NHỨC NHỐI CON TIM 

NHỨC NHỐI CON TIM 

Tràm Cà Mau

Đâu phải tại yêu nhiều tim đau nặng, 
Trái tim nầy riêng tặng một người thôi.
 

Nhiều người tưởng rằng, đau tim là bệnh của ai khác, chứ không phải họ. Lầm to, ai cũng có thể chết bất thần vì đau tim, mà không có một triệu chứng nào báo trước cả. Đau tim, một trong những bệnh giết chết nhiều người nhất tại nước Mỹ. Nhờ khoa học tiến bộ, biết đích danh chết vì bệnh tim. Chứ bên Việt Nam mình thì cứ gọi là “trúng gió”, trúng gió mà chết, nhiều lắm. Bị trúng gió, thì cạo gió, và xoa bóp huyệt đạo lung tung, cũng cứu được rất nhiều người. Đó cũng là một cách kích động cho trái tim đập lại, cho máu lưu thông, mà thoát chết. Cái gì cũng là “trúng gió” cả. 

Câu chuyện “trúng gió” tại Mỹ cũng rất nhiều. Trong sở tôi, có một ông chưa được 60 tuổi, buổi trưa gục đầu trên bàn và chết mà không ai biết. Ông bạn ngồi bên cạnh đến lay nhẹ và nói: “Dậy, dậy, trong giờ làm việc mà ngủ, người ta thấy kỳ lắm”. Ông nầy chết trong khi đang làm việc. Đâu phải công việc khó khăn, mệt nhọc và căng thẳng thần kinh lắm cho cam. Công việc cũng nhàn nhã, thong dong, không ai thúc hối, thế mà vẫn chết. 

Một ông khác, tuổi trên 50, còn độc thân, đi ăn trưa về, vừa buớc vào thang máy, thì quỵ xuống. Bạn đồng nghiệp kêu xe cấp cứu, đến bệnh viện thì đã chết rồi. Nhiều người ngạc nhiên, vì ông nầy trông trẻ trung, dáng vóc khỏe mạnh, lanh lẹ và độc thân, không có ai mè nheo, cằn nhằn đến độ bực mình mà chết. 

Một ông bạn, suốt đời không có triệu chứng gì về đau tim cả. Chỉ có bà vợ hay la mắng rầy rà làm ông buồn mà thôi. Một hôm ông ngồi đọc báo chờ vợ trước siêu thị. Bà vợ đẩy xe ra cửa, và nạt ông chồng: “Còn ngồi đó nữa sao? Không phụ tôi đẩy xe ư? Đàn ông gì mà lười biếng quá”. Ông vội vã đến đẩy xe cho vợ, mới đi được mấy bước thì quỵ xuống. Bà vợ nạt: “Già rồi mà đi đứng còn hấp tấp, không ý tứ gì cả. Sao không đứng dậy, mà còn định nằm vạ đến bao giờ?” Thấy chồng nằm vạ lâu, bà cúi xuống kéo áo ông, thấy hai con ngươi đứng tròng. Bà hốt hoảng la lên. Nhưng không kịp nữa. Ông đã bị đứng tim chết rồi. Chính bà kể lại và khóc lóc. 

Báo đăng, có ba ông bác sĩ gây mê, chưa đến 50 tuồi, đều chết vì bịnh tim. Cả ba ông đều không có triệu chứng gì về đau tim. Một ông vừa lái xe về nhà. Bà vợ ở phòng trên nghe tiếng ga-ra mở cửa. Chờ mãi không thấy chồng, chạy xuống ga-ra, thì thấy ông gục đầu trên tay lái mà chết. Ông đã bị đứng tim. Một ông khác, vừa chuyển thuốc mê vào cho bệnh nhân sắp mổ, thì gục xuống, và đi luôn. Một ông khác, cũng chết đột ngột tương tự. Đau tim mà chết. Không biết nghề bác sĩ gây mê nầy có lo lắng lắm không, mà giết chết nhiều người tuổi còn khá trẻ. 

Ngày nay, 50 tuổi được xem là còn trẻ, chứ ngày xưa, vua Khải Định đã ăn mừng”tứ tuần thượng thọ” rồi đó. Thời nầy, 40 tuổi thì xem như còn xuân xanh lắm, nhiều anh chưa chịu lấy vợ, nhiều chị chưa chịu lấy chồng, vì còn trẻ mà, vội chi? Bạn tôi, đi làm việc về, đút chìa vào ổ khóa cửa mãi mà không được, cứ trật ra ngoài hoài. Rồi bỗng nhiên quỵ xuống trước cửa nhà. Trong phút nguy cấp đó, anh biết không phải bị “trúng gió”, vội vã mò điện thoại cầm tay, kêu số cấp cứu911. Anh được chở kịp vào bệnh viện, và đêm đó, bác sĩ đè ra mổ tim ngay. Cứu anh sống. Nhưng không làm việc được, tay yếu không lái xe, trí óc không còn sáng suốt. Vẫn sống bình thường. Hai năm sau, trong khi đang tắm, qụy xuống, và chết vì tim. Có người phỏng đoán, anh chết vì tắm nước quá mát. Máu dồn ra ngoài da để bảo vệ thân thể, tim không còn máu, nên “đi” luôn. 

Ông bạn ngồi cạnh tôi, người Mỹ, tuổi chưa được 50, dáng người gầy, thon thả, mỗi chiều sau khi tan sở, chạy bộ ven bờ sông. Một hôm nọ, vợ ông không thấy ông về, điện thoại hỏi thăm khắp nơi. Hôm sau điện thoại vào sở xem ông có đi làm không. Đi tìm mãi, cảnh sát báo cho bà biết, tìm ra xác ông bên bờ sông. Ông chết vì bị đứng tim. 

Một ông bác sĩ mổ tim, tập thể dục mỗi ngày. Cũng không có triệu chứng gì trước về căn bệnh tim. Hôm đó ra sân quần vợt. Vừa đưa vợt lên, thì té qụy xuống, và chết luôn. Không cứu kịp. Một ông khác, trưa nào cũng lái xe đến sở của cô con gái, để cha con cùng đi ăn, và chuyện trò cho vui. Một hôm, trên đường đi, ông thấy đau trong ngực, và biết cần cấp cứu ngay. Ông rán hết sức, lái xe đến thẳng phòng cấp cứu của bệnh viện và khai là đau tim. Nhân viên bệnh viện thấy ông còn lái xe được, và để ông chờ. Chờ lâu quá, ông chết ngay trong phòng làm hồ sơ tiếp nhận cấp cứu. Đáng ra, ông phải dừng lại, và kêu xe cấp cứu ngay. Bởi lái xe, nguy hiểm cho người khác nếu ngất xỉu trên tay lái. Hơn nữa, nếu đi xe cấp cứu, bệnh viện sẽ cứu ông ngay khi mới vào. 

Nhiều người rất sợ vào nằm chờ trong phòng cấp cứu của bệnh viện. Vì trên đường thì xe hú còi ầm ỉ, gấp gáp lắm, nhưng khi đến bệnh viện, thì để cho người bệnh nằm chờ dài cổ ra, chờ cho chán chê, mà chẳng ai dòm ngó đến. Rồi chán nản quá, họ đứng dậy, ra về mà không cần báo cho bệnh viện biết. 

Bạn tôi, buổi tối ngồi xem truyền hình với đứa con trai. Khi hết phim, cháu đến thức bố dậy đi ngủ: “Bố ơi, hết phim rồi, vào đi ngủ.” Lay hoài không thấy bố dậy. Cháu bé khóc: “Bố đừng làm con sợ.” Và bạn tôi đã chết tự bao giờ mà không biết. Chỉ có hai bố con sống với nhau. Tội nghiệp thằng bé, không biết phải làm gì trong tình thế đó. Nhiều trường hợp khác nữa, thấy tận mắt, nghe tận tai, nhiều quá không kể hết được. Thế mà, tôi cũng như mọi người khác, cứ tưởng bệnh tim là bệnh của ai, chứ không phải của mình. 

Y hệt chuyện chết chóc, ai đó chết, chứ mình thì không, như sống mãi muôn đời. 

Nhiều năm trước, khi đi ra ngoài trời lạnh, tôi cảm thấy nhói nhói trong tim. (Nói theo bạn tôi, là cảm thấyđau nhè nhẹ như khi bị phụ tình). Tôi cũng không cần báo cho bác sĩ biết. Một hôm đi khám bệnh, trong lúc nói chuyện đùa cho vui, tôi tiết lộ cái “nhói nhói như bị phụ tình” đó. Ông bác sĩ nầy tử tế, đưa tôi đi đo tâm động đồ. Không biết sao hôm đó, tâm động đồ của tôi bất thường, lặng đi hai nhịp. Nhiều người cho biết, bình thường thì cảm thấy tim đau, nhưng khi đo nhịp tim, thì tim đập bình thường, nên không có dấu hiệu nào cả, bác sĩ cho là tim đập bình thường. Sau đó, tôi được đưa đi thử nghiệm nhiều cách khác nữa. Làm luôn cả thử nghiệm “phóng xạ” (nuclear scanning), bơm chất cản quang vào máu, và soi xem các cơ tim hoạt động ra sao. Tôi được nằm và chuồi vào một cái máy, như sắp phóng tôi vào trong không gian, ở các phim giả tưởng. Sau đó, được xét nghiệm bằng siêu âm xem các van tim hoạt độngcó bình thường không. Bác sĩ gia đình nói cho tôi biết, có một mạch máu rất nhỏ dưới đáy nhọn của tim bị nghẹt nhẹ. 

Về sau, tôi nói điều nầy với ông bác sĩ chuyên môn bệnh tim, ông cười và mĩa mai tôi. Vì các thử nghiệm đó, không thể kết luận nghẹt mạch máu tim. Chỉ khi nào làm thử nghiệm soi mạch máu (angiography) mời biết rõ có nghẹt hay không. Bác sĩ gia đình cho tôi uống thuốc trừ mỡ trong máu (cholesterol), uống mỗi ngày, uống đều đều. Một hôm tôi đọc được tài liệu cho biết, uống thuốc trị mỡ lâu ngày, có thể đưa đến bệnh gan trầm trọng. Bạn tôi cũng dọa tôi về bệnh gan, đưa cho tôi nhiều thống kê đáng sợ về những người bị hư gan vì uống thuốc đau tim. Có lẽ tôi thiên vị, thương lá gan hơn thương trái tim, cho nên tôi ngưng uống thuốc trừ mỡ. 

Sau đó, tôi thường nghĩ, đâu cần uống thuốc trừ mỡ, không uống, tôi vẫn sống nhăn răng ra đây, có can gì đâu. Cho đến một hôm, tôi thấy cánh tay trái mỏi trong bắp thịt, hơi tê tê, nhói nhói. Tôi tưởng vì cắt tỉa mấy cây hường mà ra. Nếu đau tay vì tỉa hoa, thì phải đau tay mặt mới đúng, nhưng tôi cố giải thích sao cho tự yên tâm mình. Nghĩ rằng, rồi bắp thịt sẽ hết đau. Nhưng sau đó, nhiều hôm đang tập thể dục nữa chừng, thì mệt dữ dội, phải ngưng tập năm bảy phút mới tập lại được. Sau đó, mỗi lần xách cái gì nặng, cũng mau mệt khủng khiếp. Những lúc đi ra ngoài trời lạnh, thì mệt ngất, đi không được, phải quay về. Thêm vào các triệu chứng đó, là thỉnh thoảng nghe nhói trong tim, ở ngực, nhưng không xác định được chắc chắn đau chỗ nào. Có đêm đang ngủ, nghe nhói tim thức giấc dậy. Những lúc nầy, là tim đau, nếu được “thăng” ngay, thì khỏe khoắn và nhẹ nhàng lắm. Không đau dớn chi nhiều cả. 

Với những lời khai bệnh như trên, ông bác sĩ gia đình vẫn cười, cho rằng chưa đáng chuyển qua bác sĩchuyên môn, và chỉ cho uống thuốc. Dù ông nầy rất tử tế, rất tốt. Khi tôi khai có ngày bị đau nhói trong ngực và mệt đến hai ba lần, ông mới chuyển qua bác sĩ chuyên môn về tim. Qua lời khai, ông bác sĩ nầy biết ngay là tôi bị nghẽn mạch máu tim. Ông giải thích, và cho tôi biết có 3 cách chữa trị. 

Thứ nhất là uống thuốc để cầm cự. Thuốc không chữa được bệnh, mà chỉ làm mạch máu giản to ra, cho máu dễ lưu thông hơn, khi nào không uống thuốc, thì mạch máu không gỉản, và lúc đó có cơ nguy. 

Cách thứ hai là đút vào chỗ nghẽn một cái ống kim loại như cái lò xò lưới, rồi cho ống phình ra, ép chất mỡ vào thành mạch máu, để máu có thể lưu thông qua “ống cống” đó. 

Cách thứ ba, là lấy ống tĩnh mạch ở chân, rồi nối bắc cầu băng qua chổ nghẽn, cho máu lưu thông theo đường mới. 

Cả ba cách, chất mỡ vẫn còn nằm đó, nguồn bệnh vẫn còn đó, nhưng máu huyết được lưu thông, thì bớt đau, hoặc bớt nguy hiểm cho tính mạng. Ông hẹn ngày, và nói sẽ đút cái “ống cống” vào mạch máu cho tôi, dễ lắm, chưa đầy nữa tiếng thì xong. Chỉ nằm bệnh viện một hôm rồi về nhà. Tôi yên chí lớn. Sá gì một hai cái ống kim loại nằm trong thân thể. Đúng ngày hẹn, ông bác sĩ cho đè tôi ra, cắt mạch máu ở háng, đút cái ống thông lên tận tim. Thật lạ, tôi không thấy đau đớn chi cả. Chỉ khi ông bơm thuốc nhuộm vào mạch máu qua cái ống, thì cảm thấy nóng nóng, ấm ấm. Tôi nhìn vào màn truyền hình, thấy màu đen tỏa ra nhiều nhánh như hệ thống thượng nguồn của sông rạch. Ông bác sĩ chỉ cho tôi chỗ mạch máu bị nghẹt. Ông nói, mạch nầy đã nghẹt 100% nếu không thì sẽ thấy máu đi vòng qua bên kia. Ông cho biết hai mạch bị nghẹt nặng, một mạch khác bị nghẹt 60%. Không thể đặt “ống cống” thông (sten) được. Ông cắt cử bác sĩ giải phẩu cho tôi, và định luôn ngày mổ banh ngực. Tôi cũng hơi ngạc nhiên, và không ngờ tình trạng trái tim của mình tệ đến thế. Rồi tôi làm đủ các thủ tục. Được dặn dò điều gì phài làm trước ngày lên bàn mỗ. Cho tài liệu đọc, để biết sơ sơ về mổ cái gì, mổ ra làm sao, và làm cái gì trong lúc mổ. 

Để biết lý lịch và kinh nghiệm của ông bác sĩ sắp giải phẩu cho tôi, tôi mở internet ra, vào Google, rồi đánh máy tên ông bác sĩ vào. Mở cái web có tên ông ấy ra, tôi sẽ biết rỏ năm sanh, học trung học ở đâu, đại học ở đâu, tốt nghiệp năm nào, làm ở nhà thưong nào bao nhiêu năm, làm gì, đưọc huy chưong, tưởng thưởng nào. Tôi không ngờ, ông bác sĩ sẽ mổ cho tôi, là trưởng khoa tim ở bệnh viện tôi sắp nằm, và ông nầy có rất nhiều kinh nghiệm trong việc mổ tim. 

Tôi về nhà, lục internet xem về mổ tim. Qua mạng lưới Google, tôi tìm mục mổ tim (open heart surgery), tìm ra được rất nhiều bài viết, phim chiếu rất rõ ràng, hay. Có nhiều mục chiếu video cuộc mổ tim. Chiếu từ khi rạch ngực, cưa đôi cái xương sụn nối với các xương lồng ngực, banh lồng ngực ra, và khâu vá, mổ, đóng lại. Xem thì hơi ớn, vì thấy ghê quá, banh toác bộ xương sườn ra, mà mằn mò, khâu vá như một ông thợ may vụng vềtập may, trong khi trái tim vẫn đập thoi thóp co bóp. Nếu không “cóc cần” mọi sự, thì e cũng lo lắm. Ai sắp mổ ngực, nếu sợ chết, thì đừng xem các video nầy mà sợ. Không thấy, không biết, thì yên tâm hơn. Đỡ sợ. 

Trước khi mổ tim mấy ngày, bệnh viện dặn dò tôi làm phải giữ gìn sức khỏe kỹ lưỡng, đừng để bị ho hen, cảm cúm, Vì nếu bị bệnh khác, thì cuộc mổ sẽ hoãn lại, hoặc bị nhiểm trùng trong khi nổ, rất khó bình phục và nguy hiểm. Họ phát cho tôi khá nhiều tài liệu để đọc, nhiều giấy tờ dặn dò làm việc gì trước, việc gì sau, phải ghi xuống giấy để nhớ theo thứ tự. Cái bàn của tôi, vung vải giấy tờ lộn xộn. Biết là có thể “đi đong” cái mạng già trong cuộc giải phẩu, tôi làm một bảng liệt kê nhắc nhở và dặn dò bà xã phài làm gì, làm gì, nếu tôi không còn nữa. Điều cần nhất là đừng có khóc lóc, buồn bả, vì chết cũng là một tiến trình của đời sống. Đừng có làm đám tang um sùm, đừng tụng kinh gõ mõ cầu siêu, cũng đừng cáo phó, đừng vòng hoa, đừng hòm tốt. Giản dị đem thiêu, rồi lấy tro. Sau đó, làm gì với mớ tro đó cũng được.

