Bà chôn cất chồng mình vào ngày thứ hai – Truyen ngan HAY

My Lan Pham

Bà chôn cất chồng mình vào ngày thứ hai.

Đến thứ Tư, bà trở dạ.

Và đến thứ Sáu, bà đã đi khắp các con phố ở Dodge City, một đứa trẻ sơ sinh được buộc sau lưng, gõ lên những cánh cửa hầu như không muốn mở.

Đó là mùa xuân năm 1887. Kansas khi ấy vẫn còn hoang dã, ồn ào và khắc nghiệt. Elizabeth Morrow mới hai mươi hai tuổi thì bệnh thương hàn cướp đi chồng bà chỉ trong ba ngày. Không cảnh báo. Không khoan nhượng. Khoảnh khắc trước bà còn là một người vợ. Khoảnh khắc sau, bà trở thành góa phụ với một đứa con sắp chào đời quá sớm.

Trong túi bà chỉ có mười bảy xu.

Bà chỉ quen hai người trong thị trấn, và cả hai đều không thể giúp.

Đám tang được trả bằng khoản nợ mà bà không có khả năng hoàn lại. Hai ngày sau, trong một căn phòng thuê đầy bụi và tang tóc, con gái bà chào đời sớm, yếu ớt và khóc thét. Một sinh linh mong manh bước vào thế giới vốn âm thầm cho rằng cả mẹ lẫn con đều khó sống sót qua năm đầu tiên.

Phần lớn phụ nữ trong hoàn cảnh ấy sẽ chọn một trong ba con đường.

Kết hôn vội vã để có chỗ nương thân.

Quay về với gia đình.

Hoặc lặng lẽ chìm vào đói khát và im lặng.

Elizabeth không có gia đình.

Và bà từ chối đánh đổi thân xác hay tương lai của mình chỉ để có một bữa ăn.

Vì vậy, bà chọn một con đường khác. Lao động. Lao động không ngừng, lao động đến kiệt sức.

Bà giặt quần áo thuê cho người lạ, cúi gập bên chậu thiếc từ lúc mặt trời mọc đến khi đêm xuống. Đôi tay nứt nẻ, rướm máu. Đứa bé ngủ gần đó, trong một thùng gỗ lót những bao bột mì cũ.

Khi giặt giũ không đủ sống, bà dọn dẹp các quán rượu trước bình minh. Bà quét sạch mùi whiskey khô, mảnh thủy tinh vỡ và dấu vết của những trận ẩu đả đêm qua trước khi những người tử tế thức dậy.

Khi chừng đó vẫn không đủ tiền thuê nhà, bà làm ca đêm ở khách sạn, khuân vác ga giường và đổ bô vệ sinh. Con gái bà ở cách đó hai dãy phố, gửi cho một người hàng xóm tính tiền theo giờ. Elizabeth nghe tiếng con khóc xuyên qua những bức tường và khoảng cách mà bà không đủ tiền để thu hẹp.

Cái đói sống trong bà như một nhịp đập.

Sự kiệt quệ bẻ cong sống lưng bà.

Có những đêm, bà đứng nhìn đứa con đang ngủ, run lên vì lạnh, vì sợ hãi, và vì những phép tính sinh tồn nghiệt ngã chẳng bao giờ cân bằng.

Bà mặc cùng một chiếc váy suốt hai năm.

Bà ăn bánh mì cũ nhặt từ thùng bỏ của tiệm bánh.

Bà già đi mười tuổi chỉ trong một năm.

Nhưng tiền thuê nhà chưa bao giờ bị trễ.

Con gái bà chưa bao giờ thiếu bữa.

Và mỗi đêm, dù cổ họng rát bỏng vì khóc, bà vẫn khe khẽ hát ru cho đến khi đứa bé ngủ yên.

Dần dần, một cách chậm chạp và đau đớn, cuộc sống thay đổi.

Đến năm 1895, Elizabeth dành dụm đủ tiền để mở một nhà trọ nhỏ.

Đến năm 1900, bà sở hữu chính tòa nhà ấy.

Con gái bà, Mary, lớn lên chứng kiến mẹ mình biến kiệt quệ thành sự ổn định, từng ngày tàn nhẫn một. Mary trở thành giáo viên, rồi hiệu trưởng — một trong những phụ nữ đầu tiên tại Kansas giữ vị trí đó.

Năm 1923, khi Mary đọc diễn văn tốt nghiệp tại Trường Trung học Dodge City, cô nói với đám đông điều này:

“Mẹ tôi dạy tôi rằng phẩm giá không phải thứ được ban cho. Nó phải được bảo vệ. Bà đã chà sàn nhà để tôi có thể đứng ở đây. Đó không chỉ là sinh tồn. Đó là một cuộc cách mạng.”

Elizabeth sống đến tám mươi ba tuổi.

Bà sống đủ lâu để thấy con gái nghỉ hưu với lương hưu ổn định. Đủ lâu để thấy cháu mình tốt nghiệp đại học. Đủ lâu để bế những chắt — những đứa trẻ sẽ không bao giờ biết đến cái đói mà bà từng mang trong xương cốt.

Gần cuối đời, có người hỏi bà đã sống sót qua những năm tháng không tưởng ấy như thế nào.

Bà nghĩ một lúc, rồi trả lời khẽ khàng:

“Mỗi buổi sáng, tôi nhìn con mình và nói: nó sẽ không bao giờ phải đi ăn xin. Nó sẽ không bao giờ phải chết đói. Ý nghĩ đó mạnh hơn cả sự kiệt sức của tôi.”

Có người chỉ sống sót.

Có người chịu đựng.

Elizabeth Morrow đã xây dựng cả một tương lai với nỗi đau trong ngực, một đứa trẻ trên lưng, và ý chí không chịu chết.

Bà gọi đó là tình yêu.


 

Nửa Ổ Bánh Mì Không Thịt – Song Tử (Nguyễn Vân An)- Truyen ngan HAY

Song Tử (Nguyễn Vân An)

Đây không phải là một bộ truyện ngôn tình sắc – sủng ướt át ngập cảnh nóng.

Cũng không phải một bộ truyện teen tình yêu đầy ảo tưởng.

Không tình yêu, không tình dục… tôi chỉ muốn viết về một người mà đối với tôi, tình cảm ấy còn to lớn hơn gấp trăm ngàn lần tình yêu.

Ba mẹ tôi đến với nhau nhờ sự gắn ghép giữa bà nội của mẹ và mẹ của ba. ý tôi muốn nói ở đây chính là ba mẹ tôi không hề yêu nhau trước khi làm đám cưới.

Mẹ của ba – tức bà nội tôi từng kể rằng ba trước khi kết hôn với mẹ đã có người yêu, nhưng bà nội không thích cô gái kia nên một mực ép ông cưới mẹ… Ba cũng không thể cải lời bà nên ngậm ngùi chia tay mối tình ấy mà cưới mẹ về.

Không bao lâu thì anh trai – người mà tôi muốn nói đến ra đời.

Năm đó hạn hán kéo dài, gia đình tôi đã nghèo lại càng nghèo hơn. Mẹ không còn sữa cho anh tôi uống nữa, khi đói thì khóc thét lên mẹ lại mang nước cháo cho anh tôi uống tạm qua cơn đói, ấy vậy mà anh tôi vẫn lớn lên, tuy hơi ốm một chút… nhưng thật khỏe mạnh.

Nhà tôi không có đất đai gì nhiều, được bà nội cho một ô ruộng để canh tác kiếm gạo sống qua ngày, ba tôi thường đi làm thuê làm mướn bên ngoài để kiếm tiền lo cho gia đình. Anh tôi được gửi sang nhà nội nếu đến ngày làm đồng án, cứ thế cuộc sống trôi qua.

Đến khi tôi được sinh ra, là lúc anh trai tôi lên bảy tuổi. Bà nội thường nói, tôi chính là may mắn của gia đình, vì năm tôi sinh ra cũng là năm mưa thuận gió hòa, lúa trúng đầy đồng. Ba tôi lại được ông chủ nhận làm quản lý của một kho lúa. Gia đình tôi nhờ vậy mà thoát khỏi cảnh đói nghèo, tuy vậy cũng chỉ đủ ăn qua ngày… nói là khá giả thì không đúng.

Năm tôi lên sáu tuổi, cũng đã đủ nhận thức mọi việc xung quanh mình. Tôi và anh trai là hai cực đối lập nhau, anh tôi thì sau khi đến trường đều ở nhà dọn dẹp nhà cửa nấu cơm giúp mẹ rồi học bài, còn tôi thì chỉ thích rong chơi ngoài đường cùng tụi thằng TÝ, thằng Tèo. Ấy vậy mà mẹ tôi chẳng mắng tôi câu nào, ba thì mãi lo làm đến tối khuya mới về… người duy nhất thường la mắng và đánh đòn tôi chính là anh tôi.

“Viết bài chưa?” – Giọng nói đầy uy quyền của anh trai tôt thốt lên.

“Đi chơi về sẽ viết.” – Lúc ấy tôi không gọi anh tôi là anh, thường xưng là mày tao.

“Viết bài xong mới được đi chơi.”- Anh vừa ngồi trên bàn học vừa nói. “Bước ra khỏi nhà tao đập gãy chân.”

“Mày giám đánh tao, tao méc ba” – Tôi thách thức rồi cũng chạy ra khỏi nhà.

Tôi mang ba ra hù vì ba rất thương tôi, và có đôi phần lạnh lùng với anh – điều này thì sau này tôi mới nhận ra.

Tôi thường cùng thằng Tý và thằng Tèo chơi bắn bi ngoài sân phơi lúa của nhà thằng Tèo, nhà nó rộng lớn thuộc dạng giàu có trong làng, nó chỉ cho tôi và thằng Tý vào chơi vì có lần nó bị bọn xóm trên đánh trên đường, tôi và thằng Tý đã đánh bọn kia cứu nó, từ đó ba đứa trở thành bạn thân với nhau.

Thường thì tôi thích chơi bắn bi tam giác, còn hai đứa nó thích chơi bắn bi chia mức… Chỉ là tôi bắn bi rất giỏi, bắn bi tam giác một lần sẽ ăn được rất nhiều bi của tụi nó. Có lần xếp chín viên bi vào hình tam giác vẽ trên mặt đất, chỉ một mình tôi bắn đã ăn hết sạch chín viên khiến tụi nó tức lắm, nhưng không làm gì được.

“Chơi bắn bi chán rồi, tao có cái này hay hơn” – Thằng Tèo nói, sau đó nó vào trong nhà mang ra một cái cù tròn tròn được đẽo tỉ mĩ, nó dùng dây tung một cái cái cù liền xoay rất nhanh.

“Ai làm cho mày đó.” – Tôi hỏi.

“Ba tao mua trên thị xã” – Tèo đáp.

“Cho tao mượn coi.” – Thằng Tý thích thú.

Tôi nhìn thấy cũng thích, sau khi chơi chung cùng thằng Tèo con cù của nó tôi về nhà nằng nặc đòi ba tôi mua cho một cái. Nhưng ông tuy thương tôi nhưng thời đó việc mua những thứ này là phung phí, vậy là tôi bị đòn một trận rồi khóc lớn mà đi ngủ.

Hôm sau, khi tôi đi học về đến nhà thì nhìn thấy anh tôi đang cặm cụi làm gì phía sau nhà, tôi tò mò chạy xuống xem, thì ra anh tôi đang tự tay đẽo con cù cho tôi. Tôi cảm thấy vô cùng vui sướng, lúc đó tôi không còn ghét anh tôi nữa, nhưng cũng chỉ là lúc đó thôi.

Cù anh tôi làm quay còn nhanh và lâu hơn của thằng Tèo nữa, nó năn nỉ tôi đổi với nó nhưng tôi nhất quyết không chịu. Đến một lúc nó mang ra năm đồng tiền bảo rằng muốn mua lại con cù của tôi, số tiền năm đồng khi ấy với tôi như một gia tài, tôi đồng ý bán cho nó.

“Thằng Út đâu, mau ra đây.” – Tiếng la rất lớn trước cửa nhà tôi, còn Út chính là tên của tôi.

Mẹ tôi chạy ra trước, còn tôi thì đứng phía sau cửa, tôi nhận ra người đàn bà kia chính là mẹ thằng Tèo đang nắm tay nó qua nhà tôi, trên tay bà ta là con cù mà tôi bán cho thằng Tèo.

“Chị tìm thằng Út có chuyện gì vậy ạ?” – Mẹ tôi bất ngờ hỏi.

“Chị dạy con kiểu gì hả, mới còn nhỏ đã dụ con tôi trộm tiền nhà đề mua cái này của nó… Mau gọi nó ra trả lại năm đồng cho nhà tôi mau.” – Bà ta mắng chửi.

Mặt tôi tái mép, lần này xem ra sẽ bị ăn no đòn.

“Mày có lấy năm đồng của thằng Tèo không?” – Mẹ tôi hỏi.

Tôi từ trong túi móc ra năm đồng đưa về phía trước, giọng rung rung đầy lo sợ: “ Là nó đòi mua, con không có dụ nó ăn cắp tiền.”

Mẹ thằng Tèo sau khi chửi bới đủ thứ, lấy lại năm đồng kia rồi quăng lại con cù của tôi xuống đất bỏ về nhà. Mẹ tôi nhìn hàng xóm bu lại coi thì xem ra rất tức giận, bà lôi tôi vào trong đóng của lại, bắt tôi nằm úp lên giường.

