Xe VinFast liên quan vụ tai nạn tàu hỏa chết người nghiêm trọng ở Indonesia (BBC)

BBC

Play video, “Indonesia: Giải cứu nạn nhân tai nạn tàu hỏa liên quan xe VinFast”, Thời lượng 0,39

00:39

Chụp lại video,

Indonesia: Giải cứu nạn nhân tai nạn tàu hỏa liên quan xe VinFast

28 tháng 4 2026

Ít nhất 14 người thiệt mạng và hàng chục người bị thương trong vụ tai nạn tàu hỏa nghiêm trọng xảy ra ở ngoại ô thủ đô Jakarta của Indonesia vào tối 27/4.

Truyền thông nhà nước đưa tin một đoàn tàu chở khách đang dừng đã bị một đoàn tàu đường dài đến cùng tuyến đâm từ phía sau.

Tất cả thi thể các nạn nhân đã được sơ tán và đưa đến Bệnh viện Cảnh sát Kramat Jati, Đông Jakarta.

Bà Purba nói thêm rằng tất cả các nạn nhân đều nằm trên tàu ngoại ô, còn toàn bộ hơn 240 hành khách trên đoàn tàu đường dài đã được sơ tán an toàn.

Toàn bộ nạn nhân tử vong đều là nữ giới, do toa tàu chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là toa dành riêng cho phụ nữ.

Ông Franoto Wibowo, người phát ngôn của đơn vị vận hành đường sắt KAI, nói với báo giới rằng có vẻ một chiếc taxi đã va chạm nhẹ với đoàn tàu ngoại ô tại một điểm giao cách nhà ga vài trăm mét.

Theo tìm hiểu của BBC, điều này đã khiến một đoàn tàu ngoại ô khác phải dừng lại tại ga và bị một chiếc tàu đường dài đâm vào phía sau chiếc tàu thứ hai này.

Mohammad Syafii, người đứng đầu cơ quan tìm kiếm và cứu hộ của Indonesia, cho biết trong một cuộc họp báo sáng sớm 28/4 rằng việc đưa những người sống sót ra khỏi các toa tàu bị biến dạng là một quá trình vô cùng khó khăn.

Đến sáng 28/4, công tác cứu hộ đã kết thúc. 84 người bị thương đang được điều trị tại các cơ sở y tế khác nhau.

Ông Syafii xác nhận không còn nạn nhân nào bị kẹt trong đống đổ nát.

Chiếc taxi được xác định là một chiếc VinFast thuộc công ty dịch vụ xe công nghệ Green SM Indonesia, tiền thân là Xanh SM, một công ty của tỷ phú giàu nhất Việt Nam Phạm Nhật Vượng.

Phương tiện này bị cho là đã chết máy hoặc dừng lại tại điểm giao cắt với đường sắt gần ga tàu hỏa Bekasi Timur.

Công ty Green SM Indonesia đã đăng bài xác nhận trên mạng xã hội Instagram rằng chiếc taxi gặp nạn thuộc đội xe của họ. Công ty đã gửi thông tin cho cơ quan chức năng để hỗ trợ quá trình điều tra.

“An toàn luôn là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi. Chúng tôi cam kết duy trì các tiêu chuẩn an toàn nghiêm ngặt thông qua hệ thống vận hành, giám sát cũng như không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ.

Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật những diễn biến mới nhất ngay khi có các thông tin đã được xác minh,” Green SM Indonesia viết thêm.

Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia Indonesia (KNKT) hiện đang tiến hành điều tra nguyên nhân vụ tai nạn.

Đối với công chúng Indonesia, nhiều người đổ lỗi cho chiếc taxi, phương tiện được cho là đã khởi nguồn cho tai nạn dây chuyền này. Tuy nhiên, dư luận cũng đặt dấu hỏi về quy trình và cơ chế vận hành hành trình của các đoàn tàu.

BBC News Tiếng Indonesia tường thuật bổ sung

Hiện trường vụ va chạm của hai tàu tại nhà ga 


 

ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI CATARINA SIENA – Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

Để tóm lược tiểu sử thánh Catarina Siena, tác giả xin chọn cuốn Vie de Sainte Catherine de Sienne, (Legenda Maior) của cha Raymond de Capoue, O.P.  Cha là linh hướng của Catarina từ năm 1374 cho đến ngày chị được Chúa gọi về năm 1380.  Vài năm sau cái chết của chị, cha Raymond đã có ý viết tiểu sử Catarina, vì thế, cha đã gặp gỡ bà Lapa, mẹ của Catarina xin tất cả những chi tiết liên quan đến thời thơ ấu của chị.  Do đó, tiểu sử thánh Catarina do cha Raymond de Capoue viết có phần đáng tin cậy.  Điều này muốn nói rằng tuy không chính xác hết mọi sự kiện, nhưng Vie de Sainte Catherine de Sienne cũng là một trong những tài liệu giúp chúng ta khám phá ra tiểu sử của một con người “không học mà làm tiến sĩ,” một con người sống trọn vẹn linh đạo Đa Minh “Nói với Chúa, nói về Chúa,” một con người sống dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần và trở thành khí cụ của Thiên Chúa cho Giáo hội và xã hội vào thế kỷ XIV. 

  1. Thời thơ ấu 

Catarina Benincasa sinh 25-03-1347 tại Siena, là con thứ 23 trong một gia đình 25 người con.  Thân phụ là ông Giacômô Benincasa, làm nghề thợ nhuộm.  Thân mẫu là bà Lapa.  Tuy đông con, nhưng cha mẹ Catarina còn nhận thêm một người con nuôi là Toma della Fonte, lớn hơn Catarina 10 tuổi, sau này Toma đi tu dòng Đa Minh và trở nên cha giải tội đầu tiên của Catarina.  Gia đình Catarina nằm trong giáo xứ do các cha Đa Minh phụ trách, vì thế Catarina thường đi lễ nhà thờ thánh Đa Minh và yêu mến các tu sĩ Đa Minh một cách đặc biệt.  Theo truyền thống kể lại, mỗi lần các tu sĩ Đa Minh đi ngang qua nhà, Catarina đã lén ra hôn những dấu chân sau khi họ đi qua.

Khi còn rất nhỏ, Catarina đã đọc kinh Ave Maria mỗi khi leo lên từng bậc cầu thang.  Điều này không gì lạ nơi các thánh.  Thánh Têrêxa Avila năm lên 6 tuổi đã ý thức rất rõ: “Tôi muốn gặp Thiên Chúa, và phải chết đi mới gặp Ngài.”  Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu mới 3 tuổi đã biết nói: “Con không chối Chúa điều gì.”  Thiên Chúa ban ơn cho những ai Ngài tuyển chọn.  Năm lên 6 tuổi, Catarina đã có một thị kiến đầu tiên, thị kiến này ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời Catarina.  Một ngày kia, Catarina cùng với anh Stephanô được sai tới nhà chị Bonaventura.  Trên đường về nhà, khi đi qua Fontebranda, Catarina nhìn lên nóc nhà thờ thánh Đa Minh trên ngọn đồi đối diện, thấy Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục và đội mũ Đức Giáo Hoàng ngự trên trời.  Chúa Giêsu mỉm cười và ban phép lành cho Catarina.  Bên cạnh Ngài là thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh sử Gioan. 

Đâu là ý nghĩa của thị kiến này?  Chúng ta có thể rút ra hai dấu chỉ: 

  1. Catarina đã thấy Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế làm người vì yêu thương nhân loại tội lỗi và đã chết trên Thập giá, Đấng đã hy sinh đến giọt máu cuối cùng để cứu rỗi nhân loại.  Điều này được thể hiện rõ nét trong các bức thư của Catarina, trong tác phẩm Đối Thoại, cũng như trong những lời cầu nguyện, Catarina có một cảm nghiệm sâu xa về Đức Giêsu Đấng cứu độ duy nhất, Ngài là chiếc cầu nối liền giữa trời và đất, là Đấng giao hòa giữa con người với Thiên Chúa.  Chính vì thế, năm lên 7 tuổi, Catarina khấn giữ mình đồng trinh để hoàn toàn thuộc trọn về Chúa Kitô, để hy sinh, hãm mình và cầu nguyện cho các linh hồn.
  1. Trong thị kiến, Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục của Đức Giáo Hoàng, vị lãnh đạo Giáo hội, thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô.  Chúa Giêsu hiện ra cùng với ba vị tông đồ: Phêrô, vị đại diện Chúa Kitô ở trần gian này, Phaolô, vị tông đồ rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, và Gioan là tác giả Tin Mừng mà Catarina trích dẫn rất nhiều trong tác phẩm của chị.
    Sau thị kiến này, Catarina bắt đầu tập sống nhân đức và đánh tội.  Catarina bỏ đi các trò chơi, dành nhiều giờ cho việc cầu nguyện, thích sống trong thinh lặng, cô tịch.  Cuộc sống của Catarina đã làm cho các bạn bè cùng lứa tuổi để ý và quy tụ chung quanh Catarina cùng nhau cầu nguyện và làm việc đền tội. 

Khi lên 12 tuổi, bà Lapa muốn con gái mình được trang điểm và lập gia đình như bao thiếu nữ khác, thế nhưng Catarina phản đối vì muốn dâng mình cho Chúa.  Trước sự cương quyết của Catarina, bà Lapa đã cùng với chị Bonaventura làm mọi cách để thuyết phục Catarina.  Vì rất quý mến chị Bonaventura, Catarina đã chiều theo ý mẹ mình, nhưng sau khi người chị qua đời, Catarina đã hoán cải và quyết lòng sống đời khiết tịnh.  Để chứng tỏ sự chọn lựa của mình, Catarina đã cắt đi mái tóc vàng xinh đẹp và đội trên đầu một chiếc mũ nhỏ.  Tuy nhiên gia đình đã gây áp lực, bắt Catarina làm việc từ sáng đến tối để không có giờ cầu nguyện.  Trước hoàn cảnh đó, Catarina đã biết làm cho mình một “căn phòng nội tâm,” để ở nơi đó, chị có thể tâm sự với Chúa Giêsu bất cứ lúc nào chị muốn, thời gian và không gian không thể nào chia cắt Catarina với Đấng dấu yêu. 

  1. Sống yêu thương

Năm 16 tuổi chị xin nhập Dòng ba Đa Minh, chị mặc áo dòng của các chị em dòng “đền tội” hay còn có một tên khác “Các bà mang áo choàng.”  Đây không phải là các đan sĩ theo nghĩa chặt, cũng không có một cấu trúc như chúng ta ngày hôm nay.  Các bà sống đời sống thánh thiện tại gia đình, làm việc đền tội, thăm viếng người nghèo, chăm sóc bệnh nhân.  Các bà giữ một lời khấn: nếu phụ nữ đã lập gia đình, họ chỉ làm lời khấn với sự đồng ý của chồng, nhưng nếu chồng qua đời họ không được lập gia đình lần nữa.  Đối với một thiếu nữ, họ tuyên bố từ bỏ hôn nhân một cách công khai như trường hợp của Catarina.  Tuy không sống đời sống cộng đoàn, nhưng thứ 6 hàng tuần, các chị em Dòng Áo choàng gặp nhau để cầu nguyện chung với nhau, dưới sự hướng dẫn của một anh em Dòng Đa Minh hoặc nghe chú giải lời Chúa.  Những sinh hoạt của chị em đều dưới quyền của Bề Trên Tổng Quyền hoặc một anh em nào đó được ủy quyền.

Từ ngày đó, Catarina càng gắn bó mật thiết với Chúa.  Chị sống một cuộc đời khổ chế, bớt ăn, bớt ngủ.  Khổ chế của Catarina xuất phát từ lòng yêu mến Chúa chứ không phải đi tìm niềm vui cho bản thân.  Cha Raymond đã dành một chương dài kể những việc khổ chế, hành xác của Catarina.  Giữa những khổ chế, những cực hình chịu đựng vì Chúa Giêsu, Catarina đã nhận được nhiều ơn lạ như thị kiến, an ủi nội tâm.  Năm lên 20 tuổi Catarina đã đính hôn thần bí với Chúa Giêsu, Ngài đã trao cho chị “một chiếc nhẫn gắn bốn viên ngọc và kim cương” để biểu hiện việc kết bạn thiêng liêng.  Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời Catarina, giai đoạn sống ẩn dật đã chấm dứt, từ hôm nay, Catarina lên đường phục vụ Giáo hội.  Sở dĩ Thiên Chúa liên kết với Catarina bằng chiếc nhẫn vô hình, là để thánh nữ cùng hiệp nhất với Ngài trong công cuộc xây dựng nước Chúa.