Trước khi mổ mấy hôm, tôi giữ gìn vệ sinh kỹ lắm. Mặc thật ấm áp, ăn uống điều độ, ăn chất hiền lành, ngủ nghê đầy đủ. Ít dám đi ra ngoài, tránh đám đông. Thế mà trước khi mổ hai hôm, gia đình đứa cháu kêu điện thoại, nói là còn chừng bốn mươi lăm phút nữa thì sẽ ghé thăm. Họ đi xa bốn trăm dặm để thăm tôi, lẽ nào từ chối được. Họ nói là nghe cậu sắp đi mổ, đến thăm và chúc may mắn. Tôi và vợ vôi vã dọn dẹp lại căn phòng khách bừa bãi, lộn xộn, quét nhà, lau chùi, đang bệnh mệt, lại mệt thêm, giữa mùa đông mà mồ hôi vã ra. Mấy lần vợ chồng mệt quá, gắt nhau. Cả gia đình đưá cháu gồm năm người, vừa ho hen, vừa hít mũi sụt sịt. Họ ngồi trong phòng khách mà nhảy mũi lia lịa, làm bà xã tôi sợ hải, tái mặt. Tôi cũng ngại mình bị nhiễm bệnh, chỉ cười mà không dám nói ra. Họ ngồi chơi chừng một tiếng đồng hồ. Tôi cũng mệt lắm, nhưng không dám đi nằm. Sau khi gia đình đứa cháu đi rồi, chúng tôivội vàng bày lại giấy tờ cần thiết ra bàn lại, và nhất định không bốc điện thoại. Ai kêu cũng không bắt. Bệnh viện có gì khẩn cấp thì nhắn lại trong máy. Bây giờ, tôi mới có cái kinh nghiệm là đừng đi thăm ai trước khi họ sắp lên bàn mổ, và đừng thăm họ sau khi họ mổ xong về nhà. Vì thời gian nầy, sức khoẻ của họ rất mong manh, rất dễ bị nhiễm trùng từ người khác. Vã lại, họ đang mệt, đừng làm họ mệt thêm, mình thì vì thương mến họ, đến thăm viếng, nâng đỡ tinh thần, và nếu không thăm, thì sợ bị trách là vô tình. Nhưng nếu chờ họ bình phục rồi đến thăm thì tốt hơn, vui hơn. 

Bệnh viện hẹn tôi 5 gờ sáng. Tôi phải dậy lúc 3 sáng giờ sửa soạn, 4 giờ thì anh bạn hàng xóm lái xe đưa tôi đi. Đến nơi, bệnh viện còn đóng cửa. May nhà tôi không xa bệnh viện, có nhiều bệnh nhân phải ngủ tại khách sạn đêm trước đó, để kịp giờ hẹn. Những y tá, nhân viên làm thủ tục giấy tờ trước khi lên bàn mổ rất dịu dàng, vồn vã, tử tế. Cũng làm cho tôi cảm thấy vui trước khi lên bàn mỗ. Nhắc tôi rằng, đời còn có nhiều người dễ thương lắm. Một ông y-tá già, cầm cái dao cạo điện, hỏi han tôi ngọt ngào, và ông bắt đầu cạo lông lá cho tôi, cạo từ dưới háng cạo lên bụng, ngực. Trơn tru, sạch sẽ. Ông vừa cạo vừa mĩm cười. Sau đó, tôi được đẩy vào phòng mỗ. Trên đường vào phòng mỗ, tôi nghĩ rằng, mình đã về hưu được đúng hai năm, đã được nghỉ ngơi, thong dong, đi chơi, vui thú, làm biếng, không lo lắng, không bận rộn, nhàn nhã, thảnh thơi. Thế thì hôm nay, nếu cuộc giải phẩu thất bại, cái thân nầy được chở xuống nhà xác, thì cũng khỏe, không có gì để tiếc nuối cả. Nghĩ thế, tôi sướng quá, và cười thành tiếng. Ông y-tá đẩy xe ngạc nhiên, chắc chưa thấy một “thằng điên” nào vui vẻ cười tươi như vậy trước khi được mổ tim, nguy hiểm đến tính mạng. Ông hỏi tôi cười cái gì, giờ nầy mà còn cười được, không lo lắng hay sao. Tôi cho ông biết lý do tại sao tôi cười sung sướng, ông vỗ vào chân cái bộp, và khen tôi chí lý. 

Thực tâm mà nói, thì sống chết đối với tôi, cũng không quan trọng lắm. Không chết trẻ, thì chết già. Không chết bây giờ, thì sau nầy cũng chết. Con người phải già, phải chết, để cho các thế hệ trẻ lớn lên thay thế, thế giới sung sức hơn. Cứ thử giả dụ như, con người không chết, thì bây giờ, cả thế giới đầy cả người già lụ khụ, già chiếm chín phần, trẻ chỉ một phần. Thế giới nây toàn ông bà già mấy trăm tuổi, chống gậy lê từng bước, xe lăn đầy phố phường, đường xá. Thế thì lấy ai mà sản xuất, nuôi nấng nhân loại. Bởi vậy, tôi bình tỉnh, và nghĩ rằng được sống cũng vui, mà được chết, cũng vui không kém

Vào phòng mỗ, từng y tá tự đến giới thiệu tên tuổi, và cho tôi biết phần hành của họ. Tôi cũng vui vẻchào, nói vài lời xả giao bình thường. Khi bác sĩ gây mê đến, xưng danh, và nói cho tôi biết, ông sẽ chuyền thuốc mê cho tôi. Tôi chỉ kịp chào xã giao, và sau đó, mê man ngay, không còn biết trời trăng chi nữa cả. Giá như, có chết khi đó, thì cũng được nhẹ nhàng, êm thấm, mau và tiện lắm. Tôi hoàn toànkhông biết việc gì đã xẫy ra. 

Chừng mười giờ sau, tôi mơ màng tỉnh dậy trong phòng “hồi sinh”. Nghe tiếng bà y tá kêu lớn, và vặn nhạc lớn, kêu tôi mở mắt ra, đừng nhắm mắt lại. Tôi cố gắng hết sức, mà hai mí mắt cứ kéo trì xuống, cứ he hé chút xíu, lại bị nhắm lại. Tôi cũng nhớ là mình đang qua cuộc giải phẩu tim. Nghe tiếng bà xã tôi phụ kêu với bà y tá, tôi cố gắng mĩm cười cho vợ yên lòng. Nhưng không biết miệng có cười được hay không. Khi tôi mở mắt đưọc, tôi thấy bà y tá, bà chị tôi và bà xã đang đứng bên giường lo lắng. Tôi đếm được hai mươi mấy cái ống nối vào ngực, vào họng, vào tay, vào mũi, và có tiếng xì xèo của cái máy bơm nào đó, mà tôi tưởng đâu bên cạnh giường có cái hồ nuôi cá, máy bơm nước đang chạy. Tôi thầm nghĩ, thế là cũng chưa “đi đong” cái mạng già được. Thuốc mê làm tôi hơi buồn nôn và chóng mặt.

Suốt đêm hôm đó, một bà y tá da den, mập ú, thức và chăm sóc tôi. Chừng mươi phút, mười lăm phút, bà vào châm thêm thuốc vào bình dang treo, châm thêm máu, xem lại biểu đồ nhịp tim, ghi chú vào sổ. Công việc liên miên, không biết thủ tục bắt buộc, hay bà là người có lương tâm, nên làm việc hết lòng. Rồi rút máu tôi, tiêm thêm thuốc, nhiều lần kê lại gối nằm sau lưng tôi, hỏi han tôi rất tử tế, dịu dàng. Cổ tôi khô như đốt. Bà cho tôi cục nước đá nhỏ như viên kim cương, ngậm trong miệng cho đỡ khát. Khi đó, đúng là quý viên kim cưong ngậm trong miệng. Không được uống nước. Tôi khôi hài, tự ví bà y tá là Đức Bà Quan Âm đang ban giọt cam lồ (cục nước đá) cho người khổ nạn. Suốt một đêm, bà không ngủ, loay hoay quanh giường tôi. Tôi thật tình cảm động. Có những người vì nghề nghiệp, chỉ làm cho xong bổn phận, làm vừa phài thôi. Bà y tá nầy, làm với cả tấm lòng, tưởng như tôi là thân nhân ruột thịt trong gia đình. 

Vừa mổ xong chiều hôm qua, mà sáng nay, lúc 5 giờ sáng, y tá đã bắt tôi ngồi dậy trên ghế, dây nhợ lòng thòng hơn hai chục sợi dính từ mũi, miệng, ngực, bụng, chim. Tôi không thể tưởng tượng được, có là muốn hành hạ bệnh nhân chắc. Mệt và chóng mặt lắm. Bà y tá bảo tôi phải ngồi như vậy trong một giờ đống hố. Ngồi được chừng 25 phút, hết sức chịu đựng, tôi xin bà cho mằm, vì mệt quá. 

Nằm phòng hồi sinh được hai đêm, sáng hôm sau họ đẩy tôi xuống phòng bệnh thường, và bắt tôi tập đi bộ mỗi ngày và tắm. Khiếp, vết thương dài hơn hai tấc, còn rỉ máu còn tươi, và nhiều cái lỗ trên ngực, có ống lớn bằng ngón tay nối từ trong tim, trong phổi lòng thòng ra ngoài, dính với cái máy, cái bình. Thế mà bắt tôi tắm vòi sen, tắm xong y tá dùng khăn chậm khô ngực, không dám lau. Trước khi đi mổ, bà xã tôi ép ăn, để có đủ sức khỏe mà qua cuộc giải phẩu. Tôi ăn cho vợ vui. Nhưng sau khi mổ xong, bị bón. Cái ruột già căng cứng như muốn nổ ra. Ba bốn ngày không đi tiêu được. Không được rặn, vì sợ các mối chỉ may tại nơi mổ bung ra. Hai y tá cho tôi uống nước trái mân đen, cũng không hiệu quả. Tôi phải dùng đến thủ thuật đề cho phân ra, mà cũng vô hiệu. Cái bụng cứng ngắt, rất đau đớn, khó chịu. Y tá cũng không giúp tôi được gì. Đêm nằm trên giường, tôi nghĩ thầm, chắc mình không chết vì bệnh tim, mà chết vỉ vỡ ruột già. Cứ lăn lộn mãi, có khi thiếp đi chừng năm phút. Tôi gần như mê sảng. 

Trong thời gian đau ốm, bịnh hoạn, khi nào tôi cũng giữ được tinh thần khôi hài, ngạo nghễ, xem thường, thế mà hôm nầy, tinh thần tôi xuống lắm. Khi nữa đêm, tôi hé mắt ra, trong bóng mờ, thấy một bà y tá da đen. Lúc nầy là đổi phiên trực gác của các y tá chăm sóc con bệnh. Ngọn đèn phiá sau người y tá làm thành một vòng hào quang trên đầu bà. Tôi vốn không tin theo một tôn giáo nào, và cũng chẳng tin vào thần thánh, nhưng buột miệng thều thào hỏi: “Có phải bà là thiên thần mà Thượng Đế gởi xuống để giúp tôi không?” Bà cười, nhẹ nhàng đặt tay lên trán tôi, và hỏi, bà có thể làm gì để giúp tôi không. Tôi nói với bà, là tôi có cảm tưởng cái ruột già của tôi sắp nổ tung vì bón mấy hôm nay. Bà mau mắn cho tôi thuốc nhét hậu môn. Không kết quả. Bà bảo tôi nằm nghiêng, co chân, và trải nhiếu khăn ra giường, quấn nhiều khăn làm vòng đai bao quanh vùng khăn trải. Rồi bà đưa ngón tay vào hậu môn, mà móc phân ra từ từ, từng chút một. Cẩn thận, nhẹ nhàng. Khi phần cứng của phân moi ra hết, thì phần bên trong chạy phọt ra. Tôi thấy người nhẹ như đang bay bổng lên không trung. Như trên vai mọc cánh, đang bay lượn giữa trời. Khỏe hẵn. Bà y tá dọn giường, và cho tôi viên thuốc ngủ. Tôi cám ơn bà. Nụ cười trên môi bà hiền từ làm tôi liên tưởng đến những bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi nắm lấy tay bà mà cám ơn. Dù đã được uống viên thuốc ngủ, nhưng khi bà đi rồi, tôi vẫn cảm động thao thức mãi. Nằm không yên, tôi lấy giấy bút, trong cơn xúc động vì lòng tử tế, vì tình người lai láng, tôi viết một bài thơ, nhan đề là “Belinda”, tên của bà y tá. Có lẽ cũng là loại thơ con cóc. E rằng, lời lẽ cũng ngô nghê như một ông ngoại quốc làm thơ bằng tiếng Việt. Viết xong bài thơ, tôi yên tâm ngủ một giấc dến sáng. 

Đêm hôm sau, tôi đưa cho bà. Đọc xong, bà cảm động, ôm tôi mà khóc. Bà nói riêng cho tôi biết, bà là nữ Mục Sư đang điều hành một nhà thờ tin lành trong thành phố nầy. Đúng là bà có trái tim của một nữ Thánh. Có lẽ, trước khi đi mổ lớn, chỉ nên ăn thức ăn lỏng, đừng ăn chất đặc, chất xơ, vì thế nào cũng bị bón. Ông bác sĩ giải phẩu cho tôi cũng rất tử tế. Nhiều hôm sau ca mổ, đã 9 giờ đêm, ông còn ghé thăm tôi, hỏi han kỹ lưỡng, dịu dàng. Cái lưng ông còng xuống, có lẽ do cứ cúi xuống lâu trên bàn mổ mải thành còng lưng. Tôi nghĩ, đa số những người làm việc trong bệnh viện nầy, ngoài mục đíchmưu sinh, còn cả một say mê nghề nghiệp, và cả tấm lòng nhân từ. 

Sau khi mổ, vết cắt lớn, mà tôi không thấy đau đớn, nhức nhối gì cả. Hồi phục rất mau, vết thương kéo da cũng nhanh, làm các y tá và bác sĩ ngạc nhiên. Cũng nhờ một ông bà con có kinh nghiệm dặn, khi nào cảm thấy đau nhức sơ sơ, thì xin thuốc giảm đau ngay, đừng để cho đau quá, vì phải có thời gian, thuốc mới hiệu nghiệm. Trong thời gian dưỡng bệnh, tôi ráo riết ôn lại tiếng Pháp để chuẩn bị đi chơi Âu Châu, nên cũng không có thì giờ nghĩ đến bệnh, đến đau đớn. 

Dẫm lên chân bác sĩ, tôi viết sơ về các bệnh dau tim, như múa một đường quyền hoang dại. Sách viết rằng, bệnh liên quan đến tim, rất nhiều khi là “những bước chân âm thầm“, không báo trước. Bệnh tim có nhiều loại khác nhau. Thông thường nhất là suy tim, nghĩa là tim không chuyển vận máu đủ cho nhu cầu. Cứ 100 ngưòi Mỹ, thì có 1 người bị bệnh nầy. Nước Mỹ có hơn 2 triệu người suy tim. Tốn phí bệnh viện rất lớn. Trong một năm, những người bị suy tim chết đến 15%, Kế dến đau tim bẩm sinh, sinh ra đã bị đau tim rồi, vì cấu tạo tim mạch không được bỉnh thường. Cứ 1000 em bé sinh ra, có đến 6 đến 8 em bị đau tim bẩm sinh. Bệnh nầy chữa được, bác sĩ sẽ mổ và điều chỉnh lại. Sau nữa là nghẽn mạch máu tim và động tim. Một năm có hơn 1.5 triệu người Mỹ bị bệnh nầy. Sẽ có hơn 500 ngàn ngưòi chết, và khoảng 300 ngàn người đưọc mổ tim. Kế đến là bệnh tim đập sai nhịp và bất tỉnh. Sau đến là van tim bị hư hỏng, rồi đến bệnh mạch máu bị thương tật, bị phình, teo. Cuối cùng là màng bao tim bị bệnh

Ai muốn biết rõ hơn, xin vào thư viện mượn cuốn “Mayo Clinic Heart Book” mà đọc, rất hay, viết cho người thường đọc. Kinh nghiệm của những người đau tim cho biết, khi có ít hay nhiều triệu chứng sau đây, thì đừng nên coi thường: đau ngực, thở gấp, hay mệt, sưng, bất tỉnh, nhức đầu lâm râm, nhịp đập tim bất thường, tê tay hay chân, màu da không bình thường, té xỉu, thay dổi bất chợt về thị giác, nói năng, và cảm xúc

Khi nào thì nên đi bác sĩ? Khi triệu chứng đau tim mới có, triệu chứng càng lúc càng nặng, triệu chứngtrở nên trầm trọng, triệu chứng làm thành lo lắng, triệu chứng tái diễn. Những người yêu nhiều thì thường bị nhói tim, không biết có chuyển qua bệnh đau tim không. Nhưng những người ăn nhiều chất béo bổ, chắc chắn sẽ đau tim, cho nên có rất nhiều người sợ các chất béo, ngọt, mặn, như sợ thuốc độc. Lo lắng, bị áp lực, muộn phiền nhiều cũng sinh ra đau tim. Bởi vậy, có ông Mỹ đau tim nằm chung bệnh viện với tôi, nói đùa rằng: “Bà nào muốn làm goá phụ sớm, thì cứ cằn nhằn ông chống cho nhiều vào, rồi thế nào cũng được mãn nguyện sớm.” Mấy bà nghe, háy nguýt ông sắc như dao chém./.

Đảng làm luật bán nước

Đảng làm luật bán nước

Ngô Nhân Dụng

Ngày 15 tháng Sáu, Đảng Cộng sản sẽ cho biểu quyết Luật Đặc khu, hàng ngàn người thuộc hàng trăm tổ chức đã lên tiếng phản đối. Vì cả nước đang nghi ngờ dự luật này sẽ mở đường cho Cộng sản Trung Quốc có ngày sẽ chiếm nước ta.

