Khi Việt Nam Và Tàu “Một Tổ Quốc, Một Văn Hóa” – Nguyễn Thị Cỏ May

Kimtrong Lam

Khi Việt Nam Và Tàu “Một Tổ Quốc, Một Văn Hóa” – Nguyễn Thị Cỏ May

Trong gần đây, nhiều người nói tới năm 2020, Việt Nam sẽ lệ thuộc Tàu (1) vì sẽ trở thành “một vùng tự trị” hay “một tỉnh lẻ” của Tàu. Khi nói về ngày mai này, người ta nhắc lại “Hội nghị Thành Đô” tuy văn bản qui định việc này, không biết có ai thấy không?. Nhưng nói về “ảnh hưởng đậm” hay “lệ thuộc” Tàu thì trong nhiều sách vở và báo chí của chế độ, không thiếu những lời như “Việt Nam và Trung quốc sông liền sông, núi liền núi” hoặc “môi hở răng lạnh” và, nhất là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, hay lời của Trường Chinh kêu gọi người Việt Nam hảy bỏ chữ quốc ngữ vì chữ này là của thực dân đem tới, không phải chữ của ta, hãy trở về học chữ Hán (2), còn trong sách vở xưa, thì “Việt Nam và Trung Quốc đồng văn, đồng chủng”. Thực tế sẽ ra sao, chúng ta hãy chờ trả lời. Chỉ còn 2 năm nữa mà thôi.

Ngày nay, có điều chắc chắn, rõ ràng, ai cũng có thể ghi nhận không cần bàn cãi là hướng đi của Việt Nam do đảng cộng sản lèo lái vẫn lấy Tàu làm khuôn vàng thước ngọc. Việt Nam phải giống Tàu, phải bám theo sát Tàu. Tập Cận Bình là chuẩn mực. Qua 2 lần tuyên bố của Nguyễn Phú Trọng, vào tháng 1-2018, trước Quốc Hội và đông đảo các nhà báo: “những đảng viên đòi đa nguyên đa đảng, từ bỏ xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện Tam quyền phân lập là bị tác động bởi bọn phản động, phải bị khai trừ ra khỏi đảng”, và tiếp theo, trong tháng 7, nặng lời hơn: “Những kẻ đòi đa nguyên đa đảng, từ bỏ CNXH, đòi Tam quyền phân lập, đều là bọn bất hảo” (chớ không phải kẻ có lý luận như Trọng), ai cũng nhận thấy đường lối lệ thuộc Tàu của Trọng thể hiện rất rõ: “Việt Nam với Tàu là một. Một chế độ, một văn hóa”.

Giờ đây, chúng ta thử hình dung cái “một” đó là gì, như thế nào, qua chính sách của Tập Cận Bình?

Không thể dân chủ hóa chế độ

Theo Giáo sư Jean-Pierre Cabestan, chuyên viên về Tàu, nhận xét mang tính kết luận “Ở Tàu, cá nhân làm giàu và tiêu thụ là ưu tiên, trước sự cần nới rộng tự do và những quyền chính trị”.

Trong quyển sách mới xuất bản (Demain la Chine: Démocratie ou Dictature?, Gallimard, Paris, 3/2018), ông Cabestan cho rằng khả năng của dân chúng Tàu thích nghi và sự đồng thuận trong nội bộ đảng cộng sản để duy trì quyền lực là sẽ không cần phải thay đổi chế độ hiện tại. Mặc dầu như vậy là không phù hợp v ới xu thế thời đại, xung đột mạnh với nền dân chủ Tây phương. Nhiều học giả Tàu cũng lo ngại nghĩ rằng chính trị và xã hội được tự do để lần lần sẽ dân chủ hóa chế độ là điều khó tránh làm cho đất nước bị xáo trộn, mất ổn định.

Sau Đại hội đảng cộng sản Tàu thứ XIX đưa Tập Cận Bình lên làm Hoàng đế Tàu suốt đời, phân tách những khả năng thích nghi và đổi mới của một chế độ, ông Cabestan quả quyết Tàu “không thể dân chủ hóa” được. Chẳng những “dân chủ hóa không thể được”, mà ông còn cho đó, đúng hơn, là một “chế độ độc tài”.

Nói đó là một chế độ độc tài vì quyền lực thật sự được thể hiện ở con người Tập Cận Bình, đứng đầu một đảng duy nhất cai trị nước Tàu theo một mô hình đổi mới độc đoán.

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều nước cộng sản đã lần lược thay đổi theo dân chủ. Nhưng Tàu là trường hợp khá đặc biệt. Ngoại lệ chăng? Liệu Tàu sẽ đứng vững được bao lâu khi Tàu hoàn toàn không nghĩ tới từng bước tiến lên theo hướng dân chủ trong lúc thế giới tranh chấp nhau với những ý hệ ngày càng công khai?

Tập Cận Bình chủ trương mở cửa ra thế giới, tiếp xúc với những nước dân chủ nhưng vẫn chống lại những nước này, tìm cách áp đặt tương quan lực lượng có lợi cho mình. Tập tìm cách xuất cảng mô hình Tàu ra thế giới, nhất là nhắm những nước kém mở mang. Không phải chỉ để bảo vệ chế độ hay củng cố tính chính thống của chế độ, mà đó chính là tham vọng bá chủ thế giới của Tập Cận Bình.

Khi nói dân chủ, người Tàu cũng nói họ có dân chủ. Chế độ ở Tàu của họ là chế độ dân chủ. Thứ dân chủ tốt hơn dân chủ tư bản cả vạn lần. Nhưng thứ gọi là dân chủ ở Tàu đó lại từ chối nhân quyền, từ chối những quyền căn bản như quyền bầu cử tự do, quyền lập đảng, tự do thông tin, tự do phát biểu, công khai ngân sách của đảng cộng sản…

Đừng quên mô hình độc tài của Liên Sô. Chế độ Tàu là một copie lénino-staliniste: 1 đảng duy nhất lãnh đạo toàn diện và triệt để, chọn đảng viên “uu tú” (cốt cán) cầm quyền, đàn áp mọi chống đối, nhất là không tha những người có ý muốn thay đổi chế độ theo dân chủ tự do thật sự.

Kinh tế phát triển, Tàu sẽ thay đổi theo dân chủ?

Tuy ngày nay, chế độ độc tài ở Tàu không còn như trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ nhưng đó vẫn là một chế độ cực kỳ phản động. Thật ra chế độ cộng sản là phản động. Nhiều nhà phân tích cho rằng tham nhũng và khủng hoảng kinh tế như tăng trưởng xuống, công nợ tăng, thất nghiệp đông, sẽ làm cho chế độ sụp đổ. Thật ra khả năng thích nghi của dân chúng sẽ giúp chế độ tồn tại – nhất là giới dân chúng biết dựa vào chế độ làm giàu vẫn là lực lượng bảo vệ chế độ vững mạnh. Đồng thời Tập quan tâm thực hiện những thay đổi kinh tế nhưng vẫn lo sợ những nhà đầu tư tư nhân sẽ gây ra nhiều rủi ro cho chế độ nên Tập càng kiểm soát đảng chặc chẽ hơn.

Ngày nay, Tập biết mình có nhiều kẻ thù nên Tập phải tìm cách nắm trọn quyền lãnh đạo trong tay suốt đời. Buông đảng ra là chết. Chỉ yên tâm khi nào Tập loại được hết kẻ thù, đào tạo một thế hệ nối tiếp biết trung thành với Tập. Nhưng liệu toan tính này có vượt quá tầm tay một cá nhân hay không?

Tóm lại, nhìn vào thực tế ở Tàu, người ta thấy rõ đó là chế độ độc tài nhưng sẽ bền vững nhờ ở khả năng biết thích ứng của đảng CS, kiểm soát được xã hội, và dân chúng thấy yên lòng, sống được, còn có lắm kẻ làm giàu. Điều này trước đây, mơ cũng không có. Và hơn hết, dân Tàu không biết dân chủ, văn hóa Tàu không có dân chủ. Người Tàu chỉ biết mong đợi ở một minh quân nên ở Tàu không có sự đòi hỏi dân chủ, tự do quan trọng trong dân chúng.

Tàu và Việt Nam là “một”, do đó chế độ ở Việt Nam chỉ sẽ thay đổi chỉ khi nào dân chúng Việt Nam hiểu dân chủ, cần đòi hỏi dân chủ, để tự mình cai trị chính mình, tự mình giữ gìn và bảo vệ đất nước nguyên vẹn cho mình.

