Tom Nguyễn trở thành thị trưởng gốc Việt đầu tiên và trẻ nhất Garden City

Ba’o Nguoi-Viet

January 9, 2026

GARDEN CITY, Kansas (NV) – Anh Tom Nguyễn, 22 tuổi, vừa được các đồng viện bầu làm thị trưởng thành phố Garden City, Kansas, trong buổi họp hôm Thứ Hai, 5 Tháng Giêng, theo thông báo của thành phố.

Như vậy, anh Tom Nguyễn là thị trưởng gốc Việt và gốc Châu Á đầu tiên tại Garden City và là thị trưởng trẻ nhất trong 74 thị trưởng từ ngày thành lập thành phố hồi năm 1883.

Ông Roy Cessna (trái), thị trưởng sắp mãn nhiệm, trao chiếc búa tượng trưng quyền điều khiển buổi họp cho tân Thị Trưởng Tom Nguyễn trong buổi họp Hội Đồng Thành Phố Garden City hôm Thứ Hai, 5 Tháng Giêng. (Hình: City of Garden City)

“Thật là một vinh dự cho tôi trở thành thị trưởng gốc Châu Á đầu tiên trong lịch sử thành phố, và cùng là thị trưởng trẻ nhất từ trước tới giờ ở tuổi 22,” tân Thị Trưởng Tom Nguyễn nói. “Tôi không coi sự kiện này là thành công cá nhân. Tôi coi đây là một sự phản ảnh của cộng đồng, muốn tin vào những người trẻ và những người muốn đưa thành phố này đi lên.”

Vào Tháng Giêng mỗi năm, Hội Đồng Thành Phố Garden City, gồm có năm người, họp bầu chọn thị trưởng mới với nhiệm kỳ một năm.

Trước khi được chọn làm thị trưởng, anh Tom Nguyễn là phó thị trưởng.

Trong phát biểu đầu tiên với vai trò thị trưởng, anh Tom Nguyễn nói năm thành viên HĐTP không thể hoàn thành nhiệm vụ nếu không có sự giúp đỡ của cộng đồng.

Anh kêu gọi cộng đồng hãy “thương” các thành viên HĐTP khi họ phải đưa ra các quyết định dễ dàng và khó khăn, bằng cách đặt câu hỏi, chia sẻ quan tâm, đưa ra ý kiến, và thi thoảng bổ sung các biện pháp, bởi vì “điều đó có thể làm cho các chính sách tốt hơn.”

“Cảm ơn tất cả quý vị chọn tôi với rất nhiều tình cảm,” tân Thị Trưởng Tom Nguyễn nói. “Tôi nóng lòng được thấy tất cả chúng ta đoàn kết và tiếp tục sống trong tinh thần làm cho Garden City phát triển hơn.”

Anh Tom Nguyễn (thứ năm từ trái) đứng cạnh cha mẹ chụp hình chung với những người ủng hộ anh sau khi được chọn làm thị trưởng Garden City. (Hình: Facebook Tom Nguyen)

“Người dân thấy giá trị và sự xứng đáng của người trẻ và họ sẵn sàng thương tôi, và đó là một niềm vui,” anh Tom Nguyễn nói thêm, theo đài truyền hình 12News.

Vị tân thị trưởng gốc Việt cũng cho biết anh sẵn sàng thực hiện một trong những ước mong của mình trong nhiệm kỳ làm thị trưởng, bao gồm xây thêm 4,000 căn nhà mới trong cộng đồng vào năm 2030.

Anh cũng nói anh sẽ nâng cấp các cơ sở thể thao trong thành phố cho các môn như baseball và softball để có thể phục vụ thế hệ tương lai.

Như đã đề cập ở trên, nhiệm kỳ thị trưởng ở Garden City chỉ có một năm, nhưng anh Tom Nguyễn có thể được chọn tiếp tục giữ chức vụ này nếu HĐTP đồng ý.

Anh Tom Nguyễn tranh cử nghị viên HĐTP Garden City hồi Tháng Mười Một, 2023, sau khi cha mẹ anh trở thành công dân Mỹ hồi Tháng Ba trước đó, và thắng cử, trở thành nghị viên gốc Việt đầu tiên của thành phố.

Nhiệm kỳ nghị viên kéo dài bốn năm.

Theo báo Kansas Reflector hồi Tháng Mười Một, 2023, anh Tom Nguyễn là giám đốc truyền thông nhà thờ Saint Mary ở Garden City và dẫn dắt giới trẻ trong khu vực qua các hoạt động phục vụ cộng đồng dựa trên đức tin. Anh cho biết mục tiêu cuối cùng của là trở thành bác sĩ nhi khoa ở Garden City. Với tư cách là nghị viên lúc đó, anh cho biết sẽ tập trung vào việc giảm chi phí sinh hoạt ở Garden City và tiếp tục quảng bá thành phố này như một trung tâm đa dạng phía Tây Nam Kansas.

Anh nói anh được khuyến khích làm việc trong cơ quan công quyền khi chăm sóc cha mình, từng bị đột quỵ vào Tháng Giêng khi anh đang học đại học ở Massachusetts. Sau khi cha anh ra viện ở Denver, Colorado, anh Tom Nguyễn chuyển về Garden City để ở cùng gia đình và chuyển sang một trường đại học trực tuyến để hoàn thành chương trình đại học. Lúc đó, anh đang học triết học, thần học, và quản trị kinh doanh.

Garden City tọa lạc ở phía Tây tiểu bang Kansas.

Theo thống kê đến năm 2020, thành phố có khoảng 28,000 cư dân. (Đ.D.)


 

“Và nếu không có chúng tôi, thì Ngài đã phải nói tiếng Pháp.”

Lê Diễn Đức

Những điều được ghi nhận từ bữa quốc yến tại Nhà Trắng trong chuyến thăm của Vua Charles III không chỉ là một nghi thức ngoại giao trang trọng, mà còn là một màn “đi dây lịch sử” tinh tế — nơi những câu đùa nhẹ nhàng lại có sức nặng hơn cả một bài diễn văn chính trị.

Donald Trump vốn quen với lối diễn đạt đặt nước Mỹ ở trung tâm mọi câu chuyện lịch sử: nếu không có Mỹ, châu Âu đã nói tiếng Đức. Một kiểu “lịch sử rút gọn” rất đặc trưng — nơi vai trò của đồng minh thường chỉ là phông nền cho câu chuyện về nước Mỹ.

Nhưng Vua Charles III, với phong thái điềm đạm đặc trưng của hoàng gia Anh, đã đáp lại bằng một câu khiến cả khán phòng bật cười — và không ít người phải khựng lại vài giây:

“Và nếu không có chúng tôi, thì Ngài đã phải nói tiếng Pháp.”

Nghe như một câu đùa. Nhưng là kiểu đùa mà lịch sử đứng phía sau thì không ai dám cười quá to.

Bởi vì, ẩn sau sự hài hước ấy là một nhắc nhở rất gọn nhưng rất sắc: đừng tưởng chỉ có Mỹ cứu thế giới; trước khi Mỹ thành siêu cường, Đế quốc Anh đã định hình chính nước Mỹ; và cái thứ tiếng Anh mà Trump đang dùng để lên lớp thiên hạ… cũng là di sản của London.

Không cần nâng giọng. Không cần tranh luận. Chỉ cần một câu, đặt đúng chỗ, là đủ để kéo cả “tự sự vĩ đại” về lại mặt đất lịch sử.

Điều đáng nói là đây không phải một phản pháo kiểu chính trị gia, mà là một cú tát “bọc nhung” đúng nghĩa hoàng gia: mềm, lịch thiệp, nhưng đủ sắc để người nghe tự hiểu mình đang đứng ở đâu trong dòng chảy lịch sử mà mình tưởng mình đang độc quyền kể lại.

Còn Trump? Vẫn cười. Nhưng là kiểu nụ cười rất đặc trưng — nơi ranh giới giữa “được tán thưởng” và “vừa bị nhắc khéo” trở nên mơ hồ đến mức khó phân biệt ngay tại bàn tiệc.

Trong ngoại giao, có những cú đánh không cần tiếng động lớn.

Chỉ cần một câu nói đủ tinh tế để người ta không thể phản ứng mà không tự làm lộ cảm giác của chính mình.

Và tối đó ở Washington Vua Charles III đã làm điều đó — một cách rất Anh.

Điều thú vị nhất: Charles cố tình làm vậy. Đây không phải câu bông đùa ngẫu hứng. Trong ngoại giao hoàng gia Anh, từng câu toast đều được chuẩn bị rất kỹ.

Việc Vua Charles chọn đúng câu này nghĩa là ông muốn gửi thông điệp: “London không thích cái giọng Mỹ ban phát công lao cho châu Âu như Trump vẫn làm”!

