Những ngày đầu tiên đến nước Mỹ – Tác giả Phùng Văn Phụng

Tác giả Phùng Văn Phụng

              Mới đến Mỹ chừng một tháng, bà xã tôi đã cự nự: 

– “Tôi đã bảo đi Mỹ mà làm gì, ở nhà buôn bán rần rần, đang sung sướng, bây giờ qua đây, ngồi “trông ngốc” trong phòng này như ở tù.” Bà xã tôi than phiền như vậy. 

         Tôi cứng họng không biết trả lời ra sao? 

          Bà xã nói tiếp: 

– “Ði lên Tulsa ở tiểu bang Oklahoma với Hồng Thu, kiếm chuyện gì làm ăn, vô  hãng nào cũng được chứ ở đây làm gì để sống đây?”  Bà xã tôi cự tôi, đòi lên tiểu bang miền Bắc, ít người Việt, nhiều hãng xưởng may ra dễ tìm việc làm, có chỗ nào, hãng nào  mướn, làm gì cũng được.  

          Tất cả chúng tôi gồm có sáu người, hai vợ chồng bốn đứa con, hai trai, hai gái chen chút trong “apartment” hai phòng ở đường Town Park thành phố Houston, Texas; cuối tháng lãnh tiền trợ cấp của chánh phủ Mỹ, trả tiền mướn phòng và nhận “food tem” để đi chợ cũng chỉ vừa đủ chi dùng trong tháng. Sau 8 tháng hết trợ cấp thì sống làm sao đây? tiền đâu trả tiền mướn nhà, tiền đâu mua thức ăn, trả tiền điện thoại v.v.? 

Ðó là câu hỏi thường xuyên trong đầu óc các thành viên trong gia đình tôi trong những ngày bước chân lên đất Mỹ. 

                                  ***** 

          Khi tôi được trả tự do từ trại tù Nam Hà đầu năm 1983, tôi đã nộp đơn chui qua tòa Ðại sứ Mỹ ở Thái Lan để xin tỵ nạn, bà xã tôi và thím tư mỗi lần gặp tôi cứ chọc quê tôi và nói đùa rằng: “lo làm ăn không lo chỉ lo chuyện mò kim đáy biển”. Tôi cũng có cảm tưởng như thím tư tôi nói nhưng hy vọng vẫn nhen nhúm dầu rất nhỏ trong lòng tôi cũng như vợ và các con của tôi đang sống trong khó khăn, cực nhọc và tôi thì đang bị mất quyền công dân. Từ năm 1983 tới năm 1990 đa số bà con cho rằng thành phần đi “cải tạo” về, những người được thả từ trong tù, trong trại cải tạo mà được đi Mỹ là chuyện “mò kim đáy biển”   

          Cho nên khi tất cả gia đình chồng vợ và các con đã lên được máy bay và khi máy bay cất cánh rồi vào cuối năm 1993, tôi mới biết rằng gia đình tôi thực sự được đi Mỹ, rời khỏi quê hương yêu dấu nơi mà tôi đã sinh ra và lớn lên thành người. 

          Ai mà không khỏi đau lòng khi rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún, xa cha mẹ, xa bà con, dòng họ, xa anh chị em ruột thịt, xa bạn bè thân thương, xa những học trò cũ hàng ngày thường gặp mặt. Vậy mà phải rủ bỏ tất cả để ra đi. Ðang buôn bán làm ăn, công việc đang trôi chảy phát đạt, phải sang lại cho người em. 

          Tại sao phải dứt khoát ra đi? Tại sao không ở lại khi đang làm ăn được? Quyết định nào cũng có những khó khăn và quyết định ra đi càng khó khăn gấp bội. Nếu được đối xử tử tế, bình thường như bao nhiêu người dân khác thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi. Người dân miền Nam còn không được đối xử bình thường, được xem như kẻ bị trị bởi những người cùng nòi giống, huống hồ là người chống đối lại họ.                                    

                                    ***** 

          Một hôm phòng bên cạnh có người cần khiêng đồ đạc trong nhà như bàn ghế, tủ giường v.v lên xe để di chuyển. Họ thấy gia đình tôi có hai cháu thanh niên nên gọi đi khiêng đồ đạc giúp. Tôi mới khiêng được mấy lần đã thấy nôn nao trong bụng, muốn ói vì khiêng nặng không quen. Hôm đó được mấy chục đô la coi như lần đầu tiên kiếm tiền ở nước Mỹ bằng nghề khuân vác.            

Chú thím tư cùng người cháu bà con là người bảo trợ, đã  đi xin các bạn bè giường ngủ để ở hai phòng, có máy truyền hình cũ ở phòng khách cho nên khi vào nhà ở đường Town Park đã thấy rất ấm cúng. 

          Hình dung lại trước khi ra đi, sáng thứ bảy, đến sở nhà đất để lấy giấy tờ chứng nhận không thiếu thuế, phải đợi cho đến chiều tối khi giấy tờ họ đã có, để ở trên bàn nhưng họ không chịu đưa, cho nên phải ngồi ngoài sân mà đợi. Họ đòi tiền mà tôi không biết và lúc đó thật ra cũng không dám đưa vì có thể bị họ cho rằng mình đưa hối lộ sẽ làm khó dễ giữ mình ở lại thì phiền phức vô cùng. Nhưng cuối cùng rồi cũng phải chi cho họ một ít tiền mới lấy được giấy tờ để  lên máy bay vào ngày hôm sau.  Tôi nhận được giấy báo đình chỉ chuyến bay ngày thứ năm vì không có giấy chứng nhận không có chủ quyền nhà. Tới tối thứ bảy, tôi mới lấy được giấy chứng nhận này. Trong mấy tháng trước khi ra đi vì quá lo lắng, tôi bị bịnh cảm liên tục, không ăn uống được phải uống thuốc thường xuyên mà cũng không hết.  

Qua một chuyến đi dài lần đầu tiên đến Mỹ tôi cứ suy nghĩ miên man qua Mỹ làm sao mà sống đây? Mình không có nghề nghiệp chuyên môn nào cả, muốn trở lại nghề dạy học cũng phải mất bốn hay năm sáu năm nữa học lại Anh văn, học lại chuyên môn về giáo dục, mà mình cũng đã hơn năm mươi tuổi rồi sau khi học ra trường chắc gì ai mướn mình dạy học đây? 

Tôi suy nghĩ: mình chưa bao giờ lái xe hơi, làm sao học lái và chạy xe đây.?

           Cháu Trung, con anh Xin chở áo quần, đồ đạc lỉnh kỉnh từ phi trường Hobby về bằng xe truck. Hôm đi đón có anh Ðộ, bạn cũ ở quận 8 Sài gòn, vợ chồng chú tư và các con, vợ chồng Lẫm và các con, đến quán Ba Lẹ có thêm Ðoàn Hữu Ðức là cháu thầy Ðoàn Văn Nghĩa, thường gọi là ông Ðốc Nghĩa (thầy dạy Pháp văn của tôi lớp 6, lớp 7 ở trường trung học Cần Giuộc khoảng năm 1957-1958 ), lúc đó tôi mệt quá sau cuộc hành trình dài hơn 24 giờ đồng hồ. Thấy bà con đông đảo đến đón, thật là đượm tình nghĩa anh chị em, bạn hữu quá sức tưởng tượng của tôi. 

          Khi vào căn nhà do người cháu mướn giùm ở đường Town Park là một chung cư có nhiều dãy nhà sát liền nhau, xung quanh đa số là người Mỹ da đen chỉ có một ít người Mễ, làm cho tôi thấy lo âu, cảm thấy hơi sợ. 

         Ði tìm trường học Anh văn.

 Mới qua Mỹ chưa có xe hơi phải đi bằng xe bus. Từ nhà muốn đến trường phải đi bộ một đoạn đường khoảng một cây số mới tới được đường chính là Bellaire rồi từ đó đón xe bus đi đến đường Cookin mới có lớp ESL. Có người bạn cho biết có trường dạy Anh văn miễn phí nếu xin trợ cấp của chánh phủ ở gần đường Chimney Rock và Gulfton. Tôi không biết rõ trường nằm phía nào nên khi xuống Bellaire tìm được Gulfton rồi, thay vì đi bên phải một đoạn đường ngắn là đến trường Ðại học cộng đồng, tôi đi về phía trái cùng với con trai là Quốc đi hơn nửa giờ mà không tìm được trường đến nỗi Quốc mệt quá, cự nự, đành phải tìm đường trở về nhà. 

Muốn đi học tiếp để có thể nói được tiếng Anh nên tìm trường để học. Học ESL cùng với các em, các cháu khoảng chừng ba mươi tuổi chỉ cần vài tháng các em nói tiếng Anh khá nhanh, còn tôi viết thì đúng văn phạm nhưng nói thì cứ ngọng, có nói được câu nào cho trôi chảy đâu. Phân vân giữa đi học tiếp và đi làm. Ði học thì có thể xin vay tiền đóng học phí nhưng không làm ra tiền để trả “bill”. Làm sao làm ra tiền để có cuộc sống ổn định đây? 

          Làm cho tiệm grocery

           Tôi đi tìm việc làm, nộp đơn ở tiệm fast food “Jax in the Box” ở đường Gessner, nộp đơn ở hãng làm điện tử, ở hãng sản xuất vàng, vào chợ Auchun nộp đơn xin bán hàng hay làm bất cứ nghề gì cũng được nhưng ở đâu người ta cũng không nhận. Lý do tuổi đã lớn trên năm mươi, không có “background” quá khứ làm việc ở Mỹ, nói tiếng Anh không thông thạo, không có nghề gì chuyên môn. Cùng với con gái là Uyên Phương đi nộp đơn ở hảng K.Tec, hãng làm điện tử, con gái được nhận đi làm, còn tôi thì không. Ði nộp đơn ở hãng chuyên làm vàng mà chú tư đang làm hãng cũng không nhận. 

          Ðành đi “fill” hàng cho tiện Grocery ở đường Dairy Asford. Sáng sớm mặc áo lạnh đi bộ từ nhà ra bến xe bus khoảng hai dặm, đứng đợi xe bus chừng 10, 20 phút, xe bus chạy khoảng 15 phút, xuống xe bus, lại đi bộ khoảng hai dặm đến chỗ làm. Bữa nào gặp mưa gió, trời lạnh mùa đông, gió rít từng cơn, gió rét căm căm mới thấy nỗi lòng nhớ nhung quê hương, nhớ bà con, nhớ ba má, anh chị em bạn bè v.v. của người xa xứ. Rồi khi vô chỗ làm cần phải đeo kính để đọc tên của món hàng, sắp xếp hàng hóa lên kệ tủ, nên làm khá chậm chạp không bằng những người trẻ không đeo kính. Do đó anh Vương, chủ tiệm bảo: “Sao chú làm chậm quá vậy, mai về nghỉ đi.” 

          Tôi làm cho tiệm Grocery khoảng hai tuần lễ thì mất việc. 

          Ði làm tiệm sang băng nhạc. 

