Thứ ba thì ngắm—Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống – Cha Vương

Mến chào bình an trong Chúa và Mẹ! Trong những bận rộn của ngày cuối tuần, hy vọng Bạn đừng quên món quà cao quý của Chúa Thánh Thần. Hãy bắt chước Đức Mẹ Maria tại cửa nhà của Elizabeth, hãy mang niềm vui sướng của Chúa Thánh Thần đến cho những người mình gặp hôm nay. Nhớ cầu nguyện cho nhau và cho thế giới nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 18/04/2026.   (n20-24)

NĂM SỰ MỪNG: Thứ ba thì ngắm—Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Trước tâm trạng buồn sầu, chán nản của các tông đồ sau khi nghe Chúa Giêsu báo trước về việc Ngài sẽ bị bắt, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá (x. Ga 13; Mt 20: 17-19). Đặc biệt, trong lời tâm sự với các tông đồ trong bữa Tiệc Ly trước khi chịu chết để về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu trấn an họ và hứa sẽ xin Chúa Cha gửi Chúa Thánh Thần đến ở với họ mãi mãi, và Ngài gọi Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo trợ, Đấng Bào Chữa (Ga 14:16;16:7). Vậy mỗi khi buồn sầu, chán nản, yếu đuối, bối rối, hoặc gặp thử thách, Bạn hãy xin ơn Chúa Thánh Thần để Ngài truyền sức mạnh, soi sáng và hướng dẫn Bạn sống Đức Tin của mình mỗi ngày. 

Hôm nay qua việc suy gẫm 10 Kinh Kính Mừng này, Bạn hãy xin cho được lòng đầy rẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần. (Nêu ra ý chỉ cầu xin…)

+ Kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời…

  1. Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi. (Cvtđ 2:1) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  2. Bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. (Cvtđ 2:2) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  3. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. (Cvtđ 2:3) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  4. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho. (Cvtđ 2:4) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  5. Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về. (Cvtđ 2:5) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  6. Bấy giờ, ông Phê-rô đứng chung với Nhóm Mười Một lớn tiếng nói. (Cvtđ 2:14) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  7. Anh em hãy sám hối và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. (Cvtđ 2:38) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  8. Vậy những ai đã đón nhận lời ông, đều chịu phép rửa. Và hôm ấy đã có thêm khoảng ba ngàn người theo đạo. (Cvtđ 2:41) Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  9. Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến, và xin canh tân bộ mặt trái đất (Tv 103:30). Kính mừng Maria đầy ơn phúc…
  10. Lạy Chúa Thánh Thần, xin xuống tràn ngập tâm hồn các tín hữu Chúa, và xin nhóm lửa tình yêu Chúa trong lòng họ. Kính mừng Maria đầy ơn phúc…

+ Kinh Sáng Danh: Sáng danh Đức Chúa Cha…

+ Câu Than Fatima: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con…

+ Kinh Lạy Nữ Vương: Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành…

+Kinh Hãy Nhớ: Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay… 

From: Do Dzung

***********************

THÁNH THẦN XIN HÃY ĐẾN || Sáng Tác: Lm. Thành Tâm || Ca Sỹ: Phi Nguyễn – Diệu Hiền

NHẬN RA ĐẤNG BIẾN MẤT – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất”.

“Đấng Phục Sinh được nhận ra trong việc bẻ bánh!” – Bênêđictô XVI.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, hai môn đệ Emmaus đi với Chúa Giêsu mà không nhận ra Ngài; đến khi nhận ra, Ngài lại biến mất. Không phải họ chưa từng thấy Ngài, nhưng chỉ khi mất đi, họ mới thực sự ‘nhận ra Đấng biến mất’.

Vậy điều gì đã xảy ra? Tin Mừng nói rõ: “mắt họ bị ngăn cản không nhận ra Ngài”; một passivum divinum, thể bị động thần linh, như thể chính Thiên Chúa trì hoãn việc nhận ra. Không phải họ chưa thấy, nhưng cái thấy chưa trở thành nhận biết. Họ đi với Đấng Phục Sinh, nghe Ngài, mà vẫn không nhận ra; cũng như chúng ta nhiều khi nghe, hiểu, mà vẫn không chạm tới Ngài. Và chính trong những lúc như thế, khi chúng ta tưởng mọi sự đã tắt, niềm hy vọng chỉ còn tro tàn; bên dưới lớp tro nguội vẫn còn một đốm than hồng, chỉ chờ được thổi bùng. Chỉ khi mọi sự đã qua, lúc mọi sự đã lắng xuống, chúng ta mới thực sự ‘nhận ra Đấng biến mất’, như Đức Phanxicô nói: “Chỉ sau biến cố, các môn đệ mới hiểu điều họ đã trải qua!”.

Chính trong hành vi bẻ bánh, mọi sự bắt đầu thay đổi. Không phải trong lúc đi đường hay nghe giải thích, nhưng trong một cử chỉ quen thuộc, mắt họ mở ra. Truyền thống gọi đó là một nhận biết mang tính bí tích: recognitio in fractione panis, “sự nhận ra trong việc bẻ bánh”. Ngài không được nhận ra bằng cái thấy, nhưng trong một hành vi trao ban chính mình. Vì thế, việc nhận ra không đến từ nỗ lực hiểu biết, nhưng từ một hành vi được cử hành; cũng như trong đời sống chúng ta, chính những điều quen thuộc lại là nơi Ngài ẩn mình. “Có một điều thánh thiêng, một điều thần linh, ẩn giấu trong những hoàn cảnh bình thường nhất!” – Josemaría Escrivá.

Điều đã xảy ra trên đường Emmaus tiếp tục trong chính cấu trúc đời sống của Hội Thánh. Khi Lời được công bố, Ngài mở trí để hiểu; khi bánh được bẻ ra, Ngài được nhận ra. Không phải một ký ức, nhưng là một hiện tại đang diễn ra; Hội Thánh lắng nghe, tuyên xưng, và rao giảng cho muôn dân “biết đường về cõi sống” – Thánh Vịnh đáp ca. Chính Phêrô đã nói: “Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại” – bài đọc một; và chúng ta được cứu chuộc “nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô” – bài đọc hai. Vậy mà ngay giữa những điều được cử hành mỗi ngày, nhiều khi chúng ta vẫn chưa nhận ra Ngài ngay trong chính đời sống mình.

Anh Chị em,

Và tất cả quy về Chúa Kitô. Ngài đang sống với Chúa Cha nhưng vẫn hiện diện giữa Hội Thánh, giữa lòng thế giới; Ngài tỏ mình cho từng người, nâng dậy những tâm hồn mỏi mệt, những ai đang thất vọng ‘đi về hướng tây’, quay lưng và không còn muốn trở lại. Qua các chứng nhân phục sinh, Ngài đang nhen lên ngọn lửa đã tắt, đưa họ trở về Giêrusalem, ‘hướng mặt trời mọc’, nơi họ từng không còn muốn quay về. “Đức tin là một ngọn lửa phải luôn được nhen lại!” – Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con bỏ đi, xin kéo con về; khi con tắt lửa, xin đốt lại tim con; và khi con không thấy, cho con nhận ra Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

*****************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT III PHỤC SINH – NĂM A

Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca. Lc 24,13-35

13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.

