50 năm – còn đó nỗi buồn- Phạm Tín An Ninh

50 năm – còn đó nỗi buồn

   Phạm Tín An Ninh

Ngày 24.2.2025 tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ đã quay lưng trước đồng minh NATO cùng hầu hết các quốc gia thuộc thế giới tự do, chính thức đứng về phía Nga, Iran, Bắc Hàn, và những nước thân Cộng sản, bỏ phiếu chống lại nghị quyêt lên án Nga gây chiến tranh xâm lược Ukraine, nhân dịp thế giới kỷ niệm 3 năm ngày Vladimir Putin xua quân vào lãnh thổ Ukraine. Sau đó, cả thế giới lại bàng hoàng, khi vị Tổng thống thứ 47 của Hoa Kỳ đã tỏ ra thân thiện với kẻ thù Nga, ca ngợi, bênh vực tên đồ tể Putin trong khi hết lời mạt sát, nhục mạ Tổng thống Zelensky, người đồng cấp, từng là đồng minh thân tín của Hoa Kỳ. Đã vậy, Tổng thống Mỹ còn đòi phải được khai thác khoảng sản, đất quý, tài sản quốc gia của Ukraine để trừ vào số tiền viện trợ trước đây. Có lẽ đây là nguyên nhân tiềm ẩn đưa đến cuộc tranh luận gay gắt, trở thành trận cải vã nặng nề ngay tại Tòa Bạch Ốc, giữa Tổng thống Zelensky của Ukraine và Tổng thống  D. Trump cùng Phó Tổng thống  J.D Vance của Hoa Kỳ vào ngày 28.2.2025, trước sự chứng kiến của các cơ quan truyền thông hiện diện cùng cả thế giới qua màn ảnh truyền hình. Sau khi “mời” Tổng thống Zelensky cùng phái đoàn tùy tùng ra khỏi Phòng Bầu Dục, Tổng thống Trump cũng đã quyết định ngưng tức khắc mọi viện trợ quân sự cũng như cung cấp tin tức tình báo, nhằm áp lực Ukraine phải nhanh chóng ngồi vào bàn hội nghị theo sự sắp xếp của Hoa Kỳ. Đến hôm nay, kết quả hội đàm tuy chưa chính thức ngã ngũ, nhưng ai cũng đã nhìn thấy trước số phận của Ukraine!

*  *  *

Sự kiện này xảy ra đúng vào thời điểm người Việt chuẩn bị tưởng niệm 50 năm, ngày kết thúc cuộc chiến Việt Nam. Chính xác hơn là ngày miền  Nam Việt Nam hay nước VNCH bị Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm, cũng với sự phản bội tương tự của đồng minh Hoa Kỳ, khi Mỹ và Bắc Việt đã cùng bắt tay thỏa thuận ký kết hiệp định mạo danh Hòa Bình vào ngày 27.1.1973 tại Paris, quyết định số phận của VNCH, quốc gia chính trong cuộc chiến nhưng bị áp lực để (gần như) phải đứng bên lề. Trong các cuộc hội đàm, phái đoàn VNCH bị xếp ngồi ngang hàng với (cái gọi là) Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng miền  Nam, trong khi ai cũng biết đó chỉ là đám tay sai, con rối do Cộng sản Bắc Việt nặn ra.

Vẫn biết rằng, quyết định của nước lớn đối với đồng minh luôn tùy thuộc vào quyền lợi của chính đất nước họ, tuy nhiên điều đau lòng là cung cách hành xử khi quay lưng, phản bội lại những người từng một thời nhận là bạn, cùng sống chết bên nhau. Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, ngày 29.4.1975, tại Đài Loan, ngay sau đêm đầu tiên bị áp lực phải rời khỏi nước, khi trả lời cho một đại diện của chính phủ Mỹ, cũng đã lên tiếng trong ngậm ngùi, cay đắng “Làm kẻ thù của Mỹ thì rất dễ, nhưng làm bạn rất khó”

Ukraine và VNCH bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi khi cuộc chiến đấu của hai quốc gia này có cùng một đích: tự vệ, chống lại quân xâm lược. Chỉ khác là trong cùng tình huống này, Ukraine có nhiều may mắn hơn VNCH. Bởi cuộc chiến Việt Nam kéo dài quá lâu, có hơn 58.000 quân nhân Mỹ tử trận, một số khác bị bắt làm tù binh, đẩy phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ ngày một dâng cao, đỉnh điểm vào tháng 5/ 1970, đã có đến 4 triệu sinh viên thanh niên liên tục xuống đường, gây bạo động, một số đã bị cảnh sát bắn chết. Thời điểm này đại đa số dân chúng Mỹ, qua lưỡng viện Quốc hội, không còn ủng hộ cuộc chiến Việt Nam. Cũng phải thẳng thắn để thừa nhận, trên thực tế quân dân VNCH đã không chiến đấu hết lòng và dũng cảm bằng Ukraine, và các cấp lãnh đạo, đặc biệt vị tổng thống của họ rất xứng đáng. Ngoài ra, Ukraine vẫn còn được đa số dân chúng Mỹ ủng hộ, quan trọng hơn, được Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và gần như toàn bộ Âu Châu luôn hết lòng, sát cánh. Trong khi ở vào thời điểm (trước và sau) Hiệp định Paris ký kết, VNCH gần như cô thân độc mã. Cùng lúc bị Mỹ bỏ rơi, các đồng minh khác như Úc, Nam Hàn, Thái Lan, kể cả Phi Luật Tân cũng đều theo Mỹ, quay lưng!

*  *  *

Vào thời gian này, đơn vị chúng tôi đang hành quân tảo thanh tại khu vực Kontum – Tây Nguyên, sau khi vừa liên tục tạo các chiến thắng lẫy lừng, đánh tan các lực lượng hùng hậu thuộc Mặt Trận B-3 của tướng Cộng sản Hoàng Minh Thảo. Với khẩu hiệu “sinh Bắc tử Nam”, Cộng sản Bắc Việt chuyên áp dụng chiến thuật biển người, đẩy đám bộ đội, đa phần là thanh niên, sinh viên miền Bắc bị cưỡng bách nhập ngũ, như những con thiêu thân lao theo sau các trận địa pháo, để bằng mọi giá phải chiếm được căn cứ Charlie của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù,  mở cánh cửa ngõ xua chiến xa T-54 với hỏa tiễn tầm nhiệt của Liên Xô, tràn ngập BTL Tiền Phương SĐ22BB tại Tân Cảnh, chiếm cứ một vùng Bắc Kontum. Sau đó, một lực lượng Cộng quân hùng hậu hơn, gồm Sư Đoàn 320, Sư Đoàn 2 (sau này tăng cường thêm Sư Đoàn 968 từ Lào sang), cùng 4 trung đoàn biệt lập 66, 95, 20, 24, Trung đoàn Đặc công 400, 2 trung đoàn Pháo,  6 tiểu đoàn Phòng không và 1 tiểu đoàn Tăng T-54… tràn xuống phía Nam nhằm thôn tính thành phố Kontum, trong ý đồ tiến chiếm Pleiku, nơi có bản doanh của BTL/QĐII/VNCH hầu dùng làm bàn đạp tràn xuống đồng bằng, duyên hải, nhưng đã bị thảm bại trước một lực lượng VNCH, với chỉ duy nhất mỗi Sư Đoàn 23 BB cùng 3 tiểu đoàn Pháo Binh và 1 chi đoàn chiến xa M-41 cơ hữu, đặc biệt được Không quân (giai đoạn đầu có B-52 của Hoa Kỳ) yểm trợ. Điều này đủ để chúng tỏ khả năng chiến đấu của Quân Lực VNCH.

Ngay trong trận chiến đầu tiên tại tuyến Tây Bắc Kontum, vào sáng ngày 14.5.1972. cả hai Trung đoàn 28 và 64 của Sư Đoàn (Thép) 320 Cộng sản cùng 1 tiểu đoàn xe tăng bị tiêu diệt, làm cho cả sư đoàn có tiếng, kỳ cựu này bị kiệt quệ, không còn khả năng chiến đấu. Sau đó chỉ đúng 10 ngày, sáng sớm ngày 24.5.72. trong trận tấn công cùng lúc vào Tòa Giám Mục, Bệnh Viện 2 Dã Chiến và vòng đai phi trường Kontum, cả Trung đoàn 52 thuộc Sư Đoàn 2 (Quảng Đà) mới tăng cường từ vùng Quảng Nam vào, bị đánh tan, đã phải giải thể. Một số lớn cán binh của Trung đoàn 141 thuộc sư đoàn này bị bắt và ra hồi chánh. (Những thất bại này Cộng sản Bắc Việt đã phải công nhận qua chính các hồi ký, quân sử của họ)

Chiến thắng Kontum vào Mùa Hè 1972 của đơn vị chúng tôi ở Quân Đoàn II, cùng lúc với Bình Long ở Quân Đoàn III và Quảng Trị ở Quân Đoàn I đã bẻ gãy ý đồ thôn tính VNCH của Cộng sản Bắc Việt, khi lợi dụng việc Hoa Kỳ vừa rút hết quân về nước, đồng thời cắt giảm tối đa quân viện cho VNCH, sau chiêu bài “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”.

Nhưng rồi Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973 như một trận gió chướng tàn độc, cuốn trôi hầu hết những chiến công mà chúng tôi đã phải trả bằng biết bao máu xương để đạt được, cùng lúc làm tiêu hao hào khí mà quân sĩ đơn vị chúng tôi vừa dâng cao trong men say chiến thắng. Hiệp định Paris mà Hoa Kỳ và Bắc Việt đã thỏa hiệp, ký kết trên nỗi đau thương, phẫn uất cùng thân xác của những người lính khốn khổ chúng tôi, chính là huyệt mộ do chính Hoa Kỳ đào lên nhằm chôn sống quân lực và cả quốc gia đồng minh VNCH sau đó.

Ủy Ban Nobel Hòa Bình Na Uy năm 1973 đã phải vô cùng xấu hổ và ân hận khi có một quyết định vội vã, sai lầm, trao giải cho Henry Kissinger và Lê Đức Thọ. Bị cả thế giới và nhiều dân biểu Na Uy phản đối, một số thành viên bất mãn rút tên ra khỏi Ủy Ban. Sau đó chính Lê Đức Thọ đã phải từ chối nhận giải, vì hơn ai hết, chính cá nhân ông ta và cả Bộ chính trị Đảng Cộng sản đều biết trước là sẽ không hề có hòa bình, bởi họ đã mưu đồ từ trước, không hề tôn trọng hiệp định mà chỉ lợi dụng những kẽ hở có toan tính, để đẩy mạnh cuộc chiến nhằm sớm cưỡng chiếm Nam Việt Nam.

Hiệp định mang tên Hòa Bình, nhưng kỳ thực chỉ là hình thức ngưng bắn kiểu “da beo”, để các lực lượng Cộng sản Bắc Việt không phải rút về Bắc mà được tiếp tục hiện diện hợp pháp tại các phần đất mà họ vừa lấn chiếm, cùng lúc Hoa Kỷ cắt hết viện trợ quân sự cho VNCH để đổi lấy tù binh, trong khi Cộng sản Bắc Việt vẫn được Trung Cộng, Liên Xô cùng khối Cộng sản gia tăng tối đa viện trợ. Lợi dụng tình hình này, Cộng sản Bắc Việt đã ào ạt chuyển đại quân, chiến xa, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu vào chiến trường miền Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh, và một số từ Lào sang để gia tăng cường độ các cuộc tấn công, trong khi chúng tôi phải chiến đấu trong những điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn, từ quân số, vũ khí, đạn dược, nhiên liệu, đến mọi phương tiện khác.

Hồi tưởng thời gian này, tôi bỗng thấy đồng cảm và thấm thía với tâm trạng của người lính trẻ Paul Bäumer, nhân vật chính trong “All Quiet On The Western Front” (Mặt Trận miền  Tây Vẫn Yên Tĩnh), tác phẩm viết về chiến tranh nổi tiếng của nhà văn Đức, Erich Maria Remarque, mặc dù tình huống tương tự đã xảy ra từ thời Đê Nhất Thế Chiến, hơn 55 năm trước:

“Ngày tháng trôi qua. Mùa hè 1918 này là mùa hè đẫm máu và kinh hoàng nhất. Thời gian giống như những thiên thần đang bay lượn trên vùng hủy diệt một cách không thể hiểu nổi. Dường như ai cũng biết rằng chúng tôi sẽ phải thua trong cuộc chiến này. Nhưng rất ít ai nói ra điều ấy. Chúng tôi đang bị đẩy lui. Chúng tôi không còn đủ quân số, không đủ tiếp liệu, đạn dược để có khả năng phản kích sau cuộc tổng công kích này. Duy chỉ có các chiến dịch hành quân là còn đang tiếp diễn – và những cái chết sẽ vẫn còn tiếp tục…”

Là những người trực tiếp chiến đấu, cận kề quân sĩ, chúng tôi đã phải xót xa, đau đớn đến dường nào khi chứng kiến đồng đội của mình ngã xuống mỗi ngày trong tình trạng tức tưởi, oan khiên như thế!

Hơn mười năm phục vụ trong một đơn vị Bộ Binh bình thường, nhưng chúng tôi chưa hề một lần chiến bại, ngay cả những trận chiến gay go, đẫm máu nhất, với lực lượng địch đông gấp nhiều lần và vũ khí tối tân hơn, điển hình như trận chiến Kontum. Vậy mà bỗng dưng chúng tôi trở thành những người bại trận. Bi thảm và tủi nhục hơn là dù có “gãy súng”, “buông súng” hay không, chúng tôi cũng bị thuộc về bên phía “đầu hàng” theo lệnh của ông tướng mới lên làm tổng thống ba ngày, nhân danh Tổng Tư Lệnh. Sau này, có người bảo ông làm đến đại tướng mà ngây thơ, nghe theo lời dụ dỗ, móc nối của ai đó và một người em ở phía bên kia, tin Cộng sản sẽ thành lập “chính phủ ba thành phần”. Có người lại bảo ông giành chức tổng thống chỉ để làm một điều duy nhất – đầu hàng. Cũng có người bênh vực, bảo nhờ ông đầu hàng nên tránh được một cuộc tắm máu, và có đủ thời gian cho một số người kịp chạy đến Subic Bay hay đảo Guam, sang Mỹ sớm. Là những thằng lính khốn khổ nhất, năm tháng chỉ ở trong núi rừng, dưới các giao thông hào, ngộp thở với tiếng bom đạn cùng bao nhiêu thứ lệnh lạc chiến trường, chúng tôi đâu có biết gì về chính trị bẩn thỉu, nhất là các biến cố dồn dập, hỗn độn trong những ngày tháng cuối cùng tại thủ đô Sài gòn.

