NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Người Việt Cao Niên USA

NHẬT BẢN: KHI MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NỖI CÔ ĐƠN CỦA TUỔI GIÀ

Nhật Bản từ lâu được xem là một trong những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới.

Đó là nơi có hệ thống y tế tiên tiến, tuổi thọ thuộc nhóm cao nhất toàn cầu, hạ tầng hiện đại và mức sống đáng mơ ước.

Tuy nhiên, đằng sau sự văn minh và sung túc ấy, Nhật Bản đang đối diện với một vấn đề xã hội rất đáng suy ngẫm:

sự cô đơn ở người cao tuổi.

Một trong những biểu hiện đau lòng nhất của thực trạng này là khái niệm “Kodokushi” – thường được hiểu là “cái chết cô đơn.”

Đây là tình huống một người, thường là người lớn tuổi, qua đời trong nhà riêng mà không có ai hay biết. Có trường hợp phải nhiều ngày, thậm chí 1–2 tuần sau, họ mới được phát hiện.

Điều khiến nhiều người bàng hoàng không phải chỉ là cái chết,

mà là sự thật rằng một con người có thể rời khỏi cuộc đời này trong lặng lẽ đến mức không ai nhận ra ngay.

Bức tranh già hóa dân số tại Nhật Bản

Nhật Bản hiện là một trong những xã hội già hóa nhanh nhất thế giới.

Tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm phần rất lớn trong cơ cấu dân số. Điều này đồng nghĩa với việc số người bước vào tuổi hưu, tuổi cần được quan tâm, chăm sóc và đồng hành đang ngày một tăng.

Song song với đó là nhiều thay đổi lớn trong cấu trúc gia đình và xã hội:

  • Quy mô gia đình nhỏ dần
  • Nhiều thế hệ không còn sống chung như trước
  • Con cháu học tập, làm việc xa nhà
  • Nhịp sống hiện đại khiến các mối liên kết gia đình lỏng hơn
  • Số người cao tuổi sống một mình ngày càng nhiều

Khi tuổi thọ tăng lên nhưng sự kết nối giữa con người với con người lại giảm đi,

xã hội bắt đầu xuất hiện một nghịch lý:

sống lâu hơn, nhưng không chắc sống ấm áp hơn.

Vấn đề không chỉ nằm ở vật chất

Khi nhắc đến tuổi già, nhiều người thường nghĩ trước hết đến tiền bạc, nhà cửa, bảo hiểm hay chi phí y tế.

Đó đều là những yếu tố quan trọng.

Nhưng thực tế từ Nhật Bản cho thấy:

một cuộc sống đủ đầy về vật chất vẫn chưa chắc bảo vệ được con người khỏi nỗi cô đơn.

Người cao tuổi có thể có nơi ở an toàn.

Có thể có lương hưu.

Có thể được chăm sóc y tế tốt.

Nhưng nếu thiếu đi sự hỏi han, thiếu những cuộc trò chuyện, thiếu cảm giác mình vẫn còn được nhớ đến, được cần đến, thì tuổi già vẫn có thể trở nên rất trống vắng.

Nói cách khác, điều khiến con người tổn thương ở cuối đời không chỉ là bệnh tật,

mà còn là cảm giác mình dần biến mất khỏi nhịp sống của những người xung quanh.

Một lời cảnh tỉnh cho nhiều quốc gia, nhiều gia đình

Câu chuyện của Nhật Bản không nên được xem là chuyện riêng của Nhật Bản.

Đó là một tín hiệu cảnh báo cho mọi xã hội đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, trong đó có rất nhiều cộng đồng Á Châu và gia đình người Việt ở khắp nơi trên thế giới.

Khi con cái bận rộn với công việc, khi cuộc sống ngày càng áp lực, khi khoảng cách giữa các thế hệ ngày càng rõ hơn, thì người lớn tuổi rất dễ rơi vào trạng thái bị bỏ quên, dù không ai thật sự cố ý bỏ quên họ.

Sự cô đơn của tuổi già thường không đến một cách ồn ào.

Nó đến rất âm thầm:

  • một bữa cơm ăn một mình
  • một ngày không có ai gọi điện
  • một tuần không có ai ghé thăm
  • một nỗi buồn không biết chia sẻ cùng ai
  • một căn nhà im lặng quá lâu

Và đôi khi, những điều âm thầm ấy mới là thứ bào mòn tinh thần con người nhiều nhất.

Điều người lớn tuổi thật sự cần

Người lớn tuổi cần thuốc men, cần chăm sóc sức khỏe, cần chuẩn bị tài chính.

Nhưng bên cạnh đó, họ còn cần những điều rất giản dị:

  • Một cuộc gọi hỏi thăm
  • Một bữa cơm có người ngồi cùng
  • Một lời lắng nghe thật lòng
  • Một cảm giác rằng mình vẫn thuộc về gia đình này
  • Một sự hiện diện đủ ấm để họ biết rằng họ không bị bỏ lại phía sau

Nhiều khi, thứ quý nhất với một người lớn tuổi không phải là món quà lớn, mà là sự hiện diện đều đặn của tình thân.


 

Hạnh phúc là gì?

Việt Báo Daily News

 “Hạnh phúc như đôi chim uyên, tung bay ngập trời nắng ấm.

Hạnh phúc như sương ban mai, long lanh đậu cành lá thắm.

Tình yêu một thoáng lên ngôi, nhẹ nhàng như áng mây trôi.

Dịu dàng như ánh trăng soi, êm êm thương yêu dâng trong hồn tôi ….”

Đây là ca từ của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 diễn về hạnh phúc và đó là lý do ông lấy ca khúc này là “Cô Đơn,” vì hạnh phúc kiểu này là tiểu thuyết lãng mạn. Có thể có, nhưng mờ. Có thể xuất hiện, nhưng khoảng khắc.

Hạnh phúc? Câu hỏi đã hỏi từ thời Aristotle cho đến nay: TikTok, từ triết học cổ Hy Lạp cho đến các hội nhóm tâm lý học trên Facebook, và câu hỏi này nghe đơn giản, nhưng nếu đơn giản thật, thì tại sao hàng triệu cuốn sách về chủ đề này vẫn bán chạy mỗi năm, tại sao các chuyên gia tư vấn hạnh phúc vẫn kiếm được tiền, tại sao người ta vẫn cứ nhìn nhau hỏi “sao mày trông buồn vậy” vào đúng cái ngày họ vừa đạt được thứ họ tưởng sẽ làm mình hạnh phúc? Và cũng tại sao tồi lại viết bài này?

Câu trả lời ngắn gọn là: người ta sai về hạnh phúc không phải vì họ kém kiến thức và nhạy cảm, mà vì họ đang cầm bản đồ của một vùng đất hoàn toàn khác.

Lý Thuyết Và Cái Bẫy

Lý thuyết về hạnh phúc, từ Aristotle với khái niệm eudaimonia (nội tâm an lạc) cho đến Csikszentmihalyi với flow (sống như dòng chảy), đều có một điểm chung: chúng đúng trong phòng học và trơn tuột trong đời thực như bánh xà phòng ướt.

Aristotle nói hạnh phúc là sống đúng với bản chất con người, là phát huy hết tiềm năng của mình. Nghe hay lắm. Nhưng thử nói điều đó với một người đàn ông Việt năm mươi tuổi ở Bolsa, ngày nào cũng dậy lúc bốn giờ sáng để mở tiệm phở, tay tê cứng vì lạnh, không còn biết tiềm năng của mình là gì nữa ngoài việc nấu nước dùng cho đúng vị. Ông ta sẽ nhìn bạn với ánh mắt của người đang cố nhịn cười trước một câu chuyện nghe nghiêm túc.

