Những kỷ niệm thật đáng nhớ với anh Lưu Trung Khảo

Những kỷ niệm thật đáng nhớ với anh Lưu Trung Khảo

 Hồi tưởng của Đoàn Thanh Liêm

GS LƯU TRUNG KHAO

* * * Anh Khảo cùng theo học tại Trường Chu Văn An tại Hà nội với số

đông bạn đồng môn chúng tôi và cùng tốt nghiệp văn bằng Tú Tài 2 năm

  1. Sau đó, thì chúng tôi cùng di chuyển vào miền Nam và cư ngụ bên

nhau tại các cơ sở dành riêng cho sinh viên di cư vào thời gian ban đầu trong

các năm 1954 trở đi. Và từ vài chục năm nay, chúng tôi lại gặp nhau thường

xuyên trên đất Mỹ qua những sinh họat về văn hóa xã hội – đặc biệt là trong

tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam.

Nay anh vừa mới ra đi, tôi xin ghi lại một số kỷ niệm thật đáng nhớ với người

bạn đồng môn, đồng khóa đã có duyên gắn bó thân thiết với nhau từ trên 60

năm trước. Xin lần lượt trình bày câu chuyện qua các tiết mục như sau.

1 – Người học trò cưng của Thầy Nguyễn Tường Phượng.

Từ những năm 1950, thày Phượng dậy môn Quốc văn tại trường Chu Văn

An. Thày đã từng là chủ bút của tạp chí Tri Tân nổi tiếng thời trước năm

  1. Anh Khảo học ban sinh ngữ mà lại rành cả chữ Nho nữa, nên anh được

thày Phượng chú ý tín nhiệm và thường trao cho anh phụ giúp việc này việc

nọ trong lớp học. Cụ thể là khi Hiệu Đòan Chu Văn An làm tờ “Đặc San Tre

Xanh” dịp Xuân Giáp Ngọ 1954, thì anh Khảo là một trong những học sinh

thường xuyên đem bài viết của các bạn đến cho thày Phượng duyệt lại trước

khi cho đem đi in.

2 – Tết Ất Mùi 1955 tại Khu Lều trên nền đất cũ của Khám Lớn Sài gòn.

LƯ TRUNG KHAO 2

Từ cuối năm 1954, sinh viên di cư chúng tôi được chuyển từ nơi tạm cư trong

Trường Gia Long đến cắm lều trên khu đất cũ của Khám Lớn bên cạnh Tòa

Án Sài gòn. Và chúng tôi đã ăn hai cái Tết Dương Lịch và Âm Lịch tại khu

lều này. Dịp Tết Ất Mùi, anh Khảo ra tay viết câu đối bằng chữ Nho, việc này

khiến mấy nhà báo quốc tế tò mò chụp ảnh lia lịa. Tôi còn nhớ anh nhà báo

người Pháp của tờ báo Le Parisien Libéré đến gặp gỡ và phỏng vấn sinh viên

tụi tôi.

Sau vụ này, anh em chúng tôi tặng cho anh Khảo cái biệt danh là “Ông Đồ

Khảo”. Và đến khi được chuyển vào Đại Học Xá Minh Mạng ở Ngã sáu Chợ

Lớn, thì cũng anh Khảo là một trong mấy sinh viên mà thường được giáo sư

Nguyễn Thiệu Lâu rủ đi uống cà phê buổi sáng hay uống bia vào buổi chiều

để mà hàn huyên tâm sự và nhất là trao đổi chuyện trò về môn lịch sử mà

giáo sư là một nhà nghiên cứu rất nổi tiếng vào thời ấy.

 3 – Cuộc Hội ngộ kỷ niệm 60 năm của sinh viên di cư (1954 – 2014)

Năm 2014, anh Khảo là một thành viên nòng cốt trong Ban Tổ chức cuộc Hội

ngộ nhân kỷ niệm 60 năm của sinh viện Đại học Hà nội di tản vào miền Nam.

Cuộc hội ngộ đã quy tụ được đến vài ba trăm sinh viên và thân hữu đến tham

dự một bữa tiệc tại một nhà hàng trong khu vực Little Saigon ở miền Nam

tiểu bang California. Đại diện Ban Tổ chức, anh Khảo đã xúc động tường

thuật lại những vui buồn của anh chị em sinh viên di cư trong những ngày

mới đặt chân đến thành phố Sài gòn.

Trong số mấy trăm sinh viên di cư hồi đó, thì đến năm nay đã có rất nhiều

bạn đã ra đi, số còn lại thì cũng đã ở vào tuổi bát tuần cả rồi. Và đây là một

dịp thật quý báu để gặp lại nhau và cùng nhau ôn lại những kỷ niệm vui buồn

của cái tuổi đôi mươi thuở ấy – giữa lòng một đất nước bị phân ly cách biệt

giữa hai miền Nam Bắc và tiếp theo lại là cuộc chiến tranh huynh đệ tương

tàn với bao nhiêu tang thương thù hận.

4 – Câu chuyện về “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ”.

Từ cuối thập niên 1980, khi xuất hiện các chương trình phát thanh tại

California, thì bắt đầu có những cuộc Hội thọai của ba vị nhân sĩ có tên tuổi

trong cộng đồng người Việt ở địa phương. Ba vị đó là Đại tá Trần Minh Công

và hai Giáo sư Lưu Trung Khảo, Trần Đức Thanh Phong. Trong nhiều năm,

bà con thính giả đã rất hoan nghênh hưởng ứng theo dõi sự trình bày của các

vị nhân sĩ đáng kính với lập trường quốc gia thật kiên định vững vàng này.

Và từ cuối thập niên 1990, cả ba vị đã là những thanh viên họat động tích cực

trong Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam – bên cạnh những vị Cố vấn có tên

tuổi khác như Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, bào đệ của nhà văn Nhất Linh

Nguyễn Tường Tam, Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, Luật sư Trần Thanh Hiệp…

Do những họat động sôi nổi như vậy mà có một số bạn trẻ đã gán cho ba vị

nhân sĩ này cái danh hiệu “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” – như trong một

cuốn truyện nổi tiếng của Pháp “Les Trois Mousquetaires” vậy.

5 – Cái áo veste kỷ niệm của bậc huynh trưởng khả kính và khả ái.

Rất đông các thân hữu và các môn sinh đã tới nhà quàn viếng thăm và tiễn

biệt Giáo sư Lưu Trung Khảo vào ngày 2 tháng Giêng 2016. Trong số này, tôi

gặp anh bạn tù chính trị từng sống chung với nhau tại trại giam Z30D ở Hàm

Tân Phan Thiết hồi trên 20 năm trước – đó là anh Nguyễn Thanh Vân cựu sĩ

quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhân dịp này, anh Vân tâm sự với tôi: “

Bữa nay, tôi mặc cái áo veste này để đến tiễn đưa vị huynh trưởng mà tôi

luôn quý mến và cũng chính là người đã cho tôi cái áo này. Hồi tôi mới từ

Việt nam qua Mỹ, tôi thường chỉ mặc cái áo gió mỗi khi đi tham dự sinh họạt

ở Quận Cam. Sau vài lần, Giáo sư Khảo thấy tôi không có mặc áo veste, nên

có lần sau buổi họp gặp tôi, ông liền cởi cái áo ông đang mặc và khóac lên

người tôi, rồi nói: “Anh bạn trẻ nên mặc cái áo này, mỗi khi phải ra mắt

thuyết trình trước công chúng đó nha. Đó là mình bày tỏ lòng kính trọng đối

với bà con trong cộng đồng vậy v.v…” Thật đây là một kỷ niệm khó quên của

tôi đối với một bậc đàn anh khả kính và khả ái vậy đó …”

6 – Thật đúng là một chính nhân quân tử.

Cũng trong Lễ Tưởng niệm này, Nghị sĩ Lê Châu Lộc với niềm xúc động

chân thành đã phát biểu rằng: “Trong một buổi lễ tại Westminster, Giáo sư

Lưu Trung Khảo đã thẳng thắn xác nhận trước cử tọa rằng: “ Đối với lớp cả

triệu người di cư từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954, thì chúng tôi không

bao giờ lại có thể quên được cái ơn nghĩa và công lao của Tổng Thống Ngô

Đình Diệm đã lo lắng chăm sóc cho gia đình chúng tôi có được một cuộc

sống an lành và êm ấm tại miền Nam….” Nghị sĩ Lộc nói tiếp: “Anh Khảo là

một Phật tử thuần thành, bao nhiêu năm điều khiển chương trình phát thanh

“Hải Triều Âm” rất nổi tiếng của các Phật tử ở Quận Cam. Ấy thế, mà anh đã

rất thẳng thắn ghi nhận công lao của Tổng Thống Diệm trong việc tiếp nhận

và định cư cả triệu đồng bào di cư từ miền Bắc vào miền Nam như anh. Rõ

ràng, anh Khảo đích thực là một con người chính nhân quân tử vậy…”

* * Là một người cùng quê hương từ vùng Hà Nam – Nam Định nổi danh với

các nhà thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, mà cũng cùng lứa tuổi, lại là đồng

môn dưới mái trường Chu Văn An, rồi lại cùng là sinh viên di cư năm 1954

với anh Lưu Trung Khảo – anh chị em chúng tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm

vui buồn thật không thể nào quên được chung với anh suốt bao nhiêu năm

qua.

Anh Khảo thật xứng đáng là một tiêu biểu sáng giá cho thế hệ anh chị em

chúng tôi sinh trưởng ở miền Bắc mà trưởng thành tại miền Nam dưới chế độ

quốc gia thời Việt Nam Cộng Hòa.

Xin vĩnh biệt anh Lưu Trung Khảo với niềm luyến tiếc khôn nguôi và lòng

quý trọng chân thành.

Xin cầu chúc Anh luôn an nhiên thanh thản nơi cõi Vĩnh Hắng./

Westminster California ngày 12 tháng Giêng 2016

Đoàn Thanh Liêm CVA 54

Họat động xã hội dựa vào Niềm Tin

Họat động xã hội dựa vào Niềm Tin

( Faith –based Social Action )

( Bài viết để hưởng ứng cuộc Hội thảo về Vai trò Tôn giáo)

Đòan Thanh Liêm

Kinh nghiệm họat đông về nhân đạo từ thiện của các tôn giáo thật là phong phú và đã khởi sự từ rất lâu, không những tại một địa phương nhỏ bé ở thôn xóm miền quê hẻo lánh, mà cả ở trong các ngõ hẻm tối tăm lụp xụp của thành phố. Nguyên do là các tín đồ thuần thành nào thì cũng giàu lòng trắc ẩn, thương cảm với nỗi khổ đau, bất hạnh của các nạn nhân thiên tai bão lụt hay các bệnh nhân mắc chứng nan y như bệnh phong cùi, bệnh Aids, các

người vô gia cư, các trẻ em bụi đời v.v…Và từ đó mà các tổ chức từ thiện của các tôn giáo dễ dàng kêu gọi sự yểm trợ của các tín đồ này cho các chương trình phục vụ xã hội của mình.

Và cùng với sự phát triển của ngành khoa học xã hội, cũng như của ngành tổ chức quản lý điều hành, các tôn giáo đã xây dựng được một mạng lưới dịch vụ xã hội rất chu đáo trong phạm vi các cộng đồng cơ sở địa phương, cũng như trên phạm vi tòan quốc (nationwide) và cả trên phạm vi tòan thế giới nữa (worldwide). Nhà nghiên cứu xã hội học Robert Wuthnow, trong tác phẩm “Saving America : Faith-based Services and the Future of Civil

Society” (Cứu vãn nước Mỹ : Dịch vụ Xã hội dựa vào Niềm Tin và Tương lai của Xã hội Dân sự) do Nhà xuất bản Đại học Princeton ấn hành năm 2006, đã đưa ra những con số thống kê khá chi tiết về các họat động xã hội của các tôn giáo tại Mỹ trong thời gian gần đây. Và ông đã đưa tới kết luận rằng : Chúng ta có quyền tin tưởng rằng các tôn giáo đã và đang đóng một vai trò trọng yếu trong các họat động xã hội để phục vụ quần chúng trong

những nhu cầu càng ngày càng nhiều và phức tạp, mà cơ quan xã hội của nhà nước không thể nào một mình cáng đáng hết được.

Cũng từ mấy năm nay, Tổng Thống George W Bush đã phát động một chương trình yểm trợ cho các “Faith-based Organisations” (FBO) để cùng hợp tác với chánh quyền trong các chương trình xã hội. Mặc dầu bị chỉ trích từ nhiều phía với lý do là “vi phạm nguyên tắc tách rời Nhà nước khỏi Tôn giáo”, chương trình này vẫn được Tổng Thống đương nhiệm Barack Obama tiếp tục với một số điều chỉnh nhằm tăng cao năng xuất, cũng như tránh

được sự lạm dụng với sự phân biệt kỳ thị vì lý do tôn giáo  Lại nữa có một số Viện nghiên cứu và Đại học đã chủ trì một Diễn đàn lấy tên là “Roundtable on Religion and Social Welfare Policy” (Hội nghị Bàn tròn về Tôn giáo và Chánh sách An sinh Xã hội) để trao đổi về tình hình sinh họat xã hội và tìm kiếm phương hướng xây dựng chánh sách xã hội thích

hợp với thời đại. Trên phạm vi quốc tế, ta có thể ghi nhận sự hợp tác rất chặt chẽ và hiệu quả

giữa Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) và Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ La Tinh( CELAM = Latin American Episcopal Conference) nhằm mục đích chăm sóc cho giới thiếu nhi trong các quốc gia vùng Châu Mỹ  Latinh. Và còn rất nhiều sự hợp tác thuận thảo giữa Tôn giáo và các tổ chức xã hội văn hóa quốc tế nữa. Đó là một dấu hiệu đày phấn khởi, lạc quan chứng tỏ càng ngày khu vực Xã hội Dân sự càng lớn mạnh và mở rộng phạm vi họat động cùng khắp mọi nơi, mọi chốn.

Nói vắn tắt lại, các tổ chức xã hội dựa vào niềm tin (FBO) đã và đang góp phần tích cực trong việc xây dựng “Nguồn vốn Xã hội” (Social Capital) cho các công đồng từ cấp cơ sở địa phương nhỏ bé, lên đến cấp tòan quốc, cũng như đến phạm vi tòan cầu. Đó là sự tín nhiệm và tin tưởng gắn bó lẫn nhau giữa các thành viên của một cộng đồng, mà tập thể tạo dựng được thông qua những việc công ích, mà mọi người luôn có cơ hội thường xuyên cùng nhau

“nối vòng tay lớn”, nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng cụ thể, thiết thực để cải thiện môi trường sinh họat ngay tại địa phương nhỏ bé của chính mình. Rõ ràng là các Tôn giáo vẫn còn tiếp tục cái truyền thống phục vụ công ích bằng sự dấn thân nhập cuộc với quảng đại quần chúng, ngay tại các đơn vị cơ sở hạ tầng nơi thôn quê nghèo túng, hay tại các khu phố chật hẹp lầm than của các đô thị hỗn tạp./

California, Tháng Bảy 2009

Đòan Thanh Liêm

Cái duyên gặp gỡ với bạn đọc người nước ngoài

Cái duyên gặp gỡ với bạn đọc người nước ngoài

Đoàn Thanh Liêm

* * *

Tôi qua định cư bên nước Mỹ từ năm 1996, đến năm 2016 này thì đã được 20

năm rồi. Sau thời gian trị bệnh, tình trạng sức khỏe của tôi đã hồi phục khả

quan và từ trên 10 năm nay tôi đã tham gia sinh họat về văn hóa xã hội với

nhiều bạn bè cùng chí hướng – cũng như viết báo để trao đổi thảo luận với bà

con độc giả qua báo giấy cũng như trên báo điện tử. Các bài tôi viết thì hầu

hết là bằng tiếng Việt nhằm phục vụ đa số bà con người Việt mình và tôi cũng

đã nhận được nhiều đáp ứng của bạn đọc với sự khích lệ thật đáng quý. Tôi

sẽ có dịp viết chi tiết về những sự trao đổi này của bạn đọc khắp nơi ở trong

cũng như ở ngoài nước.

Nhưng tôi cũng viết một số bài bằng tiếng Anh để dành riêng cho lớp cháu

sinh trưởng ở Mỹ và nhân tiện cũng gửi cho các bạn ngọai quốc đọc nữa. Và

trong số các độc giả người nước ngòai này lại có một ít người còn thông thạo

cả tiếng Việt nữa. Nhân dịp đầu Xuân Bính Thân 2016, tôi xin ghi lại những

câu chuyện trao đổi ngộ nghĩnh lý thú giữa tôi và các bạn đọc người nước

ngòai ấy. Xin lần lượt trình bày một số danh tính các bạn đọc đó như sau đây.

