CÓ ĐẠO & VÔ THẦN

Linh Mục Mi Trầm

Trong căn phòng của một bệnh viện, hai người đàn ông, một người Công giáo và một người vô thần đều bị bệnh như nhau. Thậm chí người có Đạo còn bị đau đớn và trầm trọng hơn cả người vô thần.

Ngày ngày nằm trên giường bệnh, người vô thần thường hay than thân trách phận, quằn quại đau đớn, cáu gắt tiêu cực và nguyền rủa cuộc đời.

Trái lại, người có Đạo thường nén cơn đau và không hề kêu ca gì cả. Thậm chí trên môi nhiều lúc còn nở nụ cười mãn nguyện trìu mến. Nhiều khi đau quá, thì ông lại tập trung tư tưởng cao cầu nguyện và xin Chúa giúp sức.

Người vô thần lấy làm lạ hỏi: “Tại sao ông có thể chịu được những cơn đau dữ dội như vậy? Bí quyết nào giúp ông có tinh thần lạc quan như vậy”?

Người có Đạo trả lời: “Ông bạn à! Tôi chẳng có bí quyết gì cả. Tôi chịu đựng được cơn đau cách vui vẻ vì tôi luôn ý thức rằng, Chúa luôn chăm sóc tôi từng giây từng phút. Một sợi tóc trên đầu của tôi, Chúa cũng đếm cả rồi. Tôi vinh dự được Chúa gửi Thánh giá Chúa cho tôi qua cơn bệnh này, để tôi được thông phần vào cuộc khổ nạn và Phục sinh của Người. Nên tôi luôn lạc quan tín thác vào Chúa. Mỗi lần nghĩ đến Chúa chịu treo đau đớn trên Thánh giá, là tôi lại có sức mạnh nội tâm chịu đựng cơn đau”.

“Hơn nữa, ai cũng phải trải qua quá trình Sinh-Lão-Bệnh-Tử. Khi ta chấp nhận quy luật như vậy, ta sẽ thấy tâm hồn thanh thản dễ chịu hơn”.

Dù sống hay chết thì tôi cũng vui vẻ chấp nhận. Sống tôi cũng ở bên Chúa, và có bị chết tôi cũng ở bên Chúa. Chết tôi sẽ được ở bên Chúa đời đời.

Rồi ông bạn vô thần đã rất ngạc nhiên khi nghe nói như vậy.

Và ông muốn tìm hiểu về Chúa. Và hai ông đã đàm đạo tâm sự với nhau cách thân mật từ ngày đó.

Đứng trước một căn bệnh như nhau, đau đớn như nhau, nhưng đã tạo nên hai tâm hồn lạc quan và bi quan hoàn toàn khác nhau. Vì một người tâm hồn có Chúa và một người thì không.

ĐÓ CHÍNH LÀ SỰ KHÁC NHAU GIỮA NGƯỜI CÓ ĐẠO VÀ NGƯỜI KHÔNG CÓ ĐẠO.

Theo Internet


 

TỪ CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ VENEZUELA NHÌN LẠI LÝ DO THẤT BẠI CỦA NỀN DÂN CHỦ IRAQ VÀ BÀI HỌC NÀO CHO NGƯỜI VIỆT QUAN TÂM- Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

Giới thiệu: Trong bài “Số Phận Nicolas Maduro và Viễn Ảnh Venezuela” đăng trên Facebook hôm 4 tháng 1, người viết có lưu ý ở phần cuối bài: “Tuy nhiên có vài điểm khác quan trọng giữa ba nước [Grenada, Panama, Venezuela] cần lưu ý: (1) dân số và (2) diện tích lãnh thổ và (3) quân đội. Dân số Grenada vào năm 1983 chỉ vỏn vẹn 94,948 người với diện tích 344.5 kilomet vuông. Dân số Panama năm 1990 chỉ 2.4 triệu người với diện tích 74,340 kilomet vuông. Trong khi đó, theo WorldOMeter, dân số Venezuela năm 2025 là 28,516,896. Diện tích của Venezuela là 912,050 kilomet vuông. Theo Giáo sư John Polga-Hecimovich, một học giả về Venezuela tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy): “Venezuela cũng sở hữu một trong những đội quân thường trực lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Trên tất cả các binh chủng, Venezuela có khoảng 150.000 binh sĩ trong lực lượng vũ trang.” (Simon Romero, How Could Venezuela’s Military Respond to U.S. Threats? Here’s What to Know. The New York Times, Nov. 5, 2025 Updated Dec. 18, 2025).

Hugo Chavez cho tới Maduro  gầy dựng và nuôi dưỡng một tầng lớp tướng lãnh và viên chức chính phủ trung thành vì quyền lợi như tướng Vladimir Padrino López, Bộ trưởng Quốc Phòng. Đó là chưa kể một số ít người nhưng có ảnh hưởng về đường lối “xã hội chủ nghĩa” (Bolivarian Socialism) của Hugo Chavez. 

Hai “ngư ông” Trung Cộng và Nga đang chờ những mâu thuẫn chính trị, kinh tế và quyền lợi cá nhân tại Venezuela dẫn tới bạo động và khi đó quốc gia này sẽ trở thành một dạng “xung đột Ủy Nhiệm” (Proxy War) như đã từng diễn ra tại Syria.

Nhưng những người quyết định vận mệnh của Venezuela không phải là Mỹ, Trung Cộng hay Nga mà chính là người dân Venezuela. Nếu biết nắm bắt cơ hội, Venezuela có thể sẽ trở thành một cường quốc Châu Mỹ Latin, và nếu thất bại Venezuela có thể trở thành gần như  một Iraq khác.

Bài viết dưới đây phân tích sự thất bại của nền dân chủ Iraq sau hiến pháp 2005 và là bài học cho người Việt quan tâm đến vận nước.

——–

Không tính khoảng 4,500 quân đội các cấp và viên chức Mỹ hy sinh trong chiến tranh Iraq,  theo nghiên cứu của nhà khoa học chính trị và đồng sáng lập dự án “Chi phí chiến tranh” Neta Crawford, thuộc Đại học Oxford, tính toán tổng chi phí của cuộc chiến ở Iraq và Syria, dự kiến sẽ vượt 2,89 nghìn tỷ đô la. Con số ngân sách này bao gồm chi phí tính đến thời điểm hiện tại, ước tính khoảng 1,79 nghìn tỷ đô la, và chi phí chăm sóc cựu chiến binh đến năm 2050. (Neta Crawford, The Watson School of International Studies, March 15, 2023)

Mặc dù với sự hy sinh nhân sự to lớn và kinh phí khổng lồ, nền dân chủ tại Iraq vẫn còn phải đối diện với nhiều thách thức. Trong các nước láng giềng, vì địa lý chính trị, Iran tìm đủ mọi cách để gây ảnh hưởng các phe phái quân phiệt và đảng phái chính trị tại Iraq, cánh Hồi Giáo khủng bố ISIS (Islamic State of Iraq and Syria) vẫn tiếp tục gây tai họa, các thế lực chính trị nặng đầu óc địa phương trên khắp nước vẫn còn tranh chấp, các tông phái Hồi Giáo vẫn tranh giành quyền lực và tình trạng tham nhũng trầm trọng. Nói chung, so với 21 năm trước, Iraq có một vài tiến bộ nhưng nền dân chủ vẫn chưa trưởng thành.

Mustafa Al-Kadhimi, cựu Thủ tướng Iraq  2020–2022, trong bài viết “Nền Dân Chủ Ở Iraq: Một Vỏ Bọc Cho Tham Nhũng Và Vi Phạm Nhân Quyền” đăng trên diễn đàn của Trung tâm Quan hệ Quốc tế và Phát triển Bền (CIRSD) ngày 29.04.2025: “Để bảo vệ quyền và tự do của người dân, chính phủ Iraq phải thực sự là một nền dân chủ. Việc thực hiện các nguyên tắc bình đẳng, minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ giúp chính phủ xây dựng lòng tin và giành được sự tín nhiệm của người dân Iraq cũng như thể hiện ý chí dân chủ của họ. Đáng buồn thay, trong nhiều thập kỷ qua, người dân Iraq đã phải chịu đựng sự thất vọng do việc không tuân thủ những nguyên tắc này.”

Sự thất bại của nền dân chủ Iraq là một nghiên cứu tình huống (case study) rất quan trọng cho người Việt quan tâm đến tương lai dân chủ Việt Nam.

Trở lại một chút với cuộc Chiến tranh Iraq (Iraq War) 2003.

Ngày 19 tháng 3, 2003, cuộc chiến Iraq do TT George W. Bush phát động bằng cuộc hành quân mang tên Operation Iraqi Freedom với mục đích lật đổ chế độ Saddam Hussein chính thức bắt đầu. Saddam Hussein  bị bắt ngày 13 tháng 12 cùng năm và ngày 5 tháng 11, 2006 bị xử treo cổ. 

Chế độ cộng hòa được thiết lập với hiến pháp 2005.

Theo John McGarry, giáo sư Chính trị học tại Queen’s University, Canada, hiến pháp cộng hòa Iraq “phản ảnh hình thức tự do qua hợp tác của các cộng đồng Iraq”. Giáo sư John McGarry và người cộng tác Brendan O’Leary trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Luật Hiến Pháp Quốc Tế ( International Journal of Constitutional Law) tháng 7, 2007 đồng ý với phương thức xây dựng nền dân chủ dựa trên hiến pháp Iraq 2005.

