75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

Xuyên Sơn

  75 NĂM TRƯỚC, CỤ PHẠM QUỲNH ĐƯỢC “MờI” VÀ…MẤT TÍCH

– Vũ Thế Khôi

75 năm trước, vào 14h ngày 23 – 08 – 1945, một nhóm người có vũ trang đi xe ô-tô ập vào ấp Hoa Đường trên bờ sông An Cựu, “mời” cụ Phạm Quỳnh đi gặp chính quyền Cách mạng Thừa Thiên-Huế.

Cụ Phạm không bao giờ trở về nữa.

Một thời gian dài có những lời biện bạch rằng cụ Phạm bị một nhóm dân quân manh động sát hại.

May thay, 8 năm trước đại tá TS Nguyễn Văn Khoan đã viết ra sự thật trong sách do Nxb CAND in ấn: “Báo “Quyết Thắng”, cơ quan tuyên truyền và tranh đấu của Việt Minh Trung Bộ, số 11 ra ngày 9 – 12 – 1945 cho biết: “cả 3 tên Việt gian đại bợm (Ngô Đình Khôi, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Huân) bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền, 2 giờ (chiều) ngày 23 – 8 và đã bị Uỷ ban khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”.

Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế bấy giờ là Tố Hữu…

“Vậy tại sao Hồ Chủ tịch gọi cụ Phạm Quỳnh là “học giả” và viết thư mời ra cộng tác với Cách mạng?

Nguyễn Cảnh Thuỵ: Lúc chuẩn bị được “mời đi”, cụ còn có vẻ phấn khởi, dặn các con lấy hết vải đỏ ra may cờ cho Việt Minh. Khi bị gọi đi, các con nhắc cụ chưa uống thuốc, cụ bảo chốc về uống.

Cụ có ngờ đâu họ tóm cụ đi… thủ tiêu(!)

________________

Tôi đi cải táng thầy tôi

– Phạm Tuân*

…Năm 1948, anh Bích tôi – (Phạm Tuân – PT ghi chú) lúc bấy giờ làm Bí thư cho Quốc trưởng Bảo Đại đã dò hỏi được nơi Thầy tôi bị giết và chôn nhưng không thực hiện được việc tìm kiếm.

Phần vì địa điểm là một nơi xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở, lại là một vùng “xôi đậu” thiếu an ninh.

Phần vì nghe lời khuyên can của những người am hiểu tình hình: không nên mạo hiểm, vì rất có thể đây là cái bẫy…giăng ra để bắt và tiêu diệt những người có liên hệ với các nạn nhân…

Một hình thức “nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” vậy.

Mãi cho đến năm 1956… bỗng một hôm gia đình chúng tôi được thông báo chuẩn bị sẵn sàng để đi nhận lãnh hài cốt Thầy tôi!

Một niềm vui mừng khôn tả, đồng thời một nỗi xúc động vô biên tràn ngập trong lòng anh chị em chúng tôi.

Lập tức chúng tôi đi tìm những tin tức chính xác hơn.

Được sự giới thiệu của ông Hoàng Hùng (Bộ trưởng Bộ Kiến Thiết) (là con trai một người bạn Phạm Quỳnh, từng ở nhà Phạm Quỳnh thời còn đi học ở Hà Nội – PT ghi chú) và ông Võ Văn Hải (Văn phòng Phủ Tổng thống), chúng tôi tìm đến gặp ông Võ Như Nguyện.

Được biết ông Võ Như Nguyện ( tỉnh trưởng Bình Định) cùng ông Hoàng Ngọc Trợ (Quận trưởng quận Phong Điền,Thừa Thiên) là những người được Tổng thống Ngô Đình Diệm trao cho việc tìm kiếm (hài cốt cha con Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm – PT ghi chú).

Việc tìm kiếm hài cốt không đơn giản mà là một công tác lớn lao, đòi hỏi nhiều thời gian, nhân lực, phương tiện và an ninh tuyệt đối.

Ngày 5 tháng 2 năm 1956 (cận Tết) tôi và chị Hảo (Phạm Thị Hảo, con gái thứ ba trong tám con gái của Phạm Quỳnh – PT ghi chú) tôi đi Huế để cùng với một phái đoàn của chính phủ tìm và nhận hài cốt các nạn nhân.

…Thật “nghịch đời”, lúc sinh thời, Thầy tôi và cụ Khôi vì khác chính kiến nên đã trở thành thù địch, thề “không đội trời chung”, thế mà khi thác lại nằm chung một hố.

Chúng tôi (tôi và chị Hảo) phải ở lại Huế lâu hơn dự định, vì như đã tả ở trên,

địa điểm là một nơi xa xôi, khó đi lại nên chính phủ phải huy động công binh khai quang, ủi đất làm đường, bắc cầu cho xe hơi đi…trên mười lăm cây số.

Ngoài ra còn phải điều động binh sĩ đến giữ an ninh quanh vùng.

Nói tóm lại là cả một công trình nan giải mà chỉ có một chính quyền mới thực hiện được mà thôi…

…Nhưng đôi lúc tôi tự hỏi, giả sử như Thầy tôi không bị chôn vùi cùng huyệt với cụ Khôi và ông Huân, những người thân của Tổng thống, thì chúng tôi có được sự giúp đỡ này không?

Suốt ngày 8 tháng 2 năm 1956, đào xới đất, kết quả chỉ bới lên được một bộ hài cốt không phải là của một trong ba người.

Mọi người đều thất vọng, lại lo rằng sau mười một năm, trải qua bao mùa lũ lụt, có thể các di hài bị nước lũ cuốn trôi đi chăng?

Đến chiều hôm sau, cận Tết, dưới trời mưa lâm râm, bỗng xuất hiện một cụ già đi ngang qua.

Cụ hỏi toán dò tìm:

“Đã tìm thấy các cụ chưa? Đào mương nào, mương cũ hay mương mới?”.

Thì ra có hai mương…

Cụ già nói tiếp:

“Cách đây mười một năm tại đây tôi có đào một con mương để dẫn nước từ sông lên ruộng.

Hôm sau, ra tát nước thì thấy mương bị lấp. Du kích trong làng cấm không cho tới gần.

Vài năm sau, có người đến thầu mấy thửa ruộng của tôi, cũng đào mương,

thì bị khuyến cáo không được đào thẳng mà phải đào chếch sang một bên”.

Thì ra đây là “mương mới”, chỗ tìm ra hài cốt độc nhất nói trên. Toán công binh tiếp tục đào sâu hơn, với chu vi rộng lớn hơn, thì quả nhiên tìm được ba bộ hài cốt ở vị thế đúng như những chi tiết thâu lượm được.

Gần đến hài cốt, để tránh đụng đến xương, đám người có phận sự ngưng sử dụng cuốc, xẻng mà chỉ dùng đũa cả khơi đất ra từng mảng.

Sau cùng lộ ra rõ rệt ba bộ hài cốt nằm chồng lên nhau.

Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh, tôi nhận ra được đôi mắt kính cận…

Hài cốt của cụ Khôi và ông Huân thì ngắn và nhỏ bé.

Thân nhân nhà họ Ngô còn nhận ra được hai chiếc răng vàng và cái thắt lưng to bản (quân phục Nhật) của ông Huân.

Ban tổ chức đã chuẩn bị sẵn ba cái tĩnh, vải liệm trắng đỏ, ba chậu tráng men lớn chứa đầy cồn 90 để rửa xương.

Việc thử nghiệm, rửa hài cốt và tẩm liệm kéo dài đến khi trời tối.

Tại làng Văn Xá, quan tài cụ Khôi và ông Huân được quàn dưới một lều vải lớn, có thể chứa cả trăm người, có đèn điện thắp sáng choang, vòng hoa phúng viếng bày la liệt, lính mặc lễ phục túc trực hai bên, các bộ trưởng thứ trưởng âu phục trắng cà vạt đen, các đại biểu, cán bộ đủ mọi cấp ra vào tấp nập…

Tiếng cầu kinh của giáo chúng thập phương vang rền suốt đêm.

Được biết, ngày hôm sau sẽ di chuyển hai quan tài về Hiền Sĩ.

Tại đây, một nhà thờ lớn đã được dựng lên để cử hành tang lễ trọng thể theo nghi thức quốc táng, có đông người tham dự và sau mồng ba Tết mới đưa về Phú Cam chôn cất.

