Lịch sử Ngày Tình Nhân (Valentine’s Day) – Cha Vương

Happy Valentine Bạn nhé! Ước mong Bạn yêu thật nhiều, nhiều đến nỗi quên đi cái đáng ghét của nhau hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 14/02/2026. (t6-25)

Lịch sử Ngày Tình Nhân (Valentine’s Day) vẫn còn là điều bí ẩn. Nhưng nhìn vào vết tích của truyền thống Kitô giáo và truyền thống La Mã, bạn thấy việc chọn thánh Valentine là thánh quan thầy của Lễ hội này cũng là điều hợp lý.

Người ta nghĩ rằng Thánh Valentine (c. 269) đã từng là linh mục ở Rôma cũng như là một y sĩ dưới thời  hoàng đế Claude II gốc Gothique. Người bị bắt và bi cầm tù mà người quản lao là một sĩ quan có một người con gái bị mù. Thánh nhân đã chữa cho cô con gái khỏi mù làm cho vị sĩ quan và gia đình trở lại đạo. Khi hay tin ấy, nhà vua ra lệnh chém đầu. Vì không chịu từ bỏ đức tin, ngài được tử đạo vào ngày 14 tháng Hai. Chúng ta không biết gì nhiều về ngài, nhưng ngay vào khoảng năm 350, một nhà thờ đã được xây cất nơi ngài tử đạo.

Truyền thuyết nói rằng ngài là một linh mục thánh thiện đã cùng với Thánh Marius giúp đỡ các vị tử đạo trong thời Claudius II. Ngài bị bắt, và bị gửi cho tổng trấn Rôma xét xử. Sau khi dụ dỗ mọi cách nhưng đều vô hiệu, quan tổng trấn đã ra lệnh cho lính dùng gậy đánh đập ngài, sau đó đưa đi chém đầu vào ngày 14 tháng Hai, khoảng năm 269. Người ta nói rằng Ðức Giáo Hoàng Julius I đã cho xây một nhà thờ gần Ponte Mole để kính nhớ ngài.

Nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc việc cử hành ngày Valentine. Một số cho rằng người Rôma có một tập tục vào giữa tháng Hai, trong ngày ấy các con trai tô điểm tên các cô con gái để tỏ lòng tôn kính nữ thần dâm dục là Februata Juno. Các tu sĩ thời ấy muốn dẹp bỏ tập tục này nên đã thay thế bằng tên các thánh tỉ như Thánh Valentine. Một số khác cho rằng thói quen gửi thiệp Valentine vào ngày 14 tháng Hai là vì người tin tin rằng các con chim bắt đầu sống thành cặp vào ngày này, là ngày Thánh Valentine bị chém đầu.

Dường như chắc chắn hơn cả là vào năm 1477, người Anh thường liên kết các đôi uyên ương với ngày lễ Thánh Valentine, vì vào ngày này, 14 tháng Hai, “mọi chim đực đi chọn chim mái.” Tục lệ này trở thành thói quen cho các đôi trai gái viết thư tình cho nhau vào ngày Valentine. Và ngày nay, các cánh thiệp, quà cáp và thư từ trao cho nhau là một phần của việc cử hành Ngày Valentine. 

(Nguồn: Người Tín Hữu)

Để mừng kính thánh Valentine mời bạn tìm cách để hàn gắn lại những tổn thương và bất đồng trong mối quan hệ với người khác vì yêu không đúng cách nhé. 

From: Do Dzung

**********************

Xin Định Nghĩa Tình Yêu – Phi Nguyễn (St: Cao Huy Hoàng) 

Ngôi mộ của Caroline Christine Walter-Truyen ngan HAY

Pane e Vino – 3 Nguyễn Khắc Cần

Ngôi mộ của Caroline Christine Walter nằm yên giữa nghĩa trang cổ ở Freiburg như một khoảng lặng dịu dàng của thời gian. Bức tượng đá tạc hình một thiếu nữ đang khép mắt, tay vẫn giữ cuốn sách, dáng nằm thanh thản như vừa trôi vào giấc ngủ. Rêu phủ mềm trên từng nếp áo, trên mái tóc và gương mặt, khiến toàn bộ khối đá mang cảm giác sống chậm, như đang thở cùng nhịp của đất trời. Không có bi thương dữ dội, không có kịch tính tang tóc, chỉ có sự an nhiên hiếm thấy trong nghệ thuật mộ phần thế kỷ XIX.

Caroline sinh năm 1850 trong một gia đình nghèo ở Đức. Sau khi cha mẹ qua đời, cô cùng chị gái Selma về sống với ông bà tại Freiburg. Tuổi trẻ của Caroline trôi qua giản dị, êm đềm, cho đến năm 1867, khi cô mắc bệnh lao và qua đời chỉ sau vài tuần, lúc mới 17 tuổi. Cái chết đến quá nhanh, để lại trong Selma một khoảng trống không thể lấp đầy. Chị gái đã chọn cách giữ Caroline ở lại bằng nghệ thuật. Selma cho tạc một pho tượng kích thước như người thật, khắc họa Caroline trong tư thế đang ngủ, vừa đọc sách, như thể sự sống chỉ tạm dừng lại trong khoảnh khắc rất nhẹ.

Chất liệu đá vôi được chọn vì độ mềm vừa đủ để diễn tả những nếp vải rủ, bàn tay thả lỏng, gương mặt an hòa. Tác phẩm mang tinh thần điêu khắc tang lễ châu Âu cuối thế kỷ XIX, khi cái chết được thể hiện như một giấc ngủ, nơi vẻ đẹp con người được lưu giữ trọn vẹn thay vì nhấn mạnh nỗi mất mát. Đó là cách nghệ thuật xoa dịu bi kịch bằng sự thanh khiết.

Vài tuần sau lễ an táng, Selma nhận ra những bông hoa héo mà cô đặt lên mộ đã được thay bằng hoa tươi. Cô tin rằng có một người thầm mến Caroline khi còn sống đã đến viếng. Điều ấy nghe có vẻ tự nhiên, bởi Caroline được nhiều người yêu quý. Nhưng điều kỳ lạ nằm ở chỗ, những bó hoa ấy không hề dừng lại. Selma già đi rồi qua đời, nghĩa trang thay đổi, thế kỷ trôi qua, chiến tranh và hòa bình nối tiếp, vậy mà hoa tươi vẫn xuất hiện đều đặn trên ngôi mộ.

Hơn một trăm năm rưỡi trôi qua, không ai biết ai là người mang hoa. Không có lời nhắn, không có chữ ký, không có dấu vết để lại ngoài những bông hồng, nhành hoa dại, bó cúc nhỏ được đặt khẽ trên thân tượng phủ rêu. Một nghi thức lặng lẽ, bền bỉ đến khó tin, như một lời hứa không thành văn giữa những con người chưa từng gặp nhau.

Câu chuyện của Caroline không dừng lại ở số phận một thiếu nữ đoản mệnh, mà mở rộng thành câu chuyện về ký ức được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng lòng trắc ẩn vô danh. Selma gửi tình yêu của mình vào đá. Những người không tên gửi sự hiện diện của mình vào hoa. Ngôi mộ trở thành nơi giao nhau giữa quá khứ và hiện tại, nơi con người kết nối với nhau bằng một cử chỉ giản dị nhưng sâu sắc: không để một vẻ đẹp bị quên lãng.

Có lẽ chính sự im lặng tạo nên sức mạnh cho câu chuyện này. Không ai cần được ghi nhận, không ai cần lời đáp lại. Chỉ cần hoa tươi tiếp tục được đặt xuống, năm này qua năm khác, như một lời thì thầm rằng Caroline vẫn đang hiện diện trong ký ức nhân gian, không bằng tên tuổi, mà bằng sự dịu dàng bền bỉ của lòng người.

#CarolineChristineWalter #GraveWithFlowers #FreiburgCemetery #VictorianTombSculpture #MemorialArt #EternalRemembrance #SilentTribute #LoveBeyondTime #StoneAndMemory #MysteriousVisitors

May be an image of monument


 

KỶ YẾU MỘT “H.O”…Truyen ngan HAY

Xuyên Sơn

 KỶ YẾU MỘT “H.O”……

Tôi rất thích bài viết này nên Share lại. Lần nào đọc lại cũng cảm xúc này, nghẹn ngào xúc động.

Cha Mẹ tôi vốn là phú nông, còn buôn bán thêm từ Huế ra Vinh.

Hồi nhỏ, tôi học trường Don Bosco tại Quảng Trạch –  Quảng Bình,

do các Cha và các Thầy dòng dạy.

Tháng Bảy 1954, hiệp định Genève ngừng bắn, gia đình tôi Di cư vào Nam lập nghiệp tại Kim Long – Huế.

Vào Nam tôi học các trường Nguyễn Công Trứ – Phan Thanh Giản

– Sao Mai.

Ra trường đi làm và tự lập.

Năm 1959, Cha Mẹ từ Huế vào cưới vợ cho tôi tại Ðà Nẵng.

