Nguyên nhân gây mất ngủ kéo dài

Nguyên nhân gây mất ngủ kéo dài

Apr 8, 2021

Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng

*Hỏi: Tại sao bị mất ngủ kinh niên? Có cách nào để chữa mà không bị nghiện thuốc ngủ? Uống thuốc ngủ lâu ngày có hại như thế nào? Có cách nào để tránh hoặc giảm uống thuốc và vẫn ngủ được hay không?

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra mất ngủ kéo dài, chẳng hạn các rối loạn gây ra lo lắng một cách bất thường mà chẳng có nguyên nhân gì rõ ràng. (Hình minh họa: mindthesciencega p.org)

-Đáp: Nếu mất ngủ kéo dài trên 30 ngày, thì được xếp vào loại mất ngủ kéo dài (chronic insomnia).

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra mất ngủ kéo dài (có người nói là kinh niên, có người gọi là mạn tính, đều cùng chung một ý nghĩa). Trong đa số trường hợp, nếu giải quyết được tất cả các nguyên nhân gây ra mất ngủ (ở một bệnh nhân cụ thể nào đó), cơ hội chữa khỏi hẳn chứng mất ngủ (cho bệnh nhân đó) sẽ rất cao.

Các vấn đề tâm thần hoặc tâm lý (psychiatric and psychological problems)

Là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra mất ngủ kéo dài, và đây thường có thể là triệu chứng báo trước của một rối loạn tâm thần. Các rối loạn tâm thần hoặc tâm lý này có thể là:

-Bệnh trầm cảm, đặc biệt là ở người cao tuổi. Trầm cảm có thể gây ra các triệu chứng như là không thiết sống, không thiết làm gì cả, ăn uống lộn xộn (không muốn ăn hoặc ăn nhiều quá), ngủ nghê lộn xộn (mất ngủ hoặc ngủ nhiều quá). Nếu các triệu chứng này kéo dài và ảnh hưởng đến khả năng sống và làm việc bình thường thì sẽ được chẩn đoán là bị rối loạn trầm cảm.

-Các rối loạn gây ra lo lắng một cách bất thường (cứ lo mà chẳng có nguyên nhân gì rõ ràng). Các rối loạn gây ra lo lắng này bao gồm:

+Các cơn khủng hoảng (panic attacks-bệnh nhân có những cơn tưởng như “sắp chết đến nơi,” với các triệu chứng như đánh trống ngực, hụt hơi, lả người, tê cứng người…).

+Sợ hãi một điều gì đó một cách bất thường (phobia-sợ đủ thứ, như sợ đi ra ngoài đường, sợ ở trong chỗ kín, sợ ở trên cao, sợ con này, con nọ…).

+Rối loạn căng thẳng tinh thần sau chấn thương (posttraumatic stress disorder). Ví dụ như sau khi trải qua hay thấy một việc kinh hoàng, ta có thể bị ám ảnh, lo lắng, mất ngủ…

-Bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia). Đây là một loại bệnh mà bệnh nhân có thể có các triệu chứng (kéo dài quá sáu tháng), làm tổn thương đến khả năng làm việc và sinh hoạt bình thường của của họ, như là:

+Các ảo giác (hallucinations – nghe, nhìn, ngửi thấy những gì không có thật, ví dụ như thấy… ma, nghe thấy ai đó nói trong tai mình điều gì đó, mà không ai khác nghe thấy cả, vân vân).

+Ảo tưởng (delusions – nghĩ tới, sợ hãi điều gì đó hoàn toàn không có thực, ví dụ như tin là có ai đó theo dõi muốn hại mình, trong khi điều đó hoàn toàn không xảy ra).

+Rối loạn trong sự liên hệ với người xung quanh, ví dụ như là không muốn gặp, liên hệ với ai cả, tự cô lập mình.

+Rối loạn về cảm xúc, như là trầm cảm (không muốn làm gì cả), hưng cảm (làm đủ thứ một các quá đáng và không hợp lý).

+Rối loạn về hành vi (làm những chuyện kỳ quặc, không giống ai…).

Giữ cho phòng ngủ sạch sẽ, yên lặng và đủ tối là một thói quen tốt trong việc ngủ nghỉ để giúp cho ta có một giấc ngủ đủ. (Hình minh họa: kids.frontiersin.org)

Các rối loạn thần kinh (neurological disorders)

Cũng có thể liên quan đến việc làm cho bệnh nhân bị mất ngủ. Ví dụ như là:

-Các tổn thương trong não.

-Các vấn đề thần kinh gây ra đau đớn, rối loạn về cảm giác, lú lẫn, rối loạn về vận động của cơ thể.

-Các thuốc chữa một số bệnh thần kinh cũng có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Không có thói quen tốt trong việc ngủ nghỉ (poor sleep hygiene)

Cũng là một nguyên nhân rất thường gặp gây ra mất ngủ. Thói quen tốt trong việc ngủ nghỉ là những hành động cần làm để giúp cho ta có một giấc ngủ đủ và “đã.” Ví dụ như là:

-Tránh cà phê, thuốc lá, rượu, và những chất kích thích vào buổi tối.

-Giữ cho phòng ngủ sạch sẽ, yên lặng và đủ tối.

-Tránh thể dục, thể thao quá mức cũng như các kích thích tâm thần quá độ (ví dụ như gây lộn với bồ) vào buổi tối, gần giờ đi ngủ.

-Ngủ và dậy đúng giờ.

-Không ngủ ngày, nếu có ngủ thì không ngủ nhiều quá (khoảng dưới nửa tiếng đến một tiếng).

-Không coi tivi, đọc sách, hoặc làm chuyện gì khác (ngoài chuyện ngủ và “ngủ với nhau”) trong phòng ngủ.

-Không ăn quá no trước khi đi ngủ.

-Không uống quá nhiều nước gần giờ ngủ (làm cứ bị mắc tiểu khi đang ngủ). [qd]

Thân mến

 From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

“NHỚ ĐỪNG QUÊN HƠI THỞ”

 

“NHỚ ĐỪNG QUÊN HƠI THỞ”

Long Thọ (Nagarjuna, một trong 84 Đại thành tựu giả Ấn độ, khoảng thế kỷ thứ 9) là một khất sĩ trần truồng, nhưng ngài được yêu mến bởi tất cả những người tìm kiếm chân lý tối hậu. Một vị nữ vương cũng đem lòng yêu Long Thọ sâu sắc. Một ngày nọ nàng thỉnh cầu ngài vào cung làm tân khách. Long Thọ cũng đến. Nữ vương thỉnh cầu ngài một việc.

Long Thọ nói, “Nữ vương muốn gì?”

Nàng nói: “Ta muốn cái bát khất thực của ông.”

Long Thọ đã đưa nó cho vị nữ vương – đó là thứ duy nhất ngài sở hữu – cái bình bát khất thực của ngài. Và nàng đã mang một cái bình bát bằng vàng, nạm kim cương và đưa cho Long Thọ. Nàng nói, “Bây giờ ngài giữ cái này. Ta sẽ thờ cái bát khất thực mà ông đã mang theo trong nhiều năm – nó có năng lượng gia trì của ông. GIờ nó là đền thờ của ta. Và một người như ông không nên mang một cái bát khất thực bằng gỗ tầm thường – hãy giữ chiếc bình bát bằng vàng này. Ta đã đặc biệt làm nó tặng ông.”

Chiếc bình bát thực sự rất quý giá. Nếu Long Thọ là một hành giả tâm linh bình thường, ngài sẽ nói, “Tôi không thể dùng nó. Tôi đã xả bỏ những thứ thế tục rồi.” Nhưng đối với ngài thì mọi thứ đều có khác gì nhau, nên ngài đã nhận cái bát.

Khi ngài rời cung điện, một tên trộm đã nhìn thấy ngài. Kẻ trộm không thể tin vào mắt mình: “Một người trần như nhộng lại có thứ bảo vật này! Ông ấy còn có thể bảo vệ nó được bao lâu?” Vậy là tên trộm đã đi theo ngài.

Long Thọ ở bên ngoài thị trấn, trong một ngôi đền cổ đổ nát – không cửa ra vào, không cửa sổ. Nó chỉ là một đống đổ nát. Kẻ trộm rất vui mừng: “Chẳng bao lâu nữa ông ấy sẽ đi ngủ và sẽ không có khó khăn gì – ta sẽ lấy cái bát.”

Khi tên trộm đang nấp sau bức tường ngay bên ngoài cửa – Long Thọ chợt ném cái bát quý ra ngoài cửa. Tên trộm không thể tin được những gì đã xảy ra. Long Thọ ném nó đi bởi vì ngài đã theo dõi tên trộm đang theo dõi phía sau mình, và ngài hoàn toàn biết rõ rằng hắn không đến vì ngài mà hắn đến để lấy cái bát, “Vậy tại sao lại để anh ta đợi một cách không cần thiết? Đưa nó để anh ta có thể đi, và ta cũng có thể nghỉ ngơi. “

“Một thứ quý giá như vậy! Và Long Thọ đã ném nó đi quá dễ dàng.” Tên trộm không thể đi mà không cảm ơn ngài. Hắn hoàn toàn biết rằng nó đã được ném cho hắn. Hắn nhìn vào và nói, “Thưa ngài, xin chấp nhận lời cảm ơn của tôi. Nhưng ngài là một người hiếm có – Tôi không thể tin vào mắt mình. Và một ước nguyện lớn lao đã nảy sinh trong tôi. Tôi đang lãng phí cuộc đời mình để làm một kẻ trộm – nhưng trên đời lại có những người như ngài. Tôi có thể vào và chạm vào chân ngài được không?”

Long Thọ cười và ngài nói, “Được, đó là lý do tại sao ta ném cái bát ra bên ngoài – để anh có thể vào trong.”

Hóa ra tên trộm đã bị “gài bẫy”. Hắn bước vào, chạm vào chân ngài… và phút giây đó gã trộm rất thật lòng vì hắn đã biết người này chẳng phải là người bình thường. Hắn khép nép, chân thành, biết ơn, thấy kì diệu và choáng váng. Khi chạm vào đôi chân Long Thọ, lần đầu tiên trong đời hắn cảm nhận được sự hiện diện của điều gì đó linh thánh.

Gã hỏi Long Thọ, “Phải mất bao nhiêu kiếp sống để tôi trở nên giống như ngài?”

Long Thọ nói, “Bao nhiêu kiếp à? – Nó có thể xảy ra hôm nay, nó có thể xảy ra ngay bây giờ!”

Tên trộm nói: “Chắc ngài đang đùa. Làm sao nó có thể xảy ra bây giờ? Tôi là một tên trộm, một tên trộm nổi tiếng. Cả thị trấn đều biết tôi, mặc dù họ chưa bắt được tôi. Ngay cả đức vua cũng sợ tôi, bởi vì ba lần tôi đã vào ăn cắp trong kho bạc. Họ biết điều đó, nhưng họ không có bằng chứng. Tôi là một tên trộm bậc thầy – Ngài có thể không biết về tôi vì ngài là người lạ lẫm trong những chuyện này thôi. Làm sao [một kẻ khốn như] tôi có thể chuyển hóa ngay bây giờ?”

Và Long Thọ nói, “Nếu trong một ngôi nhà cũ chìm trong bóng đêm trong nhiều thế kỷ và anh mang theo một ngọn nến, phải chăng bóng tối sẽ nói, “Ta đã ở đây hàng thế kỷ – Ta không thể ra đi chỉ vì anh đã mang theo một cây nến. Vì ta đã tồn tại rất lâu”? Bóng tối có năng lực kháng cự hay sao? Liệu có khác gì dù bóng tối tồn tại một ngày hay một triệu năm?

Tên trộm có thể nhìn ra chân nghĩa: bóng tối không thể chống lại ánh sáng; khi ánh sáng đến, bóng tối bị xua tan. Long Thọ nói: Dầu anh có thể đã ở trong bóng tối hàng triệu kiếp – điều đó không quan trọng – nhưng ta có thể cho anh một bí mật: anh có thể thắp sáng một ngọn nến trong con người của anh.”

Rồi tên trộm nói, “Còn nghề ăn trộm của tôi? Tôi có phải từ bỏ nó?”

Long Thọ nói, “Đó là do anh quyết định. Ta không quan tâm đến anh và nghề của anh, ta chỉ có thể cung cấp cho anh bí quyết làm thế nào để thắp sáng trong con người anh, và sau đó tùy thuộc vào anh.”

Tên trộm nói, “Nhưng bất cứ khi nào tôi đến bất kỳ vị thánh thiêng nào, họ luôn nói, ‘Trước tiên hãy ngừng ăn trộm – thì sau đó ta mới khai ngộ cho anh.”

Người ta nói rằng Long Thọ đã cười lớn và nói: “Chuyện của anh là đi ăn trộm chứ không phải đến thăm các vị thánh thiêng kia. Họ không biết gì đâu. Anh chỉ cần theo dõi hơi thở của mình – một phương pháp cổ xưa của Đức Phật – anh chỉ cần quan sát hơi thở vào, quan sát hơi thở ra, bất cứ khi nào anh nhớ, hãy quan sát hơi thở của mình. Ngay cả khi anh đi ăn trộm, khi anh vào nhà ai đó trong đêm, hãy tiếp tục theo dõi hơi thở của anh. Khi anh đã phá cửa những kho bạc và thấy kim cương châu báu ở đó, hãy cứ tiếp tục theo dõi hơi thở của anh và làm bất cứ điều gì anh muốn làm – nhưng đừng quên theo dõi hơi thở.”