Trong khi đó, trên một ngọn đồi thấp cách đấy không xa, trong một chiếc lều nhà binh nhỏ bé, dưới ánh sáng mờ ảo của mấy ngọn nến, hai chị em tôi cùng cụ bà Ưng Trình (thông gia với gia đình chúng tôi) thay phiên thắp nhang bên linh cữu Thầy tôi.

Chúng tôi có mời một thượng toạ trụ trì tại một ngôi chùa nhỏ trong làng đến làm lễ cầu siêu.

Bên chính quyền cũng cử một đại diện đến phúng điếu và phân ưu.

Sau đó, cắt cử hai quân nhân mặc lễ phục nghiêm chỉnh túc trực bên quan tài.

Như trên đã nói, ban tổ chức có cung cấp ba tĩnh bằng sành để đựng hài cốt…

Cả ba có nắp in hình thánh giá của công giáo, nên chị tôi đã tế nhị từ chối để chỉ dùng cái tĩnh đã mua sẵn dành riêng cho đệ tử nhà Phật với chữ “Vạn” trên nắp.

Quá tủi thân trước sự khắc biệt, lòng ngậm ngùi thê thiết, chị em chúng tôi quyết định thuê đò chở quan tài Thầy tôi về Huế ngay đêm hôm ấy…

Tám giờ sáng hôm sau thì đến chùa Vạn Phước.

Thượng toạ trụ trì đã chờ sẵn.

Sau nghi thức đơn giản, đúng chín giờ thì hạ huyệt.

Một số đông bạn học cũ của các anh chị tôi tại hai trường Khải Định và

Đồng Khánh đến chia buồn và tiễn đưa.

Thời gian dài kế tiếp sau đấy, người dân Sài Gòn được thấy một con đường lớn, rộng từ phi cảng Tân Sơn Nhất vào trung tâm thủ đô mang tên Rồi đến thời Đệ nhị Cộng hoà của Tổng thống Thiệu “nghe nói” tên Thầy tôi đã được đặt cho một con đường nhỏ, gần đường Triệu Đà trong Chợ Lớn…

Chị tôi và tôi lân la đi tìm, nhưng chẳng thấy tăm hơi…

Tất cả chỉ là một “dự tính” mà thôi.

Ôi, thế thái nhân tình…

P.T.

__________

(Trích bài Sống lại với ký ức thuở ngày xưa, báo Ngày Nay

(tiểu bang Minesota), số 385, ngày 30-6-2005 và Việt Học tạp chí phổ thông, số 2 (Nam Califonia) tháng 6-2005).

* Ông Phạm Tuân là con trai út trong năm con trai của Phạm Quỳnh, sinh năm 1936 tại Huế, định cư tại Mỹ.

Nguồn fb Nguyễn Xuân Diện.

https://www.facebook.com/photo?fbid=2369914379978186… 


 

“NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ…CHỜ…CHẾT”

Xuyên Sơn

 “NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ…CHỜ…CHẾT”

Ở Việt Nam, cứ nói đến chính trị thì bị cho là rảnh hơi và nếu bạn không cùng ý kiến với nhà nước, bạn sẽ bị xếp vào những thành phần sau :

– Nếu là đảng viên thì bị cho là: đạo đức suy thoái.

– Nếu bạn là trí thức thì bị cho là: bất mãn với thời cuộc

– Nếu là kẻ nghèo thì bị cho là: bị kẻ xấu kích động

– Nếu là kẻ ít học thì bị cho là: bị dụ dỗ lợi dụng

– Lên facebook bày tỏ quan điểm : bạn sẽ bị cho là kẻ phản động ..

Thế đấy, tùy theo “khẩu nghiệp” mà bạn nhận được danh hiệu do họ phong tặng.

Và khi tôi và những người khác lên tiếng để mong có một tương lai tốt đẹp cho đất nước này, thì bạn nói: “sống ở xã hội này thì phải chấp nhận như thế, có nói cũng chẳng làm được gì.”

Vậy:

– Khi nhà bạn có người gần chết, đưa vào bệnh viện mà chưa có tiền đóng viện phí, người ta không cứu, bạn đừng khóc vì khóc cũng chẳng thay đổi được gì.

– Nhà bạn có người bị tai nạn, xung quanh người ta đi lại, chỉ ném một cái nhìn vào chỗ người thân bạn đang nằm chổng vó ra đấy mà chẳng thèm làm gì hơn,

bạn đừng trách sao họ thờ ơ vô cảm.

– Con cái bạn bị những kẻ vô loài hãm hiếp, mà pháp luật vẫn để những kẻ đó nhởn nhơ, bạn đừng kêu oan vì kêu cũng chẳng làm được gì.

– Bạn ra đường mà có bị cướp giật hay bị trộm mất xe ngay trước mặt,

thì tốt nhất bạn hãy im miệng vào, vì có kêu thì cũng không ai nghe thấy đâu.

– Bạn bị công an bắt xe không lý do thì cũng nên vui vẻ mà nộp phạt, ấm ức cái gì?

– Sau này đất đai nhà bạn có bị quy hoạch và được trả giá 200k/m2, thì cũng đừng có kêu gào làm gì, không ai quan tâm việc nhà bạn đâu.

– Bạn đi khám mà chẳng may mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, thì cũng nên vui vẻ mà chấp nhận sống nốt cuộc đời còn lại, vì ở cái xã hội thờ ơ tràn lan thực phẩm bẩn này mỗi ngày có khoảng 300 người chết vì bệnh ung thư chứ không riêng gì bạn đâu.

…… Và còn nhiều điều khốn nạn nhưng rất đỗi bình thường, ở cái đất nước này, khi xảy đến với bạn thì tốt nhất bạn cũng nên ngậm chặt miệng vào, vì xã hội VN nó thế!

Người Việt Nam sinh ra để làm gì?

Người Việt Nam sinh ra để …chờ c.hết!

Và bây giờ hãy tiếp tục im miệng để  sắp phải làm nô lệ cho Tàu ngay trên chính quê hương mình.”

Nguồn fb Nguyen Minh 


 

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Những địa danh ở Sài Gòn đang bị viết sai

Cát Lái, Rạch Chiếc, Gò Vấp, Hàng Xanh, Thanh Đa… là những địa danh quen thuộc ở Sài Gòn nhưng được cho là bị viết sai so với ban đầu.

Hàng Xanh

Là nút giao thông lớn ở cửa ngõ phía Đông của TP HCM, Hàng Xanh là địa danh rất quen thuộc với người Sài Gòn. Vùng Hàng Xanh, bao gồm một phần địa bàn các phường 24, 25 (quận Bình Thạnh), còn có chợ Hàng Xanh, ngã tư Hàng Xanh.

Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả Nguyễn Thanh Lợi (trong quyển Sài Gòn – Đất và Người) qua nhiều tài liệu cũ, địa danh này viết đúng phải là Hàng Sanh. Theo sách Đại Nam quốc âm tự vị của nhà ngôn ngữ học Huỳnh Tịnh Của, Sanh “là thứ cây lớn, nhánh có tua, về loại cây da, mà lá nhỏ”. Ngày trước, dọc theo hai bên đường nay là Bạch Đằng có 2 hàng cây sanh, dân thường gọi là Hàng Sanh. Nên có thể kết luận, Hàng Xanh do đọc chệch từ Hàng Sanh mà ra.

Cát Lái

Theo các nhà nghiên cứu, phải gọi là bến phà Các Lái thì mới đúng với nguồn gốc tên gọi ban đầu, còn tên gọi Cát Lái là vô nghĩa. Ảnh: H.C

 Hiện, tại TP HCM có các địa danh: ngã ba Cát Lái, phường Cát Lái, bến phà Cát Lái, sông Cát Lái… (quận 2) và rạch Cát Lái Lớn, rạch Cát Lái Bé (xã Lý Nhơn, huyện Nhà Bè). Theo các nhà nghiên cứu viết như thế là vô nghĩa.

Nguyên các vùng kể trên ngày xưa lái buôn tụ về buôn bán nên dân gian gọi là vùng của các lái. Trong dân gian vẫn còn lưu truyền những bài vè về các lái buôn ghe bầu từ miền Trung vào Gia Định với hai bài Vè Lái vô và Vè Lái ra. Vì vậy phải viết là Các Lái mới có nghĩa.

Gò Vấp

Là tên gọi của quận vùng ven tại TP HCM. Theo các nhà nghiên cứu, đúng ra phải là Gò Vắp vì đây vốn là vùng đất cao có trồng nhiều cây vắp. Loại cây thân gỗ rất cứng thuộc họ măng cụt, hiện vẫn trồng nhiều nơi tại TP HCM như khuôn viên vườn Tao Đàn, khu vực đường Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Xuân Hương gần đó.

