CHÍN MƯƠI CHÍN , VẪN THIẾU – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

  Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc”.

Một bà mẹ đông con được hỏi: “Trong các con, bà thương đứa nào?”. Bà đáp: “Đứa đau yếu, cho đến khi nó khoẻ; đứa đi xa, cho đến khi nó về; đứa bé nhất, cho đến khi nó lớn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

 

Lời Chúa hôm nay tiết lộ: trọn vẹn không phải là có thật nhiều, nhưng là không để thiếu một ai. Trái tim người mẹ khác nào trái tim Thiên Chúa: ‘chín mươi chín – vẫn thiếu!’.

Các môn đệ hỏi, “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”. Chúa Giêsu không nêu tên ai; Ngài đặt một em bé giữa họ. Bản Hy Lạp viết mikrōn – “bé nhỏ”: không chỉ người nhỏ tuổi, nhưng còn là người không địa vị, dễ bị coi thường. Và Ngài cảnh báo, “Chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này!”. Trước mặt người đời, họ có thể là phần không đáng kể; nhưng với Thiên Chúa, thiếu họ là thiếu tất cả. “Không có những con người tầm thường. Bạn chưa bao giờ trò chuyện với một kẻ chỉ là phàm nhân!” – C. S. Lewis.

Để hiểu “thiếu họ”, Chúa Giêsu kể dụ ngôn chiên lạc. Các ông bận xếp hạng; Ngài bận đếm người. Họ hỏi ai đứng trên ai; Ngài nhìn đàn chiên: vắng một con – người chăn chiên lên đường. Khi tìm được, ông “vui mừng vì con chiên đó”; không vì yêu chín mươi chín con ít hơn, nhưng vì niềm vui một con được tìm lại lớn hơn sự yên lòng với những con an toàn. Thiên Chúa không bằng lòng với một đoàn chiên gần đủ; trái tim Ngài chỉ đủ vui khi không còn thiếu một ai.

 Nhưng phía sau niềm vui ấy luôn có một trái tim dám đau. Êzêkiel đã mang nỗi đau của Thiên Chúa trước sự phản nghịch của dân. Ngài sai ông đến với họ bằng Lời ông phải nuốt. Đó là “những khúc ai ca, những lời than vãn và những câu nguyền rủa”; nhưng vào miệng ông, cuộn sách ấy lại hoá ngọt – bài đọc một. “Lạy Chúa, con cảm thấy lời Ngài đã hứa ngọt ngào hơn mật ong trong miệng!” – Thánh Vịnh đáp ca. Lời Chúa ngọt không vì che khuất nỗi đau, nhưng vì giữa nỗi đau, Lời ấy không cho phép ai thôi kiếm tìm.

 Chúng ta rất giỏi biến một người thành con số có thể bỏ qua. Chín mươi chín là lý do đủ đẹp để quên chiếc ghế trống. Nhưng Thiên Chúa không xướng tên người có mặt; Ngài đọc tên người vắng. Nơi chúng ta chỉ thấy sự khiếm diện, Ngài vẫn nghe một cái tên đang ơi ới gọi mình. “Đừng bận tâm đến những con số. Hãy giúp từng người một và luôn bắt đầu với người gần bạn nhất!” – Mẹ Têrêxa Calcutta.

Anh Chị em,

Suốt một đời, Thiên Chúa không ngừng đi tìm con người. Từ buổi đầu, Ngài đã gọi, “Ađam, ngươi đang ở đâu?”; rồi sai Con Một vào trần gian, xuống mọi ngả đường, đến với ai bị bỏ lại và kịp tìm anh trộm lành. Rạng sáng Phục Sinh, Đức Kitô hỏi Maria Mađalêna, “Bà tìm ai?”. Đấng đã tìm thấy cô nay gọi tên để cô nhận ra: chính Ngài là Đấng cô kiếm tìm. Bởi ‘chín mươi chín – vẫn thiếu’ không chỉ là nỗi thao thức của Thiên Chúa mà còn là khoảng trống của con người – cho đến khi gặp Đức Kitô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết ở bên người bệnh, đợi họ bình phục; tìm người lạc, đợi họ trở về; và chở che người bé nhỏ, đợi họ lớn lên trong Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Ba Tuần XIX Thường Niên, Năm Chẵn:

https://ourl.in/@qqtq

Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 17,1-9

1 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo. Người đưa các ông đi riêng với mình lên một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ thấy một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”


 

Nỗi sợ – vũ khí của độc tài, cũng là kẻ thù của độc tài

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Hoàng Quốc Dũng

07/08/2026

Người ta thường nói rằng NỖI SỢ LÀ NỀN TẢNG CỦA MỌI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI. Chính nỗi sợ khiến người dân im lặng, khiến đối lập tê liệt và giúp nhà độc tài duy trì quyền lực trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Điều đó đúng. Nhưng lịch sử còn kể một câu chuyện khác, ít người để ý hơn: cũng chính nỗi sợ ấy, lại trở thành nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chính nhà độc tài.

Cách mạng Pháp năm 1789 là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại. Từ đống tro tàn của chế độ quân chủ chuyên chế, nước Pháp đã khai sinh những tư tưởng làm thay đổi thế giới: quyền con người, chủ quyền của nhân dân, bình đẳng trước pháp luật và khát vọng tự do. Khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã vượt ra khỏi biên giới nước Pháp để trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều cuộc cải cách và cách mạng trong hơn hai thế kỷ sau đó.

Nhưng cũng như nhiều cuộc cách mạng khác, Cách mạng Pháp không chỉ có ánh sáng mà còn có những bóng tối. Một trong những chương đen tối nhất của nó là thời kỳ Khủng bố (La Terreur), nó cũng cho chúng ta thấy rằng một cuộc cách mạng, dù bắt đầu bằng những lý tưởng cao đẹp, vẫn có thể đi đến cực đoan nếu quyền lực không còn được kiểm soát.

Không ai tượng trưng rõ hơn cho nghịch lý ấy bằng Maximilien Robespierre.

Ban đầu, Robespierre được xem là một trong những nhà cách mạng trong sạch và có nguyên tắc nhất. Ông phản đối đặc quyền quý tộc, bảo vệ nền cộng hòa và luôn nói đến “đức hạnh” như nền tảng của chính trị. Trong mắt nhiều người đương thời, ông là “Người không thể mua chuộc” (L’Incorruptible).

Nhưng khi nước Pháp phải đối mặt với chiến tranh bên ngoài và nổi dậy trong nước, Robespierre ngày càng tin rằng muốn cứu cách mạng thì phải tiêu diệt tất cả những ai có thể đe dọa cách mạng. Theo ông, khủng bố chỉ là công lý được thực hiện nhanh chóng và nghiêm khắc để bảo vệ nền cộng hòa.

Từ tư tưởng ấy, nước Pháp bước vào thời kỳ mà lịch sử gọi là Thời kỳ Khủng bố .