Tên trộm nói: “Chuyện này có vẻ đơn giản. Không cần một quy tắc đạo đức? Không cần quy ước? Không yêu cầu gì khác?”

Long Thọ nói, “Hoàn toàn không – chỉ cần dõi theo hơi thở của anh.”

Và sau mười lăm ngày, tên trộm đã trở lại, nhưng hắn là một người hoàn toàn khác. Hắn quỳ xuống dưới chân Long Thọ và nói, “Ngài đã gài bẫy tôi, và ngài đã gài bẫy tôi khéo đến mức tôi thậm chí không thể nghi ngờ. Tôi đã cố gắng trong mười lăm ngày này – nhưng không thể. Chừng nào tôi còn theo dõi hơi thở của mình, tôi không thể ăn trộm. Nếu tôi ăn trộm, tôi không thể theo dõi hơi thở của mình. Theo dõi hơi thở, tôi trở nên tĩnh lặng, tỏ tường, tỉnh giác đến mức ngay cả những viên kim cương cũng giống như những viên sỏi. Ngài đã tạo ra cho tôi một tình thế khó khăn, tiến thoái lưỡng nan. Bây giờ tôi phải làm gì đây?”

Long Thọ nói, “Cứ đi lạc lối – cứ làm bất cứ điều gì anh muốn làm. Nếu anh vẫn muốn sự tĩnh lặng đó, sự an bình, hỷ lạc, vốn khởi sinh trong anh khi anh theo dõi hơi thở của mình, thì hãy chọn nó. Nếu anh nghĩ rằng tất cả kim cương và vàng bạc có giá trị hơn thì chọn nó. Cái đó là do anh chọn! Ta là ai mà bàn tính cho cuộc đời anh? “

Gã trộm thốt, “Con không thể chọn sự bất tỉnh giác một lần nữa. Con chưa bao giờ biết đến những khoảnh khắc [tỉnh thức] như bây giờ. Xin nhận con làm đệ tử của thầy, và xin khai ngộ cho con.”

Long Thọ nói, “Thầy đã thực ra khai ngộ cho con rồi.”

Con đường tâm linh không [chỉ] dựa trên quy tắc đạo đức mà dựa trên thiền định. Con đường tâm linh không bắt nguồn từ những nguyên tắc mà từ tỉnh thức.

English:

A beautiful story is told about a great mystic, Nagarjuna :

He was a naked fakir, but he was loved by all real seekers. A queen was also deeply in love with Nagarjuna. She asked him one day to come to the palace, to be a guest in the palace. Nagarjuna went. The queen asked him a favour.

Nagarjuna said, “What do you want?”

The queen said, “I want your begging bowl.”

Nagarjuna gave it — that was the only thing he had — his begging bowl. And the queen brought a golden begging bowl, studded with diamonds and gave it to Nagarjuna. She said, “Now you keep this. I will worship the begging bowl that you have carried for years — it has some of your vibe. It will become my temple. And a man like you should not carry an ordinary wooden begging bowl — keep this golden one. I have had it made specially for you.”

It was really precious. If Nagarjuna had been an ordinary mystic he would have said, “I cannot touch it. I have renounced the world.” But for him it was all the same, so he took the bowl.

When he left the palace, a thief saw him. He could not believe his eyes: “A naked man with such a precious thing! How long can he protect it?” So the thief followed….

Nagarjuna was staying outside the town in a ruined ancient temple — no doors, no windows. It was just a ruin. The thief was very happy: “Soon Nagarjuna will have to go to sleep and there will be no difficulty — I will get the bowl.”

The thief was hiding behind a wall just outside the door — Nagarjuna threw the bowl outside the door. The thief could not believe what had happened. Nagarjuna threw it because he had watched the thief coming behind him, and he knew perfectly well that he was not coming for him — he was coming for the bowl, “So why unnecessarily let him wait? Be finished with it so he can go, and I can also rest.”

“Such a precious thing! And Nagarjuna has thrown it so easily.” The thief could not go without thanking him. He knew perfectly well that it had been thrown for him. He peeked in and he said, “Sir, accept my thanks. But you are a rare being — I cannot believe my eyes. And a great desire has arisen in me. I am wasting my life by being a thief — and there are people like you too? Can I come in and touch your feet?”

Nagarjuna laughed and he said, “Yes, that’s why I threw the bowl outside — so that you could come inside.”

The thief was trapped. The thief came in, touched the feet… and at that moment the thief was very open because he had seen that this man was no ordinary man. He was very vulnerable, open, receptive, grateful, mystified, stunned. When he touched the feet, for the first time in his life he felt the presence of the divine.

He asked Nagarjuna, “How many lives will it take for me to become like you?”

Nagarjuna said, “How many lives? — it can happen today, it can happen now!”

The thief said, “You must be kidding. How can it happen now? I am a thief, a well-known thief The whole town knows me, although they have not yet been able to catch hold of me. Even the king is afraid of me, because thrice I have entered and stolen from the treasury. They know it, but they have no proof. I am a master thief — you may not know about me because you are a stranger in these parts. How can I be transformed right now?”

And Nagarjuna said, “If in an old house for centuries there has been darkness and you bring a candle, can the darkness say, ‘For centuries and centuries I have been here — I cannot go out just because you have brought a candle in. I have lived so long’? Can the darkness give resistance? Will it make any difference whether the darkness is one day old or millions of years old.

The thief could see the point: darkness cannot resist light; when light comes, darkness disappears. Nagarjuna said, You may have been in darkness for millions of lives — that doesn’t matter — but I can give you a secret, you can light a candle in your being.”

And the thief said, “What about my profession? Have I to leave it?”

Nagarjuna said, “That is for you to decide. I am not concerned with you and your profession I can only give you the secret of how to kindle a light within your being, and then it is up to you.”

The thief said, “But whenever I have gone to any saints, they always say, ‘First stop stealing — then only can you be initiated.'”

It is said that Nagarjuna laughed and said, “You must have gone to thieves, not to saints. They know nothing. You just watch your breath — the ancient method of Buddha — just watch your breath coming in, going out. Whenever you remember, watch your breath. Even when you go to steal, when you enter into somebody’s house in the night, go on watching your breath. When you have opened the treasure and the diamonds are there, go on watching your breath, and do whatsoever you want to do — but don’t forget watching the breath.”

The thief said, “This seems to be simple. No morality? No character needed? No other requirement?”

Nagarjuna said, “Absolutely none — just watch your breath.”

And after fifteen days the thief was back, but he was a totally different man. He fell at the feet of Nagarjuna and he said, “You trapped me, and you trapped me so beautifully that I was not even able to suspect. I tried for these fifteen days — it is impossible. If I watch my breath, I cannot steal. If I steal, I cannot watch my breath. Watching the breath, I become so silent, so alert, so aware, so conscious, that even diamonds look like pebbles. You have created a difficulty for me, a dilemma. Now what am I supposed to do?”

Nagarjuna said, “Get lost! — whatsoever you want to do. If you want that silence, that peace, that bliss, that arises in you when you watch your breath, then choose that. If you think all those diamonds and gold and silver is more valuable, then choose that. That is for you to choose! Who am I to interfere in your life?”

The man said, “I cannot choose to be unconscious again. I have never known such moments. Accept me as one of your disciples, initiate me.”

Nagarjuna said, “I have initiated you already.”

Spiritual path is based not in morality but in meditation. Spiritual path is rooted not in character but in consciousness.

Source: Penchen spiritual journey

FB ANH NGUYEN

May be a black-and-white image of child

Hơn 60% người già ở Việt Nam không có lương hưu và trợ cấp xã hội

Hơn 60% người già ở Việt Nam không có lương hưu và trợ cấp xã hội

Apr 15, 2021 

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Trong số 13.4 triệu người già thì có khoảng 64.4% không có lương hưu và trợ cấp, phải sống dựa vào người thân hoặc tiếp tục tìm cách mưu sinh khi tuổi đã cao, mang trong mình nhiều bệnh tật.

Báo VNExpress cho hay sáng 15 Tháng Tư, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội phối hợp với Trường Đại Học Justus Liebig Giessen (Đức) công bố phúc trình quốc gia “Việt Nam-một xã hội đang già hóa.”

Rất nhiều người già làm nghề nhặt rác trên phố Hà Nội để mưu sinh. (Hình: Ngọc Thành/VNExpress)

Theo Phó Giáo Sư Nguyễn Tuấn Anh, phó Khoa Xã Hội Học, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội, vấn đề đáng lo ngại nhất với tình trạng già hóa dân số ở Việt Nam là hiện phần lớn người cao tuổi vẫn đang phải làm việc để tự tạo thu nhập.

“Gần 46% người từ 60 đến 64 tuổi; gần 30% người từ 70 đến 79 tuổi và 10% người hơn 80 tuổi vẫn phải lao động để kiếm sống,” ông Tuấn Anh cho biết.

Nếu dựa trên “chuẩn nghèo quốc gia” thu nhập dưới 1 triệu đồng ($43) mỗi người/tháng ở nông thôn và dưới 1.3 triệu đồng ($56) ở thành thị, thì hiện Việt Nam có 16% người trên 60 tuổi thuộc diện nghèo.

Năm 2019, trong số 13.4 triệu người cao tuổi thì chỉ có 23.5% được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng từ nguồn ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội. Trong khi đó, 64.4% người cao tuổi không có lương hưu và trợ cấp.

“Nghĩa là những người này phải sống dựa vào con cháu, gia đình, họ hàng hoặc phải tiếp tục đi làm để mưu sinh,” ông Tuấn Anh phân tích.

Kể với báo Lao Động, bà Trần Thị Biền (64 tuổi, ở xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình) cho biết bà về hưu trước năm 1993, trước đây bà nghe theo lời kêu gọi đi xây dựng kinh tế mới, bà rời quê hương, lên Tuyên Quang làm tại một công ty lâm nghiệp thuộc nhà nước. Công việc của bà rất vất vả, phải trực tiếp khai thác nứa, gỗ ở rừng.

Làm việc được 16 năm, do sức khỏe suy giảm không thể tiếp tục nên đến năm 1991, bà Biền phải về hưu trước tuổi. Trải qua nhiều lần tăng lương, hiện nay mức lương hưu của bà chỉ là 2.2 triệu đồng ($95)/tháng, khiến bà không đủ trang trải cho cuộc sống của một người già mang nhiều bệnh tật.

“Tôi thấy mức lương hưu của mình là thấp, không đủ để trang trải cho bản thân khi về già. Mỗi khi ốm đau phải vào viện là các con phải phụ giúp. Tôi khá lo lắng khi không có khoản tiền phòng thân, nhất là khi sức khỏe của mình ngày càng suy giảm. Như nhiều người khác cùng cảnh, tôi muốn mức lương hưu của mình cao hơn để bảo đảm cuộc sống khi về già,” bà Biền nói.

Bà Biền chỉ là một trong số rất nhiều người già về hưu trước năm 1993 có mức lương hưu thấp. Theo thống kê của Bộ Lao Động  Thương Binh và Xã Hội, số người hưởng lương hưu trước 1993 hiện nay ở Việt Nam là hơn 592,000 người.

Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Quang Minh, trưởng bộ môn Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Tế, đề cập đến tình trạng Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng, nhưng bắt đầu “già hóa dân số” từ năm 2019 với 10.4 triệu người hơn 65 tuổi, chiếm 7.7% dân số. Trong khi đó, các nước trên thế giới thường có tốc độ “già hóa dân số” chậm hơn, như Thụy Điển 85 năm, Úc 73 năm, Ba Lan 74 năm, Trung Quốc 27 năm…

“Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng thời kỳ dân số vàng chưa qua, dân số già đã ập tới, là quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Khoảng thời gian để tăng tỷ trọng người già từ 7% lên 14%, dự báo chỉ trong hai thập kỷ (2015-2035). Đáng lo là khác với nhiều nước, Việt Nam ‘già hóa dân số’ trước khi giàu. Đây là thách thức rất lớn,” ông Minh nhận xét.

Nhiều người về hưu có mức lương rất thấp đang phải sống rất khó khăn, chật vật khi tuổi đã cao. (Hình: T.Đ/Lao Động)

Thách thức khác với các nhà làm chính sách ở Việt Nam là nhiều người già đang mắc các bệnh không lây nhiễm như tiểu đường, cao huyết áp… Vì vậy, phúc trình khuyến nghị Việt Nam “cần xây dựng các chính sách để thích ứng với thời kỳ dân số già,” qua đó giúp người già có thể tự lo được cuộc sống.

Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Đức Vinh, viện trưởng Viện Xã Hội Học, nêu dự báo giai đoạn đến năm 2035, cứ hai người trong độ tuổi lao động ở Việt Nam sẽ phải “gánh” không quá một người ngoài tuổi lao động. Nhưng sau năm 2035, cứ bốn người trong độ tuổi lao động phải “gánh” đến ba người.

Trong 10 năm qua, dân số Việt Nam tăng 11 triệu người, đồng thời số người già tăng gần bốn triệu. Đây là mức tăng dân số già rất cao so với các nước trong khu vực.

