Iran đóng lại eo biển Hormuz để đáp trả lệnh phong tỏa của Mỹ (RFI)

(RFI)

Hôm nay 18/04/2026, Iran tuyên bố khôi phục “kiểm soát chặt chẽ” eo biển Hormuz để đáp trả việc Mỹ tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa các cảng của Iran, qua đó đảo ngược quyết định đưa ra hôm trước về việc mở lại tuyến hàng hải chiến lược này.

Ảnh tư liệu : Chủ tịch Quốc Hội Iran Mohammad Bagher Qalibaf chủ trì một phiên họp tại Teheran, Iran, ngày 01/02/2026. AFP – – 


 

Đàm phán về hòa bình Trung Đông : Hai phái đoàn Mỹ và Iran rời Pakistan mà không đạt thỏa thuận

1) Đàm phán về hòa bình Trung Đông : Hai phái đoàn Mỹ và Iran rời Pakistan mà không đạt thỏa thuận

Hôm nay, 12/04/2026, hai đoàn Mỹ và Iran đã rời Islamabad mà không đạt thoả thuận chấm dứt xung đột, sau gần một ngày đàm phán, cuộc đàm phán cấp cao nhất giữa 2 nước kể từ Cách mạng Hồi giáo Iran năm 1979. 

RFI

2)Bầu cử Quốc Hội Hungary: Chấm dứt ‘‘chế độ’’ Orban hay một nhiệm kỳ thứ 5 ?

Cử tri Hungary bỏ phiếu bầu Quốc Hội mới hôm nay 12/04/2026. Theo giới quan sát, đây là cuộc bầu cử có thể cho phép chấm dứt thời kỳ « cai trị » kéo dài 16 năm của thủ tướng Orban và đảng Fidesz. Các phòng phiếu mở cửa từ 6 giờ sáng hôm nay, giờ địa phương.  

RFI


 

Canh thức Cầu nguyện cho Hòa bình vào thứ Bảy ngày 11 tháng 4 với Đức Giáo hoàng Lêô XIV …

Canh thức Cầu nguyện cho Hòa bình vào thứ Bảy ngày 11 tháng 4 với Đức Giáo hoàng Lêô XIV …

Đức Tổng Giám mục Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ kêu gọi:

 “Đức Thánh Cha Lêô XIV đã mời gọi mọi người cùng tham gia với Ngài trong một buổi Canh thức Cầu nguyện cho Hòa bình vào thứ Bảy, ngày 11 tháng 4.

Tôi tha thiết kêu gọi quý anh em giám mục, quý linh mục, giáo dân và tất cả những ai đang khao khát một nền hòa bình đích thực,

hãy cùng tham gia vào Buổi Canh thức Cầu nguyện cho Hòa bình của Đức Thánh Cha

—dù là tham dự trực tuyến, tại các giáo xứ, nhà nguyện, hay ngay trước sự hiện diện của Chúa trong thinh lặng của tâm hồn mình—

để hiệp thông cùng Đức Thánh Cha mà cầu nguyện cho hòa bình trên thế giới chúng ta.”

 Kính mời xem chi tiết nơi đường dẫn

https://vietcatholic.net/Media/DGHcnchb11042026.pdf

Nguon: LIÊN ĐOÀN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Phi công được giải cứu : Thành công hay thất bại của Trump ? (RFI)

(RFI)

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm nay, 05/04/2026, trên mạng xã hội Truth Social loan báo đã cứu thoát được viên phi công Mỹ bị mất tích tại Iran sau khi chiếc chiến đấu cơ F-15E bị hệ thống phòng không Iran bắn hạ hôm thứ Sáu, 03/04, trong một chiến dịch giải cứu mà ông đánh giá là « táo bạo nhất trong lịch sử Hoa Kỳ ».

Đăng ngày: 05/04/2026 

 

Ảnh được cho là xác máy bay Mỹ trong chiến dịch giải cứu phi công bị lâm nạn trên lãnh thổ Iran. Ảnh do Lực lượng Vệ Binh Cách Mạng cung cấp và truyền thông Iran đăng tải ngày 05/04/2026. AFP – –

Minh Anh

Tổng thống Mỹ khẳng định viên phi công này đã bị thương, nhưng « sẽ phục hồi nhanh ». AFP nhắc lại, viên phi công được giải cứu là thành viên đội bay chiếc F-15E hai chỗ ngồi bị bắn rơi trên không phận Iran ; người còn lại trên máy bay đã được tìm thấy an toàn và bình an ngay từ khi chiếc máy bay gặp nạn hôm 03/04/2026.

Tuy nhiên, đối với Teheran, chiến dịch giải cứu này của Mỹ là một « thất bại thảm hại ». Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo đăng nhiều hình ảnh khẳng định đã bắn hạ nhiều máy bay chiến đấu của Mỹ trên không phận Iran. Lực lượng quân sự này còn cho biết thêm là quân đội Mỹ đã sử dụng một phi trường bỏ hoang ở Isfahan để giải cứu viên phi công.

Từ Teheran, thông tín viên Siavosh Ghazi giải thích :

« Iran gọi đây là một thất bại thảm hại cho chiến dịch giải cứu phi công Mỹ. Theo Teheran, một máy bay C-130 cũng như một trực thăng Black Hawk và hai chiếc drone hiện đại của Mỹ là Hermès và MQ9 đã bị bắn rơi trong chiến dịch này. Giao tranh trên bộ đã diễn ra, phía Iran cho biết có 9 người chết và 8 người khác bị thương.


 

Chúa Khước Từ Những Ai Gieo Rắc Chiến Tranh: Đức Giáo Hoàng Leo XIV Lên Án Những Bàn Tay Vấy Máu

Viet Ba’o

03/04/2026

Nguyên Hòa

Giáo hoàng Leo XIV chào tín hữu từ xe giáo hoàng khi tiến vào Quảng trường Thánh Phêrô để cử hành thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Vatican, ngày 29 tháng 3 năm 2026. Ảnh: Grzegorz Galazka/Archivio Grzegorz Galazka/Mondadori Portfolio via Getty Images.

 Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.”

Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những cuộc xung đột dữ dội, ngôn ngữ chính trị trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.

Hai ngày sau Lễ Lá, vào ngày 31 tháng 3, trả lời báo chí tại Castel Gandolfo, Đức Giáo Hoàng lại nhắc trực tiếp đến Donald Trump. Ngài nói hy vọng Tổng thống Mỹ đang tìm một “lối thoát” để giảm bớt bom đạn, hạ nhiệt chiến tranh và mở đường cho đối thoại. Ngài cũng kêu gọi lãnh đạo thế giới trở lại bàn đối thoại, tìm cách giảm bớt bạo lực, để “bình an, nhất là trong mùa Phục Sinh, có thể ngự trị trong tâm hồn chúng ta.” Ngài nói, như một lời nhấn mạnh rằng hòa bình không đến từ việc đẩy xung đột tới cực điểm, mà từ khả năng dừng lại trước khi quá muộn.

Trong khi ấy Washington lại phát ra một giọng điệu khác hẳn. Chính quyền Trump gia tăng áp lực với Iran, đưa ra những lời đe dọa nhắm vào hạ tầng điện, nước và năng lượng. Họ có thể gọi đó là chiến lược. Nhưng khi mục tiêu bị đẩy sát đến những điều kiện sống còn tối thiểu của dân thường, vấn đề không còn chỉ là đối sách giao tranh, nó trở thành một câu hỏi về giới hạn đạo lý.

Sự đối nghịch càng rõ hơn khi Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, trong buổi lễ cầu nguyện tại Bạch Ốc hôm 25 tháng 3 đã lên tiếng cầu nguyện cho “bạo lực áp đảo” đối với những kẻ mà ông tự cho là “không đáng được thương xót”. Cũng là ngôn ngữ của niềm tin, nhưng một bên đặt niềm tin vào lòng thương xót, bên kia đặt nó cạnh sức mạnh hủy diệt.

Ngôn ngữ bao giờ cũng đi trước hành động, vì thế điều quan trọng của giờ phút này không phải chỉ là chiến tranh, mà là cách người ta nói về nó.

Trump tuyên bố sẽ “xóa sổ” hệ thống năng lượng, điện lực và nước uống của Iran nếu Tehran không nhượng bộ. Người ủng hộ ông có thể xem đó là đòn răn đe mạnh tay. Nhưng với bất cứ ai còn giữ một ý niệm tối thiểu về luật chiến tranh, đây là lời đe dọa chạm đến phần sống còn của xã hội dân sự, nơi có mạng sống của gia đình, người già và trẻ em.

