Thư của vợ chồng NÔNG THỊ VÀNG (*)-TƯ LIỆU LỊCH SỬ

Hà Sĩ Phu

TƯ LIỆU LỊCH SỬ

Thư của vợ chồng NÔNG THỊ VÀNG (*)

(*) Nông Thị Vàng là em họ của Nông Thị Xuân-mẹ của Nguyễn Tất Trung-, Nguyễn Tất Trung là con của Nguyễn Tất Thành HCM. Trong thư của anh thương binh, họ Nông viết nhầm là họ Nguyễn)

     Cao Bằng ngày 29 tháng 7 năm 1983.

Kính gởi Ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ tịch quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

    Tôi là một thương binh đã 25 năm nay vô cùng đau khổ, không dám hé răng với ai. Không phải chỉ vì vết thương bom đạn, chiến tranh mà là một vết thương lòng vô cùng nhức nhối. Nay tôi sắp được từ giã cái xã hội vô cùng đen tối này đi sang thế giới khác, tôi phải chạy vạy rất khó khăn mới viết được bức thư này lên Chủ tịch, hy vọng ông còn lương tri, lương tâm đem ra ánh sáng một vụ bê bối vô cùng nghiêm trọng tàn ác, mà người vợ chưa cưới của tôi là một nạn nhân. Nay tôi hy vọng những tên hung thủ được lột mặt nạ trước công chúng, không để cho chúng ngồi trên đầu trên cổ nhân dân.

    Nguyên từ năm 1954 tôi có người yêu tên Nguyễn thị Vàng, 22 tuổi quê làng Hà Mạ, Xã Hồng Việt, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Cô Vàng có người chị họ là Nguyễn thị Xuân, tên gọi trong gia đình là cô Sang tức Minh Xuân. Tôi nhập ngũ đi bộ đội cuối năm 1952. Cô Vàng và cô Xuân tình nguyện vào công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Ðược mấy tháng sau ông Trần Ðăng Ninh, Tổng cục trưởng Tổng cục hậu cần mấy lần đến gặp cô Xuân. Ðầu năm 1955 thì đem xe tới đón về Hà Nội, nói là để phục vụ Bác Hồ. Ðược mấy tháng sau thì cô Xuân cũng xin cho cô Vàng về Hà Nội, ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm với cô Xuân và cô Nguyệt con gái ông Hoàng văn Ðệ cậu ruột cô Xuân.

      Ðã luôn 2 năm tôi chỉ được tiếp thư chứ không được gặp cô Vàng, người yêu của tôi. Nhưng khoảng tháng 10 năm 1957 tôi bị thương nhẹ được đưa về điều trị tại bệnh viện Huyện Hoà An. Chúng tôi vô cùng sung sướng lại được gặp nhau. Trong một tuần lể cô Vàng kể lại mọi nỗi đau xót cô đã gặp phải cho tôi nghe. Tôi xin ghi lại tỉ mỉ những lời cô Vàng tâm sự với tôi, mà không bao giờ tôi có thể lãng quên đi được.

     Vàng kể:

     Ðầu năm 1955 cô Xuân được về gặp Bác Hồ. Bác Hồ định lấy cô Xuân làm vợ chính thức. Mấy tháng sau chị Xuân xin cho em cùng về ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm, Hà Nội. Còn tầng dưới thì cho ông Nguyễn Quý Kiên, Chánh văn phòng Thủ tướng phủ ở. Vì các lãnh đạo không cho chị Xuân cùng ở với Bác trên nhà chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng bộ Công an trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về ở 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của Công an.

     Cuối năm 1956 chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Em có nhiệm vụ bế cháu. Ông Bộ trưởng Công an có nhiệm vụ quản lý chị Xuân nên thường đến luôn. Nhưng một buổi tối vào khoảng mồng 6 hay mồng 7 tháng 2 năm 1957, ông Hoàn tới, ngồi nói chuyện vu vơ một tí rồi nắm tay chị Xuân, kéo vào một cái buồng xép, từ cầu thang đi lên, vật chị Xuân lên một cái giường nhỏ, định hãm hiếp. Chị Xuân bị nhét khăn vào miệng nhưng vẫn ú ớ la lên. Em hoảng sợ la tru tréo. Còn chị Nguyệt sợ quá, rúm người lại ngồi một góc tường. Nghe tiếng cửa sổ nhà dưới xô xầm vào tường, lão Hoàn bỏ chị Xuân ra, rút khẩu súng lục trong túi áo hoa lên nói to: “Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết” rồi hầm hầm chạy xuống thang ra ô tô chuồn.

    Chị Xuân thất thểu đi ra khóc nức nở, ôm choàng lấy em. Em hỏi nó nắm tay chị, sao chị không văng vào mặt nó để nó dắt đi ? Chị Xuân vừa nức nở vừa nói: Ðau khổ nhục nhả lắm. Chị phải nói hết để các em tha tội cho chị. Từ hôm chị mới về nhà này, có một bà già độ 60 tuổi ở một buồn dưới nhà, vợ một cán bộ Công an đã chết, lên thân mật nói chuyện với chị rằng: Sao cô ở đây một mình ? Bạn đàn bà để tôi nói thật cho cô biết. Cái lão đem cô về đây là một tên côn đồ lưu manh, dâm ô tàn ác vô kể. Tôi xin kể một vài chuyện cho cô nghe. Ông Lương Khánh Thiện, một Uỷ viên Trung ương, bị đế quốc Pháp giết có con gái tên là Bình. Chị Ðường, vợ anh Thiện đem con gái gởi bác Hoàn nhờ bác tác thành cho. Lão Hoàn đã hiếp nó, nó chửa rồi chọn một tên lưu manh vào làm Công an để gả cô Bình làm vợ. Lão lại đem một cô gái có nhan sắc nhận là cháu, cũng hiếp cô gái này cho tới chửa, rồi giết chết quăng xác xuống hồ Ha Le để khỏi mang tiếng. Cán bộ Công an nhiều người biết chuyện của nó, nhưng không ai dám hở răng, vì sợ lão vu cho tội gì bắt giam rồi thủ tiêu.

   Nghe chuyện đó chị cũng khủng khiếp, nhưng lại nghĩ là nó đối với mọi người khác, còn đối với mình thì nó đâu dám. Nhưng chỉ được mấy hôm sau chị nghe tiếng giầy đi nhè nhẹ lên gác, chị chạy ra thì thấy nó đi lên nhếch mép cười một cách xõ lá. Nó chào chị rồi đi thẳng vào nhà, nó ôm ghì lấy chị vào lòng rồi hôn chị.

    Chị xô nó ra nói:

“Không được hỗn, tôi là vợ ông chủ tịch nước”.

    Nó cười một cách nhạo báng:

“Tôi biết bà to lắm nhưng sinh mệnh bà nằm trong tay tôi”.

Rồi nó lại nói: “Sinh mệnh tất cả dân tộc Việt nam, kể cả bố mẹ anh chị nhà bà cũng nằm trong tay tôi. Tôi muốn bắt ở tù, thủ tiêu đứa nào tuỳ ý. Và tôi nói cho bà biết cụ già nhà bà cũng không ngoài tay với của tôi”.

    Rồi nó rút khẩu súng lục dí vào ngực chị.

Chị ngồi xụp xuống ghế nói:

“Anh cứ bắn đi”.

Nó cười khì khì :

“Tôi chưa dại gì bắn. Tôi tặng bà vật khác”.

    Nó dắt súng vào túi quần rồi rút ra một sợi dây dù to bằng chiếc đũa, đã thắt sẳn một cái thòng lọng. Nó quàng cái tròng vào cổ chị rồi kéo chị đi lại cái giường kia, đẩy chị nằm xuống, rồi đầu sợi giây nó buộc vào chân giường. Chị khiếp sợ run như cầy sấy.

     Nó nói “Bây giờ bà muốn chết tôi cho bà chết“. Rồi nó lột hết quần áo chị, nó ngồi xuống nó ngắm nghía ngâm nga:

     Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,

  đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây ?

      Phẩm tiên đã đến tay phàm,

  thì vin cành quýt cho cam sự đời.

Rồi nó nằm đè lên hiếp chị. Chị xấu hổ lấy tay che mặt.

Nó kéo tay chị nói: “Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già mà còn vờ làm gái“.

     Xong nó cởi thòng lọng cho chị, rồi nó ngồi bên chị tán tỉnh hàng giờ:

“Anh thương em lắm. Người ta gặp hạnh phúc phải biết hưởng hạnh phúc. Nếu em thuận tình thì muốn gì cũng có.

    Nó đeo vào tay chị một chiếc nhẫn vàng, chị đã ném vào nhà xí.

Nó lại dặn: “Việc này phải tuyệt đối bí mật, nếu hở ra thì mất mạng cả lũ và tôi nói cho cô biết ông cụ tin tôi hơn cô”.

   Rồi từ đó chị biến thành một thứ trò chơi của nó. Thấy bóng dáng nó chị như một con mèo nhìn thấy con cọp, hồn vía lên mây. Nó muốn làm gì thì tuỳ ý nó. Trong mấy tháng trời chị tính quẩn lo quanh, không biết tâm sự với ai mà không làm sao thoát khỏi nanh vuốt của nó.

    Nhớ lại lời nói của bà già, chị liền xin bác cho hai em về đây, mong tránh được mặt nó. Nhưng những hôm Công an gọi các em đi làm hộ khẩu, đi làm chứng minh thư lâu hàng buổi là nó tới hành hạ chị. Nó bảo chị phải nói cho hai em biết. Phải biết câm cái miệng nếu bép xép thì mất mạng cả lũ. Hôm nay nó lại đây trắng trợn như vậy vì nó tưởng chị đã dặn hai em rồi. Bây giờ việc đã xẫy ra chị thấy rất nguy hiểm.

    Em nói: “Hay là chị em ta trốn đi”.

Chị Xuân nói: “Sau ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác, bây giờ đã có con trai, xin bác cho mẹ con ra công khai”.

   Bác nói: “Cô xin như vậy là hợp tình, hợp lý. Nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Ðức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được. Do đó cô đành phải chờ một thời gian nữa”.

  Mấy tuần trước Bác lại hỏi chị: “Các cô ở đó có nhiều người lạ tới thăm phải không ?”.

