Kimtrong Lam – LƯƠNG VĂN CAN K 76.
Trần Bạch Thu –
10 tháng 2, 2026
Trời Cali sáng nay mưa dầm dề, tuy không lớn lắm nhưng rỉ rã có chút xíu nắng từng đợt rồi lại tắt, mưa tiếp, tôi đang trong nhà, lướt phây-bút, xem tin tức trên net đủ loại … và check email như thường lệ vào mỗi buổi sáng. Thế rồi tôi chậm lại ở hộp thư yahoo, tiêu đề tin buồn, tới tuổi nầy rồi chuyện tin buồn là điều bình thường quanh quẫn trong anh em bạn bè, không có gì hoang mang lắm, nhưng buổi sáng hôm nay khi nghe tin anh qua đời tôi lại bật mình muốn khóc thật sự.
Người ta thì học trò trong Quảng ra thi, còn anh thì cũng là xứ Quảng mà lại vô thi. Anh xuất thân từ trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị. Không biết anh có vướng chân cô gái Huế nào hay không, nhưng làm thơ anh thường lấy một trong các bút hiệu là Hoàng Dung, nghe đâu là tên người em gái của một chị bạn học cùng lớp ĐS17, người Huế họ Hoàng. Nói chung, anh em chỉ biết hể ai có tiếng nói trọ trẹ đều cho là dân Huế, nhưng chính anh đã giải thích cho tôi biết tiếng Quảng Trị có đôi chút khác, nặng hơn tiếng Huế, anh còn nêu ra một vài thí dụ nghe hơi tục mà vui hơn là đúng.
Anh làm Phó quận trưởng ở Quảng Tín năm 23 tuổi, trước khi về thi tuyển đậu vào lớp Đốc sự Khóa 17 năm 1969 cùng với anh em chúng tôi là sinh viên thuần túy. Học chung cùng lớp mà nghe nói anh đã tốt nghiệp khóa Tham sự 3 và từng làm Phó quận nên trong lòng cũng hãnh diện lắm. Đi học anh được bầu làm trưởng lớp, chuyên điểm danh anh em, nhưng nhẹ nhàng thôi, khi nào có người đến trễ anh thường đợi để điều chỉnh trước khi nộp cho phòng công tác sinh viên để họ không bị “mất điểm chuyên cần.”
Trong thời gian còn đi học ở trường năm thứ ba, anh lập liên danh ra tranh cử ban đại diện sinh viên toàn trường, nhưng thất cử, mặc dù anh đã chọn được người đứng thủ quỹ liên danh là hoa khôi của lớp ĐS19 (Đ Ng.) trong khi liên danh thắng cử có thủ quỹ cùng lớp ĐS17 mà anh đã không chọn hay chọn trễ nên thua. Bạn bè nói kháo với nhau như vậy, nhưng anh vẫn tự hào là cô thủ quỹ liên danh của minh dễ thương hơn.
Tuy là sinh viên công chức lớn hơn anh em sinh viên thuần túy chừng 4,5 tuổi nhưng anh sinh hoạt rất thân thiện vui vẻ, bình dị với mọi người. Dáng người mãnh khảnh, gương mặt thanh tú, tóc rẽ đường ngôi bảy ba, thẳng mướt rượt. Lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, quần sậm màu, áo sơ mi trắng tươm tất “nhìn quân phục biết tư cách.”
Cuối khóa anh là người duy nhất chọn đề tài luận văn “Người Nữ Công Chức trong Guồng Máy Hành Chánh.” Lẽ thường khi sinh viên chọn đề tài Luận văn tốt nghiệp thường hay xoay quanh các đề tài chính trị, kinh tế, tài chánh, giáo dục hoặc các đề tài có nguồn dữ liệu phong phú và dễ tìm. Đàng này với đề tài anh chọn, tài liệu rất hiếm và thực tế là rất dễ bị lạc đề.
Ra trường, anh về nhiệm sở cũ tỉnh Quảng Tín và được cử làm Phó Quận trưởng quận Thăng Bình và rồi từ đó trên bước đường công vụ chúng tôi ít có cơ hội gặp nhau. Chỉ biết anh vẫn còn sống độc thân vui tính với anh em. Nghe bạn bè cùng tỉnh nói lại anh về quận được mọi người khen ông Phó đẹp trai làm thơ rất hay, đặc biệt là thơ bằng chữ Hán, còn có đào hoa hay không thì chỉ có Trời biết.
Sau 30 tháng 4 năm 1975 anh bị bắt đi cải tạo ở địa phương miền Trung cho đến khi được thả về anh sống chui tại Sài Gòn, làm đủ mọi ngành nghề với anh em để sinh sống cho đến khi được đi Mỹ rất sớm theo diện HO.
