HÀNG XÓM QUÁ KHÍCH PHÓNG HỎA ĐỐT NGUYỆN ĐƯỜNG NHỎ ĐỨC TRINH NỮ MARIA

Cang Huynh

HÀNG XÓM QUÁ KHÍCH PHÓNG HỎA ĐỐT NGUYỆN ĐƯỜNG NHỎ ĐỨC TRINH NỮ MARIA TRONG ĐÊM… ĐIỀU HỌ THẤY TRONG ĐỐNG TRO TÀN LÀ KHÔNG THỂ TIN NỔI.

*Tên tôi là Cha Thomas. Tôi là linh mục của một nhà nguyện Công giáo nhỏ nằm trong một khu dân cư đa tôn giáo ở bắc Lebanon.

Trong nhiều năm, ngôi nguyện đường nhỏ dâng kính Đức Mẹ Maria là nơi bình yên cho tất cả người Kitô hữu và một vài người Hồi giáo bí mật ghé thăm. Tôi đặt một bức tượng Đức Mẹ Maria rất đẹp ở ngay chính giữa bàn thờ. Rất nhiều người đến để cầu nguyện, đặc biệt là các bà mẹ đến xin Đức Mẹ ban ơn cho con cái của họ.

Nhưng không phải ai cũng đồng cảm.

Một số người hàng xóm cực đoan đã xem ngôi nguyện đường nhỏ như một sự xúc phạm. Một đêm nọ, một nhóm người trong số họ đã phóng hỏa đốt nguyện đường. Họ đổ xăng và đứng nhìn ngọn lửa thiêu rụi tòa nhà gỗ nhỏ.

Sáng hôm sau tôi đến nơi chỉ còn thấy đống tro tàn. Trái tim tôi đã tan nát. Bức tượng mà tôi rất yêu đã biến mất. Tôi quỳ xuống giữa đống đổ nát và khóc.

Nhưng sau đó tôi thấy một điều không thể tin nổi.

Ngay giữa đống tro tàn, hoàn toàn không bị ngọn lửa chạm đến, bức tượng Đức Mẹ Maria hoàn toàn đứng vững nguyên vẹn – thậm chí không một vết cháy sém. Xung quanh bức tượng, những bông hồng tươi đã nở trong đống tro tàn, những cánh hoa không hề bị chạm đến bởi những ngọn lửa.

Tôi quỳ xuống, vì thật kinh ngạc và sùng kính.

Những người phóng hỏa đến xem chuyện gì đã xảy ra. Khi họ nhìn thấy bức tượng Mẹ Maria nguyên vẹn đang đứng giữa đống đổ nát bị thiêu rụi, nhiều người trong số họ bắt đầu khóc. Một vài người đã quỳ gối xuống ngay tại nơi đó.

Một trong những người đàn ông đã đốt lửa, một người  tên là Ahmed, đã thú nhận với những giọt nước mắt:

“Tôi đã châm lửa đốt. Nhưng bây giờ  nhận thấy rằng, tôi đã chống lại Thiên Chúa. Xin hãy tha thứ cho tôi.”

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.


 

QUYỀN MÀ KHÔNG TOÀN QUYỀN – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông quyền trên các thần ô uế”.

“Quyền bính trong Hội Thánh luôn là phục vụ, không bao giờ là thống trị!” – Lêô XIV.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ, ban cho các ông quyền trên các thần; nhưng ngay sau đó, Ngài lại giới hạn đường đi nước bước của họ. Tin Mừng hôm nay mặc khải một nghịch lý: ‘quyền mà không toàn quyền’.

Con người thường nghĩ quyền càng lớn, tự do càng nhiều. Với Chúa Giêsu thì khác! Ngài ban cho các môn đệ quyền trên các thần ô uế, nhưng không phải muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm: “Đừng đi tới vùng các dân ngoại; cũng đừng vào thành nào của người Samari. Hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel!”. Bản Hy Lạp viết edōken – “ban”. Quyền được ban vẫn luôn thuộc về Đấng đã ban; người môn đệ chỉ là người quản lý, không phải chủ sở hữu. Điều nguy hiểm không phải là không có quyền, nhưng là tưởng mình có toàn quyền. Quyền chỉ còn là quyền của Tin Mừng khi nó vẫn biết vâng phục.

Chúng ta dễ ngộ nhận, càng có quyền, mình càng lớn. Vì thế, không ít người dùng quyền để che giấu sự bất an; thích người khác cúi đầu hơn là ngẩng đầu; thích được sợ hơn là được tin; thích được khen hơn là được nghe sự thật. Nhưng Chúa Kitô không trao quyền theo cách ấy. Ngài trao quyền để các môn đệ giải thoát con người, chứ không trao quyền để họ thống trị con người. Quyền trong Tin Mừng không sinh ra những kẻ thống trị, nhưng sinh ra những con người phục vụ – “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em!”.

Nhưng quyền rất dễ trở thành cám dỗ khi người ta quên Đấng ban quyền. Hôsê đã nhìn thấy một Israel như thế. Càng được chúc phúc, họ càng dựng thêm bàn thờ cho các thần ngoại; càng mạnh, họ càng xa Thiên Chúa và gần các ngẫu tượng. Vì thế, ngôn sứ kêu gọi: “Hãy khai khẩn đất hoang; đây là thời kiếm tìm Đức Chúa!” – bài đọc một. Thánh Vịnh đáp ca cũng nhắc nhở: “Hãy không ngừng tìm kiếm Thánh Nhan!”. Chỉ ai không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa mới không đánh mất ý nghĩa của quyền mình đang có.

Ai trong chúng ta cũng có một thứ quyền nào đó: trong gia đình, ngoài xã hội hay trong Hội Thánh. Quyền ấy không được trao để người khác sợ, nhưng để người khác lớn lên trong tự do và phẩm giá. Vì thế, điều đáng hỏi không phải là: “Tôi có quyền gì?”, nhưng “Quyền của tôi đang giải thoát hay đang thống trị?”. “Việc thực thi quyền bính phải mang đặc tính phục vụ!” – Học thuyết Xã hội.

Anh Chị em,

“Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy!”. Nhưng Đấng có mọi quyền lại chọn con đường thập giá. Quyền của Ngài luôn mang hình dáng của tình yêu, phục vụ và tự hiến. “Quyền bính trở thành phục vụ khi biết chia sẻ, lôi cuốn và giúp con người lớn lên!” – Phanxicô. Vì thế, ai càng thuộc về Đức Kitô, càng không dùng quyền để đứng trên con người, nhưng để cúi xuống vì con người. Đó mới là quyền của người môn đệ theo khuôn mẫu Tin Mừng: ‘quyền mà không toàn quyền’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết lớn lên bằng phục vụ, mạnh lên bằng yêu thương và trở thành chỗ dựa cho người khác, hơn là tìm chỗ đứng cho mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***********************************
Lời Chúa Thứ Tư Tuần XIV Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 10,1-7

1 Khi ấy, Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

2 Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ : đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông ; 3 ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô ; 4 ông Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người. 5 Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng :

“Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. 6 Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. 7 Dọc đường hãy rao giảng rằng : Nước Trời đã đến gần.”


 

“Đừng”… và … “Nên”

Kimtrong Lam

“Đừng”… và … “Nên”

Đừng trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn

Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…Và…

người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

Đừng hứa khi đang… vui !

Đừng trả lời khi đang… nóng giận !

Đừng quyết định khi đang… buồn !

Đừng cười khi người khác… không vui !

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta

Trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi

(tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

 

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm

Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm

Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có……..

Trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng,

tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t ..

ngơ ngác với giờ.. phút ..

Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên

thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, 

 

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

Đừng lo lắng nhiều quá về con cái vì con cái có phần số của chúng

chúng sẽ tự tìm cách sống riêng.

 

Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ.

Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.

Nên bạn hãy sống cho vui vẻ.

Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

 

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và coi ai thành đạt hơn,

Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.

Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.

Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thường xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

Và nhất là biết trân quý những điều tốt đẹp quanh mình và còn

BẠN BÈ … nữa.. Họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!!

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

( Xin chia sẻ những điều này với tất cả những người quen của bạn)


 

CÁCH SỐNG CỦA NGƯỜI BẮC ÂU

Nguyen Thi Chau

CÁCH SỐNG CỦA NGƯỜI BẮC ÂU

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon. Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều” – đó là quan niệm của người Bắc Âu.

Đan Mạch – Thiên đường cho người dân và doanh nghiệp.

Thụy Điển – Thành công mỹ mãn với chế độ người lao động chỉ làm 6h/ngày.

Phần Lan – Nền giáo dục “không giống ai”, cấm thi cử, bài tập nhưng học sinh vẫn giỏi giang…

Điểm chung của các quốc gia này là gì? Đó là tất cả đều đến từ một cùng khu vực trên thế giới – Bắc Âu.

Từ xa xưa, nơi đây là chỗ ở của những kẻ chinh phục vĩ đại mang tên Viking. Trải qua thời kỳ chiến tranh loạn lạc với vai trò những đất nước trung lập, giờ đây các quốc gia Bắc Âu đang có những chuẩn mực khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ:

– Tăng trưởng kinh tế cao,

– Chỉ số phát triển con người cao,

– Người dân hạnh phúc nhất nhì thế giới…

Vậy, những xứ “thiên đường” ấy đã làm cách nào để vươn đến như ngày nay?

Tất cả nằm ở cách sống của con người nơi đây! Hãy thử tìm hiểu.

Không cần nhà lầu, xe hơi, tiền bạc chất đống… mà vẫn hạnh phúc. Người Bắc Âu sống tự nhiên, đơn giản mà hạnh phúc. Nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu:

– Không hề có nhà cao tầng,

– Người dân ăn mặc rất mộc mạc,

– Đi những chiếc xe cũ kỹ,

– Và ăn những món ăn đơn giản.

Sau 7 giờ tối, gần như trên đường rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa” vào ban đêm, không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích sự thỏa mãn tiêu cực con người.

Có một cụm từ mà người Bắc Âu hay nhắc đến là: “Chất lượng cuộc sống”.

Đất nước Thụy điển thì có câu châm ngôn: “Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của bạn”.

Nếu có ai hỏi một người Bắc Âu xem giữa 2 sự lựa chọn: Cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng. So với cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái thì chọn phương án nào, anh ta có lẽ sẽ thiên về phương án thứ hai. Bởi lẽ, thứ mà người Bắc Âu muốn chính là “Phẩm chất”, chứ không phải là “Vật chất” trong cuộc sống.