Khi biến những điều kiện sống căn bản để con người tồn tại trở thành áp lực chính trị, chuyện không còn đơn thuần giữa hai nhà nước. Nước uống không phải là một công cụ thương lượng. Điện lực không phải là một con bài chiến thuật. Chúng là nền tảng để con người sống còn, và luật nhân đạo quốc tế từ lâu đã nhìn chúng như những hạ tầng phải được bảo vệ đặc biệt.

Chính quyền Trump lâu nay vẫn có tài đổi tên sự việc. Phá hủy được gọi là răn đe. Ép buộc được gọi là đòn bẩy. Làm dân thường khốn đốn được gọi là tạo ưu thế trên bàn thương lượng. Nhưng đổi tên không có nghĩa đổi được bản chất. Một chính quyền sẵn sàng đẩy thường dân tới chỗ không nước, không điện, không lối sống còn thì đã sẵn sàng vượt rào những chuẩn mực nhân đạo căn bản.

Ở điểm này, tiếng nói của Đức Leo XIV trở nên quan trọng, vì giữa lúc rất nhiều người nói như thể sức mạnh là thứ luật duy nhất còn lại, ngài nhắc rằng vẫn có những giới hạn luân lý không được bước qua.

Đức Leo XIV là vị giáo hoàng người Mỹ đầu tiên, sinh tại Chicago, nhưng đời mục vụ của ngài lại gắn với những vùng nghèo, những nơi bấp bênh, những cộng đồng sống trong sợ hãi và dịch chuyển. Khi ngài lên tiếng về chiến tranh hay di dân, ngài không nói bằng tiếng nói của người đứng xa nhìn vào.nói của, mà nói bằng tiếng nói của một người hiểu thế nào là thân phận bị dồn ép.

Vì thế, lập trường của ngài về di dân cũng nhất quán với lập trường về chiến tranh. Ngài nhiều lần kêu gọi phải đối xử nhân đạo với người di dân, nhắc rằng họ không phải là gánh nặng, càng không phải là những con số vô cảm, trong khi chính quyền Trump tiếp tục đẩy mạnh bắt bớ, trục xuất và siết chặt di trú bằng một thứ không khí chính trị đặt nỗi sợ lên trên phẩm giá con người.

Trong bài giảng Lễ Lá, Đức Leo XIV nói: “Hãy đặt vũ khí xuống. Hãy nhớ rằng anh chị em là anh chị em với nhau.” Câu ấy nghe tưởng đơn sơ. Nhưng giữa thời buổi này, nói được như thế đã là đi ngược dòng. Bởi lẽ chính trị hiện thời, ở nhiều nơi trên khắp nước Mỹ không xây trên ý niệm con người là anh em với nhau, mà cho rằng người khác mình là mối đe dọa, là vật cản phải dẹp bỏ.

Trong hồ sơ Iran, điều đó hiện ra rất rõ. Từ đầu cuộc chiến, quân đội Mỹ nhắm chủ yếu vào các mục tiêu quân sự và chương trình hạt nhân. Nhưng khi lời đe dọa mở rộng sang cả hệ thống nước và năng lượng, thì giới hạn giữa mục tiêu quân sự và hạ tầng dân sự trở nên mong manh, nguy hiểm. Chính ở chỗ ấy, thế giới cần nghe lại những tiếng nói nhắc nhở không phải cái gì có thể làm thì cũng được phép làm.

Đức giáo hoàng còn nói mạnh hơn nữa: “Chúa không nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, mà khước từ họ; vì tay họ vấy máu.” Câu nói này không bàn chiến thuật. Cũng không đứng về một phía quân sự nào. Nó chỉ đặt ra một sự thật xưa cũ mà thời đại hôm nay cố quên: không phải mọi sức mạnh đều chính đáng chỉ vì nó mạnh.

Vatican, trong giờ phút này, đang làm điều mà rất ít trung tâm quyền lực còn muốn làm: nói về lương tri. Nhưng không nói như một chính quyền, không nói như một bộ tham mưu, mà như một hồi chuông cảnh tỉnh. Dù giữa chiến tranh, vẫn có những điều không thể mặc cả: nước uống, bệnh viện, trường học, và phẩm giá của những người trong tay không có súng.

Ngay cả những cử chỉ biểu tượng của Đức Leo XIV cũng mang cùng một ý nghĩa. Việc ngài không sang Hoa Kỳ trong năm nay, dù đã được mời, mà chọn Lampedusa vào ngày 4 tháng Bảy là một quyết định có sức nặng. Lampedusa là nơi người tị nạn trôi dạt tới, là bờ chạm đầu tiên của những kiếp người bị xua đẩy khỏi quê hương. Chọn nơi ấy vào đúng ngày Hoa Kỳ đánh dấu 250 năm lập quốc là một cách nhắc nhở rõ ràng rằng nước Mỹ được dựng nên từ người di dân – câu hỏi là nước Mỹ hôm nay còn nhớ điều đó hay không.

Sau cùng, điều Đức Giáo Hoàng Leo XIV nói không chỉ dành cho người Công giáo, mà dành cho bất cứ ai còn tin rằng quyền lực cần phải giới hạn. Một quốc gia có thể mạnh. Một lãnh tụ có thể cứng rắn. Nhưng nếu sức mạnh ấy không còn biết sợ điều sai, nếu sự cứng rắn ấy biến thành thói quen của tàn nhẫn, thì phần thua thiệt đầu tiên không chỉ là đối phương, mà chính là phẩm giá của con người.

Trump có thể tin rằng đe dọa là con đường ngắn nhất để buộc đối phương lùi bước. Có thể, trong một khoảnh khắc nào đó, nó đem lại kết quả. Nhưng lịch sử không chỉ nhớ ai thắng trong một cuộc mặc cả, mà sẽ nhớ ai đã sẵn sàng đẩy cả một dân tộc đến bờ vực không nước, không điện, không hy vọng, chỉ để đổi lấy một lợi thế trên bàn thương lượng.

Lời của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Chúa Nhật Lễ Lá sau cùng không chỉ là một lời giảng lễ. Đó là lời nhắc rằng chiến tranh không bao giờ chỉ được đo bằng thắng bại. Nó còn phải được đo bằng những gì con người chấp nhận làm, và những gì con người từ chối làm, dù đang nắm trong tay quyền lực lớn đến đâu.

Và thế giới này, nếu còn giữ được bao nhiêu lòng tin vào điều thiện, cũng tùy ở việc con người còn nghe được bao nhiêu từ lời giảng của ngài trong Chúa Nhật Lễ Lá vừa qua:

“Anh chị em thân mến, đây là Thiên Chúa của chúng ta: Đức Giêsu, Vua Hòa Bình, Đấng khước từ chiến tranh, Đấng mà không ai có thể lợi dụng để biện minh cho chiến tranh. Người không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ gây chiến, nhưng loại bỏ chúng và nói: ‘Cho dù các ngươi có cầu nguyện nhiều, Ta cũng chẳng nghe: tay các ngươi vấy máu’ (Is 1:15).”

(Đức Giáo hoàng Leo XIV, Chúa nhật Lễ Lá).

Nguyên Hòa 


 

Tổng thống Mỹ Donald Trump tiếp tục đe dọa phá hủy hạ tầng cơ sở dân sự Iran (RFI)

(RFI)

Cuộc xung đột tại Trung Đông bước sang tháng thứ 2 nhưng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Hôm qua 02/04/2026, tổng thống Mỹ Donald Trump tiếp tục đưa ra những lời đe dọa Iran, cảnh báo rằng các cơ sở hạ tầng dân sự như cầu đường và nhà máy điện có thể trở thành mục tiêu tiếp theo trong chiến dịch tấn công của Mỹ và đồng minh.

Đăng ngày: 03/04/2026 

 Cầu B1 của Iran tại Karaj bị hư hại sau một cuộc tấn công của Mỹ-Israel nhắm vào Iran, ngày 3 tháng 4 năm 2026. via REUTERS – Majid-Asgaripour

Anh Vũ

Trên mạng xã hội Truth Social, ông Trump viết: “Các cây cầu sẽ là mục tiêu tiếp theo, rồi đến các nhà máy điện!”. Thông điệp đã làm dấy lên lo ngại về khả năng leo thang mới của cuộc xung đột tại Trung Đông.

Tuyên bố này được đưa ra sau khi các cuộc không kích của Mỹ và Israel phá hủy một cây cầu đang xây dựng gần Teheran. Theo truyền thông Iran, vụ tấn công đã khiến 8 dân thường thiệt mạng. Tổng thống Mỹ trước đó đã đăng hình ảnh cuộc tấn công.

Trong một thông điệp khác cùng ngày, ông Trump còn khẳng định chiến dịch phá hủy cơ sở hạ tầng của Iran “thậm chí còn chưa thực sự bắt đầu”, đồng thời cho biết, phần lớn các mục tiêu quân sự của Iran đã bị phá hủy hoặc hư hại nghiêm trọng kể từ khi chiến dịch quân sự của Mỹ và Israel bắt đầu vào 28/02.