1 – Anh chị Earl và Pat Martin ở tiểu bang Virginia.

Hai anh chị Martin đã từng làm việc tại Quảng Ngãi hồi trước năm 1975

trong công tác nhân đạo từ thiện của Giáo hội Tin lành Mennonite được gọi

là tổ chức Mennonite Central Committee (MCC). Bà con ở Quảng Ngãi

thường biết đến anh chị qua tên tiếng Việt là chú Kiến, cô Mai. Sau năm

1975, anh chị còn làm việc tại nhiều nước Á châu khác nữa. Từ năm 1998,

Pat giữ chức vụ Giám đốc viện Xây dựng Hòa bình Mùa hè (Summer

Peacebuilding Institute SPI) thuộc Đại học Eastern Mennonite University

(EMU) tại thành phố Harrisonburg, Virginia. Trong các bài báo trước đây, tôi

đã có nhiều dịp viết về anh chị bạn rất thân thiết này rồi. Nay tôi chỉ ghi tóm

tắt lại câu chuyện trao đổi của anh chị về các bài viết của tôi cả bằng tiếng

Việt, cả bằng tiếng Anh.

Nói chung, anh chị đều chú ý đến các bài tôi gửi qua email và luôn phản hồi

mau lẹ, đại khái như “bài này hấp dẫn đấy” (interesting), “người Mỹ chúng

tôi cần được biết đến những thông tin chính xác như trong các bài do anh

viết” v.v… Có lần Earl gọi tôi là “an wandering philosopher” (một triết gia đi

lang thang). Mới đây, sau khi đọc bài “My Two Passions in Life” (Hai niềm say mê trong đời của tôi) Earl trả lời ngay rằng đó là “Beautiful Reflections”

Người anh cả của Earl tên là Luke Martin, ông làm việc lâu năm ở Việt nam

như là một vị Mục sư thuộc Giáo hội Tin Lành Mennonite. Ông cũng như bà

vợ là Mary Martin đều khá thông thạo tiếng Việt. Khi đọc bài tôi viết về Giáo

hội Mennonite tại Mỹ, mục sư Luke nói ngay chắc là Earl đã cung cấp các tài

liệu cho tôi tham khảo để viết bài đó. Vào cuối năm 2012, tôi đã đến ngụ tại

nhà ông bà tại thành phố Allentown tiểu bang Pennsylvania. Chúng tôi vẫn

thường liên lạc với nhau qua email.

2- Giáo sư Sophie Quinn-Judge tại Đại học Temple ở thành phố Philadelphia.

Sophie từng làm việc tại Việt nam trước năm 1975 trong tổ chức nhân đạo

của giáo phái Quaker. Chị thông thạo tiếng Pháp, Nga và cả tiếng Việt nữa.

Từ nhiều năm nay, chị làm giáo sự dạy môn sử học, đồng thời cũng làm phó

giám đốc trung tâm văn hóa, triết học và xã hội Việt nam tại Đại học Temple.

Một vài lần chị còn mời tôi đến trú ngụ tại nhà của chị ở khu ngọai ô của

Philadelphia. Đôi khi chị còn mời tôi đến nói chuyện với sinh viên trong lớp

do chị hướng dẫn nữa.

Sophie Quinn-Judge còn là tác giả cuốn sách “Ho Chi Minh – The Missing

Years” xuất bản năm 2002 mà được nhiều thức giả đánh giá cao. Sophie tính

tình hồn nhiên đôn hậu dịu hiền, chị xưng mình là một Buddhist Quaker

(người Quaker mà có tinh thần Phật giáo). Mới đây, chị cho biết sắp sửa đến

tuổi nghỉ hưu rồi, nhưng cho biết là chỉ nghỉ việc giảng day, còn vẫn phụ

trách chuyện nghiên cứu cho trường Temple.

Chị thường góp ý kiến cho các bài viết của tôi. Đặc biệt là về bài tôi viết về

“Kỷ niệm vui buồn với anh chị em thuộc Trường Thanh niên Phụng sự Xã

hội” ở Việt nam trước năm 1975, thì Sophie nói là những bài như thế rất là

cần thiết để cho các thế hệ sau này hiểu biết rõ ràng hơn về những cố gắng

xây dựng xã hội ở Việt nam ngay trong thời kỳ chiến tranh trước đây nữa.

3 – Luật sư Dinah Pokempner Cố vấn trưởng của tổ chức Theo dõi Nhân

quyền Human Rights Watch (HRW) ở New York.

Từ năm 1990 – 91, tổ chức HRW đã phân công cho Dinah Pokempner là

người phụ trách về hồ sơ của tôi bị giam giữ ở Việt nam từ năm 1990. Vì thế,

nên Dinah và tôi rất gắn bó thân thiết với nhau và mỗi khi tôi đến New York

thì thường tới gặp gỡ thăm viếng chị tại văn phòng của HRW. Dinah lại còn

tham gia giảng dậy tại Đại học Columbia và mới đây vào tháng 3/2015 lúc tôi

tham dự Đại hội thường niên của tổ chức Amnesty tại Brooklyn, New York,

thì Dinah cũng mời tôi đến nói chuyện với sinh viên trong lớp do chị phụ trách giảng dạy nữa.

Dinah cũng chuyển các bài của tôi viết cho các sinh viên của chị tham khảo

vài bữa trước khi lớp học bắt đầu, nên trong lớp học chị còn đặt những câu

hỏi và nhờ tôi giải thích chi tiết rõ ràng hơn cho các sinh viên hiểu biết về bối

cảnh chính trị văn hóa ở Việt nam. Dinah nhấn mạnh đến quan điểm vững

chắc của tôi trong cố gắng góp phần xây dựng luật pháp ở Việt nam – mà

cũng vì thế mà tôi bị cộng sản bắt giữ và tuyên án xử phạt tôi 12 năm tù vì tội

“tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội” trong phiên xử vào năm 1992 tại Tòa

án Sài gòn.

Chị còn nói rõ hơn với sinh viên: Các em cần chú ý đến lập trường của luật

sư Liêm khi ông viết trong tài liệu từ đầu năm 1990 rằng “Truyền thống nhân

bản và nhân ái của Việt nam đã có từ lâu – đó là cơ sở vững chắc cho công

cuộc phát huy nhân quyền tại quốc gia này. Chứ quan niệm về nhân quyền

không phải chỉ là sản phẩm riêng của phương Tây đề xuất ra…”

Sau buổi thuyết trình, Dinah mời tôi ra quán uống cà phê và nói chuyện thêm.

Tôi hỏi Dinah: Sinh viên của chị họ phê phán về tôi ra sao? Dinah vừa nói

vừa cười thật tươi rằng: Các em đó gọi anh là một “Rockstar”đấy. Khi về nhà

bạn Dick Hughes ở Manhattan, tôi thuật lại chuyện sinh viên ở Columbia của

Dinah, họ gọi tôi là rockstar đó, Dick cười ngất, anh nói: Mister Liêm quả

thật là nổi danh với chuyện được sinh viên tặng cho cái danh hiệu Rockstar

như vậy đó!

4 – Giáo sư Olga Dror tại Đại học Texas A & M (TAMU)

Olga Dror là người gốc Do Thái sinh trưởng ở Nga. Chị học chuyên về ngôn

ngữ và văn hóa Việt nam và đã có thời làm cho đài phát thanh Moscow phần

tiếng Việt. Hiện chị làm giáo sư giảng dạy về lịch sử tại Đại học TAMU. Chị

là người dịch cuốn sách Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca sang tiếng Anh –

cuốn sách này đã được Nhà xuất bản Đại học Indiana cho ấn hành vào năm

2014 và tôi cũng đã có dịp giới thiệu với bà con độc giả người Việt vào đầu

năm 2015 vừa rồi.

Chị cũng là tác giả một cuốn sách nghiên cứu về Công chúa Liễu Hạnh mà

được nhà xuất bản Đại học Hawaii ấn hành vào năm 2007. Từ ít lâu nay,

Olga chuyên nghiên cứu đối chiếu về giáo dục tại 2 miền Bắc và Nam Việt

nam trong thời kỳ chiến tranh 1965 – 1975.

Từ đầu năm 2015 đến nay, tôi thường hay trao đổi thư từ và bài viết với Olga.

Cụ thể như khi tôi gửi cho chị loạt bài “Thanh thiếu niên và Công tác xã hội

tại miền Nam hồi trước năm 1975”, thì Olga trả lời rằng loạt bài này rất sinhđộng và góp phần vào việc tìm hiểu tình hình xã hội ở Việt nam trong thời kỳ

chiến tranh trước đây.

Phu quân của chị là Keith Taylor, thì cũng là một giáo sư chuyên nghiên cứu

và giảng dạy về lịch sử và văn hóa Việt nam tại đại học danh tiếng Cornell

nữa.

5 – Doug Hostetter, Giám đốc văn phòng “MCC Liaison Office with the

United Nations” (Văn phòng Liên lạc của MCC với Liên Hiệp Quốc).

Doug từng làm việc thiện nguyện tại Tam Kỳ trong tổ chức MCC hồi trước

năm 1968. Sau anh về Mỹ và tham gia tích cực trong phong trào sinh viên

chống chiến tranh hồi đầu thập niên 1970. Anh nổi tiếng vì họat động trong

nhiều tổ chức tranh đấu xây dựng hòa bình như Fellowship of Reconciliation

(FOR). Từ trên 10 năm nay anh là Giám đốc văn phòng của MCC liên lạc với

Liên Hiệp Quốc, vì thế lần nào đến New York tôi cũng đến gặp gỡ trao đổi

với anh tại văn phòng kế cận với khuôn viên của trụ sở LHQ.

Chúng tôi vẫn thường trao đổi thư từ với nhau qua email. Đặc biệt dịp 30/4

năm 2015, tôi có gửi cho Doug bài viết bằng Anh ngữ về những vụ tàn sát

của phe cộng sản Việt nam đối với người thuộc phe quốc gia trong các năm

1945 – 47 lúc họ vừa mới nắm được quyền hành trong tay của mình. Đọc

xong, Doug trả lời ngay cho tôi; “Các vụ thảm sát này không hề được phong

trào hòa bình (the peace movement) nhắc đến trước đây vào hồi đầu thập

niên 1970!”

6 – Trao đổi với anh bạn Danut Manastireanu từ xứ Rumania.

Đây là người bạn mà tôi chưa hề trực tiếp gặp mặt, nhưng từ vài ba năm nay

chúng tôi vẫn liên lạc thư từ với nhau qua email. Lý do là anh bạn Danut này

hiện vẫn sinh sống tại quê nhà ở nước Rumania bên Đông Âu. Anh thường

cho đăng bài của tôi viết bằng tiếng Anh lên Google để nhiều người khắp nơi

có thể đọc được nữa. Tôi hy vọng khi qua thăm bà con bên Âu châu, thì sẽ có

dịp gặp mặt với anh để hàn huyên tâm sự nhiều. Anh làm việc cho tổ chức

World Vision tại Rumania.

7 – Trao đổi với chị Annette làm việc tại chi nhánh Bưu điện Bolsa, thành phố

Westminster, California.

Chị Annette làm việc lâu năm tại Bưu điện Bolsa là nơi mà phần đông bà con

người Việt tại khu vực Little Saigon đều biết đến. Mấy năm gần đây, tôi hay

gửi cho chị những bài tôi viết bằng tiếng Anh. Có lần sau khi đọc bài viết về

chiến tranh Việt nam, thì Annette đã nói với tôi, đại khái như thế này: “Trước

khi được đọc bài viết của anh, thì tôi thật không hề biết là người cộng sản ở

Việt nam lại có thể tàn ác đến như thế…” (I didn’t know that the communists

in Vietnam are so atrocious).

8 – Trao đổi với chị Sophie Richardson tại văn phòng HRW ở thủ đô

Washington DC.

Từ cuối thập niên 1980, hồi còn rất trẻ Sophie Richardson đã khởi sự tham

gia họat động tại Cambodia với các tổ chức phi chính phủ (NGO – Non-

Governmental Organisations). Và sau ít lâu thì chị gia nhập với tổ chức HRW

và từ 20 năm nay làm việc tại văn phòng của tổ chức này ở Washington DC.

Sophie được nhiều bà con người Việt chúng ta biết đến và mến chuộng vì chị

thường ra điều trần tại Quốc Hội Mỹ để tố cáo những vi phạm nhân quyền

của chính quyền cộng sản Hà nội.

Và mỗi khi tôi đến thành phố này, thì chúng tôi thường gặp gỡ chuyện trò

trao đổi thông tin với nhau. Sophie thông thạo tiếng Hoa, luận án thi văn

bằng tiến sĩ của chị là về tình hình chính trị ở Trung quốc. Gần đây, Sophie

được HRW bố trí phụ trách riêng về tình hình ở Trung quốc.

Có lần, Sophie giải thích cho tôi: “Anh biết không, cái tên Sophie của tôi là

từ tiếng Hy lạp có nghĩa là wisdom (minh triết). Tôi rất thích cái tên này do

cha mẹ chọn cho tôi đấy…” Tôi bèn trả lời: “Chị cũng biết đấy, tên của tôi là

Thanh Liêm có nghĩa là Honesty. Nhưng các bạn quen biết lại còn gọi tôi là

một philosopher nữa. Như vậy, thì giữa Sophie và tôi có sự liên hệ mật thiết

đấy nhỉ…” Sophie hiểu ngay ý nghĩa khôi hài của tôi và cười thật tươi.

Gần đây, sau khi đọc bài “My Two Passions” của tôi, Sophie trả lời ngay qua

email: “ Rất cảm ơn anh đã chia sẻ bài viết này với tôi. Ví chính tôi cũng có 2

niềm say mê giống như anh vậy – đó là sách báo và bạn hữu”.

9 – Trao đổi với các bạn trong nhiều cuộc gặp gỡ khác.

 Tôi tham gia sinh họat với tổ chức Amnesty International tại Mỹ từ nhiều

năm nay, ở cả 3 cấp bậc: – Họp thường xuyên hàng tháng tại địa phương gọi

là local group số 178 ở thành phố Irvine – cấp miền gồm các tiểu bang khu

vực miền Tây nước Mỹ gọi là Western Regional họp mỗi năm vào tháng 11 –

và cấp tòan quốc trong các Đại hội Thường niên họp vào tháng 3 gọi là

Annual General Meeting (AGM). Vì thế mà tôi có cơ hội gặp gỡ trao đổi thân

mật với rất nhiều bạn hữu từ nhiều quốc gia khác nhau mà lại có cùng một

chí hướng theo đuổi lý tưởng bảo vệ nhân quyền.

Số bạn này quá đông, tôi không thể nào kể ra hết danh tính của từng người

trong số cả ngàn các bạn đó được. Thường tôi chuyển một số bài mình viết

cho các bạn ấy đọc và rất nhiều bạn đã gửi phản hồi tích cực lại cho tôi. Đó là

cái duyên quen biết gắn bó lâu dài của tôi với các bạn trong khuôn khổ đại

gia đình của tổ chức Ân Xá Quốc Tế đó vậy.

Cũng tương tự như thế, qua nhiều cuộc hội thảo nơi các đại học tại những

tiểu bang thuôc khu vực miền Đông nước Mỹ, tôi cũng có thêm sự quen biết

gần gũi với khá nhiều các bạn khác nữa. Và chúng tôi đều có những trao đổi

thân tình thuận thảo với nhau trong tinh thần nhân bản tiến bộ và tương kính.

Đối với tôi, thì rõ ràng những cuộc gặp gỡ trao đổi gắn bó thân thiết với các

bạn người Mỹ cũng như với những bạn hữu quốc tế như thế – đó là một

phương cách thuận lợi để mình hội nhập êm thắm nhịp nhàng vào với dòng

chính của xã hội nước Mỹ – là nơi mà một số khá đông lên đến gần 2 triệu

người Việt chúng ta đã chọn lựa đi đến sinh sống lập nghiệp lâu dài kể từ sau

năm 1975 vậy.

Nói chung, thì với chiều hướng tòan cầu hóa về các mặt chính trị, kinh tế, xã

hội cũng như văn hóa tinh thần – con người ngày nay có sự tôn trọng, thông

cảm và liên đới gắn bó mật thiết với nhau mỗi ngày càng thêm bền chặt hơn.