“Nhanh một chút, nhanh một chút!”.

Không, người Bắc Âu không làm vậy. Họ lựa chọn sống: “Chậm một chút!”, nhưng vẫn có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ cách sống này.

Những con người “Biết Sống” nhất thế giới của vùng Bắc Âu này, bí quyết ở sự: “Đơn giản”.

Bắc Âu nằm ở vùng khí hậu khắc nghiệt nhất của thế giới. Môi trường thiên nhiên hà khắc ở đây đã khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở xứ này.

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon. Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều”.

Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để nhận ra, nếu bạn chịu khó để ý một chút, ví dụ:

– Trong cách ăn mặc, không cần phải diêm dúa, bạn sẽ thấy những người phụ nữ 70 – 80 tuổi Bắc Âu thường mặc áo khoác vàng nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu. Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.

– Nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì không cần phải tiệc tùng cầu kỳ, những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt thơm tho đến cho em bé sử dụng. Điều này đã trở thành một truyền thồng tốt đẹp lâu đời của con người xứ Bắc Âu.

Bắc Âu không cần những đại lộ to rộng. Những con đường ở các quốc gia Bắc Âu thường hẹp hơn đường ở các quốc gia phát triền khác, phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.

Không cần phải khoe của. Người dân nơi đây không cần những siêu xe, mà chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Thậm chí, rất nhiều người trong số họ đạp xe đạp đi làm.

– Bảo vệ môi trường đối với người Bắc Âu đã không còn là một cụm từ theo “mốt” mà là một sự “cao thượng”, một việc tất nhiên cần làm.

– Để hưởng đặc quyền hạnh phúc, họ đã làm việc năng suất nhất nhì thế giới như thế này đây! Công việc chính thức của một người Bắc Âu khá nhẹ nhàng, ‘ngắn gọn’.

– Về thời gian làm việc. Trong thời gian rảnh, dù có thể chọn làm thêm việc khác để kiếm thêm thu nhập, nhưng họ lại không làm vậy. Người Bắc Âu chọn thưởng thức tách cà phê cùng bạn bè hoặc đơn giản là ngồi đọc sách. Đến đây, đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê.

Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng một cuộc sống an nhàn như trên chính là do thái độ nghiêm túc, hiệu suất rất cao mà họ đạt được khi làm việc.

“Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích gì, công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó” – đây là quan niệm của người Bắc Âu. Vì thế, công việc đối với họ không phải là một sự: “đau khổ, giày vò”. Họ đơn giản là làm hết sức và rất tốt công việc mình thực sự yêu, được trả lương rất cao và từ đó sống hạnh phúc.

Để nâng cao hiệu suất, người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo và rút ngắn thời gian làm việc. Nghe giống như đặc điểm của những kẻ: ‘lười nhưng thiên tài’ mà Bill Gates phải cất công tìm kiếm về cho Microsoft.

Đúng!

Và đấy là điều mà mọi người dân Bắc Âu đều thấm nhuần chứ không chỉ một vài kẻ ‘lười nhưng thiên tài’ nào đó.

Từ đó, họ sẽ có nhiều thời gian hơn cho nghỉ ngơi hay cho cho gia đình. Và chìa khóa tận cùng cho mọi hạnh phúc ở Bắc Âu là 2 chữ: “Gia đình”

Trong cuộc sống của người Bắc Âu, gia đình rất quan trọng. Chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là một gia đình Bắc Âu sẽ cùng nhau tận hưởng những ngày vui đùa, cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…

Trong gia đình, người chồng sẽ sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con. Điều đầu tiên sau khi tan làm trở về nhà mà họ làm là trò chuyện, vui đùa, nấu ăn cùng vợ, con mình.

Cho dù ai đó có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình mình. Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì như vậy thì buổi sáng vẫn còn người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như thế, người chồng sẽ chỉ bị mất khoảng 1 tiếng đồng hồ không thể cùng ăn sáng gia đình. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông bố có thêm thời gian vào buổi tối ăn tối cùng gia đình mình.

Điều cuối cùng, đối với người đàn ông Bắc Âu, gia đình và con cái không phải là nền tảng giúp người đàn ông tìm kiếm sự thành công nữa, mà chính là phần quan trọng nhất trong chất lượng cuộc sống của họ. Với họ, khoảnh khắc có lẽ là hạnh phúc nhất trong ngày chính là khi đứa trẻ của mình leo lên đầu, ôm lấy cổ bố chúng, hôn một cái và thủ thỉ nói:  “Chúc cha ngủ ngon nhé!”.

Đấy mới là cách đầu tư thông minh nhất nếu bạn muốn có cuộc sống hạnh phúc!

P/s: Người Bắc Âu đi xe đạp rất nhiều. 


 

Nguyễn Thành Nam, tác giả sách ‘hạ bệ’ Hồ Chí Minh, bị bắt giữ với cáo buộc ‘chống nhà nước’

Ba’o Nguoi -Viet

July 7, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tối 7 Tháng Bảy, Cơ Quan An Ninh Điều Tra Công An Thành Phố Hà Nội đã khởi tố, bắt giữ bị can Nguyễn Thành Nam, 65 tuổi, để điều tra về tội ”làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

Cùng bị khởi tố với ông Nam về tội danh nêu trên còn có ông Trần Việt Anh, 33 tuổi, nhà sáng lập của Spiderum, một mạng xã hội được xây dựng với chức năng chia sẻ thông tin, quan điểm.

Ông Nguyễn Thành Nam tại cơ quan điều tra. (Hình: VnExpress)

Theo báo đài trong nước, vụ bắt giữ này liên quan đến cuốn sách ”Chuyện Với Thanh – Lời Kể Mới Về Ánh Sáng” và nhiều video có nội dung bị cho là “vi phạm pháp luật.”

Cơ quan điều tra nhận định, hai bị can Nam-Anh sở hữu những tài liệu với nội dung “có tính chất xuyên tạc lịch sử các cuộc cách mạng, đường lối, chủ trương của đảng, nhà nước,” “xúc phạm Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và nhiều lãnh đạo đảng, nhà nước khác.”

Báo chí lề đảng dẫn lời cơ quan công an cho biết thêm, ông Nam đã thừa nhận nhiều nội dung trong cuốn sách là “không đúng sự thật,” bày tỏ sự hối hận và “gửi lời xin lỗi đến bạn đọc.”

Trong khi đó, ông Việt Anh được xác định là người xây dựng các nội dung liên quan nhằm “thu hút người xem, tăng tương tác và tối đa hóa lợi ích kinh tế trên các nền tảng số.”

Ông Nguyễn Thành Nam, cựu tổng giám đốc tập đoàn FPT, hiện làm giảng viên thỉnh giảng bộ môn “Tư Tưởng Hồ Chí Minh” tại trường Đại Học VinUni thuộc sở hữu của tỷ phú Phạm Nhật Vượng.

Hôm 28 Tháng Sáu, một số nguồn tin khả tín về chính trường Việt Nam cho biết ông Nam bị bắt vào đêm 27 Tháng Sáu, trong lúc các báo trong nước chưa được phép công bố tin này vì “nhạy cảm.”

Trước đó, hôm 19 Tháng Sáu, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn bị xử phạt hành chính 100 triệu đồng ($3,800) và buộc tạm dừng hoạt động hai tháng, tiêu hủy toàn bộ 9,700 bản sách “Chuyện Với Thanh – Lời Kể Mới Về Ánh Sáng” đã in với cáo buộc “viết sai sự thật nghiêm trọng” về Hồ Chí Minh.

Theo một bản tin của báo Tuổi Trẻ, Cục Xuất Bản, In và Phát Hành kết luận rằng, cuốn sách của ông Nam “có một số thông tin, nhận định không chính xác về một số nhân vật, sự kiện lịch sử” và “sử dụng ngôn ngữ thể hiện chưa phù hợp khi viết về Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo tiền bối của đảng CSVN.”

Cuốn sách bị nhà cầm quyền CSVN ra lệnh thu hồi và tiêu hủy hồi giữa Tháng Sáu. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

Ngoài số tiền nộp phạt, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn bị yêu cầu “rà soát, chấn chỉnh toàn diện hoạt động chuyên môn” trong hai tháng bị tạm dừng hoạt động ấn hành sách và nộp lại hơn 423 triệu đồng ($16,089) tiền thu bất hợp pháp từ việc phát hành cuốn sách “Chuyện Với Thanh.”

Từ nhiều tuần trước khi cuốn sách bị thu hồi, giới dư luận viên đồng loạt lên án cách ông Nguyễn Thành Nam mô tả ông Hồ Chí Minh với những cụm từ như “điếu đóm,” “30 tuổi lang thang không nghề nghiệp, không có chỗ ở cố định,” “job phụ bếp,” “phượt”…

Theo lập luận của dư luận viên, việc sử dụng các cụm từ này để mô tả ông Hồ Chí Minh là “lật sử,” “xúc phạm,” “bôi bác, hạ bệ lãnh tụ”…

Điều éo le là ông Nguyễn Thành Nam từng nhận bằng khen từ ông Nguyễn Xuân Phúc, thời điểm còn làm thủ tướng Việt Nam vì “đã có thành tích tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2019.” (Tr.N)


 

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn

HÃY ĐỌC BÀI NẦY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN.

Câu chuyện đi thăm Tướng Đỗ Kế Giai tại một nhà dưỡng lão ở Garland, Texas, đã ám ảnh tôi suốt một đêm khó ngủ. Đó là một buổi chiều Chủ Nhật vào cuối Tháng Mười Hai Dương Lịch, trời đã bắt đầu se lạnh, bãi đậu xe trống vắng bóng xe, gần như không có một người khách thăm viếng. Nhưng ông bà cụ già, ngồi trên xe lăn, dồn ra phòng khách, trên lối đi vào, với đôi mắt đờ đẫn không nhìn ai, hay gục mặt nhìn xuống thân mình, trong thói quen chờ đợi, hy vọng có một người thân của mình hiện ra trên ngưỡng cửa với một nụ cười, bó hoa hay món quà trên tay.

