Nhìn lại dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Văn Lục

21/05/2026

Nhìn lại hơn nửa thế kỷ, dòng nhạc miền Nam từ bước khởi đầu với triển vọng sau này như một giấc mơ trong niềm hãnh diện sáng ngời…với giới nhạc sĩ và những ca sĩ quyện vào nhau tuyệt vời

  • Sau này, may mắn là tất cả các nhạc sĩ lẫn các ca sĩ đã lần lượt được các chương trình Paris By Night của trung tâm Thúy Nga giới thiệu. Nhờ thế, các dòng nhạc VN còn được ghi lại một cách sống động đến ngày nay.
  • Những bước khởi đầu của một thời kỳ hồng hoang.

Trong giai đoạn hòa trộn dòng nhạc cổ điển Tây Phương với những với Tino Rossy bên cạnh dòng nhạc ca trù, hát chèo, hát quan họ với cây đàn bầu, đàn nhị..Một số nhạc sĩ trẻ đã chọn cho bản thân một lối đi riêng mở đường  cho một dòng nhạc Việt Nam: Dzõan Mẫn, Đặng Thế Phong và Hùng Lân.

  • Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn (15-10-1919). Với một bài hát nhẹ nhàng, nhìn thấy các buổi chia tay của các đôi lứa chia tay trên ga xe lửa Hàng Cỏ. Ông đã viết bài Biệt Ly..Biệt ly nhớ nhung từ đây.. chiếc lá rơi theo mong manh người về có hay…( Bài Biệt ly đã bị cấm trình bày một thời gian dài ở ngoài Bắc. Nhưng tại miền Nam, nó đã được Thái Thanh hát tự do.)
  • Nhạc sĩ Đặng Thế Phong (16-4- 1918. Ông lìa đời ở tuổi 24, năm 2-8-1942, ông mất vì bệnh lao phối.

Ông xuất thân ở Nam Định, học trường St. Thomas d’Aquin, ông chỉ để lại cho đời có ba bài hát: Con thuyền không bến, Đêm thu, Giọt mưa thu.

Những bài này sau này đã được thể hiện qua giọng hát của Khánh Ly, Thái Thanh, Thanh Thúy, Ngọc Hạ.

Con thuyền không bến:

Đêm nay thu sang cùng heo mây… Đêm nay sương lam mờ trên mây.Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng..

 Lướt theo chiều gió.. Trôi trên sông Tương, nước chảy đôi dòng. Nào ai biết nông sâu.

Bài giọt mưa thu:  Ngoài kia giọt mưa thu thánh thót rơi.. Trời nắng u buồn mây hắt hiu buồn trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ..

Bài nào cũng nhẹ nhàng, ngọt ngào đi vào não trạng con người

Ông có người yêu là cô Tuyết. Cô Tuyết yêu ông nên cô đã túc trực ngày đêm trên giường bệnh để chăm sóc ông trong những ngày cuối đời.

Khi ông tắt thở, cô xin phép gia đình đôi bên, cầm bó hoa trắng, chít khăn tang đi đầu như một người vợ, mặc dầu chính thức họ chưa hề kết hôn.

Cảnh ấy xót thương làm sao và cũng đẹp làm sao!!

Đó một mối tình như thể thiên thu bất tận! Đẹp làm sao mà cũng não lòng làm sao..

Vài nhận xét: Mặc dầu ông không được học âm nhạc một cách bài bản.. Nhưng những dòng nhạc của Đặng Thế Phong đượm u buồn man mát, lắng sâu và đi vào lòng người. Và những nét buồn ấy ảnh hưởng tới hoặc gợi cảm hứng có thể cho các nhạc sĩ như Văn Cao, Cung Tiến và Trịnh Công Sơn sau này.

  • Nhạc sĩ Hùng Lân(Tên Phê rô Hoàng Văn Hường- 1986-2022)

Ông thuộc một gia đình công giáo với nhiều sáng tác cho thiếu niên, thanh niên với giọng điệu hùng mạnh, lý tưởng cứu quốc, sôi sục ý chí thanh niên và tinh thần quốc gia khác hẳn với những ca từ của Đặng Thế Phong. Như:Khỏe vì nước, Hè về, Việt Nam Minh chầu trời đông và bản dịch bài Silent night- Đêm thánh vô cùng.

Xin giới thiệu bài Khỏe vì nước:

Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia

Đoàn thanh niên ta góp tài ba

Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong nam giới.

Hợp lực xây dựng hưng thịnh chung quốc gia

Khỏe vì nước, ý chí cương kiên

Giống lạc hồng uy hùng vô biên

Trong khốn nguy can trường sống thác ta coi thường

Việt nam thanh niên anh dũng muôn năm.

Ông cũng là người thành lập ra Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh 1945. Cũng như mở nhiều lớp nhạc cho thanh niên thiếu nữ.

Giữa Hùng Lân và Đặng Thế Phong là những người mở đường cho âm nhạc Việt. Khác nhau, nhưng không có vấn đề hơn kém, chỉ có vấn đề bổ túc và bù trừ cho buổi bình minh của dòng nhạc Việt mở đường sau này cho những Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Cung Tiến, Từ Công Phụng.

  • Dòng nhạc Phạm Duy

Phạm Duy là một thiên tài đa dạng, nhiều cung bậc… Ông để lại gần 1000 bài ca phổ nhạc đủ loại. Hùng mạnh có, ý nghĩa thâm trầm có, da diết có, buồn vui có nhớ thương khôn cùng. Thiền ca, đạo ca cũng không thiếu. Ông là cả một bầu trời ca nhạc bao la. Trước ông và sau ông không có ai- trừ Trịnh Công Sơn.

Bài tiêu biểu:

Tôi xin chọn bài: Việt Nam, Việt Nam ngay từ vào đời. Việt Nam hai câu nói trên vành môi. Việt Nam nước tôi, Việt Nam quê hương đất nước sáng ngời. Việt Nam tên gọi là Người.. ( Hùng ca sử Việt.)

Nhạc sĩ Trúc Hồ, trên SBTN coi bài này của Phạm Duy như bài quốc ca của VN.. Và sau này, đi đâu, trong các buổi lễ, các chương trình thường dùng bài ca này như một kết thúc cho chương trình.

Cá nhân tôi khi nghe bài này, như nổi da gà vì rúng động như đụng chạm tới tâm hồn tuổi trẻ VN.

Thật không diễn tả nổi và không có ngôn từ nào có thể sánh bì.

Ông cũng là người đưa Phạm Thiên Thu và Nguyễn Tất Nhiên chấp cho họ đôi cánh, đưa thi  ca và âm nhạc của họ cùng cất cánh bay lên!!!

Phạm Thiên Thu với người yêu Hoàng Thị Ngọ qua bài thơ: Ngày xưa Hoàng thị:

Em tan trường về

Đường xưa nho nhỏ

Mà thương mà nhớ

Dáng em nho nhỏ trong cõi xa vời…

Đó là lời tỏ tình dệt bằng hoa gấm, dễ thương và say nắng của một thời tuổi trẻ không gì hay hơn được…

Tiếp đến là nhà thơ Nguyễn  Tất  Nhiên,- học trò trường  Ngô quyền mà nay nhiều người đã từng sống như những nhân chứng một thời với nhà thơ.

Tôi từng được nghe nữ ca sĩ Thanh Lan, người ca sĩ không có tuổi với nốt ruồi trên khóe môi trái, duyên dáng và mời gọi đã hát chung với Vũ Khanh như thể một đôi tình nhân:

Đưa em về dưới mưa. Nói năng chi cũng thừa.. Đôi ta vào quán trưa.. Em hiền như ma sơ

Thật hồn nhiên và cảm động mà không ngôn từ nào nói cho đủ.

Tôi ngậm ngùi thương tiếc một tài năng thiên bẩm đã vội vã ra đi khỏi cõi trần thế ô trọc này..

Tôi cũng đã đôi lần gặp lại nhà thơ tại Cali, nơi báo Saigòn Nhỏ nơi mà mà tôi cộng tác.

Tôi cũng tiếc nguồi nguội là chỉ có 6 bài của nhà thơ được Phạm Duy phổ nhạc.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một sự thật rằng: không có Phạm Duy phổ nhạc, không  thể có một Ngày xưa Hoàng Thị cũng không có Em hiền như ma sơ của Nguyễn Tất Nhiên…

Tôi viết vài dòng cảm tưởng này để gửi đến các học sinh Ngô Quyền đã học tôi trong 5 niên khóa vắn vỏi… mà không thể nói lên lời ( 1970-1975)

Sau này, tôi cũng lại có dịp  nghe Thanh Lan và Vũ Khanh đã cùng hát bài Trả lại em yêu của nhạc sĩ Phạm Duy. (Trung tâm Asia. )

Trả lại em yêu, khung trời đại học. Con đường Duy Tân, cây dài bóng mát.. tóc em thơm nồng, dáng em hiền hòa..Anh sẽ ra đi về miền mông muối..

Chủ nhật hẹn hò đây đó, uống ly chanh đường.Uống môi em ngọt ngào..

Tình yêu như thể không có tuổi. Tôi uống những lời ca ngọt ngào như thể hóa thân là chính mình là người trong cuộc. Ký ức của cả một thời mômg muội.. ngậm ngùi nhớ lại cho riêng mình, cho tuổi trẻ miền Nam, cho đất nước chia đôi, cho một một thời đã không còn nữa..

Bài phổ nhạc: Kiếp nào có yêu nhau.  (thơ Minh đức Hoài Trinh. Phạm Duy phổ nhạc)

Bài này đã được nhiều ca sĩ như Thái Thanh, Lệ Thu trình diễn. Một lần nữa cho thấy thiên tài phổ nhạc của Pham Duy.

Đừng nhìn em nữa anh ơi. Hoa xanh đã phai rồi, hương trinh đã tan rồi. Đừng nhìn em, đừng nhìn em nữa anh ơi đôi mi đã buông xuôi, môi răng đã quên…

Giọng hát của một nữ ca  sĩ Lệ Thu như xé nát con tim, như van nài, thổn thức.

Tôi nghe mà lòng thổn thức.

Điều này cho thấy, người nghe thường có thói quen gắn cặp Trịnh Công Sơn-Khánh Ly, Phạm Duy-Thái Thanh. Điều này thoạt đầu như thể là thật.

Tôi nhớ lại, Trịnh Công Sơn cầm cây đàn Guitare, Khánh ly đi chân trần, say sưa hát trên sân cỏ trường đại học văn khoa.

Nó vừa thật một cách hoang dại tuổi trẻ, nó vừa hòa đồng vào tuổi trẻ sinh viên miền Nam đã một thời như vậy..

Phải nhìn nhận, nó thật đẹp, lãng mạn và quyến rũ.

Nó là cả một thời, nhưng thời gian qua đi xem ra đã không còn như thế nữa.

Nhiều ca sĩ thế hệ sau đã thể hiện một cách bài bản và trọn vẹn trong giọng ca, trong cách thể hiện, cách ăn mặc kín đáo mà vẫn thể hiện được phong cách người phụ nữ..

Tôi vẫn không chia xẻ được những sô trình diễn trên Paris By Night của một số diễn viên, ca sĩ một cách phản cảm. Hình như thể, họ dùng thân xác phô bày như một cách lôi cuốn người xem vốn được nhiều khán giả ưa chuộng.

Xin minh chứng bằng trường hợp nữ ca sĩ Mộc San-Đà Lạt.

Cô ăn mặc rất đẹp mà kín đáo. Trình diễn có nghệ thuật, hấp dẫn, lôi cuốn với chỉ một tiếng đàn guitare làm nền.

Để minh chứng rõ hơn về cách thể hiện, xin đưa ra trường hợp một ban nhạc đường phố tại Pháp, giọng một ca sĩ giọng nam, người Pháp với giọng ca mạnh và lôi cuốn đã hát bài Huế, Sài Gòn, Hà Nội của Trịnh Công sơn, anh vừa hát theo một bản dịch tiếng Pháp, vừa theo bản tiếng Việt cùng với 5,6 nhạc công phụ họa đã lôi kéo đám đông trên đường phố.

