TÂM THƯ CUỐI CÙNG CỦA STEVE JOBS

Công Giáo Rôma – Patrick Lew Hayashi – PLB

TÂM THƯ CUỐI CÙNG CỦA STEVE JOBS

***

(Trong mắt người khác, cuộc đời tôi là một biểu tượng của thành công….

Nhưng ngoài công việc, tôi có rất ít niềm vui...

Giờ đây, nằm trên giường bệnh, nhớ lại cả cuộc đời mình, tôi nhận ra rằng những lời khen ngợi và tài sản mà tôi từng rất tự hào, đã trở nên vô nghĩa trước cái chết đang cận kề)

***

Trên mạng xã hội, rất nhiều người đang chia sẻ cái tên của Ông Steve Jobs. Ông là cha đẻ của Apple đã qua đời vào năm 2011 vì căn bệnh ung thư tuyến tụy khi ông 56 tuổi, Ông đã viết 1 bức Tâm Thư cuối cùng. Nội dung Tâm Thư khiến rất nhiều người suy ngẫm: Không khoe tài sản, không khoe thành công, mà ông chỉ nói về tài sản mà ông cho là quý giá nhất đời người.

“Tôi đạt đến đỉnh cao của sự thành công trong thế giới kinh doanh. Trong mắt của người khác, cuộc sống của tôi là một mẫu mực của sự thành công.

Tuy nhiên, ngoài công việc, tôi có rất ít niềm vui. Tại thời điểm này, nằm trên giường bệnh và nhớ lại toàn bộ cuộc sống của tôi, tôi nhận ra rằng tất cả các công nhận và sự giàu có mà tôi từng tự hào, đã trở nên vô nghĩa khi đối mặt với cái chết sắp xảy ra

Bạn có thể thuê ai đó làm người lái xe cho bạn, kiếm tiền cho bạn, nhưng bạn không thể có một người nào đó phải chịu bệnh tật cho bạn. Vật chất bị mất có thể được tìm thấy. Nhưng có một điều mà không bao giờ có thể được tìm thấy khi nó bị mất – CUỘC ĐỜI BẠN.

Khi chúng ta già đi, chúng ta sẽ nhận ra:

– Một chiếc đồng hồ 300 USD hay 30 USD thì suy cho cùng, cũng chỉ cùng một thời gian.

– Một chiếc xe 150.000 USD hay 30.000 USD thì suy cho cùng, con đường và đích đến đều giống nhau.

– Một ngôi nhà 300m² hay 3.000m² thì suy cho cùng, nỗi cô đơn vẫn cứ tồn tại.

Hạnh phúc thực sự không đến từ vật chất

Vì vậy, tôi hi vọng bạn nhận ra khi nào bạn còn có bạn bè, người thân bên cạnh để cùng trò chuyện, nói cười, vui vẻ đàn hát với nhau, tám đủ thứ trên trời dưới biển… thì lúc ấy là lúc hạnh phúc thực sự.

 Sự thật bắt buộc phải chấp nhận trong cuộc sống:

– Đừng giáo dục con trẻ phải trở nên giàu có trong tương lai. Hãy dạy chúng cách để luôn hạnh phúc. Như vậy, khi lớn lên, chúng sẽ biết được giá trị thật của từng thứ không phải dựa trên mệnh giá đồng tiền.

– Đừng nhịn ăn. Hãy ăn như thể đó là thứ thuốc quý giá nhất dành cho cơ thể bạn. Nếu không, bạn sẽ thật sự phải “ăn” thuốc như ăn thức ăn vậy.

– Người thực sự yêu thương bạn sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn dù ở bất kì hoàn cảnh nào hay dù bạn có nói 100 lý do để họ từ bỏ bạn đến thế nào đi chăng nữa.

Khác biệt giữa con người và làm người là rất lớn. Nhưng không phải ai cũng hiểu được.

– Khi bạn sinh ra, chắc chắn bạn nhận được tình yêu thương. Khi bạn chết đi, có thể bạn sẽ nhận được tình yêu thương. Giữa khoảng thời gian đó, bạn phải biết cách xoay sở làm sao để biết cách sống.

Bác sĩ tốt nhất trên thế giới:

– Ánh nắng

– Nghỉ ngơi

– Tập thể dục

– Chế độ ăn

– Tự tin

– Bạn bè

Hãy ghi nhớ những điều này thật kĩ để có một cuộc sống tốt hơn.

Cầu mong những điều tốt đẹp nhất đến với bạn”.


 

Muốn có “Steve Jobs Việt Nam”, hãy cho người Việt có được quyền suy nghĩ khác biệt

Ba’o Tieng Dan

12/06/2026

Trung Ngôn

Đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026 đặt ra câu hỏi: “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?” Đây là một đề tài hấp dẫn vì nó gợi mở khát vọng đổi mới, sáng tạo và phát triển đất nước. Nhưng nếu nghĩ kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy câu hỏi này cũng chứa đựng một giả định khá phổ biến, rằng chỉ cần giáo dục tốt hơn, học sinh cố gắng hơn, thanh niên khởi nghiệp nhiều hơn thì Việt Nam sẽ có những Steve Jobs của riêng mình.

Nhưng vấn đề là câu chuyện không đơn giản như vậy. Rõ ràng, Steve Jobs không phải là một sản phẩm của ý chí cá nhân đơn thuần mà ông là sản phẩm của cả một hệ tư tưởng chính trị, kinh tế, văn hóa và học thuật đặc biệt mà nước Mỹ đã xây dựng suốt cả trăm năm qua.

Nhiều người thường được nghe kể rằng, Steve Jobs bỏ học đại học, khởi nghiệp từ garage xe hơi và trở thành tỷ phú. Nhưng điều họ ít nhắc đến là ông được sống trong một môi trường mà việc đặt câu hỏi, thách thức những điều cũ kỹ và đi ngược đám đông… không bị xem là một hành vi nguy hiểm.

Ở Mỹ, một sinh viên có thể công khai phản bác các giáo sư của mình. Một nhà nghiên cứu có thể đưa ra giả thuyết trái ngược với quan điểm phổ biến. Một doanh nhân có thể thất bại vài lần rồi tiếp tục kêu gọi vốn cho dự án tiếp theo. Một nhà báo có thể chỉ trích tổng thống mà không sợ bị xử lý vì “đi ngược định hướng”.

Những điều đó nghe có vẻ bình thường với người Mỹ, nhưng chính những điều bình thường ấy lại là nền tảng của sự sáng tạo. Sự sáng tạo không xuất hiện từ sự nghe lời tuyệt đối, mà nó bắt đầu từ quyền được nghi ngờ.

Muốn phát minh cái mới, trước hết phải có quyền nói rằng cái cũ chưa chắc đã đúng. Đó là điểm khác biệt rất lớn giữa môi trường học thuật ở Mỹ và môi trường học thuật ở Việt Nam.

Ở Mỹ, các trường đại học được trao mức độ tự chủ rất lớn. Các giáo sư có thể nghiên cứu những chủ đề nhạy cảm về chính trị, xã hội, lịch sử hay văn hóa mà không cần phải chứng minh trước rằng, kết quả nghiên cứu sẽ phù hợp với một kết luận đã có sẵn.

Ngược lại, ở Việt Nam, nhiều lĩnh vực nghiên cứu vẫn tồn tại những giới hạn nhất định. Có những chủ đề mà người ta biết trước rằng rất khó để xin tài trợ, và ngay cả được tài trợ, cũng khó được xuất bản hoặc khó được khuyến khích theo đuổi. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khoa học xã hội mà còn ảnh hưởng đến tinh thần sáng tạo nói chung, bởi sáng tạo không thể được bật tắt như một công tắc điện.

Không thể nói rằng sinh viên được tự do sáng tạo trong công nghệ nhưng lại phải thận trọng trong việc đặt câu hỏi về lịch sử, xã hội hay các chính sách công. Tự do tư duy không thể tồn tại một cách nửa vời; mà nó tồn tại, hoặc không tồn tại.

Một điểm khác cũng cần nhấn mạnh là văn hóa chấp nhận thất bại. Steve Jobs từng bị chính công ty Apple sa thải. Nếu ở Việt Nam, điều này có thể là dấu chấm hết cho sự nghiệp của ông. Nhưng ở Mỹ, thất bại không phải là dấu chấm hết. Các nhà đầu tư ở Thung lũng Silicon thường hỏi: “Anh/ chị đã thất bại lần nào chưa?” Nếu câu trả lời là chưa, đôi khi nhà đầu tư cảm thấy lo ngại, bởi vì thất bại được xem như là kinh nghiệm.

Trong khi đó, ở Việt Nam, thất bại thường gắn liền với sự xấu hổ, nỗi nhục nhã. Học sinh sợ bị điểm thấp; sinh viên sợ bị rớt môn học; công chức sợ trách nhiệm; doanh nhân sợ phá sản… Cho nên nhiều người chọn giải pháp an toàn, thay vì thử nghiệm những điều mới mẻ.

Một xã hội mà mọi người đều sợ sai thì xã hội đó rất khó có sự đột phá, bởi vì đột phá chính là kết quả của hàng trăm lần sai trước đó.

Thực tế cho thấy, Việt Nam không thiếu người tài. Nhiều người Việt đã và đang có mặt trong các phòng thí nghiệm hàng đầu thế giới. Người Việt đang làm việc ở các công ty lớn trên thế giới như Google, Apple, Microsoft, Meta, Nvidia và hàng loạt tập đoàn công nghệ lớn khác. Các nhà khoa học gốc Việt xuất hiện ở những đại học danh tiếng nhất hành tinh.