          Bà xã thấy tôi không có chuyện gì làm nên nhờ người quen giới thiệu đi làm ở tiệm sang băng nhạc ở trong khu chợ Hồng Kông 1 ở đường Gessner. Nghề máy móc tôi đâu có biết vì gốc gác là thầy giáo chỉ biết đi dạy học mà thôi. Khi sang băng dĩ nhiên rất chậm chạp thời gian làm việc từ 10 giờ sáng cho đến 8 giờ tối. Tiền lương mỗi tháng được trả là 600 đô la.  Ngày đầu tiên tôi đến làm việc đã được em của bà chủ hay là em của ông chủ? hạch sách ngay. 

Anh ta nói: “Ở Việt Nam sướng quá mà qua đây làm gì cho khổ.? Ði qua đây chỉ có nước đi làm công, làm mướn chứ làm được gì? 

Tôi tức lắm nhưng không muốn tranh luận với anh này làm gì. Khi thấy tôi lớ ngớ, không biết làm gì, thì anh ra lịnh ngay: 

-“Anh phải lau bàn ghế, lau tủ cho sạch sẽ đi chớ”. 

Tôi vội vã cầm khăn lau bàn ghế, lau tủ kiếng, sau một lúc anh bắt tôi sang băng cải lương, phim chưởng, phim Trung Quốc để cho mướn. 

          Anh đâu có hiểu rằng tôi ra đi là vì tôi không thể sống với Cộng Sản được. Tôi là kẻ từng chống đối với chế độ, một con người bị để ý, canh chừng. Làm sao sống được khi mình luôn luôn bị nghi ngờ, bị thường xuyên theo dõi. Một lần tôi đến thăm anh Ngọc, trước cũng ở trong Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến thì công an khu vực đã hỏi anh Ngọc: “Ông Phụng đến nhà anh làm gì đó. Có âm mưu gì không?” Anh Ngọc sợ quá bảo: “Thôi anh đừng đến thăm tôi nữa, công an khu vực hỏi thăm tôi về anh đó. Hắn hỏi anh đến đây là gì, bàn tính, âm mưu chuyện gì ? 

          Một số bạn bè sĩ quan thường đến thăm tôi thì công an khu vực hỏi thăm ông bảy Bích là tổ trưởng ở sát bên nhà: “Anh thấy ông Phụng thế nào.? Tại sao nhiều sĩ quan chế độ cũ cứ đến thăm và theo ông thì ông Phụng này có tính toán chuyện gì chống đối nhà nước không? 

          Ông tổ trưởng phải trả lời là ông Phụng có giấy tờ đi Mỹ rồi còn tính toán chuyện gì nữa. Nói như vậy nhưng anh công an khu vực có tin điều đó không? 

Lúc nào tôi cũng lo âu, hồi hộp không biết bị bắt lại bất cứ lúc nào. Thường xuyên tôi bị theo dõi. 

          Ði bán bảo hiểm 

          Tình cờ, đúng hơn là Thiên Chúa sắp xếp, tôi gặp ông Ðoàn Hữu Ðức vừa mới mở văn phòng Ðoàn Agency nên rất cần người. Tôi đã phải thi 8 lần mới đậu bằng “group one” để được bán bảo hiểm. Mất gần một năm trời mới xong bằng và được tiểu bang chấp nhận cấp giấp phép hành nghề. Ðoàn Hữu Ðức là cháu ông Ðốc Nghĩa, dạy pháp văn  trường trung học Cần Giuộc. 

          Những ngày đầu đi làm, đi bán bảo hiểm là một thách đố lớn. Nhiều khi bị trời mưa tầm tã cũng phải cố gắng đến nhà bà con vì mình lỡ hẹn rồi. Có khi đến nơi rồi tìm không ra nhà dưới trời mưa không dứt hột, cũng phải đi kiếm địa chỉ của khách hàng, vì Apartment ở khu làng Park Place phòng này sát với phòng kia nhưng cách một dãy nhà thành ra tìm không ra. Kiếm nhà không được, đi dưới trời mưa đến cây xăng gần đó dọc Freeway South 45 và đường Broadway, bỏ 25 cents vào điện thoại công cộng để hỏi, anh chỉ giùm căn nhà đó chỗ nào?. Sau khi anh bạn mình chỉ thì mình mới biết rằng mình cũng vừa đứng ở chỗ đó vậy mà không thấy được số nhà vì lúc đó trời đang mưa mà ban đêm, trời lại tối nữa. Sau khi bán được chương trình bảo hiểm 25,000 đô la, hảng đã thuận, lúc đem “policy” là sổ hợp đồng hay giao kèo đến cho anh thì anh lại không nhận, công của mình đã trở thành vô ích, nhưng lâu lâu mới gặp trường hợp như thế chứ nếu ngày nào cũng như vậy chắc đã bỏ nghề đã từ lâu.   

Tôi có cái hẹn vô nhà người khách hàng để giới thiệu chương trình bảo hiểm nhân thọ. Tôi đang giải thích nhu cầu bảo hiểm cho người con vừa mới mua nhà, nếu có mệnh hệ nào thì vợ làm sao có tiền để trả nợ  nhà. Tôi chỉ mới hỏi vài câu và vừa mở máy computer ra; người cha từ bên kia đường bước qua lớn tiếng nói với người con: “Mầy đi qua đây, ăn cơm. Không được mua bán gì hết. Ðến đây để lường gạt con tao hả?.” 

Thấy không khí có vẻ căng thẳng, tôi gấp máy computer lại, bước ra khỏi nhà, mở cửa xe sẵn có mấy tờ báo trên xe, tôi lấy hai cuốn báo đem đến cho người này. 

   –   “Cháu xin gởi bác hai tờ báo này” 

       –   “Ði đi, đi đi  tao kêu cảnh sát bắt mầy bây giờ, đến đây để dụ dỗ, gạt gẫm con tao hả.?”. Lần đầu tiên tôi bị cự nự dữ dội như vậy. Hết sức tức giận nhưng tôi cố gắng tự trầm tĩnh , mở máy xe, hít thật dài hơi và tự nhủ: “tự nhiên bị hiểu lầm, bị cự nự vô lý, nếu mình giận ông này mình cũng điên như ông ấy vậy. Thôi bỏ qua đi. Tai nạn nghề nghiệp mà. Tuy nhiên phải mất hơn mười phút tôi mới lấy lại được bình tĩnh  mà lái xe về văn phòng. 

Một lần khác ghé nhà một người quen do anh Tommy làm nghề bán xe hơi giới thiệu, vừa bước vô nhà, mới hỏi thăm sơ sơ về hoàn cảnh gia đình, bà vợ đứng ở bếp đang nấu ăn, nói lớn tiếng: 

–  “Mấy thằng bán bảo hiểm là những thằng lường gạt, tôi mua bảo hiểm mấy năm trước ở Cali, bây giờ tăng giá, lúc mua nó không nói. Tôi đã bỏ rồi không đóng tiền nữa. Toàn là những đứa lường gạt.” Vì mới vào nghề bảo hiểm tôi chẳng biết phải trả lời thế nào, cứng họng, vội bỏ tài liệu vào cặp và rút êm ra khỏi nhà anh chị này mà trong lòng tức tối lắm vì chị quơ đủa cả nắm ai làm nghề bảo hiểm đều xấu xa cả. Chị ấy chửi mình mà mình chẳng biết trả lời ra sao. 

          Kết: Tạ ơn Chúa 

Hiện nay tôi đã và đang sống trong nghề bảo hiểm hơn 12 năm. Có ba cháu lập gia đình, được ba cháu ngoại và một cháu nội. Bà xã tôi dứt khoát không muốn về Việt Nam ở luôn nếu có về chỉ muốn ở một, hai tháng như đi du lịch mà thôi vì các con, các cháu đều hiện sống ở Houston, Texas. 

Tạ ơn Thượng Ðế ban gia đình của con, các con, các cháu đều khỏe mạnh và bình an. Xin cám ơn nước Mỹ, chánh quyền và người dân Mỹ đã chấp nhận gia đình chúng tôi đến định cư ở quốc gia này như là một quê hương thứ hai của tôi. 

Xin cám ơn những chú thím tư, gia đình Lẫm, gia đình anh Độ, Đoàn Hữu Đức, những người bà con, bạn bè, anh chị em, các cháu đã giúp đỡ tôi trong những ngày đầu tiên đến nước Mỹ. 

Ngày 14 tháng 02 năm 2007

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

Ba`i na`y dang trong Vietbao.com nga`y 08-03-2007 muc  ‘Viet Ve Nuoc My”

Trích trong sách: “Tâm Tình Gởi Lại” của tác giả Phùng Văn Phụng  

Xem sa’ch tai day:

https://keditim.net/wp-content/uploads/2019/09/Tam-Tinh-Goi-Lai-HT.pdf

TUỔI GIÀ KHÔNG KHỔ CHÍNH LÀ PHÚC LỚN NHẤT

Nguyễn Hữu Quang

 ĐI QUA GẦN HẾT MỘT ĐỜI MỚI HIỂU: TUỔI GIÀ KHÔNG KHỔ CHÍNH LÀ PHÚC LỚN NHẤT

Đi qua hơn nửa đời người, chúng ta mới hiểu rằng tuổi già chẳng cần nhà thật lớn, tiền thật nhiều hay danh vọng hơn người. Điều đáng quý nhất chỉ là thân thể còn khỏe, tâm trí còn sáng và gia đình vẫn thuận hòa.

Sáng thức dậy, còn có thể tự bước xuống giường, tự nấu một bữa cơm, tự chăm sóc bản thân mà không phải phụ thuộc vào con cháu — đó đã là một phúc lớn.

Đầu óc còn minh mẫn, vẫn nhớ tên những người thân yêu, vẫn biết mình đang sống vì điều gì — đó là phúc.

Đêm nằm không chất chứa oán hận, không dằn vặt bởi chuyện hơn thua, sáng thức dậy lòng còn thanh thản và môi vẫn có thể mỉm cười — đó cũng là phúc.

Tuổi già đáng sợ không chỉ là bệnh tật, mà còn là cảnh con cái bất hòa vì tiền bạc, anh em quay lưng chỉ vì một căn nhà hay vài mét đất. Của cải rồi cũng hao mòn, nhưng tình thân một khi rạn vỡ thì rất khó hàn gắn. Cha mẹ để lại nhiều tài sản chưa chắc đã giúp con cháu hạnh phúc; nhưng giữ được một gia đình biết yêu thương, nhường nhịn và đùm bọc nhau thì đó mới là gia tài quý giá nhất.

Đến tuổi này, chuyện nào bỏ qua được thì hãy bỏ qua. Người từng làm mình tổn thương, nếu không thể tha thứ thì cũng đừng tiếp tục mang họ trong lòng. Oán giận người khác giống như tự ôm một hòn đá nặng đi hết quãng đời còn lại. Buông được một chuyện, lòng nhẹ đi một phần; bớt một câu hơn thua, tuổi già thêm một ngày bình yên.

Và nếu bên cạnh vẫn còn một người bạn đời sớm tối cận kề, cùng chia nhau chén nước, bữa cơm và hỏi nhau một câu: “Hôm nay mình có khỏe không?” thì đó đã là sự giàu có mà tiền bạc không thể mua được.

