Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

GEMENI tra loi:

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo (1975–1979), ước tính có từ 1,5 triệu đến 2 triệu người thiệt mạng, tương đương khoảng 20% đến 25% dân số Campuchia thời bấy giờ.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  • Hành quyết và thảm sát: Hàng trăm nghìn người bị quy kết là “kẻ thù của cách mạng” (bao gồm trí thức, quan chức chính quyền cũ, người dân tộc thiểu số và những người bị nghi ngờ không trung thành) bị giam giữ, tra tấn và sát hại tại các trại cải tạo và “cánh đồng chết”.
  • Lao động khổ sai và đói khát: Chính sách cưỡng bức di dời toàn bộ dân cư từ thành thị về nông thôn để thực hiện mô hình nông nghiệp tập trung dẫn đến tình trạng kiệt sức và nạn đói nghiêm trọng trên diện rộng.
  • Bệnh tật và thiếu y tế: Hệ thống y tế bị phá hủy hoàn toàn, thuốc men thiếu hụt cùng điều kiện sống tồi tàn khiến vô số người chết vì các bệnh truyền nhiễm.

Một số số liệu từ các tổ chức và nghiên cứu uy tín:

  • Chương trình Nghiên cứu Nạn diệt chủng Campuchia (Đại học Yale): Ước tính khoảng 1,7 triệu người (khoảng 21% dân số).
  • Trung tâm Tư liệu Campuchia (DC-Cam): Dựa trên việc thống kê các hố sát hại tập thể, ước tính số nạn nhân dao động từ 1,7 triệu đến 2 triệu người.
  • Các ước tính tổng hợp khác: Tùy thuộc vào phương pháp thống kê, con số dao động trong khoảng từ 1,2 triệu cho đến gần 3 triệu người.

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

GEMINI tra loi:

Số lượng người chết dưới thời Mao Trạch Đông (1949–1976) không có một con số thống nhất tuyệt đối do sự thiếu hụt tài liệu chính thức từ chính phủ Trung Quốc và sự khác biệt trong phương pháp thống kê của các nhà sử học. Tuy nhiên, phần lớn các ước tính độc lập và nghiên cứu lịch sử uy tín đưa ra tổng con số tử vong dao động từ 40 triệu đến 80 triệu người.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  1. Đại nhảy vọt và Nạn đói lớn (1958–1962):
    • Đây là chiến dịch gây ra số lượng tử vong lớn nhất do chính sách tập thể hóa nông nghiệp và quản lý kinh tế yếu kém.
    • Hầu hết các nhà nhân khẩu học và sử học (như Dương Kế Thằng, Frank Dikötter, Judith Banister) ước tính số người chết vì đói và bị bạo hành trong giai đoạn này khoảng từ 30 triệu đến 45 triệu người.
  2. Cách mạng Văn hóa (1966–1976):
    • Các cuộc đấu tố, thanh trừng nội bộ do Hồng vệ binh và quân đội thực hiện dẫn đến bạo lực diện rộng.
    • Con số tử vong do bạo lực, tự sát hoặc bị đàn áp ước tính khoảng 1 triệu đến 3 triệu người.
  3. Cải cách ruộng đất và các chiến dịch đàn áp chính trị (1949–1957):
    • Bao gồm Cải cách ruộng đất, Chiến dịch tiêu diệt phản cách mạng, và Chiến dịch Chống phe Hữu.
    • Số lượng địa chủ, đối thủ chính trị và tầng lớp trí thức bị hành quyết hoặc chết trong các trại cải tạo ước tính từ 1 triệu đến 5 triệu người.
  4. Hệ thống trại cải tạo lao động (Lao cải):
    • Hàng triệu người đã trải qua các trại lao cải trong nhiều thập kỷ, với con số tử vong do điều kiện khắc nghiệt và bị ngược đãi ước tính từ vài triệu đến 20 triệu người tùy theo phạm vi tính toán của các nhà nghiên cứu.

Tóm tắt các nguồn ước tính tiêu biểu:   

  • Chính sử / Giới nghiên cứu độc lập phương Tây & Trung Quốc (Yang Jisheng, Frank Dikötter, Daniel Leese): Ước tính khoảng 40 – 45 triệu người.
  • Một số sách nghiên cứu như Cuốn sách đen của Chủ nghĩa Cộng sản (The Black Book of Communism) hoặc tiểu sử Mao của Jung Chang & Jon Halliday: Ước tính từ 65 triệu đến 70 triệu người.
  • Ước tính cao nhất (R.J. Rummel): Lên tới 77 triệu người.

 

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi:

GEMINI Tra loi:

Ước tính số người thiệt mạng dưới chế độ của Joseph Stalin (từ khoảng năm 1924 đến 1953) vẫn là một chủ đề có nhiều sự khác biệt giữa các nhà lịch sử, do tính chất phức tạp của việc truy cập hồ sơ lưu trữ và cách phân loại nguyên nhân tử vong (hành quyết trực tiếp, chết trong trại cải tạo Gulag, hay chết vì nạn đói).

Các con số ước tính phổ biến bao gồm:

  • Tài liệu lưu trữ chính thức của Liên Xô (sau năm 1991): Các nhà lịch sử truy cập hồ sơ lưu trữ chính thức sau khi Liên Xô sụp đổ ước tính có khoảng 6 đến 9 triệu người thiệt mạng do các chính sách trực tiếp và gián tiếp của Stalin. Trong đó:
    • Hành quyết chính trị: Khoảng 800.000 đến 1,2 triệu người bị tuyên án tử hình và hành quyết (đặc biệt trong thời kỳ Đại thanh trừng 1937–1938).
    • Hệ thống trại Gulag: Khoảng 1,5 đến 1,7 triệu người chết do điều kiện khắc nghiệt, bệnh tật và kiệt sức trong các trại lao động cải tạo.
    • Cưỡng bức di dời và lưu tày: Khoảng 500.000 đến 1 triệu người thiệt mạng trong quá trình di dời hàng loạt các sắc tộc và đối tượng chính trị.
    • Nạn đói (1932–1933): Khoảng 3,5 đến 5 triệu người chết vì nạn đói do chính sách tập thể hóa nông nghiệp, đặc biệt là sự kiện Holodomor tại Ukraine và nạn đói ở Kazakhstan.
  • Ước tính của các nhà nghiên cứu phương Tây (trước và sau thời kỳ Mở cửa): Trước khi hồ sơ lưu trữ được công bố, một số nhà lịch sử phương Tây (như Robert Conquest) đưa ra con số cao hơn nhiều, ước tính từ 15 đến 20 triệu người tử vong khi tính gộp cả nạn đói đại trà, tử vong trong chiến dịch giải thể tầng lớp phú nông (Kulak), và điều kiện sống khắc nghiệt thời chiến.

Tổng hợp lại, đa số các nhà lịch sử hiện đại đồng thuận rằng con số tử vong trực tiếp và gián tiếp do các chính sách của Stalin nằm trong khoảng từ 6 triệu đến 20 triệu người.

Ả Rập Xê Út tấn công lực lượng thân Iran tại Irak, chiến tranh Trung Đông thêm khó lường (RFI)

(RFI)

Đêm 28 rạng sáng ngày 29/07/2026, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến Hoa Kỳ chống Iran, Ả Rập Xê Út chính thức thông báo tham gia chiến dịch của Mỹ chống lại các lực lượng thân Iran tại Irak. Dù quy mô chiến dịch này được xem là hạn chế, và chính quyền Riyadh ngay lập tức tuyên bố muốn xuống thang, hành động nói trên vẫn góp phần khiến viễn cảnh xung đột Vùng Vịnh ngày càng thêm khó lường.

