Chris Yên, đạo diễn gốc Việt từ chối $1 triệu của Hollywood-Kalynh Ngô/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

July 6, 2026

Kalynh Ngô/Người Việt

SAN JOSE, California (NV) – Với một người có tư duy sáng tạo, thì thật khó để nói chính xác một ý tưởng thường bắt nguồn từ đâu, bởi vì đôi khi nó bất ngờ như từ trên trời rơi xuống. Tuy nhiên, một khi ý tưởng đã hình thành, họ nhìn lại, hiểu ra nguồn gốc cũng như điểm khởi đầu của nó, thì họ quyết tâm bảo vệ bản chất nguyên thủy của ý tưởng đó bằng mọi giá. Cho dù đó là lời mời hấp dẫn trị giá $1 triệu của Hollywood để mang kịch bản phim lên màn ảnh rộng.

“Bầu, Cua, Tôm Cá là của người Việt”

“Nếu muốn bàn về chuyện tiền bạc, chính sản phẩm có phẩm chất cao nhất mới là thứ mang lại giá trị tài chính. Vậy đâu là sản phẩm có phẩm chất cao nhất? Đó chính là sản phẩm chân thực nhất và giàu ý nghĩa nhất,” anh Chris Yên, đạo diễn gốc Việt sinh năm 2000, giải thích về lý do anh từ chối số tiền mà nhà đầu tư muốn đặt vào bộ phim đầu tay của anh – “Bầu, Cua, Tôm Cá” (Fish, Prawn, Crab).

Đạo diễn gốc Việt Chris Yên, cũng là diễn viên chính trong bộ phim Bầu, Cua, Tôm Cá. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Phần giới thiệu (trailer) dài khoảng hai phút của “Bầu, Cua, Tôm Cá” cho thấy một nhóm “băng đảng” trẻ tuổi gồm hai thanh niên da đen và một thanh niên Châu Á, do Chris thủ vai, đi vào một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Họ diễn một vở kịch để anh thanh niên Châu Á thừa cơ hội trộm hết tiền trong két sắt của ông chủ. Khi ra cửa, tên trộm còn nhớ lấy theo vài cái bánh để “mừng chiến thắng” với “đồng đội.” Ông chủ, cũng gốc Châu Á, vác cây súng trường chạy ra. Tiếng súng vang lên…

Chris nói, anh đặt một trò chơi dân gian trong ngày Tết của người Việt trong bối cảnh của cuốn phim về tội phạm vì nhân vật chính là một người lớn lên trong nghèo khó, chật vật mưu sinh để chăm sóc em gái của mình.

“Và, điều đó cho thấy rằng ngay cả trong những giai đoạn sóng gió hay khó khăn nhất của cuộc đời, bạn vẫn có thể tận hưởng khoảng thời gian bên gia đình.”

Theo lời anh, rất nhiều nhà biên kịch có tiếng nói trong ngành đã đọc qua kịch bản này và họ đánh giá rất cao.

“Chúng tôi liên tục họp bàn với nhiều hãng phim, từ các hãng lớn cho đến những đơn vị nhỏ hơn. Trong số đó, có một hãng phim lớn ở Hollywood tỏ ra rất hào hứng với kịch bản và muốn bỏ vốn sản xuất. Khi bàn đến phần sáng tạo, họ hoàn toàn ủng hộ chúng tôi,” đạo diễn Chris Yên kể lại trong cuộc nói chuyện qua Zoom.

Thế nhưng, mọi chuyện lại trở nên khác đi khi chuyển sang quảng cáo. Nhóm đầu tư bắt đầu muốn thay đổi mọi thứ theo góc nhìn thuần túy về lợi nhuận. Có nhiều điều vô lý theo cách nhìn của một đạo diễn sáng tạo như Chris, nhưng hoàn toàn hợp lý vì “hợp túi tiền” theo góc nhìn của người đầu tư.

“Chẳng hạn, họ bàn về thời lượng phim, dự trù ​​ban đầu là 2 tiếng 15 phút, nhưng họ lại muốn cắt bỏ tới 45 phút để rút ngắn xuống còn 1 tiếng 30 phút. Lý do là họ tin rằng phim ngắn hơn sẽ thu hút nhiều khán giả hơn và dễ dàng xếp lịch chiếu tại các rạp hơn. Họ không quan tâm đến phẩm chất nghệ thuật,” Chris nói.

Đạo diễn gốc Việt Chris Yên (giữa,) cũng là diễn viên chính trong bộ phim “Bầu, Cua, Tôm Cá.” (Hình: Chris Yên cung cấp)

Nhưng đó chỉ là một việc nhỏ. Điều làm cho chàng đạo diễn gốc Việt này “tức giận” – theo lời anh – là câu hỏi “liệu văn hóa Việt Nam và Trung Quốc có giống nhau hay có thể thay thế cho nhau hay không?”

Công ty này hiểu Tết Việt Nam và Tết Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng. Vì vậy, họ đã đặt câu hỏi liệu câu chuyện có thể chuyển đổi qua lại giữa hai nền văn hóa hay không. Sau đó họ nói Trung Quốc là thị trường lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ. Hiện tại, quy mô của nó thậm chí còn lớn hơn cả Bollywood của Ấn Độ. Thêm nữa là họ muốn có những tên tuổi lớn, những diễn viên nổi tiếng tham gia bộ phim.

“Do đó, vì không có sẵn những tên tuổi lớn của Việt Nam, họ thà chuyển hướng sang bối cảnh Trung Quốc để có thể đưa các ngôi sao Trung Quốc vào phim,” Chris nói, giọng nói đầy chất điện ảnh của chàng trai gốc Việt vẫn chưa nguôi cơn tức giận.

Chris nói anh là “một người Việt Nam đang kể câu chuyện về dân tộc mình,” và điều đó chính là điều làm nên phẩm chất cao nhất của bộ phim.

Khi nhà đầu tư muốn nhân vật chính là người Trung Quốc và đưa các yếu tố Trung Quốc vào khắp mọi nơi trong kịch bản gốc, anh Chris trả lời không cần suy nghĩ: “Không!”

“Là một người Mỹ gốc Việt đại diện cho văn hóa và cộng đồng của mình, thật vô lý khi làm một bộ phim về người Trung Quốc. Tôi tin rằng rất nhiều người có những tài năng tiềm ẩn. Kỹ năng có thể được đào tạo và kinh nghiệm có thể được tích lũy, thì niềm đam mê lại là thứ bẩm sinh. Có rất nhiều người Việt đang khao khát những cơ hội như thế này, và tôi muốn mang đến cho họ cơ hội đó.”

Số tiền $1 triệu cho một dự án phim dài đầu tay đối với một đạo diễn trẻ như Chris Yên không phải là con số nhỏ. Phim ngắn đầu tiên của anh, “Suburban Story” thực hiện với chi phí chỉ $10,000 và đoạt 15 giải thưởng. Nhưng Chris nói, mục tiêu của anh là đại diện cho người Việt, kể những câu chuyện của mình. Anh không muốn trở thành kẻ bán rẻ lý tưởng của chính mình, “nếu kiên định giữ vững lập trường ngay từ đầu, mọi người sẽ hiểu rằng tôi ở đây là để kể câu chuyện của chính tôi và dân tộc mình.”

Những vùng xám đạo đức

Không phải ngẫu nhiên mà Chris lấy tên là Chris Yên. Tên thật của anh là Chris Nguyễn. Nhưng Chris thích chữ “Yên” nghĩa là “Peace.” An yên, bình yên, đó là điều mà chàng trai gốc Việt sinh năm 2000 này mong muốn.

Mọi chuyện bắt nguồn từ xuất thân và năm tháng trưởng thành của anh. “Là một người Mỹ gốc Việt, tôi đã chứng kiến ​​cảnh cha mẹ mình chật vật mưu sinh tại đất nước này. Họ gặp nhau khi đến Mỹ sau Chiến Tranh Việt Nam. Cả hai nỗ lực xây dựng cuộc sống cũng như xoay xở để tồn tại theo những cách rất khác biệt,” Chris kể lại, khi tôi hỏi “Bầu, Cua, Tôm Cá mang màu sắc gì?”

“Mẹ tôi đi theo con đường truyền thống, bà học đại học và trở thành kỹ sư máy tính. Ngược lại, cha tôi gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với văn hóa và ngôn ngữ mới. Để kiếm sống, ông vướng vào con đường phạm pháp. Ông từng buôn bán ma túy, nghiện cờ bạc, điều hành sòng bạc chui, cho vay nặng lãi, và cả môi giới mại dâm. Ông đang ngồi tù vì nghiện ma túy đá. Tôi chứng kiến ​​tất cả điều đó khi còn nhỏ.”

Cha mẹ và Chris Yên khi mới chào đời. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Chris Yên lớn lên giữa hai lối sống hoàn toàn trái ngược. Điều đó dạy anh từ khi còn rất nhỏ rằng, “luôn tồn tại những vùng xám trong đạo đức.”

Không phải mọi thứ đều chỉ có tốt hay xấu, trắng hay đen. Đôi khi người ta làm điều xấu vì những lý tưởng hoặc lý do chính đáng. Người cha của Chris cũng vậy, “ông làm tất cả những điều đó chỉ vì muốn nuôi nấng tôi nên người. Tôi nghĩ đó chính là nguồn cảm hứng cho câu chuyện của mình.”

Chris nói anh đặc biệt bị những vùng xám đầy phức tạp trong đạo đức con người cuốn hút. Những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất, chẳng hạn như Bố Già (The Godfather) – đó là câu chuyện về tội phạm, nhưng khán giả vẫn say mê vì họ muốn thấu hiểu lý do đằng sau những hành động đó.

“Câu chuyện của tôi cũng bắt nguồn từ chính tư duy ấy,” Chris giải thích. “Với Bầu, Cua, Tôm Cá, tác phẩm này được lấy cảm hứng từ trò chơi dân gian, đó là những thứ đã gắn liền với tuổi thơ tôi và là hình ảnh phản chiếu chân thực văn hóa Việt Nam mà tôi từng trải nghiệm. Trò chơi này cũng đại diện tuyệt vời cho vùng Bay Area, nơi tôi lớn lên, một vùng đất hội tụ các nền văn hóa đa dạng. Nếu quan sát các hình ảnh trên bàn cờ, bạn sẽ thấy sự kết hợp của đủ loại hải sản và sinh vật biển cùng hiện diện tại đó.”

Trong vùng xám của Chris, anh đặt cha mẹ của mình – những người tị nạn – vào một vùng trên bàn cờ “Bầu, Cua, Tôm Cá.” Nơi đó, họ đánh cược với một đất nước mà họ hoàn toàn không thấu hiểu và phải vật lộn để sinh tồn. “Họ không có thời gian để hoàn thiện bản thân. Họ buộc phải lao ngay vào cuộc mưu sinh, vào công việc để xây dựng cuộc sống cho thế hệ của tôi,” Chris nói.

“Cha mẹ tôi vẫn còn mang nặng những tổn thương tâm lý từ chiến tranh và gặp nhiều bất ổn trong cuộc sống.”

Suốt thời thơ ấu của anh, cha mẹ thường xuyên tranh cãi và gặp rắc rối. Chris thậm chí chẳng nhớ nổi khoảnh khắc nào cả nhà anh từng cùng ngồi ăn tối vui vẻ bên nhau.

Điện ảnh luôn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của Chris Yên. (Hình: Chris Yên cung cấp)

Tuy nhiên, Chris nhớ, có một khoảng thời gian hiếm hoi, anh thực sự được trọn vẹn ngồi bên cạnh cha mẹ, đó là khi gia đình cùng ngồi trong phòng xem một bộ phim dài hai tiếng đồng hồ. “Chúng tôi có thể ngồi lặng yên và cùng tận hưởng thời gian đó. Từ đó tôi nhận ra rằng nghệ thuật và điện ảnh có sức mạnh kết nối các nền văn hóa. Phim ảnh đã gắn kết chúng tôi lại, giúp xoa dịu những xung đột và xóa nhòa khoảng cách thế hệ. Chính điều đó đã khơi dậy trong tôi niềm đam mê điện ảnh. Tôi khao khát được tạo ra những câu chuyện có thể mang lại sự kết nối tương tự cho mọi người, dù họ là người Việt, người da đen, người Mexico, hay bất kỳ ai khác.”

Những câu chuyện của người Việt tị nạn ở Mỹ cứ như chén cơm của Thạch Sanh, chẳng khi nào vơi. Thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, tạo thành những vòng tuần hoàn nhiều màu sắc. Giữa những mảng màu đó, có những người tự vươn lên từ những vùng xám để thực hiện mơ ước cho cuộc đời mình. Câu chuyện của đạo diễn Chris Yên, người thẳng thừng từ chối số tiền tài trợ $1 triệu của Hollywood để giữ đúng kịch bản gốc bộ phim “Bầu, Cua, Tôm Cá” của mình, là một câu chuyện như thế. [đ.d.]


 

Hết nắng nóng, hàng chục triệu người Mỹ lại lo lũ lụt

Ba’o Nguoi-Viet

July 6, 2026

WASHINGTON, DC (NV) Bão lớn và nắng nóng khắc nghiệt hoành hành ở phần lớn nước Mỹ vào Lễ Độc Lập lần thứ 250 cuối tuần qua, làm hàng trăm ngàn gia đình bị cúp điện, theo CBS News hôm Thứ Hai, 6 Tháng Bảy.

Kỳ Lễ Độc Lập năm nay, hàng triệu người khắp vùng Đông Bắc hứng chịu nhiệt độ cao kỷ lục. Ở một loạt tiểu bang vùng Trung Tây, mưa dông quật ngã cây cối, làm đứt dây điện và khiến cho việc lái xe vừa khó vừa nguy hiểm.

Mây bão bao phủ bầu trời thành phố New York hôm Lễ Độc Lập, 4 Tháng Bảy. (Hình: Jeremy Weine/Getty Images)

Tính tới sáng Thứ Hai, hơn nửa triệu gia đình vẫn bị cúp điện, nhiều nhất ở Pennsylvania và Michigan, theo PowerOutage.us.

