Nghề Nail ở Mỹ, ai trong nghề mới hiểu…

Phạm Sơn liêm

Có người hỏi tôi:

– Làm nail ở Mỹ chắc giàu lắm hả? 

Tôi cười.

– Giàu… kinh nghiệm thì có.

 Muốn biết nghề nail là gì, cứ đứng trước cửa tiệm lúc 9 giờ sáng.

 Chủ tiệm cầm ly cà phê chưa kịp uống.

Điện thoại reo.

– Chị ơi…

– Gì em?

– Hôm nay em nghỉ nha.

– Sao vậy?

– Xe em… không chịu nổ.

– Xe hư hả?

– Dạ… em chưa ra xe nữa, nhưng em có linh cảm.

 Chủ tiệm tắt điện thoại.

Thở dài. Mở cửa.

 Mỉm cười đón khách như chưa có chuyện gì xảy ra.

10 giờ.

Khách bước vào.

– Tôi có hẹn.

– Dạ, mời chị.

– Tôi chỉ có ba mươi phút thôi nha.

 Trong đầu chủ tiệm nghĩ:

“Ba mươi phút mà muốn full set, ombré, vẽ hoa, đắp bột, đính đá… chắc phải có phép màu.” 

Ngoài miệng vẫn cười:

– Dạ, tụi em cố gắng.

11 giờ.

 Thợ nhìn lịch.

– Hôm nay đông quá chị.

 12 giờ.

– Chị ơi… em xin về sớm.

– Sao vậy?

– Em mệt.

– Khách còn cả chục người.

– Dạ… em mệt thiệt.

 Thế là chủ tiệm lại xắn tay áo, kéo quần ngồi làm. Có ngày làm tới tối. Đứng lên mới biết… chân mình còn! 

Khách thì đủ hạng.

Có bà dễ thương. Làm xong.

– Cảm ơn em nhiều nha.

Tip hai mươi đô. Người thợ vui cả ngày.

 Nhưng cũng có bà… Làm hai tiếng rưỡi. Đổi màu ba lần.

 Sửa từng ngón.

 Xong đứng dậy. Để lại… Một đồng.

Rồi cười:

– See you next time!

 Người thợ cũng cười. Nhưng trong lòng chỉ muốn hỏi:

“Next time… chị nhớ mang theo cái ví lớn hơn nha!”

 Có ông chồng đưa vợ đi làm nail. Ngồi ghế chờ. Mười phút hỏi:

– Xong chưa?

Ba mươi phút sau.

– Còn bao lâu?

Một tiếng sau.

– Sao lâu dữ vậy?

 Đến khi tính tiền. Ông nhìn hóa đơn. Rồi nhìn bộ móng.

Lẩm bẩm:

– Anh thấy cũng giống hồi nãy mà… Bà vợ liếc một cái.

 Ông im luôn.

 Rồi đến mùa hè. Mùa cưới.

 Mùa prom. Mùa tốt nghiệp.

 Điện thoại reo liên tục.

– Chị còn chỗ không?

– Dạ hết rồi.

– Em làm giúp chị năm người.

– Dạ… hết thật rồi.

– Thôi ráng chen đi.

 Chủ tiệm nhìn lịch kín đặc. Chỉ biết cười trừ.

 Còn chuyện mở tiệm… Đó mới là câu chuyện dài. Hôm nay thấy bạn khai trương.

Tuần sau mình cũng mở.

 Tiệm nào cũng:

“Grand Opening.”

“Tặng quà.”

“Giảm giá.”

“Free design.”

“Free paraffin.”

 Khách thì vui. Chủ tiệm thì hồi hộp.

 Sáu tháng sau…

 Có tiệm đông nghịt. Có tiệm lặng như tờ. 

Có tiệm âm thầm sang bảng hiệu.

 Người ngoài tưởng làm chủ là oai. Người trong nghề mới biết… Làm chủ nhiều khi là người về sau cùng. Tắt đèn cuối cùng. Khóa cửa cuối cùng. Và là người thức khuya nhất để tính xem… Tháng này đủ tiền trả tiền thuê chưa?

 Hai mươi, ba mươi năm trôi qua. Biết bao gia đình người Việt lớn lên từ nghề nail.

 Có người từ đôi bàn tay cầm cây dũa mà nuôi con thành bác sĩ.

Có người nuôi con thành kỹ sư.

Có người trả xong căn nhà đầu tiên.

Có người đón được cha mẹ sang Mỹ đoàn tụ.

 Nghề nail không phải nghề sang.

Nhưng là nghề lương thiện.

Không phải nghề dễ.

 Nhưng là nghề đã cưu mang hàng trăm ngàn người Việt trên đất Mỹ.

Vì vậy, nếu một ngày bạn bước vào tiệm nail, hãy mỉm cười với người thợ.

Có thể họ đã ngồi tám tiếng liên tục.

Có thể lưng họ đang đau.

Có thể tối nay họ còn phải về đón con, nấu cơm, trả hóa đơn.

 Nhưng họ vẫn sẽ hỏi bạn bằng nụ cười quen thuộc:

“Hôm nay mình làm màu gì, chị?”

 Đó không chỉ là một câu hỏi.

 Đó là cách họ tiếp tục mưu sinh, nuôi gia đình và giữ lấy giấc mơ Mỹ bằng chính đôi bàn tay của mình.

 Phạm Sơn liêm


XIN HIỆP Ý CẦU NGUYỆN CHO THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

Thanh Nguyen

 XIN HIỆP Ý CẦU NGUYỆN CHO THẦY STÊPHANÔ NGUYỄN KHẮC DƯƠNG

Một cuộc đời dài đã khép lại…

Vào lúc 20g15, thứ Hai, ngày 28/09/2026,

Thầy Stephanô Nguyễn Khắc Dương đã nhẹ nhàng được Chúa gọi về.

Trong giây phút lắng đọng và thương nhớ này, Tu Đoàn chúng con kính xin quý Đức cha, quý Cha, quý Tu sĩ, quý thân nhân, ân nhân và mọi người cùng hiệp ý cầu nguyện cho Thầy.

Hơn một thế kỷ của một kiếp người, với biết bao năm tháng, vui buồn, hy sinh và phó thác… giờ đây xin được trao lại tất cả trong vòng tay nhân từ của Thiên Chúa.

Thầy đã đi hết một hành trình thật dài.

Xin Thầy bình an trở về Nhà Cha.

Lạy Chúa, xin cho linh hồn Thầy Stephanô được nghỉ yên muôn đời,

và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên linh hồn Thầy.

Xin mọi người hiệp ý cầu nguyện


 

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Cang Huynh

GIÀ ĐI VỚI LÒNG BIẾT ƠN.

Hôm nay, trong lúc chờ đến lượt khám bệnh, tôi nhìn quanh phòng chờ.

Có những người ở độ tuổi 50, 60, 70, thậm chí 80. Một số người chờ gặp bác sĩ, một số chờ xét nghiệm, và những người khác chờ điều trị. Ai cũng dường như mang trong mình những lo lắng, đau nhức và những cuộc chiến thầm lặng.

Một người phụ nữ ngồi gần đó đang nói về việc già đi khó khăn như thế nào. Bà ấy nói về bệnh tật, đau đớn, thuốc men và tất cả những vấn đề dường như đi kèm với tuổi già.

Tôi lặng lẽ lắng nghe.

Rồi tôi nhìn qua cửa sổ.

Bên ngoài có một cụ bà không chờ gặp bác sĩ. Bà ấy không đến đó để xét nghiệm hay điều trị.

Bà ấy chỉ đơn giản hy vọng ai đó sẽ cho bà vài đồng xu để mua thuốc giảm đau.

Thế mà, bà ấy vẫn mỉm cười.

Khoảnh khắc đó vẫn còn đọng lại trong tôi.

Một số người trong chúng ta may mắn có bác sĩ để tham khảo ý kiến, các xét nghiệm mà chúng ta có đủ khả năng chi trả, thuốc men để uống và người thân chăm sóc. Những người khác lại phải vật lộn để có đủ tiền mua ngay cả những thứ đơn giản như giảm đau.

Và người phụ nữ ấy vẫn mỉm cười.

Điều đó khiến tôi nhận ra rằng có lẽ tuổi già không phải lúc nào cũng là điều khiến chúng ta nặng lòng.

Đôi khi, chính cách chúng ta nhìn nhận tuổi già mới là vấn đề.

Đúng vậy, tuổi già mang đến những thách thức. Hôm nay có thể là huyết áp cao, ngày mai là đường huyết, đầu gối đau nhức, xương khớp mỏi mệt, đau lưng, hoặc một vấn đề sức khỏe bất ngờ.

Đó là lý do tại sao chúng ta phải chăm sóc bản thân.

Đi khám bác sĩ khi cần thiết.

Uống thuốc khi cần.

Giữ cho cơ thể vận động.

Ăn uống lành mạnh hơn.

Nghỉ ngơi khi cần.

Và đừng bao giờ bỏ qua một vấn đề có thể điều trị được.

