Giáo hội lo ngại về việc trục xuất hàng loạt người Haiti khỏi Hoa Kỳ-Vũ Văn An 

Vũ Văn An 

31/Jan/2026

Vietcatholic.net

Các thành viên của Đơn vị An ninh Tổng hợp Cung điện Quốc gia tại Port-au-Prince, Haiti, ngày 26 tháng 1 năm 2026. (Ảnh: Odelyn Joseph/AP.)

Eduardo Campos Lima, trong bản tin của Crux ngày 31 tháng 1 năm 2026, tường trình rằng: Khi người Haiti sắp mất Quy chế Bảo vệ Tạm thời (TPS) vào ngày 3 tháng 2, khoảng 330,000 người tị nạn và người nhập cư dự kiến sẽ bị buộc phải rời khỏi Hoa Kỳ và trở về quốc gia vùng Caribe đang bị tàn phá bởi bạo lực.

Giáo hội Haiti lo ngại về hậu quả của biện pháp này đối với các cộng đồng địa phương và công việc từ thiện của chính họ.

Khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức vào tháng 1 năm 2025, việc thu hồi TPS của người Haiti là một trong những quyết định đầu tiên của ông.

Đã có những vụ kiện chống lại biện pháp này, và sự không chắc chắn về cách thức tiến trình sẽ diễn ra vẫn còn rất cao.

Viễn cảnh hàng trăm nghìn người Haiti mất quyền sinh sống tại Mỹ không chỉ gây lo ngại cho các cộng đồng định cư ở đó, mà còn cho cả người dân Haiti.

“Việc có thêm 300,000 người Haiti ở đây sẽ là một thảm họa,” Cha Gilbert Peltrop, tổng thư ký Hội đồng các Dòng tu Haiti, nói với Crux.

Ngài cho biết những khó khăn ở quốc gia vùng Caribe này đã quá lớn đến nỗi sự xuất hiện đột ngột của một số lượng lớn người như vậy sẽ càng làm trầm trọng thêm tình trạng hỗn loạn.

Ngài nói: “Những người di tản trong nước đang sống trong điều kiện rất khó khăn”.

Cha Peltrop nói thêm rằng Giáo hội sẽ không thể giúp đỡ nhiều trong tình huống đó.

Ngài cho biết: “Chúng tôi không có cơ sở hạ tầng đủ khả năng tiếp nhận một số lượng lớn người như vậy”.

Được thiết lập theo luật năm 1990, chương trình TPS (Tình trạng Bảo vệ Tạm thời) được áp dụng cho người Haiti sau trận động đất tàn phá đất nước năm 2010. Chương trình cho phép người nhập cư và người tị nạn được ở lại Mỹ hợp pháp trong một khoảng thời gian nhất định và có thể được gia hạn nếu tình hình ở quốc gia xuất xứ của họ vẫn còn nguy hiểm.

Những người chỉ trích chương trình, như cố vấn của Trump, Stephen Miller, đã lập luận trong nhiều năm rằng chương trình cho phép người nước ngoài có được việc làm gây bất lợi cho công dân Mỹ. Một lập luận thường xuyên khác chống lại TPS là chương trình này được duy trì cho công dân của các quốc gia mà tình trạng thảm khốc đã thay đổi từ lâu.

Nhưng điều đó chắc chắn không đúng với Haiti. Quốc gia này không chỉ vẫn phải đối mặt với hậu quả của trận động đất – với nhà cửa và cơ sở hạ tầng chưa bao giờ được xây dựng lại hoàn toàn – mà còn rơi vào tình trạng hỗn loạn xã hội ngày càng gia tăng kể từ vụ ám sát cựu Tổng thống Jovenel Moïse năm 2021.

Hiện tại, các băng đảng tội phạm như Viv Ansanm kiểm soát 90% thủ đô Port au Prince. Theo Văn phòng Tích hợp của Liên Hợp Quốc tại Haiti (BINUH), các cuộc tấn công do các nhóm vũ trang thực hiện nhằm vào thường dân đã dẫn đến ít nhất 8,100 người thiệt mạng từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2025.

Bạo lực tình dục đã trở nên phổ biến. Từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2025, đã có 7,470 trường hợp bạo lực dựa trên giới tính.

Sự kết hợp giữa bạo lực và thiên tai — Haiti bị lũ lụt ở tỉnh Đông Bắc vào tháng 5 và bị bão vào tháng 10 và tháng 11 — đã làm trầm trọng thêm điều kiện sống của hàng triệu người Haiti trong năm ngoái.

Theo Liên Hợp Quốc, 1.4 triệu người phải di dời — khoảng 12% tổng dân số — và 5.7 triệu người đang phải đối diện với tình trạng thiếu lương thực.

Các bệnh như dịch tả đã hoành hành ở nhiều vùng của đất nước. Trẻ em bị ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng, với 3.3 triệu em cần một số hình thức hỗ trợ nhân đạo. Gần 330,000 trẻ em dưới 5 tuổi đang bị suy dinh dưỡng cấp tính.

Các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Cộng hòa Dominica, đã cưỡng chế hồi hương 270,000 người nhập cư và tị nạn Haiti vào năm ngoái.

Cha Agler Cherizier thuộc dòng Scalabrinian nói với Crux: “Thông thường, chúng ta không nên nói về việc trục xuất người Haiti về Haiti, vì đất nước đang trải qua thời kỳ cực kỳ khó khăn, cả về an ninh lẫn chính trị xã hội”.

Cha Cherizier nói thêm: Việc trục xuất sẽ làm tăng thêm khó khăn cho các gia đình, “vì mỗi người di cư sống ở nước ngoài đều là nguồn thu nhập cho gia đình họ”.

Haiti sẽ phải vật lộn để tiếp nhận những người bị trục xuất về mặt hỗ trợ và tạo việc làm cho họ, vị linh mục cho biết, nhưng đó không phải là nhiệm vụ dễ dàng.

Sản xuất và thương mại hầu như không thể thực hiện được ở nhiều vùng của Haiti do bạo lực băng đảng. Các nhóm tội phạm đang liên tục mở rộng phạm vi hoạt động sang các thành phố và vùng nông thôn khác.

Một nhà truyền giáo người Mỹ sống ở Haiti nói với Crux rằng một số cuộc đột kích trong vài tuần qua đã gây ra thương vong ở những nơi như Kenscoff, cách thủ đô vài dặm.

Vào đêm ngày 29 tháng 1, các thành viên của Viv Ansanm đã tấn công khu vực Kajak, thuộc Kenscoff, giết chết bảy người — sáu người lớn và một trẻ em. Nhà cửa bị đốt cháy và các cửa hàng bị phá hoại.

Nhà truyền giáo và nhóm của ngài đã tiếp nhận một số người sống sót. Một trong số họ bị mất một chân.

Một tuần trước đó, những người đàn ông có vũ trang đã đột kích vào cộng đồng Tabarre. Một phụ nữ chạy trốn khỏi những kẻ tấn công đã rơi xuống hố rác tự hoại và bị thương nặng, khiến khuôn mặt bị biến dạng. Bà đã được phẫu thuật với sự giúp đỡ của nhóm truyền giáo.

Ngài nói: “Đó là những ví dụ cho thấy tại sao việc hồi hương không an toàn”.

Ngày 29 tháng 1, Giám mục Brendan J. Cahill, chủ tịch Ủy ban Di cư của Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, và Giám mục A. Elias Zaidan, chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình Quốc tế của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, đã đưa ra một tuyên bố kêu gọi chính quyền Trump xem xét lại việc hủy bỏ quy chế TPS (Tình trạng bảo vệ tạm thời) cho người Haiti.

Tuyên bố nêu rõ: “Hiện tại đơn giản là không có cơ hội thực tế nào cho việc hồi hương an toàn và có trật tự của người dân Haiti”.

Cahill và Zaidan nói rằng “Chính quyền Trump vẫn có cơ hội làm điều đúng đắn – bảo vệ tính mạng con người, duy trì luật pháp và thúc đẩy sự ổn định lớn hơn cho người dân trong nước và trên toàn thế giới.”

Tại Haiti, Giáo hội sẽ tiếp tục đóng vai trò tương tự, Cha Cherizier nói, nhằm mục đích “đánh thức lương tâm của các nhà lãnh đạo chính trị”.

Ngài kết luận: “Ngoài ra, trong chừng mực có thể, thông qua các hoạt động xã hội của Giáo hội, Giáo hội có thể tiếp tục thực hiện các công việc bác ái để mang lại cho họ phần nào sự an ủi”.


 

Cambodia bắt giữ hơn 2,000 người tại trung tâm lừa đảo, có 177 người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

February 1, 2026

PHNOM PENH, Cambodia (NV) – Cảnh sát Cambodia càn quét một trung tâm cờ bạc và lừa đảo ở tỉnh Sway Rieng bắt giữ hơn 2 ngàn người mà trong số đó có 177 người Việt Nam.

Vụ càn quét diễn ra sáng ngày 31 Tháng Giêng tại một trung tâm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến rộng lớn với 22 tòa nhà cao tầng trong thị trấn Bavet, tỉnh Sway Rieng, gần biên giới với Việt Nam, đối diện với hai tỉnh Tây Ninh và Long An.

Một số người bị bắt khi 700 cảnh sát Cambodia bố ráp 22 tòa nhà thuộc trung tâm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến thuộc thị trấn Bavet, tỉnh Sway Rieng. (Hình: SCMP/Bộ Nội Vụ Cambodia)

Báo chí Cambodia nói khoảng 700 cảnh sát đặc nhiệm đã được sử dụng trong cuộc càn quét này. Họ đã bắt giữ tất cả 2,044 người ngoại quốc thuộc chín quốc tịch khác nhau. Trong đó, người Trung Quốc bị bắt nhiều nhất với 1,792 người. Kế đến là 179 người Miến Điện, 177 người Việt Nam, 30 người Nepal, 5 người Đài Loan, một người Malaysia, hai người Lào, 36 người Ấn Độ và một người Mexico.

Báo South China Morning Post, ngày 1 Tháng Hai, dẫn lời phát ngôn viên Bộ Nội vụ Cambodia cho hay “Cambodia không phải nơi an toàn cho tội phạm mà là địa ngục của tội phạm.”

Người ta chỉ thấy nước này mạnh tay trấn áp các trung tâm cờ bạc và lừa đảo sau khi ông trùm Chen Zhi (Trần Chí) trùm các ông trùm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến bị áp lực trục xuất và dẫn giải về Trung Quốc.

Ngày 7 Tháng Giêng vừa qua, Trần Chí, 38 tuổi, và hai phụ tá cũng người Hoa, bị Cambodia bắt giữ, lột quốc tịch, rồi chuyển giao cho Trung Quốc. Tay này từng bị chính phủ Mỹ cáo buộc lừa đảo, đánh cắp một số tiền điện tử (bitcoin) trị giá tới $15 tỷ. Ông sử dụng một mạng lưới khổng lồ các cơ sở cờ bạc, lừa đảo trực tuyến tại Cambodia và tại nhiều nước khác để hoạt động hơn chục năm qua trong sự làm ngơ của nước này.

Theo nhà cầm quyền Phnom Penh thống kê, để rửa nghi vấn tiếp tay băng đảng tội phạm quốc tế, chỉ riêng chín tháng đầu của năm 2025, họ đã phá vỡ 48 tổ chức lừa đảo trực tuyến và đưa ra tòa kết án 168 người. Gần 3,000 người ngoại quốc đã bị trục xuất về nguyên xứ. Cuộc bố ráp đầu năm nay tại thị trấn Bavet vốn nổi tiếng với các trung tâm lừa đảo trực tuyến và cờ bạc xuyên biên giới mà không ít người Việt là nạn nhân, rồi sau đó, bị ép buộc trở thành những kẻ tiếp tay lừa đảo người Việt tại quê nhà.

Không thấy có những thống kê chính thức nhưng người ta từng thấy có các vụ bắt giữ và trục xuất từ vài chục đến vài trăm người Việt từ các trung tâm cờ bạc và lừa đảo tại Cambodia trong những năm qua.

Cả trăm người xếp hàng trước trụ sở Tòa Đại Sứ Trung Quốc ở Khnom Penh ngày 19 Tháng Giêng, 2026. Phóng viên AFP hỏi thăm chi tiết thì tất cả đều từ chối trả lời. (Hình: AFP/Getty Images)

Báo chí tại Việt Nam từng đưa tin 177 người Việt Nam tại các trung tâm cờ bạc và lừa đảo trực tuyến bị Cambodia trục xuất ngày 12 Tháng Hai, 2025. Từ ngày 27 Tháng Sáu đến 18 Tháng Bảy, 2025, Cambodia đã bố ráp 45 địa điểm tại thủ đô Phnom Penh và 11 tỉnh, bắt giữ tổng cộng 2,270 người trong đó có 161 người Việt Nam.