Nhưng hiến pháp dù hoàn hảo bao nhiêu cũng chỉ là một khung sườn, một mô thức, một văn bản chứ không phải là một nền dân chủ. Nền dân chủ của một quốc gia bao gồm nhiều lãnh vực không chỉ chính trị, kinh tế mà còn văn hóa, xã hội phải được thực thi từ chính con người trong giai đoạn chuyển tiếp đầy khó khăn từ chiến tranh sang hòa bình, từ độc tài sang dân chủ.

Như giáo sư John McGarry cảnh báo, thất bại của “hợp tác” sẽ dẫn đến nội chiến và tạo cơ hội cho nước ngoài can thiệp. Thực tế chứng minh lời cảnh báo của ông là đúng khi bạo động vẫn tiếp tục diễn ra và ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Iran tại Iraq.

Sự ra đời của tổ chức khủng bố  Nhà Nước Hồi Giáo Iraq (The Islamic State of Iraq, ISI) năm 2006 đã biến xung đột nội bộ Iraq thành một loại chiến tranh ủy nhiệm (proxy war) giữa các bên có quyền lợi trong vùng.

Năm 2005, khi hiến pháp Iraq còn trong vòng thảo luận, người viết, trong một tiểu luận đăng trên talawas cho rằng yếu tố quyết định trong giai đoạn chuyển tiếp tại Iraq tùy thuộc vào người dân Iraq, trong đó bao gồm cấp lãnh đạo, có đủ khôn ngoan, nhìn ra khỏi những hàng rào đang làm cách ngăn họ hay không.

Đoạn sau đây trích từ bài viết trên talawas 21 năm trước và trích đăng lại nhiều lần với nhiều tựa bài khác nhau trên Facebook:

“Vai trò của các cường quốc trong đời sống chính trị của các quốc gia nhược tiểu thời nào cũng thế. Những ai theo dõi cuộc tranh chấp Iraq đều biết rằng sự quyết tâm của các chính phủ Mỹ, Anh, Nhật để lật đổ Saddam Hussein bằng võ lực và sự chống đối phương pháp đó của Pháp, Anh, Nga, Trung Quốc, nói cho cùng, cũng chỉ vì quyền lợi của quốc gia họ.

Chính phủ Mỹ chẳng căm thù gì Saddam Hussein và chính phủ Pháp, Nga cũng chẳng thương xót gì cho số phận hẩm hiu của ông ta. Tấm hình cụt hai tay trong thân hình lở loét của em bé Ali, nạn nhân của cuộc chiến, chắc chắn không treo trong phòng phác thảo chiến lược quân sự của Ngũ giác Đài và cũng chẳng bao giờ làm động lòng trắc ẩn của Putin hay Chirac khi họ nghĩ đến những mỏ dầu ở Iraq sắp rơi vào tay Mỹ.

Tôi cũng không nghĩ người chăn cừu trên cánh đồng cỏ Iraq có khả năng thay đổi chính sách đối ngoại của Mỹ hay Anh, nhưng đồng thời tương lai của Iraq không hẳn nằm trong bàn tay quyết định của Anh hay Mỹ. Tương lai của Iraq tùy thuộc vào lòng yêu nước của nhân dân Iraq và sự khôn ngoan của các nhà lãnh đạo chính phủ dân cử Iraq sắp được bầu ra.

Nhân đạo nhiều khi chỉ là những gì anh cho tôi trong lúc tôi đang cần, còn tại sao anh cho, anh nhân danh ai, Phật, Chúa, Allah, xăng, dầu,… không phải là quan tâm của tôi, ít ra trong lúc này.  Ngày nào quyền lợi của anh và tôi tương hợp, chúng ta là bạn, nếu không sẽ chia tay nhau và có thể trở thành đối nghịch.

Tôi hy vọng các nhà lãnh đạo của nước Iraq Mới sẽ vận dụng một cách hữu hiệu chính sách của các cường quốc vào công cuộc phục hưng và phát triển đất nước họ, tuy không được như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore trước đây, thì ít ra cũng gần với Ai Cập, Jordan, Pakistan, Thổ Nhĩ Kì trong thế giới Hồi giáo hiện nay.

Như một người đến từ một nước chiến tranh và nghèo khó, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến cơ hội hiện đang có cho người dân Afghanistan, Iraq sau nhiều năm chịu đựng dưới các chế độ độc tài hà khắc.”

Lý luận trên được người viết đưa ra từ 21 năm trước. Hôm nay nếu cần phải viết lại chắc cũng không thêm bớt điểm nào bởi vì không ai trách nhiệm cho sự thịnh suy của một dân tộc ngoài chính dân tộc đó.

Như chúng ta đều thấy, cơ hội đã đến nhưng nền Cộng Hòa Iraq thất bại.  Lý do trước hết vẫn là do con người của chính quốc gia vừa thoát nạn độc tài.

Thành phần lãnh đạo Iraq từ cấp trung ương không biết nắm bắt cơ hội quốc tế vàng son vừa được đem lại phối hợp với nguồn tài nguyên phong phú vốn có để xây dựng một quốc gia mới cường thịnh cho mình và cho các thế hệ Iraq mai sau. Dự trữ dầu hỏa của Iraq lớn vào hàng thứ năm trên thế giới nhưng bài học làm giàu của Nhật Bản, Tây Đức không phải là sách gối đầu giường của những lãnh đạo Iraq sau chiến tranh.

Dù là nơi phát xuất của nền văn minh Mesopotamia với tám ngàn năm lịch sử, nhưng đúng như Loren Thompson viết trên Tạp Chí Forbes, một trong những lý do Cộng Hòa Iraq thất bại vì Iraq không có bản sắc dân tộc (national identity) riêng cho mình mà chỉ là những tập thể ô hợp do các cường quốc Châu Âu tạo ra như kết quả sự tan rã của Đế Quốc Ottoman. Người theo giáo phái Shiite  không muốn để bị cai trị bởi người theo giáo phái Sunni. Người gốc Kurds không muốn bị cai trị bởi người Á Rập.

Một quốc gia không thể vươn lên nếu không có đặc tính chung làm nên quốc gia đó.

Nền dân chủ tại Cộng Hòa Iraq sau hiến pháp 2005 đã và đang chịu đựng sự phân hóa trầm trọng. Những vụ đặt bom giết người hàng loạt không phân biệt phụ nữ hay trẻ em của tổ chức cuồng tín ISI, mâu thuẫn giữa các phần tử cơ hội, tranh giành quyền lực trong chính quyền, phân hóa sâu sắc giữa các sắc dân đã và đang làm phân liệt Iraq.

Thời gian tới, với sự can thiệp của Iran vào nội bộ chính trị Iraq qua ngã tông phái Hồi Giáo Shia chiếm đa số tại Iraq sẽ làm sự phân hóa đang có trầm trọng và đẫm máu hơn.

Ngoài ra,  hai “ngư ông” Nga và Trung Cộng đồng minh của Iran đang ngồi chờ trục lợi sẽ có cơ hội bán vũ khí, khai thác các mâu thuẫn Trung Đông tương tự như chính sách của Liên Sô sau Chiến Tranh Sáu Ngày (Six-Day War) giữa Do Thái và ba nước Ai Cập, Jordan và Syria 1967.

Trung Cộng tố cáo Hoa Kỳ theo đuổi chủ nghĩa  can thiệp và sẽ dẫn tới “những hậu quả trầm trọng cho hòa bình và ổn định của khu vực”.

Thất bại của Iraq có gợi lên những điều gì cho viễn ảnh Việt Nam không?

Có và có rất nhiều.

Việt Nam sớm hay muộn cũng sẽ có dân chủ và sự sống còn của nền dân chủ Việt Nam sẽ đặt trên vai những người Việt có ý thức và quan tâm đến tiền đồ đất nước.

Iraq không thiếu tài nguyên hay tiền bạc mà thiếu con người.

Chỉ riêng trong hơn mười năm từ cuối năm 2003 đến 2014, không tính chi phí quân sự, Hoa Kỳ đã viện trợ phi quân sự tổng cộng lên tới 90 tỉ Mỹ kim để tái thiết Iraq. Kết quả thu lại được quá khiêm nhượng so với khoản viện trợ nước Mỹ đã đổ ra. Nguyên nhân để đổ thừa thì vô số. Chỉ riêng tệ nạn tham nhũng, năm 2018, theo Transparency International, Iraq thuộc vào nhóm cuối bảng, hạng 168 trong 180 nước được điều tra.

Sự tan rã của phong trào CS thế giới cho thấy cách mạng dân chủ diễn ra trong bốn dạng:

(1) Không đổ máu như Baltics, Hungary, Ba Lan.

(2) Đổ máu như Romania.

(3) Có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Ethiopia.

(4) Không có sự can thiệp của nước ngoài như trường hợp Mông Cổ.