Nhưng trong khi chăm sóc cơ thể, chúng ta phải nhớ một điều quan trọng không kém:

HÃY CHĂM SÓC TÂM HỒN CỦA BẠN.

Bởi vì cơ thể có thể già đi nhưng trái tim vẫn có thể trẻ trung.

Có thể ta bước đi chậm hơn, nhưng ta vẫn có thể tận hưởng cuộc hành trình.

Tóc ta có thể bạc đi. Khuôn mặt ta có thể xuất hiện nếp nhăn. Cơ thể ta có thể có thêm vài cơn đau nhức.

Nhưng ta vẫn có thể cười.

Ta vẫn có thể thưởng thức một tách cà phê.

Nghe bài hát yêu thích của mình.

Ngồi bên những người ta yêu thương.

Ngắm hoàng hôn.

Tận hưởng một buổi sáng yên tĩnh.

Nắm tay ai đó.

Và biết ơn vì một ngày mới.

Già đi không có nghĩa là cuộc sống kết thúc.

Nó chỉ đơn giản có nghĩa là cuộc sống đã thay đổi.

Vì vậy, đừng coi tuổi già là một hình phạt.

Hãy coi đó là một chương mới – một chương xứng đáng được kiên nhẫn, chấp nhận, cười và biết ơn.

Hãy chăm sóc cơ thể mình.

Bảo vệ sự bình yên của bạn.

Nuôi dưỡng tâm hồn bạn.

Và hãy nhớ:

Chừng nào bạn còn sống, vẫn còn điều gì đó để biết ơn.

Và chừng nào bạn còn thở, bạn vẫn còn thời gian để sống một cuộc đời tươi đẹp. 

– Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.


 

BA TÔI, NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG !!!

Xuyên Sơn – 

September 19, 2023

BA TÔI, NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG !!!

Last updated Th9 18, 2023

Từ trước đến nay, có rất nhiều tờ báo cũng như bài viết nhận định về cuộc đời của nhạc sĩ Trúc Phương, có người nói ông sau 1975 có cuộc sống khốn khó, có người viết rằng ông sống quá bi đát, rồi cũng có tờ báo nói rằng khi qua đời ông chẳng còn gì cả …..

Những điều này có đúng là sự thật hay không ? xin mời quý vị xem qua lời tâm tình của những người con nhạc sĩ

Trúc Phương.

*****

Chị Trúc Loan, một người con gái của nhạc sĩ Trúc Phương tâm sự như sau :

Ba tôi sinh năm 1933, tại xã Mỹ hòa, quận Cầu ngang, tỉnh Trà vinh.

Quê nội tôi hiền hòa, chơn chất, nhưng nghèo khó nên ba tôi đã đi lên Sài gòn từ nhỏ. Ông vừa học, vừa làm, và cũng để theo đuổi niềm đam mê âm nhạc của mình.

Ba tôi viết nhạc và nổi tiếng từ rất sớm nhờ dòng nhạc boléro chậm, trữ tình của ông dễ nhớ, dễ nghe.

Ngoài cây đàn guitar thường xuyên bên cạnh, ba tôi còn biết chơi thành thạo các nhạc cụ khác.

Hồi còn nhỏ xíu, có lần theo ba đi Đại nhạc hội, ba tôi còn đàn contrabass trong dàn nhạc nữa, lúc đó tôi rất ngạc nhiên vì cây đàn quá to này, ba phải đứng mới cầm được nó…

Khi chơi với các con, ba tôi thường lấy cây harmonica ra thổi…

Ba gặp má tôi khi bà còn đang đi học.

Ba cưới ngay khi má chỉ 16 tuổi !

Tôi được sinh ra vào thời điểm ba tôi viết nhạc nhiều nhất.. dù sau đó, tôi còn có thêm 5 đứa em nữa, nhưng ba vẫn luôn cưng tôi nhất nhà.

Ba tôi là một người đàn ông rất yêu gia đình, thương vợ thương con.

Ba tôi cũng là 1 người con, người cháu rất có hiếu.

Ngày xưa, dù nghèo, ở nhà thuê, nhưng ba tôi cũng nuôi bà cố tôi chu đáo. Khi làm có tiền, ba hay mua sắm đồ đạc mang về quê cho bà nội tôi…

Ba tôi hiền lành, chân thật , rất lạc quan và tốt bụng. Có lẽ vì vậy nên ai cũng quý mến.

Tính ba tôi lại rất nghệ sĩ, không vụ lợi, không tính toán nên không có dư.

Gánh nặng cơm áo gạo tiền, má tôi phải gánh vác từ lúc ba tôi phải nhập ngũ..

h2 – Chị Trúc Loan, con gái nhạc sĩ Trúc Phương.

Sống trong thời chiến, lại phải làm lính xa nhà, nên có lẽ ba tôi là người hiểu,  cảm nhận được tâm tình của người lính nên các sáng tác của ông lúc này là luôn dành cho những người lính: 

Kẻ ở miền xa,

Bông cỏ may,

Trên 4 vùng chiến thuật,

Để trả lời 1 câu hỏi,

Đêm trên vùng đất lạ,

Một người đi xa,

Người nhập cuộc…

Hàng trăm bản nhạc của ông, được biết rộng rãi chưa đến 20 bài, theo danh mục cho phép của nhà nước…

Nhạc của ba tôi không vui, không xập xình ồn ào, nhưng âm thầm lắng đọng, lặng lẽ đi vào lòng người nghe bởi cái chân thật, ngọt ngào. Bởi vì khi viết, ba tôi sáng tác với cả tấm lòng, mỗi bài nhạc đều ẩn chứa những lời tự sự, những nỗi buồn…

Đọc bài viết về Trúc Phương trên trang wikipedia, đoạn cuối:

rõ ràng là người viết không biết gì nhiều về ông, gia đình tôi rất bức xúc về điều này. Có những bài viết không chính xác, “tam sao thất bổn”, không khách quan, không đúng về ba tôi.

Trước khi mất khoảng vài tháng, năm 1995, trong 1 bài phỏng vấn, ba tôi có nói chuyện về cuộc sống sau khi vượt biên không thành, bị bắt, năm 1976.

Trở về , căn nhà ở số 301 nguyễn văn Thoại, (nay là Lý thường Kiệt), phường 15, quận 11 bị mất.

Không có nhà ở, không giấy tờ, phải mướn chiếu ngủ ngoài bến xe miền tây vì công an thường xuyên kiểm tra hộ khẩu, không ai dám chứa .. nhưng trong thời điểm đó, ai cũng khó khăn, khổ toàn xã hội , không riêng gì ba tôi, nhưng chưa bao giờ ông phải “đi chân không” hay “khi chết chỉ còn lại đôi dép..” như bài viết nào đó… Những người viết đó có lẽ không biết nhiều về ba tôi, về gia đình tôi, làm cho người đọc bàng hoàng, thương hại, đó là đi ều xúc phạm đến gia đình tôi…

(Trúc Loan)

Và dưới đây là trả lời của nhạc sĩ Trúc Linh, một người con trai của nhạc sĩ Trúc Phương :

Ok, tui không biết Ông Nguyễn Trung này là ai, nhưng ông này viết bài này có mục đích bôi bác Ba tôi và cả gia đình tui, nên tôi phải lên tiếng.

1- Ba tui sanh năm 1933

2- Ba tui không bao giờ uống rượu .

3- Ba tui lấy Má tui trong những năm cuối 50, năm nay tui củng 5 bó rồi, hehe

4- Má tui con nhà giáo, gia đình cũng khá, nhưng nhà ở Bến Tre.

5- Chiều Làng Em là bài Ông viết cho Má tui .

6- Ba tui không phải tự học nhạc,

mà có thầy dạy đàng hoàng.

7- Xung quanh nhà bà nội tui không hề có tre trúc gì ráo, nhà Má tui thì có.

8- Gia đình tui cũng không nghèo, Ba tui thường lái Mazda và Peugeos 404. Thời xưa củng có thời khó khăn, lúc Ông còn viết nhạc, nhưng sau này Ba Má tôi làm ăn thì củng khá lắm.

Khi giải phóng vào, thì có hơi sa sút. Nhưng đó là tình trạng chung của tất cả dân miền Nam, thời bao cấp.

9- Gia đình tôi có tới 6 anh chị em, có nghĩa là Ba và Má tôi chung sống củng khá lâu.

Họ ly dị vào khoảng năm 79.

10- Tác giả Nguyễn Trung viết rằng khi ông qua đời gia tài chỉ còn đôi dép là nói LÁO.

Ông không giàu có gì, nhưng củng không đến nổi thê thảm như vậy.

Tôi đã từng về thăm ông 3 tháng trước khi ông mất cho thấy điều này ông Trung quá bôi bác gia đình chúng tôi. Nói như thế có nghĩa là các con của ông không hề quan tâm tới ông.

Điều này KHÔNG ĐÚNG sự thật.

Chúng tôi lúc nào cũng quan tâm đến ông.

