LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Xuyên Sơn

 LỊCH SỬ MỘT NỀN VĂN HỌC – VỀ TỰ LỰC VĂN ĐOÀN…

Ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3 Hà Nội, do MC Lại Văn Sâm điều khiển, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm,

27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.

Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?”

Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:

– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả.

Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương.

– Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.

– Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?

– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.

– Chị muốn gọi cho ai?

– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.

Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp, “cứu bồ” cho cô Tâm.

Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi:

“Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…”

Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:

– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.

– Chắc chắn không anh?

– Chắc trăm phần trăm.

– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.

– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.

– Chị quyết định như thế?

– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.

– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng.

Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam. Như vậy phần thưởng của chị từ năm triệu đồng còn lại một triệu đồng. Nhưng không sao, chúng ta lấy vui làm chính.

Xin cám ơn chị đã tham dự chương trình.

Câu chuyện về cô giáo giảng viên trường Đại học sư phạm thành phố Thái Bình thật ra không có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam bởi lẽ chương trình giáo dục không hề có bốn chữ Tự Lực Văn Đoàn mặc dù đây là một nhóm tác giả quan trọng bậc nhất trong nền văn học hiện đại của Việt Nam.

Điều làm cho Tự Lực Văn Đoàn bị gạt ra khỏi dòng văn học là chủ trương chính trị của nó.

Nguyễn Tường Tam, thủ lãnh của nhóm cũng là một chính khách với quan điểm chính trị đi ngược lại hoàn toàn quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.

  • Tự Lực Văn Đoàn

Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới văn học, nâng cao dân trí, chống cường quyền phong kiến, bài thực dân, trong đó không quên những người cùng khổ và bị áp bức dưới bất cứ hình thức nào.

Sức mạnh của Tự Lực Văn Đoàn bắt đầu từ sự ủng hộ của trí thức tiểu tư sản sau đó lan rộng trong quần chúng bình dân và ảnh hưởng trực tiếp tới nền báo chí An Nam đang có xu hướng hòa nhịp cùng đời sống đô thị.

Chẳng những tại miền Bắc, Tự Lực Văn Đoàn bị cấm xuất hiện nhưng sau năm 1975 ngay cả khi hai miền Nam Bắc đã hoàn toàn thống nhất thì số phận của nó cũng không may mắn gì hơn, vẫn bị vùi dập, che dấu và cấm đoán ngay trong từng tù sách gia đình.

Những tên tuổi như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng, Hoàng Đạo… hoàn toàn biến mất trong mái trường xã hội chủ nghĩa, mãi tới hơn hai mươi năm sau một vài tác phẩm của họ mới được in lại từ những chiếc máy in của nhà nước với nội dung bị cắt xén cho vừa với tầm nhìn của cách mạng vô sản, vốn bất đồng với các tác giả này.

  • Aki Tanaka

Vậy mà từ nước Nhật xa xăm, lại xuất hiện những con người yêu văn hóa Việt Nam trong đó Tự Lực Văn Đoàn được nhắc tới như một dấu son của nền văn học Việt.

Một trong những người ấy là cô sinh viên Aki Tanaka.

Từ Tokyo, Aki Tanaka đã lặn lội tới Việt Nam, tìm hiểu về Tự Lực Văn Đoàn với mục đích học chữ Việt để rồi mê đắm nó đến nỗi bỏ hơn 13 năm theo dõi, nghiên cứu, viết tham luận rồi luận án về Tự Lực Văn Đoàn.

Aki đã bay sang Hoa Kỳ nơi có khá nhiều tư liệu lẫn thân nhân của các tác giả để từ đó thấy yêu mến thêm nhóm tác giả đặc biệt này.

Mặc Lâm có duyên may gặp Aki Tanaka tại California trong lần cô sang Mỹ tìm kiếm thêm tư liệu về nhà văn Khái Hưng, người mà Aki Tanaka đặc biệt yêu thích. Cuộc phỏng vấn ngắn nhằm mang cô sinh viên người Nhật này tới gần với người Việt Nam hơn bởi cô đáng được người Việt mở lòng ra đón nhận như một người bạn chân thành của văn hóa Việt.

Aki Tanaka, trước tiên cho biết thời gian đầu cô tới Việt Nam:

Aki Tanaka:

-Khoảng năm 2000 khi sang Việt Nam tôi đã gặp ông Huy Tưởng thì ông ấy nói nếu Aki muốn học tiếng Việt thì nên tìm đọc Tự Lực Văn Đoàn để biết được tiếng Việt chính xác cho nên tôi đã tìm mua các cuốn sách về Tự Lực Văn Đoàn. Ban đầu thì tôi không hiểu hết, chỉ hiểu sơ sơ thôi nhưng mà đã cảm thấy tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn rất hay cho nên tiếp tục mua sách Tự Lực Văn Đoàn. Ước mơ của tôi là muốn nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn nhưng lúc đó cảm thấy là điều thực tế chỉ là ước mơ thôi.

Mặc Lâm:

-Aki vừa nói là tìm mua những cuốn sách Tự Lực Văn Đoàn trong nước, không biết là sách cũ đã được in từ xưa hay những cuốn vừa được in lại trong nước?

Aki Tanaka:

-Tôi chỉ mua được sách tái bản thôi lúc đó không để ý là sách của nhà nước in hay sách cũ nó có gì khác nhau hay là sự khác biệt như thế nào cho nên chỉ mua được sách tái bản thôi.

Mặc Lâm:

-Sau này khi nghiên cứu sâu về Tự Lực Văn Đoàn thì Aki có thấy sự khác biệt nào giữa bản in gốc và bản in đã được in lại sau năm 1975 và nếu có thì những khác biệt ấy có quan trọng không?

Aki Tanaka:

-Dạ có. Tôi có học với thầy giáo người Nhật thì thầy này sử dụng sách cũ là sách trước 75 còn tôi thì cầm sách tái bản mới.

Cuốn tôi thất vọng nhất là cuốn Đời mưa gió. Khi hai người đọc chung với nhau thì chúng tôi phát hiện sách tái bản và sách gốc nó khác biệt nhau. Tôi thấy nếu mình nghiên cứu văn học Việt Nam mà có sự khác biệt quá nhiều như thế này, mà mình là người phân tích mà tài liệu sai thì rất nguy hiểm cho việc nghiên cứu của mình.

Mặc Lâm:

-Khi Aki sang Mỹ để tìm gặp thân nhân những người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì Aki đã gặp được ai và câu chuyện gặp gỡ ấy như thế nào?

Aki Tanaka:

-Hai năm trước có một buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn tại Mỹ lúc đó gia đình con cháu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tập họp lại cho nên lúc đó tôi gặp được nhiều người nhưng lúc đó tôi không có dịp nói chuyện nhiều với họ. Tháng Ba năm nay tôi có dịp thăm riêng ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của ông Khái Hưng và Nguyễn Tường Thiết là con trai út của ông Nhất Linh. Tôi đã thăm được hai người này.

Mặc Lâm:

-Về ông Nguyễn Tường Thiết là con ruột thì đã đành rồi riêng về ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của Khái Hưng thì Aki có nắm vững những nhận định hay lời kể lại của ông Triệu có chính xác và phù hợp với những gì Aki tìm hiểu không?

Aki Tanaka:

-Aki cũng biết được sơ sơ thôi vì lúc ông Khái Hưng mất thì ông Triệu còn rất nhỏ cho nên ông Triệu không biết gì nhiều.

Tuy nhiên ông Triệu có cung cấp một số tài liệu cho Aki.

Mặc Lâm:

-Trong khi nghiên cứu Tự Lực Văn Đoàn và có dịp gặp gỡ hay thông qua tư liệu thì tác già nào trong nhóm làm cho Aki ấn tượng và yêu thích nhất?

Aki Tanaka:

-Tôi rất thích ông Khái Hưng.

Lý do ông là người có tư tưởng sâu sắc nhất trong Tự Lực Văn Đoàn cho nên đọc tác phẩm của ông thì thấy rất hay.

Mặc Lâm:

-Nhưng rất nhiều người cho rằng ông Nhất Linh là người lãnh đạo của nhóm và là linh hồn của Tự Lực Văn Đoàn … Aki thấy thế nào về tác phẩm của ông?

Aki Tanaka:

-Theo tôi thì Nhất Linh là một người hành động, ông có cái ý tưởng cách mạng tuy nhiên so với ông Nhất Linh thì ông Khái Hưng là người suy nghĩ và theo sự tìm hiểu của tôi thì ông Khái Hưng không quan tâm mấy đến chính trị.

Mặc Lâm:

Trong một thời gian khá dài sống ở Việt Nam Aki quan sát và thấy giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên khoa văn họ có chú ý tới Tự Lực Văn Đoàn hay không?

Aki Tanaka:

-Tôi thấy họ không chú ý đâu.

Tôi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp với cái ý là tôi thích Tự Lực Văn Đoàn nhưng bạn bè đồng nghiệp của tôi lại không biết Tự Lực Văn Đoàn là ai nữa! Bây giờ ở Việt Nam không giảng dạy tác phẩm của nhóm này cho nên không ai biết, không được ai quan tâm đến.

Mặc Lâm:

-Có một thời gian rất dài Aki đã sang Mỹ tiếp xúc với người viết văn hay hoạt động văn hóa…

Aki thấy họ có còn tha thiết khi nói về Tự Lực Văn Đoàn nữa hay không hoặc thời gian đã quá lâu khiến họ dần dần quên Tự Lực Văn Đoàn luôn, không giống như cách đây 40 năm?