Tháng 9 năm 1793, Quốc ước(Convention Nationale : Cơ quan quyền lực tối cao của CM) thông qua Luật Nghi ngờ (Loi des suspects). Đạo luật này cho phép bắt giữ bất kỳ ai bị coi là “đáng nghi”. Khái niệm “đáng nghi” rất mơ hồ. Chỉ cần bị cho là không đủ nhiệt thành với cách mạng, có quan hệ với quý tộc hoặc bị hàng xóm tố cáo cũng có thể bị bắt.

Hàng chục nghìn người bị giam giữ. Hàng nghìn người bị đưa lên máy chém.

Ban đầu, mục tiêu của các cuộc thanh trừng là những người trung thành với chế độ quân chủ. Nhưng rất nhanh sau đó, lưỡi dao của chiếc máy chém bắt đầu quay sang chính những người cách mạng.

Nhóm Hébert bị xử tử. Rồi đến Georges Danton, một trong những người có công lớn nhất với Cách mạng Pháp. Danton từng là đồng chí thân cận của Robespierre, nhưng vì kêu gọi chấm dứt các cuộc hành quyết nên bị kết tội phản bội. Ông bị xử chém ngày 5 tháng 4 năm 1794.

Cùng ngày hôm đó, Camille Desmoulins cũng bước lên đoạn đầu đài. Desmoulins không chỉ là đồng chí mà còn là người bạn từ thuở thiếu thời của Robespierre. Tình bạn nhiều năm không đủ để cứu ông khỏi bản án tử hình.

Máy chém không còn phân biệt bạn hay thù. Mỗi bản án đều được tuyên nhân danh nhân dân.

Mỗi cuộc hành quyết đều được giải thích là để cứu cách mạng.

Đó là nghịch lý bi thảm của mọi cuộc thanh trừng chính trị: người ta nhân danh một lý tưởng để loại bỏ những người từng cùng mình xây dựng chính lý tưởng ấy.

Trong Quốc ước, bầu không khí ngày càng nặng nề. Nhiều đại biểu hiểu rằng không còn ai thực sự an toàn, nhưng hầu như không ai dám phản đối. Mỗi lần một đồng nghiệp bị bắt, những người còn lại lại im lặng. Không phải vì họ đồng tình, mà vì họ sợ mình sẽ là người tiếp theo. Nỗi sợ trở thành nền tảng của quyền lực.

Tháng 6 năm 1794, Quốc ước thông qua Luật 22 Prairial, đạo luật còn khắc nghiệt hơn tất cả những gì đã có trước đó. Quyền bào chữa gần như bị xóa bỏ. Tòa án Cách mạng chỉ còn hai khả năng: tha bổng hoặc tử hình. Số vụ xử chém tăng lên với tốc độ chưa từng có. Các nhà sử học gọi những tuần cuối cùng ấy là Đại Khủng bố (Grande Terreur).

Rồi Robespierre phạm phải sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp chính trị của mình.

Ngày 26 tháng 7 năm 1794, ông đọc một bài diễn văn dài trước Quốc ước. ÔNG TUYÊN BỐ RẰNG NGAY TRONG QUỐC ƯỚC Và CÁC ỦY BAN VẪN CÒN NHỮNG KẺ PHẢN BỘI. NHƯNG ÔNG KHÔNG NÊU TÊN. Có lẽ Robespierre nghĩ rằng sự mập mờ ấy sẽ khiến mọi người sợ hãi hơn. Ông đã đúng. Nhưng không theo cách ông mong muốn.

Nếu trước đó mỗi đại biểu chỉ lo cho số phận của người khác, thì sau bài diễn văn ấy, tất cả đều tự hỏi: “Liệu ngày mai đến lượt mình không?”

Đó chính là khoảnh khắc quyền lực của Robespierre bắt đầu tan vỡ.

Cho đến lúc ấy, nỗi sợ khiến mọi người chia rẽ. Ai cũng cúi đầu để tự cứu mình.

Nhưng khi tất cả đều tin rằng mình có thể trở thành nạn nhân tiếp theo, nỗi sợ ấy lại tạo ra điều ngược lại: nó buộc họ đoàn kết với nhau.

Ngay ngày hôm sau, 27 tháng 7 năm 1794, Robespierre bước vào Quốc ước như mọi ngày.

Ông không ngờ rằng cán cân đã đổi chiều. Những đại biểu vốn im lặng lại ngắt lời ông liên tục. Tiếng hô “Đả đảo tên bạo chúa!” vang lên trong nghị trường. Quốc ước biểu quyết bắt giữ Robespierre, em trai ông(Augustin), Saint-Just, Couthon và các cộng sự thân cận.

Chỉ trong vài giờ, người đàn ông quyền lực nhất nước Pháp trở thành tù nhân.

Nhưng đêm hôm đó, chính quyền thành phố Paris đứng về phía Robespierre. Họ đưa ông đến Tòa thị chính và kêu gọi lực lượng vũ trang của Paris chống lại lệnh bắt giữ do Quốc ước ban hành. Tuy nhiên, Robespierre lại chần chừ, không phát động cuộc nổi dậy. Chỉ vài giờ sau, các lực lượng trung thành với Quốc ước tràn vào Tòa thị chính và bắt giữ ông.

Ngày 28 tháng 7 năm 1794, Robespierre cùng 21 cộng sự bị đưa lên máy chém. Chiếc máy chém mà ông từng coi là công cụ bảo vệ cách mạng, bảo vệ ông cuối cùng đã lấy chính mạng sống của ông. Thời kỳ Khủng bố kết thúc.

Cái hay nhất mà tôi thấy trong câu chuyện này không phải là cái chết của Robespierre, mà là cơ chế dẫn đến sự sụp đổ của ông.

Ông không bị đánh bại bởi quân đội nước ngoài, không bị lật đổ bởi một cuộc nổi dậy của quần chúng, ông bị lật đổ bởi chính những người đã từng ủng hộ mình.

Ban đầu, họ chấp nhận im lặng vì nghĩ rằng sự phục tùng sẽ giúp mình sống sót. Nhưng khi cuộc thanh trừng mở rộng đến mức không còn ai chắc chắn về số phận của mình, họ hiểu rằng im lặng không còn là sự lựa chọn an toàn nữa.

Đó là nghịch lý của quyền lực dựa trên nỗi sợ.

Khi chỉ một nhóm người sợ hãi, chế độ vẫn có thể đứng vững. Nhưng khi tất cả đều sợ, kể cả những người trung thành nhất, thì chính nỗi sợ ấy sẽ phá hủy nền tảng của quyền lực.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên vẹn. Mỗi thời đại có hoàn cảnh riêng, mỗi quốc gia có con đường riêng. Nhưng những quy luật về tâm lý quyền lực và bản năng sinh tồn của con người thường có sức sống rất dài.

