Cô H’Linh Hmok, 38 tuổi. là nữ tiến sĩ khoa học đầu tiên của người Ê đê

My Lan Pham

 Cô H’Linh Hmok, 38 tuổi trong hình hiện là tiến sĩ Vật lý, giảng viên Đại học QGTT Mexico. Cô xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở thị trấn Ea Drăng (Ea H’leo, Đắk Lắk) và được coi là nữ tiến sĩ khoa học đầu tiên của người Ê đê. Con đường của cô từ quê nhà Ea Drang tới ngày hôm nay rất dài, nhưng đầy ấn tượng và đáng khâm phục, theo tin từ nhiều báo và mạng xa hoi.

Cha mẹ của H’Linh có 4 con. Tuổi thơ của cô đầy thiếu thốn: “Nhà mình nghèo, không có đủ ván để che bốn bức tường, không đủ tôn để lợp trên mái nên mỗi lúc mưa thì nhà lại dột. Nước chảy lênh láng, ướt cả giường ngủ. Nhiều đêm, 6 thành viên trong gia đình ngồi co ro với miếng áo mưa che lơ lửng trên đầu. Những lúc nhà hết gạo, H’Linh và các em phải đi ngủ với cái bụng đói cồn cào”. Cô tâm sự trên báo SVVN.

Cô bé Ê đê này rất cực khổ để không bị thất học. Cô ráng đi xin lại sách cũ của các bạn đã học lớp trước để lại, tìm giấy nháp đóng thành vở học bài. Từ lớp 6 trở đi, vào mùa hè, cô đi nhổ cỏ, lượm cà phê, rửa chén bát cho quán bún phở để có tiền mua sách bút. Dù làm gì, H’Linh đều tranh thủ học bài. Kết quả cô học hết cấp 2 và thi đậu trung học nội trú N’Trang Long, tỉnh Đắk Lắk.

Được đi học ở đây khiến cuộc sống của cô tốt hơn. Cô có đủ sách vở để học, được thày cô chăm sóc tử tế. Cuối cùng cô thi đậu vào khoa  SP Vật lý của ĐH Tây Nguyên. Vào đại học là phải đối mặt với phương pháp học mới, trong khi nhà rất nghèo, có những lúc cô muốn gục ngã. Nhưng rồi H’Linh lại ráng vượt qua để trở thành sv đứng đầu lớp, và ở trong top 10 của khoa.

Cơ hội rất mong manh đến với cô khi Khoa Vật lý của Đại học La Habana, Cuba qua đại học Tây Nguyên cấp 1 suất học bổng duy nhất. H’Linh apply với mọi nỗ lực cao nhất… Và may mắn mỉm cười với cô. Cô được nhận qua Cuba học tập với học bổng toàn phần một năm học ngoại ngữ và 5 năm học chuyên ngành.

Niềm vui chưa tới bao lâu thì cha cô lâm bạo bệnh và mất. Cô cho biết khi đó gia đình cô đang lúc khó khăn đến cùng cực: “Tin mừng mở ra một cơ hội quý giá nhưng làm sao mình có thể đi du học, khi ngay đến tiền làm hồ sơ cũng không có? Mùa hè ấy, mình đi dọn cỏ thuê ở các rẫy cà phê, cực quá mà tiền công chỉ 20 nghìn đồng một ngày. Mình khóc trong tuyệt vọng nhưng rồi mình nghĩ đến bố, nghĩ về tương lai, nghĩ về ước mơ của mình. Không thể đầu hàng.” Mẹ cô đi vay tiền cho con từ quê đi xe đò 100 km về Buôn Ma Thuột để tìm cách có tiền làm hồ sơ. Và cuối cùng cô đã thuyết phục được tỉnh nhà giúp đỡ.”

1 tháng sau, cô gái trẻ đang chịu tang cha đó lên đường đi du học. Đây là lần đầu tiên cô được ra khỏi biên giới quốc gia, bay vượt nửa vòng trái đất, với nỗi mất cha vẫn nhức nhối bên trong.

6 năm đi du học là 6 năm gian khổ. Nhưng với H’Linh, được đi học là một niềm hạnh phúc. Cô học rất chăm chỉ, chịu khó, vừa học, vừa tham gia nghiên cứu khoa học, viết các bài báo chuyên ngành. Kết quả, cô tốt nghiệp cử nhân loại giỏi.

Không chấp nhận dừng lại, cô muốn mình đi xa hơn. H’Linh apply và tiếp tục nhận được học bổng toàn phần của Hội đồng Khoa học và Công nghệ Quốc gia Mexico để học lên thạc sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Giáo dục đại học của Ensenada, Mexico. Cô chuyển qua Mexico học và sau khi tốt nghiệp thạc sỹ, thì thi đậu học bổng tiến sĩ. Cô đã hoàn tất và thi lấy bằng tiến sỹ ở ĐHQG Mexico, sau đó theo học sau tiến sĩ và trở thành giảng viên của trường.

Nay thì cô đã đi được nhiều nơi, làm nhiều việc. H’Linh tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các vật liệu ferroics và multiferroics không chứa chì. Đây là hướng nghiên cứu nhằm giảm thiểu tác động độc hại của kim loại này đối với sức khỏe con người và môi trường, đặc biệt trong các lĩnh vực như thiết bị điện tử và cảm biến thông minh. Cô từng tham dự nhiều hội nghị khoa học tại Mỹ, châu Âu, và thêm nhiều hiểu biết.

Giờ đây cô tha thiết muốn có thêm những nữ sinh dân tộc làm được như mình. “Là người con của Tây Nguyên, mình mong muốn truyền cảm hứng cho các bạn trẻ, đặc biệt là nữ sinh dân tộc thiểu số, để các bạn tin vào giáo dục, khoa học và khả năng thay đổi tương lai của chính mình. Hãy dám mơ lớn và hành động. Nếu không có cơ hội, hãy tự tìm hoặc tạo ra cơ hội. Nếu không có ai dẫn đường, hãy mạnh dạn bước đi trước. Mỗi bước nhỏ bạn đi hôm nay đều đưa bạn đến một tương lai tốt đẹp hơn.” H’Linh nói trên báo TPO.

Một cô gái thông minh, xinh đẹp và đầy can đảm. Xin chúc mừng cô và mong rằng ngày càng có nhiều cháu học sinh, sinh viên có thể học hỏi được những điều thú vị và bổ ích từ H’Linh.

Nguyễn Thị Bích Hậu

Hình của H’Linh tại thư viện ĐHQGTT Mexico, tại lễ TN tiến sĩ, và tại 1 hội nghị khoa học ở California, Mỹ – đăng trên các báo VNN, TPO, SVVN

From: Bang Uong


 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Buồn – Tưởng năng Tiến / STTD 

Người Việt rất hay buồn. Họ buồn đủ chuyện, đủ thứ, đủ cách, đủ kiểu, đủ loại và buồn dài dài: buồn chồng, buồn vợ, buồn con, buồn chuyện gia đình, buồn chuyện nước non, buồn chuyện tình duyên, buồn trong kỷ niệm, buồn tình đời, buồn nhân tình thế thái, buồn thế sự đảo điên, buồn tàn thu, buồn tàn canh gió lạnh … 

Đó là chưa kể những nỗi buồn, buồn lãng xẹt: buồn trông con nhện giăng tơ, buồn trông cửa bể chiều hôm, buồn trông nội cỏ rầu rầu, buồn trông con nước mới sa … 

Lúc nào và ở đâu dân Việt cũng đều có thể buồn được cả (ngoại ô buồn, thành phố buồn, đô thị buồn) và họ luôn luôn buồn quá mạng, buồn thê thảm, buồn dữ dội, buồn da diết, buồn thảm thiết, buồn tê tái, buồn miên man, buồn mênh mông, buồn man mác, buồn nát tâm tư, buồn rười rượi, buồn nẫu ruột, buồn muốn chết, buồn muốn khóc, buồn thấy mẹ, buồn tận mạng, buồn quá xá, buồn quá trời, buồn thỉu buồn thiu, buồn hết biết luôn … 

Nói tóm lại là người Việt buồn muôn thuở, buồn quanh năm, buồn suốt tháng, bất kể ngày đêm: ngày buồn tênh, đêm buồn tỉnh lẻ, khuya phố thị buồn, chiều chủ nhật buồn … Toàn là những nỗi buồn ngang, buồn bất chợt, buồn vô cớ, buồn vào hồn không tên, buồn mà không hiểu vì sao mình buồn nhưng họ đều buồn thiệt và buồn lắm lận. 