Nhà lãnh đạo Mỹ cũng tiếp tục gây sức ép với chính quyền Teheran, kêu gọi nước này nhanh chóng chấp nhận một thỏa thuận ngừng bắn. “Các lãnh đạo của chế độ mới biết họ cần phải làm gì – và phải làm thật nhanh”, ông Trump nhấn mạnh.

Iran đáp trả bằng tên lửa

Bất chấp các lời đe dọa từ Washington, trong đêm hôm qua, Iran đã phóng thêm nhiều tên lửa về phía Israel. Theo quân đội Israel, các vụ oanh kích này không gây thương vong, nhưng một số thiệt hại đã được ghi nhận tại một nhà ga ở Tel Aviv.

Truyền thông Iran cho biết, lực lượng Vệ binh Cách mạng đã sử dụng tên lửa tầm xa nhắm vào Tel Aviv và khu nghỉ dưỡng Eilat ở miền nam Israel.

Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi phản ứng mạnh mẽ trước tuyên bố của ông Trump, cho rằng việc tấn công các cơ sở hạ tầng dân sự sẽ không khiến người Iran khuất phục.

Đánh vào các công trình dân sự, kể cả những cây cầu chưa hoàn thành, sẽ không buộc Iran đầu hàng”, ông viết trên mạng xã hội X.

Các quốc gia vùng Vịnh đang phải đối mặt với sự trả đũa của Iran. Kowait, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất hôm nay (03/04) cho biết đang phải đối phó với các cuộc tấn công bằng tên lửa và drone của Iran. Một cuộc tấn công bằng drone vào nhà máy lọc dầu Mina Al-Ahmadi của Koweit đã gây ra hỏa hoạn tại một số tổ máy, theo hãng tin Kuna.

Cuộc xung đột với Iran do Mỹ và Israel phát động ngày 28/2 đã lan rộng ra toàn khu vực Trung Đông. Theo các ước tính ban đầu, khoảng ba nghìn người đã thiệt mạng, phần lớn ở Iran và Liban.


 

Iran – Đêm dài lắm mộng – Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

March 29, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Bản kế hoạch 15 điểm của Mỹ – về cơ bản là yêu cầu Iran đầu hàng vô điều kiện – bị Tehran bác bỏ. Cả Washington lẫn Tehran đều nói cuộc chiến chỉ chấm dứt khi nào họ muốn. Tuy nhiên, kết thúc cuộc chiến hiện tại không hề đơn giản. Trừ khi hai bên nhượng bộ và phải nhượng bộ rất nhiều, bế tắc sẽ tiếp tục và Mỹ thậm chí có thể bị cuốn vào một cuộc xâm lược trên bộ với những hậu quả thảm khốc hơn cả thời chiến tranh vùng Vịnh 2003.

Căn cứ Prince Sultan Air Base ở Al Kharj, Saudi Arabia, nơi Iran vừa phóng hỏa tiễn làm 10 binh sĩ Mỹ bị thương và một phi cơ tiếp xăng KC-135 bị hư hại. (Hình minh hoạt: Richard M Heileman/DOD/AFP via Getty Images)

Đàm phán gì khi không ai tin ai? 

Khi Tổng Thống Donald Trump tấn công Iran vào Tháng Sáu, 2025, chiến dịch quân sự được thực hiện chớp nhoáng và chỉ tập trung vào việc làm suy yếu chương trình nguyên tử Iran. Thông điệp của Washington tương đối rõ: Tòa Bạch Ốc bị kéo vào cuộc chiến một cách bất đắc dĩ bởi vì cuộc tấn công bất ngờ của Israel, và để chấm dứt xung đột, Mỹ chỉ phá hủy các địa điểm nguyên tử quan trọng. Phần mình, Iran đáp trả bằng cuộc tấn công vào căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ trong khu vực, ở Qatar; tuy nhiên, màn trả đũa được tính toán cẩn thận để tránh gây thương vong cho người Mỹ và để bảo toàn mối quan hệ của Tehran với các nước láng giềng.

Với cuộc chiến lần này, Mỹ và Israel hợp tác ngay từ đầu. Mức độ phản ứng của Iran dữ dội hơn. Bởi vì cuộc xung đột mở rộng và liên quan nhiều bên với những lợi ích khác nhau, việc thương lượng ngừng bắn chắc chắn rất phức tạp. Một lệnh ngừng bắn bền vững đòi hỏi một quy trình đàm phán dài hơi và không thể bị áp đặt một cách đơn phương dựa trên những điều kiện đòi hỏi tối đa từ một phía. Mỹ khó có thể ép Iran hạn chế năng lực hỏa tiễn, trong bối cảnh mà vũ khí này chứng minh được vai trò là công cụ trả đũa chủ chốt. Phần mình, Tehran không thể làm cho người Mỹ cảm thấy nhẹ nhõm nếu không chấp nhận loại bỏ hoàn toàn các mối đe dọa quân sự đối với hoạt động tại eo biển Hormuz.

Hơn nữa, việc đàm phán chắc chắn không đi đến đâu nếu Iran đòi Mỹ bồi thường tổn thất chiến tranh. Nếu vấn đề bồi thường được đưa lên bàn đàm phán, có thể các nước láng giềng cũng yêu cầu tương tự đối với Tehran. Hơn nữa, Iran không thể buộc Mỹ cắt giảm sự hiện diện quân sự hay đóng cửa các căn cứ Mỹ trong khu vực. Tóm lại, gần như không có điểm nào mà bên này đưa ra thì bên kia sẵn sàng nhượng bộ – ít nhất ở thời điểm hiện tại.

Cục diện càng bế tắc càng trông giống cuộc chiến Ukraine mà Nga đang sa lầy. Cách cầm cự của Iran không khỏi không liên tưởng đến cách mà Kiev chống trả Moscow bằng chiến thuật tiêu hao. Tất nhiên, cuộc xâm lược của Nga đối với quốc gia láng giềng Ukraine khác hoàn toàn so với mục tiêu của Washington là kiềm chế mối đe dọa bành trướng cũng như hiểm họa bom nguyên tử của Iran.

Dù vậy, cả Mỹ lẫn Nga đều gặp khó khăn như nhau trong việc dung hòa các mục tiêu cuối cùng với những phương tiện hiện có để đạt được. Nga muốn thôn tính Ukraine như một quốc gia chư hầu. Trong khi đó, mục đích của Mỹ là triệt tiêu mối đe dọa Iran tại khu vực. Tuy nhiên, cả Washington lẫn Moscow đều không thể vạch ra rõ ràng mức tối thiểu cần đạt được để hiện thực hóa mục tiêu mà họ cần. Và đó chính là yếu tố khiến việc giằng co kéo dài dẫn đến nguy cơ sa lầy.

Đêm dài lắm mộng 

Mục tiêu chiến lược hiện tại của Iran là buộc Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh phải gánh những tổn thất nặng nề đến mức ông Trump phải lựa chọn một thỏa thuận ngừng bắn. Về bản chất, Iran muốn ép ông Trump phải chọn giữa lợi ích an ninh của Israel và sự ổn định của thị trường toàn cầu. Tựu trung lại, cuộc chiến do ông Trump châm ngòi không hề dễ dàng kết thúc “theo cách của mình,” huống hồ có một kết cục tốt đẹp.

Suốt nhiều năm bị cấm vận, bị cắt đứt khỏi thị trường tài chính quốc tế, bị đóng băng tài sản, bị kìm hãm doanh thu dầu mỏ…, Iran đã xây dựng một chiến lược đối phó và bây giờ là lúc họ áp dụng. Việc bị loại khỏi hệ thống tư bản toàn cầu, vô hình trung, giúp Iran bảo tồn cấu trúc hệ thống riêng để phản ứng lại các mối đe dọa từ bên ngoài.

Iran đang làm chính xác những gì họ rút ra trong suốt những năm tháng bị phong tỏa, khi phóng hỏa tiễn phá hoại các cơ sở hạ tầng năng lượng trong khu vực; bắn phá cảng biển, ngân hàng, phi trường…; và đặc biệt phong tỏa eo biển Hormuz. Đó không phải là hành động leo thang ngẫu nhiên mà là một chiến dịch có hệ thống nhằm chống lại nền tảng kinh tế của trật tự khu vực do Mỹ dẫn đầu – một trật tự được xây dựng, phần lớn, để kiềm chế Iran.