Mỗi khi khái niệm “kẻ thù” ngày càng được mở rộng, mỗi khi các cuộc thanh trừng không còn dừng ở đối lập mà bắt đầu lan sang chính những người trong hàng ngũ của mình, thì một câu hỏi sẽ âm thầm xuất hiện trong đầu tất cả những người còn lại: “LIỆU NGÀY MAI CÓ ĐẾN LƯỢT MÌNH KHÔNG?”

Và khi câu hỏi ấy trở thành nỗi ám ảnh chung, sự trung thành sẽ dần nhường chỗ cho bản năng tự vệ.

Trong nhiều chế độ độc tài, người ta thường thấy một vòng xoáy đầy nghịch lý, có thể dẫn chính người cầm quyền đến chỗ sụp đổ.

Để duy trì quyền lực, nhà độc tài luôn tìm cách loại bỏ mọi đối thủ và mọi mầm mống có thể đe dọa mình. Không làm như vậy, họ lo sợ sẽ bị lật đổ. Nhưng càng thanh trừng, họ lại càng khó xác định đâu là kẻ thù thực sự. Bởi trong một bầu không khí ngờ vực, bất kỳ ai cũng có thể bị coi là đối thủ tiềm tàng: đối lập, đồng minh, cộng sự, thậm chí cả những người từng trung thành nhất.

Vì thế, các cuộc thanh trừng có xu hướng ngày càng mở rộng. Khi mọi người đều tin rằng lòng trung thành không còn bảo đảm cho sự an toàn của mình, bản năng tự vệ sẽ thay thế lòng trung thành.

Đó chính là điều đã xảy ra với Robespierre. Chỉ trong vòng chưa đầy hai mươi bốn giờ, người đang ở trên đỉnh cao quyền lực đã trở thành nạn nhân của chính cơ chế mà ông tạo ra.

Lịch sử không bao giờ lặp lại nguyên xi, nhưng những quy luật của quyền lực thì thường có những nét tương đồng. Người tiếp theo sẽ là ai? Putin, Kim Jong-un, Tập Cận Bình, hay một nhà lãnh đạo nào khác mà hôm nay vẫn đang nắm quyền tuyệt đối? Không ai có thể biết trước. Chỉ có thời gian mới đưa ra câu trả lời.

BẤT KỲ QUYỀN LỰC NÀO ĐƯỢC XÂY DỰNG CHỦ YẾU TRÊN NỖI SỢ ĐỀU MANG TRONG MÌNH NHỮNG MẦM MỐNG TỰ HỦY CỦA NÓ.

Những gì đã xảy ra trong Cách mạng Pháp – nhân danh cách mạng để đàn áp, để thanh trừng, để loại bỏ những người bị coi là “kẻ thù của cách mạng”… – đáng tiếc không chỉ là câu chuyện của nước Pháp. Điều làm tôi suy nghĩ không phải là bản thân những cuộc thanh trừng ấy, mà là khoảng cách về thời gian. Người Pháp đã trải qua giai đoạn đó từ cuối thế kỷ XVIII. Thế nhưng, hơn hai thế kỷ sau, ở một số quốc gia đi sau, người ta vẫn bắt gặp gần như cùng một cơ chế vận hành của quyền lực, chỉ khác ở tên gọi và hình thức.

Đó không chỉ là một sự tương đồng của lịch sử. Đó còn là thước đo cho thấy khoảng cách về trình độ phát triển chính trị giữa các quốc gia đôi khi không chỉ tính bằng vài chục năm, mà bằng cả vài thế kỷ.

Vậy mà vẫn dám nói « kỷ nguyên vươn mình”.


 

Mừng kính Thánh Lô-ren-sô (St. Lawrence) thế kỷ thứ ba, phó Tế tử đạo (10/08)- Cha Vương

Mến chào một ngày mới, hôm nay 10/08 Giáo Hội mừng kính Thánh Lô-ren-sô (St. Lawrence) thế kỷ thứ ba, phó Tế tử đạo. Mừng Bổn Mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé. Hãy bảo trọng và cầu nguyện cho nhau không quên cho thế giới luôn nhé

Cha Vương

Thứ 2: 10/08/2026.      (t4-22)

Thánh Lôrensô là một trong bảy nô bộc của giáo hội (phó tế) chịu trách nhiệm giúp đỡ người nghèo túng và ngài được giao cho trách nhiệm “quản lý tài sản của giáo hội”. Khi sự cấm đạo dưới thời hoàng đế Valerian bùng nổ, Thánh Giáo Hoàng Sixtus bị kết án tử hình cùng với sáu nô bộc khác. Khi đức giáo hoàng bị điệu ra pháp trường, Lôrensô đi theo khóc lóc nức nở, ngài hỏi, “Cha ơi, cha đi đâu mà không cho nô bộc này theo?” Ðức giáo hoàng trả lời, “Con ơi, ta không bỏ con đâu. Trong ba ngày nữa, con sẽ theo ta.” Nghe thấy thế, Lôrensô thật vui mừng, ngài về phân phát hết tiền của trong kho cho người nghèo, và còn bán cả các phẩm phục đắt tiền để có thêm của cải mà phân phát.

       Quan Tổng Trấn Rôma, một người tham lam, nghĩ rằng Giáo Hội có giấu giếm nhiều của cải. Do đó, ông ra lệnh cho Lôrensô phải đem hết tài sản của Giáo Hội cho ông. Vị thánh trả lời, xin cho ba ngày. Thế là ngài đi khắp thành phố, quy tụ mọi người nghèo khổ, đau yếu được Giáo Hội giúp đỡ. Khi trình diện họ trước mặt quan, ngài nói: “Ðây là tài sản của Giáo Hội!”

       Giận điên người, quan tổng trấn xử phạt Lôrensô phải chết cách thê thảm và chết dần mòn. Vị thánh bị cột trên một vỉ sắt lớn với lửa riu riu để từ từ thiêu đốt da thịt của ngài, nhưng thánh nhân đang bừng cháy với tình yêu Thiên Chúa nên dường như ngài không cảm thấy gì. Thật vậy, Thiên Chúa còn ban cho ngài sức mạnh đến độ có thể đùa bỡn. Ngài nói với quan tòa, “Lật tôi đi chứ. Phía bên này chín rồi!” Và trước khi trút hơi thở cuối cùng, ngài nói, “Bây giờ đã chín hết rồi.” Sau đó ngài cầu xin cho thành phố Rôma được trở lại với Ðức Kitô và cho Ðức Tin Công Giáo được lan tràn khắp thế giới. Và ngài tiến lên lãnh nhận triều thiên tử đạo.

 (Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online)

       Noi gương quả cảm của Thánh Lô-ren-sô, mời Bạn hãy làm một việc hy sinh để cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới, xin Chúa thương soi trí mở lòng để họ biết hành động theo thánh ý Chúa mà tận tình lo cho dân nước được an cư lập nghiệp và vui hưởng tự do. 

Thánh Lô-ren-sô, cầu cho chúng con. 

