STTD Tưởng Năng Tiến – Bác Tổng

Tưởng Năng Tiến

STTD Tưởng Năng Tiến – Bác Tổng

Trong Chuyện Kể Năm 2000, tập II (nxb Câu Lạc Bộ Tuổi Xanh, California – U.S.A ) nơi trang 254 có câu: “Đồng chí Tổng Bí Thư nói nếu nhìn một phụ nữ đẩy xe bò mà trong lòng không xúc động thì không còn phải là người cộng sản nữa.”

Tôi hỏi tác giả:

Ông TBT nào nói thế?

– Quảng Cáo –

Bùi Ngọc Tấn cười nụ:

Thì ông nào mà chả nói thế!

Hoá ra, tất cả mọi đồng chí TBT đều thương dân cả. Yêu nước cũng thế, cũng là thuộc tính bất biến của những người Cộng Sản (nói chung) và qúi vị TBT (nói riêng) theo như lời ông Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri – vào hôm 15 tháng 10 năm 2019:

“Hiện nay có một số phần tử cố tình kích động, to tiếng lên, lên gân lên, ra vẻ ta là anh hùng, ra vẻ ta là yêu nước, vậy còn Trung ương Đảng, Chính phủ, Tổng bí thư không yêu nước à? Vô trách nhiệm à?”

Nếu chỉ xét thời gian phục vụ thì quả là đúng thế. Chả thế mà ông Hồ Chí Minh hy sinh làm Chủ Tịch Đảng đến 24 năm trời, ông Lê Duẩn tại vị tới 25 năm, và ông Trường Chinh thì cũng chỉ vì dân vì nước mà phải nhận chức TBT đến hai lần lận.

Nhiệt tình cách mạng của qúi vị lãnh đạo cộng sản VN, rõ ràng, khó ai có thể phủ nhận. Chỉ có cái cách yêu nước và thương dân của họ mới là điều khiến cho thiên hạ phải phàn nàn, hoặc …đảo điên luôn:

Chỉ riêng phong trào Cải Cách Ruộng Đất, do ông Hồ Chí Minh nhập cảng từ nước lạ, đã khiến cho gần trăm ngàn nông dân VN bị hành hình. Ở bình diện quốc tế, cùng với Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot, Lenin, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Saddam Hussein… ông có tên trong danh sách (History’s Great Monsters) tội phạm chống lại nhân loại.

Ông Lê Duẩn cũng thế, cũng có tên trong danh sách tội phạm chống lại nhân loại ở mức đại trà (massive crimes against humanity). Ông nổi tiếng là người chủ chiến: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc …”

Cùng với Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ, Lê Duẩn còn đánh luôn đồng đảng cho đến mức te tua hay bầm dập. Dù cả hai ông đều đã chết, chiến tích của Cuộc Đấu Tranh Chống Bọn Xét Lại vẫn còn sống âm ỉ trong lòng nhiều người dân Việt cho mãi đến hôm nay.

Tuy thời gian giữ chức TBT không dài nhưng ông Đỗ Mười vẫn để lại dấu ấn khó phai, qua hai trận đánh đẹp, có thể ghi thành sách: đánh tư sản ở miền Bắc (sau 1954) và ở miền Nam (sau 1975) khiến hằng triệu lương dân kẻ phải lâm vào cảnh tán gia bại sản.

Ngoài những thành tích dị biệt có tính cách cá nhân (thượng dẫn) điểm chung nổi bật trong cách quản trị và điều hành của tất cả các ông TBT là đều khiến cho đất nước trở nên … thiếu thốn và đói rách:

– Một năm hai thước vải thô

Làm sao che nổi cụ Hồ hỡi em?

– Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại

Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai

Chanh, muối, cam, đường, lạc, đỗ, gạo, khoai

Tất cả những gì người có thể nhai

Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại (NCT)

Thời chiến hay thời bình “miếng thịt” cũng đều như thế cả. Có khác chăng là chỉ ở mức độ “vĩ đại” mà thôi. Tuy thế, mãi cho đến khi giữ chức vụ TBT lần hai – từ năm 1986 cho đến khi nhắm mắt – Trường Chinh mới biết là “lương của công nhân viên chức chỉ đủ để sống cho mười ngày” và bèn hô hoán:“Phải cứu giai cấp công nhân!”

Trường Chinh qua đời vào năm 1988, một phần ba thế kỷ đã qua, đất nước đã “sang tay” thêm nhiều đời TBT (thương dân – yêu nước) khác nhưng giai cấp công nhân vẫn chưa … được cứu. Họ vẫn cứ phải chung đủ “14 loại thuế phí qua một quả trứng gà” y như đám nông dân, hay công nhân viên nhà nước vậy thôi.

Nét đặc thù hay độc đáo của triều đại Nguyễn Phú Trọng là đã tạo ra một giai cấp mới mà ông là … tác nhân chính:

“Chiều 18-1-2011, khi điều khiển phiên họp toàn thể của Đại hội Đảng lần thứ XI biểu quyết lựa chọn giữa “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất” và “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, ông Nguyễn Phú Trọng hứa với Đại hội “thiểu số sẽ phục tùng đa số”. Nhưng, tháng 5-2012, Ban Chấp hành Trung ương mà ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư vẫn quyết định duy trì “chế độ công hữu” với đất đai, “tư liệu sản xuất” quan trọng nhất.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Từ đó, Việt Nam trở nên một “cường quốc của dân oan.” Giới người này vật vạ, la lết, lang thang, vất vưởng trên khắp mọi nẻo đường đất nước hoặc “co dúm thút thít” trong mảnh đất (còn lại) mà diện tích chỉ đủ dựng một túp lều, kỳ dư đã bị thu hồi với giá đền bù “mỗi m2 bằng giá một… cốc bia” – theo như ghi nhận của blogger Đào Tuấn.

Từ Thủ Thiêm, dân oan Nguyễn Thùy Dương cho biết:

Người đàn ông trong ảnh đang ngủ dưới nền đường nhựa nhỏ. Bà con có biết vị trí đó là ở đâu không ạ ? Đó là trước con đường độc đạo đi vào cổng Thanh Tra Chính Phủ cụm 3 tại thành phố Hồ Chí Minh. Để tôi kể bà con nghe vài kiếp người ở con đường độc đạo ấy .

Có một bà ngoại già hơn 80 tuổi sáng nào cũng đeo tấm bảng đòi nhà hơn chục năm qua . Bà là dân vô gia cư mất nhà do một chính sách chỉ có chính và sách là chính còn chữ tình thì tôi chưa thấy .

Một cô giáo đã nghỉ dạy sẽ ngồi kế bên bà ngoại. Trên ngực cô cũng đeo một tấm bảng đòi nhà, đòi con. Ở chế độ cũ gia đình cô thành lập trường tư thục ngay trên chính mảnh đất của mình. Thống nhất đất nước, chính sách thay đổi. Đất làm trường toàn bộ thuộc đất công. Họ thu hồi đất cô, cô ko đồng ý. Một buổi sáng năm 1997 trong lúc cô đang dạy học, Họ kéo rất đông đến nhà cô cưỡng chế.

Con trai cô lên 9 tuổi bị bệnh nên nằm nghỉ ở nhà. Họ vẫn mặc đứa trẻ, họ lao vào cưỡng chế. Đứa trẻ sợ quá lên cơn co giật đến khi mẹ về nó đã nằm đó. Người nó nóng ấm dịu trên tay mẹ. Cô ôm con gào thét. Họ vẫn cưỡng chế. Họ đền nhân mạng đứa nhỏ vài chục triệu rồi lấy nhà. Hơn 20 năm nếu đứa trẻ ngày ấy còn sống có lẽ đã trở thành một thanh niên vạm vỡ làm chỗ dựa cho mẹ già.

Câu nói của cô từng ám ảnh tôi:

– Sao họ ko giết cô chết luôn để cô sống chi mà đau khổ vậy? Cô muốn ôm con cô

Tôi cười với cô, nói: Cô ôm con một cái được không?

Cô ôm tôi rồi khóc, tôi vừa dỗ cô cũng vừa khóc. Cảm giác mình bất lực đến tận cùng…

Thỉnh thoảng có một cô người đen đủi đội nón lá, ngực đeo tấm bảng trình bày nỗi oan khuất. Cô bị cướp đất, bỏ tù. Ra tù về đất mất, vô gia cư. Cô ngày chửi, trưa chửi, tối chửi. Vừa đi nhặt ve chai kiếm đồng tiền đắp đổi. Muốn biết lòng người lãnh đạo hãy nhìn số lượng dân oan sẽ rõ. Đừng hỏi ai yêu nước, ai không?

Khi Lenin nói rằng lòng nhiệt tình cộng với sự ngu dốt bằng sự phá hoại – xem chừng – chính y cũng không thể ngờ được rằng tác phẩm bất hủ (Chủ Nghĩa Marxist Leninist Vô Địch Muôn Năm) của mình sẽ tạo ra một cái cơ chế “ghế ít đít nhiều” nên cái đít nó nhớ cái ghế, thế thôi, chứ có thằng (hay con) mả mẹ nào có nhiệt tình hay nhiệt huyết gì ráo trọi.

(Lại) Ba Người Khác – STTD Tưởng Năng Tiến

STTD Tưởng Năng Tiến

Nguyễn Đức Sơn
(Nguồn: nguyenmienthao.blog)

Tôi định có một ngày nào thật thảnh thơi
Leo lên trời
Ỉa.

(Nguyễn Đức Sơn)

Tác giả những câu thơ vừa dẫn, người có biệt danh là Sơn Núi, hiện đang tha thẩn đâu đó, trong khu rừng Đại Bình, ở B’ Lao. Sống trên núi cao, khi thảnh thơi, muốn leo lên trời (ỉa) quả là điều rất tiện.

Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao đến hai ngàn bốn trăm mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều.

Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.

Sau khi cuốn Ba Người Khác đã xuất bản một thời gian khá lâu, được thiên hạ khắp nơi bàn tán cho tới chán, mãi đến ngày 9 tháng 4 năm 2007, ở mạng talawas mới thấy xuất hiện một bài viết về tác phẩm này – của một người dân miền núi: nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự.

Tuy chậm trễ (rành rành) như vậy mà tác giả không chịu vậy. Ông ấy vẫn cứ ồn ào, và lớn tiếng như thường:

Đến bây giờ tôi mới được đọc Ba Người Khác sau khi nhiều người đã đọc và có ý kiến. Tuy thế, đọc xong tác phẩm và những phát biểu góp ý phê bình, nhất là qua buổi toạ đàm về Ba Người Khác do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức ngày 22/12/06, tôi vẫn thấy có vấn đề mới được đặt ra, xuất phát từ tác phẩm, liên quan đến tác giả, các nhà phê bình và trí thức nói chung.

Những “vấn đề mới” được Tiêu Dao Bảo Cự nói rõ, ngay ở tựa bài là: “Sự Liêm Khiết Tinh Thần Và Cái ‘Dũng’ Của Người Cầm Bút Hay Bi Kịch Của Trí Thức Việt Nam.”

Ối Giời! Chuyện “Cái ‘Dũng’ Của Người Cầm Bút Hay Bi Kịch Của Trí Thức Việt Nam” thì chắc phải nói cho tới tết, hay (không chừng) tới chết!

Bà nội mẹ tui cũng không dám lạm bàn đến những vấn đề xa xôi (và lôi thôi) cỡ đó. Phận thường dân, tôi chỉ xin được đề cập đến vài khía cạnh (nho nhỏ) có liên quan đến đám dân thường, hay còn gọi là dân đen, thế thôi.

Một trong những câu hỏi mà Tiêu Dao Bảo Cự nêu lên trong bài viết của ông, nguyên văn, như sau:

… ba cái anh lăng nhăng, thứ ‘đồ ba láp, không biết từ đâu đến lại có thể làm nên những chuyện đảo lộn trời đất? Có thực như vậy không? Hay mọi người đều biết những tên khốn nạn này do Đảng Cộng sản phái xuống làm công tác cải cách và cho chúng quyền uy đến mức nhân dân khiếp sợ phải gọi chúng là “nhất đội nhì giời.” Không có Đảng Cộng sản, chúng nó có thể lộng quyền, tác oai tác quái làm những chuyện kinh thiên động địa như thế không? Đảng Cộng sản Việt Nam được ‘lịch sử giao phó sứ mạng lãnh đạo đất nước’ và trong chuyện Cải cách ruộng đất này Đảng đã làm theo sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với một phương thức tàn bạo, phi luân, làm đảo lộn mọi giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam và ảnh hưởng lâu dài trên lịch sử đất nước….

Tiêu Dao Bảo Cự và Nguyễn Đức Sơn trên rừng Đại Bình
(Nguồn: DCVOnline/Ảnh: Bao Loc Photo)

“Những tên khốn nạn” hay “đồ bá láp” là những đại danh từ mà Tiêu Dao Bảo Cự dùng để chỉ những cán bộ, trong đội Cải Cách Ruộng Đất. Nhà văn Nguyên Ngọc thì nhẹ lời hơn. Ông gọi họ là “ba cái anh lăng nhăng,” khi phát biểu trong buổi toạ đàm về Ba Người Khác:

“Hoá ra cái thảm kịch của đất nước, xã hội, là do ba cái anh lăng nhăng… Ba kẻ chẳng có kiến thức gì cả, tự nhiên làm đảo lộn hết cả xã hội…”

Trong những trang sổ tay trước, khi để cập đến “Tô Hoài Và Ba Người Khác”, tôi cũng đã (rụt rè) góp ý rằng:

“không hiểu sao ý kiến của Nguyên Ngọc về ba anh đội, ba nhân vật chính trong tác phẩm của Tô Hoài, lại khiến tôi nhớ đến những nhân vật chính khác – những người đã có thời mà quyền lực nhất họ nhì trời – trên sân khấu chính trường ở Việt Nam: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười…”

“Thì cũng đều là cái thứ ‘lăng nhăng’ và cũng chính là ‘thủ phạm’ đã làm ‘đảo lộn hết cả xã hội’ bằng nhiều chuyện kinh thiên động địa khác: Hợp Tác Hoá Nông Nghiệp, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Học Tập Cải Tạo, Kinh Tế Mới.”

Nếu chỉ kể tên Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười (như thế) thì e thiếu vì đã bỏ sót rất nhiều anh đội khác cũng tăm tiếng (và tai tiếng) chả kém ai – như Trường Chinh, Lê Đức Anh, Tố Hữu, Lê Khả Phiêu… Danh sách này còn dài nhưng, theo tôi, không nhất thiết phải hài tên tuổi của tất cả ra đây vì thời của các vị ấy đã qua – và phần lớn đều đã chết.

Việt Nam, có vẻ như, đã bước vào thời kỷ đổi mới. Dân chúng cũng đã có người, và đã có lúc, đặt ít nhiều hy vọng vào những khuôn mặt quyền lực mới. Ông Nguyễn Thanh Giang là một người như vậy:

“Hồi ông Nông Đức Mạnh mới nhậm chức Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam năm 2001, cũng như nhiều người khác, người viết bài này từng cảm nhận một điều gì đó như là sự ngưỡng vọng hoan hỷ trước hình ảnh ông ta xúc động đặt tay lên ngực khi nói lời tuyên thệ”.

Tưởng vậy nhưng không phải vậy. Tưởng như vậy là tuởng bở, tưởng lầm, và là tưởng năng thối. Nguyễn Thanh Giang không cần phải chờ lâu để biết ra như thế:

Vậy mà! Chỉ sau đấy hai ngày, công an Hải Phòng chặn đường bắt cựu chiến binh chống Pháp-chống Mỹ Vũ Cao Quận, dẫn độ ông về nhà khám xét rồi tống giam ông. Liên tục sau đấy là hàng loạt người bị câu lưu, bị tra vấn: Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nguyễn thị Thanh Xuân, Nguyễn Đắc Kính, Đào Quang Tiến, Hoàng Tiến, Dương Sơn, Dương Hùng, Nguyễn Đan Quế, Thích Quảng Độ, Lê Hồng Hà, Hà Sỹ Phu, Nguyễn Thanh Giang… Rồi Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn… lần lượt vào tù. Không khí nồng nực đến nỗi một phật tử đã tự thiêu ngay dưới chân một tượng đài lớn ở thành phố Đà Nẵng. Tổ chức “Quan sát Nhân quyền Quốc tế” gửi thư đề nghị các nhà tài trợ quốc tế cắt giảm tài trợ đối với Việt Nam, hạ viện Hoa Kỳ bỏ phiếu thông qua Đạo luật Nhân quyền cho Việt Nam với kết quả đa số tuyệt đối… Từ đấy, Việt Nam bị xếp vào một trong 13 nước kém nhất về tự do báo chí, ngôn luận và bị đưa vào danh sách các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt vì thiếu sót về tự do tôn giáo.

Sau khi đặt tin tưởng (hụt) vào ông Nông đức Mạnh, thiên hạ – trong cũng như ngoài nước – bèn dồn kỳ vọng vào … “hai người khác.” Ông Nguyễn Tấn Dũng được Jonathan Pincus, người đứng đầu Chương trình Phát triển Kinh tế của Liên Hợp Quốc ở VN, mô tả như là có khuynh hướng cấp tiến.