 


 

Tài xế xe VinFast liên quan vụ đâm tàu ở Indonesia bị bắt (BBC)

BBC

Các công nhân dọn dẹp hiện trường vụ va chạm tàu ​​hỏa sau khi đầu máy của một đoàn tàu chở khách đâm xuyên toa cuối của một đoàn tàu chở khách khác tại ga Bekasi Timur ở thành phố Bekasi, Indonesia (ảnh chụp hôm 28/4/2026)

Tài xế của một chiếc VinFast thuộc hãng taxi Green SM Indonesia đã bị tạm giữ tại trụ sở Cảnh sát Metro Thành phố Bekasi liên quan đến vụ tai nạn tàu hỏa ở Indonesia vào đêm 27/4 khiến ít nhất 16 người chết.

Người tài xế này đã được đưa về trụ sở trên “để phục vụ công tác điều tra”, báo Kompas của Indonesia trích lời Trung tá Sandhi Wiedyanoe, Trưởng bộ phận Thu thập và Phân tích Dữ liệu Tai nạn Giao thông thuộc lực lượng Cảnh sát Giao thông Quốc gia Indonesia.

Tại hiện trường vụ tai nạn hôm 28/4, ông Sandhi nói rằng ông nghi chiếc taxi đã gặp sự cố điện khi đang băng qua đường ray, khiến động cơ bị chết máy ngay giữa điểm giao cắt.

“Tai nạn bắt nguồn từ việc chập điện hoặc lỗi hệ thống điện trên chiếc taxi điện bốn bánh này,” ông lập luận.

Kompas dẫn lời vị trung tá rằng mặc dù vụ va chạm giữa tàu nội đô và chiếc taxi không gây thương vong về người, nhưng đã gây thiệt hại lớn về tài sản và làm gián đoạn các chuyến tàu khác, cuối cùng dẫn đến việc tàu đường dài Argo Bromo Anggrek đâm vào đuôi một con tàu chở khách khác tại ga tàu hỏa Bekasi Timur.

Như BBC đã đưa tin trước đó, một vụ va chạm đã xảy ra giữa chiếc taxi và một đoàn tàu tại một điểm giao cách nhà ga vài trăm mét.

Điều này đã khiến một đoàn tàu chở khách khác phải dừng lại tại ga và bị đoàn tàu đường dài đâm vào phía sau.

Ông Sandhi đặt giả thuyết rằng việc hai chiếc tàu này đâm nhau “có thể là do thiếu phối hợp hoặc thiếu thông tin”.

Ông cũng giải thích rằng cơ quan chức năng chưa thể kết luận liệu chiếc taxi có cố tình vượt rào chắn hay không.

“Chúng tôi không thể khẳng định xe có vượt rào hay không vì tại điểm giao cắt này vốn không có hệ thống barie chính quy như mọi người thấy đấy,” ông nói trên trang Kompas.

“Các rào chắn ở đây đều do người dân địa phương tự nguyện lắp đặt nhằm hỗ trợ đảm bảo an toàn giao thông.”

Chiếc taxi được xác định là một chiếc VinFast thuộc công ty dịch vụ xe công nghệ Green SM Indonesia, tiền thân là Xanh SM, một công ty của tỷ phú giàu nhất Việt Nam Phạm Nhật Vượng.

Tính đến sáng ngày 29/4, đã có 16 người thiệt mạng trong vụ tai nạn nói trên. Toàn bộ đều là phụ nữ.

Giám đốc Bệnh viện Bekasi, bà Ellya Niken Prastiwi, xác nhận người tử vong thứ 16 đã qua đời khi đang được điều trị trong khoa hồi sức tích cực (ICU) vào ngày 29/4.

Bà cho biết thêm rằng hiện vẫn còn 22 người khác đang được điều trị tại bệnh viện này, trong đó có ba trường hợp nằm tại khoa ICU, nơi tiếp nhận các bệnh nhân nặng và nguy kịch.

Toa cuối của đoàn tàu chở khách bị đâm nói trên vốn là toa dành riêng cho phụ nữ – đã bị hư hại nặng nề sau cú va chạm.

Các quan chức địa phương cho biết hầu hết các nạn nhân bị mắc kẹt bên trong đống đổ nát của những khung thép bị biến dạng.

Ngoài ra, vụ tai nạn cũng đã khiến 87 hành khách khác bị thương.

Công tác đưa các hành khách ra khỏi các toa tàu sau vụ va chạm đã hoàn tất.

Trong khi đó, toàn bộ 240 hành khách trong đoàn tàu đường dài Argo Bromo Anggrek vẫn an toàn.

ANTARA FOTO/Fakhri Hermansyah

Một đoàn tàu đường dài chạy ngang qua chiếc taxi hãng VinFast của công ty Green SM Indonesia bị hư hỏng liên quan đến vụ tai nạn xảy ra vào đêm 27/4 (ảnh chụp hôm 28/4/2026)

Điều tra sơ bộ cho thấy gì?

Theo BBC News Tiếng Indonesia, kết quả điều tra sơ bộ cho thấy phản ứng dây chuyền bắt nguồn từ vụ va chạm giữa chiếc taxi VinFast và một đoàn tàu do chiếc taxi bị chết máy trên đường ray.

“Cụ thể, một chiếc taxi đã va chạm với tàu nội đô KRL tại điểm giao cắt gần Bulak Kapal, khiến đoàn tàu [KRL] này phải dừng lại,” ông Franoto Wibowo, Giám đốc Quan hệ Công chúng của KAI Daop 1 Jakarta, chia sẻ với báo giới.

Trong khi đang dừng đỗ, đoàn tàu KRL này đã bị tàu đường dài Argo Bromo Anggrek chạy cùng tuyến đâm mạnh từ phía sau.

Tổng Giám đốc Bobby Rasyidin của Kereta Api Indonesia (PT KAI), đơn vị vận hành đường sắt quốc gia chính của nước này, khẳng định vụ va chạm với chiếc xe taxi đã “khiến hệ thống đường sắt tại khu vực ga Bekasi Timur bị gián đoạn cục bộ”.

Hiện tại, PT KAI đã bàn giao toàn bộ công tác điều tra cho Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia Indonesia (KNKT).

Phía PT KAI cũng gửi lời “chia buồn sâu sắc và lời xin lỗi chân thành về sự cố đáng tiếc này”.

Đại diện đội ngũ truyền thông của KNKT cho biết ba điều tra viên của họ đã có mặt tại hiện trường để tiến hành khảo sát từ tối 27/4, thời điểm xảy ra vụ tai nạn.

Công tác điều tra vẫn đang được tiếp tục.

Ở một diễn biến khác, nhiều cư dân mạng Indonesia đã bày tỏ sự phẫn nộ đối với công ty Green SM Indonesia.

Một số người còn bình luận trên kênh Instagram của BBC News Tiếng Indonesia rằng chính quyền nước này nên thu hồi giấy phép hoạt động của công ty.

Công ty Green SM Indonesia đã xác nhận trên các kênh mạng xã hội chính thức rằng chiếc taxi trong vụ tai nạn nói trên thuộc quyền sở hữu của công ty.

“Chúng tôi xin bày tỏ nỗi buồn sâu sắc và lời chia buồn chân thành nhất tới gia đình cũng như những người thân yêu của các nạn nhân. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến sự việc này và cầu mong tất cả những bên liên quan sớm hồi phục và được bình an,” theo một tuyên bố trên trang Instagram chính thức của Green SM Indonesia vào hôm 28/4.

Green SM Indonesia cũng cho biết rằng “chưa có kết luận chính thức từ cơ quan chức năng” và tuyên bố sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để hỗ trợ tiến trình điều tra.

Lesthia Kertopati và Muhammad Irham từ BBC News Tiếng Indonesia tường thuật bổ sung


 

Nữ lãnh đạo Anh Quốc Giáo ngồi cùng với Đức Giáo Hoàng Leo tại Vatican

Ba’o Nguoi-Viet

April 28, 2026

VATICAN (NV) –  Sự kiện Tổng Giám Mục Sarah Mullally, người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo Anh Quốc Giáo, cùng ngồi ngang hàng với Đức Giáo Hoàng Leo XIV, người đứng đầu Giáo Hội Công Giáo La Mã, để chung lời cầu nguyện tại Vatican vào ngày Thứ Hai, 27 Tháng Tư, tạo nên một hình ảnh mạnh mẽ về vai trò quyền lực tôn giáo của phụ nữ giữa một định chế vẫn duy trì chức linh mục chỉ dành cho nam giới.

