Chuyện Trú Mưa – Loc Duong

Kimtrong Lam

 Loc Duong.

Hôm vừa rồi đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với cả trăm tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.

Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :

-Có phải cháu đây không?

Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú :

-Vâng, cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích quá.

-Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc ghê thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?

-Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật thì cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?

-Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen?

-Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.

-Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung quốc xâm lược?

-Ơ, chú nói hay nhỉ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.

-Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế?

Cô bé vui vẻ hẳn lên :

-A, cái hôm ấy bọn cháu đi xem ca sĩ thần tượng Hàn Quốc biểu diễn lần chót trước khi về nước. Đông lắm, ai cũng khóc, ai cũng chen lấn để được hôn vào cái ghế mà ca sĩ ngồi, có đứa không chen được, còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng cả mắt, phải nghỉ học hết 3 ngày.

-Nó ca sĩ qua nước mình hát, nó kiếm khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy?

-Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Hàn quốc, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không?

Hắn cứng họng. Không phải vì đuối l‎ý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.

Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam :

“Đất nước này rồi sẽ về đâu anh

Anh không biết làm sao em biết được

Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước

Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu?”

Loc Duong


 

TIẾNG KÊU PHÍA SAU- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đức Giêsu sai mười hai ông ấy đi!”.

“Những con ngỗng phía sau đội hình phát ra tiếng kêu; đó là những tín hiệu đầy khích lệ… những tiếng kêu lặp lại giúp những con đầu đàn tiếp tục bay!” – Chuck Swindoll.

Kính thưa Anh Chị em,

Hội Thánh cũng lớn lên bằng những con người phía sau như thế. Họ không nhất thiết đứng trước, nổi bật, nhưng biết nâng người khác lên đúng lúc. Lời Chúa lễ Thánh Barnaba hé mở một trong những sức mạnh thầm lặng nhất của Kitô giáo: ‘tiếng kêu phía sau’.

Khi Phaolô còn bị nghi ngờ, Barnaba đã đứng ra bảo lãnh; khi các tân tòng còn non yếu, Barnaba nâng đỡ. Ngay từ tên gọi, Barnaba đã mang một sứ mạng. Barnaba có nghĩa là “con của sự khích lệ”. Nơi ông, khích lệ không chỉ là một đức tính, mà là cả con người. Trong Tân Ước, điều đó được gọi là paraklesis – vừa là khuyên nhủ, nâng đỡ; vừa là hành động của Thánh Thần. Có người được nhớ đến vì những gì họ làm; Barnaba được nhớ đến vì những gì ông giúp người khác trở thành. “Chúa Thánh Thần là Đấng kiến tạo sự hiệp thông trong Giáo Hội!” – Bênêđictô XVI.

Khi sai các môn đệ đi, Chúa Giêsu không trao cho họ một bảo đảm nào. Ngài muốn họ ra đi nghèo khó, để chính đời sống họ trở thành Tin Mừng. Vì thế, Phúc Âm không chỉ được loan báo bằng lời nói, nhưng còn qua những con người biết nâng người khác đứng dậy, khơi lại một niềm hy vọng và giữ cho một trái tim không tắt lửa. Đó chính là những ‘tiếng kêu phía sau’ mà Hội Thánh mọi thời luôn cần.

Thế nhưng, sống một ‘văn hoá khích lệ’ như thế không phải lúc nào cũng dễ dàng. Một lời chua cay có thể làm đứt mạch hiệp thông; một thái độ lạnh nhạt có thể dập tắt một nhiệt huyết đang nhen nhóm. Bởi đó, khích lệ không phải là chuyện phụ thuộc, nhưng thuộc về sự sống của cộng đoàn. Đôi khi, chỉ một lời đúng lúc cũng có thể làm thay đổi hướng đi của một con người. “Ơn gọi của chúng ta là ra đi, phục vụ; không phải sử dụng. Đời sống Kitô hữu là lên đường, rao truyền, khuyến khích và phục vụ, nhưng đừng lợi dụng người khác!” – Phanxicô.

Cộng đoàn Antiôkia đã sống như thế; nhờ đó trở thành chiếc nôi của truyền giáo. Từ chính cộng đoàn ấy, Barnaba và Phaolô được sai đi – bài đọc một. Rõ ràng, Tin Mừng luôn lớn lên từ những nơi con người biết làm cho nhau đứng vững. Nhờ đó, họ có thể cất lên: “Chúa đã mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, khích lệ không còn là một hành vi, nhưng là một cách sống. Thập giá là lời khích lệ lớn nhất dành cho những ai bủn rủn và tuyệt vọng. Từ nơi tưởng như thất bại ấy, hy vọng được cất lên. Vì thế, người môn đệ được mời gọi trở nên người ‘thắp lửa’ giữa một thế giới chưa bao giờ tương tác nhiều đến thế, nhưng cũng chưa bao giờ dễ trở nên thờ ơ với nhau đến thế. Có lẽ đó là cách chúng ta trở thành những ‘tiếng kêu phía sau’ của thời đại mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết nâng đỡ những ai đang mỏi gối; nhen hy vọng nơi người đang tuyệt vọng; và trở thành khí cụ bình an giữa một thế giới dễ làm nhau mệt mỏi!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thánh Barnaba tông đồ, Thứ Năm, Tuần X Thường Niên, Năm Chẵn

Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.   Mt 10,7-13

7 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các Tông Đồ rằng : “Anh em hãy đi rao giảng : Nước Trời đã đến gần. 8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết trỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. 9 Đừng kiếm vàng bạc hay tiền đồng để giắt lưng. 10 Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn.

11 “Khi anh em vào bất cứ thành nào hay làng nào, thì hãy dò hỏi xem ở đó ai là người xứng đáng, và hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. 12 Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy. 13 Nếu nhà ấy xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ đến với họ ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em.”


 

Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4:4)- Cha Vương

Ước mong bạn có một con tim khát khao Chúa nguồn tình yêu và hạnh phúc. Hãy nhớ nhau trong lời kinh nguyện , không quên cậu cho thế giới được an bình nhé.

Cha Vương

Thư 4: 10/06/2026.    (t5-21)

TIN MỪNG: Nhưng Người đáp: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4:4)

SUY NIỆM: Ánh sáng chỉ đường—Con cũng sẽ lấy lời Chúa làm nguồn an ủi, làm chỉ nam đời sống, nhất là con được Thánh Thể Chúa như thuốc hộ thân, nơi náu ẩn. Bao lâu còn sống, con thấy có hai điều khẩn thiết cho con, thiếu nó con không thể chịu đựng nổi đời sống khốn nạn này. Bị nhốt trong thân xác, hồn con cần của ăn và ánh sáng. Con yếu nhược: Chúa đã ban Thánh Thể Chúa để dưỡng nuôi hồn xác, và “đặt lời Chúa làm đèn soi bước con đi” (Ps. 108, 105).

Thiếu hai điều đó con không thể sống lành mạnh: vì lời Chúa là ánh sáng linh hồn và Thánh Thể Chúa là bánh nuôi sống con. Hai thứ đó cũng có thể gọi là hai bàn đặt hai bên tả hữu trong kho Giáo hội: một bên là bàn thờ có Bánh Thánh, tức Thánh Thể vô giá; một bên là luật Chúa, hàm chứa giáo lý thánh, khai sáng Đức Tin ngay chính và dẫn đi vững chắc qua màn che mà vào nơi Cực Thánh.

Ôi Chúa Giêsu! Ánh sáng của Người sáng muôn đời, con đội ơn Chúa vì đã dùng các Tiên tri, các Tông đồ và các Tiến sĩ mà dọn cho con bàn giáo lý thánh thiện ấy. Ôi! Chúa Tạo thành, Đấng cứu chuộc nhân loại! Con cảm tạ Chúa vì để chứng quả lòng thương nhân loại, Chúa đã dọn tiệc trọng thể này, lương thực con được ăn không phải là thịt chiên tượng trưng, nhưng là chính Mình Thánh, Máu Thánh Chúa.

Chúa đã làm mọi tín hữu vui trong tiệc thánh và no say trong chén phần rỗi nầy. Tiệc Thánh này hàm chứa mọi hạnh phúc trên trời, mà các Thiên thần tham dự, tất phải dồi dào hạnh phúc hơn…

(x. Sách Gương Chúa Giêsu, Q4:11 t.t.) 

LẮNG NGHE: Vì huấn lệnh là ngọn đèn, lời dạy dỗ là ánh sáng, và lời quở trách bảo ban là đường dẫn tới sự sống, … (Cn 6:23)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin tăng thêm niềm tin cho con vào sự hiện diện của Chúa trong chính Mình Máu Thánh Chúa và trong Lời Chúa để con sống dấn thân hơn cho các giá trị của Tin Mừng, cũng như làm cho ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời bằng đời sống của mình. 

THỰC HÀNH: Bạn dành 5 phút hoàn toàn thinh lặng, lắng nghe tiếng Chúa nói với mình về sự thực nơi mình: Đâu là ưu khuyết điểm của bạn?

From: Do Dzung


 

Lạm phát ở Mỹ vượt 4.0%, cao nhất từ năm 2023, Trump nói ‘tôi yêu điều này’

Lạm phát ở Mỹ vượt 4.0%, cao nhất từ năm 2023, Trump nói ‘tôi yêu điều này’

Ba’o Nguoi-Viet

June 10, 2026

WASHINGTON, DC (NV) – Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã tăng 4.2% trong Tháng Năm so với cùng kỳ năm ngoái, cao hơn mức lạm phát 3.8% ghi nhận vào tháng trước đó. ABC News hôm Thứ Tư, 10 Tháng Sáu, dẫn dữ liệu từ Cục Thống Kê Lao Động Hoa Kỳ cho biết.

Sáng cùng ngày, tại Phòng Bầu Dục ở Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống Donald Trump trả lời báo chí khi được hỏi liệu ông có lo ngại về vấn đề này:”Tôi yêu lạm phát. Tôi không lo ngại. Tôi thích nó, các con số rất tuyệt,” ông Trump phát biểu.