Dự luật này sẽ lập ba đặc khu kinh tế tại ba vùng biển: Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), và Phú Quốc (Kiên Giang); với quy chế hành chính đặc biệt ưu đãi giới đầu tư. Mối lo chính của giới trí thức nước ta là các đặc khu này sẽ mở cửa cho các công ty Trung Cộng lợi dụng các ưu quyền để xâm nhập và bắt rễ, để có ngày nước Việt Nam sẽ biến thành như Tân Cương, Tây Tạng.

Nhà phân tích Nguyễn Quang Dy ở trong nước, nhận định: Trong khi Trung Quốc ráo riết quân sự hóa và kiểm soát Biển Đông, … chắc họ sẽ tăng cường bành trướng thế lực để chiếm các vị trí hiểm yếu trên đất liền. Đặc khu kinh tế là một miếng mồi ngon mà họ thèm muốn…

Ông dẫn ý kiến của chuyên gia kinh tế Vũ Quang Việt, ở Mỹ, nhận xét rằng các quy định trong dự luật về đặc khu chủ yếu nhằm vào thị trường địa ốc (property) và đánh bạc (casino) chứ không nhằm thu hút đầu tư công nghệ cao. Casino và nghề mại dâm sẽ phát triển “vì đây là nơi duy nhất (tại Việt Nam) các hoạt động này được phép hành nghề tự do”; sẽ gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm.

Trong khi đó, ông Vũ Quang Việt nhấn mạnh, “cái mà Việt Nam cần là công nghệ cao và giáo dục để tăng năng suất lao động, phát triển công nghiệp và kinh tế trí thức, chứ không phải là phát triển địa ốc và casino”. Ông nhắc lại rằng năng suất lao động của Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới (thấp hơn Singapore 15 lần).

Một điều đáng lo nhất là dự luật này mở đường cho bọn tham quan bán nước công khai. Chức “chủ tịch đặc khu” được trao quyền hành như những vua con để tiếp tay tài phiệt nước ngoài; như Võ Kim Cự đã làm tay sai cho Formosa ở Vũng Áng; với quyền cho nhà đầu tư nước ngoài thuê đất 70 năm, 99 năm nếu Thủ tướng đồng ý. Ngay tên gọi chức vụ này “Trưởng khu hành chính” cũng rập theo chức “hành chánh trưởng quan” mà Trung Cộng đặt cho người đứng đầu Hồng Kông hiện nay. Thế kỷ 19, nhà Thanh đã phải nhượng Hương Cảng cho người Anh với thời hạn 99 năm, sau khi bại trận mấy lần. Bây giờ Cộng sản Việt Nam tự nguyện hiến dâng.

Những ưu đãi giành cho tài phiệt ngoại quốc có thể biến các đặc khu thành lãnh địa của họ. Họ chỉ cần đầu tư 110 tỷ đồng ($5 triệu đô la) sẽ được cấp thẻ tạm trú 10 năm, được miễn thuế thu nhập trong vòng 5 năm và giảm tiếp 50% sau đó. Họ được miễn thuế thuê đất 30 năm, có thể bán lại tài sản và tài sản được thừa kế. Họ được quyền thuê người nước ngoài vào làm việc 180 ngày trong một năm, không cần giấy phép lao động.

Những ưu đãi này sẽ dẫn đến một làn sóng di dân mới, đặc biệt là giới lao động không có nghề chuyên môn từ Trung Quốc. Các xí nghiệp Trung Cộng đã đưa công nhân của họ tràn ngập khắp nước ta, lập các “thành phố Tàu” từ Formosa Hà Tĩnh tới các mỏ bauxite ở Tây Nguyên.

Ông Nguyễn Quang Dy nhắc lại: “trước đây hầu hết các dự án lớn tại Việt Nam rơi vào tay các tập đoàn Trung Quốc, … Ngoài Vũng Áng (đã nằm trong tay Trung Quốc), Vân Phong và Cửa Việt là hai vị trí chiến lược hiểm yếu đang bị Trung Quốc nhòm ngó. Từ Bắc Trung bộ đến Nam Trung bộ, nhiều vị trí phòng thủ chiến lược đã và đang được giao cho doanh nghiệp làm dự án mà không tính đến yếu tố an ninh quốc gia. Tại Đà Nẵng và Nha Trang, nhiều vị trí phòng thủ chiến lược dọc bờ biển đã bị các doanh nghiệp Trung Quốc chiếm”. Và lo lắng: “không có lý gì các đặc khu kinh tế đó lại không rơi vào tay họ và biến thành các tô giới của Trung Quốc’.” Ông viết: “Ninh Bình không phải là đặc khu kinh tế, nhưng đã là ‘vương quốc’ riêng”.

Khi có tranh tụng giữa người nước ngoài và người Việt, Luật Đặc khu còn cho phép các bên được lựa chọn toà án nước ngoài xét xử. Điều kiện này không khác gì những đòi hỏi tài phán mà các đế quốc Tây phương đã bắt triều đình nhà Thanh bên Tàu và nhà Nguyễn ở nước ta phải theo trong thế kỷ 19. Khi đó, các đế quốc đã dí súng vào đầu đám vua quan để được quyền “ngoại tài phán” trong các tô giới. Bây giờ Cộng sản Việt Nam tự nguyện hiến dâng.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải, Vũng Tầu lo rằng: “…chắc chắn ba Đặc khu ấy sẽ là ba thành phố Trung Hoa khổng lồ. Và chỉ trong vòng 30 năm vừa tăng trưởng dân số… và di dân, tối thiểu mỗi nơi ít nhất có từ 7 triệu đến 10 triệu người. Vài ba chục triệu người Trung Hoa nối đời sinh ra trên mảnh đất 99 năm ấy…” Ông báo động: “Thử xem dân tộc Uyghur ở Trung Á bị… nhập vào lãnh thổ Trung Hoa từ cuối thế kỉ 19… Năm 1949, tỉ lệ người Hán trên vùng lãnh thổ này chỉ chiếm 4%. Tới năm 2000 người Hán đã chiếm tỉ trọng 46%. Vài năm gần đây người Hán đã áp đảo với tỉ lệ 60/40.

Nhưng trên đây chỉ là những mối lo xa nếu chúng ta sống trong thời bình. Mối lo gần hơn, như ông Nguyễn Quang Dy nêu lên là, “Nếu xung đột tại Biển Đông xảy ra thì ba đặc khu Vân Đồn, Vân Phong, và Phú Quốc có ý nghĩa chiến lược hiểm yếu,… không chỉ đối với Việt Nam mà còn cả các nước ASEAN”. Bởi vì, “Nếu ba vị trí chiến lược đó bị đối phương (Trung Quốc) chiếm thì coi như hết cờ (và “xong phim”).

Ông giải thích: “Vân Đồn… án ngữ cửa ngõ phía Đông Bắc, để ngăn chặn thủy quân Trung Quốc xâm nhập bằng đường biển, như thời Ngô Quyền chống quân Nam Hán (938), thời Lý Thương Kiệt chống quân Tống (1075- 1077), thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên Mông (1287-1288). Nếu Vân Đồn có vị trí chiến lược… nhìn ra Vịnh Bắc Bộ, thì Phú Quốc có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ phía cực Nam nhìn ra Ấn Độ Dương, trong khi Vân Phong có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ Miền Trung nhìn ra Biển Đông”.

Nhà báo Thiên Điểu mô tả: “Vân Đồn rõ ràng chỉ phục vụ cho hàng hóa Trung Quốc ra Biển Đông. Nghĩa là Việt Nam chỉ thu được tiền ‘cho thuê bến bãi’ là chính; nhưng sẽ không dễ cạnh tranh với cảng Phòng Thành; Thẩm Quyến…” ở bên Tàu. Trong khi đó, “Phú Quốc có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ phía cực Nam nhìn ra Ấn Độ Dương,… bất cứ ai cũng hiểu được giá trị của Phú Quốc nếu các tuyến hàng hải (nối vùng Đông Nam Á tới Australia, Nhật Bản, Trung Đông, châu Âu, châu Phi) được hình thành cho những tàu tải trọng lớn của thế giới đi qua.

Ông Nguyễn Quang Dy nhắc nhở: “…người ta đã chóng quên bài học xấu về các dự án lớn như ‘đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng’, khai thác bauxite Tân Rai và Nhân Cơ; cũng như kinh nghiệm xấu tại Chu Lai (Quảng Nam, 2003), Dung Quất (Quảng Ngãi, 2005), Nhơn Hội (Bình Định, 2005), Chân Mây (Thừa Thiên, 2006), Vân Phong (Khánh Hòa, 2006), Phú Yên (2008).

Ông đặt câu hỏi Tại sao các nơi đó thất bại? Và trả lời: “không cải tổ thể chế để kiểm soát quyền lực và tham nhũng, thì các mô hình phát triển tương tự sẽ lặp lại bài học ‘lợi bất cập hại”.

Nhận xét này vạch ra tai họa của nước Việt Nam hiện nay: Một chế độ độc tài đảng trị, ra lệnh cho quốc hội bù nhìn làm ra những đạo luật bán nước. Không ai ngoài đảng được quyền tự do phát biểu ý kiến, không ai được tự do lập hội, lập đảng để tranh đấu bảo vệ tổ quốc.

Nhật báo Người Việt hoan nghênh và ủng hộ bản ý kiến của giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước ký ngày 30 tháng 5 năm 2018, yêu cầu các đại biểu: “KHÔNG biểu quyết thuận để thông qua dự luật Đơn vị Hành chính-Kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc”. Và “KHÔNG tiếp tay cho đám tư bản đứng sau đề án này”.

Tuy nhiên, chúng ta không hy vọng Việt Cộng sẽ chịu lắng nghe những lời nói phải. Bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã thú nhận: “Bộ Chính trị đã chỉ đạo, (quốc hội) phải bàn để ra luật”. Biết hậu quả của dự luật này, phải nói rằng họ sẽ cho ra một đạo luật bán nước.

Nhà văn Nhất Chi Mai, là sinh viên chuẩn bị ra trường của Đại học Y Dược ở Việt Nam, đã chỉ mặt Đảng Cộng sản để hỏi: “Vì sao tôi cho rằng nguy cơ mất nước quá rõ ràng? Năm 1958 trong Công hàm Phạm Văn Đồng các vị đã giao chủ quyền Hoàng Sa cho Trung Cộng. Năm 1988 Lê Đức Anh ra lệnh ngưng nổ súng cho Trung Cộng chiếm Gạc Ma ở Trường Sa, 64 chiến sĩ Việt Nam làm bia cho bọn Tàu bắn. Năm 1979 Trung Cộng kéo quân xuống… đòi dạy cho tập đoàn Lê Duẩn một bài học, 6 vạn quân và dân Việt Nam tử thương. (Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã ở châu Âu) các vị đã nhận Trung Quốc làm cha đỡ đầu trong Hội nghị Thành Đô. Năm 1999 các vị lại cắt ẢI NAM QUAN, THÁC BẢN GIỐC cho Trung Cộng.

Dự Luật Đặc khu là một bước nữa trên con đường bán nước của Đảng Cộng sản.

N.N.D.

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/mot-du-luat-ban-nuoc/

Lại thêm người chết trong đồn công an ‘trong tư thế treo cổ’

Lại thêm người chết trong đồn công an ‘trong tư thế treo cổ’

Vợ và con trai bên cạnh quan tài ông Nguyễn Hữu Tấn, chết với vết cắt rất sâu vòng quanh cổ chỉ sau một ngày bị công an tỉnh Vĩnh Long bắt giữ hồi Tháng Năm, 2017. (Hình: Facebook Lê Nguyễn Hương Trà)

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Một người đàn ông 31 tuổi được báo cáo là “chết trong tư thế treo cổ” tại nhà tạm giữ của công an thành phố Cà Mau.

Trong bản tin hôm Thứ Ba, 5 Tháng Sáu, 2018, tờ Thanh Niên thuật lại theo báo cáo ngày 5 Tháng Sáu, 2018, của công an thành phố Cà Mau, cho biết: “Khoảng 3 giờ 35 phút cùng ngày (5.6), cán bộ nhà tạm giữ phát hiện ông Nguyễn Việt Khoa (31 tuổi, ngụ khóm 3, phường 8, thành phố Cà Mau) trong tư thế treo cổ tại buồng giam số 1, khu C của nhà tạm giữ.”

Năm nào cũng xảy ra hơn chục vụ nghi can hay người bị tạm giữ chết bất thường tại trụ sở công an các nơi tại Việt Nam. Phần lớn vu cho họ tự tử. Đây là các chối tội giết người quen thuộc của công an CSVN dù những dấu hiệu tra tấn, nhục hình dẫn đến cái chết của họ nhìn thấy rất rõ bằng mắt thường. Pháp y của công an CSVN là “người nhà” nên luôn luôn vo tròn bóp méo các chứng cớ để giúp đám điều tra viên thoát tội.

Dù vậy, cũng không thấy tờ Thanh Niên cho hay ông Khoa có được khám nghiệm pháp y hay không. Không thấy có hình ảnh nào của Nguyễn Việt Khoa sau khi chết mà chỉ viết thòng thêm câu quen thuộc, “Hiện vụ việc đang được điều tra làm rõ.”

Một vụ khác, hồi đầu Tháng Tư vừa qua, cũng tờ Thanh Niên cho hay (và cũng theo báo cáo của “Ủy Ban Nhân Dân” thành phố Cà Mau) thì “lực lượng chức năng tiến hành mời” ông Nguyễn Trọng Tý, 57 tuổi, “về trụ sở để làm rõ. Nhưng ông Tý không chấp hành.”

Lý do là, trưa ngày 1 Tháng Tư, 2018, ông Tý bị bà L.T.H, 37 tuổi, ngụ khóm 4, P.6, thành phố Cà Mau, đến công an P.7 “trình báo việc mình bị ông Nguyễn Trọng Tý chửi, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”

Tờ báo viết, “Khi lực lượng làm nhiệm vụ ra về thì ‘bất ngờ ông Tý tự bật ngửa và té xuống nền xi măng’ rồi tử vong sau đó.”

Không có một cuộc điều tra độc lập nào để biết sự thật “tự bật ngửa và té xuống nền xi măng rồi tử vong” của ông Tý hay ông ta chết vì một nguyên nhân nào khác.

Trong năm 2017, ít nhất có 13 người đã chết tại trụ sở công an CSVN tại các địa phương dù chỉ mới bị tạm giữ một vài giờ hay một hai ngày.

Đầu Tháng Năm, 2017, ông Nguyễn Hữu Tấn, một tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, ăn chay trường, sống bằng nghề bán hủ tíu chay dạo, đã chết với vết cắt rất sâu vòng quanh cổ chỉ sau một ngày bị công an tỉnh Vĩnh Long bị bắt giam khi vu cho ông “tàng trữ” cờ vàng ba sọc đỏ của VNCH. Thân nhân ông cho hay nhà của họ không có cờ VNCH nào hết. Để chạy tội giết người công an nói “trong khi bị giam, ông Tấn đã lấy dao rọc giấy của điều tra viên khi ông ta vắng mặt để tự tử.”

Công an Vĩnh Long còn đưa ra chứng cứ với một video clip mờ mờ ảo ảo và ông lại mặc quần áo tù sọc dù ông mới bị bắt, chưa có án để bị bắt mặc quần áo tù nhân. Khi nhìn thi thể ông Tấn, thân nhân thấy sọ ông bị móp sâu, cổ có 3 vết cắt rất dài và rất sâu không kể những vết tích khác vì không thể tự gây ra được những thương tích đó.

Thân nhân ông Tấn bác bỏ những lời chối tội rất vụng về của công an Vĩnh Long và đòi làm rõ đến cùng để truy tố kẻ gây ra cái chết dã man cho ông, nhưng rồi vụ việc vẫn bị công an nhận cho chìm xuồng.

Hồi năm 2015, Bộ Công An CSVN báo cáo với Quốc Hội rằng trong thời gian ba năm từ 2012-2014, “số người bị bắt, tạm giữ hình sự lên tới trên 200 nghìn người.” Trong số đó “đã xảy ra 226 trường hợp chết tại nhà tạm giữ, trại tạm giam trên toàn quốc. Nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tử vong này được Bộ Công An lý giải là do bệnh lý và do đối tượng bị tạm giữ, tạm giam tự sát.” Nhiều báo tại Việt Nam đưa tin.

Sau báo cáo vừa kể, những năm sau, không thấy Bộ Công An báo cáo tiếp về các trường hợp chết bất thường khi người ta vừa mới bị tạm giam. Còn người dân thì vẫn tiếp tục chết đột ngột dù nhà cầm quyền CSVN đã ký vào công ước quốc tế về chống tra tấn và nhục hình của Liên Hiệp Quốc từ Tháng Mười Một, năm 2013. (TN)

Bùi Nguyễn Quỳnh Nga, qua Mỹ 6 năm, thủ khoa đại học Cal Poly Pomona

Bùi Nguyễn Quỳnh Nga, qua Mỹ 6 năm, thủ khoa đại học Cal Poly Pomona

Bùi Nguyễn Quỳnh Nga, sinh viên quản trị kinh doanh thủ khoa của Cal Poly Pomona. (Hình: Cal Poly Pomona cung cấp)

Thiện Lê/Người Việt

ROSEMEAD, California (NV) – Sinh viên đại học trên toàn nước Mỹ đã và đang vào mùa tốt nghiệp, trong đó có rất nhiều sinh viên gốc Việt. Tuy nhiên, không phải ai cũng có vinh dự được đọc bài phát biểu trong lễ tốt nghiệp trước hơn 10,000 sinh viên như Bùi Nguyễn Quỳnh Nga, một sinh viên gốc Việt của đại học California State Polytechnic Pomona, hay gọi tắt là Cal Poly Pomona.

* Qua Mỹ muộn nhưng học không muộn

Bùi Nguyễn Quỳnh Nga học ngành quản trị kinh doanh tại Cal Poly Pomona. Cô sinh ra ở Quảng Ngãi và mới sang Mỹ 6 năm. Cũng như nhiều người Việt trẻ đến Mỹ để định cư, cô rất coi trọng chuyện học vấn. Nhưng trường hợp của Nga rất đặc biệt.