Nếu người Việt thiếu năng lực thì những thành công đó không thể tồn tại. Câu hỏi đặt ra là: Vì sao rất nhiều người Việt lại có khả năng phát triển mạnh nhất khi làm việc ở nước ngoài, thay vì ở Việt Nam? Câu trả lời chắc chắn nằm ở môi trường. Một hạt giống tốt không thể phát triển nếu được gieo trồng trên mảnh đất cằn cỗi!

Chúng ta thường nói đến việc đào tạo nhân tài, nhưng đôi khi điều quan trọng hơn là tạo ra môi trường để nhân tài có thể tồn tại. Nếu một nhà khoa học phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính, xin kinh phí, viết báo cáo hình thức hoặc tuân theo những quy định cứng ngắc, thì năng lượng và thời gian dành cho sự sáng tạo sẽ không còn.

Nếu một giảng viên đại học phải cẩn trọng với từng phát biểu ngoài chuyên môn của mình, thì tinh thần phản biện cũng khó phát triển mạnh. Nếu một học sinh ngay từ nhỏ đã được dạy rằng đáp án đúng luôn nằm trong sách giáo khoa, thì rất khó để sau này em ấy trở thành người đặt ra những câu hỏi chưa ai từng nghĩ tới.

Vì vậy, câu hỏi cần đặt ra không phải là: “Làm thế nào để có Steve Jobs Việt Nam?” mà phải là: “Làm thế nào để xây dựng một đất nước Việt Nam, nơi hàng triệu người được tự do suy nghĩ như Steve Jobs?” Bởi Steve Jobs không phải là kết quả của một chương trình giáo dục đặc biệt hay một chiến dịch thi đua nào đó, mà ông chính là kết quả của một xã hội cho phép con người tò mò, tranh luận, sai lầm, thử nghiệm và khác biệt.

Nếu môi trường ấy tồn tại, những người xuất chúng như Steve Jobs sẽ xuất hiện một cách tự nhiên. Nhưng nếu môi trường ấy không tồn tại, cho dù chúng ta có tổ chức hàng ngàn cuộc thi sáng tạo, phát động hàng vạn phong trào khởi nghiệp, treo hàng triệu khẩu hiệu về đổi mới, thì những “Steve Jobs Việt Nam” vẫn sẽ không xuất hiện.

Thiên tài không thể được sản xuất bằng mệnh lệnh hành chính, mà thiên tài chỉ có thể lớn lên trong tự do.

______

Ảnh chụp đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THPT năm 2026:

Lễ Khánh Thành Bảng Tên Nguyễn Thị Hạnh Nhơn trên xa lộ 405

Ba’o Nguoi-Viet

June 9, 2026

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Nhiều quan khách và cư dân đến dự Lễ Khánh Thành Bảng Tên cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, hội trưởng Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, do Giám Sát Viên Janet Nguyễn (Địa Hạt 1) tổ chức sáng Chủ Nhật, 7 Tháng Sáu, tại Freedom Hall trong công viên Mile Square Regional Park, Fountain Valley.

Từ trái, Nghị Viên Cindy Ngọc Trần (Garden Grove), bà Nguyễn Thanh Thủy (Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH), Nghị Viên Ted Bùi (Fountain Valley), Giám Sát Viên Janet Nguyễn, ông Phát Bùi, và Thị Trưởng Stephanie Klopfenstein (Garden Grove) khánh thành tấm bảng có tên cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Tấm bảng “Lt. Colonel Nguyen Thi Hanh Nhon’s Disabled Veterans Memorial Highway” đã được đặt trên hai hướng North và South của xa lộ 405, giữa đường Magnolia và đường Brookhurst, thuộc Fountain Valley, một trong bốn thành phố của vùng Little Saigon.

Giám Sát Viên Janet Nguyễn nói: “Hôm nay, chúng ta không chỉ tham dự buổi lễ để tỏ lòng tri ân, tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người phụ nữ đáng kính. Câu chuyện của bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn là biểu tượng của lòng can đảm, sự hy sinh và ý chí kiên cường. Những đóng góp và tấm lòng của bà để lại dấu ấn sâu đậm cho các cựu quân nhân QLVNCH, và tiếp tục truyền lại cho các thế hệ trẻ hiện giờ và mai sau. Hành trình ghi nhận công lao của bà trải qua nhiều năm, với Nghị Quyết SCR 60 của tiểu bang California, được tôi đề xuất và thông qua để vinh danh bà vào năm 2017, và mãi đến hôm nay, chúng ta được chứng kiến sự công nhận chính thức này.”

Trong số quan khách đến dự, bà Nguyễn Thanh Thủy, hội trưởng Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, cho hay: “Khi cựu Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn qua đời vào 2017, có khoảng 10,000 chữ ký của đồng hương trong kiến nghị xin California đặt bảng tên bà trên xa lộ 405. Kiến nghị này được chính quyền California chấp thuận theo Nghị Quyết SCR 60, do bà Janet Nguyễn, khi đó là thượng nghị sĩ tiểu bang, đề nghị. Nhưng lúc đó xa lộ này đang được chỉnh sửa, nên chưa thực hiện được.”

Tấm bảng có tên “Lt. Colonel Nguyen Thi Hanh Nhon’s Disabled Veterans Memorial Highway” được chuẩn bị gắn ở xa lộ 405. (Hình: Caltrans)

“Sau khi xa lộ 405 sửa xong, chúng tôi vẫn vận động để thực hiện bảng tên này. Trong năm 2017, tiền chi phí để thực hiện bảng tên này trên một hướng của xa lộ 405 chỉ có $5,000, và số tiền này do gia đình bà Hạnh Nhơn đóng góp. Nhưng sau đó Giám Sát Viên Janet Nguyễn cũng như đồng hương muốn đặt bảng tên này trên cả hai hướng North và South, nên số tiền lên đến $17,000,” bà Thủy kể tiếp.

Bà thêm: “Đây là niềm hãnh diện cho cộng đồng người Việt hải ngoại, vì ai cũng muốn được thấy bảng tên của một cựu nữ quân nhân VNCH, khi đi trên xa lộ 405 để đến Little Saigon. Số tiền để thực hiện bảng tên này là do các cư dân đóng góp. Người giúp chúng tôi nhiều nhất về thủ tục để thực hiện việc làm này là Giám Sát Viên Janet Nguyễn.”

Nhân viên Caltrans hoàn tất dựng bảng “Lt. Colonel Nguyen Thi Hanh Nhon’s Disabled Veterans Memorial Highway” trên xa lộ 405. (Hình: Caltrans)

Ông Phát Bùi, chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California, cựu nghị viên Garden Grove, nói: “Bà Hạnh Nhơn là cựu sĩ quan Quân Chủng Không Quân VNCH. Khi ra hải ngoại, bà vẫn nhớ đến những chiến hữu thương phế binh còn đang sống trong cảnh nghèo khó trong nước. Theo tôi biết, Giám Sát Viên Janet Nguyễn cũng là con cháu của các chiến sĩ trong QLVNCH. Bà lúc nào cũng chú tâm đến nhiều sinh hoạt của đồng hương và những hội đoàn trong cộng đồng người Việt tại Little Saigon. Vì thế, chúng ta mới có buổi họp mặt hôm nay, nhằm vinh danh cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. Đó là bảng tên của bà đã được đặt tại xa lộ 405.”

Ông Richard Bùi Đẹp, trung tâm trưởng Trung Tâm Điều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ, nói: “Dự án này thể hiện sự duy trì tinh thần đoàn kết của cộng đồng người Việt tại Little Saigon.”

Quang cảnh Lễ Khánh Thành Bảng Tên Nguyễn Thị Hạnh Nhơn. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ông Đinh Quang Truật, cựu chiến sĩ Hải Quân VNCH, nói: “Khi tôi nghe tin Giám Sát Viên Janet Nguyễn vận động đặt bảng tên cho cố Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn thì tôi rất vui mừng và hãnh diện cho tập thể cựu chiến sĩ VNCH tại hại ngoại. Bà Hạnh Nhơn là cánh chim đầu đàn của Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH. Công ơn của bà đối với những cựu quân nhân như chúng tôi, nhất là đối với các anh chị em thương phế binh VNCH đang còn sống tại quê nhà, là rất lớn lao. Qua nghĩa cử cao đẹp ấy, tên của bà rất xứng đáng được gắn trên xa lộ 405 trong khu vực Little Saigon.”

Quan khách đến dự còn có Nghị Viên Ted Bùi của Fountain Valley, Thị Trưởng Stephanie Klopfenstein và Nghị Viên Cindy Ngọc Trần của Garden Grove, và một số vị khác. [đ.d.]


 

‘Chuyện cổ tích’ cuối đời của bà Liêng Lê, chủ Café Bích Nga 86 tuổi – Kalynh Ngô/Người Việt

Nguoi-Viet

Kalynh Ngô/Người Việt

PINELLAS PARK, Florida (NV) – “Tôi chảy nước mắt. Tôi vậy chứ…tôi già chứ…tôi cũng mạnh mẽ lắm. Tôi cố gắng vui, nhưng trong lòng tôi bùi ngùi nghen cô. Vui quá nên bùi ngùi đó cô.”

Bà Liêng Lê, 86 tuổi, người phụ nữ gốc Việt “homeless” nhiều năm ở Pinellas Park, Florida, chủ của nhà hàng Café Bích Nga, nói với nhật báo Người Việt về cảm xúc của bà khi đứng trước ngôi nhà mơ ước của đời mình và tấm ngân phiếu trị giá $205,441. Đó là món quà từ hàng triệu cư dân mạng xã hội tặng bà sau một chiến dịch gây quỹ do nhà sáng tạo nội dung Julian Becerra kêu gọi.