Các sản phẩm thịt bày bán tại một cửa hàng thực phẩm ở Chicago, Illinois vào ngày 22 Tháng Năm. Giá thịt bò tăng lên mức gần kỷ lục ngay trước kỳ nghỉ cuối tuần lễ Memorial Day, khiến nhiều người tiêu dùng chuyển sang chọn thịt lợn, thịt gà và các sản phẩm thay thế có nguồn gốc thực vật. (Hình: Scott Olson/Getty Images)

Số liệu của chính phủ cho thấy giá cà chua đã tăng vọt 32% trong Tháng Năm so với cùng kỳ năm ngoái. Giá hải sản tăng 6% trong cùng khoảng thời gian này, trong khi giá thịt bò tăng gần 13%. Theo đó, Tháng Năm dấu tháng thứ ba liên tiếp lạm phát tăng tốc và là mức cao nhất kể từ Tháng Tư, năm 2023.

The Guardian dẫn lại dữ liệu mới từ Cục Thống Kê Lao Động Hoa Kỳ cho thấy, giá năng lượng lại một lần nữa là nguyên nhân chính khiến chỉ số giá tiêu dùng tăng, chiếm 60% mức tăng chung trong tháng. Theo số liệu từ AAA, giá xăng trung bình trên toàn quốc hiện ở mức $4.15/gallon. Dù thấp hơn một chút so với tháng trước, mức giá này vẫn cao hơn $1/gallon so với cùng kỳ năm ngoái. Giá vé máy bay cũng tăng 26.7% so với năm trước.

Các chuyên gia kinh tế nhận định nguyên nhân quan trọng nhất khiến lạm phát bùng lên chính là giá năng lượng tăng mạnh sau khi Tổng Thống Donald Trump và Israel khởi xướng cuộc chiến chống lại Iran hồi cuối Tháng Hai. Cuộc chiến đã làm gián đoạn nguồn cung dầu toàn cầu, đẩy giá dầu thô và giá xăng tại Mỹ tăng nhanh, kéo theo chi phí vận tải, sản xuất và sinh hoạt leo thang.

Số liệu mới này có thể gây áp lực lên Ngân Hàng Liên Bang (Fed) phải tăng lãi suất như một biện pháp kiềm chế lạm phát, theo ABC. Trong nhiều tháng qua, Fed kỳ vọng lạm phát sẽ tiếp tục giảm để có thể xem xét cắt giảm lãi suất. Tuy nhiên, đợt tăng giá mới khiến khả năng nới lỏng chính sách tiền tệ trở nên khó khăn hơn, khi ngân hàng trung ương phải cân bằng giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.

Hiện tại, công cụ CME FedWatch Tool, một thước đo tâm lý nhà đầu tư, thị trường hợp đồng tương lai phần lớn kỳ vọng Fed sẽ giữ nguyên lãi suất khi các nhà hoạch định chính sách họp vào tuần tới.

Đây sẽ là cuộc họp đầu tiên kể từ khi ông Kevin Warsh, do Tổng Thống Trump đề cử, bắt đầu nhiệm kỳ bốn năm tại vị trí lãnh đạo Fed.

Trong thời gian giữ chức Chủ Tịch Fed vào cuối những năm 2000 và đầu những năm 2010, ông Warsh nổi tiếng là người theo quan điểm “diều hâu” về lãi suất, theo ABC. Điều này có nghĩa là ông thường ủng hộ mức lãi suất cao hơn như một biện pháp để duy trì lạm phát ở mức thấp và ổn định.

Tại phiên điều trần phê chuẩn của Thượng Viện vào Tháng Tư, ông Warsh đã nhấn mạnh mối đe dọa từ tình trạng lạm phát cao.

“Khi lạm phát tăng vọt – như đã xảy ra trong những năm gần đây – người dân sẽ phải gánh chịu những tổn thất nặng nề, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn nhất,” ông Warsh từng phát biểu như thế, theo ABC.

Giữa lúc đó, Tòa Bạch Ố vẫn khẳng định nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn duy trì sức chịu và nhấn mạnh một số mặt hàng vẫn có giá ổn định. Nhiều chuyên gia khuyến cáo, nếu giá dầu tiếp tục leo thang, người tiêu dùng Mỹ sẽ phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ chi phí xăng xe, thực phẩm và hàng hóa thiết yếu trong thời gian tới. (K.L)


 

‘Chuyện cổ tích’ cuối đời của bà Liêng Lê, chủ Café Bích Nga 86 tuổi – Kalynh Ngô/Người Việt

Nguoi-Viet

Kalynh Ngô/Người Việt

PINELLAS PARK, Florida (NV) – “Tôi chảy nước mắt. Tôi vậy chứ…tôi già chứ…tôi cũng mạnh mẽ lắm. Tôi cố gắng vui, nhưng trong lòng tôi bùi ngùi nghen cô. Vui quá nên bùi ngùi đó cô.”

Bà Liêng Lê, 86 tuổi, người phụ nữ gốc Việt “homeless” nhiều năm ở Pinellas Park, Florida, chủ của nhà hàng Café Bích Nga, nói với nhật báo Người Việt về cảm xúc của bà khi đứng trước ngôi nhà mơ ước của đời mình và tấm ngân phiếu trị giá $205,441. Đó là món quà từ hàng triệu cư dân mạng xã hội tặng bà sau một chiến dịch gây quỹ do nhà sáng tạo nội dung Julian Becerra kêu gọi.

Sự sắp đặt của Chúa

Bà Liêng Lê đối diện với cảm xúc “vui quá nên bùi ngùi” ở tuổi 86, cái tuổi đã vượt xa mức “thất thập cổ lai hy.” Lời chia sẻ chân tình khiến câu chuyện dẫn vào cuộc đời của người phụ nữ này trở nên nhẹ nhàng và gần gũi.

Bà vừa trở về sau một tuần nằm bệnh viện. Những căn bệnh cũ cộng với tuổi già, lao lực, làm cho bà kiệt sức. Trong một tuần đó, người đến thăm bà thường xuyên chính là anh Julian Becerra, người mà bà gọi là “Chúa đã đưa ông ấy đến gặp tôi.”

“Ngày hôm đó rất ế, không một bóng người,” bà Liêng kể lại. “Cậu ấy vào quán khoảng hai, ba tiếng cũng không có một người khách nào. Cậu ấy ngồi ăn, tôi đâu có biết cậu ấy quay phim tôi. Tôi dốt những chuyện đó lắm,” bà Liêng kể lại cái ngày “định mệnh” thay đổi cuộc đời bà.

Chính người khách này, anh Julian Becerra, cũng tin rằng Thượng Đế đã sắp đặt điều này.

Anh chia sẻ với nhật báo Người Việt: “Tôi đã gặp một người phụ nữ bị lãng quên nhiều năm, một người sống điềm tĩnh, đầy phẩm giá, mà mọi người vô tình lướt qua. Khi biết câu chuyện của bà, tôi không hề nghĩ đến việc làm nội dung hay bất cứ điều gì tương tự. Cảm giác lúc đó giống như là cần phải có ai đó hành động, và tôi nghĩ mình phải là người đó. Tôi thực sự tin rằng Chúa đặt những khoảnh khắc này ngay trước mắt chúng ta và chờ xem chúng ta sẽ thực sự làm gì. Đây chính là một khoảnh khắc như vậy, và tôi không muốn trở thành kẻ chỉ biết lướt màn hình rồi bỏ qua.”

Đó là ngày 23 Tháng Tư. Người khách duy nhất của quán lúc đó hỏi bà Liêng nhiều thứ, từ cách đọc tên quán, ý nghĩa của chữ Bích Nga, cho đến cách đọc món “phở đặc biệt.”

Bà Liêng giải thích: “Bích Nga là cái tên chỉ một người con gái đẹp.”

Trong video, anh Julian thể hiện những biểu cảm vô cùng thích thú khi thưởng thức món “phở đặc biệt” đã chọn. Khi đứng lên trả tiền, anh vẫn là người khách duy nhất.

Nhưng bà chủ 86 tuổi vẫn nhất quyết không nhận tiền, thay vào đó, bà nói “hãy giới thiệu cho nhiều người nào đói bụng đến đây nhé.”

Đúng lời hứa, hai ngày sau, người khách quay lại. Chủ quán và nhân viên vui mừng cảm ơn. Quán Café Bích Nga đã thật sự “bận rộn với những chiếc bàn không còn chỗ trống vào giờ cao điểm,” người nhân viên cảm ơn và nói. Khi đó, bà Liêng lại có dịp trò chuyện với người khách trẻ tuổi, to cao gấp ba lần trọng lượng cơ thể của bà.

“Tôi thành thật nói tôi nghèo lắm, không có tiền, tôi ‘hôm lét’. Cậu ấy hỏi thiệt không. Tôi nói thiệt, tôi ‘no hôm,’” bà kể.

Sau cuộc trò chuyện này, anh Julian đăng đoạn video thứ hai trên trang mạng Instagram juulianbecerra, kể rằng bà Liêng “đã sống vô gia cư nhiều năm, ngủ trên chiếc ghế xếp ở sảnh nhà hàng vào ban đêm, sau khi làm việc nhiều giờ liền mỗi ngày.”

Anh kêu gọi một đợt gây quỹ. Chỉ trong vòng 24 giờ, số tiền quyên góp đạt gần $127,000. Vài tuần sau đó, con số này đã vượt mốc $200,000.

Vào ngày 1 Tháng Sáu, với sự hỗ trợ từ một số tổ chức phi lợi nhuận và doanh nghiệp tại địa phương, anh Julian mang đến tặng cho bà Liêng tấm ngân phiếu chứa toàn bộ số tiền này, cùng với một ngôi nhà đã được trang bị đầy đủ tiện nghi, chu đáo từ trang trí cho đến vật dụng cần thiết trong nhà.

Ngày anh Julian đón bà Liêng từ bệnh viện trở về, cũng là ngày anh chở bà đến ngôi nhà mới, cách quán Café Bích Nga vài phút lái xe.

“Không ngờ đó cô à. Sự may mắn đó cô. Tôi tự nhủ với mình trước giờ mình có giúp ai gì đâu. Mình nghèo quá mà, tiền ăn không có thì lấy gì giúp thiên hạ, sao mình lại được cái phước như vầy,” bà Liêng nói.

