Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng

Nguoi-Viet

 Phía sau chuyện nhảy cầu của vị giám đốc đại lý VinFast ở Hải Phòng

Mấy ngày qua, cõi mạng trong nước lẫn hải ngoại râm ran, xầm xì vụ ông giám đốc một đại lý xe ôtô VinFast lớn ở Hải Phòng thả mình xuống sông Cấm từ cầu Bến Bính. Chuyện một người đang ở đỉnh cao danh vọng, tiền tài, nắm trong tay cơ sở kinh doanh hoành tráng mà bỗng chốc chọn cách buông xuôi, ném mình vào dòng nước lạnh, hỏi sao thiên hạ không giật mình cho được.

Báo chí trong nước khi đưa tin về vụ việc xảy ra hôm 8 Tháng Sáu, ban đầu còn ngập ngừng, né né chữ “VinFast”, chỉ dám gọi chung chung là “giám đốc đại lý xe ôtô”. Nhưng rồi người ta cũng tìm ra danh tính, tìm ra những dòng trạng thái đầy u uẩn, bế tắc của người đàn ông xấu số trước giờ phút định mệnh.

Nhìn từ góc độ thế sự, cái chết của vị giám đốc này không đơn thuần là câu chuyện quẫn trí cá nhân. Nó là một lát cắt, một tiếng chuông cảnh tỉnh đầy chát chúa về cái gọi là “áp lực cộng sinh” trong hệ sinh thái kinh doanh hiện đại tại Việt Nam.

Nhiều doanh nghiệp khi bắt tay với các tập đoàn lớn, cứ ngỡ mình đang vịn vào một chiếc phao cứu sinh khổng lồ để ra khơi lớn. Nhưng họ quên mất rằng, khi chiếc phao đó lao đi với tốc độ chóng mặt để đạt những tham vọng toàn cầu, những mắt xích nhỏ hơn ở bên dưới phải gồng mình chịu một lực kéo khủng khiếp. Khi dòng vốn ngưng trệ, sức mua xã hội sụt giảm, mà các điều khoản hợp đồng và chỉ tiêu doanh số vẫn lạnh lùng ép xuống, chiếc phao cứu sinh ấy lập tức biến thành hòn đá tảng, kéo ghì người ta xuống đáy sâu bế tắc.

Cái chết ở bến Bính để lại nỗi đau thắt lòng cho gia đình, và một khoảng lặng đáng sợ cho những ai đang lao vào vòng xoáy kinh doanh bất chấp sức chịu đựng của bản thân. Suy cho cùng, danh vọng, tiền tài hay cái danh hiệu “đại lý xuất sắc” cũng chẳng thể linh thiêng bằng mạng sống của một con người. Giấc mơ bay cao, bay xa của thương hiệu thì đẹp thật đó, nhưng nếu cái giá phải trả là sự kiệt quệ và những bi kịch nhảy cầu thế này, thì liệu có đáng hay không?

Sau cái chết thương tâm của vị giám đốc đại lý, theo quý vị, liệu các tập đoàn lớn có nên xem xét lại chính sách ép doanh số để chia sẻ bớt gánh nặng và áp lực sinh tử với các đối tác nhỏ hơn trong giai đoạn kinh tế khó khăn này?

Bấm vào link ở comment đầu tiên để đọc toàn văn bản tin chi tiết về vụ việc trên báo Người Việt. 


 

Vượt biên , vượt biển , vượt dòng ! – Truyen ngan. Xuân Hương

Nguyen Thi Chau

Vượt biên , vượt biển , vượt dòng !

Cô bạn làm chủ ghe , cho tui đi vượt biên theo , chỉ với 1/2 giá. Ngồi chung cyclo với cổ ra bến xe Chợ lớn xuống Mỹ Tho ..tui hỏi “ Ê mầy , lỡ bị bắt tao phải khai làm sao ? “ Chèn ơi , cổ véo tui một cái đau điếng rồi mắng “Mầy thiệt vô diên, miệng ăn mắm ăn muối nói chuyện xui rủi“ .

Mà xui thiệt. Ghe lớn ra cửa Vàm Láng không bao xa , thì bị túm gọn . Vô trại tạm giam , ông cán bộ răng dzàng đập bàn xong , rồi hậm hức chỉ tay vào tui ( đang ngồi sắp lớp hàng đầu ) hỏi “ai là chủ ghe ?” Theo phản xạ ..ba trợn , tự dưng tui đứng phắt dậy mắt dáo dát tìm nhỏ bạn .

May ..mà định thần kịp, ngồi xuống liền. Ông răng dzàng túm áo tui, hầm hè hỏi lần nữa “ ai là chủ ghe ? “ Chợt thấy tên du kích áo đen hồi nãy lăng xăng nạt nộ những người bị bắt , tui chỉ đại vào hắn . Cả đám người ngồi đó cười rần . Tui ăn một bạt tay trời giáng , bể mịa một cái tròng kính cận ( May ..không bị rớt ..răng ).

Nhưng vàng , nhân sâm đeo trong mình bị lột sạch . Chỉ ký tên vô sổ ngang cái dòng : Trại có giữ 5 miếng kim loại màu vàng , thôi!

Chuyển trại giam lớn Mỹ Tho. Người nhà tui chạy tiền liền -để tui về cho kịp -sợ bị mất chỗ làm việc . Cán bộ đọc tên từng người trao giấy thả tù . ổng đọc đi đọc lại Nguyễn Thị Hương , tui cứ ngồi im lặng ..xa vắng mãi . Bị tên công an trong phe cánh đá nhẹ một cái nói “ Bà đó bà ! “ Tui đứng lên nhận giấy còn càm ràm“ Tên tui sao thiếu chữ xuân “ Ông cán bộ trao giấy nói nhỏ “ Vậy chứ hồi bị bắt , má khai tên gì vậy má ?

“ Thế là tui nhớ trực vụ khai tên , năm sanh- địa chỉ công việc …xạo sự của mình liền. Hú vía , may mà được tha .

Ra khỏi trại 2 giờ trưa , áo quần rách bươm -cặp mắt kính lọt mất một tròng – dép cũng mất luôn. Quan trọng nhất là trại giam lờ tít chuyện trả lại cho tui 5 miếng kim loại màu vàng- vậy  tui còn gì để bán mà kiếm tiền về xe đây, chẳng lẽ lội bộ từ Mỹ Thơ dìa Sài Gòn sao ? Tui đọc kinh khấn hết Chúa đến Đức Mẹ cứu giúp ..lội bộ một đoạn đường xa , mà chân bỏng rát .

Cuối cùng tui bấm gan vẫy đại một chiếc xe ôm , chìa giấy thả tù , tui nói “Cháu vượt biên được thả , giờ không tiền , nhưng nhà cháu ở Sài Gòn thì có tiền trả. Chú giúp dùm cháu phương tiện đi về nhà được không. Cháu thiệt đội ơn chú “ Ông xe ôm trông hơi đứng tuổi -người khắc khổ mặt nám đen còn đeo mắt kính đen thiệt ngầu, nhưng giọng thì hiền khô hỏi “ Vậy cháu có dám ngồi xe ôm, dang nắng về Sài Gòn không ?”

Nghỉ sao mà con nhỏ chột mắt kiếng, quần áo rách bươm không dép như tui lúc đó, lại có thể giở giọng tiểu thư ngại nắng ăn lắc đầu ..được.

Tui trèo lên xe liền, không thèm hỏi giá , nói xong địa chỉ là ôm cái eo ổng …ngủ gục miết . ( Bị trại giam chật chỗ ngủ ngồi) tui lại bị nhét ngồi gần cầu tiêu .. Mùi nồng nặc xông lên ..mắt trợn trừng đau khổ, ngủ gì nỗi mấy đêm nay , hở trời ?

Xe chạy gần qua Chợ Bến Thành , ổng mới kêu lớn cho tui thức dậy để hỏi kỹ đường về quận 4 nhà tui . Chắc ổng nghe bụng tui kêu rột rột hay sao đó …mà nói “ Chắc cháu đói bụng dữ rồi phải không , chú cũng chưa ăn gì . Thôi chú chở cháu ăn bậy tô mì dằn bụng , rồi chở cháu về “ Chèn ơi , buồn ngủ mà gặp chiếu manh , tui gật đầu liền ..Coi như gần cả tuần nay từ chỗ ém quân chờ ra cá lớn -đến khi bị bắt nhốt -tui chưa được ăn đúng nghĩa bao giờ .

Tui ăn hỗn hào , ào ào một lúc hai tô mì và ly trà đá bự tổ chảng .

Trong khi chú xe ôm chạy cực khổ đường trường , ăn nhỏ nhẹ có một tô mì và ly cafe đen nhỏ xíu thôi. Trời xế chiều nhưng còn sáng . Tui ngần ngại nói chú ấy có thể chờ sụp tối một chút rồi chở tui về nhà , vì tui ngại hàng xóm và công an khu vực thấy quần áo và bộ dạng của tui như vầy, sẽ biết tình cảnh vượt biên của tui liền. Như vậy dễ di hại cho tui về sau.

Chú Hiền ( Tui biết tên chú sau đó ) cũng gật đầu chịu . Hai chú cháu ngồi quán cốc lề đường , uống trà đá chuyện trò rôm rã . Chú nói chú mới ra trại cải tạo , nhà ở Sài Gòn. Nhưng không nhập được hộ khẩu ở Sài Gòn , bị chỉ định về quê . Để sinh sống , chú chạy xe ôm. Hôm nay nhân dịp chở tui về Sài Gòn , chú sẽ ghé qua nhà thăm ba má chú luôn . Chú nói ngó bộ dạng của tui , là chú tin tưởng con nhà đàng hoàng , sa cơ bị bắt vượt biên. Nên chở tui đường xa , không ngại bị lường gạt quịt tiền .

Sụp tối tui về được đến nhà , cả nhà mừng húm. Trả tiền công chú Hiền hậu hỉ và còn ghi lại địa chỉ nhà chú ở Sài Gòn để liên lạc thăm viếng sau nầy .Chị tui nói , chạy cho tui dzìa mất một cây vàng , nhưng họ nói đến ngày mai mới thả . Đâu dè họ thả sớm một ngày như vậy ?

Sáng mai tỉnh táo dọn bộ vó đi làm . Vô sở , mọi người trợn trừng mắt ngạc nhiên, coi như tui vắng mặt không xin phép đã 3 ngày , trừ đi hai ngày lễ 30 / 4 và 1/5 cùng ngày Chúa nhật . Hú vía , gần cả tuần chứ đâu phải chơi . Tui bèn đi một đường kể khổ ..bị té bong gân sưng chân nằm một chỗ . Bố tui già cả không biết sở tui ở đâu để xin phép.

Nhưng ngó cái mặt ăn nắng đen thui của tui , là họ thừa biết tui nói láo liền. Có lẽ Chúa thương phù hộ cho công trình tui đang quản lý tới lúc nghiệm thu ..Vắng tui , ai lên giá thành thanh quyết toán. Tui ở lại làm nốt công việc , với cái án treo lơ lững . Họ chờ dịp trừng phạt tui. Tui thì chờ kỳ vượt biên mới, nhất định là mình phải vượt thoát khỏi Việt Nam.

…. Cô bạn tui , nhà cổ cũng lo chạy chọt , nên cổ ra tù sau tui vài ngày .Năm sau cũng vào dịp 30/4, mùa gió êm . Nhà cổ tổ chức thêm một chuyến vượt biên mới , nhưng cổ không rủ tui đi tiếp . Chắc cổ nghỉ tui là con nhỏ ba trợn tào lao ăn nói vô duyên khiến cổ dễ bị xui xẻo chắc ? Nhưng ghe của cổ ra cửa lớn , chỉ chung chi công an bến bãi , mà qua mặt không chung công an biên phòng . Họ rượt theo bắn chìm ghe cổ , chết tan tác mấy chục nhân mạng luôn . Mạng tui lớn hay nhỏ xíu , khi không theo chuyến vượt biên đó ? Còn cô bạn tui, cổ không hên mà xui xẻo mất mạng .

Mấy chục năm trôi qua , mà tui vẫn nhớ hoài cái véo tay đau điếng của cô ấy. Nghỉ đến rồi thương cổ , và thương cho những người Việt Nam đã bỏ mạng trên biển đông ..khi bỏ phiếu đi tìm tự do bằng đôi chân của mình .

Xuân Hương 


 

LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG

Việt Tân 

LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG

Có những mảnh đất không được định giá bằng diện tích hay vị trí mặt tiền, mà bằng sức chứa của những nỗi đau, sự bao dung và lòng nhân ái mà con người đã gửi lại nơi đó qua nhiều thế hệ.

Làng phong Quy Hòa, nép mình bên bờ biển suốt gần một thế kỷ qua, không đơn thuần là một địa danh hành chính.

Đó là nơi cưu mang những con người từng bị xã hội xa lánh vì bệnh tật. Đó là chứng tích sống động về tình yêu thương vô điều kiện của các nữ tu, các bác sĩ và những người đã dành cả cuộc đời để chăm sóc những phận người bất hạnh. Đó cũng là mảnh đất lưu giữ những hơi thở cuối cùng của thi sĩ Hàn Mặc Tử, một phần ký ức văn hóa đặc biệt của dân tộc.

Vậy mà giờ đây, không gian ký ức ngưng đọng của thời gian ấy sắp phải xóa sổ để nhường chỗ cho Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển Ghềnh Ráng – Vũng Chua. Một siêu dự án với quy mô khổng lồ gần 2.900 hecta sẽ nuốt chửng toàn bộ thung lũng yên bình này.

Chính quyền đem 20.000 tỷ đồng của tập đoàn Sun Group để đánh đổi lấy một di sản tinh thần vô giá mà không một dòng tiền nào có thể mua lại.