Tuổi già không cần quá đông người vây quanh. Chỉ cần vài người thật lòng, một mái nhà yên ấm, con cháu biết yêu thương nhau và một tâm hồn không còn nặng chuyện được mất — như thế đã đủ viên mãn.

Một đời bôn ba kiếm tiền, tìm danh, lo nhà, lo đất… cuối cùng, điều con người mong muốn nhất vẫn chỉ là sức khỏe và bình an. Bởi tiền nhiều không đổi được một giấc ngủ ngon, nhà lớn không giữ được tình thân, còn danh vọng cũng chẳng thể mua lại những tháng ngày đã mất.

Sáu mươi, bảy mươi tuổi mới thấm: giàu chưa chắc đã sướng, nhưng về già không đau thân, không khổ tâm, không làm gánh nặng cho con cháu và trong nhà vẫn đầy ắp tiếng cười — ấy mới là người thật sự có phúc.

Nếu được lựa chọn, bạn mong tuổi già của mình sẽ như thế nào? Hãy để lại một lời chúc bình an dành cho chính mình và những người thân yêu. Nếu thấy bài viết ý nghĩa, hãy chia sẻ để chúng ta cùng nhắc nhau biết trân trọng sức khỏe, tình thân và những ngày bình yên đang có.

#NguyenHuuQuang


 

Đó là đôi chân của Mẹ Thánh Teresa thành Calcutta

LẼ SỐNG.

Có một điều khác thường về Mẹ Thánh Teresa thành Calcutta mà hầu hết mọi người không bao giờ để ý.

Đó là đôi chân của mẹ.

Trong những năm cuối đời, đôi chân của mẹ được cho là biến dạng nặng nề, với các ngón tay cong queo và chen chúc.  Chúng nổi lên với nỗi đau một người nhìn thấy chúng thậm chí còn tự hỏi liệu mẹ có bệnh phong hay không.

Nhưng lời giải thích lại đơn giản đến bất ngờ—và vô cùng cảm động.

Mẹ Teresa nổi tiếng luôn chọn đôi giày cuối đuôi nhất trong số giày dép được tặng cho các Nữ tu Truyền giáo Bác ái.

Mỗi khi có những đôi giày tốt hơn được gửi đến, mẹ đều để lại cho các chị em của mình.

Mẹ nhận những đôi không thoải mái.

Đôi giày không có nghĩa.

Những đôi giày mà người khác không mong muốn.

Và mẹ cứ tiếp tục làm như vậy.

Năm nay qua năm khác, khi mẹ đi bộ hàng ngàn dặm và dành nhiều giờ phục vụ những người nghèo khổ nhất, đôi chân của mẹ được cho là ngày càng biến dạng.

Các chị em của mẹ có thể đã có những đôi giày tốt hơn.

Mẹ Teresa đã chọn cách khác.

Đó là một hành động nhỏ mà ai đó không cần phải nhìn thấy.

Nhưng có lẽ chính điều đó lại làm cho nó trở nên đẹp đẽ như vậy.

Đôi chân của mẹ trở thành lời nhắc nhở thầm lặng rằng tình yêu thương người nghèo của bà không chỉ là một ý tưởng.  Mẹ sẵn sàng chịu đựng khó khăn của chính mình để người khác có được cuộc sống tốt đẹp hơn.

Mẹ từng nói:

“Nếu bạn khiêm tốn, không có gì có thể làm cho bạn hoàn hảo, cả lời khen ngợi phức tạp, bởi vì bạn biết mình là ai.”

Biến dạng đôi chân dưới dạng nặng nề của mẹ đã kể một câu chuyện mà ngôn từ không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ.

Mẹ dành cả cuộc đời mình để bước về phía những nỗi đau của người đó—và sẵn sàng chịu đựng một phần nỗi đau đó.

Mẹ Thánh Teresa thành Calcutta, cầu nguyện cho chúng con.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.


 

Nhà Văn Khái Hưng (1896-1947) – Tác Giả: Nguyễn Văn Lục 

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục 

03/09/2026

Trước đây, tôi đã giới thiệu truyện ngắn: Anh phải sống của Khái Hưng trong một bài viết nhan đề: Chiều kích của một tác phẩm văn học.

Trong đó, tôi đã chủ ý trích dẫn nguyên văn cuộc đối thoại giữa hai vợ chồng Thức.

Lấy tỉ dụ: Mình có đủ sức bơi vào bờ không? Chỗ khác Mày ra đây làm gì? Chữ Mình và chữ Mày tuy khác ngữ nghĩa. Nhưng ở đây, Chữ Mày nặng trĩu dấu ấn của lo sợ thương yêu.

Và đấy là nghệ thuật, là thiên tài.

Tuy nhiên, nhận thấy công việc làm ấy chưa đầy đủ, phần vì tại miền Nam lúc bấy giờ Khái Hưng ít được ai nhắc nhở, phần thì nhóm Tự Lực Văn Đoàn sau này bị độc giả quên lãng nên tôi thấy có trách nhiệm phải làm sống lại một thành viên của nhóm.

Trong khi đó, Nguyễn Tường Thiết, con trai thứ tư cùa Nhất Linh lại nghi ngờ: Ông Diệm cho người không chuyển báo phát hành Thống Nhất để triệt hạ tờ Nguyệt san Văn hóa ngày nay của Nhất Linh.

Sự ngây thơ vô số tội ấy mà Nguyễn Tường Thiết quên rằng, sự nghiệp văn học của Tự Lực Văn Đoàn đã được Hiệp hội giáo chức đưa Nhất Linh vào chương trình thi tú tài I.

Thành công rực rỡ của Tự Lực Văn Đoàn đã được khẳng định ở một thời kỳ nhất định và đã đến lúc nhường chỗ cho những trào lưu văn học mới.

Ở các lớp đệ ngũ, đệ tứ thì cho vào chương trình tác phẩm Chinh Phụ ngâm

Ông Diệm và nhất là ông Nhu coi việc ấy như một công việc của bộ giáo dục và chẳng hề quan tâm, nói chi đến việc nhỏ nhoi phá hoại tờ báo của Nhất Linh.

Nhưng lẽ đời là thế, Nguyễn Tường Thiết cả đời chỉ là cái bóng của cha mình không thể vượt qua.

Viết lại như một hồi ức đã qua mà như thể chẳng đáng quan tâm nữa.

Trong khi Nhất Linh chói sáng như thế thì những nhà văn chói sáng như thế ở lại miền Bắc như Xuân Diệu, Tú Mỡ như Khái Hưng đã  hầu như không mấy người biết tới.

Chưa kể những nhà văn độc lập như Vũ Trọng Phụng.

Tôi xin viết tóm lược sự nghiệp văn học ấy trong một chừng mực có thể và đặc biệt giới thiệu truyện dài: Hồn bướm mơ tiên của ông.

  • Tiểu sử

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư. Bút danh Khái Hưng chỉ là phép đảo chữ của Khái Hưng, để sắp xếp lại các chữ cái trong tên thật Khánh Giư. Ông sinh năm 1896, Hải Phòng. Cha ông là Trần Mỹ, từng giữ chức Tuần phủ.. Cha vợ ông là Lê Văn Dinh từng giữ chúc Tổng đốc Bắc Ninh. Đặc biệt em ruột ông là nhà văn Trần Tiêu với truyện ngắn đặc sắc Con trâu..

Một gia đình như thế nên không lạ gì ông được gửi đi học ở trường Pháp danh tiếng Albert Sarraut. Ông đỗ tú tài I và vì không muốn làm công chức, ông về Ninh Giang mở đại lý bán dầu hỏa. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, ông quyết định ra Hà Nội và dạy học ở trường tư thục Thăng Long.  (Nơi Võ Nguyên Giáp cũng từng giảng dạy)

Trong khoảng thời gian từ 1930-1932, Nhất Linh từ Pháp trở về và cũng dạy tại trường Thăng Long. Do đó họ trở thành bạn, mặc dầu Khái Hưng hơn Nhất Linh 9 tuổi.

Khi Nhất Linh thành lập Tự Lực Văn đoàn vào năm 1932 với ba thành viên chính là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo.

Khái Hưng được coi là Nhị Linh.

Là một cây bút chính của nhóm,  ông có rất nhiều chuyện ngắn và chuyện dài, cả kịch nữa.

Tiểu thuyết  đầu tay của Khái Hưng là cuốn Hồn bướm mơ tiên,1933. Cạnh đó còn có truyện Nửa chừng xuân.

Nhưng sau đó nhiều biến cố chính trị mà việt minh nắm ưu thế đã buộc Nhất Linh đào thoát sang Hồng Kôông và nhiều năm trời sống im hơi lặng tiếng.

Trong khi đó để lại Khái Hưng gánh trọn một di sản văn học và chính trị.

Ông đã chọn về quê vợ ở Nam Trực, thuộc tỉnh Nam Định..

Ông quy ẩn, sống ẩn dật ở nhà quê.

Nhưng bọn cộng sản tàn độc đã truy đuổi ông, rồi bắt giam ông ở Lạc Quần, xử bắn ông vì coi ông như một lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân đảng.

Ông đã ra đi vĩnh viển để lại người con nuôi là Nguyễn Tường Triệu(con trai Nhất Lịnh).

 

  • Nội dung truyện Hồn bướm mơ Tiên

Đây là một chuyện tình đầy kịch tính, lãng mạn, đẹp trong trắng, có hờn ghen, có mê say đắm đuối, có nức nở trong môi trường của tiếng chuông chùa Long Gíáng. Nó bảng lảng vào hư không.

Ngọc, nhân vật chính của câu truyện, một thanh niên tuấn tú,  học ngành canh nông về thăm người bác là nhà sư trụ trì.

Nhà sư bèn sai chú tiểu Lan xuống chân đồi đi đón Ngọc…

  • Thưa ông, ông có phải là ông Ngọc không ạ? Phải, sư chùa Long Giáng là bác tôi, tôi là Ngọc.
  • Ngọc thấy chú tiểu có nét đẹp con gái bèn ngỡ ngàng khen.
  • Chú tu ở chùa bao lâu rồi? Sao chú có nét đẹp con gái thế.
  • Chú tiểu Lan, e thẹn, hai má đỏ ửng không đáp nên lời.
  • (Chùa Long Giáng có từ đời vua Lý Nhân Tông. Văn Khôi công chúa bị ép gả lấy một phò mã bèn trốn lên chùa nên từ đó, nhà vua tức giận sai đốt chùa.Nhưng tự đâu có con rồng phun nước làm tắt lửa.
  • Nhà vua sợ hãi cho sửa sang, trùng tu chùa nên sau này có tên chùa Long Giáng..)
  • Một lần theo chú Tiểu Lan đi hái sắn, trên đường về, chủ tiểu Lan trượt ngã, banh áo ngực để lộ nhiều lớp khăn quấn chung quanh ngực.
  • Chú tiểu Lan vội kêu: Nam mô a di đà Phật.
  • Ngọc ngạc nhiên tự nhủ thầm: Hắn là trai hay gái?Trong chùa có chú Mộc quê mùa chất phác. Một lần, Ngọc dò hỏi chú Mộc, tối chú ngủ với tiểu Lan à?
  • Không, chú tiểu Lan có phòng riêng, thường ngủ và chốt khóa bên trong.
  • Tại sao, vì lý do gì mà cần phải cẩn thận chốt cửa như thế?
  • Ở trên chùa được mười ngày, được gần và khắng khít nhau, gần như ý hiệp tâm đầu. Một bận khác, đang leo lên gác, chú tiểu Lan la hét và ngã xuống, Ngọc vội đỡ lấy, cả thân hình chú Tiểu Lan ôm gọn lấy Ngọc.. Ngọc có cảm giác toàn cơ thể rung lên khác thường..khác với thân thể con trai..Chú Tiểu Lan vội kêu lên : Rắn, con rắn, em sợ quá. Ngọc dùng cây gậy đập đầu con rắn.
  • Một lần sư cụ sai chú Tiểu Lan sang chùa Long Vân biếu một số đồ dùng công quả. Ngọc đòi đi theo.. Khi đi qua một con suối, chú Tiểu Lan ngại ngùng không biết phải làm thế nào? Ngọc đề nghị, để tôi cõng chú qua bên đó. Chú Tiểu Lan xấu hổ, ngại ngùng, cuối cùng đồng ý để Ngọc dắt qua suối. Nhưng rồi quá đà một lần nữa chú ngã vào lòng Ngọc.