   Chị thưa: “Ba chị em không có ai quen biết ở Hà Nội. Còn bà con ở Cao Bằng không biết chị em ở đâu”.

    Bác nói: Không nhẽ ông Bộ Trưởng Công an nói dối.

Chị suy nghĩ mãi mới thấy rõ, nó muốn vu cáo chị em ta liên hệ với gián điệp hoặc đặc vu gì đó để định kế thoát thân nếu việc của nó bị bại lộ Bây giờ ta trốn cũng không làm sao thoát khỏi tay nó, mà nó còn vu cáo giết hại ba chị em chúng ta. 

   Chị Xuân lại nói: “chị bị giết cũng đáng đời, chị rất hối hận xin hai em về đây để chịu chung số phận với chị”.

Em thấy nguy hiểm vì tên Hoàn đã nổi tiếng ở Bộ Công an là một tên dâm bôn vô cùng tàn ác. Ðến độ một tuần sau, vào 7 giờ tối ngày 11 tháng 2 năm 1957, ngày em còn nhớ như đinh đóng cột. Một chiếc xe com măng ca thường đón chị Xuân lên gặp bác Hồ, anh Ninh xồm, người bảo vệ Trần Quốc Hoàn chuyển lên bảo vệ Bác, vào gặp chị Xuân nói lên gặp Bác. Chị Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra đi.

    Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên Công an Hà Nội đến báo tin chị Xuân gặp tai nạn ô tô chết rồi, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phủ Doãn. Em hốt hoảng đưa cháu cho Chị Nguyệt, ra lên xe Công an vào bệnh viện. Em không được vô nhà xác, họ nói còn mổ tử thi. Lên một phòng chờ em thấy trong phòng đã khá đông người: Công an, Tòa án, Kiểm sát viên.

   Sau một tiếng, hai bác sĩ, một cán bộ Công an, một kiểm sát viên lên phòng chờ, đem theo một tờ biên bản đọc to lên cho mọi người nghe. Tử thi thân thể không có thương tích gì, thấy rõ không bị tai nạn ô tô và cũng không phải bị đâm chém đánh đập gì. Mổ tử thi trong cơ thể lục phủ ngũ tạng cũng không có thương tích gì. Da dầy không có thức ăn, không có thuốc độc. Tử cung không có tinh trùng biểu thị không bị hiếp dâm. Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nức. Mổ sọ não không còn óc, mà chỉ còn nước nhờn chảy tuôn ra. Bác sĩ tuyên bố đây có thể bị chùm chăn lên đầu rồi dùng búa đánh vào giữa đầu. Ðây là phương pháp giết người của bọn lưu manh chuyên nghiệp của nhiều nước đã xử dụng.

   Em vô cùng đau khổ chạy về kể chuyện lại cho chị Nguyệt nghe để hai chị em cùng khóc. Ít lâu sau một cán bộ Công an đến bế cháu Trung đi, chúng em không được biết đem đi đâu. Rồi em thì được đi học một lớp y tá của khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên. Chị Nguyệt không biết họ cho đi đâu sống chết thế nào. Học mấy tháng thì em được chuyển về bệnh viện Cao Bằng, em khóc luôn, họ cho là em bị thần kinh nên cho về đây điều trị. May lại được gặp anh kể hết mọi chuyện cho anh nghe. Em nghĩ anh chỉ bị thương nhẹ, anh còn sống được lâu anh sẽ nói rõ cho toàn dân biết được vụ bê bối này. Còn em thì chắc chắn sẽ bị chúng giết vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết. Bọn hung thủ còn theo dõi em. Ở Cao Bằng có hôm em thấy thằng Ninh xồm tới gặp ông bác sĩ bệnh viện trưởng, được ít hôm họ tuyên bố em bị thần kinh được chuyển về điều trị tại Hoà An.

     Tôi chỉ được gặp Vàng em tôi có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957 cô Vàng đi về thăm ông cậu Hoàng văn Ðệ. Hung thủ đi theo rồi giết chết em tôi quăng xác xuống sông Bằng Giang đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở cầu Hoàng Bồ. Tôi được tin sửng sốt chạy về cầu Hoàng Bồ thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận xôn xao bị đánh vở sọ, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất.

   Tôi đâm bổ về Hà Nội liên lạc được với một cậu bạn cùng học làm việc ở Toà án Hà Nội. Tôi kể vụ án em tôi bị giết thì bạn tôi sao cho tôi một bản Công Văn Viện Kiểm sát hỏi toà án về vụ em tôi và cô Xuân bị giết. Tôi xin sao bản văn đó trình ông để tiện việc điều tra. Vụ này nhiều người bị giết. Cô Xuân, vợ cụ Hồ Chí Minh, cô Vàng, vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở Trường y tá Thái Nguyên nghe chuyện Vàng kể đi nói chuyện lại cũng bị giết lây.

   Mấy chục năm nay tôi tim gan thắt ruột, nghĩ cách trả thù cho em tôi nhưng sức yếu thế cơ đành ngậm hờn chờ chết. Theo Vàng dặn lại, tôi liên hệ với một số cán bộ về hưu Công an, kiểm sát họ cho tôi biết cậu Trung ngày đó đã được đưa về cụ Bằng nuôi. Ðộ 4, 5 tuổi thì gửi cho Chu Văn Tấn, đến năm 13 tuổi là năm 1969 ngày Bác Hồ mất thì giao cho ông Vũ Kỳ, nguyên Thư Ký của Bác, nay là Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ chí Minh làm con nuôi. Vũ Kỳ có 2 con đẻ là Vũ Vinh và Vũ Quang, còn Vũ Trung là con nuôi; là con chị Xuân với Bác Hồ.

   Tôi một thương binh sắp đi qua thế giới khác, máu hoà nước mắt viết thư này nhờ một người bạn chí tình, thành tâm bảo vệ lẽ phải, đánh máy bức thư gởi tới trình ông. Mong ông lưu ý xét cho mấy việc:

  1. Các ông sẵn lòng bảo vệ chân lý điều tra cho ra những đứa thủ mưu, thủ ác, chứ không truy xét những người có lương tâm phát hiện lũ tàn ác.
  2. Ở xã Hồng Việt bà con bạn hữu chị Xuân vào trạc tuổi 45 trở lên còn khá nhiều đều biết rõ ràng cô Vàng, cô Xuân, cô Nguyệt và chắc gia đình của cô Xuân còn khá nhiều di vật của cô Xuân. Nhưng tất cả mọi người đều khiếp sợ, không dám hé răng. Mong ông cho điều tra thận trọng, bí mật, vì việc điều tra này bị lộ thì cả lô bà con này bị thủ tiêu.
  3. Cậu Nguyễn Tất Trung còn sống khoẻ mạnh nhưng việc điều tra lộ ra thì cậu cũng dễ dàng bị thủ tiêu. Tên hung thủ lái xe đón bà Xuân đi giết là Tạ Quang Chiến hiện nay là Tổng cục Phó Tổng cục Thể dục Thể thao. Còn tên Ninh xồm thì chúng tôi không hiểu đã leo lên chức vụ nào rồi.

Từ thế giới khác kính chúc Ngài nhiều hạnh phúc.

Vợ chồng Nguyễn thị Vàng

 


 

Người đã cứu tôi và 136 thuyền nhân khác giữa biển năm 1984

Nhật Ký Người Việt Ở Mỹ 

Thứ Hai, 2 Tháng 11, 2026 

 Năm 1988, khi đã ở Mỹ, tôi ngồi viết một lá thư. Gửi cho một người thuyền trưởng tên Ole. Người đã cứu tôi và 136 thuyền nhân khác giữa biển năm 1984.

Lá thư bị trả về. Người nhận đã chuyển đi.

Tới giờ, ở Mỹ, tôi vẫn chưa tìm lại được ông.

Ở phần 1, tôi đã kể tới lúc chiếc ghe 137 người bị hải tặc đập thủng, đang chìm. Thuyền trưởng tàu Panama đã từ chối cứu hai lần. Người ta khiêng tôi, một cô giáo Anh văn gần như bất tỉnh, lên thang dây…

Lên tới sàn tàu, bác sĩ với thủy thủ xúm lại cho tôi thở oxy, cho uống thuốc. Khoảng 15 phút sau tôi tỉnh lại. Tôi xin gặp thuyền trưởng.

Ông tên Ole.

Tôi kể hết bằng tiếng Anh. 137 người. 5 ngày trên biển. Một em bé chết khát. 5 cô gái bị bắt đi. Một chiếc ghe bị đập thủng đang chìm.

Ông buồn bã lắc đầu: “Tôi rất tiếc, tôi không thể cứu quý vị được.”

Tôi nhìn xuống chiếc ghe. Tôi biết quay lại đó là đi vào chỗ chết.

Tôi nhìn thẳng vào mắt ông, nước mắt chảy ròng: “Nếu ông cương quyết từ chối, tôi xin thay mặt hơn 100 người kính chào vĩnh biệt. Giờ phút tôi trở về chiếc ghe đó, tất cả chúng tôi sẽ chết dưới lòng biển. Xin vĩnh biệt thuyền trưởng.”

Ông đứng sững. Rồi ông hỏi trên ghe có bao nhiêu phụ nữ và trẻ em. Ông nói: “Chúng tôi chỉ cố gắng cứu phụ nữ và trẻ em. Còn đàn ông thanh niên xin tiếp tục lên đường.”

Thủy thủ đưa được 50 phụ nữ và trẻ em lên tàu.

Dưới ghe, những người cha, người chồng đứng vẫy tay. “Ba ráng bảo trọng.” “Tạm biệt anh.” “Tạm biệt con.”

Tôi đứng trên tàu nghe tiếng khóc mà không chịu nổi. 50 người chỉ chiếm một góc nhỏ xíu trên con tàu khổng lồ đó.

Tôi lại tới, quỳ xuống trước mặt ông: “Xin ông tha thứ cho tôi. Tôi đội ơn ông đã cứu mạng tôi. Nay xin ông cứu luôn những người còn lại. Chúng tôi không cần đồ ăn, không cần quần áo. Chúng tôi chỉ cần một chỗ để được sống. Chiếc tàu của ông là đất sống, chiếc ghe kia là cõi chết.”

