Trong trại tử thần, họ cho ông một con số: 119104

My Lan Pham

Nhưng điều mà họ cố giết chết nhất lại chính là thứ đã cứu sống hàng triệu con người.

Năm 1942. Vienna.

Viktor Frankl 37 tuổi, là một bác sĩ tâm thần được kính trọng, có phòng khám riêng đang phát triển, một bản thảo gần hoàn thành, và một người vợ tên Tilly với tiếng cười có thể làm bừng sáng cả căn phòng.

Ông có cơ hội trốn sang Mỹ.

Một tấm visa.

Một lối thoát.

Nhưng cha mẹ ông đã già và không thể đi cùng.

Vì thế, ông ở lại.

Chỉ vài tháng sau, Đức Quốc xã ập đến bắt tất cả.

Theresienstadt. Rồi Auschwitz. Rồi Dachau.

Bản thảo mà ông đã dành nhiều năm viết , được khâu cẩn thận vào lớp lót áo khoác ,bị giật mất chỉ vài giờ sau khi ông đến trại.

Công trình cả đời.

Mục đích sống.

Bị thiêu rụi thành tro.

Quần áo bị tước đi.

Tóc bị cạo sạch.

Tên tuổi bị xóa bỏ.

Trên tờ giấy nhập trại, chỉ còn một con số: 119104.

Nhưng có một điều mà lính canh không hiểu:

Bạn có thể lấy đi bản thảo của một người đàn ông.

Bạn có thể lấy đi tên tuổi của ông.

Bạn có thể lấy đi mọi thứ ông sở hữu.

Nhưng bạn không thể lấy đi điều ông biết.

Và Viktor Frankl biết một điều về tâm trí con người ,thứ đã giữ ông sống sót và khai sinh ra một cuộc cách mạng trong tâm lý học.

Ông nhận ra một quy luật.

Trong các trại tập trung, con người không chỉ chết vì đói hay bệnh tật.

Họ chết vì buông xuôi.

Khoảnh khắc một tù nhân đánh mất lý do để sống , cái “tại sao” của mình , cơ thể họ sẽ suy sụp chỉ trong vài ngày.

Các bác sĩ gọi hiện tượng này là: “bệnh bỏ cuộc”.

Nhưng những người bám víu vào một điều gì đó , một người vợ để tìm lại, một đứa con để gặp lại, một cuốn sách chưa viết xong, một món nợ cần trả, một lời hứa phải giữ họ chịu đựng được những đau khổ không tưởng.

Sự khác biệt không nằm ở thể lực.

Mà ở ý nghĩa sống.

Vì thế, Frankl bắt đầu một thí nghiệm.

Không phải trong phòng thí nghiệm.

Mà trong các barrack.

Ông tiếp cận những người đang bên bờ tuyệt vọng và thì thầm:

“Có ai đang chờ anh không?”

“Công việc nào của anh còn dang dở?”

“Nếu là con trai anh, anh sẽ nói gì để nó sống sót qua điều này?”

Ông không thể cho họ thức ăn.

Không thể hứa hẹn tự do.

Ông chẳng có gì vật chất để trao.

Nhưng ông trao cho họ thứ mà lính canh không bao giờ tịch thu được:

một lý do để sống đến ngày mai.

Một người nhớ đến con gái mình. Anh sống sót và tìm lại được con.

Một người khác nhớ đến một vấn đề khoa học còn dang dở. Anh sống sót để giải quyết nó.

Còn Frankl , ông sống sót bằng cách tái dựng bản thảo đã mất trong tâm trí, từng trang, từng đoạn, trong bóng tối của trại giam.

Tháng 4 năm 1945. Giải phóng.

Viktor Frankl chỉ còn nặng 38 kg.

Xương sườn lộ rõ dưới làn da.

Tilly đã mất.

Mẹ ông đã mất.

Anh trai ông đã mất.

Mọi thứ ông yêu thương đều đã bị sát hại.

Ông có mọi lý do để tuyệt vọng. Mọi lý do để buông xuôi.

Nhưng thay vào đó, ông ngồi xuống và bắt đầu viết.

Chín ngày.

Chỉ mất chín ngày để ông tái tạo toàn bộ bản thảo từ trí nhớ , bản thảo mà Đức Quốc xã đã phá hủy ba năm trước.

Nhưng lần này, nó có thêm một điều mà bản gốc chưa từng có:

Bằng chứng.

Bằng chứng sống động, không thể chối cãi rằng lý thuyết của ông là đúng.

Ông gọi nó là Liệu pháp ý nghĩa (Logotherapy) ,chữa lành bằng ý nghĩa sống.

Nền tảng của nó đơn giản nhưng mang tính cách mạng:

Con người có thể sống sót qua hầu như mọi thứ, nếu họ có một lý do “tại sao”.

“Ai có lý do để sống thì có thể chịu đựng gần như mọi hoàn cảnh.”

(Ông mượn câu nói của Nietzsche ,nhưng ông đã chứng minh nó trong địa ngục.)

Năm 1946. Cuốn sách được xuất bản.

Bản tiếng Đức có tựa đề:

“…trotzdem Ja zum Leben sagen”

“…Dẫu vậy, vẫn nói Có với cuộc đời.”

Bản tiếng Anh mang tên: “Man’s Search for Meaning”

(Đi tìm lẽ sống).

Ban đầu, thế giới chưa sẵn sàng đón nhận nó.

Nhiều nhà xuất bản từ chối:

“Quá u ám”, họ nói.

“Ai muốn đọc về trại tập trung chứ?”

Nhưng rồi, chậm rãi, lặng lẽ, cuốn sách lan tỏa.

Các nhà trị liệu đọc và bật khóc.

Tù nhân đọc và tìm thấy hy vọng.

Những người đối diện với ly hôn, bệnh tật, phá sản, trầm cảm ,họ đọc và nhận ra rằng nỗi đau của mình có thể mang ý nghĩa.

Tác động của nó là chấn động.

Cuốn sách được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ.

Bán hơn 16 triệu bản.

Thư viện Quốc hội Mỹ xếp nó vào 10 cuốn sách có ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ.

Nhưng điều quan trọng hơn những con số bán ra là điều này:

Vô số con người ,những người mà chúng ta sẽ không bao giờ biết tên — đã cầm cuốn sách này trong khoảnh khắc tăm tối nhất của đời mình và tìm được lý do để tiếp tục sống.

Bởi vì Viktor Frankl đã chứng minh một điều mà Đức Quốc xã muốn phủ nhận:

Bạn có thể tước đi mọi thứ của một con người —

tự do, gia đình, thức ăn, tương lai, hy vọng —

nhưng vẫn còn một tự do cuối cùng không ai có thể lấy được:

Tự do lựa chọn ý nghĩa của tất cả những điều đó.

Bạn không thể kiểm soát những gì xảy đến với mình.

Nhưng bạn luôn có thể kiểm soát cách bạn đối diện với nó.

Hôm nay, Viktor Frankl đã không còn.

Nhưng trong phòng bệnh, trong phòng trị liệu, trong nhà tù, trong những khoảnh khắc yên lặng khi ai đó đang phân vân giữa bỏ cuộc hay tiếp tục — lời của ông vẫn ở đó:

“Khi ta không còn khả năng thay đổi hoàn cảnh, ta được thách thức để thay đổi chính mình.”

“Mọi thứ có thể bị lấy đi khỏi một con người, ngoại trừ một điều:

tự do cuối cùng của con người ,lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào.”

Đức Quốc xã cho ông một con số.

Lịch sử trao cho ông sự bất tử.

Bởi vì người đàn ông mất tất cả đã dạy cho thế giới rằng:

ý nghĩa là thứ không ai có thể cướp đi.

Tù nhân 119104 không chỉ sống sót.

Ông biến chính nỗi đau thành nguồn chữa lành.

Và đâu đó tối nay, sẽ có một người đang ở bên bờ sụp đổ đọc những dòng chữ của ông ,và quyết định cố gắng thêm một ngày nữa.

Đó không chỉ là sự sống sót.

Đó là chiến thắng trước cái chết.

Chia sẻ từ trang Native American Heritage

My Lan Phạm


 

Giáo Chủ Ali Khamenei trước chén rượu độc-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

January 19, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Trong khi bộ máy an ninh Iran truy bắt và giết ít nhất 5,000 người biểu tình tính đến ngày 18 Tháng Giêng, bản thân Giáo Chủ (Ayatollah) Ali Khamenei 86 tuổi phải trốn mất biệt vào hầm bí mật. Ông luôn là mục tiêu số một của điệp viên Mossad (Israel); và với sự kiện biệt kích Mỹ bắt sống Tổng Thống Venezuela Nicolás Maduro vẫn còn nóng hổi, Ali Khamenei càng phải trốn kỹ. Tuy nhiên, việc bảo vệ sinh mạng Ali Khamenei xem ra còn dễ hơn so với việc bảo vệ một chế độ đang chao đảo trên bờ vực.

Một người biểu tình ở London, Anh Quốc, hôm 14 Tháng Giêng, đốt hình Giáo Chủ Ali Khamenei. (Hình minh họa: Dan Kitwood/Getty Images)

Chén rượu khó nuốt

Lịch sử Iran đang đứng trước khúc quanh định mệnh. Sau gần bốn thập niên cầm quyền, Giáo Chủ Ali Khamenei – người nắm giữ quyền lực tuyệt đối tại quốc gia Hồi Giáo này – đang đối mặt với những thách thức mang tính tồn vong mà ngay cả những người lạc quan nhất trong hàng ngũ trung thành cũng phải lo sợ. Chế độ thần quyền mà Ali Khamenei xây dựng, dựa vào nền móng “bê tông cốt thép” của người tiền nhiệm – Giáo Chủ Ruhollah Khomeini – tưởng vững như bàn thạch giờ đây đang rung bần bật từng ngày trước cơn địa chấn phẫn nộ của hàng triệu người dân.

Khi Giáo Chủ Khomeini qua đời năm 1989, Ali Khamenei – tổng thống Iran từ 1981 đến 1989 – nổi lên như ứng cử viên bộ máy thần quyền ủng hộ cho vị trí lãnh đạo tối cao. Là giáo sĩ cấp trung, Ali Khamenei thiếu những bằng cấp tôn giáo cao quý cần thiết cho vai trò mới. Do vậy, giới tăng lữ đã phong ông làm “ayatollah” (giáo chủ, không phải “đại giáo chủ” – grand ayatollah – như một số báo viết). Năm 1994, ông được nâng lên vị trí “marja” – một “giáo hoàng” trong thế giới Hồi Giáo, được xem là “tấm gương” để tất cả tín đồ Hồi giáo noi theo. Ngoài ra, Ali Khamenei còn mang danh hiệu “Vali Faqih” – người giám hộ cao nhất của đức tin Hồi Giáo Shia.

Khi quyền lực trong tay, Ali Khamenei trở thành tiếng nói cuối cùng trong mọi vấn đề. Ông kiểm soát tuyệt đối hệ thống tư pháp; bổ nhiệm người đứng đầu đài truyền hình nhà nước; đích thân chọn các thành viên Hội Đồng Giám Hộ chịu trách nhiệm xem xét các ứng cử viên “dân cử.” Ali Khamenei cũng bổ nhiệm các vị trí chủ chốt trong nội các, đặc biệt bộ trưởng Nội Vụ, Quốc Phòng, Ngoại Giao và Tình Báo. Bộ máy chỉ huy Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng và Basij (lực lượng vũ trang được thành lập như một kiểu dân quân) cũng phải được ông chỉ định.

Bằng cách này, Ali Khamenei vượt qua mọi bão táp thời đại suốt gần 40 năm, từ áp lực cấm vận của phương Tây đến nhiều đợt nổi dậy của người dân. Tuy nhiên, lần này, ngay cả khi lực lượng an ninh có thể dập tắt làn sóng biểu tình, Ali Khamenei cũng đang cạn kiệt khả năng xoay sở chính trị. Nếu không chấp nhận thỏa hiệp và thay đổi, ông sẽ đối mặt với hiểm họa mà không chỉ cá nhân ông không thể toàn mạng mà chế độ thần quyền cũng có nguy cơ sụp đổ.

Iran chỉ có thể giải quyết các vấn đề kinh tế – nguyên nhân dẫn đến sự phẫn nộ công chúng – nếu các lệnh trừng phạt quốc tế được dỡ bỏ. Để có điều này, trước hết Ali Khamenei phải giảm hoặc ngưng các chương trình phát triển nguyên tử năng. Tuy nhiên, việc từ bỏ chương trình nguyên tử năng không khác gì giương cờ đầu hàng. Tình cảnh Ali Khamenei khiến người ta nhớ đến một quyết định khó khăn mà người tiền nhiệm của ông, Giáo Chủ Ruhollah Khomeini, từng đối mặt. Lúc đó, Ruhollah Khomeini mô tả viễn cảnh một thỏa thuận ngừng bắn với Iraq là điều nhục nhã chẳng khác gì bị ép phải uống chén rượu độc. Cuối cùng, Ruhollah Khomeini phải “uống,” khi không có lựa chọn nào khác ngoài việc ngừng chiến với Iraq vào năm 1988 sau tám năm giao tranh tàn khốc.

Ai thay thế Ali Khamenei?

Áp lực nội tại lên Teheran là rất lớn. Không chỉ chính trị. Tháng Mười Một, Tổng Thống Masoud Pezeshkian nói rằng Iran có thể phải “dời đô” vì Teheran gần như không thể chịu nổi cuộc khủng hoảng nguồn nước. Dù là một trong những quốc gia giàu dầu mỏ nhất thế giới, Iran không còn khả năng cung cấp điện cho người dân 24 giờ một ngày. Tổng Thống Pezeshkian phải thốt lên: “Ai làm được gì thì làm đi. Tôi chịu hết nổi rồi. Đừng nguyền rủa tôi.”

