Những ngày tĩnh tâm linh thao với Linh Mục Nguyễn Tầm Thường – Tác giả Phùng Văn Phụng 

Tác giả Phùng Văn Phụng 

 Cuối tháng 11 năm 2006 tôi có đi Palacios để tĩnh tâm trong ba ngày. Địa điểm tĩnh tâm nằm sát bờ biển nên tôi thường đi dạo loanh quoanh mé biển, lắng động tâm hồn mình, nhìn trời nước bao la, mênh mông vô tận, thấy con người mình quá bé nhỏ trước vũ trụ bao la. 

Lần này tĩnh tâm năm ngày, địa điểm là dòng tu Missionary Carmelites ở đường Deer Trail gần Veteran Memorial và Belway 8. 

Trong năm ngày thinh lặng hoàn toàn, mình về với chính mình, tương quan mình với Thiên Chúa. Đi lang thang trong vườn nhà tĩnh tâm, ngồi suy niệm dưới gốc cây bóng mát, trong không khí tĩnh lặng hoàn toàn, dưới bầu trời trong xanh, khí hậu thật mát mẽ dễ chịu của mùa xuân mới, bông hoa bắt đầu ra nụ, cành lá bắt đầu sinh sôi nẩy nở sau mùa đông lạnh lẻo, cành lá trơ trụi, xác xơ. 

1)Được làm con Thiên Chúa: 

Ngày xưa, dưới các triều vua nhà Nguyễn, chỉ có nhà vua xưng mình là Thiên tử tức con Trời. Mỗi năm nhà vua thay mặt dân chúng đến Đàn Nam Giao ở Kinh đô Huế để tế cáo trời đất xin ông Trời, là Thiên Chúa, mang đến mưa hoà, gió thuận để dân chúng làm ruộng được mùa. 

Chúng ta, ngày hôm nay, sau khi chịu phép rửa được làm con Thiên Chúa tức là con Trời và được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Nhìn lại quá trình lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thì vào năm 1533 đã có người Tây dương tên là Ynêxu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân ngấm ngầm truyền giáo, nói về đạo Giatô. Theo gia phả dòng họ Đỗ thì vào năm 1580 có một người trong họ, Đỗ Hưng Viễn theo đạo Hoa lang.(1) 

Lịch sử của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam thăng trầm, không phải thời nào cũng dễ dàng được làm con Thiên Chúa vì có lúc người ta được tự do giữ đạo, sống đạo, nhưng cũng có thời kỳ bị bách hại dữ dội, nhất là dưới triều đại các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Lúc đó nếu ai tuyên xưng đức tin, con Thiên Chúa, là chịu đủ mọi thứ hình phạt và có thể bị tử hình. Bằng chứng là trong suốt dòng lịch sử thời gian cuối thế kỷ thứ 16 đến hết đời Tự Đức đã có hàng trăm ngàn người tử đạo ở Việt Nam, họ là những “thánh tử đạo vô danh”, trong đó có được 117 vị Thánh tử đạo được biết đến tên trong buổi lễ kỹ niệm long trọng vào ngày 19 tháng 6 năm 1988 ở Roma. 

Ngày hôm nay, chúng ta được tự do theo đạo, tự do hành đạo, tự do sống đạo, tự do tuyên xưng đức tin là đìều quý giá vô cùng vì trên thế giới bây giờ cũng còn rất nhiều nơi, nhiều người không được tự do xác tín niềm tin của mình. 

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (Sách Sáng thế ký, câu 27) cho nên mình là con của Thiên Chúa được gọi Thiên Chúa là Cha. 

Thánh Phao lô gởi tín hữu Ga-lát: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi”. Vậy anh em không phải là nộ lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.” (Gal 4: 6,7) 

Cảm nghiệm nào vui hơn, hạnh phúc cho bằng, mình là con của Thiên Chúa, được gọi Thiên Chúa là “Áp-ba., Cha ơi”. 

2)Lòng tin của con đã cứu con

a)Chúa chữa người đàn bà bị băng huyết: 

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc, đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê su, bà lách qua đám đông tiến đến sau Người và sờ vào áo Người. “Tôi mà sờ vào áo Người thôi là sẽ được cứu.” Tức khắc, máu cầm lại và bà cảm thấy trong người được khỏi bịnh.  …Bà đến phủ phục trước mặt Người và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bịnh.” (Mc 5: 25-34) 

b)Chúa chữa người con gái ông trưởng hội đường: 

Có mấy người từ nhà ông truởng hội đường đến bảo “ Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa. Nhưng Đức Giêsu nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”. Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê rô, ông Gia cô bê và em ông này là ông Gioan. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ầm ỹ. Người bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy.” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói: “Ta-li-tha-kum” nghĩa là “Này bé, Thầy truyền cho con: hãy trỗi dậy đi. Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được… người ta kinh ngạc sững sờ. (Mc 5: 35-42) 

c)Chúa chữa người mù: 

Đức Giêsu còn chữa người mù tên là Ba-ti-mê con ông Ti-mê ở Giê-ri-khô.  Vừa nghe nói, đó là Đức Giêsu Nadaret, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, con vua David, xin dủ lòng thương tôi.” Đức Giêsu đứng lại và nói “Gọi anh ta lại đây.” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy.” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giêsu. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh ” Tức khắc anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. (Mc 10: 46-52) 

d)Chúa chữa người phong cùi.

 Lúc Người vào một làng kia thì có mười người phong hủi đến gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “ Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi.” Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn thấy mình được khỏi liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri. Đức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này.? Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi. Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.” (Luca 7: 12-19) 

3)Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã. 

Nhớ lại hồi những năm 1980, 1981 tôi bị giam giữ ở trại cải tạo K3 Vĩnh Phú, ăn uống rất kham khổ, đói khát, mỗi ngày chỉ được phát cho một tô canh rau muống luộc với muối, lỏng bỏng vài cộng rau, một nắp bình thủy cơm độn vài củ khoai lang, khoai mì hay bắp luộc. Có lúc mất luôn phần cơm chỉ còn khoai mì lát không còn mùi vị gì, khoai lang hay bắp trái hay khoai mì nghĩa vụ. Khoai mì này thường là loại khoai mì chỉ có hai đầu của củ khoai do dân đóng thuế. Người dân họ giữ lại phần giữa để họ ăn. Một chén khoai mì loại này anh em chỉ mấp mấp một chút tinh bột, rồi phải nhả ra hết vì toàn là sơ của hai đầu củ khoai mì. Nhiều khi nhận được vài củ khoai lang trong mỗi bửa ăn, nhưng đó lại có khoai sùng ăn vào đắng nghét.  

Trong hoàn cảnh đói khát dữ dội, triền miên như thế, làm cách nào tìm nguồn vui để sống trong sự đói. Đói cồn cào, đói mờ mắt, đói quá cứ gặp nhau là nói về thức ăn cho đỡ đói. Thì giờ rảnh, ngồi viết về cách nấu ăn, làm các món ăn, pha chế các món ăn. Ăn hàm thụ cho đỡ đói. 

Một người bạn nằm kế bên tôi tên là Minh chỉ cho tôi tập thiền (thiền ông tám). Cứ mỗi đêm khoảng 11, 12 giờ khuya ngồi xếp bằng và bắt đầu thiền. Anh Minh nói rằng khi ngồi thiền cần hít vô cho sâu và thở ra cho hết hơi của mình. Trong khi hít thở như vậy, niệm Nam Mô A Di Đà Phật, phải dùng ý chí, tư tưởng chuyển qua sáu luân xa, thuộc nhâm mạch và đốc mạch. Tập thiền như vậy để quên đói, quên suy nghĩ vẫn vơ, quên buồn phiền, mà có thể “tiếp xúc với gia đình bất cứ lúc nào” trong đêm cũng được. Sau khi tôi tập một thời gian vài tháng, tôi đã thấy vầng ánh sáng thật to ngay trước trán. Tôi sợ quá không dám tập nữa. Tôi sợ tẩu hỏa nhập ma, sẽ bị mát mát. Đói quá, thiếu ăn, mất hàng chục kí lô, đã ốm nhôm, ốm nhách mà nửa đêm còn ngồi dậy “thiền” tôi thấy có cái gì đó không ổn. Tôi cần ngủ để lấy lại sức không thể thiền vào lúc nửa đêm như vậy được.  