Ông lặng người. Rồi ông gật đầu.

Cả chiếc ghe vỡ òa. 137 người lần lượt leo lên thang dây. Thủy thủ lấy búa chặt đứt sợi dây buộc ghe.

Điểm danh vừa đủ 137 người. Vài phút sau, một cơn bão ập tới. Sóng tràn lên boong, thủy thủ phải cột chúng tôi vô cột tàu. Chiếc ghe trống chở chúng tôi suốt 5 ngày bị sóng nuốt mất, chìm luôn xuống biển.

Nếu chậm vài phút thôi…

Đêm đó tụi tôi được tắm, được phát quần áo, mền ấm, chén súp nóng. Đó là giấc ngủ yên nhất đời tôi.

Sáng hôm sau, thuyền trưởng Ole dẫn tôi lên boong. Trước ánh bình minh, ông quỳ xuống làm dấu thánh giá. Ông nói: “Cám ơn Thượng đế đã nhờ cô cho tôi cơ hội cứu được 137 người.”

Ông chở thẳng chúng tôi về trại tị nạn. Trước khi chia tay, ông viết tay tên và địa chỉ đưa cho tôi.

Chiều 30 tháng 9 năm 1984, tôi bước chân trần lên bãi cát trắng đảo Pulau Bidong. Mã số tị nạn MB244.


 

“Con bụi đời chứ con không ăn cắp”- Bobo Kim

Ba’o Tieng Dan

31/10/2026

Bobo Kim

31-10-2026

Hôm nay, lần đầu tiên hai vợ chồng mình vô cửa hàng mua đồ. Tới lúc quay ra xe thì phát hiện túi đồ mua trước đó đã không cánh mà bay. Ra thấy mất đồ mà xịt keo luôn.

Sau khi xin chị chủ kiểm tra lại camera, tụi mình thấy một thằng nhóc chạy xe đạp ngang qua, tiện tay cuỗm luôn bọc đồ rồi phắn nhanh gọn, chỉ vỏn vẹn 10 giây.

Thế là chị chủ dẫn tụi mình qua quán net kế bên, chỗ mấy đứa nhóc bụi đời hay tụ tập chơi game. May sao tụi nó biết mặt thằng cu kia. Sau một hồi hỏi thăm, mình bốc được hai thằng nhóc cỡ 12-13 tuổi hộ giá, cùng đi tìm thằng to gan đó.

Một thằng gầy đét, người cứ thoang thoảng mùi xăng. Thằng còn lại to con hơn nhưng áo quần rách bươm, chẳng còn chỗ nào lành lặn. Hai đứa nhiệt tình lắm, cứ thay nhau chỉ đường, chặt hết hẻm này tới hẻm khác, quyết tìm cho ra thằng chôm đồ.

Trên đường đi, tụi nó bắt đầu tâm sự. Đứa thì không cha không mẹ, ban ngày đi bán vé số, tối đi thổi lửa kiếm cơm. Đứa kể, có lần bị người ta dụ vô Aeon chỉa xà bông, bị bắt một lần sợ quá nên từ đó không dám ăn cắp nữa, chỉ lãnh vé số đi bán thôi.

Toàn những chuyện mà một đứa trẻ 12-13 tuổi đáng lẽ chẳng cần phải biết tới. Vậy mà tụi nó kể tỉnh bơ. Chuyện hôm nay kiếm được bao nhiêu tiền, tối ngủ ở đâu, ngày mai làm gì để có cái ăn. Cứ như thể đó là những chuyện bình thường nhất trên đời.

Mình vừa lái xe vừa nghe, thỉnh thoảng hỏi thêm vài câu. Càng nghe lại càng thấy lạ, vì tụi nó còn nhỏ xíu mà nói chuyện cứ như mấy người đã sống qua nửa đời người rồi đó?

Có điều, dù có vẻ từng trải tới đâu thì tụi nó vẫn là con nít. Vẫn hào hứng mỗi khi nhớ ra một chỗ có thể tìm được thằng kia, vẫn thi nhau chỉ đường, vẫn sốt ruột khi đi hoài chưa thấy…

Đi hơn 15 phút, hai đứa bắt đầu lo lắng. Không phải lo không tìm được đồ để lấy tiền công, vì từ đầu tới cuối tụi nó cũng chẳng hề nhắc tới một cắc nào chuyện tiền bạc. Mà tụi nó sợ mình chạy xe lòng vòng, tốn tiền xăng.

Mình thì đang cay cái bọc đồ bị mất, còn hai đứa nó lại đang lo mình tốn thêm mấy đồng tiền xăng. Nghe vừa thương vừa mắc cười.

Lúc hỏi, sao tụi nó nhiệt tình giúp mình dữ vậy, mới biết lý do chẳng phải vì muốn được thưởng hay gì, mà tụi nó sợ thằng nhóc kia cứ ăn cắp hoài, người ta sẽ ghét lây cả đám bụi đời quanh đó. Rồi chủ quán net không cho tụi nó ngủ nhờ nữa.

Thằng nhỏ nhất tự chốt một câu: “Con sợ nó chôm đồ của chú xong người ta ghét con. Con bụi đời chứ con không ăn cắp”.

Hóa ra, hai đứa theo mình lặn lội qua từng con hẻm, một phần cũng vì đang cố giữ lấy cái chỗ ngủ của tụi nó. Chỉ là một góc trong quán net thôi. Ban ngày coi người ta chơi game, tối đến tụi nó kiếm chỗ ngả lưng.

Ảnh minh họa: Trẻ bụi đời ngủ trên đường phố Hà Nội. Nguồn: Reuters

Tự nhiên mình nghĩ tới mấy con mèo hoang. Có những con mèo ngoài đường, chỉ cần được người ta cho nằm nhờ dưới mái hiên vài hôm là cứ nhớ mãi chỗ đó. Ngày đi kiếm ăn, tối lại lủi thủi quay về. Chẳng cần ai ôm ấp, vuốt ve, chỉ cần cho nó ngủ, đừng đuổi nó đi là được

Mấy đứa nhỏ này cũng vậy. Khác ở chỗ mèo hoang thì chẳng hiểu người ta nghĩ gì về mình. Còn tụi nó là con người mà, nên biết hết. Biết bản thân bị gọi là tụi bụi đời, biết người ta dè chừng, biết chỉ cần một đứa ăn cắp thì cả đám có thể bị đuổi đi.

Mới mười mấy tuổi đầu mà đã phải sốt sắng chạy đôn chạy đáo để giữ lấy một chút lòng tin của người khác, để tối đến còn có chỗ ngủ. Nghĩ tới tự dưng thấy buồn.

Cuối cùng cũng tìm được thằng nhóc hai ngón kia. Tổng thể thì không mất gì, chỉ có túi ô mai bị hụt vài viên.

Ban đầu mình cũng bực chứ. Mất đồ ai mà không bực, còn phải mất công chạy đi tìm cả buổi. Nhưng tới lúc nghe kể nó núp trước nhà người ta, run rẩy ôm bọc đồ, không dám đụng tới, tự nhiên mình cũng chẳng buồn nói thêm câu nào. Vì nó cũng chỉ là một đứa con nít 12 tuổi đầu.

Mình không biết nó đến từ đâu, không biết ba mẹ nó là ai. Cũng chẳng cần biết nó đã ăn cắp bao nhiêu lần rồi. Chỉ mong lần này đủ để nó sợ mà không táy máy tay chân nữa. Ăn cắp thì vẫn là sai, nhưng nghĩ cho cùng, một đứa nhỏ lớn lên mà không có ai dạy dỗ, không có ai chỉ cho nó biết đâu là đúng, đâu là sai, thì chuyện nó đi lạc đường cũng chẳng phải điều gì khó hiểu.

Lúc đầu mình chỉ muốn tìm lại bọc đồ thôi. Mà tới khi tìm được rồi, thứ khiến mình nghĩ mãi lại chẳng phải thằng nhóc đã chôm, mà là hai thằng nhỏ đã giúp mình đi tìm nó.

Hai đứa côi cút, tự kiếm sống qua ngày, tối đến còn phải xem người ta có cho mình ngủ nhờ hay không, vậy mà vẫn biết lo cho người khác, biết sợ làm phiền, biết phân biệt chuyện nào nên làm và chuyện nào không.

Ở cái tuổi đó, đáng lẽ tụi nó phải được đi học, được ba mẹ chăm lo, được vô tư mà lớn lên, chứ không phải ngày nào cũng nghĩ cách kiếm tiền để tối nay có cái bỏ bụng hay có chỗ ngủ mà không bị người ta đuổi đi.

Trước giờ cứ nghĩ có nhiều tiền sẽ cứu được thêm nhiều con mèo, có chỗ nuôi những con vật bị bỏ rơi, để tụi nó không phải lang thang ngoài đường nữa. Giờ lại muốn có đủ khả năng giúp cả những đứa nhỏ như tụi này. Cho tụi nó một chỗ ở đàng hoàng, một ngày ba bữa không cần phải lo ngày mai lấy gì ăn, một cơ hội được đi học, được sống cuộc đời mà một đứa trẻ đáng lẽ phải có.

Mình biết ngoài kia còn nhiều đứa nhỏ như vậy lắm. Và cũng biết không phải cứ thương là giúp được, càng không phải cho vài đồng tiền là có thể thay đổi cuộc đời một con người.

Nhưng tất nhiên, vẫn sẽ lấy cuộc gặp gỡ này làm động lực để sau này mình làm được gì đó nhiều hơn. Vì mấy con mèo hoang ít ra còn có thể được ai đó mang về nuôi. Còn những đứa trẻ này, đâu phải cứ thấy thương là có thể dắt về nhà.

Chẳng biết rồi hai thằng nhỏ hôm nay sẽ lớn lên thành người thế nào? Cuộc sống ngoài đường còn dài, mà tụi nó thì bé quá. Chỉ mong tụi nó vẫn giữ được cái tính thật thà như hôm nay.

Nghĩ lại, thứ mình bị mất hôm nay chỉ là một bọc đồ, tìm một hồi rồi cũng lấy lại được. Còn có những đứa trẻ, từ bé đã thiếu đi quá nhiều thứ, mà chẳng biết phải đi đâu để tìm lại bây giờ?