Tình hình kinh tế tồi tệ xảy ra đúng vào thời điểm “vận rủi” liên tục bủa vây Ali Khamenei, đặc biệt từ sau cuộc tấn công của Hamas vào Israel ngày 7 Tháng Mười, 2023. Chiến dịch quân sự trả đũa khốc liệt của Israel và Mỹ đã gây thiệt hại vô kể cho Iran. Nhiều nhân vật thân cận Ali Khamenei bị giết. Các nhà máy nguyên tử năng bị phá tan tành. Một trong những đồng minh quan trọng nhất của Ali Khamenei – Tổng Thống Syria Bashar al-Assad – phải trốn sang Nga.

Muốn hay không, người ta không thể không tính đến “hậu sự” cho Ali Khamenei. Lãnh đạo đầu tiên của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran, Ruhollah Khomeini, qua đời ở tuổi 86. Ali Khamenei bước sang tuổi 87 vào Tháng Tư. Vấn đề là việc thay thế nhà lãnh đạo tối cao không hề đơn giản.

Ali Khamenei không phải là một “viên chức” hay “nguyên thủ.” Ông là nhân vật tôn giáo, tự nhận mình có vị thế chẳng khác gì Giáo Hoàng Công Giáo, cai quản hàng triệu người Hồi Giáo Shia khắp thế giới. Hàng chục năm qua, không chỉ cai trị quốc gia bằng bàn tay sắt, Ali Khamenei còn loại bỏ bất kỳ giáo sĩ nào có thể tranh giành vị trí “ayatollah.” Hiện khoảng 20% cử tri trong 61 triệu dân vẫn trung thành ủng hộ chế độ thần quyền.

Bản thân Ali Khamenei ý thức được sự mong manh của ông. Giữa năm 2025, khi chiến dịch ám sát của Israel khiến nhiều viên chức cấp cao Iran thiệt mạng, từ trong hầm trú bí mật, Ali Khamenei đã chọn người thay thế ông (“Sheltering in a Bunker, Iran’s Supreme Leader Prepares for the Worst”/The New York Times). Ông đã chỉ thị Hội Đồng Chuyên Gia (Majles-e Khobregan – cơ quan đặc biệt có vai trò then chốt trong cấu trúc quyền lực của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran) chọn người kế nhiệm từ ba cái tên mà ông đưa ra. Chẳng ai có thể biết chính xác người nào đã được chọn.

Hội Đồng Chuyên Gia (Majles-e Khobregan) gồm 88 giáo sĩ được chọn ra trong các cuộc bầu cử toàn quốc tám năm một lần. Một nguồn tin chính trị cấp cao ở Teheran nói với Amwaj.media: “Khi Imam [lãnh đạo cách mạng Ayatollah Ruhollah Khomeini] qua đời [năm 1989], người kế nhiệm đã được bầu trong vòng 24 giờ. Chúng tôi có các thủ tục sẵn có, chẳng hạn triệu tập một hội đồng để chọn người kế nhiệm, để bảo đảm quá trình chuyển giao có trật tự.”

Vấn đề kế vị giáo chủ Iran luôn là chủ đề tế nhị và gai góc, gần như không bao giờ được thảo luận công khai ngoài những suy đoán và tin đồn hành lang. Theo The New York Times, con trai của Giáo Chủ Ali Khamenei, Mojtaba – bản thân cũng là giáo sĩ và rất thân cận với Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo, từng được đồn đoán là ứng cử viên hàng đầu – không nằm trong danh sách này. Cựu Tổng Thống Ibrahim Raisi, trước đây cũng được xem là ứng cử viên sáng giá, nhưng ông đã thiệt mạng trong một tai nạn trực thăng vào năm 2024.

Iran giai đoạn “hậu Ali Khamenei”

Một khi Ali Khamenei ra đi, chuyện gì sẽ xảy ra? Theo Karim Sadjadpour (thuộc Carnegie Endowment for International Peace) trong bài viết trên Foreign Affairs (“The Autumn of the Ayatollahs”), hệ tư tưởng toàn trị của Cộng Hòa Hồi Giáo có thể sụp đổ thành chủ nghĩa độc tài chuyên chế vốn là đặc trưng của nước Nga hậu Xô Viết. Hoặc Iran tương tự Trung Quốc sau cái chết Mao Trạch Đông, tức tái điều chỉnh hệ thống bằng cách thay thế hệ tư tưởng cứng nhắc bằng lợi ích quốc gia thực dụng. Tuy vậy, Teheran cũng có thể tiếp tục cai trị bằng bàn tay sắt và duy trì chính sách cô lập, với mức độ thậm chí nghiêm trọng hơn, tương tự Bắc Hàn.

Trước mắt, có vẻ như Iran khó có thể chứng kiến làn sóng dân chủ. Điều này một phần do yếu tố lịch sử của họ. Trong quá khứ, Iran luôn tự hào họ thừa kế một đế chế vĩ đại nhưng lại bị nhiều vết nhục lịch sử “ám quẻ” lên dân tộc mình. Thế kỷ 19, Iran mất gần một nửa lãnh thổ vào tay những láng giềng hung hãn và phải nhượng lại cho Nga vùng Caucasus (trong đó có Armenia, Azerbaijan, Georgia và Dagestan ngày nay), rồi nhường Herat cho Afghanistan dưới áp lực của Anh. Đến đầu thế kỷ 20, Nga và Anh lại chia cắt Iran thành những khu vực riêng của họ. Còn nữa, năm 1953, Mỹ và Anh đã dàn dựng cuộc đảo chính lật đổ Thủ Tướng Mohammad Mosaddeq.

Với những thăng trầm như vậy, Iran sản sinh nhiều thế hệ lãnh đạo luôn nghi kỵ. Họ nhìn thấy âm mưu mọi nơi, trong lẫn ngoài. Ở Trung Đông, Teheran luôn có thái độ dè chừng với láng giềng. Với phương Tây, họ càng ác cảm, đặc biệt Mỹ, nơi từng “chơi” họ nhiều vố đau điếng trong quá khứ lẫn luôn có thái độ thù địch với họ ở hiện tại. Tâm lý nghi kỵ này ăn sâu vào huyết mạch nền chính trị Iran. Nó giải thích một phần lý do tại sao Iran chọn đứng một mình.

Quá trình chuyển đổi chế độ độc tài thường khó đoán. Dù vậy, cái chết hoặc sự mất khả năng điều hành của Ali Khamenei chắc chắn là yếu tố kích hoạt mạnh nhất cho sự thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh Iran hứng chịu các cú sốc bên ngoài lẫn bên trong. Vấn đề bây giờ không phải là người Iran có thật sự muốn thay đổi hay không mà là không có ai để họ có thể tin và dựa vào. Phe đối lập gần như không tồn tại ở đất nước này.

Với Ali Khamenei, có thể ông sẽ không giống người tiền nhiệm Ruhollah Khomeini. Cho đến thời điểm này, có vẻ như Ali Khamenei sẵn sàng đá văng chén rượu độc trước mặt. Ông chấp nhận “đấu” đến cùng với người dân mình lẫn với ngoại bang còn hơn chịu thỏa hiệp để thay đổi. [kn]


 

Triết gia Nga khuyên Putin hãy quăng bỏ luật quốc tế như ý Trump

Hai Phan

Triết gia Nga khuyên Putin hãy quăng bỏ luật quốc tế như ý Trump: chia 3 thế giới, sẵn sàng bom nguyên tử, đưa xe tăng Nga chiếm thêm 7 nước Armenia, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan và Kyrgyzstan bên cạnh Ukraine.

Theo tin từ báo The Daily Express: Nga được khuyên “hãy quăng bỏ luật pháp quốc tế” và hãy tuyên bố chủ quyền đối với những vùng đất mới trong kế hoạch bành trướng mới. Bài viết của hai phóng viên Will Stewart, John O’Sullivan.

Đồng minh trí thức khét tiếng nhất của Vladimir Putin đã công khai tuyên bố Nga nên xâm lược thêm bảy quốc gia có chủ quyền khác ngoài Ukraine.

Alexander Dugin – nhà tư tưởng cực đoan thường được gọi là “bộ não của Putin” – lập luận rằng Điện Kremlin phải tận dụng tham vọng của Donald Trump đối với Greenland làm lý do để tạo ra một đế chế Nga mở rộng rộng lớn.

Nhà triết học này đã thúc giục Moscow xây dựng lại phần lớn Liên Xô cũ và cố tình từ bỏ các chuẩn mực pháp lý toàn cầu trong quá trình đó. Dugin thậm chí còn ám chỉ sẵn sàng sử dụng vũ lực hạt nhân để đạt được mục tiêu của Nga. Điều này diễn ra sau khi một người đọc khẩu hình tiết lộ lời hứa 3 từ đáng sợ mà Donald Trump đã thì thầm vào tai Vladimir Putin.

“Nga buộc phải làm điều gì đó khủng khiếp để khôi phục uy tín của mình,” Dugin viết trên X.

“Thật đáng buồn khi chúng ta phải sử dụng những lập luận như vậy. Nhưng chúng ta không có lựa chọn nào khác. Chỉ có sự tàn bạo, vũ lực, sự hủy diệt hàng loạt và sự tàn ác mới có ý nghĩa trong thế giới kiểu Trump.”

Theo những gì ông mô tả là một trật tự toàn cầu mới do Trump dẫn dắt, Dugin nói rằng các sư đoàn thiết giáp của Nga nên tiến vào Armenia, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan và Kyrgyzstan – các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ hiện là các quốc gia độc lập. Ông tuyên bố việc sáp nhập các quốc gia này sẽ giúp Nga có thêm 27% lãnh thổ so với toàn bộ Liên minh châu Âu, đồng thời đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ.

Dugin tuyên bố: “Trong tình huống này, chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố Nga là một đế chế [và] vứt bỏ luật pháp quốc tế. Bây giờ tất cả những gì còn lại là thừa nhận [thực tế mới] và bắt đầu hành động – tôi sẽ nói, giống như Trump, bởi vì chúng ta không có lựa chọn nào khác.

“Vì vậy, ông ấy nói, ‘Đây là lãnh thổ của tôi, nó sẽ thuộc về Mỹ’. Và chúng ta nói, ‘Đây là lãnh thổ của chúng ta; nó sẽ thuộc về Nga, Á-Âu’. Ông ấy nói, ‘Chúng ta đang khẳng định sự thống trị ở Tây bán cầu’. Chúng ta nên nói, ‘Và chúng ta, cùng với Trung Quốc và Ấn Độ, chẳng hạn, tuyên bố sự thống trị của chúng ta đối với Đông bán cầu’.

“Vì vậy, phương Tây dành cho người phương Tây, và phương Đông dành cho người phương Đông.” Và đó là tất cả.”

Nhà lý luận theo chủ nghĩa dân tộc – từ lâu được coi là kiến ​​trúc sư tinh thần cho thế giới quan địa chính trị cực đoan của Putin – khẳng định Nga phải trở thành một cực quyền lực thống trị trong hệ thống toàn cầu đang bị chia rẽ.

“Mục tiêu của chúng ta là tồn tại, trở thành trung tâm quyền lực quan trọng nhất trong thế giới ba cực này – chủ quyền, tự do, độc lập và rộng lớn,” ông nói với nhà báo Mikhail Kuznetsov.

“Và bất kỳ lãnh thổ nào chúng ta không kiểm soát sẽ không giữ được vị thế trung lập, chúng sẽ không trở thành những Thụy Sĩ yên bình, ngọt ngào. Chúng sẽ trở thành tiền đồn của các cực khác, và trước hết là của cực gây xung đột nhất – Hoa Kỳ.

“Vì vậy, chúng ta không thể chấp nhận sự tồn tại của một Armenia có chủ quyền, hay một Georgia có chủ quyền, hay một Azerbaijan có chủ quyền, một Kazakhstan có chủ quyền, một Uzbekistan, Tajikistan, hay Kyrgyzstan có chủ quyền.

“Không có gì có chủ quyền có thể tồn tại trong mô hình mới này. Hoặc chúng sẽ nằm dưới sự kiểm soát của chúng ta, trong phe của chúng ta, là một phần của Liên minh thống nhất của chúng ta, hoặc chúng sẽ trở thành chỗ đứng cho phương Tây.

“Liên minh châu Âu, hoặc Mỹ, hoặc, trong một số trường hợp nhất định, Trung Quốc.”

Những bình luận của Dugin được đưa ra khi Putin tiếp tục cuộc xâm lược Ukraine trong khi bác bỏ các nỗ lực hòa bình do Mỹ hậu thuẫn. Chúng cũng xuất hiện giữa lúc Nga ngày càng mất ảnh hưởng ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của mình, với các đồng minh cũ như Syria, Venezuela và ngày càng cả Iran đang dần xa rời.

Ông đã kêu gọi Putin chính thức tuyên bố “Học thuyết Monroe Á-Âu – ‘Á-Âu cho người Á-Âu'” và cảnh báo chống lại việc phản đối Trump bằng luật pháp quốc tế.

Thay vào đó, nhà lãnh đạo Kremlin phải “tham gia vào việc phân chia lại thế giới này”. Dugin hình dung một tương lai bị chi phối bởi ba cường quốc toàn cầu: Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ.

“Nhân tiện, số phận của châu Âu hoàn toàn không thể đoán trước được, bởi vì cuộc chiến tiếp theo sẽ là giữa Mỹ và NATO, tức là về Greenland. Ít nhất, đó là điều mà Liên minh châu Âu muốn,” ông tuyên bố.

