CON GÁI CỦA BA – Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

Còn bốn tháng nữa con tròn 56 tuổi. Nhưng trong lòng Ba con vẫn còn trẻ như tuổi 15.

Ba nhớ lại cũng ngày nầy 18 năm về trước, cha con mình đùm túm dắt nhau đi vượt biên rồi sang Mỹ.

Ba nói là “đùm túm” vì hồi đó Ba từ trại tù cải tạo về thì con đã gần 40 tuổi.

Khổ. Nghèo.

Nhìn con gái Ba héo úa dung nhan mà Ba khóc ròng.

Tại ba! Tại Ba hết thảy!

Làm con gái của một “sĩ quan nguỵ” nên từ trường Đại Học ra con không có việc làm.

Hàng ngày, ngồi ở góc chợ Bàu Hoa vùng Ngã Tư Bảy Hiền-Sài Gòn để bán từng tô bún mắm. Cứ ba tháng một lần lặn lội ra Bắc thăm Ba.

Năm 1975 Mẹ con mới 50 tuổi.

Người vẫn nghĩ rằng Ba chỉ đi “học tập ít ngày”.

Thành ra, nghe Ba đi Bắc, Mẹ con bị shock. Cộng thêm bệnh cao huyết áp sẵn có Mẹ con “nhất định nằm một chỗ!”.

Thế là con gái của Ba vừa lo cho Me, vừa lo cho Ba.

Ba ở tù 8 năm thì Mẹ con mất.

Phải đến 4 năm gian khổ đời con nữa Ba mới được trở về.

Buổi tối đoàn viên ấy, cha con mừng mừng tủi tủi.

Nhìn ảnh Mẹ con vẫn như tươi cười Ba tan nát cả lòng.

Nhưng biết nói làm sao “Vận mệnh cá nhân mình gắn liền với vận mệnh quốc gia dân tộc”.

Cả thời tuổi trẻ của Ba hầu như đi khắp 4 vùng chiến thuật. Mẹ con cứ bồi hồi theo dõi đường Ba đi. Không biết mình sẽ thành goá phụ lúc nào.

Thời gian ở nhà của Ba rất ít.

Con là con đầu lòng. Lại là con gái.

Cảm ơn con gái của Ba.

Một đứa con gái có lòng hiếu thảo. Trong một lần thăm nuôi tại trại tù,

con kể Ba nghe:

“Từ nhà mình tới chợ Bàu Hoa chừng non 1 cây số. Sáng nào con cũng bày hàng bún mắm ra. Mùi mắm kho thơm lừng. Có cả tôm thẻ lột, thịt quay, cà tím. Có cả những rau nhúc, cây bông súng, rau đắng, húng cây, giá sống và bắp cải bào. Khách hàng đông lắm!”.

Con còn cười vui nói với Ba:

Khi nào Ba về con sẽ mở một tiệm bún mắm và rau VÂN KHANH cho Ba ngồi thu tiền.

Ba nghe với lòng se sắt.

Con gái của Ba, Trớ trêu thay, lúc Ba về con đã là con gái lỡ thì. Ba buồn lắm.

Nhờ ơn Thượng Đế mình vượt biên một lần trót lọt.

Ba đặt chân đến đất Mỹ vào cái tuổi người ta sắp nghỉ ngơi. Chính vì vậy mà con lại khổ vì Ba.

Con không muốn Ba đi làm ca đêm giữa trời rét buốt. Con nói cái lạnh miền Bắc Việt Nam đã cứa nát thịt da Ba cả chục năm trời cũng đủ lắm rồi. Ba hãy để con lo. Nhưng Ba đâu đành lòng như thế.

Buổi sáng con ra khỏi nhà là Ba cũng đi. Tiệm giặt ủi gần nhà mình quá mà.

Ba nhận phần việc ủi và xếp quần áo.

Đi tới đi lui xem máy giặt nào ngưng. Máy sấy nào đồ đã khô. Chỉ vậy thôi. Một ngày, tính ra Ba đi cũng gần 5 cây số. Tội ngiệp con gái của Ba. Lúc người ta báo tin Ba bị xỉu thì con khóc ròng.

Ba về nhà ở không cho con nuôi tiếp. Thật người xưa nói đúng!

“Trẻ cậy cha, già cậy con” mà.

Vân Khanh con, Cho đến một buổi chiều, con đưa về nhà một trung niên trẻ. Trung niên mà Ba cho là “trẻ”.

Vì Ba thấy diện mạo anh ta cũng dễ nhìn. Ba mừng vì con của Ba rồi cũng có một bến đợi để neo thuyền.

Ba cầu mong cho con hạnh phúc.

Chồng của con cũng là chiến hữu của Ba. Gia cảnh cũng không may mắn giống như Ba. Vợ anh đã chết trong lần đi thăm chồng. Cả chiếc xe lăn xuống vực. Từ đó anh dở dở ương ương.

Qua Mỹ rồi anh vẫn sống như người mộng du. Cho tới ngày gặp con.

Tình yêu thật là kỳ diệu!

Chẳng những khiến cho con gái của Ba trẻ lại mà anh chàng “dở hơi” kia cũng chừng như mới cải lão hoàn đồng.

Cứ 4 giờ khuya , anh thức dậy đi bỏ báo. Tới 9 giờ sáng về. Nghỉ ngơi rồi 5 giờ chiều đi vào hãng. 1 giờ đêm mới trở về nhà.

Ba cảm ơn Thượng Đế lần nữa vì con có người chồng hiền lành và độ lượng.

Chứ vào tuổi của Ba không bị đưa vào nhà dưỡng lão là hiếm lắm.

Con nhớ gia đình Bác Th. không?

Hai bác cưới vợ cho anh Cảnh từ lúc còn ở Việt Nam. Vậy mà qua Mỹ rồi Bác Thanh bị cô dâu xem như gánh nặng. Nhất định đòi anh Cảnh phải đưa Mẹ vào Nursing home cho đến chết.

Vân Khanh con, Cả một thời trẻ tuổi của con đã dành để sống cho cha mẹ. Bây giờ con hãy sống cho con đi. Ba rất cảm động mỗi lần khách đến thăm nhà con hay nói: vợ chồng con có phước lắm nên suýt soát tuổi 60 mà vẫn còn có cha để phụng dưỡng.

Phải ! Hồi đó ba khó nghĩ mỗi lần nghe người ta cho rằng sự sống con người tính theo công thức: 5 năm, 6 tháng, 7 ngày.

Nghĩa là ở tuổi đời 5 bó, tuổi thọ tính theo năm.

Đến 6 bó thì tính theo tháng, mà 7 bó thì tính theo ngày.

Ba đã 80, chắc phải tính theo giờ quá!

Cảm ơn vợ chồng con đã chăm sóc Ba mỗi ngày.

Con nói: Ba ơi ! Với chúng con ngày nào cũng là Father’s Day cả.

Ba thật có lỗi với con.

Hồi đó Ba vẫn buồn thầm trong lòng khi mẹ con sinh con là con gái.

Ông Nội con sợ Ba chết trận thì không có con trai nối dõi tông đường.

Còn nếu Ba già mà yếu đau thì con là gái không thể chăm cho Ba được.

Ca dao có câu: Trai mà chi” Gái mà chi”

Con nào có nghĩa có nghì thì hơn.

Nói đến đây Ba chợt nhớ loáng thoáng câu chuyện “Tấm đắp mông ngựa” mà Ba đã đọc từ rất lâu:

Chuyện kể: Một người cha đã đem cả gia tài còn lại của mình cưới cho con cô vợ giàu, trẻ đẹp.

Một thời gian đầu sống vui.

Rồi những đứa cháu nội lần lượt ra đời. Người cha mỗi ngày một già yếu.

Người con trai rất yêu và nể vợ.

Dần dần quên đi trong nhà còn có người cha.

Mùa Đông lạnh lẽo mà sức già chịu không thấu những ngày giá tuyết phũ phàng.Trong khi những con ngựa nuôi trong chuồng thì được giữ ấm bằng những tấm đắp mông.

Đến chừng không thể chịu đựng được nữa người cha bèn gọi con trai để nói rằng: 

– Con ơi, hãy cho cha một tấm đắp mông ngựa đễ cha dễ ngủ vì mùa Đông nầy lạnh quá!

Con dâu nghe được bèn nói với chồng:

– Anh hãy lấy tấm đắp cũ ngoài sân kia mà cắt cho cha một nửa.

Người con trai làm theo lời vợ.

Trong lúc cố dùng sức cắt đôi tấm đắp ra thì đứa con nhỏ đến gần, hỏi:

-Cha ơi, sao không cho ông Nội cả tấm đi” Cha cắt ra làm chi “

Người cha trả lời:

– Để dành con à.

Hôm sau, người con trai thấy đứa con mình cũng đem tấm đắp mông ngựa khác cắt ra làm đôi.

Người con trai giận dữ hỏi:

– Con làm cái gì vậy” Tại sao con cắt nó ra”

Đứa con nhỏ đáp:

– Nửa tấm nầy con cho ông Nội.

Còn nửa nầy để dành khi nào cha già con sẽ cho cha.

Người cha giật mình hối hận.

Từ đó, hết lòng chăm sóc cha mình cho đến cuối cuộc đời.

Vân Khanh, Ba ước ao những người cha khác cũng có con hiếu thảo như con gái của Ba.

Ba rất tự hào về con.

Trong lúc có biết bao gia đình, cha mẹ ngậm đắng nuốt cay vì những đứa con Việt Nam sống theo kiểu Mỹ. Rất tự do! Thậm chí đã khước từ hai chữ HIẾU KÍNH cha mẹ, làm cho các bậc sinh thành hàng ngày sống “nước mắt chan cơm” thì Ba đã được vợ chồng con hết lòng chăm chút từng miếng ăn, giấc ngủ.

Người xưa nói:

“Hiếu thuận huờn sinh hiếu thuận tử. Ngỗ nghịch huờn sinh ngỗ nghịch nhi”. Ba ước nề nếp gia đình mình là như vậy.

Ba của con VÂN KHANH

( từ FB Hong Le )

P/s: Ảnh từ phim “Mẹ con Đậu Đũa”

share từ FB chị Lâm Nguyễn

 


 

Chân Giá Trị Của Từ Thiện! 

Trái dừa có một chút mặn của mồ hôi, một chút cay cay của nước mắt…

Một cô gái hỏi: ” Bao nhiêu tiền 1 trái dừa vậy ông? “

Ông già bán dừa trả lời cô ta, ” Thưa cô 10 ngàn 1 trái! “

Cô gái nói, ” Bán cho tôi 2 trái 15 ngàn được chứ ? Không được, tôi đi chỗ khác! “

Người bán hàng trả lời: ” Cô lấy đi, 15 ngàn 2 trái. Tôi nghĩ như vậy cũng tốt rồi bởi vì cả ngày nay tôi chưa bán được cho ai cả! “Cô gái lấy 2 trái dừa và bỏ đi với cảm giác của một người chiến thắng. Cô ấy bước vào xe hơi và đi đón cô bạn, cả 2 cùng tới một quán ăn sang trọng…

2 cô gái ngồi xuống bàn và gọi những thứ họ thích. Họ chỉ ăn một ít và để lại rất nhiều thứ mà họ gọi ra.

Sau đó cô ta thanh toán hóa đơn. Hóa đơn là 850k, cô gái đưa 900 k và nói với ông chủ quán: ” Khỏi thối! “

_____

Sự việc này có vẻ rất bình thường đối với ông chủ quán giàu có. Nhưng nó rất đau đớn cho người bán dừa tội nghiệp.

Tại sao chúng ta thể hiện sự tính toán chi li khi chúng ta mua hàng của những người nghèo khổ tội nghiệp? Và tại sao chúng ta lại quá hào phóng với những người không cần sự hào phóng của chúng ta?

Mỗi lần một đứa trẻ nghèo đến với tôi để bán một cái gì đó đơn giản, tôi lại nhớ về bà tôi. Bà tôi thường mua những món đồ lặt vặt từ những người nghèo khó với giá cao, mặc dù không thực sự cần đến chúng. Có lần tôi thắc mắc hỏi về hành động “kỳ quặc” đó thì bà tôi nói: Đó chính là chân giá trị của cái gọi là từ thin!

 From: Ngoc Bich & KimBang Nguyen


 

BUỔI SÁNG MẸ KHÔNG ĐÁNH THỨC TÔI – Tác giả: Mirko Blagovic-Truyen ngan HAY

Những Câu Chuyện Thú Vị

Tác giả: Mirko Blagovic

Dịch từ tiếng Nga: Chu Thị Hồng Hạnh

Tôi đã quen với việc mẹ đánh thức tôi mỗi ngày trước bữa sáng. Khi mở mắt, tôi nhận ra rằng mẹ đã đi. Mẹ đi và sẽ không bao giờ trở lại nữa. Không còn đồ của mẹ trong tủ, không có đôi giày ở cửa và tấm đệm đã được gấp gọn gàng sang một bên. Trên bàn, mẹ để lại một mảnh giấy:

Tôi có thể tự gọi mình là một người con xứng đáng sau tất cả những chuyện đã xảy ra không?

Đứng trước cửa viện dưỡng lão, tôi đau đớn nhìn mẹ già của tôi đứng bên cửa sổ. Trước đây, tôi đã chọn một cuộc sống thoải mái với vợ và đuổi mẹ đi, bây giờ tôi đau khổ vì hành động của mình. Làm sao tôi dám đối xử với mẹ ruột mình như thế?