Sự sắp đặt của Chúa

Bà Liêng Lê đối diện với cảm xúc “vui quá nên bùi ngùi” ở tuổi 86, cái tuổi đã vượt xa mức “thất thập cổ lai hy.” Lời chia sẻ chân tình khiến câu chuyện dẫn vào cuộc đời của người phụ nữ này trở nên nhẹ nhàng và gần gũi.

Bà vừa trở về sau một tuần nằm bệnh viện. Những căn bệnh cũ cộng với tuổi già, lao lực, làm cho bà kiệt sức. Trong một tuần đó, người đến thăm bà thường xuyên chính là anh Julian Becerra, người mà bà gọi là “Chúa đã đưa ông ấy đến gặp tôi.”

“Ngày hôm đó rất ế, không một bóng người,” bà Liêng kể lại. “Cậu ấy vào quán khoảng hai, ba tiếng cũng không có một người khách nào. Cậu ấy ngồi ăn, tôi đâu có biết cậu ấy quay phim tôi. Tôi dốt những chuyện đó lắm,” bà Liêng kể lại cái ngày “định mệnh” thay đổi cuộc đời bà.

Chính người khách này, anh Julian Becerra, cũng tin rằng Thượng Đế đã sắp đặt điều này.

Anh chia sẻ với nhật báo Người Việt: “Tôi đã gặp một người phụ nữ bị lãng quên nhiều năm, một người sống điềm tĩnh, đầy phẩm giá, mà mọi người vô tình lướt qua. Khi biết câu chuyện của bà, tôi không hề nghĩ đến việc làm nội dung hay bất cứ điều gì tương tự. Cảm giác lúc đó giống như là cần phải có ai đó hành động, và tôi nghĩ mình phải là người đó. Tôi thực sự tin rằng Chúa đặt những khoảnh khắc này ngay trước mắt chúng ta và chờ xem chúng ta sẽ thực sự làm gì. Đây chính là một khoảnh khắc như vậy, và tôi không muốn trở thành kẻ chỉ biết lướt màn hình rồi bỏ qua.”

Đó là ngày 23 Tháng Tư. Người khách duy nhất của quán lúc đó hỏi bà Liêng nhiều thứ, từ cách đọc tên quán, ý nghĩa của chữ Bích Nga, cho đến cách đọc món “phở đặc biệt.”

Bà Liêng giải thích: “Bích Nga là cái tên chỉ một người con gái đẹp.”

Trong video, anh Julian thể hiện những biểu cảm vô cùng thích thú khi thưởng thức món “phở đặc biệt” đã chọn. Khi đứng lên trả tiền, anh vẫn là người khách duy nhất.

Nhưng bà chủ 86 tuổi vẫn nhất quyết không nhận tiền, thay vào đó, bà nói “hãy giới thiệu cho nhiều người nào đói bụng đến đây nhé.”

Đúng lời hứa, hai ngày sau, người khách quay lại. Chủ quán và nhân viên vui mừng cảm ơn. Quán Café Bích Nga đã thật sự “bận rộn với những chiếc bàn không còn chỗ trống vào giờ cao điểm,” người nhân viên cảm ơn và nói. Khi đó, bà Liêng lại có dịp trò chuyện với người khách trẻ tuổi, to cao gấp ba lần trọng lượng cơ thể của bà.

“Tôi thành thật nói tôi nghèo lắm, không có tiền, tôi ‘hôm lét’. Cậu ấy hỏi thiệt không. Tôi nói thiệt, tôi ‘no hôm,’” bà kể.

Sau cuộc trò chuyện này, anh Julian đăng đoạn video thứ hai trên trang mạng Instagram juulianbecerra, kể rằng bà Liêng “đã sống vô gia cư nhiều năm, ngủ trên chiếc ghế xếp ở sảnh nhà hàng vào ban đêm, sau khi làm việc nhiều giờ liền mỗi ngày.”

Anh kêu gọi một đợt gây quỹ. Chỉ trong vòng 24 giờ, số tiền quyên góp đạt gần $127,000. Vài tuần sau đó, con số này đã vượt mốc $200,000.

Vào ngày 1 Tháng Sáu, với sự hỗ trợ từ một số tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp tại địa phương, anh Julian mang đến tặng cho bà Liêng tấm ngân phiếu chứa toàn bộ số tiền này, cùng với một ngôi nhà đã được trang bị đầy đủ tiện nghi, chu đáo từ trang trí cho đến vật dụng cần thiết trong nhà.

Ngày anh Julian đón bà Liêng từ bệnh viện trở về, cũng là ngày anh chở bà đến ngôi nhà mới, cách quán Café Bích Nga vài phút lái xe.

“Không ngờ đó cô à. Sự may mắn đó cô. Tôi tự nhủ với mình trước giờ mình có giúp ai gì đâu. Mình nghèo quá mà, tiền ăn không có thì lấy gì giúp thiên hạ, sao mình lại được cái phước như vầy,” bà Liêng nói.

Không phải chỉ riêng người nhận ơn lành, mà người mang đến cho bà câu chuyện cổ tích cuối đời cũng xúc động không kém. Khi được hỏi về cảm giác như thế nào khi nhìn thấy bà Liêng có được ngôi nhà của bà, anh Julian nói đó là “lòng biết ơn, và thú thật là cả sự xúc động nghẹn ngào nữa.”

“Đó là một trong những khoảnh khắc mạnh mẽ và đáng nhớ nhất đời tôi. Nhưng điều khiến tôi thực sự xúc động là việc này không chỉ do một mình tôi làm. Hàng ngàn người xa lạ đã chung tay đóng góp vì họ tin rằng cuộc đời bà thực sự đáng quý. Đó mới là điều cốt lõi. Mọi chuyện chưa bao giờ là về việc tôi trở thành người hùng nào cả. Vấn đề là cho mọi người thấy rằng khi những người bình thường cùng chung sức, họ có thể thay đổi hoàn toàn thế giới của một ai đó. Đó chính là ý nghĩa mà tôi muốn dành cho cuộc đời mình,” anh Julian nói.

Xem tiếp trên trang Nguoi-viet.com.


 

 TUỔI GIÀ VỚI BUÔNG BỎ & THA THỨ

Phạm Quốc Hùng

 TUỔI GIÀ VỚI BUÔNG BỎ & THA THỨ

Hồi trẻ cứ tưởng sống là phải “gom”. Gom tiền, gom chức tước danh phận, gom thật nhiều cho mình và cho con cho cháu.

Tới lúc tóc bạc,chân chùn gối mỏi, tui mới hiểu sống tới cuối đời cần học hai chữ: Buông bỏ và Tha thứ. Không học hai chữ đó thì già rồi mà lòng nặng như đá.

Hồi 30 tuổi, ai nói một câu không vừa ý là tui nhớ. Thằng bạn mượn tiền không trả, tui giạn không nhìn mặt nó luôn. Vợ cằn nhằn một buổi, tui dỗi cả tháng. Tui tưởng giữ cái giận đó là giữ cái “tôi” của mình. Giữ cho mình khỏi … thua.

Tới 60 tuổi, tui bệnh một trận thập tử nhất sinh. Nằm trên giường bệnh, tay chân không nhấc nổi, mắt nhìn lên trần nhà. Tự nhiên mấy chuyện hồi trẻ nó hiện về. Thằng bạn mượn tiền, vợ cằn nhằn,… Tất cả như mấy cuộn phim cũ. Tui muốn chửi, muốn tính sổ, mà miệng khô, họng nghẹn. Lúc đó tui mới thấy: giữ giận 30 năm, người chết trước là mình. Nó chết trước vì tim nó nghẹn, vì đêm nào cũng mất ngủ.

Từ giường bệnh bước xuống, tui tập buông. Buông không phải là thua. Buông là thấy cái gì không vác nổi nữa thì đặt xuống. Con cái lớn rồi, nó có đường nó. Đất đai tính toán chi cho mệt, chết có mang theo được đâu. Người ta nói xấu mình, kệ. Mình sống cho mình với trời đất, không sống để đóng vai “người hoàn hảo” trong mắt thiên hạ.

Buông bỏ của tuổi già nó nhẹ lắm. Nó không ồn ào như trai trẻ “bỏ là bỏ cho mày thấy”. Buông của người già giống như ông già quét lá. Lá rụng thì quét, quét rồi gió lại thổi rụng. Quét cho sân sạch để mình đi, không quét để lá nó đừng rụng nữa. Buông là chấp nhận “được thì ít, mất thì nhiều”. Mà mất rồi thì thôi, ôm vô làm gì cho mỏi tay.

Mà buông không thì chưa đủ. Buông xong, trong lòng còn cái cấn. Cái cấn đó tên là “hận”. Nên tuổi già phải học thêm chữ “tha thứ”.

Tha thứ khó hơn buông gấp chục lần. Buông là bỏ đồ vật. Tha thứ là bỏ người. Mà người đó có khi là vợ mình 40 năm, là anh em máu mủ, là thằng bạn ngồi chung chiến hào. Tha thứ không có nghĩa là nói “mày đúng”. Tha thứ là nói “tao mệt rồi, tao không muốn mang mày trong tim tao thêm ngày nào nữa”.

Tui có ông bạn, vợ ổng mất sớm. Ổng giận bà nhạc 20 năm vì bà ngăn cản ngày xưa. Giận tới mức con cháu lấy vợ lấy chồng ổng cũng không nhìn mặt sui gia. 70 tuổi, ổng tai biến, nằm một chỗ. Con cháu đẩy xe lăn đưa ổng qua nhà bà nhạc. Bà nhạc giờ cũng 85, lưng còng, mắt mờ. Hai người già ngồi nhìn nhau. Không ai nói “xin lỗi”. Bà nhạc chỉ rót ly nước: “Uống đi anh Sáu”. Ông bạn tui cầm ly nước, tay run, nước mắt chảy. Ổng nói với tui sau đó: “Tui tha cho bả, không phải vì bả xứng đáng. Tui tha vì tui muốn trước khi nhắm mắt, trong tim tui chỉ còn ấm, không còn đá”.

