Biệt Đội Thiên Nga và những chiến công thầm lặng trong cuộc chiến Việt Nam

 

Biệt Đội Thiên Nga và những chiến công thầm lặng trong cuộc chiến Việt Nam

ANAHEIM, California (NV) – Biệt Đội Thiên Nga gồm khoảng 30 người thuộc “phái yếu” rất trẻ đẹp, ai cũng học giỏi và thông minh, tất cả mọi người đều có một tên chung là Thiên Nga, với công tác đặc biệt là bí mật xâm nhập vào hàng ngũ hạ tầng cơ sở Cộng Sản để thu thập tin tức.

Năm 1964, bà Nguyễn Thanh Thủy đang theo học Khoa Dược tại Đại Học Sài Gòn phải bỏ ngang vì sức khỏe, sau đó theo học phân khoa Chánh Trị Kinh Doanh và Sư Phạm, Viện Đại Học Đà Lạt. Tuy rất tiếc không khí và môn học đã chọn tại đây, bà phải bỏ học lần nữa vì bị bệnh gout chịu không nổi xứ lạnh, phải trở về Sài Gòn.

Sau khi thi đậu vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, phải qua cuộc tuyển lựa về nhân dạng, chiều cao, gương mặt, phải đúng tiêu chuẩn. Trong những người thi đậu, cả 18 cô biên tập viên đều về Khối Đặc Biệt, với điều kiện bắt buộc là phải độc thân ít nhất hai năm từ khi vào làm việc.

“Có một số các Thiên Nga được đi ra ngoài xã hội làm việc, với danh nghĩa như vậy dễ tiếp cận các đối tượng hơn, riêng tôi về Phòng Nghiên Cứu thuộc Khối Đặc Biệt, lý do vì chân tôi yếu, đi đứng dễ bị nhận diện. Trong Phòng Nghiên Cứu, tôi có bổn phận mỗi tháng phải nhận những chứng minh thư của tình báo viên để xác nhận lại, nhìn coi thật hay giả hoặc đọc lại những hồ sơ cũ không còn sử dụng nữa, nhận xét có đúng hay không. Đó là cách tập cho người biên tập viên có cái nhìn bao quát và nhận định chính xác từng chi tiết, không bỏ sót,” bà Thủy nói.

Bà Thủy kể, từ trận Mậu Thân 1968 cho đến những năm về sau, chiến tranh trở nên khốc liệt. Trong khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang ngày đêm chiến đấu ngoài mặt trận, thì bên trong nội thành Sài Gòn Gia Định nổi lên những phong trào xã hội như Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Hội Quả Phụ Tử Sĩ Việt Nam, Hội Phụ Nữ Việt Nam, Hội Nữ Phật Tử Long Hoa, Nghiệp Đoàn Bạn Hàng Các Chợ, Đoàn Thanh Sinh Công, Nhóm Công Giáo Thân Cộng của Linh Mục Chân Tính và Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan, Nhóm Phật tử Ần Quang, Hội Ni Giới Khất Sĩ, phong trào sinh viên học sinh tại các trường đại học và trung học Sài Gòn.

Những phong trào xã hội lúc bấy giờ đều do Việt Cộng giật dây, biểu tình chống đối chính phủ, gây rối đời sống người dân, gây bất an cho xã hội khiến một số người bất mãn, gia nhập thêm vào các lực lượng chống đối này.

Thiên Nga Nguyễn Thị Bê trong vai ký giả Bạch Tuyết

Người Sài Gòn Gia Định lúc bấy giờ ai cũng biết phong trào “Phụ Nữ Đòi Quyền Sống” nổi lên gây xáo trộn rất nhiều trong xã hội do bà Ngô Bá Thành nhũ danh Phạm Thị Thanh Vân chủ trương. Bà Ngô Bá Thành từng tốt nghiệp tiến sĩ luật khoa tại Pháp, trở về nước bắt đầu có những hoạt động gây rối chống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1970 đến 1975.

Tháng Tám, 1970, trong lễ ra mắt tại chùa Ấn Quang, bà Ngô Bá Thành với danh xưng “chủ tịch Ủy Ban Phụ Nữ Đòi Quyền Sống” đã kêu gọi phụ nữ Việt đòi quyền sống cho chồng, con em và của chính họ. Sau đó phong trào này mở rộng thành phong trào “Bảo Vệ Nhân Phẩm và Quyền Lợi Phụ Nữ,” lôi kéo rất nhiều sinh viên và chị em phụ nữ xuống đường biểu tình chống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Những người hưởng ứng phong trào của bà Ngô Bá Thành luôn tự xưng thuộc “Thành Phần Thứ Ba” nghĩa là không theo Cộng Sản, cũng không theo chính quyền quốc gia tại miền Nam Việt Nam. Họ luôn hướng các cuộc biểu tình tranh đấu tới việc đòi xóa bỏ chính thể Việt Nam Cộng Hòa để lập một chính phủ khác có tự do, dân chủ và nhân quyền hơn. Tuyệt đối các phong trào này không bao giờ tố cáo tội ác của Việt Cộng.

Người của bà Ngô Bá Thành đi vào các xóm lao động, khu dân cư nghèo để phát truyền đơn, phổ biến tài liệu, sách báo do bà Thành soạn thảo in ra với nội dung lên án chính quyền Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có những ngược đãi can phạm trong nhà tù, chế độ giam giữ người tàn nhẫn, vi phạm nhân quyền…

Vào thời điểm đó, những cuộc biểu tình công khai trên đường phố, đô thành Sài Gòn Gia Định như một bãi chiến trường, thường xuyên có những cuộc biểu tình của sinh viên học sinh phản chiến chống chiến tranh, kêu gọi không đi Quân Sự Học Đường, rồi nào là giới báo chí đi “ăn mày,” rồi phong trào Phật Giáo xuống đường do Ni Sư Huỳnh Liên tổ chức.

Những cuộc biểu tình tổ chức công khai ở nhiều địa điểm khắp nơi trong thành phố, nhiều nhất là tập trung trên đường Cường Để, quận Nhất, Sài Gòn, nơi tập trung nhiều trường đại học như Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc và tại Đại Học Luật Khoa, Đại Học Khoa Học Sài Gòn, cùng những cơ sở tôn giáo khác.

Để tiếp cận và theo dõi phong trào do bà Ngô Bá Thành chủ trương, thực chất là do Cộng Sản núp bên trong giật dây điều khiển, Biệt Đội Thiên Nga đã cài rất nhiều nhân viên của mình xâm nhập vào các phong trào này, và người của Thiên Nga đã từng được các phong trào này chọn để giữ nhiều nhiệm vụ then chốt.

Riêng nữ ký giả Bạch Tuyết, thường có nhiều cuộc phỏng vấn bà Ngô Bá Thành (lúc đó là “chủ tịch Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống”), luôn bên cạnh bà Thành để phổ biến tin tức hoạt động của phong trào cho báo giới, nên tin tức lúc nào cũng chính xác.

Với sự tin tưởng tuyệt đối, nữ ký giả Bạch Tuyết luôn đồng hành và là cái loa phát thanh về mọi hoạt động của bà Thành, thậm chí bà được giao đánh máy những tài liệu quan trọng của các phong trào xã hội.

Sau thời gian thử thách, Thiên Nga Nguyễn Thị Bê được tin tưởng vì làm việc cẩn mật nên được cấp thẻ ký giả chính thức, từ đó nữ ký giả Bạch Tuyết có thể xâm nhập bất cứ nơi nào có phong trào tranh đấu chống chính phủ, có thể kết nối nhiều móc xích khác, thực hiện nhiều công tác nữa cho Biệt Đội.

Một số phong trào của Việt Cộng mà ký giả Bạch Tuyết đã xâm nhập vào được như Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn do sinh viên y khoa Huỳnh Tấn Mẫm làm chủ tịch; Hội Sinh Viên Đại Học Vạn Hạnh do sinh viên Võ Như Lanh thân Cộng làm chủ tịch; Tổng Hội Trung Học Sài Gòn do Lê Văn Nuôi làm chủ tịch; Tịnh Xá Ngọc Phương ở Gò Vấp của Ni Sư Huỳnh Liên; chùa Ấn Quang ở đường Sư Vạn Hạnh, nhờ đó mà chính quyền Sài Gòn đã bẻ gãy nhiều âm mưu phá hoại của Việt Cộng dưới chiêu bài các phong trào dân chúng chống chính phủ.

Thiên Nga “Tư Hương” với chức vụ của Việt Cộng

Ngày càng có nhiều cuộc biểu tình chống chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ngay tại thủ đô Sài Gòn, do Ni Sư Huỳnh Liên xách động và nhóm Phật Giáo Ấn Quang cầm đầu. Biệt Đội Thiên Nga đã gài được người nằm trong hai tổ chức tôn giáo này.

Bà Tư Hương, một nữ can phạm chính trị bị Cảnh Sát bắt giam, là cán bộ đặc công Việt Cộng nhưng không đủ gan dạ đặt chất nổ một cao ốc có người Mỹ cư ngụ trên đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn nên bà bị hạ tầng công tác xuống làm “binh vận.”

Sau này khi bà Tư Hương đồng ý hợp tác với phía Việt Nam Cộng Hòa với một điều kiện là chỉ làm việc với nữ nhân viên, chứ không làm việc với nam giới. Theo yêu cầu này, bà được điều động về Biệt Đội Thiên Nga, và đã báo cáo nhiều tin tức giá trị giúp Việt Nam Cộng Hòa phá vỡ nhiều hoạt động của Việt Cộng.

Với chức vụ huyện đội trưởng huyện Gò Môn của Việt Cộng, Thiên Nga Tư Hương được triệu tập về họp tại mật khu Hố Bò, Củ Chi. Lần họp đó có rất nhiều huyện ủy ở nơi khác cùng về dự để nhận chỉ thị công tác cấp trên giao, Biệt Đội Thiên Nga được đề nghị gắn một máy phát tuyến trong đôi guốc gỗ của bà Tư Hương, để máy bay của Việt Nam Cộng Hòa có thể nhận được tín hiệu phát ra trong từng bước đi của bà, biết chính xác vị trí nơi họp mật mà thả bom tiêu diệt tất cả những người dự họp. Nhưng kế hoạch ấy rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến người của Việt Nam Cộng Hòa nên không được thực hiện và bà đã báo cáo đầy đủ về nghị quyết ban hành cho các huyện ủy kỳ họp đó, gởi về Biệt Đội.

Thiên Nga Hà Thị Nhã với công tác Hải Âu

Thiên Nga Hà Thị Nhã sau khi đã xâm nhập được vào Hội Phụ Nữ Việt Nam và khối Phật Giáo Ấn Quang, Tịnh Xá Ngọc Phương của Ni Sư Huỳnh Liên, sau những ngày cùng tham gia biểu tình tuyệt thực trên đường phố, nếm mùi lựu đạn cay, dùi cui, cùng bị bắt bớ nên bà Nhã được tin cậy.

Bà được giao cho việc chở người già đi biểu tình, nhờ vậy bà đã bí mật chụp hình các nhân vật chủ chốt xách động, biết được địa điểm giờ giấc hoạt động của các nhóm này, giúp phá tan những âm mưu do Việt Cộng núp đằng sau giật dây.

Thiên Nga Hà Thị Nhã được móc nối vào Mật Khu Hố Bò, sau khi cân nhắc và đánh giá khả năng của bà, Biệt Đội quyết định thêm một bước công tác cho bà, tiếp tục đi sâu vào mật khu.

“Lúc vô mật khu học khóa hoạt động giao liên nội thành do Việt Cộng huấn luyện, chị Nhã cho biết Việt Cộng có đề cập đến và cảnh giác các khóa sinh về một tổ chức tình báo Sài Gòn đang hoạt động toàn nữ giới, đứng đầu là một phụ nữ trẻ đẹp có tài, có học và thông minh. Việt Cộng vẫn chưa biết rõ được danh tánh tổ chức tình báo ấy cũng như các nhân viên đang hoạt động. Tuy nhiên chúng xác định đây là một tổ chức tình báo rất nguy hiểm mà mọi người phải đề cao cảnh giác về mọi hoạt động của đội tình báo này để tránh lộ công tác và bị họ theo dõi,” bà Nguyễn Thanh Thủy kể.

Sau khóa học tình báo ở mật khu, Thiên Nga Hồ Thị Nhã được tin cậy giao nhiệm vụ đưa đón cán bộ Việt Cộng từ mật khu về hoạt động nội thành, được tiếp cận với nhóm thân cộng của hai Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan và Linh Mục Chân Tín, chuyên in ấn các sách báo chống đối dựa theo bài viết do Việt Cộng cung cấp, chống sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam, đòi trả tự do tù chính trị, đặc biệt là tù Côn Đảo. Ngoài ra bà còn cung cấp nhiều tin tức về cách thức hoạt động nội tuyến của phe phá hoại do nhóm Linh Mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan cầm đầu trong các hoạt động phản chiến của sinh viên, cung cấp thuốc men quần áo cho can phạm chính trị.

Thiên Nga Diệu Ngôn với công tác Hoàng Yến

Khi đã xâm nhập được vào hoạt động xã hội của bà Ngô Bá Thành, Thiên Nga Diệu Ngôn được làm việc với bà Nguyễn Thị Mạnh Quỳnh (Bôn Quỳnh), là vợ của một đại úy quân y Việt Nam Cộng Hòa, bà Quỳnh mượn uy tín của chồng chuyên đi phát thuốc trong những xóm lao động nghèo, nên ghi nhận được hết những cơ sở bà Quỳnh đã tiếp xúc, thực chất đó là những cơ sở Việt Cộng trong nội thành.

Sau đó bà Quỳnh thấy bị động nên giao cho Thiên Nga Diệu Ngôn thay mình trong những công tác xã hội nên chị Diệu Ngôn biết sâu thêm nhiều cơ sở của Việt Cộng, giúp phá vỡ nhiều ổ hoạt động nội thành.

HÌNH:

– Bà Nguyễn Thanh Thủy (trái) cùng các nữ học viên Sĩ Quan Cảnh Sát thực tập tại bến cảng Sài Gòn năm 1966. (Hình chụp lại: Văn Lan/Người Việt)

– Sinh viên Nguyễn Thanh Thủy, khoa Chánh Trị Kinh Doanh thuộc Viện Đại Học Đà Lạt, được giải “Hoa Hậu Cô Dâu” năm 1967. (Hình chụp lại: Văn Lan/Người Việt)

– Đám cưới ông Lê Thành Long và bà Nguyễn Thanh Thủy tại Sài Gòn năm 1967. (Hình chụp lại: Văn Lan/Người Việt)

– Bà Nguyễn Thanh Thủy tại Đại Hội Kỳ 3 Hội Cựu Nữ Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Washington năm 2004. Bên phải là Thiếu Tá Liêm hát bài “Vinh Danh Biệt Đội Thiên Nga” do ông sáng tác. (Hình chụp lại: Văn Lan/Người Việt)

30/4 – Điều Cần Nói

30/4 – Điều Cần Nói

Tôi sẽ không nói ngày ấy là ngày gì bởi với bên thắng cuộc, ngày ấy là ngày “chiến thắng”, “giải phóng”, “thống nhất”, bên thua cuộc là ngày “mất nước”, “thua cuộc” là ngày bắt đầu một thời kì mà những người dính líu tới quân quyền của VNCH sẽ bắt đầu chịu sự đày đoạ trong những trại “cải tạo” trong nhiều năm và bắt đầu làn sóng vượt biển đầy máu và nước mắt của hàng triệu người để tìm một cuộc sống mới.

Tôi sẽ không nói tới lý tưởng bởi bên nào cũng có lý tưởng của riêng mình, bên nào mà chẳng cho là lý tưởng của mình cao đẹp hơn.

Người ta nên bàn về lịch sử, hiểu lịch sử để định hình hiện tại và tương lai, người ta cũng có quyền phán xét lịch sử nhưng với một con mắt bao dung bởi vào thời điểm ấy nhận thức của những nhân vật lịch sử có sự hạn chế và nếu chúng ta, những kẻ hậu sinh với nhận thức của thời đại nếu được trao lá cờ vào những thời điểm quá khứ, liệu ta có chắc là sẽ không mắc sai lầm?

Điều đáng nói là về quan niệm, phát ngôn và ứng xử của những người cầm quyền hiện thời với ngày 30/4. Sau 46 năm mà quan niệm, phát ngôn và ứng xử vẫn y như trước thì đấy mới là một sự man rợ, cố chấp và u muội.

Máu người Việt đã thấm trên từng mét vuông trên mảnh đất hình chữ S, người phía nào cũng là con của mẹ Việt, cũng đều đau xót. Số phận của dân tộc, của mảnh đất hình chữ S này đã khốc liệt và đau khổ biết bao khi tài chính, vũ khí và lương thực được cấp cho người Việt của hai bên chiến tuyến bắn giết nhau.

Các bạn đứng ở bên nào, tôn thờ lý tưởng của bên nào là quyền của các bạn, với tôi mọi lý tưởng chỉ là phù phiếm khi người Việt chĩa súng vào nhau.

Ở góc nhìn này, tôi thấy rằng những người cực đoan cả hai phía đều không bao giờ có thể làm được một thứ được gọi là “hoà hợp hoà giải dân tộc”.

Tuy nhiên, trách nhiệm để làm được sự nghiệp này đa phần nằm trên vai của bên thắng cuộc. Tất cả sẽ chỉ là câu chữ, là một khẩu hiệu oang oang rỗng tuếch và tình trạng chia ly về nhân tâm vẫn y nguyên sau 46 năm nữa khi bên thắng cuộc sau mấy chục năm không trở nên văn minh hơn, có cái nhìn nhân văn hơn.

Đây chính là mấu chốt của vấn đề. Chỉ khi những người có địa vị cao nhất có tâm, có tầm, có cái nhìn nhân văn, thực sự tha thiết hàn gắn nỗi đau của người Việt thì mới hy vọng cái sự nghiệp hoà hợp hoà giải dân tộc to đùng kia mới được cải thiện.

Hãy nhìn chính quyền Úc đã ứng xử thế nào với những người bản xứ đã bị tàn sát để chiếm đất. Những người đứng đầu đã công khai xin lỗi vì một lỗi lầm của tổ tiên trong quá khứ xa xôi và họ đã có một chính sách ưu đãi như để chuộc lỗi cho tổ tiên của mình.

Ở đây, tôi phải nhấn mạnh để bò đỏ rận rệp không có cớ mà chửi bới, xuyên tạc, tôi không có ý muốn nói là ai phải xin lỗi ai ở Việt Nam mà tôi đề cao một cái nhìn nhân văn, hợp lòng người của những người trong bộ máy chính quyền của Úc.

30.4 nào tôi cũng có bài viết, nhiều đến nỗi mà chỉ sợ lặp lại chính mình và bản thân cũng thấy nhàm chán, nhưng không viết thì thấy như thể có lỗi gì đấy.

Chỉ xin kết bằng một câu rằng, mọi lý tưởng chỉ là tương đối, cái này đúng hôm nay có thể là rất sai của ngày mai, chỉ có tấm lòng yêu thương con người, sự thông cảm và hiểu biết với “phía bên kia” mới khiến con người gần lại nhau mà thôi.

Nghĩ như vậy và nhìn những vấn đề nhỏ hơn trong cuộc sống, tôi cũng thấy nhiều tranh cãi vụn vặt thực ra là vô nghĩa, cuộc sống này chỉ tình yêu con người mới là thứ đáng nói mà thôi.

– Đoàn Bảo Châu

Lần đầu tiên Anh thuê máy bay trục xuất người Việt về nước.

 May be an image of ‎text that says '‎UK Home Office charters its first ever deportation flight to Vietnam Screenshot Migrant rights organisations are concerned that those due to fly have not had full access to legal advice くم 95 Home Office‎'‎

  

*** Lần đầu tiên Anh thuê máy bay trục xuất người Việt về nước.

Chuyến bay trực tiếp đầu tiên do Bộ Nội vụ Vương quốc Anh thuê để đưa những người Việt Nam di cư lậu bị trục xuất về nước cất cánh vào hôm 21/4 từ phi trường Heathrow đến sân bay Nội Bài, truyền thông Anh loan tin.

Hôm 21/4, đại diện Đại sứ quán Anh tại Hà Nội cho VOA biết qua email rằng thông tin cung cấp cho báo chí liên quan đến vấn đề trục xuất này do Bộ Nội vụ Vương quốc Anh (UK Home Office) phụ trách.

Các tổ chức nhân quyền lên tiếng bày tỏ quan ngại về việc trục xuất này, nói rằng nhiều người Việt Nam di cư lậu sang Anh phải chịu nhiều hình thức bóc lột khác nhau, chẳng hạn như cưỡng bức trồng cần sa trong các trang trại bất hợp pháp, hoạt động mại dâm hoặc bị ép làm việc trong các tiệm làm móng.

– Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu về nạn buôn người sang Vương quốc Anh, cũng theo The Guardian.

Để được di cư lậu kiểu này, một số người Việt phải trả cho những kẻ buôn người khoảng 30.000 bảng Anh cho một chuyến đi lậu đến nơi mà họ tin rằng sẽ là một vùng đất hứa với mong muốn có cuộc sống tốt hơn cho bản thân và gia đình so với hoàn cảnh ở Việt Nam.

Theo tổ chức nhân đạo After Exploitation ở Anh, có đến 108 nạn nhân nghi là người Việt Nam bị giam giữ sau các vụ truy bắt người nhập cư lậu trong thời gian từ Quý 2 đến Quý 4 năm 2020, nhưng không người nào trong số này được hỗ trợ tư vấn pháp lý.

Trong diễn biến liên quan, hôm 15/4, hai người Việt Nam đã bị bỏ tù sau khi cảnh sát phát hiện trang trại ma túy trị giá 800 nghìn bảng Anh ở thành phố Manningham, nơi hai người này đi làm công, theo The Telegraph.

Hai người đàn ông Việt Nam nhận tội sản xuất cần sa, khai rằng mình là nạn nhân của chế độ nô lệ hiện đại, tại một trang trại trồng cần sa trong khu công nghiệp lớn ở Bradford, phía bắc nước Anh.

*** Nhà nước CSVN tuyên truyền VN giàu mạnh, hùng cường v.v.v,

giàu mà sao thanh niên cứ bỏ nước ra đi trồng cỏ ? gái thì di dân lậu hoạt động mại dâm?

TL – VOA.

Hải Quân Indonesia loan báo tàu ngầm mất tích đã chìm, 53 người chết

Hải Quân Indonesia loan báo tàu ngầm mất tích đã chìm, 53 người chết

BANYUWANGI, Indonesia (AP) – Hải Quân Indonesia hôm Thứ Bảy, 24 Tháng Tư, loan báo chiếc tàu ngầm mất tích của họ đã chìm và bị xé toang do áp suất nước ở độ sâu, làm thiệt mạng tất cả 53 người trong thủy thủ đoàn, sau khi tìm thấy những vật dụng và mảnh vụn từ chiếc tàu trong hai ngày qua.

Tướng Hadi Tjahjanto, tham mưu trưởng quân đội Indonesia, nói sự hiện diện của vết dầu loang cùng các mảnh vụn tìm thấy gần nơi chiếc tàu lặn xuống hôm Thứ Tư, ngoài khơi đảo Bali, là chứng cớ rõ ràng cho thấy chiếc tàu ngầm KRI Nanggala 402 đã chìm. Indonesia trước đó chỉ coi là chiếc tàu bị mất tích.

Đô Đốc Yudo Margono, tư lệnh Hải Quân Indonesia, cho hay trong cuộc họp báo ở Bali: “Nếu có vụ nổ thì chiếc tàu đã phải bung ra thành từng mảnh nhỏ. Các vết nứt nhiều phần xảy ra từ từ ở một số nơi khi chiếc tàu chìm từ độ sâu 300 mét tới 400 mét và sau đó tới 500 mét… Nếu có vụ nổ thì các máy sonar đã nghe thấy.”

Hải Quân Indonesia trước đó nói họ tin là chiếc tàu ngầm đã chìm xuống ở nơi có độ sâu từ 600 mét đến 700 mét (2,000 tới 2,300 foot), sâu hơn nhiều so với mức chịu đựng của chiếc tàu là 200 mét (655 foot), khiến vỏ tàu không thể chống chọi với áp suất của nước.

Nguyên do khiến chiếc tàu ngầm bị mất tích hiện chưa được xác định rõ ràng. Hải Quân Indonesia nói có thể đã xảy ra tình trạng mất điện khiến thủy thủ đoàn không thể tiến hành các biện pháp khẩn cấp để trồi lên mặt nước.

Đô Đốc Margono nói rằng trong hai ngày qua, các nhân viên cứu nạn đã tìm thấy một phần của hệ thống phóng ngư lôi, một bình dầu dùng để bôi trơn tiềm vọng kính, thảm để quỳ khi cầu nguyện và một mảnh ống làm mát máy được gắn khi tàu ngầm có cuộc đại tu bổ ở Nam Hàn năm 2012.

Đô Đốc Margono nói với các chứng cớ có được, họ tin rằng chiếc tàu ngầm đã bị chìm. Ông cho biết thêm rằng giới chức cứu nạn của Indonesia và các quốc gia khác sẽ lượng định những dữ kiện có được cho tới nay. Ông cũng cho hay chưa tìm thấy thi thể của người nào trong thủy thủ đoàn.

– Chiếc tàu ngầm của Hải Quân Indonesia KRI Nanggala trong chuyến hải hành ngoài khơi Tuban, East Java, Indonesia, năm 2014. (Hình: AP Photo/Eric Ireng)

– Tướng Hadi Tjahjanto (trái), tham mưu trưởng quân đội Indonesia, và Tướng Prabowo Subianto, bộ trưởng Quốc Phòng Indonesia, trong cuộc họp báo. (Hình: AP Photo/Firdia Lisnawati)

– Các vệt dầu loang được thấy ở nơi chiếc tàu ngầm KRI Nanggala mất tích. (Hình: AP Photo/Eric Ireng)

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ

 
May be an image of 1 person and text

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ…ị…t… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

***

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ

Tưởng Năng Tiến

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ tướng, Phó Tổng thống, và Tổng thống trong thời Đệ II Cộng Hòa – ở miền Nam Việt Nam.

Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục :

Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…

Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người !

Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng ! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều :

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy. Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn !

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng… không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuân hành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp !

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất… cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn :

“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác : những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…

Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện :

– Làm cốc uống nước…

Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.

Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn, Biển Và Chim Bói Cá, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2008, tr 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau :

“…chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng”.

Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp”. Thiệt là mừng hết lớn.

Đó là một thời đã qua rồi !

Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.

Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới”, vào năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn”. Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.

Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ :

“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.

Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…

Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người.

Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn (“Thương lắm những búp non ở trên cành”, Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Thôi chết mẹ ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng không ?

– Thưa không ! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.

Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm !”.

Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao ?

– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng ?

– Thế còn đám công nhân ?

Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay :

“Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh Khu công nghiệp Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng ; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…

Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ”.

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một… quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh :

“Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được”.

Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển… mình ên ! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có quí ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.

Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

Tưởng Năng Tiến

(Sổ tay Thường dân).

https://kontumquetoi.com/2016/04/23/lai-chuyen-thang-tu-tuong-nang-tien/

Nhìn lại cuộc đời đầy bi đát của vũ nữ Cẩm Nhung sau vụ tạt axit ‘rúng động’

Nhìn lại cuộc đời đầy bi đát của vũ nữ Cẩm Nhung sau vụ tạt axit ‘rúng động’

 Sau 54 năm, nhiều thế hệ sau này không còn biết gì về người vũ nữ một thời vàng son lộng lẫy và ca axit định mệnh ngày ấy.

Tuy nhiên, với người dân thời đó, đây là vụ đánh ghen tàn bạo và rùng rợn nhất từng được ghi nhận tại thành phố này, gây chấn động cả Sài Gòn và miền Nam.

Báo chí thời điểm đó đánh giá đây là vụ đánh ghen bằng axit lần đầu tiên xảy ra trong giới thượng lưu Sài Gòn, là tâm điểm quan tâm của nhiều tầng lớp.

Còn cuộc đời của Cẩm Nhung, nhân vật chính trong câu chuyện có thể viết thành tiểu thuyết mà hồi kết của nó đúng là 1 bi kịch. Gọi đây là 1 kiếp hồng nhan bạc mệnh cũng không sai.

Từ gái nghèo lên nữ hoàng vũ trường

Cẩm Nhung sinh năm 1940 tại Hà Nội, năm 15 tuổi, cô gia đình di cư vào Nam. Sau đó không lâu, chacô lâm bệnh rồi mất. Cẩm Nhung phải bỏ học, xin vào làm tiếp viên trong một nhà hàng. Nhờ đó cô đã lân la làm quen với những bản nhạc, những điệu nhảy trong quán bar của nhà hàng.

Với khuôn mặt đẹp và làn da trắng hồng, đôi mắt lẳng lơ, thân hình quyến rũ, khi tuổi chưa đầy 19 tuổi, cô đã trở thành gái nhảy chuyên nghiệp trong giai đoạn phong trào nhảy đầm phát triển rầm rộ ở Sài Gòn.

Cô đi qua nhiều vũ trường, cuối cùng dừng lại với vũ trường Kim Sơn trên đường Tự Do (nay là Đồng Khởi, quận 1). Sự vụt sáng của Cẩm Nhung khi đó đã làm lu mờ ngay vì tinh tú đã sáng mấy năm trước đó chính là Thu, con nhà văn Lê Văn Trương gốc Bắc, một vũ nữ được nhiều tay chơi Sài Gòn mến mộ.

Thu tâm sự rằng: “Con Cẩm Nhung có lợi thế hơn người, bởi nó vừa trẻ lại vừa đẹp và nhảy hay. Mặc dù về Kim Sơn chưa đầy một năm, vậy mà ticket (vé) của con nhỏ đã tăng lên vùn vụt”. Vũ trường Kim Sơn cũng là nơi Cẩm Nhung gặp gỡ mối tình oan khiên với tay trung tá công binh Trần Ngọc Thức lớn hơn cả chục tuổi, khiến đời cô chìm vào tăm tối.

Nói về Cẩm Nhung, tài-pán Marie Sang, người quản lí vũ trường có tiếng hồi đó kể lại: “Tội nghiệp con Cẩm Nhung lắm. Nó là đứa nhỏ nhất trong đám đệ tử của em ngày ấy. Nhưng nó rất biết điều, sống có tình và tha thiết với một mong ước là ngày nào đó sẽ rời ánh đèn mờ vũ trường để kiếm một tấm chồng giản đơn. Tiếp đó, nó sẽ sống như bà mẹ hiền hậu của mình…”. Tuy nhiên, ước mơ giản dị ấy chưa kịp thành hình thì cuộc đời Cẩm Nhung rẽ sang một hướng khác đầy bi kịch sau ngày 17 tháng 7 năm 1963 định mệnh.

Nở một cuộc tình, tan một đời hoa

Nói về mối tình của trung tá Thức và Cẩm Nhung. Thời ấy, “Thức công binh” (biệt danh của trung tá Trần Ngọc Thức) nổi lên như cồn trong giới ăn chơi ở Sài Gòn. Trung tá Thức tuổi ngoài 30, đam mê nhảy đầm. Từ trước đến nay chưa có vũ nữ nào là mối ruột của ông nhưng chỉ gặp Cẩm Nhung lần đầu, ông đã say mê như điếu đổ.

Từ đêm đó, mỗi lần ông đến Kim Sơn là có Cẩm Nhung kề cận. Sau đó họ có những cuộc hẹn hò, những lần đi chơi với nhau. Cách đối xử của ông làm cho Cẩm Nhung cảm phục và mặc dù thừa biết ông đã có gia đình cô vẫn sẵn lòng làm người vợ ngoài giá thú.

Vợ trung tá Trần Ngọc Thức có biệt danh là Năm Rađô đã vài lần đón đường hăm dọa, thậm chí tát tai dằn mặt vũ nữ Cẩm Nhung, nhưng bấy nhiêu đó không đủ làm cho cô gái trẻ rời xa chồng bà. Trong cơn ghen mù quáng, bà đã vạch kế hoạch tỉ mỉ tiêu diệt tình địch. Hai tên giang hồ có cỡ được bà Năm Rađô thuê với giá 2 lượng vàng để làm cái việc hủy diệt nhan sắc của cô vũ nữ.

Khoảng 22 giờ đêm ngày 17.7.1963, vũ nữ Cẩm Nhung rời khỏi nhà để đến vũ trường Kim Sơn. Khi Cẩm Nhung còn cách chiếc taxi khoảng 10 mét, bất ngờ từ bên kia đường một gã đàn ông băng nhanh qua đường, tiến về phía cô. Cẩm Nhung chưa kịp phản ứng thì gã đàn ông đã tạt mạnh ca axít vào mặt cô.

Cẩm Nhung chỉ kịp kêu lên: “Chết tôi rồi, cứu tôi với” rồi ngã gục trên đường. Người đàn ông sau khi tạt axít đã băng qua bên kia đường, leo lên xe taxi mở cửa chờ sẵn, trên ấy có bà Năm Rađô.

Nghe tiếng kêu cứu, một số người đi đường đã chạy đến, họ thấy Cẩm Nhung nằm quằn quại dưới đường, mùi axít xông lên hôi nồng. Một người đàn ông đã ôm nạn nhân lên xe taxi, chở đến Bệnh viện Đô Thành (Bệnh viện Sài Gòn ngày nay). Do Bệnh viện Đô Thành không có khả năng trị bỏng, nhất là bỏng axít, nạn nhân sau đó đã được chuyển đến Bệnh viện Đồn Đất (Bệnh viện Nhi Đồng 2 ngày nay).

Những người bạn vũ nữ của Cẩm Nhung đến thăm, thấy cảnh sát hại dã man, đã hùn tiền lại mời luật sư bảo vệ cho Cẩm Nhung, đưa vụ việc ra pháp luật. Thế nhưng, thời ấy thế lực của “Thức công binh” và bà Năm Rađô rất mạnh ở Sài Gòn, nên tưởng như không ai làm được gì họ. Vụ việc đến tai bà Trần Lệ Xuân, vợ của Ngô Đình Nhu. Đích thân bà Trần Lệ Xuân cũng đã đến thăm và đưa Cẩm Nhung sang nước ngoài chữa trị. Nhưng do vết thương quá nặng nên các bác sĩ ở đây cũng không thể giúp cô.

3 tháng sau ngày xảy ra vụ việc, một phiên tòa được mở công khai để xử nhưng người gây ra thảm cảnh cho vũ nữ Cẩm Nhung. Kẻ chủ mưu là bà Nguyệt và tên tạt axit thuê phải nhận bản án 20 năm tù cho mỗi người. Kẻ đồng lõa nhận án 15 năm.

Tuy nhiên, vụ án sau đó bị đình lại rồi rơi vào quên lãng, bà Trần Lệ Xuân phải lưu vong ở nước ngoài, lời hứa bao bọc Cẩm Nhung đến suốt đời của bà Xuân cũng gác lại. Gia đình trung tá Thức đổ vỡ. Ông tiếp tục sống một cách khép kín. Vợ ông, bà Nguyệt vào chùa để sống hết những ngày còn lại.

Mất chỗ bấu víu, hận đời hận người, Cẩm Nhung chán nản lao vào đập phá, nghiện ngập, hút thuốc, uống rượu… Sau khi tiêu tán hết tài sản và hai người thân nhất qua đời, năm 1969, Cẩm Nhung phóng tấm ảnh có cô và trung tá Thức mang trước ngực lê la khắp các đường phố Sài Gòn để khất thực.

Lần đầu tiên – trước tết năm 1969, cô đến khu vực chợ Bến Thành. Ngồi bên vệ đường Lê Lợi với chiếc lon phía trước và tấm ảnh trên ngực, Cẩm Nhung bắt đầu chuỗi ngày ăn xin. Người Sài Gòn hay tin kéo nhau đến xem và giúp cô được khá nhiều.

Cẩm Nhung lê bước hành nghề khắp nhiều tuyến đường ở Sài Gòn sau đó về bến phà Mỹ Thuận ở miền Tây. Bị đưa vào trung tâm nuôi người tàn tật nhưng cô trốn ra tiếp tục ăn xin và mất tăm một thời gian sau đó.

Người đời bàn luận rằng có lẽ bà đã bệnh chết hoặc đã quyên sinh để chấm dứt kiếp hồng nhan bạc phận của mình. Mãi sau này người ta mới phát hiện bà vẫn còn sống, vừa bán vé số vừa ăn xin quanh các ngôi chùa ở thị xã Hà Tiên, mà thường nhất là ở chùa Tam Bảo.

Đúng 50 năm sau vụ đánh ghen, vào đầu năm 2013, Cẩm Nhung qua đời tại một xóm trọ nghèo ở thị xã Hà Tiên (tỉnh Kiên Giang), nơi những người ăn xin, bán vé số, bốc vác tứ xứ đến thuê ở trọ. Cô được những người đồng cảnh ngộ lo cho một quan tài loại rẻ tiền, rồi đưa ra nghĩa địa… kết thúc cuộc đời đầy hào quang nhưng thấm đẫm nước mắt của cô vũ nữ lừng danh nửa thế kỷ trước.

From: TU-PHUNG

Nước Miến Nhìn Từ Xứ Việt

Nước Miến Nhìn Từ Xứ Việt

Nguyễn Hưng Quốc vừa gửi đến thân hữu và độc giả của ông một stt ngắn:

Elie Wiesel, một giáo sư người Mỹ gốc Do Thái, nói một câu thật hay: “Trái ngược với tình yêu không phải là sự thù ghét mà là sự dửng dưng. Trái ngược với nghệ thuật không phải là cái xấu mà là sự dửng dưng. Trái ngược với đức tin không phải là tà giáo mà là sự dửng dưng. Và trái ngược với sự sống không phải là cái chết mà là sự dửng dưng.”

Ứng dụng vào trường hợp của Việt Nam, chúng ta cũng có thể nói: đối lập với dân chủ không phải là độc tài mà là sự dửng dưng; đối lập với độc lập và chủ quyền trên lãnh thổ không phải là sự xâm lược mà là sự dửng dưng; đối lập với sự phát triển không phải là sự lạc hậu mà là sự dửng dưng.

Nói một cách tóm tắt, hiểm hoạ lớn nhất của Việt Nam không phải là chế độ độc tài trong nước hay âm mưu xâm lấn biển đảo của Trung Quốc mà là sự dửng dưng của mọi người. Chính sự dửng dưng đến vô cảm của phần lớn dân chúng là điều đáng lo nhất hiện nay.

Kiểu “ứng dụng” và cách “nói tóm tắt” như trên rất có thể khiến nhiều người hiểu lầm rằng dân Việt vốn tính thờ ơ, lạnh lùng, và ăn ở không có (hoặc thiếu) cảm tình.

Hổng dám “thiếu” đâu. Sợ còn dư nữa là khác, theo tin tức của báo chí nhà nước:

Fan bóng đá còn đông đảo và cuồng nhiệt hơn gấp bội :    

Ở California hay Washington, DC năm rồi cũng thế. Người Việt tị nạn cũng tụ tập đông đảo hay biểu tình rầm rộ để ủng hộ hai ứng viên tổng thống (Dân Chủ hoặc Cộng Hoà) cùng biểu ngữ, cờ xí, và “hào khí” ngất trời luôn!

Dân Việt – rõ ràng – hoàn toàn không dửng dưng, cũng không vô cảm. Họ chỉ hờ hững và lạnh nhạt trước chuyện sống còn của quê hương đất nước thôi.

Sao kỳ vậy cà?

Trước những sự kiện đang diễn ra ở Miến Điện, bỉnh bút Du Uyên (Tuần Báo Trẻ, số 1237, phát hành từ Texas, ngày 2 tháng 4 năm 2021) có vài nhận xét cùng đôi ba câu hỏi nhỏ :

Họ bất chấp hy sinh tất cả, ngay cả kinh tế của từng gia đình, từng người để đổi lấy một nền dân chủ thực sự trên đất nước mình. Tuyên bố sẵn sàng chia sẻ thức ăn, nước uống và các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày cho nhau, giúp đỡ nhau đến khi kinh tế do quân đội độc tài điều hành sụp đổ…

Người dân Miến Điện không chỉ tin vào tự do, dân chủ, mà họ còn tin nhau. Bởi vậy mới có sự đoàn kết như thế! Thường thì có sự gì trên thế giới, dân tình đều sẽ nhìn lại bản thân mình. Nhiều người Việt cũng vậy, không ít người đã hỏi: liệu chúng ta có đủ niềm tin cho nhau khi “loạn lạc” hay không? Và nếu xảy ra những cuộc nội chiến tương tự, thì dân Việt có đủ tin vào tự do, dân chủ để làm nên những điều trên hay không?

Không … là cái chắc!

Người Việt cũng sở hữu rất nhiều thuộc tính như đa phần nhân loại, chỉ thiếu mỗi … niềm tin thôi. Họ hoàn toàn không tin tưởng gì vào vận mệnh và tương lai của đất nước nên hết thế hệ này, sang thế hệ khác đều sẵn sàng (và lũ lượt) rời bỏ quê hương, không chút luyến thương. T.S  Phương Mai gọi đây là “cuộc tị nạn niềm tin”!

Dân Việt cũng chả có chút kỳ vọng hay tin tưởng gì vào nhau cả, theo như lời than thân của nhà hoạt động xã hội Đỗ Cao Cường:

“Khi một người Hồng Kông đứng lên, cả triệu người Hồng Kông che chắn, nhưng khi một người Việt Nam đứng lên, họ phải xác định không gia đình, không sự nghiệp, không bạn bè. Đôi khi, một mình họ chống lại cả thế giới này.”

Sao đến nông nỗi thế?

Dù cũng bao gồm hằng trăm sắc dân (và sống hơn nửa thế kỷ dưới chế độ độc tài) nhưng người Miến chưa bao giờ bị ép buộc phải đấu tố, canh chừng, rình rập, và tố giác lẫn nhau. Nhờ vậy nên dù thường trực phải chịu đựng áp lực của một thể chế cường bạo, họ vẫn còn niềm tin vào tha nhân. Ngoài ra, dân Miến cũng còn giữ được niềm tin vào tôn giáo vì không gian tâm linh của họ không bị vấy bẩn (hay lũng đoạn) bởi đám tu sĩ quốc doanh – như ở Việt Nam.

Từ Yangon, nhà báo Từ Khanh tường thuật: “Nhà chùa, dưới chế độ quân phiệt, đóng vai trò hướng dẫn cuộc sống đời và đạo… Các lớp học trong chùa suốt năm thập niên qua tiếp tục dạy con người trở thành kẻ hiền lương trong mọi hoàn cảnh.”

Cũng như người Lào, người Miến hiền thật (và hiền lắm) hiền tới cỡ khiến du khách phải lấy làm … ái ngại. Những ông phu xe đều xua tay và lắc đầu quầy quậy, nếu hành khách có nhã ý trả cho họ một số tiền nhiều hơn giá cả thông thường. Các ông tài xế taxi ở Myanmar cũng thế. Dù xe không có máy tính tiền nhưng chả ai phải mặc cả hay trả giá cò kè gì sất.

Những ngày ở Burma, tôi hay la cà nơi quán xá vỉa hè nên thỉnh thoảng vẫn bị chủ quán vội vã rượt theo, la ơi ới, vì tưởng thực khách bỏ quên tiền – số tiền trà nước (pour boire) kín đáo để lại cho những đứa bé chạy bàn. Thực là một dân tộc hiền lương, chất phát, và chắc là rất cả tin.

Điều may mắn là đất nước của họ vẫn còn nhiều điều khả tín. Miến Điện có đảng đối lập (Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ Đảng – National League for Democracy) với thực lực, cùng lãnh đạo tầm vóc và được người dân tin tưởng.

Dân Việt thì hoàn toàn tay trắng, chả có gì làm vốn để chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy, một cắc cũng không luôn.

Nếu tính từ tháng tư năm 1975 đến nay thì chế độ hiện hành ở Việt Nam chưa gặp phải một đối lực nào đáng kể. Đảng đối lập không, lãnh đạo phản kháng cũng không – nếu “quên” kể hai khuôn mặt bệnh hoạn thấy rõ là Tổng Thống Đào Minh Quân và Thủ Tướng Nguyễn Hữu Chánh. Cả hai đều là tuyệt phẩm của Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại.

Tôi bị bạn bè trách móc vì đã đôi lần đặt đôi câu hỏi nhỏ (Nó Rớt Rồi Sao hay Nó Sập Rồi Sao) với không ít bi quan. Lắm người chỉ muốn nó đổ ngay đi cho khuất mắt, rồi hậu xét.

Nếu ngày mai chế độ quân phiệt Miến Điện cáo chung thì Liên Đoàn Quốc Gia Vì Dân Chủ ở xứ sở này sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm và quyền bính. Còn nếu ngày mốt mà bọn cộng sản (bỗng) lăn đùng ra chết hết thì không biết dân Việt sẽ loay hoay và và xoay trở ra sao, với những cái xác thối tha trên khắp mọi nẻo đường đất nước.

Không có niềm tin vào nhau, và vào tương lai của đất nước thì ai cũng đều giữ cái thái độ dửng dưng và vô cảm cả (cho nó an toàn) là chuyện tất nhiên. Thiên hạ nơi đâu và thời nào cũng thế, chứ chả riêng chi dân Việt.

Tưởng Năng Tiến
4/2021

Câu chuyện về Jacky Ly

Câu chuyện về Jacky Ly

Khó có thể biết Lý Vĩnh Thắng – tên tiếng Việt của Jacky Ly – sẽ trở thành người như thế nào nếu Thắng và gia đình vẫn còn ở một ngôi làng nghèo miền núi ở Phó Bảng, Hà Giang. Có thể Thắng là một “học sinh nghèo vượt khó” xuất sắc nhưng cũng có thể Thắng chỉ là một anh nông dân chăn bò, làm nương rẫy, như thời niên thiếu, và chôn cuộc đời ở một ngôi làng nhỏ đến mức thậm chí gần như “không có tên” trên bản đồ các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam. Câu chuyện về Jacky Ly là trường hợp điển hình của vô số gia đình Việt Nam trong đó việc quyết định tìm kiếm tự do bằng con đường vượt biên là chọn lựa duy nhất và quyết định đó đã mang lại những bước ngoặt thay đổi khó có thể ngờ…

Băng rừng vượt biên

Việc chuẩn bị được thực hiện chu đáo và cẩn thận. Trước khi đưa cả nhà đi, ông Lý Hội Quyền – cha của anh Lý Vĩnh Thắng – đã một mình lẻn sang Vân Nam-Trung Quốc để dò xét và tìm chỗ ở tạm. Một đêm năm 1987, Thắng – lúc đó 10 tuổi – cùng hai chị và đứa em gái được bố mẹ chở trên xe đạp. Hành lý mang theo chỉ là vài bộ đồ và ít thức ăn. Họ bắt đầu cuộc hành trình bí mật. Phải kín đáo và thận trọng tuyệt đối. Chỉ một dấu hiệu đáng ngờ, họ cũng có thể bị hàng xóm trình báo và bị công an bắt. Đây là lần thứ hai họ vượt biên. Lần thứ nhất, đi từ Hải Phòng, trước đó vài năm (1979), đã thất bại. Sau chuyến đi không thành đó, gia đình ông Lý đến sống ở Tân Mỹ, Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Họ lầm lũi sinh nhai bằng nghề nông. Tuy nhiên, ông Lý vẫn âm thầm tìm cách thoát. Hành trình vượt biên lần thứ hai khởi hành từ đây, cách biên giới Việt-Trung đến 400 km.

Băng qua biên giới một cách an toàn là điều không đơn giản. Vết tích cuộc chiến Việt-Trung 1979 vẫn còn in đậm. Cả hai bên biên giới đều đầy mìn và bẫy chông. Để tránh bị phát hiện bởi lính biên phòng của cả hai bên, gia đình ông Lý phải len lỏi đi trên những con đường mòn nhỏ, xuyên rừng. Có những đoạn ông Lý phải cõng đứa con gái sáu tuổi gần như suốt ngày lẫn đêm (sau này khi kể lại, ông nói rằng nếu không phải là cô con gái của ông mà là khối vàng thì ông cũng sẵn sàng vất bỏ vì quá cực nhọc).

Sau 14 ngày, gia đình ông Lý vào đất Vân Nam-Trung Quốc. Thở phào. Nhưng chưa nhẹ nhõm. Không giấy tờ tùy thân, họ có thể bị nghi ngờ, tố giác và bị công an Trung Quốc bắt đuổi trở về Việt Nam. Cả nhà ông Lý phải di chuyển liên tục và có khi phải chia ra ở rải rác. Họ chỉ tá túc một chỗ trong vài tuần rồi lại tìm nơi khác. Cuối cùng, họ đến Phòng Thành, Quảng Tây. Tại đây, ông Lý cùng một số người Việt khác, cũng vượt biên trốn khỏi Việt Nam, tìm cách đi khỏi Trung Quốc. Họ tìm được một đầu mối giới thiệu mua thuyền và thuê tài công. Họ dự tính thoát đến Macau. Nếu Macau từ chối nhận tỵ nạn, họ sẽ đi Hong Kong. Nếu Hong Kong khước từ, họ sẽ đi Nam Triều Tiên. Nếu lại bị từ chối, họ sẽ đi Nhật Bản!

Ngày 18-6-1988, 72 người tỵ nạn, trong đó có sáu thành viên gia đình ông Lý, lục tục xuống chiếc thuyền đánh cá cũ nát. Con thuyền dài 12m-rộng 3m chỉ có mái che sơ sài cho khoang động cơ. Mọi người mang theo lương thực cho khoảng 30 ngày và phó mặc số phận cho hai tài công. Sau vài ngày lênh đênh, giữa cái nắng lột da và những cơn đói dữ dội, họ bị một trận bão dập tơi bời, những tưởng thuyền bị lật úp và tất cả chết đuối giữa biển. Khi đến Bắc Hải, thành phố phía Tây Nam Trung Quốc, họ lại bị một “cú sét đánh” thậm chí choáng váng hơn: qua radio, họ biết tin Macau lẫn Hong Kong vừa tuyên bố ngưng nhận người tỵ nạn Việt Nam. Bất kỳ người tỵ nạn Việt Nam nào đến Hong Kong sau ngày 16-6-1988 đều bị đưa vào trại tập trung để trả lại quê nhà. Không lẽ quay về? Họ liều mạng đi tiếp.

Sau 13 ngày “nướng” mình dưới nắng biển, họ đến gần Macau. Hai tài công rời thuyền. Họ được thuê chỉ để đưa mọi người đến đây, như thỏa thuận. Một người Việt, tên Thái, bất đắc dĩ trở thành người lái thuyền. Sự thiếu kinh nghiệm đi biển lập tức được “trả giá” sau đó khi thuyền va vào đá ngầm. Hỗn loạn và sợ hãi. Thật may là họ được cảnh sát biển Macau phát hiện và cứu. Sau khi giúp sửa thuyền, cảnh sát Macau yêu cầu tất cả rời đi. Mọi người lại ra khơi, gần như trong vô vọng. Cuối cùng, ngày 1-7-1988, thuyền đến Hong Kong. Đây là con thuyền thứ 47 của người tỵ nạn Việt Nam đến sau khi Hong Kong ban bố chính sách mới dành cho người tỵ nạn kể từ ngày 16-6-1988.

Những năm tháng ở trại tỵ nạn Hong Kong in sâu ký ức Thắng. Nếu không được bố mẹ và hai chị dạy bảo và che chở, Thắng rất có thể đã trở thành đứa bé hư hỏng đi theo đám băng nhóm giang hồ thuộc thành phần tỵ nạn đến từ các tỉnh khác của Việt Nam. Trại tỵ nạn chật chội, đông đúc, với đủ thành phần phức tạp, đã tạo thành một xã hội Việt Nam thu nhỏ nơi người ta không chỉ giành giật miếng ăn mà còn gây ra những hành vi tội phạm. Hãm hiếp và đâm chém xảy ra như cơm bữa. Sau hơn hai năm sống trong cảnh nhốn nháo, gia đình ông Lý cuối cùng được Chính phủ Mỹ đồng ý cho tỵ nạn. Họ được đưa qua Philippines sáu tháng để học tiếng Anh trước khi đến Mỹ…

Bắt đầu từ tay trắng

Nước Mỹ. North Carolina. Cuộc hành trình dài đã đến đích. Tuy nhiên, một chặng mới lại bắt đầu. Tất cả đều chỉ có hai bàn tay trắng. Họ đã rời con thuyền rách nát số 47. Họ đã rời khu ổ chuột tỵ nạn Hong Kong. Họ đang đặt chân đến một vùng đất xa lạ và tiếp tục đi trên những con đường thậm chí khó khăn và khó lường hơn cả những con đường mòn vượt rừng xuyên bóng đêm băng qua Vân Nam ngày nào. Phần tiếp theo của câu chuyện là chuỗi nỗ lực điển hình của gần như mọi người Việt tỵ nạn giai đoạn đó. Chen chúc trong căn nhà nhỏ được cấp tạm cho người tỵ nạn, gia đình ông Lý lao vào xã hội Mỹ với vốn liếng tiếng Anh gần như bằng không. Ông Lý phải làm ba “job” để giúp gia đình. Ban ngày ông làm thợ hàn. Ban đêm ông làm công nhân xưởng lắp ráp. Và cuối tuần ông làm nhân viên phục vụ nhà hàng. Trong khi đó, vợ ông lãnh quần áo gia công về nhà may; và hai chị của Thắng-Jacky đi làm nail sau khi học xong trung học. Jacky cũng phải đi làm thêm vào cuối tuần, từ chạy bàn đến rửa chén, cho đến khi vào đại học và vào quân đội…

Khó có thể biết ông Lý Hội Quyền nghĩ gì về tính mạng của mình cũng như vợ con vào thời điểm ông quyết định đưa cả nhà đi vượt biên. Nhưng có điều chắc chắn rằng ông không thể tưởng tượng có ngày mà cậu con trai duy nhất của ông, Vĩnh Thắng – Jacky, lại thành đạt hơn cả sự mong đợi, với không chỉ hai bằng master (từ National War College và Đại học Johns Hopkins), mà còn trở thành một sĩ quan cấp cao quân đội Hoa Kỳ. Ông Lý Hội Quyền (từ trần năm 2012) – người mà Jacky luôn xem như là tấm gương vĩ đại đối với mình – cũng khó có thể tưởng tượng một ngày mà con trai ông trở về lại Phó Bảng với tư cách một sĩ quan quân đội Mỹ, ở cương vị Chánh Văn phòng hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt, thực hiện các dự án hợp tác và tìm kiếm cơ hội hỗ trợ những gia đình nghèo miền núi Việt Nam, nơi có bóng dáng những đứa trẻ lếch thếch hệt Vĩnh Thắng ngày nào…

Tôi phải cố gắng, luôn cố gắng, phải “work extra hard” – Jacky nói. Ngày 1-1-2021, Jacky Ly trở thành đại tá quân đội Hoa Kỳ (lễ gắn lon chính thức được tổ chức chiều ngày 23-4-2021). Sau hơn 20 năm phục vụ quân đội Mỹ, Jacky Ly vẫn muốn tại ngũ. 42 tuổi, Jacky sẽ còn đi xa, thậm chí có thể xa hơn cả những điểm đến mà người cha không bao giờ có thể nghĩ tới, khi ông cõng cô em gái của Jacky lên đường trong đêm tối cùng gia đình ra đi chỉ với một thôi thúc: tìm kiếm tự do và một tương lai sáng sủa hơn cho các con của mình.

***************

Đại tá Jacky Ly

Từng chỉ huy đại đội lính nhảy dù mũ đỏ (thuộc 82nd Airborne Division) và tham gia chiến trường Afghanistan, Iraq, cũng như công tác tại Hàn Quốc, Hawaii…, cuộc đời Jacky Ly gắn liền với binh nghiệp. Nhập ngũ năm 18 tuổi khi vào Vệ binh North Carolina với dự tính ban đầu chỉ phục vụ quân đội ba năm nhưng sau đó Jacky không rời bộ quân phục. Jacky tốt nghiệp bằng cử nhân quản trị doanh nghiệp về hệ thống thông tin máy tính từ Đại học Appalachian State. Trong thời gian quân ngũ, ngoài những khóa đào tạo chuyên biệt trong quân đội, Jacky còn học National War College, Đại học Johns Hopkins, và Trường tham mưu quân sự Malaysia. Từng là Chánh Văn phòng hợp tác quốc phòng (Chief of the Office of Defense Cooperation) trực thuộc Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội, Jacky còn là cố vấn quân sự cấp cao và chánh Văn phòng Hợp tác An ninh trực thuộc Phái bộ Hoa Kỳ tại Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ở Jakarta, Indonesia. Đại tá Jacky Ly sắp nhận nhiệm vụ mới tại Đông Nam Á với tư cách tùy viên quốc phòng.

Ảnh Jacky Ly cùng ba và em gái

– Nhà báo Mạnh Kim

Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam, Jean-Marie MÉRILLON nói gì?

 May be an image of 1 person

 Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót. Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất. Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia xẽ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả… trong những ngày sắp tới.

Việt Nam và tôi có rất nhiều kỷ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt. Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này. Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt. Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt. Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.

Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên Hồ chí Minh. Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai? Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?

Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật. Họ lầm. Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ. Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gở cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…

Sau hết, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thua, nhưng thật ra người Việt Nam chưa thua cộng sản. Trận chiến chưa chấm dứt vào ngày 30 tháng 4 năm 1975..

Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi.

Chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ.

Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.

Jean-Marie MÉRILLON

Cựu Đại Sứ Pháp tại Việt Nam

Hình ảnh của PV Reuters cho thấy thảm họa kinh hoàng của Virus Tàu cộng tại Ấn Độ

 

 24.04.2021

Hình ảnh của PV Reuters cho thấy thảm họa kinh hoàng của Virus Tàu cộng tại Ấn Độ.

Hình này được chụp tại 1 điểm thiêu xác những ca tử vong tại thủ đô xứ này ngày hôm qua, 23/04/2021. Tuy nhiên đây chỉ là 1 trong số các nơi đang đỏ lửa để làm hỏa táng mà thôi.

Hiện tại tình hình của Ấn Độ đang căng thẳng vô cùng. Chỉ riêng ngày 21/03/2021, nước này đã có gần 300.000 ca mới. Con số được thông báo vào ngày hôm sau là 314.000. Bước sang ngày 23/4, số ca nhiễm mới trong vòng 24h đã hơn 332.000 người. Với hơn 2000 ca tử vong một ngày, hiện tại các bệnh viện ở Ấn Độ đã không còn chỗ, thiếu máy thở và không đủ bình oxy để cấp cứu cho dân.

Nhiều hãng tin trên thế giới đồng loạt miêu tả cảnh những người Ấn Độ có điều kiện lo bỏ xứ ra đi trốn bệnh dịch. Vé máy bay 1 chiều từ Ấn đi Dubai, xuất phát ngày 23 và 24-4 đã tăng gấp 10 lần bình thường, từ khoảng 100 lên hơn 1.000 USD. Tất cả các trang đặt vé máy bay đều báo lỗi khi yêu cầu vé xuất phát ngày 25-4. Trong khi đó, các tỷ phú thì thuê chuyên cơ đưa cả nhà tháo chạy. Hãng Enthrall Aviation chuyên cho thuê chuyên cơ cho biết công ty nhận được hơn 80 yêu cầu thuê máy bay trong ngày 23-4. Giá mỗi chuyến bay này là 38 ngàn USD với 13 chỗ bay từ Ấn đi Dubai theo báo Tuoitre. Trong khi hàng loạt quốc gia lại đang chặn đường bay từ Ấn Độ đến nước họ.

Tình cảnh này thật thê thảm vì dân Ấn Độ vốn dĩ đã đông, phần lớn lại nghèo khó thì sẽ rất khó khăn và sẽ bị chết nhiều trong vụ vỡ trận lần này.

Cầu nguyện cho Ấn Độ.

_____

Theo Bích Hậu/The Reuters/ Gettyimages./.

ĐIỀU GÌ LÀM NÊN SỰ KHÁC BIỆT GIỮA MỸ & ẤN ĐỘ TRONG CÙNG MỘT THẢM HỌA COVID-19?



– Hình ảnh đáng sợ về một bãi hỏa táng lộ thiên tại Ấn Độ (Ảnh: Reuters).

– Hình ảnh chôn người xếp lớp trong các dãy mộ tập thể trên đảo Hart, New York, USA…

ĐIỀU GÌ KHIẾN NƯỚC MỸ – ẤN ĐỘ GIỐNG NHAU & ĐIỀU GÌ LÀM NÊN SỰ KHÁC BIỆT GIỮA MỸ & ẤN ĐỘ TRONG CÙNG MỘT THẢM HỌA COVID-19?