Đăng ngày: 30/07/2026

Người dân đến xem các tòa nhà bị hư hại do một vụ không kích vào căn cứ của một lực lượng thân Iran ở Mosul, Irak, ngày 29/07/2026.

Người dân đến xem các tòa nhà bị hư hại do một vụ không kích vào căn cứ của một lực lượng thân Iran ở Mosul, Irak, ngày 29/07/2026. © AP Photo/Farid Abdulwahed

Trọng Thành

Ít nhất 20 thành viên của lực lượng dân quân Irak PMF (Popular Mobilisation Forces) thiệt mạng và 32 người bị thương trong đợt oanh kích của Mỹ và Ả Rập Xê Út tại miền đông Irak. Lý do chính thức mà phía Riyadh đưa ra là để trả đũa các cuộc tấn công bằng drone của các nhóm vũ trang thân Iran thuộc lực lượng PMF trong những ngày gần đây.

Kể từ ngày 28/02/2026 cho đến đợt oanh kích chưa có tiền lệ này, bất chấp nhiều cuộc tấn công của Iran và các lực lượng thân Iran nhắm vào các căn cứ của Mỹ cũng như nhiều cơ sở khác tại Ả Rập Xê Út, chính quyền Riyadh đã không phản công. Theo giới quan sát, lựa chọn của Ả Rập Xê Út phần nào đã giúp ngọn lửa chiến tranh không lan rộng thêm. Chính vì vậy, quyết định nói trên của Riyadh là một bước ngoặt đáng chú ý.

Trong khi chính quyền Mỹ cho biết đã báo trước với Bagdad về đợt oanh kích, chính quyền Irak bác bỏ và cực lực lên án “hành động vi phạm trắng trợn chủ quyền của Irak”. Một điểm đáng chú ý khác là trong cùng ngày, Iran đã chủ động tấn công trước vào các căn cứ quân sự của Mỹ tại Jordanie, thay vì chỉ phản công như thông lệ. Cuộc oanh kích tại Jordanie khiến Mỹ tấn công trở lại lãnh thổ Iran, chấm dứt những ngày chiến sự tạm ngưng.

Irak có nguy cơ trở thành lò lửa mới

Lực lượng dân quân Irak PMF, tiếng Ả Rập gọi là Hachd al-Chaabi, là một liên minh vũ trang bao gồm nhiều nhóm vũ trang Hồi giáo dòng Shia, được Teheran hậu thuẫn, đã đóng vai trò lớn trong cuộc chiến chống tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi Giáo (Daech), sau khi Daech chiếm lĩnh nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn của Irak năm 2014. Năm 2016, chính quyền Irak công nhận PMF là “lực lượng quân sự độc lập” trực thuộc Quân đội Irak, tuy vậy nhiều phe phái thân Iran vẫn duy trì mức độ tự chủ cao.

Về nguyên tắc, theo AP, chính phủ Irak cam kết sẽ giải giáp các nhóm vũ trang nằm ngoài Nhà nước. Theo thủ tướng Al-Zaidi, các lực lượng này sẽ không còn lý do tục tồn tại sau ngày 30/09, khi Mỹ rút quân khỏi Irak. Việc Ả Rập Xê Út tấn công lãnh thổ Irak khiến chuyến thăm Riyadh của thủ tướng Al-Zaidi, dự kiến hôm nay 30/07, bị đình chỉ vô thời hạn. Hội đồng An ninh Quốc gia Irak lên án cuộc tấn công của Mỹ và Ả Rập Xê Út, cho rằng hành động này làm suy yếu Nhà nước Irak, trong bối cảnh chính phủ Baghdad đang nỗ lực điều tra những lo ngại của Ả Rập Xê Út về các cuộc tấn công xuất phát từ lãnh thổ Irak.

Thế lực của các nhóm dân quân thân Iran tại Irak có thể phần nào so sánh với lực lượng Hezbollah tại Liban. Sau cuộc tấn công nói trên, Harakat Hezbollah al-Nujaba, một thành viên thân Iran của lực lượng dân quân PMF, đe dọa sẽ trả đũa Ả Rập Xê Út. Chính quyền Irak có nguy cơ khó giữ được thế cân bằng mong manh lâu nay giữa Mỹ và Iran.

Hành động chưa có tiền lệ của Ả Rập Xê Út diễn ra ngay sau cuộc gặp giữa thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và tổng thống Mỹ Donald Trump tại Nhà Trắng ngày 28/07. Theo trang mạng thân cận chính phủ Mỹ Axios, hôm qua, 29/07, bộ trưởng Quốc Phòng Ả Rập Xê Út Khaled Ben Salman khẳng định muốn xuống thang căng thẳng với Teheran, đồng thời tiết lộ chính thủ tướng Israel đã thúc đẩy xung đột leo thang.


 

Người mẹ đã từ chối phá thai… và đứa bé được sinh ra sau này làm thay đổi cả thế giới.

 Thầy Cao Anh 

Người mẹ đã từ chối phá thai… và đứa bé được sinh ra sau này làm thay đổi cả thế giới.

Cuối năm 1919, tại thị trấn Wadowice của Ba Lan, một người phụ nữ tên Emilia Wojtyła mang thai đứa con thứ ba. Nhưng niềm vui ấy nhanh chóng trở thành nỗi tuyệt vọng.

Bác sĩ sau khi khám đã nói với bà:

“Bà phải chấm dứt thai kỳ. Bà không còn lựa chọn nào khác. Thận của bà đã suy nặng, tim cũng rất yếu. Nếu tiếp tục mang thai, cả hai mẹ con đều có thể mất mạng.”

Theo y học lúc bấy giờ, đó là lời khuyên hợp lý. Các bác sĩ tin rằng giữ lại đứa bé gần như không có hy vọng, còn người mẹ cũng rất khó sống sót.

Nhưng Emilia đã đưa ra một quyết định khiến nhiều người kinh ngạc.

Bà từ chối phá thai.

Bà chấp nhận đánh đổi chính mạng sống của mình để bảo vệ đứa con còn chưa chào đời. Không phải vì bà biết tương lai sẽ thế nào, mà vì niềm tin rằng mỗi sinh mạng đều xứng đáng có cơ hội được sống.

Vượt qua mọi dự đoán của bác sĩ, ngày 18 tháng 5 năm 1920, Emilia sinh hạ một bé trai khỏe mạnh.

Cậu bé ấy được đặt tên là Karol Józef Wojtyła.

Đáng tiếc, sức khỏe của Emilia ngày càng suy kiệt. Bà qua đời khi Karol mới 8 tuổi.

Không ai lúc đó có thể ngờ rằng cậu bé năm xưa sau này sẽ trở thành Giáo hoàng Gioan Phaolô II – một trong những vị giáo hoàng có tầm ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20.

Ông đã dẫn dắt Giáo hội Công giáo suốt gần 27 năm, góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Đông Âu, cổ vũ hòa bình, bảo vệ phẩm giá con người và truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên khắp thế giới.

Nếu ngày hôm đó Emilia nghe theo lời khuyên của bác sĩ, có lẽ lịch sử thế giới đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.