Còn nữa, yếu tố quan trọng trong chiến lược Iran là gây ra sự chia rẽ giữa Mỹ và các đối tác vùng Vịnh. ​​Từ năm 1979, Washington xây dựng và duy trì một mạng lưới an ninh khắp Trung Đông, về cơ bản được thiết kế để kiềm hãm sức mạnh của Iran. Các căn cứ quân sự mà Washington ban đầu thiết lập tạm ở Bahrain, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống nhất (UEA), trong và sau cuộc chiến vùng Vịnh 1990-1991, dần trở thành những công trình cố định. Thỏa thuận mà Mỹ đạt được với các quốc gia này rất rõ: Các quốc gia vùng Vịnh khi liên minh an ninh với Washington sẽ nhận được bảo đảm an ninh từ Mỹ và cơ hội phát triển trong trật tự do Mỹ dẫn đầu.

Với Iran, họ hiểu mối quan hệ trên không đơn thuần là cách phòng thủ tập thể mà còn là một liên minh mà ngày nào đó nhắm vào họ. Tehran cũng hiểu điểm yếu của hệ thống này: Nó nằm ở việc phụ thuộc vào sự ủng hộ của các nước vùng Vịnh; mà yếu tố này lại liên đới với việc Mỹ thực hiện các cam kết an ninh. Năm 2019, niềm tin các nước vùng Vịnh dành cho Mỹ rạn nứt, khi Mỹ không bảo vệ Saudi Arabia trước các cuộc tấn công của Iran vào các cơ sở dầu mỏ nước này. Với khu vực Trung Đông, Mỹ thật ra chỉ bảo vệ Israel.

Chẳng phải tự nhiên mà từ khi cuộc chiến nổ ra, Iran bắn phá quyết liệt các nước vùng Vịnh. Họ muốn nhắc rằng, các nước này, chưa bao giờ bằng lúc này, cần phải nghiêm túc đặt câu hỏi về giá trị của sự liên minh với Washington. Nói cách khác, với Tehran, an ninh lâu dài của họ không phụ thuộc vào việc đánh bại Mỹ về mặt quân sự mà là làm cho chi phí hiện diện của Mỹ ở vùng Vịnh trở nên cực kỳ đắt đỏ về mặt chính trị.

Ngày 27 Tháng Ba, Ngoại Trưởng Marco Rubio của Mỹ nói rằng Hoa Kỳ không cần đến bộ binh và cuộc chiến sẽ kết thúc trong vòng vài tuần. Trong thực tế, Trung Đông đang chuẩn bị đối mặt một cuộc xung đột dữ dội hơn, với những hệ quả kinh tế có thể vô cùng tàn khốc.

“Sự ngờ vực sâu sắc giữa tất cả các bên khiến cho một lệnh ngừng bắn ngay lập tức trở thành điều gần như bất khả thi,” Giáo Sư Hamad Althunayyan (Đại học Kuwait) nhận định. Tại Yemen, lực lượng dân quân Houthi – đồng minh thân cận của Iran hiện kiểm soát phần lớn lãnh thổ Yemen – bắt đầu tham chiến khi bắn hỏa tiễn vào Israel ngày 28 Tháng Ba – cột mốc đúng một tháng từ ngày Mỹ-Israel mở chiến dịch tiêu diệt Iran. Trước đó một ngày, Iran cũng tấn công một căn cứ quân sự Mỹ ở Saudi Arabia, làm bị thương 10 binh sĩ Mỹ.

Một cách tổng quát, thùng đạn mà ông Trump (cùng Thủ Tướng Benjamin Netanyahu) mang đến Trung Đông tiếp tục nổ tung tóe một cách không thể kiểm soát, ngày càng lan rộng khi ảnh hưởng của nó tác động đến toàn bộ khu vực. UAE, nơi hứng những đòn tấn công dữ dội nhất bằng hỏa tiễn và máy bay không người lái từ Iran, không hề ảo tưởng về khả năng đạt được một giải pháp thương lượng với Tehran. UAE cho rằng trọng tâm không nên đặt vào việc đạt được một lệnh ngừng bắn mà phải hướng tới một “kết quả dứt khoát” nhằm giải quyết toàn bộ các mối đe dọa mà Iran gây ra cho khu vực, từ vấn đề nguyên tử, kho hỏa tiễn cho đến các lực lượng ủy nhiệm.

Cần nói rõ rằng không phải tất cả các quốc gia vùng Vịnh đều có cùng thái độ tương tự UAE. Ngoại Trưởng Badr Albusaidi của Oman nói rằng các cuộc tấn công của Iran vào những thành phố như Dubai, Manama, và Doha là “lựa chọn hợp lý duy nhất” nhằm đáp trả chiến dịch ném bom của Mỹ và Israel. Oman là quốc gia duy nhất trong sáu nền quân chủ vùng Vịnh từ chối ký vào bản tuyên bố chung được đưa ra ngày 25 Tháng Ba. Đó là văn bản lên án các cuộc tấn công do Iran và các lực lượng ủy nhiệm thực hiện.

Trong khi đó, Qatar, dù ký vào tuyên bố chung, lại sử dụng ngôn từ mang tính hòa giải. Ngày 24 Tháng Ba, ông Majed Al Ansari, cố vấn của thủ tướng Qatar, phát biểu rằng Iran vẫn sẽ là một láng giềng, và do đó cần phải tìm một phương thức để cùng tồn tại; chính vì thế, việc tìm kiếm một giải pháp thông qua thương lượng là điều vô cùng quan trọng.

Nói cách khác, “không nghi ngờ gì nữa, khu vực này đang bước vào một giai đoạn đầy bất định về tương lai của chính nó” – như nhận định của ông Mohammed Al Nuaimi, tổng giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu và Chiến Lược Emirates – “Quỹ đạo của diễn biến dường như đi theo một trong hai hướng: Hoặc là tiến tới leo thang quân sự mạnh hơn, hoặc tiếp tục các cuộc đàm phán đầy khó khăn nhưng có rất ít khả năng đạt được những kết quả như mong chờ.” [đ.d.]


 

THOÁT NGA” – MỘT DÂN TỘC ANH HÙNG TÁI SINH

Son Bui

nhất hùng

Cuộc chiến phi nghĩa mà Điện Kremlin khơi mào không chỉ là một vết đen trong lịch sử nhân loại mà còn là một bài học đắt giá về sự ảo tưởng quyền lực. Nga đã bước vào cuộc chiến với tham vọng “chớp nhoáng”, nhưng thực tế đã chứng minh đó là một vũng lầy tự sát.

Thất bại chiến lược ngay từ đầu, huyền thoại về “đội quân mạnh thứ hai thế giới” đã sụp đổ hoàn toàn sau thất bại thảm hại tại Kyiv. Kế hoạch lật đổ chính quyền Ukraine trong vài ngày đã biến thành một cuộc tiêu hao vô vọng, phơi bày sự thối nát và lạc hậu của bộ máy quân sự. Nga không chỉ đang thua trên chiến trường, họ đang tự hủy hoại tương lai của chính mình. Hàng trăm ngàn binh sĩ Nga đã ngã xuống hoặc tàn phế chỉ để phục vụ cho tham vọng cá nhân của một kẻ độc tài. Nga đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng nhân khẩu học trầm trọng khi thế hệ trẻ – nguồn lao động chính – bị đẩy vào lò xay thịt. Nga đã bị đá văng khỏi hệ thống tài chính toàn cầu. Việc bị cắt đứt công nghệ phương Tây và chảy máu chất xám khiến nền kinh tế Nga lùi lại hàng thập kỷ, trở thành một “trạm xăng” lệ thuộc vào các đối tác châu Á.

Muốn ngăn chặn NATO, nhưng hành động của Nga lại khiến NATO mở rộng mạnh mẽ nhất trong lịch sử (với sự gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển). Biến Biển Baltic thành “hồ của NATO” là một thất bại địa chính trị không thể bào chữa. Từ một cường quốc, Nga giờ đây bị coi là một “quốc gia bị ruồng bỏ”, mất đi tiếng nói tại các diễn đàn quốc tế và bị các tòa án hình sự quốc tế truy nã lãnh đạo.

Ukraine cũng đang phải trả cái giá quá đắt bằng máu, nhưng đó là cái giá để mua lại tự do vĩnh viễn. Hàng ngàn dân thường vô tội bị sát hại, những thành phố bị san phẳng, hàng triệu người phải ly hương. Nền kinh tế bị tàn phá nặng nề bởi bom đạn của kẻ thù. Một phần đất đai ở phía Đông và Nam đang bị giày xéo bởi quân xâm lược. Tuy nhiên, đây là sự chiếm đóng phi pháp và sẽ không bao giờ được thế giới công nhận. Cả một thế hệ trẻ em Ukraine phải lớn lên trong tiếng còi báo động và hầm trú ẩn, một vết sẹo tâm lý không gì bù đắp được.

– Nga “Được” gì? – Một vài mảnh đất hoang tàn, những thành phố chết không còn sự sống. Nga chiếm được đất nhưng mất đi linh hồn và tương lai dân tộc. Cái “được” này chỉ là sự an ủi hão huyền cho một đế chế đang giãy chết.