Chỉ có nỗi buồn về mùa màng thời tiết thì dân Việt mới nêu rõ nguyên do và ghi khá rõ – từ lâu – qua những câu lục bát truyền thống rất nhịp nhàng, và khá điệu đàng: 

Buồn về một nỗi tháng giêng

Con chim, cái cú, nằm nghiêng thở dài

Buồn về một nỗi tháng hai

Đêm ngắn, ngày dài, thua thiệt người ta

Buồn về một nỗi tháng ba

Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừ

Buồn về một nỗi tháng tư

Con mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ăn

Buồn về một nỗi tháng năm

Chửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêu 

 Riêng tôi thì vì đã quá già (có ngủ nghê gì được mấy đâu) nên đêm dài lắm. Nghe tiếng “gà gáy, chim kêu” còn mừng là đằng khác. Bởi thế, tôi chả hề phiền hà gì “về nỗi tháng năm”. Có buồn chăng – chả qua – chỉ vì chút dư âm của tháng tư (thôi) nhưng cứ buồn hoài và buồn lắm. 

Ngoài chút phiền lòng vì “nắng lửa, lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn”, tôi còn buồn lòng không ít vì cả nước chợt ồn ào và náo nhiệt một cách giả tạo và gượng gạo. Khắp nơi bỗng đều đỏ rực một mầu, ngó mà ớn chè đậu: 

– Rực rỡ cờ hoa chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam

– Họp mặt kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

– Treo cờ và khẩu hiệu tuyên truyền kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Giao lưu văn nghệ chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước

– Triển lãm ảnh kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng miền Nam

– Sôi nổi hoạt động chào mừng Kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước 

Thiên hạ, xem ra, không được “sôi nổi” gì cho lắm: 

– Thái Hạo: “Anh em trong nhà, đánh nhau một trận, năm mươi năm sau’ còn ăn mừng chiến thắng. Đó là tiểu khí của người nhỏ nhen”. 

– Nguyên Tống: “Cùng là anh em nòi giống Việt, đánh nhau đến tan cửa nát nhà rồi ăn mừng mãi cái ngày đó thì làm sao mà hoà giải dân tộc được?!” 

– Nguyễn Hữu Vinh: “Quan sát hiện tượng này, người ta có cảm giác rằng đảng giống như một con nghiện. Nhân tố gây nghiện ở đây là bạo lực, là hình ảnh của sự tàn bạo, sự giết chóc để thỏa mãn bản chất bạo lực của Đảng, của Giai cấp vô sản chuyên nghề lật đổ và cướp từ chính quyền cho đến lợi ích, tài sản.” 

– Nguyễn Thông: “Kiểu kỷ niệm, diễu hành, phô trương như thế này, xưa chỉ thấy ở đám phát xít Đức, về sau rõ nhất ở Triều Tiên … Hãy sống với thế giới văn minh chứ đừng mãi man rợ cờ phướn như thế.” 

– Phạm Quang Trung: “Anh em đánh nhau một trận rồi thôi, cười khì…đàng này đã 50 năm rồi mà vẫn tiệc tùng ăn mừng chiến thắng! Vậy là sao ta!?” 

Câu hỏi thượng dẫn khiến tôi nhớ đến chuyến viếng thăm tiểu bang Hawaii của TT Nhật bản Shinzo Abe, và bài diễn văn ông đọc vào ngày hôm sau (26 tháng 12 năm 2016) tại Trân Châu Cảng. Xin trích dẫn đôi đoạn, theo bản văn của dịch giả Nguyễn Quốc Vương: 

“Đấy là nơi tôi đã cúi đầu mặc niệm. Nơi đang khắc tên những người lính đã mất… Mỗi người lính đều có bố có mẹ lo lắng cho mình. Họ cũng có người vợ yêu thương và người yêu. Và có lẽ họ cũng có cả những đứa con mà họ đang háo hức với sự lớn lên từng ngày của chúng. 

Tất cả những tâm tư ấy đã bị cắt đứt. Khi nghĩ đến sự thật nghiêm trọng ấy và cảm nhận sâu sắc nó, tôi đã không thể thốt nên lời. Hỡi những linh hồn, xin hãy ngủ yên! Tôi, với tư cách là đại diện cho quốc dân Nhật Bản đã thả hoa xuống biển nơi những người lính đang an nghỉ với cả tấm lòng thành… 

Tôi, với tư cách là thủ tướng Nhật Bản, xin được gửi lời chia buồn chân thành mãi mãi tới linh hồn của những người đã bỏ mạng ở mảnh đất này, tới tất cả những người dũng cảm đã bỏ mạng bởi cuộc chiến tranh bắt đầu từ đây và cả linh hồn của vô số người dân vô tội đã trở thành nạn nhân của cuộc chiến tranh. 

Tấn thảm kịch của chiến tranh sẽ không bao giờ được lặp lại. Chúng tôi đã thề như thế. Và rồi sau chiến tranh, chúng tôi đã xây dựng nên quốc gia tự do, dân chủ, tôn trọng pháp trị và duy trì lời thề bất chiến một cách chân thành. 

Khi chiến tranh kết thúc, lúc Nhật Bản trở thành cánh đồng cháy trụi mênh mông và khổ sở trong tận cùng của nghèo đói, người đã không hề ngần ngại gửi đến thức ăn, quần áo là nước Mỹ và quốc dân Mỹ. Nhờ những tấm áo ấm và sữa mà quý vị gửi đến mà người Nhật đã giữ được sinh mệnh tới tương lai… 

Và rồi nước Mỹ cũng đã mở cho Nhật Bản con đường trở lại cộng đồng quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của nước Mỹ, chúng tôi, với tư cách là một thành viên của thế giới tự do đã được hưởng thụ hòa bình và sự phồn vinh. 

Tấm lòng khoan dung rộng lớn, sự giúp đỡ và thành ý như thế của quý vị đối với người Nhật chúng tôi, những người đã từng đối đầu quyết liệt như kẻ địch đã khắc sâu trong lòng ông bà, bố mẹ chúng tôi. Cả chúng tôi cũng sẽ ghi nhớ điều đó. Cả con cháu chúng tôi cũng sẽ kể mãi và không thể nào quên… 

Đã 75 năm sau trận ‘Trân Châu cảng’. Nhật Bản và nước Mỹ, những nước đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc trong lịch sử, đã trở thành hai nước đồng minh gắn bó với nhau mạnh mẽ và sâu sắc hiếm có trong lịch sử… Thứ gắn kết chúng ta chính là ‘sức mạnh của hòa giải’, the power of reconciliation, thứ do lòng khoan dung mang lại.” 

Người Nhật và người Mỹ không đợi đến ngày nay mới quyết định ‘bỏ đi sự thù hận và nuôi dưỡng tình bạn’. Ngay sau khi Thế Chiến Thứ II vừa chấm dứt, họ (kẻ thắng/người thua) đã nắm tay nhau để tạo nên “sức mạnh của tinh thần hòa giải” và sự “khoan dung” gần trăm năm nay. 