Cái bài lá cải này, Nguyễn Trung không biết nhiều chi tiết nhưng đã viết rất nhiều như chính Trung là nhân vật chính. Đọc bài này xong tôi rất là bất bình vì có quá nhiều chi tiết không đúng sự thật mà có quá nhiều người đọc.

Đến nổi MC Việt Dzũng của trung tâm Asia cũng lấy bài viết này làm tài liệu và cũng có lên trên chương trình trên Asia nói rằng khi Ba tôi mất, Ông chỉ còn đôi dép.

MC Việt Dzũng còn nói rằng đám ma Ba tôi, phải nhờ bạn bè quyên góp để làm mộ cho Ông.

Điều này củng không đúng.

Gia đình chúng tôi đã làm đám cho Ông đàng hoàng mà chưa từng lấy 1 Đồng tiền phúng điếu của ai cả.

Đây là điều không công bằng với Má tôi vì tôi có đọc vài bài, họ tả Má tôi như là 1 người đàn bà không đàng hoàng.

Thực sự Má tôi đã từng khổ vì Ba tôi tánh hay bay bướm, họ ly dị vì chính nguyên nhân này.

(TRÚC LINH)

h3 – Anh Trúc Linh, con trai nhạc sĩ Trúc Phương.

Lien Khuc Truc Phuong

– Duy Khanh, Thanh Thuy, Phuong Dung.

ASIA 74 Chiều Làng Em – Hà Thanh Xuân – Nhạc sĩ- Trúc Phương.  


 

TỪ THỦ KHOA HARVARD ĐẾN NỮ TU CÔNG GIÁO

Con Tin Chúa Ơi

 TỪ THỦ KHOA HARVARD ĐẾN NỮ TU CÔNG GIÁO

Mary Anne Marks, thủ khoa Đại học Harvard năm 2010, từng khiến nhiều người chú ý khi đọc bài diễn văn tốt nghiệp hoàn toàn bằng tiếng Latinh.

Ở thời điểm ấy, trước mắt cô là một tương lai rộng mở với học vấn và những cơ hội mà rất nhiều người mơ ước. Thế nhưng Mary Anne lại chọn một con đường hoàn toàn khác: rời giảng đường để bước vào đời sống thánh hiến.

Chỉ ít tháng sau khi tốt nghiệp Harvard, cô gia nhập Dòng Nữ tu Đa Minh Maria, Mẹ của Thánh Thể tại Ann Arbor, Michigan, Hoa Kỳ và nhận tên dòng là Sơ Maria Veritas, O.P.

Đối với Mary Anne, việc trở thành nữ tu không phải là từ bỏ tri thức hay những thành quả đã đạt được, nhưng là chọn dùng chính những gì mình đã lãnh nhận để dâng hiến cho Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.

Từ thủ khoa Harvard đứng trên lễ đài đọc diễn văn bằng tiếng Latinh đến đời sống âm thầm của một nữ tu Đa Minh, hành trình của Sơ Maria Veritas là một câu chuyện đặc biệt về ơn gọi, đức tin và sự lựa chọn dâng hiến.

Xin Chúa gìn giữ Sơ Maria Veritas luôn trung thành, bình an và tràn đầy niềm vui trong đời sống thánh hiến. 


 

Một phụ nữ gốc Việt họ Nguyễn (阮), 44 tuổi, tự xưng là “Phật sống chuyển thế”…

Một vụ án đặc biệt nghiêm trọng liên quan trực tiếp đến cộng đồng người Việt tại Đài Loan vừa được Cơ quan Di dân Đài Loan công bố. Một phụ nữ gốc Việt họ Nguyễn (阮), 44 tuổi, đã kết hôn và sinh sống tại Đài Loan hơn 20 năm, bị cáo buộc tự xưng là “Phật sống chuyển thế”, lấy danh nghĩa tôn giáo để lôi kéo tín đồ Việt Nam đưa cả con nhỏ sang Đài Loan “tu hành”. Kết quả điều tra cho thấy 4 trẻ em Việt Nam, khoảng 8–14 tuổi, bị bố trí làm việc không lương trong thời gian dài.

Theo CNA và United Daily News, người phụ nữ họ Nguyễn tự nhận có khả năng biết trước tương lai, đồng thời truyền bá những nội dung như “ngày tận thế sắp đến”, “nước sạch có thể chữa bệnh”, “có thể chữa các bệnh nan y” và “lao động theo chỉ dẫn của sư phụ sẽ giúp tiêu trừ nghiệp chướng, tích công đức”. Những thông điệp này được truyền qua Internet để tác động tới một số tín đồ ở Việt Nam.

Cơ quan điều tra cáo buộc một số người sau khi tin vào các nội dung trên đã bán tài sản, rời gia đình, làm visa du lịch cho con nhỏ rồi đưa các em sang Đài Loan với lý do “tu hành”. Sau khi nhập cảnh, một số người tiếp tục ở lại quá thời hạn cho phép.

Tại Đài Loan, bà Nguyễn được cho là vừa làm nông nghiệp vừa kinh doanh dịch vụ ăn uống. Những người đi theo bị đưa tới nông trại và nhà hàng, thực hiện các công việc như thu hoạch nông sản, bán hàng, dọn dẹp, rửa chén và nhiều việc khác nhưng không được trả lương trong thời gian dài. Cơ quan Di dân cho biết hộ chiếu của các nạn nhân còn bị giữ, việc liên lạc với bên ngoài và tự do đi lại bị hạn chế.

Đáng chú ý nhất là tình trạng của các trẻ em. Nhà chức trách cho biết có trẻ phải bắt đầu làm việc từ sáng sớm, trong thời gian dài không được đi học bình thường, thiếu môi trường vui chơi, nghỉ ngơi và phát triển phù hợp với lứa tuổi. Hình ảnh do Cơ quan Di dân cung cấp cho báo chí cho thấy trẻ từng phải làm việc tại khu vực trồng ớt và rửa chén trong cơ sở ăn uống.

Để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện, nhóm này còn bị cáo buộc chuyển một số bà mẹ và trẻ nhỏ sang Miêu Lật, Tân Bắc và những địa điểm khác, giao cho các tín đồ khác quản lý và tiếp tục sắp xếp công việc. Theo CNA, những người tham gia được tuyên truyền rằng đây là một phần của quá trình “tu hành”, trong khi số tiền kiếm được được bà Nguyễn nói là mang sang châu Phi và Ấn Độ làm từ thiện.

Vụ việc bắt đầu bị phanh phui vào tháng 2/2026, khi nhiều người cha quốc tịch Việt Nam trực tiếp từ Việt Nam sang Đài Loan tìm đến Đội chuyên cần TP. Đài Trung thuộc Cơ quan Di dân trình báo. Họ cho biết vợ mình bị ảnh hưởng bởi nhóm tôn giáo này, đưa các con rời khỏi gia đình rồi sang Đài Loan. Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan Di dân báo cáo Viện Kiểm sát Địa phương Chương Hóa để chỉ đạo điều tra.

Chuyên án có sự phối hợp của nhiều đơn vị, gồm Đội chuyên cần Đài Trung, lực lượng thuộc Cơ quan Di dân khu vực miền Trung và miền Bắc, Cảnh sát Chương Hóa – các phân cục Viên Lâm và Bắc Đẩu – cùng lực lượng Tuần duyên. Sau nhiều tháng theo dõi và thu thập chứng cứ, đến tháng 5/2026, lực lượng chức năng đồng loạt khám xét các địa điểm liên quan và giải cứu thành công 4 trẻ em Việt Nam, trong đó có 2 em là anh/chị em ruột.

Sau khi được giải cứu và hoàn tất các thủ tục bảo vệ nạn nhân, 4 trẻ đã được đưa trở về Việt Nam đoàn tụ với gia đình.

Một chi tiết khác được cơ quan điều tra công bố là từ tháng 7/2023, người phụ nữ họ Nguyễn đã bị phía Việt Nam đưa vào danh sách vĩnh viễn không được nhập cảnh do các vấn đề được phía điều tra mô tả là liên quan đến hoạt động tôn giáo/lừa đảo. Do đã có tư cách định cư tại Đài Loan, bà này bị cáo buộc chuyển trọng tâm hoạt động sang Đài Loan và tiếp tục liên hệ, tác động tới tín đồ ở Việt Nam thông qua Internet.

Sau khi kết thúc điều tra, cơ quan chức năng chuyển tổng cộng 8 người sang xử lý, gồm bà Nguyễn, 4 người bị cáo buộc là đồng phạm và 3 bà mẹ người Việt có liên quan.

Screenshot

 

Bà Emylee Thai ban đầu bị truy tố vi` gian lận Medicare

Chuyện tuổi Xế Chiều – Công Tú Nguyễn

Bà Emylee Thai ban đầu bị truy tố vào năm 2022 do liên quan đến một đường dây gian lận y tế quy mô lớn tại một phòng thí nghiệm xét nghiệm di truyền ở khu vực Houston. Các công tố viên liên bang cáo buộc bà đã nộp khoảng 142 triệu USD tiền bồi thường gian lận  Medicare cho các xét nghiệm di truyền không cần thiết về mặt y khoa và nhận về khoảng 95 triệu USD.