Cô kể với phóng viên Người Việt rằng mình đang là sinh viên đại học năm thứ ba ở Việt Nam, chỉ còn hai học kỳ nữa là tốt nghiệp và nhận bằng thì bố mẹ quyết định đưa cả nhà sang Mỹ để đoàn tụ gia đình với ông bà nội ở Rosemead, California.

“Bố mẹ muốn Nga và những người em có một cuộc sống tốt hơn, có những điều kiện tốt hơn,” Nga kể.

Cô kể thêm về những khó khăn trong những ngày tháng đầu tiên sau khi qua Mỹ.

“Rào cản lớn nhất với Nga là ngôn ngữ vì giấy tờ phải chờ đợi hơn 10 năm nên Nga không nghĩ mình sẽ đi Mỹ thật. Khi qua đến đây thì người ta nói rất khó nghe vì học tiếng Anh ở Việt Nam, phát âm rất khác. Rào cản thứ hai là tài chính vì qua đây mình phải bắt đầu lại từ đầu, phải vừa đi học vừa đi làm để giúp bố mẹ có được cuộc sống ổn định hơn.”

Đối với hòa nhập vào cuộc sống ở xã hội Mỹ, cô cho biết các bạn bè ở trường rất dễ dàng và rất thân thiện nên Nga cảm thấy rất thoải mái. Cuộc sống thì hiện đại và rất dễ đáp ứng. Là một người từng học đại học ở Việt Nam, cô cho rằng hai nước khác xa nhau vì sinh viên ở Mỹ được nhà trường hỗ trợ rất nhiều từ tài chính đến thời gian và được quyền lựa chọn lớp học thoải mái để phù hợp với giờ giấc của từng người. Trường còn tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các chương trình học và gặp gỡ những cựu sinh viên đã đi làm để chia sẻ kinh nghiệm của mình.

Về chuyện học, Nga kể: “Mỗi ngày Nga đều đi học bình thường ở trường rồi còn đi dạy kèm cho những sinh viên cùng ngành để giúp họ về những môn yếu. Ngoài ra, Nga còn làm phụ tá, dạy cho các sinh viên học ngành tài chính hiểu biết thêm về trao đổi, mua bán cổ phiếu.

Trong email mà Cal Poly Pomona gửi đến nhật báo Người Việt, nhà trường cho biết Nga thường dùng kiến thức, hiểu biết về tài chính để giúp mọi người và các công ty cải thiện tình hình của mình. Nga kể: “Nga dùng kiến thức về tài chính mà mình học được để giúp những người không hiểu biết nhiều về thị trường để người ta làm ăn tốt hơn.”

Nga (áo tím, giữa) và gia đình tại nhà ở Rosemead. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

Đường đến thủ khoa

Khi sang Mỹ, Nga vào học đại học cộng đồng và có điểm GPA 4.0. Sau đó, cô chuyển lên Cal Poly Pomona và tốt nghiệp với điểm GPA 3.97, là thủ khoa của ngành quản trị kinh doanh. Vì vậy, cô được trường mời phát biểu tại lễ tốt nghiệp trước hơn 10,000 sinh viên vào ngày 9 Tháng Sáu tới đây.

Nhưng điều gì khiến Nga nỗ lực học hành như vậy? Cô cho hay: “Nga nghĩ con đường cơ bản nhất để thành công là con đường học hành. Nga muốn cố gắng để những người em của mình noi theo và chứng tỏ được bản thân rằng tuy là mình qua Mỹ sau, nhưng cũng có thể cố gắng hơn được những người khác.”

Cảm nghĩ của Nga về việc được phát biểu trước 10,000 sinh viên ra sao? Cô chia sẻ: Nga nghĩ mình qua sau người ta, điều kiện không bằng, nhưng cố gắng và nỗ lực của mình sẽ xứng đáng. Nga cảm thấy rất hãnh diện cho cả bản thân và cho gia đình.

Nga còn cho biết một số điều mà cô muốn nói tại lễ tốt nghiệp của Cal Poly Pomona.

“Nga muốn cám ơn những giáo sư và các nhân viên nhà trường đã giúp đỡ mình trong lúc đi học. Nga cũng muốn cám ơn gia đình và bạn bè lúc nào cũng bên cạnh để giúp đỡ mình. Nga muốn nói với các bạn cùng tốt nghiệp khóa 2018 rằng tốt nghiệp không phải là mục đích cuối cùng, mà chỉ là mở rộng một cánh cửa mới để tiến đến sự nghiệp mới. Tuy sẽ có nhiều trắc trở, nhưng Nga muốn mọi người giữ tinh thần cố gắng như lúc còn đi học và phải cố hơn nữa để theo đuổi được sự việc mình muốn làm.”

Với các bạn sinh viên trẻ tuổi, Nga tâm sự: “Khi đi học tất nhiên sẽ có nhiều khó khăn, trở ngại nhưng các bạn đừng nản lòng, đặc biệt là các bạn mới qua như Nga phải cố nhiều nữa để theo đuổi được ước mơ của mình.”

Gia đình Nga thì nghĩ sao về việc Nga là thủ khoa và được mời phát biểu trước toàn trường như vậy? Tuy không gặp được bố mẹ của Nga để hỏi cảm nghĩ, những phóng viên Người Việt được gặp bà Trần Thị Hương, bà nội của Nga.

Bà Hương cho biết: “Gia đình tui rất hãnh diện có một đứa cháu ngoan và rất chịu khó học hành từ hồi nhỏ đến giờ.”

Về tương lai sau khi tốt nghiệp, Nga cho biết cô đang đi phỏng vấn tìm việc ở một vài chỗ và cho rằng tương lai của mình đang rộng mở. (Thiện Lê)

Đề án đặc khu của Việt Nam: Ảo tưởng thành công

Nguyễn Anh Tuấn
RFA
2018-06-06

 

Thâm Quyến, Trung Quốc vào năm 2007

Thâm Quyến, Trung Quốc vào năm 2007

 AFP

Mô tả vẻ hào nhoáng của Thâm Quyến để bảo vệ đề án đặc khu của Việt Nam thật không thỏa đáng, bởi lẽ không lý giải được vì sao trong hơn 4300 đặc khu trên toàn thế giới tính đến thời điểm này, mà rất nhiều trong số đó được truyền cảm hứng từ thành công của Thâm Quyến, trường hợp thành công không phải chiếm đa số, trong khi con số đặc khu phải vật lột trong tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” (white elephants/voi trắng) gây lãng phí nguồn lực quốc gia thì không hề nhỏ.

Bởi vậy cần một cách tiếp cận khác: Chỉ ra các điều kiện cần thiết để có một chương trình đặc khu thành công theo kinh nghiệm quốc tế, từ đó so sánh với đề án đặc khu của Việt Nam để ước lượng khả năng thành công của đề án này trước khi lựa chọn một thái độ đối với nó.

Hai học giả Douglas Zeng (TQ, World Bank), Hyung-Gon Jeong (HQ, KIEP) – là những người có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu về đặc khu, trong một báo cáo có tên Thúc đẩy Tăng trưởng Năng động và Sáng tạo ở Châu Á: Trường hợp Đặc khu Kinh tế và Trung tâm Kinh doanh ấn bản bởi Viện Chính sách Kinh tế Quốc tế Hàn Quốc (KIEP) năm 2016, sau khi phân tích các trường hợp đặc khu thành công ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Hong Kong, Singapore, Dubai đã chỉ ra 10 điều kiện/yếu tố để một chương trình đặc khu có thể thành công,
như là bài học cho các nước đang phát triển. [1] Khuôn khổ bài viết có hạn nên không thể phân tích đối chiếu chi tiết từng vùng đặc khu Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc, mà chỉ điểm qua các điều kiện/yếu tố này, và dựa trên đó đưa ra những nhận định về đề án đặc khu của Việt Nam.

Đầu tiên, chìa khóa cho một chương trình đặc khu thành công đến từ cách tiếp cận “toàn thể chuỗi giá trị” (whole of value chain). Nôm na là xem quốc gia ấy nằm ở đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu, muốn tiến lên vị trí nào cao hơn, và chương trình đặc khu sẽ đóng vai trò gì trong tiến trình ấy. Như Việt Nam chẳng hạn, đang ở phân khúc thấp nhất của chuỗi giá trị toàn cầu với một nền kinh tế phụ thuộc vào lãnh vực sản xuất lấy gia công thâm dụng lao động (hàng điện tử, dệt may…) làm chủ lực, thì chương trình đặc khu này sẽ giúp nâng tầm nền kinh tế quốc gia thế nào khi những nơi được chọn đều nằm xa các vùng động lực kinh tế, và lại quá chú trọng tới những lãnh vực tách biệt như casino, nghỉ dưỡng…?

Điều kiện thứ hai là một khuôn khổ thế chế hiệu quả vốn đòi hỏi cao về tính minh bạch, dễ đoán định, và khả năng tránh được những rủi ro như can thiệp chính trị hoặc đầu cơ đất đai. Trong bối cảnh các nhóm lợi ích bè phái hoành hành ở Việt Nam, chương trình đặc khu đang được giới thiệu chưa đưa ra bất kỳ giải pháp nào ngăn chặn hiện tượng này, nếu như không muốn nói là còn đang hợp thức hóa nó. Nạn đầu cơ đất đai một thời gian dài ở cả 3 địa phương, tệ hơn, còn gợi ý rằng chương trình đặc khu của chính phủ đã thất bại ngay cả khi chưa bắt đầu.

Môi trường kinh doanh hấp dẫn là điều kiện thứ ba cho một dự án đặc khu thành công, và cũng là điểm mà các viên chức chính phủ Việt Nam tỏ ra tự tin nhất khi mà họ thường xuyên đề cập tới mức thuế suất thấp trong đề án của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh đang tồn tại hàng ngàn đặc khu khắp thế giới, miễn giảm thuế (fiscal incentives) không còn đủ hấp dẫn vì đã trở nên quá bình thường. Vậy thì câu hỏi là nếu Singapre nổi bật với chính quyền trong sạch và minh bạch, Hong Kong thừa hưởng di sản thông luật Anh với hệ thống tư pháp độc lập, Hàn Quốc tạo ấn tượng về năng lực bộ máy, Trung Quốc với danh mục đầu tư chọn-bỏ (negative list), thì chương trình đặc khu của Việt Nam có gì đặc biệt để chào hàng các nhà đầu tư tầm cỡ quốc tế?

Yếu tố thứ tư là lập kế hoạch, thiết kế và vận hành chương trình đặc khu một cách cẩn trọng, bắt đầu ngay từ nhu cầu của nền kinh tế. Ngoại trừ một vài cái tên đã gom đất trước ở ba địa phương, có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam hiện tại mong chờ đặc khu? Hay điều họ thực sư cần là chính phủ đẩy nhanh hơn việc cắt giảm thủ tục hành chính vốn đã và đang hành hạ họ hàng thập kỷ vừa qua? Thêm nữa, dĩ nhiên các viên chức chính phủ sẽ luôn cho rằng họ đã chuẩn bị chu đáo cho đề án này, song thực tiễn thất bại ở các khu kinh tế trước đó (vốn cũng được xếp là một loại đặc khu) thật khó để dư luận không hoài nghi về triển vọng của đề án lần này.

‘Có bột mới gột nên hồ’ – Đội ngũ lao động chất lượng cao là điều kiện thứ năm quyết định thành công của chương trình đặc khu. Và đây cũng là điểm mà đề án của Việt Nam yếu nhất. Trong khi Hong Kong – cảng thị sầm uất Á Đông với truyền thống pháp trị Tây phương trăm năm dễ dàng thu hút chuyên gia khắp nơi trên thế giới, Singapore tự tin với hệ thống giáo dục vượt trội ở châu Á, đủ sức cung ứng nguồn nhân lực chất lượng toàn cầu, Trung Quốc trông cậy vào Hoa Kiều lúc chập chững làm đặc khu, thì Việt Nam có gì? Một hệ thống giáo dục lạc hậu bởi giáo điều ý thức hệ mà điển hình là chương trình giáo dục chính trị marxist bắt buộc bậc đại học; đã thế lại chẳng thể khai thác được nguồn lực kiều dân như Trung Quốc khi mà hồ sơ hòa giải dân tộc vẫn đang bế tắc.

Điều kiện thứ sáu là tiếp thu công nghệ và sáng tạo không ngừng. Đề án đặc khu của Việt Nam đúng là có mang kỳ vọng thu hút được những dự án công nghệ cao, song như đã nói ở điểm 1, vì không đặt trong tương quan với thực trạng nền kinh tế hiện nay, kỳ vọng này khả năng cao chỉ là một ảo vọng.

Vị trí chiến lược và khả năng kết nối tạo thành điều kiện thứ bảy cho thành công của đặc khu. Đúng là cả ba vị trí được chọn có một số thuận lợi, nhưng nếu so với các trường hợp điển hình thành công trên thế giới như Thâm Quyến, Thượng Hải (TQ), Masan (Hàn Quốc), Singapore, Hong Kong thì khó có thể nói là vượt trội? Cả ba vị trí đó có nằm trên tuyến thương mại hàng hải quốc tế nào không? Có gần thị trường quốc tế rộng lớn nào không? Có được hậu thuẫn bởi thị trường hoặc tổ hợp công nghiệp nội địa nào không? Hoàn toàn không.

Yếu tố thứ tám là liên kết với nền kinh tế quốc gia. Những trường hợp đặc khu thành công đều chứng tỏ được khả năng kết nối các nhà đầu tư quốc tế với các doanh nghiệp địa phương, giúp lan tỏa ảnh hưởng tích cực cho toàn bộ nền kinh tế. Trong khi đó, 30 năm thu hút hơn 170 tỷ USD đầu tư nước ngoài (FDI) nhưng với trọng tâm đặt sai chỗ, Việt Nam đã thất bại trong việc xây dựng nền công nghiệp hỗ trợ tạo đà cho nền sản xuất quốc nội, thì làm sao có thể tin rằng chính phủ lần này sẽ thành công với 3 địa điểm vừa tách biệt về mặt địa lý, vừa khác biệt với phần còn lại của nền kinh tế.

Sự hài hòa giữa phát triển công nghiệp và phát triển xã hội/đô thị là điều kiện thứ chín góp phần cho thành công của đặc khu. Đó phải là những đô thị đáng sống với môi trường trong sạch, hạ tầng phát triển và chi phí cư trú không quá đắt đỏ (ít nhất là giai đoạn ban đầu). Với trường hợp Việt Nam, thực tiễn đầu cơ đất đai và phá hoại môi trường thời gian vừa qua, đặc biệt là ở Phú Quốc, Vân Đồn đang khiến khả năng xây dựng những đô thị đáng sống như trên trở nên xa vời.

Cuối cùng, chương trình đặc khu thành công cần một cơ chế đánh giá hiệu quả khách quan để biết khi nào nên tiếp tục hay dừng lại. Với số tiền khổng lồ dự kiến lấy từ ngân sách quốc gia đầu tư cho các đặc khu, quả thật rất thiếu sót khi đề án hoàn toàn vắng bóng một cơ chế đánh giá như thế để có thể rút ra kịp thời trong trường hợp không thành công như mong đợi.

Tóm lại, xét trên cả 10 điều kiện/yếu tố góp phần vào thành công của một đặc khu theo kinh nghiệm quốc tế, chương trình đặc khu của Việt Nam tỏ ra thật kém cạnh tranh và thiếu triển vọng. Những người bảo vệ đề án này có thể có những lý giải khác nhau, song không khó để nhận ra đối tượng hưởng lợi lớn nhất từ đề án này. Trong dự thảo luật, họ được gọi tên là “nhà đầu tư chiến lược”, còn trên thực địa họ chính là một vài tập đoàn đã gom đất ở ba địa phương này với giá rẻ mạt trong nhiều năm qua, đang chờ luật thông qua sẽ kéo theo hàng tỷ USD mỗi năm (chắt bóp từ ngân sách quốc gia vốn đang eo hẹp) đổ về đầu tư giúp tăng giá trị dự án của họ lên gấp nhiều lần. [2]

PS: Bài không đề cập tới những nguy cơ có yếu tố Trung Quốc, với ý tưởng rõ ràng rằng, ngay cả khi chưa tính tới yếu tố Trung Quốc thì đề án cũng không đáng được ủng hộ khi xét tới tính khả thi và triển vọng thành công của nó.


[1] http://www.kiep.go.kr/eng/sub/view.do…

[2] Dự kiến ngân sách nhà nước thời gian tới phải bỏ ra 7.5 tỷ USD cho Phú Quốc, 3.5 tỷ USD cho Vân Phong và 1.7 tỷ cho Vân Đồn – đều là những con số khổng lồ đối với tình trạng ngân sách thâm thủng của Việt Nam hiện nay.

http://baodauthau.vn/…/von-nha-nuoc-chi-la-von-moi-cho-dac-…

CHỐNG CÁC TAY SAI CỦA QUỶ VƯƠNG

CHỐNG CÁC TAY SAI CỦA QUỶ VƯƠNG

Nếu tôi là Đức Giêsu, tôi sẽ buồn phiền chán nản vô cùng: vừa bị thân nhân gia đình bôi nhọ là: “Ông ấy mất trí”, lại bị nhóm kinh sư từ thành đô Giêrusalem đến xem xét rồi chụp mũ: “Ông ấy bị quỷ vương Bengiêbút ám nhập và dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ”.