Thanh Đa

Người Sài Gòn từ lâu đã quen với các địa danh như Kinh Thanh Đa, cư xá Thanh Đa, chợ Thanh Đa… ở phường 26 và 27 của quận Bình Thạnh. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, địa danh này có nguồn gốc từ tên gọi Thạnh Đa.

Thôn Thạnh Đa thuộc tổng Bình Trị (sau thuộc Bình Trị Thượng), huyện Bình Dương, có từ năm 1818. Trong sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Monographie de la provine de Gia Định (Chuyên khảo về Gia Định, xuất bản năm 1902 tại Sài Gòn) đều có ghi tên thôn Thạnh Đa. Về sau, do bỏ dấu khi in trên bản đồ thời Pháp, nên địa danh Thạnh Đa biến thành Thanh Đa như hiện nay.

Rạch Chiếc

Cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ phía Đông TP HCM. Ảnh: H.

Rạch Chiếc là con rạch nằm trên địa bàn phường Phước Bình (quận 9) nối sông Sài Gòn với sông Đồng Nai ở phía đông bằng tắt Đồng Nhiên, bắt đầu từ rạch Trao Trảo đến sông Sài Gòn, cắt ngang xa lộ Hà Nội, dài khoảng 6.000 m. Cầu Rạch Chiếc nổi tiếng với trận đánh giải phóng Sài Gòn hồi tháng 4/1975.

Theo các nhà nghiên cứu địa danh học, viết Rạch Chiếc là không đúng mà phải là Rạch Chiết, do xưa rạch này có nhiều cây chiết là “thứ cây mọc hoang, thấp nhỏ, lá lớn, hay mọc hai bên mé sông, thường ra lá non, mùi chát chát có thể ăn như rau”. Nếu viết là Rạch Chiếc thì không có ý nghĩa.

Chí Hòa và Kỳ Hòa

Ở TP HCM hiện tồn tại đồng thời hai địa danh được cho là giống nhau đó là Chí Hòa và Kỳ Hòa. Theo các nhà nghiên cứu, Chí Hòa nguyên là tên một làng ở Gia Định, đã được lấy để đặt cho một đại đồn của quân đội ta xây nên để chống Pháp. Khi quân Pháp dồn lực lượng tấn công, đại đồn Chí Hòa thất thủ.

Về địa điểm của đại đồn Chí Hòa, nhà văn Sơn Nam cho biết: “Tướng Tôn Thất Hiệp rồi tướng Nguyễn Tri Phương đều chọn lựa cuộc đất nằm trong địa phận làng Chí Hòa Phú Thọ dọc theo rạch Nhiêu Lộc, lấy con đường đi Tây Ninh (Cách Mạng Tháng Tám ngày nay) làm trung tâm để xây đồn lũy…”. Như vậy, Chí Hòa ban đầu là tên làng, mà hiện nay vẫn còn tên gọi như đình Chí Hòa, nhà thờ Chí Hòa… Về sau, Chí Hòa đã trở thành tên một cái đồn được xây dựng tại đó để chống Pháp…

Còn tên Kỳ Hòa xuất hiện vào thời điểm nào? Theo tác giả Trần Trọng Kim trong quyển Việt Nam Sử Lược, thì Kỳ Hòa là cách gọi của người Việt, Chí Hòa là cách gọi của người Pháp. Nhưng tác giả lại không nêu cứ liệu. Còn theo nhà văn Sơn Nam trong quyển Địa danh TP HCM thì Chí Hòa mới là âm gốc, Kỳ Hòa là cách gọi sai lạc vì ngày nay còn địa danh Chí Hòa và ở Nam Bộ không có địa danh mang yếu tố Kỳ ở trước.

Bên cạnh các địa danh xưa, nhiều tên đường tại TP HCM hiện cũng bị viết sai mà các nhà nghiên cứu, nhà văn như: Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Đình Đầu, Lê Trung Hoa… đã đề cập đến, hoặc đã được nêu lên trong những công trình biên soạn về Sài Gòn – TP HCM mấy chục năm qua.

Chẳng hạn như đường Sương Nguyệt Ánh ở quận 1, đúng ra phải là Sương Nguyệt Anh. Tuy nhiên, bao lâu nay trên các biển hiệu cũng như trong giao dịch, làm việc, người ta vẫn ghi là “Ánh” thay vì “Anh”.

Nguyên ban đầu chỉ có hai chữ Nguyệt Anh (con gái thứ 5 của cụ Nguyễn Đình Chiểu có sắc đẹp và tài làm thơ) đến sau ngày chồng qua đời bà thêm chữ Sương tức “người đàn bà góa chồng” đứng trước để thành biệt hiệu Sương Nguyệt Anh. Bà làm chủ bút tờ báo phụ nữ đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn năm 1918 là tờ Nữ giới chung (tiếng chuông của giới nữ).

Đường Lương Nhữ Học nằm trên địa bàn quận 5, thuộc khu vực Chợ Lớn, TP HCM cũng được cho là bị viết sai. Tên chính xác của vị danh nhân này phải là Lương Như Hộc – là quan, danh sĩ thời hậu Lê. Ông cũng là người hai lần làm sứ giả sang Trung Quốc và có công truyền lại nghề khắc bản gỗ in cho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục (tỉnh Hải Dương ngày nay) khiến nghề in nơi đây trở nên phát triển. Chính vì vậy ông được tôn xưng là “ông tổ” nghề khắc ván in.

Đường Lương Nhữ Học ở quận 5, TP HCM được cho là đang viết sai. Ảnh: H.C

Một con đường khác cũng bị viết sai là Kha Vạn Cân. Kỹ sư Kha Vạng Cân, nguyên là Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn là một nhân sĩ trí thức nổi tiếng của miền Nam, từng tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Vậy mà không biết vì lý do gì khi đặt tên ông cho một con đường lớn ở quận Thủ Đức, người ta lại viết thành Kha Vạn Cân.

Đường Trương Quốc Dung trên địa bàn quận Phú Nhuận cũng được đặt tên không chính xác vì đúng phải là Trương Quốc Dụng. Trong lịch sử Việt Nam không có vị danh nhân nào như tên con đường đang có. Chỉ có ông Trương Quốc Dụng, là nhà văn, nhà sử học, nhà thiên văn nổi tiếng của Việt Nam và là người có công chấn hưng lịch pháp thời nhà Nguyễn.

Theo Trung Sơn

From: taberd & NguyenNThu


 

Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Thoibao.deTam Truong Nguyen

 Mọi thấy cậu con trai của bà bộ trưởng bộ giáo dục có cái nét giống ông Tổng Bí thư Tô Lâm không ?

Lan Hue

 Tối qua xem bản tin VTV, tôi đã ngồi lặng đi rất lâu. Không phải vì bất ngờ, mà vì cái cảm giác bất lực quen thuộc ấy lại quay về.

Một cô gái 18 tuổi, vừa đứt lìa chân trên phố Nguyễn Huy Tự vào ngày 30/5/2025, đã chết sau một tuần trong bệnh viện. Cô chết ngay trước kỳ thi tốt nghiệp, cái tuổi mà đáng lẽ ra cô phải được bước vào phòng thi, chứ không phải nhà tang lễ.

Người cầm lái chiếc BMW X3 30H-369.09 đi ngược chiều, tông thẳng vào cô, tối qua được VTV và Công an Hà Nội xác nhận là ông Nguyễn Sỹ Cương, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

Và rồi câu chốt của bản tin: Ông Cương được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự vì “thành khẩn khai báo, tích cực khắc phục hậu quả và gia đình nạn nhân có đơn xin miễn”.

Tôi nghe xong, chỉ thấy tim mình thắt lại. Chúng ta đã từng tìm hiểu luật và luật pháp ghi rằng, trong một vụ tai nạn chết người do đi sai làn, khởi tố không phụ thuộc vào đơn bãi nại. Đơn bãi nại chỉ là tình tiết giảm nhẹ. Luật sư nào cũng nói vậy. Nhưng hóa ra, luật đó chỉ đúng khi người gây tai nạn là dân thường chăng?.

Còn khi người gây tai nạn là một nguyên Đại biểu Quốc hội, chồng của một người hiện đang giữ chức Bộ trưởng, thì luật lại có một lối rẽ khác: lối rẽ mang tên “miễn truy cứu”.