 

Vấn Nạn Giải Tòa Nhà Dân ở Việt Nam

Phan sinh Trần và Gemini AI

Vấn nạn bồi thường và giải tỏa đất đai của người dân với mức giá “rẻ như cho” từ lâu đã là một vết thương nhói buốt trong đời sống xã hội Việt Nam. Qua nhiều thế hệ, biết bao gia đình đã rơi vào cảnh trắng tay, mất đi tư liệu sản xuất và sinh kế gắn liền với mảnh đất cha ông để lại, chỉ để nhận về những khoản tiền bồi thường không đủ mua nổi một suất tái định cư tối thiểu.

Hiện trạng này không những không được cải thiện mà dường như ngày càng trở nên khốc liệt hơn khi tư duy quản trị bằng Công An và tập trung quyền lực hết vào tay Đảng tiếp tục định hình các chính sách phát triển đô thị.

VẤN NẠN LAN TRÀN TỪ BẮC CHÍ NAM

  • Dự án quy hoạch ven đê Sông Hồng (Hà Nội): Tại các khu vực dân cư lâu đời ven đê Sông Hồng, những phóng sự điều tra và ghi nhận thực tế cho thấy làn sóng phản đối mạnh mẽ của hàng ngàn hộ dân. Các khẩu hiệu phản đối giải tỏa tràn ngập trong các ngõ xóm, phản ánh nỗi lo âu tột cùng về nguy cơ mất chỗ an cư. Người dân—những người đã bám trụ qua nhiều thế hệ—đang phải đối mặt với mức đền bù áp đặt theo khung giá nhà nước, vốn thấp hơn gấp nhiều lần so với giá trị thực tế của thị trường. Hệ quả là nguy cơ đẩy họ vào cảnh nợ nần chồng chất nếu muốn sở hữu một căn hộ tái định cư, trong khi đất đai cũ lại trở thành tài sản vàng cho các tập đoàn bất động sản.

Dự án Sông Hồng: Người dân mất nhà đất cho một cuộc đại phẫu thần tốc ở ...

  • Các dự án chỉnh trang đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tình trạng tương tự tái diễn tại các dự án cải tạo bờ kênh, mở rộng giao thông hay quy hoạch khu đô thị mới ở TP.HCM. Sự chênh lệch địa tô khổng lồ giữa giá đền bù đứt đoạn cho dân và giá bán thương mại của các chủ đầu tư sau khi phân lô đã làm gia tăng sâu sắc sự bất bình đẳng. Nhiều hộ dân sau giải tỏa buộc phải dạt ra vùng ven xa xôi, đứt gãy sinh kế buôn bán nhỏ lẻ lâu đời và rơi vào bần cùng hóa.

Đáng ngại hơn, bức tranh giải tỏa đai đai hiện nay đang mang đậm dấu ấn của chính sách “công an trị” và tư duy cưỡng chế bằng sức mạnh vũ lực. Thay vì duy trì các cơ chế đối thoại bình đẳng và định giá độc lập, bộ máy quản lý ngày càng ưu tiên sử dụng lực lượng an ninh để phong tỏa, bảo vệ thi công và áp đặt mệnh lệnh thu hồi đất. Việc biến các tranh chấp dân sự – kinh tế thành các cuộc đối đầu an ninh không chỉ tước đi thế thương lượng chính đáng của công dân mà còn dẫn đến việc hình sự hóa các đòi hỏi quyền lợi hợp pháp.

Một xã hội phát triển bền vững không thể được xây dựng trên sự tước đoạt sinh kế của người dân; đã đến lúc cần loại bỏ tư duy áp đặt hành chính, tách biệt lực lượng an ninh khỏi các tranh chấp đất đai, và trả lại cơ chế định giá độc lập theo sát thị trường để bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân.

Đất “Toàn Dân” Và Nghịch Lý “Của Chung, Nhưng Tay Ta Giữ

Dân Oan Việt Nam

Đất “Toàn Dân” Và Nghịch Lý “Của Chung Nhưng Tay Ta Giữ”: Khi Quyền Sở Hữu Chỉ Là Chiếc Vỏ Bọc

Trong từ điển của chủ nghĩa xã hội, có những khái niệm nghe qua thì vô cùng cao đẹp, vĩ đại và đẫm tính nhân văn. Tiêu biểu nhất chính là châm ngôn: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Nghe thì có vẻ như mọi người dân đều là “chủ nhân” của từng tấc đất quê hương, ai cũng có phần, ai cũng được sở hữu.

Nhưng ngặt một nỗi, khi lý thuyết ấy bước ra đời thực dưới sự điều hành của một thể chế độc tôn, nó bỗng biến thành một trò đùa quái ác nhất lịch sử pháp lý: Của chung thì tất cả cùng có, nhưng khi đụng đến thu hồi thì “của chung” đích thị là của… các ông lớn!

Khi “Sở Hữu Toàn Dân” Thực Chất Là “Sở Hữu… Không Ai Cả”

Nói một cách sòng phẳng và trần trụi nhất: người dân Việt Nam chưa bao giờ thực sự có quyền sở hữu đất đai. Họ chỉ có cái gọi là “quyền sử dụng đất” – một thứ giấy phép có thời hạn, một đặc ân lỏng lẻo mà Nhà nước (hay nói đúng hơn là bộ máy cầm quyền) sẵn sàng thu hồi bất cứ lúc nào, với bất kỳ giá nào, và bằng bất kỳ lý do gì.Thích thì dùng danh nghĩa “phát triển kinh tế, dự án công ích”, không thích thì quy cho “lợi ích quốc gia”.

Giá đền bù thì áp theo bảng giá “hạt dẻ” do chính nhà nước tự vẽ ra, trong khi giá bán ra thị trường sau khi phân lô, bán nền lại nhảy múa theo chiều cao của chọc trời.Trò ảo thuật pháp lý này biến người dân từ những chủ nhân thực thụ trên mảnh đất cha ông để lại qua bao đời, bỗng chốc trở thành những kẻ ở nhờ trên chính tài sản của mình.

Từ Cải Cách Ruộng Đất Đến Những Đoàn Dân Oan Ba Thế Hệ

Bản chất tước đoạt này không phải là chuyện ngày một ngày hai. Nó đã được di thực, tinh chỉnh và thực hiện một cách hệ thống xuyên suốt từ thời kỳ Cải cách ruộng đất đẫm máu trong quá khứ, kéo dài thẳng tay đến tận ngày nay qua các đại dự án, các khu đô thị “ma” và những đợt giải tỏa trắng đêm.Hãy nhìn vào hình ảnh những đoàn người mặc áo đỏ, giăng băng rôn khắp các con hẻm, con phố.

Ở đó, có cả những mái đầu đã điểm bạc của người ông người bà, có cả bước chân của những người cha người mẹ, và xót xa nhất là những đứa trẻ ngây thơ lẽo đẽo bước đi bên cạnh. Ba thế hệ cùng chung một nỗi đau, cùng chung một hành trình đi đòi lại quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc tối thiểu trên chính mảnh đất mà tổ tiên họ đã đổ mồ hôi, thậm chí đổ máu để khai phá.  

Họ không đi cướp của ai. Họ chỉ đi đòi lại mái nhà che sương che gió, đòi lại tấc đất cắm rũa hợp pháp của gia đình mình. Thế nhưng, thứ họ nhận lại sau những lá đơn kêu cứu mòn mỏi là gì? Là sự thờ ơ lạnh lùng của các cơ quan công quyền, là những hàng rào sắt, là những bản án đàn áp và tiếng thở dài bất lực trong đêm tối.

Sự Thối Tha Của Một Chính Sách Tước Đoạt

Chính sách đất đai hiện hành không còn đơn thuần là một công cụ quản lý kinh tế; nó đã trở thành cỗ máy hợp pháp hóa những cuộc “cướp ngày” tinh vi nhất. Bè lũ chớp bu, những nhóm lợi ích câu kết chặt chẽ với quyền lực chính trị, đã tha hồ xâu xé từng tấc đất vàng, biến những người nông dân, người lao động nghèo thành tầng lớp dân oan vô gia cư ngay trên quê hương mình.Vinh danh thì hô hào “vì nhân dân”, nhưng hành động thực tế lại sẵn sàng hất cẳng nhân dân ra đường để nhường chỗ cho các dự án thương mại béo bở.

Đó không chỉ là sự bất công, mà là sự suy đồi tận cùng về mặt lương tri và nhân tính của một hệ thống cầm quyền. Khi mà những người mẹ, người bà phải dắt díu con cháu ra đường giăng băng rôn kêu oan, đó chính là bức cáo trạng đanh thép nhất, vạch trần bộ mặt thật của cái gọi là “thiên đường xã hội chủ nghĩa” – nơi đất đai là của toàn dân, nhưng quyền lợi thì chỉ thuộc về một nhóm đặc quyền, đặc lợi!


 

NGHĨ GÌ KHI BỘ TRƯỞNG CŨNG VƯỢT BIÊN

 Trần Thuận

NGHĨ GÌ KHI BỘ TRƯỞNG CŨNG VƯỢT BIÊN

Ngày 15/5/1975, Sài Gòn mở cuộc diễn binh mừng chiến thắng.

Trên khán đài danh dự, có một người đàn ông ngồi đó, với chức vụ Bộ Trưởng Tư Pháp của Chính Phủ Lâm Thời miền Nam Việt Nam.

Ông tên Trương Như Tảng.

Trương Như Tảng sinh ra tại Chợ Lớn, trong một trong một gia đình giàu có và thành đạt.

Sau khi tốt nghiệp trường trung học Chasseloup-Laubat, nơi ông có những người bạn nổi tiếng như Norodom Sihanouk, Dương Quỳnh Hoa, Phạm Ngọc Thảo,… ông được gia đình gửi sang Pháp để học ngành dược. Tuy nhiên ông đã bỏ khoa này nửa chừng để chuyển sang học chính trị và luật. Trong thời gian ở Paris, Trương Như Tảng tham gia phong trào chống chiến tranh của Đảng Cộng sản Pháp, vì thế ông bị gia đình cắt viện trợ và phải rửa chén, gọt khoai kiếm tiền sinh sống để có thể tiếp tục con đường đã chọn. Trương Như Tảng cũng từng gặp ông Hồ Chí Minh vào năm 1946. Năm 1951, ông tốt nghiệp cao học chính trị và cử nhân luật sau đó trở về nước vào năm 1954.