Chị Catarina rất thích một cuộc sống cô tịch và thinh lặng, để luôn luôn kết hợp với Chúa.  Thế nhưng đây không phải là điều Chúa muốn, Ngài muốn chị ra đi mang hòa bình cho Giáo hội, cho thế giới và đưa các linh hồn về với Ngài.  Một ngày kia, Chúa sai chị đến với tha nhân, nhưng chị sợ rằng những hoạt động bề ngoài sẽ khiến mình xa rời Thiên Chúa.  Chính trong do dự, hoang mang đó, Thiên Chúa đã nói với chị như sau: “Cha không cố ý làm bất cứ điều gì khiến con phải xa lìa Cha, nhưng hơn thế Cha muốn ràng buộc con lại với Cha cách chắc chắn bằng mối dây tình yêu của con đối với tha nhân. Hãy nhớ rằng Cha đã đặt ra hai giới răn tình yêu: tình yêu Cha và tình yêu tha nhân…  Bây giờ Cha muốn con thực thi hai giới răn này quả là chính đáng.  Con phải bước đi trên hai chân” (ĐT. 158).

Từ lúc đó, bằng việc cầu nguyện và hoạt động, chị Catarina bước đi vững vàng trên hai chân của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, của chiêm niệm và hoạt động.  Lần đầu tiên khi chị Catarina ra hoạt động, chị tình nguyện làm những công việc bình thường.  Trong gia đình, chị giúp những việc nội trợ, ngoài xã hội, chị phục vụ người nghèo, viếng thăm bệnh nhân, những người tù, những tử tội để an ủi họ.  Những hoạt động của chị đã lan rộng khắp nơi từ Siena, một thị xã nhỏ bé, qua các tỉnh khác như Florence, Pisa.  Tiếng tăm của chị lan đi khắp nơi, nhiều người đã đến xin chị cầu nguyện, làm tư vấn.  Dù bận rộn với những công việc bác ái xã hội, chị Catarina vẫn dành giờ để tâm giao với Chúa.  Chính những giây phút đó, chị có được những ánh sáng mới để giúp tha nhân.  Chị được nhiều ơn lạ, tiên đoán tương lai, đọc được tâm tư của người khác.

Nói đến tiểu sử của chị Catarina, chúng ta cũng không quên biến cố trao đổi trái tim với Chúa Giêsu, cũng như việc lãnh nhận các dấu tích của Chúa tử nạn ngày 01-04-1375 tại nhà thờ Santa Cristina ở Pisa.  Những sự kiện này nói lên chị được đồng hóa, nên một với Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. 

  1. Lòng yêu mến Giáo hội

Chính vì lòng yêu mến Chúa nồng nàn và yêu tha nhân như chính mình đã thúc đẩy chị Catarina đến những vấn đề đại sự của Giáo hội thời bấy giờ.  Trong những năm sau cùng của cuộc đời, chị đã hoạt động với ba công tác quan trọng như sau: giải phóng đất thánh, canh tân Giáo Hội và đưa Đức Giáo Hoàng từ Avignon về Roma.

Năm 25 tuổi, chị bắt đầu viết những bức thư gửi các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo.  Chị kêu gọi họ lên đường giải phóng đất thánh.  Ngoài ý định dành lại quyền tự do cho người Công giáo được lui tới viếng thăm thánh địa, chị Catarina còn mong mỏi các lực lượng Công giáo đoàn kết với nhau, để tránh những cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

Mối bận tâm lớn của chị trong giai đoạn này là canh tân Giáo hội.  Bằng những bức thư, chị thúc giục các cấp lãnh đạo trong Giáo hội, hãy canh tân Giáo hội bằng việc trở về với tinh thần Phúc âm.  Việc canh tân là trách nhiệm của các vị chủ chăn, các tín hữu được mời gọi tham gia qua lời cầu nguyện, canh thức và sám hối.  Thực ra chương trình canh tân được thực hiện sau khi chị qua đời.

Vào năm 1376, theo yêu cầu của nhà cầm quyền Florence, chị Catarina đến Avignon nơi Đức Giáo hoàng Grêgôriô XI đang cư trú, để hòa giải giữa dân thành Florence với Tòa Thánh.  Với lời khẩn nài của chị, Đức Giáo hoàng lên đường về Roma vào ngày 13-09-1376.  Tuy nhiên, nỗi vui của chị kéo dài không được bao lâu, ngày 27-03-1378 Đức Giáo hoàng Giêgôriô XI băng hà, Đức Urbanô VI được bầu kế vị.  Với tính tình cứng cỏi và nghiêm nghị, ngài đã làm tổn thương nhiều người, chúng ta biết được điều đó qua lá thư chị Catarina đã gởi cho Đức Giáo hoàng, chị viết như sau: “Xin cha hãy hành động với trái tim nhân từ và an bình, vì tình yêu Chúa Giêsu, hãy kiềm chế những phản ứng mau lẹ phát xuất từ bản tính tự nhiên.  Thiên Chúa đã ban cho cha một trái tim lớn lao; con nài xin cha hãy hành động để nó trở nên tràn đầy siêu nhiên, nhiệt thành với sự thánh thiện và cải tổ Giáo hội, cha cũng có thể có một trái tim mạnh mẽ, dựa trên sự khiêm tốn đích thực.”  Chính vì thế, chưa được sáu tháng, các Hồng Y người Pháp đã họp nhau bầu một Giáo hoàng khác tên là Clémentê VII người Pháp, trú tại Avignon.  Nhưng về phần mình, chị Catarina hết sức bảo vệ Đức Urbanô VI.  Đây là khởi điểm cho cuộc đại ly giáo đã phân đôi Giáo hội Tây phương và gây chia rẽ giữa các quốc gia, thành phố, giáo phận, dòng tu, và ngay cả trong gia đình.  Chị đau lòng vì cuộc ly giáo này và đã tìm mọi cách khôi phục sự hiệp nhất cho Giáo hội.  Kể từ giai đoạn này, các bức thư của chị là những sứ điệp tha thiết kêu gọi sự đoàn kết trong Kitô giáo. 

  1. Giai đoạn cuối đời

Sau những năm tháng làm việc không ngơi nghỉ vì lòng yêu mến Chúa và Giáo hội, chị Catarina đã trải qua những ngày tháng cuối cùng tại Roma.  Chị trải qua cơn hấp hối nhiệm mầu kéo dài gần ba tháng, có thể nói, đây là cuộc tử đạo mà chị hằng ước ao.  Trước khi lìa đời, chị đã có những lời huấn dụ với gia đình thiêng liêng của chị: “Các con hãy cầu nguyện không ngừng và sống khiêm tốn.  Hãy tránh đoán xét người khác hay thậm chí tranh luận về hành vi của họ.  Hãy luôn tin tưởng và cậy trông nơi Chúa, và yêu thương nhau, để các con có thể thực sự là con cái thân yêu của Giáo hội.  Trước mặt Chúa, các con hãy dâng hiến nước mắt và những lời cầu nguyện sốt sắng cho Giáo hội của Người.”  Còn đối với người mẹ dấu yêu, chị xin bà chúc lành, và theo ước muốn của bà, chị chúc lành lại cho bà.  Chị cũng cầu nguyện cho Giáo hội, cho tất cả mọi người.  Lời cầu nguyện cuối cùng của chị thật tràn đầy yêu thương: “Lạy Chúa hằng sống, xin đón nhận cuộc sống con như tấm bánh trong thân thể mầu nhiệm Ngài là Giáo hội.  Con không có gì để hiến dâng ngoài những gì Chúa ban cho con, vì thế, xin hãy nhận lấy trái tim con và in dấu nó trên gương mặt hiền thê của Ngài là Giáo hội.”

 Chị qua đời vào ngày 29-04-1380, tròn 33 tuổi.  Người ta mai táng và tôn kính thi hài chị tại bàn thờ chính của nhà thờ Santa Maria sopra Minerva, Roma.  Riêng đầu của chị Catarina được rước về Siena với sự hiện diện của bà Lapa.  Ngày 29-06-1461, Đức Piô II phong thánh cho chị Catarina Siena.  Ngày 13-04-1866, Đức Piô IX đặt chị làm bổn mạng của Roma.  Ngày 18-06-1939, Đức Piô XII tôn phong chị làm bổn mạng nước Ý cùng với thánh Phanxicô.  Ngày 04-10-1970, Đức Phaolô VI tặng tước hiệu “tiến sĩ Giáo hội” cho chị Catarina, một tuần sau thánh Têrêxa Avila.  Ngày 01-10-1999, Đức Gioan Phaolô II ban tự sắc tôn vinh Catarina cùng với thánh Brigida và thánh Têrêxa Bênêdicta Thánh Giá làm bổn mạng Âu Châu.  Trải qua 6 thế kỷ, chị Catarina vẫn được nhắc đến qua các tước hiệu trên, chứng minh điều Chúa hứa với Catarina “Nếu con không quên Ta thì Ta sẽ không bao giờ quên con” đã thành sự thật. 

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

From: Langthangchieutim


 

Chỉ vì một câu nói: “Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”

My Lan Pham

 Cô chỉ nói một câu trong một cửa hàng ở làng quê. Và cái giá phải trả là bốn năm trong địa ngục.

Ngày 10 tháng 8 năm 1940, tại Mötz, một ngôi làng nhỏ ở vùng Tyrol.

Nữ tu Angela Maria Autsch bước vào cửa hàng để mua sữa. Bà 40 tuổi, thuộc dòng Trinitarian, đã sống trong tu viện bảy năm.

Trong cửa hàng, bà gặp vài người quen. Họ đang nói về chiến tranh. Một con tàu Đức vừa bị đánh chìm ngoài khơi Na Uy, nhiều thủy thủ đã thiệt mạng.

Nữ tu Angela nói: “Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”

Chỉ một câu. Một câu nói thật. Trong một cửa hàng. Với những người bà quen biết.

Một trong số họ đã tố cáo bà với Gestapo.

Hai ngày sau, Gestapo đến bắt bà.

Tội danh: “xúc phạm Führer” và “kích động nổi loạn.”

Không xét xử. Không luật sư. Không cơ hội tự bào chữa.

Bà bị đưa đến trại tập trung Ravensbrück concentration camp. Tù nhân số 4651. Tam giác đỏ. Tù nhân chính trị.

Bà 40 tuổi. Một nữ tu đã dành cả đời dạy trẻ mẫu giáo và chăm sóc người bệnh.

Giờ đây bà ở trong một nơi được tạo ra để hủy diệt con người.

Và bà bắt đầu hành động ngay lập tức.

Bà làm việc tại khu y tế. Chăm sóc phụ nữ mang thai. Chăm sóc những người đang hấp hối. Lén lấy thuốc từ kho của SS và chuyển cho các tù nhân bệnh. Lấy trộm xà phòng. Lấy thức ăn thừa. Rồi cho đi tất cả.

Bà thường xuyên bị lính canh đánh đập. Nhưng bà vẫn mỉm cười.

Một tù nhân sau này nói: “Nụ cười và lòng can đảm của bà là một tia nắng giữa địa ngục sâu thẳm.”

Tháng 3 năm 1942, Đức Quốc xã chuyển bà đến một trại mới đang được xây dựng.

Auschwitz concentration camp.

Bà làm việc tại khu y tế, điều trị cho những phụ nữ đang chết dần vì sốt phát ban, đói khát, đòn roi và các thí nghiệm y khoa.

Tại đây, bà gặp Margarita Schwalbova, một bác sĩ Do Thái đến từ Slovakia. Bị giam vì là người Do Thái. Bị buộc làm việc trong bệnh xá trại. Một người vô thần đã mất hết hy vọng.

Một ngày nọ, nữ tu Angela bước đến gần bà. Nhẹ nhàng vuốt tóc bà. Không nói một lời. Chỉ là một cái chạm đầy dịu dàng.

Phẩm giá con người được trao lại cho một người đã bị tước đoạt tất cả.

Bác sĩ Schwalbova không bao giờ quên điều đó.

Họ trở thành bạn. Một bác sĩ Do Thái vô thần và một nữ tu Công giáo. Trong Auschwitz. Giữ cho nhau sống tiếp.

Khi Schwalbova bị bệnh, Angela chia sẻ khẩu phần ít ỏi của mình. Điều này bị cấm tuyệt đối và có thể bị xử tử. Nhưng bà vẫn làm.

Tháng 5 năm 1943, SS chuyển bà đến bệnh viện của chính họ làm y tá. Bà chăm sóc cho chính những kẻ đã hành hạ mình, những người đã đánh bà, những kẻ điều hành các buồng hơi ngạt.

SS đưa ra một đề nghị.

Từ bỏ lời khấn. Rời bỏ đời sống tu trì. Họ sẽ thả bà. Bà có thể về nhà.

Bà từ chối.

