HÀNH TRÌNH NHÌN LẠI – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong một đoạn rất sâu sắc trong bài thơ Chiếc lá và Đám mây (The Leaf and the Cloud), Mary Oliver đã họa lên hình ảnh mình đang đứng cạnh mộ cha mẹ, nghĩ về cuộc đời của họ.  Họ không phải là hình ảnh hoàn hảo và bà cũng không tô lên cho đẹp những sai lỗi của họ.  Bà nói thẳng về tâm hồn nặng nề của mẹ, về đức tin non nớt của cha.  Bà biết nhiều chuyện khó khăn của bà phát xuất từ đó.  Tuy nhiên, bà không đi thăm mộ cha mẹ để trách họ.  Bà đến đó để thật tâm hôn từ biệt họ, cuối cùng bà thấy bình an với cuộc đời không hoàn hảo và ảnh hưởng của cha mẹ trên cuộc đời mình.  Bà cám ơn họ vì mọi sự, cả tốt và xấu, cầu chúc họ mọi sự tốt đẹp dưới lòng đất sâu, rồi bà nói, “nhưng tôi sẽ không tặng cha mẹ tôi nụ hôn đồng tình.  Tôi sẽ không để họ có trách nhiệm trên đời tôi.” 

Tất cả chúng ta có lẽ nên làm cuộc hành trình nhìn lại này bằng cách xem lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của mình.  Đây là cả một điều đáng để xem lại.  Tiếc là nhiều người trong chúng ta không bao giờ lưu lại đủ lâu để xác định xem điều gì mang lại ân phúc, điều gì mang lại tổn thương khi một tác nhân dễ sai lầm là con người giới thiệu Thiên Chúa cho chúng ta.  Ngày nay, chuyện phổ biến, thậm chí còn là thời thượng khi người ta chỉ xem lại những gì tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Đúng là nhiều người nói về “tái sinh” khỏi giáo dục tôn giáo và thường quy mọi bất hạnh và rối loạn trong đời họ cho giáo dục tôn giáo này.

 Chắc chắn, một số khẳng định như thế là có lý, giáo dục tôn giáo thuở nhỏ thật sự để lại một dấu tích không phai trong chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta có trách nhiệm với bản thân, với cha mẹ, giáo viên thời thơ ấu và với sự trung thực, trong việc phải xác định những điều tích cực và tiêu cực trong giáo dục tôn giáo thuở nhỏ.  Và như bà Mary Oliver, chúng ta cần làm hòa với nó, dù chúng ta không thể tặng cho nó nụ hôn đồng tình. 

Câu chuyện của riêng tôi là gì?  Với tôi, sự tỉnh ngộ về ý thức và tỉnh ngộ về Thiên Chúa và Giáo hội là hai điều liên kết không thể phân ly.  Tôi hấp thụ bầu khí Công giáo La-mã thời đó, và đó là công giáo thời tiền Vatican II, một tinh thần công giáo đầy những chuyện tiêu cực lẫn tích cực.  Lòng đạo thuở nhỏ của tôi là những chân lý tuyệt đối, những luật không thể thương lượng, nhưng lại đòi hỏi cao, cả tính bè phái và hạn hẹp bao gồm.  Chúng ta và chỉ chúng ta mới có đức tin thật, duy nhất.  Hơn nữa, những điều này được viết ra bởi một Thiên Chúa theo dõi sát sao hành động con người, không dễ dàng cho phép chúng ta lỗi phạm, giữ điều răn thứ sáu trên tất cả, dùng xấu hổ làm khí cụ và thường hay cau mày giận dữ. 

Nhưng đó còn lâu mới là tất cả.  Mặt tích cực của nó thì có quá nhiều.  Gia đình, cộng đoàn, và Giáo hội đã rửa tội cho tôi, có những mối liên kết chung mà hầu hết các cộng đồng thời nay chỉ có thể ganh tị.  Bạn thật sự là một phần của một thân thể, một gia đình, một cộng đoàn là hiện thân của ý thức siêu việt đã làm cho đức tin thành điều tự nhiên, làm cho cộng đoàn thành một phần cuộc đời của bạn.  Bạn biết mình là con cái Thiên Chúa và bạn cũng biết mình là tạo vật luân lý có trách nhiệm thật sự với tha nhân và Thiên Chúa.  Bạn biết ý nghĩa bất diệt của mình, phẩm giá căn bản của mình và trách nhiệm luân lý đến từ đó và bạn không thể miễn trừ mình khỏi chuyện đó. 

Và tất cả những điều này truyền cho bạn một chân lý tôn giáo, luân lý, rất căn bản và không thể thương lượng, rằng sự sống của bạn không đơn thuần là của bạn để bạn muốn làm gì thì làm.  Bạn biết rằng trừ khi bạn bội tín, bạn không thể làm ngơ sự thật là bạn mang tính xã hội, phụ thuộc lẫn nhau, thuộc về Giáo hội, và sự thật rằng Thiên Chúa cho bạn xuất hiện trên đời không phải chỉ để mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho riêng bạn.  Bạn có ơn gọi, một bổn phận nào đó để phục vụ, và Thiên Chúa, gia đình, cộng đoàn và Giáo hội có thể đòi hỏi bạn hy sinh mạng sống.  Ngày nay, tôi thấy phần này trong tâm hồn mình là một trong những ơn quý báu nhất tôi đã nhận được từ linh đạo thuở nhỏ.  Dù nó có kèm theo những con quái vật xấu xa nào, nó cũng vẫn xứng đáng. 

Thêm nữa, quái vật có thể bị xua trừ và hầu hết quái vật bị chôn trong giáo lý căn bản tôi học hồi nhỏ đã dần dần bị tiêu diệt qua năm tháng. Điều gì đã giúp làm được như thế? Nhiều điều lắm: những năm học và dạy thần học, đọc sách hay, có linh hướng tốt, thấy được sự lành mạnh hân hoan và thiết thực nơi những người có đức tin, kiên trì trong nỗ lực trung thành với việc cầu nguyện, thánh lễ và cộng đoàn Giáo hội suốt bảy thập kỷ, và cuối cùng, nhưng quan trọng, chính là nhờ ơn Thiên Chúa. 

Ngày nay, tôi có thể nhìn lại giáo dục tôn giáo thuở nhỏ của tôi và thấy sự tiêu cực bị điều tích cực át hẳn.  Tôi biết ơn tất cả, kể cả những nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái, sợ hãi, và những nỗi sợ sai lầm về Thiên Chúa, bởi vì trong mọi sự này có gì đó đã truyền cho tôi và dạy tôi điều gì là quan trọng nhất. Thật vậy, sự nghiêm khắc, dọa dẫm, bè phái và cẩn trọng quá đáng không tệ để làm điểm xuất phát, vì khi dần thoát khỏi chúng, chúng ta được tự do suốt phần đời còn lại.  Một ơn không nhỏ!

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

CHÚA THƯỜNG MUỘN?- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ”.

“Thiên Chúa bắt chúng ta chờ đợi để làm lớn lên lòng khát khao; và khi khát khao đủ lớn, Ngài mở rộng tâm hồn để đón nhận điều sắp ban!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những đêm đợi chờ không vì Thiên Chúa vắng mặt, nhưng vì Ngài đang làm lớn lên nỗi khát. Tin Mừng hôm nay kể về một đêm như thế. Phải chăng ‘Chúa thường muộn?’.