Việt Nam hiện có 11.4 triệu người hơn 60 tuổi, chiếm gần 12% dân số. Chỉ số già hóa tăng từ 36% năm 2009, lên gần 49% năm 2019. Từ năm 2026, tỷ trọng người trên 65 tuổi sẽ chiếm hơn 10% và Việt Nam “chấm dứt cơ cấu dân số vàng tồn tại từ năm 2007, bước vào thời kỳ dân số già.” (Tr.N) 

HẾT NỢ!…

May be an image of 1 person and money

HẾT NỢ!…

Ở một thị trấn nhỏ đìu hiu, đang trong giai đoạn khó khăn, ai cũng nợ nần và phải mua vay bán chịu.

Bỗng đâu, một du khách giàu có tìm đến. Ông bước vào khách sạn duy nhất của thị trấn, đặt tờ 500k lên bàn lễ tân và lên lầu xem chọn phòng.

Chủ khách sạn cầm lấy tờ 500k và chạy đi trả nợ ngay cho anh hàng thịt heo mùa tăng giá.

Anh hàng thịt cầm tờ 500k, chạy đi trả cho ông nuôi heo.

Ông nuôi heo cầm tờ 500k, chạy đi trả cho người bán thức ăn chăn nuôi.

Người bán thức ăn chăn nuôi cầm tờ 500k, chạy đi trả cho cô cave – trong thời buổi khó khăn này thì ngay cả “dịch vụ” của cô cũng phải cho bán nợ.

Cô cave chạy đến khách sạn, mang theo tờ 500k để trả cho ông chủ khách sạn món nợ tiền thuê phòng trong những lần tiếp khách thời gian qua.

Chủ khách sạn đặt tờ 500k trở lại mặt quầy, y như ban đầu.

Đúng lúc đó, người khách từ trên lầu đi xuống, bảo rằng mình không tìm thấy được phòng nào vừa ý, sau đó lấy lại tờ 500k và rời khỏi thị trấn.

Chẳng ai kiếm được đồng nào cả. Thế nhưng, cả thị trấn giờ đã hết nợ nần và lạc quan nhìn về tương lai phía trước!!!

SƯU TẦM

KÝ SỰ TRƯƠNG NGỌC BẢO XUÂN ABBOTT (2 kỳ)

KÝ SỰ TRƯƠNG NGỌC BẢO XUÂN ABBOTT (2 kỳ)

Trước giờ chúng ta thường đọc các bút ký hay hồi ký của những người từ Việt Nam hay đến Mỹ sau ngày 30-4-1975. Nay mời các bạn đọc bài bút ký của một người Việt sống ở Mỹ trước 1975, để biết tâm sự cũng như hành trình vất vả, khó khăn thế nào?

Bút ký trung thực và qúa hay sẽ lôi cuốn bạn từ đầu cho đến cuối… Nhân tháng 4 đen, chúng ta cùng ôn lại chuyện cũ, để nhớ ơn đất nước đã bao dung & trao cho chúng ta 1 cơ hội.

***

32 Năm Người Mỹ Và Tôi

(tiếp theo và hết…)

1974, Rút Hết Về Mỹ

Cuối năm, tháng 12, một ngày sửng sốt. David về, hối hả:

– Sửa soạn về Mỹ.

– Cái gì ” Sao vậy”

– Mỹ phải rút hết. Mình có nghe đài Hoa Kỳ không” Nó đệm bản nhạc White Christmas suốt ngày là hiệu báo Mỹ dân sự phải rút hết.

– Trời đất ơi, đi liền sao”

– Đi liền. Về Sài gòn làm thông hành cho con.

Thử thời vận lần thứ nhì, tôi ra bộ nội vụ hỏi cách thức đem thằng em trai duy nhứt theo. Họ cho biết đem em không được, nhứt là con trai, con riêng thì được.

Vậy là, tự nhiên tôi có hai đứa con gái riêng ( xin chính phủ Mỹ tha thứ cho tôi) .

Tin chiến sự cho hay quân Trung Cộng dùng đầu đạn hỏa tiển ( Guided missle ) bắn chìm một chiến hạm Mỹ viện trợ cho Việt Nam ( chiếc Destroyer Escort), chỉ sống sót một quân nhân . Trung Cộng ỷ mạnh hiếp yếu chiếm đoạt đảo Hoàng Sa, một cái một!

Ngày 24 tháng 12 năm 1974 chúng tôi trỡ về Mỹ.

Tới Louisana ở tạm nhà bà chị. David xin được việc làm, tài xế lái xe đào đất cho hãng thầu xây cất nhà cửa, loại nhà 25.000 đô một căn. Những tưởng cuộc sống tạm yên, nào ngờ, nền móng xây xong, David bị layoff. Tôi nhớ ngày đó, sự thất vọng và tức tối hiện rỏ trên mặt, nước mắt muốn trào ra của y.

Anh rể còn trong Hải quân, chị tôi theo chồng. Chúng tôi trơ trọi.

“Giải pháp Reno” là có nhiều hy vọng. Lại kêu gọi tới má chồng gởi xuống 500 đô.

Bạn hãy tưởng tượng hai người lớn, bốn đứa nhỏ cùng quần áo đồ đạc chen nhau trong chiếc xe nhỏ xíu, trong tay có khoảng 675 đô, vượt hơn 1,500 miles. Nửa chừng xe bị gãy nhíp ngừng sửa, tiêu hơn trăm rưỡi. Dọc đường chỉ đậu ở chổ bãi xe hàng , nghỉ đỡ 1, 2 tiếng. Ăn uống luôn trong xe, David lái một mạch 72 tiếng đồng hồ, xuyên qua mấy tiểu bang, giữa trời bão tuyết!

Reno 1 giờ trưa.

Đậu xe bên lề đường David đi bộ tới Casino để tìm việc. Ngồi lâu nóng ruột dặn hai đứa em coi chừng cháu , tôi cũng xuống xe đi lòng vòng coi có việc gì làm đại hay không. May mắn tôi được nhận liền chân bồi phòng ở nhà trọ tên Caravan.

Khi trở lại xe, đã quá 3 giờ. David đi tới đi lui, tức tối:

– Đi đâu vậy” Tôi có việc làm, phải bắt đầu lúc 2 giờ, bây giờ trễ rồi, ai mà cho vô nữa.

– Không sao, tôi có việc, ngày mai bắt đầu.

Tìm chỗ ở. Motel Atlas, một phòng ngủ, có bếp nhỏ, tủ lạnh. Chiều hôm sau tôi đi làm về, David mặt mày một đống:

– Hôm nay tôi đi nộp đơn lãnh tiền thất nghiệp. Nó làm như mình đi xin vậy. Tôi không trở lại đó nữa đâu.

– Thì cũng phải ráng chớ sao. Lảnh tiền đó trong khi chờ kiếm việc. Chẳng lẽ để mấy đứa nhỏ đói”

Chúng tôi sống chật vật như vậy hết một lúc. Bạn ơi, đây là thời gian khủng hoảng, xuống tinh thần nhứt. Lương tôi một tuần 63 đô, trả tiền phòng hết 60, còn lại bao nhiêu” Mỗi ngày dọn phòng, khách để lại cho mấy chục cents, một đô là mừng lắm.

Tôi bán đầu tiên cái kiềng trơn hơn một lượng chưa từng đeo, rồi cặp nhẩn vàng Má tôi cho trước khi đi, rồi cặp nhẩn xoàn má chồng cho.

Mổi tuần mua hai hộp cereal hiệu Captain crunch loại hột tròn tròn có đậu phọng ( thằng con lớn tới bây giờ vẩn còn nhớ mùi vị đó) 1 đô 10 ổ bánh mì, loại bánh mì gần ngày hết hạn , nhưng vì ăn trừ cơm cho nên mau hết, không sợ hư ! hai hộp mứt, hai keo đậu phọng nát, hai hộp cacao pha sữa, một bịch gạo hai cân ( chỉ nấu cháo ) nhiều bắp cải, có khi 1, 2 con gà là món ăn của 6 người. Cũng may, hai đứa em đi học , được ăn uống đầy đủ, mỗi ngày để dành đem về cho hai đứa cháu mấy trái cam trái bom , vài cái bánh!

Còn nhớ một ngày bà dì chồng mời ăn bữa tối. Thiệt là một bữa ăn nhớ đời, đang đói mà! Chồng tôi, người Mỹ, sống trên đất Mỹ mà cũng trải qua thời gian đói khổ, cũng như quí vị sau tháng 4 năm 1975. (nhưng nhiều người Mỹ gốc Việt đã mau quên! tôi ghi chú thêm)

Tôi lại mắc thêm một lời thề nữa. Tôi thề sẽ không để con tôi đói khổ… Từ đây, tôi tập nhìn đời bằng con mắt khôi hài, chuyện gì cũng thấy nhẹ bớt đi. Và rồi cái đói khổ không kéo dài lâu.

Tôi xin được việc làm trong một hãng may màn, tấm trải giường, áo gối, đồ làm bếp… Có biết may vá gì đâu. Có lẽ họ nhận vì cái mặt Á Đông của tôi. Ngày đầu tập sự tôi hỏi việc cho chồng , gặp ông giám đốc tử tế, y đắn đo một hồi rồi nói:

– Thông thường chúng tôi không nhận vợ chồng làm việc chung, nhưng lần nầy tôi phá lệ. Việc gì cũng đủ người rồi nếu chồng you muốn thì vô làm việc sắp đặt máy may, dọn dẹp hãng.

– Thiệt là…. Đội ơn ông.

Mỗi ngày tôi ngồi vật lộn với cái máy. Máy gì chạy lẹ quá trời ! Vừa đặt miếng vải vô nó làm một cái rẹt níu không kịp.

Mổi ngày nhìn anh chồng Mỹ cầm cây chổi quét hãng mà ứa nước mắt. Sau một tháng đi làm khi trời còn tối, về nhà thì trời đã tối rồi!, hết việc dọn hãng.

David hỏi ông giám đốc :

– Trong hãng việc nào làm lương cao nhứt “

– Trừ việc quản lý, chỉ còn việc làm sửa máy may là lương cao.

David nói:

– Tôi có kinh nghiệm sửa máy kéo tiền trong Casino. Ông cho tôi thử nghề sửa máy may trong hai tháng, nếu làm không xong tôi sẽ tự động xin thôi.

Ông Harvy, người ân nhân đã mất năm 1977. Chúng tôi không bao giờ quên ơn ông. Ông biết nhìn người, ông đã khởi đầu, hướng dẫn nghề nghiệp, cho chồng tôi có cơ hội xử dụng khả năng ,vượt qua cảnh nghèo.

1975, Thắt Ruột, Thắt Gan

David được lên chức phụ tá quản lý.

Bắt đầu từ tháng ba Ngọc Anh gởi thơ với tin tức chiến sự, càng ngày càng sôi động Miền Nam thật sự trong cơn dầu sôi lửa bỏng. Qua tháng tư , mổi ngày coi tin tức, thấy bản đồ chử S bị màu đỏ nhuộm lần lần từ vỉ tuyến 17 xuống miền Nam, ngày nào ba chị em tôi cũng khóc. Sự lo sợ, nóng ruột nóng gan không còn nghi ngờ gì nữa, màu đỏ xuống tới Xuân Lộc, rồi Long Khánh, miền Nam lọt vô tay Cộng sãn là cái chắc.

Ngồi may mà nước mắt tuôn ra, tới nỗi cô bạn nhỏ người Hong Kong, tên Siu Woo, chịu không thấu. Sẵn máy sẵn vải dư, nó may liền một cái túi, đi vòng vòng hãng xin tiền đồng nghiệp cho tôi.

Thiệt có gặp cảnh khổ mới thấy người có lòng, nhứt là người nghèo. Nó xin được hơn trăm bạc. Rồi bà má chồng và ông giám đốc tốt bụng, cho chúng tôi mượn tiền gởi chị tôi cùng chồng trở về Việt Nam tìm cách rước gia đình. Nhưng, máy bay chỉ hạ cánh ở Thái Lan vì đã được lịnh không thể đáp xuống Việt Nam. Vậy là hết đường !

Đài truyền hình loan báo chiến hạm Mỹ neo ngoài khơi, ai ra tới sẽ được vớt. Lộ trình di tản, người ta chết trên đường lộ, chết chưa ra khơi, chết từ trên không trung rớt xuống. Một máy bay di tản trẻ mồ côi bị Cộng quân bắn hạ, mấy trăm trẻ chết. Đau đớn biết bao cho những người lính Cộng hòa đã bị bỏ lại. Càng coi càng thắt ruột thắt gan.

Cuối tháng Tư, trong tình trạng vô cùng tuyệt vọng, kể như sẽ không còn nhìn thấy mẹ và mấy đứa em nữa. Thình lình, đêm 29, khoãng 2, 3 giờ sáng, má chồng tôi kêu, nói có người nào từ phi trường Hawaii cho hay má và mấy em đã rời Việt Nam.

Thủy quân Lục Chiến Mỹ làm hàng rào nhân sự, cầu không vận giờ chót đã bốc gia đình tôi ra khỏi địa ngục. Mừng quính, David liên lạc được với phi trường, nghe tiếng thằng em tôi:

– Cả nhà đi được, chưa biết chắc đi đâu, họ nói Wake gì đó, em hổng hiểu, sợ quá.

David nói :

– Rồi, nó đưa qua đảo Wake , căn cứ quân sự.

