Truyện ngắn…Bên thắng cuộc” “Việt Nam yêu dấu”

Truyện ngắn…Bên thắng cuộc” “Việt Nam yêu dấu”

“Chú bộ đội ơi! Tiếc quá, hòa bình rồi, không còn chiến tranh để lớn lên cháu được giết kẻ thù như các chú..”

Đó là lời của một đứa trẻ được phát đi trên đài phát thanh từ Hà Nội vào một buổi sáng sớm qua cái loa của trại giam những người “bên thua cuộc” ở giữa rừng Hoàng liên Sơn miền bắc.

Một viên gạch thẻ xây nhà, đánh thẳng vào giữa mặt một tên tù trẻ hình sự miền bắc, khiến hắn đổ gục xuống, nằm bất tỉnh trên đường đất mòn cỏ úa, giữa một đám người đứng vây quanh mà, qua nét mặt, diễn tả sự thành quả của họ như thể là một chiến công lớn trong một “trận chiến” rượt đuổi, vây bắt  kẻ địch… vì nó… đã nhổ trộm một gốc khoai mì..

Ở nhà trường, trong lớp học ở miền bắc, thầy, cô giáo dạy học trò làm tính nhân như sau: “Một quả lựu đạn giết được 5 người, vậy 2 quả giết được bao nhiêu?”

Ở miền nam, thầy, cô lại dạy rằng: “Một trái cam ngọt chia cho 4 em, vậy 2 trái cam ngọt chia được bao nhiêu em?”

Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Đứa trẻ lớn lên, thiện, ác do kết quả giáo dục của nhà trường, dạy dỗ của cha, mẹ và hoàn cảnh sinh hoạt của xã hội.

Bà mẹ Mạnh Tử, xưa kia dạy con đã phải 3 lần dọn nhà: Lần đầu ở cạnh nhà một đồ tể. Hàng ngày bà thấy con mình thường hay cầm dao giả giết heo như người hàng xóm, sợ quá, bà bèn dọn nhà đến một nơi khác. Ở nơi mới này, bà lại thấy con mình cùng đám trẻ hàng xóm giả làm người nhà đòn, chôn khóc người chết. Hóa ra người hàng xóm làm nghề chôn cất. Bà thấy không được, vội dọn đến ở cạnh một trường học. Những ngày sau, bà thấy con mình đòi mua sách, vở, rồi cắp sách, cầm bút giả đi học như những đứa học trò kia. Bà thấy yên tâm, vui mừng, thầm nghĩ: Đây là nơi ở cuối cùng…

Sau này Mạnh Tử trở thành thánh hiền.

Người Việt miền nam tự do và người Việt miền bắc cộng sản thiện, ác khác nhau chính do từ lớn lên trong những môi trường: giáo dục của nhà trường, dạy bảo của gia đình và sinh hoạt của xã hội v.v….

Mới đây, ông giáo sư tiến sĩ Nguyễn hưng Quốc dạy ở đại học Úc có đề cập đến những cái “chết trên quê hương Việt Nam” qua tựa đề: “tại sao người ta tàn nhẫn đến vậy?” Trong đó, ông liệt kê những sự chém giết hung ác, hỗn loạn trong xã hội Việt Nam ngày nay. Cuối bài ông kết luận: “tại Việt Nam bây giờ, bất cứ điều gì cũng dẫn đến cái chết oan nghiệt”.

Một điều chắc chắn rằng chủ trương: “trồng cây mười năm, trồng người trăm năm” của “bác” Hồ, mọi người lớn, bé miền bắc trước kia và, người Việt Nam trong nước bây giờ đều biết.

Như vậy thì rõ ràng kết quả của những con toán nhân qua quả lựu đạn ở nhà trường dẫn đến đứa trẻ than phiền vì hòa bình rồi, không còn kẻ thù để nó giết, chính là kết quả tất yếu của một nền giáo dục… kỹ thuật “trồng người”.

Tại một trại giam những người bên “thua cuộc” ở núi rừng miền bắc, một ông trung úy “tháng ba gẫy súng” đi lạc trong rừng, bị người dân vây vít, hò hét, gậy gộc đánh tới chết, trói tay, trói chân, đòn tre dài xuyên qua, “hồ hởi” khiêng xác đến vứt trước cổng trại. Được bộ đội ân cần cám ơn vì đã lập công giết kẻ trốn trại !!..

Một tên bộ đội tài xế xe molotova, thú tính nổi dậy, âm thầm, lặng lẽ, trèo nhẹ lên xe, nổ máy, vội vã lùi xe, cán chết một bệnh nhân bên “thua cuộc” đang lao động trị liệu nhổ cỏ ở sau xe… Nét mặt lạnh lùng, cười đểu… “lỡ”!…

Tại một đồn điền cà phê ở Ban mê Thuột, chủ nhân là người Hà Nội lùa chó giết người như sau:

3 người đàn bà, 1 già, 2 trẻ, lẻn qua hàng rào vào nhặt mót những hột cà phê sau khi đồn điền đã thu hoạch xong. Chủ đồn điền lẳng lặng thả 2 con chó bẹc-giê ra rượt cắn.Vì sức yếu, bà già không kịp trèo lên cây như 2 cô gái trẻ kia, bị 2 con chó xé xác!!.. Chủ vườn lạnh máu đi mở cũi thả thêm 2 con chó nữa, buông nhẹ một câu: “cho mày chết”!..

Chưa hết: Vợ chồng người em giết chết vợ, chồng anh ruột chỉ vì con mèo của mình qua ăn vụng nồi cá, bị anh ruột đánh chết !!..

2 “cẩu tặc” bị đánh chết vì trộm một con chó !!…

Chê nước mía bán không ngọt bị chủ đuổi theo đánh chết….

Khách nhậu ngồi bàn bên kia, mắt bị lé… Nghĩ hắn nhìn trộm người yêu của mình… đâm chết!!…

Nghiện ngập, túng tiền, dẫn người tình vào khách sạn, sau khi ân ái, giết chết, lấy tiền, lấy vàng, lấy điện thoại di động, lấy xe, đi cầm…

Cướp giật dây chuyền bằng cách chém đứt bàn tay cho chắc ăn… v.v…. Nhiều lắm, kể ra đây không hết… Nói theo kiểu văn chương của người Hà Nội là: “lấy nước biển đông làm mực, lấy lá rừng làm giấy” cũng không đủ để viết hết cảnh chém giết trong xã hội của “bên thắng cuộc” hiện nay…..

Karl Marx, ông tổ của chủ nghĩa duy vật nói rằng: “trong lao động,có phát minh”. Ông Hồ và người Hà Nội lập đền thờ ông và học trò ông Marx như Stalin,Lenin v.v… Dựng ra một trường học lớn có tên là: “viện triết học Marx”, bắt cả nước miền Bắc học tập.

Bắt nguồn từ “trong lao động, có phát minh” đó, cho nên, mới đầu giết người bằng gậy gộc, giáo, mác thô sơ, sau tiến lên đến súng đạn, mã tấu, rồi tinh vi hơn nữa là dao, kéo, cắt cổ, lọc xương, bỏ vào bao bố phi tang… Dã man hơn thời thượng cổ!!

Miền Nam Việt Nam xưa kia, đàn bà đi đánh ghen chỉ xẩy ra có một lần độc nhất tạt át-xít đối thủ là vũ nữ, mà cả vợ lẫn chồng bị mất chức, vào tù… Nạn nhân được gửi đi Nhật để chữa trị. Vũ trường trên cả nước bị đóng cửa…

Ngày nay, đất nước của “bác” và của “đảng”, đàn bà đánh ghen, không chỉ tạt ác-xít, mà nạn nhân còn bị lột trần truồng giữa phố, được công an can thiệp bằng câu: “đó là chuyện riêng”!.. Đúng ý nghĩa: “dân làm chủ”.!.!.. 

Giã từ quê hương mà:“Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại, từ cái mái nhà, cái thềm nhà, cái lối đi, cho đến bụi cây, đám cỏ, cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường..”Đó là lời của bài chính tả trong quốc văn giáo khoa thư mà tôi đã học khi còn bé ở lớp 3 trường làng…

Hơn 70 năm qua rồi, tôi vẫn còn xúc động, vấn vương hình ảnh và cõi lòng lưu luyến của kẻ ra đi trong bài chính tả đó…

Thê thảm thay, ngày30/4/1975, ngày miền Nam được “bên thắng cuộc” “giải phóng”, cả triệu người kinh hoàng, hoảng hốt bỏ chạy, không một ai dám quay đầu nhìn lại quê hương!…. Không vấn vương, không lưu luyến, không hề mang chút tâm sự của kẻ xa nhà nhung nhớ như ở trong bài chính tả kia.

Bây giờ, hơn 46 năm qua, quê hương rách nát, quê hương bệnh hoạn, quê hương phồn vinh giả tạo, quê hương như trái dưa hấu xanh vỏ, nhưng lòng đỏ đã rữa nát… quê hương vô phương cứu chữa !!..

Lỗ Trí Thâm

Viết ở Thủ Đô Tỵ nạn Cộng Sản

Tết Tha Hương – Việt Phương 

Việt Phương 

Hình minh họa

“Chú ơi, đánh giày đi chú.”

Tôi quay lại. Trời ơi, chú bé ốm như con mèo ướt.  “Trời mưa. Ai lại đánh giày?”

Chú bé nói giữa hai hàm răng run cầm cập: “Thế nên từ sáng đến giờ cháu chưa đánh được đôi nào cả.”

Tôi kéo chiếc ghế ra. Thân thiện nói: “Cháu ngồi xuống đây cho đỡ lạnh.”

Chú bé ôm hộp đánh giày khúm núm. Tôi giục hai ba lần chú mới dám khẽ kê mông, ngồi xuống. “Cháu uống sữa đậu nành nóng nghe?”

Chú bé sáng mắt lên. Nhưng chú lại lắc đầu. Tôi biết chú đang đói. Cố ép: “Cháu uống sữa đậu nành, ăn xong cái bánh pâté chaud là chú sẽ để cho cháu đánh giày.”

Chú bé mở đôi mắt tròn xoe nhìn tôi như không tin, lắc đầu:   “Cháu không dám đâu.”

Tôi cười: “Chú đãi cháu mà.”

Chú bé vẫn ngần ngại. Tôi vẫy tay kêu người hầu bàn. Chú bé khẽ dò hỏi: “Thế chú có cho cháu đánh giày không?”

Tôi đùa: “Cháu đánh xong, chú ra ngoài mưa, bùn bắn. Lại như không!”

Mặt chú bé lại tái đi. Nỗi thất vọng chực tràn những giọt nước mắt quanh khoé. Tôi vội trấn an: “Chú đùa thôi.”

Chú bé hăng hái ngồi thụp xuống đất cởi giày tôi ra. Tôi cản: “Từ từ. Chú không chạy đâu.”

Trong lúc đó, người hầu bàn bưng ly sữa đậu nành bốc khói cùng đĩa bánh đến. Tôi nghe chú bé nén nước bọt đánh ực trong cuống họng. Tôi kéo tay chú: “Cháu ngồi lên ghế, ăn đi.”

Chú bé tự nhiên ăn uống một cách ngon lành. Tôi châm thuốc nhìn ra bầu trời trước mặt.

Bên kia đường là chợ Đà- Lạt, người người co ro trong những chiếc áo mưa tơi. Những cô bán hoa ngồi héo mặt trong góc khuất chờ mưa tạnh. Những bà bán trái cây buồn rầu nhìn ông đi qua, bà đi lại; có bà tỉ mỉ lau bóng những trái táo nhập cảng như sợ nước mưa sẽ làm mẹt trái cây chóng thối. Bà bán bún ngồi ủ rũ khều mấy cục than trong lò ra, vì sợ lửa lớn sẽ chóng làm cạn nồi nước lèo. Những người bán rau tranh thủ ngồi nhặt những chiếc lá héo bên ngoài.

Trời Đà Lạt buồn rầu đón thêm một cái Tết lạnh lùng. Không khí như đặc lại bởi cơn mưa cứ nhỏ hạt lê thê. Chợ búa như khép kín với nỗi buồn muôn thuở. Tôi đã nghe những người chung quanh than vãn suốt hai ngày qua. Lạ, Tết đến rồi sao ông trời chẳng cười giùm cho một chút, ông khóc sụt sùi hoài thì dân chúng làm sao mà dám cười?

Tôi nhìn qua khu Hòa Bình. Xe cộ thưa thớt, đường phố đắm chìm trong mưa. Phố Đà Lạt nhỏ, trời mưa khiến những con đường chảy nước ràn rụa, làm tăng vẻ rét mướt. Tôi nhìn lại, chú bé đã uống cạn ly sữa nóng.

Gợi chuyện:

“Ba mẹ cháu đâu? Sao để cháu ra làm thế này?”

“Bố mẹ cháu ngoài Bắc.”

“Như vậy cháu ở với ai?”

“Cháu ở với chúng bạn.”

“Cháu không có bà con gì trong Nam sao?’

“Không. Ngoài Bắc đói lắm, chúng cháu mới rủ nhau vào đây kiếm ăn!”

“Cháu bao nhiêu tuổi rồi hả?’

“Mười hai.”

“Mười hai? Nhìn cháu như mới lên bảy, tám là cùng.”

“Đói quá làm sao mà nhớn được chú?”

Chú bé cười sau câu nói, nhe hàm răng cáu vàng. À, thì ra chú bé cũng biết đùa.

Tôi hỏi tiếp:

“Cháu vào đây bao lâu rồi?”

“Hai năm.”

“Vậy cháu bỏ nhà vào Nam lúc cháu mới mười tuổi?”

Chú bé cãi:  “Cháu không bỏ nhà đi. Bố mẹ cháu cho phép.”

Tôi cười thành tiếng:  “Ừ, thì ba mẹ cháu cho phép. Cháu đi một mình?”

“Không. Cháu đi cùng chúng bạn.”

“Vậy mấy bạn đâu rồi?”

“Chúng cháu chia nhau đi làm. Đêm đến mới gặp.”

“Tối về cháu ở đâu?”

Đứa bé đưa tay chỉ. Tôi bật lên âm thanh hơi lớn, khiến một vài cái đầu trong quán quay lại nhìn:  “Trong chợ?”

Đứa bé gật đầu. Tôi nghĩ, trời lạnh như thế này, rồi chặc lưỡi:  “Tại sao ba mẹ cháu lại để cho tụi cháu đi như vậy?”

“Bố mẹ chúng cháu nuôi chúng cháu không nổi.”  Chú bé thản nhiên trả lời.

Tôi bần thần nhìn đứa bé còi cọc trong chiếc áo “sida” bằng nỉ rộng thùng thình. Chiếc áo vượt không biết bao nhiêu đất trời, từ những người hảo tâm bên Tây, bên Mỹ, về Việt-Nam được hân hạnh khoe mình trên những sạp đồ cũ ngoài chợ trời, với cái tên đầy vẻ“thời thượng” – sida – Tôi biết nếu chủ nhân cũ của nó nghe được chắc chẳng bao giờ dám mang áo quần đi cho.

Lạ, đầu óc tôi khi không lại đảo một vòng quanh thế giới. Tôi nhìn lại mình, nhìn lại chú bé bên cạnh đang kín đáo thè chiếc lưỡi nhỏ liếm vành môi còn đọng lại chút sữa.

Tôi hỏi. Cháu uống thêm ly nữa nhé. Trong khi bàn tay như thói quen kêu người chạy bàn thêm một lần nữa, không để ý đến sự phản đối yếu ớt của chú bé.

Tôi bỗng buồn. Tại sao tôi lại trở về Việt-Nam để thấy lòng mình buồn hơn bao giờ hết? Tôi chợt nghĩ đến những đứa cháu tôi bên Mỹ. Những đứa con nít ở Mỹ mới sung sướng làm sao! Buổi sáng, mẹ chúng phải năn nỉ chúng uống từng hớp sữa trước khi đến trường. Chiều về, lại dán mắt vào TV, hoặc những chiếc máy vi tính. Những trò chơi điện tử, chúng chơi chưa qua một ngày, đã chán!!!

Chú bé rụt rè đặt ly sữa thứ hai xuống bàn. Xong, hăng hái ngồi xuống đất gỡ dây giày tôi ra. Tôi lại kéo chú ngồi dậy, cười:  “Chú có một đề nghị.”

“Gì cơ?”

“Trời mưa, chú đi chơi không được. Cháu làm việc cũng không được. Bây giờ, cháu ngồi nói chuyện với chú, coi như là làm việc với chú. Được không?”

“Thế đôi giày của chú?”

“Chú không cần cháu đánh giày cho chú đâu.”

“Sao cơ?”   Chú bé có vẻ hốt hoảng.

Tôi trấn an:  “Chú trả tiền cho cháu đàng hoàng mà. Đừng lo!”

Tôi hỏi thăm về chú bé, về công việc mưu sinh hàng ngày. Chú bé nói mới thông thạo làm sao. Tôi yêu quá tiếng Việt được nói ra lưu loát từ cửa miệng của một em bé. Đã lâu lắm rồi, tôi chưa có dịp nghe em bé Việt-Nam nói chuyện một cách mạch lạc. Ở Mỹ, tôi đã quen với những tràng tiếng Mỹ xen với những câu tiếng Việt ngô nghê của mấy đứa cháu khi bị ba mẹ lườm mắt, ý không được nói tiếng Mỹ ở nhà.

Chú bé quay qua hỏi tôi:  “Chú về thăm gia đình hở?”

“Chú có đi đâu mà về?”  Tôi nheo mắt trêu.

Chú bé cười, ra vẻ hiểu biết:  “Nhìn chú, cháu biết chú là người nước ngoài rồi.”

“Sao biết?”

Chú bé thân thiện hơn:  “Không sao cả. Biết là biết.”

“Chú cũng là người Việt mình mà?”

“Chú khác với những người Việt ở đây. Chú là Việt kiều!”

“Chú thấy có khác gì đâu?”

“Tại chú không thấy. Nhưng cháu thấy!”

Tôi đổi sang chuyện khác, nói vu vơ:  “Tết năm nay hoa anh đào bị tàn hết vì mưa?”

“Vâng!”  Chú bé vội vã nói tiếp:  “Nhưng cháu thấy hoa đào ở ngoài cháu đẹp hơn nhiều.”

“Phải!”

Chú bé reo lên: “Chú cũng thấy nữa sao?”

“Chú chưa ra Bắc lần nào, nhưng chú thấy trên phim ảnh.”

“Ở ngoải cũng có phim ngoài Bắc nữa sao?”

Tôi bật cười vì khi không chú bé lại nói giọng Nam:  “Phải, ở ngoải cũng có. Chú thấy những cành hoa đào thật đẹp ngoài Bắc.”

“Đẹp mà làm gì hở chú? Nhà cháu không bao giờ ăn Tết bằng hoa đào.”

“Ai lại ăn Tết bằng hoa đào?”

Chú bé không hiểu tôi đùa. Nghiêm giọng:  “Thật đấy chú. Đắt lắm chú ạ. Có cành cả bạc triệu cơ đấy. Chỉ có nhà giàu mới sắm hoa đào ăn Tết!”

“Thế Tết cháu không về, ba mẹ có mong không?”

“Tiền đâu mà về chú. Cháu để dành tiền vé xe lửa gửi về cho bố mẹ còn hơn!”

“Cháu nhớ nhà không?”

“Cháu nhớ lắm chú. Cháu nhớ cái Hà nữa cơ. Cái Hà em cháu còn bé mà ngoan lắm, giúp được việc cho mẹ cháu lắm!”

Tôi cao giọng, vui lây với chú bé đôi mắt cứ nhấp nháy khi nhắc đến đứa em gái:

“Cái Hà giúp được việc gì nào?”

“Cái Hà giúp mẹ cháu đi nhặt lúa rơi.”

“Thế ba mẹ cháu làm gì?”

“Bố mẹ cháu làm nông. Nhưng bây giờ cũng ít ruộng để làm rồi.”

“Sao vậy?”

“Người ta lấy ruộng để xây nhà hết.”

“Thế hả?”  Rồi tôi trầm ngâm.

Chú bé hỏi:  “Chú cũng về quê ăn Tết à?”

Tôi thở dài:  “Chú không có quê. Chú không còn ai thân ở Việt-Nam cả!”

“Thế chú về làm gì? Ở ngoải sướng hơn. Cháu nghe nói bển cũng có bánh tét, bánh chưng, có… đủ thứ. Đâu cần phải về!”

Tôi cười xòa:  “Chú đâu thèm bánh tét, bánh chưng,… Thế cháu thèm bánh tét, bánh chưng lắm phải không?”

Tôi bật cười hồn nhiên. Khi không, nói chuyện với chú bé một hồi, chú bé lại giả giọng Nam, tôi lại lái qua giọng Bắc.

Chú bé le lưỡi:  “Cháu thèm bánh chưng. Mà đắt lắm chú ơi. Nhưng cháu nhất định sẽ ăn nó vào Tết năm nay!”

Chú bé nói chữ  “nhất định” nghe ra thật cương quyết. Tôi thấy bồi hồi. Ước mơ và mục tiêu của em bé nghèo Việt- Nam chỉ đơn giản như thế sao?”

Tôi khỏa lấp:  “Tại sao lại nhất định?”

Chú bé cắt nghĩa:  “Này nhé. Chúng cháu gửi tiền về nhà. Còn dư, chúng cháu góp lại mua được những hai chiếc bánh chưng lận!”

Tôi cười: “Mấy đứa mà những hai chiếc lận?”

“Lẽ ra là mười đứa. Nhưng hai đứa xuống Phan-Rang nhảy tàu về quê, còn lại tám đứa. Cháu tính rồi, mỗi đứa được một phần tư cái. Cháu mong cái Hà năm nay cũng được ăn bánh chưng như cháu!”

Tôi quay mặt nhìn xuống lòng đường. Nước cuồn cuộn dưới chân. Vài chiếc xe hơi đời mới chạy ngạo nghễ bắn bùn vào khách bên đường, để lại những tiếng chửi rủa tục tằn. Chú bé tò mò nhìn tôi. Chắc chú chẳng hiểu tại sao mắt tôi lại ngầu đục?

Trở về Đà Lạt lần này, tôi muốn ăn Tết với gia đình người bạn thân thời trung học một cách bất ngờ. Nhưng dự định của tôi tiêu tan! Bao nhiêu năm rồi, nếu lòng tôi không thay đổi, chưa chắc người khác đã không đổi thay như tôi. Bây giờ tôi mới biết, hoàn cảnh và môi trường sống khác nhau đã khiến con người ta khó thể gần gũi nhau được. Bạn bè ngày xưa từng mặc áo lẫn nhau, bây giờ nhìn lại mới thấy thời gian đã làm thay đổi nhiều quá! Không có gì tồn tại mãi!

Tôi lần mò đến con dốc cũ, chẳng buồn biết nó có bị thay tên hay chưa? Đà Lạt không có những thay đổi lớn lao, ngoài khí trời hình như không còn lạnh như năm nào.

Căn nhà cũng như xưa,  không được sửa sang, trông già nua quá thể, giàn hoa giấy cũ đã bị chết khô tự bao giờ! Và, cánh cửa gỗ nứt nẻ không buồn sơn phết lại. Tôi gõ cửa. Người đàn ông yếu đuối, tóc lưa thưa bạc phếch, mở cửa nhìn tôi bằng đôi mắt mệt mỏi.

Tôi lễ phép:  “Thưa bác có Thuần ở nhà không ạ?”

Người đàn ông ngạc nhiên, cau mày nhìn tôi một thoáng rồi bảo tôi vào nhà ngồi chờ.

Một lúc khá lâu, cũng người đàn ông ấy chậm rãi bước ra, vỗ vào vai tôi:   “Thằng Thuần không có ở nhà con à.”

Chưa kịp che giấu nỗi thất vọng hiện ra trên khuôn mặt tôi, thì người đàn ông lại đánh đét vào đầu tôi, la lớn, giọng Huế đặc sệt:  Tuân ‘tồ’!! ‘Mi không nhận ra tau hỉ?”

Bây giờ thì đến phiên tôi ngạc nhiên:  “Sao bác lại biết tên tục của cháu?”

Người đàn ông đấm mạnh vào vai tôi: “Bác cái mả cha mi! Tau là Thuần đây, khỉ à!!!”

Tôi há hốc miệng:  “Trời ơi! Mày… mày giống ba mày quá!”

“Mi lại nói móc tau đó hỉ? Con khỉ, nói tau già thì nói đại đi! Bày đặt!!!”

Tôi ngượng ngùng:  “Mấy chục năm rồi mày à. Nói thật, tao không nhận ra mày! Chỉ thấy có nét giống ông cụ nên tao tưởng là bác trai chứ???”

Thuần cười móm mém:  “Tau hiểu. Đời sống khó khăn. Mau già lắm!”

Tôi nheo mắt cười. Thuần đổi giọng:  “Về hồi nào vậy?”

“Một tuần rồi. Tao mới lên Đà Lạt ngày hôm qua! Ở Mỹ hàng năm có tổ chức sinh hoạt cựu học sinh, anh em vẫn thường nhắc tới mày!!!”

Thuần lơ đãng: “Thế à!”

Tôi nhìn vào mắt Thuần, đục ngầu màu khói thuốc. Thuần già đến nỗi tôi không thể nào tưởng tượng ra được! Ngày còn đi học, Thuần chăm chút hình hài lắm! Sau một cuộc thất tình, Thuần bỏ ngang năm thứ hai Luật khoa, đi lính!!!

Sau đó chúng tôi ít gặp nhau, nhưng vẫn thường xuyên liên lạc. Năm 1979, tôi vượt biên, nghe đâu Thuần vẫn còn bị học tập cải tạo.

Thuần mang đầy mặc cảm, tự ái! Thuần ăn nói nhiều khi rất cay độc với người, và cả chính mình!

Tôi thân với Thuần vì học cùng lớp thời trung học, lớn lên trong một thành phố. Xong tú tài hai, chúng tôi cùng xuống Sài-Gòn ghi danh vào trường Luật, ở chung phòng trọ.

Khi ra đi, tôi mang theo rất nhiều kỷ niệm thời thơ trẻ cùng Thuần. Trở về, tôi có rất nhiều điều muốn nói với anh, nhưng khuôn mặt Thuần lạnh căm, không bày tỏ một chút xúc cảm, làm tôi thấy thất lạc!

Thuần hất hàm:

“Ở khách sạn hả? Đúng rồi, Việt kiều phải vậy chứ? Ở nhà rách chắc không quen!”

Tôi nhăn nhó: “Mày nói nghe nhột quá!”

Thuần đổi đề tài: “Hai bác và mấy đứa em mi bên đó vẫn khỏe chứ?”

“Ba mẹ tao đã qua đời. Mấy đứa em vẫn khoẻ.”

Thuần chặc lưỡi: “Ba mạ tau cũng vậy. À! Ngôi nhà của gia đình mi nhà nước cấp cho cán bộ cao cấp, họ sửa lại thành biệt thự đẹp lắm. Mi tới đó chưa?”

“Tao định thăm mày xong tao qua đó coi cho biết.”

“Ừ ngôi biệt thự đó bây giờ không rẻ đâu. Phải rồi, nghe nói mi vừa ly dị?”

Tôi thở nhẹ: “Năm năm rồi.”

Thuần đùa: “Tin tức đi chậm, nhưng chính xác! Mấy cháu?”

“Một. Ở với mẹ nó.”

“Về đây kiếm vợ hả?”

“Mẹ. Mày đừng có đùa. Tao già rồi!”

“Mi còn “sữa” chán. Lúc xưa ai cũng kêu mi là “tồ” vì lớn con nhất đám. Không ngờ bây giờ trông mi “sữa” nhất đám!”

Tôi đùa: “Bộ mấy cô thích “sữa ông già” như tao lắm sao?”

“Sữa gì cũng thích. Sữa Hà-Lan, sữa Con Chim, sữa Ông Già, sữa quá đát (date)… miễn là hàng ngoại!”

Tôi cười lớn:  “Ông cũng còn giễu như lúc xưa!”