Câu chuyện này không nhằm phán xét bất kỳ ai hay bất kỳ lựa chọn nào. Nhưng nó nhắc chúng ta một điều rất đáng suy ngẫm:

Đôi khi, không ai có thể biết được giá trị của một sinh mạng ở thời điểm hiện tại. Một đứa trẻ bình thường hôm nay có thể trở thành người làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người trong tương lai.

Và đôi khi, những quyết định âm thầm của một người mẹ lại đủ sức làm thay đổi cả lịch sử nhân loại.


 

Bài học của Na-Uy : Mỏ dầu hỏa

Bài học Na Uy: Câu chuyện “hũ gạo” và tầm nhìn xuyên thế kỷ.

Năm 1969, những người ngư dân ngoài khơi Na Uy bỗng thấy một cảnh tượng lạ lẫm: những giàn khoan dầu mọc lên giữa đại dương. Mỏ Ekofisk được tìm thấy, mở ra một trong những túi dầu lớn nhất thế giới.

Lúc đó, Na Uy biết mình sắp giàu to. Nhưng bạn biết đấy, hầu hết các quốc gia khi bỗng dưng “trúng số” nhờ dầu mỏ đều vấp phải một sai lầm chết người: Là có bao nhiêu tiêu bấy nhiêu. Quyết định ngược đời Trong khi những nước khác như Venezuela, Irak, Lybie hay Nigeria tiêu sạch tiền dầu vào các dự án hào nhoáng rồi cuối cùng rơi vào nợ nần khi dầu cạn, thì Na Uy lại chọn một lối đi riêng.

Năm 1990, Quốc hội Na Uy đưa ra một quyết định thay đổi hoàn toàn vận mệnh đất nước: Thay vì tiêu tiền dầu, họ đem đi cất.

Không phải cất một phần đâu, mà là gần như tất cả. Họ lập ra một quỹ đầu tư. Quy tắc cực kỳ đơn giản nhưng gây sốc: Toàn bộ lợi nhuận từ dầu mỏ sẽ được đổ vào quỹ này để đi đầu tư khắp thế giới. Mỗi năm, Chính phủ chỉ được phép rút ra một phần nhỏ (khoảng 3%) để chi tiêu. Phần còn lại? Cứ để đó cho nó “đẻ” thêm tiền. Mãi mãi.

Và lòng kiên trì thắng được sự cám dỗ

Lúc đó, nhiều người bảo họ điên. “Giàu mà không tiêu à?”, “Sao không giảm thuế, xây thêm đường sá ngay đi?”.

Chính phủ Na Uy chỉ trả lời đơn giản: “Vì con cháu chúng ta rồi sẽ ra đời, và chúng sẽ cần số tiền này hơn chúng ta bây giờ.”

Năm 1996, họ bỏ 150 triệu đô la đầu tiên vào quỹ. Suốt 30 năm sau đó, bất kể kinh tế đi xuống hay dân tình kêu ca, các chính trị gia Na Uy vẫn giữ đúng lời hứa. Họ không động vào “tiền xương máu” của tương lai để mua vui cho hiện tại.

Kết quả của việc “chọn cháu chắt thay vì bản thân”

Đến cuối năm 2025 này, quỹ này đã chạm mốc 2.000 tỷ đô la.

Hãy tưởng tượng: Na Uy chỉ có khoảng 5,6 triệu dân. Nếu chia đều, mỗi người dân nghiễm nhiên có khoảng 357.000 đô la (hơn 9 tỷ đồng) trong tài khoản chung.

Nhưng điều kinh ngạc nhất là gì? Hơn một nửa giá trị của quỹ hiện nay không phải đến từ tiền bán dầu, mà đến từ tiền lãi đầu tư. Hiện tại, số tiền quỹ này kiếm được từ việc sở hữu cổ phần của gần 9.000 công ty khắp thế giới (như Apple, Microsoft, Amazon…) còn nhiều hơn cả tiền bán dầu thô.

Một di sản vĩnh cửu

Dầu mỏ rồi sẽ hết, có thể là 30 hay 50 năm nữa. Nhưng với người Na Uy, điều đó chẳng còn đáng sợ.

Khi giọt dầu cuối cùng được hút lên, họ vẫn sẽ có một “núi tiền” khổng lồ tiếp tục sinh lời. Nhờ đó, trẻ em Na Uy vẫn được đi học miễn phí, người già vẫn có lương hưu cao, và người bệnh vẫn được chăm sóc y tế hàng đầu — tất cả nhờ vào những thùng dầu đã bán từ nửa thế kỷ trước.

Cái tài của người Na Uy không phải là tìm thấy dầu. Cái tài của họ là biết nói “Không” với đồng tiền dễ dãi hôm nay để đổi lấy sự thịnh vượng bền vững cho mai sau. Ngoài việc là chính sách kinh tế, đó còn là một bài học về sự tử tế: Sống và xây dựng cho những người thế hệ tương lai mà chúng ta hôm nay thậm chí sẽ không bao giờ gặp mặt.

Anh chị nghĩ như thế nào về quyết sách của chính phủ Na Uy?

From: Tu-Phung


 

ICE bắt giữ luật sư nhân quyền Trung Quốc có hồ sơ tị nạn ở Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

LANCASTER, Pennsylvania (NV) – Luật sư nhân quyền người Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình (Wu Shaoping) đã bị Cảnh Sát Di Trú (ICE) bắt giữ hôm Thứ Tư, 15 Tháng Bảy, tại thị trấn Mount Holly Springs thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania, trong lúc ông đang đi giao hàng cho Amazon.

Theo The New York Times (NYT) và The Guardian loan tin, luật sư Ngô Thiệu Bình đã đến Mỹ bằng thị thực du lịch năm 2019 và đã nộp đơn xin tị nạn chính trị (asylum) vào năm 2020.

Luật sư nhân quyền Trung Quốc Ngô Thiệu Bình. (Hình: Trang X của Human Right Watch)

Ở Mỹ, ông Bình làm công việc giao hàng cho Amazon trong khi vẫn tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng đấu tranh cho nhân quyền tại Trung Quốc – một cộng đồng đang gặp nhiều khó khăn, áp lực, theo The Guardian.

Hôm Thứ Tư tuần trước, trong lúc đang trên đường làm công việc của một người giao hàng theo hợp đồng cho Amazon, ông Bình đã bị các cảnh sát chặn lại tại một ngã tư ở thành phố Mount Holly Springs, thuộc địa hạt Cumberland, tiểu bang Pennsylvania.

Theo luật sư của ông Bình là ông John Visher, các cảnh sát đã yêu cầu ông Bình trình giấy chứng minh quốc tịch Mỹ. Ông Bình đã đưa ra bằng chứng về hồ sơ xin tị nạn chính trị đang chờ xét duyệt của ông, cùng với giấy phép lao động (working permit) và giải thích ông đã nhập cảnh vào Mỹ một cách hợp pháp.

Sau đó, cảnh sát đã báo cho cơ quan di trú. Ông Bình bị bắt giữ và bị chuyển đến trung tâm giam giữ người nhập cư ở Pennsylvania. Ông có thể sẽ ra hầu tòa di trú vào ngày 27 Tháng Bảy.

Vợ của ông, bà Tào Lưu Lệ (Caoliu Li,) cho biết chồng bà đã bị cơ quan an ninh Trung Quốc thẩm vấn và sách nhiễu trong nhiều năm, nhưng ông vẫn kiên định với sự nghiệp đấu tranh cho quyền lợi của người dân Trung Quốc.