Cách mạng dân chủ tại Việt Nam sẽ đến bằng một trong bốn hình thức vừa nêu. Nhưng dù đến cách nào đi nữa, thực tế Iraq gợi ý cho những người Việt trong vai trò lãnh đạo một nước dân chủ còn non trẻ và những người Việt quan tâm trong cũng như ngoài nước những điểm cần phải học:

(1) Đặt quyền lợi đất nước trên quyền lợi đảng phái và tôn giáo.

(2) Lấy trong sạch và đạo đức làm tiêu chí lãnh đạo.

(3) Vận dụng, nhưng không lệ thuộc,  ngoại lực có lợi cho kế hoạch phục hưng, hiện đại hóa và chiến lược hóa đất nước.

(4) Đừng bao giờ tin nhưng khéo léo bang giao với Trung Cộng khi nội lực dân tộc chưa hoàn toàn hồi phục và đất nước chưa được hiện đại hóa.

Trần Trung Đạo

 


 

Nữ sinh viên Iran bị bắn vào đầu ở cự ly gần giữa các cuộc biểu tình, thi thể được chôn cất bên lề đường

Tony Nguyễn

 Nữ sinh viên Iran bị bắn vào đầu ở cự ly gần giữa các cuộc biểu tình, thi thể được chôn cất bên lề đường

* Gia đình Rubina Aminian được cho là đã nhìn thấy hàng trăm nạn nhân trẻ tuổi trước khi nhận dạng thi thể con gái mình

– Emma Bussey, Fox News 13/1/2026

Một nữ sinh viên 23 tuổi đã bị bắn vào đầu ở cự ly gần trong các cuộc biểu tình ở Iran, theo Tổ chức Nhân quyền Iran, một nhóm có trụ sở tại Na Uy, khi chế độ tiếp tục đàn áp bạo lực các cuộc biểu tình trên toàn quốc.

Rubina Aminian, sinh viên ngành thiết kế dệt may và thời trang tại trường Cao đẳng Kỹ thuật và Dạy nghề Shariati dành cho nữ sinh ở Tehran, đã bị giết vào ngày 8 tháng 1 sau khi rời trường và tham gia các cuộc biểu tình ở thủ đô, theo Tổ chức Nhân quyền Iran.

Cô là một trong số ít nạn nhân của cuộc bất ổn gần đây mà danh tính đã được công khai xác nhận.

“Các nguồn tin thân cận với gia đình Rubina, trích dẫn lời nhân chứng, nói với Tổ chức Nhân quyền Iran rằng nữ sinh người Kurd trẻ tuổi đến từ Marivan đã bị bắn từ phía sau ở cự ly gần, viên đạn trúng vào đầu cô,” nhóm này cho biết trong một tuyên bố.

Sau cái chết của cô, gia đình Aminian đã đi từ nhà ở Kermanshah, miền tây Iran, đến Tehran để nhận dạng thi thể con gái.

Theo các nguồn tin được Tổ chức Nhân quyền Iran trích dẫn, gia đình đã được đưa đến một địa điểm gần trường cao đẳng, nơi họ nhìn thấy thi thể của hàng trăm người trẻ tuổi được cho là đã bị giết trong các cuộc biểu tình.

“Hầu hết các nạn nhân là những người trẻ tuổi từ 18 đến 22 tuổi, những người đã bị lực lượng chính phủ bắn vào đầu và cổ ở cự ly gần,” một nguồn tin thân cận với gia đình cho biết.

Gia đình ban đầu bị cấm nhận dạng thi thể Aminian và sau đó bị ngăn cản không cho mang thi thể về, nhóm này cho biết.

Sau nhiều nỗ lực, người thân cuối cùng đã được phép nhận thi thể và trở về Kermanshah.

Khi họ đến đó, lực lượng tình báo được cho là đã bao vây nhà của gia đình và không cho phép chôn cất.

Theo Tổ chức Nhân quyền Iran, gia đình buộc phải chôn cất thi thể Aminian bên lề đường giữa Kermanshah và thành phố Kamyaran gần đó.

Gia đình cũng không được phép tổ chức lễ tang, và một số nhà thờ Hồi giáo ở Marivan được cho là đã bị cấm tổ chức lễ tưởng niệm.

Các cuộc biểu tình chống chính phủ leo thang ở Iran được thúc đẩy bởi sự tức giận lan rộng về sự đàn áp chính trị và khó khăn kinh tế, bao gồm cả lạm phát gia tăng. Cơ quan Tin tức về Hoạt động Nhân quyền có trụ sở tại Mỹ ước tính hôm thứ Ba rằng hơn 16,700 người đã bị bắt giữ.

Các nhóm nhân quyền khác đã báo cáo số người chết rất cao, với một số ước tính vượt quá 3,000 người, theo phóng viên nước ngoài chính của Fox News, Trey Yingst.

Tổ chức Nhân quyền Iran mô tả Aminian trong một tuyên bố là “một phụ nữ trẻ tràn đầy niềm vui sống và đam mê thời trang và thiết kế quần áo, người mà những giấc mơ đã bị chôn vùi bởi sự đàn áp bạo lực của Cộng hòa Hồi giáo.”

https://www.foxnews.com/…/iranian-student-shot-head…

––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––

Rubina Aminian, một sinh viên thiết kế dệt may 23 tuổi, đã bị bắn vào đầu ở cự ly gần trong các cuộc biểu tình ở Tehran, theo Tổ chức Nhân quyền Iran. (Tổ chức Nhân quyền Iran)


 

Câu chuyện gia đình qua lời kể của chú Phan Trọng Loan – Phan Trọng Kim

Phan Thúy Hà

 Câu chuyện gia đình qua lời kể của chú Phan Trọng Loan – Phan Trọng Kim

(Phúc Trạch – Hương Khê – Hà Tĩnh)

———

Bà ngoại tôi bị bắn ngay sau buổi đấu tố, tại sân vận động xã Phúc Trạch. Đầu bà gục xuống, họ kéo xác bà lại cái hố bên bụi tre đã đào sẵn. Hôm đó đấu tố hai người, bà ngoại tôi là Hoàng Thị Chất và linh mục Trần Trọng Kiểng, vị linh mục chịu án mấy chục năm tù.

Năm năm sau, mẹ tôi bốc xương cốt bà từ cái hố bên bụi tre về nghĩa địa. Mẹ thấy nhiều vết đạn ở sọ. Trong tay bà có chuỗi tràng hạt. Bà cầu nguyện lúc đó.

Bà ngoại sinh mẹ tôi – Võ Thị Hoa – năm 1921. Ông ngoại mất khi mẹ chưa nhớ được mặt ông. Mười mấy năm sau bà ngoại đi bước nữa, sinh thêm dì Huệ. Ông bà ở xứ đạo Phủ Lễ, ven sông Ngàn Sâu. Nhà tranh ba gian, thưng mên, trong khu vườn xanh mát. Ông bà có ba sào ruộng, bà thêm nghề nấu rượu, nấu cao, ông bốc thuốc Nam.

Bắn bà, rồi họ lôi ông đi giam. Giam loanh quanh mấy nhà ở thượng huyện, rồi đưa ra trại giam nào đó ngoài miền tây Nghệ An.

Sửa sai rồi, người ta được về, ông vẫn không được về. Ông chết ở trại nào đó ngoài Nghệ An, năm 1960

Cha tôi đang đi dân công hỏa tuyến ở Trung Lào. Họ đến tận nơi bắt về.

O Xuân, người làng tôi, đi chăn trâu, bị sao đó mà chết trên đồi sim. Vài ba người bị đưa đi tra hỏi về cái chết đột ngột đó.

Họ bắt cha tôi về chịu tội giết o Xuân.

Nghe tin, mẹ tôi chạy đi đưa cho cha bộ quần áo. Đội nhận bộ quần áo, đuổi mẹ về, không cho gặp cha, không cho hỏi.

Mẹ tôi ruột gan rối bời.

Mẹ bị bắn, cha dượng bị bắt, lại tới lượt chồng.

Không biết xảy ra chuyện gì.

Đoàn người kéo đến. Đuổi mẹ con ra khỏi nhà. Mẹ tôi xin thúng hột mít khô mang đi ăn đỡ.  Không cho.

Ông bà nội chỉ có một đứa con là cha tôi. Ông bà mất rồi, để lại cho cha ngôi nhà gỗ lim ba gian và hai gian nhà ngang. Hai gia đình nào đó vào ở ngôi nhà lim, một gia đình ở nhà ngang. Ruộng và vườn họ gắn bảng tên người được chia quả thực.

Ba gia đình vào ở được mấy bữa thì cãi lộn. Tháo nhà chia ba. Hai nhà vác các vì nhà đi, nhà ở lại ra vườn chặt gỗ chắp vá vào chỗ gỗ lim đã tháo.

Mẹ tôi với sáu đứa con, từ 1 đến 11 tuổi,  ra ở cái lều ngoài đồng. Ở bên nhà ngoại, dì Huệ cũng bị đuổi ra khỏi nhà. Ngôi nhà của ông bà ngoại nông dân đến ở. Dì Huệ 16 tuổi ra ngoài chòi ở một mình, không được qua lại với gia đình tôi.

Đội cho một miếng đất bên bãi bồi sông Ngàn Sâu. Bắt phải làm, không được để hoang.