*  *  *

Trong chiến tranh, thắng bại dù sao cũng là lẽ thường tình. Cuộc nội chiến Mỹ 1861-1865, Nam quân đã đầu hàng Bắc quân, và trong Đệ Nhị Thế Chiến, nước Nhật hùng mạnh đã phải đầu hàng quân đội đồng minh, sau khi hai quả bom nguyên tử do Mỹ thả xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki. Kẻ chiến thắng đã hành xử văn minh, nhân bản như thế nào, cho dù các cuộc chiến ấy cũng vô cùng tàn khốc, cướp đi rất nhiều sinh mệnh của hai bên – cả dân lẫn lính. Nhưng cuộc bại trận của chúng tôi sao mà phẫn uất và đau đớn quá. 

Bị đồng minh phản bội, bỏ rơi trong đành đoạn, tức tưởi. Thua một kẻ địch không đáng để thua. Một chế độ tự do nhân bản, văn minh, phồn thịnh lại phải đầu hàng một chế độ man rợ, nghèo nàn, lạc hậu. Có lẽ trong lịch sử chiến tranh Đông-Tây, chưa từng có những người lính nào ở phe thắng trận lại ngồi khóc ở vệ đường trên phần đất vừa mới chiếm được – như trường hợp nhà văn bộ đội Cộng sản Dương Thu Hương và nhiều người khác nữa– bởi nhận ra mình bị lừa dối, uổng phí cả một thời trai trẻ để đi “giải phóng” một miền đất tự do, văn minh, nhân bản, giàu có, hạnh phúc gấp vạn lần “miền Bắc xã hội chủ nghĩa” của mình. 

Đến hôm nay, cuộc chiến oan nghiệt ấy đã kết thúc vừa đúng nửa thế kỷ. Hầu hết những dấu tích chiến tranh trên quê hương đã bị “bên thắng cuộc” chôn xóa, hủy diệt, ngoại trừ một số rất ít được chọn lọc, tô son thiếp vàng, trưng bày trong các viện bảo tàng, nhằm để tô vẽ, tuyên truyền. Trong số chứng tích còn sót lại là những nấm mồ xác xơ của hàng vạn tử sĩ miền Nam, nằm trong các nghĩa trang tiêu điều hoang phế, bị kẻ chiến thắng đập phá, hủy hoại, nhục mạ. Thực ra, họ rất muốn phá hủy hoàn toàn cho sạch hết chứng tích cuộc chiến mà chính họ đã làm hoen ố lịch sử dân tộc một thời, như đã từng san bằng, giải tỏa một số các nghĩa trang quân đội ở các tỉnh miền Trung, nhưng sở dĩ một số ít nghĩa trang lớn còn sót lại, dù trong tình trạng bị phá hủy, thay tên gọi (như nghĩa trang quân đội Biên Hòa trở thành một nghĩa trang dân sự địa phương lạ lẫm nào đó), chỉ nhằm để kiếm lợi trong các cuộc tuyên truyền, thương lượng, đổi chác với Hoa Kỳ cùng thế giới tự do, và cũng để gạt gẫm, lừa mị đồng bào miền Nam hầu ngụy tạo một chút gì cái “tình dân tộc” trong chiêu bài “hòa hợp hòa giải”.

Mới đây, có người phát hiện Nghĩa trang Sư Đoàn 22BB hoang phế nằm lẩn khuất trong một vùng núi rừng Bình Định. Cây cỏ và cả rác rến gần như che lấp hàng ngàn mộ phần tử sĩ rêu phong. Một số đồng đội, nhà hảo tâm trong và ngoài nước cùng hô hào đóng góp, nhờ một số các anh chị em còn nặng tấm lòng với miền Nam trong nước tiếp tay, phát quang, sơn sửa, kẻ lại tên tử sĩ và dựng lại các tấm bia gãy đổ. Vậy mà, sau đó họ đã bị chính quyền Cộng sản đe dọa, ngăn chặn, gây bao phiền muộn. Kế hoạch trùng tu “kín” một số nghĩa trang hoang phế khác trong vùng cũng vì đó mà đành phải hủy bỏ.

Hàng vạn trại tù vội vàng được dựng lên sau tháng 4/1975, trên khắp mọi miền đất nước, nhằm đày ải, hành hạ, giết dần mòn gần một triệu quân cán chính, trí thức, văn nghệ sĩ, kể cả nhà sư và linh mục miền Nam. Giờ hầu hết những trại nằm trong rừng sâu, núi thẳm đã biến mất, một số trại tù lớn ở các thành phố thì đã được nâng cấp, sửa sang để trở thành những trại giam lớn của tỉnh hay cấp nhà nước. Tuy nhiên cứ thi thoảng người dân lại phát hiện một số nấm mồ “tù cải tạo” nằm sâu trong núi rừng Lào Cai, Yên Bái hoang vu, giờ chỉ còn mỗi tấm bia xám xịt rêu phong, lẩn khuất dưới cỏ cây từ gần 50 năm trước.

(Mộ tù cải tạo trong rừng núi Yên Bái – Ảnh từ youtube)

Một chứng tích đau lòng khác, những thương phế binh VNCH bị đối xử tệ hại, đang phải sống từng ngày khốn cùng trong nước. Phần đông, theo thời gian đã chết do nghèo đói, bệnh tật. Số còn lại cũng đã già nua, sống lây lất trên các vỉa hè góc phố. Vậy mà họ vẫn không yên với một chế độ thiếu vắng tính nhân bản, tình tự dân tộc, luôn nặng hận thù. Với nghĩa tình cùng lòng tri ân của những đồng đội, đồng bào từ hải ngoại và cả trong nước, vận động gom góp gởi về, qua các vị Linh mục nhân từ thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài gòn, để các vị tổ chức mỗi năm một, hai lần buổi họp mặt “Bên nhau đi nốt cuộc đời”, như là một chút ủy lạo trong tinh thần huynh đệ chi binh và biết ơn những người đã hy sinh một phần thân thể, vậy mà chính quyền Cộng sản cũng đã tìm mọi cách gây khó khăn, đe dọa, ngăn chặn cấm đoán, để cuối cùng phải hủy bỏ.

(thương binh VNCH – Ảnh: trên Net)

Chứng tích quan trọng và sinh động hơn, là sự hiện diện của hơn 5 triệu người Việt đã phải bỏ nước ra đi, đang sống lưu vong trên khắp mặt địa cầu. Sau tháng 4.1975, cả một miền Nam “thua cuộc” đã nhanh chóng trở thành một vùng đất chết, khốn cùng, bi thảm. Người dân có cảm giác như bị lưu đày ngay trên chính quê hương mình. Tương lai chỉ còn là những cơn ác mộng. Thời ấy, mọi người chỉ còn biết nhìn ra biển khơi mênh mông để ước mơ một sự đổi thay nào đó ở phía bên kia chân trời mịt mờ vô định. Và còn gì đau đớn hơn khi con người nghĩ tới chuyện phải bỏ quê hương ra đi lại là một niềm khát vọng! Trong suốt lịch sử thăng trầm của dân tộc, chưa có thời kỳ nào mà người dân phải bỏ cả quê hương, nhà cửa, mồ mả ông bà cha mẹ để vượt thoát ra đi trong cái chết. Chính quyền Cộng sản từng tuyên truyền, bôi xấu họ là bọn phản quốc chạy theo chân đế quốc nhằm tìm chút bơ thừa sữa cặn, để rồi không lâu sau đó lại âu yếm, chiêu dụ, gọi họ là những “khúc ruột ngàn dặm”, những “sứ giả” của quê hương, dân tộc. Thực chất, các cộng đồng người Việt tỵ nạn trên hầu hết các quốc gia tự do – mà chính quyền Cộng sản vẫn luôn xem là “các thế lực thù địch”- đa phần đã thành công vượt bậc tại các quốc gia định cư, thế hệ con cháu thành đạt trên đủ mọi lãnh vực, từ giáo dục, khoa học kỹ thuật, chính trị, quân sự, văn học, âm nhạc. Đó là những đóng góp rất tích cực cho các quốc gia đón nhận họ, nhưng cũng là những chất xám quý báu mà chính quyền Cộng sản trong nước hằng mơ ước.

Trong suốt 50 năm, kẻ chiến thắng đã cố tình biến miền Nam, vùng đất tự do văn minh hạnh phúc xinh đẹp một thời, trở nên nghèo nàn, khốn khổ hơn so với cái nôi “cách mạng” miền Bắc, nhưng rồi dù có bị đàn áp, bần cùng hóa. phân biệt đối xử đến đâu, người miền Nam vẫn luôn giữ được văn minh, nhân bản, và đất miền Nam vẫn luôn đáng yêu, đáng sống. Đã có hằng triệu triệu người dân miền Bắc bỏ quê cha đất tổ tìm vào đất phương Nam, mong được đổi đời. Mật độ dân số miền Nam, đặc biệt tại Sài gòn ngày một đông đúc, có khi gấp gần 5 lần so với tháng 4.1975, nhà cửa, cao ốc thi nhau dựng lên bừa bãi, đến nỗi nhiệt độ trở nên nóng bức trong cả mùa đông, và nhiều con đường phố đã trở thành sông, chỉ sau một cơn mưa, dù không lớn lắm. Ngay cả các tỉnh cao nguyên, miền Trung, giờ cũng đầy những người miền Bắc bỏ xứ vào đây lập nghiệp, giành nương chiếm rẫy của những người Thượng, vốn từng bao nhiêu đời khai sơn phá thạch, sống chết ở đây.

50 năm, nền giáo dục “xã hội chủ nghĩa” lạc hậu, xuống cấp đã làm cho bao thế hệ học trò trở nên thua kém rất xa so với thế giới chung quanh. Đến nỗi một cô giảng viên trường Đại học Sư phạm (Thái Bình) đã công khai trong một chương trình trên truyền hình Hà Nội, rằng “Tự Lực Văn Đoàn là một gánh cải lương, và ông Nhất Linh là ca sĩ cổ nhạc”. Tệ hại và tủi nhục hơn là tình trạng tha hóa trong ngành giáo dục, kể cả thầy giáo và học trò. Chuyện thầy giáo gạ tình, hiếp dâm nữ sinh cũng như chuyện học trò, kể cả nữ sinh, đánh nhau và đánh luôn cả thầy cô giáo, gần như là chuyện thường tình.

Đặc biệt, ngôn ngữ Việt (cả tiếng nói lẫn chữ viết) bị biến cải một cách tùy tiện, ngốc nghếch, kể cả muốn Tàu hóa như trường hợp ông giáo sư tiến sĩ Bùi Hiền nào đó. Lịch sử (và môn Sử học) được dựng lên từ bao điều dối trá. “Anh hùng Lê Văn Tám” được xây tượng đài, đặt tên cho các con đường lớn, công viên, trường học, bắt học trò cả nước phải học tập, noi gương như một vị anh hùng. Thực chất, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật tưởng tượng. Chính ông GS Trần Huy Liệu, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN đã thú nhận với GS Phan Huy Lê, nhân vật Lê Văn Tám là do mình “dựng” nên và nhờ GS Phan Huy Lê sau này khi đất nước yên ổn, nói lại giùm, lỡ khi đó ông Trần Huy Liệu không còn nữa.  (GS Phan Huy Lê: Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám, Khoa Đông phương học). Và ông Phan Huy Lê đã công bố sự thật này năm 2005, người dân trong nước do đó đều biết câu chuyện gian dối lừa mị này, vậy mà đảng và nhà nước vẫn không hề một lời lên tiếng.

50 năm, nền văn học “xã hội chủ nghĩa” còn lại những gì, ngoài mấy trăm bài thơ tuyên truyền, nịnh lãnh tụ, tiêu biểu cỡ Tố Hữu “Ta bên người, người tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn bên Người một chút…” hay “ Xta-lin ơi!/Hỡi ôi Ông mất, đất trời có không?/Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười), cùng các bản nhạc “đỏ”: Bác đang cùng chúng cháu hành quânTrường Sơn Đông Trường Sơn Tây,Tiếng Chày Trên Sóc Bam Bo,  Năm Anh Em Trên Một Chiếc Xe Tăng, Cô Gái Vót Chông… mà đám văn công hát đi hát lại trong mấy ngày lễ lớn, và tất nhiên chẳng ai còn muốn nghe!

Nhưng 50 năm với những bản tình ca miền Nam, một thời bị cho là nhạc vàng, cấm đoán, đến nỗi có người hát (như Toán Xồm, Lộc Vàng) đã từng bị đàn áp,  tù đày để người phải bỏ mình, người thì gần cả một đời khốn đốn, giờ lại làm mê mẩn say đắm mọi người lớn nhỏ, kể cả những “đồng chí lãnh đạo”, công an, bộ đội, từ Nam ra Bắc, từ thành phố cho đến các hang cùng ngõ hẻm, vùng sâu vùng xa. Mà oái ăm thay, đa phần những bản nhạc tình ca này lại viết rất đẹp về lính VNCH, người lính “bên thua cuộc”.

Trong một bài tiểu luận viết vào ngày 1.1.2022, dưới nhan đề “Níu một thời, giữ một đời”, nhà văn Ban Mai, một trí thức trẻ của chế độ (giảng viên tại trường Đại Học Quy Nhơn) đã viết:

“Việt Nam, sau năm 1975 kết thúc chiến tranh giữa hai miền Nam – Bắc. Hòa bình đã đến sau mấy thập niên tang tóc vì bom rơi, đạn nổ. 