Tôi biết trên thế giới Tây phương có nhiều đứa con không dám đi du lịch xa, vì sợ con mèo, con chó hay bầy cá ở nhà không ai cho chúng ăn hay săn sóc, nhưng cha mẹ già thì đã có những nhà dưỡng lão. Thậm chí trong tình vợ chồng, người vợ còn mạnh khỏe, siêng đi lễ hay lên chùa, nhưng chồng thì cô đơn, trên chiếc xe lăn trong một nhà già quạnh hiu nào đó.

Chúng ta có bao nhiêu lý do để bào chữa, biện minh cho việc bỏ bê cha mẹ già trong một cơ quan y tế, được cho ăn mỗi bữa, áo quần có người giặt, vài ba ngày được đẩy xe vào phòng tắm, trần truồng và được cô y tá hay một nam nhân viên dội nước, xát xà phòng, vo đầu. Những việc săn sóc này dù có mang chút tình người đi nữa thì cũng là những công việc hằng ngày bắt buộc, thương ghét hay xúc động chỉ là những cảm tính vô ích.

Có những đứa con nại cớ bù đầu với công việc ở sở, và việc con cái bếp núc ở nhà nên không có thời gian dành cho cha mẹ già, đành phải đưa cha mẹ vào nhà dưỡng lão. Gần đây người ta lên tiếng hoan nghênh những người phụ nữ hy sinh lợi tức để ở nhà toàn thời gian chăm nom, săn sóc con cái, nhưng nào có ai nghe chuyện có những đứa con bỏ việc làm vì còn cha mẹ cần sự giúp đỡ lúc về già! Người ta thường kêu than không có thời giờ, “đầu tắt, mặt tối” nhưng còn có thời gian mua sắm trong các cửa hàng thời trang, mất một hai tiếng đồng hồ trong gym mỗi ngày, năm giờ cho một chương trình ca nhạc ở sòng bài, không tính thời giờ đi về. Đó là chưa kể thời gian “bắt buộc” phải ngồi trước máy điện toán, vào Facebook, hay trao đổi tin nhắn với bạn bè.

Người ta có thể mỗi năm tổ chức những chuyến du lịch bắt buộc, ra ngoài để mở tầm mắt trước thế giới, nhưng “nhắm mắt” làm ngơ về một lần sắp xếp thời gian đi thăm cha mẹ già.

Ngày xưa một người mẹ nuôi được năm mười đứa con, ngày nay cả năm mười đứa con không nuôi nổi được một mẹ, phải chăng vì vậy mà phải đẩy mẹ vào nhà dưỡng lão, để cho những người xa lạ trông coi. Ở đây có khi mẹ thiếu ăn, cơ thể mất nước, dơ bẩn trong mớ phân và nước tiểu, bị đối xử tàn tệ, cũng chẳng hề ai biết đến. Ngày xưa “bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn,” không có bậc cha mẹ nào có thể ngoảnh mặt trước cảnh con đói khát hay bị lăng nhục bởi một người khác.

Con biết giờ đây, “một ông già bằng ba đứa trẻ” cha “lẩm cẩm” bước đi, và mẹ phải nương lưng nhờ gậy chống.

Xưa kia khi các con còn thơ ấu, thân xác chưa trưởng thành và tâm hồn con yếu đuối, điều một điều hai vẫn là mẹ. Một đứa trẻ có thể biết lạnh, biết nóng, biết đói, biết khát, biết đau, nên khóc la, nhưng chóng quên, khóc đó rồi cười đó. Trái lại, một ông già còn biết buồn, biết tủi thân, biết xót xa mà chỉ biết gậm nhấm mang lấy nỗi buồn của riêng của mình, nên tuổi già cũng cần chăm sóc, gần gũi, ân cần như là một đứa trẻ, có khi còn hơn thế nữa!

Thói quen của người đời, người ta thường hỏi nhau có được mấy con, mấy ai quan tâm xem song thân còn hay mất! Đối với cha mẹ, con là tất cả, nhưng đối với con, cha mẹ là một thứ quá khứ cần xếp lại.

Ngày xưa, niềm vui của cha mẹ là nghe tiếng đứa con chập chững bi bô, hay toét miệng cười, ngày nay cha mẹ về già, các con ở xa, chỉ mong nghe tiếng điện thoại reo vui vào những ngày lễ, Tết, và đầu điện thoại bên kia có tiếng nói: “Mẹ ơi!” hay “Mẹ đó hả?”Trong cái tổ ấm cúng ngày xưa, và là cái tổ trống hoác ngày nay, khi các con đã đi xa, những cái phòng của các con vẫn để trống, biết đâu có ngày con về thăm bố mẹ. Con búp bê bằng nhựa, con gấu nhồi bông vẫn còn trên chiếc dương cầm phủ bụi của con gái, tủ sách, nhiều giải thưởng và những lá cờ kỷ niệm của trường đại học vẫn còn gắn trên bức tường trong phòng đứa con trai. Và ngôi vườn kia, đã đầy lớp lá vàng vào Thu hay phủ tuyết mùa Đông, cái ghế xích đu ngoài vườn ngày trước con thích ngồi, vẫn rung khẽ cùng cơn gió nhẹ.

Nhiều lúc cha mẹ muốn bán ngôi nhà cũ đầy ắp kỷ niệm, nhiều phòng, để đi tìm một cái condo, nhưng cứ nghĩ khi con về, và còn những đứa cháu nữa, sẽ ở đâu?

Cha mẹ Việt Nam tự an ủi, ru mình bằng bốn tiếng “nước mắt chảy xuôi” là mọi chuyện đều cho qua, nhận thức đời sống một phần cũng cho là duyên, là phước. Phải chi cha mẹ như cha mẹ nơi quê người, không hề lưu luyến, bịn rịn, ngay từ lúc đứa con đã trưởng thành rời mái ấm ra đi.

Nhưng có lẽ mọi điều không phải như vậy, dù bên trời Tây hay bên phương Đông.

Chúng tôi vừa được xem một đoạn phim rất ngắn kể chuyện một người già cô đơn ở phương Tây.

Những ngày lễ lớn năm nay, cô con gái tin cho biết là cô không về thăm cha được vì bận việc. Ông cụ lủi thủi một mình, cô đơn trong căn nhà nhỏ với những bữa cơm lặng lẽ hàng ngày. Nhưng rồi, cô con gái nhận được tin cha mình qua đời đột ngột, cô thu xếp cùng chồng trở về nhà.

Trên bậc cửa, cô thấy người cha thân yêu của cô hiện ra với tấm lưng còng và mái tóc bạc phơ. Cô bật khóc. Phải chăng vì nghe tin cha chết, cô mới trở về, trong khi còn sống, người cha cần có con, thì không có cô bên cạnh.

Nhưng cũng còn may. Cách đây mười mấy năm ở Paris, vào mùa Hè, có một trận nóng kinh khủng giết hàng trăm cụ già trong nhà dưỡng lão. Nhà nước thông báo cho những đứa con trở về lo chôn cất. Nhưng chúng, nhiều đứa đành xin lỗi, vì đang kẹt trong chuyến du lịch dài ngày ở xa!

Sưu tầm


 

CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều

 CHÍNH TA ẤN ĐỊNH CUỘC ĐỜI TA…

Bài st cũ đăng lại

Điều khiến ta kiệt sức nhất không phải đường xa diệu vợi, mà là sự phiền muộn trong lòng.

Điều khiến ta chán chường nhất không phải con đường phía trước khấp khuỷu, mà là mất đi sự tự tin.

Điều khiến ta đau khổ nhất không phải sự bất hạnh trong cuộc sống, mà là hy vọng sụp đổ.

Điều khiến ta tuyệt vọng nhất thường không phải sự thất bại, mà là linh hồn đã chết…

Cuộc đời cho ta một đôi chân, đi đến đâu đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc đời cho ta đôi tay, cầm cái gì, buông cái gì đó là là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta cái lưỡi, nói cái gì, nói lúc nào, lời hay ý đẹp hay thô tục khó nghe, đó là ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống cho ta một trái tim, dùng nó để yêu thương ai, đó là ta quyết định, lựa chọn, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Cuộc sống “tình cờ” sắp xếp ta gặp ai đó trong cuộc đời. Đối xử với họ ra sao, thân thiết hay xa lánh, đó là cũng chính ta quyết định, đừng đổ lỗi cho ai cả.

Đấng sinh thành chỉ cho ta sự khởi đầu, còn sống ra sao chẳng phải ai khác, chính là ta quyết định.

Tâm thế nào, sẽ tạo nên sắc màu cuộc  sống thế đấy!.

Cuộc sống thế nào, sẽ tạo ra quãng thời gian hưởng thụ cuộc đời như vậy!.

Đừng đổ lỗi cho cuộc sống, cho đấng sinh thành, cho số phận… Cuộc đời ta, chính là do ta tạo ra mà thôi!

Từ fb Vu Le


 

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Nguyen Thi Chau

 Tử Hạ hỏi thầy Khổng Tử: “Thưa thầy, khi nào một người đánh mất giá trị của mình?”

Khổng Tử đáp: “Không phải khi họ mất tiền. Cũng không phải khi họ mất địa vị.”

Tử Hạ hỏi: “Vậy là khi nào?”

Khổng Tử cầm một viên ngọc và thả xuống bùn. Ông hỏi: “Viên ngọc có vì nằm trong bùn mà thành đá không?”

Tử Hạ đáp: “Không. Nó vẫn là ngọc.”

Khổng Tử gật đầu: “Đúng vậy. Nghèo khó không làm con kém giá trị. Thất bại cũng không làm con tầm thường.”

Tử Hạ lại hỏi: “Vậy điều gì mới làm con người mất giá?”

Khổng Tử chậm rãi đáp: “Là khi vì tiền mà đánh mất lương tâm. Vì quyền mà đánh mất chính nghĩa. Vì lợi ích mà đánh mất chữ tín.”

Tử Hạ cúi đầu hành lễ.

Khổng Tử mỉm cười: “Giá trị của một con người không nằm ở những gì họ có. Mà nằm ở những điều họ nhất quyết không đánh đổi.”

Từ fb Narissa Loan


 

Sài Gòn: chiến tranh, hòa bình và ước mơ của tôi (BBC)

 (BBC)

Một người cha chở con trên xe máy tại Sài Gòn vào tháng 5 năm 1970

Tác giả, Bùi Văn Phú

Vai trò, Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ Berkeley, California

4 tháng 7 2026

Chiều 29/4/1975, tôi rời quê hương bằng tàu. Sáng hôm sau, xe tăng, bộ đội cộng sản tiến vào Dinh Độc Lập, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng.