“Suốt thời gian qua, ông ấy luôn chú trọng đến những bất công tại Trung Quốc và tìm cách thay đổi chúng,” bà Lệ chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn với NYT từ Lancaster, tiểu bang Pennsylvania, nơi vợ chồng ông bà đang sống cùng cô con gái 17 tuổi.

Bà Lauren Bis, phát ngôn viên của Bộ Nội An, cho biết ông Bình không có tư cách pháp lý hợp lệ và đã ở lại quá hạn thị thực (visa) sáu năm. Bà khẳng định ông sẽ được hưởng đầy đủ quy trình pháp lý theo quy định.

Theo luật sư Visher, do ông Bình đã nộp đơn xin tị nạn trước khi thị thực du lịch hết hạn, do đó ông được bảo vệ khỏi việc bị trục xuất và được phép ở lại trong thời gian chờ xét duyệt hồ sơ.

Cũng theo NYT, hành trình đến Hoa Kỳ của ông Ngô Thiệu Bình bắt đầu từ năm 2019. Khi đó, ông tham dự một cuộc gặp gỡ giữa các luật sư và nhà hoạt động nổi tiếng của Trung Quốc để bàn về phong trào nhân quyền đang bị đàn áp. Chỉ vài ngày sau, chính quyền Trung Quốc bắt giữ những người tham dự cuộc gặp đó, và hai trong số họ hiện đang thụ án tù dài hạn. Ông Bình đã bỏ trốn và nộp đơn xin tị nạn tại Hoa Kỳ vào năm 2020. Hồ sơ đang chờ thụ lý.

Trước khi rời Trung Quốc, ông Ngô Thiệu Bình từng làm luật sư thương mại tại Thượng Hải và gia nhập phong trào những người bảo vệ nhân quyền sau khi Bắc Kinh, dưới thời Chủ Tịch Tập Cận Bình, phát động cuộc đàn áp luật sư nhân quyền lớn nhất trong nhiều thập niên.

Ông nhận các vụ án đặc biệt về chính trị, đại diện cho một nhà hoạt động chống tham nhũng, một nhà bảo vệ nhân quyền khác, và các học viên Pháp Luân Công, một phong trào tâm linh bị cấm ở Trung Quốc.

Ông Châu Phong Tỏa (Fengsuo Zhou), giám đốc điều hành tổ chức nhân quyền cho Trung Quốc có trụ sở tại New York, cho biết ông Bình đã bào chữa cho những bị cáo mà hầu hết luật sư khác đều né tránh.

Vụ bắt giữ luật sư nhân quyền Ngô Thiệu Bình đã thu hút sự chú ý của các nhà vận động nhân quyền quốc tế. Ông Bob Fu, một nhà hoạt động nhân quyền Cơ Đốc Giáo, đã công khai bày tỏ rằng ông tin các nhân viên ICE đã hành động sai khi bắt giữ ông Bình, người mà ông mô tả là một người bảo vệ tự do tôn giáo tận tụy và có tình trạng cư trú hợp pháp tại Hoa Kỳ.

Những người ủng hộ cho biết họ đang nỗ lực vận động sự hỗ trợ pháp lý và công luận cho ông Ngô Thiệu Bình trước phiên điều trần ngày 27 Tháng Bảy, với hy vọng tránh để ông bị cưỡng bức trả về Trung Quốc. (KL) [kn]


 

Thắng Argentina 1-0, Tây Ban Nha lần thứ hai vô địch World Cup

Ba’o Nguoi-Viet

July 19, 2026

EAST RUTHERFORD, New Jersey (NV) – 16 năm trước, Tây Ban Nha lần đầu lên ngôi vô địch thế giới bằng bàn thắng duy nhất của Andres Iniesta vào lưới Hòa Lan ở hiệp phụ thứ hai thì tại World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres vào lưới Argentina đã đưa Tây Ban Nha lần thứ nhì vô địch thế giới theo đúng kịch bản mà lớp đàn anh mình thực hiện.

Nếu bốn năm trước tại Qatar, Argentina đã mở đầu trận chung kết bằng hai bàn thắng vào lưới đối thủ ngay trong hiệp một thì cả trận chung kết 2026 suốt 90 phút hai hiệp chính, Argentina không có lấy nổi một cú sút về phía cầu môn Tây Ban Nha. Phải đến khi nhận bàn thua ở phút 106 và vùng lên thì Argentina mới có cú sút đầu tiên.

Đội tuyển Tây Ban Nha nâng cao cúp vàng vô địch World Cup 2026. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Vô hiệu hóa Messi như thế nào là câu hỏi được đặt ra rất nhiều cho Tây Ban Nha trước trận chung kết. Và đúng như huấn luyện viên Luis de la Fuente lên tiếng là không thể kèm Messi nên cách tốt nhất là đừng để đội hình và lối chơi của mình bị phá vỡ bởi Messi qua việc thực hiện đúng ý đồ theo cách chơi luân chuyển trái bóng mà Tây Ban Nha thành công từ đầu giải đến giờ.

Suốt 45 phút hiệp một, Argentina gần như chỉ phòng ngự, thỉnh thoảng là những pha bóng dài phản công nhưng thủ môn Simon và hàng phòng ngự Tây Ban Nha đã không khó hóa giải.

Ngược lại thì những Yamal, Oyarzabal, Cucurella tiếp cận cầu môn Argentina nhưng những cú sút không đủ lực hoặc bị hàng thủ dày đặc Argentina đánh bật ra.

Ferran Torres (số 7), người hùng của trận đấu, ăn mừng sau khi ghi bàn thắng duy nhất cho Tây Ban Nha, hạ gục Argentina, lên ngôi vô địch thế giới lần thứ hai. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Chút lo lắng cho đương kim vô địch khi trung vệ giữ vai trò trụ cột trong hàng phòng ngự Lisandro Martinez không thể thi đấu tiếp tục từ phút 44 do chấn thương. Thay đổi bắt buộc của huấn luyện viên Lionel Scaloni đưa lão tướng 38 tuổi Otamendi vào thay chỉ là biện pháp chữa cháy.

Hiệp hai vẫn là sức ép ngày càng gia tăng của Tây Ban Nha về phía cầu môn Argentina. Olmo buộc thủ môn Martinez giật mình cản phá cú sút xa chịu phạt góc. Ferran Torres đánh đầu cận thành từ đường chuyền của Yamal nhưng vào tầm đón thủ môn Argentina.

Khung thành luôn bị đe dọa nhưng Argentina lại mất thêm trung vệ thứ hai là Romero chấn thương rời sân ở phút 70.

 

Ferran Torres (7) tung cú sút ghi bàn duy nhất đưa Tây Ban Nha lên ngôi vô địch World Cup 2026 sau 120 phút dồn ép và thi đấu trên chân trước Messi và các cầu thủ Argentina. (Hình: Jewel Samad / AFP via Getty Images)

Mất cặp trung vệ trụ cột và mới phút thứ 70 nhưng Argentina đã thay đủ năm cầu thủ nhưng vẩn chưa có cú sút cầu môn nào. Ngược lại thì Tây Ban Nha làm được tất cả trừ bàn thắng.

Đến phút 75, huấn luyện viên Luis de la Fuente tung cùng lúc “siêu dự bị” Merino và cơn lốc trái Williams vào với mong muốn giải quyết trận đấu ngay trong 90 phút.