Bà đã tuyên khấn với Chúa. Bà không phá bỏ lời hứa đó để thoát khỏi trại của Đức Quốc xã.

Bà ở lại thêm 19 tháng nữa.

Các tù nhân bắt đầu gọi bà bằng một cái tên.

Thiên thần của Auschwitz.

Câu chuyện của bà lan khắp các barrack. Tù nhân Do Thái, Ba Lan, người Roma, tù nhân chính trị. Ai cũng biết về nữ tu Công giáo luôn mỉm cười với bạn khi bạn đang hấp hối.

Ngày 23 tháng 12 năm 1944, quân Đồng Minh ném bom khu công nghiệp Auschwitz.

Bà đang ở trong bệnh viện, chăm sóc bệnh nhân.

Một mảnh đạn xuyên qua ngực bà.

Bà chết ngay lập tức.

Thi thể của bà bị thiêu trong lò hỏa táng của trại, cùng những lò đã thiêu hơn một triệu người Do Thái.

Ba mươi bốn ngày sau, Hồng quân Liên Xô giải phóng Auschwitz.

Bà đã lỡ ngày tự do đúng 34 ngày.

Bà 44 tuổi.

Điều khiến câu chuyện này trở nên đau lòng là:

Bà không tổ chức kháng chiến. Không che giấu người Do Thái. Không buôn lậu vũ khí.

Bà chỉ nói một câu. Trong một cửa hàng làng quê. Với những người quen.

“Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”

Và bà đã trải qua bốn năm trong các trại tập trung. Bị đánh đập. Mắc bệnh. Chứng kiến hàng ngàn cái chết. Và chết trước ngày tự do chỉ 34 ngày.

Chỉ vì một câu nói.

Đó chính là bản chất của chế độ toàn trị. Không chỉ là trại tử thần, mà là một hệ thống nơi việc nói ra sự thật trong một cửa hàng cũng có thể khiến bạn mất tất cả.

Bác sĩ Schwalbova đã sống sót. Trở về Slovakia. Làm việc như một bác sĩ. Và kể cho mọi người nghe về nữ tu đã vuốt tóc bà khi mọi hy vọng đã biến mất.

Tháng 5 năm 2018, Pope Francis tuyên bố Angela là “Đáng kính”, bước đầu trong tiến trình phong thánh.

Nhưng bà vẫn gần như vô danh.

Phần lớn mọi người chưa từng nghe về bà. Tu viện của bà ở Áo vẫn gìn giữ ký ức. Có vài cuốn sách bằng tiếng Đức. Chưa có nhiều tài liệu phổ biến rộng rãi.

Thiên thần của Auschwitz. Đã qua đời hơn 80 năm. Vẫn chờ thế giới nhớ đến.

Angela Maria Autsch. 44 tuổi. Chết tại Auschwitz. Vì đã nói một câu sự thật.

Nữ tu đã vuốt tóc một bác sĩ Do Thái


 

Những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Nguyen Thi Chau

Ở miền Nam, ra đường một chút là thấy cảnh người nghèo mời mọc mua vé số. Ngồi cà phê hay nhậu nhẹt vỉa hè thì cái đầu phải lắc hoặc cái tay móc túi lấy tiền ra, rồi cất vé số vô hoài.

Người miền Nam xởi lởi bao dung, chạy xe giữa đường thấy người nghèo bán vé số dạo còn dừng lại mua giúp. Sáng mua vé số thì chiều chẳng cần biết trúng hay không, có người mua quên dò cả tháng, có khi trúng mấy giải nhỏ thì hạn lãnh tiền đã hết.

Người Sài Gòn mua vé số cốt chỉ để ủng hộ người nghèo sống qua bữa. Mua vé số chỉ để nghe bước chân người bán vé số dạo bớt nặng, chỉ để bớt nghe tiếng thở dài, để né ánh mắt buồn khổ tủi đau nhìn mình, chỉ để lòng thấy nhẹ nỗi xót xa.

Người Sài Gòn đủ lý do để mua tờ vé số của người nghèo bán dạo. Mua để thấy lòng vui mà trúng trật gì cũng vui. Người miền Tây thì có thêm lý do mua vé số để mong trúng đổi đời. Mua vé số đem về để lên bàn thờ ông thần tài thổ địa thắp hương khấn vái, mơ về con độc đắc hai tỷ xa vời đang đợi ở tết Công-gô.

Thị trường tiêu thụ vé số chính là ở Sài Gòn. Nhưng người Sài Gòn có mấy ai mua vé số để muốn đánh cược với các công ty XSKT bao giờ. Còn các công ty XSKT thì dường như đánh cược với thân phận của người đi bán vé số. Mới trước đó in 10 triệu tờ vé số (tương đương 100 tỷ đồng/kỳ/Công ty XSKT), giờ tăng lên 11 triệu tờ (tương đương 110 tỷ đồng/kỳ).

Vé số in tăng nhưng tỷ lệ vé tồn bán không hết trong ngày được trả rất thấp, thậm chí có công ty không cho trả vé tồn khiến áp lực đè nặng lên các đại lý. Rồi đại lý cấp cao đè cấp thấp, cấp thấp bóp cổ người nghèo cắt giảm hoa hồng bán vé số, từ được hưởng 1.100đ/vé giờ còn 1.050đ, có nơi còn 1.000đ/vé. Người nghèo vốn đã khổ càng thêm đói rách.

Rồi người Sài Gòn vẫn phải mua, người bán vé số dạo vẫn phải bán, các công ty XSKT vẫn phải thu lợi nhuận, các đại lý vẫn phải ngồi rung đùi chờ bóp cổ người nghèo. Con tạo khổ đau vẫn phải cứ xoay vòng. Đời người bán vé số cũng mãi chỉ quẩn quanh phận nghèo.

Nước mắt khó nhọc vẫn phải cứ nuốt vào trong, nụ cười vẫn lẩn khuất trong bụi rậm cõi đời, nét mặt vẫn hằn thêm khắc khổ, mồ hôi vẫn nhễ nhại trên làn da sạm nắng, bước chân và tiếng thở dài của họ – những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Làm người, dẫu có ác, cũng đừng học theo kiểu của chó cứ cắn vào áo rách, tỏ ra không phải người.

Nguồn Mệ – Võ Đức Phúc

Tố Ngọc Trần Sưu tầm


 

THỨ GÌ THẬT SỰ LÀ CỦA CHÚNG TA?

  1. Ngày sinh – do người khác quyết định.
  2.  Tên gọi – do người khác đặt.
    3. Thu nhập – do người khác trả.
    4. Sự tôn trọng – do người khác dành cho.
    5. Lần tắm đầu tiên và cuối cùng – đều do người khác lo.
    6. Tài sản – rồi cũng để lại cho người khác.
    7. Tang lễ – người khác tổ chức.

Có một ngày nào đó, bạn thử ngồi xuống thật yên… và nhìn lại đời mình như: xem lại một thước phim.

Bạn sẽ thấy:

Mình sinh ra trong tiếng khóc, nhưng nụ cười đầu tiên lại là của người khác.

Mình lớn lên bằng cơm người nấu, áo người may, lời người dạy.

Đi làm, cũng là để đổi thời gian và sức lực lấy đồng tiền do người khác trả.

Ngay cả lúc mệt mỏi, yếu lòng… cũng chỉ mong có một ai đó hiểu mình.

Vậy mà lạ… ta vẫn cứ nghĩ mình “quan trọng lắm”.

Ta giận ai đó chỉ vì một câu nói.

Ta buồn cả ngày chỉ vì không được công nhận.

Ta hơn thua chỉ vì một chút sĩ diện.

Nhưng rồi bạn thử hỏi lại mình: Những điều đó… có thật sự đáng không?

Có những người từng rất quan trọng trong đời ta, mà giờ đây… cũng chỉ còn là một cái tên trong danh bạ không bao giờ gọi.

Có những thứ ta từng cố chấp giữ lấy, đến lúc mất đi rồi mới thấy… hóa ra cũng không làm mình chết được.

Cuộc đời này vốn dĩ rất đời thường.

Sáng thức dậy, có việc để làm. Tối trở về, có người để nhớ. Đã là một loại hạnh phúc rồi.

Nhưng con người lại hay tự làm khó mình.

Thay vì ăn một bữa cơm cho ngon, ta vừa ăn vừa nghĩ ai đó đang đánh giá mình ra sao.

Thay vì ngủ một giấc cho yên, ta lại ôm theo những chuyện không đáng… để rồi mệt mỏi.

Có khi hạnh phúc không nằm ở chỗ có thêm, mà nằm ở chỗ bớt lại.

Bớt so sánh.

Bớt hơn thua.

Bớt cái “tôi” lúc nào cũng muốn đúng.

Bạn biết không…Người ta nhớ về nhau, chưa bao giờ vì bạn giàu bao nhiêu, mà vì lúc họ cần… bạn đã đối xử với họ như thế nào.

Một lời nói nhẹ nhàng lúc người khác đang mệt, có khi đáng giá hơn cả một món quà lớn.

Một lần bạn chịu nhường, chịu im lặng, không phải vì bạn yếu…mà vì bạn đủ hiểu để không làm tổn thương thêm.

Đến cuối cùng, khi nhắm mắt lại, không ai mang theo được tiền bạc hay danh tiếng.

Chỉ có hai thứ còn lại: những người từng thật lòng thương mình…và cảm giác bình yên hay dằn vặt trong chính lòng mình.

Nên nếu hôm nay còn có thể, hãy sống chậm lại một chút

.Nói với ba mẹ một câu dịu dàng hơn.

Nhìn người bên cạnh bằng ánh mắt bao dung hơn.

Và với chính mình… cũng đừng khắt khe quá.

Đời này ngắn lắm. Ngắn đến mức nhiều khi chưa kịp hiểu nhau… đã lạc mất nhau rồi. Vậy mà con người vẫn sống với cái tôi quá lớn.

Hãy sống đơn giản hơn.

Yêu thương nhiê`u hơn.

Và bình yên với nhau hơn

Nên thôi, đừng cố hơn ai cả. Chỉ cần sống sao để tối về… thấy lòng mình không nặng, thấy mình vẫn còn biết thương người,

  From: luong bui  & KimBang Nguyen


 

BỨC ẢNH PHÉP LẠ ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

  1. Lịch sử Bức Ảnh

Tất cả các tín hữu Công Giáo đều yêu mến và tôn kính Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Bức ảnh được đưa từ đảo Creta thuộc đông nam nước Hy-Lạp, trong biển Égée, đến Roma vào cuối thế kỷ 15, tức khoảng 1495-1497. Câu chuyện như sau.

Một ngày, Bức Ảnh bị đánh cắp khỏi đền thánh tại đảo Creta, do một thương gia, hằng năm vẫn đi buôn định kỳ ở nước Ý. Tạm gọi thương gia là Anrê. Ông Anrê dấu kín Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong hàng hóa của mình và xuống tàu vào nước Ý. Con tàu dừng lại nơi nhiều cảng khác nhau, đổ hành khách lên bờ. Ngày kia, giông tố bất ngờ nổi lên khiến các thuyền bè phải mau lẹ tìm bến đậu gần nhất để lánh nạn. Chiếc tàu có thương gia Anrê không kịp giờ tiến vào đất liền. Mọi người trên tàu, từ thủy thủ đoàn đến hành khách, ai nấy đều tưởng giờ cuối cùng đã điểm. Với trọn niềm tin tưởng, họ cùng khẩn nài Thiên Chúa và kêu xin Đức Mẹ ra tay cứu giúp. Bỗng chốc, bầu trời trở lại trong xanh và biển lặng như tờ. Mọi người thở phào và xác tín rằng, đây là phép lạ đến từ Trời Cao. Riêng thương gia Anrê, ông âm thầm hiểu rằng, chính Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp dấu trong hành lý của ông, là Tác Giả của hồng phúc kỳ diệu này. Tuy nhiên, ông không dám tiết lộ chuyện kín đó với ai. Ông sợ rằng, nếu người ta khám phá ra việc ông ăn trộm Bức Ảnh, hẳn ông sẽ bị ném xuống biển như tiên tri Giona ngày xưa!.