Mừng thôi là mừng. Sau cơn mưa, trời sáng sủa hơn… Mấy ngày sau, biết chắc những người trong chuyến bay đó đang ở trại Pendleton, California. Chúng tôi đi rước về. Gia đình tôi ở trại chỉ có vài ngày.

Về Reno, đài truyền hình Eye Witness New và đài số 2 tới tận nhà phỏng vấn.

Qua ngày sau, má và ba đứa em tôi vô hãng may làm, đài truyền hình lại tới quay phim, báo chí đăng hình, viết bài

chúc mừng

, gia đình tị nạn đầu tiên. Thiệt đúng là báo có đăng đài có nói đàng hoàng.

David nói với tôi:

– Tôi không tin tôn giáo nhưng đây là lần đầu tôi đã cầu nguyện.

Lúc đó vì mừng quá, đem gia đình ra khỏi trại sớm quá, chúng tôi không hiểu gì về quyền lợi mà chính phủ Mỹ dành cho dân tị nạn. Chúng tôi chỉ biết có một điều là qua được rồi thì đi làm nuôi thân và trả nợ.

Tội nghiệp Ngọc Anh, Kim Loan và Tấn Long thằng em trai mới có 17 tuổi là tuổi có thể trở vô trường, phải đi làm. Chỉ có Kim Phượng, Hoàng Thư và Thúy Phương được tiếp tục đi học.

Dân chúng Mỹ, chồng con về rồi, lòng nhân đạo họ củng mở ra. Thời gian nầy là lúc người Việt tị nạn có đủ chuyện vui về việc tự dịch tiếng Mỹ. Hiểu sao dịch vậy, giản dị gọn gàng. Đưa tay chỉ vợ, chàng giới thiệu với người Mỷ:

– This is my house (đây là nhà tôi)

Ai làm gì sai, lắc đầu, xí xóa :

– No star where (không sao đâu)

– The wind hit him (nó bị trúng gió)

Bạn còn nhớ hôn”

1976, Sợ Cái Nghèo Đeo Đuổi

Sanh đứa con gái út, tuổi Thìn, tên Elizabeth Xuân. Hơn hai thằng anh, con rồng nầy ở đủ tháng đủ ngày. Nó uốn éo, nó vùng vẫy, nó nhào lộn, nó cân nặng 6 pound 12 ounce, sanh 6 giờ sáng.

Được chuyện nầy mất chuyện kia. Sợ con đói khổ, sợ cái nghèo đeo đuổi, sanh mới hai tuần tôi mướn người giữ con, đi làm lại. Hai đứa rồi, thêm đứa thứ ba, đứa con gái mà David từ lâu mong đợi, tôi cũng đã bỏ bê nó cho người giữ.

Có phải vì lý do đó mà sau nầy lớn lên có chuyện gì buồn nó chỉ tâm sự với bạn mà thôi. Bây giờ nghĩ lại tôi vô cùng hối tiếc.

Sang năm 1977, dọn qua California. David làm Giám đốc hãng Barth & Dreyfus.

1978, làn sóng thuyền nhân

Sang năm 1978, Việt Mỹ được thư từ qua lại.

Làn sóng thuyền nhân tràn ngập các đảo nước lân cận. Cuối năm, cả đại gia đình dọn xuống North Carolina mở thêm chi nhánh. Làm ra tiền mà chỗ ở quá buồn.

Cuối năm, dì Năm cho hay chính quyền giải toả nghĩa trang Phú Thọ Hòa , phải lấy cốt Ba. Má tôi dặn đem đốt rồi gởi vô chùa. Dì Năm cho đứa con trai vượt biên, qua đảo Bulabidong an toàn.

1979, Trận Cuồng Phong David

Năm nầy, dì Năm cho hay cha con tụi tôi sẽ gặp nhau. Đó chỉ là cách nói bóng gió cho biết dì sẽ mang theo tro cốt của ba tôi đi vượt biên. Chừng không nghe tin tức của dì mà chỉ nghe tin thời tiết về trận bão chúng tôi lo lắng vô cùng.

Trận cuồng phong (hurricane ) trớ trêu thay lại có tên là David, khủng khiếp, tàn phá, giết hơn 1,100 dân vùng duyên hải đảo Caribbean. Bão dữ sóng thành nhận chìm biết bao thuyền nhân.

David liên lạc với hội Hồng Thập Tự, họ cho biết tin dữ : chiếc tàu Minh Hãi khởi từ Cà Mau đã không tới bến. Hơn 20 người bà con cùng dì Năm ôm bình tro cốt ba tôi, chìm sâu đáy biển. Ba tôi chết lần thứ hai! Một lần vì chiến tranh. Một lần vượt biên.

Nghe tin, không biết phải làm gì. Thấy tôi ngồi chết lặng cả buổi trong xó nhà, David ra xe lái đi. Y đi tìm chỗ làm thủ tục đứng tên bảo lãnh hai gia đình thuyền nhân Việt Nam.

Ở North Carolyna, tôi đã gặp nhiều cựu quân nhân, thương phế binh Mỹ trở về từ Việt Nam. Một người da trắng, mặt mày bị cháy bởi bom napaln, không còn hình dạng mắt, mũi nữa… Một người da đen, tay chống nạng, ông nói:

– Tôi để lại một chân bên xứ của cô.

Bạn nghe đau lòng không”

1984, dọn hẳn về California

David nhảy từ hãng nầy qua hãng nọ, chổ vài tháng, không hài lòng với việc làm. Hùn hạp với một người Đại Hàn mở hãng in vải, lổ vốn, đóng cửa .

Thất nghiệp. Y bỏ uống rượu. Nhất định không chịu xin tiền thất nghiệp. Năm nầy là năm thất thời thất chí của y. Ngồi trước TiVi, không đổi đài, hồn lạc đâu mất tiêu. Nhiều đêm, y ngồi dậy, lâu lắm, không nói gì. (Sau nầy nghe người ta nói cựu quân nhân Mỹ tại Việt Nam thường bị flashback, có nghĩa bị hình ảnh quá khứ ám ảnh, hổng biết dịch tiếng Việt là gì.)

Tôi cũng không khá hơn. Ở nhà lãnh tiền thất nghiệp. Vừa may em tôi, Thúy Phương, đem cuốn sách dạy về ngành Thẫm Mỹ cho tôi dịch mướn, kiếm thêm chút đỉnh!

1987, Má Chồng Mất

Việt kiều bắt đầu trở về Việt Nam thăm nhà. David làm cho hãng Design Collection (DC) chuyên mua bán, xuất nhập cảng hàng vải.

Tôi đậu bằng thẩm mỹ, ở lại dạy cho trường.

Giữa năm, má chồng tôi mất. Trước khi chết bà dặn không được mở nắp hòm.Bà muốn con cháu nhớ lúc bà còn sống chớ không nhớ tới cái xác vô hồn. Thôi rồi!

Bà đi trước khi được thấy sự nghiệp thành công của con trai. Cũng không kịp cho tôi nói lời cám ơn, thưa với bà là đứa con dâu Việt Nam của bà đã có nghề nghiệp chuyên môn, khỏi phải lo đứng bếp như lời bà từng dặn.

Còn đâu nữa những buổi ăn ngon lành thuần túy thức ăn Mỹ. Những ngày lễ lớn, nếu tụi tôi không đi thăm được, bà luôn luôn gởi thùng bánh trái tự tay làm cho con cháu. Tôi nhớ những lúc túng quẫn, bao giờ tụi tôi cũng kêu gọi tới bà. Lòng mẹ thương con dân tộc nào cũng như nhau. Từ đây, bà đã nằm kế bên ngôi mộ người chồng yêu dấu.

1988 – 1990

David lao đầu vô việc làm. Mổi tháng đi Nửu Ước hoặc South Carolina một tuần. Tôi cũng lo việc của tôi.

Hai đứa con trai tới tuổi vị thành niên, tuổi nguy hiểm. Bắt đầu nếm mùi lo buồn vì con cái. Lỗi chúng tôi phần nào vì đã không biết dạy dỗ tụi nó đúng cách.

  1. Bà chị thứ tư của David mất vì bịnh đứng tim.

1991, David Bị Kích Tim

David bị heart attack (kích tim) vô nhà thương mấy tuần. Hậu quả của gần 30 năm hút thuốc. Hút càng ngày càng nhiều. Việc làm càng khó khăn, căng thẳng, y càng cố gắng.

Chưa từng biết gì về computer nhưng với kinh nghiệm làm việc, y đã điều hành, kiểm chứng cho chuyên viên lập ra một chương trình để xử dụng trong hãng. Từ lúc hãng mới mở cửa năm 1986, việc ít, người ít, mọi sự đều làm bằng tay. Cơ sở phát triển lên hàng trăm nhân viên, phải điều hành bằng hệ thống điện toán.

Vì trách nhiệm, vì việc làm đòi hỏi sự quan tâm thường xuyên, y đã quên thân mình. Một ngày hai bình cà phê, ba gói thuốc thì thân nào chịu nổi. Bác sĩ cho biết nếu không tự săn sóc lấy mình thì y sẽ không sống tới ngày có cháu! Sợ chết ,y bỏ hút thuốc. Một cái một. (y nói nhỏ không muốn bỏ tôi lại một mình)

Tôi làm giám khảo ngành thẩm mỹ.

Chiến tranh giữa Kuwai và Iraq bùng nổ. Hai đứa con trai nói “khi quốc gia cần tụi con sẽ đi lính ” dù ba nó đã cho biết sự sai lầm của chính bản thân. Tôi quá lo sợ, sợ cho tới ngày Tổng Thống Bush rút quân về.

Con gái tôi bắt đầu cãi cha ghét mẹ. Khi buồn nó chỉ tâm sự với bạn mà thôi. Lỗi tại tôi, ham làm việc, ít gần gũi nó.

Diện con lai, gia đình HO bắt đầu qua Mỹ.

1992 – 1993

Lawrence vừa đi học vừa đi làm. Đứa con trưởng có tánh tự lập từ nhỏ. Có em sớm, nó cũng sớm biết nhường nhịn, thường ngồi chơi một mình.

Còn nhớ Tommy, lúc mới mấy tháng biết nhìn ai là mẹ rồi, tối nào tôi cũng phải ẵm nó từ 8 tới 9 giờ rồi bỏ vô giường thì nó mới chịu ngủ. Vậy mà vù một cái, năm 1993, tôi cưới dâu trưởng, gốc Quảng Đông, tên Elaine.

1994 – 1996

Hảng DC chia ra chi nhánh lấy tên DIVION 92, David đươc một phần trong bốn phần hùn. Y vừa làm chủ hãng DIV 92, vừa làm phó giám đốc cho hãng chính DC. Cuối 1994, Tommy vô hãng làm việc cho cha.

Sang năm 1995, con dâu có bầu. Đứa đầu không giữ được.

Tôi cứ suy nghĩ hoài. Có thể nào, vì Agen Orange (chất độc mầu da cam từng xài quanh các căn cứ Mỹ ở Việt Nam thời chiến) ảnh hưởng máu ông nội, qua tới đời cháu” Chẳng lẽ hậu quả của chiến tranh đeo đẳng theo phá hoại tới đời con cháu”

1996, Thêm Công Dân Hợp Chủng

Elaine có bầu lần thứ nhì. Lần nầy thì mẹ tròn con vuông. Chúng tôi có cháu nội gái tên Emily. Vậy là, xứ sở có tên Hợp chủng quốc thêm một công dân hợp chủng. Emily có 3/4 máu Á Đông, máu Mỹ còn có 1 phần. Nếu theo cái đà nầy, vài thế hệ tới nước Mỹ sẽ không còn da trắng, đen, vàng, đỏ, nâu nữa mà sẽ có cùng chung một màu …lờ lợ.

Với cháu nội, tôi muốn sửa lại những sai lầm, thiếu sót cũa tôi khi nuôi con, tất cả thì giờ rảnh tôi dành cho nó.

1997, xuống tàu, “ra riêng”

Elizabeth vô hãng làm phụ tá cho David. Tụi tôi để nhà lại cho vợ chồng Lawrence. Mua chiếc tàu dài 28 feet, “ra riêng”, sống luôn trên tàu. Kể như chúng tôi ăn trái do mình trồng, bây giờ có dư chút đỉnh tiền, y dụ tôi mua chiếc tàu để thỉnh thoãng đi câu cá. Tôi chìu theo dù không biết lội.

Ai mà ngờ ngày ký tên nhận tàu, cũng là ngày tụi tôi ở luôn trên con tàu neo giữa Boat City tại Marina del Rey…. Không khí mát mẻ, tôi dứt chứng bịnh dị ứng mũi kinh niên. Từ ngày ở trên tàu không còn phải xài thuốc thông mũi nữa.

Sang năm 1998, con tim của David có vẻ chịu gió biển, không thấy lên cơn bất tử nữa. Công việc “xuôi chèo mát mái” y đòi đổi chiếc tầu 38 feet. Tôi lại phải gật. Sống trên mặt nước là ước muốn từ lâu của y. Có con tầu riêng đúng ý, David vui vẻ coi là “mộng đã thành.”

Nhìn y vui, tôi nhớ đủ thứ. Chẳng có giấc mộng nào tự nhiên mà thành. May mắn không đủ. Núi cao có núi cao hơn. Lúc nào chúng tôi cũng tự hỏi “Mình có làm đầy đủ nhiệm vụ chưa” để khỏi phụ công ơn của những người trên đường đời đã một lần nào đó, giúp mình. (Thế nhưng nhiều người Việt, giờ đây quay lại chửi rủa, phản bội lại người mơn của mình!!!)

