Hoa Kỳ 250 năm : Cuộc thử nghiệm vẫn chưa kết thúc (RFI)

(RFI)

Hai trăm năm mươi năm sau ngày lập quốc, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường số một thế giới nhưng cũng đứng trước những chia rẽ sâu sắc về chính trị, xã hội và vai trò quốc tế. Giữa những lo ngại về sự suy yếu của nền dân chủ và sức mạnh công nghệ chưa từng có, báo chí nhìn lại cuộc thử nghiệm mang tên nước Mỹ – một hành trình chưa bao giờ ngừng tự chất vấn và tự đổi mới. Các tuần báo cũng nhận thấy « gió đã đổi chiều » trên chiến trường Ukraina.

 05/07/2026 

Một chiếc tàu của Sở Cứu hỏa New York phun vòi rồng tại cảng New York để chào mừng sự kiện Sail250 – cuộc tập hợp các tàu buồm cỡ lớn và tàu quân sự nhằm kỷ niệm 250 năm thành lập nước Mỹ, ngày thứ Bảy 04/07/2026. (Ảnh AP/Frank Franklin II) AP Photo/Frank Franklin II – Frank Franklin II

Thụy My

Nền cộng hòa Mỹ ra đời : Ngọn hải đăng của thế giới tự do

Hôm nay đúng vào ngày Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm lập quốc, nước Mỹ là mối quan tâm chính của các báo ra cuối tuần. Le Figaro cánh hữu chạy tít trang nhất « Hoa Kỳ 250 năm : Một lễ hội dưới dấu ấn Trump ». Libération thiên tả cho rằng « Trump tước đoạt lịch sử ». Trang bìa The Economist đăng hình một chiếc bánh sinh nhật lớn mang màu cờ Mỹ, nhận định « Nước Mỹ đầy ắp nỗi âu lo, nhưng sở hữu sức mạnh phi thường ».

Ngay từ khi mới thành lập cách đây 250 năm, các nhà lập quốc Mỹ đã tin rằng nền cộng hòa của họ sẽ tỏa sáng như một tấm gương cho toàn nhân loại. Tuy nhiên đây cũng là một cuộc thử nghiệm, họ lo ngại có thể sớm sụp đổ trong hỗn loạn hoặc rơi vào ách thống trị độc tài. Đó chính là những thăng trầm xuyên suốt lịch sử độc đáo của nước Mỹ. Chế độ nô lệ và tâm lý bài ngoại, nạn tham nhũng và sự lộng hành của giới tư bản thao túng, nội chiến và các trận đại chiến thế giới – tất cả đều từng làm chao đảo nền cộng hòa, ngay cả khi nước Mỹ vươn mình trở thành ngọn hải đăng của thế giới tự do.

Vào ngày 04/07, người dân Mỹ kỷ niệm dấu mốc 250 năm thành lập đất nước. Sự trường tồn ấy đã bác bỏ những nỗi lo âu của các nhà lập quốc năm xưa. Thay vì gục ngã trước độc tài, nước Mỹ đã ba lần giải cứu thế giới khỏi ách thống trị của những kẻ bạo tàn. Sự năng động đã tạo nên nguồn năng lượng mạnh mẽ, duy trì vị thế siêu cường của nước Mỹ và trong suốt thời gian dài, Hoa Kỳ vẫn luôn đề cao các giá trị cộng hòa.

Tuy nhiên, cột mốc kỷ niệm này lại diễn ra vào một thời điểm đầy lo âu khác trong lịch sử nước Mỹ. Các giá trị đạo đức đang bị đe dọa và người ta nói về khả năng suy tàn, đất nước chia rẽ sâu sắc. Nước Mỹ đang phá bỏ trật tự thế giới mà chính họ đã thiết lập sau khi đánh bại chủ nghĩa phát xít vào năm 1945.

Khi « giấc mơ Mỹ » phủ bóng âu lo

Nhiều người Mỹ ngày nay đang chia sẻ những nỗi lo sợ giống như các nhà lập quốc thuở nào. Họ lo ngại rằng cơ chế phân quyền đang dần biến thành một hệ thống mà Nhà Trắng thâu tóm mọi quyền lực. Quốc hội, cột trụ của chính phủ đang chia rẽ đảng phái gay gắt, « phe ta » luôn đúng còn « phe bên kia » luôn xấu. Tối cao Pháp viện cũng đang góp phần gia tăng quyền lực cho nhánh hành pháp.

Là quốc gia của những người nhập cư, Hoa Kỳ luôn coi di dân luôn đổ xô vào là nguồn sinh lực và là minh chứng cho « giấc mơ Mỹ ». Trung Quốc cũng có « giấc mơ Trung Hoa », nhưng người nước ngoài lại bị gạt ra ngoài lề. Ngược lại, bất kỳ ai, dù thuộc chủng tộc hay tôn giáo nào, cũng có thể trở thành người Mỹ, trở nên thành đạt nhờ nỗ lực của chính mình.

Tuy nhiên, giấc mơ Mỹ đang dần trở nên u ám. Một bộ phận trong phong trào MAGA muốn chấm dứt luôn nhập cư hợp pháp chứ không chỉ di dân bất hợp pháp. Năm nay, con số này có thể bằng không. Khi tỉ lệ người Mỹ tự nhận là « người da trắng » giảm xuống gần mức 50 %, một số người cánh hữu muốn dành quy chế đặc biệt cho những « người Mỹ gốc » có tổ tiên đã sinh sống qua nhiều thế hệ. Đây là sự quay lại rất đáng tiếc của nạn phân biệt chủng tộc.

Trên trường quốc tế, nước Mỹ cũng đang quay lưng lại với các giá trị của chính mình. Donald Trump đang muốn đập tan các định chế và liên minh mà thế hệ hậu chiến đã thiết lập để bảo vệ thế giới khỏi ách chuyên chế. Nước Mỹ đang hành xử, giống như bất kỳ quốc gia nào khác mải mê theo đuổi sự giàu có và quyền lực. Tự do và dân chủ cho người nước ngoài không còn được quan tâm. Thương mại từng là hệ thống mang lại lợi ích chung, nay đã trở thành công cụ để ép buộc đối phương nhượng bộ. Những giá trị chung từng gắn kết nước Mỹ với các đồng minh, thì nay đồng minh lại bị coi là những kẻ lệ thuộc.

Đừng vội viết cáo phó cho nước Mỹ

Nhiều người kết luận rằng nước Mỹ đang suy tàn, nhưng theo The Economist đó là sai lầm nghiêm trọng. Sức mạnh của nước Mỹ vẫn vô cùng to lớn, và thậm chí có thể sẽ tăng trưởng mạnh mẽ đến mức khó có thể hình dung nổi. Các công ty trí thông minh nhân tạo (AI) của Mỹ đã nhanh chóng huy động hàng trăm tỉ đô la để tài trợ cho cuộc đua giành vị thế dẫn đầu về công nghệ Mỹ cùng hệ sinh thái AI của mình có thể sẽ nắm quyền thống trị tuyệt đối, it nhất là trong một khoảng thời gian. Trong khi đó, các đồng minh của Mỹ đối mặt với một lựa chọn nghiệt ngã : hoặc phục tùng Washington, hoặc đứng về phía Bắc Kinh độc tài.

Song song với việc Mỹ tích lũy quyền lực to lớn, cuộc thử nghiệm vĩ đại này cũng có nguy cơ dẫn đến thảm họa. Ông Trump đã làm vẩn đục đời sống công chúng bằng thái độ hoài nghi đầy ác ý, luôn nhìn nhận mặt xấu xa nhất ở mọi người. Quyền lực hành pháp có thể trở nên quá mức kiểm soát. Sự tập trung của cải và quyền lực chính trị có thể nuôi dưỡng một tầng lớp tinh hoa trục lợi. Các chính trị gia có thể sẽ bất lực trước những biến động kinh tế và xã hội đang chực chờ phía trước.

Hãy hình dung viễn cảnh Mỹ vĩnh viễn từ bỏ sứ mệnh xúc tiến tự do. Các quốc gia khác sẽ theo chân, những nhà lãnh đạo đầy tham vọng được tiếp thêm sức mạnh để xâm lược hoặc cưỡng bức các nước láng giềng. Thế giới sẽ rơi vào hỗn loạn. Tuy nhiên, như các nhà lập quốc từng khẳng định, tương lai đen tối đó khó có khả năng xảy ra. Những biến cố từng kìm hãm nước Mỹ như Trân Châu Cảng, sự kiện Sputnik hay vụ Watergate lại chính là động lực thúc đẩy quốc gia này vực dậy và bứt phá mạnh mẽ hơn. The Economist tin rằng bằng cách này hay cách khác, sự thay đổi chắc chắn sẽ đến với nước Mỹ.

Putin : Người tù của chính cuộc chiến mình phát động

Courrier International dùng màu cờ Nga làm nền trang bìa, chạy tít « Putin, tù nhân trong cuộc chiến của chính mình ». Tại Nga, những dấu hiệu bất bình trước chính quyền ngày càng chồng chất, khế ước giữa Kremlin và xã hội có vẻ đã lỗi thời. Hình ảnh của tổng thống Nga đã xấu đi hẳn, theo nhà chính trị học Nga lưu vong Alexandre Baounov trên tờ Meduza, được Courrier International trích dịch.

Tác giả nhận thấy ba thay đổi. Trước hết là thái độ đối với tổng thống, thứ hai là sự lạc quan về kinh tế đã bay biến, và cuối cùng người ta ý thức được rằng có thể không thắng nổi. Ngưỡng mang tính biểu tượng 1.418 ngày đã vượt qua – rất tai hại cho Kremlin. Khi coi đối thủ là phát-xít mới, đánh đồng những lính đánh thuê với các chiến sĩ Hồng quân, chế độ đã tự rơi vào chiếc bẫy của việc so sánh với thời Đệ nhị Thế chiến.

Bộ máy Nhà nước, truyền thông, chính phủ, Quốc hội, Giáo hội, FSB, tất cả theo đuổi cùng một mục đích là che giấu sai lầm mà Putin đã phạm phải năm 2022. Nhưng sức ảnh hưởng của Putin đang tan dần. Tổng thống Nga vẫn nắm quyền tối cao, nhưng phép mầu đã biến mất. Bộ mặt thật của nhà lãnh đạo đang dần lộ diện : Đó là một ông già còng lưng, bồn chồn, khá yếu đuối, hoàn toàn khác với Putin thời trước chiến tranh ngực trần cỡi trên lưng con hắc mã. Những phát biểu đầy đe dọa nay rối rắm, dài dòng. Vladimir Putin không còn là siêu anh hùng, ông ta sợ hãi drone và internet cũng như những người được cho là bảo vệ mình, giới tinh hoa không còn tin tưởng vào tổng thống.

Khi chiến tranh gõ cửa từng gia đình Nga

Khi xua quân xâm lược Ukraina, khế ước xã hội trước đây đã bị phá vỡ, thay thế bằng một khế ước mới : Đừng chống chiến tranh, sẽ có được cách sống gần như trước. Nhưng mùa xuân 2026, chế độ đã vi phạm tất cả các điều khoản. Khi áp đặt ứng dụng Max để liên lạc, xâm nhập giới hạn cuối cùng của cuộc sống riêng tư tại một quốc gia phi tự do. Nhà nước đã khởi động một « chiến dịch quân sự đặc biệt » trong nội bộ. Thu nhập cao nhờ chiến tranh không còn nữa, năm 2026 khởi đầu bằng việc cắt giảm ngân sách đầu tiên kể từ một thập niên. Những cột khói bốc lên trên bầu trời nước Nga tạo ra hình ảnh một sự trừng phạt, và người chịu trách nhiệm về sự thay đổi tâm trạng ở Nga không ai khác hơn là quân đội Ukraina. Kremlin giờ đây như một chiếc xe đang cố thoát khỏi vũng lầy.

The Atlantic nhấn mạnh, giờ đây drone Ukraina đêm nào cũng tấn công vào các mục tiêu kỹ nghệ Nga, làm tê liệt các nhà máy lọc dầu, hậu càn và vận chuyển hàng không. Courrier International nhận xét « Nga đối mặt với một cuộc khủng hoảng xăng dầu ». Tờ báo độc lập Novaia Gazetta ghi nhận, một quốc gia được mệnh danh là « trạm xăng » nay lại đang thiếu xăng, đề tài « khủng hoảng nhiên liệu » đang là trung tâm các trang viết trên báo chí Nga hiện nay.

Việc bán phân phối theo định mức đã diễn ra khắp nơi, đến tận vùng Viễn Đông. Vận chuyển đường bộ rối loạn, một số công ty hàng không van nài bộ Năng lượng giúp đỡ. Tờ Nezavissimaia Gazeta cho biết chính quyền sẵn sàng trợ giá xăng nhập từ Ấn Độ và Kazakhstan. Những dấu hiện rạn nứt đầu tiên đã xuất hiện ở Kremlin. Bloomberg cho biết đầu tháng Sáu, nhiều quan chức cao cấp đã cảnh báo Vladimir Putin về cái giá của chiến tranh. Bộ Tài chánh và Ngân hàng Trung ương đánh giá mức độ chi quốc phòng hiện nay có thể khiến thâm hụt ngân sách càng lớn hơn một cách nguy hiểm.

Từ « điều không tưởng » đến viễn cảnh chiến thắng của Ukraina

Triết gia kiêm đạo diễn Pháp Bernard-Henri Lévy trên Le Point nhắc nhở rằng từ bốn năm qua ông luôn khẳng định Ukraina sẽ chiến thắng, vì chỉ có cuộc kháng chiến kiên cường của những người công dân bình thường nước này mới thắng được sự hiếu chiến điên rồ của Vladimir Putin. Và phải chăng hồi kết đang đến ?

Ông đã viết các bài xã luận, đã nói trong những bộ phim, phát biểu trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, trước Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội Pháp và khắp các nơi. Ukraina sẽ thắng, tất nhiên là cần có thời gian, có những nỗi đau phải gánh chịu, những thành phố bị hủy diệt, những cuộc đời tan vỡ, những cái chết. Nhưng cuối cùng đất nước của Volodymyr Zelensky sẽ ca khúc khải hoàn trước những kẻ chỉ muốn xóa sổ họ khỏi bản đồ và trong lịch sử. Nhưng người ta nhìn ông như một kẻ mơ mộng hoặc tâm thần. Những quân nhân, các nhà chiến lược thậm chí còn không coi đó là một khả năng.

Bernard-Henri Lévy đã chứng kiến nơi tiền tuyến sự gan dạ, bất khuất của những chiến binh ở những thành phố đã chết như Chasiv Yar hay Toretsk, đối mặt với đội quân lính đánh thuê hay những kẻ đáng thương bị quăng vào lò xay thịt. Khả năng sáng tạo phi thường của người Ukraina đã thuyết phục ông. Trong bốn năm qua, Bernard-Henri Lévy đã thấy dân tộc của các thi sĩ và những người đam mê công nghệ lắp ráp các drone đầu tiên với một máy in 3D, nơi một chiếc lều nằm sâu trong rừng Klichtchiivka. Rồi trong các xưởng ở Kharkiv, họ mổ xẻ các drone của Nga hay Trung Quốc để tìm ra các bí mật. Và ngày nay mỗi năm có hàng triệu con chim sắt tinh vi made in Ukraina.

Trong những đêm dài ở Bakhmut, Kupiansk, Sumy, ông nghiền ngẫm những tác phẩm viết về những cuộc chiến tranh trong quá khứ. Ông ghi hình, chia sẻ một phần cuộc sống những chiến binh Ukraina. Dù kiệt sức, dù bị đồng minh thờ ơ, dù có những người ngã xuống, họ vẫn trụ lại.

Liệu hồi kết của Putin đã bắt đầu ?

Giờ đây vẫn chưa ai biết được còn bao nhiêu tháng nữa, bao nhiêu thành phố phải giành từng con đường một, bao nhiêu gia đình phải chạy loạn, bao nhiêu người trẻ phải hy sinh mạng sống. Cuộc tàn sát sẽ còn tiếp diễn trước khi người lính Nga cuối cùng rời khỏi đất Ukraina. Nhưng chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên mới, giấc mơ tưởng chừng hão huyền đã trở thành hiện thực.