Csikszentmihalyi thì bảo hạnh phúc là trạng thái ‘flow’ (hòa nhập vào), khi kỹ năng và thách thức cân bằng nhau hoàn hảo, khi bạn đắm chìm hoàn toàn vào công việc đến mức quên cả thời gian. Điều đó cũng đúng. Nhưng vấn đề là đa số người không được chọn công việc của mình theo tiêu chí ‘flow’. Họ chọn theo tiêu chí: cái này có đủ tiền không, có visa không, có bảo hiểm y tế không.

Lý thuyết về hạnh phúc thường được viết bởi những người có đủ thời gian và điều kiện để nghĩ về hạnh phúc. Đó đã là một thiên kiến lớn ngay từ đầu.

Người Ta Lầm Chỗ Nào

Sai lầm phổ biến nhất không phải là người ta không biết hạnh phúc là gì. Mà họ biết rất rõ hạnh phúc là gì, nhưng cái họ biết là hạnh phúc của người khác, không phải của chính mình.

Một cô gái lớn lên ở Hà Nội trong thập niên 1990, nhìn nhà hàng xóm mua được cái tivi màu đầu tiên trong xóm, nghĩ rằng hạnh phúc là có tivi màu. Lớn thêm một chút, nhìn bạn cùng lớp lấy được chồng công chức nhà nước, nghĩ rằng hạnh phúc là lấy được chồng ổn định. Rồi sang tuổi ba mươi, nhìn chị họ đi Mỹ diện H4, nghĩ rằng hạnh phúc là xuất ngoại. Cứ thế, cả cuộc đời cô chạy theo định nghĩa hạnh phúc của người đứng ngay trước mình trong hàng, như một cuộc đua mà vạch đích cứ dời đi mỗi khi cô sắp tới nơi.

Điều này không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam hay với phụ nữ. Nhưng nó xảy ra theo những cách rất đặc thù tùy theo giới tính, tùy theo văn hóa, tùy theo việc người ta đang sống ở đâu trên bản đồ.

Xem tiếp: ihttps://vietbao.com/a325024/hanh-phuc-tuy-lam-dung-lan


 

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Make Christianity Great As Always

Tội kiêu ngạo: khi con người muốn đứng vào chỗ của Thiên Chúa

Tội kiêu ngạo không bắt đầu từ diễn đàn, ngai vàng hay quyền lực chính trị. Nó bắt đầu rất sớm, rất âm thầm, trong một khu vườn. Hội Thánh gọi nó là một trong các mối tội đầu, vì từ đó nhiều tội khác sinh ra. Nói ngắn gọn, kiêu ngạo là lúc con người không còn muốn ở đúng vị trí của mình nữa.

Trong Sáng Thế 3, con rắn gợi lên một tham vọng lớn: “các ngươi sẽ nên như thần.” Đó là gốc của kiêu ngạo. Con người không còn muốn đón nhận điều thiện từ Thiên Chúa, nhưng muốn tự mình nắm quyền quyết định thiện ác. Vấn đề từ đầu không chỉ là bất tuân, mà là muốn lấy thứ không thuộc về mình.

Đến Sáng Thế 11, câu chuyện tháp Babel cho thấy kiêu ngạo không chỉ là chuyện của một cá nhân, mà là của cả một nền văn minh: “Ta hãy xây cho mình một thành và một tháp chọc trời, để làm cho danh ta lẫy lừng.” Con người không còn xây để phụng sự sự sống, nhưng để làm lớn tên mình. Khi một đám đông cùng tin rằng mình có thể tự dựng trời đất mới bằng sức riêng, Babel lại bắt đầu.

Trong 1 Samuel 8, dân Israel xin một vị vua “như các dân khác.” Ở đây xuất hiện một dạng kiêu ngạo khác: ảo tưởng chính trị. Con người bắt đầu tin rằng trật tự, an ninh và tương lai sẽ được cứu bởi quyền lực hữu hình chứ không bởi Thiên Chúa. Từ lúc đó, chính trị rất dễ bị đẩy lên thành một thứ cứu thế.

Các ngôn sứ nói rõ điều này. Isaia 5 lên án những kẻ “gọi ác là thiện, gọi thiện là ác” và những kẻ “khôn trong mắt mình.” Khi con người tôn mình lên, họ sẽ sửa luôn cả ngôn ngữ luân lý. Điều xấu không còn bị gọi là xấu, nhưng được bọc bằng những chữ dễ nghe hơn: cần thiết, thực tế, tiến bộ, đại cuộc.

Trong Isaia 14 và Êdêkien 28, quyền lực không chỉ muốn cai trị, mà còn muốn được nhìn như bất khả sai lầm, như thể chính mình là thần. Và trong Đaniel 3, điều đó đạt đỉnh điểm: Nabucôđônôsor dựng tượng vàng và buộc mọi người phải sấp mình thờ lạy. Quyền lực trần gian không còn bằng lòng với việc cai trị xã hội; nó muốn lấy luôn sự quy phục của lương tâm. Ba thiếu niên chấp nhận vào lò lửa chứ không quỳ trước ngẫu tượng. Đó là bài học lớn: người tín hữu không chống mọi chính quyền trong mọi sự, nhưng phải từ chối ngay khi quyền lực đòi lấy chỗ của Thiên Chúa.

Sang Tân Ước, kiêu ngạo trở nên tinh vi hơn. Trong Gioan 11, Caipha nói: “thà một người chết thay cho dân còn hơn toàn dân bị diệt.” Câu ấy nghe rất thực tế, nhưng ẩn bên dưới là một lối nghĩ rất nguy hiểm: làm điều sai hôm nay để giữ một điều tốt nào đó ngày mai. Thánh Phaolô trong Rôma 3,8 bác bỏ thẳng kiểu lập luận này: không thể “làm điều ác để điều thiện xảy ra.” Ở đây, kiêu ngạo mang bộ mặt của sự khôn ngoan và của “đại cuộc.”

Đến Luca 18, Đức Giêsu kể dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Kiêu ngạo lúc này không dựng tượng, không mặc áo vua, không xưng mình là thần. Nó vào tận đền thờ và cầu nguyện: “Con không như những kẻ khác.” Đây là kiêu ngạo tôn giáo, và có lẽ là dạng khó thấy nhất. Nó không cần làm điều xấu lộ liễu; nó chỉ cần lấy điều tốt của mình làm cớ để khinh người khác.

Toàn bộ dòng chảy ấy được đảo ngược nơi Đức Kitô trong Philípphê 2. Người không nắm lấy vinh quang cho mình, nhưng tự hạ, mặc lấy thân nô lệ và vâng phục cho đến chết. Ở Ađam, con người muốn vươn lên để bằng Thiên Chúa. Ở Đức Kitô, Con Thiên Chúa lại hạ xuống để cứu con người. Một bên là nắm lấy; một bên là trao ban.

Nhìn vào thế giới hôm nay, ta không khó để nhận ra những điều ấy vẫn còn nguyên. Khi người ta gọi ác là thiện, Isaia đang bị lặp lại. Khi người ta biện minh cho điều sai hôm nay vì tương lai, Caipha đang bị lặp lại. Khi người ta tin rằng quốc gia, ý thức hệ, thị trường, công nghệ hay chiến thắng chính trị có thể cứu lịch sử, ảo tưởng của 1 Samuel 8 và Babylon đang quay lại. Và khi quyền lực không muốn bị phán xét bởi một chuẩn mực cao hơn chính nó, đó là dấu hiệu của một thứ kiêu ngạo muốn tự mình làm luật.