Dugin hiện đang lãnh đạo Trường Chính trị Cao cấp Ilyin (Ilyin Higher Political School) và Phong trào Á-Âu Quốc tế (International Eurasian Movement). Vào tháng 8 năm 2022, con gái ông, Darya Dugina, 29 tuổi – một nhân vật truyền thông nổi bật ủng hộ Kremlin – đã thiệt mạng trong một vụ đánh bom xe gần Moscow, một vụ tấn công mà các quan chức Nga đổ lỗi cho các đặc vụ Ukraine.

Các nhà điều tra tin rằng chính Dugin có thể là mục tiêu được nhắm đến.

XEN XEM: https://vietbao.com/a324292/t


 

Cuba sau gần 60 năm giương cao ngọn cờ…

Ba’o Tieng Dan

16/01/2026

Nguyễn Thông

16-1-2026

(Bài này chỉ nói về Cuba, không có ý đề cập thêm chỗ nào cả)

Những gì đã và đang xảy ra ở Cuba “hòn đảo lửa đảo say” khiến chúng ta phải có đôi nhời về nó. Hơn nửa thế kỷ trước mà dân thiếu cơm ăn áo mặc thì còn hiểu được, chứ thời buổi này vẫn phải lê la vác rá đi xin gạo, bị cúp điện, phân phối từng quả trứng gà… quả là đại bi kịch.

Đó là một nước nhỏ vùng Trung Mỹ, còn gọi là khu vực Mỹ Latinh. Nhỏ, bởi cứ tra trên Gu gồ chứ chẳng cần mày mò lâu lắc gì, biết ngay diện tích quốc đảo này gần 110.000 cây số vuông (bằng 1/3 Việt Nam), dân số kể cả dân thường lương thiện và cán bộ đảng viên hơn 12 triệu (hơn 1 phần 10 Việt Nam). Nhỏ nhưng có võ, nhất là võ mồm, chẳng hạn tự xưng “pháo đài cách mạng XHCN ở tây bán cầu”, “tiên phong chống đế quốc”, “tự do hay là chết”, “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”, v.v..

Cuba làm cách mạng năm 1959, phe nhóm vũ trang của anh em nhà Fidel Castro lật đổ một chính quyền hợp hiến hợp pháp và lập nên nhà nước của họ. Họ xóa bỏ chế độ tư bản, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, đi theo đường lối cộng sản mà họ và đàn anh Liên Xô, Trung Quốc gọi là tương lai của nhân loại.

Phần tương lai xa chưa xảy ra thì chả ai hình dung được, còn phần tương lai đã trôi thành quá khứ, từ năm 1959 tới nay, thì chứng minh quá rõ, họ đã ném cả một dân tộc, một quốc gia vào đói nghèo, xiềng xích, bị thủ tiêu quyền sống. Không phải chỉ Cuba làm thế, những anh em canh giữ hòa bình thế giới với nó đều ngu si, hoang tưởng, lú lẫn như vậy.

Lại sực nhớ, ngày 20.3 hằng năm được Liên Hợp Quốc coi là ngày hạnh phúc (năm nào cũng vậy, cứ ngày ni đều hạnh phúc, dù không có hạnh phúc, đang chịu bất công, thiếu thốn, đói nghèo). Cuba và những anh em nó đã hớn hở bước trên con đường dẫn tới tăm tối bất hạnh nhưng lại kiên định bảo là đến hạnh phúc. Gần như cả nhân loại đã bước trên đường lớn tới hạnh phúc thực sự, chỉ có đám lãnh đạo Cuba và bạn bè chí cốt của nó theo lối hẻm quyết tâm nghèo đói đến cùng.

Tôi nhớ đã hơi bị lâu rồi, có đọc một bài của nhà báo Mạnh Kim (dịch giả sừng sỏ, nhà báo đáng nể), anh viết hồi cuối năm 2016 thì phải, khi trùm cách mạng vô sản thế giới Fidel chết. Anh Kim có lần rủ tôi cộng tác bài vở cho ảnh nhưng tôi tự lượng biết mình tài hèn sức mọn nên chỉ chân thành cảm ơn. Anh Kim căn cứ vào dữ liệu được công khai trên báo chí quốc tế, đã so sánh giữa Cuba và Singapore.

Cả Fidel Castro và Lý Quang Diệu đều lên nắm quyền cùng năm 1959, thời điểm mà Cuba giàu hơn hẳn Singapore. Trong khi Singapore chỉ là một thương cảng nghèo, nông thôn và đô thị xơ xác, thì Cuba đã nổi tiếng với nền công nghiệp du lịch và giàu tài nguyên. Đó là thời điểm Cuba xếp hạng 5 khu vực Mỹ Latinh về thu nhập đầu người, hạng 3 về tuổi thọ, hạng 2 về tỷ lệ người sở hữu xe hơi, và hạng nhất về tỷ lệ người sở hữu tivi (là thứ đồ cao cấp, hiếm khi ấy).

Sau hơn nửa thế kỷ, sự khác biệt giữa Cuba và Singapore chẳng có gì để bàn cãi. Nó cho thấy sự thành công và thất bại giữa hai mô hình kinh tế: Kinh tế tập trung nhà nước độc quyền chi phối và thị trường tự do. Nó cũng cho thấy sự thất bại và thành công giữa hai mô hình chính trị: Xã hội chủ nghĩa và tư bản. Nhưng những kẻ lãnh đạo dù có mắt vẫn như mù, không thèm thấy hoặc không thấy.

Cuba, đảo quốc nhỏ bé nằm sát nước Mỹ, theo cách nói bây giờ, có vị trí địa chính trị đặc biệt. Một thời gian khá dài, nó được nhóm các nước cộng sản phong danh hiệu tiền đồn phe xã hội chủ nghĩa (gồm 13 nước), ngọn cờ đầu chống chủ nghĩa tư bản bóc lột, chống đế quốc. Anh em nhà Fidel sau khi nắm quyền (tháng 1.1959) đã thiết lập chế độ độc tài gia đình trị còn tệ hơn cả chính quyền Batista mà họ gán cho chữ “độc tài”.

Chế độ Fidel được trang trí màu mè bằng “cộng hòa, dân chủ” để lừa mị. Họ thay nhau “anh truyền em nối”, già cốc đế đại vương vẫn cố giữ ghế cai trị, chẳng chịu nhường ai, xem người dân cả nước không ra gì. Họ bắt toàn dân phải cùng họ tôn thờ cộng sản, thờ Liên Xô, kiên định theo chủ nghĩa xã hội, bất kể phải chịu phận chư hầu dễ bảo, phụ thuộc, đói nghèo. Họ vênh vang với thứ danh hão tiên phong chống đế quốc, bảo vệ thành trì chủ nghĩa xã hội.

Đồng bệnh tương lân, đồng khí tương cầu, chả thế mà tháng 9.2009, ông Nguyễn Minh Triết chủ tịch nước ta trong chuyến công du Cuba đã thật thà như đếm mà tỏ bày “Việt Nam và Cuba như trời đất sinh ra. Một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ. Việt Nam gác thì Cuba nghỉ”. (Tôi dẫn nguyên văn, mà các báo quốc doanh khi đó đều đăng, thậm chí khen ngợi, thích thú với lối ví von “duyên dáng” dí dỏm của chủ tịch nước).

Ông Triết có cái may mắn hơn hai đàn em là Nguyễn Xuân Phúc và Võ Văn Thưởng bởi không dính phốt, không bị ép làm đơn từ chức, nên khi cáo quan được nhiều người khen hiền lành, chân chất. Ông khi đó không biết, hoặc cố tình lờ đi Cuba của anh em nhà Fidel lúc ấy cô đơn, rệu rã, bị cả thế giới nghỉ chơi, ốc chưa mang nổi mình ốc, lấy đâu sức mang cọc cho rêu, canh giữ hòa bình thế giới.

Mà cũng thông cảm, tinh thần AQ là thứ đặc trưng của giới lãnh đạo cộng sản quốc tế, chả riêng gì ông Triết. Còn nhớ, tối hôm coi tivi phát cảnh “thức-ngủ canh gác” xong, lão hàng xóm nhà tôi cười bảo, giời ạ, ai khiến, hai ông cứ rửa chân đi ngủ, ngủ lịm đi càng tốt, cho thiên hạ nhờ.

Nghe hàng xóm tủm tỉm, tôi sực nhớ chuyện tiếu lâm Liên Xô: Khi Lenin chết, cả liên bang giăng khẩu hiệu rằng “Lenin từ trần nhưng học thuyết của người đời đời sống mãi”. Một anh muzic (nông dân) bảo, giá như người vẫn sống, còn học thuyết của người chết đi thì hay biết bao. Anh ta bị tóm.

Năm 1959 tới tận bây giờ, Cuba vẫn đắm chìm trong cuộc thử nghiệm ý thức hệ kéo dài. Từ một quốc gia phát triển, dân chủ, sung túc, cuộc cách mạng của anh em nhà Fidel, mà cụ thể là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, đã mau chóng đẩy Cuba về điểm xuất phát nghèo nàn lạc hậu, thiếu thốn đói khổ như thuở cơ hàn.

Bạn tôi bảo, họ cố tình không thừa nhận lý do chủ quan, cứ đổ cho khách quan, là bị cấm vận. Lúc nào cũng đề cao độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, thì sợ gì cấm vận, sao không cùng bạn bè chung chí hướng cấm vận lại cho nó biết tay nhau.

Sau hơn gần 2/3 thế kỷ “hiên ngang kiêu hãnh trên tuyến đầu chống Mỹ”, bị Liên Xô bỏ rơi không thương tiếc, nay Cuba thực trạng thế nào, chả mấy ai không biết. Những idol của một thời, kiểu anh em nhà Fidel, dần rơi vào quên lãng, bị chê cười.

Người dân Cuba không thể ăn bánh vẽ mãi được, không thể say sưa với “tự do hay là chết” mãi được. Cần phải có thứ gì bỏ vào mồm thì mới tiếp tục làm cách mạng, canh giữ hòa bình thế giới, trong khi đó đám lãnh đạo Cuba chỉ biết hô hào và dọa dẫm dân, nhắm mắt lê lết trên lối mòn, chưa tìm ra con đường sáng cho đất nước. Giỏi lắm thì vác rá đi xin, nơi này một ít, nơi kia một tí, xin gạo xin dầu, để sống cầm hơi, đợi tới ngày cách mạng thắng lợi trên toàn thế giới.

Nói thêm về Fidel: Ngày 25.11.2016, nhân vật huyền thoại của phe cộng sản trên thế giới, nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro Ruz qua đời, thọ 90 tuổi. Ông ta cầm quyền liên tục từ tháng 1.1959, mãi tới khi sức tàn lực kiệt, không trụ nổi vào năm 2011 mới chịu buông, nhưng không buông hẳn cho những người tài, nguyên khí quốc gia, mà “nhường ngôi” cho em ruột… trẻ hơn, khi ấy cũng đã ngoài 80 tuổi. Cầm quyền liên tục từ tháng 1.1959 tới khi sức tàn lực kiệt, không trụ nổi vào năm 2011 ông mới chịu buông. Quá kinh.

Xung quanh nhân vật này, phe cộng sản quốc tế tô vẽ thêm nhiều điều “khác thường” nên người ta nói “nhân vật huyền thoại” là vậy. Đó cũng là cách dựng nên, tạo ra một idol, dù là Cuba idol, nhưng cũng có ý nghĩa chung cho cả phe, mang tính quốc tế.

Phe cộng sản thường tuyên truyền đề cao tập thể, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân nhưng lại thường xuyên thần thánh hóa các cá nhân, dạng Stalin, Brezhnev, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Ceaucescu… để lôi cuốn dân chúng.

Nhất thời, những idol này, thông qua bộ máy tuyên truyền, họ chẳng khác gì chúa trời, thượng đế, khiến dân chúng phải sùng bái, tụng niệm, làm theo. Tuy nhiên, điều tai hại là, khi thời thế thay đổi, thần tượng sụp đổ thì hình ảnh được tô vẽ tan biến rất nhanh, thảm hại. Cuộc sống luôn có quy luật của nó chứ chả tuân theo ý chí chủ quan của một tổ chức hay cá nhân nào.

Những năm Liên Xô còn hùng mạnh, đứng đầu phe XHCN, đối trọng với “tập đoàn tư bản đế quốc” do Mỹ dẫn dắt, Fidel được coi là tên lính xung kích ở tây bán cầu. Có Liên Xô chống lưng, ông thành người hùng.

Cuba những năm ấy hầu như chỉ có 2 nhiệm vụ: Chống Mỹ và trồng mía ép đường bán cho Liên Xô. Tất cả những thứ khác đã có anh cả Liên Xô lo, nên Cuba tự gây cho mình một nền kinh tế phụ thuộc. Tới mức khi anh cả sụp đổ, tan rã năm 1991, bị cắt bầu sữa, em bé Cuba đói sữa ngày càng đèo đẹn, suy dinh dưỡng, cho tới nay đã 35 năm vẫn không hồi phục trưởng thành được.

Từ một nước phát triển nhất vùng Caribe, đứng hàng đầu Trung Mỹ, nay Cuba nằm trong nhóm nước nghèo đói thiếu thốn lạc hậu nhất thế giới. Tất cả đều bắt đầu từ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Và bi kịch ở chỗ cho đến bây giờ những người cộng sản Cuba độc quyền cai trị đất nước nhỏ bé chục triệu dân này vẫn kiên định đi theo con đường nghèo đói ấy.