Hồi tâm hay tĩnh tâm theo thánh I-Nhã là lòng hướng Thiên Chúa toàn năng. Đọc phúc âm, dùng trí tưởng tượng, đặt mình vào hoàn cảnh địa lý, nhân vật, lắng nghe sự đối thoại của các nhân vật đó, lắng đọng tâm tư mình xuống, hướng về Thiên Chúa nhân từ, yêu thương, để nghe Chúa nói gì với mình và mình nói gì với Chúa, để nhặt các hạt cát, hạt sạn trong đời sống của mình đã gây cho mình đau khổ. Cha Nguyễn Tầm Thường đã dùng chữ “đau khổ dư thừa”. Khi vất những hạt sạn, hát cát đó đi thì đời sống mình càng đẹp hơn, càng vui hơn, hạnh phúc hơn. 

3)Ơn thánh biến đổi chính mình: (Transform) 

Trong bài đầu tiên trong sách ca nguyện Linh Thao, nói đến Nguyên Lý Nền Tảng và Mục Tiêu cuộc đời đã nhắc nhở: “Mục tiêu cuộc đời là sống mãi với Thiên Chúa, đấng ban cho chúng ta cuộc sống vì yêu thương chúng ta. Khi chúng ta ngợi khen, tôn kính và phục vụ ngài, tâm linh chúng ta được cứu thoát.” 

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải biết giữ bình tâm, thăng bằng đối với mọi sự trên mặt đất… 

Để cứu thoát tâm linh của chính mình, một điều nên làm là lúc nào cũng ca ngợi Thiên Chúa dầu mình gặp bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Tôi có viết một câu ngắn để trước bàn làm việc ở nhà, cũng như ở chỗ làm, để tự nhắc nhở chính mình như sau: “Tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh” 

Khi đi linh thao Cha có nói đến ơn Thánh biến đổi, ơn thánh “transform” sự xấu thành sự tốt. “Ơn thánh” không cất nhắc khó khăn. Luật tự nhiên trời mưa, trời nắng, trời nóng, trời lạnh. Theo luật tự nhiên mình có lúc khỏe mạnh, có lúc đau yếu, binh tật v.v…Chúng ta không thể thay đổi luật tự nhiên này theo ý mình được, vậy chúng ta phải “transform” nó cho thích hợp với chúng ta vì lúc nào chúng ta cũng có Thiên chúa “ở cùng”. Con đau khổ thì Cha cũng đứng bên con chia sẻ đau khổ với con. Khi nhìn Chúa Kitô trên thập giá, đối diện với Chúa, ơn thánh sẽ biến đổi tâm tư, tình cảm chúng ta để giúp chúng ta đủ sức chịu đựng được những khó khăn, đau khổ. 

Hoa quả của Thần khí là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tính, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế. (Gal 5: câu 22-23). Khi mình gặp những sự gì đi ngược lại với thần khí này tức là mình đang xa lìa Thiên Chúa. 

Tĩnh tâm cho lòng mình quy về cội nguồn Thiên Chúa, trong tâm tình cầu nguyện và tạ ơn Thiên Chúa mỗi ngày cho đến khi chúng ta được trở về quê trời. 

Đêm cuối cùng hai mươi anh chị em chúng tôi ngồi tâm sự chia sẻ những tâm tư, tình cảm trong mấy ngày tĩnh tâm, đã cảm nghiệm gần gũi Chúa như thế nào. Có Chúa trong đời sống hoàn toàn khác biệt với tình trạng sống xa lìa Thiên Chúa. 

Cho nên được làm con Thiên Chúa, cuộc sống mình sẽ luôn luôn vui tươi, luôn luôn hạnh phúc vì lúc nào cũng “ có Chúa ở cùng ” với chúng ta. Trong gia đình, cộng đoàn hay cá nhân nào “có Chúa ở cùng” thì gia đình, cộng đoàn, cá nhân đó bình an. 

Theo Chúa, học cách tĩnh tâm mỗi ngày như thánh I-Nhã, đời sống hiện tại đẹp biết bao nhiêu, mình cũng biết được mục đích cuối cùng của đời sống và khi chết, linh hồn mình sẽ đi về đâu? 

Phùng Văn Phụng  

(1)  Để Hiểu Lịch Sử Sách Đạo Thiên Chúa ở

      Việt Nam đầu thế kỷ 17 của Nguyễn Khắc Xuyên 

 (Kỹ niệm 5 ngày tĩnh tâm 17-22 tháng tư năm 2007)


 

HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG-Song Chi

Song Chi

 HỌ CHỈ CÓ THỂ LÀ “SẢN PHẨM” CỦA MỘT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TỰ DO, NHÂN BẢN VÀ KHAI PHÓNG

Mấy ngày qua có khá nhiều bài viết về nhà thơ Phạm Thiên Thư sau khi ông ra đi, phần lớn là bài viết của những người từng sống ở miền Nam trước năm 1975. Với đa số người miền Bắc và nhất là những người sinh ra sau năm 1975 chắc chẳng mấy ai biết đến ông, chợt nhớ lại khi Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ viên tịch, có những người là trí thức, Giáo sư, Tiến sĩ…mà đến lúc đó mới nghe đến tên của Hòa thượng, mới biết là có một GHPGVNTN tồn tại bao nhiêu năm nay, bên ngoài cái GHPGVN mà nhiều người vẫn gọi là Giáo hội Phật giáo “quốc doanh”.

Sau hơn nửa thế kỷ, có thể nói đảng CSVN đã thành công rất lớn trong việc “tẩy não” người dân, xóa bỏ lịch sử, xóa bỏ tất cả những gì mà đảng và nhà nước này không muốn người dân được biết.

Còn đối với tất cả những ai từng biết và may mắn hơn nữa, được đọc, nghe tác phẩm của những khuôn mặt xuất chúng của miền Nam trước 1975, dù là một vị chân tu trí tuệ cao vời, một nhạc sĩ, hay một thi sĩ…thì đều ngậm ngùi hiểu rất rõ rằng mỗi một người như vậy ra đi, là mất luôn không bao giờ có nữa. Bởi vì, họ chỉ có thể là “sản phẩm” của một chế độ tự do, nhân bản và khai phóng đã không còn tồn tại.

Chắc chắn, nếu không có 20 năm của chế độ VNCH đó, đã không thể có hàng trăm hàng ngàn tài năng độc đáo trong mọi lĩnh vực từ báo chí đến văn học nghệ thuật…Sẽ không có Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Lam Phương…Sẽ không có Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên… Sẽ không có những tên tuổi trong mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học phật giáo và công giáo như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định… Sẽ không có nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao…, và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói… Sẽ không có một nền phật học rực rỡ, những vị chân tu lừng lững cả về trí tuệ, kiến thức và nhân cách v.v…Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH.

Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách báo truyện nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím…chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch–ta, lý thuyết cách mạng nọ kia… Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông-Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua. 

Xã hội VN bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng; rồi thơ văn nhạc họa phim… tính về số lượng đều nhiều. Nhưng trong thơ ca văn học nghệ thuật bây giờ vẫn thiếu: thiếu sự trong trẻo lãng mạn, thiếu tính thiền, tính triết học, tính tư tưởng, tính khai phóng…Nhiều về số lượng nhưng những tác phẩm thực sự nâng con người lên cao cả hơn, đẹp hơn thì hiếm. Nó vừa là hậu quả của một chế độ độc tài toàn trị, vừa là hậu quả của một nền giáo dục nhồi nhét, ngu dân, chạy theo điểm số, thành tích, bằng cấp, hoàn toàn không có một triết lý giáo dục đúng đắn, và là hậu quả của một xã hội thực dụng, nơi mà mọi người đua nhau chạy theo tiền, chạy theo “ghế”, chạy theo những giá trị vật chất, giá trị ảo bên ngoài, thì làm gì còn có chỗ để sống chậm, làm gì còn có chỗ cho mơ mộng, lãng mạn, suy tư, và lắng đọng? 


 

Những kẻ bất chính sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp sao?

Hôm nay Thứ 7 đầu tháng, kính Đức Mẹ, chúc bạn và gia đình một ngày bình yên trong Chúa và Mẹ yêu nhé. Đừng quên làm một hy sinh nhỏ như là một đoá hoa thiên dâng lên cho Mẹ trong ngày hôm nay. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và thế giới được Bình An nhé

Cha Vương

Thứ 7: 09/05/2026.    (n7-22)

TIN MỪNG: Nào anh em chẳng biết rằng những kẻ bất chính sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp sao? Anh em đừng lầm. Những kẻ dâm đãng, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, trụy lạc, kê gian, những kẻ trộm cướp, tham lam, say sưa rượu chè, quen chửi bới, sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp. (1 Cr 6:9-10)

SUY NIỆM: Nhiều người sau khi đã đi đường nhân đức ít lâu, liền ngừng chân nghỉ bước vui lòng ở lại đường lối mình đã đi; xong ơn thánh sủng không khi nào nói được rằng: “Đủ rồi”. Có người lại nghĩ miễn sao đừng sống đạo ngược thì thôi; như thế chưa đủ! Người tốt hằng ngày phải gắng sức tiến tới trên đường lành. Đến ngày thế mạt nhiều giáo dân sẽ phải bỡ ngỡ thấy mình mắc nợ Chúa vì đã không dùng những phương thế tốt để nên thánh. Trên đường nhân đức ai không tiến tới, tức là lùi lại; ai không lợi dụng các dịp mình đã được, tức là hỏng mất. Ai tận tâm làm tôi Chúa, Người sẽ ban xuống cho muôn ơn lành. Và dầu con cư xử hẹp hòi với Chúa, người cũng sẽ ở nhân từ quảng đại với con. 