Giữa Tháng Tám, 2025, Cambodia đã trục xuất 353 người Việt Nam sau một đợt truy soát ở một khu vực đối diện tỉnh Tây Ninh. Sau đó ngày cuối Tháng Mười năm này, báo Khmer Times đưa tin Cambodia trục xuất 63 người quốc tịch Việt Nam trong đó có 11 phụ nữ bị cáo buộc “cư trú bất hợp pháp và tham gia các hoạt động lừa đảo trực tuyến.”

Hàng ngàn người Việt Nam đã bị dụ dỗ “việc nhẹ lương cao” ở Cambodia. Ban đầu họ là nạn nhân, bị nhốt và bị thu hết giấy tờ tùy thân, hộ chiếu rồi bị ép trở thành những người lừa đảo các người đồng hương khác, theo lời khai của một số người khi bị trả về nước. Nếu không thi hành, họ bị tra tấn, đánh đập và bỏ đói. Gia đình một số người đã phải trả những số tiền lớn để giải thoát. (NTB) [kn]


 

Tổ chức Ân xá Quốc tế phác họa bức tranh rùng rợn về cuộc sống trong các “trung tâm lừa đảo” tại Campuchia

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Tổ chức Ân xá Quốc tế phác họa bức tranh rùng rợn về cuộc sống trong các “trung tâm lừa đảo” tại Campuchia

Một báo cáo của Amnesty International (Tổ chức Ân xá Quốc tế) cho biết Campuchia đang đối diện với một “cuộc khủng hoảng nhân đạo” sau khi hàng ngàn người bị buôn người ép làm việc trong các khu lừa đảo trực tuyến đã trốn thoát khỏi cảnh giam cầm. Nhiều nạn nhân ra đi trong tình trạng sang chấn tâm lý nặng nề và hầu như không nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ các nước quê hương của họ tại châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ.

Theo báo cáo, một người trốn thoát bị rạch cổ, nhiều thi thể bị chất đống, phụ nữ bị hãm hiếp, có người bị chặt ngón tay. Cảnh sát Campuchia bị cáo buộc thường xuyên lui tới các khu phức hợp nơi nạn nhân bị ép thực hiện các trò lừa đảo trực tuyến, thường gọi là “pig butchering” (vỗ béo con mồi), nhưng không can thiệp.

Bà Montse Ferrer, Giám đốc Nghiên cứu Khu vực của Amnesty International (Tổ chức Ân xá Quốc tế), nhận định:

“Làn sóng người tháo chạy khỏi các khu lừa đảo này đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo trên đường phố, nhưng đang bị chính phủ Campuchia phớt lờ.

Giữa những cảnh hỗn loạn và đau khổ, hàng ngàn người sống sót mang sang chấn đang tự xoay xở mà không có hỗ trợ của nhà nước.

Đây là khủng hoảng quốc tế trên đất Campuchia. Các nạn nhân đến từ nhiều châu lục và rất cần sự hỗ trợ lãnh sự khẩn cấp để có thể hồi hương và thoát khỏi nguy hiểm.”

Làn sóng tháo chạy gia tăng sau khi ông trùm người Trung Quốc Trần Chí (Chen Zhi) bị trục xuất ngày 6-1. Ông là người sáng lập Prince Bank tại Campuchia và đã bị một tòa án Hoa Kỳ trừng phạt, truy tố; Bộ Tư pháp Mỹ tịch thu 15 tỷ USD tài sản liên quan.

Việc chính quyền Campuchia trấn áp các băng nhóm tội phạm cũng là điều khoản quan trọng trong lệnh ngừng bắn ngày 27-12 chấm dứt cuộc xung đột biên giới kéo dài sáu tháng giữa Thái Lan và Campuchia, nổ ra sau khi Bangkok ra lệnh truy quét xuyên biên giới các trung tâm lừa đảo.

Một nạn nhân tên Mehi kể với Ân xá Quốc tế:

“Tôi bị giam trong khu phức hợp 12 tháng, luôn sợ mất mạng. Rồi một ngày, chúng tôi thức dậy và thấy quản lý đã bỏ đi, bảo vệ cũng biến mất. Cửa cổng mở toang và chúng tôi đi bộ ra ngoài.”

Một người khác cho biết đã chứng kiến một vụ giết người khi một quản lý cắt cổ nạn nhân vì cố trốn thoát. Mười người sống sót khác nói rằng cảnh sát thường xuyên ghé thăm các khu phức hợp, kể cả để đưa thi thể đi, nhưng không có hành động bảo vệ.

Amnesty cho biết đã phỏng vấn 35 người sống sót đến từ nhiều quốc gia như Brazil, Indonesia, Myanmar, Nigeria, Sierra Leone, Liberia, Uganda, Kenya, Bangladesh, Ấn Độ, Philippines và Madagascar; ước tính họ đã thoát khỏi 17 trung tâm lừa đảo.

Một nạn nhân tên Delilah, trốn thoát khỏi khu phức hợp ở Prey Veng (cách Phnom Penh khoảng 90 km về phía đông), kể:

“Nhiều người đã chết. Chúng tôi còn phải góp tiền để đưa thi thể về nước. Người bệnh thì không được giúp đỡ. Tôi nói rằng tôi không thở được…

Khi chúng tôi phá cổng thoát ra, một bảo vệ bắn chỉ thiên. Chúng tôi buộc phải trốn vì có người bệnh nặng, không muốn chết trong đó.”

Các tổ chức chống buôn người tại địa phương nói với Amnesty rằng chính phủ Campuchia không bảo vệ cũng không nhận diện đúng nạn nhân buôn người, khiến họ thiếu hỗ trợ và dễ bị các băng nhóm tội phạm có tổ chức tiếp tục khai thác.

Bà Ferrer cho biết thêm:

“Những người chúng tôi gặp rất sợ hãi. Họ muốn về nhà nhưng không có hộ chiếu, không có tiền, thậm chí không đủ mua vé máy bay.

Chính quyền Campuchia dường như không làm gì, trong khi hỗ trợ của các NGO không đủ, nhất là sau các đợt cắt giảm tài trợ trong năm qua. Chính phủ các nước của họ cần khẩn cấp vào cuộc.”

Các đại sứ quán châu Á tại Phnom Penh đang quá tải vì số nạn nhân mắc kẹt cần trợ giúp. Nhiều người nói với UCA News rằng hộ chiếu bị tịch thu, không thể rời đi vì phạt quá hạn visa, và tay trắng.

Làn sóng tháo chạy tăng tốc sau khi Bộ Công an Trung Quốc ban hành “cảnh báo cứng rắn” ngày 15-1, đề nghị khoan hồng cho những người liên quan đến Chen Zhi nếu tự nguyện đầu thú. Trước các cổng sứ quán, trong đó có lãnh sự quán Trung Quốc, hàng dài người xếp hàng, nhiều người dựng lều chờ đợi. Indonesia xác nhận hơn 2.270 công dân của họ đã trốn thoát, có thời điểm 200 người mỗi ngày.

Những phát hiện của Amnesty phù hợp với nhiều báo cáo khác, trong đó có các bài điều tra và phỏng vấn do các NGO và lực lượng cứu hộ công bố trên UCA News. Một báo cáo của Liên Hiệp Quốc từng cho biết hơn 100.000 người đã bị buôn vào 50 trung tâm lừa đảo tại Campuchia.

Khoảng 130 công dân Hàn Quốc đã được giải cứu kể từ tháng 10, trong khi chính phủ Campuchia tuyên bố hơn 3.000 người đã được giải phóng khỏi các khu phức hợp trong năm 2025.

Nguồn: UCA News; Báo cáo của Tổ chức Ân xá Quốc tếl.


 

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Gieo Mầm Ơn Gọi

Linh Mục Pietro Palazzini đang rửa bát trong nhà bếp Vatican thì nghe thấy những tiếng la hét.

Ngày 16/10/1943. Rome vừa rơi vào tay phát xít Đức được năm tuần. Pietro chạy đến cửa sổ.

Những gì ông nhìn thấy đã thay đổi cuộc đời mình mãi mãi.

Xe tải quân sự lấp đầy những con phố hẹp của khu Do Thái. Lính SS lôi các gia đình ra khỏi nhà. Trẻ em gào khóc gọi cha mẹ khi bị đẩy lên xe. Người già loạng choạng, hai tay bị trói quặt ra sau lưng.

Pietro chứng kiến hơn 1.200 người bị bắt đi. Ông hiểu rất rõ điều đó có nghĩa là gì.

Hai ngày sau, những chuyến tàu rời Rome hướng về Auschwitz. Chỉ có 16 người sống sót trở về.

Nhưng điều ám ảnh Pietro nhất là những người đã thoát được trong hỗn loạn ,các gia đình tản mác trốn chạy. Họ đang ở đâu? Họ có thể sống sót được bao lâu trong một thành phố đầy rẫy lính Đức Quốc xã?

Đêm đó, Pietro đưa ra một quyết định.

Chủng viện chỉ cách nơi lùng bắt vài dãy nhà. Những bức tường đá dày, các phòng ngủ bỏ trống ,và một thứ mà Đức Quốc xã không dễ chạm tới: sự bảo hộ của Vatican.

Pietro bắt đầu âm thầm, trò chuyện với các linh mục khác. Không lâu sau, gia đình đầu tiên xuất hiện ,một gia đình Do Thái tuyệt vọng tìm nơi trú ẩn.

Ông dẫn họ lên căn phòng tầng ba. “Ở đây các bạn sẽ an toàn,” ông nói. Nhưng chính ông cũng hiểu: sự bảo vệ của Vatican không phải là tuyệt đối.

Rồi nhiều gia đình nữa đến. Nhà Rosenberg. Nhà Cohen. Nhà Segre. Mỗi người chạy trốn, chỉ mang theo những gì kịp vơ lấy. Pietro biến chủng viện thành nơi trú ẩn bí mật. Phòng ngủ thành nơi ở. Kho chứa thành bếp. Trẻ con được dạy phải nói thì thầm ,ngay cả khi chơi đùa.

Nhưng ẩn náu thôi chưa đủ. Họ cần giấy tờ.

Pietro chưa từng làm giả giấy tờ bao giờ. Nhưng nỗi sợ là một người thầy rất nhanh. Ông nghiên cứu giấy chứng nhận rửa tội cho đến khi có thể sao chép hoàn hảo. Ông làm việc dưới ánh nến, xóa đi những danh tính cũ và tạo ra những cuộc đời mới.

Gia đình Rosenberg trở thành Romano.

Sarah Cohen trở thành Maria Colombo.

Mỗi tờ giấy là một canh bạc. Nếu bị phát hiện, cái chết là điều chắc chắn.

Mỗi ngày trôi qua là một cuộc đếm ngược. Tuần tra. Lục soát. Tin đồn. Mỗi đêm, Pietro lắng nghe, sợ hãi tiếng giày đinh vang lên trên nền đá.

Ba mươi bảy người. Mười hai đứa trẻ.

Mùa đông đến sớm. Thức ăn cạn dần. Hệ thống sưởi gần như không hoạt động. Sốt lan rộng. Cha mẹ ôm con khóc trong im lặng, hiểu rằng cuộc sống cũ đã không còn.

Nhưng họ vẫn còn sống.

Tháng Hai, Pietro nghe tin về một cuộc đột kích tại San Lorenzo ,mười hai gia đình bị phát hiện và trục xuất. Ông quen các linh mục ở đó. Những người đã đưa ra lựa chọn giống mình.

Đêm đó, nỗi sợ suýt đánh gục ông. Ông đã nghĩ đến việc yêu cầu các gia đình rời đi. Rủi ro quá lớn.

Nhưng rồi bé Sarah ,giờ là Maria ,đưa cho ông một bức vẽ: hình ảnh chủng viện, phía dưới là hai từ viết nguệch ngoạc:

“Ngôi nhà an toàn.”

Pietro giữ bức vẽ ấy suốt phần đời còn lại.

Đến mùa xuân, hy vọng xuất hiện. Quân Đồng minh đang tiến gần. Các gia đình bắt đầu dám nói về “sau này”.

Ngày 4/6/1944, xe tăng Mỹ tiến vào Rome.

Pietro đứng trước cổng chủng viện khi các gia đình bước ra ánh sáng lần đầu tiên sau tám tháng. Họ khóc. Họ ôm chầm lấy ông, hứa sẽ không bao giờ quên.

Ba mươi bảy người bước vào với thân phận kẻ chạy trốn.

Họ rời đi với tư cách những người sống sót.

Sau chiến tranh, Pietro trở lại cuộc sống bình thường: giảng dạy chủng sinh, lo những công việc thường nhật. Năm 1973, Giáo Hoàng Paul VI phong ông làm Hồng y.