Hôm 29.11.2016, họ hứa trước linh cữu ông Fidel rằng sẽ vẫn nối tiếp đường ông đi. Đương nhiên là thế, ông em phải nối gót ông anh, ông già 85 cứ phải làm như ông già 90 đã làm, khác thế nào được. Một thế hệ già nua đứng ở cổng âm ti nhưng vẫn làm nhiệm vụ dẫn dắt cho cả một dân tộc đi tìm tương lai. Có sự trái khoáy, bi kịch, bất hạnh nào như thế chăng?

Hậu sinh của anh em nhà Fidel, ông chủ tịch Miguel Diaz-Canel Bermudez những ngày qua (tháng 1.2026) vẫn kêu gọi chiến đấu hy sinh đến người Cuba cuối cùng để bảo vệ thành quả chủ nghĩa xã hội. Chả hiểu họ định bảo vệ thành quả gì? Hãy khôn ngoan hơn, sang Việt Nam mà học hỏi. Chủ nghĩa xã hội vẫn còn trong nghị quyết, trên khẩu hiệu, nhưng cuộc sống đã vận hành theo cách khác, sinh sắc hơn nhiều.

Hồi miền Bắc Việt Nam đánh nhau với Mỹ, ông Fidel là người ủng hộ nhiệt thành. Những thập niên 60-70 thế kỷ trước, lứa chúng tôi nghe tuyên truyền nhiều về ông, rất kính phục ông và ông Che Guevara. Công nhận bộ máy tuyên truyền tô vẽ rất giỏi.

Nghe người lớn kể rằng Fidel định đưa quân sang đánh giúp nhưng cụ Hồ bảo chưa cần. Ông cử kỹ sư và công nhân sang làm đường Xuân Mai – Hòa Bình, giúp xây cái nhà khách ven hồ Tây cho đảng có chỗ tiếp khách, xây bệnh viện Việt – Cu ở Đồng Hới (Quảng Bình), chở bò sữa qua để nuôi trên vùng Ba Vì, Mộc Châu, bán rẻ đường cho Việt Nam hoặc đổi lấy gạo, mặc cho máy bay và thủy lôi Mỹ phong tỏa dày đặc trên trời dưới nước vẫn đưa tàu thủy chở hàng tới cảng Hải Phòng, khi Quảng Trị vừa được giải phóng là ông sang thăm động viên ngay…

Ông Fidel làm việc đó với tinh thần lúc bấy giờ người ta hay nhắc đến, là “quốc tế vô sản trong sáng”, mà thực chất tất cả mọi điều đều có sự chỉ đạo của Liên Xô. Người cộng sản Việt Nam biết ơn ông, sống tình nghĩa thủy chung với Cuba và ông Fidel cho đến tận bây giờ cũng một phần do những quá khứ tốt đẹp ấy.

Tuy nhiên, cũng cần tỉnh táo hiểu rằng, cũng chả phải vô tư trong sáng gì đâu, đó chỉ là sự đổi chác, đền bù cho xương máu của người Việt đã đổ ra trong cuộc chiến tranh mà Liên Xô, Cuba… đứng ngoài vỗ tay cổ vũ. Hàng triệu người Việt đã ngã xuống “tuyến đầu chống Mỹ” để họ được hưởng hòa bình, ung dung xây dựng chủ nghĩa xã hội, món nợ ấy mình không đòi thì thôi, chứ ơn nghĩa cái gì.

Nhưng ông Fidel cũng là hình ảnh của một người lính, thậm chí hiếu chiến. Ông đề ra khẩu hiệu “Tổ quốc hay là chết”, dù có phải đánh đến người dân Cuba cuối cùng cũng không sợ. Ông thích làm người lính đi đầu. Tôn thờ chủ nghĩa cộng sản, ông Fidel và những người như ông trên khắp thế giới coi sự độc lập dân tộc chỉ là chuyện nhỏ, hạnh phúc no ấm của người dân lại càng không đáng quan tâm khi mục đích lớn chưa đạt được.

Cái mà họ (người cộng sản như Fidel) phấn đấu là “Hòa Bình Thế Giới”, là tiêu diệt, đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, những thứ mà họ quy vào mấy chữ ngắn gọn: Bóc lột, xâm lược. Phải đấu tranh cho hòa bình thế giới, canh giữ hòa bình thế giới, 24/24.

Chính vì vậy, sau khi đã cướp được chính quyền bằng gươm súng, hầu như không nước cộng sản nào chịu dừng cuộc chiến lại để tập trung vào việc xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho dân mình, mà cứ mải miết cuộc hành trình vũ lực vô định với mục đích vĩ đại lớn lao hơn: Cách mạng thế giới.

Biết bao nhiêu xương máu đã đổ ra cho sự bao đồng không tưởng này, bị cuốn vào cái vòng xoáy “ai thắng ai” khủng khiếp, tàn bạo ấy. Họ tự đắc “Ta vì ta ba chục triệu người/ Cũng vì ba nghìn triệu trên đời”, “Ta giữ cho ai mảnh đất này… / Ta hiểu vì sao ta chiến đấu/ Ta hiểu vì ai ta hiến máu”…

Tức là cái tham vọng của họ không bị gói gọn trong phạm vi đất nước – dân tộc mà kinh khiếp hơn nhiều, nó ôm trùm cả quả địa cầu.

Theo Fidel, chỉ có sức mạnh của chủ nghĩa xã hội mới có thể tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa tư bản, mới đem lại no ấm, hạnh phúc, hòa bình cho nhân loại. Sống chết cũng phải giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, ngay cả khi hết gió họ vẫn duy ý chí bắt cờ phải tung bay. Chỉ thù hằn, chỉ thích đánh nhau.

Thời cách nay nửa thế kỷ, nhưng câu thơ như trên được coi là tuyệt bút. Giả dụ mấy lời nôm na tự sướng của ông chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết mà phát ra thời đó chắc cũng được xem như lời thánh nhân, chỉ tiếc nó bị lùi lại mấy chục năm nên trở thành trò cười. Người cộng sản kiểu Fidel đã tự huyễn hoặc mình với những khát vọng to tát kiểu vậy. Dân gian thì nói ngắn gọn “Ốc chưa mang nổi mình ốc, lại cứ đòi mang cọc cho rêu”.

Sau này, khi một số người cầm quyền ở các nước phe XHCN tỉnh ngộ ra, họ nhận thấy rằng đã kiêu hãnh kiêu ngạo ảo tưởng một cách mù quáng. Thì đúng vậy, con ếch ngồi đáy giếng, dĩ nhiên bầu trời chỉ bằng cái vung thôi.

Nói gì thì nói, khát vọng vĩ đại của Fidel dưới góc độ lý luận là rất đẹp đẽ, chỉ có điều luôn làm ngược lại. Lý luận và thực tế luôn trái nhau.

Một khát vọng vĩ đại, đôi khi cũng đem lại thảm họa vĩ đại. Thật tiếc cho con người, nhất là cho nhân dân gánh chịu nó.


 

Greenland – chạy trời không khỏi nắng-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

January 15, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Căng thẳng quanh tương lai Greenland – hòn đảo Bắc Cực rộng lớn thuộc chủ quyền Đan Mạch – đang leo thang chóng mặt.

Bộ Trưởng Ngoại Giao Lars Lokke Rasmussen (trái) của Đan Mạch và Bộ Trưởng Ngoại Giao Vivian Motzfeldt của Greenland họp báo tại Đại Sứ Quán Đan Mạch hôm 14 Tháng Giêng tại Washington, DC. Sau cuộc gặp Phó Tổng Thống JD Vance và Ngoại Trưởng Marco Rubio. (Hình minh họa: Andrew Leyden/Getty Images)

Trump sẽ “luộc chín” Greenland

“Luộc” không là từ thích hợp trong ngôn ngữ chính trị quy ước, nhưng “luộc” có ý nghĩa chính xác khi xét đến bản chất của hành động và ngôn ngữ mang tính “giang hồ” của vụ việc. Với những gì đang diễn ra, Greenland khó có thể “toàn mạng.”

Cuộc tranh luận gay gắt về tương lai Greenland ít nhiều được định đoạt tại Tòa Bạch Ốc vào ngày 14 Tháng Giêng, khi Phó Tổng Thống J.D. Vance chủ trì cuộc họp kín với các bên liên quan (trước đó, các nhà ngoại giao Đan Mạch và Greenland yêu cầu gặp Ngoại Trưởng Marco Rubio chứ không phải ông J.D. Vance). Giới chức Đan Mạch đang đối diện tình thế hết sức khó khăn khi họ gần như bị chơi “ép sân” một cách thô bạo.

Ngày 14 Tháng Giêng, trên Truth Social, Tổng Thống Trump viết:

“Mỹ cần Greenland vì mục đích an ninh quốc gia. Nó rất quan trọng đối với hệ thống Vòm Vàng mà chúng ta đang xây dựng. NATO nên dẫn đầu để chúng ta thực hiện được điều này. NẾU CHÚNG TA KHÔNG LÀM, NGA HOẶC TRUNG QUỐC SẼ LÀM, VÀ ĐIỀU ĐÓ SẼ KHÔNG XẢY RA! Về mặt quân sự, nếu không có sức mạnh bao trùm của Mỹ, mà phần lớn trong số đó tôi đã xây dựng trong nhiệm kỳ đầu và hiện tiếp tục đưa lên một tầm mới, thậm chí cao hơn… NATO sẽ trở nên đáng gờm và hiệu quả hơn nếu Greenland nằm trong tay HOA KỲ. Bất cứ điều gì kém hơn thế đều không thể chấp nhận được.”

Thời điểm hiện tại, EU đứng về phía Đan Mạch. Ngày 14 Tháng Giêng, Bộ Trưởng Quốc Phòng Boris Pistorius của Đức cảnh báo việc Mỹ chiếm Greenland sẽ cản trở, chứ không giúp ích, cho các mục tiêu an ninh ở Bắc Cực; và hành động của Washington đang “vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của hợp tác quốc tế.” Trong cùng ngày, Chủ Tịch Ủy Ban Châu Âu Ursula von der Leyen cũng khẳng định “chỉ Đan Mạch và Greenland, và chỉ họ, mới có quyền quyết định” những vấn đề liên quan họ.

Trong thực tế, Mỹ không nhất thiết phải sở hữu Greenland cho vấn đề an ninh quốc gia. Không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới có hệ thống căn cứ quân sự rải rác toàn cầu như Mỹ. Bộ Quốc Phòng Mỹ hiện quản lý hoặc sử dụng hơn 128 căn cứ tại ít nhất 51 quốc gia, theo báo cáo của Cơ Quan Nghiên Cứu Quốc Hội năm 2024. Các phân tích độc lập cho biết tổng số căn cứ quân sự lớn nhỏ của Mỹ có thể lên tới hơn 750 tại 80 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Trong 1.3 triệu quân nhân tại ngũ của Mỹ, gần 13% đóng ở ngoại quốc. Do vậy, “chúng ta không cần ‘quyền sở hữu’ để tiến hành tất cả các hoạt động mà chúng ta muốn,” phát biểu của cựu Đô Đốc Hải Quân James Stavridis, cựu tư lệnh tối cao của NATO (“Military Experts Reject Trump’s Logic That U.S. Must Own Greenland to Defend It.”/Wall Street Journal).

Tháng Ba, 2025, trong chuyến công du Greenland, khi phát biểu trước các quân nhân Mỹ tại Căn cứ Pituffik, Phó Tổng Thống J. D. Vance nói rằng “Đan Mạch đã không làm tốt việc giữ an ninh cho Greenland.” Và do vậy Mỹ cần phải nhảy vào. Nói vậy là mâu thuẫn, bởi chính Mỹ đã chọn rút quân khỏi Greenland, giảm từ 13 căn cứ quân sự mà họ duy trì từ giai đoạn đỉnh điểm Chiến Tranh Lạnh xuống còn một căn cứ (Pituffik) vào năm 2004.

Hơn nữa, Đan Mạch, một thành viên sáng lập NATO, từng tuyên bố sẵn sàng thảo luận việc mở rộng sự hiện diện quân đội Mỹ tại Greenland. Đan Mạch cũng là một trong những đồng minh đáng tin cậy nhất của Mỹ. Năm 2023, thời cựu Tổng Thống Joe Biden, nữ Thủ Tướng Mette Frederikse của Đan Mạch ký thỏa thuận cho phép Mỹ đóng quân tại ba căn cứ ở Đan Mạch trong ít nhất 10 năm.

Rasmus Grand Berthelsen, nhà tư vấn chính trị nổi tiếng ở Copenhagen, nói rằng “Đan Mạch có lẽ là quốc gia thân thiện với Mỹ nhất trong khối EU.” Kể từ sau sự kiện 11 Tháng Chín, Đan Mạch luôn tuân thủ mô hình Siêu Đại Tây Dương (Super-Atlanticism), coi việc liên kết với Mỹ là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại. Họ gửi hàng ngàn binh sĩ đến phục vụ tại Afghanistan và Iraq. 52 binh sĩ Đan Mạch thiệt mạng trong các chiến trường trên – những tổn thất đáng kể đối với một quốc gia chỉ có sáu triệu dân.

Chính sách “Siêu Đại Tây Dương” khiến Đan Mạch gặp rắc rối với các nước Châu Âu khác, thậm chí với chính cử tri của họ. Dân Đan Mạch không thích quốc gia họ là “con rối” của Mỹ. Loạt báo cáo năm 2021 cho biết, từ năm 2012 đến 2014, cơ quan tình báo quân sự của Đan Mạch đã giúp Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ nghe lén điện thoại của giới chức Na Uy, Thụy Điển, Pháp và Đức, trong đó có Thủ Tướng Angela Merkel của Đức.