Sau nhiều tháng trời lênh đênh từ cảng này sang cảng nọ, thương gia Anrê đặt chân lên thủ đô Roma, kinh thành muôn thưở của Giáo Hội Công Giáo. Ông luôn mang theo Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, bảo vật ông hằng cẩn trọng dấu kín.. Công việc buôn bán hoàn tất, ông thu xếp trở về đảo Creta. Nào ngờ ông ngã bệnh. Ban đầu, chỉ là bệnh nhẹ. Dần dần bệnh trở nặng. Ông Anrê bị bắt buộc phải tìm đến nhà một người bạn – tạm gọi là ông Alessandro – và nhờ bạn chăm sóc. Nhưng cơn bệnh không thuyên giảm, trái lại, mỗi ngày một trầm trọng thêm. Biết mình không thoát chết, ông Anrê ngỏ ý gặp riêng bạn. Ông tha thiết xin bạn giúp ông một công việc hệ trọng sau cùng. Người bạn long trọng hứa sẽ giúp đỡ tận tình. Tin lời bạn, ông Anrê tiết lộ cho bạn biết việc ông đã ăn cắp Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Rồi ông nói: “Cái chết gần kề không cho phép tôi mang Bức Ảnh trả lại đền thánh, hầu Bức Ảnh được trưng bày cho mọi tín hữu đến tôn kính. Vậy tôi van xin anh, hãy mang Bức Ảnh Phép Lạ này, đến trao cho một nhà thờ nào đó của thủ đô Roma mà anh thấy là xứng hợp. Có thế, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp mới lại được tôn kính nơi công cộng!”. Sau khi thành thật thống hối lỗi lầm, thương gia Anrê trút hơi thở cuối cùng.

Giữ lời hứa, ông Alessandro chuẩn bị đưa Bức Ảnh Phép Lạ ra khỏi nhà. Nhưng người vợ – tạm gọi là Anna – khăng khăng ngăn cản. Bà muốn giữ Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nơi nhà riêng của mình .. Mặc cho mọi lời chồng nói, khi dịu dàng lúc giận dữ, bà Anna vẫn giả điếc làm ngơ. Trước sự gan lì của vợ, ông Alessandro đành chịu thua.

Thấy thái độ người chồng quá yếu, Đức Mẹ phải ra tay can thiệp. Đức Mẹ hiện ra với ông Alessandro trong giấc mộng và nhắc lại lời ông đã long trọng hứa với người bạn quá cố. Giờ đây ông phải cương quyết thi hành. Đức Mẹ hiện ra ba lần, nhưng vô hiệu, vì ông Alessandro quá nể sợ vợ. Lần hiện ra thứ tư, Đức Mẹ nghiêm khắc nói với ông: “Mẹ đã nhắc con ba lần. Nhưng vô ích. Vậy thì, cách tốt nhất để Mẹ có thể ra khỏi nhà con, là chính con phải ra trước!”. Và thật thế, ông Alessandro đã tắt thở sau vỏn vẹn vài ngày lâm bệnh.

Cái chết thảm thương của chồng vẫn không lay chuyển tâm lòng chai cứng của người vợ. Bà Anna cứ giữ nguyên Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nơi nhà mình. Đức Mẹ lại kiên nhẫn dùng đến sự trung gian của bé gái, con bà Anna. Một ngày, bé chạy đến sà vào lòng bà và nói lớn tiếng: “Má ơi, Má biết không, con vừa trông thấy một Bà thật đẹp, thật sáng láng. Bà Đẹp nói với con: Con hãy đi gặp ngay Má con và lập lại rằng: “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp muốn được trưng bày cho các tín hữu đến kính viếng trong một nhà thờ ở Roma”.

Cảm kích trước lời nói ngây thơ của đứa con gái, bà Anna chuẩn bị thi hành ý muốn của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhưng rồi Satan tìm cách ngăn cản, qua một người đàn bà, bạn của bà Anna. Bà này, sau khi nghe bà Anna thổ lộ ý định, liền trêu chọc và cười nhạo bạn là người nhẹ dạ, dễ tin lời con nít! Nhưng lời nói xúc phạm của người đàn bà bị trừng phạt tức khắc. Bà bị động kinh dữ dội khiến bà phải nhìn nhận lỗi lầm và van xin Đức Mẹ cứu chữa. Vừa khi tay bà chạm đến Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cơn động kinh ngưng ngay.. Đó là phép lạ đầu tiên minh chứng quyền năng của Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Trước hai sự kiện xảy ra trong thời gian khoảnh khắc – bị ngã bệnh và được chữa lành của bà bạn – bà Anna ngoan ngoãn tuân phục mệnh lệnh của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhưng vấn đề được đặt ra. Lúc ấy, vào cuối thế kỷ 15, tại Roma có khoảng 300 nhà thờ. Vậy phải chọn nhà thờ nào, để đặt cho các tín hữu đến kính viếng Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đây? Để giúp bà Anna, một lần nữa, Đức Mẹ lại hiện ra với cô bé con gái bà và chỉ dẫn rõ ràng như sau: “Mẹ muốn được đặt ở nơi nằm giữa nhà thờ mến yêu của Mẹ, Đức Bà Cả, và nhà thờ quí tử của Mẹ, Gioan Laterano!”.

Địa điểm được Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chọn, nằm trên đồi Esquilino, trung tâm thủ đô Roma. Đây là nơi được thánh giáo hoàng Cleto (80-92), người kế vị thứ hai của thánh Giáo Hoàng Phêrô, biến ngôi nhà từ-đường của ngài thành nhà nguyện, dâng kính thánh tông đồ Mattêô. Trong thời kỳ Kitô-Giáo bị bách hại dữ dội dưới hai hoàng triều Nerone và Diocletiano, nhà nguyện Thánh Mattêô là nơi hội họp của các tín hữu Kitô. Sang thế kỷ thứ tư, nhà nguyện được thay thế bằng một đền thờ rộng lớn lộng lẫy. Năm 1110, đền thờ Thánh Mattêô được tu bổ và được Đức Giáo Hoàng Pasquale 2 (1099-1118) long trọng thánh hiến. Sau cùng, vào thế kỷ 15, đền thờ được giao cho các tu sĩ dòng thánh Augustino trông coi. Chính tại đền thờ này mà bà Anna đã mang Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đến giao cho cha Bề Trên các tu sĩ thánh Augustino.

Ngày 27-3-1499, đền thờ Thánh Mattêô chật ních các tín hữu. Họ đến để cầu nguyện và chuẩn bị rước Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp qua các đường phố Roma .. Đang lúc rước kiệu, bỗng một tiếng tung hô vang lên. Một phụ nữ bị bại tay, được khỏi bệnh tức khắc, khi vừa chạm cánh tay bại vào Bức Ảnh phúc lành. Mọi người vui mừng khôn tả.. Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã thật sự chinh phục cảm tình của dân thành Roma.

Sau cuộc rước, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được long trọng đặt nơi bàn thờ chính của đền thờ Thánh Mattêô. Từ đó, Đức Mẹ không ngừng thi ân giáng phúc cho tất cả những ai thành khẩn chạy đến kêu cầu cùng Mẹ. Đền thờ trở thành nơi hành hương thân thương của các tín hữu, Roma và các vùng phụ cận. Các ơn lành Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ban cho con cái Ngài nhiều vô kể. Trước sự kiện này, Đức Giáo Hoàng Lêô 10 (1513-1521) quyết định trả lại cho đền thờ Thánh Mattêô tước hiệu “hiệu tòa” của các vị Hồng Y. Một trong các vị đó là Đức Hồng Y Nerli, nổi tiếng là người sùng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Để tỏ tình con thảo và tán dương Mẹ lành ngay cả sau khi chết, Đức Hồng Y xin khắc trên mộ mấy hàng chữ sau đây: “Trong đền thờ thánh Mattêô này .. dưới sự bảo trợ của Nữ Trinh Maria, thánh danh Mẹ vang dội khắp nơi vì các phép lạ Mẹ làm, nơi đây an nghỉ Hồng Y Nerli”.

Danh xưng vừa lộng lẫy vừa dịu hiền “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” do chính Mẹ chọn, đã hoàn toàn được minh xác trong vòng 3 kế kỷ. Đó là thời gian Bức Ảnh được tôn kính nơi đền thờ Thánh Mattêô. Sử liệu còn ghi lại rõ ràng không biết bao nhiêu phép lạ Đức Mẹ đã làm. Năm 1600, văn sĩ Panziroli viết: Nhà thờ thánh Mattêô có được một Bức Ảnh Đức Mẹ, làm nhiều phép lạ đến độ, có thể nói đây là ”Nhà Thờ Phép Lạ”. Năm 1618, Lupardo nói về Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp như sau: “Đây là Bức Ảnh nổi tiếng nhờ các phép lạ Đức Mẹ làm.

Xin trưng dẫn một phép lạ. Một ngày, ông từ giữ đền thờ ăn cắp một số tiền của các tín hữu hành hương dâng cúng cho đền thờ. Sau khi cẩn thận dấu kín trong mình, ông tìm đường nhanh chân trở về nhà. Nhưng lạ lùng thay, ông đi mãi đi hoài mà không tới nhà. Trái lại, ông thấy mình đứng trước đền thờ! Hoảng hồn, ông lại chọn một con đường khác để nhanh chân về nhà. Nhưng lần này cũng thế, sau một hồi đi bộ, ông lại thấy mình đứng trước cửa nhà thờ. Đến lần thứ ba, ông cũng vẫn thấy mình trở lại trước cửa đền thờ Thánh Mattêô. Ông kinh hoàng nhận ra bàn tay Thiên Chúa. Ông thật lòng thống hối và mang trả lại cho Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tất cả những gì ông đã dại dột ăn cắp. Rồi ông đơn sơ kể lại cho các linh mục nghe câu chuyện lạ lùng trên đây.

  1. Bức Ảnh bị lưu lạc

… Cuộc cách mạng Pháp 1789 thổi một cơn lốc tàn ác vào hầu hết các nước Âu châu. Nó gieo rắc kinh hoàng nơi các tín hữu Công Giáo và lôi kéo một số đông giáo dân rơi vào tình trạng khô khan, nguội lạnh hoặc bài xích tôn giáo. Thủ đô Roma, kinh thành muôn thưở của Giáo Hội Công Giáo, cũng chịu chung số phận. Đức Giáo Hoàng Pio 6 (1775-1799) bị bắt và qua đời tại nơi lưu đày. Một đoàn quân đỏ – kẻ thù của Giáo Hội – xâm chiếm Roma. Vào một buổi sáng, người dân thành phố nghe tin quân Pháp chọn đền thờ Thánh Mattêô làm cứ điểm hành quân và sẽ phá hủy tan tành đền thánh!. Các tu sĩ dòng thánh Augustino chỉ kịp giờ chạy đi lánh nạn và mang theo Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp quí yêu .. Quả thật, vài ngày sau, đồi Esquilino bị san bình địa và không để lại vết tích gì của một thời huy hoàng. Không còn nữa cái thời mà toàn dân Roma lũ lượt kéo đến hành hương đền thờ Thánh Mattêô và kêu cầu trước Bức Ảnh phúc lành Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp!.

Bị đuổi khỏi đền thánh, các cha dòng được Đức Giáo Hoàng Pio 7 (1800-1823) đưa về trông coi đền thờ Thánh Maria ở Posterula. Vào thời kỳ Giáo Hội Công Giáo bị bách hại dữ dội, các linh mục không dám trưng bày Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại nơi công cộng cho các tín hữu đến kính viếng. Các vị chỉ đặt Bức Ảnh nơi nhà nguyện riêng của đan viện. Bức Ảnh dần dần bị rơi vào quên lãng. Nhưng Chúa Quan Phòng có chương trình riêng của Ngài. Ngoài ra, thánh ý của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là muốn được tôn kính ở địa điểm nằm giữa 2 đền thờ Đức Bà Cả và Thánh Gioan Latêranô.

.. Vào năm 1840, có hai người quì trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, nơi nhà nguyện của các cha dòng thánh Augustino ở Posterula. Một vị lão thành và một cậu thiếu niên. Vị lão thành là thầy Orsetti, ngoài 70 tuổi, tu sĩ duy nhất còn sống sót của đền thờ Thánh Mattêô. Còn thiếu niên là cậu Michele Marchi. Đang sốt sắng cầu nguyện, bỗng thầy Orsetti giơ tay chỉ Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và nói với thiếu niên rằng: “Con nên nhớ kỹ, Bức Ảnh này, trước kia đã từng được mọi người tôn kính nơi đền thờ Thánh Mattêô. Hàng năm đều có tổ chức một lễ lớn mừng kính Đức Mẹ”. Cậu Michele Marchi vừa ghé tai nghe thầy Orsetti giải thích vừa lơ đãng đưa mắt nhìn lên Bức Ảnh.

Vào cuối đời, thầy Orsetti gần như bị mù hẳn. Niềm vui êm ái nhất của thầy là được chuyện vãn với thiếu niên Michele Marchi. Và trăm lần như một, không lần nào thầy không nhắc đến cái thời huy hoàng đầy ân phúc của Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Thầy thường nói: “Michele à, con phải biết rằng, Bức Ảnh Đức Mẹ được tôn kính lâu năm ở đền thờ Thánh Mattêô, cũng chính là Bức Ảnh đang được đặt nơi nhà nguyện này. Con đừng bao giờ quên điều ấy nhé!”. Rồi thầy Orsetti nói thêm: ”Đúng như vậy. Đó là điều chắc chắn. Con có hiểu lời thầy nói không? Ôi, Bức Ảnh này đã từng làm không biết bao nhiêu phép lạ! – O! Era molto miracolosa!”. Cậu thiếu niên lắng nghe lời tâm sự của thầy Orsetti nhưng vẫn không hiểu tại sao thầy cứ nhắc đi nhắc lại cái thời huy hoàng xưa kia của Bức Ảnh.

