫn đường – mà qua đó cũng xả rác đầy trên đỉnh núi này (chúng tôi thấy có nhiều bạn leo núi khoe rằng đã chinh phục nóc nhà của thế giới qua các tấm ảnh selfie, nhưng giá như họ nhận ra cái giá phải trả cho chặng đường chứng tỏ cái tôi ngạo mạn của con người lượng rác và xác chết bị bỏ lại tại vùng núi này trong quá trình chinh phục Everest).

Du lịch là nguồn thu ngoại tệ lớn nhất của Nepal. Du lịch đóng góp khoảng 6,7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của đất nước này. Năm 2025, Nepal đã đón 11.584.589 lượt khách du lịch, xếp thứ 147 toàn cầu về số lượng khách du lịch. Là nơi có tám trong số mười ngọn núi cao nhất thế giới, Nepal trở thành điểm đến của những người leo núi, những người leo vách đá và những bạn ưa mạo hiểm.

Vậy mà ngày hôm nay, người dân Nepal đang bới bùn, lần tìm dưới sông và chờ đợi bên điện thoại để nghe tên của những người thân yêu được điểm danh còn sống hay đã chết. Người dân tụ tập bên ngoài khu khám nghiệm tử thi của Học viện Y khoa Maharajgunj khi các tấm áp phích ghi thông tin các nạn nhân lũ lụt được dán tại nhà xác bệnh viện.

Các gia đình vẫn đang tiếp tục tìm kiếm người thân sau trận lũ tàn khốc, khiến khung cảnh bên ngoài bệnh viện càng trở nên đau đớn và xót xa vô cùng. Chính phủ Nepal đã bắt đầu chôn cất nạn nhân của trận lũ tuần trước tại các khu mộ tập thể sau khi những nhà xác hết chỗ để lưu giữ những thi thể đang phân hủy. Nhiệt độ ẩm ướt đang đẩy nhanh quá trình phân hủy, chính quyền địa phương cho biết họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chôn cất các thi thể trước khi được nhận dạng.

Hiện đã biết được hơn 919 người thiệt mạng và 4.793 người còn mất tích ở cả hai bên biên giới Nepal – Tây Tạng/Trung Quốc. Tại Tây Tạng, Tân Hoa Xã Trung Quốc báo cáo 16 người thiệt mạng và 546 người mất tích. Theo Hiệp hội các nhà sản xuất điện độc lập Nepal, 934 công nhân vẫn chưa rõ tung tích tại 11 dự án thủy điện trong vùng lũ. 361 người đã được giải cứu cho đến nay. Các đội cứu hộ đang bơm không khí vào một đường hầm bị chôn vùi tại dự án thủy điện Trishuli-3A và khoan các lỗ khoan, hy vọng tiếp cận được bất kỳ ai còn mắc kẹt bên trong. Những hình ảnh kinh hoàng từ biên giới Ấn Độ – Nepal cho thấy người dân địa phương gần sông Gandak kể lại rằng thi thể các nạn nhân lũ lụt Nepal hiện đang bị dòng nước hung dữ cuốn trôi sang Ấn Độ. Một số người dân đã chứng kiến 50–100 thi thể trôi trên sông mỗi giờ. Hãy tưởng tượng nỗi kinh hoàng: nhiều người trong số những cái chết này có thể sẽ không bao giờ được tính vào con số chính thức, và vô số gia đình có thể không bao giờ biết được tung tích người thân của mình.

Trận lũ quét Bhote Koshi đã cho chúng ta thấy ý nghĩa của việc sống bên dưới một tầng băng quyển đang thay đổi nhanh chóng. Các sông băng đang lùi dần, những ngọn núi băng giá của dãy Himalayas ngày càng trở nên bất ổn, và những dòng sông tạo ra nguồn điện sạch cho Nepal cũng có thể mang theo sự hủy diệt ập xuống các cộng đồng ở phía dưới thung lũng. Sự rung chuyển và đổ vỡ đang dần tạo ra nhiều bất ổn mới.

Vì vậy, giờ đây từ dãy Himalaya, chúng ta nên tự hỏi: bao nhiêu thi thể trên dãy Himalaya nữa mới là đủ? Bao nhiêu người mẹ phải chờ đợi những đứa con không bao giờ trở về? Bao nhiêu ngôi làng phải biến mất trước khi “công lý khí hậu” trở thành điều gì đó thực tế hơn là một bài phát biểu đãi bôi tại một hội nghị về biến đổi khí hậu khác tại Liên Hợp Quốc? Có lẽ chỉ vài tháng nữa, bạn sẽ quên mất ánh mắt của cô bé Manisha-chan này, khi vui vẻ bước lên một chuyến bay du lịch vi vu đi khắp thế giới. Bạn sẽ lao vào các phi vụ xây cất, đầu tư siêu đô thị lấn biển. Bạn sẽ vui mừng thốt lên khi một cánh rừng bị chặt bỏ để lập khu du lịch và kiếm được nhiều việc làm cho dân địa phương. Bạn sẽ điên cuồng đua theo các chỉ số chứng khoán, lượng tăng trưởng hàng hóa và các mức lợi nhuận thu được. Nhưng rồi một ngày nào đó, tai họa sẽ ập đến theo kiểu đột ngột và khủng khiếp vì những việc bạn (và hàng tỷ người khác) đã làm sẽ tạo ra tiếng vang và áp lực dội ngược vào thế giới tự nhiên, qua siêu bão, hạn hán, mưa xối xả, sốc nóng, mực nước biển dâng…

Từ hàng trăm năm trước, người Nepal trước đây cũng nghĩ rằng, việc họ sinh ra và được sống dưới chân dãy Himalayas là một đặc ân, không phải là bản án tử hình. Họ có nguồn nước dồi dào từ các mùa băng tan đều đặn, có địa hình dốc đứng để khai thác thủy điện. Họ chào đón các chuyến bay đưa khách du lịch leo núi đến để phục vụ và làm thỏa mãn ước vọng chinh phục nóc nhà thế giới. Ai cũng vui vẻ khi đón khách nước ngoài. Ai cũng nghĩ hy sinh thế giới tự nhiên này một chút cũng chẳng gây ra vấn đề gì… cho đến khi những đợt sóng băng bùn đổ xuống từ trời.