Khi còn là một đứa trẻ, tôi đã mất cha. Ông rời bỏ chúng tôi từ sớm, và thay vì bắt đầu một cuộc sống mới, mẹ chọn tôi. Mẹ vẫn còn trẻ và đẹp, nhưng vấn đề chính là tôi. Người ta đã đề nghị mẹ kết hôn nếu bà để lại tôi, nhưng mẹ không bao giờ dám nghĩ đến việc bỏ rơi tôi. Bà từ chối tất cả các lời cầu hôn và tìm kiếm việc làm theo chuyên môn, bà là một thợ làm bánh. Bà thường nhận ca này đến ca khác để trả tiền thuê nhà, chi phí sinh hoạt và tiền học cho tôi.

Tay mẹ lúc nào cũng sưng đỏ vì liên tục làm bột, nhưng mẹ chưa bao giờ phàn nàn. Sau khi về nhà từ ca làm việc mệt mỏi, mẹ pha ấm trà và cho tôi ăn bánh nướng nóng hổi, dù có những ngày bà bị chậm lương. Mẹ thường nhìn tôi ăn và chỉ sau khi tôi no, bà mới bắt đầu ăn phần còn lại của tôi.

Một thời gian sau, tôi mới hiểu rằng mẹ sợ để tôi bị đói. Tình yêu của mẹ mạnh mẽ đến mức bà không ngần ngại hy sinh bản thân vì tôi. Mẹ thay thế cho cả thế giới đối với tôi, với mẹ như vậy tôi không cần cha nữa. Tôi nhớ mẹ thường nói rằng bà sẽ không bao giờ tái hôn để chồng mới không đối xử tệ với tôi.

Tuổi thơ của tôi trôi qua khá hạnh phúc, mẹ làm việc hết sức, thiếu ngủ, thiếu ăn, nhưng chưa bao giờ than thở. Sau đó, mọi thứ trở nên khó khăn hơn khi nhà máy nơi mẹ làm việc đóng cửa và bà bị viêm khớp ở các ngón tay. Mỗi cử động của bàn tay gây đau đớn không thể tả, và bà không thể làm việc nữa. Không nơi nào khác nhận bà vào làm.

Lúc đó, tôi học lớp cuối cấp và làm thêm ở một quầy bán hàng địa phương. Dọn dẹp, vứt rác, giúp sắp xếp hàng hóa, chuyển những hộp nặng, và đôi khi đứng quầy thu ngân. Tôi được trả công bằng thực phẩm và thỉnh thoảng bằng một ít tiền. Tôi dành dụm để mua thuốc cho mẹ và luôn cố gắng mang lại cho mẹ những tin vui. Biết rằng mẹ thực sự vui mừng khi nghe về thành tích học tập của tôi, tôi cố gắng hết sức để học giỏi. Sau khi tốt nghiệp với bằng đỏ, tôi nộp hồ sơ vào các trường đại học danh tiếng. Phản hồi đến khá nhanh, hầu hết các trường đều nhận tôi. Vì vậy, tôi và mẹ chuyển đến thành phố lớn.

Cuộc sống bắt đầu dần dần ổn định, sau giờ học tôi làm thêm ở quán cà phê và kho hàng. Tôi được trả công tốt, và số tiền đủ cho ăn uống, chi tiêu và các niềm vui khác. Tôi được phân một căn phòng trong ký túc xá vì là một trong những sinh viên xuất sắc nhất, nơi tôi và mẹ cùng sống. Tôi dẫn mẹ đi tham quan bảo tàng, nhà hát và rạp chiếu phim, mua váy cho bà và cố gắng làm cho bà vui.

Mọi thứ đều tuyệt vời cho đến khi tôi gặp cô ấy. Không biết cô ấy là tình yêu đầu tiên của tôi hay là kẻ phá hủy số phận của tôi? Học năm hai, tôi quen Lena. Chính các bạn cùng lớp đã giới thiệu chúng tôi, cô ấy là một cô gái thành phố, con nhà trí thức, rất thú vị và lập dị, khiến tôi mê mẩn ngay lập tức.

Bạn bè ghen tị vì tôi đã chinh phục được một cô gái khó tính như vậy. Thời gian trôi qua, mối quan hệ của chúng tôi phát triển, và một ngày cô ấy đề nghị chúng tôi sống chung. Tôi chưa sẵn sàng cho điều đó, nhưng cô ấy đe dọa sẽ chia tay, và tôi phải đồng ý. Chúng tôi không thể sống ở nhà cô ấy vì bố mẹ cô ấy không tán thành mối quan hệ của chúng tôi, nên chỉ còn lại căn phòng của tôi trong ký túc xá.

Cô ấy chưa gặp mẹ tôi, và tôi cũng không vội giới thiệu. Tôi xấu hổ khi phải giới thiệu mẹ tôi, một người phụ nữ mệt mỏi vì cuộc đời khó khăn, với một nhạc sĩ violon quý phái, mẹ của cô ấy trông rõ ràng tốt hơn. Điều này thật sai trái, nhưng tôi không thể làm gì được. Tôi cần nói chuyện với mẹ. Tôi biết rõ mình định nói gì, hiểu rằng tôi sẽ bỏ mẹ lại ngoài đường. Sau giờ học, tôi như thường lệ mở lời và sau đó đi vào chủ đề chính:

— Mẹ, con đã gặp một cô gái và chúng con định sống chung.

— Con trai, mẹ rất mừng cho con. Các con thật dũng cảm khi quyết định như vậy. Khi nào con giới thiệu mẹ với cô ấy?

— Không phải lần này. Mẹ, mà mẹ sẽ ở đâu?

— Mẹ… mẹ sẽ về quê sống với cô Clava, hàng xóm của chúng ta. Con đừng lo.

— Nhưng mẹ ở đó được bao lâu? Và có lẽ không thể miễn phí được?

— Cô Clava sống một mình và cần một người bạn chung phòng. Mẹ không cần tiền đâu con trai. Con hãy tiết kiệm và mua gì đó cho mình, ăn uống đầy đủ, dành tiền cho bạn gái của con. Mẹ sẽ cố gắng gửi tiền khi tìm được việc.

— Được rồi, mẹ. Vậy con tiễn mẹ ngày mai nhé?

— Ngày mai, con trai. Ngày mai. Con đi ngủ đi.

Tôi nhận ra sự đau đớn thoáng qua trong mắt mẹ mà bà không thể che giấu. Bà cố gắng giấu đi nỗi đau và nước mắt để không làm tôi buồn. Tôi hiểu rõ rằng mình đang hành xử như một người tồi tệ. Tôi đang gửi mẹ đi mà không biết bà sẽ sống ra sao, không tiền, không nhà, bị viêm khớp. Nhưng tôi chỉ muốn thoát khỏi bà càng nhanh càng tốt. Tình yêu đã che mờ mắt tôi. Tôi đi ngủ.

Buổi sáng, mẹ không đánh thức tôi như thường lệ. Khi mở mắt, tôi nhận ra rằng mẹ đã đi. Mẹ đi và sẽ không bao giờ trở lại nữa. Không còn đồ của mẹ trong tủ, không có giày ở cửa, và tấm đệm đã được gấp gọn gàng sang một bên. Trên bàn, mẹ để lại một mảnh giấy:

“Con trai, đừng lo lắng cho mẹ, mẹ sẽ ổn thôi. Mẹ không nhận ra rằng con đã trưởng thành và chín chắn. Mẹ biết con xấu hổ về mẹ, mẹ hiểu. Hãy nói với bạn gái của con rằng con không có mẹ, như vậy con sẽ không phải giới thiệu mẹ với cô ấy. Con trai yêu quý của mẹ, mẹ chúc con hạnh phúc và tình yêu. Hãy hạnh phúc, con trai, và đừng lặp lại số phận của mẹ. Nếu con cần giúp đỡ hoặc có chuyện gì xảy ra, hãy liên lạc với cô Clava. Mẹ sẽ ở đó.”

Đọc xong, mắt tôi tràn ngập nước mắt, tôi cảm thấy tồi tệ vô cùng. Tôi bắt đầu nhớ mẹ, biết rằng bà đã ở ngoài đường không nhà cửa, không một xu dính túi và bị bệnh. Nhưng chuyện đã rồi và Lenka của tôi đã sẵn sàng dọn đến sống với tôi.

Chúng tôi sống cùng nhau, và chẳng bao lâu sau tôi kết hôn với Lena. Lúc đầu, tôi muốn mời mẹ đến dự đám cưới, nhưng tôi thay đổi ý định, bởi mẹ đã tự đề nghị rằng tôi nên nói với mọi người là mình không có mẹ. Tôi đã làm như vậy. Sau sự việc đó, tôi không cố tìm mẹ, luôn có những việc khác xảy ra và tôi không có thời gian cho bà.

Sau khi con gái ra đời, tôi mới hiểu thế nào là làm cha mẹ. Tôi kể hết mọi chuyện với Lena về mẹ và những gì tôi đã làm với bà.

— Và bây giờ anh muốn tìm bà ấy?

Lena hỏi bằng giọng giận dữ.

— Không phải đâu, Lenka. Anh chỉ muốn biết liệu mẹ anh có ổn không, chỉ vậy thôi.

— Hay là anh định đưa mẹ về nhà? Làm sao em biết được bà ấy đã lang thang ở đâu suốt bao năm và mang về những bệnh tật gì cho nhà mình? Nghĩ đến con của anh đi, nó còn nhỏ mới sinh, rất nguy hiểm khi ở gần người lạ.

— Bà ấy không phải người lạ, mà là bà nội của con. Lần này em nói gì cũng được, nhưng anh phải đảm bảo rằng mẹ mình ổn.

Sau vài tuần tìm kiếm, tôi đã tìm thấy mẹ. Thì ra, cô Klava đã mất ngay sau khi chúng tôi chuyển đi và mẹ tôi không thể đến sống cùng bà. Tôi hỏi thăm tất cả những người hàng xóm cũ ở quê, nhưng không ai nhìn thấy mẹ. Quá đau khổ và tuyệt vọng, tôi đến con sông nơi mẹ đã dạy tôi bơi. Gần đó có một cây bạch dương, nơi hai mẹ con đã cùng dựng tổ chim. Khi kiểm tra tổ, tôi tìm thấy một lá thư cũ, nhàu nát, tôi biết ngay đó là thư của mẹ. Trong thư, mẹ viết:

“Con trai yêu dấu, nếu con đọc được lá thư này, nghĩa là con vẫn cần mẹ và đã đi tìm mẹ. Mẹ mong con vẫn ổn và con đang tìm mẹ để đảm bảo rằng mẹ vẫn bình an. Đừng lo cho mẹ, mẹ đang sống trong nhà dưỡng lão cách hai con phố từ trường đại học của con. Mẹ thường xuyên theo dõi con, con hạnh phúc và mẹ không muốn làm phiền con.”

Tôi vội vã lên xe và lái thẳng về nhà. Tôi không thể tin rằng mẹ đã ở gần mình suốt thời gian qua. Khi đến nhà dưỡng lão có tên “Hy Vọng”, họ báo với tôi rằng mẹ tôi đang ở đó. Họ tìm thấy mẹ lang thang ngoài đường vào mùa đông, khi bà đang đi xin ăn. Nghe đến đây, tóc tôi dựng ngược, mẹ tôi đã phải xin ăn ư? Hơn nữa, lại vào mùa đông? Tôi là con người gì đây? Tôi đã ở đâu suốt thời gian đó? Những câu hỏi tương tự cũng được người chăm sóc ở đó hỏi tôi, và tôi không thể trả lời. Sau ngần ấy năm, tôi hy vọng rằng mẹ sẽ tha thứ cho tôi. Khi mở cửa phòng của mẹ, tôi vô cùng ngạc nhiên. Mẹ đã già đi nhiều, rất nhiều, mặc bộ quần áo rách nát và thậm chí không nhận ra tôi.

— Mẹ… Mẹ ơi… Mẹ, là con đây.

Nước mắt không cho phép tôi thốt ra những gì đang chất chứa trong lòng. Tôi gục xuống bên chân mẹ, không dám ngẩng mặt lên. Tôi quá xấu hổ để nhìn thẳng vào mắt mẹ. Mẹ rơi nước mắt, xoa đầu tôi và nói:

— Con trai yêu của mẹ. Con đã tìm thấy mẹ. Mẹ đã chờ con, chờ mãi và tin rằng con sẽ tìm thấy mẹ.

— Mẹ, về nhà với con đi.

— Về nhà? Nhưng mẹ đâu có nhà.

— Có mà mẹ. Mẹ có nhà. Mẹ còn có cháu gái, con sẽ giới thiệu mẹ với cháu.

— Cháu gái? Con trai yêu!

Chúng tôi ôm nhau và nước mắt lại trào ra. Chúng tôi về nhà, và tôi hối hận vì đã không nói trước với Lenka. Cô ấy thậm chí không thèm chào hỏi mẹ tôi. Vừa bước vào cửa, cô đã bắt đầu la hét và trách móc mẹ tôi một cách thẳng thừng, yêu cầu mẹ tôi rời đi.

— Bà làm gì ở đây? Bà là ai? Anh ta đâu có mẹ, mẹ anh ta là một nhạc công và đã chết trong trận lũ khi đi lưu diễn.