Tiếp đến là phần đầu của bản Gia Tài của mẹ cũng do nhóm nhạc đường phố trên trình diễn.

Nó cho tôi thấy rằng, bài hát hay không chỉ tùy thuộc vào tác giả sáng tác mà còn tùy thuộc vào cách thể hiện, cách trình bày.

Bằng chứng là nữ ca sĩ Mộc San cũng có dịp trình bày bài hát này.

Nhạc Trịnh, nhạc Phạm Duy đã có nhiều dịp tỏa sáng tại Pháp nhờ vào lối trình diễn sống động và lôi cuốn hòa nhịp vào đám đông..
Bản nhạc Diễm xưa của Trịnh Công Sơn cũng được một nữ ca sĩ người Nhật hát rất đạt.

Tôi cũng đã được nghe bài hát: Ta đã thấy gì trong đêm nay Qu,avons-nous vu dans cette nuit của Trịnh Công Sơn với nhiều ca sĩ tài tử và người nghe hát đồng loạt nhún nhảy theo điệu nhạc. Thật vui và ấn tượng.

Dòng nhạc như thể vượt mọi rào cản biên giới quốc tịch để dễ dàng chia xẻ và thấm nhập vào lòng người.

Tôi cũng rất thích thú nghe Trịnh Công Sơn, tự đánh đàn và hát bài: Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.. với nhiều ý nghĩa..sâu đặm, với niềm vui chia xẻ đến mợi người.

Nhưng tôi cũng nhận thấy nhạc tình Việt đã không được trình bày tỏa sáng do các ca sĩ Mỹ hát.

Cuối cùng, phải nhìn nhận với nhau rằng hai nhạc sĩ Phạm Duy- Trịnh Công Sơn, mỗi người một cách thể hiện là những thiên tài trong âm nhạc miền Nam mà sau này cho đến bây giờ, khó có nhạc sĩ nào có thể thay thế được họ..

  • Dòng nhạc tình Việt Nam muôn thuở.

Có thể nói, nhạc VN là thứ nhạc tình thường đượm buồn nhẹ nhàng lay lắt, chia ly xa cách với mùa thu lá bay..

-Nhạc sĩ Hoàng Quý- Lê Thương.

– Cô láng giềng- một mối tình sôi động khi được tin người yêu đi lấy chồng.

Hôm này trời xuân bao tươi thắm.. Cô láng giềng ơi, không biết cô còn nhớ tới tôi.

  • Nhạc sĩ Lê Thương.

Em không nghe mùa thu, lá thu rơi xào xạc.. đạp trên lá vàng khô..

-Nhạc sĩ Văn Cao

Văn Cao là một con người đa tài, tài hoa, Văn, thi sĩ, họa sĩ, nhất là nhạc sĩ.(Sau này, những bức tranh ông vẽ sau này được triển lãm tại Hà Nội)

Đặng Thái Mai gọi ông là một viên ngọc trong giới nghệ sĩ.

Ông đã để lại cho đời những bản tình ca, nhẹ nhàng, buồn hiu hắt bất hủ như:  Suối mơ,Thu Cô Liêu, Buồn Tàn thu Làng tôi.

 Bên cạnh đó, còn những bản hùng ca, lẻ loi ca tụng Hồ Chí Minh..Bài tiếng Quân ca ông sáng tác năm 1944 sau này trở thành bài quốc ca.

Nhưng số phận ông không được may mắn như Phạm Duy ở miền Nam.

Năm 1958, tên ông bị rút ra khỏi danh sách giới nghệ sĩ mặc dù ông không bị đi tù hay tra khảo.

Cuộc sống bị hắt hủi, bỏ rơi trong nỗi cô tịch và túng thiếu.

Cây đàn piano ông xử dụng thật ra chỉ là thuê với giá 7 đồng rưỡi, cộng với tiền thuê nhà hàng tháng  là 15 đồng.

Thật tiếc cho một tài hoa đất Bắc không được trọng dụng.

Và đã có nhiều văn nghệ sĩ cũng chung số phận như Văn Cao.

Trong suốt 38 năm còn lại của cuộc đời, ông đã làm thinh, không còn sáng tác một bài nào nữa..

Phải chăng sự làm thinh ấy là một hình thức chống đối lại chế độ?

  • Ban Hợp ca Thăng Long

Đây là một ban Hợp ca xuất phát từ đất Bắc từ những năm 1946, đến năm 1951, sau đó như nhiều giới văn nghệ sĩ khác, họ dinh tê về Hà Nội, rồi khi vào Sài gòn, nơi có tự do, họ trở thành  ban nhạc danh tiếng như một huyền thoại.

Đặc biệt Ban Hợp ca này đều mang dòng họ Phạm. (hoặc dâu rể) như Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng (mất 1999), vợ Phạm Duy.

Hoài Trung Phạm Đình Viêm (2002). Con trai là nhạc sĩ Phạm Đình Chương ( mất 1991)- vợ là ca sĩ Khánh Ngọc ( mất 2021), Khánh Ngọc là ca sĩ, bà còn là một tài tử điện ảnh. Con gái út là Phạm thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh (2020).

Trong số ấy nổi bật ba người: Hoài Bắc Phạm Đình Chương- Thái Thanh-và Hoài Trung Phạm Đình Viêm.

Biến cố năm 1960, trong vụ được gọi là ăn chè nhà Bè giữa Pham Duy và Khánh Ngọc làm tan rã ban Hợp ca Thăng Long.

Sau đó Khánh Ngọc bỏ sang Mỹ. Cõi lòng Phạm Đình Chương tan nát đã để lại một số bài ca như: Người đi qua đời tôi, Khi cuộc tình đã chết, Nửa hồn thương đau.

  • Nhạc sĩ Từ Công Phụng (27-07-1942)

Nhạc sĩ Từ Công Phụng, tác gỉả những dòng nhạc trữ tình lãng mạn bất hủ như:  Bây giờ tháng mấy.. Tuổi xa người.. Giữ đời cho nhau.

Xin trích dẫn vài dòng nhạc:

Nếu có điều gì vĩnh cửu, thì em ơi. Đó là tình yêu chúng ta.. bờ vai ngoan.. Nếu có điều gì vĩnh cửu.. rồi mai đây, anh sẽ đón em về…

Tạ ơn em.. tạ ơn em

Bài giọt lệ cho ngàn sau. :

Mưa soi dấu em qua cầu..

Theo những cánh rong trôi mang niềm đau..

Đời em đã khép đi vội vàng..

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng..

Lời nhạc của Từ Công Phụng hòa quyện với tiếng hát sang trọng của Lệ Thu tạo nên một tuyệt phẩm ít ai sánh bì..

Ông cũng là một nhạc sĩ sau 1975 vẫn còn sáng tác và điều đặc biệt hơn mọi nhạc sĩ khác, ông có một giọng ca đầy nam tính, trầm buồn, đầy ma mị.

Tôi yêu giọng ca ấy, thái độ ấy khi ông cất tiếng hát. Nó hòa quyện vào từng lời ca như hơi thở như từ xa vọng về..

  • Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Ông vốn  là một sĩ quan quân đội VNCH, sau này lên đến cấp bậc đại tá năm 30 tháng tư, 1975..

Những bản nhạc của ông mang bóng dáng người lính VNCH như, tôi ghi lại như một kỷ ức khó quên. Nó rất đẹp và nhẹ nhàng :

  • Chiều mưa biên giới.
  • Đêm gác

-Xác hoa mầu tím.

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu…Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu.. Kìa rừng chiều âm u rét mướt..

Bây giờ,  tôi ngồi một mình nghĩ lại, gậm nhấm với nỗi buồn xa xứ, nghe mà lòng đau thắt.

  • Nhạc sĩ Vũ Thành An

Ông để lại nhiều ca khúc là  Những bài ca không tên. Tôi gần như không nghe cũng như cuộc đời ông trong trại cải tạo mà tôi bỏ qua không xét đến.

Tôi chỉ giới thiệu một bài hát duy nhất : Rồi cũng già

Ngày mai rồi mình cũng già….Ngày xưa như mới hôm qua.. Thời gian như cánh chim bay. Tiếng cầu kinh đời đời vẫn vậy.. Được thua thì cũng thế thôi. Một tin yêu xin trao cho nhau…. Tạ ơn trên cho ta sống chốn này..

Nhận Xét

Bài ca như lời trăn trối, như gửi gắm lúc cuối đời. Được thua cũng thế thôi. Chỉ còn lại chút tin yêu cho nhau. Và cuối cùng tạ ơn trên đã cho ta cuộc sống ở chốn này..

Bài Rồi cũng già đã được nhiều ca sĩ hát và phổ biến.

Nhưng gây cho tôi nhiều xúc động là giọng ca nam như một lời nhắn gửi và chia xẻ lúc cuối đời.

  • Ban AVT

Có điều gì khác lạ, có điều gì gây ngạc nhiên..gây thich thú với việc xử dụng các cây đàn cổ truyền, thấm nhuần văn hóa dân gian với cuộc sống êm đềm,  tự do và thường được trình diễn trong các dịp lễ tết cuối năm. Đó là trường hợp ban AVT với sự kết hợp ba tài hoa là Trần Đăng, Lữ Liên và Vân Sơn.

Lời trình bày của tôi chắc không đủ để diễn tả.

Quý vị cần phải nghe chính họ trình diễn một cách nhịp nhàng, vui nhộn qua các bài như: Du xuân, Lời chúc xuân, một ông hai bà, Trấn thủ lưu đồn…
Xin mọi người hãy tự tìm đến mà nghe, mà thưởng thức cho đời thêm vui.

  • Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang(1944-2011)

Ông thuộc thế hệ đàn em của tôi học trường Trần Hưng Đạo Đà lạt. Gia đình có người anh cả và ba chị gái ở lại midền Bắc. Chỉ có Nguyễn Đức Quang và đứa em trai út vào miền Nam Sau này ban nhạc của ông có dịp trình diễn tại giảng đường Spellman của đại học Đà lạt, nơi tôi từng học.

Ông là người sáng lập và là linh hồn của Phong Trào Du Ca. Mục đích của phong trào là viết cho quê hương, cho giới thanh niên với tinh thần dân tộc.

Trong bối cảnh xã hội chính trị thời ấy.. Có một số thanh niên quá khích biểu tình, hô hào đả đảo chính quyền miền Nam, tôi gọi bọn họ là Bọn  xuống đường. Còn nhóm Nguyễn Đức Quang, tôi trân trọng gọi họ là nhóm Lên Đường.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang tiêu biểu cho giới trẻ miền Nam thời ấy.

Những bản nhạc sáng tác của ông như : Về với mẹ cha- Bên kia sông-Xin chọn nơi này làm quê hương. Nhất là bài :Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Rất tiếc cho một thanh niên tài hoa, đầy nhiệt huyết, ông bị tai biến mạch máu não và qua đời ngày 27-5 -2011, tại California..
Còn một nhạc sĩ cuối cùng mà tôi không thể không nói đến: nhạc sĩ Cung Tiến. (1938-2022)

Cung Tiến- tức Cung Thúc Tiến, sinh tại Hà Nội, có dịp học nhạc với nhạc sĩ Chung Quân và Thẩm Oánh. Ngay từ lúc 14, 15 tuổi đã sáng tác các bài Thu Vàng..và Hương xưa.

“ Chiều hôm qua lang thang trên đường. hoàng hôn xuống chiều thắm muôn hương..Chiều hôm qua, mình tôi bâng khuâng…rồi:

Mùa thu vàng tới, nhặt lá vàng rơi.. có mùa thu vàng bao nhêu là thương..

Hương xưa: Ôi những đêm dài, một kiếp xa xôi..

Tôi lại yếu hèn, thổn thức theo dòng nhạc của tác giả..

Như tự bên trong tôi, tôi nhủ thầm được may mắn sinh sống tại một miền đất miền Nam tự do,đã nuôi dưỡng tôi thành một người trí thức miền Nam mà tôi tự hào không ngượng nghịu…với ký ức vàng son của một thời kỳ âm nhạc VN..

Để chấm dứt hơn nửa thế kỷ dòng âm nhạc miền Nam..