Buổi tối do sấm chớp bão bùng nên buộc lòng hai người phải ngủ lại chùa.

Lần này, Ngọc bạo dạn nằm ôm chú Tiểu Lan, Tiểu Lan sợ hãi vùng chạy thoát ra bên ngoài…Chạy được một đoạn dài, Tiểu Lan mệt quá không chạy được nữa ngồi ôm mặt khóc.

Ngọc đuổi tới, lòng đầy xúc cảm hối hận, an ủi. Cuối cùng hai người quay về ngủ một đêm yên lành. Hôm sau, trời quang mây tạnh, họ cùng nhau trở về chùa Long Giáng.

Một lần, sau khi biết rõ chú tiểu Lan là gái bèn viết một lá thư tinh bày tỏ tình yêu trai gái như thể nỗi lòng đã mấy tuần lễ thương nhớ.Lá thư đầy ắp yêu thương và nhớ nhung…

Nhưng khi gặp chú tiểu Lan như thể bắt gặp được nổi hiểm nguy rình rập, chú vội vã bỏ đi. Tức giận, Ngọc xé bức thư làm bốn quăng dưới đất rồi bỏ đi.

Chú tiểu Lan chợt nhớ bỏ quên cái liềm quay lại lấy, chợt thấy lá thư quẳng lại vội vã thu nhặt mang về nhà ráp nối lại.

Lòng thổn thức vì biết tình cảm của Ngọc dù ngang trái đã dành cho mình.

Sau này, Ngọc được biết  bố mẹ chú Tiểu Lan đột ngột qua đời và buộc phải lấy một chàng trai mà cô không muốn. Cô liền bỏ trốn đi, ra bờ sông, cô gom quần áo bỏ bên một bờ sông như thể, cô đã tự vẫn, cuộc đời cô đã lang thang tìm đến chùa Long giáng nhận xin làm chú tiểu.

Tên thật của chú là Thân, nhưng sư phụ đã đổi ra là Lan.

Nhưng cớ sự xảy ra như thế giúp họ gần gũi chia xẻ với nhau..Tình yêu đầu đời như đóa hoa nở muộn khiến họ không thể không nghĩ về nhau, mong muốn gần gũi ngoài ý muốn… Một lần, Ngọc đem giá vẽ ra vẽ và yêu cầu chú tiểu Lan làm người mẫu. Ngọc đã vẽ chú tiểu Lan, mặc áo tứ thân như con gái.  Xem hình vẽ, chú tiểu Lan ra chiều xấu hổ cho rằng, dù là gái hay trai thì ở bậc tu trì đều không quan trọng..

Ngọc luôn luôn kiếm tìm và cài đặt chú tiểu Lan vào những tình huống trớ chêu, khó xử.

Một lần khác, tò mò tìm đến trai phòng của chú Tiểu, không thấy chú ở trong đó. Quay về điện thờ thấy chú tiểu Lan đang ngồi gõ mõ.

Trong bó hương cầm tay, chú tiểu Lan khấn:

  • Xin phù hộ cho đệ tử.
  • Nhắc đến tên Ngọc, thú nhận lòng trần vẫn chưa tan..Giá gặp nhau hai năm trước.. Nhưng bây giờ thì đã muộn..Hạnh phúc bây giờ là phải biết hy sinh,hy sinh thì hạnh phúc đôi ta mới có nghĩa.
  • Suy nghĩ chín chắn rồi, Ngọc quyết định về lại Hà nội và để lại một lá thư chỉ có vài dòng..Chú ở lại, xin chú cầu nguyện cho tôi ở chốn Niết Bàn.. Chú tiểu Lan đọc thư rồi ôm mặt khóc nức nở…Lòng như tan vỡ !!!
  • Sau một hồi, chú Tự nhủ lòng mình: Phải quên, phải thật biết quên!!!

Mùa ấy — có lẽ tôi đã gặp lại chính mình – Duy Khang 

Khang Duy Nguyen is at Hermann Park Centennial 

Tháng Chín gõ cửa bằng một cơn mưa thu mềm như lụa, lăn nhẹ qua mái hiên rồi đọng lại trên những vạt lá còn xanh. Cơn mưa đầu mùa không còn cái ồ ạt, xối xả của những ngày hạ chói chang, cũng chưa mang theo cái rét buốt của mùa đông. Nó đến dịu dàng, chầm chậm, rào rạt như một lời thì thầm, cuốn đi phần nào những bộn bề và khói bụi còn vương trên vai người.

Screenshot

Những ngày đầu Thu đã khẽ chạm ngõ Texas. Thế nhưng, sống ở Texas, đôi khi thật khó nhận ra một mùa Thu đang về. Khí hậu nơi đây vốn thất thường; cái nóng của mùa Hạ có thể vẫn còn đó, trong khi một buổi sớm nào đó, gió đã bất chợt trở nên dịu hơn, bầu trời cao hơn và lòng người cũng chợt chùng xuống.

Tản bộ qua một góc phố quen, nhấp một ngụm cà phê ấm, tự nhiên ta thấy lòng mình chùng xuống một nhịp. Tháng Chín chạm vào đất trời bằng chút se lạnh dịu êm, khiến con người dễ lắng lại, dễ bao dung hơn với những điều đã qua và rộng mở hơn với những gì đang đến.

Tiếng mưa rơi rào rạt trên mái hiên, tưởng như một bản hòa tấu trầm lắng của đất trời. Nó ru dịu những lo toan, xoa mềm những góc lòng đã từng tổn thương, để ta nhận ra rằng có những bình yên không cần phải tìm kiếm ở đâu xa.

Giữa dòng đời vốn quá vội vàng, đôi khi chỉ cần ngồi yên bên khung cửa, nghe mưa rơi và nhấp một ngụm cà phê nóng, ta đã có thể tìm lại một chút an nhiên cho chính mình. Chẳng cần đọa đày mình trong những cuộc đua phù hoa, bởi bình yên đôi khi chỉ là một quãng lặng rất nhỏ — nơi lòng mình vẫn còn đủ ấm để đi qua những giông bão đã từng.

Thứ 6 tan sở sớm……Một mình lái xe và tản bộ qua Rice University, rồi men theo những con đường quen thuộc về phía Hermann Park và khu Museum District. Đó là một phần Houston mà tôi đã quá quen thuộc sau hơn ba mươi năm sống nơi này.

Những hàng cây vẫn đứng đó. Mặt hồ vẫn phẳng lặng dưới ánh nắng nhạt. Một vài chiếc lá khẽ rời cành, rơi xuống mặt nước rồi trôi đi rất chậm. Có chút gió mát len qua những tán cây, mang theo mùi cỏ và hơi ẩm của đất. Houston buổi trưa nay bỗng trở nên hiền lành đến lạ.

Tôi ngồi xuống bên một góc hồ, chợt nghĩ:

“Thu là thơ của đất trời, thơ là thu của lòng người.”

Có lẽ bởi vậy mà mùa Thu luôn khiến người ta dễ lắng lòng hơn. Một cơn gió nhẹ, một chiếc lá rơi, một buổi chiều vàng hay tiếng mưa ngoài hiên cũng đủ đánh thức một điều gì đó tưởng đã ngủ quên rất lâu.

Và rồi, cơn mưa trưa hôm nay  đến bất chợt sau những ngày dự báo cơn bão đánh vội vào biên giới giữa tiểu bang Louisiana và Texas mang theo những trận mưa và lụt lội phía Đông Bắc Houston.

Tôi đứng bên khung cửa office nhìn ngắm, và nghe mưa rơi xuống mái hiên và những tán cây ngoài sân. Thành phố đang vội vã bỗng chậm lại. Những con đường ướt,  cây cối rung lên trong gió, còn tiếng mưa cứ đều đều rơi như một bản nhạc cũ.

Không hiểu vì sao, tiếng mưa hôm ấy lại khiến tôi nhớ.

Có lẽ trong ký ức của mỗi người, những cơn mưa luôn giữ một vị trí rất riêng.

Tôi nhớ những ngày còn trẻ, Nước mưa chảy trên mái tóc. Những hạt mưa li ti đọng trên hàng mi. Một ánh mắt, một nụ cười, một bàn tay khẽ đưa lên che mưa…

Những điều tưởng như thật nhỏ bé ấy, qua năm tháng, lại trở thành những hình ảnh dịu dàng nhất của một thời tuổi trẻ.

Có những cơn mưa đã đi qua từ rất lâu. Người xưa có thể đã ở một nơi rất xa. Con đường cũ có thể đã thay đổi. Nhưng chỉ cần một ngày nghe tiếng mưa rơi, tất cả bỗng trở về — rất nhẹ, rất gần, như thể thời gian chưa từng đi qua.

Có lẽ ký ức là như thế. Nó không cần một lời gọi. Chỉ một giai điệu cũ, một mùi hương quen, một cơn mưa đầu mùa… cũng đủ mở lại một cánh cửa mà ta tưởng mình đã khép từ lâu.

Chiều xuống ở Hermann Park.

Sau cơn mưa, ánh mặt trời cuối ngày xuyên qua những tán cây, rót xuống mặt hồ một màu vàng nhạt. Cỏ cây còn đẫm nước. Không khí mang theo mùi đất ẩm và hương xanh của lá. Tôi đứng lặng nhìn những chiếc lá cuối mùa khẽ rơi, chợt nghe rõ hơn bước đi của thời gian.

Hơn ba mươi lăm năm đã trôi qua.

Những hàng cây này vẫn còn đó, nhưng thành phố đã khác. Người đi qua những con đường này cũng đã khác. Và tôi — dĩ nhiên — cũng không còn là tôi của những ngày đầu đặt chân đến Houston.

Ngày trước, tôi đi qua những nơi này để đến một nơi nào đó.

Bây giờ, đôi khi tôi đi chỉ để… đi.

Để nhìn một mặt hồ.

Để nghe tiếng gió.

Để ngồi yên một lúc giữa một thành phố luôn chuyển động.