Ta cũng đã thấy những biểu hiện như thế trong đời sống hiện nay: có những nhà lãnh đạo muốn tiếng nói luân lý im đi trước quyền lực; có những người sử dụng biểu tượng tôn giáo để làm lớn bản thân; có những cộng sự và người ủng hộ biện minh mọi sự bằng những câu như: “đó chỉ là chiến lược”, “đó chỉ là trò đùa”, “đó là điều cần thiết cho tương lai.” Nhưng tội kiêu ngạo hiếm khi tự xưng tên. Nó thường đến với bộ mặt của lý do tốt, của hiệu quả, của đại cuộc, của sự sáng suốt.

Dù vậy, người Kitô hữu cũng phải cẩn thận với chính mình. Phản ứng trước kiêu ngạo của thế gian không thể là một thứ kiêu ngạo ngược: “Họ sai, còn tôi thì sáng suốt.” Dụ ngôn người Pharisêu nhắc ta rằng người lên án kiêu ngạo cũng có thể sa vào kiêu ngạo. Bài học của Thánh Kinh không chỉ để ta chỉ mặt người khác, mà để ta xét lại chính lòng mình.

Và chính ở đây, Hội Thánh đặt trước mắt chúng ta hình ảnh Đức Thánh Cha. Không phải như một đối thủ chính trị của các nguyên thủ quốc gia, nhưng như một dấu chỉ rằng không hoàng đế nào là Thiên Chúa, không quốc gia nào là Nước Trời, không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Độ. Thánh Gioan Phaolô II đã nói: “Đừng sợ.” Đó là lời mời mở cửa cho Đức Kitô và từ chối mọi ngẫu tượng của thời đại. Còn lời “Tôi không sợ” của Đức Leo XIV lại vang lên như chứng tá của một mục tử không chấp nhận để quyền lực trần gian dạy Hội Thánh phải nói gì.

Nói cho cùng, kiêu ngạo là con người muốn cao đến nỗi không còn quỳ được nữa. Còn Tin Mừng thì dạy điều ngược lại: chỉ ai biết quỳ trước Thiên Chúa mới có thể đứng thẳng trước các ngẫu tượng của thế gian. Và vì thế, hai lời ấy vẫn gặp nhau ở một điểm: đừng sợ!

Make Christianity Great As Always

#MCGAA


 

HOÁ RA LÀ NGÀI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Các ông hoảng sợ”.

Trong “When All Hell Breaks Loose”, tạm dịch, “Khi Tất Cả Đổ Vỡ”, Steven J. Lawson viết: “Có thể bạn đang ở trong một cơn bão. Chúa có mục đích khi dẫn bạn vào đó. Hãy hướng mắt về Ngài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Các ông hoảng sợ”. Giữa ‘biển trong đêm’, khi tất cả đổ vỡ, các môn đệ chao đảo không chỉ bởi bão tố, nhưng trước một sự hiện diện chưa được nhận biết. Chỉ khi Chúa Giêsu cất tiếng, họ mới chợt hiểu: ‘hoá ra là Ngài’.

Vậy điều gì đã xảy ra với các môn đệ? Giữa ‘biển trong đêm’, gió nổi sóng gào, thuyền chao đảo; họ bị cuốn vào chính những gì đang đổ vỡ trước mắt. Khi mọi sự dồn dập, họ quay khỏi Thầy để chống chọi giữa những hỗn mang. Chính trong khoảnh khắc ấy, khi nỗi kinh hoàng chiếm trọn tâm hồn, họ không còn nhận ra ai đang đến gần; đến nỗi, như các Tin Mừng khác kể lại, họ tưởng chỉ là một bóng ma. Họ không chỉ không nhận ra Ngài, họ còn đặt tên sai cho Ngài. “Chúng ta chỉ thấy điều mình đã sẵn sàng để thấy!” – Walter Lippmann.

Chính lúc ấy, Chúa Giêsu cất tiếng: “Thầy đây mà, đừng sợ!”. Trong nguyên ngữ Gioan, egō eimi – “Ta là”; công thức mặc khải vang vọng từ Xuất Hành, nơi Thiên Chúa tiết lộ danh tính, và trong truyền thống Latinh được diễn đạt là Ego sum. Đó không chỉ là lời nhận diện, nhưng là một sự hiện diện tự xưng, không cần được chứng minh; không chỉ là lời trấn an, nhưng là một mặc khải: Ngài tự nói ra căn tính của mình. Từ đó, nỗi sợ bắt đầu tan biến, không phải vì bão đã yên, nhưng vì họ nhận ra ai đang ở trước mặt. Điều họ tưởng là đe doạ, ‘hoá ra là Ngài’ – Thầy của mình.

Đó cũng là trải nghiệm vượt những ‘biển trong đêm’ của Hội Thánh sơ khai. Khi các tín hữu bắt đầu kêu trách nhau, khi sự kỳ thị xé rách cộng đoàn; chính trong những đổ vỡ ấy, họ không dừng lại nơi xung đột, nhưng quay về với Chúa Phục Sinh. Từ đó, các phó tế đầu tiên được thiết lập, trật tự dần được tái ổn định, giông bão lắng xuống – bài đọc một. Điều đã xảy ra với họ cũng là điều xảy ra nơi chúng ta: không phải vì không có sóng gió, nhưng vì biết quay về với Chúa trong nguyện cầu. “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính Chúa Giêsu đã đi qua những ‘biển trong đêm’: cám dỗ, rình rập, và cuối cùng là thập giá. Nhưng trong tất cả, Ngài không quay khỏi Cha; Ngài nhận ra Cha ngay giữa bóng tối và trao phó chính mình: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không phải khi sóng gió qua đi, nhưng ngay giữa những điều chưa sáng tỏ. Không phải vì chúng ta giữ được mình, nhưng vì có một tương quan giữ chúng ta lại; để giữa những ‘biển trong đêm’, chúng ta không còn bị cuốn đi, nhưng dần nhận ra một sự hiện diện không hề xa – ‘hoá ra là Ngài’, “đấng gần chúng ta hơn chính chúng ta gần mình!” – Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự xem ra đổ vỡ, xin cho con đừng gọi Ngài bằng một cái tên sai!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

***************************************

Lời Chúa Thứ Bảy, Tuần II Phục Sinh

Các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,16-21

16 Chiều đến, các môn đệ xuống bờ Biển Hồ, 17 rồi xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Đức Giê-su chưa đến với các ông. 18 Biển động, vì gió thổi mạnh. 19 Khi đã chèo được chừng năm hoặc sáu cây số, các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. 20 Nhưng Người bảo các ông : “Thầy đây mà, đừng sợ !” 21 Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.


 

Cuộc đời song hành của 1 Linh mục Việt Nam khi có 1 vợ và 5 người con

 CGvST |  17/03/2025

Cuộc đời song hành của một người đàn ông Việt Nam vừa là cha ruột của 5 đứa con, vừa là cha linh hướng của hàng ngàn giáo dân. Từ những năm tháng chăm lo cho gia đình nhỏ đến quyết định dâng hiến cuộc đời cho Chúa, hành trình của ông là sự kết hợp đầy kỳ diệu giữa trách nhiệm gia đình và sứ mệnh thiêng liêng.

GIÁO XỨ PHÚC LỘC; 3 TÂN LINH MỤC DÂNG THÁNH LỄ TẠ ƠN (Ảnh minh họa)

Đâu là những thử thách và phép lạ đã định hình nên cuộc đời đặc biệt này? Hãy cùng khám phá câu chuyện đầy cảm hứng về tình yêu thương, đức tin và sự hy sinh.