Về văn hóa, tuy ngày xưa, học chữ Nho, học văn hóa Tàu nhưng cái học đã được Việt hóa rất căn bản nên giữa 2 nền văn hóa vẫn có nhiều khác biệt.

Một Văn hóa

Những người học chữ Nho thời xưa theo lối nhồi sọ của Tống Nho, không kịp suy nghĩ, đều nằm lòng Việt Nam và Tàu “đồng văn, đồng chủng”. Trân trọng chữ Tàu vì đó là chữ của thánh hiền. Thấy một miếng giấy chữ Tàu lăn lốc trên mặt đất vội lượm lên đem đốt. Không dám bỏ bậy.

Ngày nay, dưới sự cai trị của đảng CSVN, chữ Tàu, tiếng Tàu bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam rộng rãi với một ưu thế mới. Học tiếng Tàu như một ngoại ngữ là bình thường, không mang ý nghĩa lệ thuộc văn hóa. Nhưng nếu người Việt Nam tiếp thu văn hóa Tàu theo tinh thần Tống Nho thì sự lệ thuộc này mới kinh khủng hơn mất đất do dời cột mốc biên giới, mất đảo, mất biển… Mất văn hóa là mất chính người Việt Nam!

Thật ra văn hóa Tàu có mặt đẹp của nó nên nó mới tồn tại tới ngày nay. Nhưng về chính trị, Tàu có những tấm gương tuân phục vua/tôi vô cùng rùng rợn. Khi lệ thuộc văn hóa thì dĩ nhiên Việt Nam sẽ phải được học thứ văn hóa chính trị này để thể hiện ý nghĩa “một văn hóa” theo chính sách xâm lược cố hũu của Tàu.

Đây, Cỏ May tôi xin kể một câu chuyện lịch sử tàu để minh họa thứ văn hóa chính trị ghê rợn của Tàu.

Chuyện kể:

“Vua Tề hoàn Công nhờ có Quản Trọng, Bảo thúc Nha và nhiều trung thần hào kiệt giúp sức nên đã dựng lên cơ nghiệp bá vương, xứ sở cường thịnh, dân chúng ấm no. Quản Trọng được mọi người kính trọng và biết ơn, Tề Hoàn Công đã coi ông như một người cha và luôn gọi ông là Trọng Phụ, và không cho phép mọi người gọi tên huý hoặc tên thật của Quản Trọng. Cùng làm việc trong cung đình, còn có nịnh thần như Thụ Điêu, Dịch Nha và Khai Phương.

Thụ Điêu thì tự thiến mình để xin vào cung hầu hạ, vì thế vua rất cảm động và thương yêu cách đặc biệt.

Dịch Nha có tài nấu ăn và là người nấu ăn riêng của vua. Một hôm vua nói, các món sơn hào hải vị và trân châu bát bửu ta đều đã dùng qua, có món đã làm ta thật chán. Chỉ duy có món thịt người là ta chưa được nếm thử bao giờ.

Ngay ngày hôm sau, Dịch Nha liền dâng lên vua một món thịt chế biến rất hấp dẫn. Ăn xong, nhà vua hết lời khen ngon và hỏi thịt gì. Dịch Nha nói, đó là thịt đứa con 3 tuổi của hạ thần”.

Thứ văn hóa chính trị tuân phục vì quyền lợi riêng tư này thật kinh khủng. Ngày xưa, để làm vui lòng nhà vua muu cầu quyền lợi cho mình, Dịch Nha đã không ngần ngại làm thịt con dâng cho nhà vua đổi món ăn. Điều này, về ý nghĩa chính trị, không khác gì lắm khi trước đây Hồ Chí Minh đã long trọng “sông liền sông, núi liền núi” và “môi hở răng lạnh”, trước sau chỉ nhằm thực hiện tham vọng lãnh tụ, phục hận quá khứ gia đình. Tới Lê Duẩn xua mười triệu thanh niên Việt Nam vào lửa đạn (3) cũng chỉ để “phục vụ Liên Sô và Trung Quốc”. Ngày nay, Nguyễn Phú Trọng và đảng cộng sản sẵn sàng đem đất nước dâng cho vua tàu Tập Cận Bình để đổi lấy sự giàu có.

Bắt đầu từng bước thực hiện thứ văn hóa chính trị tuân phục, Trọng đã mở rộng cửa cho Tàu tràn ngập qua Việt Nam, cho thiết lập khắp nơi nhà máy Tàu xả thải phá hủy môi trường đất nước, bán những vùng đất quan trọng về chiến lược cho Tàu cộng khai thác đời đời.

So sánh với giết con, tự thiến của thời xưa để được làm quan thì tội ác của Hồ Chí Minh, của Lê Duẩn, của Nguyễn Phú Trọng sau này mới thật là tày trời hơn cả vạn lần. Đặc tính của thứ văn hóa chính trị Tàu xưa nay là ác. Nhìn lại chế độ Mao để đừng quên có 80 triệu người Tàu chết, từ Vạn Lý Trường Chinh, những bước Đại Nhảy Vọt đến Cách Mạng Văn Hóa. Vậy khi Việt Nam lệ thuộc Tàu cộng, cái ác đó sẽ đem áp dụng ở Việt Nam, đời sống dân chúng sẽ lầm than đến đâu? Như dân Tây Tạng, dân Ngô Duy Nhỉ?

* Ghi chú:

(1) Khi nói Việt Nam sẽ bị lệ thuộc Tàu, rất nhiều tác giả Việt Nam dẫn chứng “lời ” của Hồ Chí Minh nói với Đại diện của Mao Trạch Đông là 2 tướng Trần Canh và Vị Quốc Thanh năm 1926 và bốn năm sau, năm 1930, nhân lúc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, đươc Hồ Chí Minh lập lại một lần nữa với Tổng Lý Chu Ân Lai: “Việt Nam và Trung Quốc tuy hai mà một. Một dân tộc. Một Nền văn hóa. Một phong tục. Một tổ quốc. Nếu giúp chúng tôi thắng Pháp, thắng Nhật, thắng tất cả bọn tư bản vùng Đông Nam Á, nắm được chính quyền, thì nợ viện trợ sẽ hoàn trả dưới mọi hình thức, kể cả cắt đất, cắt đảo, lùi biên giới nhượng lại cho Trung Quốc, chúng tôi cũng làm, để đền ơn đáp nghĩa.”.

Rất tiếc xuất xứ của lời này không được rõ ràng lắm. Hơn nữa, năm 1926, chỉ có chế độ thực dân Pháp ở Việt Nam.

(2) Trường Chinh, Tổng Bí thư đảng Lao Động, Văn thư số 284/LĐ đang trên Nhật báo Tiếng Dội, 5/1951, Sài gòn.

(3) Duẩn vâng lệnh Mao làm chiến tranh biển người. Lý thuyết chiến tranh biển người của Mao là “Càng nhiều người bị giết, cách mạng càng thành công” (D.Acemoglu và J.A.Robinson, “Tại sao các quốc gia thất bại”, NXB Trẻ, 2013, trang 545).

Về mười triệu người chết trong chiến tranh do Lê Duẩn được bà Bảy Vân xác nhận trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Xuân Hồng (BBC). Bà Bảy Vân nói thêm nếu Tàu không giúp, Lê Duân sẽ phải hy sinh người dân thêm nữa, để giải phóng cho được Miền nam.

24.08.2018

Nguyễn thị Cỏ May

CON ĐƯỜNG NÀO CHO ĐCS?

Đỗ Ngà

Lòng dân là yếu tố quyết định tính bền lâu của một thể chế. Xã hội đang chuyển hướng từ tin tưởng ĐCS sang tin tưởng lực lượng dân chủ, đó là điều không thể phủ nhận. Điều đó cho thấy sự kết thúc một triều đại sẽ tới, không sớm hay muộn. Triều đại mà được đặt nền tảng trên sự ngu muội của dân tộc thì triều đại đó phải đổ. Bởi vì sự ngu muội không thể ở mãi với dân tộc được, dân phải vứt nó vào lúc nào đó.