Cô ấy nói những điều vô lý, chính xác hơn là những điều tôi đã bịa ra để lấy lòng cô ấy nhiều năm trước. Mẹ tôi tội nghiệp, tôi đã thật tàn nhẫn. Không kìm được cơn giận, tôi tát Lenka một cái và tuyên bố sẽ ly dị.

Cô ấy lập tức đe dọa rằng tôi sẽ không bao giờ được gặp con gái mình nữa, nhưng lúc đó tôi không còn quan tâm. Tôi không thể tha thứ cho chính mình vì đã đối xử với người đã yêu thương tôi hơn tất cả mọi thứ trên đời. Chỉ trong vài phút, cuộc sống của một con người có thể thay đổi mãi mãi. Chỉ vì vài phút bị cuốn vào cuộc cãi vã với Lenka, tôi đã không nhận ra mẹ đã rời đi.

Tôi lao ra khỏi tòa nhà, như kẻ mất trí, chạy đi tìm mẹ. Tim tôi ngừng đập… Đôi chân tôi như mềm nhũn… Phía trước là một đám đông tụ tập, một chiếc xe hơi bị móp méo và mẹ tôi nằm bất động gần đó. Đây chính là sự trừng phạt của tôi, và tôi phải sống với điều này. Không có tình yêu nào trên thế gian có thể thay thế tình yêu của mẹ. Không ai, không bao giờ có thể yêu bạn nhiều hơn mẹ. Không ai sẽ sẵn sàng hy sinh cuộc đời mình cho bạn như mẹ. Người phụ nữ này đã từng chọn tôi thay vì một cuộc đời mới, và tôi đã là người hạnh phúc nhất trên đời vì tôi có cơ hội được gọi một người tuyệt vời như thế là mẹ.

Với cảm giác tội lỗi và nỗi đau, tôi sống qua từng ngày. Tôi không cần gì và không cần ai cả, chỉ có tôi là người duy nhất phải chịu trách nhiệm cho tất cả. Và đối với tôi, không còn lý do để tiếp tục sống nữa, không thể sống một cách trọn vẹn khi trong lòng nặng trĩu.

Nếu bạn từng suy nghĩ về mẹ mình, hãy nhớ rằng, các mối quan hệ và hôn nhân là những thứ không bền vững và có thể thay thế. Nhưng chỉ có tình yêu của mẹ là vĩ đại nhất đối với con cái. Nếu bạn có người để gọi là mẹ, bạn là người hạnh phúc nhất trên đời… Hãy trân trọng mẹ, cha và những người sinh thành. Hãy yêu quý họ khi họ còn ở bên, bởi sau này, sẽ quá muộn và vô nghĩa. Bạn sẽ không thể tự tha thứ cho mình…

C.T.H.H

‐————

P/S Tôi tham gia rất nhiều nhóm truyện của các tác giả văn học Nga hiện đại và ngày nào tôi cũng đọc rất nhiều truyện. Đêm hôm qua tôi đã khóc khi đọc xong truyện này. Tôi giữ nguyên tên “Buổi sáng mẹ không đánh thức tôi” mà trong lòng rất muốn đổi lại là “Đứa con trời đánh”. Xin được giới thiệu truyện này cùng các cô chú, anh chị, bạn bè.

Ảnh st minh họa


 

NẾU CÓ KIẾP SAU… ANH SẼ KHÔNG BAO GIỜ YÊU EM!- Truyen ngan HAY

Góc nhìn An Nam

Anh là một chàng sinh viên nghèo!

Làm thêm vất vả để kiếm thêm tiền trang trải học phí. Em là tiểu thư cành vàng lá ngọc con nhà giàu có khá giả, gia đình có tới mấy osin.

Lần đầu tiên về quê đến cây quế, rau lang…., và cả ngò gai, em cũng không phân biệt được.

Anh gặp em lần đầu tiên trong ngày khai giảng. Em đứng đó vui cười với đám bạn, mải mê làm đổ ly sữa lên váy trắng… Ngượng ngùng, anh đưa em áo khoác che vết loang. Giây phút ấy em mãi không quên anh.

Bốn năm học đại học, em muốn giúp anh nhiều lắm, muốn cuộc sống anh đỡ vất vả vì phải vừa học vừa làm. Đưa tiền cho anh. Anh đâu có nhận, anh nói anh không làm được cho em thì thôi…

Tốt nghiệp, đáng lẽ chia tay, chỉ là tình yêu thời đại học thôi mà…!

Nhưng em đã quyết định theo anh.

Gia đình em phản đối quyết liệt, nhưng em vẫn chọn cho mình người đàn ông của cả cuộc đời.

Nên vợ nên chồng, về quê sống trong căn nhà lụp xụp của mẹ anh. Rồi em mang thai, nhiều khi trái gió trở trời người đau ê ẩm.

Anh thương em, mùa đông cũng như hè đi làm kiếm thêm tiền nuôi vợ.

Thế rồi trong một tai nạn xe, anh liệt đôi chân. Nằm một chỗ ở nhà, tất cả mọi việc đều trông cậy vào em. Ba mẹ em nghe tin… xót dạ, thương yêu đến đón em về nhưng em từ chối!

Chữa bệnh cho anh, em bán hết mọi thứ trong nhà, cuối cùng chiếc nhẫn cưới ba phân vàng 18 kara cũng hết…

Ba mẹ em thấy con gái khổ nhiều, lại cho tiền.

Cứ thế cuộc sống nghèo ở một vùng quê cứ lặng lẽ đau buồn trôi qua!

Em làm giáo viên, anh nằm nhà viết sách. Em đã trút bỏ hình ảnh lá ngọc cành vàng năm nào để trở thành người vợ đảm đang. Đi chợ đã biết trả giá từng ngàn, quần áo bình thường, cân đo đong đếm còn tốt hơn những người phụ nữ khác vì em có học hành…

Bác sĩ bảo chồng em không còn đi được nữa, nhưng em không tin, hàng ngày vẫn bóp chân cho anh, hy vọng một phép màu, kỳ tích sẽ đến…

Ngày ấy, em nghe có một bác sĩ châm cứu rất giỏi. Em chở anh lên xe, đường dài hơn 20 cây số, đưa anh đi châm cứu hai ngày một lần không kể ngày nắng ngày mưa, ngày lạnh ngày nóng.

Anh nhìn em khóc: “Nếu còn có kiếp sau, anh sẽ không bao giờ yêu em nữa, em quá khổ vì anh!”.

Một năm sau phép màu đến thật sự, chân anh hồi phục cũng là lúc anh nhận được giải thưởng Quốc tế từ những cuốn sách anh viết. Không ai nghĩ sẽ có ngày hôm nay…!

Rồi họ mời sang Pháp thuyết trình ba năm, anh do dự, em nói: “Anh phải đi, cơ hội không đến hai lần đâu anh…!”.

Nhìn lại quãng đời, em đâu còn trẻ đẹp như xưa… Chồng, con, vất vả, thân hình gầy gò ốm yếu!

Pháp là đất nước của tình yêu, nhiều người nói anh đi sẽ không trở lại. Em chỉ mỉm cười đáp lại: “Em và anh đã trải qua bao nhiêu sóng gió, nếu vì một việc thế này em không sợ mất anh!”.

Ba năm sau anh về, không báo trước, muốn dành cho em một sự bất ngờ. Nhưng vừa xuống xe anh đến nhà…, đã thấy em đứng đó. Anh hỏi sao biết anh về mà ra đón, em trả lời:

-“Em chờ ở đây mỗi ngày, chỉ cần là xe lạ chạy ngang, em hy vọng nó dừng lại, em không bỏ qua chuyến nào…!”.

Anh nhìn vợ rồi khóc mà nói: “Nếu còn có kiếp sau, anh sẽ không bao giờ yêu em, tình yêu của em làm anh đau lắm, đau lắm, tình yêu của em đã khiến em chịu quá nhiều khổ đau!”

Em đáp trả lời anh: “Tình yêu luôn luôn là khổ đau cay đắng. Tình yêu như một bông hoa sen, hoa sen đẹp nhưng nó có cái nhụy sen, hạt sen rất đắng. Nếu còn có kiếp sau, em sẽ vẫn muốn được yêu anh!”.

  • Đinh Trực sưu tầm

Ảnh lên màu: by Thái Sơn

Chuyện của Sơn


 

NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐỢI CHỒNG-Truyen ngan HAY

 Trầm Mặc Huơng Lai

(Nước Nga, những năm 1917–1932)

Suốt 15 năm trời, ngày nào cũng vậy, cứ đến giờ đó là người ta lại thấy bà Anna Ivanovna ra ga tàu.

Bất kể trời đông lạnh buốt xương, bất kể lúc đói kém hay tên bay đạn lạc, bà cứ lẳng lặng đi bộ từ ngôi làng nhỏ ra ga, ngồi đúng cái băng ghế gỗ đó. Mắt bà cứ nhìn chăm chăm vào đường ray, như thể đó không phải là thanh sắt vô hồn, mà là một lời hứa chắc nịch.

Hồi đầu, dân làng bảo chắc bà đợi chồng. Mà đúng thật.

Chồng bà là ông Ivan, đi lính từ năm 1917. Lúc đi, ông dặn: “Anh đi rồi anh về sớm, anh sẽ viết thư đều, em đừng lo”. Bà Anna tin hết, tin không sót một chữ nào.

Mấy tháng đầu còn thấy thư từ, rồi bỗng dưng bặt vô âm tín. Người ta đưa xuống một cái danh sách “mất tích”. Chẳng ai bảo ông còn sống, cũng chẳng ai dám khẳng định ông đã chết. Ông Ivan cứ thế kẹt lại ở cái nơi khổ sở nhất: cái nơi mà người thân không biết nên khóc tang hay nên hy vọng.

Người ta an ủi: “Thôi, chưa thấy người thì còn hy vọng”. Bà Anna bám lấy câu đó mà sống.

Chiến tranh qua đi, người ta lục đục kéo nhau về, ai nấy đều xơ xác. Nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng ông Ivan. Hàng xóm bắt đầu lời ra tiếng vào: “Thôi cô ơi, còn trẻ thì kiếm chỗ khác mà dựa, chứ thời gian nó chẳng chờ mình đâu, ông ấy không về nữa đâu”.

Bà Anna chẳng tranh cãi, bà chỉ bảo: “Tôi không đợi thời gian, tôi đợi nhà tôi”.

Thế rồi năm tháng trôi qua, đất nước đổi thay, đám trẻ con trong làng lớn lên rồi già đi, ai cũng thấy quen với hình ảnh “người đàn bà ở ga tàu”. Bà không còn chải chuốt, cũng chẳng thiết tha gì đến ánh mắt kỳ quặc của người đời. Bà như một phần của cái sân ga cũ kỹ đó.

Năm 1925, có ông cán bộ xã khuyên bà về đi, bảo bà làm thế là “mất quan điểm”, là “không thực tế”. Bà nhìn thẳng ông ta rồi nói gọn lỏn: “Nhà nước có cưới ông ấy đâu mà hiểu”.

Thế là bà cứ tiếp tục đợi. Người bà yếu đi, lưng còng xuống, nhưng lòng tin thì vẫn đứng thẳng tắp. Có năm mùa đông khắc nghiệt quá, bà ốm liệt giường mấy tuần, lúc gượng dậy ra được đến ga thì cái chỗ ngồi cũ đã có người khác ngồi. Bà chẳng đòi, cứ đứng đó mà đợi. Người kia thấy vậy cũng tự động đứng dậy nhường chỗ mà không dám hỏi một câu.

Và rồi, cái ngày kỳ diệu đó cũng đến. Ngày 4 tháng 5 năm 1932, một chuyến tàu lạ lùng cập bến. Bước xuống tàu là một ông già gầy trơ xương, tóc trắng xóa, tay chống cái gậy gỗ tự đẽo.

Bà Anna nhận ra ông ngay giữa đám đông. Bà không gào khóc, cũng chẳng cuống cuồng. Bà chỉ đứng dậy, chậm rãi bước tới. Ông Ivan đứng hình mất mấy giây mới nhận ra vợ mình. 15 năm sương gió đã làm thay đổi hết mặt mũi rồi còn đâu. Ông đánh rơi cả gậy, mếu máo:

“Anh cứ tưởng em không ra…” Bà Anna khẽ lắc đầu, nói nhẹ tênh:

“Em cứ nghĩ anh về muộn chút thôi”.

Ông Ivan bị kẹt trong trại tù binh suốt mười mấy năm, không liên lạc được với ai, chẳng ai đi tìm ông cả, trừ bà.

Họ sống bên nhau được thêm 3 năm cuối đời thì bà mất. Có người vẫn tặc lưỡi: “Đúng là phí cả đời để chờ đợi”. Nhưng lúc còn sống, bà Anna chẳng bao giờ nghĩ thế. Bà bảo: “Tôi có đợi đâu, là tôi chọn đấy chứ”.

Cái hay của câu chuyện là ở chỗ đó: Bà ở lại sân ga không phải vì bà không có chỗ để đi, mà vì bà chọn yêu một người cho đến tận cùng, bất chấp mọi rủi ro. Thời gian có thể làm người ta già đi, nhưng tình yêu của bà Anna đã chứng minh một điều: Thời gian có thể tàn nhẫn, nhưng nó không phải là kẻ quyết định tất cả.

