“Thầy ông nội” và ba đệ tử bị cáo buộc lợi dụng quyền tự do dân chủ

Thầy ông nội” và ba đệ tử bị cáo buộc lợi dụng quyền tự do dân chủ

RFA
2022.01.07

Bốn người trong Tịnh thất Bồng lai bị khởi tố (từ trái qua): ông Lê Tùng Vân, Lê Thanh Hoàn Nguyên, Lê Thanh Nhất Nguyên, Lê Thanh Trùng Dương

 Photo: RFA

“Thầy ông nội” và ba đệ tử bị cáo buộc lợi dụng quyền tự do dân chủ

00:00/02:14

 Photo: RFA

Ông Lê Tùng Vân (thường được gọi là Thầy ông nội) và ba đệ tử là Lê Thanh Nhất Nguyên, Lê Thanh Hoàn Nguyên và Lê Thanh Trùng Dương chỉ bị khởi tố với tội danh duy nhất là “lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức công dân“. 

Mạng báo Vietnamnet cho biết, Cơ quan Cảnh sát Điều tra huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bắt tạm giam ba người sống ở Tịnh thất Bồng Lai, riêng ông Lê Tùng Vân năm nay 90 tuổi được tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú. 

Báo Nhà nước không cho biết thêm những hành vi mà bốn người này đã làm, tuy nhiên đây là điều luật thường được chính quyền Việt Nam sử dụng để buộc tội những nhà hoạt động đòi tự do tôn giáo, nhân quyền. 

Như chúng tôi đã thông tin, hôm 4/1/2022 cơ quan công an tiến hành khám xét căn hộ tu tại gia của bà Cao Thị Cúc ở Long An thường gọi là Tịnh thất Bồng lai, sau được đổi tên là Thiền am bên bờ vũ trụ. 

Ngay sau đó, các tờ báo nhà nước đồng loạt dẫn các nguồn tin giấu tên từ cơ quan điều tra nói ông Lê Tùng Vân bị khởi tố về ba tội danh trong đó có tội ‘loạn luân” và tội ” lợi dụng tôn giáo để trục lợi”. 

Fanpage Sin Dubai có gần 200 ngàn người theo dõi đưa một trang văn bản không có mộc giáp lai, không có chữ ký nhưng lại cho là rò rỉ từ cơ quan điều tra cáo buộc “Thầy ông nội” là cha của nhiều đứa trẻ trong Tịnh thất bồng lai. 

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, nhận xét về vụ việc qua tin nhắn với Đài Á châu tự Do như sau: 

“Cách làm này dẫn đến việc tạo nên một đám đông rộng lớn ủng hộ việc trừng phạt những người ở Tịnh thất Bồng Lai ở trong một tâm trạng ghét bỏ, và lợi dụng những điều đó – chính quyền có thể hành sự những điều bất minh và vô pháp trong việc kết án những người này, tạo tiền lệ về một xã hội không còn an toàn trong khung luật pháp và cỗ vũ những kiểu hành động rừng rú.”

Sự việc này làm người ta nhớ đến các vụ án của những người bất đồng chính kiến trước kia như vụ Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ bị bắt hồi năm 2010 ở trong phòng khách sạn với một người phụ nữ, và có hai bao cao su đã qua sử dụng. 

Tuy nhiên, sau đó cơ quan An ninh điều tra Công an Hà Nội đổi tội danh từ “quan hệ bất chính” sang cáo buộc “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. 

Một người khác là blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải bị xử phạt 30 tháng tù giam về tội “trốn thuế” hồi năm 2008, nhưng sau khi hết thời hạn tạm giam lại bị tiếp tục khởi tố tội danh khác là “tuyên truyền chống nhà nước” với 12 năm tù giam bị tuyên tại phiên tòa hồi năm 2012. 

Chuyện gì đã xảy ra tại Tịnh thất Bồng lai? 

Hôm 24 tháng 10 năm 2019, ông Võ Văn Thắng và vợ cùng hàng chục người khác xông vào cơ sở tu tại gia của bà Cao Thị Cúc để tìm con là Võ Thị Diễm My (20 tuổi) được cho là đang ở đây để tu tập. 

Một phụ nữ đi theo nhóm là bà Châu Vinh Hóa dùng miếng gạch men ném vào mặt của ông Lê Thanh Nhị Nguyên, một người đang tu tại gia ở đây gây thương tích 13%. 

Không lâu sau đó, cô Võ Thị Diễm My quay lại Tịnh thất Bồng lai, được xuống tóc và sống cùng với những người trong hộ bà Cao Thị Cúc. 

Khoảng ngày 12/12/2019, Công an huyện Đức Hòa mời cô Diễm My lên để giải quyết đơn tìm con của ông Võ Ngọc Thắng, tuy nhiên sau đó cơ quan này bàn giao cô My cho gia đình. 

Khi biết thông tin này, ông Lê Tùng Vân và những đệ tử đã ở trụ sở công an quay phim, nói công an bắt cóc người và đòi chính quyền giao lại cô Diễm My đã đăng ký tạm trú tại đây. 

Video này sau đó đã thu hút sự quan tâm rất lớn của dư luận, không lâu sau đó cô My lấy được điện thoại quay lại video nói mình bị công an bắt cóc và bị bố mẹ ruột giam cầm và cho uống thuốc. 

httpv://www.youtube.com/watch?v=53E78NhTenU&t=575s

Chỉ khoảng 12 ngày sau trở về nhà, cô Võ Thị Diễm My từ tầng ba nhảy xuống mái nhà bên cạnh và nhảy xuống đường để bỏ trốn khỏi nhà, nhưng bị gia đình tìm ra không lâu sau đó. 

Một lần nữa, không biết bằng cách nào cô này tiếp tục trốn ra khỏi nhà và cho biết đang ở một nơi nào đó không xác định, tiếp tục đăng tải clip tố cáo gia đình, cụ thể là cha ruột xâm hại cô khi bị nhốt trong nhà.

Hiện gia đình cô My vẫn tiếp tục tìm kiếm cô này và cho rằng con gái mình có những biểu hiện không bình thường. 

Trong phiên tòa phúc thẩm ngày 9/12/2021, bà Châu Vĩnh Hóa – người ném gạch men vào một tu sĩ tại gia ở Tịnh thất Bồng lai bị tuyên y án sơ thẩm là hai năm tù, nhưng được cho hưởng án treo và bồi thường 17 triệu đồng cho bị hại. 

Vĩnh Biệt Sơn Nam- Tưởng Năng Tiến

Vĩnh Biệt Sơn Nam

Tưởng Năng Tiến

Tưởng giếng sâu tui nối sợi dây dài.
Ai ngờ giếng cạn, tui tiếc hoài sợi dây.

(Câu hò miền Nam, VN)

Trong cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn Nam tâm sự : “Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng gió… Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn ‘Gả Thiếp Về Rừng’… Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn.”

Muốn biết chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra sao, xin đọc vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này của Sơn Nam:

“Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 … tháng chạp năm đĩ, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.

Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.

Hai năm qua.

Ba năm qua…

Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương.

Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.

Hai ông bà quá đỗi vui mừng.

Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?

Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:

– Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?

“Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:

Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mịn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.

Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!

Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:

– Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.

Chị vợ đáp:

– Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.

Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:

– Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may…

Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:

– Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè…

Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:

– Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.

Bà Cả mừng quýnh:

– Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!

Khách trả lời:

– Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.

– Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ “đẻ nhiều quá vậy?

Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:

– Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ “chồng con cái rút vơ mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu.

Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng ‘muỗi kêu như sáo thổi’ ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.

Để đánh trống lảng, ông nói:

– Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.

Bà Cả nóng ruột:

– Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?

Khách trả lời:

– Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.

Bà thở dài, nói như rên siết:

– Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi…


Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phị giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:

– Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về giùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.

Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Ðể cho nước mạnh dân còn” (*).

Truyện “Gả Thiếp Về Rừng” lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, vào khoảng năm 1939 – 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau, lúc tôi đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Nam thì ghe thuyền gắn máy (đuôi tôm) đã chạy ngang dọc tá lả khắp sông rạch miền Nam. Thế hệ của chúng tôi khó mà hiểu được nỗi “gian truân” của một người con gái lấy chồng xa nhà (cỡ) … năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức cái tình của Sơn Nam dành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền cực Nam của quê hương.

Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân. Trong truyện ngắn “Rừng Mắm” của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:

“Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.

Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

Ông với lại tía của con là cây mắm, chân giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xồi, mít, dừa, cau.

Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngồi mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng”.

Đã bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út … nhưng quê hương mỗi lúc một lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm – như kỳ vọng của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một nhiều.

“Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo:’Người già, người muốn tái hôn, người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt Nam … Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái VN như “xuất giá tòng phu”, “tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến bốn đời”, “dáng người đẹp nhất thế giới”, “giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng” (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney ngày 28/04/2006).

Chuyện “lấy chồng xa” của phụ nữ VN đã trở thành kỹ nghệ, ở mức “đại trà” – theo như tin của nguyệt san Khởi Hành, số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006:

“Cảnh sát Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Nam tại một khu phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ quê nhà vùng nông thôn miền Nam qua biên giới trong những thùng sắt dùng trở hàng xuất cảng

Những chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập niên qua. Trong thời gian này, Sơn Nam vẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là “cuốn sách đề cập đến những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam 30/04/75 đến nay”.

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký của Sơn Nam sẽ không có một dòng chữ nào – nửa dòng cũng không – viết về những em bé Việt Nam bị “gả” đi xa, “trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng” như thế.

Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Gả Thiếp Về Rừng”, được mở đầu bằng một bài thơ của (chính) Sơn Nam, có đoạn như sau:

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Ðiệu thơ Lục Vân Tiên
Kiến nghĩa bất vi vô dông giả

Cái gì đã giết chết tinh thần “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” nơi Sơn Nam như thế? Ông đâu có chức quyền gì như Huy Cận hay Tố Hữu để mà sợ mất? Ông đâu có đụng chuyện với “cách mạng”, vào thời “Nhân Văn Giai Phẩm” mà hoảng hốt đến độ bị bắt ăn bánh vẽ nhưng vẫn phải làm bộ khen ngon – như Chế Lan Viên? Ở tuổi 80, Sơn Nam còn ngại gì nữa mà không (dám) nói lên đôi lời phải/quấy với bọn giặp cướp – đang tụ họp ở làng Ba Đình, Hà Nội – trước khi nhắm mắt?

Trong một chế độ “không cho phép ai được có một thái độ thứ ba” thì sự im lặng của Sơn Nam cũng chỉ là chuyện … bình thường thôi sao? Thời phải thế, thế thời phải thế. Cả đống tu sĩ, nhân sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ – ở trong nước cũng như hải ngoại – đều giữ thái độ tương tự, trước việc phụ nữ VN bị gả bán như nô lệ, chứ đâu có riêng chi nhà văn Sơn Nam. Với thời gian – rồi ra – cả dân tộc Việt sẽ quen dần hết với mọi chuyện xấu xa tồi tệ, và có thể chấp nhận tất cả những tội ác một cách thản nhiên thôi.

Nghĩ cho cùng, có lẽ, đây chỉ là chuyện nhỏ và là chuyện (riêng) của cá nhân tôi với Sơn Nam. Chỉ vì lúc thiếu thời tôi yêu thích, quí mến ông ấy quá nên mới đặt thành vấn đề và cứ băn khoăn mãi.

Cho đến sáng nay, qua Tuổi Trẻ Online, tôi tình cờ tìm ra được lý do khiến cho Sơn Nam đã bỏ rơi cái quan niệm sống “lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy” – của Lục Vân Tiên – trong con người Nam Bộ của ông.

Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! — Ảnh: tuoitre.com.vn

“Ngày 7-3, tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn hóa phương Nam”

Ý trời đất, quỉ thần, thiên địa (mèng đéc) ơi, như vậy là Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! Hèn gì, ông không còn nghe được tiếng dân kêu ai oán ở rừng U Minh Hạ. Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những người đồng hương đi lấy chồng xa – dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn) chứ không phải chỉ là năm mươi cây số – và sang sông (tập thể) bằng tầu chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay đò dọc.

Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền Nam – bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 – nhà văn Võ Phiến gọi họ là những “tài năng bị chôn sống”. Sơn Nam (của tôi) dù được cho phép tiếp tục cầm viết, vẫn bị chôn sống như thường – bằng một hình thức khác, nhẹ nhàng hơn, vậy thôi. Thôi, vĩnh biệt Sơn Nam!

Copyright @ DCV online 2006

(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. Nguyên tập truyện Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam có thể đọc được qua website Đặc Trưng. Riêng truyện “Gả Thiếp về Rừng”, nơi web site này, thiếu một đoạn cuối như sau: “Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Để cho nước mạnh dân còn.”

Nhân cơ hội này, người viết cũng xin được ngỏ lời ghi ân nhóm chủ trương Đặc Trưng vì đã sử dụng tài liệu trong thư viện nhỏ (“trên không”) của quí bạn nhiều lần.

Tưởng Năng Tiến
5/2006

Thiên thần là ai vậy?

Thiên thần là ai vậy?

Xin Thiên Thần của Chúa hãy đến mau để bảo vệ bạn hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 07/01/2022

GIÁO LÝ: Thiên thần là ai vậy? Thiên thần là các thụ tạo linh thiêng thuần túy của Thiên Chúa, các ngài có trí khôn và lòng muốn như ta, nhưng không có xác như ta, các ngài không thể chết, và thường không ai thấy được. Các Thiên thần hằng sống trước mặt Thiên Chúa, thông truyền cho loài người ý muốn và sự che chở của Thiên Chúa. (YouCat, số 54)

SUY NIỆM: Đức Hồng y Ratzinger viết rằng “Thiên thần là như tư tưởng riêng của Thiên Chúa đối với tôi”. Các Thiên thần đồng thời hoàn toàn hướng về Đấng Sáng tạo của các ngài. Các ngài cháy lửa yêu mến và phụng sự Chúa ngày đêm. Lời ca hát ngợi khen của các ngài không bao giờ ngừng. Trong Kinh Thánh, các Thiên thần đã sa ngã được gọi là thần dữ hay ma quỷ.

Vì ngươi Người ra lệnh cho các Thiên thần để gìn giữ ngươi trên mọi lối ngươi đi, các ngài sẽ nâng ngươi lên kẻo chân ngươi vấp nhầm phải đá. Tv 91, 11-12 (YouCat, số 54 t.t)

***Mỗi tín hữu có một Thiên thần ở bên cạnh để che chở và dẫn dắt trên đường dẫn tới sự sống đời đời. (Thánh Basiliô cả, 330-379, tiến sĩ Hội thánh)

LẮNG NGHE: Và có bao giờ Thiên Chúa đã phán với một thiên thần nào rằng: Bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao địch thù, Cha sẽ đặt làm bệ dưới chân Con? Nào tất cả các vị đó không phải là những bậc thiêng liêng chuyên lo phụng thờ Chúa, được sai đi phục vụ để mưu ích cho những kẻ sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ sao? (Dt 1:13-14)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, vì yêu thương con Chúa đã ban cho con một Thiên Thần để soi sáng và đồng hành với con trong những thăng trầm của cuộc sống. Xin cho con biết lắng nghe và gắn bó với Thiên Thần Bản Mệnh để xa tránh những bạn bè xấu trên đời và sống đường ngay lẽ thật.

THỰC HÀNH: Từ bỏ một việc hoặc một lối suy nghĩ trái với tiếng nói của lương tâm.

From: Đỗ Dzũng

Chuyện tình chàng giáo sinh yêu nàng thơ khiếm thị

Lê Quốc Quân

BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN VIẾT VỀ CHUYỆN TÌNH CỦA ANH HÙNG “ GÀN” và CHỊ LÊ NA (tâm hồn đẹp này giờ đang bị kết án 5 năm tù vì tình yêu của anh với đất nước)

Chuyện tình chàng giáo sinh yêu nàng thơ khiếm thị

17:52 10/10/2011

Trong cuộc sống có không ít mối tình cổ tích được xây lên từ những người yêu thơ, rồi say mê tác giả. Nhưng có lẽ mối lương duyên bắt nguồn từ thơ của một anh giáo ở tận miền đất sơn cước địa đầu Tổ quốc với cô nữ sinh khiếm thị lại là một câu chuyện tình hiếm hoi khiến nhiều người ngưỡng mộ, cảm phục.

Chàng trai đó là Lê Trọng Hùng (32 tuổi, Minh Lương, Văn Bàn, Lào Cai) đã bỏ một công việc ổn định với nhiều cơ hội thăng tiến, lặn lội từ Lào Cai xuống Hà Nội để tìm gặp và yêu người con gái khiếm thị đã làm anh say mê từ một bài thơ anh vô tình được nghe trên một chương trình của Đài Tiếng nói Việt Nam cách đây 10 năm.

Xin làm chàng “Thạch Sanh” yêu “công chúa” cổ tích

Trong căn phòng rộng chừng 15m2 nằm trong ngõ 657 phố Minh Khai (Hoàng Mai, Hà Nội), anh Hùng đang loay hoay pha sữa bột cho con, khuôn mặt rạng ngời hạnh phúc. Sợi dây kết nối trong tổ ấm của anh chị là một cậu bé xinh xắn được chào đời. Lê Trọng Bảo Minh vừa tròn 4 tháng tuổi, bụ bẫm và kháu khỉnh. Bằng sự nhạy cảm và trái tim người mẹ, chị ve vuốt bàn tay bé xíu, chị Na hài hước: “Mọi người đều bảo tôi “đẻ thuê”! Thằng bé giống bố từ đầu đến chân, mỗi bàn tay ngòi bút là “dấu tích” của mẹ”!

Chị Đỗ Lê Na để lại cho tôi một ấn tượng khá đặc biệt từ khi gặp chị trong lần chị bước lên nhận giải nhất cuộc thi viết “Vì trẻ em khuyết tật” do Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật Hà Nội và Báo Hà Nội mới tổ chức. Chị là sinh viên khiếm thị đầu tiên được tuyển thẳng vào trường đại học tại Đại học Sư phạm Hà Nội. Lê Na lại yêu văn học, thích sáng tác, những bài thơ của chị đăng trên tờ báo Hoa Nắng của Trường Nguyễn Đình Chiểu và được chương trình Tiếng thơ của Đài tiếng nói Việt Nam đọc lại mỗi tối.

Lục lại quá khứ, Lê Na bảo, chị không nhớ tình yêu của mình bắt đầu từ lúc nào và phải trải qua biết bao sóng gió, chỉ nhớ rằng, người con trai đó đã nắm tay chị bước qua rất nhiều giông bão, vượt qua những dị nghị của người đời để làm đôi vai, chỗ dựa vững chắc cho chị. Chị nghĩ, chị là người thiệt thòi nên chưa bao giờ hi vọng sẽ lấy người sáng mắt, cũng không tin niềm hạnh phúc, tình yêu và những điều kỳ diệu sẽ ứng nghiệm vào cuộc sống của mình, chỉ có sự cố gắng, nỗ lực vươn lên bằng sự hăng say của bản thân sẽ gặt hái được kết quả tốt đẹp.