Aki Tanaka:

-Do tôi tiếp xúc với nhiều người làm văn nghệ cho nên họ thường bảo rất còn quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn và họ muốn bảo tồn tác phẩm của nhóm này cho con cháu để sau biết được việc làm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho đời sau. Tôi cảm thấy như vậy

Mặc Lâm:

-Aki cũng có bạn bè người Nhật yêu mến văn hóa Việt Nam trong số họ có ai nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn như Aki hay không?

Aki Tanaka:

-Thầy cũ của tôi đã nghỉ hưu rồi ông ấy hồi trước cũng có nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn trong trường đại học của tôi và ông cũng đã dạy Tự Lực Văn Đoàn cho sinh viên Nhật. Nhưng bây giờ vị giáo sư mới không quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn nên không dạy nữa cho nên sinh viên không biết gì về Tự Lực Văn Đoàn nữa

Mặc Lâm:

-Một lần nữa xin cám ơn Aki Tanaka rất nhiều và hy vọng những công trình nghiên cứu của Aki về Tự Lực Văn Đoàn sẽ mang lại nhiều kết quả mong đợi.

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2015-09-05

(share từ Nguyễn Thanh Bình FB, Le Van Quy) 

ảnh: Cô sinh viên người Nhật Aki Tanaka 


 

VŨ NỮ CẨM NHUNG

Xuyên Sơn

 VŨ NỮ CẨM NHUNG

Người Sài Gòn trước đây không mấy ai mà không nghe qua cái tên vũ nữ Cẩm Nhung (1940-2013)

và vụ đánh ghen tạt acxit rùng rợn lần đầu tiên xảy ra tại Việt Nam. Cẩm Nhung là nạn nhân của vụ đánh ghen tàn khốc này khiến dung nhan của cô trở nên dị dạng, trở thành phế nhân tàn tật, suốt cuộc đời còn lại phải lê lết trên đường phố ăn mày ăn xin, cũng chỉ vì Cẩm Nhung là một “hồng nhan họa thủy”. ĐXGK mạn phép đăng lại bài viết sau đây của tác giả Trúc Giang MN tường thuật lại vụ đánh ghen kinh hoàng chấn động Sài Gòn đầu thập niên 60.

“khoảng 8 giờ tối ngày 17-7-1963, một phụ nữ vừa bước ra khỏi nhà, tiến về chiếc taxi chờ sẵn, thì bổng nhiên một người đàn ông xuất hiện, tay bưng một ca acid tạt vào mặt người phụ nữ.

Thiếu nữ thét lên trong đau đớn: “Chết tôi rồi! Cứu tôi với”, rồi ôm mặt ngã quỵ.

Một người đàn ông chạy đến, bế cô lên chiếc taxi chạy vào bịnh viện Sài Gòn cấp cứu.

Sau đó được chuyển đến Bịnh viện Đồn Đất (Grall) vào lúc hai giờ sáng ngày 18-7-1963.

Cái tin vũ nữ Cẩm Nhung bị tạt acid gây xôn xao trong giới thượng lưu thường lui tới các vũ trường.

Báo chí đăng tấm hình rất xinh đẹp của Cẩm Nhung đã gây xúc động và thương tiếc của người Sài Gòn và cả Miền Nam VN.

Đó là vũ nữ tài sắc vẹn toàn nổi danh là “Nữ hoàng vũ trường”, Cẩm Nhung bị đánh ghen bằng tạt acid.

Hai người thân là mẹ và bà vú lần lượt ra đi. Tài sản cạn kiệt.

Không nơi nương tựa nên phải đi ăn mày.

Đặc biệt là người ăn xin nầy mang trước ngực tấm hình cô chụp chung với người yêu là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Cẩm Nhung sinh năm 1940 tại Hà Nội.

Năm 15 tuổi theo gia đình di cư vào Nam, và trở thành vũ nữ chuyên nghiệp năm 19 tuổi.

Con gái 17 tuổi mà trổ mã đều đặn, nói chung là rất đẹp và hấp dẫn.

Cẩm Nhung bỏ học.

Lén đi học khiêu vũ ở một lớp dạy tư, do hai nhạc sĩ và là vũ sư Nguyễn Tình và Nguyễn Thống phụ trách.

Hai nhạc sĩ nổi tiếng với ngón đàn hạ uy cầm (Hawaiian guitar), đã đào tạo hàng chục vũ nữ cho các vũ trường Sài Gòn thời đó.

Nhờ có năng khiếu, mới học được nửa khóa đã tỏ ra nghệ thuật nhảy múa rất xuất sắc.

Vũ sư Nguyễn Tình nói với người tài pán Marie Sang:

“Đôi chân của nó, thân hình gợi cảm của nó rồi đây sẽ có khối đàn ông ngã rạp dưới chân nó mà chết cho coi”.

Tài pán là người quản lý vũ nữ ở vũ trường, còn gọi là “cai gà”. Khách đi solo muốn nhảy với vũ nữ đều phải do người cai gà đó sắp xếp.

Phải mua ticket thời đó là 20$. Mỗi ticket chỉ nhảy được một vài bản mà thôi. Muốn bao thầu cả đêm thì phải mua trọn gói chừng 15 ticket.

Đối với “Nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung, thì khách phải lo lót chị tài pán.

Người nào cho tiền nhiều thì được cuộc. Muốn nhảy với kiều nữ suốt đêm, tới một hai giờ sáng thì khách phải mua trọn gói 15 ticket.

Khách sành điệu cùng vũ nữ rời vũ trường nầy, đến một vũ trường khác vừa khiêu vũ thoải mái, vừa giữ được tiếng tăm về đức hạnh của vũ nữ.

Nhảy được vài ba bản rồi rủ nhau đi ăn khuya như ăn cháo cá ở Chợ Cũ, cơm thố, cơm siu siu, hoặc mì La Cai…

Đó là xong phần một.

Phần còn lại do sự thỏa thuận của hai bên.

Khách nhảy phải típ cho vũ nữ, thời giá lúc đó là 500$.

Đêm vui trọn vẹn đạt “mục đích yêu cầu” thì tốn phí khoảng 1,000$, tương đương với mấy cây vàng. Cẩm Nhung đã qua nhiều vũ trường, và Kim Sơn là điểm chót. Nghe nói Trung tá công binh mua cho Cẩm Nhung một căn nhà trong hẻm bên cạnh vũ trường Au Chalet.

Từ đó, Cẩm Nhung đã bước vào con đường của định mạng, người tài hoa bạc mệnh.

“Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”.

Vụ đánh ghen bằng acid diễn ra ngày 17-7-1963 tại Sài Gòn.

Đó được xem như vụ đánh ghen tàn bạo và rùng rợn nhất chưa từng có ở Việt Nam trước kia.

Sự việc gây chấn động cả Sài Gòn và Miền Nam trong một thời gian.

Báo chí nhận định vụ đánh ghen bằng acid là lần đầu tiên xảy ra trong giới thượng lưu Sài Gòn. Nạn nhân bị đánh ghen bằng tạt acid là vũ nữ vô cùng xinh đẹp tên Cẩm Nhung của vũ trường Kim Sơn.

Báo chí thời đó hết lời ca ngợi nhan sắc và đôi chân dài điệu nghệ của cô vũ nữ gốc Hà Thành. Mệnh danh là “Nữ hoàng vũ trường”.

Tại vũ trường Kim Sơn,

đường Tự Do, Cẩm Nhung phải lòng một khách nhảy hào hoa, dân chơi có tiếng tại các vũ trường là Trung tá công binh Trần Ngọc Thức.

Việc ông Thức cặp kè với Cẩm Nhung đến tai bà vợ là Lâm Thị Nguyệt, biệt danh là Bà Năm Rado, vì bà chuyên bán đồng hồ Thụy Sĩ hiệu Rado.

Máu Hoạn Thư nổi lên.

Người đàn bà dữ tợn nhất, độc ác nhất là lúc lên cơn ghen.

Thuở đó, ở Sài Gòn và cả Miền Nam chưa có vụ đánh ghen nào bằng tạt acid cả.

Thông thường thì đón đường chửi bới về việc giựt chồng, làm nhục nơi công cộng.

Bạo động hơn là “xởn tóc”, cao hơn nữa là “lột quần”.

Bà Lâm Thị Nguyệt thuê người tạt acid vào mặt Cẩm Nhung với giá hai lượng vàng.

Vụ đánh ghen bằng tạt acid diễn ra trong khi bà Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, đang ở nước ngoài.

Nghe được tin, bà vô cùng tức giận. Ngay sau khi về nước, bà Ngô Đình Nhu đến Bịnh viện Grall thăm Cẩm Nhung.

Với tư cách là người lãnh đạo Phong Trào Liên Đới Phụ Nữ Việt Nam, binh vực quyền lợi và sự bình đẳng của phụ nữ, bà thúc đẩy điều tra và lập hồ sơ đưa ra tòa.

Vào tháng 10 năm 1963, tòa kết án Lâm Thị Nguyệt,  vợ của Trung tá Trần Ngọc Thức và người đàn ông tạt acid mỗi người 20 năm tù.

Một người đàn ông liên hệ 15 năm.

Trung tá Trần Ngọc Thức bị cho giải ngũ.

Sau năm 1975, Đại tá Trần Ngọc Thức đi tù cải tạo ở Trại Z.30C, Hàm Tân.