St

#trammachuonglai


 

Câu chuyện về tình anh em mà bệnh tật không thể phá vỡ

Những Câu Chuyện Thú Vị

Năm 1978, hai anh em sinh đôi chào đời trong một gia đình người Mỹ, chỉ cách nhau năm phút. Tuy nhiên, ngay từ đầu, cuộc sống đã đặt họ trên những con đường rất khác nhau.

Fb Tony Nguyễn

Người anh trai sinh ra với trái tim khỏe mạnh.

Người em trai phải đối mặt với những thử thách nghiêm trọng – bệnh cơ tim và bại não.

Thay vì chia rẽ họ, khó khăn này lại gắn kết họ lại với nhau một cách vô cùng mạnh mẽ.

Người anh trai luôn ở bên cạnh. Giúp đỡ. Ủng hộ. Khuyến khích.

Anh ấy chưa bao giờ coi em trai mình là “yếu đuối” – mà chỉ là người xứng đáng được bảo vệ và chăm sóc.

Khi người em trai cần ghép tim khẩn cấp ở tuổi 13, người anh trai đã tràn ngập nỗi sợ hãi và tình yêu đến mức sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình để em trai được sống.

Đó không phải là một cử chỉ kịch tính – đó là tình yêu tuyệt vọng, vô điều kiện.

May mắn thay, một người hiến tặng đã được tìm thấy kịp thời.

Sau khi tốt nghiệp trung học, người anh trai dự định học kỹ thuật hóa sinh, hy vọng tìm ra phương pháp chữa trị căn bệnh ảnh hưởng đến em trai mình và nhiều người khác.

Nhưng cuộc sống lại có kế hoạch khác.

Tên anh ấy là Ashton Kutcher

Anh ấy trở thành một diễn viên – và cuối cùng, một ngôi sao Hollywood.

Người em trai, Michael Kutcher, chọn một con đường khác. Anh ấy trở thành luật sư và dành cả cuộc đời mình để bảo vệ quyền lợi của trẻ em mắc bệnh bại não.

Ngày nay, họ đứng cạnh nhau – không phải trên thảm đỏ, mà trong các hoạt động từ thiện. Cùng nhau. Như họ vẫn luôn như vậy.

Đây không phải là câu chuyện về danh tiếng.

Hay thành công.

Đây là câu chuyện về tình anh em mà bệnh tật không thể phá vỡ.

Về tình yêu không đòi hỏi bất cứ điều gì đổi lại.

Về việc lựa chọn lòng nhân ái, ngay cả khi điều đó khó khăn.

Bởi vì sức mạnh thực sự thường không đến từ những chiến thắng, mà từ sự quan tâm.

https://www.michaelkutcher.com/motivational-speaker…


 

Anh thương chị, nhưng là một tình yêu đơn phương-Truyen ngan HAY

Bùi Mạnh Toàn

 Anh thương chị, nhưng là một tình yêu đơn phương vì chị đã có người khác. Người đó học trên chị 2 lớp và họ đã sống thử với nhau .

Chị biết anh thương chị nhưng chị không chọn anh vì anh hiền lành ít nói, gia cảnh lại khó khăn.Anh ngậm ngùi đứng từ xa nhìn chị hạnh phúc .Nhưng hạnh phúc chẳng được bao lâu thì chợt tắt .

Khi chị báo tin cho họ biết là chị đã có thai được 2 tháng , họ khuyên chị nên phá đi vì tương lai còn dài , còn phải học, phải thành tài. Sau này còn nhiều cơ hội …

Chị lặng người không nói gì nhưng nước mắt cứ tuôn rơi .Chị không thể làm được vì đây là cốt nhục của chị , là tình yêu là lẽ sống của chị . Nhưng thật sự là bế tắc , chị không biết phải giải quyết làm sao khi họ đã bỏ chị, vì ba má chị rất khó.

Anh đã đứng ra xin được làm ba đứa bé và xin cưới chị .Anh quả là người đàn ông tốt. Có lẽ vì một tình yêu cao cả mà anh đã dang tay che chở cho chị.

Anh dẫn chị về ra mắt bố mẹ và xin được cưới chị vì chúng con đã lỡ có con với nhau . Một đám cưới đươc diễn ra với bao lời chúc phúc .

Anh chăm sóc cho chị từ lý từ tí. Nay hầm gà , mai hầm yến. Bao nhiêu tiền làm được là lo bồi bổ cho vợ , chỉ mong cho mẹ con được khỏe mạnh .Ngày chị sanh, Anh đã thao thức chờ đợi để được bế em bé vào lòng, một bé trai kháu khỉnh. Anh đã đặt lên trán con môt nụ hôn bằng cả môt tấm lòng mà cha dành tặng cho con .

Bao nhiêu yêu thương dành hết cho con. Những tiếng ” ba, ba”đầu đời và những bước chân rụt rè sợ té, nó đã cho anh biết thế nào là hạnh phuc của một người cha. Khi bé Dũng được 5 tuổi thì chị mới sanh em bé ,một bé trai ra đời và 2 năm sau là một bé gái.

Bây giờ thì anh đã phải vất vả hơn nhiều vì phải lo cho các con, nhưng chưa bao giờ anh nhụt chí vì bé Dũng luôn là một học sinh giỏi . Anh tự hào về con và luôn lấy Dũng làm gương cho các em .

Không phụ lòng cha, Hai em của Dũng đã thành tài và lập nghiệp trên thành phố . Còn Dũng đã là một bác sĩ giỏi .

Tuần rồi, anh bị bệnh phải vào bệnh viện để chuyền máu .Vì anh thuộc nhóm máu hiếm. Dũng đã đi thử máu để chuyền cho ba nhưng không cùng nhóm máu . Hơi ngỡ ngàng Dũng đã lấy mẫu tóc của 2 nguòi đi thử và kết quả là không cùng huyết thống . Dũng hỏi mẹ và được mẹ giải thích .

Dũng thật sự xúc đông về tình yêu thương và sự hy sinh lo lắng của ba . Dũng đã đến bên giường bệnh và nắm lấy tay ba:

” Ba ơi ! Con thật biết ơn ba vì ba đã yêu thương con .Con nguyện sẽ là đứa con ngoan , hiếu thảo cho ba yên lòng  Môt người cha mà con hạnh phúc mới có được . Ba đã cho con cuộc sống ngày hôm nay .Ba thật là người cha vĩ đại”

Anh đã mỉm cười hạnh phúc vì sự hy sinh của anh đã được đền đáp .Con anh đã hiểu và yêu thương anh …

Bài và ảnh sưu tầm.


 

 TÌNH ĐẦU, TÌNH CUỐI – Truyện ngắn HAY

 TÌNH ĐẦU, TÌNH CUỐI 

Ông Hải, tay cầm ly cà phê, tay cầm cuốn sách, đang lúng túng định dùng vai đẩycánh cửa kính của cái cafeteria, nơi bán thức ăn làm sẵn của nhà dưỡng lão Yee Hong, thì ở đàng sau, đã có một bàn tay nhanh nhẹn mở dùm. Ông Hải bước vào và lúng búng nói với người đàn ông đi sau:

 -Thank you!

Rồi ông Hải tiến về cái bàn quen thuộc ở góc phòng. Ông đặt ly cà phê vừa mua ở tiệm Tim Horton xuống bàn, vươn vai nhìn đồng hồ:

 – Gần mười giờ!

Ông mở nắp ly cà phê, nhấp một ngụm rồi lật cuốn sách đọc sơ qua vài hàng.

 Vừa lúc đó, có tiếng bánh xe lăn trên sàn gạch , ông Hải ngửng lên cất tiếng chào:

-Chào bà Loan! Good morning Tina!

 Tina, là tên của cô y tá đang đẩy chiếc xe lăn đến bàn, để xe vào chỗ đối diện chỗ ngồi của ông Hải, cũng cất tiếng chào lại bằng tiếng Anh:

– Chào ông Hải! Hôm nay ông có khỏe không?

 – Tôi khỏe, cám ơn cô!

 -Tôi để bà Loan lại cho ông nhé!

 -Vâng, cô cứ yên tâm!

 Nói xong, cô y tá   khẽ vỗ vai người đàn bà đang ngồi trên xe lăn, rồi quay gót ra ngoài. Ông Hải vui vẻ bảo người ngồi trên xe lăn:

 -Trời hôm nay đẹp quá. Bà hãy nhìn ra ngoài sân kìa!

Người đàn bà đứng tuổi, hấp háy đôi mắt sau làn kính cận, đưa mắt nhìn ra ngoài. Thời tiết ở thành phố Mississauga vào những ngày cuối xuân thật đẹp. Nắng vàng trải dài trên những thảm cỏ xanh lì , nằm bên cạnh một khu vườn hoa đầy mầu sắc ở gần cổng ra vào. Ông Hải kéo chiếc khăn phủ đôi chân của bà Loan lại cho ngay ngắn rồi thân mật hỏi:

-Hôm qua bà có ngủ ngon giấc không?

 -Cám ơn ông, tôi ngủ say li bì, chẳng nhớ giờ giấc gì cả..

 Ngừng một chút, bà Loan hỏi:

 -Hôm nay ông đọc câu chuyện đến đoạn nào rồi nhỉ?

 -Phần hai người sắp gặp lại nhau, khi Loan ở dưới Saigon trở lại Đà Lạt để tìm lại Hải..

Bà Loan gật gù:

 -Mà câu chuyện cũng hay nhỉ? Nhân vật chính lại trùng với tên tôi và tên ông..

 -Đúng vậy và đây là một chuyện tình hết sức cảm động..

Vừa lúc đó, có tiếng trẻ con ở bên cạnh. Hai đứa trẻ một trai, một gái chạy đến ôm chầm lấy ông Hải và sau đó quay sang ôm bà Loan. Bà Loan vui vẻ nói:

 -Ồ các cháu của ông hôm nay lại đến thăm tôi..

 Bà Loan ngước nhìn người đàn ông vừa đến đứng cạnh ông Hải:

 -Anh Tùng cũng đến thăm tôi nữa này.

 Người đàn ông, tiến lại ôm lấy vai bà Loan:

 -Chào bác! Bác hôm nay có khỏe không?

 -À, hôm nay thì tôi khỏe lắm.

Tùng quay sang nói nhỏ vào tai ông Hải, trong khi hai đứa trẻ đang đưa cho bà Loan coi những vật dụng đủ mầu sắc trong một chiếc giỏ mà hai đứa đã mang đến:

-Má hôm nay có sao không hả ba?

 Ông Hải cũng nhỏ giọng:

 -Hôm nay má mầy có vẻ tươi tỉnh lắm. Hôm nay con không phải đi làm sao?

 -Dạ, hôm nay con nghỉ, đưa hai đứa nhỏ vào thăm bà nội và chút nữa thì phải đưa hai đứa nó đi nha sĩ..

                 *****

 Bà Loan chính thật là vợ ông Hải, mẹ của Tùng ,là bà nội của hai đứa bé Jason và Tracy, con của Tùng. Định cư ở Canada từ năm 1975, gia đình ông Hải đã có một thời gian sống thật hạnh phúc,rồi chẳng may bà Loan lại bị căn bệnh hiểm nghèo là bệnh Quên(Alzheimer’s). 

Sau vài năm được chữa trị ở nhà, bệnh Quên của bà ngày càng nặng dần đến nỗi bà chẳng còn nhận ra chồng con, chẳng nhận ra con cháu của mình nữa. Ngoài căn bệnh Quên, bà còn bị thêm bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường cũng ngày một nặng dần. 

 Ông Hải cố gắng chăm sóc vợ ở nhà, nhưng khi bệnh của bà ngày càng trầm trọng thêm,và đến lúc phải ngồi xe lăn, , thì ông Hải phải xin cho vợ mình vào nhà dưỡng lão Yee Hong , một nhà dưỡng lão của người Trung Hoa ở thành phố Mississauga này. Ông Hải cũng bán căn nhà cũ đang ở, mướn một căn chung cư ở gần nhà dưỡng lão, để hàng ngày có thể đến thăm nom cho vợ.

 Hàng ngày ông Hải đến nhà dưỡng lão vào lúc 10 giờ sáng, để đọc sách cho vợ, để giúp vợ ăn trưa. Sau giờ ăn, khi y tá đưa bà Loan đi tham dự các lớp tập thể dục , các giờ trị liệu pháp, thì ông Hải đi về nhà hoặc đi bộ trong khu công viên River Grove gần đó, hoặc là đi bơi trong hồ bơi của trung tâm cộng đồng Mavis. 

Buổi chiều ông Hải trở lại nhà dưỡng lão cho vợ ăn chiều và ở chơi cho đến tối mới trở lại căn chung cư mà ông đã muớn ở gần đó. Tùng là đứa con độc nhất của hai người, cũng ở trong thành phố Mississauga này, nên cũng hay thường dẫn vợ con đến thăm mẹ mỗi tuần vài lần.

Khi biết vợ mình bị bênh Quên, ông Hải bỏ công nghiên cứu thêm về loại bệnh nan y này. Ông cũng được biết là nếu tìm cách khơi lại những kỷ niệm cũ cho người bệnh, thì có nhiều trường hợp, người bệnh dần dần nhớ lại và bệnh Quên có thể bớt dần đi. 

Vì thế hàng ngày ông đến để đọc lại cho vợ nghe cuốn nhật ký dầy cộm mà bà Loan đã dùng để ghi lại những diễn biến của cuộc tình giữa hai người.