Tương tự, Nguyễn Minh Triết được coi là người chống tham nhũng. “Và theo nhận xét chung thì ông sẽ năng nổ hơn người tiền nhiệm, đặc biệt trong lĩnh vực cải tổ kinh tế và pháp luật, làm nền cho VN gia nhập tổ chức WTO trong năm nay” (“And there is a widespread perception he will be more active than his predecessor, particularly in implementing economic and legal reforms that pave the way for Vietnam’s accession to the World Trade Organization”) – theo nguyên văn như lời của Karl D John, qua bài “Vietnam’s South Takes Leadership Wheel,” đọc được trên Asia Times, số ra ngày 28 tháng 6 năm 2006.

Rồi Việt Nam gia nhập WTO thật. Và ngay sau đó qúi ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết … đã có ngay những hành động (cụ thể) để chứng minh cho cả thế giới biết rằng mọi người (lại) đều lầm ráo.

Đây là hiện trạng ở Việt Nam – vẫn theo như lời tường thuật của ông Nguyễn Thanh Giang, vào tháng 5 năm 2007 – qua bài viết thượng dẫn:

Đợt đàn áp mới này không kém phần dữ dội và còn đang diễn tiến khôn lường. Đàn áp, đàn áp …lại đàn áp vốn là lẽ sống của một chính quyền lấy chuyên chính vô sản làm tôn chỉ.

Tuy nhiên người ta không thể không đặt nhiều câu hỏi về lý do, mức độ, mục đích của cuộc đàn áp này.

Trước hết là vấn đề thời điểm.

Vì sao đem xử linh mục Nguyễn văn Lý và một loạt: Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Hoàng Thị Anh Đào, Lê Thị Lệ Hằng ngay lúc Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đang đi Mỹ để dàn xếp hai chuyến thăm Hoa Kỳ đầu tiên của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trong khi đó, đoàn đại biểu Tòa thánh Vatican đang viếng thăm Việt Nam?

Vì sao còng tay, tống giam nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và bắt luật sư Lê Quốc Quân ngay sát trước ngày khai mạc cuộc Hội đàm Nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam tại Washington?

Vì sao đã dự kiến chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước vào 22 tháng 6 năm 2007 mà trong tháng 5/2007, đầu tháng 6/2007 lại đem xử án hàng loạt: luật sư Nguyễn văn Đài, luật sư Lê thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, doanh nhân Trương Quốc Huy và săn lùng tán loạn những: Trương Quốc Tuấn, Lê Trí Tuệ, Bạch Ngọc Dương …?

Vẫn là cái đồ ba láp, cái thứ lăng nhăng, khốn nạn.
(Nguồn: DCVOnline)

Sau chừng đó câu hỏi “tại sao,” ông Nguyễn Thanh Giang “tha thiết kêu gọi toàn dân, toàn Đảng” hãy “cảnh giác” về những thế lực và áp lực của Trung Cộng qua những việc làm tàn bạo và thất nhân tâm – của Đảng CSVN – như ông vừa kể.

Khi nhìn lại những hành động “tàn bạo, phi luân” của Đảng CSVN, hồi nửa thế kỷ trước, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự cũng thấy có vấn đề y như vậy:

Đảng Cộng sản Việt Nam đựợc “lịch sử giao phó sứ mạng lãnh đạo đất nước” và trong chuyện Cải cách ruộng đất này Đảng đã làm theo sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với một phương thức tàn bạo, phi luân, làm đảo lộn mọi giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam và ảnh hưởng lâu dài trên lịch sử đất nước…”

Lịch sử đang lập lại chăng? Xin đừng nói (đại) như vậy mà tội nghiệp cho… lịch sử! Thời Cải Cách Ruộng Đất đã qua bao giờ đâu mà lập lại, cha nội!

Qúi ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết… – rõ ràng – ăn mặc (cũng như ăn nói) có dễ coi và dễ nghe hơn những anh đội trong thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất nhưng cách hành xử, và bản chất của họ thì vẫn y chang như vậy. Vẫn là cái đồ ba láp, cái thứ lăng nhăng, khốn nạn. Nói tóm lại là cả nước lại vừa có thêm ba người khác nữa, thế thôi.

Tưởng Năng Tiến

S.T.T. D Tưởng Năng Tiến – Tại Nó Chớ Ai

Tưởng Năng Tiến

Có lẽ không người ngoại quốc nào đã để lại ấn tượng sâu đậm nơi nước Việt, như bác Lê Nin. Chỉ riêng bức tượng của Người tại Hà Nội (thôi) cũng đủ khiến cho lắm người thắc mắc: Ông Lênin ở nước Nga/ Cớ sao ông đến vườn hoa nước này?

Cớ sao ư?

Báo Nhân Dân, số ra ngày 23 tháng 04 năm 2010, nêu rõ:

“Sự gặp gỡ của Nguyễn Ái Quốc với chủ nghĩa Lê-nin là một cuộc gặp lịch sử… Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi tưởng: Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên.”

Sau đó, sau khi “phát khóc” và lau nước mắt/nước mũi xong, bác Hồ liền thỉnh ngay bác Lê về thờ nên mới có Suối Lê Nin (với Núi Các Mác) cùng hình ảnh – cũng như tượng đài – của cả hai ông trưng bầy khắp mọi nơi, để lập ra một tôn giáo mới, thay thế cho Phật/Chúa/Thánh Thần/Ông Bà/Tiên Tổ … các thứ.

Ngoài Lenin và Karl Marx, bác Hồ còn “nhập khẩu” nhiều vỹ nhân khác nữa (Engels, Stalin, Mao Zedong …) và tất cả đều được “mạ đồng/mạ kền” sáng chói khiến không ít người dân Việt đã hết lòng sùng kính :

“Năm ấy anh mười tám tuổi. Cả làng đói lăn chiêng. Ai cũng lo đi kiếm miếng ăn hàng ngày. Thế mà bỗng nhiên anh đi biền biệt suốt nửa tháng trời, đêm không ngủ ở nhà. Thỉnh thoảng anh mới về nhà lấy cái quần cái áo, rồi lại đi ngay…

Có một lần nhà vắng người, anh rút trong người ra một cuốn sổ to bằng bàn tay, dày chừng một trăm trang, rồi bảo tôi ngồi ngay ngắn trên ghế đẩu, đưa cuốn sổ cho tôi xem. Anh không cho tôi sờ tay vào, mà tự tay anh giở từng trang.

Tôi hồi hộp dán mắt vào: Chà, thích quá, toàn ảnh, trang nào cũng dán vài tấm ảnh. Những tấm ảnh thiêng liêng: Các Mác, Ăng- ghen, Lê-nin, Mao Trạch Đông, Sta-lin … (Võ Văn Trực. Cọng Rêu Dưới Đáy Ao. NXB Hội Nhà Văn: Hà Nội, 2007. Bản điện tử do talawas thực hiện).

Cái đám “cầm lái vỹ đại” này chỉ hết “thiêng liêng” sau khi bào huynh của tác giả – Võ Quang Hiền – tham gia vào Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất (1953 – 1956) ngay tại làng quê của mình. Từ đó, ông “tự diễn biến/tự chuyển hóa” rất nhiều và cũng rất nhanh :

“Con đường tham gia công tác xã hội của anh xuống từng nấc thang: sĩ quan quân đội, cải cách ruộng đất, cán bộ thông tin xóm, Đảng viên trơn… và cuối cùng là phó thường dân!

Tưởng là ‘dứt bỏ đường công danh’, vui thú điền viên tham gia việc làng việc xóm cho vui, đến bây giờ anh mới nhận thức ra rằng việc làng việc xóm cũng là việc xã hội, mà làm ‘việc xã hội’ là thế nào cũng bị va chạm, xô xát.

Anh hoàn toàn dành thì giờ lo việc gia đình nhưng vẫn bị Đảng uỷ để ý, cho là ‘phần tử bất mãn’, là ‘cố ý chống đối’… Thì ra cái ‘cọng rêu dưới đáy ao’ mà anh tưởng là ‘yên thân’ như các nhà nho ngày trước, có ngờ đâu cái cọng rêu ấy trong thời buổi này cũng phải đối mặt với mọi biến động của xã hội…”

Chung cuộc, kẻ “bất mãn” và “cố ý chống đối” bị các đồng chí của mình … “hành” cho đến chết luôn :

“Tôi đặt lên ngôi mộ tấm ảnh của anh – không phải tấm ảnh gày gò của ông lão sáu mươi, mà là tấm ảnh người thanh niên cường tráng những năm tháng hào hùng ở Việt Bắc: mặc áo trấn thủ, đội mũ lưới đính quân hiệu. Hàng trăm cặp mắt chăm chăm nhìn vào tấm ảnh, chợt thức dậy trong tiềm thức của họ những kỷ niệm về anh và về làng xóm thuở Cách mạng sơ khai.”

Nhà văn Võ Văn Trực quả là khéo nói (hay khéo lách) chớ cách mạng thì bao giờ mà chả thế – bất kể “sơ khai” hoặc “thoái trào” – và lúc nào mà không “chuyên chính” với những kẻ đi trật đường ray Cộng Sản.

Vi Đức Hồi – nguyên trưởng ban tuyên giáo, giám đốc trường đảng, thường vụ huyện ủy huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn – là một nạn nhân tiêu biểu của Đảng và Nhà Nước VN, vào giai đoạn “thoái trào” này. Tuy thuộc thế hệ đến sau nhưng ông vẫn trưởng thành với niềm tin (hừng hực) không khác chi lớp tiên phong.

Hồi ký (Đối Mặt) của ông ghi lại không ít những câu chữ “sung sướng” đến ngất ngây:

“Khi tôi đọc cương lĩnh đầu tiên của đảng năm 1930, tôi thật sung sướng vì đảng chỉ ra rằng: Khi cách mạng giải phóng dân tộc thành công, đảng đưa cả nước ta tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Xã hội mà đảng hướng tới là một xã hội đỉnh cao của sự văn minh nhân loại, ở đó sẽ không còn chế độ người bóc lột người, mọi người sống với nhau bình đẳng bác ái, nhà nước là của dân, do dân và vì dân…”

Nội dung Cương Lĩnh Đầu Tiên của Đảng (ta) e chỉ là bản copy Luận Cương Của Lenin thôi chớ không có chi khác cả, ngoài vài chỗ ngắt câu, và mấy dấu chấm phẩy. Bởi thế nên Vi Đức Hồi không “sung sướng” được luôn, và cũng chả được lâu.

Những trang sau trong cuốn hồi ký Đối Mặt, không thiếu những cụm từ vô cùng cay đắng: “đảng nói không biết ngượng, đảng nói một đàng làm một nẻo, đảng nói như hát hay…”

Mỗi lúc ông một thêm xa lánh Đảng, rồi trở nên “đối mặt” với nó, và bị khai trừ. Sau đó – cũng như ông Võ Quang Hiền, hồi giữa thế kỷ trước – Vi Đức Hồi cũng quyết định biến mình thành một “cọng rêu dưới đáy ao,” nơi làng quê khốn khó của mình :

“Quê tôi, một trong những Xã nghèo nhất Nước ta, là một trong 9 Xã của Tỉnh Lạng sơn và là một trong hai Xã duy nhất của Huyện Hữu lũng chưa có bóng dáng điện lưới quốc gia; là Xã vùng sâu,vùng xa, Xã đặc biệt khó khăn …

Tôi mua được một chục cặp lợn con, giúp cho 10 hộ nghèo nhất ở làng tôi để họ chăn nuôi, khi nào lợn xuất chuồng bán thì hoàn trả gốc cho tôi, để tôi chuyển cho hộ khác. Nhiều người phấn khởi, nhận lợn và cảm ơn.

Tin này Xã báo cáo Huyện… Thường trực Huyện uỷ triệu tập cuộc họp cán bộ chủ chốt ở xã Tân lập (quê tôi) để nghe cơ sở báo cáo tình hình. Huyện uỷ quán triệt: đây là một trong những âm mưu rất nguy hiểm của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, hơn lúc nào hết, chúng ta phải nêu cao cảnh giác cách mạng, chặn đứng mọi hành động nhằm lôi kéo quần chúng nhân dân, gây mất ổn định an ninh chính trị…”

Thế là thay vì trở thành một cọng rêu để có thể được nằm yên dưới đáy ao, Vi Đức Hồi phải nằm trong lòng nhà tù cách mạng.

Câu chuyện của các bác Mác/Lê qua hai thế hệ người Việt thượng dẫn (tưởng) cũng đã đủ ê chề nhưng chưa hết. Cuối tháng 9 năm 2021, báo đài Nhà Nước đều đồng loạt và hớn hở loan tin:

– Về cậu bé 10 tuổi đọc Lênin toàn tập: Hứng thú với sách như với đồ chơi, bánh kẹo

– Cậu bé 10 tuổi quyết tâm đọc toàn bộ Lê Nin toàn tập

– CẬU BÉ 10 TUỔI ĐỌC LÊNIN TOÀN TẬP

– Cậu bé 10 tuổi đam mê khám phá lịch sử, từ nhỏ đã đọc bộ Lê Nin

Con cái nhà ai mà quá đã (và quá đáng) vậy, Trời? Thiệt là vô phúc. Cũng tại NÓ hết trơn chớ còn ai vô đây nữa! Thế là thay vì trở thành một cọng rêu để có thể được nằm yên dưới đáy ao, Vi Đức Hồi phải nằm trong lòng nhà tù cách mạng.

Câu chuyện của các bác Mác/Lê qua hai thế hệ người Việt thượng dẫn (tưởng) cũng đã đủ ê chề nhưng chưa hết. Cuối tháng 9 năm 2021, báo đài Nhà Nước đều đồng loạt và hớn hở loan tin:

– Về cậu bé 10 tuổi đọc Lênin toàn tập: Hứng thú với sách như với đồ chơi, bánh kẹo

– Cậu bé 10 tuổi quyết tâm đọc toàn bộ Lê Nin toàn tập

– CẬU BÉ 10 TUỔI ĐỌC LÊNIN TOÀN TẬP

– Cậu bé 10 tuổi đam mê khám phá lịch sử, từ nhỏ đã đọc bộ Lê Nin

Con cái nhà ai mà quá đã (và quá đáng) vậy, Trời? Thiệt là vô phúc. Cũng tại NÓ hết trơn chớ còn ai vô đây nữa!

S.T.T.D TƯỞNG NĂNG TIẾN – HOÀNG CHÍ BẢO

Posted by nguyenlieu01 on Tháng Một 14, 2023

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Hoàng Chí Bảo

 

Tui nghèo tiền của nhưng luôn luôn rất giầu tình cảm, và vô cùng đa cảm nên hay yêu thích những câu thơ cùng những nhà thơ (lãng mạn) ngay từ thuở thiếu thời:

  • Ôi! nắng vàng sao mà nhớ nhung!
    Có ai đàn lẻ để tơ chùng?
     Huy Cận
  • Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió,
    Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây. 
    Xuân Diệu

Mãi đến già – và cho tới khi gần chết, như vào lúc này đây – tôi mới biết ra rằng nhị vị tác giả của những câu thơ thượng dẫn chả ai lãng mạn (hay vẩn vơ) gì ráo trọi, theo như lời của nhiều người cầm bút khác:

  • “Hai ông bạn, có chỗ này quả là giống nhau: cùng ăn rất khoẻ và chỉ thích thịt cá, trứng vịt lộn, nghĩa là những thứ nhiều prôtit… Tôi thấy Xuân Diệu rất thích uống bia và húp trứng sống. Khi anh mất, Vũ Tú Nam nói, Xuân Diệu đã bồi dưỡng nhầm là vì thế. Huy Cận cũng vậy. Phải nói là tham ăn.” (Hồi Ký Nguyễn Đăng Mạnh).
  • “Lần đi Hồng Gai ấy, lúc trở về Hà Nội, ghé một quán phở mậu dịch sơ tán dọc đường, Huy Cận tươi cười hỏi cô bán phở đang thái tảng thịt chín: Cô thái thịt rất khéo, cô có muốn tôi đọc thơ cô nghe không? Cô mậu dịch viên lúng túng không biết trả lời sao… Huy Cận nói thêm, vẫn giọng tếu táo: Thế cô có nhận ra tôi không đã, tôi là Huy Cận, cô đi học đã học thơ Huy Cận chưa? Tôi sẽ đọc thơ tặng cô, nhưng cô phải cho bát phở Huy Cận nhiều thịt.” (Giai Thoại”. Vũ Quần Phương).
  • “Chắc cháu biết thi sĩ Xuân Diệu, ông ta không có công tác gì nhiều, ‘cái cần câu cơm’ của ông là bài thuyết trình ‘Đạo Đức Bác Hồ’ và ‘Tiết Kiệm Để Sản Xuất.’ Hai bài thuyết trình nối với nhau bởi một đoạn kể chuyện Bác Hồ dạy người cần vụ đặt miếng xà-phòng sau khi tắm lên viên gạch để xà-phòng ráo nước, cứng, lâu hao mòn.