Một nơi vốn dĩ là thánh đường của sự xoa dịu, nơi tôn vinh những giá trị nhân văn thuần khiết nhất, nay lại được chuẩn bị để biến thành chốn xa hoa, phục vụ cho những kỳ nghỉ dưỡng của giới nhà giàu.

Cứ mỗi lần một di tích bị khai tử để dựng lên những tòa nhà cao tầng, chúng ta lại tự hỏi rồi đất nước này sẽ đi về đâu khi chỉ toàn những khối bê tông vô hồn chiếm lĩnh?

Sự phát triển sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu nó được xây dựng trên sự lãng quên lịch sử và tước đoạt đi những giá trị nhân văn cốt lõi. Tiếng sóng Quy Hòa rồi đây vẫn sẽ vỗ vào bờ, nhưng liệu có còn giữ được tiếng lòng đầy trắc ẩn, hay chỉ còn là tiếng thở dài cay đắng của một di sản đã bị khai tử bởi cơn lốc thị trường?

#làngphongQuyHòa


 

Vũ Trọng Phụng của văn học Việt Nam hiện đại.

Giai Thoại Xưa

Nhà văn qua đời ở tuổi 27 nhưng để lại di sản khiến thế giới nhắc tên.

Từ một cậu bé lớn lên trong cảnh nghèo khó giữa Hà Nội đầu thế kỷ 20, Vũ Trọng Phụng đã trở thành một trong những cây bút đặc biệt và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Dù chỉ sống vỏn vẹn 27 năm, ông vẫn để lại một di sản đồ sộ với hàng loạt tiểu thuyết, phóng sự và tác phẩm trào phúng được xem là kinh điển cho đến tận hôm nay.

Không chỉ nổi tiếng trong nước, Vũ Trọng Phụng còn là một trong số ít nhà văn Việt Nam có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng và được độc giả quốc tế đánh giá rất cao.

Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20/10/1912 tại Hà Nội, quê gốc ở làng Hảo, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông mồ côi cha khi chưa đầy một tuổi và lớn lên nhờ sự tảo tần của mẹ. Gia cảnh khó khăn khiến tuổi thơ của ông không mấy trọn vẹn. Sau khi học hết bậc tiểu học, ông phải nghỉ học sớm để đi làm kiếm sống, từng làm thư ký cho một hãng buôn ở Hà Nội.

Chính cuộc sống chật vật nơi phố thị cùng những va chạm với đủ tầng lớp xã hội đã giúp Vũ Trọng Phụng sớm nhìn thấy những góc khuất của xã hội Việt Nam thời thuộc địa. Những trải nghiệm ấy dần hình thành nên một ngòi bút hiện thực sắc bén, gai góc nhưng đầy chiều sâu nhân văn.

Khoảng năm 18 tuổi, ông bắt đầu có bài viết đăng báo. Tác phẩm đầu tiên xuất hiện trên Ngọ Báo đã nhanh chóng gây chú ý bởi cách viết khác lạ và giàu tính quan sát. Đến năm 1934, ông cho ra mắt tiểu thuyết đầu tay “Dứt Tình”, mở đầu cho quãng thời gian sáng tác rực rỡ nhưng rất ngắn ngủi của mình.

Chỉ trong vài năm, Vũ Trọng Phụng liên tiếp cho ra đời những tác phẩm nổi tiếng như “Giông Tố”, “Số Đỏ”, “Vỡ Đê”, “Làm Đĩ”… Những tác phẩm ấy đều phản ánh trực diện xã hội Việt Nam thời nửa thực dân, nửa phong kiến với đầy rẫy những nghịch lý, giả dối và bi kịch con người.

Điểm đặc biệt trong văn chương của Vũ Trọng Phụng là ông không né tránh hiện thực. Ngòi bút của ông sắc lạnh, trào phúng nhưng cũng đầy chua xót. Ông phơi bày những mặt trái của xã hội thành thị đang bị ảnh hưởng bởi phong trào Âu hóa, nơi nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn bởi đồng tiền, danh vọng và lối sống đua đòi.

Chính vì vậy, nhiều người đã ví Vũ Trọng Phụng là “Balzac của Việt Nam”, so sánh ông với đại văn hào hiện thực nổi tiếng của Pháp. Ông cũng được xem là “ông vua phóng sự đất Bắc” nhờ những tác phẩm phóng sự gây chấn động dư luận thời bấy giờ.

Năm 1933, dưới bút danh Thiên Hư, ông cho đăng phóng sự “Cạm Bẫy Người” trên báo Nhật Tân. Tác phẩm lập tức gây chú ý bởi cách phản ánh thẳng thắn đời sống xã hội. Sau đó là hàng loạt phóng sự nổi tiếng như “Kỹ Nghệ Lấy Tây”, “Cơm Thầy Cơm Cô”, “Lục Xì”… Những tác phẩm này không chỉ phản ánh số phận người nghèo mà còn bóc trần nhiều góc tối của xã hội thuộc địa.

Ngòi bút của Vũ Trọng Phụng luôn hướng về những con người thấp bé, nghèo khổ và bị xã hội chèn ép. Dù văn phong nhiều khi sắc lạnh, châm biếm đến cay đắng, nhưng phía sau đó vẫn là sự đồng cảm rất lớn với con người.

Nhà thơ Tố Hữu từng nhận xét về ông bằng một câu nổi tiếng:

“Ông không phải là nhà cách mạng, nhưng cách mạng biết ơn ông”.

Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, “Số Đỏ” được xem là tác phẩm nổi tiếng và có sức sống mạnh mẽ nhất của Vũ Trọng Phụng.

Tiểu thuyết này lần đầu được đăng nhiều kỳ trên Hà Nội Báo từ năm 1936 rồi in thành sách năm 1938. Nhân vật chính Xuân Tóc Đỏ – một thanh niên xuất thân thấp kém nhưng nhờ gặp thời mà bước chân vào tầng lớp thượng lưu – đã trở thành hình tượng kinh điển của văn học Việt Nam.

Thông qua nhân vật này, Vũ Trọng Phụng châm biếm sâu cay xã hội thành thị Hà Nội thời ấy, nơi những kẻ dốt nát, cơ hội lại được tung hô chỉ vì biết chạy theo phong trào Âu hóa.

Nhiều đoạn trong “Số Đỏ” đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt, chương “Hạnh Phúc Của Một Tang Gia” từng được đưa vào chương trình Ngữ Văn lớp 11 và được xem là đỉnh cao của nghệ thuật trào phúng Việt Nam hiện đại.

Không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam, “Số Đỏ” còn là một trong những tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất.

Tác phẩm hiện đã được dịch ra ít nhất 7 thứ tiếng gồm Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Italy, Tây Ban Nha và Czech. Nhiều bản dịch được xuất bản tại Mỹ, Đức, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác.

Năm 2002, bản dịch tiếng Anh mang tên “Dumb Luck” do giáo sư Peter Zinoman cùng bà Nguyễn Nguyệt Cầm thực hiện được phát hành tại Mỹ.

Đến năm 2003, tờ Los Angeles Times đã bình chọn đây là một trong những cuốn sách hay nhất năm.

Tác phẩm sau đó còn được đưa vào giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Mỹ như một ví dụ tiêu biểu của văn học Đông Nam Á hiện đại.

Năm 2021, bản dịch tiếng Trung của “Số Đỏ” do PGS Hạ Lộ thuộc Đại học Bắc Kinh thực hiện cũng nhận được nhiều lời khen từ độc giả Trung Quốc. Trên nền tảng Douban, tác phẩm được chấm điểm khá cao và nhiều người gọi đây là “kiệt tác văn học Việt Nam”.

Đến năm 2022, bản tiếng Đức “Das große Los” tiếp tục được phát hành và nhận phản hồi tích cực từ độc giả châu Âu. Các dịch giả cho rằng chính yếu tố hài hước, châm biếm và sự xung đột giữa truyền thống với hiện đại đã giúp “Số Đỏ” dễ dàng tiếp cận độc giả quốc tế.

Dù chỉ sống đến năm 1939 và qua đời vì bệnh lao phổi khi mới 27 tuổi, Vũ Trọng Phụng vẫn để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ với hơn 30 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, nhiều vở kịch và hàng trăm bài báo.

Điều đáng nói là sau gần một thế kỷ, văn chương của ông vẫn chưa hề cũ.

Những gì Vũ Trọng Phụng viết về xã hội, con người, sự giả dối, chạy theo hình thức hay những nghịch lý thời đại vẫn khiến nhiều độc giả hôm nay phải bật cười rồi lặng người suy ngẫm.

Từ một chàng trai nghèo lớn lên giữa Hà Nội cũ, Vũ Trọng Phụng đã trở thành một tượng đài đặc biệt của văn học Việt Nam. Một cuộc đời ngắn ngủi, nhưng ngòi bút của ông vẫn sống mãi cùng thời gian.

#giaithoaixua #vutrongphung #sodo #lichsuvietnam #vanhocvietnam


 

THẦN ĐỒNG VIỆT NAM GÂY CHẤN ĐỘNG TẠI LONDON: MỚI 14 TUỔI ĐÃ TRỞ THÀNH CỬ NHÂN VÀ LỌT TOP 100 THẾ GIỚI…

8 SÀI GÒN

  THẦN ĐỒNG VIỆT NAM GÂY CHẤN ĐỘNG TẠI LONDON: MỚI 14 TUỔI ĐÃ TRỞ THÀNH CỬ NHÂN VÀ LỌT TOP 100 THẾ GIỚI…

Tim tôi đập thình thịch như muốn vỡ tung trong khán phòng House of Commons, Luân Đôn. Đêm ấy lạnh buốt, ánh đèn vàng vọt chiếu xuống hàng ghế khán giả khiến tôi thấy rõ từng giọt mồ hôi lạnh đang chảy dọc sống lưng. Khi người dẫn chương trình cất giọng vang vọng: “Phạm Vi An”, cả hội trường im bặt một giây rồi vỗ tay rầm rộ. Con bé tôi – chỉ mới 15 tuổi, nhỏ nhắn, mặc chiếc áo dài Việt Nam giản dị màu xanh nhạt – bước lên bục với nụ cười khiêm nhường. Tay con cầm chiếc cúp nặng trịch, ánh flash lóa mắt. Tôi che miệng, nước mắt nóng hổi trào ra không kìm nổi.

Thế giới đang tung hô con tôi là Alisa Pham, là thần đồng, là hiện tượng toàn cầu. Nhưng chỉ mình tôi biết, để con đứng được ở đó, chúng tôi đã đi qua những địa ngục trần gian mà tôi không dám nhớ lại. Lúc này, tôi mới hiểu, hành trình của con không chỉ là những đêm thức trắng học bài, mà còn là những bí mật con giấu kín, những nỗi đau con một mình nuốt xuống để mẹ không phải lo.

Tôi tên L. quê Hà Nội. Chồng tôi mất vì ung thư khi Vi An mới lên ba. Chỉ còn hai mẹ con và bà ngoại già yếu. Nhà tôi ở ngõ nhỏ Phúc Đồng, mái ngói cũ kỹ, mùa mưa dột khắp nơi. Tiền bạc eo hẹp, tôi làm đủ nghề: may áo dài, bán hàng online, thậm chí nhận may thuê đến khuya. Nhưng Vi An khác hẳn. Ba tuổi con đã đọc thuộc lòng truyện cổ tích. Năm tuổi con đọc sách cấp hai. Những đêm hè oi bức, tôi ngồi bên con dưới mái hiên, mùi trầu không của bà ngoại thoang thoảng, hai mẹ con cắm cúi đọc sách đến khi muỗi đốt đầy tay. “Con sẽ học giỏi lắm mẹ ạ,” con hay nói, giọng non nớt nhưng đôi mắt sáng rực như chứa cả bầu trời.

Năm 2017, tôi quyết định bán hết chút tài sản, đưa hai con gái sang New Zealand định cư. Hy vọng cho con một tương lai tốt hơn. Bà ngoại đứng tiễn ở sân bay Nội Bài, nước mắt lưng tròng, tay run run nắm tay Vi An: “Về thăm bà nhé cháu.” Vi An ôm bà chặt, giọng nghẹn: “Con hứa, bà ơi.” Tôi quay đi, nuốt nước mắt. Lòng tôi lúc ấy chỉ toàn hy vọng, không ngờ phía trước là cơn ác mộng.

Đất khách lạ lẫm. Ban đầu còn ổn, tôi làm việc chăm chỉ. Nhưng rồi Covid-19 ập đến như tai ương. Công việc mất trắng. Tiền tiết kiệm cạn kiệt chỉ sau vài tháng. Chúng tôi bị đuổi khỏi nhà thuê vì nợ ba tháng. Không người thân, không bạn bè, không ai giúp. Cuối cùng, ba mẹ con đành mua chiếc xe hơi cũ giá rẻ, đậu ở bãi xe siêu thị vắng vẻ. Đó là những ngày tháng tôi không muốn nhớ đến trong mơ.

Đêm đông New Zealand, mưa tầm tã, lạnh cắt da cắt thịt. Chiếc xe chật hẹp, mùi ẩm mốc nồng nặc, kính mờ hơi nước. Vi An mới 10 tuổi, co ro dưới lớp chăn mỏng, laptop kê trên đùi, học dưới ánh đèn pin yếu ớt. Tiếng mưa rơi lộp độp trên nóc xe như trống trận. Tôi nằm cạnh, nghe tiếng con gõ bàn phím run run vì lạnh, lòng đau như có ai bóp nghẹt. “Mẹ ngủ đi, con học nốt bài,” con hay thì thầm, giọng nhỏ bé nhưng kiên cường lạ thường. Tôi cắn môi đến chảy máu, nước mắt lặng lẽ rơi. Sao con tôi phải chịu khổ thế này? Sao số phận lại hắt hủi hai mẹ con đến vậy?