Chiến tranh VN cũng đã chấm dứt 50 năm (rồi) nhưng không biết đến bao giờ thì Bên Thắng Cuộc ở đất nước này mới thôi việc đình đám/cờ xí/tiệc tùng ăn mừng chiến thắng, thôi kỳ thị, và thôi kích động hận thù để hòa giải và hòa hợp với Bên Bại Cuộc? 

Nhân Tuấn Trương trả lời: “Tôi có thể kết luận (mà không sợ sai lầm) rằng đảng và nhà nước CSVN chưa bao giờ có chủ trương về hòa giải (hay HG&HH DT). Hòa giải-réconciliation” là hành vi chỉ có ở những dân tộc văn minh”. 

Nghe thế có buồn không? 

Buồn chớ và buồn lắm! Buồn muốn khóc luôn, buồn như chưa bao giờ buồn thế, buồn như không còn ai có thể buồn hơn được nữa. Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.

Tưởng năng Tiến / STTD

From: My Tran


 

Giá xăng tăng vọt, hàng trăm tài xế Uber, Lyft ở California bỏ nghề

Ba’o Nguoi – Viet

April 18, 2026 FacebookTwitterEmailPrint

LOS ANGELES, California (NV) – Cuộc chiến Iran đẩy giá xăng tăng vọt tại California, mức cao nhất toàn quốc, đang đẩy hàng trăm ngàn tài xế Uber và Lyft vào tình thế khó khăn, buộc nhiều người phải giảm giờ làm hoặc bỏ việc, theo bản tin của Los Angeles Times ngày Thứ Bảy, 18 Tháng Tư.

Dữ liệu từ American Automobile Assn., giá xăng trung bình tại California hiện gần $6 mỗi gallon, trong khi mức trung bình toàn quốc chỉ hơn $4. Một số trạm xăng tại Los Angeles thậm chí có giá hơn $8 cho mỗi gallon. 

Xăng trên $8/gallon ở Los Angeles, California, từ đầu Tháng Tư. (Hình: Mario Tama/Getty Images)

Giá xăng tăng vọt này diễn ra trong bối cảnh chiến tranh tại Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung cấp năng lượng toàn cầu, khiến chi phí nhiên liệu leo thang nhanh chóng, ảnh hưởng trực tiếp vào hoạt động làm việc của các tài xế trong dạng hành nghề tự do “gig” mà họ phải tự gánh chi phí vận hành. 

Ông John Mejia, một tài xế Lyft tại San Francisco Bay Area, cho biết thu nhập của ông giảm mạnh. Trước đây, ông có thể kiếm $400 chỉ trong ba giờ, nhưng hiện nay ông phải “cày” suốt 12 giờ mà chỉ được $200.

“Đó là bài toán kinh tế giữa việc trả ít cho tài xế và giá xăng,” ông Mejia nói. “Điều đó khiến mọi người phải bò nghề.” 

Không chỉ ông Mejia, nhiều tài xế khác cũng chia sẻ tình trạng tương tự. Bà Margarita Penalosa, tài xế toàn thời gian tại Los Angeles, cho biết trước đây bà có thể kiếm $300 trong tám giờ làm việc. Hiện nay, bà chỉ đạt khoảng $250 dù làm đến 14 giờ mỗi ngày.

“Trừ chi phí xăng, hao mòn xe và bảo trì, coi như tôi chỉ còn lại khoảng 11 đồng mỗi giờ,” bà nói. 

Trước áp lực chi phí, các tài xế buộc phải thay đổi cách làm việc. Nhiều người chọn lọc kỹ chuyến xe, tránh khu vực kẹt xe nặng, hoặc chờ những cuốc xe có giá cao hơn. Một số tài xế đang tính đến chuyện chuyển sang xe điện hoặc tìm nguồn thu nhập khác.

California hiện có hơn 800,000 tài xế làm việc theo dạng công nghệ, theo California Gig Workers Union. Với quy mô lớn như vậy, bất kỳ biến động nào về chi phí nhiên liệu đều có thể tạo ra ảnh hưởng lan rộng đến thị trường lao động và dịch vụ vận chuyển.

Các công ty như Uber và Lyft cho biết họ đã đưa ra một số biện pháp hỗ trợ, bao gồm hoàn tiền khi đổ xăng hoặc giảm giá thông qua các chương trình liên kết. Tuy nhiên, nhiều tài xế cho rằng các chương trình này có quá nhiều điều kiện, khiến lợi ích thực tế không đáng kể.

“Nếu tính toán kỹ, rất vô lý,” ông Mejia nói. “Họ không giúp gì cho chúng tôi cả.” 

Các chuyên gia kinh tế cảnh báo ngay cả khi nguồn cung dầu ổn định trở lại, giá xăng cũng khó giảm nhanh. Ông Mark Zandi, kinh tế gia trưởng tại công ty phân tích thị trường Moody’s Analytics, nhận định giá nhiên liệu thường “tăng như hỏa tiễn nhưng giảm như lông chim rơi,” ám chỉ quá trình giảm giá sẽ diễn ra chậm.

Trong bối cảnh đó, ngành dịch vụ gọi xe công nghệ có thể đối mặt với những thay đổi đáng kể. Nếu nhiều tài xế tiếp tục rời bỏ, các công ty có thể buộc phải tăng giá cước để giữ chân lực lượng lao động, càng thúc đẩy chi phí sinh hoạt tăng cao hơn nữa.

Sự việc phản ánh một vòng xoáy kinh tế quen thuộc đó là giá nhiên liệu tăng không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn trực tiếp tác động đến những người lao động ở mọi tầng lớp. (MPL) [dt]


 

 SỰ HY SINH THẦM LẶNG

Loc Duong

 SỰ HY SINH THẦM LẶNG

Sau khi hai Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và Nguyễn Thanh Long lần lượt bị mất chức và đi tù vì tham nhũng và buôn thuốc tây giả, chính phủ ta đã đưa một người không biết gì về y tế lên làm bộ trưởng. Đó là bà Đào Hồng Lan, người có khuôn mặt mũm mĩm, xinh ra phết, vốn là một nhà giáo đã có nhiều đóng góp cho ngành giáo dục nhưng rốt cuộc cũng chẳng đi đến đâu.

Vừa lên ngôi, bà tân Bộ trưởng đã phát động cuộc thi viết về “ Sự hy sinh thầm lặng” của ngành y tế. Giải thưởng rất hấp dẫn. Có nhiều bài viết gửi về. Trong số đó có bài của một em học sinh lớp 6  bị ném ngay vào thùng rác, giống như dân Facebook vẫn hay nói là “bị loại từ vòng gửi xe”. Bài viết của em như sau:

Người ta cứ bảo bác sĩ, y tá là lương y như từ mẫu, là những chiến sĩ thầm lặng, em thấy không đúng. Cả nước đều biết nếu không có phong bì hay tiền ứng trước viện phí, người bịnh sẽ có nhiều cơ hội bị bỏ nằm nhúc nhích ngoài hành lang, vừa thở vừa chờ cho tới sáng. Hay ai cần thay băng mà không lòi tiền bồi dưỡng ra, sẽ được các nhân viên y tế thay mạnh tay còn hơn đô vật…Cho nên em chỉ thấy những bịnh nhân bình thường như mẹ em mới xứng đáng đoạt danh hiệu “ sự hy sinh thầm lặng”.

Mẹ em là một cô giáo, ở trong trường thì được chính phủ gọi là kỹ sư tâm hồn, nhưng lúc mẹ em bị bướu cổ phải đi bịnh viện thì không khác gì một con chuột đang bị cả hệ thống y tế xúm vô hành hạ.

Mẹ em phải dậy sớm đi vô bệnh viện lúc 3 giờ rưỡi sáng để lấy số thứ tự. Ba em nằm trên giường cằn nhằn “ Chỉ có ăn trộm mới đi giờ này”.  Em cũng phải đi “ăn trộm” với mẹ em, vì ba em nói chiều nay mắc nhậu, không giữ em được.