Ngay từ đầu trình thuật, Matthêu đã kín đáo gieo một chi tiết mà chúng ta dễ bỏ qua. Sau phép lạ hoá bánh, Chúa Giêsu buộc các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia trước. Bản Hy Lạp viết proagein – đi “trước”. Nhưng “trước” ở đây không chỉ là trước về không gian hay thời gian; đó là một hành trình dẫn vào một điều lớn hơn. Các môn đệ chưa biết đêm ấy sẽ gặp điều gì; họ vâng lời. Chỉ khi bão nổi, họ mới hiểu: Chúa Giêsu không đưa họ sang một bờ bên kia nào khác, nhưng vào mầu nhiệm của chính Ngài; điều chỉ có thể hiểu được khi đã đi qua: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!”.

Nhưng tại sao Chúa Giêsu để các môn đệ đi trước, rồi mãi đến canh tư mới xuất hiện? Phải chăng Ngài ‘thường muộn?’. Không! Ngài không muộn, cũng không hề bỏ họ một mình giữa biển đêm. Ngài vẫn ở bên; chỉ có điều họ không nhận ra. Chỉ khi sức người chạm tới giới hạn, họ mới khám phá Đấng tưởng như vắng mặt chưa bao giờ rời xa. Điều con người gọi là ‘muộn’, nhiều khi lại chính là giờ của Thiên Chúa – giờ họ nhận ra Ngài. Bởi lẽ, Ngài không đến sau sức người, nhưng luôn đến trước tuyệt vọng. “Ai tin thì không bao giờ cô độc!” – Bênêđictô XVI.

Thiên Chúa không chỉ có “giờ”, mà còn có “cách” của Ngài. Êlia đã không gặp Chúa như mình chờ – bài đọc một; Phaolô không thấy lời hứa được thực hiện như mình mong – bài đọc hai. Con người tưởng Thiên Chúa vắng mặt nhiều khi không phải vì Ngài muộn, nhưng vì Ngài hiện diện không theo cách họ ước. Bởi vậy, Thánh Vịnh đáp ca trở thành lời cầu của mọi thời: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa!”.

Phần chúng ta, điều cần đổi không phải là “giờ” của Thiên Chúa, nhưng là cách đọc cuộc đời. Chúng ta vội xem im lặng là vắng mặt, chậm trễ là bỏ quên, bão tố là vắng Chúa; đang khi Ngài vẫn ở bên. Chỉ khi ngoảnh lại, chúng ta mới nhận ra: Thiên Chúa chưa bao giờ muộn; chỉ có đức tin của chúng ta đến muộn. ‘Canh tư’ muộn màng hoá ra lại là khoảnh khắc chính xác nhất để ơn thánh ngỏ lời.

Anh Chị em,

Với Đức Kitô, trên thập giá, mọi sự đều như quá muộn: lời hứa, phép lạ, ngay cả sự sống. Nhưng chính nơi tưởng như Chúa Cha vắng mặt nhất, bình minh phục sinh đã dần hé rạng. Từ đó, giữa những ‘canh tư’ của cuộc đời, người Kitô hữu không còn hỏi: ‘Chúa thường muộn?’; cũng không còn đòi Chúa sớm cất dông bão, nhưng xác tín rằng giữa mọi phong ba, Ngài vẫn ở bên – Emmanuel. “Chờ đợi không phải là thụ động; đó là tin rằng điều đang xảy ra còn lớn hơn điều ta thấy!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con bỏ cuộc giữa những ‘canh tư’; chỉ biết trung thành với lối Chúa dẫn. Vì cuối mọi bờ bên kia là chính Đức Kitô – bến hẹn đời con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XIX TN, NĂM A: 

https://sl1nk.com/o3p7jen

Ai nấy đều ăn và được no nê.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

13 Khi ấy, được tin ông Gio-an Tẩy Giả chết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.

15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16 Đức Giê-su bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17 Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” 18 Người bảo : “Đem lại đây cho Thầy !” 19 Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.


 

LỜI VẪN CHÁY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa!”.

“Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô!” – Giêrônimô.

Kính thưa Anh Chị em,

Biết Đức Kitô, không ai có thể đứng yên. Một khi đã gặp Ngài, không ai được phép trì hoãn; đón nhận Lời Ngài là phải lên đường. Giữa muôn nẻo – ‘Lời vẫn cháy’.

Thánh Đaminh đã sống đúng chuyển động Tin Mừng ấy. Nơi ngài, Lời trở thành lửa, thôi thúc để lửa ấy cháy lan. Điều thánh nhân tìm kiếm không phải là giữ chân lý cho mình, nhưng để chân lý đến với mọi người. Vì thế, ngài khai mở một lối sống và một Dòng Giảng Thuyết, nơi Lời trở thành gia sản chung của Hội Thánh.

Nguồn mạch của lối sống ấy phát xuất từ chính lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. Ngài đặt con người trước một sự cắt đứt: dứt khoát, không ngoái lại. Bản Hy Lạp viết Apelthōn diángelle – “Hãy lên đường loan báo!”. Apelthōn không chỉ là bước đi, nhưng là dứt mình khỏi điều đang giữ chân; diángelle không chỉ là cất tiếng, nhưng là để Lời tiếp tục đi tới. Người môn đệ lên đường không để mang lời mình, nhưng để Lời Thiên Chúa tiếp tục vang lên.

Lời ấy là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa – ánh sáng không bao giờ tàn lụi – không được ban để cất giữ, nhưng để tiếp tục soi đường; không dừng lại nơi người đã đón nhận, nhưng luôn tìm đến những người còn chưa được nghe – bài đọc một. Đức Khôn Ngoan không vơi đi khi được trao ban; trái lại, càng trao ban càng làm giàu cả người trao lẫn người nhận. Vì thế, Thánh Vịnh đáp ca mới mời gọi: “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm!”.

Nhưng việc loan báo không dừng lại ở đó. Ở đây, Lời không chỉ là điều được biết, nhưng là sự sống. Truyền thống Đaminh cô đọng điều ấy trong một châm ngôn: “Chiêm niệm và trao cho người khác điều mình đã chiêm niệm”. Vì thế, giảng thuyết không phải là lặp lại một chân lý, nhưng để Chân Lý tiếp tục lên tiếng trong đời người rao giảng. Chẳng có ngọn lửa truyền giáo nào không thiêu đốt trước tiên người cầm đuốc. Chỉ khi người loan báo để Lời biến đổi chính mình, Lời mới có thể biến đổi người khác. “Lời Thiên Chúa không chỉ là thông tin, nhưng là một thực tại biến đổi chúng ta!” – Bênêđictô XVI.