Sau khi bị truy tố vào năm 2022, bà được tại ngoại dưới sự giám sát tiền xét xử với điều kiện phải đeo thiết bị theo dõi vị trí GPS. Tuy nhiên, bà đã cắt bỏ thiết bị theo dõi, sử dụng danh tính giả và bỏ trốn khỏi Hoa Kỳ bằng máy bay tư nhân đến Việt Nam. Lệnh bắt giữ liên bang đã được ban hành vào tháng 7 năm 2023, và bà sau đó bị đưa vào danh sách Những đối tượng gian lận bị truy nã gắt gao nhất của FBI với số tiền thưởng 150.000 USD cho thông tin dẫn đến việc bắt giữ.

Chính quyền liên bang đã xác nhận việc bắt giữ bà vào khoảng giữa tháng 9 năm 2026. Mặc dù các thông báo ban đầu của FBI không công bố chi tiết hoạt động cụ thể hoặc vị trí chính xác nơi bà bị tạm giam, cuộc bắt giữ đã kết thúc một cuộc truy nã quốc tế kéo dài nhiều năm. Bà phải đối mặt với các cáo buộc bao gồm âm mưu gian lận chăm sóc sức khỏe, âm mưu lừa đảo chính quyền Hoa Kỳ, trả và nhận tiền hoa hồng bất hợp pháp trong ngành y tế, cùng hành vi tiêu hủy hoặc sửa đổi hồ sơ trong một cuộc điều tra liên bang.

Sau khi bị bắt, Emylee Thai sẽ phải đối mặt với các thủ tục tố tụng tại tòa án liên bang Hoa Kỳ. Do trước đây bà đã vi phạm các điều kiện tại ngoại bằng cách cắt thiết bị theo dõi và bỏ trốn khỏi đất nước, nhiều khả năng bà sẽ tiếp tục bị tạm giam không được bảo lãnh trong thời gian chờ xét xử hoặc tuyên án. Nếu bị kết án về các tội danh gian lận chăm sóc sức khỏe, nhận hoa hồng bất hợp pháp và tiêu hủy hồ sơ, bà đối mặt với án phạt lên đến hàng chục năm tù liên bang cùng với nghĩa vụ bồi thường tài chính bắt buộc. 


 

NHỚ VỀ CHA – MỘT DẤU CHÂN KHÔNG BAO GIỜ PHÔI PHAI–SN Dung Hiếu

NHỚ VỀ CHA – MỘT DẤU CHÂN KHÔNG BAO GIỜ PHÔI PHAI –

SN Dung Hiếu

Có những cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc, nhưng lại để lại dấu ấn cho cả một đời người.

Với vợ chồng em, những lần được gặp Cha Sáng Lập Phêrô Chu Quang Minh chính là những cuộc gặp gỡ như thế.

Nhân ngày giỗ đầu của Cha, lòng em bỗng trở về với những ký ức của hơn mười năm trước. Thời gian có thể cuốn đi nhiều điều, nhưng có những hình ảnh càng đi qua năm tháng lại càng trở nên rõ nét trong tâm hồn. Với em, đó là hình ảnh một người Cha hiền hậu, đơn sơ, gần gũi… và đặc biệt, vô cùng khiêm nhường.

Năm 2013, nhờ người dì từ Úc giới thiệu, vợ chồng em từ Sài Gòn về Cà Mau để tham dự Khóa Căn Bản. Khi ấy, chúng em chỉ đơn giản nghĩ rằng mình đang đi học một khóa học về hôn nhân gia đình. Nhưng có lẽ chính chúng em cũng không ngờ rằng, chuyến đi ấy đã mở ra một cánh cửa mới trong đời sống của hai vợ chồng.

Và điều đầu tiên bước vào cánh cửa ấy chính là hình ảnh của Cha.

Cha uyên bác nhưng không hề làm người khác cảm thấy xa cách. Cha sâu sắc nhưng không khô khan. Những bài giảng của Cha có thể khiến cả hội trường bật cười, rồi chỉ ít phút sau lại khiến mỗi người lặng đi để nhìn vào chính cuộc đời mình. Cha kể chuyện thật tự nhiên, dí dỏm, nhưng đằng sau mỗi tiếng cười là một bài học khiến người ta phải suy nghĩ rất lâu.

Nhưng trong tất cả những gì em được nghe và được thấy nơi Cha, có một khoảnh khắc đã đi theo em suốt hơn mười năm qua.

Đó là khi Cha giảng về tình yêu và sự khiêm nhường.

Hôm ấy, Cha đã noi gương Chúa Giêsu, quỳ xuống trước chồng em, nhẹ nhàng cởi giày, rủa chân và hôn lên chân anh để minh họa cho bài giảng.

Em vẫn nhớ cảm giác của mình lúc ấy.

Cả người em như lặng đi.

Trước mắt em là một vị linh mục mà em vô cùng kính trọng. Một người thầy uyên bác. Một người Cha được biết bao gia đình yêu mến. Thế nhưng, Cha lại cúi xuống với một sự tự nhiên, bình an và khiêm nhường đến lạ.

Khoảnh khắc ấy đã nói với em nhiều hơn cả một bài giảng.

Em hiểu rằng, khiêm nhường không phải là tự làm mình nhỏ bé, mà là tình yêu đủ lớn để ta biết cúi xuống vì người khác.

Có lẽ từ giây phút ấy, một điều gì đó trong em đã thực sự thay đổi.

Sau Khóa Căn Bản năm ấy, vợ chồng em cũng dần thay đổi. Chúng em học cách nhìn nhau bằng một ánh mắt khác. Học cách lắng nghe nhiều hơn. Học cách yêu thương không chỉ khi mọi chuyện tốt đẹp, mà cả khi người kia không giống như điều mình mong đợi. Và trong hành trình nuôi dạy con cái, chúng em cũng bắt đầu hiểu rằng, đôi khi con cái không cần những bài học thật dài, mà cần nhìn thấy cha mẹ sống những điều mình muốn dạy con.

Những lần sau được gặp lại Cha tại Đại hội Song Nguyền kỉ niệm 10 năm ở Sài Gòn, rồi Đại hội SN Liên bang 25 năm tại Úc Châu (Sydney 2019), ấn tượng trong em về Cha vẫn không thay đổi.

Cha vẫn vậy.

Vẫn uyên bác.

Vẫn hóm hỉnh.

Vẫn gần gũi.

Và vẫn khiêm nhường đến khiến người khác phải kính phục.

Nhưng có lẽ ký ức khiến em xúc động nhất là trong Đại hội tại Úc Châu. Khi ấy, tất cả các anh chị Song Nguyệ`n cùng quây quần bên Cha, hát bài “Cảm Ơn Cha Chu Quang Minh”.

Đến cuối bài hát, từng người cầm một bông hoa tiến đến, quỳ dưới chân Cha để bày tỏ lòng biết ơn.

Đó chắc hẳn là một khoảnh khắc mà bất cứ ai có mặt hôm ấy cũng khó quên.

Biết bao con người.

Biết bao gia đình.

Biết bao cuộc đời đã nhận được điều gì đó từ hạt giống mà Cha đã gieo.

Vậy mà giữa những lời cảm ơn chân thành ấy, Cha lại nhẹ nhàng nói:

“Đừng cảm ơn tôi. Hãy tạ ơn Đức Chúa Trời. Đừng cảm ơn tôi. Tôi chỉ là một công cụ trong tay Chúa dùng mà thôi.”

Đến hôm nay, em vẫn không quên được câu nói ấy.

Có lẽ bởi vì chính trong câu nói ấy, em lại nhìn thấy con người thật của Cha.

Một người đã dành cả cuộc đời để phục vụ biết bao gia đình.

Một người đã đi khắp nơi để chia sẻ, hướng dẫn và nâng đỡ.

Một người đã gieo biết bao hạt giống yêu thương.

Thế nhưng, Cha không nhận công về mình.

Cha trả tất cả về cho Chúa.

“Tôi chỉ là một công cụ trong tay Chúa dùng mà thôi.”

Một câu nói đơn sơ.

Nhưng càng sống, em càng thấy câu nói ấy sâu sắc.

Phải chăng, đó chính là đỉnh cao của sự khiêm nhường?

Làm được rất nhiều điều nhưng không coi đó là công lao của mình.

Được rất nhiều người yêu mến nhưng không đặt mình ở trung tâm.

Được mọi người cảm ơn nhưng lại hướng tất cả lòng biết ơn ấy về với Thiên Chúa.

Có lẽ vì thế mà dù Cha đã đi xa, những gì Cha để lại vẫn còn ở đây.

Trong một đôi vợ chồng đang cố gắng hiểu nhau hơn.

Trong một người chồng học cách lắng nghe.

Trong một người vợ học cách nhẫn nhịn.

Trong một gia đình đang cố gắng hàn gắn.

