Khi người ta tìm thấy anh, hai mươi ba ngày sau đó, anh không hề đơn độc.

Những Câu Chuyện Thú VịChi Nguyen

May be an image of dog and arctic

Năm 2013, tại vùng Patagonia của Argentina, Bernardo Leónidas Quirós đã mất tích sau khi chiếc xe của anh bị hỏng giữa một khu vực hoang vu, xa đường sá và nơi trú ẩn. Đi cùng anh là chú chó chăn cừu Đức tên Talero. Theo những bằng chứng thu thập được gần đây nhất,Bernardo đã rời xe và đi bộ với hy vọng tìm được sự trợ giúp.

Rồi cơn bão tuyết ập đến.

Cái lạnh ở Patagonia không cho phép bất kỳ sai lầm nào. Khoảng cách trở nên vô tận, phương hướng biến mất, và cơ thể con người dần khuất phục. Bernardo đã không sống sót và chết vì hạ thân nhiệt, một mình giữa vùng đất lạnh lẽo không chút khoan dung.

Khi đội cứu hộ cuối cùng cũng tìm được thi thể, cảnh tượng trước mắt khiến họ lặng người. Talero vẫn ở đó. Nó không rời đi. Suốt nhiều tuần liền, nó canh giữ bên chủ của mình, ngày lẫn đêm.

Những người cứu hộ nói rằng chú chó đã xua đuổi thú hoang và có lẽ đã cố giữ ấm cho Bernardo bằng cách ép sát thân mình vào anh. Không còn gì có thể làm cho người đàn ông ấy nữa, nhưng con chó thì không bỏ đi. Nó không hiểu về cái kết. Nó chỉ tiếp tục làm điều mà nó biết làm: ở lại.

Talero được tìm thấy còn sống — kiệt sức, suy yếu, nhưng vẫn ở đúng chỗ của mình.

Câu chuyện này không nói về một sự anh hùng ngoạn mục. Nó nói về một lòng trung thành không cần lời giải thích, không biết đến sự bỏ rơi, không phân biệt giữa hy vọng và tuyệt vọng. Trong một thế giới nơi con người thường rời đi khi mọi thứ trở nên khó khăn, hình ảnh một con chó ở bên cạnh một thi thể giữa giá lạnh băng tuyết nhắc chúng ta rằng:

đôi khi, hình thức thuần khiết nhất của tình yêu chỉ đơn giản là không quay lưng bỏ đi.

TG Văn Chương

ST.


 

THÁNH THIỆN VÔ TRÙNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta!”.

“Khi đôi môi cử hành lễ nghi mà nội tâm vẫn khép kín, đó không phải là thờ phượng – đó là đóng kịch!” – Romano Guardini.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không công kích lễ nghi, nhưng chạm vào những trái tim cử hành lễ nghi mà nội tâm vẫn khép kín, những trái tim ‘thánh thiện vô trùng!’.

Như các biệt phái, chúng ta có thể rất đúng luật, chỉn chu, chuẩn mực; chúng ta rửa tay trước khi ăn, giữ chay đúng ngày, đọc kinh đủ giờ, tham dự phụng vụ đều đặn. Tất cả đều tốt. Chúa Giêsu không phủ nhận truyền thống; Ngài chỉ lật ngược vấn đề: điều gì đang diễn ra bên trong? Có khi môi miệng chúng ta mấp máy thành thạo, nhưng lòng lại không hề rung động; đứng trong đền thờ, mà đôi khi, trái tim thì đứng ngoài. Và thế là, thay vì để Thiên Chúa thanh tẩy mình, chúng ta lại dùng nghi lễ để che chắn mình. Một đời sống đạo như thế dễ trượt vào ‘thánh thiện vô trùng’. “Không cần nhiều lời, chỉ cần để nội tâm thưa ‘xin vâng’ trong từng lời kinh, từng cử chỉ – và bạn sẽ được biến đổi!” – Fulton Sheen.

Vì thế, vấn đề không phải là bỏ nghi lễ, nhưng là để nghi lễ dẫn chúng ta vào tương quan sống động với Thiên Chúa. “Phụng vụ không phải là điều chúng ta làm ra, nhưng là điều chúng ta bước vào!” – Henri de Lubac. Nếu phụng vụ là nơi chúng ta bước vào mầu nhiệm tự hiến của Chúa Kitô, thì chúng ta càng không thể bước vào mà lòng vẫn khép kín. Nếu Thánh Lễ là nơi Ngài trao mình, thì chúng ta không thể chỉ trao môi miệng.

“Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta!”. Xa không phải vì thiếu hình thức, nhưng vì thiếu tình yêu; xa vì chúng ta muốn một thứ đạo đức không làm mình đau, một sự công chính không đòi mình đổi thay. Nhưng theo Chúa Kitô là để mình bị uốn nắn, bị lột bỏ, bị thanh luyện. Đó không phải là sự ‘thánh thiện vô trùng’, mà là sự thánh thiện biết yêu đến mức chấp nhận bị thương.

Anh Chị em,

Đức Kitô không dựng hàng rào quanh sự thánh thiện của mình. Ngài chạm vào người phong hủi để làm họ được sạch; để một phụ nữ tội lỗi chạm vào chân mình hầu cô được tha. Chung bàn với hạng thu thuế, Ngài không kết án nhưng để cứu linh hồn họ. Và cuối cùng, Ngài chết trần trụi giữa máu và bụi, giữa tiếng chế nhạo và mùi tử khí. Sự thánh thiện của Ngài không ‘vô trùng’; đó là sự thánh thiện dám bị thương tích, dám mang lấy vết nhơ để trao lại cho chúng ta sự sống. Hôm nay, Chúa Giêsu không mời chúng ta bớt đạo đức; Ngài mời chúng ta đạo đức thật. Không chỉ tôn kính bằng môi miệng, nhưng bằng trái tim; không chỉ giữ luật, nhưng để luật dẫn đến yêu thương. Chỉ khi ấy, việc thờ phượng của chúng ta mới thôi là trình diễn, và trở thành gặp gỡ. “Mọi nghi thức chỉ là vỏ bên ngoài nếu không có lửa từ bên trong!” – Romano Guardini.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con núp sau một đức tin sạch sẽ, cho con dám để Chúa chạm vào vết thương sâu kín nhất; xin thanh tẩy con bằng tình yêu đã đổ máu của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 *******************************

Lời Chúa Thứ Ba, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn

Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 7,1-13

1 Khi ấy, có những người Pha-ri-sêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giê-su. Họ là những người từ Giê-ru-sa-lem đến. 2 Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa. 3 Thật vậy, người Pha-ri-sêu cũng như mọi người Do-thái đều nắm giữ truyền thống của tiền nhân : họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận ; 4 thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn ; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng. 5 Vậy, người Pha-ri-sêu và kinh sư hỏi Đức Giê-su : “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa ?” 6 Người trả lời họ: “Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng :

Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng,
còn lòng chúng thì lại xa Ta.
7Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích,
vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.

8 Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.” 9 Người còn nói : “Các ông thật khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa, để nắm giữ truyền thống của các ông. 10 Quả thế, ông Mô-sê đã dạy rằng : ‘Ngươi hãy thờ cha kính mẹ’ và ‘kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử !’ 11 Còn các ông, các ông lại bảo : ‘Người nào nói với cha với mẹ rằng : những gì con có để giúp cha mẹ đều là ‘co-ban’ nghĩa là lễ phẩm đã dâng cho Chúa’ rồi, 12 và các ông không để cho người ấy làm gì để giúp cha mẹ nữa. 13 Thế là các ông lấy truyền thống các ông đã truyền lại cho nhau mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa. Các ông còn làm nhiều điều khác giống như vậy nữa !”