From: Do Dzung

*****

Thánh Ca Công Giáo Đặc Biệt Hay Nhất – KINH HÒA BÌNH

TIN VÀ KHÔNG TIN

Chuyện tuổi Xế Chiều  – Công Tú Nguyễn

Một người đàn ông đi vào tiệm hớt tóc quen thuộc để cắt tóc và cạo râu như thường lệ. Ông ta bắt đầu buôn chuyện với người thợ phục vụ cho mình. Họ nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi vô tình họ đụng đến đề tài Chúa trời.

Người thợ cắt tóc nói: “Tôi chẳng tin trên đời này có Thượng Đế như ông đã nói”.

Người khách: “Sao ông lại nói thế?”.

“Chuyện đó cũng dễ thôi, chỉ cần ông bước ra đường là thấy ngay trên đời này chẳng có Chúa trời gì ráo. Nếu thực sự Ngài có tồn tại thì tại sao trên đời này lại có nhiều người bệnh tật như vậy? Sao còn rất nhiều trẻ em bị bỏ rơi. Nếu có Chúa, trên đời này sẽ chẳng có đau khổ. Tôi không thể nghĩ nỗi là Chúa nào lại chấp nhận nhìn những cảnh đó xảy ra”.

Người khách lặng im suy nghĩ nhưng rồi ông không nói gì vì không muốn câu chuyện trở thành cuộc khẩu chiến. Người thợ cắt tóc làm xong công việc của mình và vị khách hàng bước ra khỏi tiệm. Vừa ra ngoài ông liền nhìn thấy một người đàn ông trên đường tóc tai râu ria bù xù (như thể đã lâu lắm rồi ông ta không cắt tóc cạo râu vậy, trông rất bê bối).

Người khách liền quay lại cửa tiệm và nói với người thợ cắt tóc:

“Ông biết gì không? Trên đời này làm gì có thợ cắt tóc”.

“Sao lại không? Tôi đang ở đây và tôi là thợ cắt tóc”.

“Không hề”, vị khách trả lời: “Nếu có thợ cắt tóc thì sao vẫn còn những người tóc tai, râu ria bù xù như người đàn ông đang đi trên đường kia?”.

“À, thợ cắt tóc thì có chứ, chỉ tại những người kia không chịu đến tiệm cắt tóc mà thôi”.

“Chính xác!”. Vị khách như chỉ đợi câu nói đó.

“Đó là điều mà tôi muốn nói. Thượng Đế có tồn tại, chỉ là người ta không tin và không tìm đến Ngài mà thôi. Đó là lý do vì sao trên đời này lại có nhiều khổ đau đến như vậy”.

St


 

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo bao nhieu nguoi da chet?

GEMENI tra loi:

Dưới thời cai trị của Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo (1975–1979), ước tính có từ 1,5 triệu đến 2 triệu người thiệt mạng, tương đương khoảng 20% đến 25% dân số Campuchia thời bấy giờ.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  • Hành quyết và thảm sát: Hàng trăm nghìn người bị quy kết là “kẻ thù của cách mạng” (bao gồm trí thức, quan chức chính quyền cũ, người dân tộc thiểu số và những người bị nghi ngờ không trung thành) bị giam giữ, tra tấn và sát hại tại các trại cải tạo và “cánh đồng chết”.
  • Lao động khổ sai và đói khát: Chính sách cưỡng bức di dời toàn bộ dân cư từ thành thị về nông thôn để thực hiện mô hình nông nghiệp tập trung dẫn đến tình trạng kiệt sức và nạn đói nghiêm trọng trên diện rộng.
  • Bệnh tật và thiếu y tế: Hệ thống y tế bị phá hủy hoàn toàn, thuốc men thiếu hụt cùng điều kiện sống tồi tàn khiến vô số người chết vì các bệnh truyền nhiễm.

Một số số liệu từ các tổ chức và nghiên cứu uy tín:

  • Chương trình Nghiên cứu Nạn diệt chủng Campuchia (Đại học Yale): Ước tính khoảng 1,7 triệu người (khoảng 21% dân số).
  • Trung tâm Tư liệu Campuchia (DC-Cam): Dựa trên việc thống kê các hố sát hại tập thể, ước tính số nạn nhân dao động từ 1,7 triệu đến 2 triệu người.
  • Các ước tính tổng hợp khác: Tùy thuộc vào phương pháp thống kê, con số dao động trong khoảng từ 1,2 triệu cho đến gần 3 triệu người.

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Chân dung Tô Lâm – The True Portrait of To Lam

BỊ TRIỆU TẬP VÌ BẤM THEO DÕI MỘT TRANG FACEBOOK

Ngày 4/8/2026, Công an xã Mường Phăng triệu tập hai công dân L.T.Đ và L.T.A. Lý do: họ đã bấm theo dõi trang Facebook “Hoàng Dũng”.

Không phải chia sẻ bài viết. Không phải bình luận. Không phải viết status thể hiện quan điểm. Chỉ đơn giản là bấm nút theo dõi, một hành động mà hàng triệu người dùng mạng xã hội thực hiện mỗi ngày mà không hề nghĩ đó có thể là vấn đề.

Hãy dừng lại và suy nghĩ về điều đó. Theo dõi một trang Facebook có nghĩa là bạn muốn thấy nội dung của trang đó xuất hiện trên newsfeed của mình. Nó không có nghĩa là bạn đồng ý với mọi thứ trang đó đăng. Nó không có nghĩa là bạn tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của trang đó. Nó chỉ đơn giản là một cú click để theo dõi thông tin, giống như bạn theo dõi hàng chục, hàng trăm trang khác về ẩm thực, du lịch, giải trí, tin tức.

Khi hành động đơn giản đó đủ để bị triệu tập lên đồn công an, thì ranh giới của những gì được coi là bình thường trên mạng xã hội đã bị thu hẹp đến mức đáng báo động.

Lý do được đưa ra thường là phòng ngừa thông tin xấu độc. Nghe có vẻ hợp lý ở bề mặt. Nhưng ai quyết định thông tin nào là xấu độc? Dựa trên tiêu chí nào? Có quy trình minh bạch nào để một trang mạng xã hội được xác định là nguồn thông tin xấu độc hay không, hay quyết định đó hoàn toàn phụ thuộc vào việc trang đó có đăng tải điều gì khiến ai đó không hài lòng?

Khi không có tiêu chí rõ ràng, thì bất kỳ trang nào, bất kỳ quan điểm nào khác với luồng chính thống đều có thể bị gán nhãn xấu độc, và bất kỳ ai theo dõi trang đó đều có thể trở thành đối tượng bị triệu tập.

Quyền tự do ngôn luận không chỉ là quyền được nói. Nó còn bao gồm quyền được nghe, được tiếp cận thông tin đa chiều, được tự mình quyết định nguồn tin nào mình muốn theo dõi và tự mình đánh giá độ tin cậy của thông tin đó. Đó là quyền cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Khi việc theo dõi một trang thông tin trở thành hành vi có thể bị triệu tập, thì quyền tiếp cận thông tin đa chiều đó không còn tồn tại trên thực tế nữa, dù nó vẫn được ghi trong văn bản pháp luật.