CS có thấy được điều này không? Họ thấy và đang điên cuồng chống lại sự chuyển hướng đó. Nhưng khổ nỗi, tầm của họ không tới và giờ họ đang bế tắc trong vấn đề lôi kéo lòng tin nhân dân về phía mình. Dùng công an đe doạ làm dân sợ không được phép nói sự thật chỉ là giải pháp tình thế để ngăn chặn sự chuyển biến tư tưởng thành bùng phát sức mạnh mà thôi. Bức tường sợ hãi là một bức tường không bền vững, rồi cũng tới lúc dân xô đổ nó và kết liễu độc tài CS, chắc chắn là vậy.

Bản chất của sự chuyển biến trong dân là sự khai thông nhận thức. Khi con người đã hiểu biết, nếu kéo họ lại con đường ngu muội bằng tuyên truyền giả dối là điều không thể. Anh nông dân thất học khi đã được học hành thành trí thức thực thụ thì không ai có thể biến anh ta thành kẻ ngu dốt như trước đó được nữa. Tương tự vậy, khi dân đã biết sự thật, biết suy xét đúng sai thì ĐCS dùng tuyên truyền dối trá để kéo họ về với ngu muội là không thể. Nếu Hồ Chí Minh mà chết trong thời này thì dân cũng ăn mừng chứ chẳng riêng gì cái chết của Trần Đại Quang. Thời 1969 dân miền Bắc ngu muội, nhưng nay không phải thế. Đấy là điều tất yếu, ĐCS nên thẳng thắn nhìn nhận. Nhưng khổ nỗi, Ban Tuyên Giáo ĐCS chỉ toàn là những bộ óc ngu muội nên không thấy được xu hướng tất yếu này mà kiên trì nhồi sọ bằng giả dối nên đã thất bại và nhờ đến công an và nhà tù để hỗ trợ.

Thế thì ĐCS phải làm gì là thích hợp trong trường hợp này? Chỉ có thể lượn theo nó mà tồn tại. Nghĩa là ĐCS sẽ phải thay đổi mình cho cuộc chơi chung toàn cầu và cuộc chơi chung bình đẳng trong nước. Hãy làm như Liên Xô thì đó là con đường vẹn toàn cho ĐCS và nó cũng đảm bảo quyền lợi cho cựu đảng viên ĐCS. Như ta biết, Boris Yelsin hay Vladimir Putin đều là cựu quang chức CS. Nếu cố chấp đi ngược dòng lịch sử thì cái kết sẽ là Nicolae Ceaucescu của Romani mà thôi. Cái hậu thế nào đó là do CS lựa chọn hôm nay.

Chiến tranh không chết ngưòi

  Chiến tranh không chết người

From: Chanhle_bluelight

Peter Navaro “Khắc tinh của Hán cộng”

Nếu Trung cộng bị suy tàn, tan rã do thất bại trên chiến trường thương mại thì công lớn nhất chính là giám đốc của Hội đồng Thương mại Quốc gia Nhà trắng – giáo sư kinh tế và chính sách ông Peter Navaro, tác giả của cuốn sách “Death by China: Confronting the Dragon – A Global Call to Action” tạm dịch là “Chết bởi Trung cộng – Ðương đầu với con Rồng – Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu”. Cuốn sách này có sự đóng góp của Greg Autry,

Điều đặc biệt hơn chính là “nghệ thuật dùng người” của Donald Trump, sau khi thắng cử, ngày 21/12/2016 ông Trump đã bổ nhiệm ông Navaro, một đảng viên của Đảng Dân chủ vào vị trí làm giám đốc của Hội đồng Thương mại Quốc gia Nhà trắng, một vị trí mới được tạo ra trong ngành hành pháp của chính phủ liên bang Hoa Kỳ để “cố vấn” cho Trump phá thế “chết bởi Trung cộng”. Xin điểm lại các nội dung chính trong cuốn sách Chết bởi Trung cộng – Ðương đầu với con Rồng – Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu” như sau:

  1. Trung cộng đang tấn công trên mọi mặt trận bằng mọi thứ vũ khí sẵn có, từ chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch và thao túng tiền tệ đến tình báo và tấn công tin tặc. Khắp nơi trên thế giới, Trung cộng cũng đang làm bất cứ mọi giá để chiếm đoạt nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng, thậm chí điều đó có nghĩa khuyến khích các chế độ nguy hiểm nhất thế giới truyền bá vũ khí hạt nhân.
  1. Ngay trong lòng nước Mỹ, người Mỹ bị hàng nhập cảng độc hại của “chú Rồng” giết chết hay gây tổn thương. Những loại hàng nhập cảng này là thực phẩm có chất độc, đồ chơi nhiễm độc, thuốc có độc.

  1. Các công ty khổng lồ của Mỹ đã và đang hợp tác với các công ty quốc doanh Trung cộng để hủy diệt ngành sản xuất Mỹ và cuối cùng thì thật mỉa mai là chính họ đang hủy diệt họ.
  1. Hình thức “chủ nghĩa tư bản ươn ngạnh” của Trung cộng kết hợp với vũ khí bảo hộ mậu dịch và vũ khí mậu dịch trái luật để đẩy lùi từng việc làm một của các ngành công nghiệp Mỹ. Sự phát triển quân sự táo bạo của Trung cộng đang chạy đua về hướng đối đầu với Mỹ. Trong khi đó, giới hành chính, chính trị và thậm chí giới khoa bảng của Mỹ vẫn yên lặng về mối đe dọa đang tới gần.

  1. Hàng ngàn nhà bất đồng chính kiến mạng thông tin của Trung cộng đang bị giam cầm trong các trại “Google Gulags”. (Gulags là tên gọi tắt của Tổng cục Lao động cải tạo Liên Xô thời độc tài khát máu Stalin).
  1. Tin tặc Trung cộng đang gia tăng các hoạt động tấn công tin tặc vào nền quốc phòng Mỹ và các công ty chủ chốt của Mỹ.
  1. Tiền bị giảm giá của Trung cộng đang gây thiệt hại cho Mỹ, châu Âu và sự phục hồi kinh tế toàn cầu.

  1. Vạch mặt giới truyền thông Mỹ trong đó có những siêu sao như Tom Friedman và Nicholas Kristof của tờ New York Times, James Fallows của The Atlantic Monthly, và Fareed Zakaria của Newsweek đã bóp méo câu chuyện về Trung cộng.

Trước hiểm họa “Chết bởi Trung cộng” mà ông Navaro và Greg Autry đã phát hành vào ngày 15/5/2011, tức vào thời điểm “giữa nhiệm kỳ đầu” của tổng thống Obama, tuy nhiên những lời “cảnh báo” của cuốn “Death by China” vẫn không được chính quyền Obama quan tâm mặc dù tác giả của nó là ông Navaro, một đảng viên của Đảng Dân chủ.

Chỉ đến khi ông Trump lên làm tổng thống Mỹ thì Navaro cùng với học thuyết “Chết bởi Trung cộng – Ðương đầu với con Rồng – Lời kêu gọi Hành Ðộng Toàn Cầu” mới được Trump trọng dụng, thực thi. Không chỉ riêng ông Trump, riêng nước Mỹ mới cảm nhận những gì mà ông Navaro đã tiên liệu mà cả thế giới giờ đây cũng đã “sáng mắt – sáng lòng” khi chứng kiến các “đối tác – bạn vàng” của Trung cộng rơi sâu vào suy thoái kinh tế, chảy máu tài nguyên,… và trên hết là sự xâm lược mềm thông qua việc truyền bá văn hóa Đại Hán.

Thật phúc cho nhân loại khi nước Mỹ đã lựa chọn ông Trump làm tổng thống và ông Trump đã biết trọng dụng Peter Navaro làm “mưu thần” dù hai ông không cùng một đảng. Khi sách lược của Navaro được Trump thực thi hiệu quả, nó sẽ tạo ra hiệu ứng domino trên toàn cầu, các nước đã và đang giao dịch kinh tế – quân sự với Trung cộng sẽ xa lánh, ghẻ lạnh với Trung cộng, điều này sẽ giúp cho Mỹ nhanh chóng “giết chết chú Rồng” quái vật, đốt cháy đại công xưởng “Made in China 2025”, xóa sổ ảo vọng “Nhất đái nhất lộ” của tặc tử Tập Cận Bình.

 

Xin gửi lời cảm ơn đến Peter Navaro và Donald Trump, những chiến binh nước Trời đã vung kiếm chém bay đầu con “Rồng quái vật” Trung cộng.