Một hôm nhà máy phân bón nơi tôi làm việc, được chỉ thị đón nhà thơ Xuân Diệu đến thuyết trình. Đảng cử đồng chí giám đốc và tôi đi đón, trên đường thi sĩ Xuân Diệu nói: Tôi nói chuyện với nhà máy thì cũng quá trưa, vậy trưa nay nhà máy cho tôi ăn gì nào? Gà nhé?

Một lúc sau, thi sĩ Xuân Diệu lại lên tiếng: ‘Có ăn trưa rồi thì phải có uống chứ? Mà ngay lúc tôi nói cũng phải có gì cho tôi giải lao nhé, thôi để tôi gợi ý cho các đồng chí là cho tôi uống bia nhé? Uống nước lã tôi hay đau bụng.”

(Nguyễn Chí ThiệpTrại Kiên Giam. Los Angeles, CA: Sông Thu, 1992).

Chứ có mấy “nhà thơ cùng thế hệ” (và sống cùng nơi) với “ông ấy” mà không thèm ăn uống?

Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại!
Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai
Chanh, muối, cam, đường, lạc, đỗ, gạo, khoai
Tất cả những gì người có thể nhai
Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại

Mà Đảng thì “mó tới” có sót một thứ gì đâu nên ai cũng có thể gạ gẫm (năn nỉ hay vòi vĩnh) một miếng thịt gà, khi có dịp, chứ nào có riêng gì Xuân Diệu. Nhà thơ của chúng ta, chả qua, chỉ là một kẻ sinh bất phùng thời (thôi) nên đâu có chi để mà dè bỉu hay chê trách.

Cái thời bao cấp (thổ tả) ấy, may quá, đã xa như dĩ vãng. Sau khi Đảng dũng cảm nhìn vào sự thực, quyết tâm đổi mới toàn diện, và cương quyết bẻ lái con tầu tổ quốc (theo hướng kinh tế thị trường) thì bộ mặt của xã hội đã hoàn toàn thay đổi – theo như nhận xét của T.S Nguyễn Hữu Liêm: “Nay dân chúng không còn ăn để no, mà phải ngon; mặc không chỉ đủ ấm, mà phải đẹp. Chúng ta phải công bằng ghi cho Nhà nước VN điểm cộng.”

Thêm một điểm cộng nữa, cũng cần phải được ghi luôn, là sự đổi thay trong chính sách đãi ngộ của Đảng đối với văn nghệ sỹ và trí thức mà tiêu biểu là trường hợp của G.S, T.S Hoàng Chí Bảo.

Ông tiến sỹ cũng chuyên nghề kể chuyện về cuộc đời (cần – kiệm – liêm – chính) của Hồ Chủ Tịch và được giới truyền thông của Nhà Nước tung hô (lên đến tận Giời) chứ không còn bị ghẻ lạnh, hay coi thường, như cái thời của ông thi sỹ nữa:

Pho Sử Sống Về Bác Hồ

Người Kể Chuyện Về Bác Hồ Hay Nhất

Người 26 Năm Kể Nghìn Chuyện Bác Hồ …

Không chỉ được vinh danh, và được chi trả hậu hĩnh, G.S Hoàng Chí Bảo còn được hưởng “đặc lợi” nữa cơ – theo như tường thuật của nhà báo Nguyễn Thông, qua một bài viết ngắn, xin ghi lại toàn văn (không sót một chữ nào) kể luôn cái tựa:

Đặc lợi 

Nhớ hôm ra sân bay TSN (hôm nào, nhà cháu chả khai lúc trốn trong đống rơm đâu) gặp sự này: Làm thủ tục vé xong, nhà cháu ra ngoài rìa đường làn A hút thuốc, dù biết “hút thuốc dẫn đến cái chết từ từ và đau đớn” như hãng Craven đã cảnh báo. 

Một cái xe biển xanh 80 xịch tới, một xe còi hụ cảnh sát bám đít cũng xịch. Nhân viên cung kính mở cửa xe 80, một ông già trán hói đồi mồi bước ra. Nhà cháu hay tò mò đọc báo nên nhìn là biết đích thị ai rồi. 

Ông giáo sư tiến sĩ dân quen gọi đùa là giáo sĩ tiến sư, nghề nghiệp chuyên… nói phét về cụ Hồ. Cả đám tiền hô hậu ủng đưa tiễn, có cả thượng tá công an, cung kính mang vác, dắt dẫn, đưa vào làm thủ tục ưu tiên. 

Thôi thì người già, kính lão đắc thọ, lại có tí danh tí quyền, cũng được đi. Chắc có nơi nào trong miền Nam chưa giác ngộ cách mạng, mời ngài vào để ngài thực thi nghề nghiệp. 

Tôi có ý chờ xem sao. Hút thêm điếu nữa, lại điếu nữa, rồi ngồi phệt xuống ngó hai chú tài xế đang bước tới bước lui sốt ruột. Cả nửa tiếng chả thấy ai ra, nhà cháu sợ trễ chuyện mình liền lò dò vào. Qua cửa an ninh, lên trên, thấy giáo sĩ, thượng tá và cả đám vẫn đang ngồi ăn uống. 

Chắc hai chú tài sẽ phải bồn chồn đi lại hút thuốc thêm cả gói nữa. Tôi không tị nạnh gì với giáo sĩ kia. Mình mà tiếng tăm như vậy có khi còn 5 – 7 xe hộ tống là đằng khác. Chỉ sực nhớ nơi này quy định rất rõ, dán cả chữ lên tường lên cột, rằng xe đưa khách tới nhà ga chỉ được dừng tối đa 5 phút. 

Nhớ lần trước đứa cháu chở tôi đi, xe cũ khó mở thùng sau, lúng túng lấy đồ, mà chưa đầy 5 phút đã có 2 chú công vụ to con đeo dùi cui tới đuổi quầy quậy. Nghĩ thương phận dân đen, ngay cả cái chỗ cần sự công bằng nhất cũng chả có công bằng. Hơn nửa tiếng đồng hồ, 2 cái xe biển xanh cứ chiếm chỗ, không đứa lực lưỡng dùi cui nào dám ngó tới, nói chi lại gần nhắc nhở. 

Tôi tận mắt chứng kiến nhưng không thèm chụp ảnh bởi những ảnh này chả bõ chụp, đã có camera ở đó ghi lại tất. Chỉ muốn nói rằng đặc quyền đặc lợi là thứ đặc sản của nhà cai trị ở xứ này, họ chỉ từ bỏ bằng mồm chứ thực tế không bao giờ bỏ được. 

Nghe tôi phàn nàn, người bạn bảo ở các nước dân chủ văn minh, giáo sư chứ ông giời cũng cứ phải như mọi người. Anh ấy còn kể thủ tướng Anh khi hết chức, rời tòa nhà ở phố Downing phải tự cùng vợ con vận chuyển đồ lên xe, tự lái xe về, đâu như mấy ông kễnh xứ mình. Chiếm chỗ như kiểu ở Tân Sơn Nhất vừa kể, pháp luật nó lại chả phạt cho lòi mắt ra. 

Nguyễn Thông – 27.09.2022

Bài báo thượng dẫn đã được nhiều trang mạng đăng lại cùng với vô số lời bình. Tất cả đều rất rườm lời (hoặc rất rườm rà) đọc mà phát mệt luôn. Chớ nói cho nó gọn (và cho nó lẹ) thì chỉ cần một từ là đủ: tởm!

Thái Lý Hạo Nam – Tưởng Năng Tiến

Sổ Tay Thường Dân- Tưởng Năng Tiến

Sau nhiều ngày, với nhiều “phương án cứu hộ” rất nặng phần trình diễn của nhà nước Việt Nam – chung cuộc – giới truyền thông của xứ sở này đã đồng loạt (và ái ngại) loan tin: “Bé Hạo Nam đã tử vong!”

T.S Nguyễn Phương Mai đặt câu hỏi (“Có bao nhiêu Hạo Nam còn sống?) và trả lời luôn:

“Bé Hạo Nam thuộc tổng số hơn 5 triệu trẻ em Việt Nam nghèo đa chiều (nghèo ở ít nhất 2 khía cạnh, theo thông tin và định nghĩa của UNICEF).

Bé 10 tuổi mà chỉ nặng có 20kg, nhỏ và có thể là thiếu dinh dưỡng đến mức nhiều người cho rằng việc bé lọt chân vào miệng ống có đường kính 25cm là điều không thể.

Bé cũng nghèo về mặt “cơ sở nhà ở”, nếu nhìn vào cái chòi rách tươm mà gia đình bé đang trú ngụ. Bé cũng nghèo về mặt “tiếp cận thông tin” khi những chương trình miễn phí tiền học, trợ giúp xã hội, những khoản thu“vì người nghèo” ta vẫn đóng cho tổ trưởng dân phố đã không đến đúng đối tượng, giải quyết đúng việc cần làm.

Đó là ta còn chưa biết liệu bé có nghèo về mặt y tế (được khám chữa bệnh, được tránh ảnh hưởng từ chất kích thích và việc hít khói thuốc thứ cấp từ người lớn), liệu bé có nghèo về mặt môi trường (có hố xí hợp vệ sinh, được dùng nước sạch, sống xa nơi xả rác thải, không hít khí ô nhiễm từ các công trình xây dựng và giao thông…), liệu bé có nghèo về mặt lao động (bé có phải góp công sức vào việc kiếm tiền trong tổng thu nhập của gia đình không).”

Câu hỏi cuối (“liệu bé có phải góp công sức vào việc kiếm tiền trong tổng thu nhập của gia đình không?”) khiến tôi nhớ đến những đứa trè Việt choắt cheo, đen đủi khác, quanh năm phơi thân giữa Biển Hồ lo phụ giúp bố mẹ trong mọi việc để kiếm ăn.

Tuổi thơ là món quà tặng quí giá của thế kỷ XX. Trước đó, nhân loại phải dồn hết nỗ lực vào việc mưu sinh nên phần lớn trẻ con chỉ là một người lớn thu nhỏ (miniature adult) với trách nhiệm đè nặng lên vai gần như bố mẹ. Món quà này, cho đến nay (tiếc thay) vẫn không đến được tay nhiều đứa bé Việt – trong đó có Hạo Nam.

Về hoàn cảnh của cháu, BBC cho biết thêm đôi ba chi tiết rất thương tâm:

“Bé Thái Lý Hạo Nam, 10 tuổi bị rơi vào bên trong cột bê tông rỗng tại một công trường xây dựng ở tỉnh Đồng Tháp vào trưa ngày 31/12 khi đang cùng các bạn đi nhặt phế liệu. Cậu bé đã rơi xuống cây cột bê tông hẹp, thẳng đứng có đường kính 25cm đã được đóng sâu xuống lòng đất.

Cha của cậu bé cho biết ông có nghe thấy tiếng kêu cứu của con mình khi lần đầu tới tìm kiếm ở khu vực này, nhưng sau đó âm thanh đã im bặt. Là con trai lớn trong gia đình có hoàn cảnh rất khó khăn nên cậu bé phải đi nhặt sắt vụn để phụ giúp cha mẹ.”

Cách đây chưa lâu, T.S Trần Đăng Tuấn (người chủ trương “Bữa Cơm Có Thịt” cho trẻ em ở vùng cao) cũng đặt một câu hỏi khác: “Nước mình nghèo, nhưng có đến mức này không?”

Câu trả lời có thể tìm thấy ngay được qua vài dữ kiện, cùng những con số:

  • Việt Nam gánh chịu tỷ lệ thuế phí GDP cao gấp từ 1,4 đến 3 lần so với các nước khác trong khu vực.
  • Trong 20 năm qua, Việt nam đã huy động được hơn 74 tỷ USD ODA đến từ nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế.
  • Theo công bố từ Ngân hàng Thế giới, năm 2019 , lượng kiều hối về Việt Nam ước đạt 16,7 tỷ USD.
  • Theo nhận định của Ngân hàng Thế giới, lượng kiều hối của Việt Nam năm 2021 dự báo tăng khoảng 4,5% so với năm 2020 (khoảng 18 tỷ USD), là quốc gia nhận kiều hối cao thứ ba ở châu Á với tổng giá trị chuyển về đạt 18 tỷ USD…
  • Gần 19 tỷ USD là lượng kiều hối ước tính đổ về Việt Nam trong năm 2022, cao hơn khoảng 1 tỷ USD so với năm trước đó.

Những “hàng tỷ” này cứ như từ trên Trời rớt xuống (ròng rã từ thập niên này/sang thập niên khác) đã được giới lãnh đạo VN chi tiêu ra sao cho an sinh xã hội, và cho phúc lợi của người dân – nhất là những công dân lão hạng?

Báo Điện Tử Của Đảng Cộng Sản Việt Nam long trọng thông báo: “Từ ngày 01/7/2021, người cao tuổi từ đủ 80 tuổi trở lên, không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng sẽ được hưởng trợ cấp xã hội là 360.000 đồng/tháng.”

Số tiền này có lẽ đủ để ăn 10 tô phở nhưng nhỡ cụ cao tuổi nào (buột miệng) gọi thêm một ly trà đá hay cái bánh quẩy nữa thì chắc thiếu, thiếu chắc. Tuy hưu bổng chỉ khiêm tốn (đến mức thảm hại) thế thôi nhưng không phải ai cũng được nhận đâuVnexpress (số ra ngày 16/11/2021) cho biết: “Trong số 13,4 triệu người già, khoảng 64,4% không có lương hưu và trợ cấp, phải sống dựa vào con cháu, người thân hoặc tiếp tục lao động mưu sinh.”

Tiếp tục cách nào?

Từ Sài Gòn, bỉnh bút Song May (BBC) tường thuật: “Người già ở Việt Nam được tạo mọi điều kiện trên giấy … nếu không nương tựa được con hay cháu thì thường phải bán vé số, lượm ve chai, bán hàng rong, giữ trẻ em cho nhà khá giả. Khá hơn thì họ có xe bán bánh mì, bán đồ ăn sáng, hoặc bán chè, cháo, đồ ăn vặt…vào chiều tối.

Không chỉ người độc thân mới tự bươn chải khi về già, ngay cả những người già có con/cháu vẫn phải mưu sinh, vì đa phần người trẻ nếu có đi làm thì cũng không đủ nuôi thân (mức lương trung bình 5 – 6 triệu đồng/tháng, trên dưới 200 USD) lấy đâu ra mà cưu mang cha mẹ già?”

Người già – tất nhiên – không phải là thành phần duy nhất phải “tự bươn chải” để “nuôi thân,” ở xứ sở này.

Phóng viên Mộc Lam (Tuổi Trẻ Online) tường thuật:

Trưa. Nắng gắt gỏng. Ngô Quốc Thống (học sinh lớp 5 Trường tiểu học số 1 Hòa Phú, H.Tây Hòa, Phú Yên) tay cầm xấp vé số rảo bước dọc đường Hồ Xuân Hương (Q.3, TP.HCM). Cứ thấy đông người là Thống ghé lại. “Chú ơi, chú mua vé số giúp cháu đi chú”, “Cô ơi, cô mua giúp con tờ vé số nghen cô”.

Thống kể không nhớ đây là lần thứ bao nhiêu được vào TP.HCM. “Chắc 5 hay 6 lần gì đó. Vì cứ hễ hè là vô đây bán vé số với mẹ. Mẹ cháu bán vé số trong này được 10 năm rồi. Mỗi lần cháu vô được vài tháng, nhưng chỉ đi bán vé số thôi chứ không có đi chơi đâu cả”, Thống nói.

Thống không phải là ngoại lệ. Bởi những đứa trẻ như Thống, hè là vào thành phố để mưu sinh, có rất nhiều. Vì lẽ đó mà vào lúc hè chưa đến, tuyến đường Hồ Xuân Hương hay các nẻo đường khác ở TP.HCM không nhiều trẻ em bán vé số. Đến thời điểm này, hằng ngày, những tiếng rao “vé số đây!”, những lời mời mọc “mua vé số giùm con” xuất hiện rất nhiều.

Đồng hương với Thống là Nguyễn Đình Phú (học sinh lớp 7 Trường THCS Trường Chinh, H.Đông Hòa, Phú Yên). Phú 13 tuổi mà người nhỏ thó, gầy gò. Phú cũng “được” vào TP.HCM để phụ gia đình kiếm thêm bằng việc bán vé số.

Không chỉ ăn bớt (ăn xén, ăn hớt, ăn giựt, ăn lường, ăn quỵt, ăn gian) phần của những người già ở Việt Nam, quý vị lãnh đạo ở xứ sở này còn cướp luôn miếng bánh trong tay của vô số trẻ thơ khác nữa mà bé Hạo Nam chỉ là một trong số hơn 5 triệuđứa – theo thông tin của UNICEF.

Ăn như thế mà không ai thấy ngượng (hoặc bị nghẹn) sao?

Tưởng Năng Tiến
1/2023

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đồng Tâm nhìn từ Rạch Gốc

Tưởng Năng Tiến

Báo Đàn Chim Việt

11/01/2023


____________________________________________________________________________________________________

Dù cũng đọc được lõm bõm một hai ngoại ngữ, tôi rất ít khi rớ tới một tờ báo hay một cuốn sách viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Lý do, chả phải là vì tôi có máu bài ngoại hoặc dị ứng với văn hoá thực dân (hay đế quốc) gì ráo trọi mà chỉ tôi chỉ thạo tiếng mẹ đẻ hơn nên rất ngại “đụng” đến tiếng nước ngoài.