Lấy số xong, mẹ em ngồi chờ tới trưa cũng không thấy đọc tên, trong khi có nhiều người tới sau thì lại được mấy cô y tá vui vẻ nắm tay dẫn vô trước. Có một ông ngồi ngủ gục cạnh mẹ em, lâu lâu mở một con mắt ra nói “Không có người quen giới thiệu, không có tiền khám dịch vụ thì chị ngủ một giấc đi cho khoẻ tấm thân ngà”.

Tới hồi nghe đọc tên, mẹ em mừng muốn khóc, mẹ chạy lại ô cửa sổ. Cô y tá, khuôn mặt nghiêm khắc, sau khi điền tên tuổi, giấy tờ xong, nói với mẹ em “Đóng viện phí rồi tới phòng khám số 6”. Mẹ em nhẹ nhàng hỏi “ Phòng số 6 ở đâu chị ?”. Cô y tá nạt “ Ở trong miệng chị chứ ở đâu. Đi ra ngoài mà hỏi”.

Tại đây, sau khi chờ mòn mỏi thêm nữa tiếng nữa, mẹ em được vô gặp bác sĩ. Ông bác sĩ, mồ hôi đầy trên mặt và nách, chắc tại phải làm việc quá sức. Nhìn ổng, em không thấy giống bác sĩ chút nào, mà thấy giống mấy người bán keo dán chuột. Bác sĩ hỏi “Bệnh sao?”. Mẹ em đang trình bày thì bác sĩ đã ghi xong toa thuốc, ông nói : “ Đi chụp X quang và mua thuốc”.

Mẹ em dẫn em ra ngoài, im lặng đi như một xác chết. Em hỏi mẹ :“ Sao mình chờ hết buổi sáng mà chỉ được gặp bác sĩ không tới 3 phút vậy mẹ ?”. Mẹ thở dài : “Ở đây, bác sĩ là chủ tịch nước. Con đói chưa, ra mẹ mua xôi con ăn rồi mình ghé quầy thuốc tây mua thuốc”. “ Mẹ không đi chụp phim hả mẹ”. “ Không kịp chiều nay đâu con ơi, người ta xếp hàng dài thế kia, để mai mẹ sẽ xin nghỉ dạy thêm một ngày nữa đi chụp”.

Tại quầy bán thuốc tây, cũng lại cảnh xếp hàng và chen lấn. Nhiều người ngồi luôn xuống đất cho đỡ mỏi chân. Em cũng ngồi nhưng mẹ em thì không. Chắc mẹ nghĩ trong bệnh viện mẹ vẫn là cô giáo chứ không phải bệnh nhân bướu cổ. Đứng lâu lắm thì mẹ cũng mua được một loại thuốc, còn hai loại khác người bán bảo rằng “ngành y tế đang thiếu thuốc, chị ra ngoài chợ đen mà mua”. Mẹ thất vọng, lảo đảo đi ra như người say nắng. Thời may, có một bà tiên mập mạp hiện ra trước mặt cứu nguy. Bà tiên móc từ trong áo ngực ra mấy vỉ thuốc : “Em có hai loại thuốc chị cần nè, chị lấy em để rẻ cho”. Nhưng mẹ em cám ơn và nắm tay em lôi đi. Mẹ bảo mẹ sợ mua nhầm thuốc giả của mấy con buôn.

Ngồi trên xe buýt về nhà, em thấy suốt ngày hôm nay khủng khiếp quá. Bịnh viện đông như kiến. Đông thế nhưng không kiếm ra một nụ cười. Ai cũng gắt gỏng. Ai cũng lê lết chầu chực để được khám qua loa. Mùi mồ hôi, mùi mấy người bịnh khiến em cũng muốn bịnh theo luôn. Vậy mà mẹ em vẫn im lặng chịu đựng. Lúc gần ra về, có cụ già nuôi bệnh, bị móc túi hết tiền, ngồi khóc lóc thảm thiết, mẹ em lẳng lặng lấy ra cho mấy ngàn, không nói một câu. Mẹ chỉ đổ quạu khi về tới nhà thấy ba em nằm say xỉn, ói tùm lum. Dọn đống ói xong, mẹ lại hấp tấp chạy đi mua nước chanh về cho ba uống giải rượu.

Nhìn theo bóng dáng mẹ chạy đi mua nước chanh, em thấy thương sự hy sinh thầm lặng của mẹ vô cùng, cho nên em viết bài dự thi này. Mong bà Bộ trưởng cho em được giải để em đưa hết tiền lãnh thưởng cho mẹ em trị bịnh bướu cổ. Chứ bịnh viện kiểu này, không có tiền thì chắc mẹ em chỉ có nước sống và trị bịnh bằng niềm tin.

Kính chúc bà Bộ trưởng dồi dào sức khoẻ, ngồi ghế được lâu, suy nghĩ được gì giúp ích cho dân nghèo bịnh hoạn, chứ đừng như ông Bộ trưởng trước, mới ngồi chưa nóng đít đã tham nhũng, phải vô khám ngồi bóc lịch mà nước mắt ổng cá sấu cứ rưng rưng.

Loc Duong


 

Việt Nam phải chấm dứt vi phạm nhân quyền — Chứ không chỉ “nói suông”

Ba’o Tieng Dan

09/04/2026

Mạng lưới Nhân quyền VN

Tuyên bố Chung của Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam và tổ chức Người Bảo vệ Nhân quyền

Thông cáo Báo chí

Ngày 7 tháng 4 năm 2026

Kể từ khi đảm nhận vai trò lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 8 năm 2025, ông Tô Lâm đã liên tục viện dẫn các ngôn từ về “thượng tôn pháp luật,” sự minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, những tuyên bố này lại không đi đôi với thực tế. Thay vào đó, chúng chỉ đóng vai trò như một lớp vỏ bọc che đậy cho một chiến dịch ngày càng gia tăng nhằm bịt ​​miệng những tiếng nói bất đồng và củng cố quyền kiểm soát.

Trong thời gian trước và sau Đại hội Đảng lần thứ 14, các cơ quan chức năng đã leo thang đàn áp trên khắp cả nước. Những công dân dám lên tiếng—dù là các nhà hoạt động, cựu tù nhân chính trị hay những người dùng mạng xã hội bình thường—ngày càng bị coi là mối đe dọa đối với nhà nước.

Leo thang đàn áp những người bất đồng chính kiến

Chỉ trong vòng sáu tháng qua, gần 30 nhà hoạt động đã bị bắt giữ, hầu hết đều dựa trên các điều khoản an ninh quốc gia mơ hồ được thiết kế để hình sự hóa việc bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa. Những đạo luật này đang được sử dụng đúng như mục đích ban đầu của chúng: trừng phạt công dân vì đã thực thi các quyền cơ bản được chính Hiến pháp Việt Nam và các cam kết quốc tế bảo đảm.

Mô hình này đã trở nên rõ ràng. Vào đầu tháng 3, cảnh sát Hà Nội đã bắt giữ cựu tù nhân lương tâm Lê Anh Hùng lần thứ ba theo Điều 117 (tuyên truyền chống Nhà nước). Vài tuần sau đó, chính quyền tại Đắk Lắk đã tuyên phạt cựu tù nhân chính trị Huỳnh Ngọc Tuấn mức án tám năm sáu tháng tù giam, tiếp theo là năm năm quản chế—cũng lại theo Điều 117. Đây không phải là những trường hợp đơn lẻ; chúng là một phần của chính sách đàn áp có hệ thống.

Gia tăng kiểm soát đối với truyền thông

Vào cuối tháng 3, Đảng đã chính thức hóa quyền kiểm soát của mình đối với các thể chế quốc gia chủ chốt—bao gồm Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam—bằng cách tái phân loại các cơ quan này thành những tổ chức trực thuộc Đảng. Các thể chế được tài trợ bằng ngân sách công giờ đây đã bị chuyển đổi mục đích một cách rõ ràng để trở thành công cụ phục vụ cho sự kiểm soát chính trị.