Đó, tha thứ của tuổi già là vậy. Không rình rang, không kể công. Tha để mình ngủ ngon. Tha để lúc con cháu hỏi “Ông bà có gì dặn không?”, mình chỉ cười, chứ không trăn trối chuyện thù hận.

Đàn ông tha thứ kiểu đàn ông. Giận thì mặt đỏ, tha thì một câu “bỏ đi”. Nói bỏ là bỏ, không nhắc lại. Đàn bà tha thứ kiểu đàn bà. Khóc ba đêm, nấu ba nồi cháo, rồi nói “tui tha”. Tha rồi nhưng vẫn nhớ, vẫn sợ. Khác nhau, nhưng cái đích thì một: cho lòng nhẹ.

Người trẻ sợ buông vì sợ mất. Người già buông vì biết giữ cũng không được bao lâu. Người trẻ khó tha vì còn sung, còn “cái tôi” to bằng cái đình. Người già dễ tha vì “cái tôi” đó theo năm tháng nó mòn, nó nhỏ lại bằng hạt đậu.

Tui nghiệm ra một điều: Quãng đời còn lại của mình ngắn lắm. Ngắn tới mức không đủ để giận ai thêm một lần, không đủ để ôm một cục than trong lòng thêm một đêm.

Buông bỏ để tay mình trống, còn nắm tay con cháu. 

Tha thứ để tim mình ấm, còn thương được người.

Tới tuổi này, tui không mong giàu, không mong thọ. Tui chỉ mong mỗi đêm nhắm mắt, trong lòng không còn ai để ghét, không còn chuyện gì để tiếc. Ngủ một giấc, sáng mai thức dậy, thấy nắng, thấy lá rụng, thấy lòng mình… không.

“Không” ở đây là không còn nặng. Vậy là đủ.


 

Tuổi già … bắt đầu từ cách chúng ta sống ở tuổi 35, 40, 50…

Chuyện tuổi Xế Chiều – Anh Thu Nguyen

 Ở quốc gia phát triển như Singapore, tuổi thọ trung bình gần 85 tuổi.

Nhưng tuổi thọ khoẻ mạnh chỉ dừng lại ở khoảng 74.

Ở Việt Nam, tuổi thọ trung bình khoảng 74 tuổi…

nhưng tuổi khoẻ mạnh cũng chỉ khoảng 64.

Điều đó có nghĩa là rất nhiều người phải sống cùng bệnh tật suốt… 10 năm cuối đời……

10 năm…

…là khoảng thời gian đủ để một đứa trẻ sinh ra rồi lớn lên đi học.

Quảng đường dài

Có những người chỉ là đau lưng, nhức gối, mất ngủ, đi chậm hơn, mệt hơn.

Nhưng cũng có rất rất nhiều người… đặc biệt là phụ nữ… sau cả một đời hy sinh cho chồng con, lại nằm trên giường bệnh những năm cuối đời.

Tay yếu chân run … mắt mờ…

Một cú ngã thôi.

….. cần người chăm sóc hỗ trợ…

Rủi ro nằm 1 chỗ

Rồi bắt đầu chuỗi ngày: loét tì đè, tiểu không tự chủ, phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu… thậm chí có người dần mất trí nhớ, mất nhận thức, không còn biết mình là ai nữa.

Thực lòng mà nói… tôi không muốn dùng những từ quá nặng nề hay thương cảm.

Nhưng đó thật sự là……một bi kịch mà chẳng ai muốn bước vào.

====

Điều đau lòng nhất là: rất nhiều người nghĩ tuổi già bệnh tật là “đương nhiên”.

KHÔNG!!!!!

Rất nhiều thứ chúng ta hoàn toàn có thể làm sớm hơn… để cơ thể già đi chậm hơn.

– Ăn đủ đạm để giữ cơ.

– Đi bộ, tập kháng lực để giữ xương.

– Ngủ đủ để não được nghỉ ngơi.

– Bỏ bớt đường ngọt, rượu bia, thuốc lá.

– Kiểm tra sức khoẻ định kỳ.

– Bổ sung vitamin D, omega 3, canxi, glu.tathione, nội tiết… đúng cách khi cơ thể bắt đầu thiếu hụt.

Đừng đợi đến lúc đau mới chăm mình.

Vì tuổi già không đến vào năm 60 tuổi.

Nó bắt đầu từ cách chúng ta sống ở tuổi 35, 40, 50…

Tôi gặp rất nhiều phụ nữ:

Cả đời lo cho chồng con ăn ngon, ngủ ngon… nhưng bản thân thì ăn qua loa, thiếu chất, không vận động, không khám bệnh.

Đến khi cơ thể “đòi nợ” thì đã quá muộn!

Nên nếu hôm nay bạn còn đi lại được, còn tự chăm sóc được bản thân, còn khỏe để ôm con cháu…

Thì xin hãy bắt đầu yêu lấy cơ thể mình từ bây giờ.

Không phải để sống thật lâu.

Mà để những năm cuối đời… vẫn còn được sống như một con người khỏe mạnh, minh mẫn và có kí ức!


 

Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt…được tặng lại một căn nhà

Sự Thật Lề Đường (STLĐ)Hai Phan

 Florida: cụ bà 86 tuổi, chủ tiệm ăn gốc Việt (đang sống vô gia cư, phải ngủ trong tiệm), tặng bữa ăn miễn phí, vài tuần sau được tặng lại một căn nhà

Theo bản tin GMA và ABC News hôm 4/6/2026, bản tin của phóng viên Shafiq Najib, tựa đề “Vietnamese restaurant owner gave a free meal. Weeks later, her life changed” (Chủ nhà hàng người Việt tặng bữa ăn miễn phí; vài tuần sau, cuộc đời bà đã thay đổi).

Một cụ bà, chủ tiệm ăn người Việt 86 tuổi – người có lòng hào phóng từng lay động hàng triệu trái tim trên mạng – vừa nhận được món quà thay đổi cuộc đời mình, nhờ vào một chiến dịch gây quỹ lan truyền rộng rãi giúp bà có được một ngôi nhà mới.

Cụ bà Lieng Le, chủ quán Café Bích Nga ở Pinellas Park, tiểu bang Florida, đã trở thành hiện tượng mạng vào tháng 4/2026 vừa qua. Sự việc bắt đầu khi Julian Becerra, một nhà sáng tạo nội dung 24 tuổi, đăng tải video quay cảnh bà từ chối nhận tiền cho bữa ăn tại quán, dù anh là vị khách đầu tiên ghé đến sau nhiều giờ vắng vẻ.

Trong video, bà Lieng từ chối nhận tiền boa từ Becerra – người đã dành lời khen ngợi cho món ăn của bà.

“Sẽ thật tuyệt vời biết bao nếu quay lại đây sau một tuần nữa và thấy quán đông nghịt khách. Hãy cùng biến điều đó thành hiện thực nhé,” Becerra viết trong phần chú thích bài đăng.

Vài ngày sau, trong phần bình luận của một video tiếp theo về nhà hàng, Becerra chia sẻ rằng anh “vừa biết tin bà Lieng đã rơi vào cảnh vô gia cư suốt thời gian qua” và phải ngủ trên chiếc ghế xếp tại sảnh nhà hàng mỗi đêm sau khi làm việc vất vả cả ngày.

Becerra cho biết anh đã khởi xướng một chiến dịch gây quỹ “để giúp đỡ bà,” đồng thời kêu gọi mọi người cùng chia sẻ và quyên góp.

Theo Becerra, chỉ trong vòng 24 giờ, số tiền quyên góp đã đạt gần 127.000 USD. Vài tuần sau đó, con số này đã vượt mốc 200.000 USD.

Vào ngày 1 tháng 6/2026, với sự hỗ trợ từ các tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp địa phương, Becerra đã trao tận tay bà Lieng tấm séc chứa số tiền quyên góp, cùng một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi chỉ cách Café Bích Nga vài phút di chuyển.

Cũng trong ngày hôm đó, Becerra đã thông báo cột mốc đáng nhớ này qua một bài đăng đầy xúc động trên mạng xã hội.

“Cộng đồng mạng ơi, chúng ta đã làm được rồi,” anh viết trên Instagram. “4 tuần trước, tôi đăng bài về một người phụ nữ sống ngay trong quán cà phê của mình mà không có bất cứ tài sản nào. Còn hôm nay, bà đã có một mái nhà.”

“Cả thế giới đã chung tay quyên góp đủ số tiền để bà Lieng không bao giờ phải lo lắng về các hóa đơn chi phí trong suốt phần đời còn lại của mình,” anh chia sẻ thêm. Chia sẻ với ABC News về sự bất ngờ này, bà Lieng gửi lời cảm ơn đến những người đã ủng hộ và quyên góp cho mình; bà bày tỏ niềm hạnh phúc, nói rằng mình “vui, thực sự rất vui”.

Cụ bà Lieng kể với ABC News rằng bà đã không có nơi ở ổn định trong nhiều năm sau khi gặp khó khăn tài chính do đại dịch COVID-19, khiến bà chật vật xoay xở tiền thuê nhà và các nhu yếu phẩm khác.

“Không có tiền trả hóa đơn, không có tiền trả tiền thuê nhà… không có tiền,” bà nói. “Cũng không có tiền mua thức ăn nữa.”

Ông Becerra chia sẻ với ABC News rằng sau khi dành thời gian trò chuyện với bà Lieng, ông biết được bà làm việc hơn 90 giờ mỗi tuần và hiếm khi nghỉ ngơi, ngay cả khi gặp vấn đề về sức khỏe, bao gồm cả bệnh viêm phổi.