 

Năm 1852, thầy Orsetti qua đời, không được diễm phúc trông thấy Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được phục hồi về chốn cũ.

Một ít lâu sau, Đức Giáo Hoàng chân phước Pio 9 (1846-1878) truyền cho Cha Bề Trên Tổng Quyền dòng Chúa Cứu Thế phải chuyển Nhà Chính của dòng từ Napoli về thủ đô Roma. Vâng lời Đức Thánh Cha, các tu sĩ tức khắc tìm kiếm địa điểm để xây nhà. Tháng 6 năm 1854, các linh mục mua lại Villa Caserta, một biệt thự cũ nằm trên đồi Esquilino. Trong khu vườn của biệt thự, người ta còn thấy tàn tích của đền thờ Thánh Mattêô. Ngôi biệt thự cũ được sửa thành tu viện và một thánh đường được xây cất cạnh tu viện. Thánh đường dâng kính Thánh Alphongsô, Ông Tổ sáng lập dòng Chúa Cứu Thế. Đền thánh mới, được xây trên chính nền cũ của đền thờ Thánh Mattêô, như biểu chứng nối liền dĩ vãng với tương lai .. Thêm vào đó, các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế – con cái Thánh Alphonsô – còn đặc biệt có lòng sùng kính Nữ Trinh Rất Thánh Maria.

  1. Bức Ảnh được phục hồi

Ngày nọ, trong lúc lục lội thư viện và những bản thảo cũ của đồi Esquilino, một linh mục dòng Chúa Cứu Thế đã tìm thấy những tài liệu quí báu liên quan đến đền thờ Thánh Mattêô. Nhưng nhất là, các sử liệu nói về Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, nổi tiếng về các phép lạ. Vui mừng và ngạc nhiên về khám phá mới mẻ này, vị linh mục đem câu chuyện kể lại với anh em trong cộng đoàn. Nào ngờ, trong số các tu sĩ đó, có mặt linh mục Michele Marchi, người đã từng được thầy Orsetti ủy thác nhiệm vụ ghi nhớ nguồn gốc Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Cha Michele Marchi gia nhập dòng Chúa Cứu Thế ít lâu sau khi cộng đoàn ở Villa Caserta được thành hình. Cha Marchi nói ngay: “Tôi biết rõ Bức Ảnh Phép Lạ này đang ở đâu. Chính mắt tôi đã trông thấy Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, được tôn kính nơi nhà nguyện của đan viện Thánh Maria ở Posterula!”. Nhưng rồi câu chuyện chấm dứt tại đó ..

Thời gian 9 năm lặng lẽ trôi qua. Vào một ngày thứ bảy trong tháng 2 năm 1863, cha Blosi, linh mục dòng Tên, giảng thuyết về đề tài: “Vinh Quang Đức Maria”. Cha nhắc đến Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, một thời được dân thành Roma sùng kính và nổi tiếng về các phép lạ. Cha Blosi mở đầu như sau: “Hôm nay tôi sẽ nói với anh chị em về một Bức Ảnh Đức Mẹ, xưa kia rất nổi tiếng giữa anh chị em, nhưng bị rơi vào quên lãng từ 60 năm qua. Có lẽ Bức Ảnh bị chôn vùi ở một nhà nguyện nào đó, nên không được trưng bày cho các tín hữu Công Giáo, chen chúc nhau đến kính viếng”. Cha Blosi không quên nhắc đến thánh ý của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là muốn được tôn kính ở địa điểm nằm giữa 2 đền thờ Đức Bà Cả và Thánh Gioan Latêranô. Sau cùng, cha lớn tiếng nói rằng: ”Nếu ai trong số các thính giả có mặt tại đây, biết được Bức Ảnh Phép Lạ đó đang ở đâu, thì xin vui lòng báo cho những người đang giữ Bức Ảnh biết rằng, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp muốn được trưng bày nơi công cộng cho các tín hữu đến kính viếng .. Ai biết được những ân huệ dồi dào nào sẽ tuôn đổ trên thế giới, nếu chúng ta biểu lộ lòng sùng kính Đức Mẹ, dưới một tước hiệu do chính Đức Mẹ chọn? Đó là tước hiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Phúc cho người nào sẵn sàng làm công việc tìm kiếm và chỉ dẫn này!”.

Bài giảng và lời nhắn tin trên đây của cha Blosi đến tai các cha dòng Chúa Cứu Thế trên đồi Esquilino. Hẳn người ta đoán được niềm vui lớn lao của các vị. Tuy nhiên, Cha Bề Trên Cả dòng Chúa Cứu Thế nghĩ rằng, cần phải đợi chờ cơ hội thuận tiện. Và dịp may đã đến. Ngày 11-12-1865, cha Mauron được Đức Giáo Hoàng Pio 9 tiếp kiến. Sau khi trình bày một số dữ kiện lịch sử liên quan đến Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cha Bề Trên Tổng Quyền Mauron xin Đức Thánh Cha cho phép dòng Chúa Cứu Thế được đưa Bức Ảnh Phép Lạ trở về chỗ cũ, bây giờ là đền thờ Thánh Alphonsô. Vốn có lòng tha thiết yêu mến và tôn kính Nữ Trinh Rất Thánh Maria, Đức Giáo Hoàng Pio 9 chấp nhận ngay lời xin của cha Mauron. Và ngày 19-1-1866, sau 60 năm lưu đày, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lại được long trọng rước về đồi Esquilino.

Ngày 17-4-1866, Đức Hồng Y Patrizzi, nhân danh Đức Thánh Cha Pio 9, phổ biến thông cáo, báo tin cho toàn dân Roma được biết, từ nay, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lại được đặt nơi đền thờ Thánh Alphonsô cho toàn thể các tín hữu Công Giáo đến kính viếng..

Về phần các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế, để tỏ lòng tri ân, các vị đã long trọng tổ chức tuần tam nhật tạ ơn trong 3 ngày từ 27 đến 29 tháng 4 năm 1866.

Ngày 26-4-1866, nhằm lễ kính thánh Giáo Hoàng Cleto, vị sáng lập tiên khởi của đền thờ Thánh Mattêô, trên đồi Esquilino. Nhân dịp này, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được rước long trọng qua khắp các nẻo đường thành phố phố Roma. Quang cảnh vô cùng cảm động. Đường phố được trang hoàng toàn bằng các cành cây nguyệt-quế và đào-kim-nhưỡng. Các tín hữu đứng đông nghẹt hai bên đường chào kính Bức Ảnh. Mọi người giữ thinh lặng và sốt sắng cầu nguyện. Sau cuộc rước, các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế tổ chức tuần tam nhật tạ ơn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Nhật Báo Roma thời đó ghi lại như sau.
.. Không thể nào mô tả cho hết bầu khí đền thờ Thánh Alphonso trong ba ngày 27, 28 và 29. Các vị Hồng Y, Giám Mục, Giám Chức đủ bậc, Linh Mục dòng và triều, thay phiên nhau cử hành thánh lễ trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Các tín hữu Công Giáo – từ muôn hướng – lũ lượt tiến lên đồi Esquilino. Mọi người sốt sắng tham dự thánh lễ và lãnh nhận Bí Tích Hòa Giải. Từ sáng sớm đến chiều tối, lúc nào đền thờ cũng chật ních tín hữu hành hương. Phải chứng kiến tận mắt mới hiểu được phần nào nhiệt tình của các tín hữu. Họ nô nức kính viếng và cầu nguyện trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Các bệnh nhân, những người tàn tật, các kẻ mù lòa, què quặt thì được đưa vào tận bên trong thánh đường ..

Giống như cuộc rước kiệu đầu tiên vào ngày 27-3-1499, lần này, tức hơn 350 năm sau, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cũng làm phép lạ, tưởng thưởng lòng thảo kính ngoan hiền của toàn dân Roma.

Một bé gái 8 tuổi, từ 4 năm qua bị tê bại không sử dụng được đôi chân. Bà mẹ bỗng nảy ra ý nghĩ giơ con lên, trình với Đức Mẹ, khi Bức Ảnh rước qua chỗ hai mẹ con đang đứng. Tức khắc, bé gái động đậy được đôi chân. Vài ngày sau, bà mẹ mang con tới đền thờ Thánh Alphonsô. Đến trước Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, bà thưa lớn tiếng như sau: “Xin Mẹ hoàn tất việc Mẹ đã khởi công”. Vừa cầu nguyện xong, đứa bé liền đứng dậy và bước đi bình thường, trước sự kinh ngạc và vui mừng khôn tả của mọi người hiện diện.

Tháng 5 tiếp liền sau tuần tam nhật năm 1866, đã được cử hành với trọn lòng đạo đức và hết sức sốt sắng. Đức Giáo Hoàng chân phước Pio 9 cũng đích thân đến kính viếng Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ngài cũng nhận một bản sao Bức Ảnh Phép Lạ và đưa về đặt nơi nhà nguyện riêng của ngài trong Phủ Giáo Hoàng. Lòng kính mến Đức Mẹ gia tăng đến độ, vào cuối tháng 5, các tín hữu Công Giáo Roma đã hiệp ý quyên góp tiền của và xin các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế tổ chức thêm một tuần tam nhật khác, dâng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Năm sau, ngày 23-6-1867, Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được Kinh Sĩ Đoàn đền thờ thánh Phêrô long trọng đội triều thiên bằng vàng.

Các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế, đồ đệ Thánh Alphonso, luôn có truyền thống kính mến Đức Mẹ. Nhưng kể từ khi Bức Ảnh được giao phó cho các vị trông coi, Hội dòng Chúa Cứu Thế như được gắn liền với Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Các tu sĩ Chúa Cứu Thế nhiệt thành phổ biến lòng sùng mộ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tính đến năm 1916, đã có 4000 bản sao chính thức Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, được tôn kính tại các nhà thờ rải rác trên toàn thế giới. Đâu đâu cũng thế, các tín hữu Công Giáo đều có chung một lòng kính mến và tin tưởng nơi sự trợ giúp vô biên của Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Sự kiện này lôi cuốn chú ý của Tòa Thánh, đặc biệt là Đức Giáo Hoàng chân phước Pio 9, quí tử của Nữ Trinh Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đức Thánh Cha muốn rằng, hàng năm vào ngày 23-6, ngày kỷ niệm Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được đội triều thiên bằng vàng, dòng Chúa Cứu Thế phải cử hành thánh lễ trọng thể mừng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Ngoài ra, vào năm 1871, hiệp hội ”Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Thánh Alphonso” được thành lập. Chính Đức Pio 9 cũng ghi danh vào Hội và ban cho các Hội viên được hưởng nhiều ân xá.

  1. Ý nghĩa Bức Ảnh

Ngắm nhìn Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, hẳn quí vị đặt câu hỏi: – Hai Thiên Thần có ý nghĩa gì? – Tại sao Chúa Hài Nhi lộ vẽ sợ hãi? – Tại sao cái nhìn của Mẹ Ngài trông thật buồn? – Liên hệ nào gắn liền giữa Bức Ảnh mô tả Mẹ Thiên Chúa và tước hiệu “Hằng Cứu Giúp”?. Xin trích dẫn lời giải thích ý nghĩa của Bức Ảnh như sau.

… Chúa Giêsu đang ngủ yên trong vòng tay Đức Mẹ. Bỗng chốc, Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie, vị mặc khải mầu nhiệm Cứu Chuộc, và Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, vị bảo trợ Hội Thánh, hiện ra và tỏ lộ cho Chúa Giêsu thấy các dụng cụ hành hình. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae cầm trong tay bình đựng đầy mật đắng. Từ bình này, dựng đứng một ngọn giáo giết người và một khúc lau dài, bên trên có miếng vải thấm dấm chua, nhỏ giọt. Trong khi Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Gabrie đưa cho Chúa Giêsu xem một khúc gỗ rợn rùng với ba chiếc đinh dài. Đó là thập tự của các tên ác nhân. Trên chóp của thập tự khủng khiếp này, Chúa Hài Nhi đọc thấy hàng chữ: Giêsu thành Nagiarét. Bị đánh thức bởi thị kiến kinh hoàng, Chúa Giêsu ngẩng hẳn đầu lên, đôi tay run rẩy nắm chặt lấy bàn tay dịu hiền của Đức Mẹ và nhìn quanh quất với dáng điệu lo âu sợ hãi. Nhưng có lẽ sau đó, Ngài chấp nhận các dụng cụ tử hình mà Cha Ngài gởi đến, qua trung gian các Thiên Thần, nên Chúa Giêsu can đảm thưa: “Lạy Cha, xin cho ý Cha được thể hiện chứ không phải ý riêng Con!”. Đó là lời Chúa Giêsu sẽ lập lại sau này nơi vườn cây dầu Giệtsêmani.