1999, Vĩnh Biệt Elaine

Trước ngày lễ Tạ Ơn, nhận tin chị Elaine đang hấp hối. Tới nhà chị, tụi tôi quẩn quanh trong 4 ngày. Đây là lần thứ hai tôi chứng kiến mạng người chênh vênh giữa sự sống và chết.

Khi Ba tôi bị bắn, cái chết thời chiến đến thình lình, tức tưởi, tê dại. Chị Elaine chết trong cảnh an bình. Đứng lặng bên giường chị, tôi thấy sự hấp hối, lấy hơi lên, hớp từng hớp không khí mà không nghe hơi thở ra, cho tới hớp không khí cuối cùng. Thình lình, tim ngừng đập.

Chị mất, tuổi mới 53. Tro tàn chị dặn hãy đem rải trên ngọn núi Table Rock ở Medford, nơi chôn nhau cắt rún. Một cuộc đời, chỉ sống loanh quanh nơi thị trấn nghèo nàn, buồn thiu. Sống giản dị, chết cũng giản dị.

Còn nhớ mới ngày nào chị cùng má chồng ra sân bay rước tụi tôi, năm 1970. Tôi gặp chị vào lể Tạ Ơn, nay chị xa tôi cũng vào dịp lể nầy! Thoắt cái. Ba mươi năm. Thôi rồi, xong một đời người. Vĩnh biệt Elaine.

2000, Sau 32 Năm

Ngày 28 tháng 5 năm 2000, ngày giỗ Ba tôi.

Sau 32 năm, nhìn đám con nguyên vẹn 7 đứa (chị tôi đi xa không về kịp) cùng gia đình sum họp, có lẽ Má tôi, chen lẫn trong buồn nhớ là sự hài lòng. Bà đã không uổng công ở vậy nuôi con. Mấy chị em tôi, dù con cháu đầy đàn, vẫn luôn luôn quẩn quanh bên Má. Tôi không đủ chử nghiã để viết về người mẹ. Bà là người đã tạo cho tôi lòng tin và sự cứng rắn. Chính bà là chỗ dựa để tôi đứng lên vững hơn mổi lần bị đời đạp xuống. Má tôi đã lên chức Bà Cố từ lâu.

Tháng 6, tôi có thêm đứa cháu nội gái tên Charlotte. Đứa lớn giống mẹ đứa nầy giống cha. Đứa cháu lớn nói tiếng Tàu thiệt là giỏi. Tiếng Mỹ khỏi học cũng biết. Tiếng Việt nói gì nó cũng hiểu, mà còn mắc cở miệng. Năm nay tôi cho nó 2 cuốn băng học tiếng Việt, má nó cùng học luôn thể. Mới 4 tuổi rưởi mà nó ma le lắm. Khi nào muốn tôi chơi với nó, nó sẽ giở giọng nhõng nhẽo ra ” bà nội, lại đây” bằng tiếng Việt có bỏ dấu đàng hoàng (giỏi hơn ông nội) lòng tôi mềm nhũn liền.

Khi nhận tin người anh rể chết bất thình lình, tôi nhớ ngày anh mang David về ngôi nhà cũ ở Phú Lâm giới thiệu. Anh chính là “ông mai” của chúng tôi. Tôi biết ơn anh.

Cho tới ngày nay, David cũng chỉ nói được vài tiếng Việt không bỏ dấu. Tôi xào đồ ăn, y nhắc:

– Put alot of Cu Hanh ( để nhiều củ hành).

Mỗi lần ai hỏi về “Chuyện gì xảy ra ở ‘Nam'” y trả lời:

– Mình rút, mình thua. Vinh hạnh gì mà khai” Tôi thấy xấu hổ…

Tôi không nhìn người đàn ông đi bên tôi là người ngoại chủng, chỉ thấy một người chồng, người cha, lòng tốt lấp đi tật xấu. Y bắt buộc ba đứa con phải nói tiếng Việt để tỏ lòng kính trọng người mẹ Việt và gia đình bên ngoại.

Đó bạn, “chuyện nhà” chúng tôi, cũng ba chìm bảy nổi như bao câu chuyện khác.

Qua kinh nghiệm sống hơn ba chục năm, tôi thấy nước Mỹ chuộng người siêng năng, cầu tiến, cố gắng và biết chụp cơ hội. “Ngồi mà chờ thời, đời nào mà thành.”

Tôi hay chọc David :

– Nước Mỹ nợ nước Việt Nam, cho nên phải cưu mang người Việt. Má tôi hơn 75 tuổi còn sáng suốt, ăn uống đầy đủ, bịnh hoạn đã có bác sĩ, nhà thương lo. Các em tôi có công ăn việc làm đàng hoàng. Còn you, you nợ tôi, you tình nguyện vô lính lúc chưa tới 17 tuổi, bắt mẹ phải đi ký tên, đi tuốt qua bên kia trái đất, rước tôi về đây để trả nợ.

Y nịnh:.

– Nợ tình. “I love you từ kiếp trước”. Nợ tiền trả lần lần cũng hết. Nợ tình thì anh trả suốt đời. Kiếp nầy không xong trả thêm kiếp sau.

Vậy là sau bao năm coi vợ như… không khí, y bắt đầu hiểu ra là không khí cũng có giá trị.

Vợ chồng, khi hiểu ra được điều nầy, thường đã…quá đát. David nay không còn ốm gọn, mà y như cái thùng phuy. Tôi cũng đã tròn như cái gối ôm, đâu còn nhỏ xíu, mỏng manh như khi đứng bên y trước bàn thờ Ba tôi năm nào.

Trong trận cuồng phong David năm 1979, mạng sống hàng ngàn người và thuyền nhân đã bị nhận chìm, trong đó có dì Năm và tro cốt Ba tôi. Tất cả chìm tan nhưng biển vẫn còn đó.

Hàng ngày, tôi đang là “tàu nhân” sống ngay trên biển. Đứng bên David, người chồng Mỹ cùng tên với trận cuồng phong, nhìn biển, nghe tiếng sóng xô, lớp sau đùa lớp trước, tôi hiểu điều tôi khấn nguyện và tự hứa năm xưa vẫn được Ba tôi liên tiếp nhắc nhở và phù hộ.

May be an image of 5 people, people standing and text

Lê Chí Thành, 38 tuổi, cựu đại úy công an vừa nộp hồ sơ ứng cử đại biểu QH bị bắt với cáo buộc “chống người thi hành công vụ.

 

*** Lê Chí Thành, 38 tuổi, cựu đại úy công an vừa nộp hồ sơ ứng cử đại biểu QH bị bắt với cáo buộc “chống người thi hành công vụ.” ***

– Càng ngày càng có nhiều thanh niên trẻ , thậm chí là những cựu đảng viên, nhìn thấy sự thối nát của nhà nước cầm quyền, thức tỉnh, bắt đầu chống lại chế độ CS , họ không phải là người của VNCH củ, họ là con cháu của HCM.

Được biết Ông Lê Chí Thành, 38 tuổi, cựu đại úy công an từng nhiều lần lên tiếng trên Facebook về tệ tham nhũng trong ngành công an .

Truyền thông Việt Nam loan tin ông Lê Chí Thành bị bắt sau khi cảnh sát giao thông phát hiện lái xe “không có giấy đăng ký hợp lệ” trên xa lộ Hà Nội, ở quận Thủ Đức. Báo Công an Thành phố cho biết ông Thành “có hành vi cản trở lực lượng chức năng làm nhiệm vụ” khi xe của ông bị cẩu đi.

Nhiều người trên mạng xã hội bày tỏ thắc mắc tại sao nhà của ông Thành ở quận 12 bị an ninh khám xét sau vụ “vi phạm giao thông” ở Thủ Đức.

Nhà hoạt động Bùi Tuấn Lâm hôm 14/4 viết trên Facebook: “Hôm nay, cựu đại uý Lê Chí Thành bị bắt vì tội chống người thi hành công vụ, nhưng đó chỉ là cái cớ họ chụp mũ cho anh. Thật sự anh bị bắt vì là cái gai trong mắt ngành công an lâu nay, do tố cáo giám thị trại giam và những tiêu cực trong ngành công an.”

“Bản thân tôi nghĩ một người như anh ấy trước sau gì cũng sẽ bị bắt vì những việc làm, lời nói, và hành động của anh rất thiết thực và đụng chạm đến lợi ích của ngành công an.

“Cái nguy hiểm luôn chực chờ anh ấy, nhiều khả năng là người ta tìm cách này hay cách khác để bắt anh ấy thôi.”

Luật sư Lê Quốc Quân ở Hà Nội viết trên Facebook: “Chiều nay 14/4, cựu đại uý Lê Chí Thành, người đã rất nổi tiếng về việc chống tham nhũng trong ngành công an và là người đã “đốt quân phục, bằng cấp”, đã bị công an Tp. Thủ Đức bắt về hành vi “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015.”

“Theo như những video tôi thường được xem của anh Thành quay gần đây thì anh chỉ thực thi quyền “giám sát” theo luật định đối với các CSGT. Thế nhưng ai cũng biết rằng, việc giám sát đó chắc chắn ảnh hưởng đến “bánh mì” của các “đồng chí,”” Luật sư Lê Quốc Quân nhận định.

Trong một livestream hôm 9/3, ông Lê Chí Thành nói rằng ông vừa đến Sở Nội vụ Thành Hồ nộp hồ sơ “ứng cử đại biểu QH” khóa XV.

Trong một livestream khác hôm 13/4 với nhan đề “Lê Chí Thành bị đuổi khỏi thành phố”, ông cho biết công an đã nhiều lần sách nhiễu và kiểm tra hành chính đối với ông.

Báo Công an Thành phố cho biết ông Lê Chí Thành thường xuyên livestream trên mạng xã hội, “có nhiều nội dung xuyên tạc, bôi nhọ, cản trở lực lượng chức năng thực thi công vụ.”

TL – VOA.

Sài Gòn : FB “Duy Quách” bị tuyên 4 năm tù và 6 tháng tù giam.

Hoa Lys  is with Võ HongLy

15.04.2021

Sài Gòn : FB “Duy Quách” bị tuyên 4 năm tù và 6 tháng tù giam.

Sáng nay, 15/04/2021, TAND quận Tân Phú đã tuyên xử anh Quách Duy, sinh năm 1982, ngụ tài Sài Gòn, 4 năm 6 tháng tù về cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

Theo cáo trạng của nhà cầm quyền CSVN, anh Quách Duy đã đăng tải những bài viết xác định chính kiến của mình trên trang FB cá nhân và được cho là xúc phạm đến ông Trần Đại Quang, ông Nguyễn Tấn Dũng…

Nguồn : https://m.plo.vn/…/bi-cao-quach-duy-bi-phat-4-nam-6…

“BÀN TAY CHÚA”…

No photo description available.

8 SÀI GÒN

“BÀN TAY CHÚA”…

Bức ảnh này được chụp năm 1987 ở thành phố Zabsha Balan đã lan truyền khắp thế giới và không một ai có thể thờ ơ…!

Bức ảnh ghi lại khoảnh khắc sau ca phẫu thuật ghép tim kéo dài 23 giờ. 23 giờ trong trạng thái căng thẳng nhất của tay, chân và toàn thân, vì một sai sót nhỏ cũng có thể phải trả giá bằng mạng sống của bệnh nhân. Và vào thời điểm đó vẫn chưa có thiết bị chính xác cao để kiểm soát công việc của các bác sĩ.

Ca phẫu thuật được một chuyên gia có trình độ cao, bác sĩ phẫu thuật tim người Ba Lan Zbigniew Religa thực hiện.

Trong ảnh, ông đang ngồi rất mệt mỏi và xem xét các chỉ số – tim mới của bệnh nhân hoạt động như thế nào. Người trợ lý mệt mỏi của ông đang ngủ gục ở góc xa bên phải.

Bệnh nhân là thầy giáo Tadeusz Zytkiewicz. Năm 1987, ông bị suy tim cấp tính. Vào thời điểm đó, anh ấy đã trải qua ba cơn đau tim. Ông ấy đã 60 tuổi, và tất cả các bác sĩ mà ông ấy tìm đến để được giúp đỡ đều nói rằng ở tuổi này người ta không thể chịu đựng được một ca phẫu thuật phức tạp như vậy. Nhưng Zhutkevich không thể đi lại được nữa và do đó ông đã viết thư cho Bác sĩ chỉ có ba cụm từ:

“Tôi là một giáo viên. Tôi có một trái tim tồi tệ. Tôi xin cầu cứu… “Bác sĩ đã đồng ý giúp ông ta, và trả lời:

“Xin hãy đến”.

Ca mổ thành công mỹ mãn. Người thầy giáo này sống hơn 30 năm nữa và từ giã cõi đời này ở tuổi 91, sống lâu hơn cả bác sĩ phẫu thuật của mình. Ông mất tháng 9 năm 2017.

Bác sĩ Zbigniew Religa sống thọ 70 tuổi, ông qua đời năm 2009.

Tất nhiên, có những bác sĩ giỏi, và có những bác sĩ không giỏi. Nhưng có những người bác sĩ mà chúng ta có thể an tâm nói rằng:

“Bàn tay Chúa…!”