Đó là những bẫy rất tâm lý và cực kỳ nguy hại của sa tan, để đánh bại chương trình cứu độ của Đấng Cứu Thế như nó đã đánh bại chương trình sáng tạo của Thiên Chúa.  Trước kia nó đã mặc lốt con rắn cuốn lôi con người bỏ Thiên Chúa mà theo nó phạm tội ăn trái cấm (Bài đọc 1).  Bây giờ, nó núp bóng dưới dạng thân nhân, và kinh sư âm mưu tráo trở công việc cứu độ của Đức Giêsu biến thành công việc của nó.  Đức Giêsu đã mạnh mẽ phản kháng những lừa bịp độc hại của sa tan.  Người liền gọi dân chúng, những con người hiền lành chất phác đến nghe để Người giải tỏa cho họ khỏi nọc độc bịp bợm của rắn quỷ, bằng kiểu luận lý dễ hiểu, ai cũng có thể thấy rõ được: “Nước nào chia rẽ, nước ấy sẽ mất; nhà nào chia rẽ, nhà ấy sẽ tan”.

Một tiền đề sát với đời sống cụ thể của họ và rất sắc bén để dẫn tới áp dụng kết luận:“Vậy satan chống lại satan, satan tự chia rẽ satan, thì chúng không thể tồn tại, tất nhiên chúng dẫn đến diệt vong”.

Người đau đớn quay sang nói với bọn kinh sư, tay sai của quỷ rằng: “Nếu Ta nhờ Bengiêbút mà trừ quỷ thì bè phái các người nhờ ai mà trừ quỷ?  Bởi thế, chính họ sẽ xét xử các ngươi”.

Đồng thời Người cũng cho họ thấy rõ sự thật hiển nhiên là: “Ta đã nhờ Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là nước Thiên Chúa đã đến trên các ngươi” (Mt. 12, 27-28).

Nói đến đây, đáng lẽ ra các kinh sư là những người thông Kinh thánh, họ phải nhớ ra việc Elia xưa đã nhờ Thiên Chúa mà trừ diệt những kẻ dựa vào quỷ Bengiêbút thời vua Akhap và Ôkhôgia vua Israen. Ôkhôgia khi bị đau liệt, ông đã sai sứ giả đi cầu khẩn Bengiêbút.  Thiên Chúa đã thúc giục tiên tri Elia đi đón sứ giả và nói: Ở Israel không có Thiên Chúa sao mà các ngươi lại đi cầu khẩn Bengiêbút?  Cho nên Thiên Chúa phán thế này: Ngươi sẽ chết trên giường ngươi nằm.  Ôkhôgia cố chấp không nghe lời cảnh cáo của Elia, còn sai quan quân tất cả hai lần trăm người đến bắt Elia.  Elia đã nói: Nếu ta là người của Thiên Chúa, thì lửa hãy từ trời xuống thiêu đốt các ngươi đi.  Và lửa từ trời đã thiêu đốt sạch bọn chúng, và cả nhà vua cũng chết, trừ đoàn sứ giả thứ ba biết khấn xin người của Thiên Chúa thì được sống (2V. 1, 2-17).

Những hạng người cầu khẩn tà thần ma quỷ, những người khăng khăng cố chấp những tà thuyết mù quáng, những hạng người ác ý thay trắng ra đen, xuyên tạc công việc của Thiên Chúa sang công việc của quỷ thần, những hạng người đó đã xúc phạm đến Chúa Thánh Thần, chúng chẳng bao giờ được tha thứ, chúng lì lợm đến diệt vong.

Chỉ có những người ngay lành thiện chí như dân chúng, biết nhận ra lẽ phải, biết lắng nghe lời Thiên Chúa, biết đón nhận những việc lành phúc đức, mới thực sự “là mẹ, và anh em của Đức Giêsu”.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết siêng năng chạy đến xum họp chung quanh bàn tiệc thánh Lời và Mình Máu Thánh Chúa, như đám đông dân chúng xưa kia đã ngồi vây quanh Người để lắng nghe.  Xin cho chúng con nhận biết và thực thi thánh ý Thiên Chúa để được vinh phúc trở nên là mẹ và anh em với Người.  Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm

(trích trong “Xây Nhà Trên Đá”)

From Langthangchieutim

TÀU CẨU BẮT ĐẦU LO

Image may contain: 2 people

Nguyễn Vô added a new photo to the album: HÁM NHÂN QUỐC – TRUNG CẨU.

HÁM NHÂN QUỐC-TRUNG CẨU

BÀI 085: TÀU CẨU BẮT ĐẦU LO

Trong nội bộ Trung cẩu bắt đầu có sự phân tán rất mạnh, sau khi chàng trai du học sinh đưa ra công trình nghiên cứu, chứng minh Hoàng sa và Trường Sa là của Việt Nam. Rất nhiều bản đồ cổ của chính nước Trung Hoa chỉ ra rằng: “Cực Nam của họ chỉ đến đảo Hải Nam. Đó là điều không thể chối cãi”.
(PV Đô thị – hut ham cau Binh Duong lược dịch).

Có tới trên 50 bản đồ Hoàng sa và 170 bản đồ cổ Trung hoa, cùng 4 bộ sách Atlas được chàng trai sưu tầm. Và công trình nghiên cứu của anh được công bố tại ĐH Yale cuối tuần qua. Chàng trai nghiên cứu sinh Trần Thắng đã làm cho bất cứ ai tham gia hội thảo phải thán phục. Trong đó có rất nhiều Giáo sư, Tiến sĩ đến từ Trung cộng phải ngả mũ.

Đây được coi là nguồn tư liệu từ chính trong đất nước Trung cộng, khi mà Thắng cất công sang tận Trung cộng để sưu tầm từ 2010.

Được biết cha ruột của Thắng trước công tác tại đội xe hut ham cau binh duong. Ông đã có gắng tạo điều kiện cho con mình ra ngoài thế giới.
Trong đó có đến 3/4 là bản đồ cổ của Trung hoa, và 1/4 bản đồ do Phương Tây và Việt nam vẽ gần đây, từ năm 1618 đến 1859. Rất nhiều bản đồ cổ xưa nhất của Trung hoa, có tính liên tục, hệ thống suốt hàng ngàn năm trước và sau công nguyên. Đều chỉ ra rằng điểm cực Nam của Trung hoa dừng lại đảo Hải Nam. Chỉ duy nhất bắt đầu từ năm 1946 chính quyền Tưởng Giới Thạch mới vẽ ra định nghĩa vùng biển 11 đoạn, sau đó dần dần chuyển thành 9 đoạn. Điều đặc biệt hơn nữa, Chính nhà nước Trung hoa vào năm 1933, cũng đã phát hành lãnh thổ chỉ đến đảo Hải Nam. Nhưng vì thấy bên Tưởng Giới Thạch vẽ cả vùng biển tiếp dưới. Do vậy không để mất mặt trước chính quyền Tưởng. Chính quyền Trung Hoa đại lục đã cho thu hồi hết và ra lại bản đồ mới. Nhưng họ vô tình không thể thu hồi hết những gì mình đã phát hành, có đóng dấu chính quyền.

Các nhà nghiên cứu Trung cộng cũng phải công nhận sự thật.

Và trong nội bộ Trung cộng bắt đầu có dấu hiệu không rõ ràng. Chỉ vì một vài nét bút vẽ thêm vào bản đồ của Tưởng, đã khiến cho chính Quyền Trung cộng hiện nay phải đối phó và trở thành kẻ thù với hầu hết các nước xung quanh.

Theo công trình nghiên cứu, khi đi sâu vào hồi ký của Tưởng, hoàn toàn có thể nhận ra rằng. Tưởng cảm nhận được tương lai, và yếu thế trong việc đối phó với Công sản do Mao trạch Đông đứng đầu. Ông ta liền suy nghĩ mưu kế lâu dài, sẽ chuyển hết quân tinh nhuệ của mình ra ngoài đảo Đài Loan. Nhưng không quên để lại 11 nét bút bằng bút mực. Để tạo cho chính quyền Mao phải giải quyết vụ việc với các nước láng giềng, thay vì chăm chăm đối đầu với mình.

Chính mưu kế (thâm độc , hèn hạ – mượn gió bẻ măng) và 11 nét bút nguệch ngoạc của chính quyền Tưởng. Mà giờ đây, toàn bộ hệ thống chính quyền cộng sản Trung cẩu phải căng mình đối phó. Họ không thể từ bỏ, vì họ đã trót cố đấm ăn xôi:
– Giờ bỏ, thì chắc chắn dân chúng sẽ lật đổ chính quyền.
– Còn nếu họ cố gắng chiếm, thì giờ đây họ phải đối mặt với thách thức không chỉ là các nước láng giềng, mà còn rất nhiều nước lớn trên thế giới như: Mỹ, Nhật … và đặc biệt là dự luận và cộng đồng Thế giới.

Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia người Australia nghiên cứu các vấn đề về Biển Đông, cũng phải thốt lên rằng : “Người Việt thật quá tài năng! Niềm tự hào của nước Việt trên đất Mỹ … Thật đáng ngưỡng mộ!”.

Ông cũng nhận xét bộ sưu tập của Chàng trai Trần Thắng sẽ chỉ ra điểm mâu thuẫn lớn trong tuyên bố: “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa.

Trao đổi với PV Đô thị – rut ham cau, anh Thắng cho biết: “Hiện công trình nghiên cứu sẽ được anh dịch sang nhiều thứ tiếng, để truyền bá rộng rãi đến mọi người dân trên Thế giới, nếu muốn tìm hiểu. Và đặc biệt là người dân tại chính Trung cộng, đang khá phân vân trước ngã tư đường. Khi mà họ đang bị chính quyền Cộng sản trung cộng che đậy và dẫn dắt thông tin”.

Ông Thắng nói: “Việt Nam đã và đang được các Học giả Quốc tế đấu tranh bảo vệ lợi ích trên Biển Ðông. Chính phủ nước Việt Nam nên lập quỹ về Biển Ðông, giúp điều kiện phát triển thông tin về Biển Ðông. Từ ngân sách này, chúng ta có thể dịch sách, các công trình nghiên cứu, phim tài liệu và tài liệu về Biển Ðông sang tiếng Anh và tiếng Trung”.

Ông cũng cho rằng quỹ Biển Ðông cũng sẽ hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu Biển Ðông.

(Trần Phước Đạt – Bloomington, MN)
http://vnexpress.net/…/nguoi-goc-viet-trien-lam-ban-do-hoan…

Giao đất 99 năm: một đại họa dân tộc!!!

No automatic alt text available.
Image may contain: 2 people
Image may contain: 10 people

Van Pham

Giao đất 99 năm: một đại họa dân tộc!!!

 

Phạm Nhật Bình

Không cần là một nhà quân sự, khi nhìn lên bản đồ Việt Nam ai cũng thấy được vị trí của Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang) là ba địa điểm xung yếu trong chiến lược phòng thủ đất nước.

Hiện nay đó là ba đặc khu kinh tế mà nhà cầm quyền CSVN đang muốn xây dựng để gia tăng nguồn thu đang bị kiệt quệ theo chỉ đạo của Bộ Chính trị. Nhưng trước hết, lãnh đạo đảng phải làm thế nào để quốc hội đóng dấu thông qua “Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt”, gọi tắt là Luật đặc khu. Vì thế mà hiện nay đã có những cuộc thảo luận tại diễn đàn quốc hội về một số vấn đề như tại sao chỉ lập casino, hotel mà không lập khu công nghiệp, cơ quan hành chánh đặc khu gọi là gì và nằm trong thẩm quyền của ai, v.v…

Vấn đề đã trở nên bàn tán sôi nổi với kẻ chống người bênh là trong dự thảo quy định là đặc khu có thể giao đất cho nhà đầu tư 99 năm khi cần, thay vì từ 50 năm đến tối đa 70 năm như quy định hiện áp dụng. Nhiều đại biểu quốc hội lên tiếng chống đối và cả dư luận trên cộng đồng mạng cũng cho đây là quy định nguy hiểm, chẳng khác nào đặc khu Hồng Kông đã để cho Anh thuê 99 năm với giá rẻ mạt sau khi thua cuộc chiến tranh nha phiến.

Trong cuộc hội thảo do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tổ chức, bà Phạm Chi Lan một chuyên gia kinh tế cho rằng cơ chế ưu đãi thuế và cho thuê đất tối đa 99 năm không thực sự cần thiết. Vì “trong thời buổi công nghệ thay đổi tính bằng ngày, có ai dám bảo đảm sẽ chỉ kinh doanh ngành đó, nghề đó, lĩnh vực đó trong thời hạn dài 90 năm hay thậm chí 70 năm”. Đây là một cái nhìn thuần túy kinh tế cho thấy Luật đặc khu còn nhiều thiếu sót khi đưa vào hoạt động, chưa kể những đánh giá tác động môi trường, an ninh và quốc phòng.

Một ý kiến giá trị khác của TS Lê Đăng Doanh Nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thẳng thắn nêu lên “Đặc khu như vậy, đầu tư một số tiền lớn như thế, cho thuê đất đến 99 năm, rồi miễn giảm thuế, ngay cả thuế thu nhập doanh nghiệp cũng sẽ được giảm để thu hút. Nếu ta chỉ có thể thu hút được casino và bất động sản thôi thì vấn đề khoa học – công nghệ sẽ như thế nào?” Các chuyên viên kinh tế tài chánh ngoài chính phủ hầu hết đều cho rằng nên dừng thông qua Luật đặc khu trong năm 2018 vì không thể chỉ nhìn thấy những lợi ích lớn lao còn trên giấy mà phiêu lưu bỏ quên chủ quyền đất nước.

Trong khi ấy quy định có thể giao đất đến 99 năm được nhà nước ung dung mô tả là chính sách “vượt trội” để thu hút các nhà đầu tư. Nhưng thử hỏi trong trường hợp này, chính sách vượt trội nếu áp dụng thật sự nó làm lợi cho ai? Rõ ràng thời hạn cho thuê đất lâu dài sẽ giúp cho các nhà đầu tư bất động sản, những kẻ đầu cơ đất đai nắm hoàn toàn lợi thế trong việc buôn bán sang nhượng của họ cả một thế kỷ. Cho dù có những doanh nghiệp làm ăn thất bại phá sản trong 5 hay 10 năm, họ vẫn có thể tiếp tục trục lợi trên mảnh đất đã thuê như một thứ nhượng địa.

Nguy hiểm nhất, 99 năm là cơ hội cho Trung Cộng nhảy vào chiếm lĩnh những vùng đất quan trọng ở cả 3 miền Bắc-Trung-Nam, chưa kể đến những xâu xé khác từ tư bản nước ngoài có hơi hám đồng nhân dân tệ đứng sau. Bắc Kinh một mặt tung tiền khai thác kinh tế, một mặt dùng thế lực kinh tế bành trướng thế lực chính trị. Một đạo quân đông đảo lao động phổ thông kéo đến sinh cơ lập nghiệp lâu dài, làm tăng nguy cơ phố Tàu trên đất Việt mọc lên tràn lan như loài nấm độc. Đó là con đường giúp Trung Cộng thôn tính Việt Nam nhanh chóng, mềm dẻo mà không cần đến một hành động quân sự.

Từ lâu Bắc Kinh vẫn coi Việt Nam là vùng đất phiên thuộc cần thu hồi. Ngoài biển thì Trung Cộng đã chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 và 7 đảo trong quần đảo Trường Sa từ sau sự kiện Gạc Ma năm 1988. Trung Cộng trong thời gian vài năm gần đây đã ráo riết bồi đắp, củng cố những đảo chiếm đóng phi pháp thành những căn cứ quân sự tương đối vững chắc. Còn lại 21 đảo đang do Việt Nam kiểm soát, Trung Cộng chưa chiếm nhưng xem ra vấn đề chỉ là thời gian lúc nào mà thôi. Lâu nay Trung Cộng vẫn thường xuyên lên tiếng Nam Sa (Trường Sa), Tây Sa (Hoàng Sa) và cả Đông Sa theo cách gọi của họ là lãnh thổ thiêng liêng từ ngàn xưa của tổ tiên họ mà chủ quyền không thể tranh cãi. Tham vọng ấy còn chưa dừng lại trên đất liền.

Bằng chứng là trên vùng Cao Nguyên Trung Phần, năm 2001 Đại hội lần thứ 9 của đảng CSVN đã thông qua “chủ trương lớn” thăm dò, khai thác bauxite, một dự án đã gây ra hàng loạt phản ứng chống đối kéo dài vì bóng dáng Bắc Kinh. Nhưng cuối cùng công nghệ lạc hậu của Trung Cộng mang theo hàng chục ngàn công nhân vẫn xâm nhập được Cao Nguyên, hình thành một đạo quân thứ năm nằm chờ cơ hội. Đó là chưa kể những tác hại môi trường do bùn đỏ và sinh hoạt xã hội địa phương bị “Tàu hóa” tràn lan nhếch nhác. Với hàng loạt đô-la vung ra một cách hào phóng, bàn tay bành trướng của Bắc Kinh đang kiểm soát và khống chế cả Lào và Campuchia dần dà đưa 2 nước Đông Dương cũ tách khỏi quỹ đạo Việt Nam.

Như vậy một khi Luật đặc khu thông qua, những đại gia Trung Cộng với sự hỗ trợ vô giới hạn của các ngân hàng đầu tư lập tức nhảy vào. Thuê đất 99 năm của 3 đặc khu ở ba miền Nam Trung Bắc của Việt Nam không khác gì là nắm trong tay những nhượng địa trong lâu dài. Trong 100 năm ấy, điều gì sẽ xảy ra với một chế độ luôn cúi đầu quy phục thiên triều, đặt lòng yêu nước xuống dưới tình láng giềng hữu nghị?

Rõ ràng là Trung Cộng sắp hoàn thành mục tiêu biến Việt Nam thành quận huyện của Tàu mà không cần chờ đến năm 2020 của mật ước Thành Đô. Ngay từ năm 2018, Việt Nam sẽ trở thành một loại khu tự trị trong đại gia đình Hán tộc, nếu đạo luật lập 3 đặc khu được quốc hội thông qua với việc giao đất 99 năm bất chấp ý kiến của nhiều chuyên gia cũng như người dân.