Điều thiếu không phải là nhiều lời hơn, nhưng là nhiều con người không để Lời đọng lại trên cuộc đời mình. Có những bài giảng chỉ kéo dài mười phút; cũng có những bài giảng kéo dài suốt một đời người. Khác biệt không nằm ở tài hùng biện, nhưng ở việc Lời đã thật sự trở thành máu thịt của người loan báo. “Người giảng phải uống lấy điều mình sẽ rót ra!” – Grêgôriô Cả.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, Lời không còn chỉ được nói, nhưng đã làm người. Không chỉ công bố chân lý, Ngài là Chân Lý; không chỉ chỉ đường, Ngài là Đường; không chỉ loan báo sự sống, Ngài là Sự Sống. Vì thế, mỗi lần chúng ta để cho Lời biến đổi đời mình, chính Đức Kitô lại tiếp tục lên tiếng giữa thế giới. Trong Ngài, Lời không bao giờ tắt. Dẫu thuận tiện hay không thuận tiện, ai thuộc về Ngài, ‘Lời vẫn cháy’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con sống điều con loan báo và loan báo điều con sống, để ‘Lời Bừng Lửa’ luôn là ‘Lời vẫn cháy’ trong con và qua con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Thứ Bảy Tuần XVIII – Mùa Thường Niên, Năm Chẵn 

https://sl1nk.com/l4alucx

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

14 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đến với đám đông, thì có một người tới quỳ xuống trước mặt Đức Giê-su 15 và nói: “Thưa Ngài, xin thương xót con trai tôi, vì cháu bị kinh phong và bệnh tình nặng lắm: nhiều lần ngã vào lửa, và cũng nhiều lần ngã xuống nước. 16 Tôi đã đem cháu đến cho các môn đệ Ngài, nhưng các ông không chữa được.” 17 Đức Giê-su đáp: “Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! Tôi còn phải ở với các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa? Đem cháu lại đây cho tôi.” 18 Đức Giê-su quát mắng tên quỷ, quỷ liền xuất, và đứa bé được khỏi ngay từ giờ đó.

19 Bấy giờ các môn đệ đến gần hỏi riêng Đức Giê-su rằng: “Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy?” 20 Người nói với các ông: “Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: ‘Rời khỏi đây, qua bên ki!’ nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được.”


 

Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Van NguyenSự Thật Lề Đường (STLĐ) 

Bình luận xã hội: Khi khoảng cách giàu–nghèo trở thành vết nứt của thời đại

Bất bình đẳng giàu–nghèo không còn là một hiện tượng kinh tế đơn thuần. Nó đã trở thành vết nứt xã hội lớn nhất của thế kỷ 21, một đường ranh chia con người thành hai thế giới sống song song nhưng hoàn toàn khác biệt.

Trong những thập niên trước, người ta tin rằng tăng trưởng kinh tế sẽ tự động mang lại thịnh vượng cho tất cả. Nhưng thực tế phũ phàng hơn nhiều: tài sản không chảy xuống đáy, mà chảy ngược lên đỉnh. Và càng ngày, tốc độ chảy càng nhanh.

  1. Thế giới của 1% và thế giới của 99%

Ngày nay, theo dữ liệu từ World Inequality Database, top 1% dân số thế giới nắm gần 40% tài sản toàn cầu, trong khi 50% dân nghèo nhất chỉ sở hữu khoảng 2%.

Không cần những con số giật gân để thấy sự thật: tài sản đang tập trung vào một nhóm cực nhỏ, còn phần lớn nhân loại sống trong tình trạng bấp bênh.

Điều đáng nói là:

  • Nhóm giàu nhất không chỉ giàu hơn – họ giàu nhanh hơn.
  • Nhóm nghèo không chỉ nghèo – họ nghèo lâu hơn.

Khoảng cách không còn là một đường cong, mà là một vực sâu.

  1. Xã hội phân tầng: giàu sống trong tương lai, nghèo sống trong quá khứ

Nhóm giàu nhất sống trong một thế giới nơi công nghệ, y tế, giáo dục, và cơ hội mở ra như cánh cửa tự động.

Nhóm nghèo sống trong một thế giới nơi mọi thứ đều là rào cản:

  • Giá nhà vượt xa thu nhập
  • Y tế trở thành xa xỉ
  • Giáo dục chất lượng cao chỉ dành cho người có điều kiện
  • Việc làm bấp bênh, lương không theo kịp chi phí sống

Hai thế giới này không còn gặp nhau.

Họ chỉ nhìn thấy nhau qua những con số thống kê lạnh lùng.

  1. Nguyên nhân: hệ thống được thiết kế để tài sản chảy lên

Các nhà xã hội học Ý từ thập niên 1980 đã cảnh báo:

Khi chính sách ưu ái vốn hơn lao động, bất bình đẳng sẽ tăng không thể đảo ngược.

Ngày nay, điều đó đã thành hiện thực:

  • Toàn cầu hóa giúp tập đoàn đa quốc gia hưởng lợi, không phải người lao động.
  • Công nghệ tạo ra siêu lợi nhuận cho một nhóm nhỏ sở hữu trí tuệ và cổ phần.
  • Thuế giảm cho người giàu, tăng cho tầng lớp trung lưu.
  • Công đoàn suy yếu, lương không theo kịp năng suất.

Kết quả: tài sản chảy lên đỉnh kim tự tháp và không quay lại đáy.

  1. Hệ quả xã hội: bất mãn, cực đoan, và mất niềm tin

Khi người nghèo cảm thấy mình bị bỏ lại phía sau, xã hội bắt đầu rung chuyển:

  • Niềm tin vào chính phủ giảm
  • Chủ nghĩa dân túy tăng
  • Xung đột giai cấp trở nên rõ rệt
  • Giới trẻ mất niềm tin vào tương lai
  • Bạo lực và tội phạm tăng theo tỷ lệ nghèo

Một xã hội mà đa số cảm thấy không có lối thoát là một xã hội dễ tổn thương.

  1. Kết luận: Bất bình đẳng không phải số phận – nó là lựa chọn chính sách

Khoảng cách giàu–nghèo không phải là điều tự nhiên.

Nó là kết quả của những quyết định chính trị, kinh tế, và xã hội trong suốt 40 năm qua.

Và nếu những quyết định đó không thay đổi, bất bình đẳng sẽ không chỉ là vấn đề kinh tế – nó sẽ trở thành ngòi nổ của bất ổn xã hội toàn cầu. 


 

HÃY NHÌN LẠI BẦU TRỜI – Lm. Mark Link, S.J.

 Lm. Mark Link, S.J.

 Chủ đề: “Nếu chúng ta cảm thấy khó sống phúc âm, có lẽ do chúng ta không còn nhìn đến Chúa Giêsu.”

 Có một ông nọ nói: “Tôi cứ nghĩ là càng về già tôi sẽ càng ít bị cám dỗ, nhưng thực tế tôi lại bị cám dỗ nhiều hơn.”  Có một phụ nữ kia nói: “Tôi cứ ngỡ là khi các cháu bé lớn lên tôi sẽ kiên nhẫn hơn, thế mà ngược lại tôi thấy mình nóng tính hơn trước.”  Một thiếu niên nói: “Trước đây tôi cứ nghĩ vâng phục luật Chúa là dễ dàng.  Bây giờ thì tôi lại thấy càng ngày càng khó.”

 Bạn có lời nói nào tương tự như vậy không?  Bạn có thấy bị cám dỗ thường xuyên không?  Bạn có thấy mất kiên nhẫn với những người thân yêu không?  Bạn có cảm thấy ngày càng khó vâng theo luật Chúa không?  Nếu có, thì bài Phúc Âm hôm nay chắc chắn là một sứ điệp quan trọng đối với bạn.