Vấn đề lợi ích nhóm

Tất cả điều đó vẫn không ngăn được tham vọng sở hữu Greenland của ông Trump. Tháng Năm, 2025, Wall Street Journal cho biết Mỹ bắt đầu thu thập thông tin tình báo ở Greenland. Đài truyền hình công cộng Đan Mạch DR tiết lộ, ít nhất ba người Mỹ bí mật thực hiện các “chiến dịch gây ảnh hưởng,” chẳng hạn xác định những cư dân có thể tham gia phong trào ly khai. Lúc đó, Ngoại Trưởng Lars Løkke Rasmussen của Đan Mạch triệu tập một quan chức cấp cao từ Đại Sứ Quán Mỹ tại Copenhagen để cật vấn, lên án “bất kỳ nỗ lực nào nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của vương quốc.”

Ngoài vấn đề an ninh quốc gia, còn một yếu tố khác trong nỗi ám ảnh Greenland là màn chia chác lợi ích kinh tế, không chỉ lợi ích kinh tế quốc gia mà còn là lợi ích nhóm. Với diện tích gần bằng Venezuela, Greenland là một kho báu thực sự, chứa đầy khoáng sản quan trọng và tài nguyên có giá trị cao, từ kẽm, đồng, vàng, dầu, đến thậm chí uranium và bạch kim. Do phần lớn hòn đảo là sự kết hợp giữa sông băng và lãnh nguyên khô cằn nên hầu hết nguồn khoáng sản vẫn chưa được khai thác.

Việc các tỷ phú Mỹ đứng sau ông Trump trong tham vọng thu tóm Greenland không phải là suy đoán. Chỉ vài ngày sau khi Tổng Thống Trump nhậm chức nhiệm kỳ hai, tờ The New York Times đề cập ngay vấn đề này (“Trump Is Eyeing Greenland. His Commerce Nominee Has Financial Ties There,” ngày 29 Tháng Giêng, 2025). Bài báo viết, nhân vật được ông Trump đề cử làm bộ trưởng thương mại – Howard Lutnick và công ty tài chính Cantor Fitzgerald của ông, dính dáng đến công ty khai thác khoáng sản Critical Metals Corp, nơi có kế hoạch làm ăn ở Greenland vào năm 2026. Thời ông Joe Biden, Critical Metals từng định vận động hậu trường để Washington tài trợ dự án của họ, nhưng được đề nghị hoãn lại cho đến thời Trump 2.0.

Không chỉ Howard Lutnick, nhiều gương mặt quen thuộc khác trong vòng thân cận của ông Trump cũng háo hức với những dự án đầu tư vào Greenland, trong đó có các tỷ phú công nghệ Marc Andreessen, Sam Altman và Jeff Bezos. Cả ba từng hào phóng chi mạnh cho chiến dịch tranh cử của ông Trump và cả ba cũng là những nhà đầu tư bỏ vốn vào KoBold Metals, một công ty tư nhân có trụ sở tại Berkeley, California, chuyên thăm dò khoáng sản và kim loại ở Greenland. Phân tích của tờ The Guardian về hồ sơ tài chính cho thấy những ông trùm công nghệ Mỹ từng đầu tư vào các công ty khai thác mỏ hoạt động ở Greenland đã đóng góp ít nhất $243 triệu cho chiến dịch tranh cử 2024 của ông Trump. Cùng lúc, họ tích lũy được số cổ phiếu trị giá $314 triệu trong Trump Media.

Ngoài ra, những người ủng hộ mạnh các dự án khai thác ở Greenland còn là các ông trùm tiền điện tử mà trước đó cũng hào phóng tài trợ cho chiến dịch tranh cử của ông Trump. Với họ, Greenland là nơi lý tưởng để xây dựng các trung tâm dữ liệu cho ngành công nghiệp trí tuệ nhân tạo và tiền điện tử.

Không chỉ làm ăn, họ thậm chí muốn thành lập ở Greenland một lãnh thổ tự trị riêng theo phiên bản “hậu nhà nước” (“post state”) dành riêng cho giới tinh hoa công nghệ. Nhóm đứng sau “nhà nước” này có tên là “Praxis.” Cho đến nay, Praxis nhận được khoản đầu tư $525 triệu từ những tỷ phú thân cận với chính quyền Trump, trong đó có người đồng sáng lập PayPal, Ken Howery, người được ông Trump cử làm đại sứ tại Đan Mạch  (“The Oligarchs Pushing for Conquest in Greenland.”/The New Repubic).

Một cách tổng quát, bất luận việc bàn cãi như thế nào, số phận Greenland gần như đã được định đoạt, khi mà chiến lược thu tóm được lên kế hoạch chi tiết trong một thời gian dài. Đây không phải là ý kiến bất chợt. Nó được hoạch định cụ thể, trong đề án có tên “Sáng kiến Tái cấu trúc Chiến lược phương Bắc” (Northern Strategic Realignment Initiative).

Tháng Năm, 2025, chính quyền Trump công bố “sáng kiến phát triển chiến lược” trị giá $10 tỷ cho Greenland, bề ngoài là nâng cấp cơ sở hạ tầng và thúc đẩy việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Bộ Tư Pháp Mỹ cũng xây dựng khuôn khổ pháp lý dựa trên một tiền lệ lịch sử (Mỹ mua lại Tây Ấn thuộc Đan Mạch năm 1917, nay là Quần Đảo Virgin). Ngoài ra, Washington còn viện dẫn đến quyền tự quyết của người dân Greenland, căn cứ theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Kế hoạch “chuyển đổi chủ quyền,” về lý thuyết, coi như xong. Washington muốn chứng minh rằng, ngay từ đầu, họ “chơi đúng luật.”

Mới đây, Tháng Mười Hai, 2025, ông Trump cử Thống Đốc Jeff Landry của Louisiana làm đặc phái viên đến Greenland. Trên X (Twitter), ông Landry nói huỵch toẹt nhiệm vụ là “để biến Greenland thành một phần của nước Mỹ.” Nói cách khác, chính quyền Trump đã tính hết cả rồi. Dân Greenland có “đồng thuận” hay Đan Mạch chống đối như thế nào bây giờ gần như không còn ý nghĩa gì. Như ông Trump nói, “bất cứ điều gì kém hơn thế đều không thể chấp nhận được.” [dt]


 

Ở Hà Lan, khi có ai đó qua đời mà không có người thân hay bạn bè bên cạnh…

Anh Chi TTV2 – Quan điểm cá nhân 

Ở Hà Lan, khi có ai đó qua đời mà không có người thân hay bạn bè bên cạnh, đám tang của họ không hề bị bỏ mặc. Một cán bộ địa phương sẽ có mặt để đại diện cho cộng đồng, và đứng cạnh họ là một… nhà thơ.

​Ý tưởng này ra đời vì người ta không muốn lời chào vĩnh biệt lại trở thành một thủ tục giấy tờ khô khan. Nhà thơ sẽ nhận được vài mẩu tin ít ỏi còn sót lại: một cái tên, một ngày sinh, một công việc cũ hay một địa chỉ—có khi chỉ là một chi tiết nhỏ nhoi duy nhất. Từ những mảnh ghép vụn vặn đó, một bài thơ được viết riêng để dành cho cuộc đời ấy.

​Giữa buổi lễ, bài thơ được đọc lên cho người đã khuất. Không bóng bẩy ca ngợi chiến tích, cũng chẳng tô vẽ nên những tình cảm xa lạ. Nhà thơ chỉ lặng lẽ gom nhặt những gì còn lại, biến một lời chào tạm biệt của một người vô danh thành một cử chỉ ấm áp tình người.

​Nghi lễ diễn ra không to tát,  ồn ào. Nó giản dị, gần như chẳng mấy ai hay biết. Nhưng chính vào lúc đó, người đi xa không còn đơn độc nữa. Có người đã gọi tên họ. Có người đã nhìn nhận sự hiện diện của họ trên đời.

​Và có lẽ, đó mới là ý nghĩa thực sự của việc làm này: nhắc nhở chúng ta rằng mỗi cuộc đời, dù có kết thúc trong lặng lẽ đến đâu, vẫn xứng đáng được tiễn đưa bằng một tiếng nói chân thành giữa người với người.

(The Lonely Funeral)

St


 

Nữ sinh viên Iran bị bắn vào đầu ở cự ly gần giữa các cuộc biểu tình, thi thể được chôn cất bên lề đường

Tony Nguyễn

 Nữ sinh viên Iran bị bắn vào đầu ở cự ly gần giữa các cuộc biểu tình, thi thể được chôn cất bên lề đường

* Gia đình Rubina Aminian được cho là đã nhìn thấy hàng trăm nạn nhân trẻ tuổi trước khi nhận dạng thi thể con gái mình

– Emma Bussey, Fox News 13/1/2026

Một nữ sinh viên 23 tuổi đã bị bắn vào đầu ở cự ly gần trong các cuộc biểu tình ở Iran, theo Tổ chức Nhân quyền Iran, một nhóm có trụ sở tại Na Uy, khi chế độ tiếp tục đàn áp bạo lực các cuộc biểu tình trên toàn quốc.

Rubina Aminian, sinh viên ngành thiết kế dệt may và thời trang tại trường Cao đẳng Kỹ thuật và Dạy nghề Shariati dành cho nữ sinh ở Tehran, đã bị giết vào ngày 8 tháng 1 sau khi rời trường và tham gia các cuộc biểu tình ở thủ đô, theo Tổ chức Nhân quyền Iran.

Cô là một trong số ít nạn nhân của cuộc bất ổn gần đây mà danh tính đã được công khai xác nhận.

“Các nguồn tin thân cận với gia đình Rubina, trích dẫn lời nhân chứng, nói với Tổ chức Nhân quyền Iran rằng nữ sinh người Kurd trẻ tuổi đến từ Marivan đã bị bắn từ phía sau ở cự ly gần, viên đạn trúng vào đầu cô,” nhóm này cho biết trong một tuyên bố.

Sau cái chết của cô, gia đình Aminian đã đi từ nhà ở Kermanshah, miền tây Iran, đến Tehran để nhận dạng thi thể con gái.

Theo các nguồn tin được Tổ chức Nhân quyền Iran trích dẫn, gia đình đã được đưa đến một địa điểm gần trường cao đẳng, nơi họ nhìn thấy thi thể của hàng trăm người trẻ tuổi được cho là đã bị giết trong các cuộc biểu tình.

“Hầu hết các nạn nhân là những người trẻ tuổi từ 18 đến 22 tuổi, những người đã bị lực lượng chính phủ bắn vào đầu và cổ ở cự ly gần,” một nguồn tin thân cận với gia đình cho biết.

Gia đình ban đầu bị cấm nhận dạng thi thể Aminian và sau đó bị ngăn cản không cho mang thi thể về, nhóm này cho biết.

Sau nhiều nỗ lực, người thân cuối cùng đã được phép nhận thi thể và trở về Kermanshah.

Khi họ đến đó, lực lượng tình báo được cho là đã bao vây nhà của gia đình và không cho phép chôn cất.

Theo Tổ chức Nhân quyền Iran, gia đình buộc phải chôn cất thi thể Aminian bên lề đường giữa Kermanshah và thành phố Kamyaran gần đó.

Gia đình cũng không được phép tổ chức lễ tang, và một số nhà thờ Hồi giáo ở Marivan được cho là đã bị cấm tổ chức lễ tưởng niệm.

Các cuộc biểu tình chống chính phủ leo thang ở Iran được thúc đẩy bởi sự tức giận lan rộng về sự đàn áp chính trị và khó khăn kinh tế, bao gồm cả lạm phát gia tăng. Cơ quan Tin tức về Hoạt động Nhân quyền có trụ sở tại Mỹ ước tính hôm thứ Ba rằng hơn 16,700 người đã bị bắt giữ.

Các nhóm nhân quyền khác đã báo cáo số người chết rất cao, với một số ước tính vượt quá 3,000 người, theo phóng viên nước ngoài chính của Fox News, Trey Yingst.

Tổ chức Nhân quyền Iran mô tả Aminian trong một tuyên bố là “một phụ nữ trẻ tràn đầy niềm vui sống và đam mê thời trang và thiết kế quần áo, người mà những giấc mơ đã bị chôn vùi bởi sự đàn áp bạo lực của Cộng hòa Hồi giáo.”

https://www.foxnews.com/…/iranian-student-shot-head…

––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

Rubina Aminian, một sinh viên thiết kế dệt may 23 tuổi, đã bị bắn vào đầu ở cự ly gần trong các cuộc biểu tình ở Tehran, theo Tổ chức Nhân quyền Iran. (Tổ chức Nhân quyền Iran)


 

Số người chết trong biểu tình ở Iran lên đến 2,000, thậm chí có thể cả chục ngàn

Ba’o Nguoi-Viet

January 13, 2026

TEHRAN, Iran (NV) – Số người thiệt mạng trong các cuộc biểu tình ngày càng leo thang ở Iran được cho là hàng ngàn, trong đó một giới chức Iran đưa ra con số là 2,000 người chết nhưng các tổ chức nhân quyền ước tính là có thể cao hơn nhiều, Reuters đưa tin hôm Thứ Ba, 13 Tháng Giêng.

Một giới chức Iran giấu tên nói với Reuters rằng 2,000 người, bao gồm cả nhân viên an ninh, thiệt mạng trong các cuộc biểu tình ở Iran mà hiện đã bước sang tuần thứ ba.

Người biểu tình Iran ở thủ đô Tehran hôm 9 Tháng Giêng. (Hình: Mahsa/Middle East Images/AFP via Getty Images)

Giới chức Iran gọi những người biểu tình là “bọn khủng bố” và cáo buộc họ gây bạo loạn.