Từ 1958, Trương Như Tảng bắt đầu hoạt động bí mật cho cộng sản, tại Sài Gòn.

Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông được cử làm Tổng Giám đốc Công ty Đường Việt Nam, một công ty quốc gia lớn. Trong thời gian này ông đã hoạt động ngầm cho hai tổ chức cộng sản là “Phong trào Tự Quyết” và “Ủy ban bảo vệ Hòa Bình”.

Sau khi việc làm của Trương Như Tảng bại lộ, ngày 16 tháng 6 năm 1966, ông bị chính quyền Sài Gòn bắt.

Nhờ có Trần Bạch Đằng thu xếp với người Mỹ về trao đổi tù binh, ông được trả tự do và đã ra bưng hoạt động hẳn cho cộng sản.

Sau khi Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam thành lập, ông là phó chủ tịch liên minh ở Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Trương Như Tảng tham gia sáng lập và giữ chức bộ trưởng Bộ Tư Pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Để rồi sau đó năm 1976, tại Hà Nội, bộ trưởng Bộ Lương thực Thực phẩm Ngô Minh Loan đã mời ông này làm thứ trưởng với lí do Trương Như Tảng có kinh nghiệm để phát triển ngành công nghiệp mía đường của Việt Nam nhưng Trương Như Tảng đã từ chối.

Năm 1977, để tránh bị theo dõi, ông Trương Như Tảng nhận lời mời của ông Võ Văn Kiệt phụ trách ngành công nghiệp cao su.

Ngày 25 tháng 8 năm 1978, Trương Như Tảng xuống thuyền vượt biển và hơn một tuần sau thì được một tàu hàng Singapore chở tới đảo Galang, thuộc Indonesia.

Sau đó ông Tảng định cư ở Pháp.

Trương Như Tảng đã viết hồi ký nguyên văn bằng Tiếng Pháp là Mémoire d’un Vietcong, bản dịch Tiếng Anh là A Vietcong Memoir, tiếng Việt là “Hồi Ký của một Việt Cộng”.

Cuốn sách này viết về ước mơ tan vỡ của Trương Như Tảng, về một nước Việt Nam độc lập, hòa bình và dân chủ, về một quả lừa mà không những riêng ông, rất nhiều trí thức tầm cỡ khác cũng phải ngậm đắng nuốt cay sau khi ăn phải. 


 

SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC…Nguyễn Ngọc Chính

Nguyễn Ngọc Chính

Có nhà văn nào đó cho rằng khi viết về ẩm thực bụng phải đói mới “lột tả” hết cái ngon của món ăn. Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Hồi còn trong trại tù cải tạo, cái bụng lép kẹp lúc nào cũng sôi ùng ục, tôi và vài người bạn tù có “tâm hồn ăn uống” vẫn thường kể cho nhau nghe những món khoái khẩu của mình. Ăn “hàm thụ” sao mà ngon thế.  Phải nói ngon gấp nghìn lần ăn… thực thụ !

Thời cải tạo qua đi nhưng thời điêu linh lại kéo tới. Vào thời đó, cái để đút vào mồm chỉ toàn khoai mì chạy chỉ với bo bo, còn được mệnh danh là… cao lương.  Ngồi nhấm nháp cao lương mà cứ tức anh ách. Ai đó đã khéo chơi chữ mà đặt tên, mỉa mai không khác gì cái món “mầm đá” của ông vua ngày xưa !. Nhưng rồi cũng qua đi cái thời ăn để mà sống, người ta bỗng nhớ đến thời… sống để mà ăn ở Sài Gòn hoa lệ ngày nào.

Theo tôi, một trong những món ngon đó phải kể đến phở. Mặc dù phở có xuất xứ từ miền Bắc nhưng phở Sài Gòn thường ăn kèm với giá, ngò gai, húng quế vẫn ngon hơn phở Hà Nội thiếu hẳn các loại rau thơm mà lại không có giá.  Vào đến Sài Gòn ngày xưa có con đường tên Turc (Thổ Nhĩ Kỳ), một đầu là đường Tự Do (Catinat), đầu kia là đường Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).  Tiệm Phở Bắc được bán trong khuôn viên nhà thờ Hồi Giáo này, nên có tên là Phở Turc.

Sài Gòn 1954, lúc người Bắc mới vào Nam, những tiệm Phở Bắc hãy còn đếm được trên đầu ngón tay. Ðó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 ở đường Frère Louis (sau này đổi tên thành đường Võ Tánh và đến 1975 lại đổi thành Nguyễn Trãi thuộc quận 1).

Ngay bên hông rạp Casino có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa số là nhà dân Bắc Kỳ di cư sớm, từ những năm 1920. Tiệm Phở Minh nằm ở dãy nhà đó. Phở Minh có cả phở bò lẫn phở gà nhưng đặc biệt hơn cả còn có bài thơ do thi sĩ Trần Rắc đề tặng.  Bài thơ được cắt chữ, đóng khung kính, treo trên tường.  Bài thơ Ðường Luật có

4 câu đầu như sau:

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,

Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh

Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,

Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh.

Thi sĩ Trần Rắc chính là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Thánh Tôn, gần Khám Lớn Catinat năm xưa. Tiệm giầy Trần Rắc, và cả mấy tiệm giầy ở đường này, đều có cửa sau đi vào hẻm “ẩm thực” Casino.

Việt Nam ta đúng là… ra ngõ gặp nhà thơ. Ðến như ông chủ tiệm giày cũng có thể làm thơ về phở chứ chưa dám nói đến Tản Ðà là người viết nhiều về nghệ thuật ăn uống!

Trên đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges), gần bên hông Tòa Ðại Sứ Mỹ, còn có phở Cao Vân, dù tiệm phở này không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause) cách đó không xa. Theo tôi, phở Cao Vân chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng được nhắc tới cùng với phở Minh vì Cao Vân cũng có một bài thơ ca tụng phở của thi sĩ Tú Mỡ được viết bằng sơn ngay trên tường.

Trong các món ăn Quân Tử Vị

Phở là quà đáng quý trên đời

Chủ của phở Cao Vân ngày nay là một ông cụ Bắc Kỳ hom hem theo năm tháng. Ông không còn đứng ra nấu phở nhưng chiều chiều thường ngồi nhậu lai rai với các “chiến hữu” để hưởng nhàn !

… Trên đường Pasteur có Phở Hòa, khá nổi tiếng.  Ban đầu, lúc khai trương năm 1960, tiệm phở này mang tên Hòa Lộc.  Có lẽ sau này khách ăn cứ gọi tắt là Hòa nên Hòa Lộc biến thành Hòa theo kiểu gọi tên một chữ cho dễ nhớ thường thấy ở các tiệm phở (?). Phở Hòa chỉ chuyên loại phở bò, nếu vào đây mà tìm tô phở gà thì không có. Khách phải chịu khó ra đường Hiền Vương (bây giờ đổi tên là Võ Thị Sáu), đến tiệm Hương Bình, “chuyên trị” phở gà.

Nói đến phở Sài Gòn tại khu vực trung tâm, phải nói đến tiệm Phở 79, ngay tại số nhà 79 trên đường Võ Tánh.  Khoảng năm 1952, tiệm Phở 79 mở cửa, khi đó nền nhà của tiệm còn thấp hơn mặt đường.  Chỉ vài năm sau tiệm phát đạt, chủ nhân mua hai nhà bên cạnh, mở lớn thành tiệm Phở 79 khang trang và có thể nói là một trong những tiệm phở sạch nhất Sài Gòn thời đó.

Trường Sinh ngữ Quân đội có chi nhánh ở đường Nguyễn Văn Tráng rất gần với Phở 79 tại khu vực Ngã Sáu Sài Gòn. Ðám giảng viên chúng tôi thường xuyên ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối mỗi khi “ứng chiến” tại trường.

Phở tại đây được đánh giá là… “ăn được”. Nếu ai “ăn không được” thì chịu khó đi thêm vài bước ra Ngã Sáu, nơi đây có đủ các món ăn chơi thuộc loại bình dân, từ phở, hủ tíu cho đến mì và có cả xe… bánh mì mua về trường nằm gặm trong những đêm ứng chiến!

Gần ngã tư Phú Nhuận có phở Quyền trên đường Võ Tánh (thuộc quận Phú Nhuận), cách cổng phụ của Tổng Tham Mưu chừng 100 mét.  Tôi thường ghé ăn nơi đây mỗi khi về trụ sở chính của trường sinh ngữ trong Tổng Tham Mưu.  Nước phở ở đây rất đậm đà, vị ngọt là của xương ống chứ không phải vì bột ngọt.  Phở Quyền còn có cả món “tái sách tương gừng” được xếp vào loại… trứ danh.

Con cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào Nam lập nghiệp năm 1954, trong cơ hội lịch sử này có phở Tàu Bay.  Vốn là quán phở do ông nội mở vào 1950 ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, ông chủ quán được người bạn thân tặng cho chiếc mũ bay. Ông thường xuyên đội nón, khách thấy lạ, gọi ông “Tàu Bay” rồi chết tên thành tên quán.

Phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ ngày nay vẫn bán và khách quen ngày nào vẫn chịu khó mò đến đây để tìm lại hương vị đặc thù.  Phải nói Phở Tàu Bay rất… hiếu khách.  Gọi thêm nước béo, nhà phở đem ra cả tô chứ không bằng chén nhỏ như những tiệm khác. Tô đặc biệt của Tàu Bay lại là tô “Xe Lửa”, bánh và thịt trên mức hậu hĩnh.

… Kể từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn là món “đặc sản” của miền Nam.  Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu Phạm Thị Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường Nguyễn Trung Trực…

Có người đến hủ tíu Phạm Thị Trước gọi thêm bánh patechaud ăn kèm, cũng giống như hủ tíu Gà Cá. Tuy nhiên, mỗi tiệm hủ tíu đều có hương vị riêng khiến một khi khách đã “kết” thì khó đi ăn nơi khác.  Hủ tíu Sài Gòn sáng nào cũng đông người đến thưởng thức, không cần đợi đến những ngày cuối tuần.

