Đảng Tân Đại Việt tổ chức Lễ Tưởng Niệm Lần Thứ 36 Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy

 Viet Ba’o

30/07/2026

Thanh Huy

Nghi thức chào cờ từ phải: Ông Hoàng Đình Khuê, Nhà Giáo, Nhà văn Trần Phong Vũ, Nhà văn Nguyễn Quang, TS. Mai Thanh truyết, Ông Phan Thanh Châu và Bà Nguyễn Thế Thủy

 Westminster, Nam California  (Thanh Huy) – Tại Hội trường VietlifeTV thành phố Westminster vào lúc 1 giờ chiều Chủ Nhật ngày 26 tháng 7 năm 2026, Đảng Tân Đại Việt đã long trọng tổ chức Lễ Tưởng Niệm lần Thứ 36 Cố  Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy,  Đảng Trưởng Đảng Tân Đại Việt.

 Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời vào ngày 28 tháng 7, 1990 trên bước đường hoạt động tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự. Từ đó đến nay đã trải qua 36 năm, cứ đến độ hè về vào cuối tháng bảy hàng năm Đảng Tân Đại Việt đều long trọng tổ chức lễ tưởng niệm Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. Chính sự kiện này cho thấy hậu thế không bao giờ quên một nhân vật đặc biệt trong lịch sử VN.

 Tham dự lễ tưởng niệm, ngoài một số các Đảng viên Tân Đại Việt, Liên Minh Dân Chủ, còn có quý vị quan khách như: Nhà Văn Nguyễn Quang, Nhà Giáo, Nhà Văn Trần Phong Vũ, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, Ông Phan Thanh Châu Đại Diện Việt Nam Quốc Dân Đảng, Kỹ Sư Phạm Ngọc Lân, Bà Nguyễn Thế Thủy, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Westminster, Nhà Văn Việt Hải và phái đoàn Nhân Văn Nghệ Thuật-Tiếng Thời Gian, Bình Luận Gia Nguyễn Kim Bình, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Nam California, Kỹ Sư Cao Thái Hải, Cô Annie Wright (con gái Giáo Sư Nguyễn Văn Bông) một số quý vị nhân sĩ, quý cơ quan truyền thông và đồng hương tham dự.

 Điều hợp chương trình buổi lễ do MC: Thụy Lan, mở đầu MC Thụy Lan cho biết lý do và thông qua chương trình. Sau đó nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm.

Quang cảnh lễ tưởng niệm

Tiếp theo ông Hoàng Đình Khuê  Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt lên tuyên bố lý do buổi lễ, Ông nói: “Thay mặt cho Ban tổ chức TĐV, chúng tôi xin Chào mừng và Cảm tạ sự hiện diện của Quý vị trong Buổi Lễ Tưởng Niệm Lần thứ 36 Cố GS Nguyễn Ngọc Huy. Điều này nói lên lòng ưu ái và mối thiện cảm của Quý vị với GS Nguyễn Ngọc Huy và Đảng Tân Đại Việt.

MC. Thụy Lan điều hợp chương trình

Hôm nay chúng tôi không nói gì về Tiểu sử, Văn bằng và Di sản cũng như Sự nghiệp của GS Huy. Chúng tôi sẽ tiết lộ những điều ít biết về cuộc đời của GS:

1- Cơ duyên học chữ Hán:

GS Huy quê ở Tân Uyên/ Biên Hòa trong một gia đình 10 ACE, GS Huy thứ 9 và cô Út Uyên thứ 10. Không may trong gia đình có cái “huông” hễ sanh con trai là chết yểu gọi là giờ “SÁT” chẳng hạn như anh Hai, anh Tư, anh Bảy, anh Tám đều chết; còn chị Ba, chị Tư, chị Sáu còn sống. Cho nên khi sinh ra GS Huy là con Trai thứ 9 thì gia đình rất lo sợ mới đi chùa, cầu khẩn Thầy chùa, Thầy pháp thì được mách là phải đổi ra người Nữ để tránh tai mắt Thần Thánh.

Theo tục lệ và mê tín dị đoan của người xưa thì trường hợp này gọi là “Xấu Hài”. Những người sinh ra giờ Sát rất khó nuôi. Theo truyền miệng đứa trẻ từ lúc sinh ra đến 12 tuổi phải có Cô Mụ đỡ đầu cho đến khi 13 tuổi thì coi như qua được cõi Chết. Cho nên để dối gạt Thần Linh, người Nam phải sống theo lối người Nữ, nghĩa là phải mang tên Nữ, mặc quần áo như Nữ, xỏ lỗ tai, mang kiểng ở cổ chân và nhất là đem bán cho gia đình khác nuôi.

Do đó gia đình mới gởi cho Dì Sáu nuôi.

Gia đình bên Ngoại sống ở làng Tân Hòa, Tân Khánh/ Biên Hòa. Hai làng này nổi tiếng giỏi Võ. Có một dạo người Pháp cấm hai làng này không được dạy Võ. GS Huy sống với gia đình Dì Sáu và học hành rất chăm chỉ.

Ông Ngoại của GS Huy là cụ Trần Văn Thỉnh, biệt danh là Trần Minh Đức, một nhà Nho nổi tiếng và cũng là nhà Nho cuối cùng của miền Nam. Lúc bấy giờ GS Huy mới 9 tuổi, lúc rảnh rỗi GS Huy thường đứng bên ngoài nghe ông Ngoại dạy chữ Nho. Nhận thấy cháu ngoại hiếu học và thông minh, nên ông Ngoại truyền hết kho chữ Nho cho cháu ngoại.

Sau này GS Huy có biệt hiệu “ông Đồ mặc âu phục.”

Lý do tôi biết được bí mật này là nhân dịp đi công tác ở Sydney-New South Wales/Úc Châu gặp được GS Liêng Khắc Văn là anh em bạn Dì với GS Huy cho biết; một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng Sydney và cũng là cựu hoc sinh Petrus Ký, bạn với GS Dương Ngọc Sum. 

2- Học giả với viễn kiến sâu sắc:

Mặc dù GS Huy là một chính trị gia với bằng cấp Tiến sĩ Chính Trị Học với một di sản Văn hóa gồm nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và Hán văn, nhưng người đời khâm phục và ngưỡng mộ sự hiểu biết thời sự quốc tế, nhất là viễn kiến uyên bác và đa diện của GS Huy:

  1. a) Trong cuộc chiến Việt Nam, ai đã gây ra sự kiện 30/04/1975?

Phần lớn các Sử gia, các nhà bình luận chính trị đều đổ trách nhiệm cho nhau đã làm mất miền Nam. Nhưng GS Huy đã thấy rõ nguyên nhân chính đã xảy ra biến cố 30/04/1975.

Theo GS Huy nguyên nhân chính là Hoa Kỳ đã có kế hoạch bỏ miền Nam kể sau vụ Tết Mậu Thân.

Ông Hoàng Đình Khuê, Chủ Tịch Đảng Tân Đại Việt chào mừng và cảm ơn quan khách và đồng hương tham dự

Thế lực đứng sau kế hoạch bỏ miền Nam là do hai sắc tộc mạnh nhất, đó là sắc tộc gốc Ái Nhĩ Lan và sắc tộc Do Thái. Trong giai đoạn này thì sắc tộc Do Thái là thủ phạm. Họ chủ trương nắm giữ các cơ quan trong chính phủ từ Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp, nhất là Truyền thông đã khiến cho chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ luôn binh vực quyền lợi của Do Thái.

Những tiết lộ tế nhị của GS Huy hoàn toàn phù hợp với nhận định của Linh Mục Cao Văn Luận nhân dịp tái bản tác phẩm Bên Giòng Lịch Sử, ông cho rằng thế lực dân Mỹ gốc Do Thái chủ trương Hoa Kỳ phải rút quân khỏi Việt Nam.

  1. b) Ai đã làm sụp đổ bức tường Bá Linh (9/11/1989) và tan rã Liên Xô (21/12/1991)?

Câu hỏi lịch sử này đã gây tranh cãi mấy chục năm qua và có nhiều câu trả lời chủ quan khác nhau tùy theo hoàn cảnh, trình độ và đề cao tinh thần Dân tộc.

– Phía Ba Lan cho là nhờ hai công dân Ba Lan là Lãnh tụ Nghiệp đoàn Walesa và Đức Giáo Hoàng John Paul II.

– Phía Hung Gia Lợi cho rằng nhờ cựu Thủ tướng Nemeth đã mở đường biên giới Áo-Hung.

 – Phía Đông Đức cho rằng nhờ lực lượng cải cách của Đảng cộng sản Đông Đức đã thành công lật đổ nhà độc tài Honecker …

– Phía Tây Đức cho rằng nhờ chánh sách hòa dịu của cựu Thủ tướng Brandt đã thay đổi chế độ công sản …

– Phía Liên Xô thì cho rằng chính TBT Gorbachev với chánh sách cởi mở nên xảy ra tình trạng mất kiểm soát. 

Nhưng theo GS Huy cho rằng nhờ cố Tổng thống Reagan hành xử cứng rắn với Liên Xô. Ông khích tướng kêu gọi Gorbachev mở cửa và làm sụp đổ bức tường này. GS Huy đã tiên đoán rất sớm và trình bày cặn kẻ trong tác phẩm “Perestroika” (viết bằng Anh ngữ), dày 420 trang với 200 lần dẫn chứng tài liệu) và “Glasnost”.Ông cho rằng bắt buộc ông Gorbachev phải cởi mở chánh sách để đối đầu với Hoa Kỳ của Tổng thống Reagan đang trên đà leo thang với phòng thủ chống hỏa tiễn SDI (Strategic Defense Initiative)

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết phát biểu  

  1. c) Biến cố Anh quốc trao trả Hồng Kông cho Trung quốc năm 1997.Từ đó GS Huy đã tiên đoán Dân Hồng Kông sẽ biểu tình chống đối giống như Truyện Tây Du Ký khi Bà La Sát nuốt Tôn Hành Giả vào bụng (Tôn Ngộ Không) khi Tôn Hành Giả hóa ra con bồ hóng trong chén trà, Tôn Hành Giả dùng thiết bản quậy lục phủ ngũ tạng, bà La Sát đau quá phải chịu thua.

GS Huy mất năm 1990, Hồng Kong được trả cho Trung Quốc ngày 1/7/1997, 7 năm sau khi GS qua đời nhưng viễn kiến về chính trị của ông rất nhậy bén trước nhiều thập niên:dân chúng Hồng Kông sẽ biểu tình đòi Dân chủ.

Sau đó Phong trào Dân chủ Hong Kong biểu tình qua cuộc Cách Mạng Dù năm 2014. Thành phần học sinh đã tham gia tranh đấu. Một học sinh tên Joshua Wong (Hoàng Chí Phong) và cô sinh viên Alex Chao (Chu Đình) trong vai trò thủ lãnh đã thành công huy động thành phần sinh viên, học sinh lên tới hàng trăm ngàn người.

Đến ngày 9 tháng 6 năm 2019, hơn 1 triệu người Hong Kong lại xuống đường với những cánh Dù vàng. Joshua Wong vẫn còn trong tù. 

  1. d)  Những lá thơ của các vị Tổng Thống Hoa Kỳ vinh danh GS Huy:

1) Sau khi GS Huy qua đời, biết bao nhiêu các nhà lãnh đạo trong chính quyền Mỹ, các nhân vật nổi tiếng như các chính trị gia, học giả, nhân sĩ …, trong đó có Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush Cha đã gởi một lá thơ chia buồn cho Ái nữ của GS Huy và lên tiếng ca ngợi:

“GS Nguyễn Ngọc Huy là một nhân vật tận tụy cho dân tộc Việt Nam và dân tộc Mỹ với tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau”. 

Những chuyện kể của Ông Hoàng Đình Khuê còn nhiều vấn đề chưa được tiết lộ (Rất tiếc trong phạm vi bản tin chúng tôi không thể tường thuật hết được). 

