Hai cuốn sách, hai góc nhìn và một kết quả

Báo Tiếng Dân

Đỗ Ngà

2-12-2022

Cuốn sách “Tại sao các quốc gia thất bại” (Why nations fail?) của đồng tác giả Daron Acemoglu và James Robinson là một cuốn sách nói về lịch sử, kinh tế chính trị rất hay. Hai tác giả này cho rằng, nguyên nhân thất bại của một quốc gia không do địa lý, không do văn hóa v.v… mà là do thể chế chính trị. Bởi thể chế chính trị quyết định thể chế kinh tế quốc gia đó. Và đây là lý do quốc gia đấy giàu mạnh hay đói nghèo.

Hai vị giáo sư này phân biệt hai loại thể chế kinh tế rất rõ ràng, đó là thể chế kinh tế có tính dung nạp và thể chế kinh tế có tính bòn rút. Độc tài dù là loại độc đảng như Cộng sản hay độc tài cá nhân đều là loại thể chế chính trị ích kỷ, vì lợi ích của một cá nhân hay một nhóm người có cùng quyền lợi.

Kiểu thể chế kinh tế dung nạp khuyến khích mọi thành phần kinh tế, cho họ phát huy mọi tài năng cống hiến và quyền lực được chia sẻ, chứ không tập trung vào một thành phần doanh nghiệp có lợi thế, đặc biệt là lợi thế được quyền lực chính trị bảo kê như lợi ích nhóm của Việt Nam. Để có được thể chế kinh tế dung nạp thì nền tảng về thể chế chính trị phải tương xứng. Luật pháp phải bảo đảm tính công bằng và được thượng tôn.

Tại Việt Nam, Đảng Cộng Sản điên cuồng chống lại việc đa đảng, là một thứ chủ nghĩa ích kỷ. Vì ý đồ bòn rút trên đầu trên cổ dân tộc nên họ nhất quyết không chia sẻ quyền lực chính trị cho bất kỳ tổ chức chính trị nào khác. Tự ra Hiến pháp cho phép chỉ có mình mới đủ tư cách lãnh đạo đất nước.

Cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một loại thể chế kinh tế lai căng, nó muốn được phát triển như các nước tư bản nhưng lại cũng muốn bảo vệ lợi ích nhóm. Nhà nước giữ độc quyền các ngành mang tính thiết yếu tạo ra độc quyền nhà nước, buộc dân phải chấp nhận.

Trong Chính phủ có một “siêu ủy ban”, đó là Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, ủy ban này quản lý nguồn vốn đến 5 triệu tỷ đồng, tức khoảng 200 tỷ đô la Mỹ. Ủy ban này được lập ra để cho đảng luôn được bảo đảm phần hơn trong miếng bánh kinh tế đất nước, bất chấp nền kinh tế có bị ảnh hưởng tiêu cực thế nào.

Nhân đây tôi cũng nói về một quyển sách mà nếu ai quan tâm đến tâm linh cũng nên đọc. Đó là quyển Power vs Force của tác giả David R. Hawkins. Tựa tiếng Việt khá dài, đó là “Trường năng lượng và những nhân tố quyết định tinh thần, sức khỏe con người”. Quyển sách có hơi hướng tâm linh nhưng tâm linh được lý giải dưới góc độ khoa học. Khó có cuốn sách về tâm linh nào thuyết phục bằng cuốn sách này. Tác giả phân các tầng nhận thức của con người tương ứng với mức năng lượng khác nhau.

Ở khía cạnh phân loại tầng nhận thức theo mức năng lượng thì con người chứa “tham – sân – si” trong nhận thức thì được liệt ở mức năng lượng thấp, mức năng lượng phá hủy. Nói về bản thân con người thì ai cũng dễ dàng nhận thấy điều đó. Khó ai vứt bỏ được “tham – sân – si” nhưng ở mỗi con người, mức độ “đậm đặc” của “tham – sân – si” là hoàn toàn khác nhau do mức tu tập hoặc mức giáo dục đạo đức khác nhau. Càng có giáo dục thì mức “tham – sân – si” càng thấp (giáo dục khác với học vấn, học vấn cao chưa chắc gì có giáo dục), chính vì thế mức năng lượng của họ cũng khác nhau.

****

Nói về xã hội Việt Nam thì tôi có thể dùng một từ là “kinh khủng”. Ở xã hội chúng ta không hề có lòng tin, con người lừa gạt nhau mà sống, trộm cướp khắp nơi. Trên từng mét vuông đều có thể bị cướp giật. Kẻ thấp kém thì cướp giật hay lừa đảo bất kỳ món đồ nào có thể quy đổi ra tiền được dù  giá trị thấp. Tầng trên, những đại gia nhìn vẻ bề ngoài đạo mạo, đáng kính, nhiều tiền và hay lên tiếng dạy đời thiên hạ thì té ra không ít trong đó lại là những tên siêu lừa thất đức.

Ở xã hội Việt Nam, con người sống vô cảm, chỉ biết quan tâm tới mình còn quyền lợi người khác thì mặc kệ v.v… Những gì đang diễn ra như thế, cho thấy tầng năng lượng của quốc gia chúng ta rất thấp. Ở xã hội Việt Nam, mùi “tham – sân – si” nồng nặc, mà “tham – sân – si” càng đậm đặc thì xã hội càng bất an.

Có thể nói rằng tầng năng lượng của Việt Nam là thước đo cho nguyên khí quốc gia. Nguyên khí quốc gia bị phá hủy và bị kìm hãm bởi một con người tự xưng “đi tìm đường cứu nước”. Đảng Cộng sản chính là là thủ phạm làm cho nguyên khí quốc gia bị kìm giữ ở mức thấp, chứ không ai khác. Điều thực tế ai cũng có thể nhận ra, đó là quốc gia càng giàu thì xã hội càng nhân bản chứ không phải “càng giàu càng xấu xa” như tư tưởng đấu tranh giai cấp của Cộng sản được tuyên truyền bao năm qua.

Ở hai cuốn sách, khi đọc, nó cho tôi cái nhìn đất nước Việt Nam ở hai góc độ khác nhau. Cuốn sách đầu cho tôi cái nhìn lý tính, cái nhìn logic. Cuốn thứ nhì giúp tôi nhìn đất nước mình dưới góc độ tâm linh. Dù cho ở góc độ nào thì nó đều dẫn đến một kết quả như nhau. Đó là đất nước nát, nát từ kinh tế chính trị đến nát về xã hội. Rất khó để nước ta bước ra khỏi vùng tối u ám với tình trạng năng lượng cực thấp như thế này.

Có lẽ, mỗi người cần đọc, cần lắng nghe để sửa mình nhằm cải thiện mức năng lượng cho bản thân là khả năng dễ thực hiện hơn. Nếu tích đủ lượng thì chất ắt sẽ tự biến đổi.

Hơn 20 năm được nhà báo Mỹ nhận nuôi, cô bé mồ côi Cần Thơ thành ngôi sao Hollywood

Hơn 20 năm được nhà báo Mỹ nhận nuôi, cô bé mồ côi Cần Thơ thành ngôi sao Hollywood Từ một cô bé bị bỏ rơi ở trại trẻ mồ côi Cần Thơ, Lana Condor (Trần Đông Lan) đang dần khẳng định vị trí của mình tại Hollywood. Không có nhiều kí ức về cha mẹ, thiếu đi vòng tay yêu thương của gia đình, cuộc sống của những đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi luôn đầy rẫy khó khăn, thử thách và chông gai. Vậy nhưng đâu đó vẫn có những đứa trẻ may mắn khi nhận được sự cưu mang, chăm sóc và tình yêu thương. Và cuộc sống của cô bé gốc Cần Thơ – Trần Đông Lan (SN 1997) là một ví dụ điển hình. Cô là một trong những trường hợp trẻ mồ côi vô cùng may mắn khi được gia đình giàu có và tử tế nhận nuôi, để rồi cuộc sống cũng theo đó mà thay đổi ngoạn mục.

Đông Lan (Lana Condor) ở thời điểm hiện tại

Cô bé mồ côi gốc Việt và những ngày tháng đổi đời trên đất Mỹ Trần Đông Lan sinh ra và lớn lên ở Cần Thơ nhưng bị bố mẹ bỏ rơi từ khi còn sơ sinh. Thời điểm đó sống ở trại trẻ mồ côi, cô bé được nhận xét là vô cùng dễ thương, xinh xắn, dễ tính và ít khóc hơn các bạn đồng trang lứa. Bất kỳ ai đến trại trẻ thăm đều có thể dễ dàng bế Đông Lan. Khi Đông Lan được 4 tháng tuổi, cơ duyên đã đưa cô bé đến với Bob Condor – một nhà báo Mỹ sang Việt Nam để nhận con nuôi. Nhớ lại khoảnh khắc lần đầu nhìn thấy Đông Lan, ông Bob đã chắc chắn Đông Lan chính là cô con gái mà ông tìm kiếm bấy lâu nay. “Tôi bước đến và bế đứa nhỏ lên. Tôi biết mình đang ngắm nhìn con gái tương lai. Con thật rạng rỡ, mở mắt trong một hoặc hai giây, nhìn tôi trước khi rúc vào vai phải của tôi. Tôi thấy con đang chạm vào áo sơ mi viền hồng của tôi bằng đôi bàn tay nhỏ bé” , ông Bob kể trên Chicago Tribune năm 1997. Đông Lan và người em trai (không cùng huyết thống) Khánh Hòa ngày nhỏ Sau đó, cô bé Cần Thơ được bố mẹ đón sang Mỹ sinh sống kể từ đó và đặt cho một cái tên mới là Lana Therese Condor. Được biết ở gia đình mới, Lana còn có thêm 1 em trai cũng là người gốc Việt và là con nuôi của vợ chồng Bob Condor. Sinh sống tại Mỹ, Lana được bố mẹ nuôi cho phép ăn mặc phóng khoáng, thời thượng như bao bạn đồng trang lứa, tuy nhiên cô bé ít trang điểm và thường xuyên để mặt mộc. Được biết, Lana và gia đình từng sống ở Whidbey Island, Washington và New York, trước khi định cư ở Santa Monica, California khi cô 15 tuổi. Lana được ông bà Condor yêu thương như con gái ruột và luôn dành cho cô mọi điều tốt đẹp nhất Dù sở hữu chiều cao khiêm tốn chỉ 1m57 nhưng s au vài buổi diễn hài nho nhỏ trong gia đình, cô được cha mẹ khuyến khích theo đuổi diễn xuất và nghệ thuật. Ông bà Bob Condor sẵn sàng đầu tư kinh tế cho Lana theo học nghệ thuật ở những ngôi trường uy tín bậc nhất nước Mỹ. Hết cấp 2, Lana được theo học tại Joffrey Ballet – một trường trung học chuyên về múa, đồng thời cô còn có cơ hội học diễn xuất tại trường biểu diễn nghệ thuật Ailey. Đến năm 2013, Lana chuyển tới học tại trường nghệ thuật ở California.