Xin được dùng bài hát của nghê sĩ Nam Lộc như khép lại bài viết này: Bài nhạc: Sài Gòn ơi!! Vĩnh biệt.


 

Quyền tự do căn bản của người Việt Nam trước năm 1975 – Phùng Văn Phụng

 Phùng Văn Phụng

Những ai có học trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn trước năm 1975 đều có biết cuốn sách Luật Hiến Pháp và Chính Trị Học của Giáo sư Nguyễn Văn Bông, có viết về Đối Lập chính trị.

Hiến Pháp ngày 01 tháng 04 năm 1967 (cách nay trên 60 năm) cũng ghi nhận đầy đủ quyền tự do của con người nhất là quyền đối lập chính trị, quyền thành lập đảng phái chính trị. Có tam quyền phân lập rõ ràng: Quyền Hành Pháp, Quyền Tư Pháp (Tối Cao Pháp Viện), Quyền Lập Pháp (Quốc Hội).

Do đó trước năm 1975 có rất nhiều đảng phái chính trị được hoạt động như Đai Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đảng Nhân Xã, Đảng Tân Đại Việt, Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến v.v…

Báo chí hoàn toàn tự do cho nên có nhiều báo chí đối lập với chính quyền như báo Cấp Tiến, báo Đại Dân Tộc, báo Tin Sáng, báo Chính Luận v.v… và rất nhiều tờ báo khác nữa tôi không thể nhớ hết được.

Đúng là thời kỳ vàng son của tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do nghiệp đoàn, tự do tôn giáo, tự do thành lập đảng phái chính trị (phê bình, chỉ trích, nói khác với nhà cầm quyền không bị chụp mũ phản động và bỏ tù) v.v…

Hy vọng sẽ có ngày mọi người đều có được tự do như thế trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta???

Phùng Văn Phụng


 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Hoai Linh Ngoc Duong 

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN CSVN KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG SO SÁNH VỚI NƯỚC MỸ SAU NỘI CHIẾN?

Bài viết về Abraham Lincoln mà người trí thức trong nước đăng tải thoạt nhìn chỉ là một câu chuyện lịch sử về tinh thần hòa giải sau nội chiến Mỹ. Nhưng điều khiến chính quyền khó chịu không nằm ở Lincoln, mà nằm ở thông điệp chính trị ẩn phía sau sự so sánh đó.

Bởi càng đọc kỹ người ta càng thấy: điều làm nước Mỹ mạnh sau nội chiến không đơn thuần là lòng nhân đạo của Lincoln, mà là mô hình quyền lực mà nước Mỹ lựa chọn sau chiến tranh — một nền cộng hòa đa đảng có hiến pháp kiểm soát quyền lực, nơi phe thua trận vẫn tiếp tục tồn tại về chính trị thay vì bị xóa sổ hoàn toàn.

Đó chính là điểm khác biệt căn bản giữa nước Mỹ sau năm 1865 và Việt Nam sau năm 1975.

Cuộc nội chiến Mỹ kết thúc với chiến thắng quân sự của miền Bắc Liên bang trước Liên minh miền Nam. Nhưng sau chiến tranh, nước Mỹ không xây dựng một chế độ độc đảng để cai trị vĩnh viễn phe thua trận. Họ không thủ tiêu toàn bộ đối lập chính trị miền Nam. Không cấm tuyệt đối tư tưởng bảo thủ miền Nam. Không tuyên bố chỉ duy nhất một đảng có quyền lãnh đạo đất nước đời đời.

Ngược lại, hệ thống hiến pháp Mỹ vẫn giữ nguyên bản chất “checks and balances” — tam quyền phân lập và cạnh tranh quyền lực.

Phe thất bại cuối cùng vẫn:

  • có quyền tham gia chính trị,
  • có quyền tranh cử,
  • có quyền kiểm soát chính quyền thông qua bầu cử,
  • và nhiều thập niên sau chính các bang miền Nam lại trở thành thành trì chính trị mạnh mẽ của phe bảo thủ Mỹ.

Điều quan trọng nhất là: nước Mỹ sau nội chiến không xây dựng một nhà nước dựa trên “chân lý độc quyền”.

Không có đảng nào được quyền tuyên bố:

“Chỉ có ta mới đại diện cho tổ quốc.”

“Chỉ dưới sự lãnh đạo của ta nhân dân mới hạnh phúc.”

“Phe còn lại mãi mãi là phản động.”

Đó là lý do hòa giải dân tộc ở Mỹ có thể diễn ra, dù vẫn đầy đau đớn và bất công lịch sử.

Ngược lại, sau năm 1975, chính quyền miền Bắc chiến thắng ở Việt Nam lại đi theo một con đường hoàn toàn khác:

– thiết lập chế độ độc đảng,

– xóa bỏ toàn bộ hệ thống chính trị miền Nam,

– cải tạo quân cán chính,

– kiểm soát báo chí,

– cấm đối lập,

– và đặt đảng lên trên nhà nước.

Nói cách khác, mục tiêu không phải là tạo ra một nền cộng hòa nơi các phe cạnh tranh quyền lực dưới hiến pháp, mà là xây dựng một hệ thống trong đó chỉ duy nhất một lực lượng được quyền lãnh đạo vĩnh viễn.

Đó là lý do nhiều lời kêu gọi “hòa hợp hòa giải” ở Việt Nam luôn gặp giới hạn rất lớn.

Bởi hòa giải thật sự chỉ có thể tồn tại khi:

– các bên được thừa nhận quyền tồn tại chính trị,

– có quyền tự do bày tỏ quan điểm,

– có quyền cạnh tranh quyền lực,

– và không phe nào độc quyền chân lý quốc gia.

Nếu một phía vẫn giữ toàn bộ quyền lực tuyệt đối và yêu cầu phía còn lại “hòa giải” trong khi không được phép:

– lập đảng,

– tranh cử,

– phản biện,

– hay kiểm soát quyền lực,

thì đó không phải hòa giải theo nghĩa chính trị hiện đại, mà gần hơn với yêu cầu “chấp nhận trật tự do bên thắng trận áp đặt”.

Chính vì vậy, những bài viết ca ngợi tinh thần Lincoln thường gây khó chịu cho hệ thống tuyên truyền chính thống.

Vì nếu người dân bắt đầu đặt câu hỏi:

“Tại sao Mỹ sau nội chiến vẫn cho phe thua trận quyền tham gia chính trị?”

“Tại sao nước Mỹ cần đối lập để kiểm soát quyền lực?”

“Tại sao hòa giải ở Mỹ gắn với hiến pháp và cạnh tranh bầu cử?”

thì họ sẽ tiếp tục đặt câu hỏi lớn hơn:

“Tại sao Việt Nam không như vậy?”

Đó mới là điều nhạy cảm nhất.

Nhiều trí thức Việt Nam thường nhìn vào tinh thần hòa giải của Lincoln mà quên mất nền tảng tạo ra hòa giải ấy chính là cấu trúc quyền lực của nền cộng hòa Mỹ.

Lincoln không hòa giải bằng cách yêu cầu dân miền Nam “tin tưởng tuyệt đối vào một đảng duy nhất”. Ông hòa giải bằng cách giữ cho nước Mỹ tiếp tục là một quốc gia pháp trị nơi mọi phe cuối cùng phải cạnh tranh dưới hiến pháp.

Chính “checks and balances” mới là điều quan trọng nhất.

Bởi nếu không có:

– bầu cử tự do,

–  báo chí độc lập,

– đối lập hợp pháp,

– và cơ chế thay đổi quyền lực hòa bình,

thì mọi lời kêu gọi hòa hợp cuối cùng rất dễ biến thành:

“Các anh hãy quên quá khứ và chấp nhận để chúng tôi cai trị mãi mãi.”

Đó là lý do nhiều người cho rằng:

muốn có hòa giải dân tộc thật sự trước hết phải có quyền lực thuộc về nhân dân chứ không thuộc độc quyền về một đảng.

Lịch sử cho thấy hầu như không có chế độ độc quyền quyền lực nào tự nguyện trao lại quyền kiểm soát cho dân nếu không chịu áp lực xã hội cực lớn.

Không phải vì cá nhân lãnh đạo tốt hay xấu, mà vì bản chất của quyền lực tuyệt đối luôn có xu hướng tự bảo vệ chính nó.

Và đó cũng là bài học lớn nhất từ nước Mỹ:

điều làm một quốc gia mạnh không phải chỉ là chiến thắng trong nội chiến, mà là khả năng xây dựng một hiến pháp khiến ngay cả phe thắng trận cũng không thể nắm quyền vĩnh viễn mà không bị kiểm soát. 

Screenshot
Screenshot
Screenshot

 

Nguồn gốc đích thực ngày 30 tháng 4

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Nguyễn Thị Cỏ May

19/05/2026

Một buổi họp mặt thân hữu giữa mươi người cộng sản tổ chức tại tư gia của bà Nguyễn thị Bình, Phó Chủ tịch nước, và do bà mời. Mọi người đang thảo luận về tình trạng đất nước bi đát: kinh tế tụt hậu, đạo đức băng hoại, chánh trị độc tài, … bổng bà Bình hỏi «Vậy, theo các anh, chúng ta sai từ bao giờ ?».

Ai cũng đều nói chúng ta sai từ năm 1951, khi đại hội lần thứ hai của Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Mao Trạch-đông làm kim chỉ nam cho mọi đường lối chánh sách của mình. Riêng nhà văn Nguyên Ngọc lại nói: Ta sai từ đại hội Tours.

Bà Bình không đồng ý. Nhưng qua ngày hôm sau, bà Bình bảo ông Nguyên Ngọc: “Chị đã suy nghĩ suốt đêm qua, Nguyên Ngọc nói đúng đấy!”.

Câu chuyện «Ta sai từ đại hội Tours» (*) được nhà văn Lê Phú Khải kể lại trong «Lời Ai điếu » (Người Việt xb, Huê kỳ). Và ông còn cay đắng nhận xét thêm như một kết luận về sự chọn lựa đó “Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi.”

Ông Nguyên Ngọc có lý? Vậy nếu không có Hội nghị Tours và không theo cộng sản, Hồ Chí Minh có thể tìm ngỏ khác để giành độc lập được không? Và theo cộng sản phải chăng là để ông tìm con đường giải phóng Việt nam khỏi ách đô hộ thực dân pháp, chỉ vì thật lòng yêu nước?

Hội nghị Tours 1920

Hội nghị diễn ra từ 25 tới 30 tháng 12 năm 1920 ở Tours, Thành phố phía Tây-Nam Paris, cách Paris 230 km. Trong hội trường, treo hai biểu ngữ lớn «Hỡi vô sản toàn thế giới, các bạn hảy đoàn kết lại» và « Giải phóng thợ thuyền là sự nghiệp của anh em lao động».

Tháng 11 năm 1918, Đệ I Thế chiến kết thúc làm xáo trộn lớp chánh trị pháp, nhứt là những đảng phái của giới thợ thuyền. Đảng Lao động pháp (SFIO= Section Française Internationale Ouvrière – Phân Bộ Pháp Quốc tế Thợ thuyền), sau khi lãnh tụ Jean Jaurès bị ám sát, dần dần bị phân hóa. Ở Đại hội Tours, một bộ phận lớn của SFIO, do ảnh hưởng cách mạng bôn-sơ-vít nga 1917, chọn theo SFIC (Section Française Internationale Communiste – Phân bộ Pháp Quốc tế Cộng sản) của Lê-nin, tiền thân của đảng cộng sản pháp (PCF) ngày nay. Phần còn lại thiểu số cực lực chống lại Lê-nin ở Đại hội Tours, theo Leon Blum, giữ đảng Xã hội (Quốc tế II).

Hồ Chí Minh, năm 1919 đã gia nhập Đảng Xã hội pháp (SFIO), tham dự Đại hội Tours với tư cách Đại biểu ngoại vi của nhóm hoạt động thuộc địa, không phải Đại biểu cao cấp, nhưng có tiếng nói ở Đại hội Tours về vấn đề dân thuộc địa pháp. Khi Đại hội bỏ phiếu, Hồ Chí Minh ngả theo nhóm đa số của đảng Xã hội pháp, chọn cộng sản.