(x. Sách Gương Đức Mẹ, Q1:4:3) 

LẮNG NGHE: Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí. (2 Cr 3:18)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, đôi khi con cố gắng một hồi rồi đuối sức, vì con rất giới hạn, tầm thường và yếu đuối, hơn nữa con còn bị chi phối bởi hoàn cảnh và môi trường sống nữa, bị chi phối bởi sức mạnh của ma quỉ nữa. Chúa dạy con: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5:48) Lạy Mẹ Maria, xin cầu bầu cùng Chúa cho con để con mỗi ngày một tiến trên đàng nhân đức và đừng để con dừng chân lùi bước làm mất lòng Chúa hôm nay.

THỰC HÀNH: Bạn sẵn sàng chưa? Cố gắng hết sức từ bỏ một tật xấu để trở nên hoàn thiện hơn.

From: Do Dzung

******************************************

Hiền Thục – Mẹ Hằng Cứu Giúp

SỰ VẮNG MẶT BIẾT THỞ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”.

“Cô độc không đến từ việc không có ai ở quanh mình, nhưng từ việc không thể chia sẻ những điều mình cho là quan trọng và sâu xa!” – Carl Jung.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói rằng các môn đệ sẽ không mồ côi, chẳng phải vì Chúa Giêsu vẫn ở quanh họ, nhưng vì Ngài ở trong họ bằng hơi thở của Thánh Thần. Khởi đầu của một ‘sự vắng mặt biết thở’.

Thần học Gioan xem Thánh Thần không như “người thay thế”, nhưng là cách Chúa Giêsu tiếp tục ở lại sau Phục Sinh. Vì thế, sự ra đi của Ngài không tạo nên khoảng trống; nhưng mở ra một cách thức ở lại. Chính Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu không còn chỉ ở trước mặt họ, nhưng trong họ. “Thầy về cùng Cha” không phải là rút lui khỏi thế gian, nhưng là sự chuyển đổi từ hữu hình sang nội tại và sâu hơn. Càng không thể bị chạm tới, Ngài càng đi vào chiều sâu con người! “Ngài ở trong con còn sâu hơn phần sâu thẳm nhất của con, và cao hơn phần cao nhất nơi con!” – Augustinô.

Chúa Giêsu gọi Thánh Thần là “Thần Khí sự thật” – Pneuma tēs alētheias. “Sự thật” không chỉ là điều đúng, nhưng là điều làm lộ con người thật. Vì thế, công việc của Thánh Thần không phải là thêm kiến thức, nhưng là kéo con người ra khỏi những phiên bản giả của chính mình. Có lẽ vì vậy mà thế gian không thể đón nhận Thánh Thần; bởi thế gian chỉ quen tin vào những gì có thể nắm giữ, đang khi Thánh Thần không như một vật thể. Còn người môn đệ, họ không sống như kẻ nhớ Chúa, nhưng như kẻ đang được Chúa cư ngụ. Ngài vắng mặt, một ‘sự vắng mặt biết thở’.

Thánh Thần cũng không làm người môn đệ khép kín trong những cảm xúc thiêng liêng, nhưng mở họ ra cho thế giới. Nhờ “thở hơi Thánh Thần”, đức tin không còn là một ký ức về vị Thầy đã vắng bóng, nhưng trở thành một sự sống lan rộng và làm rung động lòng người. Tại Samaria, các tông đồ đặt tay để tín hữu lãnh nhận Thánh Thần – bài đọc một; Phêrô mời gọi các Kitô hữu “hãy luôn sẵn sàng trả lời cho ai chất vấn về niềm hy vọng” của mình – bài đọc hai. Từ đó, dân ngoại mừng, tín hữu vui – “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa!” như Thánh Vịnh đáp ca cất lên.

Anh Chị em,

“Thầy sẽ không để anh em mồ côi!”. Điều đáng sợ không phải Thiên Chúa vô hình, nhưng là một thế giới không còn ai hiện diện với ai. Đức Giêsu Kitô không hề mồ côi, Ngài hằng ở với Cha, cùng Cha và trong Cha; ngay cả trên thập giá khi mọi tương quan tưởng như tan vỡ. Từ sự hiệp thông ấy, Ngài không để người môn đệ sống như kẻ bị bỏ rơi. Theo Yves Congar, Thánh Thần không bao giờ tách khỏi Đức Kitô; chính Ngài làm cho Đức Kitô tiếp tục hiện diện trong Giáo Hội và nơi người tín hữu. Chúa Thánh Thần là cách Ngài ở lại! Nhờ đó, nỗi cô độc sâu nhất nơi lòng người được chữa lành nhờ thở hơi Thánh Thần.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống giữa một thế giới đầy kết nối nhưng thiếu hiện diện; xin cho con biết ở lại trong Ngài và hiện diện cho tha nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT, TUẦN VI PHỤC SINH, NĂM A

Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác.

✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.   Ga 14,15-21

15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. 16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. 18 Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. 19 Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. 20 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. 21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”


 

ĐẰNG SAU ĐÔI BÀN TAY TRẮNG CỦA MẸ TÔI LÀ CẢ MỘT KHO TÀNG – Lm. Anmai, CSsR 

Anmai CSsR 

Dự liệu là sẽ không viết gì trong ngày của Mẹ, nhưng …

Có những người ra đi khỏi cuộc đời này mà không để lại nhà cao cửa rộng, không để lại ruộng vườn mênh mông, không để lại sổ tiết kiệm, vàng bạc, của cải hay một gia sản vật chất nào đáng kể. Ngày họ nằm xuống, nhìn lại, dường như đôi bàn tay vẫn trắng. Trắng như lúc sinh ra. Trắng như một đời không tích góp được gì cho riêng mình. Trắng như thể cuộc đời chỉ là một cuộc đi qua âm thầm, lặng lẽ, không ồn ào, không danh phận, không có gì để người đời gọi là thành công.

Mẹ tôi cũng vậy.

Mẹ tôi không phải là người giàu có. Mẹ không có một cuộc đời dư dả để muốn gì được nấy, không có những năm tháng sung túc để con cái lớn lên trong nhung lụa, không có điều kiện để ban cho con cái mọi thứ theo kiểu người đời vẫn mơ ước. Mẹ chỉ đủ nuôi gia đình. Chữ “đủ” ấy nghe thì nhẹ, nhưng trong đời sống thật lại là cả một gánh nặng. Đủ cơm ăn mỗi ngày. Đủ áo mặc qua mùa. Đủ cho con đến trường. Đủ để gia đình không tan tác. Đủ để những đứa con có một mái nhà trở về. Đủ để giữa những tháng ngày chật vật, trong nhà vẫn còn một chút bình an, một chút tiếng cười, một chút hơi ấm, một chút niềm tin.

Cái “đủ” của Mẹ không phải tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng mồ hôi, bằng thức khuya dậy sớm, bằng những bữa ăn Mẹ nhường phần ngon cho con, bằng những lần Mẹ nói “Mẹ không đói” khi trong lòng chắc cũng cồn cào, bằng những khi Mẹ giấu nỗi lo sau một nụ cười hiền, bằng những lúc Mẹ xoay xở giữa thiếu trước hụt sau mà vẫn không để con cái thấy mình quá khổ. Có những hy sinh của Mẹ không bao giờ được kể thành lời. Có những giọt nước mắt của Mẹ không ai nhìn thấy. Có những đêm Mẹ trằn trọc, chỉ có Chúa biết. Có những vất vả của Mẹ lặng lẽ đến độ chính con cái nhiều khi cũng vô tâm không nhận ra.

Khi Mẹ nằm xuống, Mẹ còn đôi bàn tay trắng.

Nhưng càng nghĩ, tôi càng thấy: đôi bàn tay trắng ấy không hề nghèo. Đằng sau đôi bàn tay trắng ấy là cả một kho tàng cho gia đình chúng tôi. Một kho tàng không đếm được bằng tiền. Một kho tàng không đo được bằng đất đai. Một kho tàng không cất trong tủ, không gửi ở ngân hàng, không ghi trong giấy tờ sở hữu. Đó là kho tàng của tấm lòng. Kho tàng của đức tin. Kho tàng của nhân hậu. Kho tàng của sự hy sinh. Kho tàng của một đời biết sống cho người khác.