Có những đêm, gió bão lớn làm xe rung lắc, tôi sợ xe lật, sợ con bị ốm. Vi An bị sốt cao, môi tím ngắt vì lạnh, nhưng con vẫn cố gõ bài. Tôi ôm con vào lòng, truyền hơi ấm từ cơ thể mình, miệng thì thầm cầu nguyện. Có hôm, tiền hết sạch, chúng tôi chỉ ăn bánh mì khô và nước lã hai ngày. Chị gái Vicky của con khóc thầm, còn Vi An im lặng, chỉ siết chặt tay tôi. Những lúc ấy, tôi oán trách trời đất, oán trách bản thân đã dắt con sang đây chịu khổ. Nội tâm tôi lúc đó như bị xé toạc, day dứt không nguôi.

Nhưng Vi An không than vãn. Con hoàn thành chương trình trung học chỉ trong 10 tháng. Ban ngày con tranh wifi miễn phí ở thư viện, ban đêm học trong xe. Có hôm mưa bão lớn, laptop con sắp hết pin, bài luận cuối cùng phải nộp để xin vào đại học. Tay con run lẩy bẩy vì đói và lạnh, nhưng con vẫn gõ những dòng chữ cuối cùng. Tôi nắm chặt tay con, nước mắt rơi: “Mẹ tin con. Mẹ ở đây với con.”

Khi thư chấp nhận từ Đại học Công nghệ Auckland (AUT) gửi đến, con tôi chỉ mới 11 tuổi trở thành sinh viên trẻ nhất lịch sử trường. Tôi ôm con khóc nức nở trong xe hơi. Niềm vui ấy ngắn ngủi. Cuộc sống vô gia cư vẫn tiếp diễn. Nhiều đêm, tôi thức trắng nhìn hai con gái co ro ngủ, lòng đau như cắt. Tôi nghĩ đến bà ngoại ở Việt Nam, nghĩ đến những lời xì xào của họ hàng: “Đi nước ngoài chi cho khổ, ở nhà còn hơn.” Lúc ấy tôi mới hiểu, họ không sai. Nhưng tôi không thể quay đầu…

Nhưng chính đêm mưa bão kinh hoàng ấy đã thay đổi tất cả….

Đêm đó, mưa như trút nước.

Chiếc xe cũ rung lên bần bật dưới những cơn gió đông lạnh buốt. Tôi ôm chặt hai con, cố kéo chiếc chăn mỏng che kín người Vi An vì con đang sốt. Ngoài bãi đậu xe gần như không còn ai. Đồng hồ trên điện thoại hiện 2 giờ sáng. Pin chỉ còn 3%.

Rồi bất ngờ… có tiếng gõ cửa kính.

“Cộc… cộc… cộc…”

Tôi giật mình thót tim. Ở nơi đất khách, giữa đêm khuya, tiếng gõ cửa ấy khiến tôi hoảng sợ đến nghẹt thở. Tôi kéo Vi An sát vào lòng. Ngoài cửa là một người đàn ông lớn tuổi mặc áo mưa vàng, tay cầm đèn pin.

Ông chỉ vào bánh xe sau rồi nói chậm rãi:”Lốp xe của cô xẹp hoàn toàn rồi. Nếu trời sáng mà vẫn chạy, rất nguy hiểm.”

Tôi chết lặng.

Tôi thậm chí không còn tiền để thay lốp.

Người đàn ông ấy tên Michael, là bảo vệ ca đêm của siêu thị. Ông nhìn ba mẹ con co ro trong xe rất lâu rồi khẽ hỏi:

“Các cô… đang sống ở đây sao?”

Tôi muốn nói dối. Nhưng cuối cùng chỉ biết cúi đầu bật khóc.Đó là lần đầu tiên sau nhiều tháng, tôi khóc trước mặt người lạ.Michael im lặng hồi lâu rồi quay đi. Tôi tưởng ông sẽ gọi cảnh sát hoặc yêu cầu chúng tôi rời khỏi bãi xe. Nhưng khoảng hai mươi phút sau, ông quay lại với ba cốc chocolate nóng, vài chiếc bánh mì và một chiếc túi ngủ cũ.

Vi An lúc ấy đang mê man vì sốt. Con vẫn ôm chặt chiếc laptop trước ngực như sợ mất thứ duy nhất giữ tương lai của mình.Michael nhìn màn hình máy tính rồi bất ngờ hỏi?

“Con bé học đại học à?”

Tôi gật đầu trong nghẹn ngào.Ông ngồi xuống lặng người đọc bảng điểm của Vi An rất lâu. Ánh mắt ông thay đổi hẳn. Ông nói nhỏ:

“Đứa trẻ này… đặc biệt lắm.”

Sáng hôm sau, Michael dẫn chúng tôi đến một trung tâm hỗ trợ cộng đồng. Chính từ nơi đó, cuộc đời Vi An bắt đầu đổi hướng.Một giáo viên tình nguyện ở trung tâm nghe câu chuyện của con đã giới thiệu Vi An tham gia một cuộc thi học thuật quốc tế dành cho tài năng trẻ. Ban đầu, Vi An từ chối. Con nói:

“Con chỉ muốn mẹ được ngủ trong một căn phòng ấm.”Câu nói ấy khiến tôi quay mặt đi vì không thể ngăn nước mắt.Nhưng rồi con vẫn thi.Suốt nhiều tuần liền, Vi An học trong thư viện công cộng từ sáng đến tối. Có hôm con ngủ gục trên bàn vì kiệt sức. Những đứa trẻ khác có gia sư, có phòng học riêng, có đầy đủ điều kiện. Còn con tôi chỉ có một chiếc laptop cũ sắp hỏng và một ý chí khiến người lớn cũng phải xấu hổ.

Ngày kết quả công bố, Vi An đứng hạng nhất.Tin tức bắt đầu lan truyền. Báo chí New Zealand gọi con là “cô bé vô gia cư có IQ thiên tài”. Các trường đại học, tổ chức giáo dục và quỹ học bổng bắt đầu chú ý đến con.

Nhưng điều khiến tôi đau lòng nhất… là bí mật tôi phát hiện không lâu sau đó.Một tối, khi Vi An ngủ quên trên bàn học, điện thoại con sáng màn hình vì email mới gửi đến. Tôi vô tình nhìn thấy.

Đó là hàng chục email con gửi cho các giáo sư, tổ chức từ thiện và công ty công nghệ khắp thế giới.Email nào cũng bắt đầu bằng một câu giống nhau:

“Xin đừng nói với mẹ cháu.”

Tôi run tay mở đọc.Con đã âm thầm xin học bổng, xin tài trợ, thậm chí xin việc lập trình online suốt nhiều tháng trời. Con không muốn tôi biết vì sợ tôi cảm thấy mình thất bại.Có đoạn con viết:”Mẹ cháu đã hy sinh tất cả cho cháu. Cháu chỉ muốn mẹ được ngủ trên giường thật trước Giáng sinh.”Tôi bật khóc nức nở ngay trong thư viện.

Con bé mới 11 tuổi…

11 tuổi thôi… Mà đã mang trong lòng nỗi lo của một người trưởng thành.

Không lâu sau, một quỹ giáo dục ở Anh quyết định tài trợ toàn bộ học phí và sinh hoạt cho Vi An. Con được mời sang London tham gia diễn đàn tài năng trẻ toàn cầu.Đó chính là đêm tôi ngồi trong House of Commons, nhìn con bước lên sân khấu giữa tiếng vỗ tay vang dội.Nhưng khoảnh khắc khiến cả khán phòng lặng đi… là khi Vi An kết thúc bài phát biểu.Con nhìn xuống phía tôi rồi nói bằng tiếng Việt:”Mẹ ơi, cuối cùng mẹ không phải ngủ trong xe nữa rồi.”

Cả hội trường chết lặng vài giây.

Rồi tiếng vỗ tay bùng nổ như sấm.

Còn tôi… chỉ biết ôm mặt khóc.

Vì tôi hiểu, phía sau danh hiệu thần đồng mà cả thế giới tung hô, con gái tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ từng co ro trong chiếc xe lạnh giá, cố học dưới ánh đèn pin yếu ớt để cứu lấy gia đình mình.

ĐOÀN MƯỜI

Nguồn: (https://fleuri.info/21950/)


 

Hồ sơ Cầu Voi: Vụ án Hồ Duy Hải và “Kịch bản thế thân” hoàn hảo?

Chan Dung Lanh Dao

Hồ sơ Cầu Voi: Vụ án Hồ Duy Hải và “Kịch bản thế thân” hoàn hảo?

Suốt 18 năm qua, vụ án Bưu điện Cầu Voi (2008) không đơn thuần là một hồ sơ hình sự, mà là một “vở kịch” được dàn dựng tinh vi nhằm che giấu một sự thật kinh hoàng. Khi nhìn sâu vào 5 lỗ hổng chí mạng mà tòa án cố tình bỏ qua, người ta không khỏi rùng mình trước giả thuyết về một kế hoạch “chọn người thế thân” hoàn hảo nhất lịch sử tư pháp Việt Nam.

Hãy bắt đầu từ hiện trường vụ án: Không một dấu vân tay, không một sợi tóc hay vết ADN nào của Hồ Duy Hải được tìm thấy. Tại sao một hung thủ thực hiện vụ sát hại dã man lại có thể “bốc hơi” sạch sẽ như một bóng ma? Câu trả lời rất có thể vì hung thủ thực sự là một kẻ có “quyền lực tuyệt đối” hoặc được bảo vệ bởi một thế lực đứng sau, kẻ có đủ thời gian và kỹ nghệ để xóa sạch mọi dấu vết sinh học trước khi cơ quan điều tra vào cuộc.

Sự dàn dựng càng lộ liễu khi những vật chứng cốt lõi như dao và thớt bị tiêu hủy một cách bí ẩn, rồi được thay thế bằng đồ mua mới ngoài chợ. Đây không phải là “sai sót tố tụng” vô ý. Việc tiêu hủy vật chứng gốc là cách duy nhất để xóa sổ vĩnh viễn ADN của kẻ thủ ác thực sự, ngăn chặn mọi cuộc giám định khoa học trong tương lai có thể lật tẩy danh tính của hắn.

Đáng sợ hơn, bằng chứng ngoại phạm của Hải tại tiệm cầm đồ vào lúc 19h13 hoàn toàn bị gạt phắt. Thời không bị bẻ cong để ép một người không thể phân thân phải có mặt tại hiện trường. Hàng loạt lời khai mâu thuẫn, những hồ sơ có lợi bị rút bớt, và sự biến mất của các nhân chứng nhìn thấy “người đàn ông lạ mặt” khác tại bưu điện cho thấy có một bàn tay vô hình đang vận hành cỗ máy tố tụng. Hồ Duy Hải, một thanh niên bình thường, đã được lựa chọn để trở thành quân cờ gánh tội cho một “nhân vật tầm cỡ” nào đó.

Đến năm 2026, vụ án này vẫn là một vết sẹo nhức nhối. Dù Hội đồng Thẩm phán từng giữ nguyên bản án vào năm 2020, nhưng dư luận vẫn đổ dồn mắt vào đợt đặc xá sắp tới. Liệu Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Anh Rừng có quyết định lật mở lại bức màn đen này? Quyết định đặc xá không chỉ là lòng nhân đạo, mà sẽ là cú đòn trực diện phá tan “ma trận im lặng” đã bao che cho hung thủ thực sự suốt gần hai thập kỷ qua.

https://www.facebook.com/le.anh.274642

Chân dung lãnh đạo

#chandunglanhdao 


 

Dân Hưng Yên phải quật mồ, khai mả, giao đất Trump làm sân golf

Ba’o Nguoi-Viet

May 29, 2026

HƯNG YÊN, Việt Nam (NV) – Một dự án sân golf và khu dân cư cao cấp mang thương hiệu Trump trị giá $1.5 tỷ ở Hưng Yên, Việt Nam đang vấp phải sự phẫn nộ của người dân địa phương, khi dân làng buộc phải giao đất nông nghiệp và bốc mộ người thân để nhường chỗ cho dự án.

Tờ Financial Times (FT) đưa tin rằng nông dân tại xã Châu Ninh, tỉnh Hưng Yên, đã bắt đầu tháo dỡ một nghĩa trang tồn tại nhiều thập niên giữa những vườn cây ăn trái. Người dân ở đây bị yêu cầu di dời các ngôi mộ, lấy đất cho dự án rộng 990 hectare (khoảng 9.900.000 2) của Trump Organization và đối tác Việt Nam là Tổng Công Ty Phát Triển Đô Thị Kinh Bắc thực hiện. Dự án dự trù bao gồm các sân golf, khách sạn năm sao, biệt thự cao cấp và khu dân cư.

Một phụ nữ đạp xe ngang qua tấm biển tại lễ khởi công dự án khu nghỉ dưỡng và sân golf Trump International, Hưng Yên thuộc tỉnh Hưng Yên vào ngày 21 Tháng Năm, năm 2025.(Hình: Nhac NGUYEN / AFP via Getty Images)

Vụ việc này chạm đến một vấn đề rất sâu trong văn hóa Việt Nam, nơi mồ mả tổ tiên được xem là thiêng liêng. Tại nghĩa trang, theo FT, những bảng tên bị vỡ, chân nhang cháy dở và các bia mộ bị đánh dấu cho thấy phần hài cốt nào đã được di dời.

“Vì dự án này mà người dân bị buộc phải chuyển đi,” ông Trần Minh Hải, một nông dân trồng hoa ly, nói. Nhắc đến quan niệm của người Việt rằng mồ mả nên được để yên, ông nói thêm: “Đây là chuyện tâm linh, người ta không muốn động đến mồ mả.”

Dự án được khởi công vào Tháng Năm, năm 2025, không lâu sau khi chính quyền Việt Nam phê duyệt khoản đầu tư. Hãng Reuters đưa tin khi đó rằng ông Eric Trump, con trai của Tổng Thống Trump, phó chủ tịch điều hành của Trump Organization, đã dự lễ khởi công cùng Thủ Tướng Phạm Minh Chính. Ông Chính nói chuyến thăm của ông Eric Trump đã “tạo động lực để chúng tôi đẩy nhanh dự án này,” và yêu cầu chính quyền địa phương hỗ trợ để khu nghỉ dưỡng hoàn thành đúng tiến độ. Ông Eric Trump nói các dự án được phát triển tại Việt Nam sẽ là “niềm ao ước của toàn châu Á và cả thế giới.”