Bỏ phiếu chọn cộng sản, Hồ Chí Minh làm một chọn lựa có suy nghĩ hay chỉ theo xu hướng đa số?

Có nhiều ý kiến, nhứt là cộng sản hà nội, cho rằng Hồ Chí Minh bỏ phiếu theo đa số ở Hội nghị Tours, bỏ đảng Xã hội chọn chạy theo SFIC, cộng sản pháp, là một chọn lựa có hiểu biết, chớ không hoàn toàn vì xu hướng số đông.

Trước đó vài tháng, ông được đọc «Bản Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa» (Les Thèses de Lénine sur les Questions Nationales et Coloniales, L’Humanité 16-7/7/1920, Paris) trong đó, Lê-nin phê phán luận điểm sai lầm về vấn đề dân tộc và thuộc địa, như tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của đảng cộng sản là phải lãnh đạo thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa, giai cấp vô sản các nước tư bản phải đoàn kết chặt chẽ với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến. Những luận điểm này của Lê-nin đã mê hoặc Hồ Chí Minh như đó là chơn lý ông vừa bắt được .Sau này, khi kể lại chuyện đó, ông không ngớt lời ca ngợi: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. 

Ông mê luận cương của Lê-nin cũng đúng vì Lê-nin là người mác-xit đầu tiên đặt thẳng vấn đề giải phóng các nước bị thực dân đô hộ trong lúc đó, Đệ II Quốc tế chỉ chủ trương uu tiên tranh đấu thăng tiến giới lao động và thợ thuyền .

Nhưng với vốn hiểu biết căn bản rất giới hạn và hoàn toàn bị mê hoặc bởi điều mới vừa bắt được, Hồ Chí Minh không đủ khả năng nhận thức rỏ hơn về cộng sản và Lê-nin . Như khi cộng sản nắm chánh quyền thì đất nước sẽ vận hành ra sao ? Đời sống xã hội sẽ như thế nào?

Ta sai từ Hội nghị Tours

Ông Nguyên Ngọc nói «Ta sai từ Hội nghị Tours», tức ý muốn nói mọi nguồn gốc gây ra tình trạng thảm hại của đất nước ngày nay là ở Hội nghị Tours, nơi và lúc Hồ Chí Minh chọn theo Quốc tế III, tức chấp nhận hệ tư tưởng léninisme, đặt đảng cộng sản trên dất nước dân tộc : vì « đảng cộng sản chủ trương độc quyền lãnh đạo, thực thi chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, đặt lợi ích quốc tế III, tức cộng sản thế giới, lên trên lợi ích dân tộc » .

Từ đó, khi lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân cướp được chánh quyền, Hồi Chí Minh đem áp dụng ngay mô hình xây dựng Việt nam rặp theo khuôn mẩu léniniste :

– Nhà nước và xã hội do Đảng kiểm soát tuyệt đối,

– Không có cạnh tranh chính trị. Ai lở có ý kiếng phê phán đảng và nhà nước bị tù vì tội chống nhơn dân,

– Xã hội vận hành theo ý thức hệ, làm lợi cho cộng sản là mục tiêu tối thượng, hòan toàn không cần biết pháp luật.

– Kinh tế kế hoạch hóa tập trung . (Việt nam, tới 1986, chịu không nổi nữa, bèn « đổi mới » thành kinh tế thị trường theo địng hướng xhcn) .

Dĩ nhiên một chế độ độc tài như vậy làm sao không đưa đất nước tới hệ quả về lâu về dài dẫn tới:

– kinh tế suy thoái,

– độc tài chính trị, xã hội bị kiểm soát bởi công an – tổ chức đảng,

– sự thật bị thay bằng “đường lối” dối trá,

– đạo đức suy đồi, tham nhủng lên ngôi, giá trị tiêu chuẩn là tiền qui định đẳng cấp xã hội

Đó đúng là ý của ông Nguyên Ngọc mà bà Nguyễn thị Bình, sau một đêm không ngủ, suy nghĩ, sáng ra, bảo với ông nguyên Ngọc «Em nói đúng!»

Nhưng sau đó, chỉ ít lâu thôi, trả lời phỏng vấn của ông Xuân Hồng trên đài BBC, cũng chính bà Nguyễn thị Bình đó, lại rất bình thường, bảo «suốt thời gian theo Hồ Chí Minh, hoạt động cách mạng giải phóng đất nước, bà hoàn toàn không làm điều gì sai trái để ngày nay phải hối hận, ngoài những trường hợp đáng lẽ ra bà đã làm tốt hơn nhiều!».

Nếu không có Hội nghị Tours

Giả thử không có Hội nghị Tours hay có mà Hồ Chí Minh không theo cộng sản, thật sự vì lòng yêu nước, ông có thể có những chọn lựa khác hơn để đem lại độc lập cho Việt nam không ?

Có thể lắm chớ . Và còn có nhiều cơ hội nữa .

Như Hồ Chí Minh vẫn đi theo chủ nghĩa Marx nhưng không theo Quốc tế III, như nhiều trí thức thật lòng yêu nước thời đó, tìm đọc Mác vì tác giả phê phán chủ nghĩa đế quốc . Mà « marxisme» không phải là thứ « léninisme » của Lénine . Mác-xít vẫn tả khuynh, chống tư bản, chống đế quốc thực dân, hô hào bảo vệ quyền lợi nhơn dân lao động, không quá khích ác ôn như lê-nin-nít, ngày nay hảy còn hoạt động ở Âu châu và giúp các nước đó phát triển tốt đẹp .

Đó là chủ nghĩa «xã hội dân chủ» ..

Nếu chỉ theo « marxisme »,tức « xã hội dân chủ », Việt nam vẫn độc lập mà không cộng sản, không bị đồng hóa «đảng=dân tộc» , «yêu đảng=yêu nước» . Hơn nữa, Hồ Chí Minh vẫn có thể không thèm theo mác-xít, chỉ làm người Việt nam thuần tứy yêu nước thật lòng, vẫn có thể góp công tiếp thu và xây dựng một Việt nam độc lập được mà không bị quá nhiều di hại như hàng mươi triệu thanh niên chết vì đánh nhau cho có ngày 30/04.

Thật vậy, năm 1941, khi Thế Chiến II còn đang tiếp diễn, theo đề nghị của Tổng Thống Huê Kỳ Franklin Roosevelt, các Đế quốc Tây phương Anh, Mỹ, Pháp, Hòa Lan đã họp nhau tại Newfoundland, Canada, để công bố « Hiến Chương Đại Tây Dương » theo đó các thuộc địa và bảo hộ sẽ được trao trả độc lập khi chiến tranh kết thúc .

Ngày 8 tháng 5 năm 1945, Đức Quốc xã đầu hàng, đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc và long trọng ban hành « Quyền Dân Tộc Tự Quyết » (Quyền này vẫn còn giá trị pháp lý, nhưng thực tế ?) . Từ 1946 đến 1949, các Đế quốc Tây phương như Mỹ, Anh, Pháp, Hòa Lan đã lần lượt trao trả độc lập cho các thuộc địa ở Á châu :

-năm l946 : Phi-luật-tân thuộc Hoa kỳ, Syrie và Liban thuộc Pháp,

-năm l947: Ấn-độ và Đại hồi thuộc Anh,

-năm l948: Miến-điện, Tích-lan và Palestine thuộc Anh,

-năm l949 : Việt nam (Hiệp định Pháp-Việt, tức Hiệp định Elysee, ngày 8 tháng 3 năm 1949, Việt nam hoàn toàn độc lập, thu hồi hoàn toàn chủ quyền, kinh tế, ngoại giao, quân sự, thống nhứt Nam, Trung, Bắc), Ai-lao, Cao-mên thuộc Pháp, và Nam-dương thuộc Hoà-lan .

Nhưng Hồ Chí Minh không đồng ý vì độc lấp đó là của Việt nam, không phải của cộng sản đệ III . Đã có nhiều cơ hội Việt nam có độc lập và có thể giử được nền độc lập nếu đã có sự hợp tác với nhau vì lòng yêu nước . Hồ Chí Minh đã chọn cộng sản, theo cộng sản và tự tôi luyện từ làm chỉ điểm cho Quốc tế Nông hội dưới bí danh Ferdinand để từng bước trở thành người cộng sản tinh ròng, trước sau,ông chỉ biết phục vụ cộng sản và chết, cũng chỉ theo cụ Mác, cụ Lê, chớ không thèm theo ông bà ông vải .

Có người nói, giai đoạn đầu, Hồ Chí Minh theo chủ nghĩ dân tộc , tranh đấu giải phóng dân tộc, hoàn toàn không đúng vì léninisme chủ trương mượn chiêu bài dân tộc để tổ chức quần chúng, lãnh đạo quần chúng nhằm mục tiêu cộng sản .

Đây, để đừng mơ hồ về Hồ Chí Minh là người yêu nước, từng tranh đấu cho dân tộc độc lập, hảy nghe chính ông bộc bạch rỏ về tâm huyết của ông ta : “Người khẳng định Chủ nghĩa Lê-nin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là “mặt trời” soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” (hcm toàn tập, tập xii, xb chánh trị quốc gia, hà nôi, 2011)

Ông Nguyên Ngọc nói đúng . Thật đúng đấy, nên ngày nay, ông nằm ở nhà, bạn bè tới thăm không được phép lên nhà ông vì bị đám “dùi cui” ngăn chặn . Cả chị ở giúp việc trong nhà cũng có nhiệm vụ lo bảo vệ ông, không cho ông tiếp khách sợ ông mệt.

———————————————-

(*) Về chuyện ông Nguyên Ngọc nói “Ta sai từ Hội nghị Tours”, nhà thơ Thái Bá Tân có bài thơ kể rỏ lại câu chuyện rất đầy đủ

Nguyễn thị Cỏ May


 

LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Xuyên Sơn

 LY HƯƠNG, SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng.

Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước.

Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất?

Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe:

“Vì tương lai con cái!”.

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình.

Thật chua chát khi hơn 40 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác.

Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận.

Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường.

Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc…

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường!

Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp.

Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh.

Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách.

Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về.

Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc.

Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ.

Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD.

Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng!

Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột.

Quê hương chôn rau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi?

Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng!

Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt.

Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu.

Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội.

Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”.

Có thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài?

Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp,

các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút,

các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?…

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo:

Lo nạn cướp giật, móc túi; 

lo tai nạn giao thông;

lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm;

lo hít khói bụi bị ung thư;

lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc…

Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo.

Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần!

Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy?

Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước.

28 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô.

Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền.

Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ:

“Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng,

Znhưng vẫn còn cố nấn ná…

Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”.

Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này.

Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948.

Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia.

70 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta?

Sau hơn 73 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và tàu bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về?

Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại?

Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái.

Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở:

“Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui, khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam…

Chúa Nhật, 12 tháng Tư năm 2020 

Tác Giả: Nguyễn Thị Oanh

http://saigonecho.com/images/ra_di.jpg 


 

Thắng rồi thì ăn mừng trên nỗi đau của người thua, thù hằn đến đời con đời cháu.

Tao Le

 Chuyến đi Tầu lần này, nhìn bề nổi thì ai cũng thấy: toàn CEO, toàn những cái tên mà chỉ cần xuất hiện ở sân bay là giá cổ phiếu đã nhúc nhích lên. Nhưng cái làm tôi suy nghĩ nhiều hơn lại là…  những thỏa thuận chưa nói ra, những nước cờ chiến lược mà chỉ những người ngồi trong phòng kín mới biết.

Và trong cái im lặng đó, hình ảnh Elon Musk đi cạnh tổng thống Trump lại toả sáng như ánh mặt trời. Như ngọn đèn trong đêm tối.

Tôi nhìn hai người họ mà nghĩ:

Ở Mỹ, người ta có thể cãi nhau nảy lửa hôm nay, nhưng ngày mai vẫn bắt tay nếu đất nước cần.

Ở Mỹ, người ta có thể chửi nhau trên Twitter, nhưng khi lợi ích quốc gia đặt lên bàn, cái tôi cá nhân tự động lùi xuống.