Ở mặt trận phía nam, tại căn cứ Otchakiv nơi Nadia chỉ huy, mỗi đêm cô đều dạy con trai đang ở miền bắc học qua FaceTime, một đơn vị tinh nhuệ vừa cắm cờ lên bán đảo Kinbourn, chốt chặn cửa ngõ sông Dniepr. Tại mặt trận Zaporijia, lực lượng Ukraina tiến từng mét một về hướng Melitopol. Ở Crimée, các phi trường bị oanh kích, kho xăng bị đốt cháy, các đường tiếp tế bị đe dọa. Bán đảo được Kremlin coi là hàng không mẫu hạm trên Hắc Hải đã trở thành pháo đài bị vây hãm. Và ở phía đông, nhà thơ nữ Oksana Rubaniak nay là chiến binh điều khiển drone đang quyết liệt bảo vệ Pokrovsk.

Kostiantynivka, Lyman, Chasiv Yar, những thành phố bị tàn phá mà Kremlin nói rằng đã chiếm được, vẫn đứng vững. Rốt cuộc quân đội Ukraina nhỏ bé đã trở thành quân đội mạnh nhất châu Âu, từ những căn cứ bí mật tấn công được những địa điểm quân sự nhạy cảm nhất sâu trong lãnh thổ Nga. Quân đội Sa hoàng năm 1917 bị kiệt lực sau ba năm thất bại đã phải đầu hàng dù tình trạng chưa đến nỗi như vậy. Chế độ Xô Viết, suy yếu bởi cuộc chiến không hồi kết ở Afghanistan, cũng không trụ được lâu. Điều gì sẽ xảy ra nếu Vladimir Putin đã sức cùng lực kiệt ?

Việt Nam : Khi tiếng rao nhường chỗ cho những cú nhấp màn hình

Tại một đất nước từ lâu không còn chiến tranh là Việt Nam, Mekong Riview ở Úc được Courrier International dịch lại, lấy làm tiếc cho « Những tiếng rao của người bán hàng trên đường phố đang dần lịm tắt ». Trước đây, một ngày mới ở Hà Nội được bắt đầu với những tiếng rao « Xôi xéo đây ! », « Bánh giò nóng đây ! », thành phố thức giấc cùng với những chiếc xe hàng rong trên đường phố. Ở Sài Gòn là « Bánh mì đây », « Bắp luộc nóng đây ».

Nhưng những người bán hàng rong nay có đối thủ mới là các siêu thị mini mở 24/24, các ứng dụng đặt hàng. Quảng cáo trên TikTok thay cho âm thanh đường phố. Để mua hàng, những cuộc đối thoại giữa người với người dần được thay bằng những cú chạm trên màn hình điện thoại. Có không nhiều thành phố như Hà Nội và Sài Gòn, hoạt động hết sức đa dạng với những người bán hàng ăn, mua ve chai, sửa chữa…Nhưng những tiếng rao đang tắt dần.


 

Kỷ niệm 250 năm ngày thành lập nước Mỹ, Đức Giáo Hoàng Leo XIV kêu gọi bảo vệ người nhập cư

Ba’o Nguoi-Viet

July 4, 2026

LAMPEDUSA, Ý (NV) – Kỷ niệm 250 năm ngày độc lập của Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Leo XIV gửi lời kêu gọi người dân Mỹ chào đón và bảo vệ người nhập cư. Thông điệp này được gửi về quê hương giữa lúc ngài đang có chuyến viếng thăm tới Lampedusa, hòn đảo tuyến đầu về di cư của Ý, trong ngày Thứ Bảy, 4 Tháng Bảy, theo NBC News.

Năm ngoái, Đức Giáo Hoàng Leo XIV từng khiến Tổng Thống Donald Trump giận dữ sau khi gọi các chính sách chống nhập cư cứng rắn của nhà lãnh đạo Mỹ này là “vô nhân đạo.” Trong thông điệp lần này, ngài cũng kêu gọi thế giới trở nên “nhân văn hơn” và giúp đỡ những người đang chạy trốn khỏi chiến tranh và nghèo đói.

Đức Giáo Hoàng Leo XIV gặp một gia đình di dân tại khung vòm Cửa Ngõ Châu Âu, do nghệ sĩ người Ý là Mimmo Paladino thực hiện, tại đảo Lampedusa hôm Thứ Bảy. (Hình: Tiziana FABI/AFP via Getty Images)

Trong chuyến thăm tới Lampedusa, cửa ngõ của những người di cư chấp nhận rủi ro vượt Địa Trung Hải đầy nguy hiểm để từ châu Phi vào Châu Âu, Đức Giáo Hoàng Leo XIV thúc giục các nhà lãnh đạo Châu Âu cần nỗ lực hơn nữa để hỗ trợ những người mới đến, khi con số này đã vượt quá 7,000 người trong năm nay.

Trong một lời kêu gọi riêng biệt được gửi tới Mỹ nhân cột mốc kỷ niệm lịch sử, Đức Giáo Hoàng tuyên bố rằng giá trị Công Giáo trong việc bảo vệ sự sống bao gồm cả việc “chào đón, bảo vệ và hỗ trợ người nhập cư.” Ngài nhắn nhủ tới nước Mỹ: “Đón nhận (người nhập cư) với lòng trắc ẩn và sự rộng lượng không chỉ là một hành động bác ái, mà còn là sự công nhận phẩm giá vốn có của mỗi con người.”

Nằm giữa Tunisia, Malta và Sicily, đảo Lampedusa tọa lạc trên một trong những tuyến đường di cư nguy hiểm nhất thế giới. Nhiều người di dân đặt chân đến đây sau khi vượt Địa Trung Hải trên những chiếc thuyền quá tải và phương tiện thô sơ.

Chuyến đi này gợi nhắc lại hành trình của cố Đức Giáo Hoàng Francis, người từng chọn Lampedusa làm điểm đến cho chuyến công du đầu tiên bên ngoài Rome sau khi đắc cử chức vụ Giáo Hoàng vào năm 2013.

Trong số những người tập trung gần cảng cực nam của Ý để đón vị Giáo Hoàng có cả những người di dân mới đến, các viên chức tìm kiếm cứu nạn thuộc Lực Lượng Cảnh Sát Biển Ý và các nhóm viện trợ. Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói với họ rằng ngài đến đây để chứng minh rằng vị chủ chăn giáo hội Công Giáo “vẫn tiếp tục đồng hành, hỗ trợ và khích lệ các con chiên.”

Đức Giáo Hoàng Leo XIV cũng kêu gọi các giới chức lãnh đạo Châu Âu giải quyết vấn đề di cư “một cách toàn diện, lồng ghép các nỗ lực cứu trợ khẩn cấp vào một kế hoạch chiến lược dài hạn có khả năng tiếp nhận, bảo vệ, hỗ trợ và tái hòa nhập người di cư.” Ngài đồng thời thúc giục họ giúp cải thiện điều kiện sống tại quê hương của người di cư để giảm bớt số người buộc phải ra đi.

Ông Kandeh Abdourahman, một di dân đến Lampedusa vào năm 2015 sau khi đi qua năm quốc gia Châu Phi, sa mạc Sahara và Địa Trung Hải, chia sẻ với Reuters: “Chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng có ý nghĩa với mỗi chúng tôi. Đó là lời nhắc nhở rằng câu chuyện của chúng tôi được lắng nghe, và sự chào đón không chỉ là một từ ngữ suông mà là một hành động nhân văn.” Hiện tại, ông Abdourahman đang là điều phối viên văn hóa của Ủy Ban Cứu Trợ Quốc Tế (IRC).

Theo dữ liệu từ Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc cung cấp cho Reuters, tính đến thời điểm hiện tại trong năm nay, tổng cộng có 14,464 người di cư đã đến Ý bằng đường biển, với hơn một nửa đặt chân lên Lampedusa. Con số này thậm chí vượt quá dân số thường trú của hòn đảo (khoảng 6,000 người).

Theo Tổ Chức Di Cư Quốc Tế (IOM) của Liên Hiệp Quốc, hơn 1,400 người đã thiệt mạng hoặc mất tích khi cố vượt Địa Trung Hải trong năm nay, trong đó có 28 trẻ em.

Kể từ khi trở thành nhà lãnh đạo Vatican vào Tháng Năm, 2025, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đưa việc hỗ trợ người di dân trở thành chủ đề trọng tâm trong triều đại của mình. Tháng trước, ngài từng cảnh báo rằng lịch sử sẽ phán xét nghiêm khắc những giới chức lãnh đạo ngược đãi người nhập cư.

Trong bài phát biểu lớn đầu tiên gửi tới nước Mỹ vào Thứ Sáu, ngài tán dương lịch sử đón nhận người nhập cư của quốc gia và thúc giục người dân Mỹ giữ vững các lý tưởng được đề ra trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập.

Đặt chân đến Lampedusa vào khoảng trước 9 giờ sáng Thứ Bảy, Đức Giáo Hoàng Leo XIV đặt hoa tại một nghĩa trang địa phương trên phần mộ của những người di cư thiệt mạng khi cố vượt Địa Trung Hải. Ngài cũng đến thăm “Cửa Ngõ Châu Âu” (Door of Europe), một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt nằm trên bãi biển cực Nam nước Ý dành riêng cho người di cư, và đi bộ qua cấu trúc này hướng về phía Địa Trung Hải giữa những cơn gió mạnh.

Các giới chức Vatican cho biết Đức Giáo Hoàng Leo XIV muốn nhấn mạnh thông điệp hỗ trợ người di cư và cố ý chọn thời điểm chuyến thăm trùng với ngày nghỉ Lễ Độc Lập Mỹ 4 Tháng Bảy. (MPL) [dt]


 

Số lính thương vong trong cuộc chiến Ukraine vượt 2 triệu

Ba’o Nguoi – Viet

July 2, 2026

KIEV, Ukraine (NV) – Hơn 2 triệu binh sĩ Nga và Ukraine tử trận hoặc bị thương trong bốn năm Nga xâm lăng Ukraine, theo kết quả nghiên cứu mới hôm Thứ Tư, 1 Tháng Bảy, New York Times đưa tin.

Cuộc chiến Ukraine có lẽ đã vượt qua trận Stalingrad thời Đệ Nhị Thế Chiến, trận chiến được coi là đẫm máu nhất lịch sử, theo CNN.

Lính Ukraine khiêng quan tài anh Yaroslav Varnak, 23 tuổi, tử trận trong cuộc chiến với Nga, ở Kiev hôm 8 Tháng Sáu. (Hình: Tetiana Dzhafarova/AFP via Getty Images)

Theo kết quả nghiên cứu được Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS) ở Mỹ công bố, Nga bị tổn thất nặng hơn: 1.4 triệu quân thiệt mạng hoặc bị thương kể từ Tháng Hai, 2022, khi ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, xua quân qua xâm lăng Ukraine.

Trong số đó, 450,000 tử trận, nhiều gấp bốn lần số lính Mỹ thiệt mạng trong tất cả cuộc chiến từ Đệ Nhị Thế Chiến cộng lại.

Ukraine có 525,000 tới 625,000 lính tử trận hoặc bị thương, trong đó, số người thiệt mạng khoảng 125,000 tới 150,000.

Giới chức từng cảnh báo rất khó ước tính số thương vong trong cuộc chiến này vì họ cho rằng Nga thường đếm bớt đi con số thực sự, còn Ukraine không tiết lộ số thương vong chính thức của nước này. Cuộc nghiên cứu của CSIS dựa vào con số mà chính phủ Anh và Mỹ và một số nguồn khác ước tính.

“Những con số này đáng kinh ngạc,” ông Seth G. Jones và ông Riley McCabe, hai người thực hiện cuộc nghiên cứu này, cho hay.

Về thương vong, Nga ngày càng bị tổn thất nhiều hơn Ukraine nhiều, ông Jones và ông McCabe cho biết. Trong sáu tháng đầu năm nay, tỉ số thương vong có lẽ tăng lên gần 8:1, nghĩa là cứ mỗi lính Ukraine thiệt mạng hoặc thương vong thì tám lính Nga bị như vậy, theo hai ông này.

Hầu hết bốn năm chiến tranh, tỉ số đó khoảng hai tới ba lính Nga thiệt mạng hoặc thương vong so với một lính Ukraine bị như vậy. Ông Jones và ông McCabe cho hay tỉ số đó hiện đang tăng lên vì Ukraine đạt tiến bộ trong chương trình “drone” (máy bay điều khiển từ xa), đặc biệt là có thể mở rộng “vùng tiêu diệt” xung quanh tiền tuyến.

Ở Nga, số thương vong trong cuộc chiến này không xảy ra đều khắp nơi: Vùng nghèo hơn và sắc tộc thiểu số có lính thương vong nhiều hơn. Tin tức về những ngôi làng nhỏ, hẻo lánh hầu như không còn đàn ông đang trở nên phổ biến trên báo chí đối lập ở nước này. Và theo cuộc nghiên cứu của CSIS, hiện tại, số quân mà Nga tuyển thêm không theo kịp số thương vong mà nước này đang hứng chịu. (Th.Long)


 

Động đất ở Venezuela : Gần 1.000 người chết và hơn 50.000 người mất tích (RFI)

RFI

Ít nhất 920 người đã thiệt mạng và hơn 50.000 người vẫn đang mất tích sau trận động đất kép xảy ra hôm 24/06/2026 tại Venezuela. Trong bối cảnh số thương vong không ngừng tăng lên, sự bất bình của người dân cũng ngày càng gia tăng do công tác cứu trợ của chính quyền được cho là còn chậm và hạn chế.

Ngày: 27/06/2026 

Chiến dịch cứu hộ tại Catia La Mar, phía bắc Caracas, Venezuela, ngày 26/06/2026. © Fernando Vergara / AP Photo

Phan Minh

Hai trận động đất mạnh 7,2 và 7,5 độ Richter đã tàn phá nghiêm trọng khu vực phía bắc Venezuela. Thành phố ven biển La Guaira, nằm gần thủ đô Caracas, là một trong những nơi bị tác động nặng nề nhất. Hôm qua 26/06, chủ tịch Quốc Hội Venezuela Jorge Rodriguez cho biết số người thiệt mạng đã tăng lên 920.

Tại Genève, Thụy Sĩ, điều phối viên phụ trách viện trợ nhân đạo của Liên Hiệp Quốc Tom Fletcher cho AFP biết rằng hiện vẫn còn hơn 50.000 người mất tích. Ông cảnh báo đây là một chiến dịch cứu hộ vô cùng phức tạp và số người thương vong có thể còn tiếp tục tăng đáng kể.

Trong bối cảnh hệ thống y tế Venezuela đã xuống cấp trầm trọng, công tác tìm kiếm vẫn diễn ra chậm chạp và nhiều thi thể vẫn còn nằm dưới các đống đổ nát. Tuy nhiên, người dân nước này cho thấy tinh thần đoàn kết sâu sắc để vượt qua thảm kịch.

Trở về từ Catia La Mar, thông tín viên Alice Campaignolle tường trình :

Hôm qua, tinh thần đoàn kết của người dân nơi đây đã được thể hiện rõ rệt. Trong khi chính quyền vẫn chậm triển khai công tác cứu trợ, người dân Venezuela đã tự quyên góp các nhu yếu phẩm và đưa chúng đến vùng ven biển.

Tôi đã có dịp trò chuyện với những người đến từ khắp nơi trên toàn quốc. Có người mang theo quần áo, có người mang thực phẩm và rất nhiều người mang nước uống, một nhu yếu phẩm vô cùng quan trọng. Ngoài ra còn có các đội cứu hộ tình nguyện, trong đó có những người đã vượt hàng trăm cây số để đến hỗ trợ các nạn nhân.

Một số doanh nghiệp thậm chí còn huy động cả máy móc công trình. Tuy nhiên, nhân lực vẫn đang thiếu hụt, bởi dù đã có máy xúc và máy đào, nhưng thường lại không có đủ người điều khiển các thiết bị đó.