Tôi bất lực vì tôi nhớ lại hơn một năm qua, báo chí chỉ dám viết tắt “N.S.C.”, không dám đăng ảnh, không dám gọi tên. Tôi bất lực vì tôi thấy những bó hoa trắng người dân đặt ở gốc cây số 55 Nguyễn Huy Tự bị dọn sạch dưới sự giám sát của công an, phải có người đứng canh. Đến một nén nhang, một bông hoa tưởng niệm cho người đã khuất cũng không được yên.

Và tôi mất niềm tin, không phải vì một cá nhân được miễn tội, mà vì cách người ta hợp thức hóa sự miễn tội đó một cách trơn tru, đúng quy trình đến đáng sợ. Họ dùng chính những từ ngữ đẹp đẽ nhất của pháp luật – “thành khẩn”, “khắc phục”, “nhân đạo” – để bao bọc cho một sự thật trần trụi: một mạng người đã mất, nhưng người gây ra cái chết đó không phải chịu một ngày tù nào.

Tối qua, sau bản tin, tôi lướt Threads, thấy cả triệu bài viết. Không ai chửi bới vô cớ. Người ta chỉ hỏi một câu duy nhất: Nếu hôm đó người đi ngược chiều là một shipper, một sinh viên, một người lao động bình thường, liệu anh ta có được “miễn truy cứu” không?

Câu trả lời ai cũng biết. Và chính vì ai cũng biết câu trả lời, nên niềm tin mới vỡ vụn.

Chúng ta không đòi hỏi gì ghê gớm. Chúng ta chỉ đòi hỏi công lý phải mù mắt như bức tượng của nó: không nhìn xem kẻ đứng trước vành móng ngựa là đại biểu hay dân thường. Nhưng tối qua, VTV đã cho chúng ta thấy, công lý ở đây có mắt, và nó nhìn rất rõ ai là ai.

Cô gái 18 tuổi ấy đã không có cơ hội đi thi. Còn chúng ta, những người ở lại, đang trượt dài trong một kỳ thi khác – kỳ thi về niềm tin. Và thật đau đớn, chúng ta đang rớt. 


 

Họ đã truy tố chị vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Trần Trân

Đây là chị Phạm Hồng Nhị, 41 tuổi, nhà chị ở Đá Bạc, Cà Mau. Gia cảnh chị nghèo khó, nuôi 2 con đang đi học và mẹ già mất khả năng lao động. Dẫu vậy nhưng vợ chồng chị vẫn luôn chí thú làm ăn để tương lai bớt vất vả hơn cho con của mình.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, chồng chị chở chị đi đi dự tiệc khai trương tiệm bán cá của một người bạn ở An Xuyên, Cà Mau cách nhà chị khoảng vài mươi cây số.

Sau buổi tiệc, chồng chị quá say xỉn, không thể chạy xe được nên chị đành chạy xe chở chồng về, chị cũng đã có uống 2 lon bia.

Trên đường về thì chị lạc tay lái, tông vô gốc cây ven đường. Chồng chị không may qua khỏi, chị thì bị thương nặng. Những tưởng đã là tột cùng của bi kịch, khi giờ đây chỉ còn một mình chị gồng gánh cả gia đình, hai con thì quá nhỏ, nhưng không!

Sau khi xuất viện, chị bị tòa án tuyên thêm một năm 6 tháng tù giam vì tội vi phạm quy định khi tham gia giao thông gây hậu quả nghiêm trọng.

Một chi tiết đáng chú ý ngoài lề là: chị đã khắc phục hậu quả dân sự 100/120 triệu. Người ta nói vì thiếu 20 triệu nữa nên gia đình chồng đã rút lại đơn bãi nại trước đó. Nhưng lưu ý:

Cụ thể với Điều 260 BLHS:

Một vụ tai nạn làm ch.ết người, nếu cơ quan tố tụng xác định có dấu hiệu của Điều 260, thì:

Gia đình người ch.ết làm đơn bãi nại  không có nghĩa là người gây tai nạn đương nhiên không bị xử lý hình sự.

Mặt khác, Gia đình rút bãi nại cũng không làm phát sinh trách nhiệm hình sự một cách tự động.

Cơ quan điều tra vẫn phải căn cứ vào hành vi vi phạm, lỗi, hậu quả, quan hệ nhân quả và các chứng cứ khác để quyết định có khởi tố hay không.

Nói cách khác, cơ quan chức năng hoàn toàn có thể không truy tố chị, nhưng họ đã truy tố vì lý do: SỰ NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT.

Và giờ đây, 2 con chị bơ vơ, cha chết, mẹ đi tù người bà thì mất khả năng lao động, tương lai vô cùng mịt mờ.

Nhưng ở đâu đó, giữa lòng thủ đô, người ta chạy ngược chiều bằng xe hơi, người ta, cả 2 người trên xe hơi trốn ngay lập tức khỏi hiện trường, báo chí giấu nhẹm thông tin về hung thủ sau một năm 3 tháng. Công an đo nồng độ cồn 1 ngày sau xảy ra tai nạn, mà lúc đó, ngày 31/05/2025 còn chưa có đơn vị hành chính nào tên là: Phường Hai Bà Trưng. Vậy nhưng trong giấy lại có mới tài.

Cơ quan công an kết luận: không khởi tố đúng quy trình.

Có lẽ, do hung thủ là đại biểu quốc hội, là chồng của bà bộ trưởng bộ văn hóa, là những kẻ lãnh đạo tài tình sáng suốt trên đất nước này.

Nắng rồi sẽ lên

Nhắc nhau nghe rằng:

Người Việt Thương Người Việt

Nguồn Bàn Tròn Chính Trị

#vietnam#quocgiavietnam 


 

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ – Đoàn Bảo Châu

Chau Doan  

TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI BẢO VỆ CÔNG LÝ

Ở Hà Nội, mỗi sáng có hàng triệu người bước ra khỏi nhà và mặc nhiên tin rằng tối mình sẽ trở về.

Bố đi làm. Mẹ đưa con đến trường. Người trẻ chen vào dòng xe cho kịp giờ chấm công. Đứa nhỏ ngồi sau xe máy, ôm lưng mẹ, có khi vẫn còn ngái ngủ.

Những cuộc chia tay buổi sáng thường rất sơ sài. “Con đi học đây.” “Bố đi làm nhé.” “Ừ, tối về ăn cơm.” Chẳng ai ôm nhau lâu, chẳng ai dặn dò gì hệ trọng, bởi người ta vẫn nghĩ vài tiếng nữa sẽ gặp lại.

Trưa ngày 30 tháng 5 năm 2025, một người cha chở con gái trên đường Nguyễn Huy Tự. Ông đi cẩn thận, như mọi người cha chở con đều đi cẩn thận. Rồi một chiếc xe từ làn bên kia lao sang, và nó chỉ dừng lại khi đâm vào một gốc cây.

Người cha gãy chân, nằm giữa đường, quơ tay tìm con, gọi mãi.

Cô gái mười tám tuổi bị đứt lìa chân phải, nằm đó chừng hai mươi phút, người sơ cứu cho em là một bác sĩ tình cờ đi ngang. Những người bước xuống từ chiếc xe kia nhìn một lượt rồi bỏ đi.

Em chống chọi bảy ngày trong bệnh viện rồi mất. Em tên là Đỗ Ngọc Phương Thùy. Ở nhà, mọi người gọi em là Mina.

Hôm ấy trong nhà em có một chiếc va li đang xếp dở, và một giấy báo trường bên Anh.

Từ ngày ấy đến nay là 444 ngày.

Trong 444 ngày ấy, không một quyết định tố tụng nào được công bố. Cái tên người gây tai nạn được thu gọn thành ba chữ viết tắt trên báo chí. Cho đến khi những người trẻ mang hoa cúc trắng đến đặt dưới gốc cây số 55, thì cái tên ấy mới được đọc lên trên sóng truyền hình quốc gia — kèm theo lời tuyên bố ông ta đủ điều kiện được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, và kèm theo lời răn đe những người đã cầm hoa.

Nhiều người bảo: chuyện của gia đình người ta, mình xen vào làm gì. Gia đình họ đã đồng ý rồi, mình còn nói gì nữa.

Xin thưa, đây là lý do tôi vẫn nói.

