TẬN CÙNG SỰ KHỐN NẠN

Xuyên Sơn

 TẬN CÙNG SỰ KHỐN NẠN.

Chuyện những cây cầu ở Miền Tây.

Cầu Mỹ Thuận, bắc qua sông Tiền, nối hai tỉnh Vĩnh Long và Tiền Giang, được khởi công ngày 06/7/1997 do nước Australia tài trợ, khánh thành ngày 21/5/2000.

Người dân Miền Tây vui mừng chưa hết nụ cười thì ngay lập tức trạm thu phí phía Tiền Giang hoạt động.

Dĩ nhiên, Australia phản đối việc thu phí do cây cầu này được xây từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của Australia, họ muốn giúp đỡ dân Miền tây vốn đã quá vất vả với hạ tầng giao thông kém cỏi.

Phía VN viện cớ phải thu phí để trang trải tiền bảo trì, duy tu, điện chiếu sáng nên cù nhây quyết không buông, người Úc lại bảo “thế chúng mày thu thuế để làm gì?” Phía VN vẫn chây lì , Người Úc đành âm thầm rút khỏi dự án cầu Cao Lãnh và Vàm Cống.

Mãi đến 01.01.2013, trạm thu phí cầu Mỹ Thuận mới chính thức dừng thu phí, khi đã áp phí bảo trì đường bộ bắt buộc.

Năm 2010, cầu Cần Thơ khánh thành, bằng nguồn vốn của người Nhật,

nếu người Nhật không đến có lẽ việc nối hai bờ sông Hậu mãi là giấc mơ. Cầu xây chưa xong nhưng trạm thu phí thì đã nhanh nhẩu xây xong trước đó.

Người Nhật cũng phản đối giống như người Úc, chắc họ ngạc nhiên với cái chính quyền đã thu thuế phí các loại lại còn tận thu phí qua cầu.

Năm 2011 Hầm Thủ Thiêm và Đại lộ Đông tây khánh thành, trước đó trạm thu phí đã mọc lên, phía Nhật gởi công hàm phản đối kịch liệt.

Kết quả:

ngày 22/11/2012, UBND TP HCM quyết định chưa thu phí hầm Thủ Thiêm (đường hầm sông Sài Gòn) “để chia sẻ khó khăn với người dân”, nghe mà rớt nước mắt, nuốt không trôi thì chia sẻ vậy!!!.

Trạm thu phí này phải dỡ bỏ vào năm 2018, mất 53 tỷ đồng tiền xây dựng.

Sự đê tiện của Bộ GTVT và chính quyền được nâng cao thêm một mức khi thông cầu Vàm Cống và Cao Lãnh, họ liền đặt trạm BOT T2 ngay ngã ba lộ tẻ để chặn dòng xe qua cầu Vàm Cống đi về hướng Long Xuyên, trước đó đã có trạm thu phí trên QL 80 đi Rạch Giá và QL 91 đi Cần Thơ, lập trạm BOT T2 này chẳng khác nào hành động của bọn lục lâm thảo khấu, một hành vi trấn lột đê tiện.

Cầu Vàm Cống và Cao Lãnh do chính phủ Hàn Quốc tài trợ, trước sự phản đối của phía Hàn Quốc và người dân, trạm này phải đóng cửa.

Cái bản chất gian xảo, lưu manh nó có từ thời nào?

Các nước Úc, Nhật và Hàn Quốc muốn giúp đỡ người dân Miền Tây nên đã dùng tiền thuế của dân họ tài trợ xây ba cây cầu huyết mạch, giúp việc lưu thông thuận tiện, giúp cho người dân cải thiện đời sống của mình.

Nhà nước VN do dân, vì dân, thấy dân đi đường của bọn tư bản viện trợ mà không thu thì rất phí nên bất chấp liêm sỉ, bằng mọi giá lập trạm thu phí, dù sau đó phải ăn cái tát từ các nhà tài trợ!!!

Cây cầu thứ tư khá nổi tiếng ở Miền Tây, khi nhắc đến nó chúng ta sẽ nghĩ đến một điểm kẹt xe nổi tiếng.

Cầu Rạch Miễu nối hai tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, là niềm tự hào của ngành xây dựng giao thông VN, đây là công trình do Việt Nam tự đầu tư, với thiết kế và tổng thầu là các công ty Việt Nam.

Tiếc thay “niềm tự hào” nãy đã lỗi thời từ ngay từ khi thiết kế và trở thành cây cầu nguy hiểm nhất Miền Tây.

Rạch Miễu được khởi công năm 2002, tuy nhiên nó lại sử dụng số liệu khảo sát về lưu lượng xe từ năm 1995!, khánh thành năm 2009 nó đã trở nên lạc hậu.

Cầu chỉ có một làn xe cho mỗi chiều và một dẻo nhỏ hai bên cho xe máy đi, mặt đường nhỏ.

Độ dốc cao nên xe tải chỉ có thể bò lên cầu, độ tĩnh không cao nên khi trời mưa hay gió lớn xe máy di chuyển qua đây có thể bị thổi ngã, tuy vậy khi thiết kế và ngay cả bây giờ họ cũng không gắn các miếng che gió bảo đảm an toàn cho người đi đường.

Mặc dù xây cầu để không phải đi phà, nhưng đến năm 2021, ngân sách

(lại là tiền thuế của dân) chi 100 tỷ để làm lại bến phà nhằm giải tỏa cho Cầu Rạch Miễu, cái vòng lẫn quẩn.

Bọn đầy tớ phá thật! não trạng chỉ toàn “phí, thuế”.

Không có khả năng hoạch định chính sách nhưng rất điếm đàng trong việc dựng BOT.

Từ fb Chế Quốc Long


 

 NẰM MƠ HOÁ RỒNG…!

Xuyên Sơn

 NẰM MƠ HOÁ RỒNG…!

“Chẳng có quốc gia nào mà suốt ngày đi xin, đi vay.

Chẳng có chính phủ nào vay tiền để trả nợ mà đòi đưa đất nước hóa rồng, hóa hổ.. này nọ.!”

Nằm mơ hóa rồng …!

Đất nước gì mà một chiếc Opel của Đức được bán tại nước Đức với giá chỉ 5100 EURO, đem về Việt Nam dán chữ VINFAST bán với giá 450 triệu đồng.

Một chiếc tivi từ Trung Quốc được tháo rời đem về Việt Nam sắp lại dán chữ Asanzo hàng Việt Nam chất lượng cao mới ghê… cú lừa năm 2019 của thời đại cái này quá tàn nhẫn với người tiêu dùng Việt Nam…..