Lana Đông Lan có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ

Chia sẻ với Los Angeles Times, Lana vô cùng xúc động khi nhắc đến nguồn động lực lớn nhất của mình chính là cha mẹ: “Tôi may mắn vì được bố mẹ khuyến khích theo đuổi nghệ thuật từ nhỏ. Thời gian đầu khi đi học múa, có lần tôi chán nản, bố mẹ đều nói: Cố lên, con có thể làm được”. Đặc biệt hơn, khi dự định lấn sang con đường diễn xuất, Lana tiếp tục nhận được sự khích lệ từ phía gia đình: “Cha mẹ nói tôi còn trẻ thì cứ thử hết mình, làm mọi điều mong muốn trước” . Cô nói. Thành danh ở Hollywood nhưng luôn nhớ về Việt Nam Nhờ sự ủng hộ và khuyến khích từ cha mẹ, Lana nhanh chóng gặt hái được nhiều thành công trên con đường nghệ thuật nói chung và nghiệp diễn xuất nói riêng. Cô từng góp mặt trong những siêu phẩm như X-Men: Apocalypse, “Patriots Day”, To All The Boy … Khả năng diễn xuất của Lana được ghi nhận và góp phần giúp cô trở thành một trong những hiện tượng điện ảnh mới. B ên cạnh đó, cô nàng còn là gương mặt quảng cáo cho nhiều nhãn hàng, làm người mẫu cho nhiều tạp chí danh tiếng. Nhờ những nỗ lực không ngừng, năm 2020, Lana đã nhận được giải Thế hệ Tiếp theo của Hollywood do Hiệp hội Phê bình Hollywood (HCA) bình chọn. Ngay từ vai diễn đầu tiên trong X-Men, Lana đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ khán giả Một bước trở thành sao, Lana được truyền thông Hollywood săn đón với tư cách là một ngôi sao đang lên Năm 2021, Lana hào hứng chia sẻ về mục tiêu sắp tới là hợp tác phim với những sao gốc Á. Ngoài đóng phim, Lana vẫn không quên thân phận là một Trần Đông Lan. Cô luôn nhớ về nguồn cội và việc mình là người Việt Nam. N ữ diễn viên đã phát triển hẳn Quỹ học bổng nhằm giúp đỡ các nữ sinh Việt Nam học hết cấp ba. Trước đó, Lana cũng từng trở về Việt Nam để thực hiện chương trình giáo dục cho trẻ em tại Long An. Lana Condor thăm trường THPT Cần Giuộc (Long An) cùng phu nhân cựu Tổng thống Mỹ Obama, minh tinh Julia Roberts, diễn viên Ngô Thanh Vân … “Tôi đã quá may mắn khi có được cuộc sống như hiện tại. Tôi luôn dành những khoảnh khắc để thầm cảm ơn số phận. Bản thân tôi hy vọng sẽ có thể giúp đỡ cho việc ăn học của nhiều bé gái có hoàn cảnh khó khăn tại Việt Nam trong tương lai và một ngày nào đó, khi thời điểm tới, tôi sẽ nhận nuôi một bé gái người Việt” , cô chia sẻ khi trả lời phỏng vấn với CNN . Mới đây, Lana còn khiến fan hâm mộ vô cùng vui mừng khi đăng tải trên MXH thông tin vừa đính hôn với bạn trai lâu năm – nam diễn viên Anthony De La Torre. Nữ diễn viên gốc Việt tại Hollywood – Lana Condor đã chính thức đính hôn với nam diễn viên Anthony De La Torre. Vậy là từ một cô bé mồ côi ở Cần Thơ, Trần Đông Lan năm nào đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, độc lập và là một nữ diễn viên Lana nổi tiếng ở Hollywood. Thành công của Lana có được ở thời điểm hiện tại một phần nhờ vào sự nỗ lực của bản thân cô, một phần khác có được chính là sự động viên, ủng hộ hết mình của ông bà Bob đã hết lòng đầu tư cho con gái theo học các ngôi trường nghệ thuật, tạo một môi trường tốt nhất để cô có thể theo đuổi ước mơ của mình. Nguồn: Tổng hợp

“Bi ơi, con ở đâu?” Thư của một người cha mong được gặp con sau hơn 40 năm xa cách

Báo Viễn Đông “Hình ảnh đứa con thơ đang hồn nhiên ngồi trước hiên nhà, là hình ảnh cuối cùng tôi ghi nhận được trước lúc tôi đau đớn xa con.” (Hình cung cấp) Bài MAI QUAN VINH Lời tòa soạn: Đầu tuần này, chúng tôi nhận được một bài viết của ông Mai Quan Vinh từ San Diego, bày tỏ niềm mong ước của một người cha nay đã luống tuổi, đang bị bệnh tim trầm trọng, ao ước được gặp con gái đã xa cha hơn bốn thập niên. Sự chia ly của cha con xuất phát từ những bất hòa trong quá khứ của một cặp vợ chồng trẻ mới tị nạn ở Mỹ. Qua điện thoại hôm thứ Hai, ông Vinh nói với Viễn Đông, “Tôi đã đợi 20 năm, 30 năm, rồi 40 năm mà vẫn chưa được gặp lại con gái.” Ông mong có một sự mầu nhiệm nào đó giúp cho cha con ông được gặp nhau. Chúng tôi đăng bài viết này cũng với niềm hy vọng vào sự mầu nhiệm đó, và với niềm tin mọi sự bất hòa, hiểu lầm trong quá khứ sẽ được xóa tan bằng tình thương, bằng sự cảm thông, để cho một chút niềm an ủi, sự hòa giải có cơ hội được thể hiện giữa thế gian đang có quá nhiều điều bất an, tranh chấp. Tuy được gởi vào cuối tháng Tám, bài viết đề ngày 2 tháng 9, 2022. Khi đọc những lời tâm sự trong bài viết, độc giả sẽ hiểu tại sao người cha lại muốn bài viết được đề ngày như vậy. Bi Ơi, Con Ở Đâu? Ngày 2 tháng 9 năm 1976 đứa con bé bỏng của tôi mở mắt chào đời, khai sinh với cái tên Nguyễn […], tên thường gọi bé Bi. Giọt máu ân tình đã kết tinh hình hài một sinh linh bé bỏng, trong hành trình lưu vong của đôi nam nữ Việt Nam nơi đất khách quê người. Sở dĩ bé Bi không mang họ Mai của cha, do vợ chồng tôi chưa làm giấy tờ hôn thú. Thời gian đó tôi chưa đủ sức gánh vác tất cả: chi phí sinh nở của vợ, chi phí nuôi nấng con thơ, cùng hàng loạt chi phí khác bủa vây đời sống hai sinh viên nghèo. Bé Bi được vài tháng tuổi, tôi nghỉ học đưa vợ con đến thuê nhà tại thành phố Arlington, Texas. Suốt ba năm, tôi gửi con cho babysit chăm sóc. Vợ tôi tiếp tục chương trình đại học. Tôi khởi đầu cuộc mưu sinh bằng nghề rửa chén nhà hàng. Công việc có lợi tức ổn định, không quá sức đối với một thanh niên xốc vác như tôi. Một thực khách thân quen tốt bụng, đã giới thiệu tôi vừa học Anh Văn vừa học nghề Điện Lạnh tại trường NTSU (North Texas State University) để từ đó tôi có thêm việc làm. Tôi nhận làm đủ mọi việc, cho dù nặng nhọc đến mấy, miễn chân chính là tôi làm tất tần tật chẳng nề hà. Cuộc sống gia đình tôi dần dà ổn định, mỗi ngày qua càng thêm tươm tất, êm đềm và ấm áp hơn. Cho đến một ngày… Vợ tôi chủ động nói lời chia tay tôi, ngay khi em tốt nghiệp đại học vào tháng 6 năm 1979. Tôi bất chợt ngỡ ngàng khi biết mình bị người bạn thân lấy mất trái tim người vợ tôi yêu thương. Tôi lao đến trút cơn thịnh nộ vào tình địch, nhưng tôi càng bất ngờ hơn khi vợ tôi quyết liệt bảo vệ người tình. “Tôi chưa hề yêu anh, mình chia tay đi.” Câu nói của vợ tôi chính là ngón đòn chí tử, đã đánh tôi đổ gục cả thể xác lẫn tinh thần. “Anh ở lại với con cũng được, tôi sẵn sàng nuôi anh ăn học. Nhưng anh đừng mong tôi có tình cảm với anh.” Tự ái của một thanh niên 23 tuổi buộc tôi nuốt trái đắng vào lòng, buông bỏ hết yêu thương chỉ trừ đứa con bé nhỏ tôi hằng nâng niu yêu quý. Vợ tôi nói, “Anh thương con, tôi biết. Nhưng bé Bi còn quá nhỏ, sống với tôi con có tương lai hơn. Tôi hứa với anh, khi nào bé Bi 18 tuổi tôi sẽ cho nó đi tìm anh.” Vợ tôi bao giờ cũng có lý trong mọi quyết định. Em vừa tốt nghiệp đại học, chân trời trải rộng trước mắt. Em học chuyên ngành xã hội, kiến thức đầy đủ nên chắc chắn rồi, em chăm sóc nuôi dạy con vẫn tốt hơn tôi. Ngay trong đêm vợ tôi nói lời đoạn tình đoạn tuyệt, tôi đã dọn đồ để sáng sớm hôm sau lặng lẽ ra đi. Hình ảnh đứa con thơ – bé Bi – đang hồn nhiên ngồi trước hiên nhà, là hình ảnh cuối cùng tôi ghi nhận được trước lúc tôi đau đớn xa con. Thời gian lặng lẽ trôi nhanh, con tôi tròn mười tám tuổi. Tôi mỏi mòn mong đợi, nhưng lời hứa năm xưa của mẹ bé Bi vẫn biền biệt tăm hơi. Tôi không thể biết, mẹ của bé Bi có cho con đi tìm cha như lời đã hứa hay không? Riêng tôi vẫn khắc khoải đợi chờ con mười tám tuổi lần nhất, con mười tám tuổi lần hai… và mãi đến hôm nay, sự đoàn tụ của cha con tôi vẫn còn là ẩn số. Tôi có đi tìm con hay không? Câu trả lời muôn thuở vẫn là: Có đấy! Nhưng chưa lần nào tôi được gặp con. Nước Mỹ tuy rộng mênh mông, nhưng việc tìm người thân đâu khó? Thế nhưng 43 năm qua, chưa lần nào tôi gặp được con mình. Tôi vẫn dõi theo từng bước con trưởng thành, qua kênh liên lạc với những người bạn chung của ba và mẹ bé Bi thời đại học. Thế nhưng lần nào nung nấu nhớ thương con, tôi đi tìm thăm bé Bi thì y như rằng tôi đều vướng những trở ngại không ngờ vào giờ phút cuối. Lần cuối cùng là vào tháng 11 năm 2019, khi người bạn học cũ tổ chức tân gia căn nhà mới mua ở Texas. Bạn có nhã ý mời tất cả bạn học cũ, từ thời chúng tôi mới chập chững đến Hoa Kỳ học hành và khởi nghiệp. Bạn cho tôi biết, có mời cả vợ chồng của mẹ bé Bi đến dự. Trong thâm tâm tôi thầm cảm ơn người bạn tốt bụng, muốn giúp tôi có cơ hội được gặp lại con. Tôi đặt vé và nôn nao đợi ngày bay, nhưng đúng ngày giờ đã hẹn tôi lạc lõng chơi vơi giữa sân bay Dallas, Texas. Tôi không liên lạc được bất cứ người bạn nào, kể cả người bạn đã mời tôi dự tân gia. Thất vọng tột cùng nhưng tôi không còn sự chọn lựa nào khác, ngoài việc đổi vé để bay về lại California. Khi tôi buông lời trách móc, những người bạn cũ của tôi đều chung lời giải thích: “Nó (vợ cũ của tôi) yêu cầu tụi tao không được cung cấp bất cứ thông tin nào về mẹ con của nó cho mày. Chỗ bạn bè mà, tụi tao đã hứa thì phải giữ lời.” “Thế tao không là bạn của tụi mày hay sao?” “Tôi khởi đầu cuộc mưu sinh tại Mỹ bằng nghề rửa chén nhà hàng.” (Hình cung cấp) *** Tôi quen vợ tôi trên chuyến tàu di tản, trong cơn biến loạn kinh hoàng tháng Tư năm 1975. Khi người bạn đồng hành thân thiết của tôi kiên quyết lẫn tránh tình em, tôi đã được em chọn lấp vào chỗ trống. Cuối tháng Năm 1975 cùng rời đảo Guam, chuyển đến trại tỵ nạn Fort Indiantown Gap ở tiểu bang Pennsylvania thì tôi với em chung đời sống vợ chồng. Cuối tháng Sáu 1975 rời trại tỵ nạn, vợ chồng tôi về tá túc chung nhà với chị gái của em tại thành phố Denton thuộc tiểu bang Texas. Bé Bi được vài tháng tuổi, tôi đưa gia đình chuyển đến thành phố Arlington thuê nhà ở riêng. Vợ tôi học rất giỏi, nên tôi ủng hộ em học tiếp tại UTA (University of Texas at Arlington). Phần tôi đi làm để có lợi tức trang trải tiền thuê nhà, tiền gửi giữ con, tiền điện nước, xăng xe… cùng hàng loạt chi phí sinh hoạt khác. Mỗi cuối tuần, nhà ở của vợ chồng tôi trở thành điểm hội họp của những sinh viên Việt Nam xa xứ. Mọi người xúm xít nấu nướng, uống bia, đàn hát và nhảy múa tưng bừng. Vợ tôi đam mê khiêu vũ và em khiêu vũ rất đẹp, vì vậy vợ tôi rất vui với những mini party mỗi cuối tuần như thế. Tôi dạo đó chưa biết khiêu vũ là gì, nhưng là người duy nhất đi làm nên “hầu bao” kha khá, tôi trở thành “nhà tài trợ” cho nhóm sinh viên chung trường với vợ có những cuộc vui. Tình người Việt Nam xa xứ thời gian đó, đối với tôi là điều thiêng liêng khó tả. Hạnh phúc êm đềm cứ lặng lẽ trôi, cho đến ngày vợ tôi tốt nghiệp đại học thì em nói lời chia tay người chồng em “nhặt” được trên đường di tản. “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng…” tôi tự trách tôi “quá cục mịch, quá quê mùa.…” như lời em nói, vì vậy tôi không hề oán trách người vợ trẻ của tôi bất cứ điều gì. Em chối bỏ tình tôi, để chọn lựa một tình yêu khác xứng tầm với em là điều dễ hiểu. Tuy không thủy chung, nhưng người vợ trẻ của tôi trung thực. Tôi tôn trọng em về điều đó, vì vậy tôi tin em sẽ giữ tròn chữ tín về đứa con chung duy nhất của vợ chồng trước lúc chia tay. Với kiến thức em tích lũy từ một đất nước văn minh, tôi vẫn tin em dạy dỗ bé Bi không quên nguồn cội. “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng…” đứa con bé bỏng ngày nào của em và tôi không có lỗi. Em và tôi cũng không nợ nần hay oán trách gì nhau, một khi duyên nợ ba sinh chấm hết thì mình chia tay lặng lẽ. Để từ đó đến giờ mỗi người chúng ta đều có cuộc sống riêng, không còn chút vấn vương nào chuyện thời quá khứ. Tôi không mong con phải chọn giữa mẹ và cha mình, nên tôi đã và sẽ không làm bất cứ điều gì khiến chúng tôi vô tình làm tổn thương nhau. Tôi vẫn luôn tôn trọng em như ngày xưa tôi đã từng, đến bây giờ vẫn vậy… Viết những dòng tâm can này vào ngày Nguyễn […] – bé Bi – con tôi tròn 46 tuổi, trái tim thương tật của người cha Mai Quan Vinh chỉ khát khao duy nhất một điều, lần cuối trong đời cha được ôm chặt bé Bi vào lòng nghe con khẽ gọi hai tiếng “Cha ơi!” Mai Quan Vinh September 02, 2022