“Lỗi không phải của thằng Út, mẹ không được đánh nó.” – Mẹ tôi đưa cây roi lên, giọng anh trai tôi vang lên.

“Mày con binh nó, tao đánh cả mày luôn.” – Mẹ tôi vút một roi vào mông tôi, tạo thành một lằn đỏ ửng. Còn tôi thì khóc thét lên.

Đến roi thứ hai thì tôi không cảm thấy đau nữa, mẹ tôi thì tức giận vứt roi xuống đất mà nói: “Đúng là thứ mất dạy.”

Thì ra roi thứ hai kia anh trai tôi đã dùng tay đỡ giúp tôi, lúc đó tôi cũng thấy lạ, thường ngày anh đánh tôi rất ác… nay lại đỡ đòn giúp tôi như vậy.

Lần đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng mẹ tôi đánh tôi cho đến tận bây giờ, bà vẫn không hề ngó ngàng đến tôi, cũng không buồn nói chuyện với tôi quá ba câu.

Năm tôi lên lớp ba, anh trai tôi cũng vừa vào cấp ba nên nhà tôi càng chật vật hơn vì lo cho chúng tôi ăn học. Mặc dù trường cấp ba rất xa nhưng anh tôi hằng ngày vẫn đi bộ từ năm giờ sáng để kịp đến trường, còn tôi thì hằng ngày vì tiện đường đến nơi ba làm việc nên được ba chở đi bằng chiếc xe đạp duy nhất trong nhà.

Tôi vẫn bị anh tôi đánh vì tội ham chơi, lười học. Anh tôi thì học rất giỏi, năm nào cũng được lãnh thưởng và được giấy khen, cũng nhờ có anh tôi kèm cặp tôi hằng ngày mà tôi vẫn thế lên lớp đều đều, tuy nhiên tôi vẫn không gọi anh bằng anh như hiện tại.

Năm đó mẹ tôi không làm ruộng nữa mà theo người ta lên thị xã làm công nhân, vì còn có gia đình nên mẹ đi đi về về không ở lại như các cô chưa chồng. Sáng mẹ thường mua một ở bánh mì rồi cắt làm đôi để trên bàn, để anh em tôi ăn sáng trước khi đi học. Tôi thường dậy trễ hơn anh nên khi dậy tôi chỉ nhìn thấy nửa phần còn lại trên bàn.

Hôm ấy vào tờ mờ sáng, tiếng gà gáy vang dội cả một phương, tôi buồn tiểu nên bật dậy đi ra nhà vệ sinh. Khi quay về phòng đi ngang qua bàn cơm nhìn thấy anh trai tôi đang mở hai phần nửa ổ bánh mì ra xem.

“Mày làm gì đó.” – Tôi hỏi.

“Chưa sáng đâu, vào ngủ đi.” – Anh trai tôi lấy phần nửa ổ bên trái rồi nói.

Tôi lườm lườm anh rồi vào phòng mình ngủ mà ấm ức, tôi lại càng ghét anh trai tôi hơn.

Quả nhiên sáng hôm sau khi ăn nửa ổ bánh mì kia, tôi phát hiện bên trong nó ít thịt hơn bình thường.

Không biết ai nói gì, anh trai tôi bắt tôi gọi anh ấy là “anh” chứ không được hổn láo như trước nửa. Tôi nhất quyết không chịu, cuối cùng bị anh tôi đánh cho một trận tơi bời cho đến khi gọi anh ấy là “anh”. Tôi cứng đầu nhất quyết không chịu gọi, lúc đó anh tôi mới nói: “Mày không chịu gọi là anh, anh cũng sẽ mặc kệ mày giống mẹ.”

Năm đó lúa trúng, ba ở mãi trong kho làm việc, tôi không chịu được đành gọi anh ấy là “anh” cho đến tận hôm nay.

Vỏn vẹn hai năm trôi qua, anh tôi tốt nghiệp cấp ba thì tôi chuẩn bị vào cấp hai. Không nói ra nhưng tôi biết anh muốn thi lên đại học, ba tôi thì nói nhà không có điều kiện nên bảo anh ra kho làm cùng ba. Mẹ tôi và ba tôi cải nhau rất nhiều lần đó, tôi chỉ nhìn thấy mẹ khóc rất nhiều rồi khi nhìn thấy tôi thì ánh mắt rất dữ tợn. Lúc ấy, anh trai tôi đã lôi tôi ra ngoài đồng… tôi chỉ biết đi theo vì không dám ở nhà với mẹ lúc ấy.

“Anh sẽ không đi đâu, dù ba có cho.” – Anh không nhìn tôi, nhìn về phía ánh mặt trời đang lặn phía đằng tây.

Thật ra tôi không thích anh, nói đúng hơn là rất ghét anh nhưng nghĩ đến lúc anh đi học xa nhà tôi lại chột dạ như không muốn. Bởi, tôi sợ tôi không còn ai để ghét, không còn ai mắng chửi, không còn ai bắt tôi học bài.

“Nhưng mẹ muốn anh đi.” – Tôi đáp.

Anh xoa đầu tôi, mái tóc tôi thời ấy còn để hai mái rất ngố, nó xù lên như một thằng dở người.

“Anh đi rồi, ai giành ăn bánh mì với mày.” – Anh cười lớn.

Nhắc đến bánh mì, tôi quên kể cho các bạn nghe một chuyện, buổi sáng hôm ấy, tôi cũng buồn tiểu nên đi tiểu, lần này cũng thấy anh tôi đang làm gì đó trên hai phần bánh mì của tôi và anh. Tôi định bước ra nhưng nghe tiếng mẹ đành thụt lùi.

“Mày làm gì đó.” – Mẹ tôi lên tiếng.

“Không có gì, mẹ để quên đồ ạ? “ – Anh tôi hỏi.

Mẹ tôi bước lại lấy nửa ổ bánh mì trên tay anh, nhìn vào bên trong liền tức giận: “Tao có đối không tốt với nó đâu, tại sao mày phải nhường hết thịt cho nó.”

Anh tôi cười: “Thằng Út còn nhỏ, cần nhiều dinh dưỡng để học… con lớn rồi… chỉ cần no bụng.”

Tôi nhận ra… thì ra… anh tôi nhường cho tôi thịt bên trong ổ bánh mì từ đó tới giờ, lần đó vì bị tôi phát hiện mà không thể trút thịt qua nửa ổ của tôi được. Ngay từ lúc ấy, thật ra tôi đã bớt ghét anh đi nhiều. Và điều đó tôi cũng giấu trong tim cho đến ngày hôm nay. Từ sau ngày đó… tôi lấy lý do muốn được chọn lựa nên dậy rất sớm để lấy phần bánh của mình trước anh, thật ra tôi không muốn anh tôi chỉ ăn mỗi vỏ bánh như vậy.

Vậy là anh không thi lên đại học mà giúp ba ra kho phụ người ta vác lúa vào kho, còn tôi vẫn đến trường hằng ngày vô lo vô nghĩ. Mỗi tối anh tôi vẫn dạy tôi học bài, vẫn không cho tôi đi chơi… và vẫn đánh đòn nếu tôi bị điểm kém.

“Mùi gì lạ vậy?” – Tôi đang học thì nghe mùi rất lạ.

“Lo làm bài đi, đừng nhiều chuyện” – Anh tôi ngồi bên cạnh.

“Nhưng mùi rất khó chịu.” – Tôi nhăng lại.

“Anh đi ra ngoài một chút, khi vào chưa làm xong biết tay anh.”

Khi anh tôi đi ra ngoài, mùi kì lạ kia cũng biến mất… sau này tôi mới biết đó là mùi rượu thuốc trị nhức mỏi người, thì ra anh làm việc nặng nhọc nên bị đau lưng.

Tôi vào cấp ba, mọi người hối thúc anh cưới vợ… anh chỉ cười rồi lắc đầu: “Đợi thằng Út vào đại học, anh cưới vợ rồi ai canh nó học bài.”

Nhờ có anh nên tôi ngày càng học tiến bộ hơn, tôi liên tiếp được học sinh giỏi rồi thi huyện thi tỉnh được giải thưởng rất cao. Ba tôi tự hào lắm hay mang ra khoe với hàng xóm, anh chỉ cười cười khi nhìn thấy thành tích của tôi… còn mẹ tôi, tuyệt nhiên không quan tâm đến.

Tôi nhận ra cái mùi hôi trên người anh ngày càng nồng hơn, cảm thấy lưng anh tôi ngày càng cong hơn… nhưng tôi lại phớt lờ vì nghĩ anh bị đau lưng thông thường.

Ba mẹ tôi thường xuyên cải nhau hơn, tôi cũng không biết nguyên do chỉ vì mỗi khi họ cải nhau anh lại kéo tôi đi ra ngoài ruộng. Nhiều khi anh không nói gì, gương mặt chỉ hiện một nét buồn khắc khổ.

“Mày có người yêu chưa Út.” – Anh tôi hỏi.

“Người yêu gì, em còn nhỏ mà.” – Tôi đáp.

“Bằng tuổi mày, là tao có người yêu rồi đó.” – Anh tôi nằm lên đống rơm vàng ngoài ruộng, đôi môi hơi cười.

“Vậy sao anh không chịu cưới chị ấy đi.” – Tôi cũng nằm bên cạnh anh.

“Cuộc đời này đâu phải muốn là được, mày gáng học biết không… mày mà không đậu đại học thì tao đập gãy chân mày.”

Năm tôi học mười hai, cũng gần đến ngày đăng kí thi đại học… tôi phân vân không biết thi trường nào thì anh tôi lại nói: “Mày thích làm cái gì thì thi cái đó, đừng nghe lời người khác mà phân tâm… Gáng thi đậu, rớt là về làm ruộng thấy cha mày luôn biết chưa.”

Tôi được ba cho tiền đi luyện thi, vì chương trình luyện thi đại học vượt quá hiểu biết của anh. Anh trai tôi – chỉ là một thằng vác gạo ngoài kho… nhưng với tôi anh còn hơn cả một người thầy, hơn cả một người cha người mẹ… bởi vì tôi ghét anh lắm, ghét đến mức không muốn khiến anh thất vọng.

Tôi đậu đại học, ba tôi rất tự hao mang tôi khoe với cả làng. Anh tôi chỉ đứng nhìn giấy gọi nhập học mà mỉm cười hài lòng. Tôi thu xếp quần áo, chuẩn bị lên thành phố lớn để bước vào trường đại học.

“Cầm lấy mà lên đó cần gì thì mua, tiền ba làm ra lúc nào cũng đưa cho mẹ… Mẹ lại tiết kiệm nên có lẽ sẽ khó khăn cho mày.” – Anh tôi đưa cho tôi một số tiền.

“Cảm ơn anh.” – Tôi không biết nói gì ngoài hai từ ‘cảm ơn” bởi vì không có anh tôi sẽ không có ngày hôm nay.

Anh tôi không đáp… đi ra ngoài cho tôi tiếp tục thu dọn.

“Sao mày có thể cầm tiền anh mày để dành cưới vợ mà không suy nghĩ, mày đúng là ích kỉ như thằng cha của mày.” – Mẹ tôi bước vào phòng nói, gương mặt cau có.

Tôi không đáp… nhìn số tiền trên tay… bỗng dưng rơi nước mắt. Nước mắt của một thằng con trai, lần đầu tiên rơi không phải vì mẹ tôi mắng… mà chính là vì tôi cảm thấy tôi rất thương anh trai tôi, anh ấy đã vì tôi mà hy sinh quá nhiều.

Trước khi đi, tôi mang số tiền kia nhét vào dưới gối ngủ của anh. Anh không ra tiễn tôi, chỉ có ba tôi chở tôi ra bến xe rồi đưa tôi đến trường. Lần đầu tiên tôi xa nhà, người tôi nhớ chỉ có anh trai tôi.

Ở trong kí túc xá trong trường, tôi nghe thầy quản sinh gọi tên mình ra cổng có người tìm… tôi cứ ngỡ ba tôi đến tìm nhưng thật bất ngờ người đến tìm tôi lại là anh trai tôi. Dáng người cao cao gầy gầy, cái lưng cong cong theo năm tháng… từ phía xa tôi nhìn anh trai tôi… tự khi nào tôi đã ích kỉ như lời mẹ tôi nói, tôi đã không nhìn thấy nét già đi hơn cái độ tuổi của anh.

“Sao mày không mang theo tiền, để tao phải mang đến cho mày.” – Anh tôi đưa số tiền về phía tôi.

“Tiền anh lấy vợ, em không lấy đâu.” – Tôi từ chối.

“Tao không lấy vợ, mày cầm lấy mua gì thì mua.” – Anh tôi nhét vào túi tôi.

“Sao lại không lấy vợ, anh giữ đi… em ở đây rất tốt.” – Tôi nhất định không lấy.

Tôi ra trường, trở thành một kỹ sư và làm việc ở thành phố lớn… còn anh trai tôi hằng ngày vẫn vác những bao gạo nặng trĩu đôi đôi vai đầy mùi rượu thuốc. Ba tôi vẫn xem tôi như niềm tự hào của ông, anh trai tôi vẫn im lặng để nhìn tôi bước trên con đường thành công.