Chúng tôi nghĩ sẽ cần thêm nhiều thảm họa khác, nhiều nạn nhân mới, nhiều biến cố kinh thiên động địa khác xảy ra trên toàn cầu, thì con người mới hiểu được hậu quả của lòng tham và sự kiêu ngạo. Nhưng khi đó thì đã trễ rồi. Người ta sẽ chỉ biết xót thương khi đếm các tử thi, chứng kiến các hậu quả thảm khốc, và thở dài.

#hanhtinhtitanic 

BIẾT LÀ MỘT CHUYỆN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”.

“Hiểu biết về Thiên Chúa là kinh nghiệm đức tin, đồng thời đòi hỏi một hành trình cả về trí tuệ lẫn luân lý: để cho sự hiện diện của Thần Khí chạm đến tận sâu thẳm con người!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay thật lạ, lời tuyên xưng đúng nhất trong hội đường ngày ấy lại phát ra từ miệng thần ô uế. Nó biết Chúa Giêsu là ai, nhưng nhất định không để Ngài làm chủ; bởi ‘biết là một chuyện’.

Khi Chúa Giêsu giảng dạy với uy quyền tại Capharnaum, chính thần ô uế đã kêu lên: “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”. Lời ấy hoàn toàn đúng, nhưng không phải là lời tuyên xưng đức tin. Nó gọi đúng tên Ngài để chống trả: “Ông đến tiêu diệt chúng tôi?”. Nó biết sự hiện diện của Ngài sẽ chấm dứt quyền chiếm giữ của nó trên con người ấy. Hoá ra, nói đúng về Chúa chưa có nghĩa là đã tin vào Chúa.

Trước những lời rành rọt của thần dữ, Chúa Giêsu không đôi co, cũng chẳng thoả hiệp. Ngài cắt ngang bằng một mệnh lệnh: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!”. Ngài không đáp lời thần dữ, cũng không nhận lời nó tuyên xưng; trước mắt Ngài chỉ có một con người phải được trả lại tự do. Ngài buộc nó phải im tiếng, bởi chân lý Thiên Chúa không cần được chứng minh từ miệng lưỡi sự dữ. Thần ô uế vật người ấy xuống giữa hội đường rồi xuất ra mà không làm hại gì. Chúa Giêsu không chỉ nói điều đúng; Lời Ngài còn giải thoát một con người. “Lời Ta phán ra sẽ không trở về với Ta mà không sinh kết quả!” – Isaia 55, 11.

Thế nhưng, con người vẫn có thể khép lòng trước Lời. Vì thế, Phaolô cảnh tỉnh cộng đoàn Côrintô: trở ngại không nằm ở trí óc, nhưng ở con người “không đón nhận”. Tri thức tôn giáo có thể làm một người hiểu biết, nhưng chưa hẳn làm họ thành môn đệ. Phaolô không dừng ở việc biết Đức Kitô từ bên ngoài, nhưng nói: “Chúng tôi biết được tư tưởng của Đức Kitô” – bài đọc một. Bản Hy Lạp viết noun Christou echomen – “có tâm trí của Đức Kitô”: không chỉ hiểu điều Chúa Kitô dạy, người môn đệ còn mang lấy cách Ngài nghĩ, Ngài nhìn và Ngài chọn lựa. Điều ấy phải trở thành con đường người môn đệ bước đi, vì “Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Capharnaum vẫn có thể tái diễn nơi chúng ta. Có khi, chúng ta nói rất nhiều về Chúa để khỏi phải nghe Chúa nói về mình. Điều còn thiếu không phải thêm một định nghĩa, nhưng một tấm lòng thật sự muốn trở về. “Tôi thà cảm nghiệm lòng thống hối còn hơn là biết cách định nghĩa nó!” – Thomas à Kempis.

Anh Chị em,

Trên thập giá, Đức Kitô không nói thêm lời nào để định nghĩa Thiên Chúa là ai; Ngài trao chính mình. Ở đó, “tâm trí của Đức Kitô” được tỏ bày: hoàn toàn thuộc về Đấng Ngài biết, đến nỗi hiến mình để hoàn tất ý định cứu độ của Cha. Theo Đấng Chịu Đóng Đinh, chúng ta không chỉ nhận ra Thầy, nhưng bước theo Ngài vào vâng phục và tự hiến. Bởi ‘biết là một chuyện’; thuộc về Đấng đã hiến mình cho chúng ta mới là sự sống.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con đã biết rất nhiều về Chúa; xin cho điều con biết đi xuống trái tim, đi ra đôi tay và trở thành từng chọn lựa của đời sống con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XXII TN, Năm Chẵn: 

https://bom.so/znlb0g

Anh em hãy sẵn sàng.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 24,42-51

42 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến. 43 Anh em hãy biết điều này : nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông phải canh thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. 44 Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.

45 “Vậy thì ai là người đầy tớ trung tín và khôn ngoan mà ông chủ đã đặt lên coi sóc gia nhân, để cấp phát lương thực cho họ đúng giờ đúng lúc ? 46 Phúc cho đầy tớ ấy nếu chủ về mà thấy anh ta đang làm như vậy. 47 Thầy bảo thật anh em, ông sẽ đặt anh ta lên coi sóc tất cả tài sản của mình. 48 Nhưng nếu tên đầy tớ xấu xa ấy nghĩ bụng : ‘Còn lâu chủ ta mới về’, 49 thế rồi hắn bắt đầu đánh đập các đồng bạn, và chè chén với những bọn say sưa, 50 chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không chờ, vào giờ hắn không biết, 51 và ông sẽ loại trừ hắn ra, bắt chung số phận với những tên đạo đức giả : ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng.”