Cẩm Nhung còn giữ được cái mạng nhưng dung nhan kiều diễm bị hủy hoại hoàn toàn. Tháng 9 năm 1963, Cẩm Nhung được đưa qua Nhật chữa trị, hy vọng phục hồi gương mặt như trước kia.

Bác sĩ Nhật bó tay.

Khi Cẩm Nhung về nước thì nền Đệ nhất Cộng Hòa đã sụp đổ.

Bà Ngô Đình Nhu sống lưu vong ở nước ngoài.

Người vũ nữ nổi tiếng một thời đã biến mất trong các sinh hoạt ở Sài Gòn.

Những biến cố chính trị dồn dập khiến cho việc đánh ghen dã man, tàn bạo rơi vào quên lãng và chìm trong quá khứ.

Từ địa vị của một nữ hoàng sống trên đỉnh cao danh vọng, rực rỡ dưới ánh đèn màu và điệu nhạc, phong lưu công tử bay bướm đa tình và các thương gia giàu sụ săn đón, bổng nhiên trở thành thân tàn ma dại, ngậm đắng nuốt cay cho số phận hẩm hiu,

Cẩm Nhung lao vào con đường đập phá, rượu chè, nghiện ngập, sa đọa…

Năm 1964 người mẹ qua đời. Cẩm Nhung sống với bà vú tên Sọ.

Tiền bạc, nữ trang lần lượt từng bước ra đi.

Bán căn nhà 200 lượng vàng và cùng với bà vú ra ở thuê nhà trọ. Bà vú Sọ qua đời.

Cẩm Nhung tật nguyền.

Không nghề nghiệp, không nơi nương tựa nên chỉ có con đường là đi ăn xin.

Trước Tết năm 1969, người ăn mày xuất hiện ở chợ Bến Thành. Mặt mày dị dạng, đeo trên ngực tấm hình chụp chung với người tình là Trung tá Trần Ngọc Thức. Cô lê bước trên các con đường Sài Gòn, trên hành lang của Thương Xá Tax.

Rồi đến những Chợ Bà Chiểu, Chợ Bình Tây…và sau cùng về Miền Tây ở bến bắc (Phà) Mỹ Thuận, Vĩnh Long.

Hành khách qua lại trên bến phà Mỹ Thuận cho biết Cẩm Nhung không còn mang tấm hình chụp chung với người tình nữa, mà chỉ mang tấm hình của bản thân người ăn mày.

Chuyện kể rằng, một hôm có mấy người lạ mặt đến trao cho người ăn xin một số tiền và giật lấy tấm hình chụp chung hai người.

Ở Sài Gòn xuất hiện bản nhạc “Bài Ca Cho Người Kỹ Nữ” của hai nhạc sĩ Nhật Ngân và Duy Trung.

Các tác giả viết bài hát này vì xót thương số phận của cô vũ nữ Cẩm Nhung.

Bài hát có đoạn:

Ta tiếc cho em trong cuộc đời làm người

Ta xót xa thay em là một cánh hoa rơi

Loài người vô tình giẫm nát thân em

Loài người vô tình giày xéo thân em

Loài người vô tình giết chết đời em…

Trong hồi ký “Đời 1998”,

(nhà thơ) Nguyên Sa thuật lại nhiều lần ông và nhà văn Mai Thảo đến nhà chở Cẩm Nhung đi vũ trường Arc en Ciel, ăn kem và hóng mát ở Bến Bạch Đằng.

Lần sau cùng ông gặp Cẩm Nhung như sau:

“Lần chót tôi gặp lại người phụ nữ ấy, Mai Thảo dừng xe có phần gấp gáp, không có nét bay bướm nào. Anh đang phóng nhanh bỗng thắng két, táp xe vào lề, đậu xe bên phía tay mặt đường Pasteur.

Mai Thảo ra khỏi xe không một lời giải thích.

Tôi không hỏi, xuống theo ngay, linh cảm có chuyện gì khác lạ. Chúng tôi băng qua con lộ xe chạy một chiều vun vút.

Mai Thảo dừng lại trước một người hành khất, một người phụ nữ, móc trong túi ra một nắm giấy bạc, anh chuyển nắm giấy bạc sang tay kia, tìm kiếm thêm, tôi không nhận ra người hành khất là ai, chỉ thấy mặt loang lổ những vết cháy nổi lên những mảng thịt nửa đỏ nửa tím sậm, dị dạng, hai mắt vết cháy càng rõ, lòng trắng và lòng đen bị hủy hoại lổn nhổn.

Bạn tôi bỏ nắm tiền vào chậu bằng nhôm, những tờ giấy chạm vào tay người đàn bà hành khất, dường như nàng biết ngay người cho tiền là ai, sự va chạm của bàn tay vào những tờ giấy bạc cho nàng biết ngay là ai, ai có thể cho nàng nhiều tờ giấy bạc như thế, nàng ngẩng mặt lên gọi “anh”.

Mai Thảo vỗ nhẹ vào bàn tay nàng có tiếng nói an ủi bằng xúc giác, không có âm thanh nào được phát lên.

Tôi muốn nói lên tên người đàn bà hành khất.

Tôi chưa kịp nói thì Mai Thảo kéo tôi băng qua đường.

Tôi ngồi vào trong xe, nói lên ngay tên nàng.

Mai Thảo gật đầu.

Cẩm Nhung.

Tên người vũ nữ thay quần áo sau tấm bình phong mỗi lần Mai Thảo và tôi đến đón nàng đi làm hay đi ăn, đi ra Pointe des Blagueurs (Bến Bạch Đằng) hóng mát.

Cẩm Nhung bị tạt át xít trong một trận đòn ghen có sức mạnh của tiền hô hậu ủng, có sự tàn bạo mới của thế kỷ khoa học.

Tôi nhìn bạn tôi ngậm ngùi:

-Cẩm Nhung!

Mai Thảo nhìn về phía trước mặt, như nói một mình, rất khẽ:

-Nhung đấy!”

Một ngày đầu năm 2013, tại một xóm trọ nghèo ở thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang), nơi những người ăn xin, bán vé số, bốc vác và dân tứ xứ đến thuê ở trọ, có một đám ma nghèo.

Một bà lão bán vé số đã qua đời vì già yếu, bệnh tật. Không một người thân, bà lão được những người đồng cảnh ngộ lo cho một quan tài loại rẻ tiền, rồi đưa ra nghĩa địa…

Sẽ không có chuyện gì đáng nói về đám ma nghèo của bà lão vô gia cư, nếu như người quá cố nói trên không phải là vũ nữ Cẩm Nhung, đã lừng danh ở nửa thế kỷ trước.”

Nguồn fb Thầy Lê Văn Thông 


 

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Nghệ Lâm Hồng

Jocelyn Minh Tue

11 TUỔI BỊ BỎ LẠI Ở BẮC MỸ THUẬN VỚI MỘT Ổ BÁNH MÌ, 50 NĂM SAU VẪN SỐNG NHỜ TÌNH NGƯỜI

Năm 11 tuổi, khi một chân đã teo liệt, không thể tự đi lại, bà Nguyễn Thị Thủy được người cậu chở đến khu vực bắc Mỹ Thuận. Người cậu mua cho bà một ổ bánh mì rồi nói sẽ đi mua đồ Tết và quay lại đón.

Nhưng ông không trở lại.

Đứa trẻ mồ côi cha mẹ, không thể tự đi tìm người thân, chỉ biết ngồi một chỗ chờ đợi rồi bật khóc. Đến khi những người xung quanh nói rằng bà đã bị người thân bỏ lại, cô bé mới hiểu chuyến đi ấy không phải để mua quần áo Tết.

Đó là ngày bà mất đi mái nhà của mình.

MỘT Ổ BÁNH MÌ VÀ CUỘC ĐỜI BỊ BỎ LẠI

Bà Thủy quê Vĩnh Long, mồ côi cha mẹ từ nhỏ và sống nhờ bà cố. Từ bé, bà bị suy dinh dưỡng, một bên chân teo nhỏ, gần như không thể đứng và đi lại bình thường.

Sau khi bà cố qua đời, bà sống cùng cậu mợ. Nhưng theo lời kể của bà, vì không muốn tiếp tục chăm sóc một đứa trẻ khuyết tật, người thân đã tìm cách đưa bà đi.

Tại khu vực bắc Mỹ Thuận, người cậu để bà lại với một ổ bánh mì và lời hứa sẽ quay lại.

Bà chờ từ sáng đến gần trưa.

Nhưng người cậu không bao giờ quay lại nữa.

May mắn, một người chạy xe lam nhìn thấy cô bé đang khóc đã dừng lại. Ông nghe câu chuyện rồi đưa bà về bến phà, nhờ những người làm việc ở đó giúp đỡ.

Từ đó, cuộc đời cô bé 11 tuổi bắt đầu gắn với những bến phà, vỉa hè và những mái hiên tạm bợ.

KHÔNG CÙNG MÁU MỦ NHƯNG KHÔNG AI BỎ RƠI

Ban ngày, bà ngồi với chiếc nón lá trước mặt để xin tiền ăn. Người cho vài đồng, người cho hộp cơm, người cho quần áo.

Đêm xuống, bà tìm một góc gần phòng vé hoặc vỉa hè để ngủ.

Những người làm việc tại bến phà thương hoàn cảnh của cô bé nên góp tiền đưa bà đi chữa chân. Bà được tập vật lý trị liệu, nẹp chân và tập đứng.

Từ một đứa trẻ chỉ có thể lết trên nền đất, bà dần bước được những bước đầu tiên.

“Nhờ người dưng hết đó con. Không có người ta chắc cô đâu có đi được tới giờ.”