Và đó là điều giúp chúng ta có được sự tin tưởng và niềm phấn khởi cho

tương lai sắp tới của nhân lọai trong thế kỷ XXI này vậy./

Westminster California, cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm

A very short introduction into the Vietnamese culture

 A very short introduction into the Vietnamese culture

By Doan Thanh Liem

*     *     *

In a narrowest sense, the culture of a people can be defined as the way this people live, grow, expand and survive from generation to generation throughout their long history. Thus we can say that their culture is the national patrimony that has been constantly accumulated since the foundation of the nation-state.

Even as a small country, Vietnam has started its history more than 4,000 years ago with its distinct language, laws, customs, traditions, and administration …Facing its giant neighbour China, Vietnam has acquired both positive and negative aspects of this “big brother’s” influence.

Although they suffered almost a thousand years of Chinese domination, Vietnamese people have stubbornly succeeded in preserving their own national identity and sovereignty, no less than have the Japanese and the Koreans, both being also “little brothers” to the Chinese. One of the most fundamental notions of their history is their survival as a proud people that have not been absorbed or assimilated into the Chinese nation. And their most revered heroes are those who fought ferociously and sucessfully against the invasion from the north, i.e China. This collective pride has been a constant factor that miraculously helps to galvanize the nation against whatever menace from foreign powers such as China, France or even America.

Looking into other socio-cultural aspects, one can easily discern out the enormous difference between the Chinese and the Vietnamese. Such as the language, there is for example the purely Vietnamese side by side with the Sino-Vietnamese words with totally different pronunciation and writing ways, so that the Chinese can hardly understand what the Vietnamese say and vice versa. This distinction is also significantly seen in other areas like philosophy, literature, arts, music.

Thanks to its geographical position, Vietnam also has had a long time relation with the countries to the west such as Thailand, India and also particularly Europe since the XVI century. This kind of relation has been a counterbalance to the dominating influence from China in the north and had a diversifying effect in the overall heritage of the country.We may note that the romanisation of the Vietnamese language initiated by Catholic priests from Europe, especially from Portugal and Spain in the late 1500s, has been a striking boost to the modernization of the country.

Since the mid-XIX century, the French occupation of the country, like the Chinese one earlier, has had both positive and negative influence in the cultural life of Vietnam. Later, it was the Japanese rule during the second world war and the American presence since the 1950s that brought about determiningly drastic changes in Vietnamese society and culture.

Since 1954, when Vietnam was divided into two regions, the north affiliated with the Soviet bloc, and the south aligned with western powers, the country has undergone profound change not only in political terms, but also in socio-cultural sphere as well. The civil war started early in the 1960s and ended in 1975 with the communist army from the north winning over the antagonist southern forces which were mainly supported by the US. This military victory has resulted in placing the southern part, usually known as “ The Republic of South Vietnam “ strictly under one unique communist administration. This “involuntary unification of the country” continued to have a lasting and devastating effect on the country, materially as well as morally and spiritually.

Since the collapse of the Berlin wall in 1989 and then the liquidation of the Soviet regime in Eastern Europe (and especially Russia), Vietnam has been undergoing a tremendous change in its economic “open door policy”, which is officially labeled by the leaders as “ a market economy with socialist orientation”. But unfortunately, the governing communist party still strictly adhered to the Chinese model of “totalitarian communist dictatorship”, and therefore mercilessly exercices severe restrictions on the social, political, cultural and religious life of the people. Numerous democracy and human rights activists have been constantly harassed and arrested. And there are evidently no basic freedoms for the people as a whole../

Virginia, May 2010

Doan Thanh Liem

Thơ song ngữ từ trong tù

Thơ song ngữ từ trong tù

 

Bài của Đòan Thanh Liêm

 

Tôi chẳng bao giờ là người chuyên môn làm thơ. Nhưng ở trong tù lâu ngày, thì cũng lai

rai làm được một số bài ngăn ngắn cho dễ nhớ, và cũng giúp làm khuây khỏa nhẹ vơi đi

nỗi buồn chán cô đơn. Vì không thể viết ra giấy và gửi cho bà con bạn bè ở ngoài trại

giam, nên chỉ có thể đọc cho một vài người bạn tù thật là thân thịết nghe mà thôi. Tính ra

trong 6 năm ở tù, tôi cũng làm được đến 30-40 bài, nhưng hiện chỉ còn có thể viết lại

được chừng 25 bài mà thôi.

Đặc biệt trong mấy năm phải đi lao động tại trại giam ở Hàm Tân, PhanThiết, tôi có làm

được vài bài thơ song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Nay xin ghi lại để quý bạn đọc cho vui

vào dịp Đầu Xuân Kỷ sửu 2009 vậy nhé.

Đầu tiên là bài “Vùng lên, Các bạn ơi!”, “Friends, stand up!”. Bài này được làm vào hồi

Tháng 8 năm 1994. Và người đầu tiên tôi đọc cho nghe là Bác Lý Trường Trân, cựu Dân

biểu thời Đệ nhị Công hòa. Bác Trân bị tù lần thứ hai từ năm 1987 đến cuối năm 1994

mới được trả tự do.

Bài thứ hai là bài “Nói với các bạn trẻ”, “A Message to Youth”. Bài này được làm vào

Mùa Xuân năm 1995 và được đọc lần đầu tiên cho anh Lê Thái Chân. Anh Chân trước

kia là sĩ quan Pháo binh của Lữ đòan Dù, và là người tù lâu nhất trong số các sĩ quan

“phải đi học tập cải tạo”, tổng cộng đến 20 năm, suốt từ 1975 đến 1995 mơí được thả về.

Bài này đã được nhạc sĩ Phạm Đức Huyến ở San Jose phổ nhạc phần tiếng Anh vào năm

  1. Và nhạc sĩ Xuân Điềm ở Little Saigon phổ nhạc phần tiếng Việt vào năm 2002.

Cả hai bài thơ này, phần tiếng Anh thì đã được các sinh viên người Mỹ, cũng như người

các nước khác đọc nhiều lần tại những buổi sinh họat văn nghệ, nhân dịp Hội thảo quốc

tế về Xây dựng Hòa bình (Peacebuilding seminars) tại các tiểu bang Virginia và

Tennessee.

Và riêng bài “Friends, Stand up!”, thì lại còn được chị Colleen Malone ở Canada phỏng

vấn tôi tại Đại học Eastern Mennonite University (EMU) Virginia và lấy đăng trên

website Peacevox.com (Tiếng nói Hòa bình) vào năm 2002, cùng với một bài khác nừa là

bài “Reflections on My Days in Jail” (Suy nghĩ về Những Ngày Trong Tù), cũng do tôi

viết trực tiếp bằng tiếng Anh hồi còn ở tại trại Hàm Tân vào Tháng Mười 1995, tức là sau

66 tháng ở trong nhà tù cộng sản.

Lại nữa, cả bản nhạc do nhạc sĩ Phạm Đức Huyến phổ thơ nói trên do ca sĩ người Mỹ hát

và ghi âm trong môt CD, thì cũng được trình bày vào những dịp này.

Hai bài thơ này nguyên văn như sau:

 

I – Vùng lên, Các bạn ơi!

  1. Các bạn ơi! Hãy sẵn sàng:

Đã đến lúc

Ta phải công khai trực diện

Lăn xả vào cuộc chiến.

Chúng ta đòi hỏi

Không phải chỉ cơm no, áo ấm

Mà còn cả nhân phẩm, tình thương.

Để chống lại bạo quyền độc ác

Ta phải được trang bị bằng

Lòng kiên cường can đảm

Sự nhẫn nại hy sinh

Và tinh thần bất bạo động.

 2. Các bạn ơi!

Hãy đồng lọat lên tiếng

Nói rằng:

Chúng ta không còn khiếp sợ

Trước bạo lực trấn áp

Với tù ngục đọa đầy

Và tra tấn khủng bố

Bởi vì chúng ta đã trưởng thành chững chạc

Trong biệt giam tối tăm

Với đói khát dầy vò

Và khổ sai cưỡng bức

Và cũng bởi vì chúng ta luôn noi theo

Lời giáo huấn từ ngàn đời

Của cha ông

Đó là: “Uy vũ bất năng khuất!”

3.- Các bạn ơi! Hãy tiếp tục:

Cuộc tranh đấu cam go

Nhất quyết không hề khoan nhượng

Phải đòi cho bằng được

Để mọi người

Được sống cho ra con người

Với danh dự phẩm giá

Trong công lý an toàn

Và tự do dân chủ.

Phải diệt trừ tận gốc

Nạn độc quyền ngang ngược

Nạn bè phái nghinh ngang

Nạn giáo điều bệnh hoạn

Tình Liên đới Quốc tế là một Điều Có Thật

  • Tình Liên đới Quốc tế là một Điều Có Thật

 

Bút ký của Đòan Thanh Liêm

 

Từ xa xưa cha ông ta vẫn thường nói “Bốn bể một nhà”, “Mọi người đều là anh em”. Trong văn học Trung quốc, có chuyện Thủy Hử viết về những Anh hùng Lương Sơn Bạc, thì bản dịch sang tiếng Anh lại có nhan đề là “All Men are Brothers”. Và đây cũng là nhan đề của cuốn suy nghĩ tự thuật của Thánh Gandhi ở Ấn Độ :

– All Men Are Brothers : Autobiographical Reflections by Mohandas Gandhi –

Vào hồi giữa thập niên 1950, lúc còn là một sinh viên trường Luật ở Saigon, thì tôi hay gặp trên sách báo một từ ngữ bằng tiếng Pháp “ La Solidarité Internationale” có nghĩa là “Tình Liên đới Quốc tế”. Và tôi rất thích thú với từ ngữ này, nó gợi ra cho tôi một chân trời mở rộng, một tình cảm cao quý, một thái độ lạc quan trước sự cảm thông, hiểu biết và yêu thương lẫn nhau giữa những con người vượt ra khỏi biên giới chật hẹp của mỗi một quốc gia. Nay nhân dịp đầu Xuân Nhâm Thìn 2012, tôi muốn thuật lại với quý bạn đọc về những kinh nghiệm chính bản thân mình đã trải qua suốt trên 50 năm nay, qua bao nhiêu gặp gỡ với những bạn bè quốc tế, cũng như tham gia các sinh họat mà có liên hệ trực tiếp đến sự Hợp tác và Liên đới Quốc tế là chủ đề chính yếu của bài viết này. Do sinh họat thuần túy trong các tổ chức thiện nguyện tư nhân độc lập, nên tôi không hề bị một sự ràng buộc hạn chế nào như là đối với một nhân viên thuộc cơ sở hành chánh của chính quyền nhà nước Việt nam Cộng hòa thời kỳ trước năm 1975.

Để bắt đầu, tôi xin lần lượt ghi lại theo thứ tự thời gian cái diễn trình làm quen và cộng tác với bạn hữu từ nhiều quốc gia trong những việc làm cụ thể thiết thực nhằm phục vụ nhân quần xã hội.

I – Những năm giữa thập niên 1950, hồi còn đi học ở Saigon.

 Lần đầu tiên tôi có dịp tiếp cận với một cơ quan từ thiện nhân đạo quốc tế. Đó là vào cuối năm 1954 khi một số sinh viên mới di cư từ Hanoi vào Saigon, thì được cơ quan CARE trao cho thực hiện một công việc cũng nhẹ nhàng đơn giản thôi. Đó là ghi chép lại tên tuổi, địa chỉ của một số nhà hảo tâm mà đã gửi tặng những phần quà cho lớp người di cư tỵ nạn Việt nam. Các món quà do các nhà hảo tâm này từ nước Mỹ và Canada cung cấp gồm phần lớn là quần áo, khăn mặt, xà bông, tập vở, bút viết, đồ chơi dành cho trẻ em tại các trại di cư tỵ nạn ở miền Nam thời đó. Qua việc này, tôi được biết về sự thông cảm và chia sẻ của những bạn hữu quốc tế đối với người di cư tỵ nạn cộng sản từ miền Bắc vào miền Nam như chúng tôi.

Thế rồi vào các năm 1956 – 58, lúc tôi đến cư ngụ tại cư xá sinh viên có tên là Câu lạc bộ Phục Hưng trên đường Nguyễn Thông do các linh mục thuộc Dòng Đa minh chi Lyon bên Pháp điều hành, thì tôi hay được dịp gặp những người khách phần lớn từ Âu châu ghé thăm và trao đổi chuyện trò với lớp sinh viên chúng tôi. Sát với cư xá nơi chúng tôi ở, thì có nhà thương Saint Paul và nhà dòng của các Nữ tử Bác ái (Filles de la Charité), hồi đó còn có nhiều nữ tu người Pháp, người Hòa lan, Thụy sĩ nữa. Nơi đây còn có những lớp đào tạo nữ y tá (infirmières) do Hội Hồng Thập Tự Pháp bảo trợ. Và cả lớp đào tạo nữ cán sự xã hội (assistantes sociales) và lớp đào tạo nữ giáo viên vườn trẻ (jardinières). Các lớp này đều được giảng dậy theo chương trình của bên Pháp, nên có nhiều giảng viên người Pháp lui tới đây để giảng bài và giúp đỡ trong việc thực tập nữa.

Cũng gần đó, thì lại có Cư xá Thanh Quan dành cho nữ sinh viên do các nữ tu AFI phụ trách (Auxiliaires Féminines Internationales = Nữ Trợ tá Quốc tế). Các chị này có một số là người Pháp, Bỉ, Ý Đại Lợi, họ thật lòng chăm sóc cho giới sinh viên và học sinh Việt nam, và chúng tôi thường có dịp gặp gỡ trao đổi và sinh họat chung với nhau qua những cuộc du ngọan đi thăm các vùng xung quanh thành phố Saigon. Trong thời gian còn học ở trường Luật, tôi lại tham gia làm hội viên của tổ chức văn hóa Pháp có tên là Alliance Francaise (Pháp văn Đồng minh Hội), nên lại có thêm dịp tiếp cận với văn hóa Pháp, cụ thể như đọc sách báo mới từ Pháp gửi qua, tham dự các buổi diễn thuyết của các học giả, giáo sư từ bên nước Pháp qua Saigon, để nhằm phổ biến văn hóa Pháp.

  • Cũng từ năm 1957 trở đi, thì tôi được một số bạn rủ rê tham gia sinh họat cắm trại và làm công tác xã hội giúp một số địa phương ở ngọai ô thành phố, mà thường được gọi là “Work Camp”. Nhóm này về sau vào năm 1960 – 61 thì được phát triển thành một tổ chức có danh xưng chính thức là : “Hội Thanh niên Thiện chí – Công tác và Nghị luận “. Trong một số buổi Họp Mặt Thân Hữu, tôi cũng đã có dịp gặp gỡ với mấy người bạn ngọai quốc từ nhiều quốc gia ghé qua thăm Việt nam nữa. Hồi đó, cũng như nhiều bạn khác cùng lứa tuổi, trình độ tiếng Anh của tôi vẫn còn rất hạn chế, tôi có thể đọc và nghe tiếng Anh thì hiểu hầu hết được, nhưng khinói thì vẫn còn chậm chạp ngượng nghịu, chứ chưa thể phát biểu dễ dàng trôi chảy như sau này lúc du học ở Mỹ về lại Việt nam.

II – Thời gian du học tu nghiệp tại Mỹ 1960 – 61.

Năm 1958, sau khi tốt nghiệp đại học Luật khoa Saigon, thì tôi được nhận vào làm chuyên viên nghiên cứu luật pháp (legal analyst) tại Quốc hội Việt nam Cộng hòa. Rồi đến năm 1960, cơ quan này gửi tôi đi du học tu nghiệp tại Mỹ do học bổng của cơ quan Viện trợ Mỹ USOM đài thọ.

Tại thủ đô Washington, tôi được bố trí đến tập sự tại một bộ phận chuyên về việc sưu tầm và sọan thảo tài liệu cho ngành Lập pháp, có tên là Legislative Reference Service (LRS) thuộc Thư Viện Quốc Hội (Library of Congress = LOC). Các bậc đàn anh đàn chị tại đây đã hết sức tận tâm hướng dẫn cho tôi trau dồi học hỏi thêm về lãnh vực nghiên cứu luật pháp, sưu tầm tài liệu tham khảo cần thiết cho công tác của ngành Lập pháp. Đồng thời vào các buổi chiều tối, tôi lại đi học thêm về luật pháp tại Đại học George Washington và về kinh tế tại Đại học American University cũng gần nơi tôi cư ngụ.