 

Sáu tháng đánh Iran, Mỹ được gì, mất gì?- Hiếu Chân/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

August 28, 2026

Hiếu Chân/Người Việt

Cuộc chiến Mỹ và Israel chống Cộng Hoà Hồi Giáo Iran đã kéo dài đúng sáu tháng; bắt đầu bằng chiến dịch tấn công quân sự có tên Operation Epic Fury, nối tiếp bằng chiến dịch bao vây kinh tế có tên Operation Economic Outcast, nhưng đến nay chưa thấy lối thoát cuối cùng. Nhìn lại sáu tháng bom rơi đạn nổ, chúng ta được gì, mất gì?

Những người phản đối cuộc chiến tranh giữa Mỹ-Israel với Iran giơ bảng “Chấm dứt chiến tranh” tại Quảng Trường Copley ở Boston, Massachusetts, hôm 2 Tháng Tám. (Hình: JOSEPH PREZIOSO/AFP via Getty Images)

Không đạt mục đích

Ngày 28 Tháng Hai, trong lúc cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Iran đang tiến triển ở Geneva qua trung gian của Oman, liên quân Mỹ và Israel bất ngờ dội bom xuống nhiều địa điểm ở Iran. Ngay trong vài ngày đầu tiên, bom Mỹ đã giết chết nhà lãnh đạo tối cao Iran, Giáo Chủ Ali Khamenei, và nhiều quan chức cao cấp nhất của chế độ, làm trọng thương con trai và người kế vị ông ta, Giáo Chủ Mojtaba Khamenei. Vài tuần sau đó, chiến dịch oanh tạc và phóng hoả tiễn cấp tập của Mỹ đã huỷ diệt phần lớn không quân và hải quân Iran, phá hoại trầm trọng chương trình hoả tiễn của nước này.

Tuy vậy, người dân Iran không nổi dậy lật đổ chế độ như dự tính. Những lãnh đạo cao cấp bị giết lập tức được thay thế bằng một lớp lãnh đạo mới, trẻ tuổi hơn và cũng cứng rắn hơn. Sử dụng chiến lược chiến tranh “bất cân xứng,” quân đội Iran tấn công các nước đồng minh giàu có nhưng yếu ớt của Mỹ trong khu vực, phá huỷ các căn cứ Mỹ không được bảo vệ đầy đủ và phong tỏa eo biển Hormuz gây gián đoạn nguồn cung dầu và khí đốt toàn cầu.

Chuyện Iran phong tỏa eo biển Hormuz, nơi có 20% lượng dầu và khí đốt của thế giới đi qua, là điều mà các nhà quân sự đã cảnh báo từ lâu nhưng bị chính quyền Trump và Israel phớt lờ với suy nghĩ chế độ Tehran sẽ bị xoá sổ trong một trận chiến chớp nhoáng trước khi kịp phản pháo. Hậu quả là dòng thương mại dầu khí toàn cầu bị xáo trộn, giá xăng dầu và phân bón leo thang, ảnh hưởng tai hại đến người Mỹ và toàn thế giới. 

Xăng dầu là “mạch máu” của nước Mỹ. Khi người Mỹ phải mua xăng với giá cao hơn thì uy tín chính trị của đảng cầm quyền giảm xuống tương ứng. Mà cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ đang lừng lững đi tới.

Bí thế, ngày 17 Tháng Sáu, ông Trump ký Bản Ghi Nhớ Islamabad 14 điểm, do Pakistan làm trung gian, dành cho Iran nhiều ưu đãi về kinh tế để mở lại eo biển Hormuz, chấm dứt tình trạng thiếu nhiên liệu. Nhưng Bản Ghi Nhớ Islamabad – mà những kẻ độc miệng coi như một văn kiện “đầu hàng” của Mỹ – sớm chết yểu chỉ sau một tuần; eo biển Hormuz tiếp tục tắc nghẽn, và Mỹ phải đổi chiến thuật từ tấn công quân sự sang bao vây tài chính với mục đích cô lập Iran và đánh sập nền kinh tế đã èo uột của nước này.

Những mục tiêu ban đầu của cuộc chiến như lật đổ chế độ thần quyền, ngăn chặn chương trình vũ khí nguyên tử và hoả tiễn tầm xa của Iran, chấm dứt việc Tehran tài trợ các tổ chức vũ trang quấy nhiễu khu vực… tạm gác lại cho tương lai, ưu tiên hiện nay của Mỹ là mở lại eo biển Hormuz như thời trước chiến tranh và tái lập hoà bình cho vùng Vịnh Ba Tư đầy sóng gió.

Ở phía đối lập, Hoa Kỳ đã tổn thất sinh mạng, vũ khí cạn kiệt, căn cứ bị phá huỷ và uy tín quốc tế suy giảm trầm trọng; kinh tế thế giới bị ảnh hưởng nặng nề. Mỹ và Israel đã không đánh giá chính xác sức chịu đựng của chế độ độc tài Iran và phải trả giá đắt.

Trung Đông bất ổn

Không chỉ không khuất phục được Iran, không hoàn thành các mục tiêu đặt ra, cuộc chiến còn gây bất ổn cho toàn vùng Trung Đông và xói mòn uy tín chiến lược của nước Mỹ.

Từ lâu, Mỹ và đặc biệt là Israel luôn coi Iran là một mối đe dọa cho hòa bình và ổn định của vùng Trung Đông do việc Iran sở hữu kho hoả tiễn tầm trung và tầm xa lớn nhất khu vực, có công nghệ chế tạo phi cơ không người lái (UAV) phát triển và nuôi dưỡng một mạng lưới các tổ chức vũ trang khủng bố quấy nhiễu các nước lân cận. Nhưng sáu tháng chiến tranh với ý định xóa sổ mối đe dọa đó đã làm cho Iran trở nên liều lĩnh hơn, và vùng Trung Đông trở nên bất an hơn.

Dưới sự “che chở” an ninh của Mỹ, mấy thập niên qua, nhiều nước Trung Đông đã phát triển vượt bậc, trở thành các trung tâm tài chính, giao thương, du lịch tầm cỡ với nhiều đô thị đẳng cấp quốc tế như Dubai, Doha, Abu Dhabi, Riyadh, Qatar… Chiến tranh đã làm tan vỡ tất cả. Hoả tiễn và UAV của Iran liên tục tấn công các căn cứ quân sự Mỹ trong khu vực, đánh cả các cơ sở dầu khí, cảng biển, phi trường của các nước đồng minh, vô số chuyến bay bị gián đoạn hoặc hủy bỏ, các đô thị sầm uất trở nên vắng vẻ đìu hiu.