Cuộc gặp mang tính lịch sử này vừa là biểu hiện của sự đoàn kết giữa hai trong số những giáo phái Kitô giáo lớn nhất, vốn chia cắt gần 500 năm trước, vừa là lời nhắc về một trong những khác biệt sâu sắc nhất trong thời hiện đại, theo nhận định của nhật báo New York Times.

Tổng Giám Mục Sarah Mullaly, lãnh đạo Anh Quốc Giáo, tại buổi lễ nhậm chức ngày 25 Tháng Ba tại hạt Canterbury nước Anh. (Hình: Jordan Pettitt – WPA Pool/Getty Images)

Giáo Hội Anh cho phép phụ nữ trở thành linh mục từ thập niên 1990, đỉnh điểm là việc bổ nhiệm Tổng Giám Mục Sarah Mullally thành nhà lãnh đạo cao nhất của Anh Quốc Giáo. Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo La Mã chỉ cho phép nam giới thụ phong linh mục, và các cuộc thảo luận về việc phụ nữ có thể thụ phong hay không nhiều lần bị gác lại, gần đây nhất là vào Tháng Mười Hai, 2025.

Không đề cập cụ thể đến vấn đề nào, Đức Giáo Hoàng Leo thừa nhận trong bài diễn văn đón vị nữ tổng giám mục lãnh đạo Anh Quốc Giáo rằng vẫn còn “những thách thức tiếp diễn,” trong mối quan hệ giữa hai tôn giáo. Đức Giáo Hoàng Leo nói rằng mặc dù “đạt được nhiều tiến bộ trong một số vấn đề từng gây chia rẽ trong lịch sử, nhưng các vấn đề mới phát sinh trong những thập niên gần đây,” tuy nhiên ngài nhấn mạnh rằng sẽ là “một điều đáng xấu hổ nếu chúng ta không tiếp tục làm việc để vượt qua những khác biệt của mình, dù chúng có vẻ khó giải quyết đến đâu.”

Trong phần đáp từ, Tổng Giám Mục Mullally bày tỏ lòng biết ơn vì được cùng cầu nguyện và cam kết rằng trong những năm tới: “Tôi luôn hiệp nhất với Ngài trong các lời cầu nguyện, cầu nguyện cho hòa bình trên thế giới, cầu nguyện cho công lý, và cầu nguyện để mỗi con người có thể khám phá trọn vẹn cuộc sống mà Thiên Chúa ban tặng.”

Đối với những người Công giáo đang vận động cho việc cho phép phụ nữ được thụ phong, hình ảnh một phụ nữ được tiếp đón như một người ngang hàng với Đức Giáo Hoàng mang ý nghĩa mạnh mẽ, như một biểu tượng về bình đẳng giới tính có thể đạt được trong Giáo Hội Công Giáo La Mã.  

Bà Tina Beattie, một nhà thần học Công giáo tại Anh, cho rằng những người vận động có thể xem sự hiện diện của Tổng Giám Mục Mullally bên cạnh Đức Giáo Hoàng Leo như “một chất xúc tác cho sự việc rất đáng chú ý,” đó là một sự thay đổi mang tính biểu tượng trong ngôn ngữ và thái độ của lãnh đạo Công Giáo đối với vấn đề chức linh mục dành cho phụ nữ. “Giáo Hội Công Giáo La Mã phải chấp nhận rằng một nhà lãnh đạo tôn giáo tương đương gần nhất với địa vị giáo hoàng trong thế giới Kitô giáo hiện nay là một phụ nữ,” bà Beattie nhấn mạnh.

Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng về bản chất sự thay đổi khó xảy ra, đặc biết khi Đức Giáo Hoàng Leo không cho thấy dấu hiệu thúc đẩy thay đổi kể từ khi được bầu vào năm ngoái. Trong một cuộc phỏng vấn năm ngoái với phóng viên Vatican, Ngài nói không có ý định thay đổi giáo lý của giáo hội về việc thụ phong. Một số học giả và những người ủng hộ việc duy trì chức linh mục chỉ dành cho nam giới viện dẫn Kinh Thánh và truyền thống để nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu trao chức linh mục cho Mười Hai Tông Đồ, tất cả đều là nam giới. “Giáo Hội Công Giáo La Mã dạy rằng phụ nữ và nam giới bình đẳng về phẩm giá, nhưng điều đó không có nghĩa là giống nhau,” bà Teresa Tomeo, một người dẫn chương trình Công giáo tại Mỹ, nói.

Nhiều sự kiện giữa hai tôn giáo diễn ra trong thời gian gần đây là những ví dụ mới nhất cho thấy mối quan hệ ngày càng sâu sắc giữa Giáo Hội Công Giáo La Mã và Giáo Hội Anh. Một ngày sau lễ nhậm chức của Tổng Giám Mục Mullally vào Tháng Ba, một buổi lễ kỷ niệm được tổ chức đánh dấu 60 năm tuyên bố “đại kết” hàn gắn chia rẽ chính thức đầu tiên giữa hai giáo hội. Hồi Tháng Mười, 2025, Hoàng Hậu Camilla và Vua Charles III,  người đứng đầu danh nghĩa của Giáo Hội Anh, gặp Đức Giáo Hoàng Leo tại Vatican, đó là lần đầu tiên lãnh đạo hai giáo hội cùng cầu nguyện công khai kể từ thời kỳ Cải cách.

Quan hệ giữa Đức Giáo Hoàng Leo và Tổng Giám Mục Mullally cho đến nay vẫn thân thiện. Hai bên trao đổi thư bày tỏ cam kết đối thoại và đoàn kết Kitô giáo khi bà nhậm chức, và các chức sắc Công Giáo tham dự lễ nhậm chức của bà.  

Tổng Giám Mục Mullally, người tích cực ủng hộ vai trò và quyền của phụ nữ trong Giáo Hội Anh, trong một số khía cạnh được Đức Giáo Hoàng Leo chấp nhận dễ dàng hơn so với một số giám mục Anh giáo khác, những người từng phản đối việc bổ nhiệm bà.

Bằng việc chọn Rome là chuyến công du nước ngoài đầu tiên với tư cách người đứng đầu Anh Quốc Giáo, Tổng Giám Mục Mullally có thể muốn thể hiện ảnh hưởng và thẩm quyền của mình trong bối cảnh có những nỗ lực trong nội bộ Anh Quốc Giáo nhằm làm suy yếu tính chính danh của bà, theo các nhà phân tích. 

Sự sẵn sàng của Đức Giáo Hoàng Leo trong việc tiếp bà “trên thực tế cho thấy một mức độ công nhận đối với bà,” nhà nghiên cứu tôn giáo Catherine Pepinster viết trong một bài phân tích. “Trước khi bà Mullally đến châu Phi vào Tháng Bảy, nơi một số giám mục Anh giáo không chấp nhận bà vì bà là phụ nữ, hình ảnh của bà xuất hiện bên cạnh người có thể được xem là lãnh đạo tinh thần hàng đầu thế giới,” bà viết.

Buổi cầu nguyện lịch sử tại Tòa Thánh Vatican hôm Thứ Hai vừa qua đánh dấu một cột mốc không thể đảo ngược trong tiến trình hòa giải giữa hai tôn giáo. Dù hố sâu về giáo luật đối với việc phong chức cho phụ nữ vẫn còn đó, nhưng việc Tổng Giám Mục Mullally cùng cầu nguyện bên cạnh ngang hàng với Đức Giáo Hoàng Leo XIV gửi đi thông điệp mạnh mẽ về sự công nhận phẩm giá và quyền lực tinh thần của phụ nữ. (MPL)


 

Thánh Catarina ở Siena, Tiến Sĩ Hội Thánh (1347-1380)-Cha Vương

Một ngày yêu thương nhiều hơn ghen ghé nhé bạn. Hôm nay 29/04 Giáo hội mừng kính thánh Catarina ở Siena, mừng quan thầy đến những ai chọn ngài làm bổn mạng. Câu nguyện cho nhau và thế giới nhé 

Cha Vương

Thứ 4: 29/4/2026     (t2-24)

Thánh Catarina ở Siena, Tiến Sĩ Hội Thánh (1347-1380). Tên thật là Catarina Benincasa sinh ngày 25 tháng 3 năm 1347 tại Siena, Tuscany, Ý Đại Lợi và là người con út trong gia đình 23 người con. Ngài là một nữ tu Dòng Đa Minh, một nhà huyền bí nồng nhiệt, một chiến sĩ bảo vệ sự thánh thiện của Giáo Hội Công giáo. Ngài sinh sống trong thế kỷ thứ XIV, một thời kỳ mà Giáo Hội đang gặp phải những khó khăn chia rẽ dường như khó mà hàn gắn được. 