Những người cầm bút của nước Việt tuy viết dở hơi nhiều nhưng viết hay cũng đâu có ít. Đọc họ sướng muốn chết, và đọc mệt luôn cũng chưa hết chữ nên bận tâm làm chi đến những tác giả ở tận đâu đâu.

Cả ngày hôm nay tôi xem say mê bút ký Đồng Bằng của nhà văn Nguyên Ngọc. Ông viết như nói vậy đó: lưu loát, tươi cười, bình dị nhưng thâm trầm và lôi cuốn. Thản hoặc, cũng có đôi đoạn hơi cường điệu (hay nói nguyên văn theo cách dùng từ của chính ông là “gồng lên”) nhưng rất ít. Tôi xin phép sẽ đề cập đến sau, khi có dịp.

Riêng hôm nay, xin mời mọi người xem chơi đôi ba đoạn ngắn, Nguyên Ngọc viết về chuyến đi của ông đến miền đất cực Nam của quê hương (Cà Mau) nơi mà T.B.T Lê Duẩn đã từng nương náu.

Khi ghe cặp bờ, tác giả cùng bạn đồng hành được ông Hai Phốc – Chủ Tịch Xã – đón tiếp vô cùng nồng nhiệt. Hai người, nhân dịp này, cũng tìm biết thêm được không ít chuyện thú vị về cuộc khởi nghĩa ở Hòn Khoai (Rạch Gốc) hồi năm 1940:

“Sau thất bại Nam Kỳ Khởi nghĩa, mấy chục ngư dân Rạch Gốc – Cà Mau đều phải đi tù Côn Đảo, về sau Hai Phốc kể với tôi, mấy chục người ấy đã có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu, ở tù Côn Đảo họ chỉ làm một nhiệm vụ: mỗi khi ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng và các ông đầu lĩnh cộng sản bị mang ra đánh thì các ông xông ra chịu đòn thay. Có người bỏ mạng ở Côn Đảo, như cha anh Hai Phốc, còn sống trở về đâu không được mươi người, nay chỉ còn mỗi ông Hắc Hổ.”

Thất bại là mẹ thành công nên sau nhiều lần “khởi nghĩa” bất thành – chung cuộc – cách mạng cũng đã “giải phóng” được cả hai miền Nam/Bắc, thống nhất giang sơn. Sau đó, bác Lê say sưa với chiến thắng nên không có dịp trở lại chốn xưa để thăm lại các ngư dân đã nuôi dưỡng ̣(và bảo vệ) mình nhờ vào “vô số kênh rạch chi chít và bí hiểm” ở Cà Mau.

Bác Tôn, xem ra, nhàn nhã hơn thấy rõ:

“Ngoài việc dự các nghi lễ long trọng bắt buộc phải có mặt cụ, cụ không làm việc gì khác ngoài một việc cụ thích thú hơn cả là sửa xe đạp. Làm phó chủ tịch nước, ông thợ máy ngày trước buồn tay buồn chân. Hết xe đạp hỏng cho cụ chữa, anh em bộ đội bảo vệ và nhân viên phục vụ phải lấy xe của người nhà mang vào cho cụ kẻo ngồi không cụ buồn. Thương cụ quá, đôi khi họ còn làm cho xe trục trặc đi để dắt đến nhờ cụ sửa giùm.” (Vũ Thư Hiên. Đêm Giữa Ban Ngày. Văn Nghệ. Westminster, CA: 1997).

Tuy rất rảnh “nhưng ông thợ máy ngày trước” chỉ tìm vui trong việc sửa xe (đạp) để giết thời giờ, từ năm này sang năm khác, chứ cũng chưa lần nào ghé qua Rạch Gốc để thăm hỏi những kẻ đã chịu đòn thay cho mình ngoài ở Côn Đảo – năm nào.

Bác Bằng cũng xử xự y như thế:

“Khi Nguyễn Lương Bằng vượt ngục Sơn La ông được một thanh niên người Thái trắng dẫn đường. Đưa ông đi khỏi địa phận Sơn La xong, trở về nhà anh bị Pháp bắt đem chặt đầu.

Tôi đã tới bản Giảng, cách nhà tù Sơn La vài cây số, vào mùa thu năm 1965, để thăm gia đình anh thanh niên nọ. Trong ngôi nhà sàn xiêu vẹo chỉ còn lại bà mẹ anh, một bà lão lẩm cẩm, điếc lác, hỏi năm câu mới trả lời được một, câu trả lời lại chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.

Bác Cả Hà Đông của tôi chưa một lần trở lại bản Giảng để thăm hỏi bà lão tội nghiệp. Rõ ràng, ông là, hoặc đã trở thành, người không có ân nghĩa. (Vũ T. H. s.đ.d. tr. 314).

Đ…  mẹ nhân tình đã biết rồi!Lạt như nước ốc bạc như vôi.     

Ấy thế nhưng nói cho nó hết lẽ thì Bác Tôn và bác Bằng vẫn còn chút (nhất điểm) lương tâm. Cả hai chỉ bạc thôi chứ không đến nỗi ác. Bác Hồ thì khác. Bạc bẽo, độc ác, gian trá, thâm hiểm … và không hề từ bất cứ một thủ đoạn đê tiện hay bất nhân nào.

Mụ địa chủ Cát-hanh Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã: 

– Giết chết 14 nông dân. Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

 – Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người

– Năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là: Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng, Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!

(21-7-1953) C.B

C.B là một trong những bút danh của Hồ Chí Minh.  Còn Cát Hanh Long là ai?

Theo Wikipedia: “Nguyễn Thị Năm (1906 – 9 tháng 7 năm 1953, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội), là một địa chủ có công đóng góp tài sản cho Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc Cải cách ruộng đất, bà bị nông dân địa phương đấu tố là địa chủ gian ác và bị xử bắn. Bà nguyên là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên. Bà còn được gọi là Cát Hanh Long vì đây là tên một hiệu buôn do bà làm chủ ở Hải Phòng.”

Người trong cuộc cho biết thêm chi tiết:

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van ‘các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh’. Du kích quát: ‘Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!’ Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất…

Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: ‘Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

So với bản Giảng (Sơn La) hay Rạch Gốc (Cà Mau) thì Đồng Tâm (Hà Nội) chả là cái đinh gì sất cả. Bản thân ông Nguyễn Đình Kình cũng thế, cũng chả có thành tích gì đáng kể, chưa giúp được một đồng chí lãnh đạo nào vượt ngục, cũng chả chịu đòn thay cho bất cứ ai.

Đã thế, về đường lối chính sách thì Lê Đình Kình lại rất mù mờ. Năm mươi tám tuổi đảng mà chủ trương xuyên suốt (đất đai thuộc quyền quản lý của nhà nước) ông vẫn không thông. Do đó, thay vì bị khai trừ, ông bị khử trừ luôn không phải là chuyện lạ.

Tôi chỉ lạ ở cái thái độ phẫn uất của nhà văn Nguyên Ngọc, khi nghe ông gào thét: “Vụ án Đồng Tâm là một tội ác trời không dung đất không tha.”

Chứ chả lẽ cái chết thảm thiết của bà Cát Hanh Long và của hàng bao nhiêu triệu lương dân khác nữa (ở khắp ba miền đất nước, từ hơn nửa thế kỷ nay) thì đất/trời có thể dung tha được hay sao?

Một Bà Bình Khác – Tưởng Năng Tiến

Tưởng Năng Tiến

December 22nd, 2022

Báo Trẻ online

Thỉnh thoảng, giới truyền thông trong nước lại hốt hoảng loan tin:

– Khắp nơi dư cấp phó !

Hoặc:

– Dư thừa cấp phó khắp nơi!

Tuy được báo động đều đều như thế nhưng tình trạng “lạm phát cấp phó vẫn cứ diễn ra ở nhiều sở, phòng, ngành, tại không ít địa phương” –  theo như lời than phiền của phóng viên báo Lao Động.

Tình trạng này được ông Dương Văn Thống, Phó Bí Thư Tỉnh Yên Bái, lý giải như sau: “Anh em phân công nhau không được, hạ xuống không được. Người Việt Nam chúng ta là thế.” Thảo nào mà nước CHXHCNVN, đã từng có đến 17 ông Phó Thủ Tướng và năm/sáu bà (hay ông) Phó Chủ Tịch Nước cùng tại vị.

Vấn đề – chả qua – là vì “ghế ít đít nhiều” nên lắm đồng chí lãnh đạo đành phải ngồi ghế phó, thế thôi. Tuy thế, chả nghe vị nào lên tiếng phiền hà gì ráo và tất cả (ngó bộ) đều muốn ngồi luôn – dù chỉ là ghế súp.

“Với đám con cháu, cụ Tôn bảo: ‘Tụi bay đừng có kêu tao bằng phó chủ tịch nước, nghe ngứa cái con ráy lắm! Người ta đặt đâu tao ngồi đó, chớ tao không màng cái chức chi hết’. Ngoài việc dự các nghi lễ long trọng bắt buộc phải có mặt cụ, cụ không làm việc gì khác ngoài một việc cụ thích thú hơn cả là sửa xe đạp. Làm phó chủ tịch nước, ông thợ máy ngày trước buồn tay buồn chân.

Hết xe đạp hỏng cho cụ chữa, anh em bộ đội bảo vệ và nhân viên phục vụ phải lấy xe của người nhà mang vào cho cụ kẻo ngồi không cụ buồn. Thương cụ quá, đôi khi họ còn làm cho xe trục trặc đi để dắt đến nhờ cụ sửa giùm. Một người bạn tôi quen thân với cụ Tôn, cha anh trước kia là đàn em cụ, kể rằng một hôm anh đến thăm cụ, vào thời gian Nghị quyết 9, thì cụ dắt anh vào phòng riêng thì thào:

‘Mầy có thấy lính kín theo mầy tới đây không mầy?’ Anh ngạc nhiên quá. Tưởng anh lo lắng cho cụ, cụ mỉm cười hiền hậu:‘Là tao lo cho tụi bây, chớ tao hổng lo cho tao. Trong nhà tao nè, lính kín hổng có thiếu.”  (Vũ Thư Hiên. Đêm Giữa Ban Ngày. Văn Nghệ. Westminster, CA: 1997).

Tuy “nghe ngứa con ráy lắm,” và đôi khi cũng cảm thấy (đôi chút) ngượng ngập vì chức vụ hữu danh vô thực nhưng bác Tôn vẫn cứ ngồi im re ở cái ghế Phó Chủ Tịch Nước từ 1960 cho đến mãi 1969 lận!

Bác Bằng cũng thế :

“Ông tiếp mẹ tôi trên gác ngôi nhà có công an canh gác, nói những lời an ủi vô thưởng vô phạt. Tiễn mẹ tôi xuống nhà, khi đã ra đến vườn rồi, tin chắc không còn bị nghe trộm nữa rồi, ông mới hứa sẽ đặt vấn đề ra trước Trung ương để Trung ương xem xét …

Lời hứa của ông chẳng bao giờ được thực hiện. Ðịa vị cao sang và nỗi sợ hãi trước Lê Ðức Thọ đã làm tâm hồn người chiến sĩ cách mạng nổi tiếng năm xưa tê liệt. Mẹ tôi kể rằng trong những lần bà tới gặp Nguyễn Lương Bằng, bà thấy ông biết nhà ông bị gài rệp.” (Vũ T. H. s.đ.d. tr. 361).

Ấy vậy chớ người Anh Cả Cách Mạng cũng vẫn yên vị với cái chức danh Phó Chủ Tịch Nước đúng mười năm chẵn, dù biết rằng cái ghế này có rệp.

Thế mới biết lợi danh – hay người xưa còn gọi là cái bả vinh hoa – luôn là miếng mồi hấp dẫn đối với chúng sinh, bất kể thời nào, và bất phân giới tính. Bà Bình cũng ngồi êm ru ở cái ghế PCT, dù chỉ ngồi chơi/xơi nước (đâu) cũng cỡ chục năm – chớ đâu có ít!

Theo Wikipedia Hà Nội: “Nguyễn Thị Bình (sinh năm 1927) là một nữ chính trị gia người Việt Nam. Bà nổi tiếng trên thế giới khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Bà là một trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định…

Năm 1992, tại kỳ họp Quốc hội khóa IX, bà được bầu làm Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và giữ chức vụ này liên tục trong 10 năm (1992-2002). Bà là người phụ nữ Việt Nam thứ hai giữ chức vụ phó nguyên thủ và là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên giữ chức vụ Phó chủ tịch nước. Năm 2001, Chủ tịch nước Trần Đức Lương trao tặng cho bà Huân chương Hồ Chí Minh để ghi nhận những công lao to lớn của bà đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Mọi huân chương đều có mặt trái của nó. Cái mặt trái Huân Chương Hồ Chí Minh của bà Nguyễn Thị Bình là tính mạng và cuộc sống khốn cùng của vô số những người phụ nữ Việt Nam khác:

“Họ là những cô gái thời chiến, những thiếu nữ tình nguyện đầu quân vào một trong những đội nữ binh lớn nhất mà bất cứ nước nào đã từng đưa ra một chiến trường tân tiến … Khi hòa bình trở lại, họ mong sẽ tìm được một tấm chồng xứng đáng và sinh con đẻ cái.

Ðối với nhiều người trong số họ, giấc mơ đó đã không thành. Trở về sau khi cuộc chiến chấm dứt năm 1975, họ đã bị coi như thiếu hấp dẫn, vì bị tàn phá bởi bệnh hoạn, thiếu ăn và những cực khổ khác mà họ đã phải chịu đựng trong rừng...

Họ nói về chuyện trở về nhà với đời sống khó khăn hơn là đời sống mà họ đã rời bỏ. Sự cay đắng dai dẳng vì trong suốt bao nhiêu năm họ đã là những chiến sĩ bị bỏ quên trong một cuộc chiến tranh mà những người đàn ông chiến đấu – chứ không phải phụ nữ – đã trở thành anh hùng.

Tôi đã tưởng cuộc đời tôi sau chiến tranh sẽ giản dị và hạnh phúc,’ theo lời Nguyễn Thị Bình, cân được 85 pounds khi trở về nhà. ‘Nhưng tôi đã để cho người bạn trai của tôi ra đi. Tôi đã nói với anh ấy rằng với những chứng bệnh của tôi, với một chân bị thương của tôi, tôi sẽ là một gánh nặng cho anh ấy.’

Bà Bình đã sống một mình suốt 17 năm, một hình thức lưu vong trong một xã hội nặng về gia đình trong đó những phụ nữ hiếm muộn và những cặp vợ chồng không con là những đối tượng để thương hại. Thế rồi, trước sự thúc giục của những cựu đồng chí trong một đoàn phụ nữ – đoàn 559 – bà Bình đã ‘lấy một người chồng qua đêm’ và sinh được một đứa con gái.” (David Lamb. “Vietnam’s Women of War.” Los Angeles Times 10 Jan. 2003. Bản dịch Nguyễn Nhật. Talawas 17/07/2003).

Trong một cuộc phỏng vấn dành cho BBC (vào hôm 13 tháng 10 năm 2008) về số phận Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam sau 1975, nguyên Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình nói “tổ chức này khi ấy đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử” và “khẳng định” rằng “tôi không có sai lầm gì hết. Con đường mình đi hoàn toàn đúng.”

Nếu sau chiến tranh mà bà Bình này cũng trở thành một phụ nữ 4 không: không nhà, không cấp dưỡng, không con, không chồng (hoặc chỉ là một người chồng qua đêm, y như bà Bình kia) thì khán thính giả của BBC – không chừng – đã được nghe đôi lời nói (khác) chân thành và tử tế hơn!

TNT

Nhịn & Nhục – Tưởng Năng Tiến

STTD Tưởng Năng Tiến

Cách đây chưa lâu, trang Gia Đình Việt Nam có một bài tường thuật ngắn:

Đêm 29/9, trên mạng xã hội lan truyền một clip công an túm tóc, kéo lê một người phụ nữ bán hàng bên vệ đường khiến chị chảy máu đầu đã khiến cư dân mạng xôn xao. Qua tìm hiểu, được biết, chị Nguyễn Thị Thu Thảo (39 tuổi, ngụ phường 12, quận Bình Thạnh) bị Thiếu úy Bùi Xuân Hải (công tác tại Công an phường 6, quận 3) túm tóc, kéo lê gây thương tích.