Chính vì thế, chị luôn cố gắng phấn đấu, học hỏi, tạo dựng tri thức để giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ. Hướng đôi mắt đục mờ chỉ còn phân biệt được sáng tối nhìn lên để định hướng người đang nói chuyện với mình, chị kể về tuổi thơ đầy sóng gió của mình trong niềm cảm động vô hạn đối với người mẹ. Lê Na vừa sinh ra đã bị bỏ rơi tại Bệnh viện Khe Sanh (Quảng Trị), cô y tá Lê Thị Bích Thủy (người Quảng Bình) lúc đó vừa tròn 20 tuổi, chưa chồng con đã đón nhận về nuôi nấng, dạy dỗ.

Hồi mới sinh, mẹ Na bảo đôi mắt Na rất đẹp, sáng và tinh nhanh hơn những đứa trẻ cùng tuổi khác nhưng càng lớn, thị lực Na càng yếu đi. Đến 6 tuổi, em gái Thùy Linh đi học, Lê Na nằng nặc đòi mẹ được đến trường cùng các bạn, nhưng vì yếu thị lực, trường không dám nhận vì sợ ảnh hưởng đến học sinh khác. Các thầy, cô ngày ngày vẫn thấy một cô bé đứng ngoài cửa sổ, cố gắng nheo nheo đôi mắt đọc những con chữ đang nhảy nhót trên bảng, đã quyết định nhận Na vào lớp nhưng không được nằm trong danh sách là học sinh chính quy của nhà trường.

Vợ chồng Lê Trọng Hùng – Lê Na (giữa) hạnh phúc bên đứa con đầu lòng.

Năm 1993, đội văn nghệ của Trường mù Nguyễn Đình Chiểu vào biểu diễn cho học sinh tại trường học của em Linh. Thấy đoàn có những học sinh khiếm thị đều tiếp cận với kiến thức văn hóa, sách vở, Na xin mẹ theo đoàn để được học chữ như các bạn. Người mẹ thương con, sợ con xa nhà vất vả, cô đơn, lúc đầu do dự, khuyên ngăn, nhưng sau thấy Na quyết chí, mẹ Thủy chấp thuận, lặn lội tìm gặp người quản lý của đội văn nghệ để xin Lê Na theo học.

Một tuần sau, Lê Na giã biệt gia đình, quê hương để lên đường ra Hà Nội học trường Nguyễn Đình Chiểu những năm tiểu học, sau đó nhanh chóng được học hòa nhập tại Trường THCS Minh Khai, THPT Dân lập Nguyễn Đình Chiểu và là một trong 20 học sinh giỏi của Thủ đô Hà Nội năm 2001 – 2002.

Na bảo, chị không đủ tự tin với thiên chức làm vợ, làm mẹ và làm con dâu, phần nữa cũng lo lắng vì sợ người chồng sau này sẽ không cảm thông vì khiếm khuyết của bản thân. Chị cũng không ngờ một anh giáo đang có công việc ổn định, có cơ hội thăng tiến ở tỉnh Lào Cai lại từ bỏ hết những thảm hồng được trải sẵn để làm lại từ đầu với bao nhiêu khó khăn vất vả phía trước chỉ vì yêu đơn phương cô gái khiếm thị có bài thơ khiến anh “say” đến mê mệt.

Chị nhớ như in tin nhắn mà anh gửi: “Anh nguyện làm chàng Thạnh Sanh nắm tay em viết câu chuyện cổ tích về tình yêu. Anh hiểu những điều em đang lo lắng nhưng anh tin, tình yêu sẽ giúp mình vượt qua được tất cả”.

Hạnh phúc bình dị

Nhiều người bảo, văn chương là cầu nối xe duyên cho tình yêu của anh chị, còn anh Hùng chỉ coi đó là “định mệnh”. Là giáo viên Trường THCS Minh Lương (Văn Bàn, Lào Cai) nhưng tâm hồn thầy giáo dạy Hóa rất thích đọc thơ văn, tiểu thuyết.

Vào một đêm trăng năm 2001, chương trình Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam phát lên giọng đọc ấm áp, ngọt ngào của cô phát thanh viên hai bài thơ “Xa rồi cổ tích” với những câu thơ mềm mượt, nhẹ nhàng đầy tâm sự khiến trái tim anh xao xuyến. Từ đó, anh đam mê và thường xuyên nghe chương trình “Tiếng thơ” với hi vọng mong manh sẽ được nghe lại bài thơ lần nữa. Chờ mãi không thấy, anh gọi điện đến tổng đài yêu cầu được phát lại để anh… chép lại nguyên bản và phổ giai điệu cho học sinh hát lúc giờ sinh hoạt Đoàn, Đội.

Chưa một lần anh được gặp mặt tác giả, anh Hùng tự xây dựng trong tim mình hình ảnh cô gái khiếm thị có tâm hồn mềm mại, đa cảm. Năm 2005, anh quyết định nghỉ dạy ở Trường THCS Minh Lương, đăng ký khóa học tại chức ngành Luật ở Trường Đại học Mở Hà Nội. Anh tìm đến hỏi thăm Trường Nguyễn Đình Chiểu nhưng mọi người bảo cô gái đã đỗ Đại học.

Hà Nội bé nhỏ nhưng mênh mông biển người, biết tìm đâu một cô gái mà anh chỉ biết tên và bài thơ khắc kỹ trong tim? Đôi lúc, anh hoang mang, định bỏ cuộc thì tình cờ, cô bạn học cùng cấp 3 trường hòa nhập với Na biết chuyện đã giúp anh tìm số điện thoại liên lạc. Từ những cuộc điện thoại ngắn của “fan” hâm mộ với tác giả, Hùng lấy hết can đảm đặt vấn đề gặp mặt. “Hôm đó, tôi cố gắng diện thật đẹp, đóng thùng lịch sự, nhưng chợt nhớ ra cô gái không nhìn thấy được gì” – Hùng ngượng ngùng kể.

Người ta nói, những người khiếm khuyết đôi mắt thì bù lại họ cảm nhận rất tinh tế từ những giác quan khác quả không sai. Không cần bắt tướng qua khuôn mặt, cử chỉ, dáng điệu, hình ảnh, Na cảm nhận ở Hùng mộc mạc và chân thành như anh trong những cuộc trò chuyện điện thoại. Những lần đi chơi, anh nắm lấy bàn tay nhỏ nhắn của chị dắt chị đi từng bước, tả cho chị những cảnh vật bên ngoài, về thế giới xung quanh.

Chị cười: “Với tôi, anh là đôi mắt sáng để tôi nhìn và cảm nhận thế giới bên ngoài”. Còn bạn bè chị trầm trồ: “Con trai như anh Hùng bây giờ là “của hiếm” đấy. Có được người yêu như anh ấy là may mắn và hạnh phúc lắm đấy, cậu đừng để đánh mất tình yêu!” Chị chỉ cười thỏ thẻ, giấu đôi má hồng lên vì ngượng và niềm hạnh phúc dâng đầy trong tim.

Anh Hùng đưa cho tôi xem tập thơ Vườn cổ tích của chị Lê Na, kèm theo bài thơ “Cổ tích cho em” mà anh viết tặng chị. Những câu thơ: “Cổ tích cho em không chỉ bây giờ/ Mình lại có mái nhà xinh xắn/ Mình sẽ có những thiên thần xinh xắn/ Không đến từ thiên đàng/ Mà đến từ hai ta…” là nhân chứng cho những chuỗi ngày phải vượt qua lời đàm tiếu, phải chờ đợi, thuyết phục để nhận được sự đồng ý của hai bên gia đình.

Tuy cuộc sống còn nhiều khó khăn, vất vả nhưng anh chị vẫn cảm thấy hạnh phúc và trân trọng hơn những gì mình có. Anh Hùng đang làm giáo viên tại Trường THCS Minh Khai, chị Lê Na là cô giáo của Trường Nguyễn Đình Chiểu, anh còn giúp chị dịch sách giáo khoa chuyển ngữ sang chữ Brain. Chị cười, món quà lớn nhất cho tình yêu của chúng tôi là đứa bé xinh xắn và kháu khỉnh. Cháu ăn nhiều nên sữa mẹ không đủ, phải pha sữa bột uống từ 4 tháng tuổi. “Giờ tôi đã tự tin về những kỹ năng làm vợ, làm mẹ và có thể truyền lại kinh nghiệm, kiến thức nuôi con cho bạn khi bạn sinh đứa con đầu” – chị nheo mắt hài hước

https://cand.com.vn/…/Chuyen-tinh-chang-giao-sinh-yeu…/

Văn Quỳnh Lưu

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…

GÓC SUY GẪM…

ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH…

Một người đàn bà nghèo khổ bế đứa trẻ đi ăn xin, một lần bà ta đi ngang qua một cái hang. Bỗng nghe văng vẳng bên tai:”

Ngươi có thể vào trong và lấy bất cứ thứ gì mình muốn, nhưng đừng quên cái chính và hãy nhớ một điều: sau khi ngươi trở ra thì cửa hang sẽ đóng lại vĩnh viễn, tuy vậy hãy lợi dụng cơ hội hiếm có này và nhớ đừng quên cái chính”.

Nghe lời bà ta đi vào trong hang. Bà bị lóa mắt bởi vô số những thứ quý giá: vàng bạc, châu báu, kim cương. Bà ta đặt đứa con xuống và bắt đầu nhặt mọi thứ có thể và nhét hết vào mọi nơi trên người. Bên tai văng vẳng lời nhắc nhở: “ngươi chỉ có 8 phút thôi và đừng quên cái chính !”.