Gạo ngon đem xuất khẩu chỉ khoảng 7000 VNĐ/kg, trong khi đó người dân phải mua tại siêu thị tới 13.000-15.000 cho 1 kg gạo loại thường.

Một con gà, một cân thịt khi được đưa lên bàn ăn thì nó bị thu tới gần 20 loại phí.

Bên cạnh giá thuốc, sữa vào loại cao nhất thế giới thì người VN chúng ta đang bị “đánh thuế vô cùng tàn bạo” từ cái ăn, cái mặc, cái dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tới cái phương tiện đi lại…..

Theo thống kê thì gộp tất cả công chức, viên chức, công an, bộ đội, người nghỉ hưu, ban bệ, các đoàn thể… thì có gần 12 triệu người ăn lương từ ngân sách Nhà nước.

Mỗi năm tiêu tốn hơn 60,000 tỷ tiền thuế của nhân dân nhưng nghịch lý là chúng nó chẳng tạo ra được điều tốt đẹp gì cho an sinh xã hội.

Năm 2019 là năm đáo hạn vốn vay ODA, cũng năm 2019 thì VN chúng ta bị cắt các khoản vay ưu đãi, chính phủ các nước đã siết chặt vốn ODA cho VN.

Không phải ngẫu nhiên mà những thương hiệu làm ra ăn nên như Sabeco, Habeco, Vinamilk, FPT… những con gà biết đẻ trứng vàng hiếm hoi của nhà nước cũng bị đem bán,

đơn giản chính phủ đã cạn kiệt tiền sau những năm tháng mà quan chức rất tích cực tàn phá, tích cực tham nhũng, tích cực biển thủ công quỹ làm của riêng…..

Chẳng có quốc gia nào mà suốt ngày đi xin, đi vay.

Chẳng có chính phủ nào vay tiền để trả nợ mà đòi đưa đất nước hóa rồng,

hóa hổ.. này nọ.!

Chẳng có dẫn chứng khoa học nào khiến đồng tiền mất đi cả, nó chỉ chuyển hóa từ nơi này sang nơi khác, từ túi người này sang người khác mà thôi.

Hàng vạn ngôi biệt thư, xe hơi, các vật phẩm xa xỉ, khối vàng ròng giấu trong két sắt của đảng viên chính là sự chuyển hóa ấy.

Khi nợ quốc gia chất cao như núi, tình cảnh “vỡ nợ” đang dần hiện hữu, thì không còn cách nào khác là chính phủ phải tiếp tục “bóp cổ người dân”

để lấy tiền nuôi bộ máy quan chức.

Theo đó thì phí BHXH, BHYT, phí cầu đường, phí đăng ký ô tô, xe máy, giá điện, nước… cứ thế mà tăng giá phi mã.

Vậy thôi, ai có sức ăn được thì cứ ăn, tội vạ đâu dân gánh hết.

Ngẫm mà buồn cho mình dân Việt…

Như Linh

Hình minh họa: Internet

Nguồn fb Lời Nguyền


 

HỘI CHỨNG TỈNH THỨC TRONG LÒNG NƯỚC MỸ TRƯỚC HIỆN TƯỢNG DONALD TRUMP

Hoai Linh Ngoc Duong

 HỘI CHỨNG TỈNH THỨC TRONG LÒNG NƯỚC MỸ TRƯỚC HIỆN TƯỢNG DONALD TRUMP

Nước Mỹ năm 2026 không chỉ bị chia rẽ bởi đảng phái hay những cuộc bầu cử thông thường.

Điều đang diễn ra sâu bên dưới đời sống chính trị Mỹ là một cuộc nội chiến văn hóa âm thầm nhưng dữ dội, nơi người Mỹ tranh cãi không chỉ về ai sẽ lãnh đạo quốc gia mà còn về việc nước Mỹ là ai, lịch sử của nước Mỹ phải được kể như thế nào, và đâu là chuẩn mực đạo đức mới của xã hội hiện đại.

Trong trung tâm của cơn bão ấy là hai hiện tượng đối nghịch: “Woke Culture” – văn hóa tỉnh thức cấp tiến – và Donald Trump, biểu tượng của cuộc phản kháng bảo thủ mang tên MAGA.

Điều đáng chú ý là cả hai hiện tượng này đều không xuất hiện từ khoảng trống lịch sử.

Chúng là sản phẩm của những khủng hoảng kéo dài nhiều thập niên trong xã hội Mỹ: bất bình đẳng chủng tộc, toàn cầu hóa làm tan rã tầng lớp lao động da trắng, khủng hoảng nhập cư, sự mất niềm tin vào truyền thông truyền thống, sự suy giảm vai trò của tôn giáo, và cảm giác rằng nước Mỹ đang đánh mất bản sắc lịch sử của mình.

Chính trong môi trường ấy, “woke” và Trump trở thành hai phản ứng đối nghịch của cùng một xã hội đang rạn nứt.

Ban đầu, từ “woke” trong cộng đồng người Mỹ gốc Phi chỉ đơn giản mang nghĩa “hãy thức tỉnh”, hãy cảnh giác trước sự bất công, kỳ thị và bạo lực chủng tộc. Nó từng là lời kêu gọi đạo đức mang tính nhân văn.

Nhưng theo thời gian, đặc biệt sau các phong trào như Black Lives Matter, MeToo hay các cuộc đấu tranh về quyền LGBTQ+, khái niệm này dần mở rộng thành một hệ tư tưởng xã hội toàn diện. “Wokeness” không chỉ chống phân biệt chủng tộc mà còn đặt lại vấn đề về giới tính, lịch sử thực dân, đặc quyền của người da trắng, ngôn ngữ, văn hóa đại chúng và cấu trúc quyền lực trong xã hội Mỹ.

Trong mắt những người ủng hộ, đây là một tiến trình văn minh tất yếu của nhân loại. Họ cho rằng nước Mỹ không thể tự nhận là ngọn hải đăng dân chủ nếu vẫn tồn tại kỳ thị chủng tộc, bất công giới tính hay sự loại trừ các cộng đồng thiểu số.

Các chương trình DEI – Diversity, Equity and Inclusion – được xây dựng với mục tiêu tạo ra cơ hội công bằng hơn cho những nhóm từng bị thiệt thòi trong lịch sử. Các trường đại học, công ty lớn và cơ quan chính phủ bắt đầu tái cấu trúc theo hướng “bao trùm” hơn.