Thuần cũng há miệng cười thành tiếng, không thèm che đậy chiếc răng cửa đã rụng:  “Giễu để mà sống chứ!”

“Bộ liệt tao vào thứ hàng ngoại thiệt sao?”

Thuần nhìn tôi từ đầu đến chân:  “Mi là hàng ngoại một trăm phần trăm!”

Tôi chưa kịp mở miệng. Thuần lại tiếp:  “Áo da của Mỹ, áo thun của Mỹ quần bò của Mỹ. Cả đôi giày cũng Made in USA tuốt! Thế mà không phải là hàng ngoại một trăm phần trăm à???”

Tôi thấp giọng:  “Đừng giễu nữa. Tao là người Việt-Nam một trăm phần trăm!”

“À! Điều này chỉ có mi biết! Ra đường ai nói mi là người Việt-Nam đâu. Họ bảo mi là Việt…. kiều!!!”

Tôi xua tay đổi đề tài: “Mày càng nói càng đi xa vấn đề. Bà xã đâu? Con mày ra sao?”

Thuần thở dài:  “Tau cứ bịnh lên bịnh xuống, nên bả phải lo chạy gạo! Tụi con tau lớn hết trơn rồi. Chúng nó cũng sống trôi nổi lềnh bềnh như tau! Chỉ có đứa út là dính vào vợ chồng tau, trôi được khúc nào hay khúc đó.”

Tôi nén tiếng thở dài.

Tôi đứng dậy cáo từ. Thuận tay, tôi xoa đầu cậu bé đang khép nép bên khung cửa, tôi nghĩ là con út của Thuần.  Tôi khéo léo nhét vào túi áo cháu ít tiền. Rồi đi!

Nhìn gia cảnh Thuần, tôi hiểu nó túng thiếu lắm! Năm cùng tháng tận!!! Không có một bình hoa trên bàn thờ. Ngay cả ly nước trà cháu mang cho tôi uống cũng rất loãng. Tôi hiểu bạn tôi lắm. Nhưng tôi không biết chia sẻ bằng cách nào. Bạn tôi tự ái rất cao!!!

Thành phố bắt đầu lên đèn. Cơn mưa còn chút bụi nước bay lất phất qua những ngọn đèn đường trên cao.

Chú bé níu áo tôi:  “Chú thật không muốn đánh giày hả?”

Tôi giật mình nhìn chú bé, thương hại:  “Chú không đánh. Hôm nay là bao nhiêu rồi nhỉ?”

“Hai chín Tết!”

“Sao không thấy chợ Tết hả cháu?”

“Mưa quá. Người ta nhóm chợ bên trong!!!”

“Thế làm sao cháu ngủ?”

“Đợi đêm đến chúng cháu mới lẻn vào!”

Tôi xoa đầu đứa bé:   “Chúng ta kiếm cái gì ăn không?”

“Cháu không dám đâu!!!”

Tôi đùa:  “Dám một chút đi mà!”

Đứa bé cương quyết:  “Cháu thật không dám!”

Tôi móc tiền cho chú bé. Số tiền nhỏ lắm đối với tôi, nhưng có thể là cả ước mơ của chú bé! Cho chú bé và các bạn tha hồ ăn bánh chưng năm nay.

Chú bé tròn mắt nhìn tôi, ngần ngại. Tôi dúi tiền vào tay chú. Chú cầm lấy, miệng lí nhí cảm ơn – hình như hai tiếng cảm ơn rất khó nói đối với chú – rồi, chú vùng chạy. Hộp đồ nghề đánh giày lắc lư một bên. Cứ chạy dăm ba bước, là chú bé dừng lại, ngoái đầu nhìn tôi. Có thể chú đang sợ tôi đổi ý, đòi tiền lại chăng?

Tôi đưa bàn tay lên vẫy, bỗng thấy hụt hẫng vô cùng. Tôi nhìn theo cho đến khi chiếc bóng nhỏ bé kia lẫn trong màn sương.

Đêm hai chín Tết. Không biết đêm mai tôi đón giao thừa ở đâu? Ngay trong khách sạn, một mình? Không biết Tết năm nay đến với tôi là năm thứ mấy mươi tha hương? Riêng chú bé thì hẳn tôi đã biết mấy năm chú tha hương rồi!!!

Việt Phương

Một Kiếp Người – Khánh Giao BS Phùng Văn Hạnh

Khánh Giao

BS Phùng Văn Hạnh

Cách mạng Mùa Thu 1945, tiếp theo là Toàn quốc kháng chiến 1946, là những thời điểm mà thế hệ lưu vong trên 70 tuổi nhớ đến với nhiều nỗi đau thương, ngậm ngùi. Riêng tôi kỷ niệm tản cư những năm kháng chiến chống Pháp thật khó quên. Gia đình tôi bỏ làng ở tỉnh Quảng Nam, chạy vào tận Bình Định. Lúc đầu sống ở Bồng Sơn sau dời lên Hội Yên, và sống ở đó cho đến ngày hồi cư về làng cũ. Một kỷ niệm khó quên là sông Lại Giang. Sông xuất phát từ thung lũng An Lão, chảy ra cửa biển Bàu Tượng, xuyên qua các cánh đồng phì nhiêu quận Hoài Ân, Hoài Nhơn. Về mùa đông, con sông thu hẹp, cạn dòng, trừ khi lũ lụt. Trái lại mùa nắng, mức nước sông lên cao, chảy chậm lại vì cứ độ một cây số thì có hệ thống dẫn thủy nhập điền gọi là “bờ xe gió” hay “dàn xe gió”(noria): Vào đầu Xuân, các làng ven sông bắt đầu đóng cừ ngang sông, ghép vỉ tre vào cừ, làm thành đập chắn, dồn nước vào một lạch chảy xiết sát bờ. Một giàn chừng 5 đến 10 bánh xe đặt ngang qua lạch. Giàn là một kiến trúc giống như sườn một căn lầu hai từng gồm những cột gỗ đóng sâu vào lòng lạch, và những xà ngang dọc, nối kết vào cột, bằng dây mây. Giàn có nhiều ngăn, và trong mỗi ngăn là một bánh xe. Xà ngang nâng bánh xe có khấc lót sắt cho trục tựa vào. Mỗi bánh xe, có trục gỗ bịt sắt hai đầu, từ đó các nan gỗ dài 3m tỏa ra nâng vành có bề ngang 1m. Tất cả đều ghép lại bằng những sợi mây, do những thợ chuyên nghiệp làm. Những tấm vỉ tre cản nước 1m X 1m, được cột, cách khoảng đều đặn, vào đầu mút nan, sát vành. Nước đẩy những tấm vỉ làm bánh xe quay trên trục. Các ống tre lồ ô, có đáy là mắt tre, và có miệng hướng lên cao khi vành xe được nâng lên khỏi mặt nước sông, cột nghiêng 45 độ trên vành, múc nước. Lên đến đỉnh, ống tre nằm ngang, trút nước vào các máng xối dẫn nước vào ruộng. Giữa các bờ xe gió, là những hồ nước xanh biếc, phẳng lặng. Bờ cừ cũng chừa một lối hẹp ở giữa dòng sông cho đò dọc đi lại. Hội Yên là một làng nông nghiệp ven sông Lại Giang, có xưởng dệt vải Ba-ta (của dân tản cư từ Phú bông, Quảng Nam vào), có xưởng giấy sản xuất loại giấy màu vàng sẫm (vì thiếu hóa chất tẩy bột giấy), có Ủy Ban Kháng Chiến Miền Nam (UBKCMN) trấn đóng, nên cuộc sống ở đây có phần náo nhiệt. Với tôi, Lại Giang thay thế Thu Bồn nơi quê cũ, cũng đầy ắp kỷ niệm thiếu thời: tắm sông, chèo thuyền…

Kháng chiến chống Pháp bước vào năm thứ sáu. Liên khu 5 từ Đèo Hải Vân vào đến Bình Thuận, gồm cả Cao Nguyên Trung Phần là một quân khu lớn. Từ Đèo Cả vào Nam, toàn bộ Cao Nguyên, và hơn nửa tỉnh Quảng Nam mạn Bắc, là vùng xôi đậu hoặc hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Pháp, và chính quyền Quốc gia thời Bảo Đại, nhất là các thị xã, quận lỵ, và thành phố. Vùng hoàn toàn do UBKC Liên khu 5 kiểm soát gồm nửa tỉnh Quảng Nam mạn Nam, tỉnh Quảng Ngãi và Phú Yên. Năm 1952 Liên quân Pháp và Bảo an Đoàn, trong chiến dịch Atlante, đổ bộ lên Qui-Nhơn, và Tuy hòa, (thành phố bỏ ngỏ do tiêu thổ kháng chiến), rồi lan tỏa ra các vùng phụ cận, thu hẹp phạm vi kiểm soát của UBKC. Vợ chồng Bác sĩ Hoa, làm việc ở Bệnh viện Song Thanh, gần Qui-Nhơn, phải di tản ra làng Hội Yên. Họ tá túc trong nhà ông Chánh Bích, một địa chủ giàu có trong làng. Trang trại ông Bích là một khu vườn rộng lớn gần một mẫu tây, có hàng rào xương rồng dày, kín, vây bọc bốn phía. Cổng vào là một ngôi nhà nhỏ, lợp ngói, khép lại bằng hai cánh cửa lim. Tiếp theo cổng là lối đi vào nhà, giữa hai hàng dâm bụt cắt xén đẹp mắt, và những chậu hoa lớn, trồng đủ thứ hoa nhiều màu, thơm ngát. Bóng mát những cây ăn quả làm lối đi mát rượi. Rời lối đi rợp mát, khách bước vào sân gạch rộng lớn, chan hòa ánh sáng, mà vào mùa gặt dùng để phơi lúa. Một dãy nhà dài, lợp ngói đỏ, có hàng hiên rộng, làm thành chữ U, bọc hai bên và chính diện sân. Vườn sau dãy nhà là thế giới êm mát, rợp bóng cây ăn quả. Gia đình tôi đã thuê một góc vườn, dựng một mái nhà tranh để ở. Chính vì thế mà tôi có dịp gần gũi hai ông bà Bác sĩ Hoa.

BS Hoa đã tốt nghiệp Y khoa, đại Học Paris năm 1942. Vợ ông, bà Khương Băng Tuyết, tốt nghiệp viện Quốc gia Âm Nhạc Paris khoa Dương cầm cùng năm ấy. Ông, quê Đà Nẵng, con một phú thương. Cha ông có tàu buôn lớn, chở hàng đi về các cảng Sài gòn, Hải Phòng,Vinh, và là chủ nhân những dãy phố cho thuê, dày đặc ở Đà Nẵng. Bà quê Sài gòn cũng con một đại phú gia. Hai người đã quen biết nhau ở Paris, trong một buổi họp mặt sinh viên du học, và một tình yêu lớn đã nảy nở, trong khung cảnh lãng mạn của kinh đô hoa lệ nhất Châu Âu. Sau ba năm say đắm, tràn đầy hạnh phúc, cộng với nỗi mừng vui đỗ đạt, công thành, danh toại, họ hối hả về Việt Nam để thành hôn cuối năm 1942. Lễ cưới được cử hành ở Sài gòn thật linh đình. Rước dâu về Đà Nẵng phải thuê bao cả hai toa tàu hạng nhất. Lễ ra mắt cô dâu ở họ nhà trai cũng linh đình không kém. Đám cưới xong, đôi tân hôn đi hưởng tuần trăng mật ở Ý, rồi ghé Paris để sống lại kỷ niệm thân thương. Ba tháng sau họ trở về Đà Nẵng. Nhưng không phải là để mở phòng mạch hành nghề. Cả hai ông bà đều là con một, và cùng kế thừa một sản nghiệp đồ sộ của đôi bên phụ mẫu đã qua đời vài năm sau. Các nghiệp vụ doanh thương đã có những gia nhân thân tín đứng cai quản, và hàng tuần báo cáo thu nhập. Vì thế BS Hoa thấy không phải hành nghề chi cho mệt, mà cùng vợ hưởng thụ cuộc sống thư nhàn, đi du lịch khắp nước, từ Bắc, chí Nam. Họ giao du rộng rãi và như Mạnh thường Quân, trong nhà lúc nào cũng đầy thực khách, và cả ba, bốn bàn mạt chược. Nhưng biến cố năm 1945 dồn dập đến: Cách mạng Mùa Thu rồi Toàn quốc kháng chiến. Pháp trở lại tái chiếm Đà Nẵng. Ông Cử Diện, cha BS Hoa, xưa kia đã từ quan thời Pháp để xoay qua kinh doanh. Ông đã giúp đỡ rộng rãi phong trào yêu nước Đông du, cấp học bổng cho học sinh giỏi và có chí hướng du học Pháp. Vì thế BS Hoa, cũng chẳng ưa gì chế độ thực dân, đã chọn lựa đi tản cư, khi thành phố lọt vào tay Pháp. Hai ông bà đã gói ghém vàng bạc, nữ trang đi vào tận Quảng Ngãi rồi Bình Định. Bà không quên mang theo đàn dương cầm, mà sự chuyên chở kềnh càng tốn tiền không ít. Ngày mà bà chở dương cầm về Hội Yên, ít nhất phải sáu người lực lưỡng mới đem được đàn xuyên qua cổng nhà ông Chánh Bích.

Ở lứa tuổi 16, lối sống của ông bà BS Hoa thu hút trí tò mò của tôi. Ông lúc ấy độ 30 tuổi, nét mặt nghiêm nghị, thanh tú, trí thức. Bà khoảng 25, với vẻ đẹp quý phái, cân đối, khỏe mạnh, đúng như lời thơ ông tặng bà lúc mới quen nhau:

…Xinh xinh sao thân nở đặn đầy

Xinh xinh sao đôi má hồng hồng

Xinh xinh sao nụ cười êm ái

Xinh xinh sao dáng đi quý phái

Xinh xinh sao vầng trán phẳng phiu

Xinh xinh sao mái tóc mỹ miều

Mái tóc xõa của tuổi xanh ngăn ngắt

Và đôi mắt, ồ đôi mắt

Là một trời tình tứ, ngây thơ..

Ngước nhìn, anh những thẫn thờ,

Nàng tiên tiền kiếp, trong mơ đây rồi…

Trong khi mọi người ăn mặc xuềnh xoàng với vải ta sần sùi, ông bà với áo quần vải vóc ngoại mượt mà, trắng tinh hoặc màu sắc óng ả. Ban ngày khi ông đi làm ở bệnh viện Liên khu cách Hội Yên một cánh đồng, bà ở nhà, làm bếp, trồng hoa, và nhất là đàn dương cầm cả giờ. Bà không đi chợ mua đồ ăn, mà gửi tiền, nhờ người khác mua. Để tránh con mắt tò mò, ông bà ít ra ngoài. Thảng hoặc có đi dạo trong làng thì lựa ban đêm, trên những hẻm mờ tối. Thấy tôi nghe lén bà đàn, bà nẩy ý dạy tôi đánh đàn. Nhờ cách dạy tận tâm và có phương pháp, tôi tiến bộ nhanh. Tôi bước vào thế giới huyền diệu của âm thanh qua các bài menuet đơn giản nhưng réo rắt, những bài Songe d’été, Princesse Czardas, La prière d’une vierge, La chapelle au clair de lune, Lettre à Élise, v.v… dịu dàng thơ mộng. Những bài bà đàn thì rất khó và dài dặc của những nhạc sĩ cổ điển nổi danh, như Beethoven, Bach, Mozart, Chopin, Mendelssohn, Brahms, cùng rất nhiều nhà soạn nhạc khác mà tôi không nhớ hết. Tôi nghe tâm tình bà qua bài “sonate au clair de lune” của Beethoven, lúc xao xuyến, lúc hối tiếc, giận dỗi và sự thanh thản cuối cùng. Bà kể tôi nghe Beethoven lúc nhỏ đã bị cha xiềng chân vào đàn, để tập đánh đàn cả ngày cho giỏi. Bà cũng kể uy lực của âm nhạc qua chuyện nhạc sĩ nầy có cô học trò cũ đến thăm, thổ lộ ông nghe nỗi buồn vô vọng vì đứa con mới chết. Ông không nói gì, ngồi trước dương cầm, dạo những khúc nhạc êm ái đến nỗi một giờ sau, người học trò thấy lòng thanh thản trở lại, vơi đi nỗi buồn mất con… Bà cũng kể khi mới về làm dâu, cha mẹ chồng nghe bà tốt nghiệp dương cầm, bèn bảo bà đánh đàn cho nghe. Ngồi trước phím đàn, bà e lệ hỏi:

-Thưa ba mẹ muốn con đàn bài gì?

Bà mẹ chồng âu yếm bảo:

-Con đàn sáu câu vọng cổ cho ba mẹ nghe.

Bà đã khóc thầm, trong bụng thấy tủi, vì công phu mình học thật quá thừa để đàn 6 câu vọng cổ đơn giản. Phải chi nói mình đàn sonate của Beethoven hay mazurkas của Chopin cho thỏa chí.

Qua những chuyện bà kể, qua đối thoại tâm tình của hai ông bà, tôi biết mối tình họ được xây đắp trong sự hài hòa, quên mình, lắng nghe nguyện vọng của nhau để đem lại niềm vui cho người mình yêu. Tôi biết được Paris có sông Seine chảy về hướng Tây (nước ta phần lớn sông đều chảy về Đông) và chia Paris thành hai phần Nam (tả ngạn), Bắc (hữu ngạn). Trung tâm thành phố là nhà thờ Notre Dame nằm trên cù lao giữa dòng sông Seine. Từ trung tâm ấy, Montmartre với đền thờ Sacré Coeur ở hướng Bắc. Hướng Nam là Montparnasse. Quảng trường Bastille ỏ hướng Đông. Tháp Eiffel cao vọi ở hướng Tây. Vì những cuộc hẹn hò trên các nẻo đường Paris, mà họ thuộc thành phố rộng lớn nầy như trong lòng bàn tay, chỗ nào có cà-phê ngon, chỗ nào có tiệm ăn Việt Nam, tiệm Mandarin bán tới con vịt số mấy. Họ tìm kỷ niệm nhiệt đới ở đường Cherche Midi. Họ đi trên “bâteau mouche” để nhớ lại kỷ niệm chuyến đi trước. Họ lang thang trên những nẻo đường ngoại ô, tay cầm tay, nói không bao giờ hết chuyện như: -“trời hôm nay đẹp”õ, -“ừ, trời hôm nay đẹp thật” –“anh có nhớ mình quen nhau lúc nào?”, -“Em có biết tối qua, nhớ em không ngủ được” v.v…

Ông Chánh Bích có một thuyền gỗ dài độ 10m. Giữa thuyền là một căn nhà nhỏ 3m X 4m có mái lợp cót che mưa nắng, có cửa sổ treo rèm hai bên, có cửa ra vào, đằng lái và đằng mũi. Trong nhà nhỏ có một bộ bàn ghế tiếp khách. Thời trước ông hay đi lại trên Lại giang, hoặc tiếp đãi bạn bè trên thuyền nầy. Nhưng từ ngày Cách mạng Mùa Thu, ông biết chính quyền không ưa gì lối sống tư sản, nên ông không dùng thuyền nữa, mà chỉ cho mượn đãi khách. Ông bà BS Hoa đã mượn thuyền để thưởng thức vẻ đẹp đêm trăng trên Lại giang, nhân kỷ niệm 10 năm thành hôn. Vì biết chèo thuyền nên tôi được tháp tùng hai ông bà. Hôm ấy cũng có BS Đồi, đi xe đạp trên 100km, từ Quảng ngãi vào thăm. Chúng tôi 4 người, đợi hoàng hôn xuống, mới rời nhà ra bến xưởng giấy, mang theo đèn cầy, trà, bếp cồn cùng đồ ăn. Trăng rằm đã lên ở chân trời, tròn, sáng. Hàng dừa hai bên bờ sông, lá đung đưa theo gió, lấp lánh ánh trăng. Mặt nước phẳng lặng in trăng xuống đáy, lan tỏa những vòng vàng rực.

Chúng tôi xuống thuyền. Tôi mở dây buộc thuyền và ra sau lái khua chèo, nhẹ nhàng đẩy thuyền ra giữa sông. Đến nơi tôi thả neo, giữ thuyền đứng yên một chỗ. Tôi giúp khiêng bàn ra đằng mũi, chúng tôi ngồi vào bàn, im lặng ngắm vẻ đẹp chung quanh: Bầu trời có ít vẩn mây, sâu thẳm. Trăng lên cao một ngọn sào trên chóp hàng dừa, tỏa ánh sáng bàng bạc trên sông. Dàn xe gió lấp lánh dưới trăng, nước đổ ra trên máng xối như những dòng bạc sáng lung linh. Tiếng nước đổ rào rào, tiếng trục xe gió mài trên đà nâng, rên rỉ kéo dài nghe thật buồn. Tình tự xa quê nhà vì tản cư, nỗi khổ chiến tranh, làm chùng lòng mọi người. Bà BS Hoa lên tiếng trước phá tan im lặng: “Tôi vào trong pha trà, nấu chè và sửa soạn thức ăn.” Tôi vào giúp bà và để hai bác sĩ ngồi tâm sự với nhau. BS Đồi có mang theo một hộp phó mát Canembert và hai ổ bánh mì dài. Ông có người bà con, là gián điệp nhị trùng, đã lén mang những thức ấy từ Đà Nẵng vào cho ông. Vì muốn chia với bạn thân, ông phải giấu của “quốc cấm” ấy vào xách tay, và lặn lội đường xa. Tối hôm ấy, sau khi chúc vợ chồng BS Hoa tràn đầy hạnh phúc, chúng tôi bắt đầu ăn bánh mì với phó mát, mà gần 7 năm không được ăn, một món ăn không có gì đặc biệt ở Paris hoặc Đà Nẵng, song trong hoàn cảnh tản cư hiện tại, quả là ngon tuyệt, mặc dù bánh mì đã lâu ngày, không còn giòn và ngọt. Hai ông bác sĩ còn uống thêm rượu đế, để giải sầu. Sau đó tráng miệng với chè đậu xanh đánh, mùi vị rất ngon, mà bà BS Hoa đã nấu từ chiều với một “recette” đặc biệt. Cuối cùng là uống trà Bắc Thái, mà một cán bộ miền Bắc vào, tạ ơn BS Hoa đã chữa trị cho anh ta bệnh sốt rét. Trà ngon thơm, và làm mọi người tỉnh ngủ. Hai bác sĩ, ngồi giữa sông, không sợ tai vách, mạch rừng, đã phê bình những mưu toan UBKCMN che đậy dã tâm xích hóa cuộc kháng chiến, dành công đầu cho đảng Lao động, một đảng Cộng sản trá hình. Sự bất mãn của họ giải nghĩa vì sao họ trốn về thành, chừng sáu tháng sau cuộc gặp gỡ trên. Trăng đã xế về Tây lạnh lùng, xa vắng. Chúng tôi đi nghỉ. Hai vợ chồng BS Hoa trải chiếu nằm trong phòng nhỏ. Tôi và BS Đồi nằm dưới trăng ở mũi thuyền. Vì uống trà, tôi trằn trọc, khó ngủ, và nghe vợ chồng BS Hoa to nhỏ, âu yếm. Đến gần sáng thì tôi chợp mắt ngủ.

Cũng nhờ có tiền, ông bà BS Hoa đã móc nối với ngư dân ở Tam Quan. Một ngày cuối tuần họ giả đi tắm biển. Trong đêm tối họ xuống thuyền buồm, ra khơi. Chuyến đi trót lọt, và hai ngày sau họ đã về đến bãi biển Sơn Chà. Trình diện với cơ quan an ninh thành phố xong, ông bà được bạn bè cũ đến bảo lãnh. Vì ngôi nhà cũ bị lính Pháp trấn đóng, ông bà phải lang thang sống nhờ người quen, đồng thời mướn luật sư, tìm cách lấy lại tài sản cũ. Lúc ra đi tản cư vội vã, không mang theo giấy tờ sở hữu nhà đất. Giấy tờ của sở nhà đất chính phủ cũng bị cháy rụi, lúc giao tranh trong thành phố. Các nhà cho thuê nay có chủ mới. Riêng những tàu buôn thì phần bị phá hoại, lúc Pháp tái chiếm cảng Đà Nẵng, phần bị trôi dạt mất tăm. Tài sản bên bà BS Hoa ở Sài gòn lại càng khó thu hồi lại được, vì không tìm lại được gia nhân cũ, và những chứng từ sở hữu. Vì cứ đinh ninh sẽ trở về lối sống nhàn nhã trước kia, hai ông bà theo đuổi kiện tụng, cả ở Sài gòn và Đà Nẵng. Rốt cuộc chỉ đòi lại được hai căn nhà nhỏ, nhưng phải bán đi để lo luật sư. Thế là phải lang thang sống nhờ bạn bè. Nhưng tình bác ái lâu ngày rồi cũng mệt mỏi. Bạn bè xa lánh, và có người nói xúc phạm. Hai ông bà thấy tủi nhục, ôm nhau khóc lóc cho tình đời đen bạc. Ông bà bàn định sẽ cùng nhau tự tử. Thuốc ngủ đã mua hai liều mạnh. Trong tuyệt vọng não nề, bỗng ông sực tỉnh:

-“A quên mình còn cái bằng Bác sĩ.”

Thế là hai ông bà đứng lên, hăng hái kiến tạo cuộc đời mới. Họ vay mượn bạn bè ít vốn để mở phòng mạch. Ba năm sau họ đã trang trải được nợ nần, mua xe, mua nhà, có đời sống ổn định và tìm lại hạnh phúc ngày xưa. Gia đình có thêm hai đứa con, một trai, một gái. Ông không quên mua cho bà một đàn dương cầm mới. Trong nhà lại dập dìu tiếng nhạc rộn vui, thanh thản. Thời đệ nhất Cộng hòa ông làm ty trưởng y tế Đà Nẵng, đồng thời là giám đốc bệnh viện thành phố. Khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào Việt Nam và leo thang chiến tranh, có những đoàn văn nghệ từ Mỹ sang, đi khắp chiến trường, biểu diễn cho lính Mỹ xem, để nâng cao tinh thần chiến đấu của họ. Có một đoàn văn nghệ biểu diễn quanh Đà Nẵng trong nhiều tháng, trong ấy có một nhạc sĩ dương cầm Mỹ trẻ, tên gọi là Bill, tốt nghiệp âm nhạc viện Nữu Ước. Anh chỉ là Trung sĩ, chắc là để thi hành nghĩa vụ quân sự. Đoàn văn nghệ ấy, gồm nhiều ca sĩ nổi danh, có lần giúp vui cho bệnh nhân Bệnh viện Đà Nẵng trong dịp Giáng sinh. Phần lớn họ hát các bài thánh ca như Jingle Bell, Silent Night, v.v… Cảm động nhất là các ca sĩ ngoại đã hát những bài thánh ca Việt như bản “Đêm đông” của nhạc sĩ Hải Linh. Bill và bà Băng Tuyết đệm đàn, rồi không biết vì sao, hai người lại cho hội trường thưởng thức độc tấu dương cầm , bà với bản Rhapsodie Hongroise của Litz, Bill với bản Lieder của Brahms. Họ âm thầm so tài và mọi người đều bị lôi cuốn bởi dòng nhạc êm ái, điêu luyện. Sau đêm biểu diễn ông bà BS Hoa mời Bill đến tư gia ăn những món đặc sản Việt. Bà Tuyết và Bill lại có dịp bàn luận về âm nhạc. Bill xuất thân gia đình vọng tộc, nói tiếng Pháp thạo, vì đã từng qua Paris học hỏi dương cầm. Chàng lại đẹp trai, khiêm nhường, ăn nói có duyên và nhiệt tình. Bà Tuyết được trời ưu đãi, trẻ lâu, lúc ấy tuy gần 40, song da dẻ vẫn mịn màng, đẹp mà không cần son phấn. Hai người phục tài nhau, và cùng một mê say: nhạc dương cầm cổ điển. Từ đó, Bill thường đến nhà bà Tuyết và hai tâm hồn đa cảm làm giàu cho nhau bằng những khám phá lý thú bên đàn dương cầm, thâm nhập vào sự tinh anh, tài ba, xuất thần của các nhạc sĩ thiên tài.