Iran tấn công tàu bè đi qua eo biển Hormuz, xúi giục phiến quân Houthi phong toả tàu dầu Saudi Arabia đi qua eo biển Bab El Mandeb nối Hồng Hải với Vịnh Aden, thực tế là phong tỏa toàn bộ hoạt động dầu khí, cắt đứt nguồn thu nhập chính của của các nền kinh tế phụ thuộc tài nguyên dầu khí ở Trung Đông. Iran không chỉ muốn bắn cháy một vài tàu dầu mà gieo rắc nỗi hoảng sợ cho các chủ tàu, các công ty bảo hiểm, từ đó làm gián đoạn việc chuyên chở, gián đoạn chuỗi cung cấp và đẩy các nền kinh tế vùng Vịnh vào bất ổn.

Suzanne Maloney, chuyên gia về Iran, đứng đầu về chính sách đối ngoại của Viện nghiên cứu Brookings ở Washington đánh giá cuộc chiến là một thất bại: “Chúng ta đã gây nhiều thiệt hại cho Iran, nhưng họ trở nên mạnh mẽ hơn trước,” bà nói và dẫn chứng các nước láng giềng của Iran đã quyết định họ phải tìm phương thức hòa giải với Tehran.

Đã có dấu hiệu cho thấy để tồn tại, các nước vùng Vịnh phải chấp nhận chung sống hoà bình với một chế độ Hồi Giáo chuyên chế phi nhân, chấp nhận cho Iran kiểm soát eo biển Hormuz và tìm cách tách dần ra khỏi ảnh hưởng của Mỹ. “Bán anh em xa mua láng giềng gần,” họ không có lựa chọn nào khác.

Suy giảm uy thế

Tất nhiên lựa chọn đó sẽ làm suy giảm ảnh hưởng chính trị và kinh tế của Mỹ ở khu vực, từ lâu được coi là bệ đỡ của đồng tiền petro-dollar từ doanh thu dầu khí mà có. 

Về quân sự, ít nhất 15 căn cứ quân sự của Mỹ tại các nước vùng Vịnh đã bị hoả tiễn và UAV của Iran tấn công gây hư hại rất nghiêm trọng, kể cả trụ sở bộ tư lệnh Đệ Ngũ Hạm Đội tại Bahrain. Chi phí sửa chữa xây dựng lại các căn cứ này là rất lớn, và trong tương lai chưa chắc các căn cứ đã an toàn khi Iran bí mật được Nga và Trung Quốc hỗ trợ về tình báo vệ tinh. Và chưa biết sau những tổn thất trong cuộc chiến Iran mà họ không được góp ý kiến trước, các đồng minh vùng Vịnh có sẵn lòng cho phép Mỹ duy trì các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ như từ trước tới nay hay không.

Nên để ý, điều khoản số 4 trong Bản Ghi Nhớ mà ông Trump ký với Iran hôm 17 Tháng Sáu ghi nhận “Hoa Kỳ cam kết sẽ rút quân khỏi khu vực lân cận Cộng Hòa Hồi Giáo Iran trong vòng 30 ngày sau khi đạt được thỏa thuận cuối cùng.” Bản Ghi Nhớ đó đã hết hiệu lực thi hành nhưng yêu sách của Iran về rút quân đội Hoa Kỳ thì vẫn còn đó và có thể sẽ được nhắc lại trong các thỏa thuận tương lai.

Trong sáu tháng chiến tranh, Mỹ đã mất 18 binh sĩ, hơn 750 binh sĩ khác bị thương, tổn thất nhiều phi cơ và UAV, một phần do hoả lực của Iran, một phần do tai nạn. Bản tường trình Tháng Năm của Sở Nghiên Cứu Quốc Hội ghi nhận Mỹ đã mất 43 phi cơ quân sự trong cuộc chiến. Hãng tin Reuters cho biết quân đội Mỹ đã xài “gần hết” nguồn dự trữ hoả tiễn có độ chính xác cao. Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS) ước tính đến Tháng Bảy, Mỹ đã sử dụng hết 65% hoả tiễn đánh chặn Patriot và 38% hoả tiễn đánh chặn tầm cao THAAD chuyên chống đỡ hoả tiễn đạn đạo của đối phương.

Tình hình căng thẳng tới mức quân đội Mỹ phải điều động chiến đấu cơ, chiến hạm, hệ thống phòng không từ Châu Âu và Đông Á sang Trung Đông, kéo dài thời gian triển khai sẵn sàng chiến đấu của binh sĩ. Hàng không mẫu hạm (HKMH) USS Gerald Ford đã trực chiến hơn một năm, dài nhất kể từ thời Chiến Tranh Việt Nam, HKMH USS Abraham Lincoln mới được quay về bến sau hơn 200 ngày trực chiến khi thuỷ thủ và binh lính phải chịu áp lực và thiếu thốn đến mức trầm cảm!

Rõ ràng chiến tranh Iran làm bộc lộ điểm yếu của quân đội Mỹ là dàn trải trên nhiều mặt trận từ Âu sang Á, sử dụng những vũ khí tối tân nhưng hết sức đắt đỏ để chống lại những đòn tấn công rẻ tiền của kẻ địch nhỏ hơn, nghèo hơn, lạc hậu hơn nhưng quyết không đầu hàng. Khi không thực hiện được những trận đánh tốc chiến tốc thắng như ở Venezuela hồi đầu năm nay mà phải kéo dài và tiêu hao thì quân đội hùng cường của nước Mỹ dễ bị thất thế.