Pietro hiếm khi nhắc đến chiến tranh. Ngay cả khi các nhà báo tìm đến “vị linh mục anh hùng”, ông vẫn kín tiếng.

Ông mang ký ức ấy một mình ,tiếng trẻ con khóc, những giấy tờ giả trong túi áo, và gương mặt của những người không kịp đến cửa ông đúng lúc.

Năm 1985, khi 73 tuổi, Israel vinh danh ông là Người Công Chính giữa các Dân Tộc. Ông gặp lại những người mình từng che chở và bế trên tay những đứa cháu ,tương lai được tạo nên từ những lựa chọn của ông.

“Tôi chỉ làm điều mà bất kỳ ai cũng nên làm,” ông nói.

Nhưng ai cũng biết đó không phải là sự thật giản đơn.

Không phải ai cũng dám liều mạng vì người xa lạ.

Không phải ai cũng biến nơi làm việc thành nơi trú ẩn.

Không phải ai cũng tạo dựng lại những cuộc đời khi Đức Quốc xã đang tuần tra ngoài kia.

Pietro Palazzini qua đời năm 2000, hưởng thọ 88 tuổi ,56 năm sau ngày những chuyến xe lăn bánh về Auschwitz.

Tại lễ tang của ông, người đứng lên phát biểu không phải là các Hồng y hay chức sắc cao cấp.

Mà là những gia đình.

Những đứa trẻ năm xưa giờ đã là người lớn. Những người từng thì thầm tên thật của mình sau cánh cửa chủng viện, nay bế trên tay chính các cháu của họ.

Họ nói về một linh mục trẻ đã chọn mở cửa giúp người khác, vào thời điểm mà quay lưng làm ngơ mới là lựa chọn an toàn và dễ dàng nhất.

Pietro Palazzini chưa bao giờ chắc chắn rằng mình đã cứu được đủ người. Ông mang theo suốt đời nỗi day dứt về những người không kịp gõ cửa. Nhưng có một điều không thể phủ nhận:

Ba mươi bảy con người đã sống sót vì ông đã hành động.

Và từ ba mươi bảy sinh mạng ấy, hàng chục, rồi hàng trăm cuộc đời khác đã được sinh ra.

Họ mang theo ký ức, sự sống và lòng can đảm ấy đi tiếp.

Điều đó quan trọng hơn mọi danh hiệu.

Quan trọng hơn mọi lời ca ngợi.

Vì trong một thời đại mà im lặng đồng nghĩa với an toàn,

Pietro Palazzini đã chọn can đảm.

Và nhờ vậy, lịch sử có thêm những người được sống.

(Theo Inspire Daily )


 

Chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

My Lan Pham

Trong suốt bốn năm dài, một người phụ nữ ngồi lặng lẽ trong một bảo tàng ở Paris, trong khi phát xít Đức cướp bóc hàng nghìn tác phẩm nghệ thuật ngay xung quanh bà.

Chúng không bao giờ ngờ rằng bà hiểu từng lời chúng nói.

Tháng 10 năm 1940. Bảo tàng Jeu de Paume vừa bị chiếm đóng và biến thành trung tâm đầu não của mạng lưới buôn bán nghệ thuật bị cướp bóc: tại đây, những kiệt tác bị tước đoạt từ các gia đình Do Thái được phân loại trước khi chuyển về Đức.

Và người phụ nữ tưởng chừng tầm thường vẫn tiếp tục làm việc giữa những bức tường ấy là ai?

Đối với chúng, bà vô hình. Chỉ là một nhân viên quèn. Im lặng. Vô hại.

Nhưng chúng đã nhầm.

Bà tên là Rose Valland. Khi đó bà 42 tuổi, được đào tạo tinh hoa tại Sorbonne và École du Louvre, nhưng lúc ấy chỉ mang danh một tình nguyện viên không lương — ít nhất là bề ngoài.

Thực chất, bà đã chấp nhận một sứ mệnh có thể khiến mình mất mạng: ở lại, quan sát và ghi chép mọi tội ác.

Trong khi phát xít đóng gói tranh của Cézanne, Monet, Renoir như những món hàng vô tri, bà âm thầm ghi chép.

Ngày qua ngày, Hermann Göring — cánh tay phải của Hitler — đã đến bảo tàng 21 lần để chọn những tác phẩm treo trong lâu đài của hắn. Rose luôn ở đó. Trông có vẻ phục tùng, nhưng thực chất là tỉnh táo và quan sát từng chi tiết.

Bà nói tiếng Đức hoàn hảo. Nhưng không ai biết điều đó.

Bà ghi lại số toa tàu, tuyến đường sắt, tên người, từng chi tiết nhỏ. Ban đêm, bà viết tất cả vào những cuốn sổ bí mật. Nếu bị phát hiện, bà sẽ bị xử bắn như một gián điệp.

Thế nhưng, bà chưa từng dừng lại. Bà chuyển thông tin cho lực lượng Kháng chiến, cứu được nhiều đoàn tàu và những kho báu vô giá khỏi bị hủy hoại.

Tháng 7 năm 1943, bà chứng kiến điều không tưởng: 500 bức tranh của Picasso, Miró, Klee bị phát xít thiêu rụi trên mái bảo tàng, bị gán nhãn là “nghệ thuật suy đồi”.

Rose không thể làm gì. Nhưng bà không quay mặt đi. Bà ghi nhận mất mát ấy và tiếp tục bước tiếp.

Năm 1944, khi phát xít tìm cách tháo chạy cùng chiến lợi phẩm, Rose biết mọi thứ: số thùng, điểm đến, giờ tàu chạy. Bà cung cấp toàn bộ cho Kháng chiến. Đoàn tàu bị chặn lại. Nghệ thuật được cứu.

Thế nhưng sau khi Paris được giải phóng, bà lại bị bắt: có nghi ngờ đối với những ai từng làm việc dưới thời chiếm đóng.

Rồi sự thật được phơi bày — và gây chấn động.

Rose sở hữu một hồ sơ tỉ mỉ: hơn 20.000 tác phẩm được ghi lại với ngày tháng, địa điểm và lộ trình. Một bản đồ kho báu để thu hồi những gì đã bị cướp đoạt.

Năm 1945, bà được phong hàm trung úy quân đội Pháp.

Bà từ chối mọi đặc quyền. Bà trực tiếp tham gia các nhiệm vụ thu hồi cùng nhóm Monuments Men. Nhờ bà, các kho cất giấu bí mật trong lâu đài, mỏ đá và boongke đã được phát hiện.

Năm 1946, tại các phiên tòa Nürnberg, Rose đứng lên đối diện Hermann Göring.

Chính người đàn ông đã phớt lờ bà suốt nhiều năm. Và bà đánh gục hắn bằng những bằng chứng chi tiết.

Cuối cùng, bà đóng vai trò then chốt trong việc thu hồi 60.000 tác phẩm nghệ thuật, trong đó 45.000 được trả lại cho chủ nhân hợp pháp.

Rose Valland chưa từng cầm súng.

Không đặt bom.

Không có hành động phô trương.

Sự kháng cự của bà là sự im lặng.

Nhưng mỗi dòng ghi chép là một hành động phản kháng.

Mỗi ánh nhìn là một nhát dao vào trái tim của chế độ.

Và chính trong sự vô hình ấy, bà đã cứu lấy ký ức của cả một dân tộc.

Chia sẻ từ Magazine Fanpage

My Lan Phạm


 

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn…

My Lan Pham

Cô bé ấy từng bị bán với giá 5 đô la trong một trại tị nạn, rồi sau đó trở thành người phụ nữ khiến cả thế giới phải dừng lại và lắng nghe.

Trước khi là Waris Dirie, cô chỉ là một bé gái du mục trong sa mạc Somalia, một trong mười hai người con sinh ra trong một gia đình sống nay đây mai đó cùng lạc đà và dê, tồn tại nhờ sữa và sức chịu đựng. Khi mới năm tuổi, mẹ cô giữ chặt cô lại trong khi một người phụ nữ khác dùng dao lam thực hiện cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Không có thuốc mê. Không có bệnh viện. Chỉ có nỗi đau không thể tưởng tượng nổi ,  nỗi đau sẽ ám ảnh cơ thể cô suốt cả đời.

Năm mười ba tuổi, cha cô thông báo rằng cô sẽ bị gả cho một người đàn ông sáu mươi tuổi để đổi lấy năm con lạc đà. Waris đã đưa ra một lựa chọn lẽ ra có thể giết chết cô: cô bỏ trốn, một mình, băng qua sa mạc Somalia vào ban đêm. Cô đi bộ suốt nhiều tuần lễ không thức ăn, không nước uống, không bản đồ. Cô bị sư tử rượt đuổi. Suýt chết vì mất nước. Nhưng cô vẫn tiếp tục bước đi, được thúc đẩy bởi thứ mạnh mẽ hơn cả nỗi sợ ,sự từ chối chấp nhận cuộc đời mà người khác đã áp đặt lên mình.

Cuối cùng, cô đến được Mogadishu, rồi sang London, nơi cô sống cùng những người họ hàng xa và làm giúp việc nhà. Cô không biết tiếng Anh. Không có học vấn. Ban ngày cô lau dọn nhà cửa, ban đêm tự học đọc chữ. Và rồi, trong một khoảnh khắc tưởng chừng như không thể có thật, cô được một nhiếp ảnh gia thời trang phát hiện khi đang làm việc tại McDonald’s vào năm 1987.

Chỉ trong vài tháng, Waris Dirie trở thành siêu mẫu quốc tế, xuất hiện trên trang bìa của Vogue, Elle và Glamour. Cô sải bước trên các sàn diễn ở Paris, Milan và New York. Cô xuất hiện trong một bộ phim James Bond. Thế giới thời trang tôn vinh vẻ đẹp lạ lẫm của cô, những đường nét sắc sảo, và sự “lột xác” ngoạn mục từ vô danh thành nổi tiếng toàn cầu.

Nhưng Waris mang trong mình một bí mật mà cô chưa từng kể với bất kỳ ai trong cuộc sống mới ấy. Những vết sẹo thể xác và tinh thần từ nạn cắt xén sinh dục nữ vẫn còn đó. Chấn thương luôn hiện diện, ẩn dưới những bộ váy hàng hiệu và ánh đèn máy ảnh. Và cô không thể ngừng nghĩ đến hàng triệu bé gái khác đang phải chịu đựng điều mà cô đã sống sót.

Năm 1997, ở đỉnh cao sự nghiệp người mẫu, Waris đã làm một việc khiến cả ngành thời trang chấn động: cô công khai nói về nạn cắt xén sinh dục nữ trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Marie Claire. Cô kể với cả thế giới chính xác những gì đã xảy ra với mình khi mới năm tuổi. Cô mô tả nỗi đau, những biến chứng y tế kéo dài suốt đời, và tổn thương tâm lý. Cô gọi tên một tập tục đã được che giấu trong im lặng văn hóa suốt nhiều thế kỷ.

Phản ứng từ công chúng là cực kỳ dữ dội. Người quản lý của cô cảnh báo rằng sự nghiệp của cô sẽ kết thúc. Một số người trong cộng đồng của cô cáo buộc cô phản bội văn hóa Somalia. Nhưng cũng có một điều khác xảy ra: phụ nữ trên khắp thế giới bắt đầu lên tiếng. Những người sống sót bắt đầu chia sẻ câu chuyện của họ. Tập tục vốn được bảo vệ bởi sự xấu hổ và im lặng bỗng dưng bị đưa vào ánh sáng toàn cầu.

Waris không dừng lại. Năm 1997, cô trở thành Đại sứ Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về việc loại bỏ nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ. Cô viết tự truyện Desert Flower, trở thành bestseller quốc tế và sau đó được chuyển thể thành phim. Năm 2002, cô thành lập Quỹ Desert Flower, dành riêng cho việc loại bỏ FGM và giúp những người sống sót tiếp cận chăm sóc y tế và tâm lý.

Hoạt động vận động của cô đã góp phần thay đổi luật pháp. Nhiều quốc gia châu Âu tăng cường luật chống FGM. Các quốc gia châu Phi lâu nay phớt lờ vấn đề bắt đầu ban hành lệnh cấm. Liên Hợp Quốc cũng đã công bố ngày 6 tháng 2 là Ngày Quốc tế “Không khoan nhượng” đối với nạn cắt xén bộ phận sinh dục nữ, một phần nhờ vào chiến dịch không mệt mỏi của cô.

Bạn có thể tưởng tượng đứng trên sàn diễn thời trang, nơi mọi người tôn vinh cơ thể bạn, trong khi bạn mang trong mình nỗi biết rằng thứ gì đó đã bị tước đoạt một cách bạo lực? Bạn có thể tưởng tượng đánh đổi tất cả những gì bạn đã xây dựng để nói ra một sự thật khiến người ta cảm thấy khó chịu?