Sau khi đã nhét đầy người vàng bạc châu báu cũng là lúc hết giờ. Bà ta vội vã rời khỏi hang, cũng là lúc cửa hang đóng sập lại. Chợt bà ta sực nhớ đến đứa trẻ còn ở trong hang. Bà ta vứt tất cả vàng bạc châu báu đã lấy được và lăn ra khóc lóc vật vã. Nhưng chẳng ích gì vì cửa hang đã vĩnh viễn đóng lại.

Trong cuộc đời chúng ta cũng có khoảng 80 năm để sống ở đời và từ trong sâu thẳm đáy lòng luôn có một âm thanh nhắc nhở chúng ta:

“ĐỪNG QUÊN CÁI CHÍNH”.

Nhiều khi con người vì ham kiếm thật nhiều tiền bạc, nhiều khi ăn chơi vô độ, hoặc chạy theo danh vọng, sắc đẹp mà quên đi cái chính của cuộc đời: đó là chăm chút đời sống tâm linh, lo cho gia đình, cho những người thân yêu là cha mẹ con cái chồng vợ… là giá trị của đạo đức làm người.

Nhoáng cái đã hết 80 năm. Đến khi sắp nhắm mắt mới nhận ra mình đã quên đi cái chính thì ôi thôi đã muộn…!!!

Một năm tấn công 6/1: Joe Biden công kích Donald Trump – BBC News Tiếng Việt

BBC News Tiếng Việt 

Trích đoạn diễn văn của Tổng thống Joe Biden ngày 6/1/2022:

“Đây không phải là một nhóm khách du lịch. Đây là một cuộc nổi dậy có vũ trang.

Họ không tìm cách duy trì ý chí của nhân dân. Họ đang tìm cách phủ nhận ý chí của người dân…

… Họ không tìm cách cứu chính nghĩa của nước Mỹ. Họ đang tìm cách lật đổ Hiến pháp.

Đây không phải là việc sa lầy trong quá khứ. Đây là việc đảm bảo quá khứ không bị chôn vùi…

…Ông ta đã làm được điều mà chưa một tổng thống nào trong lịch sử Hoa Kỳ – lịch sử của đất nước này – từng làm: Ông ta từ chối chấp nhận kết quả của một cuộc bầu cử và ý chí của người dân Mỹ…”

BBC.COM

Một năm tấn công 6/1: Joe Biden công kích Donald Trump – BBC News Tiếng Việt

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden phát biểu đánh dấu một năm biến cố đám đông tấn công nhà Quốc hội Mỹ, và dùng diễn văn để công kích cựu tổng thống Donald Trump.

Xem thêm: Đài VOA & Đài RFI

*TT Biden: ‘Mạng lưới dối trá’ của ông Trump không ngừng đe dọa nền dân chủ Mỹ (VOA)

*Dân Mỹ vẫn lo âu cho nền dân chủ, một năm sau vụ tấn công Quốc Hội (RFI)

Về già, chúng ta dựa vào ai? (RFA)

Van Pham

Về già, chúng ta dựa vào ai?

Huỳnh Mai/RFA

Hình minh hoạ: Một người lớn tuổi ngồi trước cái bơm xe đợi khách trên đường phố Hà Nội năm 2008

 AFP

Khoảng chục năm nay chúng tôi bắt đầu nghĩ về cuộc sống khi về già. Ở cùng con là lựa chọn truyền thống và phổ biến nhất từ trước tới nay ở Việt Nam. Nhưng ở thế hệ chúng tôi, lựa chọn này đã không còn dễ dàng như với các thế hệ trước.

Chúng tôi đi học xa nhà từ 18 tuổi rồi tự lập luôn ở thành phố lớn, hầu như không có bà con họ hàng, quê hương… bên cạnh. Rồi con cái cũng vậy, chúng hầu hết đều đi học ở nước ngoài và không muốn về Việt Nam. Thế hệ chúng tôi lại ít con, mỗi nhà hai đứa là nhiều nhất, và cũng không ít người không lập gia đình hay không có con. Cho nên khi bọn nhỏ muốn định cư ở nước ngoài thì cha mẹ hầu như đều được khuyên rằng về già thì theo con sang đó sống.

Định cư theo con rồi ngồi trong bốn bức tường

Nhưng, thế hệ chúng tôi hiểu rõ sự quý báu của cuộc sống có tự do cá nhân. Cha mẹ chúng tôi thường sống với những người con khác ở quê hương-những đứa con không đi xa và có nhiều thời gian hơn để chăm sóc cha mẹ. Khoảng cách thế hệ vốn đã lớn thì còn lớn hơn với những đứa con trưởng thành và sống xa cha mẹ, do không sống chung nên cũng khó hiểu nhau và thiếu thốn những ký ức chung.

Thế thì con cái chúng tôi-những đứa trẻ trưởng thành ở Anh, Mỹ, Úc… thực chất hầu như đều đã trở thành những quả chuối (da vàng nhưng bên trong thì “trắng”) làm sao chúng có thể chăm sóc cha mẹ già Việt Nam trăm phần trăm? Mà lại là Việt Nam đã bị bứng ra khỏi hoàn cảnh và môi trường sống quen thuộc từ tấm bé, với bạn bè, họ hàng, đồng nghiệp cũ…, để sang sống ở một môi trường hoàn toàn lạ lẫm, thậm chí ngôn ngữ cũng không thông thạo? Nhiều đứa sẽ lấy vợ, lấy chồng Tây, khoảng cách thế hệ, văn hóa và dân tộc tính ngày càng lớn nhưng thời gian dành cho gia đình ngày càng ít, liệu cha mẹ già có thể sống vui với chúng những ngày cuối đời? Những người chúng tôi quen biết thân quý thì chúng không biết, và ngược lại. Những gì đã tạo nên ký ức của chúng tôi không có giá trị tương tự với chúng, và ngược lại

Có thể nói, khi sang nước ngoài sống cùng với con thì chúng tôi là cái cây bị bứt hết gốc rễ. chỉ còn phụ thuộc vào mỗi một mình con cái. Nếu chúng “trở mặt”, không dành đủ thời gian hay không chăm sóc được như ý, cha mẹ sẽ tủi thân vô cùng vì không có ai khác để chia sẻ. Cô đơn trong bốn bức tường thôi.

Rất nhiều đứa bé được cho đi học xa nhà từ tuổi thiếu niên hầu như đều cảm thấy Việt Nam không còn là nhà của nó nữa. Mọi thứ đều xa lạ, trừ cha mẹ. Bạn bè, thầy cô, khí hậu, thời tiết, thức ăn, văn hóa, lối sống… những gì nó quen thuộc và thích nhất đều ở bên kia đại dương cả rồi.

Cha mẹ nài nỉ: Con đi đâu thì cứ đi nhưng mai mốt ba mẹ già rồi thì về Việt Nam ở với ba mẹ. Ba mẹ có một mình con!

Nó trả lời: Con xin lỗi nhưng con cũng không lựa chọn làm con một của cha mẹ (tức là việc cha mẹ do chỉ có một đứa con nên suy luận rằng nó phải có nghĩa vụ tuân theo cha mẹ là không hợp lý).

Sợ cha mẹ buồn, nó nói rõ: sẽ chăm lo cha mẹ khi về già, nhưng nó không ở Việt Nam như ý cha mẹ muốn.

Không đi theo con thì về già sống ra sao? Rất nhiều người trong chúng tôi tính sẽ vào nhà dưỡng lão.

Ngay cả những gia đình con cái đều ở Việt Nam thì hầu hết cũng nghĩ sẽ vào nhà dưỡng lão khi già yếu, cũng với những lý do đó.

Nhà dưỡng lão ở Việt Nam

Mô hình nhà dưỡng lão đã được đặt ra từ hai, ba mươi năm nay, nhất là khi dân số già ở Việt Nam ngày càng tăng. Nhưng vì nhiều lý do nên nó vẫn chưa phổ biến.

Tôi cho rằng tài chính là lý do lớn nhất.

Phần đông người Việt Nam vẫn sống dưới mức trung lưu. Người bình dân thường thường sẽ sống như tập quán là sống cùng con cháu khi về già. Những người giàu có, chủ doanh nghiệp hay có nhiều tài sản cũng vậy, con cháu họ sẽ chăm sóc.

Số đông là tầng lớp công chức và trí thức trung lưu mong muốn cuộc sống độc lập, tự do không phụ thuộc con cháu thì lương hưu quá thấp. Nếu chỉ dựa vào lương hưu thì không đủ trả chi phí cho nhà dưỡng lão (lương hưu thấp nhất khoảng 4 triệu đồng, cao là khoảng 6-7 triệu đồng/tháng, trong khi phí trả cho nhà dưỡng lão thấp nhất khoảng 7 triệu đồng/tháng (nhu cầu cơ bản, thường phải cộng thêm các phí khác, tổng khoảng 10 triệu cho gói thấp nhất), trung bình khoảng 12-15 triệu/tháng). Hoặc phải bán nhà cửa đi (thường tầng lớp này cũng chỉ có một tài sản lớn nhất nhà cửa), nhưng thế thì con cháu sinh sống chỗ nào? Văn hóa làm cha mẹ của người Việt là phải để lại tài sản cho con, thế cho nên dù chật chội, thiếu thốn thì nhiều người già vẫn không bán tài sản để hưởng thụ cá nhân mà chọn cách ở với con cháu cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Thứ hai, chưa có niềm tin vào nhà dưỡng lão.