Câu chuyện trên đây minh họa điều đó.  Nó giống hệt câu chuyện trong Phúc Âm hôm nay. 

Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ.  Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm.  Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời.  Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm.  Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.

 Thấy thế, một thuỷ thủ già liền la to lên với cậu: “Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi!  Nhìn lên lại bầu trời đi!”  Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.  Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phêrô trong Phúc âm hôm nay.  Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phêrô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.

 Và điều này thường xảy ra cho bạn cũng như cho tôi.  Lúc đầu chúng ta khởi sự cuộc sống thật tốt đẹp, đôi mắt đăm đăm nhìn vào Chúa Giêsu, nhưng rồi một điều gì đó xảy đến khiến chúng ta rời xa mắt Người.  Chúng ta không còn nhìn vào Chúa Giêsu nữa; thế là chúng ta bị mất thăng bằng, chúng ta bắt đầu chìm xuống.  Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể.

 Trong cuốn sách tựa đề “The Taste of New Wine” (Hương rượu mới), Keith Miller có mô tả một biến cố thay đổi cuộc đời ông.  Biến cố này xảy ra vào mùa hè ngay sau năm thứ nhất đại học của ông.  Ðêm hôm ấy, Keith bị thương nặng vì một tai nạn xe hơi.  Anh nằm sõng soài bên vệ đường suốt một tiếng rưỡi chờ xe cứu thương.  Khi tâm trí hoàn toàn tỉnh táo, anh bắt đầu cầu nguyện.  Ðang khi nằm đó cầu nguyện trong bóng đêm, một cảm giác an bình xâm chiếm con người anh.  Keith viết: “Tôi nghĩ thật xấu hổ biết bao khi khám phá ra quá trễ trong cuộc đời có loại an bình thực sự như thế.  Lần đầu tiên, tôi không biết sợ chết.”  Keith cho biết, lúc đó anh nhận thức được rằng dầu có chết anh cũng sẽ chết trong khi biết mình đã được tiếp xúc với một điều gì đó thân mật và có thực.  Dù điều ấy là gì đi nữa, điều quan trọng là mãi cho đến bây giờ anh mới khám phá ra điều ấy trong cuộc sống của mình.

 Thế rồi Keith đã thoát được tai nạn đó và bình phục trở lại.  Anh trở lại đại học và được bầu làm chủ tịch hội huynh đệ của lớp đại học năm thứ hai.  Chẳng bao lâu anh lại bị khích động bởi đời sống hào nhoáng ở đại học.  Nghĩa là, Keith đã quay mặt khỏi Chúa Giêsu, Ðấng mà anh đã từng gặp bên vệ đường.

 Sau khi tốt nghiệp, Keith lập gia đình và làm việc cho một hãng xăng dầu ở Texas.  Nhưng anh đã không được hạnh phúc như anh từng mơ ước.  Một hôm, Keith buồn quá, anh chui vào chiếc xe hơi của công ty rồi vọt đi.  Chạy được một lúc anh cho xe chạy lên vệ đường, tắt máy rồi ngồi thừ ra đó.  Trước đây, Keith luôn luôn tin tưởng rằng luôn luôn có lối thoát cho buồn sầu, chẳng hạn uống vài ly Martini và ngủ một giấc thật say là có thể khởi sự lại vào sáng sớm hôm sau.  Thế nhưng hiện giờ không còn có sáng hôm sau nữa.  Anh ta đã đến bên bờ vực thẳm rồi.  Anh nhìn lên trời cao và la to lên với Chúa: “Nếu Chúa muốn điều gì nơi con thì Ngài hãy lấy đi, con thực tình muốn như thế!”

 Câu chuyện trên xảy ra cách đây đã nhiều năm.  Tuy nhiên điều xảy ra trong đời Keith vào ngày đó đã không bao giờ rời anh ta nữa.  Hôm đó, không có những tiếng nói mầu nhiệm.  Hôm đó Keith chỉ nhận ra những điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta.  Chúa không cần tiền bạc, thời giờ của chúng ta.  Người chỉ cần ý muốn của chúng ta và nếu chúng ta dâng cho Người ý muốn này, Người sẽ chỉ cho chúng ta cuộc sống mà từ trước đến giờ chưa bao giờ chúng ta thấy, và có thể nói đây là một cuộc tái sinh thực sự.

 Một lần nữa, Keith lại hướng đôi mắt nhìn vào Chúa Giêsu, và ngay lúc đó, anh lại tìm được sự bình an thâm sâu mà nhiều năm trước đây anh đã khám phá ra trong lúc nằm sõng soài bên vệ đường.

 Tất cả chúng ta đều đã từng có những cảm nghiệm giống như Keith.  Nhiều lần trong cuộc đời, chúng ta đã cảm nghiệm sự hiện diện quyền năng của Chúa Giêsu.  Tuy nhiên, giống như Keith, chúng ta đã rời mắt mình khỏi Chúa Giêsu, đã bỏ Người để đi tìm những sự vật khác.  Và cũng như Keith chúng ta đã bị mất thăng bằng.

 Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy thẳng thắn nhìn vào cuộc sống của mình.  Nếu chúng ta không cảm nhận được sự bình an là niềm vui thiêng liêng mà ta đã từng cảm nhận, thì chắc hẳn là vì chúng ta đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu.  Nếu chúng ta đang sắp bị bão tố cuộc đời nuốt trửng, thì có lẽ là vì chúng ta đã rời mắt đi xa Chúa Giêsu.  Bài phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta quay mắt trở lại nhìn vào Chúa Giêsu.  Bài Phúc âm hôm nay mời gọi chúng ta cùng nói với Thánh Phêrô: “Lạy Chúa, xin cứu vớt con!”  Nếu chúng ta chấp nhận lời mời gọi của Phúc âm thì tôi có thể dám chắc với các bạn rằng chúng ta sẽ cảm nghiệm được giống như Thánh Phêrô, chúng ta sẽ cảm nhận được bàn tay Chúa Giêsu giơ ra biểu lộ tình yêu đối với chúng ta.

 Chúng ta không thể cảm nhận điều ấy ngay lập tức và một cách nhiệm mầu, tuy nhiên chúng ta cứ tiếp tục kêu cầu chúng ta sẽ thực sự cảm nghiệm điều ấy, để rồi chúng ta sẽ nói như Thánh Phêrô: “Lạy Ngài, Ngài thực sự là Con Thiên Chúa.”

 Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện:

 Lạy Chúa, Keith Miller đã gặp được Chúa lúc nằm sõng soài bên vệ đường trong một tai nạn xe hơi.
Ngôn sứ Êlia đã gặp được Ngài trong tiếng thì thầm nơi cửa hang.
Thánh Phaolô đã gặp được Ngài trong chớp sáng trên đường đi Ðamas.
Và Thánh Phêrô đã gặp được Ngài giữa cơn bão biển.
Xin hãy giúp chúng con gặp lại Ngài,
Xin hãy giúp chúng con biết chạy đến với Ngài.
Xin hãy giúp chúng con lại cảm nghiệm được sự hiện diện cứu độ của Ngài trong cuộc sống chúng con.  Amen!