 

Ơn thánh Chúa và tự do của ta liên quan thế nào?- Cha Vương

Trận Super Bowl 2026 thật ấn tượng! Xin cho người thắng đừng quá hống hách và người thua đừng quá tự ti. Một ngày bình yên trong Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 9/2/2026. (10-25)

GIÁO LÝ: Ơn thánh Chúa và tự do của ta liên quan thế nào? Ơn thánh Chúa luôn tôn trọng tự do của con người, nó khơi gợi và mời gọi con người đáp lại hoàn toàn tự do. Ơn thánh không ép buộc, tình yêu Chúa muốn con người tự ý chấp nhận. (YouCat, số 340)

SUY NIỆM: Ta luôn có thể từ chối ân sủng. Ân sủng không phải cái gì ở bên ngoài, xa lạ với con người, thật sự ân sủng là điều mà tự do của con người khao khát rất sâu xa. Ân sủng chạm đến trong ta là để Thiên Chúa đi trước và ta tự ý đáp lại. (YouCat, số  340 t.t.)

❦  Đức Maria nói: Đây tôi là tôi tá Chúa, tôi “xin vâng” như lời thiên thần dạy. (Lc 1,38)

❦  Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. (Rm 3,23-24)

❦  Thánh thiện không phải là chuyện xa xỉ cho một số người, nhưng đơn giản là bổn phận của bạn và của tôi. (Mẹ Têrêsa Calcutta)

LẮNG NGHE: Anh em đã được gọi để hưởng tự do, có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. (Gl 5:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, tự do là món quà cao quý và lớn lao nhất mà Chúa ban cho con nhưng nó cũng là điều khủng khiếp nhất nếu con dùng nó để thỏa mãn cái tôi ích kỷ, thỏa mãn đam mê nhục dục thấp hèn, xin cho con luôn biết cộng tác với ơn Chúa để những việc làm trong ngày hôm nay sinh nhiều hoa trái.

THỰC HÀNH: Thánh Tôma Aquinô nói tự do là “khả năng của ý chí con người, nhờ đó con người có thể điều hướng những hoạt động của mình đến cùng đích”. Cùng đích ở đây là sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc trong Chúa. Mời bạn hãy xét mình coi mình có sử dụng món quà tự do đúng với ý định của Chúa không nhé. Hãy làm một thay đổi để sống tốt đẹp hơn. 

From: Do Dzung

*********************

Bao La Tình Chúa – Sáng tác: Giang Ân – Thể hiện: Kiều Oanh Nguyễn

Bà ấy giặt quần áo thuê với giá rẻ mạt trong 75 năm…

Tony Nguyễn

“Bà ấy giặt quần áo thuê với giá rẻ mạt trong 75 năm. Rồi bà ấy bước vào ngân hàng và tặng đi 150,000 đô la.”

No photo description available.

Nếu bạn thấy Oseola McCarty đi bộ qua Hattiesburg, Mississippi, bạn sẽ thấy những gì mọi người khác đều thấy: một người phụ nữ da đen nhỏ bé, lớn tuổi, đi đôi giày cũ và mặc chiếc váy đơn giản, đẩy chiếc xe đẩy hàng về ngôi nhà gỗ không sơn của mình. Bạn sẽ không bao giờ đoán được khối tài sản mà bà ấy đang sở hữu – hoặc sự hy sinh mà bà ấy sắp thực hiện.

Tuổi thơ của Oseola kết thúc năm mười một tuổi. Đó là những năm 1920 ở miền Nam nước Mỹ, và dì của bà bị ốm nặng. Ai đó phải chăm sóc bà ấy. Việc học của bà dừng lại ở lớp sáu. Giấc mơ trở thành y tá của bà tan biến trước khi kịp bén rễ.

Điều không dừng lại là công việc.

Trong bảy mươi lăm năm tiếp theo, Oseola chỉ làm một việc: giặt quần áo cho người khác. Không phải ở tiệm giặt là. Mà là ở sân sau nhà, cúi người trên tấm ván giặt, nhúng tay trần vào nước sôi. Áo sơ mi. Váy. Ga trải giường. Bà ấy tính tiền vài xu mỗi món. Từ lúc mặt trời mọc cho đến khi ánh sáng tắt dần. Mỗi ngày.

Các sinh viên đại học đi ngang qua cửa sổ nhà bà trên đường đến Đại học Southern Mississippi, sách vở kẹp dưới cánh tay, tương lai rộng mở. Bà nhìn họ qua khung cửa kính và tự hỏi cảm giác ngồi trong lớp học là như thế nào. Lật từng trang sách và hiểu những con chữ. Bước lên sân khấu với mũ và áo tốt nghiệp.

Nhưng Oseola không bao giờ than phiền. Bà làm việc. Và bà tiết kiệm.

Không có ô tô. Không có tivi màu. Không có kỳ nghỉ. Bà chưa bao giờ đi máy bay hay ngủ ở khách sạn. Bà sống một cuộc sống giản dị đến kinh ngạc, bỏ từng đồng xu tiết kiệm vào các tài khoản tiết kiệm rải rác ở các ngân hàng địa phương. “Tôi không tiêu tiền,” bà nói một cách thẳng thắn. “Tôi tiết kiệm.”

Năm 1995, ở tuổi tám mươi bảy, bàn tay của Oseola bị biến dạng do viêm khớp. Hàng chục năm giặt giũ trong nước nóng đã phá hủy các khớp xương của bà. Bà không thể làm việc được nữa. Thời gian của bà không còn nhiều.

Bà bước vào ngân hàng và hỏi một câu hỏi đơn giản: “Tôi có bao nhiêu tiền?”

Khi nhân viên ngân hàng tổng kết các tài khoản của bà, con số khiến cả hai người đều kinh ngạc: 280,000 đô la.

Oseola có thể đã mua được ngôi nhà mơ ước của mình. Bà ấy lẽ ra có thể đi khắp thế giới. Bà ấy lẽ ra có thể sống những năm cuối đời trong sự thoải mái mà bà chưa từng được biết đến.

Thay vào đó, bà nghĩ về những sinh viên đại học đó. Những người có ánh mắt tràn đầy hy vọng. Nền giáo dục đã bị tước đoạt khỏi bà. Những cơ hội mà bà đã bị từ chối chỉ vì bà nghèo và là người da đen ở miền Nam nước Mỹ thời kỳ Jim Crow.

Bà đã đưa ra quyết định với sự rõ ràng tuyệt đối. Bà dành một phần nhỏ cho nhà thờ của mình. Bà chỉ giữ lại đủ để trang trải các hóa đơn. Sau đó, bà quyên góp 150,000 đô la cho Đại học Southern Mississippi—một trường đại học thậm chí còn không cho phép sinh viên da đen nhập học cho đến những năm 1960—để tạo ra học bổng cho sinh viên người Mỹ gốc Phi không đủ khả năng chi trả học phí đại học.

Khi các phóng viên hỏi lý do, bà trả lời với sự giản dị đầy xúc động: “Tôi muốn các con có được nền giáo dục mà tôi không có. Tôi muốn chúng có cơ hội.”

Cả thế giới dừng lại.

Người phụ nữ nhỏ bé này, người đã sống trong sự vô danh gần chín mươi năm, bỗng trở thành biểu tượng quốc gia chỉ sau một đêm. Tổng thống Clinton đã mời bà đến Nhà Trắng và trao tặng bà Huân chương Công dân Tổng thống. Bà đã cầm ngọn đuốc Olympic. Đại học Harvard đã trao cho bà bằng tiến sĩ danh dự. Người phụ nữ bỏ học từ lớp sáu đã trở thành Tiến sĩ Oseola McCarty.

Nhưng không gì sánh được với ngày bà gặp Stephanie Bullock—một sinh viên xuất sắc mười tám tuổi. Người nhận học bổng Oseola McCarty đầu tiên.

Stephanie ôm chầm lấy người phụ nữ yếu ớt và khóc. “Cảm ơn bà vì đã thay đổi cuộc đời cháu.”