Ðến năm 23 tuổi, tôi được động viên học khóa 12 Trần Hưng Ðạo

– Sĩ quan Thủ Ðức.

Tháng Tám 1960 ra trường với cấp bậc Chuẩn úy. Ðược tuyển chọn một trong số 10 người trên 1250 sinh viên, về ngành An Ninh Quân Ðội ANQĐ – Bộ Quốc Phòng.

Ðậu thủ khoa trên 25 Sĩ quan và trên 100 Hạ sĩ quan, tôi được Ðại tá Ðỗ Mậu – Giám đốc Nha ANQÐ – Bộ Quốc Phòng, sau là Thiếu tướng thông tin, trao bằng Danh dự cùng quà tặng trước sự hiện diện của Quân nhân, gia đình binh sĩ và ban Văn nghệ bậc nhất thời bấy giờ.

Ra trường, tôi được Ðại úy Dương Tiến, sau là Trung tá Chánh Sở I ANQÐ, giới thiệu về làm việc ở Sở I ANQÐ.

Tôi được chỉ định làm Trưởng Ban I. Phòng Nhân viên, theo dõi điều chỉnh hồ sơ, vẽ sơ đồ..

Sau một thời gian, tôi nhận được công điện thuyên chuyển về cục ANQÐ tại Saigon, được “bố trí” trưởng ban I, phòng bảo vệ do Ðại úy Phạm Thành Kiếm làm Trưởng phòng.

Tại Cục ANQÐ, tôi được yêu cầu huấn luyện cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan về đề tài bảo vệ Cơ sở.

Sau đó lại được hoán đổi về Sở I ANQÐ tại Ðà Nẵng, Sở yêu cầu tôi tổ chức liên tục các khóa An ninh căn bản cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan An ninh trong đơn vị, trong số học viên khóa tu bổ tại Ðà Nẵng có Trung tá Tài là cấp bậc lớn nhất.

Mỗi khóa học một tháng, số học viên từ 40 đến 50 người, bằng cấp do Trung tá chánh Sở ký, với kiến thị của Trung tướng Tư lịnh Quân đoàn I.

Sau đó tôi được theo học hai khóa cấp I và cấp II tình báo tại trường Quân báo Cây Mai, rồi Du học tại trường phản tình báo Okinawa – Nhật Bản, tốt nghiệp hạng ưu.

Ðại tá Chu Văn Sáng về làm Chánh Sở I ANQÐ, gia đình tôi được cho ở trong dãy nhà Sĩ quan tại sở.

Trong 17 năm làm việc tại Sở I ANQÐ, tôi đã giữ các chức vụ:

Phụ tá Trưởng ty ANQÐ Quảng Trị, phụ tá Trưởng Phòng An Ninh Quân đoàn cho Thiếu tá Hồ Văn Thống, Trưởng phòng Ban Khai Thác,

Chánh văn phòng.

Ngày 1 tháng 3, Ðại tá Sáng vào Nha Trang nhận chức Chánh Sở II ANQÐ, tôi vào nhận chức Trưởng chi ANQÐ Ninh Hòa.

Sau đó tôi làm Trưởng ban phản tình báo Cam Ranh – Khánh Hoà cho tới ngày “mất nước”, thầy trò dắt nhau đi ở tù “cải tạo”

Sau 30/4/1975, vợ và các con tôi không nhà, không nơi nương tựa phải đi “kinh tế mới”.

Mấy mẹ con lên kinh tế mới được một năm thì vợ tôi bị bịnh sốt rét,

và qua đời tại bịnh viện Khánh Hòa.

Cha Mẹ tôi đưa xác về chôn cất tại Cam Ranh.

Một người vợ hiền lành, mảnh mai, lâm cảnh cơ hàn, chết bơ vơ trong cảnh đổi đời.

Các con mồ côi, đào bới đất đá nơi núi rừng mà sống.

Còn tôi trong trại tù, lao động cực khổ, sắn ăn cầm hơi.

Tôi lãnh “ba nhiệm kỳ”, chín năm tù, ra trại bị quản chế tại kinh tế mới ở Khánh Hòa ba năm.

Ở trại tù miền Bắc, tôi được cho đi làm ngoài, toán sáu người đi chặt nứa.

Anh em lo chặt nứa phần của tôi, để tôi vào nhà dân mua bán đổi chác giùm anh em.

Anh em đưa áo quần cho tôi nhờ đổi con gà luộc hoặc ký đường cát.

Nhờ vậy mà mỗi ngày tôi có điều kiện luộc sắn cho anh em ăn, còn đem về trại cho một hai anh em bạn thân khác, trong số có người bạn quê Lệ Thủy là ưu tiên.

Về sau, hắn đổi qua láng khác, tôi vẫn cho đồ ăn, nhưng hắn ghen tỵ nên báo cáo để cán bộ bắt quả tang.

Thật ra, mua bán đổi chác chỉ nhốt năm ba bữa, nhưng tôi bị xui là buổi sinh hoạt đêm qua, tôi phát biểu về mánh khóe bớt xén gạo nhà bếp của Thượng úy Tẩu làm hậu cần, quê ở Quảng Nam.

Tên này, do tôi tố cáo với Thượng úy Huệ, Sĩ quan thanh tra liên trại,

nên bị sa thải tại chỗ.

Tuy nhiên đêm trước đó, hắn đã ra lệnh nhốt tôi phòng cách biệt,

phòng cách biệt rộng khoảng 1 thước vuông, làm bằng nứa, đổ đất ở giữa. Đêm đến hắn cho lính canh vào đánh tôi, may là tụi lính canh thương hại nên chỉ đánh đá vào vách tường.

Tuần đầu tôi bị nhốt, do Trung sĩ Phát trông coi rất dễ chịu.

Tuần thứ hai, tên Trung sĩ Minh đổi toán thay cho Trung sĩ Phát.

Bàn giao xong, tên Trung sĩ Minh đi một mình xuống trại giam, bắt trói hai tay tôi ra sau, vào cột nhà.

Hắn đánh đập vào đầu, đá vào ngực tôi liên tục nhiều giờ.

Biết tên này hung dữ, lỡ đánh chết mình thì oan, hắn mang lòng thù oán vì có hai người anh tử trận ở miền Nam, tôi giả vờ nói:

“Qua một tuần lễ suy nghĩ, tôi biết việc làm sai trái, cán bộ để tôi cung khai, cả người mua lẫn người bán”.

Hắn tin, đưa tôi lên bàn ăn ngoài láng, đưa bút giấy cho tôi khai.

Hắn giao cho tên Ngọc là Tàu lai đứng trên chòi, canh chừng tôi.

Hết giờ làm việc, tên Ngọc quay mặt ra ngoài, chậm rãi đánh kiểng.

Đây là giờ khởi sự cho việc trốn trại của tôi.

Tôi vội chạy vào trại thay bộ đồ đi rừng, chụp cái nón lá, đạp hàng rào ra ngoài, rồi lẻn quay ngược lên khu vệ binh riêng biệt cạnh trại để trốn.

Bọn chúng không ngờ tôi còn ở trong trại, nên rải quân hàng ngang từ lính chí quan, lần lượt từ đồi sắn này đến đồi sắn khác, cán bộ dùng loa kêu gọi bảo lãnh tánh mạng cho tôi.

Ðến khoảng 2 giờ, mệt lả, đói bụng, chúng kéo nhau về.

Tôi xuống đồi, đến nhà anh Triệu Mai Tân, vợ anh người Tày tên Nghĩa.

Anh cho tôi bộ bà ba đen, một dao phay và một cái nón cối.

Trước giờ chia tay, tôi nhờ anh lên đồi đốn cho năm cây nứa cỡ bằng cườm chân để vượt hồ Thác Bà rộng chừng hai cây số.

Trời tối đen, tôi vượt hồ Thác Bà.

Ra giữa hồ tôi phải tránh né những bè mảng của dân câu cá.

Trong lúc đó, trại cũng cho đốt đuốc truy lùng.

Tôi lên núi, đi bốn ngày đêm, ăn sắn tươi, bắp sống.

Công an, du kích, dân làng các xóm truy lùng tôi ngày đêm. Khi họ cầm đèn bão, bao vây chỉ còn cách nơi tôi trốn khoảng 50 mét, tôi biết mình sẽ bị bắt và sẽ bị đánh đến chết, tôi đọc kinh cầu nguyện dọn mình chịu chết. Bỗng trời đổ cơn mưa gió dữ dội, chịu không nổi vừa mưa gió vừa lạnh, nên họ từ từ rút dần xuống đồi.

Cảm tạ ơn Chúa, Mẹ đã cho tôi thoát chết.

Qua một ngày lội theo ven suối, vào khoảng sáu giờ chiều,

tôi vào trình diện liên trại.

Tôi được mấy ông Trung tá, Thiếu tá ở liên trại chỉ thị nhà bếp cho tôi một dĩa cơm.