Trong các bản tin trước, chúng con đã đưa tin về linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Thăng, người đã được Chúa gọi về khi đang dâng lễ vào lúc 12 giờ trưa Chúa Nhật, ngày 31 tháng 7 năm 2022, tại Đền Thánh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Cha hưởng thọ 77 tuổi, sau 21 năm làm linh mục. Nhưng ít ai biết về những điều kỳ diệu chứa đựng trong cuộc đời của ngài. Kỳ diệu vì ngài qua đời khi đang dâng lễ trên bàn thờ, và kỳ diệu hơn nữa là hành trình cuộc đời đầy sóng gió của một linh mục từng có gia đình với 5 người con.

Cuộc đời song hành của 1 Linh mục Việt Nam khi có 1 vợ và 5 người con

Cha Phêrô Nguyễn Hữu Thăng sinh năm 1944 tại làng Dục Đức, tỉnh Ninh Bình. Năm 1954, ngài theo gia đình di cư vào Nam. Năm 1958, ngài gia nhập dòng Châu Sơn tại Bảo Lộc, Lâm Đồng.

Gia đình

Tuy nhiên, năm 1968, ngài rời đan viện vì lý do sức khỏe và sau đó được chữa trị tại Thụy Sĩ trong 2 năm. Năm 1969, ngài lập gia đình với bà Vũ Thị Gấm và có 5 người con: Thanh Liêm (sinh năm 1970), Huyền Linh (sinh năm 1971), Diễm Linh (sinh năm 1974), Chí Thiện (sinh năm 1976), và Thiên Sang (sinh năm 1979).

Năm 1980, ngài vượt biên cùng người con trai Nguyễn Thanh Liêm và định cư tại Regina, Saskatchewan, Canada. Năm sau, vợ ngài cùng 3 người con cũng vượt biên, nhưng chuyến đi không thành công khi tàu chìm.

Chỉ có người con gái Diễm Linh được cứu thoát, còn người con út Thiên Sang vì còn nhỏ nên không thể đi cùng. Năm 1989, ngài bảo lãnh hai người con qua Canada theo diện đoàn tụ gia đình và nuôi dạy các con cho đến khi cả 3 người con trưởng thành.

Năm 1995, ngài được phép chuẩn để vào Chủng viện Thánh Giuse ở Edmonton và được thụ phong linh mục năm 2001 bởi Đức Tổng Giám mục Peter Mallon, thuộc Tổng Giáo phận Regina, Canada, khi đã 57 tuổi.

Sau khi thụ phong, ngài phục vụ từ năm 2001 đến năm 2002 với vai trò phó xứ tại Giáo xứ Central. Từ năm 2002 đến năm 2010, ngài làm chánh xứ tại Giáo xứ Secret Heart ở Grimshaw, Saskatchewan.

Ngài cũng là linh hướng cho Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Regina, một cộng đoàn mà ngài đã cùng thành lập và giữ chức Chủ tịch từ năm 1981 đến năm 1989.

Từ năm 2010 đến năm 2017, ngài làm chánh xứ tại Giáo xứ St. Mary’s ở Saskatoon và tiếp tục làm linh hướng cho Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại đây. Từ năm 2017 đến tháng 6 năm 2022, ngài làm phó xứ tại Giáo xứ St. Justin, Alta.

Từ ngày 1 đến ngày 31 tháng 7 năm 2022, ngài làm phó xứ tại Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Ngài đã bị đột quỵ khi đang cử hành Thánh lễ lúc 11 giờ sáng Chúa Nhật tại Đền Thánh Giáo xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và qua đời trên đường tới bệnh viện.

Xin hợp ý cầu nguyện cho linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Thăng sớm được hưởng nhan Thánh Chúa.


 

 Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24)- Cha Vương

 Một ngày hạnh phúc trong Chúa nhé.

Chúc bình an! “Tôi khuyến khích anh chị em hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày, anh chị em hãy ký thác với lòng tin tưởng vào bàn tay của Mẹ Maria,” Giáo hoàng Benedicto XVI nói. Vậy mỗi ngày thứ Bẩy trong tuần mời Bạn dành thời gian để suy niệm những mầu nhiệm tiềm ẩn trong Kinh Mân Côi để noi gương Mẹ Ma-ri-a đặt hết niềm tin tưởng và Chúa. Hãy cầu nguyện cho nhau và thể giới nhất là các cập lãnh đạo ngay cả các tôn giáo nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 17/04/2026.   (n21-23)

TIN MỪNG: Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. (Ga 6:1-2)

SUY NIỆM: Có bao giờ bạn tự nghĩ rằng: Tôi theo Chúa để được ích lợi gì? Tin mừng theo Thánh Gioan tường thuật rằng trước khi Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, “Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ”. Lúc này uy tín và ảnh hưởng  của Chúa đang lên cao. Cho nên họ theo Chúa vì lòng vụ lợi chứ không phải do đức tin thật. Vậy trong cuộc sống đạo hàng ngày và qua suốt chặng đường dài từ nhỏ tới khi về già, là một người Công Giáo, bạn nhận thức được điều gì trong tâm hồn? Nếu chỉ nhẩm đi nhẩm lại mấy câu kinh như đọc những câu thần chú để được vào Thiên Đàng thì ai làm chẳng được. Phải không bạn? Nếu hôm nay có người nào hỏi, điều gì làm cho người Công Giáo hãnh diện nhất? Câu trả lời của bạn cho câu hỏi này là gì? Bạn đã và đang làm gì để trưởng thành trong đời sống đức tin? Theo Chúa là một hành trình dài vượt qua những danh lợi ảo tưởng. Bạn hãy nhìn vào các môn đệ của Chúa coi. Từ những kẻ nhút nhát và thất học, các ông trở thành những nhà giảng thuyết hùng hồn và can đảm, dám dùng cái chết để làm chứng cho Tin Mừng phục sinh. Sự thay đổi triệt để này của các môn đệ chính là bằng chứng khả tín cho một đức tin sống động và mạnh mẽ. Nếu được như vậy bạn hãy tìm gặp Chúa hàng ngày trong các Bí Tích do chính Thiên Chúa thiết lập để được biến đổi nhé. 

LẮNG NGHE: Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. (Mt 16:24)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi phút giây trong cuộc sống trần gian là một chuẩn bị dài lâu cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau, xin giúp con luôn tìm kiếm Chúa trong các Bí Tích là “máng thông ơn” qua đó Chúa ban ân sủng để giúp con trở nên giống Chúa mỗi ngày. 

THỰC HÀNH: Tham dự Thánh Lễ thường xuyên hơn. 

From: Do Dzung

********************************

Hạnh phúc đời con – tinmung.net

LẮNG NGHE – R..Veritas

Một người da đỏ rời bỏ nơi cư trú ở thôn quê để về thành phố thăm lại người bạn da trắng. Anh nhìn thấy cuộc sống náo nhiệt và xô bồ của thành phố đã tạo cho anh không ít ngạc nhiên và thích thú. Lúc hai người đang dạo chơi trên đường phố, thình lình người da đỏ chợt dừng lại và đập nhẹ vào vai người bạn da trắng và nói nhỏ:

– Chúng ta hãy dừng lại tí chút, anh có nghe thấy gì không?

Người da trắng quay lại và mỉm cười nói với bạn:

– Tiếng máy nổ, tiếng còi, tiếmg của xe buýt, tiếng bước chân của người qua lại. Còn anh, anh nghe thấy gì?

– Tôi nghe thấy tiếng kêu của một chú dế mèn gần đâu đây đang gáy

Anh bạn da trắng đứng lại, lắng tai và chăm chú nghe kỹ hơn, nhưng rồi lắc đầu đáp:

– Tôi nghĩ là anh đang đùa, làm gì mà có dế mèn ở đây. Mà dù cho có đi nữa thì làm sao anh có thể nghe được tiếng nó gáy giữa muôn vàn náo động của thành phố sầm uất nhộn nhịp này.