Người dân Venezuela đang cho thế giới thấy một bài học lớn về lòng nhân ái. Đáng tiếc là tất cả những sáng kiến này không được điều phối thống nhất, nên tình hình khá hỗn loạn. Đặc biệt, giao thông đường bộ đã bị tê liệt do quá nhiều xe cá nhân đổ về khu vực, làm cản trở việc di chuyển của các phương tiện cứu hộ, trong đó có xe cứu thương.


 

Những người phương Tây bỏ xứ đi tìm ‘giấc mơ Nga’ (BBC)

(BBC)

Ben, đến từ thành phố Derby (Anh), chuyển tới Nga năm 2023 theo diện thị thực gia đình và cho biết anh cảm thấy an toàn hơn khi sống tại đây

Tác giả, Dan Hardoon

Vai trò, BBC World Service 28 tháng 6 2026

Khi Leo Hare chuyển từ bang Texas, Mỹ sang Nga vào cuối năm 2023 sau khi được cấp quy chế tị nạn, ông tin chắc rằng mình đang xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho gia đình.

Là cha của ba người con, ông Leo nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống mới: thưởng thức bánh bao, vắt sữa dê tại một trang trại và quay video về cuộc sống ở Nga cho những người theo dõi trên mạng của mình.

Ông Leo là một tín đồ Cơ Đốc giáo sùng đạo và ngày càng trở nên vỡ mộng với vấn đề ở Mỹ, từ sự chia rẽ chính trị, thực phẩm biến đổi gen cho đến điều ông xem là sự trỗi dậy của phong trào LGBTQ.

Khi đó, ông tin rằng Nga mang đến một lựa chọn thay thế hấp dẫn: một xã hội được xây dựng trên đức tin Cơ Đốc và các giá trị gia đình – quan điểm được nhà nước Nga quảng bá mạnh mẽ.

Nhưng theo thời gian, ông cũng ngày càng lo ngại về những yếu tố như việc hạn chế tiếp cận thông tin.

Ông Leo là một phần của một làn sóng di cư bất ngờ. Trong bối cảnh Nga đối mặt với sự cô lập quốc tế, vài ngàn người từ các quốc gia bao gồm Canada, Anh, Mỹ và một số nước châu Âu đã lựa chọn chuyển tới đây sinh sống.

Cách nhìn của họ về Nga khác biệt rõ rệt so với hình ảnh mà nhiều người ở phương Tây đã quá quen: một quốc gia đã xâm lược Ukraine và chiếm đóng nhiều vùng lãnh thổ của Kyiv, bỏ tù các đối thủ chính trị, áp đặt những hạn chế nặng nề đối với các quyền tự do dân sự và phải đối mặt với hàng loạt lệnh trừng phạt quốc tế.

Nhiều người có ý định chuyển đến Nga bị thu hút bởi thị thực “Giá trị chung” của Moscow, đôi khi được gọi là thị thực “chống woke” [woke có nghĩa “thức tỉnh”, nhận thức sâu sắc về các vấn đề bất công và bất bình đẳng như phân biệt chủng tộc, giới tính, hoặc quyền lợi của các nhóm thiểu số].

Thị thực này được chính quyền Nga ban hành một tháng sau khi Leo được cấp tị nạn.

Do Tổng thống Vladimir Putin ban hành vào năm 2024, loại thị thực này cho phép công dân của 47 quốc gia mà Nga coi là “không thân thiện” được cư trú tạm thời trong tối đa ba năm.

Không có giới hạn về số lượng người có thể nộp đơn và người xin visa không cần phải vượt qua các bài kiểm tra thông thường về tiếng Nga, lịch sử hay pháp luật.

Thay vào đó, họ phải tuyên bố rằng họ chia sẻ các giá trị tinh thần và đạo đức truyền thống của Nga và bác bỏ điều mà chính phủ Nga mô tả là “hệ tư tưởng tân tự do mang tính phá hoại” của các quốc gia quê hương họ.

Sau ba năm, những người theo diện thị thực Giá trị chung phải chuyển sang Giấy phép cư trú lâu dài (PRP) hoặc rời khỏi Nga. Để được cấp PRP, họ phải tham gia kỳ thi về ngôn ngữ và lịch sử cũng như cung cấp hồ sơ đầy đủ hơn.

Không giống một số chương trình nhập cư khác, thị thực Giá trị chung không đi kèm nhà ở hay hỗ trợ tài chính từ chính phủ Nga. Người nộp đơn phải đóng phí hành chính 1.600 rúp (khoảng 533.000 đồng) và trải qua các cuộc kiểm tra y tế và lý lịch tư pháp.

Leo Hare (phải) tại buổi lễ trao quy chế tị nạn được truyền hình nhà nước đưa tin

Nga cho biết gần 3.400 người đã nộp đơn theo chương trình này tính đến mùa xuân năm 2026. Tuy nhiên, những con số này rất khó được kiểm chứng độc lập và cũng không cho biết có bao nhiêu đơn đã được chấp thuận.

Thị thực này phản ánh một nỗ lực rộng hơn của Điện Kremlin Điện nhằm xây dựng hình ảnh Nga như một quốc gia bảo vệ các giá trị truyền thống, đối lập với điều mà họ cho là sự suy thoái đạo đức của phương Tây.

Trong một sắc lệnh năm 2022, ông Putin cảnh báo rằng ảnh hưởng ý thức hệ từ phương Tây đe dọa các giá trị của Nga, bao gồm hôn nhân và gia đình truyền thống, đồng thời kêu gọi Nga quảng bá hình ảnh tích cực hơn của mình ra nước ngoài.

Hai năm sau, thị thực Giá trị chung mang lại một biểu hiện thực tiễn cho tầm nhìn đó.

Một hệ sinh thái trực tuyến gồm các công ty môi giới tái định cư và những người có ảnh hưởng đang quảng bá Nga là một nơi mà các giá trị gia đình vẫn được gìn giữ và cuộc sống thường nhật an toàn hơn.

Ilja Belobragin, đối tác điều hành tại Move To Russia – một công ty hỗ trợ người nước ngoài chuyển tới Nga – cho biết điều ông thường xuyên nghe từ khách hàng là họ “không còn nhận ra cộng đồng xung quanh mình nữa”.

Một số người có ý định chuyển sang Nga phàn nàn về tình trạng nhập cư cao ở chính quốc gia của họ hoặc điều mà họ cho là mức sống đang suy giảm.

Cuộc chiến của Nga tại Ukraine – yếu tố đã chi phối nhận thức quốc tế về nước này kể từ năm 2022 – dường như không phải là yếu tố mang tính quyết định đối với nhiều người lựa chọn chuyển đến Nga.

Một số người công khai ủng hộ Nga, trong khi những người khác khẳng định quyết định của họ xuất phát từ các giá trị văn hóa chứ không phải yếu tố địa chính trị

Philip Hutchinson

Ông Philip Hutchinson giúp những người khác chuyển tới Nga sau khi chuyển đến sống ở Moscow

Philip Hutchinson, một cựu ứng viên Đảng Bảo thủ của Anh hiện sống tại Moscow và giúp những người phương Tây khác chuyển tới Nga, cho biết ông tránh thảo luận về cuộc chiến.

“Quan điểm của tôi về cuộc chiến là gì ư? Thực ra tôi không muốn dính dáng đến chuyện đó”, ông nói.

“Tôi không ở đây với tư cách một chính trị gia. Tôi ở đây để sống một cuộc đời yên bình, giản dị cùng gia đình.”

Khi được hỏi liệu việc hỗ trợ người phương Tây chuyển tới Nga theo diện thị thực Giá trị chung có phải là một hành động chính trị hay không, ông Philip không đồng tình.

“Chúng tôi hướng dẫn nhiều người theo diện thị thực Giá trị chung vì đó là con đường dễ nhất để trở thành thường trú nhân tại đây vào thời điểm hiện nay. Giúp mọi người chuyển đến Nga không phải là hành động chính trị.”

Sau khi chuyển tới Nga, gia đình ông Leo trở thành một trong những ví dụ dễ thấy nhất về làn sóng di cư từ phương Tây.

Truyền thông nhà nước Nga đã quay phim buổi lễ trao quy chế tị nạn của họ, và ông Leo công khai cảm ơn Tổng thống Putin vì đã chào đón gia đình mình.

Khi đó, Leo tin rằng ông đang góp phần tiên phong cho điều mà ông gọi là “một mảnh ghép luật pháp nhập cư chưa từng có tiền lệ”.

Nhưng thực tế lại khó khăn hơn nhiều so với những gì ông hình dung.

Chỉ vài tuần sau khi đến Nga, Leo cho biết gia đình ông đã bị một người quen mà họ tin tưởng lừa mất 5 triệu rúp – tương đương hơn 1,7 tỷ đồng – khiến cả gia đình rơi vào cảnh không có nơi ở.

Khi tôi trò chuyện với Leo vào đầu năm nay, ông đang sống tách khỏi vợ tại thành phố Ivanovo, còn các con lớn của ông đã trở về Mỹ.

Khi được hỏi liệu Nga có đáp ứng những kỳ vọng của mình hay không, Leo mô tả hai năm qua vừa là quãng thời gian tuyệt vời nhất, vừa là quãng thời gian tồi tệ nhất trong cuộc đời ông.

Ông cho biết mình đã trải nghiệm nhiều khía cạnh khác nhau của nước Nga: làm việc tại một tu viện Chính thống giáo, sống trong một căn hộ ở tòa nhà cao tầng, rồi sau đó chuyển đến một căn hộ nhỏ từ thời Liên Xô.

Cuối cùng, ông tìm được việc làm gia sư tiếng Anh.

Ông vẫn dành nhiều tình cảm cho người dân Nga, mô tả họ là những người hào phóng và hiếu khách.

Ông ca ngợi các thành viên trong cộng đồng nhà thờ đã giúp gia đình mình vượt qua giai đoạn mất toàn bộ số tiền tiết kiệm, đồng thời nhắc đến một phụ nữ đã đón cậu con trai út của ông về nhà và dạy tiếng Nga miễn phí.

“Trái tim tôi tràn đầy tình yêu dành cho những con người này,” ông nói.

Tuy nhiên, ông cũng ngày càng lo ngại về tình trạng của nền kinh tế Nga cũng như những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin.

Hiện nay, ông Leo đang cân nhắc lại vai trò của mình trong việc khuyến khích người phương Tây nhập cư vào Nga.

“Tôi đã tin vào những lời tuyên truyền,” ông nói với tôi, thừa nhận rằng trước đây mình từng là “người có thể viết kịch bản cho điều đó”.

Dù vẫn quyết tâm ở lại Nga vì cảm giác về một “định mệnh”, giờ đây ông nói rằng mình nhớ những quyền tự do đã góp phần hình thành tính cách của người Mỹ.

“Ở Nga, bạn không có những giá trị về nhân quyền như vậy.”

Ben/ BBC

Ben không tin rằng Nga là một thiên đường bảo thủ

Những người phương Tây khác đã chuyển tới Nga cũng đặt vấn đề với cách thị thực Giá trị chung được quảng bá. Ben – người yêu cầu không nêu họ – chuyển tới Nga năm 2023 từ thành phố Derby (Anh), sau khi yêu một phụ nữ Nga mà anh quen qua một trang web trao đổi ngôn ngữ.

Hai người hiện sống tại khu vực Kursk, gần biên giới Ukraine. Gia đình Ben cho rằng anh “hơi điên rồ” khi chuyển tới một khu vực chiến sự.

Cách nhìn của Ben về Nga có nhiều sắc thái hơn so với hình ảnh mà những người ủng hộ nước này thường mô tả.

Anh ca ngợi sự thân thiện của người Nga và cho biết bản thân cảm thấy an toàn hơn trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, anh bác bỏ quan điểm cho rằng Nga là một dạng thiên đường của chủ nghĩa bảo thủ.

Ben dẫn chứng tỷ lệ gia đình đơn thân cao, việc phá thai – mà anh cho là “được chấp nhận rất rộng rãi” – cùng tỷ lệ ly hôn “cực kỳ cao”.

“Nga không phải là một xã hội không tưởng,” anh nói.

Ben chuyển tới Nga theo diện thị thực đoàn tụ gia đình chứ không phải theo chương trình Giá trị chung.

Tuy nhiên, trên kênh YouTube của mình, anh đã phản bác những điều mà anh cho là các tuyên bố cường điệu của một số người phương Tây có ảnh hưởng trên mạng, những người mô tả Nga như một sự thay thế hoàn hảo cho phương Tây.

“Có một số người muốn thúc đẩy chương trình nghị sự của họ,” anh nói.

Gần hai năm sau khi thị thực Giá trị chung được triển khai, thử nghiệm của Nga trong việc thu hút những người nhập cư vì lý tưởng vẫn còn ở quy mô nhỏ.

Dù chưa tạo ra làn sóng nhập cư “chống woke” lớn, chương trình này đã giúp một số người phương Tây xây dựng cuộc sống mới tại đất nước này dễ dàng hơn – dù vì tình yêu, đức tin hay đơn giản là mong muốn thay đổi hướng đi trong cuộc đời.


 

Vì sao một công ty AI dọn dẹp miễn phí căn hộ của tôi ở New York (BBC)

BBC

 Các quảng cáo với hình ảnh những người dọn dẹp đeo máy quay được trưng bày khắp Thành phố New York

Tác giả, Archie Mitchell

Vai trò, Phóng viên kinh doanh

21 tháng 6 2026

Hãy tưởng tượng: một nhóm người dọn dẹp đeo máy quay và cả một đầu bếp riêng, tất cả đều được trang bị thiết bị ghi hình công nghệ cao, xuất hiện tại nhà bạn.

Bạn không đang ở trong một chương trình truyền hình thực tế, cũng không phải vừa thức dậy trong một cuốn tiểu thuyết của Aldous Huxley hay Margaret Atwood.

Thay vào đó, bạn là một cư dân của Thành phố New York, nơi các công ty AI đang đưa dịch vụ nấu ăn và dọn dẹp miễn phí đến tận cửa nhà dân.

Nhưng có một điều kiện đi kèm: công ty AI này đang thu thập dữ liệu để huấn luyện thế hệ robot nấu nướng và dọn dẹp tiếp theo, và mọi ngóc ngách trong căn hộ của bạn đều bị ghi hình.

Sáng kiến này có tên là Shift, do công ty AI Micro AGI triển khai. Đây là một phần trong làn sóng ngày càng nhiều công ty đang phát triển thế hệ robot tự động tiếp theo, mà các lãnh đạo công nghệ hy vọng sẽ có thể làm mọi việc, từ rửa bát cho đến trở thành người chăm sóc sống cùng gia đình.

Tại căn hộ của tôi ở khu Upper East Side, hai thanh niên ngoài 20 tuổi đã tới dọn dẹp. Họ đã tốt nghiệp đại học, từng làm ở một số công ty khởi nghiệp và đang tìm việc.

Do nhu cầu sử dụng dịch vụ dọn dẹp miễn phí rất cao, họ được bố trí làm việc lâu dài tại New York, dọn khoảng năm căn hộ mỗi ngày, năm ngày mỗi tuần.

Điểm khác biệt duy nhất giữa họ và một người dọn dẹp thông thường là các máy quay gắn trên mũ, kết nối bằng dây với điện thoại di động. 

Mục tiêu chính của chương trình này là thực hiện các công việc đòi hỏi sự khéo léo của đôi tay, nhằm huấn luyện các robot trong tương lai biết cách sử dụng bàn tay của chúng. Vì vậy, trong suốt quá trình làm việc, các nhân viên dọn dẹp đặc biệt tập trung vào các thao tác bằng tay.

‘Hàng tấn’ dữ liệu

Bercan Kilic, nhà sáng lập của sáng kiến Shift, nói với BBC rằng mục tiêu của hoạt động thu thập dữ liệu là “thúc đẩy nhân loại”.

Ông chỉ ra các mô hình AI hiện có như ChatGPT, có thể tạo ra câu dựa trên những đoạn văn đã được viết trước đó có sẵn trên mạng.

Nhưng ông cho biết mỗi căn bếp, phòng khách và mỗi công cụ đều có sự khác biệt, vì vậy robot cần được huấn luyện để thích nghi với các không gian và vật dụng khác nhau.