Sáng, mẹ giao việc cho các con, đứa giữ em, đứa khiêng nước ngoài sông về dùng, đứa đi hái rau dại, mẹ vác cuốc ra ngoài bãi đào.

Chiều về, mẹ ra trụ sở Đội trình báo trong ngày này đã làm những gì. Đến tối, lại ra nhà ông Hường để chịu đấu tố.

Mẹ tay bồng em một tuổi, ngồi giữa sân, nghe đấu tố. Họ hỏi mẹ thuê ai chém o Xuân, mẹ bỏ thuốc độc ai. Mẹ không nhận. Mẹ im lặng họ càng giận dữ. Em ngủ gà gật trong cánh tay mẹ.

Khuya, mẹ được về. Sáng mai mẹ lại vác cuốc ra bãi sông. Cuốc hết miếng đất thì trỉa đỗ.

Đất phù sa, đỗ tốt, sai quả.

Bãi bồi, chỉ một đêm mưa to là ngập lụt. Làm nhưng không thu hoạch được. Đêm mưa, sáng mai nóng ruột, mẹ lội nước ra hái được một bao đỗ, lúc trở về nước sông dâng cao, chảy xiết, mẹ thoát chết trong gang tấc.

Em trai bốn tuổi, nóng sốt, động kinh. Hai chị em tôi chạy sang nhà ông lang bốc thuốc. Đứng ngoài bờ rào, chị tôi kêu cứu: Ông ơi em con ốm lắm, lên kinh, mẹ con nói ông có thuốc chi cứu em con với. “Chi, đồ địa chủ cho mi chết”. Ông ta trong nhà nói vọng ra. Anh Tảo đội trưởng đội cải cách ở nhà ông mà chúng tôi không biết.

Em tôi chết. Mẹ và anh tôi lấy manh chiếu cuốn em lại, buộc túm hai đầu, buộc vào cái đòn tre khiêng em đi chôn ở cồn đất người ta chỉ cho.

Dì Huệ bị canh giữ chặt ở cái chòi, không cho đến. Có thêm vài thanh niên đến nằm chắn ngang lối đi. Dì Huệ liều bước qua. Dì bị điệu đi chịu đấu tố mấy đêm liền. Tội bước qua đầu nông dân. Mẹ tôi cũng bị lôi đi, vì liên lụy.

Một năm qua đi. Tình hình bớt căng thẳng, sang giai đoạn sửa sai. Gia đình tôi nương nhờ một góc vườn nhà thờ ở xóm Thuỷ Lạc, được bà con dựng giúp nhà tre vách nứa. Dì Huệ về ở với chúng tôi. Chị em tôi được đi học.

Ba chị em học cùng lớp 1, co cụm lại với nhau, không dám chơi với các bạn. Mỗi khi thầy cô dạy bài nói đến địa chủ, phong kiến thì các bạn chỉ trỏ chúng tôi. Giờ ra chơi, vài bạn nhảy từ bàn này sang bàn khác qua đầu chị em tôi. Ra ngoài lớp, các bạn đá vào chân chúng tôi rồi cười với nhau. Chúng tôi sợ, chỉ dám về nhà méc mẹ và dì.

Cha tôi chết ngoài trại giam.

Khi cha chết rồi, một o bị bắt vì cái chết của o Xuân, được thả, mới đến nhà gặp mẹ thú tội. Tha lỗi cho em, sợ quá, em khai bậy là nhà chị thuê. Bà mẹ o Xuân thì nói: Nhà chị đạo đức, tôi không tin nhà chị làm chuyện đó. Họ nói ra những lời khi không còn giá trị gì nữa.

Một dạo, bốn giờ sáng là mẹ tôi dậy, ngồi trên giường khóc. Khóc bà ngoại, khóc con, khóc chồng. Mẹ đọc kinh cầu nguyện.

Mẹ bắt đầu một ngày mới như vậy.

Mẹ khuyến khích các con học, đọc sách.

Thấy chúng tôi học, một ông đến bảo, học làm gì, con địa chủ ai cho làm gì mà học, đi rú, đi câu cá thì hơn. Mẹ bảo, cho chúng nó đi học sau này còn biết viết cái thư, cái đơn, không phải mượn người viết là được.

Mẹ kêu đọc chuyện cho mẹ nghe. Mẹ thích nghe chuyện, và cũng là để chúng tôi tập đọc. Tôi chỉ có chuyện trong sách tập đọc để đọc. Tôi đọc cho mẹ nghe truyện ngụ ngôn “Hươu, rùa và tên địa chủ”. Tôi thấy truyện hay, mà được vài dòng, mẹ nạt, sách vậy cũng đọc, cũng học.

Chúng tôi học đến lớp 10 thì ngưng, không được xác nhận lý lịch để học lên đại. Em út (đứa em hồi mẹ bồng trong những đêm đấu tố) nay thi đỗ Đại học Kinh tế Kế hoạch Hà Nội. Có giấy báo nhập học. Yêu cầu lý lịch, hộ khẩu, giấy xác nhận đã bán 50 kg gạo cho Mậu dịch. Cả nhà xay giã dần tràng suốt ngày đêm để kịp bán cho Mậu dịch, lấy giấy xác nhận. Ông cán bộ xã không ký vào lý lịch cho đi học. Vậy là em không được đi học, ở nhà đi bộ đội. Đi bộ đội ba năm, em về thi lại đại học. Tôi cũng đi bộ đội, đến ngày hoà bình thi vào Đại học Bách khoa.

***

Cả gia đình tôi chuyển vào ở Bà Rịa- Vũng Tàu. Năm 1992, khi cuộc sống ổn định, chúng tôi về quê bốc hết mộ phần vào gần gia đình. Chỉ còn mộ ông ngoại và cha nữa là chưa tìm được.

Chúng tôi chỉ biết ông và cha mất ở trại giam nào đó ngoài miền Tây Nghệ An, mường tượng qua vài lá thư cha gửi về, nhưng cụ thể ở trại giam nào thì không biết.

Cha tôi mất trước ông ngoại hai năm. Khi cha mất, ông ngoại viết thư về cho biết, ông và bạn tù đã chôn cất cha, khắc bia mộ bằng đá, ghi họ tên quê quán ngày mất, một trăm năm sau cũng không mờ nếu không bị ai đập phá.

Chúng tôi nhờ người bạn tù của cha dẫn đến trại giam ở Tân Kỳ. Lục tìm hồ sơ và tìm được mộ ông ngoại. Không tìm được hồ sơ và mộ của cha tôi.

Ba năm sau chúng tôi lại đi tìm mộ cha, nhờ cả thầy tìm hài cốt, vẫn không tìm được.

Chúng tôi đi sang các huyện Nam Đàn, Thanh Chương. Nhờ công an giúp đỡ. Công an hướng dẫn đến trại 6. Cán bộ trại đưa cho hàng chục cuốn sổ, danh sách các cố phạm nhân cải cách ruộng đất.

Giở qua vài chục trang. Đập vào mắt chúng tôi:

Biên bản phạm nhân chết.

Phan Văn Châu. Chết ngày ngày 22/2/58. Tuổi: 38.

Thành phần: Địa chủ. Can tội: BL – CHRĐ – ĐĐND (Chúng tôi luận ra là Bóc lột – Chiếm hữu ruộng đất – Đánh đập nông dân). Án 20 năm.

Đọc bản án của cha mà nước mắt chảy tràn.

Chúng tôi ra bãi tha ma. Bãi tha ma rộng vài héc ta, trâu bò thả rong, mộ có bia, mộ không có bia, mộ gần như mất dấu, chỉ là một nấm đất, có mộ con cháu đến nhận nhưng không đưa đi được.

Tìm gần cả buổi chúng tôi không thấy mộ cha đâu. Tôi gạt hàng rào, len vào rẫy mì. Thấy một ngôi mộ. Vạch cỏ cây, thấy một bia đá vững chắc, gạt bụi đất. Tôi hét lên. Cha đây rồi. Anh em tôi nằm lăn ra trước mộ cha mà khóc, mà tạ tội.

Phan Thuý Hà


 

RỬA BẰNG MÁU-Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

(Suy niệm Tin mừng Gioan (1, 29-34) Chúa nhật 2 thường niên)

Sứ điệp: Chỉ có Máu thánh Chúa Giê-su là Chiên Thiên Chúa mới có thể tẩy xóa tội lỗi con người.

***

Vào mùa hè, vua Duy Tân thường ra nghỉ mát ở Cửa Tùng, một cửa biển đẹp ở Quảng Trị.

Một hôm nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay dính đầy cát, viên thị vệ bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay. Nhà vua vừa rửa tay vừa hỏi đùa:

– “Tay bẩn lấy thì lấy nước mà rửa, còn ‘nước’ bẩn lấy gì mà rửa?”

Viên thị vệ lúng túng chẳng biết trả lời sao. Vua Duy Tân bèn nói:

– “Nước bẩn thì phải lấy máu mà rửa!”

Viên thị vệ đâu có ngờ nhà vua chơi chữ, chuyển từ nước rửa tay sang một thứ nước khác đáng quý trọng là đất nước, là quê hương.

Đúng vậy, khi đất nước bị dơ bẩn vì sự chà đạp của quân thù thì không thể rửa sạch bằng nước mà phải rửa bằng máu. Về sau, vua Duy Tân đã đứng lên hô hào toàn dân khởi nghĩa, quyết lấy máu đào rửa sạch nỗi nhục vong quốc.