Ở khu vực thành phố New York, bão lớn ập vào cuối hôm Thứ Sáu, làm hàng trăm ngàn căn nhà bị cúp điện giữa trời nóng gay gắt.

Ở New Jersey, ít nhất 25 người chết do nắng nóng mấy ngày qua, giới chức y tế tiểu bang này loan báo.

Theo dự báo, thời tiết khắc nghiệt sẽ tiếp tục trong tuần này. Ở vùng Đông Bắc, Cơ Quan Khí Tượng Quốc Gia (NWS) ban bố lệnh đề phòng lũ lụt cho 34 triệu người tới cuối ngày Thứ Hai.

Mưa lớn liên tiếp ở vùng Đại Tây Dương có thể gây lũ quét ở khu vực đô thị của vùng Đông Bắc. Một số nơi, như Philadelphia, Pennsylvania, và thành phố New York, có thể mưa tới 4 inch từ Thứ Hai tới Thứ Ba.

Mưa dông lớn cũng có thể xuất hiện từ vùng Trung Đại Tây Dương tới vùng đồng bằng phía Bắc. Trong khi đó, mưa rào và mưa dông dự trù tiếp tục xuất hiện ở những tiểu bang xa nhất về phía Bắc và nhiều nơi ở vùng Great Basin do một đợt lạnh di chuyển qua khắp vùng này.

Lốc xoáy cũng có thể xảy ra rải rác ở vùng đồng bằng, nhưng mối nguy hiểm chính sẽ là gió mạnh và mưa đá. (Th.Long)


 

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN.

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Sưu tầm


 

CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

 CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Bài st cũ đăng lại

Điều khiến ta kiệt sức nhất không phải đường xa diệu vợi, mà là sự phiền muộn trong lòng.

Điều khiến ta chán chường nhất không phải con đường phía trước khấp khuỷu, mà là mất đi sự tự tin.

Điều khiến ta đau khổ nhất không phải sự bất hạnh trong cuộc sống, mà là hy vọng sụp đổ.

Điều khiến ta tuyệt vọng nhất thường không phải sự thất bại, mà là linh hồn đã chết…

Cuộc đời cho ta một đôi chân, đi đến đâu đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc đời cho ta đôi tay, cầm cái gì, buông cái gì đó là là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta cái lưỡi, nói cái gì, nói lúc nào, lời hay ý đẹp hay thô tục khó nghe, đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta một trái tim, dùng nó để yêu thương ai, đó là ta quyết định, lựa chọn, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống “tình cờ” sắp xếp ta gặp ai đó trong cuộc đời. Đối xử với họ ra sao, thân thiết hay xa lánh, đó là cũng chính ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Đấng sinh thành chỉ cho ta sự khởi đầu, còn sống ra sao chẳng phải ai khác, chính là ta quyết định.

Tâm thế nào, sẽ tạo nên sắc màu cuộc  sống thế đấy!.

Cuộc sống thế nào, sẽ tạo ra quãng thời gian hưởng thụ cuộc đời như vậy!.

Đừng đổ lỗi cho cuộc sống, cho đấng sinh thành, cho số phận… Cuộc đời ta, chính là do ta tạo ra mà thôi!

Từ fb Vu Le


 

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Nguyen Thi Chau

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Khổng Tử đáp: “Không phải khi họ mất tiền. Cũng không phải khi họ mất địa vị.”

Tử Hạ hỏi: “Vậy là khi nào?”

Khổng Tử cầm một viên ngọc và thả xuống bùn. Ông hỏi: “Viên ngọc có vì nằm trong bùn mà thành đá không?”

Tử Hạ đáp: “Không. Nó vẫn là ngọc.”

Khổng Tử gật đầu: “Đúng vậy. Nghèo khó không làm con kém giá trị. Thất bại cũng không làm con tầm thường.”

Tử Hạ lại hỏi: “Vậy điều gì mới làm con người mất giá?”

Khổng Tử chậm rãi đáp: “Là khi vì tiền mà đánh mất lương tâm. Vì quyền mà đánh mất chính nghĩa. Vì lợi ích mà đánh mất chữ tín.”

Tử Hạ cúi đầu hành lễ.

Khổng Tử mỉm cười: “Giá trị của một con người không nằm ở những gì họ có. Mà nằm ở những điều họ nhất quyết không đánh đổi.”

Từ fb Narissa Loan


 

Sài Gòn: chiến tranh, hòa bình và ước mơ của tôi (BBC)

 (BBC)

Một người cha chở con trên xe máy tại Sài Gòn vào tháng 5 năm 1970

Tác giả, Bùi Văn Phú

Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Berkeley, California

4 tháng 7 2026

Chiều 29/4/1975, tôi rời quê hương bằng tàu. Sáng hôm sau, xe tăng, bộ đội cộng sản tiến vào Dinh Độc Lập, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng.

Năm sau, Sài Gòn chính thức đổi tên, mà như Phạm Duy viết trong ca khúc 1954, 1975, thành phố “phải mang tên xác người“, hay Nguyễn Đình Toàn viết “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên” trong Sài Gòn niềm nhớ không tên.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Thầy u tôi rời quê Nam Định di cư vào Nam sau Hiệp định Geneve 1954 và một năm sau tôi ra đời ở xứ Nghĩa Hòa, một xứ đạo tân lập trong khu vực Ngã ba Ông Tạ, nơi có mấy vạn người Công giáo Bắc di cư ở.

Nói tôi sinh ra ở Sài Gòn thì không đúng, vì giấy khai sinh ghi nơi sinh là xã Tân Sơn Hòa, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Nhưng Ngã ba Ông Tạ nằm sát bên thủ đô. Từ đây theo đường Phạm Hồng Thái nối dài tới Lê Văn Duyệt, tính ra từ Gia Định chỉ đi ba trăm mét, qua đường Bắc Hải là vào quận 3 của Sài Gòn. Sau năm 1975, khu vực Ngã ba Ông Tạ mới thuộc về Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày còn bé chẳng mấy khi được vào trung tâm thủ đô, chỉ nhớ có lần thầy tôi đưa các con đi chơi Sở thú, tức là Thảo Cầm Viên, xem voi ăn mía, khỉ ăn chuối. Có năm thầy đưa lên Bến Bạch Đằng xem bắn pháo bông dịp Quốc khánh 26 tháng 10, pháo nổ trên bầu trời tỏa hình Ngô tổng thống, hình khóm trúc.

Mấy lần ông chú dẫn đi xe ngựa, xe lam 3 bánh lên trung tâm thủ đô dự mít tinh kỷ niệm ngày Quốc hận 20/7 chia đôi đất nước hay tham gia biểu tình phản đối chính phủ quân phiệt.

Cấp 1 tôi học trường Nghĩa Hòa, cấp 2 trường Thánh Tâm ở Ngã ba Ông Tạ. Năm lớp 10 vào trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân, từ đó Sài Gòn trở nên thân quen. Là năm đầu tiên đi học trong thành phố, lại là năm chuyển tiếp không có thi tú tài nên nhiều hôm tôi đã trốn học đi chơi, không còn học giỏi như những năm ở trường Thánh Tâm mỗi tháng xếp hạng nhất, nhì hay ba về học lực và được lãnh bảng danh dự. Giờ tôi chỉ xếp hạng trung bình trong số 50 bạn học.

Tôi hay trốn học đi coi xi-nê ở rạp Cao Thắng, Nam Quang hay đạp xe quanh trung tâm thủ đô nên những con đường Nguyễn Huệ, Tự Do, Hàm Nghi, Cao Thắng, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tôn trở nên thân quen. Chợ Bến Thành, nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi. Tòa soạn Báo Tuổi Hoa trên đường Kỳ Đồng tôi hay vào đọc sách báo. Trước Bưu điện thành phố có xe bò bía, có mấy sạp bán tem thư mà tôi hay ghé mua phong bì khi có phát hành tem thư ngày đầu tiên. Qua đường Hai Bà Trưng, gần đến chợ Tân Định quẹo phải đường Trần Văn Thạch ghé tiệm tạp hóa của một ông gốc Hoa mua tem sưu tầm, là sở thích.

  Ở trung tâm thủ đô, tôi nhiều lần chứng kiến biểu tình của sinh viên học sinh quanh bùng binh Quách Thị Trang hay trước trụ sở quốc hội để phản đối chính sách của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống lại sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến.

Hết năm lớp 10, trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn chỉ dành cho nữ sinh nên tôi chuyển qua Nguyễn Bá Tòng Gia Định học lớp 11 và 12. Phạm Văn Thiêm là người bạn thật tốt học chung lớp 10, ngày nào cũng từ Hòa Hưng ghé qua nhà chở tôi đi học. Có những ngày sau giờ tan học chúng tôi đi vào trung tâm thủ đô qua Cầu Bông tràn ngập áo dài trắng tung bay của nữ sinh trường Lê Văn Duyệt.

Sài Gòn điêu tàn sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Cuối năm lớp 11, chiến tranh bùng nổ ở nhiều tỉnh. Mùa hè đỏ lửa 1972, một cựu học sinh Nguyễn Bá Tòng là Đại úy Không quân Trần Thế Vinh, người được vinh danh là anh hùng diệt xe tăng, đã hy sinh trong một phi vụ chiến đấu.

Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.

Không như Mậu Thân khi du kích đánh vào tỉnh thành, lần này bộ đội cộng sản đem xe tăng, đại pháo tấn công vào nhiều nơi từ Quảng Trị địa đầu giới tuyến, Kontum trên cao nguyên đất đỏ vào đến An Lộc không xa thủ đô.

Chính phủ ban hành lệnh đôn quân. Tôi đã bước vào tuổi lính, lo học, lo cho tương lai và có nhiều ưu tư về cuộc chiến. Nhiều buổi chiều vào quán cà phê nghe nhạc vừa lãng mạn, tình tứ vừa buồn lo cho quê hương, thân phận con người.

Theo em xuống phố trưa nay

Đang còn ngất ngất cơn say

Theo em bước xuống cơn đau

Bên ngoài nắng đã lên mau…

(Lê Uyên Phương)

Đêm mẹ ngồi cầu kinh

Tường trắng im lìm

Bom rung từng liếp cửa…

(Trịnh Công Sơn)

Thi đậu Tú tài I, tôi tiếp tục được hoãn dịch để học lớp 12. Trở lại trường mới biết bạn cùng lớp ai đã nhập ngũ. Học Anh văn với thầy Hoàng Định, thấy học trò lo lắng thầy trấn an: “Nixon đã đi Tầu, rồi sẽ đi Nga. Cuộc cờ đã ngã ngũ. Chiến tranh sẽ chấm dứt thôi.” Nhìn cây phượng nơi sân trường nở rộ hoa đỏ, thầy nói: “Năm nay phượng nở nhiều, các anh chị cũng sẽ thi đỗ nhiều để được học tiếp lên, có cơ hội góp phần xây dựng đất nước.” Hết niên học thầy được qua Mỹ tu nghiệp.

Gần nhà tôi có khu quân sự Mỹ trên đường Nguyễn Văn Thoại và quanh đó là những quán bar. Một chiều nghe tiếng nổ lớn, tôi chạy ra xem thấy xác người chết xám vì chất nổ TNT của Việt Cộng cài vào xe đạp. Một chị gần nhà, trên đường đi học về, đã chết hôm đó. Đêm đêm nghe bà mẹ khóc than thảm thiết: “Con ơi, ở đời măng khóc tre chứ ai ngờ mẹ lại phải khóc con.”

Ở trường tôi thích giờ giảng văn của thầy Trần Bằng Phong, phục khí phách Nguyễn Công Trứ có lúc làm quan và có lúc bị đày mà không nản chí. Với sự hướng dẫn của thầy, năm đó tôi làm bích báo cho lớp.

Trong giờ công dân giáo dục, thầy Nguyễn Văn Tiếu cho chúng tôi thảo luận về những vấn đề liên quan đến quốc gia. Tôi nêu chuyện tham nhũng, vì đọc báo có tin dân biểu đi công tác nước ngoài mang lậu nước hoa, mỹ phẩm, quần lót, lịch Playboy về bán; có dân biểu ăn cắp tượng cổ ở bảo tàng đem ra nước ngoài được báo chí đặt tên là “Dân biểu tượng Chàm”, nhưng sao không ai bị bắt giam. Thầy nói dân biểu nghị sĩ có quyền bất khả xâm phạm nên cảnh sát không thể bắt họ.

Tổng trưởng Kinh tế Phạm Kim Ngọc đưa ra chính sách thuế trị giá gia tăng bị phê phán, chế giễu là “Tổng Ngốc”. Có bạn bày tỏ sự căm ghét “Vua đi đêm Kissinger” vì Hòa đàm Ba Lê kéo dài nhiều năm mà hòa bình đâu chưa thấy. Những dân biểu Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức đòi Mỹ rút và Việt Nam Cộng hòa ngưng bắn, có bạn hỏi tại sao không đòi Cộng sản Bắc Việt thôi xâm lược miền Nam.

Đường phố Sài Gòn năm 1969

Đầu năm 1973, Hiệp định Ba Lê được ký kết. Tôi vui mừng vì chiến tranh chấm dứt, từ nay người Việt thôi bắn giết nhau.