Khó khăn lớn nhất, theo ông Kilic, là để hoạt động hiệu quả, đội ngũ dọn dẹp cần thu thập “hàng tấn” dữ liệu.

“Trong thế giới thực, mọi vật thể đều khác nhau, ánh sáng khác nhau và không gì giống như vài giờ trước đó. Các mô hình AI cần học cách bàn tay, máy quay và môi trường phối hợp với nhau,” ông nói.

Mô hình kinh doanh của công ty này dựa trên khả năng bán lượng dữ liệu có giá trị thu thập được bên trong nhà người dân – dưới dạng đã được ẩn danh – cho các công ty robot và AI khác để huấn luyện robot.

Máy quay trên mũ của người lao động cho thấy công việc dọn dẹp nhà bếp từ góc nhìn của họ

Ông Kilic nói rằng Shift có thể cung cấp các dịch vụ miễn phí hoặc giảm giá cho “mọi kỹ năng mà con người có thể làm”, đồng thời lưu ý rằng ngoài việc dọn dẹp căn hộ ở New York, công ty còn có thợ cơ khí sửa xe tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Dường như không có giới hạn đối với những việc robot hình người có thể làm trong tương lai, và BBC cũng đã đưa tin về việc phát triển robot hỗ trợ binh sĩ trên chiến trường.

Lo ngại về quyền riêng tư

Các chuyên gia về dữ liệu và quyền riêng tư cảnh báo người tiêu dùng nên thận trọng khi cung cấp dữ liệu của họ – đặc biệt là quyền tiếp cận ngôi nhà – để đổi lấy các dịch vụ được quảng bá là miễn phí.

Rory Mir, giám đốc phụ trách truy cập mở và tương tác cộng đồng công nghệ tại tổ chức vận động Electronic Frontier Foundation, cho biết họ đã chứng kiến “sự gia tăng đáng lo ngại của các hình thức ‘trả phí bằng quyền riêng tư’ và ‘hối lộ bằng dữ liệu’ từ các doanh nghiệp”.

“Mặc dù ban đầu bạn có thể nhận được tiền hoặc một dịch vụ nào đó, nhưng dữ liệu mà bạn chia sẻ có thể quay trở lại gây bất lợi cho bạn. Ngay cả khi bạn tin tưởng doanh nghiệp thu thập dữ liệu đó, vẫn luôn tồn tại nguy cơ họ chia sẻ thông tin với các công ty khác hoặc với chính phủ,” ông nói.

“Chúng ta vừa trải qua hàng chục năm dữ liệu cá nhân bị sử dụng để thao túng hành vi của chúng ta thông qua quảng cáo và các hoạt động mang tính khai thác như định giá giám sát.”

Ông Mir nói thêm rằng việc chia sẻ dữ liệu góp phần tạo ra “những hệ thống có thể không đặt lợi ích của bạn lên hàng đầu”.

Calli Schroeder, giám đốc chương trình AI và nhân quyền tại trung tâm nghiên cứu Electronic Privacy Information Center (Epic), cho rằng cách làm của Shift là “một cách sáng tạo đến quỷ quyệt để bán việc xâm phạm quyền riêng tư”.

Bà cho biết công nghệ được phát triển dựa trên lượng dữ liệu đang được thu thập này một ngày nào đó có thể khiến những người làm nghề dọn dẹp mất việc.

Bà cũng cảnh báo rằng ngay cả lợi ích từ một lần được dọn nhà miễn phí cũng chỉ là “một khoản lợi nhỏ nhoi” so với khoản lợi nhuận tiềm năng mà các công ty có thể thu được từ việc tổng hợp và bán các bộ dữ liệu có giá trị.

“Tôi nghĩ mọi người đánh giá thấp mức độ thông tin nhạy cảm mà việc ghi hình trong nhà có thể thu thập,” bà nói.

‘Chúng tôi không kỳ vọng ai cũng thích điều này’

Tuy nhiên, ông Kilic cho rằng Shift là “nền tảng minh bạch nhất về những gì xảy ra với dữ liệu của bạn”.

“Rõ ràng dữ liệu của bạn đang được sử dụng mỗi ngày, nhưng bạn không biết để làm gì và không được trả tiền,” ông này nói, đề cập đến lượng dữ liệu mà các trang web và công ty mạng xã hội thu thập từ người dùng.

“Nhưng một dịch vụ miễn phí có nghĩa là ít nhất bạn được trả công, và điều đó minh bạch và mang tính giao dịch như vậy,” ông nói thêm.

“Nếu bạn không muốn tham gia, bạn không cần phải tham gia. Chúng tôi không kỳ vọng ai cũng thích điều đó, và điều đó là bình thường.”

Trong khi một số người lo ngại về tác động đến quyền riêng tư từ kế hoạch của Shift, những người khác lại hào hứng với cơ hội đóng vai trò chủ động trong cuộc cách mạng AI.

Những người dọn dẹp căn hộ của tôi nói về niềm tin rằng AI sẽ thay đổi mạnh mẽ thế giới việc làm, nhưng những ai đón nhận điều này sớm thì không có gì phải lo sợ.

Một người trong số họ thậm chí đã gửi bộ thiết bị quay phim và giám sát về cho mẹ mình, người ghi lại cảnh quay từ góc nhìn của chính bà khi thực hiện các công việc trong nhà.

Và dù họ được trả mức lương mà công ty Micro AGI khẳng định là cao hơn mức phổ biến của nghề dọn dẹp tại New York, đội ngũ nhân viên dọn dẹp thuộc thế hệ Gen Z của công ty dường như thực sự hào hứng khi được trở thành một phần của làn sóng bùng nổ AI, ngay cả khi điều đó có nghĩa là họ phải xắn tay làm việc hết căn hộ này đến căn hộ khác ở thành phố New York.


 

ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC LÃNH ĐẠO BỞI MỘT NGƯỜI NHƯ THẾ

Kimtrong Lam

ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC LÃNH ĐẠO BỞI MỘT NGƯỜI NHƯ THẾ

Sau gần 14 năm giữ chức thủ tướng, nhà lãnh đạo Hà Lan đã từ chức theo cách đậm chất Hà Lan nhất.

Ông ấy đã lên xe đạp và rời đi.

Mark Rutte giữ chức thủ tướng Hà Lan từ năm 2010 đến năm 2024, trở thành một trong những nhà lãnh đạo tại vị lâu nhất ở châu Âu.

Sau khi chuyển giao quyền lực cho người kế nhiệm, Dick Schoof, không có một màn ra đi long trọng nào.

Không có đoàn xe hộ tống hoành tráng.

Không có lời tạm biệt kịch tính.

Không có xe sang trọng chờ sẵn bên ngoài.

Rutte chỉ đơn giản nói lời tạm biệt, lên xe đạp và đạp xe rời khỏi tòa nhà chính phủ ở The Hague như một người đi làm bình thường.

Khoảnh khắc đó lan truyền chóng mặt vì trông gần như không thể tin được.

Một người đàn ông đã lãnh đạo đất nước gần 14 năm rời nhiệm sở theo cách mà hàng triệu người Hà Lan đi làm mỗi ngày.

Một cách lặng lẽ.

Một cách bình thản.

Trên hai bánh xe.

Đó là một hình ảnh rất khác về quyền lực.

Không phô trương.

Không bất khả xâm phạm.

Không hề bị bao quanh bởi cái tôi.

Chỉ là một cựu thủ tướng đạp xe đi vào thành phố.

Dù người ta nghĩ gì về chính trị của ông ấy, sự ra đi ấy đã nói lên một điều mạnh mẽ.

Ở một số quốc gia, các nhà lãnh đạo bám víu lấy quyền lực.

Ở Hà Lan, một người đã trao lại quyền lực, vẫy tay chào tạm biệt và đạp xe đi. 


 

Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

My Lan Pham

Kiwxi – Người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất

Khi Vicente Cañas lần đầu tiên tìm thấy họ, chỉ còn 97 người.

Một dân tộc hoàn chỉnh. Một quốc gia với ngôn ngữ riêng, những bài hát riêng và các vị thần riêng của mình. Chỉ còn lại 97 con người.

Họ gần như đã biến mất mãi mãi.

Rừng mưa Amazon, Brazil, năm 1974.

Vicente nhìn những con người ấy và quyết định dành phần đời còn lại để bảo đảm họ được sống sót.

Đây là câu chuyện về ông.

Vicente Cañas sinh năm 1939 tại Tây Ban Nha. Ông gia nhập Dòng Tên (Jesuit), không phải với tư cách linh mục mà là một tu huynh ,một người hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa qua sự phục vụ.

Năm 1966, ông được cử đến Brazil làm nhà truyền giáo.

Tại đó, ông chứng kiến một điều khiến trái tim mình tan vỡ.

Các dân tộc bản địa Amazon đang chết dần. Họ bị quét sạch bởi những căn bệnh do người ngoài mang đến. Họ bị đẩy khỏi đất đai bởi các chủ trang trại và những người khai thác gỗ. Cả những bộ tộc biến mất khỏi mặt đất.

Vicente nhìn thấy điều đó và từ chối đứng ngoài cuộc.

Sâu trong rừng có một dân tộc mang tên Enawenê-Nawê. Trong phần lớn lịch sử của họ, chưa từng có người ngoài nào tiếp xúc được với họ. Họ thuộc nhóm mà thế giới gọi là “bộ tộc chưa tiếp xúc”.

Đến khi thế giới bên ngoài tiến đủ gần để thống kê dân số của họ, chỉ còn 97 người sống sót.

Năm 1974, Vicente đã tiếp xúc hòa bình với họ.

Và rồi ông làm một điều mà rất ít người làm được.

Ông không nghiên cứu họ rồi rời đi.

Ông không ghé thăm rồi trở về nhà.

Ông chuyển đến sống cùng họ.

Vicente sống với người Enawenê-Nawê hơn mười năm.

Ông học ngôn ngữ của họ. Học phong tục của họ. Chấp nhận lối sống của họ. Từ bỏ đất nước, nền văn hóa, sự tiện nghi và thậm chí cả tên gọi của chính mình.

Đối với người Enawenê-Nawê, ông trở thành Kiwxi.

Một người trong số họ.

Một người anh em.

Dần dần, ông kéo họ trở lại từ bờ vực diệt vong.

Ông mang đến sự chăm sóc y tế cho một cộng đồng hoàn toàn không có khả năng chống lại những căn bệnh từ thế giới bên ngoài. Ông chiến đấu với những dịch bệnh đang giết chết họ.

Và cái chết bắt đầu dừng lại.

Dân số của họ từ 97 người bắt đầu tăng lên.

100 người.

200 người.

Rồi hơn 400 người.

Một dân tộc từng đứng bên bờ biến mất khỏi thế giới đang hồi sinh.

Tất cả bắt đầu từ một người đàn ông quyết định sống cùng họ.

Có một chi tiết về Vicente cho thấy ông là người như thế nào.

Ông hiểu rằng chính mình cũng có thể là mối nguy hiểm đối với họ.

Ông thường xuyên đi lại giữa thế giới bên ngoài và bộ tộc, trong khi thế giới bên ngoài đầy rẫy những căn bệnh mà cơ thể họ chưa từng học cách chống lại.

Vì vậy, ông dựng một túp lều nhỏ bên bờ sông, cách xa ngôi làng nhiều cây số.

Mỗi khi trở về từ bên ngoài, ông sẽ sống một mình trong túp lều đó.

Tự cách ly.

Cho đến khi chắc chắn mình không mang theo bất kỳ mầm bệnh nào có thể gây hại cho họ.

Ông chấp nhận cô độc vì tình yêu thương.

Ông thà sống một mình giữa rừng còn hơn vô tình mang cái chết đến cho những con người mà ông đã dốc lòng bảo vệ.

Nhưng Vicente còn hiểu một điều sâu sắc hơn.

Thuốc men có thể cứu họ khỏi bệnh tật.

Nhưng chỉ có đất đai mới cứu họ về lâu dài.

Người Enawenê-Nawê cần lãnh thổ của mình. Nếu mất đất, họ sẽ bị phân tán và hủy diệt, dù có khỏe mạnh đến đâu.

Đất đai chính là sự sống của họ.

Vì thế, Vicente đứng lên đấu tranh cho quyền sở hữu lãnh thổ của họ. Ông làm việc không mệt mỏi suốt nhiều năm để bảo vệ vùng đất ấy.

Và chính điều đó đã khiến ông bị sát hại.

Bởi vì có những người khác cũng muốn vùng đất đó.

Những chủ trang trại chăn nuôi.

Những người khai thác gỗ.

Những kẻ đốt phá Amazon để trồng đậu nành và mở rộng đồng cỏ.

Đối với họ, khu rừng là tiền bạc.

Còn bộ tộc cùng người truyền giáo đang bảo vệ họ là vật cản.

Chừng nào Kiwxi còn sống, họ sẽ không thể chiếm được vùng đất ấy.

Vì vậy, họ quyết định loại bỏ ông.

Vicente liên tục nhận được những lời đe dọa giết chết.

Ông vẫn tiếp tục công việc của mình.

Tháng 4 năm 1987, ông gửi một thông điệp vô tuyến cho các đồng nghiệp, báo rằng mình đang rời túp lều để đến làng Enawenê-Nawê.

Ông không bao giờ tới nơi.

Những kẻ sát nhân đã tìm đến túp lều bên sông và đâm ông đến chết.

Rồi bỏ mặc thi thể ông giữa khu rừng mà ông đã hiến dâng cả cuộc đời mình để bảo vệ.

Suốt 40 ngày, không ai biết chuyện gì đã xảy ra.

Khi các đồng nghiệp tìm kiếm, họ phát hiện chiếc thuyền của ông bên bờ sông, chất đầy đồ đạc như thể chuẩn bị cho một chuyến đi nhưng đã chìm một nửa xuống nước.

Trong khoảng sân trước túp lều, họ tìm thấy thi thể của Vicente.

Không bị thú rừng xâm hại.

Được bảo quản bởi không khí khô.

Gần như đã trở thành xác ướp.

Ông qua đời ở tuổi 47.

Nhưng bi kịch chưa dừng lại ở đó.

Trong số những kẻ đứng sau vụ sát hại có cả cảnh sát trưởng địa phương.

Cuộc điều tra bị bóp méo bởi tham nhũng.

Trong nhiều năm, không ai phải chịu trách nhiệm.

Phải mất 38 năm, công lý mới được thực thi.

Kẻ chủ mưu cuối cùng cũng bị kết án khi hắn đã già yếu và bệnh tật.

Và còn một chi tiết cuối cùng khiến người ta nghẹn lòng.

Khi vụ án được đưa ra xét xử, chính người Enawenê-Nawê không thể ra tòa kể về Vicente.

Văn hóa của họ cấm nhắc đến tên người đã khuất.

Vì vậy, một dân tộc láng giềng đã đứng ra thay họ làm chứng.

Họ kể lại câu chuyện của người đàn ông đã cứu cả một dân tộc khỏi biến mất.

Vicente Cañas đã từ bỏ quê hương.

Từ bỏ ngôn ngữ.

Từ bỏ tên gọi.

Từ bỏ sự an toàn.

Và cuối cùng là từ bỏ cả mạng sống của mình.

Ông làm điều đó vì 97 con người xa lạ trong một khu rừng sâu, những người đang đứng bên bờ tuyệt chủng.

Những kẻ giết ông muốn dân tộc ấy biến mất.

Nhưng dân tộc ấy vẫn còn tồn tại.

#VicenteCanas #Kiwxi #Amazon #EnaweneNawe #LichSu #NhanVatLichSu #BaoVeRung #MyLanPham #VanHoaBanDia #CauChuyenCoThat 


 

 SỐ PHẬN BI THẢM CỦA NỮ MINH TINH MÀN BẠC XÔ VIẾT DÁM TỪ CHỐI CẢ STALIN LẪN BERIA

Lê Thọ Bình

 SỐ PHẬN BI THẢM CỦA NỮ MINH TINH MÀN BẠC XÔ VIẾT DÁM TỪ CHỐI CẢ STALIN LẪN BERIA

Moskva, năm 1946. Trên phố Gorky sầm uất, một người phụ nữ đang sải bước khiến bất kỳ ai đi qua cũng không thể rời mắt. Dáng người cao ráo, quý phái, gương mặt với những đường nét thanh tú như tạc và đôi mắt mang sắc mật ong đậm sâu thẳm.