Ở Mỹ, người ta có thể bất đồng, nhưng không vì thế mà không làm việc cùng nhau.

Còn ở quê tôi… thì ngược lại.

Cãi nhau một câu, thù nhau ba đời.

Khác ý một chút, là gắn nhãn phản động, phản quốc, phản đủ thứ.

Thắng rồi thì ăn mừng trên nỗi đau của người thua, thù hằn đến đời con đời cháu.

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng.” Chỉ là câu cửa miệng

Nhìn tổng thống Trump và Elon, tôi nhận ra một điều:

Một quốc gia mạnh không phải vì có lãnh đạo hoàn hảo, mà vì có văn hóa chính trị biết đặt lợi ích chung lên trên cảm xúc cá nhân.

Tổng thống Trump không cần Elon phải quỳ xuống xin lỗi.

Elon cũng không cần giả vờ ngoan hiền.

Họ chỉ cần cùng nhìn về một hướng, hướng mà nước Mỹ có lợi.

Và chính điều đó làm tôi buồn cho quê hương mình.

Năm mươi năm rồi, vẫn chưa chịu buông bỏ.

Năm mươi năm rồi, vẫn còn đào bới quá khứ để chia phe.

Năm mươi năm rồi, vẫn chưa học được cách “thắng không kiêu,”.

Tôi nhìn nụ cười của Elon bên  tổng thống Trump mà nghĩ:

Có những dân tộc tiến lên vì họ biết tha thứ.

Có những dân tộc đứng yên vì họ chỉ biết ghi thù.

Buồn — nhưng là cái buồn bất lực, như nhìn một vết thương cũ mà người dân, ai cũng biết cần khâu lại, nhưng lãnh đạo chẳng chịu cầm kim.

Nhưng rồi tôi cũng tự hỏi:

Liệu có phải chúng ta không biết tha thứ! 

Một xã hội lớn  triền miên trong chiến tranh thì quen với việc phân định đúng sai bằng ranh giới rất rõ ràng: bạn – thù, ta – địch. 

Vấn đề là… chiến tranh đã qua lâu rồi, nhưng cách nghĩ ấy thì vẫn còn nằm lại trong đầu nhiều thế hệ.

Người ta không chỉ nhớ quá khứ — người ta sống trong quá khứ.

Mỗi cuộc tranh luận nhỏ đều có thể bị kéo lùi về những câu chuyện của vài chục năm trước. 

Mỗi khác biệt quan điểm đều có nguy cơ bị thổi phồng thành lập trường, thành chiến tuyến.

Và thế là thay vì đối thoại, người ta chọn kết luận. 

Thay vì hiểu nhau, người ta chọn dán nhãn cho nhau. Đội cho nhau cái mũ “ phản động”

Có lẽ vì vậy mà tôi thấy cái hình ảnh Elon và tổng thống Trump đi cạnh nhau lại trở nên… xa xỉ. 

Không phải vì họ đặc biệt hơn người, mà vì cái nền văn hóa cho phép họ “không thích nhau nhưng vẫn làm việc cùng nhau”

Một quốc gia trưởng thành không phải là nơi không có mâu thuẫn. 

Mà là nơi người ta biết đặt mâu thuẫn vào đúng chỗ của nó.

Không phải cái gì cũng biến thành thù hằn. 

Không phải bất đồng nào cũng cần phải thắng – thua.

Và có lẽ, điều khó nhất không phải là thay đổi thể chế,

mà là thay đổi cách người ta nhìn nhau.

Tôi không bi quan đến mức nghĩ rằng mọi thứ sẽ không bao giờ khác đi. 

Nhưng tôi cũng không lạc quan đến mức tin rằng: Sự hằn thù của bên thắng cuộc sẽ thay vào sự đồng cảm.

Nếu điều đó thật sự xẩy ra, những đàn chim Việt cùng bay về quê mẹ chung tay xây dựng đất nước, Không còn những đoàn người xếp hàng ghi danh lao động xuất khẩu, mà thay vào đó là những hàng hoá Made in Vietnam.

Để con cháu còn ngẩng cao đầu hãnh diện thay cho tủi nhục.

Ngày đó, có lẽ còn xa.

Nhi Duong 


 

Tử tù Hồ Duy Hải có khả năng được giảm án xuống chung thân

Ba’o Nguoi-Viet

May 14, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Một đề nghị của Bộ Công An Việt Nam được cho là “mở đường” cho việc giảm án đối với tù nhân Hồ Duy Hải từ án tử hình xuống chung thân.

Đến nay, vụ án Hồ Duy Hải bị cáo buộc giết người tại bưu điện Cầu Voi, tỉnh Long An cũ, nay thuộc Tây Ninh, “rơi vào ngõ cụt,” do đã qua trình tự xét xử giám đốc thẩm, nhưng tòa vẫn tuyên y án tử hình.

Bà Nguyễn Thị Loan và con gái có 18 năm đi kêu oan cho con trai là tử tù Hồ Duy Hải. (Hình: Người Lao Động)

Theo tờ Thanh Niên hôm 14 Tháng Năm, Bộ Công An đề nghị, nếu hết thời hiệu 20 năm mà tử tù chưa bị thi hành án thì được chuyển xuống tù chung thân, nhằm “hạn chế thi hành án tử hình sau thời gian quá dài.”

Đại diện Bộ Công An khẳng định, việc quy định trường hợp hết thời hiệu thi hành án tử hình thì chuyển thành tù chung thân là cần thiết, nhằm “xử lý khoảng trống, vướng mắc thực tiễn trong thi hành bản án tử hình.”

Tử tù Hồ Duy Hải bị bắt ngày 21 Tháng Ba, 2008, tính đến thời điểm hiện tại đã hơn 18 năm.

Theo báo Dân Việt hôm 3 Tháng Năm, bà Nguyễn Thị Loan, mẹ ông Hồ Duy Hải, đã rơi vào cảnh khánh kiệt, phải bán sạch tài sản, nhà đất để trang trải chi phí sau 18 năm đi kêu oan cho con trai.

Biết được hoàn cảnh này, ông Nguyễn Văn Phước, giám đốc công ty Sách First News-Trí Việt, đứng ra kêu gọi mạnh thường quân chung tay trợ giúp gia đình bà Loan có kinh phí thăm nuôi con và trang trải cuộc sống.

Sau vài giờ kêu gọi, các mạnh thường quân chuyển khoản cho bà Hồ Thị Thu Thủy, em gái ông Hồ Duy Hải, tổng cộng 140 triệu đồng ($5,311).

Ngay sau đó, bà Thủy nhận được tin nhắn trên ứng dụng Zalo mạo danh ông Nguyễn Văn Phước, yêu cầu bà chuyển lại số tiền nêu trên cho “nhóm bạn của ông Phước” để gộp chung vào một quỹ lớn hơn.

Kẻ gian hứa hẹn sau khi gom đủ tiền sẽ đến tận nhà trao cho bà Loan để “tạo sự lan tỏa.”

Do xúc động trước sự giúp đỡ bất ngờ và tin tưởng vào uy tín của người mà mình ngỡ là ông Phước, bà Thủy thực hiện lệnh chuyển tiền cho chủ tài khoản Lê Văn Vinh tại ngân hàng Techcombank. Sau đó, bà Thủy mới nhận ra mình bị lừa.

Theo cập nhật của ông Trương Châu Hữu Danh, nhà báo tự do, bà Thủy sau đó được cộng đồng mạng chuyển khoản 140 triệu đồng bù lại khoản tiền bị lừa mất.

Bị cáo Hồ Duy Hải tại một phiên tòa. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hồ Duy Hải, thanh niên 23 tuổi, quê Long An, bị kết án tử hình vì tội giết hai nữ nhân viên bưu điện Cầu Voi vào năm 2008. Tuy nhiên, ngay từ đầu, vụ án đã vướng rất nhiều điểm nghi vấn, khiến dư luận và gia đình Hải tin rằng ông bị oan.

Không có nhân chứng nào nhìn thấy Hồ Duy Hải gây án, mẫu DNA của ông cũng không được tìm thấy tại hiện trường. Con dao được cho là hung khí đã bị thay đổi một cách khó hiểu so với ban đầu, các vật chứng khác cũng có dấu hiệu bị làm giả hoặc bị hủy một cách có chủ đích.

Hồ Duy Hải từng khai nhận tội nhưng sau đó lại liên tục rút lại lời khai, khẳng định mình bị ép cung, bị đánh đập và đe dọa để nhận tội.

Đáng chú ý, cơ quan điều tra đã bỏ qua những bằng chứng ngoại phạm quan trọng, cho thấy Hải có thể đã ở nơi khác vào thời điểm xảy ra vụ án, thậm chí còn có những nhân chứng có thể xác nhận điều này. (N.H.K) [dt]


 

 ĐỐT SÁCH NHƯNG KHÔNG ĐỐT NỔI VĂN HOÁ MIỀN NAM! – Nguyễn Hạnh

Việt Luận – Viet’s Herald

 Nguyễn Hạnh

Tại TP. Sài Gòn, không xa dinh Độc Lập, ngay cạnh nhà thờ Đức Bà, bên trong đường sách Nguyễn Văn Bình, bạn sẽ tìm thấy những cuốn sách rất đắt tiền. Chúng đắt tiền không phải do chúng dày dặn, đẹp đẽ, mà vì một lẽ khác, bởi đó là những cuốn sách đã may mắn sống sót khỏi chảo lửa đốt sách điên cuồng tại miền Nam.

Năm 1977, một cán bộ tại TP. Sài Gòn khoe với báo chí quốc tế rằng khoảng 700 tấn sách của miền Nam đã bị tịch thu và nghiền nát sau hai năm “giải phóng”.

Trong cùng năm, một cán bộ ở Huế cho biết hàng chục nghìn cuốn sách và tranh ảnh “lạc hậu” về “tình yêu ủy mị” và “tìm kiếm niềm vui thể xác” đã bị đốt bỏ.

Một cuốn sách xuất bản vào năm 1976 của một nhà báo ngoại quốc đã kể lại chuyện một nhóm học sinh, sinh viên ở Sài Gòn chủ động tổ chức đốt sách nhằm xóa bỏ “văn chương né tránh hiện thực”.

Linh mục André Gelinas cho biết một số lượng lớn trong khoảng 80.000 cuốn sách của thư viện Trung tâm Giáo dục Alexandre de Rhodes tại Sài Gòn đã bị đốt bỏ theo chính sách tiêu diệt “văn hóa tư sản”.

Nhà báo Richard Dudman, phóng viên kỳ cựu của báo St. Louis Post-Dispatch, cho rằng chính quyền miền Bắc có lẽ đã không ngờ chiến thắng tại miền Nam lại đến nhanh như vậy, và họ đã không chuẩn bị kế hoạch tiếp quản phù hợp.

Một số hành động hấp tấp trên quy mô lớn để lại di chứng đời đời. Trong đó, sự kiện đốt sách đã mở đầu chiến dịch hủy diệt ngành xuất bản tư nhân đang phát triển ở miền Nam với kỹ thuật xuất bản hiện đại. Đau khổ hơn là những người cầm bút cũng có chung số phận với những cuốn sách.

Cho đến nay, sau 51 năm, Việt Nam vẫn chưa lấy lại được khí thế sôi động của ngành xuất bản tư nhân thời Việt Nam Cộng hòa.

Nền xuất bản rực rỡ của miền Nam:

Trước năm 1975, miền Nam có 44 tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh An Xuyên (địa phận Cà Mau hiện nay) với Sài Gòn là thủ đô. Tổng dân số năm 1971 là khoảng 18,7 triệu người.

Vào năm 1974, ông Lê Bá Kông, Chủ tịch Hội Các Nhà in và Xuất bản thời Việt Nam Cộng hòa cho biết miền Nam có khoảng 180 nhà xuất bản lớn nhỏ. Trong khi đó, miền Bắc chỉ có 21 nhà xuất bản.

Từ năm 1954 cho đến giữa năm 1972, trung bình mỗi năm miền Nam xuất bản hơn một nghìn tựa sách, tổng cộng 21.279 tựa sách đã được xuất bản. Một số tác giả dẫn số liệu năm 1972 của Ủy hội Quốc gia UNESCO Việt Nam thì có khoảng ba nghìn đầu sách được cấp phép xuất bản hàng năm.