Thường thì hủ tíu có bánh mềm, chỉ riêng hủ tíu Thanh Xuân hay Mỹ Tho thì thêm bánh dai, nấu khô hay nước, tùy theo ý thích của khách. Chỉ nhìn dĩa rau dọn lên trước thì cũng thấy bắt mắt: giá, hẹ, rau cần tàu, tần ô và vài cọng xà lách.  Thêm vào đó, mùi nước lèo xông lên như đập vào khứu giác thực khách làm cho bụng cứ gào thét…

Người bồi bàn bưng mâm ra để tô hủ tíu trên bàn, mùi nước lèo xông lên mũi, nếm thử “nghe” được mùi thơm của nước lèo, thêm chút gia vị vào và cầm đũa ngay. Hủ tiếu Thanh Xuân thì phải có rau tần ô, rau cần tàu, giá sống.  Hủ tíu Phạm Thị Trước hay Thanh Thế cũng thế, nhưng không có rau tần ô.  Riêng hủ tíu Gà Cá thì chỉ có giá sống.

Tuy nhiên, các thứ hủ tíu nếu thiếu vài miếng tóp mỡ và cải bắc thảo thì hình như thiếu mất cái gì đó.  Nước lèo vừa ngọt của xương, vừa béo của chất tủy từ ống xương, thoang thoảng chút mùi của con mực, tôm khô, hào khô và củ cải.  Những thứ ấy quyện vào nhau thành một thứ nước lèo hấp dẫn.  Hủ tíu bình dân thì có những xe hủ tíu bán dạo.  Từ mờ sáng cho đến khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng rao… lòng thấy nao nao !

***

Ðối với tôi, một món cũng thuộc loại “khoái khẩu” ở Sài Gòn là… bánh mì thịt nguội, trong đó có cả jambon, xúc xích, pate ăn kèm với sốt mayonnaise và đồ chua! Bánh mì thịt nguội ăn sẽ ngon hơn nếu bạn có thì giờ ngồi nhẩn nha tại tiệm: các loại thịt bày trên đĩa trắng tinh kèm thêm một cục sốt bên cạnh dao, nĩa sạch bóng.  Bẻ một miếng bánh mì còn nóng, trét sốt lên trên rồi một lớp patê, sau đó cắt một miếng jambon… đưa vào miệng. Tuyệt cú mèo !

Một trong những tiệm bán bánh mì thịt nguội có tiếng ở Sài Gòn từ năm 1954 và còn tồn tại đến ngày nay là Hòa Mã. Tiệm Hòa Mã nằm trên đường Cao Thắng, gần khu vực Bàn Cờ, nơi có những địa điểm nổi tiếng như Kỳ Viên Tự, Tam Tông Miếu, Trường Aurore, Cư Xá Ðô Thành, Nhà Bảo Sanh Ðức Chính…

Ngày nay, Hòa Mã không khác xưa là mấy.  Hòa Mã cũ kỹ, bảng hiệu phai màu theo năm tháng vì đã tồn tại hơn 50 năm kể từ ngày mở cửa.  Nhiều người nói chủ nhân Hòa Mã là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn… Tiệm Hòa Mã gọi ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, dùng theo tiếng Pháp casse croute, bữa ăn lót dạ, bữa ăn nhẹ.  Những năm 60, giá bán một ổ bánh mì Hòa Mã là 3 đến 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 đến 10 đồng.

… Xe bánh mì Tám Lự gần chợ Bàn Cờ chỉ bán từ sẩm tối đến đêm khuya.  Một ổ bánh mì Tám Lự dài cỡ 4 tấc, hai gang tay, tối ăn vào no đến sáng.  Bánh mì ngon, ngoài pâté chả lụa, pâté foie, bơ Bretel còn thêm dưa leo, ngò, hành lá, nước tương, muối tiêu, ớt xắt.  Ngày xưa khách chỉ cần nói: “Cho một tàu lặn hay một tiềm thủy đỉnh đi, anh Tám!” là khách sẽ có ngay một ổ bánh mì nóng giòn, thơm phức.

Nếu muốn sang hơn thì lên bánh mì Pâté Tòa Ðô chính trên đường Nguyễn Huệ hoặc tiệm bánh Hương Lan trên đường Tự Do hay ngồi Thanh Bạch đường Lê Lợi (gần bệnh viện Sài Gòn). Chỉ cần gọi đĩa bánh mì thịt nguội kèm theo một ly cà phê sữa đá là đủ no cho đến trưa.  Thanh Bạch vẫn là nơi lý tưởng để vừa ăn sáng vừa ngắm cảnh người Sài Gòn sửa soạn cho một ngày mới.

… Sài Gòn xưa có hai tiệm Thanh Bạch, một ở đường Lê Lợi, bên rạp xi-nê Vĩnh Lợi. Tiệm Thanh Bạch thứ hai ở đường Phạm Ngũ Lão, trong dãy phố trệt dưới tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới năm xưa.  Ngoài bánh mì ốp-la, ôm-lết, thịt nguội, Thanh Bạch có bánh mì bò kho, hủ tíu và đặc biệt là món suông.  Bún suông dùng xương heo để nấu nước lèo, và đặc biệt ở đây là dùng tôm tươi lột vỏ, bỏ đầu, bằm nhuyễn sau đó vo lại thành sợi dài (như sợi bún).  Nước lèo ở đây rất trong, ăn kèm với rau sống…

Nhà hàng Tài Nam trên đường Ohier (Tôn Thất Thiệp) nổi tiếng với món đuông chà là chiên bơ rất ngon nhưng cũng rất mắc tiền.  Theo nhà văn Sơn Nam, vua chúa cũng còn thèm “con đuông chà là”, tên chữ là “hồ đa tử”.  Hồ đa là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang thường mọc miền nước mặn Nam bộ, giống như cây cau kiểng. Cây dừa rừng có “củ hũ”, tức đọt non, đến mùa sau Tết thường xuất hiện con đuông, giống như con nhộng. Ðuông ăn đọt dừa non nên to, mập và thường được bắt trước khi nở thành bướm.

Sơn Nam viết : “Ðem đuông nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm với nước mắm nhĩ nguyên chất.  Con đuông béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ cây chà là”.

… Vùng Thanh Ða (Bình Thạnh) nổi tiếng khắp Sài Gòn với món cháo vịt, gỏi vịt.  Vào buổi tối người Sài Gòn hay ra bán đảo Thanh Ða trước là để đón những luồng gió mát từ sông Sài Gòn thổi vào và khi về, ghé mấy quán cháo vịt, gọi thêm đĩa gỏi vịt ăn kèm. Nếu là “bợm nhậu” thì gọi thêm chai bia Con cọp BGI để… đưa cay.  Nếu ngại ra Thanh Ða thì trên đường Hồng Thập Tự cũng có khu bán cháo vịt thuộc loại… “ăn được”. Thịt vịt tại đây khá mềm, nhai kỹ thấy ngọt và đặc biệt không thấy mùi hôi vốn có của thịt vịt.  Có thể họ tuyển loại vịt chạy đồng nên không hôi (?).

Ðinh Công Tráng là một con đường nhỏ gần nhà thờ Tân Ðịnh nhưng cũng đi vào lịch sử ăn uống của Sài Gòn với món bánh xèo. Bí quyết của bánh xèo nằm ở kỹ thuật pha bột, sao cho khi chiên lên, bánh giòn tan khiến người ăn có thể cảm được cái thú nghe miếng bánh đang được nhai dưới hai hàm răng.  Lớp bột gạo pha chút nghệ khi đổ vào chảo dầu tạo nên một tiếng “xèo” khiến ta hiểu được tại sao lại gọi là… bánh xèo!

Ngày nay, đường Ðinh Công Tráng trở thành “đường bánh xèo” nhưng người sành ăn thì chọn quán bên tay trái, nếu đi từ đường Hai Bà Trưng vào.  Quán không tên nhưng người ăn vẫn nhớ vì nó đã đi vào “bộ nhớ” của người Sài Gòn từ bao năm nay.  Những quán đối diện bên kia đường trông có vẻ lịch sự hơn, sạch sẽ hơn nhưng vẫn chịu cảnh vắng khách vì là kẻ… hậu sinh.

Khu Ða Kao có tiệm bánh cuốn Tây Hồ (Ðinh Tiên Hoàng), gần chợ Ða Kao, quận 1, nổi tiếng.  Tại đây, mỗi bàn có để sẵn một thẩu nước mắm và một chồng chén nhỏ để khách tùy nghi sử dụng, thêm nhiều hay ít ớt bằm theo sở thích riêng của từng người.  Tuy nhiên, có khách lại thích chan luôn nước mắm vào đĩa để bánh cuốn thấm nước mắm, đậm đà hơn.

Chả quế và giò lụa được cắt thành miếng lớn, để riêng trong một đĩa nhỏ.  Khách có thể chỉ ăn bánh cuốn nhân thịt mà không đụng tới đĩa giò chả, như vậy người phục vụ nhìn vào đĩa chả còn nguyên mà không tính tiền. Nếu cần, có thể gọi thêm đĩa bánh tôm hoặc bánh cuốn không nhân.

Sài Gòn cũng có bánh cuốn Thanh Trì kiểu Bắc, mỏng như tờ giấy, ăn với “ruốc” (chà bông) và nước mắm phải kèm với vài giọt cà cuống mới là “sành điệu”! Còn bánh ướt là kiểu bánh cuốn bình dân ở Sài Gòn, cũng ăn kèm với bánh tôm chiên, giò, chả và rau, giá. Những xe bánh ướt được đẩy đi khắp Sài Gòn, có cả nồi hấp nên lúc nào bánh cũng nóng và người bán bao giờ cũng chan nước mắm vào đĩa thay vì chấm kiểu “thanh cảnh” như bánh cuốn Thanh Trì.

Lại nói thêm, đường Albert (vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đổi tên thành Ðinh Tiên Hoàng) khá dài nên dọc theo con đường này có nhiều địa chỉ ẩm thực nổi tiếng.  Tiệm ăn Chez Albert (lấy tên theo con đường), Cà phê Hân, Mì Cây Nhãn (tên đặt theo cây nhãn hồi đó còn trồng trước sân), Thạch chè Hiển Khánh (nơi sưu tầm rất nhiều thơ ca tụng thạch chè)… Tôi chắc chắn còn bỏ quên khá nhiều điểm ăn uống khác nữa trên con đường này.