Trong những bậc cha mẹ đang học cách trở thành tấm gương tốt cho con cái. Và trong những thành viên Song Nguyền vẫn đang cùng nhau tiếp tục hành trình mà Cha đã khởi xướng.

Cha ơi!

Đã một năm kể từ ngày Cha về cùng Chúa.

Một năm… không phải là một khoảng thời gian quá dài đối với một cuộc đời, nhưng đủ để chúng con hiểu rằng có những người dù không còn hiện diện trước mắt, vẫn không hề rời khỏi trái tim của những người ở lại.

Chúng con không còn được nghe giọng nói hài hước của Cha.

Không còn được ngồi dưới hội trường để nghe Cha kể chuyện rồi bất chợt bật cười.

Không còn được gặp Cha trong những ngày hội ngộ.

Nhưng chúng con vẫn còn những điều Cha đã gieo vào lòng mình.

Và có lẽ, đó mới là cách một con người tiếp tục sống mãi.

Hôm nay, nhân ngày giỗ đầu của Cha, chúng con cùng nhớ về Cha với lòng biết ơn.

Chúng con tin rằng Cha đã về trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

Xin Cha, từ nơi quê Trời, vẫn thương đoái nhìn đến chúng con – những gia đình mà Cha đã dành biết bao tâm huyết để yêu thương và phục vụ.

Xin Cha tiếp tục cầu bầu cùng Chúa cho chúng con.

Cho những lúc vợ chồng chúng con mỏi mệt, biết tìm lại tình yêu.

Cho những lúc gia đình gặp giông bão, biết nắm tay nhau.

Cho những lúc chúng con tự hào về chính mình, biết nhớ đến bài học khiêm nhường của Cha.

Và cho chúng con, dù đi đến đâu trên hành trình này, cũng không bao giờ quên rằng:

Tất cả những gì tốt đẹp mình có được đều là một ân sủng.

Cha đã từng nói: “Đừng cảm ơn tôi, hãy tạ ơn Đức Chúa Trời.”

Hôm nay, chúng con vẫn muốn nói với Cha một lời cảm ơn.

Nhưng xin cho lời cảm ơn ấy không dừng lại ở những đóa hoa hay những giọt nước mắt.

Xin cho lời cảm ơn ấy được tiếp tục bằng cách chúng con sống.

Sống yêu thương hơn.
Sống khiêm nhường hơn.
Sống gần gũi với nhau hơn.
Và tiếp tục cùng nhau giữ gìn ngọn lửa mà Cha đã một đời âm thầm thắp lên.

Cha ơi, chúng con nhớ Cha.

Và trong lời nhớ ấy, chúng con lại cùng Cha cúi đầu:

Tạ ơn Chúa. 

SN Dung Hiếu – Từ CTTTHNGĐ Adeide Úc Châu

Tieu su Cha Sang Lap Chuong Trinh Thang Tien Hon Nhan Gia Dinh ( Cha Phero CHU QUANG MINH)


 

KHÔNG CÓ THÌ GIỜ! – BS Đỗ Hồng Ngọc

Việt Luận – Viet’s Herald

BS Đỗ Hồng Ngọc

Người ta phỏng vấn một bà già gần 90 tuổi rằng nếu được sống lại cuộc đời đã qua một lần nữa, bà sẽ sống như thế nào?

“Nếu được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa- bà già nói- thì tôi sẽ dám… phạm nhiều sai lầm hơn. Tôi sẽ ngờ nghệch hơn là tôi đã ngờ nghệch trong cuộc đời này. Tôi sẽ thảnh thơi hơn, linh hoạt hơn. Tôi sẽ coi ít thứ nghiêm chỉnh hơn. Tôi sẽ trèo núi lội đèo nhiều hơn, bơi lội nhiều hơn… Tôi sẽ ăn nhiều… kem hơn. Dĩ nhiên tôi sẽ gặp nhiều rắc rối hơn nhưng tôi sẽ thực tế hơn là chỉ mơ mộng. Tôi sẽ bớt… lành mạnh hơn. Ôi, tôi đã có những khoảnh khắc của đời mình và tôi muốn có nhiều hơn những khảnh khắc đó, cái nọ nối cái kia, cái nọ tiếp cái kia thay vì tôi cứ sống để chờ đợi…

Nếu tôi được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa tôi sẽ đi chân không nhiều hơn, sẽ bớt mang theo dù và dầu nóng, bình thủy các thứ… Tôi sẽ hái nhiều hoa cúc hơn…”.

Thỉnh thoảng có lẽ ta cũng nên tự hỏi mình một câu như vậy. Có phải ta cũng thường sống trong nhớ tiếc hoặc đợi chờ, mà quên đi cái quà tặng quý báu của cuộc sống chính là sự hiện diện của ngày hôm nay, của giây phút này, của ở đây và bây giờ.

Tiếng Anh có một từ khá tuyệt: present, vừa có nghĩa là hiện tại, sự hiện diện, có mặt, lại vừa có nghĩa là món quà. Ta nghe nơi này nơi khác người ta luôn nói, không có thì giờ, không có thì giờ. Đến nỗi một nhà thơ phải kêu lên:

…Không có thì giờ!

Chim lấy đâu mà về tổ.

Tôi lấy đâu mà làm thơ.

Em lấy đâu mà đọc những bài thơ tôi sắp viết!

(Nguyên Sa).

Tiếng chim và khế ngọt vẫn có đó, ánh nắng và sóng biển vẫn có đó, đèo cao và suối mát vẫn có đó, nhưng… hãy đợi đấy, còn phải dành thì giờ để nhớ nắng hôm qua, mưa năm nọ, tiếng chim ngày cũ, rồi còn dành thì giờ để mong ngóng tương lai, sống trong tương lai như cô nàng Perrette mang bình sữa ra chợ! Ta chờ… lớn. Chờ thi đậu. Chờ thành đạt. Chờ có tiền. Chờ cưới vợ. Chờ đẻ con. Chờ con lớn… Chờ con thi đậu. Cứ thế. Cho đến một hôm thảng thốt: “Rồi tàn mùa xuân, rồi tàn mùa hạ, một ngày đầu thu… “ (TCS).

Mùa xuân sao không đi hái lộc, mùa hạ sao không dẫn bầy em nhỏ đi tắm sông? “Hạnh phúc rất đơn sơ” vậy mà Khổng Tử suốt đời quần quật chỉ mong được thế đôi lần! Quả thật chúng ta thường sống với dĩ vãng, một thời đã qua hoặc sống với tương lai, một thời chưa tới. Còn hiện tại thì tối tăm mặt mũi; không có thì giờ!

Không kịp ăn sáng, không kịp tắm (không kịp thay đồ?). Hộc tốc. Luôn luôn hộc tốc. Nhai ngồm ngoàm. Đi vội vàng. Thở hào hển. Và hùng hục.

Lâm Ngữ Đường hơn nửa thế kỷ trước đã chê người Mỹ có ba cái tật xấu là luôn muốn tăng hiệu năng, muốn đúng giờ và muốn thành công. Ông nói: “Họ luôn cau có và quạu quọ vì ba cái tật đó đã cướp đi của họ sự thư nhàn, lại còn làm cho họ luôn bị căng thẳng thần kinh vì luôn cầu toàn trách bị!

Viên chủ bút Mỹ lo bạc đầu vì muốn không có một lỗi in nào trong tạp chí của ông ta, còn viên chủ bút Trung Hoa (dĩ nhiên, cách đây hơn nửa thế kỷ!) khôn hơn, để cho độc giả có cái thú tìm ra được ít nhiều lỗi trên báo!

Đời sống bây giờ biến người ta thành cái… đồng hồ.

Người Mỹ sống như một học sinh tiểu học, giờ nào việc đó, “từng giờ từng phút“. Rồi ông kêu lên: Đời sống mà như vậy thì còn giá trị gì nữa (Sống đẹp, LNĐ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê). Ngày nay thì các “tật xấu” đó đã toàn cầu hoá, đã trở thành bệnh của thời đại, đến nỗi bây giờ người ta bị cao huyết áp, bị tim mạch, bị trĩ, bị bón… cũng vì không có thì giờ!

Nguyễn Công Trứ nói:

“So lao tâm lao lực cũng một đàn

  Người trần thế muốn nhàn sao được?”.

Ý ông là chỉ có tiên mới sướng.

Nhưng bây giờ ta cũng có tiền rồi, mà có tiền thì mua tiên cũng được quá đi chứ. Tiện nghi ngày càng cải thiện.

Đằng vân giá võ, thiên lý nhãn, thuận phong nhĩ, thần giao cách cảm không thiếu thứ gì!

Bấm cái nút gặp ngay người trong mộng. Trò chuyện với người cách xa nửa vòng trái đất như đang ngồi trước mặt… Thế mà vì sao ta không được “sướng như tiên”? Có lẽ là do cái nhu cầu giả tạo cứ ngày càng dày đặc thêm, cứ nhồi nhét mãi rồi thì đến một lúc tưởng là nhu cầu thật.