18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”

25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”

33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông : “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.


 

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo –  Tác giả: Phùng Văn Phụng

Đức Khiêm Nhường và Sự Kiêu Ngạo

 Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (Mt 11:29)

 Tác giả: Phùng Văn Phụng

 Trong bảy mối tội đầu thì

 1)Thứ nhất là khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

Chúa Giêsu nhắn nhủ: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29).

Trong một thế giới đề cao “cái tôi” và cách sống đầy ích kỷ như ngày nay, sống khiêm nhường là một thách đố lớn. Thế nên, chúng ta lại càng phải cố gắng tập sống khiêm nhường. Càng khó càng phải cố. Hãy bắt chước tác giả Thánh Vịnh mà luôn tự nhủ:

 Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào, Chúa ơi!

Đường cao vọng, chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức, chẳng cầu

Hồn con, con vẫn trước sau

Giữ cho thinh lặng, giữ sao thanh bình. (Tv 131:1-2) 

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin và sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chúng con có thể sống khiêm nhường theo đúng Thánh ý của Chúa. 

2-“Hãy học cùng ta vì Ta khiêm nhường” 

Đức khiêm nhường là gì? Thưa là nhân đức nền tảng của đời sống đạo đức. Nhờ khiêm nhường, người môn đệ của Chúa có thể dễ dàng nhận ra được tiếng nói của Chúa và gặp được Ngài trong cuộc đời của mình. Nhờ khiêm nhường mà chúng ta thấy cuộc đời của mình vui tươi, hạnh phúc.

 Chuyện kể:

 Đầu tháng bảy năm 1870, một phái đoàn người Pháp đến chầu Đức giáo hoàng Piô IX tại Roma. Sau khi trưởng phái đoàn đã đọc bài chào mừng, Đức giáo hoàng đã nói chuyện thân mật với từng người và ai nấy đều xin ơn nọ ơn kia. Nhưng khi nhìn thấy một thanh niên có vẻ khô khan lạnh nhạt, Đức giáo hoàng đã hiền từ hỏi:

– Còn con, con không xin ơn gì sao?

Chàng thanh niên lạnh lùng đáp:

– Thưa không.

Đức giáo hoàng hỏi thêm:

– Cha con còn sống không?

Chàng thanh niên lửng khửng đáp:

– Thưa còn.

Đức giáo hoàng lại hỏi:

– Còn mẹ con thì sao?

Chàng thanh niên chậm chạp lí nhì đáp lại

– Mẹ con chết lâu rồi.

Bấy giờ Đức giáo hoàng cầm tay anh thanh niên mà nói với giọng cảm động rằng:

– Con không xin ơn gì với cha; còn cha, cha xin con một điều, là con hãy cùng cha quì gối xuống đất, đọc một kinh lạy cha, một kinh kính mừng, một kinh sáng danh, cầu nguyện cho mẹ con được lên thiên đàng, và khi được hưởng mặt Chúa. Mẹ con sẽ xin cùng Chúa cho con được sốt sắng giữ đạo để sau này con cũng được lên thiên đàng với mẹ con. Nói xong Đức giáo hoàng quỳ xuống đất, hai tay chắp trước ngực, mắt nhìn lên trời, đọc kinh rất sốt sắng, làm cho chàng thanh niên phát cảm động phải khóc nức nở. 

Đức Giáo Hoàng quì xuống trước mặt mọi người. Ngài có làm gì lạ lùng không. Không. Ngài chỉ cùng đọc với mọi người những lời kinh đơn sơ nhất”.

Chúng ta hãy nhìn vào đó mà bắt chước để cuộc sống của mỗi người chúng ta xứng đáng với Chúa hơn. Amen.

 3-Kiêu ngạo là gì? 5 dấu hiệu giúp bạn nhận biết người kiêu ngạo.

 Kiêu ngạo khác với khiêm nhường vì người kiêu ngạo:

 a)Luôn khẳng định mình đúng

Kiêu ngạo là gì? Một dấu hiệu dễ thấy nhất của sự kiêu ngạo đó là luôn cho rằng mình đúng trong mọi trường hợp bất kể đúng sai và chẳng bao giờ tiếp thu lời khuyên, ý kiến của người khác.

 b)Luôn xem mình là trung tâm

Những người kiêu ngạo luôn cho rằng bản thân mình là trung tâm của mọi người. Khi người kiêu ngạo đạt được một thành công nào đó, họ thích khoe khoang về những thành công của mình hơn là cảm ơn sự giúp đỡ của người khác. 

c)Luôn coi thường những người xung quanh

Tính kiêu ngạo sẽ làm bạn luôn coi thường những người xung quanh. Họ luôn cho rằng mình giỏi hơn người khác. Họ thường xem thường đồng nghiệp và có thái độ khó chịu, chê bai người xung quanh. 

d)Không biết lắng nghe

Những người kiêu căng sẽ không bao giờ dành thời gian để lắng nghe và chia sẻ với những người xung quanh. 

e)Không muốn nhận lỗi và thay đổi

Đây là một điều tồi tệ mà những người kiêu căng thường mắc phải. Nhận lỗi và thay đổi là một việc làm rất khó khăn đối với họ. Họ là người luôn đỗ lỗi cho người khác. 

Kiểu người này có cái tôi rất cao, vì thế họ sẽ không bao giờ chấp nhận được việc bị người khác phê bình và dùng mọi lý lẽ để biện hộ cho những sai lầm và rắc rối mà mình đã gây ra. 

Thái độ kiêu ngạo làm cho mọi người sẽ dần dần xa lánh họ, họ sẽ là người rất cô đơn vì không có ai là bạn, không có ai dám tiếp xúc, nói chuyện với họ. 

4-Nguyên nhân kiêu ngạo.

 Thông thường những ai nếu thành công đôi chút như làm ăn khá giả, trả hết nợ nầng xe cộ, nhà cửa, có mức sống cao, dễ bắt đầu sự kiêu ngạo. Chỉ một mình ta là người giỏi hơn hết mọi người khác. Nếu có ai chạm tự ái họ, họ sẽ nỗi “khùng” lên, nặng lời, mắng chửi người khác không còn nể mặt, e dè. 

Bản chất kiêu ngạo của con người là do tổ tiên chúng ta, ông Adam và Eve truyền lại, đã không tuân lệnh Thiên Chúa, đã ăn trái cấm ở vườn điạ đàng, cũng như xây tháp Ba-ben để lên tận trời cao. 

Nếu con người không học tập, suy nghiệm, cầu nguyện, nhờ ơn trên giúp sức khó từ bỏ được tính kiêu ngạo.