Chia sẻ với Dân Trí, chị Thảo cho biết, hàng ngày chị bán hàng rong ở khu vực hồ Con Rùa từ khoảng 17h đến 1h sáng hôm sau. Chị Thảo thừa nhận, lúc bị công an yêu cầu không được lấn chiếm lòng lề đường, chị có chửi Thiếu úy Hải. “Tôi bán hàng lương thiện chứ có bán heroin đâu mà đuổi. Vợ anh ở nhà có cực khổ như tôi đâu mà anh biết…

Sau đó ảnh đuổi theo túm cổ áo, nắm tóc tôi. Anh Hải đánh vào đầu tôi, vết rách trên đầu là do nhẫn của ảnh gây ra”. Chị Thảo chia sẻ thêm: “Có thể lúc đó anh Hải sốc vì câu chửi của tôi, sẵn hơi men nên mới làm vậy. Chứ ngày thường tôi cũng nói chuyện với ảnh, thường ngày ảnh chỉ nhắc nhở, đuổi đi chứ không hung dữ như tối hôm đó”…

Chia sẻ thêm với Trí thức trẻ, chị Thảo nói: “Sự việc đã xảy ra rồi, tôi cũng có phần sai nên không oán trách gì anh Hải. Phía Công an P.6 và gia đình anh Hải cũng nói lời xin lỗi và hỗ trợ thuốc men nên tôi muốn kết thúc sự việc ở đây.”

Bà Thảo dù bị nắm tóc kéo lê trên đường phố nhưng vẫn nhận “phần sai” về mình, cũng không dám “oán trách” ai cả, và chỉ “muốn kết thúc sự việc” cho nó êm xuôi thôi. Vậy là êm chuyện và hết chuyện.

Không bao lâu sau, lại có một chuyện lùm xùm khác (đang gây xôn xao dư luận) sau khi một vị đại biểu HĐND tỉnh “dùng gậy driver đánh vào người nữ caddie khiến nạn nhân bất tỉnh ngay tại chỗ.” Nạn nhân – tuy thế – cũng đã lên tiếng là  “mong muốn câu chuyện kết thúc ở đây,” theo như bản tin (“Nữ Nhân Viên Sân Golf Chính Thức Lên Tiếng Không Muốn Ôn Ào”) của báo Người Lao Động, đọc được vào hôm 12 tháng 22 năm 2022:

“Bây giờ điều tôi trông chờ nhất là công ty đứng ra giải quyết sự việc làm sao cho ổn thỏa nhất, để tôi được sớm đi làm trở lại. Và cũng mong muốn câu chuyện kết thúc ở đây, không muốn ồn ào vì phía ông Dũng cũng đã gửi lời xin lỗi đến tôi.”

Ở bình diện cá nhân, với những kẻ thấp cổ bé miệng (hay còn gọi là đám dân đen) thì nhịn nhục như thế là đúng đắn, nếu chưa muốn nói là khôn ngoan hoặc thức thời – thời nhịn nhục! Ở bình diện quốc gia mà giới lãnh đạo cũng bầy tỏ một thái độ nhịn nhục tương tự, khi lãnh thổ và lãnh hải bị vi phạm hay xâm chiếm thì vấn đề lại hoàn toàn khác.

Xin đan cử một thí dụ khác: ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước. Vô số công dân đã anh dũng hy sinh để bảo vệ tổ quốc trong cơn nguy biến. Tên tuổi của họ, cũng như tên gọi của cuộc chiến đẫm máu này – lạ thay – đều bị lãng quên.

BBC:

RFA:

Dư luận, tất nhiên, dậy sóng với không ít những lời lẽ đầy phẫn nộ và phẫn uất:

  • Đoàn Bảo Châu: “Hèn hạ đến tận đáy.”
  • Huỳnh Tiến Dũng : “Quá nhục và hèn hạ với hàng vạn chiến sĩ và nhân dân đã ngã xuống.”
  • Hồ Hữu Hoành: “Không có lấy bất cứ một bài học, một nội dung về nó trong sách giáo khoa, từ tiểu học cho đến đại học. Đã có thời, nhắc đến nó cứ như nói chuyện húy kỵ, đụng đến nhà vua… không dân tộc nào đau thương và đầy kinh nghiệm với chiến tranh như Việt tộc. Nhưng không có dân tộc nào, mà những kẻ ở thượng tầng sẵn sàng xóa bỏ lịch sử, kiến tạo một sự thật khác, như ở dân tộc này.”
  • Trần Đức Anh Sơn: “Chúng mày hèn hạ đến thế sao?”
  •  Nguyễn Anh Tuấn :“Trong nỗ lực xóa bỏ ký ức tập thể về sự kiện này, người ta đã không chỉ đục bia, mà còn đục cả thơ… một hành vi không chỉ xảo trá với lịch sử, vô ơn với chiến sĩ mà còn  đớn hèn và nhục nhã về chính trị.”
  • Hà Dương Tường: “Mối thù quân xâm lược Ba chấm và bè lũ tay sai hèn mạt của chúng, mọi người nhớ nhé.”

Thái độ nhũn nhặn và quan niệm (dĩ hòa vi quýmột điều nhịn chín điều lành) của những người lãnh đạo nhà nước VN hiện nay – tiếc thay – đã không mang đến bất cứ một “điều lành” nào như họ mong muốn:

Nhà giáo Thảo Dân bỡn cợt:

– Xám ơi, giặc NƯỚC NGOÀI là giặc nào nhỉ?
– Là nước lạ đó.
– Nước lạ là nước nào?
– Là nước có đường biên giới chung với Quảng Ninh.
– Nước có đường biên giới chung với Quảng Ninh nước nào?
– Là nước gây ra chiến tranh biên giới đấy thây.
– Cơ mà tên thật của nó là gì? Làm gì có thằng giặc nào không có tên?
– Bố mày còn chả dám nói tên, toàn phiếm chỉ huống hồ là quần cộc chân chì như tao. Mày hỏi gì hỏi lắm thế hả Đỏ.
– Tình hữu nghị Việt Nam – Nước Ngoài đời đời bền vững. (Sẽ có người thắc mắc chính đáng: Chả lẽ thế giới chỉ còn hai nước?)

Ha ha, Quốc hội mình vui phết, hơn đứt xới chèo!

Vui thế nhưng vẫn có người nhất định không cười, hoặc cười không nổi:

  • Huy Đức: “Tầu thì lạ nhưng sự hèn hạ thì rất quen.”
  •  Du Uyên: “Không biết từ bao chừ, ở trên báo nhà nước, cứ cái gì ‘lạ’ là nó cho thấy sự hèn hạ của rất nhiều tập thể.”

Người ta có thể thông cảm và thông hiểu thái độ nhẫn nhục của những người phụ nữ bị đè nén xuống tận đáy xã hội. Họ có cha già, mẹ yếu, con thơ phải chăm lo nên làm to chuyện e cũng chả đi đến đâu mà nhỡ “vỡ nồi cơm” thì khốn khổ cả nhà. Còn cả một tập đoàn lãnh đạo chỉ vì quyền lợi của bản thân và gia đình mà bán rẻ danh dự của cả một dân tộc thì thực là chuyện hoàn toàn không dễ hiểu. Càng khó hiểu hơn nữa khi không ai biết họ đã nhân danh ai để hành xử một cách hèn hạ và đốn mạt như thế?

Tưởng Năng Tiến
1/2023

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đêm cuối năm nghĩ về Hà Nội

Báo Đàn Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Tôi được nghe Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn, nhạc Phạm Đình Chương) từ thuở ấu thơ: Mưa hoàng hôn/ Trên thành phố buồn gió heo may vào hồn/ Mưa ngày nay/ Như lệ khóc đất quê hương tù đày…

Sao “phần đất quê hương” này lại bị “tù đầy” và có lắm người thốt lên những lời ai oán, thê thiết, đắng cay đến thế : Lìa xa thành đô yêu dấu/ một sớm khi heo may về/ Lòng khách tha hương vương sầu thương / Nhìn em mờ trong mây khói/ bước đi nhưng chưa nỡ rời/ lệ sầu tràn mi/ đượm men cay đắng biệt ly… (Vũ Thành. Giấc Mơ Hồi Hương: nxb Tinh Hoa Miền Nam, 1959).

Rồi Bắc/Nam thống nhất, Nam/Bắc hòa lời ca nhưng tất cả những nhân vật thượng dẫn (Hoàng Anh Tuấn, Phạm Đình Chương, Vũ Thành …) đều ù té đâm xầm ra biển, hốt hoảng bỏ của chạy lấy người, quên tuốt cái “giấc mơ hồi hương” mà họ đã từng ôm ấp chưa lâu – trước đó.

Kẻ ở lại, Nguyễn Ngọc Lan – sau chuyến hồi hương vào năm 1975 –  đã tỉ mỉ ghi lại cảm xúc của mình, trong một tập hồi ký ( Hà Nội Của Tôi Thế Đó ) không được xuất bản. Lý do, theo lời của tác giả : “Các ông to bà lớn đầy mặc cảm bực bội, khó chịu … người ta không hãnh diện về cái nghèo của Hà Nội.” Còn theo dư luận thì vấn đề, chả qua, chỉ vì lỗi của thằng đánh máy. Nó bỏ dấu sai: Hà Nội Tội Thế Đó, Hà Nội Tồi Thế Đó, Hà Nội Tối Thế Đó …

Thế nà thế lào?

Phải đợi thêm gần hai thập niên nữa, khi đất nước chuẩn bị bước vào Thời Kỳ Đổi Mới (và giới văn nghệ sỹ được tạm thời cởi trói) người dân – cả ba miền – mới có cơ hội đọc được những phát biểu khách quan về Thủ Đô Của Lương Tri & Phẩm Giá Con Người. Xin ghi lại một vài, theo thứ tự (abc) alphabétique :

  • Phạm Xuân Đài: “Lời ăn tiếng nói lễ độ cũng khó gặp, chứ đừng nói gì đến văn vẻ… Một cô gái có thể nói oang oang giữa chợ: Nó rủ tao đi nhưng tao đ… đi/ Sáng nay mẹ mày qua xin lửa bố tao, bố tao đ… cho.

Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá.” (Phạm Xuân Đài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. Thế Kỷ 21: Hoa Kỳ 1994).

  Bùi Bích Hà: “Những đứa bé trai và gái bưng thức ăn cho khách vẫn là những đứa bé đã được mô tả trong tiểu thuyết Nam Cao hay Trương Tửu cách đây năm sáu thập niên, còm cõi, nhọc nhằn, cơ cực, chỉ biết cúi đầu vâng dạ và sống quen với lo âu, sợ hãi…Những anh chị phu hồ vẫn làm việc bằng những cung cách từ nửa thế kỷ trước. Họ chuyền tay nhau mọi thứ vật liệu. Cát, đá và sạn đựng trong những cái rổ, đà gỗ vác trên vai. Một ngày dầm mưa hay đổ mồ hôi như thế của một người phu hồ trị giá một đô la và một bữa ăn trưa thanh đạm. Hơn một phần tư thế kỷ thực hiện ‘chủ nghĩa xã hội ưu việt’ trong nước, hơn một phần tư thế kỷ kêu gào tự do và nhân quyền của khối người việt lưu vong hải ngoại, chẳng có chút ánh sáng nào rọi vào những góc đời phiền muộn tối tăm này.” (Bùi Bích Hà, “Nhìn Lại Quê Hương,” Thế Kỷ 21, Sep. 2003:63-65).

– Tô Hoài: “Nhà em bảo em lên ở Hà Nội. Giàu có nhà quê không bằng ngồi lê Kẻ Chợ, vẫn đồn thế mà. Người hèn đớn cũng kiếm được, không mất bữa. Gánh đồng nát mà lãi quan viên. Nhà em bảo thế, em cũng đã lên xem sao… Mỗi tối thuê cái chiếu nằm gầm cầu, có tiền bạc của nả thì gối đầu, giắt lên ngực. Bốn bên lủng củng người nằm, nói anh bỏ lỗi, nó đéo nhau huỳnh huỵch rồi lại chửi nhau, quát nhau to tiếng hơn ô tô chạy ngoài đường. Cả đêm không tải nào chợp mắt, ăn cơm lại oẹ ra, ốm đến nơi. Thế là cút ngay. Thuê kẹo em cũng không bao giờ dám lên Hà Nội nữa. (Tô Hoài. Chiều Chiều. Nxb Hội Nhà Văn: Hà Nội 1999).

  • Phùng Quán: “Có nơi nào trên trái đất này/Mật độ đắng cay như ở đây/
    Chín người – mười cuộc đời rạn vỡ/Bị ruồng bỏ và bị lưu đầy…

Rõ ràng là … đất dữ! Tuy nhiên, đó là Hà Nội của một thời đã qua rồi – tự thế kỷ trước lận. Sau khi Đảng và Nhà Nước anh dũng và quyết tâm đổi mới, Chính Phủ Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 đã ra đời. Hà Nội hiện nay đã hoàn toàn biến đổi, văn minh chưa từng thấy. Báo chí trong nước vừa đồng loạt và hân hoan ghi nhận một hình ảnh đẹp, khiến nhân dân thủ đô vỡ oà trong niềm vui và hạnh phúc lâng lâng :

“Hai người tham gia giao thông nghiêm chỉnh chấp hành đèn tín hiệu trên trục đường Đại Cồ Việt – Phố Huế. Bức ảnh hai người đàn ông đi xe máy dừng chờ đèn đỏ giữa đêm khuya ở Hà Nội nhận được sự tán dương và chia sẻ mạnh mẽ. Bottom of Form

Trong đó, nhiều người còn khẳng khái cho rằng: ‘Dù là người lao động, đi xe máy nhưng ý thức của hai người đàn ông này còn hơn rất nhiều người đi xe sang nhưng thường xuyên vượt đèn đỏ, lấn làn, cản trở giao thông của các phương tiện khác’.

Theo TS. Đức, để giao thông Việt Nam có nhiều tấm hình đẹp như bức ảnh hai người dừng chờ đèn đỏ giữa đêm khuya đang gây ‘bão’ mạng xã hội, các cơ quan chức năng cần tăng cường lực lượng chốt trực, lưu động trên đường, nghiên cứu đầu tư hệ thống thiết bị giao thông thông minh giám sát, kiên quyết không bỏ lọt vi phạm, phải tổ chức các đợt cao điểm để tạo sự răn đe, nâng cao ý thức của người dân.”

Cơn “bão mạng xã hội” vừa đi qua Hà Nội, vào những ngày cuối năm, khiến tôi nhớ đến những con sóng nhỏ lăn tăn trong lòng một tù nhân lương tâm VN (Anh Ba Sàm – Nguyễn Hữu Vinh) khi ông bước chân đến Sài Gòn, hồi cuối thế kỷ trước :

“Sau 1975, có những thứ mà Sài Gòn, miền Nam làm cho hắn rất lạ và không thể quên. Một đêm, chạy xe máy về nhà (ông cậu), tới ngã tư đèn đỏ, ngó hai bên đường vắng hoe, hắn rồ ga tính vọt thẳng. Bất ngờ nghe bên tai tiếng thắng xe cái rẹc, liếc qua thấy ông lão với chiếc xích lô trống không. Quê quá, phải dừng theo! Nhiều năm sau, ở Hà Nội, những ngã tư đông đúc như Tràng Tiền-Hàng Bài, ngoài một chú cảnh sát đứng bục, thường phải thêm  4 chú cầm gậy chặn bốn phía, lùa, đuổi mà cũng không xuể.”

Bữa nay thì kể như êm. Lùa, đuổi “xuể” là cái chắc. Khoảnh khắc lịch sử đã ghi: vào lúc 1 giờ sáng ngày 24 tháng 12 năm 2019, ít nhất, đã có hai người đàn ông đi xe máy dừng chờ đèn đỏ ở Hà Nội rồi. Thiệt là “khẳng khái” và quí hoá biết chừng nào.

2019 – 1975: 44 năm, chưa tới nửa thế kỷ, khoảng thời gian tuy không dài lắm nhưng vẫn đủ để Hà Nội bắt kịp Sài Gòn. Thêm năm mươi năm nữa, đến cuối thế kỷ này, không ai có thể đoán được rồi cả nước sẽ “rót” về đâu – kể cả đồng chí TBT. Riêng tôi, đêm nay, chắc phải “rót” thêm rất nhiều chén nữa.

01/2020

S.T.T. D Tưởng Năng Tiến – Tù tây & tù ta

Báo Đàn Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

30/12/2022

Cũng như Cát Bụi Chân Ai, tác phẩm Chiều Chiều rất được công luận quan tâm cùng không ít những lời tán thưởng:

  • Nguyễn Sỹ Đại: “Tô Hoài sinh ra để viết.”
  • Đặng Tiến: “Ở các tác phẩm trước, Tô Hoài thường bao che, bào chữa, như là một hồi ký bao cấp. Đến Chiều Chiều, giọng kể nghiêm nghị hơn về đời sống chính trị và văn nghệ ngột ngạt những năm 1955-1970, về những sai lầm trong chính sách Cải cách ruộng đất, về những đợt học tập chiếu lệ ở trường Đảng cao cấp là trường Nguyễn Ái Quốc …”
  • Hoàng Khởi Phong: Cát bụi chân ailà một tác phẩm có nằm trong lãnh vực phản kháng hay không khoan hãy xét tới. Nó là một tập hồi ký nên chỉ có vấn đề trung thực hay giả dối là quan trọng… Nó đã được viết như những lời thì thầm trong bóng tối, những lời thật thà mà vì sợ hãi quá lâu không dám nói to… Con chim sắp chết cất tiếng bi ai, con người sắp chết nói lời nói thật. Huống hồ Tô Hoài là một nhà văn, lại có tài!”