Đồng thời, công dân phải đối mặt với những khoản tiền phạt mang tính trừng phạt vì những phát ngôn trên không gian mạng. Trong một trường hợp điển hình, một cá nhân đã bị phạt 7,5 triệu đồng vì đưa ra dự đoán về việc giá nhiên liệu sẽ tăng—một nhận định hoàn toàn chính xác. Những hành động như vậy càng làm nổi bật một thực tế đơn giản: Chính sự thật cũng đang trở thành điều đáng bị trừng phạt.

Mở rộng giám sát và kiểm soát xã hội

Chính phủ đang nhanh chóng mở rộng bộ máy giám sát của mình, từ việc lắp đặt hàng loạt camera an ninh cho đến việc buộc công dân và các doanh nghiệp phải giao nộp dữ liệu cá nhân. Vấn đề ở đây không phải là an toàn công cộng mà là sự kiểm soát.

Làm trầm trọng thêm những lo ngại này, Bộ Công an đang thúc đẩy một nghị định quy định phạt tiền lên tới 70 triệu đồng đối với các cá nhân vì không “tự bảo vệ dữ liệu cá nhân của chính mình”. Quy định này vừa phi lý lại vừa nguy hiểm, thực chất là chuyển trách nhiệm của nhà nước sang cho công dân, đồng thời tạo ra những công cụ mới để áp đặt các hình phạt tùy tiện.

Kết luận và lời kêu gọi hành động

Khoảng cách giữa lời nói và thực tế tại Việt Nam đã trở nên hoàn toàn thiếu tin cậy. Những lời hứa cải cách của ông Tô Lâm trở nên sáo rỗng khi đối diện với thực trạng đàn áp có hệ thống đang diễn ra dưới sự lãnh đạo của ông.

Một xã hội ổn định và thịnh vượng không thể được xây dựng dựa trên nỗi sợ hãi. Xã hội đó đòi hỏi phải có sự tin cậy, trách nhiệm giải trình và sự tôn trọng đối với các quyền tự do cơ bản—bao gồm quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí.

Chúng tôi kêu gọi giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chấm dứt ngay lập tức việc đàn áp những người bất đồng chính kiến, bãi bỏ các đạo luật mang tính đàn áp, và cho phép xã hội dân sự độc lập hoạt động mà không bị can thiệp.

Chúng tôi cũng kêu gọi các chính phủ dân chủ và cộng đồng quốc tế không chỉ dừng lại ở những tuyên bố bày tỏ quan ngại, mà hãy thực hiện những hành động cụ thể. Việt Nam phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của mình theo luật nhân quyền quốc tế. Nếu không có những thay đổi thực chất, những tuyên bố về sự tiến bộ và phát triển sẽ vẫn bị lung lay tận gốc rễ bởi chính sách đàn áp liên tục của chính phủ đối với người dân của mình.

Nguyễn Bá Tùng, Giám đốc Điều hành Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam

Vũ Quốc Ngữ, Giám đốc Người Bảo vệ Nhân quyền

_______

Bản tiếng Anh: Vietnam Must End Human Rights Violations—Not Just “Walk the Talk”

Joint Statement by the Vietnam Human Rights Network and Defend the Defenders

Press release, April 7, 2026

Since assuming leadership of the Communist Party of Vietnam in August 2025, Mr. To Lam has repeatedly invoked the language of “rule of law, transparency, and accountability.” These statements do not match reality. Instead, they serve as a veneer for an intensifying campaign to silence dissent and consolidate control.

Escalating Crackdown on Dissidents

In just the last six months, nearly 30 activists have been arrested, most under vague national security provisions designed to criminalize peaceful expression. These laws are being used exactly as intended: to punish citizens for exercising basic rights guaranteed under Vietnam’s own Constitution and international commitments.

The pattern is clear. In early March, Hanoi police arrested former prisoner of conscience Le Anh Hung for the third time under Article 117 (“propaganda against the State”). Weeks later, authorities in Dak Lak sentenced former political prisoner Huynh Ngoc Tuan to eight years and six months in prison—again under Article 117. These are not isolated cases; they are part of a systematic policy of repression.

Increased Control over the Media

In late March, the Party formalized its control over key national institutions, including Vietnam Television, the Voice of Vietnam, and the Vietnam News Agency, by reclassifying them as Party-affiliated bodies.

At the same time, citizens face punitive fines for online expression. In one telling case, an individual was fined 7.5 million dong for predicting a fuel price increase—an entirely accurate statement. Such actions underscore a simple reality: truth itself is becoming punishable.

Expanding Surveillance and Social Control

The government is rapidly expanding its surveillance apparatus, from the mass installation of security cameras to forcing citizens to hand over private data. This practice is not about public safety; it is about control.

Compounding these concerns, the Ministry of Public Security is advancing a decree that would fine individuals up to 70 million VND for failing to “protect their own personal data.” This provision is as unreasonable as it is dangerous, effectively shifting state responsibility onto citizens while creating new tools for arbitrary punishment.

Conclusion and Call to Action

The gap between rhetoric and reality in Vietnam is no longer credible. Mr. To Lam’s promises of reform ring hollow in the face of systematic repression carried out under his leadership.

We call on the leadership of the Communist Party of Vietnam to immediately end the persecution of dissidents, repeal repressive laws, and allow independent civil society to operate without interference.

We further call on democratic governments and the international community to move beyond statements of concern and take concrete action. Vietnam must be held accountable for its obligations under international human rights law.

Tung Nguyen, Executive Director of Vietnam Human Rights Network

Ngu Vu, Director of Defend the Defenders


 

Huy Đức, tác giả ‘Bên Thắng Cuộc,’ sắp được đặc xá

Ba’o Nguoi – Viet

April 9, 2026

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tù nhân Trương Huy San, tự nhà báo Huy Đức, được ghi nhận có tên trong danh sách đặc xá nhân dịp 30 Tháng Tư mà ông Tô Lâm, tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Việt Nam, ký phê duyệt.

Facebooker Hoàng Dũng, người thạo tin về chính trường Việt Nam, cho biết tin này trên trang cá nhân hôm 9 Tháng Tư.

Bị cáo Trương Huy San, bút danh Huy Đức, được làm nhòe ảnh khi ra tòa. (Hình: TTXVN).

Ông Trương Huy San, 64 tuổi, thường được biết đến là nhà báo và blogger, từng công tác tại các báo Tuổi Trẻ, Sài Gòn Tiếp Thị.

Ông Huy Đức được biết đến là cây bút bình luận chính trị-xã hội sắc bén với trang blog Osin, đồng thời là tác giả của bộ sách “Bên Thắng Cuộc,” tường thuật các diễn biến chính trị tại Việt Nam sau ngày 30 Tháng Tư, 1975.

Tác phẩm này bị cấm phát hành tại Việt Nam.

Theo ghi nhận của Wikipedia, vào ngày 1 Tháng Sáu, 2024, ông Huy Đức được cho là “mất tích,” trong lúc mạng xã hội loan tin ông đã bị bắt. Cùng ngày, ông vắng mặt trong một sự kiện mà mình là diễn giả chính và người thân cũng không thể liên lạc được với ông.

Một ngày sau, trang Facebook “Osin Huyduc” của ông bị đóng không rõ nguyên do.

Sau đó một tuần, Bộ Công An Việt Nam xác nhận đã bắt ông Huy Đức và Luật Sư Trần Đình Triển với cùng cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

Vài ngày trước lúc bị bắt, ông Huy Đức có viết một số bài chỉ trích lãnh đạo Việt Nam.

Ông Trương Huy San lúc bị bắt. (Hình: Thanh Niên).

Cụ thể, ngày 26 Tháng Năm, 2024, ông đăng bài “Một quốc gia không thể phát triển dựa trên sự sợ hãi” trên trang cá nhân, chỉ trích sự tập trung quyền lực của Bộ Công An dưới thời ông Tô Lâm.