Trần Hùng

From:NguyenNThu

TÌNH NGƯỜI: Tấm lòng

TÌNH NGƯỜI: Tấm lòng

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v.v… hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Leon Tolstoy, Tagore, Dostoievski… đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng… cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt.

Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi: 

– Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Ðiển” của Ðào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

 Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Ðô Bi – Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Ðình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.

– Anh mua bánh bò, bánh tiêu?

Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:

– Anh có bán… trả góp không?

– Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?

– Tôi cần mua cả hai – chị nói tiếp – xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Ðô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của Thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:

– Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho Thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.

– Nhưng…

– Ðừng ngại, chị trả góp dần sau nầy cũng được.

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.

– Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn… cảm ơn… anh nhá!

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể :

– Thầy bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh… Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!… Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:

“Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski… ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô… ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là Tấm lòng”.

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Sau 42 Năm

 Sau 42 Năm

 Nguyễn Thị Thêm

Tác giả: Nguyễn Thị Thêm
Bài số 5104-18-30784-vb5042717

Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2015. Bà sinh năm 1948 tại Biên Hòa, cựu học sinh Ngô Quyền. Trước 1975, dạy học. Qua Mỹ năm 1991 theo diện HO, hiện là cư dân Nam Ca Li. Bà kể, “Chồng tôi là lính VNCH. Hai con tôi nay là lính của quân đội Hoa Kỳ. Tôi hết làm vợ lính lại làm mẹ lính.” Công việc hàng ngày của tác giả là chăm sóc ông chồng sĩ quan cựu tù bị tâm thần suy nhược. Bài viết mới là chuyện được viết sau một đêm tháng Tư không ngủ, nhận tin Bà Hạnh Nhơn vừa mất.

* * *

Tôi ngồi trước máy, đầu óc mông lung. Bốn giờ sáng, tạo vật còn say ngủ mà tôi cứ quay cuồng những ý nghĩ chợt đến chợt đi. Xoay qua trở lại thao thức không ngủ được. Vậy thì hãy ngồi dậy viết những gì mình nghĩ. Thế nhưng, bây giờ ngồi trước máy, những tư tưởng hổn độn lúc nãy không cánh mà bay. Nó chạy đi không để lại một dấu tích.

Đã bao nhiêu năm rồi tôi đã trải qua những đêm trắng như vậy. những đêm trắng đờ con mắt vì những âm thanh của tiếng rên, tiếng kêu thảng thốt của người chồng thân yêu. Ông đã là người lính, là người tù bị đầy đọa trong những trại tập trung của cộng sản. Đến được nước Mỹ khi sức cùng lực kiệt, ông trở thành người bệnh tâm thần suy nhược. Ngày đêm kề cận những tiếng rên xiết hay kêu la của ông, tôi cảm được những cơn ác mộng mà ông từng trải qua. Tôi vật lộn, đấu tranh với chính mình về những con người không tên, không hiện hữu bao quanh cuộc sống vợ chồng tôi.

Chúng tôi cưới nhau năm tôi 23 tuổi. Cái tuổi đủ chính chắn để làm vợ, làm mẹ vào thời điểm đó. Thế nhưng tôi vẫn còn con nít trong vấn đề tình yêu. Bởi tôi chưa hề có một mối tình đầu để làm hành trang và kinh nghiệm sống cho mình. Gia đình tôi cổ hủ và tôi là đứa con gái duy nhất nên bị ràng buộc trong tầm suy nghĩ của mẹ “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trao mình” Cái ông Khổng tử ở tuốt bên Tàu vậy mà uy lực ổng thật to rộng. Một người phụ nữ ít học, quê mùa như má tôi lại thuộc nằm lòng mấy câu giáo điều đó. Thuộc để ép mình vào khuôn khổ cả một đời và truyền lại cho con gái.

Chúng tôi cùng dạy tư cho một trường trung học công giáo do cha đạo mở ra. Khi ấy anh đã là lính mang lon chuẩn úy. Có nghĩa là anh cũng thuộc lính mới tò te. Một sĩ quan mới ra trường còn mang nhiều món nợ áo cơm từ cha mẹ. Nơi anh được bổ nhiệm là một quận lỵ nằm giữa những vùng xôi đậu. Ban ngày là của Quốc Gia, ban đêm là Việt Cộng.

Tại những vùng xôi đậu như vậy, mạng sống người lính trong đường tơ kẻ tóc và người con gái chấp nhận lấy lính là chấp nhận mọi sự rủi may trong đời. Đám cưới đôi khi không dám tổ chức tại địa phương vì gia đình sợ bị theo dõi và trả thù. Thôn làng do chính phủ VNCH làm chủ mà người dân sợ Việt Cộng hơn Quốc Gia.

Xung quanh hàng xóm không biết ai là bạn, ai là Việt Cộng nằm vùng. Cuộc sống bấp bênh trong những trận càn của lính và đêm sục xạo, gỏ cửa rình rập khủng bố từ phía bên kia. Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị giết, hàng rào Ấp chiến lược đã không còn hiệu lực. Cuộc chiến toàn diện vượt quá tầm hiểu biết và sức chịu đựng của dân chúng.

Khi những người bạn đồng minh lần lượt đổ quân vào thôn xóm thì như giọt nước đã tràn ly. Người dân càng hoảng loạn không biết đâu là chính nghĩa. Những người Mỹ, người Đại Hàn, người Thái Lan súng ống rầm rộ khắp mọi ngõ ngách xóm làng. Người dân quê sợ sệt khi thấy người ngoại quốc lùng sục khắp nơi. Trong khi đó kẻ gian rình mò trong bóng đêm. Những bộ mặt giả nhân nghĩa vừa tỉ tê dụ dỗ, vừa hù dọa khủng bố đã len lỏi vào từng gia đình. Người dân không thương yêu gì CS nhưng sợ bị trả thù, sợ bị theo dõi, sợ bị nghi ngờ và bị giết oan. Hệ quả không chánh khỏi là ở chỗ chính nghĩa bị hiểu lầm và kẻ gian ngoa đã giành được chiến thắng.

Đã trễ quá rồi khi nói đến điều này, nhưng tất cả chúng ta đều là nạn nhân của cuộc chiến tương tàn. Bao nhiêu thanh niên của nước Mỹ giàu đẹp đã bỏ thây một cách oan uổng trên chiến trường VN. Vì sự sai lầm của cả hai phía. Tất cả tang thương đó đã đổ lên vai, lên đầu của thế hệ chúng tôi. Những người lính, những người vợ lính và những trẻ thơ vô tội.

Bốn mươi hai năm qua, nhắc lại thêm ngậm ngùi, đau đớn. Bao nhiêu mạng người đã bỏ thây trong cuộc chiến, trong nhà tù của cộng sản. Bao nhiêu mạng người bị vùi dập trên biển đông bởi giông tố, hải tặc. Bao nhiêu câu hỏi làm nghẹn lòng người Việt trên khắp năm châu.

Bốn mươi hai năm sau, những người tham dự trong cuộc chiến ngày đó đều đã già. Những mái tóc bạc trắng hay hoa râm, những tâm hồn đầy những vết thẹo quá khứ và chiến tranh. Cố gắng xây dựng một thế hệ tiếp nối. Cố gắng sống tốt và làm sống lại một thuở hào hùng. Đôi chân đã yếu, cơ thể hao mòn. Những người cha, người ông đã tận lực mình vì hai chữ tự do. Họ thật đáng kính trọng và tự hào. Nhưng trong họ biết bao nhiêu đêm trăn trở, dằn vặt vì sức tàn, lực kiệt

Sau Tháng Tư 1975, người sĩ quan VNCH bị tù đày nơi rừng thiêng nước độc. Không một bản án, không biết ngày về.

Nếu không có chương trình HO không biết bây giờ cuộc sống của những người tù Cộng sản sẽ ra sao? Không có chương trình HO. Không có những người liều chết vượt biển tìm tự do. Chúng ta sẽ không có những thế hệ thứ hai thứ ba thành công trên đất nước Hoa kỳ hay trên thế giới. Chúng ta sẽ không bao giờ có một Little Saigon trên đất Mỹ. Chúng ta sẽ không thể hãnh diện giơ cao lá cờ vàng và hát Quốc ca. Chúng ta không có xe hoa diễn hành ngày tết Nguyên Đán, Chúng ta cũng không thể có những bảo tàng lịch sử “Quân lực VNCH”. Không có tượng đài chiến sĩ Việt -Mỹ, không có tượng Đức Trần Hưng Đạo và cũng không thể có những nghị quyết “Vinh Danh cờ vàng” tại nhiều thành phố trên nước Mỹ, Úc, Canada.