Tôi hoàn toàn và tuyệt đối không dám nghi ngờ chi về tài năng của ông, chỉ có hơi nghi ngại, và thoáng chút ngỡ ngàng (vì dăm ba câu chữ) thôi:

Phùng Cung bị bắt khi nhân văn, nhân võ đã được dọn dẹp yên ắng, đã tàn… Tôi không thể tưởng tượng ra được một Phùng Cung thế nào mà bị bắt… Lại hơn mười năm sau. Chặp tối, một người bước vào cửa. Dáng ủ rũ, mặt tái ngoét, không phải Phùng Cung mà là cái bóng Phùng Cung trên tờ giấy tẩy chì mờ mờ.

– Phùng Cung phải không?

– Tôi đây.

– Còn sống về được a?

– Cũng không hiểu tại sao, anh ạ.

Phùng Cung hỏi tôi:

– Anh có biết tôi phải giam bao nhiêu năm?

– Không biết.

– Vâng, mười một năm tù biệt giam.

Đã tù lại biệt giam, lại bệnh lao, thế mà không chết rũ tù.” (Tô Hoài. Cát Bụi Chân Ai. Hà Nội: Hội Nhà Văn, 1992).

Nửa thế kỷ sau – sau “khi nhân văn, nhân võ đã được dọn dẹp yên ắng” – nhưng sự hậm hực của Tô Hoài về những đồng nghiệp (không may) xem chừng vẫn chưa “yên ắng” lắm. Lối viết cường điệu, theo tiêu chuẩn của thời bao cấp –  xem ra –  cũng không thay đổi chi nhiều :

“Thói quen người Mỹ, bữa ăn thịnh soạn nửa đêm có món thịt gà tây – như ta Tết ông táo cúng cá chép… Thế mà những năm ấy, nhiều làng hai bên sông Đuống, hợp tác xã, đã chuyển ruộng cho các xóm khác để chuyên nuôi gà tây. Đến áp Nôen, hàng đoàn xe tải số biển đỏ của quân đội về lấy gà. Gà tây đem cho tù binh Mỹ ăn tết.”

Trời! Chỉ có vài trăm tù binh Mỹ thôi mà “hàng đoàn xe tải về lấy gà cho tù binh Mỹ ăn tết.” Ăn uống kiểu đó thì bội thực chắc chết, chết chắc, chớ sống gì nổi – cha nội?

Văn phong của một ngòi bút lớn, viết vào lúc cuối đời (“con người sắp chết nói lời nói thật”) mà sao cứ xoen xoét như một anh cán bộ tuyên huấn hay một chị bí thư chi bộ vậy đó. Mà Đại Tá Trần Trọng Duyệt thì đúng là bí thư chi bộ trại Hỏa Lò, và miệng lưỡi của ông – rõ ràng – nghe có thơn thớt thật: “Trên thế giới, có lẽ không có nước nào đối xử với tù binh Mỹ tốt như ở nước ta. Đó là nhờ truyền thống khoan hồng và nhân đạo đã có từ hàng ngàn năm trước của dân tộc ta.”

Chưa hết, quý ông “nhà báo” còn thêm mắm/dặm muối cho câu chuyện Hỏa Lò được thêm phần đậm đà và hấp dẫn :

“Để thay đổi không khí cho các tù binh đã phải ở trong trại lâu ngày, được sự phối hợp giúp đỡ của Công an Hà Nội và An ninh Quân đội, Ban chỉ huy trại còn nhiều lần tổ chức cho các tù binh đi tham quan một số di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng của Thủ đô Hà Nội như: Hồ Hoàn Kiếm, Công viên Lê Nin, Quốc tử giám, chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột, Viện Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam), bệnh viện Bạch Mai…

Để bảo đảm an toàn cho những ‘vị khách đặc biệt’ này, ta đã cho phép các tù binh ăn mặc như khách du lịch: Cũng comlê, cavát, giày đen v.v… ” (Đặng Vương Hưng & Nguyễn Văn Tường. Cuộc Sống Thường Ngày Của Tù Binh Mỹ Tại Hoả Lò Hơn Bốn Mươi Năm Trước – Báo Người Đưa Tin 8/10/2013).

Thiệt là quá đã và quá đáng!

Cũng bị giam giữ tại Hoả Lò (vào cùng thời điểm) nhưng sinh hoạt của một người tù Việt Nam lại hoàn toàn khác: chả thấy ổng được mặc complet, đeo cravate và đi tham quan lần nào cả:

“Hắn cởi truồng nằm trong xà lim, thiếp đi vì nóng. Và choàng tỉnh vì nóng. Người hầm hập. Mồ hôi toát ra. Hắn nhỏm dậy nhìn vết mồ hôi in thẫm trên những tấm ván lim thành hình một bộ xương người…

Tiêu chuẩn nước tắm của mình: Nửa lít bớt ra từ khoản nước uống. Nhúng khăn mặt vào ca. Lau. Lau từ mặt xuống cổ. Lau từ cổ xuống ngực. Xuống bụng. Dấp nước khăn mặt, rồi khoanh tay đập, đập vã vào lưng. Rồi lau xuống bẹn, xuống chân, cho đến khi cái khăn mặt nóng lên thì vắt nước đi. Vắt vào cái nắp bô vệ sinh để ngừa cho khỏi bắn nước bẩn vào bô ra ngoài. Rồi mới nghiêng nắp cho nước chảy vào bô.

Cái thứ nước vắt ra ấy nâu nâu đen đen đặc nhơn nhớt. Bô đầy thì vắt nước lên tường xà lim cho nước vào tường. Cũng thấy người dễ chịu. Còn dễ chịu vì lúc tắm là lúc không để ý tới thời-gian-xà-lim. Nó qua đi mà chẳng tra tấn được mình như mọi lúc. Nhưng không bao lâu đã lại hầm hập. Không thể tắm nữa. Còn phải dành nước đế uống…” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

Mà Bùi Ngọc Tấn vốn xuất xứ từ một gia đình “thuần cộng” và chỉ bị “tạm giữ” để điều tra “phục vụ cho việc xử lý nội bộ” thôi đó nha, ông không hề bị xét xử vì bất cứ tội danh nào cả. Chớ còn cái thứ ngụy quân, can tội cầm súng chống lại nhân dân, cỡ như Phan Nhật Nam thì mới thiệt là … mát Trời ông Địa: “Những ngày dài suốt thời gian từ 7/9/1981 đến 29/5/1988 tôi chỉ ao ước được đưa bàn tay ra khỏi khung cửa sổ nhà giam để xem gió mát như thế nào!”

Thôi (bác Nam à) chuyện từ thế kỷ trước lận, nhắc lại làm chi cho má nó khi. Vả lại, Đảng và Nhà Nước đã “dũng cảm” và “quyết tâm đổi mới toàn diện” lâu lắc rồi mà. Bây giờ mọi sự chắc đã hoàn toàn khác trước.

Hổng dám khác đâu!

FB Trịnh Thị Thảo (thứ nữ của bà Cấn Thị Thêu) đã lên tiếng, vào hôm 2 tháng 7 năm 2021, báo động về tình trạng cả gia đình mình bị ngược đãi đây nè :

Gia đình tôi mới nhận được tin là trại tạm giam công an Hoà Bình đang biệt giam mẹ tôi – Cấn Thị Thêu, hiện tại miền Bắc Việt Nam đang là mùa hè, thời tiết nắng khủng khiếp có hôm lên tới trên 40 độ C, trong buồng giam có thể nhiệt độ lên đến 45 độ C, vậy mà trại giam không có quạt điện, buồng giam thì đóng kín cửa cả ngày lẫn đêm. Mẹ tôi có dặn các bạn buồng bên cạnh mẹ tôi là nếu thấy mẹ tôi đập cửa buồng giam thì hô hoán cho mẹ tôi đi cấp cứu đủ để thấy tình hình sức khỏe của mẹ tôi đang vô cùng nguy hiểm…

Em tôi Trịnh Bá Tư cũng đang bị giam giữ cùng chỗ mẹ tôi, hiện tại tình hình của em Tư cũng có thể tương tự giống mẹ tôi.

 Anh tôi Trịnh Bá Phương đã kết thúc giai đoạn điều tra theo luật thì luật sư có thể vào gặp được vậy mà hôm qua luật sư vào gặp thì phía trại giam Hoả Lò nói phải xin ý kiến của bên viện kiểm sát.

Các ông cộng sản Việt Nam luôn nói với quốc tế là tôn trọng nhân quyền mà các ông đối xử với các tù nhân một cách tàn độc như vậy, mẹ, anh và em tôi chỉ lên tiếng trước bất công của chế độ, mong muốn góp tiếng nói của mình để đất nước tốt đẹp hơn thôi mà.

Nói thế – chả lẽ – các ông cộng sản Việt Nam lại là những người kỳ thị, phân biệt đối xử giữa tù tây và tù ta chăng?

Cũng hổng dám “kỳ thị” đâu!

Tù Tây cũng bị hành cho tới bến, chứ đừng có mà tưởng bở nhá. Xin trích dẫn một câu, chỉ một câu thôi, trong Hồi Ký Hoả Lò của Thuợng Nghị Sĩ John McCain :

Họ đánh tôi dập vùi, đánh tôi bất tỉnh. Họ liên tục hăm dọa:“Mày sẽ không nhận được bất kỳ chữa trị thuốc men gì cho đến khi mày mở miệng.”

Tây/Ta gì thì cũng chết bà với chúng ông ráo trọi!

Tiếng Nước Mình – STTD Tưởng Năng Tiến

Giữa khe cửa trước nhà, bữa rồi, thấy có gài một mẩu giấy quảng cáo – với dòng chữ in đậm – trộn lộn cả hai thứ tiếng Việt/Anh: “Under New Management. Tăng Cường Ẩm Thực. Tăng cường giờ mở cửa tới midnight. Đọc nghe hơi chương chướng nhưng tui cũng hiểu được liền, và còn đoán được luôn tác giả: cha nội Hải Ký Mì Gia – ở ngay ngã tư đầu đường – chớ còn ai vô đó nữa!

Tiệm này “chuyên trị” mì gà chiên và mì vịt tiềm. Thỉnh thoảng, tui vẫn ghé qua và lần nào cũng có trao đổi với chủ nhân đôi câu chào hỏi (xã giao) nên biết cái kiểu nói chuyện và hiểu ý của ổng mà: “Tiệm có quản lý mới. Thực đơn phong phú hơn. Từ đây sẽ mở cho tới tận khuya.”

Ông chủ người Minh Hương, sinh trưởng ở Bạc Liêu, vượt biên hồi đầu thập niên 1980. Dân Việt gốc Hoa, sống ở Mỹ gần nửa thế kỷ mà vẫn viết được “tiếng nước tôi” như vậy là ngon lành cành đào rồi – đúng không?

Tôi đã từng “đụng chuyện” với một vị “người Hoa gốc Tầu” nữa kìa. Ổng viết tiếng Việt (theo kiểu gu gồ) đọc mà muốn khóc bằng … tiếng Tây luôn. Thằng chả (chắc) là chủ nhân của một hãng làm thức ăn khô của Đài Loan hay Hồng Kông gì đó, và sản phẩm được bầy bán ê hề ở California, bao bì cũng in một dòng chữ trộn lộn cả hai thứ tiếng Việt/Anh: Chuẩn Bị Con Cá Mực – Prepared Cuttlefish!

Cái gì vậy, hả Trời? Thông minh tới cỡ tui mà phải mất mấy chục giây mới hiểu (té ra) là … Khô Mực Ăn Liền. Thiệt là thầy chạy!

Tiếng Việt, cũng như dân Việt – trên bước đường lưu lạc – tránh sao khỏi những cảnh ngộ bi hài hay những mảnh đời tơi tả. Kampuchea là nơi không thiếu những cảnh tình này. Nhà báo Ngy Thanh đã từng cảm thán: “Người ta bảo sông có khúc, người có lúc. Thế mà, khúc đời nào của Việt Kiều Cambodia cũng nhiêu khê. Thời nào của họ cũng là thời mạt vận.”

Việt ngữ ở đây cũng thế, cũng “mạt vận” chả khác chi người.

Theo tường trình của MIRO (Minority Rights Organization) thì có khoảng năm phần trăm, hay 750.000 người gốc Việt đang sinh sống ở Xứ Chùa Tháp. Đây là nhóm dân thiểu số đông nhất ở đất nước nhỏ bé này. Phần lớn đều không có được một tờ giấy lận lưng (không khai sinh, cũng không căn cước) nên không được quyền tiếp cận với bất cứ dịch vụ xã hội nào cả. Họ cũng không có quyền sở hữu tài sản hay đất đai gì ráo. Bởi vậy, rất nhiều kiều bào ở Miên hiện vẫn sống trong những túp lều tranh (lều bều như mấy dề lục bình) trên mặt Biển Hồ – Tonlé Sap.

Chắn chắn không nơi nào trên trái đất này mà dân Việt phải sống lam lũ và thảm thương đến thế. Y tế cũng như giáo dục đều là những điều xa xỉ, nói chi đến chuyện báo/đài hay một cái trường (Việt Ngữ) cho những đứa bé luôn trôi nổi bấp bênh.

Vậy mà chả hiểu nhờ vào cơ duyên nào đó, năm 2008, bỗng dưng có vài người Việt từ Canada lặn lội đến tận làng Kampong Luong (Kampong Luong Floating Village) làm tặng cho dân ấp Koh Ka Ek một ngôi trường tử tế.

Mãi đến năm 2014, tôi mới theo chân sư Minh Trí (người sáng lập Hội Vì Dân – Vidan Foundation) lò dò tìm đến chốn này. Tới nơi thì trường học đã nằm chỏng chơ trên cạn vì nổi hết được rồi.

Sau khi gắn vô mấy chục cái thùng phuy nhựa mới (mỗi cái cỡ 25 Mỹ Kim) và dặm thêm một mớ lồ ô hai bên cạnh sườn (không có tre để giữ cân bằng nó sẽ bị bồng bềnh) rồi sửa sang lại chút đỉnh thì kể như êm. Tụi nhỏ lại có cơ hội đến trường ê a (“mờ a ma sắc má” – “ba a ba huyền bà”) như trước.

Năm 2012, lại có thêm một cơ duyên kỳ diệu nữa, người Việt từ Perth (Australia) cũng lặn lội đến tận làng Kandal – thuộc xã Phsar, tỉnh Kampong Chhnang – để xây tặng cho đồng bào mình một ngôi trường bề thế, tốn kém cả trăm ngàn Mỹ Kim chứ không phải ít.

Vài ba năm sau, sư Minh Trí cũng đưa tui đến đây luôn. Chúng tôi đều hân hoan khi nhìn thấy ba lớp học được dựng trên những cột xi măng vuông vắn và vững chắc, bên trong được trang bị bàn ghế đàng hoàng. Chỉ kẹt cái là nó không có điện, cũng không có nước nên WC vô phương sử dụng.

Chuyện nhỏ thôi (so với tiền của và công sức của bao nhiêu người VN tại Úc) nên chúng tôi hăng hái bắt điện, bơm nước, gắn quạt máy, và còn lát xi măng luôn cả cái nền để vào mùa khô học sinh có chỗ chơi đùa.

Từ đó – theo sự cắt đặt của nhà sư – tôi vẫn thường trở lại thăm non hai cái trường này (cùng dăm ba lớp học ở vài nơi khác nữa) để mang sách vở bút viết cho học sinh, và chút tiền trợ cấp cho mấy vị giáo viên.

Tới đâu, tôi cũng đều “lớn tiếng” lập đi lập lại cái quan niệm rất thực tiễn và cấp tiến của mình: Xin quý thầy cô đừng quá quan tâm đến Việt Ngữ. Thay vào đó hãy dùng thời giờ dậy các em làm được mấy phép tính (cộng – trừ – nhân – chia) căn bản, và đọc được tiếng Miên để sau này chúng có thể sinh tồn một cách dễ dàng hơn nơi đất nước này.

Cái quan niệm “đúng đắn và cấp tiến” đó, mới đây, vừa bị thử thách (một cách vô cùng nghiêm trọng) khi tôi ghé qua lớp học ở Bati – nằm trong khuôn viên của Chùa Ông Quan Đế, thuộc huyện Peam Ro, tỉnh Prey Veng – vào tháng 11 vừa rồi. Đây là một nơi hết sức đặc biệt vì người Việt chả những có chùa (và ban trị sự) mà còn có cả hội đồng hương tề luôn nữa.