Tiếp theo là phần phát biểu của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết về những kỷ niệm với Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy khi ông còn là một sinh viên tại Pháp. TS.Mai Thanh Truyết cho biết, GS. Nguyễn Ngọc Huy có cuộc sống thật giản dị, lúc nào cũng hòa mình vào những điều kiện đơn giản nhất trên bước đường hoạt động của ông, bình dị với mọi người, nhất là những anh chị em sinh viên đang du học tại Pháp thời bấy giờ. TS. Mai Thanh Truyết có rất nhiều tài liệu liên quan đến cuộc đời hoạt động của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy qua các loạt bài khá dài, nhất là những kỷ niệm về Hòa Đàm Paris, hy vọng trong những ngày sắp tới sẽ được TS. Mai Thanh Truyết phổ biến trên các hệ thống truyền thông để đồng hương có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn. 

Sau đó Giáo Sư Trần Phong Vũ lên phát biểu về cuộc đời và sự nghiệp chính trị của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. 

Tiếp theo, Minh Phượng lên có lời phát biểu về Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, trong những lời phát biểu mọi người đều ca ngợi tinh thần quốc gia, dân tộc và sự hy sinh cao cả của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho một Việt Nam có tự do, dân chủ và phú cường.

 Sau những lời phát biểu, Ban Hợp Ca lên hát bản “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” (Đảng Ca của Đảng Tân Đại Việt.)

 Tiếp theo ban tổ chức mời quý vị lãnh đạo Đảng Tân Đại Việt, Liên Minh dân Chủ Việt Nam, quý vị quan khách, quý vị thân hào nhân sĩ lên trước bàn thờ có chân dung Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy làm lễ niệm hương.

 Sau lễ niệm hương, Kiều My và Ngọc Quỳnh lên song ca bản “Dân Tộc Sinh Tồn”.

 Kết thúc chương trình với phần hội luận về đề tài: “Chủ Nghĩa Dân Tộc trong chiều hướng toàn cầu hóa” dưới sự chủ tọa của Ông Hoàng Đình Khuê, Nguyễn Kim Bình và Minh Phượng.

 Buổi lễ bế mạc vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày.


 

Mười Điều Tâm Niệm

1) Nghĩ đến thân thể đừng cầu không bệnh khổ, vì không bệnh khổ thì tham dục dễ sanh .

2) Ở đời đừng cầu không khó khăn hoạn nạn, vì không khó khăn hoạn nạn thì kiêu sa nổi dậy.

3) Tự xét tâm tính đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc thì sở học không thấu đáo.

4)  Xây dựng đạo hạnh đừng mong không bị ma chướng, vì không bị ma chướng thì chí nguyện không kiên cường.

5) Việc làm đừng mong dễ thành, vì dễ thành thì lòng khinh thường ngạo mạn.

6) Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.

7) Với người đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất kiêu căng.

8) Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cẩu đền đáp là có ý mưu đồ.

9) Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì si mê phải động.

10) Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.

     S.T.


 

Thánh Ignatio (I Nhã hoặc St. Ignatius of Loyola) Loyola, (1491-1556). – Cha Vương

Chúc bình an, hôm nay giáo hội mừng kính Thánh Ignatio (I Nhã) Loyola Đấng sáng lập dòng Tên. Mừng lễ quan thầy đến những ai nhận Thánh Ignatio làm bổn mạng nhé.

Luôn cầu nguyện cho nhau và thể giới được an bình trong tình thương yêu của Chúa. Xin Thánh Ignatio Cầu bào cho chung ta nhé 

Cha Vương

Thứ 6: 31/07/2026.    (t7-21)

Thánh Ignatio (I Nhã hoặc St. Ignatius of Loyola) Loyola, (1491-1556). . Vị sáng lập dòng Tên này đang trên đà danh vọng và quyền thế của một sĩ quan trong quân đội Tây Ban Nha thì một trái đạn đại bác đã làm ngài bị thương ở chân. Trong thời kỳ dưỡng bệnh, vì không có sẵn các cuốn tiểu thuyết để giết thời giờ nên ngài đã biết đến cuộc đời Ðức Kitô và hạnh các thánh. Lương tâm ngài bị đánh động, và từ đó khởi đầu một hành trình lâu dài và đau khổ khi trở về với Ðức Kitô.

       Inigo Lopez de Loyola sinh năm 1491 tại Loyola, Guipuzcoa, Tây Ban Nha trong một gia đình quý tộc. Vào năm 1522, được thấy Mẹ Thiên Chúa trong một thị kiến, ngài thực hiện cuộc hành hương đến đan viện dòng Biển Ðức ở Monserrat. Ở đây, ngài xưng thú tội lỗi, mặc áo nhặm và đặt thanh gươm trên bàn thờ Ðức Maria thề hứa sẽ trở nên một hiệp sĩ cho Ðức Mẹ.

       Trong khoảng thời gian một năm, ngài sống gần Manresa, có khi thì ở với các tu sĩ Ða Minh, có khi thì ở nhà tế bần, nhưng lâu nhất là sống trong một cái hang ở trên đồi để cầu nguyện. Chính trong thời gian hoán cải này ngài bắt đầu một công trình mà sau đó rất nổi tiếng, cuốn Những Thao Luyện Tâm Linh.

       Vào năm 1523, ngài rời Manresa đến Rôma và Giêrusalem, là nơi ngài sống nhờ việc khất thực và hăng say hoán cải người Hồi Giáo ở đây. Vì lo sợ cho tính mạng của ngài các tu sĩ Phanxicô khuyên ngài trở về Barcelona. Tin tưởng rằng kiến thức uyên bác sẽ giúp đỡ tha nhân cách thiết thực hơn, ngài dành 11 năm tiếp đó trong việc học hành ở Alcalá, Salamanca và Balê.

       Vào năm 1534, lúc ấy đã 43 tuổi, cùng với sáu người khác (trong đó có Thánh Phanxicô Xaviê) ngài thề sống khó nghèo và khiết tịnh và tất cả cùng đến Ðất Thánh. Các ngài thề quyết rằng nếu không thể ở đây thì sẽ dâng mình cho công việc tông đồ của đức giáo hoàng. Và đó là điều đã xảy ra. Bốn năm sau, ngày 15 tháng 8 năm 1534  Ignatio hợp thức hóa tổ chức của ngài. Tu Hội của Ðức Giêsu (The Constitutions of the Society of Jesus / Dòng Tên) được Ðức Giáo Hoàng Phaolô III chuẩn nhận năm 1541 và Ignatio được bầu làm bề trên đầu tiên.

       Trong khi các bạn đồng hành được đức giáo hoàng sai đi truyền giáo thì  Ignatio vẫn ở Rôma, chăm sóc tổ chức mới của ngài nhưng vẫn dành thời giờ để thành lập các nhà cho cô nhi, cho người tân tòng. Ngài thành lập Trường Roma (sau này là Ðại Học Grêgôriô), với mục đích là trường này sẽ trở nên khuôn mẫu cho các trường của Tu Hội. Ngày nay Tu Hội của Đức Giêsu (Dòng Tên) phát triển trên 500 đại học với 30,000 thành viên khắp nơi trên thế giới và mỗi năm dạy trên 200,000 học sinh.

       Thánh Y Nhã đích thực là một vị thần bí. Ngài tập trung vào đời sống tâm linh dựa trên các nền tảng thiết yếu của Kitô Giáo – Thiên Chúa Ba Ngôi, Ðức Kitô, Bí Tích Thánh Thể. Linh đạo của ngài được tỏ lộ trong châm ngôn của Dòng Tên, ad majorem Dei gloriam – “để Thiên Chúa được vinh danh hơn.” Trong quan niệm của ngài, sự tuân phục là một đức tính nổi bật nhằm đảm bảo cho thành quả và sự năng động của tu hội. Mọi hoạt động phải được hướng dẫn bởi lòng yêu mến Giáo Hội thực sự và tuân phục Ðức Thánh Cha vô điều kiện, vì lý do đó, mọi thành viên của dòng phải khấn lời thề thứ tư, đó là phải đến bất cứ đâu mà đức giáo hoàng đã sai đi vì sự cứu rỗi các linh hồn.

       Trong những năm tháng cuối đời, ngài phải chịu nhiều đau khổ vì bệnh tật và qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1556 tại Rome, nước Ý. Đức Giáo Hoàng Pius V đã tôn phong Chân Phước cho Ignatio ở Loyola ngày 27 tháng 7 năm 1609 và Đức Giáo Hoàng Gregory XV đã tôn phong hiển thánh cho Ignatio ở Loyola ngày 12 tháng 3 năm 1622. (Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Patron Saints & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saint, Vatican Blesseds và Santi-Beati-Testimoni)

Sau đây là những câu nói của Thánh Ignatiô Loyola. Mời Bạn suy niệm những lời này để nâng cao tâm trí và linh hồn đến Chúa.

❦ Việc làm đầu tiên là tín thác nơi Chúa. Hãy cố gắng làm như Chúa đang làm mọi sự và bạn không làm điều gì cả.

❦ Ai muốn làm cho những người khác tốt hơn thì vô ích, trừ khi người ấy bắt đầu từ chính mình trước.  

❦ Từ thiện và tử tế mà không có chân lý thì là sự giả dối và hư vô. 

❦ Sao bạn lại để mọi sự sang một bên cho tháng sau hay năm sau? Tại sao, tại sao bạn lại tin rằng bạn sẽ sống lâu như thế?

❦ Không nên nói hay làm điều gì mà không tự hỏi xem những điều ấy có làm Chúa vui lòng không, có ích lợi cho bạn và có làm ích cho người khác không?

❦ Nếu Chúa muốn cho bạn đau khổ nhiều, đó là dấu hiệu mà Chúa muốn bạn trở nên một vị thánh vĩ đại.

❦ Cẩn thận khi chê trách hành động của người khác. Hãy quan tâm đến ý nghĩ của người khác, có khi họ thành thật và vô tội, dù cho hành động của họ có vẻ xấu xa khi ta nhìn vào. 

(Nguồn HĐ đaminh)

Câu nói nào đánh động Bạn nhất, tại sao?

Lạy Thánh I Nhã, xin Cha Thánh cầu bầu cho con được ơn hiền lành, khiêm nhường và khôn ngoan. Amen.

From: Do Dzung

*****

NHẠC THÁNH CA VPV || CON ĐỪNG SỢ || TCVPV

Chính phủ Trump cắt trợ cấp Medicare Part D, giới cao niên phải trả thêm thế nào?

Ba’o Nguoi-Viet

July 29, 2026

Mai Phi Long/Người-Việt (tổng hợp)

WASHINGTON, DC (NV) – Chính quyền Tổng Thống Donald Trump hôm 28 Tháng Bảy quyết định sau năm 2026 sẽ chấm dứt chương trình trợ cấp tạm thời nhằm giữ ổn định phí bảo hiểm thuốc theo toa Medicare Part D.

Hãng thông tấn Reuters cho hay, Cơ Quan Dịch Vụ Medicare và Medicaid, gọi tắt là CMS, cho rằng các hãng bảo hiểm đã có đủ kinh nghiệm để tự định giá cho năm 2027 mà không cần khoản hỗ trợ đặc biệt. CMS dự báo phí bảo hiểm hằng tháng của các chương trình Part D tăng chưa tới $10 đối với phần lớn người tham gia. Tuy nhiên, đây chỉ là dự báo chung, không phải mức trần bắt buộc cho từng chương trình.

Bác Sĩ Mehmet Oz (trái), giám đốc Cơ Quan Quản Lý Medicare & Medicaid,và Tổng Thống Donald Trump tại Tòa Bạch Ốc hồi Tháng Mười, 2025. (Hình: Saul Loeb/AFP via Getty Images)

Nhiều người hiểu Medicare đơn giản là một chương trình do chính phủ trực tiếp cung cấp và thanh toán toàn bộ chi phí y tế cho mọi người từ 65 tuổi trở lên. Thực tế, Medicare không miễn phí mà là một hệ thống bảo hiểm chung, được tài trợ bằng thuế Medicare trên tiền lương, ngân sách liên bang, phí bảo hiểm hàng tháng và những khoản người thụ hưởng phải tự trả như deductible, copay hoặc coinsurance. 