 5-Hiện tượng kiêu ngạo: 

*Trong gia đình nếu gặp phải người kiêu ngạo, gia trưởng, bắt mọi người trong gia đình phải làm theo ý mình, không được trái ý, thì vợ con sẽ sống rất khổ sở vì không được tự do. Người kiêu ngạo thường hay lãi nhãi, la lối, cự nự, nếu có ai trong gia đình làm trái ý mình; đôi khi dùng cả bạo lực để khống chế người khác. Do đó, họ thường chịu cảnh cô đơn, hiu quạnh, vì không ai muốn nói chuyện, đến gần. 

* Anh Nguyễn luôn chỉ trích người khác, người nào càng nổi tiếng trong cộng đồng là thế nào anh cũng chỉ trích nói xấu. 

Một lần tôi nói: “Anh A. siêng năng, viết sách hay, súc tích”.

Anh Nguyễn trả lời liền: “Cái thằng A. lăng xăng, lúc nào cũng vội vã. Có gì mà hay đâu”.

 Tôi nói: “Anh H. chịu khó sinh hoạt nổi tiếng trong cộng đồng”.

Anh Nguyễn trả lời ngay: “Cái thằng bợ đỡ, mặt mập, bịnh hậu…” 

Khi nhắc đến bất cứ ai thì anh Nguyễn cũng có câu nói dè biểu, chê bai, nói ra ngay những khuyết điểm của người đó. Đó là cái tật của anh Nguyễn.

 *Anh Trần đã có nhà. Có hai chiếc xe. Nên anh rất tự cao tự đại. Anh cho mình hơn người, không ai bằng anh. Anh có nghề nghiệp vững chắc, có tiền. Anh chỉ chiếc xe BMW và nói với tôi dẫn tôi đến bên xe của anh và nói: “Chú xem xe mới đẹp không? mới mua đó.”

 Anh chồng lúc nào cũng cho rằng mình đúng, vợ không được cãi. “Tao là nhất nhà rồi vì tao có tiền, tao có xe, tao có nhà đã trả hết, tao qua Mỹ chỉ cần 30 năm, tao đã thành công”.

 *Trong môt quốc gia nếu nhà cầm quyền kiêu ngạo, quá khích, khư khư giữ quan điểm của mình, không biết lắng nghe người khác. 

Hậu quả của “kiêu ngạo cộng sản” là sau khi chiếm được miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975, cộng sản Việt Nam đã cắt đứt liên lạc ngoại giao với các nước Tây Phương, áp dụng chính sách tự cung tự cấp, chỉ dựa vào sự viện trợ của Liên sô mà thôi.

 Trong nước, cộng sản đã tịch thu tài sản của các nhà tư bản miền Nam, đầy họ đi vùng kinh tế mới, thành lập các hợp tác xã, đã làm cho toàn thể đất nước Việt Nam đi vào con đường đói kém, sản xuất ngưng trệ, kinh tế suy sụp, xã hội hỗn loạn. Nếu không có thay đổi từ năm 1986 trở về nền kinh tế tự do, (mà miền Nam đã áp dụng từ lâu), thì tình trạng đói kém, rối loạn xã hội không biết sẽ xảy ra như thế nào nữa. Nền kinh tế đang phát triển bị đẩy lùi hàng chục năm cho đến ngày nay (2020) vẫn còn thua kém so với các nước Đông Nam Á khác. Cũng vì kiêu ngạo không thèm thấy cái hay của Việt Nam Cộng Hòa đem ra áp dụng, mà phá bỏ tất cả, hậu quả giáo dục chậm tiến, văn hóa xã hội suy đồi, chính trị độc quyền, độc tài, không tôn trọng ý kiến khác biệt, nhân quyền không có. 

Kết: Bịnh kiêu ngạo làm cho gia đình rối loạn, nghi kỵ lẫn nhau, ganh ghét nhau, xung đột nhau, không có hạnh phúc, bình an. 

Bịnh kiêu ngạo làm cho nhà cầm quyền tưởng mình là “thánh”, là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, không bao giờ chấp nhận sai lầm, khiến cho toàn thể dân tộc chịu điêu đứng vì quyết định sai lầm của mình. Ai dám nói ngược với ý của nhà cầm quyền thì bị chụp mũ phản động, “thế lực thù địch”, tìm cách bỏ tù dài hạn. 

Tác giả: Phùng Văn Phụng 

Ngày 29- 06-2020


 

Iran đóng lại eo biển Hormuz để đáp trả lệnh phong tỏa của Mỹ (RFI)

(RFI)

Hôm nay 18/04/2026, Iran tuyên bố khôi phục “kiểm soát chặt chẽ” eo biển Hormuz để đáp trả việc Mỹ tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa các cảng của Iran, qua đó đảo ngược quyết định đưa ra hôm trước về việc mở lại tuyến hàng hải chiến lược này.

Ảnh tư liệu : Chủ tịch Quốc Hội Iran Mohammad Bagher Qalibaf chủ trì một phiên họp tại Teheran, Iran, ngày 01/02/2026. AFP – – 


 

Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo

Thao Teresa 

Tượng đài Thánh Phanxicô Assisi , vị Thánh của sự khó nghèo, hoà bình và một tình yêu lớn dành cho người nghèo nằm trên đỉnh Serra da Formiga ở Riachuelo, Brazil .

Hẳn mọi người còn nhớ lời Kinh Hoà Bình được sáng tác theo linh đạo của Thánh Phanxico Assisi mà các bạn khác đạo vẫn gọi là Kinh Đòi Đất.

“Đem yêu thương vào nơi oán thù

Đem thứ thứ tha vào nơi lăng nhục

Đem an hoà vào nơi tranh chấp

Đem chân lý vào chốn lỗi lầm”


 

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Make Christianity Great As Always

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Tội kiêu ngạo không bắt đầu từ diễn đàn, ngai vàng hay quyền lực chính trị. Nó bắt đầu rất sớm, rất âm thầm, trong một khu vườn. Hội Thánh gọi nó là một trong các mối tội đầu, vì từ đó nhiều tội khác sinh ra. Nói ngắn gọn, kiêu ngạo là lúc con người không còn muốn ở đúng vị trí của mình nữa.

Trong Sáng Thế 3, con rắn gợi lên một tham vọng lớn: “các ngươi sẽ nên như thần.” Đó là gốc của kiêu ngạo. Con người không còn muốn đón nhận điều thiện từ Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình nắm quyền quyết định thiện ác. Vấn đề từ đầu không chỉ là bất tuân, mà là muốn lấy thứ không thuộc về mình.

Đến Sáng Thế 11, câu chuyện tháp Babel cho thấy kiêu ngạo không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà là của cả một nền văn minh: “Ta hãy xây cho mình một thành và một tháp chọc trời, để làm cho danh ta lẫy lừng.” Con người không còn xây để phụng sự sự sống, nhưng để làm lớn tên mình. Khi một đám đông cùng tin rằng mình có thể tự dựng trời đất mới bằng sức riêng, Babel lại bắt đầu.