Cám ơn ông Robert Funseth, Bà Khúc Minh Thư và biết bao vị khác đã tận lực với chương trình HO. Cám ơn những ân nhân trên thế giới đã cứu vớt, đã mở con đường sống cho những người vượt biển liều chết tìm tự do.

Khi tôi chuẩn bị gửi bài này vào Việt Báo thì nhận tin bà Hạnh Nhơn vừa mất.

Nữ Trung Tá Không quân VNCH Hạnh Nhơn là một người lính, một H.O. cựu tù và cũng là một người vợ lính. Sau nhà tù nhỏ nhà tù lớn, khi tới được nước Mỹ, Bà là Chủ Tịch Hội H.O. Cứu Trợ Thương Binh Quả Phụ, một ân nhân của những thương phế binh và quả phụ VNCH còn ở quê nhà. Bà đã dùng cả cuộc đời mình cho lính và vì những người lính. Mái tóc trắng như bông. Giọng nói miền Trung nhẹ nhàng, hiền hòa. Người mẹ 90 tuổi đã làm nên kỳ tích. Mỗi năm đã vận động và quyên góp một số tiền không nhỏ cho những TPB.

Rất cám ơn Bà Hạnh Nhơn với chương trình “Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH”, một chương trình đầy tình người. Ứớc mong sao những người thương phế binh còn lại ở Việt Nam sẽ được Hoa Kỳ cứu xét và cho đi định cư. Để họ được chăm sóc và gia đình có đời sống tốt đẹp hơn.

Ngậm ngùi tưởng niệm và rất xúc động, ngay khi được tin Bà Hạnh Nhân vừa ra đi, tôi đã viết mấy dòng thơ đơn sơ:

Có một vì sao đã rơi sáng nay
Trong bệnh viện Cali: Fountain Valley
Đôi mắt hiền từ bình yên khép lại
Đẹp tuổi chín mươi tóc trắng như mây.

Thương qúa là thương nụ cười đôn hậu
Cựu Trung Tá không quân Nguyễn Thị Hạnh Nhơn.
Tiếng nói miền Trung dịu dàng nhỏ nhẹ.
Đằm thắm hiền hòa chân thật thiết tha.

Buổi sáng thứ ba người rời dương thế
18 tháng Tư, tháng của chia xa.
Nỗi buồn tháng tư nhân lên gấp bội
Hội cứu trợ TPB và Quả phụ VNCH

“Thành kính Tiếc Thương, lệ hoen mi mắt.
Người đã đi rồi, về với hư không.
Những việc Người làm, ơn trên đều thấy
Rộng cửa thiên cung đón Người vào trong.

42 năm, một thời gian quá nửa đời người. Những chứng nhân lịch sử rất nhiều người đã nằm xuống vì tuổi già, vì bệnh tật. Những văn nhân, thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ nỗi danh cũng quá nửa đã ra đi. Một thế hệ VNCH lần lần đi vào quá khứ. Thế hệ tiếp nối lớn lên tại Mỹ, sinh ra tại Mỹ và gia nhập vào dòng chính đang trở thành những người Mỹ thực thụ. Con cháu gốc Việt dần dà sẽ không nói tiếng Việt, không nhớ gì tới gốc rễ của chúng?

Không. Chúng ta đã có những lớp dạy tiếng Việt. “Tiếng Việt còn, nước ta còn.” Chúng ta không thể không hòa nhập nhưng không thể để mất nguồn cội. Những thế hệ VNCH thứ hai thứ ba đang học hỏi để hiểu lý do tại sao chúng có mặt nơi này. Các cháu đang làm sống lại dòng sử Việt. Các cháu giương cao lá cờ vàng và các cháu tự hào về nó.

Dù muốn dù không chúng ta cũng đã rời khỏi VN. Mọi việc của quê hương đất nước phải do người trong nước quyết định. Có thay đổi được vận mệnh, có bảo vệ VN khỏi bàn tay xâm lược của Tàu Cộng hay không là do người trong nước thực hiện. Chúng ta chỉ có thể tiếp tay đưa mọi việc ra dư luận quốc tế để làm áp lực.

Các bạn ơi! 42 năm rồi cho một cuộc chiến, cho một đời người. Hai con trai chúng tôi đang là người lính của nước Mỹ. Con gái tôi sinh ra 3 tháng sau ngày mất nước. Bây giờ cháu đã 42 tuổi, là một phụ nữ trung niên, con cái đã vào Trung học. Người lính trẻ nhất của VNCH năm xưa nay cũng đã ngoài 60. Những người lính già bây giờ đều đã đi gần cuối cuộc đời. Sống nơi xứ người tuy đầy đủ vật chất nhưng vẫn là nỗi khắc khoải khôn nguôi cho những giấc mơ về một VN tự do dân chủ.

Tôi yêu quê hương VN tôi lắm. Tôi nhớ gia đình, họ hàng anh em và bạn bè tôi. Tôi nhớ từng con đường, từng góc vườn kỷ niệm của tuổi thơ và tuổi trẻ. Thú thật tôi sợ lắm. Sợ một ngày nào đó tôi trở về không nhận ra đất nước của mình. Tôi sợ Trung Cộng sẽ chiếm trọn Việt Nam. Người Việt sẽ bị làn sóng người Tàu tràn xuống tịch thu nhà cửa, chiếm cứ ruộng vườn. Họ sẽ đày người Việt mình đi vào những nơi rừng núi hay đồng khô cỏ cháy. Họ sẽ xóa một nước VN như chính quyền hiện nay xóa sổ VNCH. Họ sẽ tàn bạo hơn, quyết liệt hơn, dã man hơn như đang thẳng tay đàn áp dân dân chúng ở Tân Cương, Tây Tạng.

Một Sài Gòn xưa đã mất. Một nền văn hóa nhân bản đã mất. Có thể rồi đây nước Việt Nam sẽ bị xóa sổ trên bản đồ thế giới. Chẳng ai còn nhớ đến bà Trưng, bà Triệu, Hưng Đạo Vương, vua Quang Trung….

Không. Sẽ không thể như vậy. Bốn mươi hai năm đã quá đủ cho những thương đau. Đất nước tôi, dân nước tôi, dù từng chịu bao cơn vùi dập, vẫn đủ sức đứng dậy. Xin các đấng tiền nhân, hương linh những anh hùng tử sĩ phò hộ cho nước Việt mình vượt qua cơn bão giông này.

Tháng Tư 2017

Nguyễn Thị Thêm 

VÌ SAO TÔI TIN VÀO THIÊN CHÚA

VÌ SAO TÔI TIN VÀO THIÊN CHÚA

 Một số tác giả tôi yêu thích là những người theo thuyết bất khả tri, những người chân thành và dũng cảm đối diện cuộc đời mà không có đức tin vào một Thiên Chúa của mình.  Hầu như họ đều khắc kỷ, những người bình an với việc có lẽ Thiên Chúa không tồn tại và có lẽ chết là hết.  Tôi thấy được điều này nơi James Hillman, một người mà tôi vô cùng ngưỡng mộ, và là người có rất nhiều điều để dạy cho các tín hữu về ý nghĩa của việc lắng nghe và tôn trọng linh hồn con người. 

Nhưng có một điều tôi không ngưỡng mộ nơi các nhà khắc kỷ bất khả tri. Dù họ dũng cảm đối diện với giả định rằng Thiên Chúa không tồn tại và chết là hết, nhưng họ lại không có cùng dũng cảm đó để đặt ra chất vấn về chuyện nếu Thiên Chúa tồn tại, và chết không phải là hết thì sẽ thế nào.  Nếu như có Thiên Chúa và nếu giáo lý của đức tin chúng ta đúng thì sao?  Họ cũng cần phải đối diện với chất vấn đó nữa.