Tôi qua Mỹ cũng diện HO sau anh chừng 2 năm. Gặp lại anh đang trú ngụ tại chùa Bát Nhã, thành phố Santa Ana, CA do một người bạn học giới thiệu với sư trụ trì, anh sinh hoạt tại chùa như một tu sĩ trường chay, ngũ trên chiếc giường sắt độc thân trong căn phòng trống trơn, mùa đông lạnh thấu xương. Lần đầu gặp anh tôi hơi ái ngại, sao lại ở chỗ nầy. Tôi hỏi:
– Anh thật sự tu chưa ?
– Chưa định, có thể chỉ ở tạm một thời gian.
Trong thời gian nầy, ngoài một vài công việc ở chùa do Thầy nhờ giúp, anh xem như là làm công quả, không có đọc kinh theo thời cũng như không có nghiên cứu giáo lý Phập pháp gì cả, mặc dù tôi biết anh là một phật tử thuần thành, thay vào đó anh làm thơ Đường đôi khi bằng chữ Hán và viết truyện. Tôi còn nhớ anh có viết bài “Cai Hạ Ca” (Bài ca Hạng Võ biệt Ngu Cơ) nghe buồn lắm. Thỉnh thoảng anh em có tới chùa rủ anh ra ngoài chơi, đi ăn vui vẻ với nhau. Ở chùa ăn chay, nhưng ra đường phố anh em cũng lại mời “Bồ Đề Tịnh Tâm Chay” như ở chùa. Thật rõ chán, không rượu chè, bia bọt gì được cả.
Được chừng vài năm, anh một thân một mình lại ra đi về miền đông, thành phố Boston, nghe nói là ở với người chị họ, đất Mỹ mênh mông biết nơi đâu nương tựa. Hôm anh đi chúng tôi có đêm chia tay cũng làm thành một bữa say sướt mướt, hành lý gọn nhẹ không có gì nhiều chỉ có ống “điếu cày” là báu vật mà anh luôn giữ bên mình chưa bao giờ rời.
Có một điều tôi hay thắc mắc, tự hỏi là anh làm thơ hoặc viết văn luôn ký bút hiệu toàn là nữ nghe như chuyện kiếm hiệp Kim Dung nào là Trương Thúy Hậu, Cao Kim Liên, Nguyễn Nga Bích … Riêng bút hiệu Hoàng Dung thì anh em còn hiểu lờ mờ đôi chút.
Thế rồi đùng một cái, cách nay hơn 10 năm trong một cuộc gọi điên thoại từ Boston anh cho tôi biết là anh đã bảo lãnh cho gia đình đứa con gái qua Mỹ đoàn tụ với anh. Thật ngạc nhiên tột độ. Chưa bao giờ tôi nghe anh nói về chuyện gia đình. Nay thì đã rõ, chuyện đời nhiều khi thấy vui vẻ là vậy mà bên trong lại vô cùng rối rắm không ai biết.
Đứa con gái của anh tên là Trương Thúy Hậu, anh có với người vợ chưa bao giờ cưới. Họ xa nhau từ ngày anh bị bắt đi cải tạo (sau ngày quận lỵ lọt vào tay cộng sản), hai mẹ con trở về quê cũ cũng ở Quảng Tín cải trang, sống âm thầm coi như anh đã chết. Năm năm sau anh về mới biết chị Cao Kim Liên đã có người cám cảnh, thương tình nên đã gá nghĩa vợ chồng với chị và nhận con anh như là con của nhà họ Trương. Từ đó anh lang bạt ra đi với niềm đau chôn kín tưởng chừng như hết cả cuộc đời nầy. Chỉ có vậy thôi.
Kể từ khi bảo lãnh cho con gái, con rể và các cháu sang Boston, cả gia đình cùng nhau mở một tiệm bán phở cũng tương đối đắt khách. Lần sau hết, tôi nghe tin anh bị đụng xe trong một trường hợp hi hữu, xe người lạ de xe từ trong garage ra đường, anh đi tới, trời mờ sáng tài xế không thấy, anh cũng không thấy, thế là anh bị xe đụng gãy chân hơi nặng nên sau khi lành anh phải chống gậy để đi. Mọi người đều nói, người già bị tai nạn té gãy xương híp thì về mặt tâm lý, tinh thần xuống dốc nhanh lắm.
Và nay thì anh đã ra đi, may mắn nhất đời là cuối cùng anh cũng đã quyết định đưa được một đứa con gái duy nhất sang Mỹ cùng với gia đình. Tuy muộn màng nhưng cha con cũng trùng phùng nhau trên đất khách. Nhìn di ảnh của anh trên bản cáo phó, tôi không thể không ngậm ngùi … Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Anh Trí ơi! Thôi đành từ đây ngàn thu vĩnh biệt, anh hãy yên nghỉ, cho dù tôi thật rất tiếc là chưa có dịp hỏi anh về chị Cao Kim Liên giờ ra sao, cũng như chị Nguyễn Bích Nga có còn ở Sài Gòn hay đã đi nơi nào? Nhưng thôi, có chi đâu tất cả cũng chỉ như là một cuộc rong chơi ở cõi đời nầy. Vậy thôi nhé.