Oseola mỉm cười, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt khắc khổ của bà. “Tôi chỉ vui vì mình đã làm được điều gì đó. Tôi không muốn chết mà không để lại gì cho ai cả.”

Oseola McCarty qua đời vào ngày 26 tháng 9 năm 1999, ở tuổi chín mươi mốt. Nhưng bà không để lại gì cho ai cả.

Bà đã để lại tất cả.

Quỹ học bổng của bà hiện đã tăng lên hơn 1 triệu đô la. Mỗi năm, những người trẻ tuổi—nhiều người trong số họ là sinh viên da đen từ các gia đình nghèo ở Mississippi—bước lên bục nhận bằng tốt nghiệp với mũ và áo choàng. Họ cầm bằng cấp. Họ bước vào tương lai được tạo nên nhờ một người phụ nữ đã dành bảy mươi lăm năm cúi mình bên nồi nước sôi, tiết kiệm từng đồng xu, mơ ước về một cơ hội mà bà sẽ không bao giờ có được nhưng người khác sẽ có.

Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã quyên góp thêm tiền. Những người lạ từ khắp nước Mỹ đã gửi tiền quyên góp. Sự hy sinh của một người phụ nữ làm nghề giặt giũ đã khơi nguồn cho một phong trào hào phóng vẫn tiếp diễn hai mươi sáu năm sau khi bà qua đời.

Bà đã chứng minh rằng sự giàu có thực sự không phải là những gì bạn tích lũy được – mà là những gì bạn sẵn sàng cho đi. Một cuộc đời, sống có mục đích và sự hy sinh, có thể vang vọng qua nhiều thế hệ. Điều mạnh mẽ nhất bạn có thể làm là trao cho người khác cơ hội mà bạn chưa từng có.

Người phụ nữ giặt giũ đến từ Hattiesburg chưa từng học đại số, điều dưỡng hay văn học. Nhưng bà đã dạy cho thế giới bài học quan trọng nhất: rằng sự hy sinh thầm lặng, không được chú ý và không được đền đáp, có thể thay đổi cuộc sống của hàng nghìn người. Rằng bạn không cần phải giàu có mới có thể hào phóng. Rằng tình yêu không được đo bằng những gì bạn giữ lại, mà bằng những gì bạn từ bỏ để người khác có thể vươn lên.

https://en.wikipedia.org/wiki/Oseola_McCarty


 

THỜI LÁO – (Bs. Đỗ Hồng Ngọc)

Việt Nam Defence

(Bs. Đỗ Hồng Ngọc)

No photo description available.

Chúng ta đang ở thời đại nói láo toàn tập!…

Toàn Láo Cả!

Không biết lịch sử ghi lại các triều đại phong kiến đúng sai như thế nào, cũng chẳng có cách nào để kiểm chứng. Thế nhưng, thời đại ta đang sống hoá ra toàn láo cả. Rồi lịch sử thời hiện đại sẽ viết sao đây?

Thằng doanh nhân bán đồ giả làm giàu, cứ tưởng nó giỏi, hoá ra chẳng phải thế. Nó chỉ là kẻ “Treo dê bán chó”, mua 30.000 bán 600.000 không giàu sao được, thế rồi lúc giàu lên, hàng ngày lên mạng truyền thông dạy đạo đức, dạy bí quyết, dạy cách cư xử.

Kẻ thì đem hoá chất trộn vào thức uống, khiến người ta nghiện chất độc, tạo thành thói quen nguy hiểm cho người dùng. Thế rồi khi có nhiều tiền, anh ta in sách dạy người ta tư duy, dạy cho tuổi trẻ cách sống. Nuôi đội ngũ nhà văn nhà báo tung hô mình như thánh sống, tuyên bố như đấng khải đạo.

Một ông chuyên làm thép, nghĩ toàn chuyện xây dựng những công trình có hại cho dân, nhưng lúc nào cũng mặc áo lam, đeo tràng hạt, nói toàn chuyện Phật pháp.

Một tập đoàn làm nước mắm giả, toàn hoá chất, bỏ biết bao tiền để quảng cáo lừa dân, bỏ tiền đầy túi. Một tập đoàn khác mua hoá chất quá hạn để sản xuất nước uống, lừa những kẻ phát hiện sai sót của sản phẩm mình để đưa họ vào tù, lại chuyên nói lời có cánh….. Kẻ buôn gian bán lận lại dạy cho xã hội đạo đức làm người.

Thời đại đảo lộn tất! Hài thế, mà vẫn không thiếu kẻ tôn sùng, xem các ông ấy như tấm gương sáng để noi theo. Khi vỡ lở ra, chúng toàn là kẻ nói láo.. Tất cả đều chỉ tìm cách lừa đảo nhau.

Toàn xã hội rặt kẻ nói láo, ca sĩ nói láo theo kiểu ca sĩ, đạo diễn nói láo theo kiểu đạo diễn, diễn viên nói láo theo kiểu diễn viên. Ừ thì họ làm nghề diễn, chuyên diễn nên láo quen thành nếp, lúc nào cũng láo. Thế nhưng có những kẻ chẳng làm nghề diễn vẫn luôn mồm nói láo.

Thi gì cũng láo, từ chuyện thi hát đến thi hoa hậu, chỉ là một sắp đặt láo cả… Ngay chuyện từ thiện cũng rặt chi tiết láo để mua nước mắt mọi người. Cứ có chuyện là loanh quanh láo khoét. Kẻ buôn lớn láo, kẻ bán hàng rong ở bên đường cũng lừa đảo, láo liên tục. Mỗi ngày mở truyền hình toàn nghe nói láo từ tin tức cho đến quảng cáo, rặt láo. Nhưng cả nước đều hàng ngày nghe láo mà chẳng phản ứng gì lại cứ dán mắt mà xem.

Thằng đi buôn nói láo đã đành, vì họ lừa lọc để kiếm lời. Thế mà cô hiệu trưởng nhà trẻ, anh hiệu trưởng trường cấp ba, ông hiệu trưởng trường đại học cũng chuyên nói láo. Thực phẩm cho các cháu có giòi, cô hiệu trưởng chối quanh… Các cháu học sinh đánh nhau như du côn, làm tình với nhau trong nhà trường, anh hiệu trưởng bảo là không phải, tảng bê tông rớt chết sinh viên, ông hiệu trưởng bảo là tự tử. Thế rồi tất cả đều chìm, đều im im ỉm. Người ta đồn tiền hàng đống đã lót tay bộ phận chức năng để rồi để lâu cứt trâu hoá bùn.

Mấy ngài lãnh đạo lại càng nói láo tợn Chỉ kể vài chuyện gần đây thôi, chứ kể mấy sếp nhà ta phát biểu láo thì thành truyện dài nhiều tập. Từ chuyện quốc gia đại sự cho đến chuyện hưng vong của tổ quốc, toàn chuyện quan trọng đến vận mệnh quốc gia thế nhưng dân toàn nghe láo. Kẻ thù mang tham vọng, âm mưu để biến nước ta thành chư hầu, chuyện này rõ như ban ngày, ai cũng thấy, ai cũng hiểu, thế mà các quan toàn nói tào lao, láo lếu.

Đến chuyện Formosa, khi biển nhiễm độc, cá chết, các quan bày lắm trò láo để mị dân, lấp liếm tội ác của thủ phạm, tuyên bố, họp báo, trình diễn ăn hải sản, ở trần tắm biển…tất cả đều rặt láo.

Đến chuyện BOT với các trạm đặt không đúng chỗ cho đến mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất, các quan ở Bộ Giao thông lại được dịp nói láo, tuyên bố rùm beng để bênh vực những tập đoàn và cá nhân vi phạm.

Khi vụ thuốc giả của VN Pharma nổ ra, cả một hệ thống truyền thông của Bộ Y tế kể cả các quan chức cấp bộ đều tuyên bố láo, tìm mọi cách che dấu tội ác của những tên buôn thuốc giả.