Người da đỏ nghiêm trang trả lời:

– Có mà, tôi nghe tiếng nó gáy chỉ đâu đây thôi.

Nói rồi anh bước lại gần bức tường cách đó vài thước, một dây nho dại đang bò trên vách tường, dưới gốc nho là một bụi cỏ và vài chiếc lá khô đủ để cho một chú dế ẩn nấp và đang cất tiếng gáy.

Cuối cùng anh bạn da trắng cũng thấy được con dế. Bấy giờ anh gật đầu thán phục:

– Lỗ tai của người da đỏ các anh quả thật là thính hơn bọn da trắng chúng tôi nhiều

Thế nhưng, người da đỏ lắc đầu đáp lại:

– Chẳng phải vậy đâu. Tôi sẽ chứng minh cho anh thấy.

Đoạn anh ấy rút trong túi ra một đồng tiền và lăn nhẹ trên vệ đường, tiếng va chạm leng keng của đồng tiền cũng thật nhỏ, tưởng chừng như mất hút giữa những tiếng động ồn ào của thành phố. Vậy mà như có một hiệu lệnh, đồng tiền lăn đến đâu thì mọi chiếc đầu, mọi cặp mắt đều quay về đó. Lượm đồng tiền lên và cho vào túi, người da đỏ mỉm cười nói với bạn mình:

– Lỗ tai của người nào cũng nghe rõ như nhau, nhưng có khác chăng là nó chỉ nghe quen với âm thanh và những điều người ta lưu tâm đến.

***

Thông thường thì khả năng nghe biết của mọi người như nhau và có những giọng nói thật giống nhau. Tuy nhiên, giữa những giọng nói giống nhau đó, có giọng được cất lên, có giọng lại như chìm vào trong thầm lặng.

Thật vậy, trong ba năm theo Thầy trên đường rao giảng Tin Mừng, chắc hẳn các môn đệ đã quá quen thuộc với giọng nói của Thầy mình. Thế mà vì những nhọc nhằn suốt đêm chẳng bắt được một con cá nào, các ông đã không nhận ra Ngài, chỉ có lòng mến sắt son mới cho phép người môn đệ được Đức Giêsu thương mến nhận ra Thầy mình, và ông đã thốt lên bằng một câu nói thật vắn gọn: “Chúa đó”.

Trước đây, chỉ vì lòng mến đã thôi thúc Gioan chạy đến mồ trước, nhưng ông lại đợi Phêrô để cả hai cùng vào để xác nhận việc Thầy mình đã sống lại. Cũng chính do lòng mến mà các ông đã giới thiệu cho các bạn hữu biết việc Chúa Kitô Phục Sinh. Đây là điều mà Kitô hữu ở mọi thời đại đều phải bắt chước gương của các tông đồ. Vì đến với Chúa là một điều tốt, nhưng sẽ tốt hơn nếu có những người khác cùng đến với Ngài.

***

Lạy Chúa, không biết con có thể nhận ra được tiếng Chúa nói giữa muôn vàn tiếng động ồn ào náo nhiệt của cuộc sống không? Không biết con có thể lắng nghe được gì qua tiếng nói yếu ớt hắt lên từ lương tâm con? Xin Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh luôn nâng đỡ con như Ngài đã nâng đỡ các môn đệ xưa để con có thể nghe được tiếng Ngài nói với con mỗi ngày trong cuộc sống qua những người xung quanh. Xin giúp con biết dành thì giờ nói chuyện với Chúa mỗi ngày để con quen dần với tiếng nói thân thương của Ngài.

Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài dạy con trong cuộc sống. Xin cho con biết lắng nghe lời Ngài từng theo bước đời con. Xin cho con biết sẵn sàng chờ đợi và vâng nghe theo Chúa. Xin cho con biết sẵn sàng thực hành lời Chúa đã truyền ban.

R..Veritas

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

KHÔNG CHỈ ĐỦ , NHƯNG DƯ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ liền đi thu những miếng thừa…, và chất đầy được mười hai thúng”.

“Thiên Chúa ban ân sủng theo lòng quảng đại của Ngài, không theo công trạng của chúng ta!” – Grêgôriô Cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ kể một phép lạ thết năm ngàn người ăn, nhưng mặc khải một cách thức: Thiên Chúa không ban theo công trạng hay mức cần thiết; Ngài ban dẫy đầy, ‘không chỉ đủ – nhưng dư’.

Trong Gioan, chi tiết “mười hai thúng” không chỉ là phần dư, nhưng là dấu chỉ mang chiều kích toàn thể: duodecim – con số của Israel, của Dân Chúa trong sự viên mãn. Như thế, điều còn lại không phải là phần thừa vô nghĩa, nhưng là phần không được giữ lại, vì tự nó đã hướng tới việc được trao đi. Ân sủng chỉ thực sự dư đầy khi không bị giữ lại. Không phải vì Thiên Chúa ban ít, nhưng vì con người không dám mở ra. Chính tại đây, một lệch hướng dễ xảy ra: điều được ban để trao đi bị giữ lại; từ đó, sự dư đầy dần mất ý nghĩa của nó. Vì thế, phép lạ không chỉ đáp ứng một cơn đói, nhưng mặc khải một logic: Thiên Chúa không hành động theo sự thiếu thốn của con người, nhưng theo sự phong phú của chính Ngài – ‘không chỉ đủ, nhưng dư’.

Thánh Augustinô coi “mười hai thúng” không như phần dư vật chất, nhưng như dấu chỉ của một sự phong phú vượt quá khả năng lãnh hội: Thiên Chúa không ban ít; chính con người không thể đón nhận hết. Vì thế, phần còn lại vượt quá tầm hiểu; có những điều chỉ được mở ra khi “về nhà”, Ngài giải thích riêng. Khoảng cách, vì thế, không nằm ở ân sủng, nhưng ở tương quan; ai ở lại, người đó đi sâu hơn vào sự dư đầy. Và chính những người ở lại sẽ trở thành trung gian phân phát: ân sủng không dừng lại nơi việc lãnh nhận, nhưng lưu chuyển. Đó không phải là điều xa: nhiều khi chúng ta chỉ dừng lại ở mức vừa đủ để hiểu, mà không bước vào để sống, để ra đi phân phát. “Là Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn luân lý hay một ý tưởng cao đẹp, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, ân sủng không còn là điều được ban, nhưng là chính Ngài. Ngài không chỉ trao ban, nhưng là sự sống được trao; không dừng lại ở mức đủ, nhưng trở thành dồi dào. “Tôi đến cho chiên tôi được sống, và sống dồi dào”. Sự sống ấy trước hết nuôi dưỡng con người trong cơn đói sâu sắc; rồi chạm đến những đổ vỡ để chữa lành; và cuối cùng mở ra ơn tha thứ, nơi con người được tái tạo từ bên trong. Vì thế, “Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó, ân sủng càng chứa chan”. Vấn đề không phải là thiếu, nhưng là không dám sống từ sự dư đầy ấy. Vậy mà chúng ta thường chỉ tìm đủ để tồn tại, hơn là dám mở ra cho một sự sống dồi dào – chữa lành, tha thứ và sai đi. “Có những Kitô hữu sống như thể Mùa Chay không bao giờ dẫn đến Phục Sinh!”; “Có những Kitô hữu chọn một đời sống an toàn, khép kín, thay vì để mình được sai đi!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống cầm chừng vừa đủ, nhưng biết sống từ sự dư đầy của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

*********************************************

Lời Chúa Thứ Sáu, Tuần II Phục Sinh

Đức Giê-su cầm lấy bánh, rồi phân phát cho những người hiện diện, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.  Ga 6,1-15

1 Khi ấy, Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a. 2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. 3 Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ. 4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.