Ông Hải đã đọc đi đọc lại hết cuốn nhật ký này nhiều lần, nhưng vẫn chưa thấy sự tiến triển nào về sức khỏe và trí nhớ của vợ. Tùng nhiều lúc thấy tội nghiệp cho cha đã bảo ông Hải:

-Thôi ba à,ba đọc như vậy đủ rồi, chắc không có “work” đâu?

 -Không sao, tao ở nhà cũng buồn, đâu có chuyện gì làm..

 Và trang nhật ký đã được mở ra , hồi ký của một chuyện tình lại bắt đầu..

 Chiếc xe lam chỉ chở có một người khách, đổ dốc chạy theo đường Phan Đình Phùng, rẽ ngược lên con đường Huyền Trân Công Chúa để chạy đến cỗng trại Du Sinh.. 

Nếu xe tiếp tục đi thẳng là đường dẫn đến thác Cam Ly. Loan ngồi trong lòng xe, tay giữ chiếc va li , mắt ngơ ngẩn nhìn ra ngoài. Trời đã vào hè nhưng khí lạnh của miền cao nguyên vẫn còn lảng vảng đâu đây. 

Chiếc xe lam chạy lên giữa con dốc thì ngừng trước cổng trại. Nàng móc bóp trả tiền cho người tài xế, xách va li, bước xuống xe. Ngôi biệt thự của ba má nàng nằm ngay góc đường vào cổng trại. 

Nằm xế về bên tay phải, góc của một con đường tắt dẫn vào trại Du Sinh, là khu tọa lạc của trường Couvent Des Oiseaux. Loan xách va li đi lại cổng biệt thự bấn chuông. Một lúc sau, có tiếng mở cửa sắt và tiếng chào:

-Cô lên có một mình thôi hay sao? Thế còn bác đâu?

 Loan cất tiếng trả lời bà quản gia:

 -Cháu lên trước. Tháng sau má cháu mới ghé lại..

 -Vậy hả, thôi cô đưa va li tôi mang lên cho..

 Buổi tối hôm đó, Loan ăn qua loa rồi đi ngủ, sau chuyến đi dài mệt nhọc .

                       ******

 Buổi sáng hôm sau, Loan thức dậy vì những tiếng chim hót vang trên cành lá, xuyên qua khung cửa sổ rộng, vào tận phòng. Nàng trở dậy, mặc thêm chiếc áo khoác ngoài, rồi đi ra mở tung cánh cửa sổ. Mặt trời còn ủ kín trong sương. 

Lớp sương mù dầy đặc phủ kín cả khu rừng thông xung quanh ngôi biệt thự. Những ánh nắng mặt trời buổi sáng len lỏi giữa đám sương mù làm thành những vệt sáng trên những cành thông. Đúng lúc đó có tiếng của bà Hậu, người quản gia ở cửa:

-Cô Loan dậy chưa thì xuống ăn sáng!

Sau bữa ăn sáng, Loan thay quần áo, mặc thêm chiếc áo len, rồi thả bộ đi vòng quanh sân của ngôi biệt thự. 

Khu đất xung quanh ngôi biệt thự này rất rộng, được rào bằng hàng rào sắt, và trồng rất nhiều thông. Những cây thông ba lá mọc cao lêu khêu trong khu đất, khiến người ta có cảm tưởng đây là một khu rừng thu nhỏ. Nàng chầm chậm thả bộ đi trong sân, gần vòng rào, vừa đi vừa hít thở khí trong lành. Mùi của những lá thông ẩm sương, mùi của những đám hoa Lan mọc trên những cành thông cao trước mặt, hòa lẫn với nhau, thành một thứ mùi kỳ diệu có thể làm mê mẩn lòng người. Loan chợt nghĩ đến câu văn của một nhà văn mà nàng chợt quên mất tên khi nói về Đà Lạt như sau “ Đi trong đêm ở Đà Lạt là đi trong hơi thở của núi rừng”. 

Đang thả hồn theo cơn mộng, thì Loan bỗng giật mình vì tiếng   động mạnh ở phía trước. Nàng đưa tay giữ ngực nhìn lên. Một quả bóng tròn đã được đá từ ngoài vào sân. 

Chỉ mất giây sau thì Loan thấy ngay một chàng thanh niên, mặc bồ quần áo thể thao, đi giầy dùng để đá banh, lò mò bước tới. Khi thấy nàng đứng ôm ngực ở đó, chàng thanh niên cũng giật mình, rồi trấn tĩnh lại nói:

-Xin lỗi cô, trái banh tụi này đang đá ở bên ngoài, vô tình lọt vào sân nhà, tôi đường đột xin vào để lấy ra..

Loan ấp úng không nói một lời. Từ nhỏ đến lớn nàng sống khép kín trong gia đình, không giao thiệp nhiều với bên ngoài.

 Rồi khi vào trung học, thì nàng lại được gửi vào nội trú trong một trường dòng, sự giao tiếp của nàng càng giới hạn thêm nữa. Vì thế khi đối diện với người thanh niên lạ mặt này, nàng cũng chẳng biết phải đối đáp như thế nào?.

Chàng thanh niên thấy nàng không nói, cúi xuống nhặt quả banh, vừa dợm đi ra thì bỗng quay lại nói:

-Nhà tôi ở bên ngoài kia, ngay đường vào cổng trại, chỉ biết có bác Hậu thôi và chưa gặp cô bao giờ.

Loan run giọng:

 -Tại học ở Saigon..

 Chàng thanh niên ngắm nàng rồi gật gù:

 -À, ra vậy. Chắc cô về đây nghỉ hè? Tôi tên là Hải.. thế còn cô?

 -Tên là Loan..

 -Hân hạnh được biết cô.. Nhà tôi ở ngay bên cạnh hàng rào đó..

Vừa nói Hải vừa chỉ tay ra bên ngoài hàng rào sắt. Loan nhìn theo hướng chỉ và nhìn thấy một căn nhà tôn vách ván như những căn nhà của những người sống trong trại Du Sinh này. 

Loan đã được bà Hậu cho biết trại Du Sinh là trại của những đồng bào di cư tỵ nạn cộng sản từ miền Bắc vào Nam Các người tỵ nạn này đã được cha Bửu Dưỡng, một cha dòng Chúa Cứu Thế , dẫn dắt lên sống trong trại định cư này.

Chàng thanh niên nói tiếp:

 -Mấy ngày ở đây, nếu cô Loan không bận thì qua bên nhà chơi với tụi này.Tôi có hai đứa em gái chắc cũng bằng tuổi cô, thích hát hỏng lắm..

À, hay chiều nay cỡ bốn giờ, tôi bảo Liên ,một nhỏ em của tôi đến cổng biệt thự, chờ để dẫn cô qua chơi. Chiều nay có thêm mấy cô bạn của các em tôi ở trên đầu trại xuống, hát hò vui lắm..

Thế rồi họ quen nhau và yêu nhau lúc nào chẳng hay. Những ngày nghỉ hè năm đó là những ngày nghỉ hè đẹp nhất của đời học trò của Loan. Nàng đã được tham dự những trò vui tập thể cùng với đám thanh niên thiếu nữ cùng tuổi. Nào là trò chơi bịt mắt bắt dê, trò chơi rồng rắn… Nàng được tập hát những bài du ca. Nàng cũng được tham dự những buổi cắm trại trong khu rừng thông ở trên đầu trại, nơi có dòng suối trong vắt chảy qua . Trong làn nước trong veo đó, nàng đã thấy những con tôm tích, là loại tôm   cũng bằng cỡ những con tôm thường nhưng chúng có hai cái càng thật to. 

Các con tôm tích búng mình bong bóc khi thấy có bóng dáng người. Nàng đã lần đầu tiên nhìn thấy những con khỉ rừng leo trèo trên những cành thông, cũng như thấy tận mắt những người Thượng vai mang rìu , lưng đeo gù đi thành từng đoàn trong rừng.

Một tháng sau, khi bà Huyền, mẹ của nàng lên chơi, thì bà khám phá ra sự quen thân của Loan với Hải. Hải lúc đó đang học lớp đệ nhất của trường Hưng Đạo.

 Gia cảnh của chàng , một gia đình người Bắc mới di cư vào Nam-bố làm phu lục lộ và mẹ thì đang làm nghề nuôi heo, thì chẳng có thể nào là người “môn đăng hộ đối” với gia đình bà. 

Ngày hôm sau, bà Huyền đã bắt con mình phải về ngay lại Saigon. Loan buồn bã vì quyết định cứng rắn của mẹ, nhưng nàng cũng kịp dúi   cho người tình, mảnh giấy ghi địa chỉ của nàng ở Saigon và bảo Hải phải viết thư cho nàng.

 Những ngày ở Saigon là những ngày của nhớ mong. Loan chờ đợi thư của Hải gửi về, nhưng những bức thư tình vẫn biền biệt nơi đâu?. Loan bắt đầu viết nhật ký, ghi lại những ký ức của những ngày thơ mộng của mối tình đầu. 

 Một năm, rồi hai năm, nàng vẫn không nhận được tin tức của người tình. Nàng vẫn không quên Hải, nhưng cũng chẳng biết làm sao liên lạc với người yêu?. Bà Huyền đã cho bán căn biệt thự ở Đà Lạt cho người chủ khác. 

Trong hai mùa hè sau đó, bà Huyền đã khôn khéo cho con qua Paris thăm bà dì ở bên Pháp. Những cảnh đẹp, thú vui ở thành phố hoa lệ vẫn chẳng làm cho Loan vui. Khi nàng vừa đậu xong bằng tú tài toàn phần Pháp, thì có một gia đình quen với ông bà Huyền, gửi người nhờ mai mối Loan cho đứa con trai của họ là một bác sĩ mới ra trường.

 Khi được hỏi ý kiến nàng nàng cũng chẳng biết trả lời ra sao? Nàng cũng muốn nhận lời cho cha mẹ vui lòng, nhưng trong thâm tâm vẫn chẳng bao giờ nàng quên được Hải..

Bà Huyền vẫn kiên nhẫn dịu dàng khuyến dụ con , nhưng lòng của Loan vẫn có những níu kéo chờ đợi, cho nên chẳng trả lời dứt khoát. 

Trong một lúc nóng giận,, bà Huyền đã nói huỵch toẹt ra là “Hai năm nay Hải vẫn gửi thư đều đặn, nhưng bà đã giữ lại, vứt đi, không cho Loan đọc”. Loan nghe đến đó, khóc òa lên, rồi bỏ chạy về phòng mình, đóng cửa, bỏ mặc bà Huyền đứng ngoài khuyên nhủ, dỗ dành..

Buổi sáng sớm hôm sau, khi cả nhà còn ngủ, Loan lẻn ra ngoài, với số quần áo đựng trong xắc tay,nàng thuê xe tắc xi, chở đến bến đò xe đi Đà Lạt. Buổi chiều hôm đó, Loan đã có mặt ở ngôi nhà của Hải. 

Chàng đã không còn ở đó! Theo lời của Liên, thì sau khi bị rớt tú tài hai, Hải đã xin vào trường võ khoa Thủ Đức, học xong ra trường và hiện đang đóng đồn ở Chương Thiện.

Liên cũng cho Loan địa chỉ của đơn vị của Hải. Tối hôm đó, Loan ngủ lại nhà Hải, nằm cùng giường với Liên trong căn nhà tôn, và được bố mẹ của Hải cho ăn những món ăn đặc sản của người Bắc như canh rau đay, cà muối. 

Khi trở lại Saigon, với địa chỉ của Hải, Loan lại tìm đường xuống Chương Thiện. Khi đến bến xe thì nàng mới biết nàng phải đi bộ thêm ba cây số nữa, mới vào đến chỗ   đóng quân của Hải.

 Nhìn đôi guốc cao trong chân, Loan ngán ngẩm, đi ra chợ Chương Thiện ở gần đó mua một đôi dép cao su cho cuộc hành trình.Sau cùng Loan cũng đã gặp được Hải sau nhiều ngày vất vả! Lúc gặp Hải, Loan nước mắt ràn rụa, không nói được một tiếng nào. 

Hải cũng ngạc nhiên và cảm động khi thấy người yêu cuối cùng đã lặn lội tới thăm. Chàng thủ thỉ bảo nàng là sẽ giữ Loan không dể mất nàng trong cuộc đời.

Bà Huyền thấy con quyết lòng thì cũng không dám ép thêm. Một đám cưới giản dị đã được tổ chức! Loan cứ như người trong mơ, không nghĩ là hạnh phúc cuối cùng lại đến với nàng như thế! 

Cuộc sống hai người tuy có vất vả về tiền bạc, nhưng thật hạnh phúc, cho đến ngay cả khi gia đình phải di tản sang Canada, sau ngày buồn chung của đất nước, ngày 30 tháng 4 năm đó.

 Khi sang đến Canada thì cuốn nhật ký của bà Loan đã ghi đến hết trang cuối cùng!

                               ********

  Sau khi   đẩy chiếc xe lăn của bà Loan đến cạnh chiếc bàn tròn ở giữa sân cỏ, cô y tá Tina khóa chốt an toàn của xe lăn lại, kiểm soát lại một lần nữa rồi hỏi bà Loan:

-Are you OK?

 Bà Loan vội vã trả lời:

 -Yes, yes..