Đối với Medicare Part D, CMS dùng tiền ngân sách ký hợp đồng và trợ cấp các hãng bảo hiểm tư nhân. Người thụ hưởng trả thêm phí bảo hiểm hàng tháng cho chương trình mình chọn. Như vậy, phía sau một toa thuốc là cả một chuỗi tiền đi từ người đóng thuế, ngân sách liên bang và người thụ hưởng sang hãng bảo hiểm, nhà thuốc, đơn vị trung gian và cuối cùng là hãng sản xuất thuốc.

Khi chính phủ rút trợ cấp, chi phí không biến mất mà được phân chia lại giữa ngân sách, hãng bảo hiểm và người cao niên.

Từ tiền thuế đến quyền lợi Medicare

Medicare Part D là bảo hiểm thuốc theo toa, được tài trợ từ phí của người tham gia, ngân sách liên bang, một số khoản đóng góp của tiểu bang và phụ phí của người có thu nhập cao.

Chính phủ không trực tiếp điều hành phần lớn các chương trình Part D. CMS ký hợp đồng với hãng bảo hiểm tư nhân để họ cung cấp bảo hiểm thuốc cho người cao niên.

Mỗi năm, hãng bảo hiểm ước tính khách hàng sẽ sử dụng bao nhiêu thuốc, số người mắc bệnh mãn tính, chi phí điều hành và mức rủi ro. Hãng sau đó gửi CMS một mức giá đề nghị, gọi là “bid.” CMS xem xét các mức giá để tính khoản trợ cấp của chính phủ và phần phí bảo hiểm người thụ hưởng phải trả.

Reuters cho biết mức đề nghị trung bình toàn quốc dùng trong công thức trợ cấp năm 2027 là $296.05 mỗi tháng. Đây không phải hóa đơn của từng người hay khoản CMS trả cố định cho mỗi người, mà là mức giá trung bình được dùng làm chuẩn để tính trợ cấp.

CMS cũng ấn định mức phí căn bản dùng để khởi đầu công thức tính phí Part D năm 2027 là $41.33 mỗi tháng. Đây không phải số tiền mọi người đều phải trả. Phí thực tế có thể cao hoặc thấp hơn tùy mức giá của từng chương trình, nơi cư trú, quyền lợi kèm theo và tình trạng trợ cấp của từng người.

Chương trình ổn định phí Part D hoạt động ra sao?

Đạo Luật Giảm Lạm Phát được cựu Tổng Thống Joe Biden ký ban hành ngày 16 Tháng Tám, 2022. Trong lĩnh vực y tế, luật này chủ yếu nhằm giảm gánh nặng tiền thuốc cho người thụ hưởng Medicare qua việc giới hạn số tiền người tham gia Part D phải tự trả, bảo vệ họ khi chi phí thuốc lên rất cao, giới hạn giá insulin và miễn khoản cùng trả cho một số vaccine.

Để cung cấp các quyền lợi đó, đạo luật thay đổi cách phân chia hóa đơn thuốc. Người bệnh được bảo vệ nhiều hơn, còn hãng bảo hiểm Part D và hãng dược phẩm phải chịu trách nhiệm lớn hơn. Nói đơn giản, chính quyền Biden muốn chuyển một phần gánh nặng từ túi tiền người cao niên sang hãng bảo hiểm, hãng dược phẩm và ngân sách Medicare.

Tuy nhiên, hãng bảo hiểm có thể đưa phần chi phí mới vào mức giá cho năm kế tiếp, tăng phí, siết danh sách thuốc hoặc rút khỏi những thị trường ít lợi nhuận. Vì vậy, năm 2024, chính quyền Biden lập Chương Trình Thí Điểm Ổn Định Phí Medicare Part D, bắt đầu áp dụng năm 2025. Mục đích là ngăn phí tăng đột ngột, đồng thời cho hãng bảo hiểm thời gian thích nghi và thu thập dữ kiện để định giá chính xác hơn.

Theo chương trình, chính phủ giảm $15 trong phần phí bảo hiểm căn bản của các chương trình Part D độc lập tham gia, không cho tổng phí của một chương trình tăng quá $35 so với năm trước và chia sẻ thêm rủi ro nếu chi phí thuốc thực tế vượt xa dự đoán.

Chương trình phục vụ cả phía người cao niên tránh bị tăng phí quá nhanh, còn hãng bảo hiểm không phải tự gánh toàn bộ rủi ro chuyển đổi.

Thí dụ, nếu hãng tính cần thu $60 mỗi tháng nhưng nhờ chương trình này giúp giảm $15, người cao niên có thể chỉ trả khoảng $45. Ngân sách liên bang bù phần còn lại cho hãng.

Dưới thời chính phủ Tổng Thống Trump

Khi chính quyền Trump tiếp quản chương trình trong năm 2025, CMS bắt đầu rút dần hỗ trợ. Đối với năm 2026, khoản liên bang giúp giảm phí bảo hiểm bị hạ từ $15 xuống $10, giới hạn tăng phí được nới từ $35 lên $50 và cơ chế chia sẻ thêm rủi ro với hãng bảo hiểm bị loại bỏ. CMS nói các hãng đã có thêm kinh nghiệm và Part D cần trở lại “điều kiện thị trường thông thường.”

Nay chính quyền Trump quyết định chấm dứt toàn bộ chương trình sau năm 2026. Bác Sĩ Mehmet Oz, giám đốc CMS, gọi khoản hỗ trợ này là một “gói cứu trợ” không còn cần thiết và nói phần lớn người tham gia chỉ bị tăng phí Part D chưa tới $10 mỗi tháng. Nhưng con số đó không bảo đảm mức tăng của từng chương trình.

Quy định mới này cho thấy trọng tâm chính sách thay đổi. Đó là chính quyền Tổng Thống Trump giảm trợ cấp liên bang và để thị trường tự định giá, thay vì dùng ngân sách bảo vệ người cao niên trước biến động lệ phí bảo hiểm.

Trong hệ thống này, hãng bảo hiểm có nhiều cách bảo vệ lợi nhuận. Họ có thể tăng phí, chuyển thuốc sang bậc có copay cao hơn, thay copay cố định bằng coinsurance, tăng deductible trong giới hạn luật pháp hoặc yêu cầu bác sĩ xin phép trước.

Một số hãng có thể áp dụng cách buộc bệnh nhân thử thuốc rẻ hơn trước khi được chấp thuận thuốc đắt tiền. Họ cũng có thể thu hẹp danh sách nhà thuốc ưu tiên, khiến người cao niên phải đổi nơi mua thuốc hoặc trả nhiều hơn.

Các hãng bảo hiểm còn có thể thương lượng mạnh hơn với công ty dược phẩm và công ty quản trị quyền lợi thuốc để đòi bồi hoàn cao hơn. Những chương trình ít lợi nhuận có thể bị đóng, hợp nhất hoặc ngừng bán tại một số khu vực.

Đây mới là những phản ứng có thể dự đoán. CMS dự kiến công bố phí và chi tiết cuối cùng trong Tháng Chín.

Khi chương trình kết thúc, khoản $10 chính phủ hỗ trợ trong năm 2026 sẽ không còn được tự động bù lại.

Tác động đến các nhóm cao niên trong Medicare

  1. Người có bệnh nặng hoặc sử dụng nhiều thuốc

Đây là nhóm có rủi ro cao nhất. Với họ, mức tăng $5 hoặc $10 mỗi tháng chưa chắc là vấn đề lớn nhất.

Quan trọng hơn là thuốc còn nằm trong danh sách được bảo hiểm hay không, bị chuyển sang bậc nào, copay tăng bao nhiêu, có cần xin phép trước hay nhà thuốc quen thuộc còn được ưu đãi hay không.

Người mắc ung thư, tiểu đường, bệnh tim, bệnh phổi hoặc bệnh tự miễn không nên chọn chương trình chỉ dựa trên phí hằng tháng. Một chương trình rẻ hơn $15 nhưng không bảo hiểm tốt cho một loại thuốc cần thiết có thể làm tổng chi phí cả năm tăng hàng trăm hoặc hàng ngàn dollar.

  1. Người có thu nhập cao

Người có thu nhập cao thường phải trả phí Part D cộng với phụ phí dựa trên thu nhập, gọi là IRMAA. Nhóm này không đủ điều kiện nhận Extra Help và phải tự gánh phần tăng.

Họ vừa đóng thuế nhiều hơn, vừa trả phí bảo hiểm và IRMAA. Người vừa nghỉ hưu hoặc bị giảm thu nhập nên kiểm tra hồ sơ thuế cũ và có thể yêu cầu Sở An Sinh Xã Hội xét lại IRMAA.

  1. Người có thu nhập thấp

Người có thu nhập thấp dễ bị tổn thương trước bất kỳ mức tăng nào, nhưng có nhiều lớp bảo vệ hơn.

Extra Help có thể hỗ trợ phí Part D, deductible và copay. Người có cả Medicare và Medicaid, tại California là Medi-Cal, hoặc đang được Medicare Savings Program hỗ trợ thường có thể tự động đủ điều kiện.

Extra Help, Medi-Cal và Medicare Savings Programs không bị chấm dứt cùng chương trình ổn định phí. Tuy nhiên, các chương trình này không thay thế hoàn toàn khoản trợ cấp đối với mọi người cao niên.

  1. Nhóm thu nhập trung bình dễ bị bỏ quên

Người có thu nhập cao có thể trả thêm; người có thu nhập rất thấp có thể được Extra Help. Nhóm dễ rơi vào khoảng trống nhất là người có thu nhập trung bình, sống chủ yếu bằng Social Security nhưng vượt giới hạn trợ cấp.

Họ đã đóng thuế nhiều thập niên, vẫn trả phí Part B và Part D, nhưng phải tự chịu phần tăng phí, copay và deductible. Thêm $10 mỗi tháng là $120 một năm; nếu thuốc bị chuyển bậc hoặc nhà thuốc thay đổi, tổng chi phí có thể tăng nhiều hơn.

Ai thật sự gánh chi phí?

Trong hệ thống này, người cao niên vừa là người thụ hưởng vừa là người đóng thuế.

Khi chính phủ trợ cấp, tiền đến từ thuế và ngân sách. Khi chính phủ rút trợ cấp, người cao niên có thể phải trả thêm qua phí bảo hiểm hoặc chi phí thuốc. Câu hỏi chính không phải chi phí có biến mất hay không, mà là nó được chuyển sang ai.

Chính phủ cắt bớt chi tiêu nhân danh tiết kiệm ngân sách. Hãng bảo hiểm có thể bảo vệ lợi nhuận bằng cách tăng phí hoặc siết quyền lợi. Hãng dược phẩm có thể tiếp tục giữ giá thuốc nếu không bị thương lượng giảm xuống. Người cao niên lại là phía ít khả năng kiểm soát nhất, dù đã góp phần tài trợ hệ thống bằng tiền thuế nhiều năm.

Chính quyền Trump gọi khoản trợ giúp giảm phí là một “gói cứu trợ” không còn cần thiết. Nhưng với người sống bằng thu nhập cố định, khoản trợ cấp là tấm đệm trước chi phí tăng quá nhanh.

Khi tấm đệm bị rút, chi phí không biến mất mà chỉ chuyển từ ngân sách liên bang sang nơi khác. Và nơi cuối cùng thường là túi tiền của những người cao niên đã đóng thuế suốt phần lớn cuộc đời. [kn]


 

MẤT ĐẦU – KHÔNG MẤT LỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy!”.

“Họ có thể giết tôi, nhưng họ không thể giết được những ý tưởng của tôi. Họ có thể nghiền nát thân xác tôi, nhưng không thể nghiền nát tinh thần tôi!” – Bhagat Singh.

Kính thưa Anh Chị em,

Người ta có thể giết sứ giả, nhưng không thể giết sứ điệp; có thể lấy đi một cái đầu, nhưng không thể lấy đi một lời thật. Tin Mừng hôm nay kể câu chuyện về một người ‘mất đầu – không mất lời’.

“Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy”. Bản Hy Lạp viết ēgerthē – “trỗi dậy”. Matthêu sẽ dùng động từ này để loan báo biến cố Phục Sinh. Hêrôđê tưởng Gioan đã trỗi dậy, nhưng điều thật sự trỗi dậy không là người nói, mà là sự thật người ấy đã nói. Lương tâm vua không thể chôn vùi tiếng nói ấy. Ngôn sứ có thể ngã xuống, nhưng Lời Thiên Chúa vẫn đứng vững và tiếp tục cất tiếng qua những ngôn sứ khác. “Lời chân lý mang trong mình chính uy quyền của nó!” – Justin Martyr.