Những con số chỉ phản ánh một phần câu chuyện: ước tính có khoảng 200 triệu bé gái và phụ nữ hiện đang sống đã trải qua FGM. Nhưng nhờ Waris và phong trào mà cô giúp khởi xướng, tỷ lệ này đang giảm. Ở một số quốc gia, tập tục này đã giảm hơn một nửa chỉ trong một thế hệ.

Waris Dirie không chỉ sống sót qua chấn thương ,cô đã biến nó thành một phong trào toàn cầu. Cô biến nỗi đau vốn định im lặng thành tiếng nói cho hàng triệu người. Cô chứng minh rằng đôi khi điều mạnh mẽ nhất bạn có thể làm là từ chối giữ bí mật xấu hổ của người khác.

Ngày nay, cô tiếp tục công việc vận động, chia thời gian giữa châu Âu và châu Phi. Cô không còn là cô bé mười ba tuổi sợ hãi chạy qua sa mạc. Cô cũng không chỉ là siêu mẫu rời bỏ danh vọng. Cô là người phụ nữ đã nhìn thẳng vào hàng thế kỷ bạo lực được bình thường hóa và nói: “Chuyện này kết thúc ở thế hệ của tôi.”

Cô từng bị bán với giá năm con lạc đà. Rồi cô trở thành vô giá.

Chia sẻ từ trang Virgins

My Lan Phạm


 

 Trong trại tử thần, họ cho ông một con số: 119104

My Lan Pham

Nhưng điều mà họ cố giết chết nhất lại chính là thứ đã cứu sống hàng triệu con người.

Năm 1942. Vienna.

Viktor Frankl 37 tuổi, là một bác sĩ tâm thần được kính trọng, có phòng khám riêng đang phát triển, một bản thảo gần hoàn thành, và một người vợ tên Tilly với tiếng cười có thể làm bừng sáng cả căn phòng.

Ông có cơ hội trốn sang Mỹ.

Một tấm visa.

Một lối thoát.

Nhưng cha mẹ ông đã già và không thể đi cùng.

Vì thế, ông ở lại.

Chỉ vài tháng sau, Đức Quốc xã ập đến bắt tất cả.

Theresienstadt. Rồi Auschwitz. Rồi Dachau.

Bản thảo mà ông đã dành nhiều năm viết , được khâu cẩn thận vào lớp lót áo khoác ,bị giật mất chỉ vài giờ sau khi ông đến trại.

Công trình cả đời.

Mục đích sống.

Bị thiêu rụi thành tro.

Quần áo bị tước đi.

Tóc bị cạo sạch.

Tên tuổi bị xóa bỏ.

Trên tờ giấy nhập trại, chỉ còn một con số: 119104.

Nhưng có một điều mà lính canh không hiểu:

Bạn có thể lấy đi bản thảo của một người đàn ông.

Bạn có thể lấy đi tên tuổi của ông.

Bạn có thể lấy đi mọi thứ ông sở hữu.

Nhưng bạn không thể lấy đi điều ông biết.

Và Viktor Frankl biết một điều về tâm trí con người ,thứ đã giữ ông sống sót và khai sinh ra một cuộc cách mạng trong tâm lý học.

Ông nhận ra một quy luật.

Trong các trại tập trung, con người không chỉ chết vì đói hay bệnh tật.

Họ chết vì buông xuôi.

Khoảnh khắc một tù nhân đánh mất lý do để sống , cái “tại sao” của mình , cơ thể họ sẽ suy sụp chỉ trong vài ngày.

Các bác sĩ gọi hiện tượng này là: “bệnh bỏ cuộc”.

Nhưng những người bám víu vào một điều gì đó , một người vợ để tìm lại, một đứa con để gặp lại, một cuốn sách chưa viết xong, một món nợ cần trả, một lời hứa phải giữ họ chịu đựng được những đau khổ không tưởng.

Sự khác biệt không nằm ở thể lực.

Mà ở ý nghĩa sống.

Vì thế, Frankl bắt đầu một thí nghiệm.

Không phải trong phòng thí nghiệm.

Mà trong các barrack.

Ông tiếp cận những người đang bên bờ tuyệt vọng và thì thầm:

“Có ai đang chờ anh không?”

“Công việc nào của anh còn dang dở?”

“Nếu là con trai anh, anh sẽ nói gì để nó sống sót qua điều này?”

Ông không thể cho họ thức ăn.

Không thể hứa hẹn tự do.

Ông chẳng có gì vật chất để trao.

Nhưng ông trao cho họ thứ mà lính canh không bao giờ tịch thu được:

một lý do để sống đến ngày mai.

Một người nhớ đến con gái mình. Anh sống sót và tìm lại được con.

Một người khác nhớ đến một vấn đề khoa học còn dang dở. Anh sống sót để giải quyết nó.

Còn Frankl , ông sống sót bằng cách tái dựng bản thảo đã mất trong tâm trí, từng trang, từng đoạn, trong bóng tối của trại giam.

Tháng 4 năm 1945. Giải phóng.

Viktor Frankl chỉ còn nặng 38 kg.

Xương sườn lộ rõ dưới làn da.

Tilly đã mất.

Mẹ ông đã mất.

Anh trai ông đã mất.

Mọi thứ ông yêu thương đều đã bị sát hại.

Ông có mọi lý do để tuyệt vọng. Mọi lý do để buông xuôi.

Nhưng thay vào đó, ông ngồi xuống và bắt đầu viết.

Chín ngày.

Chỉ mất chín ngày để ông tái tạo toàn bộ bản thảo từ trí nhớ , bản thảo mà Đức Quốc xã đã phá hủy ba năm trước.

Nhưng lần này, nó có thêm một điều mà bản gốc chưa từng có:

Bằng chứng.

Bằng chứng sống động, không thể chối cãi rằng lý thuyết của ông là đúng.

Ông gọi nó là Liệu pháp ý nghĩa (Logotherapy) ,chữa lành bằng ý nghĩa sống.

Nền tảng của nó đơn giản nhưng mang tính cách mạng:

Con người có thể sống sót qua hầu như mọi thứ, nếu họ có một lý do “tại sao”.

“Ai có lý do để sống thì có thể chịu đựng gần như mọi hoàn cảnh.”

(Ông mượn câu nói của Nietzsche ,nhưng ông đã chứng minh nó trong địa ngục.)

Năm 1946. Cuốn sách được xuất bản.

Bản tiếng Đức có tựa đề:

“…trotzdem Ja zum Leben sagen”

“…Dẫu vậy, vẫn nói Có với cuộc đời.”

Bản tiếng Anh mang tên: “Man’s Search for Meaning”

(Đi tìm lẽ sống).

Ban đầu, thế giới chưa sẵn sàng đón nhận nó.

Nhiều nhà xuất bản từ chối:

“Quá u ám”, họ nói.

“Ai muốn đọc về trại tập trung chứ?”

Nhưng rồi, chậm rãi, lặng lẽ, cuốn sách lan tỏa.

Các nhà trị liệu đọc và bật khóc.

Tù nhân đọc và tìm thấy hy vọng.

Những người đối diện với ly hôn, bệnh tật, phá sản, trầm cảm ,họ đọc và nhận ra rằng nỗi đau của mình có thể mang ý nghĩa.

Tác động của nó là chấn động.

Cuốn sách được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ.

Bán hơn 16 triệu bản.

Thư viện Quốc hội Mỹ xếp nó vào 10 cuốn sách có ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ.

Nhưng điều quan trọng hơn những con số bán ra là điều này:

Vô số con người ,những người mà chúng ta sẽ không bao giờ biết tên — đã cầm cuốn sách này trong khoảnh khắc tăm tối nhất của đời mình và tìm được lý do để tiếp tục sống.

Bởi vì Viktor Frankl đã chứng minh một điều mà Đức Quốc xã muốn phủ nhận:

Bạn có thể tước đi mọi thứ của một con người —

tự do, gia đình, thức ăn, tương lai, hy vọng —

nhưng vẫn còn một tự do cuối cùng không ai có thể lấy được:

Tự do lựa chọn ý nghĩa của tất cả những điều đó.

Bạn không thể kiểm soát những gì xảy đến với mình.

Nhưng bạn luôn có thể kiểm soát cách bạn đối diện với nó.

Hôm nay, Viktor Frankl đã không còn.

Nhưng trong phòng bệnh, trong phòng trị liệu, trong nhà tù, trong những khoảnh khắc yên lặng khi ai đó đang phân vân giữa bỏ cuộc hay tiếp tục — lời của ông vẫn ở đó:

“Khi ta không còn khả năng thay đổi hoàn cảnh, ta được thách thức để thay đổi chính mình.”

“Mọi thứ có thể bị lấy đi khỏi một con người, ngoại trừ một điều:

tự do cuối cùng của con người ,lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào.”

Đức Quốc xã cho ông một con số.

Lịch sử trao cho ông sự bất tử.

Bởi vì người đàn ông mất tất cả đã dạy cho thế giới rằng:

ý nghĩa là thứ không ai có thể cướp đi.

Tù nhân 119104 không chỉ sống sót.

Ông biến chính nỗi đau thành nguồn chữa lành.

Và đâu đó tối nay, sẽ có một người đang ở bên bờ sụp đổ đọc những dòng chữ của ông ,và quyết định cố gắng thêm một ngày nữa.

Đó không chỉ là sự sống sót.

Đó là chiến thắng trước cái chết.

Chia sẻ từ trang Native American Heritage

My Lan Phạm


 

Giáo Chủ Ali Khamenei trước chén rượu độc-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

January 19, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Trong khi bộ máy an ninh Iran truy bắt và giết ít nhất 5,000 người biểu tình tính đến ngày 18 Tháng Giêng, bản thân Giáo Chủ (Ayatollah) Ali Khamenei 86 tuổi phải trốn mất biệt vào hầm bí mật. Ông luôn là mục tiêu số một của điệp viên Mossad (Israel); và với sự kiện biệt kích Mỹ bắt sống Tổng Thống Venezuela Nicolás Maduro vẫn còn nóng hổi, Ali Khamenei càng phải trốn kỹ. Tuy nhiên, việc bảo vệ sinh mạng Ali Khamenei xem ra còn dễ hơn so với việc bảo vệ một chế độ đang chao đảo trên bờ vực.

Một người biểu tình ở London, Anh Quốc, hôm 14 Tháng Giêng, đốt hình Giáo Chủ Ali Khamenei. (Hình minh họa: Dan Kitwood/Getty Images)

Chén rượu khó nuốt

Lịch sử Iran đang đứng trước khúc quanh định mệnh. Sau gần bốn thập niên cầm quyền, Giáo Chủ Ali Khamenei – người nắm giữ quyền lực tuyệt đối tại quốc gia Hồi Giáo này – đang đối mặt với những thách thức mang tính tồn vong mà ngay cả những người lạc quan nhất trong hàng ngũ trung thành cũng phải lo sợ. Chế độ thần quyền mà Ali Khamenei xây dựng, dựa vào nền móng “bê tông cốt thép” của người tiền nhiệm – Giáo Chủ Ruhollah Khomeini – tưởng vững như bàn thạch giờ đây đang rung bần bật từng ngày trước cơn địa chấn phẫn nộ của hàng triệu người dân.

Khi Giáo Chủ Khomeini qua đời năm 1989, Ali Khamenei – tổng thống Iran từ 1981 đến 1989 – nổi lên như ứng cử viên bộ máy thần quyền ủng hộ cho vị trí lãnh đạo tối cao. Là giáo sĩ cấp trung, Ali Khamenei thiếu những bằng cấp tôn giáo cao quý cần thiết cho vai trò mới. Do vậy, giới tăng lữ đã phong ông làm “ayatollah” (giáo chủ, không phải “đại giáo chủ” – grand ayatollah – như một số báo viết). Năm 1994, ông được nâng lên vị trí “marja” – một “giáo hoàng” trong thế giới Hồi Giáo, được xem là “tấm gương” để tất cả tín đồ Hồi giáo noi theo. Ngoài ra, Ali Khamenei còn mang danh hiệu “Vali Faqih” – người giám hộ cao nhất của đức tin Hồi Giáo Shia.

Khi quyền lực trong tay, Ali Khamenei trở thành tiếng nói cuối cùng trong mọi vấn đề. Ông kiểm soát tuyệt đối hệ thống tư pháp; bổ nhiệm người đứng đầu đài truyền hình nhà nước; đích thân chọn các thành viên Hội Đồng Giám Hộ chịu trách nhiệm xem xét các ứng cử viên “dân cử.” Ali Khamenei cũng bổ nhiệm các vị trí chủ chốt trong nội các, đặc biệt bộ trưởng Nội Vụ, Quốc Phòng, Ngoại Giao và Tình Báo. Bộ máy chỉ huy Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng và Basij (lực lượng vũ trang được thành lập như một kiểu dân quân) cũng phải được ông chỉ định.