Năm sau, Sài Gòn chính thức đổi tên, mà như Phạm Duy viết trong ca khúc 1954, 1975, thành phố “phải mang tên xác người“, hay Nguyễn Đình Toàn viết “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên” trong Sài Gòn niềm nhớ không tên.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Thầy u tôi rời quê Nam Định di cư vào Nam sau Hiệp định Geneve 1954 và một năm sau tôi ra đời ở xứ Nghĩa Hòa, một xứ đạo tân lập trong khu vực Ngã ba Ông Tạ, nơi có mấy vạn người Công giáo Bắc di cư ở.

Nói tôi sinh ra ở Sài Gòn thì không đúng, vì giấy khai sinh ghi nơi sinh là xã Tân Sơn Hòa, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Nhưng Ngã ba Ông Tạ nằm sát bên thủ đô. Từ đây theo đường Phạm Hồng Thái nối dài tới Lê Văn Duyệt, tính ra từ Gia Định chỉ đi ba trăm mét, qua đường Bắc Hải là vào quận 3 của Sài Gòn. Sau năm 1975, khu vực Ngã ba Ông Tạ mới thuộc về Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày còn bé chẳng mấy khi được vào trung tâm thủ đô, chỉ nhớ có lần thầy tôi đưa các con đi chơi Sở thú, tức là Thảo Cầm Viên, xem voi ăn mía, khỉ ăn chuối. Có năm thầy đưa lên Bến Bạch Đằng xem bắn pháo bông dịp Quốc khánh 26 tháng 10, pháo nổ trên bầu trời tỏa hình Ngô tổng thống, hình khóm trúc.

Mấy lần ông chú dẫn đi xe ngựa, xe lam 3 bánh lên trung tâm thủ đô dự mít tinh kỷ niệm ngày Quốc hận 20/7 chia đôi đất nước hay tham gia biểu tình phản đối chính phủ quân phiệt.

Cấp 1 tôi học trường Nghĩa Hòa, cấp 2 trường Thánh Tâm ở Ngã ba Ông Tạ. Năm lớp 10 vào trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân, từ đó Sài Gòn trở nên thân quen. Là năm đầu tiên đi học trong thành phố, lại là năm chuyển tiếp không có thi tú tài nên nhiều hôm tôi đã trốn học đi chơi, không còn học giỏi như những năm ở trường Thánh Tâm mỗi tháng xếp hạng nhất, nhì hay ba về học lực và được lãnh bảng danh dự. Giờ tôi chỉ xếp hạng trung bình trong số 50 bạn học.

Tôi hay trốn học đi coi xi-nê ở rạp Cao Thắng, Nam Quang hay đạp xe quanh trung tâm thủ đô nên những con đường Nguyễn Huệ, Tự Do, Hàm Nghi, Cao Thắng, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tôn trở nên thân quen. Chợ Bến Thành, nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi. Tòa soạn Báo Tuổi Hoa trên đường Kỳ Đồng tôi hay vào đọc sách báo. Trước Bưu điện thành phố có xe bò bía, có mấy sạp bán tem thư mà tôi hay ghé mua phong bì khi có phát hành tem thư ngày đầu tiên. Qua đường Hai Bà Trưng, gần đến chợ Tân Định quẹo phải đường Trần Văn Thạch ghé tiệm tạp hóa của một ông gốc Hoa mua tem sưu tầm, là sở thích.

  Ở trung tâm thủ đô, tôi nhiều lần chứng kiến biểu tình của sinh viên học sinh quanh bùng binh Quách Thị Trang hay trước trụ sở quốc hội để phản đối chính sách của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chống lại sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến.

Hết năm lớp 10, trường Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn chỉ dành cho nữ sinh nên tôi chuyển qua Nguyễn Bá Tòng Gia Định học lớp 11 và 12. Phạm Văn Thiêm là người bạn thật tốt học chung lớp 10, ngày nào cũng từ Hòa Hưng ghé qua nhà chở tôi đi học. Có những ngày sau giờ tan học chúng tôi đi vào trung tâm thủ đô qua Cầu Bông tràn ngập áo dài trắng tung bay của nữ sinh trường Lê Văn Duyệt.

Sài Gòn điêu tàn sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân

Cuối năm lớp 11, chiến tranh bùng nổ ở nhiều tỉnh. Mùa hè đỏ lửa 1972, một cựu học sinh Nguyễn Bá Tòng là Đại úy Không quân Trần Thế Vinh, người được vinh danh là anh hùng diệt xe tăng, đã hy sinh trong một phi vụ chiến đấu.

Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.

Không như Mậu Thân khi du kích đánh vào tỉnh thành, lần này bộ đội cộng sản đem xe tăng, đại pháo tấn công vào nhiều nơi từ Quảng Trị địa đầu giới tuyến, Kontum trên cao nguyên đất đỏ vào đến An Lộc không xa thủ đô.

Chính phủ ban hành lệnh đôn quân. Tôi đã bước vào tuổi lính, lo học, lo cho tương lai và có nhiều ưu tư về cuộc chiến. Nhiều buổi chiều vào quán cà phê nghe nhạc vừa lãng mạn, tình tứ vừa buồn lo cho quê hương, thân phận con người.

Theo em xuống phố trưa nay

Đang còn ngất ngất cơn say

Theo em bước xuống cơn đau

Bên ngoài nắng đã lên mau…

(Lê Uyên Phương)

Đêm mẹ ngồi cầu kinh

Tường trắng im lìm

Bom rung từng liếp cửa…

(Trịnh Công Sơn)

Thi đậu Tú tài I, tôi tiếp tục được hoãn dịch để học lớp 12. Trở lại trường mới biết bạn cùng lớp ai đã nhập ngũ. Học Anh văn với thầy Hoàng Định, thấy học trò lo lắng thầy trấn an: “Nixon đã đi Tầu, rồi sẽ đi Nga. Cuộc cờ đã ngã ngũ. Chiến tranh sẽ chấm dứt thôi.” Nhìn cây phượng nơi sân trường nở rộ hoa đỏ, thầy nói: “Năm nay phượng nở nhiều, các anh chị cũng sẽ thi đỗ nhiều để được học tiếp lên, có cơ hội góp phần xây dựng đất nước.” Hết niên học thầy được qua Mỹ tu nghiệp.

Gần nhà tôi có khu quân sự Mỹ trên đường Nguyễn Văn Thoại và quanh đó là những quán bar. Một chiều nghe tiếng nổ lớn, tôi chạy ra xem thấy xác người chết xám vì chất nổ TNT của Việt Cộng cài vào xe đạp. Một chị gần nhà, trên đường đi học về, đã chết hôm đó. Đêm đêm nghe bà mẹ khóc than thảm thiết: “Con ơi, ở đời măng khóc tre chứ ai ngờ mẹ lại phải khóc con.”

Ở trường tôi thích giờ giảng văn của thầy Trần Bằng Phong, phục khí phách Nguyễn Công Trứ có lúc làm quan và có lúc bị đày mà không nản chí. Với sự hướng dẫn của thầy, năm đó tôi làm bích báo cho lớp.

Trong giờ công dân giáo dục, thầy Nguyễn Văn Tiếu cho chúng tôi thảo luận về những vấn đề liên quan đến quốc gia. Tôi nêu chuyện tham nhũng, vì đọc báo có tin dân biểu đi công tác nước ngoài mang lậu nước hoa, mỹ phẩm, quần lót, lịch Playboy về bán; có dân biểu ăn cắp tượng cổ ở bảo tàng đem ra nước ngoài được báo chí đặt tên là “Dân biểu tượng Chàm”, nhưng sao không ai bị bắt giam. Thầy nói dân biểu nghị sĩ có quyền bất khả xâm phạm nên cảnh sát không thể bắt họ.

Tổng trưởng Kinh tế Phạm Kim Ngọc đưa ra chính sách thuế trị giá gia tăng bị phê phán, chế giễu là “Tổng Ngốc”. Có bạn bày tỏ sự căm ghét “Vua đi đêm Kissinger” vì Hòa đàm Ba Lê kéo dài nhiều năm mà hòa bình đâu chưa thấy. Những dân biểu Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức đòi Mỹ rút và Việt Nam Cộng hòa ngưng bắn, có bạn hỏi tại sao không đòi Cộng sản Bắc Việt thôi xâm lược miền Nam.

Đường phố Sài Gòn năm 1969

Đầu năm 1973, Hiệp định Ba Lê được ký kết. Tôi vui mừng vì chiến tranh chấm dứt, từ nay người Việt thôi bắn giết nhau.

Mang giầy vớ tốt mang khăn áo lành

Tôi chào đất nước tôi nay thái bình…

(Phạm Duy)

Sáng ngày hiệp định có hiệu lực, tôi và mấy bạn rủ nhau lên trung tâm thủ đô, vào một quán cà phê trên đường Nguyễn Du, nghe vang vang lời ca, như mơ ước đã có từ lâu:

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường…

Khi đất nước tôi không còn giết nhau

Mọi người ra phố mời rao nụ cười

(Trịnh Công Sơn)

Để chào mừng chiến tranh chấm dứt, tôi vẽ mẫu làm hai cánh cổng sắt trước nhà, mỗi bên có dấu hiệu hòa bình ở giữa. Sau khi cổng hoàn tất, một hôm có cảnh sát đến nhà nói với thầy tôi đó là dấu hiệu phản chiến và yêu cầu gỡ bỏ. Tôi không đồng ý, chỉ cắt hai miếng thiếc che dấu hiệu, từ ngoài đường nhìn vào không còn trông thấy nữa. Ít lâu sau, kẻ trộm lấy mất một cánh cổng. Thầy tôi nghi cảnh sát đã lấy đi một cánh để nhà phải làm lại hai cánh mới. Tôi cũng nghĩ thế.

Bùi Văn Phú

Biểu tượng hòa bình vẫn còn trên cánh cổng khi tác giả trở lại ngôi nhà xưa vào năm 1997

Ở trường tôi hăng say sinh hoạt hiệu đoàn nên cuối niên học được hiệu trưởng Đinh Ngọc Lễ trao cho phần thưởng hạnh kiểm. Đến hè, tôi thi đậu Tú tài II.