Hành trình nghẹt thở giải cứu thiếu nữ từ nơi nguy hiểm nhất thế giới

Báo Tiếng Dân

Bởi  AdminTD

Phong Bụi

20-11-2022

Ảnh: FB tác giả

Một thiếu nữ bị giam cầm ở vùng Tam Giác Vàng (Myanmar) và trở thành nô lệ của những cuộc mua vui đã được giải cứu thành công…

SẬP BẪY NỢ VÀ CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN “ĐỊA NGỤC”

Nhà mày không trả hết số nợ tao sẽ bắt cóc con mày mang đi bán”, một giọng người đàn ông nói qua điện thoại và có ý định làm thật.

Người này [là] một trong hàng chục chủ nợ đã từng góp vốn cùng với chị Tạ Thị Niềm, mẹ ruột của em Trần Huyền Trang (24 tuổi, quê huyện Đầm Dơi, Cà Mau) để đầu tư mua mỹ phẩm kinh doanh kiếm lời.

Nhưng đâu ngờ, tất cả đã bị sa chân đường dây đa cấp và vỡ nợ với số tiền vài tỉ đồng. Đối tượng lừa đảo đã được cơ quan chức năng mời làm việc, đường dây lừa đảo gia đình Trang và hàng chục bà con khác đã được toà án thụ lý. Nhưng nhiều năm kết quả vẫn chìm trong vô vọng.

Trong lúc chờ xét xử và đối tượng lừa đảo sẽ trả lại tiền thì gia đình chị Niềm liên tục [bị] áp lực từ khoảng vay trước đó nên đành bỏ quê lên Bình Dương tìm kiếm cơ hội để trả nợ.

Mỗi tháng, cả gia đình vừa lo cuộc sống vừa phải còng lưng trả tiền lãi hơn 10 triệu đồng. Con gái của Trang nay 7 tuổi, đúng ra cháu sẽ được cắp sách vào lớp 1. Nhưng bao nhiêu tiền bạc dồn gửi hết về quê nên đành cho bé ở nhà.

Thấy cảnh mẹ liên tục bị chủ nợ đe dọa, Trang lên trên mạng xã hội tìm kiếm việc làm với ý định giúp gia đình bớt đi khó khăn.

Tuyển dụng nhân viên phục vụ tại quán nhậu đặc khu kinh tế Lào. Lương tháng trên 1.000 USD”, lời chào hấp dẫn được vẽ ra và khiến Trang sập bẫy từ câu đầu tiên.

Phía bên kia cam kết nếu Trang đồng ý, họ sẽ hướng dẫn xuất cảnh sang nước ngoài và lo các chi phí đi lại. Đặc biệt cho phép ứng mức lương 6 tháng, tức chỉ cần vào làm sẽ có khoảng tiền hơn 150 triệu đồng để lo cho gia đình trả nợ.

Trang nghĩ bụng bấy lâu nay người ta chỉ sợ qua Campuchia làm việc còn Lào là vùng đất hiền nên chẳng sao. Thế rồi âm thầm giấu chồng và ba mẹ để lên đường đi.

Trước khi gom quần áo, Trang hôn vào mặt đứa con gái 7 tuổi để nói lời từ biệt. “Mẹ đi xa kiếm tiền cho để được đến lớp trở lại”, Trang thì thầm vào tai con rồi quẹt nước mắt, bước chân lên chiếc xe ô tô 4 chỗ.

Từ đó, thiếu nữ ôm giấc mộng đổi đời và rời bỏ mảnh đất quê hương lên đường ra Hà Tĩnh. Tại đây, được các đối tượng chuyên vận chuyển người đón sẵn và dẫn đi vượt biên đến lãnh thổ Lào.

NGÀY ĐẦU ĐẾN VÙNG ĐẤT DỮ

Tại Lào, Trang được một người dân địa phương dẫn bộ nhiều ngày vào những cánh rừng già nhằm tránh sự phát hiện từ lực lượng chức năng. Do không có điện thoại và không biết chính xác vị trí mình đến, nên cứ thế đi theo hướng dẫn của người lạ. Sau 6 ngày băng rừng, vượt sông cuối cùng cũng có mặt tại một khu dân cư đông đúc người Trung Quốc.

Vài ngày sau cô gái này mới giật mình khi đã bị bán cho một công ty chuyên mua bán người. Nơi Trang đang giam giữ là một căn nhà 3 tầng lầu, nằm tại khu vực Tam Giác Vàng (Thuộc địa phận Myanmar). Nơi đây từng mệnh danh là vùng đất NGUY HIỂM nhất THẾ GIỚI. Ở đó, chỉ có tệ nạn và việc mua bán chất cấm.

Những ngày đầu tiên có mặt ở đây khiến Trang chứng kiến rất nhiều hình ảnh như địa ngục. Đó là căn phòng giam 4 người phụ nữ Việt Nam. Ba thiếu nữ trước cũng bị sập bẫy lừa và mỗi buổi chiều ép hít chất cấm để lên cơn và tống vào những căn phòng karaoke với nhạc xập xình cùng thác loạn với khách.

Khi tàn cuộc vui, các cô gái [bị] lôi trở lại phòng trong cơn phê pha. Do sử dụng chất cấm nhiều khiến đầu óc liên tục không tỉnh táo. Dù đã được trao trả về phòng riêng nhưng vẫn cười nói, gào la một mình.

Phòng kế bên em là hai cô gái đã bị bán sang đây hơn một năm. Họ bị loạn thần nên không làm chủ được hành vi. Mỗi khi lên cơn sẽ bị bảo vệ dùng roi đánh tới tấp. Hôm rồi họ tự đại tiện bên trong và vài ngày mới cho tắm rửa, thu dọn”, Trang nhớ lại.

Sợ có ngày mình sẽ tàn đời như những người đi trước, Trang gào khóc van xin. Người chủ Trung Quốc đề nghị phải thanh toán mức tiền 15 vạn Nhân Dân Tệ (Hơn 350 triệu đồng) mới thả về. Nếu không có tiền phải chấp nhận làm nô lệ ở đây. Đêm nào cũng phải tiếp hai bàn tiệc. Thiếu doanh thu thì tiền chuộc cứ thế tăng lên.

Trước khi vào việc, Trang được bảo vệ thảy cho bộ quần áo ăn mặc hở hang và chở đến một tiệm tóc đề nghị nhân viên “tút” lại nhan sắc. Xong việc, chở vào một tụ điểm thác loạn, bên trong rất nhiều người đàn ông. Ở đó, chỉ có nhạc, chất kích thích và những thiếu nữ như Trang bắt phải hoà cùng bữa tiệc đó.

Tàn cuộc, Trang lại được áp giải về phòng giam, ném cho một tô cơm. Đó là phần công và cũng là phần lương mà Trang chỉ nhận được.

Không chịu nổi, Trang [có] ý định sẽ trèo tường bỏ trốn. Nào đâu trước khi chuẩn bị thì một cô gái cùng phòng đã hành động trước. Khi vừa thoát ra khỏi cổng, đã bị nhiều người phát hiện và lôi trở lại vào trong. Một trận đánh thừa sống thiếu chết đã xảy ra. Thiếu nữ thể trọng hơn 48kg đã chịu nhiều cú đạp, roi điện.

Thấy việc này quá mạo hiểm nên Trang nuốt nước mắt gọi điện thoại về chồng cầu cứu…

NGƯỜI CHỒNG ĐI KHẮP NƠI CẦM BẢNG CẦU CỨU VỢ

Ở Bình Dương, Đặng Quốc Tịnh (chồng Trang) đau gấp trăm ngàn lần. Một phần thấy cảnh vợ bị đối xử tàn bạo, phần khác lo gánh vác mọi gánh nặng nợ nần.

Tịnh đã trói bỏ mọi sĩ diện, cầm bảng với dòng chữ: “XIN HÃY CỨU LẤY VỢ TÔI” đi khắp mọi nơi. Hôm thì lang thang ở Đồng Nai, lúc dạt về Bình Dương và cuối cùng dừng chân ở công viên Hoàng Văn Thụ (Sài Gòn).

Đêm đầu tiên ngủ vỉa hè, Tịnh bị một nhóm giang hồ đến xua đuổi vì đây là chỗ ngủ của họ. Đêm thứ hai, cơn mưa to kéo dài nhiều giờ liền không một ngách nào ở đây được khô ráo. Trong người chỉ còn vài trăm ngàn đồng, Tịnh liều mình vào một vài khách sạn hỏi thăm, nhưng giá phòng quá mắc nên em đành ôm ba lô ngủ gục trong cái lạnh thấu trời xanh.

Cuộc sống rày đây, mai đó với tấm bảng cầu cứu, cứ thế kéo dài gần hai tháng.

Một lần tình cờ, Phong Bụi đi trên quốc lộ 1 (Đoạn thuộc quận Bình Tân, Sài Gòn), bắt gặp Tịnh ngồi co ro giữa trời nắng gắt. Lúc đầu, nghĩ bụng chắc đây là người lừa đảo. Vì chẳng ai lại hành động như thế. Qua trò chuyện và xác minh thì mới biết Tịnh đã khổ sở tìm vợ thời gian dài.

Nhà trọ em đã trả cho chủ. Con gái em gửi cho bà ngoại chăm, giờ đây em chỉ ngủ vỉa hè. Mưa thì em xin ngủ tại quán Cà phê võng, mỗi ngày người ta thu 15.000 đồng”, Tịnh kể.

Phong Bụi thấy câu chuyện của Tịnh nên đã ghi chép lại thước phim và đăng tải lên Youtube. Nhưng nghĩ bụng, số tiền quá lớn và hơn nữa nơi Trang bị giam là vùng đất dữ, chưa ai có thể thoát khỏi. Sự hy vọng đưa người về thành công chỉ là con số 0 tròn trịa.

PHÉP MÀU ĐÃ ĐẾN

Nhưng khi đoạn video đăng tải, phép màu dần dần hiện ra. Mọi người đã liên lạc Tịnh để trợ duyên. Khi số tiền chuộc đã đủ thì tất cả đối mặt câu hỏi: “Đưa Trang về nước bằng cách nào?”.

Vì lúc này chính trị ở Myanmar đang biến động. Cuộc đảo chính đã khiến cho xã hội ở đây hình thành rất nhiều khu tự trị. Việc đưa về đường chính ngạch sẽ không thể nào thực hiện được.

May mắn thay, Phong Bụi đã kết nối với một người bạn ở Myanmar tên là A Thy (Xin phép đổi tên khác nhằm đảm bảo an toàn cho người này). Đúng hẹn, đường dây giam giữ người đồng ý nhận tiền và thả người.