Xưa kia, vua Duy Tân cho rằng “Nước bẩn thì phải lấy máu mà rửa.” Vậy thì hôm nay, khi linh hồn ta bị tội lỗi làm cho ô uế và chịu hậu quả tai hại khôn lường, thì lấy gì mà rửa?

Không có bất kỳ chất tẩy nào trên thế gian có thể tẩy xoá được vết nhơ và hậu quả của tội lỗi. Tội lỗi loài người chỉ có thể được rửa sạch bằng máu của Ngôi Hai Thiên Chúa mà thôi.

Trong thời Cựu ước, người có tội cần đến máu bò, máu chiên để làm lễ xoá tội cho mình. Sách Lê-vi chép: “Nếu một người đã phạm tội, làm điều Đức Chúa cấm… thì nó sẽ đưa đến cho tư tế một con bò, dê hoặc chiên làm lễ vật tạ tội. Nó sẽ đặt tay trên đầu con vật đó và sát tế nó … Tư tế sẽ cử hành lễ xá tội cho người ấy và y sẽ được tha (Lê-vi 4, 27-32).

CHÚA GIÊ-SU HIẾN MÌNH LÀM HY LỄ XÓA TỘI

Tuy nhiên, Thiên Chúa cho biết rằng: “Máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi” (Dt 10,4). Vì thế, Ngôi Hai Thiên Chúa đành hoá thân làm người, trở thành Con Chiên mới, thay thế cho những con chiên chịu sát tế trong thời Cựu ước để rửa sạch tội lỗi thế gian.

Ngay từ đầu, ông Gioan tẩy giả đã nhận ra vai trò làm Chiên đền tội của Chúa Giê-su nên “khi thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).

Thế là Chúa Giê-su cam phận làm Chiên mới để hiến thân chịu chết và đổ máu mình xoá bỏ tội lỗi thế gian, vì chỉ có máu châu báu của Thiên Chúa mới có thể rửa sạch tội lỗi loài người.

Hôm xưa, Ngài đã dâng hiến thân mình trên thập giá trên đồi Can-vê, đổ máu thánh mình ra rửa sạch tội lỗi muôn người. Và hôm nay, Ngài tiếp tục dâng mình làm lễ tế cho Thiên Chúa Cha trong các Thánh lễ hằng ngày để đền tội cho nhân loại. Vì thế, trước khi cho các tín hữu rước lễ, linh mục chủ sự nâng cao Mình thánh Chúa và giới thiệu với mọi người rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian”.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đã cho chúng con nên một với Chúa và kêu gọi chúng con cùng vác thập giá, cùng chịu khổ nạn với Chúa hằng ngày.

Xin cho chúng con luôn kết hợp mật thiết với Chúa, dâng lên Chúa những khó nhọc đau khổ trong đời, để góp phần với Chúa đền tội cho chính mình và bao người chung quanh. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng Gioan (Ga 1, 29-34)

Hôm sau, ông Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.

Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước.” Ông Gio-an còn làm chứng: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.”  Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.”

From: ngocnga_12@ & NguyenNThu


 

CHÚA GIÊSU LÀ AI? – Giuse Đinh Tất Quý

Giuse Đinh Tất Quý

 Theo bố cục của Tin Mừng thứ tư, đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu xuất hiện trước dân chúng.  Vì dân chúng chưa biết Chúa, nên Gioan Tẩy giả đã giới thiệu về Chúa cho mọi người.  Gioan đã giới thiệu Chúa bằng hai hình ảnh xem ra có vẻ tương phản với nhau: Ngài vừa là Người Con yêu quý của Thiên Chúa cao sang, vừa là Người Tôi Tớ khiêm tốn thấp hèn của Thiên Chúa.  Nhìn thoáng qua thì chúng ta thấy như vậy nhưng nhìn thật sâu, thật kỹ thì chúng ta thấy hai hình ảnh trên không những không đối chọi mà ngược lại còn bổ túc và soi sáng cho nhau: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa cao sang nhưng cuộc sống của Ngài ở trần gian là cuộc sống như một Người Tôi Tớ, Người Tôi Tớ tuyệt hảo bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa ở giữa loài người.  Nói một cách thật ngắn gọn thì chúng ta thấy Chúa đã sống sự cao thượng của Ngài trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài đã sống với tâm hồn cao thượng. 

  1. Chúa Giêsu là ai? 
  1. Vâng Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang. 

Điều này Gioan đã công khai làm chứng.  Lời chứng của Gioan có một giá trị hết sức đặc biệt.  Toàn bộ bài Tin mừng hôm nay nói lên điều đó.  “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian.  Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.  Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước.”  Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống ngự trên Người.  Tôi đã không biết Người.  Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.”  Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.” 

Vâng đúng như vậy, Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang: Đấng xóa bỏ tội trần gian, Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần, Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.  Có lẽ không còn từ nào nói về Chúa Giêsu cao hơn nữa. 

2. Nhưng bên cạnh hình ảnh về một Chúa Giêsu là một Thiên Chúa cao sang chúng ta lại còn thấy Gioan nói về Chúa như một Con Chiên của Thiên Chúa.  Gioan đã có ý muốn nói gì khi giới thiệu về Chúa như thế? 

Chúng ta biết Thành ngữ Chiên của Thiên Chúa là một thành ngữ hết sức kỳ diệu. 

Chúng ta biết thời Cựu ước trong ngày lễ Đền tội, người Do Thái bắt một con chiên đem đến cho Tư tế.  Vị Tư Tế đọc một danh sách các thứ tội của dân và kêu gọi mọi người sám hối.  Sau đó Tư Tế đặt tay trên đầu con dê, ngụ ý trút hết danh sách tội ấy lên đầu nó, rồi đuổi nó vào sa mạc.  Con chiên ấy được gọi là con chiên gánh tội. 

Khi Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu là “Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian,”  phải chăng ngài cũng có ý cho mọi người hiểu rằng Đức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta.

 Đức Giêsu gánh lấy và tha thứ tội lỗi chúng ta, như con chiên đã mang tội lỗi dân Do thái vào sa mạc.  Thánh Gioan Tông Đồ cũng quả quyết: Chính Đức Giê-su Ki-tô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn cả tội lỗi cả thế gian nữa (1Ga 2,2). Thánh Tông Đồ Phêrô còn nói rõ hơn: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính  (1Pr 2,24).  Nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng ta đã thành thánh hết.  Lý do là vì thân phận tội lỗi của chúng ta vẫn còn.  Đức Giêsu muốn giúp chúng ta cải thiện thân phận ấy, dĩ nhiên là với sự hợp tác của chúng ta. 

2.Chúng ta hợp tác thế nào?  

Nói một cách thật vắn là chúng ta hãy sống như Chúa đã sống.  Cuộc sống của Chúa là bài học và cũng là tấm gương cho chúng ta. 

Chúng ta tự hỏi Chúa đã sống như thế nào? Ngài đã sống sự cao thượng của Ngài trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài đã sống với tâm hồn cao thượng. 

Qua Tin Mừng chúng ta thấy mặc dầu là Thiên Chúa nhưng Chúa đã sống hoà mình với mọi người.  Nhưng khi sống hòa mình với mọi người chúng ta thấy Ngài vẫn luôn giữ được phẩm giá của mình là Thiên Chúa.  Xin được gửi đến anh chị em một bài thơ mà tác giả là Rabindranath Tagore, một nhà văn hào được cả loài người kính nể và yêu mến.  Ông đã có rất nhiều cảm nghiệm sâu xa về Chúa Giêsu mặc dù ông không phải là một người có đạo.  Đây là một bài thơ ông viết ra để để mô tả về cuộc đời của Chúa, một cuộc đời cao thượng trong hoàn cảnh tầm thường; và trong hoàn cảnh tầm thường Ngài vẫn giữ được tâm hồn cao thượng.

 Sáng hôm nay, con được làm bạn đường cùng đi với Chúa về làng.

Con cử thắc mắc mãi: ở nhà quê thì có gì vui đâu mà lại đi tổ chức… du lịch?

Vậy mà ngang qua một bờ đê, Chúa đã dừng lại để lội xuống ruộng, đón lấy tay cầy đằng sau con trâu gầy còm của một bác nông dân.

Rồi Chúa lại còn cùng tát nước với họ vào một mảnh ruộng khác đang khô nước.

Chúa làm một cách say mê vui vẻ trong khi nắng đã lên cao, trời nóng dần đến mức như đổ lửa…

Con cũng đành phải làm theo Chúa mà miệng thì cứ lẩm bẩm: đúng là đang đâu lại đi chuốc vào thân những vất vả cực nhọc!  Rõ khổ!

Đến quá trưa, Chúa chia tay với những người dân cầy chất phác và vui tính sau khi uống một bát nước vối họ mời.

Chúa quay lại bảo con: “Nào, chúng mình về một khu ngoại thành đi!”

Con cứ ngỡ Chúa sẽ vào một quán nước có máy lạnh dành cho khách du lịch để nghỉ ngơi…

Vậy mà, vừa gặp một tốp thợ đang thi công một đoạn quốc lộ, Chúa lại đã ghé vào, xắn tay áo xin cùng làm với họ.