 

Lionel Messi (10) hiếm hoi có pha đi bóng như thế. (Hình: Florencia Tan Jun/Getty Images)

Liên tiếp hai phút 76, 77, thủ môn Martinez cứu thua từ hai cú sút xa của Rodri và Cubarsi. Tây Ban Nha chơi bóng nửa sân dồn ép nhưng hàng phòng ngự Argentina dù chắp vá nhưng vẫn chống trả kiên cường.

Argentina đã khó còn khó hơn khi phút 90+3 Fernandez nhận thẻ vàng thứ hai rời sân do lỗi vào bóng ác ý với Cubarsi.

Đương kim vô địch chỉ thoát thua trong hai hiệp chính nhờ thủ môn Martinez bay người cứu thua từ cú đá phạt hiểm hóc của của Yamal ở phút 90+8.

Hai đội bước vào hiệp phụ với lợi thế 11 đánh 10 thuộc về Tây Ban Nha.

Huấn luyện viên Luis de la Fuente sử dụng hết quyền thay người để đưa những cầu thủ tấn công vào với hy vọng sẽ tìm được bàn thắng. Kiên trì tấn công và tấn công, cuối cùng thì nỗ lực của Tây Ban Nha đã được đền bù. Phút 106 từ đường chuyền sâu xuống biên trái, William đè hậu vệ Molina của Argentina đánh đầu ngược lên cho Ferran Torres trên đà băng xuống tung cú sút căng hạ gục thủ môn Martinez ghi bàn duy nhất của trận đấu.

Lamine Yamal (số 19) của Tây Ban Nha và Alexis Mac Allister (số 20) của Argentina. (Hình: Odd ANDERSEN / AFP via Getty Images)

16 năm trước cũng ở hiệp phụ thứ hai Andres Iniesta ghi bàn duy nhất vào lưới Hòa Lan đưa Tây Ban Nha đoạt cúp vô địch lần đầu tiên thì chung kết World Cup 2026, bàn thắng quý hơn vàng của Ferran Torres đã đưa Tây Ban Nha lẩn thứ nhì vô địch thế giới.

Một chức vô địch xứng đáng dành cho đội bóng chơi hay hơn và đẹp hơn. (Phú Trường) [kn]


 

 Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói”

Catholic News

 Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói”

Giữa tiếng ve râm ran của mùa hè, trưa thứ Bảy, ngày 11/7, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã dùng bữa trưa với khoảng 200 người đang gặp hoàn cảnh khó khăn tại khu vườn của Dinh Giáo hoàng ở Castel Gandolfo, nơi ngài đang nghỉ hè trong vài ngày.

Những người được mời tham dự bữa ăn đều đang đối diện với nhiều hoàn cảnh thử thách như vô gia cư, di cư hoặc phải rời bỏ quê hương. Họ chờ đón Đức Thánh Cha thành từng nhóm nhỏ dưới bóng những cây ôliu trong khuôn viên dinh thự.

Khi chào đón mọi người, Đức Thánh Cha mở đầu bằng một lời nói hóm hỉnh:

“Tôi đến đây không mang theo bài diễn văn, nhưng mang theo một cơn đói.”

Lời chia sẻ khiến các đầu bếp đang chuẩn bị món mì ngoài trời cùng mọi người bật cười. Tuy nhiên, ngài tiếp tục giải thích rằng đó là:

“Cơn đói về công lý, cơn đói về tình bác ái đích thực, cơn đói về một Giáo hội biết thực sự mở rộng cửa, biết đón tiếp và chào đón tất cả mọi người; một Giáo hội nơi tình yêu dành cho mọi người được thể hiện và không ai bị xem là kẻ thù.”

Gợi lại ý nghĩa của danh xưng “Giáo hoàng” (Pontiff), vốn có nghĩa là “người xây cầu”, Đấng kế vị Thánh Phêrô mời gọi mọi người cùng nhau xây dựng:

“một thế giới khác, một thế giới của hy vọng, một thế giới trở thành ánh sáng”, giữa một thực tại đang quá nhiều lần bị chia rẽ bởi bạo lực, hận thù và phân biệt đối xử.

Đức Thánh Cha nói:

“Hôm nay, chúng ta muốn xây dựng một nhịp cầu với tất cả anh chị em, với gia đình của anh chị em và với xã hội mà chúng ta mong muốn được sống – một xã hội công bằng. Một nơi mà những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói được loại bỏ, nơi những nguyên nhân của bất công vẫn còn tồn tại trong thế giới hôm nay được xóa bỏ. Đó chính là Giáo hội mà chúng ta mong muốn trở thành.”

Ngài cũng bày tỏ sự gần gũi với tất cả những ai đang sống trong đau khổ hoặc gặp nhiều khó khăn.

Trong bữa ăn, Đức Thánh Cha ngồi cùng bàn với một số đại diện của các khách mời, gồm: một người mẹ tị nạn đến từ Tanzania cùng hai con nhỏ (7 và 5 tuổi), một người Ukraine, một người tị nạn đến từ Peru và một người đến từ Sudan.

Thực đơn của bữa trưa gồm có:

  • Mì sốt Amatriciana
  • Thịt bê quay
  • Rau diếp xoăn
  • Dâu tây dùng với kem tươi.

Trước đó, vào ngày 17/8/2025, Đức Thánh Cha Lêô XIV cũng đã dùng bữa trưa với khoảng 80 người có hoàn cảnh khó khăn. Hoạt động này hiện được dự định trở thành một cuộc gặp gỡ thường niên, do Borgo Laudato Si’ – trung tâm sinh thái của Vatican đặt trong khuôn viên Dinh Giáo hoàng mùa hè – tổ chức.

Một bữa ăn đơn sơ, nhưng là dấu chỉ cụ thể của sự gần gũi, lắng nghe và chia sẻ, đồng thời nhắc nhớ lời mời gọi không ngừng xây dựng một xã hội công bằng hơn, nơi phẩm giá của mỗi con người luôn được tôn trọng.

Jos Nguyen chuyển ngữ – Aleteia 


 

Tại sao Mỹ không tài nào thắng trong chiến tranh ? (RFI)

 (RFI)

Iran – Mỹ lại oanh kích nhau tại Trung Đông ; Ukraina tìm chiến lược mới trong cuộc chiến chống Nga ; Nắng nóng : hiện tượng bình thường mới tại Pháp và châu Âu… là những chủ đề chính được các nhật báo Pháp quan tâm ngày 10/07/2026.

Đăng ngày: 10/07/2026 

Chiến đấu cơ F-16 Fighting Falcon của Không quân Mỹ hạ cánh xuống một căn cứ ở Trung Đông trong khuôn khổ Chiến dịch “Epic Fury” chống Iran, ngày 23/03/2026. via REUTERS – US AIR FORCE

Thu Hằng

Đối với tờ Le Monde, “những vụ tấn công cho thấy Iran nghi ngờ về thỏa thuận đình chiến, đang đứng trước nguy cơ đổ vỡ”. Có thể chưa đến mức trở lại chiến tranh cường độ cao tại Iran, nhưng nguy cơ này không phải là không được cộng đồng quốc tế nghĩ đến. “Dù ông Trump thất vọng đến mấy, cũng không có phương án nào khác ngoài bản ghi nhớ hợp tác hấp dẫn hơn thỏa thuận này”, theo nhận định của Ali Vazez, giám đốc dự án Iran tại tổ chức International Crisis Group.