Tôi được coi là khách quý, đến tự phương xa, và được hân hạnh họp mặt với tất cả quý vị chức sắc địa phương. Họ đều thuộc vào hàng lão hạng nên tôi rất nhỏ giọng khi lập lại quan niệm (cố hữu) của mình là con cháu chúng ta cần học toán và học tiếng Khmer để sinh tồn, chứ không phải là Việt Ngữ. Mỗi đứa trẻ chỉ được tới trường vài ba năm thôi, mất thời giờ học tiếng Việt làm chi khi mà cái cơ hội đọc được một tờ báo (hay viết một cái thư) bằng Việt Ngữ kể như là bằng không. Chỉ cần sắp nhỏ vẫn nói chuyện bằng tiếng nước mình là cũng đã tốt lắm rồi, chớ…”

Tôi chưa dứt lời mà không khí buổi họp đã trầm hẳn xuống. Những ánh mắt, và những nụ cười chứa chan thiện cảm mà mọi người đã dành cho tôi từ lúc ban đầu (bỗng) tan biến hết trơn. Rồi một vị lão nhiêu, chắc cũng đã bát tuần, mới nhỏ nhẹ đáp lời:

“Chúng tôi lại có chút suy nghĩ khác. Người Việt ở nơi đây từ đời này qua đời nọ nên bây giờ ai cũng đen thủi, đen thui y như người bản xứ. Ngó qua thiệt khó nhận ra là “Duồn” ai là “Miên” nữa. Sự khác biệt chỉ còn ở cái tiếng nước mình thôi. Bởi vậy, khi đã có cơ hội cắp sách đến trường thì ưu tiên là phải dậy bầy trẻ đọc viết tiếng mẹ đẻ cái đã, chớ còn nói như ông thì …”

Ông anh cũng chưa nói hết lời nhưng tôi đã cảm được sự đồng tình của mọi người hiện diện. Rồi có lẽ vì quá xúc động (hay quá bất nhẫn) ổng đưa tay gạt nước mắt và ngồi phịch xuống ghế, tựa như là muốn đứng cũng không nổi nữa!

Những “giọt lệ như sương” của vị đồng hương cao niên khiến tôi chợt nhận ra sự nông nổi và thiển cận của mình. Cùng lúc, tôi cũng “ngộ” được đôi điều quan trọng khác:

Nào phải là tình cờ mà những người Việt từ Bắc Mỹ, từ Úc Châu đều đã cất công tìm đến Cambodia để làm trường học. Cũng đâu phải là vô cớ mà chỉ riêng ở tiểu bang California (Hoa Kỳ) đã có đến cả chục Trung Tâm Dậy Việt Ngữ và hầu như ở khắp mọi nơi trên thế giới, nơi đâu có dân Việt là có những lớp học cho trẻ Việt cùng với sự tham gia (tự nguyện) của hàng vạn giáo viên – từ nửa thế kỷ qua.

Khi Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ cho phép giảng dậy Việt Ngữ ở một số trường trung học và đại học tại quốc gia này thì giản dị chỉ vì đó là chủ trương nhân bản và bao dung (đa văn hóa) của xứ sở này. Còn mọi cố gắng, chắt chiu, thương khó để bảo tồn tiếng mẹ đẻ của hàng triệu người dân Việt, đang lưu lạc ở khắp bốn phương (có lẽ) là do sự thôi thúc tiềm ẩn từ vô thức. Đây là phản ứng tự nhiên từ vô thức tập thể (collective uncounciousness) của cả một giống nòi (trong cơn quốc biến) khi ngôn ngữ của họ đang “bị tha hóa, bị thao túng, bị phá sản một cách có hệ thống” –  theo như lời báo nguy của nhà giáo và nhà báo Thái Hạo.

Lời báo động muộn màng này cũng đã giúp tôi hiểu ra lý do mà sư Minh Trí – sau khi xuất gia, từ bỏ mọi hoạt động chính trị – đã hết lòng tận tụy chăm lo cho những ngôi trường Việt Ngữ, ở Kampuchea, cho đến … hơi thở cuối!

Tưởng Năng Tiến
12/2022

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Một bài báo cũ

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

18/12/2022

Nhân viên caddie kể lại giây phút bị đại gia đánh bằng gậy chơi golf

(Dân trí) – Caddie Trương Tiến Công, người phục vụ tại sân golf Tam Đảo (Vĩnh Phúc) kể lại: “Chiều ngày 15/9, sau khi bức xúc với tôi, ông Sơn đã dùng gậy vụt vào đầu khiến tôi bị choáng, rơi ô, ngã xuống đất. Lúc đó tôi không biết gì nữa”.

Theo lời kể của anh N.V. Công, sinh năm 1986, sáng 15/9, anh đi làm ca 1, tiếp nhận khách là ông Nguyễn Đức Sơn, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Quản lý & Phát triển nhà Hà Nội, cùng nhóm bạn. Do không có nhân viên phục vụ nên anh Công phải ở lại để tiếp tục phục vụ trong tiết trời khá nóng nực.

“Khi qua lỗ số 10, đến lỗ số 13 nơi ông Sơn và nhóm bạn chơi golf đi cùng, ông Sơn đánh xấu, kết quả chơi đã không như ý ông này. Đến lúc gạt gậy, ông Sơn đã hỏi Caddie về kết quả chơi. Nghe xong thì ông Sơn bảo ‘Cái gì á’. Đúng lúc tôi đang che ô cho khách ở gần chỗ tôi phục vụ, tôi có nói với để giải thích sự việc. Vừa nghe xong lời tôi, ông Sơn nhặt quả bóng đi đến sát tôi rồi bất ngờ vụt gậy vào đầu khiến tôi bị choáng, rơi ô rồi tôi bị ngã nằm xuống đất mà không biết gì xảy ra sau đó nữa” – Caddie Công kể lại.

Lãnh đạo UBND TP Hà Nội đã ký văn bản yêu cầu ông Nguyễn Đức Sơn giải trình vụ việc gây thương tích cho nhân viên phục vụ tại sân golf Tam Đảo.

Theo lời anh Công, hôm đó ông Sơn và nhóm bạn chơi độ với nhau nên rất cần nhân viên theo dõi sát sao: “Trước khi đánh hết hố đầu tiên chuẩn bị sang hố thứ 2, nhóm của ông Sơn gọi 3 nhân viên Caddie chúng tôi đến và dặn, “hôm nay bọn anh đánh độ, độ bình thường thôi nhưng bọn em theo dõi để thông báo kết quả, tránh việc ăn gian gậy”, nên chúng tôi đều phải để ý” – anh Công cho biết.

Kết quả kết luận của bác sĩ cho thấy, tình trạng sức khỏe của anh Công không bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau cú vụt gậy của ông Sơn. Sau đó, anh Công đã làm đơn đề nghị công an cho phép 2 bên tự giải quyết nội bộ.

Ngày 23/9, ông Vũ Hồng Khanh – Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội đã ký văn bản yêu cầu ông Nguyễn Đức Sơn giải trình vụ việc gây thương tích cho nhân viên phục vụ tại sân golf Tam Đảo (Vĩnh Phúc) để có cơ sở xem xét, xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Thông tin từ một cán bộ tại Ban điều hành sân golf Tam Đảo, trước đó vào ngày 6/7/2013, một người trong nhóm của ông Sơn đến chơi golf tại sân cũng đã gây thương tích cho chị Trần Thị Thương (25 tuổi, nhân viên Caddie) khiến chị này phải nằm viện điều trị một tháng, hiện vẫn phải nghỉ điều trị vì sức khỏe chưa hồi phục, chi phí tiền viện hết khoảng 13 triệu đồng. Biên bản xác nhận vụ gây thương tích cho chị Thương ghi rõ người đứng tên gây hậu quả là ông Hữu – bạn ông Sơn. Nhưng theo xác nhận của cán bộ tại sân golf Tam Đảo, vẫn có những nghi vấn về một “thủ phạm” thật sự khác và ông Hữu chỉ là người nhận lỗi thay.

Liên quan đến vụ việc này, ông Sơn khẳng định đó là do bạn ông gây ra, đã giải quyết ổn thỏa, đền bù cho nạn nhân 11 triệu đồng.

Về chiếc gậy chơi golf dùng để đánh anh Công, ông Sơn cho biết cả bộ đồ chơi golf của ông đươc mua với giá khoảng 30 triệu đồng.

Trả lời câu hỏi của phóng viên về việc bị truất quyền chơi golf 1 năm tại sân golf Tam Đảo, ông Sơn nói đó là quyết định của sân golf Tam Đảo, và ông cũng không muốn tới sân golf này chơi nữa.

Ngày 24/9, Đại tá Vũ Quang Thịnh – Trưởng Công an huyện Tam Đảo – cho biết Công an huyện Tam Đảo vẫn đang điều tra vụ việc ông Nguyễn Đức Sơn dùng gậy chơi golf đánh vào đầu một nhân viên phục vụ.

Liên quan đến thông tin ông Sơn cho biết phía gia đình nạn nhân đã bãi nại hành vi của ông này, Đại tá Thịnh nói đang trong quá trình điều tra nên không thể cung cấp thông tin.

Haiti – Sổ tay thường dân-Tưởng Năng Tiến

Tưởng Năng Tiến

Cũng như bao nhiêu đồng loại (và sinh vật) khác, với thời gian, mỗi lúc tôi một thêm già nua và cằn cỗi. Lưng còng, tóc bạc, da mồi, mắt mờ, tai điếc, răng long … thì đã đành rồi; não bộ, trí óc, trí tuệ, trí́ tưởng, trí nhớ … cũng mỗi ngày một thêm đù đờ/lờ quờ và mù mờ thì (hơi) khó đành hơn – chút xíu!

Bữa rồi đọc được một bài báo ngắn (Lời Nguyền Haiti”) của tác giả Đặng Văn Dũng, về cuộc khởi nghĩa ở xứ sở Haiti, tôi lờ mờ cảm thấy có nhiều điểm quen quen nhưng cố gắng mãi cũng không thể nhớ được là (hình như) mình cũng đã từng biết về một cuộc cách mạng từa tựa thế – xẩy ra ở đâu đó – rồi thì phải?

Cố gắng mãi cũng hoài công (và chỉ thêm nhức đầu nhức óc thôi) nên tôi quyết định cứ ghi lại vài điểm chính, của bài viết thượng dẫn, với hy vọng là sẽ có độc giả nhận ra được vụ này:

Haiti là nước độc lập sớm nhất tại Mỹ la tinh (1804) và là cuộc khởi nghĩa nô lệ thành công duy nhất trong thời cận đại. Lúc đó tại Haiti có khoảng 450 ngàn nô lệ da đen và 32 ngàn người da trắng…

Chuyện gì đến sẽ phải đến, các nô lệ da đen đã ngay lập tức thiết lập nền chuyên chính vô sản của mình. Trong năm 1804 họ đã thảm sát 5000 người da trắng, không cho phép người da trắng được sở hữu tài sản tại Haiti và cuối cùng là trục xuất toàn bộ người da trắng khỏi Haiti.

Các ông chủ da đen mới không biết gì về kinh doanh, làm giàu, cũng như không hiểu gì các khái niệm như phát triển đất nước, nâng cao dân trí, khai sáng dân tộc… lôi thôi của bọn da trắng.

Họ ra sức chiếm đoạt, vơ vét cho bản thân mình, đàn áp giết chóc thả cửa mọi loại thù địch mà chủ yếu là đồng bào của chính họ. Họ hết xưng là thủ lĩnh, toàn quyền rồi hoàng đế… các trang trại mía đường, cafe được chia cho các chiến binh và những người này lập tức chuyển sang trồng khoai, sắn, lạc… những thứ đủ cho cuộc sống hàng ngày của họ.

Trồng mía lôi thôi hơn, phải chế biến thành đường rồi xuất khẩu mà việc này chỉ bọn da trắng biết làm. Có thể nói sau khi độc lập, nước Haiti của nô lệ giải phóng, hoàn toàn không có tầng lớp tinh hoa. Trước đây các bác sỹ da trắng chữa bệnh thì sau cách mạng việc chữa bệnh là của thày phù thuỷ, chưa nói đến các kiến thức khác… Hễ ai có sáng kiến làm giàu một chút lập tức bị quan chức tước đoạt hết. Từ một nền kinh tế nông nghiệp xuất khẩu giàu có Haiti trở thành một nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp vì căn cứ văn hoá của phát triển đã bị trục xuất khỏi Haiti cùng với thành phần tinh hoa của xã hội…

Đất nước Haiti không thể tiến lên được vì họ thiếu hẳn tầng lớp tinh hoa làm hạt nhân tinh thần cho dân tôc. Ngày nay, 80% sinh viên Haiti tốt nghiệp đại học di cư ra nước ngoài; 50% dân số mù chữ. Haiti thật sự là địa ngục của chậm phát triển và lời nguyền của độc lập…

Một đất nước được thành lập và cai trị bởi các nô lệ ưa bạo lực và mù quáng đã không thể phát triển lên được vì đã huỷ hoại đi nền tảng tinh thần của phát triển. Thật kỳ khôi là điều này lại được lặp lại với nước Zimbawe. Từ một đất nước Rodesia đang phát triển của thiểu số da trắng trở thành đất nước Zimbawe cách mạng của đa số da đen, lụn bại và phụ thuộc vào Trung Quốc.

Dốt nát và độc tài không bao giờ đồng hành với phát triển. Phát triển có đạo lý riêng của nó; đó là: công bằng, minh bạch, khai sáng, dân chủ và tự do dân sự!

Thật là may mắn và kỳ diệu!

Những câu chữ dẫn thượng của tác giả Đặng Dũng vừa mới được đưa lên FB (chưa đến 30 giây) là đã có phản hồi tức khắc: “Ủa! Sao giống y chang như cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam vậy cà?”

Ơn Trời!

Tưởng vụ gì khác chớ chuyện cách mạng ở xứ sở mình thì tui rành (sáu câu) nên nói là “giống y chang” thì e không đúng đâu. Cũng có vài điểm dị biệt (nho nhỏ) chớ:

  • Trong năm 1804 họ đã thảm sát 5000 người da trắng, không cho phép người da trắng được sở hữu tài sản tại Haiti và cuối cùng là trục xuất toàn bộ người da trắng khỏi Haiti. Cách mạng Việt Nam thì không hề “thảm sát” hay “trục xuất” một người da trắng nào sất. Thay vào đó, họ giết chết đâu cỡ gần hai trăm ngàn nông dân (vì bị quy là thành phần địa chủ) trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất xẩy ra hồi 1953 – 1956. Qua tới 1975 thì họ nhốt tù dài hạn cả triệu binh lính VNCH mà không qua một phiên toà nào ráo.

Còn trong vụ “trục xuất” cái đám người “bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” ra khỏi Việt Nam (bằng hình thức vượt biên) thì thiên hạ ước đoán là đã có chừng vài trăm ngàn thuyền nhân vùi thây trong lòng biển cả (*).

  • Họ hết xưng là thủ lĩnh, toàn quyền rồi hoàng đế… các trang trại mía đường, cafe được chia cho các chiến binh và những người này lập tức chuyển sang trồng khoai, sắn, lạc… những thứ đủ cho cuộc sống hàng ngày của họ. Việt Nam thì không đến nỗi kém văn minh tới cỡ đó đâu. Tất cả mọi chức vụ mà các đồng chí lãnh đạo cách mạng cấp cao đảm trách (liên tu bất tận, từ thập niên này qua thập niên khác) đều qua bầu bán đàng hoàng, và họ luôn luôn được từ 95 đến 99 phần trăm cử tri tín nhiệm.

Thêm chút khác biệt nữa là sau khi cách mạng thành công thì đất đai bỗng trở thành là tài sản của toàn dân nên khỏi cần chia chác gì hết. Bởi thế  mới có cảnh nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng,” và hình ảnh của các cựu chiến binh… : Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ/  Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ/ Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ !

  • Ngày nay, 80% sinh viên Haiti tốt nghiệp đại học di cư ra nước ngoài… Đại đa số sinh viên Việt Nam thì lại khác. Họ chọn lựa ở lại để phục vụ quê hương đất nước, trong lãnh vực giao thông vận tải, bằng cách chạy… Grabike.

Ngoài những tiểu dị trên thì Haiti và Việt Nam lại có một điểm tương đồng lớn:

Đất nước Haiti ngày càng điêu tàn, tài nguyên bị phá sạch, đất đai bạc màu dần. Những người lãnh đạo vơ vét tất cả những gì có thể vơ vét được còn nhân dân Haiti thì rơi xuống tận cùng của khốn khó …

TNT

(*) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam – Vietnamese Boat People

  • Jacqueline Desbarats and Karl Jackson (“Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace”, in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.
  • Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
  • Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.
  • Estimates for the number of Boat People who died:
    • Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum
    • The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.
    • The 3 Aug. 1979 Washington Postcites the Australian immigration minister’s estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.
      • Also: “Some estimates have said that around half of those who set out do not survive.”
    • The 1991 Information Please Almanac cites unspecified “US Officials” that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.
    • Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
    • Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))
  • Rummel
    • Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
      • Executions: 100,000
      • Camp Deaths: 95,000
      • Forced Labor: 48,000
      • Democides in Cambodia: 460,000
      • Democides in Laos: 87,000
      • Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Bình luận bóng đá & lãnh đạo quốc gia

Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Cơn suyễn đến bất ngờ khiến tôi phải nằm bẹp (dí) trong một cái nhà trọ tồi tàn, ở ngoại ô Bangkok. Thái Lan lại đang ở giữa mùa mưa, mưa nhiệt đới: tơi tả, xối xả, và tá lả …

Trời buồn, lòng buồn, cả vũ trụ – tất nhiên – cũng buồn luôn và buồn thê thảm! Rượu không dám nhấp môi, đã đành; bia cũng khỏi dám đụng tới luôn. Thuốc lá chỉ cần nhìn cái bao thôi … đã muốn ho hen rồi.