Trong khi đó, Tổng Thống Donald Trump đe dọa sẽ có hành động quân sự đối với chế độ thần quyền Iran nếu họ đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình. Ông cảnh báo hôm Chủ Nhật rằng Iran “bắt đầu” vượt qua lằn ranh đỏ ông đưa ra.

Trong khi đó, Iran International, kênh tin tức tiếng Ba Tư có trụ sở tại London, viết trong một bài xã luận hôm Thứ Ba rằng họ tin có 12,000 người thiệt mạng. Họ gọi đây là vụ tàn sát nhân mạng lớn nhất trong lịch sử đương đại của Iran vốn diễn ra trong hai đêm từ ngày 8 đến ngày 9 Tháng Giêng.

“Dựa trên dữ liệu có sẵn và thông tin kiểm tra chéo thu được từ các nguồn đáng tin cậy, bao gồm Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Tối Cao và văn phòng tổng thống, ước tính ban đầu của các cơ quan an ninh của Cộng Hòa Hồi Giáo là có ít nhất 12,000 người đã thiệt mạng,” tờ báo này cho biết.

Các cuộc biểu tình bùng phát vào cuối Tháng Mười Hai do khó khăn kinh tế nhưng kể từ đó trở thành phẫn nộ đối với chế độ của Iran.

Ông Trump sẽ họp với các giới chức hàng đầu để xem xét các lựa chọn đáp trả.

Các chuyên gia và cựu giới chức Mỹ nói rằng nếu không tấn công quân sự, ông Trump có thể đem đến những hỗ trợ quan trọng như giúp người biểu tình truy cập mạng Internet hoặc tấn công mạng để làm gián đoạn các trung tâm chỉ huy và kiểm soát của chế độ. (NNL) [đ.d.]


 

Trump mời Petro tới Tòa Bạch Ốc sau vài ngày dọa đánh Colombia

Ba’o Nguoi-Viet

January 8, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Donald Trump hôm Thứ Tư, 7 Tháng Giêng, loan báo ông mời Tổng Thống Gustavo Petro của Colombia tới Tòa Bạch Ốc, chỉ sau vài ngày ông Trump hăm dọa tấn công nước này, theo Reuters.

Tổng Thống Trump công bố thông tin này sau khi điện đàm với ông Petro, tổng thống cánh tả đầu tiên của Colombia, trước đó cùng ngày. Hai nhà lãnh đạo cho biết họ nói chuyện về mối quan hệ giữa Mỹ với Colombia.

Tổng Thống Gustavo Petro của Colombia phát biểu tại buổi mít tinh ở thủ đô Bogota, Colombia, hôm 7 Tháng Giêng. (Hình: Andres Rot/Getty Images)

Đó là lần đầu tiên Tổng Thống Trump nói chuyện với Tổng Thống Petro kể từ khi ông Trump tuyên bố hôm Chủ Nhật ông thấy ý tưởng mở chiến dịch quân sự nhắm vào chính phủ Colombia “nghe hay.” Ông Trump hăm dọa Colombia ngay sau ngày lực lượng Mỹ tấn công Venezuela, bắt Tổng Thống Nicolas Maduro rồi đưa về Mỹ để truy tố tội về ma túy và vũ khí.

“Tôi vinh hạnh nói chuyện với Tổng Thống Gustavo Petro của Colombia. Ông gọi điện thoại giải thích tình hình ma túy và những điều bất đồng giữa chúng tôi thời gian qua. Tôi đánh giá cao cuộc điện thoại và giọng điệu của ông, và mong gặp ông trong tương lai gần,” Tổng Thống Trump viết trên mạng xã hội Truth Social của ông.

Tổng Thống Trump cho biết thêm hai bên “đang sắp xếp” để ông và ông Petro gặp nhau, nhưng không nói rõ ngày giờ.

“Chúng tôi điện đàm lần đầu tiên từ khi ông (Trump) làm tổng thống,” ông Petro nói với người ủng hộ ông tại buổi mít tinh ở thủ đô Bogota tôn vinh chủ quyền của Colombia. Ông cho hay ông đề nghị Mỹ và Colombia bắt đầu đối thoại trở lại.

Nguồn tin từ văn phòng ông Petro cho Reuters biết cuộc điện đàm diễn ra “thân mật” và “tôn trọng nhau.”

Mối quan hệ giữa Tổng Thống Trump với Tổng Thống Petro lạnh nhạt từ khi ông Trump trở lại Tòa Bạch Ốc hồi Tháng Giêng năm ngoái tới nay.

Ông Trump liên tục cáo buộc, mà không đưa ra bằng chứng, chính quyền ông Petro để ma túy bị buôn lậu đều đặn vào Mỹ. Hồi Tháng Mười, chính quyền ông Trump áp đặt lệnh trừng phạt ông Petro.

Hôm Chủ Nhật, Tổng Thống Trump gọi ông Petro là “một ông bệnh hoạn, thích làm cocaine rồi bán qua Mỹ.”

Tháng Chín năm ngoái, Mỹ tước visa ông Petro sau khi ông tham gia cuộc biểu tình ủng hộ Palestine ở New York sau khi dự họp Đại Hội Đồng Liên Quốc và kêu gọi lính Mỹ “bất tuân lệnh ông Trump.”

Ông Petro cực lực phản đối cuộc chiến của Israel ở Gaza. Ông từng cáo buộc ông Trump “đồng lõa diệt chủng” ở Gaza và kêu gọi truy tố ông Trump về vụ Mỹ không kích tàu thuyền bị nghi buôn lậu ma túy ở Caribbean.

Từ đầu Tháng Chín năm ngoái tới nay, chính quyền Tổng Thống Trump hơn 30 lần không kích tàu thuyền bị nghi buôn lậu ma túy, làm thiệt mạng ít nhất 110 người. (Th.Long)


 

Sau Venezuela, án tử đang treo lơ lửng ở Cuba?

Ba’o Nguoi-Viet

January 5, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Sự kiện Tổng Thống Venezuela Nicolás Maduro bị Mỹ bắt ngày 3 Tháng Giêng, 2026, đã gây chấn động toàn khu vực Mỹ Latin.

Chủ tịch nước Cuba là Miguel Díaz-Canel (giữa) nhưng Raúl Castro (phải), hiện 94 tuổi, em của Fidel Castro, vẫn là “quan nhiếp chính.” (Hình: Yamil Lage/AFP via Getty Images)

Cuba, đồng minh thân cận nhất của Venezuela, đang rơi vào tình thế vô cùng nguy hiểm. Tổng Thống Donald Trump nói “Cuba trông như sắp sụp đổ” và đảo quốc này “không còn thu nhập nào nữa” vì mất nguồn dầu mỏ trợ cấp từ Venezuela. Phát biểu này không chỉ là lời cảnh báo mà còn hé lộ khả năng Washington mở rộng áp lực lên Havana những ngày sắp tới.

Mất thế chống lưng về kinh tế

Quan hệ giữa Cuba và Venezuela được vun đắp mạnh từ thời Tổng Thống Hugo Chávez, khi Caracas trở thành “nguồn máu” kinh tế cho Havana. Trong hơn 25 năm, quan hệ Cuba-Venezuela không chỉ là ngoại giao hay ý thức hệ mà là quan hệ sinh tồn.

Kể từ khi Hugo Chávez lên nắm quyền ở Venezuela năm 1999, Caracas trở thành phao cứu sinh cho Havana sau cú sốc Liên Xô tan rã. Tình “đồng chí” giữa Hugo Chávez và Fidel Castro “như keo sơn” đến mức Castro đã đích thân can thiệp để bảo vệ Chávez trong một âm mưu đảo chính năm 2002.

Nhà lãnh đạo Venezuela đáp lại lòng biết ơn bằng cách hỗ trợ tài chính cho Cuba, cung cấp nguồn sống kinh tế dưới dạng dầu mỏ, một chính sách được duy trì vào thời tổng thống kế nhiệm Nicolás Maduro.

Theo chuyên gia năng lượng Jorge Piñon thuộc Đại Học Texas, tính đến quý IV năm 2025, Cuba nhận trung bình 35,000 thùng dầu/ngày từ Venezuela, cộng thêm một ít từ Mexico và Nga. Với tình trạng Venezuela đang rơi vào hỗn loạn sau vụ Tổng Thống Maduro bị bắt, nguồn dầu từ Venezuela gần như bị cắt đứt hoàn toàn và ngay lập tức, ít nhất thời điểm hiện tại. Piñon nhận định: “Đây là bản án tử nếu Venezuela ngừng cung cấp dầu cho Cuba.”

Kinh tế Cuba vốn kiệt quệ bởi cấm vận Mỹ, quản lý yếu kém và đại dịch COVID-19, nay càng rơi vào khủng hoảng sâu sắc: mất điện kéo dài, thiếu thực phẩm, thuốc men, và làn sóng “ngay cả cột điện” phải bỏ xứ mà đi. Hơn một triệu người đã rời Cuba kể từ 2021, tương đương 10% dân số.

Cuba không có tài nguyên hấp dẫn như dầu mỏ Venezuela nên khả năng Mỹ can thiệp quân sự là rất thấp. Trong thực tế, Mỹ không cần thực hiện một chiến dịch quân sự để lật đổ chính quyền Miguel Díaz-Canel. Cuba có thể tự sụp đổ vì họ đang cheo leo bên bờ vách núi.

Một tháng trước khi Nicolás Maduro bị bắt, áp lực Mỹ lên Venezuela đã khiến chính quyền Cuba lo lắng. Có quá nhiều ngòi nổ âm ỉ ở đất nước này. Không chỉ kinh tế khó khăn, những ngày cuối năm, người dân còn vật lộn sống sót sau trận bão Melisa. Đó là chưa kể sự bùng nổ của dịch sốt xuất huyết. Bây giờ, cơn ác mộng khiến chính quyền Cuba mất ăn mất ngủ đã thành sự thật.

Ngày 4 Tháng Giêng, Ngoại Trưởng Cuba Bruno Rodríguez Parrilla nói, việc lật đổ Nicolás Maduro “buộc chúng ta phải đối mặt một thế tiến thoái lưỡng nan mang tính sống còn, với tư cách là quốc gia độc lập và có chủ quyền.”

Dân Cuba có thể “tự xử”?

Nhiều năm qua, cả Havana lẫn Caracas đều bị bủa vây bởi chính sách “Áp Lực Tối Đa” (“Maximum Pressure”) của cựu cố vấn an ninh quốc gia John Bolton, được thiết kế nhằm vào “Bộ Ba Chuyên Chế” (“Troika of Tyranny”), gồm Cuba, Venezuela và Nicaragua.

Năm 2019, trong nhiệm kỳ đầu, Tổng Thống Trump áp dụng chính sách khắc nghiệt hơn; đồng thời tăng cường hỗ trợ thành phần đối lập. Đòn này được thiết kế với ý nghĩa rằng cấm vận khiến dân chúng điêu đứng và họ tự khắc nổi dậy lật đổ chính phủ.

Dù ngân sách chung của USAID (U.S. Agency for International Development) bị cắt nhưng Ngoại Trưởng Marco Rubio (kiêm ghế cố vấn an ninh quốc gia) đã nới lỏng phần ngân sách USAID dành hỗ trợ những người chống đối chính phủ Cuba. Song song, gần như tất cả dân Cuba đều bị cấm đến Mỹ, và Washington cũng tăng cường thực thi các lệnh cấm đối với hầu hết người Mỹ đến Cuba.

Ngày 30 Tháng Sáu, Trump ra lệnh cho tất cả nhánh của chính phủ phải thắt chặt các lệnh trừng phạt hiện có.

Áp lực Mỹ đã khiến Cuba lẫn Venezuela rơi vào tình trạng bi thảm. Năm 2014, kim ngạch thương mại Cuba-Venezuela chỉ đạt dưới $1 tỷ, so với $4.2 tỷ năm 2015. Cách đây 10 năm, Caracas chở hơn 100,000 thùng dầu mỗi ngày cho Havana. Năm 2025, con số này còn chưa đến một phần ba. Một thập niên trước, có hàng chục liên doanh giữa hai quốc gia, trong khi năm 2024 không có liên doanh nào. Không có dấu hiệu nào cho thấy bất kỳ liên doanh nào vẫn còn hoạt động ở Venezuela.

Tháng Bảy, 2025, Bộ Trưởng Kinh Tế Cuba Joaquin Alonso cho biết, kinh tế quốc gia đã giảm hơn 11% kể từ năm 2019; nông nghiệp, chăn nuôi và khai thác mỏ giảm 53.4% trong cùng thời kỳ, và sản xuất giảm 23%.

Đòn trừng phạt nặng của Mỹ, từ Trump 1.0 sang thời Joe Biden rồi đến Trump 2.0 không thể loại trừ khỏi những nguyên nhân khiến Cuba điêu đứng nhưng sự khốn khó của Cuba cũng đến từ chính họ. Cho đến tận giờ, nhà nước Cuba vẫn không sẵn lòng đoạn tuyệt với mô hình kế hoạch hóa tập trung cứng nhắc. Việc mở rộng khu vực tư nhân trong lĩnh vực kinh tế vẫn không được thực hiện đến nơi đến chốn, trong khi chính sách tiền tệ sai lầm tiếp tục góp phần gây ra lạm phát nghiêm trọng. Còn nữa, chính phủ cũng không muốn có bất kỳ thay đổi đáng kể nào đối với hệ thống độc đảng.

Những ngày cuối cùng đang đến?

Dù trên lý thuyết chủ tịch nước Cuba là Miguel Díaz-Canel nhưng Raúl Castro, hiện 94 tuổi, em của Fidel Castro, vẫn là “quan nhiếp chính.”