5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê : “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?” 6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. 7 Ông Phi-líp-phê đáp : “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.” 8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người : 9 “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” 10 Đức Giê-su nói : “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn. 11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. 12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ : “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.” 13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng. 14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói : “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian !” 15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.

Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. (Ga 15:5) – Cha Vương

Ước mong tâm hồn bạn được tràn đầy tình yêu của Thiên Chúa hôm nay và mãi mãi. Cậu nguyện cho nhau và thể giới nhe.

Cha Vương

Thứ 5: 16/04/2026.  (n20-23)

TIN MỪNG: Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. (Ga 15:5)

SUY NIỆM: Trong đoạn Tin Mừng theo Thánh Gioan 15:1-17 về hình ảnh cây nho thật có lập đi lập lại hai chữ “Ở LẠI” tới 11 lần. Đây là điều gây sự chú ý đến cho người đọc và nghe. Vậy Chúa muốn nói với bạn điều gì khi Ngài lập đi lập lại 2 chữ “Ở LẠI”?

 Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. (1 Ga 4:16)

 Đời sống Kitô hữu chính là ở lại trong Chúa Giêsu. “Các con hãy ở lại trong Thầy”. Đừng tách rời khỏi Thầy… Chúa dùng hình ảnh cây nho là để nói nên sự sống còn của sự gắn bó này: Thầy là cây nho các con là ngành.. Ngành nào tách rời khỏi thân cây nho thì rốt cuộc sẽ chết, không sinh hoa trái. Một trong những đặc tính của tình yêu Thiên Chúa là sự phổ quát, bao trùm, không loại trừ ai (inclusive). Loại tình yêu này trổi vượt trên hết các loại tình yêu khác tức là đón nhận những khác biệt của nhau như màu da, cao thấp, hình dạng, tính cách, sở thích, văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo…

Nếu bạn tập yêu như Chúa yêu thì những cuộc gặp gỡ và sự liên hệ của bạn sẽ không bị lệ thuộc hoặc bị giới hạn bởi những khác biệt và chia rẽ. Bạn cảm thấy trong tâm hồn sẽ nảy sinh ra sự thương cảm, phong phú, gần gũi… ngay cả giữa những bất đồng và dè dặt. Đây là hoa quả của tình yêu trong Chúa đó. Uớc mong bạn hãy tìm gặp Chúa và ở lại trong Ngài mãi mãi, đừng có “gặp nhưng không ở lại…” nhé.

LẮNG NGHE: Đây là giới răn của Thầy:”Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con. (Ga 15:12).

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa là Đấng yêu thương, là nguồn mạch sự sống, xin cho con luôn biết ở lại trong Chúa để trở nên chứng nhân tình yêu của Thiên Chúa trong môi trường con đang sống hôm nay.

THỰC HÀNH: Dù họ có là ai đi nữa, họ vẫn là con của Chúa mà. Mời bạn hãy xin ơn Chúa để tập vượt qua những bất đồng và dè dặt về màu da, tính cách, tôn giáo…

Nhạc Ở Lại Với Con

From: Do Dzung

*****************************

Ở Lại với Con – Hiền Thục

“TÔI ĐÃ GIẾT CHẾT CHA MÌNH… KHÔNG PHẢI VÌ UNG THƯ…

Nguyễn Minh Anh

“TÔI ĐÃ GIẾT CHẾT CHA MÌNH… KHÔNG PHẢI VÌ UNG THƯ, MÀ VÌ NIỀM TIN NGU MUỘI VÀO CÁI GỌI LÀ ‘THUẬN TỰ NHIÊN’.”

Nhìn cha trút hơi thở cuối cùng, cơ thể chỉ còn da bọc xương, tôi không khóc nổi, trái tim tôi đã chết lặng.

Nỗi ân hận tột cùng chặn đứng mọi cảm xúc.

Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn ám ảnh bởi câu nói cuối cùng của ông, thều thào không thành tiếng:

“Cha đói quá…”

Bản án ung thư đại trực tràng của bố tôi không phải là dấu chấm hết, nhưng chính sự bảo thủ của tôi đã cướp đi cơ hội sống của ông.

Tôi sợ hóa chất phá hủy cơ thể cha.

Thế là tôi bắt đầu lên mạng, tham gia vào các hội nhóm “chữa bệnh không dùng thuốc”.

Tôi bị mê hoặc bởi những lời đồn thổi về việc “bỏ đói tế bào ung thư”, về những loại nước ép chữa lành thần kỳ.

Tôi đã biến căn bếp thành một pháp trường, và tôi chính là kẻ hành quyết.

Tôi bắt cha nhịn hoàn toàn thịt, cá, trứng, sữa.

Hàng ngày ép ông uống hàng lít nước rau củ đắng ngắt.

Cha tôi vốn lam lũ, chỉ biết nghe lời con.

Ông ăn không nổi, nhưng vẫn cố nuốt vì tin vào lời tôi: “Cha cố lên, ăn thế này tế bào ung thư mới chết được.”

Tôi còn nhớ như in buổi chiều hai tháng trước, người bạn thân làm ở bệnh viện K đến thăm.

Cậu ấy đưa cho tôi cuốn sách “Liệu pháp sức khỏe ung thư” của ThS. BS Nguyễn Chí Tuấn.

Giọng như khẩn khoản:

“Cậu đừng nghe những lời truyền miệng vô căn cứ đó nữa. Đọc cuốn sách này đi, bác sĩ Tuấn đã hướng dẫn rất rõ về dinh dưỡng khoa học cho bệnh nhân K.”

“Cậu mà cứ ép bác nhịn ăn thế này, bác sẽ kiệt sức trước khi bệnh kịp khỏi đấy!”

Lúc đó, tôi đã gạt phắt đi.

Tôi tự tin mình đã tìm ra “chân lý” và cho rằng cậu ấy cũng chỉ là một người làm ngành y máy móc. Tôi ném cuốn sách vào góc tủ, không thèm mở lấy một trang.

Và cái giá phải trả là mạng sống của cha tôi.

Cha sụt 20kg chỉ trong thời gian ngắn.

Khi đưa vào viện vì ông ngất xỉu, bác sĩ đã mắng thẳng vào mặt tôi: “Anh đang giết cha mình đấy! Cơ thể ông ấy suy kiệt hoàn toàn,

không còn đủ sức để chịu đựng bất kỳ phác đồ điều trị nào nữa.”

Ngày đám tang cha, người bạn ấy lại đến.

Cậu ấy không trách móc nửa lời, chỉ nhìn di ảnh cha rồi thở dài. Cái sự im lặng đó còn đau đớn hơn vạn lời chửi rủa.

Tang lễ xong xuôi, tôi trở về căn nhà vắng.

Bước vào bếp, tôi thấy chiếc máy ép trái cây vẫn còn dính những bã rau củ cũ – thứ mà tôi từng ép cha uống mỗi ngày.

Cạnh đó là một túi gạo lứt còn dang dở tôi vừa mua tuần trước.

Tôi mở tủ lạnh, thấy một hũ yến nhỏ mà ai đó đã biếu, cha từng hỏi: “Cha ăn cái này được không con?”.

Tôi đã dứt khoát: “Không được, đường và đạm trong này sẽ nuôi tế bào ung thư”.

Giây phút đó, tôi nhìn xuống đôi bàn tay mình và run lên bần bật.

Chính đôi bàn tay này đã gạt đi chén yến của cha, chính đôi bàn tay này đã ép ông nhịn ăn cho đến khi không còn sức để mở mắt.

Bác sĩ nói đúng, cha tôi không chết vì ung thư hung hãn, ông chết vì suy kiệt – một cái chết đói được nhân danh tình yêu thương.