Tôi có người bạn đã gửi ba của nó vào một nhà dưỡng lão tư nhân ở Củ Chi, ven Sài Gòn. Chi phí thấp nhất (phòng năm giường) là 10 triệu đồng/tháng. Cao nhất (phòng riêng) là 18 triệu đồng/tháng, chưa kể phụ phí đồng phục, chăm sóc khi bị bệnh và trong các ngày lễ tết.

Bạn tôi là con gái một. Mẹ bị tâm thần đã vài chục năm, không hung dữ phá phách nhưng suốt ngày đi lang thang rồi ghé tiệm của con xin tiền.

Khi bạn tôi có bầu đồng thời ba nó bị đột quỵ, không còn cách nào khác, nó phải gởi ba vào nhà dưỡng lão.

Hai ngày đi cùng nó lên thăm cha, tôi đã đủ ngậm ngùi.

Nhà dưỡng lão chia làm bốn loại khách hàng: Thứ nhất là các cụ ông/cụ bà còn tương đối khỏe mạnh và minh mẫn. Thứ hai là các cụ yếu hơn nhưng vẫn đi đứng được, có người lúc tỉnh lúc lẫn. Thứ ba, các cụ phải chăm sóc gần như toàn bộ, ăn phải có người đút, hầu hết không tự di chuyển được hoặc khá yếu nên phải ngồi xe lăn. Thứ tư là các cụ gần như chỉ còn sống thực vật, cho ăn qua ống.

Các ông bà cụ trong nhà dưỡng lão này không được mặc áo quần riêng, cũng không được dùng đồ cá nhân. Vào đây, họ đều được phát mấy bộ đồ đồng phục bằng thun dày màu cam, cổ tròn, cả ống tay áo và ống quần đều được may ngắn hơn bình thường để đỡ vướng. Tóc thì húi cua sạch cả cụ ông lẫn cụ bà, nên nhìn vào gần như chẳng phân biệt được bà hay ông. Bát chén riêng không được dùng mà ăn bằng cái tô inox của Nhà dưỡng lão.

Mỗi tuần, con cháu được lên thăm các cụ vào thứ bảy và chủ nhật. Đó là những ngày rộn ràng, vui tươi nhất của các cụ. Khi người thân đến nơi, bảo vệ sẽ báo vào bên trong (người thân không được vào khu lưu trú). Bảo mẫu sẽ săn sóc, chải tóc, thay quần áo cho các cụ nếu cần, rồi đẩy xe lăn ra sảnh tiếp đón. Khu này rộng, có mái che, nhiều bàn ghế, lại gần một hồ sen, có cây cảnh, tượng Phật nên thoáng mát và có thiên nhiên để ngắm nhìn. Thường các gia đình mang rất nhiều thức ăn đủ loại lên để “thăm nuôi” ông bà cha mẹ. Vô số thức ăn bày trên bàn, người này mở, người kia giục, người nọ xúc… ông bà vừa ăn chưa hết miếng này thì con cháu đã mở hộp thức ăn khác, xúc miếng khác..

Đến xế chiều, con cháu lần lượt ra về. Các cụ trở vào khu lưu trú. Khi hai cánh cửa mắt cáo ngăn cách hai khu khép lại cũng là lúc các cụ thầm đếm xem còn bao nhiêu buổi sáng, buổi chiều và buổi tối thì đến ngày được gặp con cháu lần nữa.

Tôi may mắn được chứng kiến bữa cơm của họ.

Bữa cơm gồm hai món: canh rau và một món mặn. Tất cả đều được nhân viên nấu nóng trong bếp, nhưng tất cả đều mang một cái màu: màu … cháo lòng, và một cái mùi: mùi thức ăn ít gia vị, nhạt nhẽo và được nấu lâu trên bếp.

Cơm trong nhà dưỡng lão đều từ nhão đến rất nhão, để các cụ già dễ nuốt. Canh cũng quanh đi quẩn lại bí đỏ, bí xanh, bắp cải… tất cả đều lõng bõng và chín nhừ. Thức ăn mặn thường là cá, trứng chiên hoặc ít thịt nạc kho nhạt. Các cụ khỏe còn tự xúc ăn được. Các cụ còn lại thì nhân viên sẽ đổ hết tất cả thức ăn, cả canh lẫn thịt vào một cái tô và xúc cho họ. Nhiều ông bà cụ nhai móm mém chưa xong miếng trước đã phải há miệng ra để nhận tiếp miếng sau.

Nhà dưỡng lão cho biết do lo ngại bụng dạ các cụ yếu nên thức ăn nấu rất nhạt và hầu như không có gia vị. Thành ra nhìn các cụ sau khi vào trại thì đều hồng hào, tăng cân (có lẽ một phần do ít vận động chăng), nhưng không cụ nào tỏ vẻ thích bữa ăn của trại. Họ đều mong chờ những ngày con cháu đến thăm, mang thức ăn hợp khẩu vị. Có cụ có tiền thì có thể mua thêm ít thức ăn vặt, nhưng rất hãn hữu.

Vài cụ ông còn khỏe mạnh thì nghe radio (tự mang vào), hoặc đọc báo. Nhưng báo cũng có rất ít loại. Sách không thấy cuốn nào. Không có thư viện mặc dù số người còn đọc được cũng khá đông.

Nhà dưỡng lão có các hoạt động văn nghệ nhưng tôi không gặp.

Phòng ngủ thường có 4 giường sắt cỡ 80 cm, đệm bọc simili thường gặp ở bệnh viện. Toilet chung nằm ở bên ngoài. Tuần hai hoặc ba lần, các cụ được tắm. Nhà tắm là một phòng chung rất đơn giản chia làm hai phần, bên trong là khu vực tắm với mấy vòi nước, thông thống không có gì che chắn. Nhân viên sẽ đẩy ba cụ vào một lần, xối nước tắm rồi đẩy ra ngoài, lau khô, mặc áo quần. Không còn gì là riêng tư nữa. Tôi cho rằng điều đó gây tổn thương nhân phẩm của các cụ và nó làm tôi đau lòng.

Với 18 triệu đồng, các cụ sẽ được một phòng riêng, rất nhỏ nhưng có máy lạnh và toilet trong phòng.

Ở một nhà dưỡng lão khác quảng cáo là do Nhật đầu tư, tình hình vui vẻ hơn rất nhiều. Các cụ được mặc dùng tư trang cá nhân như áo quần riêng, bát chén, chăn gối…, tất cả. Chất lượng bữa ăn phong phú và ngon hơn, được đổi bữa thường xuyên, lượng trái cây và sữa cũng nhiều hơn. Các cụ ở trong phòng riêng một hoặc hai người, đầy đủ tiện nghi. Giờ ăn, họ ngồi quanh một bàn ăn ấm cúng giống như ở nhà. Nhân viên vẫn tắm cho các cụ nhưng tắm riêng từng người một, trong phòng tắm kín. Sự riêng tư được tôn trọng. Chất lượng cuộc sống và phục vụ ở đây tốt hơn hẳn so với nhà dưỡng lão Việt Nam, nhưng tất nhiên giá tiền cũng cao hơn. Và do họ không có cơ sở rộng nên nhà dưỡng lão chỉ nhận rất ít người.

Tất cả là nhà dưỡng lão tư nhân. Ở TP HCM có một nhà dưỡng lão Nhà nước, gọi là Nhà dưỡng lão Thị Nghè. Vào đây, ngoài tiền còn phải đáp ứng một số yêu cầu như là cán bộ có quá trình cống hiến cho nhà nước.

Người già dựa ai?

Có những nhóm bạn thấy rõ thực tế của cuộc sống xa con sau này, đồng thời cũng sợ hãi sự cô độc và thiếu thốn ở nhà dưỡng lão nên bàn nhau xây dựng các nhóm dưỡng lão gia đình. Chung tiền thuê một ngôi nhà có vườn gần biển hoặc gần núi tùy thích, sống chung với nhau và thuê người chăm sóc. Chi phí tất nhiên là cao, nhưng lúc ấy bán hết tài sản đi để lấy tiền sống những ngày cuối đời thì chẳng cần phải băn khoăn.

Đó có lẽ là mô hình tốt nhất.

Hoặc cũng có thể thuê người giúp việc sống với mình, nhưng như vậy sẽ rất buồn bã và cô đơn vì không có bạn bè; các nhu cầu tối quan trọng như dinh dưỡng, y tế cũng không đảm bảo.

Ở Việt Nam không có chế độ phúc lợi thuê người giúp việc chăm sóc người già yếu neo đơn, cho nên chỗ dựa cho người già hầu như chỉ có một cái gậy duy nhất: tiền.

Nếu con cháu có hiếu và có đủ điều kiện (thời gian, tiền bạc, tâm trí) để người già sống quây quần cùng con cháu đến cuối đời thì đó là cuộc sống hạnh phúc nhất. Tứ đại đồng đường, cha mẹ con cháu đều được nương tựa vào nhau cả về tinh thần và vật chất.

Có lần trong bệnh viện tôi gặp một đôi vợ chồng già không có con. Ông bệnh, bà vào chăm sóc nhưng chủ yếu động viên tinh thần. Hai cụ già đều trên 80 tuổi không thể chạy đi mua thức ăn hay các việc lặt vặt khác được. Có một anh con trai là cháu của ông bà hàng ngày mua thức ăn vào, nhưng anh cũng không sốt sắng gì lắm, chỉ làm theo trách nhiệm rồi về.

Bà cười nhạt nói với tôi: “Già dựa ai? Dựa tiền. Ai nuôi? Tiền nuôi. Mình có tiền còn sai nó làm được, chớ không thì nó cũng bỏ thôi con à”.