Không phải chỉ riêng người nhận ơn lành, mà người mang đến cho bà câu chuyện cổ tích cuối đời cũng xúc động không kém. Khi được hỏi về cảm giác như thế nào khi nhìn thấy bà Liêng có được ngôi nhà của bà, anh Julian nói đó là “lòng biết ơn, và thú thật là cả sự xúc động nghẹn ngào nữa.”

“Đó là một trong những khoảnh khắc mạnh mẽ và đáng nhớ nhất đời tôi. Nhưng điều khiến tôi thực sự xúc động là việc này không chỉ do một mình tôi làm. Hàng ngàn người xa lạ đã chung tay đóng góp vì họ tin rằng cuộc đời bà thực sự đáng quý. Đó mới là điều cốt lõi. Mọi chuyện chưa bao giờ là về việc tôi trở thành người hùng nào cả. Vấn đề là cho mọi người thấy rằng khi những người bình thường cùng chung sức, họ có thể thay đổi hoàn toàn thế giới của một ai đó. Đó chính là ý nghĩa mà tôi muốn dành cho cuộc đời mình,” anh Julian nói.

Xem tiếp trên trang Nguoi-viet.com.


 

POL POT – CON ĐƯỜNG TỘI ÁC

Tâm Như Thanh Nghị is with Philip Le.

Bóng ma Pol Pot vĩnh viễn bị xóa sổ, kết thúc một thời kỳ tăm tối và rùng rợn bậc nhất trong lịch sử nhân loại thế kỷ 20.

Nhưng tiếng khóc của những vong linh oan khuất, và bài học về sự cảnh giác trước những học thuyết cực đoan, lừa mị sẽ còn lưu lại trong dòng chảy lịch sử.

POL POT – CON ĐƯỜNG TỘI ÁC

Tháng 4 năm 1975, dòng người từ Thủ đô Nam Vang rồng rắn nhích từng bước một trên các ngả đường mòn lởm chởm.

Nếu ai đó kiệt sức mà quỵ xuống, những họng súng AK-47 của bọn lính thiếu niên áo đen sẽ lập tức hành động…

Những xác người bị gạt vội sang vệ đường, lấy chỗ cho dòng người tiếp tục tiến bước.

Bi kịch chỉ thực sự bắt đầu, khi những người sống sót lết được đến các “công xã” ở vùng nông thôn. Tại đây, Pol Pot bắt đầu áp dụng chính sách phân loại giai cấp cực đoan và tàn bạo nhất chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Những người nông dân nghèo ở nông thôn, những kẻ mù chữ và đi theo Khmer Đỏ từ đầu được gọi là “Cựu dân” (Người cũ/Người cơ bản). Họ được trao quyền lực, trở thành những kẻ cai quản mạng sống của người khác.

Ngược lại, 2,5 triệu người dân thành thị vừa bị lùa về, bất kể là giáo sư, bác sĩ hay thợ thủ công, đều bị gắn mác “Tân dân” (Người mới/Người 17 tháng 4).

Trong mắt “Angkar” (Tổ chức), Tân dân không phải là con người. Họ là “ký sinh trùng”, những kẻ mang mầm mống của tư bản thối nát cần phải được tẩy rửa, hoặc… tiêu diệt.

Khmer Đỏ có một khẩu hiệu dành cho Tân dân, được phát đi phát lại trên loa phóng thanh:

“Giữ mày lại cũng chẳng ích gì, tiêu diệt mày cũng chẳng tổn thất chi”.

Và thế là, một cuộc săn lùng trí thức phi lý bậc nhất bắt đầu.

Ở các công xã, những toán lính áo đen đa phần là những thanh thiếu niên thất học được giao nhiệm vụ “thanh lọc” đội ngũ Tân dân.

Chúng đi dọc các hàng người đang rũ rượi, săm soi từng khuôn mặt. Bất cứ ai đeo kính cận đều lập tức bị lôi ra khỏi hàng.

Bởi theo tư duy nguyên thủy của Khmer Đỏ: Đeo kính nghĩa là có đọc sách. Đọc sách nghĩa là trí thức. Mà trí thức thì chắc chắn là phản động, là kẻ thù của Angkar.

Không cần xét hỏi, không cần tòa án, những người đeo kính bị đưa thẳng ra bìa rừng, và thứ chờ đợi họ là những nhát cuốc đập thẳng vào sọ để… tiết kiệm đạn.

Nhiều giáo sư, bác sĩ, kỹ sư đã nhanh trí vứt bỏ kính cận, vứt bỏ bằng cấp, xé nát những cuốn sách yêu quý để đóng giả làm người lái xích lô hay nông dân mù chữ.

Nhưng bọn lính áo đen bắt đầu đi tuần và ra lệnh: “Đưa tay đây tao xem!”.

Chúng lật ngửa bàn tay của từng người lên. Bàn tay nào thô ráp, chai sần, nhuốm màu bùn đất, kẻ đó được sống. Bàn tay nào trắng trẻo, mềm mại, không có vết chai mười ngón, kẻ đó lập tức bị kết án tử hình.

Bởi bàn tay mềm là minh chứng rõ nhất cho việc kẻ đó chưa từng cầm cuốc, chỉ biết ngồi văn phòng bóc lột sức lao động của người khác.

Đã có những người trí thức tuyệt vọng đến mức lén lấy đá mài vào tay cho rướm máu, nhét đất cát vào móng tay để giả làm bần nông, thoi thóp giành giật từng hơi thở qua những đợt kiểm tra tử thần ấy.

Những kẻ may mắn qua lọt cửa ải phân loại thì bị tống vào một lò đày đọa thể xác.

Trong “Năm Số Không”, Pol Pot xóa sổ tiền tệ, đóng cửa trường học, đập phá đền chùa.

Mọi người phải lao động khổ sai từ 12 đến 14 tiếng mỗi ngày trên những cánh đồng chiêm trũng.

Hệ thống gia đình bị phá vỡ hoàn toàn. Đàn ông, đàn bà, trẻ em bị tách ra ở các trại riêng biệt.

Họ không được phép nấu ăn ở nhà mà phải ăn chung tại nhà ăn công xã.

Mỗi ngày, phần ăn của một người lao động kiệt lực chỉ là hai bát nước cháo lỏng loẹt, đếm được vài hạt gạo trôi nổi lẫn với vài cọng rau muống hoang.

Cái đói cào xé tâm can, biến con người thành những bộ xương khô biết đi.

Hàng trăm ngàn người đã gục chết ngay trên bờ ruộng vì đói khát, kiệt sức và bệnh tật mà không có một viên thuốc cứu chữa.

Khắp đất nước Chùa Tháp biến thành một trại tập trung khổng lồ, một “Cánh đồng chết” không có lối thoát.

Thế nhưng, máu của hàng triệu Tân dân dường như vẫn chưa đủ để làm thỏa mãn cơn khát của ác quỷ.

Cỗ máy giết người càng vận hành, Pol Pot càng trở nên hoang tưởng và đa nghi bệnh hoạn.

Hắn bắt đầu nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi, ngay cả trong những cái bóng của chính mình.

Sự hoang tưởng ấy đã châm ngòi cho một cuộc tàn sát còn man rợ hơn: Thanh trừng nội bộ.

Hàng triệu người dân Campuchia đang chết mòn vì đói khát trên những cánh đồng lao động khổ sai, vẫn chưa đủ để xoa dịu cơn hoang tưởng đa nghi của Saloth Sâr (Pol Pot). Ác quỷ bắt đầu nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi, ngay trong chính những chiếc bóng của đồng chí mình….

Đến năm 1976, Saloth Sâr lúc này đã chính thức sử dụng bí danh Pol Pot. Hắn mắc chứng hoang tưởng quyền lực nặng nề.

Dù đã tước đoạt mạng sống của vô số dân thường, gã vẫn mất ngủ mỗi đêm. Gã luôn ám ảnh bởi học thuyết thanh trừng mà Khang Sinh đã nhồi sọ ở Bắc Kinh:

“Kẻ thù nguy hiểm nhất không mang súng từ bên ngoài tới, mà chúng là những con vi trùng đang giấu mặt ngay trong hàng ngũ Trung ương Đảng”

Để truy lùng những con “vi trùng” tưởng tượng này, Pol Pot cần một bộ máy an ninh mật, một lò mổ kín đáo và một tên đao phủ có cái đầu lạnh đến mức tuyệt đối.

Và hắn đã chọn Kaing Guek Eav – bí danh là Duch (Đúc). 

Kaing Guek Eav vốn là một thầy giáo dạy toán cấp hai. Là người tỉ mỉ, ngăn nắp, chính xác đến từng con số và có khả năng tuân thủ mệnh lệnh một cách vô cảm.

Đối với Pol Pot, một thầy giáo toán là người hoàn hảo nhất để “tính toán” mạng sống con người.

Địa điểm được Duch chọn làm “phòng thí nghiệm tử thần” là trường Trung học Tuol Svay Prey, nằm ngay giữa thủ đô Nam Vang hoang vắng. Nơi đây được đổi tên thành Nhà tù S-21 (Tuol Sleng).

Nơi đây từng vang lên tiếng cười đùa của học sinh, nơi ươm mầm tri thức, nay bị bao bọc bởi lớp lớp hàng rào dây thép gai giăng điện.

Những lớp học sáng sủa bị xây gạch bịt kín cửa sổ, chia thành những xà lim chật chội, tối tăm.

Những tấm bảng đen từng dùng để viết công thức toán học, nay trở thành phông nền để chụp ảnh chân dung những tử tù trước khi bước vào cõi chết.

Khi những cán bộ cấp cao, những vị tư lệnh quân khu từng vào sinh ra tử cùng Pol Pot bị nghi ngờ, họ lập tức bị bịt mắt, trói giật cánh khuỷu và tống lên xe tải chở thẳng đến S-21.

Tại đây, Duch áp dụng một quy trình thủ tục hành chính của cõi âm.

Mọi tù nhân khi bước qua cổng S-21 đều bị lột sạch quần áo, đánh đập phủ đầu và bị đẩy ngồi lên một chiếc ghế gỗ để chụp ảnh.

Hàng chục ngàn bức ảnh đen trắng lưu giữ tại Tuol Sleng ngày nay vẫn còn ám ảnh cả nhân loại.

Trong những bức ảnh đó, ánh mắt của các nạn nhân mở to, hoang mang, kinh hoàng khi nhận ra mình sắp bị chính những người “đồng chí” xẻ thịt.