Đôi bàn tay trắng của Mẹ là đôi bàn tay đã bồng bế con từ những ngày thơ dại. Đôi bàn tay ấy đã nấu từng bữa cơm, vá từng manh áo, gom từng đồng bạc lẻ, xếp từng quyển vở cho con đến trường. Đôi bàn tay ấy đã chạm vào trán con khi con sốt, đã vỗ về khi con khóc, đã nâng đỡ khi con vấp ngã, đã chắp lại trong lời kinh mỗi tối để gửi gia đình cho Chúa. Đôi bàn tay ấy có thể không cầm vàng bạc, nhưng đã cầm cả tuổi thơ của con. Đôi bàn tay ấy có thể không ký những bản hợp đồng lớn, nhưng đã ký vào đời con một dấu ấn không bao giờ phai: dấu ấn của tình mẫu tử.

Đàng sau bàn tay trắng là tấm lòng.

Mẹ nghèo, nhưng lòng Mẹ không nghèo. Có những người giàu của cải nhưng trái tim chật hẹp. Có những người dư dả tiền bạc nhưng không dư được một chút cảm thông. Có những người có rất nhiều mà vẫn sợ mất, vẫn bo bo giữ lấy, vẫn không dám mở tay. Còn Mẹ, Mẹ không có nhiều, nhưng lòng Mẹ rộng. Mẹ không dư giả, nhưng Mẹ biết thương. Mẹ không quyền thế, nhưng Mẹ biết giúp. Mẹ không nói những lời lớn lao về bác ái, nhưng đời Mẹ là một bài học bác ái âm thầm.

Thời bao cấp, đời sống còn nhiều khó khăn. Bao gia đình từ nơi này nơi khác trở về Sài Gòn lập nghiệp, chật vật với cơm áo, với chỗ ở, với giấy tờ, với hộ khẩu, với đủ thứ thủ tục làm con người ta mệt mỏi và nhiều khi thấy bế tắc. Người lớn thì lo kiếm sống, còn trẻ con lại mắc kẹt vì không nhập học được. Một đứa trẻ không được đến trường đâu chỉ là chuyện thiếu một lớp học. Đó là cả một cánh cửa tương lai bị khép lại. Đó là nỗi lo của cha mẹ. Đó là sự thiệt thòi của một đời người nếu không có ai đưa tay giúp.

Vậy mà Mẹ đã không làm ngơ.

Mẹ không phải cán bộ lớn. Mẹ không có chức quyền. Mẹ không có tiền để giải quyết mọi chuyện. Mẹ chỉ có một tấm lòng. Và từ tấm lòng ấy, Mẹ đi tìm người có thể giúp. Mẹ nhờ chỗ này, hỏi chỗ kia, gõ cửa người này, năn nỉ người khác, kiên trì đến mức có lẽ nhiều người phải cảm động. Mẹ không làm việc ấy cho danh. Mẹ không ghi sổ công ơn. Mẹ không mong ai trả lại. Mẹ chỉ nghĩ đơn sơ: người ta khó, mình giúp được gì thì giúp; trẻ con cần đến trường, thì phải tìm cách cho chúng được đi học.

Nhờ những bước chân âm thầm ấy của Mẹ, có gia đình dần hội nhập được với cuộc sống mới. Nhờ những lời nhờ vả chân thành ấy của Mẹ, có đứa trẻ được vào lớp, được cầm sách, được mặc áo học trò, được có một tương lai sáng hơn. Có thể sau này những đứa trẻ ấy lớn lên, đi làm, lập gia đình, tản mác khắp nơi, không còn nhớ rõ ai đã giúp mình ngày xưa. Nhưng Chúa nhớ. Trời nhớ. Và gia đình chúng tôi nhớ. Nhớ rằng Mẹ đã từng nghèo mà không khép lòng. Nhớ rằng Mẹ đã từng khó mà không vô cảm. Nhớ rằng Mẹ đã từng thiếu mà vẫn biết cho đi.

Nghèo, nhưng tấm lòng thì bao la.

Cái bao la của lòng Mẹ không nằm ở những chuyện phi thường. Nó nằm trong những việc rất thường. Một lời hỏi han. Một bữa cơm chia thêm. Một lần đi nhờ giúp giấy tờ. Một lần đứng ra nói đỡ. Một lần âm thầm cầu nguyện cho người khác. Một lần không nỡ quay lưng trước nỗi khổ của ai đó. Tấm lòng của Mẹ giống như ngọn đèn nhỏ trong căn nhà nghèo. Ánh sáng không chói lòa, nhưng đủ làm ấm. Không rực rỡ như sân khấu, nhưng đủ để ai bước vào cũng thấy có tình người.

Đàng sau bàn tay trắng là đời sống đức tin.

Có lẽ đây mới là gia sản lớn nhất Mẹ để lại. Đức tin của Mẹ không phải là một lý thuyết. Đức tin của Mẹ không nằm trên môi miệng bằng những câu nói đạo đức cho hay. Đức tin của Mẹ được thắp lên trong đời sống thường ngày. Trong gian khó, Mẹ tin. Trong thiếu thốn, Mẹ cậy trông. Trong vất vả, Mẹ cầu nguyện. Trong lo âu, Mẹ phó thác. Trong những lúc không còn biết bám vào đâu, Mẹ bám vào Chúa. Mẹ sống đạo không ồn ào, nhưng bền bỉ. Không khoe khoang, nhưng sâu. Không lý luận nhiều, nhưng thật.

Đời sống đức tin ấy nuôi chúng tôi lớn lên. Có khi con cái chưa hiểu hết kinh nguyện, nhưng đã nhìn thấy Mẹ chắp tay. Có khi con cái chưa hiểu thần học là gì, nhưng đã cảm được lòng Mẹ tin vào Chúa. Có khi con cái chưa hiểu hết ý nghĩa của hy sinh, nhưng đã thấy Mẹ sống hy sinh mỗi ngày. Có khi con cái chưa biết thế nào là phó thác, nhưng đã nghe Mẹ nói: “Thôi, để Chúa lo.” Một câu đơn sơ thôi, nhưng chứa cả một linh đạo. Một câu nói bình dân thôi, nhưng có thể nâng đỡ cả một gia đình qua những ngày giông gió.

Đức tin của Mẹ không làm cho Mẹ tránh khỏi nghèo khó, nhưng giúp Mẹ không bị nghèo khó nuốt chửng. Đức tin của Mẹ không làm cho Mẹ hết lo âu, nhưng giúp Mẹ không tuyệt vọng. Đức tin của Mẹ không biến cuộc đời thành con đường bằng phẳng, nhưng giúp Mẹ bước qua sỏi đá với trái tim hiền lành. Đức tin ấy không chỉ giữ Mẹ, mà còn giữ cả gia đình. Nhờ đức tin của Mẹ, trong nhà có một trụ cột vô hình. Nhờ lời cầu nguyện của Mẹ, những đứa con được che chở nhiều hơn chúng tưởng. Nhờ nước mắt của Mẹ trước mặt Chúa, có lẽ nhiều tai ương đã đi qua mà chúng tôi không hay biết.

Người ta vẫn nói: “Con trai nhờ đức Mẹ.”

Tôi không biết phải giải thích thế nào cho hết. Nhưng hình như đúng là như vậy. Có những điều trong đời người con không tự mình làm nên. Có những ơn lành không phải do tài năng của con. Có những cánh cửa mở ra không phải vì con xứng đáng. Có những lần thoát nguy không phải vì con khôn ngoan. Có những phúc lành đi theo cuộc đời con như bóng mát âm thầm, mà càng lớn tuổi con càng hiểu: đó là nhờ đức của Mẹ, nhờ lời cầu nguyện của Mẹ, nhờ những việc lành Mẹ đã gieo, nhờ lòng nhân hậu Mẹ đã sống.

Mẹ có tấm lòng, và con trai của Mẹ được nhờ tấm lòng đó.

Câu ấy càng nghĩ càng thấm. Một người mẹ sống hiền lành, nhân hậu, quảng đại, đạo đức, thì không chỉ đời mẹ được Chúa thương, mà con cái cũng được hưởng phúc. Phúc ấy không phải lúc nào cũng là tiền bạc. Phúc ấy có khi là gặp người tốt đúng lúc. Phúc ấy có khi là được nâng đỡ khi yếu đuối. Phúc ấy có khi là được tha thứ khi lầm lỗi. Phúc ấy có khi là giữa cơn khốn khó vẫn tìm được lối ra. Phúc ấy có khi là trái tim con cái dù đi xa vẫn còn biết đường quay về với Chúa.