Các đối thủ truyền kiếp như Nga, Trung Quốc và Bắc Hàn vẫn theo dõi sát tình hình cuộc chiến Iran và chắc chắn họ thu nhận được những bài học quý giá cho cuộc chạm trán với Mỹ trong tương lai. Xem ra sáu tháng chiến tranh với Iran, nước Mỹ sa vào một cuộc khủng hoảng lớn do chính mình tạo ra chứ không phải là một điều cần thiết. [dt]


 

Từ việc dọa giết Barron Trump: Iran thực hiện các vụ ám sát như thế nào?-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi -Viet

August 26, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Ngày 24 Tháng Tám, đài truyền hình nhà nước Iran phát một video với nội dung cho thấy mọi nhất cử nhất động của Barron Trump, cậu ấm nhà Trump, đều được giám sát. Với tiêu đề “Chúng ta nên giết Barron Trump ở đâu và bằng cách nào?” video treo giải thưởng $10 triệu cho việc ám sát Barron.

Barron Trump, hình chụp Tháng Giêng , 2025 tại Washington, DC. (Hình: Tasos Katopodis/Getty Images)

Cùng ngày, Thủ Tướng Israel, Benjamin Netanyahu, nói với Channel 14 rằng tính mạng con trai ông cũng bị Iran dọa giết. Tháng Bảy, cơ quan an ninh Israel phải tăng cường biện pháp bảo vệ bà Sara – vợ ông Netanyahu, cùng hai con trai là Yair và Avner…

Tất cả đều có “dấu tay” IRGC

Cho đến giờ, lực lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo Iran (IRGC) chưa dám thực hiện bất kỳ cuộc ám sát nhân vật cấp cao nào của Israel lẫn Mỹ nhưng xét về khả năng thì họ hoàn toàn có thể làm được. Điều khiến họ chùn tay, ở thời điểm này, là yếu tố hậu quả chính trị. Trong thực tế, IRGC liên tục thực hiện các vụ ám sát hoặc cảnh cáo ám sát nhằm vào những nhân vật Iran lưu vong. Pouria Zeraati là một điển hình.

Từ khi sống lưu vong ở Anh, nhà báo Pouria Zeraati thường xuyên bị quấy nhiễu, từ những tin nhắn nặc danh đến việc xuất hiện những kẻ lạ mặt đeo khẩu trang lảng vảng bên ngoài nhà.

38 tuổi, Zeraati đến Anh năm 2007 để học kỹ thuật cơ khí. Sau khi tốt nghiệp, anh làm phóng viên cho Manoto, một kênh truyền hình tiếng Ba Tư có trụ sở tại London. Năm 2022, Zeraati bắt đầu dẫn chương trình “The Last Word” trên Iran International – kênh truyền hình vệ tinh nổi tiếng với các bản tin chỉ trích gay gắt chính quyền Teheran.

Bộ trưởng tình báo Iran, Esmail Khatib, cáo buộc Iran International là “tổ chức khủng bố,” trong khi hãng tin Fars tung ra áp phích với chữ “TRUY NÃ: SỐNG HOẶC CHẾT” bên dưới ảnh chân dung Zeraati cùng bốn phát thanh viên khác. Có lần cảnh sát Anh phải đưa xe bọc thép đến văn phòng Iran International khi phát hiện loạt đe dọa nghiêm trọng. Hình ảnh nơi ở của Zeraati bị phát tán trên mạng xã hội. Một lần, vợ anh bị hai gã đi xe mô tô  bám theo đến phòng gym. Chúng nói với cô bằng tiếng Ba Tư rằng cả cô và chồng sẽ bị giết thảm.

Đầu năm 2023, hai kẻ lạ đeo khẩu trang xuất hiện bên ngoài nhà Zeraati ở Wimbledon. Chúng là người Romania. Một kẻ tên George Stana, 22 tuổi, đến Anh vài tuần trước đó. Các tin nhắn từ điện thoại của hắn cho thấy một kẻ chỉ đạo giấu mặt, có biệt danh “Em,” hướng dẫn hắn đến địa chỉ này. Âm mưu sát hại Zeraati cuối cùng bị lộ. Khi được cảnh sát Anh thả, Stana trở về Bucharest.

Một năm sau, hắn quay lại London, thuê một phòng khách sạn với hai tên Romania khác. Florina – em gái Stana – chuyển tiền cho nhóm sát thủ để mua thẻ SIM, quần áo, chi trả chỗ ở và mua một chiếc Mazda.

Một ngày Thứ Sáu Tháng Ba, 2024, khoảng 3 giờ chiều, Zeraati rời nhà để đến trường quay Iran International. Khi Zeraati đi bộ ra xe, một thanh niên Romania tiến lại gần và xin “ba bảng Anh.” Cùng lúc, một người Romania nhào đến ôm chặt Zeraati từ phía sau. Thế rồi tên kia rút dao đâm túi bụi vào chân nạn nhân. Đó chỉ là màn cảnh cáo. Khi Zeraati nằm gục trong vũng máu, hai hung thủ chạy về phía chiếc Mazda. Kẻ cầm lái là Stana. Đến một đoạn, chúng vất xe, cởi quần áo ném vào thùng rác rồi bắt taxi phóng ra phi trường Heathrow. Đáp chuyến bay tới Geneva, sau đó chúng về Bucharest (“Journalist targeted by Iran reacts to U.K.’s crackdown on IRGC”/CBS).

Theo bài báo điều tra của Cora Engelbrecht đăng trên The New Yorker ngày 24 Tháng Tám, câu chuyện “dằn mặt” nhà báo Pouria Zeraati kể ở trên là một phần trong chiến dịch ngày càng được mở rộng mà IRGC thực hiện.

Trong nhiều vụ, IRGC thuê mướn giang hồ được tuyển từ nhiều nơi, từ Nga, Romania, đến Thụy Điển. Trong quá khứ, IRGC từng thực hiện nhiều vụ sát hại thành phần đối lập sống ở nước ngoài. Một trong những vụ tấn công chấn động diễn ra tại Berlin vào năm 1992, khi đặc vụ Iran nổ súng sát hại một nhóm lãnh đạo phe đối lập người Kurd trong lúc họ dùng bữa tại một nhà hàng Hy Lạp. Công tố viên Đức cho biết vụ này được chính lãnh tụ tối cao ra lệnh.