Có một nghịch lý đáng chú ý trong cách xử lý này. Nếu nội dung trên trang Facebook đó thực sự sai sự thật, thực sự nguy hiểm, thực sự cần được ngăn chặn, thì cách xử lý hợp lý là chứng minh nó sai, phản bác bằng thông tin chính xác, hoặc xử lý người quản lý trang đó theo đúng quy trình pháp lý.

Nhưng việc truy tìm và triệu tập những người chỉ đơn thuần theo dõi trang đó lại là một cách tiếp cận khác hoàn toàn. Nó không nhằm vào nguồn thông tin. Nó nhằm vào người tiếp nhận thông tin. Và điều đó tạo ra hiệu ứng răn đe rộng hơn nhiều: không chỉ người viết phải sợ, mà cả người đọc cũng phải sợ.

Khi nỗi sợ đó lan rộng, điều gì sẽ xảy ra? Người dân sẽ tự kiểm duyệt không chỉ những gì họ viết, mà cả những gì họ đọc, những gì họ theo dõi, những trang nào họ dám bấm like. Không gian thông tin sẽ dần thu hẹp lại, không phải vì bị cấm một cách công khai và rõ ràng, mà vì mỗi người tự rút lui khỏi những nguồn thông tin có thể mang lại rủi ro, dù họ không biết chính xác rủi ro đó là gì.

Các chuyên gia pháp lý quốc tế đã nhấn mạnh rằng quyền tự do thông tin là nền tảng của một xã hội văn minh. Việc quy chụp hành vi theo dõi một trang cá nhân thành vi phạm pháp luật không bảo vệ được trật tự xã hội. Nó chỉ cho thấy sự bất an của một hệ thống trước những tiếng nói độc lập, trước khả năng người dân tự tiếp cận thông tin và tự hình thành quan điểm của riêng mình mà không cần thông qua kênh chính thống.

Một hệ thống tự tin vào tính đúng đắn của mình không cần phải sợ một nút like. Khi nó sợ, đó chính là lúc câu hỏi về sự tự tin đó cần được đặt ra nghiêm túc nhất.


 

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

Chân Trời Mới Media

TỪ PHIÊN LIVE CỦA BÀ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG VÀ LÝ DO AN NINH VIỆT NAM SỢ TRUYỀN THÔNG

“Phản động”, “thế lực thù địch” đó là những cụm từ mà công an Việt Nam dùng để gán cho những người bất đồng chính kiến. “Các đối tượng thiếu hiểu biết”, “tiếp tay cho phản động” là những cụm từ dùng để gán tội cho những người tương tác với các kênh truyền thông độc lập. Vì thế, đây không còn là chiến dịch trấn áp, mà còn là một nỗi sợ. Vậy, tại sao nhà cầm quyền Việt Nam lại “sợ” truyền thông?

Vừa qua vào ngày 5/08/2026, Bà Nguyễn Phương Hằng đã livestream trên nền tảng tiktok thu hút hơn 2 triệu lượt xem trước khi bị đánh sập. Trong nội dung livestream, có đoạn bà nhắc đến bê bối của các cựu quan chức của Việt Nam với cái tên “anh Hai”, “anh Ba”, “anh Tư”, “anh Bảy”. Dư luận nhận ra bà đang muốn nhắn đến ông Lê Thanh Hải, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Xuân Phúc. Nên phiên livestream diễn ra được khoảng một tiếng thì bị đánh sập do “đưa tin thiếu kiểm chứng”.

Một phiên live thu hút được hàng triệu view, một con số được cho là quá lớn. Nội dung thì lại thu hút dư luận, các cái tên được Bà Hằng nhắc đến, dư luận hiện tại vẫn đang bàn tán xôn xao. Vì thế, nhiều người nhận định, đó là lý do tại sao nhà cầm lại “sợ” truyền thông. Vì sức ảnh hưởng thì quá lớn, mà lại còn nằm ngoài sự kiểm duyệt của Đảng và Nhà nước, nên “sợ là phải”.

#NguyenPhuongHang #Livetream #chantroimoi 


 

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi thoi Mao Trach Dong la bao nhieu nguoi?

GEMINI tra loi:

Số lượng người chết dưới thời Mao Trạch Đông (1949–1976) không có một con số thống nhất tuyệt đối do sự thiếu hụt tài liệu chính thức từ chính phủ Trung Quốc và sự khác biệt trong phương pháp thống kê của các nhà sử học. Tuy nhiên, phần lớn các ước tính độc lập và nghiên cứu lịch sử uy tín đưa ra tổng con số tử vong dao động từ 40 triệu đến 80 triệu người.

Các nguyên nhân tử vong chính bao gồm:

  1. Đại nhảy vọt và Nạn đói lớn (1958–1962):
    • Đây là chiến dịch gây ra số lượng tử vong lớn nhất do chính sách tập thể hóa nông nghiệp và quản lý kinh tế yếu kém.
    • Hầu hết các nhà nhân khẩu học và sử học (như Dương Kế Thằng, Frank Dikötter, Judith Banister) ước tính số người chết vì đói và bị bạo hành trong giai đoạn này khoảng từ 30 triệu đến 45 triệu người.
  2. Cách mạng Văn hóa (1966–1976):
    • Các cuộc đấu tố, thanh trừng nội bộ do Hồng vệ binh và quân đội thực hiện dẫn đến bạo lực diện rộng.
    • Con số tử vong do bạo lực, tự sát hoặc bị đàn áp ước tính khoảng 1 triệu đến 3 triệu người.
  3. Cải cách ruộng đất và các chiến dịch đàn áp chính trị (1949–1957):
    • Bao gồm Cải cách ruộng đất, Chiến dịch tiêu diệt phản cách mạng, và Chiến dịch Chống phe Hữu.
    • Số lượng địa chủ, đối thủ chính trị và tầng lớp trí thức bị hành quyết hoặc chết trong các trại cải tạo ước tính từ 1 triệu đến 5 triệu người.
  4. Hệ thống trại cải tạo lao động (Lao cải):
    • Hàng triệu người đã trải qua các trại lao cải trong nhiều thập kỷ, với con số tử vong do điều kiện khắc nghiệt và bị ngược đãi ước tính từ vài triệu đến 20 triệu người tùy theo phạm vi tính toán của các nhà nghiên cứu.

Tóm tắt các nguồn ước tính tiêu biểu:   

  • Chính sử / Giới nghiên cứu độc lập phương Tây & Trung Quốc (Yang Jisheng, Frank Dikötter, Daniel Leese): Ước tính khoảng 40 – 45 triệu người.
  • Một số sách nghiên cứu như Cuốn sách đen của Chủ nghĩa Cộng sản (The Black Book of Communism) hoặc tiểu sử Mao của Jung Chang & Jon Halliday: Ước tính từ 65 triệu đến 70 triệu người.
  • Ước tính cao nhất (R.J. Rummel): Lên tới 77 triệu người.