   Ngay từ khi bảy tuổi, cô đã dâng hiến tâm hồn cho Ðức Kitô. Khi lớn lên cô bày tỏ ý muốn đi tu, nhưng gia đình lại muốn cô kết hôn. Ðể nói lên ý chí quyết liệt của mình, cô đã cắt tóc và sau cùng, với sự đồng ý của cha mẹ, Catarina gia nhập tổ chức Mantellate, là hội phụ nữ có liên hệ đến Dòng Ða Minh, họ mặc áo dòng nhưng sống ở nhà, phục vụ người nghèo và người đau yếu. Cô sống ẩn dật trong một căn phòng nhỏ tại gia đình ở Siena. Trong vòng hai năm liên tiếp cô không bao giờ rời phòng, trừ khi đi xem lễ và xưng tội, và cũng không nói chuyện với một ai ngoại trừ cha giải tội. Trong thời gian này, Catarina tập luyện tinh thần qua lối sống khắc khổ. Sau đó, cô tự phá vỡ đời sống cô độc và bắt đầu hăng say chia sẻ công việc trong nhà, săn sóc người bệnh và giúp đỡ người nghèo. Tuy nhiên cô vẫn dành thời giờ trong thinh lặng và chiêm niệm. Dần dà, người ta nhận thấy dường như Thánh Catarina đọc được tâm hồn của họ và dân chúng thuộc đủ mọi thành phần – giầu và nghèo, tu sĩ và giáo dân, thợ thuyền và lính tráng – bắt đầu tuốn đến với ngài để được khuyên bảo. Từ đó một tổ chức tông đồ giáo dân được thành hình. Các lá thư của ngài, hầu hết là các lời khuyên bảo tinh thần và khuyến khích các người mến mộ, ngày càng được công chúng đón nhận. Ngài có ảnh hưởng rất lớn vì sự thánh thiện hiển nhiên. Tất cả công việc ngài thi hành đều được thúc đẩy bởi ngọn lửa tình yêu. Cuộc sống của ngài luôn ẩn náu trong những vết thương của Chúa Kitô bị đóng đinh. Ngài cảm nhận trong thâm sâu của con tim và trong đức tin của ngài, những thảm họa của Giáo Hội và của xã hội ngài đang sống, vẫn còn tiếp tục đóng đinh Chúa Kitô. Ngài đã làm trung gian để đem lại hòa bình giữa các đô thị và giữa các phe nhóm thù nghịch. 

   Một vài tuần trước khi chết, ngài đang cầu nguyện trước một bức khảm ở Ðền Thánh Phêrô, ngài trông thấy con thuyền của Thánh Phêrô như rời khỏi bức khảm và đậu trên vai của ngài. Con thuyền xô ngài ngã quỵ và người ta phải khiêng ngài về nhà. Ngài hầu như bất toại cho đến khi từ trần ngày 29 tháng 4  năm 1380, lúc ấy mới ba mươi ba tuổi. Ngài được Ðức Giáo Hoàng Pius II phong thánh năm 1461, và được coi là một trong những vị thần nghiệm và văn sĩ linh đạo của Giáo Hội. Vào ngày 04 tháng 10 năm 1970, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI tuyên xưng ngài là Tiến Sĩ Hội Thánh. Ngài là người phụ nữ thứ hai (sau Thánh Têrêsa ở Avila) được vinh dự  này. (Tóm lược từ nguồn: Nhóm Tinh Thần) Sau đây là những câu nói của ngài (Nguồn: hddmvn):

❦ Phạm tội là con người, nhưng ngoan cố trong tội là ma quỷ.

❦  Đối với các linh hồn hoàn thiện mọi nơi đều là nguyện đường. 

❦ Ta [Thiên Chúa] thương yêu con nhiều hơn con có thể yêu thương bản thân con, và ta ân cần chăm sóc cho con cả ngàn lần hơn con có thể chăm sóc bản thân con. 

❦ Con người được tạo dựng nên do tình yêu, để con người sống cho tình yêu. 

Câu nào đánh động bạn nhất?

Xin thánh Catarina ở Siena cầu bầu cho chúng con.

From: Do Dzung

******************************************

Tình Yêu Thiên Chúa – Vy Oanh 

Một chiếc taxi điện VinFast (công ty con của Tập đoàn Vingroup) đã nằm chết máy, trên đường ray tại Bekasi

Luật sư Nguyễn Văn Đài và FANS

JAKARTA, 28/4/2026 — Một chiếc taxi điện VinFast thuộc Green SM Indonesia (công ty con của Tập đoàn Vingroup) đã nằm chết máy hoặc dừng chắn trên đường ray tại Bekasi, ngoại ô thủ đô Jakarta, khiến xảy ra vụ va chạm tàu hỏa nghiêm trọng vào tối 27/4.

Hậu quả vô cùng nặng nề: ít nhất 15 người thi.ệt mạng, trong đó toàn bộ nạn nhân đều là nữ giới ngồi trong toa dành riêng cho phụ nữ. Ngoài ra có 88 người khác bị thương nặng. Lực lượng cứu hộ vẫn đang phải dùng máy cắt góc để cưa xé lớp kim loại biến dạng, nỗ lực giải cứu những nạn nhân còn sống sót bị kẹt chặt dưới đống đổ nát.

Theo ông Bobby Rasyidin, Giám đốc điều hành Công ty Đường sắt Quốc gia Indonesia (PT KAI), đoàn tàu khách nội vùng đã đâm phải chiếc taxi điện VinFast, buộc phải dừng khẩn cấp. Chỉ trong chớp mắt, đoàn tàu khách đường dài chạy phía sau lao tới và đâm mạnh vào toa cuối của tàu nội vùng.

Toa tàu chịu thiệt hại nặng nề nhất chính là toa dành riêng cho phụ nữ. Nhiều nạn nhân vẫn đang bị các cấu kiện sắt thép đè chặt, khiến công tác cứu hộ diễn ra vô cùng khó khăn và nguy hiểm.

Green SM Indonesia đã lên tiếng xác nhận chiếc taxi gây tai nạn thuộc đội xe của hãng và cho biết đang phối hợp cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng. Hiện Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia Indonesia (KNKT) đang tiến hành điều tra nguyên nhân vụ việc.

Vụ tai nạn này một lần nữa đặt ra nghi vấn nghiêm trọng về độ an toàn của xe điện VinFast. Khi một chiếc taxi VinFast gặp sự cố ngay trên đường ray, hậu quả không dừng lại ở mức hỏng hóc phương tiện mà đã dẫn đến thảm họa chế’t người hàng loạt.

Tập đoàn Vingroup và VinFast đang dần xuất khẩu không chỉ những chiếc ô tô điện, mà còn cả rủi ro an toàn chế’t người sang các nước láng giềng. “Xe xanh” của Vin không đồng nghĩa với an toàn. Một bài học đắt giá mà Indonesia phải trả bằng sinh mạng của nhiều người vô tội.

.Đây cũng là lời cảnh tỉnh cho bất kỳ ai đang tin vào câu chuyện “VinFast sẽ cứu thế giới bằng xe điện”.

#Annguyen #Vinfat #Vuongvin #Xedien #Tainanindonesia


 

KHI ÁNH SÁNG GỌI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi là ánh sáng…, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối!”.

“Đức tin không phải là ánh sáng xua tan mọi bóng tối, nhưng là một ngọn đèn soi bước trong đêm!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Đức tin là ngọn đèn soi bước trong đêm; dẫu không xua tan mọi bóng tối. Lời Chúa hôm nay mặc khải Chúa Giêsu là ánh sáng; và không ai ở lại trong bóng tối ‘khi ánh sáng gọi’.

“Ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối!” – lời Chúa Giêsu vừa là một khẳng định, vừa là một lời mời. Thế nhưng, không phải ai cũng sẵn sàng bước đi với ánh sáng; vì con người vẫn có thể thấy mà không bước, hiểu mà không đổi; và đôi khi, chọn ở lại trong điều quen thuộc, vì nó an toàn. Ánh sáng khi ấy không còn là điều để nhìn, nhưng đặt con người trước một chọn lựa: ở lại, hay bước ra, dù chưa thấy hết con đường. “Con không xin được thấy cảnh xa; một bước thôi cũng đủ cho con!” – Henry Newman.

Trong Tin Mừng Gioan, “ánh sáng” không chỉ là điều được thấy, nhưng là chính con người Chúa Giêsu; vì thế, tin không dừng lại ở nhận biết, nhưng là bước vào một tương quan với Ngài, tương quan dẫn con người ra khỏi bóng tối. Ở đây, bóng tối không chỉ là thiếu hiểu biết, nhưng là tình trạng ở lại trong chính mình – ích kỷ, khép kín; còn ánh sáng, khi được đón nhận, không chỉ soi chiếu, nhưng giải thoát – mở ra và trao ban. Lời mời của Chúa Giêsu không phải là hãy nhìn thấy ánh sáng, nhưng là đừng ở lại trong bóng tối; nghĩa là từ bỏ sự an toàn giả tạo, mở ra trước điều chưa chắc chắn; và dám bước, dù chưa thấy – ‘khi ánh sáng gọi’.