Bằng cách này, Ali Khamenei vượt qua mọi bão táp thời đại suốt gần 40 năm, từ áp lực cấm vận của phương Tây đến nhiều đợt nổi dậy của người dân. Tuy nhiên, lần này, ngay cả khi lực lượng an ninh có thể dập tắt làn sóng biểu tình, Ali Khamenei cũng đang cạn kiệt khả năng xoay sở chính trị. Nếu không chấp nhận thỏa hiệp và thay đổi, ông sẽ đối mặt với hiểm họa mà không chỉ cá nhân ông không thể toàn mạng mà chế độ thần quyền cũng có nguy cơ sụp đổ.

Iran chỉ có thể giải quyết các vấn đề kinh tế – nguyên nhân dẫn đến sự phẫn nộ công chúng – nếu các lệnh trừng phạt quốc tế được dỡ bỏ. Để có điều này, trước hết Ali Khamenei phải giảm hoặc ngưng các chương trình phát triển nguyên tử năng. Tuy nhiên, việc từ bỏ chương trình nguyên tử năng không khác gì giương cờ đầu hàng. Tình cảnh Ali Khamenei khiến người ta nhớ đến một quyết định khó khăn mà người tiền nhiệm của ông, Giáo Chủ Ruhollah Khomeini, từng đối mặt. Lúc đó, Ruhollah Khomeini mô tả viễn cảnh một thỏa thuận ngừng bắn với Iraq là điều nhục nhã chẳng khác gì bị ép phải uống chén rượu độc. Cuối cùng, Ruhollah Khomeini phải “uống,” khi không có lựa chọn nào khác ngoài việc ngừng chiến với Iraq vào năm 1988 sau tám năm giao tranh tàn khốc.

Ai thay thế Ali Khamenei?

Áp lực nội tại lên Teheran là rất lớn. Không chỉ chính trị. Tháng Mười Một, Tổng Thống Masoud Pezeshkian nói rằng Iran có thể phải “dời đô” vì Teheran gần như không thể chịu nổi cuộc khủng hoảng nguồn nước. Dù là một trong những quốc gia giàu dầu mỏ nhất thế giới, Iran không còn khả năng cung cấp điện cho người dân 24 giờ một ngày. Tổng Thống Pezeshkian phải thốt lên: “Ai làm được gì thì làm đi. Tôi chịu hết nổi rồi. Đừng nguyền rủa tôi.”

Tình hình kinh tế tồi tệ xảy ra đúng vào thời điểm “vận rủi” liên tục bủa vây Ali Khamenei, đặc biệt từ sau cuộc tấn công của Hamas vào Israel ngày 7 Tháng Mười, 2023. Chiến dịch quân sự trả đũa khốc liệt của Israel và Mỹ đã gây thiệt hại vô kể cho Iran. Nhiều nhân vật thân cận Ali Khamenei bị giết. Các nhà máy nguyên tử năng bị phá tan tành. Một trong những đồng minh quan trọng nhất của Ali Khamenei – Tổng Thống Syria Bashar al-Assad – phải trốn sang Nga.

Muốn hay không, người ta không thể không tính đến “hậu sự” cho Ali Khamenei. Lãnh đạo đầu tiên của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran, Ruhollah Khomeini, qua đời ở tuổi 86. Ali Khamenei bước sang tuổi 87 vào Tháng Tư. Vấn đề là việc thay thế nhà lãnh đạo tối cao không hề đơn giản.

Ali Khamenei không phải là một “viên chức” hay “nguyên thủ.” Ông là nhân vật tôn giáo, tự nhận mình có vị thế chẳng khác gì Giáo Hoàng Công Giáo, cai quản hàng triệu người Hồi Giáo Shia khắp thế giới. Hàng chục năm qua, không chỉ cai trị quốc gia bằng bàn tay sắt, Ali Khamenei còn loại bỏ bất kỳ giáo sĩ nào có thể tranh giành vị trí “ayatollah.” Hiện khoảng 20% cử tri trong 61 triệu dân vẫn trung thành ủng hộ chế độ thần quyền.

Bản thân Ali Khamenei ý thức được sự mong manh của ông. Giữa năm 2025, khi chiến dịch ám sát của Israel khiến nhiều viên chức cấp cao Iran thiệt mạng, từ trong hầm trú bí mật, Ali Khamenei đã chọn người thay thế ông (“Sheltering in a Bunker, Iran’s Supreme Leader Prepares for the Worst”/The New York Times). Ông đã chỉ thị Hội Đồng Chuyên Gia (Majles-e Khobregan – cơ quan đặc biệt có vai trò then chốt trong cấu trúc quyền lực của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran) chọn người kế nhiệm từ ba cái tên mà ông đưa ra. Chẳng ai có thể biết chính xác người nào đã được chọn.

Hội Đồng Chuyên Gia (Majles-e Khobregan) gồm 88 giáo sĩ được chọn ra trong các cuộc bầu cử toàn quốc tám năm một lần. Một nguồn tin chính trị cấp cao ở Teheran nói với Amwaj.media: “Khi Imam [lãnh đạo cách mạng Ayatollah Ruhollah Khomeini] qua đời [năm 1989], người kế nhiệm đã được bầu trong vòng 24 giờ. Chúng tôi có các thủ tục sẵn có, chẳng hạn triệu tập một hội đồng để chọn người kế nhiệm, để bảo đảm quá trình chuyển giao có trật tự.”

Vấn đề kế vị giáo chủ Iran luôn là chủ đề tế nhị và gai góc, gần như không bao giờ được thảo luận công khai ngoài những suy đoán và tin đồn hành lang. Theo The New York Times, con trai của Giáo Chủ Ali Khamenei, Mojtaba – bản thân cũng là giáo sĩ và rất thân cận với Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo, từng được đồn đoán là ứng cử viên hàng đầu – không nằm trong danh sách này. Cựu Tổng Thống Ibrahim Raisi, trước đây cũng được xem là ứng cử viên sáng giá, nhưng ông đã thiệt mạng trong một tai nạn trực thăng vào năm 2024.

Iran giai đoạn “hậu Ali Khamenei”

Một khi Ali Khamenei ra đi, chuyện gì sẽ xảy ra? Theo Karim Sadjadpour (thuộc Carnegie Endowment for International Peace) trong bài viết trên Foreign Affairs (“The Autumn of the Ayatollahs”), hệ tư tưởng toàn trị của Cộng Hòa Hồi Giáo có thể sụp đổ thành chủ nghĩa độc tài chuyên chế vốn là đặc trưng của nước Nga hậu Xô Viết. Hoặc Iran tương tự Trung Quốc sau cái chết Mao Trạch Đông, tức tái điều chỉnh hệ thống bằng cách thay thế hệ tư tưởng cứng nhắc bằng lợi ích quốc gia thực dụng. Tuy vậy, Teheran cũng có thể tiếp tục cai trị bằng bàn tay sắt và duy trì chính sách cô lập, với mức độ thậm chí nghiêm trọng hơn, tương tự Bắc Hàn.

Trước mắt, có vẻ như Iran khó có thể chứng kiến làn sóng dân chủ. Điều này một phần do yếu tố lịch sử của họ. Trong quá khứ, Iran luôn tự hào họ thừa kế một đế chế vĩ đại nhưng lại bị nhiều vết nhục lịch sử “ám quẻ” lên dân tộc mình. Thế kỷ 19, Iran mất gần một nửa lãnh thổ vào tay những láng giềng hung hãn và phải nhượng lại cho Nga vùng Caucasus (trong đó có Armenia, Azerbaijan, Georgia và Dagestan ngày nay), rồi nhường Herat cho Afghanistan dưới áp lực của Anh. Đến đầu thế kỷ 20, Nga và Anh lại chia cắt Iran thành những khu vực riêng của họ. Còn nữa, năm 1953, Mỹ và Anh đã dàn dựng cuộc đảo chính lật đổ Thủ Tướng Mohammad Mosaddeq.

Với những thăng trầm như vậy, Iran sản sinh nhiều thế hệ lãnh đạo luôn nghi kỵ. Họ nhìn thấy âm mưu mọi nơi, trong lẫn ngoài. Ở Trung Đông, Teheran luôn có thái độ dè chừng với láng giềng. Với phương Tây, họ càng ác cảm, đặc biệt Mỹ, nơi từng “chơi” họ nhiều vố đau điếng trong quá khứ lẫn luôn có thái độ thù địch với họ ở hiện tại. Tâm lý nghi kỵ này ăn sâu vào huyết mạch nền chính trị Iran. Nó giải thích một phần lý do tại sao Iran chọn đứng một mình.

Quá trình chuyển đổi chế độ độc tài thường khó đoán. Dù vậy, cái chết hoặc sự mất khả năng điều hành của Ali Khamenei chắc chắn là yếu tố kích hoạt mạnh nhất cho sự thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh Iran hứng chịu các cú sốc bên ngoài lẫn bên trong. Vấn đề bây giờ không phải là người Iran có thật sự muốn thay đổi hay không mà là không có ai để họ có thể tin và dựa vào. Phe đối lập gần như không tồn tại ở đất nước này.

Với Ali Khamenei, có thể ông sẽ không giống người tiền nhiệm Ruhollah Khomeini. Cho đến thời điểm này, có vẻ như Ali Khamenei sẵn sàng đá văng chén rượu độc trước mặt. Ông chấp nhận “đấu” đến cùng với người dân mình lẫn với ngoại bang còn hơn chịu thỏa hiệp để thay đổi. [kn]


 

Triết gia Nga khuyên Putin hãy quăng bỏ luật quốc tế như ý Trump

Hai Phan

Triết gia Nga khuyên Putin hãy quăng bỏ luật quốc tế như ý Trump: chia 3 thế giới, sẵn sàng bom nguyên tử, đưa xe tăng Nga chiếm thêm 7 nước Armenia, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan và Kyrgyzstan bên cạnh Ukraine.

Theo tin từ báo The Daily Express: Nga được khuyên “hãy quăng bỏ luật pháp quốc tế” và hãy tuyên bố chủ quyền đối với những vùng đất mới trong kế hoạch bành trướng mới. Bài viết của hai phóng viên Will Stewart, John O’Sullivan.

Đồng minh trí thức khét tiếng nhất của Vladimir Putin đã công khai tuyên bố Nga nên xâm lược thêm bảy quốc gia có chủ quyền khác ngoài Ukraine.

Alexander Dugin – nhà tư tưởng cực đoan thường được gọi là “bộ não của Putin” – lập luận rằng Điện Kremlin phải tận dụng tham vọng của Donald Trump đối với Greenland làm lý do để tạo ra một đế chế Nga mở rộng rộng lớn.

Nhà triết học này đã thúc giục Moscow xây dựng lại phần lớn Liên Xô cũ và cố tình từ bỏ các chuẩn mực pháp lý toàn cầu trong quá trình đó. Dugin thậm chí còn ám chỉ sẵn sàng sử dụng vũ lực hạt nhân để đạt được mục tiêu của Nga. Điều này diễn ra sau khi một người đọc khẩu hình tiết lộ lời hứa 3 từ đáng sợ mà Donald Trump đã thì thầm vào tai Vladimir Putin.

“Nga buộc phải làm điều gì đó khủng khiếp để khôi phục uy tín của mình,” Dugin viết trên X.

“Thật đáng buồn khi chúng ta phải sử dụng những lập luận như vậy. Nhưng chúng ta không có lựa chọn nào khác. Chỉ có sự tàn bạo, vũ lực, sự hủy diệt hàng loạt và sự tàn ác mới có ý nghĩa trong thế giới kiểu Trump.”

Theo những gì ông mô tả là một trật tự toàn cầu mới do Trump dẫn dắt, Dugin nói rằng các sư đoàn thiết giáp của Nga nên tiến vào Armenia, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan và Kyrgyzstan – các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ hiện là các quốc gia độc lập. Ông tuyên bố việc sáp nhập các quốc gia này sẽ giúp Nga có thêm 27% lãnh thổ so với toàn bộ Liên minh châu Âu, đồng thời đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ.

Dugin tuyên bố: “Trong tình huống này, chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố Nga là một đế chế [và] vứt bỏ luật pháp quốc tế. Bây giờ tất cả những gì còn lại là thừa nhận [thực tế mới] và bắt đầu hành động – tôi sẽ nói, giống như Trump, bởi vì chúng ta không có lựa chọn nào khác.

“Vì vậy, ông ấy nói, ‘Đây là lãnh thổ của tôi, nó sẽ thuộc về Mỹ’. Và chúng ta nói, ‘Đây là lãnh thổ của chúng ta; nó sẽ thuộc về Nga, Á-Âu’. Ông ấy nói, ‘Chúng ta đang khẳng định sự thống trị ở Tây bán cầu’. Chúng ta nên nói, ‘Và chúng ta, cùng với Trung Quốc và Ấn Độ, chẳng hạn, tuyên bố sự thống trị của chúng ta đối với Đông bán cầu’.