Trong suốt nửa năm theo học và tập sự tại Washington, tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ quen biết với các chức sắc làm việc tại văn phòng Hạ nghị viện, Thượng nghị viện và đặc biệt tại LOC, cũng như học tập và sinh họat chung với nhiều bạn sinh viên Mỹ và sinh viên du học đến từ các quốc gia khác. Vào những dịp nghỉ lễ dài ngày như lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng Sinh (Thanksgiving, Christmas), tôi còn được mời đến nhà ăn bữa cơm gia đình với các nhân viên cùng làm việc trong cơ quan. Một trong số nhân viên làm ở Quốc hội Mỹ thời đó mà làm cho tôi nhớ hòai, đó là ông Roger Cohen – trưởng văn phòng của một Ủy ban thuộc Thượng nghị viện. Ông này hồi thế chiến 2 là sĩ quan trong đội quân đồng minh đổ bộ lên bờ biển Normandie của Pháp để mở đầu chiến dịch tấn công quân Đức quốc xã ở Âu châu. Sau khi chiến tranh kết thúc, ông cưới được một bà vợ người Pháp. Do vậy, ông nói tiếng Pháp khá trôi chảy. Ông thích nói chuyện với tôi bằng tiếng Pháp và nói ít khi ông gặp được người khách nào đến văn phòng này mà nói được tiếng Pháp như tôi. Từ đó mà hai người chúng tôi khá thân thiết với nhau.

Nói chung, thì tôi được bà con làm việc tại Quốc hội Hoa kỳ đón tiếp rất là thân tình chu đáo, điều này quả thật đã gây cho tôi một ấn tượng tốt đẹp khó quên. Thủ đô Washington hồi đó thật là yên tĩnh thanh bình, hằng ngày trên đường từ nhà đến trụ sở của Thư viện Quốc hội tại khu đồi Capitol (Capitol Hill), tôi đều phải đi ngang qua công viên Lafayette đối diện với Tòa Bạch Ốc dọc theo đại lộ Pennsylvania, mà không hề thấy những ụ rào cản ngăn chặn xe cộ đi lại như hiện nay nhằm đề phòng quân khủng bố tấn công. Những hôm trời mát mẻ, tôi có thể lững thững đi bộ xuyên qua khu downtown dài chừng 2-3 miles để đi làm, đường xá tấp nập đông người qua lại trông thật vui mắt sinh động.

Tại nhà trọ, tôi ở chung với các bạn người Mỹ, người Đại Hàn, nên hay có dịp chuyện trò tâm sự với nhau. Gần Tòa Bạch Ốc hồi đó còn có một quán ăn do người Đại Hàn làm chủ lấy tên là Jenny’s chuyên bán đồ ăn Á châu, nên mỗi khi đến ăn tại đó thì tôi lại gặp rất nhiều các bạn sinh viên người Việt, Nhật, Đài Loan, Phi Luật Tân, Thái Lan, Lào, Cambodia, Indonesia, Mã Lai, Ấn Độ… và dĩ nhiên là cả người Mỹ nữa. Cũng gần đó lại còn có quán trọ của tổ chức YMCA (Young Men Christian’s Association) chuyên môn phục vụ giới thanh niên trong việc nối kết họ sinh họat gắn bó với cộng đồng địa phương, tôi hay được mấy bạn Mỹ rủ tới đó họp mặt ăn sáng, uống cà phê và trao đổi những câu chuyện bằng hữu thân tình vào các buổi sáng ngày chủ nhật.

Đặc biệt nhất là các buổi sinh họat gặp gỡ thân hữu do tổ chức Trung tâm Quốc tế Washington (WIC = Washington International Center) đứng ra sắp xếp, nhằm giới thiệu cho các sinh viên mới đến vùng thủ đô (newcomer) làm quen với nhau, cũng như đi thăm các cơ sở chính quyền, các viện bảo tàng, các danh lam thắng cảnh ở địa phương. Trung tâm này được nhiều người volunteer (thiện nguyện viên) đến giúp đỡ hướng dẫn cho sinh viên chúng tôi làm quen được với khung cảnh văn hóa xã hội ở Mỹ. Sinh viên chúng tôi rất thích thú với các sinh họat tại WIC, đến nỗi sau này dù đã quá quen thuộc với lối sống tại thành phố này, thì lâu lâu chúng tôi lại ghé qua thăm để gặp lại nhau và gặp được các bạn từ các nơi xa mới đến nước Mỹ nữa.

Nói chung, thì qua thời gian học tập và tu nghiệp ở Washington DC, tôi đã có dịp học hỏi được rất nhiều điều bổ ích để trau dồi cho nghề nghiệp chuyên môn về nghiên cứu luật pháp của mình, được chứng kiến cái lối sống văn minh ngăn nắp trong xã hội Mỹ, và còn làm quen được với rất nhiều bạn người Mỹ cũng như người từ các quốc gia xa lạ khác nữa. Tuổi trẻ chúng tôi thật là hồn nhiên, vô tư trong sáng, nên thời gian sống ở Washington vào năm 1960 – 61 đã để lại trong ký ức của tôi một dấu ấn thật sâu đậm, không bao giờ có thể phai mờ đi được.

Nhân tiện, tôi cũng xin ghi sơ qua cái cảm nghĩ về Lễ Nhậm chức của Tổng thống Kennedy vào tháng Giêng năm 1961. Bữa đó trời rất lạnh, nên tôi phải ở nhà coi TV, lâu lâu mới thả bộ ghé ra khúc đại lộ Pennsylvania gần nhất để coi các đòan diễn hành, rồi lại trở về nhà tiếp tục coi TV, thì càng thấy đày đủ chi tiết hơn. Hồi đó chưa có TV màu, nhưng trình độ phóng sự của các chuyên viên đã đạt tới mức độ cao về sự chính xác và mau lẹ. Tôi thật phấn khởi được trực tiếp nghe Tổng thống Kennedy đọc bài diễn văn thật hùng hồn, rõ ràng mạch lạc dứt khóat, có tác dụng làm nổi lên ngọn lửa nhiệt thành say mê nơi thế hệ trẻ như lớp sinh viên chúng tôi đang ở vào lứa trên dưới 25 tuổi. Câu nói bất hủ : “ Ask not what the country can do for you, but ask what you can do for your country” của Tổng thống, thì không bao giờ thế hệ sinh viên chúng tôi lại quên đi được. Báo chí mấy ngày sau đã thi đua nhau hết lời ca tụng bài diễn văn nhậm chức có tính cách lịch sử này (an historical inaugural address).

III – Sinh họat với các bạn trẻ trong tổ chức Đòan Thanh Niên Chí

Nguyện Quốc Tế (IVS = International Voluntary Services) trong thập niên 1960 – 70.

Năm 1961, sau thời gian tu nghiệp tại Mỹ tôi trở về lại Việt nam và tiếp tục đi làm tại văn phòng Quốc hội ở khu trung tâm thành phố Saigon. Vào những lúc rảnh rỗi, tôi hay đến gặp gỡ trao đổi với các bạn trẻ công tác tại Đòan Thanh Niên Chí Nguyện Quốc Tế có trụ sở ở khu vực Trại Chăn Nuôi Tân Sơn Nhất, gần với Ngã Tư Bảy Hiền. Các bạn này phần đông cũng vào tuổi ngòai 20, vừa mới tốt nghiệp đại học và tình nguyện tham gia họat động ở Việt nam như là giáo sư dậy Anh ngữ hay làm việc về canh nông, y tế tại địa phương các tỉnh. Phần đa số đó là người Mỹ, nhưng cũng có một số là người Nhật, Đài Loan, Phi Luật Tân, Ấn Độ, Pakistan… nữa.Trong các buổi sinh họat do Hội Thanh Niên Thiện Chí tổ chức, thì thường có một vài đòan viên IVS đến tham dự, và tuổi trẻ chúng tôi dễ dàng kết bạn thân tình với nhau qua những cuộc họp bạn vui chơi ca hát, thi đua thể thao, hay qua những trại công tác xã hội như sửa chữa vài lớp học, dọn dẹp vệ sinh rác rưởi, khai thông đường cống thóat nước, mở rộng lối đi… tại một vài địa phương vùng ngọai ô thành phố.

Vào cuối năm 1964, mấy đòan viên IVS lại đã hết sức tích cực giúp đỡ giới thanh niên sinh viên chúng tôi trong chiến dịch cứu trợ nạn nhân bão lụt tại các tỉnh miền Trung từ Tuy Hòa ra đến Quảng Ngãi, Quảng Nam. Qua những công tác cụ thể thiết thực như vậy, giới trẻ Việt Nam chúng tôi càng thêm gắn bó thân thiết với nhau, cũng như với các bạn thanh niên IVS. Và rồi vào năm sau, với Chương Trình Công Tác Hè 1965 (Summer Youth Program 65), thì IVS đã tận tình giúp đỡ chúng tôi bằng cách vận động với cơ quan Viện trợ Mỹ USAID cấp phát một ngân khỏan lên đến 20 triệu đồng cho quỹ điều hành của chương trình này. Có thể coi Chương trình này là một thứ dự án chung của giới thanh niên sinh viên Việt Nam hợp tác với các bạn trẻ của IVS (joint project).

Tôi xin ghi ra đây tên của một số bạn IVS này, điển hình như sau :

Don Luce, John Sommer, Charlie Sweet, Gene Stoltzfuss, Mark Lynch, Hugh Manke, Dan Wheatfield, Jackie Chagnon, Masafumi Nagao, Rick Pyeat, Tom Cooper…Các bạn này còn đến hỗ trợ cho công tác của chương trình phát triển cộng đồng của chúng tôi tại các quận 6,7,8 Saigon từ những năm 1965 trở đi. Đặc biệt, do sự yêu cầu của chúng tôi, thì các anh đi vận động với các cơ quan xã hội như CARE, VNCS, ACS (Vietnam Christian Service, Asian Christian Service) để họ yểm trợ mấy chương trình về huấn nghệ được tổ chức trong khuôn viên của những chùa, nhà thờ tại đia phương các quận nói trên nữa.

Vào năm 1968 trở đi, IVS còn mời các anh Trần Ngọc Báu, Trần Văn Ngô và tôi xung vào Ban Cố vấn (Advisory Board) cho họ nữa. Và chúng tôi lại có dịp sát cánh thân thiết hơn nữa với các bạn thanh niên chí nguyện này. Mỗi khi IVS có quan khách nào từ Washington qua thăm, thì họ lại cũng mời anh em trong Ban Cố vấn chúng tôi đến gặp gỡ trao đổi với vị quý khách này nữa. Nhờ có sự hợp tác lâu bền với IVS như vậy, mà giới thanh niên Việt nam chúng tôi đã có thể mở rộng tầm nhìn và cả quy mô sinh họat mỗi ngày thêm khởi sắc hơn trong chiều hướng hội nhập quốc tế, ít nhất là trong phạm vi cuả Xã hội Dân sự.

IV – Vận động quốc tế yểm trợ các chương trình phát triển xã hội tại Việt nam trong giai đọan 1965 – 1975.

Vào tiết thu năm 1965, anh chị em thanh niên sinh viên chúng tôi khởi sự một chương trình phát triển cộng đồng tại một địa phương nghèo khó nhất tại Saigon, đó là ở quận 8 phía bên kia cầu chữ Y và cầu Chà Và. Khu vực này hồi đầu thập niên 1950 là căn cứ địa của phe Bình Xuyên do Tướng Bảy Viễn cầm đầu. Dân cư ở đây phần đông là người từ các vùng Long An, Cần Giuộc, Cần Đước vì tình hình mất an ninh, nên trong nhiều năm họ đã phải đổ xô về tá túc tại ngọai ô thành phố, họ sinh sống trong những căn nhà xây cất tồi tàn tạm bợ lẩn sâu trong các khóm hẻm, thường được gọi là những “khu ổ chuột”, thiếu thốn mọi tiện nghi tối thiểu về vệ sinh công cộng, cũng như về cơ sở giáo dục y tế, về đường xá giao thông đi lại.

Sau một thời gian dò dẫm làm quen được với giới thân hào nhân sĩ ở địa phương, cũng như giới tu sĩ, giới giáo chức, chúng tôi đã bắt đầu phát động được một phong trào quần chúng tự nguyện dấn thân vào những dự án cải tiến dân sinh trong các khóm hẻm. Cụ thể như xây dựng hệ thống thóat nước, san bằng các đường hẻm lồi lõm, lầy lội, tu bổ các nhà vệ sinh công cộng và nhất là mở thêm nhiếu lớp học sơ cấp. Công trình cải thiện môi trường sống tại khu vực kém mở mang như vậy đã gây được sự chú ý của nhiều giới chức trong chính quyền, giới chức ngọai giao, giới truyền thông báo chí, cũng như giới họat động xã hội quốc tế mà có quan tâm đến việc xây dựng và phát triển tại Việt nam giữa thời kỳ chiến tranh mỗi ngày một leo thang, tạo ra số đông những nạn nhân chiến cuộc nhan nhản tại vùng ven biên thành phố.

Vì là một tổ chức thiện nguyện xã hội của tư nhân mà được sự bảo trợ của Tòa Đô Chánh và Bộ Thanh Niên, nên chương trình phát triển chúng tôi được tự do liên hệ với bất kỳ tổ chức từ thiện nhân đạo nào của Việt nam, cũng như của ngọai quốc, để xin họ yểm trợ cho một số dự án cải tiến xã hội tại địa phương 3 quận này. Điển hình như việc trang bị máy móc cho các lớp dậy nghề do các tổ chức tôn giáo đứng ra thiết lập và điều hành, giúp đỡ việc trang bị bàn ghế cho các lớp học tại những khu vực còn thiếu thốn về cơ sở giáo dục phổ thông v.v…

Nhất là vào năm Mậu Thân 1968, cả 3 quận đều bị tàn phá nặng nề về nhà cửa và các cơ sở công cộng lên đến hàng mấy chục ngàn đơn vị gia cư, thì chương trình chúng tôi phải tận lực lo lắng tổ chức cho bà con chỉnh trang tái thiết lại nhà cửa. Tính ra trong 20 khu tái thiết, chúng tôi đã cùng với bà con ở địa phương hòan thành được đến 8,000 đơn vị gia cư. Công trình tái thiết này không những đã gây được sự tin tưởng của gia đình các nạn nhân ở địa phương, mà còn được nhiều tổ chức nhân đạo quốc tế đành giá cao. Kết quả là các tổ chức này đã hết sức tín nhiệm đối với chương trình phát triển cộng đồng của anh chị em chúng tôi. Các tổ chức như CARE, Catholic Relief Services (CRS = Tổ chức Cứu Trợ Công giáo Mỹ), OXFAM (Tổ chức Cứu Đói của Anh quốc), Adenauer Foundation của Đức quốc v.v… đều hết sức yểm trợ cho các dự án phát triển tại địa phương.

Và ngay chính bản thân mình, thì tôi đã được mời vào Ban Cố Vấn cho các tổ chức như Asian Christian Service (ACS), IVS (như đã ghi ở đọan trên) và nhất là vào Ban Quản trị cho Shoeshine Boys Foundation (Tổ chức trợ giúp các trẻ em đánh giày). Thành ra thông qua những công tác xã hội cụ thể, thiết thực nhằm giúp đỡ các nạn nhân chiến cuộc, tôi đã có cơ hội liên kết được với nhiều bạn bè quốc tế và sát cánh với họ trong nhiều dự án nhân đạo từ thiện tại nhiều địa phương khác nữa ngòai thủ đô Saigon, đặc biệt là tại mấy tỉnh miền Trung là nơi chiến sự đã diễn ra ác liệt tàn khốc hơn cả, cụ thể như những cuộc tấn công trong chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa vào năm 1972.

Trong hai năm 1972 – 74, tôi còn được mời cộng tác với tổ chức Hội Đồng Tôn giáo Thế giới có trụ sở chính đặt tại Geneva Thụy sĩ (The World Council of Churches – WCC) với chức vụ Giám đốc Văn phòng Nghiên cứu và Liên lạc tại Saigon. Trong thời gian này, tôi đã có dịp tham gia bàn thảo về việc thành lập Quỹ Tái Thiết và Hòa Giải tại Đông Dương với trụ sở đặt tại Bangkok Thái Lan nữa (Funds for the Reconstruction and Reconciliation in Indochina

FRRI)

Kể từ năm 1970, tôi còn hay được mời đi qua nước Pháp, Thụy Sĩ, Hòa Lan ở Âu châu và một số nước ở Á châu như Thái Lan, Phi Luật Tân để tham dự những cuộc hội thảo quốc tế bàn về những vấn đề văn hóa xã hội tại các quốc gia trong thế giới thứ ba (third world). Đây là những dịp để cho tôi học hỏi thêm về kinh nghiệm của những bạn bè quốc tế trong lãnh vực xây dựng và phát triển xã hội. Và đồng thời cũng là cơ hội cho tôi được trình bày trước diễn đàn thế giới về những suy nghĩ của một người cán bộ xã hội thiện nguyện ở Việt Nam giữa lúc chiến tranh đang ở vào giai đọan đen tối khốc liệt nhất, đặc biệt là sau cuộc Tổng tấn công vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968, mà báo chí và TV đều tường thuật rất đày đủ tin tức với nhiều hình ảnh rất thương tâm phổ biến đến với công chúng tại khắp nơi trên thế giới.