Vào một ngày nọ, mẹ tôi đến tìm tôi trong căn phòng trọ mà tôi thuê ở, tôi hơi bất ngờ vì suốt bao năm qua mẹ tôi chưa hề đến thăm tôi dù chỉ một lần.

“Mẹ, mẹ vào nhà đi ạ.” – Tôi ái ngại.

“Tôi không có nhiều thời gian nói chuyện với cậu, chỉ muốn cầu xin cậu một việc.” – Mẹ tôi nói, trên khóe mắt bà đã nhăng đi theo thời gian.

“Mẹ nói chuyện gì kì lạ, vì sao lại là cầu xin.” – Tôi hỏi.

“Anh trai cậu bị thận nhưng nhất quyết không chịu đi bệnh viện, giờ nó nằm liệt ở nhà ai nói gì cũng không đi… Nó thương cậu từ nhỏ, cậu hãy nói giúp tôi.” – Mẹ tôi nói, giọng nói rung rung đầy xa lạ.

Tôi ngay lập tức đón chuyến xe sớm nhất về quê, con đường về quê tôi khá xa… tôi lại nóng lòng muốn gặp anh, đã bao lâu vì có quá nhiều việc mà tôi không về thăm anh, tôi dần quen với cuộc sống thành thị mà quên đi sự chăm sóc từ anh. Tôi đã lớn, tự nhận thấy bản thân phải báo đáp anh.

“Mày về làm gì, tao không sao hết.” – Anh trai tôi nói.

“Nghe lời em, đi bệnh viện đi anh.” – Gương mặt anh xanh xao, gầy ốm.

“Từ khi nào mày có quyền đó hả, mày dù có lớn thì mãi mãi cũng là thằng Út em trai tao, hiểu không, dù có chuyện gì xảy ra mày vẫn mãi là em trai tao.”

Tôi không nghe lời anh, tôi nhất quyết không nghe lời anh tôi nữa… anh có đánh gãy chân tôi tôi cũng không muốn nghe lời anh nữa. Tôi và mẹ đưa anh đến bệnh viện, bác sĩ nói anh đã bị suy thận giai đoạn cuối do làm việc lao lực, tuy nhiên đã ủ bệnh quá lâu không điều trị kịp thời… nếu không tiến hành ghép thận sẽ không thể qua khỏi.

Gia đình tôi vẫn nghèo… dù lúc ấy tôi đã có việc làm nhưng chỉ là một sinh viên vừa ra trường, và điều duy nhất tôi có thể cho anh chính là quả thận của tôi.

Tôi không cho anh biết chuyện tôi sẽ cho anh một bên thân của tôi, anh ngồi trên xe lăn để tổi đẩy anh ra ngoài công viên hít thở không khí trong lành. Tồi ngồi bên cạnh anh, không nói gì… tôi biết vì tôi mà anh trai tôi rất đau đớn.

“Út, tao sắp chết rồi phải không?” – Anh tôi hỏi.

Tôi lắc đầu: “Không, anh sẽ không sao?”

“Mày biết vì sao mẹ không thương mày không, tao nghĩ mày đủ thông minh để nhận ra điều đó.” – Anh trai tôi nói.

Tôi lắc đầu: “Em không biết nhưng đối với em… mẹ vẫn mãi là mẹ.”

“Vì bả không phải người sinh ra mày, năm đó ba phát hiện tao không phải con ổng… nên ổng đi tìm cô người yêu trước khi cưới bả. Cuối cùng thì mang mày về… kiểu như trả thù. Và tao với mày lớn lên trong cái gia đình như vậy, cho nên từ nhỏ tao đã bắt mày học… mày phải học thật giỏi thì người khác mới không có cơ hội chê cười mày.”

Tôi có chút bất ngờ, nhưng trên hết là đã giải tỏa được thắc mắc rằng vì sao mẹ luôn lạnh nhạt với tôi.

“Tao với mày không có ruột rà máu mủ gì cả, vậy nên mày không cần ở đây chăm sóc tao.” – Anh tôi lắc đầu: “Tao chết cũng không được phép khóc hiểu chưa.”

Trên đường đến bệnh viện để chuẩn bị thủ tục hiến thận, một y tá đến nói với tôi rằng anh tôi đã trút hơi thở cuối cùng… lÝ do chính là anh tự sát. Tôi không hiểu vì sao anh lại làm vậy, nhưng mẹ tôi nói rằng vì anh biết tôi muốn hiến thận cho anh, anh chỉ muốn tôi là một người toàn vẹn, thành công và không bị người đời chê cười.

Tôi lại cãi lời anh, tôi khóc rất nhiều…

Nhưng tôi tin… anh sẽ không đánh gãy chân tôi… vì anh chỉ hù dọa tôi thôi…. anh thương tôi hết luôn cả thương bản thân anh.

Còn tôi… tôi nhận ra… dù tôi và anh không hề có huyết thống… anh vẫn mãi là người tôi tôn trọng và yêu thương nhất. Tình cảm đó… chưa bao giờ tắt… 

Song Tử (Nguyễn Vân An)


 

Bà chấp nhận để xương cốt mình bị nghiền nát ,để 2.500 đứa trẻ được sống

 My Lan Pham

Bà chấp nhận để xương cốt mình bị nghiền nát ,để 2.500 đứa trẻ được sống

Gestapo đã bẻ gãy đôi chân bà. Chúng nghiền nát bàn chân bà.

Chúng hứa hẹn cái chết.

Và vậy mà bà không nói ra một cái tên nào.

Nhờ sự im lặng ấy, 2.500 đứa trẻ đã sống sót.

Warsaw, năm 1942.

Thành phố không còn là một thành phố nữa. Nó là một chiếc lồng.

Sau những bức tường gạch quấn đầy dây thép gai, khu Do Thái Warsaw ngạt thở dưới ách thống trị của phát xít Đức. Hơn 400.000 người Do Thái bị nhét vào một không gian vốn dĩ không bao giờ có thể chứa nổi dù chỉ một phần nhỏ con số đó. Cái đói hằn sâu trên từng khuôn mặt. Bệnh tật lan nhanh hơn cả hy vọng. Gia đình biến mất chỉ sau một đêm.

Và mỗi ngày, những chuyến tàu lại rời ga.

Điểm đến được thì thầm như những lời nguyền —

Treblinka. Auschwitz.

Phần lớn người dân Warsaw quay mặt đi.

Quay mặt đi là an toàn hơn.

Quay mặt đi là để sống sót.

Nhưng có một người phụ nữ thì không thể.

Tên bà là Irena Sendler.

Bà mới 32 tuổi. Không phải lính. Không phải thủ lĩnh.

Chỉ là một nhân viên xã hội với căn hộ nhỏ, những ước mơ giản dị, và niềm tin cứng đầu rằng sinh mạng con người là điều thiêng liêng.

Trước chiến tranh, bà giúp những gia đình nghèo tìm thức ăn và thuốc men. Một công việc bình thường. Âm thầm. Vô danh.

Rồi phát xít Đức đến ,và dựng tường bao quanh hàng xóm của bà.

Công việc tại Sở Phúc lợi Xã hội Warsaw cho bà một đặc quyền hiếm hoi: giấy phép vào khu Do Thái. Trên danh nghĩa, bà kiểm tra dịch thương hàn.

Trên thực tế, bà bước thẳng vào địa ngục.

Lần đầu tiên đi qua cánh cổng, mùi hôi thối khiến bà nghẹt thở ,mục rữa, bệnh tật, tuyệt vọng. Trẻ em ngồi bất động trên vỉa hè, quá yếu để khóc. Cha mẹ nhìn vào khoảng không, như đã chết một nửa.

Đêm đó, Irena đưa ra quyết định sẽ định hình cả cuộc đời bà.

Bà sẽ đưa bọn trẻ ra ngoài.

Bà gia nhập Żegota, mạng lưới kháng chiến Ba Lan chuyên cứu người Do Thái. Nhưng lòng can đảm thôi thì chưa đủ. Cần phương pháp. Hậu cần. Và sự sáng tạo đến tàn nhẫn.

Irena trở thành chính kế hoạch.

Bà quay lại khu Do Thái hết lần này đến lần khác — đôi khi đeo băng tay ngôi sao David, đôi khi cải trang thành y tá, lúc nào cũng mang theo túi dụng cụ y tế. Bà tìm đến các bậc cha mẹ và hỏi một câu hỏi mà không một con người nào đáng phải nghe:

“Ông bà có dám giao con mình cho tôi không?”

Hãy tưởng tượng khoảnh khắc ấy.

Con bạn đang chết đói.

Bị kết án bởi một bức tường.

Một người xa lạ đưa ra một cơ hội ,mong manh, đáng sợ, không chắc chắn.

Nếu nói có, bạn có thể sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Nếu nói không, bạn biết chính xác điều gì sẽ xảy ra.

Nhiều người đã nói có.

Không phải vì điều đó dễ dàng.

Mà vì hy vọng dù mong manh ,vẫn tốt hơn sự chắc chắn của cái chết.

Irena đưa trẻ em ra ngoài bằng những cách vượt quá trí tưởng tượng:

– trong hộp đồ nghề

– trong quan tài ghi “nạn nhân thương hàn”

– trong bao khoai tây

– trong xe cứu thương, giấu dưới cáng bệnh

Bà còn huấn luyện một con chó sủa theo lệnh. Khi lính Đức đến gần, tiếng sủa át đi mọi âm thanh mà một đứa trẻ có thể phát ra.

Mỗi cuộc giải cứu chỉ cách cái chết một hơi thở.

Một tiếng khóc.

Một cơn ho.

Một tên lính tò mò.

Bị phát hiện đồng nghĩa với xử bắn.

Nhưng bà vẫn làm.

Rồi Irena nhận ra một điều còn sâu sắc hơn nữa: cứu thân xác của một đứa trẻ là chưa đủ. Nếu chúng sống sót mà không có tên, không có lịch sử, thì phát xít Đức vẫn thắng.

Vì vậy, bà ghi chép tất cả.

Trên những mảnh giấy mỏng manh, bà viết tên thật, tên cha mẹ, địa chỉ, những mảnh đời rời rạc. Bà cho chúng vào những chiếc lọ thủy tinh và chôn dưới một cây táo trong vườn nhà hàng xóm.

Một nghĩa trang của ký ức.

Một lời hứa với tương lai.

Năm 1943, hàng trăm đứa trẻ đã biến mất khỏi khu Do Thái. Và phát xít Đức nhận ra.

Ngày 20 tháng 10 năm 1943, chúng đến bắt bà.

Chúng đưa bà đến nhà tù Pawiak, nơi tiếng la hét ngấm vào từng viên đá. Chúng đòi tên.

Bà từ chối.

Chúng đánh bà.

Rồi bẻ gãy chân bà — từng khúc xương một.

Rồi nghiền nát bàn chân.

Cơn đau được thiết kế để phá vỡ sự im lặng.

Nhưng nó thất bại.

Bà không cho chúng bất cứ thứ gì.

Không tên.

Không địa chỉ.

Không một đứa trẻ nào.

Bà bị kết án tử hình.

Nhưng Żegota đã hối lộ một lính gác. Ngày hành quyết, hắn thả bà đi. Trong hồ sơ Đức quốc xã, Irena Sendler đã “chết”.

Irena Sendler biến mất.

Với đôi chân gãy không bao giờ lành hẳn, bà sống chui lủi ,và tiếp tục giúp đỡ cho đến khi chiến tranh kết thúc năm 1945.

Sau giải phóng, bà quay lại khu vườn.

Bà đào lên.

Từng chiếc lọ được lấy khỏi lòng đất. Giấy đã mục, nhưng những cái tên vẫn còn.

Rồi đến nhiệm vụ đau đớn nhất: đoàn tụ gia đình.

Một số trẻ tìm lại được cha mẹ.

Một số tìm được họ hàng.

Quá nhiều em không tìm thấy ai.

Nhưng tất cả đều tìm lại được tên mình. Bằng chứng rằng chúng đã từng tồn tại, trước khi thế giới cố xóa bỏ chúng.

Suốt nhiều thập kỷ, Irena sống trong bóng tối.

Không huân chương.

Không diễn văn.

Không danh tiếng.

Những năm 1960, Israel công nhận bà là Người Công chính giữa các Dân tộc. Thế giới hầu như không để ý.

Rồi năm 1999, một nhóm học sinh trung học Mỹ phát hiện câu chuyện của bà trong một chú thích nhỏ. Họ viết một vở kịch.

Cuối cùng, thế giới lắng nghe.

Ở tuổi 90, Irena trở nên nổi tiếng ,và bà ghét điều đó.

“Tôi đã có thể làm nhiều hơn,” bà nói. “Nỗi day dứt này sẽ theo tôi đến chết.”

Khi được hỏi thế nào là dũng cảm, bà chỉ đáp:

“Khi thấy ai đó đang chết đuối, ta nhảy xuống cứu. Đó không phải là dũng cảm. Đó là bổn phận.”

Bà qua đời ngày 12 tháng 5 năm 2008, thọ 98 tuổi.

Trong tang lễ của bà có mặt những người sống sót — từng là những đứa trẻ trong hộp ,nay đã là ông bà.

Một người nói:

“Tất cả con người tôi hôm nay tồn tại vì bà đã chọn im lặng.”

Vì bà đã im lặng, 2.500 đứa trẻ đã sống.

Những đứa trẻ ấy có con.

Và con của họ lại có con.

Ngày nay, người ta ước tính khoảng 10.000 sinh mạng tồn tại nhờ một người phụ nữ đã chọn không quay mặt đi.