Thời điểm của dự án là khi Việt Nam, một nền kinh tế phụ thuộc lớn vào xuất cảng, đang tìm cách duy trì quan hệ tốt với Washington trong lúc đàm phán về thuế quan của Mỹ. Theo Reuters cho biết, Việt Nam phê duyệt kế hoạch đầu tư $1,5 tỷ này khi đang tìm cách tránh mức thuế nhập khẩu 46% mà ông Trump từng đề xuất. FT ghi nhận rằng lễ khởi công diễn ra sáu tuần sau khi ông Trump tuyên bố thuế quan “ngày giải phóng” và dự án được nhiều người nhìn nhận như một phần trong nỗ lực của Hà Nội nhằm giữ thiện cảm với chính quyền Trump.

Ông Nguyễn Khắc Giang, nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Viện ISEAS-Yusof Ishak, nói với FT: “Ngày càng có cảm giác rằng Việt Nam cần làm nhiều hơn để làm hài lòng chính quyền Trump về thương mại, thuế quan và mối quan ngại gần đây về quyền sở hữu trí tuệ.”

Nhưng đối với dân làng, vấn đề này rất trực tiếp và cá nhân. Bài báo của FT ghi nhận, một số cư dân nói mức bồi thường đất thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế và không đủ để thay thế sinh kế của họ. Một số người dân phàn nàn về sự đe dọa, thiếu minh bạch trong khảo sát đất và việc định giá hoa màu không công bằng.

Ông Hoàng Đô, 72 tuổi, nói ông nhận khoảng 70 triệu đồng để di dời mộ cha mẹ và con trai. “Đau lắm,” ông nói. “Tôi phẫn nộ về giá bồi thường thu hồi đất.”

Một cư dân khác, bà Bùi Thị Yến, nói bà không muốn giao phần đất vốn từng được cấp để bồi thường cho gia đình các liệt sĩ trong Chiến Tranh Việt Nam. Ông Hoàng Anh Xa, người có năm thân nhân được chôn trong nghĩa trang, đặt câu hỏi vì sao mồ mả gia đình ông phải bị di dời. “Mộ của cụ tôi đã ở đó từ năm 1967, trước khi đất nước này được thành lập, vậy tại sao tôi phải chuyển đi?” ông nói với FT.

Ông Xa cũng nói dự án đe dọa sinh kế của ông. “Tôi sẽ không thể tìm được việc khác,” ông nói. “Chúng tôi không phản đối chính sách của Đảng và nhà nước. Chúng tôi chỉ xin một điều duy nhất, giá đất phải cao hơn.”

Trump Organization nói dự án này là một khoản đầu tư lớn vào tương lai của Việt Nam. Trong thông cáo chính thức, công ty mô tả Trump International, Vietnam là dự án sân golf và khu dân cư đầu tiên mang thương hiệu Trump tại Việt Nam. Ông Eric Trump nói Việt Nam là “một trong những thị trường năng động và nhiều triển vọng nhất thế giới hiện nay,” và gọi dự án này là “một cam kết về sự xuất sắc, một sự tôn vinh văn hóa và một khoản đầu tư lâu dài vào tương lai của Việt Nam.”

Nhưng trên thực địa ở Hưng Yên, dự án xa hoa được hứa hẹn ấy đã trở thành biểu tượng đau đớn của sự di dời. Với nhiều nông dân, tranh chấp này không chỉ là chuyện tiền bạc. Đó là chuyện đất đai, tổ tiên, ký ức, và câu hỏi liệu những người dân bình thường có thật sự có tiếng nói khi một dự án mang ý nghĩa chính trị lớn xuất hiện hay không. (K.L)


 

Viết vài dòng về Phạm Đoan Trang, nhân sinh nhật 27/5

Kim Dao Lam

Fb Khanh Nguyen

Phạm Đoan Trang là một cây viết chính trị đặc biệt, không phải ở tính cách quyết liệt, hay sự lặng lẽ chấp nhận những tình huống kinh hoàng xảy ra trong đời mình, mà đi đâu, làm gì Trang cũng phải có một cây đàn.

Trong những tháng đầu năm 2020, áp lực đối với Trang ngày càng lớn, dù không hiện rõ, nhưng bằng bản năng nhạy bén của một nhà hoạt động, dự đoán được điều gì sẽ xảy đến, Phạm Đoan Trang đã di chuyển liên tục, chuyển nhà ít nhất là 4 lần cho đến khi bị bắt vào tháng 10 năm 2020.

Có những chuyến đi bất ngờ không kịp đem theo đồ đạc, Trang chỉ vác vội cái ba lô và bước ra khỏi nơi đang trú ngụ, bỏ lại mọi thứ. Có ít nhất là 3 tới 4 cây đàn đã phải bỏ lại, mà không thể quay về để lấy.

Bạn bè lúc đó thăm hỏi, có người muốn tặng quà, có người muốn gửi ít lộ phí, những Trang thường hay hỏi lại ” Em chỉ cần một cây đàn. Anh-chị có đàn guitar không thì cho em mượn”.

Trang đi ra ngoài một buổi cũng mang theo đàn. Lúc đó, anh chị em cảm giác những ngày tháng không may sắp đến nên đã tổ chức những chuyến đi chơi để Trang khuây khỏa, và cũng để, lỡ như “ngày ấy” đến, ít ra Trang cũng giữ được bên mình những kỷ niệm đẹp. Thế là Trang và đàn guitar lại cùng nhau lên đường.

Trong một chuyến đi xuống miền Tây, Trang hẹn xe ghé đón ở một ngã tư nhỏ. Từ một góc khuất, Trang khập khiểng đi ra, vai cũng vác cây đàn. Đó là hình ảnh tôi không thể quên: hình dáng một cô gái có lửa bốc trên chữ, có sự can trường đủ sức ghi vào lịch sử, do vậy mà cô đã phải chịu biết bao nhiêu những trận đòn tàn bạo, dù không thù không oán, nhưng lúc nào cũng sẵn sàng mỉm cười, và ngồi xuống mở đàn, hát một bản tình ca.

Có lần hỏi Trang, nếu mai này không còn viết về những câu chuyện gai góc nữa, Trang sẽ làm gì? Trang cười, nói “thì đàn hát thôi anh”. Không biết những ngày tháng này, Trang có đàn hát được không?

Không thấy Phạm Đoan Trang nói về lòng nhân ái, nhưng những trang viết về Đồng Tâm là những cái nhìn quặn đau tình đồng bào. Trang cũng chẳng bao giờ muốn mình đứng ở tuyến đầu, cầm cờ phất như một chiến sĩ lấp lánh hào quang, nhưng Trang kiên cường đến mức chưa bao giờ lùi lại một bước nào khỏi vị trí của mình. Đó là một cô gái lớn lên với lẽ phải, công bằng của dòng máu Việt và có đủ danh dự, trách nhiệm của một trí thức với Tổ Quốc.

Viết vài dòng về Phạm Đoan Trang, nhân sinh nhật 27/5, lúc này trong trại giam, cũng như là một cách để nhắc tôi và bạn không quên Trang và những con người yêu nước can trường khác, đã góp vào lịch sử Việt Nam những thời khắc kiêu hãnh. Họ tự nguyện bước lên và chấp nhận tất cả mọi thứ, biến đời mình thành những dữ liệu thô sơ, không bóng bẩy như hàng thời trang, nhưng đó chính là những nền móng cho một ngày mai nước Việt. 


 

50 năm – còn đó nỗi buồn- Phạm Tín An Ninh

50 năm – còn đó nỗi buồn

   Phạm Tín An Ninh

Ngày 24.2.2025 tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ đã quay lưng trước đồng minh NATO cùng hầu hết các quốc gia thuộc thế giới tự do, chính thức đứng về phía Nga, Iran, Bắc Hàn, và những nước thân Cộng sản, bỏ phiếu chống lại nghị quyêt lên án Nga gây chiến tranh xâm lược Ukraine, nhân dịp thế giới kỷ niệm 3 năm ngày Vladimir Putin xua quân vào lãnh thổ Ukraine. Sau đó, cả thế giới lại bàng hoàng, khi vị Tổng thống thứ 47 của Hoa Kỳ đã tỏ ra thân thiện với kẻ thù Nga, ca ngợi, bênh vực tên đồ tể Putin trong khi hết lời mạt sát, nhục mạ Tổng thống Zelensky, người đồng cấp, từng là đồng minh thân tín của Hoa Kỳ. Đã vậy, Tổng thống Mỹ còn đòi phải được khai thác khoảng sản, đất quý, tài sản quốc gia của Ukraine để trừ vào số tiền viện trợ trước đây. Có lẽ đây là nguyên nhân tiềm ẩn đưa đến cuộc tranh luận gay gắt, trở thành trận cải vã nặng nề ngay tại Tòa Bạch Ốc, giữa Tổng thống Zelensky của Ukraine và Tổng thống  D. Trump cùng Phó Tổng thống  J.D Vance của Hoa Kỳ vào ngày 28.2.2025, trước sự chứng kiến của các cơ quan truyền thông hiện diện cùng cả thế giới qua màn ảnh truyền hình. Sau khi “mời” Tổng thống Zelensky cùng phái đoàn tùy tùng ra khỏi Phòng Bầu Dục, Tổng thống Trump cũng đã quyết định ngưng tức khắc mọi viện trợ quân sự cũng như cung cấp tin tức tình báo, nhằm áp lực Ukraine phải nhanh chóng ngồi vào bàn hội nghị theo sự sắp xếp của Hoa Kỳ. Đến hôm nay, kết quả hội đàm tuy chưa chính thức ngã ngũ, nhưng ai cũng đã nhìn thấy trước số phận của Ukraine!

*  *  *

Sự kiện này xảy ra đúng vào thời điểm người Việt chuẩn bị tưởng niệm 50 năm, ngày kết thúc cuộc chiến Việt Nam. Chính xác hơn là ngày miền  Nam Việt Nam hay nước VNCH bị Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm, cũng với sự phản bội tương tự của đồng minh Hoa Kỳ, khi Mỹ và Bắc Việt đã cùng bắt tay thỏa thuận ký kết hiệp định mạo danh Hòa Bình vào ngày 27.1.1973 tại Paris, quyết định số phận của VNCH, quốc gia chính trong cuộc chiến nhưng bị áp lực để (gần như) phải đứng bên lề. Trong các cuộc hội đàm, phái đoàn VNCH bị xếp ngồi ngang hàng với (cái gọi là) Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền  Nam, trong khi ai cũng biết đó chỉ là đám tay sai, con rối do Cộng sản Bắc Việt nặn ra.

Vẫn biết rằng, quyết định của nước lớn đối với đồng minh luôn tùy thuộc vào quyền lợi của chính đất nước họ, tuy nhiên điều đau lòng là cung cách hành xử khi quay lưng, phản bội lại những người từng một thời nhận là bạn, cùng sống chết bên nhau. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, ngày 29.4.1975, tại Đài Loan, ngay sau đêm đầu tiên bị áp lực phải rời khỏi nước, khi trả lời cho một đại diện của chính phủ Mỹ, cũng đã lên tiếng trong ngậm ngùi, cay đắng “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó”

Ukraine và VNCH bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi khi cuộc chiến đấu của hai quốc gia này có cùng một đích: tự vệ, chống lại quân xâm lược. Chỉ khác là trong cùng tình huống này, Ukraine có nhiều may mắn hơn VNCH. Bởi cuộc chiến Việt Nam kéo dài quá lâu, có hơn 58.000 quân nhân Mỹ tử trận, một số khác bị bắt làm tù binh, đẩy phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ ngày một dâng cao, đỉnh điểm vào tháng 5/ 1970, đã có đến 4 triệu sinh viên thanh niên liên tục xuống đường, gây bạo động, một số đã bị cảnh sát bắn chết. Thời điểm này đại đa số dân chúng Mỹ, qua lưỡng viện Quốc hội, không còn ủng hộ cuộc chiến Việt Nam. Cũng phải thẳng thắn để thừa nhận, trên thực tế quân dân VNCH đã không chiến đấu hết lòng và dũng cảm bằng Ukraine, và các cấp lãnh đạo, đặc biệt vị tổng thống của họ rất xứng đáng. Ngoài ra, Ukraine vẫn còn được đa số dân chúng Mỹ ủng hộ, quan trọng hơn, được Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và gần như toàn bộ Âu Châu luôn hết lòng, sát cánh. Trong khi ở vào thời điểm (trước và sau) Hiệp định Paris ký kết, VNCH gần như cô thân độc mã. Cùng lúc bị Mỹ bỏ rơi, các đồng minh khác như Úc, Nam Hàn, Thái Lan, kể cả Phi Luật Tân cũng đều theo Mỹ, quay lưng!