Người qua đường ngoái lại nhìn, có vài cô gái trẻ khúc khích thì thầm vào tai nhau với ánh mắt đầy ngưỡng mộ. Đó chính là Tatyana Okunevskaya, ngôi sao sáng chói của điện ảnh Xô Viết, người sở hữu gương mặt mà từ góc phố nhỏ đến những quảng trường lớn của toàn liên bang không ai là không biết.

Năm ấy bà ba mươi hai tuổi. Phía sau bà là những vai diễn để đời mang lại danh tiếng lẫy lừng, là ánh hào quang đỉnh cao mà mọi nghệ sĩ đều khao khát. Phía trước bà, như một lẽ tự nhiên, đáng lẽ phải là hàng thập kỷ tỏa sáng rực rỡ hơn nữa trên sân khấu và màn ảnh.

Thế nhưng, vòng xoáy của quyền lực và những âm mưu đen tối nơi hậu trường chính trị đã viết sẵn cho bà một kịch bản khác, một kịch bản tàn khốc, đẫm máu và nước mắt, vượt xa bất kỳ bộ phim chính kịch nào từng được công chiếu.

1- Tuổi Thơ Mang Bóng Ma Thời Đại Và Sự Thăng Hoa Của Nhan Sắc

Tatyana Kirillovna Okunevskaya sinh năm 1914 tại Moskva trong một gia đình cựu quý tộc Tsar. Sau cuộc Cách mạng, để thích nghi với chế độ mới và bảo vệ gia đình, cha bà phải giấu đi nguồn gốc hoàng tộc, chấp nhận làm một kế toán viên bình thường với mức lương khiêm tốn.

Tuổi thơ của Tatyana trôi qua trong bầu không khí ngột ngạt của sự hoài nghi và sợ hãi. Bóng ma của những cuộc thanh trừng thể chế đã gõ cửa nhà bà khi Tanya mới là một cô bé vị thành niên: cha bà bị bắt giữ vì lý do chính trị.

Cú sốc mất mát và cảm giác bất an từ ngày ấy đã để lại một vết sẹo sâu sắc, định hình nên một Tatyana kiên cường, bướng bỉnh và có phần bất cần đời sau này.

Nhưng số phận đã ban tặng cho Tatyana một vũ khí tối thượng: nhan sắc và tài năng thiên bẩm. Ngay từ nhỏ, cô gái ấy đã bị ánh đèn sân khấu cuốn hút một cách kỳ lạ.

Ở tuổi 16: Tatyana đã đứng trên sân khấu nhà hát, làm chủ không gian bằng đài từ cuốn hút.

Tuổi 21: Bà chạm ngõ điện ảnh với bộ phim đầu tay và ngay lập tức lọt vào mắt xanh của các đạo diễn hàng đầu.

Ống kính máy quay như thể “phải lòng” Tatyana.

Các nhà quay phim thời đó thường truyền tai nhau một lời khẳng định mang tính huyền thoại: Thật bất khả thi nếu muốn tìm một góc quay xấu của Okunevskaya. Bất kỳ góc độ nào, bất kỳ thứ ánh sáng phức tạp nào khi chiếu lên gương mặt bà cũng chỉ làm tôn lên vẻ đẹp kỳ lạ, mang tính ma mị và đầy nam châm quyến rũ.

Đến những năm 1940, Tatyana Okunevskaya đã bước lên hàng ngũ những biểu tượng nhan sắc quốc gia. Những bộ phim như “Pyshka” (Viên mỡ), “Chuyện xảy ra ở Donbass”, “Đêm trên bầu trời Belgrade”… tạo nên những cơn sốt phòng vé, các rạp chiếu luôn trong tình trạng chật kín khán giả.

Sau chiến tranh, sự nổi tiếng của bà đạt đến đỉnh cao tuyệt đối. Những buổi tiệc chiêu đãi ngoại giao, những bó hoa rực rỡ từ người hâm mộ, những ánh nhìn sùng bái từ công chúng… Cuộc sống đối với người đàn bà tuổi băm ấy dường như vô cùng hào phóng, ngọt ngào và kéo dài bất tận.

2- Cuộc Đối Đầu Ngầm Với “Người Cha Già” Stalin

Sự nổi tiếng và nhan sắc rực rỡ của Tatyana Okunevskaya không chỉ thu hút công chúng mà còn lọt vào tầm ngắm của những bộ óc quyền lực nhất Điện Kremlin. Người đầu tiên chú ý đến bà không ai khác chính là Joseph Stalin.

Trong một buổi tiệc sang trọng được tổ chức tại Điện Kremlin nhằm vinh danh các nghệ sĩ có công trạng trong thời chiến, Tatyana xuất hiện như một nữ thần. Chiếc đầm nhung đen đơn giản nhưng cắt cúp tinh tế càng làm nổi bật nước da trắng ngần và đôi mắt màu mật ong của bà.

Stalin, lúc bấy giờ là lãnh tụ tối cao với quyền sinh quyền sát trong tay, đã bước đến gần bà. Với điếu tẩu trên tay và ánh mắt sắc lẹm, Stalin nhìn xoáy vào Tatyana, đưa ra những lời khen ngợi mang đầy tính gợi mở và hàm ý về một sự “nâng đỡ đặc biệt” nếu bà biết cách làm vui lòng lãnh tụ.

Bất kỳ một nữ diễn viên nào khác trong hoàn cảnh đó có lẽ đã run rẩy vì sợ hãi hoặc quỳ rạp trước cơ hội đổi đời. Nhưng dòng máu quý tộc kiêu hãnh và tính cách bướng bỉnh trong Tatyana đã trỗi dậy.

Bà không giả vờ ngây thơ, cũng không vồn vã đón nhận. Tatyana đáp lại bằng một nụ cười xã giao lạnh lùng, giữ một khoảng cách tôn kính nhưng đầy xa cách. Khi Stalin đưa ly rượu vang mời bà, bà đã khéo léo từ chối với lý do sức khỏe và nhanh chóng lùi về phía sau, lẫn vào đám đông các nghệ sĩ khác.

Hành vi khước từ khôn khéo nhưng kiên quyết này của Tatyana là một cú đánh trực diện vào cái tôi vĩ đại của Stalin. Dù lãnh tụ không ra tay trừng phạt bà ngay lập tức để giữ thể diện, nhưng cái tên Tatyana Okunevskaya đã bị đánh dấu đỏ trong danh sách những kẻ “thiếu lòng thành kính”.

Tuy nhiên, điều tồi tệ nhất đối với bà không đến từ Stalin, mà đến từ kẻ đứng sau bóng tối của Stalin: Lavrentiy Beria.

3- Cái Bẫy Của Con Quỷ Dữ: Âm Mưu Tàn Độc Của Beria

Lavrentiy Beria, người đứng đầu Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD), lực lượng cảnh sát mật khét tiếng, là một trong những nhân vật đáng sợ nhất trong lịch sử Xô Viết. Đằng sau cặp kính cận trí thức và nụ cười hòa nhã là một kẻ tàn bạo, một tên bạo chúa tình dục đích thực.

Beria khét tiếng với sở thích săn lùng các phụ nữ đẹp tại Moskva. Đó không phải là tin đồn vô căn cứ, mà là sự thật được chứng minh bằng hàng chục tập hồ sơ, lời khai và tài liệu giải mật sau này.

Xe của Beria thường lượn lờ khắp các con phố, và bất kỳ cô gái nào, dù là nữ sinh, ca sĩ hay minh tinh điện ảnh lọt vào mắt gã, đều sẽ bị mật vụ áp giải về dinh thự riêng. Với Beria, một lời khước từ không chỉ là sự từ chối tình cảm, mà là một tội ác chống lại quyền lực tối cao của gã.

Beria đã tơ tưởng đến Tatyana từ lâu. Gã không chỉ muốn chiếm đoạt thể xác của bà, mà còn muốn bẻ gãy sự kiêu hãnh của biểu tượng nhan sắc số một liên bang. Một kế hoạch tinh vi và tàn nhẫn đã được gã vạch sẵn.

Một buổi tối cuối năm 1946, sau khi kết thúc buổi biểu diễn tại nhà hát, Tatyana bước ra đường để bắt xe về nhà. Bất chợt, một chiếc ô tô hạng sang màu đen (chiếc ZIS huyền thoại của giới chức cấp cao) với cửa sổ kéo rèm kín mít trờ tới.

Hai gã đàn ông mặc măng-tô dài bước xuống, không một lời giải thích, chúng đưa ra chiếc huy hiệu NKVD lạnh lẽo. “Đồng chí Okunevskaya, đồng chí Beria muốn mời đồng chí tham gia một cuộc họp quan trọng về tương lai điện ảnh,”một tên nói với giọng điệu không thể thỏa hiệp.

Tatyana hiểu rằng bà không có lựa chọn. Chiếc xe lao đi trong đêm đông Moskva lạnh giá, hướng thẳng về phía dinh thự riêng của Beria trên phố Malaya Nikitskaya.

Khi bước qua ngưỡng cửa, không có cuộc họp nào cả. Tatyana được dẫn vào một căn phòng lớn, nơi một bàn tiệc xa hoa đã được bày sẵn dưới ánh đèn chùm lộng lẫy: những chiếc ly pha lê lấp lánh, bộ dao nĩa bằng bạc nặng trịch, những đĩa trứng cá tầm đắt đỏ và hương thơm quyến rũ của rượu vang Gruzia hảo hạng. Mọi thứ trông thật tinh tế, nhưng đối với Tatyana, nó chẳng khác nào một pháp trường được trang hoàng lộng lẫy.

Beria bước ra với chiếc áo khoác tháo cúc, nụ cười nham hiểm hiện rõ trên khuôn mặt. Gã rót rượu, buông những lời tán tỉnh trơ trẽn và bắt đầu dùng quyền lực để ra điều kiện. Beria hứa hẹn sẽ đưa Tatyana lên tầm ngôi sao quốc tế, cấp cho bà biệt thự, xe riêng và bảo hộ cho gia đình bà mãi mãi. Đổi lại, bà phải trở thành người tình bí mật của gã.

Khi thấy Tatyana kiên quyết im lặng, ánh mắt hiện rõ sự ghê tởm, Beria thay đổi chiến thuật. Gã lật bài ngửa, giọng nói trở nên lạnh lùng như băng: Gã nhắc lại quá khứ của cha bà, nhắc đến những người bạn của bà đã “biến mất” không dấu vết, và ám chỉ rằng số phận của bà hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay gã.

“Tatyana thân mến, cô nghĩ mình là ai? Một ngôi sao? Tôi có thể biến cô thành một huyền thoại, nhưng tôi cũng có thể biến cô thành cát bụi trong một cái búng tay,” Beria thì thầm bên tai bà.

Đỉnh điểm của đêm kinh hoàng đó là khi Beria lao vào cưỡng bức bà. Tatyana đã phản kháng dữ dội bằng tất cả sức bình sinh, bà tát thẳng vào mặt gã bạo chúa và buông lời nguyền rủa. Sự chống cự của bà chỉ làm kích động thêm sự tàn bạo của Beria.

Đêm hôm đó, nhan sắc kiêu hãnh của điện ảnh Liên Xô đã bị chà đạp thô bạo ngay trong hang ổ của con quỷ dữ. Khi bà bị tống ra khỏi dinh thự vào rạng sáng, Beria nhìn theo với ánh mắt hằn học: “Cô sẽ phải cầu xin tôi, Okunevskaya.”

4- Bản Án Nghiệt Ngã Và Địa Ngục Gulag

Sự trả thù của Beria đến không ồn ào nhưng vô cùng tàn nhẫn và chuẩn xác. Gã không bắt bà ngay lập tức mà bắt đầu cô lập bà. Các đạo diễn đột ngột từ chối giao vai cho Tatyana mà không rõ lý do. Tên bà bị gạch khỏi các sự kiện lớn. Hào quang quanh bà tắt dần trong sự ngỡ ngàng của công chúng.

Và rồi, điều gì đến cũng phải đến. Vào một đêm muộn năm 1948, các đặc vụ NKVD đập cửa nhà Tatyana Okunevskaya. Bà bị bắt giữ với tội danh ngụy tạo: “Tuyên truyền phản động chống Liên bang Xô Viết và gián điệp cho nước ngoài”.

Không có một phiên tòa công khai nào, không có luật sư bào chữa. Dựa trên những bằng chứng giả mạo do chính tay Beria phê duyệt, Tatyana bị kết án 10 năm tù lao động khổ sai.

Từ một nữ minh tinh sống trong nhung lụa, Tatyana bị tống lên một chuyến tàu chở súc vật, hướng thẳng về các trại tập trung Gulag khét tiếng ở vùng Siberia lạnh giá.

Trại Gulag là nơi biến con người thành những bộ xương di động. Tại đây, Tatyana phải đối mặt với:

Thời tiết khắc nghiệt: Mùa đông xuống dưới âm 40 độ C, da thịt đóng băng.

Lao dịch khổ sai: Bà phải chặt cây, đào đất, làm những công việc chân tay nặng nhọc với khẩu phần ăn chỉ là một mẩu bánh mì đen ẩm mốc và bát súp loãng cặn rau hoai.

Sự hành hạ về tinh thần: Các quản giáo trại giam biết bà từng là một ngôi sao, chúng cố tình sỉ nhục, bắt bà phải quỳ lạy hoặc làm những việc nhục nhã nhất để tiêu diệt chút tự trọng cuối cùng của bà.

Mái tóc màu mật ong rực rỡ ngày nào bị cạo trọc để phòng chấy rận. Đôi bàn tay mềm mại từng nhận hàng ngàn bó hoa của người hâm mộ giờ đây chằng chịt những vết sẹo, chai sạn và rớm máu vì lạnh giá. Nhiều đêm nằm trên sạp gỗ buốt giá, nghe tiếng sói hú ngoài bình nguyên Siberia, Tatyana đã nghĩ đến cái chết. Nhưng lòng kiêu hãnh và ý chí sinh tồn mãnh liệt đã giữ bà ở lại. Bà tự nhủ: Phải sống để chứng kiến ngày tàn của những kẻ đã hãm hại mình.

5- Sự Hồi Sinh Từ Tro Tàn

Năm 1953, một bước ngoặt lịch sử vĩ đại diễn ra: Joseph Stalin qua đời. Không lâu sau đó, Lavrentiy Beria bị lật đổ bởi các đồng chí của mình, bị kết tội phản quốc và bị xử bắn ngay sau đó.

Năm 1954, Tatyana Okunevskaya được trả tự do và được phục hồi danh dự sau hơn 5 năm chịu đựng địa ngục trần gian. Khi bước ra khỏi cổng trại giam, bà chỉ còn là một người đàn bà gầy gò, ốm yếu, nhưng đôi mắt màu mật ong ấy vẫn sáng rực một ý chí bất khuất.

Bà trở về Moskva, nhưng thế giới cũ đã thay đổi. Điện ảnh đã bước sang một trang mới, và khán giả trẻ không còn nhớ đến cái tên Okunevskaya. Thế nhưng, Tatyana không đầu hàng số phận.

Bà quay lại với thánh đường sân khấu, chấp nhận đóng những vai phụ, vai nhỏ, từ từ nhặt nhạnh lại những mảnh vỡ của cuộc đời mình. Bà viết hồi ký, phơi bày những sự thật trần trụi về thời kỳ đen tối ấy, trở thành một nhân chứng sống cho một giai đoạn lịch sử đầy bi kịch.

Tatyana Okunevskaya sống một cuộc đời dài, kiêu hãnh cho đến tận năm 2002, khi bà qua đời ở tuổi 88. Người đàn bà ấy đã đi qua cả một thế kỷ đầy biến động, đã dám nói “Không” trước những kẻ quyền lực nhất thế giới, chịu đựng sự trừng phạt tàn khốc nhất nhưng chưa bao giờ để tâm hồn mình bị khuất phục.