Copy từ fb PHAN QUOC HUNG

MỘT KHÍA CẠNH KHÁC CỦA SỰ KỲ THỊ.

Hoai Linh Ngoc Duong

MỘT KHÍA CẠNH KHÁC CỦA SỰ KỲ THỊ.

Đã có nhiều bài viết về sự kỳ thị của người da trắng với dân châu Á và Dư luận viên của đảng Cộng sản có dịp vỗ tay hoan hô” Không nơi nào bằng tổ quốc Việt Nam” ” Làm thân ăn nhờ ở đậu cũng khổ trăm đường” để từ đó phủ nhận các giá trị dân chủ, tôn vinh độc tài.

Nhưng các bài viết trên chỉ nhìn một phía. Phía khác là để trả lời câu hỏi: “Mình có sao đó người ta mới kỳ thị”. Từ chỗ một số đông với những tập quán tính cách của mình đã làm hoen ố cả cộng đồng và khiến những người tốt, những người hội nhập bị họa lây. Đây không còn là “một con sâu làm rầu nồi canh” mà “cả một bầy sâu làm rầu nồi canh”

Thế giới có 2 loại kỳ thị.

Một loại là kỳ thị ra mặt và một là kỳ thị ngầm. Kỳ thị ra mặt bị cấm bởi pháp luật nhưng kỳ thị ngầm chính là động lực phát triển của xã hội. Kỳ thị ra mặt là sự phân biệt màu da, giới tính, chủng tộc, tôn giáo… để ném đá, chửi bới ,lăng nhục, từ chối phục vụ. Biểu hiện cụ thể cho loại này là những tấm biển đề “Nhà hàng chúng tôi không phục vụ người Nhật,Trung Quốc, da đen, Hồi Giáo…” Những loại kỳ thị này tuyệt đối bị cấm bởi pháp luật tại Hoa Kỳ. Và người Mỹ văn minh không bao giờ làm. Họ không bao giờ dùng cách như Lê Đức Thọ sau khi bắt tay Henry Kissinger ở hội nghị Paris 1973, dùng khăn để lau tay biểu hiện mình cao quý (theo giai thoại). Điều này ở Mỹ sẽ bị xem là kém văn hóa.

Nhưng kỳ thị ngấm ngầm lại là một biểu hiện của văn hóa. Bởi lẻ người ta không khinh vẻ bên ngoài mà là khinh cái tính cách của anh. Đó là khinh cái thói ăn cắp vặt, nói chuyện vô văn hóa, chửi thề, thói quen không xếp hàng, không giữ lịch sự nơi công cộng … cao hơn là thói làm biếng, thích hưởng thụ, trốn thuế, lối sống theo bản năng, nạn cư xử bằng bạo lực, độc hành độc đoán… Tại sao kỳ thị ngấm ngầm là động lực tiến hóa của xã hội. Bởi thói quen về hành vi là cái mà luật pháp không chế tài được. Đó là biểu hiện của văn hóa. Những người ăn không ngồi rồi, trốn trách nhiệm xã hội đôi lúc cũng lợi dụng khe hở của luật pháp để tranh thủ sự nhàn hạ cho mình. Chính sách xã hội đôi lúc vì cái chung cho nên bỏ qua cho những kẻ cơ hội.

Tại sao người Việt nam, Trung Quốc bị thế giới kỳ thị?

Người ta không kỳ thị màu da, quốc tịch của anh mà người ta kỳ thị vì ngón nghề ăn cắp, lừa đảo, văn hóa mất lịch sự của anh nổi tiếng khắp thế giới. Sự kỳ thị này giúp cho dân tộc Việt Nam biết soi lại mình để sống làm sao cho người ta khỏi khinh.

Người ta kỳ thị người châu Á vì những ngón nghề sau đây:

Trốn thuế.

– Gian lận an sinh xã hội.

– Không tham gia vào bỏ phiếu tạo ra nền dân chủ.

– Sùng bái cá nhân chứ chẳng hiểu về thiết chế.

– Không tham gia biểu tình bày tỏ nguyện vọng của cộng đồng.

– Sống trên xứ người với tâm thế ăn nhờ ở đậu chứ không phải tâm thế làm chủ đất nước.Tìm đủ mọi cách mưu lợi cho mình bất kể lợi ích chung.

– Thể hiện nền văn minh lúa nước.

Từ những kỳ thị ngầm này dẫn đến sự kỳ thị lộ liễu của một số kẻ cực đoan, đánh đồng tất cả người châu Á với nhau. Nhưng kỳ thực trong châu Á cũng có một sắc dân khác đẳng cấp không thua kém họ. Đó là người Nhật.

Tất nhiên từ khi Trump nắm chính quyền các nhóm da trắng cực hữu đã trỗi dậy và công khai bộc lộ sự kỳ thị lộ liễu bởi chủ nghĩa dân tộc. Đó là nền tảng dẫn đến chủ nghĩa phát xít.Nhưng người châu Á trước khi phê phán người cũng phải nhìn lại mình.

Dân da trắng không thể nai lưng đóng thuế để người châu Á lợi dụng các khe hở của chính sách để hưởng lợi.

Tự do không hề miễn phí. Người châu Á đến Hoa Kỳ hưởng tự do mà không hề trả phí xương máu của công cuộc đấu tranh chống độc tài của người Mỹ suốt hơn 200 năm nên rất dễ bị khinh thường. Cách tốt nhất để tránh kỳ thị là họ phải góp sức vào sự thịnh vượng chung. Điều đơn giản là khi thấy lá cờ vàng cắm trên tòa nhà quốc hội Mỹ, biểu tượng của dân chủ tự do thì những người da trắng hiểu biết không kỳ thị người Việt Nam mới là chuyện lạ.

Mình có sao đó người ta mới kỳ thị mình.

Tôi đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng

Tôi đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng

Tương lai lúc nào cũng tối. Thay đổi không phải là đi đến tiệm tạp hóa rồi quay về nhà.

 13/04/2021

By  NGUYÊN SA

Ảnh minh họa: Fanatic Studio/ Getty Studio.

  Nếu bạn là người quan tâm đến chuyện tạo ra thay đổi ở Việt Nam, thời gian vừa rồi hẳn là tăm tối.

Ở Ba Đình, Quốc hội khóa cũ họp để hoàn tất một mục tiêu gọi là kiện toàn bộ máy. Sau tấm màn che, quyền lực thay đổi, một nội các mới hình thành. Chẳng người dân nào biết đấy là đâu. Trong khi đó, người dân được kêu gọi thực hành quyền và nghĩa vụ của mình sau hơn một tháng nữa, để chọn ra những người đại diện cho họ. Những đại diện đó sau khi được bầu ra làm nốt vai trò lịch sử: tán thành phương án kiện toàn của những người tiền nhiệm. Mọi người ai ngồi yên chỗ nấy, chuyện đâu vào đấy.

Trên khắp đất nước, có những người quyết định thực hành quyền chính trị của mình bằng cách tự ứng cử đại biểu Quốc hội. Có người vừa nộp hồ sơ xong thì an ninh đã tìm đến tận nhà. Có những người tự ứng cử khác bị bắt. Phần lớn thì như dự đoán, bị loại ra một cách rất đúng quy trình, thông qua những vòng hiệp thương.

Vài ngày trước, Nguyễn Thúy Hạnh bị bắt. Ba người phụ nữ được cho là can đảm nhất trong phong trào phản kháng tại Việt Nam đều đã phải vào tù. Đáng buồn hơn là, những tiếng phản đối cũng nhỏ dần đi rồi tắt hẳn. Chẳng ai muốn nói gì nữa. Một lời than vãn bây giờ cũng được định giá rõ: 7,5 triệu đồng.

Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thúy Hạnh. Ảnh: Luật Khoa/ PhotoMania.

Chính quyền có vẻ là đang thắng trên mọi mặt trận. Vừa làm được việc họ muốn, vừa giữ được tính chính danh.

Tôi phải đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng.

***

“Đối thủ của bạn muốn bạn tin rằng mọi thứ là vô vọng, rằng bạn chẳng có quyền lực gì, rằng chẳng có lý do gì để hành động cả, rằng bạn không thể thắng. Hy vọng là một món quà mà bạn không cần phải từ bỏ, một quyền năng bạn không buộc phải ném đi.”

Rebecca Solnit mở đầu cuốn sách của mình như vậy. “Hope in the Dark“, ra đời năm 2003, được ví như một chiếc đèn pin để các nhà hoạt động (activists) soi vào tương lai tăm tối. Cuốn sách được viết khi bản thân tác giả, một nhà hoạt động, đối diện với nỗi thất vọng vì nước Mỹ quyết định bắt đầu cuộc chiến tại Iraq. Nó mời gọi người đọc thay đổi cách nghĩ về chính sự thay đổi, nhắc lại những thành tựu trong lịch sử mà người ta thường bỏ quên trong sự hỗn loạn của đời sống thường ngày, và bồi đắp thêm nền tảng cho hy vọng đứng vững.

Thú thực là những câu chuyện về thay đổi trong lịch sử không làm tôi ấn tượng. Bức tường Berlin, Cách mạng Hoa Nhài ở Tunisia, Mùa xuân Ả Rập v.v…, những sự kiện ấy tôi đều đã được nghe cả, và chúng diễn ra ở những bối cảnh xa xôi chẳng liên quan đến tôi. Sự tối tăm ở Việt Nam là một kiểu khác, sự thờ ơ với chính trị và sự thoải mái với việc bị cai trị ngấm sâu vào đời sống ở Việt Nam là một mức độ trầm trọng khác – tôi nghĩ vậy.

Chiếc đèn pin của Rebecca Solnit chỉ bắt đầu rọi đến tôi ở chương sách thứ 10, khi bà nói về vấn đề trong sự sốt ruột của những nhà hoạt động. “Changing the Imagination of Change” (Thay đổi những hình dung về sự thay đổi) là tiểu luận khởi đầu của cuốn sách “Hope in the Dark”. Nó nhìn vào nội hàm của sự tham gia chính trị, chạm vào những tình cảm, những mong muốn vừa riêng tư lại vừa phổ quát của những người đòi hỏi thay đổi, và lý do khiến cho họ dễ thất vọng.

Một cuộc biểu tình đòi quyền lợi cho người da màu tại Washington D.C., Mỹ vào năm 1963. Ảnh: Steve Schapiro/ Corbis/ Getty Images.

“Nhiều nhà hoạt động có một cái nhìn máy móc về thay đổi, hoặc có lẽ họ mong chờ điều mà những viên thuốc giảm cân giả quảng cáo, “bảo đảm hiệu quả nhanh và dễ dàng”. Họ mong chờ kết quả sau cùng, sự xác quyết, những mối quan hệ nguyên nhân – kết quả dễ thấy, những lợi ích ngay lập tức. Để rồi kết quả là họ chỉ thấy sự thất vọng, về sau trở thành những nỗi cay đắng, sự nghi ngờ, thái độ biết-thừa-là-thể-nào-cũng-sẽ-thua. Họ làm mọi thứ trên một giả thuyết rằng với mỗi hành động, đều phải có một hành động đáp trả tương ứng và kịp thời, nếu không thì là thất bại.”

(Sao người ta bị bắt liên tục thế mà chẳng ai nói gì nhỉ, thật là tệ! Tôi bắt đầu thấy nhột khi sự sốt ruột của mình bị nhìn thấu.)

Lịch sử nhắc chúng ta rằng những sự thay đổi không diễn ra giống như một ván cờ có hồi kết. Nó giống như thời tiết, bao gồm nhiều hiện tượng phức tạp với những hiệu ứng trộn lẫn vào nhau, và nó cứ như thế mãi. Một cú đập cánh của một con bướm ở châu lục này có thể tạo ra một cơn bão ở châu lục khác, nhưng quá trình ấy có thể kéo rất dài.

Cần một thế kỷ để chấm dứt chủ nghĩa nô lệ ở Mỹ, nhưng những hậu quả của nó đến giờ vẫn tồn tại. Cần một thế kỷ để phụ nữ được quyền đi bầu, nhưng cuộc chiến với các định kiến giới thì chưa từng kết thúc. Hành trình tạo ra thay đổi không giống như đi bộ đến cửa hàng tạp hóa ở góc phố để mua một món hàng rồi quay về nhà. Trái lại, nó là sự dấn thân vào vùng bất định.

Những người phụ nữ biểu tình tại Washington D.C., Mỹ vào năm 1915, đòi quyền được bỏ phiếu như nam giới. Ảnh: Harris & Ewing/ Buyenlarge/ Getty Images.

“Tương lai lúc nào cũng tối”, Solnit biện luận, nhưng sự tối tăm đó không nhất thiết là tồi tệ, nó chỉ có nghĩa là bí ẩn. Nếu chúng ta tiếp tục lần mò trong bóng tối đó và tìm cách đi tới, nhiều khả năng khác sẽ có cơ hội xảy ra.

Cơ sở mạnh mẽ nhất của hy vọng là sự bất định. Chỉ có một điều chắc chắn thôi, là mọi thứ sẽ thay đổi. Sự bi quan rằng mọi thứ rồi sẽ như cũ về căn bản là không đúng. Sự lạc quan rằng mọi thứ rồi sẽ tốt lên cũng không hề có cơ sở. Và cả hai lời khẳng định chắc nịch này đều là lý do để từ chối hành động. Hy vọng thì khác. Cơ sở của hy vọng là niềm tin rằng những hành động của chúng ta có hiệu ứng. Nhưng hiệu ứng vào lúc nào, tác động đến ai, như thế nào thì ta không biết trước. Quan trọng là ta bắt tay vào làm.