Sau này, bà có một người đàn ông thương hoàn cảnh và hai người nương tựa nhau sống dưới gầm cầu Chợ Mới. Nhưng khi ông bị tai biến và được con cái đón về chăm sóc, bà lại trở về cuộc sống một mình.

HƠN 20 NĂM DƯỚI GẦM CẦU

Ở tuổi 65, bà Thủy vẫn sống trong một khoảng trống sát mố cầu.

Một chiếc giường gỗ, vài chiếc nồi, thùng nước, quần áo và những món đồ được người khác cho là gần như toàn bộ tài sản của bà.

Mỗi ngày, nếu chân còn đỡ đau, bà chống chân ra chợ. Người bán hàng quanh khu vực đã quen với cô Ba Thủy. Người cho rau, người cho trái cây, người để lại phần thức ăn.

Có ngày bà xin được vài chục nghìn đồng. Có ngày trời mưa hoặc chân đau, bà chỉ ở lại dưới gầm cầu.

“Có gì ăn đó. Có tương thì ăn tương, có rau thì luộc rau.”

Giờ đây, đôi mắt bà đã mờ đến mức người đứng trước mặt chỉ còn là một bóng hình. Hai chân thường xuyên sưng đau, việc đi lại ngày càng khó khăn.

Thế nhưng bà vẫn cố tự giặt quần áo, nấu ăn và sắp xếp mọi thứ quanh mình.

“HẬN LÀM CHI CON ƠI…”

Hơn 50 năm đã trôi qua, khi được hỏi có còn giận người cậu đã bỏ mình hay không, bà chỉ lắc đầu.

“Hận làm chi con ơi. Cuộc đời mình số phận nó như vậy rồi, hận cũng đâu đổi lại được gì đâu.”

Nếu một ngày gặp lại, bà nói mình cũng không muốn trách móc.

“Gặp thì mừng, rồi bỏ qua hết.”

Ở tuổi 65, bà không mong nhà cao cửa rộng, cũng chẳng mong một cuộc sống sung túc.

Điều bà mong chỉ là mỗi ngày có hai bữa cơm, dành dụm được một ít tiền để khi chân đau còn có tiền mua thuốc.

Và bà đã nghĩ đến ngày cuối đời:

“Chừng nào cô mãn phần, chỉ nhờ bà con chòm xóm ở đây chôn cất giùm, hoặc đem đi thiêu. Cô không dám phiền ai.”

Phía trên đầu, xe cộ vẫn ngày ngày chạy qua cầu.

Còn phía dưới, người ta vẫn thấy một bà cụ 65 tuổi với đôi mắt đã mờ, đôi chân đau nhức, sống qua ngày nhờ sự giúp đỡ của những người xa lạ.

Hơn 50 năm trước, bà là một cô bé 11 tuổi bị bỏ lại bên bắc Mỹ Thuận với một ổ bánh mì.

Hơn nửa thế kỷ sau, thứ giữ bà ở lại với cuộc đời không phải là người thân ruột thịt, mà chính là lòng tốt của những người xa lạ.


 

TỐ HỮU VÀ CÁI CHẾT CỦA NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

TỐ HỮU VÀ CÁI CHẾT CỦA NHÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG

Vũ Hoàng Chương (5 tháng 5 năm 1916 – 6 tháng 9 năm 1976) là một nhà thơ người Việt Nam, với văn phong được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông Phương. Ông được xưng tụng là “thi bá Việt Nam” và cũng là một trong 100 tác giả trên thế giới được Ủy ban Nobel văn học chọn lọc để đề cử cho giải Nobel văn học năm 1972.

Ông sinh tại Nam Định, nguyên quán tại làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, nay là huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên.

Thuở nhỏ, ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học tiểu học tại Nam Định. Năm 1931 ông nhập học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đỗ Tú tài năm 1937.

Năm 1938 ông vào Trường Luật nhưng chỉ được một năm thì bỏ đi làm Phó Kiểm soát Sở Hỏa xa Đông Dương, phụ trách đoạn đường Vinh – Na Sầm.

Năm 1941, ông rời Sở hỏa xa đi học Cử nhân toán tại Hà Nội, rồi lại bỏ dở để đi dạy ở Hải Phòng. Trong suốt thời gian này, ông không ngừng sáng tác thơ và kịch. Sau đó trở về Hà Nội lập “Ban kịch Hà Nội” cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính. Năm 1942 đoàn kịch công diễn vở kịch thơ Vân muội tại Nhà hát Lớn. Cũng năm đó ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và hai người thành hôn năm 1944.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông về Nam Định và cho diễn vở kịch thơ Lên đường của Hoàng Cầm. Kháng chiến toàn quốc nổ ra, Vũ Hoàng Chương tản cư cùng gia đình về Thái Bình, làm nghề dạy học. Đến 1950, gặp lúc quân Pháp càn đến ruồng bắt cả nhà, ông bỏ miền quê, hồi cư về Hà Nội nơi dạy toán rồi chuyển sang dạy văn và làm nghề này cho đến 1975. Năm 1954, Vũ Hoàng Chương di cư vào Nam, tiếp tục dạy học và sáng tác ở Sài Gòn.

Vũ hoàng Chương với Tố Hữu là bạn nhưng Vũ Hoàng Chương lớn hơn Tố Hữu vài tuổi. Năm 1946 Huy Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ kháng chiến, dần lên chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ Hoàng Chương không theo kháng chiến, sau hiệp định Genève năm 1954 di cư vào Saigon tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.

Năm 1976, Huy Cận được cử vào Sài Gòn cùng với một phái đoàn gồm có Tố Hữu, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Vũ Đình Liên, …, với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.

Phái đoàn được Thanh Nghị ký giả (một cộng sản nằm vùng) tiếp đón và tổ chức một đêm “họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ Hoàng Chương đã được mời và ông đã tham dự.

Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố Hữu đã làm để khóc Stalin chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp với Tố Hữu:

“Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương Ông thương mười”.

Hoài Thanh mời Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ của Miền Nam góp ý. Vũ Hoàng Chương đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái “sáng giá” của đêm họp “văn nghệ đặc biệt” này. Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương:

“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.

Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được “đóng khung” tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao… Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép…

Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việt Nam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việt Nam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca. Nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việt Nam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?

Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài “Đời Đời Nhớ Ông”, Tố Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin”

Chắc chắn là không có một bà mẹ Việt Nam nào, kể cả Bà Tố Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ. Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm. Đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtn Nam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm”.

Lời phê bình của Vũ Hoàng Chương đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ Hoàng Chương, có người đã yêu cầu ông nói về thơ và sự thực mà ông đã đưa ra để chê Tố Hữu và cùng nghĩ rằng Vũ Hoàng Chương khó lòng mà đưa ra một luận cứ vững vàng được, nhưng ông vẫn ôn tồn phát biểu:

“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.

“Tôi xin nhắc, sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca. Vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống”.

Tố Hữu không ngờ bị Vũ Hoàng Chương chê bai là nịnh hót Stalin nên bực tức. Sau đêm đó, Vũ Hoàng Chương đã bị công an nửa đêm ngày 3/4/1976, tràn vào nhà bắt giam tại khám Chí Hoà nhốt chung với bác sỹ (cựu Thủ Tướng VNCH).

Trong nhà tù bị hành hạ, ăn uống thiếu thốn, bệnh không có thuốc uống nên ông kiệt sức, đến khi quá tiều tụy thì được thả về. Chỉ vài ngày sau đó, ngày 6/9/1976 thì ông qua đời… Việt Nam đã mất đi một thi nhân tài hoa, bởi bàn tay sắt máu của một ai đó mà chúng ta rất khó tìm ra chứng cứ trực tiếp.

(Quê Mẹ số 63/64)

 


 

HAI TẦNG LUẬT PHÁP VIỆT NAM: NGỌC TRINH NGỒI MÔ TÔ SAI TƯ THẾ PHẢI ĐI TÙ, SỸ CƯƠNG NGỒI Ô TÔ TÔNG CHẾT NGƯỜI VẪN KHÔNG SAI

 Chân Trời Mới Media

HAI TẦNG LUẬT PHÁP VIỆT NAM: NGỌC TRINH NGỒI MÔ TÔ SAI TƯ THẾ PHẢI ĐI TÙ, SỸ CƯƠNG NGỒI Ô TÔ TÔNG CHẾT NGƯỜI VẪN KHÔNG SAI

Ở cái xứ sở nơi khẩu hiệu mọi người bình đẳng trước pháp luật được treo khắp nơi như tờ giấy lau bàn, công lý thực chất chỉ là một món hàng phân cấp rõ ràng theo thẻ đảng và ghế ngồi.

Ngọc Trinh lái mô tô sai tư thế trong khu nội bộ Thủ Thiêm. Không tông ai, không bỏ chạy, không làm đổ một giọt máu. Thế mà bị quy cố ý, đề nghị 2–7 năm tù, cuối cùng được “khoan hồng” một năm treo, hai năm thử thách. Tòa án nghiêm khắc lắm. Luật là luật. Không ai được đứng trên pháp luật.

Còn ông nghị Cương? Lái ô tô sai làn ngay trung tâm Hà Nội, tông chết một người đi xe máy. Kết quả là miễn trách nhiệm hình sự. Không án, không treo, không thử thách. Chỉ cần là ông nghị, là đồng chí, là người của hệ thống thì mạng người cũng chỉ là chi phí giao thông. Tòa án lúc này bỗng nhiên trở nên nhân văn, xem xét hoàn cảnh, cân nhắc đóng góp.