Có lẽ càng đi qua nhiều năm tháng, người ta càng hiểu rằng hạnh phúc không phải lúc nào cũng nằm ở những điều lớn lao. Đôi khi, nó chỉ là một buổi trưa cuối tuần bình yên, một tách cà phê nóng, một cơn mưa bất chợt… và trong khoảnh khắc ấy, ta nhận ra lòng mình vẫn còn biết rung động.

Tôi cũng nhớ những mùa Trung Thu của một thời rất xa.  Những chiếc đèn ông sao, tiếng trống múa lân, những chiếc bánh Trung Thu và con đường làng ngập ánh trăng. Khi còn nhỏ, ta chỉ nghĩ đó là những ngày bình thường. Mãi đến khi lớn lên, đi xa quê hương, ta mới hiểu: đó chính là những năm tháng đẹp nhất của đời mình.

Có những điều chỉ khi mất đi khoảng cách, ta mới nhìn thấy hết giá trị của nó.

Có lẽ vì vậy mà tôi yêu những bài thơ về mùa Thu, yêu những giai điệu viết về một thời đã xa. Không phải chỉ vì Thu đẹp, mà bởi trong cái đẹp ấy luôn có một chút buồn — thứ nỗi buồn rất nhẹ của một người đã đi qua nhiều năm tháng và biết rằng có những điều không thể trở lại.

Houston hôm nay vẫn là Houston của những con đường quen thuộc, những hàng cây, những mặt hồ và những cơn mưa bất chợt.

Chỉ có người đứng nhìn đã khác.

Tôi đứng giữa một buổi chiều tháng Chín, nghe tiếng lá rơi và tiếng mưa còn sót lại đâu đó trong ký ức. Bỗng nhận ra điều làm mình xúc động không hẳn là mùa Thu đang về, mà là những năm tháng đã từng đi qua đời mình — những con người, những con đường, những cuộc gặp gỡ và những yêu thương tưởng đã ngủ yên.

Thời gian không lấy đi tất cả.

Nó chỉ đưa mọi thứ vào một nơi sâu hơn trong lòng người.

Để rồi một ngày, giữa Houston xa xôi, chỉ cần một cơn mưa tháng Chín rơi xuống mái hiên, một giai điệu cũ vang lên, hay một chiếc lá vàng lặng lẽ rơi bên mặt hồ…

Ta lại gặp một phần của chính mình.

Có những mùa đi qua đất trời.

Có những mùa đi qua đời người.

Và có những mùa, dù đã rất xa, vẫn mãi ở lại trong tim.

Mùa ấy — có lẽ tôi đã gặp lại chính mình.

Houston, ngày cuối tuần mưa bão.

Duy Khang 


 

 Gần 40% số nhạc được phát hành trên toàn cầu vào tháng 7 năm 2026 sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tạo âm nhạc vẫn là một chủ đề gây tranh cãi và những số liệu gần đây xác nhận rằng sự bùng nổ của các bản nhạc được tạo ra bằng AI không hề giảm bớt. Tệ hơn nữa, một số nghệ sĩ đang ngày càng cởi mở hơn về việc sử dụng công nghệ gây tranh cãi này.

Đây là một tin chắc chắn sẽ khiến nhiều người rơi nước mắt: Khi âm nhạc do AI tạo ra tiếp tục tràn ngập các nền tảng phát trực tuyến, một nghiên cứu mới đã tiết lộ rằng gần 40% âm nhạc mới được phát hành trên toàn cầu vào tháng 7 năm 2026 đã sử dụng AI trong quá trình sáng tạo.

Con số đáng báo động đó đến từ một cuộc khảo sát mới của SubmitHub , một nền tảng trực tuyến cho phép người dùng gửi nhạc vào danh sách phát và blog. Họ đã phân tích hơn một triệu bản nhạc và sử dụng công cụ phát hiện AI riêng của mình, SH Labs, để tìm ra rằng 23,2% trong số đó hoàn toàn do AI tạo ra.

Ngoài ra, người ta phát hiện ra rằng 15,3% số nhạc được phát hành tháng trước đã sử dụng các yếu tố âm thanh do AI tạo ra nhưng đã được con người “chỉnh sửa hoặc xử lý”. Điều này có nghĩa là tổng cộng 38,5% số nhạc được phát hành tháng trước có sự tham gia của AI.

SubmitHub được SH Labs ra mắt vào đầu mùa hè năm nay nhằm mục đích làm nổi bật “vấn đề tiết lộ thông tin ngày càng gia tăng” liên quan đến trí tuệ nhân tạo trong âm nhạc. Công cụ phát hiện AI của họ đang được Bandcamp và Traxsource sử dụng để phát hiện việc sử dụng AI trong âm nhạc, cũng như GEMA, tổ chức bản quyền biểu diễn vừa thắng một vụ kiện mang tính bước ngoặt chống lại nền tảng tạo nhạc bằng AI Suno .

Trong một tuyên bố, người sáng lập SubmitHub, Jason Grishkoff, cho biết: “Tôi nghĩ con đường phía trước cho âm nhạc do AI tạo ra là sự minh bạch. Mọi người nên được tự quyết định xem họ có muốn tương tác với âm nhạc do AI tạo ra hay không.”

Ông nói thêm: “Nhiệm vụ của chúng tôi là cung cấp cho họ đủ thông tin để họ đưa ra lựa chọn đó.”

Những số liệu gần đây được cập nhật sau thống kê mới từ Deezer , cho thấy các bản nhạc do AI tạo ra chiếm hơn một nửa tổng số lượt tải lên mới mỗi ngày trong tháng Sáu. Chúng cũng phù hợp với một nghiên cứu năm 2025 cho thấy 97% người dùng “không thể phân biệt được giữa nhạc thật và nhạc do AI tạo ra” .

Một số tổ chức cuối cùng cũng bắt đầu nhận ra những lo ngại của các nghệ sĩ và người yêu nhạc thực thụ về chất lượng âm thanh AI kém cỏi được cung cấp trên các nền tảng phát trực tuyến.

Ví dụ, Bandcamp đã cấm tất cả nhạc do AI tạo ra vào đầu năm 2026, tuyên bố rằng họ “có quyền xóa bất kỳ bản nhạc nào nếu nghi ngờ được tạo ra bằng AI”, trong khi gã khổng lồ phát trực tuyến Spotify gần đây đã thông báo rằng họ sẽ bắt đầu thêm huy hiệu “AI Persona” vào một số hồ sơ nghệ sĩ , giúp người nghe nhận biết khi nào nhạc của một nghệ sĩ có thể được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo. Sáng kiến ​​này sẽ bắt đầu vào tháng 9.

Trong khi các nghệ sĩ từ Kate Bush đến Brian May của Queen đã lên tiếng về cuộc khủng hoảng hiện sinh mà AI gây ra cho giới sáng tạo, khẳng định rằng “việc sử dụng trái phép các tác phẩm sáng tạo để huấn luyện AI tạo sinh là một mối đe dọa lớn và bất công đối với sinh kế của những người đứng sau các tác phẩm đó”, thì cũng có một số người sáng tạo đã có cách tiếp cận đơn giản hơn đối với việc sử dụng công nghệ gây tranh cãi này.

Luke Steele của ban nhạc Empire Of The Sun gần đây thừa nhận anh sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để sáng tác nhạc; Boy George cho biết anh đã sử dụng AI để viết ca khúc reggae ủng hộ Israel đầy gay gắt “We Will Dance Again” (điều này cuối cùng dẫn đến việc ca khúc bị xóa khỏi Bandcamp vì vi phạm quy tắc về AI); và một nghệ sĩ gần đây gây ra sự phẫn nộ trong giới nghệ sĩ là rapper người Mỹ Tyga.

Nam rapper thừa nhận anh đã sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như một “công cụ” trong album mới (và bị giới phê bình chê bai) của mình, ‘$tarface’. Tyga đã sử dụng AI để tạo ra âm thanh synth mang hơi hướng cổ điển trong album của mình, và coi nó như một “công cụ” “không khác gì so với khi Auto-Tune mới ra đời”.

Tuy nhiên, album này đã bị giới phê bình chỉ trích dữ dội, với Pitchfork chấm điểm thấp nhất là 0/10, mô tả ‘$tarface’ là “tự mãn, tự phụ và u ám” và “sự tồn tại của nó đã khiến thế giới trở nên tồi tệ hơn.”

Nhiều nghệ sĩ đã lên tiếng chỉ trích Tyga – trong đó có Doja Cat, người đã nói thay cho nhiều người yêu nhạc khi gọi anh ta là “thằng khốn nạn vì làm ra album về trí tuệ nhân tạo”.

Đối với một số người, đó là một công cụ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng; đối với những người khác, đó là một trò lừa đảo hoàn toàn.

Một dấu hiệu nữa cho thấy một số nhà sáng tạo nội dung đang ngày càng thoải mái/trơ tráo hơn trong việc chấp nhận những thứ “lố bịch” từ AI là việc nhà sản xuất âm nhạc kiêm rapper người Mỹ Timbaland đã ra mắt một dự án “A-Pop” có tên Stage Zero và ký hợp đồng với nghệ sĩ đầu tiên, TaTa, người mà anh mô tả là “một nghệ sĩ âm nhạc sống động, biết học hỏi và tự chủ được xây dựng bằng AI.”

Những ví dụ này và các số liệu gần đây, cùng với “âm nhạc” đáng sợ do các sản phẩm trí tuệ nhân tạo như Tilly Norwood , Velvet SundownBreaking Rust tạo ra – những sản phẩm cạnh tranh với các nghệ sĩ thực thụ về thời gian nghe cũng như tiền bản quyền – cho thấy một điều rõ ràng. Chúng ta vẫn chưa thoát khỏi “rừng rậm” của âm nhạc nhân tạo.

From: taberd & NguyenNThu


 

HAI MỐI TÌNH  “VÒNG TAY HỌC TRÒ” – Vương Trùng Dương

Kimtrong Lam

HAI MỐI TÌNH  “VÒNG TAY HỌC TRÒ”

Vương Trùng Dương

Nguyễn Thị Hoàng sinh năm 1939, tại Huế. Học trung học Đệ Nhất Cấp ở trường Ðồng Khánh, Huế.  Năm 1957 gia đình chuyển vào Nha Trang, học trường trung học Võ Tánh Nha Trang. Năm học lớp Đệ Nhị xảy ra mối tình với nhà văn, nhà giáo Cung Giũ Nguyên, lớn hơn ba mươi tuổi. Hậu quả sinh con gái đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng, chuyển cho bà Nguyên nuôi vì bà không có con.

Gia đình kiện ông Nguyên tội dụ dỗ gái vị thành niên. Trước toà, Nguyễn Thị Hoàng đứng ra nhận trách nhiệm: “không hề bị dụ dỗ”, vị giáo sư được trắng án. Vụ án nầy xôn xao dư luận ở Nha Trang và báo chí ở Sài Gòn khai thác tối đa mối tình thầy trò, tuổi tác so le!