Bởi vì một vụ tai nạn làm chết người không phải chuyện riêng của hai gia đình. Nó là chuyện của cả xã hội. Luật hình sự sinh ra không phải để trả thù cho người đã mất, mà để răn đe những người còn sống. Khi trách nhiệm hình sự bị xóa bằng một tờ đơn của người đang kiệt sức vì mất con, thì thứ bị xóa không phải là hình phạt dành cho một người. Thứ bị xóa là lời răn đe dành cho tất cả những người khác đang cầm vô lăng ngoài kia.

Và đây mới là điều đáng sợ nhất.

Nếu hôm nay chuyện này được cho qua, thì một tiền lệ đã được dựng lên: gây tai nạn chết người, bỏ mặc nạn nhân, rồi bồi thường, rồi có đơn xin miễn, thế là xong. Ngày mai, con cái các quan chức sẽ hiểu điều đó. Chúng sẽ uống rượu, sẽ phóng xe bạt mạng trên phố, bởi trong đầu chúng đã có sẵn một phép tính: đâm chết người thì mất bao nhiêu tiền, và bố mẹ mình quen ai.

Cái giá của một mạng người sẽ trở thành một con số có thể tra bảng.

Xin đừng nghĩ đó là chuyện xa xôi. Người ngồi sau xe máy ngày mai có thể là con anh, cháu chị, hay chính chúng ta. Đường phố này không có hàng rào nào ngăn cách giữa gia đình quyền thế và gia đình thường dân. Chỉ có luật pháp là hàng rào duy nhất. Khi hàng rào ấy được nhấc lên cho một chiếc xe đi qua, thì nó đã được nhấc lên cho tất cả những chiếc xe khác cùng loại.

Đó chính là điều mà những người trẻ mang hoa ra gốc cây đang hỏi. Họ không đòi ai phải chết thay ai. Họ không tự phong mình làm quan tòa. Họ chỉ hỏi một câu mà bất kỳ xã hội nào cũng phải trả lời được: nếu ngày mai một người dân bình thường rơi vào hoàn cảnh y hệt, họ có được đối xử y hệt hay không?

Nếu có, đó gọi là pháp quyền. Nếu không, thì hãy gọi đúng tên của nó.

Có người nói với tôi rằng thôi, cuộc đời vô thường, cầu mong mọi người bình an là được. Tôi hiểu, và tôi cũng cầu mong như vậy. Nhưng xin phân biệt cho rõ: có những chiếc ghế trống trong nhà là do vô thường. Và có những chiếc ghế trống là do một người lái xe sang làn ngược chiều, rồi bỏ đi, rồi không ai phải trả giá.

Vô thường thì ta chỉ có thể chấp nhận. Còn bất công là do con người tạo ra — mà cái gì do con người tạo ra thì con người sửa được.

Cầu an không giữ được mâm cơm đủ người. Chỉ có công lý mới giữ được.

Cho nên khi những đứa trẻ mua hoa bằng tiền túi của chúng đem đặt dưới một gốc cây, chúng không làm việc đó cho một người xa lạ. Chúng đang làm việc đó cho cái ghế trong nhà chúng, cho mâm cơm nhà chúng, cho ngày mai của chính chúng.

Người ta có thể hốt hết hoa lên xe rác. Người ta có thể cử người ra ngồi canh một gốc cây. Người ta có thể ra thông báo cấm sinh viên tưởng niệm khi chưa được phép.

Nhưng có một thứ không hốt đi được: 444 ngày kia vẫn nằm nguyên trên tờ lịch.

Đại văn hào Tolstoy có một câu tôi rất thích: nếu bạn thấy đau, bạn đang sống; nhưng nếu bạn thấy được cái đau của người khác, thì bạn mới là con người.

Xin hãy giữ lấy điều đó. Bởi thế giới này trở nên tồi tệ không phải vì kẻ ác ngày càng mạnh, mà vì những người tử tế ngày càng im lặng.

Mina đã không kịp bước lên chuyến bay của em.

Chúng ta thì vẫn còn ở đây, và mỗi sáng vẫn còn được nói với người thân một câu rất bình thường: tối về ăn cơm nhé.

Xin hãy làm điều gì đó để câu nói ấy còn có nghĩa.

Đoàn Bảo Châu


 

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

 Ryan Phan is in Atlanta, GA.

Dưới Gốc Cây Ấy, Người Ta Đặt Xuống Không Chỉ Là Những Bông Hoa

Có một đoạn văn từng đọc được ở đâu đó, mà càng ngẫm càng thấy lạnh người vì nó đúng.

Nếu bạn cầm súng và tôi cũng cầm súng, chúng ta có thể ngồi xuống nói chuyện với nhau về luật pháp. Nếu bạn cầm dao và tôi cũng cầm dao, chúng ta có thể bàn với nhau về quy tắc. Nếu bạn đến tay không và tôi cũng đến tay không, chúng ta có thể nói chuyện phải trái với nhau bằng lý lẽ. Nhưng nếu bạn có súng còn tôi chỉ có con dao, thì chân lý nằm gọn trong tay bạn. Và nếu bạn có súng còn tôi chẳng có gì trong tay, thì thứ bạn đang cầm không còn đơn thuần là một vũ khí nữa. Nó là mạng sống của tôi.

Đọc xong mấy dòng đó, người ta hiểu ra một điều giản dị mà cay đắng: những khái niệm đẹp đẽ như luật pháp, quy tắc, đạo đức, thật ra chỉ có ý nghĩa khi chúng đứng trên một nền tảng duy nhất, đó là sự bình đẳng. Khi hai bên ngang sức ngang quyền, luật pháp là thứ giữ cho cuộc chơi công bằng. Nhưng khi một bên mạnh áp đảo, còn một bên yếu thế trơ trọi, thì những quy tắc ấy rất dễ biến thành một thứ khác hẳn. Nó không còn là tấm khiên bảo vệ kẻ yếu, mà trở thành cây gậy trong tay kẻ mạnh.

Mấy ngày nay, có một câu chuyện khiến lòng nhiều người trĩu nặng. Xin phép không nhắc lại chi tiết, không gọi tên ai, bởi điều đáng nói ở đây không phải là một sự việc cụ thể, mà là cái cảm giác nhức nhối mà nó khơi dậy trong lòng biết bao con người. Cái cảm giác rằng, trong cuộc chơi này, không phải ai cũng cầm cùng một thứ vũ khí. Rằng có những người bước vào với cả một kho súng đạn quyền lực sau lưng, còn có những người bước vào chỉ với hai bàn tay trắng và một nỗi đau.

Ở một góc đường, dưới một gốc cây, những ngày qua người ta lặng lẽ đến đặt xuống những bó hoa. Hoa cúc trắng. Vài ngọn nến. Đôi khi chỉ một nhành hoa dại hái vội bên đường. Phần lớn những người đến đặt hoa chẳng hề quen biết người đã khuất. Họ đến vì một điều gì đó thôi thúc từ sâu bên trong, một điều mà chính họ đôi khi cũng khó gọi thành tên.

Bởi vì dưới gốc cây ấy, người ta đặt xuống không chỉ là những bông hoa. Người ta đặt xuống cả một nỗi niềm. Một nỗi niềm về sự công bằng.

Có một sự thật về con người mà giữa bộn bề cuộc sống ta hay quên: sâu trong lòng mỗi người đều cháy âm ỉ một khát khao công lý. Không phải công lý theo nghĩa trả thù hay trừng phạt, mà là một niềm tin gần như bản năng, rằng thế giới này phải có một sự công bằng nào đó để mà bám víu. Rằng mọi sinh mạng đều đáng quý như nhau. Rằng nỗi đau của một người dân thường cũng đáng được nhìn thấy, được lắng nghe, được xem trọng ngang với nỗi đau của bất kỳ ai. Khi cái niềm tin ấy bị lung lay, khi người ta thấy dường như có những sinh mạng được coi trọng hơn những sinh mạng khác, thì trong lòng trỗi lên một nỗi bất an rất khó gọi tên. Và những bó hoa lặng lẽ dưới gốc cây, thực ra, chính là cách người ta nói lên nỗi bất an ấy mà không cần đến một lời nào.

Người xưa có một câu nói phũ phàng nhưng thật: khi đồng tiền cất lời, sự thật thường phải im lặng. Và khi quyền lực lên tiếng, thì đôi khi ngay cả đồng tiền cũng phải lùi lại vài bước. Đó là một sự thật cay đắng của cuộc đời mà ai sống đủ lâu rồi cũng phải chạm tới. Những người đặt ra luật lệ đôi khi lại chính là những người đầu tiên biết cách lách qua nó. Quy tắc, trong tay người này, là sợi xích trói buộc; nhưng trong tay người khác, lại là một công cụ tiện lợi.