Rừng Sơn Trà quý hiếm, các ông vì tư lợi cá nhân, ra lệnh xây cất, chấp nhận nhiều dự án khai thác, các nhà chuyên môn, nhân dân phản ứng dữ quá,các ông bắt đầu chiến dịch nói láo, chạy quanh tìm kế hoãn binh.

Đến chuyện cá nhân của các quan thì lại càng nói láo tợn… Ông bí thư xây biệt phủ như cung điện của vua chúa ở xứ nghèo phải sống nhờ trợ cấp của chính phủ cho đến ông giám đốc môi trường xây biệt phủ mênh mông ở xứ lắm rừng, rồi đến ông lãnh đạo ngành ngân hàng với những dãy nhà hoành tráng trên miếng đất hàng ngàn thước vuông. Tất cả đều cho rằng do sức lao động cật lực mà có. Kẻ thì do nuôi gà, trồng cây, anh thì bảo chạy xe ôm đến khốc cả người, người thì nhờ bán chổi, trồng rau, kẻ khác thì bảo nhờ tiền của con dù con chẳng làm gì ra tiền và có đứa thì mới mười chín tuổi.

Lương thì chẳng bao nhiêu mà quan nào cũng vi la trong và ngoài nước, nhà nghỉ trên núi, nhà mát dưới biển, lâu đài, nhà to ở nước ngoài. Con cái ăn chơi như các công tử, tiểu thư quý tộc. Các bà vợ thì như các mệnh phụ, chỉ xài đồ dùng ở nước ngoài, đi shopping các mall lớn ở nước ngoài như đi chợ… Thế nhưng các ngài luôn phát biểu yêu dân, thương nước, yêu tổ quốc, đồng bào, và luôn nhắc nhở đất nước còn nghèo phải học tập ông này, cụ nọ để có đạo đức sáng ngời.

Các lãnh đạo xem rừng như sân nhà mình, phá nát không còn gì.. Một cây có đường kính 1m phải mất trăm năm mới hình thành, lâm tặc chỉ cần 15 phút để đốn hạ. Hàng trăm chiếc xe chạy từ rừng chở hàng mét khối gỗ chỉ cần đóng cho kiểm lâm 400.000 đồng một chiếc là qua trạm. Rừng không nát mới lạ. Khi rừng không còn, lệnh đóng rừng ban ra, các lãnh đạo địa phương toàn báo cáo láo với chính phủ và có nơi tìm cách tiếp tục vét cú chót bằng cách làm trắng những cánh rừng còn lại..

Rừng bị tận diệt vì nạn phá rừng, rừng còn bị huỷ diệt bởi những dự án thuỷ điện. Tất cả đều có sự tiếp tay của các quan và ban ngành chức năng của địa phương. Rừng không còn, lũ về gây tang thương chết chóc, đê vỡ khiến nhà cửa tài sản trôi theo dòng nước, các quan cho là xả lũ đúng quy trình.

Bão chưa tới, lũ chưa về, các quan tỉnh đã ngồi với nhau viết báo cáo thiệt hại để xin trợ cấp. Một anh từng là tổng biên tập tờ báo lớn, sau khi thu vén được hàng triệu đô la bèn đưa hết vợ con qua Mỹ, sắm nhà to, xe đẹp còn anh thì qua lại hai nước, lâu lâu viết bài biểu diễn lòng yêu nước thương dân, trăn trở với tiền đồtổ quốc, khóc than cho dân nghèo, kinh tế chậm lớn, đảng lao đao…

Còn biết bao chuyện láo không kể xiết: Ngay cả thầy tu, các bậc tu hành cũng làm trò láo để quảng cáo chùa của mình, để thêm nhiều khách cúng bái, để thùng phước sương thêm đầy, để nhà thờ của mình thêm tín hữu. Chúa, Phật đành bỏ ngôi cao mà đi khi thấy những kẻ đại diện mình đến với mọi người bằng những điều xảo trá..

Chúng ta đang ở một thời đại láo toàn tập, láo từ trung ương đến địa phương, láo từ tập đoàn cho đến công ty, láo từ một tổ chức cho đến cá nhân. Láo mọi ngành nghề, láo toàn xã hội. Tất cả đều bị đồng tiền sai khiến, bị danh lợi bám quanh. Hơn nữa vì sự thật bi đát quá, đành láo để khoả lấp, hi vọng sẽ an dân. Nhưng thời đại bùng nổ thông tin, dân biết hết nên chuyện láo trở thành trơ trẽn.

Nghe láo quen, chúng ta lại tự láo với nhau và chuyện láo trở thành bình thường, láo để tồn tại, để phấn đấu, để thêm lợi thêm danh, và rồi láo đã trở thành một nếp sống.

Trẻ con học người lớn nói láo rồi tiếp tục những thế hệ nói láo. Ở nhà trường nghe cô thày nói láo, ra đời nghe thiên hạ nói láo, về nhà lại được nghe nói láo từ cha mẹ, mở máy nghe, nhìn cũng rặt điều láo.

Một nền văn hoá láo đã nẩy sinh và phát triển.

Hỏi sao trẻ con không láo và tương lai lại tiếp tục láo. Nghĩ cũng buồn!

BS ĐỖ HỒNG NGỌC


 

HAI NHÀ TOÁN HỌC VIỆT NAM RỜI HOA KỲ

Bùi Văn Phú

 Trong 10 ngày qua đã có hai nhà toán học người Việt từ giã Hoa Kỳ về đầu quân cho Đại học Hong Kong, Trung Quốc. Đó là giáo sư Đại học Yale Vũ Hà Văn, từng đạt giải thưởng Fulkerson, và giáo sư Ngô Bảo Châu, giải Fields, từ Đại học Chicago.

Chính sách bài chống di dân của chính quyền Trump đã khiến nhiều nhà khoa học nước ngoài từ bỏ nước Mỹ để tìm một môi trường học thuật và nghiên cứu thuận lợi hơn.

Những năm qua, dù giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Chicago, từ năm 2011 giáo sư Ngô Bảo Châu, có quốc tịch Pháp, còn là Giám đốc Khoa học tại Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) tại Việt Nam.

Giáo sư Vũ Hà Văn, quốc tịch Việt Nam, từ năm 2018 giữ chức vụ Giám đốc Khoa học tại Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn (VinBigData) và Quỹ Đổi mới sáng tạo (VinIF) thuộc Tập đoàn Vingroup. Dự án VinUni 500 của ông Phạm Nhật Vượng khởi xướng năm ngoái nhằm chiêu mộ 500 nhân tài cho đất nước đã có sự tham gia của giáo sư Văn.

Mặc dù đã được nhà nước Việt Nam chào đón và hai giáo sư cũng đã có những đóng góp cho toán học nước nhà, nhưng có lẽ vì môi trường học thuật và trang thiết bị tại Việt Nam chưa đủ tầm nên hai ông đã không về quê nhà mà chọn Đại học Hong Kong ở Trung Quốc, một đại học hàng đầu của châu Á, để tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy.


 

ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5:8)-Cha Vương

Ngày Chúa Nhật Super Bowl thật hào hứng nhưng đừng bỏ Lễ nhé.