Mang giầy vớ tốt mang khăn áo lành

Tôi chào đất nước tôi nay thái bình…

(Phạm Duy)

Sáng ngày hiệp định có hiệu lực, tôi và mấy bạn rủ nhau lên trung tâm thủ đô, vào một quán cà phê trên đường Nguyễn Du, nghe vang vang lời ca, như mơ ước đã có từ lâu:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường…

Khi đất nước tôi không còn giết nhau

Mọi người ra phố mời rao nụ cười

(Trịnh Công Sơn)

Để chào mừng chiến tranh chấm dứt, tôi vẽ mẫu làm hai cánh cổng sắt trước nhà, mỗi bên có dấu hiệu hòa bình ở giữa. Sau khi cổng hoàn tất, một hôm có cảnh sát đến nhà nói với thầy tôi đó là dấu hiệu phản chiến và yêu cầu gỡ bỏ. Tôi không đồng ý, chỉ cắt hai miếng thiếc che dấu hiệu, từ ngoài đường nhìn vào không còn trông thấy nữa. Ít lâu sau, kẻ trộm lấy mất một cánh cổng. Thầy tôi nghi cảnh sát đã lấy đi một cánh để nhà phải làm lại hai cánh mới. Tôi cũng nghĩ thế.

Bùi Văn Phú

Biểu tượng hòa bình vẫn còn trên cánh cổng khi tác giả trở lại ngôi nhà xưa vào năm 1997

Ở trường tôi hăng say sinh hoạt hiệu đoàn nên cuối niên học được hiệu trưởng Đinh Ngọc Lễ trao cho phần thưởng hạnh kiểm. Đến hè, tôi thi đậu Tú tài II.

Thi vào trường Kiến trúc, vì có hoa tay và thích vẽ, nhưng không đậu nên ghi danh vào trường Luật Sài Gòn là chính, Văn khoa là phụ.

Bạn cùng lớp 12 có Phạm Văn Thiêm, Trịnh Hoàng Long, Nguyễn Văn Lý cũng ghi danh học luật. Võ Quang Thịnh, quen thân từ những năm ở trường Thánh Tâm, học Petrus Ký, đậu hạng bình. Tú tài I bạn đậu ưu, xin đi du học không được, ghi danh vào khoa Hóa, Đại học Minh Đức. Nguyễn Công Bình nhà ở Tân Chí Linh, đậu bình cả hai kỳ thi Tú tài, gia đình có anh tử trận nên được chính phủ cấp học bổng du học Mỹ. Hoàng Đức Hòa ghi danh chứng chỉ MPC bên Đại học Khoa học.

Sinh viên trường Luật năm đầu đi học ở rạp Thống Nhất. Giáo sư Vũ Văn Mẫu dạy cổ luật, giáo sư Trần Văn Liêm, dân luật; giáo sư Nguyễn Cao Hách, kinh tế; giáo sư Lê Đình Chân, luật hiến pháp.

Chương trình học có 7 môn, cuối năm bốc thăm hai môn chính thi viết luận văn, còn các môn khác là các câu hỏi ngắn. Một trong hai môn thi chính năm đó là luật hiến pháp mà tôi rất thích nghe Giáo sư Lê Đình Chân, người giảng rất lôi cuốn về quyền của dân, về các tổ chức công quyền là hành pháp, quốc hội, tối cao pháp viện, giám sát viện.

Đề tài thi là về luật bầu cử năm 1971 yêu cầu một ứng cử viên phải có sự đề cử của 60 dân biểu, nghị sĩ quốc hội hay 120 nghị viên hội đồng tỉnh. Điều đó có vi hiến hay không? Tôi đưa ra lập luận là không vi hiến, dẫn chứng là ở Mỹ, Pháp các ứng cử viên tổng thống đều phải có các đảng đề cử mới được ra tranh cử. Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng hòa xác nhận sinh hoạt chính trị đa đảng và khuyến khích tiến tới lưỡng đảng thì việc ứng cử viên phải có sự đề cử là sinh hoạt dân chủ đa đảng. Đậu thi viết, tôi thi phần hai. Kết quả tôi hoàn tất chứng chỉ luật năm thứ nhất, được tiếp tục hoãn dịch để học năm thứ hai.

Nữ sinh Sài Gòn năm 1970 (trái) và năm 1972

Hiệp định Ba Lê đã không đem lại hòa bình vì vẫn còn súng nổ trên chiến trường. Chuẩn úy Nguyễn Đức Tuyển, trưởng lớp ở Thánh Tâm, bị phục kích chết, mẹ của bạn trở nên điên dại khi nhận xác con về. Duy Nam, giọng hát truyền cảm trong các buổi văn nghệ và là học trò của ca sĩ Duy Khánh, tử trận. Phạm Văn Thông học chung lớp ở Thánh Tâm, bút hiệu Mai Thông, tử nạn khi trực thăng rớt. Anh Lâm cùng xóm là sĩ quan chiến tranh chính trị tử trận. Chuẩn úy Lê Minh Châu học chung lớp 11 chết mất xác.

Vào đại học, tôi thường ở nhà ông bác ngoài đường Thánh Mẫu, gần nhà thờ Chí Hòa, Ngã ba Ông Tạ. Anh cả của bác là Thẩm phán Trần An Bài, ngoài việc tại tòa án anh còn dạy ở Học viện Cảnh sát Quốc gia, Đại học Vạn Hạnh và thường viết cho báo Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm. Sau luật 7/72 bóp nghẹt tự do báo chí, tờ Xây Dựng phải đóng cửa. Nhà anh có báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc hay bị Bộ Dân vận Chiêu hồi ra lệnh tịch thu sau khi phát hành. Gần anh, tôi được học thêm nhiều về hệ thống luật của Việt Nam Cộng hòa. Đầu năm 1974, anh trình luận án tiến sĩ luật, tiêu đề “Những bảo đảm của nghi can trong giai đoạn điều tra sơ vấn”.

 Khi ông Thiệu vận động quốc hội sửa hiến pháp, tăng nhiệm kỳ tổng thống lên 5 năm và cho ông quyền tái ứng cử sau khi nhiệm kỳ hai chấm dứt năm 1975, cho thấy ông muốn làm tổng thống suốt đời, nên tôi tham gia các hoạt động chống chính quyền độc tài vì tin rằng chỉ có dân chủ mới thắng được cộng sản.

Tôi và bạn Hoàng Đức Hòa bên Khoa học bàn với nhau là lên năm thứ hai hay thứ ba chúng tôi sẽ ra ứng cử ban đại diện sinh viên của khoa để hoạt động rộng hơn. Tôi thích làm báo nên sẽ tranh chức trưởng ban báo chí Luật khoa, dù biết là dấn thân hoạt động sẽ có nhiều nguy hiểm, như anh Lê Khắc Sinh Nhựt đã bị Việt Cộng ám sát chết ngay trong sân trường Luật.

Mấy năm trước, trong một buổi văn nghệ ở Văn khoa, anh Ngô Vương Toại đã bị cán bộ nội thành lên giựt mi-crô, nã đạn vào người và may thoát chết. Trong khuôn viên trường Luật thỉnh thoảng cũng có rải truyền đơn chống chính phủ. Sinh viên học sinh tranh đấu như Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi xuống đường biểu tình chống Thiệu, chống Mỹ bị bắt rồi được thả vì áp lực quốc tế can thiệp.

Hỏi ý anh Trần An Bài, anh nói muốn ứng cử vào ban đại diện sinh viên thì phải dứt khoát là người quốc gia, chống cộng và có một đảng ủng hộ ra tranh cử.

Tôi là người quốc gia, chống cộng nhưng không ủng hộ chính sách của ông Thiệu. Sinh hoạt chính trường miền Nam từ lâu đã có Đảng Đại Việt, có Quốc dân Đảng, Phong trào Quốc gia Cấp tiến, Lực lượng Đại Đoàn kết mà tôi biết. Những năm qua có Đảng Dân chủ do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lập ra. Trong bầu cử tổng thống 1971, liên danh Nguyễn Cao Kỳ bị loại và liên danh Dương Văn Minh rút lui để liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương độc diễn và thắng đến 94% cho thấy chủ trương độc tài của ông.

Một hôm trên báo Chính Luận có đăng quảng cáo của Đảng Quốc tiến mới được thành lập với người lãnh đạo là cựu Thượng nghị sĩ Trương Vĩnh Lễ, từng là ứng cử viên phó tổng thống của tướng Nguyễn Cao Kỳ, nên tôi muốn gia nhập đảng này.

Bùi Văn Phú

Thẩm phán Trần An Bài bảo vệ luận án tiến sĩ luật tại Đại học Luật khoa Sài Gòn năm 1974. Tác giả bên bìa phải

Đầu năm 1975, tôi và Hòa đến một căn nhà bên hông Đại học Vạn Hạnh, gặp ông Ngọc, tổng thư ký Đảng Quốc tiến. Sau khi giới thiệu về mình và trò chuyện với ông về những vấn đề liên quan đến hiện tình đất nước, ông Ngọc cho biết chủ trương của đảng là đối lập với Đảng Dân chủ của ông Thiệu. Muốn vào đảng, mỗi người chúng tôi cần hai người giới thiệu. Tôi sẽ nhờ Thẩm phán Trần An Bài và Nghị viên Nguyễn Duy Bảo, người mà tôi từng tham gia vận động bầu cử cho, giới thiệu và tôi sẽ ra tranh cử vào ban đại diện sinh viên trường Luật.

Tại địa phương, tôi tham dự nhiều buổi thảo luận của Linh mục Trần Hữu Thanh về chính sách hay các dự luật tại quốc hội, làm sao vận động ủng hộ hay ngăn cản không cho thông qua. Cha Thanh đặt bản doanh của Phong trào Nhân dân chống tham nhũng tại xứ Tân Chí Linh nên khu Ông Tạ thường có biểu tình chống chính phủ. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ, tấm khiên, ba ton tới bao vây, bắn lựu đạn cay để giải tán.

Bạn bè tụ họp ở nhà Võ Quang Thịnh sau nhà dòng Mai Khôi đàn hát và đọc “Bản Cáo trạng số 1” của Phong trào vào băng cát-sét để lưu lại vì các báo đăng cáo trạng đã bị tịch thu.

Gần nhà có anh Nguyễn Tiến, tốt nghiệp văn khoa, tham gia chính trường, đắc cử nghị viên hội đồng xã Tân Sơn Hòa. Tiếp xúc với anh, tôi hiểu hơn về khu vực nơi mình sống tinh thần chống cộng cao, nhưng cũng có bạn trẻ ngả theo “cách mạng” vì cạnh bên là khu dệt Quảng Nam có nhiều người theo “Mặt trận”. Anh cho biết sự việc tôi gắn dấu hiệu hòa bình trên cổng và tham gia phong trào chống tham nhũng khiến có người nghi ngờ tôi theo cách mạng.

Cựu học sinh Thánh Tâm cũng đã có những buổi họp mặt tại trường, do anh Phạm Văn Sơn, sinh viên năm thứ ba khoa học đứng ra tổ chức. Chúng tôi thảo luận về hướng đi cho thanh niên sinh viên trong tình hình hiện tại, phải vững tinh thần quốc gia, không nghe tuyên truyền của cộng sản kêu gọi xuống đường, bãi khóa.

Năm 1974, trường Thánh Tâm đã bị “cách mạng” chiếm đóng cả tuần. Ban đêm, từ nóc trên tầng bốn họ cho phát thanh những bài viết chống chính phủ mà từ nhà tôi nghe rõ. Mấy lần cảnh sát tiến vào trường thì bàn ghế từ lầu cao được ném xuống, nên phải rút lui. Cho đến khi Chuẩn tướng Trang Sĩ Tấn xuống chỉ huy cả trăm cảnh sát tiến vào mới bắt được mấy thanh niên thiếu nữ theo Việt Cộng.

Hiệu trưởng trường Thánh Tâm là sư huynh Nguyễn Văn Ngươn, em của Thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Thượng nghị viện, nên ngôi trường đã trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị cho khu vực Ông Tạ, từ vận động bầu cử đến đấu tranh.

Đầu năm 1975, cộng sản tấn công chiếm Phước Long, rồi Ban Mê Thuột. Như vết dầu loang, các tỉnh phía bắc dần dần bị mất kiểm soát. Dân miền Trung di tản vào Sài Gòn trong khi người thủ đô tìm cách rời nước ra đi.

Tướng Dương Văn Minh kêu gọi các bên ngưng bắn để hòa giải dân tộc. Tôi đã có bài viết trên báo Tiền Tuyến của quân đội vào đầu tháng Tư phản bác lại, vì theo tinh thần Hiệp định Ba Lê, bên gây chiến là bộ đội cộng sản, yêu cầu họ rút về miền Bắc thì mới có thể nói chuyện hòa giải, hòa hợp.

bùi văn phú

Sinh viên biểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân tị nạn, Sproul Plaza, U.C. Berkeley 1979

Sáng 29/4/1975, sau khi nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên đài phát thanh yêu cầu người Mỹ rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, anh Bài quyết định đưa gia đình và các em ra đi, có tôi đi theo. Hai bác ở lại coi nhà vì có mấy người bà con từ Biên Hòa chạy đến tạm trú.

Qua các trại tị nạn ở Subic Bay, Philippines; Guam và Camp Pendleton ở miền nam California, tôi có tìm kiếm bạn học cũ nhưng không ai đi thoát được. Nhiều lúc tôi tự hỏi đất nước đã hết chiến tranh, sao tôi không ở lại để theo đuổi ước mơ và góp tay xây dựng đất nước!

Mùa thu 1977, tôi được nhận vào Đại học U.C. Berkeley, nổi tiếng chống chiến tranh Việt Nam. Hoạt động trong trường của thành phần ủng hộ Hà Nội vẫn còn, qua những buổi chiếu phim “79 Mùa xuân của Bác Hồ”, “Chiến thắng năm Mão”, sau đó đã bị người Việt tị nạn từ Oakland, San Francisco, San Jose kéo lên dẹp tan.

Cùng các bạn mới quen trong trường, chúng tôi thấy cần lập hội để giúp đỡ nhau và nêu cao tinh thần quốc gia của sinh viên tị nạn. Một số anh em họp bàn, soạn thảo nội quy và ngày 20/1/1979 tại ký túc xá Spens Black Hall, với 50 sinh viên Việt có mặt, nội qui hội được biểu quyết chấp thuận. Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học U.C. Berkeley chính thức được thành lập với mục đích giúp nhau học tập, bảo tồn phát huy văn hóa Việt và tương trợ lẫn nhau.