Người họa sĩ đạo đức, khi vẽ Bức Ảnh này, hẳn đã muốn biểu tượng rằng: “Ngay từ thơ ấu, Chúa Giêsu đã liên lĩ nghĩ đến cuộc khổ nạn trong tương lai”. Về phần Đức Maria, thông phần với Con Mẹ để cứu chuộc nhân loại, như bà Evà xưa kia đã thông phần với ông Adong để phản bội con cái loài người, Đức Mẹ luôn kết hiệp hy sinh của Mẹ với hy sinh của Con Mẹ. Và thay vì nhìn Con Mẹ, Đức Mẹ lại đăm đăm nhìn chúng ta. Cái nhìn vừa dịu hiền vừa u buồn của Đức Mẹ như muốn nói với từng người rằng:

“ .. Hỡi những người con đáng thương của Evà. Các con hãy nhìn xem các con được Chúa Cha trên Trời, Chúa Giêsu và Mẹ Ngài yêu thương các con là dường nào! Vì thế, các con hãy trọn lòng yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Chúa Giêsu và yêu mến Mẹ, cũng như đặt hết niềm tin tưởng nơi Mẹ. Chẳng lẽ các con nghi ngờ quyền năng của Mẹ bên cạnh Thiên Chúa hay sao? Khi chấp thuận cái chết đau thương của Con Mẹ, Mẹ đã tậu cho các con những quyền lợi thánh thiêng và Mẹ nhận các con làm con Mẹ, thay cho Chúa Giêsu. Làm sao các con lại có thể nghi ngờ tình thương trìu mến Mẹ dành cho các con, khi mà, để cứu chuộc các con, Mẹ đã bằng lòng trao Con Mẹ, Một Người Con tuyệt hảo như thế?.. A! Các con thật quí hóa đối với Mẹ, quí hóa đến độ, Mẹ lại sợ bị mất các con lần thứ hai, và mất vĩnh viễn! Vậy thì, hãy chạy đến với Mẹ. Mẹ nắm giữ trong tay giá cứu chuộc các con, phương thế chữa trị những thói hư tật xấu của các con. Hãy kêu cầu Mẹ trong bất cứ hoàn cảnh khốn cùng nào, trong mọi yếu đuối sa ngã và trong những chán nản thất vọng nhất của các con. Hãy ngước mắt nhìn Mẹ, lúc các con cảm thấy nghi ngờ, khi các con đã dại dột phạm tội. Mẹ sẽ an ủi, nâng đỡ các con. Mẹ sẽ ban cho các con sức mạnh. Mẹ sẽ soi sáng, giúp các con chỗi dậy từ bùn nhơ. Nói tắt một lời, Mẹ hằng liên lĩ trợ giúp các con, mãi mãi cho đến khi nào Mẹ vui mừng đưa các con vào hưởng tôn nhan Chúa bất tận trên Thiên Đàng”.
.. Đó là ý nghĩa tước hiệu “Mẹ Hằng Cứu Giúp” vậy.

Để tỏ lòng kính mến Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin đề nghị vắn tắt 9 việc đạo đức sau đây.

– Thứ nhất: Mỗi buổi sáng và tối, đọc ba Kinh Kính Mừng và đọc thường xuyên lời nguyện tắt: “Lạy Đức Maria đầu thai vô nhiễm nguyên tội, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Mẹ”.
– Thứ hai: Mỗi ngày lần trọn chuỗi Mân Côi.
– Thứ ba: Đọc Kinh Cầu Đức Mẹ.
– Thứ tư: Đọc một Kinh Kính Mừng trước mỗi khi làm một việc quan trọng, hoặc mỗi khi nghe tiếng đồng hồ đánh báo hiệu giờ.
– Thứ năm: Giữ thói quen tốt lành đọc Kinh Truyền Tin vào ba buổi sáng, trưa và chiều.
– Thứ sáu: Xem lễ và rước lễ vào các ngày lễ kính Đức Mẹ.
– Thứ bảy: Làm một vài việc đền tội và bác ái cũng như đi lễ vào các ngày thứ bảy.
– Thứ tám: Ghi tên vào các Hội như Mân Côi và Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Luôn mang trong mình Áo Đức Bà Camêlô hoặc Ảnh thế Áo Đức Bà.
– Thứ chín: Luôn chạy đến kêu cầu cùng Mẹ trong mọi nổi lo âu, khi bị cám dỗ và xin Đức Mẹ ra tay cứu giúp.

  1. Bức Ảnh Làm Phép Lạ

Một thanh niên lúc gần chết, nhất định không chịu xưng tội. Vì bị thân mẫu nài nĩ mãi, chàng tức giận không cho bà đến gần giường. Người mẹ hiền đức không bỏ cuộc. Bà khẩn khoản kêu xin cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Rồi bà kín đáo dấu một ảnh vảy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp dưới chiếc gối của con. Lòng tin tưởng của người mẹ đau khổ đã được Đức Mẹ nhậm lời. Hai ngày sau, chính người thanh niên xin gặp linh mục để xưng tội. Chàng lãnh nhận các Bí Tích sau cùng và ra đi bằng an trong ân thánh Chúa..

Đó là câu chuyện xảy ra tại Bruxelles, thủ đô vương quốc Bỉ. Câu chuyện tiếp theo cũng tương tự như thế. Một thanh niên thuộc gia đình Công Giáo đạo đức, lâm trọng bệnh. Từ khi sống ăn chơi buông thả, chàng bỏ hẳn việc đọc kinh, xem lễ và xưng tội. Biết mình sắp chết, nhưng chàng vẫn khăng khăng không chịu ăn năn thống hối. Mẹ và các chị em chàng buồn sầu đến thổ lộ niềm đau với vị linh mục thừa sai. Cha nói ngay: “Hãy đeo cho chàng ảnh vảy Đức Mẹ và kêu cầu cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”. Bà mẹ làm theo lời khuyên của vị linh mục. Lạ lùng thay, khi chàng thanh niên bằng lòng đeo ảnh Đức Mẹ, tức khắc chàng thay đổi thái độ. Chàng xin gặp linh mục và sẵn sàng xưng tội. Vài ngày sau, chàng êm ái trút hơi thở, sau khi đã giao hòa cùng Thiên Chúa, nhờ ơn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Một người trẻ, 20 tuổi, thành thật kể lại rằng. Trước đây gần một năm rưỡi, tôi thường bị ma quỷ liên tục tấn công, cám dỗ tôi phạm tội, lỗi đức trong sạch. Biết mình luôn bị quấy phá, tôi thấy không còn phương thế nào khác, ngoài việc chạy đến ẩn nương trong vòng tay dịu hiền của Nữ Trinh Rất Thánh Maria. Ngài là Người Mẹ Thiên Quốc, không bao giờ từ chối lời van nài của bất cứ ai. Thêm vào đó, với tư cách là thành viên Hội Đức Bà Hằng Cứu Giúp, tôi thường kêu cầu Mẹ dưới tước hiệu Hằng Cứu Giúp. Đức Mẹ đã nghe lời tôi kêu cầu và đã giải thoát tôi khỏi vòng vây của tên “quỉ dâm dục”. Tuy nhiên, để biết chắc mình được Đức Mẹ che chở trọn đời, tôi bèn giao kèo với Đức Mẹ như sau: “Nếu trong vòng một năm, con không hề mảy may bị cám dỗ về điều răn thứ sáu, thì con sẽ quyết tâm sùng kính Mẹ, cùng lúc, con sẽ phổ biến lời cao rao ngợi khen quyền năng Mẹ, Người Nữ quyền uy, đã đạp tan đầu con rắn hỏa ngục!”.

Đức Mẹ đã nhận lời tôi cầu xin. Phần tôi, tôi cũng giữ lời đã hứa với Đức Mẹ. Tôi xin làm chứng trước mặt mọi người rằng: Khi kêu cầu Mẹ Cứu Giúp, chắc chắn sẽ được Đức Mẹ nhận lời.

Phép lạ sau đây do một phụ nữ kể lại. Từ hơn mười sáu năm nay, tôi bị chứng kinh phong hành hạ. Cứ hai tháng một lần, tôi bị lên cơn động kinh, thật khủng khiếp. Sau khi tốn phí không biết bao nhiêu tiền của, các bác sĩ tuyên bố bệnh tình tôi vô phương cứu chữa. Họ còn cho gia đình tôi biết là rất có thể tôi sẽ bị điên. Trong hoàn cảnh thảm thương đó, tôi liền đặt trọn niềm tin tưởng nơi Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tôi cũng đi hành hương đền thánh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và xin các thành viên Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp hợp lời cầu nguyện với tôi và cho tôi.

Tại đền thánh, tôi long trọng hứa với Đức Mẹ rằng: “Nếu trong vòng một năm, con không còn bị lên cơn động kinh nữa, thì để tỏ lòng tri ân Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, con sẽ tham dự thánh lễ và rước lễ, vào mỗi ngày thứ bảy trong tuần, và dâng cúng một số tiền nơi bàn thờ kính Mẹ”. Lời cầu và lời hứa của tôi đã được Đức Mẹ thương nhậm lời. Từ hơn một năm qua, tôi không còn bị chứng kinh phong tàn phá. Trái lại, tôi vui vẻ khoẻ mạnh. Khỏi cần nói, bạn cũng biết rằng, tôi đã nghiêm chỉnh thi hành mọi lời tôi đã hứa cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Vào mỗi ngày thứ bảy, tôi đều đến đền thánh Đức Mẹ để dự lễ, rước lễ và dâng cúng một số tiền. Nhưng có lẽ của lễ đẹp lòng Đức Mẹ nhất, chính là việc tôi sốt sắng rước Mình Thánh Chúa Kitô.

Phép lạ sau đây xảy ra tại Valparaiso, một thành phố nằm về phía Tây Bắc thủ đô Santiago của nước Chí-Lợi. Một phụ nữ Công Giáo kể lại rằng.

.. Cách đây 6 tháng, vì công việc buôn bán, chồng tôi phải đi thủ đô. Tôi ở nhà một mình với 7 đứa con dại, mà đứa lớn nhất mới 12 tuổi. Một cửa tiệm, đầy ứ hàng hóa, ở một nơi hẻo lánh, đó là những điểm thuận lợi lôi kéo sự chú ý của bọn cướp, vốn khét tiếng trong vùng.

Biết rõ hiểm nguy rình chờ, tôi vô cùng sợ hãi và lo lắng. Tôi bỗng nẩy ra ý tưởng, xin Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp làm Người canh giữ nhà. Nghĩ xong, tôi tức khắc treo Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp nơi cánh cửa, thông thương giữa kho chứa hàng và phòng ngủ của chúng tôi. Vào buổi đọc kinh chung ban tối, tôi bảo các con tôi hãy sốt sắng kêu cầu cùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin Đức Mẹ gìn giữ chúng tôi qua khỏi đêm nay bằng an. Xin Đức Mẹ cứu chúng tôi khỏi bọn cướp của và giết người.

Nghe lời tôi, các con tôi liền ngước mắt nhìn lên Bức Ảnh và thưa: “Lạy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin Đức Mẹ canh chừng và bảo vệ chúng con”. Đứa bé út, chưa đầy hai tuổi, không hiểu rõ hiểm nguy là gì, nhưng bắt chước anh chị, bé cũng chắp tay lại và ngước mắt van nài nhìn lên Bức Ảnh. Cảnh tượng đó khiến tôi thật cảm động. Hẳn Đức Mẹ cũng cảm động không kém, nên đã ra tay cứu giúp chúng tôi.

Đêm hôm ấy, khoảng một giờ sáng, tôi giật mình thức giấc vì tiếng động. Tôi nghe rõ tiếng những người đàn ông xầm xì, đang rảo quanh nhà. Tôi lạnh điếng người. Tôi thầm nghĩ: “Chúa ơi, xin thương xót chúng con. Lạy Đức Mẹ, xin cứu con và các con của con”. Tôi chỉ nói được bấy nhiêu. Nổi lo sợ làm tôi như bị chết cứng trong giường. Chẳng mấy chốc, tôi nghe tiếng cuốc xẻng. Bọn cướp định phá tung cửa nhà kho. Nhưng không được vì cửa cài thanh sắt rất kỹ. Họ bèn quay sang đục tường nhà. Tường nhà thô sơ nên dễ đục. Nhờ lỗ đục, họ chui vào nhà kho cách dễ dàng. Không thể nào tả hết nổi kinh hoàng của tôi. Giữa nhà kho và phòng ngủ, chỉ ngăn cách bởi một cánh cửa, không ổ khóa. May mắn thay, chúng tôi có được một khí giới an toàn duy nhất: đó là Bức Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp treo trên tường!.