Cha Vương

CN: 8/2/2026. (9-25)

TIN MỪNG: Thấy vậy, ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5:8)

SUY NIỆM: Khi dựng lên con người Chúa ban cho bạn một trí khôn để nhận biết Chúa và nhận ra chính mình. Khi con người đánh mất đi khả năng này, họ sẽ gây ra rất nhiều rắc rối trong môi trường sống. Do đó nhà Triết gia Hy Lạp Socrate nói: “Hãy tự Chính biết mình”. Ai biết mình sẽ thành công trong cuộc sống, ai không tự biết mình sẽ đi đến thất bại và đôi khi có thể hủy hoại cả cuộc đời. Bài Tin Mừng hôm nhắc nhở bạn về sự “nhận biết” để tiến lên trên con đường nhân đức. Bạn nhận biết Chúa là Đấng giàu lòng xót thương và nhận ra mình là người yếu đuối tội lỗi và tầm thường. Ông Phê-rô đã nhận được điều này. Nhờ có tâm hồn khiêm tốn Phê-rô nhật biết Thiên Chúa không luận phạt nhưng rộng lòng tha thứ. “Người không bẽ gãy cây lau bị giập, cũng tim đèn còn khói chẳng nỡ tắt đi”. (Is 42:3). Như Chúa đã biến đổi và thánh hoá Phê-rô thế nào thì hôm nay Chúa cũng muốn làm cho bạn như vậy. Ngài muốn cho bạn cơ hội để hoán cải và làm lại cuộc đời cho tốt hơn. Vậy bạn hãy thành tâm chạy đến Chúa như Phê-rô đi! “Lạy Chúa,… con là kẻ có tội”, xin thương xót con.

LẮNG NGHE: Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha,19 chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.” (Lc 15:18-19)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, Xin ban cho con một trí khôn để con nhận biết Chúa, một trái tim để con yêu mến Chúa, một đức khôn ngoan để biết tìm ra Chúa, một tác phong biết làm vui lòng Chúa, một dạ trung thành bền bỉ biết chờ đợi Chúa, và một lòng hy vọng cuối cùng được ôm lấy Chúa. (Thánh Tôma Aquinô)

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Ăn Năn Tội 

From: Do Dzung

*******************

BIẾT CHÚA BIẾT CON – Sáng Tác: Lm. Ân Đức – Ca Sỹ: Phi Nguyễn

HƠN CẢ PHÉP MÀU – Truyen ngan HAY

My Lan Pham

HƠN CẢ PHÉP MÀU

May be an image of child

Trong thế chiến thứ hai, có một người đàn ông họ Wall tên là Martin. Martin Wall là một tù nhân chiến tranh, bị giam tại trại tù binh ở Siberia, từ đó anh phải rời xa quê hương Ukraina, bỏ lại người vợ Anna và cậu con trai Jacob của mình. Martin và gia đình mỗi người một phương, bặt vô âm tín, thậm chí sau khi anh bị bắt một thời gian, đến cả việc người vợ Anna sinh thêm một đứa con gái tên là Sonia mà anh cũng không hề hay biết.

Vài năm sau, Martin được trả tự do, lúc này anh kiệt quệ cả về thể chất lẫn tinh thần, nhìn vẻ bề ngoài của anh lúc bấy giờ như một ông già lọm khọm. Không những vậy, trên tay và chân của anh còn lưu lại nhiều vết sẹo, điều khiến anh đau lòng hơn nữa, là anh không còn khả năng sinh con.

Sau khi được ra tù, chuyện đầu tiên mà Martin làm là tìm kiếm vợ con mình. Cuối cùng, anh cũng nghe ngóng được tin tức của họ từ hội Chữ Thập Đỏ, người ta nói rằng vợ con anh đã chết trên đường đi tới Siberia. Martin đau khổ tột cùng và anh vẫn không hề hay biết rằng mình còn có một cô con gái trên thế gian này.

Thật ra, không lâu sau khi Martin bị bắt, Anna đã may mắn đưa được con trai Jacob chạy trốn đến nước Đức. Cô gặp được một đôi vợ chồng nông dân tốt bụng tại đó, đôi vợ chồng này đã cho mẹ con cô ở lại. Vì vậy, Anna sống yên ổn tại đó, đồng thời cô cũng giúp họ làm việc đồng áng và dọn dẹp nhà cửa. Cũng vào thời gian này, cô sinh đứa con gái Sonia. Anna tin rằng, chỉ cần Martin còn sống, họ nhất định sẽ trùng phùng, nhất định có thể tạo lập một cuộc sống mới. Nhưng, cuộc đời vốn không ai có thể biết trước. Vài năm sau đó, cuộc chiến tranh tàn khốc đã đưa nước Đức đến bờ vực của sự thất bại. Anna và con tin rằng sẽ có cơ hội để đoàn tụ với Martin.

Tuy nhiên, điều họ không ngờ là, Hồng quân Liên Xô đã tập trung những người dân di cư như họ lại, đưa họ lên một con tàu đông đúc như tàu chở súc vật, nói rằng sẽ đưa họ về nhà, nhưng thực chất là đưa họ đến trại tập trung đầy chết chóc ở Siberia.

Sau khi biết chuyện, hi vọng của Anna vụt tắt, cô cảm thấy tuyệt vọng, rồi sinh bệnh nặng. Cô biết mình không thể sống được bao lâu nữa, chỉ ngày qua ngày cầu nguyện: “Cầu xin ông trời, hãy phù hộ cho hai đứa trẻ bất hạnh của con!”. Một ngày nọ, Anna gọi Jacob đến bên cạnh và nói: “Con trai của mẹ, mẹ bệnh nặng lắm rồi, có lẽ không sống được bao lâu nữa. Mẹ sẽ ở trên trời phù hộ các con. Jacob, con phải hứa với mẹ, không bao giờ được bỏ rơi em gái Sonia”.

Sáng sớm hôm sau, Anna qua đời. Người ta đem thi thể của cô chất lên xe hàng và chở đến một khu nghĩa địa đầy rẫy những ngôi mộ vô danh. Còn hai đứa trẻ thì bị đem lên tàu hỏa, đưa đến một cô nhi viện gần đó.

Về phần Martin, người đang chìm đắm trong tuyệt vọng, lúc này đang làm việc như cỗ máy trong một nông trang. Một buổi sáng, Martin gặp Greta, một cô gái làm cùng nông trang với anh. Greta luôn mỉm cười để ý đến anh. Martin không ngờ rằng, cô gái luôn lạc quan yêu đời, thông minh lanh lợi này lại là bạn học ngày xưa của mình. Bôn ba nhiều nơi, trải qua bao biến cố thăng trầm, mà họ lại có thể gặp nhau ở đây, cả hai đều cảm thấy đúng là duyên phận.

Chẳng bao lâu sau, họ tổ chức hôn lễ. Martin cảm thấy cuộc sống của mình tìm lại được ánh mặt trời, cuộc sống lại trở nên có ý nghĩa. Greta cũng cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhưng cô luôn mong mỏi có một đứa con để yêu thương, chăm sóc.

Đến một ngày, Greta nói với chồng: “Martin, có nhiều đứa trẻ trong cô nhi viện, chúng ta hãy nhận một đứa về nuôi có được không?”. Martin phản bác: “Greta, sao em lại có ý nghĩ như vậy, anh không thể chịu thêm bất cứ sự đả kích nào nữa, em có hiểu không?”. Greta vô cùng buồn bã.

Nhưng cuối cùng mong muốn mãnh liệt được trở thành một người mẹ của cô đã thuyết phục được Martin. Vào một buổi sáng, Martin nói với Greta: “Em hãy đến cô nhi viện nhận nuôi một đứa trẻ đi”. Greta vui mừng khôn xiết, cô lập tức lên tàu đi đến cô nhi viện.

Greta bước trên hành lang tối tăm của cô nhi viện, nhìn về phía lũ trẻ đang xếp thành hàng, chăm chú quan sát, cân nhắc. Nhìn thấy những khuôn mặt trầm mặc, những ánh mắt cầu xin của lũ trẻ, Greta chỉ muốn mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả chúng vào lòng và đưa về nhà. Nhưng cô biết rằng, điều đó là không thể.

Đúng vào lúc này, có một đứa trẻ cười thẹn thùng bước về phía cô. Greta quỳ xuống, xoa đầu đứa trẻ: “Cháu à, cháu có đồng ý đi theo cô không? Đến một nơi có cả cha lẫn mẹ?”.