Nhưng nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó, thì nó quá bi quan, và cũng không công bằng với chính bản chất con người. Bởi vì có một điều mà tiền bạc và quyền lực không bao giờ mua được, không bao giờ đè bẹp được hoàn toàn: đó là lương tri của những con người bình thường. Chính cái đám đông lặng lẽ đặt hoa dưới gốc cây kia là bằng chứng cho điều đó. Họ không có quyền lực gì. Họ không cầm trong tay thứ vũ khí nào. Nhưng họ có một thứ mà không ai tước đoạt được: cái khả năng rung động trước nỗi đau của một người xa lạ, và cái khát khao được sống trong một thế giới công bằng hơn. Đó là thứ vũ khí duy nhất của kẻ yếu, nhưng cũng là thứ vũ khí bền bỉ nhất, vì nó không nằm trong tay ai để mà bị tịch thu.

Có một câu nói xưa đáng để khắc vào lòng: công lý không chỉ cần được thực thi, mà còn cần được nhìn thấy là đã được thực thi. Bởi vì công lý không chỉ là chuyện của những trang giấy, những kết luận, những thủ tục. Nó còn là chuyện của niềm tin. Khi người dân thường tin rằng công lý được áp dụng như nhau cho tất cả, không phân biệt kẻ sang người hèn, thì họ yên lòng mà sống, mà làm ăn, mà nuôi hy vọng. Nhưng một khi cái niềm tin đó bị tổn thương, thì thứ mất đi không chỉ là lòng tin vào một sự việc, mà là một điều lớn hơn nhiều, cái chất keo vô hình gắn kết cả một cộng đồng lại với nhau.

Điều đáng mong mỏi, sau tất cả, không phải là cơn giận. Giận dữ rồi cũng nguôi đi, và hiếm khi đưa người ta đến đâu tốt đẹp. Điều đáng mong là lòng trắc ẩn được giữ lại. Là mỗi người, khi thấy một nỗi đau, dù nó xảy đến với ai, ở đâu, cũng dừng lại một chút để thấy rằng nỗi đau ấy là thật, và người đang mang nó cũng là một con người bằng xương bằng thịt như mình. Là đừng để trái tim chai sạn đi trước những bất công, dù nhỏ hay lớn. Bởi vì cái ngày mà con người thôi rung động trước nỗi đau của đồng loại, thôi khao khát sự công bằng cho những kẻ yếu thế, thì đó mới thật sự là ngày đáng sợ nhất.

Dưới gốc cây ấy, những bó hoa rồi sẽ héo. Người ta rồi cũng sẽ dọn chúng đi. Nhưng có một thứ không héo, và không ai dọn đi được: đó là cái khát khao công bằng, cái lòng trắc ẩn, cái niềm tin rằng mọi sinh mạng đều đáng quý, đang lặng lẽ cháy trong lòng biết bao con người. Ngọn lửa ấy nhỏ nhoi, âm thầm, nhưng nó là điều tốt đẹp nhất còn sót lại trong bản chất con người. Và chừng nào người ta còn biết cúi xuống đặt một bó hoa cho một người xa lạ, thì chừng đó lòng người vẫn chưa nguội lạnh, và hy vọng vẫn còn.

Xin được thắp một nén nhang trong lòng, cầu cho những sinh mạng vô tội đã ra đi khi còn quá trẻ, ở bất cứ nơi đâu trên cõi đời này, được về một nơi bình yên, nơi không còn bất công, không còn nước mắt, nơi mà cuối cùng, mọi người đều thật sự bình đẳng như nhau.

Còn bạn, điều gì trong lòng khiến bạn dừng lại và xót thương, khi nghe về nỗi đau của một người mà mình thậm chí chưa từng quen biết?

Ryan Phan 


 

Họ sợ rằng, công lý có bị bỏ quên?

Quang Lê added a photo to the album: Thinking 😊

Hơn 1 triệu bài viết, hàng chục triệu lượt tiếp cận, liên tục đứng đầu xu hướng nhiều ngày liền trên Threads, GenZ đang khiến cho chúng ta phải nhìn nhận lại về những cấu thành trong Quản Trị Nhà Nước Tốt.

Một trong những đặc điểm nổi bật của phản ứng Gen Z trong vụ này là sự kiên trì.

Không chỉ là làn sóng dâng lên rồi rút đi sau vài ngày. Họ tiếp tục đặt hoa tại gốc cây, bày tỏ niềm thương xót tới nạn nhân, hay đặt ra những câu hỏi về kết quả điều tra vụ việc.

Đó là biểu hiện của một thế hệ đang xây dựng ký ức tập thể về công lý. Họ sợ rằng, công lý có bị bỏ quên?

Rằng nếu một vụ việc như thế này mà không có thông tin thỏa đáng, thì tiền lệ ấy sẽ trở thành chuẩn mực cho những vụ việc tiếp theo.

Minh bạch ở đây không chỉ phục vụ quyền được biết của công chúng. Nó còn giúp cho chính người bị buộc tội tránh được những sự suy diễn và buộc tội vô căn cứ (nếu có).

Bởi một khi thông tin chính thức vắng bóng, mọi cáo buộc trên mạng xã hội – dù có cơ sở hay không đều trở nên khó bác bỏ.

Một kết luận điều tra của cơ quan công an được công khai, dù là không khởi tố vì không đủ căn cứ, hay khởi tố rồi miễn trách nhiệm hình sự vì đã bồi thường và hòa giải đúng quy định, đều tốt hơn sự im lặng.

Hoặc các cơ quan báo chí chính thống có thể tiếp cận nguồn tin, thường xuyên cập nhật về diễn biến sự việc sẽ giúp tỏ tường nhiều góc khuất.

Nên nhớ, trong mô hình quản trị tiên tiến mà Việt Nam đang áp dụng, có hai cấu thành cực kỳ quan trọng là Minh Bạch đi kèm với Trách Nhiệm Giải Trình.

Minh bạch (Transparency) là khi thông tin được cung cấp ở dạng nguyên thủy, dễ tiếp cận, để công chúng và báo chí có thể soi rọi vào quá trình ra quyết định. Ví dụ: Tại sao vụ việc này không bị khởi tố? Căn cứ pháp lý, tình tiết liên quan dẫn tới quyết định đó?

Đi kèm với đó là Trách nhiệm giải trình (Accountability): Minh bạch mà không có chế tài, không có trách nhiệm giải trình thì chỉ là lý thuyết xuông. Giải trình không phải là “xin rút kinh nghiệm sâu sắc”.

Nó đòi hỏi hai yếu tố: Trả lời và Chế tài. Khi một sự việc vi phạm pháp luật hoặc quy định xảy ra , phải có người chịu trách nhiệm, bị cách chức, bị truy tố hoặc phải bồi thường.

Khi không có những thông tin ấy, công chúng – đặc biệt là thế hệ Gen Z sẽ tự điền vào khoảng trống bằng những giả thuyết tiêu cực nhất, những thuyết âm mưu cực kỳ đa dạng.

Họ nhìn thấy ông N.S.C, cựu đại biểu Q.H, là tài xế, chủ xe BMW gây ra tai nạn thương tâm dường như không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì cho hành vi của mình, dù điều đó đôi khi chưa chắc đã đúng.

Thế nhưng, kết luận ấy có thể đúng, hoặc sai, nhưng theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng việc để cho khoảng trống ấy tồn tại quá lâu là điều cần tránh.

Suy cho cùng, minh bạch đi kèm với trách nhiệm giải trình không phải là công cụ để làm vừa lòng dư luận, nó là công cụ để bảo vệ chính thể chế khỏi sự nghi ngờ có cơ sở.

Sự im lặng kéo dài của cơ quan chức năng, báo chí chính là điểm làm suy yếu sự minh bạch một cách nghiêm trọng nhất.

Trong quản trị tốt, minh bạch không chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối – khi có bản án hay quyết định đình chỉ vụ việc.

Việc không lên tiếng trong những trường hợp như thế này không bảo vệ ai, nó chỉ làm xói mòn niềm tin của tất cả các bên, tệ hơn là dẫn tới một cuộc khủng hoảng truyền thông mất kiểm soát mà thôi!