 

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi?

So nguoi chet duoi che do Staline la bao nhieu nguoi:

GEMINI Tra loi:

Ước tính số người thiệt mạng dưới chế độ của Joseph Stalin (từ khoảng năm 1924 đến 1953) vẫn là một chủ đề có nhiều sự khác biệt giữa các nhà lịch sử, do tính chất phức tạp của việc truy cập hồ sơ lưu trữ và cách phân loại nguyên nhân tử vong (hành quyết trực tiếp, chết trong trại cải tạo Gulag, hay chết vì nạn đói).

Các con số ước tính phổ biến bao gồm:

  • Tài liệu lưu trữ chính thức của Liên Xô (sau năm 1991): Các nhà lịch sử truy cập hồ sơ lưu trữ chính thức sau khi Liên Xô sụp đổ ước tính có khoảng 6 đến 9 triệu người thiệt mạng do các chính sách trực tiếp và gián tiếp của Stalin. Trong đó:
    • Hành quyết chính trị: Khoảng 800.000 đến 1,2 triệu người bị tuyên án tử hình và hành quyết (đặc biệt trong thời kỳ Đại thanh trừng 1937–1938).
    • Hệ thống trại Gulag: Khoảng 1,5 đến 1,7 triệu người chết do điều kiện khắc nghiệt, bệnh tật và kiệt sức trong các trại lao động cải tạo.
    • Cưỡng bức di dời và lưu tày: Khoảng 500.000 đến 1 triệu người thiệt mạng trong quá trình di dời hàng loạt các sắc tộc và đối tượng chính trị.
    • Nạn đói (1932–1933): Khoảng 3,5 đến 5 triệu người chết vì nạn đói do chính sách tập thể hóa nông nghiệp, đặc biệt là sự kiện Holodomor tại Ukraine và nạn đói ở Kazakhstan.
  • Ước tính của các nhà nghiên cứu phương Tây (trước và sau thời kỳ Mở cửa): Trước khi hồ sơ lưu trữ được công bố, một số nhà lịch sử phương Tây (như Robert Conquest) đưa ra con số cao hơn nhiều, ước tính từ 15 đến 20 triệu người tử vong khi tính gộp cả nạn đói đại trà, tử vong trong chiến dịch giải thể tầng lớp phú nông (Kulak), và điều kiện sống khắc nghiệt thời chiến.

Tổng hợp lại, đa số các nhà lịch sử hiện đại đồng thuận rằng con số tử vong trực tiếp và gián tiếp do các chính sách của Stalin nằm trong khoảng từ 6 triệu đến 20 triệu người.

Con trai tiết lộ Biden bị ung thư di căn, rất đau đớn

Ba’o Nguoi-Viet

August 9, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến (tiền liệt tuyến) của cựu Tổng Thống Joe Biden lan ra bộ phận khác của cơ thể và làm ông đau đớn, con trai ông tiết lộ, theo CBS News hôm Thứ Bảy, 8 Tháng Tám.

Trong cuộc phỏng vấn với BBC News cuối hôm Thứ Sáu, ông Hunter Biden trở nên xúc động khi nói về tình trạng thân phụ ông. Ông cho hay tình trạng của vị cựu tổng thống nhìn rất đau lòng.

Cựu Tổng Thống Joe Biden phát biểu trong buổi gây quỹ cho đảng Dân Chủ South Carolina tại Columbia Museum of Art ở Columbia, South Carolina hôm 27 Tháng Hai. (Hình minh họa: Sean Rayford/Getty Images)

“Bệnh ung thư đã lan ra, di căn vào xương và nhiều chỗ,” ông Hunter Biden cho biết. “Ông rất đau đớn và suy yếu rất nhiều.”

Ông Hunter Biden nói thêm, “Nhìn rất đau lòng. Về sức khỏe của ông ngay lúc này, tôi chỉ muốn nói ước gì ông than phiền nhiều hơn, vì không tốt.”

Nhưng ông Hunter Biden nhấn mạnh thân phụ ông vẫn “còn đó,” công khai lên tiếng về những vấn đề quan trọng đối với ông.

“Ông vẫn làm công việc của mình,” ông Hunter Biden nói. “Ông vẫn tin tưởng đất nước này.”

Cựu Tổng Thống Biden, 83 tuổi, từng là tổng thống đương nhiệm lớn tuổi nhất lịch sử Mỹ, và tuổi tác của ông là điều khiến người ta lo ngại hầu như suốt bốn năm ông làm tổng thống. Cả ông lẫn nhóm cố vấn của ông ở Tòa Bạch Ốc đều bị chỉ trích kịch liệt vì bị nghi che giấu mức độ bệnh tật của ông, đặc biệt sau khi ông bị ép buộc dừng tái tranh cử năm 2024 sau màn tranh luận tệ hại với ông Donald Trump, ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa lúc đó và cuối cùng, là người kế nhiệm ông Biden.

Tháng Năm năm ngoái, chưa đầy bốn tháng sau khi hết nhiệm kỳ, cựu Tổng Thống Biden công bố bị ung thư. Lúc đó, văn phòng ông loan báo ông bị ung thư giai đoạn cuối.

Tháng Chín năm ngoái, ông Biden cũng được mổ để điều trị bệnh ung thư da. Và hồi Tháng Mười, ông được xạ trị thêm một đợt để điều trị bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến, văn phòng ông cho hay.

Trong cuộc phỏng vấn của CBS News hồi Tháng Năm, cựu Đệ Nhất Phu Nhân Jill Biden cho biết gia đình bàng hoàng khi hay tin ông bị ung thư. Bà cũng tỏ ý nói bác sĩ không phát giác ông bị ung thư lúc ông làm tổng thống.

Cựu Tổng Thống Biden sẽ xuất bản quyển hồi kỳ “Promise Me, America” (Tạm dịch: “Hãy Hứa Với Tôi, Nước Mỹ”) sau cuộc bầu cử giữ nhiệm kỳ vào Tháng Mười Một. (Th.Long) [dt]


 

ĐỂ ĐƯỢC CẢ ĐỒNG LÚA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình!”.

Bị buộc phải trao nộp kho báu của Giáo Hội, Thánh Laurensô chỉ vào người nghèo. Câu trả lời ấy đã được ngài đóng ấn bằng máu. Từ đó, Tin Mừng về hạt lúa bắt đầu được sống.

Kính thưa Anh Chị em,

Hạt lúa không sợ mục nát; nó chỉ sợ nằm mãi trong kho. Chỉ khi dám đi vào lòng đất, nó mới có thể sinh nhiều bông hạt. Lời Chúa hôm nay mặc khải nghịch lý ấy: chết không phải để mất, nhưng ‘để được cả đồng lúa’.