“Đương nhiên cháu đồng ý, nhưng cô đợi chút, cháu đi gọi anh trai. Chúng cháu phải đi cùng nhau, cháu không thể bỏ lại anh trai mình được”.

Greta cảm thấy vô cùng băn khoăn, bất lực lắc đầu: “Nhưng cháu à, cô chỉ có thể đưa một mình cháu đi thôi”. “Không, cháu muốn đi cùng anh trai mình. Trước đây chúng cháu cũng có mẹ, khi mẹ qua đời đã dặn anh trai không được bỏ rơi cháu”.

Lúc này, Greta cảm thấy bản thân không muốn chọn bất kì đứa trẻ nào khác, bởi vì đứa trẻ trước mặt cô vô cùng đáng yêu, đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cô. Tuy nhiên, cô nghĩ rằng mình phải về thương lượng lại với Martin.

Khi về đến nhà, Greta lại khẩn cầu Martin: “Martin, có một chuyện em muốn thương lượng với anh. Em phải nhận nuôi hai đứa trẻ, bởi vì đứa trẻ mà em chọn có một người anh trai, nó không thể rời bỏ anh trai của mình. Em mong anh đồng ý nhận nuôi đứa trẻ này được không?”

“Greta, vậy sao em không chọn đứa trẻ khác, mà lại nhất quyết là bé gái này? Theo anh thấy thì tốt nhất đừng chọn đứa nào cả”.

Lời nói của Martin khiến Greta vô cùng đau lòng, cô thậm chí còn không muốn đến cô nhi viện nữa. Nhìn thấy bộ dạng buồn bã của Greta, trong lòng anh chợt trào dâng niềm thương cảm. Tình yêu rốt cuộc lại giành chiến thắng.

Lần này, Martin và Greta cùng đi đến cô nhi viện, Martin cũng muốn gặp đứa bé gái đó. Đứa bé gái ra ngoài hành lang tiếp đón họ, lần này, cô bé nắm chặt tay cậu bé đi cùng. Đó là một cậu bé gầy gò, trông rất yếu ớt, nhưng đôi mắt của cậu bé lại ngập tràn sự dịu dàng và lương thiện. Lúc này, cô bé mở to đôi mắt sáng, nhẹ nhàng hỏi Greta: “Cô đến đón chúng cháu phải không?”

Greta chưa kịp trả lời, thì cậu bé đứng bên cạnh đã mở lời: “Cháu đã đồng ý với mẹ là sẽ không bao giờ bỏ rơi em gái. Khi mẹ cháu mất, cháu đã hứa như vậy. Vậy nên, đáng tiếc là em gái cháu không thể đi cùng với hai người”.

Martin âm thầm quan sát hai đứa trẻ vừa đáng yêu lại đáng thương này. Một lát sau, anh tuyên bố đầy quả quyết: “Chúng tôi nhận cả hai đứa trẻ này”. Martin đã bị cậu bé gầy gò ốm yếu trước mắt lay động bởi tình yêu thương của mình dành cho em gái.

Vậy là Greta đưa hai anh em đi thu dọn quần áo, Martin đến văn phòng làm thủ tục nhận nuôi. Sau khi Greta thu dọn đồ đạc, đưa hai đứa trẻ đến văn phòng, liền thấy Martin bần thần lúng túng đứng ở đó. Gương mặt trắng bệch, đôi tay run rẩy, dường như không dám kí vào thủ tục nhận nuôi.

Greta sợ hãi hỏi: “Martin! Anh làm sao vậy? Martin?”

“Greta, em nhìn những cái tên này xem!”. Greta nhận lấy tờ thủ tục nhận nuôi có ghi tên hai đứa trẻ: “Jacob Wall; Sonia Wall, Mẹ: Anna (Bartel) Wall; Cha: Martin Wall”.

“Em có biết không Greta, hai đứa trẻ này là con ruột của anh! Một là đứa con trai mà anh tưởng rằng đã chết từ lâu, một là đứa con gái mà anh chưa từng gặp mặt!”

Martin xúc động đến nỗi nước mắt nhạt nhoà, anh vừa nói vừa quỳ xuống, ôm chặt hai đứa trẻ vào lòng, anh xúc động thốt lên: “Kỳ tích, thật là kỳ tích! Ôi! Cảm ơn trời đất đã phù hộ chúng con. Greta, nếu như không phải em đã thỉnh cầu anh nhận nuôi chúng, nếu như không có trái tim nhân ái của em, có lẽ anh đã không thể gặp được kỳ tích này rồi”.

Sự thiện lương của Martin, lòng nhân ái của Greta và lời hứa đầy trách nhiệm của cậu bé Jacob, tất cả đã tạo nên một kỳ tích. Hạnh phúc thực sự luôn tồn tại, chỉ cần bạn biết tin tưởng và sống đúng với con người thật của chính mình, phép màu của số phận có thể sẽ đến với bạn trong tương lai.

Sưu tầm

My Lan Phạm


 

NHỐN NHÁO – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ rảo khắp vùng ấy và nghe tin Người ở đâu, thì bắt đầu cáng bệnh nhân tới đó”.

“Nhiều người vội không phải vì sống quá đầy, mà vì sợ hoài phí cuộc đời. Không làm điều cần làm, chẳng còn giờ cho điều gì khác, họ là những người nhốn nháo nhất!” – Eric Hoffer.

Kính thưa Anh Chị em,

Bạn có thuộc hạng “không làm điều cần làm?”. Lời Chúa hôm nay nói đến sự ‘nhốn nháo’, “Nghe tin Người ở đâu, thì bắt đầu cáng bệnh nhân tới đó”.

“Họ rảo khắp vùng ấy”. Nghe thật sốt sắng; nhưng sốt sắng không luôn đồng nghĩa với đạo đức. Người ta có thể chạy vì khát khao Chúa; cũng có thể chạy vì trống rỗng; đôi khi không phải vì yêu nhiều, mà vì thiếu một điều duy nhất: sự thật với chính mình! Israel xưa từng rước Hòm Bia vang trời; cùng nhau, họ hát ca khúc, “Lạy Chúa, xin đứng dậy, ngự về chốn nghỉ ngơi!” – Thánh Vịnh đáp ca. Họ sát tế chiên bò “không sao đếm nổi” – bài đọc một. Nhưng Thiên Chúa lại nói, “Dân này kính Ta ngoài môi ngoài miệng, còn lòng chúng thì xa Ta!”. Hoá ra có một thứ đạo đức ồn ào mà rỗng ruột, một thứ nhiệt thành che giấu một trái tim chưa hoán cải. Người ta có thể làm rất nhiều cho Chúa… hầu khỏi để Chúa làm điều gì đó trong mình.

Cũng thế, dân chúng thời Chúa Giêsu. Họ rảo khắp tìm Ngài, mang theo bệnh nhân, mong một cuộc đời bớt đau; nhưng ít ai xin ơn tha thứ – phần sâu nhất – nơi tội lỗi và những thoả hiệp âm thầm đang làm mục ruỗng linh hồn. “Rất nhiều người tìm đến Chúa Giêsu để được chữa lành thể lý, nhưng rất ít người đến để xin ơn tha thứ. Tha thứ mới là phép lạ lớn nhất!” – Phanxicô.

‘Nhốn nháo’ không chỉ là chạy nhiều; nó còn là tránh né! Tránh một lần quỳ xuống và nói: “Con sai rồi!”. Có khi chúng ta rất giỏi lễ lạt, sinh hoạt dày đặc; mọi sự xem ra “đúng”, nhưng tầm nhìn mục vụ là “chuyện xa xỉ”. Bong bóng thì đẹp, nhưng vỡ nhanh; sau tiếng vỗ tay, mọi sự đâu vào đó. Và trong khi tay đầy việc, linh hồn tôi vẫn đói. ‘Nhốn nháo’ vì thế, không chỉ vô hồn – nó tập cho dân Chúa quen với lối sống đạo hình thức mà thiếu quỳ gối. “Khi tôn giáo trở thành trình diễn, linh hồn lặng lẽ rời khỏi căn phòng!” – Ronald Rolheiser.