– Ukraine ĐƯỢC gì? – Thoát Nga vĩnh viễn, Ukraine đã đập tan sợi dây xích ảnh hưởng của Nga. Sự lệ thuộc về văn hóa, chính trị và năng lượng đã chấm dứt hoàn toàn. Ukraine không còn là “hậu viện”, mà là tiền đồn của văn minh phương Tây. Chưa bao giờ dân tộc Ukraine đoàn kết như hiện nay. Cuộc chiến đã tôi luyện nên một tinh thần thép, khẳng định chủ quyền không thể xâm phạm. Ukraine hiện là biểu trưng toàn cầu cho lòng dũng cảm. Họ nhận được sự ủng hộ tuyệt đối của thế giới tự do và đang trên lộ trình không thể đảo ngược để gia nhập EU và NATO.

Ukraine hiện sở hữu một trong những đội quân thiện chiến nhất châu Âu, được trang bị vũ khí hiện đại và có kinh nghiệm thực chiến dày dạn nhất thế giới.

Rồi đây, Nga sẽ nhìn qua biên giới và thấy một Ukraine không chỉ giàu có hơn mà còn sở hữu sức mạnh công nghệ vượt trội đến mức không một kẻ xâm lược nào dám mơ tưởng đến việc vượt qua biên giới một lần nữa.

Ukraine sẽ không chỉ là một quốc gia được cứu rỗi, mà là quốc gia dẫn dắt tương lai của an ninh toàn cầu. Nga đã chọn quá khứ, còn Ukraine lại chọn tương lai.

Cuộc chiến này chắc chắn sẽ để lại những vết sẹo dài, nhưng với tinh thần thép và sự nhạy bén về công nghệ, Ukraine đang tự viết nên một chương mới – nơi họ không còn là nạn nhân của lịch sử, mà là người dẫn dắt tương lai của an ninh toàn cầu. Trong khi đó, những sai lầm chiến lược và sự lạc hậu sẽ là bài học cay đắng mà Điện Kremlin phải mang theo trong nhiều thập kỷ tới.

Nga có thể chiếm thêm vài vùng đất, nhưng họ đã mất đi tư cách của một cường quốc.

Ukraine có thể mất đi nhà cửa, nhưng họ đã giành lại được linh hồn của dân tộc và vị thế tự tôn trên bản đồ thế giới. Kẻ xâm lược cuối cùng sẽ phải rời đi trong ô nhục, còn Ukraine sẽ đứng vững như một biểu tượng của tự do.

“THOÁT NGA” – MỘT DÂN TỘC ANH HÙNG TÁI SINH.


 

Mỹ : Chiến tranh Trung Đông làm giá xăng cùng chi phí sinh hoạt leo thang (RFI)

(RFI)

Cuộc chiến tranh tại Trung Đông đã đẩy gia nhiên liệu tăng vọt và làm dấy lên nhiều lo ngại lạm phát ở khắp nơi trên thế giới từ ba tuần qua. Tại Mỹ, tổng thống Donald Trump đã ngày càng bị áp lực do giá xăng tăng liên tục cùng với chi phí sinh hoạt leo thang trái với những hứa hẹn tranh cử của ông.

Đăng ngày: 23/03/2026 

Một cơ sở lọc dầu ở Fujairah, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất bốc cháy do trúng drone tấn công của Iran ngày 14/03/2026. © Altaf Qadri / АР

Anh Vũ

Thông tín viên RFI  Edward Maille tại Atlanta ghi nhận qua phóng sự

Tại bãi đỗ xe của một trạm xăng, Dallas vừa đổ đầy bình với giá 71 đô la,  trong khi cách đây vài tuần chỉ mất khoảng 40 đô la.

« Điều này ảnh hưởng tới việc đi lại  của chúng tôi. Chúng tôi có gia đình sống  ở Florida, đi lại mất 5 tiếng lái xe . Bình thường gần như hàng tháng  chúng tôi vẫn đi thăm gia đình, nhưng giờ đây mỗi chuyến đi như vậy tốn thêm 150 đô la. Vì thể nhiều tuần vừa rồi chúng tôi đã không gặp gia đình Đúng là có ảnh hưởng. » 

Đứng bên chiếc xe mui trần của mình, Mike tỏ ra lạc quan. Anh cho biết  từng chứng kiến xăng tăng rồi giảm nhiều lần trong đời. Nhưng chi phí sinh hoạt những năm gần đây buộc anh phải chú ý hơn với các khoản chi tiêu. Mike cho biết : « Ba năm gần đây, chúng tôi thấy giá thực phẩm tăng khá nhiều ở Mỹ. Trước đây đi chợ tốn 45 đô la, giờ là 90 đô la, vì thế tôi phải chặt chẽ về tài chính, kiểu như là mình có thực sự cần đến những quả dâu này hay không ».


 

 Họ đã lấy tế bào của chị mà không hề hỏi

Trầm Mặc Huơng Lai

 Họ đã lấy tế bào của chị mà không hề hỏi.

Trong khi chị đang quằn quại trên giường bệnh, cơ thể chị trở thành nền tảng của một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ đô — còn con cái của chị thì không đủ tiền để mua bảo hiểm y tế.

Henrietta Lacks mới 31 tuổi vào năm 1951 khi cơn đau ập đến. Nhói, dai dẳng, sâu tận bụng dưới. Chị đã sinh năm người con và từng làm việc trên các cánh đồng thuốc lá ở miền nam Maryland, nên chị biết phân biệt giữa một khó chịu thoáng qua — và một hiểm họa.

Sự việc nghiêm trọng. Rất nghiêm trọng.

Chị đến bệnh viện Johns Hopkins ở Baltimore — một trong số ít nơi khi đó chịu chữa cho bệnh nhân da đen. Các bác sĩ phát hiện một khối u lớn ở cổ tử cung, bóng loáng, tím sẫm, to bằng một đồng tiền. Ung thư cổ tử cung. Giai đoạn muộn. Hung hãn.

Họ lập tức bắt đầu xạ trị.

Và khi Henrietta nằm trên bàn, vừa sợ hãi vừa đau đớn, một bác sĩ tên George Gey đã lấy một mẫu từ khối u của chị — mà không có sự đồng ý của chị.

Năm ấy là 1951. “Đồng ý sau khi được giải thích” chưa phải là điều bắt buộc — nhất là với bệnh nhân da đen và nghèo. Bác sĩ thường xuyên lấy mô từ những người như Henrietta, làm thí nghiệm và “tiến bộ khoa học” trên lưng những con người không có lựa chọn cũng chẳng có tiếng nói.

Nhưng tế bào của Henrietta thì khác.

Trong phòng thí nghiệm, trợ lý của Gey đặt mẫu mô vào đĩa nuôi cấy, nghĩ rằng nó sẽ chết sau vài ngày, như mọi mẫu tế bào người trước đó. Tế bào người chưa từng sống được bên ngoài cơ thể. Chưa từng.

Các nhà khoa học đã cố gắng suốt hàng thập kỷ. Luôn thất bại.

Còn tế bào của Henrietta thì không chết.

Chúng nhân đôi trong 24 giờ. Rồi lại nhân đôi. Chúng sinh sôi với một sức sống dữ dội. Chúng phát triển nhanh đến mức phòng thí nghiệm không theo kịp.

Chúng dường như có thể sống mãi.

Các nhà khoa học đặt tên cho chúng là tế bào HeLa — lấy từ tên chị, dù suốt nhiều thập kỷ sau đó họ không chịu nói đó là ai.

Henrietta Lacks qua đời ngày 4 tháng 10 năm 1951, tám tháng sau chẩn đoán. Chị 31 tuổi. Cơ thể chị bị tàn phá, ung thư lan tràn khắp các cơ quan như một đám cháy.

Chị để lại một người chồng và năm đứa con, trong đó có một bé sơ sinh.

Chị ra đi với niềm tin rằng thân xác mình cuối cùng sẽ được yên nghỉ.

Nhưng thay vào đó, nó bắt đầu “làm việc”.

Tế bào HeLa được gửi đi khắp các phòng thí nghiệm trên thế giới. Chúng trở thành dòng tế bào người bất tử đầu tiên — nền tảng của nghiên cứu y sinh hiện đại.

Chúng góp phần phát triển vắc-xin bại liệt. Nghiên cứu ung thư, AIDS, tác động của phóng xạ. Tìm hiểu cách mô người phản ứng ngoài không gian. Thử nghiệm thụ tinh trong ống nghiệm, lập bản đồ gen, nhân bản.

Các công ty dược nuôi cấy chúng hàng tấn. Các trường đại học xây cả chương trình xoay quanh chúng. Một ngành công nghiệp nhiều tỷ đô ra đời nhờ tế bào lấy từ một phụ nữ da đen nghèo — người chẳng hề hay biết, chẳng bao giờ đồng ý, và cũng không nhận được một xu nào.