Nhưng chính tại điểm này, một phản ứng dữ dội từ phe bảo thủ xuất hiện. Với hàng chục triệu người Mỹ, đặc biệt tại các bang miền Nam và Trung Tây, “woke culture” không còn là phong trào đòi công lý mà đã biến thành một dạng đạo đức cưỡng ép mới.

Họ cảm thấy mình bị buộc phải nói đúng ngôn ngữ chính trị, phải chấp nhận những định nghĩa mới về giới tính, chủng tộc và lịch sử, nếu không sẽ bị “cancel” – bị tẩy chay, mất việc, bị bêu riếu trên mạng xã hội hay bị loại khỏi đời sống công cộng.

Từ đây, Donald Trump nổi lên không chỉ như một chính trị gia mà như biểu tượng của một cuộc nổi dậy văn hóa chống lại tầng lớp tinh hoa cấp tiến. Trump hiểu rất rõ rằng phần lớn cử tri MAGA không đọc các học thuyết chính trị phức tạp.

Điều họ cảm nhận là nỗi bất an: nước Mỹ quen thuộc của họ đang biến mất. Những bức tượng lịch sử bị kéo đổ. Các khái niệm giới tính truyền thống bị thách thức.

Những giá trị tôn giáo bảo thủ bị xem là lạc hậu. Người da trắng thuộc tầng lớp lao động cảm thấy mình bị coi như “kẻ có tội lịch sử” chỉ vì màu da và nguồn gốc của mình.

Trump đã khai thác tâm lý đó bằng một thứ ngôn ngữ trực diện và đầy cảm xúc. Trump không tranh luận theo kiểu học thuật mà biến “woke” thành một kẻ thù văn hóa. Trong các bài diễn văn, Trump gọi “wokeness” là “độc dược”, là “căn bệnh phá hủy nước Mỹ từ bên trong”.

Trump hứa sẽ “giải cứu nước Mỹ khỏi chủ nghĩa thức tỉnh cực đoan”, khôi phục “giá trị truyền thống”, “lòng yêu nước” và một xã hội dựa trên năng lực thay vì bản sắc.

Chính quyền Trump trong nhiệm kỳ mới đã biến cuộc chiến chống woke thành chính sách quốc gia. Các chương trình DEI trong cơ quan liên bang bị cắt giảm hoặc bãi bỏ. Việc giảng dạy lý thuyết chủng tộc phê phán (Critical Race Theory – CRT) trong trường công bị hạn chế.

Những tranh luận về người chuyển giới trong thể thao, giáo dục và quân đội trở thành chiến tuyến chính trị nóng bỏng. Đối với phe MAGA, đây là cuộc chiến nhằm “giành lại nước Mỹ”.

Nhưng đối với phe cấp tiến, đó là dấu hiệu của một cuộc phản công nhằm xóa bỏ thành quả đấu tranh dân quyền nhiều thập niên.

Điều đáng sợ nhất không nằm ở bất đồng chính sách mà nằm ở sự tan vỡ của khả năng đối thoại. Người Mỹ ngày càng không chỉ bất đồng mà còn xem nhau như mối đe dọa đạo đức.

Phe cấp tiến coi Trump là biểu tượng của chủ nghĩa dân túy cực hữu, chủ nghĩa dân tộc da trắng và xu hướng độc tài. Trong khi đó, phe MAGA lại xem giới “woke” như lực lượng phá hoại truyền thống, chống tôn giáo, chống gia đình và đang “tẩy não” trẻ em thông qua giáo dục và truyền thông.

Hai bên không còn chia sẻ cùng một hệ quy chiếu về sự thật. Một bên tin rằng Trump là hiểm họa đối với nền dân chủ Mỹ. Bên kia tin rằng chính giới tinh hoa cấp tiến mới là những kẻ đang thao túng thể chế để áp đặt tư tưởng.

Từ đó xuất hiện các hiện tượng cực đoan về tâm lý chính trị. Người chống Trump bị phe MAGA chế giễu bằng khái niệm “Trump Derangement Syndrome” – như thể họ bị ám ảnh bệnh lý bởi Trump.

Ngược lại, nhiều nhà nghiên cứu xã hội học lại mô tả phong trào MAGA như một dạng trung thành mang màu sắc giáo phái chính trị, nơi Trump không còn là một chính trị gia bình thường mà trở thành biểu tượng cứu rỗi văn hóa.

Hậu quả là toàn bộ đời sống Mỹ bị chính trị hóa đến cực độ. Trường học trở thành chiến trường tư tưởng. Thư viện bị tranh cãi vì những cuốn sách liên quan đến giới tính và chủng tộc.

Các tập đoàn lớn rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan: duy trì DEI để giữ hình ảnh tiến bộ với giới trẻ hay loại bỏ nó để tránh sự tẩy chay từ phe bảo thủ. Ngay cả Disney, Harvard hay các hãng công nghệ lớn cũng bị kéo vào cuộc chiến văn hóa chưa từng có trong lịch sử hiện đại Mỹ.

Điều nghịch lý là cả hai phía đều tự xem mình là lực lượng “giải cứu nước Mỹ”. Phe woke tin rằng họ đang mở rộng tự do và công bằng cho mọi cộng đồng bị áp bức.

Phe MAGA lại tin rằng họ đang bảo vệ linh hồn truyền thống của quốc gia trước sự suy đồi văn hóa. Nhưng khi cả hai cùng tuyệt đối hóa chân lý của mình, xã hội sẽ mất đi vùng xám của đối thoại và thỏa hiệp – vốn là nền tảng của nền dân chủ Mỹ suốt hơn hai thế kỷ.

Hiện tượng Donald Trump vì thế không thể chỉ được giải thích như sự nổi lên của một cá nhân. Trump là phản ứng tập thể của hàng chục triệu người Mỹ trước nỗi sợ bị đánh mất bản sắc trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng văn hóa cấp tiến.

Còn “wokeness” cũng không đơn thuần là một “căn bệnh”, mà phản ánh khát vọng sửa chữa những bất công lịch sử tồn tại rất lâu trong xã hội Mỹ. Bi kịch của nước Mỹ nằm ở chỗ hai phản ứng ấy ngày càng cực đoan hóa lẫn nhau.

Nước Mỹ từng vượt qua Nội chiến, khủng hoảng kinh tế và cả chiến tranh lạnh vì người Mỹ cuối cùng vẫn còn khả năng chia sẻ một bản sắc quốc gia chung.