Ăn xong, Thượng úy Huệ dùng đèn pin dẫn qua cánh đồng đưa đến trại 4. Ông này lấy thêm lời khai của tôi vụ Thượng úy Tẩu bớt xén gạo nhà bếp, chi tiết do anh Châu đầu bếp cho tôi biết.

Anh này bị lật mảng, chết đuối tại hồ Thác Bà khi mang cơm cho anh em lao động ăn trưa tại chỗ.

Trung tá Luyện ở trại cũ mang tư trang lên cho tôi, có tên Ngọc gác cổng dẫn đi.

Tên Ngọc đi lên với hy vọng đánh tôi vài báng súng.

Thiếu úy Huệ ở liên trại bảo hắn ra ngoài chờ bàn giao nên tôi thoát bị đòn.

Tôi được chuyển về trại 3 Tân Kỳ – Nghệ Tĩnh, được chỉ định làm tổ trưởng tổ chuyển vận gồm 10 người từ năm 1982.

Đến năm 1984 tôi được thả về.

Tôi về, ở cùng các con vùng kinh tế mới làm ruộng rẫy, chặt lồ ô về chẻ hom đem ra chợ bán.

Cuộc sống Cha con khổ cực, cơm độn khoai sắn, mắm muối qua ngày.

Tại đây, người ta tổ chức một cuộc tập trung nhân dân toàn xã, bắt tôi đọc tiểu sử.

Trưởng công an huyện nói:

“Tiểu sử của anh rất huy hoàng, nhưng anh sống trên xương máu của nhân dân”.

Tôi trả lời:

“Sống chế độ nào, phục vụ chế độ đó, chính phủ trả lương, tôi chẳng bóc lột xương máu nhân dân bao giờ”.

Kết luận, hắn khuyên tôi hòa mình với nhân dân, xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Tôi bị trưởng Công an huyện, tù ở đảo về, coi trọng vì tôi là Sĩ quan ngành An ninh phản tình báo.

Hắn buộc tôi phải ghi vào một quyển sổ những gì đã học tập, lao động,

sinh hoạt hằng ngày..

Trình diện, báo cáo cho Công an xã hàng tuần, Công an huyện hàng tháng, suốt ba năm.

Mấy năm sau, nhiều người lo thủ tục giấy tờ đi Mỹ diện “H.O”.

Cái khó khăn bấy giờ của chúng tôi là tiền đâu để lo thủ tục và ở ngoài Trung xa Saigon.

Tôi chạy đến anh em, bà con họ hàng xin xỏ vay mượn, được chừng nào thì lo chừng đó.

Thật tình thì Cha con chúng tôi cũng không hy vọng gì mấy, làm hồ sơ thì làm chứ không có đủ tiền để lo lót đến nơi đến chốn, chỉ cầu may.

Chờ đợi mấy năm, chúng tôi nhận được giấy báo, rồi giấy phỏng vấn. Chúng tôi lại chạy vay tiền bạc vào Saigon phỏng vấn, khám sức khỏe. Cuối cùng, chúng tôi cũng tới được ngày được đi Mỹ.

Từ chốn núi rừng đói rách, đặt chân lên đất Mỹ Văn minh, nhà cao, đường lớn, tâm trạng chúng tôi thật háo hức và cũng đầy âu lo.

Gia đình tôi đến Mỹ năm 1994.

Sau 16 năm định cư tại Hoa Kỳ, các con tôi ai cũng từ độc thân,

tay trắng, nay đều đã có gia đình, con cái, nhà cửa, xe cộ.

Cuộc sống chúng tôi mọi sự thật đầy đủ, hạnh phúc, duy chỉ có điều buồn là tôi sắp lìa xa các con cháu vì tôi bị ung thư giai đoạn cuối.

Nằm nhà thương, như cây đèn cạn dầu, tôi thở, ăn uống bằng những ống dây, không nói được lời nào đã gần hai năm nay.

Thân xác tôi ốm yếu, nhỏ thó như một đứa con nít thiếu ăn, tinh thần yếu kém, mọi chăm sóc cá nhân đều nhờ người khác.

Bác sĩ nói, tôi không còn sống được bao ngày nữa.

Thế là hết một kiếp người.

Cảm tạ ơn trên đã quan phòng,

che chở cho gia đình tôi bình yên. Cám ơn các ân nhân đã giúp Cha con tôi được định cư tại Hoa Kỳ.

“H.O” – 26, viết trên giường bệnh trước khi từ giã gia đình và bằng hữu…..

            Phuoc An Thy.

Nguồn fb Minh Anh Jessica

No photo description available.


 

SỰ CÔNG CHÍNH VÀ NHỮNG “LƯỠI DAO” VÔ HÌNH – Lm Paul N.N

Lm Paul N.N

 Chúng ta đang sống trong một thời đại mà ranh giới giữa sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau một cái “click” chuột hay một dòng bình luận trên mạng xã hội.  Cách đây không lâu, dư luận từng bàng hoàng trước câu chuyện về một nữ sinh trung học.  Chỉ vì một vài tấm ảnh bị cắt ghép và những lời đồn thổi ác ý trên Facebook, cô bé đã phải gánh chịu làn sóng “bạo lực mạng” khủng khiếp.  Hàng ngàn người không hề quen biết đã nhảy vào sỉ nhục, chửi bới bằng những lời lẽ tàn độc nhất.  Không chịu nổi sức ép của dư luận và sự nhục nhã, cô bé đã chọn cách tự kết thúc cuộc đời mình để chứng minh sự trong sạch.

Chúng ta thường bước vào nhà thờ với một sự an tâm nhất định về lương tâm mình.  Chúng ta tự nhủ: “Tôi không trộm cắp, tôi không ngoại tình, và quan trọng nhất, tôi không giết người.”  Thế nhưng, trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã dùng một thanh gươm sắc bén của Lời Chúa để đâm thấu vào sự tự mãn đó.  Ngài kiện toàn lề luật cũ không phải bằng cách nới lỏng, mà bằng cách đẩy nó đến tận cùng của căn nguyên: trái tim con người.

Chúa nói: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ giết người…  Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa.”  Chúa đang chỉ cho chúng ta thấy một thực tế phũ phàng: Có những cái chết không cần đến gươm giáo, và có những kẻ sát nhân vẫn đang thản nhiên mặc áo trắng đi dự tiệc thánh mỗi ngày.  Đó chính là tội “giết người không dao.”  Hãy nhìn vào xã hội hôm nay, nơi mà không gian mạng đã trở thành một “pháp trường” không tiếng súng.  Mỗi dòng bình luận ác ý là một nhát dao.  Mỗi lượt chia sẻ đầy sự phán xét là một lần bóp cò.  Nạn nhân ngã xuống, còn những kẻ “sát nhân mạng” vẫn vô tư tắt máy tính, đi ngủ và tin rằng mình vẫn là người công chính vì đôi tay họ chưa hề chạm vào máu.  Nhưng “vũ khí” không chỉ nằm trên bàn phím.  Nó nằm ngay trong lời nói hằng ngày của chúng ta.  Một lời vu khống có thể hủy hoại cả danh dự của một đời người.  Một sự im lặng lạnh lùng trong gia đình có thể giết chết niềm vui của người bạn đời.  Một ánh mắt khinh miệt có thể dập tắt hy vọng của một người đang lầm lỡ. 

Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã thấu suốt bản chất của sự ác khi Ngài dạy: “Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra hỏa hình.”  Ngài cảnh báo chúng ta rằng, tội giết người không chỉ bắt đầu khi máu chảy, mà nó bắt đầu ngay từ khi sự kính trọng đối với nhân phẩm người khác bị dập tắt trong lòng chúng ta.

 Ngày nay, “giết người không dao” còn mang nhiều hình thái tinh vi và đáng sợ hơn nữa:

 Giết chết danh dự bằng sự vu khống: Chúng ta dễ dàng chia sẻ một tin đồn thất thiệt về đồng nghiệp, về người láng giềng mà không cần kiểm chứng.  Một khi danh dự bị bôi nhọ, dù sau này có được minh oan, vết sẹo trong lòng họ và cái nhìn của xã hội vẫn không bao giờ mờ đi. 

Giết chết tâm hồn bằng sự lạnh lùng: Trong gia đình, đôi khi vợ chồng không đánh chửi nhau, nhưng lại dùng “chiến tranh lạnh.”  Sự im lặng đáng sợ, sự thờ ơ không quan tâm đến cảm xúc của nhau cũng là một cách giết chết dần mòn mầm sống của tình yêu và sự hạnh phúc.

 Giết chết tương lai bằng sự xét đoán: Khi chúng ta dán nhãn một người lầm lỡ là “kẻ xấu” và không cho họ cơ hội phục thiện, chúng ta đang đóng sầm cánh cửa cuộc đời của họ.  Đó là một kiểu giết chết niềm hy vọng. 