Thi vào trường Kiến trúc, vì có hoa tay và thích vẽ, nhưng không đậu nên ghi danh vào trường Luật Sài Gòn là chính, Văn khoa là phụ.

Bạn cùng lớp 12 có Phạm Văn Thiêm, Trịnh Hoàng Long, Nguyễn Văn Lý cũng ghi danh học luật. Võ Quang Thịnh, quen thân từ những năm ở trường Thánh Tâm, học Petrus Ký, đậu hạng bình. Tú tài I bạn đậu ưu, xin đi du học không được, ghi danh vào khoa Hóa, Đại học Minh Đức. Nguyễn Công Bình nhà ở Tân Chí Linh, đậu bình cả hai kỳ thi Tú tài, gia đình có anh tử trận nên được chính phủ cấp học bổng du học Mỹ. Hoàng Đức Hòa ghi danh chứng chỉ MPC bên Đại học Khoa học.

Sinh viên trường Luật năm đầu đi học ở rạp Thống Nhất. Giáo sư Vũ Văn Mẫu dạy cổ luật, giáo sư Trần Văn Liêm, dân luật; giáo sư Nguyễn Cao Hách, kinh tế; giáo sư Lê Đình Chân, luật hiến pháp.

Chương trình học có 7 môn, cuối năm bốc thăm hai môn chính thi viết luận văn, còn các môn khác là các câu hỏi ngắn. Một trong hai môn thi chính năm đó là luật hiến pháp mà tôi rất thích nghe Giáo sư Lê Đình Chân, người giảng rất lôi cuốn về quyền của dân, về các tổ chức công quyền là hành pháp, quốc hội, tối cao pháp viện, giám sát viện.

Đề tài thi là về luật bầu cử năm 1971 yêu cầu một ứng cử viên phải có sự đề cử của 60 dân biểu, nghị sĩ quốc hội hay 120 nghị viên hội đồng tỉnh. Điều đó có vi hiến hay không? Tôi đưa ra lập luận là không vi hiến, dẫn chứng là ở Mỹ, Pháp các ứng cử viên tổng thống đều phải có các đảng đề cử mới được ra tranh cử. Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng hòa xác nhận sinh hoạt chính trị đa đảng và khuyến khích tiến tới lưỡng đảng thì việc ứng cử viên phải có sự đề cử là sinh hoạt dân chủ đa đảng. Đậu thi viết, tôi thi phần hai. Kết quả tôi hoàn tất chứng chỉ luật năm thứ nhất, được tiếp tục hoãn dịch để học năm thứ hai.

Nữ sinh Sài Gòn năm 1970 (trái) và năm 1972

Hiệp định Ba Lê đã không đem lại hòa bình vì vẫn còn súng nổ trên chiến trường. Chuẩn úy Nguyễn Đức Tuyển, trưởng lớp ở Thánh Tâm, bị phục kích chết, mẹ của bạn trở nên điên dại khi nhận xác con về. Duy Nam, giọng hát truyền cảm trong các buổi văn nghệ và là học trò của ca sĩ Duy Khánh, tử trận. Phạm Văn Thông học chung lớp ở Thánh Tâm, bút hiệu Mai Thông, tử nạn khi trực thăng rớt. Anh Lâm cùng xóm là sĩ quan chiến tranh chính trị tử trận. Chuẩn úy Lê Minh Châu học chung lớp 11 chết mất xác.

Vào đại học, tôi thường ở nhà ông bác ngoài đường Thánh Mẫu, gần nhà thờ Chí Hòa, Ngã ba Ông Tạ. Anh cả của bác là Thẩm phán Trần An Bài, ngoài việc tại tòa án anh còn dạy ở Học viện Cảnh sát Quốc gia, Đại học Vạn Hạnh và thường viết cho báo Xây Dựng của linh mục Nguyễn Quang Lãm. Sau luật 7/72 bóp nghẹt tự do báo chí, tờ Xây Dựng phải đóng cửa. Nhà anh có báo Sóng Thần, Đại Dân Tộc hay bị Bộ Dân vận Chiêu hồi ra lệnh tịch thu sau khi phát hành. Gần anh, tôi được học thêm nhiều về hệ thống luật của Việt Nam Cộng hòa. Đầu năm 1974, anh trình luận án tiến sĩ luật, tiêu đề “Những bảo đảm của nghi can trong giai đoạn điều tra sơ vấn”.

 Khi ông Thiệu vận động quốc hội sửa hiến pháp, tăng nhiệm kỳ tổng thống lên 5 năm và cho ông quyền tái ứng cử sau khi nhiệm kỳ hai chấm dứt năm 1975, cho thấy ông muốn làm tổng thống suốt đời, nên tôi tham gia các hoạt động chống chính quyền độc tài vì tin rằng chỉ có dân chủ mới thắng được cộng sản.

Tôi và bạn Hoàng Đức Hòa bên Khoa học bàn với nhau là lên năm thứ hai hay thứ ba chúng tôi sẽ ra ứng cử ban đại diện sinh viên của khoa để hoạt động rộng hơn. Tôi thích làm báo nên sẽ tranh chức trưởng ban báo chí Luật khoa, dù biết là dấn thân hoạt động sẽ có nhiều nguy hiểm, như anh Lê Khắc Sinh Nhựt đã bị Việt Cộng ám sát chết ngay trong sân trường Luật.

Mấy năm trước, trong một buổi văn nghệ ở Văn khoa, anh Ngô Vương Toại đã bị cán bộ nội thành lên giựt mi-crô, nã đạn vào người và may thoát chết. Trong khuôn viên trường Luật thỉnh thoảng cũng có rải truyền đơn chống chính phủ. Sinh viên học sinh tranh đấu như Huỳnh Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Dương Văn Đầy, Lê Văn Nuôi xuống đường biểu tình chống Thiệu, chống Mỹ bị bắt rồi được thả vì áp lực quốc tế can thiệp.

Hỏi ý anh Trần An Bài, anh nói muốn ứng cử vào ban đại diện sinh viên thì phải dứt khoát là người quốc gia, chống cộng và có một đảng ủng hộ ra tranh cử.

Tôi là người quốc gia, chống cộng nhưng không ủng hộ chính sách của ông Thiệu. Sinh hoạt chính trường miền Nam từ lâu đã có Đảng Đại Việt, có Quốc dân Đảng, Phong trào Quốc gia Cấp tiến, Lực lượng Đại Đoàn kết mà tôi biết. Những năm qua có Đảng Dân chủ do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lập ra. Trong bầu cử tổng thống 1971, liên danh Nguyễn Cao Kỳ bị loại và liên danh Dương Văn Minh rút lui để liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Trần Văn Hương độc diễn và thắng đến 94% cho thấy chủ trương độc tài của ông.

Một hôm trên báo Chính Luận có đăng quảng cáo của Đảng Quốc tiến mới được thành lập với người lãnh đạo là cựu Thượng nghị sĩ Trương Vĩnh Lễ, từng là ứng cử viên phó tổng thống của tướng Nguyễn Cao Kỳ, nên tôi muốn gia nhập đảng này.

Bùi Văn Phú

Thẩm phán Trần An Bài bảo vệ luận án tiến sĩ luật tại Đại học Luật khoa Sài Gòn năm 1974. Tác giả bên bìa phải

Đầu năm 1975, tôi và Hòa đến một căn nhà bên hông Đại học Vạn Hạnh, gặp ông Ngọc, tổng thư ký Đảng Quốc tiến. Sau khi giới thiệu về mình và trò chuyện với ông về những vấn đề liên quan đến hiện tình đất nước, ông Ngọc cho biết chủ trương của đảng là đối lập với Đảng Dân chủ của ông Thiệu. Muốn vào đảng, mỗi người chúng tôi cần hai người giới thiệu. Tôi sẽ nhờ Thẩm phán Trần An Bài và Nghị viên Nguyễn Duy Bảo, người mà tôi từng tham gia vận động bầu cử cho, giới thiệu và tôi sẽ ra tranh cử vào ban đại diện sinh viên trường Luật.

Tại địa phương, tôi tham dự nhiều buổi thảo luận của Linh mục Trần Hữu Thanh về chính sách hay các dự luật tại quốc hội, làm sao vận động ủng hộ hay ngăn cản không cho thông qua. Cha Thanh đặt bản doanh của Phong trào Nhân dân chống tham nhũng tại xứ Tân Chí Linh nên khu Ông Tạ thường có biểu tình chống chính phủ. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ, tấm khiên, ba ton tới bao vây, bắn lựu đạn cay để giải tán.

Bạn bè tụ họp ở nhà Võ Quang Thịnh sau nhà dòng Mai Khôi đàn hát và đọc “Bản Cáo trạng số 1” của Phong trào vào băng cát-sét để lưu lại vì các báo đăng cáo trạng đã bị tịch thu.

Gần nhà có anh Nguyễn Tiến, tốt nghiệp văn khoa, tham gia chính trường, đắc cử nghị viên hội đồng xã Tân Sơn Hòa. Tiếp xúc với anh, tôi hiểu hơn về khu vực nơi mình sống tinh thần chống cộng cao, nhưng cũng có bạn trẻ ngả theo “cách mạng” vì cạnh bên là khu dệt Quảng Nam có nhiều người theo “Mặt trận”. Anh cho biết sự việc tôi gắn dấu hiệu hòa bình trên cổng và tham gia phong trào chống tham nhũng khiến có người nghi ngờ tôi theo cách mạng.

Cựu học sinh Thánh Tâm cũng đã có những buổi họp mặt tại trường, do anh Phạm Văn Sơn, sinh viên năm thứ ba khoa học đứng ra tổ chức. Chúng tôi thảo luận về hướng đi cho thanh niên sinh viên trong tình hình hiện tại, phải vững tinh thần quốc gia, không nghe tuyên truyền của cộng sản kêu gọi xuống đường, bãi khóa.

Năm 1974, trường Thánh Tâm đã bị “cách mạng” chiếm đóng cả tuần. Ban đêm, từ nóc trên tầng bốn họ cho phát thanh những bài viết chống chính phủ mà từ nhà tôi nghe rõ. Mấy lần cảnh sát tiến vào trường thì bàn ghế từ lầu cao được ném xuống, nên phải rút lui. Cho đến khi Chuẩn tướng Trang Sĩ Tấn xuống chỉ huy cả trăm cảnh sát tiến vào mới bắt được mấy thanh niên thiếu nữ theo Việt Cộng.