Hy vọng không có nghĩa là ngồi yên trên ghế sofa của mình đeo cặp kính hồng và tin mọi thứ sẽ ổn. Hy vọng kéo chúng ta đứng lên, xô chúng ta ra khỏi cửa, mời gọi chúng ta bắt tay vào hành động. Sai hay đúng, thành hay không thành, là chuyện quá sớm để phán xét. Tuyệt vọng khi chưa làm hết những thứ có thể làm chẳng qua là một lựa chọn dễ dãi hơn.

***

Ở Việt Nam bây giờ cũng tối. Trong mắt tôi, những động lực thay đổi chưa từng yếu như lúc này. Nhưng cuốn sách của Rebecca Solnit gợi ý rằng đó có thể là do tôi lười tìm kiếm thôi. Chuyện có thêm ai đó bị bắt không nên khiến tôi tuyệt vọng, thay vào đó, tôi nên bắt đầu tìm hiểu về những việc họ làm trước khi bị bắt, và kể lại những thay đổi nhỏ mà họ đã góp phần tạo ra. Những ký ức đó sẽ giúp chúng ta không bị hiện tại tối tăm đánh lừa rằng mọi thứ lâu nay vẫn thế.

Nguyễn Thúy Hạnh trong một lần biểu tình vào năm 2016 tại Hà Nội, với biểu ngữ đòi trả tự do cho hai tù nhân lương tâm. Ảnh: Facebook Nguyễn Thúy Hạnh/ RFA.

Đó là một bài tập thể dục tinh thần có thể cần thiết cho cả bạn, nếu bạn cũng đang tìm một lý do để giữ một ngọn lửa nhỏ trong mình. Nếu lửa tắt, hãy nghĩ về những người đang ở trong tù. Tối tăm mà chúng ta nhìn thấy ở đây đâu là gì so với họ.

Nếu tất cả những gì chính quyền muốn là chúng ta bỏ cuộc, buông xuôi, thì hy vọng bản thân nó đã là một hành động phản kháng.

Nghĩ về nỗi sợ hãi và hòa giải dân tộc

Nghĩ về nỗi sợ hãi và hòa giải dân tộc

Bởi  AdminTD

Thái Hạo

14-4-2021

Vài ngày trước, một người bạn vong niên của tôi, người từng tham gia trong cuộc “20 năm nội chiến từng ngày” với tư cách một người lính của Miền Nam VN, kể rằng khi phóng viên hỏi ông: “Làm thế nào để hòa giải dân tộc?”, ông trả lời “Chỉ có thể hàn gắn khi cả hai bên đều hiểu rõ tính chất của cuộc chiến tranh này, một cuộc chiến tranh mà bên nào cũng là nạn nhân của trò chơi chính trị trong tay các siêu cường”.

Cả câu hỏi và câu trả lời đều làm tôi suy nghĩ, nó vừa khơi lên nỗi chua chát cùng tận vừa bất mãn mơ hồ. Và tôi muốn thử tìm một lý giải cho mình bên ngoài câu chuyện chính trị.

Người Việt phải chăng đã bất hòa với nhau từ lâu xa trong quá khứ chứ không phải từ 1954 hay 1975? Chúng ta bất hòa từ trong gia đình đến họ tộc, làng xóm; Bất hòa từ trong nhà ra đồng lúa, từ tông tộc đến xã hội. Con cái và cha mẹ không phải là “gia hòa vạn sự hưng” mà là áp đặt và nghe lời; Vợ chồng không phải “tương kính như tân” mà là trên dưới một chiều, anh em không phải “như thể chân tay” mà là “quyền huynh thế phụ”…

Người trong nhà rất ít nói chuyện với nhau. Khi nhỏ thì thường là cha nói con nghe, khi lớn lên thì im lặng xâm chiếm, mà hễ mỗi khi có chuyện cần bàn thì ngồi lại là liền xung đột. Vợ chồng mới cưới thì ríu rít được vài hôm, ngày qua tháng lại chưa lâu thì “mở miệng là cãi nhau”. “Đi họ bênh anh em nhà, đi chợ bênh anh em họ”.

Hãy nhìn nông thôn Bắc và Trung bộ, khó tìm thấy một đám hiếu hỉ ma chay nào mà không lời qua tiếng lại, anh em cự cãi, chửi bới, từ mặt. Nhà càng đông người, nguy cơ “mất đoàn kết” càng lớn. Hễ chung bờ rào là chửi chó mắng gà, rào đường cách lối, nói xấu sau lưng. Hễ chung bờ ruộng là mắng cỏ bới lúa, là xách đòn gánh rượt nhau. Cái cách nói “dân Thanh Hóa, dân Nghệ An, dân xyz” thường mang hàm nghĩa phân biệt vùng miền với ý kỳ thị hoặc tự tôn…

Tại sao thế? Những tín điều như “tình làng nghĩa xóm”, như “tối lửa tắt đèn”, như bầu bí nhiễu điều… phần nhiều là để an ủi và phỉnh phờ hơn là một thực tế. Sự ganh ghét đố kỵ, thói ngồi lê đôi mách và nạn “tin giả” (fake news) đã có từ nhiều trăm năm trước.

Có một cái gì rất dễ đổ vỡ trong các mối quan hệ Việt. Người ta hoặc gắng gượng, hoặc màu mè, hoặc chịu đựng, hoặc miễn cưỡng… để “che mắt thiên hạ”. Người Việt rất sợ bị “cười” nên họ sẵn sàng “đóng cử bảo nhau”, “tốt đẹp khoe ra xấu xa đậy lại”. Cả khen và chê đều không mấy khi thật lòng mà thường cốt để làm đẹp lòng nhau. Khen thì khen hết lời, lúc chê thì thành mạt sát hủy nhục. Những sự nối kết giữa người với người rất mong manh, nhưng kỳ lạ thay dù “cơm không lành, canh chẳng ngọt” nhưng người ta lại có thể sống suốt đời cùng nhau; chê nhưng không bỏ, khinh nhưng không từ, oán mà không than. Đó là một trạng thái quái gở của quan hệ người – người trong cộng đồng Việt.

Ngay cả những người được cho/tự nhận là “đấu tranh dân chủ” ngày nay cũng khó mà ngồi lại cùng nhau. Cùng với việc chửi chính quyền là chửi nhau. Cái “cộng đồng” ấy chia rẽ một cách đáng kinh ngạc. Chính quyền, dân và “giới bất đồng” dường như chẳng bao giờ gặp nhau. Cứ mỗi người một ốc đảo mà hễ lại gần là nghi ngờ, là bất hòa, là tranh cãi.

Nói rất nhiều mà dường như chẳng có người nghe. Cãi rất to mà chỉ như tiếng ồn. Giữa người với người dường chỉ có những âm thanh hỗn tạp. Không ai thấy cần thiết phải nghe ai. Tất cả những cái tôi đều to đùng. Một điều tệ hại mà chúng ta ít thấy trong lịch sử: Người trí thức ngày càng trở nên vô hình trong mắt dân cày. Người ta không còn trọng tri thức và trí thức nữa. Đây là tiếng chuông báo điểm sự suy tàn tột độ của một xã hội.

Phải chăng, chúng ta là một dân tộc “dũng cảm” như lời tụng ca? Điều ấy đáng ngờ. Hình như NỖI SỢ HÃI mới chính là “bản sắc” của nòi giống? Mặc cảm nghèo hèn, mặc cảm nhược tiểu, mặc cảm dốt nát… đè nặng lên dân tộc suốt trường kỳ lịch sử. Càng mặc cảm thì biểu hiện ra càng trái ngược. Kẻ yếu nhược thường hung hăng, người nghèo hèn thường khoe mẽ, dốt thì hay nói chữ… Cái cơ chế phòng vệ này là một sự tinh quái của bản ngã; sự tinh quái đánh lừa chủ nhân của nó có thể suốt cuộc đời; và như thế là suốt chiều dài lịch sử của một cộng đồng.

Chúng ta đã bị kẻ láng giềng to con và thâm hiểm bắt nạt suốt cả ngàn năm. Rồi chính chúng ta cũng đã du nhập một chế độ đẳng cấp bất công vào mỗi ngôi nhà, mỗi xóm làng; chúng ta cai trị kẻ khác bằng con đường của chuyên chế. Chồng độc đoán với vợ, cha độc đoán với con, anh độc đoán với em, quan độc đoán với dân, giàu độc đoán với nghèo, lớn độc đoán với nhỏ. Đó là một loại khế ước của “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Nó thâm nhiễm vào tất cả mọi cá thể, và từ nạn nhân của sự cai trị độc đoán, người ta sẽ trở thành những bàn tay độc đoán ngay khi có cơ hội. Đáng sợ hơn, ngày nay cái thiết chế ấy còn phủ trùm trên thân thể xã hội bằng cách nhân danh những thứ thật mỹ miều.

Sự coi thường, khinh bỉ hay nỗi sợ hãi và tính hèn hạ được sinh ra từ cái thiết chế “gạo tiền” này. Chúng ta giàu tự ái hơn là lòng tự trọng; chúng ta tự cao hơn là tự tôn; tự phụ hơn tự chủ, tự huyễn hơn tự học… Chúng ta theo đuổi mảnh bằng hơn là truy tầm chân lý; chúng ta theo đuổi tiền bạc mà bỏ quên mục đích của đời sống; theo đuổi địa vị mà quên đi trách nhiệm. Chúng ta nổi nóng với vợ con nhưng dạ vâng trước cường quyền; chúng ta làm từ thiện khắp nơi nhưng bỏ bê họ hàng; chúng ta ngọt ngào với thiên hạ nhưng cộc cằn với người nhà…

Một đằng là “tạo dựng hình ảnh”, đằng kia là thể hiện quyền lực. Cả hai đều là biểu hiện sự yếu nhược của một cái tôi nhiều tổn thương và đổ vỡ. Chúng ta cố chống chọi với sự khiếm khuyết của nhân cách mình bằng những lối tiêu cực nhất như thế.

Nỗi sợ hãi là căn nguyên của tất cả? Càng sợ hãi, người ta càng hung dữ, càng sợ hãi người ta càng làm màu. Người Việt sợ nhất là bị “cười”, không được để người khác cười, phải mạnh mẽ lên, phải sang trọng lên, phải giàu lên, phải đẹp lên… Phải chứng tỏ rằng “ta đây chẳng kém ai”. Cuộc đời đã bị đánh mất bằng những cách như thế. Người ta bỏ lại phía sau tất cả để trưng ra một hình ảnh “đẹp” nhất – vì cái mặc cảm ấy nên suốt đời họ phải “sống cho người khác xem”.

Người ta nhìn nhau để sống, đua nhau để làm: Xây nhà to, sắm đồ sang, mua điện thoại xịn, tậu túi xách và đồng hồ hàng hiệu… ngay cả khi không có tiền. “Giải quyết khâu oai” là mục tiêu của mỗi cuộc đời. Oai vì đồ đạc, oai vì áo quần, và đau khổ nhất là oai vì con cái. Để thỏa mãn sự đói khát truyền kiếp, người ta bấp chấp ước mơ của con cái để sẵn sàng đẩy chúng vào những cuộc chiến khốc liệt của trường chuyên lớp chọn, đẩy chúng vào những lớp học thêm bất kể ngày đêm. Họ sẵn sàng “hi sinh đời bố, củng cố đời con”, nhưng thực ra đó là hi sinh đời con cho đời bố nở mặt. Cái sự “hiếu học” của người Việt có lẽ nên nhìn từ một góc độ khác: Mặc cảm, mặc cảm của nhiều thế hệ. Người ta quên đi những chân giá trị của sự hiểu biết để tìm những chỗ dựa tiêu cực cho cái bản ngã thất bại của mình.

Chúng ta đổ vỡ từ bên trong bởi thân phận nô lệ và yếu nhược, nó làm thành một cuộc chiến tranh triền miên qua các thế hệ trong mỗi cá nhân. Từ sự bất hòa bên trong tinh thần dẫn tới những xung đột bên ngoài xã hội; từ những động loạn của thế giới vô thức biến hiện thành những cuộc chiến của những cái tôi. Ở thế kỷ 21 này, có lẽ tư duy nhị nguyên bị phát tướng nặng nề bậc nhất là trên xứ sở của chúng ta. Đẹp xấu, giàu nghèo, sang hèn, cao thấp… luôn sẵn sàng lao vào nhau để nổ tung thành các mảnh vỡ của xã hội.

Cuộc chiến tranh Nam – Bắc đã đi qua gần nửa kỷ mà mặc cảm còn đè nặng thành những lễ kỷ niệm, thành những khúc hoan ca, thành “ngày quốc hận”, thành những trận chiến bất tận trên mạng xã hội.

Mọi thứ chỉ có thể được hàn gắn khi mặc cảm được xua tan bởi sự lớn dậy của tư thế con người vượt lên trên thắng bại để sống với những giá trị tự thân mà không cần đến những thứ trang sức “anh hùng”, “thắng cuộc”, “văn minh”… Chừng nào người ta còn phải viện đến những món đồ ấy để làm sang, chừng ấy cuộc chiến còn chưa thể kết thúc. “Không ai có thể làm ta ô uế, cũng không ai có thể làm ta trong sạch”, “như người uống nước, nóng lạnh tự biết” – đó chính là sự trung thực tự thức về giá trị của bản thân. Và ở đây, liêm sỉ và sự tự tôn luôn phải song hành.