Anh Chị em,

Giữa đám đông chen lấn, tâm Chúa Giêsu vẫn tịnh. Họ xô đẩy Ngài, nhưng lòng Ngài luôn hướng về Cha, về những linh hồn khao khát được cứu. Ngài không tìm sự tán dương; Ngài tìm những con tim biết mở ra, hầu chữa lành căn nguyên những đổ vỡ. Sau những thành công, Ngài lặng lẽ rút lui. Bình an của Ngài không đến từ sự ngưỡng mộ, nhưng từ sự hiệp thông với Cha. Cũng thế, chỉ khi chúng ta thôi ‘nhốn nháo’, dám đứng yên, để Ngài chạm vào điều đau nhất, chúng ta mới thực sự bình an. Thế giới không cần thêm những Kitô hữu bận rộn; thế giới cần những Kitô hữu tịnh tâm, hướng về Chúa, được chữa lành. “Chỉ khi bạn tìm kiếm Chúa trong thinh lặng của từng giây phút, bạn mới nhận ra: Ngài đã ở đó, chờ bạn để chữa lành mọi vết thương âm thầm nhất!” – Carlo Carretto.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ quỳ xuống, xin cho con can đảm; con sợ nói “con sai rồi”, xin cho con khiêm hạ; con sợ mất mát, xin cho con dám mất để được sống!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*****************************************************

Lời Chúa Thứ Hai, Tuần V Thường Niên, Năm Chẵn

Bất cứ ai chạm đến Người, thì đều được khỏi.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.     Mc 6,53-56

53 Khi ấy, qua biển rồi, Đức Giê-su và các môn đệ ghé vào đất liền tại Ghen-nê-xa-rét và lên bờ. 54 Thầy trò vừa ra khỏi thuyền, thì lập tức người ta nhận ra Đức Giê-su. 55 Họ rảo khắp vùng ấy và nghe tin Người ở đâu, thì bắt đầu cáng bệnh nhân đến đó. 56 Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ, và xin Người cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Người ; và bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi.


 

Chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. (1 Ga 4:19)- Cha Vương

Cuối tuần tràn đầy bình an và yêu thương trong Chúa và Mẹ nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 7/2/2026. (8-2025)

TIN MỪNG: Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. (1 Ga 4:19)

SUY NIỆM: Trong Sách Gương Đức Mẹ có viết: “Phần nhiều, trong việc hôn nhân, người ta chỉ trọng tiền tài, nhan sắc, căn cứ vào của cải hơn là chú trọng đến tinh thần thiêng liêng. Bởi đó, sự kết hôn không được xứng đôi vừa lứa, nên vợ chồng lại trở thành hình khổ cho nhau. Chúa làm thinh cho cơ sự xảy ra thế, đề oán phạt, vì trong việc quan hệ như vậy không cầu xin Chúa soi dẫn, Chúa làm thinh để sửa phạt những thanh niên không ân cần học tập nhân đức xứng với ơn Chúa trợ phù.

   Cha bác Đức Mẹ Maria kén chọn, nói đúng hơn, chính Thiên Chúa đã định cho Đức Mẹ kết bạn với Thánh Giu -se, Người công chính, nhân đức nhất đời, xứng đôi với Nữ Đông Trinh hơn hết. Đức Mẹ và Thánh Giu-se ở trong bậc Chúa đã xe định còn phải lo lắng gì nữa?

   Biết bao người không vui lòng sống trong phận mình, họ phiền sầu, buồn bực và thường làm cho người khác phải khổ lây, vì họ không ở trong bậc Chúa đã phân định. Tiên-tri. I-sai đã bảo: “Khốn cho những con cái không theo thánh ý Ta, vì đã tự do quá chớn mà không bàn hỏi Ta.” (Is 30:1). (x. Gương Đức Mẹ, Q1:8:1,2)

LẮNG NGHE: Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. (1 Ga 4:20)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria, xin giúp con luôn lấy Chúa làm trung tâm điểm của đời sống để được bình an và hạnh phúc trong Chúa muôn đời

THỰC HÀNH: Điều gì hoặc người nào đó đang làm bạn buồn bực? Hãy chạy đến Mẹ xin ơn khôn ngoan và điềm tĩnh để vượt qua những khó khăn thử thách nhé.

From: Do Dzung

************************

Ave Maria Trăng Từ Bi

SỢ TAN, SỢ CHÁY-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Anh em là muối cho đời!”; “Là ánh sáng cho trần gian!”.

“Kitô hữu bị Lời Tin Mừng chi phối sẽ chẳng giữ mình nguyên vẹn, nhưng lan toả ánh sáng cho người khác!” – Raniero Cantalamessa.

Kính thưa Anh Chị em,

Một khi dám để Tin Mừng chi phối, chẳng ai có thể giữ mình nguyên vẹn! Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta dám không còn nguyên vẹn vì yêu thương; thế nhưng, điều làm chúng ta chùn bước lại chỉ là một nỗi ‘sợ tan, sợ cháy!’.

Muối chỉ có ích khi tan; nhưng chúng ta lại thích làm muối nguyên hạt: giữ danh dự, giữ an toàn, giữ khoảng cách. Chúng ta muốn ảnh hưởng nhưng không muốn hoà mình; muốn người khác đổi thay mà không muốn tiêu hao. Và thế là đời sống đức tin nhạt dần, không vì thiếu hoạt động, nhưng vì thiếu dấn thân – ‘sợ tan’ – đến mức “mất mình”. Cũng thế, đèn không cháy để tồn tại; đèn cháy để soi. Mỗi lần sáng là mỗi lần mòn hao. Nhưng chúng ta sợ bị hiểu lầm, từ chối, sợ bị lợi dụng nên thường che đèn dưới chiếc thùng của sự khôn ngoan an toàn, của những tính toán vừa đủ – và gọi đó là “cân bằng” – nhưng nhiều khi chỉ là để biện minh cho việc ‘sợ cháy’ một cách lịch sự. “Nếu ước mơ của bạn không làm bạn sợ, thì chúng chưa đủ lớn!” – Ellen Sirleaf.

Dám tan, dám cháy sẽ rất cụ thể khi “chia cơm cho người đói, thấy ai mình trần thì cho áo che thân” – bài đọc một. Dám tan, dám cháy không bừng lên từ những ý tưởng cao siêu, nhưng từ những tấm bánh tình yêu dám bị bẻ ra. Vì thế, Phaolô chỉ rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh – bài đọc hai – và chính từ thập giá ấy, “bừng lên một ánh sáng” – Thánh Vịnh đáp ca – nơi điều xem ra yếu đuối lại chính là quyền năng của Thiên Chúa.

Kitô hữu không thiếu cơ hội làm điều tốt; nhưng vấn đề ở chỗ, muốn làm điều tốt mà không trả giá. Muốn yêu mà không đau; cho mà không mất – ‘sợ tan’; muốn chiếu sáng mà không mòn – ‘sợ cháy’. Nhưng muối không tan chỉ còn là sỏi; đèn không cháy chỉ còn là đồ trang trí tôn giáo. ‘Sợ tan, sợ cháy’, chúng ta đánh mất bản chất và căn tính! “Với tất cả những gì bạn yêu thương, chắc chắn bạn đều phải trả một cái giá nào đó!” – Agatha Christie.