Ở góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi, trước kia vào thập niên 30 có một quán cháo cá nổi tiếng một thời. Buổi chiều cho đến gần khuya, khách đến ăn rất đông, nhất là khi cải lương, hát bội, hát bóng vãn hát. Theo Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp Pín Lù, quán cháo cá này của người Tàu, gốc Quảng Ðông, “cha truyền con nối suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi…”

Cháo tại đây nấu bằng gạo tấm hầm với cá, xương heo và thịt tôm hùm để thành một thứ hồ sền sệt khiến “người đau mới mạnh dùng không sợ trúng thực, người mệt mỏi ăn vào cảm thấy nhẹ bụng, mau tiêu.  Tô cháo cá Chợ Cũ quả là một ‘tô thuốc tráng thần’…”

Cháo nóng hổi bốc hơi nghi ngút.  Vừa thổi vừa húp xì xụp mới thấy được cái thú vị của món cháo cá Chợ Cũ.  Thịt cá giòn, thơm, lẫn lộn hương vị của hành, tiêu, gừng và có thể ăn với “dầu chá quẩy”.  Thú thật, tôi là người thích thịt hơn cá nhưng thỉnh thoảng được thưởng thức món cháo cá vẫn thấy ngon đến toát mồ hôi !

Có một tiệm cháo giò heo khá nổi tiếng trong ngõ đường Phan Ðình Phùng (ngày nay là Nguyễn Ðình Chiểu). Tiệm không có tên, chuyên bán cháo từ 6 giờ tối tới một, hai giờ sáng.  Khách của tiệm này đa số là khách chơi đêm, khách đi nhảy, khuya về đói bụng đến ăn tô cháo nóng.

Tôi lại nhớ đến món phá lấu ở góc đường Lê Lợi-Pasteur, nơi đây còn có xe bò bía và nước mía Viễn Ðông.  Bán phá lấu là một chú Tàu và “cửa hàng” của chú chỉ vỏn vẹn một cái khay tròn, trên đó bày đầy đủ nội tạng heo: lòng, dồi, gan, bao tử, ruột non, ruột già, tim, phèo, phổi… Trông thật hấp dẫn, ngửi thơm phức và ăn vào thì giòn tan.  Phá lấu nói chung có vị hơi ngòn ngọt, gan thì bùi bùi, lòng thì hơi dai dai nhưng khi nhai kỹ mới thấy ngon… thấu trời xanh !

Nghệ thuật làm phá lấu chắc chỉ mấy chú ba mới đáng hàng sư phụ. Phá lấu làm tại nhà cũng ướp húng lìu, ngũ vị hương nhưng không thể nào so sánh với phá lấu góc nước mía Viễn Ðông. Từng miếng phá lấu được ghim sẵn bằng tăm, chấm với tương đỏ trộn tương đen.  Khách ăn xong chú Ba chỉ nhìn tăm mà tính tiền nhưng tuyệt không bao giờ sai.  Quá bộ vài bước là xe nước mía tươi mát đang chờ… để kết thúc một chuyến ăn hàng bên lề đường.

Gần nước mía Viễn Ðông có xe thịt bò khô của ông Năm (theo tên gọi của khách quen) và sau 1975 ông dời về đường Tự Ðức (nay đã đổi tên là đường Nguyễn Văn Thủ) thuộc khu Ða Kao.

Dân chơi Sài Gòn thường xếp hạng : “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1” nên viết về món ngon Sài Gòn mà bỏ qua khu vực Chợ Lớn là cả một thiếu sót lớn. Dọc đường Trần Hưng Ðạo nối với đường Marins (Ðồng Khánh) thuộc địa phận quận 5 có những nhà hàng, tửu lầu nổi tiếng một thời như Arc-en-Ciel, Ðồng Khánh, Á Ðông, Bát Ðạt.

Theo tôi, Chợ Lớn nổi tiếng hơn cả là đường Lacaze mà người Việt hay gọi trại là La Cai, tức đường Nguyễn Tri Phương sau này. Khu La Cai có mì vịt tiềm hầm thuốc bắc, một trong những món “tủ” của người Hoa. Bên cạnh đó còn có những tiệm hủ tíu mang tên Mỹ Tiên, Cả Cần và tiệm bánh bao Bà Năm Sa Ðéc.

Ðêm đến có các quán sò huyết dọc theo lề đường. Khách bình dân ngồi ăn nhậu thoải mái giữa dòng xe cộ ồn ào bên ánh đèn nê-ông từ các nhà hàng, vũ trường sang trọng của Chợ Lớn “by night”!

… Thôi thì đời người có lúc hưng lúc tàn, cũng như vận nước có khi thịnh khi suy.  Viết lại món ngon Sài Gòn chỉ để thỏa mãn kiểu “ăn hàm thụ” như đã nói ở trên.  Giờ có cho ăn thực thụ chắc cũng chẳng thấy ngon như thời còn trai trẻ.

Tất cả chỉ còn là… hoài niệm!

Nguyễn Ngọc Chính

From: T. Nguyen 


 

CHỢ RẪY – MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT

Kiều Diễm

CHỢ RẪY – MÀN TRỜI CHIẾU ĐẤT

Ai từng có người thân điều trị dài ngày ở Chợ Rẫy, có lẽ sẽ hiểu nơi này chất chứa biết bao nỗi đau chẳng thể gọi thành tên.

Hôm qua, sau khi thăm anh, mình bấm thang máy đi xuống. Khi ngang qua khoa Thận, một nhân viên y tế đẩy chiếc xe có người bệnh được phủ khăn kín mặt vào cùng khoang thang máy với mình. Bên cạnh là người thân đang khóc nức nở.

Mình lặng người. Không cần ai nói, mình cũng hiểu, có lẽ một cuộc chia ly vừa xảy ra.

Mẹ mình cũng từng chạy thận, từng trải qua những tháng ngày chống chọi với bệnh tật, rồi cuối cùng rời xa anh em mình. Có những ký ức tưởng chừng đã ngủ yên, vậy mà chỉ một khoảnh khắc cũng đủ khiến lòng đau nhói.

Giờ đây, mình lại đứng trước nỗi sợ ấy một lần nữa. Người đang nằm trên giường bệnh, chống chọi với bệnh tật, chính là người anh trai duy nhất của mình.

Gia đình nhỏ ngày ấy có bốn người: ba, mẹ, anh và mình. Vậy mà ba mẹ đã lần lượt rời xa anh em mình khi cả hai đều ở tuổi 46. Từ một gia đình đủ đầy, giờ chỉ còn hai anh em nương tựa vào nhau giữa cuộc đời.

Có những nỗi sợ chẳng thể nói thành lời. Mình vẫn cố gắng hy vọng, vẫn mong anh sẽ vượt qua, vẫn tự nhủ mọi chuyện rồi sẽ ổn. Nhưng sâu thẳm trong lòng, mình thật sự rất sợ. Sợ nỗi đau năm xưa một lần nữa lặp lại, sợ một ngày nào đó, người thân cuối cùng cũng rời xa mình.

Chứng kiến quá nhiều bệnh tật và mất mát, mình mới hiểu sức khỏe quý giá đến nhường nào. Chỉ mong bản thân biết thương lấy mình hơn, để những người yêu thương không phải khổ sở, lo lắng vì mình.

Ở nơi này, có người đang cố giành giật sự sống, có người ngày đêm cầu mong người thân tỉnh lại, và cũng có người phải đau đớn chấp nhận một cuộc chia ly.

Mình chỉ mong anh đủ mạnh mẽ để vượt qua. Mong ông trời đừng lấy đi người thân cuối cùng mà mình còn có thể gọi là gia đình.

Ba mẹ đã đi xa rồi. Mình thật sự không muốn một lần nữa phải học cách sống tiếp khi thiếu đi một người thân yêu.

Anh à, D chẳng mong gì nhiều. D chỉ mong anh khỏe lại, để hai anh em mình còn có nhau


 

Vương Hồng Sển: Người Viết “SÀI GÒN NĂM XƯA” , Xé Di Chúc Hiến Nhà Làm Bảo Tàng.

Vương Hồng Sển: Người Viết “SÀI GÒN NĂM XƯA” , Xé Di Chúc Hiến Nhà Làm Bảo Tàng.

Kẻ Đi Tìm thông tin thêm:

Căn nhà của cụ Vương đang bị  xuống cấp: Do vướng mắc về thủ tục bồi thường, tái định cư cho hậu duệ của cụ cũng như thủ tục công nhận di tích, ngôi nhà cổ Vân Đường Phủ bị bỏ hoang trong thời gian dài và xuống cấp nghiêm trọng. Đến nay, phần lớn bộ sưu tập cổ vật đã được Bảo tàng Lịch sử TP.HCM tiếp nhận và lưu giữ, còn ngôi nhà cổ vẫn đang trong quá trình bảo tồn, giải quyết vướng mắc.

Dù thiết tha yêu nước đến mấy nhưng phải dính vào Chính Quyền Cộng Sản là khổ, tàn tạ!

CÓ NHỮNG “NGƯỜI THẦY” NHƯ THẾ

Xuân Hồng

1968, năm tôi thi Tú Tài toàn phần ở Huế, có con gái vị bộ trưởng ở Sài Gòn cũng thi, chỉ thiếu nửa điểm để đậu.

Mẹ của cô này là vợ vị bộ trưởng bộ giáo dục VNCH bị bệnh sắp từ giã cõi đời chỉ muốn nghe được con đậu để nhắm mắt xuôi tay.

Vị bộ trưởng điện thoại cho thầy chánh chủ khảo kỳ thi và xin thầy chủ khảo bỏ qua nửa điểm cho cô con gái đậu trước khi mẹ cô qua đời!