Nhiều năm nay, IRGC chưa bao giờ ngừng các chiến dịch ám sát. Tại Viện Chính Sách Cận Đông ở Washington DC, chuyên gia Matthew Levitt thường xuyên theo dõi các âm mưu ám sát và phá hoại ở nước ngoài của IRGC kể từ cuộc Cách Mạng Hồi Giáo 1979. Levitt ghi nhận có hơn 200 vụ trong 5 năm qua, gần gấp đôi con số được thống kê từ năm 1979 đến 2021.

Một chiến dịch như vậy đã bị ngăn chặn vào năm 2021, khi một nhóm sát thủ, trong đó có một thành viên thuộc băng giang hồ Hells Angels ở Mỹ, sử dụng dịch vụ tin nhắn mã hóa Sky E.C.C. để lên kế hoạch ám sát hai người Iran sống tại Maryland. Vụ này được chỉ đạo trực tiếp từ chính phủ Iran và được điều phối bởi một tội phạm có nhiều tiền án tên Naji Sharifi Zindashti hiện sống tại Tehran.

Theo Suzanne Turner, phó giám đốc Ban Phản Gián FBI, thời gian gần đây, Iran tăng cường thuê các nhóm sát thủ để “sát hại cư dân Mỹ trên đất Mỹ.” Năm 2022, một người Azerbaijan mang theo AK-47 xộc đến nhà Masih Alinejad (nhà hoạt động người Mỹ gốc Iran) tại Brooklyn với lệnh bằng mọi giá phải giết chết nạn nhân. Sứ mạng bất thành. Hung thủ bị bắt. Hắn khai có hai thành viên thuộc mạng lưới tội phạm Nga thuê thực hiện vụ ám sát.

Không đến mức rợn tóc gáy như thời các tổ chức khủng bố cực đoan Hồi Giáo thực hiện các vụ khủng bố đánh bom liều chết, các chiến dịch quậy phá “âm thầm” mà IRGC thực hiện vẫn khiến chính phủ nhiều nước phương Tây luôn đặt họ trong tình trạng báo động để phản ứng kịp thời. Khó khăn lớn nhất cho việc đề phòng là IRGC gần như luôn thuê mướn các nhóm tội phạm địa phương, qua nhiều tầng lớp trung gian. Năm 2024, tình báo phương Tây có bằng chứng cho thấy các băng giang hồ tại Scandinavia đứng ra thuê thanh niên địa phương để thực hiện các chỉ thị từ Iran.

Năm 2024, chỉ vài tháng sau khi xảy ra sự kiện một thiếu niên 14 tuổi bị bắt do liên quan vụ nổ súng tại Đại Sứ Quán Israel ở Stockholm, người ta cũng phát hiện hai thiếu niên Thụy Điển bay qua Đan Mạch và ném lựu đạn vào Đại Sứ Quán Israel ở Copenhagen. Theo tình báo Thụy Điển, âm mưu này do băng Foxtrot Network chỉ đạo, nằm trong mạng lưới do Rawa Majid (biệt danh “Kurdish Fox”) cầm đầu. Tên này hiện sống tại Iran.

IRGC có dám đụng đến gia đình Trump?

Teheran thường xuyên dọa ám sát Trump. Viện dẫn “qisas” (luật trả đũa hay công lý báo thù), họ nhấn mạnh việc giết Trump không chỉ là đòn “máu trả bằng máu” mà còn là một “nghĩa vụ” trong việc phải tiêu diệt kẻ chịu trách nhiệm cho hành động giết chết Lãnh tụ Tối cao của họ.

Trên đài truyền hình nhà nước Iran, bình luận viên Mohammad-Javad Larijani nói rằng “qisas” là “quyền bất khả xâm phạm” của Cộng Hòa Hồi Giáo. Đề cập những kẻ chịu trách nhiệm về cái chết của Giáo chủ Ali Khamenei, Larijani nói: “Chúng tôi sẽ làm bất cứ điều gì trong khả năng, và không có rào cản pháp lý quốc tế nào có thể ngăn cản chúng tôi…” Đích thân Lãnh Tụ Tối Cao Mojtaba Khamenei cũng thề trả thù cho cái chết của cha.

Năm 2022, công tố viên liên bang tại Washington, DC kết tội một thành viên IRGC liên quan âm mưu sát hại cựu cố vấn an ninh quốc gia John Bolton nhằm trả đũa cho cái chết của Tướng Qasem Soleimani. Tên IRGC này móc nối và đưa ra cái giá $300,000 cho một người Mỹ gốc Iran để thực hiện kế hoạch giết Bolton.

Trong thời gian Trump vận động tranh cử vào Tháng Mười, 2024, IRGC cũng chỉ đạo một đặc vụ Iran “tập trung theo dõi và ám sát” Trump cùng nhà bất đồng chính kiến Masih Alinejad tại Brooklyn, New York (kể ở trên). Tên đặc vụ Iran móc nối với hai người – Carlisle Rivera (49 tuổi, ở Brooklyn) và Jonathan Loadholt (36 tuổi, ở Staten Island) – và đưa ra cái giá $100,000 để thực hiện phi vụ.

Tháng Bảy, 2024, một người Pakistan tên Asif Merchant bị bắt với kế hoạch mưu sát các chính trị gia Mỹ. Kế hoạch bại lộ khi Merchant, theo chỉ đạo IRGC, đang tìm sát thủ thực hiện trực tiếp. Tháng Mười Một, 2024, ngay sau khi Trump đắc cử nhiệm kỳ thứ hai, Bộ Tư Pháp công bố cáo trạng nhằm vào Farhad Shakeri (công dân Afghanistan), cũng với âm mưu ám sát Trump.

Thời gian gần đây, IRGC thường xuyên đe dọa nhằm vào gia đình Trump. Tháng Bảy, hãng tin Tasnim (có liên kết với IRGC) phát một video có tiêu đề “Có thể tiếp cận Melania Trump ở đâu và bằng cách nào?” Cuối Tháng Năm, tờ New York Post đưa tin về một âm mưu nhắm vào Ivanka Trump.