Trong chiều hướng ấy, cộng đoàn Antiôkia không giữ lại Barnaba và Phaolô, nhưng để hai ông ra đi; vì đã nhận ra ánh sáng kế hoạch của Thiên Chúa – bài đọc một. Ánh sáng ấy không chỉ soi chiếu, nhưng thúc đẩy họ mở ra và trao ban để Tin Mừng có thể đến với muôn dân. Và một khi ánh sáng được đón nhận, nó không dừng lại nơi một cộng đoàn, nhưng lan rộng khắp muôn dân và trở thành lời tán tụng: “Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính nơi Đức Kitô, ánh sáng không còn là một ý niệm, nhưng là một con người; Ngài không chỉ chỉ đường, nhưng là Đường phải bước. Vì thế, tin vào Ngài không phải là dừng để nhìn, nhưng là bước theo trên hành trình ra khỏi chính mình, trong những chọn lựa rất cụ thể mỗi ngày: từ bỏ điều quen thuộc, mở lòng trước người khác, dám ngỏ một lời thứ tha. Con đường ấy không tránh bóng tối, kể cả thập giá, nhưng đi xuyên qua nó, để dẫn tới sự sống. Nơi Ngài, ánh sáng trở thành một lời gọi âm thầm giữa những ngày rất bình thường; bởi lẽ, “Dám bước là chấp nhận mất thăng bằng trong giây lát. Không dám bước là đánh mất chính mình!” – Søren Kierkegaard; và chính lúc ấy, ánh sáng không còn chỉ để thấy, nhưng để bước – ‘khi ánh sáng gọi’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thích bóng tối, xin kéo con ra; con sợ đổi thay, xin ban can đảm; con quay lưng với ánh sáng, xin kéo con trở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

********************************

Lời Chúa Thứ Tư, Tuần IV Phục Sinh

Tôi là ánh sáng, tôi đã đến thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 12,44-50

44 Khi ấy, Đức Giê-su lớn tiếng nói rằng : “Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi ; 45 ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi. 46 Tôi là ánh sáng, tôi đã đến thế gian, để bất cứ ai tin vào tôi, thì không ở lại trong bóng tối. 47 Ai nghe những lời tôi nói mà không tuân giữ, thì không phải chính tôi xét xử người ấy, vì tôi đến không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. 48 Ai từ chối tôi và không đón nhận lời tôi, thì có quan toà xét xử người ấy : chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết. 49 Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì. 50 Và tôi biết : mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi.”


 

Xe VinFast liên quan vụ tai nạn tàu hỏa chết người nghiêm trọng ở Indonesia (BBC)

BBC

Play video, “Indonesia: Giải cứu nạn nhân tai nạn tàu hỏa liên quan xe VinFast”, Thời lượng 0,39

00:39

Chụp lại video,

Indonesia: Giải cứu nạn nhân tai nạn tàu hỏa liên quan xe VinFast

28 tháng 4 2026

Ít nhất 14 người thiệt mạng và hàng chục người bị thương trong vụ tai nạn tàu hỏa nghiêm trọng xảy ra ở ngoại ô thủ đô Jakarta của Indonesia vào tối 27/4.

Truyền thông nhà nước đưa tin một đoàn tàu chở khách đang dừng đã bị một đoàn tàu đường dài đến cùng tuyến đâm từ phía sau.

Tất cả thi thể các nạn nhân đã được sơ tán và đưa đến Bệnh viện Cảnh sát Kramat Jati, Đông Jakarta.

Bà Purba nói thêm rằng tất cả các nạn nhân đều nằm trên tàu ngoại ô, còn toàn bộ hơn 240 hành khách trên đoàn tàu đường dài đã được sơ tán an toàn.

Toàn bộ nạn nhân tử vong đều là nữ giới, do toa tàu chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là toa dành riêng cho phụ nữ.

Ông Franoto Wibowo, người phát ngôn của đơn vị vận hành đường sắt KAI, nói với báo giới rằng có vẻ một chiếc taxi đã va chạm nhẹ với đoàn tàu ngoại ô tại một điểm giao cách nhà ga vài trăm mét.

Theo tìm hiểu của BBC, điều này đã khiến một đoàn tàu ngoại ô khác phải dừng lại tại ga và bị một chiếc tàu đường dài đâm vào phía sau chiếc tàu thứ hai này.

Mohammad Syafii, người đứng đầu cơ quan tìm kiếm và cứu hộ của Indonesia, cho biết trong một cuộc họp báo sáng sớm 28/4 rằng việc đưa những người sống sót ra khỏi các toa tàu bị biến dạng là một quá trình vô cùng khó khăn.

Đến sáng 28/4, công tác cứu hộ đã kết thúc. 84 người bị thương đang được điều trị tại các cơ sở y tế khác nhau.

Ông Syafii xác nhận không còn nạn nhân nào bị kẹt trong đống đổ nát.

Chiếc taxi được xác định là một chiếc VinFast thuộc công ty dịch vụ xe công nghệ Green SM Indonesia, tiền thân là Xanh SM, một công ty của tỷ phú giàu nhất Việt Nam Phạm Nhật Vượng.

Phương tiện này bị cho là đã chết máy hoặc dừng lại tại điểm giao cắt với đường sắt gần ga tàu hỏa Bekasi Timur.

Công ty Green SM Indonesia đã đăng bài xác nhận trên mạng xã hội Instagram rằng chiếc taxi gặp nạn thuộc đội xe của họ. Công ty đã gửi thông tin cho cơ quan chức năng để hỗ trợ quá trình điều tra.

“An toàn luôn là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi. Chúng tôi cam kết duy trì các tiêu chuẩn an toàn nghiêm ngặt thông qua hệ thống vận hành, giám sát cũng như không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ.

Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật những diễn biến mới nhất ngay khi có các thông tin đã được xác minh,” Green SM Indonesia viết thêm.

Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia Indonesia (KNKT) hiện đang tiến hành điều tra nguyên nhân vụ tai nạn.

Đối với công chúng Indonesia, nhiều người đổ lỗi cho chiếc taxi, phương tiện được cho là đã khởi nguồn cho tai nạn dây chuyền này. Tuy nhiên, dư luận cũng đặt dấu hỏi về quy trình và cơ chế vận hành hành trình của các đoàn tàu.

BBC News Tiếng Indonesia tường thuật bổ sung

Hiện trường vụ va chạm của hai tàu tại nhà ga 


 

ĐÔI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI CATARINA SIENA – Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

Để tóm lược tiểu sử thánh Catarina Siena, tác giả xin chọn cuốn Vie de Sainte Catherine de Sienne, (Legenda Maior) của cha Raymond de Capoue, O.P.  Cha là linh hướng của Catarina từ năm 1374 cho đến ngày chị được Chúa gọi về năm 1380.  Vài năm sau cái chết của chị, cha Raymond đã có ý viết tiểu sử Catarina, vì thế, cha đã gặp gỡ bà Lapa, mẹ của Catarina xin tất cả những chi tiết liên quan đến thời thơ ấu của chị.  Do đó, tiểu sử thánh Catarina do cha Raymond de Capoue viết có phần đáng tin cậy.  Điều này muốn nói rằng tuy không chính xác hết mọi sự kiện, nhưng Vie de Sainte Catherine de Sienne cũng là một trong những tài liệu giúp chúng ta khám phá ra tiểu sử của một con người “không học mà làm tiến sĩ,” một con người sống trọn vẹn linh đạo Đa Minh “Nói với Chúa, nói về Chúa,” một con người sống dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần và trở thành khí cụ của Thiên Chúa cho Giáo hội và xã hội vào thế kỷ XIV. 

  1. Thời thơ ấu 

Catarina Benincasa sinh 25-03-1347 tại Siena, là con thứ 23 trong một gia đình 25 người con.  Thân phụ là ông Giacômô Benincasa, làm nghề thợ nhuộm.  Thân mẫu là bà Lapa.  Tuy đông con, nhưng cha mẹ Catarina còn nhận thêm một người con nuôi là Toma della Fonte, lớn hơn Catarina 10 tuổi, sau này Toma đi tu dòng Đa Minh và trở nên cha giải tội đầu tiên của Catarina.  Gia đình Catarina nằm trong giáo xứ do các cha Đa Minh phụ trách, vì thế Catarina thường đi lễ nhà thờ thánh Đa Minh và yêu mến các tu sĩ Đa Minh một cách đặc biệt.  Theo truyền thống kể lại, mỗi lần các tu sĩ Đa Minh đi ngang qua nhà, Catarina đã lén ra hôn những dấu chân sau khi họ đi qua.