Cuộc đời bà là một minh chứng hùng hồn rằng: Nhỏ bé trước cường quyền nhưng kiên cường trước số phận, cái đẹp chân chính và lòng tự trọng của con người sẽ luôn là thứ chiến thắng cuối cùng trước mọi bạo chúa.

(Lược dịch từ báo Nga)


 

Muhammad Mashali… ông là “Bác sĩ của người nghèo”

My Lan Pham  

Ông chưa từng sở hữu một chiếc ô tô. Ông cũng chưa từng sử dụng điện thoại thông minh hiện đại. Cả cuộc đời ông sống trong một căn hộ nhỏ chật hẹp, mặc những bộ quần áo đã sờn cũ năm nay qua năm khác .Thế nhưng, chỉ riêng người đàn ông này đã cứu sống nhiều người hơn cả những bệnh viện lớn cộng lại.

Tên ông là Muhammad Mashali, nhưng hàng triệu người ở Ai Cập và trên khắp thế giới chỉ đơn giản gọi ông là “Bác sĩ của người nghèo”. Trong hơn năm mươi năm, ông là một phép màu sống giữa những con phố bụi bặm của thành phố Tanta thuộc vùng đồng bằng sông Nile. Tiền bạc và vật chất chưa bao giờ là điều ông theo đuổi, bởi trái tim ông hoàn toàn dành cho việc phụng sự con người.

Mỗi buổi sáng, ông đi bộ đến phòng khám khiêm tốn của mình. Mỗi ngày, ông thường khám cho tới năm mươi bệnh nhân, làm việc hơn mười giờ liên tục mà hầu như không nghỉ ngơi. Với những người có khả năng chi trả, phí khám bệnh chỉ dưới một đô la Mỹ. Còn với những người không có tiền, việc khám chữa bệnh hoàn toàn miễn phí. Và khi y học không thể chữa lành hoàn toàn, ông xoa dịu nỗi đau của họ bằng lòng tốt chân thành cùng sự cảm thông sâu sắc.

Hành trình phi thường ấy bắt đầu từ một lời hứa thiêng liêng. Sau khi tốt nghiệp ngành y với thành tích xuất sắc vào năm 1967, ông luôn ghi nhớ những hy sinh của người cha đã dành cả cuộc đời, thậm chí bỏ bê sức khỏe và sự thoải mái của bản thân, để cho con trai được ăn học thành tài.

Sau khi cha qua đời, vị bác sĩ trẻ đã lập một lời thề với Chúa.

Ông nguyện sẽ không bao giờ nhận một đồng nào từ những người nghèo khi họ đến khám bệnh. Và ông đã giữ trọn lời hứa đó cho đến hơi thở cuối cùng.

Lòng nhân ái của ông dần lan xa vượt khỏi biên giới Ai Cập. Một doanh nhân giàu có đến từ vùng Vịnh nghe được câu chuyện về ông và muốn bày tỏ lòng biết ơn. Người này tặng ông một căn hộ sang trọng, một chiếc xe hơi mới cùng 20.000 đô la tiền mặt.

Vị bác sĩ nhìn những món quà giá trị ấy, mỉm cười nhẹ nhàng rồi từ chối mọi tiện nghi dành cho cá nhân mình. Ông chỉ nhận khoản hỗ trợ tài chính để ngay lập tức bán các tài sản được tặng. Toàn bộ số tiền thu được được dùng để mua các thiết bị y tế hiện đại cho phòng khám và cấp phát thuốc miễn phí cho những bệnh nhân nghèo nhất.

Khi được hỏi vì sao từ chối một cuộc sống sung túc hơn, ông chỉ trả lời đơn giản:

“Tôi không cần xe hơi hay quần áo đẹp. Tôi là bác sĩ, và nhiệm vụ của tôi là phục vụ những người không có gì cả.”

Địa vị xã hội hay tôn giáo cũng không có ý nghĩa đối với ông. Người Hồi giáo và các tín đồ Kitô giáo Coptic cùng đứng xếp hàng trước phòng khám của ông. Ông không chữa trị cho một tôn giáo nào; ông chữa trị cho những con người đang đau khổ.

Lòng hào hiệp của ông dường như không có giới hạn.

Ông cho đi thời gian, sức lực và cả khoản thu nhập ít ỏi của mình. Mỗi khi nhận thấy một bệnh nhân quá nghèo để mua thuốc, bác sĩ Mashali thường lặng lẽ nhét tiền vào túi họ trước khi họ ra về, để họ có thể đến thẳng hiệu thuốc mua thuốc điều trị.

Bác sĩ Muhammad Mashali qua đời vào năm 2020 ở tuổi 76. Ông không để lại khối tài sản khổng lồ, biệt thự xa hoa hay những danh hiệu hào nhoáng. Thứ ông để lại còn quý giá hơn rất nhiều: một di sản vĩnh cửu về lòng trắc ẩn, sự hy sinh và tình yêu thương vô điều kiện.


 

POL POT – CON ĐƯỜNG TỘI ÁC

Tâm Như Thanh Nghị is with Philip Le.

Bóng ma Pol Pot vĩnh viễn bị xóa sổ, kết thúc một thời kỳ tăm tối và rùng rợn bậc nhất trong lịch sử nhân loại thế kỷ 20.

Nhưng tiếng khóc của những vong linh oan khuất, và bài học về sự cảnh giác trước những học thuyết cực đoan, lừa mị sẽ còn lưu lại trong dòng chảy lịch sử.

POL POT – CON ĐƯỜNG TỘI ÁC

Tháng 4 năm 1975, dòng người từ Thủ đô Nam Vang rồng rắn nhích từng bước một trên các ngả đường mòn lởm chởm.

Nếu ai đó kiệt sức mà quỵ xuống, những họng súng AK-47 của bọn lính thiếu niên áo đen sẽ lập tức hành động…

Những xác người bị gạt vội sang vệ đường, lấy chỗ cho dòng người tiếp tục tiến bước.

Bi kịch chỉ thực sự bắt đầu, khi những người sống sót lết được đến các “công xã” ở vùng nông thôn. Tại đây, Pol Pot bắt đầu áp dụng chính sách phân loại giai cấp cực đoan và tàn bạo nhất chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Những người nông dân nghèo ở nông thôn, những kẻ mù chữ và đi theo Khmer Đỏ từ đầu được gọi là “Cựu dân” (Người cũ/Người cơ bản). Họ được trao quyền lực, trở thành những kẻ cai quản mạng sống của người khác.

Ngược lại, 2,5 triệu người dân thành thị vừa bị lùa về, bất kể là giáo sư, bác sĩ hay thợ thủ công, đều bị gắn mác “Tân dân” (Người mới/Người 17 tháng 4).

Trong mắt “Angkar” (Tổ chức), Tân dân không phải là con người. Họ là “ký sinh trùng”, những kẻ mang mầm mống của tư bản thối nát cần phải được tẩy rửa, hoặc… tiêu diệt.

Khmer Đỏ có một khẩu hiệu dành cho Tân dân, được phát đi phát lại trên loa phóng thanh:

“Giữ mày lại cũng chẳng ích gì, tiêu diệt mày cũng chẳng tổn thất chi”.

Và thế là, một cuộc săn lùng trí thức phi lý bậc nhất bắt đầu.

Ở các công xã, những toán lính áo đen đa phần là những thanh thiếu niên thất học được giao nhiệm vụ “thanh lọc” đội ngũ Tân dân.

Chúng đi dọc các hàng người đang rũ rượi, săm soi từng khuôn mặt. Bất cứ ai đeo kính cận đều lập tức bị lôi ra khỏi hàng.

Bởi theo tư duy nguyên thủy của Khmer Đỏ: Đeo kính nghĩa là có đọc sách. Đọc sách nghĩa là trí thức. Mà trí thức thì chắc chắn là phản động, là kẻ thù của Angkar.

Không cần xét hỏi, không cần tòa án, những người đeo kính bị đưa thẳng ra bìa rừng, và thứ chờ đợi họ là những nhát cuốc đập thẳng vào sọ để… tiết kiệm đạn.

Nhiều giáo sư, bác sĩ, kỹ sư đã nhanh trí vứt bỏ kính cận, vứt bỏ bằng cấp, xé nát những cuốn sách yêu quý để đóng giả làm người lái xích lô hay nông dân mù chữ.

Nhưng bọn lính áo đen bắt đầu đi tuần và ra lệnh: “Đưa tay đây tao xem!”.

Chúng lật ngửa bàn tay của từng người lên. Bàn tay nào thô ráp, chai sần, nhuốm màu bùn đất, kẻ đó được sống. Bàn tay nào trắng trẻo, mềm mại, không có vết chai mười ngón, kẻ đó lập tức bị kết án tử hình.

Bởi bàn tay mềm là minh chứng rõ nhất cho việc kẻ đó chưa từng cầm cuốc, chỉ biết ngồi văn phòng bóc lột sức lao động của người khác.

Đã có những người trí thức tuyệt vọng đến mức lén lấy đá mài vào tay cho rướm máu, nhét đất cát vào móng tay để giả làm bần nông, thoi thóp giành giật từng hơi thở qua những đợt kiểm tra tử thần ấy.

Những kẻ may mắn qua lọt cửa ải phân loại thì bị tống vào một lò đày đọa thể xác.

Trong “Năm Số Không”, Pol Pot xóa sổ tiền tệ, đóng cửa trường học, đập phá đền chùa.

Mọi người phải lao động khổ sai từ 12 đến 14 tiếng mỗi ngày trên những cánh đồng chiêm trũng.

Hệ thống gia đình bị phá vỡ hoàn toàn. Đàn ông, đàn bà, trẻ em bị tách ra ở các trại riêng biệt.

Họ không được phép nấu ăn ở nhà mà phải ăn chung tại nhà ăn công xã.

Mỗi ngày, phần ăn của một người lao động kiệt lực chỉ là hai bát nước cháo lỏng loẹt, đếm được vài hạt gạo trôi nổi lẫn với vài cọng rau muống hoang.

Cái đói cào xé tâm can, biến con người thành những bộ xương khô biết đi.

Hàng trăm ngàn người đã gục chết ngay trên bờ ruộng vì đói khát, kiệt sức và bệnh tật mà không có một viên thuốc cứu chữa.

Khắp đất nước Chùa Tháp biến thành một trại tập trung khổng lồ, một “Cánh đồng chết” không có lối thoát.

Thế nhưng, máu của hàng triệu Tân dân dường như vẫn chưa đủ để làm thỏa mãn cơn khát của ác quỷ.

Cỗ máy giết người càng vận hành, Pol Pot càng trở nên hoang tưởng và đa nghi bệnh hoạn.

Hắn bắt đầu nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi, ngay cả trong những cái bóng của chính mình.

Sự hoang tưởng ấy đã châm ngòi cho một cuộc tàn sát còn man rợ hơn: Thanh trừng nội bộ.

Hàng triệu người dân Campuchia đang chết mòn vì đói khát trên những cánh đồng lao động khổ sai, vẫn chưa đủ để xoa dịu cơn hoang tưởng đa nghi của Saloth Sâr (Pol Pot). Ác quỷ bắt đầu nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi, ngay trong chính những chiếc bóng của đồng chí mình….

Đến năm 1976, Saloth Sâr lúc này đã chính thức sử dụng bí danh Pol Pot. Hắn mắc chứng hoang tưởng quyền lực nặng nề.

Dù đã tước đoạt mạng sống của vô số dân thường, gã vẫn mất ngủ mỗi đêm. Gã luôn ám ảnh bởi học thuyết thanh trừng mà Khang Sinh đã nhồi sọ ở Bắc Kinh:

“Kẻ thù nguy hiểm nhất không mang súng từ bên ngoài tới, mà chúng là những con vi trùng đang giấu mặt ngay trong hàng ngũ Trung ương Đảng”

Để truy lùng những con “vi trùng” tưởng tượng này, Pol Pot cần một bộ máy an ninh mật, một lò mổ kín đáo và một tên đao phủ có cái đầu lạnh đến mức tuyệt đối.

Và hắn đã chọn Kaing Guek Eav – bí danh là Duch (Đúc). 

Kaing Guek Eav vốn là một thầy giáo dạy toán cấp hai. Là người tỉ mỉ, ngăn nắp, chính xác đến từng con số và có khả năng tuân thủ mệnh lệnh một cách vô cảm.

Đối với Pol Pot, một thầy giáo toán là người hoàn hảo nhất để “tính toán” mạng sống con người.

Địa điểm được Duch chọn làm “phòng thí nghiệm tử thần” là trường Trung học Tuol Svay Prey, nằm ngay giữa thủ đô Nam Vang hoang vắng. Nơi đây được đổi tên thành Nhà tù S-21 (Tuol Sleng).

Nơi đây từng vang lên tiếng cười đùa của học sinh, nơi ươm mầm tri thức, nay bị bao bọc bởi lớp lớp hàng rào dây thép gai giăng điện.

Những lớp học sáng sủa bị xây gạch bịt kín cửa sổ, chia thành những xà lim chật chội, tối tăm.

Những tấm bảng đen từng dùng để viết công thức toán học, nay trở thành phông nền để chụp ảnh chân dung những tử tù trước khi bước vào cõi chết.

Khi những cán bộ cấp cao, những vị tư lệnh quân khu từng vào sinh ra tử cùng Pol Pot bị nghi ngờ, họ lập tức bị bịt mắt, trói giật cánh khuỷu và tống lên xe tải chở thẳng đến S-21.

Tại đây, Duch áp dụng một quy trình thủ tục hành chính của cõi âm.

Mọi tù nhân khi bước qua cổng S-21 đều bị lột sạch quần áo, đánh đập phủ đầu và bị đẩy ngồi lên một chiếc ghế gỗ để chụp ảnh.

Hàng chục ngàn bức ảnh đen trắng lưu giữ tại Tuol Sleng ngày nay vẫn còn ám ảnh cả nhân loại.

Trong những bức ảnh đó, ánh mắt của các nạn nhân mở to, hoang mang, kinh hoàng khi nhận ra mình sắp bị chính những người “đồng chí” xẻ thịt.

Dưới sự điều hành của thầy giáo toán Duch, các đòn tra tấn ở S-21 không dùng để trừng phạt, mà dùng để “sản xuất” ra những bản khẩu cung.

Pol Pot cần những bản khẩu cung viết tay để chứng minh rằng sự hoang tưởng của gã là đúng.

Duch đáp ứng điều đó bằng những nhục hình thời Trung cổ: rút móng tay, dìm nước, giật điện, hay treo ngược nạn nhân lên xà nhà cho đến khi họ bất tỉnh.

Không một ai có thể chịu đựng được đòn roi ở S-21.

Để được chết nhanh chóng, những vị chỉ huy dạn dày sương gió buộc phải tự nhận mình là gián điệp của CIA, của KGB, là tay sai phản động.

Và buộc phải viết ra những cái tên đồng chí khác để thế mạng, tạo thành một vòng xoáy thanh trừng nội bộ cắn xé lẫn nhau không có hồi kết.

Những bản khẩu cung đẫm máu ấy được Duch đóng tập cẩn thận, đánh số trang rành mạch và gửi thẳng lên bàn làm việc của Pol Pot.

Ngồi trong văn phòng tĩnh lặng, lật giở những lời thú tội được ép nặn bằng nhục hình, Pol Pot mỉm cười đắc ý, tin rằng mình đang “chữa bệnh” cho Đảng.

Nhưng, Khmer Đỏ có một câu khẩu hiệu lạnh sống lưng: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.

Theo logic bệnh hoạn của Pol Pot, nếu xử tử một kẻ phản quốc, thì vợ, con cái, cha mẹ, thậm chí là trẻ sơ sinh của kẻ đó cũng mang “dòng máu phản trắc” và sẽ tìm cách trả thù trong tương lai. Do đó, phải quét sạch toàn bộ gia đình.

Những chuyến xe tải chở đầy phụ nữ và trẻ em vô tội chạy trong đêm về phía Cánh đồng buôn Choeung Ek (cách Nam Vang 15km).

Tại đó, những tên lính thiếu niên tay cầm những chiếc búa tạ, rìu, và nhíp xe tải cũ đập vỡ sọ từng người một, rồi đạp xác họ xuống những cái hố tập thể khổng lồ.