Sở dĩ tôi biết được các chi tiết trên về gia đình BS Hoa vì sau khi ông bà về thành, gia đình tôi cũng hồi cư về làng cũ. Tôi ra Huế tiếp tục học, rồi vào trường Y Sài gòn. Khi đi học cũng như khi ra trường, tôi vẫn thường xuyên đến thăm ông bà. Lúc về Tổng Y Viện Duy Tân, cuối tuần tôi thường chơi mạt chược ở tư thất ông bà. Kết thúc bi thảm sau đây tôi đã cố tìm hiểu, và cho đến nay nghĩ đến tôi vẫn còn bàng hoàng:

Sự đi lại thân thiết giữa bà Tuyết và Bill đi vào một ngã rẽ định mệnh. Không hề nghi ngờ lòng chung thủy của vợ, bỗng một hôm, sau một ca mổ căn thẳng, BS Hoa đột nhiên muốn về nhà nghỉ ngơi. Mở khóa vào nhà, phòng khách không có ai, trong nhà im ắng. Ông đoán là vợ đi phố và các con đều đến trường. Ông lặng lẽ đi vào phòng ngủ và thấy Bill ôm vợ mình, hai người say sưa trong giấc ngủ. Ông choáng váng, lặng người, song cũng vẫn bình tĩnh, không làm ồn ào. Khóa cửa nhà lại như cũ, ông trở lại nhà thương làm việc. Chiều đến ông về nhà, xem như không có gì xảy ra. Trong bữa ăn tối ông vẫn vui vẻ trò chuyện với vợ và con. Nhưng tối đó ông không vào phòng ngủ như thường lệ. Bà Tuyết có trực giác là có điều gì nghiêm trọng. Bà trăn trở, và cuối cùng ra phòng làm việc của chồng. Đèn vẫn sáng. Đồng hồ phòng khách ngân nga điểm hai giờ. Chồng bà gục đầu trên bàn viết, thân thể bất động, chùng xuống trên ghế bành rộng. Hai cánh tay xoải trên bàn, đè một lá thư. Như cái máy, bà rút lá thư xem:

“Em thân yêu. Em hãy xem cái chết của anh như một tai nạn xuất huyết não cấp tính, và làm ma chay bình thường, để khỏi gây những lời dị nghị, có hại cho em và cho con cái chúng ta. Anh vẫn yêu em như thuở ban đầu, và cầu mong em thanh thản, yên vui trong hạnh phúc mới. Riêng anh đã ích kỷ chọn sự yên lặng của nấm mồ.”

Trong hốt hoảng bà điện thoại cho tôi đến gấp. Năm phút sau tôi đã có mặt ở nhà bà. Khám xác và nhìn lọ thuốc ngủ trên bàn, tôi biết BS Hoa đã dùng một liều cực mạnh, và đã tắt thở từ lâu. Thể theo lời người quá cố, tôi đứng ra lo việc ma chay long trọng, mà hầu hết những nhân vật tai mắt của thị xã đều đến phúng điếu, song không mảy may hay biết sự tình, chỉ thương tiếc BS Hoa đã sớm ra đi vì bạo bệnh.

Chừng ba tháng sau tang lễ, bà BS Hoa xuống tóc, vào tu ở một ngôi chùa gần nhà. Bà từ biệt thế giới dương cầm, âm nhạc. Bà buộc vợ chồng tôi dọn về ở nhà bà, tiếp tục coi sóc phòng mạch của chồng bà, và theo dõi hai con bà nay đã vào Đại học ở Sài gòn.

Vì sao BS Hoa đã chọn cái chết? Có lẽ vì quen sống trong tiện nghi, cuộc đời không có những thử thách, lao đao, nên sự thích nghi, đối đầu với biến cố rất yếu. Ông đã có một tình yêu lớn, ông trân quý, xây đắp, và là nơi trú ẩn an toàn cho ông . Ông đã tìm thấy ở đó hạnh phúc lớn nhất của mình. Nhưng biến cố xảy đến, làm cho lâu đài tình ái của ông sụp đổ tan tành. Những điều đẹp đẽ ông trân quý trở nên xấu xa, đen tối không phương cứu vãn. Ông thất vọng não nề. Ông quan niệm cuộc đời quá đẹp. Ông không chấp nhận sự yếu đuối, bội phản. Thật ra vợ ông chỉ là yếu đuối, mà không bội phản. Thiên chúa Giáo khác Phật Giáo ở điểm căn bản. Phật giáo hoàn toàn đặt sự giải thoát khỏi thất tình, lục dục bằng sự tự chủ bản thân, nghĩa là chỉ ta cứu lấy ta. Trái lại Chúa Jesus đã nói: “Linh hồn, thì siêu thoát, nhưng xác thịt yếu đuối.” Sai lầm là nhân bản (to err is human). Biết con người yếu đuối tội lỗi nên Chúa đã đổ máu ra cứu chuộc nâng đỡ, và sẵn sàng thứ lỗi, khi con người biết hối lỗi và trở về với đường ngay, lẽ thẳng. Sự cứu rỗi con người không thể tự người làm được, mà phải nhờ vào sự cộng tác, dẫn dắt của Thượng Đế. Bởi người là người, không phải là thần thánh. Tự biết mình yếu đuối, và thấy sự yếu đuối của người khác là sự cao cả của con người. (la grandeur de l’homme est grande en ce qu’il se connait misérable, et aussi en ce qu’il a vu la misère d’autrui). BS Hoa phải rộng lượng thứ lỗi cho sự yếu đuối của vợ. Sự im lặng của ông thật đáng ca ngợi, để tránh những đổ vỡ to lớn hơn nữa. Nhưng ông đã ích kỷ tìm sự im lặng của nấm mồ. Ông không biết như thế là làm tan nát tấm lòng yêu thương chân thật của vợ ông, và mối tình lớn mà hai người un đúc sẽ đứt đoạn. Ông phải chấp nhận đau thương, để tình yêu thêm sâu sắc và biết hy sinh hơn nữa. Ông đã làm vợ ông từ bỏ một sự phong phú, giàu có tâm hồn là âm nhạc, vì bà cho đam mê nầy là đầu mối của sự sa đọa.

Một tục ngữ Đức có nói:“Khi người ta đưa quỷ nắm ngón tay, nó sẽ chụp luôn cả cánh tay.” Một cách tránh xa quyến rũ tội lỗi, là đừng bao giờ thử xem một tí. Đây cũng là bài học quá muộn cho bà Tuyết. Trong thâm sâu tâm hồn, bà đau khổ biết bao, khi thấy chính lỗi lầm mình đã đưa chồng vào tuyệt vọng. Tôi thường hay đến chùa thăm bà và đàm đạo với bà về triết lý nhà Phật. Bà đã tìm lại được sự thanh thản tâm hồn ở cửa thiền, và sự tương thông với người chồng quá cố thân yêu. Bà tận tâm trong công việc từ thiện của Chùa. Nhưng điều làm tôi vui mừng nhất là bà đã cho mang đàn dương cầm của bà vào chùa. Bà đã trở lại với âm nhạc để tìm lại sự an bình mới. Bà đã sáng tác nhiều ca khúc thâm trầm siêu thoát, mà mỗi khi tôi vào thăm, bà đàn cho tôi nghe. Đó là những truyền cảm linh thiêng của người mẹ thứ hai trong đời tôi. Tôi ra về với tâm hồn thơ thới và những quyết tâm mới. Tôi đã cùng nhà chùa tổ chức các buổi trình diễn dương cầm của bà cho mục đích từ thiện. Chắc nhiều thính giả lúc ra về cũng thấy cõi lòng hân hoan thơ thới, ít nhất là vì dư âm của những dòng nhạc bất tận, huyễn hoặc, thâm trầm, và cũng có những tâm hồn đồng điệu nhập vào sự huyền nhiệm của tình yêu, sự sống và tài ba, qua sự sắp xếp thần kỳ của tiết tấu và âm thanh, thoát ra dưới ngón tay huyền diệu của ni-cô Băng Tuyết.

Riêng với Bill, tôi đã báo tin cho anh ta về cái chết của BS Hoa. Anh ta có gửi vòng hoa phúng điếu, và không dự đám tang theo lời khuyên của tôi. Sự có mặt một ngoại nhân có thể gây dị nghị. Thư anh gửi cho bà Tuyết sau đó, tôi đã hủy đi hết và dặn anh nên chỉ liên lạc với tôi. Anh có trao đổi với tôi nhiều ý kiến hay. Anh nói là những năm cuối trung học Loyola, tại thị trấn quê anh, do các linh mục dòng Tên (jesuites) cai quản, anh đã học qua nhiều khóa giáo lý. Khi nói đến hôn nhân, các linh mục giảng dạy nhấn mạnh, là phải giữ thanh khiết trước ngày thành hôn. Ở Mỹ hiện nay trong các trường trung học, có những hội đoàn thanh niên nam nữ, thệ giữ đồng trinh (virgin) trước khi lập gia đình. Giáo lý đưa ra nguyên tắc là không được tách rời tình yêu ra khỏi nhục dục (sex). Chỉ tìm thú vui xác thịt là tội lỗi. Anh nói:

-“Tôi đã xem thường điều giảng dạy trên, và hậu quả là đổ vỡ và hối tiếc không nguôi. Trong 10 giới răn mà Moise nhận lãnh từ Thượng Đế có điều: chớ lấy vợ chồng người. Tôi đã phạm tội trọng (péché mortel)”

Sau nầy khi tôi qua Mỹ, tôi có đến nhà anh chơi. Anh đã 60 tuổi. Anh kể là sau khi giải ngũ, anh trở về dạy âm nhạc tại trường trung học Loyola, ở Wichita, quê anh. Anh đổi qua chơi phong cầm cho các nhà thờ. Anh rất mộ đạo và đã yên vui xây dựng gia đình gương mẫu trong giáo xứ. Anh khoe với tôi, các con và cháu của anh đều là hội viên hội “Thệ giữ đồng trinh trước ngày thành hôn.” Trên góc bàn thờ Chúa trong nhà có để ảnh bà Tuyết ngồi trước dương cầm lúc ở Đà Nẵng. “Như thế để nhắc nhở gia đình tôi cầu nguyện cho bà”, anh nói. Trầm ngâm giây lát anh thêm: “Những tình cảm sôi nổi, những thị hiếu nhất thời, những say mê của trào lưu mới, những thú vui thân xác, theo thời gian sẽ qua đi, nhưng đạo đức, luân lý, bổn phận, trách nhiệm, tự chế, khắc kỷ, là trường cửu, và là những yếu tố tạo nên giá trị của con người.

Khánh Giao BS Phùng văn Hạnh

From: KimTrong Lam

Chuyện cái Tên – Tiểu Tử


Tiểu Tử

CHUYỆN 1

Hồi thời đó (thời 1975, bây giờ chắc khác!) muốn đi đâu ra khỏi vùng mình cư ngụ, người dân phải xin giấy giới thiệu của chánh quyền nơi cư ngụ, lận lưng đi đường mới an toàn bởi vì từ điểm A (nơi mình ở) đến điểm B (nơi mình muốn đến) mình có thể bị xét hỏi bởi chánh quyền nơi mình đi qua ! Chưa hết ! Đến nơi (điểm B) mình phải trình giấy giới thiệu để chánh quyền đóng dấu chứng nhận “có đến”, sau đó khi trở về nơi cư ngụ mình phải trả giấy giới thiệu lại cho chánh quyền điểm A để chứng minh rằng mình đã trở về! So với thời “Ngụy” – cái thời mà muốn đi đâu cứ… xách đít đi rồi có trở về hay không trở về chẳng có… con ma nào thắc mắc ! – thì nói “Miền Nam được giải phóng” thiệt tình quá ư là vô lý và hài hước !

Một chị bạn tên Trần Ngọc Nữ xin giấy giới thiệu để đi từ Gia Định về Tây Ninh thăm gia đình. Đến hẹn, chị lại văn phòng Ủy Ban Nhân Dân quận lấy giấy giới thiệu. Thấy trên giấy đề “Trần Thị Nữ”, chị không chịu nên phản đối:

“Tôi tên Trần Ngọc Nữ, anh phải đề Trần Ngọc Nữ cho hạp với các giấy tờ khác, chớ anh sửa Trần Thị Nữ đâu có được!”

Anh chàng cán bộ đội nón cối nghiêng nghiêng (Lạ lắm: làm việc trong văn phòng mà vẫn đội nón và nón cối của họ không bao giờ vừa với cái đầu nên lúc nào cũng thấy… xiêng xiêng xéo xéo!) ngồi sau bàn viết đầy hồ sơ giấy tờ – người đã trao văn bản cho chị Nữ – hất hàm hỏi:

“Chị là đàn ông hay đàn bà, hả?”

Thấy chị Nữ làm thinh, anh ta nói tiếp:

“Chị là đàn bà phải lót chữ THỊ chớ!”

Chị Nữ bực mình nói lớn:

“Tôi không biết! Tôi tên Ngọc Nữ anh phải để Ngọc Nữ chớ anh sửa ngang xương vậy đâu có được!”

Nghe to tiếng, một người từ phòng bên trong bước ra hỏi:

“Gì thế?”

Thấy cha nầy có vẻ… xếp nên chị Nữ phân trần. Nghe xong, anh ta nói:

“Chị nầy có lý ! Đồng chí làm như thế là sai ! Làm lại văn bản khác với đúng tên trong giấy tờ của chị nầy rồi mang vào tôi ký tên !”

Một lúc sau, “đồng chí đội nón cối” trao giấy giới thiệu cho chị Nữ mà nói một cách hằn học:

“Nè! Tôi sửa theo ý của chị rồi đó! Đi ra đường, người ta tưởng chị là đàn ông, thây kệ chị à!”

Chuyện nầy do chị Nữ kể lại rồi chấm câu: “Khùng quá!”

CHUYỆN 2.

Hồi trước 1975, đi lính gọi là đi “quân dịch”. Sau 1975, cũng là đi lính nhưng được gọi bằng một mỹ từ “đi làm nghĩa vụ quân sự”. Gì chớ hai từ “nghĩa vụ” nó… gài con người ta vào công việc gì đó với một sự hãnh diện cao cả chớ không phải bó buộc hạ cấp như “dịch” trong quân dịch. Ở đây, phải công nhận mấy thằng cha cách mạng… xào nấu từ ngữ rất “đỉnh cao trí tuệ”!

Sau 1975, một hôm có ba tên bộ đội nhận chuông nhà tôi. Con gái tôi chạy ra. Họ nói:

“Chúng tôi là phường đội đến gọi anh Võ Hoài Thanh đi họp để chuẩn bị làm nghĩa v quân sự”.

Con gái tôi nói:

“Tôi là Võ Hoài Thanh đây!”

Họ ngạc nhiên:

“Thế… chị không phải là đàn ông à? Lạ nhỉ!”

Chuyện nầy tôi nhớ tới bây giờ có lẽ tại vì nó tếu không chịu được !

CHUYỆN 3 :

Chị Odile là người Việt nhưng nhờ có dân Tây nên vào cuối 1975 chị lo giấy tờ để “hồi hương” nghĩa là trở về cái xứ Pháp của chỉ. Khi chỉ góp hồ sơ ở Nguyễn Du, người cán bộ nói:

“Ngày mai chị đến đây, tôi sẽ gọi tên từng người để trả lại hồ sơ đã cứu xét”.

Hôm sau, chị Odile trở lại ngồi đợi gọi tên mình. Đợi cả ngày không nghe gọi. Rồi hôm sau nữa, chị lại đến ngồi đợi. Chị thấy những người góp hồ sơ sau chị được gọi lại lãnh nên chị “làm gan” chen vào gặp cán bộ để khiếu nại. Cán bộ hỏi:

“Chị tên gì?”

Trả lời:

“Odile”.

Cán bộ dò trong cuốn sổ rồi trả lời:

“Không có”.

Anh ta thấy chị Odile nhăn mặt muốn khóc bèn đẩy cho chị tờ giấy và cây viết:

“Chị viết tên chị vào đây. Viết cho rõ tôi xem nào!”

Chị viết bằng chữ hoa loại chữ in. Cán bộ nghiêng đầu đọc rồi la lên:

“O đi le mà chị cứ nói chị tên Ô gì gì nên tìm không ra!”

Rồi hắn đưa cuốn sổ cho chị xem, ngón tay chỉ chỉ:

“Đây nầy: O ĐI LE đây nầy ! Cả ngày nay tôi gọi rát cả họng mà có thấy ai đâu?”

Hắn tìm trong chồng hồ sơ lấy ra một cái trao cho chị Odile, mỉm cười:

“Nhớ nhé: O ĐI LE chớ không phải Ô gì gì đâu !”

Chị Odile ôm hồ sơ đi ra, bực mình đến độ quên nói tiếng Cám ơn !

Tiểu Tử  

CHÚA DẠY: YÊU THƯƠNG & THA THỨ -Truyện ngắn

Ngày ấy.., tôi đã 33 tuổi, là một năm tôi như rơi xuống vực thẳm tối tăm nhất trên trần gian này…. chiến tranh lạnh giữa tôi với anh kéo dài…

Đã từ lâu, chúng tôi không còn tiếng nói chung…!

Anh là một người chồng gia trưởng, làm gì, tính gì anh đều theo ý mình, cùng với cái TÍNH TRĂNG HOA đã làm cho anh không còn nghĩ gì, lo gì cho tôi và hai con khi chúng còn quá nhỏ…

Rồi việc gì đến cũng đã đến…

Đến một ngày anh nói với tôi là anh muốn ly hôn, anh không thể sống tiếp với tôi được nữa… Bất ngờ đến nghẹt thở, tôi khóc như một đứa trẻ…! Và chọn cho mình sự im lặng !

Hôm ra tòa, anh cho tôi quyền nuôi hai con, cho dù tôi chưa có việc làm ổn định, căn nhà anh để cho mẹ con tôi ở. Buổi chiều ảm đạm hôm ấy, anh gom hết đồ cá nhân ra đi, các con tôi có tiết học thêm ở trường, nên không gặp được anh. Trên đường tôi đi đón con về mà nước mắt tôi cứ tuôn rơi như môt đứa trẻ vậy…!

Các con tôi vẫn được anh đưa đi chơi sau mỗi cuối tuần, nhìn các con thơ ngây, vui vẻ bên cha nó tôi nghe nhói lòng mình…!

Rồi đến một ngày, anh nói với tôi, anh và cô gái trẻ ấy cần phải dọn nhà đi ở nơi xa để tiện việc làm ăn của anh, tôi và các con từ ngày ấy không còn găp anh nữa…!

Mười lăm năm sau… Một chặn đường dài gian khổ, có lúc làm việc quá sức, ngã bệnh, nhưng khi nhìn các con còn quá nhỏ giúp tôi có thêm động lực để vượt qua…!

Dù khó khăn gian khổ, nhưng trong căn nhà nhỏ của ba mẹ con tôi lúc nào cũng vui vẻ và ấm áp…!

Đứa con trai lớn bây giờ đã 26 tuổi , tốt nghiệp ngành Y, cô con gái nhỏ 22 tuổi đã là cô nurse. Có lúc nhìn vào gương tôi thấy mình già đi trước tuổi so với các bạn cùng trang lứa..!

Gần đây, nhận được tin anh bị tai biến, liệt nửa người, cô vợ trẻ ăn ở không, không làm ra tiền, chỉ biết ăn chơi, làm đep . Anh bệnh nằm đó, không tiền thuốc men, nên đã cầm giấy tờ nhà cho ngân hàng. Không thể chăm sóc người đàn ông bại liệt khi cô ấy còn quá trẻ chưa bao giờ chịu cực khổ ….
Một ngày cô ấy ra đi dẫn theo đứa con của anh, anh nằm đó nhìn theo mà bất lực..!

Hai con tôi bây giờ đã có công viêc làm ổn định, thấy ba mình như vậy nên cầu xin mẹ tha thứ và được đưa ba về chăm sóc cho quãng đời còn lại…!

Thương các con và cũng vì tình người, đã thôi thúc tôi chăm sóc cho người đàn ông phụ bạc, người mà làm cho tôi ốm nặng thập tử nhất sinh khi biết mình bị phụ tình..! Thôi thì dù sao cũng từng là vợ chồng, vì các con, cũng là vì tôi không nỡ nhẫn tâm làm ngơ…!

Cũng từ ngày đưa anh về, mặt đối mặt, trong mắt anh: tôi thấy được sự ân hận trong anh,  một người lầm lỗi mong nhận được lời tha thứ của tôi. Cái giá sai đường thì anh cũng đã trả rồi, thôi thì những ngày tháng cuối đời…! Tôi cố gắng trải lòng mình ra mà chăm sóc tốt cho anh vậy….!

NGÀY ẤY…, vì con, tôi cố gắng đi tiếp quãng đường…!

BÂY GIỜ…., vì con, tôi sẽ trãi lòng nuôi người phụ bạc…!

Có một bài học: tôi phải học suốt đời…, đó là học YÊU THƯƠNG.

Có một bài tập CHÚA đã dạy tôi mà tôi PHẢI tập suốt đời, đó là THA THỨ.

Người sống lâu bị nhục nhiều – Hoàng Hải Thủy

Hoàng Hải Thủy

Người sống lâu bị nhục nhiều. Ông cha tôi – các ông Việt ngày xưa – hay dùng thành ngữ “Ða thọ đa nhục.”

***

Tôi không cho là người già bị nhục. Tôi thấy người ta càng nhiều tuổi càng khổ. Khổ vì không còn hưởng thụ gì được sự đời mà phải chịu những bệnh tật do già yêú sinh ra: Người già không tự lo được cho thân mình, mắt mờ, tai điếc, trí nhớ mất, sống nhờ người khác. Người già vua chúa hay cùng đinh, tỷ phú hay anh nghèo rớt một xu dính túi không có, kẻ quyền uy chấn động thế giới một thời hiển hách hay anh phó thường dân cả đời cơm nhà, quà vợ, khi tuổi già đến đều có những nỗi khổ như nhau.

Người ta qua 60 tuổi được kể là già. Ở Việt Nam những năm 1940-1950 người 50 tuổi được gọi là cụ. Khổng Tử chỉ nói về Người đến tuổi 70: “Thất thập nhi tùy tâm sở dục.”  Tôi nghĩ ông muốn nói : “Người bẩy mươi tuổi muốn làm gì thì làm.” Nhưng người bẩy mươi tuổi còn làm gì được nữa. Người bẩy mươi cả Bốn Tứ Khoái đều không hưởng được, không làm được.

Năm nay – 2013 – tôi tám mươi tuổi. Một ngày đầu Xuân Kỳ Hoa Ðất Trích 2013, tôi viết bài này.

***

Năm 2000, khi chia tay nhau lúc nửa đêm ở trước một Nhà Dành cho Người Già Thu Nhập Thấp – Housing for Old Seniors Low Income – ở San Jose, ông bạn già của tôi nói:

“Ðọc những bài viết của toa để nhớ, để thương Sài Gòn của chúng ta.”
Ông cầm tay tôi:

“Viết. Viết nữa. Viết đến năm toa tám mươi. Viết cho bọn moa đọc.”
Ðêm mùa đông San Jose lạnh giá bao quanh chúng tôi khi chúng tôi từ biệt nhau, chúng tôi bắt tay nhau lần cuối.

Năm 2000 tôi 68 tuổi. Ông bạn HO già hơn tôi năm, sáu tuổi, tôi không biết hôm nay ông còn ở cõi đời này hay không. Thời gian và không gian làm chúng tôi không biết nhau sống chết ra sao. Tám mươi tuổi tôi vẫn viết. Tôi không còn viết phóng tác truyện dài. Tôi viết những bài như bài này.

Thời gian Sống, Yêu và Viết của tôi không còn bao lâu nữa, nên với nỗi Buồn vì phải xa mãi những người tôi yêu thương, hôm nay tôi viết những dòng chữ này.

***

Tôi bị ám ảnh bởi cái Chết, tôi ghét Chết, tôi sợ Chết, tôi không muốn Chết. Không phải bây giờ trong tuổi già, tuổi gần đất, xa trời, tôi mới sợ Chết, tôi sợ Chết từ những năm tôi năm, sáu tuổi, khi tôi bắt đầu biết suy nghĩ.

Nhà tôi ở cuối thị xã Hà Ðông, nhà có lầu, tiếng Bắc là nhà gác, nhà hai tầng. Trên gác nhìn ra tôi thấy cánh đồng với những nấm mồ rải rác trong những ô ruộng, ở gác sau nhìn ra tôi thấy Nhà Thương Hà Ðông và bãi tha ma ở cuối Nhà Thương. Những đêm mưa tôi thấy những chấm lửa lập lòe trong bãi tha ma. Về sau tôi biết đó là những ánh đèn của những người đi soi bắt ếch. Những năm xưa ấy tôi tưởng đó là những đốm lửa ma trơi.

Năm tôi năm, sáu tuổi, mẹ tôi 27, 28 tuổi. Tôi sợ mẹ tôi chết, người ta đem mẹ tôi ra chôn ở ngoài đồng. Mẹ tôi phải nằm một mình giữa cánh đồng vắng, lạnh, cô đơn, nơi mẹ tôi nằm ngập nước, đêm đông, mưa phùn, gió bấc, mẹ tôi khổ biết chừng nào.  Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm tôi ghét Chết, tôi sợ Chết.

Mời bạn đọc một chuyện Sống, Yêu và Chết tôi thấy trên Internet.

Trong phiên xử ở Tòa Án Phoenix, Arizona, bị cáo là Ông George Sanders, 86 tuổi, bị xử vì tội giết vợ. Tất cả mọi người có mặt tại toà, từ công tố viên đến chánh án, kể cả con cháu của kẻ bị cáo, đều thấy bị cáo phạm tội giết người, nhưng tất cả đều cho rằng đây là trường hợp pháp luật nên thông cảm, thương hại, tha thứ hơn là trừng phạt kẻ có tội.

Anh cháu của bị cáo George Sanderss nói trước tòa:

“Ông tôi sống để thương yêu bà tôi. Suối đời ông tôi làm mọi việc để bà tôi có hạnh phúc. Mối tình của ông bà tôi là mối tình lớn. Tôi tin ông tôi bị bắt buộc phải làm việc ấy vì yêu thương bà tôi, bà tôi chịu đau quá nhiều rồi, ông tôi không thể để bà tôi chịu đau nhiều hơn nữa.”

Ông Sanders bị bắt Tháng Bẩy năm 2012 sau khi ông nói với cảnh sát bà Virginia, vợ ông, 81 tuổi, xin ông làm bà chết. Vì ông Sanders nhận tội nên toà án không dùng đến bồi thẩm đoàn, nhưng ông vẫn có thể bị kết án đến 12 năm tù.

Bà Virginia bị bệnh nan y năm 1969, bà liệt bại, bà phải ngồi xe lăn. Năm 1970, ông bà sang sống ở Arizona vì khí hậu ở đây ấm nóng. Ông Sanders là Cựu Chiến Binh Thế Chiến II. Ông là người nuôi và săn sóc bà vợ. Ông nấu ăn cho bà, làm mọi việc trong nhà. Mỗi sáng ông giúp bà trang điểm, mỗi tháng ông đưa bà tới Nhà Thẩm Mỹ để bà làm tóc, làm móng tay.

Năm tháng qua, sức khoẻ của ông Sanders suy mòn. Ông phải đặt máy trợ tim, ông không còn săn sóc chu đáo được bà. Rồi bà Virginia bị ung thư phá ra ở chân, bà phải vào một Nursing home để người ta lo cho bà sống qua những ngày tàn cuối đời.

Ông Sanders nói với những viên chức điều tra:

“Ðây là giọt nước làm tràn ly nước. Virginia nhất quyết không chịu vào Nursing home. Vợ tôi tự cắt những ngón chân bị ung thối.”

Ông nói: – “Vợ tôi xin tôi cho bà ấy chết. Tôi nói tôi không thể.”

Vợ tôi nói: “Anh làm được mà. Em biết anh làm được.”