Nhưng cuộc chiến văn hóa hiện nay nguy hiểm hơn ở chỗ nó đánh thẳng vào chính khái niệm “người Mỹ là ai”. Khi một quốc gia không còn đồng thuận về lịch sử, đạo đức và căn tính của chính mình, sự chia rẽ sẽ không còn chỉ nằm trong chính trường mà sẽ ăn sâu vào từng gia đình, trường học và đời sống thường nhật.

Có lẽ vì thế mà hiện tượng Donald Trump không phải nguyên nhân duy nhất của cuộc khủng hoảng này.

Ông ta chỉ là tấm gương phản chiếu một nước Mỹ đang thức tỉnh theo hai hướng ngược nhau: một bên muốn thay đổi để trở nên cấp tiến hơn, một bên muốn quay trở lại với những giá trị truyền thống mà họ tin rằng đã làm nên sức mạnh của nước Mỹ.

Và chính cuộc “tỉnh thức ngược” ấy đang tái định hình toàn bộ nền văn hóa và chính trị Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI. 


 

Tuổi Già Được Và Mất Gì?

Bang Uong

 Tuổi Già Được Và Mất Gì?

Nói về tuổi già người ta vẫn cho rằng : Tuổi già là tuổi “xế chiều”, chỉ toàn mất mát. Nhưng đi hết một vòng đời ta mới thấy: cái gì cũng có hai mặt. Già, là lúc ta mất nhiều, nhưng cũng được không ít.

Cái “mất” của tuổi già

Mất đầu tiên và rõ nhất là sức khỏe. Mắt mờ, chân chậm, đêm nằm nghe xương khớp lục cục nhói đau khi trở mình. Những bậc thang ngày xưa bước hai bậc một, giờ vịn tay mới qua. Mất sức, kéo theo mất tự do. Muốn đi xa phải tính, muốn ăn ngon phải kiêng.

Mất thứ hai là vai trò trong gia đình. Ngày trước là trụ cột, lời nói có người nghe, đe có người sợ. Về già, con cháu lớn, chúng có thế giới riêng. Họp gia đình, ý mình thành ý tham khảo. Từ “người quyết định” thành “người kể chuyện “cũ” ” chuyện xưa “.

Mất thứ babạn bè. Mỗi năm thưa dần một chỗ ngồi cà phê sáng. Đám tang nhiều hơn đám cưới. Điện thoại ít reo, danh bạ nhiều số không còn người nghe máy…

Mất sau cùng là thời gian. Biết chắc quỹ thời gian không còn dài. Mỗi ngày qua đi mang theo một nỗi buồn chênh chao. Mỗi tờ lịch xé đi là một lần giật mình.

Cái “được” của tuổi già

Nhưng cũng chính ở tuổi già, ta được thứ mà tuổi trẻ không có…

Ta thảnh thơi với chính mình không còn phải gồng mình với ai. Ta chẳng cần phải “diễn” Ta được sống thật, nói thật, làm thật mệt thì nghỉ, không vui thì không làm, không gượng ép. Cái quyền “không diễn” ấy tuổi trẻ làm sao có được ?

Sáng ra ta muốn dậy sớm ngắm bình minh vận động thể dục,tắm nắng chiều muốn ngủ vùi… chẳng ai phán xét.

Được hiểu mình. Trẻ thì chạy theo thiên hạ, già rồi mới biết mình thích chén trà đặc, thích bản nhạc xưa, thích ngồi yên không làm gì. Hiểu mình rồi, mới sống cho mình.

Được quyền nhớ và quyền quên. Nhớ chuyện năm 20 tuổi rõ như hôm qua, quên chuyện bực mình hôm kia. Nhớ dai kỷ niệm đẹp, quên nhanh hờn giận. Đó là món quà của trí nhớ già: nó tự lọc.

Được nhìn đời bằng con mắt nhẹ. Tranh hơn thua làm gì, khi cuối cùng ai cũng về với đất. Thấy con cãi nhau, chỉ cười: “Ngày xưa ba mẹ cũng vậy”. Thấy cháu vấp ngã, không hốt hoảng: “Đứng dậy, đi tiếp là được”. Bình thản đó, phải trả bằng cả đời mới mua nổi.

Được thương theo cách khác. Trẻ thương bằng chiếm hữu, già thương bằng buông tay. Thương con là để nó bay, thương cháu là kể chuyện ngày xưa rồi lẳng lặng nhìn nó lớn. Không giữ, nên không mất.

Được – mất, suy cho cùng là một

Ngẫm kỹ, cái mất hôm nay là cái được hôm qua. Mất sức trẻ, được thời gian chiêm nghiệm. Mất vai trò trụ cột, được làm người quan sát. Mất bạn, được hiểu vô thường. Mất thời gian dài, được biết quý từng ngày ngắn.

Tuổi già như mùa đông. Cây rụng lá, trơ cành, trông như mất hết. Nhưng trong thân gỗ đang ủ nhựa cho mùa sau. Người già rụng đi ham muốn, rụng đi sân si, chỉ còn lõi người: hiền, và thật.

Vậy nên, nếu phải chọn, đừng hỏi già “được gì, mất gì”. Hãy hỏi: “Thứ mình mất, có đáng để đổi lấy thứ mình được không?”

Với nhiều người, câu trả lời là: đáng. Đáng lắm. Vì cuối cùng, được bình yên trong lòng, là cái được lớn nhất. Mà bình yên, trẻ mấy ai có.

Tuổi già không phải đoạn kết buồn. Nó là chương cuối, viết chậm, chữ thưa, nhưng mỗi chữ đều rất nặng.

Phạm Quốc Hùng 


 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Xuyên Sơn

 

TIẾNG “DẠ” THÂN THƯƠNG

Nghe tiếng “Dạ” sao mà thương đến lạ. Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”.

Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”.

Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt.

Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói:

”Mày ăn cơm chưa con ?

– Dạ, chưa!”

“Mới dìa/dzề hả nhóc?

– Dạ, con mới!”…

Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm.

Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác.

Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay…

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói:

“Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói:

“Hổm rày”, “dạo này”…

Người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê.

(Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng.

Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều” là “lắm”.

Nói ”Nhỏ đó xinh ghê!”, nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.

Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.

Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy.

Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng,

vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất miền Nam chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem… “Nhỏ đó dễ thương ghê!”,

“Nhỏ đó ngoan!”…

Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội.

Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như

“cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu

“Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề… nhìn phát bực!”

Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm.

Một người lớn hơn gọi:

“Ê, nhóc lại nói nghe!”

Hay gọi người bán hàng rong:

“Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”…

“Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu,

có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người SàiGòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường quên mất từ “bán”,

chỉ nói là:

“Cho chén chè, cho tô phở”…

“Cho” ở đây là mua đó nghen.

Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này:

“Lấy cái tay ra coi!”

“Ngon làm thử coi!”

“Cho miếng coi!”

“Nói nghe coi!”…

“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ?

Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi”, cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà.

Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm,

không ít người sẽ hỏi:

“Mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?”

– Mà “dzậy ta” cũng là một thứ

“tiếng địa phương” của người Sài Gòn à.

Người Sài Gòn có thói quen hay nói:

“Sao kỳ dzậy ta?”

“Sao rồi ta?”

“Được hông ta?”…

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen,

kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là…

“bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!” Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.

Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”.

Một vài lần gặp nhau, nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền.

Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.

Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn.

Cách xưng hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu,cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi.

Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó… tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc.

Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy.

Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.

Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác.

Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt.

Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn;

cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà.

Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện.

Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì:

“Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” –

Còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi.

Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi.

Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím.

Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác.

Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại.

Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng.

Tự dưng là thấy có cảm tình liền.

Nói tiếp chuyện xưng hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :

Ông đó = Ổng

Bà đó = Bả

Dì đó = Dỉ

Anh đó = Ảnh

Chị đó = Chỉ

Cô đó = Cổ

Còn nữa:

Ở bên đó = Ở bển

Ở trong đó = Ở trỏng

Ở ngoài đó = Ở ngoải

Hôm đó = Hổm.

Nói chung, khi cần lược bỏ chữ “đó”, người ta chuyển thanh ngang hoặc thanh huyền thành thanh hỏi.

Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng…

ngộ nghĩnh dzậy nữa.

Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông?

Gọi vậy mới đúng là chất

miền Nam – Sài Gòn á nghen.

Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số.

Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…

Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào.

Thành ra có cách gọi:

Chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…

Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành:

“Hai ơi Hai, em nói nghe nè…”

và “Gì dzạ Út ?”…

Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn.

Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì

“Hai ơi Hai… em nói nghe nè!”.

Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi… rối.

Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy.

Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.

Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc,

cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Kinh Thành, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước miền Nam, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa,

và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn.

Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng

“hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Tác giả : Quý Nguyễn 


 

TÌM RA ƠN GỌI CỦA MÌNH – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

 Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với một câu nói nổi tiếng của C.S. Lewis.  Khi viết về cuộc trở lại Kitô giáo của mình, ông chia sẻ rằng mình là “người trở lại miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo.”  Khi ông quỳ gối lần đầu tiên, đó không phải là trong sự sốt sắng hân hoan, nhưng với cảm giác rằng đây là điều ông buộc phải làm.  Điều gì đã cho ông cảm giác ấy? 

Lời của ông: “[Tôi quỳ xuống dù lòng còn chống đối], bởi tôi đã nhận ra rằng sự thôi thúc của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.”

 “Sự thôi thúc của Thiên Chúa” là gì?  Đó là cảm thức luân lý sâu xa, không thể dập tắt, ở trong ta – điều cho ta biết mình phải làm gì hơn là mình muốn làm gì.  Và điều đó có thể rất hữu ích khi chúng ta tìm kiếm ơn gọi và vị trí của mình trong cuộc đời.

 Ơn gọi là gì, và làm sao để tìm ra ơn gọi của mình?  Theo David Brooks, ơn gọi là một yếu tố có phần “phi lý trí,” khi bạn nghe một tiếng nói nội tâm mạnh đến mức không thể nghĩ đến chuyện quay lưng lại; khi bạn trực giác rằng mình không có lựa chọn nào khác, ngoài việc tự hỏi: trách nhiệm của tôi ở đây là gì?

 Đó cũng là câu chuyện về ơn gọi linh mục và đời sống tu trì của tôi.  Tôi chia sẻ ở đây không phải vì câu chuyện ấy đặc biệt; thực ra, nó rất bình thường, chỉ là một trong hàng triệu câu chuyện khác.  Tôi chia sẻ với hy vọng rằng nó có thể giúp ai đó nhận ra ơn gọi của mình trong đời.  Đây là câu chuyện của tôi.

 Tôi lớn lên trong một nền văn hóa Công giáo, nơi mà vào thời ấy, hầu như mọi thiếu niên nam nữ đều được mời gọi suy nghĩ xem mình có được kêu gọi sống đời thánh hiến và/hoặc làm linh mục hay không.  Tôi nghe điều đó cách minh nhiên từ cha mẹ và từ các nữ tu Ursuline dạy tôi ở trường; tôi cũng cảm nhận điều ấy trong bầu khí chung của văn hóa Công giáo thời bấy giờ.

 Nhưng bên trong tôi luôn có một sự kháng cự mạnh mẽ.  Đó không phải là điều tôi muốn làm với đời mình!  Tôi không muốn trở thành linh mục Công giáo.  Tôi nuôi dưỡng sự chống đối ấy suốt những năm trung học và tốt nghiệp với dự định vào đại học, lý tưởng là để trở thành một nhà tâm lý học.  Thế nhưng, một tiếng nói trong tôi không chịu im lặng.

 Tôi đã dành cả mùa hè sau khi tốt nghiệp trung học làm việc tại hai trang trại, trang trại của gia đình và một trang trại của người hàng xóm.  Hầu hết thời gian tôi làm việc ngoài trời, thường là một mình, lái máy kéo hàng giờ liền trên đồng ruộng.  Và trong những giờ làm việc dài ấy, sự thôi thúc của Chúa bắt đầu làm suy yếu sự kháng cự của tôi.  Ý nghĩ rằng tôi được kêu gọi trở thành linh mục đơn giản là không thể bị dập tắt, dù tôi đã cố gắng.  Tôi nhớ một buổi chiều nọ, khi đang làm việc một mình trên máy kéo, tôi đã cố gắng xua tan suy nghĩ đó bằng cách hát thật to, nhưng tiếng nói của Chúa không dễ dàng bị dập tắt như vậy. 

Mọi sự lên đến cao điểm vào cuối mùa hè, chỉ hai tuần trước khi tôi dự định lên đường vào đại học.  Một buổi tối, sau một buổi chiều lại làm việc một mình trên máy cày, tôi về nhà.  Cha mẹ tôi không có ở đó, nên tôi cố tự làm mình xao lãng bằng cách chơi ném bóng với em trai.  Nhưng bình an vẫn chưa đến.  Bình an chỉ đến sau đó, khi tôi lên giường ngủ – sau khi tôi đã quyết định theo đuổi ơn gọi linh mục.  Sáng hôm sau, tôi chia sẻ quyết định ấy với cha mẹ.  Họ mỉm cười và đưa tôi đến gặp cha xứ địa phương, một linh mục thuộc Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm. 