Sự thật ấy mang một nghịch lý: càng bị khước từ, lời càng bộc lộ sức sống; càng bị bịt miệng, lời càng vang xa. Người ta có thể dập tắt tiếng nói của người được sai đi, nhưng không thể xoá bỏ sự thật người ấy đã loan báo. Quyền lực có thể buộc một chứng nhân im tiếng, nhưng không thể làm cho Lời Thiên Chúa câm lặng. Bởi lẽ, Lời không sống nhờ sức mạnh của người loan báo, nhưng nhờ quyền năng của Đấng đã phán dạy. Vì thế, khi một chứng nhân ngã xuống, Ngài sẽ chọn một người khác để trao Lời.

Gioan mất đầu không là một biến cố cá biệt. Trước Gioan, Giêrêmia cũng bị kết án vì đã nói nhân danh Thiên Chúa: “Các người cứ xử với tôi thế nào như các người coi là tốt đẹp và chính đáng!” – bài đọc một. Bởi thế, Thánh Vịnh đáp ca mới cất lên: “Lạy Chúa, xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày!”. Thế gian đáp lại chứng nhân bằng bản án; Thiên Chúa đáp lại họ bằng tín nghĩa. Đời sống của người môn đệ trung kiên chính là bằng chứng hùng hồn rằng gươm giáo hay bạo lực chưa bao giờ thắng nổi Ngôi Lời.

Phần chúng ta, điều đáng sợ không phải là thế gian khước từ Tin Mừng, nhưng là tâm hồn chúng ta không còn là nơi Lời cư ngụ. Bởi lẽ, điều làm cho Lời tiếp tục sống không phải là lời nói, nhưng là sự vâng phục của một con người. Chính ở đó, mỗi Kitô hữu được mời gọi trở thành nơi Lời dựng lều.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ mang Lời cho thế gian; Ngài là Ngôi Lời. Điều Thiên Chúa nói sau cùng với nhân loại không còn là một giáo huấn, nhưng là một Con Người. Thập giá là nơi Ngôi Lời bị khước từ; Phục Sinh là nơi Ngôi Lời cất tiếng sau hết. Kết hợp với Đức Kitô là để đời mình trở thành tiếng nói của Ngài giữa thế gian. Vì thế, nơi Đức Kitô, ‘mất đầu – không mất lời’ không còn là một bi kịch, nhưng là tiếng nói sau cùng của một tình yêu mạnh hơn sự chết.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho lòng con đủ thinh lặng để thấm nhuần Lời; đủ trung tín để gìn giữ Lời; và đủ yêu mến để đời con trở thành chứng nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****

Lời Chúa Thứ Bảy Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

Vua Hê-rô-đê sai người vào ngục chặt đầu ông Gio-an. Môn đệ ông đi báo tin cho Đức Giê-su.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, tiểu vương Hê-rô-đê nghe danh tiếng Đức Giê-su, 2 thì nói với những kẻ hầu cận rằng : “Đó chính là ông Gio-an Tẩy Giả ; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ.”

3 Số là vua Hê-rô-đê đã bắt ông Gio-an, xiềng ông lại, và tống ngục vì chuyện bà Hê-rô-đi-a, vợ ông Phi-líp-phê, anh của nhà vua. 4 Ông Gio-an có nói với vua : “Ngài không được phép lấy bà ấy.” 5 Vua muốn giết ông Gio-an, nhưng lại sợ dân chúng, vì họ coi ông là ngôn sứ. 6 Vậy, nhân ngày sinh nhật của vua Hê-rô-đê, con gái bà Hê-rô-đi-a đã biểu diễn một điệu vũ trước mặt quan khách, làm cho nhà vua vui thích. 7 Bởi đó, vua thề là hễ cô xin gì, vua cũng ban cho. 8 Nghe lời mẹ xui bảo, cô thưa rằng : “Xin ngài ban cho con, ngay tại chỗ, cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả đặt trên mâm.” 9 Nhà vua lấy làm buồn, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho cô. 10 Vua sai người vào ngục chặt đầu ông Gio-an. 11 Người ta đặt đầu ông trên mâm, mang về trao cho cô, và cô ta đem đến cho mẹ. 12 Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem đi mai táng, rồi đi báo cho Đức Giê-su.


 

Ả Rập Xê Út tấn công lực lượng thân Iran tại Irak, chiến tranh Trung Đông thêm khó lường (RFI)

(RFI)

Đêm 28 rạng sáng ngày 29/07/2026, lần đầu tiên kể từ đầu cuộc chiến Hoa Kỳ chống Iran, Ả Rập Xê Út chính thức thông báo tham gia chiến dịch của Mỹ chống lại các lực lượng thân Iran tại Irak. Dù quy mô chiến dịch này được xem là hạn chế, và chính quyền Riyadh ngay lập tức tuyên bố muốn xuống thang, hành động nói trên vẫn góp phần khiến viễn cảnh xung đột Vùng Vịnh ngày càng thêm khó lường.

Đăng ngày: 30/07/2026

Người dân đến xem các tòa nhà bị hư hại do một vụ không kích vào căn cứ của một lực lượng thân Iran ở Mosul, Irak, ngày 29/07/2026.

Người dân đến xem các tòa nhà bị hư hại do một vụ không kích vào căn cứ của một lực lượng thân Iran ở Mosul, Irak, ngày 29/07/2026. © AP Photo/Farid Abdulwahed

Trọng Thành

Ít nhất 20 thành viên của lực lượng dân quân Irak PMF (Popular Mobilisation Forces) thiệt mạng và 32 người bị thương trong đợt oanh kích của Mỹ và Ả Rập Xê Út tại miền đông Irak. Lý do chính thức mà phía Riyadh đưa ra là để trả đũa các cuộc tấn công bằng drone của các nhóm vũ trang thân Iran thuộc lực lượng PMF trong những ngày gần đây.

Kể từ ngày 28/02/2026 cho đến đợt oanh kích chưa có tiền lệ này, bất chấp nhiều cuộc tấn công của Iran và các lực lượng thân Iran nhắm vào các căn cứ của Mỹ cũng như nhiều cơ sở khác tại Ả Rập Xê Út, chính quyền Riyadh đã không phản công. Theo giới quan sát, lựa chọn của Ả Rập Xê Út phần nào đã giúp ngọn lửa chiến tranh không lan rộng thêm. Chính vì vậy, quyết định nói trên của Riyadh là một bước ngoặt đáng chú ý.

Trong khi chính quyền Mỹ cho biết đã báo trước với Bagdad về đợt oanh kích, chính quyền Irak bác bỏ và cực lực lên án “hành động vi phạm trắng trợn chủ quyền của Irak”. Một điểm đáng chú ý khác là trong cùng ngày, Iran đã chủ động tấn công trước vào các căn cứ quân sự của Mỹ tại Jordanie, thay vì chỉ phản công như thông lệ. Cuộc oanh kích tại Jordanie khiến Mỹ tấn công trở lại lãnh thổ Iran, chấm dứt những ngày chiến sự tạm ngưng.

Irak có nguy cơ trở thành lò lửa mới

Lực lượng dân quân Irak PMF, tiếng Ả Rập gọi là Hachd al-Chaabi, là một liên minh vũ trang bao gồm nhiều nhóm vũ trang Hồi giáo dòng Shia, được Teheran hậu thuẫn, đã đóng vai trò lớn trong cuộc chiến chống tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi Giáo (Daech), sau khi Daech chiếm lĩnh nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn của Irak năm 2014. Năm 2016, chính quyền Irak công nhận PMF là “lực lượng quân sự độc lập” trực thuộc Quân đội Irak, tuy vậy nhiều phe phái thân Iran vẫn duy trì mức độ tự chủ cao.

Về nguyên tắc, theo AP, chính phủ Irak cam kết sẽ giải giáp các nhóm vũ trang nằm ngoài Nhà nước. Theo thủ tướng Al-Zaidi, các lực lượng này sẽ không còn lý do tục tồn tại sau ngày 30/09, khi Mỹ rút quân khỏi Irak. Việc Ả Rập Xê Út tấn công lãnh thổ Irak khiến chuyến thăm Riyadh của thủ tướng Al-Zaidi, dự kiến hôm nay 30/07, bị đình chỉ vô thời hạn. Hội đồng An ninh Quốc gia Irak lên án cuộc tấn công của Mỹ và Ả Rập Xê Út, cho rằng hành động này làm suy yếu Nhà nước Irak, trong bối cảnh chính phủ Baghdad đang nỗ lực điều tra những lo ngại của Ả Rập Xê Út về các cuộc tấn công xuất phát từ lãnh thổ Irak.

Thế lực của các nhóm dân quân thân Iran tại Irak có thể phần nào so sánh với lực lượng Hezbollah tại Liban. Sau cuộc tấn công nói trên, Harakat Hezbollah al-Nujaba, một thành viên thân Iran của lực lượng dân quân PMF, đe dọa sẽ trả đũa Ả Rập Xê Út. Chính quyền Irak có nguy cơ khó giữ được thế cân bằng mong manh lâu nay giữa Mỹ và Iran.

Hành động chưa có tiền lệ của Ả Rập Xê Út diễn ra ngay sau cuộc gặp giữa thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và tổng thống Mỹ Donald Trump tại Nhà Trắng ngày 28/07. Theo trang mạng thân cận chính phủ Mỹ Axios, hôm qua, 29/07, bộ trưởng Quốc Phòng Ả Rập Xê Út Khaled Ben Salman khẳng định muốn xuống thang căng thẳng với Teheran, đồng thời tiết lộ chính thủ tướng Israel đã thúc đẩy xung đột leo thang.


 

Chiếc va-li 100.000 mỹ kim và sáu tháng đời người dưới gầm cầu Los Angeles.

Đoàn Xuân Thu 

Chiếc va-li 100.000 mỹ kim và sáu tháng đời người dưới gầm cầu Los Angeles.

Giữa thành phố Los Angeles hoa lệ của tiểu bang California, nơi những đại lộ thênh thang chạy qua những khu phố giàu sang, nơi Hollywood mỗi ngày sản xuất những giấc mơ phù hoa cho hàng triệu người trên thế giới, vẫn tồn tại một thế giới khác — thế giới của những con người không nhà cửa, sống lặng lẽ bên lề xã hội. Dưới những gầm cầu xa lộ, trong những khu vực bỏ hoang, bên cạnh những thùng rác của các khu thương mại sang trọng, có những kiếp người mà phần đông chúng ta chỉ nhìn thấy trong vài giây ngắn ngủi rồi vội vàng quay đi.

Năm 2005, nhà viết kịch bản điện ảnh Wayne Powers, trong một lần đi qua đường phố Los Angeles, gặp một người vô gia cư xin tiền. Ông chỉ cho người đàn ông ấy vài Mỹ kim rồi tiếp tục bước đi. Nhưng cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đó lại không rời khỏi tâm trí ông.

Ông tự hỏi: “Nếu thay vì cho người ấy vài đồng bạc lẻ, tôi trao cho ông ta cả một gia tài thì chuyện gì sẽ xảy ra? Số tiền ấy có thể thay đổi cuộc đời ông ta hay ngược lại, nó sẽ hủy hoại ông ta?

Câu hỏi ấy dần trở thành một ám ảnh đối với Wayne Powers. Ông đem ý tưởng này trình bày với đài truyền hình Showtime: chọn một người vô gia cư, trao cho họ 100.000 Mỹ kim tiền mặt, rồi quay phim lại toàn bộ hành trình để xem đồng tiền có thể giúp một con người thoát khỏi cảnh khốn cùng hay không.

Showtime đồng ý thực hiện cuộc thử nghiệm đặc biệt này, nhưng đặt ra hai điều kiện quan trọng: người tham dự phải vượt qua cuộc kiểm tra tâm thần và thử nghiệm ma túy. Họ không muốn chọn một người đang mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng hoặc đang chìm trong cơn nghiện không kiểm soát. Mục đích của chương trình là tìm hiểu xem một người lâm vào cảnh nghèo khó vì hoàn cảnh có thể thay đổi cuộc đời ra sao khi bất ngờ nhận được một cơ hội lớn.