V – Nhận định tổng kết.

 Bài viết đến đây kể đã dài rồi, tôi xin tóm lược sự trình bày bằng mấy nhận định tổng kết thật ngắn gọn trong mấy điểm như sau đây:

1 – Ngày nay với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là trong ngành truyền thông và giao lưu kinh tế văn hóa, con người dễ dàng gần gũi với nhau hơn. Do vậy mà tính cách nhân bản và tình nhân ái bảo bọc gắn bó giữa con người với con người – dù khác biệt nhau đến mấy đi nữa – thì cũng vẫn có điều kiện thuận tiện mà được thể hiện một cách cụ thể rõ ràng, chứ không chỉ là một ước mơ không tưởng như ở thời kỳ xa xưa nữa. Sau bao nhiêu cuộc chiến tranh tàn sát đẫm máu, con người đã tỉnh ngộ và tìm ra được một bài học quý báu, đó là : “ Chỉ có thể đem lòng yêu thương cao thượng rộng lớn ra thì mới dứt khóat hàn gắn được mối hận thù ân óan lâu đời trong xã hội.” Và càng ngày lý tưởng Hòa bình Nhân ái càng được đề cao trân trọng nơi tâm hồn con người ở mọi quốc gia trên thế giới.

2 – Tại miền Nam hồi trước năm 1975, mặc dù nếp sinh họat trong thời chiến tranh vẫn còn bị gò bó hạn chế nhiều về mặt chính trị quân sự, nhưng Xã hội Dân sự thì vẫn tồn tại và lại phát triển tương đối khởi sắc qua sự kiện là các tổ chức phi chính phủ và bất vụ lợi (non-governmental/non- profit organisations) như các đòan thể, hiệp hội tư nhân – điển hình như Hội Hồng Thập Tự, Hội Hướng Đạo, Hội Thanh Niên Thiện Chí – thì vẫn được tự do họat động, mà còn được tự do liên lạc và hợp tác cả với các tổ chức thiện nguyện quốc tế nữa. Những điều tường thuật trong bài viết này là một chứng minh cụ thể cho tính cách thông thóang cởi mở trong xã hội ở miền Nam Việt nam thời kỳ trước năm 1975 vậy.

3 – Là một người có cái duyên được gặp gỡ quen biết với nhiều bạn bè quốc tế ngay từ thời còn là một sinh viên đại học ở Saigon, cũng như trong thời gian đi du học tu nghiệp tại nước Mỹ, tôi đã chứng kiến rõ rệt sự thông cảm, thân ái quý trọng lẫn nhau giữa những bạn trẻ xuất phát từ mọi quốc gia với tinh thần hồn nhiên trong sáng của thế hệ những con người đang được thụ hưởng đày đủ sự tiện nghi tiến bộ do nền kinh tế thịnh vượng cung ứng và cũng do sự hòa hõan quốc tế bảo đảm cho họ có được một nếp sống thanh bình an lạc.

Và thông qua những công tác xã hội phục vụ những nạn nhân chiến cuộc ngay tại vùng ngọai ô thành phố Saigon, nhất là sau cuộc tổng tấn công hồi Tết Mậu Thân năm 1968, tôi đã nhận được sự chia sẻ những gánh nặng khó khăn từ những bạn bè quốc tế với những sự yểm trợ cụ thể, thiết thực cho các dự án tái thiết và cải tiến xã hội tại địa phương các quận 6,7,8 Saigon, cũng như tại một số nơi khác nữa như ờ miền Trung chẳng hạn.

Một cách hết sức tóm lược, bài viết mà quý bạn đọc đang coi ở đây chính là một sự minh họa cho cái Tình Liên Đới Quốc Tế thật là cao quý trong thời đại của chúng ta ngày nay vậy./

California, những ngày cuối năm Tân Mão 2011

Đòan Thanh Liêm

Tâm sự cuối năm Mùi

Tâm sự cuối năm Mùi

Đoàn Thanh Liêm

* * *

DoanThanhLiem

Tôi sinh năm Giáp Tuất 1934, đến nay thì đã ở vào cái tuổi bát tuần rồi. Nhờ

phúc đức ông bà, tôi vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn và còn say mê với

chuyện sách đèn.

Gia đình con cháu tương đối thành công ổn định. Tôi cũng hay có dịp đi

khắp nơi đây đó để tham gia hội họp và gặp gỡ thăm viếng với nhiều bà con,

bằng hữu. Nhờ đó mà cuộc sống riêng tư bản thân có phần an vui thỏai mái.

Tuy vậy, nhìn về đại cuộc của đa số bà con thân thương ở quê nhà, thì thật

tâm tôi không khỏi bi quan với nhiều ưu tư, khắc khỏai.

Nhân dịp cuối năm Ất Mùi đang chuẩn bị qua năm mới Bính Thân, tôi xin

được chia sẻ với các bạn xa gần nỗi niềm tâm sự của riêng mình qua mấy câu

thơ ngắn ngủi mộc mạc như sau:

Tuổi già, tưởng yên phận

Mà bao người căm phẫn

Lũ cường hào gian ác

Toa rập với ngoại xâm

Nhượng cả đất, cả biển

Tan hoang non nước nhà

Tương lai thật đen tối

Tơ vò rối lòng ta.

Costa Mesa, California Tháng 12 năm 2015

Đoàn Thanh Liêm

Vượt qua hận thù trường hợp của nước Pháp và Đức

Vượt qua hận thù trường hợp của nước Pháp và Đức

( sau thế chiến thứ hai )

Bài viết của : Đoàn Thanh Liêm

LIEM DOAN

Giữa hai dân tộc nước Pháp và nước Đức đã từng có một sự hận thù nặng nề ghê gớm kéo dài trong nhiều thế hệ, phát sinh từ ba cuộc chiến tranh liên tục, bắt đầu từ năm 1870 với cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (franco-prussian war), rồi đến đệ nhất thế chiến 1914 –

1918, và sau cùng là đệ nhị thế chiến 1939 – 1945. Nhưng kể từ giữa thập niên 1950, hai nước này đã vượt qua được sự thù hận ân oán lâu đời đó, để mà cùng hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm góp phần cực kỳ quan trọng vào việc xây dựng được một khối thị trường chung Âu châu (European Common Market). Và rồi tiến tới thêm một bước kỳ diệu nữa, đó là thiết lập được một thực thể chính trị kinh tế quan trọng bậc nhất trong thế giới hiện đại, tức là tổ chức Liên Hiệp Âu châu (European Union EU), mà hiện gồm có 27 quốc gia thành viên, với dân số tổng cộng là 500 triệu người, với đơn vị tiền tệ chung gọi là đồng euro, và tổng sản lượng quốc gia GDP lên đến 20 ngàn tỷ dollar (20 trillion).

Sự hòa giải và hợp tác giữa hai quốc gia cựu thù này có thể được coi là một sự kiện nổi bật nhất trong lịch sử của Âu châu nói riêng, cũng như của cả thế giới nói chung, trong thời cận đại kể từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt vào năm 1945, cho đến đầu thế kỷ XXI của chúng ta ngày nay. Cái thành tựu vĩ đại và ngoạn mục như thế là do sự đóng góp về cả trí tuệ và về cả tâm hồn của biết bao nhiêu nhân vật xuất chúng từ phía cả hai dân tộc Pháp và Đức. Và bài viết này xin được ghi lại cái quá trình phục hồi và xây dựng hết

sức tích cực của một số nhân vật kiệt xuất đó.

Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, người viết xin trình bày sơ lược về bối cảnh lịch sử tại khu vực Tây Âu, trước khi mô tả chi tiết về tiến trình hòa giải và hợp tác của hai nước Pháp và Đức trong nửa sau của thế kỷ XX.

I – Bối cảnh lịch sử cận đại tại Tây Âu.

  • Như ta đã biết vào năm 1870, nước Pháp do Napoleon III lãnh đạo đã bị thất trận nhục nhã trước đội quân tinh nhuệ của nước Phổ  (Prussia) dưới thời cầm đầu của thủ tướng Bismarck. Việc thất trận này đưa đến sự thóai vị của Hòang Đế Napoleon III và sự giải thể của nền Đệ nhị Đế chế ( the Second Empire) và sự ra đời cùa nền Đệ Tam Cộng Hòa ( the Third Republic) của nước Pháp. Nhưng nước Pháp lại còn mất cả vùng đất Alsace-Lorraine ở phía đông bị chuyển vào tay người Đức – (do nước Phổ sáp nhập hợp thành

nước Đức thống nhất vào đầu thập niên 1870)-. Đây là cả một nỗi cay đắng hận thù sâu đậm của dân Pháp đối với người Đức. Chỉ cần đọc bài viết “ Buổi học cuối cùng” (La derniere classe) của nhà văn Alphonse Daudet, ta cũng đủ thấm thía cái nỗi niềm tủi nhục

uất hận của người dân Pháp trong vùng đất bị tước đọat này.

Tiếp theo vào năm 1914 – 18, lại xảy ra cuộc thế chiến thứ nhất giữa phe Đức – Áo và phe Đồng Minh do Pháp – Anh đứng đầu. Cuộc chiến tranh này gây thiệt hại rất nặng cho cả hai nước Đức và Pháp. Vì Đức cuối cùng bị thua trận, nên vùng đất Alsace-Lorraine

lại trở về với Pháp. Nhưng vì nước Đức bại trận bị đối xử quá khắc nghiệt, nên người Đức thật bất mãn, hận thù phe Đồng Minh, đặc biệt đối với dân tộc láng giềng là Pháp.

Cho nên, đến năm 1939 lại xảy ra thế chiến thứ hai rất tàn bạo khủng khiếp, mà bắt đầu vào năm 1940 nước Pháp thua trận và bị quân đội Đức quốc xã của Hitler chiếm đóng với sự đàn áp hết sức tàn bạo khốc liệt. Vì thế mà mối hận thù giữa hai dân tộc Pháp- Đức lại càng thêm nặng nề bi đát. Rốt cuộc, năm 1945 nước Đức lại thua trận nữa, và cả Âu châu bị tàn phá kiệt quệ với hàng chục triệu nhân mạng bị tiêu vong.

Như vậy là chỉ trong vòng 70 năm từ năm 1870 đến năm 1940, giữa hai dân tộc Pháp và Đức đã xảy ra 3 cuộc chiến tranh đẫm máu với bao nhiêu triệu người bị giết và tàn phế, bao nhiêu tài sản bị hủy họai, và nhất là sự căm thù giận ghét mỗi ngày lại càng

thêm chồng chất tích lũy giữa hai bên.

II – Quá trình Hòa giải và Hợp tác Pháp – Đức sau năm 1945.

Sau khi cuộc chiến tàn bạo dã man kết thúc, người dân hai nước bàng hòang trước sự đổ nát hoang tàn và kiệt quệ về mọi mặt. Rồi tiếp liền theo là cuộc chiến tranh lạnh gay go căng thẳng giữa hai phe cộng sản do Liên Xô lãnh đạo và phe tư bản do Mỹ dẫn đầu.

Nhằm lôi kéo khu vực Tây Âu về phía mình, kể từ năm 1948 nước Mỹ đã hào phóng viện trợ đến trên 13 tỉ dollar cho các quốc gia đồng minh tại đây thông qua một chương trình tái thiết Âu châu, mà thường được gọi là kế hoạch Marshall. Nhưng vai trò chủ yếu trong công cuộc phục hồi, tái thiết và hòa giải ở Tây Âu là do các nhà lãnh đạo chính trị có tầm vóc đặc biệt lớn lao, điển hình như thủ tướng Konrad Adenauer của Tây Đức, ngọai trưởng Robert Schuman của Pháp, và đặc biệt là kế hoạch gia đại tài với viễn kiến sâu sắc Jean Monnet người Pháp. Đã có quá nhiều sách báo viết về sự đóng góp đồ sộ làm nền móng vững chắc cho sự tiến bộ của Âu châu từ trên 65 năm nay của những nhân vật chính trị kiệt xuất này, cho nên tôi thấy không cần phải trình bày dài dòng chi tiết thêm nữa về họ.

Mà đúng theo với nhan đề của bài này, tôi muốn viết về một nhân vật tiêu biểu của Xã hội Dân sự ở Âu châu, mà có sự đóng góp thật vĩ đại vào tiến trình hòa giải của hai dân tộc Pháp và Đức trong mấy thập niên gần đây. Nhân vật lỗi lạc đó chính là bà Irène Laure người Pháp, mà tôi xin dành được đề cập đến với nhiều chi tiết hơn trong phần tiếp theo liền sau đây.

III – Câu chuyện của Irène Laure (1898 – 1987).

Irene Laure xuất thân là một cán sự điều dưỡng và đã từng giữ nhiệm vụ quản lý bệnh viện. Victor người chồng của bà là một thủy thủ và là môn đệ của nhà lãnh đạo cộng sản Pháp Marcel Cachin. Trong thế chiến thứ hai, Irène tranh đấu trong hàng ngũ kháng chiến tại vùng hải cảng Marseille chống lại quân Đức quốc xã. Bà có người con trai bị mật vụ Gestapo tra tấn tàn bạo, nên đã có sự căm thù tột cùng đến độ mong cho mọi người dân Đức phải chết hết, và “quốc gia này phải bị xóa bỏ khỏi bản đồ của Âu

châu”. Sau khi chiến tranh kết thúc, Irène được bầu vào Quốc hội Lập hiến và làm Tổng thư ký của tổ chức “Phụ nữ Xã hội Pháp” với số đòan viên thời đó lên tới 3 triệu người.

Tháng chín năm 1947, Irène đến tham dự một hội nghị quốc tế tại thành phố Caux Thụy sĩ, cùng với nhiều đại biểu từ các nước Âu châu. Hội nghị này là do tổ chức Moral Re-Armament MRA (Tái Võ trang Tinh thần) đảm trách, nhằm quy tụ nhiều nhân vật văn

hóa xã hội, tôn giáo để cùng nhau trao đổi về vấn đề tái thiết Âu châu. Sẵn có sự căm thù đối với người Đức, Irène đã chuẩn bị rời bỏ Hội nghị khi được biết là có một số người dân Đức cũng tham dự cuôc gặp mặt này. Nhưng bà đã ngưng chuyện bỏ về, khi được

một người trong Ban Tổ chức nói với Irène rằng : “Bà là một người theo khuynh hướng quốc tế xã hội, làm sao mà bà lại có thể tái thiết được Âu châu, nếu bà loại trừ cả một dân tộc Đức?”

Dẫu vậy, khi được mời ăn bữa trưa với một phụ nữ Đức, thì Irène đã bị “xốc rất nặng”, đến nỗi phải nằm lì trong phòng suốt hai ngàyđêm liền, không ăn không ngủ. Bà bị dằn vặt trăn trở với lửa hận thù còn ngùn ngụt nóng chảy trong tâm can, và cầu xin ơn trên

hướng dẫn soi sáng cho mình. Sau cuộc tranh đấu nội tâm gay go căng thẳng này, Irène đã lấy lại được sự bình tĩnh và chấp nhận đến gặp người phụ nữ Đức như đã được giới thiệu cách đó mấy bữa.

Trong bữa ăn này, Irene không hề động đến món nào, mà lại xổ ra tất cả những gì đã chất chứa trong lòng mình sau khi đã trải qua bao nhiêu sự tàn bạo của quân đội Đức quốc xã. Rồi bà nói với người đối diện : “Tôi phải nói ra tất cả chuyện này, vì tôi muốn

được giải thoát khỏi nỗi giận ghét này “ (I want to be free of this hate).

Một sự im lặng kéo dài. Thế rồi người phụ nữ Đức mới lên tiếng, chia sẻ với Irène về những gì bản thân mình đã trải qua trong thời chiến tranh. Bà này tên là Clarita von Trott có chồng tên là Adam vốn là một người chủ chốt trong vụ âm mưu ám sát Hitler vào ngày 20 tháng Bảy năm 1944. Âm mưu thất bại và Adam bị tử hình, để cho một mình Clarita phải nuôi nấng hai đứa con. Clarita tâm sự với Irène : “Người Đức chúng tôi đã không chống đối đủ, đã không chống lại chế độ quốc xã sớm hơn và với quy mô đủ lớn, và chúng tôi đã đem lại cho chị và cho chính mình và cho cả thế giới những đau khổ đầy đọa dằn vặt không sao kể cho xiết được. Tôi muốn nói lời xin lỗi với chị “ (I want to say I am sorry).