Khi còn rất nhỏ, Catarina đã đọc kinh Ave Maria mỗi khi leo lên từng bậc cầu thang.  Điều này không gì lạ nơi các thánh.  Thánh Têrêxa Avila năm lên 6 tuổi đã ý thức rất rõ: “Tôi muốn gặp Thiên Chúa, và phải chết đi mới gặp Ngài.”  Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu mới 3 tuổi đã biết nói: “Con không chối Chúa điều gì.”  Thiên Chúa ban ơn cho những ai Ngài tuyển chọn.  Năm lên 6 tuổi, Catarina đã có một thị kiến đầu tiên, thị kiến này ảnh hưởng rất lớn trong cuộc đời Catarina.  Một ngày kia, Catarina cùng với anh Stephanô được sai tới nhà chị Bonaventura.  Trên đường về nhà, khi đi qua Fontebranda, Catarina nhìn lên nóc nhà thờ thánh Đa Minh trên ngọn đồi đối diện, thấy Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục và đội mũ Đức Giáo Hoàng ngự trên trời.  Chúa Giêsu mỉm cười và ban phép lành cho Catarina.  Bên cạnh Ngài là thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh sử Gioan. 

Đâu là ý nghĩa của thị kiến này?  Chúng ta có thể rút ra hai dấu chỉ: 

  1. Catarina đã thấy Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế làm người vì yêu thương nhân loại tội lỗi và đã chết trên Thập giá, Đấng đã hy sinh đến giọt máu cuối cùng để cứu rỗi nhân loại.  Điều này được thể hiện rõ nét trong các bức thư của Catarina, trong tác phẩm Đối Thoại, cũng như trong những lời cầu nguyện, Catarina có một cảm nghiệm sâu xa về Đức Giêsu Đấng cứu độ duy nhất, Ngài là chiếc cầu nối liền giữa trời và đất, là Đấng giao hòa giữa con người với Thiên Chúa.  Chính vì thế, năm lên 7 tuổi, Catarina khấn giữ mình đồng trinh để hoàn toàn thuộc trọn về Chúa Kitô, để hy sinh, hãm mình và cầu nguyện cho các linh hồn.
  1. Trong thị kiến, Chúa Giêsu hiện ra trong phẩm phục của Đức Giáo Hoàng, vị lãnh đạo Giáo hội, thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô.  Chúa Giêsu hiện ra cùng với ba vị tông đồ: Phêrô, vị đại diện Chúa Kitô ở trần gian này, Phaolô, vị tông đồ rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, và Gioan là tác giả Tin Mừng mà Catarina trích dẫn rất nhiều trong tác phẩm của chị.
    Sau thị kiến này, Catarina bắt đầu tập sống nhân đức và đánh tội.  Catarina bỏ đi các trò chơi, dành nhiều giờ cho việc cầu nguyện, thích sống trong thinh lặng, cô tịch.  Cuộc sống của Catarina đã làm cho các bạn bè cùng lứa tuổi để ý và quy tụ chung quanh Catarina cùng nhau cầu nguyện và làm việc đền tội. 

Khi lên 12 tuổi, bà Lapa muốn con gái mình được trang điểm và lập gia đình như bao thiếu nữ khác, thế nhưng Catarina phản đối vì muốn dâng mình cho Chúa.  Trước sự cương quyết của Catarina, bà Lapa đã cùng với chị Bonaventura làm mọi cách để thuyết phục Catarina.  Vì rất quý mến chị Bonaventura, Catarina đã chiều theo ý mẹ mình, nhưng sau khi người chị qua đời, Catarina đã hoán cải và quyết lòng sống đời khiết tịnh.  Để chứng tỏ sự chọn lựa của mình, Catarina đã cắt đi mái tóc vàng xinh đẹp và đội trên đầu một chiếc mũ nhỏ.  Tuy nhiên gia đình đã gây áp lực, bắt Catarina làm việc từ sáng đến tối để không có giờ cầu nguyện.  Trước hoàn cảnh đó, Catarina đã biết làm cho mình một “căn phòng nội tâm,” để ở nơi đó, chị có thể tâm sự với Chúa Giêsu bất cứ lúc nào chị muốn, thời gian và không gian không thể nào chia cắt Catarina với Đấng dấu yêu. 

  1. Sống yêu thương

Năm 16 tuổi chị xin nhập Dòng ba Đa Minh, chị mặc áo dòng của các chị em dòng “đền tội” hay còn có một tên khác “Các bà mang áo choàng.”  Đây không phải là các đan sĩ theo nghĩa chặt, cũng không có một cấu trúc như chúng ta ngày hôm nay.  Các bà sống đời sống thánh thiện tại gia đình, làm việc đền tội, thăm viếng người nghèo, chăm sóc bệnh nhân.  Các bà giữ một lời khấn: nếu phụ nữ đã lập gia đình, họ chỉ làm lời khấn với sự đồng ý của chồng, nhưng nếu chồng qua đời họ không được lập gia đình lần nữa.  Đối với một thiếu nữ, họ tuyên bố từ bỏ hôn nhân một cách công khai như trường hợp của Catarina.  Tuy không sống đời sống cộng đoàn, nhưng thứ 6 hàng tuần, các chị em Dòng Áo choàng gặp nhau để cầu nguyện chung với nhau, dưới sự hướng dẫn của một anh em Dòng Đa Minh hoặc nghe chú giải lời Chúa.  Những sinh hoạt của chị em đều dưới quyền của Bề Trên Tổng Quyền hoặc một anh em nào đó được ủy quyền.

Từ ngày đó, Catarina càng gắn bó mật thiết với Chúa.  Chị sống một cuộc đời khổ chế, bớt ăn, bớt ngủ.  Khổ chế của Catarina xuất phát từ lòng yêu mến Chúa chứ không phải đi tìm niềm vui cho bản thân.  Cha Raymond đã dành một chương dài kể những việc khổ chế, hành xác của Catarina.  Giữa những khổ chế, những cực hình chịu đựng vì Chúa Giêsu, Catarina đã nhận được nhiều ơn lạ như thị kiến, an ủi nội tâm.  Năm lên 20 tuổi Catarina đã đính hôn thần bí với Chúa Giêsu, Ngài đã trao cho chị “một chiếc nhẫn gắn bốn viên ngọc và kim cương” để biểu hiện việc kết bạn thiêng liêng.  Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặc trong cuộc đời Catarina, giai đoạn sống ẩn dật đã chấm dứt, từ hôm nay, Catarina lên đường phục vụ Giáo hội.  Sở dĩ Thiên Chúa liên kết với Catarina bằng chiếc nhẫn vô hình, là để thánh nữ cùng hiệp nhất với Ngài trong công cuộc xây dựng nước Chúa.

Chị Catarina rất thích một cuộc sống cô tịch và thinh lặng, để luôn luôn kết hợp với Chúa.  Thế nhưng đây không phải là điều Chúa muốn, Ngài muốn chị ra đi mang hòa bình cho Giáo hội, cho thế giới và đưa các linh hồn về với Ngài.  Một ngày kia, Chúa sai chị đến với tha nhân, nhưng chị sợ rằng những hoạt động bề ngoài sẽ khiến mình xa rời Thiên Chúa.  Chính trong do dự, hoang mang đó, Thiên Chúa đã nói với chị như sau: “Cha không cố ý làm bất cứ điều gì khiến con phải xa lìa Cha, nhưng hơn thế Cha muốn ràng buộc con lại với Cha cách chắc chắn bằng mối dây tình yêu của con đối với tha nhân. Hãy nhớ rằng Cha đã đặt ra hai giới răn tình yêu: tình yêu Cha và tình yêu tha nhân…  Bây giờ Cha muốn con thực thi hai giới răn này quả là chính đáng.  Con phải bước đi trên hai chân” (ĐT. 158).

Từ lúc đó, bằng việc cầu nguyện và hoạt động, chị Catarina bước đi vững vàng trên hai chân của tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, của chiêm niệm và hoạt động.  Lần đầu tiên khi chị Catarina ra hoạt động, chị tình nguyện làm những công việc bình thường.  Trong gia đình, chị giúp những việc nội trợ, ngoài xã hội, chị phục vụ người nghèo, viếng thăm bệnh nhân, những người tù, những tử tội để an ủi họ.  Những hoạt động của chị đã lan rộng khắp nơi từ Siena, một thị xã nhỏ bé, qua các tỉnh khác như Florence, Pisa.  Tiếng tăm của chị lan đi khắp nơi, nhiều người đã đến xin chị cầu nguyện, làm tư vấn.  Dù bận rộn với những công việc bác ái xã hội, chị Catarina vẫn dành giờ để tâm giao với Chúa.  Chính những giây phút đó, chị có được những ánh sáng mới để giúp tha nhân.  Chị được nhiều ơn lạ, tiên đoán tương lai, đọc được tâm tư của người khác.