Cô y tá   vẫy tay chào mọi người rồi quay quả bước trở lại nhà ăn. Tháng bẩy mùa hè và vì là ngày chúa nhật cho nên cả gia đình của ông Hải kể cả Ngọc, vợ Tùng cũng như hai đứa cháu đều đến để thăm bà nội của chúng. 

 Thay vì cứ ngồi trong phòng ăn chật hẹp, mọi người bàn nhau ra ngồi ở ngoài sân vừa thoáng lại vừa yên tĩnh, không bị những tiếng ồn ào của những khách hàng khác ở trong phòng ăn. 

Chiếc bàn tròn đặt giữa sân cỏ được che   bởi một chiếc dù che nắng-chiếc dù có thể thay đổi vị trí theo sự thay đổi vị trí của mặt trời trong ngày. 

Từ trên sân cỏ, người ta có thể nhìn thấy bãi đậu xe dành cho khách đến thăm ở ngay cửa chính ,cuối con đường dốc thoai thoải đi xuống đồi. Ông Hải theo lệ thường, kéo chiếc chăn phủ chân của bà Loan lên ngang đùi và nói:

-Này bà Loan, câu chuyện mình đọc tới đâu rồi?

 Đây chỉ là câu hỏi thường lệ, và ông Hải sẽ đợi chờ câu trả lời của bà Loan là “tôi không nhớ tới đâu nữa!” như hàng ngày. Trong khi Tùng và Ngọc ngồi ở hai chiếc ghế bên cạnh, lơ đãng nhìn ra xa. Còn hai đứa cháu thì đang mải mê chơi các trò chơi điện tử Gameboys.

Bà Loan ngẫm nghĩ rồi bảo ông Hải:

 -Tôi nhớ mình đã đọc đến đoạn bà mẹ nhận là dấu thư của Hải gửi về không cho Loan biết..

 Ông Hải mừng rỡ:

 -À, hôm nay bà lại nhớ! Có triển vọng tốt..

Nói rồi ông Hải, sửa lại gọng kính, mở trang sách đã đánh dấu trước ra đọc.. Ông Hải vừa đọc được một đoạn thì có tiếng bà Loan ngắt lời:

-Ông Hải ơi, chuyện này là hình như là chuyện của tôi và cuốn nhật ký mà ông đang cầm trên tay hình như là của tôi mà..

Ông Hải hồi hộp hỏi:

 -Bà có nhớ thật không hở bà Loan..?

 -Thật mà..

 Nói đến đây, bà Loan bỗng giơ hai tay bảo ông Hải:

 -Anh Hải đây mà.. Anh đọc nhật ký của em mà anh cứ bảo của người khác..

Rồi quay sang đám con cái đang ngồi xung quanh, bà Loan rấm rứt khóc:

 -Ồ kìa Tùng con tôi, rồi Ngọc rồi các cháu tôi Jason và Tracy đây mà, chứ có ai xa lạ đâu..

Tùng la lên:

 -Má ơi, má đã nhớ lại rồi!

 Ông Hải cũng mừng rỡ:

 -Cám ơn Trời Phật, em đã nhớ lại được rồi..

 Tùng đứng dậy hối hả bảo ông Hải:

-Thôi ba ngồi đây với má nghe.. tụi con chạy qua nói cho chú thím Hùng biết, chở hai người đến đây luôn..

 Nói rồi Tùng dắt tay vợ và bảo hai đứa con:

 -Tụi con chào bà nội rồi đi với ba. Chút nữa mình trở lại..

Vừa quay đi, Tùng còn nói với lại:

 -Con sẽ ghé chợ Tầu mua thịt quay bánh mì mang về ăn trưa với chú thím Hùng luôn..

 Ông Hải đứng dậy ôm lấy vợ, nước mắt dàn dụa không nói một lời. Bà Loan cũng thút thít khóc trên vai chồng. Một lúc sau, ông Hải khẽ bảo:

-Có gió nhiều rồi, thôi để anh đưa em vào nhà ăn..

 Ông Hải lụm khụm mở chốt an toàn của chiếc xe lăn, chậm chậm đẩy chiếc xe ra khỏi sân cỏ, theo con đường dốc trở lại nhà ăn. 

Đang đẩy chiếc xe, ông Hải bất ngờ bị hụt chân té xuống, chiếc xe lăn không người giữ, chạy theo con đường dốc, tông thẳng vào bức hàng rào sắt ở gần cửa ra vào. Ông Hải chạy theo la lớn:

-Loan ơi, em có sao không?

 Khi ông Hải chạy đến gần, thì chiếc xe lăn đã ngừng lại. Mặt của bà Loan đã nằm kẹt giữa những làn song sắt. Ông Hải nghe loáng thoáng tiếng chân người chạy đến, tiếng của cô y tá Tina đang gọi số điện thoại khẩn cấp 911.

                             *******

  Vẫn chỗ ngồi cũ, vẫn chiếc bàn tròn ở góc phòng và vẫn có ly cà phê Tim Horton còn bốc khói ở trên bàn, ông Hải ngồi tư lự một mình, tay cầm cuốn nhật ký, buồn bã nhìn ra ngoài. Mùa thu đã về với lá vàng phủ đầy trên thảm cỏ. 

Thỉnh thoảng những cơn gió mạnh thổi về, đã   cuộn đám lá lên không trung như những đợt sóng, rồi những chiếc lá lại rơi lả tả lại trên sân. Sau đám tang của người vợ, hàng ngày ông Hải vẫn đến ngồi ở góc phòng của quán ăn trong nhà dưỡng lão Yee Hong này. 

Những khách hàng thường xuyên của quán ăn này, mà ông Hải nhớ mặt, vẫn ngày ngày đến đây. Nhưng không còn có cô y tá Tina đẩy chiếc xe lăn ra, và chỗ ngồi đối diện với ông cũng chẳng còn có người ngồi. Ông Hải thở dài, nhìn chiếc ghế trống đối diện, mở cuốn sách cầm trên tay, rồi hỏi:

-Bà Loan à, bà có nhớ hôm qua mình đã đọc đến đâu không?

 Không có tiếng trả lời, nhưng ông Hải, với đôi mắt nhòa lệ, vẫn cắm cúi đọc những dòng trong trang sách đã mở sẵn..Trang sách của một cuộc tình đầu và cũng là một cuộc tình cuối!

  Nguyễn Tuấn Hoàng

From:: Bach -Yen Ly


 

Thiên thần bé nhỏ

Trong một ngày mưa, một cậu bé nói với cha là Mục sư:

– Cha ơi, đã đến lúc con phải ra ngoài để phân phối các tờ rơi.

– Con trai, ngoài trời lạnh lắm và có mưa phùn, thời tiết này cha sẽ không ra ngoài.

– Nhưng cha ơi, người ta cần biết về Chúa ngay cả vào những ngày mưa.

Mục sư suy nghĩ một chút rồi bảo:

– Con trai, con có thể đi. Đây là tờ rơi, con hãy cẩn thận.

Cậu bé 11 tuổi cảm ơn cha, rồi đi bộ khắp các con phố của làng, đưa tờ rơi cho những người mà cậu ta nhìn thấy.

Sau 2 giờ đi bộ dưới mưa và trong cái lạnh, với tờ rơi cuối cùng cầm trong tay, cậu dừng lại ở một góc ngã tư, xem liệu có ai để cậu đưa tờ rơi nữa không, nhưng lúc này đường phố đã hoàn toàn hoang vắng.

Cậu đến ngôi nhà đầu tiên phía bên kia đường, chạm vào chuông vài lần và chờ đợi, không có ai ra mở cửa.

Hồi lâu, cậu quay lưng bước đi, nhưng có điều gì đó đã ngăn cản cậu. Cậu trở lại, chạm vào chuông và gõ cửa mạnh mẽ với các ngón tay của mình, lần này không lâu cánh cửa được mở.

Một quý bà bước ra ngoài với khuôn mặt và ánh mắt u buồn, nhẹ nhàng hỏi:

– Ta có thể làm gì cho con, con trai?

Với đôi mắt rạng rỡ và nụ cười tươi sáng, cậu bé nói:

– Thưa bà, cháu xin lỗi vì đã làm phiền, cháu chỉ muốn nói với bà rằng Chúa thực sự yêu bà, và cháu mang đến cho bà tờ rơi cuối cùng của cháu, nói về Chúa và tình yêu tuyệt vời của ngài.

Và cậu bé đưa tờ rơi cho người phụ nữ.

Sáng chủ nhật tuần sau, Mục sư hỏi các tín đồ trong buổi giảng: “Ai có một lời khai hoặc điều gì đó muốn chia sẻ?”.

Ở hàng ghế phía sau, một người phụ nữ lớn tuổi đứng dậy. Khuôn mặt bà rạng rỡ và đôi mắt thật hiền từ, bà nói:

– Không ai trong nhà thờ này biết tôi cả. Tôi chưa bao giờ đến đây, thứ bảy tuần trước tôi cũng chưa phải là người Cơ đốc giáo.

Chồng tôi đã chết một thời gian trước, để lại tôi bơ vơ trên thế giới này…

Thứ bảy tuần trước là một ngày đặc biệt, lạnh và mưa, trái tim tan vỡ của tôi nói rằng hôm nay tôi đã đến cuối con đường, tôi không còn gì hy vọng và không nên sống nữa.

Tôi lấy một chiếc ghế và một sợi dây thừng lên gác mái nhà tôi. Tôi buộc một đầu dây thừng lên mái nhà, sau đó tôi trèo lên ghế và đặt vòng dây vào cổ.

Tôi đứng trên ghế, một mình đau lòng và tuyệt vọng, lúc tôi vừa định ném mình ra khỏi ghế, thì đột nhiên vang lên tiếng sầm sập của cánh cửa bị gõ.

Tôi tự hỏi đó có thể là ai? Đã lâu rồi không có ai đến thăm tôi, và tôi gần như đoạn tuyệt với thế giới bên ngoài.

Tiếng gõ cửa càng lúc càng dồn dập hơn, nó lớn đến nỗi tôi không thể bỏ qua được nữa.

Tôi thả dây cổ, bước xuống ghế và đi ra phía trước.

Tôi không thể tin được những gì mắt tôi nhìn thấy, trước cửa nhà tôi là một đứa trẻ rạng rỡ và đẹp như một thiên thần. Cậu ấy mỉm cười với tôi, và nói thật hồn nhiên: “Cháu chỉ muốn nói với bà rằng Chúa thực sự yêu bà”. Trong giây phút đó, những lời nói ra từ cậu, đã làm trái tim tôi chết từ rất lâu rồi, nay lại quay về với cuộc sống.

Khi thiên thần bé nhỏ biến mất giữa cơn mưa lạnh, tôi đóng cửa lại và đọc từng câu từng chữ của tờ rơi.

Sau đó, tôi lên gác mái tháo dây thừng và mang ghế xuống. Tôi đã không cần nó nữa.

Rồi tôi đến đây, đến nhà thờ này để cảm ơn Chúa, ngài đã gửi một thiên thần bé nhỏ đến giải cứu tôi khỏi tận cùng địa ngục, nơi mà tôi tưởng như chắc chắn sẽ rơi vào.

Mục sư đến băng ghế đầu tiên nơi cậu bé đang ngồi, ông ôm con trai của mình vào lòng và đôi vai ông rung lên từng hồi nức nở.

Trong nhà thờ, mọi người đều khóc…

SƯU TẦM

My Lan Phạm

From: Anh Dang & KimBang Nguyen


 

ĐÁM CƯỚI KHÔNG CÔ DÂU…..! Truyen ngan cam dong

Xuyên Sơn

 ĐÁM CƯỚI KHÔNG CÔ DÂU…..!

Trong những thất bại của nghề áo trắng của tôi có lẽ thất bại sau đây là tôi ghi nhớ nặng nề nhất khi đã không cứu được người để xảy ra một thiên tình hận suốt đời.

Đó là một cô dâu của một đám cưới vẫn xảy ra khi cô còn đang nằm viện và sau đó không bao giờ trở về khoác lên chiếc áo cưới đó….!

Nhiều năm sau chiếc áo cưới đó vẫn còn nằm trên bàn thờ…!

Những thầy thuốc nhiều khi quá bận rộn, không còn thời gian để nhìn ngắm những khổ đau của kẻ khác trên con đường mình đi qua.

Chỉ có tôi, là kẻ lạc loài khi đi qua còn quay lại nhìn những con người và số phận của họ khi mà bất hạnh từ đâu rơi xuống.

Định mệnh tàn khốc trên số phận con người, có lẽ đó là điều khiến cho thế nhân luôn sống trong đau thương tiếp nối đau thương và những giây phút vui tươi của con người phải chăng chỉ là những phút giây ngắn ngủi vô cùng trong vòng quay của cuộc sống…?

Năm đó tôi được giao cho chức vụ Bác sĩ trưởng khoa cấp cứu hồi sức.

Khoa hồi sức cấp cứu luôn là tuyến lửa cho tất cả nhân viên bệnh viện.

Bệnh nặng, theo dõi liên tục, số lượng nhiều luôn luôn làm cho nhân viên bơ phờ mệt mỏi vì quá tải.

Các nhân viên trong khoa tôi phụ trách thường là những người trẻ, khỏe, nhiệt tình, kinh nghiệm và nhất là có lòng thương người.

Có điều khá kỳ lạ là quá hai phần ba  nhân viên lại…. ăn chay trường.