Bất chấp mọi khó khăn đó, ông cho biết bà Lieng vẫn luôn chú tâm vào việc giúp đỡ người khác.

“Bà Lieng là kiểu người sẵn sàng nhường cả chiếc áo đang mặc trên người cho người khác nếu cần thiết,” ông nói. “Lý do câu chuyện của bà chạm đến trái tim mọi người là vì xét về mặt vật chất, bà Lieng chẳng có gì nhiều cả. Tuy nhiên, điều duy nhất bà sở hữu chính là nụ cười. Mỗi ngày trôi qua, bà đều cảm thấy biết ơn vì mình vẫn đang sống.”

Chủ quán ăn này cho biết bà đã di cư đến Hoa Kỳ sau Chiến tranh Việt Nam và điều hành quán Café Bích Nga từ năm 2009.

Khi được hỏi tại sao lại mời ông Becerra một bữa ăn miễn phí trong lần đầu gặp gỡ, bà Lieng đáp: “Tại sao lại không mang lại niềm vui chứ? Miễn là mọi người cảm thấy vui vẻ là được.”

Giờ đây khi đã ổn định cuộc sống tại ngôi nhà mới, bà Lieng cho biết bà vẫn vô cùng xúc động trước sự ủng hộ mà mình nhận được.

“Tôi xin cảm ơn tất cả mọi người,” bà nói. “Tôi xin cảm ơn.”

Đối với ông Becerra, câu chuyện này suy cho cùng là về lòng biết ơn.

“Mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn không có gì sai cả, nhưng điều đó không nên đánh đổi bằng sự hài lòng với những gì mình đang có ở hiện tại,” ông nói. “Tôi nghĩ đó mới chính là chìa khóa thực sự dẫn đến hạnh phúc.”

PHOTO: Cụ bà Liêng Lê và Becerra, người YouTuber phỏng vấn cụ bà. (Hình YouTube).

XEM TIẾP: https://vietbao.com/a325460/fl


 

Ưu tiên số một của tôi là đến Nashville để xây nhà.

 My Lan Pham  

Ông ngã trong nhà vào một buổi sáng Chủ nhật, chỉ năm ngày sau sinh nhật lần thứ chín mươi lăm, khi đang chuẩn bị đi nhà thờ. Ông đập trán vào một cạnh sắc. Ông được đưa đến bệnh viện. Khi ra viện, ông có mười bốn mũi khâu phía trên mắt trái, một vết bầm tím đen lan khắp khuôn mặt, và một miếng băng trắng dán trên trán.

Đội ngũ của ông lặng lẽ hỏi liệu sự kiện ở Nashville có nên hoãn lại hay không.

Đây là điều Jimmy Carter đã nói:”Ưu tiên số một của tôi là đến Nashville để xây nhà.”

Tối hôm đó, đội chiếc mũ bóng chày Atlanta Braves và mang gương mặt bầm tím, băng bó của một người tuyệt đối không chịu ở nhà, ông đứng trên sân khấu tại nhà hát Ryman Auditorium trong tiếng reo hò của hàng trăm tình nguyện viên. Sáng hôm sau, ông đã có mặt tại công trường.

Ở tuổi chín mươi lăm. Tay cầm búa.

Đó không phải là màn trình diễn. Đó đơn giản chỉ là con người ông.

James Earl Carter Jr. sinh ngày 1 tháng 10 năm 1924 tại Plains, bang Georgia — một thị trấn có chưa đến bảy trăm dân. Gia đình ông không có điện hay nước máy cho đến khi ông bước vào tuổi thiếu niên. Cha ông là nông dân. Mẹ ông, bà Lillian, là một y tá, người đã gia nhập Peace Corps ở tuổi sáu mươi tám vì bà tin rằng mình vẫn còn có thể cống hiến thêm cho đời.

Ông sớm học được rằng sự phụng sự không phải là điều để nói.

Mà là điều để làm.

Ông phục vụ trong Hải quân. Ông phục vụ tại Thượng viện bang Georgia. Ông phục vụ với tư cách Thống đốc bang Georgia. Từ năm 1977 đến 1981, ông là Tổng thống thứ ba mươi chín của Hoa Kỳ.

Rồi ông rời Nhà Trắng.

Và ông vẫn tiếp tục cống hiến.

Tháng 9 năm 1984, chỉ ba năm sau khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống Jimmy Carter cầm lấy một chiếc búa và tham gia tình nguyện cùng Habitat for Humanity. Khi đó ông năm mươi chín tuổi và nghĩ rằng có lẽ đó chỉ là một lần duy nhất.

Nhưng không phải vậy.

Cũng trong năm ấy, ông và Rosalynn đang đi bộ ở thành phố New York thì nhìn thấy một công trình của Habitat với rất ít tình nguyện viên. Họ bước tới. Họ tham gia làm việc. Họ đưa thêm nhiều người khác đến cùng. Họ giúp cải tạo một tòa nhà bỏ hoang thành mái ấm cho mười chín gia đình.

Và họ không bao giờ dừng lại.

Trong suốt ba mươi lăm năm tiếp theo, Jimmy và Rosalynn Carter luôn xuất hiện. Năm nào cũng vậy. Dù mưa hay nắng. Dù khỏe mạnh hay đau đớn. Hết quốc gia này đến quốc gia khác. Hết mái nhà này đến mái nhà khác.

Rồi tháng 8 năm 2015 đến.

Khi ấy Carter đã chín mươi tuổi, các bác sĩ phát hiện một khối u trong gan ông. Sau phẫu thuật, họ xác định đó là ung thư hắc tố di căn dạng ung thư da nguy hiểm nhất. Các xét nghiệm cho thấy nó đã lan tới bốn vị trí khác nhau trong não. Nếu không điều trị, các bác sĩ nói rằng ông có lẽ chỉ còn sống chưa đầy sáu tháng.

Ông bước lên trong một cuộc họp báo, mỉm cười và nói với cả thế giới:

“Tôi đã có một cuộc đời tuyệt vời. Tôi sẵn sàng cho bất cứ điều gì xảy đến.”

Các bác sĩ điều trị cho ông bằng một loại thuốc miễn dịch tiên tiến vừa được FDA phê duyệt một năm trước đó. Kết hợp với xạ trị nhắm trúng đích vào các khối u trong não, điều đó đã tạo nên một kết quả đáng kinh ngạc.

Nó có hiệu quả.

Đến cuối năm 2015, chỉ vài tháng sau chẩn đoán, Jimmy Carter được xác nhận đã sạch ung thư.

Ông quay lại xây nhà.

Năm 2019, ông bị ngã và chấn thương hông. Ông hồi phục. Rồi lại quay về xây nhà. Sau đó là buổi sáng Chủ nhật ấy, năm ngày sau sinh nhật lần thứ chín mươi lăm — mười bốn mũi khâu, gương mặt bầm tím, chiếc mũ bóng chày, sân khấu Ryman Auditorium, và công trường xây dựng ngay sáng hôm sau.

Trong hơn bốn mươi năm, Jimmy và Rosalynn Carter đã giúp xây dựng, cải tạo và sửa chữa hơn bốn nghìn bốn trăm ngôi nhà trên khắp thế giới — làm việc cùng hơn một trăm nghìn tình nguyện viên. Những gia đình từng không có gì giờ đã có một nền móng vững chắc dưới chân mình. Một nơi thực sự thuộc về họ.

Bởi vì một người từng có tất cả vẫn luôn chọn xuất hiện vì người khác.

Jimmy Carter qua đời ngày 29 tháng 12 năm 2024 tại nhà riêng ở Plains, Georgia, trong vòng tay gia đình.

Ông thọ một trăm tuổi vị tổng thống sống lâu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Ông không hoàn hảo. Không ai hoàn hảo cả. Nhưng suốt bốn thập kỷ sau khi rời khỏi cương vị quyền lực nhất thế giới, ông chưa bao giờ ngừng cầm lấy chiếc búa để giúp những người cần một mái nhà.

Khi ngã xuống, ông đứng dậy. Khi bệnh tật ập đến, ông chữa trị, hồi phục và quay lại làm việc. Khi cơ thể nói hãy dừng lại, ông nói với nó rằng mình còn có nơi cần đến.

Một số người nói về niềm tin của mình.

Còn Jimmy Carter thì xây dựng nó bằng chính đôi tay mình. 


 

 Các trung tâm sinh hoạt văn học hải ngoại – Trần Doãn Nho

 Trần Doãn Nho

 Quá trình hình thành nền báo chí hải ngoại diễn ra gần như song song với quá trình hình thành các cộng đồng người Việt ở nhiều nơi trên đất nước Hoa Kỳ. Đặc biệt, là tiểu bang California.

Phát giải cuộc thi Áo Dài Việt Nam Truyền Thống tại Phước Lộc Thọ, Little Saigon năm 2020. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Từ tháng Năm 1975, khoảng vài ngàn người Việt tị nạn được chuyển đến trại Pendleton (căn cứ Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, San Diego, California). Được cư dân địa phương giàu lòng nhân ái giúp đỡ, họ lần lượt đi định cư rải rác trong các thành phố Santa Ana, Garden Grove, Westminster, Costa Mesa và các vùng phụ cận. Đến năm 1979, gần 100 cơ sở thương mại của người Việt xuất hiện quanh quanh trên đường Bolsa (Westminster), đường First (Santa Ana) và đường Westminster (Garden Grove),  tạo thành một khu sinh hoạt riêng biệt. Ngày 9 tháng hai năm 1988, Hội đồng thành phố Westminster thông qua Quyết nghị số 58, công nhận khu này là “Little Saigon.”