Một chiếc xe ô tô do A Thy bố trí được đậu sẵn để chở Trang rời đi. Để đưa Trang về Việt Nam, A Thy thuê một nhóm người tháp tùng Trang trở về. Lực lượng này được gọi là “người vận chuyển” có nhiệm vụ bảo vệ và giúp kết nối các đường dây đưa người đến đúng điểm hẹn. Chi phí lúc này lên đến gần 100 triệu đồng. Nhưng chỉ có cách đó mới giúp Trang về nước sớm nhất.

NHIỆM VỤ BẤT KHẢ THI

Em đã đi liên tục 6 ngày, 6 đêm từ Myanmar sang Trung Quốc, vòng về Lào và đặt chân đến Việt Nam”, Trang tóm gọm lại hành trình ngược về quê hương.

Nhưng trong 6 ngày ấy là cả một thử thách và em đã không nhớ mình đi bộ qua bao nhiêu con suối, thả trôi người trên bè gỗ để vượt qua bao nhiêu nguy hiểm. Chỉ biết rằng hai lần ngất xỉu vì kiệt sức giữa đường và một lần bánh xe máy chở vượt qua ngọn đồi bị sụp hầm.

Có đêm, em ngủ giữa tán rừng. Xung quanh em là người tháp tùng đi theo. Ở đó chỉ có tiếng côn trùng và sương lạnh.

Đêm đầu tiên bị sốt vì kiệt sức. Trong cơn mơ em thấy được ôm con vào lòng. Lúc tỉnh giấc chỉ biết khóc khi thấy mình vẫn đang ở rừng”, Trang hồi nhớ.

Trưa 16-11, Phong Bụi cùng Tịnh đã có mặt tại địa phận tỉnh Hà Tĩnh để đón Trang. Vừa đặt chân đến lãnh thổ Việt Nam, Trang vội quỳ lạy trời đất để cảm ơn cuộc đời. Em đã hít hà được hơi ấm quê hương.

CÁI KẾT ĐẸP

Khi đưa Trang về đến xóm trọ Bình Dương, mẹ Trang chỉ biết quỳ lạy và khóc ngất. Riêng người cha nép mình ở cánh cửa nhà để khóc thành tiếng vì không tin đó là sự thật.

Trang ôm con gái vào lòng và chỉ biết gào lên: “Cám ơn cuộc đời. Con cho mẹ ôm thêm chút nữa…”.

Trước khi về Việt Nam, cha Trang hứa sẽ “gánh nợ” hai đứa con tại Sài Gòn để phụ Trạm Cơm Nghĩa Tình. Vì vậy cuộc gặp gia đình xong, hai vợ chồng nghe lời cha khăn gói gặp mình xin ở lại phụ bếp cơm.

Để giúp hai vợ chồng có việc làm, mình bố trí nơi ngủ và gửi cho số tiền để chồng Trang mua xe máy chạy Grab, vợ mở quầy trái cây nhỏ trước bếp cơm để có thu nhập.

Hai vợ chồng bắt đầu lại cuộc sống tươi sáng và bỏ lại những ngày tháng đen tối ở phía sau.

Một Nhân Cách Lớn – Câu Chuyện Về Một Vị Bác Sĩ Đạo Đức Và Giàu Lòng Nhân Ái

Van Pham

Chuyến đi tưởng 3 tháng của bác sĩ Hattori Tadashi vào năm 2002 rốt cuộc kéo dài đến 20 năm, lấy đi của ông không ít thứ nhưng đem lại ánh sáng cho gần 20.000 người. Ông không lấy bất cứ tiền công nào, thậm chí còn bỏ tiền túi cho người bệnh.

Chiều tối 26-10, trong khuôn viên Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, một nhóm khoảng 20 người cả Việt Nam lẫn Nhật Bản đang đứng quanh một người đàn ông da ngăm, gương mặt và mái tóc đã nhuốm màu thời gian.

Ông là giáo sư, bác sĩ Hattori Tadashi, một trong bốn người vừa nhận được Giải thưởng Ramon Magsaysay 2022, thường được gọi là “Giải Nobel của châu Á” do Quỹ Rockefeller Brothers tài trợ.

Họ vinh danh vị bác sĩ Nhật Bản vì đã tham gia phẫu thuật và điều trị cho khoảng 20.000 bệnh nhân có nguy cơ mù lòa tại Việt Nam kể từ năm 2002. Không chỉ không nhận tiền công, bác sĩ Hattori còn tự bỏ tiền túi để chi trả cho các bệnh nhân khó khăn tiền bạc và hỗ trợ một số bệnh viện Việt Nam các trang thiết bị y tế về nhãn khoa.

Bỏ việc lương cao, dành tiền mua nhà cho bệnh nhân Việt Nam

Bác sĩ Hattori vẫn nhớ như in cơ duyên đưa ông đến Việt Nam: tháng 10-2001, Trường đại học Y khoa Kyoto, nơi ông từng theo học, tổ chức một hội nghị. Tại đây ông đã gặp một bác sĩ Việt Nam, người đã đề nghị ông đến Việt Nam phẫu thuật mắt giúp các bệnh nhân khó khăn và hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm với các bác sĩ địa phương.

Sau nửa năm suy nghĩ, bác sĩ Hattori quyết định xin nghỉ việc tại một bệnh viện lương cao và lên đường sang Việt Nam với tâm thế chỉ đi tình nguyện trong ba tháng, từ tháng 4-2002 đến hết tháng 6 cùng năm.

Nhưng những gì ông chứng kiến ở Việt Nam đã níu chân vị bác sĩ.

“Tôi đã rất bất ngờ khi thấy nhiều bệnh nhân đã mất đi một mắt từ lâu, chỉ khi mắt còn lại bị bong võng mạc hay gì đó khiến họ không nhìn thấy gì mới đến bệnh viện khám. Có trường hợp nếu không phẫu thuật thì không thể cứu được nhưng bệnh nhân cứ nhất quyết về nhà vì không có tiền phẫu thuật.

Tôi thực sự rất đau lòng khi đối mặt với thực tế không thể cứu được bệnh nhân trong khi bản thân mình có thể làm được chỉ vì thiếu vật tư và thiết bị phẫu thuật”, bác sĩ Hattori chia sẻ tại buổi tiệc nhỏ ở Đại sứ quán Nhật tối 26-10.

Trở về Nhật Bản, bác sĩ Hattori vẫn đau đáu với những gì đã thấy ở Việt Nam. Ông tìm đến một công ty bán thiết bị y tế quen biết nhưng bị khước từ vì ông đã xin nghỉ việc ở bệnh viện nổi tiếng.

Thất bại với người ngoài, bác sĩ Hattori bắt đầu chuyển sang người trong nhà chính là vợ mình, người đã phản đối ông tham gia chuyến đi tình nguyện đến Việt Nam. Không nghĩ gì nhiều đến bản thân, ông đề nghị vợ sử dụng số tiền mấy triệu yen mà cả hai đã tích cóp để mua căn hộ chung cư cho các bệnh nhân Việt Nam.

“Tôi bảo với vợ: Anh có thể sống trong một căn nhà thuê cũng được, nhưng nếu không được phẫu thuật ngay, bệnh nhân có thể sẽ bị mù. Nếu dùng số tiền này mua kính nội soi mắt và dụng cụ y tế mới nhất thì một năm cũng có thể cứu được hơn 2.000 người, làm được cả những ca phẫu thuật khó. Vì vậy hãy cho phép anh sử dụng số tiền ấy”, bác sĩ Hattori kể lại.

Lần thứ hai quay trở lại Việt Nam, đi cùng với bác sĩ Hattori là những thiết bị, vật tư y tế mà nhờ đó số người được phẫu thuật đã tăng lên nhanh chóng.

“Chạy show” tại Nhật vì Việt Nam

Nhưng tiền tích lũy rồi cũng cạn dần. Để tiếp tục theo đuổi mục tiêu giúp đỡ bệnh nhân khó khăn ở Việt Nam, bác sĩ Hattori bắt đầu di chuyển như con thoi giữa Nhật Bản và Việt Nam.

Cứ sau hai tuần ở Việt Nam, ông lại trở về Nhật Bản làm việc cật lực để tích cóp tiền mua nhà chung cư và dành các khoản còn lại để mua trang thiết bị y tế phẫu thuật giúp bệnh nhân ở Việt Nam.

Trong một bộ phim tài liệu ngắn do Nhật Bản sản xuất, Hattori hành nghề với tư cách là một bác sĩ tự do – tức không thuộc về một bệnh viện nào. Trong hai tuần ở Nhật Bản, ông liên tục “chạy show” để thực hiện các ca phẫu thuật ở các bệnh viện thuộc nhiều tỉnh.

Những hộp cơm bento trong cửa hàng tiện lợi và qua đêm trên xe lửa trở nên quen thuộc với ông. “Hồi nhỏ tôi thích xe lửa lắm. Lúc còn học tiểu học tôi còn ước sau này sẽ trở thành người lái xe lửa nữa”, vị bác sĩ nhớ lại.

Sau một lần cùng đồng nghiệp Việt Nam xuống vùng nông thôn khám mắt cho người dân, bác sĩ Hattori quyết định dành những ngày cuối tuần dậy thật sớm đến các vùng xa xôi hẻo lánh để khám, phẫu thuật và điều trị cho những người bị đục thủy tinh thể nhưng thiếu tiền.

Nhờ sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương, những người cần phẫu thuật được tập hợp đầy đủ và sớm nhìn thấy lại ánh sáng nhờ bàn tay của bác sĩ Hattori mà không phải tốn bất kỳ chi phí nào.

Số lượng bác sĩ tham gia hoạt động thiện nguyện này dần tăng lên và hiện có năm bác sĩ cùng một số nhân viên cơ yếu khác. Hoạt động của nhóm dần nhận được sự chú ý, mở đường cho sự hỗ trợ từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.

“Các ca phẫu thuật do học trò của tôi thực hiện đã vượt xa mốc 100.000 người. Tôi tin bằng cách đào tạo một người, nhiều người khác sẽ được giúp đỡ. Tôi mong học trò phải là người giỏi hơn mình nên đã hết lòng hướng dẫn các bác sĩ trẻ.

Đôi khi có xảy ra tranh cãi nhưng vì là đất khách nên tôi thường nhường nhịn. Từ bỏ niềm kiêu hãnh của mình mà mọi việc được suôn sẻ thì cũng không sao. Các học trò của tôi phải cam kết truyền thụ lại những gì đã được học cho thế hệ sau”, bác sĩ Hattori kết thúc câu chuyện trong tiếng vỗ tay thán phục của những người có mặt tại Đại sứ quán Nhật tối 26-10.

CPJ trao giải Tự do Báo chí Quốc tế khiếm diện cho nhà báo Phạm Đoan Trang (RFA)

 RFA

2022.11.18

Nhà báo Phạm Đoan Trang với Báo cáo Đồng Tâm trên tay

 FBNV

00:21/04:11

Nhà báo Phạm Đoan Trang vừa được Uỷ ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) vinh danh và trao giải khiếm diện giải thưởng Tự do Báo chí Quốc tế thường niên năm 2022. Buổi lễ được tổ chức tại trụ sở của tổ chức này ở tiểu bang New York vào đêm 17/11 (giờ miền Đông Hoa Kỳ).

Trên trang web chính thức, CPJ- một tổ chức phi chính phủ hoạt động với mục đích thúc đẩy tự do báo chí và bảo vệ nhà báo trên toàn thế giới- nhận định rằng những người nhận được giải thưởng mà tổ chức  trao năm nay đều đã vượt qua những thách thức to lớn để đưa tin một cách độc lập đến với công chúng trong bối cảnh tin giả và chiến tranh lan tràn.

Bà Trần Quỳnh Vi, đồng sáng lập Luật khoa Tạp chí, cũng là người đến nhận giải thay cho nhà báo Phạm Đoan Trang nói với RFA rằng một trong những tiêu chí mà Phạm Đoan Trang nhận được giải này là vì Đoan Trang vẫn thực hiện công việc làm báo của mình một cách chuyên nghiệp, mặc dù luôn có những nguy hiểm chực chờ:

“Tôi nghĩ đây là một giải thưởng rất vinh dự bởi vì nó chứng minh rằng những việc chúng tôi làm chỉ vì tôn chỉ của báo chí. Chúng tôi là những người làm báo chuyên nghiệp và muốn giữ vững nền tảng báo chí Việt Nam. Và Đoan Trang là một nhà báo được công nhận bởi một tổ chức uy tín trên thế giới, đó là một niềm hãnh diện chung của Luật khoa Tạp chí.”