*  *  *

Vào thời gian này, đơn vị chúng tôi đang hành quân tảo thanh tại khu vực Kontum – Tây Nguyên, sau khi vừa liên tục tạo các chiến thắng lẫy lừng, đánh tan các lực lượng hùng hậu thuộc Mặt Trận B-3 của tướng Cộng sản Hoàng Minh Thảo. Với khẩu hiệu “sinh Bắc tử Nam”, Cộng sản Bắc Việt chuyên áp dụng chiến thuật biển người, đẩy đám bộ đội, đa phần là thanh niên, sinh viên miền Bắc bị cưỡng bách nhập ngũ, như những con thiêu thân lao theo sau các trận địa pháo, để bằng mọi giá phải chiếm được căn cứ Charlie của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù,  mở cánh cửa ngõ xua chiến xa T-54 với hỏa tiễn tầm nhiệt của Liên Xô, tràn ngập BTL Tiền Phương SĐ22BB tại Tân Cảnh, chiếm cứ một vùng Bắc Kontum. Sau đó, một lực lượng Cộng quân hùng hậu hơn, gồm Sư Đoàn 320, Sư Đoàn 2 (sau này tăng cường thêm Sư Đoàn 968 từ Lào sang), cùng 4 trung đoàn biệt lập 66, 95, 20, 24, Trung đoàn Đặc công 400, 2 trung đoàn Pháo,  6 tiểu đoàn Phòng không và 1 tiểu đoàn Tăng T-54… tràn xuống phía Nam nhằm thôn tính thành phố Kontum, trong ý đồ tiến chiếm Pleiku, nơi có bản doanh của BTL/QĐII/VNCH hầu dùng làm bàn đạp tràn xuống đồng bằng, duyên hải, nhưng đã bị thảm bại trước một lực lượng VNCH, với chỉ duy nhất mỗi Sư Đoàn 23 BB cùng 3 tiểu đoàn Pháo Binh và 1 chi đoàn chiến xa M-41 cơ hữu, đặc biệt được Không quân (giai đoạn đầu có B-52 của Hoa Kỳ) yểm trợ. Điều này đủ để chúng tỏ khả năng chiến đấu của Quân Lực VNCH.

Ngay trong trận chiến đầu tiên tại tuyến Tây Bắc Kontum, vào sáng ngày 14.5.1972. cả hai Trung đoàn 28 và 64 của Sư Đoàn (Thép) 320 Cộng sản cùng 1 tiểu đoàn xe tăng bị tiêu diệt, làm cho cả sư đoàn có tiếng, kỳ cựu này bị kiệt quệ, không còn khả năng chiến đấu. Sau đó chỉ đúng 10 ngày, sáng sớm ngày 24.5.72. trong trận tấn công cùng lúc vào Tòa Giám Mục, Bệnh Viện 2 Dã Chiến và vòng đai phi trường Kontum, cả Trung đoàn 52 thuộc Sư Đoàn 2 (Quảng Đà) mới tăng cường từ vùng Quảng Nam vào, bị đánh tan, đã phải giải thể. Một số lớn cán binh của Trung đoàn 141 thuộc sư đoàn này bị bắt và ra hồi chánh. (Những thất bại này Cộng sản Bắc Việt đã phải công nhận qua chính các hồi ký, quân sử của họ)

Chiến thắng Kontum vào Mùa Hè 1972 của đơn vị chúng tôi ở Quân Đoàn II, cùng lúc với Bình Long ở Quân Đoàn III và Quảng Trị ở Quân Đoàn I đã bẻ gãy ý đồ thôn tính VNCH của Cộng sản Bắc Việt, khi lợi dụng việc Hoa Kỳ vừa rút hết quân về nước, đồng thời cắt giảm tối đa quân viện cho VNCH, sau chiêu bài “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”.

Nhưng rồi Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973 như một trận gió chướng tàn độc, cuốn trôi hầu hết những chiến công mà chúng tôi đã phải trả bằng biết bao máu xương để đạt được, cùng lúc làm tiêu hao hào khí mà quân sĩ đơn vị chúng tôi vừa dâng cao trong men say chiến thắng. Hiệp định Paris mà Hoa Kỳ và Bắc Việt đã thỏa hiệp, ký kết trên nỗi đau thương, phẫn uất cùng thân xác của những người lính khốn khổ chúng tôi, chính là huyệt mộ do chính Hoa Kỳ đào lên nhằm chôn sống quân lực và cả quốc gia đồng minh VNCH sau đó.

Ủy Ban Nobel Hòa Bình Na Uy năm 1973 đã phải vô cùng xấu hổ và ân hận khi có một quyết định vội vã, sai lầm, trao giải cho Henry Kissinger và Lê Đức Thọ. Bị cả thế giới và nhiều dân biểu Na Uy phản đối, một số thành viên bất mãn rút tên ra khỏi Ủy Ban. Sau đó chính Lê Đức Thọ đã phải từ chối nhận giải, vì hơn ai hết, chính cá nhân ông ta và cả Bộ chính trị Đảng Cộng sản đều biết trước là sẽ không hề có hòa bình, bởi họ đã mưu đồ từ trước, không hề tôn trọng hiệp định mà chỉ lợi dụng những kẽ hở có toan tính, để đẩy mạnh cuộc chiến nhằm sớm cưỡng chiếm Nam Việt Nam.

Hiệp định mang tên Hòa Bình, nhưng kỳ thực chỉ là hình thức ngưng bắn kiểu “da beo”, để các lực lượng Cộng sản Bắc Việt không phải rút về Bắc mà được tiếp tục hiện diện hợp pháp tại các phần đất mà họ vừa lấn chiếm, cùng lúc Hoa Kỷ cắt hết viện trợ quân sự cho VNCH để đổi lấy tù binh, trong khi Cộng sản Bắc Việt vẫn được Trung Cộng, Liên Xô cùng khối Cộng sản gia tăng tối đa viện trợ. Lợi dụng tình hình này, Cộng sản Bắc Việt đã ào ạt chuyển đại quân, chiến xa, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu vào chiến trường miền Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh, và một số từ Lào sang để gia tăng cường độ các cuộc tấn công, trong khi chúng tôi phải chiến đấu trong những điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn, từ quân số, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu, đến mọi phương tiện khác.

Hồi tưởng thời gian này, tôi bỗng thấy đồng cảm và thấm thía với tâm trạng của người lính trẻ Paul Bäumer, nhân vật chính trong “All Quiet On The Western Front” (Mặt Trận miền  Tây Vẫn Yên Tĩnh), tác phẩm viết về chiến tranh nổi tiếng của nhà văn Đức, Erich Maria Remarque, mặc dù tình huống tương tự đã xảy ra từ thời Đê Nhất Thế Chiến, hơn 55 năm trước:

“Ngày tháng trôi qua. Mùa hè 1918 này là mùa hè đẫm máu và kinh hoàng nhất. Thời gian giống như những thiên thần đang bay lượn trên vùng hủy diệt một cách không thể hiểu nổi. Dường như ai cũng biết rằng chúng tôi sẽ phải thua trong cuộc chiến này. Nhưng rất ít ai nói ra điều ấy. Chúng tôi đang bị đẩy lui. Chúng tôi không còn đủ quân số, không đủ tiếp liệu, đạn dược để có khả năng phản kích sau cuộc tổng công kích này. Duy chỉ có các chiến dịch hành quân là còn đang tiếp diễn – và những cái chết sẽ vẫn còn tiếp tục…”

Là những người trực tiếp chiến đấu, cận kề quân sĩ, chúng tôi đã phải xót xa, đau đớn đến dường nào khi chứng kiến đồng đội của mình ngã xuống mỗi ngày trong tình trạng tức tưởi, oan khiên như thế!

Hơn mười năm phục vụ trong một đơn vị Bộ Binh bình thường, nhưng chúng tôi chưa hề một lần chiến bại, ngay cả những trận chiến gay go, đẫm máu nhất, với lực lượng địch đông gấp nhiều lần và vũ khí tối tân hơn, điển hình như trận chiến Kontum. Vậy mà bỗng dưng chúng tôi trở thành những người bại trận. Bi thảm và tủi nhục hơn là dù có “gãy súng”, “buông súng” hay không, chúng tôi cũng bị thuộc về bên phía “đầu hàng” theo lệnh của ông tướng mới lên làm tổng thống ba ngày, nhân danh Tổng Tư Lệnh. Sau này, có người bảo ông làm đến đại tướng mà ngây thơ, nghe theo lời dụ dỗ, móc nối của ai đó và một người em ở phía bên kia, tin Cộng sản sẽ thành lập “chính phủ ba thành phần”. Có người lại bảo ông giành chức tổng thống chỉ để làm một điều duy nhất – đầu hàng. Cũng có người bênh vực, bảo nhờ ông đầu hàng nên tránh được một cuộc tắm máu, và có đủ thời gian cho một số người kịp chạy đến Subic Bay hay đảo Guam, sang Mỹ sớm. Là những thằng lính khốn khổ nhất, năm tháng chỉ ở trong núi rừng, dưới các giao thông hào, ngộp thở với tiếng bom đạn cùng bao nhiêu thứ lệnh lạc chiến trường, chúng tôi đâu có biết gì về chính trị bẩn thỉu, nhất là các biến cố dồn dập, hỗn độn trong những ngày tháng cuối cùng tại thủ đô Sài gòn.

*  *  *

Trong chiến tranh, thắng bại dù sao cũng là lẽ thường tình. Cuộc nội chiến Mỹ 1861-1865, Nam quân đã đầu hàng Bắc quân, và trong Đệ Nhị Thế Chiến, nước Nhật hùng mạnh đã phải đầu hàng quân đội đồng minh, sau khi hai quả bom nguyên tử do Mỹ thả xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki. Kẻ chiến thắng đã hành xử văn minh, nhân bản như thế nào, cho dù các cuộc chiến ấy cũng vô cùng tàn khốc, cướp đi rất nhiều sinh mệnh của hai bên – cả dân lẫn lính. Nhưng cuộc bại trận của chúng tôi sao mà phẫn uất và đau đớn quá. 

Bị đồng minh phản bội, bỏ rơi trong đành đoạn, tức tưởi. Thua một kẻ địch không đáng để thua. Một chế độ tự do nhân bản, văn minh, phồn thịnh lại phải đầu hàng một chế độ man rợ, nghèo nàn, lạc hậu. Có lẽ trong lịch sử chiến tranh Đông-Tây, chưa từng có những người lính nào ở phe thắng trận lại ngồi khóc ở vệ đường trên phần đất vừa mới chiếm được – như trường hợp nhà văn bộ đội Cộng sản Dương Thu Hương và nhiều người khác nữa– bởi nhận ra mình bị lừa dối, uổng phí cả một thời trai trẻ để đi “giải phóng” một miền đất tự do, văn minh, nhân bản, giàu có, hạnh phúc gấp vạn lần “miền Bắc xã hội chủ nghĩa” của mình. 

Đến hôm nay, cuộc chiến oan nghiệt ấy đã kết thúc vừa đúng nửa thế kỷ. Hầu hết những dấu tích chiến tranh trên quê hương đã bị “bên thắng cuộc” chôn xóa, hủy diệt, ngoại trừ một số rất ít được chọn lọc, tô son thiếp vàng, trưng bày trong các viện bảo tàng, nhằm để tô vẽ, tuyên truyền. Trong số chứng tích còn sót lại là những nấm mồ xác xơ của hàng vạn tử sĩ miền Nam, nằm trong các nghĩa trang tiêu điều hoang phế, bị kẻ chiến thắng đập phá, hủy hoại, nhục mạ. Thực ra, họ rất muốn phá hủy hoàn toàn cho sạch hết chứng tích cuộc chiến mà chính họ đã làm hoen ố lịch sử dân tộc một thời, như đã từng san bằng, giải tỏa một số các nghĩa trang quân đội ở các tỉnh miền Trung, nhưng sở dĩ một số ít nghĩa trang lớn còn sót lại, dù trong tình trạng bị phá hủy, thay tên gọi (như nghĩa trang quân đội Biên Hòa trở thành một nghĩa trang dân sự địa phương lạ lẫm nào đó), chỉ nhằm để kiếm lợi trong các cuộc tuyên truyền, thương lượng, đổi chác với Hoa Kỳ cùng thế giới tự do, và cũng để gạt gẫm, lừa mị đồng bào miền Nam hầu ngụy tạo một chút gì cái “tình dân tộc” trong chiêu bài “hòa hợp hòa giải”.

Mới đây, có người phát hiện Nghĩa trang Sư Đoàn 22BB hoang phế nằm lẩn khuất trong một vùng núi rừng Bình Định. Cây cỏ và cả rác rến gần như che lấp hàng ngàn mộ phần tử sĩ rêu phong. Một số đồng đội, nhà hảo tâm trong và ngoài nước cùng hô hào đóng góp, nhờ một số các anh chị em còn nặng tấm lòng với miền Nam trong nước tiếp tay, phát quang, sơn sửa, kẻ lại tên tử sĩ và dựng lại các tấm bia gãy đổ. Vậy mà, sau đó họ đã bị chính quyền Cộng sản đe dọa, ngăn chặn, gây bao phiền muộn. Kế hoạch trùng tu “kín” một số nghĩa trang hoang phế khác trong vùng cũng vì đó mà đành phải hủy bỏ.

Hàng vạn trại tù vội vàng được dựng lên sau tháng 4/1975, trên khắp mọi miền đất nước, nhằm đày ải, hành hạ, giết dần mòn gần một triệu quân cán chính, trí thức, văn nghệ sĩ, kể cả nhà sư và linh mục miền Nam. Giờ hầu hết những trại nằm trong rừng sâu, núi thẳm đã biến mất, một số trại tù lớn ở các thành phố thì đã được nâng cấp, sửa sang để trở thành những trại giam lớn của tỉnh hay cấp nhà nước. Tuy nhiên cứ thi thoảng người dân lại phát hiện một số nấm mồ “tù cải tạo” nằm sâu trong núi rừng Lào Cai, Yên Bái hoang vu, giờ chỉ còn mỗi tấm bia xám xịt rêu phong, lẩn khuất dưới cỏ cây từ gần 50 năm trước.