Năm 1963, Đoàn Thêm cho biết chỉ trong ba năm (từ 1961 đến 1963) đã thấy 2.624 nhan đề sách, nhiều nhất là tiểu thuyết và thơ. Ông nhận định, sau năm 1954, văn nghệ miền Nam đã sống động hơn rất nhiều, nhờ sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ di cư từ miền Bắc.

Trong ba năm 1965, 1970 và 1973, miền Nam đã nhập về tổng cộng 96.392 tấn giấy. Giấy được dùng để in nhiều ấn phẩm khác nhau, trong đó có sách.

Năm 1974, miền Nam có hơn 700 nhà in với 20 cơ sở có khả năng in một triệu cuốn sách mỗi năm. Các nhà in này đã in hơn 86 triệu cuốn sách của miền Nam, trung bình mỗi năm xuất bản khoảng 4,5 triệu cuốn sách.

Ở Sài Gòn mỗi ngày có khoảng 3.000 cuốn sách được bán ra. Số nhà sách ở miền Nam là 2.500 cửa hàng, đa số tập trung tại Sài Gòn, chưa tính đến các nhà cho thuê sách. Những nhà xuất bản, nhà in, hiệu sách ở miền Nam này dù khác nhau như thế nào nhưng đều có chung một ngày khai tử là ngày 30/4/1975.

Đốt sách trước năm 1975, chuyển sách ngoài Bắc vào

Năm 1977, báo London Telegraph cho biết chính quyền đã chuyển hàng trăm tấn sách “hợp pháp” của miền Bắc vào miền Nam.

Báo chí nhà nước cũng xác nhận “hàng trăm triệu bản sách” của miền Bắc đã được chuyển vào miền Nam ngay sau tháng 4/1975 để “phục vụ cho công tác tuyên truyền, giáo dục, xây dựng tư tưởng, tình cảm mới – xã hội chủ nghĩa”.

Điều nghịch lý là những cán bộ miền Bắc tại Sài Gòn đã không mặn mà với những cuốn sách từ miền Bắc, mà họ thích đọc và giữ lại những cuốn sách bị cấm ở miền Nam.

Theo Nguyễn Vy Khanh, ngay sau khi tiếp quản miền Nam, chính quyền quân quản đã ra chỉ thị cấm lưu hành và tàng trữ tất cả sách, báo trước ngày 30/4/1975. Chỉ trong một tuần, số sách tịch thu được tại một quận của Sài Gòn là 482.460 cuốn, ba tấn báo chí. Một nhà sách ở Nha Trang phải nộp 35.530 cuốn sách.

Năm 1976, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Việc xây dựng nền Văn Hóa mới được tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ Văn Hóa nô dịch, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động […]”

Đến tháng 1/1978, Bộ Văn hóa và Thông tin đã tổ chức “Hội nghị đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn-hóa thực dân mới” tại TP. Sài Gòn. Hai tháng sau hội nghị, chính quyền TP. Sài Gòn đã mở chiến dịch hủy diệt sách lần thứ nhì. Lần này, chính quyền trung ương cho rằng việc tiêu hủy sách trước đó vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để nên lần này phải hủy diệt tất cả các cuốn sách từ tiểu thuyết, thơ văn đến chính trị, kinh tế, luật, chỉ cho phép giữ lại các sách về khoa học tự nhiên.

Đến năm 1981, chính quyền trung ương đã công bố danh sách 122 tác giả có toàn bộ tác phẩm bị cấm lưu hành. Trong chiến dịch vào tháng 6/1981, chính quyền cho biết đã tịch thu khoảng 3 triệu ấn phẩm, trong đó tại Sài Gòn có khoảng 60 tấn sách, hàng chục nghìn cuộn băng nhạc, tranh ảnh và hơn 600 cuộn phim.

Nhiều tác giả cho biết chính quyền đã huy động thanh niên, thậm chí là trẻ em mang băng đỏ vào nhà của người dân để lục soát, tịch thu các thể loại sách vở, báo chí, băng đĩa. Có người kể rằng một chủ tiệm cho thuê sách cạnh nhà thờ Ba Chuông (Quận 3, TP. Sài Gòn) đã cho nổ một quả lựu đạn khi các em nhỏ đeo băng đỏ xông vào nhà để tịch thu sách.

Việc đốt sách không chỉ hủy hoại nền xuất bản, tài sản của người dân, mà còn là hủy hoại nền tảng tri thức được gây dựng hơn 20 năm ở miền Nam trên nhiều lĩnh vực.

Nguyễn Văn Lục cho rằng chính quyền đã đốt sạch các sách của miền Nam mà không phân biệt thể loại, nội dung, chính trị hay không chính trị, kể cả những sách thiếu nhi có tính chất giáo dục cao cũng bị đốt bỏ. Chính quyền đã nhắm vào quan điểm, thái độ chính trị của tác giả hơn là nội dung của những cuốn sách.

Mãi đến năm 1985, chính quyền vẫn còn lo sợ về các loại sách, báo cũ của miền Nam, mặc dù vào lúc này, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Nam vẫn còn bị giam giữ trong các trại cải tạo trên khắp đất nước.

Screenshot

Đẩy người trí thức vào tình thế quẫn bách, vong mạng:

Sự sụp đổ ngành xuất bản tư nhân ở miền Nam đã phủ một bóng đêm u ám, nặng nề lên các văn nghệ sĩ miền Nam. Việc bị cấm sáng tác, xuất bản sách đã sớm đẩy các tác giả vào hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn.

Nguyễn Hiến Lê từng nói rằng sau ngày 30/4/1975 ông và nhiều tác giả khác tại miền Nam sống cũng như chết trước sự thù hận, phân biệt đối xử của chính quyền mới. Bên cạnh sự bức bối trong việc sáng tác, họ hồi hộp chờ đợi không biết ngày nào chính quyền đến gõ cửa nhà.

Tháng 4/1976, ngay trước cuộc bầu cử thống nhất hai miền Việt Nam, các nhà văn của phe chiến thắng như Vũ Hạnh, Sơn Nam đã liên tục đăng bài phỉ báng, kết tội các nhà văn miền Nam trên các mặt báo. Chính quyền đã lập ra một danh sách bắt giữ 44 nhà văn, nhà thơ, nhà báo miền Nam.

Trong hai tuần đầu tháng 4/1976, chính quyền vây bắt khoảng 70 văn nghệ sĩ với tội danh “văn nghệ sĩ chống cộng [của] chế độ cũ”.

Hàng loạt các nhà văn đã bị bắt như Vũ Hoàng Chương (5 tháng tù), Nguyễn Mạnh Côn (3 năm), Nhã Ca (2 năm), Trần Dạ Từ (12 năm), Mai Thảo (kịp trốn thoát), Duyên Anh (gần 6 năm), Dương Nghiễm Mậu (1 năm), Doãn Quốc Sĩ (5 năm), Nguyễn Sĩ Tế (11 năm), Thanh Thương Hoàng (8 năm), v.v.

Một số nhà văn, nhà thơ khác có lẽ cũng đã bị bắt trước hay trong cùng khoảng thời gian này như Phạm Thành Tài (8 năm tù), Trần Tuấn Kiệt (10 năm), Lê Xuyên, v.v. Một năm sau, chính quyền bắt thêm các nhà văn khác như Hồ Hữu Tường (2 năm tù giam), Hoàng Hải Thủy (bị bắt hai lần, 8 năm), v.v.

Những nhà văn, nhà thơ đã chết dưới điều kiện khắc nghiệt của trại cải tạo được biết đến là Vũ Hoàng Chương (qua đời tháng 9/1976), Ngọc Thứ Lang (1979), Nguyễn Mạnh Côn (tháng 6/1979), Hồ Hữu Tường (tháng 6/1980), Dương Hùng Cường (1987), Hiếu Chân (1986), v.v.

Số phận của các nhà văn quân đội miền Nam:

Một tháng sau ngày 30/4/1975, theo lệnh của Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, đã có hơn 44.000 cựu quân nhân, nhân viên và quan chức chế độ cũ ra trình diện chế độ mới.

Trong số những quân nhân này có những văn nghệ sĩ thuộc quân đội Việt Nam Cộng hòa, trong đó có một số là sĩ quan của Cục Tâm lý chiến, một cơ quan thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Những văn nghệ sĩ của quân đội Việt Nam Cộng hòa có các sáng tác với xu hướng đa dạng, đương nhiên có cả những sáng tác được cho là chống cộng sản và các sáng tác theo rung cảm cá nhân của họ.

Nhà văn Nguyên Ngọc gần đây đã nhận xét về văn chương của quân nhân Việt Nam Cộng hòa: “Còn văn học miền Nam thì khác, họ viết thật về chiến tranh, về tâm trạng con người sống trong chiến tranh. Văn học miền Nam được đứng ngoài chính trị.”

Tuy nhiên, sau 30/4/1975, những văn nghệ sĩ là quân nhân thường phải chịu những bản án tù rất nặng nề.

Những nhà thơ là quân nhân miền Nam bị bắt giữ ngay sau 30/4/1975 được biết đến là Thanh Tâm Tuyền (cấp bậc đại úy, nhà báo của Tập san Quốc phòng, 7 năm tù), Phan Lạc Phúc (trung tá, biên tập viên của Tập san Quốc phòng, 10 năm), Cung Trầm Tưởng (trung tá Không quân, 10 năm), Hoàng Anh Tuấn (2 năm, nhờ Pháp can thiệp), v.v.

Trong đó, nhà thơ Tô Thùy Yên, thiếu tá, trưởng phòng Văn nghệ của Cục Tâm lý chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, đã bị giam giữ ba lần với tổng cộng 13 năm tù giam.

Một số các nhà văn như Văn Quang (trung tá quản đốc Đài phát thanh Quân đội, 12 năm tù giam), Thế Uyên (trung úy, 3 năm), Phan Nhật Nam (đại úy Sư đoàn Nhảy dù, 14 năm), Thảo Trường (thiếu tá ngành chiến tranh chính trị thuộc Cục An ninh Quân đội, 17 năm), v.v.

Ông Đỗ Văn Phúc, quân nhân thuộc ngành chiến tranh chính trị, cựu tù cải tạo, cho biết sau năm 1975 những sĩ quan ngành chiến tranh chính trị là những người bị chính quyền cộng sản cầm tù lâu nhất rồi đến an ninh, tình báo, v.v. cùng với các yếu tố đi kèm khác như là người Công giáo, di cư từ miền Bắc, thuộc đảng Dân chủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, v.v.

Sau khi ra tù, những nhà văn, nhà thơ dù thuộc hay không thuộc quân đội đều không được phép sáng tác. Nếu muốn sống ở quê hương, cuộc sống của họ phải cắt đứt vĩnh viễn khỏi văn chương. Hầu hết các văn nghệ sĩ sau khi được trả tự do đã ra nước ngoài tị nạn.

Những nhà văn Việt Cộng nằm vùng:

Sau năm 1975, một số ít nhà văn miền Nam vẫn tiếp tục được chính quyền mới cho phép sáng tác.

Những người này là các cán bộ cách mạng “nằm vùng”, đã sáng tác công khai ở Sài Gòn trước năm 1975. Trong đó, nổi bật có nhà văn Vũ Hạnh là cán bộ văn hóa Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, trước năm 1975 đã viết cho tờ Tin Văn, Bách Khoa, Mai, v.v. Hay Huỳnh Bá Thành, còn gọi là họa sĩ Ớt, là nhân viên tình báo, trước năm 1975 đã sáng tác cho tờ Điện Tín, Tin Sáng, Bút Thần, v.v.

Bên cạnh đó là các nhà văn thân Việt Cộng như Sơn Nam, Lữ Phương, Thẩm Thệ Hà, Tô Nguyệt Đình, Cung Văn, Ngụy Ngữ, v.v. Những người này sau năm 1975 đã tham gia vào các cơ quan văn hóa, nghệ thuật của chính quyền.