Nhưng thầy Chánh Chủ khảo từ chối, thầy nói nếu cho con của bộ trưởng đậu thì tất cả thí sinh thiếu nửa điểm của cả nước cũng phải đậu hết, điều này làm giảm tính xác thực của tấm bằng tú tài mà nhà nước đã giao cho tôi phụ trách bộ trưởng…

Các thầy của trường Đại Học Y Khoa Huế cái thời tôi học cũng thế, rất thương sinh viên nhưng không bao giờ vì tình cảm hay thân quen gì đó mà nương nhẹ trong các kỳ thi cho bất cứ sinh viên nào.

CÓ NHỮNG “NGƯỜI THẦY” NHƯ THẾ.

Nhìn tấm hình (ảnh dưới), có thể thấy phong thái học hành tuyệt vời của Đại học Y khoa Sài Gòn trước 1975, khi sinh viên nghe như uống từng lời của giáo sư Phạm Biểu Tâm: khoa trưởng khoa Y… Việt Nam đầu tiên của trường.

Một chuyện đáng nhớ về giáo sư là vào đầu thập niên 60, trong kỳ thi tuyển sinh vào Đại học Y khoa Sài Gòn, Ngô Đình Lệ Thuỷ (con của Cố vấn Tổng thống Ngô Đình Nhu) thi không đạt điểm đậu.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Chủ tịch Hội đồng thi đã từ chối cho Lệ Thuỷ vào học, mặc dù có sự can thiệp của Bộ trưởng Giáo dục thời đó.

Giáo sư Ngô Gia Hy nói: “Ở Sài Gòn, trong cương vị Giám đốc Bệnh viện Bình Dân, khoa trưởng Đại học Y khoa Sài Gòn, quyền Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, Anh (GS Tâm) cũng vẫn tấm lòng đôn hậu, nhưng rất cương trực điều hành và cư xử tốt với tất cả mọi người.

Anh đã cương quyết thực hiện công bằng trong các kỳ thi tuyển sinh vào trường Y khoa, vượt qua những áp lực dựa vào quyền thế.

“Anh có đặc tính khiêm tốn, dù ở địa vị cao, mà Anh không hề nói xấu một người nào.

Ngoài ra, Anh còn là người con hiếu thảo, là giáo sư nhưng mỗi khi về Huế, Anh vẫn mặc áo the thâm hầu hạ phụ thân đã cao tuổi như một người con nhỏ.

Đối với những thầy cũ của mình, bất cứ ở đâu, trong trường hợp nào, Anh vẫn tỏ lòng kính trọng, lắng nghe…”.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm học tiểu học tại Huế, và sau đó qua trung học phổ thông tại Vinh.

Đến lúc trung học chuyên khoa (Tú tài), ông theo học tại Trường Quốc học Huế và Trường Bưởi (Hà Nội).

Năm 1932 ông bắt đầu theo học Trường Thuốc tại Hà Nội.

.Khi đã tốt nghiệp, ông tiếp tục làm nội trú bệnh viện trong nhiều năm để học hỏi thêm kinh nghiệm.

Năm 1947 ông đệ trình luận án Tiến sĩ y khoa với đề tài là “Introduction de la Médecine occidentale en Extrême-Orient” (Sự du nhập của y khoa Tây phương vào các nước miền Viễn đông).

Năm 1948 ông trúng tuyển kỳ thi Thạc sĩ y khoa (professeurs agrégés des universités, để làm Giáo sư) tại Paris, đồng thời với bác sĩ Trần Quang Đệ, một nhà phẫu thuật lừng danh khác của Việt Nam.

Ông trở về nước làm Giáo sư giảng dạy tại Trường Đại học Y khoa Hà Nội suốt trong khoảng thời gian từ 1949 đến 1954.

Ông cũng kiêm nhiệm chức Giám đốc Bệnh viện Yersin tại Hà Nội và sau đó là Phó giám đốc Trường Quân Y.

Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào nam và trở thành Giám đốc kiêm Trưởng khoa Ngoại tại Bệnh viện Bình Dân.

Một năm sau, ông trở thành khoa trưởng người Việt đầu tiên của Trường Đại học Y Dược Sài Gòn.

Nhưng ít năm sau đó, ông từ chối lời mời làm Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, nhất quyết ở lại với Trường Y khoa để tiếp tục chương trình đã theo đuổi từ nhiều năm.

Sau 1975, giáo sư Phạm Biểu Tâm vẫn ở lại Việt Nam.

Một học trò cũ của ông là Ngô Thế Vinh viết: “Thầy Tâm vẫn có được sự kính trọng và vị nể của chế-độ mới, vì đức độ tài-năng và nhân-cách đặc-biệt của Thầy.

Thầy thì cứ như một nhà nông biết là thời tiết không thuận lợi, nhưng vẫn cứ cắm cúi vun xới thửa đất để cấy trồng.

Trước sau, chưa bao giờ Thầy có phòng mạch tư, cuộc sống của Thầy rất thanh bạch.

Hàng ngày toàn thời gian Thầy tới nhà thương Bình Dân khám bệnh, mổ xẻ và hết lòng chăm sóc người bệnh cùng với công việc giảng dạy cho các thế hệ môn sinh.

Chế độ mới cần tới uy tín Thầy nhưng họ vẫn không bao giờ tin nơi Thầy.

Bằng cớ là nhà của thầy Tâm ít nhất đã hai lần bị Công an Thành phố xông vào lục xét, và cứ sau một lần như vậy, không phát hiện được gì…”

Thầy Phạm Biểu Tâm mất năm 1999 tại Mỹ sau thời gian dưỡng bệnh.

Tháng 12 hàng năm là dịp tưởng niệm ngày mất của thầy.

Mỗi khi nhớ tới thầy, tôi rất xúc động, bởi thầy thực sự là một tri thức Việt Nam rất hiếm có kể cả về tài năng, đức độ, nhân cách.

Tiếc thay… giờ đây ở ta rất khó tìm thấy những giáo sư như thầy Phạm Biểu Tâm.

Nguồn: Nguyễn Thị Bích Hậu

Đã có một thời LƯƠNG  Y NHƯ TỪ  MẪU 


 

2 ‘trùm lừa đảo’ và ‘Shark’ Bình sắp ra tòa tại Hà Nội

2 ‘trùm lừa đảo’ và ‘Shark’ Bình sắp ra tòa tại Hà Nội

Ba’o Nguoi-Viet

October 25, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Theo dự trù, ngày 26 Tháng Mười, hai bị cáo Phó Đức Nam (tự Mr.Pips) và Lê Khắc Ngọ (tự Mr.Hunter) sẽ ra tòa tại Hà Nội cùng Nguyễn Hòa Bình (tự “Shark” Bình, chủ tịch tập đoàn NextTech và công ty Ngân Lượng).

Hai bị cáo Nam và Ngọ được coi là hai “trùm lừa” với chiêu thức kêu gọi đầu tư trên sàn giao dịch ngoại hối và chứng khoán quốc tế.

Bị cáo Phó Đức Nam, tự Mr.Pips. (Hình: Công An Hà Nội)

Theo báo Dân Trí hôm 25 Tháng Mười, hai nam bị cáo bị quy các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “rửa tiền,” trong lúc bị cáo Bình bị xét xử về tội “rửa tiền.”

Cáo trạng vụ án cho hay, hồi năm 2018, bị cáo Phó Đức Nam quen biết Isik Uran, 42 tuổi, quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ.

Cả hai bàn bạc, thống nhất việc Uran tạo lập, quản lý, điều hành các trang web kết nối với các ứng dụng để giao dịch ngoại hối, chứng khoán quốc tế. Những trang này có tên tiếng Anh giống với tên các sàn giao dịch chứng khoán quốc tế có uy tín để gây nhầm lẫn.

Bị cáo Nam xuất cảnh sang Thổ Nhĩ Kỳ và được đưa đi tham quan, học hỏi mô hình làm việc tại các văn phòng hoạt động kinh doanh chứng khoán quốc tế, forex.

Khi về Việt Nam, bị cáo Nam lập doanh nghiệp, chỉ đạo nhân viên dụ dỗ khách hàng mở tài khoản, nạp tiền đầu tư chứng khoán.

Khách hàng đầu tư trên trang web của đường dây này thực chất là chơi với chủ sàn (admin), nên mỗi khi khách hàng thua là chủ sàn được hưởng tiền.

Đến năm 2019, bị cáo Nam bàn bạc với đồng phạm Lê Khắc Ngọ về việc mở rộng hệ thống sàn giao dịch ở Việt Nam, núp dưới danh nghĩa công ty, trang mạng hoạt động về lĩnh vực “tele maketing” (tiếp thị, quảng bá sản phẩm qua điện thoại), “tele sale” (tư vấn, bán hàng qua điện thoại), tư vấn môi giới chứng khoán, forex.

Chiêu thức của nhóm bị cáo là dụ dỗ, lôi kéo nạn nhân tham gia đầu tư, sau đó chiếm đoạt tài sản của họ.

Hành vi của các bị cáo trong vụ án này được cho là “có quy mô, tổ chức, thực hiện rất tinh vi.”

Trong số các đồng phạm ra tòa còn có bị cáo Ngô Thị Thêu, vợ bị cáo  Lê Khắc Ngọ. Bị cáo Thêu bị bắt tại Bangkok, Thái Lan, và dẫn độ về Việt Nam với cáo buộc “lừa đảo chiếm đoạt tài sản.”

Bị cáo Nguyễn Hòa Bình, tự “Shark” Bình, chủ tịch tập đoàn NextTech và công ty Ngân Lượng. (Hình: Công An Hà Nội)

Còn ông Nguyễn Hòa Bình, 44 tuổi, chủ tịch tập đoàn NextTech, được biết đến với biệt danh “Shark” Bình, do tham gia chương trình “Shark Tank Vietnam” (Thương Vụ Bạc Tỷ) trên đài Truyền Hình Việt Nam (VTV).

Ông Bình bị tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong vụ đầu tư tiền số AntEx. Báo VNExpress hôm 7 Tháng Mười, 2025 cho biết, Công An Hà Nội khám xét trụ sở công ty của ông Bình tại một tòa nhà ở phố Tam Trinh, phường Vĩnh Tuy, trong nhiều giờ và đem đi hàng chục thùng tài liệu.

Phiên tòa dự trù kéo dài trong 15 ngày, với tổng cộng 188 bị cáo và 200 luật sư, hàng trăm người liên quan, nhân chứng… (N.H.K) [kn]