CŨNG LÀ MỘT THÔNG ĐIỆP

CŨNG LÀ MỘT THÔNG ĐIỆP

“Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng và nói, “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”.

Đức Ông James Vlaun nói, “Các linh mục nổi tiếng về việc mượn những câu chuyện của nhau để giảng lễ! Một lần kia, tôi có mặt tại một đám tang với tư cách một người đồng tế; hôm đó, vị linh mục giảng lễ đã kể một câu chuyện thật sâu sắc về thời thơ ấu của ngài. Thực ra, đó là câu chuyện về thời thơ ấu của tôi, và ngài không bao giờ đề cập điều đó; cũng có thể ngài không biết!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Thật thú vị, Tin Mừng hôm nay cũng tiết lộ một chuyện tương tự ngay từ ngày đầu tiên khi Chúa Giêsu bắt đầu thi hành sứ vụ công khai. Chúa Giêsu cũng đã ‘mượn tạm’ thông điệp của Gioan để ‘giảng lễ mở tay’ của Ngài một cách ngon ơ! Như vậy, điều đã xảy ra với James Vlaun cũng đã xảy ra với Gioan; bởi lẽ, ‘cũng là một thông điệp’, nhưng Gioan đã rao giảng trước, khi ông vừa từ hoang địa bước ra, “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”.

‘Cũng là một thông điệp’; tuy nhiên, từ môi miệng Chúa Giêsu, những lời này mang một ý nghĩa phong phú hơn nhiều. Gioan loan báo một Nước Trời sắp đến, một Nước Trời mà có lẽ, bản thân Gioan cũng rất mù mờ; đang khi Chúa Giêsu, Ngài là Đấng phải đến của chính Nước đó, Vương Quốc đó; và còn hơn thế nữa! Tuyệt vời thay, chính Chúa Giêsu là Nước Trời, là Vương Quốc! Rồi đây, Ngài sẽ xác nhận điều đó, “Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông!”. Bên cạnh đó, với Ngài, “sám hối” cũng mang một ý nghĩa khác! Sám hối thường được hiểu là hối hận, đau buồn vì những điều sai trái mình đã làm; ở đây, “sám hối”, “metanoia” trong tiếng Hy Lạp, là kêu gọi một sự thay đổi hoàn toàn và triệt để bên trong về cách thức chúng ta nhìn cuộc sống. Nó không quan tâm đến quá khứ, nhưng là tương lai!

Tuy nhiên, với Chúa Giêsu, “Nước Trời” ở đây không đề cập đến cuộc sống tương lai; nó không bảo tất cả chúng ta sắp rời trái đất để về thiên đàng; “Trời” là một cách nói trại để chỉ danh Thiên Chúa, mà Matthêu, viết cho Kitô hữu Do Thái, không muốn sử dụng. Với người Do Thái, tên của Thiên Chúa thánh đến nỗi con người không được phép thốt ra. “Nước Trời” đó đã đến vì nó được hiện thân trong con người Chúa Giêsu. Chính Ngài sẽ thể hiện sự hiện diện hiệu quả của quyền năng Thiên Chúa; và điều đó được Matthêu cho thấy trong phần thứ hai của Tin Mừng hôm nay, “Người ta đã đem đến cho Ngài đủ thứ bệnh nhân, những người mắc phải tật nguyền đau đớn, quỷ ám, kinh phong, bất toại. Ngài đã chữa lành họ”, đó là sức mạnh của tình yêu và sự hàn gắn. “Chữa lành” có nghĩa là khôi phục sự toàn vẹn cho mọi người, mọi sự; vì mục tiêu của Nước Trời là khôi phục sự toàn vẹn của toàn thế giới. Đó là lý do của Giáng Sinh, cũng là lý do tại sao Hài Nhi trong máng cỏ được sinh ra, đi liền với sứ mệnh mà Ngài phải chu toàn cho đến chết.

Anh Chị em,

“Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”. Hôm nay, Chúa Giêsu vẫn đang nói những lời đó với mỗi người chúng ta. Ngài muốn nói, hãy thay đổi cách nhìn, cách sống, vì chính Ngài là Nước Trời đang ở giữa chúng ta. Ngài đang phập phồng hồi hộp với chúng ta trong mọi tân toan của thiếu thốn, thất nghiệp và dịch bệnh; Ngài đang muốn chữa lành, khôi phục sự toàn vẹn của mọi sự; và điều Ngài muốn nhất, là chữa lành, khôi phục chính mỗi người chúng ta. Đúng thế, mỗi ngày, mỗi biến cố xảy ra, Thiên Chúa đang gửi đến những thông điệp cho từng người, từng linh hồn qua Ngôi Lời của Ngài; thông điệp có thể khác nhau, nhưng tựu trung, chúng vẫn chuyên chở một sự thật, “Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đang thương xót chúng ta; Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta”. Hãy nhận ra dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa trong Giêsu và an tâm tín thác vào Ngài. Đó ‘cũng là một thông điệp’ mà từng ngày chúng ta nhận được, vốn sẽ dẫn tới một thông điệp quan trọng gấp bội, “Hãy trở nên con người mới mà Thiên Chúa muốn mỗi người chúng ta trở thành!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giúp con tạo nên một sự khác biệt, trước hết, nơi bản thân con, bằng một đời sống sám hối; nhờ đó, con có thể tạo nên một sự khác biệt cho Giáo Hội, cho thế giới!”, Amen.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Triết lý vụn về Bệnh! 

Sức khoẻ quý thật, nhưng quý nhất, trên cả sức khoẻ, là cái nhìn thấu suốt cuộc đời, sinh lão bệnh tử, để chấp nhận dễ dàng một khi sức khoẻ mất đi. Lúc đau bệnh, bạn sẽ đau, yếu, nhưng bạn không khổ vì mất đi cái “quý nhất”.

Xem nhẹ đồng tiền, khi mất nó bạn sẽ ít khổ. Nguyên lý đó cũng áp dụng cho tất cả, kể cả sức khoẻ…”

Triết lý vụn về Bệnh! 

Nguyễn Văn Hoàng 

Hôm nay kỷ niệm 2 năm ngày em trai tôi, Nguyễn văn Hoàng, đột ngột ra đi vĩnh viễn. Là một bác sĩ nhưng Hoàng có một cái nhìn độc đáo về vấn đề bệnh tật.

Xin gởi đến các bạn một bài viết của Hoàng để cùng nhau hồi tưởng lại cái thuở mà Hoàng còn “tung hoành” trên Facebook.

***

Không biết đã bao nhiêu lần đệ nghe bệnh nhân nói câu này:

– Sao hồi đó giờ tôi hỏng có bị như vầy?

Đúng vậy. Không ai ra đời là có đủ thứ bệnh. Phải nói là trong vài chục năm đầu rất ít bị bệnh. Thế rồi một hôm đau lưng xuất hiện, rồi đau đầu gối, rồi chóng mặt, rồi tiêu ra máu, rồi tiểu không ra, rồi đau ngực, rồi mắt không thấy đường, rồi liệt giường, liệt chiếu.

Cái câu hỏi “Sao hồi đó giờ tôi hỏng có bị như vầy?” tự nó đã hàm chứa câu trả lời: Bạn đã già. Hồi đó giờ bạn trẻ, khoẻ mạnh, bây giờ bạn bắt đầu già yếu rồi, nên bệnh đến với bạn.

Và bệnh nhân nói tiếp:

– Tui hỏng sợ gì hết, chỉ sợ bệnh thôi.

(Vậy mà hô hỏng sợ gì hết)

Bạn có biết đó là cái sợ vô cùng hữu lý, ai mà không sợ bệnh, nhưng cũng là cái sợ vô cùng vô ích bởi vì ai cũng sẽ bị bệnh. Không sợ bệnh cũng sẽ bệnh mà sợ bệnh cũng sẽ bệnh.

Cái sợ không thể nào làm bạn không bị bệnh và cái sợ đó làm bạn sống trong lo âu, phập phồng, mất hạnh phúc trước khi bạn bị bệnh.

Bạn hãy làm mọi cách để khoẻ mạnh lâu nhưng, nhưng cấm bạn sợ, cấm bạn lo, vì cái sợ đó hại bạn trước khi bạn bệnh. Những bệnh nhân này không có bệnh gì nặng hết nhưng cứ nhức đầu, nhức vai, nhức lưng, khó thở, chóng mặt, đau bao tử và đặc biệt là mệt, lúc nào cũng than mệt.

Trong program đệ dùng ở phòng mạch, có danh mục các chứng, bệnh, và trong đó có cái chứng gọi lại “fear of diseases”, chứng sợ bệnh, hay bệnh sợ bệnh. 

Tiểu đệ khuyên bệnh nhân:

“Phòng bệnh là điều cần thiết, nhưng chuẩn bị tinh thần, chấp nhận dễ dàng khi nó đến là điều cần thiết hơn, vì trước sau bạn cũng sẽ đi ngang cái ải bệnh này, trừ phi bạn may mắn chết bất đắc kỳ tử.

Khi bệnh tới, thí dụ như nhẹ nhẹ là bị đau lưng, khá khá hơn một chút là nhồi máu cơ tim hay ung thư, khá chút nữa là bán thân bất toại vĩnh viễn, thì bạn hãy bình thản nói “rồi, tới phiên mình”

Chúng ta như những người sắp hàng đến quầy trả tiền. Chóng hay chầy, chắc chắn sẽ đến phiên mình móc bóp.

Người ta thường nói cái quý nhất là sức khoẻ.

Có lẽ không nên quan niệm như vậy.

Cái gì mình quý nhất thì khi mất nó đi mình sẽ đau khổ nhất. Mà chắc chắn sức khoẻ thì ai cũng sẽ bị mất. Tiền có thể giữ cho đến chết chớ sức khoẻ thì không.

Quan niệm quý sức khoẻ nhất là quan niệm chuẩn bị cho bạn đau khổ khi sức khoẻ bị mất đi, khiến bạn lo lắng khi chưa bị bệnh.

Sức khoẻ quý thật, nhưng quý nhất, trên cả sức khoẻ, là cái nhìn thấu suốt cuộc đời, sinh lão bệnh tử, để chấp nhận dễ dàng một khi sức khoẻ mất đi. Lúc đau bệnh, bạn sẽ đau, yếu, nhưng bạn không khổ vì mất đi cái “quý nhất”.

Xem nhẹ đồng tiền, khi mất nó bạn sẽ ít khổ. Nguyên lý đó cũng áp dụng cho tất cả, kể cả sức khoẻ.

Từ thời có con người đến nay, cả tỉ người đã bệnh. Bây giờ tới phiên mình. Có cái gì mà ầm ỉ.

Nguyễn Văn Hoàng

19/12/2018

 From: Helen Huong Nguyen 

Ăn & Ở – Tưởng Năng Tiến

Ăn & Ở – Tưởng Năng Tiến

Có anh bạn đồng hương và đồng nghiệp trẻ, sau khi tình cờ biết rằng tôi là dân thuộc bộ lạc Tà Ru (tù ra) bèn nhỏ nhẹ khen:

– Không thấy ai đi “cải tạo” về mà vẫn lành mạnh, bình thường như chú!

Chưa chắc đó đã là lời chân thật, và dù thật thì e cũng chỉ là câu khen trật (lất) thôi! Nói tình ngay, tôi không được “bình thường” hay “lành mạnh” gì lắm. Tôi ít khi đề cập đến những năm tháng lao tù của mình, giản dị chỉ vì nó rất ngắn ngủi và vô cùng nhạt nhẽo.