Ngày 17 tháng Sáu, 1988, thống đốc California, ông George Deukmejian đến cắt băng khánh thành các bảng chỉ dẫn “Little Saigon, Next Exit” được “California Department of Transportation” (Bộ Công Chánh California) dựng ở hai xa lộ 405 và 22 dẫn vào hai đường Brookhurst và Magnolia. Từ đó, Little Saigon thu hút di dân Việt khắp nơi về định cư, biến vùng đất ngoại ô của khu Bolsa-Garden Grove vốn vắng vẻ và yên tĩnh thành một đô thị phát triển với chùa chiền, nhà thờ, thánh thất và các cơ sở thương mại, các đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí, các trung tâm ca nhạc… Đó cũng là nơi khởi nghiệp của những chính trị gia người Mỹ gốc Việt tham gia vào dòng chính của nền chính trị Hoa Kỳ qua các chức vụ dân cử như: nghị viên, dân biểu, thị trưởng…[1]

Khánh thành bảng “Little Saigon Next Exit” hôm Thứ Sáu, 17 Tháng Sáu, 1988, tại thương xá Phước Lộc Thọ. Từ trái, Luật Sư Trần Thái Văn, Giáo Sư Nguyễn Tư Mô và Thống Đốc California George Deukmejian. (Hình: Trần Thái Văn cung cấp)

Như một điểm quy tụ nhân tâm, Little Saigon đột nhiên trở thành “ngôi nhà” của cộng đồng người Việt tị nạn, không những của cư dân ở đó mà còn của cư dân ở nhiều nơi trên thế giới. Một trong những bản sắc dân tộc riêng được biểu hiện trong văn hóa nghệ thuật. Sau 1975, hầu hết những khuôn mặt trí thức văn hóa cũng như văn nghệ sĩ của miền Nam, sớm hay muộn, đều lần lượt tìm cách thoát ra hải ngoại.[2] Phần lớn trong số đó đều đến, hay tìm cách đến, định cư ở vùng Quận Cam. Đây là nguồn nhân lực tiên phong gây dựng nên nền móng báo chí cũng như văn học nghệ thuật hải ngoại. Các tờ báo, các tạp chí văn học nghệ thuật và các trung tâm băng nhạc lớn, nhỏ đều tọa lạc tại Little Saigon. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi phần lớn các tổng biên tập đầu tiên của ngành truyền thông tiếng Việt tại Little Saigon đều là những cây bút kỳ cựu của VNCH trước năm 1975. Nhận xét về vai trò của những nhà văn này đối với văn học hải ngoại, Trangdai Glassey-Tranguyen viết:

Trong khi ghi nhận nỗ lực, sự hiện diện và đóng góp của tất cả các nhà văn, tôi cho rằng chính những nhà văn đã thành danh (the established and committed writers) – trong đó có nhiều người nay đã qua đời – là những người tạo ra các tác phẩm có ý nghĩa then chốt đối với việc hình thành bản sắc tị nạn Việt Nam (Vietnamese refugee-endity), bởi khả năng của họ nhằm truyền tải những hiện thực đã trải qua và các triển vọng một cách mạnh mẽ nhất.(…) Các nhà văn này kiến tạo một không gian để phản ánh chính những kinh nghiệm và quan điểm riêng của họ, cũng như của đồng hương và cách nhìn của cộng đồng văn hóa của họ về đời sống tại VietnAmerica và trong các cộng đồng di dân khác. Họ chủ động vận dụng tối đa khả năng sáng tác: tự xuất bản, xây dựng các hội đoàn văn chương,thành lập các nhà xuất bản và các chương trình viết lách, xây dựng các cơ sở truyền thông và tạp chí văn học, tiếp tục các sáng tác mà họ đã khởi viết từ miền Nam Việt Nam trước năm 1975, và mở ra một cầu nối giữa văn học “tị nạn” của người Mỹ gốc Việt với văn học lai và/hoặc văn học của các thế hệ 1.5 và các thế hệ sinh sau tại Hoa Kỳ.”[3]

Nhà sách Tú Quỳnh, một trong những cửa tiệm của người Việt sớm nhất ở Little Saigon. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Nguyễn Hưng Quốc, một nhà nghiên cứu văn học ở Úc, chẳng chút đắn đo khi  khẳng định chắc nịch:

Sau năm 1975, không còn hoài nghi gì nữa, California, đặc biệt là Nam California, đã dần dần nổi lên như một trung tâm của nền văn học hải ngoại. Đó là nơi tập trung nhiều người Việt nhất đồng thời cũng là nơi người Việt làm ăn buôn bán tấp nập và thành công nhất. Những cái “nhất” ấy là cơ hội thuận tiện cho việc thương mại hóa văn học bằng tiếng Việt. Hầu hết các tạp chí văn học lớn đều nằm ở Nam California, từ Văn đến Văn Học, Hợp Lưu, Tạp chí Thơ, Khởi Hành, và Thế Kỷ 21. Số lượng các tạp chí tương đối có tầm vóc nằm ngoài California rất hiếm, và trừ Làng Văn ở Canada, đều yểu mệnh, có khi chỉ hoạt động yếu ớt được vài ba năm, kể cả tạp chí Việt ở Úc. Các nhà xuất bản cũng vậy, từ Văn Nghệ đến Thanh Văn, Văn Mới, Văn Khoa, Tân Thư, Đại Nam và Xuân Thu đều nằm ở California. Chỉ có một số ít nhà xuất bản lớn nằm ngoài California như An Tiêm (Pháp), Làng Văn (Canada), Cành Nam (Washington, D.C.),… Nhưng phần lớn đều nhờ đến một trung tâm phát hành chính là Nhà Văn Nghệ ở California. Chính vì thế, trong một thời gian dài, khi nói đến văn học hải ngoại, người ta nghĩ ngay đến California. California trở thành thủ đô của văn học Việt Nam hải ngoại.”[4]

Vùng đất “nhỏ bé” ấy gánh trên mình vai trò của…hai “thủ đô”: thủ đô tị nạn và thủ đô văn học. Thiệt tình!

Thành phố Westminster, nơi có đông đảo người Việt sinh sống. (Hình minh họa: Trà Nhiên/Người Việt)

Cũng chỉ là cách nói tượng trưng. Văn học hải ngoại đâu chỉ Little Saigon (hay Quận Cam) hay Cali(fornia). Các sinh hoạt văn học nghệ thuật còn nằm ở nhiều nơi trong nước Mỹ, ở những thành phố lớn: Boston, Dallas, Houston, San Jose, Washington, DC…; mỗi nơi đều tìm cách xây dựng các “Tiểu Sài Gòn” riêng cho từng địa phương.

Tiếp sức cho những Little Saigon ở Mỹ, còn có Pháp với Paris; Paris không chỉ là một thủ đô văn hóa mà còn là biểu tượng cho tự do dân chủ và nhân quyền. Đó là nơi quy tụ một số lượng lớn các khuôn mặt trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam nổi tiếng của nhiều thế hệ, hoặc đã định cư nhiều thập niên trước 1975, chẳng hạn như Trần Thiện Đạo, Đặng Tiến, hai cây bút thường viết cho tạp chí “Văn”, Sài Gòn (mà tôi biết), hoặc đến tị nạn sau 1975.

Không kém Hoa Kỳ, Pháp là nơi xuất hiện nhiều tài năng văn chương hải ngoại như Đỗ Quỳnh Dao, Đặng Mai Lan, Miêng, Mạch Nha, Mai Ninh, Trần Thị Diệu Tâm và Phan Thị Trọng Tuyến, những nhà văn nữ đem lại cho vườn văn học Việt Nam ở hải ngoại một nét trẻ trung, tươi mát, theo Liễu Trương;[5] hay Trần Vũ, một nhà văn tài hoa và độc đáo. Đó cũng là nơi có đài phát thanh RFI (Radio France International), mà chương trình văn học nghệ thuật do nhà biên khảo Thụy Khuê phụ trách, đã từng là một chiếc cầu nối văn học nghệ thuật trong và ngoài nước khi việc giao lưu trong và ngoài nước hãy còn rất khó khăn do chính sách cấm đoán của nhà cầm quyền cộng sản. Cũng là nơi của hai tạp chí mạng “Diễn Đàn Forum” và “Ăn Mày Văn Chương,” được điều hành bởi những trí thức vốn là thành phần thiên tả trước 1975, sau trở thành  bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền Việt Nam. Cũng là nơi “Câu lạc bộ Văn hóa Việt Nam Paris” đã được thành lập vào năm 1994, quy tụ rất nhiều nhân sĩ trí thức và văn nghệ sĩ như Trần Văn Cảnh, Hồ Trường An, Trần Thanh Hiệp, Lê Mộng Nguyên, Vũ Quốc Thúc, Từ Thức, Nguyễn Đăng Trúc, Liễu Trương, Phan Thị Trọng Tuyến…

Còn có Úc. So với Hoa Kỳ và Pháp, chỉ trừ vài ba khuôn mặt là thuộc giới văn nghệ sĩ thời VNCH, phần lớn, nếu không muốn nói là hầu hết, những người sáng tác nổi tiếng tại Úc trong thời gian qua đều cầm bút sau năm 1975. Đó là nơi xuất hiện hai tạp chí thuần túy về văn học đầu tiên của cộng đồng người Việt Nam tại Úc: Việt (báo giấy 1998-2001, 8 số) và Tiền Vệ (báo mạng 2002-2018), do Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn chủ trương.