Trong 1 Samuel 8, dân Israel xin một vị vua “như các dân khác.” Ở đây xuất hiện một dạng kiêu ngạo khác: ảo tưởng chính trị. Con người bắt đầu tin rằng trật tự, an ninh và tương lai sẽ được cứu bởi quyền lực hữu hình chứ không bởi Thiên Chúa. Từ lúc đó, chính trị rất dễ bị đẩy lên thành một thứ cứu thế.

Các ngôn sứ nói rõ điều này. Isaia 5 lên án những kẻ “gọi ác là thiện, gọi thiện là ác” và những kẻ “khôn trong mắt mình.” Khi con người tôn mình lên, họ sẽ sửa luôn cả ngôn ngữ luân lý. Điều xấu không còn bị gọi là xấu, nhưng được bọc bằng những chữ dễ nghe hơn: cần thiết, thực tế, tiến bộ, đại cuộc.

Trong Isaia 14 và Êdêkien 28, quyền lực không chỉ muốn cai trị, mà còn muốn được nhìn như bất khả sai lầm, như thể chính mình là thần. Và trong Đaniel 3, điều đó đạt đỉnh điểm: Nabucôđônôsor dựng tượng vàng và buộc mọi người phải sấp mình thờ lạy. Quyền lực trần gian không còn bằng lòng với việc cai trị xã hội; nó muốn lấy luôn sự quy phục của lương tâm. Ba thiếu niên chấp nhận vào lò lửa chứ không quỳ trước ngẫu tượng. Đó là bài học lớn: người tín hữu không chống mọi chính quyền trong mọi sự, nhưng phải từ chối ngay khi quyền lực đòi lấy chỗ của Thiên Chúa.

Sang Tân Ước, kiêu ngạo trở nên tinh vi hơn. Trong Gioan 11, Caipha nói: “thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị diệt.” Câu ấy nghe rất thực tế, nhưng ẩn bên dưới là một lối nghĩ rất nguy hiểm: làm điều sai hôm nay để giữ một điều tốt nào đó ngày mai. Thánh Phaolô trong Rôma 3,8 bác bỏ thẳng kiểu lập luận này: không thể “làm điều ác để điều thiện xảy ra.” Ở đây, kiêu ngạo mang bộ mặt của sự khôn ngoan và của “đại cuộc.”

Đến Luca 18, Đức Giêsu kể dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Kiêu ngạo lúc này không dựng tượng, không mặc áo vua, không xưng mình là thần. Nó vào tận đền thờ và cầu nguyện: “Con không như những kẻ khác.” Đây là kiêu ngạo tôn giáo, và có lẽ là dạng khó thấy nhất. Nó không cần làm điều xấu lộ liễu; nó chỉ cần lấy điều tốt của mình làm cớ để khinh người khác.

Toàn bộ dòng chảy ấy được đảo ngược nơi Đức Kitô trong Philípphê 2. Người không nắm lấy vinh quang cho mình, nhưng tự hạ, mặc lấy thân nô lệ và vâng phục cho đến chết. Ở Ađam, con người muốn vươn lên để bằng Thiên Chúa. Ở Đức Kitô, Con Thiên Chúa lại hạ xuống để cứu con người. Một bên là nắm lấy; một bên là trao ban.

Nhìn vào thế giới hôm nay, ta không khó để nhận ra những điều ấy vẫn còn nguyên. Khi người ta gọi ác là thiện, Isaia đang bị lặp lại. Khi người ta biện minh cho điều sai hôm nay vì tương lai, Caipha đang bị lặp lại. Khi người ta tin rằng quốc gia, ý thức hệ, thị trường, công nghệ hay chiến thắng chính trị có thể cứu lịch sử, ảo tưởng của 1 Samuel 8 và Babylon đang quay lại. Và khi quyền lực không muốn bị phán xét bởi một chuẩn mực cao hơn chính nó, đó là dấu hiệu của một thứ kiêu ngạo muốn tự mình làm luật.

Ta cũng đã thấy những biểu hiện như thế trong đời sống hiện nay: có những nhà lãnh đạo muốn tiếng nói luân lý im đi trước quyền lực; có những người sử dụng biểu tượng tôn giáo để làm lớn bản thân; có những cộng sự và người ủng hộ biện minh mọi sự bằng những câu như: “đó chỉ là chiến lược”, “đó chỉ là trò đùa”, “đó là điều cần thiết cho tương lai.” Nhưng tội kiêu ngạo hiếm khi tự xưng tên. Nó thường đến với bộ mặt của lý do tốt, của hiệu quả, của đại cuộc, của sự sáng suốt.

Dù vậy, người Kitô hữu cũng phải cẩn thận với chính mình. Phản ứng trước kiêu ngạo của thế gian không thể là một thứ kiêu ngạo ngược: “Họ sai, còn tôi thì sáng suốt.” Dụ ngôn người Pharisêu nhắc ta rằng người lên án kiêu ngạo cũng có thể sa vào kiêu ngạo. Bài học của Thánh Kinh không chỉ để ta chỉ mặt người khác, mà để ta xét lại chính lòng mình.

Và chính ở đây, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta hình ảnh Đức Thánh Cha. Không phải như một đối thủ chính trị của các nguyên thủ quốc gia, nhưng như một dấu chỉ rằng không hoàng đế nào là Thiên Chúa, không quốc gia nào là Nước Trời, không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Độ. Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Đừng sợ.” Đó là lời mời mở cửa cho Đức Kitô và từ chối mọi ngẫu tượng của thời đại. Còn lời “Tôi không sợ” của Đức Leo XIV lại vang lên như chứng tá của một mục tử không chấp nhận để quyền lực trần gian dạy Hội Thánh phải nói gì.

Nói cho cùng, kiêu ngạo là con người muốn cao đến nỗi không còn quỳ được nữa. Còn Tin Mừng thì dạy điều ngược lại: chỉ ai biết quỳ trước Thiên Chúa mới có thể đứng thẳng trước các ngẫu tượng của thế gian. Và vì thế, hai lời ấy vẫn gặp nhau ở một điểm: đừng sợ!

Make Christianity Great As Always


 

NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Người Việt Cao Niên USA

NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Nhật Bản từ lâu được xem là một trong những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới.

Đó là nơi có hệ thống y tế tiên tiến, tuổi thọ thuộc nhóm cao nhất toàn cầu, hạ tầng hiện đại và mức sống đáng mơ ước.

Tuy nhiên, đằng sau sự văn minh và sung túc ấy, Nhật Bản đang đối diện với một vấn đề xã hội rất đáng suy ngẫm:

sự cô đơn ở người cao tuổi.

Một trong những biểu hiện đau lòng nhất của thực trạng này là khái niệm “Kodokushi” – thường được hiểu là “cái chết cô đơn.”

Đây là tình huống một người, thường là người lớn tuổi, qua đời trong nhà riêng mà không có ai hay biết. Có trường hợp phải nhiều ngày, thậm chí 1–2 tuần sau, họ mới được phát hiện.