Chúa cũng xúc đá, cũng đội sọt cát trên vai hoặc lăn một thùng hắc ín đến lò nấu dã chiến bên vệ đường…

Cứ thế, vừa làm Chúa vừa trò chuyện thân tình với họ, mặc cho mồ hôi muối túa ra ướt đẫm lưng áo.

Con lại cũng đành phải làm theo Chúa, cố tình chọn một việc nhẹ nhất cho đỡ mệt, hơi sức đâu mà đánh liều với thứ công việc khổ sai như thế.

Xập tối Chúa chia tay với cánh thợ bộc trực và gân guốc sau khi rít một điếu thuốc rê với họ.

Chúa lại bảo con đi tiếp đến một thị trấn nhỏ gần đó.

Con cứ ngỡ phen này Chúa sẽ tìm một khách sạn để nghỉ ngơi và dùng cơm tối,

Đói bụng lắm rồi còn gì.

Thế mà khi ngang qua một vùng ven thị trấn, Chúa lại bảo con ghé vào thăm một làng phong.

Ở đây, Chúa đã ngồi xuống bên những bệnh nhân tật nguyền, xúc cơm đổ thuốc, lau mặt thay áo cho họ, mặc cho những vết thương lở loét của họ bốc lên mùi hôi tanh ghê sợ.

Chúa còn đến tận giường để an ủi nâng đỡ một cụ già đang hấp hối sau đời gánh chịu căn bệnh đau đớn cùng nỗi tủi nhục, bị con cháu và xã hội xua đuổi.

Con cũng đành phải làm theo Chúa, nhưng chỉ là phụ giúp giặt khăn rót nước hoặc lấy bông băng đưa cho Chúa…

Mãi đến khuya, Chúa mới chịu chia tay với những người phong cùi sau khi vuốt mắt cho cụ già vừa qua đời.

Về lại thành phố, con đang thầm lo: không biết Chúa còn định đi những đâu nữa đây, khổ quá đi mất!

Du lịch mà cứ như là một chuyến công tác xã hội từ thiện, biết vậy, hôm nay con đã chẳng nhận lời theo Chúa đi lang thang vạ vật như thế này…

Thế rồi, ngang qua một nguyện đường nhỏ bé của một dòng tu, Chúa bảo con: “Mình cùng vào cầu nguyện một chút nhé”

Con thở phào yên tâm.

Nhưng tối khuya thế này, ai mà mở cửa cho vào?

Không ngờ Chúa dừng lại trước cánh cửa lớn nhà thờ, quỳ xuống thềm và bắt đầu cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha của Người: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha giấu không cho các người khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.  Vâng lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha…”

Đến lúc này thì con mới chợt hiểu tất cả để lặng lẽ quỳ xuống bên Chúa, lòng bật lên lời tâm nguyện:

“Con cố gắng cúi mình khiêm nhu, xuống dấu chân nơi Ngài dừng lại nhưng sâu hút vô ngần Ngài ơi, vẫn không sao chạm được…

Vâng sống như Chúa Giêsu là sống như thế: Cao cả trong những cái tầm thường nhưng tầm thường với một tâm hồn cao cả. 

Xin được kết cũng bằng một bài thơ khác của Tagore. 

Lạy Thiên Chúa, đây lời con cầu nguyện: Xin tận diệt, tận diệt trong tim con mọi biển lận tầm thường. Xin cho con sức mạnh thản nhiên để gánh chịu mọi buồn vui.  Xin cho con sức mạnh hiên ngang để đem tình yêu gánh vác việc đời.  Xin cho con sức mạnh ngoan cường để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó, hay cúi đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy.  Xin cho con sức mạnh dẻo dai để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày.  Và cho con sức mạnh tràn trề để nâng mình theo ý Ngài luôn.  Amen! 

Giuse Đinh Tất Quý

 From: Langthangchieutim


 

Số người chết trong biểu tình ở Iran lên đến 2,000, thậm chí có thể cả chục ngàn

Ba’o Nguoi-Viet

January 13, 2026

TEHRAN, Iran (NV) – Số người thiệt mạng trong các cuộc biểu tình ngày càng leo thang ở Iran được cho là hàng ngàn, trong đó một giới chức Iran đưa ra con số là 2,000 người chết nhưng các tổ chức nhân quyền ước tính là có thể cao hơn nhiều, Reuters đưa tin hôm Thứ Ba, 13 Tháng Giêng.

Một giới chức Iran giấu tên nói với Reuters rằng 2,000 người, bao gồm cả nhân viên an ninh, thiệt mạng trong các cuộc biểu tình ở Iran mà hiện đã bước sang tuần thứ ba.

Người biểu tình Iran ở thủ đô Tehran hôm 9 Tháng Giêng. (Hình: Mahsa/Middle East Images/AFP via Getty Images)

Giới chức Iran gọi những người biểu tình là “bọn khủng bố” và cáo buộc họ gây bạo loạn.

Trong khi đó, Tổng Thống Donald Trump đe dọa sẽ có hành động quân sự đối với chế độ thần quyền Iran nếu họ đàn áp đẫm máu cuộc biểu tình. Ông cảnh báo hôm Chủ Nhật rằng Iran “bắt đầu” vượt qua lằn ranh đỏ ông đưa ra.

Trong khi đó, Iran International, kênh tin tức tiếng Ba Tư có trụ sở tại London, viết trong một bài xã luận hôm Thứ Ba rằng họ tin có 12,000 người thiệt mạng. Họ gọi đây là vụ tàn sát nhân mạng lớn nhất trong lịch sử đương đại của Iran vốn diễn ra trong hai đêm từ ngày 8 đến ngày 9 Tháng Giêng.

“Dựa trên dữ liệu có sẵn và thông tin kiểm tra chéo thu được từ các nguồn đáng tin cậy, bao gồm Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Tối Cao và văn phòng tổng thống, ước tính ban đầu của các cơ quan an ninh của Cộng Hòa Hồi Giáo là có ít nhất 12,000 người đã thiệt mạng,” tờ báo này cho biết.

Các cuộc biểu tình bùng phát vào cuối Tháng Mười Hai do khó khăn kinh tế nhưng kể từ đó trở thành phẫn nộ đối với chế độ của Iran.

Ông Trump sẽ họp với các giới chức hàng đầu để xem xét các lựa chọn đáp trả.

Các chuyên gia và cựu giới chức Mỹ nói rằng nếu không tấn công quân sự, ông Trump có thể đem đến những hỗ trợ quan trọng như giúp người biểu tình truy cập mạng Internet hoặc tấn công mạng để làm gián đoạn các trung tâm chỉ huy và kiểm soát của chế độ. (NNL) [đ.d.]


 

HƠN CẢ LỜI NÓI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Người giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch!”.

“Lòng trắc ẩn mời gọi chúng ta đi vào nơi đau đớn, bước vào vùng khổ ải, để cùng chia sẻ sự tan vỡ, sợ hãi, rối bời và hỗn mang!” – Henri Nouwen.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những nỗi đau không cần lời giải thích, chỉ cần một sự hiện diện, một cái chạm. Tin Mừng hôm nay kể lại một cử chỉ rất nhỏ của Chúa Giêsu – Ngài chạm vào người phong – nhưng chi tiết này nói nhiều ‘hơn cả lời nói’ về trái tim của một Thiên Chúa.

Theo quan niệm y học và tôn giáo thời bấy giờ, bệnh phong có nguy cơ lây nhiễm nghiêm trọng và là dấu của sự ô uế. Người phong bị loại khỏi cộng đồng, khỏi phụng tự, và khỏi những tiếp xúc rất con người. Họ sống với khoảng cách – khoảng cách của sợ hãi và khinh tránh. Trong bối cảnh ấy, Chúa Giêsu bước qua khoảng cách ấy bằng lòng thương xót. Ngài không nói từ xa, không lệnh từ trên, nhưng giơ tay chạm vào – đi vào nơi đau đớn – đi vào đúng nơi không ai muốn bước tới. “Một cái chạm, một nụ cười, một lời tử tế, một lắng nghe… tất cả đều có khả năng thay đổi cả một đời người!” – Leo Buscaglia.

Điều đáng chú ý là trước khi người phong được sạch, anh đã “được đón nhận”; trước khi có phép lạ thể xác, đã có “phép lạ của mối tương quan” – được nhìn nhận như một con người “xứng đáng được chạm đến”. Cái chạm ấy không chỉ lấy đi bệnh tật, mà còn “trả lại phẩm giá”. Vì thế, không chỉ chữa lành, Chúa Giêsu “tái lập sự thuộc về”. Ở đây, tình yêu của Thiên Chúa phát ra những tín hiệu ‘hơn cả lời nói’.

Chúa Giêsu không phủ nhận bệnh tật, nhưng Ngài không để nỗi sợ điều khiển “cách Ngài đối diện” con người. Ngài cho thấy lòng thương xót không làm chúng ta “bẩn” đi, trái lại, làm cho sự sống được “thanh sạch lại”. Khi dám chạm tới nỗi đau của người khác – bằng lắng nghe, với kiên nhẫn và những hành động rất bình thường – chúng ta đang tham dự vào cách thức Thiên Chúa hành động: giải thoát con người khỏi những gì làm họ cảm thấy ô uế, khó gần, và không đáng được yêu. “Tất cả chúng ta đều quá gắn bó với nhau, nhưng lại đang chết dần vì cô đơn!” – Albert Schweitzer.