P/S: Mình chỉ thấy chạnh lòng, thương xót cho con bé còn cả tuổi xuân, tương lai phía trước, Để rồi bỗng một ngày mở mắt thấy mình trong viện, và ngó xuống dưới chẳng có gì cả,…

Rồi em Cố Gắng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng trước khi rời xa thế giới tươi đẹp này!


 

CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT… Nguyễn Thị Oanh

CHUYỆN THIÊN HẠ

 CUỘC DI CƯ ĐẾN BAO GIỜ CHẤM DỨT…

Nguyễn Thị Oanh

Cuối cùng cũng đến ngày em gái út cùng chồng và con sang Mỹ định cư. Thế là lại thêm một gia đình người thân nữa của tôi rời bỏ đất nước này.

43 tuổi, em đang có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nhà nước với mức thu nhập vài chục triệu đồng mỗi tháng. Hai vợ chồng có biệt thự, xe hơi và chồng còn sở hữu một cơ ngơi làm ăn riêng, tuy nhỏ nhưng cũng đáng để cho nhiều người phải mơ ước. Vậy mà điều gì đã khiến các em bỏ hết mọi thứ và dắt díu ba đứa con nhỏ dại từ giã quê hương để bắt đầu làm lại cuộc sống nơi xứ người cách đây nửa vòng trái đất? Câu trả lời nghe vẫn quen thuộc như nhiều lần tôi đã từng nghe: “Vì tương lai con cái!”

Vâng! Đó là lý do mà rất nhiều người Việt trong dòng chảy nhập cư nước ngoài những năm gần đây thường  nêu lên để giải thích cho việc ra đi của mình. Thật chua chát khi hơn 48 năm sau ngày 30-4-1975, ký ức “thuyền nhân” lại trở về dưới một dạng thức khác. Lần này, các “thuyền nhân” ra đi không phải trong tâm thế trốn chạy hoảng loạn, vội vã mà là được cân nhắc, chuẩn bị cẩn thận. Không phải trên những chiếc thuyền lênh đênh đầy bất trắc mà là trên những chuyến bay tiện nghi, an toàn. Không phải lén lút, vô định mà là công khai và được chuẩn bị sẵn mọi thứ cho đến khi cầm visa trong tay mới lên đường. Các công ty tư vấn nhập cư dạo này nhan nhản khắp nơi với những chương trình mời gọi đi định cư châu Âu, Mỹ, Canada, Úc

Giờ gặp nhau, người ta hỏi thăm đã có PR (permanent resident) của nước nọ nước kia chưa, như một điều bình thường! Người có tài tìm đường đi theo dạng skill worker hoặc doanh nhân khởi nghiệp. Người có tiền thì bỏ tiền ra mua quốc tịch hoặc “thẻ xanh” cho nhanh. Người ít cả tiền và tài thì hy vọng kiếm được một suất đi lao động nước ngoài rồi tìm đường ở lại bằng đủ cách. Lớp trẻ đi du học hầu hết cũng không muốn trở về. Năm 2014, báo chí thông tin có 12/13 quán quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” không trở về nước sau khi kết thúc thời gian du học ở Úc với học bổng toàn phần cho người chiến thắng chung cuộc. Con số đó đến nay chắc đã tăng thêm sau bốn năm.

Tháng 7-2017, Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ công bố báo cáo hằng năm cho thấy Việt Nam đứng trong top 10 nước hàng đầu mua nhà tại Mỹ. Trả lời BBC, tổ chức này cho biết chỉ trong thời gian từ tháng 4-2016 đến tháng 3-2017, công dân Việt Nam đã mua bất động sản tại Mỹ trị giá lên tới 3,06 tỷ USD. Đó là mới tính số tiền chuyển đi để mua nhà tại Mỹ chứ chưa tính ở các nước khác và tất nhiên, đó cũng chỉ là phần nổi của tảng băng! Đất nước như một bao gạo bị thủng để trí lực, tài lực cứ chảy dần ra nước ngoài cho đến khi rỗng ruột. Quê hương chôn nhau cắt rốn ở đây mà dường như chỉ là chốn dừng chân tạm bợ với rất nhiều người Việt bây giờ…

Làm sao có thể trách em tôi cũng như hàng triệu người dân khác đã và đang tính bỏ nước ra đi? Bởi cái lý do “vì tương lai con cái” nghe nhẹ bâng vậy mà trĩu nặng quá chừng! Sự lo toan và hy sinh vô bờ cho con cái vốn là nét văn hoá đặc trưng của người Việt. Những bậc cha mẹ thuộc nhiều thế hệ đã trải qua các cuộc chiến tranh trên đất nước nhỏ bé này, càng khổ cực nhiều ở đời mình lại càng thấm thía sâu sắc ước mơ về một cuộc sống bình yên và hạnh phúc cho đời con cháu. Nhưng nỗi lo bây giờ không còn là chuyện cơm ăn áo mặc hàng ngày cho phần “con”, như trong thời kỳ phải thắt lưng buộc bụng vì chiến tranh và sự mông muội. Nỗi lo bây giờ là về chất lượng cuộc sống cho nhu cầu của phần “người”. Có  thể nào sống an yên khi môi trường bị phá hoại tàn khốc, tài nguyên đất nước bị khai thác tới cạn kiệt, thực phẩm bẩn tràn lan khắp nơi và tham nhũng thì như ổ dịch bệnh hoành hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài? Có thể nào sống hạnh phúc khi nền giáo dục và y tế ngày càng xuống cấp, các phúc lợi xã hội không chỉ kém chất lượng mà còn tiếp tục giảm sút, các giá trị văn hoá – đạo đức bị tha hoá và đảo lộn?

Bây giờ, bước ra đường là thấy lo: Lo nạn cướp giật, móc túi; lo tai nạn giao thông; lo ăn uống bị ngộ độc thực phẩm; lo hít khói bụi bị ung thư; lo bọn trẻ bị dụ dỗ sa vào ma túy hoặc bị xâm hại, bắt cóc… Cứ thế mà ngút ngàn triền miên lo. Thà chỉ phải lo cơm áo như ngày xưa còn dễ hơn bội phần! Xã hội càng bất ổn, lòng người càng bất an. Làm sao có thể yên tâm để con cái lớn lên trong một môi trường sống như vậy? Chưa kể, những lời đồn đoán về một tương lai xám xịt của đất nước gắn với những thỏa thuận của Việt Nam và Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng là một trong những nguyên nhân gây hoang mang khiến cho nhiều người phải tính đường tháo chạy trước. 33 năm qua, Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn giữ bí mật, nhất quyết không công khai những nội dung đã ký kết với Đảng cộng sản và Nhà nước Trung Quốc trong Hội nghị Thành Đô. Vì thế, những đồn đãi càng ngày càng lan rộng, bất chấp mọi nỗ lực trấn an dân chúng của chính quyền. Và dù đã bước sang thế kỷ 21, thế nhưng nhà nước Việt Nam vẫn chủ trương quản lý, định hướng về tư tưởng và bưng bít thông tin không khác gì ở trong thế kỷ trước.

Hôm biết tin Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng, một người quen của tôi là tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính từng hăm hở từ Mỹ trở về nước cách đây 10 năm ngậm ngùi chia sẻ: “Em đã hoàn tất thủ tục cho cả gia đình trở lại Mỹ cách đây mấy tháng, nhưng vẫn còn cố nấn ná… Giờ thì phải ra đi thôi chị ạ, không thể để bọn trẻ lớn lên trong bầu không khí ngày càng ngột ngạt thế này…”. Bao nhiêu người trẻ có tri thức và nặng tình với quê hương đã “vội vã trở về, vội vã ra đi” như thế?

***

Hồi đi thăm Israel, tôi thường đứng lặng thật lâu trước hình ảnh những con tàu hồi hương hiện diện khắp mọi nơi, như một niềm kiêu hãnh trong lịch sử lập quốc của đất nước này. Đó là những chuyến tàu từ châu Âu, châu Mỹ… đưa hàng triệu người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới trở về xây dựng quê hương sau khi Israel chính thức được thành lập vào năm 1948. Những gương mặt người Do Thái hồi hương khi ấy còn vương nét nhọc nhằn sau Thế chiến, nhưng vẫn bừng sáng niềm hy vọng vào tương lai và ý chí quyết tâm kiến thiết quốc gia. 75 năm sau khi lập quốc, ngày nay Israel đã trở thành một trong số các quốc gia phát triển hàng đầu và là nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới (tính theo GDP danh nghĩa năm 2016). Những chuyến tàu hồi hương ngày đó đã mang về cho quốc gia này vốn liếng quý nhất là những con người tinh hoa để xây dựng thành công một đất nước đã từng không có tên trên bản đồ thế giới.