Sau bữa ăn này, hai bà phụ nữ cùng các thông dịch viên đã yên lặng ngồi trên gác thượng nhìn xuống hồ Geneva. Rồi Irène lên tiếng nói với người bạn mới người Đức rằng bà tin tưởng là nếu cả hai người cùng cầu nguyện, thì Thiên chúa sẽ giúp họ. Irène cầu kinh trước, xin cho mình được giải thoát khỏi lòng hận thù để có thể còn xây dựng được tương lai. Và rồi đến lượt Clarita cầu nguyện bằng tiếng Pháp. Irène bất giác đặt tay trên đầu gối của kẻ thù địch trước đây của mình. Sau này, Irène tâm sự : “Từ lúc đó, cây cầu bác ngang qua sông Rhin đã được xây dựng, và cây cầu đó đã đứng vững mãi, không bao giờ gẫy đổ được.” (And that bridge always held, never broke)- (Ghi chú : Sông Rhin là biên giới giữa hai nước Pháp và Đức).

Cuối cùng Irène đã phát biểu trong một phiên họp khoáng đại của Hội nghị trước sự hiện diện của 600 tham dự viên. Bà nói : “Tôi đã thù ghét nước Đức đến độ muốn thấy nước này bị xóa bỏ khỏi bản đồ châu Âu. Nhưng tại đây, tôi thấy sự hận thù của mình là điều sai lầm. Tôi xin lỗi và tôi mong được xin tất cả các bạn người Đức có mặt nơi đây tha thứ cho tôi…” Liền sau đó, một phụ nữ Đức bước lên và nắm tay bà Irène. Sau này Irène thuật lại : “Lúc đó, tôi biết rằng tôi sẽ dành hết cuộc đời còn lại của mình để đem cái thông điệp của sự tha thứ và hòa giải này đến khắp thế giới.”

Và quả thật vào năm sau 1948, Irène cùng chồng là Victor đã qua bên nước Đức suốt 3 tháng , đi khắp nơi để tham dự 200 phiên họp và phát biểu tại Quốc hội của 10 tỉnh bang của xứ này. Ở đâu, bà cũng nói lời xin lỗi của mình. Và đổi lại, thì cũng có rất nhiều vị

tướng lãnh và sĩ quan, cùng các chính khách người Đức cũng đều lên tiếng xin lỗi với bà.

Và đó là bước khởi đầu cho cả một quá trình lâu dài của sự hòa giải và hàn gắn giữa hai dân tộc Pháp và Đức, ngay từ hạ tầng cơ sở của quảng đại quần chúng nhân dân tại hai nước. Giới nghiên cứu chính trị xã hội tại Âu châu đã ghi nhận rõ rệt sự kiện tích cực

hết sức quan trọng này là: Có đến trên 5,000 những Hội Thân Hữu Đức – Pháp tại khắp các địa phương của hai nước và tất cả đều hăng say hoạt động cổ võ cho tinh thần hiếu hòa thông cảm và hiểu biết chân thành giữa hai dân tộc Pháp và Đức.

Vì thế mà chúng ta có thể nói là cái “phong trào quần chúng tự phát này” là một biểu hiện sinh động của Xã hội Dân sự tại hai quốc gia vốn là cựu thù lâu năm với nhau. Và phong trào đó thực sự đã có tác động mãnh liệt thúc đảy cho tầng lớp lãnh đạo chính trị tại hai quốc gia này thực hiện mau chóng sự Hòa giải và Hợp tác Hội nhập giữa hai dân tộc và rõ ràng cũng đã góp phần chủ yếu vào công cuộc xây dựng thành công cho Liên Hiệp Âu châu như ta thấy ngày nay ở thế kỷ XXI vậy./

California, Tháng Hai 2011

Đoàn Thanh Liêm

Ghi Chú

(Được ghi thêm vào cuối năm 2015)

1 – Vào năm 2002, nhân tham dự khóa Hội thảo được tổ chức mỗi năm vào tháng 5 và 6 bởi Viện Xây Dựng Hòa Bình Mùa Hè (SPI =Summer Peacebuilding Istitute) thuộc Đại Học Eastern Mennonite University (EMU) tại thành phố Harrisonburg, Virginia – tôi được xem một video trình bày về hoạt động của Bà Irene Laure nhằm góp phần hòa giải giữa hai dân tộc Pháp và Đức sau thế chiến 2. Rồi qua sự tìm kiếm thêm thông tin trên Internet, tôi lại có thêm được tài liệu để hoàn thành được bài viết này.

Bạn đọc có thể đào sâu vấn đề bằng cách gõ chữ Irene Laure trên Internet, thì sẽ được hướng dẫn tìm kiếm thêm nhiều chi tiết lý thú liên quan đến nhân vật kiệt xuất này, kể cả hình ảnh của bà nữa.

2 – Nhân tiện, tôi cũng xin giới thiệu sơ lược về Viện SPI là một cơ sở thuộc Đại Học EMU. Từ trên 20 năm nay, SPI đều tổ chức những khóa Hội thảo hàng năm vào các mùa hè – nhằm quy tụ những sinh viên cũng như những nhà hoạt động văn hóa xã hội từ nhiều quốc gia trên thế giới để cùng trao đổi học hỏi với nhau về những kinh nghiệm cụ thể trong các lãnh vực Chuyển Hóa Tranh Chấp (Conflict Transformation), Hàn Gắn Chấn Thương (Trauma Healing), Trung Gian Hòa Giải (Mediation) v.v…

Các cuộc Hội thảo này đều được chuẩn bị khá chu đáo và do các giảng viên của EMU đảm trách việc hướng dẫn điều khiển những cuộc thảo luận theo chủ đề riêng biệt cho từng lãnh vực cụ thể.

  • Thủ tục ghi danh tham dự SPI thường được phổ biến vào Tháng Giêng mỗi năm. Xin mở website www.emu.edu/spi để biết thêm các chi tiết.

Trong nhiều năm gần đây, đã có một số tu sĩ, sinh viên và nhà hoạt động xã hội người Việt tham dự các khóa Hội thảo SPI này Bản thân tôi đã tham dự tất cả 4 khóa của SPI trong các năm 2001, 2002, 2007 và 2008 và đã quen biết được rất nhiều bạn hữu quốc tế

qua những khóa Hội thảo này của SPI./

Lục bát mỗi bài bốn câu

Lục bát mỗi bài bốn câu

 

Đoàn Thanh Liêm

 

Bài 1 – Bên đường

Đoàn xe vun vút lao qua

Người người hối hả, mình ta bên đường

Ngẫm câu “tri túc tri nhàn”

Ung dung thanh thản – vội vàng mà chi?

 

Bài 2 – Mùa Xuân nhớ Bạn

Xuân xưa với bạn trong tù

Ngọt bùi cay đắng – tâm tư sớm chiều

Xuân nay, tóc bạc thêm nhiều

Người còn, người mất – thương yêu vẫn tròn

 

Bài 3 – Bao dung

Sử xanh sẽ chẳng quên đâu :

Hận thù bạo lực cắt đầu lương dân!

Trượng phu quân tử lòng nhân

Bao dung tha thứ – cũng phần nào thôi.

 

Bài 4 – Tặng cháu Angelina sơ sinh

Rồi mai, con sẽ lớn khôn

Thơ ngây duyên dáng – tâm hồn thanh cao

Cuộc đời rạng rỡ trăng sao

Nhân sinh phấn chấn – ngàn sau yên hàn.

 

California, Tháng Giêng 2011

Đoàn Thanh Liêm

Xuân về – nhớ những Bạn Tù Năm Xưa.

Xuân về – nhớ những Bạn Tù Năm Xưa.

Đoàn Thanh Liêm

*     *     * Vào tiết Trung Thu năm Nhâm Thân 1992, tôi cùng với Thày Đạt (Hoà Thượng Thích Huệ Đăng) bị chuyển từ trại giam Chí Hòa đến khu K2 thuộc trại Thủ Đức mà thường được gọi là trại Z30D ở Hàm Tân, Phan Thiết. Trong gần 4 năm tại Z30D, hai chúng tôi ở chung với rất nhiều bạn tù chính trị khác và với cả ngàn tù nhân thường phạm khác nữa trong các khu K1, K2, K3, K4.

Năm 2016 này, tôi xin ghi lại ít câu thơ để riêng tưởng nhớ đến những bạn tù đã ra đi mà tôi được biết rõ ràng – điển hình như hai vị cao niên Nguyễn Quốc Sủng, Lý Trường Trân, Thày Đạt, nhà thơ Vương Đức Lệ, các bạn Phạm Thế Công, Lê Nghiêu, Trần Phước Huệ (hai bạn sau chết tại Hàm Tân năm 1994-95) v.v…

Và cũng xin được gửi đến tất cả các bạn tù chính trị khác mà đã cùng bị giam giữ tại Hàm Tân trong thời gian 1992 – 1996.

Bài thơ chỉ có bốn câu lục bát thật ngắn ngủi như sau :

Xuân xưa – với bạn trong tù

                             Ngọt bùi cay đắng – tâm tư sáng chiều

                                   Xuân nay – tóc bạc thêm nhiều

                           Người còn, người mất – thương yêu vẫn tròn./

Costa Mesa, California Tháng Giêng 2016

Đoàn Thanh Liêm.

1 – Tặng Bạn Về Hưu

1 – Tặng Bạn Về Hưu

Đoàn Thanh Liêm

Vào năm 1987, lúc còn ở Việt nam, tôi có đọc được câu thơ cuả nhà thơ nổi danh cuả Liên Xô là E Evtushenco được dịch ra tiếng Anh như sau :” Don’t die before you’re dead” (Đừng chết trước khi bạn tắt thở).
Do đó tôi đã có cảm đề để viết thành mấy câu thơ để tặng người bạn vưà bắt đầu về hưu như sau :

* Đường trần chưa vẹn, sao yên nghỉ
Non nước vơi đày, nỗi xót xa
Phong cách buông lơi phường quân tử
Trách chi bá tánh bỏ quên nhà?
Saigon 1987
English version :
To a Friend on His Retirement
How can you rest, the pilgrimage’s not yet finished?
How painful is to find the country in tatters!
The patricians have already neglected their good manners,
Why can one reproach that the masses abandon themselves?
Saigon 1987

Version francaise :
Pour un ami en retraite
Comment te reposer, ce pèlerinage pas encore achevé ?
Quelle amertume devant ce pays en lambeaux !
Les patriciens ayant négligé leurs bonnes manières,
Pourquoi reprocher que la masse s’abandonne ?
Saigon 1987
(Trích lại tại Virginia, ngày 9 tháng Năm 2010)

Đoàn Thanh Liêm

2 – Nhớ Đà lạt

Vào giữa mùa mưa năm 1990, lúc bị biệt giam tại trại B34 trong khu vực Tổng Nha Cảnh sát cũ, tôi nhớ đến bài thơ nổi tiếng của Robert Frost nhan đề là “Stopping by woods on an snowy evening” – nên cảm đề làm bài thơ ngắn như sau :
Thông xanh dẫu nặng ý thơ
Ta còn mắc hẹn cơ đồ nước non
Đường xa vạn lý mỏi mòn
Vẫn nòi quân tử sắt son với đời./
Saigon 1990

Đoàn Thanh Liêm
(Sao lục tại California năm 2010)

Thơ Xuân gửi Bạn

Thơ Xuân gửi Bạn

Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

 1 – Mai Đào li sp n

Nh đến bn gn xa

Bao mến thương dào dt

Xin gi khp mi nhà

 

2 – Năm tháng c trôi qua

Tình ta càng thm thiết

Nhân sinh du kh ly

Vn gn bó rut rà .

 

3 – Bày tr nay khôn ln

Tung cánh khp năm châu

Tâm thành nh ngun ci

Cu mong dt hn su

 

4 Dòng sông chy đon cui

Sp gia nhp đi dương

Nơi trăng sao miên vin

Tràn ngp nhng Yêu Thương.

 

5 – Xin cm ơn,

Xin cm ơn tt c

Nhng ân hu bao la

Lòng t bi đ lượng

Khp thế gii nhân qun./

Costa Mesa, California

Cuối năm Quý Tỵ 2013

Đoàn Thanh Liêm

Nhớ Hà nội xưa thuở thiếu thời.

Nhớ Hà nội xưa thuở thiếu thời.

 Bút ký của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Gia đình chúng tôi đã qua định cư tại California được gần 20 năm. Tính ra thì số những năm tháng này cũng tương đương với khỏang thời gian tôi sinh sống trên quê hương đất Bắc là nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Lúc này là vào giữa tháng 10 năm 2014, thì khí hậu ở đây tại bờ biển miền Tây nước Mỹ (West Coast) đã bắt đầu mát dịu, nhiệt độ ban ngày chỉ vào khỏang trên dưới 20 độ C – chứ không còn nóng bức ở mức 35 – 37 độ như hồi tháng trước vào cuối mùa hè nữa. Có thể nói Mùa Thu đang tới trên đất Mỹ đây rồi.

Buổi sáng nay, tôi nhớ lại mấy câu thơ mình đã làm hồi 30 năm trước, lúc bắt đầu bước vào tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” và đang sinh sống tại Sài gòn. Xin được ghi lại đày đủ bài thơ đó như sau :

Mùa Thu Nhớ Bạn

Mùa Thu chợt đến – lòng man mác

Nhớ Hà nội xưa – thuở thiếu thời

Bạn bè năm ấy – giờ đâu nhỉ?

Kẻ vắng người còn – dạ khó nguôi!

Sài gòn 1983.

Tôi sinh trưởng tại một làng quê trong tỉnh Nam Định cách xa Hà nội chừng trên 100 cây số thôi. Vì thế mà ngay từ trước năm 1945 trong làng đã có nhiều bà con đi làm hay định cư ở ngay tại đất Hà thành hoa lệ này. Khi về thăm viếng bà con trong làng, thì những người này thường hay kể chuyện về cuộc sống văn minh tiến bộ của người dân tại Hà nội. Và bọn trẻ con chúng tôi luôn luôn thích thú kể lại cho nhau nghe những câu chuyện ngộ nghĩnh đó về phong cảnh và con người của cái thành phố ngàn năm văn vật này.

Huynh Luong Thien-Doan Thanh Liem- My Loi

Rồi đến năm 1952 lúc đã bước vào tuổi 18, thì tôi được gia đình gửi ra theo học tại Trường Chu Văn An ở Hà nội. Đã từng trải qua cảnh chiến tranh tàn phá kinh hòang ác liệt ở miền quê, tôi thật chóang ngợp với tình hình an ninh trật tự và sung túc thịnh vượng của thành phố là thủ phủ của miền Bắc Việt nam vào thời gian đó. Và chỉ vài ba tháng sau, là tôi đã có thể thích nghi hòa nhập vào với cuộc sống chung với các bạn đồng trang lứa với mình nơi thành phố xinh đẹp dễ thương, thanh lịch và đày dãy những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh này. Xin được ghi chi tiết hơn về cuộc sống thời trai trẻ của thế hệ chúng tôi ở Hà nội thời kỳ trước năm 1954.

I – Cái thời vui sống ở Hà nội năm xưa ấy.

Với tính vô tư năng động của tuổi trẻ, lớp bạn học chúng tôi lao mình vào chuyện học tập để bù đắp lại quãng thời gian bị mất trong những năm phải di tản chạy lọan trước đây. Mà thành phố Hà nội lúc nào cũng hào phóng cung ứng cho bọn trẻ chúng tôi những cơ hội giải trí thư giãn thỏai mái – sau những giờ phút phải tập trung suy nghĩ, học tập miệt mài căng thẳng.

Một địa điểm chúng tôi thường lui tới để gặp gỡ nhau và nhìn ngắm phố phường, đó là Hồ Hòan Kiếm ở trung tâm thành phố. Nơi di tích lịch sử với truyền thuyết con rùa mang lưỡi gươm trả về cho nhà vua Lê Lợi (The Lake of the Returned Sword), thì lúc nào cũng tấp nập xe cộ qua lại và người đi bộ vòng quanh ven hồ. Và vào những ngày mùa hè oi bức chúng tôi còn thường rủ nhau đi tắm bơi lội tại khu hồ Quảng Bá Nghi Tàm sát với Hồ Tây.