Không vũ khí.

Không quân phục.

Không quyền lực.

Chỉ một túi dụng cụ y tế.

Một cây táo.

Và một tâm hồn không thể bị phá hủy.

Chúng bẻ gãy chân bà.

Chúng tra tấn bà.

Chúng kết án tử hình bà.

Bà không cho chúng bất cứ thứ gì.

Và 2.500 đứa trẻ đã sống.

TÌNH NGƯỜI VÔ GIÁ – Truyen ngan HAY

My Lan Pham

Câu chuyện ngắn dưới đây được viết lại dựa theo một sự kiện có thật. Tác phẩm khi được giới thiệu ra công chúng lần đầu tiên đã làm xúc động hàng triệu trái tim độc giả.

Cô y tá bước vào phòng bệnh với gương mặt lo âu, hồi hộp, xen lẫn chút mệt mỏi, theo sau là anh lính Hải quân điềm đạm với những nét khắc khổ trên khuôn mặt. Hai người lặng lẽ tiến lại gần người đàn ông đang nằm bất động trên giường bệnh. Cô gái thủ thỉ vào tai ông:

“Bác kính yêu, con trai bác đã đến rồi đây!! ”

Người đàn ông không có phản ứng gì. Có vẻ những liều thuốc an thần “nặng kí” để giảm những cơn đau tim quằn quại đã khiến ông chìm vào giấc ngủ mê mệt … Cô y tá phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần ông mới nặng nề mở được đôi mắt vốn đã mờ đi vì bệnh tật.

Những cơn đau tim dữ dội khiến cơ thể ông không còn một chút sức lực. Ông yếu ớt nhìn anh lính cạnh giường mình, rồi nắm lấy tay anh …

Anh lính Hải quân vội vàng nâng đôi tay xanh xao gầy guộc của ông lão lên rồi nắm chặt, như thể muốn truyền cả tình yêu và lòng dũng cảm của anh sang cho ông lão. Ông chỉ nhìn anh run run mà không thể nói gì. Cô y tá biết cuộc hội ngộ này có ý nghĩa thế nào với ông lão và sẽ rất lâu để hai người có thể giãi bày hết tâm tư, nên cô lặng lẽ mang đến cho anh một chiếc ghế, đặt cạnh giường.

Suốt đêm ấy, anh lính cứ nắm lấy tay ông lão chẳng rời. Anh kể cho ông nghe những câu chuyện “sinh tử” khi làm nhiệm vụ. Có một lần anh đã suýt chết đuối. Hôm ấy biển động dữ dội, trời mưa rét, gió lạnh căm căm, hạm đội của anh phải đi tuần tra thăm dò một vùng biển được cho là bị phục kích. Thời tiết khắc nghiệt khiến tầm nhìn cả đoàn tàu bị hạn chế. Anh là đội trưởng, phải có trách nhiệm hướng dẫn cả đoàn. Trong lúc mải mê quan sát, cơn bão to dữ dội xô anh ngã khỏi tàu. Ai nấy đều hốt hoảng nhìn anh vùng vẫy trong cơn sóng to, rồi dần dần chìm xuống.

“Cha biết không? Lúc ấy, con tưởng cuộc đời mình chuẩn bị kết thúc rồi. Nước xộc vào mũi, cả cơ thể bị bao vây bởi nước, ngực nặng trĩu … Con tự hỏi, chết bây giờ thì có hối tiếc không? ?… Con chẳng nghĩ được nhiều nhưng thấy trái tim mình bình yên đến lạ … Con nghĩ đến Đấng Tối Cao trong con và tấm lòng từ bi của Ngài … Nếu được đến với Ngài trong giây phút này, con chắc chắn sẽ không hối hận …”

Anh nghẹn ngào tiếp lời: “ …và thế là, một phép lạ đã xảy ra … Con thấy cơ thể mình nhẹ nhàng từ từ nổi lên trên khỏi những cơn sóng, đồng đội con lúc ấy cũng đã kịp hoàn hồn dùng dây thả xuống để con bám mà kéo lên … Con đã được cứu sống một cách kỳ diệu như vậy đấy …!”

Anh bảo chính tình yêu cuộc sống và sức mạnh của niềm tin vào Đấng Tối Cao đã giúp anh vượt qua những tình huống khó khăn, hiểm nghèo. Anh muốn ông hãy mạnh mẽ như cái cách anh đã làm để bảo vệ Tổ quốc. Khi tình yêu thương chiến thắng nỗi sợ hãi, sẽ không có chỗ cho khổ đau và bi kịch.

Rồi anh cũng kể về một mối tình đẹp đẽ nhưng không thành. Ngày ấy, khi anh chuẩn bị cầu hôn người đã chia ngọt sẻ bùi với anh suốt thời niên thiếu, thì nhận được tin anh phải đi đến Iraq tham chiến. Anh đã cảm thấy rất đau khổ và bế tắc khi bỏ lại người con gái anh yêu thương nhất.

Nhưng giữa đất nước và tình yêu, anh chọn đất nước. Vì anh nghĩ rằng, nếu đất nước yên bình, người anh yêu cũng vì thế mà an vui. Anh khuyên cô hãy tìm một người đàn ông khác có thể chăm lo thật tốt cho cô, đừng đợi anh để rồi thất vọng. Vì anh chẳng biết đến ngày nào mình mới có thể về … Cũng không biết liệu mình có thể về được không. Nhưng anh không muốn kìm hãm sự tự do của người mà anh yêu.

Ông lão chẳng nói được gì, chỉ thỉnh thoảng gắng gượng nở một nụ cười mãn nguyện. Anh thấy cả những giọt nước mắt lăn dài trên má ông …

Thấy trời đã khuya, cô y tá dịu dàng bước lại rồi bảo anh:

“Anh nên nghỉ ngơi một chút, đã sang ngày mới rồi !! ”.

Anh mỉm cười từ chối:

“Cô hãy đi nghỉ đi, tôi muốn ở lại đây thêm một lúc nữa …”

Cô y tá ngập ngừng đáp lại:

“Vậy tôi muốn ngồi lại đây với anh một lát”.

Rồi cô bắt đầu nói với anh, trước khi ông lão bị những cơn đau tim quái ác dày vò, ông hay kể với cô về con trai. Ông rất yêu đứa con này và luôn tự hào về anh. Ông nói anh rất dũng cảm và có một trái tim quảng đại. Ngày bé anh nghịch lắm, lúc nào cũng chỉ chăm chăm tìm vật dụng để hóa thân thành những anh hùng. Anh có đam mê với biển cả và những con tàu. Anh muốn sau này lớn lên sẽ trở thành một lính Hải quân, bảo vệ Tổ Quốc. Mỗi lần nhắc đến anh, hiện trong mắt ông lão đều là một sự hân hoan khó tả. Ông bảo anh đã xa ông từ rất lâu rồi. Ông chỉ ước một ngày được gặp lại con trai … Và thật may mắn khi anh đã có mặt ở đây …

Anh lính trẻ không nói gì, chỉ cúi xuống hôn lên trán người đàn ông đã thiếp đi lúc nào không hay … Và anh cứ ngồi túc trực bên ông như thế, mãi cho đến khi bình minh ló rạng …

Sáng hôm sau, khi sát lại gần đánh thức ông, anh mới hay ông lão đã trút hơi thở cuối cùng … Lúc ấy, anh mới buông tay ông ra và gọi y tá …

Sau khi bình tĩnh lại, anh lính trẻ quay sang nói với cô y tá:

“Tôi muốn cho cô biết một sự thật …”

Cô y tá chỉ tròn xoe mắt:

“Là sự thật gì vậy?”

“Tôi không phải con trai của ông ấy … Tôi chưa gặp ông bao giờ cả …”

Cô y tá đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cô hỏi anh nếu ông lão không phải cha anh vậy tại sao anh lại ở đó suốt đêm và trò chuyện với ông lão.

Anh mỉm cười hiền từ:

“Cô biết đấy … ông lão đang rất cần tình yêu của một đứa con trai. Tôi chỉ muốn bù đắp cho ông bằng tấm lòng của mình … Ông ấy già rồi, mà vẫn chưa một lần được gặp lại con mình …Và … tôi cũng mất cha từ khi còn rất bé, lâu rồi tôi không có ai để chia sẻ nhiều như thế …”

Cô y tá không nén nổi xúc động, thắc mắc điều kỳ diệu gì đã mang anh đến đây. Anh nói đó là một sự tình cờ ngẫu nhiên. Anh đến bệnh viện tìm ông William Grey nào đó để báo tin con ông đã hy sinh ở Iraq, nhưng duyên phận đã khiến anh có mặt tại căn phòng này …

Cô y tá nhìn anh run run:

“Người đàn ông mà anh đã ở cạnh suốt đêm chính là William Grey …”

Cái đêm đặc biệt ấy đã khiến tâm hồn của ba con người thay đổi hoàn toàn. Ông lão được thỏa mãn nguyện ước cuối cùng của đời mình và có thể thanh thản để về bên kia thế giới.

Chàng trai trẻ mồ côi cha lần đầu tiên được nắm tay một người để có thể chia sẻ, bộc bạch mọi khó khăn, bước ngoặt cuộc đời mà anh đã cô đơn bước qua.

Cô y tá được chứng kiến tận mắt một câu chuyện nhân sinh quan rất xúc động có thật trên đời, có lẽ sẽ càng khiến cô trở thành một người chăm sóc nhân hậu, thông cảm và thấu hiểu hơn nữa tình người.

Trong cõi xa xăm nào đó, hai cha con ông lão hẳn sẽ được đoàn tụ với nhau, và anh lính Hải quân sẽ không phải nuối tiếc vì thiếu hơi ấm của người cha khi còn quá trẻ …

Một lúc nào đó, giữa dòng đời tấp nập, nếu có ai đó cần bạn thật sự, hãy mở rộng tấm lòng mình như cái cách mà anh lính Hải quân đã làm với ông lão và với cuộc đời mình, để cảm nhận tình người và vị ngọt của sự chia sẻ, đồng cảm. Yêu thương người khác là yêu thương chính mình, bạn sẽ không bao giờ biết được hết giá trị của tình yêu không cần hồi đáp mà bạn cho đi.

Sưu tầm


 

Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.

Đó là năm 1942.

Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.

Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng.

Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.

“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.”

Thức ăn cạn dần.

Thuốc men không còn.

Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.

Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống?

Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.

Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.

Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp.

Các cố vấn nói với ông:

“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.”

Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:

“Bao nhiêu đứa trẻ?”

“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.”

Một khoảng lặng.

Rồi ông nói:

“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.

Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.”

Họ cảnh báo:

“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”

“Ta sẽ chịu.”

Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:

“Các con được chào đón ở đây.”

Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.

Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng.

Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.

Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời:

“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.

Các con là con của ta.

Ta là Bapu của các con ,là cha của các con.”

Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.

Ông xây dựng một mái nhà.

Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:

giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới.

“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.

“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.”

Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.

Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình.

Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.

Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết.

Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.

Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước.

Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.

Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời.

Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói:

“Từ nay, các con là con của ta.”

ST.

Nguồn từ báo Ba Lan (theo Tôn Vân Anh)
Fb Trần Quốc Quân


 

Câu chuyện về Stamatis Moraitis: Người đàn ông bị “quên” qua đời

Trầm Mặc Huơng Lai

Năm 1976, ông Stamatis Moraitis, một người gốc Hy Lạp đang sống tại Mỹ, bị các bác sĩ chẩn đoán mắc ung thư phổi ở tuổi 63. Các bác sĩ thông báo rằng tình trạng của ông đã quá muộn để điều trị, và ông chỉ còn vỏn vẹn 6 tháng để sống.

Trong cơn chấn động, Moraitis không muốn tin vào sự thật. Ông đã tìm đến nhiều bác sĩ khác để thăm khám, nhưng trớ trêu thay, tất cả đều đưa ra cùng một bản án tử hình: Ông sẽ ra đi trong vòng 6 đến 8 tháng tới.

Chấp nhận định mệnh, Moraitis quyết định rời nước Mỹ để trở về quê hương mình — đảo Ikaria tại Hy Lạp — với mong muốn được sống những ngày cuối đời tại nơi mình sinh ra.

Ông mua một trang trại nhỏ, tự tay sửa sang nhà cửa, và dành thời gian tận hưởng những ngày tháng vui vẻ bên những người bạn cũ… Sáu tháng trôi qua, rồi năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba — và ông vẫn không chết.

Kỳ diệu hơn nữa: Moraitis sống khỏe mạnh cho đến năm 90 tuổi. Lúc này, ông quyết định quay trở lại Mỹ để tìm gặp những vị bác sĩ năm xưa và thông báo về tình trạng của mình. Thế nhưng, ông kinh ngạc phát hiện ra rằng: Tất cả những bác sĩ từng chẩn đoán ông sắp chết đều đã qua đời trước ông.

Moraitis tiếp tục sống tận hưởng cuộc đời cho đến tận năm 102 tuổi. Cuối cùng, ông ra đi vì một cơn đau tim… sau một trận cười sảng khoái!

Một chút sự thật thú vị phía sau câu chuyện:

Câu chuyện về Stamatis Moraitis là có thật và nó đã khiến hòn đảo Ikaria trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Đây được gọi là một “Blue Zone” (Vùng Xanh) — nơi con người có tuổi thọ cao nhất hành tinh. Bí quyết của ông và người dân nơi đây không có gì cao siêu:

Ăn thực phẩm sạch từ vườn nhà.