Nói đến tiểu sử của chị Catarina, chúng ta cũng không quên biến cố trao đổi trái tim với Chúa Giêsu, cũng như việc lãnh nhận các dấu tích của Chúa tử nạn ngày 01-04-1375 tại nhà thờ Santa Cristina ở Pisa.  Những sự kiện này nói lên chị được đồng hóa, nên một với Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh. 

  1. Lòng yêu mến Giáo hội

Chính vì lòng yêu mến Chúa nồng nàn và yêu tha nhân như chính mình đã thúc đẩy chị Catarina đến những vấn đề đại sự của Giáo hội thời bấy giờ.  Trong những năm sau cùng của cuộc đời, chị đã hoạt động với ba công tác quan trọng như sau: giải phóng đất thánh, canh tân Giáo Hội và đưa Đức Giáo Hoàng từ Avignon về Roma.

Năm 25 tuổi, chị bắt đầu viết những bức thư gửi các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo.  Chị kêu gọi họ lên đường giải phóng đất thánh.  Ngoài ý định dành lại quyền tự do cho người Công giáo được lui tới viếng thăm thánh địa, chị Catarina còn mong mỏi các lực lượng Công giáo đoàn kết với nhau, để tránh những cuộc chiến huynh đệ tương tàn.

Mối bận tâm lớn của chị trong giai đoạn này là canh tân Giáo hội.  Bằng những bức thư, chị thúc giục các cấp lãnh đạo trong Giáo hội, hãy canh tân Giáo hội bằng việc trở về với tinh thần Phúc âm.  Việc canh tân là trách nhiệm của các vị chủ chăn, các tín hữu được mời gọi tham gia qua lời cầu nguyện, canh thức và sám hối.  Thực ra chương trình canh tân được thực hiện sau khi chị qua đời.

Vào năm 1376, theo yêu cầu của nhà cầm quyền Florence, chị Catarina đến Avignon nơi Đức Giáo hoàng Grêgôriô XI đang cư trú, để hòa giải giữa dân thành Florence với Tòa Thánh.  Với lời khẩn nài của chị, Đức Giáo hoàng lên đường về Roma vào ngày 13-09-1376.  Tuy nhiên, nỗi vui của chị kéo dài không được bao lâu, ngày 27-03-1378 Đức Giáo hoàng Giêgôriô XI băng hà, Đức Urbanô VI được bầu kế vị.  Với tính tình cứng cỏi và nghiêm nghị, ngài đã làm tổn thương nhiều người, chúng ta biết được điều đó qua lá thư chị Catarina đã gởi cho Đức Giáo hoàng, chị viết như sau: “Xin cha hãy hành động với trái tim nhân từ và an bình, vì tình yêu Chúa Giêsu, hãy kiềm chế những phản ứng mau lẹ phát xuất từ bản tính tự nhiên.  Thiên Chúa đã ban cho cha một trái tim lớn lao; con nài xin cha hãy hành động để nó trở nên tràn đầy siêu nhiên, nhiệt thành với sự thánh thiện và cải tổ Giáo hội, cha cũng có thể có một trái tim mạnh mẽ, dựa trên sự khiêm tốn đích thực.”  Chính vì thế, chưa được sáu tháng, các Hồng Y người Pháp đã họp nhau bầu một Giáo hoàng khác tên là Clémentê VII người Pháp, trú tại Avignon.  Nhưng về phần mình, chị Catarina hết sức bảo vệ Đức Urbanô VI.  Đây là khởi điểm cho cuộc đại ly giáo đã phân đôi Giáo hội Tây phương và gây chia rẽ giữa các quốc gia, thành phố, giáo phận, dòng tu, và ngay cả trong gia đình.  Chị đau lòng vì cuộc ly giáo này và đã tìm mọi cách khôi phục sự hiệp nhất cho Giáo hội.  Kể từ giai đoạn này, các bức thư của chị là những sứ điệp tha thiết kêu gọi sự đoàn kết trong Kitô giáo. 

  1. Giai đoạn cuối đời

Sau những năm tháng làm việc không ngơi nghỉ vì lòng yêu mến Chúa và Giáo hội, chị Catarina đã trải qua những ngày tháng cuối cùng tại Roma.  Chị trải qua cơn hấp hối nhiệm mầu kéo dài gần ba tháng, có thể nói, đây là cuộc tử đạo mà chị hằng ước ao.  Trước khi lìa đời, chị đã có những lời huấn dụ với gia đình thiêng liêng của chị: “Các con hãy cầu nguyện không ngừng và sống khiêm tốn.  Hãy tránh đoán xét người khác hay thậm chí tranh luận về hành vi của họ.  Hãy luôn tin tưởng và cậy trông nơi Chúa, và yêu thương nhau, để các con có thể thực sự là con cái thân yêu của Giáo hội.  Trước mặt Chúa, các con hãy dâng hiến nước mắt và những lời cầu nguyện sốt sắng cho Giáo hội của Người.”  Còn đối với người mẹ dấu yêu, chị xin bà chúc lành, và theo ước muốn của bà, chị chúc lành lại cho bà.  Chị cũng cầu nguyện cho Giáo hội, cho tất cả mọi người.  Lời cầu nguyện cuối cùng của chị thật tràn đầy yêu thương: “Lạy Chúa hằng sống, xin đón nhận cuộc sống con như tấm bánh trong thân thể mầu nhiệm Ngài là Giáo hội.  Con không có gì để hiến dâng ngoài những gì Chúa ban cho con, vì thế, xin hãy nhận lấy trái tim con và in dấu nó trên gương mặt hiền thê của Ngài là Giáo hội.”

 Chị qua đời vào ngày 29-04-1380, tròn 33 tuổi.  Người ta mai táng và tôn kính thi hài chị tại bàn thờ chính của nhà thờ Santa Maria sopra Minerva, Roma.  Riêng đầu của chị Catarina được rước về Siena với sự hiện diện của bà Lapa.  Ngày 29-06-1461, Đức Piô II phong thánh cho chị Catarina Siena.  Ngày 13-04-1866, Đức Piô IX đặt chị làm bổn mạng của Roma.  Ngày 18-06-1939, Đức Piô XII tôn phong chị làm bổn mạng nước Ý cùng với thánh Phanxicô.  Ngày 04-10-1970, Đức Phaolô VI tặng tước hiệu “tiến sĩ Giáo hội” cho chị Catarina, một tuần sau thánh Têrêxa Avila.  Ngày 01-10-1999, Đức Gioan Phaolô II ban tự sắc tôn vinh Catarina cùng với thánh Brigida và thánh Têrêxa Bênêdicta Thánh Giá làm bổn mạng Âu Châu.  Trải qua 6 thế kỷ, chị Catarina vẫn được nhắc đến qua các tước hiệu trên, chứng minh điều Chúa hứa với Catarina “Nếu con không quên Ta thì Ta sẽ không bao giờ quên con” đã thành sự thật. 

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

From: Langthangchieutim


 

Chỉ vì một câu nói: “Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”

My Lan Pham

 Cô chỉ nói một câu trong một cửa hàng ở làng quê. Và cái giá phải trả là bốn năm trong địa ngục.

Ngày 10 tháng 8 năm 1940, tại Mötz, một ngôi làng nhỏ ở vùng Tyrol.

Nữ tu Angela Maria Autsch bước vào cửa hàng để mua sữa. Bà 40 tuổi, thuộc dòng Trinitarian, đã sống trong tu viện bảy năm.

Trong cửa hàng, bà gặp vài người quen. Họ đang nói về chiến tranh. Một con tàu Đức vừa bị đánh chìm ngoài khơi Na Uy, nhiều thủy thủ đã thiệt mạng.

Nữ tu Angela nói: “Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”

Chỉ một câu. Một câu nói thật. Trong một cửa hàng. Với những người bà quen biết.

Một trong số họ đã tố cáo bà với Gestapo.

Hai ngày sau, Gestapo đến bắt bà.

Tội danh: “xúc phạm Führer” và “kích động nổi loạn.”

Không xét xử. Không luật sư. Không cơ hội tự bào chữa.

Bà bị đưa đến trại tập trung Ravensbrück concentration camp. Tù nhân số 4651. Tam giác đỏ. Tù nhân chính trị.

Bà 40 tuổi. Một nữ tu đã dành cả đời dạy trẻ mẫu giáo và chăm sóc người bệnh.

Giờ đây bà ở trong một nơi được tạo ra để hủy diệt con người.