Khi có dịp gặp gỡ những vị huynh trưởng, vốn đều là dân từ “chiến khu” ra (Vũ Ánh, Đoàn Viết Hoạt, Vũ Thư Hiên, Thanh Thương Hoàng, Phan Nhật Nam, Bùi Ngọc Tấn, Uyên Thao, Nguyễn Chí Thiện …) tôi luôn luôn chỉ “dựa cột mà nghe” – dù luôn uống khá nhiều – chứ tuyệt nhiên không hề dám “thưa thốt” (hay nói leo) một câu nào ráo.

Tổng cộng số ngày tôi đi “cải tạo”, có lẽ, không nhiều hơn thời gian mà Nguyễn Chí Thiện ngồi trong chuồng xí (sau mấy lần tù) và chắc chưa bằng tổng số đêm mà Vũ Ánh hay Phan Nhật Nam nằm chèo queo trong những xà lim kiên giam ở A 20 – Phú Yên – hay trại 5 Thanh Hóa.

Tôi cũng chả bị vu vạ cho những tội trạng tầy đình (xét lại, âm mưu lật đổ chính quyền, biệt kích cầm bút) như Đoàn Viết Hoạt, Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn, Uyên Thao, Thanh Thương Hoàng, và vô số tù nhân khác. Tội danh của tôi tuy nghe cũng nặng nề (“cầm súng chống lại nhân dân”) nhưng vì chỉ là một sỹ quan hạng bét, và có hàng trăm ngàn thằng như thế nên không đứa nào bị hỏi cung hay tra vấn gì sất. Cái giá phải trả tương đối cũng nhẹ hều à: lao động cải tạo.

 Chỉ có điều vô cùng “bất tiện” là chúng tôi chả bao giờ được cho ăn uống đàng hoàng hay no đủ cả. Với thời gian, cái đói – dường như – cũng từ lòng ruột “ngấm” luôn vào tiềm thức hay vô thức. Ngay cả trong giấc ngủ, tôi cũng chỉ mơ toàn khoai (với củ) chứ chưa hề thấy cá hấp, vịt quay, gà xối mỡ, chim cút rô ti, hay cua rang me (hoặc rang muối) một lần nào cả.

Tôi đói đến độ có thể nuốt cơm không, chả cần muối mắm gì, cũng vẫn thấy rất ngon. Hạt cơm vào miệng tan thành như sữa, ngấm tận kẽ răng, rồi trôi dần xuống họng. Nó trôi đến đâu là thấm thía, đậm đà, ngọt ngào tới đó.

Cũng từ đó, tôi nhìn thực phẩm (hạt ngô, hột đỗ, muỗm cháo, thìa mỡ, tán đường, cục kẹo …) bằng một đôi mắt khác – trân trọng đến độ bất thường – và hoàn toàn không được “lành mạnh” gì cho lắm! Đôi lúc, tôi lớn tiếng quát tháo con cái (chỉ vì chúng bỏ dở chút thức ăn thôi) rồi cứ ân hận mãi về cái tính khí “không được bình thường” của mình!

Thế hệ chúng tôi không phải là những người Việt đầu tiên sống chung với … đói. Nhiều kẻ cũng bị lâm vào cảnh khốn cùng tương tự, từ giữa thế kỷ trước, dù họ chả có tội tình gì ráo:

Bán trôn rồi lại bán cả mồ hôi
Mà đói rét vẫn quần cho sớm tối!

Hai câu thơ trên Nguyễn Chí Thiện viết từ năm 1964. Mười năm sau, sau khi cuộc chiến Bắc/Nam đã chấm dứt, tình hình – xem ra – cũng không khác trước bao nhiêu:

“Sau năm 1975, chính quyền CSVN cho phép các hộ gia đình được giết mổ lợn vào dịp tết nhưng phải xin giấy phép của UBND xã và nộp thuế sát sinh… Chuyện đụng lợn ngày tết cũng phải nói thêm rằng, đối tượng là những gia đình có mức sống trung bình trở lên chứ những hộ nghèo đói quanh năm thì chỉ dám mua vài cân thịt chui ở chợ đen. Trong 3 ngày tết, họ ăn thịt rang mặn với rau dưa là chính. Chỉ sáng mồng Một tết họ mới dám thịt con gà để cúng tổ tiên. Vì thế, mấy ngày trước tết, nếu nghe tiếng lợn kêu từ nhà nào vọng tới thì họ cũng chỉ biết thở dài và cảm thấy chạnh lòng nhìn lũ con đói cơm, rách áo.” (FB Lê Hữu Nghiệp. “Đơn Xin Mổ Lợn Thời Bao Cấp” – 09/06/2021).

Miền Nam – tất nhiên – cũng thế, theo như lời của blogger Trần Ngọc Tuấn: “Khoảng thời gian 1976 – 1977… các chợ trời ở Miền Nam như Sài Gòn – Đà Nẵng – Huế không còn thấy sách nữa, thay vào đó là quần áo, máy nghe nhạc Akai, đồng hồ, xe đạp, xe máy, bàn ghế kiểu, salon, tủ chè, tủ lạnh, tivi…và cả bàn thờ…cả trăm thứ đồ dùng dân sự, đồ nhà binh, thượng vàng hạ cám. Điều đó chứng tỏ người dân Miền Nam (tính từ Quảng Trị trở vào) đã lâm vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn về kinh tế, về miếng ăn hàng ngày.

Thời gian, cũng như thời cuộc – may thay – đều không đứng về phía cường quyền nên việc “quản lý bao tử” không thể kéo dài mãi được. Chế độ tem phiếu buộc phải cáo chung. Blogger Lê Bá Vận kết luận: “Cộng sản dù là thứ chính cống cũng chịu hết nổi buộc phải từ bỏ chính sách Bác Hồ bao cấp để sửa sai, đổi mới. Đó là thời kỳ Kinh tế thị trường định hướng XHCN.”  

Kinh Tế Thị Trường không chỉ giúp cho đám đông quần chúng được đủ no mà còn tạo ra một nhu cầu mới cho giới quan chức cao cấp ở Việt Nam, như phản ảnh của báo chí ở xứ sở này:

Điều đang “thách thức” công luận – thực ra – không phải là những biệt phủ/biệt thự nguy nga mà là tình cảnh sống chui rúc (như chuột bọ) của đám đông quần chúng. Báo Lao Động, số ra ngày 28/12/2020, cho biết:

“Theo kết quả kiểm toán chương trình nhà ở xã hội vừa được Kiểm toán Nhà nước công bố, tại Hà Nội, trong giai đoạn 2016-2020, dự kiến có 15 dự án nhà ở xã hội được xây dựng, hoàn thành nhưng đến tháng 7.2020 chưa có dự án nào hoàn thành.”

Toàn là những “dự án ma” thôi thì làm sao mà “hoàn thành” được, mấy cha? Phần lớn dân Việt nay có đủ ăn là đã “hạnh phúc” lắm rồi, chưa ai kịp nghĩ đến chuyện ở đâu. Họ “chỉ mỗi mong có cái bỏ vào mồm” thôi, theo như cách nói của bỉnh bút Thu Trân của trang Việt Nam Thời Báo.  

Ngay cả đến một cặp vợ chồng nghệ sỹ lừng lẫy như Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh mà còn không có một chỗ trú thân tử tế thì nói chi đến đám công nhân lam lũ: Khoảng không gian của anh và em/ Khi buồn bã em không thể quay mặt đi nơi khác/ Anh không giấu em một nghĩ lo nào được/ Ta chỉ có mấy thước vuông để cùng khổ cùng vui.

Vấn đề chỉ trở nên phức tạp khiến thiên hạ lo sợ trong những ngày dịch bệnh vừa qua vì mức độ lây lan nhanh chóng do sự bẩn chật thôi. FB Đào Tuấn tường thuật:  

Thứ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Hồi kể trong đợt khảo sát vừa rồi, ông gặp trường hợp có gia đình 5-6 người sống trong căn phòng chỉ 7m2… Không hiểu họ ăn ở sinh sống thế nào khi mà chỉ thở thôi đã vật vã rồi. Nhưng đó chưa phải là sự tồi tệ nhất. Ông Trần Việt Anh, Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP.HCM nói: Nhiều phòng trọ chỉ 10m2, mà có tới 10 người chen nhau chung sống.

Trước phong tỏa, họ chia ca ngày đêm đi làm cũng đỡ. Bốn tháng hơn 120 ngày lockdown tất cả chui một chỗ 24/24. Không gian kín mít ở những nhà trọ ổ chuột như này chính là lý do vì sao số F0 dựng đứng suốt mấy tháng giời.

Lockdown không kéo dài hoài. Dịch bệnh rồi cũng sẽ qua thôi nhưng họa cộng sản thì e sẽ còn ở lại lâu.“Những nhà trọ ổ chuột” cũng thế, cũng sẽ tồn tại mãi mãi với chế độ hiện hành. Phát biểu khai mạc Hội Nghị Trung Ương 4, Khóa XIII – hôm 4 tháng 10 năm 2021 – Nguyễn Phú Trọng bầy tỏ sự lo âu:

“Tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’ vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường.”

Trong khi mà người dân đang cuống cuồng (như bầy kiến trên một que sắt nóng) thì điều duy nhất mà ông TBT đương nhiệm quan tâm vẫn chỉ là là sự tồn vong của Đảng và Nhà Nước thôi, chứ còn chuyện ăn ở của đám dân đen thì chưa bao giờ được các đồng chí lãnh đạo mang ra bàn thảo trong suốt bốn kỳ ở Hội Nghị Trung Ương. Quí vị Đại Biểu Quốc Hội cũng vậy, cũng câm như hến ròng rã hai phần ba thế kỷ qua – nếu tính từ năm 1946.

Tưởng Năng Tiến
10/2021

Biết Sống – Nguyễn Ngọc Tư

Biết Sống

Nguyễn Ngọc Tư

Chị kể hồi ở Sài Gòn hay tới một quán cháo vịt ngon muốn xỉu, nhưng tới hơi trễ chút là phải chịu bụng đói ra về. Bởi quán chỉ bán đúng sáu con vịt, không thêm không bớt. Khách có kì kèo hay đòi nằm vạ cũng chỉ nhận được nụ cười, “chịu khó mai quay lại”.

Hỏi khách quá chừng đông sao không bán thêm, chú chủ quán cười, nhiêu đây là đủ. Nhưng đủ cho cái gì, chú không nói thêm.

Ngồi quán đó, chị nhớ quán bán bánh canh cua của má nổi tiếng xóm hẻm hồi xưa. Mỗi ngày nấu đúng bảy chục tô, hỏi mua tô thứ bảy mươi mốt về làm thuốc cũng hên xui.

Sáng dọn chưa ấm chỗ, vèo cái hết nồi bánh, bà dành cả thời gian còn lại của ngày để nằm võng nghe Thái Thanh, hoặc dẫn con Chó đi chơi dài xóm. Chó, là tên của con vịt xiêm cồ.

“Sống như má mình không phí cuộc đời. Đâu phải giàu mới vui”, nhắc tới đó chị bùi ngùi. Người ra thiên cổ lâu rồi, nhưng ký ức động đậy như người vẫn đi lại quanh đây.

Chị nói người sống ung dung kiểu vậy giờ ngày mỗi hiếm, nhưng không phải không có.. Họ đang ở đâu đó, chừng như vô nhiễm với cơn khát tiền. Ở Hội An chị biết một quán nước nhỏ nằm dưới giàn cát đằng, cà phê ngon, trà gừng hết xẩy mà đúng bong mười giờ là đóng cửa.

Sau bữa trưa, anh chị chủ dành thời gian đọc sách, nghe nhạc, chơi với mấy đứa cháu nhỏ. Nhiều sáng khách đông, hết chỗ ngồi, nhưng sân vẫn để trống không chẳng kê thêm bàn. Sân là khoảng thở của ngôi nhà, không phải chỗ để chen chúc bán mua lấy được.

Nhắc mấy chuyện đó, không phải nói khơi khơi, mà chị đang nhắn thằng em thời cào hốt này vẫn còn những người “biết sống”. Vì tuần sau là giỗ má. Vì thằng em vừa chặt cây khế, cơi thêm một tầng lầu, chồm lan can ra che gần hết lộ hẻm. Nó nói không lấn được phần đất, thì lấn trời.

Tiền xây nhà nó kiếm được từ quán bánh canh má để lại, mở bán từ sáng sớm tới khuya. Nó thuộc kiểu được mười ba đồng, thì phải kiếm thêm bảy đồng cho chẵn hai chục. Giàu cái đã, chuyện khác tính sau.

Cũng là con má nhưng tánh thằng em ngược một trời một vực. Tại sao bà chỉ bán bảy chục tô bánh canh, bà giải thích rồi, nhiêu đó đã đủ lời để xoay xở trong nhà, lại còn dư chút đỉnh để dành khi bất trắc. Mấy chục năm, bà hài lòng với việc giữ gia cảnh mình gói gọn trong hai chữ “đủ ăn”.

“Nhưng làm nhà giàu sướng hơn chớ, má ?”

“Giàu nghèo gì phải vui mới được”.

Chữ vui đó cũng minh mông, với mỗi người nó có nghĩa khác nhau. Với bà chủ tiệm tạp hóa Linh Thông là buôn bán luôn tay, mặc dĩa cơm tấm khô queo và ly cà phê đá tan trắng nhợt tự hồi nào. Vui của ông chủ chuỗi cửa hàng điện máy là mở thêm vài chi nhánh mới. Của quán nhậu Tăng Ba là khách nào ra khỏi đó cũng xùng xình say. Hay với vợ chồng thằng em, không vui nào bằng nghe tiếng những tờ giấy bạc sột soạt lúc nửa đêm.

Nhưng có những người như má, vui bởi được nằm thong thả nghe Thái Thanh hát “bể sầu không nhiều nhưng cũng đủ yêu”, vui vì nhà có cây khế chua cho trái gần như quanh năm. Chua tới con nít bụi đời không thèm hái. Nhưng khế chua được cái trái lớn, mọng nước, dài cánh khía sâu. Má hái mớ trái chín vàng chất lên cái rổ tre cạn lòng, là đẹp bừng lên bàn ăn trong bếp.

Đó là ngôi nhà rất đẹp, trong ký ức con cháu. Không có hoa tươi (như bà nói hoa chỉ đẹp khi còn nguyên cành nguyên gốc), nhưng nhà vẫn được chưng diện bằng những thứ ít ai ngờ. Cái rổ tre lúc nào cũng đựng gì đó, khi thì những trái muồng khô, lúc khác, trái bàng.

Không phải loại trái cây ăn được, chúng rụng đầy công viên, chỉ cần cúi lượm một chút là đầy rổ. Nhìn thấy cái đẹp trong thứ tưởng chừng vô dụng, trăm phần trăm chẳng phải người sống gấp sống nhanh.

Mấy thứ trái tức cười trong rổ tre của má, cũng là thứ mà chị nhớ, vào buổi chiều nào đó ghé thăm ngôi nhà xiêu xiêu gần cửa Gió. Xóm chài, buổi trưa vắng người. Trên bộ vạc sau nhà có một nắm trái so đũa nằm trên mo cau. Hỏi thứ này ăn được sao, một thằng nhỏ cười, hông đâu cô, con để vậy cho đẹp. Trưng ở sau nhà, nên chắc chắn không vì khách, đẹp này cho mình..

Mớ trái gà chê dê nguýt nọ không phải được mang về bởi một phụ nữ nào, mà từ thằng nhỏ cháy nắng đen thui. Nghe thằng nhỏ nói, chị đoán sau này nó sẽ vác cây đờn đi ca tài tử, sau một ngày đánh bắt mệt lả.

Nửa đêm về nó đứng ngoài hè một lúc lâu, vợ hỏi sao không vô, nó nói trời nhiều sao quá, nhìn thêm chút nữa. Thằng nhỏ cũng có thể trở thành một anh giám đốc thiệt ngầu, nhưng mỗi cuối tuần anh tắt điện thoại, chở con ra đồng thả diều, ngắm bèo trôi sông.

Đó là một người sẽ tận hưởng được nhiều vẻ đẹp trên đời, bất kể giàu nghèo. Như má. Một người đàn bà mà khi nhắc tên ai cũng buột miệng kèm theo mấy chữ, “sao mà biết sống quá xá”.

Cái khái niệm biết sống này cũng vô chừng, mỗi người mỗi kiểu, nhưng nhìn một lượt, chừng như người biết sống là biết đủ. Khi đó tham vọng thôi sôi réo, họ trọn lòng lắng nghe những tiếng thì thầm ở quanh mình.

Nhưng đó không phải là kiểu sống mà vợ chồng thằng em chọn. Nó nói ai cũng tà tà vậy thì sao nước mạnh được. Mạnh, là phải có tiền, nhiều tiền, rất nhiều tiền. Có tiền mua gì cũng được. Mua vũ khí. Mua bằng hữu. Không thiếu nợ, và khỏi phải lấy đất đai ra trừ cấn nợ.

Chị hiểu nó muốn ám chỉ chính sự gì đây, cười, “nói thì hay, bữa rồi có vài trăm ngàn tiền thuế mà kì kèo trả giá”. Người giàu nhiều, mà đất nước vẫn nghèo, là vậy. Tới cái nắp cống ngoài đường cũng bị lấy cắp. Ai cũng vơ vét cho mình, sẵn sàng ôm tiền bỏ chạy.

Hồi buổi chụp giựt bắt đầu, ngó tiền lẻ nhét đầy tượng Phật, chị không nghĩ thời thế kéo dài như vậy. Lâu đến mức không tin là mình chờ được ngày kết thúc. Sóng trước sóng sau cứ hớt hãi. Nhỏ cháu chị mua sách dạy làm giàu về gối đầu giường, dù ba nó nói cần gì đọc, chỉ cần chui vào cơ quan nhà nước, lên cao, thì đường nào cũng giàu.

Ngó mớ tựa rất kêu kiểu như “làm giàu không khó”, “Hai mươi bảy cách trở thành tỉ phú”, chị biết trong đó không có câu nào khuyên người ta biết thả lỏng tắm mình trong mùi hoa ban đỏ trong đêm. Mùi hoa nhẹ lắm, hít thở nhanh không cảm nhận được.

Chị nhắc con nhỏ cũng có những cuốn sách chỉ cách người ta sống chậm, cách kháng cự lại lòng tham lúc nào cũng đói khát của chính mình. Ở hai bên con đường một chiều đi tới miền khuất mặt, nhiều thứ đẹp lắm, chạy nhanh thở gấp thì không thấy được đâu

Nguyễn Ngọc Tư.

Tai nạn thảm khốc ở Houston, 3 người chết, 3 bị thương, nạn nhân là gốc Việt

Tai nạn thảm khốc ở Houston, 3 người chết, 3 bị thương, nạn nhân là gốc Việt

January 2, 2022

HARRIS COUNTY, Texas (NV) – Một tai nạn giao thông thảm khốc xảy ra vào sáng sớm Thứ Bảy, 1 Tháng Giêng, làm ba người thiệt mạng và ba người khác bị thương, ở phía Tây Bắc thành phố Houston, Harris County, tiểu bang Texas.

Theo đài ABC 13, tai nạn xảy ra lúc 1 giờ khuya ở block đường 3600 Barker Cypress Road, gần khu Barkers Branch.

Cảnh sát Harris County có mặt tại hiện trường. (Hình: Twitter Rilwan Balogun)

Sở Cảnh Sát Harris County chưa công bố danh tính và chủng tộc các nạn nhân, nhưng cho biết vụ tai nạn xảy ra khi hai chiếc xe tông nhau tại ngã tư.

Một xe Totoya Rav4 đang chạy trên đường Barker Cypress đến gần một ngã tư. Lúc đó, chiếc Sienna đang quẹo trái qua ngã tư này.

Các điều tra viên cho biết, chiếc Sienna không chịu nhường cho xe đi thẳng tại “đèn bò,” và bị chiếc Rav4 tông vào.

Theo cảnh sát, tài xế lái chiếc Toyota Sienna màu đỏ là một người đàn ông 70 tuổi. Đồng thời cho rằng nữ tài xế 32 tuổi lái chiếc xe thứ hai (Totoya Rav4) trong vụ tai nạn đã uống rượu hay dùng ma túy khi lái xe.

Trong khi đó, ca sĩ Diễm Chi ở Houston cho nhật báo Người Việt biết, sáu người trong xe Sienna là người gốc Việt lớn tuổi, cư dân Houston, và họ đang trên đường về nhà sau khi dự lễ mừng năm mới.

“Một nạn nhân qua đời là bạn mình, có tên Nancy Thanh Phạm. Bà là một người vui vẻ, rất thích ca hát.” Ca sĩ Diễm Chi nói.

Theo bà Diễm Chi, “một số thân hữu báo tin dữ này vào chiều ngày 1 Tháng Giêng, và cho hay các nạn nhân đang trên đường về nhà sau khi dự lễ đón năm mới.”

Khi tại nạn xảy ra, theo cảnh sát, trong xe Sienna có tổng cộng sáu người, và ba người bị văng ra ngoài khi tai nạn xảy ra. Hai người qua đời tại hiện trường, các cảnh sát viên cho biết các nạn nhân không thắt dây an toàn.

Tài xế của xe Sienna và một người khác trong xe được đưa đến bệnh viện. Tài xế bị thương nặng nhưng không nguy hiểm tính mạng, còn người kia thì qua đời trong bệnh viện.

Trung Sĩ Beatty của Sở Cảnh Sát Harris County cho biết trong xe Rav4 chỉ có tài xế, và người này được đưa đến bệnh viện Memorial Hermann ở thành phố Katy. Khi đến bệnh viện, nữ tài xế này có biểu hiện say rượu hay dùng ma túy.

Hai người khác trong xe Sienna cũng được đưa đến bệnh viện Memorial Hermann, và đang trong tình trạng nguy kịch.

Cảnh Sát Trưởng Ed Gonzalez của Harris County cho biết nhân viên công lực đang điều tra để biết là tài xế của xe Sienna có lái xe say xỉn hay không, và biết được tốc độ của hai xe khi xảy ra tai nạn thảm khốc như vậy.

Nói với nhật báo Người Việt, ca sĩ Diễm Chi xác nhận những thông tin Sở Cảnh Sát Harris County đưa ra là chính xác, và nói rằng, bà biết tài xế của xe Sienna là người lớn tuổi, lái xe đàng hoàng, không thể nào vi phạm luật giao thông và say xỉn được. (TL) [kn]

HÃY ĐỂ TÂM YÊN TĨNH DỪNG LẠI, BUÔNG THẢ, LÀM LẮNG DỊU THÂN TÂM

HÃY ĐỂ TÂM YÊN TĨNH DỪNG LẠI, BUÔNG THẢ, LÀM LẮNG DỊU THÂN TÂM

Hôm ấy đạo sư có việc ở làng quê hẻo lánh và đưa đệ tử đi theo. Cả hai đều cuốc bộ. Dọc đường, đạo sư bảo đệ tử tạm nghỉ chân dưới một tàn cây xanh um, như cái dù lớn che nắng trưa chói chang. Cách đó xa xa là một dòng suối nhỏ chắn ngang. Đạo sư bảo:“Thầy khát. Nhờ con lấy dùm thầy chút nước’’. “

Đệ tử mau mắn xách vò, thoăn thoắt bước tới con suối. Đến nơi, anh tần ngần nhìn dòng nước, rồi nhìn sang bên bờ kia. Bắt gặp một đàn bò còn ướt lông, hiểu ra cớ sự, anh quay lại gặp sư phụ, bộc bạch: “Thưa thầy, người ta mới vừa dắt bò qua suối. Nước bị quậy lên đục ngầu nên con không dám…”

Đạo sư ôn tồn: “ Được con. Vậy mình chờ một chút”.

Khoảng mười lăm phút sau, đạo sư bảo:“Lấy nước đi con!”

Đệ tử sốt sắng xách vò trở lại bờ suối. Anh thấy nước bớt đục hơn, nhưng vẫn chưa thể dùng được. Lập tức quay về chỗ sư phụ, anh áy náy nói: “Thưa thầy, cũng chưa uống được đâu ạ.”

Đạo sư mỉm cười: “Không sao, con. Mình chờ thêm một chút nữa.”

Rồi ngài xếp bằng, hai bàn tay để lên lòng, sửa dáng cho thẳng lưng, lim dim đôi mắt, yên lặng dưỡng thân dưới bóng râm của tàn cây.

Khoảng nửa giờ sau, đệ tử ấy trở lại bờ suối. Bây giờ nước đã trong veo, có thể nhìn thấu lớp sỏi dưới đáy. Anh rón rén bước xuống để khỏi khấy động, và cố lựa chỗ tốt nhất để múc đầy vò nước mát mang về dâng thầy.

Đạo sư đón lấy cái vò, nhìn vào rồi bảo “Con xem. Làm thế nào con có được chỗ nước trong trẻo, mát ngọt này. Thật ra con chẳng làm gì cả. Con chỉ cần kiên nhẫn đợi cho cặn cáu có đủ thời gian để nó tự lắng xuống. Tâm con cũng thế. Khi tâm con nổi sóng, điên đảo, con đừng toan tính cách này cách kia để cố dẹp yên nó. Con hãy cho nó đủ thời gian để nó tự lắng xuống. Nên khi con giận ai, con đừng thèm nghĩ tới họ nữa, đừng ráng tranh cãi hơn thua. Con hãy hướng tư tưởng con sang việc khác. Tốt nhất là con làm thinh, giả mù, giả điếc và kiếm một chỗ mà ngồi thở đều đặn, nhẹ nhàng. Con chỉ tập trung vào hơi thở mà thôi.”

Đệ tử đáp: “Thưa thầy, nhưng thường đang lúc tâm trạng bất bình thì con lại không nhớ được cách để thoát ra!”

Đạo sư gật đầu: “Phải đó con. Thế nên chỉ sau khi phạm sai lầm xong rồi thì mình mới biết là mình sai lầm. Nhưng như thế vẫn còn khá hơn là không nhận ra sai lầm mình vừa mắc phải. Mỗi một trạng huống trong đời tu của con là một bài thi khảo sát trình độ tiến hóa tâm linh của con. Nhưng khi con ở vào trạng huống đó, thì con không hề nhớ là mình đang được thi, đang được thử thách. Đến khi kịp nhớ ra thì con đã thua mất rồi, thi rớt rồi !

Dũ Lan Lê Anh Dũng

LỜI CỦA TRÁI TIM… 

 Những đứa trẻ sống giữa những người phê phán thì học lên án.

Những đứa trẻ sống trong bầu không khí thù địch thì hay đánh nhau.

Những đứa trẻ sống trong sự hãi hùng thì học được thói sợ sệt.

Những đứa trẻ sống trong cảnh đau xót thì học được sự đồng cảm.

Những đứa trẻ sống trong bầu không khí đố kỵ thì học được thế nào là tham vọng.

Những đứa trẻ sống trong bầu không khí khoan dung thì học được sự nhẫn nại.

Những đứa trẻ sống giữa những nguồn động viên thì học được lòng tin.

Những đứa trẻ sống giữa những lời khen tặng đúng lúc thì học đánh giá cao những gì bao quanh chúng.

Những đứa trẻ sống trong niềm tự hào thì học được cách phấn đấu.

Những đứa trẻ sống trong sự san sẻ thì học để trở nên hào hiệp.

Những đứa trẻ sống trong sự trung thực và sự công minh thì học được chân lý và lẽ công bằng.

Những đứa trẻ sống trong hạnh phúc thì học được rằng thế giới là nơi tốt đẹp để sng.

CHUYỆN DI TẢN 1975 -Tiểu Tử

CHUYỆN DI TẢN 1975

Tiểu Tử

Tôi không có đi di tản hồi những ngày cuối tháng tư 1975 nên không biết cảnh di tản ở Sài gòn ra làm sao. Mãi đến sau nầy, khi đã định cư ở Pháp, nhờ xem truyền hình mới biết!

Sau đây là vài cảnh đã làm tôi xúc động, xin kể lại để cùng chia xẻ…

Chuyện 1: Cuộc di tản kinh hoàng

Ở bến tàu, thiên hạ bồng bế nhau, tay xách nách mang, kêu réo nhau ầm ĩ, hớt hơ hớt hải chạy về phía chiếc cầu thang dẫn lên bong một chiếc tàu cao nghều nghệu. Cầu thang đầy người, xô đẩy chen lấn nhau, kêu gọi nhau, gây gổ nhau… ồn ào. Trên boong tàu cũng đầy người lố nhố, giành nhau chồm lên be tàu để gọi người nhà còn kẹt dưới bến, miệng la, tay quơ ra dấu chỉ trỏ… cũng ồn ào như dòng người trên cầu thang!

Giữa cầu thang, một bà già. Máy quay phim zoom ngay bà nên nhìn thấy rõ: bà mặc quần đen áo túi trắng đầu cột khăn rằn, không mang bao bị gì hết, bà đang bò nặng nhọc lên từng nấc thang. Bà không dáo dác nhìn trước ngó sau hay có cử chi tìm kiếm ai, có nghĩa là bà già đó đi một mình. Phía sau bà thiên hạ dồn lên, bị cản trở nên la ó ! Thấy vậy, một thanh niên tự động lòn lưng dưới người bà già cõng bà lên, xóc vài cái cho thăng bằng rồi trèo tiếp.

Chuyện chỉ có vậy, nhưng sao hình ảnh đó cứ đeo theo tôi từ bao nhiêu năm, để tôi cứ phải thắc mắc: bà già đó sợ gì mà phải đi di tản? con cháu bà đâu mà để bà đi một mình? rồi cuộc đời của bà trong chuỗi ngày còn lại trên xứ định cư ra sao? còn cậu thanh niên đã làm môt cử chỉ đẹp – quá đẹp – bây giờ ở đâu?… Tôi muốn gởi đến người đó lời cám ơn chân thành của tôi, bởi vì anh ta đã cho tôi thấy cái tình người trên quê hương tôi nó vẫn là như vậy đó, cho dù ở trong một hoàn cảnh xô bồ hỗn loạn như những ngày cuối cùng của tháng tư 1975…

Chuyện 2: Những bàn tay nhân ái

Cũng trên chiếc cầu thang dẫn lên tàu, một người đàn ông tay ôm bao đồ to trước ngực, cõng một bà già tóc bạc phếu lất phất bay theo từng cơn gió sông. Bà già ốm nhom, mặc quần đen áo bà ba màu cốt trầu, tay trái ôm cổ người đàn ông, tay mặt cầm cái nón lá. Bà nép má trái lên vai người đàn ông, mặt quay ra ngoài về phía máy quay phim. Nhờ máy zoom vào bà nên nhìn rõ nét mặt rất bình thản của bà, trái ngược hẳn với sự thất thanh sợ hãi ở chung quanh!

Lên gần đến boong tàu, bỗng bà già vuột tay làm rơi cái nón lá. Bà chồm người ra, hốt hoảng nhìn theo cái nón đang lộn qua chao lại trước khi mất hút về phía dưới. Rồi bà bật khóc thảm thiết…

Bà già đó chắc đã quyết định bỏ hết để ra đi, yên chí ra đi, vì bà mang theo một vật mà bà xem là quí giá nhứt, bởi nó quá gần gũi với cuộc đời của bà: cái nón lá! Đến khi mất nó, có lẽ bà mới cảm nhận được rằng bà thật sự mất tất cả. Cái nón lá đã chứa đựng cả bầu trời quê hương của bà, hỏi sao bà không xót xa, đau khổ? Nghĩ như vậy nên tôi thấy thương bà già đó vô cùng. Tôi hy vọng, về sau trên xứ sở tạm dung, bà mua được một cái nón lá để mỗi lần đội lên bà sống lại với vài ba kỷ niệm nào đó, ở một góc trời nào đó của quê hương… 

Chuyện 3: Quê hương xa rồi

Cũng trên bến tàu nầy. Trong luồng người đi như chạy, một người đàn bà còn trẻ mang hai cái xắc trên vai, tay bồng một đứa nhỏ. Chắc đuối sức nên cô ta quị xuống. Thiên hạ quay đầu nhìn nhưng vẫn hối hả đi qua, còn tránh xa cô ta như tránh một chướng ngại vật nguy hiểm! Trong sự ồn ào hỗn tạp đó, bỗng nghe tiếng được tiếng mất của người đàn bà vừa khóc la vừa làm cử chỉ cầu cứu. Đứa nhỏ trong tay cô ta ốm nhom, đầu chờ vờ mắt sâu hõm, đang lả người về một bên, tay chân xụi lơ. Người mẹ – chắc là người mẹ, bởi vì chỉ có người mẹ mới ôm đứa con quặt quẹo xấu xí như vậy để cùng đi di tản, và chỉ có người mẹ mới bất chấp cái nhìn bàng quan của thiên hạ mà khóc than thống thiết như vậy – người mẹ đó quýnh quáng ngước nhìn lên luồng người, tiếp tục van lạy cầu khẩn.

Bỗng, có hai thanh niên mang ba lô đi tới, nhìn thấy. Họ dừng lại, khom xuống hỏi. Rồi họ ngồi thụp xuống, một anh rờ đầu rờ tay vạch mắt đứa nhỏ, họ nói gì với nhau rồi nói gì với người đàn bà. Thấy cô ta trao đứa bé cho một anh thanh niên. Anh nầy bồng đứa nhỏ úp vào ngực mình rồi vén áo đưa lưng đứa nhỏ cho anh kia xem. Thằng nhỏ ốm đến nỗi cái xương sống lồi lên một đường dài…

Anh thứ hai đã lấy trong túi ra chai dầu từ lúc nào, bắt đầu thoa dầu rồi cạo gió bằng miếng thẻ bài của quân đội.

Thiên hạ vẫn rần rần hối hả đi qua. Hai thanh niên nhìn về hướng cái cầu thang, có vẻ hốt hoảng. Họ quay qua người đàn bà, nói gì đó rồi đứng lên, bồng đứa nhỏ, vừa chạy về phía cầu thang vừa cạo gió! Người mẹ cố sức đứng lên, xiêu xiêu muốn quị xuống, vừa khóc vừa đưa tay vẫy về hướng đứa con. Một anh lính Mỹ chợt đi qua, dừng lại nhìn, rồi như hiểu ra, vội vã chạy lại đỡ người mẹ, bồng xóc lên đi nhanh nhanh theo hai chàng thanh niên, cây súng anh mang chéo trên lưng lắc la lắc lư theo từng nhịp bước….

Viết lại chuyện nầy, mặc dù đã hơn ba mươi năm, nhưng tôi vẫn cầu nguyện cho mẹ con thằng nhỏ được tai qua nạn khỏi, cầu nguyện cho hai anh thanh niên có một cuộc sống an vui tương xứng với nghĩa cử cao đẹp mà hai anh đã làm. Và dĩ nhiên, bây giờ, tôi nhìn mấy anh lính Mỹ với cái nhìn có thiện cảm!

 Chuyện 4: Những cuộc chia tay xé lòng

Cũng trên bến tàu. Cầu thang đã được kéo lên. Trên tàu đầy người, ồn ào. Dưới bến vẫn còn đầy người và cũng ồn ào. Ở dưới nói vói lên, ở trên nói vọng xuống, và vì thấy tàu sắp rời bến nên càng quýnh quáng tranh nhau vừa ra dấu vừa la lớn, mạnh ai nấy la nên không nghe được gì rõ rệt hết !

Máy quay phim zoom vào một người đàn ông đứng tuổi đang hướng lên trên ra dấu nói gì đó. Bên cạnh ông là một thằng nhỏ cỡ chín mười tuổi, nép vào chân của ông, mặt mày ngơ ngác. Một lúc sau, người đàn ông chắp tay hướng lên trên xá xá nhiều lần như van lạy người trên tàu, gương mặt sạm nắng của ông ta có vẻ rất thành khẩn. Bỗng trên tàu thòng xuống một sợi thừng cỡ nửa cườm tay, đầu dây đong đưa. Mấy người bên dưới tranh nhau chụp. Người đàn ông nắm được, mỉm cười sung sướng, vội vã cột ngang eo ếch thằng nhỏ. Xong, ông đưa tay ra dấu cho bên trên. Thằng nhỏ được từ từ kéo lên, tòn ten dọc theo hông tàu. Nó không la không khóc, hai tay nắm chặt sợi dây, ráng nghiêng người qua một bên để cúi đầu nhìn xuống. Người đàn ông ngước nhìn theo, đưa tay ra dấu như muốn nói: «Đi, đi! Đi, đi! ». Rồi, mặt ông bỗng nhăn nhúm lại, ông úp mặt vào hai tay khóc ngất! Bấy giờ, tôi đoán ông ta là cha của thằng nhỏ đang tòn ten trên kia… Không có tiếng còi tàu hụ buồn thê thiết khi lìa bến, nhưng sao tôi cũng nghe ứa nước mắt!

Không biết thằng nhỏ đó – bây giờ cũng đã trên bốn mươi tuổi — ở đâu? Cha con nó có gặp lại nhau không? Nếu nó còn mạnh giỏi, tôi xin Ơn Trên xui khiến cho nó đọc được mấy dòng nầy…

Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động và hoạt động là kết quả của cầu nguyện.

Cầu nguyện là linh hồn của hoạt động và hoạt động là kết quả của cầu nguyện.

Frédéric Ozanan, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của giáo hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin trầm trọng lúc còn là sinh viên đại học. Một hôm để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris. Đứng cuối nhà thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quì cầu nguyện một cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère. Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học.  Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông. Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẽ rụt rè, nhà bác học lên tiếng hỏi: “Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không? Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ: “Thưa giáo sư con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép giáo sư cho con hỏi một vấn đề liên quan đến đức tin.!” Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn: “Anh lầm rồi, đức tin là môn yếu nhất của tôi, nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm.” Chàng sinh viên liền hỏi: “Thưa giáo sư, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không? Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời: “Cậu ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi.”

Trích lịch phục vụ Bính Thân 2016 của Đền Thánh Khiết Tâm Mẹ (trang 238-239)

NHỮNG QUYỂN SÁCH CŨ “SÀI GÒN TRƯỚC 75” NAY Ở ĐÂU?

NHỮNG QUYỂN SÁCH CŨ “SÀI GÒN TRƯỚC 75” NAY Ở ĐÂU?

NGUYỄN VĨNH NGUYÊN

Có cuốn mới tinh, có cuốn rách bìa, đa số thì ố vàng và đã nhạt màu mực. Mỗi cuốn sách một số phận, trôi nổi qua biết bao biến cố, bỗng một hôm trở về với người sưu tầm, người đọc như những báu vật của thời gian… Gọi đó là “sách Sài Gòn trước Bảy Lăm.”

Trên đường sách Sài Gòn giữa Quận Một ngày nay, có mấy kiosk bán sách cũ Sài Gòn xuất bản trước 1975. Ngoài sách, các ấn phẩm của thời kỳ này như báo chí, bản đồ, postcard và tờ nhạc cũng xuất hiện trở lại một cách công khai.

Quán Sách Mùa Thu là nơi có hàng ngàn đầu sách đầy bất ngờ tụ về từ những thư viện gia đình khóa kín gần nửa thế kỷ. Nếu các ông Duyên Anh, Phạm Công Thiện mà sống lại, dạo bước qua mấy chỗ này hẳn sẽ bất ngờ vì tác phẩm của mình còn được đám hậu duệ sưu tầm đủ. Các sách văn học, triết học, chính trị… đình đám của một thời kỳ xuất bản tự do đã trở lại với độc giả hôm nay, bằng chính nguyên bản như mới, được người bán trau chuốt giữ gìn, đóng bìa, may lại gáy. Màu giấy vàng, lối làm bìa sách thanh nhã của một thời… khoác lên những giá sách quý một màu thời gian sâu thẳm.

Trong một cuộc triển lãm sách cũ do các bạn sưu tập tổ chức, tôi đã gặp một độc giả năm xưa đứng khóc ròng như trẻ thơ khi cầm trên tay cuốn sách “Quốc Sử” của Lớp Nhất, vì cuốn sách gợi nhớ đến một người bạn chung lớp đã bỏ xác trên biển hồi sau 1975.

Sách chạm vào ký ức của từng người theo một cách thế riêng, âm thầm. Tôi cũng từng dẫn những bạn bè lớn tuổi đến đây sau nhiều năm xa nước, họ mân mê những bản sách cũ đã trôi dạt qua những biến cố lịch sử như chính cuộc đời họ, mà quên cả thời gian trở về với thực tại.

Gặp lại sách là gặp lại những người bạn thân thiết đã trải qua biết bao thăng trầm dâu bể. Những cuốn sách cũ khơi gợi lại kỷ niệm và gợi nhắc những ký ức đẹp đẽ hay đau buồn. Những quyển sách cũ lặng lẽ nối chuyện thời cuộc và ký ức cá nhân đã trở nên là một.

Vào khoảng thời gian sau 1975, nhiều người kể lại rằng, nhiều tủ sách, kho sách Sài Gòn đã bị đẩy ra vỉa hè để đốt. Một kiến trúc sư nói với tôi trong nước mắt rằng, cha anh đã phát điên bởi vì thương sách. Ông ta nhìn cái cảnh những cuốn sách mình nâng niu trân quý trở thành mồi cho ngọn lửa trong suốt vài ngày trời mới hết, và nghĩ mình chỉ còn một con đường hoặc ra đi hoặc tự sát.

Nhưng ở vào thời kỳ đó, đâu chỉ ba của bạn tôi, nhiều người đã phải lựa chọn. Họ phải chôn xuống đất những gì chế độ mới coi là “tàn dư” để bảo toàn mạng sống và tránh những liên lụy cho người thân. Sau cùng người ta đã chọn những cách thế tồn tại trong một hoàn cảnh đầy ngặt nghèo và khốc liệt. Người nâng niu sách như những hiện thân của giá trị văn hóa, của đời sống thanh tao làm sao không đau đớn phát điên cho được khi phải lựa chọn thiệu sách để tự cứu lấy mình.

Ấy vậy mà bằng những phương cách nào đó thật lạ lùng, những cuốn sách cũ của một thời đã lách qua những cơn bão lửa của thời cuộc để neo giữ một tinh thần, tái hiện một vàng son. Những pho sách qua thời gian đã làm toát lên một phong vị văn hóa khó lẫn, một sự quyến rũ như người giàu có trải nghiệm đang kể câu chuyện cuộc đời mình, đầy mê hoặc.

Đã có lúc, đâu chừng mươi mười năm trước, dân sưu tầm những sách “trước Bảy Lăm” còn rón rén rụt rè. Tôi còn nhớ thời đó, một tập thơ của Thanh Tâm Tuyền còn được đem ra đấu giá trong giới chơi sách, trong tình trạng lén lút vì sợ bị an ninh theo dõi tịch thu. Sau đó, một tờ báo đã bị nhắc nhở vì đăng bản tin bán đấu giá sách có nhắc đến tên một nhà thơ Sài Gòn cũ. Nhưng nhu cầu quy hồi những giá trị thuộc về văn hóa một thời đã dẫn dắt thị trường sách cũ theo một chiều hướng lạ lùng. Nó buộc những gọng kìm bấy lâu khóa chặt phải mở ra để văn hóa được liền lạc.

Về Sài Gòn bây giờ đi tìm sách cũ, sẽ không lạ gì chuyện các nhà sưu tầm, giới chơi sách cho đến buôn bán sách cũ đa phần là trẻ. Nhiều người sinh ra sau 1975, nhưng họ có một thao thức, bằng cách này cách khác, làm cho những di sản của một thời kỳ xuất bản được xuất hiện lại một cách tự nhiên, công khai, không rón rén. Họ nói về lịch sử xuất bản, tiểu sử các tác giả… một cách thông thạo như thể những người đã đắm mình trong sinh khí văn hóa một thời Sài Gòn.

Cùng với các nhà sách offline, các diễn đàn sách xưa trên mạng cũng nhộn nhịp. Thông tin về từng đầu sách được giới thiệu trở lại một cách chi tiết. Như vậy, những ai chuyên tìm kiếm sách cũ có thể hình dung đến một không gian riêng mà đám an ninh không muốn dây vào cấm đoán nhưng cũng không công khai thừa nhận. Từ nguồn sách này, sẽ phát lộ nhiều chất liệu quý để thấy rõ những giá trị tinh hoa của trí thức, văn nghệ sĩ Sài Gòn thời kỳ đã qua. Chúng như những chứng tích này sẽ giúp người đọc hôm nay có một cái nhìn thấu suốt, khách quan về một giai đoạn văn hóa.

Nhiều cuốn sách cũ đã được giới xuất bản tìm cách tái bản. Trường hợp tác phẩm của các nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ, Bà Tùng Long, Du Tử Lê, Võ Phiến, Lê Tất Điều hay Dương Nghiễm Mậu… được giới làm xuất bản sinh sau đẻ muộn tìm kiếm ấn bản gốc từ những kho sách cũ như vậy để nhập liệu, làm văn bản và tìm cách tái bản. Dù việc này cũng chưa thật sự suôn sẻ trong bối cảnh kiểm duyệt xuất bản, nhưng những nỗ lực khai thông các trở lực để đặt một gạch nối hôm nay với hôm qua trong văn hóa Sài Gòn, ở giai đoạn này, đáng được nhìn với ánh mắt hoan hỉ hơn xét nét nghiệt ngã bởi những định kiến.

Quá khứ không còn biến thành những thêu dệt huyền hoặc, những cuốn sách cũ nói với hôm nay về thực tại của văn hóa hôm qua một cách chi tiết. Cho dù, chúng trở thành những báu vật (và được định giá rất cao so với sách mới xuất bản) nhưng những người cần vẫn không ngại ngần để đón về một di chỉ của ký ức.

Đi qua thời gian và những thăng trầm, những cuốn sách cũ “Sài Gòn trước Bảy Lăm” đang quay trở lại trong đời sống hôm nay thật lộng lẫy, huy hoàng, điều mà có lẽ nhiều người viết ra chúng, người ấn hành chúng, người bảo vệ chúng trong những kho tàng ẩn mật khó hình dung được.

Nói mỗi cuốn sách có một số phận, là đúng. Như người Sài Gòn, mỗi người một cách thế phiêu dạt cùng thành phố, cùng thời cuộc. Tiếng nói, ngôn từ của người một thời đã được ghi trên giấy, kinh qua những biến cố, đã không hư nát và chìm vào thăm thẳm thời gian, mà còn vang vọng, bằng cách này, cách khác. Dù trong lặng lẽ, thì vẫn là những chứng tích của một khoảnh khắc bừng sáng trong thời gian.

Đó chẳng phải là điều đáng để vui, dù là vui trong nước mắt?!

Nguyễn Vĩnh Nguyên

From: TU-PHUNG

Khấn Người Tình Địch – TRÀM CÀ MAU

TRUYỆN NGẮN ĐẦU NĂM – TRÀM CÀ MAU

Khấn Người Tình Địch

(Ký cóp cho cọp nó tha….)

Ông Long trịnh trọng mang áo dài đen, quần dài trắng, đội cái khăn đóng màu xanh đậm, giống như các cụ ngày xưa ra đình làng tế lễ. Trên bàn thờ có khung hình bán thân của ông Du, trẻ trung, đẹp trai, môi mỉm cười có duyên, đôi mắt sáng như nhìn chăm chăm vào người đối diện. Giữa bàn có con gà trống luộc vàng ươm, với hai cái chuôi cánh xòe ra gài từ cổ lên miệng. Một dĩa hoa quả màu sắc tươi thắm đơm cao đầy, và hơn chục dĩa thức ăn, có dĩa còn nóng, bốc hơi, thơm ngào ngạt.

Sau khi đốt hương trầm, ông Long đưa hai bàn tay chắp vào nhau nâng lên ngang trán, và nghiêm trang thì thầm khấn vái người khuất mặt:

“Lạy hương hồn ông Du, có linh thiêng thì về đây dự tiệc, và chứng giám cho tấm lòng thành nầy. Ngày xưa, ông và tôi là hai kẻ tình địch, nhưng không hề kình nhau, cũng chưa ghét nhau bao giờ. Hồi đó, ông và tôi cùng yêu thương Thiên Hương, nàng thì lửng lơ, tình cảm không nghiêng hẳn về bên nào. Ông tin nàng yêu ông hơn, tôi tin nàng yêu tôi hơn. Dĩ nhiên, ai cũng chủ quan, và có quyền tin chắc như vậy. Thiên Hương đẹp, yểu điệu, học hành chăm chỉ, tính tình dịu dàng, lịch thiệp, con nhà gia giáo, được nâng niu cưng chìu. Nàng như một đóa hoa rực rỡ nhưng mong manh. Nhan sắc tươi thắm diễm lệ của nàng làm không biết bao nhiêu anh con trai trong thành phố nầy mê mẩn muốn cầu thân. Nhưng ông và tôi là hai kẻ chiếm được một khoảng tương đối lớn trong trái tim nàng. Tất nhiên còn nhiều kẻ khác cũng có được một phần nhỏ trong trái tim chật chội đó, vì họ cũng là những kẻ có danh phận giữa xã hội. Họ cũng đứng đắn, đàng hoàng, đủ tư cách để theo đuổi và có thể bảo đảm cho nàng một tương lai sung sướng an bình hạnh phúc.

Tôi chỉ là một kẻ may mắn bất ngờ được lọt mắt xanh, và được nàng dành cho một phần đáng kể trong tim. Ông đừng hỏi tại sao, vì tình yêu vốn lạ kỳ, không thể giải thích được tại sao. Tôi tha thiết yêu nàng mà trong lòng ngày đêm luôn đau đớn nhức nhối. Bởi tôi biết thân phận của mình. Tôi thua kém rất nhiều người. Thua trên nhiều mặt. Nếu tôi và Thiên Hương nên duyên phận, thì liệu tôi có đem đến cho nàng một cuộc sống tinh thần và vật chất chan hòa hạnh phúc hay không.

Tôi cũng thua ông đủ mọi mặt. Ông học giỏi hơn tôi, gia đình giàu có, thể chất khang kiện, chơi thể thao có hạng, mặt mày ông sáng sủa hơn tôi bội phần. Thơ tình ông viết thiết tha ướt át hơn cái lối viết chân chất cộc lốc của tôi. Không những thế, ông còn là một thi sĩ, thơ ông truyền cảm, mênh mang triết lý cao siêu. Tôi thì một câu vè cũng viết không ra hồn. Thế mà cũng lạ, Thiên Hương vẫn dành cho tôi một mối tình cảm nồng nàn không thua gì ông. Chuyện tình yêu, cũng khó mà giải thích bằng lý trí được.

Tôi cũng yêu Thiên Hương không thua gì tình yêu của ông dành cho nàng. Tôi cũng có thể liều mạng xin cưới nàng làm vợ, và sau đó xả thân lao động cật lực để xây đắp hạnh phúc gia đình. Cũng có thể chúng tôi sẽ có hạnh phúc lứa đôi tràn đầy. Để được vậy, tôi biết sẽ phải vất vả cật lực suốt cả một cuộc đời còn lại.

Nhưng có lần tôi nghe mẹ nàng nói đùa rằng, đem cả chuyến xe lửa mười toa cũng chở chưa hết những kẻ si mê và theo đuổi Thiên HươngTôi giật mình, và lý trí tôi thức giấc để nhận ra rằng, tôi chưa đủ tài ba và năng lực để gánh chịu những hiễm họa trong tương lai khi làm chồng một người đàn bà sắc nước hương trời như Thiên Hương. Lại nữa, bố tôi thường tỉ tê nhắc nhở rằng, xưa nay trong sử sách, đàn bà đẹp thường chịu nhiều gian truân.

Phần lớn vì ngoại cảnh, bởi chung quanh họ khi nào cũng có đông đảo bọn đàn ông liều mạng muốn chinh phục, muốn chiếm đoạt, dù cho họ đã có gia đình. Những loại đàn ông nầy đầy rẫy trong bất cứ xã hội nào, bất cứ thời đại nào. Một phần khác, cũng tại chính cái tâm của một số người nhan sắc, họ nghĩ cái đẹp có sức mạnh và quyền lực. Họ có quyền đòi hỏi, yêu sách, mọi người phải chấp nhận. Cũng đúng một phần nào.

Vả lại, lòng người vốn yếu đuối, mà cám dỗ thì giăng mắc dày đặc, rất dễ bị vô tình mắc phải lưới bẩy. Thoát được hàng chục cám dỗ mà chỉ cần vướng vào một lần thôi, thế cũng đủ hư hỏng cả cuộc đời. Người đàn bà đẹp đoan trang, thường phải vất vả chiến đấu kiên cường với bọn đàn ông háo sắc, chúng đem quyền lực, lời ngon ngọt nịnh hót và tiền tài ra làm mồi câu dụ dỗ. Không vững lòng thì ngã gục. Khi tôi đã để một chút lý trí vào tình yêu, thì bớt mù quáng. Không mù quáng thì chẳng phải là tình yêu chân thực nữa.

Đó, tôi còn có chút sáng suốt để nhận chân ra rằng nếu nàng kết duyên cùng ông, thì sẽ có được nhiều hạnh phúc hơn làm vợ tôi. Tôi tự hào rằng đó cũng là một thứ tình yêu hy sinh cao thượng mà tôi dành cho Thiên Hương. Tôi quan niệm tình yêu là dâng hiến, không phải là chiếm doạt. Bởi vậy, tôi đã rút lui, để dành cho ông cái hạnh phúc bên nàng, cũng là trút lên ông gánh nặng mà tôi tự lượng sức mình khó gánh nỗi. Ông đã vừa hạnh phúc, vừa vất vả ray rứt khổ đau để cầm giữ canh chừng nàng.

Có thể người ta nghĩ tôi thiếu dũng cảm, thiếu hy sinh, sợ gian khổ. Cũng đúng phần nào. Nhưng nếu tôi thừa dũng cảm, thì có nên đánh đổi hạnh phúc cá nhân của một cuộc đời thong dong, khoáng dật, để có cuộc sống bên người đẹp mà biết chắc rằng sẽ khó thỏa mãn được đòi hỏi về vật chất lẫn tinh thần mai sau. Điều đó, gần như tất yếu. Tôi biết mình chưa là dũng sĩ, thì đừng cưỡi ngựa chiến.

Ông đã tưởng tôi rút lui để nhường tình yêu cho ông. Tôi đâu có được cao thượng như thế. Trong tình yêu, có lẽ không ai muốn nhường cho ai. Tôi rút lui, một phần cũng vì tôi yêu thương nàng bằng thứ tình dâng hiến, không phải tình chiếm hữu vị kỷ. Quan trọng nhất là vì hạnh phúc lâu dài của nàng.

Nàng yêu tôi, nhưng tôi biết nàng cũng yêu ông. Tất nhiên, khi được sống cùng ông, dù trong hạnh phúc tràn đầy, nàng vẫn không quên tôi, vẫn ray rứt tiếc thương, nhớ nhung tôi. Cũng như nếu nàng lấy được tôi, thì sẽ thương tiếc nhớ nhung ông. Đó cũng là tâm lý thường tình, người ta không quý cái trong tay bằng cái chưa có. Có lẽ ông cũng biết điều đó, nên không ghen tương với tôi. Ông lo đối phó, ngăn chận những bọn háo sắc, toan tính chinh phục đàn bà đẹp cũng đã mệt nhọc vất vả lắm rồi. Bọn háo sắc đó chưa hẵn là vô đạo, thiếu vắng lương tâm, nhưng khi lòng ham muốn nổi lên, thì tâm trí mịt mù u tối, như bị ma quỷ xúi dục làm điều mà đôi khi họ không muốn. Tôi biết, tôi không đủ bản lĩnh cao cường và nhẫn nại như ông để gìn giữ một nhan sắc đầy quyến rủ lộng lẫy như Thiên Hương. Dù cho nàng trong trắng, đoan trang đạo đức. Tôi cám ơn ông khéo léo dìu nàng đi yên bình trong trong dòng đời cạm bẫy bão táp.

Ông và nàng vẫn thường thăm viếng liên lạc thân thiết với tôi. Khi gặp nhau, tôi vẫn tìm được ánh mắt yêu thương dịu dàng kín đáo của Thiên Hương. Có lẽ ông cũng biết, vì tình yêu thường ít khi dấu được ai. Nhưng ông không nhỏ nhen ghen tức, vì ông vui khi thấy nàng được vui. Ông cũng không mát chi cả. Ông biết rõ chúng tôi không bao giờ phiêu lưu đi vượt qua lằn ranh lễ giáo.

Ông là một người chồng lý tưởng, lo lắng vun đắp hạnh phúc gia đình, bảo đãm cho vợ con đời sống tinh thần vật chất thong dong đầy đủ. Ông không cờ bạc, không rượu chè, chẳng trai gái, hiếm khi vung vít bù khú với bạn bè. Thì giờ của ông để làm ra tài sản, tiền bạc. Cũng vì quá yêu thương gia đình, hết sức lo lắng cho tương lại vợ con, nên ông không còn có nhiều thì giờ để sống cho tình yêu tuyệt vời của mối tình mà Thiên Hương dành cho ông. Có lẽ ông cũng biết, ngoài cuộc sống vật chất dư thừa, ngoài tiện nghi đầy đủ, nhiều người còn một thứ nhu cầu tinh thần khác cần được thỏa mãn, không có nó không chết, nhưng cũng quan trọng, chỉ sau tự do, cơm áo, an toàn và bình yên mà thôi.

Ông trời không công bằng, con người tốt lành như ông lại chết sớm, để lại vợ đẹp, con ngoan, gia tài phong phú đồ sộ.

Tôi kê vai vào thay ông, chăm sóc nửa cuộc đời còn lại của Thiên Hương. Đem thêm hạnh phúc cho nàng. Những thứ hạnh phúc mà ông vì bận rộn làm ăn chưa có thì giờ để chung hưởng cùng nàng. Nhà lầu ông tôi ở, xe tốt của Thiên Hương tôi đi, tiền bạc của ông trong ngân hàng tôi quản trị. Với danh nghĩa ông, tôi đem phân phát và chia bớt vật chất dư thừa cho vơi khổ của những mảnh đời bất hạnh. Trong lòng tôi, vô cùng biết ơn ông, đã để lại cho tôi người vợ đẹp, hiền lành, dịu dàng; để tôi có dịp đền đáp mối thâm tình chôn dấu trong tim nàng bao nhiêu năm nay. Cám ơn cái tài sản to tát của ông để cho tôi làm phương tiện tạo dựng hạnh phúc và sung sướng vui hưởng bên nàng.

Về ở với Thiên Hương, tôi khám phá ra ông là người cần kiệm, giàu có nứt vách, mà sống đời đơn sơ giản dị. Đa số áo quần ông là đồ cũ mua chợ trời, chợ sân cỏ. Những cái áo vét của ông cũ mèm, sổ lai, áo lót sờn mòn, mỏng tanh, thủng lỗ chỗ nhiều nơi, tươm nát ở vòng cổ. Đức cần kiệm của ông như thế đó, tôi vô cùng khâm phục và tự thấy xấu hổ. Tôi không phải thuộc loại người vắt mũi bỏ miệng, lương bổng của tôi cũng khá, nhiều đồng nghiệp dư sức mua nhà, nuôi vợ nuôi con. Thế mà tôi tháng nào tiêu sạch tháng đó, không nợ nần là quý lắm rồi. Tôi cũng đâu có phung phí, cờ bạc, trai gái, hút xách gì đâu.

Cách sinh hoạt ăn uống của ông cũng cẩn thận, vệ sinh, đạm bạc. Ông sợ mỡ, sợ đường, sợ muối, sợ chất bột. Cứ thứ gì ngon miệng thì ông sợ và kiêng dè, giữ gìn, ngại không tốt cho sức khỏe. Ngon nhưng không dám ăn thường, ăn nhiều. Cứ rau đậu làm căn bản và ông vui trong cuộc sinh hoạt đạm bạc đó, nên vợ con ông ít khi được hướng thụ cái thú ẩm thực. Thuốc lá ông cũng không hút bao giờ. Đời sống ông lành mạnh đến thế đó, mà trời không thương, bắt ông đi sớm, lìa trần gian. Vợ ông may mắn có tôi kê vai vào chăm nom chìu chuộng. Ông cứ tin tôi đi, nếu tôi không đủ sức đem lại cho nàng hạnh phúc bằng, hay hơn khi đang sống cùng ông, thì tôi cũng hành động lại như ngày xưa, hy sinh tình yêu, để nàng đi tìm nơi khác có tràn đầy hạnh phúc hơn.

Ông cũng đừng lo lắng sợ tôi tiêu xài phí phạm tài sản mồ hôi nước mắt đã gom góp suốt cả đời ông. Nếu là tiền của tôi, thì tôi tiêu không e dè, nhưng tiền ông, tôi sẽ đắn đo khi tiêu pha.

Tôi cưng chìu Thiên Hương, âu yếm dịu dàng chăm sóc, và không bao giờ để phật lòng trái ý nàng. Đó cũng là cách đền bù lại thời gian chúng tôi xa cách nhau. Tôi phục vụ nàng như một tên nô lệ dưới chân một bà hoàng bà chúa. Nàng thỏa mãn cái tự ái của phái nữ. Chỉ chừng đó thôi, đủ làm nàng sung sướng ngất ngây. Nàng cứ nghĩ tôi là kẻ chung tình, mãi thương yêu nàng, nên không chịu lập gia đình. Đâu phải vậy, tôi cũng có nhiều mối tình trong đời, nhưng những tình yêu không đủ to tát để hy sinh cả cuộc sống độc thân thong dong của tôi. Tôi không dám đính chính, cứ để nàng hiểu lầm như thế cho trọn niềm vui. Không mất gì cả. Vả lại, tôi có đính chính, chắc nàng cũng không tin đâu.

Tôi nguyện với mình, làm sao cho nàng cảm thấy đời sống mới hạnh phúc sung sướng từng ngày, từng giờ, từng phút. Sống một ngày vui một ngày, sống một giờ vui một giờ. Trong vòng tay yêu thương của tôi, trái tim nàng chan hòa ấm áp hạnh phúc. Tôi tin, ở nơi suối vàng, ông cũng mong nàng được sung sướng hạnh phúc, quên đi mất mát thương đau. Tôi đã giúp ông làm được điều đó cho nàng.

Lấy tiền ông, tôi mua vui, tạo hạnh phúc cho Thiên Hương, những thú vui mà nàng chưa được nếm trãi. Tôi đưa nàng đi chu du khắp năm châu bốn biển. Thăm những danh lam thắng cảnh trên khắp địa cầu nầy. Tử Âu, Á, Úc, Phi, Mỹ châu. Đến các nơi thiên hạ thường ước mơ được viếng thăm. Nơi nào vui thì ở lại nhiều ngày, nhiều tuần, thích thú tận hưởng những lễ hội, những sinh hoạt từng địa phương. Đi, vui và sống. Nàng đã được thưởng thức những món ăn đặc biệt, ngon, lạ, hiếm có của nhiều quốc gia trên thế giới nầy. Không thiếu thức nào. Cũng có khi hơi phí phạm tiền bạc, nhưng bù lại được sống thực, sống tận tình.

Tôi đưa nàng lên những du thuyền mới nhất, lộng lẫy và diễm lệ nhất, cùng ngao du đây đó. Sống như những bậc vương giả, như đã về đến cõi tây phương cực lạc, vui chơi, ăn uống, được phục vụ tận tình ngày cũng như đêm. Có ca nhạc, thể thao, đàn hát, các trò chơi lành mạnh, nhàn nhã nằm bên hồ tắm trên du thuyền, ăn uống liên miên không ngừng. Đi từ Thái Bình Dương băng qua Đại Tây Dương, và có lần ở trên du thuyền cả tháng, lang thang qua các hải đảo, khởi đi từ Mỹ Châu đến Âu Châu. Có lẽ Thiên Hương đã và đang sống những ngày tháng sung sướng hạnh phúc tuyệt vời trong tình yêu dâng hiến và lãng mạn của tôi. Tôi nghĩ, ông cũng chẳng thèm ghen tức với cái hạnh phúc triền miên của Thiên Hương. Bởi vì hạnh phúc của nàng cũng là hạnh phúc của ông và cả của tôi.”

Sau khi khấn vái tỉ tê dài dòng, ông Long quỳ gối nằm úp người vái bốn lạy. Rồi trịnh trọng rót rượu lễ ra ly, dặt lên bàn. Xong lấy xấp tiền âm phủ in màu xanh giống hệt đồng đô-la Mỹ, cầm một cọc lớn, mỗi tờ có mệnh giá mười triệu đô, châm lửa đốt vào cái thùng nhôm, khói bay nghi ngút. Ông cười và lẩm bẩm: “Cả trăm triệu đô-la, tiêu chi cho hết.” ./.

Phi dân chủ-đảng thắng lớn-dân thua to – Phạm Trần

Phi dân chủ-đảng thắng lớn-dân thua to

Phạm Trần (Danlambao) – Ban Tuyên giáo Trung ương, cơ quan bảo vệ tư tưởng và tuyên truyền của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) và Tổng cục Chính trị Quân đội, cơ quan đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, đang ra sức bênh vực nguyên tắc “tập trung dân chủ” (TTDC) cho đảng tiếp tục cầm quyền độc tài. 

Nhưng khi đảng thắng lớn thì dân thua to.

Ý nghĩa tập trung dân chủ

Vậy TTDC là gì? Điều lệ đảng CSVN, thông qua ngày 19 tháng 01 năm 2011, viết: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.” (Thông qua ngày 19 tháng 01 năm 2011)

Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” có từ bao giờ? Theo tài liệu Cộng sản thì tiêu chuẩn cố định này xuất phát từ cửa miệng Lenin, trùm giáo điều và độc tài.

Tài liệu Bách khoa Toàn thư mở viết: Lenin, người đầu tiên nhắc tới khái niệm “Tập trung dân chủ”, giải thích rằng tập trung dân chủ là tự do trong thảo luận nhưng thống nhất trong hành động.”

Oái oăm là đảng viên chỉ được tự do tranh luận trong nội bộ, không được phép phát tán tài liệu hay phản biện ngoài phòng họp. Tùy theo vấn đề, đôi khi cả dân cũng được cho góp ý, nhưng không được quyền bỏ phiếu. Vì vậy khi đảng biểu quyết thì những ý kiến trái chiều, chống lại quan điểm của đảng bị gạt bỏ thẳng tay. Nguyên nhân bắt nguồn từ tư duy cực đoan, giáo điều và bảo thủ của Lãnh đạo luôn luôn tự cho đảng “không bao giờ sai” để buộc dân phải tuân theo quyết định của đảng và phải làm theo lệnh đảng.

Vì vậy, nguyên tắc “tập trung dân chủ” là chống lại dân chủ đích thực để đảng được độc tài cầm quyền và độc tôn cai trị không cần dân có đồng ý hay không.

Bằng chứng ở Việt Nam, trong cuộc lấy ý kiến dân cho bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013, đã có một số không nhỏ đề nghị đảng thay đổi Điều 4 trong dự thảo vì điều này đã dành đặc quyền “đương nhiên” được lãnh đạo đất nước cho đảng mà không cần có sự tán thành của dân qua lá phiếu. Nhưng khi Quốc hội thảo luận biểu quyết thì đề nghị thay đổi này không được nhắc tới, dù chỉ một lần, làm như không hề có ý kiến nào muốn sửa đổi. 

Vì vậy, khoản 1, Điều 4 phản dân chủ đã được giữ nguyên, theo đó: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”

Ngay cả ông Hồ Chí Minh cũng đã tiếm quyền dân khi ông viết trong Di chúc, phổ biến sau khi qua đời năm 1969, rằng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền.”

Cũng trái khoắy là Hiến pháp sửa đổi 2013 chỉ ra đời sau 2 năm đảng tái khẳng định trong Cương lĩnh “xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển)” năm 2011 rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. 

Đồng thời Điều lệ đảng sửa đổi tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua ngày 19 tháng 01 năm 2011) cũng rập khuôn nhắc lại “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền”

Như vậy, nguyên tắc “tập trung dân chủ” của Cộng sản Việt Nam đã thống nhất trong 3 Văn kiện quan trọng nhất gồm Cương lĩnh, Điều lệ đảng và Hiến pháp, nhưng củng có mục đích chung là bảo vệ quyền cai trị tự phong cho mình và phủ nhận quyền tự quyết chính trị của dân.

Chủ trương của khối cộng sản

Nhưng Việt Nam Cộng sản không phải là trường hợp cá biệt. Khi khối Cộng sản Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu chưa tan rã từ những năm 1989-1991 thì nguyên tắc “tập trung dân chủ” được thống nhất thi hành trong toàn khối và các nước chu hầu của Nga. Tiêu chí đặc quyền, đặc lợi này cũng được Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh áp dụng cho hai đảng Cộng sản Trung Cộng và Việt Nam từ khi hai đảng ra đời, với mục đích duy nhất là loại bỏ quyền tham gia chính trị của dân để đảng vĩnh viễn nắm quyền cai trị.

Do đó, khi đảng CSVN phùng mang trợn mắt khoe thực thi “tập trung dân chủ” còn nhằm “đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân…” là thêm bằng chứng đảng đã “ăn của dân không từ một cái gì”, đúng như nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã lên tiếng tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội sáng 11-9-2013.

Bởi vì đảng muốn, chỉ một mình đảng CSVN là “chủ nhân ông” duy nhất và có toàn quyền cai trị và kiểm soát đất nước, dù vẫn cương cổ lên hô hoán rằng “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân”. Trong khi dân lại chưa hề bỏ phiếu chấp nhận quyền cai trị của đảng duy nhất trên đất nước. Như vậy rõ ràng là đảng đã tròng vào cổ dân quyền lãnh đạo bất chính của mình, cũng như buộc dân phải chấp nhận Chủ nghĩa ngoại lai phản dân chủ và thoái trào Mác-Lenin và Tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.

Đảng còn tự mình nhét chữ vào miệng dân khi viết trong Cương lĩnh 2011 rằng: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta.”

Đảng cũng trơ trẽn liên tiếp nhắc lại lời tuyên bố che giấu tham vọng của ông Hồ Chí Minh ngày 07-6-1960, tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội) rằng: “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”

Như thế rõ ràng là ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã lấy dân làm bình phong che đây cho tham vọng nắm quyền độc tôn cai trị cho đảng.

Bằng chứng lừa bịp này còn được phô trương trong Điều 2 Hiến pháp 2013, theo đó viết rõ:

  1.“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

  1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.” 

Dân chủ giả hiệu

Nhưng “quyền lực nhà nước” nào đã thuộc về dân? Dân chả có quyền gì trong chế độ Cộng sản ở Việt Nam. Ngay cả quyền bầu người đại diện cho mình ở Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất nước, cũng do “đảng cử dân bầu”, lồng trong cái khung dân chủ giả tạo do Mặt trần Tổ Quốc (MTTQ) đạo diễn. MTTQ là tổ chức ngoại vị của đảng nắm quyền chọn ứng cử viên, rồi qua hình thức “hiệp thương” giả vờ để chọn người vào Quốc hội cho dân bỏ phiếu lấy lệ mà không cần phải có vận động tranh cử giữa các ứng cử viên.

Dân cũng không được quyền tự do ra báo, bị cấm thành lập đảng chính trị và các tổ chức xã hội. Dân còn bị đàn áp khi tự phát biểu tình, dù là để chống Tầu xâm lược trên đất liền và ở Biển Đông

Mặc dù tất cả những quyền này đã được quy định trong Điều 25 Hiến pháp 2013, theo đó: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Cái bẫy của điều này là câu “thòng lọng”: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, như Luật Báo chí chỉ cho phép các cơ quan và tổ chức của đảng ra báo để khuynh loát dư luận, nhất định không cho tư nhân ra báo. Báo chí và đội ngũ nhà báo phải viết theo định hướng của Ban Tuyên giáo với nhiệm vụ tuyên truyền cho chủ trương, chính sách của đảng là chính.

Đảng cũng ngăn cấm thành lập đảng chính trị, nói chi đến “tổ chức chính trị đối lập” với đảng Cộng sản cầm quyền duy nhất. Đảng còn trì hoãn, hay ép Quốc hội không thảo luận 2 Luật biểu tình và lập hội trong nhiều năm qua vì sợ mất quyền kiểm soát.

Hậu quả nhãn tiền

Do đó, trước thềm Đại hội đảng XIII, diễn ra đầu năm 2021, đảng đã ra sức bênh vực nguyên tắc “tập trung dân chủ” để bảo vệ công tác quy hoạch cán bộ của Bộ Chính được hoàn bị, nhất là đối với cấp chiến lược và chủ chốt, vào Ban Chấp hành Trung ương XIII. 

Theo lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, tại Hội nghị Trung ương 13, từ 5 đến 10/10/2020, thì Bộ Chính trị đã duyệt xét, và đồng ý với số 227 Ủy viên vào Ban Chấp hành đảng XIII. Nhưng danh sách này sẽ dược chọn trên tổng số 151 người được đề cử và tái ứng cử (199 Ủy viên chính thức và dự khuyết của Khóa XII) tại Đại hội đảng XIII.

Việc chọn lựa này không mới, tuy có kỹ hơn so với các khóa trước để ngăn chặn nạn chạy chức chức chạy quyền, chạy quy hoạch, tránh nạn con ông, cháu cha, dòng họ và lợi ích nhóm.

Nhưng đội ngũ sẽ nắm quyền sinh sát cả nước trong 5 năm tới của nhiệm kỳ 2021-2026 vẫn là của đảng, do đảng và vì đảng. Người dân không hề được hỏi ý kiến cho công tác chọn người lãnh đạo do đảng quyết định, nhưng lại bị cai trị bởi nhóm người này.

Đó là hậu quả nhãn tiền và tính ngụy biện của chủ trương “tập trung dân chủ”.

Bằng chứng đã có những lạm dụng để độc tài, bảo vệ quyền lợi cá nhân, phe nhóm trong đảng như đã được xác nhận rằng:

“Trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, một số tổ chức đảng thực hiện không nghiêm túc, hiệu quả thấp, thậm chí có nơi nguyên tắc này còn bị bóp méo, vô hiệu hóa. Có cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo thiếu tôn trọng và chưa phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới; cán bộ lãnh đạo ở một số nơi còn gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền. Đã có không ít trường hợp, người đứng đầu tổ chức đảng lợi dụng, thâu tóm quyền lực phục vụ lợi ích cá nhân, thực hiện “tư duy nhiệm kỳ”, “lợi ích nhóm” bằng mọi thủ đoạn, như trù úm những người có ý kiến khác với mình, kéo bè, kéo cánh. Khi đó, các thành viên trong tổ chức đảng bị phân liệt hoặc phải ủng hộ cái sai của nhau, không dám bảo vệ cái đúng, dẫn đến đoàn kết xuôi chiều (thực chất là mất đoàn kết), làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Khi tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức diễn ra phổ biến, kéo dài ở tổ chức đảng thì nguyên tắc tập trung dân chủ lại trở thành bình phong che chắn cho những hành vi tham nhũng của cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống.” (theo Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (HVCTQGHCM), ngày 09/03/2020)

Nhưng những khuyết tật nêu trên không chỉ đến nhất thời hay năm thì mười họa mới xẩy ra mà đã có thường xuyên. Điều này chứng tỏ, càng kéo dài “tập trung dân chủ” để phàn dân chủ thì con bệnh lạm quyền, cưỡng chế quyền lực và “cái lồng quyền lực” càng phình to ra.

Điển hình như Học viện Chính trị cao nhất của đảng như HVCTQGHCM đã cảnh báo đang có hiện tượng muốn xoay chiều trong đảng. Bài viết cho biết: “Điều đáng nói là, tình trạng đó kéo dài nhưng ít được quan tâm phân tích làm sáng tỏ và có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu. Khi tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ không được ngăn chặn, đẩy lùi, thậm chí diễn ra ngày càng phức tạp, có những tổ chức đảng mất sức chiến đấu thì xuất hiện quan điểm cho rằng nguyên tắc này không có tính khả thi, càng thực hiện thì càng mất dân chủ, càng độc đoán, chuyên quyền (?!). Một số đảng viên, có cả cán bộ lãnh đạo và một số nhà lý luận cũng có lúc nghi ngờ tính khả thi của nguyên tắc tập trung dân chủ, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Hàng chục năm qua, trên các diễn đàn, hội thảo khoa học hay các bài viết trên một số tạp chí đã đề xuất thay đổi tên nguyên tắc “tập trung dân chủ” thành nguyên tắc “dân chủ” hay nguyên tắc “dân chủ tập trung” với mong muốn dân chủ thực sự hơn, hạn chế tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền.”

Cứu nguy – phản biện

Để đối phó với chỉ trích “phi dân chủ” của nguyên tắc “tập trung dân chủ”, HVCTQGHCM đã đề ra một số biện pháp để bảo vệ hàng ngũ không bị lung lay, đứng đầu là “nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về vai trò của nguyên tắc tập trung dân chủ.”

Bài báo nói đảng viên cần phải biết: “Nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ đạo mọi hoạt động xây dựng tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng, đồng thời cũng chi phối các nguyên tắc tổ chức, hoạt động khác của Đảng. Nguyên tắc tập trung dân chủ bảo đảm cho đảng cộng sản thống nhất về tư tưởng chính trị và tạo nên sức mạnh của tổ chức, xây dựng được đội ngũ đảng viên năng động, sáng tạo, có kỷ luật chặt chẽ, có sức chiến đấu cao. Nguyên tắc tập trung dân chủ bảo đảm cho đảng luôn luôn là một tổ chức lãnh đạo, một tổ chức hành động chứ không phải là một câu lạc bộ chỉ bàn cãi suông…”

Thứ hai: Phải “tổ chức thực hiện đúng nội dung, yêu cầu của nguyên tắc tập trung dân chủ”, theo đó: “Những nội dung căn bản của nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng ta hiện nay được quy định trong Điều lệ Đảng: các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; mỗi tổ chức đảng phải thực hiện chế độ báo cáo với cấp trên, thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc; tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức…”

Thứ ba: Phát huy dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Bài báo tiếp theo: “Vấn đề quan trọng nhất vẫn là ở khâu triển khai thực hiện. Dân chủ phải thực sự là “chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề”, nhưng dân chủ đòi hỏi cần có một hành lang pháp lý rõ ràng. Do vậy, cần phải tiếp tục hoàn thiện các thiết chế, cơ chế nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ, trước hết là bảo đảm thực hiện các quyền của đảng viên, nhất là quyền được thông tin, thảo luận, chất vấn, phê bình, bảo lưu ý kiến hay rút ý kiến bảo lưu mà không bị phân biệt đối xử, trù úm dưới mọi hình thức…. Tình trạng “dĩ hòa vi quý”, quan niệm “đấu tranh tránh đâu” vẫn còn, vì trên thực tế các quy định bảo vệ người đứng đắn, trung thực, dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải, tố cáo hành vi sai trái vẫn chưa đủ sức mạnh, thiếu tính khả thi. Đồng thời, cùng với việc mở rộng dân chủ, phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, không để bất cứ ai lợi dụng dân chủ, lợi dụng quyền phê bình để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của đồng chí mình, gây mất đoàn kết nội bộ. Mọi tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành các quy định của Đảng, nói và làm theo nghị quyết của Đảng.”

Điều đáng nói là những biện pháp trên không mới vì đã được lãnh đạo đảng nói nhiều lần. Có mới chăng là những hạn chế vẫn kéo dài để lan rộng tình trạng có thêm cán bộ, đảng viên bất bình với bản lĩnh bảo thủ, giáo điều và thiếu phục thiện của đảng.

Do đó, HVCTQGHCM đã phải lưu ý đảng viên không được chệch hướng với khẳng định: “Chế độ tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách là nội dung quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ và phải được thể hiện trong quy chế làm việc của từng tổ chức đảng.”

Nhưng mặt khác thì đảng lại sử dụng “thế lực thù địch” như quân bài để làm bình phong che đậy thất bại trong nỗ lực hạ thấp tình trạng bất bình của đảng viên đối với chủ trương dân chủ nửa vời của đảng.

Vì vậy hiện tượng chống “tập trung dân chủ” trong đảng cũng đã được “thù địch hóa” rằng: “Các thế lực thù địch lợi dụng những khuyết điểm trong thực hiện nguyên tắc này càng ra sức xuyên tạc, bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ hòng làm cho đảng viên hoang mang, hoài nghi, muốn từ bỏ nguyên tắc. Đó thực chất là một trong những hoạt động “diễn biến hòa bình” làm cho chính những đảng viên của Đảng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm cho tổ chức đảng mất sức chiến đấu, rệu rã, tê liệt, suy yếu và để chúng dễ bề thực hiện mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.”

Như thế là nguy đấy chứ không phải chuyện nhỏ đâu, nhất là lại xẩy ra trước ngày Đại hội đảng XIII thì mức độ nghiêm trọng không thể coi nhẹ.

Nhưng ngược lại, bất cứ thái độ quay lưng chống đảng nào của đảng viên, dù nhỏ, cũng cho thấy khi đảng tìm mọi cách độc quyền dân chủ để thắng lớn thì dân lại thua to. -/-

(10/2020)

 Phạm Trần

danlambaovn.blogspot.com