“Vì vậy, phương Tây dành cho người phương Tây, và phương Đông dành cho người phương Đông.” Và đó là tất cả.”

Nhà lý luận theo chủ nghĩa dân tộc – từ lâu được coi là kiến ​​trúc sư tinh thần cho thế giới quan địa chính trị cực đoan của Putin – khẳng định Nga phải trở thành một cực quyền lực thống trị trong hệ thống toàn cầu đang bị chia rẽ.

“Mục tiêu của chúng ta là tồn tại, trở thành trung tâm quyền lực quan trọng nhất trong thế giới ba cực này – chủ quyền, tự do, độc lập và rộng lớn,” ông nói với nhà báo Mikhail Kuznetsov.

“Và bất kỳ lãnh thổ nào chúng ta không kiểm soát sẽ không giữ được vị thế trung lập, chúng sẽ không trở thành những Thụy Sĩ yên bình, ngọt ngào. Chúng sẽ trở thành tiền đồn của các cực khác, và trước hết là của cực gây xung đột nhất – Hoa Kỳ.

“Vì vậy, chúng ta không thể chấp nhận sự tồn tại của một Armenia có chủ quyền, hay một Georgia có chủ quyền, hay một Azerbaijan có chủ quyền, một Kazakhstan có chủ quyền, một Uzbekistan, Tajikistan, hay Kyrgyzstan có chủ quyền.

“Không có gì có chủ quyền có thể tồn tại trong mô hình mới này. Hoặc chúng sẽ nằm dưới sự kiểm soát của chúng ta, trong phe của chúng ta, là một phần của Liên minh thống nhất của chúng ta, hoặc chúng sẽ trở thành chỗ đứng cho phương Tây.

“Liên minh châu Âu, hoặc Mỹ, hoặc, trong một số trường hợp nhất định, Trung Quốc.”

Những bình luận của Dugin được đưa ra khi Putin tiếp tục cuộc xâm lược Ukraine trong khi bác bỏ các nỗ lực hòa bình do Mỹ hậu thuẫn. Chúng cũng xuất hiện giữa lúc Nga ngày càng mất ảnh hưởng ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của mình, với các đồng minh cũ như Syria, Venezuela và ngày càng cả Iran đang dần xa rời.

Ông đã kêu gọi Putin chính thức tuyên bố “Học thuyết Monroe Á-Âu – ‘Á-Âu cho người Á-Âu'” và cảnh báo chống lại việc phản đối Trump bằng luật pháp quốc tế.

Thay vào đó, nhà lãnh đạo Kremlin phải “tham gia vào việc phân chia lại thế giới này”. Dugin hình dung một tương lai bị chi phối bởi ba cường quốc toàn cầu: Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ.

“Nhân tiện, số phận của châu Âu hoàn toàn không thể đoán trước được, bởi vì cuộc chiến tiếp theo sẽ là giữa Mỹ và NATO, tức là về Greenland. Ít nhất, đó là điều mà Liên minh châu Âu muốn,” ông tuyên bố.

Dugin hiện đang lãnh đạo Trường Chính trị Cao cấp Ilyin (Ilyin Higher Political School) và Phong trào Á-Âu Quốc tế (International Eurasian Movement). Vào tháng 8 năm 2022, con gái ông, Darya Dugina, 29 tuổi – một nhân vật truyền thông nổi bật ủng hộ Kremlin – đã thiệt mạng trong một vụ đánh bom xe gần Moscow, một vụ tấn công mà các quan chức Nga đổ lỗi cho các đặc vụ Ukraine.

Các nhà điều tra tin rằng chính Dugin có thể là mục tiêu được nhắm đến.

XEN XEM: https://vietbao.com/a324292/t


 

Cuba sau gần 60 năm giương cao ngọn cờ…

Ba’o Tieng Dan

16/01/2026

Nguyễn Thông

16-1-2026

(Bài này chỉ nói về Cuba, không có ý đề cập thêm chỗ nào cả)

Những gì đã và đang xảy ra ở Cuba “hòn đảo lửa đảo say” khiến chúng ta phải có đôi nhời về nó. Hơn nửa thế kỷ trước mà dân thiếu cơm ăn áo mặc thì còn hiểu được, chứ thời buổi này vẫn phải lê la vác rá đi xin gạo, bị cúp điện, phân phối từng quả trứng gà… quả là đại bi kịch.

Đó là một nước nhỏ vùng Trung Mỹ, còn gọi là khu vực Mỹ Latinh. Nhỏ, bởi cứ tra trên Gu gồ chứ chẳng cần mày mò lâu lắc gì, biết ngay diện tích quốc đảo này gần 110.000 cây số vuông (bằng 1/3 Việt Nam), dân số kể cả dân thường lương thiện và cán bộ đảng viên hơn 12 triệu (hơn 1 phần 10 Việt Nam). Nhỏ nhưng có võ, nhất là võ mồm, chẳng hạn tự xưng “pháo đài cách mạng XHCN ở tây bán cầu”, “tiên phong chống đế quốc”, “tự do hay là chết”, “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”, v.v..

Cuba làm cách mạng năm 1959, phe nhóm vũ trang của anh em nhà Fidel Castro lật đổ một chính quyền hợp hiến hợp pháp và lập nên nhà nước của họ. Họ xóa bỏ chế độ tư bản, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, đi theo đường lối cộng sản mà họ và đàn anh Liên Xô, Trung Quốc gọi là tương lai của nhân loại.

Phần tương lai xa chưa xảy ra thì chả ai hình dung được, còn phần tương lai đã trôi thành quá khứ, từ năm 1959 tới nay, thì chứng minh quá rõ, họ đã ném cả một dân tộc, một quốc gia vào đói nghèo, xiềng xích, bị thủ tiêu quyền sống. Không phải chỉ Cuba làm thế, những anh em canh giữ hòa bình thế giới với nó đều ngu si, hoang tưởng, lú lẫn như vậy.

Lại sực nhớ, ngày 20.3 hằng năm được Liên Hợp Quốc coi là ngày hạnh phúc (năm nào cũng vậy, cứ ngày ni đều hạnh phúc, dù không có hạnh phúc, đang chịu bất công, thiếu thốn, đói nghèo). Cuba và những anh em nó đã hớn hở bước trên con đường dẫn tới tăm tối bất hạnh nhưng lại kiên định bảo là đến hạnh phúc. Gần như cả nhân loại đã bước trên đường lớn tới hạnh phúc thực sự, chỉ có đám lãnh đạo Cuba và bạn bè chí cốt của nó theo lối hẻm quyết tâm nghèo đói đến cùng.

Tôi nhớ đã hơi bị lâu rồi, có đọc một bài của nhà báo Mạnh Kim (dịch giả sừng sỏ, nhà báo đáng nể), anh viết hồi cuối năm 2016 thì phải, khi trùm cách mạng vô sản thế giới Fidel chết. Anh Kim có lần rủ tôi cộng tác bài vở cho ảnh nhưng tôi tự lượng biết mình tài hèn sức mọn nên chỉ chân thành cảm ơn. Anh Kim căn cứ vào dữ liệu được công khai trên báo chí quốc tế, đã so sánh giữa Cuba và Singapore.

Cả Fidel Castro và Lý Quang Diệu đều lên nắm quyền cùng năm 1959, thời điểm mà Cuba giàu hơn hẳn Singapore. Trong khi Singapore chỉ là một thương cảng nghèo, nông thôn và đô thị xơ xác, thì Cuba đã nổi tiếng với nền công nghiệp du lịch và giàu tài nguyên. Đó là thời điểm Cuba xếp hạng 5 khu vực Mỹ Latinh về thu nhập đầu người, hạng 3 về tuổi thọ, hạng 2 về tỷ lệ người sở hữu xe hơi, và hạng nhất về tỷ lệ người sở hữu tivi (là thứ đồ cao cấp, hiếm khi ấy).

Sau hơn nửa thế kỷ, sự khác biệt giữa Cuba và Singapore chẳng có gì để bàn cãi. Nó cho thấy sự thành công và thất bại giữa hai mô hình kinh tế: Kinh tế tập trung nhà nước độc quyền chi phối và thị trường tự do. Nó cũng cho thấy sự thất bại và thành công giữa hai mô hình chính trị: Xã hội chủ nghĩa và tư bản. Nhưng những kẻ lãnh đạo dù có mắt vẫn như mù, không thèm thấy hoặc không thấy.

Cuba, đảo quốc nhỏ bé nằm sát nước Mỹ, theo cách nói bây giờ, có vị trí địa chính trị đặc biệt. Một thời gian khá dài, nó được nhóm các nước cộng sản phong danh hiệu tiền đồn phe xã hội chủ nghĩa (gồm 13 nước), ngọn cờ đầu chống chủ nghĩa tư bản bóc lột, chống đế quốc. Anh em nhà Fidel sau khi nắm quyền (tháng 1.1959) đã thiết lập chế độ độc tài gia đình trị còn tệ hơn cả chính quyền Batista mà họ gán cho chữ “độc tài”.

Chế độ Fidel được trang trí màu mè bằng “cộng hòa, dân chủ” để lừa mị. Họ thay nhau “anh truyền em nối”, già cốc đế đại vương vẫn cố giữ ghế cai trị, chẳng chịu nhường ai, xem người dân cả nước không ra gì. Họ bắt toàn dân phải cùng họ tôn thờ cộng sản, thờ Liên Xô, kiên định theo chủ nghĩa xã hội, bất kể phải chịu phận chư hầu dễ bảo, phụ thuộc, đói nghèo. Họ vênh vang với thứ danh hão tiên phong chống đế quốc, bảo vệ thành trì chủ nghĩa xã hội.

Đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu, chả thế mà tháng 9.2009, ông Nguyễn Minh Triết chủ tịch nước ta trong chuyến công du Cuba đã thật thà như đếm mà tỏ bày “Việt Nam và Cuba như trời đất sinh ra. Một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ. Việt Nam gác thì Cuba nghỉ”. (Tôi dẫn nguyên văn, mà các báo quốc doanh khi đó đều đăng, thậm chí khen ngợi, thích thú với lối ví von “duyên dáng” dí dỏm của chủ tịch nước).

Ông Triết có cái may mắn hơn hai đàn em là Nguyễn Xuân Phúc và Võ Văn Thưởng bởi không dính phốt, không bị ép làm đơn từ chức, nên khi cáo quan được nhiều người khen hiền lành, chân chất. Ông khi đó không biết, hoặc cố tình lờ đi Cuba của anh em nhà Fidel lúc ấy cô đơn, rệu rã, bị cả thế giới nghỉ chơi, ốc chưa mang nổi mình ốc, lấy đâu sức mang cọc cho rêu, canh giữ hòa bình thế giới.

Mà cũng thông cảm, tinh thần AQ là thứ đặc trưng của giới lãnh đạo cộng sản quốc tế, chả riêng gì ông Triết. Còn nhớ, tối hôm coi tivi phát cảnh “thức-ngủ canh gác” xong, lão hàng xóm nhà tôi cười bảo, giời ạ, ai khiến, hai ông cứ rửa chân đi ngủ, ngủ lịm đi càng tốt, cho thiên hạ nhờ.

Nghe hàng xóm tủm tỉm, tôi sực nhớ chuyện tiếu lâm Liên Xô: Khi Lenin chết, cả liên bang giăng khẩu hiệu rằng “Lenin từ trần nhưng học thuyết của người đời đời sống mãi”. Một anh muzic (nông dân) bảo, giá như người vẫn sống, còn học thuyết của người chết đi thì hay biết bao. Anh ta bị tóm.

Năm 1959 tới tận bây giờ, Cuba vẫn đắm chìm trong cuộc thử nghiệm ý thức hệ kéo dài. Từ một quốc gia phát triển, dân chủ, sung túc, cuộc cách mạng của anh em nhà Fidel, mà cụ thể là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, đã mau chóng đẩy Cuba về điểm xuất phát nghèo nàn lạc hậu, thiếu thốn đói khổ như thuở cơ hàn.

Bạn tôi bảo, họ cố tình không thừa nhận lý do chủ quan, cứ đổ cho khách quan, là bị cấm vận. Lúc nào cũng đề cao độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, thì sợ gì cấm vận, sao không cùng bạn bè chung chí hướng cấm vận lại cho nó biết tay nhau.

Sau hơn gần 2/3 thế kỷ “hiên ngang kiêu hãnh trên tuyến đầu chống Mỹ”, bị Liên Xô bỏ rơi không thương tiếc, nay Cuba thực trạng thế nào, chả mấy ai không biết. Những idol của một thời, kiểu anh em nhà Fidel, dần rơi vào quên lãng, bị chê cười.