Hai ngày sau, ông đăng tiếp bài “Những suy nghĩ không rời rạc,” bình luận về các vấn đề pháp quyền tại Việt Nam và cho rằng việc tái lập các ban đảng thời Nguyễn Phú Trọng, lúc đó tại vị chức tổng bí thư, là “một bước lùi về chính trị.”

Tại phiên tòa sơ thẩm diễn ra vào ngày 27 Tháng Hai năm ngoái, ông Huy Đức thừa nhận tội danh bị truy tố và cho rằng trong 13 bài viết bị dùng để buộc tội ông, có “một số nội dung xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, của một số tổ chức, cá nhân.”

Tuy nhiên, ông khẳng định những bài viết của mình “không nhằm mục đích chống phá.”

Tòa Án Hà Nội kết án ông hai năm rưỡi tù, được coi là nhẹ hơn so với những bản án dành cho các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam. (N.H.K) [dt]

51 năm nhìn lại tháng 4 năm 1975.- Đoàn Xuân Thu

Đoàn Xuân Thu

51 năm nhìn lại tháng 4 năm 1975.

Ngày 20, tháng 12, năm 1960, CS Bắc Việt Nam lập tay sai là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (tức Việt Cộng)

Mục đích của VC là nhất quyết lật đổ chính quyền Miền Nam Việt Nam để dâng cho Cộng Sản Bắc Việt và quan thầy Nga Hoa.

Rồi cứ bốn năm một lần, CS Bắc Việt và tay sai mở ra những trận đánh lớn vào năm 1964, 1968, 1972, 1975 (chúng định là  năm 1976)

Nhưng suốt 15 năm, chiều dài cuộc chiến khốc liệt, thần chết hiếm khi chạm đến Sài Gòn. Ngoại trừ vài lần pháo kích, một số vụ đặt mìn khủng bố trên đường phố hoặc nhà hàng hay rạp hát…

Tuy nhiên cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân vào cố đô Huế và cuộc xâm nhập vào khuôn viên của Tòa Ðại sứ Mỹ ở Sài Gòn làm phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ bùng lên.

Tuy nhiên “Ta hồ! Thời vận bất tề, mệnh đồ đa suyễn” (Than ôi! Thời vận chẳng đều nhau, đường đời nhiều ngang trái).

Năm 1973, về chính trị, Tổng thống Richard Nixon đang càng lúc càng lún sâu vào vụ bê bối ‘Watergate’.

Về kinh tế, giá dầu thô tăng cộng với chi phí khổng lồ của cuộc chiến tranh làm lạm phát gia tăng. Hậu quả là: dẫu Sài Gòn đã được Nixon hứa hẹn, Quốc hội Mỹ vẫn cắt giảm quân viện. Số đạn pháo, số phi vụ yễm trợ chiến trường đang sôi động bị giảm dần theo từng tháng.

Ngược lại với sự tận tình chi viện của đàn anh CS Nga Hoa, CS Bắc Việt vét hết tài nguyên, nhân vật lực cho một chiến dịch kéo dài dự trù hai năm, tới năm 1976. Nhưng cuộc chiến tranh đẫm máu đã kết thúc chóng vánh chỉ trong vòng hai tháng.

Tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger, theo Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973, đã đồng ý rút quân đội Hoa Kỳ.

Nhưng ai cũng nghĩ không cần có lính Mỹ hiện diện (như ý của Tổng thống Ngô Đình Diệm) nếu vẫn được Hoa Kỳ tận tình giúp đỡ, Việt Nam Cộng Hoà vẫn có thể sống sót, ngăn chặn được CS Miền Bắc xích hóa Miền Nam tự do.

Quyết định của các cấp chỉ huy, rút quân khỏi Ban Mê Thuột, thủ phủ vùng Cao Nguyên, thuộc Quân Ðoàn 2, như một ván cờ ‘domino’, làm Huế, Ðà Nẵng thuộc Quân đoàn 1, sụp đổ theo sau.

Cảnh loạn lạc khủng khiếp khắp nơi theo từng bước chân của đồng bào tị nạn về Nam trốn chạy CS, cho dù những người lính Việt Nam Cộng Hòa anh dũng hy sinh chiến đấu trong vô vọng.

Hình ảnh một người cha cõng trên vai một đứa con trai, một túi đựng đồ đạc rời bỏ làng quê của mình gần Trảng Bom trên Quốc lộ số 1 về phía tây bắc Sài Gòn, ngày 23 tháng 4 năm 1975 gây nhiều xúc động.

Vào ngày 28, tháng 4, những tên CS nằm vùng bắt đầu lộ diện: như 1. Phạm Xuân Ẩn, phóng viên báo Time, là điệp viên CS.

  1. Phi công phản loạn Nguyễn Thành Trung hướng dẫn Không quân CS Bắc Việt ném bom làm Phi trường Tân Sơn Nhứt bị bốc cháy.

Ngày 28, tháng 4, năm 1975, tại phòng Bầu Dục, Tòa Bạch Ốc, sau cuộc họp với Phó Tổng thống Nelson Rockefeller, Ngoại trưởng Henry Kissinger và Cố vấn An ninh Quốc gia Brent Scowcroft, Tổng thống Gerald Ford ra lịnh bắt đầu Chiến dịch ‘Frequent Wind’ (Gió thường xuyên)

Ðài phát thanh Quân đội Mỹ ở Sài Gòn phát đi mật khẩu: “Nhiệt độ ở Sài Gòn là 105 độ và đang tăng lên” và bài “White Christmas” do Bing Crosby hát. Trong đó có câu: “I’m Dreaming of a White Christmas” (Tôi đang mơ một mùa Giáng Sinh trắng). Ðó là một ám hiệu truyền tin báo cho người Mỹ biết là: ‘Hãy sẳn sàng chờ để được di tản khỏi Sài Gòn trong cơn hấp hối!”

Cùng lúc đó, tại nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, hai người con gái, còn rất trẻ, đứng trầm ngâm trước mộ của một người thân, một tử sỉ mới được chôn cất, chìm sâu dưới ba tấc đất gây ra bao dòng nước mắt.

Một người lính VNCH bị thương tập tễnh chiếc nạng, trên tay còn băng bó, rán cầm theo vài hộp thức ăn. Hình ảnh biểu tượng cho môt quân đội đã một thời chiến đấu rất kiêu hùng, giờ tàn tạ trong nỗi tuyệt vọng cô đơn gây ra bao niềm chua xót.

Tại Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ trên Ðại lộ Thống Nhứt, đám đông kêu gào xin được vào. Lính Thủy quân lục chiến Mỹ kéo những người có giấy tờ chứng nhận vào; một mặt chặn những người còn lại.

Bức ảnh đen trắng của phóng viên người Hà Lan Hugh Van Es đã trở thành một hình ảnh mang tính biểu tượng, tượng trưng cho việc Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam.

(Vị trí của cuộc di tản này thường được xác định là sân thượng của Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ, nhưng thực tế không phải vậy. Những người trong ảnh đang ở trên tầng thượng của một chúng cư dành cho các quan chức CIA và gia đình.)

Ngoài khơi gần bờ biển Việt Nam, các nhân viên Hải quân Hoa Kỳ trên tàu USS Blue Ridge đẩy một chiếc trực thăng xuống  biển để dành chỗ cho nhiều chuyến bay khác di tản từ Sài Gòn.

Hình ảnh của các hãng thông tấn quốc tế đầy xúc động ghi lại: Một người mẹ Miền Nam và ba đứa con cúi mình trên trên một boong tàu chiến nhấp nhô ở Biển Ðông.