Hiệu trưởng trường Thánh Tâm là sư huynh Nguyễn Văn Ngươn, em của Thượng nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền, Chủ tịch Thượng nghị viện, nên ngôi trường đã trở thành trung tâm sinh hoạt chính trị cho khu vực Ông Tạ, từ vận động bầu cử đến đấu tranh.

Đầu năm 1975, cộng sản tấn công chiếm Phước Long, rồi Ban Mê Thuột. Như vết dầu loang, các tỉnh phía bắc dần dần bị mất kiểm soát. Dân miền Trung di tản vào Sài Gòn trong khi người thủ đô tìm cách rời nước ra đi.

Tướng Dương Văn Minh kêu gọi các bên ngưng bắn để hòa giải dân tộc. Tôi đã có bài viết trên báo Tiền Tuyến của quân đội vào đầu tháng Tư phản bác lại, vì theo tinh thần Hiệp định Ba Lê, bên gây chiến là bộ đội cộng sản, yêu cầu họ rút về miền Bắc thì mới có thể nói chuyện hòa giải, hòa hợp.

bùi văn phú

Sinh viên biểu tình kêu gọi thế giới cứu giúp thuyền nhân tị nạn, Sproul Plaza, U.C. Berkeley 1979

Sáng 29/4/1975, sau khi nghe Thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên đài phát thanh yêu cầu người Mỹ rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, anh Bài quyết định đưa gia đình và các em ra đi, có tôi đi theo. Hai bác ở lại coi nhà vì có mấy người bà con từ Biên Hòa chạy đến tạm trú.

Qua các trại tị nạn ở Subic Bay, Philippines; Guam và Camp Pendleton ở miền nam California, tôi có tìm kiếm bạn học cũ nhưng không ai đi thoát được. Nhiều lúc tôi tự hỏi đất nước đã hết chiến tranh, sao tôi không ở lại để theo đuổi ước mơ và góp tay xây dựng đất nước!

Mùa thu 1977, tôi được nhận vào Đại học U.C. Berkeley, nổi tiếng chống chiến tranh Việt Nam. Hoạt động trong trường của thành phần ủng hộ Hà Nội vẫn còn, qua những buổi chiếu phim “79 Mùa xuân của Bác Hồ”, “Chiến thắng năm Mão”, sau đó đã bị người Việt tị nạn từ Oakland, San Francisco, San Jose kéo lên dẹp tan.

Cùng các bạn mới quen trong trường, chúng tôi thấy cần lập hội để giúp đỡ nhau và nêu cao tinh thần quốc gia của sinh viên tị nạn. Một số anh em họp bàn, soạn thảo nội quy và ngày 20/1/1979 tại ký túc xá Spens Black Hall, với 50 sinh viên Việt có mặt, nội qui hội được biểu quyết chấp thuận. Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học U.C. Berkeley chính thức được thành lập với mục đích giúp nhau học tập, bảo tồn phát huy văn hóa Việt và tương trợ lẫn nhau.

Cơ hội ứng cử ban đại diện sinh viên đến với tôi, không ở trường Luật Sài Gòn mà tại một đại học danh tiếng, chiếc nôi của phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. Tôi ra tranh chức trưởng ban văn hóa, phụ trách báo chí và văn nghệ, vì hợp với khả năng và sở thích. Ban chấp hành đầu tiên được bầu ra và tôi làm trưởng Ban Văn hóa.

Bản tin chính thức của hội phát hành số đầu tiên vào đúng dịp Tết Kỷ Mùi 1979. Ban chấp hành bắt tay ngay vào việc tổ chức pic-nic, thể thao, họp mặt ca hát, tưởng niệm 30/4, cứu giúp thuyền nhân, phát hành đặc san. Nội san Nối Vòng Tay ra đời. Tôi lại ôm đàn ghi ta, xướng lên những bài hát cộng đồng. Sân trường Đại học U.C. Berkeley vang những lời ca:

Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

(Nguyễn Đức Quang)

Rừng núi giang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

(Trịnh Công Sơn)

Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời

Việt Nam hai câu nói bên vành nôi

(Phạm Duy)

Bùi Văn Phú

Đại hội thể thao văn nghệ liên trường Bắc California tổ chức tại U.C. Berkeley năm 1988

Hai mươi năm sau, tôi trở về thành phố thân yêu cũ và không thấy đường phố nhà cửa có thay đổi nhiều, chỉ cũ đi và phai bạc mầu. Khu nhà tôi lúc bấy giờ nhiều người bán hàng bên lề. Nhưng tên đường giờ đã khác: Cách Mạng Tháng 8, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Đồng Khởi hay Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Bành Văn Trân là những ai, nghe xa lạ quá.

Trường cũ cũng đã đổi tên. Nghĩa Hòa thành Chi Lăng, Thánh Tâm là Tân Bình, Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn thành Bùi Thị Xuân, Nguyễn Bá Tòng Gia Định thành Hoàng Hoa Thám và Đại học Luật khoa không còn mà trở thành Đại học Kinh tế. Bạn cũ nói kinh tế xã hội chủ nghĩa không ứng dụng gì được nên bỏ học ra đời chạy tắc xi hay làm nghề tự do.

Năm mươi năm qua, tôi theo dõi sinh hoạt chính trị và nhân quyền quê nhà. Năm mươi năm Sài Gòn đổi tên, Thành phố Hồ Chí đã mở rộng ra đến vùng biển, phường Sài Gòn giờ có nhiều nhà cao tầng, nhiều xe hơi trên phố, nhưng ở mặt khác của cuộc sống, đến nay câu đồng dao mà người Sài Gòn từ lâu truyền khẩu cho nhau vẫn còn là hiện thực: Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý/ Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng và nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California

 

Sài Gòn hay Thành phố Hồ Chí Minh: Thế hệ trẻ sử dụng tên nào? (BBC)

BBC

Người dân đi xem lễ diễu binh dịp 30/4/2025 tại TP HCM

3 tháng 7 – 2026

Sinh ra ở các thập niên sau ngày Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều người thuộc “thế hệ 9x-2k” (chỉ những người sinh trong khoảng thời gian 1990-2009) không trải qua thời khắc lịch sử ấy, mà chỉ biết tên gọi mới đã trở thành điều hiển nhiên.

Với họ, hai cái tên “Sài Gòn” và “Thành phố Hồ Chí Minh” không phải là một sự lựa chọn đối lập, mà là “hai lớp nghĩa cùng tồn tại”.

Dù có cách diễn đạt khác nhau, những người trẻ mà BBC News Tiếng Việt phỏng vấn đều nhìn nhận “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên gọi chính thức của thành phố, thường được sử dụng trong các giấy tờ thủ tục hành chính, trong khi “Sài Gòn” vẫn là cái tên hiện diện trong đời sống thường ngày.

‘Sài Gòn phóng khoáng, nghĩa tình, cởi mở và bao dung

Sinh năm 1996 và lớn lên tại TP HCM, rapper có nghệ danh là Christian Cang cho biết anh hiểu rằng sau năm 1975, Sài Gòn được đổi tên thành TP HCM theo quyết định của nhà nước.

Tuy nhiên, trong đời sống thường ngày, anh vẫn quen gọi nơi mình sống là “Sài Gòn” vì “tự nhiên, ngắn gọn và gần gũi”.

“Mình lớn lên nghe mọi người xung quanh gọi như vậy, nên thành thói quen,” Christian Cang nói với BBC News Tiếng Việt.

Theo nam rapper này, “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên hành chính chính thức, còn “Sài Gòn” gợi lên hình ảnh về văn hóa, con người, nhịp sống và ký ức của nhiều thế hệ.

Anh cho rằng chính giá trị văn hóa đó khiến cái tên “Sài Gòn” vẫn xuất hiện phổ biến trong tên các nhà hàng, quán cà phê, doanh nghiệp tư nhân và thương hiệu địa phương, như Bia Sài Gòn, Saigontourist, hay các khách sạn như Rex Hotel Saigon, Hotel Continental Saigon… 

“Nếu làm nhạc, có lẽ mình sẽ dùng tên ‘Sài Gòn’. Trong âm nhạc, mình ưu tiên cảm xúc và hình ảnh. ‘Sài Gòn’ nghe gần gũi, giàu chất thơ và hợp với màu sắc mình đang theo đuổi,” Christian Cang nói.

Tuy vậy, anh nhấn mạnh rằng điều quan trọng với bản thân không nằm ở tên gọi, mà ở tình yêu dành cho con người và nơi mình đang sống.

“Nếu dùng vài từ để mô tả ‘người Sài Gòn’, mình sẽ chọn: phóng khoáng, nhiệt tình, nghĩa tình, cởi mở, chịu khó và bao dung. Mình tin những điều đó góp phần tạo nên một thành phố mà ai đến cũng có cơ hội bắt đầu lại,” Christian Cang chia sẻ.

Khi được hỏi về “chất Sài Gòn”, Christian Cang cho rằng điều nổi bật của thành phố là sự đa dạng, nơi người từ nhiều miền đất khác nhau cùng đến sinh sống và lập nghiệp.

“Chính điều đó làm mình học được cách tôn trọng sự khác biệt và dễ hòa nhập với mọi người. Nếu có điều gì mang màu sắc ‘Sài Gòn’ trong mình thì chắc là sự cởi mở, thích kết nối và khá thoải mái trong cách sống,” nam rapper cho biết.

Là một nghệ sĩ, anh nói rằng điều mình muốn mang vào âm nhạc không chỉ là “chất của Sài Gòn”, mà còn là tinh thần yêu thương và hy vọng.

“Dù đến từ đâu, mình nghĩ điều kết nối chúng ta vẫn là cách đối xử với nhau và sống có ích cho cộng đồng,” nghệ sĩ này nhấn mạnh.

Phố đi bộ Nguyễn Huệ là một điểm đến quen thuộc của giới trẻ tại TP HCM

‘Sài Gòn cho đời thường, TP HCM cho giấy tờ thủ tục’

Nếu Christian Cang xem “Sài Gòn” là cái tên của cảm xúc, thì với Hồng Hoa, 20 tuổi, sinh viên năm hai tại một trường đại học ở TP HCM, “Sài Gòn” và “TP HCM” đơn giản là hai cách gọi dành cho hai hoàn cảnh khác nhau.