 Lm. Mark Link, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Tôi sẽ sử dụng thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa?- Cha Vương

Chúc một ngày với đầy sự quyết tâm theo Chúa, 10 núi cũng trèo, 100 sông cũng lội, ngàn đèo cũng bay, thập giá nào cũng vác.

Xin một lời cầu nguyện “thượng lộ bình an” đến những ai đi hành hương Đại Hội Thánh Mẫu Missouri năm nay. Không quên cho nhau và cả thế giới bình an trong tay Ba Đứng Amen 

Cha Vương

Thứ 4: 05/08/2026.     (t4-21)

GIÁO LÝ:  “Tâm hồn những ai tìm kiếm Chúa, nào hoan hỉ!” (Tv 105,3)…Thiên Chúa vẫn không ngừng kêu gọi mọi người tìm kiếm Ngài để họ được sống và đạt được hạnh phúc. Nhưng việc tìm kiếm này đòi hỏi con người phải có nỗ lực của trí tuệ, sự ngay thẳng của ý chí, “một tấm lòng thành”,… (SGLHTCG, số 30) Tôi sẽ sử dụng thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa?

SUY NIỆM: Trí tuệ, trái tim và ý chí của bạn phải là bản đồ, là năng lực và là phương tiện mà bạn cần phải sử dụng trên hành trình hướng về Chúa. “Đến với Chúa” phải là mục đích của tất cả suy nghĩ, cảm xúc và ước muốn hằng ngày của bạn. Bạn sẽ sử dụng trí khôn và thân xác của mình thế nào để làm vinh danh Thiên Chúa và để đưa bạn đến Chúa hôm nay?

LẮNG NGHE: Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. (Mt 22:37-38)

CẦU NGUYỆN: “Lạy Chúa, Chúa vĩ đại và rất đáng ca tụng: quyền năng của Chúa cao cả và sự khôn ngoan của Chúa thật khôn lường. Và con người, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, con người trong thân phận phải chết, mang nơi mình chứng tích của tội lỗi mình và chứng tích việc Chúa chống lại kẻ kiêu căng: vậy mà con người như vậy, một phần nhỏ bé trong các thụ tạo của Chúa, muốn ca tụng Chúa. Chính Chúa thúc giục để con người vui thích ca tụng Chúa, bởi vì Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con không yên nghỉ cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa.” (Thánh Augustinô)

THỰC HÀNH: Quyết tâm từ bỏ những điều xấu xa, tội lỗi, vô giá trị đang làm bạn xa lìa Chúa.

From: Do Dzung

*****

CON ĐI TÌM CHÚA – Thiên Khuê – Đăng Khoa – Ca Đoàn Mông Triệu

Người Việt hung dữ

Thuy Mavronicles

Người Việt hung dữ

Mình kể cho nghe, số là hôm nay mình đi bác sĩ. Khi bước vào van pho`ng bác sĩ, mình thấy có một chú lớn tuổi đã ngồi đợi, khi ghi tên thì mình thấy cái hẹn của chú @1 pm, hẹn của mình 12:45 pm. Mình vừa ghi xong thì thấy 1 cô bé chạy vô ( không ghi tên) & có anh chàng ở bên trong mở cửa kêu vô ( không phải nhân viên phòng mạch). Mình vừa ngồi xuống chưa được 2’, chú ấy đứng phắt dậy lớn tiếng, rồi cầm cái danh sách chỉ vào tên mình mà hét tại sao tui vô trước mà lại kêu người này. Chú ấy quên rằng, hẹn của chú là 1 pm, chú vô trước là quyền của chú, trong khi quá giờ hẹn của mình mà mình vẫn còn ngồi đó.

Nhân viên vp phải ra chỉ cho chú biết, thế là chú ấy bẽn lẽn quay về ghế ngồi, tuy mặt vẫn còn hầm hầm.

Khi mình được gọi vào trong thì thấy cặp bạn trẻ đó đang ngồi chờ để thử máu ở phòng ngoài, chẳng liên can gì tới chuyện gặp bác sĩ.

Sao lại có người hồ đồ như vậy ta, mà chú lại là người lớn tuổi mới là cái đáng nói! …

Go’p Y’:

Xứ Mù Sương

Thường thì lớn tuổi hay đổi tính đổi nết , nóng nảy , nói nhiều, hay cằn nhằn… Phần ảnh hưởng xã hội hỗn tạp nơi ở trước khi đến Mỹ . Anh đọc và anh cầu xin sao cho mình bớt nóng nảy bớt khó ưa … hihi

V Phung Phung 

Tạ ơn Chúa vì đã gặp người hồ đồ, nóng nảy, nhờ đó, ta học được sự nhẫn nại, khoan dung, và học không giận hờn ai cả, để ta vui vẻ, ngủ ngon. Thương người nóng nãy vì họ đang bị bịnh, bịnh thể xác và bịnh tâm hồn (tinh thần). Đúng không?

Nhu Suong Suzanne Duong 

Nghe chị kể làm em nhớ lại chuyện xưa khi làm ở văn phòng bs. Có chú kia cũng vì tính nóng vội và quá ư là xấc xược (cũng là người VN), đứng lên và tới counter chửi thẳng vào các cô front desk là sao không kêu tên tôi và tôi đã đến và đã đợi lâu rồi….rốt cuộc biết ra he không ghi tên sign-in làm sao ai biết mà kêu?!

Trời ơi, khổ quá hé chị; nếu ai cũng biết sống “ tử tế” với mọi người chung quanh 1 chút thì sẽ không có 2 chữ “ giá như”.

Buồn…vẫn buồn cho “ đời”.

Chúc chị luôn thật nhiều sức khỏe và mãi luôn hạnh phúc bên các cháu xinh đẹp


 

YÊU THƯƠNG THUỐC TIÊN CHỮA BỆNH – MD Đức Tâm 

MD Đức Tâm 

Có thể bạn chưa tin nhưng nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy điều mà tế bào ung thư sợ nhất không phải là hóa trị hay bất kỳ loại thuốc trị ung thư nào.

Sau khoảng thời gian tiếp xúc với nhiều bệnh nhân từ nhiều quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ David Hawkins – một bác sĩ rất nổi tiếng tại Mỹ cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không xuất hiện chữ “yêu”, thay vào đó là “khổ, hận, phiền muộn”.

Điều này có thể khiến nhiều người trong chúng ta không tin nhưng đây là kết luận hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học. Sau 20 năm nghiên cứu về cơ và vận động học, tiến sĩ Hawkins đã phát hiện ra “ý nghĩa của thang bậc chỉ số rung động trong cơ thể con người từ 1 đến 1000”. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói. Theo đó, những người có suy nghĩ tiêu cực thường rất hay bị bệnh. Đó là những người có chỉ số rung động dưới 200.

Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn.

Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người. TS Hawkins đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau.

Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có:

– quan tâm đến người khác,

– giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện,

– bao dung, độ lượng, v.v.

Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400 – 500.

– Mặt khác, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp.

Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.

Lý giải cho điều này, tiến sĩ Hawkin cho biết những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.

Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Tiến sĩ Hawkin cho biết trong cuộc đời của mình, ông chưa gặp ai có tần số rung động đạt ở mức cao nhất, 1000. Những người mà ông ấn tượng nhất cũng chỉ đạt mức 700. Năng lượng trong cơ thể họ rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh.

Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Teresa lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.

Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn.

Còn với người có suy nghĩ tiêu cực,không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.

Một trường hợp cụ thể nhất về tác động của tình yêu với các tế bào ung thư chính là nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản. Khi bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn.

Cuối cùng, ông quyết định thay đổi tâm trạng và chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.

Kết quả hết sức bất ngờ và nằm ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản.

Đây chính là bản chất của cuộc sống Thương Yêu

Các nhà khoa học cho biết, căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ “yêu thương và được thương yêu”.

MD Đức Tâm


 

NỖI ĐAU TUỔI XẾ CHIỀU – (của Huy Phương)

Trần Đình Phong 

NỖI ĐAU TUỔI XẾ CHIỀU

(của Huy Phương, ảnh do AI tạo),

    Ở đây, chúng ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường…nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này. Và những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền.

Nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm !

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày.

Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu.

Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí.

Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc.

Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông.

Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác ! Nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường ! Và bây giờ đã có !

Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào ?!!!

        Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người ” đem cha bỏ chùa ” !

Cũng lại câu chuyện của một người già.

Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng.

Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà.

Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng.

Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ.

Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh.

Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp.

Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.

     Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”.

Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam.

Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái.

Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi !

Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng.

Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi.

Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở Mỹ thì bao nhiêu thứ tốn kém !

– Còn có vợ chồng ông A ở California sang Mỹ hơn ba mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời.

Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá lớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn hơn chục nghìn dắt lưng, rồi về ở với một đứa, mà bà nghĩ là hợp ý.

Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón.

Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái đi làm về, mở cửa vào

nhà, thấy mẹ đang ngồi xem TV, nó hất hàm hỏi: -“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy ?” .

– Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:-“Bả đi khỏi rồi!”

Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu dính đầy quần !

Trên đây là những câu chuyện rất hiếm, ít khi xẩy ra, nhưng tôi cũng đem câu chuyện “ buồn “ này, về trang nhà để các Bạn cùng đọc và có những suy ngẫm, lo liệu để vào tuổi xế chiều, chúng ta không là gánh nặng cho con và khổ cho mình.


 

Chọi Chữ – Quý Thể

Chọi Chữ  –Quý Thể

Posted by GLN

Hồi lớp đệ thất (lớp sáu) học sinh chúng tôi có trò chơi lúc đầu gọi là trò làm tự điển, sau gọi là “chọi chữ”. Trò này lấy chữ mà chơi, ai nhiều chữ nấy thắng. Cách chơi khá đơn giản. Cứ đề ra chữ nào đó rồi đứa lấy giấy bút ra kê, xong đếm lại, ai nhiều hơn sẽ thắng. Ví dụ: Lấy chữ “cà”

  -Cà phê, cà ri, cà rà , cà rá, cà cuống, cà rốt, cà sa, cà rỡn, cà nhắt, cà khịa, cà mèn… cà riềng tỏi, cà kê dê ngỗng, cà lăm cà lặp, cà răng căng tai…

Tôi có thằng bạn tên Đạo, thằng này có biệt tài chọi chữ. Lần nào chơi nó cũng thắng, Nó có những từ rất đặc biệt, có khi người khác cãi, nó đem từ điển tới, ai cũng chịu. Nó có một chữ “cà” hết sức lạ lùng là “cà ràng”. Từ điển lớn và mới nhất mới thấy ghi từ này: Đó là thứ lò đất nung dùng trên ghe thuyền ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lò gồm ba ông táo nhỏ gắn trên cái đế bằng đất nung. Miền Nam có thành ngữ cà rang cà đụng. Thằng Đạo có vốn từ giàu chẳng ai bằng. Từ ngữ ba miền, mới cũ nó đều thông.

Trò chọi chữ khởi đi từ lớp tôi lan sang những lớp khác. Thế là mỗi lớp thành lập đội tuyển chọi chữ. Đội tuyển có ba thành viên. Năm ấy Đạo, Lê và tôi được cả lớp tín nhiệm cử đi thi đấu với lớp ngũ bốn, nghĩa là lớn hơn lớp tôi hai năm. Đây là cuộc thi không cân sức thế nhưng đội tuyển lớp tôi đã thắng.

Muốn chọi chữ giỏi phải có chữ nhiều. Có vốn từ phong phú, mà vốn từ chính là vốn sống. Chúng tôi những cậu bé mười tuổi vốn sống chưa đựng đầy chiếc túi nhỏ, lấy chữ đâu mà chọi. Hồi đó nhà tôi có quyển Từ điển tiếng Việt của Hội Khai Trí Tiến Đức. Quyển sách bọc bìa vải đen, khổ to và dày, ôm không nổi, làm sao học cho hết? Thằng Đạo bày : “tìm chữ lạ mà học” Ôi không biết bao nhiêu chữ nghĩa làm sao học. Tuy chỉ mới lớp sáu nhưng trình độ học sinh thời đó đã khá nên chúng tôi biết liệt kê theo cách các nhà làm từ điển, theo A,B,C…

Học sinh thời nào cũng có nhiều trò chơi, hầu hết những trò chơi đó đều bị thầy cô và nhà trường cấm. Tiếng trò chọi chữ là trò chơi trí tuệ, có lợi cho môn văn và nhất là lại có cái lợi thiết thực khi chơi trò này trong lớp bớt náo loạn ồn ào nên được nhà trường khuyến khích.

Thường vào cuối tháng năm đầu tháng sáu, khi kỳ thi đệ nhị tam cá nguyệt (học kỳ 2) đã xong, không khí học tập có phần uể oải, lơ là, thầy cô cũng nới tay, đó là lúc trò chọi chữ nở rộ. Chiều hôm ấy học sinh tổ chức cuộc thi chung kết chọi chữ giữa lớp Thất Ba đấu với Ngũ bốn. Chữ bốc thăm đem ra chọi là chữ “Ăn”, một chữ rất giàu có của tiếng Việt:

       -Ăn thề, ăn vạ, ăn gian, ăn mày, ăn xin, ăn hiếp, ăn sương… ăn xổi ở thì, ăn tươi nuốt sống, ăn vóc học hay, ăn mặn nói ngay, ăn xem nồi, ăn không ngồi rồi, ăn nên làm ra…

Đội thất ba thắng đội ngũ bốn nhờ có ba chữ ăn thuộc loại quái chiêu : Ăn ong (đi tìm mật ong), ăn đàng sóng nói đàng gió (nói năng ngang ngược), Ăn lông ở lỗ. Công đầu thuộc về thằng Đạo. Chữ nó nhiều vô số.

Tôi đinh ninh sau này thằng Đạo thế nào cũng làm nghề nghiệp gì liên quan đến chữ nghĩa. Nó sẽ thành nhà soạn từ điển. Tôi tin từ điển hắn soạn ra chẳng thiếu chữ nào. Thằng Đạo làm luận hay lắm. Bài hắn kỳ nào cũng được thầy đọc cho cả lớp nghe. Hắn còn giỏi văn nghệ, làm thơ, viết báo tường. Hắn là một học sinh kiểu mẫu mà thầy cô lấy ra làm gương cho chúng tôi noi theo.

