Tin Việt Nam

May be an image of 3 people, outdoors and text that says 'Người Việt tuy nghèo, nhưng chất lượng sống cao hơn cả Nhật, Đức'

Nguyenhuy Nguyen  is feeling festive with  

 Nịnh chế độ nịnh thúi quắc

Nhìn cảnh bần cùng này mà bọn báo bưng bô còn uốn lưỡi bẻ cong ngòi bút huống chi hai tên Đăng Trí

Báo tuy cũ nhưng để chứng minh thời đại xu nịnh lên ngôi

Từ xưa đến nay HÔN QUÂN và XU NỊNH luôn là cặp bài trùng

https://cafebiz.vn/nguoi-viet-tuy-ngheo-nhung-chat-luong…

https://vietnamnet.vn/…/chat-luong-song-dan-viet-nam…

NƠI NÀO CHÍNH QUYỀN SỢ NHÂN DÂN NƠI ĐÓ CÓ TỰ DO, CÓ LUẬT PHÁP. NHÂN DÂN CÓ CÁI GÌ KHIẾN CHÍNH QUYỀN SỢ?

NƠI NÀO CHÍNH QUYỀN SỢ NHÂN DÂN NƠI ĐÓ CÓ TỰ DO, CÓ LUẬT PHÁP.  NHÂN DÂN CÓ CÁI GÌ KHIẾN CHÍNH QUYỀN SỢ?

– Thứ nhất hiến pháp Mỹ đã được viết ra bởi một thế hệ tài năng kiệt xuất của nước Mỹ, qua những cuộc tranh luận không ngừng cho nên nó là những phát kiến vĩ đại để đảm bảo cho khái niệm tự do.Nhưng “tự do không hề miễn phí”. Các bạn vì sự an toàn mà bỏ đi tự do thì các bạn sẽ không có được cả hai : đó là tự do và sự an toàn. Đó cũng là nguyên nhân mà người châu Á bị tấn công. Da trắng thượng đẳng xưa nay vốn kỳ thị da đen nhưng da đen phản ứng mạnh mẽ nên họ quay sang kỳ thị da vàng vì da vàng dễ bị ăn hiếp nhất.

– Thứ hai các bạn lầm lẫn rằng sở hữu súng là để bắn nhau. Nếu như vậy thì mỗi ngày sẽ có hàng trăm hàng ngàn vụ bắn nhau trên toàn nước Mỹ vì dân Mỹ có đến 300 triệu khẩu súng. Nhưng thực tế các vụ nổ súng trên tỷ lệ dân số nổ ra rất ít. Thực sự sở hữu súng là để đảm bảo nguyên lý ” Nơi nào chính quyền sợ nhân dân ,nơi đó có tự do có luật pháp. Nơi nào nhân dân sợ chính quyền,nơi đó có bất công có đàn áp’. Nhân dân không có súng, trên răng dưới dép lấy gì chính quyền sợ? Bạn nghĩ mọi chuyện đều có cảnh sát lo là bạn sai lầm. Cảnh sát tôn trọng hiến pháp, luật pháp là vì họ sợ nhân dân có súng. Nếu nhân dân không có vũ khí họ sẽ là công cụ của chính quyền để tham nhũng, lạm quyền,vi hiến.

– Thứ ba chưa bạn nào trả lời được câu hỏi của mình là nếu Trump và những người ủng hộ Trump ngày 6/1 tấn công vào tòa nhà quốc hội thành công lập nên một chính quyền độc tài với những chính sách bất công sau đó cho cảnh sát đàn áp biểu tình thì các bạn sẽ lấy gì để đối phó? Dân Mỹ cũng sẽ giống như dân Myanmar đưa đầu cho cảnh sát hoặc quân đội bắn và con số người chết tăng lên từng ngày nhức nhối lương tâm. Sở dĩ họ không bắn là vì không dám đối đầu với những người có vũ khí chứ chẳng phải sợ hiến pháp Mỹ.

– Thứ tư các bạn hay so sánh với các nước ở châu Âu không sở hữu súng mà bình an. Đó là sự bình an giả tạo. Đó là vì các bạn không xem các thông số khác về các vụ nổ súng của tội phạm, của cướp của giết người vì các loại vũ khí khác ngoài súng. Đó cũng là vì các bạn không hiểu nền dân chủ của họ sở dĩ đứng vững mà không cần súng là nhờ liên minh quân sự với nước Mỹ.Nếu họ mất vào tay độc tài thì có nước Mỹ giải cứu theo hiệp ước nhưng nếu Mỹ mất vào tay độc tài thì không có nước nào có thể giải cứu được cả.

– Thứ năm tỷ lệ chết vì súng của Mỹ vẫn ở mức thấp nhưng giá trị của luật pháp, hiến pháp, công lý, tự do mà súng mang lại không thể cân đo đong đếm được. Nhưng các giá trị này ẩn bên trong chỉ những trí thức mới hiểu nhưng các vụ thảm sát lại gây xáo trộn ,sợ hãi bên ngoài nên tu chính án trở thành tội đồ.

Thật sự Mỹ là nơi mà hiến pháp, luật pháp được tôn trọng nhất là vì chính quyền sợ nhân dân nhất, cảnh sát trọng chứng hơn trọng cung, phục vụ dân chu đáo là vì họ sợ 3 thứ của dân “lá phiếu, bồi thẩm đoàn và túi thuốc súng”. Khi tước bỏ một trong 3 thứ này thì người dân sẽ giống như dân các nước độc tài khác : bị cướp đất,cướp quyền tư hữu, bị bỏ tù oan, kết án oan, bị tra tấn ,đánh đập, bạo hành, bị coi thường khi đến các cơ quan hành chính hay khi tiếp xúc với cảnh sát.

Sở dĩ các bạn được tôn trọng, được sống trong tự do là vì các bạn có cái khiến chính quyền tôn trọng. Nếu bạn vì mấy thằng khùng mà bỏ đi tự do thì sau này bạn sẽ bị những thằng tỉnh khác (tội phạm, cảnh sát) thảm sát, đàn áp không thương tiếc.

Chuyện Tình Của Chú Năm-TRUYỆN NGẮN-Ý NGÔN…

  May be an image of food

TRUYỆN NGẮN Ý NGÔN…

Chuyện Tình Của Chú Năm

Chú Năm bước đến hàng bán cá mua hai con cá rô phi, nhờ người bán làm sạch và chiên dòn. Có một người đàn bà cũng đang đứng chờ chiên cá như chú, chị nói:

– Bữa nay thứ Tư họ thay dầu mới, cá chiên nóng về ăn với nước mắm tỏi ớt ngon lắm.

Chú Năm mỉm cười không nói gì, chú đâu biết pha nước mắm tỏi ớt, hồi trước lúc vợ chú còn sống chuyện bếp núc một tay bà lo.

Vợ chú chết hai năm nay, chú không biết nấu ăn lại không thích vô bếp, cứ ra tiệm mua thức ăn người ta làm sẵn mang về, ở thành phố này thì có rất nhiều tiệm bán thức ăn Việt, rất tiện.

Chú có hai đứa con, một trai một gái. Đứa con gái lớn vừa lấy chồng, theo chồng sống ở tiểu bang khác. Thằng con trai mới học xong mùa hè vừa rồi, xin được chỗ làm lương cũng khá, nhưng hơi cực, ngày làm mười tiếng lâu lâu phải đi công tác xa cả tuần mới về. Hai cha con chú ăn uống cũng dễ, nhà có gì ăn đó, nếu không thì luộc mì gói cũng xong.

Thằng con chú đi làm bận bịu cả ngày, nó thường ăn ở ngoài, thỉnh thoảng mua đồ ăn đem về cho chú. Từ ngày bà xã thình lình bỏ chú ra đi, chú cảm thấy căn nhà sao mà trống vắng buồn tênh. Chú tìm việc gì làm cho khuây khỏa, chú ra sau vườn nhổ cỏ trồng rau, nếu không thì thả bộ lang thang mấy khu mua bán của người Việt, nghe người ta nói tiếng Việt lao xao cũng thấy đỡ buồn.

Sáng nay thứ Tư, nhớ lời người đàn bà chú gặp tuần trước, thứ Tư người ta thay dầu mới, chú đến chợ mua cá rô phi chiên dòn. Chú định bụng nếu gặp người đàn bà đó, chú sẽ nhờ chị ta chỉ cách pha nước mắm tỏi ớt.

Đến nơi, có lẽ còn hơi sớm, chợ ít người, hàng bán cá chẳng thấy ai mua, chú không phải chờ lâu xách hai con cá vừa chiên xong nóng hôi hổi ra về. Ra cửa chú thấy người đàn bà đó đang đứng chờ người nhà đến đón, chú xáp lại nói chuyện.

– Dễ lắm, anh rót nước mắm sống vô chén, pha chút nước lạnh, bỏ đường, nặn chanh, cho vô ớt bằm, tỏi bằm. Nếm vừa ăn là được, tùy người thích ăn ngọt thì thêm chút đường.

– Pha nước mắm mà nhiều công đoạn quá vậy?

Chị cười xoà. “Bả đâu?”

– Bả bỏ đi hai năm rồi.

Chị im lặng mím môi, chắc là chị nghĩ ông này bị vợ bỏ. Chú Năm không buồn đính chánh câu nói lấp lửng của mình.

– Cô chờ người đến đón?

– Dạ, chờ thằng cháu.

– Có phải cô tên Sáu? Hôm trước tôi nghe người nhà cô kêu chị Sáu.

– Tôi tên Nguyệt, thứ sáu nên người trong nhà kêu theo thứ chớ không kêu tên.

– Tôi cũng vậy, tôi tên Minh nhưng người quen đều kêu theo thứ, nhiều người tưởng tôi tên Năm.

– Anh đã nghỉ hưu?

Chú Năm cười xoà chỉ mái tóc của mình, tóc bạc hết cô không thấy sao, vài tháng nữa là bảy chục rồi.

– Thấy anh cũng còn trẻ, về Việt Nam người ta tưởng chừng sáu chục. Chú Năm cười hề hề, lúc này xuống dốc thấy mau già chớ lúc trước tôi trông trẻ lắm, ai thấy cũng khen.

– Cô chắc còn đi làm?

– Dạ, tôi còn trẻ mà, anh thấy tôi chừng bao nhiêu tuổi? – Sáu chục. – Sáu mươi hai rồi đó.

– Chắc cô mới qua?

– Dạ cũng được ba năm rồi, lúc tôi qua má tôi yếu nhiều, bệnh già thôi, tôi qua kịp lúc săn sóc bà già trong những ngày cuối đời của bà. Chớ lúc trước bà ở nhà lủi thủi một mình tội lắm, ai cũng đi làm. Má tôi chết hơn sáu tháng rồi, nhiều người quen thấy tôi săn sóc người già tốt, họ kêu tôi giúp. Tôi hiện đi làm hai chỗ, tôi có bằng lái xe nhưng còn hơi nhát không dám lái, đi đâu cũng nhờ đưa đón nhiều lúc cũng bất tiện.

Chị cười hì hì… Thằng cháu chị đến đón, chú Năm trở vô chợ mua ớt, tỏi, đường, nước mắm, nhà chú lâu nay chẳng ai nấu nướng nên trong bếp trống lỏng chẳng có gì. Tự nhiên chú thấy vui vui yêu đời, chú tập tành làm bếp.

Sáng thứ tư là chú Năm thấy rộn ràng muốn đi chợ, chú thấy nhớ cô Sáu, chú muốn gặp cô nói ba điều bốn chuyện. Mới gặp nhau sao thấy hạp, nói chuyện hoài không muốn dứt. Hình như cô không có chồng, cái kiểu cô nói chuyện có thể đoán cô là người có một mình ên.

Đến nơi chú Năm đến hàng bán cá trước, không thấy “người ta” chú đi lòng vòng gian hàng bán đồ khô, nhưng chú không mua thứ gì rồi bước qua khu bán rau cải. Chú mua mấy trái dưa leo cùng một bó rau muống. Rau muống luộc thì chú biết cách làm không cần ai chỉ.

Đảo quanh mấy vòng cũng không thấy “người ta”, chú đến quầy trả tiền rồi bước ra.

Hôm nay chú không mua cá, thằng con chú không thích ăn cá, hồi nhỏ nó ăn cá he mắc xương giờ thấy cá nó sợ. Chú vô tiệm bán thức ăn làm sẵn gần bên mua một phần canh chua tôm và một phần thịt sườn ram mang về.

Chú Năm chợt thấy “người ta” bước vô chợ, chú đã đề máy xe nhưng lưỡng lự chưa muốn đi, chú tắt máy xe bước vô chợ. Chú đi qua hàng đồ khô mua lung tung, đến hàng rau cải mua lung tung mặc dầu không biết mua về để làm gì.

“Người ta” gặp chú mừng rỡ vui ra mặt, chú thì mừng trong bụng kiếm chuyện đi theo “người ta” hỏi nầy hỏi nọ hỏi kia. Chú nói hồi nãy chú qua tiệm “Food Togo” mua thịt sườn ram, thằng con tôi rất thích ăn món này.

Cô Sáu nói dễ làm lắm để tôi chỉ anh làm. Chú Năm liền mua mấy pound thịt sườn non, “để tôi làm thử, làm không xong hôm nào cô đến nhà tôi chỉ tôi làm nhe”.

Bước ra ngoài cô Sáu nói anh về trước, hôm nay tôi đi xe bus, không ai đưa đón.

– Nếu cô không ngại để tôi đưa cô về, nhà cô ở đâu?

Cô Sáu nhìn người đàn ông mới vừa quen, “thấy” ông ta có vẻ là người đàng hoàng tử tế.

– Tôi thì không ngại, chỉ sợ vợ ông ghen.

– Vợ tôi không ghen, nhưng con nhỏ con gái tôi ưa “ghen” dùm cho má nó. Tôi mà quen bà nào, nó theo dòm ngó, nhưng bữa nay nó có chồng đi ở xa rồi, mà giờ chắc lo giữ chồng không còn lo giữ ông già nữa.

Cô Sáu cười khúc khích đi theo chú Năm ra xe. Lúc đến ngã tư đèn đỏ, chú Năm chỉ căn nhà mái ngói đỏ xéo bên kia đường, “nhà có cây chanh phía trước là nhà tôi đó”.

Cô Sáu nói ở đây chanh sai trái thấy ham, giờ thấy cây chanh mới nhớ hồi nãy quên mua. Chú Năm nghe vậy quay đầu xe lại, nói vậy vô nhà tôi hái về ăn, khỏi mua.

Cô Sáu nhìn căn nhà to lớn nghĩ bụng vậy mà ở có hai cha con. Nhà em mình chút xíu ở bảy tám người lớn. Hái chanh xong chú Năm mời cô vô nhà chơi cho biết.

Cô Sáu sẵn dịp chỉ chú Năm làm món sườn ram. Hai người vô bếp, cô Sáu để chú tự làm, cô đứng gần bên chỉ cách. Làm xong chú hâm cơm nguội mời cô sẵn dịp dùng bữa. Cô Sáu tự nhiên không khách sáo, hai người tâm đắc như là quen nhau từ thuở nào.

Trong phòng ăn có treo tấm hình gia đình chụp hai vợ chồng cùng hai đứa con. Cô Sáu khen vợ anh đẹp quá. Chú Năm buồn bã nói vậy mà bả đành đoạn bỏ tôi đi. Chú chỉ về phía bàn thờ gần đó, bả ngồi đó hai năm rồi, phát bịnh có sáu tháng thì mất.

Lúc đưa cô Sáu về chú Năm hỏi xin số phone, để khi nấu nướng có cần gì gọi nhờ cô chỉ, hoặc là đi chợ chú qua nhà chở cô đi chung để cô “cố vấn” chú mua thứ gì, nấu món gì vừa nhanh vừa dễ nấu.

Mỗi cuối tuần cô Sáu hay đi chợ trời, cô rủ chú Năm đi theo chơi cho biết. Cô thích vô đó mua trái cây và rau cải, vừa ngon lại vừa rẻ.

Chú Năm đi theo coi người ta mua bán đồ cũ thấy cũng vui. Cô Sáu là người dưới quê miền Tây, hồi nào tới giờ không có chồng sống với cha mẹ anh em. Cô mới vừa qua Mỹ, ở vào cái tuổi người ta chuẩn bị nghỉ hưu thì mình mọi việc chỉ ở mức khởi đầu. Nhưng cô không buồn, bằng lòng với cái “trời đã định” cho mình.

Chú Năm goá vợ, mấy năm nay chú thình lình bị rơi vào một cơn hụt hẫng buồn hiu. Nhiều lúc ở nhà một mình chú chợt thèm có ai đó đi ra đi vào lảng vảng gần bên. Đi đó đi đây với người đàn bà vừa quen, chị này có gì cũng nói chú nghe, về nhà thấy nhớ thấy trống trãi chỉ mong tới lúc được gặp.

Chú Năm tập cô Sáu lái xe cho quen đường và không còn sợ. Mỗi ngày chú đến nhà cô đậu xe bên lề đường, vô ngồi trong xe của cô. Khi cô lái, có người ngồi kề bên cô thấy tự tin hơn và không sợ.

Chừng một tuần thì cô tự lái đi một mình, cô cám ơn chú Năm rối rít. Rồi thì qua lại tới lui, mỗi khi đi chợ cô gọi chú Năm. Một tuần cô đi chợ ba lần, chợ trời mua rau cải trái cây, chợ thực phẩm Á Đông và Costco mua đồ linh tinh xài trong nhà.

Chú Năm nhiều thì giờ rãnh rỗi, tình nguyện đưa đón cô đi đây đi đó chớ ở nhà một mình buồn thúi ruột. Cô Sáu trả công đến nhà chú tập chú nấu nướng, cô vui mà chú cũng vui, nấu xong hai người ngồi ăn như hai vợ chồng.

Thằng con chú Năm thỉnh thoảng gặp ba nó dẫn đàn bà về nhà, nó nói với chị nó cở này ba có bồ.

Có lần cô Sáu kể chú Năm nghe, hồi lúc cô còn ở Việt Nam, lúc gần đi Mỹ có xuống Bạc Liêu chỗ ông cha Diệp cầu nguyện.

– Em cầu nguyện điều gì? (lúc này hai người xưng anh em).

Cô Sáu cười không nói nhưng cô kể:

– Bận về ghé vô chợ Cần Thơ nghỉ ăn trưa. Em đi vô chợ tính kiếm mua một ít trái cây, có một ông già ngồi coi bói, em đi ngang ổng nói cô ơi coi bói không cô, tôi thấy đường hậu vận cô tốt lắm. Em đi vô quán ăn suy nghĩ thấy ông tội nghiệp, trở ra cho ông một ít tiền. Ông cầm tay em nói cuối đời em sẽ gặp người tốt thương yêu lo cho em, em sẽ không còn cô đơn cô độc một thân một mình nữa.

– Em có tin không?

Cô Sáu nhìn xa xăm đôi mắt mơ màng. – Từng tuổi này mình đâu có mong gì nữa, nhưng chuyện tình cảm nhiều khi tránh cũng không được.

Chú Năm trằn trọc không ngủ được, cứ nhớ đến lời cô Sáu nói ban chiều. Thấy thương cô quá! Nhiều lúc thấy tội nghiệp. Nhưng chú chưa bao giờ nghĩ mình sẽ bước thêm bước nữa.

Cuộc đời giờ chỉ lấy niềm vui bên con cháu. Thằng con trai chú hơi khó tánh, trong nhà nó giữ ngăn nắp sạch sẽ. Nó là thằng con ngoan thương cha thương mẹ.

Chú Năm hơi ngán nó, không hiểu sao chú cứ ngài ngại nó không đồng ý chú đi thêm bước nữa. Chú không dám dẫn cô Sáu về khi nào có nó ở nhà. Hồi còn trẻ đi chơi với bồ sợ cha mẹ la, giờ bảy chục tuổi không dám dẫn đàn bà về nhà… sợ con la.

Một buổi chiều lúc hai cha con ngồi ăn cơm, chú nói với nó:

– Con cũng biết hồi nào tới giờ ba rất thương cái gia đình này. Má con không may mất sớm, giờ ba chỉ còn hai con, ba cũng đã lớn tuổi không còn sống bao lâu, ba không muốn làm bất cứ điều gì khiến cho gia đình mình không vui, nếu hai con không thích ba sẽ ở vậy cho đến hết cuộc đời còn lại.

Thằng con nghe cha nói như vậy nó ứa nước mắt, tội nghiệp cha nó quá, thương cha nó quá.

– Con và chị con rất thương ba, hồi nhỏ con hay đòi mua cái này cái nọ mà không biết gia đình mình không khá giả gì. Lớn lên con hiểu chuyện thấy ngày đó mình thật là có lỗi.

Giờ ba đã già, con không muốn đòi hỏi ở ba điều gì cả. Từ lúc má chết, đôi lúc thấy ba cô đơn buồn bả con thương ba lắm mà không biết làm sao.

Giờ nếu ba gặp được người nào vừa ý, con và chị con rất mừng, chúng con mong ba luôn vui và hạnh phúc trong những ngày cuối đời.

Thằng con trai khóc, ba nó cũng khóc.

Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku – Phạm Tín An Ninh  

Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku

Phạm Tín An Ninh

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10 1972, đơn vị tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng gió mưa lầy lội. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên trong chốc lát đã là một điều không dễ. Bọn tôi thèm những cơn say. Rất may, tôi có một anh bạn, phải nói là ông anh mới đúng, là Liên Đoàn Trưởng của một Liên Đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu. Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượu trong một cái quán nằm trong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Hennessy. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếng trong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn. Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhà trong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh. Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi. Hằng tháng, anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quí anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi. Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượng trong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp tùi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như đại úy suýt chết trong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà. Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi: – Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hãi hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác. ***

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết…

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng. Trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi. Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghi anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:

– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ QuanThủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo lại là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhất trong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lại trong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả Nhà Thờ Núi Nha Trang bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Là một cô con gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ. Cô có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt còn có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.

Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng. Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhau trong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ. Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của cô trong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhất trong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nẩy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm mầu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận, Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quân trong các làng mạc nằm khu ngoại ô, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.

Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số. Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cố trong các vườn cà phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mình trong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.

Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù. Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi. Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm. Ban đêm, chúng tôi nằm trong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng. Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạm trong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt. Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứ trong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên Úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên Úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.

Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡ trong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằm trong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước. Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thầy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

– Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo – Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.

– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của Cộng sản phương Bắc, ồ ạt đưa đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11.3.75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc Lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặc.

Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc. Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển, trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng. Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sửng sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15.3.1975. Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng, trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai. Khi rời khỏi nơi này, trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

-Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng” nào. Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng “gió lạnh mưa mùa”, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượu trong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lại trong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em. Tôi da diết nhớ đơn vị xưa, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.

Phạm Tín An Ninh

KHẨU TRANG TRUNG QUỐC CHỨA CHẤT ĐỘC …

ĐÂY LÀ NHỮNG THÔNG TIN ĐỘC HẠI CỦA NHÓM PHÁP LUÂN CÔNG ĐÃ CỘNG TÁC VỚI NHÀ CẦM QUYỀN VC PHAO TRUYỀN NHỮNG TIN THẤT THIỆT NHẰM LÀM HOANG MANG DU LUẬN QUẦN CHÚNG, KHÔNG CÓ LỢI CHO VIỆC NGĂN CHẶN ĐẠI DỊCH

KỂ TỪ ĐẦU ĐẠI DỊCH THÁNG 3/2020 CÁC CƠ QUAN TRUYỀN THÔNG TRỰC THUỘC PHÁP LUÂN CÔNG NHƯ ĐẠI KỶ NGUYÊN, EPOCH, NTDVN, TRITHUCVN v.v…. ĐÃ KHÔNG NGỪNG TUNG NHỮNG NGUỒN TIN THẤT THIỆT, NHẤT LÀ CÁC TIN LIÊN QUAN ĐẾN TỒNG THỐNG DONALD TRUMP VÀ CHÍNH TRỊ HOA KỲ.

TỪ NHỮNG NGUỒN TIN BỊA ĐẶT NÀY VỚI NHỮNG THUYẾT ÂM MƯU” ĐÃ ĐƯA ĐẾN SỰ CHIA RẼ TRẦM TRỌNG KHÔNG CHỈ TRONG CHÍNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI MÀ CÒN CHO CHÍNH NGƯỜI VIỆT TRONG NƯỚC. KHIẾN NỘI LỰC ĐẤU TRANH ĐÃ YẾU NAY LẠI CÀNG KIỆT QUỆ THÊM….

XIN BÀ CON NÊN TỈNH TRÍ ĐỂ KIỂM CHỨNG CHẮC CHẮN TRƯỚC KHI TIN VÀO NHỮNG BÀI VIẾT NÀY. NÓ CŨNG GIỐNG NHƯ CÁC MÓN ĂN KHOÁI KHẨU, NHƯNG KHÔNG PHẢI CỨ KHOÁI KHẨU LÀ CỨ NUỐT MÀ KHÔNG CẦN BIẾT CÓ CÁI GÌ TRONG ĐẤY. TÁC HẠI CỦA NÓ CÒN NGUY HIỂM HƠN LÀ CHẤT ĐỘC TRONG MÓN ĂN. BỞI NÓ CHỈ GIẾT 1 CÁ NHÂN, NHƯNG MỘT NGUỒN TIN CÓ THỂ GIẾT CẢ MỘT TẬP THỀ ĐÓ CÁC BẠN….

SỞ DĨ TÔI ĐĂNG NHỮNG LỜI PHẢN BIỆN NÀY VÌ TÔI TIN CHÍNH PHỦ CANADA, CHÍNH PHỦ MỸ HAY ÂU CHÂU KHÔNG NGU DẠI HƠN CHÚNG TA MÀ ĐI TIN MỘT QUỐC GIA KHÁC, NHẤT LÀ ĐÓ LẠI LÀ CHINA….

May be an image of text that says '@a Auu" αηυμ Phát hiện trong khẩu trang màu xanh dùng 1 lần của Trung Quố‘c có chứa CHẤT ĐỘC HẠI TÀN PHÁ PHỔ”I'

KHẨU TRANG TRUNG QUỐC CHỨA CHẤT ĐỘC …

Bộ Y tế Canada vừa đưa ra cảnh báo về khẩu trang dùng một lần màu xanh và màu xám của Trung Quốc có chứa chất độc hại Graphene, giống như chất Amiăng liên quan đến nhiễm độc phổi hay còn gọi là bệnh Bụi phổi. Amiăng là nguyên nhân của 80% các trường hợp bị ung thư trung biểu mô ác tính ở người.

Khẩu trang Trung Quốc có chứa chất độc hại Khẩu trang SNN200642 được sản xuất tại Trung Quốc và được bán, phân phối bởi công ty Métallifer có trụ sở tại Quebec (Canada). Tuy nhiên, trong quá trình kiểm định chất lượng, Bộ Y tế Canada đã phát hiện ra rằng khẩu trang dùng một lần có màu xanh quen thuộc xuất xứ từ Trung Quốc có chứa các hạt graphene cực nhỏ, và khi hít phải graphene, có thể gây tổn thương phổi nghiêm trọng.

Theo CBC News: “Graphene là một vật liệu rất mỏng, bền được sử dụng trong chế tạo, nhưng nó có thể gây hại cho phổi khi hít phải và có thể gây ra các vấn đề sức khỏe lâu dài” .

Trong cách mạng công nghệ, Graphene luôn được xem như một loại vật liệu thần kỳ. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy graphene có sức tàn phá tế bào phổi ghê gớm.

Một nhóm các nhà sinh học, kỹ sư và khoa học vật liệu tại Đại học Brown đã thử nghiệm độc tính tiềm năng của graphene trên tế bào của người. Những gì họ phát hiện là các cạnh lởm chởm của hạt nano graphene siêu sắc và siêu cứng có thể dễ dàng đâm xuyên qua màng tế bào trong phổi người, da và tế bào miễn dịch.

Robert Hurt – Giáo sư kỹ thuật sinh học và là một trong những tác giả nghiên cứu cho biết: “Các vật liệu này có thể bị hít vào cơ thể vô ý hoặc chúng có thể được tiêm hay cấy ghép vào cơ thể dưới dạng các thành phần của công nghệ y sinh. Do đó, chúng tôi muốn hiểu rõ hơn về cách chúng tương tác với tế bào một khi đã vào bên trong cơ thể người”.

Từ lâu, các chuyên gia y tế đã hoài nghi về những chiếc khẩu trang “made in China” khiến trẻ em khi đeo cảm thấy như thể đang hít phải lông mèo. Trong một thông báo gửi tới các bộ Giáo dục, Gia đình và Giáo dục đại học của Canada, chính quyền tỉnh Quebec cảnh báo:

“Nếu quý vị còn loại khẩu trang này trong kho, chúng tôi yêu cầu ngừng phân phối và cất giữ chúng ở nơi an toàn ngay lập tức”.

Khẩu trang Trung Quốc không an toàn và không hiệu quả

Thực tế khẩu trang SNN200642 của Trung Quốc đang được cung cấp tại các trường học trên toàn Canada chưa bao giờ được kiểm tra nghiêm túc về mức độ an toàn hoặc tính hiệu quả của chúng. Patrick Baillargeon, người quản lý thu mua đồ dùng trong phòng thí nghiệm của tỉnh Quebec cho biết, những chiếc khẩu trang này không nên được sử dụng.

Ông nói thêm, những rủi ro liên quan đến việc hít phải các hạt graphene gây tổn hại sức khỏe là không thể chấp nhận được, và người Canada cũng như người dân các quốc gia khác cần ngay lập tức ngừng sử dụng khẩu trang Trung Quốc này.

Nguồn: NTD Việt Nam

Trung Quốc lớn mạnh, nền dân chủ ở Đông Nam Á đang chết dần

 Trung Quốc lớn mạnh, nền dân chủ ở Đông Nam Á đang chết dần

Phan Trọng Hoà

Chỉ 5 năm trước, nhiều người lạc quan rằng Đông Nam Á cuối cùng đã đạt được bước ngoặt trên con đường đi tới dân chủ. Vào thời điểm đó, quân đội Myanmar cuối cùng đã nới lỏng quyền lực kéo dài hàng thập kỷ của mình khi đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của bà Aung San Suu Kyi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2015.

Ba năm sau, đảng đối lập của Malaysia đã loại bỏ quyền lực của đảng Mặt trận Dân tộc (BN), liên minh chính trị cầm quyền lâu năm, đánh dấu sự thay đổi chế độ đầu tiên ở Malaysia kể từ khi độc lập năm 1957. Đây là những thay đổi chính trị mang tính địa chấn. Quan trọng hơn, cả hai lần thay đổi quyền lực đều diễn ra sau các cuộc bầu cử tự do, mặc dù không hoàn toàn công bằng nhưng không có đổ máu.

Thụt lùi dân chủ từ Manila đến Naypyidaw

Ngày hôm nay, sự lạc quan đó đã không còn nữa. Thế giới đã đổ dồn chú ý vào sự sụp đổ của Myanmar sau cuộc đảo chính quân sự hồi đầu tháng 2/2021, dẫn đến các cuộc bạo loạn gây thương vong và mất tích. Tuy nhiên, không chỉ ở Myanmar, tiến trình dân chủ đã có những bước thụt lùi trên khắp khu vực.

Ở Thái Lan, chúng ta đang chứng kiến sự quay trở lại chế độ quân chủ-quân sự với vị vua mới, Maha Vajiralongkorn, người đã yêu cầu thay đổi hiến pháp để giành thêm quyền hành pháp cho chính nhà vua và kiểm soát trực tiếp Cục Quản lý Tài sản Hoàng gia. Hiện ông đã trở thành một trong những quốc vương giàu nhất thế giới với khối tài sản ước tính khoảng 60-70 tỷ USD.

Các vụ đàn áp theo luật “lese-majeste” khét tiếng của Thái Lan (còn được gọi là luật về tội khi quân) ngày càng gia tăng. Luật này thường nhắm tới những người viết bài đăng trên mạng xã hội có nội dung chống chế độ quân chủ. Năm 2020, chính phủ Thái Lan đã khởi kiện Facebook và Twitter vì phớt lờ yêu cầu xóa nội dung bị coi là vi phạm pháp luật. Đáng lo ngại hơn, một số nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng của Thái Lan cũng đã chết một cách bí ẩn ở các nước láng giềng.

Tại Philippines, ông Rodrigo Duterte lên nắm quyền Tổng thống vào tháng 6/2016 và phát động một chiến dịch trấn áp tội phạm ma túy khiến khoảng 12.000 người nước này thiệt mạng. Ông Duterte cũng đã chỉ trích các phương tiện truyền thông đưa tin về các vụ xét xử tội phạm ma túy này. Trong đó, một nhân vật “có tiếng” chỉ trích chính phủ Philippines đã bị kết tội phỉ báng vào năm 2020. Mạng truyền hình lớn nhất của đất nước, ABS-CBN, cũng đã bị đình chỉ hoạt động dưới áp lực của các đồng minh của ông Duterte trong quốc hội.

Sự lạc quan về “Mùa Xuân Malaysia” đã hoàn toàn biến mất. Hồi năm 2020, chính phủ Pakatan Harapan theo chủ nghĩa cải cách sụp đổ và một liên minh Hồi giáo-Mã Lai mới lên nắm quyền. Với xã hội đa sắc tộc và đa tôn giáo ở Malaysia, việc thành lập Đảng PN không phải là một dấu hiệu tích cực cho nền dân chủ.

Sau đó, hồi tháng 2 vừa qua, chính phủ Malaysia đã ban bố tình trạng khẩn cấp và ngừng họp quốc hội trong 6 tháng. Nhiều ý kiến cho rằng động thái này nhằm ngăn cản phe đối lập thách thức chính phủ mới.

Singapore, quốc gia giàu có nhất trong khu vực, vẫn nằm trong sự kìm kẹp của Đảng Hành động Nhân dân (PAP), đảng vừa chiến thắng trong cuộc bầu cử hồi năm 2020. PAP đã liên tục nắm quyền kể từ năm 1959.

Điểm sáng duy nhất trong khu vực xuất hiện là Indonesia. Thế nhưng, những đám mây đen đã xuất hiện ở phía chân trời. Tổng thống Joko Widodo (Jokowi) dường như đang quay lưng lại với các cải cách và “nương tay” với các phần tử Hồi giáo, những người đang muốn biến Indonesia thành một quốc gia Hồi giáo.

Kể từ sau năm 1975, khi Đảng cộng sản thành công trong việc nắm quyền cai trị đất nước, Việt Nam luôn là nước bị phương Tây đánh giá là đất nước thiếu dân chủ vì toàn bộ các thể chế Nhà nước đều do Đảng cộng sản kiểm soát và chi phối.

Đảng Cộng sản Việt Nam mới tổ chức đại hội lần thứ 13 vào hồi cuối tháng 1 và đầu tháng 2 năm nay. Phải hai tháng sau, nhân sự chủ chốt trong hệ thống chính trị Việt Nam hay còn gọi là “Tứ trụ” thì ngoại trừ chức vụ Tổng Bí thư đã công bố khi kết thúc đại hội, còn lại 3 chức vụ Chủ tịch nước, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội vừa mới được công bố cách đây không lâu, với lý do để Quốc hội họp và bầu ra. Tuy nhiên, các thông tin rò rỉ từ hồi trước Tết Nguyên đán đã cho biết chính xác từng người sẽ giữ các vị trí còn lại. Điều đó cho thấy sự sắp xếp và dàn dựng các màn bỏ phiếu, như diễn một “vở kịch dân chủ” vậy.

Các nhiệm kỳ Tổng thống Mỹ trước Trump đều quan tâm đến vấn đề dân chủ ở Việt Nam, nên Chính phủ Việt Nam cũng e dè trong việc kết tội những người bất đồng chính kiến, tuy nhiên dưới thời Trump làm Tổng thống, Mỹ không đặt nặng vấn đề dân chủ, nên chính quyền Việt Nam đã mạnh tay bắt bớ và kết án tù nặng nề rất nhiều những người bất đồng chính kiến, cho dù họ chỉ nói lên tiếng nói của mình, không có một tấc sắt trong tay để chống lại chính quyền.

Cho dù nhà nước Việt Nam luôn tuyên bố Quốc hội là cơ quan dân cử và là cơ quan quyền lực cao nhất, đồng thời người dân được tự do ứng cử, nhưng trong thực tế thì tất cả đều ngược lại. Quốc hội Việt Nam chỉ được quyền phát biểu về những vấn đề Đảng cho phép, cũng không có cơ chế để Quốc hội có thể cách chức những người vi phạm, mà quyền đó sẽ do các cơ quan Đảng phụ trách. Những người dân nào tự ứng cử mà Đảng không cho phép thì sẽ bị bắt giữ, như trường hợp ông Trần Quốc Khánh, Lê Trọng Hùng mới đây.

Tại sao dân chủ lại mong manh ở Đông Nam Á?

Tất cả những động thái trên đang diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc quyết tâm khẳng định vị thế cường quốc thống trị ở Đông Nam Á.

Bắc Kinh đã gửi một thông điệp rõ ràng rằng họ không thực sự quan tâm đến những chế độ hay hệ thống chính trị nào đang điều hành các nước Đông Nam Á, miễn là các nước này thừa nhận Trung Quốc là cường quốc khu vực không thể tranh cãi và không đặt câu hỏi về chủ quyền của nước này trên Biển Đông. Điều này đã gián tiếp củng cố bàn tay của các lực lượng phản dân chủ trong khu vực, với một số người công khai ngưỡng mộ hệ thống “nhà nước mạnh” của Trung Quốc.

2019-08-06T055224Z_1623793915_RC1BFB2540B0_RTRMADP_3_VIETNAM-CHINA-SOUTHCHINASEA.JPG

Biểu tình phản đối Trung Quốc trước đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội hôm 6/8/2019. Reuters

Trong khi đó, phe ủng hộ dân chủ phải đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan khá nghiêm trọng. Một mặt, những người ủng hộ đã hy vọng có thêm sự giúp đỡ từ phương Tây, chủ yếu là Mỹ và Australia, để thúc đẩy nền dân chủ trong khu vực. Mặt khác, họ lo lắng họ có thể bị cáo buộc là điệp viên phương Tây, khiến người dân rơi vào tay những kẻ chuyên quyền ủng hộ chủ nghĩa dân tộc dân túy.

Một thách thức khác là sự đa dạng của Đông Nam Á. Không có một khuôn mẫu hay mô hình lịch sử duy nhất nào cho một hệ thống chính trị ổn định và dân chủ trong khu vực. Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á là thuộc địa của các cường quốc châu Âu, những nước đã áp đặt các ý tưởng chính trị khác nhau của họ lên các xã hội mà họ kiểm soát. Một điều mà các nhà cai trị thuộc địa đã không làm là thúc đẩy dân chủ. Họ chỉ làm điều này sau khi các thuộc địa cũ của họ giành được độc lập.

Theo tiêu chuẩn toàn cầu, nhiều quốc gia ở Đông Nam Á còn tương đối trẻ. Hầu hết các nước hình thành sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Ranh giới và hệ thống chính trị của các quốc gia này phần lớn được quyết định bởi những ông chủ thuộc địa. Điều này có nghĩa là quá trình xây dựng quốc gia vẫn đang diễn ra và phương Tây không nên giả định rằng các quốc gia này tự nhiên sẽ hướng tới xây dựng các nền dân chủ tự do.

Ở nhiều nước Đông Nam Á này, quyền lực truyền thống, thường là chuyên quyền, phong kiến và chuyên chế, vẫn rất mạnh. Trên thực tế, nhiều tầng lớp tinh hoa ở các nước này có thái độ khác nhau đối với nền dân chủ tự do. Mặc dù họ chấp nhận khái niệm bầu cử phổ thông để chọn các nhà lãnh đạo chính trị, song họ cũng tin vào khái niệm “lãnh đạo được định hướng” (guided leadership) để bầu ra nhà lãnh đạo “đúng đắn”.

Ví dụ, Sukarno, nhà lãnh đạo đầu tiên của Indonesia sau khi giành được độc lập, nổi tiếng vì thực hành một “nền dân chủ có định hướng”, trong đó, chính phủ cần phải có sự đồng thuận chính trị và đảm bảo tận dụng các cuộc bầu cử để hợp pháp hóa các nhà lãnh đạo do chế độ lựa chọn.

Đây là lý do tại sao gian lận, mua phiếu bầu và gian lận thùng phiếu là những đặc điểm phổ biến trong các cuộc bầu cử Đông Nam Á. Đây là những cuộc bầu cử mà đôi khi được biện minh là cách thức để có được nhà lãnh đạo “phù hợp”.

Không có câu trả lời dễ dàng nào cho việc thúc đẩy nền dân chủ thực sự ở Đông Nam Á. Đơn giản là chúng ta có thể phải đợi một sự thay đổi thế hệ trước khi điều này bén rễ trong khu vực. Những người trẻ tuổi khao khát dân chủ thực sự, nhưng hiện tại, họ không là lực lượng then chốt trong quân đội hoặc không có quyền hành trong quốc hội.

– Hình minh hoạ. Những người biểu tình phản đối đảo chính ở Myanmar cầm cờ Trung Quốc chuẩn bị đốt ở Yangon hôm 5/4/2021

Reuters

– Biểu tình phản đối Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte ở Manila hôm 4/4/2020. Reuters

– Biểu tình phản đối Trung Quốc trước đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội hôm 6/8/2019. Reuters

TRÒ HỀ BẦU CỬ Ở VIỆT NAM.

TRÒ HỀ BẦU CỬ Ở VIỆT NAM.

Cứ 5 năm một lần đảng CSVN lại cho tái diễn cái trò hề bầu cử. Sau đó không lẻ tự mình khen mình, truyền thông đảng lại cho chạy những bài báo đại loại như “Truyền thông nước ngoài đánh giá cao ban lãnh đạo mới của Việt Nam” để mị dân.

Chúng đã đánh tráo khái niệm “lãnh đạo”.

Lãnh đạo là gì? Là những người được dân bầu, dân chọn từ nhiều ứng cử viên trong dân thông qua một cuộc tổng tuyển cử có sự giám sát quốc tế, toàn dân và các đảng đối lập. Đó là kết quả của một quá trình tranh cử mà ứng viên phải đưa ra được các chính sách thuyết phục cử tri, đánh bại chính sách của đối thủ qua các vận động,quảng cáo,tranh luận trên truyền hình.Đó là kết quả của một cuộc kiểm phiếu công khai có camera giám sát và toàn dân phải được xem một cách trực tiếp lá phiếu của họ có tác động đến việc tạo ra một chính quyền mới hay không?

Khi không có những yếu tố này, thành viên mà bộ máy độc đảng áp đặt chỉ là những kẻ cai trị.

Nếu là các nước dân chủ thật sự, các chính trị gia sẽ phân biệt được giữa lãnh đạo và cai trị. Bảo rằng truyền thông thế giới đánh giá cao bọn cai trị Việt Nam là sự phỉ báng vào tri thức của họ. Chẳng lẻ họ chẳng hề biết ở Việt Nam dân không bầu mà có thể gọi tứ trụ là lãnh đạo? Họ chỉ buộc phải nhận món ăn mà họ không muốn nuốt vì áp lực của nhà tù, cái còng và khẩu súng.

Chính vì sợ hãi quyền lực nên họ phải chấp nhận những kẻ họ không bầu nhưng vẫn ngang nhiên ngồi trên đầu họ, ra những đạo luật những chính sách có thể ảnh hưởng đến an nguy đến tính mạng họ và con cháu họ.

Suy cho cùng thì mọi chế độ độc đảng đều làm như thế chứ không chỉ CSVN. Nhưng tại sao có quốc gia có bầu cử dân chủ có quốc gia không?

Bởi vì có quốc gia có những trí thức chân chính có quốc gia trí thức chỉ là những cục phân. .Có quốc gia trí thức có thể thể viết nên những bản hiến pháp để đời cho dân tộc và nhân loại, có thể dẫn dắt nhân dân làm cách mạng dân chủ có quốc gia trí thức chỉ chuyên chỏ mồm, hóng mỏ sang phá hoại nền dân chủ của nước khác, bỏ mặc nền chính trị nước mình cho bọn độc tài thao túng.

Những kẻ cai trị sẽ không bao giờ cho bạn cái quyền quyết định chiếc ghế quyền lực của chúng. Ban phải dùng trí thông minh,sự hy sinh và lòng dũng cảm của mình, vượt qua sự tàn bạo của chúng để giành lấy quyền cai trị lại chúng.

Truyền thông nước ngoài đánh giá cao ban lãnh đạo mới của Việt Nam

VIETNAMNET.VN

Truyền thông nước ngoài đánh giá cao ban lãnh đạo mới của Việt Nam

Một loạt hãng thông tấn lớn trên thế giới, ngày 5/4, đã đưa tin về cuộc chuyển giao lãnh đạo mới ở Việt Nam, đánh giá cao những thành tích mà họ đạt được, đặc biệt là trong thời kỳ dịch Covid-19.

CON NGƯỜI BẤT TOÀN BẤT TRUNG SAO CHÚA YÊU CHÚNG CON LÀM CHI?

CON NGƯỜI BẤT TOÀN BẤT TRUNG SAO CHÚA YÊU CHÚNG CON LÀM CHI?

Tuyết Mai

Lạy Chúa Giêsu, Đấng từ bi nhân hậu! Tình yêu của Ngài trao ban cho toàn thế giới con người thật là bao la diệu vợi; yêu đến nỗi chết trên Thập Giá vì tội lỗi ngập ngụa của chúng con. Trái tim của Ngài to lớn có thể ôm cả vũ trụ vào lòng. Sao Chúa yêu nhân loại tội lỗi chúng con làm chi trong khi chúng con là những thành phần tội đồ bất xứng trước tôn nhan Chúa và tình yêu của Người?.

**

Chúng con đã cố tình chối bỏ tình yêu rất nhưng không của Thiên Chúa trao ban mà đi theo những cám dỗ, những đam mê gọi mời, cùng những thứ có thể giết chết dần mòn cả thân xác và linh hồn thật quý giá … mà Thiên Chúa đã nâng niu, nhào nắn, tác thành và thổi hơi ban cho chúng con có được sự sống thật tốt lành sung mãn – như từng tác phẩm trinh nguyên (original) được họa nên do bàn tay vô cùng quyền năng của Thiên Chúa; nên mỗi tác phẩm đều hoàn toàn khác nhau.

**

Ôi lạy Chúa Giêsu, Ngài đã chứng minh cho toàn nhân loại thấy và cảm nhận được tình yêu cao cả và vô biên của Ngài nên chúng con thấy mình luôn là vô dụng, bất phục tùng và bất trung!. Vì lề luật của Chúa thì quá khắt khe, quá bó buộc và không thể làm giàu cho được. Nên lẽ đương nhiên là chúng con phải chọn, tìm cho được con đường mang lại cho chúng con những cuộc sống ảo với những hào nhoáng bề ngoài, những xưng hô giả dối và những tòa nhà nhiều tầng (kín cổng cao tường).

Sau cùng là cố gắng tìm cho được danh vọng thì có chết chúng con cũng mãn nguyện Chúa ơi!. Còn chuyện lên Trời hay xuống Hỏa Ngục thiết nghĩ chúng con không có thời giờ để nghĩ tới hay cảm thấy không cần thiết để nghĩ tới bây giờ!?.

**

Chúa ơi, nào chúng con quyết tâm để trở về cùng Chúa khi tội lỗi của chúng con cứ phạm đi rồi phạm lại nên tội lỗi ngày càng chồng chất mà ý nghĩ bỏ tội thì hầu như chúng con không muốn; nhất là chúng con đã bị nghiện rồi thì không thể bỏ được …

Do đó, chúng con không ăn năn, sám hối hay quyết tâm để chừa tội thì quả thật linh hồn của chúng con giống như sợi chỉ treo mành nếu ngày hôm nay chúng con bị chết bất đắc kỳ tử … Thì linh hồn của chúng con chỉ còn nhờ vào tình yêu của Đức Mẹ Maria (nếu hằng ngày có thói quen đọc cho Mẹ 1 kinh Kính Mừng – cùng nhờ vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mà thôi).

**

Tội nghiệp Chúa của chúng con quá Chúa ơi, vì Người quá hiền từ. Chúa buồn lắm phải không vì Nhà Cha ở trên Trời còn rất nhiều chỗ ở. Một Nơi mà hạnh phúc sẽ là muôn đời, nhưng chúng con cố tình làm ngơ như không muốn biết và không muốn tới đó.

**

Xin Thiên Chúa trợ giúp chúng con, ban cho chúng con áo giáp để phòng thân, để mọi sự dữ ở thật xa chúng con …. Giúp chúng con sớm nhận biết là con đường trở về Nhà Cha là vác Thập Giá đời mình bằng cách chu toàn trách nhiệm và bổn phận – trên bản thân, trên gia đình và trên anh chị em nghèo khổ luôn sống đầy dẫy ở chung quanh chúng con. Amen.

Y tá con của Chúa,

Tuyết Mai

6 tháng 4, 2021

***

Xin bấm vào mã số dưới đây để cùng hát:

https://www.youtube.com/watch?v=Cip7CRsmHOI

(Lời Nguyện Cầu)

TÌM PHỤC SINH Ở ĐÂU

TÌM PHỤC SINH Ở ĐÂU

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Có những điều cần đến sự đóng đinh nhục hình. Tất cả mọi sự tốt đẹp, đến tận cùng đều bị đem ra thí tội và bị đóng đinh. Như thế nào? Bởi quy luật này, một quy luật lạ lùng ngược đời bẩm tại trong đời sống con người luôn có một ai đó hay một sự gì đó không thể ở yên, nhưng vì những lý lẽ của bản thân nó, phải đi truy lùng và tấn công những sự thiện tốt lành. Những gì tốt lành, những gì từ Thiên Chúa mà ra, luôn có lúc bị hiểu lầm, bị ganh tị, thù ghét, truy đuổi, buộc tội, và cuối cùng là treo lên thập giá. Mọi phần thân thể Chúa Kitô chắc chắn chịu cùng số phận như Ngài: chịu chết vì bị hiểu lầm, vì sự ngu dốt và ghen tỵ.

Nhưng còn có một mặt khác: Cuối cùng Phục Sinh luôn chiến thắng nhục hình. Những gì tốt lành chiến thắng. Do đó, dù Thiên Chúa không trốn tránh nhục hình, nhưng thân xác Chúa Kitô không ở trong mồ quá lâu. Thiên Chúa luôn lăn tảng đá mồ ra, và đủ sớm để cho sự sống mới trỗi dậy, qua đó chúng ta thấy được vì sao đời sống bình thường của mình phải chịu nhục hình. (Không phải là Chúa Kitô phải chịu đau khổ và phải chết hay sao?) Sau nhục hình, chắc chắn là Phục Sinh. Tất cả mọi thân xác chịu nhục hình sẽ trỗi dậy. Hy vọng của chúng ta phát xuất từ đó.

Nhưng là như thế nào? Chúng ta thấy được sự phục sinh này ở đâu? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được phục sinh sau nhục hình?

Kinh thánh rất khéo léo, dù rất rõ ràng, về điều này. Chúng ta nghĩ là có thể cảm nghiệm phục sinh ở đâu? Tin mừng cho chúng ta biết, vào tảng sáng phục sinh, các phụ nữ theo Chúa Giêsu đã lên đường viếng mộ, mang theo dầu thơm để xức xác Ngài. Một ý định tốt nhưng lầm, những gì họ thấy không phải là xác chết, nhưng là ngôi mộ trống, và thiên thần đứng đó hỏi họ: “Tại sao các bà lại tìm người sống giữa cõi chết? Hãy lên đường đến Galilê và các bà sẽ thấy Ngài ở đó!”

Hãy đến Galilê. Tại sao là Galilê? Galilê nào đây? Và làm sao để đến đó?

Trong tin mừng, Galilê không đơn thuần là một địa điểm địa lý, một vị trí trên bản đồ. Mà trên hết, Galilê là một nơi trong lòng người. Cũng thế, Galilê là giấc mơ và con đường môn đệ mà các môn đệ của Chúa Giêsu từng đi với Ngài, và cũng là nơi chốn thời điểm khi lòng họ bừng bừng hy vọng và nhiệt tình. Giờ đây, sau khi Chúa chịu đóng đinh, khi họ thấy giấc mơ của mình đã chết, khi đức tin của họ chỉ còn là ảo tưởng, thì họ lại được bảo hãy đi về nơi tất cả mọi sự khởi đầu: “Hãy đi về Galilê. Ngài sẽ gặp các bạn ở đó!”

Và họ về lại Galilê, cả về mặt địa lý và cả về một nơi đặc biệt trong lòng họ từng một thời cháy bỏng giấc mơ môn đệ Chúa. Và như lời đã hứa, Chúa Giêsu hiện ra với họ. Ngài không giống y hệt như Ngài trước đây, hay như những gì họ muốn, nhưng Ngài hiện ra, Ngài không chỉ là một bóng ma hay một ký ức. Chúa Kitô hiện ra với họ sau phục sinh, theo một phương thức khác, nhưng Ngài đủ hữu hình thể lý để cùng ăn cá với họ, đủ thực để họ chạm đến, và đủ quyền năng để biến đổi cuộc đời họ mãi mãi. Đến tận cùng, đây chính là những gì mà sự phục sinh muốn ở chúng ta: Hãy về lại Galilê, về lại với giấc mơ, với hy vọng và tình môn đệ từng một thời thổi bừng chúng ta, nhưng giờ đã mất đi vì chúng ta vỡ mộng.

Điều này cũng tương đồng với câu chuyện trên đường Êmau, khi hai môn đệ với gương mặt buồn bã u ám rời Giêrusalem. Và từ câu chuyện này chúng ta có thể rút ra một linh đạo trọn vẹn: Theo thánh Luca, Giêrusalem là giấc mơ, là hy vọng và là trung tâm lòng đạo, nơi khởi đầu và cực điểm của mọi sự. Và các môn đệ đang “rời bỏ” nơi này, từ bỏ giấc mơ của mình, hướng về Enmau (một khu nghỉ dưỡng của người La Mã thời đó), hướng về một nơi tiện nghi phàm tục, một Las Vegas hay Monte Carlo. Do giấc mơ của họ đã bị đóng đinh nhục hình, nên cũng dễ hiểu khi các môn đệ nản lòng và rời xa giấc mơ đó, hướng đến một khuây khỏa phàm tục, trong sự tuyệt vọng: “Nhưng chúng ta đã từng hy vọng!”

Họ không bao giờ đến Enmau. Chúa Giêsu hiện ra với họ trên đường, từ sự vỡ mộng Ngài dựng lại hy vọng trong họ, và đưa họ về lại Giêrusalem.

Đây là một trong những thông điệp căn bản nhất của Phục Sinh: Bất kỳ lúc nào chúng ta nản lòng trong đức tin, bất kỳ lúc nào hy vọng dường như bị đóng đinh giết chết, thì chúng ta cần về lại Galilêvà Giêrusalem, nghĩa là về lại giấc mơ và con đường môn đệ mà chúng ta từng mang trong lòng trước khi mọi thứ tưởng như sụp đổ. Bất kỳ lúc nào chúng ta thấy dường như nước trời không có thực, tất nhiên sẽ có cám dỗ từ bỏ cương vị môn đệ để chạy đến sự khuây khỏa phàm tục, hướng đến Enmau, để được giải khuây nhờ Las Vegas hay Monte Carlo.

Nhưng, chúng ta biết, mình không bao giờ đến Las Vegas hay Monte Carlo. Bằng cách này hay cách khác, Chúa Kitô luôn gặp chúng ta khi chúng ta đang trên đường đến đó, Ngài đào sâu tâm hồn chúng ta, giải nghĩa những nhục hình cho chúng ta hiểu, và đưa chúng ta về lại cương vị môn đệ mà chúng ta đã từ bỏ. Một khi đến đó, tất cả mọi sự lại có ý nghĩa.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

 From: Langthangchieutim

BÍ QUYẾT GIỮ TÂM MÌNH BÌNH AN

BÍ QUYẾT GIỮ TÂM MÌNH BÌNH AN

Đừng ôm ấp hận thù và sự giận dữ. Học cách quên lãng và biết tha thứ.

Đừng ganh tỵ với người khác.
Tránh xa những cuộc đối thoại tiêu cực và người tiêu cực.

Hãy chấp nhận những gì không thể thay đổi.

Hãy kiên nhẫn hơn và tha thứ bao dung với con người và sự việc.

Đừng nhìn sự vật, sự việc với quan điểm cá nhân phiến diện từ 1 phía.

Đừng chìm đắm vào quá khứ mà bỏ quên hiện tại và làm ảnh hưởng đến tương lai.

 Học cách thả lỏng tinh thần, trong một ngày ít nhất dành cho mình là 14’ để nhìn lại, để thoải mái  tinh thần giữa đời sống hằng ngày .

From: TU-PHUNG 

Phục Sinh mùa Covid

Phục Sinh mùa Covid

 Nguyễn Ngọc Duy Hân

Cơn đại dịch Covid 19 kéo dài đã hơn một năm, tổn hại về nhân mạng, tinh thần, vật chất nhiều không sao kể hết. Kế hoạch đóng cửa không gặp nhau để tránh lây lan coi như bắt đầu từ tháng 3, 2020. Lúc đó cộng đoàn của nhà thờ chúng tôi chuẩn bị mừng 10 năm thành lập. Nào là làm kỷ yếu, nào là chuẩn bị tiệc mừng … thế nhưng con vi trùng Corona đã làm buổi lễ bị hủy bỏ. Tiếp theo là tuần Thánh không có thánh lễ ở nhà thờ, lễ mừng Phục Sinh cũng không có. Thật là bàng hoàng, thật là lạ lùng, tất cả sinh hoạt “đời thường” đều bị xáo trộn. Tưởng là chỉ kéo dài vài tháng, thế nhưng tới nay là đã hơn một năm và bây giờ lại là một Tuần Thánh và chuẩn bị Phục Sinh năm 2021. Nhiều nơi vẫn đóng cửa nhà thờ không có thánh lễ. Cộng đoàn chúng tôi may mắn được mở cửa trở lại, nhưng số người tham dự thánh lễ chỉ giới hạn. Để tránh bớt sự tụ tập và giữ giãn cách xã hội 2 mét, người ta tính nếu nhà thờ rộng chứa được 800 người thì bây giờ chỉ được 15% tức là chỉ cho 120 người có mặt. Trong nhà thờ phải giăng dây rào lại, chỉ chừa chỗ cho một số ghế nhất định. Cũng may cộng đoàn chúng tôi bé nhỏ nên số người vừa vặn không cần phải ghi danh sớm mới có chỗ. Chị tôi ở Việt Nam kể trong một vài tuần cũng bị đóng cửa nhà thờ, người ta dậy thật sớm kéo nhau tới nhà thờ thật đông để mong có chỗ, nên người hy sinh bỏ ra về được coi là người có “công nghiệp” nhiều hơn người ở lại dự lễ. Lần đầu tiên khi thấy linh mục phải đeo khẩu trang và mặc áo lễ tôi thấy rất lạ. Bây giờ thì quen quá rồi.

Năm 2021 này, Thứ Năm Tuần Thánh chúng tôi may mắn được tới nhà thờ nhưng sẽ không có nghi thức rửa chân cho các môn đệ của Chúa Giêsu. Hôm rồi Chúa Nhật lễ Lá cũng không có nghi thức cùng nhau tụ họp và rước lá lên nhà thờ, ai lấy tự cầm chiếc lá dừa đứng cách xa nhau hai thước, điều này đâu có giống sự miêu tả trong Kinh Thánh về việc Chúa Giêsu vào thành Jerusalem! Thôi thì có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ, được tới nhà thờ là tốt lắm rồi. Tiếp tới Thứ Sáu Tuần Thánh cũng sẽ không có nghi thức hôn Thánh Giá Chúa Giêsu. Thứ Bẩy vọng Phục Sinh lễ Nến mọi người cũng phải đứng xa xa.

Nhớ lại trong cả năm qua, chúng tôi đã phải tham dự thánh lễ bằng viễn liên, mà chúng tôi gọi tắt cho dễ hiểu là vào “Zoom”. Tính ra thì cũng dễ và tiện, vì đỡ tốn thời gian đi xe tới nhà thờ, nhưng không khí và sinh hoạt thì cũng có một số chuyện lủng củng. Mặc dù chia nhau đọc Thánh Thư, cầu nguyện, ca hát nhưng hệ thống Zoom không cho phép nhiều người đọc kinh chung, vì âm thanh từng nơi khác nhau khoảng vài giây, không thể đọc chung rập ràng được. Thỉnh thoảng lại có người bị “rớt mạng” (may mà không phải “mất mạng”) nên đang nói thì bỗng dưng biến mất tiêu, hoặc giọng nói lúc thì thật nhanh lúc thì kéo dài nhão nhẹt. Nhiều người chê không chịu đi lễ viễn liên, bảo là không tập trung được, không thấy nghiêm trang sốt sắng, nhưng nói chung thì “lễ Zoom” cũng được tới 90%. Chúng tôi còn tổ chức ca hát văn nghệ viễn liên. Gặp nhau ở trên Zoom chúng tôi hỏi nhau hôm nay đi nhà thờ ở đâu. Người kia bảo tôi xem lễ ở nhà thờ Toronto. Chị nọ kể hôm nay đi lễ tiếng Anh tại nhà thờ chính tòa New York với các con. Một chị khác thì hớn hở khỏe hôm nay em đi lễ mãi tận Vatican do Đức Giáo Hoàng chủ tế. Thôi thì trong cái buồn cũng có cái vui, cũng phải chấp nhận và “nín thở qua sông” để xem cơn dịch này như thế nào.

Hiện ở khắp thế giới và Canada đã có nhiều người được chích ngừa chống Covid. Tuy nhiên lứa tuổi của chúng tôi vẫn còn đang sắp hàng chờ chưa tới phiên mình. Chúng tôi còn bàn tán kén chọn xem thuốc nào tốt mới chích cơ! Gặp nhau bây giờ câu hỏi xã giao không phải là “Anh khoẻ không?” mà là “Anh chích ngừa chưa?” Rõ chán, chúng tôi còn thậm chí hỏi nhau “Đã mua đất ở nghĩa trang chưa?”!

Về kinh tế may mắn chúng tôi được làm việc tại nhà, cũng may công ty ngày càng cải tiến các phương tiện kỹ thuật, nên làm việc tại nhà càng ngày càng ít trở ngại. Công việc công ty vẫn tốt đẹp. Hiện tại thì mọi người đã quen với việc ở ru rú trong nhà, lại đâm ra lười biếng không muốn trở lại làm việc thật ở văn phòng nữa. Họ đang hỏi ý nhân viên, có thể sẽ áp dụng việc đi làm kiểu “hybrid”, cũng như xe Hybrid chạy nửa điện nửa xăng, chúng tôi sẽ đi làm nửa tuần ở nhà, nửa tuần tại văn phòng. Riêng bản thân tôi trước giờ cũng khá năng động, bây giờ chỉ sau hơn một năm cấm cung trong nhà, mà đã thấy ớn đi ra đường, lười biếng không muốn hoạt động chỉ muốn ở trong nhà luôn – dù đôi lúc cũng cảm thấy mệt mỏi và chán nản. Chúng tôi ai nấy đều trở thành người đẹp theo quan niệm xưa: “Da trắng, tóc dài” Quả thế, ở nhà riết làn da trắng xanh, tiệm cắt tóc bị đóng cửa nên ai nấy tóc thật dài, nhất là phía “liền ông” ai nấy cũng phải theo phong trào Hippy bất đắc dĩ, tóc dài quá mang tai là chuyện thường.

Cái nhìn về cuộc sống cũng thay đổi rất nhiều. Nếu có một bài học rút ra từ đại dịch COVID-19 thì đó là chúng ta cần thích ứng để không chỉ trở lại trạng thái “bình thường mới” mà còn trở thành “bình thường tốt hơn”, tập sống theo các thói quen mới như rửa tay, đeo mặt nạ, vệ sinh cá nhân cẩn trọng hơn, tránh gần gũi, ôm, bắt tay…. Tôi cũng trở thành đầu bếp bất đắc dĩ. Không đi nhà hàng được thì phải tự mày mò vào YouTube học nấu ăn. Đa số là tạm thành công, tuy nhiên nếu có thất bại thì cũng ráng ăn nên mập tròn vo. Bạn bè ai cũng than bị lên cân quá sức, kiểu này sau khi đại dịch qua rồi thì chắc phải nới rộng cửa ra vào, hay ít nhất cũng phải thay quần áo mới. Áo dài không còn chiếc nào mặc vừa nữa, trước đây tôi rất thích mặc áo dài, bây giờ tròn trịa mặc áo dài rất ngại. Chắc phải chế cái gì để che cái bụng. Ra đường không sợ bị chê xấu vì đã có cái khẩu trang che mặt kín mít, nếu có thêm cái gì che bụng nữa thì thật là … khoẻ!  Dù sao cũng tạ ơn đời, tạ ơn Chúa vì vẫn đủ ăn, vẫn còn được đi ra ngoài mua thức ăn dù có lên giá mắc mỏ chút đỉnh, nhưng vẫn còn các chợ mở cửa không phải giành giật. Nhớ hồi đầu mùa dịch, người ta phải dành nhau để mua những cuộn giấy vệ sinh thật là thê thảm. Hơn 2 triệu người đã mất mạng, và sự lây nhiễm đã lên tới con số khủng khiếp. Trước đây thì ít thấy người Việt Nam bị nhiễm Covid và chết, gần đây thì lại bị khá nặng, nhiều bạn bè thân đã bỏ mình ra đi vì con vi trùng Vũ Hán này thật là buồn.

Một số người bị bệnh Covid may mắn thoát chết, đã chia sẻ kinh nghiệm để chống lại cơn bệnh, trong đó cũng có chia sẻ lại nỗi niềm khi bị mọi người xa lánh. Tâm trạng rất buồn và mặc cảm khi bị người khác tránh xa mình vì sợ lây nhiễm, giống như người bị phong cùi khi xưa. Làm sao trách được, ai phải cố gắng đề phòng bệnh chứ. Lại có một câu chuyện cười kể về một người bị Covid đã qua đời, nhưng hai ngày sau lại sống lại. Người nhà rất đỗi vui mừng và ngạc nhiên, hỏi lý do tại sao thì người chết kể lại: “Khi tôi lên tới cửa thiên đàng thì thiên thần bảo tội lỗi của anh ở trần thế cũng không có gì quá đáng, đáng lẽ được vào thiên đàng nhưng vì sợ anh lây vi khuẩn cho chốn thiên đình, nên “sorry” phải mời anh xuống địa ngục. Xuống tới cửa địa ngục thấy đám quỉ gác cửa thật hung hăng, tôi sợ chết khiếp thì chúng lại bảo: “Thằng này chết vì Covid, không thể để ở địa ngục làm lây lan cho mình”. Chúng bàn tán khẩn cấp rồi quyết định trả tôi về trần gian. Thế nên tôi được sống lại là như thế! Thật là câu chuyện cười ra nước mắt.

Mùa Covid, khi có đám tang cũng rất vắng vẻ. Tùy theo thời gian nhưng đa số thì chỉ giới hạn 10 người. Thân hữu muốn tham dự thì phải xem qua hệ thống viễn liên. Đám cưới cũng rất là hạn chế, tối đa là 10 người thì ai đi dự, ai ở nhà? Lại cũng không có tiệc ăn mừng ở nhà hàng. Hôm cuối tuần qua chúng tôi đi dự một Lễ Cưới với khoảng 60 người, và được cho là đám cưới lớn nhất trong suốt năm qua. Thôi thì biết nói gì hơn, đành cố gắng giữ giãn cách xã hội, đeo khẩu trang, tránh bớt đi ra đường để giữ gìn sức khỏe cho nhau. Mong cho mọi người đều được chích thuốc ngừa để mọi sinh hoạt có thể bình thường trở lại.

Chúng tôi và các bạn luôn nhắc tới những kỷ niệm được đi ăn, đi chơi với nhau, rồi hẹn hò trong năm tới này khi đại dịch chấm dứt sẽ cùng nhau đi ăn đi chơi bù lại suốt thời gian dài bị cấm cung bị gò bó. Thế mới biết thương cho những người bị tù tội, đặc biệt những tù nhân lương tâm, những vị hi sinh đi giảng đạo rồi bị bắt bớ cầm tù…. Ít nhất bây giờ chúng ta cũng còn được tự do, no ấm. Ước mong cơn đại dịch sớm chấm dứt, kinh tế mở cửa, mọi người được đi sinh hoạt, làm ăn, được gặp nhau, ôm nhau và được bỏ cái khẩu trang ra. Che kín mất cái mặt rồi lại hơi mập ra, bạn bè chẳng ai nhận ra ai. Đã có lần tôi mang chè tới tặng người bạn sau lễ ở nhà thờ, nhưng lại đưa lộn cho người khác.

Dù sao thì cũng tạ ơn, mong sao cho tinh thần mọi người được vẫn mạnh mẽ, phát triển sự yêu thương nhau quan tâm cho nhau nhiều hơn theo cách mới, và cùng chiến đấu để cơn đại dịch này sớm biến mất.

Mùa Phục Sinh đang đến, chúc bạn niềm vui, sự đổi mới canh tân trong tâm hồn và trong sinh hoạt hằng ngày

Nguyễn Ngọc Duy Hân

Cà-phê không đắng

Cà-phê không đắng

Thân tặng Linh Mục Giuse Maria P.Q.T.

Trịnh Tây Ninh

Khi tuổi còn mơ mộng
anh đã ước mình như dòng sông
tuôn chảy trong lòng người nghệ sĩ
yêu nhạc và yêu chân, thiện, mỹ
để anh đem tiếng hát cho đời
khi ấy tuổi hai mươi
ly cà phê đắng trên môi
anh cũng vấn vương nụ cười tươi
của cô hàng cà phê xinh xắn
nhưng cà phê dù thơm vị lại đắng
ưu tư cuộc đời nhiều cay đắng
thế nên trong một buổi chiều vắng
yêu Chúa, thương người, anh mơ được đem nắng
chiếu yêu thương với tâm tình tươi thắm
nguyện hiến dâng cho đấng cao cả đã hy sinh
trên Thập giá đã phải chịu khổ hình
và anh đã trở thành linh mục trung trinh
rao giảng Tin Mừng, dâng lời nguyện kinh
cho tất cả, cho giáo dân con Chúa
Cà phê anh bây giờ thơm hương lúa
thơm mùi kinh với thánh nhạc tâm tình
Chúa yêu thương luôn ban phát ân tình
để anh rao giảng về Thánh Giá quang vinh
và suy niệm rồi chia sẻ niềm tin
cầu xin cho khắp nơi được an bình
cầu cho tình người luôn được thắm xinh
cho cuộc đời luôn rạng ánh bình minh
và cà-phê không còn đắng vị nhân sinh…

Trịnh Tây Ninh