“TP HCM là tên hành chính, chính thức được sử dụng trong các văn bản, giấy tờ và các hoạt động của nhà nước. Còn ‘Sài Gòn’ mang ý nghĩa gần gũi, gợi nhớ về lịch sử, văn hóa và nhịp sống rất đặc trưng của thành phố,” Hoa nói.

Bởi vậy, trong những cuộc trò chuyện với gia đình hay bạn bè, cô gọi nơi mình lớn lên là “Sài Gòn”. “Nghe tự nhiên và ngắn gọn hơn.

“Nhưng khi làm việc, học tập hoặc trong các tình huống trang trọng thì mình sẽ dùng TP HCM vì đó là tên chính thức,” nữ sinh viên giải thích.

Theo Hoa, việc cái tên “Sài Gòn” vẫn xuất hiện trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, trong thơ ca, âm nhạc hay trên những thương hiệu là điều không khó lý giải.

“Cái tên Sài Gòn đã gắn bó với rất nhiều thế hệ nên mang giá trị lịch sử và cảm xúc rất lớn. Trong thơ ca, âm nhạc hay thương hiệu, tên này tạo cảm giác thân quen, dễ nhớ và cũng thể hiện bản sắc riêng của thành phố. Vì vậy, dù tên chính thức là TP HCM, ‘Sài Gòn’ vẫn được sử dụng rất phổ biến trong đời sống và văn hóa,” cô chia sẻ.

Sinh ra và lớn lên giữa nhịp sống hối hả của thành phố, Hoa cảm thấy bản thân chịu ảnh hưởng bởi chính môi trường ấy.

“Mình quen với nhịp sống nhanh, thích nghi khá nhanh với môi trường mới và cởi mở trong giao tiếp,” cô nói.

Khi được hỏi về điều gì làm nên hình ảnh “người Sài Gòn”, nữ sinh viên trả lời: “Mình cũng thấy người Sài Gòn thường có thói quen giúp đỡ người khác, khá thoải mái và dễ kết bạn.”

Tuy vậy, Hoa cũng không muốn cảm nhận của mình trở thành khuôn mẫu cho người khác.

“Đó chỉ là cảm nhận cá nhân. Mỗi người đều có tính cách riêng, không thể nói tất cả người ở cùng một địa phương thì đều giống nhau. Khi lên đại học, được gặp bạn bè từ nhiều vùng miền khác nhau, mình nghĩ ai cũng có tình yêu với quê hương và đều cố gắng học tập, làm việc để phát triển bản thân.”

Với nhiều người trẻ, xin ba mẹ ‘lên Sài Gòn chơi’ là tới Quận 1, nơi có những tòa nhà cao tầng, nhà thờ Đức Bà…

‘Sài Gòn thân thiện, hào sảng’

Với Huỳnh Phối Trân, một người gốc Hoa sinh năm 1990, tên gọi “Sài Gòn” chưa bao giờ biến mất khỏi cuộc sống thường ngày.

“Mình vẫn dùng tên Sài Gòn với bạn bè, đồng nghiệp vì ngắn gọn và tự nhiên. Còn khi nói tiếng Hoa với ba mẹ, họ hàng thì gọi là ‘Sáy Cung’ (西贡, Tây Cống), tức Sài Gòn,” cô chia sẻ.

Ngay cả khi chuyển ra Hà Nội sinh sống và làm việc suốt 5 năm qua, Trân cho biết những người xung quanh vẫn thường hỏi: “Trân ở Sài Gòn ra hả?” thay vì “ở TP HCM”.

Theo cô, “Sài Gòn” không đơn thuần là một địa danh mà còn gợi lên cả một lối sống và những ký ức tuổi thơ.

“Hồi nhỏ, mỗi lần xin ba mẹ ‘lên Sài Gòn chơi’ là mình nghĩ đến Quận 1, đến những tòa nhà cao tầng, nhà thờ Đức Bà, những con đường đông đúc và nhộn nhịp. Trong suy nghĩ của mình khi đó, ‘lên Sài Gòn’ có nghĩa là đi đến nơi sầm uất, hiện đại và ‘style’ [phong cách] hơn những khu vực khác.”

Cái tên ấy, theo Phối Trân, cũng gắn với nhiều dấu ấn văn hóa và ẩm thực.

Cà phê Sài Gòn, ốc Sài Gòn… nghe là biết một phong vị rất riêng. Chẳng hạn như ốc ở Sài Gòn có rất nhiều cách chế biến với đủ hương vị khác nhau, còn ở Hà Nội mình thường thấy biển hiệu ‘ốc Hải Phòng’ hơn là ‘ốc Hà Nội’.”

Sống ở Hà Nội nhiều năm cũng khiến cô nhận ra sức hút mà cái tên “Sài Gòn” vẫn mang trong mắt nhiều người.

“Nhiều đồng nghiệp từng nói với mình rằng họ muốn chuyển vào Sài Gòn sống vì cảm thấy ở đó dễ sống hơn, các ngành dịch vụ, chẳng hạn ăn uống, phục vụ tốt hơn…

“Họ cũng hay bảo người Sài Gòn thân thiện, năng động và hào sảng. Cá nhân mình cũng có cảm nhận như vậy,” cô nói.

Đối với Phối Trân, “Thành phố Hồ Chí Minh” là tên gọi chính thức trên giấy tờ, còn “Sài Gòn” vẫn là cái tên của những ký ức, của nếp sinh hoạt thường ngày và của một bản sắc mà cô tin rằng nhiều người vẫn cảm nhận được, dù thành phố đã mang tên mới gần nửa thế kỷ.

Một quán ốc tại TP HCM

‘Sài Gòn ấm áp, hiếu khách’

Là con của một gia đình người Việt gốc Sài Gòn nhưng sinh ra và lớn lên ở Pháp, Ava Trần mang trong mình một mối gắn bó khá đặc biệt với thành phố này.

Cô gái sinh năm 1996 đã chuyển về Việt Nam sinh sống khoảng 5 năm gần đây, sau nhiều năm qua lại giữa Pháp và quê hương của cha mẹ.

Ava thừa nhận cô không biết chính xác Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh từ khi nào, chỉ đoán rằng việc này diễn ra sau năm 1975. Cô cũng tự hỏi liệu cái tên “Sài Gòn” có phải do người Pháp đặt từ thời Pháp thuộc hay không, dù chưa có dịp tìm hiểu kỹ.

Trong cảm nhận của Ava, “Sài Gòn” là tên gọi nguyên thủy của thành phố, còn “Thành phố Hồ Chí Minh” là cái tên gắn với một giai đoạn lịch sử mới sau khi chiến tranh kết thúc.

Một điều khiến cô thích thú là cho đến thời điểm được BBC đặt câu hỏi, cô mới nhận ra chính bản thân mình cũng vô thức sử dụng hai tên gọi tùy theo ngôn ngữ. Khi nói tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, cô thường dùng “Hô Chi Minh-Ville”, “Ho Chi Minh City”. Nhưng mỗi khi chuyển sang tiếng Việt, cái tên bật ra một cách tự nhiên lại là “Sài Gòn”.

Theo Ava, sự hiện diện bền bỉ của cái tên “Sài Gòn” trong đời sống có lẽ bắt nguồn từ việc nhiều người vẫn xem đó là tên gốc của thành phố, một cái tên gắn với ký ức và cảm giác chân thực. Cô cũng nói rằng mình thích âm điệu của từ “Sài Gòn” hơn và tin rằng đó cũng là một phần lý do khiến nhiều người vẫn quen sử dụng tên gọi này.

Ở Pháp, Ava cho biết người trẻ ngày nay thường gọi thành phố là “Hô Chi Minh-Ville”, “Ho Chi Minh City”, trong khi những người lớn tuổi từng sống qua thời kỳ Chiến tranh Việt Nam vẫn gọi là “Saïgon”, với cách phát âm theo tiếng Pháp.

Từ nhỏ, Ava đã nhiều lần theo gia đình về thăm thành phố, nơi họ vẫn còn ngôi nhà cũ và nhiều người thân sinh sống. Những chuyến trở về ấy cũng định hình cái nhìn của cô về con người nơi đây.

“Với tôi, người Sài Gòn ấm áp và hiếu khách. Họ lúc nào cũng mang lại cảm giác tích cực, thoải mái,” cô nói.


 

Ở HIỀN GẶP LÀNH – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Cha ông ta vẫn thường dạy con cái: “Ở hiền gặp lành.”  Người ăn ở hiền lành, người sống có nhân, có nghĩa ắt trời sẽ ban cho nhiều phúc lộc dư tràn.  Ngược lại, nếu sống ác nhân ác đức, trời sẽ quả báo những tai họa khó lường.

Thế nhưng, hiền lành có phải là “tĩnh tọa như Bụt?”  Ai muốn làm gì thì làm hay không?  Thưa không, mà hiền lành ở đây là biết sống đúng với vị trí của mình.  Là biết sống đúng với phẩm giá của mình.  Là biết tôn trọng phẩm giá của mình.  Một con người có phẩm giá cao đẹp là một con người có lý trí đủ để suy biết điều hay lẽ phải, có ý chí vững mạnh để không bị sự gian ác làm hại bản thân và tha nhân, có sự chọn lựa đúng đắn và chuẩn mực về cái hay, cái đẹp, cái phải, cái trái.  Là người phải biết phân biệt phải quấy.  Biết nói không với điều ác.  Không thỏa hiệp với gian tà.  Vì “im lặng là đồng lõa” và hùa theo là “đồng phạm.”  Người không có trí khôn, làm theo lời người khác thì không có tội, nhưng người hiền lành không thể làm chuyện ác, chuyện lừa dối để rồi đổ lỗi cho hoàn cảnh.  Nếu đổ lỗi cho hoàn cảnh thì trên đời này ai phạm tội cũng vì hoàn cảnh mà ra.  “Túng quá hóa liều,” “Nóng mất khôn,” “Tức nước vỡ bờ.”  Trong một phân tích về lý do phạm tội của các tù nhân thì có 80% tội nhân cho rằng mình phạm tội là do hoàn cảnh.  Như vậy, sự hiền lành là một thái độ sống dung hoà với mọi người.  Sự hiền lành sẽ giúp cho con người hành xử theo tình, theo lý và theo lẽ phải nhưng với một thái độ ôn hòa với đầy lòng bác ái bao dung.