Anh Chị em,

Hãy nhìn lên Chúa Kitô! Ngài không ‘sợ tan’ vào thân phận con người, không ‘sợ cháy’ cho tình yêu đến tận cùng. Trên thập giá, Ngài không giữ mình nguyên vẹn; thân mình bị bẻ ra như tấm bánh để tình yêu bị đốt cháy đến giọt cuối cùng. Chính nơi đó, ánh sáng bừng lên giữa bóng tối; muối thấm vào lịch sử nhân loại. Thuộc về Ngài, chúng ta được mời gọi bước vào cùng nhịp tự hiến ấy. Không phải để tìm đau khổ, nhưng để không trốn chạy tình yêu; không để phô diễn anh hùng, nhưng để sống trung thực với phẩm tính đã lãnh nhận. Chúng ta không được sai đi để giữ mình nguyên vẹn, nhưng để trở nên quà tặng. “Tình yêu hy sinh mọi điều để ban phước cho điều mà nó yêu!” – Edward Bulwer-Lytton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sợ tan vào đám đông, cho con dám hoà mình; sợ cháy đến tận cùng, cho con dám yêu đến nơi; sợ không còn nguyên vẹn, cho con trở nên quà tặng!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT TUẦN V THƯỜNG NIÊN, NĂM A

Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.     Mt 5,13-16

13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

14 “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”


 

MỘT ĐỜI LÀM MUỐI, MỘT ĐỜI LÀM ÁNH SÁNG – Lm Paul N.N 

Lm Paul N.N 

Khi tôi mới về giáo xứ, có lần đi xức dầu vào lúc 2 giờ sáng, đi ngang qua những cánh rừng cao su bạt ngàn, tôi thấy một cảnh tượng lạ lùng: những ánh đèn le lói ẩn hiện giữa màn đêm đặc quánh.  Tôi bấu vai ông trùm kêu lên… cái gì kìa?… và cuối cùng cũng chợt nhận ra: khi cả thế giới còn đang chìm trong giấc ngủ sâu, có những “vầng trăng nhỏ” bắt đầu lay động.  Đó là ánh đèn soi trên trán của những người cha, người mẹ làm nghề cạo mủ.  Họ đi vào bải lô khi trời còn chưa rõ mặt người.  Trong bóng tối lạnh lẽo và mùi mủ nồng nặc, họ lặng lẽ làm việc.  Dưới ánh đèn pin leo lét, bàn tay cha thoăn thoắt những nhát dao bén ngọt, chuẩn xác để dòng “vàng trắng” tinh khôi chảy đều vào bát sứ, đôi tay mẹ gầy guộc hứng trọn từng giọt mồ hôi rơi xuống cùng dòng mủ.  Họ chấp nhận thức, khi đời đang ngủ, chấp nhận bào mòn sức lực giữa cái lạnh thấu xương của sương đêm để đổi lấy manh áo, quyển vở cho con đến trường.  Quả là một sự hy sinh lớn lao. 

Sự hy sinh đó chính là minh chứng sống động nhất cho lời Chúa dạy: “Chính anh em là muối cho đời… là ánh sáng cho trần gian.”  Chúa không bảo ta “hãy làm” muối, Ngài khẳng định: “Anh em muối.”  Để bát canh thêm đậm đà, hạt muối phải chấp nhận tan biến.  Nếu muối không tan, nó chỉ là những tinh thể vô dụng.  Nếu ta chỉ sống cho riêng mình, giữ lại “độ mặn” cho bản thân, chúng ta sẽ không thể làm cho cuộc sống của những người xung quanh trở nên ý nghĩa hơn.  Còn ánh sáng, Ánh sáng cũng vậy, không ồn ào, chỉ cần được thắp lên là bóng tối phải lùi xa.  Ánh đèn soi trên trán người thợ cạo mủ tuy nhỏ bé, nhưng nó đủ để họ không bước hụt vào hố thẳm, đủ để nhìn rõ dòng mủ quý giá.  Ánh đèn ấy hướng về phía trước để soi đường. 

Vì thế, lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta, cách riêng các bậc cha mẹ trong xứ đạo ta: Hãy giống như hạt muối phải tan đi mới làm cho thức ăn đậm đà, hãy “tan đi” tuổi trẻ, giấc ngủ và sức khỏe của mình để cuộc đời con cái không bị nhạt nhẽo, bần hàn, để nuôi dưỡng tâm hồn và thể xác các con.  Hãy là Ánh sáng: Ánh đèn soi của người thợ cạo không soi sáng cả cánh rừng, nhưng đủ để thấy thân cây, thấy từng đường dao phải cạo cho đúng.  Chỉ cần lệch tay, cây sẽ bị tổn thương, mủ sẽ cạn dần.  Ánh đèn soi của người thợ cạo không chiếu sáng cho chính họ, mà chiếu vào thân cây để tìm dòng mủ, chiếu xuống con đường để bước đi vững chãi.  Kitô hữu cũng phải là ánh sáng, không phải để khoe mình, nhưng để soi đường cho người khác nhận biết sự nhân lành của Thiên Chúa.

 Con cái ta, chúng không nhìn vào những gì ta nói, mà chúng nhìn vào cách ta sống.  Khi cha mẹ chấp nhận thức dậy từ lúc trời còn tối mịt, khi đôi bàn tay chai sần vì nhát dao cạo, khi những giọt mồ hôi mặn chát thấm vào lòng đất đỏ, ấy là lúc cha mẹ đang dạy con bài học lớn nhất về sự hy sinh.  Đó chính là lúc cha mẹ đang là “Muối.”  Hạt muối không bao giờ kể công, nó âm thầm tan đi để bát cơm của con được ngọt, để tương lai của con được đậm đà hơn.  Xin đừng sợ mình bị hao mòn, vì chính sự “tan ra” của cha mẹ là dưỡng chất nuôi lớn tâm hồn và nhân cách của con cái.

 Hãy nhớ rằng chiếc đèn soi trên trán cha mẹ giữa rừng đêm không chỉ để tìm dòng mủ, mà nó còn là hình ảnh của “Ánh sáng” đức tin mà con cái đang dõi theo.  Nếu cha mẹ sống trung thực, con cái sẽ không biết dối lừa.  Nếu cha mẹ sống yêu thương và bao dung, con cái sẽ không biết hận thù.  Đừng để ánh đèn soi của mình chỉ hướng xuống đất để tìm lợi ích vật chất, nhưng hãy ngước lên để nhìn thấy trời cao, để soi đường cho con cái bước đi trong sự thiện lương.

 Làm muối cho đời không phải là làm những điều vĩ đại, mà là giữ cho lòng mình không bị “nhạt” đi trước những cám dỗ của tiền bạc hay sự vô cảm.  Làm ánh sáng cho trần gian không phải là rực rỡ hào quang, mà là giữ cho ngọn lửa mến Chúa luôn cháy trong gian bếp nhỏ, trong bữa cơm gia đình và trong cách đối đãi với xóm giềng.

 Hỡi những người cha, người mẹ, hãy là những “cuốn Tin Mừng sống” đầu tiên mà con cái mình đọc được.  Hãy là thứ muối mặn nồng của tình yêu và là ánh sáng ấm áp của gương lành, để dù cuộc đời có tăm tối đến đâu, con cái vẫn tìm được lối về nhà, lối về với Chúa, nhờ vào chính bước chân hy sinh của cha mẹ chúng hôm nay.  Hãy tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp từ chiếc đèn soi nhỏ bé để dẫn lối cho con cái đi, và giữ cho cuộc đời của các con luôn “đậm đà” vị nghĩa tình, không bị nhạt nhẽo giữa những cám dỗ cuộc đời.  Xin Chúa cho các bậc cha mẹ trong cộng đoàn chúng ta, đặc biệt nơi vùng cao su thân thương này, biết tiếp tục thắp lên ánh sáng của đời sống gương mẫu, và âm thầm làm muối mặn bằng chính mồ hôi và tình yêu mỗi ngày, để con cái, khi bước vào đời, luôn nhớ đến con đường ngay thẳng đã được soi từ chính mái nhà của mình. Amen!

 Lm Paul N.N

From: Langthangchieutim