Đẻ con thì phải đẻ mổ, chọn giờ để mong sau này con được làm vua. Ai cũng làm vua cả thì ai sẽ là thường dân cho vua trị vì? Nhưng vua đâu chẳng thấy chỉ thấy nhiều trẻ thiếu oxy não, liệt thần kinh, bị tâm thần… Các thứ sữa dành cho trẻ con bây giờ thì phải có chất tạo… thông minh. Làm như xưa nay không có các sản phẩm đó thì thế giới chỉ toàn người ngu dốt!

Cho nên Tô Đông Pha mới buông thuyền sông Xích Bích, Bạch Cư Dị mới xuống ngựa dừng chèo ở bến Tầm Dương, và Nguyễn Công Trứ mới… mơ ước:

Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch

Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn

Nào thơ nào rượu nào địch nào đờn

Đồ thích chí chất đầy trong một túi…

(Kẻ sĩ)

Bây giờ “đồ thích chí” ta còn có thể chất đầy “trong một xe” đời mới, chỉ “không có thì giờ!” thôi vậy!

BS Đỗ Hồng Ngọc 


 

Những ngày đầu tiên đến nước Mỹ – Tác giả Phùng Văn Phụng

Tác giả Phùng Văn Phụng

              Mới đến Mỹ chừng một tháng, bà xã tôi đã cự nự: 

– “Tôi đã bảo đi Mỹ mà làm gì, ở nhà buôn bán rần rần, đang sung sướng, bây giờ qua đây, ngồi “trông ngốc” trong phòng này như ở tù.” Bà xã tôi than phiền như vậy. 

         Tôi cứng họng không biết trả lời ra sao? 

          Bà xã nói tiếp: 

– “Ði lên Tulsa ở tiểu bang Oklahoma với Hồng Thu, kiếm chuyện gì làm ăn, vô  hãng nào cũng được chứ ở đây làm gì để sống đây?”  Bà xã tôi cự tôi, đòi lên tiểu bang miền Bắc, ít người Việt, nhiều hãng xưởng may ra dễ tìm việc làm, có chỗ nào, hãng nào  mướn, làm gì cũng được.  

          Tất cả chúng tôi gồm có sáu người, hai vợ chồng bốn đứa con, hai trai, hai gái chen chút trong “apartment” hai phòng ở đường Town Park thành phố Houston, Texas; cuối tháng lãnh tiền trợ cấp của chánh phủ Mỹ, trả tiền mướn phòng và nhận “food tem” để đi chợ cũng chỉ vừa đủ chi dùng trong tháng. Sau 8 tháng hết trợ cấp thì sống làm sao đây? tiền đâu trả tiền mướn nhà, tiền đâu mua thức ăn, trả tiền điện thoại v.v.? 

Ðó là câu hỏi thường xuyên trong đầu óc các thành viên trong gia đình tôi trong những ngày bước chân lên đất Mỹ. 

                                  ***** 

          Khi tôi được trả tự do từ trại tù Nam Hà đầu năm 1983, tôi đã nộp đơn chui qua tòa Ðại sứ Mỹ ở Thái Lan để xin tỵ nạn, bà xã tôi và thím tư mỗi lần gặp tôi cứ chọc quê tôi và nói đùa rằng: “lo làm ăn không lo chỉ lo chuyện mò kim đáy biển”. Tôi cũng có cảm tưởng như thím tư tôi nói nhưng hy vọng vẫn nhen nhúm dầu rất nhỏ trong lòng tôi cũng như vợ và các con của tôi đang sống trong khó khăn, cực nhọc và tôi thì đang bị mất quyền công dân. Từ năm 1983 tới năm 1990 đa số bà con cho rằng thành phần đi “cải tạo” về, những người được thả từ trong tù, trong trại cải tạo mà được đi Mỹ là chuyện “mò kim đáy biển”   

          Cho nên khi tất cả gia đình chồng vợ và các con đã lên được máy bay và khi máy bay cất cánh rồi vào cuối năm 1993, tôi mới biết rằng gia đình tôi thực sự được đi Mỹ, rời khỏi quê hương yêu dấu nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên thành người. 

          Ai mà không khỏi đau lòng khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, xa cha mẹ, xa bà con, dòng họ, xa anh chị em ruột thịt, xa bạn bè thân thương, xa những học trò cũ hàng ngày thường gặp mặt. Vậy mà phải rủ bỏ tất cả để ra đi. Ðang buôn bán làm ăn, công việc đang trôi chảy phát đạt, phải sang lại cho người em. 

          Tại sao phải dứt khoát ra đi? Tại sao không ở lại khi đang làm ăn được? Quyết định nào cũng có những khó khăn và quyết định ra đi càng khó khăn gấp bội. Nếu được đối xử tử tế, bình thường như bao nhiêu người dân khác thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi. Người dân miền Nam còn không được đối xử bình thường, được xem như kẻ bị trị bởi những người cùng nòi giống, huống hồ là người chống đối lại họ.                                    

                                    ***** 

          Một hôm phòng bên cạnh có người cần khiêng đồ đạc trong nhà như bàn ghế, tủ giường v.v lên xe để di chuyển. Họ thấy gia đình tôi có hai cháu thanh niên nên gọi đi khiêng đồ đạc giúp. Tôi mới khiêng được mấy lần đã thấy nôn nao trong bụng, muốn ói vì khiêng nặng không quen. Hôm đó được mấy chục đô la coi như lần đầu tiên kiếm tiền ở nước Mỹ bằng nghề khuân vác.            

Chú thím tư cùng người cháu bà con là người bảo trợ, đã  đi xin các bạn bè giường ngủ để ở hai phòng, có máy truyền hình cũ ở phòng khách cho nên khi vào nhà ở đường Town Park đã thấy rất ấm cúng. 

          Hình dung lại trước khi ra đi, sáng thứ bảy, đến sở nhà đất để lấy giấy tờ chứng nhận không thiếu thuế, phải đợi cho đến chiều tối khi giấy tờ họ đã có, để ở trên bàn nhưng họ không chịu đưa, cho nên phải ngồi ngoài sân mà đợi. Họ đòi tiền mà tôi không biết và lúc đó thật ra cũng không dám đưa vì có thể bị họ cho rằng mình đưa hối lộ sẽ làm khó dễ giữ mình ở lại thì phiền phức vô cùng. Nhưng cuối cùng rồi cũng phải chi cho họ một ít tiền mới lấy được giấy tờ để  lên máy bay vào ngày hôm sau.  Tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay ngày thứ năm vì không có giấy chứng nhận không có chủ quyền nhà. Tới tối thứ bảy, tôi mới lấy được giấy chứng nhận này. Trong mấy tháng trước khi ra đi vì quá lo lắng, tôi bị bịnh cảm liên tục, không ăn uống được phải uống thuốc thường xuyên mà cũng không hết.  

Qua một chuyến đi dài lần đầu tiên đến Mỹ tôi cứ suy nghĩ miên man qua Mỹ làm sao mà sống đây? Mình không có nghề nghiệp chuyên môn nào cả, muốn trở lại nghề dạy học cũng phải mất bốn hay năm sáu năm nữa học lại Anh văn, học lại chuyên môn về giáo dục, mà mình cũng đã hơn năm mươi tuổi rồi sau khi học ra trường chắc gì ai mướn mình dạy học đây? 

Tôi suy nghĩ: mình chưa bao giờ lái xe hơi, làm sao học lái và chạy xe đây.?

           Cháu Trung, con anh Xin chở áo quần, đồ đạc lỉnh kỉnh từ phi trường Hobby về bằng xe truck. Hôm đi đón có anh Ðộ, bạn cũ ở quận 8 Sài gòn, vợ chồng chú tư và các con, vợ chồng Lẫm và các con, đến quán Ba Lẹ có thêm Ðoàn Hữu Ðức là cháu thầy Ðoàn Văn Nghĩa, thường gọi là ông Ðốc Nghĩa (thầy dạy Pháp văn của tôi lớp 6, lớp 7 ở trường trung học Cần Giuộc khoảng năm 1957-1958 ), lúc đó tôi mệt quá sau cuộc hành trình dài hơn 24 giờ đồng hồ. Thấy bà con đông đảo đến đón, thật là đượm tình nghĩa anh chị em, bạn hữu quá sức tưởng tượng của tôi. 

          Khi vào căn nhà do người cháu mướn giùm ở đường Town Park là một chung cư có nhiều dãy nhà sát liền nhau, xung quanh đa số là người Mỹ da đen chỉ có một ít người Mễ, làm cho tôi thấy lo âu, cảm thấy hơi sợ. 

         Ði tìm trường học Anh văn.