Năm 2010, Raúl Castro nói: “Chúng ta phải cải cách, nếu không chúng ta sẽ sụp đổ.” Raúl Castro đã làm gì? Ông cho thu hẹp bộ máy nhà nước cồng kềnh bằng cách sa thải nửa triệu người; mở rộng khu vực kinh tế tư nhân để người dân “tự làm chủ;” các nhà đầu tư nước ngoài được phép nắm cổ phần đa số trong các dự án; và nhà nước sẽ giao đất công bỏ hoang cho nông dân.

Tuy nhiên, kế hoạch được thực thi rất nửa vời. Thí dụ, nông dân được giao đất nhưng họ phải bán lại sản phẩm cho hệ thống phân phối giá cả được nhà nước kiểm soát, chứ không được bán ra thị trường tự do. Thời Tổng Thống Barack Obama, quan hệ Cuba-Mỹ được nới lỏng. Dù vậy, Cuba vẫn không nắm bắt cơ hội. Giới đầu tư Mỹ nhanh chóng cuốn gói khi đụng phải vô số rào cản hành chính. Đến thời Trump 1.0, toàn bộ các cánh cửa bị đóng sập.

Năm 2018, Miguel Díaz-Canel được Raúl Castro chọn làm người kế nhiệm. Tuy nhiên, không ai có thể “hốt vỏ” với một đống di sản tệ hại thâm căn cố đế.

Hè 2020, Miguel Díaz-Canel công bố một chiến lược mới để xử lý tình trạng khẩn cấp ngày càng leo thang. Tuy nhiên, như được Giáo Sư Michael J. Bustamante (Đại Học Miami) phân tích trong bài viết trên Foreign Affairs (“Cuba on the Brink”) ngày 1 Tháng Giêng, 2026, việc thực hiện và trình tự thực hiện những cải cách này chỉ cho thấy nhà nước Cuba tạo ra thêm thảm họa.

Cụ thể, thay vì ưu tiên mở rộng khu vực tư nhân, chính quyền lại “tái cơ cấu tiền tệ,” thống nhất tỷ giá hối đoái trên toàn nền kinh tế ở mức 24 peso đổi $1 vào đầu năm 2021. Với các doanh nghiệp nhà nước vốn quen hoạt động ở tỷ giá 1 đổi 1, việc phá giá đã gây áp lực tăng giá đối với hàng nhập cảng. Tiếp đó, việc tăng lương cho công chức nhà nước bắt đầu làm trầm trọng thêm lạm phát. Vụ in tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách cũng làm cho tình hình tồi tệ hơn. Hậu quả, thị trường tiền tệ chợ đen bùng nổ. Đến cuối năm 2021, giá trị của đồng peso đã giảm 75%, giao dịch ở mức 100 peso đổi $1, dù tỷ giá chính thức vẫn là 24 peso đổi $1.

Ngày 11 Tháng Bảy, 2021, 50 thành phố và thị trấn xuống đường. Chính phủ đáp trả bằng đàn áp bạo lực. Cuối cùng, Havana cầu cứu hai người anh lớn là Bắc Kinh và Moscow. Tuy nhiên, đời vốn rất “phũ” và chính trị còn… “đểu” hơn. Nga hứa đến năm 2023, họ đầu tư $1 tỷ vào Cuba. Phần mình, Trung Quốc bắt đầu xây dựng hàng chục trang trại năng lượng mặt trời. Cả Moscow lẫn Bắc Kinh đều giục Cuba giảm trợ cấp cho các công ty nhà nước thua lỗ, cũng như giảm các hạn chế đối với đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân.

Trong khi đó, Cuba tiếp tục thâm hụt thương mại với cả hai quốc gia trên và thường xuyên nài nỉ xin “tái cấp vốn” (Cuba hiện nợ Trung Quốc vài tỷ đô la). Trong thực tế, Nga và Trung Quốc không dại dột bỏ thêm tiền để nuôi một con bệnh đang chờ chết. Sở dĩ Bắc Kinh và Moscow còn ban chút ân tình với Havana vì họ nhìn thấy ít nhiều yếu tố địa chính trị của Cuba trong mối quan hệ an ninh với họ…

Giờ đây, đồng hồ dường như đang đếm ngược. Không ai biết chính quyền Trump làm gì với Cuba những ngày sắp tới nhưng số phận Cuba, một tiền đồn cộng sản ở Mỹ Latin, có thể thật sự đang đếm những ngày cuối cùng. [kn]


 

Quyền TT Venezuela: Sẵn sàng hợp tác với Mỹ trên cơ sở « quan hệ cân bằng » và « luật pháp quốc tế » (RFI)

(RFI)

Hai ngày sau vụ quân đội Mỹ đột kích bắt giữ vợ chồng tổng thống Venezuela Nicolas Maduro, hôm qua, 05/1/2026, bà Delcy Rodriguez, quyền tổng thống Venezuela, khẳng định sẵn sàng hợp tác với Washington trong khuôn khổ « quan hệ cân bằng và tôn trọng, dựa trên nguyên tắc bình đẳng về  quyền và không can thiệp ».

Đăng ngày: 05/01/2026 

Phó Tổng thống kiêm Bộ trưởng Dầu mỏ Venezuela, Delcy Rodriguez, phát biểu trước giới truyền thông tại Caracas, Venezuela, ngày 10/03/2025. REUTERS – Leonardo Fernandez Viloria

Trọng Thành

Theo AFP, sau cuộc họp nội các đầu tiên kể từ khi nhậm chức quyền tổng thống, bà Delcy Rodriguez cho biết chính quyền Venezuela « mời chính phủ Mỹ phối hợp xây dựng lộ trình hợp tác, tập trung vào việc cùng phát triển trong khuôn khổ luật pháp quốc tế ».

Về phía Washingotn, trả lời báo giới tối qua, tổng thống Donald Trump một lần nữa khẳng định Hoa Kỳ « đang điều hành » Venezuela, đồng thời cảnh báo quyền tổng thống Delcy Rodriguez sẽ gánh chịu số phận tồi tệ hơn tổng thống Maduro « nếu không tuân phục ».

Tuy nhiên, chưa có gì cho thấy chế độ Venezuela sẵn sàng khuất phục tổng thống Mỹ. Đài Nhật NHK, dẫn lại phát biểu trên truyền hình của bộ trưởng Quốc Phòng Venezuela Vladimir Padrino hôm qua, khẳng định chính quyền đương nhiệm tiếp tục điều hành đất nước và lên án « tham vọng thực dân » của Mỹ.

Từ Caracas, thông tín viên Alice Compagnole gửi về bài phóng sự cho thấy thái độ hoang mang của dân chúng Venezuela trước tương lai bất định của quốc gia Nam Mỹ này:  

« Mặc dù cuộc sống đã trở lại bình thường trên đường phố Caracas hôm qua, nhưng sự hoang mang vẫn còn đọng lại trong tâm trí người dân. Cô Maria Mercedes nói : Chúng tôi vẫn đang mù mịt về tiến trình chính trị hiện nay. Chúng tôi không biết điều gì sẽ xảy ra. Vẫn còn những người nắm quyền đáng lẽ cũng phải bị bắt giữ. Họ đã đóng vai trò chính trong việc đàn áp người dân.’’

Đối với người phụ nữ trẻ này, đã đến lúc phải nhường chỗ cho lãnh đạo phe đối lập. Cô nói: ‘‘Họ chắc hẳn phải có chiến lược, và tôi cảm thấy bà Maria Corina Machado có vai trò trong đó. Nhưng đây chỉ là những giả định. Từ hai ngày nay chỉ toàn là các giả định !”

Những người ủng hộ ông Nicolas Maduro đã tập trung tại trung tâm thành phố hôm qua. Đối với họ, bất chấp vụ tấn công, đời sống chính trị vẫn tiếp diễn bình thường, như giải thích của hai người ủng hộ Maduro: ‘‘Mọi việc đang diễn ra một cách có trật tự, các nhà lãnh đạo vẫn tại vị. Phó tổng thống nay trở thành tổng thống’’, ‘‘chính bà Delcy Rodriguez đang điều hành đất nước’’, ‘‘tôi nghĩ họ đã tính sai, họ tưởng rằng đất nước này sẽ rơi vào hỗn loạn.’’

Liệu quyền tổng thống Delcy Rodriguez sẽ đàm phán với chính quyền Washington, sẽ tuân theo mệnh lệnh của Donald Trump? Chúng ta sẽ có câu trả lời trong những ngày tới. »

Quyền tổng thống Venezuela hôm qua quyết định thành lập một ủy ban cấp cao để vận động trả tự do cho cựu tổng thống Nicolás Maduro và vợ ông, Cilia Flores. Ủy ban do chủ tịch Quốc Hội Jorge Rodríguez và ngoại trưởng Iván Gil đồng chủ trì.

Biểu tình ở một số nước châu Á phản đối Mỹ bắt giữ tổng thống Venezuela

Theo Le Monde, hôm nay, 05/01/2026, đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình tại châu Á, lên án Mỹ đột kích bắt giữ tổng thống Venezuela Nicolas Maduro. Tại Manila, người biểu tình tập hợp gần đại sứ quán Hoa Kỳ, hô vang các khẩu hiệu chống Washington và kêu gọi tôn trọng chủ quyền của Venezuela. Biểu tình lên án cuộc can thiệp của chính quyền Trump cũng diễn ra gần đại sứ quán Hoa Kỳ ở Seoul.

Hôm qua, chính quyền Trung Quốc một lần nữa lên án cuộc can thiệp của Mỹ « chà đạp luật pháp quốc tế », và kêu gọi « bảo đảm an toàn, trả tự do ngay lập tức cho tổng thống Venezuela cùng phu nhân, ngừng tìm cách lật đổ chính quyền Venezuela ».

Về phần mình, chính quyền Iran khẳng định quan hệ với Venezuela không thay đổi bất chấp vụ bắt giữ tổng thống Venezuela, lên án hành động « bất hợp pháp » của Mỹ và kêu gọi trả tự do cho ông Maduro.

Về phản ứng của Pháp, theo hãng tin AFP, trích lời phát ngôn viên chính phủ, tổng thống Emmanuel Macron hôm nay tuyên bố trong một cuộc họp nội các rằng “phương pháp” mà Hoa Kỳ sử dụng để bắt giữ tổng thống Venezuela Nicolas Maduro “không được Pháp ủng hộ”. Ông Macron nhấn mạnh: “Chúng tôi bảo vệ luật pháp quốc tế và tự do của các dân tộc”. Nhưng tổng thống Pháp thừa nhận Nicolas Maduro là “một nhà độc tài” và việc ông ta ra đi là “tin tốt cho người dân Venezuela.” 


 

‘Tôi đã đưa tin về 40 cuộc chiến tranh nhưng chưa từng thấy năm nào đáng lo ngại như 2025’ (BBC)

(BBC)

Tác giả,  John Simpson

Vai trò, Biên tập viên Các Vấn đề Thế giới

30 tháng 12 2025

Tôi đã đưa tin về hơn 40 cuộc chiến tranh trên khắp thế giới trong suốt sự nghiệp của mình, bắt đầu từ những năm 1960. Tôi đã chứng kiến Chiến tranh Lạnh diễn biến đến cao trào, rồi sau đó bốc hơi. Nhưng tôi chưa từng thấy một năm nào đáng lo ngại như năm 2025 – không chỉ bởi một số cuộc xung đột lớn đang diễn ra mà còn bởi vì, rõ ràng là, một trong số đó có những hệ quả chính trị chưa từng có.

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã cảnh báo rằng cuộc xung đột hiện nay tại đất nước của ông có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh thế giới.

Sau gần 60 năm quan sát xung đột, tôi có linh cảm xấu rằng ông ấy đúng

Tổng thống Ukraine đã cảnh báo rằng cuộc xung đột hiện tại ở Ukraine có thể leo thang thành một cuộc chiến tranh thế giới

Các chính phủ thành viên NATO đang ở trong tình trạng cảnh giác cao độ trước bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Nga đang cắt đứt các tuyến cáp ngầm vận chuyển luồng dữ liệu số vốn giúp xã hội phương Tây vận hành.

Nga đã bị cáo buộc sử dụng drone để thăm dò hệ thống phòng thủ của các nước NATO.

Tin tặc của Nga đang phát triển phương pháp làm tê liệt các bộ, dịch vụ khẩn cấp và các tập đoàn lớn.

Chính quyền phương Tây đoan chắc rằng các cơ quan tình báo bí mật của Nga đã sát hại và âm mưu sát hại những người bất đồng chính kiến đang tị nạn ở phương Tây.

Một cuộc điều tra về vụ mưu sát hụt cựu điệp viên Nga Sergei Skripal ở Salisbury (miền nam nước Anh) năm 2018 (cộng với vụ đầu độc một phụ nữ địa phương, Dawn Sturgess) đã đưa tới kết luận rằng vụ tấn công đã được phê chuẩn ở cấp cao nhất tại Nga.

Có nghĩa là chính Tổng thống Putin.

Lần này cảm giác khác hẳn

Năm 2025 được đánh dấu bởi ba cuộc chiến tranh rất khác nhau.

Đầu tiên là Ukraine, nơi Liên Hợp Quốc nói 14.000 dân thường đã thiệt mạng.

Tại Gaza, nơi Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã thề “trả thù mạnh mẽ” sau khi 1.200 người bị sát hại và 251 người khác bị bắt làm con tin khi Hamas tấn công Israel vào ngày 7/10/2023.

Kể từ đó, hơn 70.000 người Palestine đã thiệt mạng do các chiến dịch quân sự của Israel, trong đó có 30.000 phụ nữ và trẻ em, theo số liệu của Bộ Y tế do Hamas điều hành ở Gaza – các số liệu mà Liên Hợp Quốc cho rằng đáng tin cậy.