Cơ hội ứng cử ban đại diện sinh viên đến với tôi, không ở trường Luật Sài Gòn mà tại một đại học danh tiếng, chiếc nôi của phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Tôi ra tranh chức trưởng ban văn hóa, phụ trách báo chí và văn nghệ, vì hợp với khả năng và sở thích. Ban chấp hành đầu tiên được bầu ra và tôi làm trưởng Ban Văn hóa.

Bản tin chính thức của hội phát hành số đầu tiên vào đúng dịp Tết Kỷ Mùi 1979. Ban chấp hành bắt tay ngay vào việc tổ chức pic-nic, thể thao, họp mặt ca hát, tưởng niệm 30/4, cứu giúp thuyền nhân, phát hành đặc san. Nội san Nối Vòng Tay ra đời. Tôi lại ôm đàn ghi ta, xướng lên những bài hát cộng đồng. Sân trường Đại học U.C. Berkeley vang những lời ca:

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

(Nguyễn Đức Quang)

Rừng núi giang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

(Trịnh Công Sơn)

Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời

Việt Nam hai câu nói bên vành nôi

(Phạm Duy)

Bùi Văn Phú

Đại hội thể thao văn nghệ liên trường Bắc California tổ chức tại U.C. Berkeley năm 1988

Hai mươi năm sau, tôi trở về thành phố thân yêu cũ và không thấy đường phố nhà cửa có thay đổi nhiều, chỉ cũ đi và phai bạc mầu. Khu nhà tôi lúc bấy giờ nhiều người bán hàng bên lề. Nhưng tên đường giờ đã khác: Cách Mạng Tháng 8, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Đồng Khởi hay Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Bành Văn Trân là những ai, nghe xa lạ quá.

Trường cũ cũng đã đổi tên. Nghĩa Hòa thành Chi Lăng, Thánh Tâm là Tân Bình, Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn thành Bùi Thị Xuân, Nguyễn Bá Tòng Gia Định thành Hoàng Hoa Thám và Đại học Luật khoa không còn mà trở thành Đại học Kinh tế. Bạn cũ nói kinh tế xã hội chủ nghĩa không ứng dụng gì được nên bỏ học ra đời chạy tắc xi hay làm nghề tự do.

Năm mươi năm qua, tôi theo dõi sinh hoạt chính trị và nhân quyền quê nhà. Năm mươi năm Sài Gòn đổi tên, Thành phố Hồ Chí đã mở rộng ra đến vùng biển, phường Sài Gòn giờ có nhiều nhà cao tầng, nhiều xe hơi trên phố, nhưng ở mặt khác của cuộc sống, đến nay câu đồng dao mà người Sài Gòn từ lâu truyền khẩu cho nhau vẫn còn là hiện thực: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California

 

Sài Gòn hay Thành phố Hồ Chí Minh: Thế hệ trẻ sử dụng tên nào? (BBC)

BBC

Người dân đi xem lễ diễu binh dịp 30/4/2025 tại TP HCM

3 tháng 7 – 2026

Sinh ra ở các thập niên sau ngày Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều người thuộc “thế hệ 9x-2k” (chỉ những người sinh trong khoảng thời gian 1990-2009) không trải qua thời khắc lịch sử ấy, mà chỉ biết tên gọi mới đã trở thành điều hiển nhiên.

Với họ, hai cái tên “Sài Gòn” và “Thành phố Hồ Chí Minh” không phải là một sự lựa chọn đối lập, mà là “hai lớp nghĩa cùng tồn tại”.

Dù có cách diễn đạt khác nhau, những người trẻ mà BBC News Tiếng Việt phỏng vấn đều nhìn nhận “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên gọi chính thức của thành phố, thường được sử dụng trong các giấy tờ thủ tục hành chính, trong khi “Sài Gòn” vẫn là cái tên hiện diện trong đời sống thường ngày.

‘Sài Gòn phóng khoáng, nghĩa tình, cởi mở và bao dung

Sinh năm 1996 và lớn lên tại TP HCM, rapper có nghệ danh là Christian Cang cho biết anh hiểu rằng sau năm 1975, Sài Gòn được đổi tên thành TP HCM theo quyết định của nhà nước.

Tuy nhiên, trong đời sống thường ngày, anh vẫn quen gọi nơi mình sống là “Sài Gòn” vì “tự nhiên, ngắn gọn và gần gũi”.

“Mình lớn lên nghe mọi người xung quanh gọi như vậy, nên thành thói quen,” Christian Cang nói với BBC News Tiếng Việt.

Theo nam rapper này, “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên hành chính chính thức, còn “Sài Gòn” gợi lên hình ảnh về văn hóa, con người, nhịp sống và ký ức của nhiều thế hệ.

Anh cho rằng chính giá trị văn hóa đó khiến cái tên “Sài Gòn” vẫn xuất hiện phổ biến trong tên các nhà hàng, quán cà phê, doanh nghiệp tư nhân và thương hiệu địa phương, như Bia Sài Gòn, Saigontourist, hay các khách sạn như Rex Hotel Saigon, Hotel Continental Saigon… 

“Nếu làm nhạc, có lẽ mình sẽ dùng tên ‘Sài Gòn’. Trong âm nhạc, mình ưu tiên cảm xúc và hình ảnh. ‘Sài Gòn’ nghe gần gũi, giàu chất thơ và hợp với màu sắc mình đang theo đuổi,” Christian Cang nói.

Tuy vậy, anh nhấn mạnh rằng điều quan trọng với bản thân không nằm ở tên gọi, mà ở tình yêu dành cho con người và nơi mình đang sống.

“Nếu dùng vài từ để mô tả ‘người Sài Gòn’, mình sẽ chọn: phóng khoáng, nhiệt tình, nghĩa tình, cởi mở, chịu khó và bao dung. Mình tin những điều đó góp phần tạo nên một thành phố mà ai đến cũng có cơ hội bắt đầu lại,” Christian Cang chia sẻ.

Khi được hỏi về “chất Sài Gòn”, Christian Cang cho rằng điều nổi bật của thành phố là sự đa dạng, nơi người từ nhiều miền đất khác nhau cùng đến sinh sống và lập nghiệp.

“Chính điều đó làm mình học được cách tôn trọng sự khác biệt và dễ hòa nhập với mọi người. Nếu có điều gì mang màu sắc ‘Sài Gòn’ trong mình thì chắc là sự cởi mở, thích kết nối và khá thoải mái trong cách sống,” nam rapper cho biết.

Là một nghệ sĩ, anh nói rằng điều mình muốn mang vào âm nhạc không chỉ là “chất của Sài Gòn”, mà còn là tinh thần yêu thương và hy vọng.

“Dù đến từ đâu, mình nghĩ điều kết nối chúng ta vẫn là cách đối xử với nhau và sống có ích cho cộng đồng,” nghệ sĩ này nhấn mạnh.

Phố đi bộ Nguyễn Huệ là một điểm đến quen thuộc của giới trẻ tại TP HCM

‘Sài Gòn cho đời thường, TP HCM cho giấy tờ thủ tục’

Nếu Christian Cang xem “Sài Gòn” là cái tên của cảm xúc, thì với Hồng Hoa, 20 tuổi, sinh viên năm hai tại một trường đại học ở TP HCM, “Sài Gòn” và “TP HCM” đơn giản là hai cách gọi dành cho hai hoàn cảnh khác nhau.

“TP HCM là tên hành chính, chính thức được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ và các hoạt động của nhà nước. Còn ‘Sài Gòn’ mang ý nghĩa gần gũi, gợi nhớ về lịch sử, văn hóa và nhịp sống rất đặc trưng của thành phố,” Hoa nói.

Bởi vậy, trong những cuộc trò chuyện với gia đình hay bạn bè, cô gọi nơi mình lớn lên là “Sài Gòn”. “Nghe tự nhiên và ngắn gọn hơn.

“Nhưng khi làm việc, học tập hoặc trong các tình huống trang trọng thì mình sẽ dùng TP HCM vì đó là tên chính thức,” nữ sinh viên giải thích.

Theo Hoa, việc cái tên “Sài Gòn” vẫn xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, trong thơ ca, âm nhạc hay trên những thương hiệu là điều không khó lý giải.

“Cái tên Sài Gòn đã gắn bó với rất nhiều thế hệ nên mang giá trị lịch sử và cảm xúc rất lớn. Trong thơ ca, âm nhạc hay thương hiệu, tên này tạo cảm giác thân quen, dễ nhớ và cũng thể hiện bản sắc riêng của thành phố. Vì vậy, dù tên chính thức là TP HCM, ‘Sài Gòn’ vẫn được sử dụng rất phổ biến trong đời sống và văn hóa,” cô chia sẻ.

Sinh ra và lớn lên giữa nhịp sống hối hả của thành phố, Hoa cảm thấy bản thân chịu ảnh hưởng bởi chính môi trường ấy.

“Mình quen với nhịp sống nhanh, thích nghi khá nhanh với môi trường mới và cởi mở trong giao tiếp,” cô nói.

Khi được hỏi về điều gì làm nên hình ảnh “người Sài Gòn”, nữ sinh viên trả lời: “Mình cũng thấy người Sài Gòn thường có thói quen giúp đỡ người khác, khá thoải mái và dễ kết bạn.”

Tuy vậy, Hoa cũng không muốn cảm nhận của mình trở thành khuôn mẫu cho người khác.

“Đó chỉ là cảm nhận cá nhân. Mỗi người đều có tính cách riêng, không thể nói tất cả người ở cùng một địa phương thì đều giống nhau. Khi lên đại học, được gặp bạn bè từ nhiều vùng miền khác nhau, mình nghĩ ai cũng có tình yêu với quê hương và đều cố gắng học tập, làm việc để phát triển bản thân.”

Với nhiều người trẻ, xin ba mẹ ‘lên Sài Gòn chơi’ là tới Quận 1, nơi có những tòa nhà cao tầng, nhà thờ Đức Bà…

‘Sài Gòn thân thiện, hào sảng’

Với Huỳnh Phối Trân, một người gốc Hoa sinh năm 1990, tên gọi “Sài Gòn” chưa bao giờ biến mất khỏi cuộc sống thường ngày.

“Mình vẫn dùng tên Sài Gòn với bạn bè, đồng nghiệp vì ngắn gọn và tự nhiên. Còn khi nói tiếng Hoa với ba mẹ, họ hàng thì gọi là ‘Sáy Cung’ (西贡, Tây Cống), tức Sài Gòn,” cô chia sẻ.

Ngay cả khi chuyển ra Hà Nội sinh sống và làm việc suốt 5 năm qua, Trân cho biết những người xung quanh vẫn thường hỏi: “Trân ở Sài Gòn ra hả?” thay vì “ở TP HCM”.

Theo cô, “Sài Gòn” không đơn thuần là một địa danh mà còn gợi lên cả một lối sống và những ký ức tuổi thơ.

“Hồi nhỏ, mỗi lần xin ba mẹ ‘lên Sài Gòn chơi’ là mình nghĩ đến Quận 1, đến những tòa nhà cao tầng, nhà thờ Đức Bà, những con đường đông đúc và nhộn nhịp. Trong suy nghĩ của mình khi đó, ‘lên Sài Gòn’ có nghĩa là đi đến nơi sầm uất, hiện đại và ‘style’ [phong cách] hơn những khu vực khác.”

Cái tên ấy, theo Phối Trân, cũng gắn với nhiều dấu ấn văn hóa và ẩm thực.

Cà phê Sài Gòn, ốc Sài Gòn… nghe là biết một phong vị rất riêng. Chẳng hạn như ốc ở Sài Gòn có rất nhiều cách chế biến với đủ hương vị khác nhau, còn ở Hà Nội mình thường thấy biển hiệu ‘ốc Hải Phòng’ hơn là ‘ốc Hà Nội’.”

Sống ở Hà Nội nhiều năm cũng khiến cô nhận ra sức hút mà cái tên “Sài Gòn” vẫn mang trong mắt nhiều người.

“Nhiều đồng nghiệp từng nói với mình rằng họ muốn chuyển vào Sài Gòn sống vì cảm thấy ở đó dễ sống hơn, các ngành dịch vụ, chẳng hạn ăn uống, phục vụ tốt hơn…

“Họ cũng hay bảo người Sài Gòn thân thiện, năng động và hào sảng. Cá nhân mình cũng có cảm nhận như vậy,” cô nói.

Đối với Phối Trân, “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên gọi chính thức trên giấy tờ, còn “Sài Gòn” vẫn là cái tên của những ký ức, của nếp sinh hoạt thường ngày và của một bản sắc mà cô tin rằng nhiều người vẫn cảm nhận được, dù thành phố đã mang tên mới gần nửa thế kỷ.

Một quán ốc tại TP HCM

‘Sài Gòn ấm áp, hiếu khách’

Là con của một gia đình người Việt gốc Sài Gòn nhưng sinh ra và lớn lên ở Pháp, Ava Trần mang trong mình một mối gắn bó khá đặc biệt với thành phố này.

Cô gái sinh năm 1996 đã chuyển về Việt Nam sinh sống khoảng 5 năm gần đây, sau nhiều năm qua lại giữa Pháp và quê hương của cha mẹ.

Ava thừa nhận cô không biết chính xác Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh từ khi nào, chỉ đoán rằng việc này diễn ra sau năm 1975. Cô cũng tự hỏi liệu cái tên “Sài Gòn” có phải do người Pháp đặt từ thời Pháp thuộc hay không, dù chưa có dịp tìm hiểu kỹ.

Trong cảm nhận của Ava, “Sài Gòn” là tên gọi nguyên thủy của thành phố, còn “Thành phố Hồ Chí Minh” là cái tên gắn với một giai đoạn lịch sử mới sau khi chiến tranh kết thúc.