Chúng ta rồi ai cũng già đi, không chừa một ai, rồi ai cũng sẽ đến ngày mắt mờ, tai điếc, chân run và tè dầm ra tã. Bạn đời, bạn bè, đồng nghiệp, người hâm mộ đều đã mất đi hoặc đều run rẩy như ta cả.

Nhưng có ai nghĩ đến điều đó? Khi chúng ta còn trẻ như lũ con cháu bây giờ, chúng ta cũng y như chúng, không có lấy một giây nghĩ rằng sẽ có ngày bản thân già đi.

Hình minh hoạ. Hai mẹ con… AFP

Bà lão bán hàng ở Hà Nội. AFP

Thánh Andre Bessette (1845-1937)

Thánh Andre Bessette (1845-1937)

Chúc bình an, hôm nay 6/1 Giáo Hội mừng kính Thánh Andre Bessette (1845-1937). Đối với những ai đã từng đến thăm viếng Đền Thánh Giu-se ở Montréal (Quebec), Canada, thì họ không thể nào không nghe đến tên vị thánh đơn sơ nhỏ bé này. Xin thánh nhân chuyển cầu cho chúng con.

Cha Vương

Alfred Bessette sinh ngày 09 tháng 8 năm 1845 tại Québec, là con thứ tám trong một gia đình 12 anh em. Mồ côi cha mẹ sớm, Alfred phải trải qua nhiều đói khổ và bệnh tật, làm bánh mì, làm thợ giày, thợ rèn, lại mắc bệnh yếu bao tử không làm được việc nặng mà Alfred phải mang suốt đời. Ðiều làm cho anh vượt thắng là sự cậy trông vào Chúa quan phòng và Thánh Cả Giuse.

Khi Alfred Bessette đến tu hội Các Thầy Thánh Giá vào năm 1870, anh mang theo tờ giấy giới thiệu của cha xứ viết rằng, “Tôi gửi đến các thầy một vị thánh.” Thật khó để các thầy dòng ở đây tin nổi. Bệnh đau bao tử kinh niên đã khiến Alfred không thể đảm nhận được công việc nào lâu dài, ngay từ khi còn nhỏ Alfred đã lang thang từ nông trại này sang nông trại khác, tiệm này sang tiệm khác, ở ngay trên quê hương Gia Nã Ðại hoặc ở đất Hoa Kỳ, mà chỉ được có vài hôm là chủ nhân phải sa thải vì anh không thể làm được việc nặng nhọc. Công việc của các thầy dòng Thánh Giá là dạy học và dù đã 25 tuổi, Alfred vẫn chưa biết đọc biết viết. Dường như anh đến nhà dòng vì sự tuyệt vọng hơn là vì ơn gọi đi tu.

Alfred thật tuyệt vọng, nhưng anh cũng là người siêng năng cầu nguyện và rất thành tâm với Thiên Chúa cũng như sùng kính Thánh Giuse. Có lẽ anh chẳng còn nơi nào để nương tựa, nhưng anh tin rằng đây là nơi anh phải sống trong suốt cuộc đời.

Nhà dòng nhận anh vào đệ tử nhưng sau đó không lâu họ thấy đúng như những gì trong quá khứ – dù Alfred, bây giờ là Thầy Andre, rất muốn làm việc, nhưng sức khỏe không cho phép. Họ yêu cầu thầy rời nhà dòng, nhưng trong sự tuyệt vọng, thầy đã xin đức giám mục sở tại can thiệp để được ở lại và được giao cho công việc khiêm tốn là gác cổng trường học Notre Dame ở Montreal, cùng với các nhiệm vụ phụ là dọn lễ, giặt giũ và đảm trách việc thư từ. Thầy Andre khôi hài rằng, “Khi tôi gia nhập cộng đoàn này, cha bề trên chỉ cho tôi cánh cửa ấy, và tôi ở đó suốt 40 năm.”

Trong căn phòng nhỏ bé của ngài ở gần cổng trường, hầu như suốt đêm ngài quỳ gối cầu nguyện. Trên thành cửa sổ, trông ra đồi Royal, là bức tượng Thánh Giuse nhỏ, là người mà thầy hằng sùng kính ngay từ khi còn nhỏ. Khi được hỏi về điều ấy thầy trả lời, “Một ngày nào đó, Thánh Giuse sẽ được tôn kính một cách đặc biệt trên đồi Royal!”

Khi biết có ai bị đau yếu, ngài đến thăm để cổ võ tinh thần cũng như để cầu nguyện với họ. Ngài cũng thường thoa lên bệnh nhân chút dầu lấy từ chiếc đèn luôn cháy sáng trước tượng Thánh Giuse trong nguyện đường của trường học. Từ đó tiếng đồn về sức mạnh chữa lành bắt đầu lan tràn.

Khi bệnh dịch bùng nổ từ một trường kế cận, Thầy Andre đã xung phong đến đó chăm sóc bệnh nhân. Không một ai bị thiệt mạng. Số người bệnh đến với thầy ngày càng gia tăng. Cha bề trên cảm thấy bối rối; giới thẩm quyền địa phận nghi ngờ; các bác sĩ gọi ngài là lang băm. Thầy thường lập đi lập lại rằng “Ðâu có phải tôi chữa mà là Thánh Giuse.” Sau cùng thầy phải cần đến bốn người thư ký để trả lời 80,000 lá thư ngài nhận được hàng năm.

Ðã nhiều năm Tu Hội Thánh Giá cố nài nỉ để mua lấy miếng đất trên ngọn đồi Royal nhưng không thành công. Thầy Andre và một vài người khác đã leo lên đó để đặt một tượng Thánh Giuse. Bỗng dưng, chủ đất đồng ý. Thầy Andre quyên góp được $200 để xây một nhà nguyện nhỏ và dùng làm nơi tiếp khách thập phương mà ở đó lúc nào thầy cũng tươi cười để thoa dầu Thánh Giuse trên bệnh nhân. Có người được khỏi bệnh, có người không. Số nạng, gậy chống cũng như xe lăn người ta bỏ lại để minh chứng cho sức mạnh chữa lành của Thánh Giuse ngày càng gia tăng.

Nguyện đường cũng cần được nới rộng thêm. Vào năm 1931, một thánh đường to lớn được khởi công xây cất, nhưng tài chánh bị thiếu hụt vì đó là thời kỳ đại suy thoái. “Hãy đặt tượng Thánh Giuse vào trong ấy. Nếu ngài muốn có mái che trên đầu thì ngài sẽ giúp cho.” Sau cùng, Vương Cung Thánh Ðường Thánh Giuse nguy nga trên đồi Royal đã hoàn thành sau 50 năm xây cất.

Nhưng Thầy Andre đã không được chứng kiến ngày huy hoàng đó, và đã từ trần ngày 06 tháng 01 năm 1937 khi thầy 92 tuổi. Mặc dầu trời giá lạnh tuyết băng, hơn một triệu người đã tham dự  tang lễ của thầy. Mộ phần của thầy nằm sau bàn thờ chính trong nguyện đường Thánh Giuse tại Montreal, Canada.

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã công nhận các nhân đức anh hùng của Đấng Đáng Kính Andre Bessette ngày 12 tháng 6 năm 1978 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Chân Phước cho thầy Andre Bessette ngày 23 tháng 5 năm 1982. Ngài được Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI nâng lên bậc hiển thánh vào ngày 17.10.2010. (Nguồn: Người Tín Hữu)

Sau đây là những câu nói của ngài hy vọng nói đưa bạn đến gần với Chúa hơn qua lời chuyển cầu của Thánh Giu-se:

1/ Anh André có một tình yêu đặc biệt đối Thánh Thể và khuyến khích mọi người rước lễ thường xuyên. Anh nói với giọng buồn “Nếu bạn chỉ dùng một bữa một tuần, bạn có sống sót không? Linh hồn bạn cũng vậy”.

2/ Anh thường nói: “Bạn không được buồn”. “Thật là tốt để cười lớn một chút”.

3/ Hãy đặt bạn vào trong tay Chúa; Ngài không bỏ rơi ai cả.

4/ Chính cây cọ nhỏ bé đã giúp nghệ nhân hoàn thành bức họa tuyệt mỹ.

5/ Khi bạn cầu nguyện, Lạy Cha chúng con,  thì tai của Chúa có ngay bên cạnh môi bạn rồi.

6/ Khoảng cách giữa trời và đất rất là gần, gần đến nỗi Chúa luôn nghe chúng ta, giống như là không có gì ngoài chỉ là một bức màn mỏng ngăn cách chúng ta với Chúa.

Câu nào gần gũi với bạn nhất? Đối với mình thì câu 2 và 4 (mình chỉ xin là một cây cọ nho nhỏ được đặt trong bàn tay của Chúa thôi)

From: Đỗ Dzũng

 

SỰ CHẾT – LM Nguyễn Tầm Thường, sj.

SỰ CHẾT

 LM Nguyễn Tầm Thường, sj.

Khi tôi được sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết.  Làm gì có sự chết nếu không có sự sống.  Làm gì có ngày người ta chôn tôi nếu không có ngày tôi chào đời.  Như thế, cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết.

Ngay từ trong bào thai của mẹ, bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết rồi.  Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau.  Trong lớn lên đã có mầm tan rã.  Khi vũ trụ chào đón tôi, thì cùng một lúc, tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ.

Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết.  Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tôi một bước cận kề.  Hoàng hôn buông xuống, thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.

Không muốn nghĩ về sự chết tôi cũng chẳng tránh đuợc sự chết.