Tôi tin rằng Thiên Chúa tồn tại, không phải bởi tôi chưa từng có chút nghi ngờ, cũng không phải bởi tôi được nuôi dạy trong đức tin với những người đã làm chứng sâu đậm cho chân lý của đức tin đó, cũng không phải bởi đại đa số nhân loại trên hành tinh này tin vào Thiên Chúa.  Tôi tin rằng một Thiên Chúa của lòng mình tồn tại vì những lý do mà tôi không thể nói rõ được: là sự tốt lành của các thánh, một hạt giống không bao giờ phôi phai trong lòng tôi, biểu hiện của đức tin trong cảm nghiệm của riêng tôi, lòng dũng cảm của các bậc tử đạo xuyên suốt dòng lịch sử, chiều sâu thăm thẳm trong giáo huấn của Chúa Giêsu, những thấu suốt sâu sắc trong các tôn giáo khác, trải nghiệm thần nghiệm của vô số người, nhận thức của chúng ta về mối liên kết với cộng đoàn các thánh và những người thân yêu đã qua đời, những lời chứng chung và riêng của hàng trăm người đã chết lâm sàng rồi được sống lại, những chuyện chúng ta trực cảm vượt ngoài mọi lý luận lô-gích, vòng tuần hoàn hồi sinh trong cuộc đời chúng ta, chiến thắng của sự thật và sự thiện trong suốt lịch sử, sự thật rằng hy vọng không bao giờ chết, sự cưỡng bách không nguôi trong chúng ta muốn được hòa giải với người khác trước khi chết, chiều sâu vô tận của trái tim con người, và việc các nhà vô thần và bất khả tri trực cảm rằng có thể điều này cũng hợp lý.  Tất cả cho tôi thấy sự hiện hữu của một Thiên Chúa sống động của tôi.

Tôi tin Thiên Chúa hiện hữu vì đức tin thành sự, ít nhất là thành sự đến mức độ của chúng ta.  Sự hiện hữu của Thiên Chúa tự chứng minh đến mức độ mà chúng ta đón nhận một cách nghiêm túc và sống cuộc đời mình dựa trên điều đó.  Nói đơn giản, chúng ta hạnh phúc và bình an đến mức độ chúng ta liều mình sống đức tin, một cách rõ ràng hay không chút nghi hoặc gì.  Những người hạnh phúc nhất mà tôi biết cũng là những người đáng kính, dễ thương, vị tha, và quảng đại nhất tôi biết.  Đây không phải tình cờ. 

Leon Bloy từng nói rằng trong đời chỉ có một nỗi buồn thực sự, đó là không được làm thánh.  Chúng ta thấy trong câu chuyện về chàng thanh niên giàu có trong Tin mừng đã từ chối lời mời của Chúa Giêsu muốn anh sống đức tin sâu sắc hơn.  Anh đã buồn rầu bỏ đi.  Dĩ nhiên, làm một vị thánh và sống buồn bã, không phải là chuyện trắng hay đen, cả hai đều có những mức độ.  Nhưng trong chuyện này có sự nối tiếp.  Chúng ta hạnh phúc hay buồn bã cũng tương xứng với mức độ chúng ta thành tín hay bất tín với những gì là độc nhất, là chân, thiện, mỹ.  Tôi biết rõ điều này trong đời mình.  Tôi hạnh phúc và bình an đến mức độ tôi đón nhận đức tin cách nghiêm túc và sống đức tin trong thành tín, càng thành tín tôi càng thấy bình an, và ngược lại.

Trong tất cả chuyện này, còn có một “luật nghiệp quả” nói cụ thể là vũ trụ trả lại cho chúng ta chính xác những gì chúng ta cho nó.  Như Chúa Giêsu đã nói, “Anh em đong bằng đấu nào sẽ được đong lại bằng đấu ấy.”  Những gì chúng ta thở ra, đến cuối cùng chính là những gì chúng ta hít vào.  Nếu chúng ta thở ra ích kỷ thì sẽ hít vào ích kỷ, nếu chúng ta thở ra cay đắng thì sẽ gặp đắng cay, nếu chúng ta thở ra tình yêu, nhân từ và tha thứ thì chúng ta sẽ nhận lại cùng mức độ đó.  Cuộc sống và vũ trụ của chúng ta có một cơ cấu yêu thương và công bằng thâm sâu, tự nhiên và không thể bàn cãi đã được viết sẵn, một cơ cấu chỉ có thể được viết nên bởi một trí tuệ thần thiêng sống động và một tâm hồn yêu thương.

Dĩ nhiên, không điều nào trong những điều này chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa với những bằng chứng theo kiểu khoa học hay toán học, nhưng đâu thể tìm được Thiên Chúa bằng một thí nghiệm kinh nghiệm luận, một phương trình toán học hay một tam đoạn luận triết học. 

Chúng ta tìm thấy Thiên Chúa, rõ ràng và dứt khoát, nơi một đời sống quên mình, nhân từ, chân thành và tốt lành.  Điều này có thể có trong tôn giáo hay ngoài tôn giáo.Thầy dòng Biển Đức người Bỉ, Benoit Standaert, đã nói rằng khôn ngoan là ba sự thêm một.  Khôn ngoan là tôn trọng tri thức, tôn trọng sự chân thật và vẻ đẹp, tôn trọng mầu nhiệm.  Và điều thứ tư, khôn ngoan là tôn trọng một Đấng nào đó. 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: suyniemhangngay1& ThuNNguyen

Không Hiểu… và Sợ

Không Hiểu… và Sợ

Mc 9, 30-37

“Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.”

 “vì Người đang dạy các môn đệ rằng :”

Thưa Thầy Giêsu, những lời Thầy dạy xa xôi mù mịt quá

nên Thầy có dạy vài lần nữa thì các ông cũng “không hiểu” vì trong tâm trí lòng dạ các ông còn đang “đang say men chiến thắng”,

các các ông đã chứng kiến bao việc Thầy làm quá là hiển hách,

bao lời nói của Thầy làm cho các ông kinh sư và Pharisêu câm họng,

bao điều Thầy giảng dậy làm cho dân chúng há mồm trợn mắtngỡ ngàng ngạc nhiên…

Thầy mà làm vua thì đất nước Do thái sẽ trở nên siêu cường quốc, chẳng đất nước nào dám hó hé và chẳng có sức mạnh nào địch nổi.

Vậy các điều Thầy dạy,các ông môn đệ “không hiểu” thì có gì ngạc nhiên đâu.

Tại sao các ông “sợ” nhỉ ?

Có phải Thầy lại “mắng” cho là “ngu muội, ngu tối” (Mc 6,52 ; 7,18) không ?

Có phải biết mình đầu óc bã đậu ruột đặc như bí mà đâm ra sợ không ?

Có phải cái “nội lực” trong Thầy mạnh quá làm thành khoảng cách nên sợ không ?

Có phải sợ Thầy không cho ngồi trên ghế cao bên tả bên hữu để cai trị trong “vương quốc” của Thầy không ?

Có phải sợ bị Thầy đuổi về không cho đi tu ý quên không cho đi theo Thầy nữa không ?

Tin Mừng ông Mác-cô cứ thẳng thừng như thế đấy. Đã không hiểu lại còn cộng sợ nữa thì thành ra “cần lù” (cù lần).

Thế mà thực tế Thầy lại dùng đến những kẻ “cù lần” nhỉ ?

“Tình yêu không biết đến sợ hãi ; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1Ga 4,18)

“Ai tiếp đón một em nhỏ”

người ta hay nghĩ đến em nhỏ với dáng vẻ bên ngoài như đẹp đẽ dễ thương, hồn nhiên đơn sơ thật thà, dễ bảo dễ dạy, biết vâng lời cha mẹ, chưa biết phạm tội, luôn luôn kính trọng người trên…

Nếu Tin Mừng cũng chỉ dạy bảo người ta giống trẻ nhỏ như thế thì có gì là độc đáo đâu, mà có tập sống trở lại cái thuở trẻ thơ thì cũng chỉ là ngây thơ… cụ, ngô ngố cả đám đấy thôi.

Nhưng là tiếp đón một người đói không có gì ăn, tiếp đón một người nghèo không có nhà cửa ẩn mình, không có quần áo che thân bị rét mướt…

những con người bị lệ thuộc như một đứa trẻ phải nương tựa vào cha mẹ vì nó không có khả năng đáp ứng được những nhu cầu cần thiết của bản thân nó.

“Vì danh Thầy”.