Có lẽ trong kho tàng Mẹ để lại, quý nhất là Mẹ đã dạy con cái biết cho đi.

Mẹ không giảng nhiều về lòng quảng đại, nhưng Mẹ sống quảng đại. Mẹ không viết sách về bác ái, nhưng đời Mẹ là một trang sách mở. Mẹ không nói những bài diễn văn về phục vụ, nhưng Mẹ đã phục vụ bằng đôi chân đi tìm người giúp, bằng đôi tay làm việc, bằng miệng nói lời bênh vực, bằng trái tim chạnh thương trước khổ đau của người khác. Con cái nhìn Mẹ mà học. Có thể học chậm, học vụng, học chưa trọn, nhưng hạt giống đã rơi vào lòng.

Và rồi lạ lắm: khi có, các con của Mẹ lại cứ cho đi. Cho đi rồi lại được nhận lãnh. Cho đi tưởng là mất, mà hóa ra lại được thêm. Cho đi một chút tình, nhận lại nhiều bình an. Cho đi một chút thời giờ, nhận lại nhiều ý nghĩa. Cho đi một chút công sức, nhận lại nhiều niềm vui. Cho đi một chút của cải, nhận lại cảm giác lòng mình không bị tiền bạc làm chủ. Cho đi không phải để được trả lại, nhưng càng cho đi càng thấy đời mình được Chúa lấp đầy.

Đó cũng là bài học của Tin Mừng. Hạt lúa mì phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Ai giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai biết trao ban thì lại tìm thấy sự sống thật. Mẹ tôi có thể không diễn tả được bằng những ngôn từ thần học, nhưng Mẹ đã sống điều ấy rất tự nhiên. Mẹ như hạt lúa âm thầm. Mẹ mục nát trong hy sinh. Mẹ tiêu hao trong phục vụ. Mẹ nhỏ bé trong mắt đời. Nhưng từ đời Mẹ, những bông hạt mọc lên: con cái được lớn khôn, gia đình được gìn giữ, người nghèo được giúp đỡ, trẻ em được đến trường, niềm tin được trao truyền, lòng nhân hậu được nối tiếp.

Nói về Mẹ, viết về Mẹ, làm sao nói hết, viết hết?

Với một kẻ phàm phu tục tử như tôi, ngôn từ nhiều khi trở nên bất lực. Có những điều càng sâu càng khó nói. Có những yêu thương càng lớn càng không thể diễn tả trọn. Có những hy sinh khi còn sống ta không thấy hết, đến khi người khuất rồi mới giật mình nhận ra. Ngày xưa, có thể ta quen với sự hiện diện của Mẹ đến mức tưởng đó là điều tự nhiên. Tự nhiên là có cơm. Tự nhiên là có nhà. Tự nhiên là có người lo. Tự nhiên là có người đợi. Tự nhiên là có người cầu nguyện. Tự nhiên là có người nhớ từng đứa con. Nhưng đến khi Mẹ không còn nữa, ta mới hiểu: không có gì là tự nhiên cả. Tất cả đều là tình thương. Tất cả đều là hy sinh. Tất cả đều là ân huệ.

Có những ngày muốn gọi một tiếng “Mẹ ơi” mà không còn nghe tiếng Mẹ trả lời. Có những lúc gặp chuyện vui, muốn kể cho Mẹ nghe, nhưng chỉ còn biết thầm thĩ trong lòng. Có những khi mệt mỏi, muốn trở về bên Mẹ như ngày xưa, nhưng căn nhà đã thiếu bóng dáng ấy. Có những bữa cơm, nhìn một món ăn quen, tự nhiên nhớ bàn tay Mẹ. Có những buổi chiều, nghe tiếng chuông nhà thờ, tự nhiên nhớ dáng Mẹ cầu kinh. Có những đêm, lòng trống vắng, tự nhiên thấy đời mình nghèo đi vì mất một người không ai thay thế được.

Nhưng đức tin dạy tôi rằng Mẹ không mất. Mẹ chỉ đi trước. Mẹ đã trở về với Chúa, Đấng mà Mẹ tin tưởng suốt đời. Đôi bàn tay trắng của Mẹ ngày xưa, giờ đây tôi tin đã được Chúa đón nhận. Bàn tay ấy trắng vì không giữ gì cho riêng mình. Bàn tay ấy trắng vì đã cho đi quá nhiều. Bàn tay ấy trắng vì đã dâng hết một đời. Và trước mặt Chúa, đôi bàn tay trắng ấy không trống rỗng. Nó đầy những việc lành. Đầy những lời cầu nguyện. Đầy những hy sinh. Đầy những giọt nước mắt. Đầy những dấu vết của tình yêu.

Người đời có thể hỏi: Mẹ để lại gì?

Tôi xin thưa: Mẹ để lại cả một bầu trời.

Mẹ để lại cho chúng tôi ký ức về một mái nhà nghèo mà ấm. Mẹ để lại một nếp sống biết tin Chúa. Mẹ để lại bài học rằng con người sống không chỉ để có, mà còn để thương. Mẹ để lại cho chúng tôi niềm xác tín rằng nghèo không đáng sợ bằng hẹp lòng, thiếu tiền không đáng sợ bằng thiếu nhân hậu, bàn tay trắng không đáng sợ bằng trái tim trống rỗng. Mẹ để lại một thứ gia tài mà càng chia ra càng lớn, càng sống theo càng sinh hoa trái, càng nhớ lại càng thấy biết ơn.

Mẹ không giàu, nhưng Mẹ làm cho đời con cái giàu lên.

Giàu vì biết thương người. Giàu vì còn biết cầu nguyện. Giàu vì biết cúi xuống. Giàu vì biết cảm ơn. Giàu vì biết rằng mọi sự mình có đều là ơn Chúa. Giàu vì hiểu rằng đời người cuối cùng không được đo bằng những gì ta nắm giữ, mà bằng những gì ta trao đi. Giàu vì trong tim vẫn còn hình bóng Mẹ như một ngọn đèn không tắt.

Con cảm ơn Mẹ.

Cảm ơn Mẹ vì đã sinh con ra trong cuộc đời này. Cảm ơn Mẹ vì đã cho con một mái nhà. Cảm ơn Mẹ vì đã nuôi con bằng cơm gạo và bằng nước mắt. Cảm ơn Mẹ vì đã dạy con biết Chúa, dù có khi con chưa sống xứng đáng. Cảm ơn Mẹ vì đã gieo vào đời con hạt giống nhân hậu. Cảm ơn Mẹ vì những lần Mẹ âm thầm chịu đựng mà con không biết. Cảm ơn Mẹ vì những lời kinh Mẹ đọc cho con. Cảm ơn Mẹ vì những hy sinh không tên, những lo toan không kể, những đau khổ không than, những yêu thương không điều kiện.

Và trên hết, con tạ ơn Chúa.

Tạ ơn Chúa vì trong đời con có Mẹ. Tạ ơn Chúa vì Người đã ban cho con một người Mẹ không giàu của cải nhưng giàu đức tin. Không nhiều tiền bạc nhưng nhiều lòng thương. Không quyền lực nhưng đầy nhân hậu. Không để lại gia sản trần gian nhưng để lại gia tài thiêng liêng. Tạ ơn Chúa vì qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là tình yêu. Qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là hy sinh. Qua Mẹ, con hiểu hơn thế nào là sống đạo giữa đời thường. Qua Mẹ, con hiểu rằng có những đôi bàn tay trắng lại là đôi bàn tay giàu nhất trước mặt Thiên Chúa.

Mẹ ơi, đời con có thể đi nhiều nơi, gặp nhiều người, trải qua nhiều biến cố, nhưng có một nơi con không bao giờ rời xa được: đó là lòng Mẹ. Có một món nợ con không bao giờ trả hết: đó là công ơn Mẹ. Có một lời con không bao giờ nói cho đủ: đó là lời cảm ơn Mẹ. Có một tình thương con không bao giờ hiểu hết: đó là tình Mẹ dành cho con.

Cha mẹ là trời cao biển lớn bao la.