Điểm đặc biệt là cả hai tạp chí đều nghiêng về các khía cạnh lý thuyết văn học và phổ biến những sáng tác có xu hướng cách tân, gây ảnh hưởng khá lớn lao đối với dòng văn học ở trong và ngoài nước. Tạp chí “Văn Học” tại California đã dành một số đặc biệt (số 41, 6/1989) “giới thiệu những cây bút trẻ ở Úc”: Hoàng Ngọc-Tuấn, Thường Quán, Cao Huy, Cheo Reo và Uyên Nguyên. Úc cũng là nơi cư trú của nhà văn Nam Lê, mà tác phẩm “The Boat” (Thuyền) của ông đoạt gần chục giải thưởng quốc tế, đã là một niềm hãnh diện cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Còn có Canada. Là láng giềng của Hoa Kỳ, Canada là nơi mà sinh hoạt báo chí mọi loại phát triển không thua gì ở Hoa Kỳ, trong đó có một số tạp chí để lại nhiều dấu ấn của văn học hải ngoại như Làng Văn, Trăm Con. Đó là nơi định cư của một số văn nghệ sĩ nổi tiếng như Luân Hoán, Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Chính, Trần C. Trí…; là nơi có Kim Thúy, nhà văn nữ đoạt nhiều giải văn học ở Canada, và cũng là nơi ra đời của “Ngôn Ngữ”, tờ tạp chí văn học giấy duy nhất vẫn còn tồn tại ở hải ngoại cho đến giờ, do Song Thao, Luân Hoán, Nguyễn Vy Khanh chủ trương. Đó cũng là nơi thành lập “Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do,” một tổ chức y khoa, nhưng lại quan tâm đến văn học nghệ thuật qua các “Giải Thưởng Văn Học” được trao cho các công trình biên khảo, nghiên cứu, nghị luận có giá trị về các lãnh vực văn hóa, giáo dục, chính trị, xã hội của những  người Việt tị nạn.

Còn có Đức. Đức là nơi định cư của một số cây bút ra đi từ miền Bắc như Thế Giang, Lê Minh Hà, Phạm Kì Đăng…và nhất là Phạm Thị Hoài, người sáng lập ra tạp chí mạng Talawas lừng danh một thời.

Còn có Ba Lan, nơi xuất phát tạp chí mạng Đàn Chim Việt, hiện vẫn còn tiếp tục hoạt động.

Và ở nhiều nước Âu Châu khác.  

Trần Doãn Nho

(Tháng Năm, 2026)

From: taberd & Nguyen NThu


 

Vụ ám sát thủ lĩnh băng đảng Úc ở TP HCM: Hai nghi phạm bị cảnh sát Campuchia bắt – theo báo Khmer Times ((BBC)

(BBC)

Cảnh sát Campuchia và hai nghi phạm vụ nổ súng giết người nước ngoài xảy ra hôm 21/5/2026 tại TP HCM

27 tháng 5 2026

Hai nghi phạm trong vụ giết trùm băng đảng Úc ở TP HCM được cho là bị cảnh sát Campuchia bắt giữ tại thành phố biển Sihanoukville.

Theo bài báo đăng trên Khmer Times hôm 27/5, vào đầu giờ chiều ngày 25/5, lực lượng Cảnh sát Hình sự Campuchia phối hợp với Đội Đặc nhiệm Cảnh sát Hình sự tỉnh Sihanoukville đã cùng điều tra và truy bắt hai nghi phạm theo yêu cầu của chính quyền Việt Nam.

Thông tin trên khác với thông tin mà Công an TP HCM cung cấp cho báo chí hôm 26/5.

Báo Campuchia nói gì?

Theo bài viết được đăng vào sáng 27/5 trên tờ Khmer Times, lực lượng cảnh sát Campuchia đã bắt giữ hai người này tại một căn nhà thuê ở thôn 3, xã 2, thành phố Sihanoukville vào lúc vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 25/5.

Hai nghi phạm được xác định là Vaa Vaa, 27 tuổi; và đồng phạm là Tafia Steve, 23 tuổi, đều mang quốc tịch Samoa – một đảo quốc ở khu vực châu Đại Dương.

Hai người này sau đó đã được dẫn độ về Việt Nam.

Hai nghi phạm này trước đó đã bị truy bắt liên quan đến vụ giết người xảy ra vào lúc tối 21/5 tại nhà hàng Cee’s ở phường Bến Thành thuộc TP HCM, trong đó người được xác định “trực tiếp sử dụng súng gây án” là Vaa Vaa.

Tại hiện trường, cảnh sát tìm thấy thi thể của Lemalu Lorenzo Tovia, 25 tuổi; còn Sauni Sam, 27 tuổi, bị thương nặng do trúng đạn. Cả hai đều mang quốc tịch Úc và là thành viên băng đảng Coconut Cartel khét tiếng ở nước này.

Báo Khmer Times cũng đăng ảnh các nhân viên cảnh sát Campuchia chụp chung với hai nghi phạm trước một tấm phông có dòng chữ Khmer: Sở Cảnh sát tỉnh Sihanoukville.

Thông tin trên tờ báo Campuchia khác so với các thông tin được lực lượng công an Việt Nam cung cấp vào ngày 26/5.

Trong buổi cung cấp thông tin về vụ án được đánh giá là “đặc biệt nghiêm trọng” vào sáng 26/5 dưới sự chủ trì của Trung tướng Mai Hoàng – Giám đốc Công an TP HCM – lực lượng công an cho biết hai nghi phạm người Samoa bị công an TP HCM bắt ở biên giới Việt Nam-Campuchia.

Ông Mai Hoàng không hề nhắc đến sự hợp tác hay giúp sức của cảnh sát Campuchia trong vụ việc này.

Từ việc Công an TP HCM bỏ qua thông tin về vai trò của cảnh sát Campuchia, cộng với chi tiết bắt nghi phạm tại “khu vực giáp biên giới Việt Nam-Campuchia” trong buổi cung cấp thông tin hôm 26/5, nhiều người chia sẻ trên mạng rằng công an Việt Nam đã bắt giữ hai nghi phạm này trên lãnh thổ Việt Nam.

Trong khi đó, theo thông tin trên Khmer Times thì cảnh sát Campuchia đã bắt giữ hai người này tại thành phố Sihanoukville, nằm cách cửa khẩu Hà Tiên, An Giang khoảng 150 cây số theo đường bộ và 100 km theo đường chim bay.

Tỉnh Sihanoukville cũng không có biên giới đường bộ với Việt Nam.

Cảnh sát Campuchia khống chế hai nghi phạm người Samoa

Hàng loạt tờ báo ở Việt Nam đều đưa tin rằng các lực lượng của Bộ Công an và công an các địa phương đã “mưu trí, dũng cảm” và “kịp thời bắt giữ đối tượng khi đang lẩn trốn tại khu vực giáp biên giới Việt Nam-Campuchia chỉ chưa đầy 72 giờ đồng hồ sau khi gây án”.

Trong lời cảm ơn, tướng Mai Hoàng “ghi nhận đóng góp, hỗ trợ của các đơn vị nghiệp vụ, công an địa phương và lãnh đạo Bộ Công an; sự chia sẻ, ủng hộ từ cấp ủy, chính quyền địa phương” và “nhân dân”.

Không có bất kỳ thông tin nào nhắc đến sự phối hợp với lực lượng Campuchia, chỉ đề cập đến chuyện hai nghi phạm bị bắt khi đang lẩn trốn tại vùng biên giới Việt Nam-Campuchia.

Cảnh sát Campuchia khống chế hai nghi phạm người Samoa

Hai nghi phạm được áp giải về công an TP HCM, sau đó đã xuất hiện trên kênh VTV1 hôm 26/5, với lời nhận tội và bày tỏ sự hối cải.

Vụ án xảy ra tại TP HCM và hai nạn nhân bị bắn đều mang quốc tịch Úc, trong đó Lemalu Lorenzo Tovia được cho là một thành viên cấp cao của Coconut Cartel, một băng đảng tội phạm khét tiếng ở Úc.

Lorenzo Laemalu Tovia đã bỏ trốn khỏi Úc và được cho là đã điều hành các hoạt động của Coconut Cartel từ Đông Nam Á.

Ban đầu, trong thông báo truy bắt, hai nghi phạm được lực lượng công an xác định mang quốc tịch Úc, trong đó có một Việt kiều.

Truyền thông Úc, trước đó thông tin rằng cảnh sát chống tội phạm có tổ chức của nước này đang điều tra xem vụ nổ súng ở TP HCM có liên quan đến cuộc tranh giành quyền lực đang diễn ra giữa Coconut Cartel và gia tộc Alameddine khét tiếng hay không.

Theo đó, hai mạng lưới tội phạm có tổ chức này đang trong cuộc chiến tranh giành quyền kiểm soát thế giới ngầm ở Sydney.

Gia tộc Alameddine hoạt động ở mạn tây Sydney và bị cáo buộc điều hành hệ thống giao ma túy tận nơi, trong khi Coconut Cartel là nhóm tội phạm nhận tiền để thực hiện các vụ tấn công hoặc bạo lực có tổ chức, theo cảnh sát Úc.

Coconut Cartel đã nhận trách nhiệm về một số vụ tấn công nhằm vào gia tộc này kể từ đó.

Đến nay, các thành viên của Alameddine được cho là đã nhận trách nhiệm về vụ giết người xảy ra tối 21/5 tại TP HCM, theo báo The Sydney Morning Herald.

Báo Campuchia gỡ bài viết

(Phần này được cập nhật vào lúc 20 giờ ngày 27/5, sau khi báo Khmer Times gỡ bài viết)

Sự mâu thuẫn nội dung giữa bài báo của Khmer Times và thông tin do Công an TP HCM cung cấp đã gây ra nhiều tranh luận trên mạng.

Nhiều người cho rằng Công an TP HCM đã thiếu minh bạch khi bỏ qua vai trò của cảnh sát Campuchia và việc hai nghi phạm bị bắt tại Sihanoukville chứ không phải ở vùng biên giới.