Tại Sài Gòn, hai chiếc trực thăng Sikorsky CH-53 đang trong một bãi đáp vốn là một bãi đậu xe! Thủy quân lục chiến Mỹ, quân phục ngụy trang chìm trong màu cây xanh vùng nhiệt đới. Chỉ có những nòng súng M 16 là thò ra từ dưới một bụi cây. Hai xạ thủ tay nắm chặt tay cây M16 và chiếc trực thăng chất đầy người Mỹ và người Việt cất cánh bay lên.

Lúc 7 giờ 53 phút, sáng ngày định mệnh 30 tháng 4, chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh từ nóc Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn và hướng ra biển. Trong mười chín tiếng đồng hồ, 81 chiếc máy bay trực thăng chở khoảng 7,000 người ra hàng không mẫu hạm ở ngoài khơi.

Sài Gòn đã sống trong mộng mị trong suốt nhiều tuần lễ. Hầu như không ai biết mình phải làm gì? Có đi làm hay không? Có mua gì ở chợ hay không? Xăng có hay không?

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, nắng sớm chói chang chiếu trên những con đường vắng vẻ của Sài Gòn. Những con đường thông thường vào giờ đó thường đã bắt đầu ồn ào, náo nhiệt. Nỗi sợ bị Cộng sản tàn sát như Tết Mậu Thân ở Huế vào năm 1968 đã làm cho người dân Sài Gòn bị quẩn trí. Sài Gòn rùng mình! Quân Bắc Việt đã chuẩn bị sẵn sàng để bắn phá thành phố bằng pháo hạng nặng và tiến vào từng dãy nhà, nếu hệ thống phòng thủ mà chúng gặp phải vững chắc hơn.

Tại số 4, Ðại lộ Thống Nhứt, góc đường Mạc Ðĩnh Chi, gần Dinh Ðộc Lập. Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, 6 tầng lầu trông giống như một pháo đài, không còn người Mỹ nào trong đó. Không có quan chức nào trong Tòa Ðô Chánh, số 86 đường Lê Thánh Tôn. Không có dân biểu nào trong Quốc Hội ở Công trường Lam Sơn. Trong Dinh Ðộc Lập, không có tổng thống; chỉ còn Tổng thống hai ngày Dương Văn Minh.

Nhà văn đoạt giải Nobel về văn chương John Steinbeck (1902-1968), người quyết liệt chống lại việc Hoa Kỳ vội vã rút quân đã chết!

Trong nhạc kịch ‘Miss Sài Gòn’ có lời thoại: “Những chiếc trực thăng đang trên đường bay tới. Ông Ðại sứ sẽ không rời đi. Sẽ đủ chỗ dành cho tất cả các bạn!”

Có một khoảng lặng trong thành phố. Có một nỗi buồn ập xuống với cơn mưa. Hoa Kỳ không còn ở Việt Nam nữa! Sài Gòn đã bị chiếm đóng! Sài Gòn tự do không còn nữa. Giờ nó là của Cộng Sản Viêt Nam!

Trong “The California’s Tale” (Câu chuyện về người California”), một truyện ngắn bi ai, Mark Twain đã kể rằng: vợ của Henry trên đường trở về thăm mẹ đã bị thổ dân da đỏ bắt cóc. Dẫu 19 năm trôi qua, cứ tới ngày em hẹn sẽ về, Henry vẫn đợi. Henry không chấp nhận sự thật đau lòng là người vợ yêu quý của mình đã chết.

Mới đầu, tôi không tin câu chuyện mà Mark Twain đã viết.  Nhưng sau biến cố mất Miền Nam năm 75, thì tôi tin Mark Twain.  Dẫu cách nay 51 năm ròng rã, niềm đau đớn như mới xảy ra vào tối hôm qua.

Tôi cũng tin nhà thơ Thanh Nam (1931 – 1985) nữa!

“Một năm người có mười hai tháng. Ta trọn năm dài một Tháng Tư”

Đoàn Xuân Thu (Melbourne)


 

“Nhà Hát Nghìn Tỷ” Và Hành Lang Chợ Rẫy: Kịch Bản Triệt Tiêu An Sinh

Nhật Ký Yêu Nước

“Nhà Hát Nghìn Tỷ” Và Hành Lang Chợ Rẫy: Kịch Bản Triệt Tiêu An Sinh

Cảnh tượng bệnh nhân nằm la liệt tại hành lang bệnh viện Chợ Rẫy, giành giật sự sống trong không gian chật chội và ồn ào, không phải là hệ quả của sự yếu kém khách quan. đây là một “chiến lược bỏ rơi có hệ thống” nhằm duy trì sự lệ thuộc của tầng lớp bình dân và tối ưu hóa lợi ích từ các siêu dự án tượng đài.

Tại sao ngân sách sẵn sàng rót 2.000 tỷ đồng cho một nhà hát “thưởng thức âm nhạc chất lượng cao” trong khi hệ thống y tế cốt tử lại quá tải đến nghẹt thở? Câu trả lời nằm ở “tỷ lệ chiết khấu chính trị”. Những công trình hào nhoáng như nhà hát hay tượng đài là những cái phễu hút vốn khổng lồ, nơi tiền thuế của dân dễ dàng được “phù phép” thành lợi ích nhóm thông qua các hợp đồng xây dựng mờ ám. Ngược lại, đầu tư vào y tế cơ sở là một khoản lỗ về mặt “thu nhập ngầm” cho giới tinh hoa, vì nó đòi hỏi sự minh bạch và vận hành lâu dài.

Việc để mặc bệnh viện công xuống cấp là cách để “vắt kiệt” những đồng tiền cuối cùng của người nghèo. Khi bệnh viện công trở thành nỗi ám ảnh, người dân bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: hoặc chấp nhận cái chết trên hành lang, hoặc phải dồn sạch tài sản cho các hệ thống y tế tư nhân có bóng dáng của các nhóm lợi ích đứng sau. Sự tương phản giữa nhà hát rực rỡ và hành lang bệnh viện u ám chính là bằng chứng đanh thép cho một nền quản trị nơi “bữa tiệc tinh thần” của giới cầm quyền được xây dựng trên chính sự khốn cùng của người bệnh.

Chân dung lãnh đạo


 

Một cặp đôi hoàn hảo hậu pháp đình

Ba’o Tieng Dan

01/04/2026

Mai Bá Kiếm

Ngày 31/3/2026, Tòa án Hà Nội xét xử vụ án năm quan chức nhận hối lộ. Theo cáo trạng, “để trúng thầu tại hàng loạt dự án thủy lợi, Giám đốc Công ty Hoàng Dân đã chi hối lộ hơn 40 tỷ đồng cho năm cựu quan chức thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (cũ)“.

Trong đó, cựu Cục trưởng Cục Quản lý xây dựng công trình Nguyễn Hải Thanh, đã nhận 6,25 tỷ đồng, nhưng Thanh đã “cao bay” sang Canada trước khi bị khởi tố.

Phòng xa hơn, cựu cục Nguyễn Hải Thanh đã ly dị với vợ xong, rồi để lại một kế hoạch đón đầu pháp đình chu đáo: Biết chắc sẽ bị xét xử vắng mặt, ông Thanh thuê sẵn hai luật sư bào chữa cho mình, rồi để lại 6,25 tỷ đồng cho người từng “gối đầu tay ấp” đem nộp tòa trước khi xét xử. Bà vợ cũ ông Thanh bị triệu tập với tư cách “Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan”, nhưng bà không ra Tòa, để không mất đi hình ảnh của một Cục trưởng phu nhân.

Vì vậy, Chủ tọa phiên tòa phải thông báo việc bị cáo Nguyễn Hải Thanh bỏ trốn, chưa bắt được, Tòa xét xử vắng mặt, tuy nhiên bị cáo Thanh vẫn có hai luật sư bào chữa. Vợ cũ của bị cáo được triệu tập tới phiên xét xử với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, song vắng mặt. Chủ tọa cho biết, vợ cũ ông Thanh đã nộp lại toàn bộ số tiền ông Thanh bị cáo buộc hưởng lợi bất chính từ hành vi nhận hối lộ.