Liệu IRGC có dám “chơi lớn” khi ám sát thành viên gia đình Trump, như cách mà Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ thường xuyên cảnh báo? Khó có thể biết đó là báo động thật hay giả. Về năng lực và ý chí, không thể loại trừ khả năng IRGC tấn công một thành viên gia đình Trump. Như kể ở trên, Teheran có thể sử dụng tội phạm, sát thủ thuê hoặc mạng lưới trung gian. Điều đó phần nào giúp Iran tạo ra “chứng cứ ngoại phạm.”

Tuy nhiên, xét về hậu quả chính trị, ám sát Barron Trump hay Melania Trump là bước leo thang cực kỳ nguy hiểm. Khác với việc giết một cựu quan chức hay nhà bất đồng chính kiến, tấn công cá nhân tổng thống Mỹ hoặc thành viên gia đình tổng thống Mỹ, bất luận là Trump hay ai khác, chẳng khác nào một hành động rồ dại ngu xuẩn khi tuyên chiến trực tiếp với toàn bộ nước Mỹ. Hậu quả chắc chắn cực kỳ tàn khốc. IRGC hẳn biết điều đó. Và họ cũng biết rõ hiệu quả của trò tâm lý chiến về mặt truyền thông. [kn]


 

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỜI SỐNG – Lm. Mark Link, S.J.

Lm. Mark Link, S.J.

 Vào khoảng 3 giờ sáng ngày 17 tháng Tám, 1999, một trong những trận động đất kinh hoàng nhất đã xảy ra trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ.  Nó đã san bằng hàng trăm công trình kiến trúc và làm thiệt mạng hàng ngàn người.

 Khi động đất xảy ra, một kế toán viên 40 tuổi người Thổ Nhĩ Kỳ là Yuksel Er vừa mới đi ra từ phòng vệ sinh ở lầu ba trong khu chung cư sáu tầng lầu.

 Bỗng dưng, mọi thứ bắt đầu quay cuồng.  Chính ông cũng lảo đảo và bị rơi vào dòng thác cuốn các đồ vật.  Trong 45 giây tiếp đó tai ông như điếc vì tiếng động mạnh.

 Và rồi, bỗng dưng mọi sự im lặng một cách ghê sợ.

 Khi Yuksel tỉnh dậy, ông thấy mình bị kẹt dưới đống gạch vụn trong một vùng thật tối. 

Trong khoảng cách nhỏ bé đó, ông không thể nào cựa quậy được, chỉ có thể nằm yên ở đó.

 Trên mình ông và chung quanh ông là những vụn vỡ của tòa chung cư sáu tầng lầu.

 Lúc đầu ông tưởng là tận thế.  Nhưng khi nghe thấy tiếng rên rỉ ở xa xa, ông biết là một điều gì khác đã xảy ra.

 Trong bốn ngày liền, ông không ăn uống gì.  Ông dùng thời giờ để cầu nguyện, suy nghĩ về đời sống và tự hỏi đời sống sau khi chết sẽ như thế nào.

 Lúc đầu, ông còn la lớn kêu cứu.  Nhưng thấy vô ích ông im lặng để dưỡng sức.

 Ông bắt đầu nhớ đến gia đình, và nhất là đứa con trai 13 tuổi mà ông vừa mới la rầy nó chỉ vài giờ trước trận động đất – vì nó cứ dành máy vi tính của gia đình để chơi “game.”

 Sau đó vào ngày thứ tư, khoảng một giờ sáng, ông nghe có tiếng gọi quen thuộc.  Chỉ trong vài phút, ông nhận ra tiếng của đứa cháu và thằng con 13 tuổi.  Chúng đào xới đống vụn để lôi ông lên.

 Khi đứa con trai lôi được ông ra khỏi đống gạch vụn, điều đầu tiên nó nói là, “Bố ơi, con sẽ không bao giờ làm bố giận nữa.”  Ông Yuksel trả lời, “Bây giờ thì không còn quan trọng nữa, vì bây giờ mọi sự sẽ khác biệt.” 

Sau này, khi ở trong bệnh viện, Yuksel nói với gia đình và bạn hữu: “Đây là cuộc đời thứ hai của tôi.  Tôi sẽ cố gắng tận dụng cuộc đời ấy.”  Và rồi ông khóc.  Giống như tiếng khóc của đứa bé mới lọt lòng mẹ. 

Trước trận động đất, Yuksel sống với những ưu tiên và mục đích, không khác gì những ưu tiên và mục đích của chúng ta.  Sau cảm nghiệm ấy, các ưu tiên và mục đích của ông thay đổi cách đáng kể.

 Điều này đưa chúng ta đến bài Phúc Âm hôm nay.  Trong bài Chúa Giêsu nói rằng, “Nếu ai trong các con muốn đến với Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá của con và theo Thầy.”

 Ở đó chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu cảnh cáo các môn đệ về sự ngu dại khi giành được thế gian nhưng đánh mất điều quan trọng nhất trong tất cả: là sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

 Sau cùng, chúng ta cũng thấy Chúa Giêsu nói: Con Người sẽ thưởng cho họ tùy theo hành động của họ.” 

Hãy trở về với câu chuyện của Yuksel.  Khởi đầu tưởng rằng là một thập giá nặng nề, nhưng sau cùng lại là một phước lành lớn lao.

 Nó đã dạy cho ông và thúc giục ông sống thời gian còn lại theo một phương cách xứng hợp với Chúa, và với suy nghĩ của Thiên Chúa chứ không phải của Satan.

 Cũng giống như trận động đất đã thay đổi cuộc đời ông Yuksel, bài Phúc Âm hôm nay cũng nhắm đến một kết quả tương tự cho chúng ta – tối thiểu cho một số người trong chúng ta.  Có lẽ, như Phêrô, lối suy nghĩ về đời sống của chúng ta trở nên nguy hiểm hơn và càng giống với kiểu cách suy nghĩ của Satan hơn là của Thiên Chúa.