(Mộ tù cải tạo trong rừng núi Yên Bái – Ảnh từ youtube)

Một chứng tích đau lòng khác, những thương phế binh VNCH bị đối xử tệ hại, đang phải sống từng ngày khốn cùng trong nước. Phần đông, theo thời gian đã chết do nghèo đói, bệnh tật. Số còn lại cũng đã già nua, sống lây lất trên các vỉa hè góc phố. Vậy mà họ vẫn không yên với một chế độ thiếu vắng tính nhân bản, tình tự dân tộc, luôn nặng hận thù. Với nghĩa tình cùng lòng tri ân của những đồng đội, đồng bào từ hải ngoại và cả trong nước, vận động gom góp gởi về, qua các vị Linh mục nhân từ thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn, để các vị tổ chức mỗi năm một, hai lần buổi họp mặt “Bên nhau đi nốt cuộc đời”, như là một chút ủy lạo trong tinh thần huynh đệ chi binh và biết ơn những người đã hy sinh một phần thân thể, vậy mà chính quyền Cộng sản cũng đã tìm mọi cách gây khó khăn, đe dọa, ngăn chặn cấm đoán, để cuối cùng phải hủy bỏ.

(thương binh VNCH – Ảnh: trên Net)

Chứng tích quan trọng và sinh động hơn, là sự hiện diện của hơn 5 triệu người Việt đã phải bỏ nước ra đi, đang sống lưu vong trên khắp mặt địa cầu. Sau tháng 4.1975, cả một miền Nam “thua cuộc” đã nhanh chóng trở thành một vùng đất chết, khốn cùng, bi thảm. Người dân có cảm giác như bị lưu đày ngay trên chính quê hương mình. Tương lai chỉ còn là những cơn ác mộng. Thời ấy, mọi người chỉ còn biết nhìn ra biển khơi mênh mông để ước mơ một sự đổi thay nào đó ở phía bên kia chân trời mịt mờ vô định. Và còn gì đau đớn hơn khi con người nghĩ tới chuyện phải bỏ quê hương ra đi lại là một niềm khát vọng! Trong suốt lịch sử thăng trầm của dân tộc, chưa có thời kỳ nào mà người dân phải bỏ cả quê hương, nhà cửa, mồ mả ông bà cha mẹ để vượt thoát ra đi trong cái chết. Chính quyền Cộng sản từng tuyên truyền, bôi xấu họ là bọn phản quốc chạy theo chân đế quốc nhằm tìm chút bơ thừa sữa cặn, để rồi không lâu sau đó lại âu yếm, chiêu dụ, gọi họ là những “khúc ruột ngàn dặm”, những “sứ giả” của quê hương, dân tộc. Thực chất, các cộng đồng người Việt tỵ nạn trên hầu hết các quốc gia tự do – mà chính quyền Cộng sản vẫn luôn xem là “các thế lực thù địch”- đa phần đã thành công vượt bậc tại các quốc gia định cư, thế hệ con cháu thành đạt trên đủ mọi lãnh vực, từ giáo dục, khoa học kỹ thuật, chính trị, quân sự, văn học, âm nhạc. Đó là những đóng góp rất tích cực cho các quốc gia đón nhận họ, nhưng cũng là những chất xám quý báu mà chính quyền Cộng sản trong nước hằng mơ ước.

Trong suốt 50 năm, kẻ chiến thắng đã cố tình biến miền Nam, vùng đất tự do văn minh hạnh phúc xinh đẹp một thời, trở nên nghèo nàn, khốn khổ hơn so với cái nôi “cách mạng” miền Bắc, nhưng rồi dù có bị đàn áp, bần cùng hóa. phân biệt đối xử đến đâu, người miền Nam vẫn luôn giữ được văn minh, nhân bản, và đất miền Nam vẫn luôn đáng yêu, đáng sống. Đã có hằng triệu triệu người dân miền Bắc bỏ quê cha đất tổ tìm vào đất phương Nam, mong được đổi đời. Mật độ dân số miền Nam, đặc biệt tại Sài gòn ngày một đông đúc, có khi gấp gần 5 lần so với tháng 4.1975, nhà cửa, cao ốc thi nhau dựng lên bừa bãi, đến nỗi nhiệt độ trở nên nóng bức trong cả mùa đông, và nhiều con đường phố đã trở thành sông, chỉ sau một cơn mưa, dù không lớn lắm. Ngay cả các tỉnh cao nguyên, miền Trung, giờ cũng đầy những người miền Bắc bỏ xứ vào đây lập nghiệp, giành nương chiếm rẫy của những người Thượng, vốn từng bao nhiêu đời khai sơn phá thạch, sống chết ở đây.

50 năm, nền giáo dục “xã hội chủ nghĩa” lạc hậu, xuống cấp đã làm cho bao thế hệ học trò trở nên thua kém rất xa so với thế giới chung quanh. Đến nỗi một cô giảng viên trường Đại học Sư phạm (Thái Bình) đã công khai trong một chương trình trên truyền hình Hà Nội, rằng “Tự Lực Văn Đoàn là một gánh cải lương, và ông Nhất Linh là ca sĩ cổ nhạc”. Tệ hại và tủi nhục hơn là tình trạng tha hóa trong ngành giáo dục, kể cả thầy giáo và học trò. Chuyện thầy giáo gạ tình, hiếp dâm nữ sinh cũng như chuyện học trò, kể cả nữ sinh, đánh nhau và đánh luôn cả thầy cô giáo, gần như là chuyện thường tình.

Đặc biệt, ngôn ngữ Việt (cả tiếng nói lẫn chữ viết) bị biến cải một cách tùy tiện, ngốc nghếch, kể cả muốn Tàu hóa như trường hợp ông giáo sư tiến sĩ Bùi Hiền nào đó. Lịch sử (và môn Sử học) được dựng lên từ bao điều dối trá. “Anh hùng Lê Văn Tám” được xây tượng đài, đặt tên cho các con đường lớn, công viên, trường học, bắt học trò cả nước phải học tập, noi gương như một vị anh hùng. Thực chất, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật tưởng tượng. Chính ông GS Trần Huy Liệu, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN đã thú nhận với GS Phan Huy Lê, nhân vật Lê Văn Tám là do mình “dựng” nên và nhờ GS Phan Huy Lê sau này khi đất nước yên ổn, nói lại giùm, lỡ khi đó ông Trần Huy Liệu không còn nữa.  (GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám, Khoa Đông phương học). Và ông Phan Huy Lê đã công bố sự thật này năm 2005, người dân trong nước do đó đều biết câu chuyện gian dối lừa mị này, vậy mà đảng và nhà nước vẫn không hề một lời lên tiếng.

50 năm, nền văn học “xã hội chủ nghĩa” còn lại những gì, ngoài mấy trăm bài thơ tuyên truyền, nịnh lãnh tụ, tiêu biểu cỡ Tố Hữu “Ta bên người, người tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn bên Người một chút…” hay “ Xta-lin ơi!/Hỡi ôi Ông mất, đất trời có không?/Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười), cùng các bản nhạc “đỏ”: Bác đang cùng chúng cháu hành quânTrường Sơn Đông Trường Sơn Tây,Tiếng Chày Trên Sóc Bam Bo,  Năm Anh Em Trên Một Chiếc Xe Tăng, Cô Gái Vót Chông… mà đám văn công hát đi hát lại trong mấy ngày lễ lớn, và tất nhiên chẳng ai còn muốn nghe!

Nhưng 50 năm với những bản tình ca miền Nam, một thời bị cho là nhạc vàng, cấm đoán, đến nỗi có người hát (như Toán Xồm, Lộc Vàng) đã từng bị đàn áp,  tù đày để người phải bỏ mình, người thì gần cả một đời khốn đốn, giờ lại làm mê mẩn say đắm mọi người lớn nhỏ, kể cả những “đồng chí lãnh đạo”, công an, bộ đội, từ Nam ra Bắc, từ thành phố cho đến các hang cùng ngõ hẻm, vùng sâu vùng xa. Mà oái ăm thay, đa phần những bản nhạc tình ca này lại viết rất đẹp về lính VNCH, người lính “bên thua cuộc”.

Trong một bài tiểu luận viết vào ngày 1.1.2022, dưới nhan đề “Níu một thời, giữ một đời”, nhà văn Ban Mai, một trí thức trẻ của chế độ (giảng viên tại trường Đại Học Quy Nhơn) đã viết:

“Việt Nam, sau năm 1975 kết thúc chiến tranh giữa hai miền Nam – Bắc. Hòa bình đã đến sau mấy thập niên tang tóc vì bom rơi, đạn nổ. 

Thế nhưng, người miền Nam đã không thể tưởng tượng nổi, tiếp sau đó là một thảm cảnh kinh hoàng… Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thụ tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Tất cả sách báo, văn học nghệ thuật bị tịch thu tiêu hủy, nền văn chương miền Nam hoàn toàn bị bôi xóa. Giống như thời man rợ của Tần Thủy Hoàng năm 210 trước công nguyên… 

Bắt đầu sau năm 1975, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam không hề biết đã từng có một nền văn học nghệ thuật miền Nam vô cùng gíá trị với nhiều thể loại “trăm hoa đua nở”, đề cao tự do, dân chủ, với ý thức khai phóng, nhân bản, theo kịp trào lưu thế giới…

Bên trong nước, mấy năm gần đây có một bạn trẻ Nguyễn Trường Trung Huy ở Sài Gòn cũng dày công sưu tầm văn học miền Nam và bộ sưu tập của bạn ngày một đồ sộ đáng cho ta kinh ngạc, đó là một kỳ công. Tôi tin rằng, trên đất nước Việt Nam này có nhiều người thầm lặng âm thầm tìm kiếm, lưu giữ một nền văn chương nhân bản mà ta tưởng rằng đã chết sau năm 1975. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học trong nước đang ngày càng tìm kiếm để nghiên cứu, mới đây trong một đề thi luận văn bậc trung học phổ thông, có một giáo viên đã đem bài thơ “Ta về” của Tô Thùy Yên cho học sinh bình giảng, với những câu thơ đầy tính nhân văn:

“Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay

Chút rượu hồng đây xin rưới xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này”.

(Tô Thùy Yên là một sĩ quan VNCH, từng bị tù đầy qua nhiều trại giam trong gần 13 năm, sau tháng 4.1975)

Tuy đây chỉ mới là một hành động đơn lẻ nhưng đó là một tín hiệu vui.

Tôi tin rằng, sẽ không còn bao lâu nữa dòng văn chương miền Nam (1954-1975) sẽ được đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường, nó xứng đáng được trả về với đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại, không ai và không một thể chế nào có thể bôi xóa một thời đại lịch sử của nước nhà. Giữ gìn, bảo tồn và chia xẻ văn học miền Nam cho đời sau là trách nhiệm của chúng ta, của tôi và các bạn những người yêu tiếng Việt, những người yêu văn chương Việt Nam”

Một vị giáo sư khác trong nước, chuyên nghiên cứu về Văn Học Việt Nam đã khẳng định “Trong hai thập niên 1955-1975, nếu không có Văn Học miền Nam, thì nền Văn Học Việt Nam xem như không hề có, hoặc chẳng có gì cả!”

Nhà thơ, nhà giáo cũng là nhà báo nổi tiếng miền Bắc, Hoàng Hưng, trong bài viết “Về ảnh hưởng của Văn hóa miền Nam (VNCH) sau 1975”, sau khi hết lời ca ngợi lối sống, văn hóa, văn học miền Nam, đã kết luận:

“…nhìn một cách tổng thể, toàn bộ đời sống miền Nam, trong đó có đời sống văn hoá, văn học, trong 45 năm qua đã dần dần “giải phóng” người dân miền Bắc khỏi cái nhà tù lớn trong đó con người bị buộc phải giả tạo, “gồng mình” hoặc bị mê hoặc mà mù quáng tuân phục trong thời chiến và theo “định hướng XHCN….

Đến nay nó vẫn tiếp tục đóng góp vào tiến trình “giải Cộng” gian lao của đất nước! Chắc chắn sẽ đến một ngày, đất nước chứng kiến một cuộc phục hưng văn hoá, văn học, đi tiếp con đường mà văn hoá, văn học miền Nam đã đi. Con đường Tự Do, Nhân Bản, Hội Nhập Quốc Tế.”

*  *  *

Sau 50 năm, tất nhiên đất nước cũng đã có những đổi thay nhất định. Cơ sở hạ tầng, đặc biệt tại các đô thị có nhiều phát triển, đời sống người dân ở đây có khá hơn so với nông thôn. Tuy nhiên trên thực tế, Việt Nam vẫn còn tụt hậu khá xa so với nhiều nước chung quanh. Chính ông Tổng Bí thư Tô Lâm mới đây đã công khai tuyên bố: “Cách đây 50 năm vào những năm 1960-1970, Singapore chỉ mong được sang Bệnh viện Chợ Rẫy (Sài gòn) để chữa bệnh, giờ thì ta lại ước mơ được vào khám bệnh ở Singapore.”

Theo thống kê của IMF (International Monetary Fund/Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế), lợi tức tính theo đầu người ở Việt Nam cho năm 2025 là 4,986 Mỹ kim (Mk), trong khi ở Singapore là 93,956 Mk, và so với hầu hết các quốc gia Đông Nam Á khác, mức sống của người dân Việt nam đều rất thấp:

– Hàn Quốc (Nam Hàn): 37,675 Mk

– Nhật Bản                   :  35,611 Mk

– Đài Loan                   :  34,944 Mk

– Malaysia                   :  14,423 Mk

– Thái Lan                   :    7,754 Mk

Tệ hơn, Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với cả Mộng Cổ (Mongolia), một nước chỉ có đồng cỏ và sa mạc, với lợi tức trung bình của người dân năm 2025 ở đây là: 7,576 Mk.

Điều đặc biệt đáng chú ý hơn là trong hầu hết các quốc gia Đông Âu, mới giã từ chế độ Cộng sản khoảng 30 năm nay, người dân đều có lợi tức cao hơn nhiều so với Việt Nam (4,896 Mk).