Bỗng cánh cửa hé mở. Ôi thôi, lạy Chúa, cuộc sống, danh dự, tiền của, tất cả rồi sẽ tiêu tan hết. Tôi chỉ còn biết phó thác linh hồn tôi trong tay Chúa. Nhưng rồi, cánh cửa đóng lại tức khắc. Ba lần như vậy. Trong khi đó, bọn cướp dọn sạch nhà kho, không để lại một thứ gì. Sau đó là im lặng như tờ .. cho đến sáng.

Sáng sớm hôm sau, khi vào nhà kho, tôi bàng hoàng thấy bọn cướp mang đi tất cả những gì có giá trị. Chúng chỉ để lại mạng sống cho chúng tôi. Nhưng chính vì mạng sống, mà chúng tôi dâng lời cảm tạ Thiên Chúa và Đức Mẹ, đã thương gìn giữ chúng tôi thoát chết.

Và Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã tưởng thưởng lòng đơn sơ phó thác của chúng tôi cách bội hậu. Vào gần trưa, một người cỡi ngựa dừng lại trước nhà, nói với tôi: “Thưa bà, bọn cướp đang ở trong rừng. Chúng đang chia nhau các vật ăn cắp. Tôi sẽ chạy ngay báo cảnh sát”. Nói xong, ông thúc ngựa phóng đi.

Được báo, cảnh sát tức tốc đến nơi và bắt trọn ổ, gồm 6 người. Đó là bọn cướp nguy hiểm nhất trong vùng. Tên đầu đảng đã từng giết trên 30 người và khét tiếng về những hành động tàn ác vô cùng dã man. Ông đặc biệt bắt cóc trẻ em rồi sát hại chúng bằng những cực hình khủng khiếp.

Nơi tòa án, vị thẩm phán cất tiếng hỏi tên đầu đảng: “Là một tên khát máu, làm sao ông lại không giết chết phụ nữ này cùng với các con của bà?”. Hắn ta trả lời: “Đúng ra đó là ý định của tôi. Tôi lăm le bước vào phòng ngủ với con dao. Nhưng khi đẩy cánh cửa bước vào, một bàn tay cản tôi lại và một tiếng nói vang lên: “Đừng vào”. Hai lần nữa tôi thử bước vào, nhưng cả hai lần tôi đều bị cùng một bàn tay cản lại và nghe cùng một tiếng nói “Đừng vào”. Hoảng sợ, tôi không dám bước vào nữa và nói với đồng bọn: “Chúng mình rút lui”.

Quan tòa kết án tù 6 tên cướp và truyền trả lại cho chúng tôi tất cả những gì họ đã ăn cắp. Diễn tả sao cho hết, trọn tâm tình tri ân của gia đình chúng tôi đối với Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Chúng tôi chỉ biết dâng lên Hiền Mẫu Thiên Quốc lời nguyện đơn sơ rằng: “Sau khi giải thoát chúng con khỏi cái chết ở đời này, xin Mẹ cũng cứu chúng con thoát khỏi cái chết vĩnh viễn ở đời sau. Chúng con xin mãi mãi ghi ơn Mẹ”.

(Saint Alphonse de Liguori, “Gloires de Marie”, Edition populaire, 1929, trang 237-262).

 From: hnkimnga & NguyenNThu


 

SỐNG, MÀ CHƯA SỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi ban cho chúng sự sống đời đời”.

“Thiên Chúa đã làm người để con người được trở nên như Thiên Chúa!” – Athanasiô.

Kính thưa Anh Chị em,

Sự sống Mục Tử Nhân Lành ban thật dồi dào, nhưng không phải chiên nào cũng sống; Lời Chúa hôm nay mở ra một sự sống đòi được lớn lên đến tầm mức của Thiên Chúa. Và chính ở đó, lộ ra một nghịch lý: ‘sống, mà chưa sống’.

Điều đáng ngạc nhiên không phải là việc sự sống được ban, nhưng là việc sự sống đó có thể bị bỏ qua. Không ai thiếu sự sống đến từ Mục Tử, nhưng không phải ai cũng nhận ra mình đang sống nhờ sự sống ấy. Khi không được nhận ra, sự sống không mất đi, nhưng trở nên câm lặng; nó vẫn ở đó, nhưng không còn làm cho con người thực sự sống, dù vẫn đang sống.

Trong Gioan, sự sống không phải là bios sinh học, nhưng là zōē: một sự sống đến từ Thiên Chúa, mang lấy chiều kích thần linh của Ngài. Vì thế, vấn đề không nằm ở việc còn sống hay không; nhưng ở chỗ nó có được nhận ra và được vận hành. Khi không được nhận ra, sự sống không biến mất, nhưng bị nén lại trong một đời sống quen thuộc, tầm thường; chính ở đó, con người có thể sống, nhưng chỉ sống lây lất. “Vinh quang Thiên Chúa là con người sống!” – Irênê.

Ở đây, câu hỏi đặt ra: nếu sự sống đã được ban, tại sao nó vẫn có thể bị bỏ qua? Vấn đề không nằm ở sự sống; nhưng ở khả năng nhận ra và đáp lại. Một sự sống không được đón nhận sẽ không biến mất, nhưng cũng không tự lớn lên; nó cần được đánh thức; cần được gọi tên để được nhận ra. Chính trong khoảng cách giữa có và không ấy; giữa đã được ban và chưa được sống, sự sống chờ một cú hích từ bên ngoài, một tác động đủ nhẹ để nó bắt đầu cử động.

Chính ở điểm này, vai trò của Barnaba trở nên rõ nét. Ông không mang đến một sự sống mới, nhưng nhận ra sự sống đã có và làm cho nó trỗi dậy. Thấy “ơn Thiên Chúa” nơi cộng đoàn Antiôkia, ông không chỉ ghi nhận, nhưng khích lệ; không áp đặt, nhưng khơi mở; không thay thế, nhưng làm họ sống từ chính nguồn họ đã nhận – bài đọc một. Khi đó, khích lệ không còn là những lời nói dễ chịu, nhưng là một hành vi vivificare: làm cho sống; để sự sống được vận hành. Được đánh thức, sự sống không còn khép kín, nhưng toả lan thành lời chúc tụng: “Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không chỉ khơi dậy sự sống, Ngài là chính sự sống; vì thế, điều Ngài ban không thể bị cướp mất; chỉ có thể bị bỏ qua. Ở đó, việc sống không còn là nỗ lực tự thân, nhưng là trở lại một tương quan; và chỉ khi ở lại, con người mới thực sự sống. Phần chúng ta, nhiều khi không thiếu sự sống, chỉ thiếu sự ở lại; vẫn chuyển động mà không thực sự sống; có thể đi rất xa, nhưng không ở trong. Chính ở đó, lộ ra một nghịch lý: ‘sống, mà chưa sống’. “Đời chỉ hiểu được khi nhìn lại; nhưng phải sống khi bước tới!” – Søren Kierkegaard.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con không thiếu sự sống; chỉ thiếu sự ở lại. Xin đừng để con sống lây lất; sống như chưa từng sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần IV Phục Sinh

Tôi và Cha tôi là một.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.     Ga 10,22-30

22 Khi ấy, ở Giê-ru-sa-lem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. 23 Đức Giê-su đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Sa-lô-môn. 24 Người Do-thái vây quanh Đức Giê-su và nói : “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết.” 25 Đức Giê-su đáp : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. 26 Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. 27 Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi ; tôi biết chúng và chúng theo tôi. 28 Tôi ban cho chúng sự sống đời đời ; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. 29 Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. 30 Tôi và Chúa Cha là một.”


 

NHỮNG CÂY BÚT BỊ BẺ NGÒI…

8 SÀI GÒN

Hôm qua, tôi viết bài “Văn chương miền Nam trong mắt một đứa trẻ”, thì có người hỏi tôi: “Anh có biết số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30/4/1975 như thế nào không?”

Sau 75, hầu hết những cây bút gạo cội của nền văn chương miền Nam đều trải qua những tháng ngày trong lao tù của trại cải tạo. Bởi chính quyền mới cho rằng: cây bút của họ còn gây “tội ác” nặng nề hơn cả cây súng và chế độ mới gọi họ với cái tên: “Biệt kích văn hoá”.

Ta thử tìm lại một giai đoạn lịch sử, một đoạn đường đời đau thương của một vài người trong số họ:

Doãn quốc Sỹ:

Sau 30/4/75, Thầy – tôi gọi là Thầy vì những cuốn Việt văn tôi học ở Chủng viện đều do Thầy biên soạn – ở lại Sài gòn và tiếp tục giảng dạy một thời gian ngắn trước khi bị bắt.Thầy bị bắt ngày 3/4/1976 trong chiến dịch nhắm vào “biệt kích văn hoá” của chính quyền mới. Thầy bị giam từ 1976  tại trại giam Gia Trung – Tây Nguyên và được thả vào năm 1980 nhờ sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Trong khi chờ bảo lãnh sang Úc, thầy viết tác phẩm “Đi” dưới bút hiệu Hồ Khanh và gửi ra nước ngoài xuất bản. Vì lý do này, thầy bị bắt lại vào tháng 5/1984 và bị thêm nhiều năm tù đày. Dù trải qua hơn 14 năm tù, thầy luôn giữ phong thái ung dung tự tại, dùng nhân cách kẻ sĩ để đối đầu với bão táp, nên bạn bè văn hữu gọi là người “Thung Dung Trượng Nghĩa”.

Duyên Anh:

Sau 75, ông bị bắt đi cải tạo 6 năm từ 76 đến 81. Ông bị giam tại trại giam Đầm Đùn , mà sau này ông mô tả trong cuốn “Trại Đầm Đùn” đầy sự kinh khủng của cái đói, cái rét và sự khắc nghiệt. Năm 1983, ông vượt biên sang Pháp. Năm 1988, ông bị hành hung bởi những người Việt cực đoan tại Mỹ vì những quan điểm chính trị trong quá khứ và hiện tại. Cuộc hành hung gây cho ông thương tích khá nặng, nên sau đó ông bị tai biến và mất khả năng nói và qua đời tại Pháp trong sự lặng lẽ.

Mai Thảo:

Chỉ có cây đại thụ này né được nhà tù cải tạo nhờ trốn tránh ẩn dật với nhiều tên giả ở Việt Nam sau 75. Đến năm 1977, ông đã trốn thoát khỏi VN bằng đường biển. Sang Mỹ, ông sống cô độc và làm bạn với rượu và cây viết. Ông định cư tại Cali và tiếp tục mở lại tạp chí Văn để gom góp những mảnh vỡ của văn học miền Nam. Khi mất, ông để lại tập thơ “Ta thấy hình ta là những miếu đền” – như một tiếng thở dài về sự tàn phai và thân phận lưu vong.

Tô Thùy Yên:

Ông được coi là nhà thơ lớn nhất với tư duy triết học sâu sắc của miền Nam, nên ông là nhà thơ bị đi cải tạo lâu nhất, tổng cộng 13 năm.  Năm 88, ông ra tù, ông viết ” Bài thơ Ta về”_ một kiệt tác thời hậu chiến. Bài thơ không  có sự hận thù, chỉ có bao dung và nỗi buồn trước vận nước và lòng người. Năm 1993, ông sang Mỹ và sống lặng lẽ trong tâm thế một người đã đi đến tận cùng khổ đau.

Thanh Tâm Tuyền:

Vừa là sĩ quan tâm lý chiến cấp Đại úy, vừa được coi là nhà thơ khai phóng thể thơ tự do, vừa là nhà viết tiểu thuyết hiện sinh, nên ông bị bắt đi cải tạo ngay sau 30/4 suốt 7 năm từ 75 đến 82. Trong tù, ngoài nỗi đau thế xác, ông còn chịu một nỗi đau thầm kín là một người con ông bị mất tích trên đường đi tìm tự do. Năm 1990, ông sang Mỹ theo diện H.O. Ông qua đời năm 2006 vì ung thư phổi.

Phan Nhật Nam:

là sĩ quan binh chủng Dù và là nhà văn quân đội với những bút ký chiến sự rực lửa, ông bị đi học tập cải tạo ngay sau 30/4. Ông chịu cảnh tù đày suốt 14 năm qua nhiều trại giam khắc nghiệt từ nam ra bắc, trong đó có 8 năm biệt giam. Năm 1993, ông sang Mỹ định cư theo diện H.O.

Vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca:

Sau 30/4, cả hai vợ chồng đều bị bắt và liệt vào “biệt kích văn hoá”. Nhã Ca bị giam khoảng 2 năm và được thả về chăm sóc cho 6 đứa con nhỏ. Còn Trần Dạ Từ phải chịu tù đày 12 năm từ 75 đến 88 tại nhiều trại giam. Nhờ sự vận động của các tổ chức quốc tế và sự can thiệp của chính phủ Thụy Điển, gia đình vợ chồng được bảo lãnh sang Thụy Điển vào tháng 9/1988.

Nhưng cũng có nhiều người không thể vượt qua sự khắc nghiệt của trại cải tạo và đã chết.

Nguyễn Mạnh Côn:

Ông bị bắt năm 1976 và đưa đi cải tạo ở trại giam Xuyên mộc. Để phản đối chính sách của trại giam, ông đã tuyệt thực, và rồi kiệt sức và qua đời ngày 1/6/1979. Khí tiết của ông được các bạn tù nhắc lại như một huyền thoại về phẩm giá.

Hồ Hữu Tường:

Một  nhà trí thức, một nhà văn lớn cũng qua đời năm 1980 trong thời gian giam giữ tại các trại cải tạo.

Vũ Hoàng Chương:

Bị bắt vào trại cải tạo sau 30/4 nhưng được  thả về năm 76 vì bệnh tật, nhưng vì quá suy sụp sau thời gian bị giam cầm khiến ông qua đời chỉ 5 ngày sau khi về nhà.

Hoạ sĩ Choé:

Tên thật là Nguyễn Hải Chí, là một tài năng bẩm sinh, nổi danh với những bức hí hoạ chính trị sắc sảo. Sau vài tháng làm báo với chế độ mới, ông bị bắt đi cải tạo từ 76 đến 85. Sau khi ra tù, ông tìm cách vượt biên nhưng không thành nên bị tù thêm một thời gian nữa. Năm 1997, ông bị đột quỵ và hai mắt vị loà nên ông chuyển qua làm thơ. Cuối năm 2002, ông được đưa sang Mỹ chữa trị nhưng không khỏi mù. Ông mất năm 2003 tại Virginia.

Số phận các nhà văn nữ ít nghiệt ngã hơn.

Nguyễn Thị Hoàng:

Sau 75 , bà cùng gia đình đi kinh tế mới ở Suối Dầu – Khánh Hòa khoảng 3 năm, làm đủ thứ nghề từ rẫy ruộng cho đến buôn bán nhỏ để nuôi con.

Túy Hồng:

Sau 75 định cư ở Mỹ. Bà tiếp tục viết văn và cộng tác với các tạp chí cho đến khi qua đời vào ngày 19/7/2020 tại Oregon, Hoa kỳ.

Lệ Hằng:

Bà rời VN sang Úc định cư 1989. Bà tiếp tục viết và cộng tác với các tạp chí văn học Việt.

Nguyễn Thị Thuỵ Vũ:

Riêng bà, là khổ. Sau 75 bà ở lại VN và trải qua những giai đoạn khó khăn, phải sống lê lết vì nuôi đứa con gái út bị bệnh. Hiện tại, bà sống ở Lộc ninh – Bình Phước với cuộc sống cũng tạm ổn nhờ sự giúp đỡ của bạn bè và các tổ chức văn bút.

Còn một số người ở lại VN như Sơn Nam, Võ Hồng, Quách Tấn, Vũ Hạnh. Có người hội nhập hợp tác với chế độ mới, có người lặng lẽ “gác bút”.

Câu chuyện về số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau 30/4/1975 không chỉ là một câu chuyện văn chương, mà còn là những mảnh ghép từ nhiều phận đời với đầy đủ bi thương của một giai đoạn lịch sử vào thế kỷ 20, khi cây bút bị coi là “tội ác”.

DYNH ANH


 

KHÔNG AI SỐNG DỄ HƠN AI – Lm. Anmai, CSsR

Anmai CSsR

Có một điều mà con người rất hay lầm tưởng: nhìn vào cuộc đời của người khác và nghĩ rằng họ đang sống dễ dàng hơn mình. Ta thấy một nụ cười và cho đó là hạnh phúc trọn vẹn. Ta thấy một thành công và cho rằng con đường của họ trải đầy hoa. Ta thấy một mái ấm và tưởng rằng bên trong đó chỉ có yêu thương không vết xước. Nhưng sự thật là, làm gì có cuộc sống của ai dễ dàng hơn ai. Mỗi con người là một câu chuyện dài, và phần mà người khác nhìn thấy chỉ là một đoạn rất ngắn, rất sáng, rất được “chọn lọc” trong vô vàn những góc tối mà họ đã đi qua.

Có người bước đi nhẹ nhàng, không phải vì con đường bằng phẳng, mà vì họ đã quen với việc gồng mình qua những đoạn gập ghềnh. Có người mỉm cười rất tươi, không phải vì họ chưa từng khóc, mà vì họ đã khóc quá nhiều đến mức không muốn ai nhìn thấy nước mắt nữa. Có người thành công sớm, không phải vì họ gặp may mắn hơn, mà vì họ đã đánh đổi những năm tháng mà người khác đang vui chơi, nghỉ ngơi, để âm thầm nỗ lực. Cũng có người đi chậm, không phải vì họ kém cỏi, mà vì họ đang mang theo những gánh nặng mà người khác không hề biết.

Chúng ta thường so sánh cuộc đời mình với người khác bằng những gì hiện ra trước mắt, mà quên rằng mỗi người đều đang chiến đấu trong một trận chiến rất riêng. Có những trận chiến không có tiếng súng, không có khói lửa, nhưng lại dai dẳng và mệt mỏi đến tận cùng. Đó là cuộc chiến với nỗi sợ hãi, với những tổn thương trong quá khứ, với áp lực của hiện tại, và với những bất an về tương lai. Có người chiến đấu với bệnh tật, có người chiến đấu với cô đơn, có người chiến đấu với sự thiếu thốn, có người lại chiến đấu với chính sự trống rỗng trong lòng mình. Không ai thật sự rảnh rỗi hay nhẹ nhõm như vẻ ngoài họ thể hiện.

Đôi khi ta ghen tị với một ai đó vì họ có những thứ mà ta không có. Nhưng ta không biết rằng, để có được điều đó, họ đã phải mất đi những gì. Có những cái giá không thể đo đếm bằng tiền bạc hay danh vọng. Có những đêm mất ngủ, những lần thất bại, những lần bị từ chối, những khoảnh khắc tưởng chừng như không thể đứng dậy nổi nữa. Nhưng rồi họ vẫn đứng dậy, không phải vì họ mạnh mẽ hơn, mà vì họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải tiếp tục.

Cuộc sống không phải là một cuộc thi xem ai dễ dàng hơn, mà là một hành trình riêng của mỗi người. Mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau, một hoàn cảnh khác nhau, một gánh nặng khác nhau, và cả một ơn gọi khác nhau. Có người được trao nhiều, có người được trao ít, nhưng điều đó không làm cho cuộc đời của ai nhẹ hơn hay nặng hơn một cách tuyệt đối. Bởi vì khi được trao nhiều, người ta cũng phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Khi có nhiều thứ để giữ, người ta cũng có nhiều thứ để lo sợ mất đi.

Thế nên, điều quan trọng không phải là so sánh, mà là hiểu và cảm thông. Khi ta hiểu rằng không ai sống dễ dàng hơn ai, ta sẽ bớt đi sự phán xét. Ta sẽ không còn vội vàng kết luận về một con người chỉ qua vài hình ảnh bề ngoài. Ta sẽ học cách nhẹ nhàng hơn với người khác, vì ta biết rằng họ cũng đang mệt mỏi theo cách của họ. Và quan trọng hơn, ta sẽ học cách nhẹ nhàng hơn với chính mình.

Có những ngày ta thấy mình yếu đuối, thấy mình chậm chạp, thấy mình thua kém. Nhưng nếu nhìn lại thật sâu, ta sẽ nhận ra rằng mình cũng đã đi qua rất nhiều điều không hề dễ dàng. Những gì ta đang có hôm nay, dù nhỏ bé, cũng là kết quả của rất nhiều cố gắng âm thầm. Ta không cần phải trở thành ai khác. Ta không cần phải sống nhanh hơn hay giỏi hơn người khác. Ta chỉ cần sống thật với hành trình của mình, kiên nhẫn với chính mình, và bước đi từng bước, dù chậm, nhưng vững.

Cuộc đời không hứa hẹn sự dễ dàng cho bất cứ ai. Nhưng cuộc đời luôn cho mỗi người đủ sức để đi qua phần của mình, theo cách của mình. Và có lẽ, điều đẹp nhất không phải là một cuộc sống không có khó khăn, mà là một con người biết đứng lên sau khó khăn, biết yêu thương giữa những tổn thương, và biết bình an ngay cả khi cuộc đời không như ý.

Vì vậy, thay vì hỏi “tại sao cuộc sống của người khác dễ hơn mình”, có lẽ ta nên tự hỏi: “mình đã đi được bao xa trên con đường của mình rồi?”. Khi ta thay đổi cách nhìn, ta sẽ nhận ra rằng, không ai thật sự hơn ai trong sự dễ dàng. Tất cả chúng ta, theo những cách rất khác nhau, đều đang cố gắng sống, cố gắng yêu, và cố gắng giữ cho mình không gục ngã giữa cuộc đời này.

Và như thế, cuộc sống – dù không dễ dàng – lại trở nên có ý nghĩa hơn rất nhiều, bởi vì mỗi bước đi đều là một chiến thắng thầm lặng, mỗi ngày trôi qua đều là một minh chứng rằng ta vẫn đang mạnh mẽ hơn những gì ta từng nghĩ.

Lm. Anmai, CSsR


Một người đàn ông đã chết cách đây hơn 5.300 năm

My Lan Pham

 Năm 1991, hai người leo núi tình cờ phát hiện một thi thể bị đóng băng trong dãy Alps. Ban đầu, họ nghĩ đó là một người hiện đại gặp nạn gần đây. Nhưng sự thật lại khiến cả giới khoa học kinh ngạc.

Đó là Ötzi, một người đàn ông đã chết cách đây hơn 5.300 năm.

Thi thể của ông được bảo quản gần như nguyên vẹn trong băng. Da, tóc, thậm chí cả dạ dày vẫn còn đủ để các nhà khoa học phân tích. Và từ đó, họ dần ghép lại câu chuyện về những giờ phút cuối cùng của ông.

Ông không phải là một con người “nguyên thủy” đơn giản như chúng ta thường tưởng. Trên người ông có hơn 60 hình xăm, nhiều trong số đó nằm ở những vị trí giống với điểm châm cứu, có thể liên quan đến việc chữa đau. Ông mang theo một chiếc rìu bằng đồng, một vật cực kỳ quý hiếm vào thời đó, cùng với dao đá, cung tên và các dụng cụ sinh tồn. Quần áo của ông được làm nhiều lớp, giày được thiết kế để giữ ấm ,tất cả cho thấy một mức độ hiểu biết và thích nghi đáng kinh ngạc.

Phân tích sâu hơn cho thấy một điều bất ngờ: ông không chết vì tai nạn.

Một mũi tên đã bắn trúng vai ông từ phía sau. Ông bị tấn công, và nhiều khả năng đã chết trong lúc cố gắng trốn thoát. Bữa ăn cuối cùng của ông vẫn còn trong dạ dày, cho thấy mọi thứ xảy ra rất nhanh, không có thời gian chuẩn bị.

Điều khiến câu chuyện này đặc biệt không chỉ là cái chết, mà là cách nó thay đổi góc nhìn của chúng ta về quá khứ.

Hơn 5.000 năm trước, con người đã có quần áo chuyên dụng, công cụ tinh vi, hiểu biết về cơ thể và có thể cả y học cơ bản. Họ không “đơn giản” như chúng ta vẫn nghĩ. Họ cũng sống, đấu tranh, bị truy đuổi và chết đi, giống như chúng ta hôm nay.

Ötzi không chỉ là một xác ướp trong băng.

Ông là một khoảnh khắc của lịch sử được đóng băng lại, nhắc chúng ta rằng con người, dù ở thời đại nào, vẫn luôn phức tạp, mong manh và đầy câu chuyện chưa kể.

My Lan Phạm

   Ảnh “xác ướp” là ảnh thật (chụp thi thể trong phòng thí nghiệm).

* Ảnh “khuôn mặt” :là tái dựng khoa học (dựa trên hộp sọ + dữ liệu DNA), không phải ảnh chụp khi còn sống.

* Các hình về quần áo, công cụ là hiện vật thật được tìm thấy cùng ông.