Điều khiến nhiều người bàng hoàng không phải chỉ là cái chết,

mà là sự thật rằng một con người có thể rời khỏi cuộc đời này trong lặng lẽ đến mức không ai nhận ra ngay.

Bức tranh già hóa dân số tại Nhật Bản

Nhật Bản hiện là một trong những xã hội già hóa nhanh nhất thế giới.

Tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm phần rất lớn trong cơ cấu dân số. Điều này đồng nghĩa với việc số người bước vào tuổi hưu, tuổi cần được quan tâm, chăm sóc và đồng hành đang ngày một tăng.

Song song với đó là nhiều thay đổi lớn trong cấu trúc gia đình và xã hội:

  • Quy mô gia đình nhỏ dần
  • Nhiều thế hệ không còn sống chung như trước
  • Con cháu học tập, làm việc xa nhà
  • Nhịp sống hiện đại khiến các mối liên kết gia đình lỏng hơn
  • Số người cao tuổi sống một mình ngày càng nhiều

Khi tuổi thọ tăng lên nhưng sự kết nối giữa con người với con người lại giảm đi,

xã hội bắt đầu xuất hiện một nghịch lý:

sống lâu hơn, nhưng không chắc sống ấm áp hơn.

Vấn đề không chỉ nằm ở vật chất

Khi nhắc đến tuổi già, nhiều người thường nghĩ trước hết đến tiền bạc, nhà cửa, bảo hiểm hay chi phí y tế.

Đó đều là những yếu tố quan trọng.

Nhưng thực tế từ Nhật Bản cho thấy:

một cuộc sống đủ đầy về vật chất vẫn chưa chắc bảo vệ được con người khỏi nỗi cô đơn.

Người cao tuổi có thể có nơi ở an toàn.

Có thể có lương hưu.

Có thể được chăm sóc y tế tốt.

Nhưng nếu thiếu đi sự hỏi han, thiếu những cuộc trò chuyện, thiếu cảm giác mình vẫn còn được nhớ đến, được cần đến, thì tuổi già vẫn có thể trở nên rất trống vắng.

Nói cách khác, điều khiến con người tổn thương ở cuối đời không chỉ là bệnh tật,

mà còn là cảm giác mình dần biến mất khỏi nhịp sống của những người xung quanh.

Một lời cảnh tỉnh cho nhiều quốc gia, nhiều gia đình

Câu chuyện của Nhật Bản không nên được xem là chuyện riêng của Nhật Bản.

Đó là một tín hiệu cảnh báo cho mọi xã hội đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, trong đó có rất nhiều cộng đồng Á Châu và gia đình người Việt ở khắp nơi trên thế giới.

Khi con cái bận rộn với công việc, khi cuộc sống ngày càng áp lực, khi khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng rõ hơn, thì người lớn tuổi rất dễ rơi vào trạng thái bị bỏ quên, dù không ai thật sự cố ý bỏ quên họ.

Sự cô đơn của tuổi già thường không đến một cách ồn ào.

Nó đến rất âm thầm:

  • một bữa cơm ăn một mình
  • một ngày không có ai gọi điện
  • một tuần không có ai ghé thăm
  • một nỗi buồn không biết chia sẻ cùng ai
  • một căn nhà im lặng quá lâu

Và đôi khi, những điều âm thầm ấy mới là thứ bào mòn tinh thần con người nhiều nhất.

Điều người lớn tuổi thật sự cần

Người lớn tuổi cần thuốc men, cần chăm sóc sức khỏe, cần chuẩn bị tài chính.

Nhưng bên cạnh đó, họ còn cần những điều rất giản dị:

  • Một cuộc gọi hỏi thăm
  • Một bữa cơm có người ngồi cùng
  • Một lời lắng nghe thật lòng
  • Một cảm giác rằng mình vẫn thuộc về gia đình này
  • Một sự hiện diện đủ ấm để họ biết rằng họ không bị bỏ lại phía sau

Nhiều khi, thứ quý nhất với một người lớn tuổi không phải là món quà lớn, mà là sự hiện diện đều đặn của tình thân.


 

Hạnh phúc là gì?

Việt Báo Daily News

 “Hạnh phúc như đôi chim uyên, tung bay ngập trời nắng ấm.

Hạnh phúc như sương ban mai, long lanh đậu cành lá thắm.

Tình yêu một thoáng lên ngôi, nhẹ nhàng như áng mây trôi.

Dịu dàng như ánh trăng soi, êm êm thương yêu dâng trong hồn tôi ….”

Đây là ca từ của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 diễn về hạnh phúc và đó là lý do ông lấy ca khúc này là “Cô Đơn,” vì hạnh phúc kiểu này là tiểu thuyết lãng mạn. Có thể có, nhưng mờ. Có thể xuất hiện, nhưng khoảng khắc.

Hạnh phúc? Câu hỏi đã hỏi từ thời Aristotle cho đến nay: TikTok, từ triết học cổ Hy Lạp cho đến các hội nhóm tâm lý học trên Facebook, và câu hỏi này nghe đơn giản, nhưng nếu đơn giản thật, thì tại sao hàng triệu cuốn sách về chủ đề này vẫn bán chạy mỗi năm, tại sao các chuyên gia tư vấn hạnh phúc vẫn kiếm được tiền, tại sao người ta vẫn cứ nhìn nhau hỏi “sao mày trông buồn vậy” vào đúng cái ngày họ vừa đạt được thứ họ tưởng sẽ làm mình hạnh phúc? Và cũng tại sao tồi lại viết bài này?

Câu trả lời ngắn gọn là: người ta sai về hạnh phúc không phải vì họ kém kiến thức và nhạy cảm, mà vì họ đang cầm bản đồ của một vùng đất hoàn toàn khác.

Lý Thuyết Và Cái Bẫy

Lý thuyết về hạnh phúc, từ Aristotle với khái niệm eudaimonia (nội tâm an lạc) cho đến Csikszentmihalyi với flow (sống như dòng chảy), đều có một điểm chung: chúng đúng trong phòng học và trơn tuột trong đời thực như bánh xà phòng ướt.

Aristotle nói hạnh phúc là sống đúng với bản chất con người, là phát huy hết tiềm năng của mình. Nghe hay lắm. Nhưng thử nói điều đó với một người đàn ông Việt năm mươi tuổi ở Bolsa, ngày nào cũng dậy lúc bốn giờ sáng để mở tiệm phở, tay tê cứng vì lạnh, không còn biết tiềm năng của mình là gì nữa ngoài việc nấu nước dùng cho đúng vị. Ông ta sẽ nhìn bạn với ánh mắt của người đang cố nhịn cười trước một câu chuyện nghe nghiêm túc.