Bởi vì trong khi mới đây chuyên viên kinh tế của Ngân hàng Thế Giới (World Bank) cảnh báo về một “cuộc đua xuống đáy” diễn ra tại 3 đặc khu “hút hết nguồn lực của các nơi khác về đây”. Thì Phó chủ tịch quốc hội Uông Chung Lưu vẫn hào hứng tuyên bố trước quốc hội “Làm đặc khu là theo đúng nguyên lý là ‘dọn chỗ’ để thu hút ‘phượng hoàng’ đến làm tổ”.

Thật rất hỗ thẹn với nhóm từ của ông Uông Chung Lưu “thu hút phượng hoàng đến làm tổ”. Vì nó gợi cho người dân Việt không phải là phượng hoàng mà là hình bóng của một bầy quạ đen từ Bắc Kinh bay đến xâu xé lãnh thổ Việt Nam. Đại họa dân tộc đang ở ngay trong tay của những bọn gọi là “đại diện dân”. Thật là một mối nhục không thể chịu được.

Bằng mọi cách, người Việt Nam trong và ngoài nước phải lên tiếng ngăn chặn quốc hội CSVN thông qua Luật đặc khu để chống Hiểm Họa Bắc Triều!

ĐỪNG SỐNG BẰNG TƯ DUY SUY NGHĨ MỌI THỨ LÀ BẤT BIẾN. NGUỒN CỘI CỦA NÔ LỆ TỪ ĐÓ MÀ RA.

ĐỪNG SỐNG BẰNG TƯ DUY SUY NGHĨ MỌI THỨ LÀ BẤT BIẾN. NGUỒN CỘI CỦA NÔ LỆ TỪ ĐÓ MÀ RA.

Tư duy nô lệ là gì? Nói cho cùng nó là sự mặc định những sự bất biến. Người dân Việt mặc định sức mạnh CS là vô đối với nhân dân nên có suy nghĩ buông xuôi “có lên tiếng cũng chẳng được gì”. Người đấu tranh dân chủ thì cho rằng “đánh động công an thì cũng chả có ích gì”, và thế là buông xuôi bỏ mất khía cạnh này.

Chống CS là chống cái cũ, chống cái thối nát, nói đúng ra những người đó là những người có suy nghĩ tiến bộ. Thế nhưng, lắm khi chính chúng ta cũng đã rơi vào tư duy lối mòn mà chúng ta không hề hay biết. Để lật được CS thì trước hết mỗi con người phải tẩy xóa những nếp suy nghĩ lối mòn. Trong doanh nghiệp, nếu phá tư duy lối mòn bạn sẽ được mở ra cơ hội bứt phá. Trong chính trị, phá được tư duy lối mòn đất nước sẽ mở ra cơ hội bứt phá. Trong những cuộc đấu tranh, nếu phá được tư duy lối mòn sẽ có cơ hội thành công cao hơn.

Chính quyền CS thứ gì cũng bắt chước mà không suy nghĩ. Tàu làm gì, CS làm vậy nên khi Tàu lồng ý đồ xâm lược mềm thì đám đầu đất làm theo. Và kết quả là, Việt Nam đang dần chui tọt vào họng Trung Cộng mà chưa có cách cứu chữa. Trong tình hình đó, dân lại suy nghĩ kiểu lối mòn mặc định rằng, đã là dân thì mãi mãi không thể chống nổi CS. Điều đó đã đưa tình hình nguy hiểm của đất nước thành sự an bài trong sự sắp xếp của Trung Cộng. Đây là lí do chính đã đưa Việt Nam đến tình trạng ngày một tồi tệ khó thay đổi.

Ngày 26/02/2018 ông chủ Geely Tàu bỏ ra 9 tỷ USD để sở hữu 9,69% cổ phần của Daimler – tập đoàn mẹ của thương hiệu Mercedes-Benz, và trở thành cổ đông lớn nhất của tập đoàn công nghiệp lừng danh thế giới này. Nếu một mình ông này có làm thành một Daimler khổng lồ không? Câu trả lời là không. Vậy ở đây ý của tôi muốn nói là gì? Đó là sự góp phần của nhiều người, nhiều đối tượng mới có được cái vĩ đại.

Để đi đến thành công cho một sự đổi thay chính trị của Việt Nam cũng không ngoài nguyên tắc đó. Thứ nhất, phá suy nghĩ lối mòn trong dân. Thứ nhì, phá suy nghĩ lối mòn trong giới đấu tranh dân chủ. Thứ 3 phá lối mòn trong suy nghĩ của những người đang làm cho chính quyền CS. Không loại trừ bất kì một mặt trận nào, và không loại trừ bất kì một phương pháp nào cả. Nếu suy nghĩ lối mòn trong dân mà phá được, thì người ủng hộ sẽ như thác lũ. Nếu lối mòn trong giới đấu tranh dân chủ được phá, thì lãnh đạo tài năng cho phong trào và cho đất nước hậu CS sẽ không thiếu. Nếu phá lối mòn suy nghĩ trong chính những người giữ gìn chế độ thì khi thời điểm dân nổi lên, sự trở cờ sẽ xuất hiện và sự thành công đến sẽ dễ dàng hơn. Đấy là những đóng góp của mọi tầng lớp, kể cả những người CS yêu sự thật và công lí.

Đừng sống với những suy nghĩ mặc định sự bất biến. Đấy là tư duy nô lệ ở ngay trong suy nghĩ của ta mà ta không hề hay biết. Phải bỏ!

“KHÁC NÀO ĐEM THỊT MÀ NUÔI HỔ ĐÓI, GIỮ SAO CHO KHỎI TAI VẠ VỀ SAU”

Image may contain: 1 person, eyeglasses and text

Nguyễn Xuân Diện

GS. TƯƠNG LAI: 
CẢ NƯỚC HÃY THÉT TO LÊN VỚI QUỐC HỘI

“KHÁC NÀO ĐEM THỊT MÀ NUÔI HỔ ĐÓI,
GIỮ SAO CHO KHỎI TAI VẠ VỀ SAU”*

Tương Lai

Đây là lời của Trần Hưng Đạo. Thành kính nhắc lại khuyến dụ của Đức Thánh Trần vào thời điểm này, lúc thế nước nghiêng ngả bởi hành động hung hãn của Trung Quốc xâm chiếm Biển Đông, dấn tới mưu toan uy hiếp chủ quyền lãnh hải và lãnh thổ của nước ta bằng trăm mưu nghìn kế thâm độc, là nhằm gơi lại truyền thống lịch sử để gọi dậy tinh thần yêu nước của mỗi người Việt Nam chúng ta. Và cũng để nói rằng, toan tính của ai đó dâng lên kế sách cho thuê đất có thể kéo dài thời hạn đến 99 năm ở cái gọi là “Đặc khu kinh tế” định thành lập tại ba vủng xung yếu có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng phải chăng là đang “đem thịt mà nuôi hổ đói”. Chẳng thế sao.

Vân Đồn án ngữ cửa ngõ phía Đông Bắc nhìn ra Vịnh Bắc Bộ chỉ cách Hải Nam của Trung Quốc 200 hải lý, một vị trí chiến lược ở cửa ngõ phía Đông Bắc mà xưa kia ông cha ta đã từng ngăn chặn quân xâm lược phương Bắc theo đường biển kéo vào nước ta: Ngô Quyền chống quân Nam Hán, Lý Thường Kiệt chống quân Tống, Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên. Mua được đất 99 năm ở đây cũng có nghĩa là xóa đi vị trí tiền tiêu tại cửa ngõ đông bắc của chiến lược phòng thủ trên biển của Việt Nam.

Vân Phong gần với quân cảng Cam Ranh, cảng quân sự có giá trị nhất trên Biển Đông có vị trí chiến lược án ngữ cửa ngõ Miền Trung nhìn ra Biển Đông được xem là “một pháo đài khó công, dễ thủ”. Nếu đặt tên lửa đối không trên núi thì toàn bộ vùng trời ở eo biển Malacca và eo biển Singapore đều nằm trong tầm kiểm soát. Vịnh Vân Phong là vùng bờ biển Việt Nam gần nhất với các tuyến đường biển quốc tế; nằm ngay trên ngã ba đường hàng hải quốc tế. Từ Vân Phong vượt Thái Bình Dương là quãng đường ngắn nhất so với Hongkong và Singapore. Đấy là chưa nói một khi dự án kênh đào Kra nối liền Vịnh Thái Lan với Ấn Độ Dương thì tuyến đường biển từ châu Âu qua châu Á không còn phải đi qua eo biển Malacca và Singapore, và Vân Phong sẽ là cảng biển lớn đầu tiên trên tuyến đường này.

Phú Quốc, đảo lớn nhất nằm trên vịnh Thái Lan, cửa ngõ phía cực Nam nhìn ra Ấn Độ Dương trong tầm nhìn chiến lược Indo-Pacific, cách vùng Sihanoukville và Bokor của Campuchia có mấy chục cây số, mà khu vực này thì đã được thỏa thuận cho Trung Quốc thuê 99 năm, nếu rồi đây tung tiền mua đất cũng với thời hạn 99 năm sẽ có được Phú Quốc để hình thành một tam giác chiến lược. Một khi Trung Quốc thỏa thuận được với Thailand để làm kênh đào Kra thì vị trí chiến lược của Phú Quốc còn quan trọng hơn cả Singapore. Con hổ đói Tàu làm sao mà không liếm mép chực vồ.

Vậy đó. Cái kế sách “có thể kéo dài thời hạn giao đất đến 99 năm” có dáng dấp toan tính của một “nhóm lợi ích”, lợi ích kinh tế gắn với quyền lực, đã vô tình hay hữu ý phục vụ cho âm mưu lâu dài của Trung Quốc. Binh pháp Tôn Tử mà người Tàu thuộc nằm lòng từng căn dặn “biết khi nào đánh khi nào không, thì thắng; có những huyệt đạo không nên đi, đội quân không nên đánh, thành không nên công” cho nên rẻ nhất, gọn nhất theo kiểu “bất chiến tự nhiên thành” là chiêu tung tiền ra “mua”!

Mua trước tiên những thế lực có thể vạch quyết sách ra quyết định, đến loại thấp hơn chút nữa là “trình bày tính hợp lý và cấp bách của quyết định” kia với những bước đi đúng quy trình, cùng với việc trao tiền vào tay những “nhà đầu tư cánh hẩu” với tờ “nhân dân tệ” đã âm thầm và ráo riết chuẩn bị bằng những bước đi có tính toán để đến một thời điểm thuận lợi thì tạo thành một “dự luật” trình ra Quốc hội. Thế rồi thời điểm được xuất hiện với sự thao túng của một thế lực chóp bu chịu sức ép nặng nề của Bắc Kinh đang chỉ đạo cho Quốc Hội bấm nút thông qua “Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt” (gọi tắt là “đặc khu kinh tế”)!

Đâu phải là một số người có hiểu biết đang chuẩn bị “bấm nút” không thấy ra rằng, cho thuê đất tối đa 99 năm chỉ có lợi cho các đại gia bất động sản, còn theo World Bank thì 85% các nhà đầu tư khẳng định chính sách ưu đãi thuế là không cần thiết. Còn nếu người nước ngoài được phép làm việc 180 ngày/năm mà không cần giấy phép lao động thì họ chỉ cần đầu tư 5 triệu USD là được cấp thẻ tạm trú 10 năm còn người Việt được phép vào chơi casino, và được miễn thuế thu nhập cá nhân trong vòng 5 năm (và giảm tiếp 50% sau đó) thì rồi cái gì sẽ xảy ra! Với những “ưu đãi” kiểu đó thì một làn sóng di dân mới, đặc biệt là lao động giản đơn từ Trung Quốc và các nước láng giềng khác tràn vào sẽ làm đảo lộn cơ cấu dân số và đặc khu kinh tế còn là “cái nôi đặc biệt” cho chủ nghĩa tư bản thân hữu. Nếu điều 62 về Luật Đất đai là một lỗ hổng chính sách, bị các nhóm lợi ích thao túng, thì điều 69 là cánh cửa mở rộng cho Trung Quốc xâm nhập Việt Nam như một bài phân tích sâu sắc của một ngòi bút có uy tín vừa nêu lên. Một số ai đó biết, nhưng “ngậm miệng ăn tiền”.

Chẳng cần dẫn giải thêm, hãy cứ nhìn vào dự án thép Formosa ở Hà Tĩnh, dự án giấy Lee & Man ở Hậu Giang đã tràn ngập người Trung Quốc. Rồi cũng không kém tệ hại và lộ liễu khi chính quyền Quảng Ngãi định di dời đồn Biên phòng Bình Hải để giao đất cho tập đoàn FLC làm dự án “quần thể du lịch nghỉ dưỡng và đô thị Bình Châu-Lý Sơn”. Trước đó Đà Nẵng cũng đã ngang nhiên di dời đồn biên phòng để lấy đất giao cho dự án tư nhân.

Những việc này đâu phải chuyện “Trái tim lầm chỗ để trên đầu. Nỏ thần vô ý trao tay giặc. Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” [Tố Hữu]. Chúng nó “hữu ý” từ lâu, âm thầm dàn dựng, hối hả chuẩn bị và trắng trợn thực hiện khi mà thời điểm đã đến. Cứ đọc bài “Trước giờ “G”, ba đặc khu đang chuẩn bị gì” từ trang báo chính thống ngày sẽ hiểu ngay ra điều ấy với những lời có cánh: Kỳ họp lần thứ 5 Quốc hội khóa XIV dự kiến sẽ tiếp tục thảo luận và thông qua Luật Đơn vị HCKT đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc. Đây được đánh giá là một bước tiến đột phá nhằm tạo ra sân chơi mới với cơ chế vượt trội, thu hút đầu tư, cạnh tranh với nước ngoài…Tiếp đó cũng là những quảng cáo “có cánh” : Mới đây nhất, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Liên Thái Bình Dương (IPP) đã có các buổi làm việc trực tiếp với lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa với mong muốn được đầu tư hàng loạt dự án quy mô lớn vào đặc khu Bắc Vân Phong tương lai. Trong đó, IPP đang tham vọng muốn đầu tư một sân bay tư nhân riêng tại đặc khu này với tổng vốn hơn 10 tỷ USD. Mà IPP là ai thì xin cứ bấm vào Gogool sẽ rõ.

Hãy chỉ gợi lên một ví dụ: Vân Đồn đã xây xong sân bay đầu tư 5000 tỷ không lấy từ nguồn ngân sách? Vậy doanh nghiệp nào mà chơi ngông vậy nếu không có tiền từ “bên kia biên giới cũng là mình” tuồn vào cho các đại gia “vô tư” nào đó vung tiền ra với ngôn từ mỹ miều “xã hội hóa”, huy động mọi nguồn “đầu tư”. Nặng ký hơn là “ý kiến của các “chuyên gia”, trong đó có một vị được ghi rõ là “Thành viên của Tổ Tư vấn của Thủ tướng” đã hùng hồn với điệp khúc “Tôi cho rằng việc chọn 3 địa điểm: Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc để thí điểm đặc khu là phù hợp. Tôi có nghiên cứu các đề án và thấy rằng, mỗi địa điểm đều có một yếu tố để hướng tới sự phát triển mang tới tính đặc thù”. Tính đặc thù là gì thì chẳng tiện nói ra đâu, vì mỗi địa điểm đều nằm ở vị trí tiền tiêu trong chiến lược quốc phòng mà ông bạn cùng chung ý thức hệ để hướng tới chiêu bài đã trương ra “sơn thủy tương liên, vận mệnh tương quan” thì phải trấn giữ các yếu huyệt “đã có nghiên cứu” ấy!

Vị tiến sĩ này chắc có biết, nếu chưa thật kỹ thì cũng loáng thoáng hiểu được những điều sơ đẳng về xu hướng thay đổi từ quyền lực cứng sang quyền lực mềm, đó là mua chuộc, chi phối cán bộ và xâm lấn thông qua sở hữu đất đai, đầu tư kinh tế đang được thế giới cảnh giác. Chính một chuyên gia chắc không xa lạ với ngài tiến sĩ, vì ngài cũng từng làm việc với ông ta trong vai trò của “Tổ tư vấn cho Thủ tướng”, ông Sebastian Eckardt, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, đã nói rõ “Đặc khu 1960 xây dựng là lúc kinh tế thế giới đóng, vì thế mà các ưu đãi thuế phát huy hiệu quả. Nhưng hiện nay Việt Nam là mở … chúng ta phải tìm kiếm nguồn đầu tư và tài nguyên phát triển trong tương lai trong mối quan hệ mới, cần những chính sách mới thay vì chỉ cởi bỏ thuế quan”.

Ông Sebastian đặc biệt lưu ý : “Quan trọng nhất, chúng tôi lo ngại là Việt Nam xây dựng và làm nhiều đặc khu khác nhau, điều này có thể phát sinh những “cuộc đua xuống đáy” của chính sách, ưu đãi. Thay vì đưa ra những chính sách bằng nhau thì các đặc khu cắt giảm khuôn khổ, xé rào chính sách. Điều này dẫn tới các ảnh hưởng không mong muốn, như tác động môi trường, thay đổi chuẩn mực môi trường. Chúng ta không muốn nhìn thấy đặc khu như một hòn đảo tách rời khỏi đất nước. Chúng ta cần chú ý, để đảm bảo đầu tư vào đặc khu có đóng góp cho phát triển tổng thể ở Việt Nam bền vững hơn. Kinh nghiệm quốc tế thành công thì đòi hỏi có chiến lược công nghiệp tổng thể, các yếu tố như môi trường, cơ sở hạ tầng chính sách cần đồng bộ, hiệu quả để đầu tư lan toả”.