Dưới sự điều hành của thầy giáo toán Duch, các đòn tra tấn ở S-21 không dùng để trừng phạt, mà dùng để “sản xuất” ra những bản khẩu cung.

Pol Pot cần những bản khẩu cung viết tay để chứng minh rằng sự hoang tưởng của gã là đúng.

Duch đáp ứng điều đó bằng những nhục hình thời Trung cổ: rút móng tay, dìm nước, giật điện, hay treo ngược nạn nhân lên xà nhà cho đến khi họ bất tỉnh.

Không một ai có thể chịu đựng được đòn roi ở S-21.

Để được chết nhanh chóng, những vị chỉ huy dạn dày sương gió buộc phải tự nhận mình là gián điệp của CIA, của KGB, là tay sai phản động.

Và buộc phải viết ra những cái tên đồng chí khác để thế mạng, tạo thành một vòng xoáy thanh trừng nội bộ cắn xé lẫn nhau không có hồi kết.

Những bản khẩu cung đẫm máu ấy được Duch đóng tập cẩn thận, đánh số trang rành mạch và gửi thẳng lên bàn làm việc của Pol Pot.

Ngồi trong văn phòng tĩnh lặng, lật giở những lời thú tội được ép nặn bằng nhục hình, Pol Pot mỉm cười đắc ý, tin rằng mình đang “chữa bệnh” cho Đảng.

Nhưng, Khmer Đỏ có một câu khẩu hiệu lạnh sống lưng: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.

Theo logic bệnh hoạn của Pol Pot, nếu xử tử một kẻ phản quốc, thì vợ, con cái, cha mẹ, thậm chí là trẻ sơ sinh của kẻ đó cũng mang “dòng máu phản trắc” và sẽ tìm cách trả thù trong tương lai. Do đó, phải quét sạch toàn bộ gia đình.

Những chuyến xe tải chở đầy phụ nữ và trẻ em vô tội chạy trong đêm về phía Cánh đồng buôn Choeung Ek (cách Nam Vang 15km).

Tại đó, những tên lính thiếu niên tay cầm những chiếc búa tạ, rìu, và nhíp xe tải cũ đập vỡ sọ từng người một, rồi đạp xác họ xuống những cái hố tập thể khổng lồ.

Những đứa trẻ sơ sinh bị cầm chân, quật thẳng đầu vào một thân cây cổ thụ (sau này được gọi là Cây Tàn Sát) cho đến chết để tiết kiệm đạn.

Tiếng thét của nạn nhân bị át đi bởi tiếng loa phát thanh mở max âm lượng những bài hát ngợi ca Angkar.

Chỉ trong hơn 3 năm, lò mổ S-21 đã nuốt chửng ít nhất 14.000 đến 20.000 sinh mạng. Trong số đó, chỉ có vỏn vẹn 7 người sống sót bước ra khỏi cánh cổng địa ngục.

Máu của chính đồng bào mình dường như đã làm gã bạo chúa Pol Pot say sưa đến mức mất trí.

Nhưng khi bóng ma S-21 không còn làm gã thỏa mãn, khi những “vi trùng” trong nước đã hết, con dã thú bắt đầu phóng ánh mắt đỏ ngầu ra ngoài biên giới.

Nó cần một kẻ thù mới, một cuộc chiến tranh mới để kích động tinh thần dân tộc cực đoan.

Và mục tiêu tiếp theo của Pol Pot nhắm thẳng vào dải đất hình chữ S ở phía Đông, nơi những ân nhân ngày xưa từng cưu mang hắn…

THẢM SÁT Ở BA CHÚC

Năm 1977, chính sách vắt kiệt sức lao động để trồng lúa của Pol Pot thất bại thảm hại. Người dân chết đói la liệt, hạn hán kéo dài, chỉ tiêu không đạt.

Tiếng oán thán, dù không dám thốt thành lời, đã âm ỉ râm ran khắp các công xã nông nghiệp.

Một bộ óc bệnh hoạn như Pol Pot không bao giờ nhận sai.

Gã cần một “con dê tế thần” để giải thích cho sự nghèo đói của đất nước và để kích động tinh thần dân tộc cực đoan, buộc người dân phải tiếp tục cắn răng phục tùng.

Và hắn đã chọn Việt Nam.

Pol Pot bắt đầu nhồi sọ thứ “thuốc độc” thù hằn dân tộc vào đầu những tên lính áo đen. Gã rêu rao trên đài phát thanh rằng:

Chính Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp đang muốn nuốt chửng Campuchia, chính gián điệp Việt Nam đang phá hoại mùa màng.

Pol Pot vứt bỏ hoàn toàn ân tình năm xưa, khi quân du kích Việt Nam từng cưu mang, bảo vệ và nhường cơm sẻ áo cho hắn những ngày đầu luồn lách ở rừng sâu.

Lệnh bài tàn sát được ban ra: “Chỉ cần 2 triệu quân, mỗi người giết 30 người Việt Nam, thì chúng ta sẽ thắng!”.

Tháng 4 năm 1977, những tiếng súng khiêu khích đầu tiên vang lên dọc tuyến biên giới Tây Nam (Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp…).

Lúc bấy giờ, bộ đội và nhân dân Việt Nam ở vùng biên giới đã hoàn toàn bị bất ngờ. Chúng ta vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh ách liệt chưa đầy hai năm, khát vọng hòa bình đang cháy bỏng.

Hơn thế nữa, trong suy nghĩ của nhiều người, Khmer Đỏ vẫn là “người anh em, đồng chí” láng giềng.

Bọn lính áo đen không tấn công theo kiểu quân đội thông thường. Chúng chọn cách hành quyết của những bóng ma.

Chúng thường lén lút vượt biên vào nửa đêm về sáng, khi người dân các xóm ấp vùng biên đang say giấc nồng.

Đỉnh điểm của sự man rợ, câu chuyện khiến cả thế giới bàng hoàng rúng động, chính là Thảm sát Ba Chúc (Tri Tôn, An Giang) vào giữa tháng 4 năm 1978.

Khi quân Khmer Đỏ tràn vào xã Ba Chúc, những người dân hiền lành, từ cụ già đến trẻ nhỏ, đã chạy vào ẩn nấp trong chùa Phi Lai và chùa Tam Bửu.

Họ tin rằng, chốn cửa Phật linh thiêng sẽ che chở cho họ khỏi mũi súng của ác quỷ. Dù sao, Pol Pot cũng từng có thời gian tu tập ở chùa cơ mà?

Nhưng đạo quân vô hồn của Pol Pot không biết đến thần thánh. Chúng xông thẳng vào chánh điện.

Chỉ trong vỏn vẹn 12 ngày đêm, 3.157 người dân vô tội ở Ba Chúc đã bị tàn sát.

Máu chảy lênh láng nhuộm đỏ những bức tường rêu phong của chùa Phi Lai, đọng thành từng vũng đặc quánh trên sàn gạch.

Hàng ngàn thi thể nằm phơi mình dưới nắng gắt, mùi tử khí bốc lên nồng nặc bao trùm cả một vùng biên ải.

Cái chết của hơn 3.000 đồng bào Ba Chúc, cùng hàng ngàn sinh mạng khác dọc tuyến biên giới Tây Nam, giống như một giọt nước tràn ly.

Kẻ bên kia biên giới không còn là con người. Chúng là bầy ác thú say máu không thể cứu chữa bằng lời nói hay hiệp ước.

Hiểu rõ dã tâm của tập đoàn phản động Pol Pot – Ieng Sary, và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, Việt Nam quyết định không nhân nhượng thêm một phút giây nào nữa.

Giáng sinh năm 1978, trên đài phát thanh Nam Vang, Pol Pot vẫn đang thao thao bất tuyệt bằng một giọng điệu ngạo mạn điên rồ.

“Quân đội Kampuchea Dân chủ có thể đánh bại Việt Nam dễ như trở bàn tay. Một người Khmer có thể giết 30 người Việt!”.

Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, ngày 25 tháng 12 năm 1978 Quân tình nguyện Việt Nam mở cuộc tổng phản công trên toàn tuyến biên giới.

Những sư đoàn chủ lực đồng loạt tiến công với sức mạnh chẻ tre. Pháo binh gầm rít xé toạc bầu trời, xe tăng dẫn đầu đội hình bộ binh thọc sâu vào các phòng tuyến của Khmer Đỏ.

Khi phải đối đầu trực diện với một đội quân chính quy, thiện chiến, những tên lính vị thành niên của Pol Pot nhanh chóng vỡ trận.

Chúng hoảng loạn, vứt bỏ súng ống, cởi phăng bộ quần áo đen để tháo chạy thục mạng vào rừng. Hệ thống phòng ngự do cố vấn nước ngoài xây dựng bị đập vụn từng mảng.

Mới ngày hôm trước, Pol Pot còn hô hào “quyết tử”, thì nay, khi nghe tiếng đại bác của quân tình nguyện Việt Nam, bộ sậu Pol Pot, Ieng Sary, Nuon Chea đã cuống cuồng thu gói hành lý.

Sáng ngày 7 tháng 1 năm 1979, vài giờ trước khi xe tăng Việt Nam tiến vào trung tâm thủ đô Phnom penh.

Pol Pot – vị “Anh Cả” tối cao, kẻ từng tuyên bố không sợ trời không sợ đất đã lén lút trèo lên một chuyến tàu hỏa đặc biệt, mang theo vàng bạc và vây cánh, cắm đầu tháo chạy về phía biên giới Thái Lan, bỏ lại sau lưng hàng vạn binh lính đang chết thay cho mình.

Sự tháo chạy của giới chóp bu diễn ra gấp gáp và thảm hại đến mức, tại “lò mổ” S-21 (Tuol Sleng), tên đao phủ Duch (Đúc) cũng rơi vào thế mất trí.

Nhận lệnh từ cấp trên phải “xóa sổ mọi dấu vết”, Duch cuống cuồng ra lệnh hành quyết những tù nhân cuối cùng.

Nhưng quân tình nguyện Việt Nam tiến vào quá nhanh. Duch bỏ chạy vắt chân lên cổ, vứt lại toàn bộ hiện trường đẫm máu.

Nhờ sự tháo chạy nhục nhã ấy mà thế giới mới có bằng chứng để kết tội chúng sau này.