Sanders cầm khẩu súng lục, ông lấy khăn bông quấn ngoài khẩu súng, nhưng ông không sao bóp cò súng được.

Ông kể:  – “Vợ tôi nói: “Bắn đi anh. Cho em đươc chết.”

Tôi nói lời cuối với vợ tôi:

“Em sẽ không cảm thấy đau.”

Và:

“Anh yêu em. Vĩnh biệt em”

Tôi nổ súng.”

Trước toà, người con trai của ông Sandsers nói: – “Tôi muốn quí toà biết rằng tôi yêu thương mẹ tôi, tôi cũng yêu thương bố tôi như thế.”

Steve Sandes, anh con, nghẹn ngào kể: – “Bố tôi yêu thương mẹ tôi trong 62 năm. Những đau đớn thể xác và việc chịu đau vô ích đã làm bố mẹ tôi đi đến quyết định ấy… Tôi không kết tội bố tôi. Với tôi, bố tôi là người tôi cảm phục nhất.”

Ông già George Sanders chỉ nói trong khoảng một phút, giọng ông run run:

“Tôi gặp Viginia năm nàng 15 tuổi, tôi yêu nàng từ năm nàng 15 tuổi. Tôi yêu nàng khi nàng 81 tuổi. Có nàng làm vợ là một ân phúc Thiên Chuá ban cho tôi. Tôi sung sướng được chăm sóc nàng. Tôi làm theo ý muốn của nàng. Tôi xin lỗi các vị vì vợ chồng tôi mà các vị phải bận lòng.”

Ông Công tố đề nghị ông Chánh án không phạt tù giam George Sanders, ông nói toà nên xử án treo.

Ông Chánh án John Disworth nói ông đặt nặng tình nhân đạo trong vụ án này. Ông nói: – “Bị cáo phạm tội giết người, nhưng được toà giảm nhẹ mức án.”

Ông tuyên phạt ông già George Sanders 2 năm tù treo. Tù treo không bị cảnh sát kiểm soát.

***

Chuyện ông bà Sanders làm tôi suy nghĩ lan man. Tôi nhớ chuyện Cái Bát Gỗ tôi đọc những năm tôi 10 tuổi. Anh con thấy ông bố già run tay, khi ăn hay đánh rơi bát cơm, bát vỡ. Anh làm cái bát bằng gỗ cho ông già ăn cơm. Ông có làm rơi bát, bát gỗ không bị vỡ.

Một hôm anh thấy thằng con nhỏ của anh hí hoáy đục đẽo một cục gỗ, anh hỏi nó đục gỗ làm gì, con anh nói: – “Con làm cái bát gỗ, để khi bố già, con cho bố ăn cơm.”

Chuyện – dường như – ở trong sách Quốc Văn Ðộc Bản – đã 70 năm tôi không quên nó – nó đây là chuyện cái Bát Gỗ – nhưng chẳng có dịp nào tôi nhớ nó. Hôm nay tôi nhớ nó.

Từ sau năm 1975 ở Hoa Kỳ, Nhà Xuất Bản Xuân Thu in lại tất cả những sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư. Nhưng sách Quốc Văn Ðộc Bản – sách có nhiều bài thật hay – thì không thấy in lại. Tôi không biết tại sao Quốc Văn Ðộc Bản không được in lại ở Hoa Kỳ. Tôi đã đọc lại tất cả những sách Giáo Khoa Thư được in lại ở Hoa Kỳ, tôi muốn đọc lại những bài trong Quốc Văn Ðộc Bản.

Tôi nhớ lâu rồi, từ những năm 1950 khi tôi chưa gặp Tình Yêu Vợ Chồng, tôi đọc trên trang sách nào đó lời một ông Tầu viết: – “Vợ chồng như hai con chim tình cờ cùng đậu trên một cành cây. Ðến lúc phải bay đi, mỗi con bay đi một phiá.”

Năm xưa còn trẻ, tôi muốn phản đối lời diễn tả trên. Ông Tầu muốn nói vợ chồng là chuyện ngẫu nhiên, chẳng có tình nghĩa gì giữa vợ và chồng. Hôm nay tôi mới dịp viết ra lời phản đối.

Ông bác sĩ điều trị cho vợ chồng tôi mỗi tuần một ngày vào chẩn bệnh cho những ông bà già trong một Housing for Old Seniors – Housing này có nhiều ông bà già Mỹ trắng – ông nói: – “Có những cặp vợ chồng về già không nhìn được mặt nhau.”

Lời kể của ông làm tôi buồn. Vợ chồng sống với nhau đến già, ở chung một nhà già – mỗi người một phòng – sắp ra nghĩa địa, sắp vào hũ sành mà thù hận nhau đến không nhìn mặt nhau?? Thù hận gì dữ dội đến thế? Những người ấy thật khổ.

Bát đại khổ não ghi “8 Nỗi Khổ Lớn” của con người:

Sinh, Lão, Bệnh, Tử: 4 Khổ ai cũng phải chịu.
Muốn có mà không có: Khổ 5
Có mà không giữ được: Khổ 6.
Yêu nhau mà không được cùng sống: Khổ 7.
Ghét nhau mà phải sống gần nhau: Khổ 8.

Có người chỉ phải chịu có 7 Khổ.  Ðó là những người không yêu ai cả.

Nhiều người Việt phải chịu cả 8 Khổ; đó những người thù ghét bọn Việt Cộng mà cứ phải sống với bọn Việt Cộng.

***

Mùa thu mây trắng xây thành.

Tình Em mây ấy có xanh da trời.

Hoa lòng Em có về tươi?

Môi Em có thắm nửa đời vì Anh?

Tôi làm bài thơ trên Tháng Bẩy năm 1954 ở Vũng Tầu, ngày chúng tôi yêu nhau. Cuộc Tình của chúng tôi đã dài trong 60 năm. Cuộc Tình Vợ Chồng, trong cuộc đời Tám Khổ này, nàng và tôi chỉ phải chịu có Bẩy Khổ.

Năm 1979 nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan Ðăng Lưu, nhớ Nàng, tôi làm bài thơ:

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,

Hai mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.

Từ xanh đến bạc mái đầu

Tình ta nước biển một mầu như xưa.

Yêu bao giờ, đến bao giờ?

Thời gian nào rộng cho vừa Tình ta.

Hoa lòng Em vẫn tươi hoa,

Môi Em thắm đến Em già chưa phai.

Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai.

Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe Em

Mặt trời có lặn về đêm,

Sớm mai Em dậy bên thềm lại soi.

Cuộc đời có khóc, có cười,

Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay.

Thu về trời lại xanh mây.

Ðầy trời ta thấy những ngày ta yêu.

Càng yêu, yêu lại càng nhiều.

Nhớ Em, Anh nhắn một điều: “Yêu Em.”

Năm 2013 tôi đổi hai tiếng trong bài thơ:

“Yêu nhau ngày tháng qua nhanh,

Sáu mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau.”

***

12 giờ buổi trưa tháng Sáu, 2012, Nàng bước hụt, ngã nhào qua bốn bực thềm cửa, nàng ngất đi. Ngồi bên nàng trong nắng trưa mùa hạ Virginia, chờ Ambulance đến, nước mắt tôi ưá ra.

Trong ICU – Ai Si Yu – Intensive Care Unit – tỉnh lại, nàng nói: – “Xin Thiên Chúa tha tội cho em.”

Tôi nói: – “Em có tội gì. Mà Em có tội gì, thì Thiên Chúa cũng tha cho Em rồi.”

Nàng chỉ bị dập xương nên không bị mổ, không bị ghép xương, không phải bó bột. Về nhà nằm, uống Vitamin D, chờ vết xương nứt lành lại.

Tình trạng bi đát. Nhiều người nói người trẻ khi bị nứt xương mới mong vết xương nứt liền lại, người già 70 thì vô phương. Nếu vết xương nứt không lành, nàng sẽ phải nằm mãi trên giường.

Tôi hầu nàng ngày đêm. Gần như suốt ngày đêm, tôi xin Ðức Mẹ Maria cho nàng đi lại được. Tôi chỉ xin Ðức Mẹ cho nàng đi được từ giuờng ngủ vào nhà bếp, vào toilet, ra ngồi bàn ăn cơm, nàng tự tắm được.

Bộ Xã Hội cấp cho nàng đủ thứ nàng cần dùng: Xe đẩy, gậy chống, ghế để ngồi tắm.. Chuyên viên y tế – therapist – đến nhà mỗi tuần ba lần, giúp nàng ngồi lên, tập đi.

Một tháng sau nàng đi được.

***

Ba năm nay Nàng có tới ba, bốn lần đau nặng, hai ba lần nàng tự nhiên ngã. Một lần nàng hôn mê. Ðêm khuya trong bệnh viện, nằm trên cái canapé nghe tiếng nàng thở khò khè, tôi nghĩ: – “Tiếng thở này tắt là…”

Tôi cầu xin: – “Xin Đức Mẹ cho vợ chồng con được sống với nhau 5 năm nữa.”
Tôi không muốn tôi chết trước nàng, tôi không muốn nàng chết trước tôi.
Nàng chết trước tôi không biết tôi sống ra sao. Tám mươi tuổi, tôi sống với nàng 60 năm, tôi sống dựa vào nàng. Tôi sống bằng Tình Yêu của nàng.

Năm 1976 gặp lại nhau, Lê Trọng Nguyễn nói: – “Tao không biết mày có đi được không. Tao cứ tưởng mày làm USIS là mày đi được. Hôm tao gặp thằng S. ở trong khu nhà mày, tao hỏi nó mày có đi được không? Nó nói mày không đi được. Tao kêu lên: “Làm sao nó sống? Nó sống bằng gì? ” S. nó nói: – “Nó sống bằng Tình Yêu của vợ nó.”

Người bạn cùng tuổi tôi – 80 – lấy vợ cùng năm với tôi – năm 1954 – vợ chồng anh cũng sống với nhau 60 năm, một sáng từ Cali anh gọi phone cho tôi báo tin vợ anh qua đời, tôi hỏi: – “Ðau lắm không?”

Ðau thì tôi biết bạn tôi đau, nhưng tôi muốn biết anh đau đến ngần nào. Hỏi dễ, trả lời khó. Bạn tôi nói: – “Ðứt ruột, nát gan.”

Lần cuối tôi gặp ông Lê Văn Ba, ông hơn tôi 10 tuổi, ông nói với tôi: – “Tôi nói với bà nhà tôi: Bà nên đi trước tôi là hơn, tôi đi trước bà, bà sẽ khổ lắm.”

Năm sau ông đi trước bà. Ðứng bên quan tài ông, tôi nhớ lời ông nói.

Ông bạn HO có bà vợ bại liệt, ông phải đưa bà vào Nursing Home. Ðể bà ở lại ông một mình lái xe về. Dọc đường ông run tay lái, mắt ông mờ. Ông đậu xe bên đường, xuống đi bộ vài vòng lấy lại tinh thần. Khi trở lại tìm xe, ông quên không nhớ ông đậu xe ở đâu. Ông mở cellphone gọi ông bạn đến giúp.

***

Người đời chỉ nói “Good bye.”
“See You next week, next time” là cùng.
Ðôi ta ngọc nữ, tiên đồng,
Ðôi ta Từ Thức vợ chồng Giáng Hương.
Ngàn đời vẫn nhớ, còn thương:
Em yêu, đã đến cuối đường: “Good bye.
See You next Life./.

Hoàng Hải Thủy

From: Dương Phong

KHÁCH SẠN 22 – Khôi An

Mai Thái Vân ThanhTRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM

Khôi An

Lisa choàng dậy, ngóc đầu nhìn. Xe bus vừa đi qua Palo Alto Highschool, nghĩa là chỉ còn vài phút nữa thì tới trạm. Nó gạt cái chăn mỏng sang một bên, chống tay ngồi dậy. Bên cạnh, Ba vẫn đang ngủ, đầu dựa vào cửa kính, miệng hơi há ra. Trong giấc ngủ mà trông ổng cũng như đang lo lắng chuyện gì, đôi lông mày nhíu lại. Lisa lặng lẽ xếp cái chăn rồi nhét vào túi xách dưới chân.

Đèn trong xe bật sáng, tiếng nói quen thuộc từ chiếc loa tự động phát lên “Xe bus đang vào trạm Palo Alto Transit Center, trạm cuối của tuyến đường 22. Xin mọi người chuẩn bị xuống xe.” Trong khoảnh khắc, trong xe ồn ào hẳn lên với tiếng ngáp, tiếng ho, tiếng lôi kéo hành lý, tiếng càu nhàu. Ba nó dụi mắt lia lịa, gài lại áo ấm rồi khoác mấy túi đồ đạc lên vai. Xe ghé trạm rồi từ từ ngừng lại. Người ta đổ xô ra cửa, Lisa và Ba cũng hòa vào dòng người, xuống xe.

Lisa đút hai tay vào túi áo. Tháng Mười rồi, đứng ngoài trời đêm mà không dấu kỹ thì chỉ một lát là hai bàn tay nó lạnh như nước đá. Từ xa, hai con mắt khổng lồ, vàng rực của chuyến xe đi hướng Đông đã hiện ra sau lớp sương mỏng. Lisa thở phào, nó sắp được chui vào trong xe ấm áp…

Chuyến xe về Eastridge Mall cũng gần đầy người. Như thường lệ, hai cha con Lisa nhanh chân giành được băng ghế cuối. Nó ngồi sát cửa sổ, nhìn ra ngoài. Con đường El Camino Real ở khúc này là đẹp nhất vì đi ngang qua thành phố Palo Alto, nơi nó nghe nói rằng chỉ có những người giàu kinh khủng mới có nhà ở đó. Xe đang đi dọc theo khoảng đất rộng hút mắt với những cây thông thật cao, dọc hàng rào có treo những tấm hình rực rỡ về trường đại học Stanford. Cái trường này nó biết vì mùa hè rồi trong những ngày trời nắng ấm hai cha con nó có lang thang đi bộ từ bến xe bus vô đó. Nó mê cái bãi cỏ mênh mông, xanh rờn ở phía trước tòa nhà mái đỏ ngay giữa trường, nhìn xéo qua ngọn tháp cao có cái nóc tròn trông giống như cây viết khổng lồ. Nằm ở đó nhìn lên thì trời xanh biếc, cây xanh nõn nà, nhìn chung quanh thì ai cũng tươi tốt, mạnh khỏe, tự tin. Nó nghĩ cảnh đó chắc giống như ở thiên đàng. Nó mê bãi cỏ đó đến nỗi có lần buột miệng hỏi “Ba ơi, nữa lớn con xin vô học trường này, được không Ba?” Ba nhìn nó, miệng há ra mà không nói được tiếng nào, một lát sau ổng mới thốt nên lời “Ờ…ờ…được chứ con… Con ráng hết sức thì… chắc được…” Nghe nói vậy nhưng nó không tin tưởng lắm vì điệu bộ của Ba nó giống y hệt như lần nó hỏi “Ba ơi chừng nào Mẹ về?” Chỉ khác là hồi đó nó mới sáu tuổi và chưa hiểu “chết” nghĩa là không bao giờ về nữa.

Áp trán vào khung kính lạnh buốt và nhớ lại, nó nghĩ là muốn vô trường Stanford thì nó phải có cây đũa thần. Mà cũng chưa chắc, vì nếu cây đũa chỉ cho một điều ước thì nó sẽ ước cha con nó có một nơi để ở. Nó rất sợ thời gian ngủ lang thang trên mấy băng ghế lạnh ngắt trong những công viên tối thui. Có những đêm trời mưa lâm râm, hai cha con nó nằm ngược đầu đuôi trên băng ghế, đắp chung tấm nylon. Tiếng mưa rơi lộp độp trên nylon làm nó không ngủ được, thêm nữa nó cứ sợ ngủ quên mà trời mưa lớn thì ướt hết sách vở ở trong cái backpack gối dưới đầu. Sau mấy đêm như vậy, giờ hễ thấy trời âm u chuyển mưa là hai lòng bàn chân nó tự nhiên lạnh ngắt.

Cũng may mà hai cha con nó khám phá ra Khách Sạn 22.

Đó là cái tên mà những người không nhà đặt cho tuyến xe bus số 22.

Buổi chiều hôm đó, Lisa cứ nấn ná trên bãi cỏ xanh của trường Stanford nên tới hơn 8 giờ tối mới lên xe bus 22. Hai cha con định đi về khu phía Đông San Jose kiếm chỗ ngủ để ngày mai Ba còn đi xin việc làm ở mấy cái chợ Á châu gần đó. Lên xe, nó ngờ ngợ vì thấy xe đông hơn hẳn những chuyến bình thường, và ai cũng mang nhiều đồ đạc. Một bà ngồi ở băng ghế trước còn có cả một cái xe đẩy chất túi xách, chăn mền. Hơn hai tiếng sau, xe ghé trạm cuối ở Eastridge Mall, nó thấy phần đông khách trên xe lại xếp hàng chờ chuyến xe đi ngược lại. Lúc đó, hai cha con nó mới hỏi thăm và biết là có ba chiếc xe bus chạy vòng vòng trên tuyến đường này cho tới sáng. Từ ngày đó, hai cha con nó gia nhập Khách Sạn 22.

Đây là tuyến xe duy nhất chạy suốt ngày đêm của quận hạt Santa Clara, cũng là tuyến đông khách nhất và chạy con đường dài nhất. Bắt đầu từ Eastridge Mall ở phía Đông thành phố San Jose xe chạy qua đường Tully, quẹo trái đường King, dọc theo đường Santa Clara qua downtown San Jose, nối qua đường Alameda, lên El Camino Real, chạy qua ba thành phố Santa Clara, Sunnyvale, Mountain View trước khi vào thành phố Palo Alto rồi ghé vô trạm chót.

Bây giờ thì Lisa rành lắm rồi. Nó biết rõ đi một chuyến xe thì phải trả hai đô la. Nhưng hầu hết những người trên Khách Sạn 22 đều dùng vé tháng, mỗi tháng bảy chục đô la. Valley Transportation Authority của quận hạt Santa Clara, mà mọi người gọi tắt là VTA, thỉnh thoảng còn cho những người không nhà hoặc những người sắp mất chỗ ở một tấm vé dùng được trong ba tháng. Mấy tấm vé miễn phí đó cũng hiếm hoi như một chỗ ngủ trong những nhà tạm trú (homeless shelter). Dù sao, chỉ tốn bảy mươi đô la mà có phương tiện đi lại và chỗ ngủ trong cả một tháng dài, đối với cha con nó lúc này, là một sự may mắn và vô cùng quan trọng.

* * *

Dù đã lang thang không nhà gần năm tháng, Lisa vẫn không nghĩ hai cha con nó là người homeless. Nó thấy chữ “homeless” nghe buồn bã quá, và chỉ hợp với những người chấp nhận là từ nay về sau họ sẽ không có nhà ở nữa. Cha con nó là những người “between homes”, nghĩa là đang kiếm chỗ ở.

Hồi xưa, lúc còn Mẹ, gia đình nó cũng có “home” trong một khu chung cư rất dễ thương, ở gần cái công viên thật rộng. Cuối tuần Ba tập cho nó chạy xe đạp còn Mẹ thì trải khăn trên thảm cỏ xanh rờn và nướng thịt bay mùi thơm phức. Tới giờ thỉnh thoảng nó vẫn còn nằm mơ thấy Mẹ cười thật tươi dưới tàn lá xanh lấp loáng ánh nắng công viên, và khi tỉnh dậy nó gần như chắc chắn là trong mơ nó đã ngửi thấy mùi thịt nướng.

Ngày đầu tiên nó vô lớp Một, Mẹ nó còn dắt nó đi học, còn đứng lấp ló ngó chừng, khi thấy nó không khóc Mẹ mới đi làm. Ngày Giáng Sinh năm đó nó còn vẽ tấm hình có nó, Ba, và Mẹ đánh son đỏ chót thiệt là đẹp. Vậy mà chỉ vài tháng sau Mẹ vô nhà thương. Bữa cô Cindy, em của Ba, hớt hải chạy vô xin cho nó về thăm Mẹ, cô giáo nắm tay nó và nói “Poor baby” (tội nghiệp cưng). Đó là lần đầu tiên nó thấy Ba khóc, nước mắt chảy ròng ròng. Và đó cũng là lần chót Mẹ mở mắt ra nhìn nó.

Sau đó cha con nó dọn về ở chung với cô Cindy và dượng Ben. Những chuyện xảy ra trong vài năm sau khi Mẹ mất, Lisa chỉ nhớ lác đác, tựa như đầu óc nó lạc trong một giấc ngủ dài sau khi Mẹ ra đi. Nhưng những chuyện gì đã nhớ thì nó nhớ rõ, thí dụ như là nó mới vô lớp Bốn thì Ba bị đau lưng. Dượng Ben nói tại Ba làm cực, khiêng nặng mà không đeo thắt lưng bảo vệ. Ba bịnh chưa hết thì dượng Ben mất việc làm. Ngày dượng tìm được việc làm ở xa, hai cô dượng và mấy đứa con phải dọn đi. Cô Cindy ôm hôn nó và nói “Con ráng ngoan nha”. Giọng cổ nghẹn ở mũi, nó nghĩ cổ nói vậy để khỏi khóc chứ ở chung mấy năm trời, cổ biết lúc nào nó chẳng ngoan.

Từ đó, hai cha con dọn vào một căn phòng nhỏ xíu. Ba vẫn đau lưng rề rề. Ba thuờng phải nghỉ làm, nằm một mình trong căn phòng đóng cửa tối mờ. Một ngày kia đi học về nó thấy trước nhà dán một phong thư. Đem vô đưa Ba coi, Ba không nói tiếng nào. Mãi đến khi ăn xong bữa tối Ba mới lấy thùng dọn đồ đạc vô và nói mình không có trả tiền nhà tháng rồi, chủ nhà gởi thư bắt dọn đi.

Bữa đầu hai cha con tới Commercial Street Inn ở San Jose. Sau khi đứng chờ ở một hàng dài, tới phiên hai cha con nó, cô thư ký lắc đầu:

– Ở đây là nơi tạm trú của các bà mẹ có con nhỏ.

Ba nó nài nỉ:

– Con tôi cũng nhỏ nhưng mẹ nó chết rồi. Cô làm ơn!

Cô ta vẫn lắc đầu:

– Mỗi phòng có bốn, năm đàn bà, con nít ở chung, làm sao tôi cho ông vô? Mà không có ông, ai chịu trách nhiệm cho con bé?

Thấy cha con nó ngần ngừ, ngơ ngác, không biết đi đâu, cô thư ký thương tình cho nằm đỡ dưới đất ngay trong phòng chờ đêm hôm đó. Hôm sau hai cha con lại dắt nhau đi.

Ba dắt nó vô thư viện coi nhờ Internet và xin tài liệu để đi tìm những shelter (nhà tạm trú) khác. Được bà coi thư viện tốt bụng in ra cho một danh sách các shelter trong quận hạt Santa Clara con Lisa mừng quá. Nhìn thấy tới mười chỗ trong danh sách, nó chắc là cha con nó sẽ tìm được một nơi ở tạm vài tuần. Nhưng coi vậy mà không phải vậy…

Tuần lễ đó, hai cha con nó chỉ được ngủ trong shelter có hai ngày vì ở đâu cũng đầy người, nếu tới sau sáu giờ thì chắc chắn không còn giường trống. Có những shelter chỉ dành riêng cho những người bị bệnh tâm thần, và chỉ có một shelter dành cho gia đình chịu cấp phòng cho cha độc thân và con nhỏ. Có lần nó hỏi tại sao quận hạt Santa Clara có tới hai chỗ cho những người mẹ có con nhỏ mà không có chỗ nào dành cho cha với con nhỏ, cô thư ký suy nghĩ một chút rồi nói:

– Bởi vì hầu hết những người có con nhỏ đến nhờ giúp đỡ đều là đàn bà. Em thông minh lắm, nhưng rất tiếc tôi không giúp được em. Người ta đặt ra những chương trình để phục vụ số đông. Cha con em là trường hợp đặc biệt.

Nó thấy buồn nhưng chỉ nắm tay Ba và trả lời: Vâng, cha của con là người rất đặc biệt.

Chỉ có một câu vậy thôi mà cả hai người lớn, cha nó và cô thư ký, đều chớp mắt như muốn khóc.

Trong mấy tháng cha con nó ngày nào cũng vô thư viện tìm thêm tài liệu về những shelter rồi đi xin khắp nơi. Nhờ đọc nhiều nên nó biết được là cứ mỗi đêm ở trong quận hạt Santa Clara có tới hơn năm ngàn người không nhà cần chỗ ngủ. Mỗi shelter thường chỉ có mấy chục phòng, và có những nơi chỉ mở cửa vào mùa Đông. Hèn gì mà cha con nó thường phải ghi tên chờ tới phiên, có khi cả mấy tuần mới được.

Thời đó, cứ sau bữa ăn trưa là hai cha con lo tìm chỗ ngủ. Đi mấy chuyến xe bus mới tới nơi, người ta hết chỗ, đứng ngẩn ngơ vài phút rồi lại ráng đoán xem chỗ nào còn chỗ, leo lên xe đi tiếp. Rồi đêm xuống, vẫn còn ngoài đường, hai cha con thất thểu dắt nhau kiếm tòa nhà nào có chút mái che và sáng sủa cho đỡ nguy hiểm, rồi ráng quấn chăn cho ấm và ráng ngủ. Có nhiều đêm nó biết Ba sợ cho nó, bắt nó nằm vô sát vách rồi lấy chăn trùm kín mít. Vậy mà khi nó giật mình thức giấc vẫn thấy Ba mở mắt nằm thao thức.

* * *

Từ khi có Khách Sạn 22 làm nơi trú mỗi đêm, Lisa thấy đời sống của nó khá hơn nhiều.

Lúc đầu nó hơi khó ngủ vì xe cứ chạy rung rung rồi lại thắng ken két. Mỗi lần tới trạm loa phóng thanh còn phát tiếng nhắc nhở làm nó giật mình hoài. Những khi không ngủ được nó ngồi ngắm các hành khách. Lúc đầu khuya còn có những người đi làm ca đêm hoặc đi chơi về trễ. Những người này có vẻ vội vã, họ thường chăm chú bấm lia lịa trên điện thoại di động trong suốt chuyến xe. Qua hai giờ đêm, xe chỉ còn toàn là những người đi xe mà không có chỗ đến như cha con nó. Họ ngồi gật gù trong giấc ngủ chập chờn hoặc nằm co ro trên các băng ghế. Rồi nó cũng từ từ nằm xuống, gối đầu lên chiếc backpack, và thiếp đi.

Sau vài tuần nó đã quen. Nó có thể ngủ say nhưng luôn thức dậy khi xe tới bến chót, rồi lại ngủ tiếp trên chuyến xe ngược lại.

Điều làm Ba nó mừng nhất là trên xe bus an toàn. Về phần nó, nó thích nhất vì Khách Sạn 22 giúp mọi chuyện trở nên đều đặn. Mỗi sáng nó đi xe tới trường học, chiều về đón xe bus tới thư viện ở đường Alum Rock học bài. Tới giờ thư viện đóng cửa thì nó đi bộ qua tiệm Goodwill ngay gần đó. Tiệm này là nơi bán đồ cho người nghèo, những ngày Ba không đi xin việc thì ổng làm không có lương ở đây.

Những người lái xe chuyến 22 đều biết rõ là nhiều người không nhà dùng chiếc xe làm nơi ngủ nhưng họ không làm khó dễ. Chỉ cần những “hành khách đi không bao giờ tới” này tuân theo luật lệ, không ăn uống, hút thuốc, xả rác, hay làm ồn ào trên xe. Ông Tom, một trong những người lái xe, có lần nói:

– Đối với tôi, những người không nhà cũng như mọi hành khách khác. Nếu họ có vé thì họ được đi xe. Thường thường họ đều là người tốt, chỉ đang gặp khó khăn.