Thưa cộng đoàn, Sự công chính mà Chúa đòi hỏi ở người Kitô hữu là một sự công chính đầy xót thương.  Chúa không chỉ bảo ta đừng cầm dao, mà Ngài còn bảo ta hãy để của lễ lại trên bàn thờ mà đi làm hòa với anh em trước đã.  Thiên Chúa không chấp nhận của lễ từ những bàn tay đang nắm chặt sự oán hờn.  Ngài không nghe lời kinh từ những đôi môi vừa mới thốt ra những lời độc địa làm tan nát lòng người.  Chúa dạy chúng ta rằng, nếu tay ta sạch mà lòng chúng ta đầy nọc độc của sự giận ghét, thì chúng ta vẫn chưa thể bước vào Nước Trời.  Người công chính không chỉ là người không cầm dao, mà là người biết dùng môi miệng để chúc lành, dùng đôi tay để nâng dậy, và dùng trái tim để bao dung cho những khiếm khuyết của anh em mình. 

Xin Chúa giúp chúng ta ý thức rằng, mỗi lời nói của mình đều có sức mạnh: hoặc là gieo mầm sống, hoặc là gieo sự chết.  Xin cho chúng ta luôn chọn gieo mầm sống bằng tình yêu và sự thật.  Xin ban cho chúng con một trái tim mới – một trái tim đủ rộng lớn để bao dung, đủ khiêm nhường để làm hòa, và đủ công chính để sống theo sự thật.  Nhờ đó, cuộc đời chúng con sẽ trở thành một bài ca chúc tụng lòng thương xót Chúa, hôm nay và mãi mãi. Amen. 

Lm Paul N.N

From: Langthangchieutim


 

Vừa trải qua một tai nạn. Bài viết của Phùng Văn Phụng

 Bài viết của Phùng Văn Phụng

Tối thứ sáu đầu tháng, ngày 06 tháng 02 năm 2026, tôi đi dự lễ cầu nguyện cho hòa bình thế giới ở nhà thờ Ngôi Lời Nhập Thể, có chở cháu nội là Jayden đi sinh hoạt lớp Thêm sức 1. Thánh lễ ở nhà thờ kết thúc khoảng 8 giờ 10 tối, tôi cùng cháu nội ra xe để về nhà.

Tôi đang chạy trên đường Kirkwood từ hướng Nam lên hướng Bắc. Khi vừa chạy đến đường Carvel, có chiếc xe BMW, chạy từ đông sang tây, đụng thẳng vào bên mặt của chiếc xe Venza tôi đang chạy. Hai cánh cửa bên phải dẹp nát, hoàn toàn hư hại. Có lẽ trời tối, tài xế người Mễ không thấy xe phía trước đang chạy tới. Xe tôi bị hư hại nặng, phải bị “total loss”. Xe hư hại hoàn toàn, hảng bảo hiểm mang đi.

Tôi bị đau ngay cần cổ bên phải, tha dầu nóng, thường xuyên, mấy ngày nay mà không có kết quả gì và không biết có thương tích gì nặng không? Thầy Bạch và các bạn gọi hỏi thăm và nói là sẽ cầu nguyện cho.

Sáng thứ tư, ngày 11 tháng 2 năm 2026 đi chụp hình cần cổ, ở phòng mạch bác sĩ Vũ Giang, kết quả tốt. Mặc dầu đây là tai nạn lớn nhưng không có xảy ra thương tích gì trầm trọng, nguy hiểm đến tính mạng.

Tạ ơn Chúa

Cũng là tai nạn cũ.

Lần trước cách nay khoảng hơn 10 năm cũng bị đụng xe. Tôi đang chạy trên đường Beechnut, xe đang chạy bình thường, đến ngả tư Beechnut và Wilcrest đèn xanh bật lên. Xe tôi đang chạy, gặp đèn xanh nên tôi chạy luôn, không có ngó hai bên.  Trên đường Wilcrest cắt ngang Beechnut, bên trái tôi, có một cô gái khoảng 18, 20 tuổi vượt đèn đỏ, đụng vào đầu xe Camry của tôi, nên xe tôi bị xoay 90 độ, rồi có chiếc xe phía sau chạy tới, đụng vào hông xe bên phải của tôi, nên xe bị hư hại nặng, bị “total loss” (bị hảng kéo đi). Vì xe quay 90 độ, người tôi quay theo chiều kim đồng hồ, cũng 90 độ, nên tôi không có bị thương tích gì.

Thiên Chúa đã che chở tôi trong hai tai nạn lớn này.

Tạ ơn Chúa.

Ngày 11 tháng 2 năm 2026

(Ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức- Ngày thế giới bịnh nhân)

May be an image of car

Mọi người chúng ta có thể nên “thánh” được không? – Cha Vương

Chúc bạn cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong mỗi việc làm trong ngày nhé!

Cha Vương

Thứ 6: 13/2/2026. (t5-25)

GIÁO LÝ: Mọi người chúng ta có thể nên “thánh” được không? Có chứ. Mục đích cuộc sống là kết hợp với Thiên Chúa trong tình yêu và hoàn toàn sống như ý Chúa muốn. Chúng ta cần để “Chúa sống trong ta” (Mẹ Têrêsa Calcutta). Ông thánh, bà thánh là thế đó. (YouCat, số 342)

SUY NIỆM: Mọi người đều đặt câu hỏi: Tôi là ai? Tại sao tôi lại ở đây? Và tương lai của tôi là gì? Đức tin trả lời: Chính trong việc nên thánh mà con người trở nên điều mà Chúa đã tạo dựng họ. Chính trong thánh thiện mà con người đạt tới hòa hợp với chính mình và với Đấng Tạo Hóa. Nhưng sự thánh thiện không phải là sự hoàn hảo được tự tạo mà có, nó phải là sự hiệp nhất với tình yêu đã làm người, đó là Chúa Kitô. Ai kiếm tìm cuộc sống mới đó là tìm được chính nó và trở nên thánh. (YouCat, số  342 t.t.)

❦  Không ai chọn cho mình một ơn gọi, ta phải đón nhận ơn gọi và cố gắng để nhận ra ơn gọi. Ta phải lắng nghe tiếng Chúa gọi để nhận ra một dấu hiệu của ý Chúa. Và một khi đã nhận ra ý Chúa, cần phải làm theo luôn luôn mặc dầu có thế nào và phải trả giá đắt bao nhiêu. (Chân phước Charles de Foucauld)

LẮNG NGHE: Anh em cần phải kiên nhẫn, để sau khi thi hành ý Thiên Chúa, anh em được hưởng điều Người đã hứa. (Dt 10:36)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con luôn gắn bó mật thiết với Chúa để được sống trong ân nghĩa Chúa, là nguồn hạnh phúc đích thực của con. 

THỰC HÀNH: Bỏ ra ít phút để kết hợp với Chúa trong thinh lặng hôm nay.

From: Do Dzung

*********************

Nên Thánh Giữa Đời – Sr Têrêsa / Ca sĩ Xara Trần

Ổ BÁNH KHÁC – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ không có gì ăn!”.

“Chúng ta đừng quên cầu nguyện cho những người gặp ác mộng ngay giữa ban ngày… hãy cho họ một ổ bánh, ổ bánh này và ổ bánh khác!” – Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

May be an image of text that says 'fineart america'

Lời Chúa hôm nay nhắc chúng ta, giữa ban ngày vẫn có những người sống trong ác mộng; và trước họ, Chúa Giêsu đòi chúng ta bẻ ra – bẻ thời gian, bẻ của cải, bẻ chính mình – để trao cho họ ổ bánh này và ‘ổ bánh khác!’.

“Họ không có gì ăn!” – đó không chỉ là một nhận định xã hội – hay những chiếc dạ dày rỗng – nhưng là tiếng kêu của những phẩm giá bị tổn thương. Và điều làm chúng ta giật mình là Chúa Giêsu không nói câu ấy với đám đông, nhưng với các môn đệ; nghĩa là với chúng ta. Ngài không bảo, “Giải tán họ đi!”; Ngài nói, “Chính anh em hãy cho họ ăn!”. Một mệnh lệnh ngắn, nhưng đủ đảo lộn mọi tính toán an toàn.

Chúng ta thường muốn phép lạ bắt đầu từ điều lớn lao: ngân quỹ, kế hoạch, nhân sự đầy đủ. Nhưng Chúa Giêsu chỉ hỏi, “Anh em có mấy chiếc bánh?”. Ngài không cần cái chúng ta không có; Ngài cần cái chúng ta đang giữ. Một lời cầu nguyện giữa bộn bề, đó là một ổ bánh; một giờ chầu âm thầm, đó là một ổ bánh; một quyết định tha thứ khi lòng còn đau, đó là một ổ bánh; một bữa ăn sẻ chia, một khoản tiền nhỏ nhưng thật lòng, một sự hiện diện không vội vã bên người khốn khó – tất cả đều có thể trở thành ‘ổ bánh khác’. “Bạn luôn có thể cho đi điều gì đó, ngay cả khi đó chỉ là lòng tốt!” – Anne Frank.