“Chết” là điều kiện của sự sinh. Bản Hy Lạp viết menei monos – “ở lại một mình”. Nếu không chết đi, hạt lúa vẫn nguyên vẹn, nhưng trơ trọi; không mất đi, nhưng cũng không bao giờ trở nên nhiều hơn nó. Vấn đề không còn là còn hay mất, nhưng là chấp nhận sự đơn độc hay được gieo xuống để sự sống được nhân lên. Đừng sợ những từ bỏ đớn đau, vì trong tay Đấng Tạo Hoá, tiêu hao luôn là khởi đầu của cả một mùa vàng. “Tôi phải học cách rời bỏ chính mình để tìm lại chính mình!” – Thomas Merton.

Nơi Laurensô, “cho” không còn là một hành vi đạo đức, nhưng là cách Tin Mừng được trao truyền. Gieo ít hay nhiều không còn là chuyện tính toán, nhưng là để ân sủng của Thiên Chúa lan rộng – bài đọc một. Của cải không còn được đo bằng điều giữ lại, nhưng bằng điều con người dám hiến trao; Thiên Chúa không đếm những gì con người cất giữ, nhưng làm lớn lên những gì họ gieo xuống. Người nghèo vì thế không chỉ là đối tượng của lòng bác ái, nhưng trở thành kho báu sống động của Giáo Hội; chính nơi họ, những hạt lúa của lòng quảng đại bắt đầu nảy mầm. Thánh Vịnh đáp ca cất lên: “Phúc thay người biết cảm thông và cho vay mượn!”.

Vậy mà đó lại là điều con người sợ nhất. Chúng ta sợ mất nên giữ lại; sợ thiệt nên co rút; sợ bị lấy đi nên không dám trao. Hạt lúa không mất, nhưng cũng không sinh. Điều nghịch lý là: càng cố giữ, sự sống càng thu hẹp; càng tự bảo vệ, lòng người càng nghèo đi. Chỉ khi dám mục nát, đời người mới có thể trở thành cánh đồng ơn phước. Henri de Lubac từng nhận định: con người chỉ đạt tới sự viên mãn khi biết trao hiến. Đó cũng là lúc hạt lúa bắt đầu thuộc về người khác. Mất mát dưới bàn tay ân sủng không bao giờ là sự cạn kiệt, nhưng là chuẩn bị cho một mùa gặt vĩnh cửu.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ nói về hạt lúa, Ngài chính là Hạt Lúa ấy. Đến từ Thiên Chúa, Ngài tự nguyện đi vào lòng đất của thế gian để khai mở một mùa gặt mới cho nhân loại. Vì thế, thập giá không còn là lời cuối của cái chết, nhưng là nơi sự sống bẻ tung mọi giới hạn của cái chết để sinh sôi. Chỉ khi ở trong Đức Kitô, hạt lúa đời chúng ta mới thôi trơ trọi; chỉ khi kết hiệp với Ngài, mọi mất mát mới có thể làm nên cả đồng lúa. “Hạt lúa là chính Đức Giêsu. Hoa trái là sự sống dồi dào mà Người đã đạt được cho chúng ta nhờ thập giá!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con cứ giữ mình nguyên vẹn; cho con biết trao đi không tiếc, biết yêu không giữ lại; để đời con cũng trổ sinh những cánh đồng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thánh Laurensô Phó tế, tử đạo – 10/8

Thứ Hai Tuần XIX Thường Niên:

https://h1.nu/1vCq2

Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an. Ga 12,24-26

24 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. 25 Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. 26 Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy ; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ quý trọng người ấy.”


 

 JOE BIDEN – KHI MỘT ĐỜI QUYỀN LỰC CUỐI CÙNG CŨNG TRỞ VỀ VỚI PHẬN NGƯỜI

Hoai Linh Ngoc Duong

 JOE BIDEN – KHI MỘT ĐỜI QUYỀN LỰC CUỐI CÙNG CŨNG TRỞ VỀ VỚI PHẬN NGƯỜI

Có những lúc chính trị nên im tiếng để nhường chỗ cho tình người.

Trong cuộc phỏng vấn được phát sóng những ngày qua, Hunter Biden đã nghẹn ngào khi nói về người cha 83 tuổi của mình. Căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt của cựu Tổng thống Joe Biden đã di căn vào xương và xa hơn.

Hunter nói rằng nó “rất đau đớn” và khiến cha ông suy kiệt về nhiều mặt. Đó là một thông tin buồn, dù chúng ta cần thận trọng rằng gia đình Biden chưa nói ông đang ở những ngày cuối đời. (Reuters⁠)

Nhưng có lẽ chính vào những thời khắc như thế này, con người mới cảm nhận sâu sắc nhất bốn chữ tưởng như đã quá quen thuộc: sinh, lão, bệnh, tử.

Một đời người có thể đi qua những hành lang quyền lực lớn nhất thế giới, có thể ngồi trong Thượng viện Hoa Kỳ, bước vào Nhà Trắng với tư cách phó tổng thống rồi tổng thống, có thể ký những đạo luật ảnh hưởng đến hàng trăm triệu con người.

Nhưng cuối con đường, trước bệnh tật, một tổng thống cũng chỉ là một con người. Quyền lực không thể ra sắc lệnh cho những tế bào ung thư ngừng phát triển. Danh vọng không thể thương lượng với tuổi già. Tiền bạc có thể đem lại những phương pháp điều trị tốt nhất, nhưng không thể mua được sự bất tử.

Có lẽ đó chính là bài học nhân sinh lớn nhất mà bệnh tật nhắc lại cho tất cả chúng ta: quyền lực rồi sẽ hết, chức vụ rồi sẽ trao lại, những cuộc tranh cãi chính trị rồi sẽ trở thành vài trang trong sách sử. Cuối cùng điều còn lại là một con người đã sống như thế nào và để lại điều gì cho những người đến sau.

Cuộc đời Joe Biden, bất kể người ta đánh giá những quyết định chính trị của ông ra sao, là một cuộc đời rất dài trong nền dân chủ Mỹ.

Ông bước vào Thượng viện năm 1973 khi mới 30 tuổi và ở đó suốt 36 năm, chứ không chỉ 30 năm. Sau đó là tám năm làm phó tổng thống dưới thời Barack Obama và bốn năm làm Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ. (U.S. Senate⁠)

Nhưng phía sau con đường chính trị ấy là một cuộc đời nhiều mất mát.

Chỉ vài tuần sau khi Biden lần đầu đắc cử thượng nghị sĩ năm 1972, người vợ Neilia và cô con gái nhỏ Naomi chết trong một tai nạn xe hơi; hai người con trai Beau và Hunter bị thương.

Biden đã tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ ngay trong bệnh viện nơi các con đang điều trị. Sau đó, ông lựa chọn mỗi ngày đi lại giữa Delaware và Washington để có thể trở về với các con vào buổi tối. (Joe Biden⁠)

Vì thế mới có một “Amtrak Joe” rất khác với hình ảnh của một chính trị gia Washington: một người cha trên chuyến tàu trở về nhà sau giờ làm việc.