 Hôm nay Chúa nói: “hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Sự hiền lành của Chúa không phải là đi tìm sự thỏa hiệp với thế gian.  Chúa không im lặng trước sự dữ.  Chúa đã từng lên án gắt gao thói giả hình và gian tà của những kẻ biệt phái.  Chúa đã từng xua đuổi con buôn ra khỏi đền thờ.  Chính vì những điều Chúa làm, những lời Chúa nói đã ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo, đến địa vị, chỗ đứng của các người biệt phái mà người ta tìm cách giết Chúa.  Sự hiền lành của Chúa là vì công lý mà chịu nhiều thiệt thòi không kháng cự.  Vì dám nói sự thật mà phải chết nhục nhã trên cây thập giá, nhưng Ngài không oán hận, và còn xin cùng Chúa Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.  Chúa đấu tranh nhưng bất bạo động, vì “ai dùng gươm sẽ chết vì gươm,” “oán báo oán, oán chập chùng” và còn tha thứ cho sự xúc phạm của tha nhân không chỉ “7 lần mà là 70 lần bảy.”

 Trong tám mối phúc, Chúa đã chúc phúc những cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ.  Như thế hiền lành ở đây là sống thật và làm chứng cho sự thật.  Không nhượng bộ, không thỏa hiệp với dối gian.  Cho dù vì lẽ công chính mà mình bị bách hại, bị thiệt thòi vẫn chấp nhận, vì phần thưởng của chúng ta là Nước trời.

 Sự hiền lành của Chúa còn hệ tại ở sự cảm thông với lỗi lầm của người khác.  Không thành kiến đối với những người bị xã hội ruồng bỏ.  Ngài yêu thương họ.  Ngài đến để đối thoại với họ.  Ngài mở cho họ một con đường mới.  Ngài giúp họ làm lại cuộc đời như Madalena, như Giakêu, hay như người thiếu phụ bên bờ giếng Giacóp.

 Sự hiền lành thường đi song song với khiêm tốn.  Hiền lành để tha nhân dễ gần chúng ta và khiêm tốn để ta dễ hòa đồng với tha nhân.  Tuy hai nhưng là một mục đích.  Tạo cơ hội cho chúng ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta.  Kẻ kiêu căng thường phân loại để chơi.  Người khiêm nhường thì đối xử mọi người như nhau.  Người hiền lành ai cũng muốn tới gần.  Kẻ gian ác ai cũng chạy xa.  Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường nên ai cũng có thể tiếp xúc với Ngài, và Ngài cũng có thể gặp gỡ trao đổi với mọi người.  Từ em bé đến người già.  Từ người giầu có đến kẻ hèn.  Từ người công chính đến tội lỗi.

 Xin Chúa giúp chúng ta biết học nơi trái tim yêu thương của Chúa: “sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.”  Ngài không ở trên cao nhưng tự hạ mặc lấy thân phận con người.  Ngài còn dạy chúng ta bài học khiêm tốn khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ.  Một cử chỉ khiêm tốn đến nỗi Phêrô đã bộc trực thốt lên: “Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con sao?”  Đó là một sự tự hạ không ủy mị hay luồn cúi mà là bài giáo huấn sống động về tinh thần hy sinh phục vụ lẫn nhau.  Ngài đã dạy chúng ta hãy sống đúng với thân phận con người là lệ thuộc vào Chúa.  Ngài đã dạy chúng ta hãy hạ mình để sống hòa hợp với tha nhân.  Đừng tự cao tự đại để gạt Thiên Chúa ra bên ngoài như Adam – Evà năm xưa chỉ dẫn tới diệt vong.  Đừng tự cao tự đại đến nỗi đè bẹp người khác để mình được tôn vinh.  Đừng khinh bỉ người tội lỗi, bất hạnh nhưng yêu thương và tôn trọng họ.  Và trên hết, hãy mang lấy tâm hồn trẻ thơ để luôn đơn sơ và bé nhỏ trước mặt Chúa, trước mặt tha nhân.  Vì sự đơn sơ và bé nhỏ là dấu chỉ đặc thù của sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng.  Đây cũng là phương thế để chúng ta đón nhận mạc khải Nước Trời và đón nhận tình thương của Chúa tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta.  Amen.

 Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

From: Langthangchieutim


 

Mỹ và Mình

Mỹ và Mình

Ở Mỹ được hơn 30 năm tôi thấy một số khác biệt giữa người Mỹ và người Việt mình (chỉ nói về phần đông chứ không phải là tất cả đâu nhen). Tôi nghĩ còn rất nhiều khác biệt nữa mời các bạn góp ý thêm nha.

  1. Mỹ làm việc thiện vì lòng hảo tâm. Mình làm việc thiện để “mua phước” cho bản thân và gia đình.
  2. Mỹ làm sếp không lên mặt. Mình làm lớn là làm lối.
  3. Sếp Mỹ không cần kêu họ bằng chức vị. Sếp Mình sẽ tức giận nếu không được thưa gởi kính trọng.
  4. Ngày lễ Giáng sinh sếp Mỹ mua quà nhỏ tặng công nhân cảm ơn. Còn Mình thì mua quà lớn tặng Sếp để lấy lòng.
  5. Mỹ tổ chức đám cưới không tính toán lời lỗ. Mình thì trời mưa vào ngày tiệc cưới là méo mặt vì ít người đi dự sẽ lỗ nặng.
  6. Mỹ tổ chức sinh nhật cho con chỉ có con và bạn bè của con. Mình tổ chức sinh nhật cho con mà khách mời toàn là bạn bè của cha mẹ.
  7. Mỹ đi đúng giờ. Mình chuyên xài giờ cao su.
  8. Mỹ bảo vệ động vật hoang dã. Mình mà gặp là bắt về làm thịt ngay.
  9. Mỹ dạy con vừa học vừa làm. Mình cưng con bắt chỉ chuyên tâm vào học.
  10. Mỹ cho con tự do tranh luận với cha mẹ. Mình bắt con phải tuân lời, con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
  11. Mỹ dám hỏi dám nói. Mình không dám hỏi mà dám nói lén, nói xấu sau lưng.
  12. Mỹ cầm dao cắt từ ngoài vào trong. Mình cắt từ trong ra ngoài.
  13. Mỹ dùng máy rửa chén để rửa chén dĩa. Mình dùng máy rửa chén để úp chén dĩa cho ráo sau khi rửa bằng tay.
  14. Mỹ biết bơi nhưng không dạy nếu không được đào tạo để huấn luyện. Mình thì chỉ cần biết bơi sơ sơ là làm thầy dạy lại cho người khác.
  15. Mỹ không xoa đầu hay nựng nịu con nít. Mình thì ngược lại.
  16. Mỹ tiêu tiền phung phí nên phải bỏ tiền thuê người quản lý tiền bạc và tiêu pha. Mình thì biết tiết kiệm nên chẳng cần phí tiền thuê người lo việc vô duyên này.
  17. Mỹ để y tá lo cho thân nhân khi nhập viện. Mình thì vào ở chung với thân nhân để tự tay săn sóc.
  18. Nhà thương Mỹ rất tôn trọng và yêu thương bệnh nhân bất kể giàu nghèo. Nhà thương Mình thì coi bệnh nhân nghèo như con …ghẻ và thương túi tiền của bệnh nhân giàu.
  19. Đến nhà thương Mỹ mà lơ ngơ là có người hỏi han và nhiệt tình giúp đỡ dẫn đường tới tận nơi. Còn đến nhà thương Mình mà lơ ngơ là có cả đám “cò” tới bắt mánh làm tiền.
  20. Về già Mỹ dắt chó đi dạo. Mình thì về già dắt cháu đi dạo. (Đúng với tui ghê)
  21. Người Mỹ rất thích nhìn vào mắt của người đối thoại. Người Việt thì quan niệm nhìn thẳng vào mắt người đối thoại là thất kính hoặc không lịch sự.
  22. Người Mỹ mà bấm còi xe là mắng xe khác đi ẩu không đúng luật. Còn người Mình bấm còi xe là xin đường.
  23. Người Mỹ lái xe tốc độ nhanh thì chạy lane trái. Thấy có người chạy sau nhanh hơn thì tự sang qua lane phải để nhường đường. Người Mình thì hay lạng lách tranh đường.
  24. Người Mỹ chạy xe hơi thấy xe 2 bánh hoặc người đi bộ là lách tránh xa. Người Mình thì mặc bây bây lo tránh, lỡ va quẹt gây tai nạn thì cán chết luôn.
  25. Mỹ già nhiều tiền là cho từ thiện, VN mình già nhiều tiền cho con cháu.
  26. Mỹ thấy ai bị tai nạn ngoài đường thì nhào vô giúp, VN mình thấy ai bị nạn phần nhiều tránh xa để khỏi bị đổ thừa…….
  27. Mỹ bỏ rác vô túi quần đem về, mình thì cứ bỏ ngay tại chổ.
  28. Mỹ lái xe có trật tự, mình mua hết Orange County California nên mình muốn lái xe sao cũng được (ở OrangeCounty).
  29. Mỹ đi đám cưới là để chung vui, quà tặng tượng trưng. Mình đi đám cưới là phải tính toán sao cho coi được, nhất là bố mẹ đã đi đám con  mình, nay vừa mừng vừa trả nợ

32.Mỹ trong những ngày nghỉ ngoài đường vắng hơn, mình thì ngược lại !

33.Mỹ không hỏi tuổi hỏi lương. Mình thì hỏi tuổi để dễ xưng hô và sau đó hỏi lương bao nhiêu. Thiệt ngại quá xá.

  1. Ở Mỹ người dân nói xấu, chưởi Tổng thống không sao. Ở VN nói xấu, bắt chước lãnh đạo là đi ủ tờ.
  2. Mỹ không hỏi những câu hỏi personal question. VN mình hỏi tới bến luôn. Hu hu
  3. Mỹ chơi súng, Việt chơi dao!

37.Quân đội Mỹ chỉ chào nhau khi còn trong giờ làm việc, VN thấy sếp ở đâu cũng phải đứng dậy chào

  1. Mỹ: Cha mẹ tới thăm con cái thi ra hotel ngủ.. 

Việt: Cha Mẹ ở với Con Cái.

  1. Mỹ:  Tiền Vợ, vợ xài… Tiền Chồng, Chồng xài

Việt:  Tiền Vợ là của Vợ, Tiền Chồng cũng là tiền của Vợ

Jonathan Vu Nguyễn