Csikszentmihalyi thì bảo hạnh phúc là trạng thái ‘flow’ (hòa nhập vào), khi kỹ năng và thách thức cân bằng nhau hoàn hảo, khi bạn đắm chìm hoàn toàn vào công việc đến mức quên cả thời gian. Điều đó cũng đúng. Nhưng vấn đề là đa số người không được chọn công việc của mình theo tiêu chí ‘flow’. Họ chọn theo tiêu chí: cái này có đủ tiền không, có visa không, có bảo hiểm y tế không.

Lý thuyết về hạnh phúc thường được viết bởi những người có đủ thời gian và điều kiện để nghĩ về hạnh phúc. Đó đã là một thiên kiến lớn ngay từ đầu.

Người Ta Lầm Chỗ Nào

Sai lầm phổ biến nhất không phải là người ta không biết hạnh phúc là gì. Mà họ biết rất rõ hạnh phúc là gì, nhưng cái họ biết là hạnh phúc của người khác, không phải của chính mình.

Một cô gái lớn lên ở Hà Nội trong thập niên 1990, nhìn nhà hàng xóm mua được cái tivi màu đầu tiên trong xóm, nghĩ rằng hạnh phúc là có tivi màu. Lớn thêm một chút, nhìn bạn cùng lớp lấy được chồng công chức nhà nước, nghĩ rằng hạnh phúc là lấy được chồng ổn định. Rồi sang tuổi ba mươi, nhìn chị họ đi Mỹ diện H4, nghĩ rằng hạnh phúc là xuất ngoại. Cứ thế, cả cuộc đời cô chạy theo định nghĩa hạnh phúc của người đứng ngay trước mình trong hàng, như một cuộc đua mà vạch đích cứ dời đi mỗi khi cô sắp tới nơi.

Điều này không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam hay với phụ nữ. Nhưng nó xảy ra theo những cách rất đặc thù tùy theo giới tính, tùy theo văn hóa, tùy theo việc người ta đang sống ở đâu trên bản đồ.

Xem tiếp: ihttps://vietbao.com/a325024/hanh-phuc-tuy-lam-dung-lan


 

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Make Christianity Great As Always

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Tội kiêu ngạo không bắt đầu từ diễn đàn, ngai vàng hay quyền lực chính trị. Nó bắt đầu rất sớm, rất âm thầm, trong một khu vườn. Hội Thánh gọi nó là một trong các mối tội đầu, vì từ đó nhiều tội khác sinh ra. Nói ngắn gọn, kiêu ngạo là lúc con người không còn muốn ở đúng vị trí của mình nữa.

Trong Sáng Thế 3, con rắn gợi lên một tham vọng lớn: “các ngươi sẽ nên như thần.” Đó là gốc của kiêu ngạo. Con người không còn muốn đón nhận điều thiện từ Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình nắm quyền quyết định thiện ác. Vấn đề từ đầu không chỉ là bất tuân, mà là muốn lấy thứ không thuộc về mình.

Đến Sáng Thế 11, câu chuyện tháp Babel cho thấy kiêu ngạo không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà là của cả một nền văn minh: “Ta hãy xây cho mình một thành và một tháp chọc trời, để làm cho danh ta lẫy lừng.” Con người không còn xây để phụng sự sự sống, nhưng để làm lớn tên mình. Khi một đám đông cùng tin rằng mình có thể tự dựng trời đất mới bằng sức riêng, Babel lại bắt đầu.

Trong 1 Samuel 8, dân Israel xin một vị vua “như các dân khác.” Ở đây xuất hiện một dạng kiêu ngạo khác: ảo tưởng chính trị. Con người bắt đầu tin rằng trật tự, an ninh và tương lai sẽ được cứu bởi quyền lực hữu hình chứ không bởi Thiên Chúa. Từ lúc đó, chính trị rất dễ bị đẩy lên thành một thứ cứu thế.

Các ngôn sứ nói rõ điều này. Isaia 5 lên án những kẻ “gọi ác là thiện, gọi thiện là ác” và những kẻ “khôn trong mắt mình.” Khi con người tôn mình lên, họ sẽ sửa luôn cả ngôn ngữ luân lý. Điều xấu không còn bị gọi là xấu, nhưng được bọc bằng những chữ dễ nghe hơn: cần thiết, thực tế, tiến bộ, đại cuộc.

Trong Isaia 14 và Êdêkien 28, quyền lực không chỉ muốn cai trị, mà còn muốn được nhìn như bất khả sai lầm, như thể chính mình là thần. Và trong Đaniel 3, điều đó đạt đỉnh điểm: Nabucôđônôsor dựng tượng vàng và buộc mọi người phải sấp mình thờ lạy. Quyền lực trần gian không còn bằng lòng với việc cai trị xã hội; nó muốn lấy luôn sự quy phục của lương tâm. Ba thiếu niên chấp nhận vào lò lửa chứ không quỳ trước ngẫu tượng. Đó là bài học lớn: người tín hữu không chống mọi chính quyền trong mọi sự, nhưng phải từ chối ngay khi quyền lực đòi lấy chỗ của Thiên Chúa.

Sang Tân Ước, kiêu ngạo trở nên tinh vi hơn. Trong Gioan 11, Caipha nói: “thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị diệt.” Câu ấy nghe rất thực tế, nhưng ẩn bên dưới là một lối nghĩ rất nguy hiểm: làm điều sai hôm nay để giữ một điều tốt nào đó ngày mai. Thánh Phaolô trong Rôma 3,8 bác bỏ thẳng kiểu lập luận này: không thể “làm điều ác để điều thiện xảy ra.” Ở đây, kiêu ngạo mang bộ mặt của sự khôn ngoan và của “đại cuộc.”

Đến Luca 18, Đức Giêsu kể dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Kiêu ngạo lúc này không dựng tượng, không mặc áo vua, không xưng mình là thần. Nó vào tận đền thờ và cầu nguyện: “Con không như những kẻ khác.” Đây là kiêu ngạo tôn giáo, và có lẽ là dạng khó thấy nhất. Nó không cần làm điều xấu lộ liễu; nó chỉ cần lấy điều tốt của mình làm cớ để khinh người khác.

Toàn bộ dòng chảy ấy được đảo ngược nơi Đức Kitô trong Philípphê 2. Người không nắm lấy vinh quang cho mình, nhưng tự hạ, mặc lấy thân nô lệ và vâng phục cho đến chết. Ở Ađam, con người muốn vươn lên để bằng Thiên Chúa. Ở Đức Kitô, Con Thiên Chúa lại hạ xuống để cứu con người. Một bên là nắm lấy; một bên là trao ban.

Nhìn vào thế giới hôm nay, ta không khó để nhận ra những điều ấy vẫn còn nguyên. Khi người ta gọi ác là thiện, Isaia đang bị lặp lại. Khi người ta biện minh cho điều sai hôm nay vì tương lai, Caipha đang bị lặp lại. Khi người ta tin rằng quốc gia, ý thức hệ, thị trường, công nghệ hay chiến thắng chính trị có thể cứu lịch sử, ảo tưởng của 1 Samuel 8 và Babylon đang quay lại. Và khi quyền lực không muốn bị phán xét bởi một chuẩn mực cao hơn chính nó, đó là dấu hiệu của một thứ kiêu ngạo muốn tự mình làm luật.