Còn chúng ta? Sau ( 1945 ) 78 năm thành lập và thống nhất đất nước (dài hơn thời gian lập quốc của Israel), những chuyến tàu (cả tàu thuỷ và máy bay) sao lại chỉ mang dân ta ra đi mà không có trở về? Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như gắn liền với các cuộc di dân, nhưng chua xót hơn là cho tới tận bây giờ, những cuộc di dân ra nước ngoài vẫn chưa biết bao giờ mới dừng lại? Bao câu hỏi cứ quay quắt trong tôi khi nghĩ đến em gái. Ngoài kia, trời Sài Gòn vẫn vần vũ mưa. Tiếng hát Thái Thanh vọng từ nhà ai đó nghe nức nở: “Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui,  khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”.

Và trong tôi, không hiểu sao cứ thấp thoáng khôn nguôi hình ảnh những con tàu hồi hương về Israel cùng những con tàu ly hương rời Việt Nam.

Nguyễn Thị Oanh

Việt Luận copy


 

‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

BBC News Tiếng Việt

 ‘NỮ TƯỚNG’ LÊ THỊ THU THỦY RỜI BAN LÃNH ĐẠO CẤP CAO VINGROUP

Gần ba năm trước, tại New York, Hoa Kỳ, bà Lê Thị Thu Thủy tham gia màn IPO của VinFast trong vai trò tổng giám đốc của hãng xe điện Việt Nam – sự kiện được truyền thông khi đó mô tả là “mang chuông đi đánh xứ người”.

Thế nhưng, chưa đầy ba năm sau, khi “giấc mơ Mỹ” chưa thành hiện thực, người phụ nữ này đã rời khỏi các chức vụ từng đảm nhiệm, gồm tổng Giám đốc VinFast toàn cầu (2021–2024) và Chủ tịch HĐQT VinFast (2024–2026).

Truyền thông Việt Nam từng dùng hàng loạt mỹ từ để mô tả bà như “nữ hổ tướng”, người “thách thức” Elon Musk, “bông hồng gai”, người giúp VinFast “vươn tầm thế giới”,…


 

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Ngày 4/8/2026, Công an xã Mường Phăng triệu tập hai công dân L.T.Đ và L.T.A. Lý do: họ đã bấm theo dõi trang Facebook “Hoàng Dũng”.

Không phải chia sẻ bài viết. Không phải bình luận. Không phải viết status thể hiện quan điểm. Chỉ đơn giản là bấm nút theo dõi, một hành động mà hàng triệu người dùng mạng xã hội thực hiện mỗi ngày mà không hề nghĩ đó có thể là vấn đề.

Hãy dừng lại và suy nghĩ về điều đó. Theo dõi một trang Facebook có nghĩa là bạn muốn thấy nội dung của trang đó xuất hiện trên newsfeed của mình. Nó không có nghĩa là bạn đồng ý với mọi thứ trang đó đăng. Nó không có nghĩa là bạn tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của trang đó. Nó chỉ đơn giản là một cú click để theo dõi thông tin, giống như bạn theo dõi hàng chục, hàng trăm trang khác về ẩm thực, du lịch, giải trí, tin tức.

Khi hành động đơn giản đó đủ để bị triệu tập lên đồn công an, thì ranh giới của những gì được coi là bình thường trên mạng xã hội đã bị thu hẹp đến mức đáng báo động.

Lý do được đưa ra thường là phòng ngừa thông tin xấu độc. Nghe có vẻ hợp lý ở bề mặt. Nhưng ai quyết định thông tin nào là xấu độc? Dựa trên tiêu chí nào? Có quy trình minh bạch nào để một trang mạng xã hội được xác định là nguồn thông tin xấu độc hay không, hay quyết định đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc trang đó có đăng tải điều gì khiến ai đó không hài lòng?

Khi không có tiêu chí rõ ràng, thì bất kỳ trang nào, bất kỳ quan điểm nào khác với luồng chính thống đều có thể bị gán nhãn xấu độc, và bất kỳ ai theo dõi trang đó đều có thể trở thành đối tượng bị triệu tập.

Quyền tự do ngôn luận không chỉ là quyền được nói. Nó còn bao gồm quyền được nghe, được tiếp cận thông tin đa chiều, được tự mình quyết định nguồn tin nào mình muốn theo dõi và tự mình đánh giá độ tin cậy của thông tin đó. Đó là quyền cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Khi việc theo dõi một trang thông tin trở thành hành vi có thể bị triệu tập, thì quyền tiếp cận thông tin đa chiều đó không còn tồn tại trên thực tế nữa, dù nó vẫn được ghi trong văn bản pháp luật.

Có một nghịch lý đáng chú ý trong cách xử lý này. Nếu nội dung trên trang Facebook đó thực sự sai sự thật, thực sự nguy hiểm, thực sự cần được ngăn chặn, thì cách xử lý hợp lý là chứng minh nó sai, phản bác bằng thông tin chính xác, hoặc xử lý người quản lý trang đó theo đúng quy trình pháp lý.

Nhưng việc truy tìm và triệu tập những người chỉ đơn thuần theo dõi trang đó lại là một cách tiếp cận khác hoàn toàn. Nó không nhằm vào nguồn thông tin. Nó nhằm vào người tiếp nhận thông tin. Và điều đó tạo ra hiệu ứng răn đe rộng hơn nhiều: không chỉ người viết phải sợ, mà cả người đọc cũng phải sợ.

Khi nỗi sợ đó lan rộng, điều gì sẽ xảy ra? Người dân sẽ tự kiểm duyệt không chỉ những gì họ viết, mà cả những gì họ đọc, những gì họ theo dõi, những trang nào họ dám bấm like. Không gian thông tin sẽ dần thu hẹp lại, không phải vì bị cấm một cách công khai và rõ ràng, mà vì mỗi người tự rút lui khỏi những nguồn thông tin có thể mang lại rủi ro, dù họ không biết chính xác rủi ro đó là gì.

Các chuyên gia pháp lý quốc tế đã nhấn mạnh rằng quyền tự do thông tin là nền tảng của một xã hội văn minh. Việc quy chụp hành vi theo dõi một trang cá nhân thành vi phạm pháp luật không bảo vệ được trật tự xã hội. Nó chỉ cho thấy sự bất an của một hệ thống trước những tiếng nói độc lập, trước khả năng người dân tự tiếp cận thông tin và tự hình thành quan điểm của riêng mình mà không cần thông qua kênh chính thống.

Một hệ thống tự tin vào tính đúng đắn của mình không cần phải sợ một nút like. Khi nó sợ, đó chính là lúc câu hỏi về sự tự tin đó cần được đặt ra nghiêm túc nhất.


 

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

Chân Trời Mới Media

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

“Phản động”, “thế lực thù địch” đó là những cụm từ mà công an Việt Nam dùng để gán cho những người bất đồng chính kiến. “Các đối tượng thiếu hiểu biết”, “tiếp tay cho phản động” là những cụm từ dùng để gán tội cho những người tương tác với các kênh truyền thông độc lập. Vì thế, đây không còn là chiến dịch trấn áp, mà còn là một nỗi sợ. Vậy, tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại “sợ” truyền thông?

Vừa qua vào ngày 5/08/2026, Bà Nguyễn Phương Hằng đã livestream trên nền tảng tiktok thu hút hơn 2 triệu lượt xem trước khi bị đánh sập. Trong nội dung livestream, có đoạn bà nhắc đến bê bối của các cựu quan chức của Việt Nam với cái tên “anh Hai”, “anh Ba”, “anh Tư”, “anh Bảy”. Dư luận nhận ra bà đang muốn nhắn đến ông Lê Thanh Hải, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Xuân Phúc. Nên phiên livestream diễn ra được khoảng một tiếng thì bị đánh sập do “đưa tin thiếu kiểm chứng”.

Một phiên live thu hút được hàng triệu view, một con số được cho là quá lớn. Nội dung thì lại thu hút dư luận, các cái tên được Bà Hằng nhắc đến, dư luận hiện tại vẫn đang bàn tán xôn xao. Vì thế, nhiều người nhận định, đó là lý do tại sao nhà cầm lại “sợ” truyền thông. Vì sức ảnh hưởng thì quá lớn, mà lại còn nằm ngoài sự kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước, nên “sợ là phải”.

#NguyenPhuongHang #Livetream #chantroimoi