Hàng vạn tập hồ sơ khẩu cung dính máu, hàng ngàn bức ảnh chụp các nạn nhân trước giờ hành quyết bị bỏ lại vương vãi trên sàn nhà.

Và đặc biệt nhất, 7 tù nhân còn sống sót nhờ có “tay nghề” (người biết vẽ chân dung Pol Pot, người biết sửa máy đánh chữ…) đã may mắn thoát khỏi lưỡi hái tử thần trong gang tấc.

Trưa ngày 7 tháng 1 năm 1979, những chiếc xe tăng của Quân Tình nguyện VN, oai hùng lăn bánh vào trung tâm Nam Vang.

Chế độ diệt chủng Khmer Đỏ chính thức sụp đổ sau 3 năm, 8 tháng và 20 ngày tồn tại, để lại sau lưng gần 3 triệu xác người.

Nhưng ác quỷ chưa chết.

Pol Pot cùng tàn quân đã lủi sâu vào những vùng rừng núi hiểm trở dọc biên giới Thái Lan, vẫn giật dây những cuộc chiến tranh du kích ròng rã suốt những năm sau đó.

……

Sau khi tháo chạy khỏi Nam Vang, Pol Pot cùng tàn quân Khmer Đỏ co cụm về vùng rừng núi hiểm trở Anlong Veng, sát biên giới Thái Lan.

Lợi dụng sự đối đầu của các siêu cường trong Chiến tranh Lạnh, tàn quân Khmer Đỏ vẫn được cung cấp vũ khí, lương thực để tiếp tục tiến hành chiến tranh du kích, phá hoại công cuộc hồi sinh của đất nước Campuchia.

Trong suốt thập niên 1980 và đầu 1990, Pol Pot vẫn lấy thêm vợ bé, sinh con gái, và tiếp tục gieo rắc ảo mộng về việc lấy lại quyền lực.

Khi chiến tranh Lạnh kết thúc. Nguồn viện trợ bị cắt đứt hoàn toàn, tàn quân Khmer Đỏ lâm vào cảnh cùng quẫn, bệnh tật và đào ngũ hàng loạt.

Đối diện với sự suy tàn không thể vãn hồi, căn bệnh hoang tưởng, đa nghi của Pol Pot lại một lần nữa bùng phát dữ dội. Giống như một con thú bị dồn vào chân tường, gã bắt đầu cắn xé chính đồng loại của mình.

Tháng 6 năm 1997, sự kiện chấn động cuối cùng của Khmer Đỏ nổ ra.

Nghi ngờ người đồng chí vào sinh ra tử, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Son Sen đang bí mật đàm phán để đầu hàng chính phủ, Pol Pot đã ra một lệnh hành quyết.

Nửa đêm, tay sai của Pol Pot ập vào nhà Son Sen. Chúng bắn chết Son Sen cùng vợ và toàn bộ 13 người trong gia đình, bao gồm cả những đứa trẻ sơ sinh.

Man rợ hơn, Pol Pot còn ra lệnh cho xe tải cán qua cán lại thi thể của gia đình người đồng chí cũ.

Hành động giết hại dã man gia đình Son Sen đã làm giọt nước tràn ly, phá vỡ hoàn toàn chút trung thành cuối cùng của giới chóp bu Khmer Đỏ.

Tướng Ta Mok (kẻ mang biệt danh “Gã đồ tể”) đã quyết định làm binh biến.

Chỉ vài ngày sau, lực lượng của Ta Mok bao vây doanh trại, tước vũ khí và bắt sống chính “Anh Cả” Pol Pot.

Tháng 7 năm 1997, một phiên tòa “kỳ lân” diễn ra ngay giữa rừng sâu Anlong Veng. Kẻ bị đem ra xét xử là Pol Pot. Và những kẻ ngồi trên ghế quan tòa, chỉ tay kết án gã, lại chính là những tên đao phủ thủ hạ do gã nhào nặn ra!

Phiên tòa không hề kết án tội ác diệt chủng, gần 3 triệu người dân vô tội mà chỉ kết án gã vì tội “Phản bội tổ chức” (giết Son Sen).

Pol Pot bị kết án tù chung thân dưới hình thức quản thúc tại gia. Gã bị nhốt trong một căn lều gỗ lụp xụp, xung quanh là hàng rào kẽm gai và lính canh gác ngày đêm.

Từ một vị Chúa tể nắm quyền sinh sát cả quốc gia, Pol Pot giờ đây chỉ là một lão già 73 tuổi ốm yếu, rụng hết tóc, thở dốc từng cơn hôi hám và phải sống bằng những liều thuốc trợ tim.

Tối ngày 15 tháng 4 năm 1998, khi đang nằm thoi thóp trên giường bệnh, Pol Pot nghe được một bản tin trên đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) mà vợ gã mở bên cạnh.

Bản tin thông báo rằng tàn quân Khmer Đỏ đã đạt được thỏa thuận: Chúng sẽ giao nộp gã cho Tòa án Công lý Quốc tế để đổi lấy sự ân xá.

Nghe xong tin sét đánh ấy, lão già bạo chúa nhắm mắt lại. Vài giờ sau, gã tắt thở.

Khmer Đỏ thông báo gã chết vì “đau tim”.

Nhưng rất nhiều nhà sử học và nhà báo độc lập tin rằng, một kẻ kiêu ngạo như Pol Pot đã tự kết liễu đời mình bằng một liều thuốc độc quá liều, hoặc bị chính thủ hạ đầu độc để bịt đầu mối trước khi gã bị đem ra quốc tế đối chất.

Dù nguyên nhân là gì, thì đám tang của tên ác quỷ kiến tạo nên “Cánh đồng chết” cũng là một bản án mỉa mai đến tận cùng.

Thi thể Pol Pot được bọc trong một tấm nilon, đặt trên một chiếc đệm rách. Vài tên lính khiêng xác gã ra một bãi đất trống bốc mùi.

Chúng xếp vài chiếc lốp xe ô tô cũ, vứt lên đó một đống củi mục và rác rưởi rồi châm lửa đốt. Khói đen cuồn cuộn bốc lên khét lẹt.

Một kẻ đã thiêu rụi cả nền văn minh của một quốc gia, cuối cùng lại hóa tro bụi trên một đống rác lốp xe. Tro cốt của gã bị gió rừng thổi bay tứ tán, không để lại dù chỉ là một nấm mồ.

“LẬT MỞ HỒ SƠ MẬT”

(Từ FB Lão Ngoan Đồng)

TN2:

Bài viết hay nhưng chưa đủ: Khmer Đỏ nổ súng xung đột với Vietnam ngay sau 4/1975 ở đảo Thổ Châu, rồi lẻ tẻ ở biên giới dưới sự xúi giục của Trung Quốc. Nhưng lãnh đạo VN khi đó không tin “anh em mình phản bội lại mình “, vẫn tiến hành học tập chính trị để thanh lọc thanh trừng hàng ngũ cán bộ quân đội sau chiến thắng; buộc các đơn vị làm nông trường, súng đạn rét sỉ, …

Dân chúng Việt Miên dọc biên giới biết Khmer Đỏ chuẩn bị đánh sang nên báo tin cho chính quyền và xin vũ trang tự vệ thì cán bộ chẳng những không tin , mà còn tỏ thù nghịch với dân …

Vì vậy mới có vụ thảm sát Ba Chúc vì bộ đội bỏ chạy, dân chúng lượm súng tự võ trang thì đã quá trễ (tháng 10/1978 tôi đến đơn vị E20 F4 ở Tri Tôn, Lương Phi, Ba Chúc (Tịnh Biên) được lính cũ cùng dân chúng kể lại. Sau đó chúng tôi tiến qua Kampuchea cho đến gần 10 năm sau)


 

LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG

Việt Tân 

LÀNG PHONG QUY HÒA BỊ LẤY ĐẤT ĐỂ XÂY DỰ ÁN NGHỈ DƯỠNG HẠNG SANG

Có những mảnh đất không được định giá bằng diện tích hay vị trí mặt tiền, mà bằng sức chứa của những nỗi đau, sự bao dung và lòng nhân ái mà con người đã gửi lại nơi đó qua nhiều thế hệ.

Làng phong Quy Hòa, nép mình bên bờ biển suốt gần một thế kỷ qua, không đơn thuần là một địa danh hành chính.

Đó là nơi cưu mang những con người từng bị xã hội xa lánh vì bệnh tật. Đó là chứng tích sống động về tình yêu thương vô điều kiện của các nữ tu, các bác sĩ và những người đã dành cả cuộc đời để chăm sóc những phận người bất hạnh. Đó cũng là mảnh đất lưu giữ những hơi thở cuối cùng của thi sĩ Hàn Mặc Tử, một phần ký ức văn hóa đặc biệt của dân tộc.

Vậy mà giờ đây, không gian ký ức ngưng đọng của thời gian ấy sắp phải xóa sổ để nhường chỗ cho Khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng quốc tế biển Ghềnh Ráng – Vũng Chua. Một siêu dự án với quy mô khổng lồ gần 2.900 hecta sẽ nuốt chửng toàn bộ thung lũng yên bình này.

Chính quyền đem 20.000 tỷ đồng của tập đoàn Sun Group để đánh đổi lấy một di sản tinh thần vô giá mà không một dòng tiền nào có thể mua lại.

Một nơi vốn dĩ là thánh đường của sự xoa dịu, nơi tôn vinh những giá trị nhân văn thuần khiết nhất, nay lại được chuẩn bị để biến thành chốn xa hoa, phục vụ cho những kỳ nghỉ dưỡng của giới nhà giàu.

Cứ mỗi lần một di tích bị khai tử để dựng lên những tòa nhà cao tầng, chúng ta lại tự hỏi rồi đất nước này sẽ đi về đâu khi chỉ toàn những khối bê tông vô hồn chiếm lĩnh?

Sự phát triển sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu nó được xây dựng trên sự lãng quên lịch sử và tước đoạt đi những giá trị nhân văn cốt lõi. Tiếng sóng Quy Hòa rồi đây vẫn sẽ vỗ vào bờ, nhưng liệu có còn giữ được tiếng lòng đầy trắc ẩn, hay chỉ còn là tiếng thở dài cay đắng của một di sản đã bị khai tử bởi cơn lốc thị trường?