Thoát khỏi nỗi lo lắng về chỗ ngủ đeo đuổi suốt ngày, Lisa học giỏi hơn trước. Có lẽ nhờ ngày nào cũng học trong thư viện nên năm nay nó đạt nhiều điểm cao nhất. Từ khi khai trường vô lớp Năm, nó thường xuyên được điểm A. Lần đi họp phụ huynh về, Ba nó ôm nó thật chặt rồi nói “Ba thiệt không dám tưởng tượng là con giỏi vậy!”

Bạn bè nó không ai biết là nó không có nhà, có lẽ vì hai cha con nó luôn giữ sạch sẽ, gọn gàng. Ngày nào sau giờ học nó cũng tới một trung tâm sinh hoạt cộng đồng có hồ bơi và phòng tắm cho người đi bơi. Nó hòa vô đám người đó tắm rửa rồi giặt quần áo, vắt khô bỏ vô bịch, sau đó trải một tấm nylon phơi lén ở cái bãi đậu xe đằng sau Goodwill.

Từ hồi tháng Chín, mỗi sáng khi xuống xe ở trạm gần trường, nó đều gặp một cặp vợ chồng với một đứa con trai nhỏ đón xe ở đó. Đứa bé chắc đang học lớp Một, giống như nó thời còn Mẹ. Lần đầu tiên nó nhìn họ từ trên xe bus, bà mẹ đang cúi xuống gài lại áo lạnh cho thằng bé. Không hiểu sao nó thấy cái cử chỉ đó, cái dáng điệu đó, giống in như mẹ nó ngày xưa. Lần đó, sau khi xuống xe, nó chậm bước nhìn họ cho rõ. Từ đó, lần nào gặp họ nó cũng phải nhìn, vừa nhìn vừa thầm mong cái buồn buồn xốn xang trong bụng đừng hiện ra trong con mắt. Có lẽ vì nó nhìn họ hoài, họ cũng nhớ mặt nó. Gần đây, ngày nào hai bên cũng nói “Hello” chào nhau. Thỉnh thoảng có ngày không gặp họ, nó cảm thấy chút gì như là mong nhớ…

Một đêm cuối tháng Mười, trên Khách Sạn 22 xuất hiện vài khuôn mặt lạ. Họ tự giới thiệu là phóng viên của báo San Jose Mercury News, nghe nói về nơi này và muốn tìm hiểu thêm. Lisa không muốn nhắc đến chuyện không có nhà nên kéo chăn che mặt, làm bộ ngủ. Ba chỉ miễn cưỡng trả lời vài câu hỏi và không đưa tên tuổi gì hết.

* * *

Lá phong trên hàng cây dọc con đường Alameda đã đổi màu, cửa kính của các nhà hàng đã xuất hiện hình vẽ gà tây bên cạnh những trái bí rợ. Màu cam, màu đỏ của mùa lễ làm Lisa thấy buồn buồn. Cái vui vẻ, ấm áp của người ta làm nó chợt nhớ rằng lâu lắm rồi nó không được nhìn thấy một nồi súp đang bốc khói trên cái lò cháy đỏ trong một căn bếp, nơi mà các gia đình quây quần ăn bữa tối…

…Thứ Bảy, buổi sáng trời nắng ấm. Hai cha con nó xuống xe ở đường Santa Clara rồi đi bộ tới công viên Cesar Chavez. Có một nhóm người đang phát những thức ăn nóng tại đó. Nghe nói có súp đậu, gà nướng, khoai tán, và cả bánh nhân bí đỏ nữa. Những món ăn tuyệt vời, chỉ nghĩ thôi mà đã phát thèm! Nó nắm tay Ba nối đuôi xếp hàng, và háo hức chờ đợi. Chỉ còn năm, bẩy người nữa là tới phiên nó.

Bỗng tim nó thót lại!

Nó vừa nhìn thấy bà mẹ của thằng bé mà nó gặp hàng ngày đang tươi cười đứng trong đám múc đồ ăn cho đoàn người không nhà. Nó lôi Ba tách khỏi hàng, quay ngoắt đi, vội vàng như chạy trốn. Ba nó vừa rảo bước theo vừa hỏi “Sao vậy? Cái gì vậy? Lisa?” Nó không nói gì, chỉ cắm đầu đi. Qua một khúc quẹo, khi biết chắc là bà ta không thể thấy hai cha con nó, Lisa mới đứng lại. Rồi tự nhiên nó thấy giận. Giận vì mình không có nhà, giận vì mình sợ người ta biết, giận vì mình đã làm Ba mất một bữa ăn ngon. Nó bật khóc nức nở…

* * *

– Lisa, con ăn đi!

Tiếng Ba nó nhắc nhở làm nó trở về hiện tại. Nó đang ngồi trong một nhà hàng sang trọng ngay trung tâm thành phố San Jose, đối diện với ông Sam, bà Nancy, và thằng bé Danny (bây giờ nó đã biết tên của họ.) Ánh mắt của bà Nancy thật là vui và ấm áp. Nhưng nó vẫn thấy ngại ngùng, thắc mắc không hiểu tại sao họ cất công mời Ba và nó đi ăn. Không lẽ bà Nancy đã thấy nó bỏ chạy từ đoàn người xếp hàng xin thức ăn hôm nọ, và muốn đền bù cho hai cha con một bữa?

Sáng hôm qua, thứ Sáu, Ba và nó cũng mỉm cười chào gia đình thằng bé như mọi ngày. Bỗng ông Sam tiến tới bắt tay Ba rồi nói:

– Chào ông. Tôi là Sam, đây là vợ tôi, Nancy, và cháu trai Daniel. Chúng ta biết nhau khá lâu rồi, hôm nay tôi muốn được hỏi tên ông và cháu gái.

– Chào ông bà. Tôi là John, con gái tôi là Lisa.

Sau vài câu trao đổi, họ mời cha con nó đi ăn vào ngày mai. Ba nó cũng rất ngạc nhiên, ấp úng từ chối. Nhưng họ thuyết phục mãi, và bây giờ cha con nó đang ngồi đây.

Dù sao những món ăn trên bàn cũng quá hấp dẫn, và vẻ cởi mở, ân cần của hai ông bà cũng không có dấu hiệu gì đáng lo. Lisa bắt đầu cắn vào miếng thịt gà vàng rộm và mỉm cười với thằng bé Danny.

Khi Lisa vét xong muỗng kem tráng miệng cuối cùng, bà Nancy ngồi thẳng lên. Bà nhìn Lisa, rồi nhìn Ba, rồi nói:

– Cách đây hai tuần tôi thấy hình ông và cháu Lisa trên báo San Jose Mercury News.

Lisa nghe máu chạy một cái rần lên mặt. Nó không biết mặt nó đang đỏ bừng hay tái mét. Bên cạnh nó, Ba cũng có vẻ sững sờ. Hai cha con mở to mắt nhìn những người phía bên kia bàn.

Bà Nancy phát một cử chỉ như muốn nắm lấy tay nó. Bà tiếp tục nói, thật dịu dàng:

– Tôi có đưa bài báo đó cho nhà tôi coi. Ổng là giám đốc chương trình của một cơ quan thiện nguyện tên là Dịch Vụ Về Chỗ Ở Vùng Vịnh, và tôi là giáo sư ở trường Đại Học San Jose. Chúng tôi muốn giúp ông và cháu rời khỏi chiếc xe bus 22. Từ đó tới nay, chúng tôi đã gọi cho những người quen biết và tìm được một nơi có thể giúp ông và cháu. Thứ Hai, mời ông tới văn phòng….

* * *

Bây giờ hai cha con Lisa đã được cấp một căn phòng tại một nơi tạm trú cho các gia đình đang gặp khó khăn. Trong thời gian ở đây, Ba nó được đi học những lớp dạy nghề, và người ta hứa sẽ giúp Ba đi kiếm việc.

Mỗi khi nghĩ lại, Lisa thấy có nhiều việc liên hệ với nhau một cách diệu kỳ. Không biết có phải Mẹ đã đưa đẩy cho nó quen được những người tốt bụng để họ giúp đỡ cha con nó hay không.

Bây giờ ước mơ của nó là khi lớn lên sẽ làm giám đốc chương trình giúp đỡ nhà cửa cho người nghèo, giống như ân nhân của nó. Khi đó, nó cũng có thể làm điều kỳ diệu cho những đứa bé không nhà khác, những đứa bé mà nó biết là có rất nhiều ở khắp nơi. Nó tin là nó sẽ làm được, chỉ cần ráng học thật giỏi và quyết tâm.

Và Lisa còn học được một điều mới nữa trong thời gian nương náu trên Khách Sạn 22.

Rằng, có những người thật sự có chiếc đũa thần, nhưng khi mới gặp mình không thấy được.

Bởi vì, chiếc đũa đó, họ cất ở trong tim.

Thầy Giáo Cũ và Lá Cờ Vàng -Truyện Ngắn – Nguyễn Duy An

Truyện Ngắn – Nguyễn Duy An

***

Tôi bàng hoàng xúc động thật lâu khi nhận được điện thoại của một người bạn học gọi từ Pennsylvania báo tin thầy cũ của chúng tôi là thầy N. mới từ Việt Nam qua Mỹ du lịch và thầy rất mong được gặp lại tôi.

Trong lúc chờ vắng xe để quẹo trái vào “Cổng Tam Quan” trước trung tâm Eden, thầy tôi hỏi lớn:

– Đường này họ đặt tên là “Đại Lộ Sàigòn” hả con?

– Dạ. Hồi đầu năm Thành Phố Falls Church cho phép cộng đồng Việt Nam để thêm tên “Saigon Boulevard” song song với tên đường chính thức là “ Wilson Boulevard ”.

Còn bên trong khu Eden , tất cả các đường ngang dọc đều mang tên Việt Nam hết đó thầy.

– Người Việt mình bên này hay thật!

– Mai mốt thầy sang California hay Texas sẽ thấy nhiều trung tâm lớn hơn Eden nữa, và sinh hoạt người Việt dưới đó còn mạnh gấp mấy lần trên này thầy ạ.

Tôi vừa quẹo xe vào cổng, thầy tôi đã nghẹn ngào thốt lên:

– Ôi! Đẹp quá. Lá cờ… Lá Cờ Vàng… Ôi! Mấy chục năm rồi… Con nhớ chụp cho thầy mấy tấm hình dưới cột cờ nhé.

– Dạ… Mà thầy không sợ gặp rắc rối lúc trở về Việt Nam sao? Mấy người “du lịch” khác họ sợ liên luỵ lắm nên…

– Ăn thua chi con. Ai sao kệ họ. Phần thầy đã nếm đủ rồi, chẳng có gì phải sợ hãi! Con lái xe tới gần chỗ cột cờ đi.

– Dạ… nhưng phải đứng xa xa mới chụp được thầy ạ. Cây cột cờ cao quá.

– Ừ nhỉ. Mà con nhớ chờ lúc gió nó bay bay rồi mới chụp cho đẹp nhé. Nhìn hai lá cờ Việt – Mỹ tung bay trong gió mà thấy lòng quặn đau con ạ. Ôi! Mấy chục năm rồi!

Tôi nghe giọng thầy nghèn nghẹn như không muốn thoát ra khỏi đầu môi. Tôi biết thầy mình đang xúc động lắm. Hình như đôi mắt của thầy cũng long lanh ngấn lệ…

Sau khi chụp mấy tấm hình với nhiều góc độ khác nhau, thầy cầm tay tôi nói nhỏ:

– Con đi với thầy tới chỗ cột cờ nhé.

– Dạ.

Thầy tôi đang ở nhà của một người cháu ở vùng Tây Nam tiểu bang Virginia, cách nhà tôi gần 3 giờ lái xe. Tôi gọi điện thoại xuống để chào thầy và hẹn cuối tuần sẽ xuống đón thầy về nhà nhưng thầy bảo cứ để thầy đi xe lửa lên Hoa Thịnh Đốn rồi đón thầy ở nhà ga, và “đó là mệnh lệnh” nên tôi đành phải vâng lời. Sau khi nói chuyện điện thoại với thầy, tôi đã ngồi thẫn thờ cả tiếng đồng hồ tưởng nhớ lại kỷ niệm hơn bốn năm về trước, lúc trở về Việt Nam thăm gia đình, tôi đã hỏi thăm và tìm cách đến thăm Thầy sau gần 30 năm cách biệt. Nếu không có một người bạn học dẫn tới, chắc chắn tôi không thể nào nhận ra thầy cũ của mình… Tôi chỉ nấc lên được một tiếng “thầy” rồi ôm chầm lấy thầy mà khóc òa trong tức tưởi!

Thầy tôi đó, một ông lão gầy gò ốm yếu, tóc chỉ còn lơ thơ vài sợi trắng như tuyết, và vẫn chưa được “trả quyền công dân” sau bao nhiêu năm bị tù đày vì đã làm thầy của bao nhiêu người “quyền cao chức trọng” trước năm 1975. Thầy tôi chỉ là một nhà giáo dạy trường tư nhưng đã bị giam cầm và quản chế lâu hơn rất nhiều sĩ quan và công chức khác vì lúc nào thầy cũng “ngẩng cao đầu và đứng thẳng lưng” để không mất đi tư cách của một nhà giáo.

Thầy tôi đã quyết định không đi Mỹ theo diện đoàn tụ, cũng chẳng nộp đơn theo diện H.O. , chỉ muốn đi du lịch một lần cho biết trước khi về với ông bà tổ tiên.Sáng Thứ Bảy tôi thức dậy rất trễ vì tối hôm trước ngồi chuyện trò với thầy mãi tới gần 2 giờ sáng mới đi ngủ. Vừa bước xuống nhà tôi đã thấy thầy đang ngồi uống trà và đọc báo ở phòng khách. Nghe tôi chào, thầy tháo cặp kiếng lão rồi nói:

– Đúng là “đi một ngày đàng học một sàng khôn” con ạ. Mới đọc vài tờ báo đã học được nhiều chuyện hay về đời sống của người Việt mình bên Mỹ… Con uống trà hay cà phê? Vợ con đã để sẵn phích nước sôi, hộp trà, và cà phê trên bàn. Chắc thầy làm ồn nên con giật mình hả?

– Dạ không ạ. Bình thường con dậy sớm lắm. Thầy dậy lâu chưa ạ?

– Mỗi đêm thầy ngủ có vài ba tiếng thôi. Con mệt cứ lên ngủ tiếp đi.

– Con ngủ thẳng giấc rồi thầy ạ. Để con pha vội ly cà phê rồi chở thầy ra Eden chơi. Gần 10 giờ sáng rồi, thầy trò mình ra trễ khó tìm chỗ đậu xe lắm… Buổi chiều vợ chồng con và các cháu sẽ đưa thầy lên DC chụp hình và thăm Nhà Trắng, Quốc Hội, Tháp Bút Chì, Viện Bảo Tàng và những đài kỷ niệm khác.

– Tùy con. Nhưng thầy không muốn gia đình con phát bịnh vì phải lo tiếp đãi thầy.

********

Thầy kính yêu,

Bao nhiêu năm ở Mỹ, hầu như tuần nào con cũng ghé Eden, và đã hơn một lần con đậu xe sát bên cột cờ, nhưng chưa bao giờ con xúc động như mấy phút cùng thầy cầu nguyện dưới cột cờ buổi sáng hôm đó. Đúng như cha ông đã nói — “không thầy đố mầy làm nên” — con đã quên mất ý nghĩa linh thiêng của Lá Cờ nếu như con không được một lần chứng kiến “cảnh đoàn viên” của thầy và Lá Cờ Vàng ở Eden sau bao nhiêu năm cách biệt.

Mãi mãi con vẫn là đứa học trò bé nhỏ của thầy. Thầy không những đã dạy con qua sách vở và bài giảng mà còn qua chính gương sống của thầy. Con cầu xin để bài học về “Lá Cờ” không phải là bài học cuối cùng thầy dạy cho con.Tôi theo thầy đến bên cột cờ. Thầy tôi trịnh trọng đưa tay sờ vào cột cờ như một cái gì linh thiêng lắm, rồi từ từ ngửa mặt, nheo mắt ngắm hai lá cờ đang tung bay phần phật dưới nắng ban mai. Mãi một lúc lâu thầy mới quay lại thầm thì bên tai tôi:

– Thầy trò mình đứng im cầu xin cho những người đã hy sinh bỏ mình vì quê hương con nhé.

– Dạ. Một phút mặc niệm phải không thầy?

– Đúng. Đã có hàng trăm, hàng ngàn người bỏ mình dưới Lá Cờ này đó, con còn nhớ không? Ta bắt đầu cầu nguyện cho họ nhé.

– Dạ.

Sau mấy phút im lặng dưới cột cờ, tôi nhận ra sự thay đổi khác thường trên khuôn mặt già nua vì tuổi tác của thầy. Tôi biết chắc chắn đằng sau đôi mắt u uẩn đau buồn của thầy còn chất chứa bao nhiêu tâm sự không biết giãi bày cùng ai. Tôi đưa thầy dạo qua một vài cửa tiệm nhưng thầy tôi cứ lững thững đi theo như một kẻ mất hồn! Tôi dừng lại bên “quầy báo” trước cửa tiệm Phở Xe Lửa. Mặc dầu “người bán báo” hôm nay không phải là “chú thương phế binh” quen biết nhưng tôi cũng lên tiếng theo thói quen:

– Chú cho cháu xin mỗi thứ một tờ.

– Có ngay. Có ngay. 15 Đô tất cả.

Thầy cầm tay tôi giặc giặc:

– Ở nhà có mấy tờ Hoa Thịnh Đốn, Phố Nhỏ… rồi đó con. Sáng nay thầy đã đọc.

– Dạ. Không sao thầy ạ. Con mua ủng hộ các chú gây “quỹ thương phế binh”.

– Ồ. Quý hóa quá!

Chờ lúc tôi nhận lại tiền thối và xếp báo xong xuôi, thầy tôi trao cho “chú bán báo” tờ giấy 5 Đô và nói nhỏ:

– Ông cho tôi góp mấy đồng nhé.

– Dạ… Dạ… Cám ơn. Xin lỗi ông đây là…

– Thưa chú đây là thầy cũ của cháu mới từ Việt Nam qua chơi.

Không để tôi nói thêm, thầy tôi lên tiếng:

– Tình chiến hữu! Tình chiến hữu! Đẹp thật! Đẹp thật! Các ông làm hay quá.

Rồi quay sang tôi, thầy tiếp tục:

– Con chụp cho thầy một tấm hình với ông anh đây. Con chụp cẩn thận để lấy hết hình cái sạp báo nhé.

– Dạ.

Không biết thầy tôi và “ông bạn mới” to nhỏ những gì mà chú ấy phải chạy nhờ người trông dùm sạp báo để đi theo thầy tôi chụp chung một số hình dưới “sân cờ” với những nụ cười thật rạng rỡ trên khuôn mặt của cả hai người.

Sau đó, thầy tôi nhất định không chịu vào tiệm ăn sáng, cứ nằng nặc bắt tôi chở về nhà để đọc báo và “con đi in ngay cho thầy mấy tấm hình!” Cũng may vợ và các con tôi đã dậy, và đang chuẩn bị bữa trưa trước khi chở thầy đi thăm thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

Có Một Người – Lê Quốc

Lê Quốc

Câu chuyện tưởng chừng như một đoạn phim hay, hoặc một đoạn văn hư cấu hấp dẫn của một nhà viết tiểu thuyết. Nhưng không. Đây là một chuyện thật I00%. Cả nước Pháp, từ trí thức đến bình dân, đều biết. Trong nước, ngoài nước – đều biết.

Có Một Người,

Bị tình phụ, vợ bỏ theo trai – theo một thằng nhóc tì 15 tuổi, học trò của mình và tuổi đáng con mình – bỏ lại mái ấm gia đình hạnh phúc với ba con và một ông chồng có địa vị, hiền lành đứng đắn, rất mực yêu vợ, thương con. Trước cảnh ngộ đau lòng vợ bỏ ông, ra đi theo tình nhân mới mà ông không một lời oán trách, cũng không lên tiếng phàn nàn ồn ào, nói xấu vợ minh như thường tình thiên hạ mà âm thầm, lặng lẽ chịu đựng, nhẫn nhục hy sinh cho vợ được hạnh phúc trọn vẹn trong tình yêu mới. Sự nhẫn nhục phi thường nầy đã làm nên tên tuổi ông. Thói thường, người ta hay có cái nhìn hướng ngoại, nhìn người khác mà phê phán, nhưng ít ai quay lại nhìn chính mình để tìm hiểu khuyết điểm của minh. “Người nầy” khác hẳn người khác, quay lại nhìn mình trước tiên, tìm xem mình có những khuyết điểm gì? Có phải vì mãi lo sự nghiệp mà lơ là, thiếu sự âu yếm thương yêu, thiếu sự chăm sóc chiều chuộng vợ để vợ mình phải đi tìm tình yêu mới. Nghĩ là lỗi tại mình nên ông tự sửa làm một người chồng thật tốt, khắc phục mọi khuyết điểm, để mong vợ trở về sống hạnh phúc với ba con. Nhưng vô vọng.

Alfred de Musset & George Sand

Những cuộc tình éo le, ngang trái nầy không phải chỉ “CÓ MỘT NGƯỜI” mà dẫy đầy trong văn học Pháp cũng như Việt Nam. Lấy một thí dụ điển hình: * Alfred de Musset: Đêm tháng năm(Nuit de Mai) – đêm đau đớn nhứt đời ông vì nữ sĩ Amantine Aurore Lucile Dupin (tức George Sand) đã từ giả ông sau những ngày tận hưởng hạnh phúc lãng mạn, yêu đương nồng cháy, tắm nắng thi ca, lặn hụp trong biển tình ân ái. Trên đời có gì đau khổ hơn bị người yêu cắm sừng trên đầu, rồi ôm cầm sang thuyền khác. Nhà thơ Alfred de Musset thể chất vốn yếu đuối,“tiên thiên bất túc”, đau khổ rên rỉ khóc than như điên dại, loạng choạng bước đi trong bóng đêm tháng năm (Nuit de Mai) – đêm của sự đau khổ chia ly pha lẫn với nỗi buồn cô độc, của nước mắt khổ đau rơi xuống cõi lòng tan nát và những ngày hạnh phúc yêu đương đã xa rồi và bị thay thế bằng sự trống vắng cô đơn đang dày xéo tâm hồn.

Đang đau khổ cùng tột, bỗng có tiếng gọi từ cõi xa xăm vọng lại như tiếng gọi thiêng liêng của người chị an ủi vỗ về, tiếng thì thầm tình tự của người yêu chia sẻ: Hãy đứng dậy, gào thét lên tiếng kêu tuyệt vọng! Đừng làm con đà điểu gục đầu rên rỉ khóc than. Không gì làm chúng ta vĩ đại bằng sự đau khổ. “Rien ne nous si grands qu’une douleur” Đó là tiếng gọi của nàng Muse ( Nàng thơ) đã giúp chàng thi sĩ đang ở trạng thái cùng cực của sự đau khổ mà đứng dậy dựa vào đau khổ để biến nó thành những câu thơ bất hủ:
Les plus désespérés sont les chants les plus beaux
J’en sais d’immortels qui sont de purs sanglots
(Alfred de Musset)

Và ngày nay thơ không chỉ giúp cho nhà thơ vượt qua nỗi khổ đau khi bị tình phụ như Alfred de Musset hay dằng dặc buồn thương tiếc nuối như T.T Kh, yêu thầm trộm nhớ như Félix Arvers – mà thơ ngày nay từ 45-54 trở về sau): “Thơ là chiếc nạng vững chắc cho người già, là chỗ dựa cho người thất thế, từ đó đứng lên làm lại cuộc đời”(Nguyễn mộng Giác giới thiệu Tạp chí Khoa Hữu). Phùng Quán cũng lên tiếng “Có những phút ngã lòng, ta hãy vịn câu thơ mà đứng dậy”. Và từ đó, những nhà thi sĩ, trong những giây phút ngã lòng, hoặc khi bị thất thế, bị tù ngục, đều lấy câu thơ làm chiếc nạng hay dựa vào câu thơ mà đứng dậy như Trần Dần, Hoàng Cầm, Nguyễn chí Thiện, Phùng Cung, Phùng Quán v.v…

Hãy trở về “Có một Người” – dù trên đầu đã mọc lên cái sừng to tướng, dù trái tim còn ri rỉ máu nhưng vẫn âm thầm. im lặng chịu đựng với sự nhẫn nhục phi thường. Vết thương lòng hằn sâu tận xương tủy nhưng ông lấy sự nhẫn nhục làm phương châm, nên sau khi ly dị bà Brigitte, ông rời Amiens và chọn cách sống ẩn dật tại một vùng ngoại ô Paris và ít xuất hiện dù là những buổi tiệc gia đình với các con (Web Hoa xương rồng).

(Tổng Thống Emmanuel Macron và vợ: Bà Brigitte Trogneux)

Ngày lễ đăng quang vị Tổng Thống đẹp trai, tài năng, trẻ tuổi nhất nước Pháp với 21 phát súng thần công, với trên 500 quan khách tham dự gồm những nhân vật tâm tiếng như cựu Tổng Thống Francois Hollande, Tổng Thống Nicolas Sarkozy và các nhà tai mắt đại diện cho tầng lớp dân chúng Pháp. Tổng Thống E. Macron không muốn làm ồn ào tốn hao công quỷ mà chỉ thực hiện các thủ tục thật giản dị tại điện Élysée. Dù vậy, cũng không thể thiếu những cuộc duyệt binh trong khuôn viên điện Elysée, đội quân nhạc cử hành bản “La Marseillaise” hùng hồn vang dội một góc trời. Đây là ngày toàn dân Pháp reo hò ăn mừng có vị Tổng Thống mới tài năng trẻ tuổi nhứt nước Pháp. Tổng Thống E. Macron đọc một bài diễn văn ngắn gọn, đầy ấn tượng, chào mừng các quan khách và dân chúng với chương trình ông sẽ làm cho dân nước Pháp.

Trong khi nhiều thành phố dân chúng tổ chức reo mừng, lễ đăng quang rộn ràng lời chúc tụng, nhạc quốc ca hùng hồn vang dội một góc trời thì “CÓ MỘT NGƯỜI” buồn ủ rũ, viết một lá thơ “Thơ cuối ngày gửi em Brigitte”. Bài thơ hay, lời lẽ cảm động, gây một ấn tượng sâu sắc, một rung động cảm thương cho số phần người chồng cũ của bà Brigitte:

(Ông André-Louis-Auzière – một banquier tại Amiens Pháp 
 chồng cũ của bà Brigitte Trogneux)

Đây là lá thơ cuối ngày gửi em Brigitte:

“Cả thế giới hồi hộp theo dõi những gì đang diễn ra tại điện Elysée. Anh phải đóng cửa ngồi một mình trong ngôi nhà ngoại vi thành phố. Vậy mà tiếng tivi vẫn cứ vang lên trong từng căn phòng nhỏ. Người Pháp đang đón chào Macron – vị Tổng Thống trẻ trung nhất lịch sử nước mình.