Thế nhưng, người miền Nam đã không thể tưởng tượng nổi, tiếp sau đó là một thảm cảnh kinh hoàng… Trầm trọng hơn nữa: Sự xơ xác tinh thần của trí thức miền Nam không còn được tự do trình bày suy nghĩ, không còn được tự do hấp thụ tri thức nhân loại. Thay vào đó là những đợt học tập chính trị triền miên, theo một định hướng duy nhất: Chủ nghĩa Marx. Tất cả sách báo, văn học nghệ thuật bị tịch thu tiêu hủy, nền văn chương miền Nam hoàn toàn bị bôi xóa. Giống như thời man rợ của Tần Thủy Hoàng năm 210 trước công nguyên… 

Bắt đầu sau năm 1975, những thế hệ sinh ra và lớn lên ở Việt Nam không hề biết đã từng có một nền văn học nghệ thuật miền Nam vô cùng gíá trị với nhiều thể loại “trăm hoa đua nở”, đề cao tự do, dân chủ, với ý thức khai phóng, nhân bản, theo kịp trào lưu thế giới…

Bên trong nước, mấy năm gần đây có một bạn trẻ Nguyễn Trường Trung Huy ở Sài Gòn cũng dày công sưu tầm văn học miền Nam và bộ sưu tập của bạn ngày một đồ sộ đáng cho ta kinh ngạc, đó là một kỳ công. Tôi tin rằng, trên đất nước Việt Nam này có nhiều người thầm lặng âm thầm tìm kiếm, lưu giữ một nền văn chương nhân bản mà ta tưởng rằng đã chết sau năm 1975. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học trong nước đang ngày càng tìm kiếm để nghiên cứu, mới đây trong một đề thi luận văn bậc trung học phổ thông, có một giáo viên đã đem bài thơ “Ta về” của Tô Thùy Yên cho học sinh bình giảng, với những câu thơ đầy tính nhân văn:

“Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay

Chút rượu hồng đây xin rưới xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này”.

(Tô Thùy Yên là một sĩ quan VNCH, từng bị tù đầy qua nhiều trại giam trong gần 13 năm, sau tháng 4.1975)

Tuy đây chỉ mới là một hành động đơn lẻ nhưng đó là một tín hiệu vui.

Tôi tin rằng, sẽ không còn bao lâu nữa dòng văn chương miền Nam (1954-1975) sẽ được đưa vào giảng dạy chính thức trong nhà trường, nó xứng đáng được trả về với đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại, không ai và không một thể chế nào có thể bôi xóa một thời đại lịch sử của nước nhà. Giữ gìn, bảo tồn và chia xẻ văn học miền Nam cho đời sau là trách nhiệm của chúng ta, của tôi và các bạn những người yêu tiếng Việt, những người yêu văn chương Việt Nam”

Một vị giáo sư khác trong nước, chuyên nghiên cứu về Văn Học Việt Nam đã khẳng định “Trong hai thập niên 1955-1975, nếu không có Văn Học miền Nam, thì nền Văn Học Việt Nam xem như không hề có, hoặc chẳng có gì cả!”

Nhà thơ, nhà giáo cũng là nhà báo nổi tiếng miền Bắc, Hoàng Hưng, trong bài viết “Về ảnh hưởng của Văn hóa miền Nam (VNCH) sau 1975”, sau khi hết lời ca ngợi lối sống, văn hóa, văn học miền Nam, đã kết luận:

“…nhìn một cách tổng thể, toàn bộ đời sống miền Nam, trong đó có đời sống văn hoá, văn học, trong 45 năm qua đã dần dần “giải phóng” người dân miền Bắc khỏi cái nhà tù lớn trong đó con người bị buộc phải giả tạo, “gồng mình” hoặc bị mê hoặc mà mù quáng tuân phục trong thời chiến và theo “định hướng XHCN….

Đến nay nó vẫn tiếp tục đóng góp vào tiến trình “giải Cộng” gian lao của đất nước! Chắc chắn sẽ đến một ngày, đất nước chứng kiến một cuộc phục hưng văn hoá, văn học, đi tiếp con đường mà văn hoá, văn học miền Nam đã đi. Con đường Tự Do, Nhân Bản, Hội Nhập Quốc Tế.”

*  *  *

Sau 50 năm, tất nhiên đất nước cũng đã có những đổi thay nhất định. Cơ sở hạ tầng, đặc biệt tại các đô thị có nhiều phát triển, đời sống người dân ở đây có khá hơn so với nông thôn. Tuy nhiên trên thực tế, Việt Nam vẫn còn tụt hậu khá xa so với nhiều nước chung quanh. Chính ông Tổng Bí thư Tô Lâm mới đây đã công khai tuyên bố: “Cách đây 50 năm vào những năm 1960-1970, Singapore chỉ mong được sang Bệnh viện Chợ Rẫy (Sài gòn) để chữa bệnh, giờ thì ta lại ước mơ được vào khám bệnh ở Singapore.”

Theo thống kê của IMF (International Monetary Fund/Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế), lợi tức tính theo đầu người ở Việt Nam cho năm 2025 là 4,986 Mỹ kim (Mk), trong khi ở Singapore là 93,956 Mk, và so với hầu hết các quốc gia Đông Nam Á khác, mức sống của người dân Việt nam đều rất thấp:

– Hàn Quốc (Nam Hàn): 37,675 Mk

– Nhật Bản                   :  35,611 Mk

– Đài Loan                   :  34,944 Mk

– Malaysia                   :  14,423 Mk

– Thái Lan                   :    7,754 Mk

Tệ hơn, Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với cả Mộng Cổ (Mongolia), một nước chỉ có đồng cỏ và sa mạc, với lợi tức trung bình của người dân năm 2025 ở đây là: 7,576 Mk.

Điều đặc biệt đáng chú ý hơn là trong hầu hết các quốc gia Đông Âu, mới giã từ chế độ Cộng sản khoảng 30 năm nay, người dân đều có lợi tức cao hơn nhiều so với Việt Nam (4,896 Mk).

– Tiệp Khắc (Czech Republic) = 33,038 Mk

– Hung Gia Lợi (Hungary)       = 25,703 Mk

 Ba Lan (Poland)                     = 25,040 Mk

 Lỗ Ma Ní (Romani)               = 21,570 Mk

 Bảo Gia Lợi (Bulgari)           = 18,456 Mk 

 Tuy vậy, chủ trương làm “kinh tế thị trường (với cái đuôi) theo định hướng XHCN” thực tế cũng đã làm giàu nhanh chóng cho hầu hết tầng lớp đảng viên, gia đình và phe nhóm, đưa họ sớm trở thành những nhà tư bản “đỏ”, đào thêm cái hố ngày càng sâu giữa giai cấp giàu (đảng) và nghèo (dân). Điều này hoàn toàn trái ngược mục tiêu “đấu tranh giai cấp” mà đảng Cộng sản từng hô hào; đấu tố, giết hại dã man hàng mấy vạn người vô tội trong “Cải Cách Ruộng Đất”, lộ rõ chiêu trò lừa gạt “giải phóng miền Nam”, và hiện nguyên hình một đám thảo khấu khi chủ trương “tiêu diệt tư sản mại bản” rất tàn độc ngay sau khi cướp được miền Nam.

Sự làm giàu bộc phát (và bất chính) của tầng lớp tư bản đỏ này đã kéo theo hiện tượng xuống cấp từ Giáo Dục, Văn Hóa, Y Tế, tha hóa về Đạo Đức, Xã Hội và cả Tôn Giáo. Đặc biệt nhất là vấn nạn thối nát, tham nhũng – tất nhiên ngay trong hàng ngũ đảng Cộng sản, kể cả những lãnh đạo cao cấp nhất, từ hàng tướng lãnh, thứ bộ trưởng, thủ tướng đến cả chủ tịch nước – như là một thứ quốc nạn không còn thuốc chữa. Chức quyền được chuyền tay theo kiểu “cha truyền con nối”, “gia đình trị” của thời phong kiến. Đảng đứng trên pháp luật, thu tóm mọi quyền lực, tài sản quốc gia. Đảng viên sống phè phỡn giàu sang trên đầu những người dân cùng khốn. Đám con cháu, những “hạt giống đỏ”, được đưa sang du học tại các trường tư nổi tiếng ở các nước tư bản, tất nhiên bằng tiền của nhà nước hoặc từ tham nhũng, chuẩn bị cho các vai trò kế vị.

Một ông thủ tướng (sau đó là chủ tịch nước) từng mở miệng khoe khoang “Việt nam bây giờ đang là một đất nước đáng sống nhất, cái cột đèn ở hải ngọai mà có chân thì cũng đã chạy hết về Việt Nam” (sic!). Trong khi ấy, hàng vạn cô con gái phải bỏ cha mẹ, người tình sang làm vợ cho những ông già bệnh hoạn, tàn tật ở tận Đài Loan, Nam Hàn, như một thứ nô lệ, kể cả nô lệ tình dục. Nhiều cô không liên lạc được với gia đình. Một số bị giết chết hoặc bị bán vào các động mãi dâm. Tại một số nước Á châu, báo chí công khai quảng cáo dịch vụ “mua vợ Việt Nam” với giá bằng một món đồ chơi rẻ mạt. Trong lịch sử dân tộc, dù có những giai đoạn lệ thuộc khó khăn, nhưng không có thời kỳ nào mà thân phận những người con gái, đàn bà Việt Nam lại rẻ rúng và thê lương như thế. Chính quyền đã “xuất khẩu” hàng vạn, hàng trăm ngàn người lao động đi khắp thế giới, ngay cả những nước nghèo ở tận châu Phi, nhằm kiếm sống và kiếm thêm ngoại tệ cho nhà nước. Đã vậy vẫn cứ tiếp tục những dòng người tìm mọi cách trốn khỏi Việt Nam, để một số phải chết ngạt trong những chiếc xe đông lạnh, kín mít, một số phải sống trong núi rừng, trồng á phiện và bị bắt, vì không có quốc gia nào chấp nhận để dung thân. Một sự kiện đáng xấu hổ, khi nhóm chín người tháp tùng chuyên cơ của bà Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân trong chuyến viếng thăm “hữu nghị” Hàn Quốc, vào đầu tháng 12.2018, đã bỏ trốn khi vừa mới bước chân lên đất khách. Đó là chưa kể một số ra nước ngoài chỉ để ăn cắp, làm gái điếm, đến nỗi cái “hộ chiếu” Việt Nam đã từng trở thành nỗi ô nhục.

*  *  *

Sau đúng 50 năm, tại Sài gòn, trước cả mấy tháng, nhà nước Cộng sản Việt Nam đang chuẩn bị rầm rộ mừng ngày “thống nhất”, thao dược một cuộc diễn binh rất qui mô mà tốn phí dự trù hằng chục triệu Mỹ kim, vẫn với lời ca “thề phanh thây uống máu quân thù” vẫn với các khẩu hiệu “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, hừng hực không khí kiêu ngạo, hận thù. Trong khi ấy, đã có những anh bộ đội có mặt trong đoàn quân giải phóng ngày nào, theo chân nhà văn Dương Thu Hương (ngồi khóc ở vệ đường, khi nhận ra mình bị lừa gạt để chém giết đồng bào, hủy hoại cả một miền Nam nhân bản, văn mình, giàu đẹp) giờ cũng đã tột cùng ăn năn hối hận, như trường hợp cựu cán binh Bình Ngọc với bài thơ Xin Lỗi Tháng Tư!”:

Thời trai trẻ, gác bút nghiên, gác mọi ước mơ …lên đường “ đánh Mỹ!”

Cây súng trên vai, máu đỏ trong tim!

Mụ lí trí! Hùng hục vượt Trường Sơn.

Đêm nghỉ, ngày đi, giày vẹt gót, áo sờn vai thấm lạnh!

Mẹ còng lưng vắt kiệt sức, mỏi mòn, thao thức đợi con về!

“Ba mươi tháng Tư” bên thắng cuộc, hả hê

Con trở thành kẻ “kiêu binh!” trong đoàn “quân Giải phóng!”

Nhưng! Ba mươi tám năm sau con vô cùng thất vọng!

Không hiểu mình đi Giải phóng cho ai?

Chễm chệ trên cao, toàn những kẻ bất tài!

Đáy xã hội, nhiều “dân oan!” mất đất.

Những nghịch lý, tai ương…chồng chất!

Khoảng cách “sang, hèn” cứ rộng mãi ra.

Người ở “quê” không còn tha thiết với “ao nhà”.

Tràn vào miền  Nam “ngoạ, chiếm, xâm canh…từ núi, rừng, chợ búa, thị thành, lầu cao, gác tía ….!”

Đi đâu, ở đâu cũng gặp toàn người “ngoài ấy”.


Nhà cửa, ruộng vườn ngoài ấy họ bỏ hoang???

Quê Hương tôi, tên thật đẹp (làng Vàng).

Cũng có đình, chùa, bờ xôi, ruộng mật!

Không hiểu vì sao nhiều người “bỏ tất” để vào Nam chen lấn, đua đòi?

Riêng tôi!


Đã mấy năm nay, tôi đã làm kẻ “chạy trốn!”

Trốn khỏi “sai lầm” những năm, tháng …đã đi qua!


Mỗi tháng Tư về tôi lại nhớ vào Nam!

Xin lỗi! “tháng Tư!”

Xin lỗi! miền Nam, những việc tôi đã làm!

Xin lỗi tất cả!

Cả những người “bên thua cuộc!”

Biết sao được!

Mọi người chúng ta sinh ra, đâu có thể chọn được thời cuộc

Nhưng! Lẽ đời, Đen, trắng phải phân minh!

Xin lỗi! “tháng Tư!”

Hãy tha thứ cho mình! Rất chân thành, chứ không phải lời giả dối.

Hay trường hợp của Trần Đức Thạch, cựu phân đội trưởng trinh sát, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341, Quân đoàn 4, qua các bài thơ

Tạ Lỗi miền Nam

Tôi sinh ra ở miền Bắc

Không hình dung ra giặc thế nào

Người ta hô hào

Phải căm thù giặc…?

Người ta dạy tôi là người miền Bắc

Phải biết thương yêu đồng bào miền Nam

Bà con ruột thịt đang lầm than

Dưới gót giày của Mỹ Diệm…

Những người con nông dân thật thà như đếm

Mặc áo lính vai khoác súng lên đường

Hồn nhiên tin là đi bảo vệ tổ quốc quê hương

Đánh đuổi quân xâm lược…

Thống nhất đất nước

Mới ngớ ra “Quân ta đánh dân mình

miền Nam giàu và dân sống văn minh

Không đói khát vật vờ như dân miền Bắc…”

Hận ngút trời đứa nào lừa tuổi xuân tôi coi dân mình là giặc!