Trong nhiều tuần lễ, Wayne Powers đi khắp các khu vực dành cho người vô gia cư ở Los Angeles để trò chuyện, tìm kiếm nhân vật thích hợp cho cuốn phim tài liệu mang tên “Reversal of Fortune” (Sự đảo ngược số phận).

Ông cần một người vừa đủ tỉnh táo để hiểu cuộc thử nghiệm, vừa đủ cởi mở để máy quay có thể ghi lại cuộc sống thật, nhưng đồng thời cũng phải là người mà 100.000 Mỹ kim thật sự có ý nghĩa như một chiếc phao cứu sinh.

Cuối cùng, ông gặp được Ted Rodrigue. Ted lúc ấy 45 tuổi. Ông đã sống cảnh không nhà cửa suốt khoảng 20 năm. Nơi trú ngụ của ông là dưới một gầm cầu xa lộ ở Los Angeles. Những tài sản ít ỏi của ông được cất trong một cái hốc nhỏ dưới chân cầu — vài bộ quần áo, vài vật dụng cá nhân và những thứ cần thiết cho cuộc sống qua ngày.

Mỗi ngày của Ted trôi qua theo một nhịp điệu quen thuộc: ông đi nhặt lon nước ngọt, chai lọ bỏ đi rồi đem đến trung tâm tái chế để đổi lấy tiền. Một ngày khá may mắn, ông kiếm được từ 20 đến 35 Mỹ kim. Số tiền ấy dùng để mua thức ăn, thuốc lá và bia.

Người bạn thân duy nhất của Ted là Mike, một thanh niên 18 tuổi làm việc tại trung tâm tái chế nơi Ted thường mang lon chai đến. Đối với Ted, Mike là người hiếm hoi vẫn đối xử với ông như một con người bình thường, không khinh miệt, không xa lánh.

Tài sản quý giá nhất của Ted là một chiếc xe đạp cũ. Mỗi tuần ông đem xe ra tiệm rửa xe để lau chùi cẩn thận. Điều nghịch lý là ông chăm sóc chiếc xe ấy rất kỹ, dù bản thân ông đã nhiều tháng không được tắm rửa đàng hoàng.

Qua những cuộc trò chuyện trước máy quay, Wayne Powers biết được câu chuyện phía sau cuộc đời Ted. Tuổi thơ của ông đầy bất hạnh với một người mẹ nghiện rượu. Ông bắt đầu uống rượu từ năm 13 tuổi. Những năm tuổi trẻ trôi qua trong vòng xoáy tội phạm và tù tội. Khi ra tù, Ted không có gia đình nâng đỡ, không có nghề nghiệp, không có một mạng lưới xã hội nào để giúp ông trở lại đời sống bình thường.

Hai mươi năm sống trên đường phố đã biến sự sinh tồn thành thói quen.

Ted từng nói trước ống kính: “Nếu có một điều ước, tôi chỉ muốn được sống trong xã hội như một người dân bình thường.”

Ông không biết rằng cuộc đời mình sắp bước sang một chương mới.

Một buổi sáng nọ, trong lúc đang bới tìm lon chai trong đống rác quen thuộc, Ted phát hiện một chiếc va-li cũ kỹ phủ đầy bụi. Ông tò mò lau sạch rồi mở ra.

Bên trong là những bó tiền mặt. Những tờ giấy bạc 20 Mỹ kim, 50 Mỹ kim xếp đầy chiếc va-li. Trên cùng là một mảnh giấy ghi dòng chữ: “Điều gì sẽ xảy ra nếu một người vô gia cư được trao 100.000 Mỹ kim?”

Ted đứng sững người. Ông không tin vào mắt mình. Nước mắt chảy xuống trên khuôn mặt người đàn ông đã quen với những ngày tháng lạnh lẽo dưới gầm cầu.

Máy quay ghi lại trọn vẹn khoảnh khắc ấy: sự kinh ngạc, niềm vui, sự hoài nghi và cảm giác như một phép lạ vừa xảy đến.

Những ngày đầu tiên, Ted tỏ ra khá thận trọng. Ông mua một chiếc xe đạp mới. Ông thuê một phòng khách sạn — lần đầu tiên sau nhiều năm được ngủ trong một căn phòng có mái che. Ông đưa người bạn trẻ Mike đi chơi công viên giải trí. Để cảm ơn người duy nhất từng giúp đỡ mình, Ted mua tặng Mike một chiếc xe hơi cũ.

Những nhà sản xuất chương trình cũng cố gắng giúp Ted chuẩn bị cho tương lai. Họ giới thiệu ông với một chuyên viên hỗ trợ người vô gia cư và một cố vấn tài chính. Họ khuyên ông nên lập ngân sách, tìm nơi ở ổn định, học nghề và đầu tư số tiền để bảo đảm cuộc sống lâu dài.

Ted lắng nghe, gật đầu, nhưng rồi ông làm theo ý mình. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, tin tức lan truyền trong cộng đồng người vô gia cư rằng Ted đang có tiền. Những người trước đây từng tránh xa ông nay tìm đến làm quen. Những người từng không muốn tiếp xúc vì mùi rượu và sự nhếch nhác của ông nay lại tỏ ra thân thiện.

Ted gọi điện cho mẹ và các chị em ở Sacramento. Trong nhiều năm, gia đình gần như đã xa lánh ông vì cuộc sống lang thang. Nhưng khi biết Ted có 100.000 Mỹ kim, họ bắt đầu nghe điện thoại của ông trở lại. Mẹ ông còn mời ông về sống chung.

Ted rời Los Angeles đến Sacramento, nhưng từ đó mọi chuyện bắt đầu đi xuống.

Ông uống rượu mỗi tối tại các quán bar. Tiền bạc ra đi với tốc độ chóng mặt. Có thời điểm ông tiêu khoảng 10.000 Mỹ kim mỗi tuần. Ông mua một chiếc xe Dodge Ram mới giá 35.000 Mỹ kim, thuê căn hộ, mua sắm đồ đạc và bắt đầu cuộc sống xa hoa mà trước đây ông chưa từng có.

Ông cùng lúc quen nhiều phụ nữ, mua cho người này những bữa ăn đắt tiền, tặng người kia một chiếc xe tải.

Các chị em của Ted cố gắng can ngăn. Họ khuyên ông hãy tiết kiệm, tìm việc làm và nghĩ đến tương lai. Nhưng Ted cho rằng họ chỉ muốn kiểm soát mình vì tiền bạc. Ông không còn tin ai.

Sáu tháng sau, bộ phim hoàn tất. Ted từ chối cho biết ông còn lại bao nhiêu tiền. Gia đình ông ước tính số tiền còn chưa tới 5.000 Mỹ kim.

Tháng 12 năm 2006, Ted cùng Wayne Powers xuất hiện trong chương trình truyền hình nổi tiếng “The Oprah Winfrey Show” để giới thiệu bộ phim.

Oprah hỏi thẳng: “Ông còn lại bao nhiêu trong số 100.000 Mỹ kim ấy?”

Ted trả lời ngắn gọn: “Không còn gì cả.”

“Bây giờ ông đang sống ở đâu?”

“Tôi lại vô gia cư.”

Khán giả im lặng sững sờ.

Chỉ trong sáu tháng, Ted đã tiêu hết toàn bộ số tiền. Ông trở lại đúng nơi mình từng sống: dưới gầm cầu ở Los Angeles. Vẫn nhặt lon chai. Vẫn kiếm khoảng 20 Mỹ kim mỗi ngày. Vẫn cuộc đời cũ.

Khi được hỏi có hối tiếc không, Ted trả lời rằng ông hài lòng với cuộc sống của mình. Ông không nghĩ mình đã làm điều gì sai và cũng không muốn thay đổi những gì đã xảy ra.

Câu chuyện của Ted Rodrigue đã gây nên một cuộc tranh luận lớn trong dư luận Hoa Kỳ.

Có người cho rằng đây là bằng chứng rằng không thể giúp một người không muốn tự giúp mình. Nhưng cũng có người chỉ trích cuộc thử nghiệm, cho rằng việc trao cho một người từng nghiện rượu, từng chịu nhiều tổn thương tâm lý một số tiền lớn rồi quay phim sự thất bại của họ là một hình thức khai thác con người.

Những người phê bình nói rằng tiền bạc không thể tự nó cứu một cuộc đời. Ted không chỉ thiếu tiền. Ông thiếu những thứ sâu xa hơn: sự chữa trị cho chứng nghiện, sự hỗ trợ tinh thần, kỹ năng nghề nghiệp, kiến thức quản lý tài chính và một môi trường ổn định để làm lại cuộc đời.

100.000 Mỹ kim không thể chữa lành tuổi thơ bất hạnh của ông. Nó không thể xóa bỏ hàng chục năm sống trong cảnh sinh tồn. Nó không thể dạy một người chưa từng học cách lập kế hoạch cho tương lai.

Nó chỉ làm cho những vấn đề cũ trở nên đắt giá hơn.

Câu chuyện Ted cũng phản ánh một bài học rộng lớn trong xã hội hiện đại. Không ít người trúng số rồi phá sản. Không ít vận động viên nổi tiếng kiếm hàng triệu Mỹ kim rồi trắng tay. Không ít người thừa kế gia sản lớn nhưng cuối cùng mất tất cả.

Tiền bạc là một công cụ, nhưng muốn sử dụng công cụ ấy, con người cần có kiến thức, kỷ luật và sự hỗ trợ cần thiết.

Điều khiến câu chuyện của Ted trở nên ám ảnh là ông không chỉ thất bại trong im lặng. Cả thế giới đã nhìn thấy sự thất bại ấy qua màn ảnh.

Nhưng có lẽ cũng cần nhìn Ted như một con người, không chỉ như một bài học cảnh báo. Có thể ông chưa bao giờ thật sự muốn một cuộc đời mà xã hội gọi là “thành công”. Có thể đối với ông, sự tự do dưới gầm cầu — không trách nhiệm, không ai sai khiến, sống theo cách riêng — lại là điều ông quen thuộc và chấp nhận.

Cuối cùng, câu hỏi lớn nhất mà câu chuyện đặt ra không phải là: “Tại sao Ted tiêu hết tiền?”

Mà là: “Nếu thật sự muốn cứu giúp một con người, chúng ta cần trao cho họ tiền bạc, hay cần trao cho họ một con đường?”

Một chiếc va-li đầy tiền có thể đem lại hy vọng trong một khoảnh khắc. Nhưng để xây dựng lại một cuộc đời, con người cần nhiều hơn thế: một mái nhà, sự chăm sóc y tế, sự giáo dục, một công việc, những người bạn chân thành và một cộng đồng sẵn sàng dang tay nâng đỡ.

Ted Rodrigue từng có 100.000 Mỹ kim trong tay. Sáu tháng sau, ông trở lại dưới gầm cầu.

Nhưng câu chuyện của ông vẫn còn đó như một lời nhắc nhở sâu sắc: tiền có thể thay đổi hoàn cảnh trong chốc lát, nhưng chỉ sự thay đổi từ bên trong và sự nâng đỡ đúng cách mới có thể thay đổi số phận của một con người.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.


 

Tất cả mục đích của giáo lý và lời giảng dạy phải được đặt trong Tình Yêu vĩnh cửu…- Cha Vương

Chúc bạn và gia đình ngày Thứ 5 tràn đầy Tình Yêu của Thiên Chúa, đừng quên dành ra một chút thời gian để tâm sự với Chúa nhé. Nhớ cậu Nguyện cho nhau và thể giới đầy tình yêu thương nhé

Cha Vương

Thứ 5: 30/07/2026.    (t6-21)

GIÁO LÝ:  Tất cả mục đích của giáo lý và lời giảng dạy phải được đặt trong Tình Yêu vĩnh cửu… điều chính yếu là phải làm nổi bật lòng yêu mến Chúa, để mọi người hiểu rằng mọi hành vi tốt theo đúng nghĩa Kitô giáo không có nguồn gốc nào khác ngoài Tình Yêu và không có cùng đích nào khác ngoài Tình Yêu. (SGLHTCG, số 25)

SUY NIỆM: Trên hết mọi sự là ĐỨC ÁI! Đức ái là thước đo rõ ràng nhất để bạn kiểm tra sự tiến bộ của mình trong cuộc sống hằng ngày và đời sống đức tin. Mặc dù bạn thuộc lòng toàn bộ Sách Giáo Lý Công Giáo hoặc làm được tất cả mọi việc, nếu bạn không có đức ái, thì việc làm của bạn cũng chẳng có lợi ích gì. Vậy đức ái là gì? Là nhân đức dạy ta biết yêu thương, phục vụ và tha thứ cho người khác, theo gương Chúa Giêsu Kitô.