Uống một chút rượu vang địa phương.

Đi bộ nhiều trên địa hình đồi núi.

Và quan trọng nhất là tâm trí thoải mái, không lo âu về cái chết.

TG Văn Chương

#trammachuonglai


 

MỘT CÂU HỎI THAY ĐỔI CẢ CUỘC ĐỜI

“Thưa bác, con có thể ngồi ăn cùng bác được không?” – Cô bé vô gia cư rụt rè hỏi vị triệu phú. Câu trả lời của ông sau đó đã khiến tất cả những người xung quanh phải rơi lệ.

Đó là một buổi tối tháng Mười se lạnh tại trung tâm Chicago. Bên trong một nhà hàng sang trọng ven sông, Richard Evans đang dùng bữa một mình. Ông là một người đàn ông của địa vị và sự nguyên tắc. Trên thương trường, ông nổi tiếng là kẻ sắt đá với đế chế bất động sản hàng triệu đô. Mái tóc muối tiêu chải chuốt, chiếc đồng hồ đắt giá trên cổ tay và đĩa bít tết hảo hạng trước mặt – tất cả toát lên vẻ quyền quý.

Nhưng chẳng ai thực sự biết ông là ai đằng sau vẻ ngoài đó.

Cho đến khi một giọng nói yếu ớt phá tan bầu không khí: “Thưa ông… con có thể ăn cùng ông được không?”

Trước mặt ông là một cô bé đi chân đất, chỉ chừng 11 tuổi. Mái tóc rối bù, khuôn mặt lấm lem và đôi mắt trĩu nặng nỗi cô đơn. Khi quản lý nhà hàng định bước tới can thiệp, Richard đã giơ tay ngăn lại.

“Tên con là gì?” ông hỏi nhẹ nhàng. “Con là Emily. Con đã không được ăn gì từ thứ Sáu rồi ạ…”

Ông chỉ tay vào chiếc ghế trống đối diện. Cả nhà hàng như nín thở. “Làm ơn mang đĩa bít tết của tôi cho cô bé. Và một ly sữa ấm nữa.”

Emily ăn một cách chậm rãi, thận trọng, như thể thức ăn có thể biến mất bất cứ lúc nào. Khi đĩa thức ăn đã sạch trơn, Richard cúi người tới gần: “Con còn gia đình không?”

Câu trả lời của cô bé chỉ là những mảnh ghép vụn vỡ: người cha qua đời sau một tai nạn, người mẹ mất tích đã nhiều năm, và người bà cũng vừa mới ra đi. Richard siết chặt ly nước, những ký ức cũ ùa về…

Ít ai biết rằng, vị triệu phú này cũng từng ngủ trên những vỉa hè băng giá, từng đi nhặt lon cũ và sưởi ấm bên những lò sưởi trong tòa nhà bỏ hoang. Ông hiểu rõ hơn ai hết rằng cơn đói luôn át cả lòng tự trọng.

Ông đứng dậy, rút ví mình ra – không phải để cho vài đồng tiền lẻ. “Con có muốn về sống cùng bác không?” ông hỏi.

Emily ngơ ngác: “Ý bác là sao ạ?” “Một mái nhà. Những bữa cơm thực thụ. Được đi học. Nhưng con cũng phải nỗ lực, biết tôn trọng và có trách nhiệm. Và một lời hứa – con sẽ không bao giờ phải nhịn đói nữa.”

Cô bé gật đầu, nước mắt chực trào.

Đêm đó, mọi thứ đã thay đổi. Nước ấm. Chăn êm nệm ấm. Quần áo sạch sẽ. Những thứ nhỏ bé như bàn chải đánh răng cũng giống như một phép màu. Nhưng nỗi sợ hãi thì tan biến chậm hơn. Emily vẫn nằm ngủ co quắp dưới sàn nhà, vẫn giấu bánh mì vào túi áo. Khi quản lý gia đình phát hiện ra chỗ giấu đồ ăn, Emily đã hoảng loạn. Richard quỳ xuống bên cạnh cô bé: “Con không cần phải sợ hãi nữa đâu.”

Dưới sự dẫn dắt âm thầm của ông, Emily lớn lên rạng rỡ. Cô học tập với sự quyết tâm giống hệt ông năm xưa. Những buổi học thêm, những lời động viên, và cả những câu chuyện đêm khuya bên ly socola nóng. Richard đã chia sẻ với cô về quá khứ của chính mình – về những đêm không nơi nương tựa, về nỗi đau khi bị coi như người vô hình giữa đám đông.

Nhiều năm sau, Emily đứng trên sân khấu Đại học Columbia với tư cách thủ khoa. Cô không nói về điểm số. Cô nói về 5 chữ đã thay đổi cuộc đời mình: “Can I eat with you?”

Cô đã không chọn phố Wall hoa lệ. Thay vào đó, cô thành lập quỹ “Can I Eat With You?” chuyên nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em vô gia cư. Richard đã quyên góp một phần ba tài sản của mình để khởi động sứ mệnh đó.

Và cứ mỗi ngày 15 tháng Mười hàng năm, họ lại quay lại nhà hàng năm xưa. Không phải để ngồi bên trong, mà để bày những dãy bàn dài trên vỉa hè. Những bữa ăn nóng hổi. Những vòng tay rộng mở. Không một câu hỏi tra xét.

Bởi vì vào một ngày năm ấy, lòng trắc ẩn đã ngồi xuống bàn ăn… và nó không bao giờ rời đi nữa.

 From: ngocnga_12@ & NguyenNThu


 

 NGƯỜI CŨ … – Nguyễn Thị Thanh Dương- Truyen ngan HAY

Những câu chuyện Nhân Văn –  Chi Nguyen

Tác giả : Nguyễn Thị Thanh Dương

Tôi trang điểm xong và sửa soạn thay váy áo chỉnh tề mà lòng vừa rộn ràng vừa hồi hộp.

Chốc nữa ra mắt cố nhân sau 50 năm bặt tin xa vắng. Anh có nhận ra cô gái xinh xinh tuổi hai mươi ngày xưa anh từng tương tư và thề nguyền sẽ cưới làm vợ không nhỉ?

Còn anh ấy, tôi không quên mái tóc bồng bềnh của chàng sĩ quan Hải quân mỗi lần anh về phép thăm tôi và tôi từng mơ là thi sĩ để dệt những vần thơ trên tóc anh.

Bây giờ tôi đã 70 và anh 75 tuổi đời rồi.

Tôi và Nguyện yêu nhau được một năm, vào lúc cuộc chiến khốc liệt mùa hè đỏ lửa 1972 anh bỏ dở học hành vào đời lính biển. Tình yêu càng xa cách càng nhiều nhớ thương chất ngất, tôi và Nguyện luôn khao khát chờ mong một ngày nào đó hai đứa sẽ nên duyên chồng vợ.

Nhưng biến cố năm 1975 chúng tôi chia lìa nhau, mất nhau không một tin tức nào của nhau cả.

Bao nhiêu năm qua chuyện tình xưa và hình ảnh Nguyện chỉ còn là kỷ niệm đẹp, rất đẹp để đôi lần có dịp nghĩ lại tôi thấy thương nhớ và nuối tiếc bâng khuâng.

Bỗng tuần trước tình cờ trên Facebook Nguyện liên lạc với tôi.

Thế là kỷ niệm sống dậy cứ như tôi vẫn là cô gái tuổi hai mươi ngày ấy.

Cả hai cùng vui mừng thăm hỏi nhau. Nguyện sau cuộc hôn nhân dài đổ vỡ hiện sống một mình, còn tôi cũng một mình vì chồng tôi đã qua đời vài năm nay.

Hai chúng tôi ở cùng tiểu bang, ở hai thành phố lân cận nhau, cách 2 giờ lái xe.

Nguyện đã mời tôi một buổi tái ngộ để anh được trực tiếp giải bày xin lỗi và hàn huyên thăm hỏi nhau nhiều hơn.

Để thuận tiện cho tôi điểm hẹn sẽ là một nhà hàng trong thành phố của tôi và anh sẽ lái xe đến. Anh chọn nhà hàng Tao Ngộ vừa có ý nghĩa vừa nổi tiếng thức ăn ngon.

Tôi sẽ đến trước giờ hẹn nửa tiếng vì háo hức và tò mò muốn trộm nhìn anh xem dung nhan ấy bây giờ ra sao (như trong một bài hát) và tôi sẽ có thì giờ sửa soạn điệu đàng vào gặp anh sau. Thật là thú vị.

Đến khu parking nhà hàng Tao Ngộ tôi lượn xe chầm chậm tìm chỗ đậu vì chiều cuối tuần nhà hàng đông khách đông xe.

Tuổi về già từ lâu tôi đã biết điều luôn tìm chỗ đậu xa, vắng vẻ để dễ vào lane khỏi đụng chạm đến ai. May quá có một chỗ trống tôi cố lái xe len vào thế mà vẫn xuýt đụng xe bên cạnh may mà tôi thắng kịp. Tức thì một ông đầu hói từ trong xe hung hăng bước ra thô lỗ quát to:

– Này, này… Không có mắt à? Mắt mũi để trên trời à?!

Nói xong ông đóng cửa xe cái “rầm” bày tỏ sự tức giận và vội vã bước đi, tôi ngượng ngùng vì chưa kịp nói lời xin lỗi chỉ biết nhìn theo bóng dáng to kềnh của ông với chiếc áo khoác màu da bò đang hối hả bước vào nhà hàng.

Tôi bước ra khỏi xe nhìn lại chỗ đậu của mình thấy rõ ràng xe đậu lệch méo mó lấn sang lane xe bên cạnh, thật đáng đời nghe ông kia quát mắng, may mà chưa đụng làm trầy da tróc vẩy chiếc xe, chắc ông sẽ nắm áo đòi bồi thường, vừa phiền phức vừa mất thì giờ.

Tôi đi vào nhà hàng, hi vọng đừng đụng mặt ông ta lần nữa, mất hứng cho giây phút hẹn hò của tôi với cố nhân.

Tôi thong thả từng bước vào nhà hàng và kín đáo tìm chỗ khuất để Nguyện khó có thể nhận ra tôi.

Theo ước hẹn của nhau là Nguyện và tôi đều mặc áo màu trắng, màu áo lính Hải quân của chàng và màu áo học trò của tôi để cả hai cùng nhớ về một thời tình yêu trong trắng.

Nguyện sẽ đến nhà hàng trước đặt bàn và ngồi chờ tôi trên bàn có sẵn một bình hoa hồng đỏ.

Tôi đứng nép một góc cửa phía xa nhìn vào trong nhà hàng và sững sờ khi thấy người đàn ông áo trắng đầu hói đeo kính đen bệ vệ ngồi một mình bên cạnh bình hoa hồng đỏ.

Hoa hồng thì đẹp và nên thơ nhưng chàng thì như một tay xã hội đen đang ngồi… rình mồi để trả thù ân oán giang hồ chứ không phải kẻ đang đợi người tình xưa.

Nếu ông to béo màu mỡ này là Nguyện.

Chàng Hải quân vóc dáng chuẩn hào hùng thanh nhã ngày xưa của tôi đâu?

Ngày xưa mỗi lần chúng tôi sánh vai dạo phố thế nào mấy cô thiếu nữ cũng có kẻ phải quay đầu lại để suýt soa chàng Hải quân đẹp trai quyến rũ làm cho tôi tự hào biết bao.

Và mái tóc bồng bềnh nếm bao nhiêu mùi vị biển mặn nắng gió phương xa của chàng Hải quân lãng tử đâu?

Tôi an ủi mình cũng già đi, cũng thay đổi, toàn đồ giả trên người thì đòi hỏi chi nữa, nên lại hân hoan và khoan thai bước vào nhà hàng, đứng trước mặt người đàn ông áo trắng đeo kính đen tôi nhỏ nhẹ cất tiếng:

– Có phải là anh Nguyện không?

Ông ta nhìn tôi hồi lâu mới từ từ… tháo kính đen ra. Chắc đôi mắt láo liên của chàng sau màn kính đã tha hồ săm soi lướt nhìn tôi từ đầu đến chân để đánh giá tôi rồi, chàng có phát hiện ra mái tóc giả của tôi không?

Phấn son che giấu những vết nhăn vết nám trên gương mặt tôi không?

Chiếc ví xách tay hàng hiệu đẹp sang cũng là hàng giả hàng nhái chàng có biết không?

Ôi trời ôi, còn tôi đã nhận ra ngay bản mặt của lão hói đầu lúc nãy mắng tôi sa sả chỗ bãi đậu xe, không lầm lẫn vào đâu được vì tôi đã thấy chiếc áo khoác màu da bò lão ta vắt trên thành ghế bên cạnh.

– Xin lỗi, chắc… tôi lầm.

Tôi lắp bắp nói xong định quay đi thì chàng gọi lại:

– Anh là Nguyện đây mà.

Tôi thẫn thờ ngồi xuống ghế vì đã qua cơn choáng, đã tỉnh trí ra, Nguyện chứ còn ai vào đây, dấu hiệu mặc áo trắng, bàn có bình hoa hồng rành rành ra kìa. Chỉ tại chàng đeo thêm đôi kính đen mà thôi. Bồi bàn đến, chúng tôi gọi món ăn và bắt đầu nói chuyện.