Phen này chắc chết, chết chắc. Adieu, nhân loại. Vĩnh biệt cuộc đời!

Nằm chờ vài ngày mà Thần Chết vẫn chưa chịu đến nên đâm ra chán. Tôi bèn bật TV coi chơi chút xíu. Màn hình bất ngờ hiện ra cảnh trận bóng U 23 Việt Nam vs U 23 Nam Hàn, trên sân cỏ Indonesia. Dù hoàn toàn không mặn mà gì lắm với thể dục thể thao, tôi cũng ráng xem cho đến giây phút cuối. Để lỡ mà qua đời (thiệt) còn có chuyện mà “tám” với mấy con ma, ở thế giới bên kia.

Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy những cầu thủ đồng hương tranh tài. Thiệt không có gì để có thể phàn nàn. Các em chơi rất tới, rất hết mình, và rất đáng ngợi khen.

Đây cũng là lần đầu tiên tôi được nghe những lời bình, bằng tiếng mẹ đẻ, trong một trận túc cầu. Bình luận viên hay nhắc đi nhắc lại những cụm từ rất nặng nề: xử lý tình huống, quật khởi, nỗ lực kiên cường, phương cách đá, tham gia lấy bóng, khoảng cách lợi thế, sự tiếp cận, sự thay người, toả sáng …

Nghe sao mà mệt cầm canh. Tiếng nước tôi (vốn) đâu có gò bó, nghiêm trọng, và thậm xưng dữ vậy – hả Trời? Đến phút thứ 69, cầu thủ Minh Vương sút một quả banh tuyệt đẹp vào lưới đối phương, bình luận viên mô tả đây là … một “siêu phẩm” của bóng đá!

Loại ngôn ngữ cường điệu này (tôi đoán) đã phát triển qua hệ thống loa đài – giăng mắc khắp phố phường, len lách vào từng thôn xóm, và ăn sâu vào tâm trí người dân – từ rất lâu rồi:

“Có một lần từ mặt trận đường 9 ghé về thăm nhà, tôi gặp đúng đêm máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội. Còi báo động từ Nhà hát Lớn rú vang. Quầng sáng ánh đèn điện phía nội thành bỗng như dụi tắt bớt. Rồi những chùm đạn phòng không đỏ lừ thun thút lao lên vòm trời. Rồi bom nổ phía Yên Viên, Cầu Giát…

Còi báo yên, đàn chó trong làng vẫn sủa râm ran, đường làng ngõ xóm vẫn rậm rịch bước chân người, không một ai ngủ lại cả. Các cô các chị thức thẳng từ lúc đó cho tới lúc quẩy gánh rau húng, rau thơm tới các phiên chợ sớm. Người làng Láng chia sẻ âu lo với người nội thành như thế đấy!

Giữa phút tĩnh lặng, nghiêm trang ấy tôi bỗng nghe có tiếng gì động mạnh như tiếng ai đập chiếu trên mặt ao, tiếng đổ vỡ loảng xoảng, ngay sau đó là tiếng kêu la của một người đàn bà:

Ối bà con xã viên đội một, đội hai, đội ba, đội bốn ơi! Lão chồng tôi tàn ác, thâm độc như đế quốc thực dân. Nó đánh tôi trường kỳ, gian khổ như thế này làm sao tôi chịu nổi?

Đêm sau máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá Hà Nội. Đúng vào giây phút không ai chợp mắt nổi ấy, bà Hin lại chạy bổ ra đường la hét váng động cả xóm:

Ới bà con xã viên ơi! Chiều nay lão chồng tôi không nấu cơm cho tôi ăn. Nó còn giấu biệt hòm gạo đi. Nó rắp tâm triệt hạ kinh tế tôi đấy mà! (Tô Hoàng – “Nỗi Buồn Lâu Qua.” Talawas blog).

Cuộc chiến đã tàn từ lâu nhưng “nỗi buồn chiến tranh” bao giờ mới “qua” thật khó khó có câu trả lời chính xác nhưng rõ ràng là mãi cho đến tuần rồi (vào hôm 29 tháng 8) thì ngôn ngữ thời chiến, cùng mùi thuốc súng lẫn mùi vị tuyên truyền, vẫn còn thoang thoảng trong buổi tường thuật của trận cầu Asiad 2018. Miệng lưỡi của các đồng chí lãnh đạo hiện nay cũng vậy, cũng vẫn còn âm điệu (phèng la) của những người bán thuốc Sơn Đông:

– Toàn cầu bất ổn nhưng Việt Nam rất ổn

– Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam trong top 3 thế giới

– Việt Nam là nước giàu nhanh nhất thế giới 10 năm qua

– Ngày nay, chúng ta ngẩng cao đầu, sánh vai cùng cường quốc

– Việt Nam tuy là nước có thu nhập thấp nhưng có chỉ số hạnh phúc cao thứ 5 thế giới

Những gánh Sơn Đông Mãi Võ có nguồn gốc tuốt luốt bên Tầu. Bởi thế, ngay tại sân nhà, đồng chí Tập Cận Bình còn “nổ” lớn hơn nhiều, lớn đến độ mà có lẽ ngay cả chính đương sự cũng phải … ù tai:

Trung Quốc đang ở vào một “thời cơ lịch sử”, bước vào một “kỷ nguyên mới” sẽ được đánh dấu bằng sự kiện đất nước đang trở thành một “lực vĩ đại” [mighty force] trên thế giới và đóng một vai trò gương mẫu [role model] cho việc phát triển chính trị và kinh tế.

Những lời bình có cánh không thể làm thay đổi được tỷ số (3 – 1) trong trận banh  Olympic vừa qua. Những câu tuyên bố thậm xưng và cường điệu của những vị lãnh đạo quốc gia cũng thế. Cũng không thể nâng cao “vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế,” hay thay đổi được “chỉ số thị trường chứng khoán” – đang rơi tự do – bên nước (bạn) Trung Hoa Vỹ Đại.

Đến khi mà thực trạng bị phơi bầy hằng ngày, ở khắp mọi nơi, và vô phương che đậy thì giới quan chức của nhà nước Việt Nam lại loay hoay tìm một cách nói mới (newspeak) để làm giảm nhẹ sự nghiêm trọng của mọi vấn đề:

– Cướp đất = giải phóng mặt bằng

– Thuốc giả = thuốc không có khả năng trị bệnh

– Cầu gẫy = cầu tạo hình chữ V

– Tát = gạt tay trúng

– Đá = dơ chân quá cao

– Ngập = tụ nước

– Lụt = thế nước đang lên

– Chuyến bay bị hủy hay bị chậm = bay chưa đúng giờ

– Tầu Trung Cộng = tầu lạ

– Biểu tình = tụ tập đông người

Theo nhà báo Từ Thức thì những “nhúm từ ngữ ngây ngô” này cũng chả phải là “chuyện tình cờ.” Ông trích dẫn lời của Joseph Goebbels (Bộ Trưởng Thông Tin Tuyên Truyền của Đức Quốc Xã) để minh thị cho nhận xét của mình:

“Chúng ta không muốn (không cần) thuyết phục dân chúng về tư tưởng của ta. Chúng ta chỉ muốn thu nhỏ cái vốn ngữ vựng của họ, tới độ họ chỉ còn đủ chữ để diễn tả tư tưởng của ta.”’

Thời của Joseph Goebbels đã qua, và đã xa như dĩ vãng. Mọi thứ ngôn từ ma mị (cùng những trò ma bùn/ma tịt/ma mãnh) đều trở thành lố bịch, và không còn đất sống trong thế giới phẳng hiện nay.

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Những Rổ Tép Khô

Tưởng Năng Tiến

Tôi bước vào tuổi dậy thì cùng với những sáng tác đầu tay của của Trịnh Công Sơn:

Gọi nắng

Cho cơn mê chiều

Nhiều hoa trắng bay…

Trong căn nhà vắng – sau giấc ngủ trưa muộn màng – nằm lắng nghe Hạ Trắng bỗng thoáng thấy buồn, và không dưng tôi hiểu ra thế nào là nỗi buồn vô cớ. Giữa đêm (những đêm dài giới nghiêm) ngồi ôm đàn hát mỗi mình, trên sân thượng – nhìn hoả châu rơi, loé sáng ở chân trời – rồi chợt biết thèm muốn một cuộc sống bình an:

Ta đã thấy gì trong đêm nay

Cờ bay trăm ngọn cờ bay

Rừng núi loan tin đến mọi miền

Gió Hoà bình bay về muôn hướng …

Mẹ già cười xanh như lá mới trong khu vườn

Ruộng đồng Việt Nam lên những búp non đầu tiên

Một đoàn tàu đi nhả khói ấm hai bên rừng…

Chinh chiến rồi tàn. “Gió hoà bình bay về muôn hướng” nhưng người dân trên những đoàn tầu Thống Nhất, tiếc thay, không mấy ai cảm thấy hồ hởi hay phấn khởi gì.

Kẻ lo bị móc túi, nếu có tí tiền. Người lo hàng hoá bị tịch thu, nếu là dân buôn bán. Và tất cả đều sợ bị đá ném vào đầu. Những hòn đá xanh, to bằng nắm tay, được trẻ con dọc hai bên đuờng thi nhau ném vun vút vào cửa sổ.

Những con tầu rất bất an (trên đường sắt Bắc/Nam) đã không hớn hở hú còi, và cũng không hân hoan “nhả khói ấm hai bên rừng,” như dự tưởng của người nhạc sĩ tài hoa!

Hành khách Trần Thành Nam tường thuật:

“Ở mỗi ga, khoang tàu biến thành cái chợ hay hàng ăn, tùy vào thời điểm. Ngoài sự nghèo đói, lộn xộn, mất vệ sinh và nói chung là kém văn hóa là đặc trưng của những gì xảy ra trên chuyến tàu đó hay cho cả đất nước ta thời đó, điều tôi nhớ nhất và thất vọng vô cùng là: từ Nam ra Bắc tôi hầu như không thấy một nụ cười trên gương mặt một ai cả…

Ở một ga miền Bắc Trung bộ, tôi không nhớ ở đâu, hình như ở xứ Thanh, có một cô bé khoảng 14-15 đội lên tàu bán một rổ tép khô. Do đông người đi lại bán hàng va chạm, rổ tép khô của cô bé bị rơi đổ hết xuống sàn tàu, ngay trước mắt tôi và cách chỗ tôi ngồi chừng 1-2 mét.

Cô bé hốt hoảng lo sợ, luốn cuống quì xuống gom vội tép lại. Theo bản năng ‘ga lăng’, tôi lao ngay ra giúp cô bé vơ tép khô lại thành từng đống nhỏ. Cùng lúc đó, nhiều người xung quanh cũng đều xông vào, đa số cũng là những người bán hàng trên tàu như cô bé, xúm lại làm như tôi: vơ tép khô của cô bé gọn lại. Tôi cười nhìn mọi người và nghĩ: ‘Ồ, mọi người tốt quá! Thế mà mình đã nghĩ dân ta bây giờ không yêu quí nhau như trước nữa…’

Chưa kịp nghĩ hết ý trên thì tôi đã đớ người ra khi nhìn thấy mọi người không bốc tép khô vào rổ cho cô bé như tôi mà cho vào những cái túi riêng của họ! Một loáng, sàn tàu đã sạch trơn không còn tí tép khô nào! Và mọi người thản nhiên bỏ đi với những túm tép khô vơ vét được của họ, như không có gì xảy ra…

Tôi chẳng thấy nét mặt ai mừng rỡ hay buồn hay ái ngại gì cả, bình thường… Còn cô bé đứng dậy co dúm thút thít khóc bên cạnh rổ tép khô nay chỉ còn một vốc. Tôi cứ đứng bên cạnh cô bé, ngơ ngác và lòng rưng rưng với nắm tép khô còn chưa kịp đưa vào rổ của cô bé, và không hiểu tại sao mọi người làm như thế!

Còn những hành khách trong toa tàu, trong đó có mẹ tôi, đã chứng kiến toàn bộ chuyện đó, cũng làm ngơ, không ai phản đối gì, cho là chuyện bình thường…

Cho đến hôm nay tôi vẫn còn khinh ghét con người mình vì lúc đó đã không làm được việc mình muốn làm nhất là gào thét lên: ‘Mọi người! Hãy trả lại tép khô cho cô bé!”

Cô bé bán tép – có lẽ – là một trong những “dân oan” đầu tiên của đất nước, kể từ khi Nam/Bắc hòa lời ca. Với thời gian, số lượng dân oan lên đến hằng chục triệu người (vật vạ, la lết, lang thang, vất vưởng) ở khắp mọi nơi.

Mất tép hay mất đất, tự bản chất, chả khác chi nhiều. Rổ tép đang cầm thì vẫn còn là của mình nhưng sau khi lỡ tay, hoặc trượt chân, làm đổ thì mớ tép khô (bỗng) thuộc “quyền sở hữu của toàn dân.”

Bất cứ ai đang có mặt tại chỗ cũng có quyền vơ vét, cất giữ như của riêng tư.

“Hiến pháp 1959 vẫn chưa ‘quốc hữu hóa đất đai’ như Hiến pháp 1936 của Liên Xô mà nó được coi là một bản sao. Cho dù, từ thập niên 1960 ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970 ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức thuộc về “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980…

Chiều 18-1-2011, khi điều khiển phiên họp toàn thể của Đại hội Đảng lần thứ XI biểu quyết lựa chọn giữa ‘chế độ công hữu về tư liệu sản xuất’ và ‘quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp’, ông Nguyễn Phú Trọng hứa với Đại hội ‘thiểu số sẽ phục tùng đa số’. Nhưng, tháng 5-2012, Ban Chấp hành Trung ương mà ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư vẫn quyết định duy trì ‘chế độ công hữu’ với đất đai, ‘tư liệu sản xuất” quan trọng nhất.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Nói cho nó gọn lại là luật pháp của Nhà Nước Cách Mạng đã khiến cho tài sản ruộng đất của bao người trở thành một rổ tép khô, có thể bị hất đổ tung toé bất cứ lúc nào, tùy vào dự án của các doanh nghiệp và lòng tham của đám quan chức địa phương.

Họ hành xử cũng tồi tệ chả khác gì đám hành khách có mặt trên con tầu năm nọ: Một loáng, sàn tàu đã sạch trơn không còn tí tép khô nào! Và mọi người thản nhiên bỏ đi với những túm tép khô vơ vét được của họ, như không có gì xảy ra… Còn cô bé đứng dậy co dúm thút thít khóc bên cạnh rổ tép khô nay chỉ còn một vốc.

Có bao nhiêu người dân oan Lộc Hưng đang đứng khóc thút thít bên những căn nhà đổ nát của họ. Có bao nhiêu người dân oan Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Long An, Cần Thơ, Đồng Nai, Dak Nong … đang “co dúm thút thít” trên mảnh đất (còn lại) mà diện tích chỉ đủ dựng một túp lều, kỳ dư đã bị thu hồi với giá đền bù “mỗi m2 bằng giá một… cốc bia” – theo như ghi nhận của blogger Đào Tuấn.

Mà nào có riêng chi ruộng đất. Dưới mắt của giới quan chức hiện nay thì quĩ bảo hiểm xã hội cũng thế, cũng có khác chi một rổ tép khô:

– Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ vỡ quỹ theo cách nào?

– Quỹ BHXH: ALC II phá sản, bao nhiêu tỷ đồng gửi quỹ khó thu hồi

– Người lao động còn lại gì từ Quỹ Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam?

– Bảo hiểm xã hội cho vay 1.000 tỉ, có nguy cơ mất 800 tỉ

– Quỹ Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam: Kiểu nào cũng vỡ

– Nguyên Tổng giám đốc BHXH cho vay hàng nghìn tỷ đồng trái quy định…

Rõ ràng chả cần đến lúc rổ tép đổ, cả đám quan chức vẫn cứ (nháo) nhào vào giật tới tấp và giật tự nhiên như chốn không người. Lịch sự hơn chút xíu là cách “giật tép” của qúi vị chuyên trị “mảng” Doanh Nghiệp Quốc Doanh, vay vốn ưu đãi từ những Ngân Hàng Nhà Nước, và tìm mọi cách để kinh doanh thua lỗ:

– Lộ diện những doanh nghiệp lỗ khủng

– Kiểm toán chỉ ra hàng loạt doanh nghiệp nhà nước lỗ lớn, nợ chồng chất

– Doanh nghiệp nhà nước nợ 60 tỷ đôla

– Hàng loạt doanh nghiệp nhà nước lỗ nặng, nợ hàng chục ngàn tỉ khó đòi

Tuy khó đòi nhưng trước sau gì cũng có người phải trả, và số tiền này được báo Thanh Niên số ra ngày 17 tháng 8 năm 2018 tính gọn như sau: “Bình quân mỗi người gánh hơn 35 triệu đồng nợ công năm 2018, tăng gần 4 triệu đồng mỗi người so với năm 2017.”

Với thời gian, con số nợ công (tất nhiên) sẽ không dừng ở đó vì dưới mắt quan chức của chế độ hiện hành thì mọi tài sản và tài nguyên của đất nước có chả khác chi cái rổ tép khô trên tay một em bé gái quê đâu.

8/2019