Những nhà văn này không chỉ sáng tác tự do trước năm 1975 mà còn thành lập các nhà xuất bản, phát hành các tạp chí. Các sáng tác của họ có xu hướng thân cách mạng, chỉ trích chính quyền miền Nam, kêu gọi hòa bình thống nhất.

Một số tác phẩm của họ bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm duyệt, gây khó khăn. Tuy nhiên, việc kiểm duyệt của chính quyền miền Nam không phân biệt, kỳ thị vào tác giả mà tập trung vào tác phẩm, kể cả văn nghệ sĩ là quân nhân Việt Nam Cộng hòa vẫn có tác phẩm bị kiểm duyệt.

Ở một mức độ nhất định, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do sáng tác, không có sự phân biệt, kỳ thị tác giả, cho phép tất cả các xu hướng sáng tác. Điều này tạo điều kiện thuận lợi và tương đối an toàn cho các văn nghệ sĩ nói trên hoạt động.

Tuy nhiên, sau năm 1975, chính quyền cách mạng đã không làm điều tương tự với các nhà văn khác của miền Nam. Trái lại, một số nhà văn miền Nam còn bị chính quyền mới áp bức cho đến chết, hoặc phải bỏ đất nước ra đi.

Nhà nước chiếm nhà in:

Từ 700 nhà in vào năm 1974, sau 30/4/1975, số nhà in lớn nhỏ chỉ tính riêng ở Sài Gòn đến kê khai với nhà nước là 932. Nhà nước đã chiếm dụng ngay lập tức những nhà in này, rồi tịch thu, tiến tới quốc hữu hóa tất cả các nhà in ở miền Nam.

Ngay sau 30/4/1975, chính quyền mới đã chiếm kho giấy, dùng các nhà in để in hàng loạt các ấn phẩm như 300.000 tờ báo đầu tiên của báo Sài Gòn Giải Phóng, in màu hai triệu tấm ảnh chân dung Hồ Chí Minh, in 7 triệu cuốn sách giáo khoa của miền Bắc chỉ trong 45 ngày, v.v.

Hai năm sau, số giấy trong kho ở miền Nam đã hết sạch, chính quyền thất bại trong việc nhập giấy từ nước ngoài. Việt Nam tập trung vào tự sản xuất giấy.

Tuy nhiên, nhiều sản phẩm xuất bản trong những năm 1980, 1990 dùng những loại giấy xấu hơn rất nhiều so với giấy in trước đó của miền Nam.

Những nhà in lớn được gộp lại thành các xí nghiệp công ty hợp doanh in từ số 1 đến số 7. Ví dụ như Xí nghiệp in số 1 gồm các nhà in mà nhà nước tịch thu như nhà in Tòng Bá, các cơ sở in Nam Đường, Huê Dương Ly Ky, Lương Hữu, Tân Đại Minh. Xí nghiệp in số 4 từ các nhà in đã tịch thu bao gồm Văn Hữu, Thanh niên, Trí Thức mới, Văn hóa Mỹ thuật. Các hộ in nhỏ khác được tập hợp lại rồi chia thành các xí nghiệp in tập thể từ số 1 đến số 10.

Các máy móc in ấn hiện đại nhất trên cả nước khi đó tập trung tại Sài Gòn đã được chính quyền chuyển về Hà Nội và các tỉnh, thành khác.

Sau 30/4/1975, ngành in trên cả nước đã bị nhà nước độc quyền kinh doanh, hoàn toàn kiểm soát. Không có in ấn tư nhân thì cũng không có xuất bản tư nhân.

Xuất bản tư nhân tuyệt chủng

Người dân miền Nam trước năm 1975 là những người sau cùng còn nhìn thấy, trải nghiệm việc xuất bản tư nhân trên đất nước Việt Nam.

Sau năm 1975, 180 nhà xuất bản, hầu hết là nhà xuất bản tư nhân của miền Nam đã bị chính quyền mới giải thể. Đến năm 1985, tổng số nhà xuất bản trên cả nước là 40.

Theo Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, xuất bản tư nhân vẫn còn tồn tại sau năm 1954 ở miền Bắc, nhưng rất ít và hoạt động hạn chế, chủ yếu là các cơ sở in và buôn sách có từ thời Pháp thuộc. Xuất bản phục vụ sự phát triển của văn hóa cách mạng chiếm đa số.

Về mặt luật pháp, Sắc lệnh 003/SLT do Hồ Chí Minh ký năm 1957 vẫn thừa nhận xuất bản tư nhân, và cá nhân cũng có thể tự xuất bản tác phẩm.

Tuy nhiên, xuất bản tư nhân ở miền Bắc có lẽ đã teo tóp dần và đi vào ngõ cụt dưới bàn tay sắt của những người cộng sản. Điển hình như Nhà xuất bản Minh Đức đã xuất bản các tác phẩm của nhóm Nhân văn giai phẩm, bao gồm các trí thức nổi tiếng bị cầm tù, đàn áp vì chỉ trích nhà nước kiểm soát, chính trị hóa lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật.

Từ năm 1959, việc xuất bản đã bị chính trị hóa hoàn toàn. Nội dung xuất bản phải theo sát mục tiêu chính trị của đảng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và lật đổ chính quyền miền Nam.

Từ năm 1993, chính quyền chính thức quy định rằng “nhà xuất bản là tổ chức thuộc cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội”, nói cách khác, nhà xuất bản phải thuộc hệ thống của nhà nước. Sau 30 năm, quy định này không có thay đổi nào đáng kể trong các lần sửa đổi luật về xuất bản.

Đến năm 2022, cả nước chỉ có 57 nhà xuất bản. Chính quyền vẫn dùng các cơ quan của nhà nước, tổ chức hội đoàn thuộc hệ thống của Mặt trận Tổ quốc để thành lập các nhà xuất bản. Việc này nhằm kiểm soát chặt chẽ quy trình bổ nhiệm nhân sự, định hướng hoạt động hay loại bỏ người đứng đầu các nhà xuất bản nếu không làm theo yêu cầu của chính quyền.

Một số nhà xuất bản hiện nay có xu hướng trở thành một cơ quan kiểm duyệt đơn thuần. Những nhà xuất bản này chịu trách nhiệm bán giấy phép xuất bản, kiểm duyệt tác phẩm của các công ty làm sách.

Từ sau ngày 30/4/1975, nền xuất bản tư nhân đã biến mất khỏi Việt Nam. Khí thế xuất bản sôi nổi một thời của Việt Nam Cộng hòa vẫn chưa thể phục hồi. Nỗi sợ hãi của chính quyền về xuất bản tư nhân đã tạo thành nhiều rào cản ngăn cấm người dân thưởng thức những tác phẩm đa dạng, nhốt tư tưởng người viết vào trong những chiếc lồng ý thức hệ và kéo lùi nền tri thức của cả đất nước.

Nguyễn Hạnh 


 

Bi kịch ‘mang cha bỏ chùa’ và khoảng trống an sinh thời hiện đại

 Ba’o Moi

Câu chuyện về người con gái ‘mang cha bỏ chùa’ tạo nên một cơn địa chấn tâm lý trong cộng đồng.

 Hình ảnh người cha già ngã quỵ trước cổng chùa cùng mảnh giấy viết vội không chỉ là một bi kịch gia đình đau đớn, mà còn là hồi chuông cảnh báo về sự kiệt quệ của các trụ cột an sinh truyền thống trước áp lực của xã hội hiện đại và tốc độ già hóa dân số chóng mặt.

Khi đôi vai người trẻ không còn gánh nổi chữ hiếu

Câu chuyện về người con gái đưa cha già bệnh tật đến gửi lại nơi cửa chùa giữa lúc bản thân đang đối mặt với bạo bệnh và sự túng quẫn cùng cực đã tạo nên một cơn địa chấn tâm lý trong cộng đồng. Những lời chỉ trích về đạo hiếu, những phán xét về sự nhẫn tâm ban đầu dường như đã lùi lại, nhường chỗ cho một nỗi xót xa và một câu hỏi lớn hơn: Chúng ta đang ở đâu khi những tế bào của xã hội bị tổn thương đến mức không thể tự chữa lành?

Trong văn hóa Việt Nam, mái ấm gia đình luôn được coi là “thánh đường” của tình phụ tử, là nơi “trẻ cậy cha, già cậy con”. Thế nhưng, khi cái nghèo và bệnh tật bủa vây, khi người con gái vừa mới sinh con lại phải duy trì sự sống bằng những ca chạy thận liên miên, thì mái ấm ấy đã trở thành một pháo đài đổ nát. Sự lựa chọn đưa cha lên chùa, nhìn ở một góc độ nghiệt ngã, lại chính là nỗ lực cuối cùng của một tình thương đang tuyệt vọng, một sự “buông tay” để tìm cho người thân một con đường sống khi mọi nguồn lực cá nhân đã hoàn toàn cạn kiệt.

Hình ảnh người con mang cha bỏ chùa được cắt từ clip.

Tình phụ tử, vốn dĩ là thứ tình cảm thiêng liêng và bản năng nhất, đang bị đặt lên bàn cân với những áp lực mưu sinh khốc liệt của thời đại. Bi kịch “mang cha bỏ chùa” là minh chứng rõ nhất cho việc đạo đức và tình cảm gia đình, dù bền vững đến đâu, cũng có những giới hạn chịu đựng trước sức ép kinh tế.

Nhìn rộng hơn ra toàn xã hội, Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc gánh nặng chăm sóc người cao tuổi sẽ ngày càng đè nặng lên vai những gia đình trẻ. Trong khi đó, hệ thống an sinh xã hội và chế độ chăm sóc người già của chúng ta vẫn còn rất nhiều khoảng trống.

Chúng ta thiếu những trung tâm dưỡng lão cộng đồng có chi phí thấp, thiếu mạng lưới nhân viên xã hội hỗ trợ tại nhà và đặc biệt là thiếu một cơ chế bảo hiểm chăm sóc dài hạn. Ở các quốc gia phát triển như Nhật Bản hay Bắc Âu, việc chăm sóc người già không chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội với sự điều tiết của nhà nước. Người già được coi là một tài sản cần được bảo vệ, và việc hỗ trợ họ là một phần tất yếu của nền kinh tế bền vững. Còn tại Việt Nam, khi hệ thống an sinh chưa kịp bao phủ, gia đình vẫn là đơn vị duy nhất phải gánh chịu mọi rủi ro. Khi gia đình sụp đổ, người già trở thành những phận đời bị bỏ lại phía sau.

Sự phẫn nộ trước hành vi vi phạm đạo đức truyền thống là cần thiết, nhưng sự thấu cảm và hành động để thay đổi hệ thống mới là điều quan trọng hơn cả. Hãy nhìn vào sự thật rằng, người con gái ấy đã bán sạch nhà cửa, đã kiệt sức vì chạy thận và chăm con nhỏ. Khi mọi cánh cửa đều đóng sập lại, cửa chùa là nơi cuối cùng cô tin rằng cha mình có thể được sống. Đó không phải là sự tàn nhẫn, đó là sự bất lực của một số phận bị đẩy vào ngõ cụt.

Chúng ta không thể chỉ đứng ngoài cuộc để phán xét khi những người trong cuộc đã bị dồn đến đường cùng. Mỗi người trong chúng ta rồi cũng sẽ già đi, cha mẹ chúng ta cũng không thể tránh khỏi quy luật của thời gian. Nếu hôm nay chúng ta không cùng nhau xây dựng một lưới an sinh vững chắc, thì bi kịch của gia đình nọ có thể sẽ là tương lai của bất kỳ ai trong chúng ta.

Xã hội công nghệ hiện đại sẽ nhân văn hay chỉ biết tạo áp lực?

Một xã hội văn minh là một xã hội mà ở đó, không ai phải chọn giữa việc sinh tồn của bản thân và việc chăm sóc đấng sinh thành. Nhiệm vụ của xã hội, của chính sách an sinh là phải mở ra những lối thoát khác, nhân văn hơn, an toàn hơn. Chúng ta cần những quỹ hỗ trợ người già bệnh tật, cần những trung tâm bảo trợ xã hội có sự tham gia của cả nhà nước và tư nhân để chia sẻ gánh nặng với các gia đình. Chỉ khi đó, tình phụ tử mới không bị bẻ gãy bởi những con số nợ nần hay những cơn đau bệnh tật.