Chắc là em không còn tâm trí nào để nghĩ đến anh
Cái tên André – Louis đã bị xóa rất lâu rồi trong bộ nhớ
Nhưng anh không thể quên Trogneux tóc vàng một thuở
Những thanh chocolate vùng «Rua » đâu dịu ngọt bằng nàng
Anh nhớ lại những buổi chiều anh phải lang thang
Chạy khắp mọi nẻo đường Paris để tìm cho con hộp thuốc
Chỉ mười năm với ba đứa con có được
Ba đứa con – minh chứng cho tình yêu chúng ta – đẹp hơn cả thiên thần
Anh không ngờ chuyện bắt đầu từ một ngày em đòi ly thân
Rồi em nhất quyết kêu anh ra tòa bằng cái đơn ly dị
“Không thực sự hạnh phúc”- em tự nhiên nói thế
Cuối cùng anh phải chiều em thôi
Vì anh biết em đã tìm thấy một phương trời
Cứ như Newton bất ngờ tìm ra định luật quả táo rơi
Em ngỡ ngàng tìm ra một chàng trai kém minh hai con giáp
Cũng chẳng có gì bất thường (nhất là nước Pháp )

Song gia đình của chúng ta thì lại giống bao gia đình kia tất thảy ở trên đời
Em đã có một mái nhà, một mái ấm đó thôi
Dù ai đó cao siêu Là hoàng tử, là nhà vua, hay Chúa Trời đi nữa
Em nên nhớ chữ Thủy Chung là muôn đời muôn thuở
“Công chúa lấy thằng bán than”, cũng theo nó lên rừng
Có thể em đang mơ một sự nghiệp lẫy lừng
Tổng Thống với Đệ Nhất Phu Nhân tâm đầu ý hợp

Hai mốt phát đại bác vang trời, em choáng ngợp
Tiếng khóc trẻ thơ năm xưa mới đúng nghĩa gia đình
Thật buồn trong giây phút nầy chỉ anh nghĩ đến anh
Nhưng bỗng thấy ấm lòng
Khi Sébastien, Laurence, Tiphani vừa nhắn tin cho bố
“ Chúng con yêu bố ngàn lần,
Bố hãy tin điều này bố nhớ
Lát nữa, tan cuộc tại điện Elysée, chúng con sẽ về nhà
Cuộc sống sẽ thực sự bắt đầu với bốn bố con ta”
(André- Louis- Auzière)

Nhân vật chính trong khúc phim nầy là cặp Emmanuel Macron và Brigitte Trogneux. Họ đã sánh bước vinh quang vào điện Elysée, trước sự reo hò nồng nhiệt của dân chúng ủng hộ vị tân Tổng Thống trẻ tuổi, tài năng của nền Cộng Hòa nước Pháp. Có một người đứng sau cuộc tình nầy đang đau khổ cực kỳ nhưng lặng lẽ âm thầm chịu đựng, hy sinh với một sự nhẫn nhục phi thường. “Có Một Người”, Người ấy là ai?

Một gia đình hạnh phúc:

Tại Amiens – một thị trấn ở phía Bắc nước Pháp – có một gia đình trí thức: Cha trước làm nghề kiểm toán nhà nước, người con theo học ngành Ngân Hàng. Sau khi tốt nghiệp Đại Học, người con làm việc rất giỏi trong ngành Ngân Hàng.Về sau trở thành một banquier: Chủ nhà băng tại Amiens. Có địa vị xã hội, có tiền bạc, đời sống sung túc. Tháng sáu 1974 (Juin 1974) Người nầy thành hôn với Brigitte – một cô giáo dạy văn và Latinh tại một trường Trung học cơ sở. Brigitte con nhà khá giả, sản xuất bánh kẹo và chocolate nổi tiếng. “Người ấy” hết sức thương yêu chiều chuộng vợ khiến cho người xung quanh ngưỡng mộ. Brigitte rất hạnh phúc dưới một mái ấm gia đình, với chồng có địa vị, giàu có, hiền lành, thương yêu vợ rất mực và ba đứa con ra đời là một mối dây ràng buộc cặp vợ chồng thêm gắn bó. Lúc đó, Brigitte chỉ biết có mái ấm gia đình sung túc, chồng thương yêu, con ngoan ngoãn. Niềm hạnh phúc mà biết bao người khát khao thèm muốn.

Người ấy là ai ? Xin xem tấm hình đám cưới dưới đây:

 Hình đám cưới “NGƯỜI ẤY” với cô giáo Brigitte Trogneux. (Người có mang vòng tròn đỏ trên đầu)

Nhưng,

Đời có lắm sự bất ngờ…

Brigitte là người thích văn chương và kịch nghệ. Kéo dài lê thê nhịp sống đơn điệu, buồn chán, Brigitte bèn gợi ý với chồng lập một câu lạc bộ nghiên cứu văn chương và kịch nghệ. Người chồng bao giờ cũng tôn trọng ý của vợ và ủng hộ việc làm nầy. Bây giờ Brigitte thấy cuộc đời có ý nghĩa hơn, việc làm đáp lại sở thích của mình.

Bất ngờ xuất hiện một chàng trai 15 tuổi tại lớp học của cô giáo Brigitte. Chàng trai mà Laurence, con gái của Brigitte, khen là một chàng trai tuyệt vời am hiểu tường tận mọi việc. Còn cô giáo Brigitte choáng ngợp trước sự thông minh của Macron. Bà nói: Macron có lối tư duy mà tôi chưa từng thấy trước đây. Mọi ngày thứ sáu, chúng tôi dành nhiều thì giờ để xây dựng các vở kịch. Nhưng chỉ là cái cớ để chúng tôi gần gũi nhau. Một người bạn của Macron tiết lộ: “Cô giáo bị quyến rũ bởi tài viết lách của cậu ấy”.

Con người kỳ lạ hành xử cũng rất lạ kỳ. Con gái tuổi xuân hơ hớ không lấy mà lại lấy bà già đáng tuổi mẹ mình, lại là người có chồng ba con. Cuộc tình đôi đũa lệch, được đánh giá là “vượt mọi định kiến của gia đình và xã hội”. Cuộc tình trái cựa gà, tréo cẳng ngổng nầy lại là cuộc tình của một con người phi thường, xuất chúng, thông minh tuyệt đỉnh. Cặp Emmanuel Macron và Brigitte Trogneux sánh vai cùng nhau vinh quang bước vào điện E1ysée trước sự reo hò nồng nhiệt của dân chúng chào mừng vị tân Tổng Thống tài năng, trẻ tuổi nhứt của nền Cọng Hòa Pháp.

Trong khi 21 phát súng thần công nổ rền trời, tiếng hoan hô dậy đất, đội quân nhạc cử hành bản quốc ca “ La Marseillaise” hùng hồn, cuộc diễn hành trong khuôn viên điện Élyseé, đoàn vệ binh hiên ngang rầm rập nhịp bước theo điệu kèn trống quân hành uy nghi hùng dũng, thì “CÓ MỘT NGƯỜI” đứng đàng sau cuộc hôn nhân Emmanuell-Brigitte, ôm một nỗi đau khổ nhìn cảnh vợ phản bội, bỏ mình theo tình nhân mà nước mắt tuông rơi, trái tim tan nát…Nhưng “Người ấy” không bao giờ tức tối, mắng chửi, làm ồn ào mất mặt hay nói xấu vợ minh trước mặt người khác. Ông tập trung vào sự nuôi dưỡng và giáo dục ba con. Sau đó, “Người ấy” là một người đàn ông đích thực. Ông không bao giờ làm phiền cuộc sống của Brigitte. Sau khi ly hôn, ông lo cho con cái ăn học và chuyển hết tài sản cho con, ông đến vùng ngoại ô Paris sống ẩn dật và tránh gặp Brigitte, kể cả những buổi tiệc gia đình với các con.

Cuộc tình huyền thoại Macron Brigitte được loan truyền khắp thế giới nhưng không nghe ai nhắc đến “MỘT NGƯỜI” – mặc dầu người ấy về tư cách, sự hy sinh, đức nhẫn nhục ít người sánh được, Thói đời là thế. Phù thịnh chớ ai phù suy! Thiên hạ Đông Tây, Tư bản, Cộng Sản đều thế cả.

Con người đáng kính ấy qua đời tháng 12 năm 2019. Tang lễ ông được tổ chức trong vòng bí mật. Mãi đến ngày 7 tháng 10 năm 2020, con gái ông Tipun Ozier mới thông báo tin cha mình đã qua đời. Trong một tweet, cô viết: “Cha tôi đã qua đời vào ngày 24/12/2019. Ông ấy đã được chôn cất trong sự bảo vệ quyền riêng tư nghiêm ngặt nhất.Tôi rất ngưỡng mộ cha tôi. Ông nói rằng ông không muốn làm phiền quá nhiều sau khi mình qua đời. Vì vậy, chúng tôi phải tôn trọng ý muốn của ông.Theo tạp chí Tatler của Anh Quốc, trò chuyện với Paris Match, một những đứa con gái của “Người ấy” và Brigitte nói: “Tôi rất ngưỡng mộ cha tôi là người không thích lề thói, luôn coi trọng sự ẩn danh hơn bất cứ thứ gì. Ông phải được tôn trọng”. Ý tưởng nầy rất phù hợp với sự xa rời mọi người và chuyển sang Paris vùng ngoại ô sống ẩn dật cho đến khi qua đời.

Người nầy không bao giờ khuấy động chuyên phản bội của vợ. Ông chọn cách xa rời thế giới theo cách riêng tư của minh là sống ẩn dật với lòng vị tha và sự nhẫn nhục phi thường.

Đánh giá một con người, không phải chỉ sự thành công nổi tiếng mà còn tư cách, sự nhẫn nhục, lòng hy sinh cao cả, âm thầm chịu đựng, lấy sự nhẫn nhục làm phương châm, lòng vị tha làm tình thương, suốt đời không thay đổi. Con người đó không đáng cho đời ngưỡng mộ hay sao? Cũng như người chiến sĩ cả hai miền Nam Bắc ngoài mặt trận bắn giết nhau thành công thì ai hưởng? Người lính được hưởng gì? Người lính chỉ biết hy sinh ngoài mặt trận, ở hậu phương vợ con đói rách, cơm chan nước mắt hay bị bắt làm con tin, để chồng minh đi xẻ dọc Trường Sơn, đánh cho đến người Việt Nam cuối cùng.

Tuy nhiên còn có một người đời sau nhắc đến và vinh danh họ là thi sĩ Đằng Phương (tức Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy): Họ là những chiến sĩ xông pha dưới làn tên mũi đạn:

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách

Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên

Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên

Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật

Nhưng máu của họ đã len vào mạch đất

Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông

Và anh hồn chung với tấm tình trung

Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.

Đằng Phương

“ NGƯỜI ẤY” suy nghĩ cho sâu xa, quả là con người đáng cho đời tôn vinh và ngưỡng mộ như một người chiến sĩ ngoài mặt trận, như cái Dũng của một người anh hùng trước nghịch cảnh.

“ NGƯỜI ẤY” là người có vòng tròn đỏ trên đầu ngày cưới vợ là cô giáo Brigitte Trogneux. Và người ấy chính là André- Louis- Auzière.

“ NGƯỜI ẤY” chính là người bị vợ phản bội mà không một lời oán trách, không làm phiền vợ , luôn luôn một lòng vị tha, bao dung để vợ được sống trọn với tình yêu mới. Trên đời rất ít người vượt qua cảnh ngộ đau lòng nầy, để hành xử được như ông André.

Câu chuyện tình ly kỳ nầy được kết thúc nơi đây. Cặp Macron-Brigitte vinh quang sánh bước vào điện E1ysée – còn ông André chôn chặt nỗi hận lòng dưới ba tấc đất và hành xử với lòng vi tha hiếm có, chọn cách sống ẩn dật ở ngoại thành Paris cho đến khi qua đời. Còn Brigitte khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân thì không còn nhớ gì đến chuyện quá khứ.

Người đời mặc tình phê phán và chọn lựa. Nhưng đừng quên, khi đứng bên ngoài để phê phán thì dễ dàng hơn khi chính bản thân mình đối diện với nghịch cảnh./.

Những ngày bệnh tật cuối thu năm 2022.
Lê Quốc

Ghi chú: 

Tạm thời xin hiểu bức thơ cuối ngày gửi em Brigitte là của ông André -Louis- Auzière trước khi có nhận xét của nhà biên khảo nổi tiếng và uy tín là Ông Trần Việt Long (Cao học 8, Học Viện QGHC). Sự nhận xét của nhà biên khảo xuất sắc nầy, người viết rất đồng ý nhứt là không có bản tiếng Pháp mà chính người viết đã khổ công đi tìm bản tiếng Pháp nhưng không hề có trên các diễn đàn tiếng Pháp và Việt. Như vậy, ông André không viết được tiếng Việt và cũng không thể nhờ người dịch ra tiếng Việt nếu không có bảng tiếng Pháp.

Quà Giáng Sinh vô giá của người vô gia cư

Báo Nguoi- Viet

December 21, 2022

Truyện ngắn của Lâm Hoài Thạch

Buổi sáng ngày Giáng Sinh tại Little Saigon, California. Ngày kỷ niệm Chúa giáng trần. Trời lạnh và xe cộ cũng thưa thớt, chắc vì đêm qua mọi người cùng vui mừng trong đêm Giáng Sinh tại nhiều nhà thờ, hoặc trong gia đình.

Đôi vợ chồng đến nhà thờ dự lễ Giáng Sinh. (Hình minh họa: Wang Zhao/AFP via Getty Images)

Trong góc phố của thành phố Garden Grove, một người vô gia cư khoảng 50 tuổi đang ngồi trên vỉa hè. Hành trang được cất trong một ba lô cũ rích và một cái mền quấn trên mình.

Một gã đàn ông đang đi trên vỉa hè, ngang qua người vô gia cư chừng năm bước rồi quay trở lại trước mặt người vô gia cư.

-Merry Christmas! – gã đàn ông nói.

Người vô gia cư gật đầu cười nhẹ:

-Merry Christmas!

Gã đàn ông móc trong túi ra $5 đưa cho người vô gia cư, nhưng ông ta lắc đầu cười nhẹ, và nói:

-Cám ơn ông nhiều lắm, thường thì tôi vẫn ngồi đây để nhờ tiền của những người có tấm lòng thương những người vô gia cư như tôi. Nhưng hôm nay là ngày Chúa Giáng Sinh, tôi không nhận tiền của ai cả, vì ngày này là ngày Chúa giáng trần để cứu rỗi tội lỗi cho mọi người, mà tôi cũng là một trong những người đã từng hưởng ân điển của Chúa ban. Ngay bây giờ, cho dù hoàn cảnh của tôi như thế này, nhưng lúc nào tôi cũng nghĩ rằng Chúa vẫn hiện hữu trong tôi, cho sức khỏe của tôi được đầy đặn và còn sống đến hôm nay.

-Nhưng tại sao ông trở thành vô gia cư? – người đàn ông hỏi.

Người vô gia cư trả lời:

-Hai mươi năm trước tôi vẫn làm việc như mọi người và cũng vừa cưới vợ. Vợ tôi đẹp và hiền.

Rồi người vô gia cư ngưng nói, gục đầu. Ông lấy một tấm hình người phụ nữ mang trên cổ cho gã đàn ông xem:

-Đây là hình của vợ tôi hồi hai mươi năm về trước.

-Vợ của ông đẹp quá, giờ vợ của ông đâu?

Gương mặt buồn thảm nói trong nghẹn ngào của người vô gia cư:

-Vợ chồng tôi lấy nhau được một tuần thì chúng tôi bị tai nạn trong lúc tôi đưa vợ tôi đi mua sắm quà Giáng Sinh để biếu cho thân nhân. Vợ tôi chết và tôi bị thương nặng.

-Tội nghiệp cho vợ chồng của ông quá!

-Sau đó, vì khóc quá nhiều nên đôi mắt của tôi bị mù. Sau khi được bác sĩ chữa trị hết một năm thì mắt của tôi chỉ được thấy lờ mờ cho đến bây giờ.

-Tôi hiểu vì sao ông như thế này rồi. Nhưng hôm nay là ngày Giáng Sinh, ông ngồi đây một mình, mà không nhận tiền ai hết. Vậy… Ông có cần tôi giúp gì cho ông không?

Người vô gia cư cười nhẹ nói:

-Cám ơn lòng tốt của ông. Đêm qua, tôi ngủ thấy vợ tôi về cùng đi với tôi đến nhà thờ dự lễ Giáng Sinh. Đây là món quà của Chúa đã ban cho tôi niềm hạnh phúc, mà hai mươi năm qua tôi mới nhận được. [qd]

ĐÔ ĐỐC CHUẨN BỊ ĐI TÙ

Sau khi nghe toà tuyên án, Đô Đốc Nguyễn Văn Hiến, tư lệnh quân chủng Hải Quân, lái xe về nhà để chuẩn bị đồ đạc đi tù.

Vừa vào đến nhà, bà vợ hỏi : Mấy cuốn ? Hiến trả lời : Bốn. Bà vợ bảo : Thế là may rồi, tôi chỉ sợ mang tiếng có thằng chồng chết rũ tù. Hiến cáu : Cái lúc tôi đưa tiền cho bà, bà có nói thế không ? Vợ Hiến bảo : Chuyện. Ăn thì phải khéo chứ. Bao nhiêu thằng ăn mà có bị làm sao đâu. Hiến gằn giọng : chúng nó chưa bị moi ra đấy thôi. Moi ra thì từ thằng chủ tịch nước trở xuống, thằng nào cũng đáng đi tù hơn tôi. Uống vội một hớp nước, Hiến dịu giọng : Thế bây giờ bà có sửa soạn đồ cho tôi đi tù hay không ?

Vợ Hiến đi vào nhà trong lấy ra một cái va ly kéo hiệu Samsonise mua từ bên Anh. Hiến bảo : Đi tù chứ có phải đi du lịch đâu mà kéo cái này. Vào trong trại giam chúng nó cười cho, kiếm cái va ly nào cũ cũ ấy. Vợ Hiến bảo : Nhà làm gì có đồ cũ, đứa nào cười thì vả vào mặt nó chứ. Hiến bâng khuâng : Tôi có còn là đô đốc nữa đâu, bây giờ tôi là thằng tù hình sự có án. Ở trong đó toàn đại bàng với đầu gấu, đang lo không biết có bị đứa nào vả vào mặt không đây.

Hai vợ chồng đang ngồi loay hoay thu xếp ít quần áo và một đống thuốc trị bệnh Trỉ của Hiến cho vào va ly thì có khách đến. Khách là một người bạn thân của Hiến từ thời còn học trung học. Đánh trận ở biên giới phía bắc bị mảnh pháo vạt đi một mảng đầu, phục viên về cứ ương bướng, không được kết nạp đảng dù thuộc diện đối tượng lâu năm. Sống chật vật với nghề nấu rượu lậu nhưng coi trời bằng vung. Được cái chơi với bạn bè rất tốt, thuỷ chung.

Vừa bước vào nhà, cái miệng người bạn đã oang oang :
-Thằng Hiến, mày giỏi. Mày không khóc ở toà là tao khoái rồi. Tao chỉ lo mày lại giống như mấy thằng khốn nạn kia, ở ngoài vênh váo, thượng đội hạ đạp, ăn cho nứt bụng, lúc đứng trước vành móng ngựa thì  khóc như con nít. Một điều hai điều xin lỗi bác Trọng vung vít, cứ làm như chúng nó tham nhũng tiền túi của bác Trọng chứ không phải tiền thuế của nhân dân.

Hiến ngước nhìn bạn mình ngơ ngác :

-Khóc gì ? Đang mừng thấy mẹ đây. Lãnh 4 cuốn, ở tù cao lắm chừng 2 cuốn. Về tao cho vợ con qua Mỹ theo diện đầu tư hết. Chừng nửa triệu đô chứ bao nhiêu. Tao có đường dây rồi. Qua bên đó tao chống cộng cho mày coi. Bao nhiêu cái thối tha của tụi lãnh đạo tao sẽ khui ra cho bằng hết.

Người bạn nhìn chằm chằm vào mặt Hiến :

-Tụi mày hành xử như một lũ kẻ cướp với nhau. Mày cũng chẳng tốt lành gì. Đứng đầu quân chủng hải quân mà để giặc Tàu làm loạn ngoài Biển Đông. Sĩ quan cấp cao thì bận bịu bán đất quốc phòng chia nhau, mặc cho lính tráng phải ra ngồi chợ, bán từng bó rau để cải thiện bữa ăn.

Hiến hít một hơi dài, khuôn mặt xanh mét, mái tóc nhuộm chẻ bảy ba rịn những giọt mồ hôi :

-Chẳng làm gì được đâu. Chỗ bạn bè tao mới nói. Chúng nó bán hết biển đảo rồi. Mà bán sỉ chứ không bán lẻ nhá. Biết rõ được điều này nên hàng tướng lãnh bọn tao bây giờ thằng nào như thằng nấy, chỉ chăm bẵm lo kiếm tiền phòng thân thôi.

Người bạn nói :

-Tính cả mày thì giờ này cũng cả chục tướng ngồi tù rồi. Thật không có quốc gia nào mà tướng lãnh đi tù nhiều như ở cái đất nước này. Nhưng chắc tụi mày vào đó cũng làm vua tù thôi….
Câu nói vô tình của người bạn đã chạm vào nỗi lo ngay ngáy thầm kín của Hiến. Hiến lắc đầu:

-Không đâu. Bà xã tao có đi hỏi thăm mấy người bạn có chồng đi tù, họ nói bây giờ tai to mặt lớn, bộ trưởng với lại tướng tá kéo nhau vào tù nhiều quá, không được phònng riêng nữa đâu. Con vợ của thằng tướng Hoá còn kể tù đại gia năm bảy gười chung một phòng, cứ cãi nhau đánh nhau đến nỗi quản giáo phải cho mấy thằng tù nghèo vào ở chung để có người can. Bà ấy còn kể thằng bộ trưởng Tuấn 2 lần bị tù đại bàng đánh lén đến rách cả mắt về cái tội lúc còn là bộ trưởng viết sách dạy đạo đức, mang vào trại giam bắt chúng nó học, bây giờ chúng nó ghét.

Người bạn nghe vậy ái ngại nhìn bạn mình, Hiến né tránh cái nhìn ấy bằng cách cụp mắt xuống, chực khóc…

Đúng lúc ấy, gia đình đứa con gái ập tới. Cháu ngoại 8 tuổi của Hiến thấy cảnh sắp xếp va ly liền reo lên: A ông ngoại chuẩn bị hành quân ra mặt trận đấy hả ông ? Hiến không trả lời, cúi mặt xuống thấp hơn nữa, và từ bờ mi của Hiến, hai giọt nước mắt nhục nhã lăn nhanh xuống má.

Loc Duong

From: Anh Dang & KimBang Nguyen

Một câu chuyện cảm động

Vào sáng ngày Thứ Ba, 11 Tháng Chín năm 2001, chúng tôi đã rời khỏi Frankfurt khoảng 5 giờ đồng hồ rồi và đang bay qua Bắc Đại Tây Dương.

Thình lình tấm màn ngăn cách giữa buồng lái với khoang tàu chứa hành khách vén mở và tôi được gọi vào buồng lái gặp phi công trưởng ngay lập tức.

Vừa bước vào buồng lái là tôi để ý nhận thấy ngay nét nghiêm trọng lộ trên khuôn mặt mọi người. Phi công trưởng đưa cho tôi một bản in ra vừa nhận từ trụ sở chính của hãng Delta Airlines ở Atlanta viết vỏn vẹn câu: “Mọi tuyến không lưu trên lục địa Hoa Kỳ đều ngăn cấm giao thông hàng không thương mại. Hãy đáp khẩn cấp càng sớm càng tốt xuống phi trường nào gần nhất. Hãy thông báo điểm đáp. “

Không ai nói một lời nào cho tôi biết điều này mang ý nghĩa gì. Chúng tôi biết đây là một tình thế nghiêm trọng và chúng tôi cần phải tìm đất liền để đáp ngay. Phi công trưởng xác định sân bay gần nhất là phi trường Gander, Newfoundland, cách 400 dặm. Ông liên lạc với trạm không lưu Canada để xin cho thay đổi tuyến bay và được chấp thuận ngay mà không cần hỏi lý do.

Tất nhiên sau đó chúng tôi đã hiểu ra lý do tại sao họ chấp thuận không do dự.

Trong khi phi hành đoàn chuẩn bị cho máy bay hạ cánh, một tin nhắn đến từ Atlanta báo cho chúng tôi biết có hoạt động khủng bố trong khu vực New York.

Vài phút sau tin cập nhật cho biết có không tặc.

Chúng tôi quyết định nói dối với hành khách trong khi chúng tôi vẫn còn ở trên không. Chúng tôi nói với họ rằng máy bay gặp một trục trặc nhỏ về cơ khí và cần phải hạ cánh tại sân bay gần nhất ở Gander, New Foundland để kiểm tra. Chúng tôi hứa sẽ cung cấp thêm thông tin sau khi hạ cánh ở Gander. Có nhiều hành khách phàn nàn, nhưng điều đó không có gì mới lạ! Bốn mươi phút sau, chúng tôi hạ cánh xuống Gander. Giờ địa phương lúc bấy giờ tại Gander là 12:30 PM tức là 11:00 AM New York.

Khi chúng tôi đáp thì đã có khoảng 20 máy bay khác trên mặt đất đến từ khắp nơi trên thế giới và họ cũng đã phải chọn lối đi vòng này trên đường đến Hoa Kỳ.

Sau khi chúng tôi đã đậu trên phi đạo chờ lệnh mới, phi công trưởng thông báo như sau: “Thưa quý vị, chắc quí vị thắc mắc phải chăng tất cả các máy bay xung quanh chúng ta có vấn đề cơ khí tương tự như chúng ta. Thật ra chúng ta đang ở đây là vì một lý do khác..” Sau đó, ông tiếp tục giải thích thêm đôi chút cho chúng tôi biết về tình hình tại Hoa Kỳ. Có những tiếng thở hổn hển ồ to lên và những tia nhìn hoài nghi thảng thốt. Phi công trưởng thông báo cho hành khách biết rằng giới hữu trách của phi trường Gander bảo chúng tôi giữ yên tại chỗ.

Bấy giờ trách nhiệm và quyền quyết định về tình trạng của chúng tôi tùy thuộc ở chính phủ Canada và lệnh của họ là không ai được ra khỏi máy bay. Và cũng không ai dưới đất được phép đến gần bất kỳ phi cơ nào. Chỉ có cảnh sát sân bay cứ lâu lâu lại đến dòm ngó chúng tôi một lúc, xong đi qua các máy bay khác. Trong khoảng một giờ đồng hồ kế tiếp, thêm nhiều máy bay hạ cánh và sau cùng Gander tiếp nhận tất cả là 53 máy bay từ khắp nơi trên thế giới, 27 chiếc trong số đó là phi cơ hàng không thương mại của Mỹ.

Trong khi đó, những mảnh tin tức bắt đầu phát ra trên hệ thống âm thanh của phi cơ. Lần đầu tiên chúng tôi được biết các phi cơ bị không tặc đã đâm vào Trung Tâm Mậu Dịch Thế Giới ở New York và vào Lầu Năm Góc trong vùng Washington DC. Mọi người cố gắng dùng điện thoại di động của họ, nhưng không thể kết nối vì hệ thống truyền sóng ở Canada khác. Một số người gọi thông qua được, nhưng chỉ có thể với tổng đài ở Canada và họ cho biết rằng các làn sóng nối kết vào đất Mỹ đã bị chặn hoặc bị ngẹt.

Khoảng vào buổi tối trong ngày, tin tức cho chúng tôi rằng hai tòa cao ốc Trung Tâm Mậu Dịch Thế Giới đã sụp đổ và chiếc phi cơ thứ tư bị không tặc đã đâm xuống đất. Bấy giờ hành khách đều kiệt sức về thể chất lẫn cảm xúc, không kể nỗi sợ hãi, nhưng tất cả mọi người đều bình tĩnh đáng kinh ngạc. Chúng tôi chỉ cần nhìn ra ngoài cửa sổ thấy 52 phi cơ bị lạc khác để nhận ra rằng chúng tôi không phải là người duy nhất trong tình trạng khó khăn này.

Trước đó chúng tôi được thông báo rằng họ sẽ cho phép hành khách lần lượt ra khỏi máy bay mỗi lần một chiếc. Lúc 6 giờ chiều, sân bay Gander nói với chúng tôi rằng phiên chúng tôi được phép rời phi cơ sẽ là 11 giờ sáng hôm sau. Hành khách không hài lòng tí nào, nhưng họ cũng buông xuôi chấp nhận tin không vui này mà không phản đối ồn ào; họ bắt đầu chuẩn bị sẵn sàng để ở qua đêm trên máy bay.

Gander hứa với chúng ta sẽ chăm sóc y tế, nếu cần thiết, nước, và dịch vụ vệ sinh. Và họ đã giữ lời. May mắn thay chúng tôi không có tình huống y tế nào phải lo lắng. Chúng tôi có một phụ nữ trẻ mang thai 33 tuần. Chúng tôi đã chăm sóc rất chu đáo cho thai phụ đó. Đêm trôi qua không gặp biến cố nào ngoại trừ sự xếp đặt chỗ ngủ không được thoải mái.