Screenshot

Mối tình của Nguyễn Thị Hoàng và Mai Tiến Thành xảy ra khi cô giáo Nguyễn Thị Hoàng ở Đà Lạt. Bà sống cô đơn trong ngôi nhà lớn (trên lầu), thuê của Linh Mục người Pháp gần như hoang phế và cậu học trò (nhỏ hơn khoảng sáu tuổi) ở trọ tấng dưới, kết quả, theo nhà văn Thụy Khê: “Sanh con gái Mai Quỳnh Chi (giao cho mẹ của Thành nuôi)” nhưng sau Thành mang về cho chị Điệp nuôi.

Và từ Vòng Tay Học Trò, Mai Tiến Thành cũng viết cuốn Tiếng Nói Học Trò. (Mai Tiến Thành nhập ngũ và phục vụ ở Quân Đoàn II, qua đời tháng 10 năm 2008 tại Little Saigon)

Thực tế trải nghiệm từ hai mối tình học trò vụng trộm, nên Vòng Tay Học Trò  của Nguyễn Thị Hoàng lần đầu ra mắt năm 1966, trở thành “quả bom” chấn động văn đàn miền Nam. Nhiều tờ báo lúc ấy nhận xét sách về mối tình cô giáo – học trò là “đồi trụy”, khiến tác giả lao đao thời gian dài.

Dù nhận các tác phẩm của bà phần lớn được sinh ra từ trải nghiệm và quá trình sống nhiều lúc đau khổ, nhiều lúc thăng hoa, Nguyễn Thị Hoàng khẳng định không viết văn để gửi gắm điều gì đó.

Trải qua hai mối tình “vụng trộm” lãng mạn, Nguyễn Thị Hoàng chính thức kết hôn với giáo sư Nguyễn Phúc Bửu Sum (gốc Huế, cùng tuổi, qua đời năm 2022) đã có 5 người con. Năm 1967, hai người lập nhà xuất bản Hoàng Ðông Phương, nhưng ông trốn quân dịch về lục tỉnh trốn ẩn, ở Long Xuyên, nơi hẻo lánh, lập Trại Ðá Mềm…. bà ở Sài Gòn.

Screenshot

Trong quyển Vào Nơi Gió Cát của Nguyễn Thị Hoàng đề cập đến trường hợp nầy. Theo nhà văn Nguyễn Văn Lục “Thời VNCH, Bửu Sum trốn lính, rồi bị bắt, trở thành lao công đào binh, bị đầy ra Quảng Ngãi. (Nguyễn Thị Hoàng, ngoài việc nuôi chồng ẩn náu, còn phải chăm sóc đàn con 5 đứa, lo việc nhà, việc cơm nước. Đó là những giai đoạn vất vả và đầy nước mắt”.

Vào thời lập nhà xuất bản Nguyễn Thị Hoàng ấn hành rất nhiều tác phẩm và là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng như Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Lệ Hằng.

Trong giai đoạn vinh quang của người cầm bút thì Nguyễn Thị Hoàng chấp nhận thương đau “phận đàn bà” khi lập gia đình!

Theo nhà văn Vũ Ngọc Tiến “Sau năm 1975, chị cùng gia đình đi kinh tế mới rồi mưu sinh ở Suối Dầu, tỉnh Khánh Hòa ba năm”. Trở lại Đà Lạt, sống ẩn dật, theo người bạn cho biết, bà hút thuốc liên tục và thích uống rượu giải sầu.

Năm 1990 bà xuất hiện với tác phẩm Nhật Ký Của Im Lặng. Năm 2020, ấn hành tập thơ Mây Bay Qua Trời Xưa và văn với Trên Thiên Đường Ký Ức. Rồi từ đó, bà hiển hiện trong những lần trò chuyện ở Sài Gòn. Có dịp sang Pháp và lần nầy sang Mỹ. Mừng cho bà trong tuổi cuối đời tìm được niềm vui.

Vương Trùng Dương


 

NGÔ THUỴ MIÊN Và bóng hồng trong ca khúc.

Xuyên Sơn

 NGÔ THUỴ MIÊN

Và bóng hồng trong ca khúc.

https://youtu.be/xXPbU91lPKQ

Âm nhạc của Ngô Thụy Miên không còn xa lạ với công chúng, nhưng cuộc đời của Ngô Thụy Miên lại chẳng mấy người yêu nhạc tường tận.

Có lẽ bởi vì nhạc sĩ Ngô Thụy Miên ít hứng thú với đám đông.

Vì vậy, cũng ít ai biết được, nguồn cảm hứng lớn nhất trong sự nghiệp sáng tác của Ngô Thụy Miên chính là người vợ thủy chung

Đoàn Thanh Vân!

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sinh năm 1948 tại Hải Phòng.

Khi được 6 tuổi, cả gia đình Ngô Thụy Miên chuyển vào Sài Gòn định cư.

Hiệu sách Thanh Bình của người cha, đã khơi dậy và nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật đối với Ngô Thụy Miên.

Sau một thời gian theo học nhạc với nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt và nhạc sĩ Hùng Lân, chàng trai Ngô Quang Bình dùng bút danh Đông Quân để tập tành sáng tác.

Sau một thời gian, bút danh Đông Quân được đổi thành bút danh Ngô Thụy Miên.

Cơ duyên nào để Ngô Thụy Miên viết tình ca?

Đó là bóng hồng Đoàn Thanh Vân, mà Ngô Thụy Miên hạnh ngộ ở

Trường Âm nhạc Sài Gòn.

Người đẹp Đoàn Thanh Vân là con gái của tài tử Đoàn Châu Mậu nổi tiếng bậc nhất Sài Gòn thập niên 1960.

Hình ảnh Đoàn Thanh Vân đã khiến trái tim Ngô Thụy Miên rung động, và chàng trai 17 tuổi đã viết ca khúc đầu tay “Chiều Nay Không Có Em” thay cho lời tỏ tình:

“Không có em đời mình, sao vắng vui

Cuộc tình như lá khô mộng mơ cơn mê chiều

Không có em đôi mắt buồn nào đợi chờ/

Xin cho nhau lời vỗ về, sao đành quên đi ngày tháng đó”.

Bắt đầu hẹn hò với Đoàn Thanh Vân, Ngô Thụy Miên viết tiếp ca khúc

“Mùa Thu Cho Em”

rạo rực:

“Nắng úa dệt mi em

Và mây xanh thay tóc rối

Nhạt môi môi em thơm nồng

Tình yêu vương vương má hồng

Sẽ hát bài cho em, và ru em yên giấc tối

Ngày mai khi mưa ngang lưng đồi

Chờ em, anh nghe mùa thu tới”.

Ngô Thụy Miên rất hâm mộ dòng nhạc tiền chiến, nên những ca khúc khởi nghiệp của Ngô Thụy Miên có màu sắc tương đối giống lớp nhạc sĩ tiền bối.

Tuy nhiên, sau một loạt ca khúc phổ thơ Nguyên Sa như

“Áo Lụa Hà Đông”,

“Paris Có Gì Lạ Không Em”

hoặc

“Tuổi Mười Ba”

thì Ngô Thụy Miên định hình phong cách riêng.

Nếu như việc phổ nhạc cho thơ

Nguyên Sa là mối duyên thơ – nhạc, thì cuộc tình với Đoàn Thanh Vân là mối duyên đời – nhạc của Ngô Thụy Miên.

Những xao xuyến lứa đôi đã làm thăng hoa âm nhạc Ngô Thụy Miên,

mà ca khúc “Mắt biếc” ông viết tặng người yêu được đón nhận nồng nhiệt ngay từ khi ra đời.

Đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, Ngô Thụy Miên trở thành một hiện tượng được giới trẻ đô thị hâm mộ.

Năm 1973, Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân đính hôn.

Đám cưới của họ dự định sẽ tổ chức sau khi Đoàn Thanh Vân tốt nghiệp đại học.

Thế nhưng, sự kiện 30/4/1975 đã thay đổi nhiều điều.

Đoàn Thanh Vân theo cha mẹ di cư sang Mỹ, mà không kịp nói lời giã biệt vị hôn thê.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thổ lộ:

“Một sáng tác mà tôi rất yêu quí, có mang một chút hình ảnh thời sự, đó là bài

“Em Còn Nhớ Mùa Xuân”.

Đó là tình khúc duy nhất tôi đã viết ở Sài Gòn sau tháng 4/1975 trong nỗi nhớ một người bạn gái đã ra đi, và giữa những biến chuyển xẩy ra quanh mình trong những ngày tháng đó.

Bản nhạc nhắc đến những kỷ niệm đẹp của chúng tôi trong bối cảnh của một thời thơ mộng”.

Ca khúc

“Em Còn Nhớ Mùa Xuân” được nhiều ca sĩ trình diễn ở hải ngoại, rồi sau đó lại tiếp tục chinh phục người yêu nhạc trong nước:

“Những thành phố em sẽ đi qua

Đây Paris, đây Luân Đôn, đây Vienne

Nhưng có đâu bằng Sàigòn hôm qua

Nhưng có đâu bằng Sài Gòn mai sau

Em có mơ ngày hát câu hồi hương”.

Khi chắc chắn người yêu đã không thể “hát câu hồi hương” như mình hy vọng, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã vượt đại dương để đi tìm người phụ nữ đã cùng mình ước thề.

Ở nước Mỹ mênh mông, họ cũng đã tìm được nhau.

Năm 1979, Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân tổ chức lễ cưới tại bang California.

Trùng phùng hạnh phúc sau cách biệt bẽ bàng, Ngô Thụy Miên đã viết ca khúc “Em Về Mùa Thu” đánh dấu ngày nên duyên chồng vợ:

“Ô hay mùa thu lại về cho mình giăng hẹn hò

Gọi tên nhau khi chiều đến

Mây thu vấn vương đan ngập lối đi

Ái ân theo hồn vút cao

Vết mơ tình xõa tay mềm”.

Chuỗi ngày hòa nhập nơi đất khách cũng đầy gian nan.

Ngô Thụy Miên không muốn dính líu vào các hoạt động biểu diễn trên sân khấu, nên chọn cách đi làm công nhân như một người Việt bình thường mưu sinh xứ người.

Vợ chồng Ngô Thụy Miên dọn đến thành phố Olympia của bang Wasington để sinh sống với không ít muộn phiền và lo toan.

Tình yêu và âm nhạc đã níu giữ họ giữa nhiều xáo trộn bủa vây, mà ca khúc

“Bài Tình Ca Cho Em” là ví dụ tiêu biểu:

“Anh hát cho em bài tình ca thiết tha

Anh hát cho em dù lòng nghe xót xa

Một lần gặp gỡ đã là bao thương nhớ

Thương dáng em cười nhớ nụ mắt bờ môi…

Anh chúc cho em đời yên vui đắm say

Anh chúc cho em dù lòng nghe đắng cay

Một ngày nào đó dẫu tình ta đã lỡ

Một ngày nào đó ta vẫn yêu mãi người thôi”.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đứng ngoài thị phi showbiz.

Ông bộc bạch:

“Tôi đến với âm nhạc như một sự tự nhiên, không hề có tham vọng gì.

Những sáng tác của tôi đều được cẩn trọng, chăm sóc từ lời ca đến ý nhạc.