Một điều khiến cô thích thú là cho đến thời điểm được BBC đặt câu hỏi, cô mới nhận ra chính bản thân mình cũng vô thức sử dụng hai tên gọi tùy theo ngôn ngữ. Khi nói tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, cô thường dùng “Hô Chi Minh-Ville”, “Ho Chi Minh City”. Nhưng mỗi khi chuyển sang tiếng Việt, cái tên bật ra một cách tự nhiên lại là “Sài Gòn”.

Theo Ava, sự hiện diện bền bỉ của cái tên “Sài Gòn” trong đời sống có lẽ bắt nguồn từ việc nhiều người vẫn xem đó là tên gốc của thành phố, một cái tên gắn với ký ức và cảm giác chân thực. Cô cũng nói rằng mình thích âm điệu của từ “Sài Gòn” hơn và tin rằng đó cũng là một phần lý do khiến nhiều người vẫn quen sử dụng tên gọi này.

Ở Pháp, Ava cho biết người trẻ ngày nay thường gọi thành phố là “Hô Chi Minh-Ville”, “Ho Chi Minh City”, trong khi những người lớn tuổi từng sống qua thời kỳ Chiến tranh Việt Nam vẫn gọi là “Saïgon”, với cách phát âm theo tiếng Pháp.

Từ nhỏ, Ava đã nhiều lần theo gia đình về thăm thành phố, nơi họ vẫn còn ngôi nhà cũ và nhiều người thân sinh sống. Những chuyến trở về ấy cũng định hình cái nhìn của cô về con người nơi đây.

“Với tôi, người Sài Gòn ấm áp và hiếu khách. Họ lúc nào cũng mang lại cảm giác tích cực, thoải mái,” cô nói.


 

Ở HIỀN GẶP LÀNH – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Cha ông ta vẫn thường dạy con cái: “Ở hiền gặp lành.”  Người ăn ở hiền lành, người sống có nhân, có nghĩa ắt trời sẽ ban cho nhiều phúc lộc dư tràn.  Ngược lại, nếu sống ác nhân ác đức, trời sẽ quả báo những tai họa khó lường.

Thế nhưng, hiền lành có phải là “tĩnh tọa như Bụt?”  Ai muốn làm gì thì làm hay không?  Thưa không, mà hiền lành ở đây là biết sống đúng với vị trí của mình.  Là biết sống đúng với phẩm giá của mình.  Là biết tôn trọng phẩm giá của mình.  Một con người có phẩm giá cao đẹp là một con người có lý trí đủ để suy biết điều hay lẽ phải, có ý chí vững mạnh để không bị sự gian ác làm hại bản thân và tha nhân, có sự chọn lựa đúng đắn và chuẩn mực về cái hay, cái đẹp, cái phải, cái trái.  Là người phải biết phân biệt phải quấy.  Biết nói không với điều ác.  Không thỏa hiệp với gian tà.  Vì “im lặng là đồng lõa” và hùa theo là “đồng phạm.”  Người không có trí khôn, làm theo lời người khác thì không có tội, nhưng người hiền lành không thể làm chuyện ác, chuyện lừa dối để rồi đổ lỗi cho hoàn cảnh.  Nếu đổ lỗi cho hoàn cảnh thì trên đời này ai phạm tội cũng vì hoàn cảnh mà ra.  “Túng quá hóa liều,” “Nóng mất khôn,” “Tức nước vỡ bờ.”  Trong một phân tích về lý do phạm tội của các tù nhân thì có 80% tội nhân cho rằng mình phạm tội là do hoàn cảnh.  Như vậy, sự hiền lành là một thái độ sống dung hoà với mọi người.  Sự hiền lành sẽ giúp cho con người hành xử theo tình, theo lý và theo lẽ phải nhưng với một thái độ ôn hòa với đầy lòng bác ái bao dung.

 Hôm nay Chúa nói: “hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Sự hiền lành của Chúa không phải là đi tìm sự thỏa hiệp với thế gian.  Chúa không im lặng trước sự dữ.  Chúa đã từng lên án gắt gao thói giả hình và gian tà của những kẻ biệt phái.  Chúa đã từng xua đuổi con buôn ra khỏi đền thờ.  Chính vì những điều Chúa làm, những lời Chúa nói đã ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo, đến địa vị, chỗ đứng của các người biệt phái mà người ta tìm cách giết Chúa.  Sự hiền lành của Chúa là vì công lý mà chịu nhiều thiệt thòi không kháng cự.  Vì dám nói sự thật mà phải chết nhục nhã trên cây thập giá, nhưng Ngài không oán hận, và còn xin cùng Chúa Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.  Chúa đấu tranh nhưng bất bạo động, vì “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm,” “oán báo oán, oán chập chùng” và còn tha thứ cho sự xúc phạm của tha nhân không chỉ “7 lần mà là 70 lần bảy.”

 Trong tám mối phúc, Chúa đã chúc phúc những cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.  Như thế hiền lành ở đây là sống thật và làm chứng cho sự thật.  Không nhượng bộ, không thỏa hiệp với dối gian.  Cho dù vì lẽ công chính mà mình bị bách hại, bị thiệt thòi vẫn chấp nhận, vì phần thưởng của chúng ta là Nước trời.

 Sự hiền lành của Chúa còn hệ tại ở sự cảm thông với lỗi lầm của người khác.  Không thành kiến đối với những người bị xã hội ruồng bỏ.  Ngài yêu thương họ.  Ngài đến để đối thoại với họ.  Ngài mở cho họ một con đường mới.  Ngài giúp họ làm lại cuộc đời như Madalena, như Giakêu, hay như người thiếu phụ bên bờ giếng Giacóp.

 Sự hiền lành thường đi song song với khiêm tốn.  Hiền lành để tha nhân dễ gần chúng ta và khiêm tốn để ta dễ hòa đồng với tha nhân.  Tuy hai nhưng là một mục đích.  Tạo cơ hội cho chúng ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.  Kẻ kiêu căng thường phân loại để chơi.  Người khiêm nhường thì đối xử mọi người như nhau.  Người hiền lành ai cũng muốn tới gần.  Kẻ gian ác ai cũng chạy xa.  Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường nên ai cũng có thể tiếp xúc với Ngài, và Ngài cũng có thể gặp gỡ trao đổi với mọi người.  Từ em bé đến người già.  Từ người giầu có đến kẻ hèn.  Từ người công chính đến tội lỗi.

 Xin Chúa giúp chúng ta biết học nơi trái tim yêu thương của Chúa: “sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Ngài không ở trên cao nhưng tự hạ mặc lấy thân phận con người.  Ngài còn dạy chúng ta bài học khiêm tốn khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ.  Một cử chỉ khiêm tốn đến nỗi Phêrô đã bộc trực thốt lên: “Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con sao?”  Đó là một sự tự hạ không ủy mị hay luồn cúi mà là bài giáo huấn sống động về tinh thần hy sinh phục vụ lẫn nhau.  Ngài đã dạy chúng ta hãy sống đúng với thân phận con người là lệ thuộc vào Chúa.  Ngài đã dạy chúng ta hãy hạ mình để sống hòa hợp với tha nhân.  Đừng tự cao tự đại để gạt Thiên Chúa ra bên ngoài như Adam – Evà năm xưa chỉ dẫn tới diệt vong.  Đừng tự cao tự đại đến nỗi đè bẹp người khác để mình được tôn vinh.  Đừng khinh bỉ người tội lỗi, bất hạnh nhưng yêu thương và tôn trọng họ.  Và trên hết, hãy mang lấy tâm hồn trẻ thơ để luôn đơn sơ và bé nhỏ trước mặt Chúa, trước mặt tha nhân.  Vì sự đơn sơ và bé nhỏ là dấu chỉ đặc thù của sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.  Đây cũng là phương thế để chúng ta đón nhận mạc khải Nước Trời và đón nhận tình thương của Chúa tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta.  Amen.

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

From: Langthangchieutim


 

Mỹ và Mình

Mỹ và Mình

Ở Mỹ được hơn 30 năm tôi thấy một số khác biệt giữa người Mỹ và người Việt mình (chỉ nói về phần đông chứ không phải là tất cả đâu nhen). Tôi nghĩ còn rất nhiều khác biệt nữa mời các bạn góp ý thêm nha.

  1. Mỹ làm việc thiện vì lòng hảo tâm. Mình làm việc thiện để “mua phước” cho bản thân và gia đình.
  2. Mỹ làm sếp không lên mặt. Mình làm lớn là làm lối.
  3. Sếp Mỹ không cần kêu họ bằng chức vị. Sếp Mình sẽ tức giận nếu không được thưa gởi kính trọng.
  4. Ngày lễ Giáng sinh sếp Mỹ mua quà nhỏ tặng công nhân cảm ơn. Còn Mình thì mua quà lớn tặng Sếp để lấy lòng.
  5. Mỹ tổ chức đám cưới không tính toán lời lỗ. Mình thì trời mưa vào ngày tiệc cưới là méo mặt vì ít người đi dự sẽ lỗ nặng.
  6. Mỹ tổ chức sinh nhật cho con chỉ có con và bạn bè của con. Mình tổ chức sinh nhật cho con mà khách mời toàn là bạn bè của cha mẹ.
  7. Mỹ đi đúng giờ. Mình chuyên xài giờ cao su.
  8. Mỹ bảo vệ động vật hoang dã. Mình mà gặp là bắt về làm thịt ngay.
  9. Mỹ dạy con vừa học vừa làm. Mình cưng con bắt chỉ chuyên tâm vào học.
  10. Mỹ cho con tự do tranh luận với cha mẹ. Mình bắt con phải tuân lời, con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
  11. Mỹ dám hỏi dám nói. Mình không dám hỏi mà dám nói lén, nói xấu sau lưng.
  12. Mỹ cầm dao cắt từ ngoài vào trong. Mình cắt từ trong ra ngoài.
  13. Mỹ dùng máy rửa chén để rửa chén dĩa. Mình dùng máy rửa chén để úp chén dĩa cho ráo sau khi rửa bằng tay.
  14. Mỹ biết bơi nhưng không dạy nếu không được đào tạo để huấn luyện. Mình thì chỉ cần biết bơi sơ sơ là làm thầy dạy lại cho người khác.
  15. Mỹ không xoa đầu hay nựng nịu con nít. Mình thì ngược lại.
  16. Mỹ tiêu tiền phung phí nên phải bỏ tiền thuê người quản lý tiền bạc và tiêu pha. Mình thì biết tiết kiệm nên chẳng cần phí tiền thuê người lo việc vô duyên này.
  17. Mỹ để y tá lo cho thân nhân khi nhập viện. Mình thì vào ở chung với thân nhân để tự tay săn sóc.
  18. Nhà thương Mỹ rất tôn trọng và yêu thương bệnh nhân bất kể giàu nghèo. Nhà thương Mình thì coi bệnh nhân nghèo như con …ghẻ và thương túi tiền của bệnh nhân giàu.
  19. Đến nhà thương Mỹ mà lơ ngơ là có người hỏi han và nhiệt tình giúp đỡ dẫn đường tới tận nơi. Còn đến nhà thương Mình mà lơ ngơ là có cả đám “cò” tới bắt mánh làm tiền.
  20. Về già Mỹ dắt chó đi dạo. Mình thì về già dắt cháu đi dạo. (Đúng với tui ghê)
  21. Người Mỹ rất thích nhìn vào mắt của người đối thoại. Người Việt thì quan niệm nhìn thẳng vào mắt người đối thoại là thất kính hoặc không lịch sự.
  22. Người Mỹ mà bấm còi xe là mắng xe khác đi ẩu không đúng luật. Còn người Mình bấm còi xe là xin đường.
  23. Người Mỹ lái xe tốc độ nhanh thì chạy lane trái. Thấy có người chạy sau nhanh hơn thì tự sang qua lane phải để nhường đường. Người Mình thì hay lạng lách tranh đường.
  24. Người Mỹ chạy xe hơi thấy xe 2 bánh hoặc người đi bộ là lách tránh xa. Người Mình thì mặc bây bây lo tránh, lỡ va quẹt gây tai nạn thì cán chết luôn.
  25. Mỹ già nhiều tiền là cho từ thiện, VN mình già nhiều tiền cho con cháu.
  26. Mỹ thấy ai bị tai nạn ngoài đường thì nhào vô giúp, VN mình thấy ai bị nạn phần nhiều tránh xa để khỏi bị đổ thừa…….
  27. Mỹ bỏ rác vô túi quần đem về, mình thì cứ bỏ ngay tại chổ.
  28. Mỹ lái xe có trật tự, mình mua hết Orange County California nên mình muốn lái xe sao cũng được (ở OrangeCounty).
  29. Mỹ đi đám cưới là để chung vui, quà tặng tượng trưng. Mình đi đám cưới là phải tính toán sao cho coi được, nhất là bố mẹ đã đi đám con  mình, nay vừa mừng vừa trả nợ

32.Mỹ trong những ngày nghỉ ngoài đường vắng hơn, mình thì ngược lại !

33.Mỹ không hỏi tuổi hỏi lương. Mình thì hỏi tuổi để dễ xưng hô và sau đó hỏi lương bao nhiêu. Thiệt ngại quá xá.

  1. Ở Mỹ người dân nói xấu, chưởi Tổng thống không sao. Ở VN nói xấu, bắt chước lãnh đạo là đi ủ tờ.
  2. Mỹ không hỏi những câu hỏi personal question. VN mình hỏi tới bến luôn. Hu hu
  3. Mỹ chơi súng, Việt chơi dao!

37.Quân đội Mỹ chỉ chào nhau khi còn trong giờ làm việc, VN thấy sếp ở đâu cũng phải đứng dậy chào

  1. Mỹ: Cha mẹ tới thăm con cái thi ra hotel ngủ.. 

Việt: Cha Mẹ ở với Con Cái.