Hàng chục năm sau, bi kịch lại tìm đến gia đình ấy. Beau Biden mắc ung thư não. Trong những ngày con trai bệnh nặng, Joe Biden từng tính đến chuyện bán căn nhà của mình để bảo đảm gia đình Beau không gặp khó khăn tài chính nếu Beau phải nghỉ việc. Barack Obama khi biết chuyện đã đề nghị giúp đỡ để Biden không phải bán nhà.

Chi tiết ấy có ý nghĩa không phải bởi một phó tổng thống nghèo hay giàu. Nó đáng nhớ bởi trong khoảnh khắc ấy, chức danh “Phó Tổng thống Hoa Kỳ” bỗng trở nên nhỏ bé trước hai chữ người cha.

Một người cha có thể ngồi cách Tổng thống Hoa Kỳ vài bước trong Phòng Bầu dục, nhưng khi con mình mắc bệnh hiểm nghèo, ông cũng suy nghĩ như hàng triệu người cha bình thường khác: nếu cần, tôi sẽ bán những gì mình có để con và gia đình của con được bình an.

Beau qua đời năm 2015, mới 46 tuổi.

Và hôm nay, vòng quay nghiệt ngã của đời người lại đảo chiều: người cha từng đứng bên giường bệnh của con giờ trở thành người bệnh; Hunter Biden, người con từng được cha chăm sóc sau tai nạn khi còn nhỏ, giờ phải nhìn người cha già chống chọi với căn bệnh ung thư.

Có lẽ không có triết lý nào về vô thường mạnh mẽ hơn chính cuộc đời.

Joe Biden không phải một vị thánh. Không một chính trị gia dân chủ nào nên được biến thành thánh. Ông đã có những quyết định đúng, những quyết định sai, những thành tựu và những thất bại. Chính bản chất của dân chủ đòi hỏi người dân được quyền phê phán tất cả những điều đó.

Nhưng có một điểm đáng được ghi nhận: Biden dành hơn nửa thế kỷ hoạt động trong những định chế của nền dân chủ Hoa Kỳ. Ông thắng bầu cử, ông từng thất bại trong những cuộc tranh cử tổng thống, ông tranh luận với đối thủ, thương lượng với Quốc hội và cuối cùng rời quyền lực khi nhiệm kỳ kết thúc.

Trong Thượng viện, ông từng giữ những vị trí hàng đầu tại Ủy ban Tư pháp và Ủy ban Đối ngoại và là tác giả quan trọng của Violence Against Women Act. (Joe Biden⁠) Trong tám năm làm phó tổng thống, ông tham gia chính quyền Obama trong quá trình phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính và thông qua Affordable Care Act. (Joe Biden⁠)

Khi làm tổng thống, chính quyền Biden thông qua những khoản đầu tư lớn vào hạ tầng, trong đó có khoảng 66 tỷ USD dành cho đường sắt – một sự trùng hợp đẹp đối với người đàn ông đã dành phần lớn đời nghị sĩ trên những chuyến tàu Amtrak. (AP News⁠)

Và một trong những chủ đề lớn nhất những năm cuối sự nghiệp chính trị của Biden chính là bảo vệ nền dân chủ.

Có thể đồng ý hoặc không đồng ý với cách ông thực hiện điều đó. Nhưng trong bài phát biểu chia tay tại Phòng Bầu dục tháng 1/2025, Biden vẫn cảnh báo nước Mỹ về nguy cơ hình thành một tầng lớp tài phiệt khi tiền bạc và quyền lực tập trung quá mức trong tay một số ít người. (Reuters⁠)

Đó cũng là điều đẹp đẽ của một nền dân chủ: không cần yêu một tổng thống mới có thể ghi nhận những gì ông đã cống hiến; không cần phủ nhận những sai lầm của ông mới có thể cảm thông với nỗi đau của ông.

Bởi đến trước bệnh tật, những nhãn hiệu Democrat hay Republican cuối cùng đều trở nên thứ yếu.

Năm 2025, khi thông báo mình mắc ung thư tuyến tiền liệt thể ác tính cao, Gleason 9, đã di căn xương, Biden từng viết một câu rất giản dị: “Cancer touches us all” – ung thư chạm đến tất cả chúng ta. (CBS News⁠)

Có lẽ không cần một diễn văn nào dài hơn thế.

Ung thư không hỏi chúng ta bỏ phiếu cho ai. Tuổi già không phân biệt tổng thống với người công nhân. Cái chết không biết đến quyền lực, tài khoản ngân hàng hay số người theo dõi trên mạng xã hội.

Rồi một ngày, tất cả chúng ta đều phải rời khỏi chiếc ghế mình đang ngồi.

Và vì vậy, giá trị cuối cùng của một đời người có lẽ không nằm ở việc người ấy đã nắm bao nhiêu quyền lực, mà ở câu hỏi giản dị hơn: khi còn có quyền lực trong tay, người ấy đã sử dụng nó để làm gì?

Khi còn thời gian, người ấy đã dành nó cho ai? Và khi ra đi, người ấy để lại cho những thế hệ sau một xã hội tốt hơn hay tồi tệ hơn xã hội mà mình từng nhận được?

Joe Biden đã đi một hành trình rất dài: từ chàng trai 29 tuổi đắc cử Thượng viện; người cha tuyên thệ bên giường bệnh của những đứa con vừa mất mẹ và em gái; người nghị sĩ hàng chục năm sáng đi Washington, tối trở về Delaware; người cha từng nghĩ đến chuyện bán nhà vì tương lai gia đình của đứa con mắc ung thư; rồi phó tổng thống, tổng thống và cuối cùng lại trở về làm một ông già ở tuổi 83 đang chống chọi với bệnh tật.

Một vòng đời gần như đã đi qua tất cả những gì con người có thể trải nghiệm: thành công và thất bại, quyền lực và mất mát, vinh quang và nước mắt, được và mất, gặp gỡ và chia lìa.

Hôm nay có lẽ không phải lúc để hỏi Joe Biden thuộc đảng nào.

Chỉ nên cầu mong những phương pháp điều trị có thể giúp ông giảm bớt đau đớn, và mong Jill, Hunter, Ashley cùng những người thân có đủ sức mạnh để ở bên ông trong giai đoạn khó khăn này.

Bởi phía sau danh xưng “Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ”, cuối cùng vẫn chỉ là Joe – một người chồng, một người cha, một người ông và một con người đang đi qua quy luật khắc nghiệt mà không ai trong chúng ta có thể trốn tránh:

Sinh – lão – bệnh – tử.

Và có lẽ khi đứng trước giới hạn cuối cùng ấy, điều đáng quý nhất mà con người có thể để lại không phải là quyền lực.

Mà là dấu chân của mình trong cuộc đời những người còn ở lại.