Có lẽ tiếp xúc gần kề giữa cái sống và chết, họ phần nào thiên về tâm linh.

Tôi cũng không hỏi vì tôn trọng quan niệm riêng của mỗi người….!

Hôm đó là một buổi sáng cuối trung tuần tháng chạp âm lịch.

Những ngày cuối năm mọi người hối hả dọn dẹp, sửa sang nhà cửa để đón năm mới, quên đi những vất vả lo toan của một năm sắp hết.

Bệnh nhân giảm đi thấy rõ ở các khoa nội trú, chỉ trừ phòng hồi sức cấp cứu.

Các nhân viên ngồi tán gẫu với nhau bàn chuyện mua sắm đồ tết.

Đột nhiên người ta đưa đến một cô gái rất trẻ, chỉ độ mười chín, hai mươi với gương mặt tái nhợt, nồng nặc mùi thuốc sâu, nghe qua là biết loại phospho hữu cơ.

Lập tức tôi cho rửa dạ dày ngay. Nhìn màu nước trắng như sữa bò trào ra khi cô gái nôn thốc, tôi lắc đầu.

Xin nói ngay là tôi đang đại diện Bệnh viện làm một đề tài nghiên cứu khoa học về ngộ độc thuốc sâu trong 5 năm  1976-1980 với trên 300 ca.

Do đó chỉ nhìn lượng nước rửa , màu sắc, mùi có thể ước đoán số lượng thuốc uống và qua đó dự hậu của bệnh nhân.

Kẻ nào uống hơn 100cc thì tỉ lệ tử vong có thể hơn 90%…!

Với khối lượng lớn, thuốc vượt qua hàng rào máu não gây tử vong dễ dàng vì ngày xưa ta chỉ dùng chống độc bằng Atropin, chất này chỉ hòa tan trong nước, không vào não được.

Thời này đã có Pralidoxim nhưng ở VN chưa bệnh viện nào đưa vào sử dụng.

Tôi cho rửa dạ dày thật sạch cho đến khi nước trong, hết mùi hôi đồng thời tiêm 2mg chống độc mỗi 5-10 phút cho đến khi không còn nghe khò khè do sự tăng tiết đàm dãi, và đồng tử phải dãn > 3mm.

Sau đó cứ mỗi 15-20 phút lại tiêm 2mg chống độc liên tục trong suốt ngày.

Đến chiều hôm đó cô gái khỏe khoắn trở lại, ngồi dậy được.

Đó là một cô gái trẻ, vóc dáng thon thả với khuôn mặt xinh xắn nhưng đượm nét buồn khôn tả.

Và lúc đó tôi mới biết nguyên nhân của việc làm dại dột kia.

Cô gái chuẩn bị lên xe hoa nhưng gia đình cô chê anh chồng sắp cưới không môn đăng hộ đối.

Hai người quen nhau trong những sinh hoạt văn nghệ xóm phường, nhưng gia đình anh thanh niên thì nghèo.

Lời ra tiếng vào, nhất là bà chị cô gái rất khinh bỉ gia đình em rễ tương lai.

Chịu không nỗi sự nhục mạ đó, một đêm về sáng cô uống cạn chai thuốc sâu có sẵn trong nhà…

Ngày hôm sau cô gái đã ngồi dậy đi từng bước khó khăn, nhưng có thể đi tiêu tiểu được với sự hỗ trợ của người nhà.

Gặp tôi cô cúi đầu, nói từng tiếng tuy yếu ớt nhưng rõ ràng:

-Em cảm ơn Bác sĩ đã cứu em.

Bây giờ em sợ chết lắm vì sẽ bỏ chồng em, bỏ mẹ cha.

Ngày mai là ngày đám cưới, hai bên họ đã mời rồi. Chắc phải tiến hành đám cưới không cô dâu thôi.

-Cô cứ nghĩ ngơi,.Tình trạng của cô vẫn chưa an toàn đâu. Chúng tôi còn phải theo dõi cho đến một tuần…

Theo đề tài nghiên cứu của tôi thì tình trạng ngộ độc tái diễn của thuốc sâu khi dùng atropin đối kháng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào trong vòng 3-6 ngày sau khi uống.

Do đó tôi hết sức theo dõi cô gái ngộ độc trở lại. Tôi cứ cho tiêm atropin liên tục với liều cao mỗi 30 phút, duy trì một tình trạng ngộ độc nhẹ atropin cho cô gái.

Ngày thứ ba, đám cưới vẫn tiếp diễn, họ hàng ai cũng nghĩ rằng cô sẽ trở về, dù muộn và ai cũng cầu nguyện cho cô sớm hồi phục…

Một đám cưới không cô dâu có lẽ đó là đám cưới kỳ lạ nhất trên đời.

Ngày thứ tư sau khi nhập viện, vì dùng atropin liên tục, mặt cô lúc nào cũng đỏ hồng, tim nhanh, môi miệng khô khan, nứt nẻ, khát nước.

Cô vẫn còn yếu, phải ngồi tựa vào thành giường, tuy vậy khi gặp tôi đến cô nhoẻn miệng cười yếu ớt, nụ cười buồn rầu:

-Em không muốn chết… Em dại dột vì quá bức xúc. Bác sĩ làm ơn cứu em, mấy đêm nay em không ngủ được, dường như có ai đó muốn rủ em đi khỏi thế gian này…

Tôi rùng mình nhẹ. Phòng cấp cứu hồi sức này, gần như ngày nào cũng có người chết, có khi trong vòng một ngày đêm tới ba bốn người tử vong, khi giao ban sáng, mất cả giờ báo cáo với lãnh đạo.

Nếu ta có cặp mắt thần có thể thấy cả ngàn bóng ma lởn vởn khắp nơi….!

Ngày nào cũng vậy kể cả ngày ra trực, sáng, chiều tôi luôn đến thăm bệnh, khuyên nhủ, theo dõi ăn uống và nhất là tiếp tục tiêm atropine liều cao dù chưa thấy tình trạng ngộ độc tái phát.

Theo kinh nghiệm riêng của tôi và theo y văn, thà để bệnh nhân ở tình trạng ngộ độc nhẹ atropin còn hơn bị tái ngộ độc thuốc sâu.

Tôi dặn nhân viên cho cô gái nằm ở một góc riêng, theo dõi sát các diễn biến….

Ngày thứ năm, tình hình sức khỏe cô gái xấu đi dù không có triệu chứng tái ngộ độc thuốc sâu.

Hơi thở vẫn thông, không có dấu hiệu tăng tiết, ngạt. Tuy nhiên cô đi không nỗi phải dìu.

Huyết áp dao động nhẹ nhưng vẫn trong mức an toàn.

Ngày đó là ngày cuối tuần.

Hôm sau tôi phải về quê đi đám giỗ Cha mình vào đúng ngày chúa nhật.

Thứ Hai, khi đến Bệnh viện việc đầu tiên là tôi đến thăm ngay cô gái.

Chiếc giường trống trơn.

Tôi bàng hoàng khi nghe nhân viên báo cáo: cô đã mất vào trưa ngày chúa nhật.

Bao nhiêu cố gắng đã trôi theo dòng nước, tôi bàng hoàng một lúc lâu mới trấn tĩnh.

Cầm lấy bệnh án tôi xem lại thì thấy Bác sĩ trực ngày Chúa nhật đã cắt bỏ, không tiếp tục tiêm Atropine vì thấy sức khỏe cô kém quá và cũng do thấy đã khá lâu không còn dấu hiệu ngộ độc lại.

Cô chết đi trong tình trạng suy tim, suy kiệt.

Cô vẫn còn tỉnh táo cho đến phút giây cuối cùng khi thần chết đến đón mình đi….!

Một tuần sau, tôi đón tiếp hai con người buồn rầu đau thương đến nhà riêng của mình, trong lúc pháo nổ lác đác ngoài ngõ.

Đó là chú rể mồ côi vợ và mẹ cô gái.

Hai người đến cám ơn tôi và cho biết sau đám tang, đồ cưới cô gái đặt cả lên bàn thờ.

Ngày cô ra đi cô vẫn lúc nào cũng dõi mắt đau đáu nhìn ra cửa bệnh viện, có lẽ cô mong chờ tôi, vị cứu tinh mà cô tin tưởng sẽ đem lại cho cô một cuộc đời làm vợ, làm mẹ như bao cô gái khác.

Tôi đã không hoàn thành được kỳ vọng của cô…!

Ngay cả đến bây giờ sau ba mươi năm tôi vẫn còn hoài nghi, nếu mình không về quê thì có cứu được cô gái đáng thương đó hay không…?

Tôi đành thì thầm nhủ gửi không gian  cô tịch những lời khấn vái:

“Em ơi hãy tha lỗi cho tôi, tôi đã không làm tròn lời hứa với em, đã không giành giựt được em khỏi tay thần chết, đành để em ra đi với một tình yêu không trọn vẹn.

Kiếp sau nếu có, em hãy trở lại cuộc đời với một số kiếp tươi đẹp hơn….!”

Đối với những người tự tử, thái độ thông thường của nhân viên y tế là không thích, ghét bỏ ra mặt.

Trong khi mệt nhọc vì những bệnh nhân muốn sống khác thì những kẻ tìm cái chết này tạo một gánh nặng thêm cho những thày thuốc.

Nhưng trong câu chuyện trên chúng ta thấy thật đáng thương cho con bệnh, chỉ vì một phút kém suy nghĩ mà đánh mất tất cả.

Vì thế, đối với tất cả bệnh nhân dù là tự tử, ta phải có lòng bao dung như mẹ hiền…!

Có một câu danh ngôn: “Đối với thiên nhiên ta nên có trái tim của một đứa trẻ thơ, đối với nhân loại nên có trái tim của một người mẹ, đối với bản thân ta phải có trái tim của vị quan  tòa….!”.

(Bs Dung Le Ngoc)

Nguồn fb Đinh Trực


 

 Khi gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi – Truyen ngan QUA’ HAY

Những Câu Chuyện Thú Vị – Kim Thoa

 Khi gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi. Anh là con độc đinh, cha mẹ quý hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật.

Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói phải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.

Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.

Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả ruộng nương, bệnh không khỏi.

Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư.

Vì thế bà mối đến, réo rắt: “Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha, còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà”.

Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa? Nhưng chị xin: “Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha!”.

Tiếng kèn đón dâu thổi váng đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị. Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư!

Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài. Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mình , tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng.

Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.

Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng. Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái.

Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc.

Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai.

Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v…

Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình. Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình: “Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?”.

Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to: “Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì? Tắt đèn, thổi nến, lên giường…”

Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói:

“Chị ơi, em yêu chị!”.

Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.

Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay.

Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền.

Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua. Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ.

Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi. Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói:

“Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành”.

Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi.

Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay là mẹ của anh?

Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học. Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt.

Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường.

Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa.

Nhưng anh vẫn nói: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”.

Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy. Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.

Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi.

Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc. Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói: Chị đừng gửi tiền nữa. Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị.

Lúc đó chị đã 29 tuổi.

Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát li đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa.

Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa!

Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ.

Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng.

Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về. Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất, dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết.

Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực.

Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu. Chị không dám ngờ anh đã nói với chị: “Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!”.

Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm. Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị?

Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng cười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất đời người.

Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng. Họ có với nhau một con trai một con gái.

Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình. Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng. Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường.

Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà. Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói:

“Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn?”.

Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị. Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi. Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch:

“Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi”.

Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt.

Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu.

Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậy chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế.

Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói:

“Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy”.

Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ.

Lê Xích Hải chuyển

(Tác giả :không rõ)


 

THA THỨ – ĐỂ TUỔI GIÀ ĐƯỢC THANH THẢN

Tu Le

Nhà ông Bảy nằm cuối con hẻm nhỏ, đi sâu thêm mấy chục bước là gặp một khoảng cây bàng già che bóng. Mùa này bàng rụng lá, lá vàng nằm rải trên nền xi măng, nhìn xa cứ như ai đó lén trải một tấm thảm cũ cho người già bước chậm.

Trong căn nhà ấy, ông Bảy và bà Mười sống cùng con trai cả là Hùng, con dâu là Linh, thêm hai đứa cháu nhỏ. Con gái út là Vy đi làm xa, thỉnh thoảng về, còn Lộc với Thủy thì mỗi người một ngả, bận bịu, đàng hoàng, đủ trách nhiệm.

Bề ngoài, nhà ấy không có chuyện gì lớn. Cơm ngày ba bữa, tiền điện nước đóng đúng. Con cháu vẫn chào hỏi, vẫn mua thuốc, vẫn gửi quà. Nhưng trong lòng bà Mười có một vết xước nhỏ, lâu ngày không chảy máu nữa, chỉ âm ỉ như đau khớp lúc trở trời.

Vết xước ấy đến từ một câu nói, một câu tưởng như rất bình thường.

Hôm đó, bà Mười đứng trong bếp, loay hoay nhặt rau. Đứa cháu nhỏ chạy vào đòi nước, bà rót vội nên làm rơi cái ly. Ly vỡ, tiếng “choang” vang lên giữa trưa. Linh từ phòng ngoài chạy vào, nhìn mảnh thủy tinh trên nền gạch rồi buột miệng:

“Trời ơi… má đừng đụng nữa, để con làm. Má vụng vậy nguy hiểm lắm.”

Lời nói không có ý xấu. Giọng cũng không gắt. Nhưng chữ “vụng” rơi xuống, nghe sao mà lạnh. Bà Mười đứng im, tay vẫn cầm cái ca nhựa, lòng tự dưng hụt một cái, như thể một phần giá trị vừa bị gạt qua một bên.