Vấn đề không phải là ít hay nhiều; vấn đề là có dám trao hay không. Khi viện cớ “không đủ”, chúng ta vô tình dựng lên một trật tự trong đó người nghèo phải chờ cho đến khi chúng ta dư dật. Tin Mừng đảo ngược trật tự ấy: chính trong thiếu thốn được trao đi, phép lạ bắt đầu. Bánh được bẻ ra thì được nhân lên; còn bánh bị giữ lại thì khô cứng. Cái đói không chỉ ở bao tử, nhưng còn là đói giáo dục, đói phẩm giá, đói được nhìn nhận. “Trẻ em không được đi học là một thứ ‘diệt chủng văn hoá!’” – Phanxicô. Trước những cơn đói ấy, Hội Thánh không thể chỉ nói bằng nghị quyết; nhưng bằng những ổ bánh cụ thể. Mục vụ không khởi đi từ diễn đàn, nhưng từ bàn ăn; không bắt đầu bằng chiến lược, nhưng bằng sự cúi xuống.

Anh Chị em,

Nhìn lên Chúa Giêsu, chúng ta hiểu thế nào là ‘ổ bánh khác’. Ngài không chỉ phát bánh; nhưng trở nên Bánh. Sinh ra tại Bêlem – “Nhà Bánh” – Ngài lớn lên để một ngày cầm lấy bánh mà nói, “Này là Mình Thầy!”; trên thập giá, Ngài bị bẻ ra đến tận cùng. Không cho điều mình có, Ngài cho chính mình. Đó là ổ bánh bẻ ra vì yêu. Mỗi Thánh Thể là một lần ổ bánh ấy được trao lại cho chúng ta. Rước lấy mà không để mình bị bẻ ra, chúng ta biến Thánh Thể thành nghi thức; nếu chỉ cho của dư, chúng ta chưa bước vào logic của thập giá. Ổ bánh Ngài trao là chính Ngài; ‘ổ bánh khác’ Ngài chờ là chính chúng ta!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, lấy đi nơi con những gì không dùng đến; giữ lại nơi con những gì cần cho Ngài; và biến những ngày còn lại của đời con thành một Thánh Thể cho thế giới!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn

Đám đông đã ăn và được no nê.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 8,1-10

1 Trong những ngày ấy, có rất đông dân chúng, và họ không có gì ăn, nên Đức Giê-su gọi các môn đệ lại mà nói : 2 “Thầy chạnh lòng thương dân chúng, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi mà không có gì ăn ! 3 Nếu Thầy giải tán, để họ nhịn đói mà về nhà, thì họ sẽ bị xỉu dọc đường. Trong số đó, lại có những người ở xa đến.” 4 Các môn đệ thưa Người : “Ở đây, trong nơi hoang vắng này, lấy đâu ra bánh cho họ ăn no ?” 5 Người hỏi các ông : “Anh em có mấy chiếc bánh ?” Các ông đáp : “Thưa có bảy chiếc.” 6 Người truyền cho họ ngồi xuống đất. Rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh, dâng lời tạ ơn, và bẻ ra, trao cho các môn đệ để các ông dọn ra. Và các ông đã dọn ra cho dân chúng. 7 Các ông cũng có mấy con cá nhỏ. Người đọc lời chúc tụng, rồi bảo các ông dọn luôn cá nữa. 8 Dân chúng đã ăn và được no nê. Người ta nhặt lấy những mẩu bánh còn thừa : bảy giỏ ! 9 Số người ăn độ chừng bốn ngàn người. Người giải tán họ. 10 Lập tức, Đức Giê-su xuống thuyền với các môn đệ và đến miền Đan-ma-nu-tha.


 

MỘT DÂN TỘC CÓ QUÁ KHỨ SAI LẦM MÀ VẪN CỨ MÃI MÃI NGU 

Nguyễn Doãn Đôn

MỘT DÂN TỘC CÓ QUÁ KHỨ SAI LẦM MÀ VẪN CỨ MÃI MÃI NGU 

BỞI SỰ BẢO THỦ, HÈN ĐỚN; TỰ HÀO VỚI CHIẾN THẮNG SAI TRÁI CỦA MÌNH ĐỂ ĂN MÀY DĨ VÃNG 

Nếu tôi không phải là Nguyễn Doãn Đôn thì “thằng ba sọc” nào treo ảnh này lên Facebook như thế này là tôi ghét cay, ghét đắng và chửi cho “lên bờ xuống ruộng”, mới chịu thôi!

Nhưng trái lại tôi khen thằng cha này đã có công chụp và đưa tấm hình này lên phơi bày cho Cộng đồng mạng cùng xem. Vì nó lột tả đúng bản chất tối tăm, lạc hậu, quê mùa của cánh lính Bắc chúng tôi ngày xưa (trong đó có tôi)!

Vâng, xin thưa, tôi quê ở Thái Bình-Đặc dân Bắc Kỳ và là một thằng đảng viên CS chính hiệu! Xin thưa, ngày đó phấn đấu vào cái đảng khốn nạn này là cực khó, không đơn giản như bây giờ; có khi thử thách phải đổi cả mạng sống mới có được! Cò không thì 3 năm là Chiến sỹ thi đua chúng nó mới cho vào mon men cái gọi là “cảm tình đảng”…

Mặc dù tôi học giỏi nhưng tốt nghiệp Phổ thông xong, tôi không được vào Đại học (sau này oánh nhau xong tôi phải đi đường vòng chày vảy mới vào ĐH được)  Ngày đó tuổi trẻ chúng tôi đều phải lên đường vào Nam xâm lược. Sư đoàn 320 B của chúng tôi có tham gia trận cuối cùng mà Việt cộng gọi là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Chiến dịch kết thúc bọn chúng tôi sống sót được vào Thành phố Sài Gòn tráng lệ và ngắm nhìn những Thiếu nữ  miền Nam óng ả mượt mà; thắt đáy lưng ong với những tà áo trắng tinh khôi tung bay , giọng nói ngọt ngào, êm ả, nhẹ nhàng, ôi sao mà tuyệt vời đến thế. Ngoài Bắc tôi chưa bao giờ được nghe những giọng nói trìu mến, thân thương và đáng yêu của giới kia đến thế. 

Cánh quân của chúng tôi tấn công từ Tây Nguyên xuống Gia Định. Mũi miệng còn đầy bụi màu đất đỏ,  như lũ khỉ trong rừng được đặt chân lên  đất của con người trong Thành phố vậy. Chúng tôi ngỡ ngàng cả ra. Ngây ngô như bò đội nón. Bỗng nhiên được  đứng giữaThiên đường…

Sau này năm 1977 tôi sang Đông Đức du học,  tôi thấy trong Siêu thị có bày bán gà làm lông sạch bọc trong túi bóng, tôi mới ngớ người ra là miền Nam ngày trước họ cũng đã từng có hàng đông lạnh làm sẵn như thế này rồi.

Bây giờ ngồi nghĩ lại, tự hỏi  sao ngày đó mình chai mặt đến thế, không biết xấu hổ là gì. 

Phải chăng kiến thức về Văn chương tôi được học trong thơ Tố Hữu ngày đó đã làm cho tôi ngu suy đần độn, để tin vào sự tuyên truyền ma mị của CS:

“Cảm ơn Đảng đã cho ta dòng sữa 

Bống ngàn năm chan chứa ân tình” 

Lẽ ra phải viết thế này mới đúng:

Cảm ơn đảng đã cho ta chai mặt 

Thành lũ khỉ rừng đi tiêu diệt văn minh …

Chú thích: Bài viết này của tôi được viết ra không mang tính thù hận cá nhân của tôi với CS, hay là do tôi mâu thuẫn với chính tôi. Vì tôi không phải là thành phần bất mãn; mà ngược lại. Tôi chỉ phơi bày sự thật. Rằng Dân tộc ta theo đảng, theo bác mang quân vào xâm lược miền Nam là trái đạo! trái với truyền thống của Tổ tiên chúng ta. Họ đã  làm ngược hẳn lại: Lấy hung tàn mà thay nhân nghĩa. 

Mình ở nơi u minh, tăm tối mông muội, man rợ và nghèo đói lại đòi đi giải phóng nơi văn mình, nhân đạo và giàu có hơn mình. Để bắt họ phải cùng khổ, tàn ác và xấu xa như mình!?

Và  tôi nghĩ nếu đảng, bác đi đúng đường thì tất cả dân ta giờ đây ít nhất cũng sướng như tôi rồi. Tôi cũng không nhất thiết phải sang Đức học . Mà các vị cũng không thèm bỏ quê Cha, đất Tổ đi kiếm cơm ăn. Hỏi người Nhật, người Nam Hàn, người Singaphore hay người Đài Loan họ có phải đi làm cu li cho Ngoại bang không? Mà ngược lại mình còn sang nước họ làm thuê cuốc mướn cho họ. Vì Lãnh đạo họ giỏi. Họ tạo ra được công ăn và việc làm cho người Dân. Tôi bức xúc vì tôi không muốn cho Dân tộc tôi nhục muôn đời như thế được. 