#làngphongQuyHòa


 

Mỹ: Cháu và chắt của Kennedy chết trong lúc cách ly

Tác Giả: Đàn Chim Việt

09/04/2020

Chết chóc bám mãi theo gia đình kennedy?

Dường như số phận chưa buông tha cho gia đình Kennedy khi mới đây cháu và chắt của Robert Kennedy chết trong lúc cách ly.

Lực lượng cứu hộ vừa tìm thấy thi thể của Gideon McKean, 8 tuổi. Cậu bé biến mất một tuần trước, cùng với mẹ của mình, cháu gái của Robert Kennedy (người đã bị sát hại năm 1968). Thi thể của một người phụ nữ đã được tìm thấy vào thứ Hai. Hai mẹ con bà chèo thuyền kayak để chơi bóng dưới nước, họ đã đi quá xe bờ và tai nạn xảy ra.

Thi thể của Maeve McKean, 40 tuổi và con trai được tìm thấy ở vùng biển ngoài khơi Chesapeake, Maryland.

McKean là luật sư làm việc tại Đại học Georgetown; chuyên về sức khỏe cộng đồng và nhân quyền.

Trong thời gian bị hạn chế do dịch coronavirus, McKean đã đến nhà của mẹ cô, bà Kathleen Kennedy Townsend- con gái của Robert Kennedy – ở Shady Side, Maryland.

Chồng của cô David McKean đã báo cáo trên Facebook rằng, gia đình đi khỏi nơi thường trú của họ tại Washington trong thời gian cách ly để con cái có nhiều không gian hơn. Vợ và con trai của ông ta đã biến mất khi họ đang chơi bóng nước bằng thuyền. “Họ trèo lên thuyền kayak, đuổi theo quả bóng đang bị gió hoặc thủy triều cuốn ra xa”, ông viết vào hôm thứ Sáu. “Khoảng 30 phút sau, một người quan sát đất nhìn thấy họ ở quá xa bờ và gọi cảnh sát.”

Sự biến mất của cháu gái và cháu chắt của “RFK” được truyền thông Mỹ mô tả như một trường hợp tiếp theo  của “lời nguyền Kennedy”.

“RFK”, là tổng chưởng lý Hoa Kỳ năm 1961-64 và Thượng nghị sĩ bang New York. Ông bị bắn vào ngày 5 tháng 6 năm 1968 tại Los Angeles, ngay sau khi phát biểu liên quan đến chiến thắng của ông trong cuộc bầu cử tổng thống của Đảng Dân chủ California. Hai con trai của Robert chết sớm: David do quá liều ma túy năm 1984 ở tuổi 28 và Michael năm 1997 ở tuổi 39.

Anh trai của RFK, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 35 John F. Kennedy, đã bị ám sát tại Dallas năm 1963 và con trai của ông là John Jr. tử vong cùng với vợ và chị dâu khi máy bay của ông bị rơi ở ngoài khơi bờ biển Massachusetts.

Cháu gái của Robert Kennedy, Saoirse Kennedy Hill, đã qua đời vào năm 2019 do sử dụng ma túy quá liều tại nhà của gia đình Kennedy ở Hyannis Port, Massachusetts.

Theo Onet.pl


 

 HÃY GIÀ ĐI MỘT CÁCH THANH THẢN – Lm. Anmai, CSsR 

 KHẢ TÂMChuyện tuổi Xế Chiều

 HÃY GIÀ ĐI MỘT CÁCH THANH THẢN.

Lm. Anmai, CSsR 

Thời gian trôi đi âm thầm nhưng tàn nhẫn, nó không bao giờ báo trước cho ta biết khi nào thì tuổi già thực sự ập đến, nó không nằm ở con số ghi trên giấy tờ hay số nến cắm trên chiếc bánh sinh nhật, mà nó đến trong một khoảnh khắc bất chợt khi ta nhận ra sự thay đổi trong chính tâm hồn mình.

Nếu như thuở đôi mươi, người ta sợ cái nghèo, sợ sự thiếu thốn vật chất, và khi bước sang tuổi trung niên, người ta bắt đầu lo âu về những biến cố bệnh tật, thì khi đã bước sang dốc bên kia của cuộc đời, nỗi sợ lớn nhất, ám ảnh nhất lại mang một cái tên rất nhẹ nhưng nặng trĩu lòng người: Sự cô độc.

Thế nhưng, nếu nhìn sâu vào bản chất của kiếp nhân sinh, ta sẽ thấy một nghịch lý đầy tính triết học rằng cô đơn không phải là bi kịch của tuổi già, mà đó là một sự thật hiển nhiên, là bài học cuối cùng mà bất cứ ai, dù sang hay hèn, đều phải học cách đón nhận để tìm thấy sự thanh thản thực sự.

Có một chân lý mà khi còn trẻ ta thường nghe với vẻ hồ nghi hoặc chạnh lòng, nhưng khi tóc đã pha sương mới thấy nó đúng đến đau lòng, đó là việc con cái thực ra không bao giờ hoàn toàn thuộc về cha mẹ. Ngày xưa, ta ngây thơ nghĩ rằng nuôi con là để dưỡng già, là để có người hủ hỉ sớm hôm, nhưng quy luật của dòng đời lại chảy xuôi chứ không bao giờ chảy ngược. Những đứa trẻ ta từng ẵm bồng, từng dành cả thanh xuân để lo toan, giờ đây chúng đã có bầu trời riêng của chúng, chúng có những áp lực của thời đại mới, có gánh nặng cơm áo gạo tiền và những trách nhiệm riêng với gia đình nhỏ của chúng. Người già thường sống bằng ký ức, bằng những hoài niệm về những bữa cơm đông đủ tiếng cười, trong khi người trẻ lại phải sống bằng thực tại khốc liệt, bằng những cuộc họp triền miên và những chuyến đi xa nhà. Sự lệch pha ấy khiến khoảng cách giữa hai thế hệ ngày càng lớn, không phải vì con cái vô tâm hay bất hiếu, mà đơn giản vì chúng quá bận rộn để có thể thường xuyên ngoảnh đầu nhìn lại. Nếu ta cứ mãi đau đáu chờ đợi một cuộc điện thoại, khắc khoải mong ngóng tiếng xe dừng trước ngõ, thì chính ta đang tự giam cầm mình trong nỗi buồn tủi không lối thoát. Thời đại này, mỗi đứa con là một cánh chim bay đi tìm phương trời lạ, sự sum vầy là điều quý giá nhưng hiếm hoi, và việc chấp nhận sự xa cách ấy chính là bước đầu tiên để cởi trói cho tâm hồn mình.

Bi kịch lớn nhất của những năm tháng xế chiều không nằm ở việc ta sống một mình, mà nằm ở chỗ ta đã đặt quá nhiều kỳ vọng vào người khác, kể cả đó là ruột thịt. Khi ta đặt hạnh phúc của mình vào tay con cái, ta vô tình trở thành gánh nặng tâm lý cho chúng và trở thành nạn nhân của chính sự chờ đợi. Phẩm giá của tuổi già, suy cho cùng, nằm trọn vẹn ở hai chữ “Tự Lực”. Một tuổi già hạnh phúc không được đo đếm bằng số lượng con cháu vây quanh, mà được đo bằng khả năng tự chủ của chính bản thân người đó. Đó là khi ta còn đủ sức khỏe để tự đi lại mà không cần ai dìu đỡ, còn đủ sự minh mẫn để tự quyết định cuộc sống của mình, còn đủ tiền bạc tích lũy để không phải ngửa tay xin xỏ hay nhìn sắc mặt người khác mà sống, và quan trọng hơn cả là còn đủ những niềm vui, sở thích riêng để lấp đầy những khoảng trống thời gian. Khi ta tự đứng vững trên đôi chân mình, tự lo liệu được cho bản thân, ta mới có được sự tôn trọng và một phong thái ung dung tự tại.

Đừng biến mình thành cây tầm gửi sống bám vào cây sồi già, hãy biến mình thành một cây cổ thụ, dẫu đơn độc nhưng thâm trầm và vững chãi giữa trời đất.

Và rồi, cuộc đời sẽ dạy ta bài học khắc nghiệt nhưng cũng đầy vị tha nhất: Học cách làm bạn với nỗi cô đơn. Hãy tập quen với việc ăn cơm một mình mà không thấy tủi thân, đi chợ một mình mà vẫn thấy vui vẻ lựa chọn từng mớ rau con cá, đi khám bệnh một mình mà vẫn bình tĩnh kiên cường, hay lặng lẽ ngắm hoàng hôn mà không cần ai phải trầm trồ cùng. Khi ta có thể làm tất cả những điều đó một mình, ta sẽ nhận ra cô đơn không phải là kẻ thù, mà là một người thầy, một người bạn đồng hành trung thành nhất.

Cuộc đời này thực chất là một hành trình độc đạo, cha mẹ đã rời bỏ ta đi trước, bạn đời rồi cũng có thể lỡ bước sang ngang hoặc đi về cõi vĩnh hằng, con cái thì bận rộn với guồng quay riêng, chỉ có chính bản thân ta là người duy nhất đi cùng ta từ khi sinh ra cho đến hơi thở cuối cùng. Khi không còn mong cầu ai phải hiểu thấu nỗi lòng mình, không còn khát khao ai phải ở bên cạnh để xua tan sự trống trải, lúc ấy tâm ta mới thực sự an nhiên. Sự cô đơn lúc này chuyển hóa thành sự tĩnh tại, một trạng thái thiền định giữa đời thường mà chỉ những người đã đi qua đủ bão giông mới thấu cảm được.

Hạnh phúc ở tuổi xế chiều, do đó, cần được định nghĩa lại một cách giản đơn nhưng sâu sắc hơn. Đó không phải là nhà cao cửa rộng, không phải là con đàn cháu đống ồn ào, mà là sự bình yên trong tâm hồn và sự tự do trong nếp sống. Hãy giữ cho mình một chút tiền phòng thân để an tâm, giữ gìn sức khỏe như báu vật vì đó là vốn liếng cuối cùng, giữ lại vài người bạn tri kỷ để đôi khi cùng nhau uống chén trà đàm đạo chuyện nhân tình thế thái. Đừng oán trách sự lạnh nhạt của thế gian, đừng kể lể nỗi khổ đau bệnh tật với bất kỳ ai, bởi ai cũng có nỗi khổ riêng của họ.