Công bằng mà nói, vị linh mục ấy cho tôi biết rằng, dù ngài là một tu sĩ Thừa Sai, tôi vẫn có những lựa chọn khác, chẳng hạn như trở thành linh mục địa phận hoặc gia nhập Dòng Tên.  Tôi chọn Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm vì đó là điều tôi quen thuộc, và vì tôi đã có một người anh trong dòng.  Hai tuần sau, tôi vào nhà tập của Dòng – như một trong những tập sinh miễn cưỡng nhất trong lịch sử của Dòng!

 Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, tôi biết đó là đúng.  Tôi biết đó là nơi tôi được gọi để thuộc về.  Điều ấy đã xảy ra cách đây sáu mươi năm.  Dù đã trải qua những khó khăn trong đời linh mục, tôi chưa bao giờ nghi ngờ rằng đây là ơn gọi của mình – đời linh mục và Dòng Thừa Sai Đức Mẹ Vô Nhiễm.

 Và Thiên Chúa, cuộc sống, sứ vụ và Dòng đã ban cho tôi nhiều hơn những gì tôi xứng đáng.  Thừa tác vụ của tôi chan chứa ân sủng vượt quá mọi lường đo; Dòng đã cho tôi một đời sống cộng đoàn lành mạnh, những cơ hội học tập xuất sắc, nhiều sứ vụ tuyệt vời, và niềm tự hào về đặc sủng của hội dòng trong việc phục vụ người nghèo.

 Sáu mươi năm sống ơn gọi này, tôi chỉ có thể nói: Lạy Chúa, con cảm tạ Ngài vì đã dẫn con đến nơi con không muốn đi.

 Tôi đã đưa ra quyết định ấy khi mới mười bảy tuổi.  Ngày nay, văn hóa của chúng ta có thể nói rằng một quyết định như thế không thể được thực hiện với sự trưởng thành và sáng suốt đầy đủ ở tuổi còn quá trẻ như vậy.  Thế nhưng, tôi chưa bao giờ thực sự nghi ngờ lựa chọn của mình, và giờ đây nhìn lại, tôi xem đó là quyết định sáng tỏ nhất, vị tha nhất và ban sự sống nhất mà tôi từng thực hiện.

 Đó là câu chuyện của tôi.  Nhưng còn có rất nhiều câu chuyện ban sự sống khác, khác với câu chuyện của tôi.  Sự thôi thúc của Thiên Chúa có vô vàn cách để biểu lộ.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

BÍ ẨN THÁP THÁNH GIÁ KHÔNG THỂ PHÁ HUỶ trước Đại Học Luật Tp.HCM

NHỮNG BÀI POST HAY.

BÍ ẨN THÁP THÁNH GIÁ KHÔNG THỂ PHÁ HUỶ trước Đại Học Luật Tp.HCM

  Những ai từng đi ngang qua Trường Đại học Luật – 123 Quốc lộ 13, P. Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức, Tp.HCM – đều nhận thấy một điều kỳ lạ, đó chính là cây tháp chuông ở trên có Thánh Giá của Nhà thờ Fatima cũ vẫn án ngữ sừng sững ngay trước 3 tòa nhà của trường.

 Đằng sau lịch sử tháp chuông là một câu chuyện huyền bí khó lý giải.

Lịch sử Nhà Thờ Fatima, quận Thủ Đức

Nhà Thờ Fatima Bình Triệu là một nhà thờ Công giáo thuộc Tổng giáo phận Saigon, tọa lạc tại phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, gần cầu Bình Triệu.

 Đây là một trong những nơi hành hương kính Đức Mẹ đồng trinh Maria nên còn được gọi là “Trung tâm hành hương Fatima Bình Triệu”.

  Vào tháng 5/1962, phong trào quốc tế Tông đồ Fatima tổ chức cung nghinh tượng Đức Mẹ Fatima đi nhiều quốc gia trên thế giới. Nhân dịp tượng này được rước qua Việt Nam, Linh mục Phaolô Võ Văn Bộ – trưởng ban tổ chức cuộc rước đã mua một khu đất rộng 12,5 mẫu gần Quốc lộ 13 và ga Bình Triệu để tiến hành xây dựng một trung tâm hành hương kính Đức Mẹ Fatima.

Nhà thờ Fatima Bình Triệu gắn liền với những câu chuyện kỳ bí.

   Trước khi đất nhà thờ được mua tại đây, có lần đoàn rước của giáo phận Sài Gòn kiệu Đức Mẹ Fatima từ Sài Gòn đến vùng Thủ Dầu Một đi ngang khu vực này. Bỗng dưng tất cả các xe của đoàn rước bị khựng lại, tắt máy, và làm thế nào cũng không đi tiếp được.

 Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình cũng có mặt trong đoàn rước hôm đó, liền cầu xin và nguyện rằng: “Xin Đức Mẹ cho hành trình của chúng con được tiếp tục tốt đẹp, sau này chúng con sẽ thành lập một trung tâm sùng kính Đức Mẹ ở vùng này”. Thế rồi tất cả các xe lại nổ máy lên đường dễ dàng.

 Sau đó, một bức tượng tạc theo nguyên mẫu tượng Đức Mẹ Fatima bên Bồ Đào Nha đã được dựng tại khu đất này để giáo dân đến kính viếng.

 Ngày 15/8/1966, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến làm phép tượng đài và cử hành thánh lễ đầu tiên tại đây.

 Ngày 8/12/1966, nhà thờ được khởi công xây dựng ngay tại khu đất mang tước hiệu “Nhà thờ Chúa Kitô” với một tháp chuông cao 30 mét, bên trên là Thánh Giá.  Những năm tiếp theo, các công trình phụ trợ khác như nhà tĩnh tâm, nhà thủy tạ, nhà mục vụ, nhà nguyện, giảng đường, phòng ăn, nhà bếp,… cũng được xây dựng.

  Ngày 7/1/1973, Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến làm chủ lễ khánh thành và cung hiến Thánh đường. Từ đó Bình Triệu trở thành một trung tâm hành hương Đức Mẹ Fatima. Cha Võ Văn Bộ làm giám đốc trung tâm.

   Phá dỡ Nhà thờ Fatima để xây trường Đại học luật

  Sau năm 1975, chính quyền thu hồi đất của Nhà thờ Fatima để trưng dụng xây trường Đại học luật. Nhà trường cho đập phá hết Nhà thờ và nhà xứ tại đây để tiến hành xây mới hoàn toàn.