– Tiệp Khắc (Czech Republic) = 33,038 Mk

– Hung Gia Lợi (Hungary)       = 25,703 Mk

 Ba Lan (Poland)                     = 25,040 Mk

 Lỗ Ma Ní (Romani)               = 21,570 Mk

 Bảo Gia Lợi (Bulgari)           = 18,456 Mk 

 Tuy vậy, chủ trương làm “kinh tế thị trường (với cái đuôi) theo định hướng XHCN” thực tế cũng đã làm giàu nhanh chóng cho hầu hết tầng lớp đảng viên, gia đình và phe nhóm, đưa họ sớm trở thành những nhà tư bản “đỏ”, đào thêm cái hố ngày càng sâu giữa giai cấp giàu (đảng) và nghèo (dân). Điều này hoàn toàn trái ngược mục tiêu “đấu tranh giai cấp” mà đảng Cộng sản từng hô hào; đấu tố, giết hại dã man hàng mấy vạn người vô tội trong “Cải Cách Ruộng Đất”, lộ rõ chiêu trò lừa gạt “giải phóng miền Nam”, và hiện nguyên hình một đám thảo khấu khi chủ trương “tiêu diệt tư sản mại bản” rất tàn độc ngay sau khi cướp được miền Nam.

Sự làm giàu bộc phát (và bất chính) của tầng lớp tư bản đỏ này đã kéo theo hiện tượng xuống cấp từ Giáo Dục, Văn Hóa, Y Tế, tha hóa về Đạo Đức, Xã Hội và cả Tôn Giáo. Đặc biệt nhất là vấn nạn thối nát, tham nhũng – tất nhiên ngay trong hàng ngũ đảng Cộng sản, kể cả những lãnh đạo cao cấp nhất, từ hàng tướng lãnh, thứ bộ trưởng, thủ tướng đến cả chủ tịch nước – như là một thứ quốc nạn không còn thuốc chữa. Chức quyền được chuyền tay theo kiểu “cha truyền con nối”, “gia đình trị” của thời phong kiến. Đảng đứng trên pháp luật, thu tóm mọi quyền lực, tài sản quốc gia. Đảng viên sống phè phỡn giàu sang trên đầu những người dân cùng khốn. Đám con cháu, những “hạt giống đỏ”, được đưa sang du học tại các trường tư nổi tiếng ở các nước tư bản, tất nhiên bằng tiền của nhà nước hoặc từ tham nhũng, chuẩn bị cho các vai trò kế vị.

Một ông thủ tướng (sau đó là chủ tịch nước) từng mở miệng khoe khoang “Việt nam bây giờ đang là một đất nước đáng sống nhất, cái cột đèn ở hải ngọai mà có chân thì cũng đã chạy hết về Việt Nam” (sic!). Trong khi ấy, hàng vạn cô con gái phải bỏ cha mẹ, người tình sang làm vợ cho những ông già bệnh hoạn, tàn tật ở tận Đài Loan, Nam Hàn, như một thứ nô lệ, kể cả nô lệ tình dục. Nhiều cô không liên lạc được với gia đình. Một số bị giết chết hoặc bị bán vào các động mãi dâm. Tại một số nước Á châu, báo chí công khai quảng cáo dịch vụ “mua vợ Việt Nam” với giá bằng một món đồ chơi rẻ mạt. Trong lịch sử dân tộc, dù có những giai đoạn lệ thuộc khó khăn, nhưng không có thời kỳ nào mà thân phận những người con gái, đàn bà Việt Nam lại rẻ rúng và thê lương như thế. Chính quyền đã “xuất khẩu” hàng vạn, hàng trăm ngàn người lao động đi khắp thế giới, ngay cả những nước nghèo ở tận châu Phi, nhằm kiếm sống và kiếm thêm ngoại tệ cho nhà nước. Đã vậy vẫn cứ tiếp tục những dòng người tìm mọi cách trốn khỏi Việt Nam, để một số phải chết ngạt trong những chiếc xe đông lạnh, kín mít, một số phải sống trong núi rừng, trồng á phiện và bị bắt, vì không có quốc gia nào chấp nhận để dung thân. Một sự kiện đáng xấu hổ, khi nhóm chín người tháp tùng chuyên cơ của bà Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân trong chuyến viếng thăm “hữu nghị” Hàn Quốc, vào đầu tháng 12.2018, đã bỏ trốn khi vừa mới bước chân lên đất khách. Đó là chưa kể một số ra nước ngoài chỉ để ăn cắp, làm gái điếm, đến nỗi cái “hộ chiếu” Việt Nam đã từng trở thành nỗi ô nhục.

*  *  *

Sau đúng 50 năm, tại Sài gòn, trước cả mấy tháng, nhà nước Cộng sản Việt Nam đang chuẩn bị rầm rộ mừng ngày “thống nhất”, thao dược một cuộc diễn binh rất qui mô mà tốn phí dự trù hằng chục triệu Mỹ kim, vẫn với lời ca “thề phanh thây uống máu quân thù” vẫn với các khẩu hiệu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, hừng hực không khí kiêu ngạo, hận thù. Trong khi ấy, đã có những anh bộ đội có mặt trong đoàn quân giải phóng ngày nào, theo chân nhà văn Dương Thu Hương (ngồi khóc ở vệ đường, khi nhận ra mình bị lừa gạt để chém giết đồng bào, hủy hoại cả một miền Nam nhân bản, văn mình, giàu đẹp) giờ cũng đã tột cùng ăn năn hối hận, như trường hợp cựu cán binh Bình Ngọc với bài thơ Xin Lỗi Tháng Tư!”:

Thời trai trẻ, gác bút nghiên, gác mọi ước mơ …lên đường “ đánh Mỹ!”

Cây súng trên vai, máu đỏ trong tim!

Mụ lí trí! Hùng hục vượt Trường Sơn.

Đêm nghỉ, ngày đi, giày vẹt gót, áo sờn vai thấm lạnh!

Mẹ còng lưng vắt kiệt sức, mỏi mòn, thao thức đợi con về!

“Ba mươi tháng Tư” bên thắng cuộc, hả hê

Con trở thành kẻ “kiêu binh!” trong đoàn “quân Giải phóng!”

Nhưng! Ba mươi tám năm sau con vô cùng thất vọng!

Không hiểu mình đi Giải phóng cho ai?

Chễm chệ trên cao, toàn những kẻ bất tài!

Đáy xã hội, nhiều “dân oan!” mất đất.

Những nghịch lý, tai ương…chồng chất!

Khoảng cách “sang, hèn” cứ rộng mãi ra.

Người ở “quê” không còn tha thiết với “ao nhà”.

Tràn vào miền  Nam “ngoạ, chiếm, xâm canh…từ núi, rừng, chợ búa, thị thành, lầu cao, gác tía ….!”

Đi đâu, ở đâu cũng gặp toàn người “ngoài ấy”.


Nhà cửa, ruộng vườn ngoài ấy họ bỏ hoang???

Quê Hương tôi, tên thật đẹp (làng Vàng).

Cũng có đình, chùa, bờ xôi, ruộng mật!

Không hiểu vì sao nhiều người “bỏ tất” để vào Nam chen lấn, đua đòi?

Riêng tôi!


Đã mấy năm nay, tôi đã làm kẻ “chạy trốn!”

Trốn khỏi “sai lầm” những năm, tháng …đã đi qua!


Mỗi tháng Tư về tôi lại nhớ vào Nam!

Xin lỗi! “tháng Tư!”

Xin lỗi! miền Nam, những việc tôi đã làm!

Xin lỗi tất cả!

Cả những người “bên thua cuộc!”

Biết sao được!

Mọi người chúng ta sinh ra, đâu có thể chọn được thời cuộc

Nhưng! Lẽ đời, Đen, trắng phải phân minh!

Xin lỗi! “tháng Tư!”

Hãy tha thứ cho mình! Rất chân thành, chứ không phải lời giả dối.

Hay trường hợp của Trần Đức Thạch, cựu phân đội trưởng trinh sát, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341, Quân đoàn 4, qua các bài thơ

Tạ Lỗi miền Nam

Tôi sinh ra ở miền Bắc

Không hình dung ra giặc thế nào

Người ta hô hào

Phải căm thù giặc…?

Người ta dạy tôi là người miền Bắc

Phải biết thương yêu đồng bào miền Nam

Bà con ruột thịt đang lầm than

Dưới gót giày của Mỹ Diệm…

Những người con nông dân thật thà như đếm

Mặc áo lính vai khoác súng lên đường

Hồn nhiên tin là đi bảo vệ tổ quốc quê hương

Đánh đuổi quân xâm lược…

Thống nhất đất nước

Mới ngớ ra “Quân ta đánh dân mình

miền Nam giàu và dân sống văn minh

Không đói khát vật vờ như dân miền Bắc…”

Hận ngút trời đứa nào lừa tuổi xuân tôi coi dân mình là giặc!

Sám Hối

Thế hệ chúng tôi tội lỗi ngập đầu

Nhìn con cháu lòng muôn hổ thẹn…

Thế hệ chúng tôi một thời chinh chiến

Thắng lợi mang về là xua đuổi văn minh

Thắng lợi mang về là làm khổ dân mình

Để đểu cáng lên ngôi gây tội ác

Thế hệ chúng tôi hoàn toàn lầm lạc

Quên dân tộc mình theo chủ nghĩa Mác Lê Nin

Bệnh hoạn tư duy méo mó cách nhìn

Gieo thù hận trong lòng con cháu

Thế hệ chúng tôi đổ bao xương máu

Chẳng ý nghĩa gì khi dân tộc điêu linh

Chẳng ý nghĩa gì khi đất nước tanh bành

Lãnh thổ giang sơn bị ngoại bang gậm nhắm

Thế hệ chúng tôi cuộc đời cay đắng lắm

Mất chính mình mang tội ác với tương lai

*  *  *

Riêng những người lính miền Nam, sau nhiều năm bị tù ngục, đọa đầy, nhiều gia đình ly tán, lưu lạc khắp bốn phương trời, nếu còn sống sót giờ cũng đã trên dưới 80, nhưng vết thương từ cuộc chiến bất hạnh ấy vẫn mãi luôn âm ỉ trong lòng. Một quãng đời trai trẻ, những vinh nhục, những đớn đau tức tưởi trong giờ khắc phải buông súng, cùng những món nợ máu xương chưa trả được cho đồng đội anh em, rồi cùng sẽ xót xa theo họ về cõi vô cùng.

Xin được đồng cảm với tâm sự của một đồng đội đàn anh, nhiều năm chiến đấu bên nhau, từng là một cấp chỉ huy trẻ tuổi, thao lược:

“Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày tháng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt mình. Điều tự nhiên này, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chính mình, thế hệ chúng ta, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải…thực sự là gì, hoặc chẳng là gì hết?”

Cuối tháng 4-2025  

Phạm Tín An Ninh

https://hon-viet.co.uk/PhamTinAnNinh_50NamConDoNoiBuon.htm


Sự ngu dốt của ngày xưa và ngày nay- Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

20/05/2026

Ở bất cứ thời đại nào, sự ngu dốt (hay nói nhẹ hơn là sự thiếu hiểu biết) luôn tồn tại song hành với tri thức của con người. Không ai có thể biết hết mọi điều. Nhưng điều đáng nói là hình thức tồn tại và sức mạnh của sự ngu dốt hôm nay đã khác xa ngày xưa.

Ngày trước, sự ngu dốt thường đến từ nghèo đói, thiếu trường học, thiếu sách vở, thiếu thư viện, thiếu cơ hội tiếp cận tri thức. Một người nông dân ở làng quê xa xôi có thể sống cả đời mà chưa từng được cầm một cuốn sách. Nhiều người không hiểu biết đơn giản vì họ chưa từng có điều kiện để học hỏi. Đó là một sự ngu dốt mang tính thụ động và có phần đáng thương.

Nhưng ngày ấy, do phương tiện truyền thông còn hạn chế, sự ngu dốt thường ngủ yên trong phạm vi nhỏ hẹp. Một lời đồn sai có khi phải mất nhiều tháng mới lan sang làng bên. Một kẻ mê tín hay cực đoan khó có thể tác động đến hàng triệu người. Sự ngu dốt khi đó giống như một đốm lửa nhỏ âm ỉ trong đêm tối: nguy hiểm nhưng chưa đủ sức thiêu rụi cả cánh rừng.

Ngày nay thì khác.

Hầu như ai cũng có trong tay một chiếc điện thoại thông minh nối liền với toàn thế giới. Chỉ cần vài giây, một thông tin có thể vượt qua biên giới, đại dương và hàng triệu bộ óc. Khoa học kỹ thuật đã tạo ra một công cụ kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Nhưng cùng lúc, nó cũng mở ra con đường cao tốc cho sự ngu dốt lan truyền với tốc độ ánh sáng.

Ngày xưa, sự ngu dốt thường im lặng vì nó biết mình không biết. Ngày nay, nó nói rất to.

Nó xuất hiện dưới dạng những “chuyên gia” tự phong trên mạng xã hội, những đoạn video vài phút đầy cảm xúc, những “phân tích” ngắn ngủi nhưng khẳng định chắc nịch về những vấn đề vô cùng phức tạp. Nó không còn nói: “Tôi không biết.” Nó khẳng định, kết luận, phán xét và kết án người khác với sự tự tin đáng kinh ngạc.

Đó chính là quyền năng đáng sợ nhất của sự ngu dốt hiện đại: nó khiến con người tưởng rằng mình hiểu biết, trong khi thực ra ngày càng xa rời sự thật.

Ngày xưa, con người đi tìm câu trả lời. Người ta đọc sách, tranh luận, học hỏi, chờ đợi nhiều năm để kiểm chứng một điều gì đó. Hôm nay thì ngược lại: câu trả lời truy đuổi con người. Chỉ cần mở điện thoại lên, hàng nghìn “kết luận” đã chờ sẵn. Người ta không còn thời gian để suy nghĩ, để nghi ngờ hay để tự mình kiểm chứng.

Mỗi phút trôi qua, một dòng thác thông tin ào tới. Tin giả nối tiếp tin giả. Những phản ứng tức thời thay thế cho suy tư. Những phân tích hời hợt dựa trên định kiến có sẵn được tung hô như chân lý.