“Xã hội” học trò chỉ có hai “giai cấp” học giỏi, học dở. Hai nhóm này chẳng cố định và cũng chẳng thấy có đấu tranh gì gay gắt cả. Tháng này học nhiều, đứng cao, tháng sau lười biếng rơi xuống cuối sổ trở thành nhà lực sĩ đội trên đầu bốn mươi bạn đồng lớp, thế là chuyển từ giai cấp này sang giai cấp kia.

Học xong ra đời chẳng thế. Cuộc đời tàn nhẫn hơn. Với sự có mặt của gia thế nó đóng đinh số phận con người vào một vị trí nhất định và trừ khi có phép lạ mới nhảy từ cấp dưới lên cấp trên. Thế nhưng rủi ro sơ sảy, chỉ trong chốc lát rơi tới đáy lầm than!.

Ra đời mỗi học sinh một hoàn cảnh. Có kẻ học rất giỏi  lại chẳng ra gì. Có đứa học dốt kiếm được chỗ đứng trên cao. Tôi thuộc hạng này. Thuở còn đi học tôi học hành tầm thường thế nhưng khi vào đời lại làm vị quan toà xét xử và định đoạt số phận kẻ khác.

Có lần xử án, cảnh sát lôi từ xe bít bùng xuống một người đàn ông đẩy hắn tới trước vành móng ngựa. Tôi ra lệnh mở còng. Trông hắn rách rưới thiểu não, tồi tệ. Hắn bị đưa ra toà về tội trộm. Một tên trộm hạng bét, tầm thường. Tôi bảo hắn khai tên họ, tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ ở. Khi hắn ngẫng đầu lên tôi đã ngờ ngợ, nhưng chưa tin vào mắt mình. Tại sao trông hắn giống như thằng Đạo, vua chọi chữ cách đây hai mươi năm thời chúng tôi còn là học sinh ngồi chung bàn? Tuy giờ đây cuộc sống nhọc nhằn đã khiến cho hắn già cả tiều tuỵ. Tôi tự nhủ: Lẽ nào người ấy là thằng Đạo, thằng học trò thông minh học giỏi, hạnh kiểm tốt, đầy tài năng lại chịu cảnh khốn cùng đến nỗi di vào ngõ cụt như thế này? Tôi nhận ra hắn nhưng hắn vẫn chưa ngước lên nhìn tôi. Cũng khó mà nhìn ra tôi. Ngày trước tôi là cậu học sinh ốm o và nhỏ nhất lớp song giờ đây tôi đã trở thành vị quan toà phương phi bệ vệ, mặc áo choàng đen ngồi trên chiếc ghế uy nghi. Chung quanh tôi là một quang cảnh đầy sự tôn kính và đang làm cái công việc định đoạt cho số phận con người nhỏ nhoi hèn mọn đang đứng trong vành móng ngựa dưới kia. Tôi hỏi:

 -Tên họ?

Hắn ngẫng lên nhìn tôi. Hình như hắn cũng có tâm trạng như tôi, nghĩa là lẽ nào thằng bạn ngày xưa lại là người xét xử hắn. Hắn cúi xuống, không trả lời. Tôi giục:

      -Họ và tên, khai đi!

Và hắn ngước nhìn lên một lần nữa. Bây giờ chẳng còn nghi ngờ gì. Chúng tôi đã nhận ra nhau trong một tình cảnh cực kỳ oái oăm và khó xử cho cả hai. Tôi đùa:

      -Này “vua chọi chữ”…

Hắn hỏi:

    -Cái gì? Nhái bén chàng hiu (Biệt hiệu của tôi thời học sinh)?

Tôi nói:

      -Có một chữ rất dễ…

Hắn hỏi:

      -Chữ gì?

      -Tên họ của mình…

Hắn buồn bã lắc đầu. Hình như hắn không muốn đem cái chữ “đạo” ra chọi với cuộc đời, với hoàn cảnh éo le bây giờ. Hắn muốn giữ cái tên tuổi tốt đẹp đó cho quãng đời học sinh tuyệt vời ngày trước mà thôi. Tôi cố ép hắn:

      -Này vua chọi chữ đừng có giấu nữa. Lấy chữ Đạo ra chọi nhé – và rồi tôi ứng khẩu đọc một lô – đạo diễn, đạo sĩ, đạo đức, đạo hạnh, đạo đồng, đạo mạo…

Hắn nói:

   -Thiếu hai chữ.

      -Hai chữ gì?

Hắn cười:

      -Đạo chích, đạo tặc! (trộm cắp)

Hắn không xin giảm án. Hắn không chịu nhún mình. Hắn vẫn giữ được tính cách cao ngạo dễ thương thời còn đi học. Hắn lãnh án. Đưa hai tay ra cho người ta còng, bước ra, vừa đi vừa cười./.

Quý Thể

https://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2014/05/choi-chu-quy-the.html


 

ĐỪNG LÀM BUỒN LÒNG NGƯỜI TRANH ĐẤU VÌ CHÚNG TA

 Manh Dang is with Gia-quoc Nguyen

ĐỪNG LÀM BUỒN LÒNG NGƯỜI TRANH ĐẤU VÌ CHÚNG TA

——-///——-

Đặng Đình Mạnh

Việt Báo, ngày 24/07/2026

Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.

Mỗi nơi tôi đến làm việc đều có cộng đồng người Việt, các tổ chức hoạt động theo mục tiêu, tôn chỉ hướng về quốc nội. Nhờ vậy mà tôi biết rất nhiều người, nhiều tổ chức đang công khai, hoặc âm thầm dấn thân cho mục tiêu dân chủ hóa Việt Nam. Điều khiến tôi chú ý là tuyệt đại đa số những người ấy đều đã có cuộc sống ổn định. Họ có nghề nghiệp, có gia đình, có cơ ngơi và một tương lai khá vững vàng trên đất nước Hoa Kỳ.

Tò mò, tôi hỏi họ “Nếu một ngày Việt Nam thay đổi, các anh chị có trở về quê hương sinh sống không?”. Hỏi nhiều lần và ở nhiều nơi, nhưng hầu như câu trả lời đều chỉ có một: “Không anh!”.

Điều đó không làm tôi ngạc nhiên.

Sau nhiều chục năm định cư, nước Mỹ đã trở thành quê hương thứ hai của họ. Con cái họ sinh ra, lớn lên, học hành và lập nghiệp tại đây. Cuộc sống của họ đã gắn chặt với xã hội Hoa Kỳ. Nếu đặt lên bàn cân giữa điều kiện sống, hệ thống pháp luật, cơ hội phát triển và mức độ bảo đảm phẩm giá con người thì rất ít người có lý do để từ bỏ tất cả để quay về sinh sống tại Việt Nam, cho dù xã hội Việt Nam có thay đổi như thế nào.

Đó chính điều khiến tôi suy nghĩ và trân trọng họ.

Nếu họ không có ý định trở về quê hương, nếu họ không mong đợi lợi ích tại Việt Nam sau khi đất nước chuyển đổi dân chủ hóa thành công, vậy thì điều gì khiến họ vẫn kiên trì dành hàng chục năm trời để tranh đấu?