Những ý kiến không lấy gì làm khó hiểu này, tại sao các “chuyên gia tư vấn” như tiến sĩ kia lại bỏ qua nhỉ? Đấy là ông chuyên gia nước ngoài còn tế nhị không nhắc đến một chuyện tày trời khác là “Điều 62 còn tiềm ẩn lợi ích nhóm, quy định chính quyền địa phương có quyền thu hồi đất của dân giao cho doanh nghiệp làm dự án. Các doanh nghiệp Việt Nam có quyền giao lại đất cho doanh nghiệp nước ngoài mà doanh nghiệp Trung Quốc sẽ là kẻ vồ lấy và ngoạm nhanh nhất! Liệu trong thâm tâm ai đó có “lăn tăn” e rằng vị chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới thiếu “tính đảng” và không nghiêm túc chấp hành nghị quyết, nếu chú ý đế ý kiến ông ta có khi mình mất thế đứng đang cần trụ vững chăng?

Được “tư vấn” như vậy thì trách gì Thủ tướng chẳng hăm hở phán bảo: “Yêu cầu Bộ KH-ĐT chỉnh lý dự thảo Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc) theo hướng tăng thời hạn được giao đất, cho thuê đất, sử dụng đất, cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở tại các dự án đầu tư xây dựng nhà đến 99 năm…” như tờ Dân trí đã dẫn ra. Ông Thủ tướng vung tay, không chỉ quá trán mà quá cả cái tầm tư duy của ông, khi dạy rằng “trong quá trình xây dựng cần tiến hành đánh giá tác động, “lợi người lợi ta là cái gì, trước mắt, lâu dài là gì”, không nên chỉ nhìn vào mặt bất cập rồi bàn lùi. Cho nên, “cần tạo lập khung thể chế vượt trội, vượt trên các luật hiện hành, có chính sách đặc thù trên tinh thần kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, chính sách mở cửa thị trường, giảm thiểu việc áp dụng điều kiện đầu tư kinh doanh tại đặc khu…Về chính sách sử dụng đất đai, chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng tăng thời hạn được giao đất, cho thuê đất, sử dụng đất, cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở tại các dự án đầu tư xây dựng nhà đến 99 năm, cho phép thế chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng nước ngoài, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp năm 2013”. Có thế mới “bảo đảm tính đột phá, linh hoạt trong việc áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư trên cơ sở khung chính sách ưu đãi quy định tại Luật này”.

Ông Tú Xương sống dậy được mà nghe những lời vàng ngọc này thì phải băn khoăn vì câu thơ thiếu tính cập nhật của mình xưa kia phải chữa lại ngay để mang tính “đột phá” hơn :

Lẳng lặng mà nghe chúng chúc sang
Đứa thời mua tước đứa mua quan
Phen này ông quyết đi buôn đất [… đi buôn lọng]
Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng

Mà nói cho rành mạch, sở dĩ ông Thủ tướng mạnh miệng như vậy vì “Bộ Chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không thể không ra luật” như bà Chủ tịch Quốc hội đã nghiêm chỉnh nhắc nhở các nghị sĩ khi thảo luận về dự thảo “Luật đặc khu kinh tế”. Thật sòng phẳng về tư duy! “Luật phải nhất thiết được thông qua”, điều đó sẽ càng tỏ rõ năng lực và bản lĩnh của bà Chủ tịch! Vậy là rồi các nghị sĩ chỉ còn có một động tác để thể hiện được “năng lực” và “bản lĩnh” như bà Chủ tịch đã phát tín hiệu. Nếu tòa án “có các luật sư tranh tụng” rất chi là dân chủ và đảm bảo phán quyết được đưa ra vì đã có “bản án bỏ túi”, thì Quốc hội cũng đảm bảo “trăm phần trăm” hoặc thêm vào chút dấm ớt cho dậy mùi thì “chín mươi mấy phần trăm” cho nó thêm tí mùi dân chủ. Có lẽ không phải là tư nhiên mà tuần qua ông Bộ trưởng Bộ Kế Hoạch và đầu tư liên tục khẳng định với báo giới trong nước và quốc tế rằng, ba đặc khu kinh tế đang chờ các đại biểu Quốc hội “bấm nút”!

Thực ra thì chuyện bấm nút biểu quyết môt vấn đề cực kỳ hệ trọng có liên quan đến vận mệnh quốc gia, nên tại phiên họp bàn về Luật Tổ chức Quốc hội đã có đại biểu đề nghị công khai danh tính của đại biểu khi bỏ phiếu với lập luận rằng “hiện chúng ta mới quan tâm tới trách nhiệm của đại biểu trong nhiệm kỳ mà quên rằng có những quyết định quan trọng thì đại biểu còn phải chịu trách nhiệm với nhân dân và lịch sử”. Thế mà có người cười nhạo ý tưởng tôt đẹp ấy rằng, với não trạng “tư duy nhiệm kỳ” thì trách nhiệm với lịch sử là một từ quá xa xỉ. Cũng phải công bằng mà nhớ đến đôi ba trường hợp quá hiếm hoi khi có đại biểu phát biểu trên báo chí rằng họ cảm thấy có lỗi và xấu hổ, mang nặng nỗi buồn và trách nhiệm vì từng bấm nút thông qua Luật Bảo hiểm Xã hội để sau đó người lao động phản ứng rất mạnh với điều 60 của luật này.

Nói theo ngôn từ của các nhà động vật học thì những nghị sĩ biết “thấy có lỗi và xấu hổ” ấy là thuộc loại động vật quý hiếm cần ghi vào “sách đỏ” để bảo vệ vì rồi có thể họ sẽ được mời ra khỏi Quốc hội như người ta đã từng làm vậy với những đại biểu dám nói thẳng suy nghĩ của họ! Liệu trong lần “bấm nút” này sẽ có bao nhiêu người “thấy có lỗi và xấu hổ” khi động tác bấm nút mà không “để cơ đồ đắm biển sâu” như trong câu chuyện lịch sử mang chất huyền thoai xưa kia. Thì rồi cũng lại có người cười tủm mà rằng: đến loại “tinh hoa của tinh hoa” như ngài bộ trưởng nói ngọng nọ đã trí trá ngôn từ thay “phí” bằng “giá” trong chuyện thu học phí thì chuyện “bấm nút” văng mạng để sớm “hoàn thành sứ mệnh lịch sử” mà còn nói đến chuyện xấu hổ quả là khôi hài. Còn việc trí trá ngôn từ thay “phí” bằng “giá” thì các vị chỉ ăn theo nói leo Tổng Bí thư mà thôi. Ông nói ngọng, cũng như ngài Bộ trưởng thu giá “BOT” bị công luận lên án quả là oan còn hơn “oan Thị Kính, con ai đem bỏ chùa này, A di đà Phật, con thầy, thầy nuôi” rồi. Các ông chỉ hưởng thụ tác phẩm của người khác thôi, các ông không hề sáng tác để bị chê là “ngu có dụng ý, lý sự lú có chủ mưu”, tội nghiệp họ quá!

Thì chẳng thế là gì khi ông Trọng là người ra chỉ dụ về “ giá dịch vụ” thay cho “phí, lệ phí” khi ban hành Nghị quyết 11-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh phải “hoàn thiện pháp luật về phí, lệ phí theo hướng chuyển sang áp dụng giá dịch vụ phù hợp với cơ chế thị trường” đó sao. Ngọng thì đã sao nào, lời phê phán của một trí thức lão thành, một nhà toán học có uy tín trong và ngoài nước “thật nhục cho nền giáo dục và khoa học VN. Một bộ trưởng mà như thế, biết tự trọng thì nên từ chức” chẳng là gì, lời nói gió bay, được bảo kê bằng lập trường “trung thành với ý thức hệ” thì cái ghế vẫn còn, thế là đủ, quá đủ.

Chỉ có điều, cũng như Tú Xương, nếu nữ sĩ Hồ Xuân Hương nhờ phép mầu của “kiếp luân hồi” như một tạp chí khoa học nọ vừa đăng mà lừng lững bước vào tấn trò đời đương đại này thì sẽ tức cảnh mà cười với câu giễu được giữ nguyên vì nó chưa hết “đát”:

Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông,
Chúng bảo nhau rằng “ấy ái uông”

Chưa chừng còn táo tợn hơn là sẽ vào vai bà Chủ tịch mà răn bảo các nghị sĩ hãy đừng loáng quáng. Ngọng thì còn tạm được, nhưng loạng quạng sàm sở khi sờ tay vào nút bấm thì hãy liệu hồn, Hồ Xuân Hương sẽ văng vào mặt câu xưa kia từng đe Chiêu Hổ, “đối tác ngẫu hứng” của nàng rằng:

Anh nghị tỉnh, anh nghị say [anh đồ tỉnh, anh đồ say]
Anh đang bấm nút giữa ban ngày [Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày]
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay”.

Ngặt một nỗi chốn hang hùm ấy đã được bảo kê! Cho nên ngài Thủ tướng cũng như ngài Chủ tịch Quốc hội dù gan cóc tía cũng không thể mạnh mồm bật đèn xanh cho các nghị sĩ yên tâm bấm nút bởi Luật phải nhất thiết được thông qua không chỉ vì Bộ Chính trị đã bàn, mà còn cao hơn cả Hiến pháp, cao hơn cả Quốc hội khi mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu Chính phủ phải “xây dựng một số đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt với thể chế vượt trội để tạo cực tăng trưởng và thử nghiệm đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy thuộc hệ thống chính trị”. ( Nghị quyết 11-NQ/TW, “Hội nghị lần thứ năm ban chấp hành trung ương đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, ngày 3 tháng 6 năm 2017). Dẫn ra điều cơ yếu trong Nghị quyết, ông Tổng bí thư ra chỉ thị cho Chính phủ phải “xây dựng một số đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt với thể chế vượt trội”!

Thế “cơ chế vượt trội” ở đây là gì vậy? Với những ưu đãi cho thuê đất kéo dài đến một thế kỷ thiếu một năm, cho thấy tên gọi đúng ở đây của đặc khu là nhượng địa như một đại biểu Quốc hội đã vạch rõ trước diễn đàn Quốc hội bàn về “Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt”. Vị đải biểu này thẳng thừng “ đề nghị bỏ thời hạn giao đất 99 năm: không có vòng đời nào của dự án đầu tư hiện nay cần đến 99 năm. Thời hạn này thực chất là ưu đãi bổ sung để nhà đầu tư có thể được chuyển nhượng sau khi khai thác xong, hoặc thay đổi dự án giữa chừng mà không phải trả lại đất. Thời hạn này ngang với ba, bốn thế hệ con người, thực chất là hình thức nhượng địa”! Thế đấy. Vậy ai sẽ là người quản lý về hành chính, kinh tế của cả ba nhượng địa Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc nếu không phải là ông chủ Tàu như xưa kia cha ông chúng từng là “thái thú” và đã bị dân tộc ta, bằng bao hy sinh xương máu của nhiều thế hệ Việt Nam đã đuổi cổ chúng cút về nước, “ra đến biển chưa thôi trống ngực, về đến Tàu còn đổ mồ hôi” như Nguyễn Trãi viết trong “Bình Ngô đại cáo”!

Cần nhớ rằng, cách đây 5 năm, ông Trọng đã từng khẳng định rắng “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. Vậy thì để “có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện” thì phải có “cơ chế vượt trội” để nhanh chóng cho “người đồng chí cùng chung ý thức hệ” có “lý tưởng tương đồng, sơn thủy tương liên, vận mệnh tương quan” lại có kinh nghiệm và tài lực xây dựng và quản lý các đặc khu kinh tế, vào quản lý dùm các “nhượng đia” để cho Việt Nam nhanh chóng phát triển khi “cả hai nước đều cùng chung một vận mạng” cơ mà!

Phải chăng đấy là điều thúc đẩy việc hối hả “thử nghiệm đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy thuộc hệ thống chính trị” nhằm chính thức hóa một toan tính đã được công phu dàn dựng, sắp xếp từ lâu. Và rồi mưu toan ấy được đưa vào nội dung bàn thảo để ra nghị quyết từ Hội nghị lần thứ V ban chấp hành trung ương đảng khóa XII về “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ngày 3 tháng 6 năm 2017.

Dự luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt là sản phẩm mới ra lò sau Nghị quyết nói trên nhưng đã được chuẩn bị từ lâu như đã nói. Dự luật ấy được bảo kê trắng trợn đến độ đưa ra những điều khoản nguy hiểm như “cho phép Tòa án nước ngoài vào xét xử công dân Việt Nam trên lãnh thổ quốc gia” như một luật sư vừa vạch ra. “Khoản 3 Điều 7. Giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư kinh doanh thì nếu có “tranh chấp giữa các nhà đầu tư liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại đặc khu, trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài còn có thể được giải quyết tại Tòa án nước ngoài, trừ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”.

Theo điều khoản này thì khi áp dụng trong thực tế, có tranh chấp giữa Công ty của Trung Quốc và người Việt Nam về việc giao dịch sản phẩm của công ty (không loại trừ sản phẩm là bất động sản), sẽ do Tòa án Trung Quốc xét xử. Dĩ nhiên tòa án của họ sẽ xét xử bằng tiếng Trung. Khi đó công dân Việt Nam trở thành “người nước ngoài” tham gia tố tụng đối với sự việc diễn ra ngay trên lãnh thổ Việt Nam (đặc khu kinh tế) và muốn kháng cáo để lên tòa cấp trên thì phải về Bắc Kinh để được xét xử. Như vậy, quyền lực lãnh thổ quốc gia về mặt tài phán thử hỏi có còn quốc gia Việt Nam hay không? Chẳng những thế, nếu điều 32 luật đặc khu “Thời hạn sử dụng đất 99 năm, được thế chấp tài sản gắn với đất thuê với tổ chức tín dụng nước ngoài” thì sẽ có nguy cơ biến Chính phủ thành “con tin” của Trung Quốc như một bài viết đã cảnh báo.

Nếu xưa kia cái “nỏ thần vô ý trao tay giặc, nên nổi cơ đồ đắm biển sâu” vì “trái tim lầm chỗ để trên đầu” thì nay cái đầu bị mũ kim cô của Tàu họ Tập thít chặt nên không thể “vô ý” được mà phải là “chủ ý” dâng cho “người đồng chí cùng chung ý thức hệ XHCN”. Một thế lực được Tập bảo kê trong cơ cấu quyền lực chóp bu đang hối hả đẩy tới cái quy trình từng bước dâng chủ quyền đất nước vào tay giặc.

Vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên phong phú là hai yếu tố hàng đầu có thể đưa Việt Nam trở thành “người khổng lồ ở châu Á” như Lý Quang Diệu, nhà lãnh đạo tài ba của Singapore đã nhận xét mà một ngòi bút có trách nhiệm đã dẫn ra khi luận giải về những bất cập của đặc khu kinh tế vừa dẫn ra. Vậy mà, nằm ở vị trí xung yếu của cả “hai yếu tố hàng đầu” đó, Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc đang có nguy cơ là “nhượng địa” cho Tàu. Có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau về đất nước bị mất dần vào tay giặc Tàu, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc từng thất bại nhục nhã trước ý chí tự cường và tinh thần quật khởi của nhân dân ta?

Chưa lúc nào bằng lúc này cần thét to lên lời cảnh báo của Lê Thánh Tông “Kẻ nào để mất một thước đất vào tay giặc sẽ bị tội tru di” ** Ấy vậy mà với “với thể chế vượt trội để tạo cực tăng trưởng”, bằng sự “ưu đãi” của điều khoản cho thuê đất và giao đất kéo dài đến 99 năm như người ta đang toan tính thì không chỉ “một thước đất” mà là những phần lãnh thổ thiêng liêng nằm vào vị trí xung yếu có ý nghĩa chiến lược nhằm bảo vệ quốc thân yêu của chúng ta sắp được dâng cho giặc, ông cha ta sẽ luận tội gì với những kẻ đang hăm hở với toan tính ấy?

Nếu Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt được thực thi thì đúng là “đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau”. Nếu Quốc hội đang bị thôi thúc phải bấm nút thông qua đạo “Luật” tệ hại ấy thì “tai vạ” đã là nhãn tiền! Vì vậy, cũng hơn lúc nào hết, phải thét to lên lời răn dạy của Đức Thánh Trần. Đó chính là lời non nước. Khi gióng lên lời non nước ấy, Trần Hưng Đạo đã từng “ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa thì cũng cam lòng”*.

Mỗi một người Việt Nam ít nhiều đều lưu chảy trong huyết quản giòng máu quật khởi của ông cha, nếu không hiểu được và làm theo lời răn của Trần Hưng Đạo, “thấy quốc sỉ mà không biết thẹn..chẳng những là chịu nhục bây giờ mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn còn mãi mãi… thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa”* như Người đã thiết tha giục giã.

Cả nước hãy thét to lên với Quốc hội, thét to lên với những ai đang toan tính những chuyện mờ ám với “Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt tại Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc”, thét to lên rằng: đừng đem thịt mà nuôi hổ đói!

Ngày 3.6.2018
_____________________

Chú thích:
* Hịch tướng sĩ. Bản dịch của Trần Trọng Kim. “Việt Nam Sử lược”
** Đại Việt Sử ký toàn thư. Kỷ Nhà Lê

Chung quanh chúng ta là Trung Quốc và bóng tối

Chung quanh chúng ta là Trung Quốc và bóng tối

FB Trần Đình Thu

Ảnh: internet

Có thể nói chưa bao giờ người Việt Nam cảm thấy bi quan chán nản như lúc này. Giả sử bây giờ có một vùng đất mới nào đó mà cho phép di dân đến đó để làm lại cuộc đời, kiểu như người Anh năm xưa di cư đến Châu Mỹ, chắc mười người Việt Nam thì di cư hết chín. Giấc mơ về một vùng đất nào đó để cùng nhau lập làng lập nước mới, cùng nhau bầu bán lên những đại biểu đúng nghĩa của nhân dân để đưa dân tộc phát triển có lẽ là ước mơ lớn nhất của tôi lúc này.