Sám Hối

Thế hệ chúng tôi tội lỗi ngập đầu

Nhìn con cháu lòng muôn hổ thẹn…

Thế hệ chúng tôi một thời chinh chiến

Thắng lợi mang về là xua đuổi văn minh

Thắng lợi mang về là làm khổ dân mình

Để đểu cáng lên ngôi gây tội ác

Thế hệ chúng tôi hoàn toàn lầm lạc

Quên dân tộc mình theo chủ nghĩa Mác Lê Nin

Bệnh hoạn tư duy méo mó cách nhìn

Gieo thù hận trong lòng con cháu

Thế hệ chúng tôi đổ bao xương máu

Chẳng ý nghĩa gì khi dân tộc điêu linh

Chẳng ý nghĩa gì khi đất nước tanh bành

Lãnh thổ giang sơn bị ngoại bang gậm nhắm

Thế hệ chúng tôi cuộc đời cay đắng lắm

Mất chính mình mang tội ác với tương lai

*  *  *

Riêng những người lính miền Nam, sau nhiều năm bị tù ngục, đọa đầy, nhiều gia đình ly tán, lưu lạc khắp bốn phương trời, nếu còn sống sót giờ cũng đã trên dưới 80, nhưng vết thương từ cuộc chiến bất hạnh ấy vẫn mãi luôn âm ỉ trong lòng. Một quãng đời trai trẻ, những vinh nhục, những đớn đau tức tưởi trong giờ khắc phải buông súng, cùng những món nợ máu xương chưa trả được cho đồng đội anh em, rồi cùng sẽ xót xa theo họ về cõi vô cùng.

Xin được đồng cảm với tâm sự của một đồng đội đàn anh, nhiều năm chiến đấu bên nhau, từng là một cấp chỉ huy trẻ tuổi, thao lược:

“Tuổi đời chồng chất, sức khỏe và những hăng say của tuổi thanh xuân ngày tháng nguội dần. Tôi thấy cuộc sống mình hụt hẫng hoang mang. Mỗi năm lại vắng thêm đồng đội và rồi một ngày nào đó, cũng sẽ tới lượt mình. Điều tự nhiên này, thực chất chẳng phải là nỗi ưu tư bởi vì đó là quy luật. Nhưng điều làm tôi suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chính mình, thế hệ chúng ta, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải…thực sự là gì, hoặc chẳng là gì hết?”

Cuối tháng 4-2025  

Phạm Tín An Ninh

https://hon-viet.co.uk/PhamTinAnNinh_50NamConDoNoiBuon.htm


Sự ngu dốt của ngày xưa và ngày nay- Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

20/05/2026

Ở bất cứ thời đại nào, sự ngu dốt (hay nói nhẹ hơn là sự thiếu hiểu biết) luôn tồn tại song hành với tri thức của con người. Không ai có thể biết hết mọi điều. Nhưng điều đáng nói là hình thức tồn tại và sức mạnh của sự ngu dốt hôm nay đã khác xa ngày xưa.

Ngày trước, sự ngu dốt thường đến từ nghèo đói, thiếu trường học, thiếu sách vở, thiếu thư viện, thiếu cơ hội tiếp cận tri thức. Một người nông dân ở làng quê xa xôi có thể sống cả đời mà chưa từng được cầm một cuốn sách. Nhiều người không hiểu biết đơn giản vì họ chưa từng có điều kiện để học hỏi. Đó là một sự ngu dốt mang tính thụ động và có phần đáng thương.

Nhưng ngày ấy, do phương tiện truyền thông còn hạn chế, sự ngu dốt thường ngủ yên trong phạm vi nhỏ hẹp. Một lời đồn sai có khi phải mất nhiều tháng mới lan sang làng bên. Một kẻ mê tín hay cực đoan khó có thể tác động đến hàng triệu người. Sự ngu dốt khi đó giống như một đốm lửa nhỏ âm ỉ trong đêm tối: nguy hiểm nhưng chưa đủ sức thiêu rụi cả cánh rừng.

Ngày nay thì khác.

Hầu như ai cũng có trong tay một chiếc điện thoại thông minh nối liền với toàn thế giới. Chỉ cần vài giây, một thông tin có thể vượt qua biên giới, đại dương và hàng triệu bộ óc. Khoa học kỹ thuật đã tạo ra một công cụ kỳ diệu chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Nhưng cùng lúc, nó cũng mở ra con đường cao tốc cho sự ngu dốt lan truyền với tốc độ ánh sáng.

Ngày xưa, sự ngu dốt thường im lặng vì nó biết mình không biết. Ngày nay, nó nói rất to.

Nó xuất hiện dưới dạng những “chuyên gia” tự phong trên mạng xã hội, những đoạn video vài phút đầy cảm xúc, những “phân tích” ngắn ngủi nhưng khẳng định chắc nịch về những vấn đề vô cùng phức tạp. Nó không còn nói: “Tôi không biết.” Nó khẳng định, kết luận, phán xét và kết án người khác với sự tự tin đáng kinh ngạc.

Đó chính là quyền năng đáng sợ nhất của sự ngu dốt hiện đại: nó khiến con người tưởng rằng mình hiểu biết, trong khi thực ra ngày càng xa rời sự thật.

Ngày xưa, con người đi tìm câu trả lời. Người ta đọc sách, tranh luận, học hỏi, chờ đợi nhiều năm để kiểm chứng một điều gì đó. Hôm nay thì ngược lại: câu trả lời truy đuổi con người. Chỉ cần mở điện thoại lên, hàng nghìn “kết luận” đã chờ sẵn. Người ta không còn thời gian để suy nghĩ, để nghi ngờ hay để tự mình kiểm chứng.

Mỗi phút trôi qua, một dòng thác thông tin ào tới. Tin giả nối tiếp tin giả. Những phản ứng tức thời thay thế cho suy tư. Những phân tích hời hợt dựa trên định kiến có sẵn được tung hô như chân lý.

Thế giới thì mênh mông, tri thức của nhân loại thì vô tận, nhưng thời gian dành cho sự hoài nghi lại ngày càng nhỏ bé. Con người hiện đại không còn kiên nhẫn để nói: “Có lẽ tôi cần tìm hiểu thêm.” Người ta tin ngay, phẫn nộ ngay, kết án ngay.

Đó là một nền văn minh của phản xạ, không phải của suy tư.

Những kẻ sản xuất tin giả(vô tình hay hữu ý)  đã biến sự ngu dốt thành một ngành công nghiệp khổng lồ. Họ hiểu rất rõ rằng một lời nói dối ngoạn mục luôn hấp dẫn hơn một SỰ THẬT phức tạp. Sự thật thường chậm chạp, nhiều sắc thái và đôi khi khó chấp nhận. Trong khi đó, lời dối trá đơn giản, cảm xúc và dễ lan truyền.

Tục ngữ của cha ông ta đã nói rất đúng: “Sự thật mất lòng.” Con người thường thích nghe điều làm mình dễ chịu hơn là điều buộc mình phải suy nghĩ.

Trên các mạng xã hội ngày nay, người ta còn tạo ra cả những “đội quân niềm tin” hoạt động như những phản xạ có điều kiện. Chỉ cần một tín hiệu, một khẩu hiệu hay một mệnh lệnh vô hình nào đó, lập tức hàng nghìn tài khoản lao vào công kích, chửi bới và kết án thay cho suy nghĩ. Ở Việt Nam, dân gian mạng gọi hiện tượng ấy bằng một cái tên rất hình tượng: “bò đỏ”. Nhưng thật ra, hiện tượng đó không chỉ tồn tại ở Việt Nam. “Bò đỏ”, “cuồng Trump, Putin…”, “dư luận viên”, “thánh chiến bàn phím”, “chiến binh công lý mạng”… mỗi thời đại số lại sản sinh ra những đạo quân niềm tin khác nhau. Họ có thể đối lập nhau về ý thức hệ, khẩu hiệu hay màu cờ, nhưng lại giống nhau ở một điểm căn bản: họ không đi tìm sự thật, mà chỉ đi tìm những gì củng cố cho niềm tin có sẵn của mình. Khi ấy, tranh luận không còn là con đường để hiểu nhau nữa, mà trở thành một cuộc chiến bộ lạc, nơi cảm xúc thay thế lý trí và tiếng hò hét, chửi bới lớn hơn mọi lập luận.

Vì thế, sự ngu dốt ngày nay không còn mang bộ mặt thô sơ nữa. Nó được trang điểm bằng những mỹ từ cao đẹp, những khẩu hiệu đạo đức, những lập luận nghe có vẻ rất nhân văn và tiến bộ. Nó khoác áo khoa học, khoác áo yêu nước, khoác áo công lý, thậm chí khoác cả áo hòa bình.

Và chính ở điểm đó, sự ngu dốt hiện đại không còn chỉ là một bi kịch văn hóa nữa. Nó đã trở thành một vũ khí cực kỳ hữu hiệu của độc tài. Bởi không có chế độ nào sợ một dân tộc ngu dốt cả; điều họ sợ là những con người biết hoài nghi và biết tự suy nghĩ.

Người ta có thể biến một cuộc xâm lược thành “giải phóng”, “diệt phát xit”. Có thể biến độc tài thành “ổn định”. Có thể gọi tuyên truyền là “định hướng dư luận”. Có thể dùng những khái niệm mơ hồ để che đậy những nghịch lý hiển nhiên như “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nơi hai khái niệm đối nghịch được buộc phải chung sống bằng khẩu hiệu.

Nguy hiểm hơn nữa là công nghệ số ngày nay không chỉ là công cụ truyền thông, mà đã trở thành một ngành công nghiệp sinh lợi khổng lồ về chính trị và kinh tế. Những thuật toán không quan tâm điều gì đúng hay sai; chúng chỉ quan tâm điều gì gây kích động mạnh nhất để giữ con người ở lại lâu hơn trước màn hình. Càng giận dữ, càng sợ hãi, càng cực đoan, người ta càng dễ bị dẫn dắt và khai thác.

Và như thế, lần đầu tiên trong lịch sử, sự ngu dốt không còn là bóng tối đối lập với ánh sáng. Nó tự nhận mình là ánh sáng.

Nó nói bằng giọng của chân lý, Nó xuất hiện với dáng vẻ của hiểu biết, Nó được chia sẻ hàng triệu lần. Và đôi khi, chính những người có học cũng trở thành nạn nhân của nó.

Có lẽ bi kịch lớn nhất của thời đại chúng ta không phải là thiếu thông tin, mà là sự dư thừa thông tin đến mức con người đánh mất khả năng phân biệt giữa hiểu biết và ảo tưởng hiểu biết.

Tri thức thật sự luôn đi cùng với sự khiêm tốn. Người hiểu biết càng nhiều thường càng ý thức rõ giới hạn của mình.

Và có lẽ vì thế mà nhân loại hôm nay, dù sở hữu trí tuệ nhân tạo, vệ tinh và internet, lại đang xa dần tinh thần của Socrates:

“Điều duy nhất tôi biết là tôi không biết gì cả.”

Bởi sự thông thái luôn bắt đầu từ hoài nghi, còn sự ngu dốt thường bắt đầu bằng sự chắc chắn tuyệt đối.


 

Uỷ viên Bộ Chính tri : Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc dùng tiền thuế của dân bao gái đẹp?

 Luật sư Nguyễn Văn Đài Channel 5

Hồ sơ điều tra: Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Duy Ngọc dùng tiền thuế của dân bao gái đẹp?

Trong khi “chiếc lò” của Đảng đang mải mê thiêu đốt những củi khô, củi tươi trên danh nghĩa trong sạch bộ máy, thì ngay dưới chân ngọn đèn quyền lực nhất, một kịch bản hưởng lạc trơ tráo đang được dàn dựng bởi kẻ nắm giữ “ấn tín” tổ chức: Nguyễn Duy Ngọc.

Cung điện trên không và những món hàng xa xỉ “đẫm mùi thuế”

Người ta vẫn thường nói về Vĩnh Quỳnh (Hà Nội) như một làng quê thuần hậu. Nhưng sự xuất hiện của một kiều nữ sinh năm 2004, biệt danh “Điêu Thuyền”, đã phá vỡ cái vẻ bình lặng đó bằng một lối sống xa hoa đến mức điên rồ. Ở cái tuổi 20, khi phần lớn thanh niên Việt Nam còn đang chật vật với từng ổ bánh mì sinh viên, thì “Điêu Thuyền” đã tự thiết lập cho mình một đế chế phù hoa.

Trên Threads và Facebook, 23.000 người theo dõi hằng ngày phải chứng kiến một sự sỉ nhục vào sự nghèo khó của quốc gia:

  Chuyên cơ riêng: Những chuyến bay xuyên đại lục sang Mỹ, sang Âu được thực hiện dễ dàng như đi chợ chiều.

  Bộ sưu tập Hermes: Những chiếc túi có giá bằng cả đời người lao động được thay đổi theo trang phục mỗi ngày.

  Trang sức triệu đô: Những cỗ máy thời gian Patek Philippe, Richard Mille lấp lánh trên cổ tay cô gái trẻ, thách thức mọi quy luật về tích lũy tài sản hợp pháp.

Phép thử liêm chính cho “Ông trùm” Ban Tổ chức

Câu hỏi không còn là “Điêu Thuyền” là ai, mà là: Kẻ nào đứng sau lưng để cô ta đốt tiền như giấy vụn?

Mọi mũi dùi dư luận đang chĩa thẳng vào Nguyễn Duy Ngọc – Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương. Đây chính là nghịch lý trớ trêu nhất của hệ thống: Người giữ trọng trách “cầm cân nẩy mực”, tuyển chọn cán bộ cho cả một quốc gia, lại bị nghi ngờ là kẻ bao nuôi một “phòng nhì” với kinh phí vượt xa mọi mức lương chính ngạch.

Hãy làm một phép tính đơn giản: Lương công chức của một Ủy viên Bộ Chính trị, dù có nhịn ăn nhịn mặc cả ngàn năm, cũng không đủ để mua một góc chiếc túi Birkin mà cô gái kia đang xách. Vậy, nếu không phải là tiền từ túi thuế của Nhân dân bị rút ruột thông qua các dự án, qua những cú áp phe quyền lực, thì nguồn tiền khổng lồ đó từ đâu chui ra?

Sự tráo trở của một hệ thống mục ruỗng

Tin đồn về mối quan hệ giữa “Bác Ngọc” và “Điêu Thuyền” không chỉ là một vụ scandal tình ái thông thường. Nó là bằng chứng đanh thép cho sự mục nổng của một hệ thống nơi quyền lực được dùng để đổi lấy tình dục và sự xa hoa.

Khi một cô gái 20 tuổi trở thành khách VIP của các nhãn hàng thời trang thế giới nhờ vào sự che chở của một quan chức đầu triều, đó là sự sỉ nhục vào công lý, vào nhân quyền và vào sự tôn nghiêm của pháp luật. Tiền thuế của người dân thay vì xây trường học, bệnh viện, lại được dùng để nhuộm phấn son và dát vàng lên cuộc sống của một kiều nữ làng Vĩnh Quỳnh.

Dư luận đang chờ đợi một lời giải thích, nhưng có lẽ, sự im lặng đáng sợ của bộ máy cầm quyền chính là câu trả lời rõ ràng nhất cho sự thật cay đắng này.