Những năm tháng học nhạc cổ điển

Tây phương đã giúp tôi rất nhiều trong việc sáng tạo, chọn lựa cũng như trau chuốt, làm đẹp câu nhạc.

Đã có những bài tôi để cả năm trời chỉ để viết đi, viết lại những giai điệu mà mình chưa vừa ý!

Nói về lời ca, thì có lẽ nhờ trưởng thành giữa văn thơ và sách vở tôi đã được đọc rất nhiều.

Đọc nhiều nó thấm vào người lúc nào không biết. Rồi khi trái tim rung động thì lời ca tự nhiên sẽ đến”.

Nhìn vào số lượng ca khúc của Ngô Thụy Miên phổ biến sâu rộng trong đời sống, ai cũng ngỡ ông sáng tác rất nhiều.

Thực tế, Ngô Thụy Miên sáng tác rất ít. Có khi vài ba năm ông mới có cảm hứng để viết một ca khúc.

Và quan trọng hơn là có nhiều ca khúc ra đời mà Ngô Thụy Miên cũng không có ý định công bố.

Chẳng hạn, ca khúc

“Riêng Một Góc Trời”

chỉ được Ngô Thụy Miên hát cho vợ suốt nhiều năm, sau đó ca sĩ Tuấn Ngọc mới đến tận nhà để xin được thu âm và lan tỏa cực nhanh vào công chúng:

“Tình yêu như nắng, nắng đưa em về, bên dòng suối mơ

Nhẹ vương theo gió, gió mang câu thề, xa rời chốn xưa

Tình như lá úa, rơi buồn, trong nỗi nhớ

Mưa vẫn mưa rơi, mây vẫn mây trôi, hắt hiu tình tôi…”.

Tính toán chi li, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên tự tổng kết ông viết được hơn 60 ca khúc.

Vì sao như vậy?

Ngô Thụy Miên cạn kiệt cảm hứng chăng?

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bảo ông không muốn viết những điều quá hiu hắt từ tâm trạng mình:

“Với tôi, âm nhạc cũng như đời sống đều thay đổi theo thời gian và không gian. Sống ở quê nhà với những thân yêu quanh mình, với những lụa là mưa nắng Sài Gòn, những quán hàng, những con đường quen thuộc từng dấu chân, từng buổi sáng, buổi chiều…

tất cả đã cho tôi những ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca thơ mộng, dịu dàng.

Ở Mỹ, người ta thật vội vã, thật xa lạ… Những thành phố, nhà cửa thật to lớn nhưng cũng thật lạnh lẽo.

Ngày tháng bên này đã để lại trong âm nhạc của tôi những dấu vết buồn bã của cuộc sống tạm dung, những muộn phiền cay đắng của những phần đời lặng lẽ quanh mình…”.

Ca khúc “Mưa Trên Cuộc Tình Tôi”

viết khi nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bước qua tuổi lục thập ít nhiều chứng minh điều ấy:

“Tôi vẫn ngồi lặng ngắm mây trôi

Mưa ngoài trời như bụi rơi

Chỉ là phù du những tháng ngày vui

Bên phím đàn tôi nghe hồn buông lơi”.

Bây giờ, ở tuổi 72, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên vẫn sống êm đềm bên người vợ thủy chung Đoàn Thanh Vân.

Họ hiếm muộn con cái,

nhưng đi đâu cũng có nhau.

Thỉnh thoảng họ cùng hát lại những

ca khúc một thời thanh xuân của mình để vỗ về cuộc tình trăm năm.

Vợ chồng nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên dành thời gian đi du lịch khắp nơi trên thế giới

Copied từ fb An Nam

  Nguồn: Tâm Huyền


 

 

BÀ CỤ MÀ TRẬN LŨ KHÔNG THỂ CUỐN TRÔI.

Cang Huynh

BÀ CỤ MÀ TRẬN LŨ KHÔNG THỂ CUỐN TRÔI.

Bà được tìm thấy dưới lớp bùn đã nhấn chìm mọi thứ khác.

Ngày 26 tháng 8 năm 2026, một bức tường nước khổng lồ ập xuống từ vụ sạt lở sông băng gần biên giới Nepal-Tibet, tàn phá Rasuwa, Nuwakot và các huyện lân cận chỉ trong vài phút. Mực nước sông dâng cao. Cầu cống biến mất. Toàn bộ làng mạc biến mất khi nước rút. Số người chết đã vượt quá 165, với hàng trăm người vẫn còn mất tích — con số này tiếp tục tăng lên khi các đội cứu hộ tiếp cận được những nơi bị lũ lụt cô lập với thế giới bên ngoài.

Tại Rasuwa, có một viện dưỡng lão nhỏ của chính phủ dành cho người già. Khi trận lũ ập đến, nó không chỉ làm hư hại tòa nhà. Nó đã xóa sổ tất cả — tường nhà, hồ sơ, mọi thứ, đều biến mất dưới lớp bùn và mảnh vỡ chôn vùi phần còn lại của thung lũng. Tất cả cư dân đều thiệt mạng, trừ một người.

Người đó là Gunakeshari Bohara. Bà 94 tuổi.

Lực lượng cứu hộ tìm thấy bà ở khu vực Tupche thuộc Nuwakot, bị vùi sâu trong đống đổ nát và bùn lầy đến nỗi chỉ có máy móc hạng nặng mới tiếp cận được. Một chiếc máy xúc đã cẩn thận đào bới đống đổ nát cho đến khi một người cứu hộ cuối cùng có thể nhấc bà ra bằng tay – bức ảnh ghi lại khoảnh khắc đó, toàn thân bà phủ đầy bùn khô từ đầu đến chân, đã được chia sẻ khắp thế giới như một trong những hình ảnh mang tính biểu tượng của thảm họa này.

Bà được đưa ngay đến Trung tâm Chấn thương Kathmandu. Và ở đó, câu chuyện trở nên khó khăn hơn chứ không hề dễ dàng hơn. Bà Gunakeshari mắc chứng mất trí nhớ nghiêm trọng. Trong cơn sốc vì những gì đã xảy ra, bà không thể nói được. Bà không thể nói tên mình cho các bác sĩ biết. Đối với một bà lão vừa sống sót sau một thảm họa không thể tưởng tượng nổi, không có cách nào để bà nói ra điều đó – không có từ ngữ nào để diễn tả những gì bà đã trải qua, không có cách nào để hỏi về những người bà quen biết. Cuối cùng, một người thân đã đứng ra nhận diện bà.

Các bác sĩ điều trị cho bà gọi sự sống sót của bà là một điều kỳ diệu thực sự. Một tòa nhà bị phá hủy. Tất cả mọi người trong đó đều thiệt mạng. Và bằng cách nào đó, trong bùn lầy, một người phụ nữ 94 tuổi vẫn bám trụ được.

Không có một kết thúc trọn vẹn nào ở đây, và sẽ thật sai lầm nếu giả vờ rằng có một kết thúc như vậy. Gunakeshari không có từ ngữ nào để kể cho chúng ta biết điều gì đã giúp bà ấy vượt qua những giờ phút khó khăn đó, và có lẽ bà ấy sẽ không bao giờ có thể. Ở đâu đó gần đó, các gia đình vẫn đang tìm kiếm những người mất tích trên bờ sông và những bãi đổ nát. Nepal và Tây Tạng vẫn đang thống kê những mất mát của mình.

Nhưng có điều này: một người bà cụ đã không bị dòng nước cuốn trôi. Một bức ảnh chụp một người cứu hộ đang bế bà ấy ra, cẩn thận và không vội vã, như thể bà ấy là điều duy nhất quan trọng trong thung lũng đó — bởi vì trong khoảnh khắc đó, đối với anh ấy, bà ấy chính là như vậy.

Chúng ta không được biết suy nghĩ của bà ấy. Chúng ta không được nghe một câu nói, một nụ cười, một cái tên mà bà ấy có thể tự đặt cho mình. Điều chúng ta nhận được nhỏ bé hơn, nhưng bằng cách nào đó, cũng mạnh mẽ không kém: bằng chứng cho thấy ngay cả khi một nơi bị xóa sổ, người ta vẫn có thể tìm thấy ai đó ở đó.

Cầu nguyện cho Nepal, cho Tây Tạng, và cho tất cả những người vẫn đang chờ đợi tin tức về người thân yêu của họ.

Cang Huỳnh lược dịch từ Histoire de vie.

“Tôi cảm thấy thật cô độc”, người phụ nữ Nepal chia sẻ khi mất 17 người thân trong trận lũ quét.

My Lan Pham 

“Tôi cảm thấy thật cô độc”, người phụ nữ Nepal chia sẻ khi mất 17 người thân trong trận lũ quét.

Số người chết trong các trận lũ lụt ở Nepal và Trung Quốc đã vượt quá 800 người, theo cập nhật từ cảnh sát địa phương vào Chủ nhật (30/8).

Kopila Tamang đang ở Kathmandu khi trận lũ quét tràn qua thành phố.

Gia đình của Kopila Tamang từng sống sót qua trận động đất tàn khốc ở Nepal năm 2015, nhưng ngôi nhà của họ khi đó đã bị phá hủy. Lần này, trận lũ quét đã cuốn trôi căn nhà mới dựng lại cùng 17 thành viên trong gia đình cô.

“Tôi cảm thấy thật cô độc”, Tamang chia sẻ với CNN. Cô gái 20 tuổi đến từ Rasuwa – một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Cô đang ở Kathmandu khi lũ bắt đầu tràn về và đã tức tốc trở lại vùng núi ngay khi nhận được tin dữ. Cô đã mất đi mẹ, chị gái, bà ngoại cùng nhiều người họ hàng khác, trong đó có một người cháu mới tròn một tháng tuổi. Giờ đây, tất cả những gì cô còn lại chỉ là những tấm hình của họ lưu trong điện thoại.

Cậu em trai 7 tuổi của cô còn quá nhỏ để hiểu chuyện gì đã xảy ra, cô cho biết cậu bé vẫn tin rằng mẹ sẽ trở về. “Em ấy còn nhỏ quá. Vẫn nghĩ là mẹ sẽ quay lại.”

“Bây giờ tôi là mẹ của em ấy, nên tôi phải mạnh mẽ”, cô gái trẻ nói.

Cậu em họ của cô, Subba Tamang, 17 tuổi, đã mất đi hai người em gái nhỏ là Anjana (1 tuổi) và Archana (5 tuổi). “Thật quá đỗi khó khăn để chấp nhận rằng tôi đã mất đi các em của mình”, cậu nói.

Cậu hiện đang ngủ trên mái của một tòa nhà chưa hoàn thiện ở Bidur cùng 50 người đàn ông và cậu bé khác bị mất nhà cửa. “Rất nhiều người ở đây bật khóc vào ban đêm khi nhớ về người thân của mình”, cậu chia sẻ. “Thật khó để có thể chợp mắt ở đây.”

Bên cạnh nỗi đau mất mát to lớn, các gia đình bị mất nhà cửa còn sống trong sợ hãi trước nguy cơ xảy ra một trận lũ khác. Vào ban đêm, họ thường phải tháo chạy lên vùng rừng núi cao hơn mỗi khi nghe thấy cảnh báo rằng lũ quét mới đang tiến đến.