Thế giới thì mênh mông, tri thức của nhân loại thì vô tận, nhưng thời gian dành cho sự hoài nghi lại ngày càng nhỏ bé. Con người hiện đại không còn kiên nhẫn để nói: “Có lẽ tôi cần tìm hiểu thêm.” Người ta tin ngay, phẫn nộ ngay, kết án ngay.

Đó là một nền văn minh của phản xạ, không phải của suy tư.

Những kẻ sản xuất tin giả(vô tình hay hữu ý)  đã biến sự ngu dốt thành một ngành công nghiệp khổng lồ. Họ hiểu rất rõ rằng một lời nói dối ngoạn mục luôn hấp dẫn hơn một SỰ THẬT phức tạp. Sự thật thường chậm chạp, nhiều sắc thái và đôi khi khó chấp nhận. Trong khi đó, lời dối trá đơn giản, cảm xúc và dễ lan truyền.

Tục ngữ của cha ông ta đã nói rất đúng: “Sự thật mất lòng.” Con người thường thích nghe điều làm mình dễ chịu hơn là điều buộc mình phải suy nghĩ.

Trên các mạng xã hội ngày nay, người ta còn tạo ra cả những “đội quân niềm tin” hoạt động như những phản xạ có điều kiện. Chỉ cần một tín hiệu, một khẩu hiệu hay một mệnh lệnh vô hình nào đó, lập tức hàng nghìn tài khoản lao vào công kích, chửi bới và kết án thay cho suy nghĩ. Ở Việt Nam, dân gian mạng gọi hiện tượng ấy bằng một cái tên rất hình tượng: “bò đỏ”. Nhưng thật ra, hiện tượng đó không chỉ tồn tại ở Việt Nam. “Bò đỏ”, “cuồng Trump, Putin…”, “dư luận viên”, “thánh chiến bàn phím”, “chiến binh công lý mạng”… mỗi thời đại số lại sản sinh ra những đạo quân niềm tin khác nhau. Họ có thể đối lập nhau về ý thức hệ, khẩu hiệu hay màu cờ, nhưng lại giống nhau ở một điểm căn bản: họ không đi tìm sự thật, mà chỉ đi tìm những gì củng cố cho niềm tin có sẵn của mình. Khi ấy, tranh luận không còn là con đường để hiểu nhau nữa, mà trở thành một cuộc chiến bộ lạc, nơi cảm xúc thay thế lý trí và tiếng hò hét, chửi bới lớn hơn mọi lập luận.

Vì thế, sự ngu dốt ngày nay không còn mang bộ mặt thô sơ nữa. Nó được trang điểm bằng những mỹ từ cao đẹp, những khẩu hiệu đạo đức, những lập luận nghe có vẻ rất nhân văn và tiến bộ. Nó khoác áo khoa học, khoác áo yêu nước, khoác áo công lý, thậm chí khoác cả áo hòa bình.

Và chính ở điểm đó, sự ngu dốt hiện đại không còn chỉ là một bi kịch văn hóa nữa. Nó đã trở thành một vũ khí cực kỳ hữu hiệu của độc tài. Bởi không có chế độ nào sợ một dân tộc ngu dốt cả; điều họ sợ là những con người biết hoài nghi và biết tự suy nghĩ.

Người ta có thể biến một cuộc xâm lược thành “giải phóng”, “diệt phát xit”. Có thể biến độc tài thành “ổn định”. Có thể gọi tuyên truyền là “định hướng dư luận”. Có thể dùng những khái niệm mơ hồ để che đậy những nghịch lý hiển nhiên như “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nơi hai khái niệm đối nghịch được buộc phải chung sống bằng khẩu hiệu.

Nguy hiểm hơn nữa là công nghệ số ngày nay không chỉ là công cụ truyền thông, mà đã trở thành một ngành công nghiệp sinh lợi khổng lồ về chính trị và kinh tế. Những thuật toán không quan tâm điều gì đúng hay sai; chúng chỉ quan tâm điều gì gây kích động mạnh nhất để giữ con người ở lại lâu hơn trước màn hình. Càng giận dữ, càng sợ hãi, càng cực đoan, người ta càng dễ bị dẫn dắt và khai thác.

Và như thế, lần đầu tiên trong lịch sử, sự ngu dốt không còn là bóng tối đối lập với ánh sáng. Nó tự nhận mình là ánh sáng.

Nó nói bằng giọng của chân lý, Nó xuất hiện với dáng vẻ của hiểu biết, Nó được chia sẻ hàng triệu lần. Và đôi khi, chính những người có học cũng trở thành nạn nhân của nó.

Có lẽ bi kịch lớn nhất của thời đại chúng ta không phải là thiếu thông tin, mà là sự dư thừa thông tin đến mức con người đánh mất khả năng phân biệt giữa hiểu biết và ảo tưởng hiểu biết.

Tri thức thật sự luôn đi cùng với sự khiêm tốn. Người hiểu biết càng nhiều thường càng ý thức rõ giới hạn của mình.

Và có lẽ vì thế mà nhân loại hôm nay, dù sở hữu trí tuệ nhân tạo, vệ tinh và internet, lại đang xa dần tinh thần của Socrates:

“Điều duy nhất tôi biết là tôi không biết gì cả.”

Bởi sự thông thái luôn bắt đầu từ hoài nghi, còn sự ngu dốt thường bắt đầu bằng sự chắc chắn tuyệt đối.


 

Uỷ viên Bộ Chính tri : Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc dùng tiền thuế của dân bao gái đẹp?

 Luật sư Nguyễn Văn Đài Channel 5

Hồ sơ điều tra: Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc dùng tiền thuế của dân bao gái đẹp?

Trong khi “chiếc lò” của Đảng đang mải mê thiêu đốt những củi khô, củi tươi trên danh nghĩa trong sạch bộ máy, thì ngay dưới chân ngọn đèn quyền lực nhất, một kịch bản hưởng lạc trơ tráo đang được dàn dựng bởi kẻ nắm giữ “ấn tín” tổ chức: Nguyễn Duy Ngọc.

Cung điện trên không và những món hàng xa xỉ “đẫm mùi thuế”

Người ta vẫn thường nói về Vĩnh Quỳnh (Hà Nội) như một làng quê thuần hậu. Nhưng sự xuất hiện của một kiều nữ sinh năm 2004, biệt danh “Điêu Thuyền”, đã phá vỡ cái vẻ bình lặng đó bằng một lối sống xa hoa đến mức điên rồ. Ở cái tuổi 20, khi phần lớn thanh niên Việt Nam còn đang chật vật với từng ổ bánh mì sinh viên, thì “Điêu Thuyền” đã tự thiết lập cho mình một đế chế phù hoa.

Trên Threads và Facebook, 23.000 người theo dõi hằng ngày phải chứng kiến một sự sỉ nhục vào sự nghèo khó của quốc gia:

  Chuyên cơ riêng: Những chuyến bay xuyên đại lục sang Mỹ, sang Âu được thực hiện dễ dàng như đi chợ chiều.

  Bộ sưu tập Hermes: Những chiếc túi có giá bằng cả đời người lao động được thay đổi theo trang phục mỗi ngày.

  Trang sức triệu đô: Những cỗ máy thời gian Patek Philippe, Richard Mille lấp lánh trên cổ tay cô gái trẻ, thách thức mọi quy luật về tích lũy tài sản hợp pháp.

Phép thử liêm chính cho “Ông trùm” Ban Tổ chức

Câu hỏi không còn là “Điêu Thuyền” là ai, mà là: Kẻ nào đứng sau lưng để cô ta đốt tiền như giấy vụn?

Mọi mũi dùi dư luận đang chĩa thẳng vào Nguyễn Duy Ngọc – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Đây chính là nghịch lý trớ trêu nhất của hệ thống: Người giữ trọng trách “cầm cân nẩy mực”, tuyển chọn cán bộ cho cả một quốc gia, lại bị nghi ngờ là kẻ bao nuôi một “phòng nhì” với kinh phí vượt xa mọi mức lương chính ngạch.

Hãy làm một phép tính đơn giản: Lương công chức của một Ủy viên Bộ Chính trị, dù có nhịn ăn nhịn mặc cả ngàn năm, cũng không đủ để mua một góc chiếc túi Birkin mà cô gái kia đang xách. Vậy, nếu không phải là tiền từ túi thuế của Nhân dân bị rút ruột thông qua các dự án, qua những cú áp phe quyền lực, thì nguồn tiền khổng lồ đó từ đâu chui ra?

Sự tráo trở của một hệ thống mục ruỗng

Tin đồn về mối quan hệ giữa “Bác Ngọc” và “Điêu Thuyền” không chỉ là một vụ scandal tình ái thông thường. Nó là bằng chứng đanh thép cho sự mục nổng của một hệ thống nơi quyền lực được dùng để đổi lấy tình dục và sự xa hoa.

Khi một cô gái 20 tuổi trở thành khách VIP của các nhãn hàng thời trang thế giới nhờ vào sự che chở của một quan chức đầu triều, đó là sự sỉ nhục vào công lý, vào nhân quyền và vào sự tôn nghiêm của pháp luật. Tiền thuế của người dân thay vì xây trường học, bệnh viện, lại được dùng để nhuộm phấn son và dát vàng lên cuộc sống của một kiều nữ làng Vĩnh Quỳnh.

Dư luận đang chờ đợi một lời giải thích, nhưng có lẽ, sự im lặng đáng sợ của bộ máy cầm quyền chính là câu trả lời rõ ràng nhất cho sự thật cay đắng này.

#NguyenVanDai #ToLam #truyenthong #xuhuong #dieuthuyen #gaidep


 

Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời…

Phong AnhSAIGON KỶ-NIỆM

Giữa đêm khuya ở Sài Gòn, vòng quanh những bệnh viện lớn như Chợ Rẫy, Bình Dân, Đại học Y Dược… là những cảnh tượng không khác gì địa ngục. Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời, quạt mo, bạt tạm bợ. Gương mặt tiều tụy, lo âu, mệt mỏi vì thức trắng đêm chờ thân nhân bên trong đang thập tử nhất sinh. Cơ sở y tế địa phương không đủ khả năng, buộc phải chuyển lên tuyến trên. Và tuyến trên thì chật cứng. 

Đây không phải chuyện hiếm, không phải “mùa dịch”, mà là tình trạng kéo dài nhiều năm của y tế Việt Nam. Bệnh viện công tuyến cuối luôn trong cảnh quá tải kinh niên. Bệnh nhân phải nằm ghép, nằm hành lang, chờ khám cả ngày. Người nhà thì “màn trời chiếu đất” để túc trực.

Ai dám chắc mình và người thân sẽ không bao giờ rơi vào cảnh ấy? Một tai nạn, một cơn bệnh nặng, hay đơn giản là ung thư, tim mạch – những thứ có thể xảy đến với bất kỳ ai – lập tức đẩy gia đình vào vòng xoáy khốn cùng về tiền bạc, thời gian và sức khỏe tinh thần.

Nguyên nhân sâu xa không chỉ là “thiếu tiền”.

Hệ thống y tế cơ sở yếu kém khiến người dân mất niềm tin, dồn hết lên bệnh viện lớn. Thiếu nhân lực chất lượng cao, bác sĩ tuyến dưới không đủ trang thiết bị và kinh nghiệm. Cơ chế tự chủ bệnh viện đôi khi đẩy chi phí lên cao, trong khi bảo hiểm y tế vẫn hạn chế với nhiều dịch vụ. Quan trọng nhất là sự quản lý và đầu tư chiến lược thiếu tầm nhìn dài hạn.

Trong đó, trách nhiệm của những người từng đứng đầu ngành không thể phủ nhận. Bà Nguyễn Thị Kim Tiến – cựu Bộ trưởng Y tế – đang phải hầu tòa với cáo buộc vi phạm quy định quản lý tài sản nhà nước, gây thất thoát lãng phí hơn 803 tỷ đồng tại hai dự án cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức.

Những dự án lẽ ra phải giảm tải cho tuyến trên, nhưng lại “đắp chiếu” nhiều năm do sai phạm trong lựa chọn nhà thầu, phê duyệt, dẫn đến đình trệ kéo dài. 

Khi những người nắm quyền lại để xảy ra lãng phí hàng trăm tỷ đồng trong khi dân nghèo nằm ngoài đường chờ cứu chữa, thì lời chỉ trích mạnh mẽ là có cơ sở.

Lãnh đạo ngành y không chỉ quản lý chuyên môn mà còn phải chịu trách nhiệm về đạo đức và lương tâm. Để người dân phải chịu đựng cảnh “thân nhân thập tử nhất sinh, người nhà ngủ vỉa hè” trong khi ngân sách nhà nước bị thất thoát, là điều không thể chấp nhận.

Y tế là quyền con người cơ bản. Một xã hội văn minh không thể để người dân phải đánh đổi tính mạng bằng cảnh màn trời chiếu đất. Cần thay đổi thực sự:

  • Tăng mạnh đầu tư và nâng cao năng lực y tế cơ sở, tuyến huyện, tỉnh để giảm tải cho tuyến cuối.
  • Minh bạch chi phí, chống tham nhũng, lãng phí dự án.
  • Thu hút nhân tài, cải thiện thu nhập và môi trường làm việc cho bác sĩ.
  • Xây dựng niềm tin để người dân không nhất thiết phải đổ dồn về thành phố lớn.

Cảnh tượng ngoài cổng bệnh viện đêm khuya không chỉ là nỗi đau của những gia đình cụ thể, mà là vết nhơ của cả hệ thống. Ai cũng có thể trở thành nạn nhân.

Vì vậy, đây không chỉ là vấn đề của “người bệnh”, mà là vấn đề của toàn xã hội. Cần tiếng nói mạnh mẽ và hành động quyết liệt hơn nữa để y tế Việt Nam thực sự phục vụ nhân dân, chứ không phải để một số cá nhân “phè phỡn trên nỗi đau đồng loại”.

Đau lòng, nhưng phải nhìn thẳng vào sự thật để thay đổi.