 Mới qua Mỹ chưa có xe hơi phải đi bằng xe bus. Từ nhà muốn đến trường phải đi bộ một đoạn đường khoảng một cây số mới tới được đường chính là Bellaire rồi từ đó đón xe bus đi đến đường Cookin mới có lớp ESL. Có người bạn cho biết có trường dạy Anh văn miễn phí nếu xin trợ cấp của chánh phủ ở gần đường Chimney Rock và Gulfton. Tôi không biết rõ trường nằm phía nào nên khi xuống Bellaire tìm được Gulfton rồi, thay vì đi bên phải một đoạn đường ngắn là đến trường Ðại học cộng đồng, tôi đi về phía trái cùng với con trai là Quốc đi hơn nửa giờ mà không tìm được trường đến nỗi Quốc mệt quá, cự nự, đành phải tìm đường trở về nhà. 

Muốn đi học tiếp để có thể nói được tiếng Anh nên tìm trường để học. Học ESL cùng với các em, các cháu khoảng chừng ba mươi tuổi chỉ cần vài tháng các em nói tiếng Anh khá nhanh, còn tôi viết thì đúng văn phạm nhưng nói thì cứ ngọng, có nói được câu nào cho trôi chảy đâu. Phân vân giữa đi học tiếp và đi làm. Ði học thì có thể xin vay tiền đóng học phí nhưng không làm ra tiền để trả “bill”. Làm sao làm ra tiền để có cuộc sống ổn định đây? 

          Làm cho tiệm grocery

           Tôi đi tìm việc làm, nộp đơn ở tiệm fast food “Jax in the Box” ở đường Gessner, nộp đơn ở hãng làm điện tử, ở hãng sản xuất vàng, vào chợ Auchun nộp đơn xin bán hàng hay làm bất cứ nghề gì cũng được nhưng ở đâu người ta cũng không nhận. Lý do tuổi đã lớn trên năm mươi, không có “background” quá khứ làm việc ở Mỹ, nói tiếng Anh không thông thạo, không có nghề gì chuyên môn. Cùng với con gái là Uyên Phương đi nộp đơn ở hảng K.Tec, hãng làm điện tử, con gái được nhận đi làm, còn tôi thì không. Ði nộp đơn ở hãng chuyên làm vàng mà chú tư đang làm hãng cũng không nhận. 

          Ðành đi “fill” hàng cho tiện Grocery ở đường Dairy Asford. Sáng sớm mặc áo lạnh đi bộ từ nhà ra bến xe bus khoảng hai dặm, đứng đợi xe bus chừng 10, 20 phút, xe bus chạy khoảng 15 phút, xuống xe bus, lại đi bộ khoảng hai dặm đến chỗ làm. Bữa nào gặp mưa gió, trời lạnh mùa đông, gió rít từng cơn, gió rét căm căm mới thấy nỗi lòng nhớ nhung quê hương, nhớ bà con, nhớ ba má, anh chị em bạn bè v.v. của người xa xứ. Rồi khi vô chỗ làm cần phải đeo kính để đọc tên của món hàng, sắp xếp hàng hóa lên kệ tủ, nên làm khá chậm chạp không bằng những người trẻ không đeo kính. Do đó anh Vương, chủ tiệm bảo: “Sao chú làm chậm quá vậy, mai về nghỉ đi.” 

          Tôi làm cho tiệm Grocery khoảng hai tuần lễ thì mất việc. 

          Ði làm tiệm sang băng nhạc. 

          Bà xã thấy tôi không có chuyện gì làm nên nhờ người quen giới thiệu đi làm ở tiệm sang băng nhạc ở trong khu chợ Hồng Kông 1 ở đường Gessner. Nghề máy móc tôi đâu có biết vì gốc gác là thầy giáo chỉ biết đi dạy học mà thôi. Khi sang băng dĩ nhiên rất chậm chạp thời gian làm việc từ 10 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Tiền lương mỗi tháng được trả là 600 đô la.  Ngày đầu tiên tôi đến làm việc đã được em của bà chủ hay là em của ông chủ? hạch sách ngay. 

Anh ta nói: “Ở Việt Nam sướng quá mà qua đây làm gì cho khổ.? Ði qua đây chỉ có nước đi làm công, làm mướn chứ làm được gì? 

Tôi tức lắm nhưng không muốn tranh luận với anh này làm gì. Khi thấy tôi lớ ngớ, không biết làm gì, thì anh ra lịnh ngay: 

-“Anh phải lau bàn ghế, lau tủ cho sạch sẽ đi chớ”. 

Tôi vội vã cầm khăn lau bàn ghế, lau tủ kiếng, sau một lúc anh bắt tôi sang băng cải lương, phim chưởng, phim Trung Quốc để cho mướn. 

          Anh đâu có hiểu rằng tôi ra đi là vì tôi không thể sống với Cộng Sản được. Tôi là kẻ từng chống đối với chế độ, một con người bị để ý, canh chừng. Làm sao sống được khi mình luôn luôn bị nghi ngờ, bị thường xuyên theo dõi. Một lần tôi đến thăm anh Ngọc, trước cũng ở trong Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến thì công an khu vực đã hỏi anh Ngọc: “Ông Phụng đến nhà anh làm gì đó. Có âm mưu gì không?” Anh Ngọc sợ quá bảo: “Thôi anh đừng đến thăm tôi nữa, công an khu vực hỏi thăm tôi về anh đó. Hắn hỏi anh đến đây là gì, bàn tính, âm mưu chuyện gì ? 

          Một số bạn bè sĩ quan thường đến thăm tôi thì công an khu vực hỏi thăm ông bảy Bích là tổ trưởng ở sát bên nhà: “Anh thấy ông Phụng thế nào.? Tại sao nhiều sĩ quan chế độ cũ cứ đến thăm và theo ông thì ông Phụng này có tính toán chuyện gì chống đối nhà nước không? 

          Ông tổ trưởng phải trả lời là ông Phụng có giấy tờ đi Mỹ rồi còn tính toán chuyện gì nữa. Nói như vậy nhưng anh công an khu vực có tin điều đó không? 

Lúc nào tôi cũng lo âu, hồi hộp không biết bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thường xuyên tôi bị theo dõi. 

          Ði bán bảo hiểm 

          Tình cờ, đúng hơn là Thiên Chúa sắp xếp, tôi gặp ông Ðoàn Hữu Ðức vừa mới mở văn phòng Ðoàn Agency nên rất cần người. Tôi đã phải thi 8 lần mới đậu bằng “group one” để được bán bảo hiểm. Mất gần một năm trời mới xong bằng và được tiểu bang chấp nhận cấp giấp phép hành nghề. Ðoàn Hữu Ðức là cháu ông Ðốc Nghĩa, dạy pháp văn  trường trung học Cần Giuộc. 

          Những ngày đầu đi làm, đi bán bảo hiểm là một thách đố lớn. Nhiều khi bị trời mưa tầm tã cũng phải cố gắng đến nhà bà con vì mình lỡ hẹn rồi. Có khi đến nơi rồi tìm không ra nhà dưới trời mưa không dứt hột, cũng phải đi kiếm địa chỉ của khách hàng, vì Apartment ở khu làng Park Place phòng này sát với phòng kia nhưng cách một dãy nhà thành ra tìm không ra. Kiếm nhà không được, đi dưới trời mưa đến cây xăng gần đó dọc Freeway South 45 và đường Broadway, bỏ 25 cents vào điện thoại công cộng để hỏi, anh chỉ giùm căn nhà đó chỗ nào?. Sau khi anh bạn mình chỉ thì mình mới biết rằng mình cũng vừa đứng ở chỗ đó vậy mà không thấy được số nhà vì lúc đó trời đang mưa mà ban đêm, trời lại tối nữa. Sau khi bán được chương trình bảo hiểm 25,000 đô la, hảng đã thuận, lúc đem “policy” là sổ hợp đồng hay giao kèo đến cho anh thì anh lại không nhận, công của mình đã trở thành vô ích, nhưng lâu lâu mới gặp trường hợp như thế chứ nếu ngày nào cũng như vậy chắc đã bỏ nghề đã từ lâu.   

Tôi có cái hẹn vô nhà người khách hàng để giới thiệu chương trình bảo hiểm nhân thọ. Tôi đang giải thích nhu cầu bảo hiểm cho người con vừa mới mua nhà, nếu có mệnh hệ nào thì vợ làm sao có tiền để trả nợ  nhà. Tôi chỉ mới hỏi vài câu và vừa mở máy computer ra; người cha từ bên kia đường bước qua lớn tiếng nói với người con: “Mầy đi qua đây, ăn cơm. Không được mua bán gì hết. Ðến đây để lường gạt con tao hả?.” 

Thấy không khí có vẻ căng thẳng, tôi gấp máy computer lại, bước ra khỏi nhà, mở cửa xe sẵn có mấy tờ báo trên xe, tôi lấy hai cuốn báo đem đến cho người này. 

   –   “Cháu xin gởi bác hai tờ báo này” 

       –   “Ði đi, đi đi  tao kêu cảnh sát bắt mầy bây giờ, đến đây để dụ dỗ, gạt gẫm con tao hả.?”. Lần đầu tiên tôi bị cự nự dữ dội như vậy. Hết sức tức giận nhưng tôi cố gắng tự trầm tĩnh , mở máy xe, hít thật dài hơi và tự nhủ: “tự nhiên bị hiểu lầm, bị cự nự vô lý, nếu mình giận ông này mình cũng điên như ông ấy vậy. Thôi bỏ qua đi. Tai nạn nghề nghiệp mà. Tuy nhiên phải mất hơn mười phút tôi mới lấy lại được bình tĩnh  mà lái xe về văn phòng. 