Thay vì ngồi ủ rũ chờ đợi sự quan tâm ban phát, hãy tự tạo niềm vui cho mình bằng việc trồng một cái cây, đọc một cuốn sách, hay đơn giản là tận hưởng bầu không khí trong lành của buổi sớm mai. Khi cha mẹ còn sống, ta còn nơi để trở về, còn gốc rễ để bấu víu; nhưng khi cha mẹ khuất núi, ta chỉ còn lại đích đến phía trước để bước tới. Chặng đường cuối cùng này, hãy đi thật chậm rãi, nhẹ nhàng, không vướng bận, không oán hờn. Hãy yêu thương lấy chính bản thân mình, trân trọng từng ngày được sống, và biến tuổi già trở thành những tháng ngày thanh cao, rực rỡ và kiêu hãnh nhất của một kiếp người, để khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể mỉm cười rằng mình đã sống trọn vẹn và già đi một cách thật thanh thản.

Lm. Anmai, CSsR 


 

 MỤC ĐÍCH SỐNG CỦA CON NGƯỜI LÀ GÌ? TIỀN BẠC HAY HẠNH PHÚC?

Hoai Linh Ngoc Duong

 MỤC ĐÍCH SỐNG CỦA CON NGƯỜI LÀ GÌ? TIỀN BẠC HAY HẠNH PHÚC?

Khi một đứa trẻ vừa chào đời, người lớn thường bắt đầu vẽ ra cho nó những hình mẫu để noi theo.

Có người chỉ vào những tỷ phú giàu nhất thế giới và nói: “Hãy cố gắng như vậy.”

Có người chỉ vào những chính trị gia quyền lực nhất hành tinh và nói: “Đó mới là thành công.”

Trong thế giới hôm nay, ít ai có thể phủ nhận sức hấp dẫn của những con người như Elon Musk hay Donald Trump. Một người sở hữu khối tài sản lớn đến mức vượt quá GDP của hàng chục quốc gia. Một người từng nắm giữ chiếc ghế quyền lực nhất thế giới.

Nhìn từ bên ngoài, họ dường như đã đạt đến đỉnh cao mà nhân loại hằng mơ ước.

Tiền bạc.

Danh vọng.

Quyền lực.

Ảnh hưởng.

Nhưng có một câu hỏi kỳ lạ mà con người ít khi dám hỏi:

Liệu họ có hạnh phúc không?

Nhiều năm trước, khi được hỏi về hạnh phúc, Elon Musk từng trả lời một cách đầy chua chát rằng ông không nghĩ mình là một người hạnh phúc.

Cuộc sống của ông là chuỗi ngày làm việc gần như không ngừng nghỉ, những áp lực khổng lồ, những cuộc chiến pháp lý, những cuộc tranh cãi bất tận và những tham vọng chưa bao giờ kết thúc.

Có lẽ điều tương tự cũng có thể nói về rất nhiều người ở đỉnh cao quyền lực.

Bởi quyền lực giống như nước biển.

Càng uống càng khát.

Không ai leo lên đỉnh Everest chỉ để ngắm cảnh rồi dừng lại.

Khi đã chinh phục được một ngọn núi, con người lại bắt đầu tìm kiếm ngọn núi khác cao hơn.

Tham vọng của con người dường như là vô hạn.

Trong khi đời người lại hữu hạn.

Đó chính là bi kịch lớn nhất của kiếp nhân sinh.

Những người ngưỡng mộ Elon Musk hay Donald Trump thường nói rằng hai người đàn ông này không sống vì tiền bạc hay quyền lực.

Họ muốn thay đổi thế giới.

Có thể điều đó đúng.

Nhưng ngay cả khi đúng thì câu hỏi vẫn còn nguyên giá trị:

Nhân loại có hạnh phúc hơn vì những cuộc chinh phục không ngừng nghỉ đó hay không?

Không ai phủ nhận những đóng góp của khoa học, công nghệ hay những biến đổi chính trị đối với đời sống con người.

Nhưng đồng thời, nhân loại cũng chứng kiến một nghịch lý kỳ lạ.

Trong khi hàng triệu người theo dõi từng bước đi của các tỷ phú và chính trị gia quyền lực nhất thế giới, thì hàng triệu người khác lại xúc động trước hình ảnh một nhà sư chân đất, mang theo một chiếc bình bát và gần như không sở hữu gì ngoài tấm y trên người.

Điều đó cho thấy trong sâu thẳm tâm hồn con người tồn tại hai khát vọng đối lập.

Một khát vọng muốn sở hữu tất cả.

Một khát vọng muốn buông bỏ tất cả.

Nhà sư Minh Tuệ không có tài sản.

Không có quyền lực.

Không có tập đoàn.

Không có đội quân truyền thông.

Nhưng ông lại khiến hàng triệu người dõi theo.

Tại sao?

Bởi trong hình ảnh ấy, nhiều người nhìn thấy điều mà họ đã đánh mất từ lâu:

Sự bình an.

Con người dành cả đời để tích lũy.

Nhưng càng tích lũy, họ càng lo sợ mất đi.

Có nhà thì sợ mất nhà.

Có tiền thì sợ mất tiền.

Có quyền lực thì sợ mất quyền lực.

Có danh tiếng thì sợ mất danh tiếng.

Cuối cùng, thứ họ sở hữu lại trở thành thứ sở hữu ngược lại họ.

Trong khi đó, một người không có gì để mất lại có thể bước đi với hành lý nhẹ tênh.

Đó là lý do tại sao khi đối diện với bệnh tật, thiên tai hay cái chết, con người thường thay đổi cách nhìn về cuộc sống.

Một người vừa thoát khỏi tai nạn không còn nghĩ nhiều đến chiếc xe mới.

Một người vừa nhận chẩn đoán ung thư không còn quá bận tâm đến những cuộc tranh cãi nhỏ nhặt.

Một người đứng trước cái chết hiếm khi tiếc nuối vì mình chưa kiếm đủ tiền.

Điều họ tiếc nuối thường là:

Chưa yêu thương đủ.

Chưa sống đủ.

Chưa tha thứ đủ.

Chưa tận hưởng đủ những điều giản dị của cuộc đời.

Bởi chỉ khi đứng trước sự vô thường, con người mới nhận ra điều gì thật sự có giá trị.

Vậy mục đích sống của con người là gì?

Tiền bạc hay hạnh phúc?

Có lẽ câu trả lời không nằm ở một trong hai.

Tiền bạc không phải là điều xấu.

Nghèo đói chưa bao giờ là lý tưởng.

Tiền giúp con người chữa bệnh, nuôi con, học hành và sống một cuộc đời có phẩm giá.

Nhưng tiền chỉ là phương tiện.

Nó không phải đích đến cuối cùng.

Quyền lực cũng vậy.

Quyền lực có thể giúp thay đổi xã hội.

Nhưng quyền lực không tự động mang lại bình an cho tâm hồn.

Có lẽ mục đích sâu xa nhất của đời người không phải là sở hữu nhiều nhất, mà là sống trọn vẹn nhất.

Không phải là có nhiều hơn người khác.

Mà là hiểu mình là ai.

Mình cần gì.

Và điều gì thực sự khiến mình hạnh phúc.

Đến cuối cuộc đời, rất ít người được nhớ đến vì họ có bao nhiêu tiền trong tài khoản.

Nhưng rất nhiều người được nhớ đến vì họ đã sống như thế nào.

Bởi sau tất cả, thứ còn lại không phải là tài sản, quyền lực hay danh vọng.

Mà là dấu vết mà chúng ta để lại trong trái tim của những người khác.

Và có lẽ đó mới là ý nghĩa thật sự của kiếp nhân sinh hữu hạn này.

Đây là một trong những nghịch lý đẹp nhưng cũng đau đớn nhất của con người: chúng ta biết mình sẽ chết, nhưng vẫn sống như thể mình sẽ tồn tại mãi mãi; chúng ta biết mọi thứ đều vô thường, nhưng vẫn dành cả đời để nắm giữ những thứ không thể giữ được.

Có lẽ vì thế mà giữa những tỷ phú, những nguyên thủ quốc gia và những nhà chinh phục thế giới, hình ảnh một người bước đi với đôi chân trần và không sở hữu gì vẫn có sức lay động hàng triệu con người.


 

TỪ MẢNH VỠ ĐẾN TOÀN THỂ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn!”.

Một bức tranh khảm không đẹp vì từng viên đá riêng lẻ hoàn hảo, nhưng vì mỗi viên tìm được vị trí của mình trong toàn thể. Một viên đá đứng riêng có thể vô nghĩa; nhưng khi được đặt đúng chỗ, nó góp phần tạo nên một kiệt tác.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta thường nhìn đời mình như những mảnh rời – thành công, thất bại, niềm vui, vết thương. Chúa Giêsu không đến để xoá bỏ chúng, nhưng để ghép chúng lại. Lời Chúa hôm nay cho thấy một hành trình kỳ diệu: ‘từ mảnh vỡ đến toàn thể’.

Với Lề Luật, Chúa Giêsu nói, “Thầy đến để kiện toàn”. Matthêu dùng động từ plērōsai. Trong nguyên ngữ Hy Lạp, từ này mang nghĩa làm cho đầy, đưa đến sự viên mãn. Chúa Giêsu không đến như người bắt đầu một câu chuyện mới, nhưng như Đấng viết nốt câu chuyện đang bỏ dở. Nơi Ngài, Lề Luật, các ngôn sứ và toàn bộ lịch sử cứu độ không còn là những trang rời, nhưng hợp thành một tác phẩm.

Không chỉ Lề Luật cần được kiện toàn, cả một nhân loại cũng cần được kiện toàn. Lịch sử cứu độ là lịch sử của những con người không hoàn hảo. Abraham, Giacóp, Đavít, Phêrô – không ai là một bản thảo sạch sẽ. Thế nhưng, Thiên Chúa vẫn viết tiếp. Ngài không đợi con người hoàn hảo mới hành động; Ngài hành động ngay giữa những giới hạn của họ. Đó là cách Thiên Chúa đưa những gì bất toàn đến chỗ viên mãn. “Ơn thánh không phá huỷ tự nhiên, nhưng kiện toàn tự nhiên!” – Tôma Aquinô.