Khoảng 10 giờ 30 sáng ngày 12, một đoàn xe buýt trường học chạy đến. Chúng tôi ra khỏi máy bay và được đưa đến nhà ga, nơi chúng tôi thông qua thủ tục nhập cảnh và quan thuế, và sau đó phải ghi danh với Hội Hồng Thập Tự.

Sau đó chúng tôi (phi hành đoàn) được tách ra khỏi đám đông hành khách và được xe van đưa đến một khách sạn nhỏ. Chúng tôi không biết hành khách của chúng tôi được đưa đi đâu. Nhân viên của Hội HTT cho chúng tôi biết rằng thị trấn Gander có dân số 10.400 người và họ đang có khoảng 10.500 hành khách phải chăm sóc từ tất cả các máy bay đã buộc phải đáp xuống Gander! Họ bảo chúng tôi hãy yên tâm nghỉ ngơi tại khách sạn và họ sẽ liên lạc khi các phi trường Mỹ mở và hoạt động trở lại, nhưng chắc cũng mất một thời gian.

Chỉ khi chúng tôi đến khách sạn và bật TV lên, chúng tôi mới biết hết toàn diện của cuộc tấn công khủng bố ở quê nhà (nước Mỹ), 24 giờ sau khi nó bắt đầu diễn ra.

Trong lúc đó, chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh rỗi và nhận thấy rằng người dân Gander vô cùng thân thiện. Họ bắt đầu gọi chúng tôi là “người máy bay.” Chúng tôi hưởng nhận tính hiếu khách của họ, khám phá thị trấn Gander đã kết cuộc đã trải qua một khoảng thời gian khá tốt đẹp.

Hai ngày sau, chúng tôi được gọi và được đưa trở lại sân bay. Trên máy bay, chúng tôi đoàn tụ với các hành khách và khám phá những gì họ đã làm trong hai ngày qua. Những điều chúng tôi khám phá đó thật không thể tin được..

Gander và tất cả các cộng đồng xung quanh (trong vòng bán kính 75km) đã đóng cửa tất cả các trường trung học, hội trường, nhà nghỉ, và bất kỳ nơi tập hợp lớn nào khác. Họ biến đổi tất cả các cơ sở vật chất đó thành chỗ trú ngụ chung cho tất cả lữ khách lỡ đường. Có chỗ thì trải chiếu, chỗ thì trải nệm, chỗ thì trải túi ngủ và gối nằm.

Tất cả các học sinh trung học được kêu gọi tình nguyện thì giờ để chăm sóc cho “khách.” 218 hành khách của phi cơ chúng tôi được đưa tới một thị trấn có tên là Lewisporte, cách Gander khoảng 45 cây số, nơi đó họ được trú ngụ trong một trường trung học. Hành khách phụ nữ nào muốn có khu ngủ riêng cũng được sắp xếp theo ý muốn. Các hành khách đi chung cả gia đình cũng được giữ lại chung với nhau. Tất cả các hành khách lớn tuổi được đưa tới nhà riêng.

Các bạn còn nhớ người phụ nữ trẻ mang thai chứ? Bà ấy được đưa đến một nhà riêng đối diện bên kia đường với một cơ sở chăm sóc khẩn cấp 24 giờ. Có một nha sĩ được cử sẵn nếu cần đến, các y tá nam và nữ túc trực cạnh đám đông trong suốt thời gian tạm trú.

Các cuộc gọi điện thoại và e-mail cho Mỹ và thế giới được thiết lập sẵn để tất cả mọi người có thể dùng mỗi ngày một lần. Vào ban ngày, hành khách được cung cấp các chuyến “du ngoạn”. Một số chọn đi du ngoạn bằng tàu thuyền trên các hồ và bến cảng. Một số chọn đi băng đồng trong các khu rừng của địa phương. Các tiệm nướng bánh địa phương tiếp tục mở cửa để làm bánh mì tươi cho khách hàng.

Thức ăn được các cư dân nấu nướng ở nhà rồi mang đến cho các trường học. Người nào thích dùng bữa ở nhà hàng theo sự lựa chọn của họ cũng được đưa đi và được cung cấp các bữa ăn tuyệt vời. Tất cả mọi người đều được cấp phiếu đến các tiệm giặt địa phương để giặt quần áo vì tất cả hành lý vẫn còn giữ trên máy bay.
Nói cách khác, mỗi nhu cầu thuần nhất của lữ khách lỡ đường cũng đều được đáp ứng đầy đủ. Hành khách đã khóc khi kể lại với chúng tôi những câu chuyện này.

Cuối cùng, khi có tin tất cả phi trường ở Mỹ đã mở cửa trở lại, họ được chở đến sân bay đúng giờ và không thiếu một hành khách nào. Hội HTT địa phương đã nắm đầy đủ tất cả các thông tin của mọi hành khách và đã đưa trả hành khách về lại đúng chuyến bay. Họ phối hợp tất cả mọi thứ một cách tốt đẹp. Thật đúng là hoàn toàn không thể tin được….

Khi hành khách đã trên tàu, nó giống như họ vừa mới đi một chuyến du hành trên biển. Tất cả mọi người đều biết tên nhau. Họ trao đổi những câu chuyện của họ trong mấy ngày qua, khoe với nhau xem người nào được đối xử tốt hơn.

Chuyến bay của chúng tôi về đến Atlanta trông giống như một chuyến bay du ngoạn ăn chơi được thuê bao. Phi hành đoàn tránh ra để họ tự do. Thật không thể tưởng. Hành khách hoàn toàn hàn gắn với nhau và gọi nhau bằng tên một cách thân mật, cùng nhau trao đổi số điện thoại, địa chỉ, địa chỉ email.

Và sau đó là một điều rất lạ thường xảy ra. Một trong những hành khách của chúng tôi đến gần tôi và hỏi tôi rằng ông ta có thể dùng hệ thống âm thanh của phi cơ để nói vài lời được không. Chúng tôi không bao giờ cho phép điều đó. Nhưng lần này thì khác. Tôi nói “tất nhiên” và đưa máy vi âm cho ông. Ông nhắc mọi người về những gì họ vừa trải nghiệm trong mấy ngày qua. Ông nhắc nhở họ về lòng hiếu khách mà họ đã nhận được từ tay của những con người hoàn toàn xa lạ. Ông tiếp tục nói rằng ông muốn làm một điều gì đó để đền đáp lại cho những cư dân tốt bụng của Lewisporte.

Ông cho biết ông sẽ thành lập một Quỹ tín thác dưới tên của DELTA 15 (Số hiệu chuyến bay của chúng tôi). Mục đích của quỹ tín thác là cung cấp học bổng đại học cho học sinh trung học của Lewisporte. Ông kêu gọi mọi khách đồng hành cùng chuyến bay đóng góp bất kỳ số tiền bao nhiêu cũng được. Khi chúng tôi đã gom góp đủ hết các tờ giấy ký hứa có ghi số tiền, tên họ, số điện thoại và địa chỉ, tổng số khoản tài trợ là trên $14.000!

Người đề xướng đó là một bác sĩ ở Virginia, ông hứa phần ông sẽ đóng góp bằng với số tiền đó và sẽ tiến hành thủ tục giấy tờ lập học bổng. Ông cũng nói rằng ông sẽ chuyển đề nghị này đến Công Ty Hàng Không Delta và sẽ yêu cầu họ cùng hiến tặng.

Khi tôi viết bài này, quỹ tín thác đã lên hơn $1.5 triệu và đã hỗ trợ 134 học sinh theo học đại học.
Tôi chỉ muốn chia sẻ câu chuyện này bởi vì bây giờ chúng ta cần những câu chuyện đẹp như thế này. Nó mang lại cho tôi một chút hy vọng khi biết rằng người ta dù ở nơi xa xôi vẫn có thể đối xử tử tế với người lạ trôi dạt tới. Nó nhắc tôi thế giới này có bao nhiêu điều tốt đẹp. Bất chấp mọi điều xấu xa chúng ta thấy đang diễn ra trong thế giới ngày nay, câu chuyện này khẳng định rằng vẫn còn rất nhiều người tốt và thánh thiện trên thế giới và họ sẽ hiện ra khi tình thế xấu tệ đi.

Xin thượng đế ban phước cho Hoa Kỳ…

Xin Thượng đế ban phước cho người dân Canada… và đặc biệt là xin Thượng đế ban phước cho người dân Newfoundland.”

Jerry Brown

(Phan Hạnh chuyển ngữ)

CHUYỆN ANH SỬA XE ĐẠP GẶP EM GÁI NGƯỜI PHÚC KIẾN-Truyện ngắn

 Ngày xưa, có một thời gian tôi sửa xe đạp bên đường Kỳ Đồng Saigon khoảng 2 năm.

Mùa mưa năm đó, tôi lấy mấy tấm bạt che chỗ sửa xe cho khỏi ướt. Tôi che phía trên với 2 bên và phía sau, tạo thành một cái lều nhỏ.

Một bữa trời mưa không ai đem xe tới cho tôi sửa, thì tôi ngồi trong lều đọc báo, nhưng mà tới chiều thì có một em gái khoảng 18 tuổi chạy chiếc Honda dame ngừng ngay trước mặt tôi, em nói:

-Anh ơi! gắn lợi dùm em cái giỏ đựng đồ trước xe, nó rớt ra mà mấy con ốc cũng rớt mất tiêu.

Chỉ dòm qua là tôi biết em gái này người Hoa, bởi vì em mặc cái áo xá xẩu màu đỏ, là áo con gái Tàu thường mặc, với 2 bính tóc cũng cột nơ màu đỏ, em gái rất dễ thương !

Rồi tôi mới nói em vô lều ngồi trú mưa mà chờ tôi gắn cái giỏ xe. Tôi lấy cái thùng đồ nghề sửa xe cho em ngồi đỡ. Rồi tôi mới lấy lon ốc cũ ra, lựa mấy con ốc gắn lợi cái giỏ xe.

Xong rồi thì em hỏi tôi bao nhiêu tiền cho em gởi, nhưng mà tôi nói :

-Chuyện nhỏ mà em! Anh không lấy tiền đâu, mai mốt lỡ lủng bánh xe đem tới đây ủng hộ anh được rồi.

Lúc này thì tự nhiên trời mưa lớn hơn, cho nên em gái xin tôi ngồi trong lều chờ hết mưa. Em nói :

-Em tên Lý Mỹ Hòa anh à, em người Phúc Kiến nhà bên quận 5. Sao em thích cái lều nhỏ của anh quá, nó dễ thương lắm ! Lần đầu tiên em được núp mưa trong một cái lều nè ! Nhưng mà anh cũng cần mấy cái ghế nhỏ cho người ta ngồi chờ sửa xe, hay là mai em chở ghế nhỏ tới tặng anh nha !

Tôi từ chối vì không muốn mắc nợ con gái …

Nhưng mà ngày mai, thì em xẩm chở ghế tới thiệt ! Em xách 3 cái ghế nhỏ đem vô lều, rồi lấy trong giỏ ra hai cái bánh bao còn nóng, với một cái đồ cắt móng tay, em nói :

-Em tặng anh 3 cái ghế này, còn bánh bao thì lát nữa anh em mình ăn. Thấy anh sửa xe mà hỏng chịu cắt móng tay dài, dầu mỡ dính vô cho nên em tặng anh cái đồ cắt móng tay này!

Tôi nghe vậy thì cám ơn em quá chừng, mà hông hiểu tại sao em tốt với tôi …

Khi hai anh em ăn bánh bao xong, thì em gái đòi cắt móng tay cho tôi.

Rồi những ngày sau đó thì mỗi khi trời mưa là em Hòa xách xe chạy tới núp mưa. Em nói là ba má chỉ có một mình em, cho nên em muốn tôi nhận làm em nuôi !

Tôi nhe vậy giựt mình ! Mới quen 2 ngày mà muốn làm em tôi, nhưng mà tôi cũng đồng ý …

Em gái thích nghe tôi kể chuyện lắm!

Một bữa, em nói với tôi:

Sao em cứ thấy anh dòm em chăm chăm hoài… nói cho em biết tại sao nha!

Tôi ngồi nhìn trời mưa, rồi nói với em là tôi thấy em quen lắm ! Hình như gặp nhiều lần trước bữa chiều mưa đó, nhiều năm lắm, nhưng mà thôi bỏ qua đi.

Em hông chịu bỏ qua, rồi em nói :

Thà anh không nói ra thì thôi, bi giờ nói rồi thì anh phải kể cho em nghe !

Tôi mới kể:

Ngày xưa, cách đây khoảng 15 thế kỷ thời nhà Tống bên Trung Hoa. Anh là thái tử, em là cung nữ. Thái tử yêu em cung nữ xinh đẹp, nhưng theo luật nhà Tống thì thái tử không có quyền yêu cung nữ !

Một đêm trăng, thái tử nhớ em cung nữ xinh đẹp nên mới lén ra hậu cung dòm cho đỡ nhớ ! Nhưng mà xui là đêm đó người ta pháo kích vô hoàng cung, tính ám sát Hoàng thượng. Trái pháo rớt bên hậu cung nổ cái ầm ! Rồi 3.000 cung nữ sợ quá bỏ chạy đạp lên thái tử chết tại chỗ ! Em là người cung nữ đứng lại ôm thái tử trong lòng …

Nghe tới đây thì em Hòa chắp tay cúi đầu mà nói:

-Tiểu nữ cứu giá chậm trễ ! Xin thái tử giáng tội…

Tôi mới nói :

-Miễn lễ, bình thân đi em !

Rồi em Hòa ôm tôi mà cười quá chừng luôn!

Nhưng cuộc đời không bằng phẳng như mình mong muốn, mà số phận bắt 2 anh em tôi phải xa nhau mãi mãi …

Một buổi chiều mưa, em tới thăm tôi mà đem theo đôi mắt buồn … Tôi chưa bao giờ thấy em buồn !

Rồi em mới nói :

Từ lâu, gia đình sắp xếp cho em đi du học bên Pháp, ngày mai em phải đi cho nên bữa nay tới từ giã anh, em không thể không đi, nhưng xa anh thì em nhớ lắm …

Tôi mới nói là chúc em đi du học thành công.

Rồi em gái tôi chạy xe đi về, nhưng mà em quay xe lại rồi tới bên tôi, em tháo sợi dây chuyền đeo vô cổ tôi rồi nói:

Sợi dây chuyền này sẽ làm anh nhớ tới Lý Mỹ Hòa.

Từ đó thì tôi không còn được gặp em gái dễ thương này nữa …

Hôm nay trời mưa lớn, tôi nhìn mưa mà chợt nhớ tới người em gái mà tôi thương, người em gái mà thương tôi …

S.T.

Bức Màn Băng Giá – Đào Ngọc Phong – Truyện ngắn

Bức Màn Băng Giá – Đào Ngọc Phong – Truyện ngắn

Tôi sắp kể chuyện đời tôi, một câu chuyện nhạt-nhẽo về một phụ nữ bình thường, và tầm thường; vì tôi chẳng có một tài năng gì đặc biệt, chẳng có một ước vọng gì cao cả, xa vời. Năm nay tôi 80 tuổi, tức là sinh năm 1942, tuổi ngọ. Nhiều người nói nữ tuổi ngọ giỏi giang, nhưng bươn-chải, bôn- ba đường đời. Tôi chẳng bôn-ba đây đó, chẳng mạo hiểm kinh doanh làm giàu, chỉ yên phận với một ít tiền hưu. Ấy vậy mà suốt đời tôi cứ ray-rứt, không trọn vẹn được những việc bình thường, như một người con, một người vợ, một người mẹ, một người bạn, nói chi đến những bổn phận đối với dân tộc, với nhân loại. Đời tôi giống như một con thuyền nhỏ-nhoi giữa biển lớn, mà cha tôi là vì sao Bắc Đẩu, mẹ tôi là cái la-bàn, hai con tôi là thùng nước ngọt, bạn Johnny người Mỹ là tài công, còn chồng tôi lại là một loài thủy ngư đục thủng đáy thuyền. Tâm hồn tôi như một giải lụa trắng; chồng tôi như một vệt mực đen quệt ngang. Khi tôi sinh ra năm 1942 tại Hà Nội, quân Nhật đã chiếm đóng toàn cõi Đông Dương, như lời mẹ tôi kể. Mẹ tôi lúc ấy mới hai mươi tuổi, bố tôi 22. Sau này đọc hồi ký của bố, tôi mới biết hồi đó bố mẹ tôi cùng hoạt động bí mật trong một tổ chức thanh niên chống cả Pháp, Nhật lẫn cộng sản. Hai người yêu nhau giữa những hiểm nguy của công tác. Ngoài đời, mẹ tôi đang học nghề y tá; bố tôi đã đậu tú tài Pháp, có năng khiếu hội họa, sinh sống bằng cách đi dạy học trường tư, viết và vẽ cho mấy tờ báo. Đối với tôi, cuốn hồi ký của bố là một bảo vật vô giá, mà hơn mười năm nay tôi đã nâng niu, cẩn mật dịch ra tiếng Anh từng chữ từng câu, theo di nguyện của bố. Tôi đang đặt nó trên bàn trước cửa sổ, từ lầu hai một chung cư, nhìn xuống phố chợ đông đúc của Little Sài Gòn. Căn hộ này, hai con tôi, một trai, một gái đã chung tiền mua cho mẹ ở một mình, dọn từ tiểu bang Pennsylvania về được ba năm rồi. Từ nơi ít người Việt, về đây tôi như được hồi sinh. Tôi cám ơn cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đã cho tôi sống những năm cuối đời giữa đồng hương, với sinh hoạt giống như vùng chợ Bàn Cờ của Sài Gòn xưa. Rẽ bên phải có phở, bún bò; quẹo bên trái có hủ tiếu, bánh cuốn; trước mặt có đậu hũ chiên hành, bắp nướng xối mỡ, sau lưng có bánh xèo, mì Quảng…Đến Mỹ từ tháng tư 75, tôi không thể tưởng tượng tôi đã sống gần nửa thế kỷ ở miền Đông vắng- vẻ giá lạnh. Mặc dù ở tuổi tám mươi, tôi cảm thấy sức khỏe còn tốt, đi đứng vững- vàng, mắt vẫn còn đọc rõ chữ trên Internet. Tôi đang dịch chương cuối cùng cuốn hồi ký của bố. Cả một thời đen tối nhiễu nhương đầy thảm kịch, như một trích đoạn phim diễn ra trước mắt. Nhớ thương bố mẹ mà nước mắt chảy ròng- ròng, tôi khóc thoải mái như đứa trẻ lên ba giữa căn phòng xinh xắn, một mình. Khi nạn đói 45, 46 xảy ra ở miền Bắc, tôi mới 4 tuổi, nhưng ký ức về những chuyến xe chở xác chết trên đường phố vẫn còn rõ nét mỗi khi nhớ lại. Cuối năm 46, kháng chiến chống Pháp bắt đầu. Bố đem hai mẹ con rời thành ra khu. Mẹ sung vào ban quân y, bố vào ban văn hóa, báo chí. Vì được đọc nhiều tài liệu sách báo cập nhật hàng ngày, nên bố hiểu rõ tình hình trong ngoài. Ngay từ những năm 48, 49, bố đã tinh tế nhận ra lý tưởng chiến đấu của bố trái ngược hẳn với ban lãnh đạo. Khi Mao Trạch Đông chiếm trọn Hoa Lục vào tháng 10- 1949, thì chiều hướng cách mạng kiểu Mao càng rõ nét. Năm 1953, bố mẹ quyết định rời chiến khu, bỏ về thành. Nhưng chưa kịp ra đi cùng nhau, thì mẹ chết trong một trận bỏ bom. Bố chôn cất mẹ xong, dắt con gái 11 tuổi bí mật rong- ruổi trốn khỏi mạng lưới công an về lại Hà Nội, nhờ dân các làng đi qua che-chở. Các chiến hữu của bố vẫn hoạt động nội thành, sắp xếp cho bố đổi tên họ và đưa ngay vào Sài Gòn. Bố vốn họ Lý, bây giờ đổi thành Nguyễn. Vào tới Sài Gòn, nhờ tổ chức hỗ trợ, bố mua một căn nhà nhỏ ở ngoại ô, lại đi dạy tư, viết và vẽ dưới những bút hiệu khác nhau. Căn nhà cốt cho tôi ở, còn bố di động ngủ nhiều nơi khác nhau. Khi mẹ mất, bố mới có 33 tuổi, thế mà bố ở vậy suốt đời, nuôi con học hành đến nơi đến chốn. Tôi tốt nghiệp ban Anh ngữ Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, năm 1965, vào lúc mà người Mỹ bắt đầu đổ quân vào miền Nam; các cơ sở văn hóa Mỹ được thiết lập dưới nhiều dạng. Tôi dễ dàng xin được vào dạy tại Hội Việt Mỹ, tự túc sinh kế. Bây giờ, tôi đã tự lập, nghĩ rằng bố sẽ nhẹ nhàng xong bổn phận, có thể lập gia đình với một cô bạn cùng làm trong tòa báo rất quý bố. Nhưng bố từ chối; đêm nào trước khi ngủ, bố cũng ngồi yên lặng trước bàn thờ mẹ cả tiếng đồng hồ. Tôi cũng rón- rén ngồi sau bố, nhìn ảnh mẹ mà nước mắt chảy dài. Hồi học Văn Khoa, hình như có một định nghiệp gì mà tôi gặp một sinh viên ban Việt Hán; anh hơn tôi hai tuổi, viết chữ Nho rất đẹp, vì anh có năng khiếu hội họa. Có lẽ bố tôi là họa sĩ, nên khi gặp anh, tôi mến ngay và hai đứa đi đến tình yêu lúc nào không hay. Khi học xong cử nhân, anh cũng đi dạy tư như bố tôi. Hai năm sau chúng tôi thành hôn, và chúng tôi có hai đứa con sinh hai năm liên tiếp 70,71. Bố tôi vui lắm, hầu như các cháu ngoại làm vơi đi nỗi sầu muộn u uất mấy chục năm. Nhưng cảnh đời bất trắc, như cơn giông ùa tới phá tan bầu trời trong xanh. Sau thảm họa Mậu Thân, chồng tôi bỗng có những lần vắng mặt cả tuần, nói với tôi, anh đang muốn tìm việc kinh doanh để có thêm tiền nuôi gia đình, chứ dạy học nghèo quá. Tôi mừng là anh biết lo gia đình, không hỏi han gì thêm. Đầu năm 75, bố tôi gọi tôi ra phòng khách nói chuyện. Ông bảo tôi, con phải tính kế đi khỏi nước để cứu hai đứa trẻ; tình hình nguy cấp lắm, không thể để hai đứa sống trong cảnh khốn khổ sắp đến; phần bố đã có tính toán riêng với tổ chức của bố; bố theo dõi tin tức quốc tế rất sát, nên phải quyết định ngay. Tôi cũng thấy viễn tượng đen tối đang tới gần, nhưng chưa biết tính sao, vì chồng tôi cứ đi vắng hoài, không ngó ngàng gì đến nhà cửa, con cái. Kinh doanh gì nữa, lúc này. Trong một buổi dạy tại Hội Việt Mỹ, giờ nghỉ tại phòng giáo sư, Johnny bỗng cầm ly cà phê đến mời tôi và xin được nói chuyện. Johnny tốt nghiệp cao học ban văn chương, theo phái bộ văn hoá Mỹ đến Việt Nam, làm trong ban giám học Hội Việt Mỹ. Tôi và anh, giờ nghỉ thường nói chuyện với nhau như bạn đồng nghiệp; anh rất đứng đắn, có tư cách trí thức, cũng hơn tôi hai tuổi. Chúng tôi bàn luận về văn chương Anh Mỹ rất tương đắc. Hôm nay, vẻ mặt anh có vẻ nghiêm nghị, khác hẳn những ngày trước. Johnny dè dặt hỏi tôi, tình hình căng thẳng lắm, chị có tính rời khỏi Việt Nam không? Y như câu hỏi của bố tôi; anh ta ở trong ban giám học, chắc chắn anh ta hiểu rõ sự việc. Anh nói, chị nên quyết định sớm; khi chị nghĩ kỹ rồi, anh sẽ giúp cả gia đình đi ngay bằng máy bay. Quả thật, đến đầu tháng tư thì sinh hoạt Hội Việt Mỹ có vẻ khác thường; hình như có dấu hiệu đóng cửa rồi; tâm trí tôi rối bời, gọi cho Johnny và nói đã quyết định cho gia đình tôi đi, hai vợ chồng, hai đứa con. Johnny sốt sắng lo giấy tờ ngay. Chồng tôi về với vẻ mặt căng thẳng, hỏi em sửa soạn đồ đạc đi đâu? Tôi báo anh tin mừng, đã nhờ Johnny lo máy bay sẵn sàng cho cả gia đình đi tuần sau. Chồng tôi ậm ừ vài tiếng rồi lại biến đi. Chiến trận tiến gần Sài Gòn; Trong lúc hỗn loạn, Johnny lái xe đến đón, thì chồng tôi không có mặt như lời hẹn. Vì hai con, như bố tôi nói, tôi phải quyết định dứt khoát không thể chần chờ, phải gạt nước mắt theo Johnny lên xe ra phi trường. Thế là ba mẹ con đến Mỹ được một tuần thì tin Sài Gòn đã sụp đổ. Không một tin gì từ chồng tôi và bố tôi . Johnny tận tụy giúp ba mẹ con chỗ ăn ở đàng hoàng; lại giới thiệu tôi vào làm phụ giáo trong một trường trung học, vì vốn tiếng Anh có sẵn. Tuy lương giáo chức khiêm tốn, nhưng sinh kế vững vàng giúp tôi nuôi hai con dần khôn lớn, mặc dù tâm hồn tôi gần như rã- rượi vì chờ trông bố và chồng vô vọng. Johnny chính là cứu tinh giúp tôi vượt qua bao gian- nan trong đời sống mới. Ròng- rã 15 năm khắc- khoải, có lần tôi tưởng đã ngã vào vòng tay Johnny khi anh bất ngờ tỏ tình; anh nói đã yêu tôi từ những ngày ở Hội Việt Mỹ. Trong phút giây yếu đuối, bỗng hình ảnh bố tôi ngồi yên lặng mỗi đêm trước bàn thờ mẹ làm tôi hoảng sợ. Tôi quỳ xuống tạ ơn Johnny bao năm cưu mang mẹ con tôi, nhưng tôi chưa thể chấp nhận, mặc dù hình như hai con tôi, nay đã vào đại học, tỏ ra thương quý anh và đồng ý. Đó là vào năm 1990. Một lần tôi đi siêu thị, bất ngờ nhìn thấy một phụ nữ trông quen quen. Tôi tiến đến nhìn mặt cô ta cho rõ; vừa thấy tôi, cô có ý lẩn tránh, rẽ qua lối khác, lẫn vào đám đông. Tôi cứ tiến đến chặn đầu, quả nhiên đó là người em họ chú bác của chồng tôi. Cô ta đành phải dừng lại. Rồi bất ngờ cô ôm chầm lấy tôi khóc nức nở. -Chị ơi, em qua theo diện kinh doanh vài tuần lễ. Chúng mình vô góc quán vắng này, em kể hết mọi chuyện cho chị nghe. Số là, sau thảm họa Mậu Thân, chồng tôi trốn quân dịch, nhưng lại sa vào mạng lưới của cộng sản. Trong thời gian sinh hoạt bí mật, anh quen với một nữ đồng chí; hai người tằng tịu với nhau có một đứa con. Đó là thời gian chồng tôi nói dối tôi là làm kinh doanh. Khoảng năm 1974, cô ta có lệnh về Bắc, mang theo đứa con trai. Vào những ngày tháng tư 1975, anh được tin cô ta sẽ theo đoàn quân chính quy vào xâm chiếm miền Nam; vì thế anh cố ý ở lại chờ cô ta, không theo tôi đi Mỹ. Nhưng vài năm sau, cô ta bỏ anh, cả đứa con cũng không nhận anh là cha; về mặt chính trị, anh không được chế độ mới tin dùng; hiện giờ anh ấy sống vất- vưởng, thân tàn ma dại. -Khi em sắp đi Mỹ, anh ấy gặp em, nói em cố tìm gặp chị, nói với chị là anh ấy xin quỳ xuống tạ tội cùng chị và hai con. Cô ta vừa kể xong, tôi bỗng cảm thấy người tôi rũ xuống như không còn xương sống, tim tôi lạnh cứng như cục đá, một bức màn băng giá quây tròn quanh tôi, ngăn tôi với cuộc đời, với loài người. Tôi mơ hồ nghe cô ấy thét lên, nhiều người ùa tới; người ta khiêng tôi lên xe cứu thương. Không biết thời gian bao lâu, tôi mở mắt lờ- mờ thấy Johnny và hai con ngồi cạnh giường bệnh viện. -Mẹ tỉnh rồi anh ơi, chú Johnny ơi! Con gái tôi vui mừng reo lên. Tôi nằm bệnh viện vài bữa, được bác sĩ cho về nhà tĩnh dưỡng. Hai con đi học, một mình Johnny chăm sóc tôi. Anh chăm sóc tôi như một người chồng chung thủy; không…. , hơn một người chồng. Nhưng trong lòng tôi chỉ dâng lên một tình cảm kính ngưỡng anh như một vị thánh, mà không hề là một tình yêu nam nữ. Cái bức màn băng giá xuất hiện hôm trước trong siêu thị đã làm tê liệt mọi xúc cảm nam nữ trong tôi rồi. “Tha thứ cho em, Johnny. Em không thể nào trở thành một người vợ bình thường nữa”. Khi thân xác tôi khỏe trở lại, tôi tự hứa sẽ không để cho tâm mình suy sụp như thế nữa. Tôi quyết định cho Johnny và hai con biết tất cả sự thực. Chúng tôi hẹn nhau cùng đi ăn tối tại một nhà hàng thanh lịch. Tôi kể lại mọi sự, rồi nói thêm ngay : -Bây giờ, người đàn ông đó không còn là gì đối với mẹ. Nhưng ông ta vẫn là bố ruột của hai con. Ông ta sống rất khổ cực; tùy các con xử sự. Hai con tôi quyết định ngay, chỉ gởi một món tiền thích hợp để nuôi bố, mà sẽ không thư từ liên lạc. Lòng tôi thư thái nhẹ nhàng, đi dạy học trở lại với niềm tin vững mạnh vào cuộc sống. Tôi dùng nhiều cách để tìm bố tôi, nhưng tôi biết ông làm việc cẩn mật lắm. Tôi cho đăng trên nhiều báo một thứ mật hiệu mà chỉ hai bố con biết. Quả nhiên, vào năm 1993, khi hệ thống Liên Xô đã sụp đổ, tôi nhận được một cú điện thoại với số lạ : -Hello, tôi muốn nói chuyện với bé….. -Vâng tôi là bé…Xin lỗi ông là… -Tôi là đàn em của cụ X….Cụ nói là cụ mừng lắm khi biết tin bé…Cụ đang sống ở một nơi an toàn. Khi nào bé cần gì, thì cứ gọi số này. Tôi sung sướng như được hồi sinh. Tôi đã tìm được người cha kính yêu của tôi. Nhưng theo cách sống của bố, tôi không cho Johnny và hai con biết việc này. Gần hai tháng, tôi không thấy Johnny gọi, tôi cảm thấy lòng tôi dậy lên một tình cảm nhớ nhung. Nguy quá, tôi phải tự trấn áp. Không, không thể bước vào sai lầm một lần nữa. Mỗi lần như vậy, tôi lại ngồi trước bàn thờ mẹ tôi, và nhìn vào bức tranh của họa sĩ Toulouse-Lautrec mà bố tôi rất thích, bức họa quảng cáo cho ca sĩ quán rượu Aristide Bruant năm 1892. Bức tranh này thay cho hình ảnh của bố, vì khi rời Việt Nam gấp quá tôi không kịp mang gì hết. Mới đây, con gái tôi cho tôi biết chú Johnny tâm sự, đời chú chỉ có mẹ là người chú yêu, không lấy được mẹ, chú cũng không lấy ai; hai tháng nay chú đang dự một khóa thiền trong rừng. Tôi xúc động muốn khóc, nhưng nói với con gái rằng mẹ không thể nào sai lầm lần nữa; mai sau chú già, có việc gì các con phải đền ơn chú. Năm 2000, tôi báo tin cho bố tôi biết hai cháu lập gia đình năm ngoái, năm nay đều sanh hai đứa chắt cho ông ngoại. Bố tôi cười sung sướng. Giọng cười của bố vẫn sang sảng. Nhưng không bao giờ tôi dám hỏi bố đang ở đâu. Được nói chuyện với bố là tôi hạnh phúc rồi. Niềm vui lớn của tôi bây giờ là sau khi ở trường về, tôi săn sóc chơi đùa với hai cháu nội ngoại. Mùa hè năm 2005, tôi nhận một cú điện thoại vào nửa đêm: -Hello, bé…tôi là đàn em của ông cụ. Cụ đã mất cách đây một tuần, chúng tôi đã lo tang lễ cho cụ hoàn toàn trang nghiêm với di huấn hỏa thiêu. Trước khi mất, cụ trao cho tôi một hộp, dặn dò sau đám tang mới gởi cho bé. Ngày mai bé sẽ nhận bằng bưu điện khẩn cấp, nhớ ở nhà đón nhận.Chúng tôi chỉ biết chia buồn cùng bé. Xin chào. Tôi buông điện thoại, khóc òa. Các con cháu chạy ùa vào phòng, hoảng hốt. Tôi chỉ tay lên bức tranh của Toulouse Lautrec treo trên tường: -Ông ngoại các con đã mất rồi, cách đây một tuần. Các con tôi báo cho Johnny biết. Anh cư xử như một người con rể Việt Nam. Anh phân công ngay, sắp xếp các con đi mua sắm thức ăn đồ uống, để ngày mai làm một tang lễ đơn giản trong vòng gia đình. Tôi hoàn toàn tê liệt, thụ động, chỉ ôm cái hộp di sản của bố nhận được sáng nay. * **** 85 năm đời bố nằm trong cuốn hồi ký. Bố dặn dò tôi phải dịch ra tiếng Anh cho các con cháu đọc hiểu được, nhớ về cội nguồn dân tộc, nhưng trước hết là cội nguồn gia tộc họ Lý. Bố viết và vẽ bản đồ thôn làng, nơi mà bố đã chôn mẹ, dặn con cháu về tìm và bốc mộ cho mẹ, rồi hỏa thiêu. Bố cũng viết kỹ về quê nội, quê ngoại, dặn con cháu phải về trùng tu nhà thờ tổ. Đó là di chúc về những việc cụ thể; còn những chương sách phê phán những lý thuyết chính trị, xã hội, nhân sinh, tôi không mấy quan tâm, mặc dầu tôi cố gắng dịch thật sát. Năm 2007, tôi chính thức về hưu. Tôi dành nửa thời gian chăm sóc hai cháu nội ngoại, nửa thời gian dịch cuốn hồi ký của bố, chỉ lo ngã bệnh hay qua đời giữa đường đứt gánh thì không chu toàn được di ngôn của bố. Tôi nhận được một lá thư của Johnny gởi từ một thiền viện, chúc mừng tôi đã về hưu hưởng tuổi già. Anh nói lúc này anh mới yên tâm hoàn toàn, khi mẹ con tôi đã ổn định mọi mặt. Kể từ năm này, anh sẽ ở luôn trong thiền viện như một tu sĩ. Anh viết, những việc anh làm cho ba mẹ con mấy chục năm nay, chỉ như hạt muối bỏ biển so với cả triệu sinh mạng người Việt chết trong tù cải tạo, trong rừng sâu, dưới biển mà “chúng tôi” có trách nhiệm. Tôi không hiểu tại sao tôi đa cảm quá; đọc thư Johnny mà lòng thổn thức không nguôi. “Johnny ơi, dù anh nói thế nào, em vẫn nợ anh một món nợ. Nếu kiếp này em chưa trả anh được món nợ phu thê, thì em nguyền hẹn anh vào một kiếp khác”. Năm 2019, hai cháu nội ngoại của tôi đã vào đại học, hai con tôi bàn đưa mẹ về vùng Little Sài Gòn, California ấm áp, vui hưởng tuổi già trong cộng đồng đông đảo người Việt. Bây giờ tôi đang ngồi trước bàn laptop, đánh máy những trang cuối cùng bản dịch hồi ký của bố. Sáng nay, tôi thấy nhẹ-nhõm, đã hoàn thành một phần di chúc; phần còn lại đành phải để cho con cháu tiếp tay thực hiện. Điện thoại reo, con trai tôi báo cuối tuần tất cả con cháu sẽ bay về Cali làm lễ mừng mẹ thọ tám mươi. Đào Ngọc Phong From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Mỗi Người Chia Nhau Một Chút Khổ