Ta cũng đã thấy những biểu hiện như thế trong đời sống hiện nay: có những nhà lãnh đạo muốn tiếng nói luân lý im đi trước quyền lực; có những người sử dụng biểu tượng tôn giáo để làm lớn bản thân; có những cộng sự và người ủng hộ biện minh mọi sự bằng những câu như: “đó chỉ là chiến lược”, “đó chỉ là trò đùa”, “đó là điều cần thiết cho tương lai.” Nhưng tội kiêu ngạo hiếm khi tự xưng tên. Nó thường đến với bộ mặt của lý do tốt, của hiệu quả, của đại cuộc, của sự sáng suốt.

Dù vậy, người Kitô hữu cũng phải cẩn thận với chính mình. Phản ứng trước kiêu ngạo của thế gian không thể là một thứ kiêu ngạo ngược: “Họ sai, còn tôi thì sáng suốt.” Dụ ngôn người Pharisêu nhắc ta rằng người lên án kiêu ngạo cũng có thể sa vào kiêu ngạo. Bài học của Thánh Kinh không chỉ để ta chỉ mặt người khác, mà để ta xét lại chính lòng mình.

Và chính ở đây, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta hình ảnh Đức Thánh Cha. Không phải như một đối thủ chính trị của các nguyên thủ quốc gia, nhưng như một dấu chỉ rằng không hoàng đế nào là Thiên Chúa, không quốc gia nào là Nước Trời, không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Độ. Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Đừng sợ.” Đó là lời mời mở cửa cho Đức Kitô và từ chối mọi ngẫu tượng của thời đại. Còn lời “Tôi không sợ” của Đức Leo XIV lại vang lên như chứng tá của một mục tử không chấp nhận để quyền lực trần gian dạy Hội Thánh phải nói gì.

Nói cho cùng, kiêu ngạo là con người muốn cao đến nỗi không còn quỳ được nữa. Còn Tin Mừng thì dạy điều ngược lại: chỉ ai biết quỳ trước Thiên Chúa mới có thể đứng thẳng trước các ngẫu tượng của thế gian. Và vì thế, hai lời ấy vẫn gặp nhau ở một điểm: đừng sợ!

Make Christianity Great As Always

#MCGAA


 

HOÁ RA LÀ NGÀI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các ông hoảng sợ”.

Trong “When All Hell Breaks Loose”, tạm dịch, “Khi Tất Cả Đổ Vỡ”, Steven J. Lawson viết: “Có thể bạn đang ở trong một cơn bão. Chúa có mục đích khi dẫn bạn vào đó. Hãy hướng mắt về Ngài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Các ông hoảng sợ”. Giữa ‘biển trong đêm’, khi tất cả đổ vỡ, các môn đệ chao đảo không chỉ bởi bão tố, nhưng trước một sự hiện diện chưa được nhận biết. Chỉ khi Chúa Giêsu cất tiếng, họ mới chợt hiểu: ‘hoá ra là Ngài’.

Vậy điều gì đã xảy ra với các môn đệ? Giữa ‘biển trong đêm’, gió nổi sóng gào, thuyền chao đảo; họ bị cuốn vào chính những gì đang đổ vỡ trước mắt. Khi mọi sự dồn dập, họ quay khỏi Thầy để chống chọi giữa những hỗn mang. Chính trong khoảnh khắc ấy, khi nỗi kinh hoàng chiếm trọn tâm hồn, họ không còn nhận ra ai đang đến gần; đến nỗi, như các Tin Mừng khác kể lại, họ tưởng chỉ là một bóng ma. Họ không chỉ không nhận ra Ngài, họ còn đặt tên sai cho Ngài. “Chúng ta chỉ thấy điều mình đã sẵn sàng để thấy!” – Walter Lippmann.

Chính lúc ấy, Chúa Giêsu cất tiếng: “Thầy đây mà, đừng sợ!”. Trong nguyên ngữ Gioan, egō eimi – “Ta là”; công thức mặc khải vang vọng từ Xuất Hành, nơi Thiên Chúa tiết lộ danh tính, và trong truyền thống Latinh được diễn đạt là Ego sum. Đó không chỉ là lời nhận diện, nhưng là một sự hiện diện tự xưng, không cần được chứng minh; không chỉ là lời trấn an, nhưng là một mặc khải: Ngài tự nói ra căn tính của mình. Từ đó, nỗi sợ bắt đầu tan biến, không phải vì bão đã yên, nhưng vì họ nhận ra ai đang ở trước mặt. Điều họ tưởng là đe doạ, ‘hoá ra là Ngài’ – Thầy của mình.

Đó cũng là trải nghiệm vượt những ‘biển trong đêm’ của Hội Thánh sơ khai. Khi các tín hữu bắt đầu kêu trách nhau, khi sự kỳ thị xé rách cộng đoàn; chính trong những đổ vỡ ấy, họ không dừng lại nơi xung đột, nhưng quay về với Chúa Phục Sinh. Từ đó, các phó tế đầu tiên được thiết lập, trật tự dần được tái ổn định, giông bão lắng xuống – bài đọc một. Điều đã xảy ra với họ cũng là điều xảy ra nơi chúng ta: không phải vì không có sóng gió, nhưng vì biết quay về với Chúa trong nguyện cầu. “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính Chúa Giêsu đã đi qua những ‘biển trong đêm’: cám dỗ, rình rập, và cuối cùng là thập giá. Nhưng trong tất cả, Ngài không quay khỏi Cha; Ngài nhận ra Cha ngay giữa bóng tối và trao phó chính mình: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không phải khi sóng gió qua đi, nhưng ngay giữa những điều chưa sáng tỏ. Không phải vì chúng ta giữ được mình, nhưng vì có một tương quan giữ chúng ta lại; để giữa những ‘biển trong đêm’, chúng ta không còn bị cuốn đi, nhưng dần nhận ra một sự hiện diện không hề xa – ‘hoá ra là Ngài’, “đấng gần chúng ta hơn chính chúng ta gần mình!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự xem ra đổ vỡ, xin cho con đừng gọi Ngài bằng một cái tên sai!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần II Phục Sinh

Các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,16-21

16 Chiều đến, các môn đệ xuống bờ Biển Hồ, 17 rồi xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Đức Giê-su chưa đến với các ông. 18 Biển động, vì gió thổi mạnh. 19 Khi đã chèo được chừng năm hoặc sáu cây số, các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. 20 Nhưng Người bảo các ông : “Thầy đây mà, đừng sợ !” 21 Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.