Nhiều người hiểu lầm vì danh Thầy nên vẫn cứ tuyên bố rằng tôi tha thứ cho nó là vì Chúa, nếu không vì Chúa thì tao đập vỡ sọ. Nói chung là tôi làm công làm phúc cho người ta vì Chúa…

Ôh ! một thứ “lạc đạo” buồn cười thật !

Người được tha thứ hay cho ăn cho mặc cũng chẳng vui vẻ gì vì họ lấy danh Chúa ra mà lập công cho mình thôi. Họ tha thứ như một kẻ cả, đứng ở trên để ban phát xuống.

Có khi nào yêu như Chúa yêu không ?

Có khi nào có tình yêu nhưng-không (vô điều kiện)  không ?

Có khi nào có tình yêu dâng hiến chính bản thân mình không ?

Có khi nào cho đi mà không tính toán hay vụ lợi không ?

Vì danh Thầy là trả lời những câu hỏi này đấy. Có vì danh Thầy như thế thì khi tiếp đón “người nhỏ” mới là tiếp đón chính Thầy và tiếp đón Thầy là tiếp đón chính Cha của Thầy.

“Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người”.

Qua cuộc tử nạn của Đức Giêsu thì Ngài đã cho các ông thấy :

phục vụ là dâng hiến chính bản thân mình và Ngài đến trần gian giống như một trẻ nhỏ, lệ thuộc vào gia đình khi còn nhỏ…

ba năm đi rao giảng thì lệ thuộc vào người ta, họ có vui vẻ đó nhận hay từ chối… và kết thúc cuộc đời là hoàn toàn phó nộp trong tay người đời.

Một bản án bất công như chiên con bị đem đi xén lông, làm thịt…không rên la trách cứ.

 Tóm lại : Tất cả mọi chuyện kể trên chỉ được giải đáp khi diễn tiến Thầy Giêsu bị bắt, bị trói, bị đánh đòn, bị khạc nhổ vào mặt, bị đội mạo gai, bị vác thập giá… bị treo trên cây thập tự chết tất tưởi “và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại”.

Người đã tỏ mình ra cho các ông nhiều nơi nhiều cách nhiều lần khác nhau và từ đó… các ông mới À ra ! tức là đến lúc các ông thôi “không hiểu” nữa vì nay lòng dạ tâm trí đã bừng mở ra rồi.

Và cũng từ đây các ông đã trở nên những chứng nhân hùng hồn sống động và sẵn sàng hiến dâng chính mạng sống mình, bước theo con đường Thầy Giêsu đã đi.

Chẳng sợ “con ma” nào cả !

“Hỡi những kẻ ngoại tình, các người không biết rằng : yêu thế gian là ghét Thiên Chúa sao ?

Vậy ai muốn là bạn của thế gian thì tự coi mình là thù địch của Thiên Chúa”.

OTC

Tha Thứ

Tha Thứ

Một thiền sinh hỏi: “Thưa sư phụ, con đau khổ vì cha mẹ tàn nhẫn, vợ con ruồng bỏ, anh em phản bội, bạn bè phá hoại… Con phải làm sao để rũ bỏ được oán hờn và thù ghét đây?”
Vị sư phụ đáp:“Con ngồi xuống tịnh tâm, tha thứ hết cho họ”.

Vài hôm sau, người đệ tử trở lại: “Con đã tha thứ cho họ sư phụ ạ. Nhẹ cả người! Coi như xong”.
Sư phụ đáp:“Chưa xong, con về tịnh tâm, mở hết lòng ra và thương yêu họ”.
Người đệ tử gải đầu”Tha thứ thôi cũng đã quá khó, lại phải thương họ thì…Thôi được con sẽ làm”

Một tuần sau, người đệ tử trở lại, mặt vui vẻ hẳn khoe với sư phụ là đã làm được việc thương những người mà trước đây đã từng đối xử tệ bạc với mình. Sư phụ gật gù bảo: “Tốt! Bây giờ con về tịnh tâm, ghi ơn họ. Nếu không có họ đóng những vai trò đó thì con đâu có cơ hội tiến hóa tâm linh như vậy”.

Lần sau người đệ tử trở lại, lần này tin tưởng rằng mình đã học xong bài vở.
Người đệ tử hớn hở thưa rằng mình đã ghi ơn hết mọi người vì nhờ họ mà anh đã học được sự tha thứ!

 

Sư phụ cười: “Vậy thì con về tịnh tâm lại đi nhé. Họ đã đóng đúng vai trò của họ chứ họ có lầm lỗi gì mà con tha thứ hay không tha thứ?”.

From: ngocnga_12 & Anh chi Thu & Mai

Ông Trần Đại Quang qua đời: Kết thúc kiếp người trong đau đớn!

Ông Trần Đại Quang qua đời: Kết thúc kiếp người trong đau đớn!

Bởi    AdminTD

VNTB

Ánh Liên 

21-9-2018

Người đứng đầu nhà nước, ông Trần Đại Quang vừa mất vào sáng ngày 21.09, kết thúc chuỗi bi cực vào cuối đời.

Ông Chủ tịch nước Trần Đại Quang (Chủ tịch nước) mất, khi cuộc chiến đốt lò nhằm vào đơn vị cũ của ông vẫn đang diễn ra,… Và nhiều người tin rằng, sự ra đi lần này sẽ khiến cho nhiều kẻ vui mừng, bao gồm cả những nhóm lợi ích đang tồn tại.

Người từng một thời hét ra lửa ở cương vị Bộ trưởng Bộ Công an, oai phong lẫm liệt ở lễ Tuyên thệ Chủ tịch nước,… đã sớm xuống dốc về mặt thần thái và sức khỏe, và chưa hết nửa nhiệm kỳ, người dân chỉ thấy một Chủ tịch nước héo khô về mọi mặt.

Suy cho cùng, ai cũng sẽ chết, nhưng tựu trung có cái chết vang danh, cảo thơm và có cái chết để làm nhiều tai tiếng và khinh bỉ của người đời. Có lẽ, hơn ai hết, vào những ngày cuối đời, ông Chủ tịch nước đã phải lắng nghe được lương tri và cái bi thảm nhất của con người quan chức XHCN, giờ khắc mà mạng sống như những ngọn nến thắp lên trong đêm bão.

Là một người đứng đầu nhà nước, nhưng cái quyền được chăm sóc sức khỏe bản thân cũng không có. Đó phải là một quan điểm mang tính bịa đặt, xuyên tạc không? Không, vì tính trong nửa tháng trở lại đây, một người hom hem tiều tụy, gầy sọp, viền môi đã đổi sắc, khẩu hình có hiện tượng co dúm lại nhưng phải buộc phải gồng mình để làm ‘nhiệm vụ chính trị’, nói đúng hơn vào những ngày cuối đời, ông Chủ tịch nước buộc trở thành một xác chết biết đi.

‘Tao khỏe, có chi mô’, câu nói đầy bi đát của ông Nguyễn Bá Thanh ngày nào giờ vận đúng ông Trần Đại Quang. Nhưng so với ông Thanh, thì ông Quang còn bi đát hơn nhiều.

Ngày 18.09, ông Chủ tịch nước còn cùng với Bộ Chính trị họp cho ý kiến về các đề án chuẩn bị trình Hội nghị TW 8.

Ngày 19.09, ông Chủ tịch nước hom hem trong bộ comple rộng thùng thình tiếp Chánh án TAND tối cao Trung Quốc.

Ngày 20.09, một lá Thư chúc Tết Trung thu được ký bởi ông Chủ tịch nước.

Nghĩa là trước khi mất 3 ngày, ông Chủ tịch nước buộc phải dùng chút hơi tàn, lực kiệt để đảm nhiệm vai trò ‘Chủ tịch nước’.

Có điều nào phi nhân bản hơn đến thế?

Vấn đề, nếu ông Chủ tịch nước xin nghỉ thì ai sẽ chấp nhận, hoặc bản thân ông có chấp nhận không khi những di sản ông tạo ra trước đó đang bị ‘đốt’, có vẻ ông gắng gượng sống để chống đỡ? Đặc biệt là sự vụ liên quan đến Vũ ‘nhôm’ và những sai phạm bị phanh phui trong nội bộ Bộ Công an?. Hay đây chỉ là cách ‘hành hạ nhau’ bằng việc vắt kiệt sức hơi tàn của ‘địch thủ’ trong những ngày cuối đời? Hay đơn thuần, ông Chủ tịch nước muốn chứng minh bản thân mình là một đảng viên mẫu mực, người sẽ cống hiến đến hơi thở cuối cùng?