  1. Mỹ:  Tiền Vợ, vợ xài… Tiền Chồng, Chồng xài

Việt:  Tiền Vợ là của Vợ, Tiền Chồng cũng là tiền của Vợ

Jonathan Vu Nguyễn


 

Chuyện của Thanh – Chuyện của Descartes

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

24/06/2026

Yêu bác lòng ta trong sáng hơn?(Francais dans commentaire)

Gần đây tôi lại rất quan tâm đến hiện tượng cuồng tín và sự xơ cứng trong tư duy của con người, đặc biệt là của người Việt chúng ta. Vì vậy hôm nay tôi mạo muội nói đến một khía cạnh trong tư tưởng của Descartes mà theo tôi vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

Mong các bạn đọc và suy ngẫm. Tin hay không tin là quyền của mỗi người. Nhưng cũng nên nhớ rằng René Descartes không chỉ là cha đẻ của triết học hiện đại. Ông còn là nhà toán học thiên tài, người để lại cho chúng ta hệ tọa độ Descartes, hình học giải tích mà học sinh khắp thế giới vẫn phải học đến ngày nay. Khi ông bắt đầu dạy nhân loại cách hoài nghi và tự tư duy, thì Marx và Lenin còn ở rất xa trong tương lai. Thành thử, xét theo gia phả tư tưởng, họ cũng chỉ là những hậu duệ sinh sau đẻ muộn. Vậy nên đừng vội phán quyết trước khi nghe xem ông già ấy đang nói gì. Ông đã sống cách đây gần bốn thế kỷ, nhưng đôi khi lại hiện đại hơn không ít người đang sống ở thế kỷ XXI.

Thế kỷ XVII là một thời kỳ cách mạng về tư tưởng. Nhưng cuộc cách mạng ấy lại bắt nguồn từ những tiến bộ khoa học. Những khám phá liên tiếp xuất hiện, làm lung lay nhiều chân lý vốn được xem là bất biến từ hàng nghìn năm trước.

Chẳng hạn, từ thời cổ đại, người ta tin theo hệ thống của Ptolemy rằng Trái Đất nằm bất động ở trung tâm vũ trụ và Mặt Trời quay quanh Trái Đất. Nhưng các công trình của Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei và Johannes Kepler đã chứng minh điều ngược lại: chính Trái Đất quay quanh Mặt Trời.

Từ thời Aristotle, người ta cũng tin rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Nhưng các thí nghiệm của Galileo cho thấy tốc độ rơi không phụ thuộc vào trọng lượng của vật như người ta từng nghĩ…

Chính vì đã chứng kiến những “chân lý vĩnh cửu” lần lượt sụp đổ như vậy mà René Descartes đi đến một kết luận: không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì nó được truyền lại từ truyền thống hay được khẳng định bởi kẻ cầm quyền. Mọi khẳng định đều phải được lý trí xem xét và kiểm chứng.

Trước sự đảo lộn ấy, Descartes đặt ra một câu hỏi căn bản: làm thế nào để phân biệt đâu là sự thật, đâu là sai lầm?

Câu trả lời của ông thật táo bạo: hãy bắt đầu bằng sự nghi ngờ.

Descartes quyết định nghi ngờ tất cả: những điều được truyền lại từ truyền thống, những gì các bậc quyền uy khẳng định, những điều sách vở viết ra, thậm chí cả những gì giác quan của chính mình cảm nhận được, bởi giác quan đôi khi cũng đánh lừa con người.

Ông đẩy sự nghi ngờ đi đến tận cùng. Nhưng rồi, giữa biển nghi ngờ ấy, ông phát hiện ra một chân lý không thể phủ nhận. Nếu tôi đang nghi ngờ, tức là tôi đang suy nghĩ. Và nếu tôi đang suy nghĩ, thì chắc chắn tôi đang tồn tại. Từ đó ra đời câu nói nổi tiếng: “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại.”

Câu nói này không chỉ khẳng định sự tồn tại của con người. Nó còn khẳng định rằng tư duy của chính chủ thể là điểm xuất phát đầu tiên của mọi tri thức chắc chắn.

Mặc dù vẫn tin vào Chúa, Descartes đề cao vai trò của lý trí cá nhân trong việc tìm kiếm chân lý. Theo ông, con người không nên chấp nhận một điều là đúng chỉ vì truyền thống hay kẻ cầm quyền khẳng định như vậy.

Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị.

Khi quan sát một số hiện tượng tranh luận chính trị ngày nay ở Việt Nam, người ta có cảm giác rằng rất đông người đang đi theo con đường hoàn toàn ngược lại với Descartes. Một điều được xem là đúng vì nó được phát ra từ một nguồn có thẩm quyền. Sự nghi ngờ bị xem là lệch lạc. Câu hỏi bị xem là nguy hiểm. Tư duy độc lập trở thành điều đáng ngờ.

Nhưng Descartes dạy chúng ta điều ngược lại: nghi ngờ không phải là điểm yếu. Nghi ngờ là khởi đầu của tư duy.

Người biết nghi ngờ có thể sai, nhưng vẫn còn cơ hội tìm ra sự thật. Người không bao giờ nghi ngờ rất dễ biến niềm tin của mình thành giáo điều và nhầm lẫn giữa lòng trung thành với một học thuyết và việc đi tìm chân lý.

Có lẽ bài học lớn nhất mà Descartes để lại cho nhân loại là:

Trước khi tin, hãy suy nghĩ. Trước khi đi theo đám đông, hãy tự mình kiểm chứng.

“Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”, thì đối cực của nó có thể là: “Tôi chỉ lặp lại, nên tôi không còn tư duy.”.

Mà đã không còn tư duy thì chắc vẫn tồn tại. Nhưng tồn tại như con người hay tồn tại như CON BÒ NHAI LẠI thì đó lại là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.

Descartes không bảo chúng ta phải tin ông. Ngược lại, ông khuyên chúng ta hãy nghi ngờ, kiểm chứng và tự suy nghĩ.

Đó có lẽ là điểm khác biệt giữa người tư duy và người cuồng tín. Người tư duy có thể thay đổi ý kiến khi đối diện với sự thật. Người cuồng tín thì bắt sự thật phải phục tùng ý kiến của mình.

Những ồn ào gần đây quanh Nỗi buồn chiến tranh hay Chuyện với Thanh cho thấy một nghịch lý thú vị: nhiều người khẳng định mình yêu sự thật, nhưng lại coi những điều được nghe kể là những chân lý hiển nhiên. Vì thế, thay vì tranh luận về các lập luận hay sự kiện được nêu ra, họ lập tức phẫn nộ, lên án và chụp mũ, chửi bới bất cứ ai dám kể một câu chuyện khác đi. Trong khi đó, toàn bộ triết học của Descartes lại bắt đầu bằng một hành động rất đơn giản: dám nghi ngờ.

Vì thế, dù là cuồng cộng sản, cuồng bác, cuồng Putin, cuồng Trump hay cuồng bất kỳ thần tượng nào khác, họ đều có một điểm chung: họ yêu niềm tin của mình hơn sự thật.

Còn Descartes thì đề nghị điều ngược lại: Trước khi tin, hãy suy nghĩ.

Bốn thế kỷ đã trôi qua, nhưng xem ra lời khuyên ấy vẫn còn quá khó đối với không ít người.

Một thời, nhiều người trong chúng tôi đã thuộc lòng những câu thơ của Tố Hữu:

“Yêu bác, lòng ta trong sáng hơn,

Xin nguyện cùng người vươn tới mãi

Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.”

Đó là những câu thơ « đẹp » trong bối cảnh lịch sử của nó. Nhưng nếu hiểu theo nghĩa đen, thì việc yêu một con người đến mức xem người ấy là nguồn gốc của sự trong sáng đạo đức và chân lý lại chính là điều mà Descartes sẽ cảnh báo. Bởi TỪ ẤY, ta không còn tự hỏi mình đúng hay sai nữa, mà chỉ tự hỏi mình đã đủ trung thành hay chưa.

Vậy có thơ rằng:

Yêu bác thì nên suy nghĩ hơn,

Xin nguyện cùng người không ngố mãi,

Có thế đời ta mới tốt hơn.


 

 BÍ ẨN KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH

Kimtrong Lam.                                                                                                                                        

 BÍ ẨN KHÔNG THỂ GIẢI THÍCH

Tháng 3 năm 2012, Lawrence Anthony (sinh năm 1950), nhà bảo vệ môi trường và tác giả của cuốn sách “Lời nguyền của các con voi”, người Nam Phi chết vì bệnh tim tại nhà riêng ở khu bảo tồn Thula Thula. Gia đình chuẩn bị an táng. Không ai thông báo cho báo chí về sự ra đi của ông. Thông tin chỉ được biết giữa những người thân gần gũi nhất. Thế mà bỗng nhiên, 12 giờ sau cái chết của Anthony, các con voi to xác bỗng xuất hiện và tiến lại gần nhà.

Có 2 đàn voi, khoảng hơn 30 con. Chúng đến từ cách xa hàng chục cây số, đi xuyên qua lãnh thổ khu bảo tồn thiên nhiên mà đã nhiều năm chúng tránh xa vì chiến tranh và một lần bị thương do lũ săn bắn trộm. Chính Lawrence Anthony đã tiếp nhận chúng, cứu chúng khỏi bị giết, giúp chúng hồi phục sức khỏe. Anthony bị ốm nặng và nhiều tháng không ra khỏi nhà. Thế mà ngày ông mất, lũ voi lại biết. Chúng đến gần ngôi nhà và dừng lại. Chúng đứng thành hàng, im lặng. Không ăn, chỉ đứng yên. Chúng đứng 2 ngày rồi lặng lẽ rời đi xuyên qua khu bảo tồn.

Gia đình Anthony bị sốc: không ai gọi chúng, không ai chuyển thông tin, không biết cách nào mà lũ voi ở cách xa hàng chục cây số lại biết là người từng cứu sống chúng đã chết.

Các nhà khoa học biết rằng voi có trí nhớ phi thường và khả năng nhận ra con người sau hàng chục năm không gặp. Họ cũng biết rằng voi đau khổ trước cái chết của đồng loại và thường trở lại nơi có các bộ xương của tổ tiên chúng. Chúng dùng vòi cham vào các bộ xương này, đứng im lặng hồi lâu trước khi rời đi. Nhưng trường hợp với Anthony thì vẫn là câu đố mà khoa học không có lời giải đáp.

Mối liên hệ nào khi cách xa nhau cả chục cây số? Đó không phải là sự huấn luyện, không phải là phản xạ có điều kiện, không phải ngẫu nhiên. Đó là gì đó lớn hơn khiến các con thú hoang dã khổng lồ từ cách xa cảm nhận được sự mất mát từ người đã cho chúng cơ hội sống thứ hai. Không ai biết . 


 

Lagom – Wabi-sabi – Tri túc – Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết  

 Lagom – Wabi-sabi – Tri túc

Ba bài học cho Việt Nam đi tìm giới hạn của chính mình – Mai Thanh Truyết

 Nhân loại đang bước vào một giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử. Chỉ trong vòng hơn một thế kỷ, khoa học và kỹ thuật đã đưa con người từ chiếc xe ngựa đến phi thuyền không gian, chuyển thư từ, từ bằng con người, đến ngựa, và ngày nay, đến trí tuệ nhân tạo, từ nền kinh tế nông nghiệp đến nền kinh tế số toàn cầu.

Nhưng nghịch lý lớn nhất của thời đại chúng ta là càng tiến bộ về vật chất, con người dường như càng bất an về tinh thần. Ngày nay, thế giới sản xuất đủ lương thực để nuôi sống toàn thể dân số địa cầu, nhưng hàng trăm triệu người vẫn đói nghèo. Những thành phố hiện đại mọc lên khắp nơi, nhưng sự cô đơn và chứng trầm cảm ngày càng phổ biến. Công nghệ kết nối hàng tỷ người trong vài giây, nhưng lòng tin giữa con người với nhau lại suy giảm nghiêm trọng. Khủng hoảng môi trường, biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học và những bất ổn xã hội đang đặt ra một câu hỏi căn bản: “Liệu sự phát triển vật chất có đủ để bảo đảm hạnh phúc cho nhân loại hay không?”

Có lẽ đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại những giá trị tinh thần đã từng giúp nhiều dân tộc sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Trong hành trình đó, ba triết lý sống đáng chú ý xuất hiện từ ba nền văn hóa khác nhau:

  • Lagom của Thụy Điển;
  • Wabi-sabi của Nhật Bản;
  • Tri túc của Phật giáo.

Mỗi triết lý mang một sắc thái riêng, nhưng tất cả đều hướng đến một mục tiêu chung, đó là giúp con người tìm lại sự quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa phát triển và đạo đức, giữa thành công và hạnh phúc.

1- Khủng hoảng của một nền văn minh tiêu thụ

Sau cuộc cách mạng công nghiệp, thế giới phương Tây đã xây dựng một mô hình phát triển dựa trên sản xuất và tiêu dùng liên tục. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phải bán được nhiều hàng hóa hơn. Nhưng, muốn bán được nhiều hàng hóa hơn phải kích thích nhu cầu. Và, muốn kích thích nhu cầu phải tạo ra cảm giác thiếu thốn. Từ đó, đưa đến kết quả là con người bị cuốn vào một cuộc chạy đua không có điểm dừng. Hôm nay, mua một chiếc xe mới, ngày mai đã có mẫu xe hiện đại hơn, tối tân hơn! Hôm nay, sở hữu một căn nhà lớn, ngày mai lại muốn mua căn nhà lớn hơn, rộng hơn nữa! Có địa vị hôm nay, ngày mai lại muốn một địa vị cao hơn! Cả xã hội vận hành trên giả định rằng hạnh phúc nằm ở phía trước và chỉ đạt được khi có thêm một điều gì đó.

Tuy nhiên, thực tế đã và đang chứng minh một điều ngược lại. Nhiều quốc gia giàu có đang phải đối diện với một sự thật không chối cải là tỷ lệ trầm cảm gia tăng trong dân chúng, tình trạng cô đơn xã hội xảy ra ở khắp nơi từ những quốc gia giàu đến tận những nơi cùng khổ, niềm tin cộng đồng ngày càng suy giảm, tình trạng ô nhiễm môi trường, khủng hoảng đạo đức ở các quốc gia tư bản lẫn cộng sản. Con người càng ngày càng có thêm nhiều phương tiện để phục vụ cho nhu cầu sống và sinh hoạt hàng ngày, nhưng lại thiếu lý do để sống, cũng như không có thì giờ để chiêm nghiệm lại … sự hiện hữu của chính mình!