 

Cuộc đời song hành của 1 Linh mục Việt Nam khi có 1 vợ và 5 người con

 CGvST |  17/03/2025

Cuộc đời song hành của một người đàn ông Việt Nam vừa là cha ruột của 5 đứa con, vừa là cha linh hướng của hàng ngàn giáo dân. Từ những năm tháng chăm lo cho gia đình nhỏ đến quyết định dâng hiến cuộc đời cho Chúa, hành trình của ông là sự kết hợp đầy kỳ diệu giữa trách nhiệm gia đình và sứ mệnh thiêng liêng.

GIÁO XỨ PHÚC LỘC; 3 TÂN LINH MỤC DÂNG THÁNH LỄ TẠ ƠN (Ảnh minh họa)

Đâu là những thử thách và phép lạ đã định hình nên cuộc đời đặc biệt này? Hãy cùng khám phá câu chuyện đầy cảm hứng về tình yêu thương, đức tin và sự hy sinh.

Trong các bản tin trước, chúng con đã đưa tin về linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Thăng, người đã được Chúa gọi về khi đang dâng lễ vào lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật, ngày 31 tháng 7 năm 2022, tại Đền Thánh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Cha hưởng thọ 77 tuổi, sau 21 năm làm linh mục. Nhưng ít ai biết về những điều kỳ diệu chứa đựng trong cuộc đời của ngài. Kỳ diệu vì ngài qua đời khi đang dâng lễ trên bàn thờ, và kỳ diệu hơn nữa là hành trình cuộc đời đầy sóng gió của một linh mục từng có gia đình với 5 người con.

Cuộc đời song hành của 1 Linh mục Việt Nam khi có 1 vợ và 5 người con

Cha Phêrô Nguyễn Hữu Thăng sinh năm 1944 tại làng Dục Đức, tỉnh Ninh Bình. Năm 1954, ngài theo gia đình di cư vào Nam. Năm 1958, ngài gia nhập dòng Châu Sơn tại Bảo Lộc, Lâm Đồng.

Gia đình

Tuy nhiên, năm 1968, ngài rời đan viện vì lý do sức khỏe và sau đó được chữa trị tại Thụy Sĩ trong 2 năm. Năm 1969, ngài lập gia đình với bà Vũ Thị Gấm và có 5 người con: Thanh Liêm (sinh năm 1970), Huyền Linh (sinh năm 1971), Diễm Linh (sinh năm 1974), Chí Thiện (sinh năm 1976), và Thiên Sang (sinh năm 1979).

Năm 1980, ngài vượt biên cùng người con trai Nguyễn Thanh Liêm và định cư tại Regina, Saskatchewan, Canada. Năm sau, vợ ngài cùng 3 người con cũng vượt biên, nhưng chuyến đi không thành công khi tàu chìm.

Chỉ có người con gái Diễm Linh được cứu thoát, còn người con út Thiên Sang vì còn nhỏ nên không thể đi cùng. Năm 1989, ngài bảo lãnh hai người con qua Canada theo diện đoàn tụ gia đình và nuôi dạy các con cho đến khi cả 3 người con trưởng thành.

Năm 1995, ngài được phép chuẩn để vào Chủng viện Thánh Giuse ở Edmonton và được thụ phong linh mục năm 2001 bởi Đức Tổng Giám mục Peter Mallon, thuộc Tổng Giáo phận Regina, Canada, khi đã 57 tuổi.

Sau khi thụ phong, ngài phục vụ từ năm 2001 đến năm 2002 với vai trò phó xứ tại Giáo xứ Central. Từ năm 2002 đến năm 2010, ngài làm chánh xứ tại Giáo xứ Secret Heart ở Grimshaw, Saskatchewan.

Ngài cũng là linh hướng cho Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Regina, một cộng đoàn mà ngài đã cùng thành lập và giữ chức Chủ tịch từ năm 1981 đến năm 1989.

Từ năm 2010 đến năm 2017, ngài làm chánh xứ tại Giáo xứ St. Mary’s ở Saskatoon và tiếp tục làm linh hướng cho Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại đây. Từ năm 2017 đến tháng 6 năm 2022, ngài làm phó xứ tại Giáo xứ St. Justin, Alta.

Từ ngày 1 đến ngày 31 tháng 7 năm 2022, ngài làm phó xứ tại Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Ngài đã bị đột quỵ khi đang cử hành Thánh lễ lúc 11 giờ sáng Chúa Nhật tại Đền Thánh Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và qua đời trên đường tới bệnh viện.

Xin hợp ý cầu nguyện cho linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Thăng sớm được hưởng nhan Thánh Chúa.


 

 Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24)- Cha Vương

 Một ngày hạnh phúc trong Chúa nhé.

Chúc bình an! “Tôi khuyến khích anh chị em hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày, anh chị em hãy ký thác với lòng tin tưởng vào bàn tay của Mẹ Maria,” Giáo hoàng Benedicto XVI nói. Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a đặt hết niềm tin tưởng và Chúa. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới nhất là các cập lãnh đạo ngay cả các tôn giáo nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 17/04/2026.   (n21-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. (Ga 6:1-2)

SUY NIỆM: Có bao giờ bạn tự nghĩ rằng: Tôi theo Chúa để được ích lợi gì? Tin mừng theo Thánh Gioan tường thuật rằng trước khi Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, “Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ”. Lúc này uy tín và ảnh hưởng  của Chúa đang lên cao. Cho nên họ theo Chúa vì lòng vụ lợi chứ không phải do đức tin thật. Vậy trong cuộc sống đạo hàng ngày và qua suốt chặng đường dài từ nhỏ tới khi về già, là một người Công Giáo, bạn nhận thức được điều gì trong tâm hồn? Nếu chỉ nhẩm đi nhẩm lại mấy câu kinh như đọc những câu thần chú để được vào Thiên Đàng thì ai làm chẳng được. Phải không bạn? Nếu hôm nay có người nào hỏi, điều gì làm cho người Công Giáo hãnh diện nhất? Câu trả lời của bạn cho câu hỏi này là gì? Bạn đã và đang làm gì để trưởng thành trong đời sống đức tin? Theo Chúa là một hành trình dài vượt qua những danh lợi ảo tưởng. Bạn hãy nhìn vào các môn đệ của Chúa coi. Từ những kẻ nhút nhát và thất học, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm, dám dùng cái chết để làm chứng cho Tin Mừng phục sinh. Sự thay đổi triệt để này của các môn đệ chính là bằng chứng khả tín cho một đức tin sống động và mạnh mẽ. Nếu được như vậy bạn hãy tìm gặp Chúa hàng ngày trong các Bí Tích do chính Thiên Chúa thiết lập để được biến đổi nhé. 

LẮNG NGHE: Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi phút giây trong cuộc sống trần gian là một chuẩn bị dài lâu cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau, xin giúp con luôn tìm kiếm Chúa trong các Bí Tích là “máng thông ơn” qua đó Chúa ban ân sủng để giúp con trở nên giống Chúa mỗi ngày. 

THỰC HÀNH: Tham dự Thánh Lễ thường xuyên hơn. 

From: Do Dzung

********************************

Hạnh phúc đời con – tinmung.net