Gặp ngày trời đẹp, chúng tôi còn rủ nhau dành cả một buổi chiều để đạp xe chạy vòng quanh khu vực Hồ Tây dài đến trên 20 cây số – để hít thở không khí trong lành và thưởng thức những vẻ đẹp nơi đồng quê êm ả thanh bình tại vùng ngọai thành Hà nội. Ở vào tuổi mười tám đôi mươi, chúng tôi thật lòng say mê hồn nhiên vui sống với “cái tuổi thanh xuân thơ mộng ấy”.

Chúng tôi còn rủ nhau đi coi những phim từ Hollywood của Mỹ thật hấp dẫn với những tài tử gạo cội, màu sắc âm thanh tòan hảo. Đặc biệt phim “Gone with the wind” (Cuốn theo chiều gió) với cặp diễn viên Clark Gable – Vivien Leigh trổ tài diễn xuất thật tuyệt vời.

 1 / Mùa thu Hà nội.

Và đặc biệt là cảnh vật nơi đất kinh kỳ vào mùa thu, thì thật đày vẻ quyến rũ – quả thật nó đã gây ấn tượng thật sâu đậm trong tâm hồn nhạy cảm của lớp thanh thiếu niên chúng tôi. Đó là phương diện khách quan của khung cảnh địa lý nhân văn. Còn về mặt tâm lý chủ quan, thì chúng tôi chịu ảnh hưởng nhiều bởi thơ văn và âm nhạc thời tiền chiến – với những bài thơ bất hủ của cụ Nguyễn Khuyến như “Thu ẩm”, “Thu điếu”, Thu vịnh” v.v…, hay các bài nhạc của Đặng Thế Phong như “Giọt Mưa Thu”, “Con Thuyền Không Bến”. Và cả của những bài văn, bài thơ trong kho tàng văn chương của Pháp nữa, điển hình như bài “Chanson d’automne” (Ca khúc Mùa Thu) tuyệt vời của Paul Verlaine. Tôi thật vui thích sảng khóai mỗi khi ngâm nga những câu thơ tuyệt đẹp trong Truyện Kiều của cụ Tiên Điền Nguyễn Du, cụ thể như câu : “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”.

Vì thế, mà các văn nghệ sĩ ấy đã giúp cho chúng tôi biết thưởng ngọan những vẻ đẹp ngây ngất của mùa thu một cách cực kỳ linh động viên mãn. Điều này rõ rệt đã góp phần rất quan trọng để làm tăng thêm phẩm chất trong đời sống tình cảm của thế hệ thanh niên chúng tôi (quality of life) – mặc dầu hồi đó cuộc chiến tranh đang ở vào giai đọan ác liệt ngay tại các miền quê không cách xa Hà nội bao nhiêu.

 2 / Chuyện học hành, thi cử hồi ấy.

 Tại trường Chu Văn An là một cơ sở giáo dục có danh tiếng vào bậc nhất ở miền Bắc từ lâu, thì tôi được sát cánh với nhiều bạn học thật thông minh xuất sắc – nhờ vậy mà mình cũng phải cố gắng để mà theo kịp với chúng bạn. Hồi đó, các sách giáo khoa bằng tiếng Việt vẫn còn thiếu, nên chúng tôi phải học bài trong các sách viết bằng tiếng Pháp với lối trình bày in ấn thật rõ ràng, sáng sủa đẹp mắt. Và nói chung, thì các thầy giáo đều rất tận tâm trong việc sọan bài giảng và hết lòng hướng dẫn cho chúng tôi trong việc học tập để đạt được kết quả tốt trong các kỳ thi kết thúc hai năm cuối bậc Trung học.

Và chừng vài tháng trước kỳ thi văn bằng Tú Tài I vào năm 1953 cũng như Tú Tài II vào năm 1954, chúng tôi thường họp thành từng nhóm 3 – 4 người để cùng học ôn bài chung với nhau. Nhờ vậy, mà trong lớp có đến gần một nửa học sinh trường công lập đều vượt qua được cửa ải kỳ thi Tú Tài I – mà hồi đó được coi là rất gay go hóc búa. Trong khi đó, thì số thí sinh từ các lớp tư thục lại đậu rất ít, có lớp không quá 10% số học sinh thi đậu. Vì số học sinh thi đậu không nhiều, nên danh sách các học sinh trúng tuyển đều được công bố trên các tờ báo ở Hà nội nữa, để bà con tiện bề theo dõi.

 II – Bạn bè năm ấy – giờ đây ai còn, ai mất?

 Có thể nói trong mấy năm sinh sống và học hành tại Hà nội hồi đó, thì tôi có duyên quen biết gắn bó thân thiết được với cả trăm bạn đồng môn, bạn cùng lứa tuổi với mình. Chúng tôi sống gần gũi nhau, học tập sát cánh với nhau – và cùng có chung những mộng đẹp về một tương lai tươi sáng cho bản thân mỗi người, cũng như cho đất nước và dân tộc Việt nam thân yêu của mình.

Thế nhưng do Hiệp định Geneva quy định việc chia cắt phân đôi đất nước, mà anh em chúng tôi lại phải rời xa nhau, kẻ thì di cư vào miền Nam, người thì theo với gia đình ở lại miền Bắc. Cho đến năm 2014 này, thì chúng tôi đã chia tay sống xa cách nhau đúng 60 năm rồi. Xin ghi lại danh tánh các bạn đã ra đi và các bạn mà tôi đã có dịp gặp lại trong thời gian gần đây.

1 / Những người bạn đã vĩnh viễn ra đi.

Ít nhất phải có đến cả chục bạn đã ra đi từ giã cõi đời, mỗi người trong một hòan cảnh khác nhau. Xin liệt kê như sau.

*Trong số các bạn ở lại miền Bắc sau năm 1954, thì gần đây tôi biết rõ các bạn này đã từ giã cõi đời : Các anh Phạm Xuân Nhàn, Đặng Mộng Lân, Đặng Công Tọai.

*Số bạn di cư vào miền Nam và đã mất ở đây : Các anh Đỗ Vinh, Nguyễn Bá Khánh, Nguyễn Hồ Quỳ, Nguyễn Văn Quí, Nguyễn Hữu Đạo.

*Số bạn mất ở California : Các anh Vũ Ngô Luyện, Nguyễn Ngọc Đĩnh, Nguyễn Hữu Tuệ, Nguyễn Duy Hy, Nguyễn Ngọc Phan, Nguyễn Tri Phương, Đoàn Hữu Khánh.‎

 2 / Những người bạn vẫn còn liên lạc được gần đây.

A – Khá nhiều bạn hiện định cư trên đất Mỹ, cụ thể như :

*   Tại California : Các anh Trịnh Đình Cương, Trần Quang Hải, Đỗ Phan Ngọc, Nguyễn Trọng Hiền, Vũ Ngọc Óanh, Nguyễn Ngọc Thụy, Ngô Văn Quang, Trần Văn Điền, Lưu Trung Khảo, Nguyễn Quang Hạ.

  • Tại Texas : Các anh Vũ Tiến Thông, Đặng Văn Đức, Vũ Hữu Bao, Đỗ Huy Hòang.
  • Tại Washington DC : Các anh Hòang Song Liêm, Ngô Đình Thuấn, Bùi Hữu Thư.
  • Tại New Jersey : Anh Chu Văn Hồ.
  • Tại Florida ; Anh Vũ Ngọc Đại

B – Tại Paris Pháp quốc, thì tôi đã gặp lại các bạn : Đỗ Đăng Di, Võ Thế Hào, Bạch Lý Từ, Vũ Dương Tuyền, Phạm Xuân Yêm.

C – Tại Montréal Canada, thì có các bạn : Trần Văn Kim, Đinh Bảo Lĩnh, Bùi Thiệu Tường.

D – Tại Việt Nam, thì ở Hà nội có các bạn : Đỗ Xuân Lôi, Ngô Văn Trọng, Nguyễn Phúc Giác Hải.

* Ở Sài gòn, thì có Phạm Hòai Đức, Lê Đức Cửu và đặc biệt có ba anh là Linh mục Công giáo : Hòang Sĩ Quí, Nguyễn Đức Thiệp, Đoàn Phú Xuân.

III – Để tóm lược lại.

 Trên 60 năm đã qua, bao nhiêu chuyện đổi thay với những hệ lụy buồn vui đã xảy ra trên đất nước ta. Mà khủng khiếp nhất là những đau thương tang tóc chồng chất gây ra bởi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn – khiến làm thiệt mạng đến cả mấy triệu con người – mà tất cả đều là bà con ruột thịt thân yêu của hết thảy chúng ta. Rồi tiếp theo đó lại là một chế độ độc tài đảng trị hủ lậu và khắc nghiệt nhất trong lịch sử trên 4,000 năm của đất nước ta.

Mặc dầu vậy, cái tình cảm thân thương gắn bó giữa các bạn học năm xưa tại Hà nội lúc chúng tôi mới ở vào tuổi mười tám đôi mươi, thì không bao giờ lại có thể bị suy xuyển phai lạt đi được. Vào năm 2014 lúc này, chúng tôi đều đã bước qua tuổi 80 cả rồi và cũng đều đủ từng trải để mà biết an phận vui sống cho đến hết những ngày cuối đời của mình.

*Bài viết ngắn ngủi này nhằm gợi lại chút ít kỷ niệm của thế hệ bọn trai trẻ chúng tôi đã có duyên gặp gỡ, sinh sống và học tập chung với nhau nơi thành phố lịch sử thân yêu hồi những năm đầu của thập niên 1950.

Để kết thúc, ngòai bài thơ “Mùa Thu Nhớ Bạn” đã ghi ở phía trên, tôi xin được gửi thêm đến tất cả các bạn hai câu thơ sau đây nữa :

Cái tuổi thanh xuân thơ mộng ấy

Hãy còn vang vọng mãi trong ta”.

Và cũng xin được gửi lời thăm hỏi thân ái đến với tất cả các bạn.

Xin được bày tỏ nỗi niềm thương tiếc và quý mến đối với tất cả các bạn đã vĩnh viễn ra đi.

Xin cầu chúc các bạn cùng gia quyến luôn được mọi sự An Lành./

 Thành phố Costa Mesa, California Tháng Mười 2014

Đoàn Thanh Liêm

Đi đâu mà vội mà vàng?

Đi đâu mà vội mà vàng?

Bài ghi ngắn của Đoàn Thanh Liêm

* * *

Hồi tôi ở độ 7 – 8 tuổi còn theo học lớp sơ cấp tiểu học, thì được thày giáo

cho các học sinh chép một bài học thuộc lòng gồm có 4 câu thơ mộc mạc đơn

giản theo thể lục bát. Mà nay sau đã trên 70 năm, tôi vẫn còn nhớ rất rõ về

bài thơ đó như sau:

 

“Đi đâu mà vội mà vàng

Mà vấp phải đá, mà quàng phải giây

Thủng thỉnh như chúng anh đây

Chẳng đá nào vấp, chẳng giây nào quàng”

 

Tôi xin mượn câu đầu để làm nhan đề cho bài viết ngắn này.

Sau này, thì tôi được nghe các bậc tôn trưởng cũng nhắc lại câu tục ngữ bằng

chữ Hán gồm có 4 chữ thế này “Dục tốc bất đạt” – có nghĩa là khi làm việc gì

mà cứ muốn có kết quả mau lẹ ngay tức khắc, thì không thể thành đạt được.

Người Pháp cũng có câu khuyên bảo có ý nghĩa tương tự: “ On ne peut pas

bruler les étapes” có nghĩa là “ Người ta không thể đốt giai đọan”. Túc là mọi

sự việc trên đời, thì thường phải diễn ra trong nhiều giai đọan; do vậy mà ta

không thể quá sốt ruột nôn nóng để mà bỏ qua các giai đọan cần thiết bình

thường đó được.

Hồi còn sinh tiền, nhà báo Đỗ Ngọc Yến thường hay tâm sự với bạn bè về

một số nhân vật trong cộng đồng người Việt tỵ nạn trên đất Mỹ như sau:

“Các ông A, ông B đó là những người rất năng nổ tháo vát và có tài năng

nữa, nhưng các ông ấy lại ít thành công do cái lối nôn nóng, cứ đòi đi lối tắt

(anh Yến nói nguyên văn tiếng Anh là short cut). Vì thế mà việc làm của các

ông ấy không lôi cuốn được nhiều người cùng tham gia cộng tác lâu bền

được. Và kết quả là các ông ấy đã không thể thực hiện được một công trình

dự án nào có quy mô lớn lao hòan chỉnh được cả.

Nhìn rộng ra về đại khối trên 4 triệu người Việt chúng ta hiện định cư tại

nước ngòai từ 40 năm qua, thì quả thật đã có rất nhiều gia đình có con, cháu

gặt hái được những thành công thật đáng ca ngợi về nhiều phương diện, đặc

biệt về mặt khoa học kỹ thuật. Đó là một điểm son đáng kể nhất của người

Việt ở hải ngọai vậy.

Nhưng trong sinh họat tập thể cộng đồng, thì vẫn còn có những chuyện lấn

cấn, bất cập kể cả những chia rẽ phân hóa nơi nhiều đơn vị tổ chức – ngay cả

ở những Hội Ái Hữu, Tương Trợ vốn là những tổ chức hòan tòan có tính cách

tự nguyện, bất vụ lợi mà thường không nên có những tranh chấp vì tiền bạc

hay địa vị danh vọng gì cả.

Lại còn cái chuyện rất phổ biến trong nhiều năm nay mà thường được gọi là

“chụp mũ, đội nón cối” tố cáo lẫn nhau, gán cho nhau cái nhãn hiệu là “ Việt

gian, tay sai cộng sản” nữa. Và xét cho kỹ ra, thì cái sự chia rẽ đó phần lớn

đều do những chuyện lẩm cẩm lặt vặt phát sinh từ lòng tự ái, tính hay chấp

nhất bắt bẻ lẫn nhau về mấy chi tiết nhỏ nhoi mà thôi.

Dù thế nào đi nữa, thì chúng ta cũng không nên quá bi quan trước tình trạng

không mấy sáng sủa phấn khởi nơi một số sinh họat cộng đồng nói trên. Mà

do nơi môi trường sinh sống mới lạ nơi đất khách, đa số bà con ta còn gặp

nhiều bỡ ngỡ, hụt hẫng đến độ chóang váng mất phương hướng trong cuộc

sống của cá nhân cũng như của tập thể. Vì thế mà chúng ta cần phải giữ thái

độ kiên nhẫn, bao dung thông cảm nhường nhịn đối với nhau – thay vì vội vã

lên án chỉ trích mạt sát nặng lời với nhau – như một vài người khó tính

thường hay vấp phải.

Nói vắn tắt lại, việc điều chỉnh ổn định cuộc sống nơi môi trường văn hóa xã

hội mới lạ ở xứ người là một quá trình vận động sinh họat rất phức tạp – quá

trình này thường đòi hỏi một thời gian tương đối lâu dài hơn, chứ không thể

được phát triển một cách thuận lợi dễ dàng mau chóng theo như mong ước

chủ quan của chúng ta được.

Vì thế mà người tỵ nạn chúng ta cần có sự bình tĩnh, sáng suốt và nhẫn nại

để lần hồi tìm ra được những phương cách thuận lợi êm thắm trong chiều

hướng hội nhập tốt đẹp với dòng chính nơi xã hội sở tại, bởi vì đây chính là

nơi chốn mà chúng ta đã chọn lựa như là một quê hương thứ hai cho cả gia

đình mình vậy./

Westminster California, Tháng 12 năm 2015

Đoàn Thanh Liêm

Cuối năm, tưởng nhớ đến các bạn học đã ra đi.

Cuối năm, tưởng nhớ đến các bạn học đã ra đi.

 Đoàn Thanh Liêm

                                                        *     *     *

Ở vào tuổi bát tuần như tôi lúc này, thì con số bà con trong thân tộc cũng như bạn bè thân thiết ra đi khỏi cõi đời này đã mỗi ngày một chồng chất lên thêm khá nhiều rồi. Tôi thật không thể nào mà liệt kê ra cho đày đủ hết danh tính của những vị đó trong bất kỳ một tài liệu nào được. Vì thế trong bài viết ngắn này, tôi xin chỉ ghi ra đây một số trường hợp tiêu biểu về sự ra đi của những người bạn đã từng sát cánh gắn bó với mình nơi học đường từ cấp trung học ở quê nhà miền Bắc đến cấp đại học ở miền Nam.

I – Các bạn học cùng thời ở miền Bắc từ 1950 đến 1954.