❦ Xét về tự nhiên: Tứ hải giai huynh đệ. Người trong bốn biển đều là anh em. Vì thế, cần cổ võ tình thương nhân loại, tình người, tình nghĩa anh em, tình đồng loại…

❦ Xét về siêu nhiên: Từ Cựu Ước đến Tân Ước. Thiên Chúa luôn dạy dỗ Dân Chúa, cũng như tất cả chúng ta: Hãy yêu thương nhau, như Chúa đã yêu thương chúng ta.

❦ Nền tảng của Đức ái chính là Thiên Chúa: Thiên Chúa là Tình Yêu, ai biết yêu thương là đang trở nên giống như Thiên Chúa.

Ước mong bạn hãy cố gắng trở nên giống như Chúa mỗi ngày.

LẮNG NGHE: Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng… Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được. (1 Cr 13:1, 4-8)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin hãy biến đổi tim con nên giống như trái tim của Chúa để con có một tình yêu sâu sắc và chân thành đối với mọi người con gặp gỡ hôm nay.

THỰC HÀNH: Quyết tâm dâng trí lòng, hồn xác, mọi tài năng trong ngoài để kính mến Chúa, và làm mọi việc chỉ vì vinh Danh Chúa mà thôi.

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=v-G9eQckkFk

Tình Yêu Của Chúa – Dao Do

HÔM QUA CHE KHUẤT HÔM NAY – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Bởi đâu ông ta được như thế?”.

“Chúng ta phải luôn luôn gột rửa cửa sổ của mình, để những gì quá quen thuộc không che khuất điều kỳ diệu!” – J. R. R. Tolkien.

Kính thưa Anh Chị em,

Đôi khi, chính điều quá quen lại che khuất điều kỳ diệu. Tin Mừng hôm nay kể ra một bi kịch như thế. Đồng hương của Chúa Giêsu biết rất rõ về Ngài, nhưng lại không nhận ra Đấng Messia đang đứng giữa họ. Họ để ‘hôm qua che khuất hôm nay’.

“Bởi đâu ông ta được như thế?”. Bản Hy Lạp viết póthen – “bởi đâu, từ đâu”. Trong Matthêu, đó không chỉ là câu hỏi về những gì Chúa Giêsu làm, mà còn về chính Ngài là ai. Người Nazareth tưởng mình đã biết câu trả lời: con bác thợ mộc, con bà Maria, anh em ông, chị em ông… Nhưng Matthêu đã trả lời ngay từ chương đầu: “Bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”. Họ chỉ dừng ở nguồn gốc trần thế, trong khi mặc khải mở ra chiều kích mầu nhiệm. Vì thế, họ đã biến điều mình biết thành giới hạn của điều mình có thể tin.

Chúa Giêsu không biện minh; Ngài chỉ lặng lẽ nói: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương và trong gia đình mình”. Ngài không phủ nhận những gì họ biết về mình, cũng không dùng một phép lạ để buộc họ phải tin. Thiên Chúa không phá vỡ dáng vẻ bình thường của Con Một để cưỡng ép đức tin; trái lại, Ngài để mầu nhiệm lớn nhất của lịch sử cứu độ lớn lên trong một gia đình đơn sơ, một làng quê vô danh và một nghề nghiệp bình dị. Bởi lẽ, tình yêu không cần ánh hào quang để chứng minh. “Chỉ có tình yêu mới đáng để người ta tin!” – Hans Urs von Balthasar.

Một tình yêu không cần ánh hào quang cũng là một tình yêu chấp nhận bị khước từ. Giêrêmia chỉ nói điều Chúa truyền, nhưng người ta đã túm lấy ông và quát lên: “Thế nào ông cũng phải chết!” – bài đọc một. Ngôn sứ không bị khước từ vì nói sai, nhưng vì nói đúng; chân lý không làm con người khó chịu vì thiếu sức thuyết phục, nhưng vì đòi họ phải thay đổi. Từ Giêrêmia đến Chúa Giêsu, rồi đến chúng ta hôm nay, Thiên Chúa không ngừng gõ cửa lòng người bằng sự thật, nhưng chưa bao giờ phá cửa để bước vào.

Phần chúng ta, ký ức giúp nhận ra một người anh em, nhưng cũng có thể giữ họ mãi trong định kiến. Điều đã biết trở thành lăng kính của điều đang thấy. Vì thế, điều Thiên Chúa đang thực hiện và muốn nói với chúng ta qua họ rất dễ bị che khuất. “Đức Kitô trong lời của người anh em mạnh hơn Đức Kitô trong trái tim của chính chúng ta!” – Dietrich Bonhoeffer.

Anh Chị em,

Đức Kitô không ngừng vượt quá những gì chúng ta hiểu về Ngài. Ngày xưa, người Nazareth chỉ thấy một bác thợ mộc; ngày nay, chúng ta cũng có thể chỉ thấy một thói quen đạo đức, một nghi thức phụng vụ hay một khuôn mặt quá quen. Đức tin không phải là biết thêm về Đức Kitô, nhưng là luôn để Ngài mặc khải chính mình vượt quá mọi hiểu biết. Chỉ khi đó, cái nhìn của đức tin mới mở ra cho điều Thiên Chúa đang tỏ bày.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để điều con biết ngăn con gặp Chúa; cho con nhận ra Chúa trong những điều rất quen, trong những con người rất gần!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

********

Lời Chúa Thứ Sáu Tuần XVII Thường Niên, Năm Chẵn:

https://sl1nk.com/kz5w13m

Ông không phải là con bác thợ sao ? Bởi đâu ông làm được những phép lạ như thế ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.        Mt 13,54-58

54 Khi ấy, Đức Giê-su về quê, giảng dạy dân chúng trong hội đường của họ, khiến họ sửng sốt và nói : “Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế ? 55 Ông không phải là con bác thợ sao ? Mẹ của ông không phải là bà Ma-ri-a ; anh em của ông không phải là các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Si-môn và Giu-đa sao ? 56 Và chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ? Vậy bởi đâu ông ta được như thế ?” 57 Và họ vấp ngã vì Người. Nhưng Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi.” 58 Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin.


 

LẮNG NGHE TIẾNG CHÚA KHI GẶP KHÓ KHĂN – chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Ngắm Bức Tranh Lớn

 Sẵn lòng lắng nghe Thiên Chúa và chú ý vào Người trong cầu nguyện có nghĩa là chúng ta cảm nghiệm hơn sự bình an và niềm vui, không chỉ trong khi chúng ta đang cầu nguyện, nhưng đặc biệt khi những lời cầu nguyện của chúng ta liên kết cách sâu sắc hơn với phần còn lại của cuộc sống chúng ta. 

Việc xét mình cách thường xuyên giúp chúng ta ngày càng nhận thức hơn về nhu cầu thống hối tội lỗi của mình – những tội lỗi mà chúng ta thậm chí có thể không chú ý trước khi chúng ta ngước nhìn lên Chúa Giêsu Kitô như mẫu gương và mục đích của chúng ta – và hoa trái của việc thực hành này cũng sẽ mang lại bình an và niềm vui cho chúng ta.

 Tuy nhiên, việc gia tăng sự bình an và niềm vui và thậm chí, chúng ta dám nói điều đó, sự thánh thiện không có nghĩa là chúng ta sống trên mây, không phải chịu ảnh hưởng bởi sự đau đớn, thất bại và thất vọng.  Chúng ta cần tỉnh táo để nghe Thiên Chúa nói, không chỉ trong những sự cao cả của sự bình an tôn giáo và sự thành công bên ngoài, nhưng còn trong cả những cuộc chiến đấu và các vấn đề của cuộc sống.

 Câu chuyện về Giuse (x. St 37,39-50), một trong những tường thuật dài nhất trong Cựu ước, cho thấy cách Thiên Chúa đã dùng con người này để cứu toàn thể gia đình của ông – tuy điều này xảy ra chỉ qua một chuỗi những biến cố đau khổ.  Trước hết, Giuse rõ ràng được Thiên Chúa và cha cậu là Giacóp yêu thương, ưu ái.  Những quần áo đặc biệt từ cha cậu cùng với những giấc mơ đặc biệt từ Thiên Chúa, những giấc mơ cho biết rằng Giuse một ngày kia sẽ cai trị trên các anh cậu.  Thay vì chấp nhận những giấc mơ này như ý của Thiên Chúa, các anh lại bán Giuse làm nô lệ, một bước nhỏ trong kế hoạch ban đầu để giết ông.  Là một nô lệ ở Ai Cập, Giuse hoàn toàn tiến xa trong gia đình của Potipha – dường như rất tốt.  Vợ của Potipha cố dụ dỗ Giuse nhưng thất bại vì ông là người quá nhân đức, không nỡ phạm tội chống lại chủ mình.  Nhân đức này đã được báo đáp bởi những lời cáo buộc hiếp dâm của người đàn bà này, sau đó Giusu bị bỏ tù.  Trong khi ở tù, Giuse đã giải thích cách chính xác những giấc mơ của hai viên chức hoàng gia, người nướng bánh chính và hầu rượu của Pharaô.  Một thời điểm đáng kể sau đó, người hầu rượu của hoàng gia đã giới thiệu Giuse với Pharaô, vua bị phiền toái ghê gớm bởi hai giấc mơ của chính mình.  Lời giải thích của Giuse về bảy năm mùa màng bội thu được theo sau bởi bảy năm đói kém nghiêm trọng đã xảy ra đúng như thế, do vậy ông được chỉ định làm Đại Tể Tướng Ai Cập, vị trí thứ hai chỉ sau Pharaô.  Trong suốt bảy năm đói kém, các anh của Giuse đến với ông để tìm kiếm lương thực, họ cúi lạy ông như trong những giấc mơ thời thơ ấu của ông.  Họ không nhận ra ông, nhưng cuối cùng ông đã tiết lộ chính mình, được hòa giải và gặp lại cha mình, là Giacóp.

 Không có gì trong những điều này đã xảy ra nếu các anh em Giuse không bán ông làm nô lệ.  Sẽ không có việc Giuse lên nắm quyền nếu ông đã không bị cáo buộc cách sai trái về tội hiếp dâm và bị bỏ tù cùng với các viên chức hoàng gia.  Nếu không bị bỏ tù, Giuse sẽ không ở vào vị trí phân phát lương thực trong bảy năm đói kém và cứu chính gia đình ông cũng như những người Ai Cập.  Giuse cuối cùng đã nhận ra kế hoạch của Thiên Chúa, như ông công bố với các anh em của mình trong Sách Sáng Thế chương 45,5-8.

 “Nhưng bây giờ, các anh đừng buồn phiền, đừng hối hận vì đã bán tôi sang đây: chính là để duy trì sự sống mà Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em.  Thật vậy, đây là năm thứ hai có nạn đói trong xứ, và sẽ còn năm năm nữa không cày không gặt.  Thiên Chúa đã gửi tôi đi trước anh em, để giữ cho anh em một số người sống sót trong xứ, và để cứu sống anh em, nhằm thực hiện cuộc giải thoát vĩ đại. Vậy không phải các anh đã gửi tôi đến đây, nhưng là Thiên Chúa.  Người đã đặt tôi làm cha của Pharaô, làm chúa tất cả triều đình, và làm tể tướng trên khắp cõi Aicập” (St 45,5-8).