Và bà bắt đầu hành động ngay lập tức.

Bà làm việc tại khu y tế. Chăm sóc phụ nữ mang thai. Chăm sóc những người đang hấp hối. Lén lấy thuốc từ kho của SS và chuyển cho các tù nhân bệnh. Lấy trộm xà phòng. Lấy thức ăn thừa. Rồi cho đi tất cả.

Bà thường xuyên bị lính canh đánh đập. Nhưng bà vẫn mỉm cười.

Một tù nhân sau này nói: “Nụ cười và lòng can đảm của bà là một tia nắng giữa địa ngục sâu thẳm.”

Tháng 3 năm 1942, Đức Quốc xã chuyển bà đến một trại mới đang được xây dựng.

Auschwitz concentration camp.

Bà làm việc tại khu y tế, điều trị cho những phụ nữ đang chết dần vì sốt phát ban, đói khát, đòn roi và các thí nghiệm y khoa.

Tại đây, bà gặp Margarita Schwalbova, một bác sĩ Do Thái đến từ Slovakia. Bị giam vì là người Do Thái. Bị buộc làm việc trong bệnh xá trại. Một người vô thần đã mất hết hy vọng.

Một ngày nọ, nữ tu Angela bước đến gần bà. Nhẹ nhàng vuốt tóc bà. Không nói một lời. Chỉ là một cái chạm đầy dịu dàng.

Phẩm giá con người được trao lại cho một người đã bị tước đoạt tất cả.

Bác sĩ Schwalbova không bao giờ quên điều đó.

Họ trở thành bạn. Một bác sĩ Do Thái vô thần và một nữ tu Công giáo. Trong Auschwitz. Giữ cho nhau sống tiếp.

Khi Schwalbova bị bệnh, Angela chia sẻ khẩu phần ít ỏi của mình. Điều này bị cấm tuyệt đối và có thể bị xử tử. Nhưng bà vẫn làm.

Tháng 5 năm 1943, SS chuyển bà đến bệnh viện của chính họ làm y tá. Bà chăm sóc cho chính những kẻ đã hành hạ mình, những người đã đánh bà, những kẻ điều hành các buồng hơi ngạt.

SS đưa ra một đề nghị.

Từ bỏ lời khấn. Rời bỏ đời sống tu trì. Họ sẽ thả bà. Bà có thể về nhà.

Bà từ chối.

Bà đã tuyên khấn với Chúa. Bà không phá bỏ lời hứa đó để thoát khỏi trại của Đức Quốc xã.

Bà ở lại thêm 19 tháng nữa.

Các tù nhân bắt đầu gọi bà bằng một cái tên.

Thiên thần của Auschwitz.

Câu chuyện của bà lan khắp các barrack. Tù nhân Do Thái, Ba Lan, người Roma, tù nhân chính trị. Ai cũng biết về nữ tu Công giáo luôn mỉm cười với bạn khi bạn đang hấp hối.

Ngày 23 tháng 12 năm 1944, quân Đồng Minh ném bom khu công nghiệp Auschwitz.

Bà đang ở trong bệnh viện, chăm sóc bệnh nhân.

Một mảnh đạn xuyên qua ngực bà.

Bà chết ngay lập tức.

Thi thể của bà bị thiêu trong lò hỏa táng của trại, cùng những lò đã thiêu hơn một triệu người Do Thái.

Ba mươi bốn ngày sau, Hồng quân Liên Xô giải phóng Auschwitz.

Bà đã lỡ ngày tự do đúng 34 ngày.

Bà 44 tuổi.

Điều khiến câu chuyện này trở nên đau lòng là:

Bà không tổ chức kháng chiến. Không che giấu người Do Thái. Không buôn lậu vũ khí.

Bà chỉ nói một câu. Trong một cửa hàng làng quê. Với những người quen.

“Hitler là một tai họa đối với châu Âu.”

Và bà đã trải qua bốn năm trong các trại tập trung. Bị đánh đập. Mắc bệnh. Chứng kiến hàng ngàn cái chết. Và chết trước ngày tự do chỉ 34 ngày.

Chỉ vì một câu nói.

Đó chính là bản chất của chế độ toàn trị. Không chỉ là trại tử thần, mà là một hệ thống nơi việc nói ra sự thật trong một cửa hàng cũng có thể khiến bạn mất tất cả.

Bác sĩ Schwalbova đã sống sót. Trở về Slovakia. Làm việc như một bác sĩ. Và kể cho mọi người nghe về nữ tu đã vuốt tóc bà khi mọi hy vọng đã biến mất.

Tháng 5 năm 2018, Pope Francis tuyên bố Angela là “Đáng kính”, bước đầu trong tiến trình phong thánh.

Nhưng bà vẫn gần như vô danh.

Phần lớn mọi người chưa từng nghe về bà. Tu viện của bà ở Áo vẫn gìn giữ ký ức. Có vài cuốn sách bằng tiếng Đức. Chưa có nhiều tài liệu phổ biến rộng rãi.

Thiên thần của Auschwitz. Đã qua đời hơn 80 năm. Vẫn chờ thế giới nhớ đến.

Angela Maria Autsch. 44 tuổi. Chết tại Auschwitz. Vì đã nói một câu sự thật.

Nữ tu đã vuốt tóc một bác sĩ Do Thái


 

Những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Nguyen Thi Chau

Ở miền Nam, ra đường một chút là thấy cảnh người nghèo mời mọc mua vé số. Ngồi cà phê hay nhậu nhẹt vỉa hè thì cái đầu phải lắc hoặc cái tay móc túi lấy tiền ra, rồi cất vé số vô hoài.

Người miền Nam xởi lởi bao dung, chạy xe giữa đường thấy người nghèo bán vé số dạo còn dừng lại mua giúp. Sáng mua vé số thì chiều chẳng cần biết trúng hay không, có người mua quên dò cả tháng, có khi trúng mấy giải nhỏ thì hạn lãnh tiền đã hết.

Người Sài Gòn mua vé số cốt chỉ để ủng hộ người nghèo sống qua bữa. Mua vé số chỉ để nghe bước chân người bán vé số dạo bớt nặng, chỉ để bớt nghe tiếng thở dài, để né ánh mắt buồn khổ tủi đau nhìn mình, chỉ để lòng thấy nhẹ nỗi xót xa.

Người Sài Gòn đủ lý do để mua tờ vé số của người nghèo bán dạo. Mua để thấy lòng vui mà trúng trật gì cũng vui. Người miền Tây thì có thêm lý do mua vé số để mong trúng đổi đời. Mua vé số đem về để lên bàn thờ ông thần tài thổ địa thắp hương khấn vái, mơ về con độc đắc hai tỷ xa vời đang đợi ở tết Công-gô.

Thị trường tiêu thụ vé số chính là ở Sài Gòn. Nhưng người Sài Gòn có mấy ai mua vé số để muốn đánh cược với các công ty XSKT bao giờ. Còn các công ty XSKT thì dường như đánh cược với thân phận của người đi bán vé số. Mới trước đó in 10 triệu tờ vé số (tương đương 100 tỷ đồng/kỳ/Công ty XSKT), giờ tăng lên 11 triệu tờ (tương đương 110 tỷ đồng/kỳ).

Vé số in tăng nhưng tỷ lệ vé tồn bán không hết trong ngày được trả rất thấp, thậm chí có công ty không cho trả vé tồn khiến áp lực đè nặng lên các đại lý. Rồi đại lý cấp cao đè cấp thấp, cấp thấp bóp cổ người nghèo cắt giảm hoa hồng bán vé số, từ được hưởng 1.100đ/vé giờ còn 1.050đ, có nơi còn 1.000đ/vé. Người nghèo vốn đã khổ càng thêm đói rách.

Rồi người Sài Gòn vẫn phải mua, người bán vé số dạo vẫn phải bán, các công ty XSKT vẫn phải thu lợi nhuận, các đại lý vẫn phải ngồi rung đùi chờ bóp cổ người nghèo. Con tạo khổ đau vẫn phải cứ xoay vòng. Đời người bán vé số cũng mãi chỉ quẩn quanh phận nghèo.

Nước mắt khó nhọc vẫn phải cứ nuốt vào trong, nụ cười vẫn lẩn khuất trong bụi rậm cõi đời, nét mặt vẫn hằn thêm khắc khổ, mồ hôi vẫn nhễ nhại trên làn da sạm nắng, bước chân và tiếng thở dài của họ – những người bán vé số dạo – vẫn nặng đầy nỗi xót xa chua cay.

Làm người, dẫu có ác, cũng đừng học theo kiểu của chó cứ cắn vào áo rách, tỏ ra không phải người.

Nguồn Mệ – Võ Đức Phúc

Tố Ngọc Trần Sưu tầm