Con chỉ là một phận người nhỏ bé đứng trước trời cao biển lớn ấy. Càng đứng lâu càng thấy mình nhỏ. Càng nghĩ nhiều càng thấy mình nợ. Càng nhớ Mẹ càng thấy lòng mềm lại. Và trong sự mềm lại ấy, con chỉ biết cúi đầu, chắp tay, thưa với Chúa:

Lạy Chúa, xin thương đón nhận Mẹ con vào lòng thương xót của Chúa. Nếu đời Mẹ còn điều gì thiếu sót, xin Chúa lấy tình yêu mà bù đắp. Nếu đời Mẹ còn vết thương nào, xin Chúa chữa lành. Nếu đời Mẹ còn giọt nước mắt nào chưa khô, xin Chúa lau sạch. Xin cho những hy sinh âm thầm của Mẹ được nở hoa trong Nước Trời. Xin cho những việc lành Mẹ đã gieo tiếp tục sinh trái trong đời con cháu. Xin cho chúng con biết sống sao cho xứng với gia tài Mẹ để lại: gia tài của đức tin, của lòng nhân hậu, của sự quảng đại, của đôi bàn tay biết mở ra.

Và xin cho con, mỗi khi nhớ đến đôi bàn tay trắng của Mẹ, đừng chỉ buồn vì Mẹ không còn, nhưng biết sống tốt hơn, thương nhiều hơn, cho đi nhiều hơn, cầu nguyện nhiều hơn, để một ngày kia, khi con cũng phải nằm xuống với đôi bàn tay trắng, con được hy vọng mang theo một chút gì đó giống Mẹ: một tấm lòng đã biết yêu thương.

Lm. Anmai, CSsR 


 

Nên nói hay không?

Kimtrong Lam

Nên nói hay không?

Thời Hi Lạp cổ đại, Socrates là một nhân vật nổi tiếng về sự thông thái và rất được kính trọng. Một ngày kia, một người quen của nhà triết học gặp ông và nói:

– Ngài có biết tôi vừa nghe được chuyện gì về bạn của ngài không?

– Hãy đợi một chút – Socrates đáp.

– Trước khi nói với tôi về chuyện đó, tôi muốn ông cùng tôi thử nghiệm chuyện này. Đây được gọi là bài thử nghiệm sàng lọc ba bước.

– Thử nghiệm sàng lọc?

– Đúng – Socrates tiếp tục

– Bước đầu tiên là sự thật. Ông có thể đoán chắc rằng những gì ông nói ra hoàn toàn là sự thật?

– Không – người đàn ông đáp,

– Thật ra tôi chỉ được nghe…

– Được rồi – Socrates nói

– Vậy bây giờ qua bước thứ hai nhé, sàng lọc về lòng tốt. Những điều ông sắp nói về bạn tôi là điều tốt chứ?

– Không, mà ngược lại…

Socrates tiếp tục:

– Như vậy ông dự định nói một điều không tốt về bạn tôi, nhưng ông lại không chắc rằng điều đó có phải là sự thật hay không. Bây giờ là bước cuối cùng: sự hữu ích. Những gì ông sắp nói về người bạn của tôi có mang lại lợi ích gì không?

– Không, thật sự là không.

– Vậy thì …- Socrates kết luận

– Những gì ông muốn nói với tôi không phải là sự thật, không là điều tốt và cũng không có ích gì, vậy thì tại sao ông lại muốn nói ra?

 

SUỐT ĐỜI GẶP MAY!

Xuyên Sơn

 SUỐT ĐỜI GẶP MAY!

  Buổi sáng đi làm, Chị nhìn thấy bánh trước của chiếc xe máy bị xẹp hoàn toàn, Chị nghĩ: “May quá, nếu xe xẹp lốp trên đường cao tốc thì không biết hậu quả sẽ ra sao”.

 Vì phải dắt xe đi thay săm nên chị đến công ty trễ mất 15 phút.

Bà phó phòng nói rằng Giám đốc cho gọi Chị.

Chị nghĩ:

 “Nếu giám đốc khiển trách về việc đi làm trễ thì mình sẽ thành khẩn xin lỗi chứ không thanh minh”.

 Nhưng không có một lời khiển trách nào cả.

Sếp gặp Chị để mong Chị thông cảm rằng, lẽ ra hôm nay Chị phải nhận được quyết định tăng lương, vì đã đến hạn, nhưng vì mục tiêu chống lạm phát nên chính phủ đã cắt giảm nhiều hạng mục đầu tư công, trong đó có một dự án của công ty.

Do vậy, tình hình tài chính của công ty có gặp khó khăn nên Chị và một số người đáng lẽ được tăng lương đợt này nhưng phải lùi lại một thời gian và sẽ được đền bù vào kỳ tăng lương sau.

 Chị về phòng làm việc với một niềm vui nho nhỏ:

“Vẫn là may. Nhà nước cắt giảm đầu tư công hàng chục nghìn tỷ đồng,

nhiều doanh nghiệp lao đao, phải giảm lương của cán bộ công nhân viên, thậm chí có đơn vị phải cắt giảm nhân lực.

Mình không bị giảm lương, lại còn được đền bù vào kỳ tăng lương sau, thế là may.

Cái may thứ hai là mình được làm việc với một ông Giám đốc tài ba và rất tử tế”.

 Buổi chiều, Chị mua hải sản, làm một bữa cơm thịnh soạn để cả nhà ăn mừng ba cái may trong ngày của Chị.

  Ngày hôm sau, trên đường đi làm về, Chồng chị bị một gã ngổ ngáo chạy xe đánh võng va vào xe của anh ấy, khiến chồng chị bị tai nạn, xây xát ở chân và tay.

Khi nghe chồng kể chuyện này,

Chị nghĩ:

“Thế là quá may, bị tai nạn giao thông mà chỉ xây xát nhẹ chứ không phải vào viện”.

Và chị lại làm một bữa để ăn mừng cái may của gia đình mình.

 Chị xin nghỉ việc ở công ty, ra lập doanh nghiệp riêng.

Thương trường như chiến trường.

Ban đầu vất vả lắm.

Ngược xuôi chèo lái con thuyền công ty. Nhưng chị luôn giữ một tâm thái lạc quan tích cực như vậy.

Ở đâu và bao giờ, nụ cười cũng luôn nở trên môi chị và nhờ thế, trong giao tiếp chị luôn chiếm được cảm tình của người khác và chị làm việc gì cũng hanh thông.

Dần dà, công ty làm ăn khấm khá.

Chị có dư của ăn của để.

  Bữa chị mua căn biệt thự, nhờ người bạn làm nghề điện nước đến lắp đặt toàn bộ hệ thống chiếu sáng trong và ngoài nhà.

Chẳng ngờ, người bạn sinh lòng tham, lắp cho chị toàn bóng đèn hàng chợ nhưng tính với chị giá trên trời.

Được dăm bữa, bóng đèn dở chứng, cái sáng cái tối.

Ánh sáng chuyển màu, cái màu trắng cái màu vàng.

Chị gọi ông bạn vàng kia thì mất hút.

Chị chẳng lấy làm buồn.

Chị bảo:

Cũng may không mua đèn của hắn để lắp cho showroom mà chị sắp khai trương. May mà có cậu em Thần Đèn tình cờ xuất hiện và thiết kế lại toàn bộ ánh sáng cho nhà chị.

Nhà chị đẹp hơn, lung linh hơn rồi”.

  Đến một ngày, Chị phát hiện chồng có bồ.

Anh chị chia tay.

Chị nói với anh lúc đứng ở cổng tòa: “Thôi vậy cũng may. May mà biết sớm để rồi kết thúc sớm. May mà con mình cũng đã đủ lớn để hiểu chuyện của bố mẹ nó và không oán trách ai cả”.

  Như thế đó, chị là một người suốt đời gặp may.

Đó không chỉ là một lối tư duy tích cực mà còn là một lối sống lạc quan và nhờ lối sống này mà những người sống quanh chị không bao giờ phải nghe tiếng thở dài.

 Giờ đây tuy đã gần 50 tuổi rồi nhưng trông chị vẫn trẻ trung như tuổi 30.

  Một lối sống lạc quan và tích cực là cái mà chúng ta hoàn toàn có thể tự tạo ra được.

Và đó còn là sự biểu hiện của một con người có trí tuệ và đạo đức.

  Và chỉ những ai làm được điều đó thì mới xứng đáng để được hưởng bình an và hạnh phúc trong cuộc sống.

  NGƯỜI HẠNH PHÚC KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI ĐƯỢC SỐNG TRONG HOÀN CẢNH THUẬN LỢI MÀ LÀ NGƯỜI CÓ THÁI ĐỘ TÍCH CỰC TRONG BẤT KỲ HOÀN CẢNH NÀO.

(sưu tầm)


 

ĐÃ TÌM RA CÔNG THỨC CHUNG- Chìa khóa cho mọi hạnh phúc

Nguyen Thi Chau

ĐÃ TÌM RA CÔNG THỨC CHUNG

Lý giải vì sao người Bắc Âu không màng “nhà lầu, xe hơi'” nhưng vẫn hạnh phúc!

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.

Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều” – đó là quan niệm của người Bắc Âu.