Thật là một hệ thống đầy tính đảng. Người không có ghế thì bị soi đến tư thế ngồi xe. Người có ghế thì được miễn đến cả tội giết người vì bất cẩn. Đây không còn là bất công thông thường nữa. Đây là bất công được thiết kế, được vận hành, được bảo vệ bằng chính bộ máy nhà nước.

Luật pháp Việt Nam không phải là công cụ bảo vệ công lý. Nó là công cụ bảo vệ quyền lực. Nó là cái roi để răn đe những kẻ không biết điều, và là cái dù để che cho những kẻ biết đứng đúng hàng ngũ. Ngọc Trinh không biết đứng đúng hàng nên phải nhận án. Ông nghị biết đứng đúng hàng nên được tha.

Và cái hay nhất là sau mỗi vụ việc như thế này, người ta vẫn cứ lớn tiếng hô không ai đứng trên pháp luật. Thật ra thì có. Rất nhiều người đang đứng trên pháp luật. Họ đứng trên nó mỗi ngày, ngồi trên nó mỗi khi lái xe, và thỉnh thoảng còn dùng nó để đè những kẻ phía dưới xuống.

Đó chính là công lý kiểu Việt Nam, công lý có tầng, có hạng, có thẻ. Và tầng dưới thì đừng bao giờ ảo tưởng rằng luật là để bảo vệ mình.

#luatphap #ngoctrinh #nguyensycuong #congly #chantroimoi 


 

75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

Xuyên Sơn

  75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

– Vũ Thế Khôi

75 năm trước, vào 14h ngày 23 – 08 – 1945, một nhóm người có vũ trang đi xe ô-tô ập vào ấp Hoa Đường trên bờ sông An Cựu, “mời” cụ Phạm Quỳnh đi gặp chính quyền Cách mạng Thừa Thiên-Huế.

Cụ Phạm không bao giờ trở về nữa.

Một thời gian dài có những lời biện bạch rằng cụ Phạm bị một nhóm dân quân manh động sát hại.

May thay, 8 năm trước đại tá TS Nguyễn Văn Khoan đã viết ra sự thật trong sách do Nxb CAND in ấn: “Báo “Quyết Thắng”, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 ra ngày 9 – 12 – 1945 cho biết: “cả 3 tên Việt gian đại bợm (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân) bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền, 2 giờ (chiều) ngày 23 – 8 và đã bị Uỷ ban khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”.

Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế bấy giờ là Tố Hữu…

“Vậy tại sao Hồ Chủ tịch gọi cụ Phạm Quỳnh là “học giả” và viết thư mời ra cộng tác với Cách mạng?

Nguyễn Cảnh Thuỵ: Lúc chuẩn bị được “mời đi”, cụ còn có vẻ phấn khởi, dặn các con lấy hết vải đỏ ra may cờ cho Việt Minh. Khi bị gọi đi, các con nhắc cụ chưa uống thuốc, cụ bảo chốc về uống.

Cụ có ngờ đâu họ tóm cụ đi… thủ tiêu(!)

________________

Tôi đi cải táng thầy tôi

– Phạm Tuân*

…Năm 1948, anh Bích tôi – (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm.

Phần vì địa điểm là một nơi xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh.

Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…

Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

Mãi cho đến năm 1956… bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi!

Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi.

Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện.

Được biết ông Võ Như Nguyện ( tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền,Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối.

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên,

địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số.

Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng.

Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người.

Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua.

Cụ hỏi toán dò tìm:

“Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”.

Thì ra có hai mương…

Cụ già nói tiếp:

“Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng.

Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần.

Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương,

thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng.

Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…

Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé.

Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối.

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…

Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm.

Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ.

Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu.

Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu.

Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…

Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy…

Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước.

Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn.

Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt.

Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và

Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn…

Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…

Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.

__________

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay

(tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 và Việt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005).

* Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, định cư tại Mỹ.

Nguồn fb Nguyễn Xuân Diện.

https://www.facebook.com/photo?fbid=2369914379978186… 


 

“NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ…CHỜ…CHẾT”

Xuyên Sơn

 “NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ…CHỜ…CHẾT”

Ở Việt Nam, cứ nói đến chính trị thì bị cho là rảnh hơi và nếu bạn không cùng ý kiến với nhà nước, bạn sẽ bị xếp vào những thành phần sau :

– Nếu là đảng viên thì bị cho là: đạo đức suy thoái.

– Nếu bạn là trí thức thì bị cho là: bất mãn với thời cuộc

– Nếu là kẻ nghèo thì bị cho là: bị kẻ xấu kích động

– Nếu là kẻ ít học thì bị cho là: bị dụ dỗ lợi dụng

– Lên facebook bày tỏ quan điểm : bạn sẽ bị cho là kẻ phản động ..

Thế đấy, tùy theo “khẩu nghiệp” mà bạn nhận được danh hiệu do họ phong tặng.

Và khi tôi và những người khác lên tiếng để mong có một tương lai tốt đẹp cho đất nước này, thì bạn nói: “sống ở xã hội này thì phải chấp nhận như thế, có nói cũng chẳng làm được gì.”

Vậy:

– Khi nhà bạn có người gần chết, đưa vào bệnh viện mà chưa có tiền đóng viện phí, người ta không cứu, bạn đừng khóc vì khóc cũng chẳng thay đổi được gì.

– Nhà bạn có người bị tai nạn, xung quanh người ta đi lại, chỉ ném một cái nhìn vào chỗ người thân bạn đang nằm chổng vó ra đấy mà chẳng thèm làm gì hơn,

bạn đừng trách sao họ thờ ơ vô cảm.

– Con cái bạn bị những kẻ vô loài hãm hiếp, mà pháp luật vẫn để những kẻ đó nhởn nhơ, bạn đừng kêu oan vì kêu cũng chẳng làm được gì.

– Bạn ra đường mà có bị cướp giật hay bị trộm mất xe ngay trước mặt,

thì tốt nhất bạn hãy im miệng vào, vì có kêu thì cũng không ai nghe thấy đâu.

– Bạn bị công an bắt xe không lý do thì cũng nên vui vẻ mà nộp phạt, ấm ức cái gì?

– Sau này đất đai nhà bạn có bị quy hoạch và được trả giá 200k/m2, thì cũng đừng có kêu gào làm gì, không ai quan tâm việc nhà bạn đâu.

– Bạn đi khám mà chẳng may mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, thì cũng nên vui vẻ mà chấp nhận sống nốt cuộc đời còn lại, vì ở cái xã hội thờ ơ tràn lan thực phẩm bẩn này mỗi ngày có khoảng 300 người chết vì bệnh ung thư chứ không riêng gì bạn đâu.

…… Và còn nhiều điều khốn nạn nhưng rất đỗi bình thường, ở cái đất nước này, khi xảy đến với bạn thì tốt nhất bạn cũng nên ngậm chặt miệng vào, vì xã hội VN nó thế!

Người Việt Nam sinh ra để làm gì?

Người Việt Nam sinh ra để …chờ c.hết!

Và bây giờ hãy tiếp tục im miệng để  sắp phải làm nô lệ cho Tàu ngay trên chính quê hương mình.”

Nguồn fb Nguyen Minh 


 

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Cát Lái, Rạch Chiếc, Gò Vấp, Hàng Xanh, Thanh Đa… là những địa danh quen thuộc ở Sài Gòn nhưng được cho là bị viết sai so với ban đầu.

Hàng Xanh

Là nút giao thông lớn ở cửa ngõ phía Đông của TP HCM, Hàng Xanh là địa danh rất quen thuộc với người Sài Gòn. Vùng Hàng Xanh, bao gồm một phần địa bàn các phường 24, 25 (quận Bình Thạnh), còn có chợ Hàng Xanh, ngã tư Hàng Xanh.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả Nguyễn Thanh Lợi (trong quyển Sài Gòn – Đất và Người) qua nhiều tài liệu cũ, địa danh này viết đúng phải là Hàng Sanh. Theo sách Đại Nam quốc âm tự vị của nhà ngôn ngữ học Huỳnh Tịnh Của, Sanh “là thứ cây lớn, nhánh có tua, về loại cây da, mà lá nhỏ”. Ngày trước, dọc theo hai bên đường nay là Bạch Đằng có 2 hàng cây sanh, dân thường gọi là Hàng Sanh. Nên có thể kết luận, Hàng Xanh do đọc chệch từ Hàng Sanh mà ra.

Cát Lái

Theo các nhà nghiên cứu, phải gọi là bến phà Các Lái thì mới đúng với nguồn gốc tên gọi ban đầu, còn tên gọi Cát Lái là vô nghĩa. Ảnh: H.C

 Hiện, tại TP HCM có các địa danh: ngã ba Cát Lái, phường Cát Lái, bến phà Cát Lái, sông Cát Lái… (quận 2) và rạch Cát Lái Lớn, rạch Cát Lái Bé (xã Lý Nhơn, huyện Nhà Bè). Theo các nhà nghiên cứu viết như thế là vô nghĩa.

Nguyên các vùng kể trên ngày xưa lái buôn tụ về buôn bán nên dân gian gọi là vùng của các lái. Trong dân gian vẫn còn lưu truyền những bài vè về các lái buôn ghe bầu từ miền Trung vào Gia Định với hai bài Vè Lái vô và Vè Lái ra. Vì vậy phải viết là Các Lái mới có nghĩa.