#NguyenVanDai #ToLam #truyenthong #xuhuong #dieuthuyen #gaidep


 

Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời…

Phong AnhSAIGON KỶ-NIỆM

Giữa đêm khuya ở Sài Gòn, vòng quanh những bệnh viện lớn như Chợ Rẫy, Bình Dân, Đại học Y Dược… là những cảnh tượng không khác gì địa ngục. Hàng trăm con người nằm vật vạ ngoài lề đường, gốc cây, dưới màn trời, quạt mo, bạt tạm bợ. Gương mặt tiều tụy, lo âu, mệt mỏi vì thức trắng đêm chờ thân nhân bên trong đang thập tử nhất sinh. Cơ sở y tế địa phương không đủ khả năng, buộc phải chuyển lên tuyến trên. Và tuyến trên thì chật cứng. 

Đây không phải chuyện hiếm, không phải “mùa dịch”, mà là tình trạng kéo dài nhiều năm của y tế Việt Nam. Bệnh viện công tuyến cuối luôn trong cảnh quá tải kinh niên. Bệnh nhân phải nằm ghép, nằm hành lang, chờ khám cả ngày. Người nhà thì “màn trời chiếu đất” để túc trực.

Ai dám chắc mình và người thân sẽ không bao giờ rơi vào cảnh ấy? Một tai nạn, một cơn bệnh nặng, hay đơn giản là ung thư, tim mạch – những thứ có thể xảy đến với bất kỳ ai – lập tức đẩy gia đình vào vòng xoáy khốn cùng về tiền bạc, thời gian và sức khỏe tinh thần.

Nguyên nhân sâu xa không chỉ là “thiếu tiền”.

Hệ thống y tế cơ sở yếu kém khiến người dân mất niềm tin, dồn hết lên bệnh viện lớn. Thiếu nhân lực chất lượng cao, bác sĩ tuyến dưới không đủ trang thiết bị và kinh nghiệm. Cơ chế tự chủ bệnh viện đôi khi đẩy chi phí lên cao, trong khi bảo hiểm y tế vẫn hạn chế với nhiều dịch vụ. Quan trọng nhất là sự quản lý và đầu tư chiến lược thiếu tầm nhìn dài hạn.

Trong đó, trách nhiệm của những người từng đứng đầu ngành không thể phủ nhận. Bà Nguyễn Thị Kim Tiến – cựu Bộ trưởng Y tế – đang phải hầu tòa với cáo buộc vi phạm quy định quản lý tài sản nhà nước, gây thất thoát lãng phí hơn 803 tỷ đồng tại hai dự án cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức.

Những dự án lẽ ra phải giảm tải cho tuyến trên, nhưng lại “đắp chiếu” nhiều năm do sai phạm trong lựa chọn nhà thầu, phê duyệt, dẫn đến đình trệ kéo dài. 

Khi những người nắm quyền lại để xảy ra lãng phí hàng trăm tỷ đồng trong khi dân nghèo nằm ngoài đường chờ cứu chữa, thì lời chỉ trích mạnh mẽ là có cơ sở.

Lãnh đạo ngành y không chỉ quản lý chuyên môn mà còn phải chịu trách nhiệm về đạo đức và lương tâm. Để người dân phải chịu đựng cảnh “thân nhân thập tử nhất sinh, người nhà ngủ vỉa hè” trong khi ngân sách nhà nước bị thất thoát, là điều không thể chấp nhận.

Y tế là quyền con người cơ bản. Một xã hội văn minh không thể để người dân phải đánh đổi tính mạng bằng cảnh màn trời chiếu đất. Cần thay đổi thực sự:

  • Tăng mạnh đầu tư và nâng cao năng lực y tế cơ sở, tuyến huyện, tỉnh để giảm tải cho tuyến cuối.
  • Minh bạch chi phí, chống tham nhũng, lãng phí dự án.
  • Thu hút nhân tài, cải thiện thu nhập và môi trường làm việc cho bác sĩ.
  • Xây dựng niềm tin để người dân không nhất thiết phải đổ dồn về thành phố lớn.

Cảnh tượng ngoài cổng bệnh viện đêm khuya không chỉ là nỗi đau của những gia đình cụ thể, mà là vết nhơ của cả hệ thống. Ai cũng có thể trở thành nạn nhân.

Vì vậy, đây không chỉ là vấn đề của “người bệnh”, mà là vấn đề của toàn xã hội. Cần tiếng nói mạnh mẽ và hành động quyết liệt hơn nữa để y tế Việt Nam thực sự phục vụ nhân dân, chứ không phải để một số cá nhân “phè phỡn trên nỗi đau đồng loại”.

Đau lòng, nhưng phải nhìn thẳng vào sự thật để thay đổi. 


 

GIẤY CHỨNG SINH EM BÉ ĐẦU TIÊN RA ĐỜI TRÊN ĐẢO HOÀNG SA NĂM 1939…

8 SÀI GÒN

GIẤY CHỨNG SINH EM BÉ ĐẦU TIÊN RA ĐỜI

TRÊN ĐẢO HOÀNG SA NĂM 1939…

Ít ai biết rằng một trong những tài liệu đặc biệt nhất về Hoàng Sa lại là một giấy chứng sinh được lập cách đây gần một thế kỷ.

Đó là giấy chứng sinh của Mai Kim Quy, sinh ngày 07/12/1939 trên đảo Hoàng Sa. Dù đã hơn 86 năm trôi qua, tờ giấy vẫn còn được lưu giữ và ghi rõ nơi sinh là đảo Hoàng Sa, cùng đầy đủ thông tin về cha mẹ, người làm chứng và đại diện hành chính trên đảo thời bấy giờ.

Cha của Mai Kim Quy là ông Mai Xuân Tập, nhân viên khí tượng đang công tác tại Hoàng Sa. Hai người làm chứng gồm bác sĩ Nguyễn Tăng Chuẩn và ông Đỗ Đức Mai, Giám đốc Đài Phát thanh. Tài liệu còn có chữ ký xác nhận của đại diện phái đoàn hành chính trên đảo.

Điều thú vị là tờ giấy này cho thấy Hoàng Sa không chỉ là nơi có các hoạt động quản lý, khí tượng hay thông tin liên lạc, mà còn từng có những gia đình người Việt sinh sống, làm việc và sinh con ngay trên đảo.

Ngày nay, giấy chứng sinh của Mai Kim Quy được xem là một trong những tư liệu lịch sử có giá trị, phản ánh đời sống dân sự của người Việt tại Hoàng Sa từ trước năm 1940.

Một tờ giấy nhỏ đã nhuốm màu thời gian, nhưng vẫn lưu giữ nguyên vẹn câu chuyện về sự hiện diện của người Việt trên quần đảo Hoàng Sa cách đây gần một thế kỷ, trở thành tư liệu sinh động khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

IFACT 


 

Nhìn lại dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

21/05/2026

Nhìn lại hơn nửa thế kỷ, dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời…với giới nhạc sĩ và những ca sĩ quyện vào nhau tuyệt vời

  • Sau này, may mắn là tất cả các nhạc sĩ lẫn các ca sĩ đã lần lượt được các chương trình Paris By Night của trung tâm Thúy Nga giới thiệu. Nhờ thế, các dòng nhạc VN còn được ghi lại một cách sống động đến ngày nay.
  • Những bước khởi đầu của một thời kỳ hồng hoang.

Trong giai đoạn hòa trộn dòng nhạc cổ điển Tây Phương với những với Tino Rossy bên cạnh dòng nhạc ca trù, hát chèo, hát quan họ với cây đàn bầu, đàn nhị..Một số nhạc sĩ trẻ đã chọn cho bản thân một lối đi riêng mở đường  cho một dòng nhạc Việt Nam: Dzõan Mẫn, Đặng Thế Phong và Hùng Lân.

  • Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn (15-10-1919). Với một bài hát nhẹ nhàng, nhìn thấy các buổi chia tay của các đôi lứa chia tay trên ga xe lửa Hàng Cỏ. Ông đã viết bài Biệt Ly..Biệt ly nhớ nhung từ đây.. chiếc lá rơi theo mong manh người về có hay…( Bài Biệt ly đã bị cấm trình bày một thời gian dài ở ngoài Bắc. Nhưng tại miền Nam, nó đã được Thái Thanh hát tự do.)
  • Nhạc sĩ Đặng Thế Phong (16-4- 1918. Ông lìa đời ở tuổi 24, năm 2-8-1942, ông mất vì bệnh lao phối.

Ông xuất thân ở Nam Định, học trường St. Thomas d’Aquin, ông chỉ để lại cho đời có ba bài hát: Con thuyền không bến, Đêm thu, Giọt mưa thu.

Những bài này sau này đã được thể hiện qua giọng hát của Khánh Ly, Thái Thanh, Thanh Thúy, Ngọc Hạ.

Con thuyền không bến:

Đêm nay thu sang cùng heo mây… Đêm nay sương lam mờ trên mây.Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng..

 Lướt theo chiều gió.. Trôi trên sông Tương, nước chảy đôi dòng. Nào ai biết nông sâu.

Bài giọt mưa thu:  Ngoài kia giọt mưa thu thánh thót rơi.. Trời nắng u buồn mây hắt hiu buồn trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ..

Bài nào cũng nhẹ nhàng, ngọt ngào đi vào não trạng con người

Ông có người yêu là cô Tuyết. Cô Tuyết yêu ông nên cô đã túc trực ngày đêm trên giường bệnh để chăm sóc ông trong những ngày cuối đời.

Khi ông tắt thở, cô xin phép gia đình đôi bên, cầm bó hoa trắng, chít khăn tang đi đầu như một người vợ, mặc dầu chính thức họ chưa hề kết hôn.

Cảnh ấy xót thương làm sao và cũng đẹp làm sao!!

Đó một mối tình như thể thiên thu bất tận! Đẹp làm sao mà cũng não lòng làm sao..

Vài nhận xét: Mặc dầu ông không được học âm nhạc một cách bài bản.. Nhưng những dòng nhạc của Đặng Thế Phong đượm u buồn man mát, lắng sâu và đi vào lòng người. Và những nét buồn ấy ảnh hưởng tới hoặc gợi cảm hứng có thể cho các nhạc sĩ như Văn Cao, Cung Tiến và Trịnh Công Sơn sau này.

  • Nhạc sĩ Hùng Lân(Tên Phê rô Hoàng Văn Hường- 1986-2022)

Ông thuộc một gia đình công giáo với nhiều sáng tác cho thiếu niên, thanh niên với giọng điệu hùng mạnh, lý tưởng cứu quốc, sôi sục ý chí thanh niên và tinh thần quốc gia khác hẳn với những ca từ của Đặng Thế Phong. Như:Khỏe vì nước, Hè về, Việt Nam Minh chầu trời đông và bản dịch bài Silent night- Đêm thánh vô cùng.

Xin giới thiệu bài Khỏe vì nước:

Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia

Đoàn thanh niên ta góp tài ba

Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong nam giới.

Hợp lực xây dựng hưng thịnh chung quốc gia

Khỏe vì nước, ý chí cương kiên

Giống lạc hồng uy hùng vô biên

Trong khốn nguy can trường sống thác ta coi thường

Việt nam thanh niên anh dũng muôn năm.

Ông cũng là người thành lập ra Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh 1945. Cũng như mở nhiều lớp nhạc cho thanh niên thiếu nữ.

Giữa Hùng Lân và Đặng Thế Phong là những người mở đường cho âm nhạc Việt. Khác nhau, nhưng không có vấn đề hơn kém, chỉ có vấn đề bổ túc và bù trừ cho buổi bình minh của dòng nhạc Việt mở đường sau này cho những Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Từ Công Phụng.

  • Dòng nhạc Phạm Duy

Phạm Duy là một thiên tài đa dạng, nhiều cung bậc… Ông để lại gần 1000 bài ca phổ nhạc đủ loại. Hùng mạnh có, ý nghĩa thâm trầm có, da diết có, buồn vui có nhớ thương khôn cùng. Thiền ca, đạo ca cũng không thiếu. Ông là cả một bầu trời ca nhạc bao la. Trước ông và sau ông không có ai- trừ Trịnh Công Sơn.

Bài tiêu biểu:

Tôi xin chọn bài: Việt Nam, Việt Nam ngay từ vào đời. Việt Nam hai câu nói trên vành môi. Việt Nam nước tôi, Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời. Việt Nam tên gọi là Người.. ( Hùng ca sử Việt.)

Nhạc sĩ Trúc Hồ, trên SBTN coi bài này của Phạm Duy như bài quốc ca của VN.. Và sau này, đi đâu, trong các buổi lễ, các chương trình thường dùng bài ca này như một kết thúc cho chương trình.

Cá nhân tôi khi nghe bài này, như nổi da gà vì rúng động như đụng chạm tới tâm hồn tuổi trẻ VN.

Thật không diễn tả nổi và không có ngôn từ nào có thể sánh bì.

Ông cũng là người đưa Phạm Thiên Thu và Nguyễn Tất Nhiên chấp cho họ đôi cánh, đưa thi  ca và âm nhạc của họ cùng cất cánh bay lên!!!

Phạm Thiên Thu với người yêu Hoàng Thị Ngọ qua bài thơ: Ngày xưa Hoàng thị:

Em tan trường về

Đường xưa nho nhỏ

Mà thương mà nhớ

Dáng em nho nhỏ trong cõi xa vời…

Đó là lời tỏ tình dệt bằng hoa gấm, dễ thương và say nắng của một thời tuổi trẻ không gì hay hơn được…

Tiếp đến là nhà thơ Nguyễn  Tất  Nhiên,- học trò trường  Ngô quyền mà nay nhiều người đã từng sống như những nhân chứng một thời với nhà thơ.

Tôi từng được nghe nữ ca sĩ Thanh Lan, người ca sĩ không có tuổi với nốt ruồi trên khóe môi trái, duyên dáng và mời gọi đã hát chung với Vũ Khanh như thể một đôi tình nhân:

Đưa em về dưới mưa. Nói năng chi cũng thừa.. Đôi ta vào quán trưa.. Em hiền như ma sơ

Thật hồn nhiên và cảm động mà không ngôn từ nào nói cho đủ.

Tôi ngậm ngùi thương tiếc một tài năng thiên bẩm đã vội vã ra đi khỏi cõi trần thế ô trọc này..

Tôi cũng đã đôi lần gặp lại nhà thơ tại Cali, nơi báo Saigòn Nhỏ nơi mà mà tôi cộng tác.