Giữa lúc đó, một cuộc nội chiến khốc liệt giữa hai phe phái quân sự ở Sudan đang diễn ra.

Hơn 150.000 người đã thiệt mạng tại Sudan trong vài năm qua; khoảng 12 triệu người phải rời bỏ nhà cửa.

Nếu như đó là cuộc chiến duy nhất trong năm 2025, có lẽ thế giới bên ngoài đã có thể làm nhiều hơn để chấm dứt nó.

Nhưng đó không phải cuộc chiến duy nhất.

“Tôi giỏi giải quyết chiến tranh,” Tổng thống Mỹ Donald Trump nói, khi máy bay đưa ông đến Israel sau cuộc đàm phán về một thỏa thuận ngừng bắn ở Gaza.

Đúng là hiện số người chết ở Gaza đã giảm.

Nhưng bất chấp thỏa thuận ngừng bắn, cuộc chiến ở Gaza chắn chắn vẫn chưa được giải quyết.

Xét mức độ khủng khiếp của Trung Đông, có vẻ kỳ quặc khi nói rằng cuộc chiến ở Ukraine ở một cấp độ hoàn toàn khác.

Nhưng thực tế là như vậy.

“Tôi giỏi giải quyết chiến tranh,” Tổng thống Donald Trump nói

Ngoại trừ Chiến tranh Lạnh, hầu hết các cuộc xung đột mà tôi đưa tin trong các năm qua đều ở quy mô nhỏ: tất nhiên là gớm ghiếc và nguy hiểm, nhưng không đủ nghiêm trọng để đe dọa nền hòa bình của toàn thế giới.

Một số cuộc xung đột, như Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, và chiến tranh ở Kosovo, đôi khi trông như thể chúng có thể leo thang thành điều gì đó tồi tệ hơn nhiều, nhưng điều đó đã không xảy ra.

Các cường quốc đã quá lo lắng về nguy cơ một cuộc chiến tranh cục bộ, thông thường, có thể biến thành một cuộc chiến tranh hạt nhân.

“Tôi sẽ không gây ra Thế chiến thứ ba cho các người đâu,” tướng Anh Mike Jackson được cho là đã hét lên trên sóng phát thanh ở Kosovo vào năm 1999, khi cấp trên của ông tại NATO ra lệnh cho quân đội Anh và Pháp chiếm một sân bay ở Pristina sau khi quân đội Nga đến đó trước.

Tuy nhiên, trong năm 2026 sắp tới, Nga, nhận thấy Tổng thống Trump dường không quan tâm tới châu Âu, có vẻ sẵn sàng đẩy mạnh hơn nữa sự bành trướng.

Đầu tháng này, Putin nói Nga không có kế hoạch gây chiến với châu Âu, nhưng sẵn sàng “ngay lúc này” nếu châu Âu muốn.

Tại một sự kiện được truyền hình trực tiếp sau đó, ông Putin nói: “Sẽ không có bất cứ chiến dịch nào nếu quý vị đối xử với chúng tôi một cách tôn trọng, nếu quý vị tôn trọng chúng tôi như chúng tôi luôn tôn trọng quý vị.”

Putin nói rằng Nga không có kế hoạch gây chiến với châu Âu, nhưng sẵn sàng “ngay lúc này” nếu châu Âu muốn như vậy

Nhưng Nga, một cường quốc thế giới, đã xâm lược một quốc gia châu Âu độc lập, gây ra thương vong lớn về cả dân thường và binh lính.

Ukraine cáo buộc Nga bắt cóc ít nhất 20.000 trẻ em.

Tòa Hình sự Quốc tế (ICC) đã ban hành lệnh bắt giữ Tổng thống Nga Vladimir Putin vì liên quan đến vụ việc này, điều mà Nga luôn phủ nhận.

Nga nói rằng nước này tấn công để bảo vệ mình trước sự bành trướng của NATO, nhưng Tổng thống Putin đã gợi ra một động cơ khác: mong muốn khôi phục phạm vi ảnh hưởng của Nga trong khu vực.

Sự phản đối của Mỹ

Putin nhận thức rõ rằng chính năm 2025 là năm mà hầu hết các nước phương Tây từng coi là không thể tưởng tượng nổi: khả năng một tổng thống Mỹ quay lưng với hệ thống chiến lược đã vận hành từ Thế chiến II.

Washington hiện không chỉ không chắc chắn về việc họ có muốn bảo vệ châu Âu hay không, mà thậm chí còn phản đối đường hướng mà họ tin rằng châu Âu đang đi theo.

Báo cáo Chiến lược quốc phòng mới của chính quyền Trump khẳng định rằng châu Âu hiện đối mặt với “viễn cảnh tàn lụi về văn minh”.

Điện Kremlin hoan nghênh báo cáo này, nói rằng nó phù hợp với tầm nhìn của Nga.

Thật vậy.

Bên trong nước Nga, Putin đã dập tắt mọi tiếng nói phản đối ông ta và cuộc chiến, theo báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về nhân quyền ở Nga.

Tuy nhiên, Putin cũng có những vấn đề riêng: khả năng lạm phát lại tăng cao sau đợt giảm gần đây, doanh thu dầu mỏ giảm và chính quyền của ông ta phải tăng thuế VAT để chi trả cho cuộc chiến.

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky có cuộc gặp căng thẳng tại Nhà Trắng vào tháng 2/2025

Các nền kinh tế của Liên minh châu Âu lớn gấp 10 lần Nga; thậm chí lớn hơn thế rất nhiều nếu tính cả nền kinh tế Anh.

Dân số EU khoảng 450 triệu người, gấp ba lần dân số Nga – khoảng 154 triệu.

Tuy nhiên, các nước Tây Âu có vẻ vẫn lo ngại sẽ đánh mất mức sống hiện có của mình và luôn lưỡng lự trong việc chi trả cho ngân sách quốc phòng chừng nào vẫn còn có thể thuyết phục được Mỹ bảo vệ họ.

Nước Mỹ nay đã khác: tầm ảnh hưởng giảm, hướng nội hơn và ngày càng khác với nước Mỹ mà tôi đưa tin trong suốt sự nghiệp của mình.

Nay, rất giống với giai đoạn những năm 1920 và 1930, nước Mỹ muốn tập trung vào lợi ích quốc gia của riêng mình.

Ngay cả khi Tổng thống Trump mất đi nhiều quyền lực chính trị trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm tới, ông ta có thể đã đẩy chủ nghĩa biệt lập của Mỹ đi quá xa đến mức mà một tổng thống Mỹ có tư tưởng thân NATO hơn vào năm 2028 có thể cũng khó lòng giúp được châu Âu.

Đừng tưởng Vladimir Putin không nhận thấy điều ấy.

Nguy cơ leo thang

Năm tới, 2026, có vẻ sẽ rất quan trọng.

Zelensky có thể cảm thấy buộc phải chấp thuận một thỏa thuận hòa bình, nhượng một phần lớn lãnh thổ Ukraine.

Liệu điều này có đủ chắc chắn đảm bảo ngăn Tổng thống Putin quay lại đòi thêm đất trong vài năm tới?

Đối với Ukraine và các đồng minh châu Âu, những người vốn đã cảm thấy họ đang trong cuộc chiến với Nga, đó là một câu hỏi quan trọng.

Châu Âu sẽ phải gánh vác một phần lớn hơn trong việc duy trì sự tồn tại của Ukraine, nhưng nếu Mỹ quay lưng với Ukraine, như nước này từng vài lần đe dọa sẽ làm như vậy, thì đó sẽ là một gánh nặng khổng lồ.

Nếu Mỹ quay lưng với Ukraine, đó sẽ là gánh nặng cho châu Âu

Nhưng liệu cuộc chiến có biến thành một cuộc đối đầu hạt nhân?

Chúng ta biết rằng Tổng thống Putin là một người thích mạo hiểm; một lãnh đạo cẩn trọng hơn hẳn đã không xâm lược Ukraine vào tháng 2/2022.

Những tay chân của Putin đã đưa ra những lời đe dọa rùng rợn về việc xóa sổ Anh và các quốc gia châu Âu khỏi bản đồ bằng những vũ khí mới mà Nga luôn khoe khoang, nhưng bản thân ông ta thường kiềm chế hơn nhiều.

Trong khi người Mỹ vẫn còn là thành viên tích cực của NATO, thì nguy cơ họ có thể đáp trả bằng một cuộc tấn công hạt nhân hủy diệt của riêng mình vẫn rất lớn. Ít nhất là vào lúc này.

Vai trò toàn cầu của Trung Quốc

Về phần Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình gần đây hiếm khi đưa ra những đe dọa trực tiếp đối với hòn đảo tự trị Đài Loan.

Nhưng hai năm trước, giám đốc CIA lúc bấy giờ là William Burns nói rằng ông Tập Cận Bình đã ra lệnh cho quân đội sẵn sàng xâm lược Đài Loan vào năm 2027.

Nếu Trung Quốc không có hành động quyết liệt để thâu tóm Đài Loan, Tập Cận Bình có thể cho rằng Trung Quốc sẽ bị xem là quá yếu ớt. Ông ta không muốn điều đó xảy ra.

Bạn có thể nghĩ rằng Trung Quốc hiện đã quá mạnh và giàu có đến mức không cần quan tâm đến các ý kiến của công chúng trong nước.

Không phải vậy.

Kể từ cuộc nổi dậy chống lại Đặng Tiểu Bình vào năm 1989, kết thúc bằng vụ thảm sát Thiên An Môn, các lãnh đạo Trung Quốc đã theo dõi phản ứng của đất nước một cách hết sức thận trọng.

Tôi đã tận mắt chứng kiến các sự kiện diễn ra ở Thiên An Môn, đưa tin và đôi khi sống ngay tại quảng trường.

Chủ tịch Tập Cận Bình (giữa) gần đây hiếm khi đưa ra lời đe dọa trực tiếp đối với Đài Loan

Câu chuyện ngày 4/6/1989 không đơn giản như chúng ta nghĩ vào thời điểm đó: lính vũ trang bắn vào những sinh viên không vũ trang.

Điều đó chắc chắn đã xảy ra, nhưng đã có một cuộc chiến khác xảy ra ở Bắc Kinh và các thành phố khác ở Trung Quốc.

Hàng ngàn dân thường xuống đường, quyết tâm sử dụng vụ tấn công vào sinh viên như một cơ hội để lật đổ sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Khi tôi lái xe qua các đường phố hai ngày sau đó, tôi nhìn thấy ít nhất năm đồn cảnh sát và ba trụ sở cảnh sát an ninh địa phương bị đốt cháy.

Tại một vùng ngoại ô, đám đông giận giữ đã thiêu một cảnh sát và dựng cái xác cháy đen của anh ta vào tường.

Một cái mũ công an được đặt lệch trên đầu anh ta và một điếu thuốc lá được nhét vào giữa đôi môi sạm đen.

Hóa ra quân đội không chỉ dập tắt cuộc biểu tình kéo dài của sinh viên, mà còn đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân Trung Quốc.

Giới lãnh đạo chính trị Trung Quốc, vẫn chưa thể chôn vùi ký ức của những gì đã xảy ra 36 năm trước, nay thường cảnh giác với những dấu hiệu của sự phản đối – bất kể từ những nhóm có tổ chức như Pháp Luân Công hay giáo hội Kitô giáo độc lập, phong trào dân chủ Hong Kong, hay chỉ là những người phản đối tham nhũng ở địa phương.

Tất cả đều bị đàn áp thẳng tay.

Tôi đã có thời gian dài đưa tin về Trung Quốc kể từ năm 1989, chứng kiến nước này trỗi dậy về kinh tế và chính trị.

Tôi thậm chí còn quen biết một chính trị gia hàng đầu, đối thủ cạnh tranh của Tập Cận Bình.

Tên ông ấy là Bạc Hy Lai, một người hâm mộ văn hóa Anh, người có thể nói khá cởi mở về chính trị Trung Quốc.

Một lần, ông nói với tôi: “Anh sẽ không bao giờ hiểu được một chính phủ cảm thấy bất an như thế nào khi biết rằng mình không được bầu.”

Về phần Bạc Hy Lai, ông bị tù chung thân vào năm 2013 sau khi bị kết tội nhận hối lộ, tham ô và lạm quyền.

John Simpson đã dành khá nhiều thời gian đưa tin về Trung Quốc kể từ năm 1989 (ảnh chụp tại Quảng trường Thiên An Môn, năm 2016)

Tóm lại, năm 2026 được dự báo là một năm quan trọng.

Sức mạnh của Trung Quốc sẽ gia tăng và chiến lược thâu tóm Đài Loan – tham vọng của Tập Cận Bình – sẽ trở nên rõ ràng hơn.

Có thể cuộc chiến ở Ukraine sẽ được giải quyết, nhưng với những điều khoản có lợi cho Tổng thống Putin.

Ông ta có thể thoải mái quay trở lại, đòi thêm đất của Ukraine khi ông ta sẵn sàng.

Và Tổng thống Donald Trump, dù quyền lực chính trị của ông ta có thể bị hạn chế trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11, sẽ làm cho nước Mỹ xa rời châu Âu hơn.

Nhìn từ quan điểm của châu Âu, triển vọng khó có thể ảm đạm hơn thế.

Nếu bạn nghĩ Thế chiến III có thể là một cuộc đấu bằng vũ khí hạt nhân, hãy nghĩ lại.

Nhiều khả năng đó sẽ là một chuỗi các thủ đoạn ngoại giao và quân sự, nơi chế độ độc tài trỗi dậy.

Nó thậm chí có thể đe dọa phá vỡ liên minh phương Tây.

Và quá trình này đã thực sự bắt đầu.