Từ hôm đó, bà ít làm việc hơn. Không phải vì lười, mà vì sợ. Sợ mình “vụng”, sợ mình “nguy hiểm”, sợ làm rơi thêm một thứ gì rồi lại nghe thêm một câu nữa.

Ông Bảy nhìn thấy hết. Ông không nói nhiều. Ông chỉ kéo ghế cho bà ngồi, rồi lẳng lặng quét mảnh ly, gói lại, đem bỏ. Xong việc, ông rửa tay rất lâu, như rửa cả cái buồn vừa dính vào lòng.

Tối ấy, khi con cháu đã vào phòng, ông Bảy đem ra hiên một ấm trà. Trà nóng, hơi bốc lên mỏng như sương. Ngoài sân, gió đi ngang qua giàn bông giấy, khẽ rung, làm rơi vài cánh hoa hồng tím xuống nền.

Bà Mười nhìn hoa rơi, bỗng thở rất khẽ:

“Già rồi… chắc vô dụng thiệt.”

Ông Bảy nhấp ngụm trà, giọng chậm rãi như đọc báo:

“Vô dụng sao nuôi được mấy đứa tới giờ? Vô dụng sao cái nhà này còn hơi ấm?”

Bà Mười không đáp. Người già nhiều khi không cần lời đúng. Người già cần một chỗ đặt nỗi tủi thân mà không bị cười.

Nhưng đời sống không cho phép nỗi tủi thân được ngồi yên lâu. Mấy hôm sau, cháu út sốt. Linh thức đêm, mắt thâm quầng. Hùng đi làm về muộn, mặt mệt. Cả nhà như một chiếc máy chạy nhanh, ai cũng quay cuồng trong phần việc của mình.

Trong lúc ấy, bà Mười lại bắt gặp thêm vài chuyện nhỏ.

Buổi sáng, bà nấu nồi cháo loãng cho cháu. Linh nhìn nồi cháo rồi nói, vẫn là giọng lo cho con:

“Má nêm nhạt quá… thôi để con làm lại.”

Lần khác, bà giặt áo cho cháu, phơi ra sân. Linh đi ngang, thu vội vào:

“Để con phơi, má phơi nắng gắt quá áo nó cứng.”

Những câu ấy đều đúng. Nhưng đúng quá, cũng làm người ta đau. Bà Mười nghe mà không cãi. Bà chỉ rút tay lại. Lâu dần, bà học cách “đứng yên cho khỏi sai”.

Và cũng từ đó, một khoảng cách lặng lẽ mọc lên trong nhà.

Không ai ghét ai. Không ai bỏ ai.

Chỉ là, bà Mười bắt đầu thu mình như một cái bóng.

Một chiều, Vy về. Vừa bước vào cửa đã thấy mẹ ngồi bên cửa sổ, mắt nhìn ra hẻm như nhìn qua một đời khác. Vy đặt túi xuống, ngồi xổm trước mặt mẹ:

“Mẹ sao vậy?”

Bà Mười cười cho qua:

“Có sao đâu.”

Vy nhìn đôi tay mẹ. Đôi tay xương xẩu, móng cắt gọn, nhưng run nhẹ. Vy nghe tim mình chùng xuống. Người già hay nói “không sao”, vì họ sợ làm phiền. Nhưng “không sao” của người già nhiều khi là một cái “sao lắm” họ không biết nói với ai.

Tối đó, Vy nói chuyện với cha trong bếp. Ông Bảy đang nhóm lại bếp gas, hâm nồi canh. Lửa xanh lên rồi xuống như hơi thở.

Vy hỏi nhỏ:

“Ba… mẹ buồn chuyện gì?”

Ông Bảy im một lát rồi nói:

“Không phải buồn chuyện lớn. Buồn mấy chuyện nhỏ. Mà chuyện nhỏ mới khó nói.”

Vy cúi đầu. Trong lòng Vy có một ý nghĩ chua chát: tuổi già giống như cái ly mỏng. Người ta không đập nó, chỉ cần đặt mạnh tay một chút là nó đã nứt.

Mấy ngày sau, xảy ra chuyện.

Sáng đó, Linh chạy vào bếp thấy bà Mười nằm dựa vào tủ gỗ, mặt tái. Bà bảo chóng mặt, tim đập nhanh. Linh hốt hoảng gọi Hùng, gọi xe. Ông Bảy luống cuống lục giấy tờ, tay run, miệng lẩm bẩm: “Bình tĩnh… bình tĩnh…”

Trên xe, bà Mười nắm tay ông Bảy. Ngón tay bà lạnh. Ông Bảy áp bàn tay mình lên tay bà, cố truyền một chút ấm. Ngoài cửa kính, nắng sáng rực, cây bàng ngoài hẻm trôi qua như một thước phim, lá vàng chao nhẹ.

Vào viện, bác sĩ bảo bà bị tụt huyết áp, thêm thiếu ngủ, thêm đau nhức kéo dài. Không nguy hiểm ngay, nhưng cần theo dõi. Linh đứng ở hành lang, mắt đỏ. Hùng gọi điện cho Vy, cho Lộc, cho Thủy.

Ai cũng về.

Trong phòng bệnh, bà Mười nằm im. Người già nằm bệnh viện không hay khóc, họ chỉ nhìn trần nhà và nghĩ nhiều điều. Nghĩ về những ngày mình trẻ, mình gồng lên lo cho con. Nghĩ về những câu nói vụn vặt, về những ánh mắt vội, về cái cảm giác “mình thừa”.

Ông Bảy ngồi cạnh, rót nước, mở nắp bình, đưa tận miệng. Bà Mười quay mặt, nói nhỏ:

“Ông về nghỉ đi. Ngồi đây làm gì, phiền con cái.”

Ông Bảy đáp:

“Không phiền. Ở cạnh bà là việc của tôi.”

Câu nói đơn giản, nhưng trong bệnh viện, nó giống như một miếng chăn mỏng đắp lên phần lạnh nhất của lòng người.

Chiều, Linh bế cháu vào thăm. Đứa nhỏ vừa thấy bà đã òa khóc, kêu “bà ngoại, bà ngoại”. Nó trèo lên giường, ôm cổ bà. Bà Mười đưa tay ôm cháu, nước mắt tự nhiên trào ra, không kìm được. Có lẽ trong đời người, có những lúc yếu nhất lại là lúc chạm được vào điều thật nhất.

Linh đứng cạnh giường, ngập ngừng. Lời xin lỗi nhiều khi mắc lại nơi cổ họng, vì sợ nói ra sẽ thành “mình sai”. Nhưng Linh nhìn mẹ chồng gầy đi, nhìn đôi mắt đỏ của Hùng, nhìn đứa trẻ đang ôm bà như ôm một cái neo, Linh bỗng thấy những điều hơn thua bỗng nhỏ xíu.

Linh cúi xuống, giọng khàn:

“Má… con xin lỗi. Con… nhiều khi con nói nhanh, con tưởng là con lo cho má… mà chắc làm má buồn.”

Bà Mười không đáp ngay. Bà chỉ nhìn Linh. Ánh mắt người già không sắc, chỉ sâu. Trong ánh mắt ấy có cả những năm tháng nuôi con, có cả những lần nuốt nước mắt, có cả cái mệt mỏi của người đã mang một vết xước quá lâu.

Ông Bảy nhìn sang vợ. Ông sợ bà nói một câu trách móc, rồi mọi thứ vỡ ra như cái ly bữa nọ. Nhưng bà Mười chỉ thở nhẹ, rồi đưa tay ra, chạm vào cổ tay Linh:

“Thôi… có gì đâu. Con mệt, con lo cho con nít… nói nhanh cũng phải.”

Linh bật khóc. Hùng quay mặt đi, mắt cũng ướt. Vy đứng cuối giường, bỗng thấy tim mình cay cay. Lộc thì lặng lẽ đặt túi trái cây lên bàn. Thủy gọi video, nghe tiếng mẹ, cũng khóc theo.

Người ta tưởng tha thứ là một lời lớn. Nhưng thật ra, tha thứ nhiều khi chỉ là một câu “thôi” nói ra đúng lúc, để người kia còn đường quay lại.

Đêm ấy, ông Bảy ngồi ngoài hành lang. Bệnh viện có mùi thuốc sát trùng, có tiếng dép kéo, có tiếng máy đo nhịp tim “tích… tích…”. Ông nhìn qua cửa kính thấy thành phố sáng đèn, bỗng nhớ lại hồi còn trẻ, ông từng chở bà Mười qua cầu, gió sông thổi lộng, bà ngồi sau lưng, tay bấu áo ông, cười giòn.

Nhớ vậy, lòng ông mềm đi.

Sáng hôm sau, bà Mười đỡ hơn. Bác sĩ cho về, dặn ăn uống điều độ, ngủ đủ. Cả nhà rước bà về. Lúc xe rẽ vào hẻm, cây bàng già vẫn đứng đó, lá vẫn rơi. Nhưng dường như ánh sáng hôm ấy dịu hơn.

Về nhà, Linh không còn “giật” việc khỏi tay mẹ chồng nữa. Linh chỉ nói chậm, hỏi trước:

“Má muốn làm món nào? Con phụ nhé.”

Bà Mười cũng không tự ái mà gạt đi. Bà gật đầu, chỉ cách rửa rau, chỉ cách nêm nếm. Bếp lại có tiếng nói chuyện, nhỏ thôi, nhưng đủ làm căn nhà bớt lạnh.

Có một buổi chiều, Vy rủ mẹ ra trước cửa ngồi. Gió thổi qua hẻm, mang theo mùi hoa sữa cuối mùa. Linh đem ra một đĩa ổi gọt sẵn, đặt xuống, rồi ngồi cạnh, không cầm điện thoại.

Bà Mười nhìn Linh, nói như nói chuyện thường:

“Con làm dâu cũng cực. Má hồi xưa… cũng từng là dâu.”

Linh khựng lại, rồi cười, mắt còn đỏ:

“Má… vậy mà con cứ tưởng má không hiểu.”

Bà Mười lắc đầu:

“Hiểu chứ. Chỉ là… già rồi, không muốn làm phiền.”

Câu “không muốn làm phiền” nói ra, không phải để trách, mà như mở cửa. Người trong nhà nghe được, thì căn nhà mới thật sự là nhà.

Từ hôm ấy, ông Bảy thấy bà Mười ngủ sớm hơn. Bà không còn ngồi một mình trước bếp tắt đèn. Những câu chuyện nhỏ bà bắt đầu kể lại: chuyện chậu hoa đổ, chuyện con mèo nhà hàng xóm, chuyện tiệm tạp hóa đổi chủ. Và kỳ lạ thay, Linh nghe đến hết.

Không phải lúc nào Linh cũng rảnh. Nhưng Linh học một điều: nghe hết một câu chuyện nhỏ là cách rẻ nhất để giữ người già ở lại trong cuộc đời mình.

Có lần, bà Mười làm rơi cái muỗng xuống nền. Linh quay lại, định nói như cũ, rồi kịp dừng. Linh chỉ nhặt muỗng lên, rửa lại, đưa cho bà:

“Không sao đâu má. Ai cũng rơi.”

Bà Mười nhìn Linh, mắt chợt ươn. Không phải vì cái muỗng. Vì câu “ai cũng rơi”. Câu đó trả lại cho người già một phần phẩm giá: già không phải là lỗi, chỉ là một nhịp khác.

Thời gian trôi. Vết xước trong lòng bà Mười không biến mất hẳn, nhưng bớt nhói. Bà hiểu rằng con cháu không cố làm bà buồn. Chúng chỉ vội quá. Và cũng như bà từng vội lúc trẻ mà không biết mình làm ai đó tổn thương, con cháu giờ cũng vậy.

Tha thứ, rốt cuộc, không phải vì người khác xứng đáng.

Mà vì người già không còn đủ sức mang gánh nặng đó tới cuối đời.

Một tối, trước khi ngủ, ông Bảy ngồi ở hiên, nhìn trăng mỏng. Trăng treo trên mái nhà, sáng vừa đủ. Bà Mười bước ra, đưa ông cái áo khoác:

“Trời lạnh.”

Ông Bảy cười:

“Bà cũng biết thương tôi hả?”

Bà Mười đáp, giọng nhẹ như gió:

“Già rồi… thương nhau đừng để muộn.”

Ngoài sân, giàn bông giấy rơi thêm một cánh. Cánh hoa nằm im, không làm phiền ai. Nhưng ai nhìn thấy, cũng biết: có những điều đẹp nhất là những điều rơi khẽ.

Và trong căn nhà nhỏ cuối hẻm, người già đã đi qua một ngã rẽ rất sâu: từ chỗ giữ trong lòng, sang chỗ đặt xuống. Từ chỗ mong được bù đắp, sang chỗ chọn bình an.

Tha thứ, đến sau cùng, không phải là câu chuyện của đúng sai.

Tha thứ là cách tuổi già tự cứu mình khỏi những ngày tháng còn lại bị nặng vì một câu nói lỡ.

Và khi lòng đã nhẹ, người già không cần phải cố “không làm phiền” nữa.

Bởi sự hiện diện của họ tự nhiên đã trở thành một điều êm.

– Tu Le – người viết giữa hai miền

#Gotacoffee#ngườiviếtgiữahaimiền