Theo cập nhật từ cảnh sát địa phương vào Chủ nhật (30/8), ít nhất 788 người đã thiệt mạng tại Nepal. Ngoài ra, phía Trung Quốc cũng xác nhận có thêm 16 trường hợp tử vong.

https://s.biz.vn/21KtAOL 


 

Chuẩn bị cho ngày chết lúc tuổi già, có nên không?-Tác giả Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Trong “Truyện Kiều” tác giả Nguyễn Du viết: “Thác là thể phách, còn là tinh anh” đó là sau khi chết, phần thể xác, thân thể mình sẽ không còn, sẽ trở thành tro bụi. Nhưng phần hồn, những việc làm tốt, những hy sinh đóng góp cho xã hội, đóng góp cho gia đình vẫn còn tồn tại. Nhưng tồn tại được bao lâu? Tồn tại được 5 năm, 10 năm, hay hơn thế nữa đâu có biết. Nhưng có lẽ 100 năm sau chẳng còn ai biết đến mình đâu?

*****

Có những câu hỏi luôn chờ đợi câu trả lời, lúc nào cũng vẫn mới mẽ đối với con người.

Thực sự tôi là ai? Tôi từ đâu tới? Khi chết tôi đi về đâu?

Sống trên đời để làm gì?

Tại sao có người sinh ra trong gia đình giàu có và có người sinh ra trong gia đình nghèo khổ?

Có người sinh ra ở nước giàu (như ở Hoa Kỳ, Âu Châu) có người sinh ra ở nước nghèo (như ở Phi Châu)

Có người chết sớm, có người sống lâu?

Có người chết dễ dàng, có người bịnh tật nằm liệt giường vài năm hay vài chục năm, sống nhờ vào con cháu hay nhờ vào người khác.

Con người có linh hồn không?

Sau khi chết, linh hồn con người sẽ đi về đâu?

****

Có người nói, sau khi chết, vất thân xác nơi nào cũng được, bỏ vào thùng rác, đem vứt ngoài biển, bỏ ngoài sông hay bỏ ở đâu đó cũng được. Chết là hết.

Tôi có biết, một gia đình vợ chồng, con và dâu của người bạn, sau khi dự đám cưới, cùng với một cặp vợ chồng khác cũng cùng dự đám cưới trên. Sau khi dự đám cưới xong, hai cặp vợ chồng này đi cùng chiếc xe về nhà, từ đường Westheimer đến Highway 6, quẹo trái thì bị tai nạn nặng.Trong xe có hai vợ chồng chết và hai vợ chồng kia bị thương nặng nhưng cả hai vợ chồng đều sống. Một cặp vợ chồng sống và một cặp vợ chồng chết. Giải thích thế nào?

Tôi đang đọc sách “Muôn Kiếp Nhân Sinh” của Nguyên Phong

 *****

Con người sẽ ra đi về với Chúa bất cứ lúc nào không thể biết trước được. Có người mới sinh ra đã chết, có ngươì sống tới 100 tuổi hay hơn nữa, cũng có người mất ở tuổi đôi mươi hay trung niên 40, 50,60.

Thánh nữ Teresa Hài Đồng Giêsu chết lúc 24 tuổi vì bịnh lao phổi. Thánh nữ mất lúc 7 giờ 30 tối ngày 30-09-1897. Chị là Tiến sĩ Hội thánh.

Thánh Faustina mất lúc 33 tuổi ở Kraków, Ba Lan. Ngài được xem là sứ đồ của “Lòng Chúa thương Xót.”

Thánh Anrê Trần An Dũng Lạc mất năm 44 tuổi, tử đạo ngày 21 tháng 12 năm 1839 tại pháp trường Cầu Giấy, Hà Nội.

Thánh Annê Lê Thị Thành (1781-1841) còn gọi là Bà Đê, mất lúc 60 tuổi. Bà chết năm 1841 lúc đang bị cầm tù.

Thánh Carlo Acutis sinh ngày 03-05-1991 và qua đời năm 2006 khi mới 15 tuổi vì bị bịnh bạch hầu. Được phong thánh ngày 07 tháng 09 năm 2025 vừa qua.

***

Tôi đã mua hai lỗ chôn ở nhà quàn Vĩnh Cửu, đã đóng đủ tiền cho nhà quàn rồi. Hai huyệt ở phía

phải của nhà quàn Vĩnh Cửu, trên đường Dairy Asford, vừa bước vô nhà quàn, nhìn bên phải, hai huyệt (hai lỗ chôn) nằm ở đây.

Nhà quàn cũng cho ta đóng tiền cho ba ngày làm đám tang, nếu bây giờ đóng trước, sau này trong gia đình con cháu khỏi phải lo đóng góp, khỏi lo trả tiền, có thể gây nên sự xung đột tranh cãi trong gia đình, trong các con cháu.

Đạo công giáo luôn nhắc nhở ngày ra đi của chúng ta để chúng ta luôn sống trong tình thương của Thiên Chúa, sống liên kết với Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria.

Trong kinh Kính mừng có câu: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và TRONG GIỜ LÂM TỬ. Amen

Và kinh khác trước khi bắt đầu thánh lễ: “Lậy Chúa con, con xin dâng các lễ Misa, các thầy cả ở khắp tứ phương thiên hạ làm trong ngày hôm nay. Để Chúa con thương đến các kẻ có tội đang mong sinh thì bây giờ và SẼ CHẾT TRONG NGÀY HÔM NAY. Chớ gì máu châu báu Đức Chúa Giêsu là đấng chuộc tội làm cho Chúa con thương đến các kẻ ấy.”

Có nhiều người viết sẵn bài đọc 1, bài đọc 2 và bài Phúc âm, lẫn bài thông báo. Viết sẵn để con cháu theo đó mà làm, không phải lo lắng, bối rối không biết làm gì trước, làm gì sau?

Trong Kinh thánh, tác giả Gioan có viết, mà tôi rất thích: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu thì anh em cũng ở đó.” Gioan (14:1-3)

Phùng Văn Phụng

29/08/2026

Xem thêm:

CÓ PHẢI LÀ BI QUAN KHI NÓI ĐẾN CÁI CHẾT LÚC TUỔI GIÀ? Tác giả: Norris Le LPN


 

Một nữ tu người Pháp 63 tuổi tên là Sơ Emmanuelle Maillard…

Cang Huynh

MỖI NGÀY MỘT CÂU CHUYỆN.

Năm 1971, một nữ tu người Pháp 63 tuổi tên là Sơ Emmanuelle Maillard bước vào khu ổ chuột Moqattam ở Cairo, Ai Cập, và quyết định ở lại đó trong hai thập kỷ.

Sau 40 năm dạy văn học cho học sinh giàu có trong những lớp học tiện nghi, sơ đã từ bỏ cuộc sống nghỉ hưu yên bình. Sơ đặt một câu hỏi đơn giản:

“Những người nghèo nhất ở Ai Cập sống ở đâu?”

Mọi người đều chỉ về phía bãi rác khổng lồ của thành phố, nơi sinh sống của 40.000 người được gọi là Zabaleen. Họ thu gom rác thải của bảy triệu công dân bằng tay không, sống mà không có nước sạch, điện hay trường học.

Khi sơ hỏi liệu sơ có thể sống giữa họ không, người dân địa phương đã rất sốc.

Họ xây cho sơ một căn phòng nhỏ bằng bê tông chỉ có một chiếc giường, một cây Thánh giá và một cuốn Kinh Thánh.

Điều kiện sống thật đau lòng. Các cô gái trẻ sinh con khi mới 12 tuổi, trẻ em chết vì những bệnh nhiễm trùng nhẹ, và đàn ông bị đứt tay hàng ngày vì mảnh kính vỡ mà không có thuốc men cơ bản.

Sơ Emmanuelle không đến để thuyết giáo hay cải đạo ai cả.

Sơ chỉ đơn giản muốn chia sẻ cuộc sống của họ.

Sơ bắt đầu bằng việc băng bó vết thương, viết thư cho các bà mẹ và dạy trẻ em đọc trên những con phố bụi bặm.

Sơ nhanh chóng nhận ra rằng những người thu gom rác không nghèo vì lười biếng, mà vì xã hội đối xử với họ như những người vô hình.

Sơ quyết định dùng tiếng nói của mình để giúp họ xây dựng một tương lai thực sự.

Sơ viết thư khắp châu Âu và tiếp cận các nhà hảo tâm giàu có để tài trợ cho tầm nhìn của mình.

Đến năm 1980, những nỗ lực không ngừng nghỉ của sơ đã được đền đáp. Sơ đã xây dựng một trường tiểu học miễn phí, một phòng khám mở với các loại thuốc căn bản và một trung tâm cung cấp các lớp học xóa mù chữ cho phụ nữ.

Sơ thậm chí còn hợp tác với một kỹ sư để xây dựng một nhà máy ủ phân biến phân chuồng thành phân bón.

Điều này đã mang lại thu nhập ổn định cho những người thu gom rác.

Khi những người chỉ trích đặt câu hỏi về những phương pháp táo bạo của sơ ở khu ổ chuột, bao gồm cả việc cung cấp các nguồn lực kế hoạch hóa gia đình cho các bé gái, bà vẫn kiên định.

“Tôi đứng về phía người nghèo. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì người nghèo cần.”

Sơ Emmanuelle sống trong khu ổ chuột đó cho đến năm 84 tuổi, chịu đựng những mùa hè nóng như thiêu đốt và những đợt dịch bệnh nghiêm trọng mà không hề than phiền.

Sơ dùng một chiếc xô đơn giản làm nhà vệ sinh và mặc cùng một bộ áo tu màu xám trong nhiều năm.

Danh tiếng của sơ ngày càng tăng sau khi sơ xuất bản sách về người Zabaleen, và sơ đã tận dụng mọi lần xuất hiện trên truyền hình để quyên góp hàng triệu đô la cho thiện nguyện của mình.

Khi dòng tu của sơ cuối cùng triệu hồi sơ về Pháp vào năm 1993, sơ đã dành mười lăm năm tiếp theo để nói chuyện trên các đài phát thanh và tham dự các hội nghị để hỗ trợ các dự án trên khắp tám quốc gia.

Sơ qua đời thanh thản trong giấc ngủ vào năm 2008, chỉ vài tuần trước sinh nhật lần thứ 100 của mình.

Trở lại Cairo, những người thu gom rác đã tổ chức một buổi lễ cảm động để tưởng nhớ người phụ nữ mà họ gọi là Mẹ Emmanuelle.

Những đứa trẻ từng sống ở bãi rác, nay là bác sĩ, giáo viên và y tá, đã tụ tập để tưởng nhớ sơ.

Câu chuyện của sơ cho thấy rằng không bao giờ là quá muộn để tạo ra sự khác biệt.  Ở độ tuổi mà hầu hết mọi người thường chậm lại, Sơ Emmanuelle đã chọn bắt đầu một chương mới, chứng minh rằng tình yêu không phải là những lời nói hoa mỹ, mà là sự hiện diện và luôn bên cạnh người mình cần.

– Cang Huỳnh lược dịch từ Chaque jour une histoire.