Tôi cũng tiếc nguồi nguội là chỉ có 6 bài của nhà thơ được Phạm Duy phổ nhạc.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một sự thật rằng: không có Phạm Duy phổ nhạc, không  thể có một Ngày xưa Hoàng Thị cũng không có Em hiền như ma sơ của Nguyễn Tất Nhiên…

Tôi viết vài dòng cảm tưởng này để gửi đến các học sinh Ngô Quyền đã học tôi trong 5 niên khóa vắn vỏi… mà không thể nói lên lời ( 1970-1975)

Sau này, tôi cũng lại có dịp  nghe Thanh Lan và Vũ Khanh đã cùng hát bài Trả lại em yêu của nhạc sĩ Phạm Duy. (Trung tâm Asia. )

Trả lại em yêu, khung trời đại học. Con đường Duy Tân, cây dài bóng mát.. tóc em thơm nồng, dáng em hiền hòa..Anh sẽ ra đi về miền mông muối..

Chủ nhật hẹn hò đây đó, uống ly chanh đường.Uống môi em ngọt ngào..

Tình yêu như thể không có tuổi. Tôi uống những lời ca ngọt ngào như thể hóa thân là chính mình là người trong cuộc. Ký ức của cả một thời mômg muội.. ngậm ngùi nhớ lại cho riêng mình, cho tuổi trẻ miền Nam, cho đất nước chia đôi, cho một một thời đã không còn nữa..

Bài phổ nhạc: Kiếp nào có yêu nhau.  (thơ Minh đức Hoài Trinh. Phạm Duy phổ nhạc)

Bài này đã được nhiều ca sĩ như Thái Thanh, Lệ Thu trình diễn. Một lần nữa cho thấy thiên tài phổ nhạc của Pham Duy.

Đừng nhìn em nữa anh ơi. Hoa xanh đã phai rồi, hương trinh đã tan rồi. Đừng nhìn em, đừng nhìn em nữa anh ơi đôi mi đã buông xuôi, môi răng đã quên…

Giọng hát của một nữ ca  sĩ Lệ Thu như xé nát con tim, như van nài, thổn thức.

Tôi nghe mà lòng thổn thức.

Điều này cho thấy, người nghe thường có thói quen gắn cặp Trịnh Công Sơn-Khánh Ly, Phạm Duy-Thái Thanh. Điều này thoạt đầu như thể là thật.

Tôi nhớ lại, Trịnh Công Sơn cầm cây đàn Guitare, Khánh ly đi chân trần, say sưa hát trên sân cỏ trường đại học văn khoa.

Nó vừa thật một cách hoang dại tuổi trẻ, nó vừa hòa đồng vào tuổi trẻ sinh viên miền Nam đã một thời như vậy..

Phải nhìn nhận, nó thật đẹp, lãng mạn và quyến rũ.

Nó là cả một thời, nhưng thời gian qua đi xem ra đã không còn như thế nữa.

Nhiều ca sĩ thế hệ sau đã thể hiện một cách bài bản và trọn vẹn trong giọng ca, trong cách thể hiện, cách ăn mặc kín đáo mà vẫn thể hiện được phong cách người phụ nữ..

Tôi vẫn không chia xẻ được những sô trình diễn trên Paris By Night của một số diễn viên, ca sĩ một cách phản cảm. Hình như thể, họ dùng thân xác phô bày như một cách lôi cuốn người xem vốn được nhiều khán giả ưa chuộng.

Xin minh chứng bằng trường hợp nữ ca sĩ Mộc San-Đà Lạt.

Cô ăn mặc rất đẹp mà kín đáo. Trình diễn có nghệ thuật, hấp dẫn, lôi cuốn với chỉ một tiếng đàn guitare làm nền.

Để minh chứng rõ hơn về cách thể hiện, xin đưa ra trường hợp một ban nhạc đường phố tại Pháp, giọng một ca sĩ giọng nam, người Pháp với giọng ca mạnh và lôi cuốn đã hát bài Huế, Sài Gòn, Hà Nội của Trịnh Công sơn, anh vừa hát theo một bản dịch tiếng Pháp, vừa theo bản tiếng Việt cùng với 5,6 nhạc công phụ họa đã lôi kéo đám đông trên đường phố.

Tiếp đến là phần đầu của bản Gia Tài của mẹ cũng do nhóm nhạc đường phố trên trình diễn.

Nó cho tôi thấy rằng, bài hát hay không chỉ tùy thuộc vào tác giả sáng tác mà còn tùy thuộc vào cách thể hiện, cách trình bày.

Bằng chứng là nữ ca sĩ Mộc San cũng có dịp trình bày bài hát này.

Nhạc Trịnh, nhạc Phạm Duy đã có nhiều dịp tỏa sáng tại Pháp nhờ vào lối trình diễn sống động và lôi cuốn hòa nhịp vào đám đông..
Bản nhạc Diễm xưa của Trịnh Công Sơn cũng được một nữ ca sĩ người Nhật hát rất đạt.

Tôi cũng đã được nghe bài hát: Ta đã thấy gì trong đêm nay Qu,avons-nous vu dans cette nuit của Trịnh Công Sơn với nhiều ca sĩ tài tử và người nghe hát đồng loạt nhún nhảy theo điệu nhạc. Thật vui và ấn tượng.

Dòng nhạc như thể vượt mọi rào cản biên giới quốc tịch để dễ dàng chia xẻ và thấm nhập vào lòng người.

Tôi cũng rất thích thú nghe Trịnh Công Sơn, tự đánh đàn và hát bài: Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.. với nhiều ý nghĩa..sâu đặm, với niềm vui chia xẻ đến mợi người.

Nhưng tôi cũng nhận thấy nhạc tình Việt đã không được trình bày tỏa sáng do các ca sĩ Mỹ hát.

Cuối cùng, phải nhìn nhận với nhau rằng hai nhạc sĩ Phạm Duy- Trịnh Công Sơn, mỗi người một cách thể hiện là những thiên tài trong âm nhạc miền Nam mà sau này cho đến bây giờ, khó có nhạc sĩ nào có thể thay thế được họ..

  • Dòng nhạc tình Việt Nam muôn thuở.

Có thể nói, nhạc VN là thứ nhạc tình thường đượm buồn nhẹ nhàng lay lắt, chia ly xa cách với mùa thu lá bay..

-Nhạc sĩ Hoàng Quý- Lê Thương.

– Cô láng giềng- một mối tình sôi động khi được tin người yêu đi lấy chồng.

Hôm này trời xuân bao tươi thắm.. Cô láng giềng ơi, không biết cô còn nhớ tới tôi.

  • Nhạc sĩ Lê Thương.

Em không nghe mùa thu, lá thu rơi xào xạc.. đạp trên lá vàng khô..

-Nhạc sĩ Văn Cao

Văn Cao là một con người đa tài, tài hoa, Văn, thi sĩ, họa sĩ, nhất là nhạc sĩ.(Sau này, những bức tranh ông vẽ sau này được triển lãm tại Hà Nội)

Đặng Thái Mai gọi ông là một viên ngọc trong giới nghệ sĩ.

Ông đã để lại cho đời những bản tình ca, nhẹ nhàng, buồn hiu hắt bất hủ như:  Suối mơ,Thu Cô Liêu, Buồn Tàn thu Làng tôi.

 Bên cạnh đó, còn những bản hùng ca, lẻ loi ca tụng Hồ Chí Minh..Bài tiếng Quân ca ông sáng tác năm 1944 sau này trở thành bài quốc ca.

Nhưng số phận ông không được may mắn như Phạm Duy ở miền Nam.

Năm 1958, tên ông bị rút ra khỏi danh sách giới nghệ sĩ mặc dù ông không bị đi tù hay tra khảo.

Cuộc sống bị hắt hủi, bỏ rơi trong nỗi cô tịch và túng thiếu.

Cây đàn piano ông xử dụng thật ra chỉ là thuê với giá 7 đồng rưỡi, cộng với tiền thuê nhà hàng tháng  là 15 đồng.

Thật tiếc cho một tài hoa đất Bắc không được trọng dụng.

Và đã có nhiều văn nghệ sĩ cũng chung số phận như Văn Cao.

Trong suốt 38 năm còn lại của cuộc đời, ông đã làm thinh, không còn sáng tác một bài nào nữa..

Phải chăng sự làm thinh ấy là một hình thức chống đối lại chế độ?

  • Ban Hợp ca Thăng Long

Đây là một ban Hợp ca xuất phát từ đất Bắc từ những năm 1946, đến năm 1951, sau đó như nhiều giới văn nghệ sĩ khác, họ dinh tê về Hà Nội, rồi khi vào Sài gòn, nơi có tự do, họ trở thành  ban nhạc danh tiếng như một huyền thoại.

Đặc biệt Ban Hợp ca này đều mang dòng họ Phạm. (hoặc dâu rể) như Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng (mất 1999), vợ Phạm Duy.

Hoài Trung Phạm Đình Viêm (2002). Con trai là nhạc sĩ Phạm Đình Chương ( mất 1991)- vợ là ca sĩ Khánh Ngọc ( mất 2021), Khánh Ngọc là ca sĩ, bà còn là một tài tử điện ảnh. Con gái út là Phạm thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh (2020).

Trong số ấy nổi bật ba người: Hoài Bắc Phạm Đình Chương- Thái Thanh-và Hoài Trung Phạm Đình Viêm.

Biến cố năm 1960, trong vụ được gọi là ăn chè nhà Bè giữa Pham Duy và Khánh Ngọc làm tan rã ban Hợp ca Thăng Long.

Sau đó Khánh Ngọc bỏ sang Mỹ. Cõi lòng Phạm Đình Chương tan nát đã để lại một số bài ca như: Người đi qua đời tôi, Khi cuộc tình đã chết, Nửa hồn thương đau.

  • Nhạc sĩ Từ Công Phụng (27-07-1942)

Nhạc sĩ Từ Công Phụng, tác gỉả những dòng nhạc trữ tình lãng mạn bất hủ như:  Bây giờ tháng mấy.. Tuổi xa người.. Giữ đời cho nhau.

Xin trích dẫn vài dòng nhạc:

Nếu có điều gì vĩnh cửu, thì em ơi. Đó là tình yêu chúng ta.. bờ vai ngoan.. Nếu có điều gì vĩnh cửu.. rồi mai đây, anh sẽ đón em về…

Tạ ơn em.. tạ ơn em

Bài giọt lệ cho ngàn sau. :

Mưa soi dấu em qua cầu..

Theo những cánh rong trôi mang niềm đau..

Đời em đã khép đi vội vàng..

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng..

Lời nhạc của Từ Công Phụng hòa quyện với tiếng hát sang trọng của Lệ Thu tạo nên một tuyệt phẩm ít ai sánh bì..

Ông cũng là một nhạc sĩ sau 1975 vẫn còn sáng tác và điều đặc biệt hơn mọi nhạc sĩ khác, ông có một giọng ca đầy nam tính, trầm buồn, đầy ma mị.

Tôi yêu giọng ca ấy, thái độ ấy khi ông cất tiếng hát. Nó hòa quyện vào từng lời ca như hơi thở như từ xa vọng về..

  • Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Ông vốn  là một sĩ quan quân đội VNCH, sau này lên đến cấp bậc đại tá năm 30 tháng tư, 1975..

Những bản nhạc của ông mang bóng dáng người lính VNCH như, tôi ghi lại như một kỷ ức khó quên. Nó rất đẹp và nhẹ nhàng :

  • Chiều mưa biên giới.
  • Đêm gác

-Xác hoa mầu tím.

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu.. Kìa rừng chiều âm u rét mướt..

Bây giờ,  tôi ngồi một mình nghĩ lại, gậm nhấm với nỗi buồn xa xứ, nghe mà lòng đau thắt.

  • Nhạc sĩ Vũ Thành An

Ông để lại nhiều ca khúc là  Những bài ca không tên. Tôi gần như không nghe cũng như cuộc đời ông trong trại cải tạo mà tôi bỏ qua không xét đến.

Tôi chỉ giới thiệu một bài hát duy nhất : Rồi cũng già

Ngày mai rồi mình cũng già….Ngày xưa như mới hôm qua.. Thời gian như cánh chim bay. Tiếng cầu kinh đời đời vẫn vậy.. Được thua thì cũng thế thôi. Một tin yêu xin trao cho nhau…. Tạ ơn trên cho ta sống chốn này..

Nhận Xét

Bài ca như lời trăn trối, như gửi gắm lúc cuối đời. Được thua cũng thế thôi. Chỉ còn lại chút tin yêu cho nhau. Và cuối cùng tạ ơn trên đã cho ta cuộc sống ở chốn này..

Bài Rồi cũng già đã được nhiều ca sĩ hát và phổ biến.

Nhưng gây cho tôi nhiều xúc động là giọng ca nam như một lời nhắn gửi và chia xẻ lúc cuối đời.

  • Ban AVT

Có điều gì khác lạ, có điều gì gây ngạc nhiên..gây thich thú với việc xử dụng các cây đàn cổ truyền, thấm nhuần văn hóa dân gian với cuộc sống êm đềm,  tự do và thường được trình diễn trong các dịp lễ tết cuối năm. Đó là trường hợp ban AVT với sự kết hợp ba tài hoa là Trần Đăng, Lữ Liên và Vân Sơn.

Lời trình bày của tôi chắc không đủ để diễn tả.

Quý vị cần phải nghe chính họ trình diễn một cách nhịp nhàng, vui nhộn qua các bài như: Du xuân, Lời chúc xuân, một ông hai bà, Trấn thủ lưu đồn…
Xin mọi người hãy tự tìm đến mà nghe, mà thưởng thức cho đời thêm vui.

  • Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang(1944-2011)

Ông thuộc thế hệ đàn em của tôi học trường Trần Hưng Đạo Đà lạt. Gia đình có người anh cả và ba chị gái ở lại midền Bắc. Chỉ có Nguyễn Đức Quang và đứa em trai út vào miền Nam Sau này ban nhạc của ông có dịp trình diễn tại giảng đường Spellman của đại học Đà lạt, nơi tôi từng học.

Ông là người sáng lập và là linh hồn của Phong Trào Du Ca. Mục đích của phong trào là viết cho quê hương, cho giới thanh niên với tinh thần dân tộc.

Trong bối cảnh xã hội chính trị thời ấy.. Có một số thanh niên quá khích biểu tình, hô hào đả đảo chính quyền miền Nam, tôi gọi bọn họ là Bọn  xuống đường. Còn nhóm Nguyễn Đức Quang, tôi trân trọng gọi họ là nhóm Lên Đường.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tiêu biểu cho giới trẻ miền Nam thời ấy.