Theo thỏa thuận khung, Iran nghiễm nhiên tự cho có quyền kiểm soát hoạt động ở eo biển Hormuz. Nhà nghiên cứu Hamidrea Azizi, Viện Stiftung Wissenschaft und Politik ở Berlin (Đức), viết trên mạng X : “Việc ký dự thảo thỏa thuận với Mỹ hay mong muốn cải thiện quan hệ với các nước Vùng Vịnh không nên được diễn giải là Iran “bật đèn xanh” cho tự do lưu thông ở eo biển, phương hại đến đòi hỏi của Iran được kiểm soát và giám sát tuyến hàng hải này”.

Căn cứ ở Vùng Vịnh, mắt xích yếu của Mỹ

Ba tầu dầu bị tấn công vì không tuân thủ đòi hỏi của Iran. Mỹ tấn công căn cứ của Cộng Hòa Hồi Giáo quanh eo biển Hormuz. Để đáp trả, Teheran oanh kích các căn cứ quân sự của Mỹ ở vùng Vịnh, đặc biệt ở Bahrain và Koweit. “Các căn cứ Mỹ ở Vùng Vịnh, một mắt xích ngày càng suy yếu trước Iran” là tiêu đề một bài nhận định của La Croix, dù những căn cứ này từng đóng vai trò răn đe và bảo vệ các đồng minh trong khu vực. Theo nhiều nguồn tin, các đợt không kích trước và sau lệnh ngừng bắn đã gây thiệt hại lớn, buộc quân đội Mỹ cân nhắc tái tổ chức lực lượng, giảm hiện diện tại Koweit và Ả Rập Xê Út, đồng thời chuyển một số cơ sở hoặc trung tâm chỉ huy đến các vị trí an toàn hơn, thậm chí sang Israel. Các nước Vùng Vịnh đang trở thành nạn nhân cho chính chiến lược đặt Mỹ vào trị trí trọng tâm trong chính sách an ninh của họ.

Vì sao Mỹ không tài nào thắng trong chiến tranh ?

Tổng thống Trump từng hứa sẽ lại giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh. Cuộc xung đột đầu tiên ông lãnh đạo,chống lại Iran càng làm tăng thêm danh sách dài các cuộc chiến tranh của Mỹ kết thúc trong bế tắc. Dù gây tổn thất đáng kể cho Iran, Washington không thể buộc Teheran đầu hàng, Mỹ chấp nhận ngừng bắn mà không đạt được mục tiêu chính trị rõ ràng. “Vì sao Mỹ không còn có thể thắng trong chiến tranh?” là câu hỏi của báo Le Figaro.

Theo các chuyên gia được Le Figaro trích dẫn, nguyên nhân thất bại không nằm ở năng lực quân sự, mà chủ yếu xuất phát từ chiến lược. Elliot Ackerman, cựu sĩ quan Thủy quân lục chiến Mỹ, cho rằng Washington thường nhầm lẫn giữa ưu thế quân sự và chiến lược. Một quân đội mạnh không bảo đảm chiến thắng nếu thiếu mục tiêu chính trị rõ ràng và kế hoạch dài hạn. Thậm chí, ông trích dẫn Tôn Tử, “chiến thuật không gắn với chiến lược sẽ dẫn đến thất bại”.

Theo ông, “các cuộc chiến ở Việt Nam, Irak, Afghanistan và Iran đều thất bại vì các nhà lãnh đạo chính trị của chúng ta nghĩ rằng họ quá mạnh đến nỗi không cần phải chiến đấu quyết liệt, rằng đối phương sẽ nhận ra sức mạnh của chúng ta và đơn giản là từ bỏ chiến đấu”. Đây là “Hội chứng Jupiter”, theo Bing West, cựu quan chức Lầu Năm Góc, có nghĩa là họ tin rằng ưu thế quân sự áp đảo sẽ tự động buộc đối phương khuất phục. Nhưng những cuộc chiến ở “Việt Nam, Afghanistan không phải thất bại trên chiến trường và là về chính trị”. Iran là ví dụ mới nhất về điểm này. Ackerman lưu ý “chế độ Iran đang tiến hành một cuộc chiến toàn diện bởi vì nếu thua, họ sẽ ngừng tồn tại”, trong khi đó, Mỹ chỉ tiến hành một cuộc chiến có giới hạn, khiến quyết tâm chính trị và quân sự không đủ để đạt được thắng lợi cuối cùng.

Cuối cùng, Le Figaro kết luận rằng những thất bại của Mỹ trong các cuộc xung đột hiện đại không phản ánh sự suy yếu về sức mạnh quân sự, mà bắt nguồn từ mục tiêu chính trị thiếu thực tế. Một số chuyên gia Mỹ cho rằng chính quyền hiện nay không thuyết phục và không huy động được người dân Mỹ ủng hộ mục tiêu chính trị đó, vì họ tự tin có quân đội xuất sắc, tổng thống dễ dàng ra lệnh can thiệp quân sự. Sự thiếu chuyên môn không bắt nguồn từ quân đội mà từ giới dân sự. Chính quyền Trump tự tin hiểu biết nhiều hơn giới chuyên gia, trong khi những người này có kiến ​​thức sâu rộng về ngoại giao, quan hệ quốc tế và trên hết là về lịch sử !


 

Khi kền kền lượn lờ trên đầu Greenland

Ba’o Nguoi-Viet

July 9, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Việc Tổng Thống Trump muốn thôn tính Greenland không phải là ý tưởng nhất thời. Kế hoạch đã được nhen nhóm từ thời nhiệm kỳ một của ông Trump. Năm 2018, ông Trump triệu tập cố vấn an ninh quốc gia John Bolton đến Phòng Bầu Dục và đề cập việc này. Nhắc lại chuyện trên, Fiona Hill, giám đốc cấp cao đặc trách Châu Âu và Nga thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia thời điểm trên, thuật rằng, những diễn biến liên quan “đều được thực hiện theo kiểu bí mật, lén lút” và “cảnh tượng đó chẳng khác nào lũ kền kền đang lượn lờ quanh một xác chết…”

Người dân cầm cờ Greenland và các biểu ngữ, tập trung bên ngoài Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ để phản đối ý định mua lại Greenland của Tổng Thống Donald Trump hôm 17 Tháng Giêng tại Nuuk, Greenland. (Hình: Sean Gallup/Getty Images)

Kền kền và Greenland

Hội Nghị Thượng Đỉnh NATO tại Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ) hoàn toàn đổ bể khi mọi nghị trình về an ninh bị lấn át bởi phát biểu của ông Trump ngày 7 Tháng Bảy rằng “Greenland nên do Mỹ kiểm soát chứ không phải Đan Mạch.” Một lần nữa, Greenland lại trở thành đề tài nóng hổi.

Phản ứng, giới lãnh đạo Châu Âu lên tiếng: “Hãy để yên vùng lãnh thổ thuộc Đan Mạch này.” Thủ Tướng Đan Mạch Mette Frederiksen nói, “chúng tôi sẵn sàng bảo vệ từng tấc đất của NATO, trong đó có lãnh thổ chính mình.” Thủ Tướng Na Uy Jonas Gahr Store bày tỏ: “Na Uy không tán thành những tuyên bố hay quan điểm kiểu đó. Chúng tôi ủng hộ Đan Mạch và ủng hộ sự ổn định tại Bắc Âu.” Và Thủ Tướng Iceland Kristrun Frostadottir phát biểu: “Greenland thuộc về người Greenland”…

“Dù bằng cách này hay cách khác, chúng tôi sẽ giành lấy nó (Greenland),” Trump tuyên bố trước phiên họp chung Quốc Hội vào năm 2025. Thế là, cư dân thủ phủ Nuuk tập trung trước Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ (được mở vào năm 2020, sau gần bảy thập niên Mỹ không có sự hiện diện ngoại giao nào tại nơi này). Họ đánh trống và hô vang tên gọi đất nước theo tiếng Inuit: Kalaallit Nunaat. “Đủ rồi đấy,” họ hét lên.

Đó là thời điểm một người Mỹ có mặt tại thủ phủ Nuuk của Greenland. Tự giới thiệu là đại sứ không chính thức, không đại diện cho chính phủ Mỹ mà là “đại diện cho tổng thống,” đương sự nói, “Tôi tên Chris Cox. Tôi đến từ Mỹ và tôi ở đây để kết thêm bạn bè. Chúng tôi không nhìn các bạn như cách con hổ nhìn con linh dương đâu.” Chris Cox là thành viên MAGA cộm cán, từng thành lập nhóm “Bikers for Trump” vào năm 2015 với nhiệm vụ bảo vệ an ninh tại các cuộc vận động tranh cử cũng như lễ nhậm chức đầu tiên của ông Trump.

Sau chuyến đi Greenland, Chris Cox trở về Washington, DC. Báo cáo với Tòa Bạch Ốc lẫn giới lập pháp Cộng Hòa, đương sự cho biết, Đan Mạch, quốc gia có chủ quyền với Greenland lẫn quần đảo Faroe, là “thế lực thực dân bất hợp pháp” đang gây ra vô số “hành động tàn bạo” nhằm vào người dân Greenland và “vũ khí hóa” việc tuyên truyền chống ông Trump nhằm kích động người dân quay lưng lại với Mỹ. Trong thời gian ở Nuuk, Cox lập danh sách những người Greenland ủng hộ ý tưởng sáp nhập lẫn “thành phần” phản đối. Ba tháng sau, ông Trump bổ nhiệm Chris Cox vào một hội đồng cố vấn thuộc Bộ Nội An.

Ai là người đầu tiên “xúi” Trump?

Không chỉ Chris Cox, còn có hai người Mỹ nữa điều hành các “chiến dịch gây ảnh hưởng” tại Greenland: Tom Dans – một tay đầu tư chứng khoán, và Drew Horn – cựu chỉ huy Lực Lượng Đặc Nhiệm Lục Quân từ lâu vốn thèm khát khai thác đất hiếm tại Greenland. Cả hai đều từng phục vụ trong chính quyền Trump 1.0. Ông Dans làm việc tại Bộ Tài Chính, còn ông Horn làm ở Văn Phòng Phó Tổng Thống, Văn Phòng Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia, Bộ Năng Lượng và Bộ Quốc Phòng.

Như nói ở trên, ông Trump quan tâm Greenland từ cuối năm 2018. Một hôm, như được thuật từ bài báo New Yorker ngày 22 Tháng Sáu, ông triệu tập cố vấn an ninh quốc gia John Bolton vào Phòng Bầu Dục và nói, một người bạn lâu năm của ông, Ronald Lauder, “gợi ý” rằng Mỹ nên mua hòn đảo này. “Ông nghĩ sao?” ông Trump hỏi. Ông John Bolton trả lời rằng ông cần thời gian. Sau đó, ông Bolton cho triệu tập bà Fiona Hill, lúc đó là giám đốc cấp cao đặc trách Châu Âu và Nga thuộc Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.

Khi vào văn phòng ông Bolton, bà Hill thấy sếp Bolton mặt mày tái nhợt, đang ngồi cùng một đô đốc tuần duyên. Ông Bolton nói với hai người: “Nghe này, chúng ta phải ngăn chặn vụ này trước khi ông ấy (Trump) tuyên bố ỏm tỏi Mỹ sẽ mua Greenland.” Bolton dặn, đừng để bất kỳ ai biết chuyện, ngay cả “trong nội bộ các ban chuyên trách của chúng tôi,” Fiona Hill kể. Ông Bolton yêu cầu bà Hill âm thầm soạn bản ghi nhớ đề xuất phương án thay thế.

Khi rà soát toàn bộ vấn đề lẫn lịch sử Greenland, Fiona Hill nhận thấy, theo hiệp ước ký với Đan Mạch năm 1951, Mỹ trong thực tế đã nắm quyền kiểm soát quân sự đối với Greenland. Mỹ từng chịu trách nhiệm phòng thủ Greenland thời Đệ Nhị Thế Chiến và duy trì quyền tiếp cận quân sự thông qua các cuộc đàm phán giúp Đan Mạch trở thành thành viên sáng lập NATO.

Dù hiện chỉ có một căn cứ (Căn Cứ Không Gian Pituffik, với nhiệm vụ theo dõi hỏa tiễn đạn đạo từ Nga), Mỹ có thể mở rộng sự hiện diện tại Greenland bất cứ lúc nào và theo bất kỳ cách nào. Fiona Hill và một chuyên gia Bắc Cực thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cuối cùng hoàn thành bản ghi nhớ, trình bày các phương án khả thi. Nội dung chính là tháo gỡ vấn đề nhằm xua tan ý tưởng thôn tính Greenland bằng vũ lực hoặc sức ép chính trị.

Một lần, khi gặp đại sứ Đan Mạch cùng một số quan chức nước này, bà Fiona Hill “cố ra tín hiệu cảnh báo bằng cử động mắt và ngôn ngữ cơ thể khác thường, nhằm ám chỉ sắp có chuyện lớn xảy ra,” như lời bà kể. Tuy nhiên, phía Đan Mạch không bắt được tín hiệu cảnh báo trên. Tháng Bảy, 2019, bà Hill kết thúc nhiệm kỳ. Đó là thời điểm ông Trump công khai đòi thôn tín Greenland. Tháng Tám, 2019, tờ Wall Street Journal tung ra quả bom: Trump “rất quan tâm” việc mua Greenland.

Bài báo khiến Đan Mạch sửng sốt. John Bolton cũng sốc. Trước đó vài tuần, tương tự bà Fiona Hill, ông Bolton cũng kín đáo phát tín hiệu cảnh báo cho Đan Mạch. Vụ việc giờ đây không còn nghi ngờ bị rò rỉ từ Hội Đồng An Ninh Quốc Gia mà từ chính ông Trump. Tại vài bữa tiệc ở Mar-a-Lago, ông Trump hí hửng hỏi, “quý vị nghĩ sao nếu chúng ta mua Greenland?”

Đầu năm 2020, ông Trump tăng tốc. Ủy Ban Điều Phối Chính Sách Greenland (Greenland Policy Coordination Committee – Greenland P.C.C.) được thành lập. Đan Mạch hoàn toàn không hay biết về sự tồn tại ủy ban này. Kế hoạch của nhóm Greenland P.C.C., đầu tiên, là thực hiện chiến dịch “lấy long,” đưa ra những hứa hẹn về đầu tư kinh doanh, cơ hội giáo dục và viện trợ phát triển. Để dọn “sân bãi” cho âm mưu “nuốt xác” Greenland, Mỹ mở lại lãnh sự quán tại Nuuk vốn đóng cửa từ năm 1953. Mọi việc đang chạy trơn tru thì ông Trump thất cử trong cuộc bầu cử 2020.