Người dân Cuba không thể ăn bánh vẽ mãi được, không thể say sưa với “tự do hay là chết” mãi được. Cần phải có thứ gì bỏ vào mồm thì mới tiếp tục làm cách mạng, canh giữ hòa bình thế giới, trong khi đó đám lãnh đạo Cuba chỉ biết hô hào và dọa dẫm dân, nhắm mắt lê lết trên lối mòn, chưa tìm ra con đường sáng cho đất nước. Giỏi lắm thì vác rá đi xin, nơi này một ít, nơi kia một tí, xin gạo xin dầu, để sống cầm hơi, đợi tới ngày cách mạng thắng lợi trên toàn thế giới.

Nói thêm về Fidel: Ngày 25.11.2016, nhân vật huyền thoại của phe cộng sản trên thế giới, nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro Ruz qua đời, thọ 90 tuổi. Ông ta cầm quyền liên tục từ tháng 1.1959, mãi tới khi sức tàn lực kiệt, không trụ nổi vào năm 2011 mới chịu buông, nhưng không buông hẳn cho những người tài, nguyên khí quốc gia, mà “nhường ngôi” cho em ruột… trẻ hơn, khi ấy cũng đã ngoài 80 tuổi. Cầm quyền liên tục từ tháng 1.1959 tới khi sức tàn lực kiệt, không trụ nổi vào năm 2011 ông mới chịu buông. Quá kinh.

Xung quanh nhân vật này, phe cộng sản quốc tế tô vẽ thêm nhiều điều “khác thường” nên người ta nói “nhân vật huyền thoại” là vậy. Đó cũng là cách dựng nên, tạo ra một idol, dù là Cuba idol, nhưng cũng có ý nghĩa chung cho cả phe, mang tính quốc tế.

Phe cộng sản thường tuyên truyền đề cao tập thể, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân nhưng lại thường xuyên thần thánh hóa các cá nhân, dạng Stalin, Brezhnev, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Ceaucescu… để lôi cuốn dân chúng.

Nhất thời, những idol này, thông qua bộ máy tuyên truyền, họ chẳng khác gì chúa trời, thượng đế, khiến dân chúng phải sùng bái, tụng niệm, làm theo. Tuy nhiên, điều tai hại là, khi thời thế thay đổi, thần tượng sụp đổ thì hình ảnh được tô vẽ tan biến rất nhanh, thảm hại. Cuộc sống luôn có quy luật của nó chứ chả tuân theo ý chí chủ quan của một tổ chức hay cá nhân nào.

Những năm Liên Xô còn hùng mạnh, đứng đầu phe XHCN, đối trọng với “tập đoàn tư bản đế quốc” do Mỹ dẫn dắt, Fidel được coi là tên lính xung kích ở tây bán cầu. Có Liên Xô chống lưng, ông thành người hùng.

Cuba những năm ấy hầu như chỉ có 2 nhiệm vụ: Chống Mỹ và trồng mía ép đường bán cho Liên Xô. Tất cả những thứ khác đã có anh cả Liên Xô lo, nên Cuba tự gây cho mình một nền kinh tế phụ thuộc. Tới mức khi anh cả sụp đổ, tan rã năm 1991, bị cắt bầu sữa, em bé Cuba đói sữa ngày càng đèo đẹn, suy dinh dưỡng, cho tới nay đã 35 năm vẫn không hồi phục trưởng thành được.

Từ một nước phát triển nhất vùng Caribe, đứng hàng đầu Trung Mỹ, nay Cuba nằm trong nhóm nước nghèo đói thiếu thốn lạc hậu nhất thế giới. Tất cả đều bắt đầu từ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Và bi kịch ở chỗ cho đến bây giờ những người cộng sản Cuba độc quyền cai trị đất nước nhỏ bé chục triệu dân này vẫn kiên định đi theo con đường nghèo đói ấy.

Hôm 29.11.2016, họ hứa trước linh cữu ông Fidel rằng sẽ vẫn nối tiếp đường ông đi. Đương nhiên là thế, ông em phải nối gót ông anh, ông già 85 cứ phải làm như ông già 90 đã làm, khác thế nào được. Một thế hệ già nua đứng ở cổng âm ti nhưng vẫn làm nhiệm vụ dẫn dắt cho cả một dân tộc đi tìm tương lai. Có sự trái khoáy, bi kịch, bất hạnh nào như thế chăng?

Hậu sinh của anh em nhà Fidel, ông chủ tịch Miguel Diaz-Canel Bermudez những ngày qua (tháng 1.2026) vẫn kêu gọi chiến đấu hy sinh đến người Cuba cuối cùng để bảo vệ thành quả chủ nghĩa xã hội. Chả hiểu họ định bảo vệ thành quả gì? Hãy khôn ngoan hơn, sang Việt Nam mà học hỏi. Chủ nghĩa xã hội vẫn còn trong nghị quyết, trên khẩu hiệu, nhưng cuộc sống đã vận hành theo cách khác, sinh sắc hơn nhiều.

Hồi miền Bắc Việt Nam đánh nhau với Mỹ, ông Fidel là người ủng hộ nhiệt thành. Những thập niên 60-70 thế kỷ trước, lứa chúng tôi nghe tuyên truyền nhiều về ông, rất kính phục ông và ông Che Guevara. Công nhận bộ máy tuyên truyền tô vẽ rất giỏi.

Nghe người lớn kể rằng Fidel định đưa quân sang đánh giúp nhưng cụ Hồ bảo chưa cần. Ông cử kỹ sư và công nhân sang làm đường Xuân Mai – Hòa Bình, giúp xây cái nhà khách ven hồ Tây cho đảng có chỗ tiếp khách, xây bệnh viện Việt – Cu ở Đồng Hới (Quảng Bình), chở bò sữa qua để nuôi trên vùng Ba Vì, Mộc Châu, bán rẻ đường cho Việt Nam hoặc đổi lấy gạo, mặc cho máy bay và thủy lôi Mỹ phong tỏa dày đặc trên trời dưới nước vẫn đưa tàu thủy chở hàng tới cảng Hải Phòng, khi Quảng Trị vừa được giải phóng là ông sang thăm động viên ngay…

Ông Fidel làm việc đó với tinh thần lúc bấy giờ người ta hay nhắc đến, là “quốc tế vô sản trong sáng”, mà thực chất tất cả mọi điều đều có sự chỉ đạo của Liên Xô. Người cộng sản Việt Nam biết ơn ông, sống tình nghĩa thủy chung với Cuba và ông Fidel cho đến tận bây giờ cũng một phần do những quá khứ tốt đẹp ấy.

Tuy nhiên, cũng cần tỉnh táo hiểu rằng, cũng chả phải vô tư trong sáng gì đâu, đó chỉ là sự đổi chác, đền bù cho xương máu của người Việt đã đổ ra trong cuộc chiến tranh mà Liên Xô, Cuba… đứng ngoài vỗ tay cổ vũ. Hàng triệu người Việt đã ngã xuống “tuyến đầu chống Mỹ” để họ được hưởng hòa bình, ung dung xây dựng chủ nghĩa xã hội, món nợ ấy mình không đòi thì thôi, chứ ơn nghĩa cái gì.

Nhưng ông Fidel cũng là hình ảnh của một người lính, thậm chí hiếu chiến. Ông đề ra khẩu hiệu “Tổ quốc hay là chết”, dù có phải đánh đến người dân Cuba cuối cùng cũng không sợ. Ông thích làm người lính đi đầu. Tôn thờ chủ nghĩa cộng sản, ông Fidel và những người như ông trên khắp thế giới coi sự độc lập dân tộc chỉ là chuyện nhỏ, hạnh phúc no ấm của người dân lại càng không đáng quan tâm khi mục đích lớn chưa đạt được.

Cái mà họ (người cộng sản như Fidel) phấn đấu là “Hòa Bình Thế Giới”, là tiêu diệt, đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, những thứ mà họ quy vào mấy chữ ngắn gọn: Bóc lột, xâm lược. Phải đấu tranh cho hòa bình thế giới, canh giữ hòa bình thế giới, 24/24.

Chính vì vậy, sau khi đã cướp được chính quyền bằng gươm súng, hầu như không nước cộng sản nào chịu dừng cuộc chiến lại để tập trung vào việc xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho dân mình, mà cứ mải miết cuộc hành trình vũ lực vô định với mục đích vĩ đại lớn lao hơn: Cách mạng thế giới.

Biết bao nhiêu xương máu đã đổ ra cho sự bao đồng không tưởng này, bị cuốn vào cái vòng xoáy “ai thắng ai” khủng khiếp, tàn bạo ấy. Họ tự đắc “Ta vì ta ba chục triệu người/ Cũng vì ba nghìn triệu trên đời”, “Ta giữ cho ai mảnh đất này… / Ta hiểu vì sao ta chiến đấu/ Ta hiểu vì ai ta hiến máu”…

Tức là cái tham vọng của họ không bị gói gọn trong phạm vi đất nước – dân tộc mà kinh khiếp hơn nhiều, nó ôm trùm cả quả địa cầu.

Theo Fidel, chỉ có sức mạnh của chủ nghĩa xã hội mới có thể tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa tư bản, mới đem lại no ấm, hạnh phúc, hòa bình cho nhân loại. Sống chết cũng phải giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, ngay cả khi hết gió họ vẫn duy ý chí bắt cờ phải tung bay. Chỉ thù hằn, chỉ thích đánh nhau.

Thời cách nay nửa thế kỷ, nhưng câu thơ như trên được coi là tuyệt bút. Giả dụ mấy lời nôm na tự sướng của ông chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết mà phát ra thời đó chắc cũng được xem như lời thánh nhân, chỉ tiếc nó bị lùi lại mấy chục năm nên trở thành trò cười. Người cộng sản kiểu Fidel đã tự huyễn hoặc mình với những khát vọng to tát kiểu vậy. Dân gian thì nói ngắn gọn “Ốc chưa mang nổi mình ốc, lại cứ đòi mang cọc cho rêu”.

Sau này, khi một số người cầm quyền ở các nước phe XHCN tỉnh ngộ ra, họ nhận thấy rằng đã kiêu hãnh kiêu ngạo ảo tưởng một cách mù quáng. Thì đúng vậy, con ếch ngồi đáy giếng, dĩ nhiên bầu trời chỉ bằng cái vung thôi.

Nói gì thì nói, khát vọng vĩ đại của Fidel dưới góc độ lý luận là rất đẹp đẽ, chỉ có điều luôn làm ngược lại. Lý luận và thực tế luôn trái nhau.

Một khát vọng vĩ đại, đôi khi cũng đem lại thảm họa vĩ đại. Thật tiếc cho con người, nhất là cho nhân dân gánh chịu nó.


 

Greenland – chạy trời không khỏi nắng-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

January 15, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Căng thẳng quanh tương lai Greenland – hòn đảo Bắc Cực rộng lớn thuộc chủ quyền Đan Mạch – đang leo thang chóng mặt.

Bộ Trưởng Ngoại Giao Lars Lokke Rasmussen (trái) của Đan Mạch và Bộ Trưởng Ngoại Giao Vivian Motzfeldt của Greenland họp báo tại Đại Sứ Quán Đan Mạch hôm 14 Tháng Giêng tại Washington, DC. Sau cuộc gặp Phó Tổng Thống JD Vance và Ngoại Trưởng Marco Rubio. (Hình minh họa: Andrew Leyden/Getty Images)

Trump sẽ “luộc chín” Greenland

“Luộc” không là từ thích hợp trong ngôn ngữ chính trị quy ước, nhưng “luộc” có ý nghĩa chính xác khi xét đến bản chất của hành động và ngôn ngữ mang tính “giang hồ” của vụ việc. Với những gì đang diễn ra, Greenland khó có thể “toàn mạng.”

Cuộc tranh luận gay gắt về tương lai Greenland ít nhiều được định đoạt tại Tòa Bạch Ốc vào ngày 14 Tháng Giêng, khi Phó Tổng Thống J.D. Vance chủ trì cuộc họp kín với các bên liên quan (trước đó, các nhà ngoại giao Đan Mạch và Greenland yêu cầu gặp Ngoại Trưởng Marco Rubio chứ không phải ông J.D. Vance). Giới chức Đan Mạch đang đối diện tình thế hết sức khó khăn khi họ gần như bị chơi “ép sân” một cách thô bạo.