Chứ không phải là tôi bức xúc vì cái tôi các vị ạ! Nhiều vị vì không có cách nghĩ như tôi nên bảo tôi vô ơn hay ăn cháo đá bát là sai, là các vị  nghĩ một cách đơn xơ, thiển cận. Cách nghĩ “biết ơn” này  xuất phát từ động cơ ích kỷ. Chỉ nhằm vào cái “tôi” hẹp hòi và rất Việt Nam! Nếu tôi cũng nghĩ “khôn lỏi” như các vị; thì tôi im lặng và thầm biết ơn thì đã không có một Nguyễn Doãn Đôn đang miệt mài ngồi viết đây. Mà Dân tộc ta giờ đây có thể còn tồi tệ hơn cả Bắc Triều Tiên…

Ảnh: Chôm trên mạng

Nguyễn Doãn Đôn

Từng là Đảng viên, Cựu chiến binh Sư 320 B Quân đoàn

May be an image of one or more people and text that says 'BỌN Mỹ CHỈ MỚI ĐỔ BÔ ĐƯƠC LÊN MẶT TRẮNG THÔI NHÁ. CỘN LÂU MỚI SÁNH ĐƯỢC VỚI LIÊN XÔ ĐO Bo LÊN MặT TRỢI. MA LIÊN XÔ HO KHÔN LaM NHÁ! HỌ CHI DO BỘ VÀO BAN ĐỀM THÔI ν BAN NGÀY NÓNG am'


 

TẤM TÌNH FRANK SINATRA – Truyen ngan HAY

Sơn Vũ

Một bài viết đọc xong nước mắt muốn trào ra… Số phận của không ít cựu chiến binh, ở bất cứ quốc gia nào, không phân biệt dân tộc, giọng nói hay màu da gần như giống nhau…

Thỏ đã bắn, chim đã bắt thì cung nỏ còn cần chi nữa?

Trịnh Anh Khôi

TẤM TÌNH FRANK SINATRA

Tháng 12 năm 1972, một đêm Đông lạnh giá bên ngoài sòng bạc Sands ở Las Vegas. Frank Sinatra bước ra khỏi cửa chính sau một buổi diễn lúc nửa đêm đã bán cháy vé, đoàn tùy tùng đi theo ông.

Lực lượng an ninh tạo thành một bức tường ngăn cách giữa ông và đám đông người hâm mộ đang chờ xin chữ ký. Rồi một người đàn ông bỗng bước ra từ bóng tối.

Anh gầy gò, mặc một chiếc áo khoác quân đội rách rưới với một huy hiệu cựu chiến binh Việt Nam lộ rõ ​​trên tay áo. Anh nhìn Frank và hỏi một câu hỏi đơn giản: “Thưa ngài, ngài có thể cho tôi một đô-la không? Tôi chưa ăn gì hôm nay cả”.

Điều Frank làm tiếp theo khiến mọi người trên vỉa hè đều sững lại. Nó khiến lực lượng bảo vệ ông đứng im như tượng. Nó khiến đám đông hoàn toàn im lặng. Bởi vì Frank Sinatra không chỉ cho người kia một đô-la.

Người cựu binh đó là Robert Chen, 26 tuổi. Anh đã phục vụ hai lần ở Việt Nam trong Lực lượng Bộ binh, tham gia chiến đấu ác liệt ở Khe Sanh và thành phố Huế.

Anh trở về nhà năm 1971 với Huân chương Sao Đồng, những vết sẹo vì mảnh đạn trên lưng và những cơn ác mộng khiến anh không thể ngủ được. Giống như hàng ngàn cựu chiến binh khác, Robert trở về một đất nước không muốn nhìn mặt anh.

Anh không thể tìm được việc làm vì các nhà tuyển dụng chỉ cần thấy dòng chữ “Cựu chiến binh Việt Nam” trên đơn xin việc là họ chuyển ngay sang ứng viên khác. Anh không thể ngủ được vì mỗi tiếng động lớn quanh chỗ nằm đều đưa anh trở lại khu rừng rậm Việt Nam. Anh không thể kết nối với gia đình vì họ không hiểu những gì anh đã chứng kiến.

Đến tháng 12 năm 1972, Robert trở thành người vô gia cư, sống lang thang trên đường phố Las Vegas, ngủ trong các con hẻm và mót thức ăn còn thừa từ mọi thùng rác.

Huân chương Sao Đồng được cất giữ ở đâu đó trong một tiệm cầm đồ; anh đã bán nó với giá 30 đô-la từ 2 tháng trước chỉ để mua thức ăn.

Đêm đó, ngày 19 tháng 12, Robert đứng bên ngoài sòng bạc Sands – Ban đầu không phải để ăn xin, chỉ là đứng để cố tìm một chỗ ấm. Anh biết các sòng bạc bơm không khí ấm ra ngoài qua các lỗ thông hơi, và nếu bạn đứng gần lối vào, bạn có thể cảm nhận được hơi nóng.

Bên trong, Frank Sinatra vừa kết thúc buổi diễn của mình. Chín mươi phút nhận được những tràng vỗ tay nhiệt liệt, như thường lệ. Frank mệt mỏi.

Ông đã 57 tuổi, và dù giọng nói không còn như xưa, nó vẫn đủ mạnh mẽ để lấp đầy cả căn phòng và khiến mọi người quên đi những muộn phiền trong vài giờ.

Frank bước ra ngoài qua cửa chính, được bao quanh bởi quản lý, vệ sĩ và trợ lý của ông.

Một đám đông khoảng 50 người đang chờ đợi bên ngoài, họ là người hâm mộ với máy ảnh và sổ xin chữ ký, những người chơi bạc giàu có hy vọng được bắt tay ông. Đó là cảnh tượng thường thấy ở Las Vegas.

Robert thấy Frank bước ra qua cánh cửa kính, và điều gì đó trong anh vỡ vụn. Có lẽ đó là đói, có lẽ là tuyệt vọng, hoặc có lẽ chỉ là nhu cầu được ai đó – Bất cứ ai – nhìn thấy, người đó có thể thừa nhận sự tồn tại của anh.

Anh bước tới. Nhân viên an ninh lập tức chặn anh lại. Họ là những người đàn ông to lớn, cựu cảnh sát, được huấn luyện để giữ mọi người tránh xa Frank.

“Thưa ông, xin lùi lại” – Một người trong số họ nói dứt khoát.

Robert không lùi lại. Anh nhìn qua vai người bảo vệ, thẳng vào Frank. “Ông Sinatra, tôi xin lỗi vì đã làm phiền ông. Tôi là cựu chiến binh. Tôi chỉ cần một đô-la để mua thức ăn. Chỉ một đô-la thôi, làm ơn”.

Người bảo vệ đặt tay lên ngực Robert: “Tôi bảo anh lùi lại”.

Nhưng Frank đã nghe thấy. Ông đã nhìn thấy chiếc áo khoác quân đội, huy hiệu chiến tranh Việt Nam, và ánh mắt trống rỗng của Robert. Frank nhận ra ánh mắt đó vì chính mình đã từng thấy nó trước đây – Trong mắt cha ông sau thời kỳ Đại khủng hoảng, và trong mắt bạn bè ông sau Thế chiến II.

Frank khoát tay: “Chờ đã”.

Người bảo vệ dừng lại. Toàn bộ đám đông im lặng, mọi người đều dõi theo.

Frank bước qua người bảo vệ và đứng đối mặt với Robert. Ông thực sự nhìn kỹ anh ta – Đôi má hóp lại, đôi tay run rẩy, chiếc áo khoác quá mỏng so với tháng Mười Hai ở đây.

“Tên anh là gì?” – Frank hỏi.

“Robert Chen”.

“Anh từng phục vụ trong quân đội?”.

“Vâng, thưa ông. Lục quân, hai đợt”.

Frank gật đầu chậm rãi: “Ở đâu?”.

“Khe Sanh. Thành phố Huế”.

“Chuyện đó thật tệ” – Frank thì thầm.

“Vâng, thưa ông. Đúng vậy”.

Frank thò tay vào túi. Đám đông nghiêng người về phía trước, quan sát, mong chờ ông rút ra một đô-la, có thể năm đô-la, hoặc hai mươi đô-la nếu Robert may mắn. Nhưng Frank rút ví, mở ra và lấy tất cả các tờ tiền bên trong. Hàng trăm, năm mươi, hai mươi đô-la, tổng cộng có lẽ khoảng 800 đô-la. Ông đưa nó cho Robert.

Robert nhìn chằm chằm vào số tiền. Anh không nhận: “Thưa ông, tôi chỉ xin một đô-la thôi”.

“Tôi biết anh cần gì?” – Frank nói – “Tôi đang cho anh những gì anh cần”.

“Tôi không thể nhận số tiền này”.

“Có, anh có thể” – Frank nắm lấy tay Robert, đặt tiền vào tay anh và khép các ngón tay của Robert lại quanh cuộn tiền đó – “Nghe này. Anh đã phục vụ đất nước. Anh đã làm những gì họ yêu cầu anh làm, và anh trở về tay trắng. Điều đó không đúng. Điều đó không công bằng. Và tôi không thể sửa chữa cả thế giới, nhưng tôi có thể giúp anh tối nay. Cầm lấy tiền đi”.