 Dưới chế độ của chính quyền quốc gia, trong hai năm 1950-52, tôi bắt đầu theo học mấy lớp trung học trong huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định gần với gia đình – đầu tiên tại một lớp ở tư gia của Thày Đặng Vũ Tiển trong làng Hành Thiện, rồi sau lên học lớp Đệ Tam tại trường công lập Hồ Ngọc Cẩn ở làng Trung Linh gần với Tòa Giám Mục Bùi Chu.

Rồi từ năm 1952-54, thì tôi được gia đình cho ra Hà nội để theo học tại Trường Chu Văn An. Tại trường này, trong hai năm ấy, tôi đã thi xong văn bằng Tú Tài 1 và 2. Sau đó, thì di cư vào miền Nam vào tháng 8/1954 và tiếp tục học lên cấp đại học.

Ở vào cái tuổi thiếu niên vô tư hồn nhiên thời đó, các bạn học rất đông cùng ở miền đồng quê chúng tôi đều rất thân thiết gắn bó với nhau. Mà nay sau trên 60 năm rồi, thì đã có rất nhiều bạn đã lìa xa cõi thế, bỏ lại anh em, từ giã bạn bè. Xin liệt kê danh tính của một số bạn ấy như sau

1(1) – Những bạn cùng theo học tại quê nhà ở Xuân Trường, Nam Định.

Xin ghi mấy trường hợp đáng ghi nhớ nhất của các bạn Trần Tuấn Nhậm, Vũ Lục Thủy, Vũ Văn Giai và Đặng Công Tọai.

 A/ Bạn Trần Tuấn Nhậm mất vào năm 1981 tại nhà tù trong rừng U Minh, Rạch Giá. Trước năm 1975, Nhậm làm giáo sư dạy học ờ Sài gòn. Và có thời gian bị bắt giam vì họat động chính trị tích cực theo nhóm “đối lập thuộc thành phần thứ ba”. Thế mà sau này, vào cuối thập niên 1970, Nhậm lại bị cộng sản bắt vì lý do “móc nối tổ chức vượt biên” cho mấy em cháu trong gia đình. Và cuối cùng Nhậm đã qua đời trong nhà tù ở vào tuổi 45.

 B/ Bạn Vũ Lục Thủy tên thật là Vũ Năng Phương. Nhưng hầu hết bà con ở hải ngọai thì chỉ biết đến nhà biên khảo nổi danh có tên là Vũ Lục Thủy. Anh bạn lấy tên làng Lục Thủy quê hương mình làm bút hiệu luôn, kể từ khi qua Mỹ năm 1975. Anh có sức làm việc bền bỉ say mê, ít người sánh kịp. Công trình sưu khảo nghiên cứu của anh được các bậc thức giả đàn anh như Giáo sư Nguyễn Khắc Kham, Nguyễn Đình Hòa đánh giá cao. Rất tiếc anh đã qua đời vì bệnh tim ở San Diego năm 2001 lúc mới có 65 tuổi.

C/ Vũ Văn Giai là một sĩ quan cấp tướng duy nhất trong số các bạn học chung với tôi tại trường Hồ Ngọc Cẩn ở Xuân Trường trước năm 1954. Vào miền Nam, Giai theo binh nghiệp và suốt bao năm tháng rong ruổi với những cuộc hành quân liên miên ở vùng giới tuyến sát sông Bến Hải. Không may sau vụ Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, Giai bị đưa ra xử trước Tòa Án Quân Sự và bị giam giữ vì chuyện rút quân sai trái sao đó. Rồi đến năm 1975, lại còn bị đi tù ra ngòai Bắc nữa. Giai vừa mất cách nay không lâu ở California ở vào tuổi chưa đến 80.

D/ Đặng Công Tọai ở lại miền Bắc sau năm 1954. Mãi đến sau 1975, chúng tôi lại mới có dịp gặp nhau và nhờ Tọai mà anh em chúng tôi mới biết rõ hơn về những chuyện tàn bạo của chính quyền cộng sản ở miền Bắc vào thời kỳ sắt máu đen tối kinh hoàng ghê gớm đó. Người hay liên hệ với Tọai là Chu Văn Hồ hiện định cư ở New Jersey và qua anh Hồ, chúng tôi được biết Tọai cũng đã qua đời ba năm trước đây thôi ở vào tuổi gần 80.

1(2) – Những bạn cùng theo học tại Hà nội trong các năm 1952-54.

 Rất nhiều bạn đã ra đi, xin ghi ra một số trường hợp mà tôi biết rất rõ về những bạn này: Nguyễn Bá Khánh, Nguyễn Ngọc Đĩnh, Nguyễn Ngọc Phan, Vũ Ngô Luyện.

 A/ Nguyễn Bá Khánh vào Nam đậu cử nhân Toán và đi dạy ở trường Chu Văn An. Bà xã của Khánh là chị Quỳnh hồi năm 1960 lại làm việc chung với tôi tại văn phòng Quốc Hội thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Nhưng do bệnh bao tử, Khánh đã mất rất sớm vào năm 1967 lúc mới ngoài 30 tuổi.

B/ Nguyễn Ngọc Đĩnh trọ học chung với tôi năm 1954, anh rất giỏi về sinh ngữ và là người bạn thân thiết với tôi trong nhiều năm ở Việt nam cũng như ở Mỹ. Tôi rất gắn bó với gia đình cha mẹ chị em của Đĩnh từ ngày còn ở miền Bắc cho đến sau này ở miền Nam. Về công việc chuyên môn, Đĩnh từng được chính quyền thời Đệ Nhất Cộng Hòa cử đi làm việc ở Lào, Thái Lan. Sau này tham gia viết báo và sau 1975 bị bắt đi tù khá lâu. Qua Mỹ được chừng trên 10 năm, thì Đĩnh lìa đời tại California vì bệnh vào năm 2005 ở vào tuổi trên 70.

C/ Nguyễn Ngọc Phan có tài viết văn, năm 1953 anh được giải thưởng khuyến khích văn chương toàn quốc của giới học sinh. Nhưng vào Nam, Phan lại theo học Quốc gia Hành chánh và đi làm công chức. Qua Mỹ từ năm 1975, Phan định cư ở San Diego và gia đình anh lại là suôi gia với gia đình anh chị Vũ Lục Thủy. Phan người thể tạng yếu và đã qua đời vào năm 2008 ở tuổi 75.

D/ Vũ Ngô Luyện là trưởng nam của Thày Hiệu Trưởng Vũ Ngô Xán. Vào Nam, Luyện đi du học ở Mỹ chuyên về kinh tế. Trước 1975, anh được cử đi làm chuyên viên đại diện Việt Nam tại Ngân Hàng Phát triển Á Châu (ADB = Asian Development Bank). Rồi lại tiếp tục làm việc ở cơ sở đó như là đại diện của Pháp. Do bệnh ngặt nghèo anh đã qua đời ở California vào năm 2006 lúc mới có ngoài 70 tuổi.

E/ Một số bạn mất ở Việt nam gần đây như bác sĩ Phạm Xuân Nhàn (hồi còn đi học với bọn tôi anh đã có tiếng là một võ sĩ quyền Anh – boxeur), giáo sư Đặng Mộng Lân, giáo sư Nguyễn Hữu Đạo.

F/ Một số bạn mất ở California Mỹ gần đây như các giáo sư Nguyễn Hữu Tuệ, Nguyễn Duy Hy.

G/ Một số bạn mất tại Pháp như các giáo sư Phạm Huy Ngà, Phạm Xuân Trường (anh của Phạm Xuân Yêm).

II – Những bạn cùng theo học tại Đại học ở Sài gòn sau năm 1954.

 Có đến 7 – 800 sinh viên từ miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954 và trong số này thì ước chừng 250 sinh viên cư ngụ tại Đại học xá Minh Mạng bắt đầu vào năm 1955. Còn lại, thì phần đông ở với gia đình hoặc tại cư xá tư nhân khác. Xin ghi chi tiết về một số trường hợp của các bạn đã ra đi.

2(1) – Anh Nguyễn Đức Nhuần sinh viên Dược khoa mất năm 1957.

Anh Nhuần học cùng thời với tôi ở Hà nội trước năm 1954. Di cư vào Nam anh học ở Dươc khoa và từ năm 1956 tôi lại có dịp chung sống với anh nơi cư xá sinh viên Phuc Hưng trên đường Nguyễn Thông Sài gòn. Ngòai chuyện học, Nhuần lại họat động hăng say trong tổ chức Thanh Niên Lao Động Công Giáo (viết ngắn là Thanh Lao Công) để giúp đỡ giới công nhân giữ vững tinh thần đạo hạnh theo lý tưởng công bằng bác ái trong môi trường lao động thường ngày. Có vài lần, anh nhờ tôi dịch một số bài từ tiếng Pháp để làm tài liệu học tập cho các đòan viên Thanh Lao Công.

Không may, Nhuần bị bệnh nặng về phổi và qua đời vào đầu năm 1957 lúc mới ở tuổi ngòai 20 trước sự thương tiếc ngậm ngùi của số đông bạn hữu.

2(2) – Các anh Đoàn Mạnh Hoạch, Đỗ Vinh trong số các bác sĩ quân y tử trận.

Anh Hoạch là người cùng quê với tôi trong tỉnh Nam Định. Anh học lớp trên, nhưng chúng tôi gặp nhau khi cùng cư ngụ tại trường Gia Long là trại tiếp cư dành riêng cho các sinh viên di cư từ Hà nội vào Sài gòn năm 1954. Hồi đó anh Hoạch là một trong những sinh viên rất năng nổ họat động trong sinh họat văn nghệ báo chí. Đặc biệt là nhờ người em của anh là Đoàn Trọng Cảo có tài kéo accordéon đệm đàn giúp cho bọn sinh viên chúng tôi ca hát trong các buổi trình diễn văn nghệ thật là lôi cuốn sôi nổi.

Còn Đỗ Vinh và người em song sinh Đỗ Kỳ đều là bạn học chung với tôi tại trường Trung học Chu Văn An Hà nội. Rồi vào Nam, Vinh và tôi cũng thường gặp nhau trong những sinh họat của giới sinh viên di cư. Đỗ Vỹ em của Vinh du học ỏ Canada về, thì chẳng bao lâu bị chết vì tai nạn xe cộ ở xa lộ Biên Hòa.

Cả hai anh Hoạch và Vinh đều là bác sĩ quân y mà bị tử thương tại mặt trận vào đầu thập niên 1960, vào lúc mới có ngoài 30 tuổi. Vì thế mà tên của các anh được đặt cho bệnh viện của quân đội như Quân y viện Đòan Mạnh Hoạch ở Ban Mê Thuật, Bệnh viện Đỗ Vinh thuộc Sư Đoàn Dù ở Sài gòn.

2(3) – Hai người bạn sinh viên di cư cùng ở chung trong lều trên khu đất xưa là Khám Lớn Sài gòn: Nguyễn Xuân Nghiên, Nguyễn Văn Thiệu.

Vào cuối năm 1954, sinh viên di cư chúng tôi được chuyển từ trường Gia Long đến sinh sống trong những lều vải một thời gian chừng 4 tháng trước khi dọn vào khu Đại học xá Minh Mạng ở Chợ Lớn. Tôi được ở trong một lều với 7 anh bạn khác nữa, mà tôi vẫn nhớ chuyện vào mùa nắng nhiệt độ buổi trưa trong căn lều thật là oi bức.

Anh Nghiên quê tại làng Hành Thiện rất gần với làng Cát Xuyên của tôi cùng thuộc huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định, thành ra tình cảm gắn bó giữa hai chúng tôi càng thêm chặt chẽ vì nghĩa đồng hương với nhau. Sau này, anh Nghiên là một giáo sư dạy môn Lý Hóa rất nổi tiếng ở Sài gòn. Vào năm 1977, Nghiên bị thiệt mạng vì tai nạn xe ở xa lộ Biên Hòa lúc mới ngoài 40 tuổi. Hồi đó, vì tình hình cực kỳ xáo trộn, nên rất ít bạn bè được thông tin để đến nhà viếng thăm linh cữu và tiễn đưa anh.

Còn anh Thiệu hồi đó được bạn bè tặng cho cái danh hiệu là Thiệu Cốp vì trông anh rất giống với ông Malenkov là một lãnh tụ của Liên Xô thời kỳ hậu Stalin. Sau này anh đã tốt nghiệp là một bác sĩ y khoa. Có thời anh Thiệu đã giữ chức vụ Tổng Quản Trị Chương Trình Diệt Trừ Sốt Rét. Qua Mỹ năm 1975, gia đình anh Thiệu định cư ở California và tôi cũng đã gặp lại anh chị mấy lần trước khi anh qua đời vì bệnh vào năm 2004.

Hiện tôi chỉ gặp lại hai người trong số 7 bạn ở cùng căn lều nói trên; đó là các anh bác sĩ Chu Bá Bằng và Phạm Ngọc Tùng. Cả hai gia đình các bạn này hiện đều định cư tại thành phố Houston, Texas.

2(4) – Các bạn học chung tại Trường Luật Sài gòn cuối thập niên 1950.

Các bạn cùng theo học khóa đầu tiên tại Trường Luật Sài gòn do người Pháp chuyển cho chính phủ Việt nam năm 1955, thì vào năm đầu khá đông, nhưng sau 3 năm đến khi tốt nghiệp văn bằng Cử nhân vào năm 1958 chỉ còn lại chừng 70 – 80 người. Và trong số các bạn đồng môn đó, thì đã có rất nhiều người đã lìa xa cõi thế này rồi. Xin ghi ngắn gọn một số trường hợp của các bạn đó như sau xếp theo theo nghề nghiệp của mỗi người.

A/ Các bạn làm luật sư: Trần Tiễn Tự (mất ở Sài gòn năm 1988), Đoàn Văn Lượng (mất ở Pháp năm 1988, có thời anh còn là Nghị sĩ nữa), Nguyễn Phượng Yêm (mất ở Canada năm 1996, cựu Nghị sĩ)

B/ Các bạn làm giáo sư Đại học: Nguyễn Hữu Trụ (mất ở Thụy Sĩ năm 2014), Lê Quế Chi (mất ở Pháp).

III – Để tóm lược lại.

 Thời còn đi học ở ngoài Bắc cũng như trong Nam, chúng tôi đều còn độc thân son trẻ chưa phải lo gánh năng gia đình, nên có nhiều thời giờ sát cánh gắn bó thân thiết với nhau. Do đó mà tình bạn mỗi ngày thêm sâu đậm, anh em kết nghĩa quy tụ vui đùa thoải mái với nhau và còn giúp đỡ tương trợ lẫn nhau mỗi khi có ai gặp chuyện khó khăn.

Riêng đối với tôi, trong những năm tháng theo học ở trung học và đại học, thì tôi quen biết gắn bó thân thương được ước tính tổng cộng đến tới khoảng 500 bạn. Sau này, khi ra trường thì lại còn gặp nhau nơi sở làm, nơi những tổ chức văn hóa xã hội, nơi quân ngũ và sau 1975 lại còn ở trong tù chung với nhau nữa. Và ra đến hải ngoại, thì lại càng dễ dàng gặp nhau vì có nhiều thời gian rảnh rỗi ở vào cái tuổi hưu trí nữa.

Mà nay sau trên 50 – 60 năm, phải có ít nhất 50% trong số các bạn học thuở ấy đã ra người thiên cổ mất rồi. Nhưng trên đây, tôi chỉ có thể ghi ra danh tính của chừng 30 bạn mà thôi. Đó chỉ là một con số điển hình tiêu biểu cho thế hệ tuổi trẻ chúng tôi – mà đã phải sống vào cái thời đất nước chia đôi với cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và sau này lại là vụ di tản ty nạn phân tán ở khắp nơi trong các xứ người.

Vào dịp cuối năm Ất Mùi 2015 sắp tới đây, tôi muốn gợi lại chút ít kỷ niệm vui buồn thân thương với tập thể các bạn cùng theo học sát cánh với nhau ở vào cái tuổi hoa niên thơ mộng ấy. Dù đã có nhiều bạn lìa xa cõi đời, nhưng cái tình cảm chân thật – giữa những người “cùng một lứa bên trời lận đận” với nhau – thì vẫn còn tươi đẹp mãi mãi nơi tâm khảm của mỗi người hiện còn sống sót để mà tiếp tục cái nghiệp duyên của mình trong cõi nhân sinh trên dương thế này.

Và chắc chắn là chẳng bao lâu nữa, chúng ta tất cả rồi cũng sẽ cùng quây quần quy tụ lại bên nhau nơi cõi Vĩnh Hằng đấy thôi./

Costa Mesa, California cuối năm Ất Mùi 2015

Đoàn Thanh Liêm