Những giá-trị-người, mà căn bản nhất và cũng sâu xa nhất là NHÂN PHẨM, phải được đánh thức và nuôi lớn. Nếu không “phổ cập” cái nền móng này trong tất cả cá nhân để mỗi người tự vượt lên trên những cơm áo gạo tiền danh vị mà sống đàng hoàng với sự tôn nghiêm thẳm sâu thì sẽ không cách gì hòa giải được.

Bài học của nội chiến Mỹ còn nguyên ở đó, khi cả 2 cùng tôn trọng nhau và tự trọng chính mình. Muốn hàn gắn dân tộc, trước hết cần tự hàn gắn những vết thương do mặc cảm gây nên. Và bên cạnh tất cả những điều ấy, có lẽ chúng ta cần một nỗi đau chung thay cho niềm tự hào? Trên tinh thần đó, sự hòa giải không phải chỉ là câu chuyện Nam – Bắc, mà căn bản hơn là câu chuyện của con người với con người, nhìn như lịch sử của cả một cộng đồng trong suốt chiều dài văn hóa của nó.

Tình ruột thịt

Tình ruột thịt

 Nguyễn Đan Tâm 

Bà Hai giựt mình, chới với khi chạm mặt gần 50 người đang chờ đón bà và con gái. (Hình minh họa: Tomohiro Ohsumi/Getty Images)

Qua nhiều đêm trằn trọc, mất ngủ, bà Hai quyết định trở về Việt Nam thăm họ hàng sau nhiều năm xa cách. Bà sang Mỹ theo diện con lai dù con của bà lai Tây. Chuyện bắt đầu từ thời má của bà lấy chồng Tây và bây giờ con của bà chỉ lai Tây có 25 phần trăm thôi. Nhưng mấy ông cách mạng đâu cần biết chuyện nầy. Cứ thấy có nét lai (Mỹ hay Tây như nhau mà) là lên danh sách cho đi Mỹ. Càng đi nhiều, cán bộ càng có lợi. Ở đây, ta mới thấy cái tầm nhìn xa của các đỉnh cao trí tuệ, khi khúc ruột ngàn dặm biến thành con bò sữa. Trước ngày lên đường, làng xóm tấp nập đến chúc mừng, ca tụng gia đình thế mà có phước, được sang Mỹ như trúng số lớn.

Rồi bà Hai cùng cô con gái sang Mỹ. Đất lạ, quê người, bà lại không biết chữ (Việt và Mỹ), nên suốt ngày chỉ quanh quẩn với công việc nhà, chăm sóc vườn rau xanh, và ngồi chờ con đi làm về để nói chuyện. Chuông điện thoại có reo vang cũng chẳng dám giở máy vì tiếng nói lạ hoắc, nghe mà không hiểu gì. Từ ngày sống ở Mỹ, bà Hai được hưởng tiền già (thời tổng thống Reagan, người ta hay nói đùa là “tiền của ông già”), mặc dù tuổi bà chưa tới 60, lại khỏe mạnh. Một người không tay nghề, lại câm và điếc (dù tai, miệng bình thường) nên lẽ tự nhiên chẳng hng nào dám nhận. Như vậy dư luận trong làng đúng phong phóc: bà cứ qua Mỹ đi, người già bên đó không cần làm gì, có chính phủ nuôi. Người khác lại kể chuyện con Mén con của bà Tư ở xóm trên mới về thăm nhà năm rồi. Ôi thôi! Quần áo lượt là, vàng đeo đầy người, trái ngược với cái nghèo lúc còn ở Việt Nam. Nghe nói làm gì đó bên Mỹ, chắc là làm lớn lắm vì muốn đi đâu đều có xe và tài xế, con cái đi học cũng có xe đưa rước miễn phí, hàng tháng có tiền chính phủ gởi đến tận nhà. Xứ Mỹ thật là thần tiên, vì một con nhỏ nghèo, thất học, con cái đùm đề, bỗng đổi đời trở nên giàu có, sang trọng! Đúng là chuyện “cô bé lọ lem trên đất Mỹ.”

Nhờ sống chung với con nên mỗi tháng bà Hai dành dụm được ít tiền phòng khi hữu sự. Trong khi đó, thư từ của bà con ở Việt Nam tiếp tục đổ sang Mỹ. Thư nào cũng chan chứa tình cảm họ hàng với nhiều nước mắt nhớ thương, mong bà Hai sớm trở về thăm quê hương, làng xóm và kết thúc với một điệp khúc: Xin giúp đỡ tiền bạc vì ai cũng nghèo. Có người còn bảo bà ra máy tự động lấy tiền gởi về cho họ vì ở Mỹ chính phủ in tiền để sẵn trong máy cho dân lấy xài thoải mái. Lương tháng một người lao động ở Việt Nam lúc đó chỉ 30 đô. Mỗi tháng bà gởi hai trăm đô nhưng dường như chẳng thấm vào đâu vì gần đây thư kêu cứu càng thêm gấp rút và nhấn mạnh gia đình cần một ngàn đô mỗi tháng. Bà Hai đọc thư mà tay chân lạnh ngắt vì số tiền to lớn nầy. Tất nhiên, lớn đối với bà, còn quá nhỏ với người Việt Nam có thân nhân ở Mỹ. Con gái bà đi làm hãng, mỗi tháng được ngàn rưỡi đô trừ tiền nhà, xe, điện, nước, ăn uống… còn dư chút đỉnh.  (Phải nói rõ là con nhỏ làm mỗi ngày từ 6 giờ sáng đến 8 giờ tối mới được đồng lương như vậy.) Nay bên Việt Nam đòi số tiền lớn hàng tháng thì lấy tiền đâu mà gởi nên bà run là phải.

Bà Hai và con gái về đến phi trường Tân Sân Nhứt vào một ngày nắng đẹp nhưng trong lòng bà thì lắm mối u sầu. Bà hận mình không giúp được họ hàng như bao Việt kiều khác. Sau khi xong thủ tục nhập cảnh, tiến ra ngoài, bà Hai giựt mình, chới với khi chạm mặt gần 50 người đang chờ đón bà và con gái. Tiếng gọi chị, bà, cô… vang lên ơi ới: Nhứt là đám con nít tranh nhau đến mừng bà về. Bà Hai thật ngạc nhiên hôm nay sao có nhiều bà con như vậy. Nhiều người bà  chưa gặp bao giờ. Rồi mọi người lên xe được mướn sẵn trực chỉ về Hậu Giang. Đứa nhỏ nào cũng đòi ngồi kế bà của tao. Xe chưa ra khỏi thành phố thì mọi người nhao nhao và nhứt là lũ trẻ đồng loạt kêu đói bụng vì từ sáng sớm chưa ăn gì. Tài xế không biết tình cờ hay cố ý cho xe chạy trên con đường với nhiều quán ăn, rồi đột ngột ngừng xe trước một tiệm khá khang trang. Chủ tiệm và nhân viên biết hôm nay trúng mối Việt Kiều miệng cười toe toét, vồn vã chào mời. Một giờ sau, mọi người no bụng, vui vẻ. Lẽ cố nhiên khổ chủ của bữa tiệc bất đắc dĩ là mẹ con bà Hai. Điều oái ăm là mẹ con bà Hai chưa bao giờ đi ăn tiệm trong 5 năm ở Mỹ. Nhiều người còn nói lâu lắm rồi mới được ăn ngon như thế nầy, ước gì bà Hai về đều đều thì hay biết mấy. (Như vậy đi ăn chớ đâu phải đi đón Việt kiều.)

Xe về quê bà Hai, một làng nhỏ ở miền Tây. Cảnh cũ, người xưa không thay đổi. Đêm đầu tiên chị em thức khuya kể chuyện gia đình. Ai cũng than công việc làm ăn khó khăn, con cái nheo nhóc, đời sống quá nghèo dù có tiền viện trợ hàng tháng của bà Hai. Mới hừng đông, ngoài ngõ đã nghe xôn xao tiếng người đến mừng bà Hai về thăm quê nhà. Nhà thì nhỏ, khách lại đông, không đủ chỗ ngồi, đứng cả ngoài sân. Khách cứ rề rà, không ai chịu ra về dù trời đã đứng bóng. Cuối cùng, một người đại diện đám đông chúc mừng bà Hai và con gái rồi chấm dứt với điệp khúc xin chút ít quà  từ Mỹ. Bà Hai cũng thông cảm tình cảnh của đồng hương nên cầm một xấp tiền, định cho mỗi nhà 20 đô làm phước. Thật là bất ngờ khi có một người vọt nói: ở đây không ai xài số tiền nầy, phải 50 trở lên mới được. Bà Hai thiếu điều muốn xỉu. Bà nhớ có lần ở Mỹ bà đang đứng trước chợ thì có một người Mỹ đến xin “quarter,” bà cho 1 đô. Người Mỹ được tiền chắp tay cám ơn bà rối rít. Còn ở đây xứ nghèo sao lại chê tờ 20 đô. Nhưng bà cũng phải bấm bụng phát cho mỗi gia đình 50 đô. Xong đám đòi nợ lại đến cô em dâu xin tiền đi chợ vì không lẽ để bà và con gái ăn cơm với nước mắm. Bà Hai ngạc nhiên thấy mấy người trong nhà không đi làm. Sáng 11 giờ mới thấy mọi người thức dậy.  Đàn ông thì ra quán cà phê ngồi, tới trưa về nhà ăn cơm, ngủ một giấc đến 4, 5 chiều rồi ra quán nhậu. Đàn bà thì gầy sòng tứ sắc. Nếu có hỏi tại sao thì câu trả lời như một điệp khúc: Có việc gì đâu mà làm. Con nít ăn no chỉ chạy rong chơi, chẳng thấy đi học. Cơm nước, việc nhà, kể cả việc chia bài đã có mấy đứa  nhỏ hàng xóm sang phụ giúp. Như vậy nguyên nhân cái nghèo thấy rõ ràng trước mắt.

Ngày hôm sau, mới vừa tảng sáng đã thấy một đám người gồm hai công an xã và hai người lạ đến đòi gặp anh Tư (em ruột bà Hai.) Hai người lạ cho biết, từ 5 năm nay, anh Tư có mượn của họ một số tiền Việt Nam tính ra là năm ngàn đô. Họ đưa cho xem giấy ký nợ. Lâu nay hẹn lần không chịu trả, chỉ trả tiền lời thôi. Nay họ phải nhờ công an giải quyết. Phía công an cho biết nếu hôm nay không trả họ phải giải anh Tư về xã chờ đưa lên huyện ra tòa. Cô em dâu khóc lóc, kể lể vì nhà nghèo phải mượn tiền để sống, may mà có thân  nhân là Việt kiều nên có người cho mượn. Nay xin chị cứu giúp em ruột, vì nếu bị giải lên huyện sẽ bị kêu án tù. Bà Hai trông thật khổ sở, nói không ra lời. Tiền thì bà không có đủ. Mới về có một ngày đã tốn hết mấy ngàn. Nay lấy đâu ra năm ngàn trả nợ cho em. Bà đưa mắt cầu cứu con gái. Cô nầy không nói gì. Sau một hồi chờ đợi, đám công an giải anh Tư đi mất. Vợ anh Tư rống lên thảm thiết như chồng chết. Bà Hai chịu không nổi nên năn nỉ con gái cho bà mượn bốn ngàn, cộng với một ngàn còn trong túi của bà đưa cho cô em dâu đi chuộc người. Bà phải hứa với con gái khi qua Mỹ sẽ lấy tiền già trả lần.Và anh Tư về nhà vui vẻ như chưa có chuyện gì xảy ra.

Bà Hai dự định về thăm quê một tháng. Nhưng được một tuần thì cô con gái đòi trở lại Mỹ với lý do: Không đủ tiền chợ cho vợ anh Tư. Mỗi ngày phải chi 200 đô thì sạch túi trước thời hạn. Hai mẹ con lên Saigon đổi vé máy bay qua Mỹ. Khi từ giã không thấy vợ chồng anh Tư cản trở, cũng không thấy người trong xóm đến tiễn đưa.

Máy bay chuẩn bị cất cánh. Qua khung cửa kiếng, bà Hai nhìn mảnh trời quê hương bỏ lại mà thấy lòng se thắt vì bà biết rằng đây là lần cuối cùng.

Mấy tháng sau, bà Hai nhận được thư từ Việt Nam của một đứa cháu kêu bà bằng cô. Nó nói rằng vụ công an đòi nợ là việc sắp đặt giữa vợ chồng bác Tư của nó và đám công an để moi tiền bà Hai. Công an lấy hai ngàn. Bác Tư gái thì lấy ba ngàn đi sắm vàng. Chuyện xì ra vì bác Tư trai muốn lấy tiền đi nhậu, bác gái không cho. Hai vợ chồng cãi nhau dữ quá. Cả xóm đều biết chuyện nầy.

Trời ơi! Khốn nạn quá! Là những tiếng kêu của bà Hai trước khi bà ngất xỉu…

Nguyễn Đan Tâm 

From: TU-PHUNG