Họ bỏ tiền túi tổ chức hội họp. Họ dành thời gian vận động chính giới. Họ viết bài, làm truyền thông. Họ xuống đường. Họ tổ chức gây quỹ. Họ hỗ trợ gia đình tù nhân lương tâm. Họ tiếp xúc các tổ chức nhân quyền quốc tế. Họ tham dự các phiên điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ. Họ chịu đựng những cuộc tấn công mạt sát trên mạng, những lời vu khống, thậm chí nhiều người còn bị đe dọa đến thân nhân còn ở trong nước, kể cả mất cơ hội về thăm quê hương, người thân.

Đổi lại, họ nhận được điều gì? Nếu không muốn nói hầu như không có gì cho bản thân.

Nếu nhìn hoàn toàn bằng lăng kính lợi ích vật chất thì thật khó giải thích. Tôi chỉ có thể lý giải bằng một điều rằng họ không có món nợ pháp lý, cũng không có món nợ kinh tế. Họ chỉ có món nợ quê hương, một món nợ tinh thần về nơi họ sinh ra. Có thể là nơi cha mẹ họ nằm xuống, là nơi có nấm mồ tổ tiên, là nơi để lại di sản tiếng Việt…

Và trên tất cả, là nơi hàng trăm triệu đồng bào của họ vẫn đang sống mà chưa được hưởng những quyền tự do căn bản, phẩm giá như chính họ đang được hưởng tại Hoa Kỳ.

Có lẽ vì thế mà họ không đấu tranh để đòi lợi ích cho bản thân sau này. Họ đấu tranh để đồng bào mình còn ở lại trong nước có thể được sống đúng với phẩm giá con người.

Vậy thôi.

Đó mới là điều cần nói về các cá nhân, tổ chức của đồng bào tại hải ngoại.

Những ngày gần đây, tôi rất buồn và ngạc nhiên khi nghe những lời nhận xét rất nặng nề, rằng “phần lớn” các tổ chức chống Cộng tại hải ngoại chỉ là giả danh để trục lợi. Rằng nhiều người là đặc tình của chế độ Cộng sản.

Không ai phủ nhận rằng trong bất kỳ cộng đồng nào cũng tồn tại hiện tượng “vàng thau lẫn lộn”. Trong giới doanh nhân có người làm ăn chân chính và cũng có người lừa đảo. Trong giới luật sư có người bảo vệ công lý và cũng có người vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Trong tổ chức từ thiện có nơi minh bạch và cũng có nơi lợi dụng lòng tốt của người khác.

Thế nên, công cuộc đấu tranh cho dân chủ hóa Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.

Có những tổ chức hoạt động thiếu hiệu quả. Hoặc, thay vì bảo vệ cộng đồng, hướng về quốc nội lại quay ra chống nhau. Có những cá nhân lợi dụng danh nghĩa đấu tranh để đánh bóng tên tuổi hoặc gây quỹ không minh bạch. Thậm chí, cũng có thể có những trường hợp làm đặc tình cho chế độ Cộng Sản.

Đó là sự thật.

Nhưng số đó là bao nhiêu? Đã có những cuộc điều tra, hoặc thống kê chính thức nào để có thể kết luận rằng “phần lớn”, nếu không phải chỉ là sự võ đoán phiến diện! Là người hiểu biết, có tiếng nói thì lại càng phải cẩn trọng ngôn từ như vậy khi phủ nhận nhau.

Hơn thế nữa, cách kết luận ấy còn vô tình phủ nhận công sức của biết bao thế hệ người Việt hải ngoại.

Nếu không có họ, liệu vấn đề nhân quyền Việt Nam có được duy trì liên tục trong chương trình nghị sự của nhiều quốc gia dân chủ suốt nhiều thập niên?

Nếu không có họ, liệu các tổ chức quốc tế có nhận được lượng thông tin đồ sộ về tình trạng đàn áp trong nước?

Nếu không có họ, liệu nhiều tù nhân lương tâm có nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế?

Nếu không có họ, liệu nhiều chiến dịch vận động tại Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội châu Âu hay các diễn đàn quốc tế có thể diễn ra?

Bản thân tôi và nhiều người khác đang được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ cũng không thể nói rằng là nhờ chính phủ Hoa Kỳ là đủ, vì nếu không có sự tranh đấu bền bỉ, hiệu quả của bao thế hệ người Việt đến đây trước chúng tôi, thì cũng chưa hẳn sẽ có chính sách mà ngày nay chúng tôi đang được hưởng.

Tôi nghĩ, chúng ta có thể tranh luận về hiệu quả. Có thể góp ý về phương pháp. Có thể phê bình một tổ chức cụ thể. Nhưng không thể phủ nhận toàn bộ theo cách chụp mũ “phần lớn”.

Vì khi đó, nó không còn là phản biện mà là phủ định sạch trơn.

Thực tế, phần lớn những người tôi từng gặp không hề giàu lên nhờ hoạt động đấu tranh. Ngược lại. Họ mất nhiều hơn được. Mất thời gian, tiền bạc, công sức, những ngày cuối tuần bên gia đình. Có người còn mất cả sự an toàn của thân nhân còn sinh sống tại Việt Nam.

Điều đáng tiếc là lời quy kết vô căn cứ không chỉ làm tổn thương những người đang dấn thân, nó còn tạo ra sự hoài nghi trong cộng đồng. Làm người thiện chí nản lòng, nhất là làm cho người trẻ, thế hệ kế thừa cuộc đấu tranh suy giảm niềm tin.

Và cuối cùng, người được hưởng lợi nhiều nhất lại chính là những thế lực luôn mong phong trào dân chủ bị chia rẽ và tự phủ nhận lẫn nhau.

Nhìn lại, hơn 2 năm qua, tôi được đi nhiều, gặp gỡ nhiều cá nhân và tổ chức, nhưng vẫn chưa tự tin rằng mình hiểu biết hết về cộng đồng người Việt hải ngoại, điều tôi thấy có thể chỉ mới là lớp váng nổi trên bề mặt mà thôi. Nhưng khi tận mắt thấy những đội ngũ hoạt động bất vụ lợi bằng tiền bạc, thời gian, công sức của chính họ cho mục tiêu dân chủ hóa đất nước, tôi lạc quan tin rằng tiền đồ dân tộc mình còn sáng sủa lắm.

Thế nên. Tôi biết ơn các cá nhân, tổ chức cộng đồng người Việt hải ngoại, nhờ họ, mà tôi tìm lại được các giá trị mà chế độ Cộng Sản trong nước đã phá hủy, hoặc làm cho phôi pha dần. Nhờ họ, mà tôi tin rằng công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước sẽ thành công.

Hoa Thịnh Đốn, ngày 24 Tháng Bảy 2026

——-///——-

@highlight

*Tranh minh họa bài viết của họa sĩ Đinh Trường Chinh và ảnh chụp kỷ niệm với nhạc sĩ Nam Lộc, người được vinh danh nhân kỷ niệm 75 năm ra đời Công ước Người Tỵ nạn tại Thượng viện Hoa Kỳ