Ngày 14 Tháng Giêng, trên Truth Social, Tổng Thống Trump viết:

“Mỹ cần Greenland vì mục đích an ninh quốc gia. Nó rất quan trọng đối với hệ thống Vòm Vàng mà chúng ta đang xây dựng. NATO nên dẫn đầu để chúng ta thực hiện được điều này. NẾU CHÚNG TA KHÔNG LÀM, NGA HOẶC TRUNG QUỐC SẼ LÀM, VÀ ĐIỀU ĐÓ SẼ KHÔNG XẢY RA! Về mặt quân sự, nếu không có sức mạnh bao trùm của Mỹ, mà phần lớn trong số đó tôi đã xây dựng trong nhiệm kỳ đầu và hiện tiếp tục đưa lên một tầm mới, thậm chí cao hơn… NATO sẽ trở nên đáng gờm và hiệu quả hơn nếu Greenland nằm trong tay HOA KỲ. Bất cứ điều gì kém hơn thế đều không thể chấp nhận được.”

Thời điểm hiện tại, EU đứng về phía Đan Mạch. Ngày 14 Tháng Giêng, Bộ Trưởng Quốc Phòng Boris Pistorius của Đức cảnh báo việc Mỹ chiếm Greenland sẽ cản trở, chứ không giúp ích, cho các mục tiêu an ninh ở Bắc Cực; và hành động của Washington đang “vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của hợp tác quốc tế.” Trong cùng ngày, Chủ Tịch Ủy Ban Châu Âu Ursula von der Leyen cũng khẳng định “chỉ Đan Mạch và Greenland, và chỉ họ, mới có quyền quyết định” những vấn đề liên quan họ.

Trong thực tế, Mỹ không nhất thiết phải sở hữu Greenland cho vấn đề an ninh quốc gia. Không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới có hệ thống căn cứ quân sự rải rác toàn cầu như Mỹ. Bộ Quốc Phòng Mỹ hiện quản lý hoặc sử dụng hơn 128 căn cứ tại ít nhất 51 quốc gia, theo báo cáo của Cơ Quan Nghiên Cứu Quốc Hội năm 2024. Các phân tích độc lập cho biết tổng số căn cứ quân sự lớn nhỏ của Mỹ có thể lên tới hơn 750 tại 80 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Trong 1.3 triệu quân nhân tại ngũ của Mỹ, gần 13% đóng ở ngoại quốc. Do vậy, “chúng ta không cần ‘quyền sở hữu’ để tiến hành tất cả các hoạt động mà chúng ta muốn,” phát biểu của cựu Đô Đốc Hải Quân James Stavridis, cựu tư lệnh tối cao của NATO (“Military Experts Reject Trump’s Logic That U.S. Must Own Greenland to Defend It.”/Wall Street Journal).

Tháng Ba, 2025, trong chuyến công du Greenland, khi phát biểu trước các quân nhân Mỹ tại Căn cứ Pituffik, Phó Tổng Thống J. D. Vance nói rằng “Đan Mạch đã không làm tốt việc giữ an ninh cho Greenland.” Và do vậy Mỹ cần phải nhảy vào. Nói vậy là mâu thuẫn, bởi chính Mỹ đã chọn rút quân khỏi Greenland, giảm từ 13 căn cứ quân sự mà họ duy trì từ giai đoạn đỉnh điểm Chiến Tranh Lạnh xuống còn một căn cứ (Pituffik) vào năm 2004.

Hơn nữa, Đan Mạch, một thành viên sáng lập NATO, từng tuyên bố sẵn sàng thảo luận việc mở rộng sự hiện diện quân đội Mỹ tại Greenland. Đan Mạch cũng là một trong những đồng minh đáng tin cậy nhất của Mỹ. Năm 2023, thời cựu Tổng Thống Joe Biden, nữ Thủ Tướng Mette Frederikse của Đan Mạch ký thỏa thuận cho phép Mỹ đóng quân tại ba căn cứ ở Đan Mạch trong ít nhất 10 năm.

Rasmus Grand Berthelsen, nhà tư vấn chính trị nổi tiếng ở Copenhagen, nói rằng “Đan Mạch có lẽ là quốc gia thân thiện với Mỹ nhất trong khối EU.” Kể từ sau sự kiện 11 Tháng Chín, Đan Mạch luôn tuân thủ mô hình Siêu Đại Tây Dương (Super-Atlanticism), coi việc liên kết với Mỹ là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại. Họ gửi hàng ngàn binh sĩ đến phục vụ tại Afghanistan và Iraq. 52 binh sĩ Đan Mạch thiệt mạng trong các chiến trường trên – những tổn thất đáng kể đối với một quốc gia chỉ có sáu triệu dân.

Chính sách “Siêu Đại Tây Dương” khiến Đan Mạch gặp rắc rối với các nước Châu Âu khác, thậm chí với chính cử tri của họ. Dân Đan Mạch không thích quốc gia họ là “con rối” của Mỹ. Loạt báo cáo năm 2021 cho biết, từ năm 2012 đến 2014, cơ quan tình báo quân sự của Đan Mạch đã giúp Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ nghe lén điện thoại của giới chức Na Uy, Thụy Điển, Pháp và Đức, trong đó có Thủ Tướng Angela Merkel của Đức.

Vấn đề lợi ích nhóm

Tất cả điều đó vẫn không ngăn được tham vọng sở hữu Greenland của ông Trump. Tháng Năm, 2025, Wall Street Journal cho biết Mỹ bắt đầu thu thập thông tin tình báo ở Greenland. Đài truyền hình công cộng Đan Mạch DR tiết lộ, ít nhất ba người Mỹ bí mật thực hiện các “chiến dịch gây ảnh hưởng,” chẳng hạn xác định những cư dân có thể tham gia phong trào ly khai. Lúc đó, Ngoại Trưởng Lars Løkke Rasmussen của Đan Mạch triệu tập một quan chức cấp cao từ Đại Sứ Quán Mỹ tại Copenhagen để cật vấn, lên án “bất kỳ nỗ lực nào nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của vương quốc.”

Ngoài vấn đề an ninh quốc gia, còn một yếu tố khác trong nỗi ám ảnh Greenland là màn chia chác lợi ích kinh tế, không chỉ lợi ích kinh tế quốc gia mà còn là lợi ích nhóm. Với diện tích gần bằng Venezuela, Greenland là một kho báu thực sự, chứa đầy khoáng sản quan trọng và tài nguyên có giá trị cao, từ kẽm, đồng, vàng, dầu, đến thậm chí uranium và bạch kim. Do phần lớn hòn đảo là sự kết hợp giữa sông băng và lãnh nguyên khô cằn nên hầu hết nguồn khoáng sản vẫn chưa được khai thác.

Việc các tỷ phú Mỹ đứng sau ông Trump trong tham vọng thu tóm Greenland không phải là suy đoán. Chỉ vài ngày sau khi Tổng Thống Trump nhậm chức nhiệm kỳ hai, tờ The New York Times đề cập ngay vấn đề này (“Trump Is Eyeing Greenland. His Commerce Nominee Has Financial Ties There,” ngày 29 Tháng Giêng, 2025). Bài báo viết, nhân vật được ông Trump đề cử làm bộ trưởng thương mại – Howard Lutnick và công ty tài chính Cantor Fitzgerald của ông, dính dáng đến công ty khai thác khoáng sản Critical Metals Corp, nơi có kế hoạch làm ăn ở Greenland vào năm 2026. Thời ông Joe Biden, Critical Metals từng định vận động hậu trường để Washington tài trợ dự án của họ, nhưng được đề nghị hoãn lại cho đến thời Trump 2.0.

Không chỉ Howard Lutnick, nhiều gương mặt quen thuộc khác trong vòng thân cận của ông Trump cũng háo hức với những dự án đầu tư vào Greenland, trong đó có các tỷ phú công nghệ Marc Andreessen, Sam Altman và Jeff Bezos. Cả ba từng hào phóng chi mạnh cho chiến dịch tranh cử của ông Trump và cả ba cũng là những nhà đầu tư bỏ vốn vào KoBold Metals, một công ty tư nhân có trụ sở tại Berkeley, California, chuyên thăm dò khoáng sản và kim loại ở Greenland. Phân tích của tờ The Guardian về hồ sơ tài chính cho thấy những ông trùm công nghệ Mỹ từng đầu tư vào các công ty khai thác mỏ hoạt động ở Greenland đã đóng góp ít nhất $243 triệu cho chiến dịch tranh cử 2024 của ông Trump. Cùng lúc, họ tích lũy được số cổ phiếu trị giá $314 triệu trong Trump Media.

Ngoài ra, những người ủng hộ mạnh các dự án khai thác ở Greenland còn là các ông trùm tiền điện tử mà trước đó cũng hào phóng tài trợ cho chiến dịch tranh cử của ông Trump. Với họ, Greenland là nơi lý tưởng để xây dựng các trung tâm dữ liệu cho ngành công nghiệp trí tuệ nhân tạo và tiền điện tử.

Không chỉ làm ăn, họ thậm chí muốn thành lập ở Greenland một lãnh thổ tự trị riêng theo phiên bản “hậu nhà nước” (“post state”) dành riêng cho giới tinh hoa công nghệ. Nhóm đứng sau “nhà nước” này có tên là “Praxis.” Cho đến nay, Praxis nhận được khoản đầu tư $525 triệu từ những tỷ phú thân cận với chính quyền Trump, trong đó có người đồng sáng lập PayPal, Ken Howery, người được ông Trump cử làm đại sứ tại Đan Mạch  (“The Oligarchs Pushing for Conquest in Greenland.”/The New Repubic).

Một cách tổng quát, bất luận việc bàn cãi như thế nào, số phận Greenland gần như đã được định đoạt, khi mà chiến lược thu tóm được lên kế hoạch chi tiết trong một thời gian dài. Đây không phải là ý kiến bất chợt. Nó được hoạch định cụ thể, trong đề án có tên “Sáng kiến Tái cấu trúc Chiến lược phương Bắc” (Northern Strategic Realignment Initiative).

Tháng Năm, 2025, chính quyền Trump công bố “sáng kiến phát triển chiến lược” trị giá $10 tỷ cho Greenland, bề ngoài là nâng cấp cơ sở hạ tầng và thúc đẩy việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Bộ Tư Pháp Mỹ cũng xây dựng khuôn khổ pháp lý dựa trên một tiền lệ lịch sử (Mỹ mua lại Tây Ấn thuộc Đan Mạch năm 1917, nay là Quần Đảo Virgin). Ngoài ra, Washington còn viện dẫn đến quyền tự quyết của người dân Greenland, căn cứ theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Kế hoạch “chuyển đổi chủ quyền,” về lý thuyết, coi như xong. Washington muốn chứng minh rằng, ngay từ đầu, họ “chơi đúng luật.”

Mới đây, Tháng Mười Hai, 2025, ông Trump cử Thống Đốc Jeff Landry của Louisiana làm đặc phái viên đến Greenland. Trên X (Twitter), ông Landry nói huỵch toẹt nhiệm vụ là “để biến Greenland thành một phần của nước Mỹ.” Nói cách khác, chính quyền Trump đã tính hết cả rồi. Dân Greenland có “đồng thuận” hay Đan Mạch chống đối như thế nào bây giờ gần như không còn ý nghĩa gì. Như ông Trump nói, “bất cứ điều gì kém hơn thế đều không thể chấp nhận được.” [dt]


 

Ở Hà Lan, khi có ai đó qua đời mà không có người thân hay bạn bè bên cạnh…

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân 

Ở Hà Lan, khi có ai đó qua đời mà không có người thân hay bạn bè bên cạnh, đám tang của họ không hề bị bỏ mặc. Một cán bộ địa phương sẽ có mặt để đại diện cho cộng đồng, và đứng cạnh họ là một… nhà thơ.

​Ý tưởng này ra đời vì người ta không muốn lời chào vĩnh biệt lại trở thành một thủ tục giấy tờ khô khan. Nhà thơ sẽ nhận được vài mẩu tin ít ỏi còn sót lại: một cái tên, một ngày sinh, một công việc cũ hay một địa chỉ—có khi chỉ là một chi tiết nhỏ nhoi duy nhất. Từ những mảnh ghép vụn vặn đó, một bài thơ được viết riêng để dành cho cuộc đời ấy.

​Giữa buổi lễ, bài thơ được đọc lên cho người đã khuất. Không bóng bẩy ca ngợi chiến tích, cũng chẳng tô vẽ nên những tình cảm xa lạ. Nhà thơ chỉ lặng lẽ gom nhặt những gì còn lại, biến một lời chào tạm biệt của một người vô danh thành một cử chỉ ấm áp tình người.

​Nghi lễ diễn ra không to tát,  ồn ào. Nó giản dị, gần như chẳng mấy ai hay biết. Nhưng chính vào lúc đó, người đi xa không còn đơn độc nữa. Có người đã gọi tên họ. Có người đã nhìn nhận sự hiện diện của họ trên đời.

​Và có lẽ, đó mới là ý nghĩa thực sự của việc làm này: nhắc nhở chúng ta rằng mỗi cuộc đời, dù có kết thúc trong lặng lẽ đến đâu, vẫn xứng đáng được tiễn đưa bằng một tiếng nói chân thành giữa người với người.

(The Lonely Funeral)

St