Họ đúng là một cặp đôi hoàn hảo trong hậu Pháp Đình.

Nhớ lại phiên tòa phúc thẩm xét xử hai cựu bộ trưởng Bộ 4 Tê: Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn nhận hối lộ để buộc MobiFone mua 95% cổ phần AVG. Nguyễn Bắc Son nhận hối lộ của Phạm Nhật Vũ ba triệu USD. Nhưng Son kiên quyết khai không nhận, mãi đến ngày 14/3/2019, Son khai nhận rằng, ba triệu USD đã giao cho con gái là Nguyễn Thị Thu Huyền mang vào TP.HCM cất giữ.

Sau đó Son viết thư gửi vợ là Lê Thị Lý rằng: “Anh đã khai báo với cơ quan điều tra, sau khi mua bán dự án hoàn tất, Phạm Nhật Vũ đã mang cho anh ba triệu USD. Số tiền này anh đã gửi cho Huyền mang vào TP.HCM giữ cho anh, anh không nói nguồn gốc số tiền trên. Em nói với Huyền thu xếp nộp lại cho Nhà nước“.

Sau đó, từ 23/3/2019, cơ quan điều tra đã mời Nguyễn Thị Thu Huyền, rồi bà Lê Thị Lý đến cho xem lá thư. Hai mẹ con đều thừa nhận, Tuy nhiên, họ nói không có tiền nộp khắc phục theo nguyện vọng của ông. Chín tháng sau, gia đình ông Son chơi bài lì không nộp tiền khắc phục vì lý do khó tin: “hết tiền”.

Ngày 20/12/2019, VSK đề nghị Nguyễn Bắc Son án tử hình. Son đứng hình tại vành móng ngựa, rồi chủ tọa hoãn tuyên án đến ngày 28/12/2019. Sau 9 tháng đăng đẳng hết tiền, và chỉ trong 7 ngày phù du chờ tuyên án, vợ con Son đã mượn đủ 66 tỷ đồng nộp cho Tòa, và ông Son được giảm án chung thân.

CẶP BA KHÔNG HOÀN HẢO TRƯỚC PHÁP ĐÌNH VÀ CÔNG LUẬN.

______

Ghi chú từ Tiếng Dân: Báo Thanh Niên đưa tin, ông Nguyễn Hải Thanh là cựu Cục trưởng thuộc Bộ NN-PTNT (cũ), trong khi các tờ báo khác đưa tin, ông Thanh là cựu Phó Cục trưởng.


 

“Virus Tâm Thần” Ở Thượng Tầng: Khi Bệnh Lý Là Tấm Lá Chắn 803 Tỷ

Xuan Ly 

“Virus Tâm Thần” Ở Thượng Tầng: Khi Bệnh Lý Là Tấm Lá Chắn 803 Tỷ

Việc cựu Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đột ngột nhận kết luận “tâm thần nhẹ” ngay sau khi bị đề nghị truy tố vì làm thất thoát 803 tỷ đồng không đơn thuần là một sự trùng hợp y khoa. đây là sự kích hoạt của một “quy trình thoát hiểm đặc biệt” dành riêng cho giới tinh hoa chính trị khi đứng trước vành móng ngựa.

Tại sao một người từng điều hành cả hệ thống y tế quốc gia, tỉnh táo ký duyệt các siêu dự án trăm tỷ, lại “đổ bệnh” đúng lúc hồ sơ sai phạm tại Bệnh viện Bạch Mai 2 và Việt Đức 2 bị phanh phui? Câu trả lời nằm ở chiến thuật “vô hiệu hóa trách nhiệm hình sự”. Bản kết luận từ Viện Pháp y không chỉ là tờ giấy khám bệnh, mà là một “giấy thông hành” để chuyển hướng từ đại án tham nhũng sang câu chuyện nhân đạo. Đây là kịch bản “ve sầu thoát xác” quen thuộc: Khi quyền lực không còn bảo vệ được thân thể, họ dùng bệnh lý để bảo vệ tự do.

“tâm thần nhẹ” là một mật mã trong hệ thống quản trị nội bộ. Nó cho phép các cơ quan tố tụng giảm nhẹ hình phạt mà vẫn giữ được “thanh danh” cho bộ máy, tránh một cuộc sụp đổ dây chuyền. 803 tỷ đồng thuế dân có thể tan biến vào hư không, nhưng tấm lá chắn “bệnh lý” này đảm bảo rằng các nhóm lợi ích đứng sau sẽ không bị lộ diện.

Khi “luật của các đồng chí” được vận hành bằng những hồ sơ bệnh án “đúng quy trình”, công lý chỉ còn là một khái niệm xa xỉ dành cho những người không có khả năng… tự nhiên bị bệnh.

Le Anh


 

 “Ngồi trên dầu mà vẫn đi xin xăng?” – nghịch lý khó nuốt

Hồng Lam 

 “Ngồi trên dầu mà vẫn đi xin xăng?” – nghịch lý khó nuốt

Việt Nam không phải là quốc gia “trắng tay” về dầu khí. Từ thềm lục địa phía Nam, những mỏ dầu từng mang lại nguồn thu lớn, từng được xem là “át chủ bài” của nền kinh tế. Đã có thời, người ta nói đến dầu khí như một niềm tự hào – thứ tài nguyên giúp đất nước có vị thế hơn trên bản đồ năng lượng.

Nhưng rồi, một nghịch lý dần hiện ra:

có dầu… nhưng vẫn thiếu xăng.

Thậm chí có lúc phải nhập khẩu, phải đi mua, thậm chí “xin” hỗ trợ từ bên ngoài.

Vì sao lại như vậy?

Thứ nhất, có dầu thô không đồng nghĩa với có xăng để dùng. Dầu khai thác lên phải qua lọc hóa mới thành xăng, dầu diesel… Trong khi đó, năng lực lọc dầu trong nước còn hạn chế, phụ thuộc vào vài nhà máy lớn. Chỉ cần một trục trặc, một lần bảo trì, là thị trường trong nước lập tức chao đảo.

Thứ hai, bài toán quản lý và điều hành. Giá xăng không hoàn toàn theo thị trường, mà bị điều tiết bởi nhiều yếu tố. Khi giá thế giới biến động, doanh nghiệp nhập khẩu lỗ, không mặn mà nhập hàng, dẫn đến thiếu nguồn cung. Cây xăng đóng cửa, người dân xếp hàng – hình ảnh không ai muốn thấy nhưng đã từng xảy ra.

Thứ ba, một phần tài nguyên được xuất đi dưới dạng thô, giá trị thấp, rồi lại nhập về sản phẩm đã qua chế biến với giá cao hơn. Một vòng luẩn quẩn: bán rẻ – mua đắt. Nếu không nâng cao công nghiệp chế biến, thì dù có tài nguyên, lợi ích thực sự vẫn rơi vào tay nơi khác.

Còn câu chuyện “đi xin xăng” – có thể không phải theo nghĩa đen hoàn toàn, nhưng lại phản ánh một tâm thế: tự chủ chưa đủ vững. Khi gặp khó khăn, vẫn phải trông chờ vào nguồn bên ngoài để ổn định trong nước.

Điều đáng suy nghĩ không phải là Việt Nam có bao nhiêu mỏ dầu, mà là: chúng ta đã tận dụng nó hiệu quả đến đâu?

Tài nguyên không phải là câu trả lời cuối cùng. Có những quốc gia không có giọt dầu nào nhưng vẫn dư thừa năng lượng. Ngược lại, có nơi “ngồi trên mỏ” nhưng vẫn loay hoay với bài toán thiếu hụt.

Vấn đề không nằm dưới lòng đất.

Mà nằm ở cách con người vận hành những gì lấy lên từ đó.

Nếu không thay đổi tư duy và cách làm, thì nghịch lý này sẽ còn lặp lại:

có tài nguyên… nhưng không có sức mạnh.

HongLam