“Sớm thôi”

Khi ông Trump chuẩn bị tranh cử lần ba, ông Tom Dans – có chân trong tổ chức cánh hữu Heritage Foundation, nơi soạn cẩm nang “trị quốc” Project 2025 – bắt đầu móc nối một người Greenland tên Jorgen Boassen. Nhân vật này không phải là chính trị gia hay tỷ phú gì cả. Ông ta chỉ là một anh… thợ hồ và là kẻ hâm mộ Trump một cách tuyệt đối. Năm 2024, Tom Dans mời Boassen sang Mỹ. Họ dành một tuần đi vận động tranh cử cho ông Trump ở Pittsburgh, sau đó đến West Palm Beach để cùng thức đêm theo dõi kết quả bầu cử. Tại đó, ông Boassen gặp các thượng nghị sĩ Cộng Hòa, giới tỷ phú và nhiều nhân vật chủ chốt của MAGA.

Đầu Tháng Giêng, 2025, nhà hoạt động cánh hữu Charlie Kirk nhờ ông Boassen sắp xếp một chuyến “tìm hiểu thực tế” tại Nuuk. Vài ngày sau, chiếc Boeing 757 của gia đình ông Trump hạ cánh xuống đường băng mới tinh tại thủ phủ Greenland. Ông Boassen ra phi trường đón. Trở về Mỹ, Charlie Kirk kể lại chuyến đi vài giờ đồng hồ với việc “khám phá nhiều điều mới lạ.”

Ông Kirk kể: “Có những con gấu Bắc Cực đi lại quanh Nuuk.” Thực tế chẳng có con gấu trắng to xác nào đi lại quanh Nuuk cả. Kirk nói đến việc gặp một đứa con nít và cậu bé kể về “những viên hồng ngọc to bằng quả bóng chày,” rằng “cậu bé bảo: ‘Người Đan Mạch không cho phép chúng tôi khai thác hồng ngọc, vàng, lithium hay khí đốt gì hết”…, “cậu bé còn nói: ‘Đã đến lúc phải nổi dậy chống lại người Đan Mạch.’”

Tháng Hai, 2025, Dân Biểu Earl L. “Buddy” Carter (Cộng Hòa-Georgia) đệ trình dự luật bày tỏ mong muốn ông Trump thôn tính và đổi tên Greenland thành “Red, White, and Blueland.” Ngày 3 Tháng Giêng, 2026, sau khi Mỹ đột nhập Caracas và bắt cóc ông Nicolas Maduro – tổng thống Venezuela, bà Katie Miller, vợ ông Stephen Miller (cố vấn an ninh nội địa của Tổng Thống Trump), đăng trên X (Twitter) bản đồ Greenland phủ cờ Mỹ kèm chú thích “SỚM THÔI” (“SOON”). Hôm sau, ông Trump nói, “chúng ta thực sự cần Greenland, chắc chắn là vậy.”

“Sớm thôi” bây giờ lại được nhắc đến. Vấn đề thật ra không liên quan nhiều đến an ninh nước Mỹ. Chủ yếu là do khu vực Greenland tan băng nên việc khai thác khoáng sản trở nên dễ dàng và ông Trump muốn kiếm tiền từ đó. Thomas Crosbie, phó giáo sư chuyên ngành tác chiến quân sự thuộc Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Đan Mạch, nhận định rằng việc Mỹ tiếp quản Greenland không giúp cải thiện chiến lược an ninh hiện tại của Washington. Nói với AP, Giáo Sư Crosbie nhận định: “Mỹ chẳng có thêm lợi thế nào nếu cờ Mỹ tung bay tại Nuuk. Họ không thu được lợi ích gì cả vì họ vốn tận hưởng mọi lợi thế mà họ muốn rồi.”

Cần nhắc lại, năm 2025, Quốc Hội Đan Mạch thông qua dự luật cho phép đặt căn cứ quân sự Mỹ trên lãnh thổ họ. Động thái này mở rộng phạm vi một thỏa thuận quân sự trước đó – ký vào năm 2023 với chính quyền Biden – vốn cho phép quân đội Mỹ tiếp cận rộng rãi các căn cứ Không Quân của Đan Mạch. Tuy nhiên, Hè 2025, ngoại trưởng Đan Mạch là Lars Lokke Rasmussen dọa, họ có 

quyền chấm dứt thỏa thuận nếu Mỹ tìm cách sáp nhập toàn bộ hoặc một phần Greenland.

Dù thế nào, số phận Greenland cũng rất mong manh. Vấn đề của “sớm thôi” bây giờ là “chừng nào.” Đó là điều mà gần như toàn bộ Châu Âu đang vô cùng lo lắng. [dt]


 

HÀNG XÓM QUÁ KHÍCH PHÓNG HỎA ĐỐT NGUYỆN ĐƯỜNG NHỎ ĐỨC TRINH NỮ MARIA

Cang Huynh

HÀNG XÓM QUÁ KHÍCH PHÓNG HỎA ĐỐT NGUYỆN ĐƯỜNG NHỎ ĐỨC TRINH NỮ MARIA TRONG ĐÊM… ĐIỀU HỌ THẤY TRONG ĐỐNG TRO TÀN LÀ KHÔNG THỂ TIN NỔI.

*Tên tôi là Cha Thomas. Tôi là linh mục của một nhà nguyện Công giáo nhỏ nằm trong một khu dân cư đa tôn giáo ở bắc Lebanon.

Trong nhiều năm, ngôi nguyện đường nhỏ dâng kính Đức Mẹ Maria là nơi bình yên cho tất cả người Kitô hữu và một vài người Hồi giáo bí mật ghé thăm. Tôi đặt một bức tượng Đức Mẹ Maria rất đẹp ở ngay chính giữa bàn thờ. Rất nhiều người đến để cầu nguyện, đặc biệt là các bà mẹ đến xin Đức Mẹ ban ơn cho con cái của họ.

Nhưng không phải ai cũng đồng cảm.

Một số người hàng xóm cực đoan đã xem ngôi nguyện đường nhỏ như một sự xúc phạm. Một đêm nọ, một nhóm người trong số họ đã phóng hỏa đốt nguyện đường. Họ đổ xăng và đứng nhìn ngọn lửa thiêu rụi tòa nhà gỗ nhỏ.

Sáng hôm sau tôi đến nơi chỉ còn thấy đống tro tàn. Trái tim tôi đã tan nát. Bức tượng mà tôi rất yêu đã biến mất. Tôi quỳ xuống giữa đống đổ nát và khóc.

Nhưng sau đó tôi thấy một điều không thể tin nổi.

Ngay giữa đống tro tàn, hoàn toàn không bị ngọn lửa chạm đến, bức tượng Đức Mẹ Maria hoàn toàn đứng vững nguyên vẹn – thậm chí không một vết cháy sém. Xung quanh bức tượng, những bông hồng tươi đã nở trong đống tro tàn, những cánh hoa không hề bị chạm đến bởi những ngọn lửa.

Tôi quỳ xuống, vì thật kinh ngạc và sùng kính.

Những người phóng hỏa đến xem chuyện gì đã xảy ra. Khi họ nhìn thấy bức tượng Mẹ Maria nguyên vẹn đang đứng giữa đống đổ nát bị thiêu rụi, nhiều người trong số họ bắt đầu khóc. Một vài người đã quỳ gối xuống ngay tại nơi đó.

Một trong những người đàn ông đã đốt lửa, một người  tên là Ahmed, đã thú nhận với những giọt nước mắt:

“Tôi đã châm lửa đốt. Nhưng bây giờ  nhận thấy rằng, tôi đã chống lại Thiên Chúa. Xin hãy tha thứ cho tôi.”

– Cang Huỳnh lược dịch từ Je suis Catholique.