Đan Mạch – Thiên đường cho người dân và doanh nghiệp.

Thụy Điển – Thành công mỹ mãn với chế độ người lao động chỉ làm 6giờ/ngày.

Hoặc

Phần Lan – Nền giáo dục “không giống ai”, cấm thi cử, bài tập nhưng học sinh vẫn giỏi giang…

Điểm chung của các quốc gia này là gì?

Đó là tất cả đều đến từ một cùng khu vực trên thế giới – Bắc Âu.

Từ xa xưa, nơi đây là chỗ ở của những kẻ chinh phục vĩ đại mang tên Viking.Trải qua thời kỳ chiến tranh loạn lạc với vai trò những đất nước trung lập, giờ đây các quốc gia Bắc Âu đang có những chuẩn mực khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ:

*Tăng trưởng kinh tế cao,

*Chỉ số phát triển con người cao,

*Người dân hạnh phúc nhất nhì thế giới…

Vậy, những xứ “thiên đường” ấy đã làm cách nào để vươn đến như ngày nay?

Tất cả nằm ở cách sống của con người nơi đây! Hãy thử tìm hiểu.

Không cần nhà lầu, xe hơi, tiền bạc chất đống… mà vẫn hạnh phúc. Người Bắc Âu sống tự nhiên, đơn giản mà hạnh phúc.

Nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận thấy, các quốc gia ở Bắc Âu:

Không hề có nhà cao tầng, người dân ăn mặc rất mộc mạc, đi những chiếc xe cũ kỹ

Và ăn những món ăn đơn giản.

Sau 7 giờ tối, gần như trên đường rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa” vào ban đêm, không có những dịch vụ cao cấp lãng phí kích thích sự thỏa mãn tiêu cực của con người.

Có một cụm từ mà người Bắc Âu hay nhắc đến là:

“Chất lượng cuộc sống”.

Đất nước Thụy điển thì có câu châm ngôn:

“Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của bạn”.

Nếu có ai hỏi một người Bắc Âu xem giữa 2 sự lựa chọn:

Cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng.

So với cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái thì chọn phương án nào, anh ta có lẽ sẽ thiên về phương án thứ hai.

Bởi lẽ, thứ mà người Bắc Âu muốn chính là “Phẩm Chất”,

chứ không phải là “Vật Chất” trong cuộc sống.

“Nhanh một chút”,

“nhanh một chút!”.

Không, người Bắc Âu không làm vậy. Họ lựa chọn sống:

“Chậm Một Chút!”,

nhưng vẫn có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ cách sống này.

Những con người

“Biết Sống” nhất thế giới của vùng Bắc Âu này, bí quyết ở sự:

“Đơn Giản”

Bắc Âu nằm ở vùng khí hậu khắc nghiệt nhất của thế giới.

Môi trường thiên nhiên hà khắc ở đây đã khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở xứ này.

“Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon.

Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều”

Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để nhận ra, nếu bạn chịu khó để ý một chút.

Ví dụ

Trong cách ăn mặc, không cần phải diêm dúa, bạn sẽ thấy những người phụ nữ 70-80 tuổi Bắc Âu thường mặc áo khoác vàng nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu.

Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.

Nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì không cần phải tiệc tùng cầu kỳ, những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt thơm tho đến cho em bé sử dụng.

Điều này đã trở thành một truyền thồng tốt đẹp lâu đời của con người xứ Bắc Âu.

  • Bắc Âu không cần những đại lộ to rộng

Những con đường ở các quốc gia Bắc Âu thường hẹp hơn đường ở các quốc gia phát triển khác, phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.

  • Không cần phải khoe của

Người dân nơi đây không cần những siêu xe, mà chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Thậm chí, rất nhiều người trong số họ đạp xe đạp đi làm.

Bảo vệ môi trường đối với người Bắc Âu đã không còn là một cụm từ theo “mốt” mà là một sự “cao thượng”, một việc tất nhiên cần làm.

Để hưởng đặc quyền hạnh phúc, họ đã làm việc năng suất nhất nhì thế giới như thế này đây!

Công việc chính thức của một người Bắc Âu khá nhẹ nhàng, ‘ngắn gọn’ .

Về thời gian làm việc.

Trong thời gian rảnh, dù có thể chọn làm thêm việc khác để kiếm thêm thu nhập, nhưng họ lại không làm vậy.

Người Bắc Âu chọn thưởng thức tách cà phê cùng bạn bè hoặc đơn giản là ngồi đọc sách.

Đến đây, đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê.

Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng một cuộc sống an nhàn như trên chính là do chính thái độ nghiêm túc, hiệu suất rất cao mà họ đạt được khi làm việc.

“Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích gì, công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó” – đây là quan niệm của người Bắc Âu.

Vì thế, công việc đối với họ không phải là một sự: “đau khổ, giày vò”.

Họ đơn giản là làm hết sức và rất tốt công việc mình thực sự yêu, được trả lương rất cao và từ đó sống hạnh phúc.

Để nâng cao hiệu suất, người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo và rút ngắn thời gian làm việc.

Nghe giống như đặc điểm của những kẻ: ‘lười nhưng thiên tài’

mà Bill Gates phải cất công tìm kiếm về cho Microsoft.

Đúng!

Và đây là điều mà mọi người dân Bắc Âu đều thấm nhuần chứ không chỉ một vài kẻ ‘lười nhưng thiên tài’ nào đó.

Từ đó, họ sẽ có nhiều thời gian hơn cho nghỉ ngơi hay cho gia đình.

Và chìa khóa tận cùng cho mọi hạnh phúc ở Bắc Âu là 2 chữ:

“Gia Đình”

Trong cuộc sống của người Bắc Âu, gia đình rất quan trọng. Chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là một gia đình Bắc Âu sẽ cùng nhau tận hưởng những ngày vui đùa,

cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…

Trong gia đình, người chồng sẽ sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con. Điều đầu tiên sau khi tan làm trở về nhà mà họ làm là trò chuyện, vui đùa, nấu ăn cùng vợ, con mình.

Cho dù ai đó có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình mình.

Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì như vậy thì buổi sáng vẫn còn người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như thế, người chồng sẽ chỉ bị mất khoảng 1 tiếng đồng hồ không thể cùng ăn sáng với gia đình. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông bố có thêm thời gian vào buổi tối ăn tối cùng gia đình mình.

Fb Viet Vo


 

 “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9:3-4)-Cha Vương

Một ngày tươi vui rạng ngời trong Chúa nhé. Không quên cầu nguyện cho nhau  và toàn thế giới nhe 

Cha Vương

Thứ 6: 8/5/2026.      (n9-25)

TIN MỪNG: Vậy đang khi ông [Phaolô, Sao-lô] đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9:3-4)

SUY NIỆM: Vài ngày trước khi các Hồng y bước vào mật nghị, có người hỏi mình rằng liệu Giáo Hội kỳ này có một vị giáo hoàng người Mỹ không? Mình trả lời là “hơi nghi ngờ đó!” Rõ ràng là mình đã sai tuốt tuồn tuột! Trong Kinh Hoà Bình của Thánh Phanxicô có câu: “Ðể con đem tin kính vào nơi nghi nan.” Bây giờ mới tin vào việc Chúa làm thì không ai có thể đoán trước được. 

   Cuộc sống thường không thể đoán trước. Sáng thức dậy bạn lập ra một chương trình cho ngày mới nhưng đến giữa trưa thì mọi sự đều thay đổi hết. Như Phao-lô, phải nói  là đã thay đổi 180 độ. Từ một kẻ bắt bớ các tín hữu tin theo Chúa Giê-su, Phao-lô chẳng những đã trở thành kẻ tin theo Chúa Giê-su mà còn trở thành một người chết cho Chúa nữa. 

   Bạn cũng vậy, mỗi ngày bạn được mời gọi đến để gặp Chúa Giê-su trong Bí tích Thánh Thể. Nếu bạn muốn thay đổi đời mình 180 độ thì hãy đến cùng Giê-su đi. Nếu Ngài sống lại từ cõi chết được thì Ngài cũng có thể biến mảnh đời khô quạnh của bạn thành cuộc đời vui tươi và bình an. Hãy đến để Ngài bổ sức cho…

LẮNG NGHE: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, mà loan báo Tin Mừng. (Mc 16:15)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su Phục sinh, xin hãy biến đổi con và hãy sử dụng con như một khí cụ trong bàn tay quyền năng của Chúa, để con nên một “Phao-lô nhỏ”, nên một chứng nhân sống động của Tin Mừng trong các môi trường sống của con.

THỰC HÀNH: Cố gắng là một “Phao—lô nhỏ” hôm nay nhé.