Robert rưng rưng mắt: “Tại sao?”.

“Vì cha tôi đã từng như anh” – Frank đáp – “Cuộc chiến tranh khác, nhưng câu chuyện giống nhau. Ông ấy trở về từ Thế chiến thứ nhất với hai bàn tay trắng. Làm việc quần quật đến chết để mưu sinh. Tôi đã chứng kiến ​​ông ấy vật lộn suốt thời thơ ấu của tôi. Và tôi thề rằng nếu tôi có tiền, nếu tôi có cơ hội giúp đỡ một người như ông ấy, tôi sẽ làm”.

Frank quay sang người quản lý của mình: “Đặt cho anh ta một phòng ở khách sạn Sands này. Một tuần. Tính vào hóa đơn của tôi”.

Người quản lý gật đầu, lấy ra một cuốn sổ tay.

Frank quay lại phía Robert: “Tối nay anh sẽ nhận phòng trong khách sạn này. Anh sẽ được ăn uống. Anh sẽ được ngủ trên một chiếc giường thực sự. Và ngày mai, anh đến gặp tôi. Tôi có một người bạn điều hành một công ty xây dựng. Anh ấy thuê cựu chiến binh. Công việc tốt. Anh có hứng thú không?”.

Robert không thể nói nên lời. Anh chỉ gật đầu, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt.

“Tốt” – Frank đặt tay lên vai Robert – “Anh không còn cô đơn nữa. Anh hiểu tôi chứ? Dù anh đã mang vác điều gì, anh không cần phải mang một mình nữa”.

Rồi Frank làm một điều mà không ai ngờ tới. Ông cởi áo khoác của mình. Đó là chiếc áo cashmere đắt tiền, được may đo riêng, trị giá hơn thu nhập cả tháng của hầu hết mọi người. Ông khoác nó lên vai Robert.

“Tối nay trời lạnh” – Frank nói. Đám đông đứng chết lặng. Một số người khóc. Một người phụ nữ ở phía trước lấy tay che miệng. Một trong những vệ sĩ của Frank lau nước mắt.

Frank quay sang đám đông: “Người đàn ông này đã phục vụ đất nước. Anh ấy đã chiến đấu trong một cuộc chiến mà hầu hết chúng ta chỉ xem trên TV. Anh ấy trở về tay trắng. Không việc làm, không sự hỗ trợ, không sự tôn trọng. Thật đáng xấu hổ. Đó là lỗi của tất cả chúng ta”.

Ông nhìn thẳng vào đám đông: “Tối nay các bạn đến đây để xem biểu diễn, để vui chơi, để quên đi những vấn đề của mình. Điều đó tốt thôi. Nhưng đừng quên những người như Robert. Đừng bước qua họ. Đừng giả vờ như họ vô hình, bởi vì họ không phải vậy. Họ là những người hùng, và chúng ta nợ họ tất cả mọi thứ”.

Frank quay lại nhìn Robert: “Vào trong đi. Nói với họ là Frank đã gửi anh đến. Họ sẽ chăm sóc anh”.

Robert cố gắng nói nhưng không thành công. Anh chỉ ôm chầm lấy Frank ngay trên vỉa hè. Người cựu chiến binh vô gia cư và ngôi sao lớn bậc nhất thế giới ôm chặt lấy nhau trong khi 50 người khác im lặng theo dõi.

Khi Robert buông ra, Frank khẽ nói: “Còn một điều nữa. Cậu cứ giữ lấy chiếc áo khoác đó. Nó hợp với cậu hơn là với tôi”.  Rồi Frank đi đến xe của mình, lên xe và rời đi.

Đám đông đứng đó một lúc lâu. Không ai nhúc nhích. Không ai nói gì. Rồi, từ từ, mọi người bắt đầu thò tay vào túi, rút ​​tiền ra, đi về phía Robert và đưa cho anh. Hai mươi, năm mươi, một trăm đô-la.

Một người phụ nữ cởi khăn quàng cổ của mình và đặt vào tay Robert. “Cảm ơn vì sự phục vụ của anh” – Bà thì thầm.

Khi đám đông giải tán, Robert Chen đã cầm trên tay hơn 3.000 đô-la và mặc chiếc áo khoác của Frank Sinatra.

Tối đó, anh nhận phòng 847 tại khách sạn Sands. Anh tắm 40 phút – Lần tắm nước nóng đầu tiên sau 8 tháng. Anh gọi dịch vụ phòng – Bít-tết và trứng – rồi ăn chậm rãi, thưởng thức từng miếng.

Sáng hôm sau, anh gặp bạn của Frank tại công ty xây dựng, một người tên là Joe Columbo, một cựu lính Thủy đánh bộ từng phục vụ ở Hàn Quốc. Anh ấy hiểu ngay câu chuyện.

“Frank đã gọi cho tôi“ – Joe nói – “Anh ấy đã kể với tôi về anh. Tôi có một vị trí đang trống. Lương 75 đô la một ngày. Anh bắt đầu làm việc vào thứ Hai. Anh có muốn nhận không?”.

Robert gật đầu: “Vâng, thưa ông. Tôi muốn nhận”.

Joe mỉm cười. “Tốt. Và đừng gọi tôi là ông nữa. Tôi làm việc để kiếm sống thôi mà…”.

Robert làm việc cho Công ty Xây dựng Columbo trong 32 năm tiếp theo. Ông cuối cùng trở thành quản lý dự án, và giám sát các công trình xây dựng lớn trên khắp Las Vegas. Ông có một cuộc sống tốt đẹp, kết hôn, có ba đứa con và mua một căn nhà.

Ông giữ lại chiếc áo khoác của Frank. Ông không bao giờ mặc nó nữa, cất giữ nó trong một tủ đặc biệt, giặt khô mỗi năm một lần, được bảo vệ như một vật thiêng liêng.

Khi Frank Sinatra qua đời vào ngày 14 tháng 5 năm 1998, Robert Chen, khi đó là một giám đốc điều hành đã nghỉ hưu, đã bay đến California.

Ông không cố gắng tham dự buổi lễ riêng tư cùng với những người nổi tiếng và các chức sắc. Ông chỉ đơn giản đứng bên ngoài nhà thờ, mặc chiếc áo khoác cashmere màu sữa đó lần đầu sau 26 năm. Ông đứng gác, giống như hồi còn ở Việt Nam, trông chừng người đàn ông đã cứu mạng mình.

Khi một phóng viên để ý thấy chiếc áo khoác – Rõ ràng là đồ cổ, rõ ràng là đắt tiền – và hỏi ông về nó, Robert chỉ mỉm cười, vỗ nhẹ ve áo và nói: “Một người bạn đã tặng tôi chiếc áo này từ lâu. Anh ấy nói rằng mặc nó hợp với tôi hơn là với anh ấy. Tôi chỉ đến đây để nói lời cảm ơn”.

Robert Chen qua đời năm 2016. Ông được chôn cất cùng với Huân chương Sao Đồng, thứ mà cuối cùng ông đã tìm lại và mua lại được. Và trong quan tài của ông, được gấp gọn gàng dưới chân, là chiếc áo khoác của Frank Sinatra.

Một lời cuối cùng: Một hành động tử tế, một khoảnh khắc bạn nhìn thấy ai đó khi cả thế giới ngoảnh mặt làm ngơ họ, có thể bạn sẽ thay đổi cuộc đời họ mãi mãi.

Photo: Frank Sinatra và Robert Chen

May be an image of overcoat and text


 

Người ta có thể nhờ làm việc lành mà lên Thiên đàng không?- Cha Vương

Một ngày tràn đầy yêu thương và tha thứ nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 12/2/2026. (t4-25)

GIÁO LÝ: Người ta có thể nhờ làm việc lành mà lên Thiên đàng không? Không. Không ai có thể lên Thiên đàng chỉ nhờ cố gắng của mình. Chúng ta được cứu độ chỉ nhờ ơn Chúa mà thôi, tuy nhiên, ơn Chúa đòi sự cộng tác tự do của mỗi cá nhân. (YouCat, số 341)

   Không phải cứ nhận mình là người Công giáo, cứ nói tôi tin có Chúa, nhưng đời sống của  tôi lại hoàn toàn mâu thuẫn với niềm tin đó, vì vẫn  ăn gian nói dối, ngoại tình, gian lận, tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, oán thù, ghen ghét, cờ bạc, mãi dâm, nhẩy nhót, ca hát vui chơi  sa đọa … thì có nói cả ngàn lần “ Lạy Chúa, Lạy Chúa” cũng vô ích mà thôi bạn ạ!