Bao năm qua, giới lãnh đạo Việt Nam với nhân dân sống trong tình trạng đồng sàng dị mộng. Cùng một tổ quốc một đất nước nhưng nhân dân không hề mơ cùng một giấc mơ, nghĩ cùng nghĩ một suy nghĩ với giới lãnh đạo. Tình trạng đó ngày càng nghiêm trọng và cho đến lúc này là đỉnh điểm. Nếu ngày mai ngày kia những người gọi là đại biểu nhân dân kia mà bấm nút thông qua luật 3 đặc khu thì coi như hết.

Nói về dân tộc Việt, chúng ta tự thương chúng ta là một dân tộc kém may mắn. Người Việt Nam chúng ta cần cù chịu khó nhưng tạo hóa trớ trêu sinh ra chúng ta bên cạnh đất nước Trung Hoa, một đất nước khổng lồ nhưng luôn muốn chơi xấu láng giềng, vì vậy bao năm chúng ta cất đầu không nổi. May nhờ dân tộc chúng ta có ý chí quật cường nên thoát khỏi họa diệt vong, đồng hóa, nhưng chúng ta không thể thoát khỏi những mưu hèn kế bẩn hàng ngày của bọn chúng, vì chúng ta phải sống bên cạnh bọn chúng.

Vào thời Nhà Trần, đứng trước họa xâm lăng của quân Nguyên – Mông, Vua Trần đã mở hội nghị Diên Hồng để động viên sức mạnh toàn dân. Nhưng đó là khi vua tôi một lòng, triều đình đứng cùng một chiến tuyến với nhân dân. Còn bây giờ, lãnh đạo và nhân dân không cùng một chiến tuyến, nên không thể có “sức mạnh Diên Hồng” như ngày xưa được. Đó là nỗi đau lớn nhất của chúng ta.

Bắt đầu từ mùa xuân năm ngoái, Trung Quốc đã âm mưu làm cuộc múa hát giữa lòng Hà Nội ngay trong ngày Hoàng Sa thất thủ, kể từ đó chúng ngày càng lấn tới. Nhưng giới lãnh đạo Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng. Họ dường như mũ ni che tai, không nghe tiếng của nhân dân, lặng im như những “vị La Hán chùa Tây Phương”.

Trong những ngày đầu tháng 5, Hội nghị trung ương nhóm họp rình rang, ngoài biển Trung Hoa kéo bom đạn vào đảo rầm trời, nhưng hội nghị toàn các vị trung ương lại im hơi lặng tiếng như một khóa tu thiền kéo dài 7 ngày. Hết hội nghị, ai nấy hân hoan vì kỷ luật được vài đồng chí của mình, bầu bán được vài đồng chí của mình, rồi khóa tu thiền giải tán, ai nấy vui vẻ ra về. Chẳng ai buồn nhắc đến câu chuyện bọn giặc Tàu đang làm nhân dân lo lắng.

Quốc hội nhóm họp, dài hơn khóa tu thiền 7 ngày, cũng không nghe nhắc gì chuyện Trung quốc kéo bom đạn vào đảo, chỉ lăm le hai thứ là triệt hạ đám dân đen hay lên tiếng trên mạng xã hội bằng Dự luật An ninh mạng và gây cơn khiếp hãi cho dân chúng bằng cú chuẩn bị cho phượng hoàng vào làm tổ là Dự luật 3 đặc khu.

Đến bây giờ mọi sự rõ ràng hơn khi chúng ta phát hiện ra các cố vấn Trung Quốc đã tham gia từ ngày đầu ở Quảng Ninh để lèo lái hòng đưa vào Việt Nam từ vũ khí, sòng bài cho đến nhà máy điện hạt nhân, chứ còn mấy hôm trước, chúng ta thắc mắc vì sao chính phủ tổ chức cả một đoàn nhà báo tham quan Trung quốc ngay sát thềm thảo luận luật 3 đặc khu, rồi khi về nước, cất lên dàn đồng ca ca ngợi Trung Hoa vỹ đại và mắng nhiếc những người chống lại luật 3 đặc khu.

Ôi! Chúng ta đang sống trong những ngày gì vậy?

Chúng ta trong những ngày qua, khi ai ai đều hết sức lo lắng thì các ông lãnh đạo liên tiếp phát biểu những điều dối trá, nào là không thấy người nước ngoài nào mua đất, nào là đã có phương án xử lý sự cố hạt nhân, nào là dự thảo không có chữ nào ghi là Trung quốc… Vân vân và vân vân. Những phát biểu ấy không phải là ngây ngô mà ngược lại, những người lãnh đạo đang xem rằng nhân dân rất là ngây ngô.

Cho đến bây giờ, nhân dân đã lên tiếng hết những gì cần lên tiếng. Nhưng tỷ lệ hy vọng giới lãnh đạo nghe theo chỉ là một phần trăm. Có lẽ họ sẽ bấm nút. Những nút bấm vô hồn ở hội trường quốc hội tuy nhỏ nhưng chúng sẽ đưa dân tộc này đến thảm cảnh một ngày nào đó chung quanh chỉ còn là Trung Quốc và bóng tối.

Ngày ấy không xa lắm.

ĐƯỢC CÔNG AN “MỜI ĐỐI THOẠI” VỀ ĐẶC KHU

ĐƯỢC CÔNG AN “MỜI ĐỐI THOẠI” VỀ ĐẶC KHU

Phạm Đoan Trang

Nửa đêm mùng 1, rạng sáng 2/6, tôi đi xe khách từ Sài Gòn về tới Hà Nội, chỉ vừa xuống bến xe được chừng nửa tiếng và đang loay hoay tìm đường về nhà một người bạn, thì đã bị “lực lượng chức năng phát hiện” (nói theo ngôn ngữ công an) và đưa lên xe, mang về nhà.

Họ yêu cầu tôi ngày hôm sau lên “làm việc”. Ngay sau đó, họ bắc ghế ngồi canh cửa rồi ngủ luôn trước hành lang nhà tôi. Sáng hôm sau, ô-tô đến đưa tôi “đi làm việc” từ sớm. Không giấy mời, không giấy triệu tập. Tôi cũng không có ý kiến gì bởi đã quá quen với việc đó: Mặc dù phải thường xuyên làm việc với cơ quan an ninh từ năm 2009, nhưng tôi chưa bao giờ nhận được giấy mời hay giấy triệu tập nào. Về cơ bản, anh em an ninh làm việc với tôi theo phong cách hễ cần gặp thì chặn bắt ở đâu đó mang về đồn; hỏi thì phải trả lời và làm việc xong thì phải có kết quả gì đó để họ báo cáo lãnh đạo. Họ coi đấy là làm việc trong tinh thần tôn trọng và hợp tác.

Trong trường hợp họ hỏi mà tôi không trả lời hay nói đúng hơn, không trả lời theo ý họ, thì như thế gọi là có thái độ bất hợp tác và thiếu tôn trọng.

“QUY TRÌNH”

Không khó để nhận ra quy trình của an ninh để khép tội một người viết, một blogger nào đó. Việc đầu tiên và quan trọng nhất, mang tính mấu chốt, là phải ép được blogger đó nhận bài viết abcxyz là của mình, và ký xác nhận. Còn nội dung bài viết, chất lượng của lập luận, quan điểm, mục đích, mong muốn của tác giả thế nào… không quan trọng. Điều thiết yếu chỉ là đối tượng phải thừa nhận mình là tác giả, mình làm ra những “tài liệu” ấy.

Nhiều blogger không hiểu được ý đồ của công an nên khi bị thẩm vấn thường sa vào tranh luận với công an rằng tôi viết thế thì có gì sai, tôi chỉ nói sự thật, tôi chỉ nêu quan điểm cá nhân và đó là quyền tự do biểu đạt tư tưởng của tôi, vân vân. Thế nên khi công an bảo: “Quan điểm cá nhân anh/chị thì chúng tôi tôn trọng, chúng tôi không bàn vấn đề ấy ở đây, chỉ xin anh/chị xác nhận giúp cái này gọi là thủ tục”, họ dễ dàng đặt bút ký nhận ngay. Công an cũng chỉ cần có thế. Sau này, việc diễn giải bài viết và từ đó quy chụp, luận tội tác giả, sẽ do cả một hội đồng giám định lập. Hội đồng này gồm các thành viên mà nhìn chung là chữ không đầy cái lá mít và cả đời không viết nổi một… status nên hồn chứ chưa nói tới chuyện viết báo hay viết sách. Dĩ nhiên cái gọi là kết quả giám định của hội đồng cũng cóp gần như nguyên si kết luận điều tra và buộc tội của công an. Lời lẽ dĩ nhiên đanh thép, đối tượng không thể cãi nổi (mà còn cãi vào lúc nào được nữa, trước toà chăng, hay trong tù?).

Trong trường hợp của tôi, do những bằng chứng buộc tội quá yếu, an ninh đã phải cố lôi cả các bài báo trên mạng từ những năm 2014-2015 ra để yêu cầu xác nhận. Những câu hỏi của họ luôn làm tôi bật cười vì nhớ đến lời lẽ trong các cáo trạng buộc tội Cù Huy Hà Vũ hay Mẹ Nấm, đại khái là “Vũ/ Quỳnh đã hàng trăm lần trả lời các báo phản động như VOA, BBC, RFA… với các nội dung xuyên tạc, bôi nhọ bản chất chế độ và tình hình nhân quyền ở Việt Nam”. Hoá ra trả lời phỏng vấn những cơ quan báo chí không được nhà nước CHXHCN Việt Nam cấp phép cũng cấu thành tội cơ đấy ạ.

“Tuyên truyền chống nhà nước” luôn là cái mũ rất rộng để có thể chụp vào đầu bất cứ ai trả lời báo đài nước ngoài theo hướng nói xấu chế độ. Nếu tội ấy chưa đủ nặng thì cũng không sao, công an vẫn còn nhiều công cụ khác để thực hành chuyên chính. Ví dụ có một tội rất nặng luôn lơ lửng trên đầu những người làm việc với các cá nhân, tổ chức nước ngoài: gián điệp.

Làm cộng tác viên cho báo đài nước ngoài: gián điệp. Gặp gỡ các cơ quan ngoại giao để thảo luận về tình hình nhân quyền và dân chủ trong nước và quốc tế: gián điệp. Gửi báo cáo – nghiên cứu cho các tổ chức nước ngoài: gián điệp. Vận động nhân quyền cho Việt Nam trên trường quốc tế, phản ánh tình hình nhân quyền trong nước ra nước ngoài: gián điệp. Vân vân.

– Bài này của chị phải không?

– Tôi không nhớ.

– Chị mà không nhớ? Dám làm dám nhận chứ chị nói vậy nghe nó không đàng hoàng.

– Tôi không nhớ. Mà nếu anh cứ ghi vào biên bản là tôi không nhớ thì sao, có gì hại cho anh đâu nhỉ? Đây là lỗi của tôi cơ mà. Tôi không nhớ là do tôi.

– Nhưng chị nói vậy nó không đúng sự thật.

– Sự thật là tôi không nhớ, thì anh cứ ghi vào biên bản là như thế. Sao anh lại cứ muốn tôi phải trả lời như ý của anh nhỉ? Tôi không hiểu đấy.

Đúng là công an chỉ thích những sự thật có lợi cho họ.

Ở một chỗ khác, tại phần “tình trạng sức khỏe”, họ muốn ghi chữ “bình thường, tỉnh táo”. Tôi lắc đầu:

– Không. Tôi chẳng bao giờ khỏe khi phải làm việc với các anh chị cả. Anh ghi vào đấy là “bị ép phải làm việc”.

– Ấy, không ghi thế được.

– Bị ép mà. Hay nếu không phải bị ép thì tôi về nhé. Tôi về đây.

– Không được, chị không thể về được.

– OK, vậy anh ghi vào là “bị ép làm việc” đi.

– Chị cứ nói vậy nhỉ? Ai đánh đập chửi bới gì chị đâu mà chị bảo bị ép.

– À tức là với anh, phải bị đánh đập chửi bới mới là bị ép à? OK cũng được. Không bị ép. Tôi về nhé.

– Chị không về được đâu. Đã vào đồn thì phải làm việc.

– Hay nhỉ, thế là tóm lại là ép hay là gì? Đấy, các anh thấy không, các anh làm sai từ cái mẫu ghi lời khai trở đi. Tôi khẳng định rằng có một triệu biên bản thì cả một triệu biên bản ghi tình trạng sức khỏe là bình thường, không ai bị ép. Còn thực tế thì nó thế này đây. Các anh làm sai từ cái mẫu giấy tờ trở đi.

– Đó là mẫu, là quy định vậy rồi. Chị bức xúc thì cũng phải chờ sửa dần thôi. Cái gì cũng phải có lộ trình.

– Lộ trình hả? Bao giờ sửa? Cho tôi biết thời gian.

Câu chuyện cứ lằng nhằng thế mãi, đến khi nào tôi chán thì thôi. Công an thì không chán; họ luôn tỏ ra sẵn sàng thi gan.

Thi gan như họ và chúng tôi – những thành phần “đặc biệt”, những đối tượng trong mắt họ ư? Họ có hàng chục người, chia làm nhiều ca luân phiên nhau, còn chúng tôi bao giờ cũng chỉ có một mình. Họ chẳng có việc gì khác ngoài “đấu tranh” với chúng tôi, đó là nghề nghiệp của họ, được trả công ăn lương, còn chúng tôi có quá nhiều việc phải làm, miễn phí, trong tình trạng luôn bị họ rình mò phá phách. Họ có toàn quyền lôi bất kỳ ai họ muốn về đồn “làm việc” của họ, trả lời các câu hỏi của họ, cung cấp thông tin cho họ, còn họ chỉ việc ngồi chờ thông tin, gọi là do kết quả đấu tranh mà có được. Họ có toàn quyền nghe trộm điện thoại, đọc trộm thư tín, tịch thu, cướp tài sản, giấy tờ, tài liệu của chúng tôi, còn chúng tôi không có gì về họ cả, ngay cả khi rời đồn cũng không có được tờ biên bản trong tay. Thi gan như thế thì an ninh sướng quá, lúc nào chẳng sẵn sàng thi gan.

LẠI CHUYỆN ĐẶC KHU

Đồng chí an ninh nào khi tiếp chuyện người của “phe dân chủ”, nhất là những người có tinh thần chống bá quyền Trung Quốc, cũng đều luôn nói ý rằng “chúng tôi cũng ghét Trung Quốc lắm chứ, chúng tôi cũng lo nguy cơ phụ thuộc Trung Quốc lắm chứ.”…

Nhưng thực tế những gì họ làm (mà phía dân chủ thấy được) thì hình như toàn theo hướng ủng hộ đảng bạn, nước bạn và thẳng tay đàn áp những người Việt Nam có khuynh hướng chống Trung Quốc quá mạnh. Đơn cử, nói về tranh chấp chủ quyền, học giả Trung Quốc được chính quyền o bế, chăm bẵm, mua chuộc; học giả Việt Nam nhiều người bị Đảng và Nhà nước coi như tội phạm dự khuyết. Báo chí chính thống (tờ Hoàn Cầu chẳng hạn), mạng xã hội Trung Quốc chửi Việt Nam thả giàn, nhưng báo chí Việt Nam chỉ dám phê phán bạn vàng khi tuyên giáo cho phép, mạng xã hội thì tưởng như tự do hơn nhưng thật ra luôn có bóng ma dư luận viên lởn vởn, nhất là trong chuyện chống Tàu, ngoài dư luận viên lại có thêm lực lượng Việt gian mới gồm đủ mặt nhà báo, học giả, chuyên gia… này nọ để chấn chỉnh đám đông ngu dốt.

Mỗi lần có cuộc biểu tình chống Trung Quốc nào thì người biểu tình lại bị công an bắt giam, sách nhiễu, đánh đập, đe doạ, ép cơ quan đuổi việc, ép chủ nhà cắt hợp đồng thuê, v.v. Ngay lúc này đây, khi Dự luật Đặc khu đang gây bức xúc trong dư luận, nhiều nhà hoạt động cũng đang bị canh chặt. Tất cả các quán nước và ghế đá trong khu nhà tôi đều có an ninh ngồi. Và họ vẫn hẹn tôi rằng sẽ mời tôi làm việc bất kỳ lúc nào “có điều kiện”, yêu cầu tôi hợp tác. Có lẽ vì công an sợ sẽ có biểu tình nổ ra chăng?

Tôi hiểu những thực trạng ấy, nên tôi ngờ vực lắm cái thái độ của an ninh hỏi “quan điểm của em về luật Đặc khu? Có gì cứ thẳng thắn trao đổi, đối thoại nào”. Ôi công dân Việt Nam. Chỗ mà anh/chị bày tỏ quan điểm về chính sách nhà nước không phải là diễn đàn quốc hội, hội thảo, hội nghị, diễn đàn xã hội dân sự nào cả, mà là đồn công an. Không có ông bà nghị nào lắng nghe anh/chị đâu, chỉ có lực lượng an ninh “ghi nhận” ý kiến, quan điểm, tư tưởng của anh/chị thôi, để thấy có gì sai lệch thì còn kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh.

“Anh nghĩ rằng tôi sẽ ngồi đối thoại và nêu quan điểm với anh ở đây à, trong đồn công an à?” – Đó là điều tôi muốn nói với họ hơn cả. Nhưng rồi tôi chỉ cười. 7h tối, tôi bỏ về nhà, đi bộ. Được nửa đường, đau chân quá, tôi gọi cậu thanh niên vẫn lẽo đẽo theo sau, nhờ cậu ta giúp nhưng cậu ta chỉ đứng nhìn và bảo: “Việc chị chị làm, việc tôi tôi làm”. Tôi ngồi bệt xuống vỉa hè một lúc rồi đứng dậy, cuối cùng cũng lết về nhà được sau một tiếng đồng hồ…

P.Đ.T.

Nguồn: https://www.facebook.com/pham.doan.trang/posts/10156711128548322