From: Do Dzung

******************************************

BIẾN ĐỔI ĐỜI CON – HIỆP LỄ CHÚA HIỂN DUNG – Lm Thái Nguyên

Khác biệt giữa CHỦNG VIỆN, TU VIỆN và  ĐAN VIỆN, giữa linh mục TRIỀU và DÒNG.

Khác biệt giữa CHỦNG VIỆN, TU VIỆN và  ĐAN VIỆN, giữa linh mục TRIỀU và DÒNG.

1) CHỦNG VIỆN:

Chủng viện (tiếng Latinh: seminarium, có nghĩa là vườn ươm): là nơi đào tạo các linh mục tương lai. Các chủng sinh, sau khi hoàn tất chương trình Triết học và Thần học, sẽ được lãnh tác vụ/thiên chức linh mục, họ mang sứ mệnh trông coi các xứ đạo và thuộc quyền một Giám mục của giáo phận sở tại. Các linh mục này được gọi là linh mục triều (secular priest).

2) TU VIỆN :

Trong Giáo hội Công giáo, có hai loại hình tu trì sống theo cộng đoàn: tu hoạt động và tu chiêm niệm. Theo cách gọi thông thường, tu viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối hoạt động (active), họ được gọi là tu sĩ và thường làm các công việc ngoài khuôn viên tu viện.

3) ĐAN VIỆN

Đan viện là nơi ở dành cho những ai tu theo lối chiêm niệm (contemplative). Họ được gọi là đan sĩ (dù là linh mục hay không linh mục). Họ sinh hoạt chủ yếu trong đan viện của mình với tinh thần “Ora et Labora” (cầu nguyện và lao động). Mỗi ngày các đan sĩ dành phần lớn thời gian đọc kinh chung và cầu nguyện theo phương pháp đặc thù.

4) LINH MỤC TRIỀU VÀ LINH MỤC DÒNG

Phân biệt linh mục triều và linh mục dòng

“Triều” và “Dòng” là những từ ngữ khác nhau được dùng để chỉ về hai lối sống khác nhau trong cộng đồng Giáo Hội.

– Linh mục triều (secular priests), phục vụ trong các giáo xứ, ở giữa dân chúng hay “giữa thế gian” (theo tiếng Latin, thế giới là “saeculum”), còn được gọi là các linh mục giáo phận (diocesan priests), “nhập tịch” vào Giáo phận, trực thuộc Giáo phận, trực tiếp dưới quyền Giám mục Giáo phận, vâng lời và thi hành chức vụ linh mục, đảm nhận những công tác do Giám mục chỉ định. Thông thường, các linh mục triều hoạt động trong địa hạt Giáo phận của mình.

– Linh mục dòng hội nhập vào các dòng tu, là tu sĩ, phần tử của các dòng tu, tuyên giữ lời khấn dòng (khiết tịnh, khó nghèo, và vâng lời bề trên), trực tiếp vâng lời bề trên dòng trong mọi sự việc và đảm nhận những công tác do bề trên chỉ định. Các công việc của các linh mục dòng tùy thuộc đoàn sủng mỗi dòng. Họ có thể thi hành những việc về phụng vụ, quản trị, mục vụ, truyền giáo, giáo dục, xã hội, y tế, nghệ thuật, truyền thông, lao động… Các linh mục dòng có thể được gửi đi hoạt động bất cứ nơi nào nhà dòng được phép hoạt động, cũng được bề trên gửi đến các Giáo phận để phục vụ như các linh mục triều và trong khi phục vụ khó phân biệt họ với linh mục triều.

– Ngoài ra, trong thực tế, ta còn thấy sau chữ ký hay danh xưng của các linh mục dòng còn có thói quen viết thêm chữ tắt tên của dòng mình như:

S.J. (Societas Jesus – Dòng Tên),

O.P. (Ordo Predicatorum – Dòng Đa Minh),

O.F.M. (Ordo Fratrum Minorum – Dòng Thánh Phanxicô),

CSsR (Congregatio Sanctissimi Redemptoris – Dòng Chúa Cứu Thế),

Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (Congregatio Redemptoris Matris – CRM).

M.S. (Missionarus Salettensis – Dòng LaSalette),

C.F.C.(Congregatio Fratrum Christianorum – Dòng Sư Huynh Lasan),

O.H. (Ordo Hospitalis – Dòng Bệnh Viện – Gioan Thiên Chúa),

S.D.B. (Società Salesiana di San Giovanni Bosco – Dòng Salesian Don Bosco),

O.S.B (Ordo Sancti Benedicti – Dòng Biển Đức),

S.V.D. (Societas Verbi Divini – Dòng Ngôi Lời), v.v 

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

PHẦN CÒN LẠI, NGÀI LO-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước”.

“Một khi bị dồn vào đường cùng, rắn đuôi chuông có thể tự cắn mình. Người nuôi hận thù cũng thế: tưởng làm đau người khác, nhưng lại huỷ hoại chính mình. Tốt nhất, bạn hãy đón nhận sự thù ghét, tìm dịp để yêu thương và phó thác cho Chúa. Phần còn lại, Ngài lo!” – E. Stanley Jones.

Kính thưa Anh Chị em,

Trước một nền văn hoá chống lại Thiên Chúa, Chúa Giêsu vẫn tìm dịp để yêu thương và phó mình cho Cha. Tin Mừng hôm nay hé mở một nghịch lý: yêu thương không phải là yếu đuối, nhưng là một sức mạnh – ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Trong thần học Gioan, “thế gian” – kosmos – không chỉ là thế giới con người đang sống, nhưng còn là một thế giới khước từ ánh sáng. Vì thế, càng mặc khải sự thật và tình yêu của Cha, Chúa Giêsu càng bị chống đối. Ngài vẫn yêu giới biệt phái, yêu Giuđa và yêu đến cùng cả những kẻ sẽ đóng đinh Ngài. Ở đây, yêu thương chính là phản kháng! “Sự thật không vũ trang và tình yêu vô điều kiện sẽ là tiếng nói cuối cùng!” – Martin Luther King Jr..

Thế nhưng, với Gioan, ánh sáng không biến mất trước bóng tối; trái lại, càng bị khước từ, ánh sáng càng bừng lên mạnh mẽ hơn. Chính vì thế, tình yêu Kitô giáo không phải là trốn chạy xung đột, nhưng là từ chối để sự dữ quyết định cách mình sống và cách mình yêu. Người Kitô hữu không nuôi dưỡng cay đắng, cũng không tự huỷ mình trong hận thù; trái lại, vẫn nhu mì và tiếp tục yêu thương. Và đó cũng là thách đố lớn nhất của người môn đệ hôm nay: giữa một thế giới dễ đáp trả bằng giận dữ, chúng ta được mời gọi phản kháng bằng yêu thương; ‘phần còn lại, Ngài lo!’. “Tình yêu là căn tính đích thực của tôi; quên mình là con người thật của tôi!” – Thomas Merton.

Tình yêu luôn tìm kiếm giải pháp! Các tông đồ đã sống điều đó. Được đón tiếp, các ngài lưu lại; bị khước từ, các ngài lên đường. Không dừng lại, nhưng luôn mở ra những con đường mới. Từ Đerbê, Lystra đến Phygia, Galat rồi Makêđônia – bài đọc một – đã xuất hiện những cộng đoàn mới, những con tim mới và những niềm vui mới. Chính khi không để mình bị nhốt lại trong chống đối, Hội Thánh sơ khai tiếp tục lớn lên; tín hữu vui, dân ngoại mừng, “Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô đã đi đến tận cùng con đường ấy trong một cuộc kenosis – tự huỷ hoàn toàn vì yêu. Trên thập giá, bị kết án, Ngài vẫn thứ tha; bị trao nộp, Ngài vẫn một mực phó mình cho Cha. Thập giá vì thế không còn là thất bại, nhưng trở thành mặc khải tối hậu của một tình yêu mạnh hơn sự dữ và mạnh hơn cả sự chết. “Tôi không muốn trở thành kẻ chống lại ai; tôi chỉ muốn xây dựng một lời khẳng định lớn lao!” – Oscar Romero. Bởi thế, người môn đệ Đức Kitô không phản kháng bằng cay đắng, nhưng bằng một tình yêu như Thầy mình; tiếp tục yêu thương, tiếp tục phó thác – ‘phần còn lại, Ngài lo!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để thế gian ghét con vì con dễ ghét; cứ để họ ghét con vì con dễ thương! Cho con vẫn cứ thương, dù bị ghét. Được thế, con mới giống Chúa phần nào!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần V Phục Sinh

Anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn anh em khỏi thế gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.      Ga 15,18-21

18 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. 19 Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. 20 Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. 21 Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy.”