SUY NIỆM: Có lẽ câu trả lời “không” ở trên làm bạn ngạc nhiên. Nhưng thực ra không ai tự cứu mình được. Giữa lúc bệnh tật, đói nghèo, khổ đau, tuyệt vọng, giữa cái sống và cái chết, những lúc như thế thì “Đức Tin” như chiếc phao cứu hộ, giúp ta có niềm hy vọng. Ngược lại dù tài bơi lội của bạn có giỏi đến đâu đi nữa, giữa biển sâu sóng ngầm, bạn cũng cần một chiếc phao (Đức Tin).

 Dầu chỉ nhờ ân sủng và đức tin mà ta được cứu rỗi, thì vẫn còn cần đến tình yêu ta, được thúc đẩy bởi tác động của Chúa, bày tỏ qua các việc lành. (YouCat, số 341 t.t.)

❦  Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy. (Dt.11:1)

❦  Đức Tin không việc làm là Đức Tin chết, việc làm không có đức tin là vô nghĩa.

❦  Chúa không đòi ta những công việc lớn, mà đơn giản là ta hiến mình cho Chúa và tạ ơn Người. Người không cần việc làm của ta nhưng chỉ cần duy nhất là tình yêu của ta. (Thánh Têrêxa ở Lisieux)

LẮNG NGHE: Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện. (Ep 2:8-9)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin ban thêm lòng tin cho con, lòng tin bằng việc tuân giữ và thực hành những gì Chúa đã truyền dạy cho con trong Tin Mừng để mọi việc con làm cho danh Chúa được cả sáng hơn.

THỰC HÀNH: Là người Kitô hữu, vậy thì thử hỏi: Bạn có thực sự tin vào Ngài không? Bạn tin nhưng bạn có yêu Ngài không? Bạn yêu Ngài nhưng bạn có làm cho tình yêu của Ngài được triển nở và lan tỏa bằng hành động không?

From: Do Dzung

*********************

CHỈ MÌNH CHÚA – Sáng tác: Sr Maria, SLE | Tuyết Sương

Lễ Đức Mẹ Lộ Đức  – Cha Vương

 Chúc Bạn và gia đình một ngày an lành! Hôm nay ngày 11/2, Giáo Hội mừng kính Lễ Đức Mẹ Lộ Đức nơi mà rất nhiều bệnh nhân đã tìm đến hang đá và suối nước này cầu nguyện và cảm thấy được Mẹ nâng đỡ, nhiều người còn được ơn chữa lành. Chính vì vậy, Giáo hội cũng chọn ngày này là ngày quốc tế bệnh nhân. Ta hãy làm việc hy sinh và cầu nguyện xin ơn chữa lành cho các bệnh nhân hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 11/2/2026.  (t6-22)

   Tín điều “Đức Mẹ Vô nhiễm” mà Đức Piô IX tuyên tín năm 1854 như một ngọn đèn pha chiếu sáng vào mầu nhiệm Nhập Thể cứu thế để củng cố đức tin dân Chúa trong thế kỷ XIX, khi mà làn sóng vô thần tại  Au châu từ nền văn minh khoa học nổi lên chống Thiên Chúa cứ mỗi ngày tràn lan. Đức Mẹ đã hiện ra tại Paris, La Salette, và Lộ Đức để cản ngăn. Nhất là tại Lộ Đức, Đức Mẹ hiện ra năm 1858 để chuẩn nhận tín điều “Mẹ Vô nhiễm” năm 1854.

   Lộ Đức năm 1858 là một thành phố chừng 5,000 cư dân, nằm cạnh sông Pau, lối vào thung lũng dẫy núi Pyrénées phía đông nam nước Pháp, giáp ranh giới Tây Ban Nha. Đức Mẹ chọn Bernađetta Soubinous, 14 tuổi, con nhà nghèo, đau yếu, đơn sơ thật thà tuy chưa học giáo lý. Trưa ngày 11 tháng 2 là thứ Năm sau lễ Tro, Bernađetta cùng với em là Antoinetta và cô bạn Jeanna đi vào rừng kiếm củi đốt lò sưởi. Cô em và cô bạn lội qua sông nước cạn, Bernađetta chưa kịp trụt giầy lội theo, còn đang đứng trước hang Massabielle. Bỗng một cơn gió mạnh, Bernađetta nhìn lên thấy một áng mây vàng và một Bà Đẹp hiện ra. Bà mặc áo dài trắng, đội khăn lúp dài trắng, thắt lưng xanh lơ, đeo tràng hạt vàng ở cánh tay phải. Mỗi chân Bà có một bông hồng vàng. Bà nhìn Bernađetta, mỉm cười và làm dấu thánh giá lần chuỗi, môi không mấy máy. Bernađetta quì xuống lần chuỗi với Bà. Bà làm hiệu bảo Bernađetta tới gần, nhưng Bernađetta sợ không dám. Rồi Bà biến đi. Cô em và cô bạn không thấy gì, chỉ có Bernađetta được thấy sự lạ.

   Lần thứ hai, trưa Chúa nhật ngày 14, mười người kể cả cô em và cô bạn cùng với Bernađetta ra hang. Bà hiện ra. Bernađetta vẩy nước phép để biết chắc không phải là ma quái. Bà chỉ mỉm cười, không nói gì.

   Từ ngày 18-2 tới ngày 4-3, Bà hiện ra 13 lần và ban sứ điệp cho Bernađetta. Số người đi xem từ mấy người tăng dần tới 8,000 người.

   Ngày 25 tháng Ba là lễ Truyền tin. Bà xưng mình: “Ta là Đấng Vô nhiễm thai” (“I am the Immaculate Con-ception”). Bà còn hiện ra hai lần nữa, ngày mồng 7-4 và ngày 16-7. Như vậy Bà Đẹp đó là chính Đức Mẹ. Người hiện ra tại hang Massabielle tất cả 18 lần. Đức Mẹ nói tiếng thổ ngữ Burgundian mà Bernađetta thường nói.

   Năm 1866, Bernađetta nhập tu dòng Nữ tử Bác ái tại tu viện St. Gildard thành phố Nevers. Chị bị bệnh xuyễn và lao xương chân đau đớn và qua đời ngày 16 tháng 4 năm 1849, chẵn 35 tuổi. Lời nguyện cuối cùng trên môi miệng chị là: “Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa, xin cầu cho con là một tội nhân khốn nạn”. Trong thời gian chịu bệnh đau đớn, chị viết một câu tóm lược đời sống của chị: “Vâng lời là yêu mến!  âm thầm chịu khổ vì Chúa Kitô là vui sướng. Chân thành yêu mến là hiến dâng mọi sự, kể cả nỗi đớn đau”.Chị Bernađetta được phong Á Thánh năm 1925 và Hiển Thánh năm 1933.

   Những sứ điệp Đức Mẹ Lộ Đức ban:

(1) Sứ điệp riêng cho Bernađetta: Đức Mẹ nói với Bernađetta: “Con có muốn đến đây mỗi ngày trong hai tuần không? Ta không hứa cho con được hạnh phúc ở đời này nhưng đời sau”. Đức Mẹ còn nói với Bernađetta ba điều bí mật mà Bernađetta không bao giờ tiết lộ.

(2) Sứ điệp thống hối đền tội: Hiện ra lần thứ 8 ngày 24 tháng 2, Đức Mẹ nhắn nhủ: “Hãy ăn năn đền tội. Hãy ăn năn đền tội. Hãy cầu xin Thiên Chúa cho các tội nhân. Hãy quì lê vào hang và hôn đất để đền tội cho các tội nhân”. Hiện ra lần thứ 9 ngày 25 tháng 2, Đức Mẹ chỉ bảo “bới dưới tảng đá để có mạch nước vọt lên và hãy uống. Hãy ăn một ít cỏ mọc chung quanh mạch nước”.

(3) Sứ điệp cho Giáo hội: Hiện ra lần thứ 13 ngày mồng 2 tháng 3, Đức Mẹ xin “xây một đền thờ tại đây và muốn hang Massabielle sẽ là nơi hành hương và những cuộc rước”.

(4) Sứ điệp vinh quang của Đức Mẹ: Hiện ra lần thứ 16 trùng lễ Truyền tin ngày 25 tháng Ba, vì Bernađetta khẩn khoản nài xin, Đức Mẹ xưng mình: “Ta là Đấng Vô nhiễm thai”.

(5) Sứ điệp của Mẹ âm vang Phúc âm: 

1) Hãy tỉnh thức và cầu nguyện (Mt 26:41).

 2) Hãy cải thiện đời sống, Nước Trời đã gần đến (Mt 4:17).

 3) Ai uống nước Ta ban sẽ không bao giờ khát (Ga 4:14). 

4) Con là Đá. Trên đá này, Ta sẽ xây Giáo hội của Ta (Mt 16:18). 

5) Ta luôn ở cùng các con cho tới ngày tận thế (Mt 28:20).

 (Nguồn: Đồng Công)

❦  Để bày tỏ lòng yêu mến Mẹ, mời Bạn hãy siêng năng lần hạt Mân Côi nhé.

From: Do Dzung   

************************

Ave Maria Ánh Trăng Từ Bi – Lm. Nguyễn Duy –  Ca Sỹ : Công Minh