Gò Vấp

Là tên gọi của quận vùng ven tại TP HCM. Theo các nhà nghiên cứu, đúng ra phải là Gò Vắp vì đây vốn là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương gần đó.

Thanh Đa

Người Sài Gòn từ lâu đã quen với các địa danh như Kinh Thanh Đa, cư xá Thanh Đa, chợ Thanh Đa… ở phường 26 và 27 của quận Bình Thạnh. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, địa danh này có nguồn gốc từ tên gọi Thạnh Đa.

Thôn Thạnh Đa thuộc tổng Bình Trị (sau thuộc Bình Trị Thượng), huyện Bình Dương, có từ năm 1818. Trong sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Monographie de la provine de Gia Định (Chuyên khảo về Gia Định, xuất bản năm 1902 tại Sài Gòn) đều có ghi tên thôn Thạnh Đa. Về sau, do bỏ dấu khi in trên bản đồ thời Pháp, nên địa danh Thạnh Đa biến thành Thanh Đa như hiện nay.

Rạch Chiếc

Cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ phía Đông TP HCM. Ảnh: H.

Rạch Chiếc là con rạch nằm trên địa bàn phường Phước Bình (quận 9) nối sông Sài Gòn với sông Đồng Nai ở phía đông bằng tắt Đồng Nhiên, bắt đầu từ rạch Trao Trảo đến sông Sài Gòn, cắt ngang xa lộ Hà Nội, dài khoảng 6.000 m. Cầu Rạch Chiếc nổi tiếng với trận đánh giải phóng Sài Gòn hồi tháng 4/1975.

Theo các nhà nghiên cứu địa danh học, viết Rạch Chiếc là không đúng mà phải là Rạch Chiết, do xưa rạch này có nhiều cây chiết là “thứ cây mọc hoang, thấp nhỏ, lá lớn, hay mọc hai bên mé sông, thường ra lá non, mùi chát chát có thể ăn như rau”. Nếu viết là Rạch Chiếc thì không có ý nghĩa.

Chí Hòa và Kỳ Hòa

Ở TP HCM hiện tồn tại đồng thời hai địa danh được cho là giống nhau đó là Chí Hòa và Kỳ Hòa. Theo các nhà nghiên cứu, Chí Hòa nguyên là tên một làng ở Gia Định, đã được lấy để đặt cho một đại đồn của quân đội ta xây nên để chống Pháp. Khi quân Pháp dồn lực lượng tấn công, đại đồn Chí Hòa thất thủ.

Về địa điểm của đại đồn Chí Hòa, nhà văn Sơn Nam cho biết: “Tướng Tôn Thất Hiệp rồi tướng Nguyễn Tri Phương đều chọn lựa cuộc đất nằm trong địa phận làng Chí Hòa Phú Thọ dọc theo rạch Nhiêu Lộc, lấy con đường đi Tây Ninh (Cách Mạng Tháng Tám ngày nay) làm trung tâm để xây đồn lũy…”. Như vậy, Chí Hòa ban đầu là tên làng, mà hiện nay vẫn còn tên gọi như đình Chí Hòa, nhà thờ Chí Hòa… Về sau, Chí Hòa đã trở thành tên một cái đồn được xây dựng tại đó để chống Pháp…

Còn tên Kỳ Hòa xuất hiện vào thời điểm nào? Theo tác giả Trần Trọng Kim trong quyển Việt Nam Sử Lược, thì Kỳ Hòa là cách gọi của người Việt, Chí Hòa là cách gọi của người Pháp. Nhưng tác giả lại không nêu cứ liệu. Còn theo nhà văn Sơn Nam trong quyển Địa danh TP HCM thì Chí Hòa mới là âm gốc, Kỳ Hòa là cách gọi sai lạc vì ngày nay còn địa danh Chí Hòa và ở Nam Bộ không có địa danh mang yếu tố Kỳ ở trước.

Bên cạnh các địa danh xưa, nhiều tên đường tại TP HCM hiện cũng bị viết sai mà các nhà nghiên cứu, nhà văn như: Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa… đã đề cập đến, hoặc đã được nêu lên trong những công trình biên soạn về Sài Gòn – TP HCM mấy chục năm qua.

Chẳng hạn như đường Sương Nguyệt Ánh ở quận 1, đúng ra phải là Sương Nguyệt Anh. Tuy nhiên, bao lâu nay trên các biển hiệu cũng như trong giao dịch, làm việc, người ta vẫn ghi là “Ánh” thay vì “Anh”.

Nguyên ban đầu chỉ có hai chữ Nguyệt Anh (con gái thứ 5 của cụ Nguyễn Đình Chiểu có sắc đẹp và tài làm thơ) đến sau ngày chồng qua đời bà thêm chữ Sương tức “người đàn bà góa chồng” đứng trước để thành biệt hiệu Sương Nguyệt Anh. Bà làm chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn năm 1918 là tờ Nữ giới chung (tiếng chuông của giới nữ).

Đường Lương Nhữ Học nằm trên địa bàn quận 5, thuộc khu vực Chợ Lớn, TP HCM cũng được cho là bị viết sai. Tên chính xác của vị danh nhân này phải là Lương Như Hộc – là quan, danh sĩ thời hậu Lê. Ông cũng là người hai lần làm sứ giả sang Trung Quốc và có công truyền lại nghề khắc bản gỗ in cho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục (tỉnh Hải Dương ngày nay) khiến nghề in nơi đây trở nên phát triển. Chính vì vậy ông được tôn xưng là “ông tổ” nghề khắc ván in.

Đường Lương Nhữ Học ở quận 5, TP HCM được cho là đang viết sai. Ảnh: H.C

Một con đường khác cũng bị viết sai là Kha Vạn Cân. Kỹ sư Kha Vạng Cân, nguyên là Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn là một nhân sĩ trí thức nổi tiếng của miền Nam, từng tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Vậy mà không biết vì lý do gì khi đặt tên ông cho một con đường lớn ở quận Thủ Đức, người ta lại viết thành Kha Vạn Cân.

Đường Trương Quốc Dung trên địa bàn quận Phú Nhuận cũng được đặt tên không chính xác vì đúng phải là Trương Quốc Dụng. Trong lịch sử Việt Nam không có vị danh nhân nào như tên con đường đang có. Chỉ có ông Trương Quốc Dụng, là nhà văn, nhà sử học, nhà thiên văn nổi tiếng của Việt Nam và là người có công chấn hưng lịch pháp thời nhà Nguyễn.

Theo Trung Sơn

From: taberd & NguyenNThu


 

Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Thoibao.deTam Truong Nguyen

 Mọi thấy cậu con trai của bà bộ trưởng bộ giáo dục có cái nét giống ông Tổng Bí thư Tô Lâm không ?

Lan Hue

 Tối qua xem bản tin VTV, tôi đã ngồi lặng đi rất lâu. Không phải vì bất ngờ, mà vì cái cảm giác bất lực quen thuộc ấy lại quay về.

Một cô gái 18 tuổi, vừa đứt lìa chân trên phố Nguyễn Huy Tự vào ngày 30/5/2025, đã chết sau một tuần trong bệnh viện. Cô chết ngay trước kỳ thi tốt nghiệp, cái tuổi mà đáng lẽ ra cô phải được bước vào phòng thi, chứ không phải nhà tang lễ.

Người cầm lái chiếc BMW X3 30H-369.09 đi ngược chiều, tông thẳng vào cô, tối qua được VTV và Công an Hà Nội xác nhận là ông Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

Và rồi câu chốt của bản tin: Ông Cương được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự vì “thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả và gia đình nạn nhân có đơn xin miễn”.

Tôi nghe xong, chỉ thấy tim mình thắt lại. Chúng ta đã từng tìm hiểu luật và luật pháp ghi rằng, trong một vụ tai nạn chết người do đi sai làn, khởi tố không phụ thuộc vào đơn bãi nại. Đơn bãi nại chỉ là tình tiết giảm nhẹ. Luật sư nào cũng nói vậy. Nhưng hóa ra, luật đó chỉ đúng khi người gây tai nạn là dân thường chăng?.

Còn khi người gây tai nạn là một nguyên Đại biểu Quốc hội, chồng của một người hiện đang giữ chức Bộ trưởng, thì luật lại có một lối rẽ khác: lối rẽ mang tên “miễn truy cứu”.

Tôi bất lực vì tôi nhớ lại hơn một năm qua, báo chí chỉ dám viết tắt “N.S.C.”, không dám đăng ảnh, không dám gọi tên. Tôi bất lực vì tôi thấy những bó hoa trắng người dân đặt ở gốc cây số 55 Nguyễn Huy Tự bị dọn sạch dưới sự giám sát của công an, phải có người đứng canh. Đến một nén nhang, một bông hoa tưởng niệm cho người đã khuất cũng không được yên.

Và tôi mất niềm tin, không phải vì một cá nhân được miễn tội, mà vì cách người ta hợp thức hóa sự miễn tội đó một cách trơn tru, đúng quy trình đến đáng sợ. Họ dùng chính những từ ngữ đẹp đẽ nhất của pháp luật – “thành khẩn”, “khắc phục”, “nhân đạo” – để bao bọc cho một sự thật trần trụi: một mạng người đã mất, nhưng người gây ra cái chết đó không phải chịu một ngày tù nào.

Tối qua, sau bản tin, tôi lướt Threads, thấy cả triệu bài viết. Không ai chửi bới vô cớ. Người ta chỉ hỏi một câu duy nhất: Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Câu trả lời ai cũng biết. Và chính vì ai cũng biết câu trả lời, nên niềm tin mới vỡ vụn.