Đến khoảng 19 giờ, khi chúng tôi truy cập lại đường dẫn trên tờ Khmer Times thì bài viết không còn nữa. Tuy nhiên, bài đăng chia sẻ lại bài viết này trên trang Facebook chính thức của tờ báo này thì vẫn còn (cập nhật lúc 20 giờ ngày 27/5).

Bên trái là hình chụp màn hình lúc bài viết đang còn trên website báo Khmer Times, hình chụp thứ ba từ trái là lúc bài báo đã bị xóa khỏi website, hình chụp nền đen ở bìa phải cho thấy trang Facebook chính thức của Khmer Times vẫn còn bài đăng chia sẻ (chụp lúc 20 giờ ngày 27/5)

Khmer Times là tờ báo có trụ sở tại Phnom Penh, ra đời vào năm 2014. Trên mạng, tờ báo này hiện có ba ngôn ngữ: tiếng Khmer, tiếng Trung và tiếng Anh. Giới quan sát phương Tây xếp Khmer Times vào nhóm thân chính phủ do Đảng Nhân dân Campuchia lãnh đạo.

Trong một diễn biến liên quan, chiều 27/5, Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Văn Được đã chủ trì buổi lễ khen thưởng cho các đơn vị được đánh giá có thành tích xuất sắc trong vụ bắt giữ hai nghi phạm người Samoa.

Tại đây, ông Được đã tặng thư khen và Thành ủy TPHCM quyết định thưởng cho 6 tập thể gồm: Công an TPHCM, Cục Cảnh sát hình sự, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Cục Kỹ thuật nghiệp vụ (Bộ Công an), Cơ quan đại diện Bộ Công an tại Campuchia và Công an tỉnh Tây Ninh.


 

 NGUYỄN THỤC QUYÊN- TỪ CÔ GÁI KHÔNG BIẾT TIẾNG ANH ĐẾN NHÀ KHOA HỌC.

 NGUYỄN THỤC QUYÊN- TỪ CÔ GÁI KHÔNG BIẾT TIẾNG ANH ĐẾN NHÀ KHOA HỌC.

Ít ai ngờ rằng một trong những nhà khoa học có tầm ảnh hưởng hàng đầu thế giới lại từng bắt đầu từ con số gần như bằng 0.

     Câu chuyện của GS TS Nguyễn Thục Quyên không chỉ là hành trình học thuật xuất sắc, mà còn là minh chứng mạnh mẽ cho ý chí vượt nghịch cảnh và khả năng tự vươn lên phi thường của con người.

     Bà sinh ra tại Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, trong một gia đình nghèo có 5 anh chị em. Sau năm 1975, cha đi cải tạo, mẹ là giáo viên toán phải đưa các con đi khắp các vùng kinh tế mới như Phước Lâm, Long Điền, Đất Đỏ, Phước Tỉnh rồi Vũng Tàu để mưu sinh. Tuổi thơ của bà gắn liền với những công việc lao động nặng nhọc như gánh nước, kiếm củi, đào khoai, câu cá.

     Mãi đến năm 1986, khi gia đình mở tiệm phở tại Bến Đá, Vũng Tàu, bà mới có điều kiện đi học tại trường Trung học Trần Nguyên Hãn.

     Một bước ngoặt lớn xảy ra vào tháng 7 năm 1991 khi cả gia đình sang Mỹ theo diện tái định cư nhân đạo. Trước khi đi, bà chỉ được học một khóa tiếng Anh cấp tốc vài tháng và gần như không thể sử dụng ngôn ngữ này.

     Những ngày đầu nơi đất khách vô cùng khó khăn, từ việc không hiểu bài giảng, không hòa nhập được với văn hóa, đến việc bị chế giễu và kỳ thị. Có giáo viên từng chê bai khả năng tiếng Anh của bà trước lớp, thậm chí có người còn thẳng thừng bảo bà “hãy cút về nước của mày”.

     Nhưng chính những điều đó lại trở thành động lực để bà quyết tâm thay đổi số phận. Bà lựa chọn một phương pháp học tập cực kỳ khắc nghiệt: cùng lúc theo học tại ba trường trung học ở ba thành phố khác nhau, sáng học một nơi, chiều một nơi, tối một nơi. Mỗi ngày bà đều xem tin tức Mỹ để luyện nghe, đồng thời đăng ký nhiều lớp tiếng Anh dành cho người nước ngoài và tận dụng mọi chương trình dạy miễn phí.

     Sau một năm học ngày học đêm, bà đủ khả năng theo học chính thức tại Santa Monica College. Không chỉ học, bà còn phải làm việc không ngừng để trang trải cuộc sống.

     Từ việc phụ giúp người thân, làm việc vặt trong gia đình, đến làm thêm tại thư viện từ 17 giờ đến 22 giờ mỗi ngày, đồng thời vay tiền từ chính phủ để tiếp tục việc học. Chính hoàn cảnh khó khăn của gia đình càng khiến bà tự đặt áp lực phải nỗ lực gấp nhiều lần người khác.

     Năm 1995, bà chuyển lên học tại Đại học California, Los Angeles. Tại đây, bà xin làm việc trong phòng thí nghiệm nhưng chỉ được giao rửa dụng cụ. Khi xin tham gia nghiên cứu, bà bị từ chối với lý do “nghiên cứu không dành cho tất cả mọi người”. Một lần nữa, sự coi thường không khiến bà chùn bước, mà trở thành động lực để bà chứng minh năng lực của mình.

     Tháng 12 năm 1997, bà tốt nghiệp đại học. Chỉ một năm sau, bà hoàn thành chương trình thạc sĩ ngành lý hóa và nhận được học bổng tiến sĩ. Trong thời gian làm nghiên cứu sinh, bà làm việc gần như kiệt sức với cường độ 16 giờ mỗi ngày, 6 ngày mỗi tuần, thường xuyên ở lại phòng thí nghiệm đến 2 giờ sáng. Kết quả là vào tháng 6 năm 2001, bà nhận bằng tiến sĩ chỉ sau 3 năm, nhanh hơn nhiều so với mức trung bình 7 đến 8 năm của nhiều nghiên cứu sinh khác.

     Không chỉ hoàn thành chương trình sớm, bà còn công bố 12 bài báo khoa học và tham gia thuyết trình 19 hội thảo quốc tế trong thời gian này. Thành tích đó khiến nhiều người từng coi thường bà phải nhìn lại.

     Sau khi trở thành nhà khoa học, GS TS Nguyễn Thục Quyên tập trung nghiên cứu trong lĩnh vực điện tử hữu cơ và vật liệu nano. Các công trình của bà xoay quanh việc làm rõ mối liên hệ giữa cấu trúc phân tử và hiệu suất của các thiết bị như pin mặt trời hữu cơ, transistor hữu cơ, cảm biến quang điện và đèn LED hữu cơ. Bà cũng nghiên cứu các vật liệu polymer liên hợp và vật liệu sinh học, mở ra ứng dụng trong năng lượng sạch, môi trường và y học như pin nhiên liệu sinh học và thiết bị y sinh tiên tiến.

     Các nghiên cứu của bà được công bố trên nhiều tạp chí khoa học hàng đầu thế giới như “Nature Materials, Science, Advanced Materials” và nhiều ấn phẩm uy tín khác. Nhờ những đóng góp nổi bật, bà nhiều năm liên tiếp được “Clarivate Analytics” xếp vào danh sách top 1% nhà khoa học có số lượng trích dẫn cao nhất toàn cầu, một thước đo quan trọng về mức độ ảnh hưởng trong giới học thuật quốc tế.

     Khi được hỏi về bí quyết thành công, bà chia sẻ rằng chính những năm tháng nghèo khó, bị coi thường ở Việt Nam và cả khi sang Mỹ đã khiến bà quyết tâm thay đổi cuộc đời. Bà không né tránh khó khăn mà biến những điều tiêu cực thành động lực để vươn lên. Triết lý sống của bà rất rõ ràng: hãy làm điều mình yêu thích, làm việc chăm chỉ, kiên trì theo đuổi mục tiêu và không để bất kỳ ai cản bước mình.

Bên cạnh giải thưởng là một trong những nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới ngành khoa học vật liệu, chị còn nhận nhiều giải thưởng khác như: Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Alexander von Humboldt-Foundation của Đức năm 2015; Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Quỹ Khoa học Quốc gia Mỹ 2010, Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Alfred P. Sloan Foundation 2009; Giải thưởng Nghiên cứu khoa học của Camille Dreyfus Foundation 2008; Giải thưởng Nghiên cứu khoa học Harold J. Plous Memorial Award and Lectureship 2007.

     Câu chuyện của Nguyễn Thục Quyên là minh chứng rằng xuất phát điểm không quyết định đích đến. Từ một cô gái không biết tiếng Anh, từng bị chế giễu nơi xứ người, bà đã vươn lên trở thành một trong những nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới, góp phần tạo ra những công nghệ phục vụ cho tương lai của nhân loại.

(Ánh Dương) 

From: Anh Dang & KimBang Nguyen


 

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Góc Nhìn Của Một “Thùng Nhân” Quá Hãi Hùng / Thụy My Biên Tập 

Nội dung : tại sao đã 51 năm rồi kể từ ngày cộng sản chiếm miền Nam mà người VN vẫn tìm đường ra nước ngoài. Như vậy chế độ cộng sản có mang lại cho cơm no áo ấm và hạnh phúc cho người dân chưa thì bài viết này đã là một câu trả lời. Thương dân Việt quá. Trước năm 1975 dưới chính thể của VNCH không ai muốn ra nước ngoài cả. Đi du học xong là quay về đóng góp và phục vụ cho đất nước.