 Một Kế Hoạch Lớn Hơn

Thật tốt khi chúng ta đọc toàn bộ câu chuyện trong Sách Sáng Thế bởi vì nó được viết rất hay.  Các bản văn thực sự chỉ ra những chi tiết quan trọng và tuyệt vời mà bản tóm tắt của chúng tôi nhất thiết bỏ qua.  Mỗi chúng ta có thể lắng nghe câu chuyện của Giuse và học cách nhận ra Thiên Chúa đang hành động qua những hoàn cảnh khó khăn và những giai đoạn trong cuộc sống của chúng ta, hãy biết rằng một kế hoạch lớn hơn nhiều có thể đang mở ra – lớn hơn chúng ta có thể tưởng tượng ngay giây phút này.

 Cầu nguyện trong những hoàn cảnh khó khăn không phải lúc nào cũng cất đi sự đau đớn hay giải quyết tình huống.  Chẳng hạn, cầu nguyện không có nghĩa là bạn hoặc những người thân yêu của bạn sẽ không bao giờ mắc bệnh.

 Tôi chưa bao giờ thấy ích lợi khi hỏi “Tại sao là tôi? Tại sao điều này đã xảy ra với tôi?”  Nó đặc biệt vô ích khi câu hỏi là một cách khoa trương để nói với Chúa: “Ngài không bao giờ nên để cho con phải đau khổ.  Lạy Chúa, có chuyện gì xảy ra với Ngài vậy?”  Nếu tôi hỏi tại sao một vấn đề xảy ra cho tôi, thật tốt hơn để hỏi điều đó trong cách cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì trong tình huống này?  Sứ mạng Chúa dành cho con bây giờ là gì?  Có người nào đó, có lẽ là một bác sĩ, một y tá hoặc một bệnh nhân, người mà Chúa muốn con nói chuyện với?  Phải chăng Chúa muốn dùng hoàn cảnh này để giúp con giới thiệu ai đó khác cho Chúa?  Ý của Chúa trong tình huống này là gì?”

 Đối với những người cầu nguyện, dường như là một thất bại của đức tin khi họ trải nghiệm sự đau đớn, những vấn đề và sự đau khổ trong cuộc sống, bởi vì họ mong đợi Thiên Chúa ngăn cản những vấn đề như thế cho những người mà Người yêu thương.  Tuy nhiên, Chúa cho phép những điều như thế xảy ra cho những kẻ Người yêu thương, từ Người Con của mình là Đức Giêsu Kitô đến kẻ tội lỗi nhất trong chúng ta.  Nhưng khi chúng ta nhận ra những điều tốt đẹp đã được thực hiện trong những tình huống khó khăn này, chúng ta sẽ tốt hơn để lắng nghe Thiên Chúa khi ở giữa những hoàn cảnh ấy.

 Đây là bài viết đã được trích ra từ cuốn sách có tên là Làm Cách Nào để Lắng Nghe khi Thiên Chúa Nói, tác giả là Cha Mitch Pacwa (The Word Among Us Press, 2011), có thể truy cập tại www.wau.org/books.

 Mitch Pacwa – chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Nguồn: WAU

From:  ngocnga_12 & NguyenNThu


 

ĐÔI NÉT VỀ THÁNH I-NHÃ LOYOLA – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

 I-NHÃ CON NGƯỜI QUẢNG ĐẠI 

Trong cuộc tử thủ chống quân Pháp ở Pamplona, một mảnh đạn đại bác đã làm I-nhã gãy chân, và làm ngài dừng chân.  Biến cố ấy đã đổi hướng đi của ngài.  Đời I-nhã mở sang trang mới.  Phải được khuôn mặt của Đức Kitô thu hút, I-nhã mới dám bỏ và dám theo.  Bỏ những tham vọng của mình về chức tước, tiếng tăm.  Bỏ  giấc mơ chinh phục một tiểu thư quý phái.  Bỏ việc phụng sự cho một vị vua ở trần gian.  Bỏ lâu đài, gia đình và sự nghiệp….  Bỏ là điều kiện để theo.  Để bỏ, cần quảng đại.  Quảng đại là thái độ ta thường thiếu.  Chúng ta dè sẻn, tính toán khi sống cho Chúa, bởi lẽ chúng ta không tin Chúa quảng đại hơn mình.  Chúng ta còn có nhiều  nỗi sợ và tham vọng.  Thánh I-nhã đã định nghĩa quảng đại là: “Dâng trọn cả ý muốn và tự do của mình cho Chúa, để mặc Ngài sử dụng bản thân mình, cũng như mọi sự mình có theo ý Ngài”  (LT.5).  Chúng ta có nên thử một lần quảng đại với Chúa không?   

I-NHÃ, CON NGƯỜI SAY MÊ CHÚA GIÊSU 

Giêsu là vị thủ lãnh mới mà I-nhã khám phá được trong thời gian nằm trên giường bệnh, sau khi đọc sách về cuộc đời Đấng Cứu Thế.  I-nhã chỉ mong mau khỏi bệnh để đi Đất Thánh.  Bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, I-nhã muốn ở lại và rao giảng trên nơi Đức Giêsu đã sống.  Một ơn lớn phải xin trong Linh thao Tuần hai, đó là ơn “Hiểu biết thâm sâu về Chúa Giêsu, Đấng đã làm người vì tôi, để yêu mến Ngài hơn và theo Ngài hơn” (LT. 104).   Tình yêu Chúa Giêsu đã chi phối cuộc đời I-nhã. Một tình yêu vừa rất riêng tư, tha thiết, vừa đầy tính hành động cụ thể.  Giêsu là một vị Vua mà I-nhã muốn hiến thân phục vụ, muốn chia sẻ với Ngài sứ mạng chinh phục thế giới.  Tình yêu đòi nên giống người mình yêu, chọn bị nghèo khó sỉ nhục, bị coi là ngu dại, để nên giống Đức Kitô, Đấng đã chịu như thế vì tôi.  Chúng ta hãy để cho Đức Kitô  thu hút mình và mời gọi mình làm bạn đường của Ngài.  Hãy cùng Ngài đồng cam cộng khổ để đưa cả thế giới này về cho Chúa Cha.   

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA TÌNH BẠN 

I-nhã không độc quyền yêu Chúa Giêsu Ngài muốn tất cả trở nên bạn với Chúa.  Chính vì thế, đi đâu ngài cũng có bạn.  Ngài có khả năng tìm được những người cùng chí hướng, và quy tụ họ lại thành một nhóm thân thương.  Ở Barcelona, Alcala, Salamanca, Paris, đâu đâu I-nhã cũng có những người bạn.  Có những nhóm bạn không bền, nhưng cũng có nhóm bạn đã đi vào lịch sử.  Ở Paris, I-nhã đã giúp sáu bạn sinh viên làm Linh thao, thuyết phục họ quyết tâm phục vụ Thiên Chúa, trong số đó có hai vị thánh Phanxicô Xavier và Phêrô Favre.  Dù quốc tịch, tuổi tác, tính  khí khác nhau nhưng họ có chung một lý tưởng, một ước mơ.  Ước mơ chịu chức linh mục để phục vụ con người.  Ước mơ đi Đất Thánh để giúp người Hồi trở lại.  Ước mơ đi Rôma để đặt mình dưới  quyền Đức Thánh Cha.  Ước mơ sống khó nghèo và khiết tịnh.  Hẳn I-nhã đã góp phần khơi lên những ước mơ, tiềm ẩn nơi những tâm hồn quảng đại.  Chúng ta cần xây dựng tình bạn trên nền Giêsu, cần mở rộng vòng tay đón những bạn mới.  Ước gì tình bạn làm bật dậy những ước mơ và làm cho ước mơ thành sự thật.   

I-NHÃ VÀ VIỆC HỌC 

Sau khi không được phép ở lại Đất Thánh, I-nhã thấy mình cần phải đi học một thời gian, để có khả năng giúp các linh hồn.  Như thế, việc tông đồ là lý do khiến ngài đi học trở lại.  Bằng cấp chỉ là phương tiện để phục vụ.  Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy I-nhã đi học ở tuổi 33, can đảm ngồi học chung với những chú nhỏ!  Trong thời gian học ở Alcala và Salamanca, I-nhã  lo dạy giáo lý và giảng Linh thao hơn là lo học.  Chính vì thế, ngài gặp rắc rối với giáo quyền, và việc học chẳng tiến bộ mấy.  Cuối cùng, I-nhã quyết định học tập nghiêm túc, kiếm tiền trợ cấp vào mùa hè để khỏi phải đi ăn xin.  Đến năm 44 tuổi, I-nhã mới tốt nghiệp Đại học.  Với mảnh bằng, ngài không còn bị làm khó dễ như xưa.  Mảnh bằng là giấy phép để tôi làm việc.  Kiến thức là chiếc cầu để tôi gặp gỡ tha nhân.  Ước gì tôi có khả năng đưa Chúa vào ngành chuyên môn, và đưa con người khoa học hôm nay đến với Chúa.   

I-NHÃ, CON NGƯỜI YÊU MẾN HỘI THÁNH 

Hội Thánh thời I-nhã có nhiều vết nhơ.  Có những vị chủ chăn sa ngã nặng nề.  Nhiều linh mục, tu sĩ cũng sa sút và bất xứng.  Ông Luther đã đoạn tuyệt với Hội Thánh công giáo, sau khi phản đối việc bán ân xá một cách mạnh mẽ.  I-nhã không phải không thấy những lầm lỗi, nhưng ngài đã không chỉ trích Hội Thánh.  Ngài ở lại trong Hội Thánh để cải tổ, canh tân.  Dù đã có vị Giáo Hoàng mang nhiều khiếm khuyết, nhưng I-nhã vẫn coi Đức Giáo Hoàng là đại diện Đức Kitô, và chấp nhận được Người sai đi bất cứ đâu, để làm bất cứ việc gì xét thấy cần cho vinh danh Chúa và lợi ích cho con người hơn.  Chúng ta cần có lòng yêu mến Hội Thánh, Hãy bắt tay vào việc xây dựng Hội Thánh bằng những đóng góp nhỏ bẻ, vừa tầm của mình, để Hội Thánh đáp ứng được những nhu cầu thời đại, Hãy canh tân Hội Thánh từ bên trong bằng việc canh tân chính bản thân mình. 

 I-NHÃ, CON NGƯỜI BIẾT PHÂN ĐỊNH 

Lúc còn trên giường bệnh, I-nhã  đã có kinh nghiệm sau: Khi nghĩ đến chuyện trần tục, ngài cảm thấy vui thú, nhưng sau đó lại thấy buồn chán trống rỗng; còn khi nghĩ đến chuyện sống hết mình cho Chúa ngài cảm thấy niềm vui kéo dài.  Từ đó ngài khám phá ra tác động của Thiên Chúa và ma quỉ trong đời mình.  Lúc ở Manresa, I-nhã còn trải nghiệm nhiều thử thách khác: chán nản, khô khan, bối rối đến độ muốn tự tử.  Trong thời đi học, I-nhã cũng bị lôi cuốn bởi những tư tưởng đạo đức khiến ngài say mê đến nỗi không tập trung vào việc học được.  Dần dần ngài biết cách phân định để khám phá ra rằng đó không phải là tác động thực sự của Chúa.  Chúng ta rất muốn biết ý Chúa khi phải chọn lựa.  Có một vài tiêu chuẩn để chọn việc phải làm: nên chọn điều gì có ích lợi phổ quát hơn và lâu bền hơn, nên chọn chỗ nào có nhu cầu lớn hơn và khẩn cấp hơn, nên chọn chỗ nào có hy vọng sinh nhiều hoa trái hơn.  Ước gì chúng ta nhạy cảm với tác động của Chúa và không bị mắc mưu của ma quỉ xuất hiện dưới dạng thiên thần sáng láng.  