Trong cơn dằn vặt, tôi tìm lại cuốn sách cũ bị vứt trong góc tủ. Tôi mở ra đọc như kẻ tâm thần tìm một lời giải cho tội lỗi của mình.

Càng đọc, tôi càng bàng hoàng. Những gì ThS. BS Nguyễn Chí Tuấn viết như từng nhát dao đâm vào sự bảo thủ của tôi, tự cho là đúng của mình.

Cuốn sách chỉ rõ:

– Tế bào ung thư không chết vì nhịn ăn: Nó là “kẻ ăn cắp” chuyên nghiệp, nó sẽ rút cạn đạm từ cơ bắp của bệnh nhân để tồn tại. Nhịn ăn là tự sát.

– Dinh dưỡng là vũ khí: Tại sao phải ăn đủ đạm, đủ chất để xây dựng “hàng rào” miễn dịch và chịu đựng được phác đồ điều trị.

– Sự thật về các loại “thuốc tiên” truyền miệng: Những thứ không có căn cứ y khoa chỉ làm mất đi thời gian vàng của người bệnh.

Tôi gấp cuốn sách lại, nhìn lên di ảnh cha mà nước mắt giàn dụa.

Nếu tôi chịu mở cuốn sách này ra sớm hơn, dù chỉ là lướt qua mục lục thôi, có lẽ giờ này tôi đang nấu cho cha một bát súp đủ chất, thấy ông ăn ngon lành và mỉm cười với tôi.

Tôi kể câu chuyện này không phải kể khổ hay thanh minh cho chính bản thân mình. Tôi chỉ những người đang chăm sóc những người thân yêu của mình không phải mắc những sai lầm không đáng có như tô.

Đừng để sự thiếu hiểu biết phải trả giá bằng những nỗi đau.

Đừng để để mất đi rồi mới ân hận.

GỬI NHỮNG AI ĐANG CÙNG NGƯỜI THÂN CHIẾN ĐẤU VỚI UNG THƯ: Sự yêu thương nếu thiếu kiến thức sẽ trở thành vũ khí gây hại.

Hãy trang bị kiến thức chuẩn y khoa ngay từ hôm nay để bảo vệ người thân của mình.

Tôi chia sẻ cách đăng ký mua sách tại đây cho những ai thật sự cần: https://www.nowlife.vn/lieu-phap-suc-khoe-ung-thu/?utm_source=TVA.13/04/2026a1

(Cuốn sách “Liệu pháp sức khỏe ung thư” – ThS. BS Nguyễn Chí Tuấn. Tài liệu khoa học giúp bạn chọn đúng con đường sống cho người thân).


 

 Đứa Trẻ Đã Thay Đổi Lịch Sử Y Học

 Đứa Trẻ Đã Thay Đổi Lịch Sử Y Học

 Đọc cuối ngày…

Một người mẹ đã khẩn khoản cầu xin nhà khoa học tiêm cho đứa con đang hấp hối của mình một hoạt chất chưa từng được thử nghiệm trên cơ thể người.

Đó là tháng 7 năm 1885, tại Paris.

Joseph Meister, chín tuổi, đứng run rẩy trong phòng thí nghiệm của Louis Pasteur. Tay và chân cậu bé chằng chịt những vết cắn sâu. Hai ngày trước đó, một con chó dại đã tấn công cậu ở vùng Alsace.

Mẹ cậu biết chính xác điều gì đang chờ đợi phía trước. Vào năm 1885, bệnh dại đồng nghĩa với một bản án tử hình chắc chắn. Một khi các triệu chứng xuất hiện — sợ nước, co giật, ảo giác — kết cục sẽ là một sự hành hạ đau đớn tột cùng.

Nhưng bà đã nghe phong phanh về một nhà hóa học ở Paris đang thử nghiệm một phương thuốc. Dù không có gì chắc chắn, nhưng bằng niềm hy vọng trong tuyệt vọng, bà đã đưa con trai băng qua nước Pháp.

Thế lưỡng nan của Pasteur

Louis Pasteur khi đó 62 tuổi. Ông lừng danh thiên hạ, nhưng đang phải đối mặt với một quyết định bất khả thi. Ông sở hữu một loại vaccine đã thử nghiệm thành công trên động vật, nhưng chưa bao giờ dùng cho con người.

Hơn nữa, Pasteur không phải là bác sĩ, ông là một nhà hóa học. Nếu việc điều trị thất bại và đứa trẻ qua đời, sự nghiệp và di sản của ông sẽ tan thành mây khói. Nhưng nếu ông không làm gì cả, Joseph chắc chắn sẽ chết.

Sau khi tham vấn hai bác sĩ, phán quyết cuối cùng được đưa ra: nếu không điều trị, sẽ không có hy vọng. Pasteur quyết định mạo hiểm.

Phép màu đầu tiên

Trong nhiều ngày, Joseph được tiêm một loạt các mũi tiêm với nồng độ tăng dần để “dạy” hệ miễn dịch cách chiến đấu với virus trước khi nó xâm nhập vào não bộ. Pasteur theo dõi sát sao từng dấu hiệu sốt, từng cái rùng mình của cậu bé.

Ngày tháng trôi qua, Joseph vẫn khỏe mạnh. Cậu bé đã trở thành con người đầu tiên được cứu sống khỏi bệnh dại nhờ tiêm chủng.

Di sản cho nhân loại

Tin tức này đã chấn động toàn thế giới. Nhưng món quà lớn nhất của Pasteur không chỉ là loại vaccine này. Đó là việc ông đã chứng minh được Thuyết mầm bệnh: ý tưởng rằng các vi sinh vật vô hình chính là nguyên nhân gây ra bệnh tật.

Nhờ có ông:

Các phẫu thuật viên bắt đầu khử trùng dụng cụ.

Các bác sĩ bắt đầu thói quen rửa tay.

Chúng ta đun nóng sữa để loại bỏ vi khuẩn: một quy trình mà ngày nay chúng ta vẫn gọi là “tiệt trùng Pasteur” (pasteurisation).

Joseph Meister chưa bao giờ quên người đàn ông đã cứu mạng mình. Khi trưởng thành, ông đã làm việc tại Viện Pasteur ở Paris trong nhiều thập kỷ. Ông sống đến tận năm 1940, như một minh chứng sống cho lòng dũng cảm của một nhà khoa học.

Ngày tháng 7 năm 1885 đó, một người đàn ông vốn không phải bác sĩ đã nhìn một đứa trẻ bị kết án tử và quyết định đánh cược tất cả vì hy vọng. Ông đã đúng. Joseph đã sống sót, và vì Pasteur đã chứng minh được điều không thể thành có thể, hàng triệu người khác sau đó cũng đã được cứu sống.

Đôi khi, cứu một mạng người chính là học cách để cứu cả thế giới.

TG Văn Chương

From: Kim Bang Nguyen


 

Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót chủ đề ‘Được Gọi Làm Sứ Giả Xót Thương’

Ba’o Nguoi-Viet

April 15, 2026

Văn Lan/Người Việt

LONG BEACH, California (NV) – Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót lần thứ 26 với chủ đề “Được Gọi Làm Sứ Giả Xót Thương” do Phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại và Cơ Sở Truyền Thông Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp tổ chức tại Đền Lòng Chúa Thương Xót, Long Beach, California, hôm Chủ Nhật, 12 Tháng Tư.

