Sách: Quần đảo ngục tù – Alexandre Soljenitsyne
http://echithai.com/ebook/classic/quandaonguctu.pdf
Nguồn: http://vnthuquan.net/
Tạo ebook: Nguyễn Kim Vỹ.

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Sách: Quần đảo ngục tù – Alexandre Soljenitsyne
http://echithai.com/ebook/classic/quandaonguctu.pdf
Nguồn: http://vnthuquan.net/
Tạo ebook: Nguyễn Kim Vỹ.
Chứng nhân Đức tin – Nữ tu 105 tuổi Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội
Vào hồi 17h15 thứ Bảy, ngày 11 tháng 12 năm 2021, khi hồi chuông giờ Kinh chiều Một của ngày Chúa Nhật tuần III mùa Vọng, Chúa Nhật của niềm vui, vang lên cũng là lúc Nữ tu Mátta Nguyễn Thị Khiêm, vị chứng nhân lịch sử cuối cùng kể từ giai đoạn tiền bán thế kỷ 20, cây đại thụ của Hội Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội đã ngả bóng. Người nữ tu ấy dừng chân tạm nghỉ trong cuộc hành trình dài trên dương thế, an nghỉ lành thánh trong Chúa, hân hoan bước vào chặng đường mới với 105 tuổi đời– 88 năm Khấn Dòng, tại Cộng đoàn Mến Thánh Giá Kẻ Non thuộc giáo xứ Cẩm Sơn, Tổng Giáo phận Hà Nội.
Thật đúng như tên gọi của mình, Nữ tu Mátta cả một cuộc đời luôn sống khiêm hạ. Dù ở cương vị nào thì người nữ tu ấy vẫn luôn là người dễ gần, dễ mến, nhỏ bé, đơn sơ nhưng kiên trung trước mọi nghịch cảnh, với nụ cười luôn tươi nở trên môi. Bởi thế mà nhiều Đấng Bậc, chị em toàn dòng và bà con giáo dân dành cho Nữ tu ấy một tình cảm thật đặc biệt, một cách gọi gần gũi thật trìu mến, thân thương “Mẹ Khiêm” hay “Mẹ Mátta”
Mẹ Khiêm sinh ra và lớn lên tại giáo xứ Đạo Truyền, Bình Lục, Hà Nam, trong một gia đình đạo đức có bốn anh chị em. Mẹ Mátta ước ao dâng mình cho Chúa ngay từ khi còn rất nhỏ. Sau nhiều năm tìm hiểu, lui tới với nhà dòng, mặc dù lúc đó rất khó khăn, tới năm 15 tuổi Mẹ được chính thức gia nhập Dòng Mến Thánh Giá Cộng đoàn Kẻ Non và được Tuyên khấn lần đầu với lời khấn tư vào năm 1932.
Năm 1954, xảy ra cuộc di cư lớn, dòng người từ miền Bắc vào miền Nam, hầu hết các dòng tu trong Địa phận Hà Nội thời đó đã di cư hay buộc phải rời khỏi Việt Nam. Nhiều cơ sở tôn giáo cũng như các Tu viện vườn không nhà trống không người hiện diện. Mẹ Mátta là một trong số ít những nữ tu Mến Thánh Giá đáp lại lời kêu gọi của Đức Cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê: không di cư nhưng ở lại song hành cùng Địa Phận Hà Nội trong giai đoạn đầy gian nan, khó khăn và thử thách này.
Số các chị em Mến Thánh Giá còn sót lại ấy được Đức Cha Giuse Maria sai đi tản ra trong các tu viện Mến Thánh Giá hoặc các cơ sở của Giáo hội không còn người ở như Nhà Kín 72 Nguyễn Thái Học Hà Nội, trường Thánh Mẫu 29-31 Nhà Chung để giữ đất, giữ nhà. Khó khăn do hoàn cảnh của thời cuộc chất chồng, nhiều hoạt động tông đồ của chị em Mến Thánh Giá thời đó chỉ là âm thầm hiện diện như men trong đấu bột giữa những xứ đạo cùng bà con giáo dân. Sự thiếu hụt linh mục trầm trọng, đi lại khó khăn, các chị phụ trách việc Rửa tội cho trẻ nhỏ, trao Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt và các Đấng Bậc bị quản thúc hay cầm tù, chép sách kinh bổn để gìn giữ Đức tin, đồng hành và hiện diện cùng bà con giáo dân trong mọi biến cố vui buồn của cuộc sống.
Mẹ Mátta được Đức Cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê tin tưởng trao phó những chức vụ như Phụ trách Tu viện Kẻ Non kiêm phụ trách Tập Viện giai đoạn 1955 – 1961. Mẹ cũng là một trong bảy chị đầu tiên của Ban Điều Hành Dòng được khấn công khai theo giáo luật dưới thời Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Bà Mẹ nhì khóa I và II toàn dòng (1983 – 1991). Cùng với Bà Mẹ nhất Mátta Nguyễn Thị Nhục, Mẹ đã trở thành hai trụ cột vững chắc của Hội dòng, nâng đỡ và duy trì ơn gọi trẻ trong giai đoạn “Chính sách ngầm” đang len lỏi vào mọi ngõ ngách của miền Bắc lúc bấy giờ với mục đích “Xóa sổ các cơ sở Tôn giáo và Tu viện.” Nhiều ơn gọi trẻ đến xin gia nhập Dòng muốn xin tạm trú hay nhập hộ khẩu đều không được, nên chị em đành phải chịu cảnh “tu chui”. Ban ngày các Chị phục vụ trong tư cách người giúp việc Nhà dòng, nhiều đêm phải chạy trốn vì bị kiểm tra hộ khẩu bất thường do cư trú bất hợp pháp theo luật bấy giờ.
Có những chị em khổ quá định bỏ tu về lại gia đình, được Mẹ kịp thời an ủi động viên nâng đỡ để tiếp tục ơn gọi. Những chị em mới gia nhập Tu viện, chập chững những bước đi đầu tiên trong ơn gọi đầy bỡ ngỡ, được Mẹ dạy bảo ân cần, tập sống khó nghèo và các nhân đức để thánh hóa từng giây phút hiện tại trong ngày sống. Không chỉ chị em trong Dòng, nhưng cả bà con giáo dân cũng tìm đến với Mẹ khi gia đình có những biến cố vui buồn, để được Mẹ chuyển cầu trong lời kinh nguyện hoặc là nhận lấy những lời khuyên dạy chân thành, nâng đỡ nhằm giúp các gia đình vượt qua thử thách.
Thế rồi những giai đoạn khó khăn gian khổ đầy nước mắt và đau thương đó qua đi cũng là lúc Mẹ Mátta được nghỉ ngơi và hưu dưỡng tại Cộng đoàn Kẻ Non kể từ năm 1991 cho đến nay.
“Tôi đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững Đức tin” giờ đây Mẹ Mátta trở về cùng Thiên Chúa là Cha yêu thương, sau khi đã hoàn tất hành trình dương thế, trung kiên sống Đức tin trong giai đoạn khó khăn gian khổ nhất của thời cuộc, trung thành gìn giữ bảo vệ tinh thần và gia sản của Hội dòng… Để hôm nay đây chúng tôi, thế hệ cháu con được thừa hưởng thành quả mà Mẹ và các bậc tiền nhân để lại… sẽ tiếp nối tâm nguyện của Mẹ để song hành với mọi biến cố vui buồn của Tổng Giáo phận, cùng ghi tiếp những trang sử thiêng của Hội Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội, với khát vọng giới thiệu cho muôn người về Tình yêu và Lòng thương xót của Đấng-Chịu-Đóng-Đinh, Đấng đã yêu cho đến cùng, Đấng đã chết vì yêu, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Nữ tu Maria Phạm Thị Thu Trang
Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội
Nguyễn Dân (Danlambao) – Bỏ ra trên 75 năm, làm cho một đất nước tan tác, điêu tàn, một dân tộc hy sinh dài lâu khủng khiếp. Từ 5 đến 10 triệu mạng người ngã xuống trên mọi nẻo đường… để giành lấy cho cái gọi là “giải phóng miền Nam” trí trá, gian tà, ma mị. Đảng CSVN ngày hôm nay, họ đã thu lấy được gì?
– Độc lập, tự do? Lếu láo! – Hạnh phúc ấm no? Xảo biện! Bằng những luận điệu phỉnh lừa, gian manh, trân tráo, đốn mạt khôn lường.
Họ vẫn không ngớt tự hào: thắng lợi vẻ vang, quyết tâm tiến bước trên con đường quang vinh, sáng lạn? Con đường xây dựng XHCN tiến lên thế giới đại đồng, theo một giáo điều cũ xưa, lạc hậu – Mác Lê – Hì hục cả gần hơn thế kỷ đứt đoạn, sụp đổ, vá víu, và đắp xây chồng chất với hàng triệu triệu xác thân.
Một lần họ bảo: “Đến hết thế kỷ này (80 năm nữa) không biết có được hoàn thiện CNXH hay chưa?” Họ vẫn cứ hô hào: quyết tâm và kiên định? Quyết tâm tiến bước trên con đường mà Bác và Đảng đã vạch ra: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, dù có phải hy sinh đến người VN cuối cùng, cũng quyết tâm giành thắng lợi”.
30/4/1975 là dấu móc cho một chặng đường – chặng đường cùng cực cho mọi hy sinh – cả hai miền đất nước. Miền Bắc, chủ trương “thắt lưng buộc bụng”. Thắt cho chặt và buộc cho còn da bọc thân: đói không được ăn no, rách không được mặc lành, phải tận dụng mọi thứ và hy sinh triệt để để mà chi viện, để mà dốc lòng giải phóng một miền giang sơn trù phú phồn vinh (cho là giả tạo), chẳng màng tuông đổ máu xương.
Đường đi không đến:
Nhà văn (XHCN) Xuân Vũ cũng đã rất tinh tế, chân thật, viết ra một tác phẩm đau thương – hồi ký Đường Đi Không Đến – vung vải qua cuộc hành trình với bao nhiêu là mồ hôi, máu xương tuông đổ, lăn lóc, ngã qụy với vô số những thân xác con người – lực lượng để đi vào giải phóng miền Nam – cùng cực với những thảm cảnh đói khát, bệnh hoạn, chết chóc… tô bồi cho giấc mộng xâm lăng.
Và sau đây, xin được lượt trích đôi phần:
“…Bác đã cho con đi vào con đường tối đại vinh quang này để cho con tận hưởng hương vị sốt rét và chịu đói đến tận cùng, rồi Bác mới cho ca cháo loãng này. Ơn ấy con nguyện kết cỏ ngậm vành. Ngày nào còn sống, con nguyện đền đáp…
“… Chung quanh đây (tức Trường sơn) toàn là loài thú, chỉ có tôi (tức anh ta) là người. Ghê gớm thật…
“… Tóm tắt câu chuyện là vậy. Có lẽ câu chuyện này nên được viết ra và xuất bản bằng tất cả ngôn ngữ trên thế giới, và điều cần yếu nhất là các vị chủ tịch đảng nên đọc…
“… Vì thế cho nên trước khi có ý định giải phóng miền Nam thì những người bày đặt ra cái chuyện đó phải tự hỏi mình: “miền Nam có cần giải phóng không?” Giải phóng xong họ sẽ mang đến miền Nam những gì? Nếu không phải là phiếu đường, phiếu vải. Nếu không phải là những cuộc họp liên miên, và những Nghị Quyết, những Chỉ Thị, những cái nôm sắt chụp vào đầu thiên hạ. Nếu không là một cuộc cải cách ruộng đất tái diễn, mà kết quả không có gì khác hơn là một cuộc sửa sai, sửa những sai lầm không đời nào sửa được. Các vị ấy đã thua và sẽ thua trận vì bệnh chủ quan. Đó là điều chủ yếu…
“… Tôi bi quan đến nỗi muốn nói rằng: nằm tại đây và làm phân bón cho cây Trường Sơn thêm xanh, và đỉnh Trường Sơn thêm cao, cho vinh quang của Bác và Đảng cao ngất và chói lòa khắp biển Đông. Nhưng tôi tốp lại cái ý nghĩ đó kịp thời, và tôi nói giọng lạc quan hơn… Anh nằm tại đây đến mai anh sẽ tiếp tục đi…
“… Trên đường Trường Sơn bỏ nhau là chuyện tất nhiên. Người bỏ đi hình như cũng không ân hận gì hết. Còn người bị bỏ lại cũng không – hoặc không nên – lấy đó làm buồn, vì cái luật chung là: ai cũng là kẻ bị bỏ rơi, và ai cũng sẽ bỏ rơi người khác. Cho nên cuối cùng rồi không ai ân hận, không ai trách ai…
“… Cha mẹ tôi sinh tôi ra cho tôi theo cách mạng chín năm chống Pháp, rồi cho tôi ra Bắc để xây dựng lực lượng đặng trở về Nam thống nhất đất nước với lòng tin tưởng vô biên, có ngờ đâu tôi được đối xử thế này? Tôi không còn nghĩ đến cái điều vinh quang mà người ta gán cho tôi lúc tôi sắp ra đi – cái vinh quang chói lọi tưởng chừng bằng tất cả sự vinh quang của dân tộc trong thế kỷ đau thương này góp lại. Nhưng lạy Chúa, con lạy Đức Mẹ nhân lành, nếu có thể, con xin quì gối mà trả lại tất cả cho người đã ban phát cho con, hoặc con xin lấy nó ra làm hiện vật để đánh đổi một sự nhỏ nhoi hơn nó gấp vạn lần, đó là tránh cho con cơn sốt sắp tới đây mà con cảm thấy nó đang lù lù đi tới…
“Phi sốt rét bất thành giải phóng”. Ở rừng riết rồi xem khỉ cũng đẹp, và tưởng chừng mình cũng thành khỉ nay mai… “Nhất Trạm (giao liên), nhì Trời”…
“… Rồi sẽ thấy cái lý tưởng mà họ đặt cho những người khác tôn thờ sẽ chẳng bằng nắm cơm thiu, hay những ngụm nước trong bi đông trên con đường này…
“… Ai hỏi tôi gì gì tôi cũng tìm cách nói dối, trừ khi nói thật có lợi hơn nói dối thì tôi sẽ nói thật. Tôi thấy mọi người đều nói dối rất hồn nhiên, ngay cả những gì người lớn nói những chuyện tày trời, nói lừa, nói đảo, thì việc gì mình thẳng ruột ngựa cho thiệt thân…
“… Tôi thấy có sự vô lý đã đi đến mức cùng cực của nó, không còn ai có thể giải thích được nữa, không có cái gì vô lý hơn nữa…
“… Tôi thấy thương thân, tủi phận và oán ghét những thằng hiện đang phè phỡn ô tô, nhà lầu, luôn luôn chủ trương đánh nhau (bằng tay người khác) nhưng đến tiếng súng cũng không nghe thấy, đừng nói chi cầm súng. Con cháu họ thì đứa đi Nga, đứa đi Tàu – đi học để sau này về làm cha thiên hạ. Còn lũ con cái bần cố nông thì cứ lùa vào con đường vinh quang này, như người ta ném những que củi vào lò lửa không thương tiếc…” (hết trích).
Bao nhiêu thảm cảnh thương tâm, chán chường và bất mãn… với những người con yêu tổ quốc theo tiếng gọi (bắt buộc) phải lên đường, để rồi đôi lúc như là “đem con bỏ chợ” (bỏ rừng), tự lực cánh sinh, tự lo thân phận để tự sinh tồn trong (khung cảnh) trùng điệp bao nỗi gian truân…
Trên đây chỉ là “trích đoạn”, trong chỉ có mấy chương (trong một tác phẩm 33 chương) vằn vặt qua cuộc hành trình hiển hách, quang vinh. Đường đi không đến – bao xác thân vùi lấp vội, bỏ lại bên đường để yên tâm mà tiếp bước…
Ai còn, ai mất thì đã rõ rồi. Tiếp nối là gì? – Là cướp!
“Không gian dối, không là người CS. Không chiếm đoạt, không phải là anh giải phóng quân”. Câu nói chí lý, bất hủ.
“Giải phóng miền Nam”, đúng ra là đi xâm chiếm một vùng đất nước của quê hương trù phú, thịnh vượng không ngờ? Các anh giải phóng quân về thành không khác gì thảo khấu rừng xanh bao năm từ hang động với bộ dạng xanh xao gầy guộc – răng hô mã tấu – được chào đón vang dội, tưng bừng, đón những đứa con trong khí thế “hùng anh”…
Cái gì cũng lạ, thứ gì cũng đẹp, cũng sang… mà cả đời chưa tận mắt. Từng khối “chiến lợi phẩm” mặc sức mà chia phần, mà mang, mà vác, mà xách, quẩy, chở đưa về, bù đắp mấy mươi năm thiếu thốn khó khăn, bù trừ cho những ngày “thắt lưng buộc bụng”. Vui mừng bao kể xiết. Quá đổi quang vinh. Tự hào chiến thắng vang dội thành công, tha hồ khoe mẻ…
Và rồi, cũng chỉ có được 10 năm, một đất nước lại được sang (cào) bằng, Bắc Nam trở về cùng cảnh ngộ: cùng đói, cùng khổ, cùng cực xác xơ…
Tội nghiệp thay, bao bà mẹ già miền Nam chắt chiu mọi thứ, nuôi nấng bảo bọc “đàn con” đi làm cách mạng. Bao hy vọng tiêu tan, niềm tin cháy rụi. Bây giờ, tụi nó vinh thân, ấm cật, sang cả đủ đầy. Chúng chẳng đoái hoài. Những bà mẹ cả đời cực khổ hy sinh, cứ phải hy sinh tiếp tục – Của cải, nhà cửa, đất đai, vườn tược…bao Chính Sách đề ra cướp sạch, không còn… Kiếp đời Mẹ trở thành đàn “dân oan”, lang bạt, lê la khắp chốn…
Người ta nói: Chỉ có ăn mà không biết chăm nom, giữ gìn, xây dựng… thì của núi cũng không còn, đã được chứng minh là đúng. Sau 45 năm, một đất nước tan hoang, những cuộc đời dân đen đi xuống – xuống tận cùng đáy vực. Chỉ có “đảng ta” là… thắng lợi, quang vinh.
Đến hết thế kỷ này, không biết CNXH có được hoàn thiện (hay chưa)?
Một chủ nghĩa đã quá lạc hậu lỗi thời. Một chủ thuyết từ cái nôi sinh ra nó, người ta (thức thời) vứt bỏ. Riêng Ta, miệt mài, quyết tâm, kiên định. Chỉ vì còn lợi, còn quyền, còn vì nhờ đó mà nhũng lạm kiếm ăn. Sao lại từ bỏ?
Theo thiển nghĩ: Không cần phải chờ 80 năm nữa, không đợi đến hết thế kỷ này. Do thiên tài “Đảng Ta” sẵn có, chỉ cần tát cạn biển Đông, phá sạch cho bằng hết cây rừng (Trường Sơn), không còn một người VN cuối cùng (theo như lời Bác) – chỉ có người Tàu – CNXH hoàn thiện, cách mạng hoàn thành.
25/11/2020
Các vụ án hậu-Đồng Tâm báo hiệu ngày tàn của chế độ?
Hoàng Thành
Một ngày sau khi Phạm Đoan Trang bị tuyên 9 năm tù, đến lượt Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm – những nông dân bị cưỡng đoạt đất ở Dương Nội, Hà Đông, cũng lần lượt nhận những bản án rất nặng. Phương bị gọi 10 năm, Tâm 6 năm. Trịnh Bá Phương là thành viên thứ tư của một gia đình cùng bị án tù chỉ vì phản kháng đòi công bằng: Cha – ông Trịnh Bá Khiêm từng bị phạt 18 tháng tù. Mẹ – Cấn Thị Thêu (ba lần bị phạt tù, 10 tháng, 20 tháng và lần thứ ba 8 năm). Anh trai – Trịnh Bá Tư (mới bị 8 năm tù hồi tháng 5 vừa qua cùng với mẹ là bà Cấn Thị Thêu).
Các nhà quan sát bên ngoài Việt Nam đã phản ứng rất nhanh. Chỉ vài giờ sau khi bản án được tuyên, Giáo Sư Zachary Abuza từ Đại học Chiến tranh Quốc gia Mỹ (NWC), một chuyên gia an ninh khu vực Đông Nam Á, nói với báo Washington Post, rằng nguyên nhân nhà cầm quyền Việt Nam bỏ tù Đoan Trang là cô làm cho họ lúng túng, vì cô cho thiên hạ biết rằng, họ vi phạm chính luật lệ của họ. Tuy nhiên, một nhận xét khác không hoàn toàn đồng ý với GS. Abuza. Hàng ngày trên mạng xã hội có đến hàng trăm lời cáo buộc việc ĐCSVN “ngồi xổm” lên chính luật lệ của họ. Nếu không “rắn” với Đoan Trang chính quyền lo sợ một tiến trình phản kháng của trí thức sẽ bắt đầu trong một xã hội bị lai căng về mặt tinh thần và về hệ giá trị. Cách tiếp cận vấn đề quyết đoán và mãnh liệt của Đoan Trang đánh thức thế hệ trẻ Việt Nam đang thiếu vắng một tinh thần phản biện, một khả năng phân biệt đúng sai và thiếu sự can đảm (1).
Ai đó gọi Trang là một nhân vật lịch sử. 9 năm có ý nghĩa gì đối với lịch sử một dân tộc? Con người cá nhân mờ nhạt, thậm chí bị vùi lấp giữa các mốc thời gian, bị nhấn chìm trong dòng chảy mang tên “thời cuộc” để đáp ứng những đòi hỏi nặng nề của thời đại. Nếu nói về lịch sử, một người cùng làm việc với Đoan Trang nghĩ thế này: “Tất cả chúng ta đều là những nhân vật lịch sử, rằng mỗi chúng ta là nhân vật chính trong cuộc đời của riêng mình. Cách ta sống sẽ viết nên trang sử đời ta. Đời tôi giao với đời Trang một đoạn – đã hơn bốn năm kể từ hồi cùng biên tập cuốn ‘Chính trị bình dân’. Ở những trang giao nhau ấy, từng có nhiều điều tôi không đồng ý với Trang… Sự khác biệt là tất yếu, như Trang luôn nói, con người thì đa dạng và xã hội thì đa nguyên. Tôi quý mến Trang như một người viết dung dị, trân trọng Trang như một người đồng nghiệp nhiệt thành, kính nể Trang như một người tự do và giờ là một người tù tự do” (2).
ĐCSVN học tập kinh nghiệm từ Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và những quốc gia toàn trị khác trong lịch sử, đã gộp cả 3 nhành hành pháp, lập pháp và tư pháp thành một hệ thống công cụ mặc sức tiến hành “khủng bố trắng” trong những ngày này, tháng này, năm này. Khi đàn áp như thế, họ không thể hình dung được, công an – tòa án – nhà tù… tất cả chỉ “gieo mầm” những phản kháng mới, bi tráng hơn, bạo liệt hơn. Càng đàn áp, càng khủng bố, chính quyền càng tạo ra sự khinh miệt lẫn phẫn nộ trong các bộ phận dân chúng khác nhau, ở đó, có cả những trí thức trong và ngoài dải đất chữ S nặng lòng vì tương lai xứ sở.
ĐCSVN sẽ tồn tại thêm được bao lâu khi họ nhân danh đủ thứ, lạm dụng đủ thứ, kể cả đàn áp khốc liệt như những năm gần đây, chỉ để giữ cho những cá nhân như Bộ trưởng Công an Tô Lâm có thêm cơ hội để giơ ngón cái lên với những Nusret Gökçe (còn gọi là “Salt Bae” – “Thánh rắc muối”), khen “bò dát vàng” là số một. Và chính Tô Lâm cùng đồng bọn, đã toa rập với nhau, trước đây giết Cụ Nguyễn Đình Kình và lên kế hoạch 419A để đánh úp bà con Đồng Tâm (ngay ngoại thành Hà Nội). Và giờ đây, chúng đẩy một nhà giáo gần 90 tuổi đời phải giơ ngón cái lên để cỗ võ, động viên con gái mình vững vàng trong chốn lao tù (3).
Các bản án hậu-Đồng Tâm là những cánh chim báo bão. Những cơn bão ấy hiện đang quét từ quốc tế vào quốc nội và cả chiều ngược lại. Ngay trong ngày 15/12, tất cả các Đại Sứ quán Mỹ, Anh, Canada và các nước khác đều đồng loạt phản đối bản án 9 năm tù đối với Phạm Đoan Trang. Đại Sứ quán Anh tại Hà Nội đưa lên Facebook bình luận của Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao và Phát triển phụ trách khu vực châu Á Amanda Milling, với nội dung như sau: “Việc nhà báo Việt Nam Phạm Đoan Trang phải nhận mức án 9 năm tù là vô cùng đáng lo ngại. Bỏ tù các nhà báo chỉ vì họ bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa gửi thông điệp sai trái tới những người ủng hộ sự phát triển của đất nước và con người Việt Nam.”
Ngay trong ngày 15/12, Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội đã đăng Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào một ngày trước đó lên án việc kết án 9 năm tù đối với tác giả Việt Nam Phạm Đoan Trang. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price tuyên bố: “Hoa Kỳ lên án việc kết tội và tuyên án 9 năm tù đối với tác giả, nhà báo Phạm Đoan Trang, người không làm gì hơn ngoài việc bày tỏ ý kiến của mình một cách ôn hòa. Chúng tôi cũng ghi nhận ý kiến gần đây của Nhóm công tác của Liên hợp quốc về giam giữ tùy tiện, cho thấy việc giam giữ bà Trang là tùy tiện và vi phạm các cam kết và nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam về nhân quyền” (4).
Tuyên bố của Chính phủ Mỹ viết tiếp: “Hoa Kỳ kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Trang, người đã được quốc tế công nhận về nỗ lực thúc đẩy nhân quyền và quản trị tốt ở Việt Nam, đồng thời cho phép tất cả cá nhân ở Việt Nam tự do bày tỏ quan điểm của mình mà không lo sợ bị trả thù. Chúng tôi cũng hối thúc chính phủ Việt Nam đảm bảo rằng luật pháp và các hành động của họ thống nhất với các điều khoản về nhân quyền của Hiến pháp Việt Nam cũng như các nghĩa vụ và cam kết quốc tế của Việt Nam (5).”
Các bản án của Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm là những tiếng chuông dóng lên, báo hiệu sự tan rã của chế độ, vì những mâu thuẫn khôn cùng của chính thể toàn trị khoác áo cộng sản. Đó là sự kết hợp giữa tính háo danh trên trường quốc tế, với cách thức kềm kẹp thần dân trong nước theo kiểu của phát xít Đức Quốc xã trước đây. Ở Việt Nam, bộ máy tuyên truyền làm rùm beng mọi thứ để tìm kiếm tính chính danh cho Đảng, từ xung quanh mấy chiếc váy của hoa hậu đến những đôi chân của các cầu thủ bóng đá. Đảng chỉ muốn cả thế giới này phải hô vang “Tự hào lắm Việt Nam ơi!”
Nhưng Đảng dấu tiệt rằng, Chủ nghĩa quốc xã, tức là Chủ nghĩa quốc gia xã hội phát xít Đức (Nationalsozialismus) với Chủ nghĩa xã hội dưới thời cộng sản đều có chung nguồn gốc, xuất phát từ các căn tính độc tài, phát xít và toàn trị! Thật ra, giữa cộng sản và phát xít rất ít sự khác biệt. Những kẻ phát xít, từ Ý đến Đức, đều đề cao chủ nghĩa dân tộc. Những người cộng sản tuy hay nói về chủ nghĩa quốc tế, nhưng thực tế, vẫn luôn luôn mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, đều nhắm, trước hết, đến lợi ích của quốc gia và dân tộc của họ. Cả hai đều là những chế độ độc tài vô cùng tàn bạo (6).
Và đây là những tiếng nói dũng cảm từ trong nước. Nhà văn Tạ Duy Anh viết trên Facebook: “Dù bị tuyên bởi một bản án khắc nghiệt thì Phạm Đoan Trang cũng chỉ là tù nhân trong 9 năm, trong khi những người kết án cô thì chắc chắn là tù nhân vĩnh viễn của lịch sử.” Nhà báo Huy Đức nhận định: “Nếu chúng ta đang sống trong một xã hội có tự do, có phẩm giá, có công lý, có dân chủ thì những người như Đoan Trang sẽ có một vị trí đáng ngưỡng mộ trong xã hội.”
Tài khoản Danh Nguyen viết: “Vô cùng kính trọng Đoan Trang. Cô có đủ tố chất đòi hỏi Bi-Trí-Dũng từ một hành giả đấu tranh cho sự an vui của đồng bào mình. May mắn cho dân tộc Việt còn có những người trẻ như cô. Lành thay! Lành thay!”
Tài khoản Khang Phan nhận định: “Khí phách cháu kiên cường! Bao giờ đất nước này có một chính quyền biết trân quý những lời phản biện nghịch nhĩ, khi đó đất nước mới có cơ sánh năm châu!”
Nhận định về phiên xử ông Phương và bà Tâm, người dùng Facebook, Đặng Bích Phượng, bình luận: “Nhìn ảnh vợ và hai con của Trịnh Bá Phương – Rất buồn… Một người bán cua ngoài chợ, nhỏ bé và khiêm nhường như Trịnh Bá Phương, là con của vợ chồng người nông dân mất đất như ông Trịnh Bá Khiêm, bà Cấn Thị Thêu, có thể làm gì để gây nguy hại cho nhân dân, cho đất nước?” Vẫn theo Đặng Bích Phượng: “Trịnh Bá Phương không có 10 tỷ để bảo lãnh như các quan chức cộng sản khi sa lưới pháp luật. Trịnh Bá Phương cũng không có cơ hội để tham nhũng, lợi dụng chức quyền để gây thất thoát tài sản quốc gia. Anh ta chỉ nói lên những điều anh ta nhìn thấy, nghe thấy và suy nghĩ của anh ta. Vậy thì anh ta có tội gì?”
– Trang bìa Báo cáo Đồng Tâm, phiên bản thứ ba, công bố ngày 25-9-2020.
httpv://www.youtube.com/watch?v=Y_DjEb1sx2M
Món quà giáng sinh lớn nhất trong đời
Giáng sinh năm trước, tôi nhận một món quà từ một người trong hãng. Chị này người Phi. Lúc tôi phỏng vấn chị, chị chưa biết gì nhiều về công việc. Cái tôi thấy ở chị: hiền, có vẻ rất chu đáo. Và rồi, tôi vẫn mướn. Đây không phải là lần đầu tiên tôi mướn người Phi. Nhiều rồi. Phần lớn đều rất siêng năng, chú tâm vào công việc. Chưa bao giờ tôi thất vọng hay than phiền một ai trong số họ. Vì thế tôi mướn chị cũng là lẽ thường, dù kinh nghiệm thua nhiều ứng viên khác.
Vào làm một thời gian, chị rất chịu khó học hỏi. Chỉ trong một thời gian ngắn, chị làm giỏi hơn một số người có thâm niêm cao hơn chị. Khi nào cần, chị có mặt, bất kỳ sáng sớm, hay tối mịt, dù thứ bảy hoặc Chủ Nhật.
Một lần ngồi nói chuyện, chị nói: anh đã cứu gia đình tôi. Chị kể …
Gia đình tôi 4 người (hai vợ chồng, hai con gái) được bảo lãnh từ Phi sang. Hai đứa con đi học trung học, hai vợ chồng kiếm việc gần 5 tháng không có nơi nào nhận. Vậy mà, tôi nhận chị vào làm với mức lương trên tối thiểu vài đồng (dù lúc đó đối với chị mức lương tối thiểu đã là hạnh phúc). Một tuần sau, duyên lành đến, chồng chị cũng kiếm được việc làm. Chị nói: có lẽ nhờ may mắn từ anh. Kể từ đó, sáng sáng anh chở chị đi làm, rồi anh tới hãng sau. Chiều tối, chị xong việc trước, vẫn phải đợi anh làm xong ca rồi mới tới đón chị. Cho đến hôm nay vẫn vậy.
Chị vào làm gần 3 năm, tôi thăng chức cho chị 1 lần và tăng lương 3 lần, trong đó có 1 lần điều chỉnh lương theo thị trường. Lần nào cũng hậu hĩnh vì cái tâm chị đã bỏ vào trong công việc.
Dịp Giáng sinh năm rồi, chị tặng tôi một món quà. Chị vào sớm, để món quà trên bàn của tôi. Món quà được bỏ trong một hộp giấy và bọc thật đẹp. Tôi vào làm, thấy món quà và quyết không nhận, trả lại chị. Chị muốn khóc, rồi nói: Nó không có giá trị gì về tiền bạc. Tôi biết là cái gì dính dáng đến tiền bạc là không đúng. Tôi đã làm nó mấy ngày. Chỉ vài đồng cho miếng bìa cứng và một ít giấy màu, cùng cái khung hình. Bỏ công ra làm những bông hoa, nhưng tôi không khéo tay nên làm đi làm lại…
Nghe vậy, tôi đồng ý nhận. Mở ra, tôi thấy đó là một bức tranh, làm thủ công, kết nối những bông hoa giấy nho nhỏ. Bên dưới viết mấy chữ: cám ơn gia đình họ Lê. Tôi lặng người. Món quà mấy đồng mà sao tôi thấy nó lớn vô cùng. Tôi nhận món quà và ôm nó vào lòng hết sức trân trọng. Tôi dặn chị: đây là lần duy nhất và cuối cùng tôi nhận quà từ chị, cũng như từ bất kỳ nhân viên nào khác.
Chị vui lắm, mà tôi thấy khóe mắt chị ươn ướt. Rồi chị nói: nhờ việc làm này mà gia đình tôi có khả năng ra ở riêng được, sau gần 6 tháng sống với gia đình người anh với bao khó khăn, hệ lụy. Chị nói tiếp … tôi không mường tượng được chuyện gì sẽ xảy ra nếu lúc đó chúng tôi không kiếm được việc làm. Bây giờ, hai đứa con gái đã lớn, một đứa vào đại học, đứa kia sẽ vào năm sau. Không có ông mở rộng vòng tay, dễ gì tôi có một công việc như hôm nay. Tôi hứa sẽ không tặng ông bất kỳ thứ gì nữa. Tôi sẽ làm hết sức để không phụ lòng ông…
Những lời nói mộc mạc của chị làm tôi lâng lâng, mắt cay cay. Trong đời, tôi nhiều lần nhận quà Giáng sinh, từ người thân, cũng như từ sếp lớn. Tuy nhiên, đây là món quà giáng sinh lớn nhất và ý nghĩa nhất mà tôi nhận được từ trước tới nay, dù chỉ là vài bông hoa giấy với hàng chữ viết tay không phải nhà nghề.
Ngẫm lại, trong đời đôi lúc món quà lớn nhất không cần là món quà đắc tiền nhất, mà có khi dù chỉ dăm đồng. Và hạnh phúc, nhiều khi chỉ là một lời nói, một câu viết, đó là những thứ không thể đo bằng vật chất phù du.
Đoàn Nhã Văn (LT)
Mùa Giáng Sinh 2021
#Từ fb Nguyễn Học
httpv://www.youtube.com/watch?v=yx3QQFb6KLI&t=5s
Quân Đội Nhân Dân Hay Đội Quân Của Đảng
Đọc hồi ký Đồng Bằng của nhà văn Nguyên Ngọc, tôi mới biết là ông có mặt từ đầu đến cuối trong Chiến Tranh Đông Dương (Indochina Wars) không thiếu ngày nào. Quả là một thành tích đáng kể, và đáng nể.
Qua thêm vài trang bút ký ngắn ngủi (“Trở Lại Mèo Vạc”) của Nguyên Ngọc, tôi lại được biết một chi tiết thú vị khác nữa: tác giả còn cầm súng bắn nhau luôn cả với bọn phỉ nữa cơ. Cái ông nhà văn quân đội này quả là đa đoan thật và đa đoan lắm :
Một bữa, ở thị xã Cao Bằng, rét như cắt, đi ăn món coóng-phù khuya, nóng bỏng môi, vừa thổi vừa ăn… thì gặp tỉnh đội trưởng Mỹ Sơn cũng đi đâu đấy về rất khuya, vẻ rất tất tả.
– Này, bên Đồng Văn vừa nổi phỉ đấy, chúng nó chiếm mẹ hết cả huyện rồi. Lệnh Quân khu phải đánh hai mũi, một từ thị xã Hà Giang lên, một từ Cao Bằng sang. Sáng mai bọn này xuất binh. Có đi không?
– Đi chứ!
Vậy là mờ sáng hôm sau lên đường… Đường đi càng về chiều càng lên cao, và hình như núi non mỗi lúc một thắt lại, hiểm trở hơn, hiểm ác heo hút hơn. Vẫn lên nữa. Lên mãi. Đã nghe thỉnh thoảng tiếng súng rộ từng hồi, rồi đột nhiên im bặt, lạnh tanh. Tức là đơn vị đầu tiên, lên trước chúng tôi một ngày, đã chạm địch. Vẫn lên nữa, lên mãi…
Sáu giờ chiều, đánh một trận qua quít và tràn vào chợ Mèo Vạc. Đơn vị đi trước đã làm nhiệm vụ xuất sắc, chúng tôi chỉ đánh quét nốt cái đuôi…Ngày 22 tháng 12-1959, đánh trận Lũng Cú, rét cắt xương. Cũng đúng hôm ấy, cánh từ thị xã Hà Giang lên, có cả chủ lực Quân Khu, phá được Cổng Trời, tràn vào thung lũng Yên Minh, Mậu Dụê, đánh lên Phó Cáo, Phó Bảng, Xà Phình…
Nhưng có lệnh tuyệt đối không được đánh tiêu diệt: phỉ cũng là dân, toàn huyện. Người H’mông, sinh ra và vật lộn suốt đời trên cao nguyên đá, sống bằng loại cây kỳ ảo nhất trên đời này – cây thuốc phiện – vốn là những người thâm trầm mà rất cảm tính. Trung thực, thẳng thắn, dữ dội, nhiều mưu lược, nhưng cũng dễ bị kích động, cuồng nhiệt.
Cuộc sống hàng trăm năm nay ở đây là cuộc đánh vật ngày đêm với từng bụm đất nhỏ đúng bằng bàn tay còn sót lại giữa các hốc đá cheo leo để giành lấy một miếng ăn còm cõi, và cuộc đánh nhau triền miên đẫm máu giữa các dòng họ bị chi phối bởi các thế lực chằng chịt trong và ngoài nước. Cho nên diệt phỉ không khéo thì cũng là diệt dân, cả một dân tộc…
Thiệt không vậy, Trời? Ai mà dè Quân Đội Nhân Dân lại bao dung và nhân đạo dữ vậy. Thật là phước đức và quí hóa! Đọc đoạn văn thượng dẫn mà bỗng thấy lòng mát rượi.
Thế mới biết là Trần Đăng Khoa có những nhận xét vô cùng sắc sảo :
“Nhân vật của Nguyên Ngọc đều là những người tốt… Ông bám sát các vấn đề lớn của chính trị, phục vụ trực tiếp các nhiệm vụ chính trị mà tác phẩm vẫn vượt qua được sự minh họa, vẫn thành tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh.”
Quả đúng là như thế. Tuy thế, có lẽ Trần Đăng Khoa đã đẩy dự đoán của mình đi hơi quá xa khi viết về tính nhất quán trong ngòi bút của Nguyên Ngọc: “Truyện, bút pháp ông nhất quán, trước sau như một, không thay đổi, không quay quắt. Trong khi đó, có không ít cây bút chuyển hướng, hoặc thay đổi cách tiếp cận hiện thực để thu hút sự chú ý của bạn đọc… Trước viết người tốt việc tốt thì sau viết người xấu việc xấu. Nguyên Ngọc không thế.”
Vậy mà cách đây chưa lâu – hôm 04/02/2020 – từ Hội An, Nguyên Ngọc đã gửi đi những lời TỐ CÁO nẩy lửa (“về người xấu việc xấu) khiến lắm kẻ phải bàng hoàng :
Trong đêm mồng 8 rạng sáng ngày mồng 9 Tháng Giêng, năm 2020 (nhằm đúng ngày rằm Tháng Chạp, mọi người đang nô nức chuẩn bị đón Tết Canh Tý), gần 3,000 quân thuộc lực lượng vũ trang chính quy của chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, trang bị đầy đủ vũ khí hiện đại và các khí tài công nghệ tác chiến tiên tiến đã được huy động (bởi ai, theo lệnh của cá nhân hay cơ quan tối cao nào?), bất ngờ tấn công vào thôn Hoành, lập tức bao vây khống chế tất cả các nhà trong làng bằng cách phun hơi cay, bắt bớ đánh đập tàn bạo tất cả trai gái già trẻ, nhằm không cho ai chi viện để tập trung đột kích vào nhà cụ Lê Đình Kình và hai con trai cụ, dùng vũ khí phá cửa nhà cụ Kình, phun hơi cay, xông thẳng vào giường cụ Kình, kéo vợ cụ vất ra bên ngoài, đánh đập tra tấn cụ máu me lênh láng khắp phòng, chĩa thẳng súng bắn đúng vào tim cụ, vào đầu cụ, bắn nát chân cụ, ngoài ra còn một số vết đạn khác nữa.
Giết người đi đôi với cướp của: họ còn bắn nát một tủ sắt và cướp mang đi một tủ gỗ trong đó cụ Kình vẫn cất giữ chu đáo tất cả giấy tờ bản đồ chính thức về Đồng Tâm và riêng Đồng Sênh…
Xác cụ Kình, vị đại lão từ nay sẽ trở thành Thành Hoàng bất tử của làng Hoành ấy, sau đó không biết đã bị những kẻ giết cụ mang đi đâu, bị mổ phanh thây không biết để lục tìm hay lấy đi những gì trong lục phủ ngũ tạng.
Hôm sau người thân trong gia đình được gọi lên nhận lại xác cụ với yêu cầu khốn nạn: phải ký xác nhận là cụ chết trong khi xung đột với lực lượng cưỡng chế ở Đồng Sênh, cách thôn Hoành 3 km.
Một vụ án mạng đặc biệt nghiêm trọng đã diễn ra tại nhà cụ Lê Đình Kinh ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm, giữa thủ đô Hà Nội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nạn nhân là đại lão gia Lê Đình Kình, công thần của Tổ Quốc Việt Nam, đã bị các lực lượng vũ trang của chính quyền Việt Nam xử tử hình với hình thức tàn bạo nhất, không theo bất cứ quy định và trình tự pháp luật nào hết.
Cho đến hôm nay, ngày 4 Tháng Hai, năm 2020, nghĩa là gần một tháng sau sự vụ, chưa hay không hề thấy mảy may động thái của toàn bộ hệ thống tư pháp của cái đất nước được coi là có pháp chế này khởi tố một vụ án giết chết công dân Lê Đình Kình.
Tôi nghiêm khắc đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam lập tức ra lệnh khởi tố vụ án lớn giết cụ Lê Đình Kình một cách minh bạch, công khai, công bằng.
Những kẻ chủ trương, những kẻ lên kế hoạch, những kẻ tổ chức lực lượng và ra lệnh thực hiện dù ở cấp nào, những tên sát nhân, hay những tên đao phủ đã trực tiếp ra tay phải đền tội ác trước vành móng ngựa.
Là công dân Việt Nam, là nhà văn Việt Nam, tôi tố cáo tội ác trời không dung đất không tha này trước toàn dân Việt Nam và thế giới.
Tôi thiết tha kêu gọi mọi bậc trí giả trong nước và trên thế giới cùng mọi người có lương tri lên án tội ác man dại này và ngăn chặn nó có thể tái diễn bất cứ ở đâu.
Thế lực thù địch nào đã khiến cho Quân Đội Nhân Dân trở nên một đội quân “mặt người dạ thú” (theo như nguyên văn lời của nhà văn N.N) như thế, nếu không phải chính là cái Đảng đang cầm quyền ở Việt Nam?
Đảng cũng đã “tự chuyển hóa” và “tự diễn biến” chăng?
Không dám đâu!
Trước giờ nó vẫn vậy mà. Vẫn buộc phải “trung với Đảng” và sẵn sàng xả súng vào dân như đã từng xẩy ra khi Quỳnh Lưu Nổi Dậy (Quynh Luu Uprising) vào năm 1956. Đảng viên Trần Nhơn (nguyên Thứ Trưởng Thường Trực Bộ Thủy Lợi) cũng đã khẳng định như thế, trước lúc lìa trần: Không phải ngày xưa Đảng tuyệt vời/ Chẳng qua chưa bị lộ mà thôi!
TNT
Bởi AdminTD
Phạm Đình Trọng
18-12-2021
Ngày 14.12.2021 tòa án Hà Nội xử nhà báo Phạm Đoan Trang 9 năm tù.
Ngày 15.12.2021 tòa án Hà Nội xử hai nông dân ngoại thành Hà Nội, ông Trịnh Bá Phương 10 năm tù. Bà Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù.
Ngày 16.12.2021 tòa án tỉnh Nam Định xử người thợ Đỗ Nam Trung 10 năm tù.
Ngày 24.12.2031 tòa án cấp cao sẽ xử phúc thẩm hai mẹ con nông dân Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư. Án sơ thẩm đã xử bà mẹ nông dân Cấn Thị Thêu 8 năm tù và con trai Trịnh Bá Tư 8 năm tù.
Ngày 31.12.2021 chính quyền Hà Nội sẽ dẫn giải thầy giáo Lê Trọng Hùng ra toà xử.
Tất cả những công dân phải nhận những án tù đằng đẵng từ sáu đến mười năm trời đều là người dân lương thiện, không hề có bất kì tội hình sự cỏn con nào.
Không có tội với dân. Họ chỉ nói những mong muốn, những đòi hỏi chính đáng, khẩn thiết của người dân. Tự do, Dân chủ đang là khát khao của cả trăm triệu người dân Việt Nam. Nói tiếng nói chính đáng của cả xã hội đòi tự do dân chủ thì không có tội. Mảnh đất sống của người dân, tài sản thiêng liêng thấm đẫm mồ hôi và cả máu của dân bị quyền lực đồng tiền núp bóng quyền lực chính quyền cướp đoạt trắng trợn. Người dân phải phẫn nộ gào thét, tập hợp đấu tranh, sẵn sàng đổ máu để bảo vệ tài sản chính đáng, bảo vệ cả lẽ phải, bảo vệ cả đạo lí xã hội thì không có tội. Pháp luật nghiêm minh phải trị tội bạo quyền, bảo vệ tài sản chính đáng của dân chứ không thể buộc tội dân.
Không có tội với nước. Không chỉ sẵn sàng mang cả tính mạng ra bảo vệ Tổ quốc, công dân còn phải có trách nhiệm bảo vệ những giá trị của nhân phẩm con người, những giá trị của xã hội công bằng, văn minh. Những giá trị làm nên vẻ đẹp, làm nên sự giầu có đời sống văn hoá, tinh thần của đất nước cũng làm nên sức sống vững bền của dân tộc của quốc gia. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách là vậy. Nói tiếng nói trách nhiệm công dân thì không có tội.
Không có tội với pháp luật. Người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận được Hiến pháp bảo đảm thì không thể bị buộc tội. Hiến pháp là văn bản pháp luật cơ bản của nhà nước, là bộ luật nền móng để từ đó dựng lên những tầng lầu, xây lên những gian phòng là các bộ luật chuyên biệt của từng lĩnh vực đời sống xã hội, tạo lên toà nhà pháp luật nghiêm minh và bền vững của đất nước.
Luật pháp của bất kì nước nào, của bất kì thể chế chính trị nào cũng phải tuân theo nguyên tắc tối cao, bất di bất dịch là: Các bộ luật chuyên biệt không được trái Hiến pháp. Bộ luật nào, điều luật nào trái Hiến pháp đều vi Hiến, đều không có giá trị pháp lí, đều phản bội ý chí nhà nước và nhân dân. Luật vi Hiến gây tổn hại, mất mát, đau khổ cho dân, gây bất ồn xã hội còn là tội ác.
Hiến pháp không những là những lời vàng danh dự, trang nghiêm của một nhà nước, một thể chế chính trị mà Hiến pháp còn là tiếng nói lịch sử khắc vào thời gian, là tiếng nói long trọng của một quốc gia với thế giới. Bằng điều 25, Hiến pháp 2013, Nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nói lời vàng danh dự với dân, nói lời long trọng với thế giới rằng: Người dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.
Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin là: Người dân có quyền phát biểu, trao đổi, trả lời phỏng vấn truyền thông trong nước và thế giới, có quyền viết trên mạng xã hội, viết báo, viết sách, tạo ra, lưu giữ và phổ biến các văn bản, tài liệu bộc lộ tư tưởng, chính kiến về mọi vấn đề chính trị, xã hội của đất nước, của thời đại. Chỉ khi tuyên truyền lối sống đồi truỵ, chỉ những tư tưởng, chính kiến kích động hận thù, bạo lực, chiến tranh mới không được phép.
Dân trao quyền lực cho chính quyền. Dân đóng thuế nuôi chính quyền và dành cho chính quyền những ưu đãi cao nhất để chính quyền phục vụ dân và lo việc nước. Dân là chủ thể đất nước và chính quyền là công bộc của dân. Với tư thế chủ thể đất nước, với quyền tự do ngôn luận, đương nhiên người dân có quyền nhận định, đánh giá, phê phán đường lối chính sách hiện hành của nhà nước, có quyền khen chê, thậm chí chế giễu, lên án những công bộc mà người dân phiền lòng về năng lực và đạo đức. Đó là điều phổ quát ở mọi xã hội dân chủ trên thế giới. Không quyền lực nào được phép coi sự đánh giá, phê phán của những chủ thể đất nước với chính quyền là “tuyên truyền xuyên tạc đường lối chính sách, chống nhà nước, phỉ báng chính quyền, gây hoang mang trong nhân dân” để hình sự hoá quyền tự do ngôn luận của công dân.
Bộ Luật Hình sự 2015 có hai điều vi Hiến vô hiệu điều 25 Hiến pháp vu tội người dân khi người dân thực hiện quyền tư do ngôn luận là:
Điều 117. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
Điều 331. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Điều 117 và điều 331 Bộ Luật Hình sự 2015 đã ngang nhiên vô hiệu điều 25 Hiến pháp 2013.
Nhà báo Phạm Đoan Trang, những nông dân Cấn thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, người thợ Đỗ Nam Trung, thầy giáo Lê Trọng Hùng và hàng trăm công dân trung thực có ý thức trách nhiệm công dân như thầy giáo Đinh Đăng Định, thầy giáo Đào Quang Thực, nhà văn Phạm Thành, nhà báo Phạm Chí Dũng, nhà báo Nguyễn Tường Thuỵ, kĩ sư tin học Lê Hữu Minh Tuấn, sinh viên Trần Hoàng Phúc, Kĩ sư thuỷ sản Nguyễn Ngọc Ánh,… đều phải nhận những bản án tù cả chục năm trời vì điều luật vi Hiến 117 của bộ Luật hình sự 2015.
Những chữ vàng chói lọi của điều 25 Hiến pháp 2013 nghiêm trang xác nhận quyền tư do ngôn luận của người dân Việt Nam. Nhưng bộ Luật Hình sự 2015 với điều 117 và điều 331 vi Hiến đã chống lại điều 25 Hiến pháp, hình sự hoá quyền tự do ngôn luận.
Hình ảnh nhà báo Phạm Đoan Trang bị công an bắt dẫn giải đi trong đêm vắng như đêm Trung cổ, trên đường phố hun hút là hình ảnh tội ác của những điều luật vi Hiến 117 và 331 bộ Luật Hình sự năm 2015 đang được khắc ghi vào thời gian, đang được khắc ghi vào lịch sử.
Phạm Đoan Trang lúc bị bắt. Ảnh trên mạng
Hình ảnh nhà báo Phạm Đoan Trang hai tay bị còng vẫn phải cầm cây bút viết trong đồn công an là hình ảnh nhức nhối của quyền tự do ngôn luận bị còng bởi điều luật vi Hiến 117 và 331 trong bộ Luật Hình sự năm 2015.
Phạm Đoan Trang ký biên bản làm việc nhưng vẫn bị còng tay. Ảnh trên mạng
Tự do ngôn luận với con người như không khí với sự sống. Sự sống không thể thiếu không khí. Con người không thể thiếu quyền tự do ngôn luận. Điều 117 và điều 331 vi Hiến trong bộ Luật Hình sự 2015, hình sự hoá quyền tự do ngôn luận đã biến cả trăm triệu dân Việt Nam đều trở thành người có tội, đều là những người tù dự bị, có thể bị bắt bất cứ lúc nào.
Điều 117 và điều 331 vi Hiến trong bộ Luật Hình sự 2015 đã biến quyền tự do ngôn luận không thể thiếu của con người thành bóng trăng ảo ảnh xa lắc trên trời cao và người dân Việt Nam chỉ là bấy chó đói hóng bóng trăng tự do ngôn luận vời vợi trên cao xanh như nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm với tâm hồn nhạy cảm nghệ sĩ đã thảng thốt kêu lên:
“Tất cả chúng ta đều bị theo dõi
Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi
Tất cả chúng ta như bầy chó đói
Ngửa mặt lên trời hóng bóng trăng rơi!”
Những ngày đen tối của tháng mười hai, 2021, dồn dập những phiên Toà vi Hiến tuyên án tù Quyền Tự do Ngôn luận.
httpv://www.youtube.com/watch?v=rqlw-hh5vuk
24 Giờ Ly Hôn | 8 Câu Chuyện Về Gia Đình
Sống ở ngôi nhà cạnh biển, người đàn ông cứu 160 người định tự tử
Ở rìa vách đá, ông chỉ mỉm cười và hỏi họ: ‘Tôi có thể giúp gì cho bạn được không?’, rồi mời họ vào nhà uống trà.
Ông Don Ritchie đã cứu sống ít nhất 160 người có ý định tử tự.
Trong gần 5 thập kỷ, ông Ritchie sống trong ngôi nhà ở Sydney với tầm nhìn ra Thái Bình Dương. Đây là một trong những khung cảnh đẹp như tranh vẽ ở Úc. Nhưng không chỉ có tình yêu với biển đã kéo ông đến với địa điểm này, việc quan sát quang cảnh bên ngoài khung cửa sổ của Don Ritchie có một mục đích lớn hơn nhiều.
Ritchie tình cờ sống gần “The Gap”, một vách đá đại dương ở Sydney, Australia. Đây là một điểm đến nổi tiếng với khách du lịch, nhưng cũng là địa điểm mà nhiều người tìm đến để tự sát trong những năm qua. Người ta ước tính rằng có khoảng 50 người tìm đến cái chết ở đây mỗi năm.
Nhưng nhờ giọng nói điềm tĩnh và thái độ cảm thông, ông Ritchie đã giúp “kéo lại” mạng sống của những người tuyệt vọng bằng cách lôi cuốn họ vào những cuộc trò chuyện trên đỉnh vách đá trong giây phút quyết định ấy.
Từ ngôi nhà của mình, ông Ritchie sẽ phát hiện ra những người có ý định tự tử, rồi ông từ từ băng qua phía bên kia. Ở rìa vách đá, ông chỉ mỉm cười và hỏi họ: “Tôi có thể giúp gì cho bạn được không?”. Sau đó, ông sẽ mời họ trở lại nhà mình để uống một tách trà, trò chuyện và thỉnh thoảng có người sẽ quay lại nhiều năm sau đó để cảm ơn ông vì đã cứu sống họ theo cách như thế.
Không tư vấn, không tọc mạch, ông chỉ lắng nghe họ. Một số người trong số này có vấn đề về tâm thần, một số mắc bệnh y tế, một số chỉ là những người đang trải qua một giai đoạn khó khăn trong cuộc sống. Đối với nhiều người, một đôi tai biết lắng nghe rõ ràng là thứ họ cần khi trong giờ phút tuyệt vọng.
“Trong những năm qua, tôi đã nói chuyện với nhiều người, hầu như chỉ theo cách đó, rằng: “Bạn đang làm gì ở đây?”, “Hãy đến và nói chuyện với tôi”, “Hãy ghé qua nhà tôi và uống một tách trà”, “Hãy đến và uống một cốc bia”, hoặc một cái gì đó tương tự để họ không nghĩ tới việc tự tử nữa”.
“Tham vọng của tôi luôn là đưa họ ra khỏi vách đá, kéo dài thời gian, cho họ cơ hội để suy ngẫm và cho họ cơ hội nhận ra rằng mọi thứ có thể sẽ đẹp hơn vào sáng hôm sau”, ông tâm sự.
“Bạn không thể chỉ ngồi đó và để mọi thứ diễn ra. Bạn phải cố gắng để cứu họ”.
“The Gap”, một vách đá nằm ở lối vào cảng Sydney, đây là một địa điểm nổi tiếng về các vụ tự tử ở Australia.
Con gái của ông Ritchie, Sue, cho biết cha cô rất thích tầm nhìn của ngôi nhà, nhưng cũng ông luôn để ý đến những người đang gặp rắc rối ngoài kia. Ông từng nói rằng “đừng đánh giá thấp sức mạnh của một lời nói tử tế và một nụ cười”, cô nhớ lại.
Ông là “sự kết hợp tuyệt vời giữa sức mạnh và lòng trắc ẩn, một người đã làm những điều phi thường cho nhiều người, đã cứu sống họ mà không muốn được công nhận”, Sue nói thêm.
Người đàn ông này từng là một thủy thủ trong Hải quân Hoàng gia Úc trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Trở lại Sydney, ông làm việc trong ngành bảo hiểm. Ông thường nói với bạn bè mỗi khi được hỏi về việc cứu sống mọi người: “Tôi là một người bán hàng trong phần lớn cuộc đời mình và tôi đã bán cho họ một cuộc đời”.
Kể từ năm 1944, ông Ritchie đã cứu ít nhất 160 mạng người, mặc dù một số người nói rằng con số thực còn cao hơn nhiều. Ông Ritchie qua đời vào ngày 13/5/2012 ở tuổi 86, được biết đến với biệt danh Thiên thần của Khoảng cách (Khoảng cách ý nói tên của vách đá The Gap), một danh hiệu mà mọi người thân ái dành tặng cho ông.
Đăng Dương (Theo Independent)
From: TU-PHUNG
httpv://www.youtube.com/watch?v=gtFG6GfjTQ8
Celtic Woman – O Holy Night (2020 Version)
httpv://www.youtube.com/watch?v=8ri2thaAIyA
httpv://www.youtube.com/watch?v=f_PeUWgc1KU
httpv://www.youtube.com/watch?v=BBZ7AfZR9xs