Tôi có thể không muốn nghĩ về sự chết nhưng tôi có ghét sự chết được không?  Tôi ghét sự chết là tôi ghét chính tôi.  Chết ở trong tôi.  Tôi đang đi về cõi chết nên ngay bây giờ sự chết đã thuộc về tôi rồi.  Sự sống của tôi hàm chứa sự chết, nên tôi yêu sự sống thì tôi cũng phải yêu sự chết.  Vì vậy, cuộc đời có ý nghĩa vẫn chỉ là cuộc đời chuẩn bị cho ngày chết.

Trong dòng đời, tôi không sống một mình.  Cuộc sống của tôi là tấm thảm mà mỗi liên hệ yêu thương là một sợi tơ, mỗi gắn bó quen biết là một sợi chỉ, anh em, cha mẹ, người yêu.  Sự chết xé rách tung tất cả để tôi ra đi một mình.  Chẳng ai đi với tôi.  Vì thế, chết mang mầu ly biệt.

Sống là hướng về tương lai. Tương lai là cái tôi không nắm chắc trong tay, vì vậy, tôi hay nhìn về tương lai bằng nỗi sợ bấp bênh.  Càng bấp bênh thì tôi càng tìm kiếm vững chãi, càng tích lũy. Nhưng tích lũy xong, xây đắp xong, vất vả ngược xuôi để rồi ra đi trắng đôi tay thì đời tôi thành đáng thương hại.  Nếu tôi không đem theo được những gì tôi tích lũy, thì những gì tôi ôm ấp hôm nay chỉ làm tôi thêm đau đớn, nuối tiếc.  Nếu không muốn vậy thì chúng phải là phương tiện để chuẩn bị cho giờ ra đi của tôi.

Tích lũy cho tương lai có thể là dấu hiệu khôn ngoan đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra.  Mà cũng có thể là một thứ nô lệ.  Nếu suốt đời tôi lo âu tìm kiếm danh vọng, quá tham lam tiền bạc, lúc nào cũng bị vây khốn, băn khoăn thì đâu là niềm vui, tận hưởng.

Mà tận hưởng là gì? Ðâu là ý nghĩa của sự tìm kiếm? Tích lũy?

Kinh Thánh kể:

Có người trong đám dân chúng nói với Ðức Kitô: “Thưa Thầy, Thầy bảo anh tôi chia gia tài với tôi”.

Ngài đã nói cùng họ: “Hãy coi chừng! hãy lo giữ mình tránh mọi thứ gian tham, vì không phải ai được sung túc, là đời sống người ấy chắc chắn nhờ của cải”.

Ngài nói cùng họ một ví dụ rằng: “Có người phú hộ, ruộng nương được mùa, nên suy tính với mình rằng: ta phải làm gì?  Vì ta không còn chỗ nào mà tích trữ hoa mầu nữa.  Ðoạn người ấy nói: Ta sẽ làm thế này: phá quách các lẫm đi, mà xây những lẫm lớn hơn, rồi chất cả lúa mạ, và của cải vào đó, rồi ta nhủ hồn ta:  Hồn ơi! mày có dư thừa của cải, sẵn đó cho bao nhiêu năm; nghỉ đi! ăn uống đi! hưởng đi! Nhưng Thiên Chúa bảo nó:  Ðồ ngốc! ngay đêm nay, người ta sẽ đòi ngươi trả lại hồn ngươi, mọi sự ngươi đã sắm sửa, tích góp kia sẽ về tay ai? (Lc 12,13-21).

Không ai sống hộ tôi.  Không ai chết thay tôi.  Không ai đi cùng tôi.  Tôi sẽ ra đi lẻ loi.  Họ sẽ quên tôi cũng như tôi đã quên bao người.  Có thể đôi khi họ nhớ tôi.  Cũng như đôi khi tôi nhớ người này, kẻ kia.  Nhưng nỗi nhớ chỉ là của riêng tôi, còn kẻ đã ra đi vẫn ra đi miền miệt.  Thì cũng thế, chẳng ai làm gì được cho tôi lúc tôi ra đi không trở lại.

Chết là mất tất cả. Nhưng thánh Phaolô lại tuyên tín rằng chết là chiến thắng (1Cor 15,54).  Chết là đi về sự sống vĩnh cửu.  Chết là gặp gỡ.  Gặp Ðấng tạo nên mình.  Như vậy, chết là cánh cửa im lìm được mở ra để tôi về với Ðấng thương tôi.  Chết là điều kiện để sống.

Chúa ơi, chết là đi về với Chúa sao con vẫn lo âu?

Phải chăng nỗi lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con sợ con có thể không gặp Chúa. Vì sợ không gặp nên chết mới là bản án nặng nề.  Mà tại sao con lại sợ không gặp Chúa?  Chúa luôn mong mỏi, đợi chờ con cơ mà.  Như thế, muốn gặp Chúa hay không là do ý của lòng con.  Con có quyền quyết định cho hạnh phúc của mình.

Chúa ơi, vì biết mình sẽ chết nên con băn khoăn tự hỏi bao giờ thì chuyến tầu định mệnh đem con đi.  Hôm nay hay ngày mai?  Mùa thu này hay mùa xuân tới?  Con âu lo.  Nhưng vì sao phải lo âu?

Phải chăng lo âu là dấu hiệu nói cho con rằng con chưa chuẩn bị đủ, là hồn con còn ngổn ngang.  Có xa Chúa thì mới sợ mất Chúa.  Sợ mất Chúa thì mới xao xuyến băn khoăn. Con biết thế, con biết rằng vì không sẵn sàng, vì không chuẩn bị nên mới hồi hộp, mất bình an. Con biết thế, con biết sau khi chết là hạnh phúc hay gian nan, là núi cao với mây ngàn cứu rỗi, hay vực sâu phiền muộn với đau thương.  Nhưng chuẩn bị cho giờ ra đi không đơn giản Chúa ơi.  Chúa biết đó, con đi tìm Chúa nhưng là đi trong lao đao.  Bởi yêu một vật hữu hình thì dễ hơn lắng nghe tiếng gọi từ nơi xa thẳm.  Giầu có và danh vọng cho con hạnh phúc mà con có thể sờ được.  Còn hạnh phúc của đức tin thì sâu thắm quá.

Chung quanh có biết bao mời mọc.  Kinh nghiệm cho con thấy rằng đã nhiều lần con bỏ Chúa. Như vậy biết đâu con lại chẳng bỏ Chúa trong tương lai.  Nếu lúc đó mà giờ chết đến thì sao?

Chúa có nghĩ rằng khi con phải phấn đấu chối từ những rung cảm bất chính để sống theo niềm tin là thánh giá của con không.  Chối từ tiếng gọi của tội lỗi đã là một thánh giá.  Nhưng có khi lo âu vì không biết mình có từ chối được không còn là một thánh giá khác nữa.  Chính đấng thánh của Chúa mà còn phải kêu lên: “Ôi! những điều tôi muốn làm thì tôi chẳng làm, những gì tôi muốn trốn tránh thì tôi lại làm” (Rom 7,15-16).  Chúa thấy đó, vị tông đồ lớn của Chúa mà còn như thế, huống chi con, một kẻ mang nhiều đam mê, yếu đuối thì đường về với Chúa gian nan biết bao.

Ðể khỏi chết khi con chết, thì con phải chết trước khi con chết.
Cái chết đó là đóng đinh đời con vào thập giá. Con không biết con can đảm đến đâu. Con chỉ xin sao cho con tiếp tục đi mãi. Ði xiêu vẹo vì yếu đuối của con, nhưng vẫn tiếp tục đi.

Thập giá nào thì cũng có đau thương.

Con không muốn thập giá.  Vì thập giá làm con mang thương tích.  Chúa cũng đã ngã.  Nhưng nếu sự sống của con mang mầm sự chết, thì trong cái chết của thập tự nẩy sinh sự sống.  Chúa đã chết. Chúa hiểu nỗi sợ hãi của sự chết.  Con vẫn nhớ lời Chúa cầu nguyện: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).  Hôm nay con cũng muốn nói như vậy đó, với Chúa.  Cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa dạy con rằng chẳng có sự sống nào mà không phải qua sự chết.  Chết thì sợ hãi, nhưng nếu con yêu sự sống thì con phải yêu sự chết.

 Con muốn chết để được sống.

Con sẽ đóng đinh đời con vào thập tự.  Chúa ơi, Chúa có cho những lo âu của con là dấu chỉ tình yêu của một tâm hồn yếu đuối, đang thao thức đi tìm Chúa vì sợ mất Chúa không.

Lạy Cha, trong tay Cha con xin phó thác đời con.

LM Nguyễn Tầm Thường, SJ –
Trích trong Nước Mắt và Hạnh Phúc

Tạ ơn đời – BẠN TA

Tạ ơn đời

Tạ ơn đời hôm nay Tôi còn sống

Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails

Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu

Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả!

Tạ ơn các bạn gần xa

Hằng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều

Emails nhận được bao nhiêu

Là bao tình cảm thương yêu nồng nàn.

***

BẠN TA

Thăm hỏi Bạn, biết rằng người còn đó

Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi

Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi

Vui được biết, Bạn bình an vui sống

Đời trần thế ví như là huyễn mộng

Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh

Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình

Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn

Tình cảm ấy ta không treo giá bán

Khi con tim không đơn vị đo lường

Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương

Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!

Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá

Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau

Thì tiếc chi một lời nói, câu chào

Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế

Có hơn không dù biết rằng chậm trễ

Vì con người ai cũng thích yêu thương

Được thương người và cũng được người thương

Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm

Bạn còn đó! Tôi còn đây! Mừng lắm!

Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau

Để trao nhau lời nói với câu chào

Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến

Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến

Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi

Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!

Người còn đó! Tôi còn đây!  Phúc lắm.

From: ThuNNguyen

Hú Hồn Vì Fucoidan

Hú Hồn Vì Fucoidan – “Thần Dược Chữa Ung Thư”

– BS Wynn Tran

Cục Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp Fucoidan vào loại thực phẩm chức năng (không phải là thuốc) nên Fucoidan không phải chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt nào cả.

Danny trên 40 tuổi làm chủ một công ty xe tải 18 bánh chở hàng xuyên bang. Vợ ở nhà chăm sóc 2 con nhỏ. Lúc gặp anh lần đầu, tôi nghĩ đời sống Danny đúng là hình mẫu lý tưởng của một gia đình Mỹ gốc Việt.
Danny gặp tôi vì bị dị ứng da và cao huyết áp. Ngoài ra, anh hút thuốc lá như ống khói nhà máy nhiệt điện, đến nỗi mùi thuốc lá vẫn còn trong phòng khám sau khi anh ra về.

2 tuần sau khi gặp tôi, Danny bị đột quỵ khi đang lái xe trong bãi đậu.
MRI não xác nhận vùng não trái bị nghẽn mạch. Anh bị liệt nửa người bên phải.
Chưa hết, chỉ số đường Ha1c lên đến 11%. Cuộc sống gia đình anh đảo lộn. Công ty tài sản chục triệu đô không người trông giữ. Em và chị gái của Danny từ Florida bay qua California để giữ cổ phần công ty.

Tranh cãi gia đình nổ ra vì Danny không có bất kỳ giấy tờ uỷ quyền tài sản nào. Vợ Danny, vốn bị gia đình chồng ghét, bị đẩy ra ngoài. Cô bị stress và có lúc muốn tự vẫn.

Được các BS cật lực cứu chữa, Danny dần dần hồi phục. Anh đã có thể cử động chân phải và từ từ đi được.
Những lần gặp anh sau đó, anh đã mạnh khỏe hơn và yêu đời trở lại. Anh hồi phục cũng giúp gia đình và công ty anh qua cơn khó khăn.
Công việc ổn định trở lại. Chị vợ cùng chồng quán xuyến công ty và hai chị em của Danny cùng nhau giúp đỡ hai vợ chồng thay vì cãi lộn như trước.
Đùng một cái, vợ Danny gọi tôi nói anh đang yếu hơn trước.

Vợ Danny và người phụ tá phải dìu anh vào phòng khám. Mặt anh tím tái, huyết áp tụt.
Danny được nhận viện gấp. Hồng huyết cầu (Hb) của anh chỉ còn 3,9 (người bình thường là 13-14, nếu dưới 7,0 đã phải truyền máu). BS cấp cứu gọi tôi la trời vì chưa thấy ai thấp Hb hồng huyết cầu đến vậy.

Hỏi ra mới biết là thấy anh bớt bệnh, chị vợ nghe lời bạn bè lấy thuốc Bắc cho anh uống. Sau khi uống xong, anh cứ đi cầu phân đen. Nghe mọi người nói uống thuốc bắc phân sẽ lỏng và đen nên chị vợ và hai chị cứ an tâm cho uống đến 6 tháng.

Nhưng vì Danny đang uống thuốc kháng đông máu sau khi bị đột quỵ nay bị dộng thêm thuốc bắc tương tác làm máu anh càng loãng, hậu quả anh bị xuất huyết đường ruột, máu Hb tuột luốt.
Anh được truyền máu và hồi phục lần hai. Lần này hai vợ chồng quyết tâm không bao giờ xài thuốc bắc. Chỉ số Hồng huyết cầu Hb của anh tăng lên từ từ và ổn định ở mức 10-11. Anh khỏe ra, và anh chị lại biến mất một thời gian.

Nào có ngờ hôm kia chị vợ gọi tôi nói là anh lại trở mệt nữa. Tôi lại giật mình vì hồng huyết cầu Hb lại tụt xuống 8,0.
Hỏi xem anh có uống gì khác không thì chị vợ mới nhớ là nghe quảng cáo uống Fucoidan phục hồi sinh lực nên cho chồng uống mấy tuần nay. Thấy anh ăn được, chỉ có điều đi cầu phân hơi đen nên chị vợ an tâm tiếp tục cho anh uống.

Tôi dặn chị vợ ngưng không cho anh uống Fucoidan nữa thì anh khỏe trở lại. Check Hb thì lên lại được gần 10.0.
Hú hồn vì Fucoidan. Xém chút nữa là Danny phải nhập viện và có thể bị tai biến vì rủi ro xuất huyết não.
Những năm gần đây Fucoidan được quảng cáo như một thần dược, chữa được ung thư. Các nghiên cứu về Fucoidan chỉ ra Fucoidan có những tác dụng nhất định như kháng viêm, chống đông máu, và có thể kháng ung thư.

Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu này đều trong phòng lab trên tế bào cách biệt mà chưa hề có bất kỳ nghiên cứu nào trên người. (1)
Cục Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp Fucoidan vào loại thực phẩm chức năng (không phải là thuốc) nên Fucoidan không phải chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt nào cả.
Chính vì kẽ hở này mà hàng trăm công ty sản xuất thực phẩm chức năng đã sản xuất tràn lan và quảng cáo sản phẩm không đúng sự thật.

Điểm quan trọng nhất là BN không nên giấu BS những gì mình đưa vào cơ thể trong khi đang điều trị, bao gồm cả thực phẩm chức năng và những sản phẩm khác (thuốc bắc) vì thực phẩm chức năng (như Fucoidan) cũng có thể có những tác dụng phụ rất nguy hiểm như xuất huyết, có thể dẫn đến những tai hại khác, như trường hợp trên đây.

BS. Wynn Tran (Hoa Kỳ)

From: TRUONG LE

‘GÌAU CÓ’ NHƯ NGƯỜI SAIGON

Lương Văn Can

‘GÌAU CÓ’ NHƯ NGƯỜI SAIGON:

Đi ngang cởi luôn áo khoác đang mặc cho người vô gia cư giữa đêm trở lạnh

***

Giữa cái không khí lành lạnh bất chợt của Sài Gòn, người đàn ông dừng xe máy, cởi chiếc áo mình đang mặc và đưa cho ông lão vô gia cư đang ngồi tựa lưng vào thành cầu. Bởi ta nói: ‘giàu có như người Sài Gòn’ là vậy.

Cuối năm, trời đất bước vào thời khắc giao mùa, cái không khí se se lạnh ùa về, báo hiệu một mùa mới sắp sang. Cái lạnh của đất trời lâu nay vẫn thế, thổi vào lòng người những xúc cảm chông chênh, khác lạ.

Nhưng cái lạnh của thời tiết, của thiên nhiên dù có khắc nghiệt đến mấy cũng đâu thể so với cái lạnh của lòng người. Bởi thế, chỉ cần một vài khoảnh khắc ấm áp và đong đầy tình cảm giữa những con người không quen, chưa biết mặt với nhau cũng đủ khiến người ta cảm thấy ấm lòng giữa đêm dài.

Vừa qua, trên một trang mạng xã hội chuyên chia sẻ những câu chuyện chân mộc và dung dị về con người Sài Gòn được đông đảo bạn trẻ yêu thích đã có đăng tải một bức ảnh khiến người xem không khỏi bồi hồi, xúc động.

Trong khung cảnh ở một chiếc cầu nơi có rất nhiều người vô gia cư tập trung về để ngả lưng xuống cho hết cái đêm dài đằng đẵng của thành phố, một người đàn ông đã dừng chiếc xe của mình, mang chính chiếc áo mình đang mặc tặng lại cho một trong những con người đang khắc khoải cần một mái nhà kia.

“Giữa cái không khí lành lạnh bất chợt của Sài Gòn, người đàn ông dừng xe máy, cởi chiếc áo mình đang mặc và đưa cho ông lão vô gia cư đang ngồi tựa lưng vào thành cầu. Bởi ta nói: “Giàu có như người Sài Gòn” là vậy”.

Sau khi được đăng tải không lâu, câu chuyện giàu cảm xúc này ngay lập tức nhận được sự quan tâm của đông đảo người dùng mạng. Rất nhiều người đã để lại cảm nhận của bản thân ở phần bình luận.

“Có người từng nói, một hành động nhỏ cũng có thể thổi bay cơn giá rét của đêm đông giá lạnh. Mình vẫn nghi hoặc và cho rằng hơi lố. Nhưng giờ, nhìn những hình ảnh này, mình thật sự tin điều đó”.

“Mọi người định nghĩa như thế nào về người giàu? Nhiều tiền, nhà lầu, xe hơi? Không, theo mình thì đây mới là người giàu thật sự”.

“Yêu Sài Gòn là ở chỗ đó. Nếu đã sống nhanh thì rất năng động và quay cuồng. Tuy nhiên, một khi đã chậm lại một phút thì lại bắt được vô vàn khoảnh khắc quý giá trong cuộc sống”.

Hành động của người đàn ông trong câu chuyện tuy nhỏ thôi, nhưng chắc sẽ khiến nhiều người cảm thấy xúc động ấm áp. Đồng thời nó còn khiến không ít người lắng lại để nghĩ suy rồi một lần nữa định nghĩa về khái niệm về sự giàu có mà bấy lâu nay họ vẫn luôn tâm tưởng.

Bởi lẽ, sự giàu có mà nói, đâu phải chỉ đơn thuần được cân đo, đong đếm bằng tiền bạc, hiện kim mà hơn hết nó còn nằm ở những tấm lòng ấm áp, rộng rãi. Người giàu có nhất là người cho đi nhiều nhất chứ không phải là người sở hữu nhiều tài sản nhất. Vì cuộc sống cần sự sẻ chia và cho đi để nhận lại nhiều hơn.

theo Helino