 Có lẽ, giống như Phêrô, chúng ta đang mất dần ý nghĩa của đời sống.  Một đời sống không hoàn toàn vì vui thú và không muốn tránh càng nhiều thập giá càng tốt.

 Đúng ra, đó là một đời sống để được phần thưởng là sự sống đời đời.  Đó là lối sống trong những năm còn lại của chúng ta ở đời này để giúp chúng ta gặt được phần thưởng là sự sống vĩnh cửu ở đời sau.

 Rõ rệt hơn nữa là vác thập giá hằng ngày của chúng ta và chấp nhận các thập giá ấy trong tinh thần mà Chúa Giêu đã chấp nhận thập giá của Người.

 Và đây là phần đáng kể.  Một khi chúng ta bắt đầu sống như Chúa Giêsu đã dậy, chúng ta sẽ khám phá ra điều mà Yuksel đã tìm thấy.

 Nó sẽ thay đổi mọi sự, và bỗng dưng, điều tưởng như một thập giá to lớn lại trở nên một ơn sủng lớn lao trong đời này và đời sau.

 Hãy kết thúc với câu chuyện để nói lên điều chúng ta muốn nói:

 Một vài năm trước đây, Gene Stallings đã huấn luyện đội banh trường đại học Alabama để thắng được 22 trận và được coi là trường đứng hạng hai về dã cầu (football).  Nhưng không phải biến cố này, mà là một biến cố khác, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời của ông.  Đó là việc sinh hạ đứa con trai, Johnny.

 Khi bác sĩ nói với ông Stallings rằng Johnny sẽ bị hội chứng Down (chậm phát triển) và có lẽ không sống lâu hơn bốn năm, ông đã ngất xỉu.

 Ba mươi năm sau, Johnny vẫn còn sống.  Nói về ảnh hưởng của Johnny trong cuộc đời, ông Stallings cho biết:

 “Cháu rất đặc biệt!  Tất cả sự yêu thương của cháu thì vô điều kiện.  Cháu không đạt được thành tích gì.  Cháu hoàn toàn vị tha.”

 Trong rất nhiều dịp, ông Stallings tuyên bố rằng cho dù có thể đảo ngược mọi sự và bắt đầu lại với một đứa con không bị bệnh Down thì ông cũng không muốn như vậy.  Ông nói, “Tôi cảm nhận được rất nhiều ơn lành.”

 Điều mà ông Stallings nghĩ rằng sẽ là một thập giá lớn lao trong đời thì lại trở nên một ơn sủng lớn lao – cả ở đời này và ngay cả ở đời sau.

 Đây là Tin Mừng của Phúc Âm hôm nay.  Đây là Tin Mừng mà chúng ta cử hành trong phụng vụ này.

Đó là Tin Mừng khi chúng ta vác thập giá của mình và theo Chúa Giêsu, điều đó có thể thay đổi cuộc đời chúng ta nhưng sẽ đem lại một bình an và phước lành mà chưa bao giờ chúng ta tưởng tượng nổi hay dám hy vọng – và ngay cả dám mơ tưởng đến.

 Lm. Mark Link, S.J.

 From: Langthangchieutim


 

“CHÁY NHÀ SẼ RA MẶT CHUỘT” !

Xuyên Sơn

 “CHÁY NHÀ SẼ RA MẶT CHUỘT” !

Có một con chuột bị mèo đuổi, vô tình chui vào trong tượng Phật trên chùa và làm tổ ở đó…

Từ ngày chui vào trong tượng Phật, cuộc sống của chuột ta vô cùng no đủ.

Nó luôn được ăn thỏa thích những đồ lễ vật mà người dân mang đến cúng bái.

Thêm nữa, người nào đến trước tượng Phật của toàn phủ phục, nên con chuột tự thấy mình cũng oai lắm.

Nó thoải mái ăn ở, thậm chí còn tự do phóng uế lung tung…

Mỗi khi người dân đến thắp hương khấu đầu, con chuột kia nhìn khói hương nghi ngút từ từ bay lên, cười thầm:

“Đúng là những kẻ ngu ngốc, chẳng ai bắt mà cũng quỳ cũng lạy! Bây giờ ta mới biết mình cũng oai thế, đến loài người còn bái lại ta, mà bấy lâu nay sao cứ phải sợ mèo nhỉ!”.

Lâu ngày, sống cùng tượng Phật ở trên cao, thấy người nào đến thắp hương cũng chắp tay thành kính và quỳ lạy như thế, chuột cũng ngộ nhận và tự cho mình cao quý và tôn kính như… Phật.

Bỗng một hôm, có người cắm bó hương to, sơ ý để bùng cháy… Nóng và khói quá, con chuột bò vội ra ngoài, thì bị con mèo đói vồ được.

Chuột ta bèn vênh váo kêu lên:

– “Này mèo! Nhà người không thể ăn thịt ta được, hãy quỳ xuống thành kính bái lạy đi, rồi mang thức ăn lại đây… Ta là Phật đấy!”

Mèo cười to:

– “Những người quỳ lạy mày là vì vị trí mà mày đang chiếm đoạt, chứ không phải vì bản thân mày cao quý, quyền cao chức trọng gì đâu. Giờ thì mày tới số rồi, con chuột ngu ngốc!

Trong cuộc sống, không ít những kẻ nhờ thủ đoạn, hoặc do may mắn, bỗng ngồi vào một ví trí nào đó, thấy những người xung quanh đều xum xoe nịnh nọt, bổng lộc tự đến đầy nhà… thì tưởng mình là tài năng, cao quý và oai vệ lắm.

Họ giống như con chuột bỗng chui vào tượng Phật, nhưng vì tự đắc, nên không hề biết người khác cung kính mình là vì nhân cách của Phật.

Họ cũng ngộ nhận về học thức, ân đức của chính mình; không biết chỉ là nhờ vị trí cái ghế ngồi mà họ đang may mắn tạm thời nắm giữ.

Họ càng không lường được rằng, rất có thể tới một ngày…

“Cháy nhà sẽ ra mặt chuột”!

(st)

Nguồn: fb An Nguyen