Có vô vàn lý do đặt ra, nhưng suy cho cùng, ông Chủ tịch nước phải trả một cái giá rất đắt trên thành cao quyền lực.

Tiếp theo là, ai sẽ thay thế ông Chủ tịch nước? Người đó sẽ như thế nào, có phải là một Bí thư thành ủy phía Nam để làm hài lòng về tính trung lập trong Bộ Chính trị? Hay là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hiện thời, người với những câu nói vô thưởng, vô phạt? Hay là Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư, người có sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề áp dụng đặc khu ở Việt Nam? Có lẽ với nhiều người, trong hệ thể chế XHCN, thì bất kỳ ai lên thay, cũng sớm trở thành ‘cột mục ruỗng’. Do đó mà ngay cả chuyện tang lễ là chuyện buồn, Quốc tang là chuyện trọng đại, nhưng sự mất mát của người đứng đầu Nhà nước trong bối cảnh BOT vẫn còn nhiều, biệt phủ vẫn còn tồn tại, và thuế xăng dầu vừa mới tăng,… thì buồn nào đáng hơn?

Nỗi buồn và nghi vấn

Dân buồn về xã hội trì trệ, thuế phí tăng cao hơn việc một ông Chủ tịch nước không có quá nhiều thành tích nổi bật cho xã hội qua đời, nhưng cũng với sự ra đi lần này, hẳn để lại nỗi buồn rất lớn đối với những người nằm trong phe phái của ông, những người đang đối diện với cuộc chiến đốt lò. Bởi từ nay, lá chắn Chủ tịch nước đã không còn tồn tại, và câu chuyện dọn dẹp sạch sẽ củi lò trong Bộ Công an và những vụ việc có liên quan đến Bộ này trong thời gian tới sẽ được tăng tốc hơn.

Ông Chủ tịch nước ra đi lần này, cũng để lại một nghi vấn về nguyên trạng cái chết của ông, mắc phải virus hiếm gặp, hình thành ‘bệnh chưa có thuốc để điều trị khỏi hoàn toàn mà chỉ có thể chặn lại và đẩy lùi một thời gian’, hay những cái chết kỳ cục của giới chức Cộng sản.

Và điều bi đát đọng lại là, ngay cả khi mất đi, cái năm sinh trên bia mộ của ông Chủ tịch nước cũng không được trở về chính xác, gian dối ám vận vào cả khi nằm xuống. Cuộc đời của ông Trần Đại Quang, xét cho cùng, ‘Ham hố tiền bạc (trọng ngân) nhưng không chịu tu nhân tích đức, khiến cho phúc mỏng (bạc phúc) thì của nả, tài sản cũng mất hết. [một câu nói vô danh]’.

Bình Luận từ Facebook

TRUNG QUỐC ÂM MƯU CHẤT ĐỘC HÓA HỌC ĐỐI VỚI DÂN TỘC VIỆT !

Tai Nguyen posted 2 updates.

2,883 Views

Nguyễn Hiếu is with Nguyễn Hiếu.

TRUNG QUỐC ÂM MƯU CHẤT ĐỘC HÓA HỌC ĐỐI VỚI DÂN TỘC VIỆT !

Như chúng ta ,người dân ta đã biết Trung Quốc đã và đang thực thi cuộc chiến chất độc hóa học đối với dân tộc ta ,chúng không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào ,chúng thực hiện dáng tiếp và trực tiếp qua lương thực ,thực phẩm ,thuốc tây ,thuốc lá ,hóa phẩm màu ,hóa chất ,ma túy…v…v…và hiện tại chúng đã thành công chính sách trong mưu lược dùng “NGƯỜI VIỆT ĐẦU ĐỘC NGƯỜI VIỆT”..!

Chúng thực hiện cuộc chiến chất độc hóa học nhằm biến dân tộc ta trở thành một dân tộc “BỆNH HOẠN” làm cho người dân ta mất bản lĩnh chính trị ,mất khả năng phản kháng khi chúng chính thức cai trị dân tộc ta , chúng thực hiện chiến thuật dùng “người Việt đầu độc người Việt”,chúng đánh vào lòng tham và lợi nhuận của người dân ta để thực hiện âm mưu đó ,người dân ta đã trúng kế cùng với sử bỏ ngõ của cơ quan chức năng ,lương thực ,thực phẩm độc tràn lan ,mất kiểm soát và người dân ta không thể có sự lựa chọn được lương thực ,thực phẩm sạch và người giàu cũng như người nghèo thậm chí cả cán bộ quan chức đều cùng chung số phận …!

Mỗi ngày qua đi lại có thêm một vụ thực phẩm bẩn, độc hại xuất hiện. Những “sát thủ giấu mặt” đó vẫn hàng ngày hàng giờ hiện diện trên bàn ăn của mỗi gia đình người dân chúng ta và rổi đây chúng sẽ cho xây dựng những bệnh viện mang tên Trung Quốc và dùng thuốc trị ung thư đang trong quá trình nghiên cứu để biến người dân ta trở thành những con chuộc bạch mặc khác của sự nô lệ về kinh tế người dân ta phải cồng lưng kiếm tiền để nuôi bọn giặc xâm lăng và cai trị người dân ta ..!

“Condition Of Slavery

Đâu là 2 vụ án tham những lớn nhất trong lịch sử Việt Nam?   

Hoa Do shared a post.

Tổng số tiền dân Thủ Thiêm bị “nẫng” mất là một con số vô vô cùng lớn: 279.000.000.000.000 đồng, tương đương 12 tỷ USD, (lớn gấp 3 lần số tiền thiệt hại của vụ án Vinasin).

CHINHTRIVN.NET

Đâu là 2 vụ án tham những lớn nhất trong lịch sử Việt Nam?

Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Quận 2, TPHCM là mảnh đất rộng 930ha, nằm ngay bên bờ con sông Sài Gòn, đối diện khu trung tâm sầm uất sang trọng số 1 thành phố. Do có vị trí tuyệt đẹp như vậy nên Thủ Thiêm đã trở thành miếng mồi thơm hấp dẫn các đại gia bất động sản cùng một số quan chức biến chất của TP HCM và Trung ương.

 

Từ 2002, các quan chức tham gia vào âm mưu xẻ thịt Thủ Thiêm đã vội vã ra lệnh thu hồi đất khi chưa thực hiện những quy định bắt buộc của pháp luật. Sự vội vã đó khiến dự án này được gọi một cách mỉa mai là dự án BỐN KHÔNG: “không dự án đầu tư, không quy hoạch chi tiết, không phương án bồi thường, không nhà tái định cư”.

Không dừng lại ở đó, với dã tâm “thu hồi đất với chi phí thấp nhất”, những kẻ cầm đầu chỉ đạo đàn em lấy giá đất từ năm 1995 (theo quyết định 05 ngày 4/1/1995) để bồi thường cho dân từ năm 2002 đến giờ, bất chấp các quy định của Quốc hội và Chính phủ là bồi thường phải sát giá thị trường!

Sự bất hợp lí ở đây là chênh lệch giá bồi thường và giá thị trường vượt quá sức tưởng tượng của mọi người, theo quyết định 135/QĐ-UB ngày 21/11/2002 của UBND TPHCM, giá bồi thường đất đô thị tại khu vực Thủ Thiêm là khoảng 2 triệu đồng một mét vuông, đất nông nghiệp 200.000 đồng một mét vuông, còn giá thị trường thì cao vót: đất ở trong dự án là 70 triệu đồng, đất nông nghiệp bằng 40% khoảng 28 triệu đồng.

Chênh lệch giá bồi thường lên đến hàng chục thậm chí hàng trăm lần đã đem đến những quyền lợi khổng lồ nhưng hoàn toàn phi pháp cho nhóm lợi ích. Tính sơ sơ mỗi mét vuông đất “vênh” ra được 30 triệu đồng thì tổng số tiền dân Thủ Thiêm bị “nẫng” mất là một con số vô vô cùng lớn: 279.000.000.000.000 đồng, tương đương 12 tỷ USD, (lớn gấp 3 lần số tiền thiệt hại của vụ án Vinasin).

Không còn nghi ngờ gì nữa, vụ “cướp đất” ở Thủ Thiêm và vụ Vinasin là 2 vụ án tham những lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

(Theo Facebook)