Một lần khác ghé nhà một người quen do anh Tommy làm nghề bán xe hơi giới thiệu, vừa bước vô nhà, mới hỏi thăm sơ sơ về hoàn cảnh gia đình, bà vợ đứng ở bếp đang nấu ăn, nói lớn tiếng: 

–  “Mấy thằng bán bảo hiểm là những thằng lường gạt, tôi mua bảo hiểm mấy năm trước ở Cali, bây giờ tăng giá, lúc mua nó không nói. Tôi đã bỏ rồi không đóng tiền nữa. Toàn là những đứa lường gạt.” Vì mới vào nghề bảo hiểm tôi chẳng biết phải trả lời thế nào, cứng họng, vội bỏ tài liệu vào cặp và rút êm ra khỏi nhà anh chị này mà trong lòng tức tối lắm vì chị quơ đủa cả nắm ai làm nghề bảo hiểm đều xấu xa cả. Chị ấy chửi mình mà mình chẳng biết trả lời ra sao. 

          Kết: Tạ ơn Chúa 

Hiện nay tôi đã và đang sống trong nghề bảo hiểm hơn 12 năm. Có ba cháu lập gia đình, được ba cháu ngoại và một cháu nội. Bà xã tôi dứt khoát không muốn về Việt Nam ở luôn nếu có về chỉ muốn ở một, hai tháng như đi du lịch mà thôi vì các con, các cháu đều hiện sống ở Houston, Texas. 

Tạ ơn Thượng Ðế ban gia đình của con, các con, các cháu đều khỏe mạnh và bình an. Xin cám ơn nước Mỹ, chánh quyền và người dân Mỹ đã chấp nhận gia đình chúng tôi đến định cư ở quốc gia này như là một quê hương thứ hai của tôi. 

Xin cám ơn những chú thím tư, gia đình Lẫm, gia đình anh Độ, Đoàn Hữu Đức, những người bà con, bạn bè, anh chị em, các cháu đã giúp đỡ tôi trong những ngày đầu tiên đến nước Mỹ. 

Ngày 14 tháng 02 năm 2007

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Ba`i na`y dang trong Vietbao.com nga`y 08-03-2007 muc  ‘Viet Ve Nuoc My”

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả Phùng Văn Phụng  

Xem sa’ch tai day:

https://keditim.net/wp-content/uploads/2019/09/Tam-Tinh-Goi-Lai-HT.pdf

TUỔI GIÀ KHÔNG KHỔ CHÍNH LÀ PHÚC LỚN NHẤT

Nguyễn Hữu Quang

 ĐI QUA GẦN HẾT MỘT ĐỜI MỚI HIỂU: TUỔI GIÀ KHÔNG KHỔ CHÍNH LÀ PHÚC LỚN NHẤT

Đi qua hơn nửa đời người, chúng ta mới hiểu rằng tuổi già chẳng cần nhà thật lớn, tiền thật nhiều hay danh vọng hơn người. Điều đáng quý nhất chỉ là thân thể còn khỏe, tâm trí còn sáng và gia đình vẫn thuận hòa.

Sáng thức dậy, còn có thể tự bước xuống giường, tự nấu một bữa cơm, tự chăm sóc bản thân mà không phải phụ thuộc vào con cháu — đó đã là một phúc lớn.

Đầu óc còn minh mẫn, vẫn nhớ tên những người thân yêu, vẫn biết mình đang sống vì điều gì — đó là phúc.

Đêm nằm không chất chứa oán hận, không dằn vặt bởi chuyện hơn thua, sáng thức dậy lòng còn thanh thản và môi vẫn có thể mỉm cười — đó cũng là phúc.

Tuổi già đáng sợ không chỉ là bệnh tật, mà còn là cảnh con cái bất hòa vì tiền bạc, anh em quay lưng chỉ vì một căn nhà hay vài mét đất. Của cải rồi cũng hao mòn, nhưng tình thân một khi rạn vỡ thì rất khó hàn gắn. Cha mẹ để lại nhiều tài sản chưa chắc đã giúp con cháu hạnh phúc; nhưng giữ được một gia đình biết yêu thương, nhường nhịn và đùm bọc nhau thì đó mới là gia tài quý giá nhất.

Đến tuổi này, chuyện nào bỏ qua được thì hãy bỏ qua. Người từng làm mình tổn thương, nếu không thể tha thứ thì cũng đừng tiếp tục mang họ trong lòng. Oán giận người khác giống như tự ôm một hòn đá nặng đi hết quãng đời còn lại. Buông được một chuyện, lòng nhẹ đi một phần; bớt một câu hơn thua, tuổi già thêm một ngày bình yên.

Và nếu bên cạnh vẫn còn một người bạn đời sớm tối cận kề, cùng chia nhau chén nước, bữa cơm và hỏi nhau một câu: “Hôm nay mình có khỏe không?” thì đó đã là sự giàu có mà tiền bạc không thể mua được.

Tuổi già không cần quá đông người vây quanh. Chỉ cần vài người thật lòng, một mái nhà yên ấm, con cháu biết yêu thương nhau và một tâm hồn không còn nặng chuyện được mất — như thế đã đủ viên mãn.

Một đời bôn ba kiếm tiền, tìm danh, lo nhà, lo đất… cuối cùng, điều con người mong muốn nhất vẫn chỉ là sức khỏe và bình an. Bởi tiền nhiều không đổi được một giấc ngủ ngon, nhà lớn không giữ được tình thân, còn danh vọng cũng chẳng thể mua lại những tháng ngày đã mất.

Sáu mươi, bảy mươi tuổi mới thấm: giàu chưa chắc đã sướng, nhưng về già không đau thân, không khổ tâm, không làm gánh nặng cho con cháu và trong nhà vẫn đầy ắp tiếng cười — ấy mới là người thật sự có phúc.

Nếu được lựa chọn, bạn mong tuổi già của mình sẽ như thế nào? Hãy để lại một lời chúc bình an dành cho chính mình và những người thân yêu. Nếu thấy bài viết ý nghĩa, hãy chia sẻ để chúng ta cùng nhắc nhau biết trân trọng sức khỏe, tình thân và những ngày bình yên đang có.

#NguyenHuuQuang


 

Đó là đôi chân của Mẹ Thánh Teresa thành Calcutta

LẼ SỐNG.

Có một điều khác thường về Mẹ Thánh Teresa thành Calcutta mà hầu hết mọi người không bao giờ để ý.

Đó là đôi chân của mẹ.

Trong những năm cuối đời, đôi chân của mẹ được cho là biến dạng nặng nề, với các ngón tay cong queo và chen chúc.  Chúng nổi lên với nỗi đau một người nhìn thấy chúng thậm chí còn tự hỏi liệu mẹ có bệnh phong hay không.

Nhưng lời giải thích lại đơn giản đến bất ngờ—và vô cùng cảm động.

Mẹ Teresa nổi tiếng luôn chọn đôi giày cuối đuôi nhất trong số giày dép được tặng cho các Nữ tu Truyền giáo Bác ái.

Mỗi khi có những đôi giày tốt hơn được gửi đến, mẹ đều để lại cho các chị em của mình.

Mẹ nhận những đôi không thoải mái.

Đôi giày không có nghĩa.

Những đôi giày mà người khác không mong muốn.

Và mẹ cứ tiếp tục làm như vậy.

Năm nay qua năm khác, khi mẹ đi bộ hàng ngàn dặm và dành nhiều giờ phục vụ những người nghèo khổ nhất, đôi chân của mẹ được cho là ngày càng biến dạng.

Các chị em của mẹ có thể đã có những đôi giày tốt hơn.

Mẹ Teresa đã chọn cách khác.

Đó là một hành động nhỏ mà ai đó không cần phải nhìn thấy.

Nhưng có lẽ chính điều đó lại làm cho nó trở nên đẹp đẽ như vậy.

Đôi chân của mẹ trở thành lời nhắc nhở thầm lặng rằng tình yêu thương người nghèo của bà không chỉ là một ý tưởng.  Mẹ sẵn sàng chịu đựng khó khăn của chính mình để người khác có được cuộc sống tốt đẹp hơn.

Mẹ từng nói:

“Nếu bạn khiêm tốn, không có gì có thể làm cho bạn hoàn hảo, cả lời khen ngợi phức tạp, bởi vì bạn biết mình là ai.”

Biến dạng đôi chân dưới dạng nặng nề của mẹ đã kể một câu chuyện mà ngôn từ không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ.

Mẹ dành cả cuộc đời mình để bước về phía những nỗi đau của người đó—và sẵn sàng chịu đựng một phần nỗi đau đó.

Mẹ Thánh Teresa thành Calcutta, cầu nguyện cho chúng con.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.