Quang cảnh Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót tổ chức tại Đền Lòng Chúa Thương Xót, Long Beach. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Linh Mục Nguyễn Tất Hải, trưởng ban tổ chức, cho hay: “Chủ đề của đại hội nhằm vinh danh những sứ giả xót thương mà Giáo Hội Hoàn Vũ, Giáo Hội Việt Nam, và Dòng Chúa Cứu Thế Toàn Cầu đặc biệt nhớ đến trong năm 2026 này. Đó là Thánh Francis Assisi, nhân kỷ niệm 800 năm ngày thánh nhân qua đời (1226-2026), Thánh Gerard Majella, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, nhân kỷ niệm 300 năm sinh nhật của thánh nhân (1726-2026), và Đấng Đáng Kính Francis Trương Bửu Diệp, sẽ được tuyên chân phước tử đạo vào Thứ Năm, 2 Tháng Bảy, tại Trung Tâm Hành Hương Tắc Sậy ở tỉnh Cà Mau, Việt Nam.”

Giám Mục Albert Matta Bahhuth (thứ hai từ trái) dâng Thánh Lễ tại Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Phần giảng thuyết trong đại hội do Linh Mục Nguyễn Phi Long (giám phụ Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hải Ngoại), với đề tài “Đức Maria: Mẹ Lòng Xót Thương.” Linh Mục Nguyễn Bá Quốc Linh (Dòng Chúa Cứu Thế Tỉnh Baltimore) với đề tài “Trở Nên Sứ Giả Lòng Thương Xót: Học Từ Trái Tim Thánh Phanxicô” và “Thương Xót Khi Bị Tổn Thương: Thánh Gerard và Sức Mạnh của Tha Thứ.” Linh Mục Ngô Thái Phong (Giáo Phận Thái Bình, Việt Nam) với hai chủ đề “Sứ Giả Lòng Thương Xót: Cha Francis Trương Bửu Diệp” và “Hội Thánh & Sứ Vụ Chứng Nhân Lòng Thương Xót.”

Tiếp đến là giải đáp thắc mắc, dưới sự điều hợp của các linh mục Nguyễn Tất Hải, Nguyễn Bá Quốc Linh, và Ngô Thái Phong.

Sau đó là đọc Kinh Năm Thánh Francis Assisi, Năm Thánh Gerard Majella, và Kinh Cầu với Linh Mục Francis Trương Bửu Diệp.

Thánh Lễ Đại Trào do Giám Mục Albert Matta Bahhuth, giám mục phụ tá Tổng Giáo Phận Los Angeles, chủ tế.

Giáo dân xếp hàng hôn Thánh Tích. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Trong bài giảng, giám mục nói: “‘Bình an cho các con’ là lời đầu tiên mà Đức Kitô Phục Sinh nói với các môn đệ của ngài. Anh chị em có nghĩ rằng họ đã mong đợi điều đó không? Anh chị em có nghĩ rằng đây sẽ là lời đầu tiên mà Chúa Giêsu nói với những người đã phản bội, chối bỏ và bỏ rơi ngài không? Đây chính là Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mà chúng ta mừng kính hôm nay.”

“Tất cả đều xoay quanh tình yêu của Thiên Chúa Cha, đấng mà Chúa Giêsu, đấng vô tội, đã mặc khải cho chúng ta bằng cách chấp nhận cái chết trên thập giá, để anh chị em và tôi, những kẻ có tội, có thể được sự sống đời đời,” vị giám mục nói tiếp.

Giám mục thêm: “Càng chống cự hay nghi ngờ việc đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta càng khó tha thứ cho người khác. Chúng ta cần là một thành phần của cộng đoàn để có thể thực hành tha thứ lẫn nhau. Thiên Chúa là tình yêu, và khi anh chị em thấy người ta hành động trong tình yêu, anh chị em đã nhìn thấy dung nhan của Thiên Chúa.”

Linh Mục Nguyễn Phi Long (bìa phải) cùng các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế khai mạc Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót lần thứ 26. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Vị giám mục phụ tá của tổng giáo phận lớn nhất California cũng nói thế giới ngày nay cần nhiều lòng thương xót hơn, nhiều tha thứ và tình yêu hơn,

“Chúng ta vẫn chưa học được từ những kinh nghiệm của con người qua nhiều năm tháng rằng, bạo lực chỉ đưa đến bạo lực nhiều hơn. Tiền bạc và quyền lực có thể giải quyết một vấn đề nhưng lại tạo ra một vấn đề khác,” Giám Mục Albert Matta Bahhuth nói.

Linh Mục Hoàng Thành Đức (Dòng Chúa Cứu Thế) cho hay: “Với niềm tin Công Giáo, đây là lời mời gọi cho tất cả mọi người, cho những ai mang trong mình danh xưng là Kitô hữu, đều được mời gọi là sứ giả để rao truyền Lòng Chúa Thương Xót.”

“Khi Chúa chịu chết, cứu chúng ta để chứng minh bằng hành động của mình, ngài cũng muốn chúng ta tỏ lòng thương xót đó trong đời sống hàng ngày, tỏ lòng yêu thương với mọi người chung quanh, với gia đình của mình, đó là cách cụ thể nhất. Hãy cùng ngài đi vào cuộc sống để Lòng Thương Xót Chúa được lan tỏa những điều tốt lành cho tha nhân trong đời sống hàng ngày,” linh mục nói.

Ca Đoàn Tổng Hợp hát tại Đại Hội Suy Tôn Lòng Chúa Thương Xót. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ông tiếp: “Với các bạn trẻ được mời gọi cách thực tế bằng cách mỗi ngày tập sống quảng đại với tha nhân, kiên nhẫn với mọi người, những gì có thể làm được cho gia đình, cha mẹ anh chị em, yêu thương nhường nhịn, đem lại niềm vui cho mọi người, chính đó là lan tỏa Lòng Chúa Thương Xót.”

Cuối lễ là cầu nguyện chữa lành và hôn kính các Thánh Tích Gerard, Thánh Nữ Faustina, và Thánh Giáo Hoàng John Paul II.

Cô Thủy Phạm, giáo dân giáo xứ Đức Mẹ La Vang Las Vegas, Nevada, đi cùng phái đoàn rất đông về tham dự đại hội, cho biết đa số thành viên trong đoàn là các vị cao niên.

“Em muốn tiếp tục việc này để các cô bác có niềm vui một năm chỉ có một lần về dự Đại Hội Lòng Chúa Thương Xót. Đó là niềm vui tuổi già, không có con cháu và xe đi lay,” cô nói.

Ông Mark Nguyễn, phó thị trưởng Westminster, cho hay ông đến với đại hội để cầu nguyện cho hòa bình thế giới, cho mọi người được bình an, nhất là khi thế giới đang chiến tranh, cũng như cầu cho mọi người thương yêu nhau, giúp cho Little Saigon được phát triển, ngày càng thịnh vượng.”

Phái đoàn từ Las Vegas đến từ sớm để tham dự đại hội. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Bà Nguyễn Thị Là, thuộc Cộng Đoàn Thánh Phêrô Torrance, có cùng ý tưởng với ông Mark Nguyễn.

Bà cho biết năm nào bà cũng tham gia ban trật tự phục vụ người hành hương về đại hội, “cầu xin Chúa ban cho hòa bình thế giới, nhất là năm nay nhiều cuộc chiến đang xảy ra, và cầu cho tất cả bà con được bình an.”

Điều khiển chương trình đại hội là hai MC Diệu Quyên và Vũ Trọng Khảo.

Phần văn nghệ có các ca sĩ Đình Bảo, Minh Khoa, Kim Thúy, Thúy An, Huy Tuấn, Billy Thông, và ca trưởng Quốc Vinh cùng các ca đoàn Saint Michael, Mereyband (Nhạc Đoàn Thương Xót), ca đoàn Cecilia-Burbank, và Vũ Đoàn Faustina. [đ.d.]