“Một chấm một phết” không phải để biến đời sống đức tin thành sự tính toán tỉ mỉ; Chúa Giêsu chỉ muốn mặc khải một Thiên Chúa trung thành đến từng chi tiết. Điều đã khởi sự, Ngài không bỏ dở; điều đã hứa, Ngài không quên. Vì thế, cả những nét nhỏ nhất của lịch sử cứu độ cũng được Ngài giữ lại để tìm thấy ý nghĩa trọn vẹn trong Đức Kitô. Nơi Ngài, mọi sự đều tìm được chỗ đứng của mình trong toàn thể.

Sách Các Vua kể lại cuộc đối đầu trên núi Carmel. Điều Êlia tìm kiếm không chỉ là lửa từ trời – bài đọc một, mà là một dân tộc tìm lại nơi nương náu. “Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu” – Thánh Vịnh đáp ca. Khi lòng người bị chia cắt giữa Thiên Chúa và ngẫu tượng, cuộc đời cũng trở nên phân mảnh. Chỉ khi trở về với Chúa, con người mới tìm lại được sự thống nhất nội tâm. “Cầu nguyện là trở về nhà!” – Henri Nouwen.

Anh Chị em,

Đức Kitô là sự kiện toàn sống động của Thiên Chúa. Nơi Ngài, mọi lời hứa được hoàn tất, mọi khoảng cách được nối lại và mọi đổ vỡ được chữa lành. Trên thập giá, thế gian chỉ thấy một cuộc đời bị nghiền nát; nhưng Thiên Chúa lại đang hoàn tất công trình cứu độ của Ngài. Vì thế, không ai phải tuyệt vọng trước những gì còn ngổn ngang trong đời mình. Trong Chúa Kitô, hành trình ‘từ mảnh vỡ đến toàn thể’ vẫn đang tiếp diễn mỗi ngày. Vấn đề là bạn và tôi có dám trao cho Ngài cả những gì chưa xong hay vẫn muốn tiếp tục che giấu chúng? “Thiên Chúa yêu thương bạn như chính bạn là, chứ không phải như bạn nên là!” – Brennan Manning.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết tín thác những gì chưa hiểu; kiên nhẫn với những gì dở dang; và biết để ân sủng Chúa kiện toàn cuộc sống mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần X Thường Niên, Năm Chẵn

Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu. Mt 5,17-19

17 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. 18 Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. 19 Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.


 

BỐN PHÉP LẠ THÁNH THỂ MỚI ĐÂY – Trầm Thiên Thu 

Trầm Thiên Thu 

Mặc dù đã có rất nhiều phép lạ Thánh Thể từ thời Trung cổ, nhiều phép lạ đã xảy ra trong thế kỷ trước, với một số phép lạ đã được xác nhận trong 20 năm qua.  Các phép lạ này là bằng chứng sống động cho giáo lý của Giáo Hội Công giáo rằng mặc dù hình dạng của bánh và rượu vẫn còn, nhưng bản chất đã được thay đổi hoàn toàn (nhờ quyền năng của Thiên Chúa) thành Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô.  Đó là giáo huấn dựa trên Kinh Thánh và Thánh Truyền vẫn không thay đổi về bản chất từ thời các tông đồ.

Ngoài ra, Giáo Hội đã công nhận rằng đôi khi Thiên Chúa can thiệp theo cách hữu hình hơn và có thể thay đổi ngay cả hình dạng của bánh rượu thành Mình Máu Ngài.  Hoặc Thiên Chúa có thể bảo quản tấm bánh đã thánh hóa một cách kỳ diệu trong một khoảng thời gian dài, vượt qua những gì tự nhiên đối với bánh.

 Tại Legnica – Ba Lan

 Năm 2013, Đức Giám mục Zbigniew Kiernikowski, Giáo phận Legnica, cho biết: “Ngày 25-12-2013, khi đang cho rước lễ, một Bánh Thánh rơi xuống, sau đó được cầm lên và đặt vào một bình nước.  Ngay sau đó, các vết màu đỏ xuất hiện.  Đức Giám mục Stefan Cichy, Giáo phận Legnica, đã thành lập một ủy ban để nghiên cứu hiện tượng này.  Tháng 02-2014, một mảnh nhỏ màu đỏ của Bánh Thánh được tách ra và đặt trên khăn thánh.  Ủy ban đã lấy mẫu để tiến hành các cuộc kiểm tra kỹ lưỡng của các viện nghiên cứu thích hợp.” 

Sau khi điều tra, Bộ phận Pháp y cho biết: “Trong hình ảnh mô bệnh học, các mô đã được tìm thấy có chứa các phần cơ có vân chéo. (…) Toàn bộ (…) rất giống cơ tim với những thay đổi thường xuất hiện trong cơn hấp hối.  Các nghiên cứu di truyền chỉ ra nguồn gốc con người của mô.”

 Tại Sokółka – Ba Lan

 Trong Thánh Lễ Chúa Nhật 12-10-2008, tại nhà thờ giáo xứ Thánh Antôn ở Sokolka, một Bánh Thánh đã rơi khỏi tay linh mục khi đang cho rước lễ.  Linh mục ngừng cho rước lễ, cúi xuống cầm Bánh Thánh lên, rồi đặt Bánh Thánh vào một bình nước nhỏ.  Bình thường thì Bánh Thánh sẽ tan trong nước, sau đó sẽ được xử lý đúng quy cách phụng vụ. 

Sau Thánh Lễ, theo lời yêu cầu của cha xứ Stanislaw Gniedziejko, sơ Julia Dubowska đã đổ nước và Bánh Thánh vào một bình chứa khác.

 Một tuần sau, vào ngày 19-10-2008, sơ Julia thấy có mùi thơm dịu dàng của bánh không men.  Khi mở hộp đựng, sơ nhìn thấy ở giữa Bánh Thánh – phần lớn còn nguyên vẹn – có một vết cong màu đỏ tươi, giống như vết máu: một phân tử sống của cơ thể.  Nước không bị loang màu sắc.

 Một phần của Bánh Thánh đã thay đổi và được lấy để phân tích riêng bởi hai chuyên gia, giáo sư Maria Sobaniec-Lotowska và giáo sư Stanislaw Sulkowski, để đảm bảo độ tin cậy của kết quả. 

Kết quả của cả hai nghiên cứu độc lập đều hoàn toàn phù hợp.  Họ kết luận rằng cấu trúc của Bánh Thánh đã biến đổi giống hệt với mô cơ tim của một người sắp chết.  Theo giáo sư Maria Sobaniec-Lotowska, cấu trúc của các sợi cơ tim liên kết chặt chẽ với cấu trúc của bánh, theo cách mà con người không thể làm được.

 Tại Tixtla – Mexico

Ngày 21-10-2006, trong một cuộc tĩnh tâm của giáo xứ, một Bánh Thánh sắp được trao đã tiết ra chất màu đỏ.  Đức Giám mục Alejo Zavala Castro đã triệu tập một ủy ban thần học điều tra để xác định xem đó có phải là một phép lạ hay không.  Tháng 10-2009, ngài đã mời tiến sĩ Ricardo Castañón Gómez tiến hành nghiên cứu khoa học với một nhóm các khoa học gia và xác minh tính chất kỳ diệu của sự việc.  Tiến sĩ Gómez đã hoàn thành cuộc điều tra. 

Nghiên cứu khoa học được thực hiện từ tháng 10-2009 đến tháng 10-2012, với nhận định này: “Chất màu đỏ được phân tích tương ứng với máu, trong đó chứa Hemoglobin và DNA có nguồn gốc từ con người.  Hai nghiên cứu được thực hiện bởi các chuyên gia pháp y lỗi lạc với các phương pháp luận khác nhau đã cho thấy rằng chất này có nguồn gốc từ bên trong, loại trừ giả thuyết rằng ai đó có thể đã đặt nó từ bên ngoài.  Đó là loại máu AB, giống như máu ở Khăn Liệm Turin.  Một phân tích hiển vi về độ phóng đại và độ xuyên thấu cho thấy phần trên của máu đã đông lại từ tháng 10-2006.  Hơn nữa, tháng 02-2010, các lớp bên trong cho thấy sự hiện diện của máu tươi.

 Tại Chirattakonam – Ấn Độ

 Ngày 28-04-2001, tại nhà thờ giáo xứ Đức Mẹ Chirattakonam, cha xứ nhận thấy một hình ảnh kỳ lạ xuất hiện trên một Bánh Thánh, và ngài đã ghi lại chính xác những gì xảy ra. 

Lúc 8 giờ 49 sáng, tôi đã đặt Mình Thánh để mọi người tôn thờ.  Một lúc sau, tôi thấy như có ba chấm trên Thánh Thể.  Tôi ngừng cầu nguyện và bắt đầu nhìn vào Mặt Nhật, cũng mời các tín hữu chiêm ngưỡng dấu ba chấm.  Sau đó, tôi mời các tín hữu tiếp tục cầu nguyện và đóng cửa Nhà Tạm…  Sáng thứ Bảy, 05-05-2001, tôi mở cửa nhà thờ để cử hành phụng vụ bình thường.  Tôi đến mở cửa Nhà Tạm để xem điều gì đã xảy ra với Thánh Thể trong Mặt Nhật.  Tôi thấy ngay trong Bánh Thánh có một hình tượng giống như mặt người.  Tôi vô cùng xúc động và yêu cầu các tín hữu quỳ xuống và bắt đầu cầu nguyện.  Tôi nghĩ chỉ mình tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt, vì vậy tôi đã hỏi người giúp lễ xem có thấy gì ở Mặt Nhật hay không.  Người giúp lễ trả lời: “Con nhìn thấy bóng dáng một người đàn ông.” 

Cuối cùng, hình ảnh trở nên rõ ràng hơn và là một người giống như Chúa Giêsu Kitô đội vòng gai.  Hình ảnh kỳ diệu đã được Tổng Giám mục Beatitude Cyril Mar Baselice, Tổng Giáo Phận Trivandrum, điều tra.  Mặt Nhật với Bánh Thánh vẫn được lưu giữ trong nhà thờ cho đến ngày nay. 

Philip Kosloski

Trầm Thiên Thu 

(chuyển ngữ từ Aleteia.org)