Những đứa trẻ sơ sinh bị cầm chân, quật thẳng đầu vào một thân cây cổ thụ (sau này được gọi là Cây Tàn Sát) cho đến chết để tiết kiệm đạn.

Tiếng thét của nạn nhân bị át đi bởi tiếng loa phát thanh mở max âm lượng những bài hát ngợi ca Angkar.

Chỉ trong hơn 3 năm, lò mổ S-21 đã nuốt chửng ít nhất 14.000 đến 20.000 sinh mạng. Trong số đó, chỉ có vỏn vẹn 7 người sống sót bước ra khỏi cánh cổng địa ngục.

Máu của chính đồng bào mình dường như đã làm gã bạo chúa Pol Pot say sưa đến mức mất trí.

Nhưng khi bóng ma S-21 không còn làm gã thỏa mãn, khi những “vi trùng” trong nước đã hết, con dã thú bắt đầu phóng ánh mắt đỏ ngầu ra ngoài biên giới.

Nó cần một kẻ thù mới, một cuộc chiến tranh mới để kích động tinh thần dân tộc cực đoan.

Và mục tiêu tiếp theo của Pol Pot nhắm thẳng vào dải đất hình chữ S ở phía Đông, nơi những ân nhân ngày xưa từng cưu mang hắn…

THẢM SÁT Ở BA CHÚC

Năm 1977, chính sách vắt kiệt sức lao động để trồng lúa của Pol Pot thất bại thảm hại. Người dân chết đói la liệt, hạn hán kéo dài, chỉ tiêu không đạt.

Tiếng oán thán, dù không dám thốt thành lời, đã âm ỉ râm ran khắp các công xã nông nghiệp.

Một bộ óc bệnh hoạn như Pol Pot không bao giờ nhận sai.

Gã cần một “con dê tế thần” để giải thích cho sự nghèo đói của đất nước và để kích động tinh thần dân tộc cực đoan, buộc người dân phải tiếp tục cắn răng phục tùng.

Và hắn đã chọn Việt Nam.

Pol Pot bắt đầu nhồi sọ thứ “thuốc độc” thù hằn dân tộc vào đầu những tên lính áo đen. Gã rêu rao trên đài phát thanh rằng:

Chính Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp đang muốn nuốt chửng Campuchia, chính gián điệp Việt Nam đang phá hoại mùa màng.

Pol Pot vứt bỏ hoàn toàn ân tình năm xưa, khi quân du kích Việt Nam từng cưu mang, bảo vệ và nhường cơm sẻ áo cho hắn những ngày đầu luồn lách ở rừng sâu.

Lệnh bài tàn sát được ban ra: “Chỉ cần 2 triệu quân, mỗi người giết 30 người Việt Nam, thì chúng ta sẽ thắng!”.

Tháng 4 năm 1977, những tiếng súng khiêu khích đầu tiên vang lên dọc tuyến biên giới Tây Nam (Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp…).

Lúc bấy giờ, bộ đội và nhân dân Việt Nam ở vùng biên giới đã hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng ta vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh ách liệt chưa đầy hai năm, khát vọng hòa bình đang cháy bỏng.

Hơn thế nữa, trong suy nghĩ của nhiều người, Khmer Đỏ vẫn là “người anh em, đồng chí” láng giềng.

Bọn lính áo đen không tấn công theo kiểu quân đội thông thường. Chúng chọn cách hành quyết của những bóng ma.

Chúng thường lén lút vượt biên vào nửa đêm về sáng, khi người dân các xóm ấp vùng biên đang say giấc nồng.

Đỉnh điểm của sự man rợ, câu chuyện khiến cả thế giới bàng hoàng rúng động, chính là Thảm sát Ba Chúc (Tri Tôn, An Giang) vào giữa tháng 4 năm 1978.

Khi quân Khmer Đỏ tràn vào xã Ba Chúc, những người dân hiền lành, từ cụ già đến trẻ nhỏ, đã chạy vào ẩn nấp trong chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu.

Họ tin rằng, chốn cửa Phật linh thiêng sẽ che chở cho họ khỏi mũi súng của ác quỷ. Dù sao, Pol Pot cũng từng có thời gian tu tập ở chùa cơ mà?

Nhưng đạo quân vô hồn của Pol Pot không biết đến thần thánh. Chúng xông thẳng vào chánh điện.

Chỉ trong vỏn vẹn 12 ngày đêm, 3.157 người dân vô tội ở Ba Chúc đã bị tàn sát.

Máu chảy lênh láng nhuộm đỏ những bức tường rêu phong của chùa Phi Lai, đọng thành từng vũng đặc quánh trên sàn gạch.

Hàng ngàn thi thể nằm phơi mình dưới nắng gắt, mùi tử khí bốc lên nồng nặc bao trùm cả một vùng biên ải.

Cái chết của hơn 3.000 đồng bào Ba Chúc, cùng hàng ngàn sinh mạng khác dọc tuyến biên giới Tây Nam, giống như một giọt nước tràn ly.

Kẻ bên kia biên giới không còn là con người. Chúng là bầy ác thú say máu không thể cứu chữa bằng lời nói hay hiệp ước.

Hiểu rõ dã tâm của tập đoàn phản động Pol Pot – Ieng Sary, và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, Việt Nam quyết định không nhân nhượng thêm một phút giây nào nữa.

Giáng sinh năm 1978, trên đài phát thanh Nam Vang, Pol Pot vẫn đang thao thao bất tuyệt bằng một giọng điệu ngạo mạn điên rồ.

“Quân đội Kampuchea Dân chủ có thể đánh bại Việt Nam dễ như trở bàn tay. Một người Khmer có thể giết 30 người Việt!”.

Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, ngày 25 tháng 12 năm 1978 Quân tình nguyện Việt Nam mở cuộc tổng phản công trên toàn tuyến biên giới.

Những sư đoàn chủ lực đồng loạt tiến công với sức mạnh chẻ tre. Pháo binh gầm rít xé toạc bầu trời, xe tăng dẫn đầu đội hình bộ binh thọc sâu vào các phòng tuyến của Khmer Đỏ.

Khi phải đối đầu trực diện với một đội quân chính quy, thiện chiến, những tên lính vị thành niên của Pol Pot nhanh chóng vỡ trận.

Chúng hoảng loạn, vứt bỏ súng ống, cởi phăng bộ quần áo đen để tháo chạy thục mạng vào rừng. Hệ thống phòng ngự do cố vấn nước ngoài xây dựng bị đập vụn từng mảng.

Mới ngày hôm trước, Pol Pot còn hô hào “quyết tử”, thì nay, khi nghe tiếng đại bác của quân tình nguyện Việt Nam, bộ sậu Pol Pot, Ieng Sary, Nuon Chea đã cuống cuồng thu gói hành lý.

Sáng ngày 7 tháng 1 năm 1979, vài giờ trước khi xe tăng Việt Nam tiến vào trung tâm thủ đô Phnom penh.

Pol Pot – vị “Anh Cả” tối cao, kẻ từng tuyên bố không sợ trời không sợ đất đã lén lút trèo lên một chuyến tàu hỏa đặc biệt, mang theo vàng bạc và vây cánh, cắm đầu tháo chạy về phía biên giới Thái Lan, bỏ lại sau lưng hàng vạn binh lính đang chết thay cho mình.

Sự tháo chạy của giới chóp bu diễn ra gấp gáp và thảm hại đến mức, tại “lò mổ” S-21 (Tuol Sleng), tên đao phủ Duch (Đúc) cũng rơi vào thế mất trí.

Nhận lệnh từ cấp trên phải “xóa sổ mọi dấu vết”, Duch cuống cuồng ra lệnh hành quyết những tù nhân cuối cùng.

Nhưng quân tình nguyện Việt Nam tiến vào quá nhanh. Duch bỏ chạy vắt chân lên cổ, vứt lại toàn bộ hiện trường đẫm máu.

Nhờ sự tháo chạy nhục nhã ấy mà thế giới mới có bằng chứng để kết tội chúng sau này.

Hàng vạn tập hồ sơ khẩu cung dính máu, hàng ngàn bức ảnh chụp các nạn nhân trước giờ hành quyết bị bỏ lại vương vãi trên sàn nhà.

Và đặc biệt nhất, 7 tù nhân còn sống sót nhờ có “tay nghề” (người biết vẽ chân dung Pol Pot, người biết sửa máy đánh chữ…) đã may mắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần trong gang tấc.

Trưa ngày 7 tháng 1 năm 1979, những chiếc xe tăng của Quân Tình nguyện VN, oai hùng lăn bánh vào trung tâm Nam Vang.

Chế độ diệt chủng Khmer Đỏ chính thức sụp đổ sau 3 năm, 8 tháng và 20 ngày tồn tại, để lại sau lưng gần 3 triệu xác người.

Nhưng ác quỷ chưa chết.

Pol Pot cùng tàn quân đã lủi sâu vào những vùng rừng núi hiểm trở dọc biên giới Thái Lan, vẫn giật dây những cuộc chiến tranh du kích ròng rã suốt những năm sau đó.

……

Sau khi tháo chạy khỏi Nam Vang, Pol Pot cùng tàn quân Khmer Đỏ co cụm về vùng rừng núi hiểm trở Anlong Veng, sát biên giới Thái Lan.

Lợi dụng sự đối đầu của các siêu cường trong Chiến tranh Lạnh, tàn quân Khmer Đỏ vẫn được cung cấp vũ khí, lương thực để tiếp tục tiến hành chiến tranh du kích, phá hoại công cuộc hồi sinh của đất nước Campuchia.

Trong suốt thập niên 1980 và đầu 1990, Pol Pot vẫn lấy thêm vợ bé, sinh con gái, và tiếp tục gieo rắc ảo mộng về việc lấy lại quyền lực.

Khi chiến tranh Lạnh kết thúc. Nguồn viện trợ bị cắt đứt hoàn toàn, tàn quân Khmer Đỏ lâm vào cảnh cùng quẫn, bệnh tật và đào ngũ hàng loạt.

Đối diện với sự suy tàn không thể vãn hồi, căn bệnh hoang tưởng, đa nghi của Pol Pot lại một lần nữa bùng phát dữ dội. Giống như một con thú bị dồn vào chân tường, gã bắt đầu cắn xé chính đồng loại của mình.

Tháng 6 năm 1997, sự kiện chấn động cuối cùng của Khmer Đỏ nổ ra.

Nghi ngờ người đồng chí vào sinh ra tử, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Son Sen đang bí mật đàm phán để đầu hàng chính phủ, Pol Pot đã ra một lệnh hành quyết.

Nửa đêm, tay sai của Pol Pot ập vào nhà Son Sen. Chúng bắn chết Son Sen cùng vợ và toàn bộ 13 người trong gia đình, bao gồm cả những đứa trẻ sơ sinh.

Man rợ hơn, Pol Pot còn ra lệnh cho xe tải cán qua cán lại thi thể của gia đình người đồng chí cũ.

Hành động giết hại dã man gia đình Son Sen đã làm giọt nước tràn ly, phá vỡ hoàn toàn chút trung thành cuối cùng của giới chóp bu Khmer Đỏ.

Tướng Ta Mok (kẻ mang biệt danh “Gã đồ tể”) đã quyết định làm binh biến.

Chỉ vài ngày sau, lực lượng của Ta Mok bao vây doanh trại, tước vũ khí và bắt sống chính “Anh Cả” Pol Pot.

Tháng 7 năm 1997, một phiên tòa “kỳ lân” diễn ra ngay giữa rừng sâu Anlong Veng. Kẻ bị đem ra xét xử là Pol Pot. Và những kẻ ngồi trên ghế quan tòa, chỉ tay kết án gã, lại chính là những tên đao phủ thủ hạ do gã nhào nặn ra!

Phiên tòa không hề kết án tội ác diệt chủng, gần 3 triệu người dân vô tội mà chỉ kết án gã vì tội “Phản bội tổ chức” (giết Son Sen).

Pol Pot bị kết án tù chung thân dưới hình thức quản thúc tại gia. Gã bị nhốt trong một căn lều gỗ lụp xụp, xung quanh là hàng rào kẽm gai và lính canh gác ngày đêm.

Từ một vị Chúa tể nắm quyền sinh sát cả quốc gia, Pol Pot giờ đây chỉ là một lão già 73 tuổi ốm yếu, rụng hết tóc, thở dốc từng cơn hôi hám và phải sống bằng những liều thuốc trợ tim.

Tối ngày 15 tháng 4 năm 1998, khi đang nằm thoi thóp trên giường bệnh, Pol Pot nghe được một bản tin trên đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) mà vợ gã mở bên cạnh.

Bản tin thông báo rằng tàn quân Khmer Đỏ đã đạt được thỏa thuận: Chúng sẽ giao nộp gã cho Tòa án Công lý Quốc tế để đổi lấy sự ân xá.

Nghe xong tin sét đánh ấy, lão già bạo chúa nhắm mắt lại. Vài giờ sau, gã tắt thở.

Khmer Đỏ thông báo gã chết vì “đau tim”.

Nhưng rất nhiều nhà sử học và nhà báo độc lập tin rằng, một kẻ kiêu ngạo như Pol Pot đã tự kết liễu đời mình bằng một liều thuốc độc quá liều, hoặc bị chính thủ hạ đầu độc để bịt đầu mối trước khi gã bị đem ra quốc tế đối chất.

Dù nguyên nhân là gì, thì đám tang của tên ác quỷ kiến tạo nên “Cánh đồng chết” cũng là một bản án mỉa mai đến tận cùng.

Thi thể Pol Pot được bọc trong một tấm nilon, đặt trên một chiếc đệm rách. Vài tên lính khiêng xác gã ra một bãi đất trống bốc mùi.

Chúng xếp vài chiếc lốp xe ô tô cũ, vứt lên đó một đống củi mục và rác rưởi rồi châm lửa đốt. Khói đen cuồn cuộn bốc lên khét lẹt.

Một kẻ đã thiêu rụi cả nền văn minh của một quốc gia, cuối cùng lại hóa tro bụi trên một đống rác lốp xe. Tro cốt của gã bị gió rừng thổi bay tứ tán, không để lại dù chỉ là một nấm mồ.

“LẬT MỞ HỒ SƠ MẬT”

(Từ FB Lão Ngoan Đồng)

TN2:

Bài viết hay nhưng chưa đủ: Khmer Đỏ nổ súng xung đột với Vietnam ngay sau 4/1975 ở đảo Thổ Châu, rồi lẻ tẻ ở biên giới dưới sự xúi giục của Trung Quốc. Nhưng lãnh đạo VN khi đó không tin “anh em mình phản bội lại mình “, vẫn tiến hành học tập chính trị để thanh lọc thanh trừng hàng ngũ cán bộ quân đội sau chiến thắng; buộc các đơn vị làm nông trường, súng đạn rét sỉ, …

Dân chúng Việt Miên dọc biên giới biết Khmer Đỏ chuẩn bị đánh sang nên báo tin cho chính quyền và xin vũ trang tự vệ thì cán bộ chẳng những không tin , mà còn tỏ thù nghịch với dân …

Vì vậy mới có vụ thảm sát Ba Chúc vì bộ đội bỏ chạy, dân chúng lượm súng tự võ trang thì đã quá trễ (tháng 10/1978 tôi đến đơn vị E20 F4 ở Tri Tôn, Lương Phi, Ba Chúc (Tịnh Biên) được lính cũ cùng dân chúng kể lại. Sau đó chúng tôi tiến qua Kampuchea cho đến gần 10 năm sau)


 

AI – robot : “ Vũ khí thần kỳ ” trong chiến tranh hiện đại ?(RFI)

RFI

Mỗi cuộc chiến tranh đều có những “vũ khí thần kỳ” của riêng mình. Chúng luôn được giới thiệu theo cùng một cách: hoặc sẽ chấm dứt mọi cuộc chiến tranh, hoặc ít nhất cũng giúp kết thúc chiến tranh với tổn thất tối thiểu cho phe sử dụng chúng.

Đăng ngày: 08/06/2026 

Thùy Dương

Trong nội chiến Hoa Kỳ thời trước, đó là các loại súng “liên thanh”, tàu bọc thép và tàu ngầm. Trong Thế chiến thứ nhất, đó là xe bọc thép, thời đó được ví như những “chiến hạm trên bộ”, và vũ khí hóa học. Khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, tổng thống Harry Truman thì cảm tạ Chúa vì sự ra đời của bom nguyên tử. Còn đối với các quân đội thời nay, trí tuệ nhân tạo (AI) chính là “vũ khí thần kỳ” phiên bản mới nhất.

Trên đây là nhận định của Paul Josephson trong bài viết “Vì sao robot không thể giành chiến thắng trong chiến tranh ?”. Bài viết đăng ngày 03/06/2026 trên trang mạng Pháp ngữ Le Grand continent, chuyên về địa-chính trị. Paul Josephson là giáo sư lịch sử tại trường đại học tư thục Colby College của Hoa Kỳ, và chuyên nghiên cứu về nước Nga và Liên Xô, lịch sử khoa học và công nghệ trong thế kỷ XX.

Một cách khái quát, AI được sử dụng thế nào trong chiến tranh ?

Những người ủng hộ AI cho rằng công nghệ này cho phép tiến hành các cuộc tấn công từ xa, giảm thiểu thương vong cho lực lượng của mình, thực hiện các đòn đánh chính xác mà vẫn bảo vệ được dân thường. Các drone và phương tiện tự hành có thể thực hiện các nhiệm vụ định vị mục tiêu và tiêu diệt mà không khiến binh sĩ gặp nguy hiểm.

Tuy nhiên, theo tác giả bài viết, AI thực chất là sản phẩm của một tổ hợp công nghiệp – quân sự – kỹ thuật số được hậu thuẫn bởi hàng chục tỷ đô la đầu tư, khuyến khích các hành động quân sự vội vã thay vì ngoại giao, tạo ra cảm giác bất khả chiến bại giả tạo và, giống như những “vũ khí thần kỳ” của thế kỷ XX, AI cũng dẫn đến các hành vi lạm dụng chống lại dân thường.

Theo các phương tiện truyền thông và nhiều nhà phân tích được sử gia Paul Josephson dẫn lại, AI hiện diện ở hầu hết các cuộc chiến tranh đương đại. Xuất phát từ lĩnh vực quân sự, các ứng dụng của AI được sử dụng để nhắm vào đối thủ ở nước ngoài hoặc để giám sát công dân trong nước. Các tập đoàn AI lớn và các nhà lãnh đạo của các công ty này, từ Palantir, OpenAI, cho đến Google, và nhiều công ty khác, đang đặt cược vào ý tưởng rằng AI có thể tiến hành chiến tranh thay cho con người, với chi phí thấp hơn và ít thương vong hơn.

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu chuyên về lịch sử khoa học và công nghệ trong thế kỷ XX, đó là một giả định sai lầm.

Không chỉ có nguồn gốc quân sự, AI dường như còn lệ thuộc vào quân đội ?

Từ những năm 2010, drone bắt đầu bay trên các khu dân cư. Vừa là đồ chơi cho trẻ em vừa là công cụ giám sát, chúng dần dần hòa vào đời sống thường nhật. Tuy nhiên, nguồn gốc của chúng vẫn là quân sự. Thiết bị này được tạo ra để tấn công các mục tiêu ở xa mà không đặt binh lính vào cảnh nguy hiểm. Nhẹ và dễ điều khiển, drone đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chiến tại Syria, Ukraina, Palestine, Venezuela và Iran trong thập kỷ này.

Xuất phát từ nhu cầu quân sự, cho đến nay AI vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn tài trợ từ quân đội và phần lớn các ứng dụng của AI vẫn gắn với lĩnh vực chiến tranh.

Tác giả bài viết dẫn ví dụ tại Hoa Kỳ : Ngân sách nghiên cứu trong lĩnh vực quốc phòng của Mỹ vượt xa đáng kể ngân sách của Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF). Nguồn tài trợ của bộ Quốc Phòng Mỹ dành cho trí tuệ nhân tạo hiện giờ vượt gấp 20 lần so với Quỹ Khoa học Quốc gia. Bên cạnh việc thúc đẩy sự phát triển của điện tử lượng tử- yếu tố thiết yếu cho các chất bán dẫn vận hành máy tính, điện thoại di động và các thiết bị viễn thông khác, các khoản tài trợ khổng lồ dành cho quốc phòng không còn chỉ hướng đến nghiên cứu cơ bản mà đã mở đường cho nghiên cứu ứng dụng.

Nghiên cứu trong lĩnh vực quân sự quyết định phần lớn các cách sử dụng và ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI). Cũng theo sử gia này, Lầu Năm Góc giờ đây thậm chí còn hướng tới việc thay thế toàn bộ binh lính trên chiến trường.

Vai trò mới của AI trong chiến tranh hiện đại là gì ?

Chính quyền Mỹ của tổng thống Donald Trump không che giấu sự quan tâm đặc biệt đối với AI, một công nghệ được sử dụng không chỉ trong các chiến dịch quân sự ở nước ngoài mà còn trong chính sách đối nội, đặc biệt là các chiến dịch bắt giữ quy mô lớn do Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ tiến hành.

Ngân sách dự kiến của Nhà Trắng dành cho Cơ quan Các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến (DARPA) trong năm 2027 lên tới hơn 5 tỷ đô la, tăng gần 20% so với năm 2026. Trên trang web chính thức, DARPA khẳng định các đổi mới của cơ quan này “đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sống dân sự hiện đại”, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải “đưa các công nghệ mới phục vụ những người đang chiến đấu vì đất nước”.

Văn phòng Nghiên cứu Hải quân thuộc bộ Quốc Phòng Mỹ cũng xác định AI là ưu tiên trong phát triển các hệ thống hàng hải tự động, dù theo tác giả, quyết định này được đưa ra quá muộn để có thể giúp tái mở cửa eo biển Hormuz trong ngắn hạn.

Trong khi đó, Văn phòng Kỹ thuật số và Trí tuệ nhân tạo thông báo sẽ hợp tác với các công ty tư nhân chuyên về AI như Anthropic, OpenAI, Google và xAI nhằm phát triển các công cụ AI có khả năng sát thương.

Lầu Năm Góc cũng đang thúc đẩy dự án “Thunderforge”, một chương trình nhằm tự động hóa một số khâu trong chuỗi chỉ huy, đồng thời xây dựng các kế hoạch tác chiến và mô phỏng chiến tranh để dự báo các mối đe dọa khác nhau.

Marc Andreessen, một nhà tài trợ lớn của Donald Trump, người có tư tưởng “lạc quan về công nghệ” và ủng hộ việc đẩy nhanh phát triển AI, chỉ toàn nhìn thấy những mặt tích cực trong làn sóng đổi mới này của Lầu Năm Góc, cũng như trong các ứng dụng tiềm năng của AI đối với chiến tranh. Tương tự như những nhà hóa học từng cho rằng vũ khí hóa học là một phương tiện giết chóc “nhân đạo hơn” trong Đệ Nhất Thế chiến, Andreessen lập luận rằng AI sẽ “cải thiện chiến tranh” trong trường hợp không thể tránh khỏi chiến tranh, bằng cách làm giảm đáng kể tỷ lệ thương vong. Theo ông, điều đó có thể đạt được nhờ “những quyết định chiến lược và chiến thuật tốt hơn, giúp giảm thiểu rủi ro, sai sót và sự đổ máu không cần thiết”.

Tuy nhiên, Paul Josephson phản bác là nếu các “vũ khí thông minh” giúp binh sĩ tránh xa tuyến đầu, thì chúng cũng không làm giảm khả năng gây sát thương, mà ngược lại còn có thể khiến người sử dụng trở nên ít nhạy cảm hơn với hành vi giết chóc, đồng thời khuyến khích việc sử dụng vũ lực ở quy mô lớn hơn, kéo theo những “thiệt hại ngoài dự kiến” và ngày càng nghiêm trọng đối với dân thường.

Ví dụ, theo sử gia Paul Josephson, các loại vũ khí được mô tả là “thông minh” này đã góp phần gây ra cái chết của hàng ngàn người dân Iran, trong đó có nhiều học sinh.

Nhưng AI quân sự cũng làm dấy lên nhiều tranh luận về đạo đức ?

Ngày 15/05/2026, Giáo hoàng Lêô XIV đã công bố thông điệp đầu tiên của triều đại giáo hoàng của mình và lựa chọn chủ đề AI làm trọng tâm.

Nhắc đến tổ hợp công nghiệp – quân sự – kỹ thuật số, Giáo hoàng Lêô XIV đã cảnh báo rằng AI đang góp phần khiến “việc sử dụng các hệ thống vũ khí có khả năng tự chủ tác chiến trở nên dễ dàng hơn, qua đó khiến chiến tranh trở nên ‘dễ tiếp cận’ hơn và ngày càng ít chịu sự kiểm soát của con người”.

Ngài kêu gọi việc “phát triển và sử dụng AI trong lĩnh vực quân sự phải tuân thủ những chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt nhất, tôn trọng phẩm giá con người và tính thiêng liêng của sự sống, đồng thời tránh một cuộc chạy đua vũ trang”, đặc biệt là “không thể chấp nhận việc giao cho các hệ thống nhân tạo quyền đưa ra những quyết định liên quan đến sinh mạng con người hoặc những quyết định không thể đảo ngược. Không có thuật toán nào có thể khiến chiến tranh trở nên chấp nhận được về mặt đạo đức”.

Trên thực tế, sử gia Paul Jesephson lưu ý là trong một thời gian dài, các nhà lãnh đạo, nhà phát triển, lập trình viên và các nhà tài trợ cho các công cụ AI đã đánh giá quá cao năng lực nhận thức của máy móc, đến mức cho rằng có thể loại bỏ yếu tố con người khỏi quá trình ra quyết định. Trong lĩnh vực nghiên cứu và lập trình AI, các vấn đề đạo đức đặc biệt nghiêm trọng, bởi vì các thuật toán có thể nhanh chóng khuếch đại bạo lực, đưa ra những quyết định nhắm mục tiêu thiếu minh bạch hoặc mang định kiến, làm suy giảm trách nhiệm của con người và gia tăng nguy cơ xác định nhầm “kẻ thù”.

Một số ý kiến khác còn cho rằng các loại vũ khí tự động hoặc được hỗ trợ bởi AI tạo ra những rủi ro pháp lý và đạo đức không thể chấp nhận được, ngay cả khi chúng chỉ nhằm vào các mục tiêu quân sự.

Dĩ nhiên, các hệ thống phòng thủ, từ đánh chặn tên lửa, phát hiện mìn, tổ chức hậu cần sơ tán cho đến phòng thủ mạng, có thể cứu sống nhiều mạng người. Tuy nhiên, liệu việc các lập trình viên phát triển những thuật toán được thiết kế để tấn công dân thường có thể được coi là hành động phù hợp về mặt đạo đức hay không ?

Theo luật nhân đạo quốc tế của Liên Hiệp Quốc, dân thường phải được bảo vệ trong các cuộc xung đột vũ trang. Việc cố ý nhắm mục tiêu vào dân thường nhìn chung bị coi là tội ác chiến tranh. Các bên tham chiến phải phân biệt mục tiêu quân sự và mục tiêu dân sự, đồng thời tránh gây ra những thiệt hại quá mức đối với dân thường.

Chính các nhà sản xuất vũ khí và giới quân sự đang kêu gọi những “chính phủ có trách nhiệm” đầu tư nghiên cứu nhằm bảo đảm triển khai các hệ thống AI có khả năng phân biệt giữa mục tiêu hợp pháp và mục tiêu không hợp pháp, bao gồm cả dân thường. Tuy nhiên, những sai sót thường xuyên trong việc xác định mục tiêu của con người dù được hỗ trợ bởi các loại vũ khí thông minh, cùng với việc dân thường ngày càng bị biến thành mục tiêu chiến tranh cho thấy đó có thể chỉ là một ảo tưởng nguy hiểm và đầy bạo lực.

Điều đó có nghĩa là AI không khiến chiến tranh trở nên chính nghĩa hơn, cũng không hiệu quả hơn ?

Đối mặt với nước Nga của Vladimir Putin, các kỹ sư quân sự Ukraina đã khai thác đến cùng những tiến bộ trong lĩnh vực AI, khoa học vật liệu mới và công nghệ drone.

Các drone của Ukraina sử dụng công nghệ nhận dạng mục tiêu bằng AI để phát hiện xe tăng được ngụy trang hoặc ẩn trong rừng. Ngày nay, các drone thường được trang bị những tay đòn bằng sợi carbon dài khoảng 2,5 mét mỗi bên, cùng với cánh quạt, dây cáp và ăng-ten. Chúng có khả năng tấn công mục tiêu với độ chính xác rất cao. Trước một đối thủ Nga đang tiến hành cuộc chiến nhằm hủy diệt một quốc gia có chủ quyền, rất khó để phủ nhận tính chính đáng của việc Ukraina sử dụng công nghệ này. Nhưng một câu hỏi được đặt ra là vấn đề đạo đức của việc sử dụng AI trong một cuộc chiến tranh bị coi là không có lý do chính đáng từ phía bị tấn công nằm ở đâu.

Theo sử gia Paul Josephson, chính sách địa chính trị của tổng thống Mỹ Donald Trump và thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là một trường hợp nghiên cứu đáng chú ý, vừa cho thấy cách AI quân sự được triển khai trong các cuộc xung đột cường độ cao, vừa cho thấy vì sao công nghệ này có thể tỏ ra kém hiệu quả hơn kỳ vọng, hoặc ít nhất là nuôi dưỡng một ảo tưởng về hiệu quả.

Ông nhận định là các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran được khởi động nhờ cơ hội công nghệ do những tiến bộ trong lĩnh vực AI tạo ra. Việc loại bỏ các lãnh đạo chính trị và quân sự Iran không hẳn xuất phát từ một nhu cầu quân sự cấp thiết, mà trước hết là tận dụng một cơ hội chiến thuật mang tính tạm thời. Trước và trong chiến dịch quân sự, các nhóm chuyên gia Mỹ và Israel đã sử dụng những công cụ này để thu thập thông tin tình báo, xác định mục tiêu, lập kế hoạch không kích và đánh giá thiệt hại chiến trường với tốc độ chưa từng có.

Nhờ khả năng xác định mục tiêu và mức độ sát thương chưa từng thấy, các nhà hoạch định chiến lược và giới lãnh đạo chính trị tin rằng họ có thể nhanh chóng kết thúc cuộc xung đột. Tuy nhiên, Washington đã mắc phải sai lầm quen thuộc của những người quá tin vào các “vũ khí thần kỳ”: bỏ qua những thách thức mới xuất hiện sau các “chiến thắng” ban đầu, khiến Mỹ rơi vào thế bế tắc về bước đi tiếp theo.

Chỉ trong hai ngày đầu của chiến dịch tấn công, Hoa Kỳ đã chi 5,6 tỷ đô la cho đạn dược. Hơn 2.000 đơn vị vũ khí đã được sử dụng nhằm vào những mục tiêu mà Lầu Năm Góc xác định là của Iran. Kể từ khi Donald Trump ra lệnh phát động chiến tranh chống Iran, Mỹ đã mất ít nhất 42 máy bay, làm cạn kiệt một phần đáng kể kho tên lửa và drone, đồng thời chi ít nhất 30 tỷ đô la cho cuộc xung đột.

Tuy nhiên, vũ khí không phải là nguồn lực vô hạn. Việc bổ sung kho dự trữ cần đến nhiều tháng, đặc biệt đối với các loại vũ khí chính xác cao được hỗ trợ bởi AI. Dường như Mỹ đã không nhận ra rằng công nghệ, tự nó, không thể mang lại chiến thắng trong chiến tranh. Sử gia Paul Josephson, chuyên về lịch sử công nghệ thế kỷ XX, kết luận : công nghệ cũng không thể ngăn chặn những chi phí khổng lồ mà mọi cuộc xung đột vũ trang đều gây ra. Niềm tin vào AI chắc chắn đã thúc đẩy việc sử dụng công nghệ này trên chiến trường, nhưng đồng thời cũng thổi phồng hiệu quả thực sự của nó.