Ha Nhan


Posted by GLN

1. Những ngày đầu tháng 5.1975, Sài Gòn lên cơn sốt thuốc tây và xe đạp. Thiên hạ đổ xô đi mua thuốc tây và xe đạp vì có tin đồn rằng tiền miền nam sẽ không còn giá trị và hai mặt hàng này sẽ trở nên khan hiếm trong những ngày sắp tới. Giá thuốc tây và xe đạp tăng vùn vụt nhưng người mua vẫn cứ tranh nhau mua.
Trong gia đình tôi, anh Bảy vốn là người nhạy bén với những biến động kinh tế theo kiểu này nên ngay từ lúc bắt đầu cơn sốt anh mua một chiếc xe đạp do Nhật sản xuất, sau đó  anh tìm mua các loại thuốc tây thường dùng.
Sáng hôm ấy, anh Bảy tiếp tục đi mua thuốc tây rất sớm. Ở nhà chẳng biết làm gì, tôi lang thang ra chỗ đường Lê Văn Duyệt tìm một quán cóc để uống một ly cà phê sáng. Khi đi ngang qua tiệm thuốc tây, tôi thoáng thấy anh Bảy trong đó.
Tôi bước vào tiệm thuốc tây.
-Xong chưa? Đi uống cà phê với em.
Anh Bảy quay lại, thay vì trả lời tôi, anh nhìn ra ngoài đường, mặt biến sắc, hốt hoảng, lắp bắp:
-Chiếc xe đạp. Chiếc xe đạp mới mua. Đứa nào lấy rồi. Anh mới vừa bước vào đây thôi mà.
Cạnh tiệm thuốc tây có một con hẻm nhỏ. Tôi phản ứng rất nhanh:
-Chắc nó đi chưa xa. Em đuổi theo con hẻm này, còn anh đuổi theo hướng đường Lê Văn Duyệt.
Nói xong, tôi chạy vào con hẻm. Chưa bao giờ tôi chạy nhanh như bữa đó. Cứ lao về phía trước. Không thấy gì cả. Được khoảng 200 mét thì thấm mệt. Tôi bắt đầu giảm tốc độ, chạy chậm hơn. Vừa lúc ấy một bé trai khoảng hơn 10 tuổi, dáng vẻ lanh lợi, đang đứng trước cổng nhà, hỏi:
-Có chuyện gì vậy chú?
Tôi dừng lại:
-Cháu có thấy ai đi một chiếc xe đạp mới ngang qua đây không?
-Xe màu gì vậy chú?
-Màu đỏ.
Đôi mắt cậu bé sáng lên:
-Có. Cháu thấy thằng Thảo vừa đi chiếc xe đạp màu đỏ ngang qua đây.
Tôi thoáng thấy một tia hy vọng:
-Cháu này. Hồi nào tới giờ thằng Thảo có xe đạp không?
-Không đâu chú. Nó  thường chơi với bọn cháu, cháu biết rõ mà. Nó làm gì có xe đạp.
-Cháu biết nhà nó ở đâu không?
-Biết chứ chú, ở gần đường xe lửa phía sau ga Hòa Hưng.
-Cháu có thể đưa chú đến nhà thằng Thảo không?
-Được mà chú. Cháu sẽ đưa chú đến nhà thằng Thảo.
Trên đường đi, tôi hỏi:
-Cháu tên gì?
-Cháu tên Thắng.
-Cháu học lớp mấy?
-Cháu học lớp năm.
-Thằng Thảo học lớp mấy?
-Nó lớn hơn cháu hai tuổi nhưng nghỉ học lâu rồi. Nhà nó nghèo lắm. Cha nó đi lính chết trận. Nó phải nghỉ học theo mẹ đi lượm ve chai để bán.
-Trước giờ nó có thường ăn cắp không?
-Không đâu chú. Nó chơi thân với cháu, cháu biết rõ mà. Nó rất đàng hoàng. Chú này, lát nữa tới nhà thằng Thảo chú đừng vào. Mẹ nó sẽ đánh nó nếu biết nó ăn cắp. Cháu sẽ vào gọi nó ra gặp chú.

Ga Hòa Hưng trước 75

Thắng đưa tôi đi thật xa, dọc theo đường rầy xe lửa, rồi chỉ vào một căn nhà nhỏ tồi tàn, cũ kỹ, mái tôn, vách ván.
-Nhà thằng Thảo đó chú. Chú đứng né vào chỗ lùm cây kia chờ cháu.
Một lát sau Thắng trở ra, chạy nhanh đến chỗ tôi.
-Nó không có ở nhà. Mẹ nó nói nó đi từ sáng sớm đến giờ chưa về.
-Tối nay chú trở lại chỗ này, cháu cố gắng tìm thằng Thảo để chú gặp. Được không?
-Thôi chú. Biết giờ nào nó mới về. Chú cứ để đó cháu tìm nó rồi đưa nó lên phường gặp chú. Cháu biết chú là “cách mạng đang làm trên phường” mà.
Câu nói của Thắng làm tôi ngớ ra vì bất ngờ. Tôi là giáo chức trong chính quyền cũ, từ miền trung di tản vào đây, có biết trụ sở phường nằm ở chỗ nào đâu, bỗng dưng cậu bé này lại gọi tôi là “cách mạng đang làm trên phường”.
Tôi hỏi Thắng:
-Sao cháu biết chú là “cách mạng đang làm trên phường”?
-Chiều hôm qua cháu theo mấy thằng bạn chơi đá banh ở trên phường. Cháu thấy chú ở trong đó.
Như vậy là Thắng đã lầm tôi với một người nào đó trên phường. Tuy nhiên, tôi không giải thích.
-Thắng này, nếu cháu tìm được thằng Thảo, cháu đừng đưa nó lên phường, mà đưa nó đến nhà chú vào buổi tối. Được không?
-Phải đưa nó lên phường nó mới sợ chú ơi!
-Đừng cháu. Đừng làm nó sợ. Cứ đưa nó đến nhà chú là được rồi. Nhà chú cũng ở gần đây thôi.
Tôi đưa Thắng địa chỉ chỗ tôi và mấy anh em trong gia đình đang ở nhờ và hỏi Thắng:
-Cháu biết địa chỉ này không?
-Biết chứ chú. Dễ mà. Trong xóm này, hẻm nào cháu cũng biết mà.
2. Về nhà, tôi kể lại mọi chuyện cho mấy ông anh nghe. Nghe chuyện tôi là “cách mạng đang làm trên phường” anh Năm cười ngặt nghẽo:
-Có khi như vậy cũng hay. Để đó xem sao.
Anh Bảy bàn với tôi sẽ đi mua một chiếc xe đạp khác. Xem như chiếc kia đã mất. Không mua, vài hôm nữa sẽ chẳng còn xe để mua. Chưa chắc thằng Thảo ăn cắp chiếc xe đó, và nếu nó ăn cắp thì chuyện lấy lại chiếc xe cũng không phải là dễ dàng.
Ngay sáng hôm sau, anh Bảy xuống các cửa hàng bán xe đạp để mua xe như đã bàn. Tuy nhiên, dự tính bất thành vì giá xe đạp tăng ngất ngưởng; số tiền ít ỏi còn lại trong túi anh Bảy không đủ để mua chiếc thứ hai.
Buổi tối, trời rất nóng. Tôi và anh Bảy đang ngồi trước hiên nhà bàn công chuyện cho ngày mai bỗng nhiên có hai cậu bé dừng trước cổng nhà, ngần ngừ một chút rồi bước vào.
Trời hơi tối, chưa kịp nhận ra hai cậu bé này là ai thì một trong hai đứa nói lớn:
-Cháu đưa thằng Thảo đến gặp chú.  Nó lấy chiếc xe của chú đó chú ơi.
Thì ra là Thắng. Khi đưa địa chỉ nhà cho Thắng, tôi cũng đưa theo kiểu cầu may, không nghĩ Thắng sẽ đến.
Tôi bước ra, nói với Thắng:
-Cháu giỏi thật. Cám ơn cháu rất nhiều.
Để cho Thảo không sợ, tôi đến vỗ vai nó:
-Cháu vào đây chơi, nói chuyện với chú.
Tôi đưa hai đứa vào hiên nhà, ngồi trên bậc tam cấp. Thảo có khuôn mặt hơi khắc khổ, tóc khô, nước da ngăm đen. Tôi chưa kịp nói gì thì Thắng lại lên tiếng:
-Cháu tìm được nó chiều nay ở ngoài chợ Hòa Hưng. Cháu nói chú là “cách mạng đang làm trên phường” nên nó sợ lắm.
Anh Năm từ trong nhà nói vọng ra:
-Đem nhốt nó lại.
Nghe vậy, Thảo khóc rống lên:
-Cháu sợ lắm. Đừng nhốt cháu.
Anh Năm là sĩ quan trong quân đội vừa tan hàng, chưa biết sẽ bị người ta nhốt lúc nào, bây giờ anh lại dọa, đòi nhốt thằng Thảo. Quả là buồn cười. Tôi không nhịn cười được, nói vọng vào:
-Không nhốt thằng Thảo. Nhốt anh thì có.
Thảo thật thà:
-Thiệt hả chú? Không nhốt cháu hả chú?
Nãy giờ anh Bảy ngồi im nhưng mừng ra mặt. Anh dỗ Thảo:
-Cháu để chiếc xe đạp ở đâu? Cháu đừng sợ. Sẽ không nhốt cháu đâu.
Thắng chen vào:
-Nó bán cho ông Bốn thợ mộc rồi.
-Tiền bán xe cháu để ở đâu?
-Cháu đã lấy một ít để mua thuốc và đồ ăn cho mẹ cháu. Gần một tuần nay bán ve chai không ai mua, nhà chẳng còn tiền, mẹ cháu lại bị đau…
Nói xong, nó lấy một gói nhỏ gói bằng giấy từ trong túi quần soọc đưa cho tôi:
-Tiền vẫn còn đây. Xin chú tha tội cho cháu.
Tôi đưa gói tiền cho anh Bảy đếm. Đếm xong, anh Bảy có vẻ không vui. Anh nói với Thảo:
-Chú muốn mua lại chiếc xe đạp này. Cháu dẫn chú đi gặp ông Bốn thợ mộc được không?
Thảo có vẻ do dự:
-Cháu không có tiền để trả lại ông Bốn. Chú ơi, cháu không dám gặp ông Bốn đâu.
-Cháu dẫn chú tới đó, còn mọi việc cứ để chú thương lượng.
-Mấy chú không nhốt cháu thì biểu cháu làm gì cháu cũng làm. Giờ này chắc ông Bốn đã đi ngủ.
-Sáng mai đi được không?
-Dạ được.
Thắng và Thảo chào rồi ra về. Tôi đi với hai cậu bé một đoạn, vừa đi vừa hỏi Thảo:
-Chú trông cháu cũng là người đàng hoàng, sao lại ăn cắp xe đạp?
-Gần một tuần nay ve chai lượm bao nhiêu cũng có nhưng bán chẳng ai mua. Mẹ cháu lại bị đau, nhà hết tiền, cháu làm liều kiếm tiền mua thức ăn và mua thuốc cho mẹ cháu.
-Cháu tự làm chuyện này hay có ai bày không?
-Thằng Toán ở cùng xóm bày cháu. Thằng này rất giỏi chuyện ăn cắp. Nó nói theo kinh nghiệm của nó, sau khi dựng xe đạp, người ta đi thẳng vào trong tiệm, ít khi quay lưng nhìn lại.  Do vậy, mình canh sẵn, họ vừa quay lưng là mình chớp thật nhanh và chạy đi ngay. Cháu làm theo lời thằng Toán bày.
-Cháu có biết là ăn cắp thì sẽ bị ở tù không?
-Cháu không biết, nhưng mẹ cháu thường nói với cháu ăn cắp là không tốt, mai mốt chết xuống sẽ bị trừng phạt. Cháu đi lượm ve chai với mẹ, thấy đồ đạc người ta để quanh nhà nhưng không bao giờ cháu lấy. Chú ơi, chú tha tội cho cháu. Cháu lỡ lần này thôi.
-Chú sẽ chẳng làm gì cháu đâu. Chú cũng không phải là “cách mạng đang làm trên phường đâu”.
Tôi quay sang Thắng:
-Chắc Thắng lầm chú với người nào trên phường.
Thắng cười bẽn lẽn:
-Vậy mà cháu cứ tưởng … Làm thằng Thảo hết hồn.
Tôi hỏi Thảo:
-Nghe nói mẹ cháu bị đau. Mai cho chú ghé thăm mẹ, rồi hẵn đến gặp ông Bốn thợ mộc. Được không?
Thảo lắc đầu quầy quậy:
-Không được đâu chú ơi. Lỡ chú nói với mẹ chuyện cháu làm bậy, mẹ sẽ đánh cháu.
-Chú sẽ không nói gì hết. Chỉ thăm mẹ thôi.
-Thôi chú. Cháu sợ lắm.
Tôi lấy một ít tiền lẻ dúi vào tay Thắng:
-Cho cháu cái này. Cháu mua cái gì cho Thảo cùng ăn. Chắc nó đang đói. Mai hai đứa nhớ đến, đưa chú đi gặp ông Bốn thợ mộc.
Thắng thích chí:
-Đúng đó chú. Chiều đến giờ thằng Thảo chưa ăn gì. Cháu sẽ mua bánh mì pa-tê. Mai tụi cháu sẽ đến sớm.
Tôi quay về, nói với anh Bảy:
-Có thiếu chút ít nhưng dù sao nó cũng trả tiền lại rồi. Đi tìm ông Bốn thợ mộc làm gì cho mất công?
Anh Bảy lật qua lật lại gói tiền Thảo đưa, cười buồn:
-Hồi nãy chưa kịp nói với chú. Đã nghèo còn gặp cái eo. Tiền thằng Thảo đưa chỉ hơn nửa số tiền anh bỏ ra để mua chiếc xe đạp.  Chắc nó bán rẻ. Rẻ người ta mới mua. Bây giờ chỉ còn cách tìm người mua để lấy lại chiếc xe đạp.
3. Sáng sớm, vừa mở cửa, Thắng và Thảo đã ngồi sẵn trước hiên nhà.
-Các cháu đến sớm vậy?
Thắng nhanh nhẩu:
-Thằng Thảo nói với cháu nó rất hối hận. Nó muốn đưa chú đến gặp ông Bốn thợ mộc ngay để lấy lại chiếc xe. Đêm qua nó chỉ mong trời sáng để sang gặp chú.
-Chờ chú một chút. Chú vào thay quần áo rồi đi.
Anh Bảy và tôi theo hai cậu bé đi lòng vòng qua nhiều đường hẻm ở phía ga xe lửa Hòa Hưng. Mất hơn 20 phút đi bộ mới đến nhà ông Bốn thợ mộc. Căn nhà không đến nỗi tồi tàn như nhà thằng Thảo nhưng nhìn vào có thể nhận ra ngay nhà của dân nghèo.

Ngõ hẻm Hòa Hưng trước 75

Bốn thợ mộc trạc 40 tuổi, người hơi thấp, tóc cắt ngắn, khuôn mặt trông có vẻ thật thà. Đặc biệt, đôi chân của ông hơi khập khiểng. Thấy chúng tôi đi với Thảo và Thắng, có lẽ ông đoán được chúng tôi là ai. Ông bước ra, mặt hơi ngượng ngùng, mời chúng tôi vào. Thắng và Thảo cũng vào theo.
Bước vào nhà, tôi thấy một bé trai và một bé gái khoảng hơn 10 tuổi, nước da tái, tóc tai bù xù, đang ngồi ăn cháo với cá khô. Nghề ông là thợ mộc, nhưng nhìn quanh nhà không thấy bàn, tủ, hay đồ đạc gì đáng giá. Tôi có ý quan sát để xem ông để chiếc xe đạp ở đâu nhưng không thấy.
Anh Bảy làm ra vẻ thân thiện:
-Chào anh Bốn. Chị đâu rồi? Sao không ăn sáng với mấy cháu?
-Bà ấy bệnh và qua đời cách đây hai năm. Tôi gà trống nuôi con.
-Anh làm nghề thợ mộc lâu chưa?
-Hơn 10 năm.
-Trước anh cũng ở trong quân đội?
-Không. Chân tôi bị tật nên được miễn dịch vì lý do sức khỏe. Từ khi mẹ cháu qua đời đến giờ, một mình nuôi con, cực khổ quá, có gì không phải mấy anh bỏ qua cho.
Tôi trấn an:
-Không có gì đâu anh Bốn. Thảo nói nó bán chiếc xe đạp cho anh?
Bốn thợ mộc gật đầu:
-Nó bán cho tôi trưa hôm qua. Nó đi ngang nhà, hỏi tôi có muốn mua xe không, nó bán.
-Anh có biết đó là đồ ăn cắp không?
–Thật tình tôi không biết. Tôi thiệt thà, ai nói gì cũng tin. Nó nói đó là xe của nó thì tôi tin là của nó nhưng khi thấy các anh đến đây tôi mới hiểu ra.
-Sao anh không mua xe ngoài tiệm, có hóa đơn, có nguồn gốc đàng hoàng?
Bốn thợ mộc thở dài:
-Bữa trước tôi có tính mua ngoài tiệm nhưng không đủ tiền.
Anh Bảy đứng dậy, nhìn quanh, rồi nói:
-Anh Bốn này. Thằng Thảo đã đưa tiền bán xe cho tôi, bây giờ tôi trả lại anh, anh cho tôi lấy lại chiếc xe đạp.
Nói xong, anh Bảy để gói tiền trên bàn.
Bốn thợ mộc ngồi im một một lúc, khuôn mặt thẫn thờ.
-Tôi bán lại cho người khác rồi.
Anh Bảy không tin:
-Mới trưa hôm qua anh mua của thằng Thảo, bây giờ anh nói anh bán cho người khác rồi. Sao mà nhanh vậy?
Bốn thợ mộc chùng giọng:
-Thấy rẻ thì ham và mua. Mua xong thấy kham không nổi. Gần một tuần nay không đi làm vì chẳng ai thuê. Nhà hết gạo, hết đồ ăn. Vốn liếng chỉ có chừng đó. Chiều hôm qua phải bán lại cho một người qua đường, cũng bằng giá tiền đã trả cho thằng Thảo, không lời lỗ gì. Tôi thật có lỗi với các anh.
Anh Bảy quay sang nhìn tôi, lộ vẻ thất vọng. Tôi nhìn Bốn thợ mộc. Khuôn mặt chơn chất hiền hậu thoáng có chút sợ hãi của ông trông thật tội nghiệp. Hai đứa nhỏ vừa ăn cháo xong, đang dọn chén bát mang ra ngoài sân rửa. Thảo đứng khép nép trong góc phòng. Thắng đứng bên cạnh, cầm bàn tay Thảo.
Tôi nói với anh Bảy:
-Thôi anh Bảy. Tiếc làm gì? Đáng lẽ mình đã chết trong chiến tranh, bây giờ vẫn còn sống là may lắm rồi. Còn người còn của mà. Anh Bốn đây thì nghèo, mình cũng khổ, mà mẹ thằng Thảo cũng cơ cực. Thôi thì mỗi người chia nhau một chút khổ trong lúc khó khăn này./.

Phạm Cao Hoàng

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen