“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

 No photo description available.

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

Tháng 6/2016, Báo Lâm Đồng Cuối tuần có đăng trong chuyên mục “Hồ sơ – Tư liệu” bài viết “Xứ Đông Dương – Một tài liệu tham khảo rất đáng quý” giới thiệu tập hồi ký “Xứ Đông Dương” của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897-1902), Tổng thống Pháp (1931-1932) xuất bản lần đầu năm 1905 được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp L’Indochine Frangcaise (Souvenirs). Tập hồi ký do NXB Thế giới phát hành ra mắt độc giả Việt Nam tháng 3/2016.

Tôi đã tìm mua được “Xứ Đông Dương” và say mê đọc bởi bị phong cách văn chương của Toàn quyền Paul Doumer quyến rũ trước nhiều sự kiện đầu thế kỷ XX ở Việt Nam. Một lần lục lọi kho sách tư gia, bất chợt thấy cuốn “Dỡ mắm” (di cảo, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất 2015) của học giả Vương Hồng Sển có lời tựa “Ngồi buồn dỡ mắm nhau ra/ Mắm ông thì thúi, mắm bà chẳng thơm”. Thấy lý thú nên tò mò lần dở mới hay nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng, học giả Vương Hồng Sển từng đọc hồi ký “Xứ Đông Dương” bằng tiếng Pháp khi phát hành vào thập niên đầu thế kỷ XX.

Nhận xét về tập hồi ký “Xứ Đông Dương”, học giả Vương Hồng Sển trần tình: “… Viết về ông Doumer, tôi đã sửa ngòi bút, suy nghĩ thật nhiều: viết sai thì hổ với lương tâm, bằng bốc thơm ông lại ngại tiếng gièm pha còn mến tiếc Tây đầm. Nhưng ở Hà Nội cầu Long Biên còn đó, ai giẫm chơn lên phải nhớ người xây dựng, mới không thẹn sao “uống nước nỡ quên nguồn”! Ở Huế, cầu Tràng Tiền đổi tên mấy lượt, nhưng vẫn còn sờ sờ, ở Sài Gòn này, cầu Bình Lợi cũng là kỳ công bất hủ của ông Doumer, chớ mấy ai khác. Vậy tôi biết gì, cứ nói.

Doumer qua Việt Nam khi tuổi chưa đầy 40. Người khỏe mạnh, làm việc bằng mười, thêm tài ba xuất chúng. Những kỳ công của ông là:

– Ông thấy xa, lập trường Viễn Đông Bác Cổ, để bảo vệ cổ tích, đền chùa khỏi bị phá phách cắp gỡ, tu bổ cổ tích còn lại. (Doumer từng than tiếc cổ tích Chàm ở Đà Nẵng bị cạy gỡ mất mát nhiều nên năm 1899, ký sắc lịnh cho lập trường Viễn Đông Bác Cổ).

– Ông lập trường cao đẳng ở Hà Nội, để tiện cho học sanh bên Trung Quốc qua học, thêm học trò miền Nam, con cháu điền chủ có tiền, dễ ra học hơn mở trường cao đẳng ở Sài Gòn, học trò Tàu chê xa, và học trò xứ Bắc xứ Trung, phần đông đều con ông đồ ông bảng thanh bạch, giàu chữ hơn giàu tiền làm sao gởi con vào Nam học được nhiều.

– Chính ông năm 1901 đã đến tại chỗ, chọn Đà Lạt thay vì Dankia và đốc thúc, tài trợ cho bác sĩ Yersin thành lập nơi nghỉ mát Đà Lạt như ngày nay đã thấy. Ba cây cầu sắt ông để lại, thật là kỳ công bất hủ:

– Ở Hà Nội, có cầu Long Biên, trước mang tên ông là Pont Doumer: hãng Daydé et Pillé de Creil (Oise) trúng thầu, đặt viên đá đầu tiên tháng 9/1898; cầu dài trên 2.500 m, khúc vào thành (hữu ngạn) trên đất liền, dài 800 thước, khúc giữa trên sông Hồng nối hai bờ, dài 1.680 m, gồm 19 nhịp, toàn sắt thép trứ danh Cantilever; 19 nhịp nằm trên 20 cột chống xây đá, móng cầu cừ đóng và trụ cây phải thọc sâu tới khi đụng đất nạc đất cứng, phải sâu hơn 30 m, từ mặt nước thấp nhất của Hồng hà và phía trên khỏi mặt nước là 13 m 50 nữa, tức cột đo 43 m 50. Một cầu dài nhất ở Á Đông, một kỳ công của kỹ sư thợ cái Pháp và của nhơn công người Việt, đáng mặt để đời. Cũng có thợ hồ, thợ sắt Tàu trợ lực. Khi đặt đá khánh thành, mọi người dự kiến đều hoài nghi sự thành công, nhứt là người An Nam đều cho là còn khó hơn chuyện vá trời, và khi cây cầu làm xong, lại le lưỡi nói: “Việc gì Tây muốn, họ đều làm được”; cầu ăn lễ lạc – thanh tháng 2/1902, một lượt với đoạn đường sắt xuyên Đông Dương sau này (đường sắt Hà Nội xuống Hải Phòng, dài độ 100 km, ông vui lòng được mắt thấy trước khi xuống tàu về Pháp), 5 năm nhiệm vụ đã tròn. (Phí tổn 6.000.000 quan Pháp, ăn 2fr50 mỗi 1$ (bạc 27gr).

– Ở Huế, ông để kỷ niệm lại cầu Tràng Tiền, bắc ngang sông Hương, nối liền xóm Tây qua xóm Việt và Thành nội và đưa đường xuống Đà Nẵng, cầu dài 400 m, cột cầu đóng xuống sâu 20 m, do hãng Pháp Creusot lãnh thầu và xây cất, chính ông làm lễ khánh thành và nhường vua Thành Thái cắt dây tượng trưng cho sự thông thương cho dân và ngày nay xe ô tô, thiết giáp đi (không có đường cho tàu hỏa). Không thấy ghi chi xuất bao nhiêu…

– Ở Sài Gòn, ông giúp cho một cầu sắt nối liền lên Biên Hòa, ấy là cầu Bình Lợi. Ông dự định cầu chịu nổi đường sắt xe lửa xuyên Đông Dương về tương lai, cột cầu dưới mặt nước thấp nhất đo được 31 m và do hãng Levallois-Perret thầu và xây cất, ăn lễ khánh thành vào tháng 2/1902. Cầu có 6 nhịp, một nhịp nơi giữa, dài đến 40 m, vẫn xây mở được để tàu thuyền thông thương.

Ngoài ra Doumer còn để lại nhiều công-tác cầu kỳ (tuy không quan trọng bằng ba cây cầu vĩ đại kia), thành tựu từ 1897 đến 1902, có thể gọi là thời kỳ mở mang Đông Dương, thời kỳ sắt và cầu sắt, đáng kể hơn là ở Bắc, cầu ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, miền Trung có cầu Thanh Hóa do hãng Daydé et Pillé xây cất, cầu này dài 160 m vòng cầu liên lạc một mạch nối hai bờ sông, không có nhịp ở giữa và khi ráp nối, trải ván rất cam go.

Riêng miền Nam, ông còn có thêm: năm 1901, con lộ đá Sài Gòn đi Tây Ninh để sau này thông thương với Cao Miên, và năm 1903, con lộ đá Sài Gòn đi Bà Rịa, mở thông lên Tánh Linh xứ gỗ súc, sau này sẽ thông thương với miền Trung. Ông còn dự định thiết lập một con đường sắt cho xe lửa chạy, nối liền Sài Gòn lên Nam Vang, nhưng việc này thời đại sau ông bỏ dở, tiếc thay”…

Với nhận xét sắc sảo, công tâm như vậy chứng tỏ người Việt mình rất có đôi “mắt xanh” khi đánh giá chính khách nước ngoài. Rất tiếc độc giả Việt Nam và cũng không mấy người phương Tây có trong tay và đọc “Dỡ mắm”!

NGUYỄN THANH

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

Đau xé lòng trước vụ em học sinh Trường Nguyễn Khuyến (TP. HCM) nhảy lầu tự vẫn vì áp lực học hành. Không biết bức thư tuyệt mệnh này có đúng là của em không, nhưng ít nhất đúng như tôi nghĩ lâu nay.

Không dưới một lần, tôi khẳng định triết lý “giáo dục toàn diện” là sai lầm tận gốc. Từ cái gốc này kéo theo Chương trình, Sách giáo khoa và cách đánh giá đã sai lầm một cách toàn diện, gây áp lực nặng nề cho con em chúng ta.

Đây không là vụ duy nhất học sinh tự vẫn. Những trường hợp không tự vẫn, theo tôi, tâm thần đều có dấu hiệu khủng hoảng nặng. Hãy cùng nhau lên tiếng, vì con tôi và con các bạn đều đang là nạn nhân của cách giáo dục này, nếu chúng ta còn chút lương tâm!

Một ngày kia phải ghi tội ác những kẻ làm chương trình và sách giáo khoa vào các trang sử.

CHU MỘNG LONG

————-

Nội dung bức thư:

“Kính thưa các bác lãnh đạo, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo!

Con xin được trút hết nỗi lòng đã giấu diếm suốt bấy lâu nay và con, cũng như nhiều bạn học sinh khác mong chờ sẽ nhận được những lời chia sẻ, cũng như ý kiến của các bác lãnh đạo, các phụ huynh và các thầy cô.

Đã nhiều năm nay, hầu như cuộc đời của học sinh chúng con chỉ là thức dậy, đi học trên trường, đi học thêm, về nhà và lặp lại. Qua nhiều năm, niềm đam mê học tập của con dần mất đi.

Con bắt đầu kiệt sức, chán nản và tuyệt vọng khi nghe đến chữ HỌC.

Không biết tự bao giờ, thời gian chúng con đi học còn nhiều hơn khoảng thời gian chúng con được ngủ. Đối với con, càng học cao hơn, kiến thức càng trở nên vô nghĩa.

Con biết nói ra điều này thật vô ơn. Để có được những kiến thức hôm nay là công sức đầy gian lao của những người đi trước.

Nhưng con tự nghĩ, vì sao giáo viên chỉ có thể dạy một bộ môn nhưng bản thân một học sinh phải học những mười mấy môn?

Không chỉ vậy, chúng con còn chịu áp lực nặng nề từ thầy cô, phụ huynh và cả xã hội. Một lớp học phải có từ 40 học sinh đạt Giỏi, Khá và không được có học sinh Trung bình.

Đã đi học thì các môn tổng kết cả năm phải từ 8 điểm trở lên, thậm chí là cao hơn. Tỉ lệ tốt nghiệp của trường sau một năm phải đạt 90% trở lên, có trường phải giữ vững mục tiêu là 100%.

Con đã nhiều lần suy nghĩ về những gì chúng con đang được học. Càng nghĩ,con càng cảm thấy nản hơn khi con nhận ra mình gần như không thể tiếp nhận những kiến thức nhà trường dạy.

Bộ não của một người trưởng thành chỉ nặng gần 1400 gam nhưng những người của thế hệ đi trước lại mong chờ chúng con học đều, học tốt lượng kiến thức khổng lồ từ hơn mười môn học khác nhau.

Con sợ lắm! Con sợ mỗi khi ông mặt trời lại lên báo hiệu một ngày đi học nữa lại đến. Con sợ khi điều đầu tiên thầy cô làm khi bước vào lớp là khảo bài, kiểm tra một núi bài tập họ giao cho chúng con.

Con sợ khi tiếng trống giờ về không đồng nghĩa với việc chúng con được về nhà nghỉ ngơi mà nó chỉ đơn thuần là giờ ra chơi giữa giờ học chính khóa và giờ học thêm.

Con sợ khi nhìn các bạn đồng trang lứa ăn vội vàng cái bánh bao và ánh mắt họ đờ đẫn, xa xăm, vô hồn ngồi trên chiếc xe máy giữa dòng người kẹt xe lúc 5h chiều.

Thưa các bác, các bác phụ huynh, các thầy cô!

Còn biết bao nhiêu câu chuyện chưa được kể về những áp lực vô hình mà mọi người đang vô tình đặt lên vai chúng con.

“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” – Đó là điều đầu tiên con học được khi bước vào lớp 1. Và cho đến giờ, khi đang ở độ tuổi 18, con căm ghét cái câu nói này kinh khủng.

Con xin lỗi khi nói ra những điều này, con biết việc này sẽ khiến cho những người đi trước khó chịu nhưng cho phép con được nói lên nỗi lòng mình: Con ghét đi học.

Con ghét cái cảm giác bước qua cổng trường, mở cuốn SGK, chép từng trang vở. Con cảm giác mình lạc hướng… Từng ngày đi học, chúng con quay cuồng với việc học bài, kiểm tra.

Những năm tháng dần trôi qua một cách vô nghĩa dưới áp lực của việc học hành, của thầy cô, của gia đình.

Chương trình học hiện tại không cho phép học sinh chúng con có quyền sáng tạo. Tất cả bị bó buộc vào những quy luật nhất định và chúng con – những người học sinh bắt buộc phải làm theo chứ không được thay đổi.

Chính bản thân chúng con còn không hiểu mình đang học vì cái gì, vì ai!

Học vì kì vọng của mọi người xung quanh, học vì điểm số, học để qua được một kì kiểm tra ư? Xong rồi sao nữa?

Cuối cùng sau hơn 20 năm học tập miệt mài, căng thẳng chúng con còn phải sống một cuộc đời rất dài và tới lúc đó, chúng con sẽ phải áp dụng những kiến thức đã học được vào cuộc sống.

Nhưng con đã nhiều lần tự hỏi, con có thể sử dụng “Chuyển động tròn đều”, “Chiều tăng giảm của hàm số” hay Vecto trong cuộc đời thật như thế nào?

Chúng con cứ học rồi lại quên, thầy cô thì cứ lao đầu vào giảng, giao bài tập về nhà nhưng họ chưa bao giờ nói cho chúng con nghe ứng dụng của những kiến thức này trong cuộc sống.

Từ một lúc nào đó, mọi người lại đánh giá nhau thông qua những con điểm.

Chì vì những con điểm vô giá trị mà đã đẩy biết bao số phận học sinh vào bước đường cùng, đã khiến cho mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái và giáo viên – học sinh trở nên căng thẳng, ngột ngạt.

Cuộc sống của những học sinh giờ đây gần như chỉ xoay quanh HỌC. Chúng con không biết đến khái niệm nghỉ ngơi, thư giãn.

Chúng con gần như không còn hiểu được giá trị của những bữa ăn bên gia đình vì gần như suốt một tuần chúng cháu chỉ gần như học thêm đến khi trời tối mịt.

Người bạn ngồi kế con, bạn ấy học rất giỏi và các thầy cô đều rất yêu quý bạn ấy. Nhưng bạn ấy khổ lắm. Nhà bạn ấy ở Quận 12 và bạn ấy phải đi xe buýt tới Quận 1 để học thêm mỗi ngày.

Từng ngày đi học của bạn ấy bắt đầu từ 5h30 sáng cho tới 11h đêm. Bạn ấy đã kiệt sức rồi, con biết điều đấy. Khuôn mặt bạn phờ phạc, ánh mắt bạn bơ phờ, bạn bị thiếu ngủ và đau dạ dày.

Những người như bạn con không thiếu ngay tại chính TP.HCM này.

Học sinh chúng con sống thờ ơ, lãnh đạm, vô cảm và không có kĩ năng sống. Chúng con không biết phải làm gì nếu có động đất, sóng thần hay gặp một người bị đột quỵ ngay giữa đường.

Người lớn thất vọng vì cách ứng xử của thế hệ trẻ trong khi thế hệ trẻ chúng con lại thất vọng vì đang được giáo dục không có định hướng.

Thưa các bác, là một học sinh, con đã vô cùng xúc động khi nghe chủ trương không dạy thêm. Cái cảm giác vui mừng chợt chạy qua người con khi nghĩ đến cảnh chúng con không còn phải còng lưng ra học bài lúc 11h đêm nữa.

Nhưng hiện thực tàn khốc của việc học đã không cho con được vui mừng lâu.

Trước cảnh mỗi năm đề thi Đại học lại đổi mới một kiểu, trước cảnh cô giáo viên dạy Toán của chúng con quảng cáo về lớp dạy thêm của cô một cách bí mật, con nhận ra mọi chuyện sẽ không hề tốt lên được, sẽ không bao giờ tốt lên được.

Rồi sau tất cả, khi chúng con rời ghế nhà trường, đối diện với cuộc sống thật, chúng con lại lơ ngơ, hoang mang vì hoàn toàn không có những kĩ năng sống cần thiết.

Con cầu xin các bác, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo: Xin hãy cho chúng con được SỐNG. Xin cho phép chúng con được sống trong những tháng năm tuổi học trò một cách trọn vẹn nhất có thể.

Xin đừng quá kỳ vọng vào tụi con để rồi chính những kì vọng ấy khiến cho mọi người thất vọng. Xin đừng chỉ trích chúng con khi bọn con bị điểm kém.

Xin hãy hiểu rằng mỗi người chỉ có những khả năng nhất định và bọn con không phải là thiên tài.

Cuối cùng, con xin mọi người hãy hiểu: “HỌC SINH CŨNG CHỈ LÀ CON NGƯỜI, KHÔNG PHẢI MÁY MÓC”.

May be an image of text that says 'tuöitre online f THỜI SỰ Nam sinh trường Nguyễn Khuyến viết thư tuyệt mệnh rồi nhảy lầu tự tử 11/04/2018 17:28 GMT+7 TTo Trước khi tự tử, nam học sinh để lại thư tuyệt mệnh với nội dung do áp lực học tập, điểm số và áp lực từ gia đình muốn con mình được học lớp đứng đầu khối.'
You and 163 others
50 Shares
Sad
Sad

 

Comment
Share

Navalny, người chỉ trích Putin có thể ‘chết trong vài ngày tới’? – BBC News Tiếng Việt

 

Các bác sĩ săn sóc cho Alexei Navalny, nhà hoạt động đối lập Nga đang bị giam cầm, nói ông “sẽ chết trong vài ngày tới” nếu không được chăm sóc y tế đứng mức.

Các bác sĩ nói kết quả xét nghiệm máu gần đây cho thấy tim ông có thể bị ngừng đập hoặc bị suy thận bất cứ lúc nào.

Navalny đã tuyệt thực trong 18 ngày, để yêu cầu được điều trị thích hợp cho chứng đau lưng cấp tính và tê chân.

Là một nhà chỉ trích Tổng thống Vladimir Putin nổi tiếng, ông Navalny bị bỏ tù vào tháng Hai vì những cáo buộc tội tham ô cũ.

Bốn bác sĩ, trong đó có Anastasia Vasilyeva, bác sĩ riêng của Nalvalny, đã viết thư cho các quan chức tại nhà tù để xin phép được khám bệnh khẩn cấp cho ông.

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

May be a black-and-white image of child, standing and outdoors
 

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

Ông chủ nhiệm báo Việt Luận hỏi tôi chúng ta có thể rút bài học nào từ biến cố 30-4-1975? Câu hỏi thực là khó. Có rất nhiều bài học lịch sử mà chúng ta có thể rút từ cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 4-1975. Tất cả đều là những bài học lớn cho cuộc vận động dân chủ hiện nay.

Nhưng trước hết xin có vài lời về những bài học lịch sử: phải rất thận trọng và khiêm tốn vì chúng thường sai. Tại sao ? Lịch sử rất quan trọng bởi vì cuộc sống của một quốc gia, cũng như cuộc sống của một người, chủ yếu là thực nghiệm. Tuy vậy chúng ta lại không thể thí nghiệm. Chúng ta không thể thử nghiệm sự sụp đổ hay sự phá sản của một quốc gia. Chúng ta không thể thử nghiệm trên đời sống của một dân tộc để xem cái gì sẽ xảy ra nếu thực hiện chủ nghĩa này hay chính sách nọ, như thế là vô trách nhiệm và cũng có thể là tội ác. Đó là sai lầm to lớn của các chế độ cộng sản. Họ đã đem số phận của các dân tộc để thử nghiệm một chủ nghĩa mà sau này thực tế chứng minh là rất sai.

Lịch sử giúp chúng ta bù lại phần nào sự kiện không thể làm thí nghiệm, một thiếu sót nghiệt ngã trong cố gắng rút ra những kết luận cho tương lai. Cần nhấn mạnh là một phần nào thôi vì các biến cố lịch sử chỉ xảy ra một lần trong khi chúng ta không thể kết luận sau chỉ một lần quan sát. Vả lại các biến cố lịch sử cũng được nhìn và cảm nhận một cách khác nhau ở từng con người tùy góc độ quan sát và kinh nghiệm cá nhân. Như vậy muốn rút ra một bài học lịch sử thì phải cố gắng vượt ra khỏi chính mình để nhìn các biến cố lịch sử dưới nhiều góc khác nhau, so sánh với những biến cố tương tự đã xảy ra trong những điều kiện tương tự tại các nước khác. Và cũng phải phối hợp với những kiến thức mà sự chính xác đã được chứng minh qua thời gian. Rút ra những bài học lịch sử là điều không giản dị chút nào.

Sau sự dè dặt đó và trở lại với câu hỏi được đặt ra, bài học mà tôi chọn để rút ra là một bài học mà đáng lẽ ra chúng ta phải biết mà không cần có biến cố 30 tháng 4-1975 bởi vì nó là một kết luận của tất cả mọi khảo cứu chính trị học, xã hội học và tâm lý học và cũng đã được kinh nghiệm của mọi dân tộc chứng minh. Chúng ta chỉ đã không biết một điều bắt buộc phải biết. Một lý do khác khiến tôi chọn bài học lịch sử này trong rất nhiều bài học lịch sử quan trọng khác là vì, theo nhận xét của tôi, đó là bài học lịch sử mà sau 33 năm chúng ta vẫn chưa hiểu. Đó là đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tư tưởng chính trị và một đội ngũ chính trị. Cuộc chiến vừa qua trước hết là một cuộc đấu tranh chính trị. Nó cũng là lần đầu tiên mà người Việt Nam tàn sát nhau không phải chỉ để tranh giành quyền lực mà còn vì ý thức hệ. Tuyên truyền đã quan trọng hơn các trận đánh, lời nói đã có tác dụng hơn súng đạn.

*

Những năm cuối cùng của tôi ở Paris trước khi về nước cũng là những năm diễn ra hội đàm Paris để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Lúc đó tôi lãnh đạo phong trào sinh viên và trí thức Việt Nam ủng hộ chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ở cương vị này tôi đã được tiếp xúc thường xuyên và một cách thân mật với các yếu nhân VNCH sang tham gia hoặc quan sát hòa đàm Paris. Nói chung họ là những người hiểu biết nhất về chính trị của chế độ này. Khi về Việt Nam phục vụ, ít lâu sau hiệp định Paris, tôi cũng có điều kiện thuận lợi để tiếp xúc và tìm hiểu môi trường chính trị VNCH. Nhận xét rất rõ rệt của tôi là những người cầm vận mệnh miền Nam lúc đó không biết ngay cả những kiến thức cơ bản nhất của đấu tranh chính trị và cũng không thấy cần phải học hỏi gì cả. Họ không phải là một đội ngũ và trong tuyệt đại đa số không phải là những người đấu tranh chính trị dù họ có thể giữ những vai trò chính trị rất quan trọng.

Họ sống co cụm trong một môi trường nhỏ hẹp cách biệt với quần chúng, đa số chỉ có một hiểu biết rất sơ sài về lịch sử và văn hóa Việt Nam, thậm chí ngôn ngữ Việt Nam. (Điều này không có nghĩa là họ nắm vững văn hóa và ngôn ngữ Pháp hoặc Mỹ). Tất cả đều là những người mà sự may mắn hoặc hoàn cảnh tình cờ đặt vào địa vị lãnh đạo trong một thời gian ngắn, tương tự như những nhân viên tạm thời, và không ý thức được rằng mình không thể là một người lãnh đạo. Làm chính trị đối với họ chỉ là quen biết và giao tế. Họ hãnh diện, có khi huênh hoang, tuyên bố là không thuộc đảng nào và không làm chính trị. Kiến thức chính trị của họ, khi có, chỉ là những kiến thức rất đại cương và một vài bài báo. Không một ai có suy tư chiến lược về sự sống còn của chế độ. Tôi cũng không gặp một người nào thực sự tin tưởng vào dân chủ. Chính quyền VNCH là một chính quyền không có nhân sự chính trị, trong khi đó là lý do hiện hữu và điều kiện tồn tại của mọi quốc gia. Tình trạng này đưa tới những yếu kém khó tưởng tượng.

Hãy thử lấy một thí dụ. Tất cả mọi cấp lãnh đạo, dân sự cũng như quân sự, mà tôi có dịp trao đổi đều phục sát đất phe cộng sản là tổ chức tiếp vận giỏi. Họ nói Mỹ dội bom B52 như thế mà “nó” vẫn vận chuyển được đầy đủ vũ khí và lương thực từ hàng ngàn cây số cho một đạo quân đông tới mấy trăm ngàn người. Sự thực thì đảng cộng sản chỉ tiếp vận vũ khí cho lực lượng của họ ở phía Nam mà thôi; còn lương thực, khó vận chuyển gấp nhiều lần so với vũ khí, thì họ mua ngay tại chỗ và bằng vàng. Miền Nam không có mỏ vàng, cũng không ai đem vàng vào Việt Nam mà chỉ có những người đem vàng ra nước ngoài. Vậy mà miền Nam vẫn có rất nhiều vàng và giá vàng thấp hẳn so với thế giới. Vậy ai đem vàng vào Việt Nam nếu không phải lực lượng cộng sản? Đó là một cách tiếp liệu rất thoải mái. Một kilô vàng có thể nuôi một tiểu đoàn đầy đủ quân số trong một tháng. Liên Xô, nước đỡ đầu cho quân đội cộng sản cũng là nước sản xuất vàng số 1 trên thế giới vượt rất xa các nước khác. Khi tôi lý luận như vậy thì mọi người, hành chính cũng như quân sự, đều thấy là rất có lý. Nhưng họ nghe để biết rồi thôi. Đó không phải là việc của họ, dù họ có thể là tướng lãnh hay bộ trưởng. Họ chỉ như những công chức và chỉ lo công việc của họ. Nếu các chính quyền miền Nam ý thức được điều này và có biện pháp đối phó thì chắc chắn quân đội cộng sản đã rất khốn khổ.

Một thí dụ khác là cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân. Quân cộng sản đồng loạt tấn công trên khắp lãnh thổ nhưng chính quyền Sài Gòn bị bất ngờ hoàn toàn, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng và các tướng tá đang vui tết. Thế giới có lý do để khinh thường chế độ VNCH. Chính tôi lúc đó chỉ là một du học sinh tại Paris mà cũng thấy rất xấu hổ.

Đó chỉ là hai thí dụ trong hàng ngàn thí dụ khác. Sở dĩ có những sơ hở kinh khủng như vậy là vì những kết luận chiến lược, và những biện pháp cụ thể để thực hiện chúng, chỉ có thể có được nếu có một đội ngũ lãnh đạo ổn định, gắn bó và quyết tâm để cùng nhau theo dõi các chuyển động, thu thập và phân tích những dữ kiện và rút ra những kết luận. Nhưng VNCH đã chỉ có một lãnh đạo ô hợp không được sàng lọc, không thành đội ngũ, không gắn bó với nhau và do đó không có quyết tâm chung. Trái với một huyền thoại phe cộng sản tuyên truyền rất dở và tổ chức rất luộm thuộm, tình báo của họ cũng rất kém. Nhưng họ là một đội ngũ chính trị và trước mặt họ không có một đội ngũ chính trị nào.

Không phải là những người lãnh đạo VNCH kém. Nếu xét từng cá nhân thì có rất nhiều người giỏi. Trình độ văn hóa nói chung của họ cao hơn hẳn các cấp lãnh đạo cộng sản. Đại đa số trong đời thường cũng là những người lương thiện. Vấn đề là họ chỉ là những cá nhân, không gắn bó trong một tổ chức. Hậu quả là mỗi người lo lấy mình, là chủ nghĩa luồn lách trong đó mỗi người, hay mỗi nhóm bè bạn nhỏ, cố gắng để khôn hơn những người khác, mỗi người chống tất cả, tất cả chống mỗi người. Trong trò chơi không ai có thể tin ai này người tốt cũng thành gian. Và thực tế đã như thế. Nếu miền Nam có một đảng cầm quyền thì tình thế sẽ rất khác. Những người “không làm chính trị” sẽ chỉ có những trách nhiệm chuyên môn, quyền lực chính trị sẽ ở trong tay một đội ngũ của những người gắn bó với nhau trong một số phận và một quyết tâm chung, lấy dân tộc và đất nước làm lý tưởng, coi sự sống còn của VNCH như cuộc chiến đấu của đời mình. Và họ sẽ có bản lĩnh chính trị cao.

Tổ chức là môi trường hội nhập và là sức mạnh, nhưng cũng là một môi trường học hỏi và đào tạo, là nơi sản xuất và sàng lọc ý kiến. Nó cũng tạo điều kiện cho những quyết định và hành động mạnh bạo. Miền Nam không thiếu những người có thể và muốn là thành phần của một đội ngũ như thế, trong đó có những người đã có thể trở thành những cấp lãnh đạo xuất chúng, nhưng họ không có điều kiện để kết hợp với nhau. Kết quả là mặc dù có một khối lượng khổng lồ những người có tiềm năng, kể cả vô số bằng cấp đại học, với những kinh nghiệm để học hỏi hằng ngày, miền Nam vẫn thiếu nhân tài. Các cấp lãnh đạo tài giỏi chỉ có thể đào tạo được trong sinh hoạt tổ chức.

*

Một đặc điểm của các chính quyền quốc gia là không có đảng cầm quyền. Tình trạng này rất không bình thường vì phản ứng tự nhiên trong sinh hoạt chính trị là phải có chính đảng. Ngay trong những thập niên đầu thế kỷ 20 việc đầu tiên của những người muốn đấu tranh giành độc lập là thành lập các đảng. Tại sao lại có tình trạng này? Đó là do một đặc tính bẩm sinh của chính quyền Quốc Gia Việt Nam, sau đổi thành Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền này không do đấu tranh mà có mà chỉ là một bộ máy thuộc địa do người Pháp để lại, và khi để lại họ chuyển giao quyền hành cho những cộng sự viên thân tín và đắc lực nhất của họ, nghĩa là những người không những không quan tâm tới chính trị mà còn thiếu cả ý thức quốc gia dân tộc. Họ không hề biết đến những vấn đề đặt ra cho một quốc gia và cứ tiếp tục làm việc như thường lệ, kể cả coi những người yêu nước như kẻ thù hay ít nhất như những phần tử phải phòng ngừa. Kết quả là họ ngăn cản sự ra đời và phát triển của các chính đảng.

Mẫu người tốt trong các chính quyền quốc gia là mẫu người không có đảng phái và không quan tâm tới chính trị, có bằng cấp cao là tốt, có cha ông làm quan thời Pháp thuộc lại càng đáng tin cậy hơn. Dần dần hình thành một văn hóa chính quyền kỳ lạ trong đó lớp người cầm quyền không bận tâm tới đất nước. Họ cầm quyền như những quan chức ngoại quốc. Một thí dụ: tất cả các bộ trưởng giáo dục đều cho con cái đi học các trường tiểu học và trung học Pháp thay vì trường Việt mà không hề thấy ngượng. Ngô Đình Diệm không hề thay đổi tình trạng này. Ông là người do Pháp đưa lên cầm quyền để tiếp tục một chính quyền do Pháp để lại. Thái độ chống Pháp bề ngoài của ông chỉ là một sự dàn cảnh. Việc đầu tiên ông làm là truy lùng các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt. Sau khi người Mỹ lật đổ ông Diệm, họ đưa lên chính quyền những tướng tá chẳng có một văn hóa nào, chưa nói văn hóa chính trị, phần lớn xuất phát từ quân đội Pháp. Trong một chế độ dân chủ, sinh hoạt chính đảng là cốt lõi. VNCH được tổ chức như một nước dân chủ nhưng lại không có sinh hoạt chính đảng.

Không phải là miền Nam không có đảng phái, ít ra trong mười năm cuối hoạt động đảng phái không bị cấm, nhưng mười năm là một thời gian quá ngắn và bối cảnh cũng không thuận lợi. Hơn nữa các đảng phái cũ đều đã quá suy yếu và lỗi thời vì không đổi mới tư tưởng chính trị, trong khi các chính đảng mới cũng không phát triển được vì cùng một lý do: không có tư tưởng chính trị. Một ngộ nhận vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay trong phe đối lập là người ta cứ đinh ninh rằng có thể thành lập được một chính đảng mà không cần phải có một chủ thuyết chính trị, nghĩa là những định hướng lớn cho đất nước và các chiến lược để thực hiện chúng trong bối cảnh văn hóa, xã hội và lịch sử của mỗi quốc gia. Một chủ thuyết như vậy chỉ có thể là thành quả của một công trình nghiên cứu và suy tư tập thể lâu dài và nhức nhối. Người ta thấy chỉ cần một “chương trình hành động”, và trong hầu hết mọi trường hợp chương trình hành động không khác bao nhiêu so với một bản danh mục rao hàng.

Những người cầm quyền trong phe quốc gia là những người được đưa lên cầm quyền chứ không phải đã giành được chính quyền. Họ đều không có tổ chức. Sau khi đã cầm quyền họ mới khám phá ra sự cần thiết của một đảng cầm quyền. Ông Nhu lập ra đảng Cần Lao, ông Thiệu lập ra đảng Dân Chủ, nhưng đều thất bại. Các chính đảng đúng nghĩa chỉ có thể thành lập được trong đấu tranh khó khăn cho một lý tưởng. Không ai có thể thành lập được một chính đảng đúng nghĩa sau khi đã có chính quyền. Cả ông Nhu lẫn ông Thiệu đã bỏ rơi các đảng vô tích sự mà họ lập ra – để cầm quyền với anh em, họ hàng và bè bạn – trước khi bị đánh đổ. Trước sau các chính quyền quốc gia vẫn có chung một đặc điểm ít được nhấn mạnh dù có thể là độc nhất trên thế giới: đó là những chính quyền không có đảng cầm quyền.

*

Sự kiện những người không thuộc một chính đảng nào được đưa lên cầm quyền và chọn những người không đảng phái làm bộ trưởng là một một điều quái đản xuất phát từ một tật nguyền bẩm sinh của các chính quyền quốc gia. Nó gây tại họa cho đất nước mà họ cai trị và đem lại thất bại cho chính họ, có khi thất bại bi thảm như trường hợp hai ông Diệm và Nhu. Nhưng với thời gian nó đã tạo ra cả một triết lý và một tập quán hoạt động chính trị: chủ nghĩa nhân sĩ. Đó là cách làm chính trị mà không tham gia một chính đảng nào, chỉ cố tạo uy tín cho mình để được biết đến, kể cả cầu cạnh các thế lực ngoại bang, và hy vọng sẽ có lúc thời vận đưa mình lên nắm chính quyền hoặc sẽ có ngày được mời tham chính. Các nhân sĩ cũng có thể không có bất cứ một hoạt động chính trị và một kiến thức chính trị nào nhưng vẫn mong có ngày được làm bộ trưởng, dân biểu, nghị sĩ. Nếu có một di sản của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà ta phải vứt bỏ một cách không nể nang thì chính là cái chủ nghĩa nhân sĩ này. Tiếc rằng chủ nghĩa nhân sĩ đã ăn rễ quá sâu. Có những người theo chủ nghĩa nhân sĩ mà không ý thức được. Rất nhiều người, trong cũng như ngoài nước, có học thức, có lòng với đất nước, có thiện chí, suy nghĩ lành mạnh và cũng rất muốn dấn thân nhưng không hề thấy nhu cầu phải tham gia một tổ chức chính trị nào cả.

Chủ nghĩa nhân sĩ vẫn còn tiếp tục cho đến nay trong môi trường Việt Nam hải ngoại và là lý do chính giải thích tại sao sau 33 năm chúng ta vẫn chưa có được một tổ chức dân chủ mạnh. Ngoài di sản VNCH cũng còn một lý do quan trọng khác. Đó là sự thiếu văn hóa tổ chức mà những người dân chủ trong nước cũng chia sẻ do hậu quả của một chế độ chuyên chính trong đó mọi kết hợp bị cấm đoán. Nhiều người cũng đã cố gắng thành lập tổ chức (đã có lúc người ta than phiền là có quá nhiều tổ chức chính trị) nhưng rồi đều khám phá ra những khó khăn không ngờ nên hầu như tất cả đều bỏ cuộc và triệt thoái trở lại tập quán nhân sĩ. Thực ra những khó khăn này chỉ không ngờ bởi vì chúng ta thiếu văn hóa chính trị và văn hóa tổ chức mà thôi, chúng chỉ là những vấn đề cổ điển của mọi tổ chức chính trị, hay chính đảng, đã được nghiên cứu kỹ và được trình bày trong nhiều tác phẩm. Thành lập một tổ chức chính trị có bao giờ dễ dàng đâu !

Phân tích các chính đảng không phải là mục đích của bài này. Chỉ xin tóm lược: đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tổ chức mạnh mới có hy vọng thành công; một chính đảng bắt buộc phải được xây dựng trên một tư tưởng chính trị và phải bắt đầu bằng một đội ngũ nòng cốt gắn bó và có bản lĩnh; trong những điều kiện lý tưởng nhất xây dựng một chính đảng cũng đòi hỏi ít nhất một hai thập niên. Xây dựng một chính đảng rất khó nhưng là điều kiện bắt buộc, nếu không thì hoạt động chính trị chỉ là vô ích, có thể còn có hại.

Theo tôi đó là bài học quan trọng nhất cần được rút ra từ biến cố 30 tháng 4-1975, một bài học mà đáng lẽ chúng ta đã phải biết mà không cần có biến cố này vì đó chỉ là một kiến thức cơ bản phải có ngay trong phản xạ của những người hoạt động chính trị. Ngày 30 tháng 4 đã chỉ nhắc lại sự thực hiển nhiên này, một cách rất tàn nhẫn. Những nạn nhân oan ức nhất chính là những quân nhân, công chức và cán bộ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Trong đại đa số họ là những người yêu nước, dũng cảm và đầy khả năng, một số đông đảo có tiềm năng lớn. Nỗi oan nghiệt của họ là đã không có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Họ không đáng phải chịu số phận mà ngày 30-4-1975 đã dành cho họ.

Cũng xin được chia sẻ một bài học cá nhân bởi vì nó cũng là một bài học nhỏ trong bài học lớn này. Cho tới ngày 30-4-1975 tôi là một viên chức khá cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã chứng kiến đoàn quân cộng sản chiến thắng tràn vào Sài Gòn. Sự hân hoan và hãnh diện của họ chỉ có thể so sánh được với thất vọng và tủi nhục của tôi. Tôi nghe như có tiếng nói từ trong lòng mình: “thà làm lính trong một đạo quân chiến thắng còn hơn làm tướng trong một đạo quân chiến bại”. Tôi vẫn hiểu và hành động như thế, nhưng lúc đó tôi hiểu một cách thấm thía lạ lùng. Hình như vẫn còn rất nhiều người chưa hiểu như thế, thậm chí còn nghĩ ngược lại.

*

Chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nếu kể cả tiền thân của nó là Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại, cũng đã chỉ tồn tại được 27 năm và đã sụp đổ từ 33 năm rồi. Trong suốt cuộc sống ngắn ngủi đó, dù đã có rất nhiều người yêu nước và dũng cảm bỏ mình dưới lá cờ của nó, nó chưa bao giờ là một nhà nước Việt Nam đúng nghĩa. Nó do Pháp lập ra và cáo chung khi bị Mỹ bỏ rơi. Nó chưa bao giờ kiểm soát được cả lãnh thổ Việt Nam và cũng chưa bao giờ có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Nó cũng là một chế độ rất tham nhũng, dù không tham nhũng bằng chế độ cộng sản hiện nay. Những người dân chủ và yêu nước không có lý do gì để thương tiếc chế độ này, càng không có lý do để lấy nó làm biểu tượng của cuộc đấu tranh vì dân chủ. Trong một giai đoạn, từ 1948 đến 1975, nó đã là một chọn lựa bất đắc dĩ để ngăn chặn sự thiết lập một chế độ cộng sản tại Việt Nam. Đó là một hợp đồng. Hợp đồng đó là tạm thời chịu đựng cái tồi dở để ngăn chặn cái độc hại. Nhưng cái tồi dở đã quá tồi dở và chúng ta đã không ngăn chặn được cái độc hại. Như vậy hợp đồng VNCH đã hoàn toàn chấm dứt. Cuộc vận động dân chủ hiện này là một cuộc đấu tranh hoàn toàn khác. Rút ra những bài học từ kinh nghiệm VNCH chỉ có ý nghĩa nếu có ích cho cuộc đấu tranh mới này. Bài học mà tôi đã chọn vẫn còn rất thời sự. Đáng buồn.

Nguyễn Gia Kiểng (30-4-2008)

TÂM TƯ C ỦA NGƯỜI GIÀ LẺ BÓNG

TÂM TƯ C ỦA NGƯỜI GIÀ LẺ BÓNG

Tuổi già lẻ bóng, cô đơn và khát khao tìm tri kỷ và cảm giác cô đơn, trống rỗng khi bạn đời ‘ra đi’…

“Tôi là một phụ nữ ngoài 60 tuổi, chồng qua đời 10 năm, lẻ loi, không có tài sản, có Medical, không bị các bệnh truyền nhiễm, tự chăm sóc bản thân được, biết lái xe, muốn tìm nơi nương tựa cuối đời. Xin liên lạc về email…”.

Thế nhưng, đọc thêm một lần, rồi một lần nữa, có thể nghe ra được nỗi gì cô độc đến não nề. Ngồi xuống nghe tâm tư của những người gần bước đến tuổi 70 hoặc hơn nữa, cả đàn ông lẫn phụ nữ, những người hiện đang lẻ bóng, bởi người phối ngẫu qua đời hoặc ly dị đã lâu, chợt hiểu thêm thật nhiều về nỗi cô đơn cũng như khao khát tìm được người bạn tâm giao, tri kỷ để tìm vui, để nương tựa trong những năm tháng cuối, ray rứt và da diết đến mức nào.

Cảm giác cô đơn, trống rỗng

Một nghiên cứu theo dõi hơn 2,000 người trên 50 tuổi trong vòng 6 năm và kết quả nhận được cho thấy nỗi cô đơn làm nguy cơ tử vong tăng lên gấp 2 lần và có nguy cơ chết sớm cao hơn 14% so với người không cô đơn.

Một nghiên cứu khác lại cho thấy 43.2% trong số 1,600 người trên 70 tuổi cho rằng họ cảm thấy cô đơn và thường thiếu bạn tâm giao. Một nửa trong số những người tham gia khảo sát nói nỗi cô đơn của họ càng hiển hiện rõ hơn vào cuối tuần và ba phần tư trong số đó phải chịu đựng nỗi cô độc khi đêm về.

Bà Mai Phương, 69 tuổi, hiện sống một mình ở Anaheim cũng là người mang trong lòng nỗi trống trải, cô đơn kể từ khi chồng qua đời cách đây hơn 2 năm. Nhìn cách bà đi làm, tham gia những sinh hoạt hội nhóm, bạn bè, khó ai có thể nghĩ được trong bà lại có một góc cô đơn hun hút đến vậy.

“Thời gian ổng mới mất, trong tôi hoàn toàn trống rỗng.” Bà bắt đầu câu chuyện bằng giọng nói buồn và nhẹ hơn bình thường. Không còn những đêm mất ngủ vì lo lắng cho bệnh tật của chồng. Không còn những thấp thỏm mỗi khi đưa ông vào bệnh viện.

Không còn phải suy nghĩ đến chuyện lo hôm nay nấu món gì, ngày mai đổi món nào. Nhưng lấp đầy cho những cái “không còn” đó lại là một khoảng trống đến rợn người.

“Tôi không dám ở nhà một mình, tôi cứ bám víu vào thằng con út khi đó còn ở chung nhà. Nó đi đâu tôi theo đó, nó đi ăn sushi ở hướng Nam, tôi đi theo hướng Nam. Nó lái xe ngược hướng Bắc đi uống boba, tôi cũng ngồi xe theo hướng Bắc. Có lúc ngồi trong xe cũng chỉ ngủ gà ngủ gật nhưng mà vẫn cứ leo lên xe con mỗi khi nhìn thấy nó đi đâu, cho dù nó có muốn hay không muốn mang mình theo.” Người đàn bà có đôi môi luôn cười nhưng ánh mắt lại rười rượi, nhớ lại.

Bà biết con bà không thích như thế. Bà biết bà không nên bám theo con như thế. “Nhưng mà… biết làm sao.” Bà Phương cười buồn. Người phụ nữ có gương mặt phúc hậu này chậm rãi nói tiếp, “Tôi thấy rõ ràng mình mất một chỗ tựa, như thiếu một cây gậy để chống mà đi kể từ lúc ổng mất. Cô đơn lắm!”

Nỗi cô đơn, trống vắng không chỉ ở chỗ thiếu đi một bóng hình, một người hằng ngày ra vào mình trông thấy, nhìn thấy, chuyện trò, mà ngay cả, như bà Phương tâm sự, nhìn những hàng cây khô héo, nhìn bụi vương trong nhà, lại chợt nhớ ra có người đã từng làm thay mình những việc như thế. Đó là chưa kể những lúc ngồi lần hồi giải quyết từng cái hóa đơn điện, nước, gas, rác… lại nhớ bao lâu rồi mình không phải làm những việc này.

“Nhiều lúc đang ở sở làm mà nỗi buồn cũng ập đến, tôi phải đi vào trong restroom đứng khóc một mình,” bà kể. Với bà Kim Lan, 70 tuổi, chồng qua đời đã 16 năm, khi bà mới 52 tuổi, thì nỗi cô đơn, trống trải càng về những năm sau này càng mãnh liệt hơn so với thời gian đầu khi người bạn đời của bà ra đi, bởi “khi đó tôi không có thời gian và tinh thần để nghĩ đến nó. Tôi phải bận rộn trong việc đi làm hai ‘job’ để kiếm tiền nuôi con, trả tiền nhà.”

Mặc dù không nhận ra nỗi trống vắng, cô đơn vào thời gian ấy, nhưng bà Kim Lan lại gần như bị rơi vào tình trạng “trầm cảm.” Bà nhớ lại, “Tôi đi làm gần như câm lặng, chỉ có hai câu ‘Hi’ khi đến và ‘Bye’ khi về. Trong lòng lúc nào cũng như buồn bực, ray rứt.”. “Tôi cảm thấy như tôi giận chồng tôi rất nhiều. Bởi vì chúng tôi đều thích sống ở miền quê, cả hai hẹn nhau khi nào con ra trường thì sẽ tìm nơi vắng vẻ, thanh tịnh để ở. Vậy mà chưa chi ổng đã bỏ tôi ra đi. Tôi cứ cố nghĩ đến những tính xấu của ông để mà giận thêm. Và tôi trút sự tức giận đó lên các con tôi, như một người điên sẵn sàng la hét cho dù chỉ là một điều nhỏ nhặt.” Bà Lan tiếp tục kể bằng giọng tâm tình khi đêm xuống mỗi lúc một sậm màu hơn.

Rồi thì thời gian đó cũng qua khi bà được bạn bè rủ đi tập Taichi, nghe tiếng người ta trò chuyện, nhìn người ta cười giỡn với nhau, bà Lan tìm lại được nụ cười và tiếng nói của chính mình. Về hưu ở tuổi 63, bà Lan lại tiếp tục giúp con nuôi cháu. Những niềm vui giản dị này không cho bà có thời gian buồn, sự bận rộn với các cháu khiến bà không thấy lẻ loi.

Tuy nhiên, khi các cháu lớn dần, bà ngoại không còn là người để chúng gần gũi, quyến luyến, và như một lẽ thường tình “càng về già càng thấy hụt hẫng,” bà Lan cảm nhận. “Nhiều lúc thấy mình bơ vơ, trống vắng, hay có cảm tưởng như mình bị bỏ rơi. Những lúc đau ốm, yếu trong người là lúc cảm thấy cô độc nhất, sợ hãi nhất. Bạn bè đến thăm thì vui, nhưng họ bước chân ra về là mình thấy chơi vơi.” Người phụ nữ có giọng nói của người Hà Nội xưa nói như trải lòng.

Cảm giác lẻ loi, trống trải đến nao lòng đó không chỉ là cảm nhận của riêng phụ nữ mà đàn ông vẫn không làm sao thoát được những lúc nỗi cô đơn ùa đến, bủa vây. “Một sự trống vắng lạ lùng lắm, cứ như mình bị rớt vào khoảng không nào đó, chới với” là điều mà ông Vương Văn Chương cảm nhận được từ khi vợ ông qua đời, cách đây “3 năm 9 tháng.”

Ông Chương năm nay 72 tuổi, hiện ở Garden Grove, sống cùng con cháu kể từ khi vợ mất, bởi “sống trong ngôi nhà cũ, nhìn đâu cũng thấy bóng hình vợ tôi, buồn lắm, chịu không được.”. Ông Chương kể, “Vợ tôi đi làm suốt 29 năm, khi vừa về hưu được hai tháng, đang lên kế hoạch đi du lịch đây đó thì phát hiện bị ung thư bao tử giai đoạn cuối. Năm tháng sau thì vợ tôi mất.”

Sự ra đi của người bạn đời đã đồng hành cùng ông suốt 42 năm, người cùng ông trải qua chuyến vượt biển thập tử nhất sinh vào năm 1977 với 27 ngày trôi trên biển cho đến khi được tàu cứu vớt, rồi sang Mỹ vui buồn, sướng khổ có nhau, để lại trong lòng người đàn ông này một khoảng trống mênh mông.

Ông Chương dọn về ở với gia đình con trai, như một sự trốn chạy những kỷ niệm, dù vậy, ông vẫn cảm thấy “rất cô đơn, nhất là khi đêm về, lúc con cháu đi vắng, tất cả đều im ắng.”

“Đó là nỗi cô đơn của sự thiếu một vòng tay, một giọng nói, một cái hôn, mà ở người đàn ông thì họ lại thích có những cái vuốt ve mơn trớn, giờ thiếu hết tất cả. Thiếu nhiều lắm, một sự trống vắng lạ lùng lắm, cứ như mình bị rớt vào khoảng không nào đó, chới với.” Ông Chương mô tả.

Trong cuốn “Loneliness (Nỗi cô đơn)”, ông John Cacioppo, nhà tâm thần học của trường Đại Học Chicago, nói rằng, “Nỗi đau của sự cô đơn cũng giống như nỗi đau thể xác vậy.”. Nghiên cứu của trường Đại học UC San Francisco cũng đưa đến những ngạc nhiên bất ngờ khi biết rằng không chỉ ở một mình người ta mới thấy cô đơn.

Trong số 43% người già cho rằng mình cô đơn thì chỉ có 18% sống một mình.

Với người lớn tuổi, cảm giác lẻ loi có thể hủy hoại tinh thần, sức khỏe nhiều gấp đôi so với chứng bệnh béo phì. Chính vì điều này mà người già lẻ bóng vẫn luôn khao khát tìm được một người bạn tâm giao, tri kỷ để nương tựa khi tuổi về chiều.

 Người & Đất Sài Gòn

 Người & Đất Sài Gòn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Tôi sinh ra ở Sài Gòn, nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Chỉ tiếc có điều là ngay tại chỗ tôi mở mắt chào đời (Xóm Chiếu, Khánh Hội) thì lại không được danh giá hay ngọc ngà gì cho lắm. Đây thường là nơi ngụ cư của những tay anh chị, những cô gái ăn sương, những đứa trẻ bụi đời, những phu phen bốc vác ở kho Năm, hay đám “đào kép cải lương say tứ chiếng” – theo như lời của nhà thơ Cao Đông Khánh:

sàigòn, chợ lớn như mưa chớp

nát cả trùng dương một khắc thôi

chim én bay ngang về xóm chiếu

nước ròng ngọt át giọng hàng rong

hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược

trái cây quốc cấm giấu trong lòng

hỏi thăm cho biết đường ra biển

nước lớn khi nào tới cửa sông

sàigòn khánh hội gió trai lơ

khi ấy còn tơ gái núi về

đào kép cải lương say tứ chiếng

ngã tư quốc tế đứng xàng xê

Dù “xàng xê” và “cải lương” tới bến nhưng khi “cách mạng về” là dân Khánh Hội đều “hết say tứ chiến” cấp kỳ. Tui, tất nhiên, cũng tỉnh táo liền. Tỉnh rồi mới bắt đầu hớt hải “hỏi thăm cho biết đường ra biển,” và cuống quýt đâm xầm vào giữa đại dương, bỏ lại S.G – như cắn răng cắt bỏ một phần thân thể của chính mình.

Tuy thoát thân nhưng không ít đêm, những đêm khó ngủ, tôi vẫn lò dò trở về chốn cũ. Có khi, tôi đứng ngẩn ngơ nhìn chiếc bong bóng vừa mua đã (lỡ) tuột khỏi tay – lơ lửng bay giữa những hàng cây, vào một buổi chiều Sài Gòn vừa tắt nắng – mà muốn ứa nước mắt vì tiếc và buồn.

Cũng có khi tôi ngồi trước một xe bán bò viên, chăm chăm nhìn thùng nước lèo vừa mở nắp, và tưởng chừng như không gian (của cả Sài Gòn hoa lệ) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh này – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy – hoà nhẹ với chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay làm cho thằng bé xuýt xoa … cho đến lúc cuối đời.

Nhiều khi, tôi ngồi chò hỏ trước nhà (mặt buồn thiu) vì không được bố mẹ nhẹ nhàng đặt vào tay năm cắc hay tờ giấy bạc một đồng – như thường lệ. Chỉ cần năm cắc thôi là đủ khiến chú Chệt vội vã ngừng xe, mở ngay nắp bình móp, lấy miếng kem đầy đặn – xắn một phần vuông vắn, cắm phập vào que tre – trịnh trọng trao hàng với nụ cười hiền lành và tươi tắn. Cắn một miếng ngập răng, đậu xanh ngọt bùi, thấm lạnh dần qua miệng lưỡi, rồi tan từ từ… suốt cả thời thơ ấu.

Năm cắc là giá của nửa ổ bánh mì tai heo, nửa má xoài tượng, một xâu tầm ruột ướp nước đường, một cuốn bò bía, một trái bắp vườn, một ly đậu xanh đậu đỏ bánh lọt, một dĩa gỏi đu đủ bò khô, một khúc mía hấp, năm cái bánh bò nước dừa xanh đỏ, hay mười viên cái bi ròn ròn cái bi ngon ngon nho nhỏ…

Một một đồng thì (ôi thôi) là cả bầu một trời, và một thời, hạnh phúc! Một đồng mới mua được quả bóng bay. Chiều Sài Gòn mà không có bong bóng (cầm tay) để tung tăng e sẽ là một buổi chiều… tẻ nhạt. Những chùm bóng đủ mầu sẽ rực rỡ hơn khi phố đã lên đèn, và sẽ rực rỡ mãi trong trong ký ức của một kẻ tha hương – cho mãi đến khi tóc đã điểm sương.

Dù một trời, và một thời, hạnh phúc xa xưa đã vuột khỏi tay – như quả bóng bay, không may, chiều nào, vào thưở ấu thời – tôi vẫn “sẵn sàng” nổi nóng nếu ai vô ý đặt chân đến cái phần thiên đường đã mất của mình.

Có bữa, bên bàn nhậu, Lê Diễn Đức bỗng nói khơi khơi:

– Tôi là dân Sài Gòn mà.

Tôi trợn trừng mắt:

– Đừng có nói giỡn cha!

– Thiệt mà, tôi sống ở Sài Gòn gần hai chục năm chớ đâu phải ít.

Tới lúc đó tôi mới chợt nhớ ra là mình đã bỏ đi từ quá lâu rồi, còn tư cách gì để mà giữ S.G (mãi mãi) nữa nên đành xuôi xị:

– Bộ lâu dữ vậy sao?

Sau Lê Diễn Đức, tôi còn biết thêm nhiều nhân vật khác, cũng đã chọn S.G làm quê hương chỉ vì nó quá… dễ thương – theo mắt nhìn của họ:

– Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh“Một đêm, chạy xe máy về nhà (ông cậu), tới ngã tư đèn đỏ, ngó hai bên đường vắng hoe, hắn rồ ga tính vọt thẳng. Bất ngờ nghe bên tai tiếng thắng xe cái rẹc, liếc qua thấy ông lão với chiếc xích lô trống không.

Quê quá, phải dừng theo! Nhiều năm sau, ở Hà Nội, những ngã tư đông đúc như Tràng Tiền-Hàng Bài, ngoài một chú cảnh sát đứng bục, thường phải thêm có 4 chú cầm gậy chặn bốn phía, lùa, đuổi mà cũng không xuể.

Lên xe bus, xe đò trong Nam luôn cho hắn những cảm giác thích thú để quan sát. Đủ các hạng người, mà sao không chen lấn, cãi vã. Khách nhường ghế cho nhau, thăm hỏi, chỉ đường tận tình (những thứ mà cho đến hôm nay, trên xe bus Hà Nội, người ta phải ghi lên tấm biển to đùng, thành “Nội quy”). Lơ xe lăng xăng xách, buộc chằng đồ cẩn thận cho khách, nhảy lên mui, đeo bên thành xe la nhắc người dưới đường cẩn thận.”

– Nguyễn Quang Lập“Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn… Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời.

Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí…

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính.

Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.”

Tôi cũng “sửng sốt” không kém khi nhìn thấy bức hình của một người S.G (nữa) giữa phố Nguyễn Huệ – vào chiều chủ nhật, 15 tháng 5 năm 2016 vừa qua – trên trang RFA:

Bức ảnh người đàn ông toạ kháng một mình trên phố đi bộ Nguyễn Huệ chiều 15 tháng 5 được chụp bởi một người chơi ảnh tên Bùi Dzũ nhanh chóng được lan truyền rộng rãi trên các trang mạng xã hội. Không lâu sau đó, cư dân mạng biết tìm ra đó chính là nhà báo/blogger Huỳnh Ngọc Chênh, người đã phát động phong trào toạ kháng để đòi sự minh bạch về thảm hoạ môi trường. Tấm ảnh được chính người chụp gọi tên là “Người đàn ông cô đơn”.

Tôi không biết rõ Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Quang Lập, Huỳnh Ngọc Chênh… nguyên quán nơi đâu nhưng biết chắc là họ đã sống hết lòng (qua từng hơi thở, từng dòng chữ, từng bước chân) để cố giữ lại được cho S.G – phần nào – nhân phẩm và đạo lý.

Bao giờ mà ở những góc đường vẫn có những bình trà đá, những thùng bánh mì, những quán cơm, những nơi vá xe (miễn phí) và bao giờ mà vẫn còn qúi vị thức giả sẵn sàng đối diện với cường quyền thì S.G vẫn chưa thể mất. Tôi không mất S.G đâu nhưng thành phố này đã mất tôi, và mất tự lâu rồi. Cái thứ đồ bỏ chạy (mất dép) trong cơn quốc biến, và cúi mặt đi luôn như tôi thì dù có mất luôn (phỏng) có gì đáng để bận tâm.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

danlambaovn.blogspot.com

THIÊN NHIÊN MINH CHỨNG: CÓ SỐNG LẠI

QUÀ TẶNG TIN MỪNG:

Chúa Nhật thứ 3 Phục Sinh

THIÊN NHIÊN MINH CHỨNG: CÓ SỐNG LẠI

Lm Anphong Nguyễn Công Minh,

Dòng Anh Em Hèn Mọn Việt Nam.

 Kính mời xem video tại đây:

https://bit.ly/3glny0X

 Khi một người đi du lịch ở nước ngoài về, họ kể cho chúng ta nghe tháp Eiffel cao thế nào, sắt sơn màu gì, dòng sông Seine nước chảy ra sao. Chúng ta tin có như vậy. Đó là tin bởi nghe. Rồi khi họ cho ta xem những tấm hình kỷ niệm họ đứng bên bảo tàng viện Louvre. Ta càng tin họ hơn về những gì đã nghe. Đó là tin bởi thấyTin bởi thấy (bằng mắt) thì dễ hơn tin bởi nghe (bằng tai). Trăm nghe không bằng một thấy.

Thường thì cho nghe trước, xem sau. Trình tự này cũng giống như bài Tin Mừng hôm nay.

Khởi đầu: 2 môn đệ đi Emmau về thuật lại họ đã gặp Chúa như thế nào lúc đi đường và bẻ bánh. Mọi người bàn tán. Đó là tin bởi nghe. Rồi Chúa hiện ra,  Ngài đưa tay chân (có vết thương) cho họ xem. Và đó là tin bởi thấy.

Các Tông đồ tin bởi thấy, nhưng truyền lại cho chúng ta thì chỉ bằng lời. Vì thế chúng ta chỉ còn một cách để tin: Tin bởi nghe. Các Tông đồ không có máy ảnh,  để ghi lại một bức hình khi Chúa hiện ra. Không có video để quay cảnh Chúa giơ tay chân, ăn bánh trước mặt các Tông đồ như thế nào. Iphone di động càng không có. Vì thế chúng ta không có cơ hội tin bởi thấy, mà hoàn toàn tin bởi nghe.

Nhưng không phải cứ nghe gì là tin cái đó. Không phải cứ thấy cái gì là tin liền ngay. Một con người chưa bước ra khỏi nhà mà ba hoa nói về những chuyện ở tận bên Tây bên Tàu, ta nghe đó nhưng đâu có tin.

Một con người đưa tấm hình rõ ràng họ chụp đứng trên toà nhà chọc trời Nữu Ước. Ta thấy đó – nhưng đâu có tin, nhất là gần đây, nhìn những Album, có cảnh cô dâu chú rể chui vào ly rượu, chui vào TV, chụp hình, ta thấy đó, nhưng đâu có tin thật như vậy. Vì ta biết rõ, chẳng qua là ghép hình, là photoshop.

Vậy từ nghe đến tin và từ thấy đến tin còn cần đến bộ óc phán đoán, nhận xét. Đó mới là cái chính. (ở đây, chúng ta tạm thời không bàn tới tin là ơn nhưng không Chúa ban).

Vậy nếu chúng ta, những kể hậu sinh của các Tông đồ, chúng ta chỉ được nghe mà không được thấy về Chúa sống lại, thì điều đó cũng không thiệt hại gì cho chúng ta, vì chúng ta còn bộ óc để suy xét nữa, và bộ óc sẽ cho chúng ta thấy nhiều khi cả những điều mà các Tông đồ thời xưa không thấy.

Nếu thiên nhiên mặc khải có Thiên Chúa, (như nhìn thiên nhiên, vũ trụ với trật tự lạ lùng, liền biết có Chúa là Đấng tạo thành), thì thiên nhiên cũng mặc khải – cho ta thấy- có sự sống lại. Ta sẽ điểm 4 hình ảnh thiên nhiên cũng minh chứng sự sống lại:

  1. Hạt lúa:nếu phơi khô – ướp lạnh – cất kỹ – vẫn là hạt lúa. Nhưng nếu ngâm nước, chôn dưới đất, sinh ra cây lúa.

Hình ảnh này chính Chúa đã dùng . Và thánh Phaolô đã nói tới khi trả lời cho dân Corinto. Họ hỏi Phaolô khi sống lại, lấy xác nào mà trở về ? Phaolô đã trả lời– Bạn gieo vật gì thì vật ấy phải chết đi mới sống lại được chứ. Vật bạn gieo không phải là thân cây tương lai, song chỉ là hạt. Từ hạt, Chúa làm nảy nở cây riêng biệt. Đó là hình ảnh kỳ diệu – cho chúng ta hiểu được phần nào việc sống lại – việc đi từ thế giới này chuyển qua thế giới bên kia.

  1. Con bướm:khi nhìn một con bướm ngày đẹp đẽ, có ai lại nghĩ rằng nó thoát xác từ một con sâu róm lông lá xấu xí, phải bò chui dưới lá cây đất đá. Sâu nào ra bướm đó. Có cái liên tục và có cái cách quãng. Nhìn vào đây, chúng ta có thể suy ra: từ thân xác hay chết, thuộc về cát bụi, sẽ trở thành thân xác vinh quang thuộc thần thiêng, đi từ trạng thái này sang trạng thái khác.
  2. Bảo tồn xác:Tại sao phải chôn cất con người đàng hoàng? Tại sao khi con người chết, khác hẳn với con vật. Tôn trọng, thì người ta làm lăng tẩm để giữ xác, hoặc chôn cất với quan tài gỗ quí để giữ xác được lâu; hoặc nữa, có hoả thiêu cũng giữ lại tro cốt. Tất  cả sự quí trọng đối với thân xác đó như muốn cho ta thấy, cho ta hiểu xác loài người sẽ có một ngày trở nên như thế nào đó chứ chẳng lẽ chết là hết?Đức tin Kitô giáo gọi là sống lại.
  3. Vật quí giá:Hình ảnh này tôi học được nơi một linh mục trong Dòng, nay đã chết. Điều chúng ta tưởng khó tin nhất là xác loài người sống lại, lại không khó tin lắm theo lý luận này.Trong một bữa ăn, linh mục này nói, chứng minh xác sống lại dễ lắm. Và cha lý luận: Nếu chúng ta có 1 radio cổ lỗ sĩ, dùng đèn, ta bỏ đi cũng không tiếc, nhưng nếu ta có Tivi video, đa hệ, tự động tối tân, ta bỏ đi ta có tiếc không? Nếu ta có máy vi tính thông minh, ta vất đi, ta có tiếc không. Thân xác chúng ta còn giá trị, qúi báu  gấp bội cái đầu video, cái máy vi tính cực kỳ tối tân. Đầu óc, con tim, cánh tay… bất cứ cái gì cũng vô giá. Đến nỗi lúc tạo dựng xong con người, Chúa nói “tốt quá sức”. Vậy lẽ nào Chúa lại để cho cái tốt đẹp quá sức đó phải hư nát?

Ngay cả khi thân xác ta già nua, bệnh hoạn, tật nguyền, thì thân xác đó vẫn mang hình ảnh của Chúa: Nào Ta dựng nên con người giống hình ảnh TaLàm sao Chúa Tạo Hoá lại để nó hư nát được?

Thánh Phêrô trong bài giảng chứng minh Chúa Giêsu sống lại, đã dùng đến Tv 15: “Chúa sẽ không để mạng tôi chôn vùi trong âm phủ”. Vậy là ta đã thử dùng 4 hình ảnh thiên nhiên cung cấp để minh chứng có sự sống lại của thân xác là: Hạt lúa, con bướm, tôn trọng xác người,  vật thể quí giá.

Tin Chúa Giêsu chết và sống lại thì dễ hơn là tin chúng ta sẽ sống lại. Ngài là Chúa, Ngài sống lại cũng dễ thôi, cũng như chúng ta dễ dàng tin Tổng Thống quyền lực vô song, Vua kia giàu có … nhưng từ cái giàu có, quyền lực của Tổng Thống, của vua kia mà chúng ta cũng được lây hưởng, đó mới là điều khó. Thì, Đức Kitô chết và sống lại, có mục tiêu là để chúng ta cũng được sống lại như Ngài. Đó chính là TIN MỪNG. Đúng là tin vui mừng thật.

Khi con người đón nhận cái Tin Mừng đó, thì cơ may không còn hiểm nghèo nữa, hy sinh không còn khó chịu nữa, già lão không phải là thảm hoạ, cuộc sống không là ngục tù và cái chết không phải là tử thù.

Xin cho mọi người Kitô hữu biết sống trọn Tin Mừng này bằng cách luôn hát Alleluia trong mọi lúc, luôn biết qúi trọng thân xác mình và tha nhân vì một ngày kia xác loài người sẽ sống lại.

Lm Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

Hẹn gặp lại

Thiên đường hạ giới: Nước Mỹ

Thiên đường hạ giới: Nước Mỹ

Tác giả Dương Quỳnh Khanh vừa từ Việt Nam sang du lịch Mỹ thăm con gái. Sau ba tháng thăm đất nước hợp chủng, bài viết ngắn sau đây cho thấy cách nhìn trân trọng bà dành cho nước Mỹ và người Việt ở Mỹ.*

Sau bao năm cầu xin, tôi đã được hưởng một phép lạ do Chúa ban tặng. Đó là lần phỏng vấn thứ ba, tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Saigon đã chấp thuận cấp visa cho tôi đi Mỹ thăm con gái và con rể. Lần thứ ba này, con rể người Mỹ đứng ra bảo lãnh và kèm theo một thư cam kết.

Hai lần bị từ chối trước làm cho tôi nản lòng, vì lý do không có tài sản, không có gì ràng buộc với Việt Nam . Nay, nhờ con rể người Mỹ bảo lãnh, việc cam kết tôi không có lý do gì lưu trú tại Mỹ có vẻ đáng tin hơn.

Nhận được visa, tôi quýnh quáng không biết sẽ đem gì, mua gì làm quà cho con, rồi ngày đi đến nhanh.

Đặt chân trên đất Mỹ vừa đúng 12 giờ đêm ngày Chúa Nhật, làm thủ tục khám xét xong xuôi, hải quan phi trường cho phép tôi ở Mỹ sáu tháng.

Đẩy hành lý ra, gặp hai vợ chồng con gái đang đứng đón, lòng bồi hồi cảm động nhớ thương đã làm tôi bật khóc như một đứa trẻ.

Từ phi trường Los Angeles chạy về Oceanside nơi con tôi ở đúng 2 tiếng lái xe. Trên đường về ban đêm, xe nối đuôi xuôi ngược, đèn sáng đỏ chạy dài trên con đường có dạ quang như dải lụa đen đính kim tuyến. Nhờ đèn nên quang cảnh ban đêm thật đẹp, bên ngoài trời về đêm không khí dễ chịu.

Thiên Đường , hai tiếng giản dị

Nước Mỹ, nơi mà người ta thường gọi là Thiên Đường, là một đất nước tự do đã cưu mang gần hai triệu người Việt, trong đó có con gái, em gái tôi.

Thiên Đường, hai tiếng giản dị vậy mà có một sức hút lạ kỳ. Với những người phải sống trong cảnh bất công, tù ngục thì nước Mỹ đúng là một thiên đường ở ngay trên mặt đất. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng đặt chân đến vì đó là một nơi xa vời vợi, người dân bình thường, không họ hàng, không thân thích, không ai bảo lãnh có tiền cũng khó mà tới được.

Nhớ lại 32 năm về trước, bao triệu người ra đi bỏ lại đằng sau tất cả những gì đã có, bỏ lại họ hàng, anh em, cha mẹ, bạn bè, họ đã tìm đủ mọi cách ra đi, tìm cái sống trong cái chết. Để có thể lên đường tìm tự do, tìm thiên đường, họ đã phải đánh đổi nhiều thứ, từ làm mồi cho cá biển tới thân bị tù tội, nhà cửa bị tịch thu.

Hành trình của người Việt tìm tự do còn tiếp diễn nhiều năm sau này. Biết bao xương cốt thuyền nhân Việt vẫn nằm sâu dưới đáy biển, dưới lòng sông.

Những đồng đô la quí giá

Gần hai triệu người dân Việt giờ đây đã an cư lạc nghiệp tại xứ Mỹ. Ngay từ buổi đầu, khi tới được nước Mỹ, hầu hết họ đều nghĩ tới những thân nhân còn lầm than ở quê nhà, ai nấy phải làm lụng vất vả dè sẻn để gửi tiền về quê hương giúp cha mẹ, anh chị em. Khi ổn định họ lại tìm cách bảo lãnh cha mẹ, anh em, vợ con đến xứ sở an toàn đầy đủ nhưng không kém phần vất vả.

Còn nhớ, những ngày khốn khó ở quê nhà, khi nhận được những đồng đô la quý giá từ tay con gái tôi gởi về tôi cảm động lắm. Con gái tôi gởi tiền về cho gia đình không bao giờ than vất vả khó nhọc, nhưng tôi được nghe nhiều người kể về xứ sở xa xôi đó. Sáng sớm tinh mơ, cơm đùm cơm nắm mang theo để ăn trưa, chiều tối về ăn cơm nhà, ai cũng như ai tằn tiện chính bản thân, để rồi mỗi lúc thân nhân quê nhà cần tiền thì sẵn sàng gởi về giúp đỡ, không đắn đo, không than thở.

Đồng đô la từ Mỹ gửi về quê nhà quý giá vô cùng, vì đó là quá trình lao động mồ hôi nước mắt của thân nhân mình, nó nâng đỡ nhiều gia đình khó khăn hoặc nâng đỡ hỗ trợ nhiều cơ quan từ thiện, từ chùa chiền cho đến nhà thờ.

Nhưng cũng do đồng đô la này, lòng tham đã làm cho nhiều gia đình bất hòa. Tại Việt Nam , người nhận từng giành giựt hơn thua, kẻ ít người nhiều, đâm ra giận hờn từ bỏ nhau. Tại Mỹ cũng có nhiều cảnh ngộ, vợ chồng chia tay cũng vì gởi không đồng đều giữa hai gia đình nội ngoại.

Đồng đô la quý giá nhưng cũng gây ra lắm cảnh đau lòng, nguyên nhân chỉ là do con người ích kỷ mà ra. Người nhận được đô la vui vẻ bao nhiêu thì thân nhân ở Mỹ phải nỗ lực vất vả bấy nhiêu.

Hôm nay tôi có mặt ở đất nước này thuộc diện du lịch thăm con, được con chở đi chơi nhiều nơi, nhận thấy đúng là xứ sở văn minh tiến bộ mà làm biết bao người thèm muốn, nó sạch đẹp làm sao! Ngoài đường phố không có trẻ em, thanh niên, thiếu nữ đi nghểu nghến, chỉ có nhà hàng ăn, quán bar, shop, mới thấy họ ăn uống, mua sắm ở nơi đó mới thấy mặt trẻ em, ngày thường cha mẹ tất bật, các trẻ nhỏ đều vào trường vào lớp, chúng không quấy rầy cha mẹ.

Xã hội Mỹ luôn tạo điều kiện cho con người biết tự lập, tự vươn lên không ỷ lại, không dựa dẫm. Dù cha mẹ giàu có, mười tám tuổi trở lên tự lập thân, tự tìm việc chúng có thể trở thành cô bán hàng, hay cậu thanh niên bưng bê phục vụ cho khách, làm đủ mọi nghề. Ở đây người Phi, người Mễ, người Việt rất chịu khó, không việc gì họ từ, miễn là kiếm được việc, kiếm được tiền, họ gởi về giúp thân nhân, giúp đất nước mỗi năm hàng trăm triệu đô la. Đồng đô la đã quý, lòng người nhân ái càng quý hơn. Nước Mỹ là đất hợp chủng, gồm đủ mọi sắc dân. Đất nước nào bị thiên tai, chính phủ Mỹ, dân Mỹ đều sẵn sàng giúp đỡ từ tiền bạc, áo quần, thực phẩm cho đến thuốc men.

Ba tháng ở thiên đường

Vùng con tôi ở là một thành phố trên đồi cao và gần biển, những con đường rộng thênh thang chia nhiều làn xe thẳng tắp chạy dài hoặc quanh co uốn lượn chẳng khác nào màng nhện nhưng có lớp lang thứ tự. Hè ở đây khí hậu nóng như Việtnam.

Hai hôm sau con tôi nghỉ phép, chở tôi đi chợ. Đến các gian hàng, các cửa hiệu, tôi như choáng ngợp, nó rộng rãi to lớn, hàng hóa nhiều vô kể, trang trí bày biện ngăn nắp hấp dẫn, mải mê ngắm nhìn chọn lựa, tôi như người dân quê ra tỉnh, sự quê mùa bộc lộ rõ nét của người mới tạm nhập cư.

Đến hôm nay tôi ở đúng 3 tháng, các con chở đi chơi nhiều nơi.

Đứng trên cao nhìn bao quát biết bao danh lam thắng cảnh, nơi nào cũng bao phủ bởi màu xanh cây cỏ, hoa lá tươi mát. Nhà cửa khắp nơi xây cất gần giống nhau màu sắc trang nhã, bên trong thiết kế tiện nghi, thuận lợi.

Hiện nay người Việt tại Mỹ cần cù chăm chỉ, ăn nên làm ra thành đạt được sống trong tự do nhân quyền, họ đã khẳng định nước Mỹ là quê hương thứ hai, không thấp thỏm lo âu bị ai tước đoạt tài sản, không lo sợ khống chế tự do nhân quyền do đó họ sống thật bình yên.

Tôi chưa thấy bóng dáng thiên đường trên cao nhưng đất nước nào giàu có, dân sống sung sướng lạc quan, không sợ hãi, không lo âu thì đó là thiên đường.

Nhìn người mà ngẫm đến ta, lòng cứ quặn đau, đi chơi mà niềm vui không trọn vẹn. Biết đến bao giờ những nước lạc hậu bảo thủ, trong đó có nước tôi, thoát khỏi cảnh bất công, đói nghèo để được hưởng một chút thiên đường nơi trần thế.

Dương Quỳnh Khanh

 ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC, CÁCH MẠNG GIÁO DỤC LẦN THỨ NHẤT

May be an image of standing and text

 ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC, CÁCH MẠNG GIÁO DỤC LẦN THỨ NHẤT

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Cách đây 110 năm (1907-2017), một số nhà trí thức yêu nước tiên tiến đã thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) tại Hà Nội, khởi đầu một phong trào yêu nước chống phong kiến chống thực dân với tính chất hoàn toàn mới chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam. Ở đây, Nghĩa thục là trường tư thục (do tư nhân mở) vì nghĩa, tức vì lợi ích chung, không vì tư lợi, không thu tiền của người học. Đông Kinh là tên thành Thăng Long thời Hồ Quý Ly, tức Hà Nội hiện nay, địa điểm đặt trường.

ĐKNT do một nhóm sĩ phu Bắc Hà đồng sáng lập: Lương Văn Can (Thục trưởng, tức Hiệu trưởng), Nguyễn Quyền (Giám học) và Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Kỳ, Dương Bá Trạc, Vũ Hoành v.v… Họ đều là các nhà Nho, trong đó cử nhân Dương Bá Trạc mới 23 tuổi, cử nhân Nguyễn Hữu Cầu 28 tuổi, nhiều tuổi nhất là Lương Văn Can 53 tuổi.

Do có cùng chí hướng và nhận thức, lại tiếp thu trào lưu duy tân từ Nhật Bản, Trung Quốc và tư tưởng tiên tiến của hai nhà đại cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, nên họ đã tự tìm đến với nhau họp bàn và nhất trí chủ trương noi gương Nhật Bản, trước hết mở trường dạy cho đông đảo đồng bào các kiến thức cần thiết nhất để làm cho dân giàu nước mạnh, cuối cùng tiến tới mưu đồ sự nghiệp giải phóng đất nước. Hai cụ Phan có liên hệ chặt chẽ với nhóm này. Do từng thăm trường Khánh ứng Nghĩa thục (Keio Gijuku, lập năm 1868) của Fukuzawa Yukichi ở Tokyo nên hai cụ rất hiểu tác dụng của giáo dục quốc dân đối với việc thực hiện “quốc phú binh cường” (nước giàu, quân mạnh) ở nước Nhật. Vì thế các cụ đã gợi ý nhóm sĩ phu nói trên lập ra ĐKNT.

Theo tài liệu do ĐKNT biên soạn thì đây là trường học đầu tiên được lập ở Việt Nam: “Nước Nhật Bản chỉ có 43 huyện mà có đến 26.824 trường tiểu học. Nước ta hơn 30 tỉnh, hơn 500 huyện mà chưa nghe ai nói tới mở trường. Than ôi! Chẳng phải là đáng giận lắm sao?”[1] Thực ra nước ta ngày ấy tuy chưa có trường học theo nghĩa có trường sở, có bộ máy tổ chức quản lý và giảng dạy, đào tạo học sinh theo một chương trình nhất định, nhưng cũng có không ít cơ sở giảng dạy văn hóa Nho giáo như các lớp học tại gia của thầy đồ. Cơ sở lớn nhất là Quốc tử Giám Văn Miếu, được gọi là “trường đại học đầu tiên”. Nhưng mọi hoạt động giáo dục thời xưa chỉ nhằm đào tạo người làm quan, như đạo Khổng dạy: Học nhi ưu tắc sĩ (Học giỏi thì ắt làm quan). Về sau, từ cuối thế kỷ XIX, Thống sứ Trung Bắc lưỡng kỳ Paul Bert (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục Pháp) bắt đầu mở một số trường tiểu học Pháp-Việt nhằm đào tạo người làm việc cho thực dân Pháp. Nhưng một trường học kiểu ĐKNT thì đúng là nước ta chưa từng có (kể cả hiện nay)!

ĐKNT khai giảng tháng 3/1907 tại Hà Nội, hai tháng trước khi có giấy phép của chính quyền cai trị. Trường không thu học phí, các tài liệu giảng dạy và tuyên truyền đều phát không cho học viên, hơn nữa còn phát hành trên cả nước. Ai muốn học đều được nhận, bất kể già trẻ gái trai, kể cả nhà Nho muốn học tiếng Pháp. Kinh phí hoạt động dựa vào sự đóng góp tùy tâm của dân; giáo viên thời gian đầu không lĩnh lương. Bộ máy nhà trường gồm 4 ban: Giáo dục (mở lớp và giảng dạy), Tu thư (soạn tài liệu giảng dạy và tuyên truyền), Cổ động (tuyên truyền), Tài chính (lo kinh phí). Trường dạy các môn: Quốc ngữ, chữ Hán (chỉ để đọc tân thư), tiếng Pháp, các thường thức về xã hội, lịch sử, địa dư, chính trị, kinh tế, quyền công dân. Nhà trường có một cơ quan ngôn luận riêng là tờ Đại Việt Tân báo; một thư viện nhiều sách báo với thủ tục cho mượn là chỉ cần đọc xong thì trả lại; một hòm thư trưng cầu ý kiến nhân dân đóng góp xây dựng trường… Với hình thức tổ chức như vậy, ĐKNT đúng là một trường học tiên tiến chưa từng có trong lịch sử nước ta, Trung Quốc thời ấy cũng chưa có.

ĐKNT đặc biệt chú trọng việc biên soạn tài liệu giảng dạy, tuyên truyền. Các lớp bậc cao dùng ngay tân thư Nhật Bản và Trung Quốc (chủ yếu do TQ dịch từ sách Nhật) để giảng dạy, vì học viên đã biết chữ Hán nên có thể trực tiếp đọc sách. Các lớp dưới dùng sách quốc ngữ hoặc chữ Hán do trường biên soạn. Văn thơ của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền…cũng được dùng để giảng dạy. Nội dung các tài liệu nói trên đều nhằm nâng cao lòng yêu nước, đả phá nền cựu học khoa hoạn phong kiến cùng lối sống cũ, đề xướng tân học cùng lối sống mới, học văn minh phương Tây, học chữ Quốc ngữ và khoa học kỹ thuật, chấn hưng kinh tế …

Hội quán ĐKNT (mới đầu ở nhà số 4 phố Hàng Đào) treo một bản đồ tổ quốc cỡ lớn chưa từng thấy nhằm khích lệ lòng yêu nước một cách trực quan, cảm tính. Đồng bào rủ nhau đến xem rất đông, ai cũng xúc động vì hầu như đây là lần đầu tiên họ được biết hình dạng tổ quốc mình trên trái đất. Một số tài liệu nhà trường phát không cho học viên có nội dung vạch tội ác của thực dân Pháp, kêu gọi đồng bào đứng lên cứu nước. Như “Hải ngoại Huyết thư” của Phan Bội Châu được Lê Đại dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt, chuyển thành thể thơ song thất lục bát có vần điệu rất hay, dễ nhớ dễ truyền khẩu, hầu như cả nước ai cũng thuộc lòng. Những câu như

Đội trời đạp đất ở đời

Sinh ra Nam quốc là người trượng phu

Ai cũng bụng phục thù báo quốc

Thấy giống người nước khác ai ưa?

Cớ sao ngày tháng lần lừa

Rụt rè như thế, đợi chờ ngóng trông?

Lẽ vinh, sỉ, có hai đường ấy

Anh em ta đã nghĩ cho chưa?

Gió tanh xông mũi khó ưa

Gươm sao cắp nách mà ngơ cho đành

Hòn máu uất chất quanh đầy ruột

Anh em ơi, xin tuốt gươm ra!…

Cờ độc lập xa trông phấp phới

Kéo nhau ra đòi lại nước nhà![2]

sao mà kích động lòng người, như tiếng trống trận thúc dục họ đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, giải phóng tổ quốc!

Với nội dung hoạt động như vậy, ĐKNT lập tức được nhân dân ta vốn giàu lòng yêu nước và hiếu học hăng hái hưởng ứng, ủng hộ. Số học viên từ khoảng dăm chục lúc đầu sau vài tháng lên tới mấy nghìn, và tiếp tục tăng dần. Nhiều nhà trí thức Nho học và Tây học tự nguyện tham gia giảng dạy, như hai nhà Tây học nổi tiếng nhất hồi ấy là Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn giúp dạy tiếng Pháp. Cụ Phan Châu Trinh từ Quảng Nam ra Hà Nội diễn thuyết tuyên truyền cho ĐKNT. Đồng bào các giới nô nức góp tiền của cho trường, có lúc nhiều tới mức thu không xuể. Nhân sĩ khắp ba kỳ kéo nhau đến xem trường, ai nấy đều hồ hởi hoan nghênh, ủng hộ. Thời gian đầu bọn Pháp cũng không ngăn cấm mà còn phỉnh phờ. Phong trào lan ra nhanh chóng. Sĩ phu ở một số tỉnh tự động lập phân hiệu của ĐKNT. Bà con ta truyền nhau mấy câu thơ:

Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ

Khắp ba mươi sáu phố Hà thành

Gái trai nô nức học hành

Giáo sư tám lớp, học sinh non ngàn.

Buổi diễn thuyết người đông như hội

Kỳ bình văn khách tới như mưa.

Trong hoàn cảnh hồi ấy, khi tất cả các cuộc nổi dậy chống Pháp đều bị kẻ địch dìm trong biển máu, lối thoát cho công cuộc giải phóng dân tộc ta rõ ràng chưa thể là khởi nghĩa vũ trang, mà là chuẩn bị lực lượng quần chúng: trau dồi cho đông đảo đồng bào lòng yêu nước và các kiến thức cần thiết nhất để đổi mới xã hội về mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, làm cho dân giàu nước mạnh. ĐKNT chọn giáo dục quốc dân làm biện pháp chuẩn bị lực lượng cách mạng là sự lựa chọn sáng suốt hồi ấy. Gây dựng được phong trào đông đảo quần chúng hăng hái học tập như thế thật là việc chưa từng có trong lịch sử nước ta.

ĐKNT trước hết tập trung vào chủ đề giáo dục. Nền giáo dục nước ta xưa nay rập khuôn TQ “đặt đạo đức lên đầu, xem trí năng là thứ yếu, cho nên không nói tới giáo dục quốc dân … Chỉ những ai có chí làm công khanh, đại phu mới đi học, chớ không phải là giáo dục quốc dân nhằm phổ biến rộng rãi trong dân chúng, mà là định phân trên dưới, giữ gìn lễ phép. Đường lối giáo dục quốc dân không phải như thế, mà là làm rõ cái lý tương quan giữa nước với dân, sao cho họ biết vị trí của họ trong xã hội, chức phận ra sao, và làm thế nào để gây ý thức ái quốc ái quần, bồi dưỡng tài năng tự trị, tự lập… Một nước không có giáo dục quốc dân thì trăm họ u mê, không biết quốc gia, chính trị là gì.”[3] ĐKNT kêu gọi:

Liệu mà sớm bảo nhau đi

Giàu thì giúp của, nghèo thì gắng công

Khăng khăng ghi lấy một lòng

Sang Âu, sang Mỹ học tòng nghề hay

Bao nhiêu nghề khéo nước ngoài

Học sao cho được hơn người mới nghe

Bấy giờ rồi liệu trở về

Mở trường trong nước lấy nghề dạy nhau.[4]

Nghĩa là ĐKNT muốn làm cuộc cách mạng về đối tượng, mục đích và phương thức giáo dục: từ chỗ chỉ giáo dục một số ít người chuyển sang giáo dục số đông dân chúng; từ chỗ chỉ đào tạo người làm quan chuyển sang đào tạo người làm công dân, từ giáo dục tự nguyện sang giáo dục bắt buộc; từ chỉ học trong nước sang đi học nước ngoài. Nền giáo dục cũ đều dùng chữ Hán, một thứ chữ rất khó học, chỉ một số cực ít người muốn làm quan và có điều kiện mới chịu học. Kiến thức họ được học toàn là các kinh điển Nho giáo, văn chương cổ lỗ có từ hàng nghìn năm trước, xa rời thực tế xã hội, không ích gì cho phát triển kinh tế, chính trị, KHKT, nâng cao đời sống của dân. Hậu quả là các nhà Nho vô dụng lại làm quan cai trị dân. Chính vì thế mà dân ngu nước yếu, không chống nổi ngoại xâm. Đã vậy giới hủ nho lại mù quáng tôn vinh văn minh Nho giáo cổ hủ, tự cao tự đại, khinh thường mọi thứ của người Tây, như văn minh phương Tây, chữ Quốc ngữ (do các giáo sĩ người Âu làm ra), KHKT và văn minh vật chất. Các yếu nhân ĐKNT tuy vốn là nhà Nho song do tiếp thu được tư tưởng duy tân từ Nhật và TQ nên họ thấy rõ muốn dân giàu nước mạnh thì trước hết phải nâng cao dân trí, tức tiến hành giáo dục quốc dân nhằm thực thi “Khai dân trí” – nội dung đầu tiên trong phương châm cách mạng Việt Nam thời ấy “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” do Phan Châu Trinh nêu ra.

Muốn mở dân trí, phải kiên quyết đả phá nạn hủ nho. “Cáo hủ lậu văn” của ĐKNT viết: “Ôi! các bố, có óc thông minh, ở làng cao sang, đọc sách hiền triết, làm mẫu da vàng! Đương lúc này nghe thấy mới lạ, cuộc đời mở mang, sao không ra tay cứu vớt người chìm đắm, đánh thức kẻ mơ màng! Tại hại thay hủ thư! Đục nát bét các bố! Đau đớn thay hủ nho! Làm các bố lầm lỡ!”

Muốn phổ cập giáo dục thì phải dùng chữ Quốc ngữ. “Văn minh Tân học sách” – cuốn sách có tính cương lĩnh của ĐKNT viết: “Người trong nước đi học nên lấy chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên để trong một thời gian vài tháng, đàn bà trẻ con đều biết chữ và có thể dùng … Đó thực là bước đầu tiên để mở mang trí khôn vậy.” Đúng là nhờ biết chữ Quốc ngữ mà tư duy, trí tuệ của người Việt được giải phóng, mở mang, tiến những bước nhảy vọt hơn hẳn mấy nghìn năm trước. Không có chữ Quốc ngữ thì các tư tưởng tiên tiến của ĐKNT sao có thể đến được quần chúng nhân dân. Mười năm sau (1917), học giả Phạm Quỳnh đưa ra nhận định: chữ Quốc ngữ là công cụ giải phóng trí tuệ người Việt.

Làm cho dân ta chấp nhận một loại chữ viết mới thay cho chữ Hán quen dùng hàng nghìn năm là một cuộc cách mạng lớn về văn hóa giáo dục. Hầu hết người trí thức ở ta ngày ấy chỉ biết chữ Hán, thứ chữ viết bằng bút lông có vẻ cao sang. Giới hủ Nho tẩy chay và chê bai chữ Quốc ngữ viết bằng ngòi bút sắt là thứ chữ “mọi rợ”, “ngoằn ngoèo như con giun”. Sử gia Chương Thâu đánh giá: với việc thực hiện dạy chữ Quốc ngữ, ĐKNT đã tiến xa hơn các nhà duy tân TQ chỉ hô hào bỏ khoa cử và lối văn tám vế (bát cổ) nhưng vẫn giữ cổ văn, cho tới năm 1917 mới đề nghị dùng bạch thoại.

ĐKNT đề xướng học không vì bằng cấp, “chỉ cốt học để làm người dân, chứ không học lối từ chương khoa cử (bản copy là “khoa xử”-TB), là cái di độc ngày xưa còn lại, lúc bấy giờ chúng tôi ghét lắm.” (lời giám học Nguyễn Quyền). Sử gia Chương Thâu nhận xét: Lần đầu tiên trong lịch sử, ĐKNT đã thành công tách rời thi cử ra khỏi giáo dục. ĐKNT hô hào: “Thiếu niên chúng ta phải ra sức học cái hữu dụng, chớ để cái học khoa cử phá hỏng chí hưởng của mình.” Nếu cứ học theo lối cũ “thì nước ta sẽ không đời nào hưng thịnh được.”[5]

ĐKNT dạy cho dân biết các kiến thức hiện đại, tiên tiến về chính trị, kinh tế, xã hội mà người Việt Nam chưa từng nghe nói. Chỉ cần điểm qua tên một ít bài trong số 79 bài trong sách “Quốc dân độc bản” (Sách dùng để quốc dân đọc) là đủ thấy điều đó: – Quan hệ giữa nước với dân; – Nỗi bi thảm của quốc gia không được độc lập; – Lòng yêu nước; – Độc lập; – Cạnh tranh; – Chính thể; – Bàn về cái hại của khoa cử; – Thuế khóa; – Pháp luật; – Nước ta nên chấn hưng thực nghiệp; – Máy móc; – Ích lợi của đại công nghiệp; – Tiền công; – Tư bản; – Nhà đại tư bản cũng có ích cho người nghèo; – Thương mại; – Tiền tệ; – Trái phiếu, hối phiếu; – Séc; – Công ty; các bài viết về nước Nhật (chính thể, giáo dục…).

Sách “Luân lý giáo khoa” có các chương nói về nghĩa vụ của quốc dân với tổ quốc, gia đình, bản thân, xã hội, với nhân loại. Từ “quốc dân” ở đây chính là từ “công dân” ta dùng bây giờ, là người dân có các quyền lợi và nghĩa vụ nhất định đối với quốc gia của mình, khác với “thần dân” là người dân chịu sự cai trị của triều đình phong kiến, phải tuyệt đối phục tùng chính quyền, không có quyền lợi gì hết (trong chữ Hán “thần” nghĩa là nô lệ).

Khác hẳn nền cựu học chỉ dạy học sinh thuộc lòng thứ văn chương cao sang khó hiểu viết từ mấy nghìn năm trước, các tài liệu giảng dạy của ĐKNT thường viết dưới dạng thơ ca dễ hiểu dễ học dễ nhớ. Sách “Quốc văn tập đọc” có 19 bài ca như: khuyên học chữ Quốc ngữ, khuyên yêu nước, khuyên họp đàn, mẹ khuyên con, răn người uống rượu, răn người đánh bạc…“Bài ca khuyên người đi tu” viết:

Phen này cắt tóc đi tu

Tụng kinh Độc lập, ở chùa Duy tân

Đêm ngày khấn vái chuyên cần

Cầu cho ích quốc lợi dân mới là…

“Bài vợ khuyên chồng” viết:

Anh làm sao cho ích nước lợi nhà

Mọi nghề tân học ắt là phải thông

Anh làm sao cho nổi tiếng Lạc Hồng

Có khôn mới đứng được trong cõi đời.

Điểm qua vài nét kể trên, có thể thấy ĐKNT đã thực sự làm một cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên, với quy mô lớn và tính chất tiên tiến chưa từng thấy trong lịch sử nước ta. Xét tổng thể, ĐKNT không chỉ là một trường học mà thực chất là cả một phong trào cách mạng yêu nước nhằm mục đích giải phóng xã hội và dân tộc khỏi ách phong kiến thực dân.

Thực dân Pháp đã thấy ngay các hoạt động của ĐKNT đe dọa lật đổ ách thống trị của chúng. Vì thế ĐKNT chỉ hoạt động được 9 tháng đã bị chính quyền Pháp ra lệnh đóng cửa và tàn bạo đàn áp. Chúng bắt giam nhiều yếu nhân ĐKNT, kết án họ từ 5 năm tù đến chung thân, tử hình và đày ra Côn Đảo nhằm cách ly với đồng bào. Các tài liệu của ĐKNT đều bị tiêu hủy, ai tàng trữ sẽ bị tù; vì thế cho nên hiện còn rất ít tài liệu để tham khảo. Tuy vậy, ảnh hưởng của ĐKNT vẫn tiếp tục lan ra khắp nơi, khêu gợi lòng yêu nước trong toàn dân, chuẩn bị lực lượng cho các phong trào đấu tranh chống Pháp về sau.

Cao trào yêu nước ĐKNT chứng tỏ Việt Nam là nước châu Á đầu tiên đi theo con đường Duy tân của Nhật, tiếp thu văn minh phương Tây, dùng biện pháp giáo dục quốc dân để nâng cao dân trí, cải cách xã hội, tiến tới thực hiện dân giàu nước mạnh. Cuộc cách mạng giáo dục do ĐKNT tiến hành đã viết nên một trang sáng ngời trong lịch sử giáo dục nước ta.

Phong trào yêu nước ĐKNT vẻ vang như thế lẽ ra phải được tôn vinh, ca ngợi xứng tầm để có thể làm dân tộc này kiêu hãnh ngẩng cao đầu, nhưng không rõ vì sao lâu nay dường như đang bị dư luận chính thống ở ta quên lãng dần. Đây thật là điều vô cùng đáng tiếc. Mong sao các thế hệ sau sẽ sửa được sai lầm này!

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

Hình: Lớp học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: Vietnamnet.

—————-

[1] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhà XB Văn hóa, Hà nội 1997.

[2] Lê Đại, con người và thơ văn. Chương Thâu và Tôn Long. NXB Văn hóa thông tin. Hà nội, 2001.

[3] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục.

[4] Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX. Chương Thâu. NXB Hà Nội, 1997.

[5] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục.

MỐI TỬ THÙ-Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Thanh Hương  Những câu chuyện thú vị

MỐI TỬ THÙ

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Ông Trần Văn Mạnh có một mối tử thù bất cộng đái thiên với ông Phan Văn Lịch. Ông thề trước bàn thờ tổ tiên rằng nếu ông chết đi mà không trả được mối thù này thì con cái ông phải trả cho ông, đứa nào không trả được thì coi như là con bất hiếu, không xứng đáng được hưởng gia tài ông để lại, không được mang giòng họ Trần của gia tộc, chết xuống suối vàng mà ông gặp được thì ông nhất định sẽ giộng cho một đạp…

Câu chuyện bắt đầu vào ngày xưa, rất xưa ở Việt Nam nhưng ông Mạnh không thể nào quên được. Cả hai người đều là bạn nhau lúc còn hàn vi áo vải. Ông Mạnh làm nghề công chức còn ông Lịch làm nghề buôn bán. Thời gian trôi qua, cuộc đời thăng trầm của hai người này biến chuyển theo… tỉ lệ ngược. Nghĩa là ông Lịch làm ăn ngày một khá giả còn ông Mạnh thì ngày càng sa sút. Ông Lịch lần lần trở thành một nhà giầu có nhất tỉnh. Con cái ông ta là đứa thì kỹ sư bác sĩ, đứa thì đi lính không hiểu làm nên chức gì mà đeo một lần tới ba bốn cái bông mai bạc trắng xóa cổ áo. Ngày Tết ngày lễ con cái tề tựu về xe cộ cứ nườm nượp ra vào cái cổng nhà làm bụi bay mù khắp xóm. Trái ngược lại, nhà ông Mạnh thì nghèo rớt mùng tơi. Ông làm công chức lương ba cọc ba đồng, tính tình lại thật thà không biết ăn nói không biết nịnh bợ nên dù tận tụy đi sớm về trễ 20 năm mà vẫn không mua được chiếc xe Honda cho cậu con trai lớn đi học. Cậu con trai mới lớn, thấy hàng xóm bạn bè của mình đứa nào nếu không Suzuki thì cũng Yamaha, còn mình thì ngày hai buổi đạp chiếc xe đạp cọc cạch đến trường nên nhiều khi lấy làm đau khổ. Thỉnh thoảng cậu con trai nhân dịp bố vui vẻ cũng mớm ý hỏi xin bố mua cho một chiếc xe. Ông Mạnh chỉ nhìn con chua xót:

– Con trai, bố thương con bố, bố cũng muốn cho con chiếc xe Honda để đi với chúng bạn lắm nhưng bố đâu có tiền con. Tiền ăn ngày hai bữa mà bố cũng chưa chắc lo được thì tiền đâu mà mua xe cho con” Con thương bố con ráng ăn học nên người để mai này giúp bố nuôi các em con.

Cậu con trai là loại hiếu thảo nên nghe bố tâm sự não nùng như vậy thì hiểu ý ngay, từ đó không dám đòi hỏi gì nữa, chỉ lo ăn học. Rồi sau nhiều cố gắng cậu cả đậu được cái bằng tú tài II hạng ưu. Ngày đó là một ngày trọng đại trong đời ông Mạnh. Từ nhỏ đến giờ ông chỉ có hai ngày trọng đại: ngày thứ nhất là ngày ông cưới bà Mạnh, ngày thứ hai là ngày ông được mướn vào làm thư ký trong tòa hành chánh. Hôm nay sau bao nhiêu công trình dưỡng dục, thằng con cả ông đậu tú tài, ông phải liệt ngày này vào trong những ngày trọng đại của đời ông. Hai bố con ngồi nói chuyện với nhau, cả hai đều đồng ý rằng nhà tuy nghèo, nhưng nên mượn tiền mở một buổi tiệc nho nhỏ để thết đãi quý thầy cô, quý hàng xóm và bạn bè. Hai cha con đồng ý xong, mặt mày hớn ha hớn hở, chỉ chờ sự chấp thuận của bà Mạnh là ra sau nhà giết gà mổ lợn liền.

Bà Mạnh đang ngồi giặt đồ sau nhà với đứa con gái thì ông Mạnh gọi lên. Bà linh cảm được có chuyện quan trọng sắp sửa xảy ra nên rửa tay chạy lên. Nghe ông Mạnh trình bày ý kiến xong, bà thả người xuống ghế, nét mặt rầu rầu:

– Bố nó nói đúng. Con mình đã cực khổ nhiều nay nó nên thân thì cũng nên làm một cái gì để ghi nhớ ngày này. Nhưng bố nó xem, lấy đâu ra tiền mà tiệc với tùng. Phú quý thì mới sinh lễ nghĩa được, mình đang chạy gạo vắt giò lên cổ thì lễ nghĩa với ai”

Ông Mạnh rót chén nước trà, tu một hớp rồi nhìn bà Mạnh:

– Bà này chỉ được cái kỳ đà cản mũi. Con mình bây giờ đã làm ông tú, mai kia nếu có đi lính thì cũng làm quan, còn đi làm công chức thì thế nào cũng có ngạch có trật đàng hoàng, nó sẽ phụ giúp được mình. Vả lại nhà hơn hai mươi năm nay chưa có tiệc tùng đãi đằng ai cả. Còn cái này nữa, con nó cũng đã đến tuổi cặp kê, mình cũng phải làm cái gì để chuẩn bị kiếm cho nó một cô vợ chứ. Vấn đề tiền bạc, tôi đã có cách rồi.

Nghe đến đây, mắt bà Mạnh sáng rực lên:

– Cách gì, ông nói tôi nghe thử”

Ông Mạnh đắc ý vuốt chòm râu:

– Bà lúc nào cũng coi thường bố con tôi. Này nhé, tôi nói bà nghe, bà có nhớ ông Lịch không”

Bà Mạnh bỗng khựng người lại. Gì chứ ông Lịch thì bà còn lạ gì. Hơn hai mươi năm qua, mỗi ngày đi bộ qua dãy nhà tường cao bát ngát của ông Lịch, ngàn lần như một, không lần nào bà không thấy đau nhói trong tim. Bà buồn vì chồng mình không có lẹ tay lanh mắt như người ta, buồn vì bà Lịch và bà ngày xưa cùng xuất thân nghèo hèn, nay khá giả sao bà Lịch đã vội quên bạn bè… Giác quan thứ sáu của bà báo cho bà biết vụ này có cái gì không ổn. Đang suy nghĩ thì ông Mạnh tiếp lời:

– Thằng… ơ ông Lịch với anh là chỗ bạn bè biết nhau từ thuở còn mặc quần thủng đít, để anh qua bên ấy mượn vài chục ngàn làm bữa tiệc, tiện thể mời ông ấy qua nhà mình để chung vui luôn.

Bà Mạnh nghi ngại:

– Đã hơn hai mươi năm, ông còn nhớ người ta không biết người ta còn nhớ đến ông không”

– Bà hễ mở miệng ra là nói toàn chuyện bi quan không. Đàn bà quả thật vô tích sự. Thì cứ để tôi qua bên ấy xem có chết thằng Tây nào không đã. Thằng cả là con của bà luôn chứ đâu phải chỉ là con của tôi không đâu” Ý tôi đã quyết, bà đừng có cản. Vô lấy bộ đồ để tôi mặc đi qua nhà ông Lịch.

Ông quay sang cậu cả:

– Mày cũng thế, thay đồ đẹp đẽ để đi với tao.

Hai cha con được mời ngồi ở phòng khách nhà ông Lịch. Phòng khách sang trọng không chịu được. Ông Mạnh suốt cả hai mươi năm qua, đây là lần đầu tiên ông bước vào phòng khách nhà người bạn thuở xưa. Cái gì cũng mới cũng đẹp, cũng mắc tiền. Đây là hòn non bộ, kìa là chậu cá, chỗ nọ khe nước nhân tạo chảy róc rách nghe êm tai chả khác nào đứng bên giòng suối. Trong một giây phút động lòng ông Mạnh bỗng thấy thương cho số kiếp của mình. Con vua thì làm vua, con thầy chùa thì đi quét lá đa. Ông quay nhìn thằng con trưởng nam đang ngồi bên phải mình, xem thử nó có tướng quét lá đa hay không. Ông hơi ngạc nhiên khi thấy khuôn mặt nó bình thản, không có vẻ khúm núm như ông. Ông thầm nghĩ: “Không chừng thằng bé này lại làm được chuyện gì cho giòng họ chăng””.

Đang suy nghĩ thì ông Lịch bước ra.

Ông Lịch, bẵng đi một thời gian không gặp vẫn béo tốt như dạo nào. Chưa kịp nói, cái mồm ông đã cười toe toét ra, hai tay giơ lên làm như gặp được một tri kỷ lâu ngày lắm. Ông Mạnh thấy ông Lịch tiếp đãi mình như vậy rất lấy làm khoái chí, mối hằn học, mối cay đắng chấp chứa từ bao nhiêu năm nay bỗng biến mất hết. Trước mặt ông bây giờ là một thằng Lịch dễ thương ngày nào, một thằng Lịch cùng đi bắt cá, đi ăn cắp ổi chung, một thằng Lịch đá banh tuy không giỏi nhưng ai cũng khiếp sợ nhờ tài chơi xấu, banh không thèm đá mà cứ đá vào cẳng người ta. Không ngờ sau mấy chục năm, thằng Lịch bạn của ông vẫn không thay đổi. Ông hơi tự trách mình có vẻ vì mang mặc cảm nghèo nên mới xa lánh người giầu chứ chưa chắc ông Lịch đã muốn xa lánh ông. Hai người nói chuyện tầm phào một chập, ông Lịch đưa tay áo nhìn đồng hồ làm như sắp sửa đi đâu:

– Anh Mạnh hôm nay qua thăm tôi chắc có chuyện gì… cần bàn không”

Ông Mạnh hít thở hai ba lần để lấy can đảm, rồi thú thật với ông Lịch là nhân dịp cháu đậu tú tài ông muốn mượn vài chục ngàn để làm tiệc ăn mừng cho cháu, và nhân tiện, ông cũng mời gia đình ông Lịch sang chung vui với cháu một thể. Khuôn mặt ông Lịch đang vui sướng bỗng xẹp xuống một lèo như cái bong bóng xì. Ông xua tay lia lịa:

– Tôi… gia đình tôi bận lắm rồi. Thôi tôi cảm ơn bác tôi không đi được đâu. Tuần tới tôi mắc bận đi ăn tiếp tân tại phủ thủ tướng, xong rồi còn phải lo thu xếp quần áo đi Pháp lo coi lại cái còm măng hàng hóa xem tới đâu rồi. Còn cái vụ tiền thì chờ tôi một tí, để tôi vào xem coi.

Ông đứng dậy đi vào nhà trong bỏ mặc bố con ông Mạnh ngồi chưng hửng nơi phòng khách. Ông Mạnh không thể ngờ rằng thằng Lịch bạn ông ngoài mặt thì niềm nở thân thiết như thế kia, tưởng có thể chết cho bạn bè được mà trong ruột thì khô khan keo kiệt không thể nói được. Ông đã toan đứng dậy đi về nhưng nghĩ đến khuôn mặt của thằng con trai, của bà vợ hiền, ông liền ráng vuốt nóng ngời chờ đợi.

Gần mười lăm phút sau, ông Lịch trở ra. Ông tiến đến gần ông Mạnh, tay trái chìa ra một tờ bạc giấy 500 đồng, tay phải dơ ra bắt tay ông Mạnh, giọng nói rất kẻ cả:

– Chỗ anh em nói thật bác đừng buồn, người Việt mình có câu: “Liệu cơm gắp mắm”. Cái gì bác thấy không kham nổi thì đừng có làm. Nhà bác nghèo, con cái có đỗ đạt thì cũng chỉ nên mua kẹo đậu phụng về uống với nước trà tầu để ăn mừng; làm gì lại phải đi vay mượn cho thêm công nợ”. Tôi cho bác mượn tiền rồi mai mốt bác không trả được thì không lý chỗ anh em tôi lại kêu phú lít đến bắt bỏ tù bác à”. Đây, tôi biếu bác 500 đồng để về muốn làm gì thì làm tùy thích.

Nghe xong lời dạy dỗ của người bạn, xém tí xíu nữa thì ông Mạnh ngã té xỉu xuống nền nhà. Mắt ông long lên, trợn tròn lại tưởng có thể bay phọt ra ngoài cắm vào cái mặt bẩn thỉu kia. Suốt đời ông, ông đã bị hạ nhục nhiều lần, như lần đi nhậu đứng đái bậy bên cột đèn bị thằng cảnh sát hăm he đòi bỏ bót để ông phải hạ mình năn nỉ… nhưng chưa có ai hạ nhục ông như lần này. Trong giây phút nóng nảy, ông muốn xông tới thò tay nắm lấy cái cổ đầy mỡ của ông Lịch mà cắn một phát cho nó phụt máu ra rồi thiên hạ có muốn đem ông đi giết hay đi ở tù gì cũng được. Nhưng trong lúc ngút lửa hận thù đó, bỗng tự nhiên ông trở nên bình tĩnh lạ thường. Ông thầm nghĩ: “Mình bây giờ là kẻ nghèo, thất thế sa cơ, nếu mình đánh nó là mình dại. Chưa biết có làm gì nổi nó không nhưng chỉ tổ khổ vợ khổ con. Vả lại, đời xưa có nói: “Người quân tử trả thù ba năm chưa muộn”. Chi bằng bây giờ ta cứ làm mặt tự nhiên, cầm lấy tờ giấy bạc bố thí từ tay thằng khôn này, đem về để trên bàn thờ để nuôi chí phục thù. Ngày nào đó, ta làm ăn nên rồi sẽ bố thí cho nó tờ giấy bạc này”.

Thế là ông vận hết nội công để nở một nụ cười, cầm lấy tờ giấy bạc từ tay ông Lịch, cúi đầu thật sâu để cảm ơn rồi dắt thằng con trai lớn ra về.

Rồi thời gian qua, tờ giấy bạc 500, tang chứng của mối nhục gia đình nằm trên bàn thờ tổ tiên đã đổi màu, bụi đóng lên hàng mấy lớp mà mối thù vẫn chưa trả được. Nhiều hôm cúng giao thừa, ông vừa lạy vừa sụt sùi khóc khẩn cầu tổ tiên cho ông trả được mối thù trước khi chết…

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày vui của ông Mạnh. Ông chẳng phải là Việt Cộng, hay là dân nằm vùng gì, nhưng ông mừng là ông muốn để ý xem gia đình ông Lịch xoay xở thế nào trong cuộc thay đổi đời này.

Đúng y như ông dự đoán, gia đình ông Lịch thay phiên nhau đi tù. Từ ông bác sĩ, ông trung tá xuống cho đến cậu út kỹ sư mới ra trường ai cũng ôm chiếu đi trình diện tuốt luốt hết. Sau khi khu nhà vila sang trọng bị tịch thu làm của công cho nhân dân, ông Lịch bỏ đi biệt tích. Ông Mạnh có ý tìm kiếm mấy lần nhưng không được, sẵn có một chuyến vượt biên do người bạn tổ chức, ông bèn dắt vợ con phóng tuốt lên thuyền theo bạn ra khơi, không quên đem theo tờ giấy bạc 500 đồng Việt Nam gói rất kỹ trong xì líp chung với tờ giấy một đô la để dành. Đối với ông, mối thù vẫn chưa được trả, nếu trời cho ông đi lọt chuyến này, ông nguyện sẽ cúng một con heo và sẽ kiếm cho được ông Lịch để trả cho được mối thù kia…

Trời dường như cảm thông với những khổ cực của ông, cho ông vượt biên đến nơi an toàn, tuy ông không có cúng con heo như lời hứa ngày nào nhưng trời cũng không lấy thế làm buồn, cứ cho ông dắt vợ con qua đất Mỹ tỵ nạn. Tính đến ngày hôm nay thì ông đã ở thành phố New Orleans gần sáu năm, đã mua nhà mới, sắm xe mới, chiều chiều hay xách vợt đi đánh tennis và nuôi thêm cả chó cho nó hợp thời trang. Cuộc sống của ông bây giờ rất thoải mái nhưng không phải vì thế mà ông quên mối thù cũ với ông Lịch. Ông thỉnh thoảng cũng có dò hỏi tin tức kẻ thù. Có người đồn là ông Lịch đã chết, có người đồn là ông Lịch đã vượt biên rồi qua Pháp…

Hôm nay, một buổi chiều đầu xuân, đang quần xà lỏn ngồi ăn Crawfish thì thằng con út chạy vào đưa cho ông một cái thơ. Nhìn cái bì thơ, ông biết ngay lá thơ này nếu không đến từ trại tỵ nạn thì cũng đến từ Việt Nam. Ông đã quá quen với những lá thư từ trại và Việt Nam gửi qua xin tiền rồi, ngần ngừ toan cất đi để tối đọc thì bỗng cái hàng chữ của người gửi làm ông giật mình, con crawfish đang nhai nửa chừng xém bắn ra ngoài làm thằng con út phải đăm đăm mắt nhìn để chuẩn bị… né. Lá thơ đến từ trại tỵ nạn Thái Lan có tên của người gởi là Phan Văn Lịch, kẻ tử thù của ông.

Ông dẹp liền cái vụ ăn uống, rửa tay chân lên phòng khách ngồi bóc thơ ra xem. Đại khái ông Lịch tả cảnh mấy đứa con đều đi học tập chưa về, vợ ông đã mất cách đây hai năm vì quá đau buồn, còn ông đã bán hết gia tài được ba lượng vàng để ra đi. Nay ông Lịch đã nằm trên đảo gần hai năm mà vẫn không được cứu xét chờ đi Mỹ vì ông không thuộc phải thành phần quân nhân cũ, và cũng không có thân nhân gì ở Mỹ. Ông Mạnh càng đọc đến nỗi đau khổ của ông Lịch thì ông càng cảm thấy khoái chí trong lòng như vừa uống được một loại rượu quý. Trong đầu ông bỗng hiện về cái hình ảnh của buổi chiều ông bị làm nhục cách đây vài chục năm nhưng ông thấy như mới ngày nào. Có thế mới biết con tạo xoay vần, ông Lịch ngồi rung đùi thầm nghĩ. Ông lại nghĩ không chừng ông bà mình linh thiệt, tết này phải mua một con heo thật lớn để cúng.

Tính toán một chặp ông quyết định ngày mai sẽ gởi một lá thơ qua tòa đại sứ Mỹ ở BangKok. Ông sẽ vu khống cho ông Lịch là cộng sản và đề nghị họ gởi trả ông Lịch về Việt Nam. Nói là làm, ông mở tủ lạnh thưởng cho mình một chai bia rồi lấy giấy bút ra thảo lá thơ.

Bà Mạnh đi làm về thì lá thơ đã được thảo xong. Bà thấy chồng hôm nay có vẻ vui hơn mọi ngày nên tưởng là ông Mạnh vừa thắng football. Nhưng nghĩ lại, bà thấy vô lý vì mùa football đã hết từ lâu. Nghe đứa con gái nói bố vừa nhận được thư ở Việt Nam, bà liền hớn hở:

– Có tin tức gì ở Việt Nam không ông”

– Có cái tin này còn hay hơn cả tin ở Việt Nam nhiều bà ơi. Tin thằng Lịch.

Mặt bà Mạnh thoáng lên một chút ngạc nhiên:

– Ông ấy lúc này thế nào ông”

– Đang ở đảo, đói quá chịu không nổi nên mới biên thư qua nhờ mình bảo lãnh.

– Ông ấy có đem vợ con theo được không ông”

– Được con khỉ, chạy lấy thân là may quá rồi, là gì còn tiền bạc mà đem con cái theo. Quân vô luân khốn nạn, chuyến này nó mới sáng con mắt ra.

Bà Mạnh ngạc nhiên vì thái độ của ông chồng, bà không hiểu ông chồng mình đã uống mấy lon bia rồi mà sao có vẻ… quá mồm. Bà nhíu mày:

– Ông nói gì lạ vậy, đàng nào cũng là bạn bè với nhau ngày xưa. Tôi không hiểu ông được.

Ông Mạnh vỗ bàn:

– Bà chả biết cái con khỉ gì cả. Thế bà còn nhớ ngày xưa lúc thằng cả thi đậu tú tài không. Tôi qua mượn tiền nó, nó lại bảo nên liệu cơm mà gắp mắm, rồi cho tôi 500 đồng bạc. Bà coi, nó làm nhục tôi đến như vậy mà bà bảo quên được à”

Thì ra vậy. Bà Mạnh sống với chồng đã lâu, ít khi thấy chồng để ý thù ai bao giờ. Hôm nay trên đất khách quê người, sau bao nhiêu năm chung sống, bà không ngờ chồng lại có một nỗi lòng ẩm ức từ đời nào mà lại giữ kỹ trong lòng, chưa hề hé răng nói cho bà biết. Bà kéo cái ghế ngồi xuống bên chồng, nhẹ nhàng hỏi:

– Thì có chuyện gì ông nói cho tôi nghe với nào, vợ chồng ăn ở với nhau đã mấy chục năm, ông có giấu tôi điều gì đâu”

Ông Mạnh lấy một lon bia, làm một hớp chi tiêu bớt giận hờn:

– Bà không nhớ hôm ấy à” Tôi nhớ lúc ấy nhà nghèo quá, thằng cả thi đỗ tú tài tôi muốn làm một bữa tiệc cho con trước là để khoe hàng xóm sau là để kiếm cho nó một con vợ. Đi qua nhà nó chầu chực, tưởng nó còn chút lương tri bạn bè, nhân thấy mình túng quẫn, nó cho mình mượn chút ít để về làm tiệc. Nó đã không cho rồi lại còn sỉ nhục giòng họ nhà mình.

– Ông ấy sỉ nhục thế nào”

Ông Mạnh phát cáu lên, không hiểu sao mụ vợ mình hôm nay lại bày đặt lý sự chất vấn đủ điều. Ông lườm bà Mạnh một phát ý chừng như muốn bảo ông đã cáu lắm rồi:

– Bà này chỉ được nước hỏi móc họng. Này nhé, nó bảo tôi nên liệu cơm mà gắp mắm, rồi còn “mo ran” cho tôi một bài học về cách xài tiền. Đù mẹ tiên sư bố nhà nó. Tôi nghèo tôi xài tiền thế nào kệ bố tôi, có mắc mớ gì đến nó mà nó phải dạy dỗ cho tôi”

Bà Mạnh bỗng bật cười lên một tiếng nhỏ. Ông Mạnh thấy thế thì lại càng sôi gan lên, ông toan mở miệng thì bà đã cướp lời:

– Thế nếu ông Lịch hôm ấy dúi vào tay ông một mớ tiền cho ông mượn thì ông ấy là người bạn tốt hay sao”

Ông Mạnh khựng người lại, không trả lời được câu hỏi kỳ quặc của vợ mình. Bà Mạnh tiếp:

– Nói thật với ông, tôi thấy ông ngày nào cũng đi họp với hành tham gia tổ chức này tổ chức nọ, hễ mở miệng ra là hôm nay đòi về nước, mai đòi về nước. Cái kẻ thù nguy hiểm nhất nó nằm ngay trong con người ông mà ông chưa diệt nổi thì ông đòi diệt ai”

Thấy ông Mạnh ngồi trầm ngâm như đã thấm ý, bà Mạnh tiếp:

– Tôi chỉ là hạng phụ nữ chân yếu tay mềm, đáng lẽ ra chỉ phải lo việc bếp núc trong nhà, còn chuyện quốc gia đại sự thì để cho mấy ông, nhưng thấy ông nhiều lúc vô lý không chịu được”

Ông Mạnh bực lắm, vào những ngày xưa ở Việt Nam mà bà Mạnh dám lý sự với ông như thế này là đã có chầu ăn bợp tai, nhưng bây giờ ông chỉ còn biết ngồi nghe bà Mạnh giảng luân lý.

Bà Mạnh cười khẩy:

– Ông khỏi phải lo chuyện chết không nhắm mắt được, bên Mỹ này các nhà đòn đám ma họ sẽ lo vuốt mắt, tô điểm mặt mày cho ông. Ông để tôi hỏi ông câu này, đồng ý là ông Lịch đã làm nhục ông. Ông cho đó là nhục, tại sao lúc đấy ông không chống lại hay chửi lại ông ta”

– Bà tưởng tôi ngu à” Lúc ấy nó giầu, mình nghèo, mình chống nó để chết à”

– Tôi thì nghĩ khác. Tôi nghĩ là ông hèn. Bị người làm nhục mà không dám làm gì là hèn. Chờ cho đến khi người ta thất cơ lỡ vận rồi mới lên mặt đòi trả thù thì còn hèn hơn.

Ông Mạnh không tin ở cái lỗ tai mình, không ngờ con mẹ Mạnh ngoan ngoãn ngày nào hôm nay bỗng bị quỷ ám hay uống thuốc liều hiệu gì mà dám lăng nhục ông như vậy. Trong cơn nóng giận, ông chụp lấy cái gạt tàn thuốc ném xuống sàn nhà vỡ tan tành.

Bà Mạnh đứng lên, giọng không hề có chút sợ hãi:

– Lần sau có ném thì ném cái gì quý cỡ vài trăm bạc để mình còn mua cái khác, ông ném cái gạt tàn thuốc chưa tới một đồng bạc, không gây được “tiếng vang” lại mất công mẹ con tôi dọn dẹp… Trở lại chuyện của ông, tôi thấy ông từ lúc sang đây, ông đã bao nhiêu lần bảo tôi là ông khinh những thằng ngày xưa ở Việt Nam, nghe xếp hét một tiếng là chạy xịt cứt ra quần, những thằng ngày xưa gặp người ta cách mười thước đã dở nón chào thật sâu, rồi đứng khúm núm bên lề đường nhe răng cười cầu tài quên mất cả phẩm cách mà mới sang tới Mỹ đã gọi xếp cũ là thằng này thằng nọ… vân vân. Ông thử nghĩ lại xem ông có hơn bọn nó không”

Trời cho mỗi người một bàn tay và ý chí, ai chịu khó làm ăn thì giầu. Vả lại sự giầu sang của ông Lịch đâu phải tự dưng mà có được, ông ấy cũng đâu phải hạng tham nhũng hại dân” Ông ghen tức chỉ vì ông thấy người ta có nhà cao cửa đẹp, còn những lúc người ta cực khổ làm ăn trong khi ông ngày ngày hai bữa sáng cắp ô đi tối cắp ô về thì ông không thấy. Nhờ trời phật phù hộ sang được đến đây rồi, thay vì tận dụng chút sức thừa còn lại của tuổi già để làm việc giúp đỡ đồng bào, ông lại xử sự như một đứa con nít. Ông phải giải phóng ông khỏi cái đầu óc nhỏ hẹp đầy tầm thường nhỏ mọn, ai nói động một câu là nhớ cho đến chết, cái lòng ích kỷ tự tôn tự đại, cái gì có tôi quyết định thì mới xong được. Nếu ông giải phóng cho ông được những chuyện đó, ông khỏi cần về nước, cứ ở lại đây thì sự có mặt của ông đã là một hãnh diện của cộng đồng Việt Nam rồi.

Bà Mạnh nói một hồi không cảm thấy mỏi miệng nhưng cảm thấy… mỏi chân, liền ngồi xuống ghế. Ông Mạnh kể từ khi lấy vợ, cứ tưởng vợ mình cù lần nên rất ít kiêng nể, hôm nay thấy vợ tự dưng xổ liền một thôi toàn những lời văn hoa lý lẽ, đầy đủ Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín như đức Khổng Tử thì đâm ra kiêng nể.

Ông thầm nghĩ mụ vợ mình không chừng có thể ra tranh cử chức Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Hạnh Phúc Gia Đình tại New Orleans được, nếu kẹt lắm thì chắc cũng tóm được cái chân Tổng thư ký. Ông thò tay lấy cái lá thư “chụp mũ” vừa thảo xong vò nát đi.

Bà mạnh nhìn ông dịu dàng:

– Ông có nhớ ngày mình mới vào đất Mỹ không” Bọn Mỹ với mình, không cùng họ hàng, không cả cùng chủng tộc mà đã đối xử với mình lúc ấy là những kẻ sa cơ như những người bạn, giúp đỡ rất tận tình. Ngày hôm nay, ông Lịch, người Việt Nam đồng chủng, người bạn già của ông vừa bị ngã ngựa, con cái đứa thì chết dở trong tù, đứa thì không biết lưu lạc nơi đâu, ông thấy có chạnh lòng không” Ông Lịch là người khôn ngoan, trước khi đặt bút viết lá thư này chắc cũng đã hiểu tâm trạng của ông. Ông ấy nếu là người thường chắc chẳng bao giờ dám viết thơ đến nhờ vả ông. Đã dám viết thơ cho ông tức là ông ấy đã hạ mình, chấp nhận là kẻ hèn kém chỉ để mong chờ vào cái sự quảng đại của mình. Ông ấy tốt xấu thế nào thì mình khó mà biết, nhưng mình hẹp hòi hay độ lượng thì mình biết được mình ngay. Hơn nữa, nói thật với ông, già cả hết rồi, còn sống được bao lâu mà để hận thù nó làm đời mình mất vui đi.

Ông Mạnh ngồi cúi đầu suy nghĩ, nhớ lại lời nói của vợ, nhìn vào đáy cái khay đồng trên bàn, chợt nhận ra đầu mình đã hai màu tóc. Ông thở dài, nắm tay vợ:

– Mới ngày nào cùng thằng Lịch đánh đáo mà bây giờ tóc đã điểm sương rồi. Mau thật, Thời gian đi mau thật.

Ông quay vào nhà gọi lớn:

– Thằng út đâu, lấy cái bản đồ ra đây để tao kiếm đường ngày mai lên Hội đồng công giáo bảo lãnh bác Lịch bên đảo qua.

Trường Sơn Lê Xuân Nhị