Anh Chị em,

Chúng ta có thể không gặp những người phong theo nghĩa sinh học, nhưng gặp rất nhiều “người bị xa lánh”: những ai khiếm khuyết, quá khứ nặng nề, tính cách khó chịu, hay những vết thương khiến họ khép lòng. Trước họ, phản ứng tự nhiên của chúng ta thường là giữ khoảng cách: tránh va chạm, phiền toái, liên luỵ vào những phức tạp không mong muốn. Tin Mừng hôm nay đặt một câu hỏi rất thẳng thắn: tôi có dám bước qua những khoảng cách? Không bằng lời khuyên, mà bằng sự hiện diện; không bằng phán xét, mà bằng một cử chỉ dịu dàng nói lên rằng – bạn không bị bỏ rơi! “Người ta sẽ quên bạn đã nói gì, làm gì, nhưng sẽ không bao giờ quên bạn đã khiến họ cảm thấy ra sao!” – Maya Angelou.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa một thế giới nhiều khoảng cách và dè chừng, giúp con dám đến gần, ở bên và thấu cảm; vì điều chữa lành là một tình yêu biết chạm tới – ‘hơn cả lời nói!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*******************************************

Lời Chúa Thứ Năm Tuần I Thường Niên, Năm Chẵn

Chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 1,40-45

40 Khi ấy, có người mắc bệnh phong đến gặp Đức Giê-su, anh ta quỳ xuống van xin rằng : “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” 41 Đức Giê-su chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo : “Tôi muốn, anh hãy được sạch !” 42 Lập tức, bệnh phong biến khỏi anh, và anh được sạch. 43 Nhưng Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay, 44 và bảo anh : “Coi chừng, đừng nói gì với ai cả, nhưng hãy đi trình diện tư tế ; và vì anh đã được lành sạch, thì hãy dâng những gì ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.” 45 Nhưng vừa đi khỏi, anh đã bắt đầu rao truyền và loan tin ấy khắp nơi, đến nỗi Đức Giê-su không thể công khai vào thành nào được, mà phải ở lại những nơi hoang vắng ngoài thành. Và dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Người.


 

Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”.

Đó là năm 1942.

Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.

Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng.

Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.

“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.”

Thức ăn cạn dần.

Thuốc men không còn.

Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.

Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống?

Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.

Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.

Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp.

Các cố vấn nói với ông:

“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.”

Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:

“Bao nhiêu đứa trẻ?”

“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.”

Một khoảng lặng.

Rồi ông nói:

“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.

Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.”

Họ cảnh báo:

“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”

“Ta sẽ chịu.”

Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:

“Các con được chào đón ở đây.”

Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.

Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng.

Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.

Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời:

“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.

Các con là con của ta.

Ta là Bapu của các con ,là cha của các con.”

Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.

Ông xây dựng một mái nhà.

Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:

giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới.

“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.

“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.”

Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.

Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình.

Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình.

Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.

Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết.

Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.

Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước.

Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.

Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời.

Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói:

“Từ nay, các con là con của ta.”

ST.

Nguồn từ báo Ba Lan (theo Tôn Vân Anh)
Fb Trần Quốc Quân


 

Hoàng Thị Hồng Thái bị bắt- Khi nỗi sợ hãi trở thành chính sách

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Đàn Chim Việt

09/01/2026

 

Hai ngày trước, trên mạng xã hội đã râm ran tin Hoàng Thị Hồng Thái bị bắt. Phải đến hôm qua, khi báo chí chính thống đồng loạt đưa tin, người ta mới biết: tin đồn ấy không còn là tin đồn.

Tôi mới theo dõi cô Hồng Thái Hoàng chưa lâu, nhưng chừng ấy thời gian cũng đủ để nhận ra một điều: các bài viết của cô có nền tảng hiểu biết rõ ràng, lập luận mạch lạc, giọng điệu ôn hòa và nhất quán theo tinh thần khai dân trí. Không hô hào, không kích động, không cảm tính. Chỉ có luật pháp, lý lẽ và trách nhiệm công dân.

Tết sắp đến. Trong khi người ta lo sắm sửa, đoàn viên, thì một người mẹ bị còng tay. Đau lòng hơn cả là phía sau cánh cửa trại giam ấy là bốn đứa trẻ còn thơ dại, nay bỗng chốc bơ vơ, thiếu vắng cả cha lẫn mẹ. Có một cháu còn mang chứng tự kỷ, điều mà bất kỳ xã hội tử tế nào cũng phải hiểu đó là nỗi mong manh cần được chở che, không phải là “tài sản thế chấp” cho những màn thị uy quyền lực.

Những ai từng đọc Hồng Thái Hoàng đều thấy rõ: cô phản biện trên nền tảng pháp luật. Góp ý chính sách cũng bằng ngôn ngữ của luật pháp. Chỉ ra sai sót cũng bằng lý lẽ, không bằng thóa mạ. Đó là kiểu phản biện mà bất kỳ nhà nước tự tin nào cũng nên trân trọng. Bởi phản biện không phải để lật đổ, mà để sửa sai; không phải để phá hoại, mà để tránh cho xã hội đi vào ngõ cụt.

Thế nhưng, thay vì đối thoại, người ta chọn cách bắt giữ. Thay vì tranh luận, người ta dùng đến quyền lực cưỡng chế. Điều đó nói lên điều gì? Rằng vấn đề không nằm ở lời nói của Hồng Thái Hoàng, mà nằm ở mức độ chịu đựng sự thật của những kẻ đang nắm quyền.

Đáng buồn hơn là sau khi một người phụ nữ bị bắt, thay vì tranh luận vào nội dung tư tưởng, một đội ngũ quen mặt trên không gian mạng lại lao vào “đánh hội đồng” bằng con đường bẩn thỉu nhất: bới móc đời tư, xúc phạm nhân phẩm, hạ nhục người khác để né tránh việc phải đối diện với lý lẽ. Đó là kiểu “bỏ bóng đá người” rất quen, rất hèn, và rất đê tiện. Khi không thể phản biện bằng trí tuệ, người ta sẽ dùng đến bùn.

Xin nhắc thẳng: mọi bình luận xúc phạm, cực đoan, mang tính hạ nhục cá nhân đều không giúp xã hội tốt lên, mà chỉ phơi bày sự nghèo nàn của chính người viết. Những bình luận như thế, nếu xuất hiện ở đây, sẽ bị xóa và bị chặn. Văn minh không phải là món đồ trang trí, mà là giới hạn tối thiểu của một cộng đồng biết suy nghĩ.

Có một câu rất đáng để nhớ: một xã hội không sợ sai lầm, nhưng sẽ sụp đổ khi sợ sự thật. Một xã hội muốn “vươn mình” thì không thể run rẩy trước những tiếng nói phản biện ôn hòa. Càng không thể coi việc khai dân trí là mối đe dọa. Bởi chỉ những chính quyền yếu kém mới cần đến sự u mê của người dân để tồn tại.

Người ta nói nhiều về những khẩu hiệu đẹp đẽ, nhưng cách đối xử với Hồng Thái Hoàng và tệ hơn, với các con của cô lại đi theo hướng hoàn toàn ngược lại. Khi một người mẹ bị bắt vì những bài viết có tính xây dựng, thì đó không phải là sức mạnh của nhà nước, mà là biểu hiện của nỗi sợ. Khi những đứa trẻ vô tội phải gánh hậu quả, thì đó không phải là kỷ cương, mà là sự vô nhân tính được khoác áo pháp lý.

Những bài viết của Hồng Thái Hoàng, với tôi, không chống lại ai cả. Thứ cô chống lại là sự tù túng trong tư duy, là nghèo nàn trong nhận thức, là bất công được che chắn bằng quyền lực. Và đáng lẽ, những tiếng nói như thế phải được lắng nghe, tranh luận và phản biện công khai chứ không phải bị trấn áp trong im lặng.

Cầu mong cô Hồng Thái Hoàng đủ sức mạnh để vượt qua giai đoạn nghiệt ngã này. Cầu mong các con của cô được chở che, được yêu thương, và không phải trả giá cho những điều mà các cháu không hề gây ra.

Bởi cuối cùng, lịch sử không hỏi ai đã bắt được bao nhiêu người, mà chỉ hỏi: ai đã làm cho xã hội này sáng lên thêm một chút và ai đã cố tình dập tắt ánh sáng ấy.

Tran Nam Anh (Facebook)


 

TÌNH YÊU KHÔNG CHẾT

Một tác giả nọ đã ghi lại bài học của mẹ mình như sau:

Ông ngoại tôi là một Mục sư vào đầu thế kỷ XX. Khi có một người trong cộng đồng qua đời, người ta thường đem khăn liệm và mang quan tài đến và đặt trong phòng khách của vị mục sư. Năm đó mẹ tôi lên tám tuổi, lần đầu tiên chứng kiến cảnh tượng đó mẹ tôi rất sợ hãi.