Đó là cuộc khủng hoảng sâu xa nhất của nền văn minh hiện đại.

2- Lagom – Một nghệ thuật sống vừa đủ

Bí quyết để có được sự hạnh phúc trong cuộc sống hiện đại của người Thụy Điển là Lagom (phát âm là lah-gom), có nghĩa là không quá thừa cũng không quá thiếu, chỉ vừa đủ. Về bản chất, lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom có nghĩa là biết được điều gì là thiết yếu trong cuộc sống của bạn và biết những thứ không thực sự cần đến. Người Thụy Điển coi lagom như là một kim chỉ nam trong cuộc sống. Một số ý kiến cho rằng lagom có thể là một lối sống tiêu cực, bởi nó dựa trên sự chối bỏ vật chất. Tuy nhiên, với sự bền bỉ chứng minh, người Thụy Điển đã cho chúng ta thấy lagom đã thực sự cải thiện cuộc sống bằng cách nắm lấy sự “vừa đủ“.

Trong một thế giới có nhịp độ sống nhanh, bạn sẽ trở nên tuyệt vời nếu bạn có thể sống chậm lại và tận hưởng một cuộc sống với ít áp lực hơn, ít căng thẳng hơn và có nhiều thời gian hơn cho mọi thứ bạn yêu thích, phải không?

Về bản chất, Lagom có nghĩa là tận hưởng một cuộc sống đơn giản, tìm kiếm sự cân bằng trong mọi khía cạnh của cuộc sống và tập trung vào những gì thực sự quan trọng khiến bạn hạnh phúc. Lagom – Một chữ đơn độc nầy, gói gọn toàn thể triết lý dân chủ xã hội của Thụy Điển về cuộc sống rằng:”mọi người nên có đủ nhưng không quá nhiều – “that everyone should have enough but not too much.”

Tại văn phòng, những chuyên gia làm việc chăm chỉ, nhưng không làm tổn hại đến những phần khác trong cuộc sống của họ. Thay vì đốt cháy bản thân với một tuần làm việc 60 giờ và sau đó bị căng thẳng, Lagom khuyến khích sự cân bằng và sống ở đâu đó ở giữa – living somewhere in the middle. Các tính năng khác bao gồm tiết kiệm, giảm căng thẳng, tạo ra sự cân bằng hoàn hảo giữa công việc và giải trí và tập trung vào các mối quan tâm về môi trường và tính bền vững cũng nằm trọn vẹn trong chữ Lagom.

Câu tục ngữ cổ điển của Thụy Điển, “Lagom är bäst”, nghĩa đen là, “Lượng vừa đủ là tốt nhứt” nhưng cũng được dịch là “Đủ tốt như một bữa lễ lạc” và “Có đức có chừng mực”.Enough is as good as a feast” and “There is virtue in moderation”.

Đến đây, chắc bạn đang tập thể dục Lagom về nhiều mặt trong cuộc sống của bạn rồi.

Nếu có một chữ để định nghĩa cuộc sống hiện đại của chúng ta ngày nay, thì đó chính là thừa thãi. Chúng ta đang sở hữu quá nhiều thứ, thậm chí cả những thứ chúng ta chẳng bao giờ cần đến. Bên cạnh đó, suy nghĩ về một cuộc sống hoàn hảo vô hình đã tạo ra cho chúng ta quá nhiều áp lực.

  •         Bạn đã bao giờ ngắm nghía cuộc sống của một người hoàn toàn lạ trên Facebook, Instagram và rồi ao ước rằng mình cũng như họ?
  •         Bạn đã bao giờ mua những bộ áo đắt tiền nhưng rồi để chúng trong tủ quần áo đến cả năm trời không mặc lấy một lần?
  •         Bạn đã bao giờ cảm thấy quá mệt mỏi với việc chạy đua theo chủ nghĩa vật chất, để lấp đầy cuộc sống của bản thân trong khi tâm hồn thì lại thiếu thốn?

Đây là lúc bạn cần biết đến Lagom, bí quyết sống hạnh phúc của người Thụy Điển. Đối với người Thụy Điển, Lagom là một lối sống, một thói quen của tâm trí. “Có một tư duy bên trong về sự chấp nhận và hài lòng ở Thụy Điển. Đó là một phần của bí quyết để trở nên hạnh phúc và đừng ám ảnh về điều đó. Triết lý của Lagom rất đơn giản và cung cấp một giải pháp thay thế cho ý tưởng “luôn tìm kiếm điều tốt nhất tiếp theo”. Khái niệm này khuyến khích sự cân bằng tổng thể trong cuộc sống của chúng ta, nghĩa là mọi thứ ở mức độ vừa phải. Nó đối lập với chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa tiêu dùng. Người Thụy Điển, đa số có một cuộc sống cân bằng. Họ làm việc chăm chỉ nhưng không để công việc hủy hoại gia đình. Họ tiêu dùng hợp lý nhưng không phung phí. Họ nghỉ ngơi đầy đủ nhưng không buông thả. Họ hưởng thụ cuộc sống nhưng không lệ thuộc vào vật chất.

Lagom phản ánh một nền văn hóa coi trọng sự điều độ và trách nhiệm xã hội. Người Thụy Điển thường tránh sự phô trương, ngay cả những người thành đạt cũng ít khi khoe khoang tài sản hay địa vị. Vì họ tin rằng giá trị của con người không nằm ở những gì sở hữu mà ở cách sống và những đóng góp cho cộng đồng.

Trong lĩnh vực môi trường, Lagom cũng có ý nghĩa đặc biệt. Một xã hội biết sống vừa đủ sẽ giảm thiểu việc tiêu thụ không cần thiết; giảm lượng rác thải; giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên; và tăng tính bền vững cho/vì các thế hệ tương lai.

Nói cách khác, Lagom không chỉ là một triết lý cá nhân mà còn là một triết lý phát triển xã hội nghiêm chỉnh nhứt.

3- Wabi-sabi – Vẻ đẹp của sự bất toàn

Wabi sabi là một triết lý thẩm mỹ cổ xưa bắt nguồn từ Thiền tông, đặc biệt là trà đạo, một nghi lễ thuần khiết và đơn giản, trong đó các bậc thầy được đánh giá cao cái chén được làm thủ công và hình dạng bất thường, với men không đồng đều, vết nứt, và vẻ đẹp hư hỏng trong sự không hoàn hảo có chủ ý của của người tạo ra cái chén.

Triết lý Nhật Bản tôn vinh vẻ đẹp trong những gì là tự nhiên, sai sót và tất cả những gì không hoàn chỉnh.

Các chén cổ trong phòng khách của bạn được đánh giá cao vì những vết nứt và sứt mẻ của nó?

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta học cách “phát giải thưởng” những bất toàn, vết nứt trong lòng và những khiếm khuyết trong cuộc sống lộn xộn của chúng ta?

Wabi-Sabi (侘 寂), một thuật ngữ Nhật Bản có thể hiểu như là sự chấp nhận tính phù du (transience) và sự không hoàn hảo. Đây là một phong cách sống giúp chúng ta cảm nhận và trân trọng vẻ đẹp của những thứ không hoàn hảo, không vĩnh viễn, không trọn vẹn và từ những thứ khiếm khuyết nầy, một thứ tưởng chừng vô dụng, xấu xí lại có vẻ đẹp tiềm ẩn đến bất ngờ. Nếu sự luôn đổi mới là trò chơi suốt cuộc đời bạn, việc theo đuổi sự hoàn hảo không phải là cách để đạt được điều đó. Chúng ta hãy xem xét vẻ đẹp của một cái chén bị móp méo rồi từ đó chúng ta sẽ nghiệm ra…cái đẹp!

Khi con người chúng ta nhận định những “cái nhứt” như: cà phê tốt nhứt, xe tốt nhứt, điện thoại tốt nhứt, ứng dụng tốt nhứt, trường học tốt nhứt, bác sĩ giỏi nhứt, đầu bếp giỏi nhứt, công ty tốt nhứt, CEO giỏi nhứt, lực sĩ giỏi nhứt, huấn luyện viên giỏi nhứt, các nhà thiết kế tốt nhứt, diễn viên xuất sắc nhứt, phim hay nhứt, trang phục đẹp nhứt, nhà thiết kế tốt nhứt của trang phục đẹp nhứt, đạo diễn xuất sắc nhứt của những nữ diễn viên xuất sắc nhứt mặc trang phục đẹp nhứt và danh mục bắt mắt nhứt.v.v…Và, để làm nổi bật sự ngưỡng mộ của chúng ta về các sự “nhứt” trên, chúng ta tạo ra danh sách, viết lên banner và làm các nghi lễ để tưởng thưởng. v.v… như: trải thảm đỏ, chuẩn bị giải thưởng và danh hiệu sáng bóng, làm giấy chứng nhận.

Thực sự, những cái nhứt trên đã là “nhứt” chưa?

Do đó, sẽ còn những cái nhứt tiếp theo khi có sự đổi mới do con người tạo ra.

Tuy nhiên, nơi hoàn hảo nhứt đối với sự đổi mới là gì?

Trong một thế giới hoàn hảo, những ý tưởng hay nhứt sẽ thu hút những người tốt nhứt. Nhưng, trong thực tế, chúng ta hiếm khi nghĩ đến những ý tưởng tốt nhứt đưa ta đến thành công. Thường xuyên hơn, sự đổi mới bắt đầu với những ý tưởng không hoàn hảo được kết hợp với nhau bởi một nhóm ý tưởng không giống nhau và đồng dạng. Tất cả có thể đưa đến cơ hội không hoàn hảo!

Nếu chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời, thì cần phải mất một thập kỷ để ý tưởng đó được chú ý đến. Đó là không hoàn hảo. Đổi mới không phải là một khoa học hoàn hảo và do đó không nên được thực hiện như thể nó là hoàn hảo. Chúng ta cần các số liệu mới, các quy trình mới và các ưu đãi mới để khuyến khích việc theo đuổi và công nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống thực tế. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu xây dựng các căn bản tối thiểu để hỗ trợ sự đổi mới, trước hết chúng ta phải thay đổi thế giới quan của mình. Chúng ta không chỉ phải thay đổi cách chúng ta nghĩ mà còn là những gì chúng ta tin. Chúng ta phải học cách chấp nhận sự không hoàn hảo như một tài sản trong quá trình đổi mới trong ta.

4- Tri túc – Trí tuệ của sự biết đủ

Tri túc (知足) trong Phật giáo có nghĩa là biết đủ. Đây là trạng thái hài lòng, an vui với những gì mình đang có trong hiện tại, nỗ lực làm việc chân chính nhưng không để tâm tham đắm, mong cầu vượt quá giới hạn gây ra phiền não. Tri túc không có nghĩa là thụ động, lười biếng hay từ bỏ mọi mục tiêu tranh đấu. Trái lại, đây là phương thức làm chủ tâm trí, bảo vệ con người khỏi vòng xoáy của lòng tham và sự bất mãn.

Nếu Lagom nói về sự cân bằng và Wabi-sabi nói về sự chấp nhận, thì Tri túc trong Phật giáo nói về sự giải phóng nội tâm. Trong kinh điển Phật giáo có câu:“Tri túc giả phú”, tứcNgười biết đủ là người giàu có”. Đây là một trong những định nghĩa sâu sắc nhất về sự giàu có. Thông thường, xã hội đánh giá sự giàu có bằng tài sản, nhưng Phật giáo đánh giá bằng mức độ tự do và thoát khỏi lòng tham. Một người sở hữu hàng tỷ đô la nhưng luôn bất an vẫn là người nghèo về tinh thần, nhưng, ngược lại, một người sống giản dị nhưng thanh thản có thể là người giàu có thực sự. Từ đó, tri túc không phải là thái độ an phận hay từ bỏ mọi nỗ lực.

Đức Phật không khuyến khích con người lười biếng. Ngài chỉ nhắc rằng, mọi ham muốn đều cần có giới hạn, và khi lòng tham trở thành động lực chính của đời sống, con người sẽ không bao giờ cảm thấy đủ. Và khi không bao giờ cảm thấy đủ, hạnh phúc sẽ mãi mãi nằm ngoài tầm tay. Vì vậy, tri túc là nghệ thuật nhận ra giá trị của những gì mình đang có.

Đó là nền tảng của lòng biết ơn, của sự bình an và của tự do nội tâm.

5-    Những điểm tương đồng giữa ba triết lý

Dù xuất phát từ ba hoàn cảnh văn hóa khác nhau, Lagom, Wabi-sabi và Tri túc có nhiều điểm gặp gỡ và trùng hợp, cùng bổ túc lẫn nhau đáng kinh ngạc. Cả ba đều không khuyến khích sự thái quá, đề cao sự giản dị, tôn trọng thiên nhiên và nuôi dưỡng lòng nhân ái. Về việc không khuyến khích sự thái quá. Lagom phản đối việc tiêu dùng quá mức. Wabi-sabi phản đối sự theo đuổi hoàn hảo tuyệt đối. Tri túc phản đối lòng tham vô hạn. Tất cả đều hướng con người về sự quân bình.

Về việc đề cao sự giản dị, trong một thế giới ngày càng phức tạp, cả ba triết lý đều khẳng quyết rằng giá trị của cuộc sống không nằm ở số lượng mà nằm ở chiều sâu, thà ít hơn nhưng ý nghĩa hơn, thà đơn giản hơn nhưng nhân bản hơn.

Về việc tôn trọng thiên nhiên, Lagom hướng đến sự tiêu dùng bền vững, Wabi-sabi tìm thấy vẻ đẹp trong những chu kỳ tự nhiên của trời đất, và Tri túc khuyến khích giảm thiểu lòng tham đối với tài nguyên vật chất. Đây chính là những giá trị cần thiết cho việc bảo vệ môi trường trong thế kỷ XXI.