Những bản nhạc sáng tác của ông như : Về với mẹ cha- Bên kia sông-Xin chọn nơi này làm quê hương. Nhất là bài :Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Rất tiếc cho một thanh niên tài hoa, đầy nhiệt huyết, ông bị tai biến mạch máu não và qua đời ngày 27-5 -2011, tại California..
Còn một nhạc sĩ cuối cùng mà tôi không thể không nói đến: nhạc sĩ Cung Tiến. (1938-2022)

Cung Tiến- tức Cung Thúc Tiến, sinh tại Hà Nội, có dịp học nhạc với nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh. Ngay từ lúc 14, 15 tuổi đã sáng tác các bài Thu Vàng..và Hương xưa.

“ Chiều hôm qua lang thang trên đường. hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương..Chiều hôm qua, mình tôi bâng khuâng…rồi:

Mùa thu vàng tới, nhặt lá vàng rơi.. có mùa thu vàng bao nhêu là thương..

Hương xưa: Ôi những đêm dài, một kiếp xa xôi..

Tôi lại yếu hèn, thổn thức theo dòng nhạc của tác giả..

Như tự bên trong tôi, tôi nhủ thầm được may mắn sinh sống tại một miền đất miền Nam tự do,đã nuôi dưỡng tôi thành một người trí thức miền Nam mà tôi tự hào không ngượng nghịu…với ký ức vàng son của một thời kỳ âm nhạc VN..

Để chấm dứt hơn nửa thế kỷ dòng âm nhạc miền Nam..

Xin được dùng bài hát của nghê sĩ Nam Lộc như khép lại bài viết này: Bài nhạc: Sài Gòn ơi!! Vĩnh biệt.


 

Quyền tự do căn bản của người Việt Nam trước năm 1975 – Phùng Văn Phụng

 Phùng Văn Phụng

Những ai có học trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn trước năm 1975 đều có biết cuốn sách Luật Hiến Pháp và Chính Trị Học của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, có viết về Đối Lập chính trị.

Hiến Pháp ngày 01 tháng 04 năm 1967 (cách nay trên 60 năm) cũng ghi nhận đầy đủ quyền tự do của con người nhất là quyền đối lập chính trị, quyền thành lập đảng phái chính trị. Có tam quyền phân lập rõ ràng: Quyền Hành Pháp, Quyền Tư Pháp (Tối Cao Pháp Viện), Quyền Lập Pháp (Quốc Hội).

Do đó trước năm 1975 có rất nhiều đảng phái chính trị được hoạt động như Đai Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đảng Nhân Xã, Đảng Tân Đại Việt, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến v.v…

Báo chí hoàn toàn tự do cho nên có nhiều báo chí đối lập với chính quyền như báo Cấp Tiến, báo Đại Dân Tộc, báo Tin Sáng, báo Chính Luận v.v… và rất nhiều tờ báo khác nữa tôi không thể nhớ hết được.

Đúng là thời kỳ vàng son của tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do tôn giáo, tự do thành lập đảng phái chính trị (phê bình, chỉ trích, nói khác với nhà cầm quyền không bị chụp mũ phản động và bỏ tù) v.v…

Hy vọng sẽ có ngày mọi người đều có được tự do như thế trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta???

Phùng Văn Phụng


 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Hoai Linh Ngoc Duong 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Bài viết về Abraham Lincoln mà người trí thức trong nước đăng tải thoạt nhìn chỉ là một câu chuyện lịch sử về tinh thần hòa giải sau nội chiến Mỹ. Nhưng điều khiến chính quyền khó chịu không nằm ở Lincoln, mà nằm ở thông điệp chính trị ẩn phía sau sự so sánh đó.

Bởi càng đọc kỹ người ta càng thấy: điều làm nước Mỹ mạnh sau nội chiến không đơn thuần là lòng nhân đạo của Lincoln, mà là mô hình quyền lực mà nước Mỹ lựa chọn sau chiến tranh — một nền cộng hòa đa đảng có hiến pháp kiểm soát quyền lực, nơi phe thua trận vẫn tiếp tục tồn tại về chính trị thay vì bị xóa sổ hoàn toàn.

Đó chính là điểm khác biệt căn bản giữa nước Mỹ sau năm 1865 và Việt Nam sau năm 1975.

Cuộc nội chiến Mỹ kết thúc với chiến thắng quân sự của miền Bắc Liên bang trước Liên minh miền Nam. Nhưng sau chiến tranh, nước Mỹ không xây dựng một chế độ độc đảng để cai trị vĩnh viễn phe thua trận. Họ không thủ tiêu toàn bộ đối lập chính trị miền Nam. Không cấm tuyệt đối tư tưởng bảo thủ miền Nam. Không tuyên bố chỉ duy nhất một đảng có quyền lãnh đạo đất nước đời đời.

Ngược lại, hệ thống hiến pháp Mỹ vẫn giữ nguyên bản chất “checks and balances” — tam quyền phân lập và cạnh tranh quyền lực.

Phe thất bại cuối cùng vẫn:

  • có quyền tham gia chính trị,
  • có quyền tranh cử,
  • có quyền kiểm soát chính quyền thông qua bầu cử,
  • và nhiều thập niên sau chính các bang miền Nam lại trở thành thành trì chính trị mạnh mẽ của phe bảo thủ Mỹ.

Điều quan trọng nhất là: nước Mỹ sau nội chiến không xây dựng một nhà nước dựa trên “chân lý độc quyền”.

Không có đảng nào được quyền tuyên bố:

“Chỉ có ta mới đại diện cho tổ quốc.”

“Chỉ dưới sự lãnh đạo của ta nhân dân mới hạnh phúc.”

“Phe còn lại mãi mãi là phản động.”

Đó là lý do hòa giải dân tộc ở Mỹ có thể diễn ra, dù vẫn đầy đau đớn và bất công lịch sử.

Ngược lại, sau năm 1975, chính quyền miền Bắc chiến thắng ở Việt Nam lại đi theo một con đường hoàn toàn khác:

– thiết lập chế độ độc đảng,

– xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính trị miền Nam,

– cải tạo quân cán chính,

– kiểm soát báo chí,

– cấm đối lập,

– và đặt đảng lên trên nhà nước.

Nói cách khác, mục tiêu không phải là tạo ra một nền cộng hòa nơi các phe cạnh tranh quyền lực dưới hiến pháp, mà là xây dựng một hệ thống trong đó chỉ duy nhất một lực lượng được quyền lãnh đạo vĩnh viễn.

Đó là lý do nhiều lời kêu gọi “hòa hợp hòa giải” ở Việt Nam luôn gặp giới hạn rất lớn.

Bởi hòa giải thật sự chỉ có thể tồn tại khi:

– các bên được thừa nhận quyền tồn tại chính trị,

– có quyền tự do bày tỏ quan điểm,

– có quyền cạnh tranh quyền lực,

– và không phe nào độc quyền chân lý quốc gia.

Nếu một phía vẫn giữ toàn bộ quyền lực tuyệt đối và yêu cầu phía còn lại “hòa giải” trong khi không được phép:

– lập đảng,

– tranh cử,

– phản biện,

– hay kiểm soát quyền lực,

thì đó không phải hòa giải theo nghĩa chính trị hiện đại, mà gần hơn với yêu cầu “chấp nhận trật tự do bên thắng trận áp đặt”.

Chính vì vậy, những bài viết ca ngợi tinh thần Lincoln thường gây khó chịu cho hệ thống tuyên truyền chính thống.

Vì nếu người dân bắt đầu đặt câu hỏi:

“Tại sao Mỹ sau nội chiến vẫn cho phe thua trận quyền tham gia chính trị?”

“Tại sao nước Mỹ cần đối lập để kiểm soát quyền lực?”

“Tại sao hòa giải ở Mỹ gắn với hiến pháp và cạnh tranh bầu cử?”

thì họ sẽ tiếp tục đặt câu hỏi lớn hơn:

“Tại sao Việt Nam không như vậy?”

Đó mới là điều nhạy cảm nhất.

Nhiều trí thức Việt Nam thường nhìn vào tinh thần hòa giải của Lincoln mà quên mất nền tảng tạo ra hòa giải ấy chính là cấu trúc quyền lực của nền cộng hòa Mỹ.

Lincoln không hòa giải bằng cách yêu cầu dân miền Nam “tin tưởng tuyệt đối vào một đảng duy nhất”. Ông hòa giải bằng cách giữ cho nước Mỹ tiếp tục là một quốc gia pháp trị nơi mọi phe cuối cùng phải cạnh tranh dưới hiến pháp.

Chính “checks and balances” mới là điều quan trọng nhất.

Bởi nếu không có:

– bầu cử tự do,

–  báo chí độc lập,

– đối lập hợp pháp,

– và cơ chế thay đổi quyền lực hòa bình,

thì mọi lời kêu gọi hòa hợp cuối cùng rất dễ biến thành:

“Các anh hãy quên quá khứ và chấp nhận để chúng tôi cai trị mãi mãi.”

Đó là lý do nhiều người cho rằng:

muốn có hòa giải dân tộc thật sự trước hết phải có quyền lực thuộc về nhân dân chứ không thuộc độc quyền về một đảng.

Lịch sử cho thấy hầu như không có chế độ độc quyền quyền lực nào tự nguyện trao lại quyền kiểm soát cho dân nếu không chịu áp lực xã hội cực lớn.

Không phải vì cá nhân lãnh đạo tốt hay xấu, mà vì bản chất của quyền lực tuyệt đối luôn có xu hướng tự bảo vệ chính nó.

Và đó cũng là bài học lớn nhất từ nước Mỹ:

điều làm một quốc gia mạnh không phải chỉ là chiến thắng trong nội chiến, mà là khả năng xây dựng một hiến pháp khiến ngay cả phe thắng trận cũng không thể nắm quyền vĩnh viễn mà không bị kiểm soát. 

Screenshot
Screenshot
Screenshot

 

Nguồn gốc đích thực ngày 30 tháng 4

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Thị Cỏ May

19/05/2026

Một buổi họp mặt thân hữu giữa mươi người cộng sản tổ chức tại tư gia của bà Nguyễn thị Bình, Phó Chủ tịch nước, và do bà mời. Mọi người đang thảo luận về tình trạng đất nước bi đát: kinh tế tụt hậu, đạo đức băng hoại, chánh trị độc tài, … bổng bà Bình hỏi «Vậy, theo các anh, chúng ta sai từ bao giờ ?».

Ai cũng đều nói chúng ta sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Mao Trạch-đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chánh sách của mình. Riêng nhà văn Nguyên Ngọc lại nói: Ta sai từ đại hội Tours.

Bà Bình không đồng ý. Nhưng qua ngày hôm sau, bà Bình bảo ông Nguyên Ngọc: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Nguyên Ngọc nói đúng đấy!”.

Câu chuyện «Ta sai từ đại hội Tours» (*) được nhà văn Lê Phú Khải kể lại trong «Lời Ai điếu » (Người Việt xb, Huê kỳ). Và ông còn cay đắng nhận xét thêm như một kết luận về sự chọn lựa đó “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.”

Ông Nguyên Ngọc có lý? Vậy nếu không có Hội nghị Tours và không theo cộng sản, Hồ Chí Minh có thể tìm ngỏ khác để giành độc lập được không? Và theo cộng sản phải chăng là để ông tìm con đường giải phóng Việt nam khỏi ách đô hộ thực dân pháp, chỉ vì thật lòng yêu nước?

Hội nghị Tours 1920

Hội nghị diễn ra từ 25 tới 30 tháng 12 năm 1920 ở Tours, Thành phố phía Tây-Nam Paris, cách Paris 230 km. Trong hội trường, treo hai biểu ngữ lớn «Hỡi vô sản toàn thế giới, các bạn hảy đoàn kết lại» và « Giải phóng thợ thuyền là sự nghiệp của anh em lao động».

Tháng 11 năm 1918, Đệ I Thế chiến kết thúc làm xáo trộn lớp chánh trị pháp, nhứt là những đảng phái của giới thợ thuyền. Đảng Lao động pháp (SFIO= Section Française Internationale Ouvrière – Phân Bộ Pháp Quốc tế Thợ thuyền), sau khi lãnh tụ Jean Jaurès bị ám sát, dần dần bị phân hóa. Ở Đại hội Tours, một bộ phận lớn của SFIO, do ảnh hưởng cách mạng bôn-sơ-vít nga 1917, chọn theo SFIC (Section Française Internationale Communiste – Phân bộ Pháp Quốc tế Cộng sản) của Lê-nin, tiền thân của đảng cộng sản pháp (PCF) ngày nay. Phần còn lại thiểu số cực lực chống lại Lê-nin ở Đại hội Tours, theo Leon Blum, giữ đảng Xã hội (Quốc tế II).

Hồ Chí Minh, năm 1919 đã gia nhập Đảng Xã hội pháp (SFIO), tham dự Đại hội Tours với tư cách Đại biểu ngoại vi của nhóm hoạt động thuộc địa, không phải Đại biểu cao cấp, nhưng có tiếng nói ở Đại hội Tours về vấn đề dân thuộc địa pháp. Khi Đại hội bỏ phiếu, Hồ Chí Minh ngả theo nhóm đa số của đảng Xã hội pháp, chọn cộng sản.

Bỏ phiếu chọn cộng sản, Hồ Chí Minh làm một chọn lựa có suy nghĩ hay chỉ theo xu hướng đa số?

Có nhiều ý kiến, nhứt là cộng sản hà nội, cho rằng Hồ Chí Minh bỏ phiếu theo đa số ở Hội nghị Tours, bỏ đảng Xã hội chọn chạy theo SFIC, cộng sản pháp, là một chọn lựa có hiểu biết, chớ không hoàn toàn vì xu hướng số đông.

Trước đó vài tháng, ông được đọc «Bản Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa» (Les Thèses de Lénine sur les Questions Nationales et Coloniales, L’Humanité 16-7/7/1920, Paris) trong đó, Lê-nin phê phán luận điểm sai lầm về vấn đề dân tộc và thuộc địa, như tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của đảng cộng sản là phải lãnh đạo thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa, giai cấp vô sản các nước tư bản phải đoàn kết chặt chẽ với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến. Những luận điểm này của Lê-nin đã mê hoặc Hồ Chí Minh như đó là chơn lý ông vừa bắt được .Sau này, khi kể lại chuyện đó, ông không ngớt lời ca ngợi: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. 

Ông mê luận cương của Lê-nin cũng đúng vì Lê-nin là người mác-xit đầu tiên đặt thẳng vấn đề giải phóng các nước bị thực dân đô hộ trong lúc đó, Đệ II Quốc tế chỉ chủ trương uu tiên tranh đấu thăng tiến giới lao động và thợ thuyền .