Bây giờ đối diện tôi nhìn Nguyện kỹ hơn, nét đẹp trai hiền lành tao nhã ngày xưa đã thay thế bằng nét cau có đăm đăm của một ông già khó tính.

Có nhà nhân chủng học nào, nhà tâm lý nào nghiên cứu giùm tôi tại sao thời gian lại có tài biến đổi lạ lùng đến thế không!

Chàng không hề nhận ra tôi mụ đàn bà vô duyên xớn xác đậu xe không nên thân vì lúc ấy tôi còn ngồi trong xe.

Biến cố 1975 chàng đã lên tàu ra khơi và sau đó không thể liên lạc được với tôi nữa.

Đường đời chúng tôi hai ngã rẽ. Tôi không trách móc gì chàng, bao số phận con người đã chìm trong bể dâu cuộc đời nào chỉ hai chúng tôi.

Nguyện kể công:

– Anh đã đến sớm nửa tiếng trước giờ hẹn để chọn bàn chọn chỗ ngồi cho buổi tái ngộ này. Tất cả chỉ vì em.

Tôi cảm động quá, chàng cũng như tôi đều đến sớm vì nao nức chờ mong và tôi tha thứ cho chàng tội thô lỗ “mắng” tôi lúc nãy, chàng không biết đó là tôi và vì chàng đang vội vào nhà hàng.

Ăn uống và chuyện trò xong gần 2 tiếng đồng hồ, bồi bàn mang đồ tráng miệng ra cùng một cái dĩa có tờ bill tính tiền. Chàng cầm lên xem và bất mãn kêu lên:

– Trời! Chỉ có hai người mà những 160 đồng kể cả tiền tip. Nhà hàng này chém ngọt thật.

– Chắc họ tính tiền cả bình hoa hồng nữa anh ạ.

Chàng xót xa lẩm bẩm:

– Chúng ta có ăn bình hoa hồng này đâu, chưng bày xong lát nữa họ lại cất vào mà.

Tôi ái ngại giùm chàng, chẳng lẽ tôi móc bóp trả tiền làm mất mặt chàng quá nên đành im lặng để cho chàng thể hiện sự ga lăng như trước kia chàng đã từng ga lăng mỗi lần về phép là mỗi lần tôi đều có quà tặng hậu hĩ.

Nhưng chàng đã tiếp làm tôi giật cả mình:

– Anh và em chia hai, mỗi người trả một nửa 80 đồng.

Tôi còn đang bàng hoàng chàng thản nhiên giải thích:

– Anh đến Mỹ 1975 sống quen kiểu Mỹ từ lâu rồi.

Mời đi ăn chung nhưng phần ai nấy trả.

Tôi lấy lại bình tĩnh:

– Em cũng đến Mỹ 1975 em hiểu mà.

Tôi mở bóp lấy ra 80 đồng để trên bàn cạnh 80 đồng của chàng: Thôi tạm biệt anh. Cám ơn anh một buổi chiều tái ngộ.

Tôi đứng lên và bước ra khỏi nhà hàng, chàng cũng vội bước theo tôi, tôi bước nhanh chàng tuy to béo cũng cố bước nhanh và hụt hơi gọi vì thấm mệt:

– Này, em… này… em…

Tôi khựng bước lại, hay là chàng hối hận đã bắt tôi hùn trả tiền ăn và muốn nói điều tình cảm gì đó trước khi chia tay cho tôi đẹp lòng?

Chàng đã bắt kịp tôi vừa thở vừa nói:

– Này em, nãy giờ mình nói chuyện đủ thứ mà anh quên chưa hỏi em một điều quan trọng…

Tôi chờ đợi:

– Vâng, anh cứ hỏi.

Chàng khẩn khoản:

– Anh muốn biết tiền hưu trí mỗi tháng em lãnh bao nhiêu có tương đương với anh không?

Để khi chúng ta quyết định nối lại tình xưa về sống chung bên nhau không ai phải thiệt thòi. Thế thôi.

Tôi nhìn thẳng vào cố nhân, người đã từng làm tôi thổn thức tiếc thương và trả lời dứt khoát không còn thương tiếc gì nữa:

– Chúng ta tái ngộ tâm sự chuyện 50 năm qua chứ em chưa hứa hẹn sẽ về sống chung với anh và sẽ không bao giờ đâu. Anh khỏi phải tính toán trước cho mất công.

Nguyện thất vọng, mặt trở nên lạnh tanh và ngạc nhiên thấy tôi vẫn đi cùng hướng, ra tới chỗ đậu xe chàng mới hiểu khi tôi mở cửa xe chui vào. Tôi nói:

– Em “de” xe nếu đụng xe anh, anh đừng nổi cáu mắng em đồ không có mắt nhé.

Trong khi tôi đang toát mồ hôi nhích từng chút một, quẹo tới quẹo lui cho cái đuôi xe méo lệch ra khỏi lane tôi còn nghe giọng anh ta thô lỗ vang lên y như lúc nãy:

– Thế mà làm người ta mất thì giờ đến đây, lái xe cả đi lẫn về 4 tiếng đồng hồ và tốn hết nửa bình xăng!

(Tháng 8-2022)

Ảnh ST.minh họa


 

CON GÁI CỦA BA – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

Còn bốn tháng nữa con tròn 56 tuổi. Nhưng trong lòng Ba con vẫn còn trẻ như tuổi 15.

Ba nhớ lại cũng ngày nầy 18 năm về trước, cha con mình đùm túm dắt nhau đi vượt biên rồi sang Mỹ.

Ba nói là “đùm túm” vì hồi đó Ba từ trại tù cải tạo về thì con đã gần 40 tuổi.

Khổ. Nghèo.

Nhìn con gái Ba héo úa dung nhan mà Ba khóc ròng.

Tại ba! Tại Ba hết thảy!

Làm con gái của một “sĩ quan nguỵ” nên từ trường Đại Học ra con không có việc làm.

Hàng ngày, ngồi ở góc chợ Bàu Hoa vùng Ngã Tư Bảy Hiền-Sài Gòn để bán từng tô bún mắm. Cứ ba tháng một lần lặn lội ra Bắc thăm Ba.

Năm 1975 Mẹ con mới 50 tuổi.

Người vẫn nghĩ rằng Ba chỉ đi “học tập ít ngày”.

Thành ra, nghe Ba đi Bắc, Mẹ con bị shock. Cộng thêm bệnh cao huyết áp sẵn có Mẹ con “nhất định nằm một chỗ!”.

Thế là con gái của Ba vừa lo cho Me, vừa lo cho Ba.

Ba ở tù 8 năm thì Mẹ con mất.

Phải đến 4 năm gian khổ đời con nữa Ba mới được trở về.

Buổi tối đoàn viên ấy, cha con mừng mừng tủi tủi.

Nhìn ảnh Mẹ con vẫn như tươi cười Ba tan nát cả lòng.

Nhưng biết nói làm sao “Vận mệnh cá nhân mình gắn liền với vận mệnh quốc gia dân tộc”.

Cả thời tuổi trẻ của Ba hầu như đi khắp 4 vùng chiến thuật. Mẹ con cứ bồi hồi theo dõi đường Ba đi. Không biết mình sẽ thành goá phụ lúc nào.

Thời gian ở nhà của Ba rất ít.

Con là con đầu lòng. Lại là con gái.

Cảm ơn con gái của Ba.

Một đứa con gái có lòng hiếu thảo. Trong một lần thăm nuôi tại trại tù,

con kể Ba nghe:

“Từ nhà mình tới chợ Bàu Hoa chừng non 1 cây số. Sáng nào con cũng bày hàng bún mắm ra. Mùi mắm kho thơm lừng. Có cả tôm thẻ lột, thịt quay, cà tím. Có cả những rau nhúc, cây bông súng, rau đắng, húng cây, giá sống và bắp cải bào. Khách hàng đông lắm!”.

Con còn cười vui nói với Ba:

Khi nào Ba về con sẽ mở một tiệm bún mắm và rau VÂN KHANH cho Ba ngồi thu tiền.

Ba nghe với lòng se sắt.

Con gái của Ba, Trớ trêu thay, lúc Ba về con đã là con gái lỡ thì. Ba buồn lắm.

Nhờ ơn Thượng Đế mình vượt biên một lần trót lọt.

Ba đặt chân đến đất Mỹ vào cái tuổi người ta sắp nghỉ ngơi. Chính vì vậy mà con lại khổ vì Ba.

Con không muốn Ba đi làm ca đêm giữa trời rét buốt. Con nói cái lạnh miền Bắc Việt Nam đã cứa nát thịt da Ba cả chục năm trời cũng đủ lắm rồi. Ba hãy để con lo. Nhưng Ba đâu đành lòng như thế.

Buổi sáng con ra khỏi nhà là Ba cũng đi. Tiệm giặt ủi gần nhà mình quá mà.

Ba nhận phần việc ủi và xếp quần áo.

Đi tới đi lui xem máy giặt nào ngưng. Máy sấy nào đồ đã khô. Chỉ vậy thôi. Một ngày, tính ra Ba đi cũng gần 5 cây số. Tội ngiệp con gái của Ba. Lúc người ta báo tin Ba bị xỉu thì con khóc ròng.

Ba về nhà ở không cho con nuôi tiếp. Thật người xưa nói đúng!

“Trẻ cậy cha, già cậy con” mà.

Vân Khanh con, Cho đến một buổi chiều, con đưa về nhà một trung niên trẻ. Trung niên mà Ba cho là “trẻ”.

Vì Ba thấy diện mạo anh ta cũng dễ nhìn. Ba mừng vì con của Ba rồi cũng có một bến đợi để neo thuyền.

Ba cầu mong cho con hạnh phúc.

Chồng của con cũng là chiến hữu của Ba. Gia cảnh cũng không may mắn giống như Ba. Vợ anh đã chết trong lần đi thăm chồng. Cả chiếc xe lăn xuống vực. Từ đó anh dở dở ương ương.

Qua Mỹ rồi anh vẫn sống như người mộng du. Cho tới ngày gặp con.

Tình yêu thật là kỳ diệu!

Chẳng những khiến cho con gái của Ba trẻ lại mà anh chàng “dở hơi” kia cũng chừng như mới cải lão hoàn đồng.

Cứ 4 giờ khuya , anh thức dậy đi bỏ báo. Tới 9 giờ sáng về. Nghỉ ngơi rồi 5 giờ chiều đi vào hãng. 1 giờ đêm mới trở về nhà.

Ba cảm ơn Thượng Đế lần nữa vì con có người chồng hiền lành và độ lượng.

Chứ vào tuổi của Ba không bị đưa vào nhà dưỡng lão là hiếm lắm.

Con nhớ gia đình Bác Th. không?

Hai bác cưới vợ cho anh Cảnh từ lúc còn ở Việt Nam. Vậy mà qua Mỹ rồi Bác Thanh bị cô dâu xem như gánh nặng. Nhất định đòi anh Cảnh phải đưa Mẹ vào Nursing home cho đến chết.

Vân Khanh con, Cả một thời trẻ tuổi của con đã dành để sống cho cha mẹ. Bây giờ con hãy sống cho con đi. Ba rất cảm động mỗi lần khách đến thăm nhà con hay nói: vợ chồng con có phước lắm nên suýt soát tuổi 60 mà vẫn còn có cha để phụng dưỡng.

Phải ! Hồi đó ba khó nghĩ mỗi lần nghe người ta cho rằng sự sống con người tính theo công thức: 5 năm, 6 tháng, 7 ngày.

Nghĩa là ở tuổi đời 5 bó, tuổi thọ tính theo năm.

Đến 6 bó thì tính theo tháng, mà 7 bó thì tính theo ngày.

Ba đã 80, chắc phải tính theo giờ quá!

Cảm ơn vợ chồng con đã chăm sóc Ba mỗi ngày.

Con nói: Ba ơi ! Với chúng con ngày nào cũng là Father’s Day cả.

Ba thật có lỗi với con.

Hồi đó Ba vẫn buồn thầm trong lòng khi mẹ con sinh con là con gái.

Ông Nội con sợ Ba chết trận thì không có con trai nối dõi tông đường.

Còn nếu Ba già mà yếu đau thì con là gái không thể chăm cho Ba được.

Ca dao có câu: Trai mà chi” Gái mà chi”

Con nào có nghĩa có nghì thì hơn.

Nói đến đây Ba chợt nhớ loáng thoáng câu chuyện “Tấm đắp mông ngựa” mà Ba đã đọc từ rất lâu:

Chuyện kể: Một người cha đã đem cả gia tài còn lại của mình cưới cho con cô vợ giàu, trẻ đẹp.

Một thời gian đầu sống vui.

Rồi những đứa cháu nội lần lượt ra đời. Người cha mỗi ngày một già yếu.

Người con trai rất yêu và nể vợ.

Dần dần quên đi trong nhà còn có người cha.

Mùa Đông lạnh lẽo mà sức già chịu không thấu những ngày giá tuyết phũ phàng.Trong khi những con ngựa nuôi trong chuồng thì được giữ ấm bằng những tấm đắp mông.

Đến chừng không thể chịu đựng được nữa người cha bèn gọi con trai để nói rằng: 

– Con ơi, hãy cho cha một tấm đắp mông ngựa đễ cha dễ ngủ vì mùa Đông nầy lạnh quá!