Gia đình chị cũng vậy.

Suốt 20 năm, họ không hề biết.

Năm 1973, một nhà khoa học gọi cho chồng của Henrietta để xin mẫu máu của các con nhà Lacks — và lúc đó gia đình mới biết sự thật: tế bào của Henrietta vẫn đang sống. Vẫn được sử dụng. Trong các phòng thí nghiệm khắp thế giới, bị mua bán, được trích dẫn trong hàng ngàn nghiên cứu.

Những đứa con của chị bàng hoàng. Lạc lõng. Rồi phẫn nộ.

Bởi khi tế bào của Henrietta mang lại hàng tỷ đô, gia đình chị không đủ tiền chữa bệnh. Khi các nhà nghiên cứu xây dựng sự nghiệp, con cháu chị vẫn sống trong cảnh nghèo khó và bệnh tật. Khi tế bào của chị cứu sống biết bao người, chính người thân của chị lại không tiếp cận nổi những dịch vụ y tế cơ bản nhất.

Đó không phải chuyện trừu tượng. Đó là một di sản của bất công.

Suốt nhiều thập kỷ, người ta nói về tế bào HeLa mà chẳng bao giờ gọi tên chị. Trong các bài báo khoa học, chị bị biến thành “Helen Lane”, “Helen Larson”. Vô danh. Bị xóa mờ. Bị rút gọn thành một dòng tế bào thay vì một con người.

Phải nhờ đến một nhà báo, Rebecca Skloot, và lòng can đảm của Deborah — con gái Henrietta — sự thật mới được phơi bày. Năm 2010, cuốn sách The Immortal Life of Henrietta Lacks buộc giới khoa học phải đối mặt với những gì họ đã làm — không chỉ với Henrietta, mà với biết bao bệnh nhân nghèo, da đen khác bị sử dụng mà không có đồng ý hay bồi thường.

Sự thức tỉnh đến chậm chạp.

Năm 2013, Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) cuối cùng ký thỏa thuận cho gia đình Lacks quyền tham gia quyết định việc sử dụng dữ liệu từ tế bào HeLa. Năm 2021, gia đình khởi kiện một công ty dược vì đã trục lợi từ tế bào của chị mà không được phép. Vụ việc vẫn đang được giải quyết.

Ngày nay, người ta tôn vinh chị. Những tòa nhà mang tên chị. Giải thưởng được trao để tưởng nhớ chị. Năm 2023, Smithsonian khánh thành tượng đồng của chị.

Nhưng không gì xóa được điều này: Henrietta Lacks chưa từng có quyền được chọn.

Chị đến để tìm chữa trị. Chị ra về như “nguyên liệu” cho khoa học.

Tế bào của chị đã được dùng trong hơn 75.000 nghiên cứu. Chúng góp phần vào những công trình đoạt giải Nobel. Chúng tạo ra hàng tỷ đô.

Còn con cháu chị, đến giờ vẫn chật vật trả tiền bảo hiểm y tế — thứ mà chính tế bào của chị đã góp phần làm nên.

Đây không chỉ là chuyện quá khứ. Đó là lời nhắc: tiến bộ y học đã nhiều lần được xây trên những thân thể không thể nói “không”. Ranh giới giữa khoa học và bóc lột lâu nay vẫn do quyền lực vạch ra, chứ không phải đạo đức.

Henrietta Lacks chỉ mong một điều: bớt đau. Sống đủ lâu để nuôi con.

Thay vào đó, chị trở nên “bất tử” — trong phòng thí nghiệm, trong giáo trình, trong cả một nền công nghiệp sinh ra từ cơ thể chị.

Nhưng không phải theo cách chị sẽ chọn.

Họ đã lấy tế bào của chị mà không hỏi. Họ đã xây cả một đế chế trên thân xác chị.

Và suốt nhiều thập kỷ, họ thậm chí không thèm gọi tên chị.

Henrietta Lacks. Hãy nói tên chị. Hãy ghi nhớ.

Tế bào của chị vẫn còn sống. Vẫn hoạt động. Vẫn đang cứu người.

Chị xứng đáng được nhớ đến nhiều hơn là “nguyên liệu” của một phát hiện vĩ đại.

Chị là một người phụ nữ. Một người mẹ. Một con người có giá trị.

Không chỉ là một dòng tế bào. Không chỉ là HeLa.

Henrietta.

St


 

CHUYỆN 13 THANH NIÊN MÔNG CỔ THUỘC “THÀNH PHẦN PHẢN ĐỘNG”

Trần Trung Đạo

 (Bài này còn có tựa “Cách Mạng Dân Chủ Qua Kinh Nghiệm Mông Cổ”)

Cách mạng dân chủ từ Âu sang Á đều phát xuất từ sức mạnh của các tầng lớp nhân dân lựa chọn sự dứt khoát với quá khứ, đồng hành về phía tương lai tự do dân chủ của dân tộc và thời đại.

Trong lịch sử hiện đại chưa có sự thay đổi căn bản của một xã hội từ độc tài CS sang dân chủ tự do bằng thư thỉnh nguyện.

Người viết đã trình bày khá nhiều về các cuộc cách mạng Liên Xô, Đông Âu, các nước Bắc Phi và gần đây là Miến Điện, nơi đó các lãnh tụ cách mạng là những nhân vật được thế giới quan tâm theo dõi và độc tài lo ngại khi phải nặng tay với họ. Lần này, xin giới thiệu với bạn đọc những lãnh tụ dân chủ còn khá xa lạ với chúng ta.

Trước hết một anh tên là Tsakhiagiin Elbegdorj, sinh năm 1963, một trong những lãnh tụ của phong trào dân chủ Mông Cổ.

Năm 1989, Elbegdorj, người được ca ngợi như là Thomas Jefferson của Mông Cổ, chi là một thanh niên 26 tuổi mới từ Liên Xô trở lại quê hương sau khi hoàn tất chương trình đại học báo chí và triết học Mác Lê.

Trên đường từ Moscow về lại Ulaanbaatar, hành trang của Elbegdorj không phải là sách vở về chủ nghĩa CS mà anh học ở trường đảng nhưng là những đổi thay từ chính sách Glasnost (Cởi mở) của Mikhail Gorbachev.

Anh đã suy nghĩ rất nhiều khi nhìn những hạt mưa dân chủ đang bắt đầu nhỏ giọt xuống vùng đất bảy mươi bốn năm hạn hán trong độc tài CS và mơ ước những đổi thay sẽ đến cho dân tộc anh.

Mông Cổ có một vị trí địa chính trị rất khó khăn. Quốc gia vùng trái độn này nằm giữa hai siêu cường CS Liên Xô và Trung Cộng, phía tây là một nhóm các quốc gia Trung Á độc tài và xa hơn phía Đông là một Bắc Hàn cô lập.

Một khi có tình huống bất lợi, Trung Cộng có thể sẽ áp lực chính trị và ngay cả có thể can thiệp bằng quân sự để ngăn chặn phong trào dân chủ như vết dầu loang.

Những ai học kinh tế chính trị của các trường đảng CS trung ương, Mông Cổ thường được dùng làm ví dụ để chứng minh cho quan điểm “đột biến cách mạng” của Lenin khi ông ta cho rằng một nước lạc hậu, phong kiến có thể nhảy vọt lên xã hội chủ nghĩa không phải “kinh qua” giai đoạn tư bản. Điều đó cho thấy, ngay cả các nước CS cũng thừa nhận Mông Cổ còn trong vòng lạc hậu.

Tuy nhiên, nỗi lo lắng lớn nhất của Elbegdorj là hơn suốt 71 năm, quê hương của Đại Đế Thành Cát Tư Hãn chưa hề nghe đến hai chữ “tự do,” “dân chủ”.

Ngoại trừ nền độc lập ngắn ngủi năm 1911, chiều dài lịch sử của Mông Cổ hiện đại bị che phủ trong bóng đen của tư tưởng độc tài CS. Nhưng Elbegdorj cũng tin rằng nếu nhân dân Mông Cổ đoàn kết vì tương lai dân chủ, Mông Cổ sẽ vượt qua được những khiếm khuyết bên trong cũng như đe dọa từ bên ngoài. 

Elbegdorj biết những “đổi mới” tại Liên Xô hay một số nước CS Đông Âu chỉ là những biện pháp vá víu tạm thời. Theo anh chỉ có dân chủ mới cứu được Mông Cổ. Dân chủ là đôi cánh đưa Mông Cổ ra khỏi vòng nghèo đói, độc tài, bế tắc của một quốc gia vùng độn (buffer state).

Trong diễn văn ngày 28 tháng 11, 1989, Elbegdorj phát biểu “Mông Cổ cần dân chủ và minh bạch” và kêu gọi các tầng lớp nhân dân ủng hộ mục đích này.

Từ quan điểm đó, thay vì viết thư thỉnh nguyện lãnh đạo CS Mông Cổ thực hiện các chính sách tương tự như Glasnost của Mikhail Gorbachev, Elbegdorj và các bạn chủ trương Mông Cổ phải dứt khoát thay đổi từ CS sang dân chủ bằng một cuộc cách mạng bất bạo động.

Sau khi về nước 1989, Elbegdorj sáng lập một tờ báo đối lập và anh đặt tên  báo là Dân Chủ.

Nhóm bạn của Elbegdorj tổ chức các cuộc biểu tình, các buổi tuyệt thực đòi dân chủ và minh bạch.

Cuộc biểu tình tuyệt thực đầu tiên ngày 10 tháng 12 năm 1989 do 13 người trẻ phát động.

Ngày nay lịch sử Mông Cổ gọi họ một cách kính trọng là “13 nhà dân chủ Mông Cổ đầu tiên” nhưng dĩ nhiên trong năm 1989, bộ máy tuyên truyền CS Mông Cổ gọi họ là “mười ba tên phản động”.

Danh sách 13 người đầu tiên của phong trào dân chủ Mông Cổ 1990:

  1. Tsakhiagiin Elbegdorj (27 tuổi, lãnh tụ phong trào dân chủ, Thủ tướng Cộng hòa Mông Cổ)
  2. Erdeniin Bat-Üül (Lãnh tụ Đảng Dân Chủ Mông Cổ)
  3. Davaadorjiin Ganbold (Lãnh tụ Đảng Tiến Bộ Dân Tộc Mông Cổ )
  4. Khoovzoin Maam (Lãnh tụ Đảng Lao Động Tự Do Mông Cổ)
  5. Punsalmaagiin Ochirbat (Tổng thống đầu tiên của Mông Cổ được bầu 1990)
  6. Dumaagiin Sodnom (Thủ tướng Mông Cổ, 1990)
  7. Sharavyn Gungaadorj (Thủ tướng Mông Cổ từ tháng 3 đến tháng 9, 1990)
  8. Dashiin Byambasüren (Thủ tướng Mông Cổ sau tháng 9, 1990)
  9. Dari-Sukhbaatar
  10. Chimediin Enkhee
  11. Bat-Erdeniin Batbayar
  12. Jambyn Batmönkh
  13. Gombojavyn Ochirbat

Nhưng những nhà dân chủ Mông Cổ đầu tiên đó không phải là những người làm nên lịch sử.

Cuộc cách mạng dân chủ không làm rơi một giọt máu nào ở Mông Cổ là do đại đa số trong số 2.8 triệu dân Mông Cổ chọn đứng về phía tương lai, chọn dứt khoát với quá khứ, chọn đi trên con đường thời đại, trong số đó có cả Tổng Bí Thư CS thức thời Jambyn Batmönkh.

Sau cách mạng dân chủ thành công, năm 1998, Elbegdorj được bầu vào chức vụ Thủ Tướng Cộng Hòa Mông Cổ và lần nữa nhiệm kỳ 2004-2006, và năm 2009, ông được bầu làm Tổng thống Cộng Hòa Mông Cổ.

Học bài học đấu tranh dân chủ của Elbegdorj và nhân dân Mông Cổ để củng cố niềm tin và hy vọng cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Anh Elbegdorj không cô đơn khi ngồi tuyệt thực đòi minh bạch giữa mùa đông Mông Cổ và rồi người Việt cũng sẽ không cô đơn khi xuống đường đòi minh bạch trên khắp nẻo đường Việt Nam.

Elbegdorj không phải là con của khai quốc công thần như Aung San Suu Kyi, không phải là luật sư nổi tiếng như Nelson Mandela, không phải là lãnh tụ của phong trào Solidarity Ba Lan được cả Đức Giáo Hoàng và TT Reagan ủng hộ như Lech Wałęsa, không phải là người được trao giải Nobel Hòa Bình như cả ba người được nhắc trên đây.

Trước 1989 không ai biết gì về Elbegdorj vì anh ta chỉ là một người thợ mỏ, con trai của một người dân du mục chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ.

Nhưng Elbegdorj có tình yêu sâu đậm dành cho đất nước và khát vọng tự do cho quê hương. Tình yêu nước và lương tri thời đại đã là ngọn đuốc thắp sáng quê hương anh và sáng cả tâm hồn người Việt cùng khát vọng như anh. Trong buổi phỏng vấn dành cho báo The New York Times năm 2004, Thủ tướng Elbegdorj nhắc lại kỷ niệm buổi tuyệt thực đầu tiên “Chúng tôi muốn cho thế giới thấy rằng các giá trị thường được gọi là giá trị Tây phương không phải thuộc về Hoa Kỳ, châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản thôi nhưng còn thuộc về Mông Cổ.”

Các thế hệ trẻ Việt Nam chỉ cần thay hai chữ Mông Cổ bằng Việt Nam trong câu nói của Elbegdorj, “Giá trị tự do dân chủ không phải thuộc về Hoa Kỳ, châu Âu, Nam Hàn và Nhật Bản hay Mông Cổ mà còn là của Việt Nam nữa”.

Trần Trung Đạo


 

Mỹ-Châu Âu và bài học ‘người đốn củi, kẻ gánh nước’- Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

March 19, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Trong cuộc phỏng vấn POLITICO Pub (Munich, Đức) ngày 14 Tháng Hai, 2026, đại sứ Mỹ tại NATO Matthew Whitaker ám chỉ quan hệ Mỹ và Châu Âu giờ là chuyện “thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ.” Hãy làm tốt việc của mình. Kẻ đốn củi cứ đốn củi và người gánh nước thì lo gánh nước (nguyên văn: “We just need to, every single day, chop wood and carry water, ignore all of the political noise”). Mỹ đang thấm thía “bài học” này hơn bao giờ hết…

Tổng Thống Donald Trump (phải) và Thủ Tướng Đức Friedrich Merz trong lần gặp nhau tại Tòa Bạch Ốc, hôm 3 Tháng Ba, 2026, chỉ ít ngày sau khi Mỹ và Israel tấn công Iran. (Hình: Andrew Caballero-Reynolds/AFP via Getty Images)

Gáo nước lạnh của các đồng minh

Trump chưa bao giờ giận đến mức kinh khủng như vậy. Ông đã bị gáo nước lạnh tạt vào mặt từ những đồng minh mà liên tục nhiều năm qua ông mạt sát họ hết lời. Họ thẳng thừng từ chối “lệnh” của ông, yêu cầu tham gia bảo vệ eo biển Hormuz.

Ngày 17 Tháng Ba, Trump trút lửa thịnh nộ lên Truth Social: “Nhờ những thành công quân sự, chúng ta không còn ‘cần’ hay mong muốn sự hỗ trợ từ các nước NATO – thực ra là CHƯA BAO GIỜ CẦN! Tương tự với Nhật, Úc hay Nam Hàn. Với tư cách tổng thống Hoa Kỳ, quốc gia hùng mạnh nhất thế giới, CHÚNG TA KHÔNG CẦN SỰ GIÚP ĐỠ CỦA BẤT KỲ AI!”

Những ngày gần đây, Trump liên tục kêu gọi các đồng minh, thậm chí cả đối thủ địa chính trị Trung Quốc, hỗ trợ bảo vệ eo biển Hormuz. Những gì Trump nhận được là “cục lơ.” “Chúng tôi không châm ngòi cho cuộc chiến này” – Bộ Trưởng Quốc Phòng Đức Boris Pistorius phát biểu ngày 16 Tháng Hai. Phó Thủ Tướng Luxembourg Xavier Bettel nói, yêu cầu của Trump là “một kiểu tống tiền.” Phần mình, Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron nói chiến dịch tấn công Iran là bất hợp pháp. Với Anh, Thủ Tướng Keir Starmer khẳng định rằng nước ông “sẽ không bị kéo vào một cuộc chiến lan rộng”…

Trong thực tế, quan hệ Mỹ-Âu thời Trump luôn trong tình trạng cực kỳ căng thẳng. Một số nhà bình luận ví von đây là mối quan hệ chua chát tương tự sống với một “bạn đời” không chỉ ưa quát tháo vô cớ, thích “đá thúng búng niêu,” mà còn khoái bạo hành và thao túng tâm lý. Nhiều người hẳn còn nhớ, tại hội nghị an ninh Munich 2025, Phó Tổng Thống JD Vance đã sỉ nhục Châu Âu như thể họ là đám học trò lôi thôi cần mắng chửi nặng hết mức thì may ra mới “dạy dỗ” được.

“Giờ đây xuất hiện một phương trình mới, nơi bạn thực sự không biết ai là bạn, ai là đồng minh” – nhận định của Kaja Kallas, người đứng đầu chính sách đối ngoại và an ninh của Ủy Ban Châu Âu. Từ các bộ trưởng, nghị viên đến tướng lĩnh quân đội Châu Âu, tất cả đều thừa nhận rằng những giá trị chung từng gắn kết Washington với các đồng minh Châu Âu nay gần như không còn. Mất mát lớn nhất là niềm tin.

Elbridge Colby, thứ trưởng Quốc Phòng phụ trách chính sách tại Ngũ Giác Đài, nói rằng ông không chắc những “tụng ca và tín điều” một thời về giá trị chung Mỹ-Âu còn đúng hay không. Colby nhấn mạnh, ở đây không bàn đến chuyện “(Mỹ) rút lui” ở mức độ nào, mà cần phải đặt quan hệ trên nền tảng bền vững và thực chất hơn, đặc biệt các lợi ích chung.

Tuy nhiên, vấn đề là lợi ích an ninh của Mỹ chồng lấn với lợi ích Châu Âu ở cấp độ nào. Từ góc nhìn Châu Âu, thách thức an ninh then chốt của họ là cuộc chiến của Nga ở Ukraine, cũng như khả năng Moscow nhắm tới các nước Baltic và những khu vực khác thuộc Liên Minh Châu Âu. Quan điểm này gần như hoàn toàn khác với Mỹ. Trump chưa bao giờ đặt nặng mối đe dọa Nga. Ông thậm chí treo hình Vladimir Putin trong Tòa Bạch Ốc.

Cần nhắc lại, tại hội nghị an ninh Munich 2026 cách đây một tháng, bài phát biểu của Ngoại Trưởng Marco Rubio không hề đề cập đến Nga. Thay vào đó, Rubio cảnh báo về hiểm họa của nhập cư ồ ạt vào Châu Âu, vấn đề mậu dịch “không kiểm soát” và “hiện tượng” đánh động thái quá về tình trạng nóng toàn cầu.

Rubio nói thêm, dù vận mệnh Châu Âu không phải là điều không liên quan Mỹ nhưng “chúng tôi sẵn sàng, nếu cần, tự mình làm những gì chúng tôi muốn làm.” Một lần nữa, tương tự bóng gió của đại sứ Mỹ tại NATO Matthew Whitaker, Rubio hàm ý rằng Châu Âu cần Mỹ hơn là ngược lại và Mỹ sẵn sàng “đi một mình” (“go it alone”) khi cảm thấy cần thiết như vậy.

Chẳng ai có thể “sống một mình”

Hai tuần trước khi Mỹ-Israel thực hiện chiến dịch “thanh toán” Tehran, Thủ Tướng Đức Friedrich Merz đã viết một xã luận trên Foreign Affairs (“How to Avert the Tragedy of Great-Power Politics”), qua đó có thể thấy quan điểm của ông và thông điệp mà ông muốn gửi đến Trump:

“Như triết gia Đức Peter Sloterdijk gần đây đã viết, Châu Âu đã chấm dứt ‘một kỳ nghỉ mà lịch sử dường như vắng mặt’ kéo dài. Chúng ta đã bước qua ngưỡng cửa để tiến vào một kỷ nguyên u ám hơn, một lần nữa được định hình bởi sự phô diễn sức mạnh và nền chính trị cường quốc. Vị thế lãnh đạo toàn cầu mà Hoa Kỳ tuyên bố nắm giữ đang bị thách thức, thậm chí dường như đang bị đánh mất. Và trật tự quốc tế vốn dựa trên các quyền và quy tắc, dù vốn dĩ không hoàn hảo ngay cả trong những ngày tháng tươi đẹp nhất, giờ đây không còn tồn tại (…)

“Khi tiến về phía trước, chúng ta cần nhìn nhận bức tranh toàn cảnh và vạch ra một lộ trình rõ ràng: Người Đức hiểu rằng một thế giới mà ở đó chỉ có quyền lực lên ngôi sẽ là một nơi tăm tối. Đất nước chúng tôi từng đi theo con đường này trong thế kỷ 20, để rồi phải đón nhận một kết cục cay đắng và đầy chua cay.

“Ngày nay, chúng tôi lựa chọn con đường khác. Đất nước chúng tôi gắn kết vững chắc với Liên Minh Châu Âu, với NATO, cũng như với một mạng lưới các quan hệ đối tác chiến lược ngày càng mở rộng. Chúng tôi tin tưởng vào giá trị của những mối quan hệ đối tác đáng tin cậy, được xây dựng trên nền tảng những giá trị và lợi ích chung, sự tôn trọng lẫn nhau cùng niềm tin vững chắc. Sau năm 1945, chính Hoa Kỳ là quốc gia đã truyền cảm hứng cho người Đức về ý tưởng đầy mạnh mẽ này…”

Không còn đường lùi

Mối bất hòa nghiêm trọng từ việc Châu Âu để Mỹ “tự gánh củi” và “tự gánh nước” trong cuộc chiến Trung Đông là sự kiện “giọt nước tràn ly” khiến quan hệ Mỹ-Âu không còn kỳ vọng trở lại trạng thái bình thường như trước thời Trump, ngay cả khi Trump rời nhiệm sở. Cần nhắc lại, ngay trước thềm hội nghị an ninh Munich 2026, Châu Âu đã công khai nói rằng Trump là một “quả cầu đập phá” (“wrecking ball”) và là một trong những “kẻ phá bĩnh” hủy hoại các chuẩn mực và thể chế trật tự quốc tế.

Quan hệ rạn nứt Mỹ-Âu không chỉ thể hiện trên nghị trường. Chưa bao giờ dân Châu Âu nhìn Mỹ, chính xác hơn là Trump, bằng cặp mắt khác như lần này. Cuộc khảo sát do Cluster17 thực hiện trung tuần Tháng Hai với 7,498 người tại bảy quốc gia Châu Âu đã đưa ra kết quả đầy sửng sốt. Đại đa số ý kiến ủng hộ việc điều động quân đội Châu Âu đến bảo vệ Greenland trong trường hợp căng thẳng leo thang. 51% ý kiến đánh giá Trump là kẻ thù của Châu Âu, trong khi chỉ vỏn vẹn 8% xem ông là bạn.

Tất nhiên Châu Âu không thể cắt đứt quan hệ với Mỹ, về chính trị lẫn kinh tế. Tuy nhiên, họ bắt đầu tìm cách giảm lệ thuộc, không chỉ về quân sự mà cả mạng lưới tài chính và hệ thống công nghệ, nhằm giữ được chủ quyền tiền tệ và chủ quyền kỹ thuật số. Nói cách khác, họ cố “gỡ” nhiều nhất có thể những sợi dây lệ thuộc móc dính vào hệ thống Mỹ.

Mức độ lệ thuộc các công ty công nghệ lớn của Mỹ (như Amazon, Google và Microsoft trong lĩnh vực điện toán đám mây) cũng như các ông trùm dịch vụ tài chính (Mastercard và Visa cho các hệ thống thanh toán) đều được rà soát lại. Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron cảnh báo rằng những phụ thuộc như vậy khiến Châu Âu ngày càng dễ bị tổn thương hơn trước sức ép về kinh tế và chính trị từ một tổng thống bất thường như Trump.

Giới lãnh đạo Châu Âu thậm chí bắt đầu xem xét các công cụ cấm vận mà Washington từng dành riêng cho một số đối thủ như Iran hay Bắc Hàn giờ đây có thể được sử dụng để chống lại họ. Trong thực tế, Trump đã nhúng sâu vào chính trị Châu Âu khi áp đặt lệnh trừng phạt nhằm vào các chánh án và công tố viên tại Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (La Hague) vì tội dám điều tra việc Israel có phạm tội ác chiến tranh ở Gaza hay không.

Nói cách khác, ngoài việc tăng cường ngân sách quốc phòng – điều mà Trump luôn dùng để gây sức ép, Châu Âu đang tước dần những công cụ mà Trump có thể sử dụng để bắt thóp họ. Sau tất cả, niềm tin mà hai bên dành cho nhau đã vĩnh viễn xuống đến đáy.

Có thể ngày mai Châu Âu sẽ nhân nhượng và giúp Trump phần nào trong bi kịch chiến tranh Trung Đông mà Trump đang sa lầy nghiêm trọng, nhưng ít nhất, hôm nay, họ đã dạy ngược lại Trump bài học rằng trong thế giới hỗ tương ngày nay khi các bên ít nhiều ràng buộc lẫn nhau thì không thể có chuyện “chơi một mình.” Dù mạnh đến đâu, chẳng ai có thể tự “đốn củi” và “gánh nước” mà không cần ai giúp. [kn]