Chúng ta không đòi hỏi gì ghê gớm. Chúng ta chỉ đòi hỏi công lý phải mù mắt như bức tượng của nó: không nhìn xem kẻ đứng trước vành móng ngựa là đại biểu hay dân thường. Nhưng tối qua, VTV đã cho chúng ta thấy, công lý ở đây có mắt, và nó nhìn rất rõ ai là ai.

Cô gái 18 tuổi ấy đã không có cơ hội đi thi. Còn chúng ta, những người ở lại, đang trượt dài trong một kỳ thi khác – kỳ thi về niềm tin. Và thật đau đớn, chúng ta đang rớt. 


 

Họ đã truy tố chị vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Trần Trân

Đây là chị Phạm Hồng Nhị, 41 tuổi, nhà chị ở Đá Bạc, Cà Mau. Gia cảnh chị nghèo khó, nuôi 2 con đang đi học và mẹ già mất khả năng lao động. Dẫu vậy nhưng vợ chồng chị vẫn luôn chí thú làm ăn để tương lai bớt vất vả hơn cho con của mình.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, chồng chị chở chị đi đi dự tiệc khai trương tiệm bán cá của một người bạn ở An Xuyên, Cà Mau cách nhà chị khoảng vài mươi cây số.

Sau buổi tiệc, chồng chị quá say xỉn, không thể chạy xe được nên chị đành chạy xe chở chồng về, chị cũng đã có uống 2 lon bia.

Trên đường về thì chị lạc tay lái, tông vô gốc cây ven đường. Chồng chị không may qua khỏi, chị thì bị thương nặng. Những tưởng đã là tột cùng của bi kịch, khi giờ đây chỉ còn một mình chị gồng gánh cả gia đình, hai con thì quá nhỏ, nhưng không!

Sau khi xuất viện, chị bị tòa án tuyên thêm một năm 6 tháng tù giam vì tội vi phạm quy định khi tham gia giao thông gây hậu quả nghiêm trọng.

Một chi tiết đáng chú ý ngoài lề là: chị đã khắc phục hậu quả dân sự 100/120 triệu. Người ta nói vì thiếu 20 triệu nữa nên gia đình chồng đã rút lại đơn bãi nại trước đó. Nhưng lưu ý:

Cụ thể với Điều 260 BLHS:

Một vụ tai nạn làm ch.ết người, nếu cơ quan tố tụng xác định có dấu hiệu của Điều 260, thì:

Gia đình người ch.ết làm đơn bãi nại  không có nghĩa là người gây tai nạn đương nhiên không bị xử lý hình sự.

Mặt khác, Gia đình rút bãi nại cũng không làm phát sinh trách nhiệm hình sự một cách tự động.

Cơ quan điều tra vẫn phải căn cứ vào hành vi vi phạm, lỗi, hậu quả, quan hệ nhân quả và các chứng cứ khác để quyết định có khởi tố hay không.

Nói cách khác, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể không truy tố chị, nhưng họ đã truy tố vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Và giờ đây, 2 con chị bơ vơ, cha chết, mẹ đi tù người bà thì mất khả năng lao động, tương lai vô cùng mịt mờ.

Nhưng ở đâu đó, giữa lòng thủ đô, người ta chạy ngược chiều bằng xe hơi, người ta, cả 2 người trên xe hơi trốn ngay lập tức khỏi hiện trường, báo chí giấu nhẹm thông tin về hung thủ sau một năm 3 tháng. Công an đo nồng độ cồn 1 ngày sau xảy ra tai nạn, mà lúc đó, ngày 31/05/2025 còn chưa có đơn vị hành chính nào tên là: Phường Hai Bà Trưng. Vậy nhưng trong giấy lại có mới tài.

Cơ quan công an kết luận: không khởi tố đúng quy trình.

Có lẽ, do hung thủ là đại biểu quốc hội, là chồng của bà bộ trưởng bộ văn hóa, là những kẻ lãnh đạo tài tình sáng suốt trên đất nước này.

Nắng rồi sẽ lên

Nhắc nhau nghe rằng:

Người Việt Thương Người Việt

Nguồn Bàn Tròn Chính Trị

#vietnam#quocgiavietnam 


 

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ – Đoàn Bảo Châu

Chau Doan  

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ

Ở Hà Nội, mỗi sáng có hàng triệu người bước ra khỏi nhà và mặc nhiên tin rằng tối mình sẽ trở về.

Bố đi làm. Mẹ đưa con đến trường. Người trẻ chen vào dòng xe cho kịp giờ chấm công. Đứa nhỏ ngồi sau xe máy, ôm lưng mẹ, có khi vẫn còn ngái ngủ.

Những cuộc chia tay buổi sáng thường rất sơ sài. “Con đi học đây.” “Bố đi làm nhé.” “Ừ, tối về ăn cơm.” Chẳng ai ôm nhau lâu, chẳng ai dặn dò gì hệ trọng, bởi người ta vẫn nghĩ vài tiếng nữa sẽ gặp lại.

Trưa ngày 30 tháng 5 năm 2025, một người cha chở con gái trên đường Nguyễn Huy Tự. Ông đi cẩn thận, như mọi người cha chở con đều đi cẩn thận. Rồi một chiếc xe từ làn bên kia lao sang, và nó chỉ dừng lại khi đâm vào một gốc cây.

Người cha gãy chân, nằm giữa đường, quơ tay tìm con, gọi mãi.

Cô gái mười tám tuổi bị đứt lìa chân phải, nằm đó chừng hai mươi phút, người sơ cứu cho em là một bác sĩ tình cờ đi ngang. Những người bước xuống từ chiếc xe kia nhìn một lượt rồi bỏ đi.

Em chống chọi bảy ngày trong bệnh viện rồi mất. Em tên là Đỗ Ngọc Phương Thùy. Ở nhà, mọi người gọi em là Mina.

Hôm ấy trong nhà em có một chiếc va li đang xếp dở, và một giấy báo trường bên Anh.

Từ ngày ấy đến nay là 444 ngày.

Trong 444 ngày ấy, không một quyết định tố tụng nào được công bố. Cái tên người gây tai nạn được thu gọn thành ba chữ viết tắt trên báo chí. Cho đến khi những người trẻ mang hoa cúc trắng đến đặt dưới gốc cây số 55, thì cái tên ấy mới được đọc lên trên sóng truyền hình quốc gia — kèm theo lời tuyên bố ông ta đủ điều kiện được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, và kèm theo lời răn đe những người đã cầm hoa.

Nhiều người bảo: chuyện của gia đình người ta, mình xen vào làm gì. Gia đình họ đã đồng ý rồi, mình còn nói gì nữa.

Xin thưa, đây là lý do tôi vẫn nói.

Bởi vì một vụ tai nạn làm chết người không phải chuyện riêng của hai gia đình. Nó là chuyện của cả xã hội. Luật hình sự sinh ra không phải để trả thù cho người đã mất, mà để răn đe những người còn sống. Khi trách nhiệm hình sự bị xóa bằng một tờ đơn của người đang kiệt sức vì mất con, thì thứ bị xóa không phải là hình phạt dành cho một người. Thứ bị xóa là lời răn đe dành cho tất cả những người khác đang cầm vô lăng ngoài kia.

Và đây mới là điều đáng sợ nhất.

Nếu hôm nay chuyện này được cho qua, thì một tiền lệ đã được dựng lên: gây tai nạn chết người, bỏ mặc nạn nhân, rồi bồi thường, rồi có đơn xin miễn, thế là xong. Ngày mai, con cái các quan chức sẽ hiểu điều đó. Chúng sẽ uống rượu, sẽ phóng xe bạt mạng trên phố, bởi trong đầu chúng đã có sẵn một phép tính: đâm chết người thì mất bao nhiêu tiền, và bố mẹ mình quen ai.

Cái giá của một mạng người sẽ trở thành một con số có thể tra bảng.

Xin đừng nghĩ đó là chuyện xa xôi. Người ngồi sau xe máy ngày mai có thể là con anh, cháu chị, hay chính chúng ta. Đường phố này không có hàng rào nào ngăn cách giữa gia đình quyền thế và gia đình thường dân. Chỉ có luật pháp là hàng rào duy nhất. Khi hàng rào ấy được nhấc lên cho một chiếc xe đi qua, thì nó đã được nhấc lên cho tất cả những chiếc xe khác cùng loại.

Đó chính là điều mà những người trẻ mang hoa ra gốc cây đang hỏi. Họ không đòi ai phải chết thay ai. Họ không tự phong mình làm quan tòa. Họ chỉ hỏi một câu mà bất kỳ xã hội nào cũng phải trả lời được: nếu ngày mai một người dân bình thường rơi vào hoàn cảnh y hệt, họ có được đối xử y hệt hay không?

Nếu có, đó gọi là pháp quyền. Nếu không, thì hãy gọi đúng tên của nó.

Có người nói với tôi rằng thôi, cuộc đời vô thường, cầu mong mọi người bình an là được. Tôi hiểu, và tôi cũng cầu mong như vậy. Nhưng xin phân biệt cho rõ: có những chiếc ghế trống trong nhà là do vô thường. Và có những chiếc ghế trống là do một người lái xe sang làn ngược chiều, rồi bỏ đi, rồi không ai phải trả giá.

Vô thường thì ta chỉ có thể chấp nhận. Còn bất công là do con người tạo ra — mà cái gì do con người tạo ra thì con người sửa được.

Cầu an không giữ được mâm cơm đủ người. Chỉ có công lý mới giữ được.