Con dâu nghe được bèn nói với chồng:

– Anh hãy lấy tấm đắp cũ ngoài sân kia mà cắt cho cha một nửa.

Người con trai làm theo lời vợ.

Trong lúc cố dùng sức cắt đôi tấm đắp ra thì đứa con nhỏ đến gần, hỏi:

-Cha ơi, sao không cho ông Nội cả tấm đi” Cha cắt ra làm chi “

Người cha trả lời:

– Để dành con à.

Hôm sau, người con trai thấy đứa con mình cũng đem tấm đắp mông ngựa khác cắt ra làm đôi.

Người con trai giận dữ hỏi:

– Con làm cái gì vậy” Tại sao con cắt nó ra”

Đứa con nhỏ đáp:

– Nửa tấm nầy con cho ông Nội.

Còn nửa nầy để dành khi nào cha già con sẽ cho cha.

Người cha giật mình hối hận.

Từ đó, hết lòng chăm sóc cha mình cho đến cuối cuộc đời.

Vân Khanh, Ba ước ao những người cha khác cũng có con hiếu thảo như con gái của Ba.

Ba rất tự hào về con.

Trong lúc có biết bao gia đình, cha mẹ ngậm đắng nuốt cay vì những đứa con Việt Nam sống theo kiểu Mỹ. Rất tự do! Thậm chí đã khước từ hai chữ HIẾU KÍNH cha mẹ, làm cho các bậc sinh thành hàng ngày sống “nước mắt chan cơm” thì Ba đã được vợ chồng con hết lòng chăm chút từng miếng ăn, giấc ngủ.

Người xưa nói:

“Hiếu thuận huờn sinh hiếu thuận tử. Ngỗ nghịch huờn sinh ngỗ nghịch nhi”. Ba ước nề nếp gia đình mình là như vậy.

Ba của con VÂN KHANH

( từ FB Hong Le )

P/s: Ảnh từ phim “Mẹ con Đậu Đũa”

share từ FB chị Lâm Nguyễn

 


 

Chân Giá Trị Của Từ Thiện! 

Trái dừa có một chút mặn của mồ hôi, một chút cay cay của nước mắt…

Một cô gái hỏi: ” Bao nhiêu tiền 1 trái dừa vậy ông? “

Ông già bán dừa trả lời cô ta, ” Thưa cô 10 ngàn 1 trái! “

Cô gái nói, ” Bán cho tôi 2 trái 15 ngàn được chứ ? Không được, tôi đi chỗ khác! “

Người bán hàng trả lời: ” Cô lấy đi, 15 ngàn 2 trái. Tôi nghĩ như vậy cũng tốt rồi bởi vì cả ngày nay tôi chưa bán được cho ai cả! “Cô gái lấy 2 trái dừa và bỏ đi với cảm giác của một người chiến thắng. Cô ấy bước vào xe hơi và đi đón cô bạn, cả 2 cùng tới một quán ăn sang trọng…

2 cô gái ngồi xuống bàn và gọi những thứ họ thích. Họ chỉ ăn một ít và để lại rất nhiều thứ mà họ gọi ra.

Sau đó cô ta thanh toán hóa đơn. Hóa đơn là 850k, cô gái đưa 900 k và nói với ông chủ quán: ” Khỏi thối! “

_____

Sự việc này có vẻ rất bình thường đối với ông chủ quán giàu có. Nhưng nó rất đau đớn cho người bán dừa tội nghiệp.

Tại sao chúng ta thể hiện sự tính toán chi li khi chúng ta mua hàng của những người nghèo khổ tội nghiệp? Và tại sao chúng ta lại quá hào phóng với những người không cần sự hào phóng của chúng ta?

Mỗi lần một đứa trẻ nghèo đến với tôi để bán một cái gì đó đơn giản, tôi lại nhớ về bà tôi. Bà tôi thường mua những món đồ lặt vặt từ những người nghèo khó với giá cao, mặc dù không thực sự cần đến chúng. Có lần tôi thắc mắc hỏi về hành động “kỳ quặc” đó thì bà tôi nói: Đó chính là chân giá trị của cái gọi là từ thin!

 From: Ngoc Bich & KimBang Nguyen


 

BUỔI SÁNG MẸ KHÔNG ĐÁNH THỨC TÔI – Tác giả: Mirko Blagovic-Truyen ngan HAY

Những Câu Chuyện Thú Vị

Tác giả: Mirko Blagovic

Dịch từ tiếng Nga: Chu Thị Hồng Hạnh

Tôi đã quen với việc mẹ đánh thức tôi mỗi ngày trước bữa sáng. Khi mở mắt, tôi nhận ra rằng mẹ đã đi. Mẹ đi và sẽ không bao giờ trở lại nữa. Không còn đồ của mẹ trong tủ, không có đôi giày ở cửa và tấm đệm đã được gấp gọn gàng sang một bên. Trên bàn, mẹ để lại một mảnh giấy:

Tôi có thể tự gọi mình là một người con xứng đáng sau tất cả những chuyện đã xảy ra không?

Đứng trước cửa viện dưỡng lão, tôi đau đớn nhìn mẹ già của tôi đứng bên cửa sổ. Trước đây, tôi đã chọn một cuộc sống thoải mái với vợ và đuổi mẹ đi, bây giờ tôi đau khổ vì hành động của mình. Làm sao tôi dám đối xử với mẹ ruột mình như thế?

Khi còn là một đứa trẻ, tôi đã mất cha. Ông rời bỏ chúng tôi từ sớm, và thay vì bắt đầu một cuộc sống mới, mẹ chọn tôi. Mẹ vẫn còn trẻ và đẹp, nhưng vấn đề chính là tôi. Người ta đã đề nghị mẹ kết hôn nếu bà để lại tôi, nhưng mẹ không bao giờ dám nghĩ đến việc bỏ rơi tôi. Bà từ chối tất cả các lời cầu hôn và tìm kiếm việc làm theo chuyên môn, bà là một thợ làm bánh. Bà thường nhận ca này đến ca khác để trả tiền thuê nhà, chi phí sinh hoạt và tiền học cho tôi.

Tay mẹ lúc nào cũng sưng đỏ vì liên tục làm bột, nhưng mẹ chưa bao giờ phàn nàn. Sau khi về nhà từ ca làm việc mệt mỏi, mẹ pha ấm trà và cho tôi ăn bánh nướng nóng hổi, dù có những ngày bà bị chậm lương. Mẹ thường nhìn tôi ăn và chỉ sau khi tôi no, bà mới bắt đầu ăn phần còn lại của tôi.

Một thời gian sau, tôi mới hiểu rằng mẹ sợ để tôi bị đói. Tình yêu của mẹ mạnh mẽ đến mức bà không ngần ngại hy sinh bản thân vì tôi. Mẹ thay thế cho cả thế giới đối với tôi, với mẹ như vậy tôi không cần cha nữa. Tôi nhớ mẹ thường nói rằng bà sẽ không bao giờ tái hôn để chồng mới không đối xử tệ với tôi.

Tuổi thơ của tôi trôi qua khá hạnh phúc, mẹ làm việc hết sức, thiếu ngủ, thiếu ăn, nhưng chưa bao giờ than thở. Sau đó, mọi thứ trở nên khó khăn hơn khi nhà máy nơi mẹ làm việc đóng cửa và bà bị viêm khớp ở các ngón tay. Mỗi cử động của bàn tay gây đau đớn không thể tả, và bà không thể làm việc nữa. Không nơi nào khác nhận bà vào làm.

Lúc đó, tôi học lớp cuối cấp và làm thêm ở một quầy bán hàng địa phương. Dọn dẹp, vứt rác, giúp sắp xếp hàng hóa, chuyển những hộp nặng, và đôi khi đứng quầy thu ngân. Tôi được trả công bằng thực phẩm và thỉnh thoảng bằng một ít tiền. Tôi dành dụm để mua thuốc cho mẹ và luôn cố gắng mang lại cho mẹ những tin vui. Biết rằng mẹ thực sự vui mừng khi nghe về thành tích học tập của tôi, tôi cố gắng hết sức để học giỏi. Sau khi tốt nghiệp với bằng đỏ, tôi nộp hồ sơ vào các trường đại học danh tiếng. Phản hồi đến khá nhanh, hầu hết các trường đều nhận tôi. Vì vậy, tôi và mẹ chuyển đến thành phố lớn.

Cuộc sống bắt đầu dần dần ổn định, sau giờ học tôi làm thêm ở quán cà phê và kho hàng. Tôi được trả công tốt, và số tiền đủ cho ăn uống, chi tiêu và các niềm vui khác. Tôi được phân một căn phòng trong ký túc xá vì là một trong những sinh viên xuất sắc nhất, nơi tôi và mẹ cùng sống. Tôi dẫn mẹ đi tham quan bảo tàng, nhà hát và rạp chiếu phim, mua váy cho bà và cố gắng làm cho bà vui.

Mọi thứ đều tuyệt vời cho đến khi tôi gặp cô ấy. Không biết cô ấy là tình yêu đầu tiên của tôi hay là kẻ phá hủy số phận của tôi? Học năm hai, tôi quen Lena. Chính các bạn cùng lớp đã giới thiệu chúng tôi, cô ấy là một cô gái thành phố, con nhà trí thức, rất thú vị và lập dị, khiến tôi mê mẩn ngay lập tức.

Bạn bè ghen tị vì tôi đã chinh phục được một cô gái khó tính như vậy. Thời gian trôi qua, mối quan hệ của chúng tôi phát triển, và một ngày cô ấy đề nghị chúng tôi sống chung. Tôi chưa sẵn sàng cho điều đó, nhưng cô ấy đe dọa sẽ chia tay, và tôi phải đồng ý. Chúng tôi không thể sống ở nhà cô ấy vì bố mẹ cô ấy không tán thành mối quan hệ của chúng tôi, nên chỉ còn lại căn phòng của tôi trong ký túc xá.

Cô ấy chưa gặp mẹ tôi, và tôi cũng không vội giới thiệu. Tôi xấu hổ khi phải giới thiệu mẹ tôi, một người phụ nữ mệt mỏi vì cuộc đời khó khăn, với một nhạc sĩ violon quý phái, mẹ của cô ấy trông rõ ràng tốt hơn. Điều này thật sai trái, nhưng tôi không thể làm gì được. Tôi cần nói chuyện với mẹ. Tôi biết rõ mình định nói gì, hiểu rằng tôi sẽ bỏ mẹ lại ngoài đường. Sau giờ học, tôi như thường lệ mở lời và sau đó đi vào chủ đề chính:

— Mẹ, con đã gặp một cô gái và chúng con định sống chung.

— Con trai, mẹ rất mừng cho con. Các con thật dũng cảm khi quyết định như vậy. Khi nào con giới thiệu mẹ với cô ấy?

— Không phải lần này. Mẹ, mà mẹ sẽ ở đâu?

— Mẹ… mẹ sẽ về quê sống với cô Clava, hàng xóm của chúng ta. Con đừng lo.

— Nhưng mẹ ở đó được bao lâu? Và có lẽ không thể miễn phí được?

— Cô Clava sống một mình và cần một người bạn chung phòng. Mẹ không cần tiền đâu con trai. Con hãy tiết kiệm và mua gì đó cho mình, ăn uống đầy đủ, dành tiền cho bạn gái của con. Mẹ sẽ cố gắng gửi tiền khi tìm được việc.

— Được rồi, mẹ. Vậy con tiễn mẹ ngày mai nhé?

— Ngày mai, con trai. Ngày mai. Con đi ngủ đi.

Tôi nhận ra sự đau đớn thoáng qua trong mắt mẹ mà bà không thể che giấu. Bà cố gắng giấu đi nỗi đau và nước mắt để không làm tôi buồn. Tôi hiểu rõ rằng mình đang hành xử như một người tồi tệ. Tôi đang gửi mẹ đi mà không biết bà sẽ sống ra sao, không tiền, không nhà, bị viêm khớp. Nhưng tôi chỉ muốn thoát khỏi bà càng nhanh càng tốt. Tình yêu đã che mờ mắt tôi. Tôi đi ngủ.

Buổi sáng, mẹ không đánh thức tôi như thường lệ. Khi mở mắt, tôi nhận ra rằng mẹ đã đi. Mẹ đi và sẽ không bao giờ trở lại nữa. Không còn đồ của mẹ trong tủ, không có giày ở cửa, và tấm đệm đã được gấp gọn gàng sang một bên. Trên bàn, mẹ để lại một mảnh giấy:

“Con trai, đừng lo lắng cho mẹ, mẹ sẽ ổn thôi. Mẹ không nhận ra rằng con đã trưởng thành và chín chắn. Mẹ biết con xấu hổ về mẹ, mẹ hiểu. Hãy nói với bạn gái của con rằng con không có mẹ, như vậy con sẽ không phải giới thiệu mẹ với cô ấy. Con trai yêu quý của mẹ, mẹ chúc con hạnh phúc và tình yêu. Hãy hạnh phúc, con trai, và đừng lặp lại số phận của mẹ. Nếu con cần giúp đỡ hoặc có chuyện gì xảy ra, hãy liên lạc với cô Clava. Mẹ sẽ ở đó.”

Đọc xong, mắt tôi tràn ngập nước mắt, tôi cảm thấy tồi tệ vô cùng. Tôi bắt đầu nhớ mẹ, biết rằng bà đã ở ngoài đường không nhà cửa, không một xu dính túi và bị bệnh. Nhưng chuyện đã rồi và Lenka của tôi đã sẵn sàng dọn đến sống với tôi.