Về việc nuôi dưỡng lòng nhân ái, rõ ràng, người biết đủ thường ít ganh đua hơn (Tri túc), người chấp nhận bất toàn thường khoan dung hơn (Wabi-sabi), và người sống cân bằng thường dễ cảm thông hơn (Lagom).

Tóm lại, ba triết lý này đều góp phần xây dựng một xã hội nhân ái và hòa hợp.

6- Ý nghĩa đối với Việt Nam

Những triết lý lớn chỉ có giá trị khi chúng góp phần làm cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là những khái niệm để trưng bày trong sách vở hay giảng đường. Chúng có thể trở thành những nguyên tắc thực tiễn giúp chúng ta định hướng được sự phát triển của xã hội trong tương lai.

Việt Nam đang ở một giai đoạn phát triển đầy cơ hội nhưng cũng đầy thách thức. Trong nhiều thập niên qua, đất nước đã đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế; tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy là nhiều vấn đề đáng suy nghĩ và cần đặt lại, như tình trạng ô nhiễm môi trường, việc khai thác tài nguyên quá mức. Về giáo dục, chương trình học tập, áp lực học sinh, bệnh thành tích, cùng việc chạy theo chỉ tiêu là những vấn nạn căn bản cần xét lại. Sự xuống cấp của các giá trị đạo đức trong xã hội cùng tâm lý sính vật chất ngày càng làm cho xã hội thoái hóa thêm ra. Và sau cùng, nguy hại tiềm ẩn nhứt là tình trạng căng thẳng và lo âu trong giới trẻ trước tương lai.

Những hiện tượng này cho thấy tăng trưởng kinh tế, dù cần thiết, không thể là mục tiêu duy nhất cho việc phát triển quốc gia. Một quốc gia muốn phát triển bền vững cần phải có một nền tảng văn hóa và đạo đức vững chắc. Lagom có thể giúp hình thành một nền văn hóa tiêu dùng có trách nhiệm; Wabi-sabi có thể giúp con người trân trọng bản sắc dân tộc và vẻ đẹp của những giá trị truyền thống; và Tri túc có thể giúp hạn chế lòng tham và củng cố tinh thần phụng sự cộng đồng.

Đó không phải là sự quay lưng với hiện đại hóa. Ngược lại, đó là cách làm cho hiện đại hóa trở nên nhân bản và đạo đức hơn. Đối với Việt Nam, điều này càng có ý nghĩa đặc biệt.

Về môi trường: Biết đủ để thiên nhiên được hồi phục. Trong hơn nửa thế kỷ qua, nhân loại đã khai thác thiên nhiên với tốc độ chưa từng có. Rừng bị tàn phá. Nguồn nước bị ô nhiễm. Đất đai bị thoái hóa. Biển cả bị khai thác quá mức. Nguyên nhân sâu xa không phải do khoa học kỹ thuật. Nguyên nhân nằm ở lòng tham không có giới hạn. Con người luôn muốn nhiều hơn, nhiều gỗ hơn, nhiều khoáng sản hơn, nhiều năng lượng hơn, nhiều lợi nhuận hơn. Trong tình trạng đó, Lagom và Tri túc đưa ra một bài học quan trọng:  

  •         Thiên nhiên không cần con người cứu giúp.
  •         Thiên nhiên chỉ cần con người ngừng phá hoại.

Một xã hội biết đủ sẽ giảm tiêu thụ không cần thiết. Một nền kinh tế biết đủ sẽ khai thác tài nguyên trong giới hạn tái tạo. Một quốc gia biết đủ sẽ đặt quyền lợi của các thế hệ tương lai ngang hàng với lợi ích trước mắt. Có lẽ trong thế kỷ XXI, khẩu hiệu phát triển cần được thay đổi. Không phải: “Phát triển bằng mọi giá.” Mà là: “Phát triển trong giới hạn của thiên nhiên.”

Đối với nền giáo dục hiện đại thường tập trung vào kiến thức và kỹ năng. Giáo dục ở Việt Nam hiện nay chánh yếu dạy học sinh nhiều hình thức cạnh tranh khác nhau, ít khi dạy các em cách sống hạnh phúc. Người trẻ sau khi tốt nghiệp, được học đủ mọi cách cách kiếm tiền dù lương thiện hay không lương thiện. Tuổi trẻ cố gắng học những phương cách thành công ngoài xã hội nhưng không được học (hay không muốn học) cách đối diện với sự thất bại! Do đó, một nền giáo dục tương lai cần bổ túc thêm những giá trị đạo đức và triết học nhân sinh. Học sinh, sinh viên cần hiểu rằng, không ai hoàn hảo, không ai chiến thắng mãi mãi, không ai sở hữu mọi thứ mình muốn. Trái lại, ai cũng có thể sống một cuộc đời có ý nghĩa. Một khi biết đủ, con người sẽ bớt ganh đua. Một khi chấp nhận bất toàn, con người sẽ bớt tự ti. Một khi sống cân bằng, con người sẽ bớt kiệt sức. Đó là những bài học quan trọng không kém toán học hay khoa học kỹ thuật.

Điều đó rất cần thiết, nhưng chưa đủ. Một học sinh có thể giỏi toán có thể giỏi khoa học, có thể giỏi công nghệ, nhưng vẫn có thể trở thành một người ích kỷ, tham lam hoặc vô cảm. Do đó, giáo dục tương lai phải đặt lại câu hỏi:”Mục đích cuối cùng của giáo dục là gì?” Nếu câu trả lời chỉ là tạo ra nguồn nhân lực thì giáo dục đã thất bại. Giáo dục phải đào tạo những con người có trách nhiệm với xã hội và với môi trường.

  •         Tinh thần Lagom có thể dạy học sinh biết sống cân bằng.
  •         Wabi-sabi giúp các em chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân và của người khác.
  •         Tri túc giúp các em hiểu rằng giá trị con người không được đo bằng tiền bạc hay địa vị.

Một nền giáo dục như thế sẽ tạo ra những công dân trưởng thành chứ không chỉ những người lao động có kỹ năng.

Về y tế, ngày nay, nhiều căn bệnh phổ biến không chỉ xuất phát từ vi khuẩn hay virus. Chúng bắt nguồn từ lối sống, cung cách ăn uống, và tâm lý buông thả. Từ đó sinh ra bịnh béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, bị áp lực (stress), trầm cảm, tâm lý lo âu kéo dài. Những chứng bệnh ấy thường liên quan đến nhịp sống quá nhanh, áp lực quá lớn và những ham muốn không có điểm dừng. Và trong lãnh vực nầy:

  •         Lagom khuyến khích một lối sống điều độ là làm việc vừa phải, ăn uống hợp lý, và nghỉ ngơi đầy đủ.
  •         Wabi-sabi giúp con người chấp nhận quá trình lão hóa tự nhiên thay vì sống trong nỗi ám ảnh phải trẻ mãi.
  •         Tri túc giúp giảm bớt những căng thẳng phát sinh từ sự so sánh và cạnh tranh không ngừng.

Vì vậy, một hệ thống y tế tiến bộ không chỉ chữa bệnh khi bệnh đã xuất hiện, mà còn cần đề phòng bịnh nữa. Nó còn giúp xây dựng những điều kiện xã hội để con người sống khỏe mạnh ngay từ đầu.

7-. Một nền văn minh của lòng biết đủ

Có thể nói rằng phần lớn các cuộc khủng hoảng hiện nay trên thế giới đều bắt nguồn từ một nguyên nhân chung cho nhân loại rằng con người muốn nhiều hơn mức cần thiết, muốn tiêu thụ nhiều hơn, muốn khai thác nhiều hơn, muốn thống trị nhiều hơn, muốn sở hữu nhiều hơn. Nhưng Trái Đất có giới hạn, Tài nguyên có giới hạn, và Tuổi thọ cũng có giới hạn. Và ngay cả cuộc đời con người cũng có giới hạn! Do đó, một nền văn minh bền vững không thể được xây dựng trên những ham muốn vô hạn. Một nền văn minh bề vững phải được xây dựng trên ý thức về giới hạn. Ý thức ấy chính là điểm gặp nhau của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc.

7-    Thay lời kết

Lagom của Thụy Điển dạy chúng ta nghệ thuật sống vừa đủ. Wabi-sabi của Nhật Bản dạy chúng ta vẻ đẹp của sự bất toàn. Tri túc của Phật giáo dạy chúng ta sự tự do tránh khỏi lòng tham. Ba triết lý ấy không phải là những học thuyết kinh tế hay những chương trình chính trị. Chúng là những lời nhắc nhở sâu sắc về thân phận con người.

Trong một thế giới mà mọi người đều muốn tiến nhanh hơn, sở hữu nhiều hơn và tiêu thụ nhiều hơn, các triết lý ấy nhắc chúng ta dừng lại để tự hỏi chính mính:

Ta đang sống vì điều gì?

Ta cần bao nhiêu là đủ?

Điều gì thực sự tạo nên hạnh phúc?

Có lẽ câu trả lời không nằm trong những tòa nhà cao hơn, những chiếc máy hiện đại hơn hay những tài khoản ngân hàng lớn hơn. Mà câu trả lời nằm trong khả năng sống hài hòa với thiên nhiên, với cộng đồng và với chính bản thân mình. Một con người biết đủ sẽ có bình an. Một xã hội biết đủ sẽ có công bằng. Một nền văn minh biết đủ sẽ có tương lai. Đó có lẽ là thông điệp quý giá nhất mà Lagom, Wabi-sabi và Tri túc gửi đến nhân loại trong thế kỷ XXI.

Từ “phát triển bằng mọi giá” đến “phát triển có giới hạn và có lương tri”. Nếu cần phải tóm tắt ba triết lý này trong ba động từ, có thể nói:”Lagom chỉ cho ta biết giới hạn. Wabi-sabi chỉ cho ta biết chấp nhận. Tri túc chỉ cho ta biết buông bỏ”. Ba bài học ấy tưởng chừng như giản dị, nhưng chính sự giản dị đó lại là điều mà nền văn minh hiện đại đang bị đánh mất. Chúng ta đã học cách khai thác thiên nhiên, nhưng chưa học đủ các phương cách phải dừng lại trước khi thiên nhiên bị thoái hóa và biến thành sa mạc hóa. Chúng ta đã học cách cạnh tranh để thành công, nhưng chưa học đủ cách sống tử tế để không hủy hoại nhau. Chúng ta đã học cách sản xuất nhiều hơn, nhưng chưa học đủ cách nhận ra điều gì là đủ, là điểm tới hạn (threshold limit) nào để dừng lại trước khi quá muộn.

 Vấn đề của thế kỷ XXI không còn là sự khiếm khuyết về năng lực khoa học kỹ thuật. Vấn đề chánh yếu vẫn là thiếu giới hạn đạo đức đối với việc sử dụng năng lực ấy. Không có trí tuệ nào đủ lớn để bù cho một lòng tham không giới hạn của một cá nhân hay một tập thể lãnh đạo quốc gia. Không có tăng trưởng nào đủ nhanh để cứu một xã hội đánh mất niềm tin và lòng nhân ái. Không có công nghệ nào đủ hiện đại để thay thế một nền đạo đức biết tự kiềm chế.

 Vì vậy, bài học sâu xa nhất của Lagom, Wabi-sabi và Tri túc không phải là sống ít đi, nghèo đi hay chậm lại một cách cực đoan. Bài học ấy chính là con người phải học cách đặt giới hạn cho sự ham muốn của mình trước khi những điều kể trên đạt tới giới hạn của thiên nhiên, của xã hội và của chính sự sống bị áp đặt bằng những khủng hoảng nội tâm. Đối với Việt Nam, điều cần thiết không chỉ là một nền kinh tế mạnh hơn, mà là:

         Một nền kinh tế biết tự giới hạn trong khuôn khổ sinh thái;

  •         Không chỉ là một hệ thống giáo dục cạnh tranh hơn, mà là một nền giáo dục dạy lòng biết đủ và trách nhiệm công dân;
  •         Không chỉ là một nền y tế chữa được nhiều bệnh hơn, mà còn là một xã hội tạo ra ít nguyên nhân gây bệnh hơn;
  •         Không chỉ là những đô thị lớn hơn, mà còn là những cộng đồng đáng sống hơn. (Mời đọc “Việt Nam Tương Lai. Tập I và II của cùng tác giả. Xuất bản năm 2014).

Một dân tộc biết đủ sẽ khó bị lôi kéo vào những cuộc chạy đua nhằm hủy hoại chính đất nước mình. Một dân tộc biết chấp nhận sự bất toàn sẽ khoan dung hơn với sự khác biệt và mạnh mẽ hơn trước những biến động. Một dân tộc biết tự giới hạn lòng tham sẽ có cơ hội phát triển bền vững mà không phải trả giá bằng môi trường, sức khỏe và phẩm giá của con người. 

Trong nhiều thế kỷ, nhân loại đã đặt câu hỏi: “Làm sao để mạnh hơn?” Có lẽ câu hỏi của thời đại mới phải là: “Làm sao để mạnh mà không tự hủy diệt mình?” Nếu không học được bài học ấy, mọi thành tựu vật chất cuối cùng có thể chỉ là những công trình xây trên nền đất đang lún. Nếu học được bài học ấy, nhân loại vẫn còn cơ hội xây dựng một nền văn minh mà ở đó phát triển không đối nghịch với đạo đức, giàu có không đồng nghĩa với tham lam, và tiến bộ không phải trả giá bằng tương lai của những thế hệ chưa sinh ra. Đó không chỉ là một lựa chọn triết học. Đó là một lựa chọn sinh tồn.

 Và Việt Nam, chắc chắn sẽ không có sự lựa chọn nào khác nữa! 

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Mùa Phật đản 2026 –  Wednesday, June 17, 2026