I-NHÃ, CON NGƯỜI CỦA MAGIS ( HƠN NỮA) 

“Nhằm vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa” đó là điều tâm niệm, là châm ngôn sống của I-nhã.  Tình yêu làm người ta say mê cái hơn nữa (magis).  I-nhã chẳng bao giờ chịu ngừng lại và mãn nguyện.  Hoàn cảnh đổi thay, con người cũng biến đổi.  Điều hôm nay là tốt nhất cho vinh danh Chúa thì ngày mai có thể lại không còn như vậy nữa.  Chính vì thế ta cứ phải suy nghĩ, tìm kiếm, cứ phải trăn trở, thích nghi…  Cái hơn nữa đưa ta đi vào một chuyển động.  Đó là khao khát khôn nguôi của I-nhã.  Làm sao để mọi người nhận biết Chúa, và nhận ra nhau là anh em?  Làm sao để vinh quang Thiên Chúa tràn lan trên mặt đất này.  Chúng ta đừng để mình rơi vào sự dễ dãi, và bằng lòng với cái tầm thường.  Làm sao để hôm nay của tôi hơn hôm qua và ngày mai hơn hôm nay? 

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

From: Langthangchieutim


 

Người cha gốc Việt kể về cái chết của con trai 5 tuổi vì căn bệnh ‘không triệu chứng’

Ba’o Nguoi-Viet

July 28, 2026

Kalynh Ngô/Người Việt

PORTLAND, Oregon (NV) – “Thằng bé gọi cho tôi, kể chuyện đi sở thú, chụp rất nhiều hình, rồi cả nhà đi biển nữa. Bé còn nhặt được mấy vỏ sò định mang về tặng tôi, cứ kể mãi không ngừng về việc mình đã vui như thế nào khi được đi chơi cùng gia đình.”

Anh Việt Vũ, 39 tuổi, kể với nhật báo Người Việt qua điện thoại từ thành phố Portland, tiểu bang Oregon, về lần nói chuyện qua Facetime với cậu con trai năm tuổi Justin Vũ, mà anh không thể ngờ là lần nói chuyện cuối cùng của hai cha con.

Cậu bé Justin Vũ, 5 tuổi, người vừa qua đời vì mắc phải một căn bệnh vô cùng hiếm. (Hình: Việt Vũ cung cấp)

Đó là đêm Thứ Năm, 2 Tháng Bảy. Khoảng một tuần sau đó, ngày 8 Tháng Bảy, bé Justin Vũ qua đời vì mắc phải hội chứng “rò rỉ mao mạch toàn thân” (Systemic Capillary Leak Syndrome – SCLS) hay còn gọi là bệnh Clarkson.

Chuyến đi chơi không trở về

Cuộc nói chuyện giữa anh Việt Vũ với nhật báo Người Việt diễn ra ba ngày sau đám tang của bé Justin Vũ ở Portland.

Không dễ dàng để nói về một nỗi đau quá lớn và quá mới, nhưng người cha vừa mất con nói rằng, “chúng tôi chỉ muốn mọi người biết đến căn bệnh bí ẩn hiếm gặp này. Nếu câu chuyện của con trai tôi có thể giúp ích cho dù chỉ một người thôi, thì tất cả chúng tôi đều sẽ rất hạnh phúc.”

Theo lời anh Việt kể, ngày 28 Tháng Sáu, Justin cùng với mẹ và chị, từ Denver du lịch đến Portland. Vì công việc, anh Việt không cùng đi với vợ và con. Anh Việt Vũ là kỹ thuật viên X quang của một bệnh viện cựu chiến binh (VA) ở thành phố Denver, tiểu bang Colorado .

“Justin được mẹ dẫn đến Sở Thú Portland, đi biển, ghé thăm các công viên và đến một khu vui chơi trong nhà, toàn là những hoạt động mà bé rất yêu thích,” anh kể lại.

Chuyến du lịch của Justin trôi qua bốn ngày với những niềm vui không đếm được và hứa hẹn sẽ còn nữa. Tối ngày 2 Tháng Bảy, trước khi đi ngủ, bé bị đau bụng, sau đó nôn ói và không ngủ được. Sáng hôm sau, người mẹ đưa bé vào khoa cấp cứu (ER).

“Bệnh viện nghĩ thằng bé bị viêm ruột thừa hoặc có thể là nhiễm trùng, nên đã tiến hành siêu âm và chụp MRI nhưng không phát hiện ra vấn đề gì. Vì vậy, họ đã chuyển con tôi đến một bệnh viện nhi ở Portland,” anh Việt nói.

Đến ngày 4 Tháng Bảy, bé Justin vẫn không khỏe hơn. Huyết áp liên tục giảm, bệnh viện buộc phải chuyển bé vào phòng chăm sóc đặc biệt (ICU). Sau đó cậu bé thở rất khó khăn, và bệnh viện phải tiến hành đặt ống thở cho bé.

“Trước khi Justin bị đưa vào ICU, tôi đã mua vé để bay qua Portland vào sáng 5 Tháng Bảy. Khi tôi đến bệnh viện, thì con tôi đang phải thở bằng máy.”

Bệnh viện cho Justin uống thuốc an thần từ đêm 4 Tháng Bảy khi bé nằm ICU. Bắt đầu từ thời gian đó, cậu bé luôn trong trạng thái ngủ. “Tôi không còn cơ hội trò chuyện với con trai kể từ lần cuối cùng là đêm 2 Tháng Bảy,” anh Việt nói.

Thời điểm đó, thận của Justin đã ngừng hoạt động. Bệnh viện phải cho bé chạy thận và đặt ống dẫn lưu ở cả hai bên phổi và vùng bụng vì cơ thể bé bị tích tụ dịch. Đêm 5 Tháng Bảy, các bác sĩ của bệnh viện cho biết Justin khó qua khỏi.

Cậu bé Justin kiên cường cố gắng bên cạnh cha mẹ, ông bà nội, ngoại của em thêm ba ngày nữa trước khi cơ thể em không còn đủ sức để chống đỡ.

“Khi đó, chúng tôi quyết định để con tôi ra đi ngày 8 Tháng Bảy,” anh Việt nói.

Anh Việt kể, anh và vợ đã nhờ đội ngũ y tế của bệnh viện đưa Justin ra khu vườn trong khuôn viên bệnh viện. Theo lời anh, Justin là một cậu bé năng động, thích không gian ngoài trời.

“Thằng bé có thể chơi đùa cả ngày bên ngoài,” anh nói. “Chúng tôi chọn thực hiện việc này vào đúng giờ đi ngủ thường ngày của con và làm theo đúng thói quen trước khi ngủ của con. Gia đình hai bên thay phiên nhau đọc truyện cho thằng bé nghe. Sau khi đọc truyện xong, chúng tôi bật những bản nhạc mà Justin thích. Rồi gia đình chúng tôi cùng tựa đầu vào giường, nắm lấy tay con lần cuối trước khi tắt máy hỗ trợ sự sống.”

Anh Việt Vũ và con trai 5 tuổi, bé Justin Vũ. (Hình: Việt Vũ cung cấp)

Clarkson, căn bệnh hiếm

Theo lời anh Việt, chưa có bác sĩ nào tại khu ICU, nơi điều trị cho Justin, từng chứng kiến ​​trường hợp như thế trong suốt sự nghiệp của họ. Họ đã phải trải qua nhiều ngày đêm để nghiên cứu và tìm ra một tình trạng có các triệu chứng tương đồng với những gì con trai của anh đang trải qua.

Khi phát hiện ra một căn bệnh là Clarkson, họ đã thử áp dụng hầu hết các loại thuốc và liệu pháp từng được dùng trong những ca bệnh tương tự mà họ tìm thấy trong tài liệu tham khảo. Tuy nhiên, thông tin về bệnh này rất hạn chế do chỉ có chưa đầy 500 ca được ghi nhận kể từ những năm 60, vì vậy các biện pháp điều trị cũng rất hạn hẹp.

“Bệnh Clarkson không có dấu hiệu báo trước nào,” theo lời anh Việt. “Nó cứ thế xảy ra thôi. Và cũng chẳng ai biết tại sao. Không có dấu hiệu hay triệu chứng gì hết. Điều xảy ra là các mạch máu của người bệnh bị rò rỉ dịch, cụ thể là huyết tương, ra các phần còn lại của cơ thể thay vì giữ lại bên trong, vì các mạch máu không thể giữ lại lượng dịch đó.”

Bên cạnh đó, huyết áp bị tụt giảm, khiến máu không thể đến được các cơ quan còn lại trong cơ thể, và do đó các cơ quan này bắt đầu ngừng hoạt động.

Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa rõ nguyên nhân gây ra căn bệnh SCLS. Theo Tổ Chức Quốc Gia Về Các Bệnh Hiếm Gặp (National Organization for Rare Disorders – NORD), căn bệnh này đặc biệt hiếm ở trẻ em và dường như không có yếu tố di truyền.

“Tất cả xảy ra hoàn toàn bất ngờ,” anh Việt nói.

Cậu bé thân thiện

Theo lời anh, Justin là một cậu bé khỏe mạnh, thậm chí chưa bao giờ phải nhập viện vì căn bệnh gì.

“Thằng bé có nụ cười tỏa sáng. Mỗi khi thằng bé cười, nó có thể làm những người chung quanh phải bật cười theo. Bé thích khám phá thế giới này. Mỗi khi nghe tiếng chim hót hay nhìn thấy con chim nào, bé đều hỏi đó là loài chim gì,” người cha 39 tuổi kể về cậu con trai năm tuổi của mình, người mà anh gọi là “bạn thân của tôi.”

“Thằng bé mê khủng long và cá mập từ lúc mới một tuổi. Bé biết nhiều loại khủng long và nhớ tên chúng còn giỏi hơn cả tôi. Justin rất thích màu xanh dương,” anh Việt nói.

Justin Vũ biết nhiều loại khủng long và nhớ tất cả tên của chúng. (Hình: Việt Vũ cung cấp)

Mỗi ra công viên, nhìn thấy những đứa trẻ khác, Justin đều nói với cha mẹ cậu rằng “chúng ta có những người bạn mới” và chủ động bước đến nói “chào bạn, tên tôi là Justin. Chúng ta chơi với nhau nhé.”

Đám tang của Justin diễn ra ở Portland hôm Thứ Sáu, 24 Tháng Bảy. Tuần sau, cha mẹ của bé sẽ mang bé về Denver.

“Chúng tôi đã hỏa táng Justin và sẽ đưa con trai về Denver để được ở gần gia đình. Chúng tôi đã tổ chức an táng một phần nhỏ tro cốt của con tại Portland để gia đình ở đây đến thăm viếng,” anh Việt nói.

Cuộc nói chuyện với anh Việt Vũ đôi khi đứt quãng vì người cha ấy khó kềm được cảm xúc vừa mất con trai nhỏ. Anh nói vợ của mình vẫn đang cố gắng vượt qua mỗi ngày, “có nhiều ngày rất khó khăn, nhưng cũng có những ngày đỡ hơn. Cô ấy lại đang ở cùng gia đình tại đây, nên có nhiều sự ủng hộ và nhiều người để trò chuyện, giúp đỡ.”

Bên cạnh nỗi đau mất con thì nỗi lo chi phí cũng không phải nhỏ. Anh cho biết hiện tại gia đình chưa nhận được các hóa đơn y tế và cũng không rõ khi nào.

“Vì chúng tôi đang ở khác tiểu bang, tôi cũng không chắc bảo hiểm sẽ chi trả ra sao, nhất là khi con tôi đã phải thở máy suốt bốn ngày và trải qua rất nhiều xét nghiệm cũng như các thủ tục y tế khác. Thế nên… tôi thực sự không biết chi phí sẽ là bao nhiêu, nhưng có vẻ như số tiền sẽ khá lớn,” anh Việt nói.

Một người bạn của gia đình đã tạo trang gofundme, như một món quà gửi đến cậu bé năm tuổi xấu số.

“Những điều bất ngờ có thể ập đến và cuộc sống của bạn có thể thay đổi chỉ trong chớp mắt. Hãy tận hưởng từng khoảnh khắc bên những người thân yêu và dành thời gian cho họ. Rửa chén hay giặt giũ có thể để sau. Chiếc điện thoại vẫn sẽ ở đó 15 phút nữa thôi. Hãy chơi cùng con của mình khi không có việc gì cấp bách hơn. Hãy tạo ra thật nhiều kỷ niệm vui vẻ cho con và cho chính bạn,” anh Việt nói.

Trước khi kết thúc cuộc nói chuyện, tôi hỏi “anh có cơ hội mang về những vỏ ốc Justin nhặt về cho anh không?” Anh Việt trả lời: “Tôi đang giữ chúng ở đây.” [kn]