Chúng tôi sống cùng nhau, và chẳng bao lâu sau tôi kết hôn với Lena. Lúc đầu, tôi muốn mời mẹ đến dự đám cưới, nhưng tôi thay đổi ý định, bởi mẹ đã tự đề nghị rằng tôi nên nói với mọi người là mình không có mẹ. Tôi đã làm như vậy. Sau sự việc đó, tôi không cố tìm mẹ, luôn có những việc khác xảy ra và tôi không có thời gian cho bà.

Sau khi con gái ra đời, tôi mới hiểu thế nào là làm cha mẹ. Tôi kể hết mọi chuyện với Lena về mẹ và những gì tôi đã làm với bà.

— Và bây giờ anh muốn tìm bà ấy?

Lena hỏi bằng giọng giận dữ.

— Không phải đâu, Lenka. Anh chỉ muốn biết liệu mẹ anh có ổn không, chỉ vậy thôi.

— Hay là anh định đưa mẹ về nhà? Làm sao em biết được bà ấy đã lang thang ở đâu suốt bao năm và mang về những bệnh tật gì cho nhà mình? Nghĩ đến con của anh đi, nó còn nhỏ mới sinh, rất nguy hiểm khi ở gần người lạ.

— Bà ấy không phải người lạ, mà là bà nội của con. Lần này em nói gì cũng được, nhưng anh phải đảm bảo rằng mẹ mình ổn.

Sau vài tuần tìm kiếm, tôi đã tìm thấy mẹ. Thì ra, cô Klava đã mất ngay sau khi chúng tôi chuyển đi và mẹ tôi không thể đến sống cùng bà. Tôi hỏi thăm tất cả những người hàng xóm cũ ở quê, nhưng không ai nhìn thấy mẹ. Quá đau khổ và tuyệt vọng, tôi đến con sông nơi mẹ đã dạy tôi bơi. Gần đó có một cây bạch dương, nơi hai mẹ con đã cùng dựng tổ chim. Khi kiểm tra tổ, tôi tìm thấy một lá thư cũ, nhàu nát, tôi biết ngay đó là thư của mẹ. Trong thư, mẹ viết:

“Con trai yêu dấu, nếu con đọc được lá thư này, nghĩa là con vẫn cần mẹ và đã đi tìm mẹ. Mẹ mong con vẫn ổn và con đang tìm mẹ để đảm bảo rằng mẹ vẫn bình an. Đừng lo cho mẹ, mẹ đang sống trong nhà dưỡng lão cách hai con phố từ trường đại học của con. Mẹ thường xuyên theo dõi con, con hạnh phúc và mẹ không muốn làm phiền con.”

Tôi vội vã lên xe và lái thẳng về nhà. Tôi không thể tin rằng mẹ đã ở gần mình suốt thời gian qua. Khi đến nhà dưỡng lão có tên “Hy Vọng”, họ báo với tôi rằng mẹ tôi đang ở đó. Họ tìm thấy mẹ lang thang ngoài đường vào mùa đông, khi bà đang đi xin ăn. Nghe đến đây, tóc tôi dựng ngược, mẹ tôi đã phải xin ăn ư? Hơn nữa, lại vào mùa đông? Tôi là con người gì đây? Tôi đã ở đâu suốt thời gian đó? Những câu hỏi tương tự cũng được người chăm sóc ở đó hỏi tôi, và tôi không thể trả lời. Sau ngần ấy năm, tôi hy vọng rằng mẹ sẽ tha thứ cho tôi. Khi mở cửa phòng của mẹ, tôi vô cùng ngạc nhiên. Mẹ đã già đi nhiều, rất nhiều, mặc bộ quần áo rách nát và thậm chí không nhận ra tôi.

— Mẹ… Mẹ ơi… Mẹ, là con đây.

Nước mắt không cho phép tôi thốt ra những gì đang chất chứa trong lòng. Tôi gục xuống bên chân mẹ, không dám ngẩng mặt lên. Tôi quá xấu hổ để nhìn thẳng vào mắt mẹ. Mẹ rơi nước mắt, xoa đầu tôi và nói:

— Con trai yêu của mẹ. Con đã tìm thấy mẹ. Mẹ đã chờ con, chờ mãi và tin rằng con sẽ tìm thấy mẹ.

— Mẹ, về nhà với con đi.

— Về nhà? Nhưng mẹ đâu có nhà.

— Có mà mẹ. Mẹ có nhà. Mẹ còn có cháu gái, con sẽ giới thiệu mẹ với cháu.

— Cháu gái? Con trai yêu!

Chúng tôi ôm nhau và nước mắt lại trào ra. Chúng tôi về nhà, và tôi hối hận vì đã không nói trước với Lenka. Cô ấy thậm chí không thèm chào hỏi mẹ tôi. Vừa bước vào cửa, cô đã bắt đầu la hét và trách móc mẹ tôi một cách thẳng thừng, yêu cầu mẹ tôi rời đi.

— Bà làm gì ở đây? Bà là ai? Anh ta đâu có mẹ, mẹ anh ta là một nhạc công và đã chết trong trận lũ khi đi lưu diễn.

Cô ấy nói những điều vô lý, chính xác hơn là những điều tôi đã bịa ra để lấy lòng cô ấy nhiều năm trước. Mẹ tôi tội nghiệp, tôi đã thật tàn nhẫn. Không kìm được cơn giận, tôi tát Lenka một cái và tuyên bố sẽ ly dị.

Cô ấy lập tức đe dọa rằng tôi sẽ không bao giờ được gặp con gái mình nữa, nhưng lúc đó tôi không còn quan tâm. Tôi không thể tha thứ cho chính mình vì đã đối xử với người đã yêu thương tôi hơn tất cả mọi thứ trên đời. Chỉ trong vài phút, cuộc sống của một con người có thể thay đổi mãi mãi. Chỉ vì vài phút bị cuốn vào cuộc cãi vã với Lenka, tôi đã không nhận ra mẹ đã rời đi.

Tôi lao ra khỏi tòa nhà, như kẻ mất trí, chạy đi tìm mẹ. Tim tôi ngừng đập… Đôi chân tôi như mềm nhũn… Phía trước là một đám đông tụ tập, một chiếc xe hơi bị móp méo và mẹ tôi nằm bất động gần đó. Đây chính là sự trừng phạt của tôi, và tôi phải sống với điều này. Không có tình yêu nào trên thế gian có thể thay thế tình yêu của mẹ. Không ai, không bao giờ có thể yêu bạn nhiều hơn mẹ. Không ai sẽ sẵn sàng hy sinh cuộc đời mình cho bạn như mẹ. Người phụ nữ này đã từng chọn tôi thay vì một cuộc đời mới, và tôi đã là người hạnh phúc nhất trên đời vì tôi có cơ hội được gọi một người tuyệt vời như thế là mẹ.

Với cảm giác tội lỗi và nỗi đau, tôi sống qua từng ngày. Tôi không cần gì và không cần ai cả, chỉ có tôi là người duy nhất phải chịu trách nhiệm cho tất cả. Và đối với tôi, không còn lý do để tiếp tục sống nữa, không thể sống một cách trọn vẹn khi trong lòng nặng trĩu.

Nếu bạn từng suy nghĩ về mẹ mình, hãy nhớ rằng, các mối quan hệ và hôn nhân là những thứ không bền vững và có thể thay thế. Nhưng chỉ có tình yêu của mẹ là vĩ đại nhất đối với con cái. Nếu bạn có người để gọi là mẹ, bạn là người hạnh phúc nhất trên đời… Hãy trân trọng mẹ, cha và những người sinh thành. Hãy yêu quý họ khi họ còn ở bên, bởi sau này, sẽ quá muộn và vô nghĩa. Bạn sẽ không thể tự tha thứ cho mình…

C.T.H.H

‐————

P/S Tôi tham gia rất nhiều nhóm truyện của các tác giả văn học Nga hiện đại và ngày nào tôi cũng đọc rất nhiều truyện. Đêm hôm qua tôi đã khóc khi đọc xong truyện này. Tôi giữ nguyên tên “Buổi sáng mẹ không đánh thức tôi” mà trong lòng rất muốn đổi lại là “Đứa con trời đánh”. Xin được giới thiệu truyện này cùng các cô chú, anh chị, bạn bè.

Ảnh st minh họa


 

NẾU CÓ KIẾP SAU… ANH SẼ KHÔNG BAO GIỜ YÊU EM!- Truyen ngan HAY

Góc nhìn An Nam

Anh là một chàng sinh viên nghèo!

Làm thêm vất vả để kiếm thêm tiền trang trải học phí. Em là tiểu thư cành vàng lá ngọc con nhà giàu có khá giả, gia đình có tới mấy osin.

Lần đầu tiên về quê đến cây quế, rau lang…., và cả ngò gai, em cũng không phân biệt được.

Anh gặp em lần đầu tiên trong ngày khai giảng. Em đứng đó vui cười với đám bạn, mải mê làm đổ ly sữa lên váy trắng… Ngượng ngùng, anh đưa em áo khoác che vết loang. Giây phút ấy em mãi không quên anh.

Bốn năm học đại học, em muốn giúp anh nhiều lắm, muốn cuộc sống anh đỡ vất vả vì phải vừa học vừa làm. Đưa tiền cho anh. Anh đâu có nhận, anh nói anh không làm được cho em thì thôi…

Tốt nghiệp, đáng lẽ chia tay, chỉ là tình yêu thời đại học thôi mà…!

Nhưng em đã quyết định theo anh.

Gia đình em phản đối quyết liệt, nhưng em vẫn chọn cho mình người đàn ông của cả cuộc đời.

Nên vợ nên chồng, về quê sống trong căn nhà lụp xụp của mẹ anh. Rồi em mang thai, nhiều khi trái gió trở trời người đau ê ẩm.

Anh thương em, mùa đông cũng như hè đi làm kiếm thêm tiền nuôi vợ.

Thế rồi trong một tai nạn xe, anh liệt đôi chân. Nằm một chỗ ở nhà, tất cả mọi việc đều trông cậy vào em. Ba mẹ em nghe tin… xót dạ, thương yêu đến đón em về nhưng em từ chối!

Chữa bệnh cho anh, em bán hết mọi thứ trong nhà, cuối cùng chiếc nhẫn cưới ba phân vàng 18 kara cũng hết…

Ba mẹ em thấy con gái khổ nhiều, lại cho tiền.

Cứ thế cuộc sống nghèo ở một vùng quê cứ lặng lẽ đau buồn trôi qua!

Em làm giáo viên, anh nằm nhà viết sách. Em đã trút bỏ hình ảnh lá ngọc cành vàng năm nào để trở thành người vợ đảm đang. Đi chợ đã biết trả giá từng ngàn, quần áo bình thường, cân đo đong đếm còn tốt hơn những người phụ nữ khác vì em có học hành…

Bác sĩ bảo chồng em không còn đi được nữa, nhưng em không tin, hàng ngày vẫn bóp chân cho anh, hy vọng một phép màu, kỳ tích sẽ đến…

Ngày ấy, em nghe có một bác sĩ châm cứu rất giỏi. Em chở anh lên xe, đường dài hơn 20 cây số, đưa anh đi châm cứu hai ngày một lần không kể ngày nắng ngày mưa, ngày lạnh ngày nóng.

Anh nhìn em khóc: “Nếu còn có kiếp sau, anh sẽ không bao giờ yêu em nữa, em quá khổ vì anh!”.

Một năm sau phép màu đến thật sự, chân anh hồi phục cũng là lúc anh nhận được giải thưởng Quốc tế từ những cuốn sách anh viết. Không ai nghĩ sẽ có ngày hôm nay…!

Rồi họ mời sang Pháp thuyết trình ba năm, anh do dự, em nói: “Anh phải đi, cơ hội không đến hai lần đâu anh…!”.

Nhìn lại quãng đời, em đâu còn trẻ đẹp như xưa… Chồng, con, vất vả, thân hình gầy gò ốm yếu!

Pháp là đất nước của tình yêu, nhiều người nói anh đi sẽ không trở lại. Em chỉ mỉm cười đáp lại: “Em và anh đã trải qua bao nhiêu sóng gió, nếu vì một việc thế này em không sợ mất anh!”.

Ba năm sau anh về, không báo trước, muốn dành cho em một sự bất ngờ. Nhưng vừa xuống xe anh đến nhà…, đã thấy em đứng đó. Anh hỏi sao biết anh về mà ra đón, em trả lời:

-“Em chờ ở đây mỗi ngày, chỉ cần là xe lạ chạy ngang, em hy vọng nó dừng lại, em không bỏ qua chuyến nào…!”.

Anh nhìn vợ rồi khóc mà nói: “Nếu còn có kiếp sau, anh sẽ không bao giờ yêu em, tình yêu của em làm anh đau lắm, đau lắm, tình yêu của em đã khiến em chịu quá nhiều khổ đau!”

Em đáp trả lời anh: “Tình yêu luôn luôn là khổ đau cay đắng. Tình yêu như một bông hoa sen, hoa sen đẹp nhưng nó có cái nhụy sen, hạt sen rất đắng. Nếu còn có kiếp sau, em sẽ vẫn muốn được yêu anh!”.

  • Đinh Trực sưu tầm

Ảnh lên màu: by Thái Sơn

Chuyện của Sơn