Chúng ta sống trong thời công nghệ số, nơi mọi thứ chuyển động với tốc độ ánh sáng, nơi con người mải mê đuổi theo những giá trị vật chất và sự tiện nghi, nhưng lại dường như đang bỏ quên những giá trị cốt lõi về sự kết nối giữa người với người. Công nghệ có thể giúp chúng ta kết nối với cả thế giới chỉ bằng một cú chạm, nhưng nó không thể thay thế bàn tay chăm sóc của người thân, không thể làm dịu đi nỗi cô đơn của tuổi xế chiều hay nỗi lo âu của những người trẻ đang gánh trên vai “tứ thân phụ mẫu” cùng áp lực cơm áo gạo tiền.

Trong kỷ nguyên số, chúng ta thường tự hào về những thành tựu công nghệ, về y tế thông minh hay quản lý dữ liệu dân số hiện đại. Vậy nhưng, tại sao công nghệ chưa thể giúp chúng ta nhận diện sớm những gia đình đang đứng bên bờ vực thẳm như trường hợp của người phụ nữ kia? Tại sao chúng ta chưa có một hệ thống dữ liệu an sinh đủ nhạy bén để kết nối những hoàn cảnh ngặt nghèo với các nguồn lực hỗ trợ kịp thời?

Mảnh giấy ghi những dòng chữ và quần áo, sữa, tiền… của người cha khiến không ít người không khỏi xót xa.

Thay vì để họ phải chọn cách đau lòng nhất là “mang cha bỏ chùa”, xã hội cần một cơ chế để mái ấm không bị biến thành gánh nặng. Chăm sóc người già không thể chỉ dựa vào lòng tốt hay đạo đức cá nhân, mà cần phải được luật hóa và cụ thể hóa bằng các chính sách phúc lợi xã hội thực chất. Chúng ta cần những mô hình dưỡng lão không chỉ dành cho người giàu, mà còn phải bao dung cả những người yếu thế nhất.

Cuối cùng, dù xã hội có hiện đại đến đâu, dù công nghệ có thay đổi cuộc sống thế nào, thì mái ấm gia đình vẫn phải là nơi an trú cuối cùng của mỗi con người. Để giữ vững mái ấm ấy, tình thương thôi là chưa đủ, cần phải có sự đồng hành của cả cộng đồng. Đừng để những hồi chuông cảnh báo như vụ việc vừa qua trôi vào quên lãng sau những đợt sóng dư luận.

Hãy bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn về trách nhiệm chăm sóc người già, từ việc yêu cầu những chính sách an sinh công bằng và thiết thực hơn. Để không còn những người cha phải ngã sụp trước cổng chùa, và không còn những người con phải mang theo nỗi dằn vặt suốt đời vì đã phải buông tay người mình yêu thương nhất trong sự cùng cực của định mệnh.

Lê Thọ Bình


 

VinFast chuyển nhượng mảng sản xuất ở Việt Nam (BBC)

BBC

Hãng sản xuất xe điện VinFast sẽ tái cấu trúc quy mô lớn bằng việc tách mảng sản xuất tại Việt Nam ra khỏi hệ thống trực thuộc để chuyển giao cho một nhóm nhà đầu tư mới, theo văn bản nộp Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC).

Thương vụ này có giá trị khoảng 530 triệu USD, dự kiến hoàn tất trong quý 3/2026.

Sau tái cơ cấu, tỷ phú Phạm Nhật Vượng vẫn tham gia pháp nhân mới nhưng giảm tỷ lệ sở hữu.

Mục tiêu cốt lõi của bước đi này được cho là giúp VinFast thoát khỏi mô hình thâm dụng vốn cao từ các hoạt động sản xuất, từ đó có thể dùng nguồn lực vào phát triển thương hiệu, nghiên cứu sản phẩm và công nghệ.

Theo kế hoạch, VinFast sẽ thoái vốn toàn bộ khỏi Công ty cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast (VFTP) – đơn vị hiện nắm giữ mảng sản xuất và một số mảng phụ trợ khác.

Bên nhận chuyển nhượng là một nhóm công ty do Future Investment Research & Development dẫn đầu, trong đó nhà sáng lập VinFast Phạm Nhật Vượng cũng là một nhà đầu tư.

Bên cạnh thoái vốn, VinFast sẽ thành lập pháp nhân mới mang tên Công ty cổ phần VinFast Việt Nam (VFVN), tiếp quản nhiều tài sản quan trọng như hoạt động R&D toàn cầu, mảng kinh doanh bán hàng, dịch vụ hậu mãi,..

Hãng xe điện Việt Nam khẳng định việc thoái vốn tại mảng sản xuất trong nước sẽ không gây ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh quốc tế hay các cơ sở sản xuất tại Ấn Độ và Indonesia.

Theo nguồn tin của Reuters vào hồi tháng 4, VinFast đặt mục tiêu đạt điểm hòa vốn sau năm 2027.

Dù đang phải đối mặt với áp lực chi phí leo thang, doanh nghiệp niêm yết trên sàn Nasdaq này vẫn quyết liệt đẩy mạnh sự hiện diện tại các thị trường khu vực như Indonesia, Ấn Độ và Philippines, đồng thời thực hiện các điều chỉnh chiến lược bằng cách thu hẹp quy mô tăng trưởng tại Mỹ và châu Âu.

Gần đây, chiến lược này dường như gặp thách thức khi một chiếc VinFast của Green SM – công ty gọi xe công nghệ của ông Vượng – vướng vào một vụ tai nạn đường sắt thảm khốc ở Jakarta, Indonesia và đang bị điều tra.

Theo đó, chiếc taxi này đã va chạm nhẹ với đoàn tàu ngoại ô tại một điểm giao cách nhà ga vài trăm mét.

Sự cố này đã khiến một đoàn tàu ngoại ô khác phải dừng lại tại ga và bị một chiếc tàu đường dài đâm vào phía sau chiếc tàu thứ hai này.

Việc tái cấu trúc diễn ra trong bối cảnh VinFast đang đối mặt với áp lực tài chính lớn khi ghi nhận mức lỗ lũy kế ngày càng lớn tính đến cuối năm 2025, dù doanh thu và thị phần tại Việt Nam tăng trưởng vượt bậc, chiếm đến 36% thị phần ô tô nội địa.

Tính đến hết năm 2025, hãng xe này lỗ lũy kế gần 171.600 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm hơn 90.000 tỷ đồng.

Trái với các cổ phiếu họ Vin đang tăng phi mã ở thị trường chứng khoán trong nước trong năm vừa qua, liên tục nâng hạng ông Phạm Nhật Vượng trên bảng xếp hạng tỷ phú thế giới, thì cổ phiếu VinFast trên sàn Nasdaq ở Mỹ dù tăng ấn tượng trong năm nhưng vẫn chưa trở lại đỉnh hồi tháng 9/2023.

Hiện giá mã VFS của VinFast đang ở mức 4,08 USD/cổ, mất 75,64% so với giá trị lúc cao nhất hồi tháng 9/2023.

Tài sản ông Vượng hiện ở mức 35,2 tỷ USD, xếp 62 thế giới, theo Forbes.


 

VÌ SAO PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ BỊ ĐÈ BẸP TỚI NGÀY NAY?

Việt Luận – Viet’s Herald

 VÌ SAO PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ BỊ ĐÈ BẸP TỚI NGÀY NAY?

Nguyễn Gia Việt

Người Nam Kỳ tự hào vì có Phan Thanh Giản, vì có Petrus Trương Vĩnh Ký. Nhưng vui làm sao! Sau 1975 hai nhơn vật Miền Nam này bị hạ bệ, miệt thị, truy sát lịch sử không thương tiếc, rất thô bạo.

Lịch sử thiệt là trớ trêu, sau 1975, “bác cả” cho quan Phan Thanh Giản vô vòng lao lý lịch sử, hạ tượng xoá đường. “Bác cả” cũng cho học giả Trương Vĩnh Ký và nhà tư bản chủ chợ Bình Tây vô sân sau nhà chú Hoả đứng đối diện nhìn nhau say đắm ngày qua ngày với danh phận 2 con ma gác cửa sau nhà chú Hỏa.

Vì sao nhân vật lịch sử Miền Nam bị hạ bệ nhiều quá vậy? Ai giỏi giỏi nổi nổi là bị ha hết?

Pétrus Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898), tên đủ là Jean-Baptiste Pétrus Trương Chánh Ký, sau này là Pétrus Trương Vĩnh Ký, gọi tắt là Pétrus Ký-một người quê Cái Mơn Bến Tre.

Ông thông thạo 27 ngoại ngữ, được Châu Âu liệt vào 18 nhà bác học trên thế giới, là ông tổ nghề báo Việt Nam, tham gia viết lách, thông ngôn, hoạt động chánh trị một thời gian và về già thì lấy sự dạy học  làm vui.

Cái vĩ đại của  Pétrus Trương Vĩnh Ký ngoài học thuật còn về cách sống, ông sống đơn sơ như  một nho sinh sân Trình cửa Khổng, có vô số điều kiện làm giàu nhưng nhứt định từ chối, cuối đời sống thanh bần, lấy dạy học và viết sách làm vui.

Bài văn dưới đây là bài trích ông Jacques Lê Văn Đức  ca ngợi học giả Petrus Ký ở những năm 20 của thế kỷ trước. Ông Jacques Lê Văn Đức người Mỹ Tho, con trai đốc phủ sứ Lê Văn Mầu, bản thân là hội đồng quản hạt Nam Kỳ- sanh thời cũng rất thông bác, được gọi là đồ đệ Petrus Ký.

Mọi người đọc lại cho biết cách diễn giải văn chương của năm 1920:

“Ai ai cũng đến cùng người vì biết người thông thái, khoan hậu niềm nỡ và hiền lành. Bởi sự đơn sơ, sự ngay thẳng của người, nên người mới được những kẻ một xứ sở cùng với người Pháp đều kính trọng vì nễ.

Petrus Trương Vĩnh Ký nhờ trí tuệ thông minh và cách làm việc rất chuyên chú của người nên được trở nên đơn sơ khiêm tốn nhơn lành khoan hậu, công bình thanh liêm khôn ngoan và xứng đáng, đầy lòng luân lý và cao vọng chớ chẳng phải toàn là vật chất chủ nghĩa.

Như tiên sanh, ở người tài ba đầy sự hiền vinh, tinh khiết, đã đế thế này rất sớm mà vội đi cũng sớm, chúng tôi muốn được biết cái cách ăn ở đơn sơ mà hữu chỉ cho người đồng loại.

Chúng tôi muốn được sự vui thỏa trọng những đức hạnh gia đình.

Chúng tôi muốn gieo rãi sự hạnh phúc khắp nơi, sự hạnh phúc thật của một đời kiểu mẫu, chớ không phải một đời không những vô ích, vô sự, ích kỷ.”

Pétrus Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam làm nhựt trình (báo chí) đầu tiên, nhưng sau 1975 “bác cả” không liệt kê ra, “bác cả” chỉ liệt kê con cháu “bác”.

Pétrus Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản sau 1975 được ban tặng sự thù ghét, đê tiện, là “bán nước” theo ý chí của “bác cả”.

Tả Quân Lê Văn Duyệt đại diện quyền lực Miền Nam tiêu biểu cũng bị miệt thị trên mạng hàng ngày.

Các nhân vật lịch sử Miền Nam đều là thứ không ra gì trong mắt “bác cả”, và tới giờ họ vẫn rất sợ khi con cháu Miền Nam đã hiểu ra, tìm đọc, và đặt cha ông về đúng vị trí trang trọng.

Tạo sao cứ phải tỉa gọn như vậy?

Vì chánh trị, muốn con cháu người đó quên, thù nghịch với cha ông nó kiểu mả cha không khóc phải khóc đống mối để dễ dạy dỗ…thì cứ hạ bệ, cứ triệt gọn những nhân vật được yêu thương là xong.

Mà làm được không?

Nguyễn Gia Việt