Ngày nọ ông ngoại cầm tay mẹ tôi đặt vào tường và hỏi mẹ tôi cảm thấy như thế nào? Mẹ tôi trả lời nó cứng và lạnh. Sau đó ông ngoại dẫn mẹ tôi đến cạnh quan tài của người tín hữu tên là Smick đang nằm trong phòng khách, ông nói với mẹ tôi: “Ba xin con làm một điều vô cùng khó khăn, nếu con làm được điều đó con sẽ không bao giờ biết sợ chết nữa. Ba muốn nói con đặt tay trên mặt ông Smick”.

Vì thương và tin tưởng ông ngoại, nên mẹ tôi đã làm theo điều ông ngoại xin. Mẹ tôi đưa tay sờ vào mặt người chết. Ông ngoại tôi hỏi: Con thấy thế nào? Mẹ tôi đáp: Lạnh như tường vậy. Ông ngoại tôi liền giải thích: Tốt lắm, đãy là ngôi nhà cũ của ông Smich, ông Smich đã ra đi và chúng ta không có lý do gì đẻ sợ ngôi nhà của ông cả.

Từ đó mẹ tôi không còn biết sợ người chết nữa! Tám giờ đồng hồ trước khi mẹ tôi qua đời, mẹ tôi đã yêu cầu chúng tôi làm một điều khác thường, thấy chúng tôi đang khóc sướt mướt, mẹ tôi nói đừng đặt hoa trên mộ của mẹ vì mẹ không có ở đó đâu, khi mẹ từ bỏ thân xác này, mẹ sẽ bay đi Âu Châu, cha chúng con chưa bao giờ đưa mẹ đến đó.

Nghe thế chúng tôi bật cười và suốt trong đêm hôm đó, không ai trong chúng tôi khóc nữa. Khi chúng tôi đến hôn từ biệt và chúc mẹ ngủ ngon. Mẹ tôi nói: gặp lại các con sáng mai. Thế nhưng đúng sáu giờ mười lăm phút sáng hôm sau, mẹ tôi đã vĩnh viễn ra đi. Hai ngày sau chúng tôi dọn dẹp lại căn phòng của mẹ, trong nhiều mảnh giấy để lại, có một bài thơ không rõ do mẹ tôi sáng tác hay của một tác giả nào đó. Sau đây là nội dung của bài thơ:

“Khi tôi chết, xin hãy để lại cho con cái tôi những gì còn lại của tôi. Nếu bạn cần khóc thì hãy khóc cho những người anh em đang đi bên cạnh bạn. Xin bạn hãy quàng tay qua mọi người, hãy cho họ những gì bạn muốn cho tôi. Tôi muốn để lại cho bạn một cái gì đó, một cái gì đó khác với lời nói hay âm thanh, bạn hãy tìm gặp tôi trong những người tôi đã biết và yêu thương. Và nếu bạn không thể sống mà không có tôi thì xin bạn hãy để cho tôi được sống trong ánh mắt, trong tâm trí và trong những hành động tử tế của bạn. Bạn có thể yêu thương tôi nhiều nhất bằng cách bàn tay nắm lấy những bàn tay và cho con cái được trở nên những con người tự do. Tình yêu không chết chỉ có con người mới chết thôi, vậy thì tất cả những gì còn lại của tôi là tình yêu, xin hãy trao ban.”

***

Khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cách đặc biệt cho những người quá cố. Người chết nào dường như cũng có một cái gì để trăn trối cho những người còn sống, người chết nào dường như cũng tiếp tục sống bên cạnh người còn sống. Hẳn đó cũng là cảm nhận của mỗi người chúng ta. Sau đó, bên cạnh chúng ta những người thân thương ruột thịt của chúng ta vẫn tiếp tục hiện diện và theo dõi

từng bước của chúng ta.

Giáo Hội nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện đó và mời gọi chúng ta cầu nguyện cho người quá cố. Có những lời cầu nguyện qua những bài Thánh ca, những kinh quen thuộc đã đành, nhưng quan trọng hơn, ý nghĩa hơn hẳn phải là những hành động yêu thương mà chúng ta cố gắng thực thi mỗi ngày, đó là sự tưởng nhớ và chân thành nhất mà chúng ta dành cho người quá cố vậy.

***

Lạy Chúa, xin đón nhận những cố gắng sống yêu thương của chúng con như của lễ dâng lên Chúa để cầu nguyện cho những người thân thương đã qua đời của chúng con. Amen.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

KHOẢNG TRỐNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng”.

“Tĩnh lặng không phải là sự vắng mặt của một điều gì, nhưng là sự hiện diện của mọi sự!” – Gordon Hempton.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay soi rọi trực giác của Hempton. Trời còn tối, Chúa Giêsu đi ra một nơi hoang vắng; nói cách khác, Ngài ra một “khoảng trống”. Nhưng ‘khoảng trống’ ấy không hề trống; nó là không gian của hiện diện – một sự hiện diện của “ở lại, lắng nghe và sai đi”.

Chúa Giêsu không tìm sự tách biệt để nuôi dưỡng một đời sống khép kín, Ngài đi vào ‘khoảng trống’ để giữ cho mối tương quan với Cha luôn thiết thân, không bị phủ che bởi tiếng vỗ tay, đòi hỏi và kỳ vọng của đám đông. Chính trong sự hiện diện ấy, căn tính và sứ mạng của Ngài được nguyên tuyền – biết mình từ đâu đến, đang sống cho ai, và sẽ trao ban đời mình theo cách nào. Rõ ràng, hoang vắng là nơi “tái lập trung tâm!”. Thiếu trung tâm, việc tốt trở thành gánh nặng, nhiệt thành trở nên hao mòn, và đời sống mất phương hướng. Vì thế, Tin Mừng đặt việc Chúa Giêsu đi cầu nguyện lên đầu ngày trước khi Ngài bước vào nhịp khốc liệt của sứ vụ. Ở đó, Ngài không chỉ tìm sự yên tĩnh, nhưng ở trong “một sự hiện diện nuôi sống mọi chọn lựa!”. “Hãy để con dành thời gian với Đấng tạo thành thế gian trước khi con sống với thế gian!” – A. W. Tozer.

Với chúng ta, ranh giới giữa cô đơn và tĩnh lặng rất mong manh. Cô đơn là ‘khoảng trống’ không có người thứ hai; nó gặm mòn từ bên trong, khiến chúng ta tìm mọi cách tự lấp đầy. Tĩnh lặng, trái lại, là một ‘khoảng trống’ “có Đấng đang chờ”; không làm con người khép lại, nhưng mở ra cho một sự “hiện diện thần thánh”. “Tĩnh lặng là tốt, nhưng bạn cần ‘Ai đó’ nói rằng tĩnh lặng là tốt!” – Honoré Balzac. Cùng là trống, nhưng một bên là ‘thiếu vắng’, bên kia là ‘được chiếm ngự’. Vì thế, nếu không được neo vào Thiên Chúa, “tĩnh lặng” dễ trượt thành một hình thức cô lập tinh vi. “Bạn không thể cô đơn nếu bạn thích người mà bạn đang ở bên!” – Wayne Dyer.

Anh Chị em,

Chúa Giêsu là khuôn mẫu cho đời sống chúng ta. Ngài không sở hữu ‘khoảng trống’, nhưng cư ngụ trong đó với Cha. Từ sự hiện diện ấy, Ngài bước ra cho con người với một tự do không lệch hướng, một lòng thương xót không phân mảnh, và một tiếng nói không run sợ. ‘Khoảng trống’ không làm Ngài nhỏ lại; nhưng làm Ngài tập trung và trao hiến hơn. Bạn và tôi được mời gọi học lấy nhịp sống ấy. Không phải để tìm cảm giác an toàn, nhưng để đời sống được thả neo trong điều cốt yếu; không để rút khỏi bổn phận, nhưng để bước vào nó với một trái tim đặt đúng hướng. Như vậy, ai dám dành chỗ cho sự hiện diện của Thiên Chúa, ‘khoảng trống’ không còn là thiếu vắng, mà là nguồn mạch âm thầm “nuôi dưỡng mọi chọn lựa!”. “Việc thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa làm ta mạnh mẽ trong hy vọng; và hy vọng ấy lớn lên theo mức ta hiểu biết Ngài!” – Brother Lawrence.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con yêu mến những ‘khoảng trống’ của ngày sống; ở đó, Ngài lấp đầy. Để tĩnh lặng trở thành sự hiện diện, và mọi chọn lựa của con được sinh ra từ đó!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**********************************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần I Thường Niên, Năm Chẵn

Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 1,29-39

29 Khi ấy, vừa ra khỏi hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su đi đến nhà hai ông Si-môn và An-rê. Có ông Gia-cô-bê và ông Gio-an cùng đi theo. 30 Lúc đó, bà mẹ vợ ông Si-môn đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Lập tức họ nói cho Người về tình trạng của bà. 31 Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy ; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.

32 Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người. 33 Cả thành xúm lại trước cửa. 34 Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai.

35 Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó. 36 Ông Si-môn và các bạn kéo nhau đi tìm kiếm. 37 Khi gặp Người, các ông thưa : “Mọi người đang tìm Thầy !” 38 Người bảo các ông : “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó.” 39 Rồi Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ.