Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì?- Cha Vương

Xin Chúa ban muôn phúc lành xuống trên bạn và gia đình để bạn luôn ao ước những gì thuộc về Chúa. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và thể giới nhé?

Cha Vương

Thứ 3: 14/04/2026.  (n26-22)

GIÁO LÝ: Khi nói Chúa Giêsu lên trời nghĩa là gì? Nghĩa là Chúa Giêsu, một người trong chúng ta đã về lại nhà với Thiên Chúa Cha và ở lại đó muôn đời. Nhờ Chúa Giêsu mà Thiên Chúa ở gần loài người chúng ta trong cách thức loài người. Và trong Phúc Âm Gioan, Chúa Giêsu đã nói: “Khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta” (Ga 12, 32). (YouCat, số 109)

SUY NIỆM: Trong Tân ước, việc Chúa về trời chấm dứt giai đoạn bốn mươi ngày được đánh dấu bằng việc Đấng đã sống lại ở gần gũi với các môn đệ. Cuối giai đoạn này Chúa Giêsu đi vào trong oai nghi của Thiên Chúa với toàn bộ nhân tính của mình. Kinh Thánh thuật lại bằng những hình ảnh tượng trưng có “mây”, có “trời”. Như Đức Bênêđictô XVI nói: “Con người có được chỗ trong Thiên Chúa”. Chúa Giêsu Kitô bây giờ ở với Chúa Cha, từ đó một ngày kia Người đến “phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Chúa Giêsu về trời có nghĩa là Chúa Giêsu không còn là hữu hình ở dưới đất, nhưng lại vẫn luôn có mặt dưới đất. (YouCat, số  109 t.t.)

LẮNG NGHE: Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời. (Cv 1,11)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Chúa dạy con: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:1-3) Xin đừng để những bận tâm thế tục làm con xao xuyến và lo âu nhưng giúp con biết can đảm sống đức tin, chấp nhận hy sinh, dám sống yêu thương và chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con có được chỗ ở trong Thiên Chúa. 

THỰC HÀNH: Môi trường gia đình là trường học dạy về đức tin và yêu thương, đó cũng là nơi mà tiền bạc không quí bằng tình yêu. Hôm nay mời bạn hãy trở thành một chứng tá cho đức tin, cho tình yêu xả kỷ của mình ngay trong gia đình bằng những hy sinh nho nhỏ, rộng lượng chia sẻ, và xây dựng một mái ấm hạnh phúc trong Chúa Ki-tô phục sinh nhé.

From: Do Dzung

*****************************

Hy Lễ Cuối Cùng – Nguyễn Hồng Ân

Tại sao Hungary và Ba Lan?- Nguyễn Thọ

Ba’o Tieng Dan

14/04/2026

Nguyễn Thọ

Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba Lan là thành việc Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2] . Từ tháng Ba 1973 bên cạnh Ba Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS [3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.

Ai có thể tưởng tượng rằng trước tháng tư 1975, máy bay TU-154 của hãng hàng không MALEV hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đỗ bên cạnh các máy bay của Air America hay Air Vietnam, rằng đã có người Sài Gòn được các cô tiếp viên Hungary mời uống đồ giải khát? Ông bán phở ở gần khách sạn Catinat (Đường Nguyễn Huệ) đâu có biết rằng bà đầm hay ghé ăn phở lại là cô sĩ quan cộng sản Malgorzata từ thành Varsovie xa lạ.

Cả hai hiệp định hòa bình đều ra đời trong chiến tranh lạnh nên các thành viên ủy ban giám sát phải cùng được các chấp nhận. Năm 1954, Canada là nước tư bản được tất cả Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam chấp nhận. Ấn Đô là nước trung lập thì đương nhiên. (Lúc đầu họ trung lập thật sự, nhưng sau vụ Tây Tạng 1959, Việt Nam đứng về phía Trung Quốc nên tình bạn giữa Nehru – Hồ Chí Minh sứt mẻ). Ba Lan là nước XHCN được Mỹ và Pháp chấp nhận đại diện cho phe cộng sản.

Năm 1973 Ủy ban giám sát hiệp định hòa bình Paris bao gồm Canada, Indonesia, Hungary và Ba Lan. Về sau Canada rút lui và Iran được chọn thay thế, vì lúc đó chính quyền của vua Palevi là đệ từ ruột của Mỹ.

Sự hiện diện của các phái bộ Hungary và Ba Lan trong chiến tranh Việt Nam, cũng như sự đóng góp của họ vào diễn biến của cuộc chiến là một trong những góc khuất lịch sử mà tôi sẽ viết khi có dịp.

Vậy tại sao Mỹ lại chấp nhận hai nước XHCN này trong các ủy ban quốc tế về Việt Nam?

Đó chính là sự khác biệt trong chế độ chuyên chính vô sản mà đảng cầm quyền ở hai nước này thực thi. Phương Tây cho rằng hai nước này cởi mở hơn các nước XHCN khác. Ba Lan là nước XHCN duy nhất mà 80% nông dân không vào hợp tác xã. Nông nghiệp cá thể đã giúp nông dân Ba Lan giữ được tiếng nói của mình và đó cũng là đất sống cho giáo hội thiên chúa độc lập. Việc tổng giám mục Karol Wojtyla xứ Krakow được bầu làm giáo hoàng Johannes Paul II vào tháng 10.1978 cho thấy sức mạnh của giáo hội Ba Lan trong lòng nhà nước XHCN, sát biên giới Liên Xô.

Ở Hungary thì khác, 85% nông dân phải vào Hợp tác xã, nhưng ở đó vai trò của nông nghiệp được nhà nước coi trọng. Nhà nước đầu tư ồ ạt vào HTX giúp cho nông nghiệp Hungary phát triển rất tốt, xuất khẩu sang phương tây thu ngoại tệ. Cuộc sống ổn định khiến cho sự phản đối hợp tác hóa ở Hungary không hề gay gắt như ở Ba Lan.

Ở Ba Lan 100% giáo dân theo đạo thiên chúa (Catholic được coi là quốc đạo). Ở Hungary ngược lại có nhiều dòng đạo: Catholic, Evangelian, Lutherian. Do đó sự khống chế của nhà nước với các giáo hội này mạnh hơn nhiều. Vụ bắt giam và xử án Giáo chủ József Mindszenty năm 1948 là một ví dụ.

Cuộc nổi dậy 1956 (khởi xướng bởi những người cộng sản Hungarry dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Nagy Emre) đã thay đổi cách cư xử của nhà nước với các tôn giáo. Tổng bí thư đảng Công nhân XHCN Hungary Janos Kadar sau này đã đưa ra “Kádárismus“ và “Chung sống hòa bình” với nhiều thành phần trong xã hội. Từ 1964 Vatikan và Budapest đã nói chuyện với nhau.

Hè 1986, nhân đi công tác ở đài truyền hình Tiệp Khắc, tôi sang Hungary thăm anh Luat Nghiem Nguyen đang làm nghiên cứu sinh y khoa tại đại học Semelweis. Đã chứng kiến CNXH ở Đông Đức và Tiệp Khắc, hai nước phát triển nhất ở Đông Âu, khi sang đến Budapest, tôi nhận ra một không khí khác. Hàng hóa phương tây có mặt trong nhiều cửa hàng, tuy giá cao nhưng không bắt buộc phải mua bằng ngoại tệ mạnh trong các cửa hàng Intershop như Đông Đức. Từ các quảng cáo ngoài đường đến âm nhạc, tin tức trên đài đều có gì đó mới lạ với tôi. Đó có lẽ sự tác động của giòng ngoại tệ và văn hóa từ 10 triệu người Hung ở nước ngoài đổ vào cho 10 triệu người trong nước. Những kiều dân như George Soros đã gửi nhiều học bổng về nước. Năm 1971, chàng đảng viên Miklos Nemeth được học bổng tu nghiệp về kinh tế ở Harvard để rồi 1988, khi lên thủ tướng ông đã tận dụng hiểu biết và các mối quan hệ để tiến hành cải cách kinh tế.

Hồ Balaton của Hungary luôn là chỗ đến ưa thích của du khách từ Tây Đức cũng như Đông Đức. Không ít các cuộc hội ngộ gia đình hoặc giúp đỡ vượt biên từng xảy ra bên hồ này.

Những khác biệt trên đây so với các nước XHCN Đông Âu khác không chỉ phản ánh sự khai phóng trong xã hội, mà còn là cách nhìn nhận thực tế khách quan của các đảng cầm quyền ở hai nước này. Họ không thể mạnh tay hơn trước một cán cân lực lượng như vậy, nếu không muốn đổ bể.

Và chính các nền tảng xã hội, những dòng thông thương về tư tưởng và tài chính đó đã giúp đẩy mạnh thay đổi nhận thức trong các đảng cầm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1973 Ba-lan đã hợp tác với hãng Fiat để sản xuất xe ô-tô Fiat Polska. Không ở nước Đông Âu nào mà công dân mỗi năm được phép đi sang phương Tây ba lần thăm thân như ở Hungary. Từ đó người ta thấy rằng việc cả hai nước đi đầu trong việc chuyển đổi thể chế ở Đông Âu vào cuối năm 1989 là điều tất yếu. Cả người dân và các nhà lãnh đạo cộng sản ở đây đã nhìn ra sự cần thiết của cải cách, sự vô nghĩa của đàn áp, bạo lực để rồi cả hai bên ngồi vào những hội nghị bàn tròn, mở đầu cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Bức tường Berlin bị phá bỏ đêm 09.11.1989 chính là dưới tác động của các chuyển biến ở Ba Lan và Hungary.

Một yếu tố phải nói đến là tinh thần dân tộc. Nhân dân và lãnh đạo cả hai nước này đều muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của Liên Xô. Trong những biện pháp cứng rắn mà tướng Jaruzelsky áp dụng với công đoàn Đoàn kết của Lech Walesa có những toan tính làm sao đừng để Liên Xô đưa quân vào nước mình. Sau khi thay đổi chế độ, hai ông đã giãi bày với nhau.

Chủ nghĩa dân tộc luôn là con dao hai lưỡi. Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Hungary (đảng FIDESZ của Orban) và ở Ba Lan (đảng PIS của anh em nhà Kaczyński) đều biết tận dụng tâm lý dân tộc chủ nghĩa một cách khôn khéo để tấn công vào nền dân chủ. Khi đã kích động đa số dân chúng, họ thường áp đảo trong quốc hội và thay đổi hiến pháp, phá bỏ mọi nguyên tắc phân chia và kiểm soát quyền lực như chúng ta đã chứng kiến.

Vấn đề là lòng yêu nước có thể lúc nào đó bị lợi dụng, nhưng ý chí dân chủ, hàm lượng tri thức và văn hóa phản biện trong xã hội đã không cho phép ngu dân thành công. Kết quả của hai cuộc bầu cử ở loại bỏ đảng PIS ở Ba Lan và loại bỏ FIDESZ ở Hungary đều có nguồn gốc chung như vậy.

Việc Peter Magyar đạt hơn 2/3 số ghế quốc hội thể hiện ý chí của người dân, phải bằng mọi cách khôi phục lại hiến pháp dân chủ đã bị Orban làm méo mó. Rất nhiều người Hungary sống ở các nước EU đã quay về đăng ký bầu cử ở quê nhà.

Tất nhiên cả Ba Lan và Hungary đều sẽ còn trải qua nhiều khó khăn để bảo vệ được nền dân chủ. Mọi việc không hề đơn giản. Những người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc cực đoan không bao giờ chịu thua. Đã thế lại luôn có những kẻ từ bên ngoài như Le Pen, Putin, hay Trump hà hơi, cổ vũ.

Chẳng có gì tự nhiên đến cả, tự do lại càng không.

Nhưng tôi đã hiểu, không phải đương nhiên mà những binh sĩ người Ba Lan và Hungary lại có mặt ở Sài Gòn trước 30.04.1975.

_____

[1] Chương 3, Hồi ký “Xuyên qua mọi chiến tuyến” Tho-nx.github.io

[2] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Geneve 1954 (International Commission of Suppervising ICS) bao gồm Canada, Ấn Độ và Ba Lan

[3] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonesia. Sau này Iran thay Canada.


 

CÁI CHẾT ĐỘT NGỘT

Kim Ha

CN 8703: CÁI CHẾT ĐỘT NGỘT (1)

Sáng hôm nay, có hai người bạn báo tin cho tôi về cái chết của chị Maria Thoa. Tôi giật mình vì không ngờ chị Thoa đã qua đời. Tôi bèn lên mạng email báo tin cho mọi người trong Huynh Đoàn.

Thật sự không ai có thể ngờ được là chị Thoa ra đi nhanh chóng như thế. Tôi xin tổng hợp nguồn tin do 3 người kể lại:

Tối Thứ Năm 9/4 vừa qua, chị Thoa đi đến nhà thờ nghe cha Hy giảng phòng. Vì bãi đậu xe có quá nhiều xe nên cô bạn phải lái xe đi đậu xe xa hơn ngày thường. Sau đó, chị Thoa kể với một người bạn trong Huynh Đoàn vào ngày Thứ Sáu là vì chị phải đi bộ xa nên rất mệt. Thế rồi chị bịnh cả 3 ngày sau đó.

Tin cuối cùng là chị chết khoảng 11:30 g tối ngày Chúa Nhật Kính Lòng Chúa Thương Xót, ngày 12/4/2026. Văn phòng Pháp Y khám nghiệm tử thi của chị và theo dõi điện thoại cầm tay của chị. Họ khám phá ra rằng lúc 11:30 giờ khuya 12/4/2026 thì chị còn nghe một đài radio Công Giáo online.

Có thể chị đã chết vào lúc 11:30g đêm 12 tháng 4 năm 2026 vì bị máu nhồi cơ tim. Dù sao cũng chưa có tin tức chính xác.

Chị Thoa là người quảng đại trong việc tông đồ và bác ái. Chị cũng ở trong hội đoàn Legio Maria nên ai ai cũng thương mến chị. Chị luôn xướng kinh trong Zoom của Huynh Đoàn Đa Minh. Tính tình chị hiền hoà. Chị ngoan đạo và sốt sắng cầu nguyện.

Điều đặc biệt và hạnh phúc nhất là chị chết vào đúng ngày Đại Lễ Kính Lòng Chúa Thương Xót, sau khi chị được nhận lãnh Ơn Toàn Xá của Chúa Lòng Thương Xót ban cho.

“Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình,

bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ.” (Is 38, 12)

Giờ đây chắc chị đã gặp Chúa và Thánh Gia trên Thiên Đàng. Chị đã gặp lại chồng, cha mẹ và anh chị em trong gia đình.

Tôi nghĩ chị được ơn chết lành và chết nhanh chóng mà không phải nằm trên giường trong nhiều năm tháng.

Chị hạnh phúc vì được chết trong mùa Phục Sinh, trong ngày Đại Lễ Lòng Chúa Thương Xót.

Chị Thoa ơi, xin chị nghỉ yên bên Chúa! Xin chị cầu bầu cho gia đình của chúng em nhé! RIP.

Xin cả nhà đọc cảm nghiệm của chị mà tôi đã viết vào ngày 30/11/2021, cách đây 4 năm rưỡi. Đó là cảm nghiệm 5050 dưới đây:

Kim Hà,

13/4/2026

Hình: Kim Hà thăm chị Thoa Nguyễn trong bịnh viện


 

ĐỪNG KEO KIỆT VỚI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA – Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Rev. Ron Rolheiser, OMI 

Chẳng bao lâu sau khi chịu chức linh mục, trong lúc đi làm mục vụ thay tại một giáo xứ, tôi có dịp ở cùng một vị linh mục già đức độ.  Ngài đã ngoài tám mươi, mắt gần như mù lòa, nhưng lại là người được rất nhiều người tìm đến xin lời khuyên và kính trọng.  Một tối nọ, khi chỉ có hai người, tôi đã hỏi ngài một câu: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có thay đổi điều gì không?”

 Từ một con người đầy chính trực như ngài, tôi vốn đinh ninh rằng ngài sẽ chẳng có gì phải hối tiếc.  Vì vậy, câu trả lời của ngài làm tôi vô cùng ngạc nhiên.  Ngài bảo có, ngài có một nỗi hối tiếc rất lớn: “Nếu được làm lại đời linh mục, lần tới tôi sẽ bao dung với mọi người hơn.  Tôi sẽ không quá bủn xỉn với lòng thương xót của Chúa, với các bí tích và sự tha thứ.  Anh thấy đó, điều được nhồi nhét vào đầu tôi hồi ở chủng viện là câu: Sự thật sẽ giải phóng anh em.  Thế nên, tôi tin rằng trách nhiệm của mình là luôn đưa ra những thách đố khó khăn, và điều đó cũng có cái tốt.  Nhưng tôi e rằng mình đã quá khắt khe với mọi người.  Họ đã đủ đau khổ rồi, không cần tôi và Giáo hội phải chất thêm gánh nặng lên vai họ nữa.  Lẽ ra tôi nên dám mạo hiểm vào lòng thương xót của Chúa hơn nữa!”

 Điều này làm tôi sững sờ, vì chỉ chưa đầy một năm trước đó, khi tôi thi vấn đáp cuối kỳ ở chủng viện, một trong những linh mục giám khảo đã cảnh báo tôi thế này: “Hãy cẩn thận, đừng bao giờ để cảm xúc xen vào.  Đừng có mềm yếu, như vậy là sai.  Hãy nhớ rằng, dù có khắc nghiệt đến đâu, chính sự thật mới giải phóng con người!”  Đó dường như là một lời khuyên chí lý cho một linh mục trẻ. 

Thế nhưng, sau năm mươi năm thi hành tác vụ, tôi lại nghiêng về lời khuyên của vị linh mục già kia hơn: Chúng ta cần dám mạo hiểm hơn với lòng thương xót của Thiên Chúa.  Vị trí của công lý và sự thật không bao giờ được phép phớt lờ, nhưng chúng ta phải dám để cho lòng thương xót vô biên, không bờ bến, không điều kiện và không đòi hỏi công trạng của Chúa được tuôn trào tự do hơn.  Lòng thương xót của Chúa luôn sẵn có như một vòi nước gần nhất, và vì thế, giống như ngôn sứ Isaiah, chúng ta phải loan báo một lòng thương xót không hề dán nhãn giá: Đến đây, hãy đến mà không cần tiền bạc, không cần đức hạnh, hãy đến uống thỏa thuê lòng thương xót của Chúa! (Isaiah 55:1) 

Điều gì đang kìm hãm chúng ta?  Tại sao chúng ta lại ngần ngại khi loan báo lòng thương xót vô tận, hào phóng và không phân biệt của Ngài? 

Một phần động cơ của chúng ta là tốt, thậm chí là cao quý.  Sự quan tâm đến sự thật, công lý, tính chính thống, đạo đức chuẩn mực, hình thức công khai hay việc chuẩn bị bí tích kỹ lưỡng không phải là không quan trọng.  Tình yêu cần được định hướng bởi sự thật, cũng như sự thật phải được điều hòa bởi tình yêu. 

Nhưng đôi khi động cơ của chúng ta lại kém cao quý hơn, và sự ngần ngại đó nảy sinh từ sự rụt rè, sợ hãi, chủ nghĩa lề luật, sự tự mãn kiểu những người biệt phái, và một hiểu biết nghèo nàn về Thiên Chúa.  Thế là, chúng ta quyết không để bất kỳ một “ân sủng rẻ tiền” nào được ban phát dưới sự canh chừng của mình! 

Khi làm như vậy, tôi e rằng chúng ta đang đi lạc đường, chưa làm tròn vai trò của người mục tử nhân lành, và không cùng nhịp đập với Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã nhập thể để bày tỏ.  Lòng thương xót của Thiên Chúa, như Đức Giêsu mặc khải, ôm ấp tất cả không phân biệt ai, giống như ánh mặt trời chiếu soi đồng đều trên người tốt cũng như kẻ xấu, người xứng đáng cũng như kẻ không xứng đáng, người trong đạo cũng như kẻ ngoài đời.

 Một trong những thấu thị thực sự gây chấn động mà Đức Giêsu mang lại cho chúng ta là: lòng thương xót của Thiên Chúa không thể không đến với tất cả mọi người.  Nó luôn miễn phí, không do công trạng, không điều kiện, mang tính phổ quát, vượt lên trên mọi tôn giáo, phong tục, luật lệ, đảng phái chính trị, các chương trình bắt buộc, ý thức hệ, và thậm chí vượt lên trên cả chính tội lỗi.

 Về phần mình, đặc biệt là những người làm cha mẹ, những người làm mục vụ, thầy cô giáo, giáo lý viên và những người đi trước, chúng ta phải dám loan báo đặc tính hào phóng của lòng thương xót Chúa.  Chúng ta không được ban phát lòng thương xót của Chúa như thể nó là của riêng mình để ban ơn; không được phân phát sự tha thứ của Chúa như thể đó là một món hàng có hạn; không được đặt điều kiện cho tình yêu của Chúa như thể Chúa cần được bảo vệ; hay ngăn chặn con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng thiên đàng.  Chúng ta không phải là người giữ cổng.  Nếu chúng ta trói buộc lòng thương xót của Chúa vào sự rụt rè và sợ hãi của chính mình, chúng ta đang giới hạn nó trong tầm vóc nhỏ bé của tâm trí mình.  Đó là một sai lầm. 

Thật thú vị khi để ý trong các sách Tin Mừng rằng các tông đồ – dĩ nhiên là với ý tốt – thường cố gắng ngăn cản một số người đến gần Đức Giêsu vì cho rằng họ không xứng đáng, hoặc họ là sự xúc phạm đến sự thánh thiện của Ngài, hay bằng cách nào đó sẽ làm vấy bẩn sự thanh sạch của Ngài.  Thế là họ cố đuổi trẻ em, những người hành nghề mại dâm, những người thu thuế, những tội nhân khét tiếng và đủ mọi thành phần chưa được khai tâm đi.  Nhưng lần nào Đức Giêsu cũng bác bỏ những nỗ lực đó bằng những lời đại ý rằng: “Cứ để họ đến với Ta.  Ta muốn họ đến.” 

Mọi chuyện vẫn không thay đổi.  Theo năm tháng, chúng ta – những người đầy thiện chí – vì những lý do y hệt như các tông đồ, vẫn tiếp tục cố gắng giữ một số cá nhân và nhóm người tránh xa lòng thương xót của Chúa vốn luôn sẵn có trong Lời Chúa, Bí tích và Cộng đoàn.  Ngày xưa Đức Giêsu đã dàn xếp được mọi chuyện; tôi tin rằng ngày nay Ngài cũng làm được.  Thiên Chúa không cần chúng ta làm người gác cổng. 

Điều Thiên Chúa muốn là tất cả mọi người, bất kể tuổi tác, tôn giáo, văn hóa, sự yếu đuối cá nhân hay việc thiếu thực hành đạo đức, hãy đến với nguồn nước vô tận của lòng thương xót thần linh.

 Nhà tự nhiên học nổi tiếng John Muir từng thách thức các Kitô hữu bằng những lời này: Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại để các loài vật bước chân vào cái thiên đàng bủn xỉn của họ đến thế? 

Tôi e rằng, chúng ta cũng đang bủn xỉn với lòng thương xót hào phóng của Thiên Chúa như vậy. 

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim


 

Mỹ chuẩn bị xét hoàn thuế do tổng thống Trump áp đặt (RFI)

 (RFI)

Ngày 10/04/2026, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ (CBP) thông báo bắt đầu chấp nhận đơn đề nghị hoàn trả thuế kể từ ngày 20/04. Đây là giai đoạn 1 trong tiến trình hoàn trả thuế mà các nhà nhập khẩu Mỹ đã phải thanh toán theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) do chính quyền của tổng thống Trump áp đặt. Vào tháng 02/2026, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã phán quyết rằng Donald Trump không có thẩm quyền áp đặt thuế quan theo IEEPA.

Đăng ngày: 12/04/2026  

 Kiểm tra đồng đô la Mỹ tại một ngân hàng ở Hà Nội, Việt Nam. Ảnh chụp ngày 12/08/2015 REUTERS/Kham

Thu Hằng

Theo trang NHK của Nhật Bản, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ cho biết họ sẽ đơn giản hóa quy trình hoàn trả vì dự đoán sẽ tiếp nhận một số lượng lớn đơn. Trong giai đoạn 1, cơ quan này sẽ chỉ xử lý hồ sơ liên quan đến một số lô hàng chưa được thông quan và những lô hàng mới được thông quan trong vòng 80 ngày trở lại đây. “Các trường hợp [nhập khẩu] phức tạp hơn” sẽ được xử lý trong các giai đoạn sau.

Theo ước tính, đến ngày 04/03, khoảng 166 tỷ đô la tiền thuế nhập khẩu đã được chính quyền Trump thu theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA).

Vào tháng Hai, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã phán quyết rằng tổng thống Donald Trump không có thẩm quyền áp đặt thuế quan theo IEEPA. Một tháng sau, Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ đã ra lệnh cho chính quyền bồi hoàn cho các nhà nhập khẩu số tiền thuế quan này.

Để đáp trả phán quyết của Tòa án Tối cao, chính quyền đã áp thuế 10% trong 150 ngày đối với nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản, dựa trên một đạo luật riêng.


 

“Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; – Cha Vương

Hôm nay Lễ Chúa Chiên Lành và cũng là ngày cầu nguyện cho ơn gọi. Xin bạn hãy tiếp tục cầu nguyện cho các linh mục và nam nữ tu sĩ của Chúa nhé. Thành thật đa tạ!

Cha Vương

Thứ 2: 13/04/2026. (cn21-24)

TIN MỪNG: Khi đã cho chiên ra hết, anh [mục tử] ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. (Ga 10:4)

SUY NIỆM: Bạn không cần đi đâu xa, ngay trong môi trường sống của bạn bây giờ đang có những tiếng ồn ào náo nhiệt làm bạn mệt mỏi nhức cả đầu. Đúng là cuộc đời vốn luôn ồn ào náo nhiệt trong mọi nơi mọi lúc nếu bạn không biết tự chọn cho mình một nơi thanh vắng để lắng nghe tiếng Chúa. Điều đáng buồn cho con người trong thế giới hôm nay là dường như họ đang mất định hướng trong thế giới náo nhiệt. Họ rơi vào vòng xoáy của tiền tài, danh vọng nhưng rồi con người dường như không bao giờ hạnh phúc trong lợi thú khi họ vất vả tìm kiếm, và càng không có bình yên trong thế giới đầy bon chen tranh giành để sống. Vậy làm sao con người có thể thoát ra được thế giới ồn ào náo nhiệt này? Giải pháp hữu hiệu nhất là bạn phải dành một ít thời gian để lắng lòng, để nhận biết tiếng gọi Đức Giêsu, vị Mục Tử Nhân Lành. Khi bạn có Chúa là trung tâm của cuộc đời mình, bạn có thể nhìn thấy Chúa trong mọi sự. Một khi bạn nhìn thấy Chúa trong mọi sự rồi thì những tiếng động sẽ không làm bạn nhức cả đầu nữa.  Mình mời bạn hãy tặng cho chính mình mỗi ngày một vài phút cô tịch để đọc Lời Chúa nhé. Đọc Lời Chúa để nghe và nhận ra tiếng thì thầm của Thiên Chúa đang ngỏ lời với bạn: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta”(Ga 10,27-30)

LẮNG NGHE: Nghe thế, họ đau đớn trong lòng và hỏi ông Phê-rô cùng các Tông Đồ khác: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2:37)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, con người đang lạng lõng giữa muôn vàn âm thanh trong thế giới ồn ào, xin giúp con luôn chọn Chúa để được bước đi trong bình yên và hạnh phúc.

THỰC HÀNH: Thực hiện liệu pháp “2 Không” để sống bình an và hạnh phúc:

(1) Không để người khác cướp mất bình an của mình.

(2) Không để sự bình an của mình bị lệ thuộc vào cảm xúc, ồn ào, xôn xao, bàn tán, thì thầm của người khác.

From: Do Dzung

********************************

Chúa Chăn Nuôi Tôi – Nguyễn Hồng Ân

GIÓ – KHÔNG THỂ NẮM-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Gió muốn thổi đâu thì thổi!”.

“Thần Khí hành động nơi Ngài muốn, không theo điều con người định liệu!” – Tôma Aquinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến Thần Khí – tựa như gió – điều mà Nicôđêmô không thể hiểu, vì ông vẫn muốn nắm lấy điều không thể, ‘gió – không thể nắm’.

Nicôđêmô không phải là người thiếu kiến thức, nhưng là người đã biết quá rõ theo cách của mình. Khi nghe nói phải “sinh lại”, ông lập tức tìm một con đường có thể trở lại, một cách để quay về điểm khởi đầu: “Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?”. Nhưng điều Chúa Giêsu nói không thuộc về những gì con người có thể lặp lại, nhưng là một khởi đầu phải được đón nhận. Và ông dừng lại ở đó. Cũng có khi, nơi chính hành trình của mình, chúng ta không thiếu ánh sáng, nhưng vẫn dừng lại; vì điều được nói ra vượt khỏi những gì chúng ta có thể chạm tới. “Nếu bạn nghĩ mình đã hiểu, thì đó không phải là Thiên Chúa!” – Augustinô.

Chúa Giêsu không giải thích theo cách Nicôđêmô chờ đợi, nhưng mở ra một chiều kích khác: spiritus ubi vult spirat – gió muốn thổi đâu thì thổi. Thần Khí không đi theo lộ trình của con người, không khởi đi từ những gì con người có thể định liệu; Ngài đến và đi, vượt khỏi mọi dự tính. Vì thế, “sinh lại” không còn là một hành trình con người có thể quay lại hay lặp lại, nhưng là một biến cố xảy đến; không phải là điều có thể đạt được, nhưng là điều con người được dẫn vào. Chính ở đó, con người nhận ra một điều rất quen mà lại rất khó, đó là những thực tại không thể làm chủ; gió vẫn thổi, nhưng không ai giữ lại được – ‘gió, không thể nắm’.

Điều Nicôđêmô đón nhận trong cuộc gặp gỡ ấy không phải là một lời giải thích trọn vẹn, nhưng là một hướng mở ra: “Con Người sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”. Không phải một cái nhìn đứng ngoài, nhưng là bắt đầu đi vào mầu nhiệm; không phải cố hiểu cho xong, nhưng dám ở lại trước điều vượt quá mình, để trong đó sự sống mới được khai mở. Và rồi, khi đứng dưới thập giá, đón lấy thân xác Chúa Giêsu để mai táng, Nicôđêmô bước vào điều đã được nói ra từ trước: “sinh lại” không phải là quay về điểm khởi đầu, nhưng là đi qua thập giá; điều tưởng như kết thúc lại trở thành khởi đầu; sự sống được trao ban. Chính trong tử nạn của Đức Kitô, con người được sinh ra từ trên.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, “sinh lại” không còn là lời nói, nhưng là một thực tại. Ngài không chỉ nói về Thần Khí, nhưng trao Thần Khí và chính sự sống của Ngài; không chỉ được giương cao, nhưng đi đến tận cùng của trao hiến trên thập giá. Vì thế, được sinh ra từ trên không phải là đứng ngoài để hiểu, nhưng là được kéo vào chính chuyển động ấy: thông phần vào cuộc sinh nở của Đấng Cứu Chuộc, nơi tình yêu tự hiến đến tận cùng trở thành nguồn mạch của sự sống. “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin dạy con biết buông những hiểu biết của mình, để phó mình cho Thánh Thần tự do!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

**************************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần II Phục Sinh

Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 3,7b-15

7b Khi ấy, Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô rằng : “Các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên. 8 Gió muốn thổi đâu thì thổi ; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy.”

9 Ông Ni-cô-đê-mô hỏi Người : “Làm sao những chuyện ấy có thể xảy ra được ?” 10 Đức Giê-su đáp : “Ông là bậc thầy trong dân Ít-ra-en, mà lại không biết những chuyện ấy ! 11 Thật, tôi bảo thật ông : chúng tôi nói những điều chúng tôi biết, chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã thấy, nhưng các ông không nhận lời chứng của chúng tôi. 12 Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được ? 13 Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. 14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, 15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” 


 

Suy Niệm CHỨNG NHÂN CỦA ƠN TÁI SINH – Joseph Bach S.Nguyen

Joseph Bach S.Nguyen

TĐCV 4:23-41, Gioan 3:`-8

Ông bà anh chị em thân mến, thật là một niềm vui rất thiêng liêng cho chúng khi nhìn thấy cánh đồng loan báo Tin Mừng rộn nở- vì ngay trong lễ Vọng Phục Sinh vừa qua, toàn thể Giáo Hội tại Hoa Kỳ mà thôi, khoảng 43,000 dự tòng được ƠN TÁI SINH – riêng tại địa phận của chúng ta có 3,000 dự tòng trong đó có GX Lavang của chúng ta- tất cả trở thành con cái của một Cha Trên Trời qua Bí Tích Khai Tâm gồm Rửa Tội, Thánh Thể và Thêm Sức. Từ nay họ có chung một tên gọi mới là Kitô hữu vì đã được tái sinh bởi nước và Thánh Thần. TÁI SINH hay sinh ra lại một lần nữa – luôn là một đòi hỏi liên tục trong đời sống thiêng liêng của mỗi chúng ta. Chính vì thế, ở trong bài Tin Mừng vừa nghe – nhân cơ hội Nicôđimô đến tìm gặp Chúa ban đêm – để tìm hiểu về tình yêu Thiên Chúa và ơn cứu độ, Chúa Giêsu đã cho ông biết sự cần thiết của của ƠN TÁI SINH khi nói rằng: “không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa.” Vậy cùng nhau chúng ta suy niệm về ƠN TÁI SINH là gì và làm sao để sống CHỨNG NHÂN của ƠN TÁI SINH một khi đã nhận lãnh.

1.​ ƠN TÁI SINH

Trước hết ƠN TÁI SINH là gì. Đã gọi là ƠN tức là không do công trạng gì của chúng ta – nhưng do ân huệ của Chúa. Chúa khẳng định rõ ràng lắm với ông Nicodimô: “không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.” Còn TÁI SINH tức là sinh ra ra lại, nghĩa là từ bỏ lối suy nghĩ, lời nói và hành động của đời sống cũ, đời sống mà thánh Phaolô thường gọi là đời sống của xác thịt. Xác thịt có nghĩa sâu xa hơn nữa, đó là những gì chóng qua hay hữu hạn như lý trí của con người chúng ta. Xác thịt cũng chính là cái tôi ích kỷ, tự tôn tự đại – luôn đặt mình đtrước Chúa- cao hơn Chúa- và trên cả Chúa. Phải từ bỏ lối sống cũ vì như Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô “Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. Khi Chúa Giêsu giãi thích đến đây thì Nicôđêmô mới ngỡ rằng sinh ra một lần nữa không thể hiểu theo phương diện thể lý như ông nghĩ – vì làm sao trở vào bụng mẹ lại được nữa – nhưng là sinh ra lại – tức TÁI SINH trong đời sống tâm linh, đời sống của đức tin, đời sống không thuộc thể lý, đời sống ở trên cao thuộc thượng giới. Đó là một đời sống được THẦN KHÍ bao phủ, được THẦN KHÍ hướng dẫn. Thần Khí là Ơn Trên, vô hình – nhưng đầy sức mạnh. Ngài nói với Nicôđêmô về Thần Khí rằng: “Gió muốn thổi đâu thì thổi ; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy.”

Thưa ông bà anh chị em, Tin Mừng của thánh Gioan vừa nghe cho biết Nicôđimô đến gặp Chúa ban đêm. Thánh sử Gioan hay dùng hình ảnh biểu tượng để diễn tả ý nghĩa sâu xa của tâm linh. Ban đêm thường tượng trưng cho bóng tối – như khi thánh Gioan viết về Giuda rời bàn tiệc ly để phản bội Đức Giêsu lúc đó đã ban đêm, tức “trời đã tối.” Còn ở đây, gặp Chúa Giêsu vào ban đêm không thể cắt nghĩa vì ông là một thủ lãnh danh giá trong Hội Đồng Công Nghị (Sandrin) nên ông không muốn cho hội đồng biết nếu ông ông đi gặp Đức Giêsu ban ngày, Đấng mà các thủ lãnh trong hội đồng chóng đối triệt để. Ban đêm có nghĩa là tâm linh chưa được sáng tỏ, còn đi tìm, đi kiếm, còn khao khát Thiên Chúa và ơn cứu độ.

Sau khi hiểu được những lời Chúa Giêsu vừa giải thích, vừa bày tỏ, vừa ân cần mặc khải ơn tái sinh là do THẦN KHÍ, Nicôđimô đã rời bỏ ban đêm – lột bỏ lối suy nghĩ cũ của lý trí hạn hẹp – lột bỏ luôn lối sống cũ của một người Pharisiêu chỉ nương tựa vào hình thức của lề luật và khởi sự BƯỚC VÀO ÁNH SÁNG của niềm tin. Việc Nicôđêmô thực sự tìm đến gặp Đức Giêsu và đặt những câu hỏi với Người cho thấy rằng trong lòng ông đã nhen nhóm một tia ánh sáng đức tin, và ông khao khát được đào sâu đức tin ấy. Ông rõ ràng đã hy vọng rằng Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia, và ông đã tuyên xưng rằng Đức Giêsu là “một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến.”

2.​ CHỨNG NHÂN của ƠN TÁI SINH

Nicôđimô tìm kiếm Chúa, gặp gỡ Chúa, tin vào sự cần thiết phải TÁI SINH – nên ông quả là mẫu gương cho mọi thời đại, cho cả những Kitô hữu luôn ao ước tiếp tục tái sinh trong đời sống mới. Do đó, điều thứ hai để suy niệm: Nicôđimô là mẫu gương CHỨNG NHÂN của ƠN TÁI SINH ngay sau cuộc gặp gỡ có một không hai với Chúa Giêsu. Là thành viên của Thượng Hội Đồng Công Nghị muốn giết Đức Giêsu, Nicôđimô dám phản đối quyết định ấy. Ông nói trước Hội Đồng: “Lề luật của chúng ta có cho phép kết án ai trước khi nghe người ấy và biết người ấy làm gì không?”. Ông yêu cầu Hội Đồng cần phải lắng nghe Đức Giêsu trước khi kết án Người. Ông đã được Tái Sinh, đã tin vào Đức Kitô nên Ông đã công khai đi ngược lại với sự đối xử bất công của Hội Đồng Công Nghị với Chúa Giêsu, -không sợ mất danh dự của một thủ lãnh sáng giá trong Hội Đồng, dám BƯỚC VÀO ÁNH SÁNG qua việc làm CHỨNG NHÂN của ƠN TÁI SINH. Chưa hết đâu, Ông quả là CHỨNG NHÂN của ƠN TÁI SINH – có thể nói là trọn vẹn khi đứng trước cái chết của Chúa Giêsu – vì đối với ông quả thực Đức Giêsu là một vị thiên sư được Thiên Chúa sai đến. Cả bốn sách Tin mừng đều cho biết: lúc táng xác Ðức Giêsu, Nicôđêmô đến để tẩm liệm thi hài Ðức Giêsu một cách sang trọng như người ta tẩm liệm một vị vua “Ông mang theo chừng một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương. Rồi ông và ông Giôsếp lãnh thi hài Ðức Giêsu, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do thái” Thử hỏi rằng có mấy môn đệ tuy theo Chúa trong nhiều năm đã dám đối diện với những người chóng đối Chúa – đối diện với những thủ lãnh tôn giáo Do Thái trong khi Ngài đang rao truyền Tin Mừng không – hay vì sợ nên đi đâu cả rồi mà không tẩm liệm Chúa Giêsu là Thầy của mình. Tẩm liệm kẻ chết là một mối đức thiêng liêng mà! Có chăng là sau khi Thánh Thần Hiện Xuống, họ mới mạnh dạn ra đi khắp nơi làm chứng nhân của ơn TÁI SINH như sách Tông Đồ Công Vụ tường thuật cho chúng ta trong các thánh lễ suốt Mùa Phục Sinh, hay như trong bài đọc một hôm nay, sau khi họ họp nhau cầu nguyện xong, thì nơi họ họp nhau rung chuyển ; ai nấy đều được tràn đầy Thánh hần và bắt đầu mạnh dạn nói Lời Thiên Chúa.

Ông bà anh chị em thân mến, Chúa không chỉ đề nghị Nicôđimô cần phải sinh ra trong một đời sống mới, cần TÁI SINH trong đời sống thiêng liêng / nhưng còn kêu gọi tất cả chúng ta nữa – hãy liên tục từ bỏ đời sống cũ hầu có thể trở nên CHỨNG NHÂN của ƠN TÁI SINH trong môi trường mình sống: gia đình, cộng đoàn, nơi làm việc, xã hội. Không dễ đâu khi phải đi ngược với ham muống chóng qua kể cả những bất công, hận thù, ghen ghét, thách thức, bạo lực đầy dẫy chung quanh. Nhưng nếu thực sự đã xác tín vào ƠN TÁI SINH minh đã nhận lãnh bởi nước và Thần Khí và đã được gọi là Kitô hữu, là con cái của một Cha trên trời – chúng ta cần sống đời CHỨNG NHÂN của ƠN TÁI SINH, vì ƠN TÁI SINH là cánh cửa dẫn chúng ta vào NƯỚC THIÊN CHÚA.

Joseph Bach S.Nguyen


 

Kính Lòng Chúa Thương Xót – Cha Vuong

Hôm nay Giáo Hội hoàn vũ mừng Kính Lòng Chúa Thương Xót, ước mong bạn hãy yêu thương như Chúa yêu thương bạn vậy nhé. Nhớ nhau trong cầu nguyện  và thế giới nhé.

CN: 12/04/2026.  (n24-22)

TIN MỪNG: Hồi ấy, nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân, nhờ bàn tay các Tông Đồ… Nhiều người từ các thành chung quanh Giê-ru-sa-lem cũng lũ lượt kéo đến, đem theo những kẻ ốm đau cùng những người bị thần ô uế ám, và tất cả đều được chữa lành. (Cv 5:12a,16)

SUY NIỆM: Sứ vụ của các Tông đồ sau biến cố Phục Sinh là minh chứng cho Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Lòng Thương Xót mạnh hơn sự chết và tội lỗi của con người. Câu chuyện sau đây có thể giúp bạn hiểu được giá trị cao cả của hành động lòng Chúa xót thương:

   Một buổi sáng sớm, có một ông lão bước đi trên bãi biển. Ông cúi mình xuống, nhặt những con sao biển và ném chúng trở về với lòng đại dương. Một thanh niên đi ngang qua và hỏi ông: “Này lão, lão đang làm gì đấy? ”.

   Ông lão liền nói: “Những con sao biển này sẽ chết vì thiếu nước khi mặt Trời lên cao. Vì thế, ta ném chúng xuống biển để chúng có thể sống được”.

   “Ha”! Chàng trai trẻ liền thốt ra những lời mỉa mai: “Có hàng triệu con sao biển trên bờ biển dài hàng dặm  này thì việc làm của lão có ý nghĩa gì chứ”.

   Ông lão nhìn con sao biển trên tay mình và sau đó  ném nó trở về an toàn bên những con sóng. Ông liền nói: “Nó có ý nghĩa đối với sinh vật này”.

   Điều gì bạn làm cho những người khác mới thực sự tạo ra sự khác biệt? Đó chính là những hành động của lòng xót thương. Vậy, bạn có phải là con người của lòng thương xót không? Có bao giờ bạn biện minh cho việc không thực thi lòng thương xót bằng câu nói “phớt đi” rằng: “Tôi không thể giúp đỡ tất cả mọi người”? Thiên Chúa đã đặt để bên cạnh bạn những con người mà bạn có thể giúp đỡ. Bạn có nhìn thấy những con người ấy chăng? Bạn có đồng cảm với nỗi đau khổ của họ? Bạn sẽ làm bất cứ điều gì có thể để giúp đỡ họ? Những người cho đi lòng thương xót cũng sẽ nhận lại được nó… từ Thiên Chúa.

LẮNG NGHE: Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, / muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (Tv 117:1)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa giàu lòng xót thương, xin cho con có được một tầm nhìn nhạy bén đối với các dấu chỉ, để trong mọi hoàn cảnh cuộc sống, giữa dòng đời hôm nay và bên những người cùng sống với con, con có thể nhận ra được dấu chỉ của lòng thương xót Chúa. Xin dạy con biết cách yêu thương như Chúa. Yêu thương không chỉ là trao cho nhau những nụ cười xã giao, cũng không phải nắm lấy tay nhau để chào hỏi những câu dư thừa, hay chúc bình an cho nhau mà trong lòng vẫn còn tức tối. Nhưng yêu thương là phải thật lòng tha thứ và tận tâm giúp đỡ nhau.

THỰC HÀNH: Hôm nay bạn hãy chọn tha thứ/giúp đỡ thay vì chờ để được thứ tha/giúp đỡ.

From: Do Dzung

*****************************

Chúa Vẫn Xót Thương Con – Nguyễn Hồng Ân | St: An Mai Đỗ 

Đàm phán về hòa bình Trung Đông : Hai phái đoàn Mỹ và Iran rời Pakistan mà không đạt thỏa thuận

1) Đàm phán về hòa bình Trung Đông : Hai phái đoàn Mỹ và Iran rời Pakistan mà không đạt thỏa thuận

Hôm nay, 12/04/2026, hai đoàn Mỹ và Iran đã rời Islamabad mà không đạt thoả thuận chấm dứt xung đột, sau gần một ngày đàm phán, cuộc đàm phán cấp cao nhất giữa 2 nước kể từ Cách mạng Hồi giáo Iran năm 1979. 

RFI

2)Bầu cử Quốc Hội Hungary: Chấm dứt ‘‘chế độ’’ Orban hay một nhiệm kỳ thứ 5 ?

Cử tri Hungary bỏ phiếu bầu Quốc Hội mới hôm nay 12/04/2026. Theo giới quan sát, đây là cuộc bầu cử có thể cho phép chấm dứt thời kỳ « cai trị » kéo dài 16 năm của thủ tướng Orban và đảng Fidesz. Các phòng phiếu mở cửa từ 6 giờ sáng hôm nay, giờ địa phương.  

RFI