  Tuy nhiên, riêng tháp chuông có Thánh Giá ở trên thì làm cách nào cũng không thể đập phá được. Trường sử dụng mọi phương tiện, nhưng cứ cho máy xúc, máy ủi vào múc và đập là bị tắt máy. Lần nào cũng vậy, máy cứ khởi động cần lên đập phá tháp chuông là đột ngột tắt, không thể hoạt động.  

  Rút cục, người ta đành phải để tháp chuông cao sừng sững đứng giữa trung tâm sân trường.

 Trong trường có một phòng phải xây bịt kín lại và để nguyên đó vì không thể sử dụng. Đây cũng là nơi đặt bàn làm Lễ  trong Nhà thờ Fatima trước đây. Trường đã nhiều lần cho máy vào đập phá bàn làm Lễ nhưng không cách nào đập được nên đành phải xây bịt kín lại.

  Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật ngày nay, rất nhiều điều kỳ lạ đều đã có lời giải đáp mang tính logic cao. Tuy nhiên, dù cho khoa học phát triển xa đến cấp độ nào, vẫn còn rất nhiều sự kiện phi thường vượt quá tầm kiểm soát của con người và chưa thể có được câu trả lời thỏa đáng. Và niềm tin vào những điều huyền bí vẫn tiếp tục…

Sưu tầm


 

RA ĐI ĐỂ Ở LẠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy ra đi thì có lợi cho anh em!”.

“Ngài rời khỏi mắt chúng ta để chúng ta trở về với lòng mình và gặp thấy Ngài ở đó!” – Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những cuộc ra đi khiến người ta xa nhau mãi mãi; nhưng cũng có những cuộc ra đi làm cho một sự gần gũi trở nên sâu hơn trong lòng người. Lời Chúa hôm nay mở ra nghịch lý ấy: Chúa Giêsu ‘ra đi để ở lại’.

Trong Tin Mừng Gioan, cái “lợi” Chúa Giêsu nói đến chính là việc các môn đệ được nhận lấy Thánh Thần, Đấng Ngài gọi là Paraklētos – Đấng Bảo Trợ. Thuật ngữ Hy Lạp này không chỉ mang nghĩa “Đấng an ủi”, nhưng còn là “Đấng đứng bên cạnh”, “Đấng biện hộ”. Sự ra đi của Chúa Giêsu không trở thành vắng mặt, nhưng mở ra một sự hiện diện sâu xa hơn trước. Kitô giáo vì thế không sống bằng ký ức về một nhân vật vĩ đại của quá khứ. Nếu Chúa Giêsu chỉ “đã từng hiện diện”, Tin Mừng đã khép lại từ lâu. Chính Thánh Thần làm cho Ngài vẫn tiếp tục ở cùng và hoạt động giữa Hội Thánh.

Sự hiện diện ấy không phải một ý niệm trừu tượng. Từ ngục tối Philipphê, “vào quãng nửa đêm, Phaolô và Sila hát thánh ca cầu nguyện” – bài đọc một. Chỉ một Hội Thánh xác tín Chúa Phục Sinh vẫn đang ở cùng mình mới có thể hát giữa xiềng xích như thế. Và chính trong đêm tối ấy, Thánh Thần tiếp tục hoạt động: cửa ngục mở ra, viên cai ngục được biến đổi và cả gia đình ông đón nhận phép rửa. Bấy giờ, lời Thánh Vịnh đáp ca trở thành kinh nghiệm sống động: “Lạy Chúa, Ngài ra tay uy quyền giải thoát con!”. Chúa Giêsu đã ra đi, nhưng Ngài vẫn tiếp tục đồng hành với dân thánh của Ngài – mãi cho đến ngày nay. “Đức Kitô không bao giờ vắng mặt khỏi Hội Thánh của Ngài!” – Henri de Lubac.

Ai trong chúng ta rồi cũng từng trải qua một sự vắng mặt như thế: một người mình yêu đã ra đi, một tương quan không còn như trước, những lúc cầu nguyện mà Thiên Chúa xem ra xa vắng. Nhưng cũng chính trong những khoảng trống ấy, con người nhiều khi lại khám phá một chiều sâu của tình yêu mà trước đây mình chưa từng nhận ra. Có những tình yêu chỉ thực sự ở lại khi người mình yêu không còn ở trước mắt. Chính trong những vắng mặt ấy, con người học lại cách yêu, cách nhớ và cách ở cùng nhau bằng chiều sâu của tâm hồn. Một cách khác của ‘ra đi để ở lại’. “Hai linh hồn chúng ta vốn là một; nên dẫu tôi phải ra đi, đó không phải là đổ vỡ, nhưng là một sự mở rộng!” – John Donne.

Anh Chị em,

Chính Đức Giêsu đã đi qua kinh nghiệm của một Đấng dường như bị bỏ lại một mình. Trên thập giá, Ngài không chỉ bị thế gian khước từ, nhưng còn bước vào bóng tối của cảm giác như bị Chúa Cha bỏ rơi. Thế nhưng, chính ở tận cùng của sự lạc lõng ấy, Ngài phó mình hoàn toàn cho Cha. Có lẽ đó là nghịch lý sâu nhất của mầu nhiệm Kitô giáo: càng “ra đi”, Ngài càng “ở lại” sâu hơn trong tình yêu của Cha và trong lòng nhân loại. Henri Nouwen từng viết, chính trong vắng mặt, con người học được thế nào là hiện diện!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con tuyệt vọng vì những vắng mặt; cho con biết rằng, có những hiện diện chỉ trở nên sâu hơn trong Thánh Thần!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần VI Phục Sinh

Nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 16,5-11

5 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Bây giờ Thầy đến cùng Đấng đã sai Thầy, và không ai trong anh em hỏi : ‘Thầy đi đâu ?’ 6 Nhưng vì Thầy nói ra các điều ấy, nên lòng anh em tràn ngập ưu phiền. 7 Song, Thầy nói thật với anh em : Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. 8 Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử : 9 về tội lỗi : vì chúng không tin vào Thầy ; 10 về sự công chính : vì Thầy đến cùng Chúa Cha, và anh em không còn thấy Thầy nữa ; 11 về việc xét xử : vì Thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử rồi.”


 

Lễ Kính Đức Mẹ Fatima- Cha Vương

Hôm nay là ngày lễ Kính Đức Mẹ Fatima, xin Mẹ Fatima cầu cùng Chúa  cho những nơi đang bị chiến tranh tàn phá trên thế giới được chấp dứt để cho an bình toả lan khắp nơi trên hoàn cầu Amen 

Cha Vương

Thứ 2: 11/05/2026.  (n13-24)

TIN MỪNG: Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. (Khải Huyền 12:1)

SUY NIỆM: Nói đến Fatima mà thì ai, không ít thì nhiều, cũng nghe đến. Fátima là thành phố ở Bồ Đào Nha, thuộc khu tự quản Ourém, quận Santarém, phân vùng “Medio Tejo”, vùng Trung Bồ Đào Nha. Trước đây Fatima chỉ là 1 thôn nhỏ. Tên thôn phát sinh từ tiếng Ả Rập. Một truyền thuyết kể rằng 1 công chúa người Hồi giáo tên là Fátima (nghĩa là một người tỏa sáng), đã trở lại đạo Công giáo khi kết hôn với bá tước Ourém năm 1158, trong thời kỳ lực lượng Kitô giáo chiếm xứ này. Fátima là nơi hành hương lớn thứ tư của người Công giáo khắp thế giới (sau Đức Mẹ Guadalupe ở México, Thành Vatican và Đức Mẹ Lộ Đức (Pháp). Hàng năm có khoảng trên 4-5 triệu lượt người đã tới thăm Fatima. Bồ Đào Nha cũng là nơi mà thánh Giacôbê Tông đồ đã từng băng ngang để đến truyền giáo tại Tây-ban-nha vào khoảng 2000 năm trước. Tại Fatima, Đức Mẹ đã truyền dạy ba mệnh lệnh: 

1) Ăn năn đền tội, cải thiện đời sống;

 2) Tôn sùng Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ;

 3) Lần hạt Mân Côi mỗi ngày để cầu nguyện cho người tội lỗi ăn năn trở lại và cho nền hòa bình trên thế giới.

CẦU NGUYỆN: Lạy Mẹ xin cho con biết nghe và làm theo những mệnh lệnh Mẹ nhắn nhủ để được hạnh phúc bên con Mẹ luôn mãi.

LẮNG NGHE: Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa! “là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. (Mátthêu 7:21

THỰC HÀNH: Hãy làm một việc hy sinh hôm nay. Trước khi làm hãy đọc lời kinh sau đây. Đây là lời mà ba em trẻ đã nhận từ Mẹ vào ngày 13 tháng 6 năm 1917 tại Fatima. “Lạy Chúa Giê-su, con xin làm việc hy sinh này vì lòng mến Chúa, và để đền đáp tội lỗi xúc phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ và để các tội nhân được hoán cải.” (Kinh Hy Sinh)

From: Do Dzung

*********************************

Lạy Mẹ Fatima – Nguyện Xin Mẹ Fatima – Nguyễn Hồng Ân

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Tin Mừng Cho Người Nghèo

Đức Thánh Cha ca ngợi Tây Ban Nha vì tiếp nhận con tàu có người nhiễm hantavirus

Sau khi đọc kinh Lạy Nữ Vương (Regina Caeli) trưa Chúa Nhật, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã bất ngờ chuyển sang nói tiếng Tây Ban Nha để cám ơn người dân quần đảo Canary và bày tỏ niềm mong đợi được gặp họ trong chuyến viếng thăm vào tháng tới.

Đức Thánh Cha đặc biệt cám ơn người dân Tây Ban Nha vì đã đón nhận tàu du lịch “Hondius”, trên đó có hơn 100 hành khách từng tiếp xúc với virus hantavirus.

Hiện con tàu đang neo ngoài khơi đảo Tenerife thuộc quần đảo Canary – nơi Đức Thánh Cha sẽ đến thăm trong hơn một tháng nữa.

Ngài nói:

“Tôi muốn cám ơn người dân quần đảo Canary vì lòng hiếu khách đặc trưng của anh chị em trong việc đón nhận tàu du lịch ‘Hondius’ và các hành khách bị nhiễm hantavirus. Tôi mong được gặp tất cả anh chị em vào tháng tới trong chuyến viếng thăm quần đảo.”

Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, hiện cũng có mặt tại Tenerife để hỗ trợ chiến dịch đưa toàn bộ hành khách rời khỏi tàu và trở về quê hương để cách ly.

Ông ca ngợi chính quyền Tây Ban Nha vì “phản ứng vững chắc và hiệu quả” trước đợt bùng phát dịch bệnh này.

Con tàu rời Argentina vào ngày 1 tháng 4. Mười ngày sau, một hành khách đã tử vong vì virus; vợ ông cũng mắc bệnh và được đưa tới Nam Phi điều trị nhưng sau đó cũng qua đời. Đến ngày 2 tháng 5, thêm một người khác tử vong trên tàu.

Tại Tenerife, các chuyên gia y tế đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống khẩn cấp này, với một khu cách ly nghiêm ngặt đã được thiết lập.

Bác sĩ trưởng khoa hồi sức tích cực Mar Martin nói với BBC:

“Chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng.”

Nguồn: Aleteia


 

ĐI QUA CUỘC ĐỜI

Xuyên Sơn

ĐI QUA CUỘC ĐỜI

Cuộc sống không phải là chiến trường, nên không cần phải phân định thắng thua.

Giữa người với người, nếu cảm thông tăng lên thì hiểu lầm sẽ giảm xuống.

Giữa việc với việc, nếu nhường nhịn tăng lên thì đấu tranh sẽ giảm xuống.

Có một số việc cần phải nhẫncó một số người cần phải nhường, không thể tranh giành thấp cao!

Đừng bao giờ dùng ánh mắt và sự hiểu biết của mình đi bình luận chuyện đúng – sai của người khác.

Cũng không nhất thiết phải cầu xin sự tán đồng và thấu hiểu của ai cả, vì mỗi người đều có quan điểm và cá tính riêng.

Chúng ta thường quá xem trọng bản thân mới có chuyện lo buồn về được – mất,

rồi cho rằng người khác không hiểu mình.

Cho nên nói: càng mở lòng ra thì niềm vui càng lớn, bao dung càng rộng sẽ nhận được càng nhiều!

Đừng bàn luận chuyện sau lưng người khác, cũng không cần quá để tâm đến những lời đồn thổi về mình.

Vì một người vô dụng thì không có gì để nói, càng xuất sắc sẽ càng bị để ý và bình phẩm.

Miệng lưỡi người khác chúng ta không thể khống chế được, việc dễ dàng nhất là giữ cho mình một tấm lòng nhẹ nhõm, rồi bước qua những rối rắm cuộc đời…

Nguồn:

Trích sách THẢ TRÔI PHIỀN MUỘN của Ni Sư SUỐI THÔNG

(st)