Ngoài bà Phạm Đoan Trang, năm nay còn có ba nhà báo khác cùng nhận giải thưởng này là các nhà báo Niyaz Abdullah đến từ Iraq, Abraham Jiménez Enoa  đến từ Cuba, và Sevgil Musaieva đến từ Ukraine.

Theo điều tra của CPJ vào năm 2021, bà Trang là một trong số ít nhất 23 nhà báo bị giam giữ vì đã cố gắng đưa tin một cách độc lập về Việt Nam. Điều này khiến quốc gia độc đảng trở thành một trong năm quốc gia bỏ tù nhà báo nhiều nhất trên thế giới.

Nhà báo Phạm Đoan Trang là sáng lập viên của Luật khoa Tạp chí  và là biên tập viên cho The Vietnamese, một mạng báo viết bằng tiếng Anh về tình hình chính trị – xã hội – nhân quyền Việt Nam. Bà còn là tác giả của nhiều cuốn sách bị cấm ở Việt Nam như Chính trị Bình dân, Cẩm nang nuôi tù, cùng với nhiều báo cáo khác bằng song ngữ Anh – Việt như Toàn cảnh thảm họa Formosa, Báo cáo Đồng Tâm…

Chính vì các hoạt động báo chí một cách độc lập của mình, vào ngày 6/10/2020, bà Trang bị bắt với cáo buộc “phát tán tài liệu chống nhà nước”, theo Điều 117 của Bộ luật Hình sự. Từ đó, bà bị biệt giam trong hơn một năm trời suốt giai đoạn điều tra vụ án, trước khi bị kết án chín năm tù giam trong phiên toà phúc thẩm hồi tháng 12/2021.

Bà Quỳnh Vi cũng cập nhật thêm rằng hiện nay, sức khoẻ của nhà báo Phạm Đoan Trang ở trong tù cũng đã ổn định hơn giai đoạn bị biệt giam trước đây:

“Hiện nay, Phạm Đoan Trang đã được chuyển đến Bình Dương. Có một số thông tin cũng khá tích cực đó là họ (trại giam – PV) đã chấp nhận cho Đoan Trang mang một cây đàn guitar vào trong trại để một nơi chung. Đoan Trang có thể chơi đàn mỗi ngày, có thể nhận đồ tiếp tế từ gia đình. Và theo gia đình thì tình hình của Đoan Trang hiện nay cũng đang khá là ổn tuy sức khỏe vẫn yếu nhưng tinh thần thì cũng ổn định.”

Bên cạnh giải thưởng về Tự do báo chí Quốc tế của CPJ, bà Trang từng được nhiều tổ chức cũng như Chính phủ nhiều nước trao giải vì các hoạt động cổ vũ cho tự do báo chí và nhân quyền của mình.

Một số giải thưởng nổi bậc như Giải Homo Homini của People in Need năm 2017; Giải thưởng Tự do Báo chí 2019, hạng mục Tầm ảnh hưởng của CPJ; giải Martin Ennals 2022 dành cho những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền; Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao giải thưởng Phụ nữ can đảm quốc tế cho bà Trang vào giữa tháng 3/2022.

Việt Kiều là ai?

Bởi  AdminTD

Yên Khê

8-11-2022

Ngày 5-11-2022, BBC có đăng bài viết của tác giả Joaquin Nguyễn Hòa: Việt kiều và cán bộ VN: Cùng một dân tộc mà hai ngôn ngữ khác nhau. Bài viết kể lại những câu chuyện tiếp xúc giữa Hà Nội và một số người Việt hải ngoại mà tác giả chứng kiến.

Nếu tôi không lầm, thì ý ông Hòa muốn chứng minh một luận điểm là sự khác biệt về môi trường chính trị xã hội, đưa đến sự khác biệt về ngôn ngữ, tức là cách suy nghĩ và nhìn nhận vấn đề. Vì thế, Hà Nội và nhóm “Việt kiều” trong câu chuyện của tác giả không thể có cùng chung tiếng nói với nhau.

Đây là một khái niệm khá thú vị. Tuy nhiên, tựa đề của ông Hòa đặt có vẻ không chính xác, khi ông dùng cụm từ “Việt kiều”.

Ai là “Việt kiều?”

Tôi thấy là nhóm người ông Hòa gặp vào năm 1996 ở Montreal, cũng như những nhân vật và những nhóm người mà ông đề cập suốt bài, đâu thể đại diện cho “Việt kiều” được!

Bỏ qua gốc gác của từ “Việt kiều” hiện vẫn còn gây tranh cãi, cứ mặc định rằng “Việt kiều” là người Việt sống bên ngoài Việt Nam. Trả lời câu hỏi họ là ai, có lẽ không đơn giản. Mà “họ là ai này” cũng thay đổi theo thời gian, năm 1996 khác hẳn năm 2022, và cả vị trí địa lý nữa, Đông Âu khác hẳn ở Úc.

Để dể hiểu, chúng ta hãy xem xét cộng đồng người Việt ở phương Tây, như Mỹ, Úc, Canada, Tây Âu, nơi mà nguồn gốc có vẻ đồng nhất. Có thể chia họ thành những đợt ra đi khác nhau. Đợt đầu họ rời Việt Nam ngay khi Sài Gòn sụp đổ, đợt 2 là các thuyền nhân và những người tù chính trị đi theo chương trình H.O. và đợt ba, kéo dài cho tới bây giờ, là những người thân nhân của hai đợt trước, rời Việt Nam bằng hồ sơ bảo lãnh, rồi sau đó nhiều người tiếp tục rời xa đất nước theo quan hệ gia đình, hôn nhân.

Vậy họ là ai? Chính kiến thế nào?

Độc giả có quan điểm chính trị “không đội trời chung với cộng sản” có thể sẽ cho rằng Việt kiều, hay người Việt hải ngoại, là một cộng đồng chống Cộng rất mạnh mẽ.

Các độc giả trong nước nghe theo báo chí chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam, sẽ bảo rằng “Việt kiều” là… khúc ruột ngàn dặm.

Thủ tướng Phạm Minh Chính gặp mặt “khúc ruột ngàn dặm” ở khu bờ Đông Hoa Kỳ trong chuyến đi Mỹ tháng 5/2022. Nguồn: Báo QĐND

Tôi thấy cả hai đều không đúng. Với cái nhìn chủ quan của tôi, dựa trên những quan sát đó đây trong suốt một thời gian dài ở hải ngoại, tôi thấy Việt kiều có thể chia làm bốn nhóm như sau:

1/ Nhóm mà tác giả đề cập trên BBC, thân Hà Nội, rất ít, nhóm này đang tàn phai theo năm tháng.

2/ Nhóm rời khỏi Việt Nam sau ngày 30/4/1975, là nhóm thuyền nhân, cựu tù chính trị. Nhóm này chống Cộng dữ dội nhưng dường như ngày càng ít đi.

3/ Thế hệ thứ 1 rưỡi (sinh ra ở Việt Nam, ra nước ngoài từ nhỏ) và thế hệ thứ 2, là con cháu của cả hai nhóm kể trên. Một số đông gia nhập vào dòng chính của đời sống và chính trị, văn hóa, sở tại, ít quan tâm đến Việt Nam.

4/ Nhóm di cư theo hồ sơ bảo lãnh, ra ngoại quốc khi Việt Nam không còn mô hình xã hội kinh tế thuần cộng sản nữa. Nhóm này có thể không đông bằng nhóm thứ ba, nhưng theo chủ quan của tôi thì nhóm này là nhóm còn có nhiều quan hệ với Việt Nam hơn hết.

Tôi có thể lấy nhóm thứ tư này để phản biện bài của ông Nguyễn Hòa, rằng có một nhóm Việt kiều có cùng “ngôn ngữ” với trong nước và họ cũng rất đông, ngày càng đông cho đến khi dòng người rời Việt Nam giảm hẳn đi (nhưng có lẽ còn lâu!) Tuy rằng trong số họ cũng có một số ít rời bỏ Việt Nam vì bất đồng quan điểm, mong sống trong một xã hội dân chủ, nhưng số đó ít thôi, đa số họ không có viễn kiến chính trị.

Số tiền hàng tỷ Mỹ kim từ hải ngoại gửi về Việt Nam có phần lớn từ nhóm thứ tư này. Chúng ta thường bị thu hút bởi những vụ nổi đình nổi đám như Trần Trường, Trịnh Vĩnh Bình,… như là những thất bại của quan hệ kinh tế giữa Việt kiều và trong nước, nhưng số tiền Việt kiều gửi về Việt Nam bởi các đại gia như Trịnh Vĩnh Bình, hay những người thuộc nhóm 1 và 2 không thể bằng nhóm tứ tư.

Có hai lý do: Thứ nhất là họ còn nhiều quan hệ họ hàng ở Việt Nam. Thứ hai, rất đông người thuộc nhóm thứ tư sống trong nền kinh tế tiền mặt (cash economy) ở nước sở tại. Họ có thể trốn (né) thuế, giảm chi phí cuộc sống, cho nên họ có nhiều tiền dư để gửi về cho thân nhân đang sống ở quê nhà.

Cash economy của người Việt có thể thấy rõ ở những khu người Việt như Little Saigon (Nam California), phía Đông San Jose (Bắc California), Bellair (Houston, Texas), Fowler (Úc), khu Eden (Virginia), với hoạt động thương mại rất sầm uất, nhưng điều kiện hạ tầng, vệ sinh… lại kém vì không có nhiều thuế để chi trả.

Những người này đóng góp cho xã hội sở tại không nhiều, nhưng đôi khi họ nhận được trợ giúp từ nơi họ sinh sống rất nhiều. Một người bạn của tôi làm công việc cán sự xã hội (social worker) ở Houston, người này từng chỉ cho tôi mấy khách hàng đến xin trợ cấp thực phẩm, y tế … họ ăn mặc rất chải chuốt, đeo nhiều vòng vàng, đi xe rất đẹp. Những người này, nếu thấy chiếc xe Camry đời 2007 gãy càng sứt gọng của tôi, có lẽ họ sẽ nhìn bằng nửa con mắt.

Đây cũng là cộng đồng theo dõi các kênh truyền thông từ trong nước như VTV4, Truyền hình Vĩnh Long, VnExpress…

Đây thực sự là những “Việt kiều” có cùng ngôn ngữ với Hà Nội, không như ông Nguyễn Hòa trình bày trong bài viết nói trên. Chính quyền Hà Nội cũng không cần mất công tiếp xúc với họ, vì họ đã, đang và sẽ tiếp tục là nguồn ngoại tệ khổng lồ gửi về Việt Nam.

Lời kể của cô gái Việt bị bán làm dâu Trung Quốc, bắt đẻ mướn và ngủ với cha chồng

Lời kể của cô gái Việt bị bán làm dâu Trung Quốc, bắt đẻ mướn và ngủ với cha chồng

 

Phong Bụi

22-10-2022

Ảnh: FB tác giả

Trang đã có cuộc sống gần 5 năm là nạn nhân bị lừa bán sang Trung Quốc làm nô lệ cho gia đình nhà chồng.

Thấy gia đình nghèo khó, một người trong xóm gợi ý: “Nên cưới chồng Trung Quốc để gia đình có ít tiền”.

Người ta tìm đến tận nhà, ngồi vẽ ra một bức tranh đầy tươi sáng khi lấy chồng nước ngoài. Lúc đó, em chỉ mới cô gái 16 tuổi, vẫn còn ham chơi và chưa biết Trung Quốc là ở xứ nào.

Sau cuộc thương thảo, gia đình Trang đồng ý vì nghĩ đó là cách đổi đời. Ngày em đi lấy chồng một đám cưới không được diễn ra và gia đình chỉ nhận được vài triệu đồng.

“Phía công ty môi giới đổ lỗi vì em còn nhỏ tuổi chi phí làm giấy rất tốn kém”, Trang nhớ lại.

Khi thắc mắc, người ta lại tiếp tục, thổi vào lỗ tai: “Mấy triệu cũng được. Chủ yếu con lấy chồng Trung Quốc để đổi đời. Ở bên đó làm ăn có tiền gửi về ba mẹ mấy hồi”.

Nghe có vẻ hợp lý, cô bé nhỏ tuổi gật đầu theo chân người môi giới để vượt biên sang Trung Quốc, nhưng đâu biết rằng đã bỏ lại quê hương và sự bình yên.

Chồng Trang là một thanh niên lớn hơn em 15 tuổi, làm công nhân cho một công ty ván ép gỗ. Nơi em ở là một căn nhà nhỏ nằm tại thị trấn nhỏ nằm ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Hàng ngày phải giặt, ủi, nấu ăn và chăm sóc cùng lúc anh chồng, ba chồng và chồng.

Một ngày đẹp trời, mẹ chồng gợi ý: “Anh chồng con có vợ mấy năm nhưng vẫn chưa có con. Con ngủ với nó đẻ giúp được không?”.

Đó là câu hỏi và đáp án không có lời từ chối.

Trang nghe đến vậy hoảng sợ, lập tức nhận những sự tra tấn khủng khiếp. Cả nhà chồng tìm mọi cách thúc ép cô bé đẻ mướn cho gia đình.

Chưa dừng lại, cô dâu Việt này liên tục bị bố chồng tìm mọi cách sàm sỡ. Mỗi lần uất ức chỉ biết ôm mặt khóc không thể tâm sự, chia sẻ với ai.

Sau hai năm sống cảnh đày đọa, Trang có thai. Tuy nhiên khi được 5 tháng phía nhà chồng phát hiện bé bị dị tật nên tìm mọi cách để loại bỏ.

Suy sụp, Trang tìm mọi cách tháo chạy về quê hương. Em đã gom góp được ít tiền thuê một người dẫn đường vượt biên về nước. Từ căn nhà địa ngục ấy, em chỉ mang trên người bộ quần áo đón xe đò về biên giới.

Nửa đêm, em băng lội suối với hy vọng dù có gì cũng phải ngã xuống ngay Việt Nam. Em đi suốt nhiều ngày đến khi đặt chân địa phận tỉnh Cao Bằng được Bộ đội Việt Nam đón và đưa về Vĩnh Long gặp gỡ gia đình.

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT…

Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Thanh Bùi  ·   · 

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT…

Năm 1980, Mike Wells, một phóng viên ảnh tài liệu đã chụp lại bức ảnh gây xúc động mạnh mẽ về hình ảnh bàn tay của một cậu bé.

Bức ảnh “vô tình” đạt giải thưởng trong cuộc thi Ảnh báo chí thế giới năm 1980 đã khiến cho toàn thế giới bị ám ảnh và gây ra một sự ph*ẫn n*ộ rất lớn trong dư luận.

Tác phẩm này đã khiến tên tuổi của Mike Wells vươn ra ngoài thế giới nhưng cũng khiến ông dành cả phần đời còn lại của mình trong sự xấu hổ và dằn vặt. Bức ảnh ghi lại một bàn tay nhỏ bé, gầy gò, thậm chí nếu nhìn qua thì có vẻ như bàn tay đó không phải là bàn tay của một con người.

Nhiều người cho rằng nó giống như bàn tay của một người ngoài hành tinh. Và khi nhìn cho thật kĩ, sẽ thật đau xót khi thấy đó là bàn tay của một đứa trẻ bị suy dinh dưỡng nặng.

Trái ngược với đó là một bàn tay của người da trắng, khỏe mạnh, vạm vỡ. Bức ảnh cho thấy sự tương phản rõ nét và cũng phản ánh chân thực những gì đang diễn ra.

Nguồn: ĐI TÌM LẼ SỐNG

Vĩnh biệt anh Ngô Vĩnh Long

Vĩnh biệt anh Ngô Vĩnh Long

Joaquin Nguyễn Hòa, gửi từ San Jose, California

Tôi biết tin anh Long qua đời qua trang Facebook của anh Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose. Giáo sư Trần Hữu Dũng ở Ohio xác nhận với tôi rằng anh Long qua đời vì bệnh ung thư gan lúc 5:30 sáng ngày 12/10/2022, thọ 78 tuổi.

Anh Ngô Vĩnh Long là giáo sư sử học, trường đại học Maine, anh tốt nghiệp đại học lừng danh Harvard, anh là bình luận gia nhiều vấn đề quan hệ quốc tế và Việt Nam, anh là thủ lĩnh phong trào phản chiến trong chiến tranh Việt Nam, anh từng chiếm đóng tòa lãnh sự Việt Nam Cộng hòa tại San Francisco,…

Tất cả những điều ấy, mọi người đều biết, và cũng có nhiều người chỉ trích, mắng chửi,…

Tôi không muốn lặp lại những điều ấy, chỉ xin kể lại đây những kỷ niệm cá nhân với anh Long.

Tôi biết anh Long khi còn làm phóng viên cho trang RFA Việt ngữ, khi cần những bình luận về tình hình Việt Nam, cũng như quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ và Trung Quốc. Điều tôi ấn tượng nhất khi phỏng vấn anh Long, hoặc khi chuyện vãn bên lề, là anh có hai nét bề ngoài có vẻ rất mâu thuẫn với nhau, một giọng nói khá yếu, đến mức có khi như thều thào, và một giọng cười rất sảng khoái và mạnh mẽ.

Chỉ sau vài lần trò chuyện, có lẽ anh Long cũng có cảm tình với tôi, anh mời tôi đến chơi với anh ở Bangor, Maine.

Anh đón tôi vào một ngày cuối đông. Từ trong sân bay, tôi thấy anh xăm xăm bước qua đống tuyết còn bề bộn, đi vào sảnh, dáng đi hồn nhiên như một đứa trẻ. Anh chở tôi đến ngay một tiệm bán … tôm hùm. Và buổi trưa hôm đó câu chuyện dài dằng dặt của chúng tôi, đúng hơn là câu chuyện của anh, bắt đầu, kéo dài đến gần một tuần, bên ly rượu Sauternes, một loại vang cất từ nho mốc trên cành, mà anh cho tôi biết là rất “bắt” với tôm hùm và… lẫu mắm.

Tên của anh được đặt theo tên cái thị xã mà anh sinh ra, thị xã Vĩnh Long, nơi cha anh theo kháng chiến chống Pháp trong mặt trận Việt Minh. Ông cụ không phải là một đảng viên cộng sản, mà còn xa hơn nữa, sau năm 1954, cụ trở thành một tín hữu Tin Lành. Chính ông cụ là người bày cho anh cách học thuộc lòng các cuốn tiểu thuyết bằng Anh ngữ để học tiếng Anh. Và bằng cách đó anh đã đủ tiếng Anh để đại học Harvard lừng danh của Mỹ chấp nhận.

Ngoài chuyện có bố là người theo đạo Tin Lành, cũng không có nhiều người biết rằng trong gia đình anh Long còn có một nữ sĩ quan công binh, Danielle Ngô, vị chỉ huy một lữ đoàn công binh là nữ giới đầu tiên của quân đội Hoa Kỳ. Bà Danielle Ngô gọi anh Long là cậu ruột. Gia đình bà bỏ chạy khỏi Sài Gòn đúng ngày 30/4/1975, và được anh Long bảo trợ đến Mỹ. Đó là những năm rất vất vả với người tị nạn Danielle Ngô mới được vài tuổi, mà cũng là những năm rất vất vả với người phản chiến Ngô Vĩnh Long, hết bị dính tới vụ án Trương Đình Hùng (con trai bác sĩ Trương Đình Dzu từng là ứng viên tổng thống Việt Nam Cộng hòa), rồi lại bị ám sát hụt trong khuôn viên đại học Harvard.

Sau đó, Hà Nội lại cấm cửa không cho Ngô Vĩnh Long về nước, mà cũng không rõ lý do gì (những chuyện như thế thường không có lý do!). Anh Long kể với tôi rằng anh thoát bàn tay công an Việt Nam trong gang tấc nhờ một người bạn che chở trong một lần về Việt Nam.

Chuyện nước là thế, chuyện nhà cũng không suông sẻ gì với cuộc hôn nhân đầu tiên gãy đổ. Nhưng có lẽ trời cũng bù lại cho tính cách hồn nhiên của anh bằng những đứa con rất giỏi giang, hai người con lớn rất thành đạt, còn cậu út, cũng tài hoa như cha, một tay guitar cự phách, và tốt nghiệp đại học chỉ sau hơn hai năm.

Dĩ nhiên đối với kẻ hậu sinh như tôi, thì những câu chuyện về các nhân vật phản chiến luôn là một sự hấp dẫn. Câu chuyện anh Long kể về nhân vật Nguyễn Thái Bình (bị an ninh Mỹ bắn chết vì cáo buộc cướp máy bay), làm tôi ngạc nhiên với lời bình luận của anh, “Bình tốt lắm, nhưng giao du với các nhóm quá tả”. Dần về sau, giữa những biến động xã hội, chính trị Mỹ, tôi thậm chí thấy rằng Ngô Vĩnh Long chưa chắc đã tả bằng nhiều thanh thiếu niên người Mỹ gốc Việt hiện nay.

Câu chuyện thứ hai làm tôi rõ hơn tính cách Ngô Vĩnh Long đến từ giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng ở Virginia. Lần đó giáo sư Hùng cho tôi xem những thư từ qua lại giữa chính quyền Mỹ với một số nhân sĩ trí thức người Mỹ gốc Việt, để chuẩn bị lộ trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Tôi thấy có một bức thư ủng hộ kế hoạch H.O. (Humanitarian Operation) của người Mỹ nhằm đưa những người tù “cải tạo” sang Mỹ, trong số những chữ ký tôi thấy có Ngô Vĩnh Long. Kể chuyện này với anh Long, anh cười rất hồn nhiên như mọi khi, “các ông H.O. cứ réo tên tôi mà mắng chửi suốt ngày”.

Cách đây hơn một tháng, anh Long có sang San Francisco dự một cuộc hội thảo. Tôi có gọi cho anh để càm ràm là bạn bè gì tệ quá, sang mà không gặp. Anh cười hì hì giữa một cơn đau lạ đang hành hạ, anh kể với tôi là cô con gái lớn hoạt động xã hội ở Oakland, vẫn còn giận anh gì đó nên hai cha con không gặp nhau được. Hai anh em lại hẹn nhau lần sau với chai Sauternes, mà phải là lẫu mắm, chứ không phải tôm hùm.

Và sáng nay anh ra đi.

Anh Long không chính thức theo một tôn giáo nào, nhưng có lần chúng tôi đồng ý với nhau về tính hiện sinh của triết học Phật giáo. Anh có nhắc với tôi một số kỷ niệm với các nhà sư Việt Nam, như thiền sư Thích Nhất Hạnh. Anh không nổi tiếng như thiền sư, nhưng cũng có một số phận giữa hai làn nước từa tựa như thiền sư.

Có lần tôi hỏi ông T., một nhân vật nổi tiếng chống cộng tại Mỹ, nghĩ thế nào về Ngô Vĩnh Long? Ông T. nói: “Anh Long là một người yêu nước”.

HÌNH: – Giáo sư Ngô Vĩnh Long

THÀNH KÍNH TRI ÂN Bác Sĩ YERSIN!

THÀNH KÍNH TRI ÂN Bác Sĩ YERSIN!

BS. ALEXANDRE YERSIN NGƯỜI PHÁP GỐC TH ỤY SĨ CÓ CÔNG LAO TO LỚN ĐỐI VỚI VIỆT NAM. XIN ĐƯỢC KÍNH CẨN NGHIÊNG MÌNH NGƯỠNG MỘ VÀ BIẾT ƠN ÔNG!

Bài viết này thay nén nhang tri ân ông.

Hiện nay cà chua, cà rốt, các loài Hoa phương Tây ở Đà Lạt… ; cà phê, Điều, Tiêu…. mà Việt Nam xuất khẩu mang về hàng tỉ USD có từ đâu? Chắc ít ai nghĩ đó là do công lao của bác sĩ Yersin!

Dịch hạch là căn bệnh khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, có thời điểm làm giảm 2/3 dân số châu Âu và 1/3 dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Yersin là người đầu tiên tìm ra vi khuẩn này và các nhà khoa học về sau khống chế nó hoàn toàn. Yersin cũng là một câu chuyện thú vị khi cả cuộc đời trưởng thành của ông, đều gắn bó với 2 chữ Việt Nam.

Tốt nghiệp tiến sĩ y khoa với đề tài bệnh Lao, nhưng Yersin và thầy hướng dẫn của mình là giáo sư Roux nổi danh với phát minh ra vắc xin bạch hầu. Thành tựu của ông khiến thiên tài Louis Pasteur chú ý và được nhận vào làm ở viện Pasteur Paris danh giá. Nhưng máu thám hiểm trong người khiến ông nằng nặc xin nghỉ việc để đi làm thuỷ thủ tàu viễn dương “dù chưa có kinh nghiệm đi biển bao giờ”. Ông nói “đời mà không đi, thì còn gì là đời”.

Các lần đi thám hiểm và quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur “mời ăn tối và nghe báo cáo”, “thấy thú vị trước các thông tin mới mẻ do Yersin kể”. Pasteur yêu cầu ông hãy làm gì thì làm cho trọn vẹn để “vang danh thiên hạ, giúp nhân loại”. Vâng lời thầy, Yersin xách đồ đạc lên tàu vượt ngàn hải lý, mặc cho gió bão khôn lường. Hình ảnh học trò khăn gói xuống thuyền dọc ngang quả đất sau khi học xong là hình ảnh vô cùng đẹp của những người có LÝ TƯỞNG SỐNG.

Sang Việt Nam, ông làm bác sĩ trên tàu giữa Sài Gòn, Manila, Hải Phòng rồi sau đó định cư ở Nha Trang, sau một lần tàu cập bến và ông phải lòng với cảnh sắc nơi đây. Đầu thế kỷ 20, ông tham gia hội đồng sáng lập và là hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Y Khoa Đông Dương (nay là Y Hà Nội), xây dựng toàn bộ giáo trình sơ khởi và nhận thức y đức cho các thế hệ bác sĩ, quy hoạch các bệnh viện ở các tỉnh thành khắp Việt Nam theo khoảng cách địa lý để “ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến trị kịp thời”. Nhưng Hà Nội cũng chỉ có thể giữ chân ông được 2 năm. Ông quay trở lại Nha Trang, thực hiện chuỗi những ngày làm khoa học và thám hiểm khắp núi rừng Đông Dương. Ông là người đã tìm ra cao nguyên Lang Biang và quy hoạch Tp Đà Lạt, xây dựng viện Pasteur Đà Lạt và phát triển mạnh hơn cho viện Pasteur Sài Gòn, Hà Nội. Trại ngựa nuôi lấy huyết thanh sản xuất vắc xin của ông nằm ở suối Dầu là trại ngựa thuốc lớn nhất châu Á khi đó. Ông còn cho trồng cây ký ninh để trị bệnh sốt rét. Ông từng mong muốn Diên Khánh là nơi sản xuất thuốc men cho cả Đông Dương.

Ông cũng là người mang cây cao su, ca cao, cà phê (thậm chí ông cho thử nghiệm cây điều từ Brazil và tiêu đen từ Ấn Độ ở nông trại của mình), đến bây giờ chúng ta đã có hàng tỷ đô la xuất khẩu. Ông thử nghiệm nhiều giống cây ôn đới như cà rốt súp lơ su su lay-ơn cẩm tú cầu xà lách xoong cà chua….(hầu như tất cả các loại rau củ mang tiếng Pháp đều là do ông và bạn bè đồng sự ông mang qua). Ông còn nuôi cừu trồng nho ở Phan Rang, nuôi đà điểu ở Ninh Hoà, thử nghiệm trồng quy mô lớn cây cà phê ở Lâm Đồng, Đăk Lăk và Pleiku. Ông cũng là 1 triệu phú nhờ trồng cao su xuất bán cho hãng lốp xe Michelin và là cổ đông chính của ngân hàng HSBC. Ông cho rằng “tôi phải kiếm tiền kiểu khác chứ không tài nào cầm được tiền của các bệnh nhân”. Toàn bộ tiền lãi của ông đến nay vẫn còn và vẫn bí mật chuyển đều đặn về 1 quỹ từ thiện và quỹ nghiên cứu khoa học.

Với tầm nhìn vĩ đại, bác sĩ Yersin không chỉ làm khoa học mà còn giỏi nhiều thứ. Ngoài việc mang sang cho chúng ta bao nhiêu giống cây trồng vật nuôi mới lạ, khám phá và xây dựng Sapa Đà Lạt Bà Nà…thành những nơi du lịch nghỉ dưỡng, ông còn tham gia quy hoạch đô thị khu trung tâm Sài Gòn Hà Nội Nha Trang Đà Nẵng Hải Phòng, ranh giới các tỉnh….mà chúng ta ngày nay hay có cụm từ “ngày xưa người Pháp đã quy hoạch chỗ này là, chỗ kia là..”. Ông đã giúp người Việt chúng ta có được nền tảng kinh tế ban đầu từ một nước thuần nông lạc hậu, những công trình về hạ tầng, giáo dục, y tế. Do chính quyền Pháp khi đó rất tín cẩn ông, vì ông đi nhiều khám phá nhiều. Hầu như mọi ngóc ngách ở Lào, Việt Nam và Campuchia đều có dấu chân ông. Núi cao vực sâu, thú dữ, bệnh tật…không hề làm ông nản bước. Ông luôn yêu cầu Pháp phải xây dựng nhiều trường học ở các tỉnh của Việt Nam và ý kiến cho Pháp đầu tư tiền để xây đường sắt Bắc Nam từ ga Hà Nội đến ga Sài Gòn, hiện chúng ta vẫn còn đang khai thác. Con đường quốc lộ 1A thời đó là con đường đất nhỏ xíu (gọi là con đường cái quan) bề rộng chỉ có 2-3 mét từ thời chúa Nguyễn đã được ông “bày vẽ” cho kè đá, rải nhựa, mở rộng nâng cấp để xe ô tô có thể chạy được. Ông nói phải ưu tiên làm con đường to nhất, tốt nhất gọi là quốc lộ, chạy ngang qua hết các tỉnh ven biển để người dân tỉnh nào cũng có thể hưởng lợi từ giao thông. Đường sắt Phan Rang đi Đà Lạt cũng là ông tư vấn cho toàn quyền Doumer làm. Các trạm khí tượng từ Sapa đến Mẫu Sơn đến Bạch Mã, các ngọn hải đăng ngoài biển mà chúng ta thường nói “do Pháp xây” là do ông chọn vị trí. Những gì ông có thể nghĩ ra, ông đã làm tất cả cho người Việt.

Ông sống 1 mình, giản dị ở Nha Trang đến cuối đời, 1 cuộc đầy ắp những chuyến đi thám hiểm và thành tựu. Nha Trang cũng là nơi tiếp cận điện ảnh đầu tiên của nước ta do ông mang về chiếu. Có lần khi trẻ con vào nhà ông xem phim và nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng nhưng ông bảo “thôi đừng la trẻ nhỏ, nghe lớn tiếng chúng sẽ sợ”. 1 lần ông lái xe hơi trên đường, 1 người dân bất cẩn lao vào xe ông và bị tai nạn. Dù lỗi của người đi bộ rành rành nhưng ông chạy xuống giúp họ băng bó, xin họ tha thứ và kiên quyết trả lại xe cho chính phủ, đi xe đạp, vì theo ông “dân chúng xứ này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng không gây thương vong cho họ”. Có lần ông lên Tây Nguyên tìm thuốc, người dân tộc đã bắt ông, định hành quyết. Nhưng họ nhìn vào mắt ông, thấy một sự chân thành và thiện lương kỳ lạ, họ lại thả ông ra. Ông sau đó chữa trị bệnh cho cả buôn làng và gửi thuốc men lên cho họ đều đặn. Ngôi nhà của ông là trại tế bần khổng lồ cho người sa cơ lỡ vận, ốm đau, bệnh tật, đói kém….của khắp vùng, mở cửa suốt ngày suốt đêm. Ông không có vợ con vì dâng hiến phụng sự cả đời cho khoa học, nhưng người ta kính yêu ông như cha mẹ ruột.

Trong khi nhiều trí thức Việt Nam đi Pháp để hưởng thụ sự văn minh có sẵn của xứ người, ông như cá bơi ngược dòng. Dù quê hương ông là đất nước Thuỵ Sĩ giàu có và xinh đẹp, dù tốt nghiệp trường Y Paris và là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới khi ấy, ông vẫn xuống tàu đi đến một miền đất nghèo xa lạ. Ông nói “tôi mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và sẽ phụng sự tính mạng và cuộc đời tôi cho họ”.

Đám tang ông là đám tang lớn nhất Việt Nam lúc đó. Giây phút cuối đời, ông nhờ người quản gia dìu ông ra phía cửa sổ, nhìn về phía biển, nơi ghi dấu 1 thời dọc ngang tuổi trẻ, rồi trút hơi thở cuối cùng. Nghe tin ông mất, người dân Nha Trang bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu bè ngoài biển vội vã cập bến xóm Cồn, ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm tiền bạc danh lợi mỗi ngày, bỏ cái nón lá quen thuộc để đeo khăn tang trắng xoá trên đầu, xuống đường đưa tiễn, khóc hết nước mắt. Người dân Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, các thành phố lớn khác châu Á yêu quý ông, nhất là người Hongkong, nơi ông đã thành công trong việc giúp hàng triệu người dân ở đây thoát khỏi nỗi kinh hoàng do dịch cúm. Úc từng mời ông sang thành lập viện Pasteur cho họ nhưng ông đã từ chối. Hongkong thì tìm mọi cách giữ ông lại, nhưng ông vẫn khăng khăng quay về dải đất hình chữ S mà ông trót yêu thương.

Năm 1943, khi ông mất, trí thức toàn thế giới, đặc biệt giới Y khoa và giới thám hiểm đã bày tỏ sự thương tiếc vô hạn. Di chúc ông ghi giản dị “Tôi muốn được an táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển. Ông Bùi Quang Phương (cộng sự lâu năm) đừng cho ai đem thi hài tôi đi nước khác. Mọi tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm đã làm việc với tôi”. Ông mất vào ngày 1 tháng 3-1943

Nếu bạn đã từng 1 lần được tiêm chủng, chích ngừa hay thậm chí ăn cà rốt, uống cà phê, đắp mặt cà chua (trước đó thì người Việt chúng ta chỉ có cà pháo….để ăn với mắm tôm) thì hãy biết ơn BS Yersin. Công lao của ông với dân tộc mình, với đất nước mình là không bao giờ kể hết. Các bạn có thể đọc thêm tư liệu về bác sĩ Yersin để thấy những tranh cãi lặt vặt, những suy nghĩ tầm thường đã phí thời gian cuộc đời mình. Sách giáo khoa nên bổ sung nhiều bài học về ông để các thế hệ mãi mãi biết ơn. Lòng biết ơn là thước đo của sự văn minh, ở mỗi cá nhân và cả dân tộc.

Và mỗi người, nếu đọc được những dòng chữ trên thì hãy học tập ông ở tinh thần PHỤNG SỰ, CỐNG HIẾN. Không nhỏ hẹp, vun vén cá nhân, cái xe – cái nhà – miếng đất – bằng cấp – chức vụ – công danh, tiền tài mang về cho vợ cho con tầm thường nữa. Mạnh dạn vẫy vùng biển rộng trời cao, dấn thân, xả thân vì MỘT LÝ TƯỞNG SỐNG của riêng mình. Bỏ quê hương đi đến chỗ phồn vinh thì dễ, quay về làm cho nó giàu sang văn minh thì mới khó. Mà khó cỡ nào, mình quyết tâm là làm được hết.  

Phàm làm người, ai càng sớm tìm được lý tưởng sống, thì càng có một cuộc đời ý nghĩa, trọn vẹn, không hối tiếc.

Nguồn Tony Buổi Sáng
Vài dòng tư liệu quí
Dòng chữ trên huy hiệu là châm ngôn bằng tiếng Latin, do ông Yersin chọn: DAT ALLIS LAETITUM ALLIS TEMPERRIEM có nghĩa ” Cho người này niềm vui, cho người kia sự mát lành “.
Các chữ cái đầu ghép lại thành DALAT.
ÔNG LÀ ÂN NHÂN CỦA VIỆT NAM VÀ NHIỀU NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI BỊ BỆNH DỊCH ĐƯỢC CHỮA KHỎI DO ÔNG TÌM RA VI KHUẨN DỊCH HẠCH…
QD sưu tầm

From: Do Tan Hung & KimBangNguyen

Michelin giới thiệu lốp xe không hơi!

Michelin giới thiệu lốp xe không hơi!

Michelin giới thiệu lốp xe không hơi, nỗi lo thủng lốp, xịt hơi vĩnh viễn không còn nữa.

Từ cả trăm năm nay, khi các loại phương tiện cơ giới trở nên phổ biến, thủng lốp xe, xịt hơi đã trở thành các vấn đề ám ảnh hàng ngày đối với mọi người trên thế giới. Vấn đề nằm ở chỗ, lốp xe cần không khí để có thể co giãn một cách linh hoạt trong các điều kiện đường xá khác nhau cũng như các cách vận hành xe khác nhau.

Giải pháp cho nó rất đơn giản. Lốp xe sẽ không thể thủng nếu nó không có không khí bên trong. Đó chính là điều hãng sản xuất lốp xe danh tiếng Michelin vừa làm được khi ra mắt loại lốp xe Uptis mới. Đây chính là thành quả nghiên cứu phát triển của Michelin từ một thập kỷ nay, khi tìm kiếm một loại lốp xe có tuổi thọ dài hơn cũng như giảm tác động đến môi trường. Mới đây, Michelin đã trình diễn loại lốp xe mới này trong một sự kiện tại Munich, Đức. Thay vì dùng không khí để nâng đỡ chiếc xe và người lái, loại lốp xe này dùng chính các thanh nan hoa đặc biệt để tạo độ cứng. Bên cạnh đó, các thanh nan hoa này còn có khả năng điều chỉnh độ cứng để phù hợp với các mục đích khác nhau như tăng tốc hoặc phanh xe lại.

Lợi ích của loại lốp xe này rất rõ ràng. Không còn không khí bên trong, người dùng sẽ không còn lo về việc thủng lốp hay xịt hơi nữa, cũng có nghĩa là tuổi thọ của lốp xe sẽ dài hơn. Theo Michelin, Uptis sẽ có tuổi thọ gấp 3 lần so với lốp xe thông thường. Theo công ty, mỗi năm có hơn 200 lốp xe bị đưa ra bãi phế liệu do những vấn đề về tuổi thọ và hư hỏng. Tuổi thọ dài hơn và độ bền tốt hơn sẽ giúp giải quyết được các vấn đề này. Hy vọng điều này không có nghĩa là Michelin sẽ đặt mức giá cao cho sản phẩm lốp xe mới của mình. Mức giá càng cao sẽ càng làm ít người lựa chọn nó khi họ không cảm thấy đủ bù đắp lại lợi ích về độ bền. Kéo theo đó, lợi ích về môi trường cũng không được như kỳ vọng.

Việc tạo ra một chiếc lốp như Uptis là không dễ dàng. Nguyên mẫu đầu tiên về lốp xe không hơi đã được Michelin trình làng từ cách đây 16 năm và lúc đó nó không thật sự hoàn thiện. Có nhiều nghi ngại về việc bụi bẩn và các mảnh vụn khác có thể tích tụ trong lốp và gây ra các vấn đề về thăng bằng. Nhưng giờ đây dường như Michelin đã tìm ra cách giải quyết các vấn đề này.

Sau buổi lái thử lốp xe Uptis ở Munich, các thành viên lái thử cho biết trải nghiệm này có thể so sánh với việc lái xe bằng lốp thông thường. Michelin cho biết họ cuối cùng đã đạt được tiêu chuẩn sản xuất cho Uptis và đã hợp tác với hãng GM để thiết kế và sẽ bắt đầu bán loại lốp xe không hơi này cho các hành khách vào năm 2024.

From: TU-PHUNG

Luật sư Võ An Đôn bị Việt Nam cấm xuất cảnh tị nạn chính trị

 VOA Tiếng Việt 

Luật sư Võ An Đôn vừa cho VOA biết ông và gia đình được chính phủ Hoa Kỳ cho đi tị nạn chính trị nhưng phía Việt Nam đã cấm xuất cảnh “vì lý do an ninh”. Vụ việc xảy ra vào tối ngày 27/9 khi ông và gia đình làm thủ tục xuất cảnh từ sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất khởi hành đi New York.

“Theo lịch thì hôm nay tôi bay qua New York, nhưng khi làm thủ tục xuất cảnh tại sân bay Tân Sơn Nhất đến cửa an ninh thì công an xuất nhập cảnh không cho gia đình xuất cảnh vì lý do an ninh”, Luật sư Đôn cho biết.

Biên bản tạm hoãn xuất cảnh của Công an Cửa khẩu Tân Sơn Nhất, thuộc Cục Quản lý Xuất Nhập cảnh, được ông Đôn đăng trên Facebook cá nhân cho biết lý do được nêu ra là “ Vì an ninh quốc gia”.

Võ An Đôn, 45 tuổi, một luật sư nổi tiếng ở Phú Yên với những vụ bào chữa miễn phí và lên tiếng hỗ trợ cho các nhà hoạt động nhân quyền, bị chính quyền cấm hành nghề từ năm 2017.

Ông cho VOA biết chính phủ Hoa Kỳ đã chấp thuận cho ông và gia đình thị thực nhập cảnh để xin tị nạn chính trị, sau những áp lực an ninh và chính trị tại Việt Nam.

Ông nói: “Bên phía Mỹ đã nhận gia đình tôi đi định cư, làm đầy đủ thủ tục hết cả rồi, và từ trước đến nay không vi phạm pháp luật…Nhưng phút cuối thì an ninh cửa khẩu nói là tôi không được phép xuất cảnh theo đề nghị của công an tỉnh Phú Yên.

“Rõ ràng là người ta đã gây khó khăn cho tôi và gia đình, mất bao tiền bạc và công sức”.

VOA đã liên lạc Cục Quản lý XNC, Bộ Công an Việt Nam, và Công an tỉnh Phú Yên, yêu cầu cho ý kiến về việc cấm xuất cảnh đối với ông Võ An Đôn, nhưng chưa được phản hồi.

Ông Đôn cho VOA biết việc ông Đôn và gia đình không được phép xuất cảnh diễn ra trước chứng kiến của đại diện của tổ chức Di trú Quốc tế (IOM), cơ quan chuyên hỗ trợ các trường hợp tị nạn và di dân vì lý do chính trị.

Luật sư Đôn được Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam trao giải Nhân quyền năm 2016 vì các hoạt động bảo vệ cho quyền con người, bất chấp rủi ro và đe dọa.

Luật sư Võ An Đôn bị Việt Nam cấm xuất cảnh tị nạn chính trị

BI KỊCH

Lê Vi

BI KỊCH

Có thể chỉ là bi kịch của một gia đình, một số phận khắc nghiệt của hai vợ chồng. Cũng có thể chỉ là một mẩu tin rất nhỏ trong hàng trăm tin nóng đang ngập tràn trên báo chí hàng ngày có thể người đọc sẽ đọc lướt qua. Nhưng tin đó sẽ có người đặt câu hỏi chúng ta đang sống thời kỳ nào mà có những số phận bi đát đến tận cùng như thế này. Có một thời, văn học đã có nhiều tác phẩm tố cáo chế độ thực dân, phong kiến với những nhân vật bế tắc không lối thoát, với những con người ngặt nghèo trong cuộc sống phải tìm đến cái chết. Và người ta kêu gọi đứng lên để đạp đổ chế độ ấy để xây dựng một chế độ tốt đẹp hơn.

Thế nhưng hoàn cảnh của những nhân vật xa xưa ấy chưa đến nỗi khốn cùng như hai nhân vật trong bản tin này. Hiện nay rất nhiều người tham nhũng hàng trăm hàng ngàn tỷ, tài sản nhiều không kể xiết như lão Hòa Thân bên Tàu ngày xưa. Có kẻ dưới vỏ bọc là doanh nhân thành đạt phát biểu hùng hồn chỉ cần có 230 tỷ, hay 100 tỷ là đủ, tiền nhiều chi cho khổ. Nhưng các ông bà ấy không hướng dẫn, giải thích số tiền tỷ đó lấy từ đâu ra, làm sao có được? Có ông lại bảo, tiền nhiều để làm gì? Những ông cán bộ tham nhũng, những doanh nhân thành đạt đó có bao giờ nghĩ đến những số phận không may vì không có tiền chữa bệnh mà phải dùng điện chấm dứt cuộc đời cả vợ lẫn chồng như thế này không? Toà án đang xử kẻ bị kết án là sát nhân. Thế nhưng đằng sau kẻ sát nhân này, ai mới là kẻ thật sự có tội? Ai mới thật sự là kẻ giết người? Chúng ta vẫn là những kẻ bị số kiếp săn đuổi và cũng là những kẻ có tội? Tội nghèo lại dám có bệnh trong xứ sở không còn nhà thương thí.

Cuộc sống sẽ vẫn trôi đi. Những số phận bất hạnh này rồi cũng bị quên lãng theo thời gian. Những số phận khác sẽ lần lượt tiếp nối. Nghĩ cho cùng xã hội chúng ta đang sống đầy những bi kịch. Nhà nước đang ở xa quá, đang bận rộn với những dự án, kế hoạch vĩ mô. Thân phận con người đã bị lãng quên và chấp nhận đầu hàng số phận. Cái chết là sự lựa chọn bởi không còn cách nào khác.

26.9.2022

DODUYNGOC

Cỗ tràng hạt quý chôn theo Công nương Diana

 Cỗ tràng hạt quý chôn theo Công nương Diana

TGPSG / Aleteia — Tử nạn tại Paris cách đây 25 năm, ngày 31.8.1997, công nương Diana, còn được gọi là Lady Di, từng cất giữ một cách thành tín một tràng hạt Mân Côi mà Thánh Têrêsa Calcutta đã tặng cho Lady, và đã được người thân đặt vào quan tài của công nương.

CỖ TRÀNG HẠT QUÝ


Nhìn qua thì chẳng có gì có thể báo trước một tình bạn khắng khít giữa Công nương xứ Wales và Nữ Thánh thành Calcutta, nhưng thực ra thì hai người phụ nữ đó đã gắn kết với nhau bằng mối dây lo toan chung cho những người cùng khổ. Nghe tin Lady Di tử nạn, Mẹ Têrêsa đã gởi lời chia buồn, và nói về Diana rằng: “Cô ấy đúng là đã từng rất lo cho người nghèo. Cô rất mong được làm cái gì đó cho họ và điều đó thật là đẹp. Vì vậy, cô thật gần gũi với tôi.”

Vị nữ tu đã từ trần sau đó vài ngày, ngày 5.9.997. Hai tháng trước, tháng 6/1997, hai người đã gặp nhau ở New York.

Theo báo The Independent, Diana và Mẹ Têrêsa “đã bước đi, tay trong tay, trên đường phố khu Bronx, TP New York… Họ đã choàng tay nhau, ôm nhau và cùng nhau cầu nguyện khoảng 40 phút. Nhân dịp này, Mẹ Têrêsa đã chúc phúc cho công nương”. 
Mẹ Têrêsa có biết rằng cỗ tràng hạt mà Mẹ tặng cho Lady Di đã đồng hành cùng công nương đến nơi an nghỉ cuối cùng không?

Những giờ phút sau cái chết của vị công nương đã được tường thuật chi tiết trên tờ Daily Mail:

Đêm ngày 30 rạng sáng 31.8.1997, khi vị quản gia Paul Burrell của Diana từ cung điện Kensington, Luân Đôn, nhận được tin về cái chết  bi thảm của công nương, ông được lệnh phải đem mọi vật dụng mà Diana yêu thích nhất sang bệnh viện La Pitié-Salpêtrière ở Paris, nơi công nương được đưa tới. Lòng tan nát, ông đi vào căn hộ của Lady Di, “nhìn cái bàn làm việc của công nương trên đó có cây viết và một lọ mực, bên cạnh là tờ giấy ghi danh sách những từ ngữ vốn dùng để cải thiện vốn từ vựng của Lady. Ông cầm vội lấy một chuỗi hạt Mân Côi – mà Mẹ Têrêsa tặng cho công nương, treo trên một bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh – và bỏ vào túi.”

Vừa đến bệnh viện, chính Colin Tebbutt, tài xế riêng của Diana, đã đưa cỗ tràng hạt cho một nữ điều dưỡng mà dặn rằng phải đặt nó vào tay công nương. Cũng được đặt trong quan tài của bà là một tấm ảnh 2 đứa con trai mà công nương vẫn giữ trong ví của mình.

LINH MỤC TUYÊN ÚY BỆNH VIỆN

Được gọi khẩn cấp đến bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Paris, cha Yves-Marie Clochard Bossuet, với tư cách linh mục tuyên úy trực đêm 31.8.1997, đã canh thức 8 giờ liền cạnh thi thể của Lady Di.

Năm nay 73 tuổi, cha Bossuet chánh xứ Notre-Dame des Foyers ở Paris, Pháp, đã tâm tình cùng Aleteia về những ơn thiêng được ban xuống trong đêm đó.

Nhận cuộc gọi vào lúc 2 giờ sáng 31.8.1997, cha Yves-Marie Clochard Bossuet lúc đầu nghĩ đây là trò đùa. Nhưng viên trực ban của bệnh viện cứ gọi lại, nài nỉ và cuối cùng đã cho ngài biết danh tính của người mà ngài được mời đến bên: Lady Diana, Công nương xứ Wales, được đưa đến bệnh viện La Pitié-Salpêtrière trong tình trạng rất nặng, sau một tai nạn xe hơi trong đường hầm dưới cầu Alma, TP Paris. 

From: tao ngo & Kim Bang Nguyen