Cho nên khi những đứa trẻ mua hoa bằng tiền túi của chúng đem đặt dưới một gốc cây, chúng không làm việc đó cho một người xa lạ. Chúng đang làm việc đó cho cái ghế trong nhà chúng, cho mâm cơm nhà chúng, cho ngày mai của chính chúng.

Người ta có thể hốt hết hoa lên xe rác. Người ta có thể cử người ra ngồi canh một gốc cây. Người ta có thể ra thông báo cấm sinh viên tưởng niệm khi chưa được phép.

Nhưng có một thứ không hốt đi được: 444 ngày kia vẫn nằm nguyên trên tờ lịch.

Đại văn hào Tolstoy có một câu tôi rất thích: nếu bạn thấy đau, bạn đang sống; nhưng nếu bạn thấy được cái đau của người khác, thì bạn mới là con người.

Xin hãy giữ lấy điều đó. Bởi thế giới này trở nên tồi tệ không phải vì kẻ ác ngày càng mạnh, mà vì những người tử tế ngày càng im lặng.

Mina đã không kịp bước lên chuyến bay của em.

Chúng ta thì vẫn còn ở đây, và mỗi sáng vẫn còn được nói với người thân một câu rất bình thường: tối về ăn cơm nhé.

Xin hãy làm điều gì đó để câu nói ấy còn có nghĩa.

Đoàn Bảo Châu


 

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

 Ryan Phan is in Atlanta, GA.

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

Có một đoạn văn từng đọc được ở đâu đó, mà càng ngẫm càng thấy lạnh người vì nó đúng.

Nếu bạn cầm súng và tôi cũng cầm súng, chúng ta có thể ngồi xuống nói chuyện với nhau về luật pháp. Nếu bạn cầm dao và tôi cũng cầm dao, chúng ta có thể bàn với nhau về quy tắc. Nếu bạn đến tay không và tôi cũng đến tay không, chúng ta có thể nói chuyện phải trái với nhau bằng lý lẽ. Nhưng nếu bạn có súng còn tôi chỉ có con dao, thì chân lý nằm gọn trong tay bạn. Và nếu bạn có súng còn tôi chẳng có gì trong tay, thì thứ bạn đang cầm không còn đơn thuần là một vũ khí nữa. Nó là mạng sống của tôi.

Đọc xong mấy dòng đó, người ta hiểu ra một điều giản dị mà cay đắng: những khái niệm đẹp đẽ như luật pháp, quy tắc, đạo đức, thật ra chỉ có ý nghĩa khi chúng đứng trên một nền tảng duy nhất, đó là sự bình đẳng. Khi hai bên ngang sức ngang quyền, luật pháp là thứ giữ cho cuộc chơi công bằng. Nhưng khi một bên mạnh áp đảo, còn một bên yếu thế trơ trọi, thì những quy tắc ấy rất dễ biến thành một thứ khác hẳn. Nó không còn là tấm khiên bảo vệ kẻ yếu, mà trở thành cây gậy trong tay kẻ mạnh.

Mấy ngày nay, có một câu chuyện khiến lòng nhiều người trĩu nặng. Xin phép không nhắc lại chi tiết, không gọi tên ai, bởi điều đáng nói ở đây không phải là một sự việc cụ thể, mà là cái cảm giác nhức nhối mà nó khơi dậy trong lòng biết bao con người. Cái cảm giác rằng, trong cuộc chơi này, không phải ai cũng cầm cùng một thứ vũ khí. Rằng có những người bước vào với cả một kho súng đạn quyền lực sau lưng, còn có những người bước vào chỉ với hai bàn tay trắng và một nỗi đau.

Ở một góc đường, dưới một gốc cây, những ngày qua người ta lặng lẽ đến đặt xuống những bó hoa. Hoa cúc trắng. Vài ngọn nến. Đôi khi chỉ một nhành hoa dại hái vội bên đường. Phần lớn những người đến đặt hoa chẳng hề quen biết người đã khuất. Họ đến vì một điều gì đó thôi thúc từ sâu bên trong, một điều mà chính họ đôi khi cũng khó gọi thành tên.

Bởi vì dưới gốc cây ấy, người ta đặt xuống không chỉ là những bông hoa. Người ta đặt xuống cả một nỗi niềm. Một nỗi niềm về sự công bằng.

Có một sự thật về con người mà giữa bộn bề cuộc sống ta hay quên: sâu trong lòng mỗi người đều cháy âm ỉ một khát khao công lý. Không phải công lý theo nghĩa trả thù hay trừng phạt, mà là một niềm tin gần như bản năng, rằng thế giới này phải có một sự công bằng nào đó để mà bám víu. Rằng mọi sinh mạng đều đáng quý như nhau. Rằng nỗi đau của một người dân thường cũng đáng được nhìn thấy, được lắng nghe, được xem trọng ngang với nỗi đau của bất kỳ ai. Khi cái niềm tin ấy bị lung lay, khi người ta thấy dường như có những sinh mạng được coi trọng hơn những sinh mạng khác, thì trong lòng trỗi lên một nỗi bất an rất khó gọi tên. Và những bó hoa lặng lẽ dưới gốc cây, thực ra, chính là cách người ta nói lên nỗi bất an ấy mà không cần đến một lời nào.

Người xưa có một câu nói phũ phàng nhưng thật: khi đồng tiền cất lời, sự thật thường phải im lặng. Và khi quyền lực lên tiếng, thì đôi khi ngay cả đồng tiền cũng phải lùi lại vài bước. Đó là một sự thật cay đắng của cuộc đời mà ai sống đủ lâu rồi cũng phải chạm tới. Những người đặt ra luật lệ đôi khi lại chính là những người đầu tiên biết cách lách qua nó. Quy tắc, trong tay người này, là sợi xích trói buộc; nhưng trong tay người khác, lại là một công cụ tiện lợi.

Nhưng nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó, thì nó quá bi quan, và cũng không công bằng với chính bản chất con người. Bởi vì có một điều mà tiền bạc và quyền lực không bao giờ mua được, không bao giờ đè bẹp được hoàn toàn: đó là lương tri của những con người bình thường. Chính cái đám đông lặng lẽ đặt hoa dưới gốc cây kia là bằng chứng cho điều đó. Họ không có quyền lực gì. Họ không cầm trong tay thứ vũ khí nào. Nhưng họ có một thứ mà không ai tước đoạt được: cái khả năng rung động trước nỗi đau của một người xa lạ, và cái khát khao được sống trong một thế giới công bằng hơn. Đó là thứ vũ khí duy nhất của kẻ yếu, nhưng cũng là thứ vũ khí bền bỉ nhất, vì nó không nằm trong tay ai để mà bị tịch thu.

Có một câu nói xưa đáng để khắc vào lòng: công lý không chỉ cần được thực thi, mà còn cần được nhìn thấy là đã được thực thi. Bởi vì công lý không chỉ là chuyện của những trang giấy, những kết luận, những thủ tục. Nó còn là chuyện của niềm tin. Khi người dân thường tin rằng công lý được áp dụng như nhau cho tất cả, không phân biệt kẻ sang người hèn, thì họ yên lòng mà sống, mà làm ăn, mà nuôi hy vọng. Nhưng một khi cái niềm tin đó bị tổn thương, thì thứ mất đi không chỉ là lòng tin vào một sự việc, mà là một điều lớn hơn nhiều, cái chất keo vô hình gắn kết cả một cộng đồng lại với nhau.

Điều đáng mong mỏi, sau tất cả, không phải là cơn giận. Giận dữ rồi cũng nguôi đi, và hiếm khi đưa người ta đến đâu tốt đẹp. Điều đáng mong là lòng trắc ẩn được giữ lại. Là mỗi người, khi thấy một nỗi đau, dù nó xảy đến với ai, ở đâu, cũng dừng lại một chút để thấy rằng nỗi đau ấy là thật, và người đang mang nó cũng là một con người bằng xương bằng thịt như mình. Là đừng để trái tim chai sạn đi trước những bất công, dù nhỏ hay lớn. Bởi vì cái ngày mà con người thôi rung động trước nỗi đau của đồng loại, thôi khao khát sự công bằng cho những kẻ yếu thế, thì đó mới thật sự là ngày đáng sợ nhất.

Dưới gốc cây ấy, những bó hoa rồi sẽ héo. Người ta rồi cũng sẽ dọn chúng đi. Nhưng có một thứ không héo, và không ai dọn đi được: đó là cái khát khao công bằng, cái lòng trắc ẩn, cái niềm tin rằng mọi sinh mạng đều đáng quý, đang lặng lẽ cháy trong lòng biết bao con người. Ngọn lửa ấy nhỏ nhoi, âm thầm, nhưng nó là điều tốt đẹp nhất còn sót lại trong bản chất con người. Và chừng nào người ta còn biết cúi xuống đặt một bó hoa cho một người xa lạ, thì chừng đó lòng người vẫn chưa nguội lạnh, và hy vọng vẫn còn.

Xin được thắp một nén nhang trong lòng, cầu cho những sinh mạng vô tội đã ra đi khi còn quá trẻ, ở bất cứ nơi đâu trên cõi đời này, được về một nơi bình yên, nơi không còn bất công, không còn nước mắt, nơi mà cuối cùng, mọi người đều thật sự bình đẳng như nhau.

Còn bạn, điều gì trong lòng khiến bạn dừng lại và xót thương, khi nghe về nỗi đau của một người mà mình thậm chí chưa từng quen biết?

Ryan Phan