Nhưng với vốn hiểu biết căn bản rất giới hạn và hoàn toàn bị mê hoặc bởi điều mới vừa bắt được, Hồ Chí Minh không đủ khả năng nhận thức rỏ hơn về cộng sản và Lê-nin . Như khi cộng sản nắm chánh quyền thì đất nước sẽ vận hành ra sao ? Đời sống xã hội sẽ như thế nào?

Ta sai từ Hội nghị Tours

Ông Nguyên Ngọc nói «Ta sai từ Hội nghị Tours», tức ý muốn nói mọi nguồn gốc gây ra tình trạng thảm hại của đất nước ngày nay là ở Hội nghị Tours, nơi và lúc Hồ Chí Minh chọn theo Quốc tế III, tức chấp nhận hệ tư tưởng léninisme, đặt đảng cộng sản trên dất nước dân tộc : vì « đảng cộng sản chủ trương độc quyền lãnh đạo, thực thi chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, đặt lợi ích quốc tế III, tức cộng sản thế giới, lên trên lợi ích dân tộc » .

Từ đó, khi lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân cướp được chánh quyền, Hồi Chí Minh đem áp dụng ngay mô hình xây dựng Việt nam rặp theo khuôn mẩu léniniste :

– Nhà nước và xã hội do Đảng kiểm soát tuyệt đối,

– Không có cạnh tranh chính trị. Ai lở có ý kiếng phê phán đảng và nhà nước bị tù vì tội chống nhơn dân,

– Xã hội vận hành theo ý thức hệ, làm lợi cho cộng sản là mục tiêu tối thượng, hòan toàn không cần biết pháp luật.

– Kinh tế kế hoạch hóa tập trung . (Việt nam, tới 1986, chịu không nổi nữa, bèn « đổi mới » thành kinh tế thị trường theo địng hướng xhcn) .

Dĩ nhiên một chế độ độc tài như vậy làm sao không đưa đất nước tới hệ quả về lâu về dài dẫn tới:

– kinh tế suy thoái,

– độc tài chính trị, xã hội bị kiểm soát bởi công an – tổ chức đảng,

– sự thật bị thay bằng “đường lối” dối trá,

– đạo đức suy đồi, tham nhủng lên ngôi, giá trị tiêu chuẩn là tiền qui định đẳng cấp xã hội

Đó đúng là ý của ông Nguyên Ngọc mà bà Nguyễn thị Bình, sau một đêm không ngủ, suy nghĩ, sáng ra, bảo với ông nguyên Ngọc «Em nói đúng!»

Nhưng sau đó, chỉ ít lâu thôi, trả lời phỏng vấn của ông Xuân Hồng trên đài BBC, cũng chính bà Nguyễn thị Bình đó, lại rất bình thường, bảo «suốt thời gian theo Hồ Chí Minh, hoạt động cách mạng giải phóng đất nước, bà hoàn toàn không làm điều gì sai trái để ngày nay phải hối hận, ngoài những trường hợp đáng lẽ ra bà đã làm tốt hơn nhiều!».

Nếu không có Hội nghị Tours

Giả thử không có Hội nghị Tours hay có mà Hồ Chí Minh không theo cộng sản, thật sự vì lòng yêu nước, ông có thể có những chọn lựa khác hơn để đem lại độc lập cho Việt nam không ?

Có thể lắm chớ . Và còn có nhiều cơ hội nữa .

Như Hồ Chí Minh vẫn đi theo chủ nghĩa Marx nhưng không theo Quốc tế III, như nhiều trí thức thật lòng yêu nước thời đó, tìm đọc Mác vì tác giả phê phán chủ nghĩa đế quốc . Mà « marxisme» không phải là thứ « léninisme » của Lénine . Mác-xít vẫn tả khuynh, chống tư bản, chống đế quốc thực dân, hô hào bảo vệ quyền lợi nhơn dân lao động, không quá khích ác ôn như lê-nin-nít, ngày nay hảy còn hoạt động ở Âu châu và giúp các nước đó phát triển tốt đẹp .

Đó là chủ nghĩa «xã hội dân chủ» ..

Nếu chỉ theo « marxisme »,tức « xã hội dân chủ », Việt nam vẫn độc lập mà không cộng sản, không bị đồng hóa «đảng=dân tộc» , «yêu đảng=yêu nước» . Hơn nữa, Hồ Chí Minh vẫn có thể không thèm theo mác-xít, chỉ làm người Việt nam thuần tứy yêu nước thật lòng, vẫn có thể góp công tiếp thu và xây dựng một Việt nam độc lập được mà không bị quá nhiều di hại như hàng mươi triệu thanh niên chết vì đánh nhau cho có ngày 30/04.

Thật vậy, năm 1941, khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, theo đề nghị của Tổng Thống Huê Kỳ Franklin Roosevelt, các Đế quốc Tây phương Anh, Mỹ, Pháp, Hòa Lan đã họp nhau tại Newfoundland, Canada, để công bố « Hiến Chương Đại Tây Dương » theo đó các thuộc địa và bảo hộ sẽ được trao trả độc lập khi chiến tranh kết thúc .

Ngày 8 tháng 5 năm 1945, Đức Quốc xã đầu hàng, đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và long trọng ban hành « Quyền Dân Tộc Tự Quyết » (Quyền này vẫn còn giá trị pháp lý, nhưng thực tế ?) . Từ 1946 đến 1949, các Đế quốc Tây phương như Mỹ, Anh, Pháp, Hòa Lan đã lần lượt trao trả độc lập cho các thuộc địa ở Á châu :

-năm l946 : Phi-luật-tân thuộc Hoa kỳ, Syrie và Liban thuộc Pháp,

-năm l947: Ấn-độ và Đại hồi thuộc Anh,

-năm l948: Miến-điện, Tích-lan và Palestine thuộc Anh,

-năm l949 : Việt nam (Hiệp định Pháp-Việt, tức Hiệp định Elysee, ngày 8 tháng 3 năm 1949, Việt nam hoàn toàn độc lập, thu hồi hoàn toàn chủ quyền, kinh tế, ngoại giao, quân sự, thống nhứt Nam, Trung, Bắc), Ai-lao, Cao-mên thuộc Pháp, và Nam-dương thuộc Hoà-lan .

Nhưng Hồ Chí Minh không đồng ý vì độc lấp đó là của Việt nam, không phải của cộng sản đệ III . Đã có nhiều cơ hội Việt nam có độc lập và có thể giử được nền độc lập nếu đã có sự hợp tác với nhau vì lòng yêu nước . Hồ Chí Minh đã chọn cộng sản, theo cộng sản và tự tôi luyện từ làm chỉ điểm cho Quốc tế Nông hội dưới bí danh Ferdinand để từng bước trở thành người cộng sản tinh ròng, trước sau,ông chỉ biết phục vụ cộng sản và chết, cũng chỉ theo cụ Mác, cụ Lê, chớ không thèm theo ông bà ông vải .

Có người nói, giai đoạn đầu, Hồ Chí Minh theo chủ nghĩ dân tộc , tranh đấu giải phóng dân tộc, hoàn toàn không đúng vì léninisme chủ trương mượn chiêu bài dân tộc để tổ chức quần chúng, lãnh đạo quần chúng nhằm mục tiêu cộng sản .

Đây, để đừng mơ hồ về Hồ Chí Minh là người yêu nước, từng tranh đấu cho dân tộc độc lập, hảy nghe chính ông bộc bạch rỏ về tâm huyết của ông ta : “Người khẳng định Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là “mặt trời” soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” (hcm toàn tập, tập xii, xb chánh trị quốc gia, hà nôi, 2011)

Ông Nguyên Ngọc nói đúng . Thật đúng đấy, nên ngày nay, ông nằm ở nhà, bạn bè tới thăm không được phép lên nhà ông vì bị đám “dùi cui” ngăn chặn . Cả chị ở giúp việc trong nhà cũng có nhiệm vụ lo bảo vệ ông, không cho ông tiếp khách sợ ông mệt.

———————————————-

(*) Về chuyện ông Nguyên Ngọc nói “Ta sai từ Hội nghị Tours”, nhà thơ Thái Bá Tân có bài thơ kể rỏ lại câu chuyện rất đầy đủ

Nguyễn thị Cỏ May


 

LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Xuyên Sơn

 LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng.

Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước.

Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất?

Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe:

“Vì tương lai con cái!”.

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình.

Thật chua chát khi hơn 40 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác.

Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận.

Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường.

Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc…

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường!

Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp.

Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh.

Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách.

Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về.

Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc.

Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ.

Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD.

Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng!

Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột.

Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi?

Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng!

Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt.

Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu.

Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội.

Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”.

Có thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài?

Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp,

các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút,

các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?…

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo:

Lo nạn cướp giật, móc túi; 

lo tai nạn giao thông;

lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm;

lo hít khói bụi bị ung thư;

lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc…

Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo.

Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần!

Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy?

Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước.

28 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô.

Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền.

Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ:

“Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng,

Znhưng vẫn còn cố nấn ná…

Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”.

Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này.

Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948.

Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia.

70 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta?

Sau hơn 73 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và tàu bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về?

Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại?

Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái.

Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở:

“Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam…

Chúa Nhật, 12 tháng Tư năm 2020 

Tác Giả: Nguyễn Thị Oanh

http://saigonecho.com/images/ra_di.jpg 


 

Thắng rồi thì ăn mừng trên nỗi đau của người thua, thù hằn đến đời con đời cháu.

Tao Le

 Chuyến đi Tầu lần này, nhìn bề nổi thì ai cũng thấy: toàn CEO, toàn những cái tên mà chỉ cần xuất hiện ở sân bay là giá cổ phiếu đã nhúc nhích lên. Nhưng cái làm tôi suy nghĩ nhiều hơn lại là…  những thỏa thuận chưa nói ra, những nước cờ chiến lược mà chỉ những người ngồi trong phòng kín mới biết.

Và trong cái im lặng đó, hình ảnh Elon Musk đi cạnh tổng thống Trump lại toả sáng như ánh mặt trời. Như ngọn đèn trong đêm tối.

Tôi nhìn hai người họ mà nghĩ:

Ở Mỹ, người ta có thể cãi nhau nảy lửa hôm nay, nhưng ngày mai vẫn bắt tay nếu đất nước cần.

Ở Mỹ, người ta có thể chửi nhau trên Twitter, nhưng khi lợi ích quốc gia đặt lên bàn, cái tôi cá nhân tự động lùi xuống.

Ở Mỹ, người ta có thể bất đồng, nhưng không vì thế mà không làm việc cùng nhau.

Còn ở quê tôi… thì ngược lại.

Cãi nhau một câu, thù nhau ba đời.

Khác ý một chút, là gắn nhãn phản động, phản quốc, phản đủ thứ.

Thắng rồi thì ăn mừng trên nỗi đau của người thua, thù hằn đến đời con đời cháu.

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng.” Chỉ là câu cửa miệng

Nhìn tổng thống Trump và Elon, tôi nhận ra một điều:

Một quốc gia mạnh không phải vì có lãnh đạo hoàn hảo, mà vì có văn hóa chính trị biết đặt lợi ích chung lên trên cảm xúc cá nhân.

Tổng thống Trump không cần Elon phải quỳ xuống xin lỗi.

Elon cũng không cần giả vờ ngoan hiền.

Họ chỉ cần cùng nhìn về một hướng, hướng mà nước Mỹ có lợi.

Và chính điều đó làm tôi buồn cho quê hương mình.

Năm mươi năm rồi, vẫn chưa chịu buông bỏ.

Năm mươi năm rồi, vẫn còn đào bới quá khứ để chia phe.

Năm mươi năm rồi, vẫn chưa học được cách “thắng không kiêu,”.

Tôi nhìn nụ cười của Elon bên  tổng thống Trump mà nghĩ:

Có những dân tộc tiến lên vì họ biết tha thứ.

Có những dân tộc đứng yên vì họ chỉ biết ghi thù.

Buồn — nhưng là cái buồn bất lực, như nhìn một vết thương cũ mà người dân, ai cũng biết cần khâu lại, nhưng lãnh đạo chẳng chịu cầm kim.

Nhưng rồi tôi cũng tự hỏi:

Liệu có phải chúng ta không biết tha thứ! 

Một xã hội lớn  triền miên trong chiến tranh thì quen với việc phân định đúng sai bằng ranh giới rất rõ ràng: bạn – thù, ta – địch. 

Vấn đề là… chiến tranh đã qua lâu rồi, nhưng cách nghĩ ấy thì vẫn còn nằm lại trong đầu nhiều thế hệ.

Người ta không chỉ nhớ quá khứ — người ta sống trong quá khứ.

Mỗi cuộc tranh luận nhỏ đều có thể bị kéo lùi về những câu chuyện của vài chục năm trước. 

Mỗi khác biệt quan điểm đều có nguy cơ bị thổi phồng thành lập trường, thành chiến tuyến.

Và thế là thay vì đối thoại, người ta chọn kết luận. 

Thay vì hiểu nhau, người ta chọn dán nhãn cho nhau. Đội cho nhau cái mũ “ phản động”

Có lẽ vì vậy mà tôi thấy cái hình ảnh Elon và tổng thống Trump đi cạnh nhau lại trở nên… xa xỉ. 

Không phải vì họ đặc biệt hơn người, mà vì cái nền văn hóa cho phép họ “không thích nhau nhưng vẫn làm việc cùng nhau”

Một quốc gia trưởng thành không phải là nơi không có mâu thuẫn. 

Mà là nơi người ta biết đặt mâu thuẫn vào đúng chỗ của nó.

Không phải cái gì cũng biến thành thù hằn. 

Không phải bất đồng nào cũng cần phải thắng – thua.

Và có lẽ, điều khó nhất không phải là thay đổi thể chế,

mà là thay đổi cách người ta nhìn nhau.

Tôi không bi quan đến mức nghĩ rằng mọi thứ sẽ không bao giờ khác đi. 

Nhưng tôi cũng không lạc quan đến mức tin rằng: Sự hằn thù của bên thắng cuộc sẽ thay vào sự đồng cảm.

Nếu điều đó thật sự xẩy ra, những đàn chim Việt cùng bay về quê mẹ chung tay xây dựng đất nước, Không còn những đoàn người xếp hàng ghi danh lao động xuất khẩu, mà thay vào đó là những hàng hoá Made in Vietnam.

Để con cháu còn ngẩng cao đầu hãnh diện thay cho tủi nhục.

Ngày đó, có lẽ còn xa.

Nhi Duong